Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:43:14 pm



Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:43:14 pm
Tên sách: Đường 5 anh dũng quật khởi-Tập 1
Nhà xuất bản: Hải Phòng
Năm xuất bản: 1998
Số hoá: ptlinh, quansuvn


Chỉ đạo nội dung:
   * HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
   * BAN LIÊN LẠC ĐỒNG ĐỘI TỈNH ĐỘI HẢI DƯƠNG - HƯNG YÊN TẠI HẢI PHÒNG

Biên soạn:
* VÕ AN ĐÔNG   ĐT : 031.701040
* NGUYỄN HUY TRƯỜNG   ĐT : 031.876862
* ĐÀO NGỌC QUẾ   ĐT : 031.838558
* NGUYỄN HƯU TRÍ   ĐT : 031.844126

Cộng tác viên:
* LÊ ĐỨC THỊNH   ĐT : 04.8256135
* VŨ XUÂN HÒA   ĐT : 04.9760332
* BÙI MẠNH CÁT   
* ĐÀM MINH   
* PHẠM BÁCH   ĐT : 032.858417


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:43:51 pm
LỜI GIỚI THIỆU
(Tái bản lần thứ hai)


Đến nay, bộ sách "Đường 5 anh dũng, quật khởi" đã xuất bản được 4 tập.

Trong các tháng 5, 6, 7 năm 1998, tại Hà Nội, Hải Phòng và Hải Dương đã diễn ra các cuộc tọa đàm giữa Ban biên tập "Đường 5 anh dũng, quật khởi" với các nhân chứng lịch sử trên địa bàn quốc lộ số 5, từng giữ các chức vụ quan trọng ở các cấp Đảng, chính quyền, quân sự ở những thời điểm lịch sử khác nhau trong kháng chiến chống Pháp. Các đại biểu đánh giá bộ sách đã gây ấn tượng đẹp với người đọc và đã có tác dụng tốt:

1) Góp phần giáo dục truyền thống đánh giặc, giữ nước cho quân dân Đường 5, nhất là cho thế hệ trẻ.

2) Góp một số tư liệu đấu tranh rất phong phú và đa dạng, phục vụ việc nghiên cứu lịch sử cách mạng vùng Đường số 5.

3) Khơi dậy lòng tự hào chính đáng cho lớp lớp nhân chứng nay đã là người "xưa nay hiếm", từng hy sinh bao xương máu để góp phần không nhỏ cho lịch sử hào hùng của thế hệ đã qua.

Đáp ứng yêu cầu của nhiều bạn đọc, tập I "Đường 5 anh dũng, quật khởi" tái bản lần nay (có sửa chữa và bổ sung) nhằm giới thiệu lại Hồi ký của một số nhân chứng liên quan tới kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh, kinh nghiệm giành dân, tổ chức quần chúng, tổ chức lực lượng vũ trang, nghệ thuật tác chiến (đánh giao thông, chống càn quét, diệt địch, mở cơ sở, v.v..) trong hoàn cảnh địch hậu rốt khốc liệt mà quân dân Đường 5 đã trải qua.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc và mong được sự góp ý chân thành.


NGÔ ĐĂNG LỢI
(Chủ tịch Hội khoa học lịch sử HP)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:44:33 pm
PHẦN I
HƯNG YÊN QUẬT KHỞI

(Hồi ký của đồng chí Võ An Đông, nguyên Tỉnh đội trưởng Hưng Yên,
về phong trào kháng chiến của tỉnh từ năm 1950 - 1954)


Suốt thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tôi may mắn được sống và chiến đấu cùng với quân dân tỉnh Hưng Yên ở cương vị lãnh đạo và chỉ huy Tỉnh đội. Cho nên, bản thân đã được vinh dự làm nhân chứng của một số sự kiện lịch sử chiến đấu quan trọng của tỉnh. Vì vậy, tập hồi kỷ của tôi nhan đề là: "Hưng Yên quật khởi” chỉ giới hạn thời gian từ 1950 đến 1954 và qua suy nghĩ, chọn lọc ra 5 sự kiện chính, nói về:

- Nghị quyết lịch sử cua Tỉnh ủy Hưng Yên (12/1950).

- Phá tan hệ thống tháp canh hương đồn, năm 1951.

- Đánh thắng quân cơ động chiến lược của địch.

- Diệt căn cứ hậu phương GM3, mở đầu chiến thuật mật tập.

- Phong trào nữ du kích Hoàng Ngân.


Tập hồi ký này chỉ đề cập tới những sự kiện liên quan tới nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật chỉ huy tác chiến về quân sự trong hoàn cảnh của một tỉnh nằm sâu trong địch hậu, địch rất mạnh, ta thì rất yếu. Do nhiều lý do, tôi chưa thể đề cập tới các sự kiện, các gương mặt chiến đấu trong hoàn cảnh rất ác liệt của các đơn vị, địa phương và các cá nhân đã từng anh dũng và thông minh đối mặt với quân thù.


Tập hồi ký này xin được trân trọng kính tặng quân dân Hưng Yên đã nuôi dưỡng và chắp cánh cho tôi được bay xa.

Mong bạn đọc chân thành góp ý kiến.

Xin chân thành cảm ơn!

VÕ AN ĐÔNG


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:45:37 pm
I
MỘT NGHỊ QUYẾT TỈNH ỦY LỊCH SỬ
(12 - 1950
)


Tháng 12 năm 1950, Tỉnh ủy Hưng Yên đã ra một nghị quyết lịch sử trên cơ sở tổng kết kế hoạch bình định bằng hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, đề ra tư tưởng chỉ đạo về các mặt hoạt, động chính trị, địch vận, dân vận, quân sự, động viên quần chúng đấu tranh với địch vừa khéo léo vừa giữ gìn và phát triển lực lượng. Chính nghị quyết này đã chuyển phong trào Hưng Yên từ thế bị động sang thế chủ động, từ một tỉnh trong Liên khu 3 ở trạng thái bị kìm kẹp nặng nề nhất, đen tối nhất mà chỉ trong vòng một năm đã trở thành một tỉnh quật khởi, liên tiếp đánh thắng quân địch về mọi mặt, cả về mặt giữ vững và mở rộng cơ sở, cả về chính trị, địch vận và tác chiến tiêu diệt địch, phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, lập nhiều chiến công quân sự khác.


Bối cảnh lịch sử lúc đó nói chung và ý nghĩa tác dụng của nghị quyết đó ra sao? Tôi là tỉnh ủy viên, lại phụ trách quân sự, thường đi sát, bàn luận với đồng chí Vũ Thơ là Bí thư Tỉnh ủy, cho nên vừa là nhân chứng, vừa là người được vinh dự tham gia việc thai nghén, xây dựng nghị quyết này, tự nhận trách nhiệm ghi lại sự kiện có ý nghĩa lịch sử này.


Ngày 22-12-1949, địch mở chiến dịch Diabolo chiếm đóng toàn tỉnh Hưng Yên và Hải Dương ở bắc sông Luộc, sau đó vài tháng chúng hành quản chiếm đóng Thái Bình ở phía nam sông Luộc và chiếm đóng Hà Nam bên hữu sông Hồng. Như vậy là tỉnh Hưng Yên không còn hình thái bốn huyện phía bắc (Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Giang, Văn Lâm) là vùng tạm chiếm và năm huvện phía nam (Khoái Châu, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động) là vùng tự do nữa. Toàn tỉnh không những đã bị chiếm đóng mà còn nằm sâu trong địch hậu. Muốn về Liên khu 3 phải vượt qua sông Hồng và sông Đáy, muốn lên Trung ương ở Việt Bắc phải qua tỉnh Bắc Ninh tạm chiếm và phải vượt sông Đuống và sông Cà Lồ. Tóm lại, hình thái chiến tranh hồi năm 1950 hoàn toàn bất lợi cho phong trào Hưng Yên, đòi hỏi phải có đối sách thích hợp thì mới có thể giữ gìn lực lượng, phát triển phong trào được.


Thực hiện kế hoạch "Revers" với mục đích chiếm đóng toàn bộ châu thổ sông Hồng, khai thác triệt để kho người, kho của ở đây, tất nhiên bọn địch phải tiến hành kế hoạch bình định, trong đó lấy Hưng Yên làm địa bàn trọng điểm cùng với việc đưa tên Vũ Trọng Kỳ làm tỉnh trưởng. Muốn thế, chúng phải xúc tiến lập hệ thống ngụy quyền, thực hiện chính sách chia để trị và tiêu diệt hoặc chí ít cũng đánh bật lực lượng chính trị và quân sự của ta ra khỏi khu vực của chúng. Trước hết, chúng lợi dụng một số tên như Đinh Văn Lực (một cán bộ của ta đầu hàng địch) khét tiếng gian ác, đóng ở Thiết Trụ (Khoái Châu) chuyên phá cơ sở của ta ở vùng Văn Giang, Yên Mỹ, Khoái Châu; hay là tên đội Cửu ở bốt Thổ Câu phá cơ sở của ta ở vùng huyện Ân Thi, Phù Cừ, v.v... Chúng lợi dụng một số cha cố đội lốt, tôn giáo, như ở Cao Xá (Phù Cừ), Cánh Lâm (Yên Mỹ), Ngọc Đông (Kim Động), vu cho cộng sản phá tôn giáo; hoặc những tên trong lòng hận thù với cách mạng như tổng Nham ở Hoàng Xá, Hoàng Các (Phù Cừ), tổng Thân ở xã Tân Dân (Khoái Châu) đứng lên liên lạc với Tây, xin súng về lập tề vũ trang, huy động dân đi cùng với chúng để càn quét các làng lân cận, vơ vét của cải, giết chóc, bắt bớ những dân thường, ép họ lập tề. Thêm nữa bọn Pháp trực tiếp chỉ huy ngụy quân từ vị trí đã được củng cố (như bốt Đởm, bốt Đông Tảo, bốt Đình   Cao...) thường ngày đi càn quét, lùng sục hầm bí mật, bắt bớ cán bộ và dân thường, rồi đem ra xử bắn không tiếc tay, hòng uy hiếp dân ta. Câu ca dao như:

Chiều chiều ra đứng bờ đê
Trông về bốt Đởm (bốt Binh Tri) mà ghê cả người.

Nghe ra bi quan, ngao ngán và uất hận làm sao. Tuy nhiên, cái đáng nguy hiểm mang tính đặc trưng là địch đã lấy Hưng Yên làm nơi để thực hiện âm mưu lập một hệ thống tháp canh, hương đồn khá hoàn chỉnh. Chúng đã dựa vào số ít loại tề thực sự phản động thường xuyên càn quét ở các làng lân cận, vừa uy hiếp, vừa dụ dỗ, chọn lựa một số tên có thể tin cậy được, mạnh dạn phát súng lập tề võ trang (nơi ít thì dăm khẩu súng trường, nơi nhiều thì hai, ba chục khẩu), ép dân phải nộp vật liệu xây dựng để xây những lô cốt cố thủ ở bên trong, phòng khi ta tấn công. Xây dựng những hương đồn như trên, trong khi bộ đội và dân quân ta chỉ được trang bị súng trường, liên thanh, không có vũ khí công phá đồn, lại chưa đủ sức trụ lại ban ngày để đánh quân tiếp viện, thì quả là có tác dụng cho địch. Kết quả là trong vài ba tháng địch đã lập được cả một hệ thống tháp canh, hương đồn hoàn chỉnh, có sự hỗ trợ đắc lực của các vị trí lớn, cỡ đại đội, tiểu đoàn do Pháp chỉ huy, một hệ thống ngụy quyền hoàn chỉnh từ cấp tỉnh, xuống cấp huyện, cấp xã, thôn (lúc đó Hưng Yên có khoảng 550 thôn thì địch đã đóng 360 vị trí lớn nhỏ, đại đa số là tháp canh và hương đồn). Cho tới tháng 12 năm 1950, toàn tỉnh chỉ còn một xã tự do, không có tề, đó là xã Phan Tây Hồ (Tiên Lữ), gồm các thôn: Phí Xá, Canh Hoạch, Giai Lệ, v.v... Nhưng tới ngày 5-3-1951, địch chốt lại vị trí Canh Hoạch thì coi như toàn tỉnh đều có tề, ngụy quyền của địch đã có khắp nơi. Cơ sở hoạt động của ta bị tổn thất nặng nề, mất dần chỗ đứng cho cán bộ vào tuyên truyền, vận động. Cán bộ đảng viên ta một số rất anh dũng, kiên trì bám dân bám đất hoạt động nhưng không tránh khỏi bị địch bắn giết dã man. Ở tỉnh, có đồng chí Lôi - tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Kim Động, đồng chí Thông - tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Khoái Châu, đồng chí Trọng - bí thư huyện ủy Yên Mỹ bị địch giết hại, đồng chí Lãng (Hiệu) - tỉnh ủy viên, phụ trách địch vận, bị địch bắt, rồi đồng chí Huấn (Lễ) thay bí thư huyện ủy Kim Động cũng bị địch giết. Rất nhiều đồng chí khác ở huyện và xã cũng bị giết hại, bắt bớ. Tôi còn nhớ hình ảnh đồng chí Hốt - huyện ủy viên huyện Văn Giang. Đây là một huyện sớm bị chiếm đóng từ năm 1947, cơ sở bị mất trắng do tên Đinh Văn Lực, chánh Phả ở Cửu Cao rất phản động ngày đêm lùng sục. Thế mà đồng chí Hốt trong hai năm liền ban ngày nằm hầm bí mật ở ngoài đồng, ban đêm vào trong dân vận động, đến khi huyện sắp được giải phóng cũng bị địch bắt và giết hại.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:46:17 pm
Một số khác, tuy vẫn kiên trì kháng chiến nhưng vì địch o ép, địa bàn bị dồn hẹp, phải bật sang nơi khác; thỉnh thoảng vọt cần câu về hoạt động chớp nhoáng rồi lại ra ngoài đồng nằm hầm bí mật hoặc ra ngoài căn cứ. Lúc này ở hữu ngạn sông Hồng, nam sông Luộc hoặc đông sông Đa Lộc (các tỉnh lân cận) cũng không phải an toàn mà vẫn thỉnh thoảng bị địch càn quét. Do đó mà sự hoạt động gặp rất nhiều khó khăn trở ngại. Lòng dân vẫn âm thầm theo kháng chiến, nhưng trước thế mạnh của địch về nhiều mặt nên buộc phải ra làm hội tề, đi phu phen, tạp dịch cho địch.


Một số khác không ít do hoàn cảnh kinh tế hoặc do sợ địch khủng bố nên buộc phải năm im, cầu an, thậm chí có một số ra đầu hàng, khai báo với địch, làm tay sai cho chúng. Trong hoàn cảnh thế và lực của địch hơn ta bội phần, thế mà giữa năm 1950, tại hội nghị Quyển Sơn, ta lại đã đưa ra khẩu hiệu: "Đả phá bệnh cầu an" nhưng thiếu sự phân tích kỹ lưỡng. Đáng lẽ phải đề ra biện pháp có thể chấp nhận được đối với những anh em ở trong trạng thái "thế thì phải thế”, nhưng ngược lại, đã sinh ra hiện tượng manh động, ấu trĩ, tả khuynh, lè tẻ xảy ra những vụ giết ẩu, làm cho phong trào không thể giữ vững và phát triển được mà lại ngày càng đen tối thêm.


Trong năm 1950, ta có những thành tích đáng ghi nhớ như trận nội ứng diệt bốt An Chiểu (Tiên Lữ), trận phục kích Bạch Binh ở thôn Tam Đa (Phù Cừ) diệt một trung đội, thu một trung liên (thời kỳ này cướp được một khẩu trung liên là rất hiếm có). Khu du kích Phan Tây Hồ (Tiên Lữ) bao lần chống càn quét mà vẫn giữ được địa bàn tự do. Trận chống càn thôn Tam Nông (Tiên Lữ) chống lại một tiểu đoàn địch đi càn quét giành thắng lợi. Các gương chiến đấu của dân quân, du kích và tiểu đoàn 124 thuộc E42, cùng bộ đội địa phương tỉnh phân tán hoạt động ở các huyện Tiên Lữ, Kim Động, Yên Mỹ, v.v...


Nhưng chính vì giữa hai xu thế, một mặt thì phong trào tuy đang bị suy yếu, đen tối, nhưng lại có những gương, những trận chiến đấu anh dũng thắng lợi, cổ vũ phong trào và nhất là từ tháng 10-1950, sau chiến thắng Biên giới, nên theo xu thế chung của cả nước là phấn khởi, đồng thời lại có xu thế khác là địch càng cần phải bám chắc châu thổ sông Hồng, càng gia tăng khủng bố, khai thác kho người kho của, sinh ra bi quan lo lắng. Chính giữa hai xu thế đối lập nhau đó, làm cho người lãnh đạo, cụ thể là Tỉnh ủy Hưng Yên, sau một thời gian tĩnh tâm suy nghĩ, phải tỉnh táo đề ra những chủ trương, biện pháp thích hợp.


Tháng 4-1950, Tỉnh ủy Hưng Yên họp trước rồi triển khai hội nghị cán bộ tại Quyển Sơn, trong một cái hang ở bên hữu ngạn sông Đáy. Số lượng một cấp ủy tỉnh hồi đó chỉ có khoảng 11 hoặc 13 người. Anh Vũ Thơ mới được Liên khu ủy 3 điều động về thay thế anh Dần làm bí thư được 2 tháng, mới đang tìm hiểu phong trào nhưng rất nhiều kinh nghiệm đấu tranh với địch thời kỳ còn bí mật, trước khởi nghĩa. Tỉnh ủy hồi đó còn có anh Nguyễn Ngọc Vũ - Phó bí thư Tỉnh ủy (từ trần năm 1997), anh Lê Quý Quỳnh, anh Nguyễn Chất - Chủ tịch UBKCHC tỉnh (đã từ trần), anh Anh (bí danh là Phán, sau đã hy sinh năm 1951 do bị địch phục kích bắn chết), anh Lê Đức Thịnh, anh Phúc Kiên (đã từ trần năm 1970), anh Việt ở Tiên Lữ và tôi. (Anh Lôi, anh Thông đã bị địch giết và anh Lãng (Hiệu) bị bắt sau hòa bình được tha và đã từ trần).


Không khí hội nghị lúc đó là lạc quan tin tưởng, tuy phong trào đang gặp khó khăn. Về khách quan, cách mạng Trung Quốc thắng lợi, quân giải phóng Trung Quốc đã chiếm đóng biên giới Việt - Trung, đối diện với quân Pháp. Ta lúc đó chủ trương "tích cực chuẩn bị tổng phản công". Về chủ quan, phong trào tuy có tổn thất nhưng ta vẫn còn điều kiện bám dân, bám đất. Xu thế chính của hội nghị là muốn đánh thắng sớm quân địch, coi thường chúng và đánh giá khả năng của ta quá cao. Từ đó, đề ra một số chủ trương mang tính duy ý chí, đi ngược lại quy luật lịch sử, không phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và khả năng của quần chúng lúc đó.


Chủ trương chính trị "đả phá bệnh cầu an", chủ trương quân sự "chống càn quét" là chủ trương đáng phải đem ra phân tích, phê phán. Sau vài tháng chủ trương đưa ra kiểm nghiệm trước, thực tế thì thấy rằng ta mới chỉ nắm được hiện tượng mà không đi sâu phân tích bản chất của vấn đề. Phải thừa nhận rằng hiện tượng cầu an trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên là phổ biến và hiện tượng địch càn quét cũng thường xuyên, liên tục, ngày nào và ở đâu cũng luôn xảy ra. Thế nhưng, ta lại không chịu đánh giá, phân tích kỹ lưỡng thế và lực cụ thể của ta và của địch lúc đó và ta cũng chưa thấu triệt tính chất đấu tranh giữa địch và ta trong điều kiện ở Hưng Yên lúc đó là địch ưu thế về mọi mặt hơn ta, về thực chất là đấu tranh với địch để giành dân, do đó mà cần phải đề ra nhiều chủ trương, biện pháp phù hợp với lòng dân và thích hợp với khả năng đấu tranh của dân. Nghị quyết đề ra không rõ ràng, thiếu sự hưởng dẫn chu đáo cho nên thực hiện đả phá bệnh cầu an thì nặng về áp đặt, chụp mũ, đối xử thì thô bạo, thậm chí có những manh động. Thực hiện chống càn quét thì nặng về hình thức, đánh trống gõ mõ, lại càng bộc lộ thêm lực lượng, tạo cho địch càng lấy cớ khủng bố cán bộ và nhân dân, càng làm cho quần chúng xa rời kháng chiến, phong trào càng sa sút.


Sau hội nghị Quyển Sơn, chúng tôi trở về để chỉ đạo phong trào. Anh Vũ Thơ và tôi thường đi sát với nhau, khi thì ở Thanh Miện (Hải Dương), khi thì ở xã Minh Tân, Nghĩa Vũ; Duyệt Văn, Duyệt Lễ (Phù Cừ), nơi nào cũng chuẩn bị sẵn hầm bí mật, người ở đầu thôn, người ở cuối thôn. Nhưng tin tức các nơi gửi về ngày càng xấu, phong trào ngày càng sa sút, cán bộ, nhân dân bị khủng bố dữ dội, tháp canh, hương đồn mọc ra như nấm.


Chính lúc đó, chúng tôi đón nhận một bức thư của Bác Hồ gửi riêng cho cán bộ và nhân dân Hưng Yên, thông cảm với hoàn cảnh đầy gian khổ và hy sinh của đồng bào và khuyến khích động viên phong trào. Riêng tôi rất thấm thía lời khuyên trong thư của Bác: "Các chú phải khéo đánh giặc, nhưng cũng phải khéo tránh giặc". Bác dùng chứ "khéo" sao mà ý nghĩa sâu xa thế. Đúng vậy, trong hoàn cảnh ở sâu địch hậu như Hưng Yên, đánh giặc và tránh giặc đều phải khéo. Khéo để giữ gìn lực lượng, khéo để giết được nhiều giặc, còn ta thì thương vong ít. Chỉ một câu, một chữ thôi cũng đã là phương châm chỉ đạo cho tôi trong suốt thời kỳ đánh giặc sau này.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:47:05 pm
Anh Vũ Thơ thường trao đổi ý kiến với tôi. Anh tỏ ra bực bội khi được tin ở nơi này, nơi nọ có những việc làm thô bạo, manh động, thậm chí xúc phạm đến mạng sống đối với một số đảng viên cầu an hoặc với người dân. Anh thường nói tới kinh nghiệm thời còn hoạt động bí mật hồi tiền khởi nghĩa, kinh nghiệm kết hợp đấu tranh hợp pháp với đấu tranh bất hợp pháp. Anh nói đại ý: Ngày nay, giặc Pháp đang tìm mọi cách dụ dỗ dân, tách dân ra khỏi hàng ngũ kháng chiến và xây dựng hệ thống tháp canh, hương đồn cũng để giành dân với ta. Cán bộ hay bộ đội như cá, và dân như nước, tình cá nước đó phải luôn gắn bó với nhau. Thí dụ, nếu địch dụ dỗ, phát chẩn gạo hay đường, sữa, nếu dân đang nghèo túng, cán bộ cúng phải theo dân đi lĩnh chẩn, nếu địch phát đủ thì ta cũng vạch tính gian dối lừa phỉnh của địch, còn nếu địch phát thiếu, ta lại càng có điều kiện vạch mặt bọn địch giả đạo đức. Nếu ta ngăn cản dân thì dễ đẩy dân theo địch.


Tôi hiểu ý kiến của anh Vũ Thơ muốn quan tâm thực chất tới cơ sở, phải có cách giữ gìn cơ sở, biết cất giấu lực lượng, nhưng luôn phải hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao; đấu tranh hợp pháp hay không hợp pháp đều không câu nệ hình thức, miễn là quần chúng luôn tin tưởng, ủng hộ ta, sẵn lòng căm thù địch.


Về phía tôi hoàn toàn nhất trí với cách đánh giá của anh Vũ Thơ về hệ thống tháp canh, hương đồn là một công cụ để thực hiện âm mưu bình định của địch đang thu đươc kết quả tạm thời. Tôi cũng đồng ý rằng, mọi hoạt động phải hướng tới phục vụ cho giữ gìn và phát triển cơ sở. Tuy nhiên, tôi là tỉnh ủy viên phụ trách về quân sự, phải chỉ đạo tác chiến như thế nào để có tác dụng giữ gìn và phát triển cơ sở lại là vấn đề cần suy nghĩ.


Đánh phục kích, quấy rối, gài mìn ư? Hình thức này may lắm là có kế hoạch diệt địch và để chúng không khủng bố cơ sở, chứ không có tác dụng phát triển cơ sở.


Chống càn quét ư? Càn và chống càn là quy luật tất yếu trong đấu tranh địch hậu. Nhưng trong điều kiện toàn tỉnh đã nằm sâu trong địch hậu, chống càn quét ở nơi nào, hình thức chống càn ra sao, nhất là bằng quân sự thì cần phải cân nhắc kỹ, nếu không rất dễ bị địch khủng bố, đốt phá, bắn giết nhân dân vô tội.


Tháng 10-1950, Hưng Yên có trận chống càn rất ngoan cường và anh dũng của dân quân, du kích và một số ít bộ đội phân tán ở thôn Tam Nông, đã đẩy lùi một tiểu đoàn địch; nhưng sau đó địch huy động lực lượng lớn hơn, có phi pháo hạng nặng yểm trợ, kết quả địch triệt hạ toàn bộ thôn Tam Nông không còn một cái nhà nào, dân làng phải sơ tán đi chỗ khác. Trận chống càn Tam Nông rất đáng biếu dương, ngày nay vẫn được ghi vào sử sách một cách xứng đáng, thế nhưng so với yêu cầu lúc đó là phải giữ gìn và phát triển cơ sở thì hình thức tác chiến này không phải ở đâu cũng là thượng sách. Cho nên, tốt hơn hết, phải tập trung nỗ lực quân sự vào nhiệm vụ cùng với lực lượng chính trị phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn. Nhưng khả năng quân sự của ta rất hạn chế. Tôi còn nhớ, hồi tháng 7-1950, anh Đạt - huyện đội trưởng, anh Tuyên - huyện đội phó Phù Cừ đem bộ đội vây đánh bốt Viên Quang, chỉ có 4 khẩu súng mà ta vây đến sáng, nhưng vẫn phải rút quân đi do bọn hương dũng rút lên lô cốt cố thủ mà ta thì không có vũ khí công đồn.


Tôi đã phải mất nhiều ngày đêm vất vả moi óc tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi, tôi đã đi đến kết luận là với hoàn cảnh của Hưng Yên lức này, phải tập trung sức lực, dùng hành động quân sự triệt phá tháp canh, hương đồn; đã đánh là phải thắng; thắng rồi phải giữ được cơ sở cả về chính trị và quân sự. Muốn vậy, phải được trang bị vũ khí có tác dụng công phá lô cốt và phải có biện pháp chặn đánh tiêu diệt quân ứng viện từ các vị trí xung quanh hội quân tới giải vây cho bốt hương dũng. Vũ khí công đồn phải xin ở đâu, tư tưởng chiến thuật nào để đáp ứng yêu cầu đó? Trong óc tôi cứ loay hoay tìm cách giải quyết. May thay cuối tháng 10-1950, sau chiến thắng Biên giới, tôi được triệu tập đi dự Hội nghị tổng kết chiến dịch vĩ đại này, đã giúp trang bị cho tôi những chìa khóa để giải đáp ẩn số đó. Tới đầu tháng 12-1950, ở Việt Bắc về, tôi vừa kịp dự hội nghị Tỉnh ủy Hưng Yên lịch sử này, tại thôn Nội (không nhớ tên xã), huyên Hưng Nhân (Thái Bình). Sau đây tôi xin tóm tắt tinh thần nội dung nghị quyết này.


Trước hết, anh Vũ Thơ đưa ra thảo luận bản dự thảo tổng kết hệ thống tháp canh hương đồn của địch, nhằm thống nhất nhận thức, coi hệ thống tháp canh hương đồn là biện pháp chủ yếu đế thực hiện kế hoạch bình định của chúng, hỗ trợ cho chúng vơ vét kho người, kho của của ta, đồng thời kiểm điểm sự lãnh đạo của Tỉnh ủy còn nhiều khiếm khuyết như chưa đánh giá hết âm mưu của địch, coi thường, coi nhẹ nguyện vọng bức xúc của quần chúng lúc đó; còn nặng tư tường chủ quan nóng vội, tư tưởng tả khuynh, chưa coi trọng các hình thức đấu tranh linh hoạt khác nhau.


Tỉnh ủy sau cùng đã nhất trí với báo cáo của đồng chí Vũ Thơ và nhất trí với sự chuyển hướng công tác cho phong trào Hưng Yên lúc đó, lấy việc kiên trì giành dân với địch, nắm dân là chính, giữ gìn lực lượng, không để bộc lộ cơ sở, coi trọng các hình thức đấu tranh hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp, tùy lúc, tùy nơi mà vận dụng, không dàn đều cho toàn tỉnh làm tư tưởng chỉ đạo công tác cho toàn Đảng bộ. Biện pháp lãnh đạo được xác định như sau:

1. Tuyên truyền vận động tề, hương - tổng dũng để tạo điều kiện tổ chức quần chúng, phân loại tề, dõng, không phá tề, xáo trộn tề ở thôn xã mà ta nắm được, đưa quần chúng đấu tranh với địch với những hình thức từ thấp tới cao, từ hợp pháp tới bất hợp pháp.

2. Động viên những cán bộ, đảng viên trước đây đã sợ địch, nằm im nên trở lại công tác, kế cả công tác công khai hợp pháp nếu có yêu cầu.

3. Trong các đoàn thể quần chúng, đặc biệt coi trong đoàn thể phụ nữ, vì phụ nữ Việt Nam rất giàu lòng yêu nước, chị em lại có nhiều khả năng hoạt động công khai hơn nam giới.

Tổ chức nữ du kích ở thôn xã, nhưng không tổ chức nữ du kích tập trung (về sau phong trào nữ du kích này lấy tên là nữ du kích Hoàng Ngân).

4. Đẩy mạnh công tác địch vận, lấy vận động ngụy binh là chính; trong ngụy binh, lấy việc vận động hương, tổng dũng là chính.

5. Mọi hoạt động quân sự phải phục vụ cơ sở, không được phiêu lưu, tùy tiện, cần cân nhắc trước khi có hành động; tác chiến nào có lợi cho cơ sở thì tiến hành, có hại cho việc giữ gìn cơ sở thì hạn chế. Mọi hành động quân sự phải có kế hoạch chống khủng bố kèm theo, "đánh giặc và giữ dân" phải đi song song.

6. Chấn chỉnh lại tổ chức và phương thức hoạt động của bộ đội tỉnh. Tỉnh chỉ giữ lại 3 đại đội, trong đó đưa 2 đại đội xuống huyện phân tán hoạt động cơ sở và củng cố một đại đội được tổ chức và trang bị mạnh để tác chiến tập trung (C20 hoạt động vùng Ân Thi, C27 hoạt động vùng Kim Động và C22 (tên bí mật là 095, sau đổi tên là C92) hoạt động tập trung.

7. Kiện toàn lại bộ máy chỉ huy Tỉnh đội, trên tinh thần tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy với Tỉnh đội trong việc giữ gìn và phát triển cơ sở. Trước đây, chỉ có phân công một tỉnh ủy viên phụ trách quân sự, nay phân công 3 tỉnh ủy viên; trong đó, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp làm chính trị viên tỉnh đội. Cụ thể, đồng chí Vũ Thơ làm chính trị viên, tôi từ chính trị viên chuyển sang làm tỉnh đội trưởng và đồng chí Phúc (Kiên) làm chính trị viên phó; còn đồng chí Phan Mạnh Hà là tỉnh đội trưởng mới về công tác ở Hưng Yên hồi đầu năm 1950, chưa quen phong trào, lại ít kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, cho nên Tỉnh ủy đề nghị với Liên khu 3, sau đó một tháng được Tư lệnh Liên khu đồng ý quyết định chuyển đồng chí Hà về Liên khu (chẳng may do việc liên lạc giấy tờ khó khăn, đồng chí Hà đã bàn giao chuẩn bị lên đường về Liên khu thì bị địch bắt trong trận càn "Con rắn" (Reptile, hôi tháng 4-1951).


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:48:12 pm
Tiện đây, cũng xin kể một câu chuyện riêng đối với tôi rất thú vị. Sau khi họp Tỉnh ủy xong; buổi tối cùng ở Nội thôn, huyện Hưng Nhân, chúng tôi họp ngay BCH Tỉnh đội Hưng Yên. Anh Vũ Thơ nói: "Để giữ bí mật hoạt động của ta, cần phải đặt tên bí danh, vậy tôi đặt tên tôi là Chính". Anh Phúc Kiên nói: "Thế thì tôi tự đặt tên là Phương". Còn tôi, ngôi ngẫm nghĩ một phút rồi nói với các anh: "Anh Thơ tên là Chính, anh Kiên là Phương, vậy tôi xin tự đặt là Đông. Ba anh em chúng tôi là Chính - Phương - Đông. Tỉnh ủy Hưng Yên ta đang lúc đen tối nhất thì ở Chính Phương đồng sẽ ló rạng đông, mặt trời sẽ tỏa sáng từ Chính Phương Đông này". Tôi tên là Hồ Quý Thoa. Sau đó tôi đổi cả họ và tên là Võ An Đông, với ý nghĩa rằng tôi đã chuyển sang quân sự, họ nhà Võ hoạt động trên đất quê thứ hai của tôi là Hưng Yên, nên lấy đệm là An, còn quê gốc tôi ở Hà Đông nên lấy tên là Đông. Từ đó (tháng 12-1950) tôi giữ mãi họ tên ấy cho tới ngày nay. Âu cũng là một kỷ niệm, đánh dấu một giai đoạn lịch sử của tôi chuyển từ thời hoạt động âm thâm, đen tối sang thời kỳ tạo ra những trận chiến thắng tiếp theo.


Như vậy, Tỉnh ủy Hưng Yên đã ra được một nghị quyết toàn diện đánh giá khá chính xác tình hình địch, ta lúc đó, đề ra phương châm, phương thức hoạt, động, quyết định các vấn đề về tổ chức Đảng, dân vận, quân sự...


Nghị quyết đã nhanh chóng thâm nhập vào trong Đảng bộ và ngoài quần chúng, biến thành thực tế sinh động, đã chỉ đạo, động viên mọi người chiến đấu, công tác, đã đập tan hệ thống tháp canh hương đồn trong vòng không đầy một năm, tạo một bước ngoặt, thực sự cho phong trào kháng chiến của Hưng Yên, làm thay đổi so sánh lực lượng giữa địch và ta, có lợi cho ta, từ chỗ địa phương không còn chỗ đứng chân, nay đã mở ra những khu du kích, căn cứ du kích rộng rãi ngày càng được củng cố, đã động viên có hiệu quả sức người, sức của, đóng góp cho công cuộc kháng chiến cả nước.


Đến nay, sau khi các sự kiện đã được lịch sử kiểm chứng, ý nghĩa của nghị quyết tháng 12-1950 của Tỉnh ủy Hưng Yên thật là lớn lao đối với phong trào Hưng Yên trong suốt mấy năm kháng chiến chống Pháp, đồng thời cũng góp phần vào kho tàng lịch sử lãnh đạo chiến tranh trong địch hậu.

1. Ý nghĩa lớn nhất của nghị quyết là Tỉnh ủy đã toàn tâm, toàn ý lấy dân làm đối tượng lãnh đạo, đối tượng phục vụ, đề ra chủ trương, biện pháp không những phù hợp với nguyện vọng mà còn phù hợp với khả năng có thể chấp nhận được của nhân dân, biết dẫn dắt quần chúng đấu tranh với địch từ thấp tới cao, vừa đánh được địch mà vẫn giữ kín lực lượng của mình, kiên quyết khắc phục hiện tượng thoát ly quần chúng, khắc phục bệnh chủ quan, nôn nóng, lấy ý chí không tưởng của mình đem áp đặt cho quần chúng, khắc phục thái độ coi thường, thô bạo đối xứ với quần chúng.

Đó là bài học muôn thuở "lấy dân làm gốc" của tổ tiến ta mà ngày nay Đảng ta vẫn noi theo. Bác Hồ cũng nhắc nhở:
Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu vẫn xong.

Ngày đó phải trải qua bao nhiêu xương máu, nhọc nhằn, nhờ lòng yêu nước nồng nàn của quân dân ta, Tỉnh ủy mới rút được bài học tưởng rất xưa mà lại rất nay đó.

2. Ý nghĩa lớn thứ hai là Tỉnh ủy đã xuất phát từ thực tế sinh động của sự so sánh lực lượng đôi bên, từ thực lực của Đảng bộ, của dân lúc đó đang suy yếu, dám nhìn thẳng vào sự thật mà đề ra chủ trương, biện pháp, mức độ đấu tranh đúng mức, đảm bảo vẫn đánh địch thắng lợi mà vẫn giữ gìn được lực lượng.

Trong hoàn cảnh sau chiến thắng Biên giới, cả nước phấn khởi sôi sục đẩy mạnh kháng chiến, thế mà Tỉnh ủy Hưng Yên lại không để điều kiện khách quan cuốn hút, không lạc quan "tếu" mà lại đề ra khẩu hiệu đấu tranh tưởng như là hữu khuynh, thực tế lại đạt kết quả rất lớn.

Cũng cần lưu ý, là mãi nửa cuối năm 1951, Trung ương mới ra nghị quyết về phân vùng ở địch hậu, chia ra vùng tạm chiếm, vùng du kích và vùng căn cứ du kích. Nghị quyết Tỉnh ủy Hưng Yên tháng 12-1950 đã hoàn toàn nhất trí với Trung ương, đang biến nghị quyết vào cuộc sống. Đây là bài học thực tế trong đấu tranh, đúng với câu nói của Tôn Tử: "Biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng".

Chủ quan, duy ý chí, giáo điều, không tưởng, đều dẫn đến sai lầm đau đớn.

3. Ý nghĩa lớn thứ ba mang đầy tính nhân bản trong thái độ đối xử với tề, ngụy, tù binh, với cán bộ, đảng viên nhất thời cầu an nằm im. Đối với tề, thì vận động lôi kéo, hướng dẫn họ tìm cách bảo vệ dân, giữ gìn cơ sở mà không để địch nghi ngờ. Mọi hành động ẩu tả đều bị phê phán và nghiêm cấm. Đối với ngụy binh, nếu bắt được chúng, không những cần chính sách khoan hồng với chúng, còn do vì ở sâu địch hậu, ta không thể giải chúng ra vùng tự do được. Tỉnh ủy chủ trương giáo dục chúng 1 hoặc 2 ngày, thậm chí vài giờ rồi thả chúng, khuyên răn chúng, nếu buộc phải đi ngụy binh tiếp thì ít nhất, đừng bắn giết đồng bào. Kết quả diễn ra thật không ngờ. Sau này, mỗi trận đánh, bắt được tù binh đều giao cho ban địch vận Tỉnh đội do anh Nguyễn Hữu Vận - trưởng ban, anh Giáp - phó ban, giáo dục rồi thả ra. Tù binh được thả về làm cái loa tuyên truyền cho chúng ta trong hàng ngũ địch, đẩy tề dõng đua nhau liên lạc với ta và sẵn sàng đầu hàng khi chạm súng với ta. Cách xử sự này thật khôn ngoan, đã làm cho hàng ngũ địch bị xôn xao về tinh thần, suy yếu về sức chiến đấu và làm cho quân ta càng mạnh lên cả thế và lực. Rất nhiều trận xảy ra sau này, vừa nổ súng đã chiến thắng, bắt được tù binh, thậm chí đối với lính Âu Phi bị bắt, nếu không giải đi được, ta cũng làm thế. Tôi còn nhớ, ngày 25-9-1951, trận đánh càn "Trái chanh" bắt được 25 tên lính người Angiêri thuộc đơn vị 4/7 RTA (tiểu đoàn 4, trung đoàn bộ binh Angiêri số 7) đưa sang Thái Bình, lại gặp trận càn "Trái quýt", ta cũng giáo dục rồi thả. Anh em cán bộ địch vận kể lại có nhiều tên rỏ nước mắt cảm ơn và từ biệt ta.


Hơn thế nữa, đối với anh em cán bộ, đảng viên cầu an, nằm im, nghị quyết Tỉnh ủy cũng yêu cầu phân loại, tuyên truyền thuyết phục họ trở lại công tác. Có một số, lúc đầu vẫn còn sợ, không dám ra nhận công tác, nhưng khi thấy phong trào lên mạnh, anh em lại vui vẻ nhận công tác, do đó mà lực lượng lãnh đạo ngày càng mạnh, càng dồi dào, nhất là lúc ta vừa mở rộng cơ sở rất thiếu những hạt nhân lãnh đạo công tác.


Cuối cùng, trong nghệ thuật tổ chức quần chúng, chỉ xin nhắc lại nghị quyết tổ chức phong trào nữ du kích Hoàng Ngàn. Phong trào đã góp phần đánh thắng quân giặc, đã xung phong đảm nhận mọi công tác như liên lạc, quân báo, hậu cần, làm cho bộ đội gọn nhẹ, thêm tai, thêm mắt, tăng tính cơ động chiến đấu rất cao mà bộ đội hoạt động ở địch hậu rất cần thiết phải có, không thể tổ chức quá nặng nề, ì ạch để lộ mục tiêu cho phi pháo địch sát hại. Phong trào nữ du kích Hoàng Ngân được lịch sử ghi nhận, đã làm rạng rỡ cho lực lượng kháng chiến Hưng Yên nói chung, cho đoàn thể phụ nữ tỉnh nói riêng.


Sự đối xử và tổ chức quần chúng đúng đắn như trên cũng thể hiện sự đánh giá bản chất, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và của bà con Hưng Yên, mà đại đa số là nông dân. Viết, tới đây, tôi lại nhớ lời Bác Hồ kính yêu :
   Dùng người như dùng gỗ
   Năm ngón tay, có ngón dài ngón ngắn
   Nhưng tất cả họp lại ở nơi bàn tay


Ôi sâu sắc và thấm thía thay! 50 năm đã trôi qua, trải qua bao biến đổi, vui buồn, sướng khổ, trong tôi vẫn không phai mờ hình ảnh của hội nghị và nội dung nghị quyết. Anh Vũ Thơ, anh Nguyễn Ngọc Vũ, anh Lê Đức Thịnh (lúc đó lấy bí danh là Huyên), anh Lê Quý Quỳnh vẫn như thuở nào đây cùng hội họp với tôi. Tôi cũng không thể quên anh Chất, anh Phán (tên thực là Anh), anh Phúc(Kiên) cùng dự hội nghị lịch sử đó, nhưng nay đã từ trần.


Xin hứa với các anh, tôi rất tự hào về nghị quyết này, vì nó đã tạo một bước ngoặt lịch sử cho Hưng Yên hồi đó còn rất gian khổ và nhiều hy sinh. Tôi rất cảm ơn anh Vũ Thơ là chiến sĩ chủ công xây dựng nghị quyết này. Xin hứa với Đảng, Bác Hồ và nhân dân, xin thưa với chiến hữu cũ của tôi ở Hưng Yên, tôi viết mấy dòng này cũng là mong ta ôn lại lịch sử, ôn lại truyền thống, rút ra những bài học lịch sử không phải chỉ cho quá khứ mà cho cả hiện tại và tương lai, nhàm xây dựng tỉnh Hưng Yên thân yêu của chúng ta ngày càng giàu mạnh, phấn chấn, vững bước tiến lên.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:05:43 pm
II
NĂM 1951, PHÁ TAN HỆ THỐNG THÁP CANH, HƯƠNG ĐỒN CỦA ĐỊCH, ĐƯA PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN CHUYỂN SANG THẾ TRẬN MỚI


Sau chiến thắng Biên giới, hình thái chiến tranh đã có lợi cho toàn cục nước ta, nhưng địch vẫn còn ngoan cố tìm cách giữ cho được vùng đồng bằng Bắc bộ để khai thác kho người, kho của, hòng kéo dài chiến tranh.


Hưng Yên cho tới đầu năm 1951 chỉ còn xã Phan Tây Hồ thuộc huyện Tiên Lữ duy nhất không có tề, nhưng tới ngày 5-3-1951 địch cắm vị trí Canh Hoạch ở ngay giữa xã, thì coi như hoàn toàn trở thành vùng tạm chiếm. Tỉnh ủy Hưng Yên ngay từ cuối năm 1950 đã nhận định thực chất cuộc đấu tranh ở vùng địch hậu là giành dân, không cho hoặc hạn chế địch khai thác kho người, kho của của tỉnh, cho nên đã tổng kết kế hoạch của địch lập hệ thống tháp canh, hương đồn là để thực hiện âm mưu bình định của chúng và ra nghị quyết chuyển mạnh hoạt động cho vững và phát triển cơ sở, hướng mọi hoạt động quân sự đều phải phục vụ cho cơ sở. Về tổ chức, thì tăng cường cấp ủy viên tham gia các ban chỉ huy Huyện đội, Tỉnh đội, trong đó bí thư cấp ủy trực tiếp làm chính trị viên. Về lực lượng, thì sắp xếp lại mỗi huyện có một trung đội tập trung, tỉnh còn 3 đại đội là C22 (trươcs gọi là C95), C20 và C27, trong đó C20 và C27 phân tán xuống huyện hoạt động cơ sở, chỉ giữ lại C95 (C22) tập trung thành đại đội mạnh. Sau chiến thắng Biên giới, bộ đội tỉnh và huyện đã được tăng cường về trang bị, mỗi đại đội tỉnh có 6 trung liên, 2 súng cối, 18 tiểu liên, súng trường đầy đủ và tốt, đạn dược dồi dào riêng C22 là đại đội mạnh được trang bị thêm 2 đại liên. Qua tổng kết chiến dịch Biên giới, lại được học thêm về tư tưởng quân sự mới, cho nên trình độ bộ đội đã được nâng lên rõ rệt. Tinh thân chiến đấu được giữ vững và tạo được khí thế tin tưởng.


Thế nhưng, về góc độ quân sự, vấn đề đặt ra là hoạt động tác chiến như thế nào để phục vụ và phát triển cơ sở. Hình thức tác chiến thế nào để vừa góp phần phá hệ thống tháp canh, hương đồn, lại vừa giữ vững được cơ sở, đưa dần quần chúng đứng lên đấu tranh với địch bằng nhiều hình thức từ thấp tới cao, làm thế nào để vừa có thể tiêu diệt được địch mà lại vẫn bảo toàn được lực lượng trong điều kiện địch hoàn toàn có ưu thế; ta lại hoạt động trong thế bị bao vây tứ phía và thiếu địa bàn đứng chân vững chắc. Đó là những vấn đề rất gay cấn đối với những người chỉ huy quân sự chúng tôi hồi đó. Các đơn vị bộ đội tỉnh và huyện không phải không có những trận thắng lớn như bằng nội ứng diệt đồn An Chiểu (Tiên Lữ), chống càn thắng lợi ở Tam Nông hoặc trận phục kích ở Tam Đa (Phù Cừ) diệt địch và thu trung liên; những trận đánh đó có góp phần cổ vũ kháng chiến, uy hiếp địch nhưng vẫn không làm thay đổi được hình thái của hai bên; trái lại, địch vẫn tiếp tục phát triển tháp canh, hương đồn, thu hẹp phạm vi hoạt động của ta. Đó là không kể những trận bộ đội vào làng phá tề, xé thẻ tề, bắt tê đi giáo dục hôm trước thì hôm sau lại mọc lên ban tề mới phản động hơn, phá cơ sở ta dữ dội hơn, hoặc là ban đêm bộ đội vào phá đồn hương dũng thì bọn chúng rút lên lô cốt cố thủ bắn trả lại, ta bao vây tới sáng không làm gì được, đành phải rút đi, có khi kèm theo cả thương vong. Rõ ràng, những trận đánh của ta dù có thắng lợi nhưng vẫn không mang lại hiệu quả mong muốn là dồn hẹp ảnh hưởng của địch, ta giành được nhiều dân, mở thêm được căn cứ để bộ đội đứng chân. Như vậy, tình thế và hoàn cảnh buộc ta phải từ bỏ những hoạt động quân sự mang tính hình thức, thoát ly khỏi quần chúng, mà phải tìm ra cách đánh có hiệu quả thiết, thực hơn.


Từ suy nghĩ đó, chúng tôi đã đi tới một số kết luận sau: Về địch: Hưng Yên có binh đoàn cơ động số 3 (GM3) đóng ở Bần Yên Nhân và Dị Sử (Mỹ Hào) trên đường số 5. Bọn này hành quân theo lệnh của Tư lệnh Bắc bộ của địch, không phụ trách chiếm đóng. Tại thị xã, có phân khu (Sous secteur), do một đại tá người Việt tên là Dương Quý Phan chỉ huy quân chiếm đóng; tại mỗi huyện trung bình có một đại đội (Quartier) chia thêm một số vị trí lẻ cỡ trung đội, cuối cùng là hệ thống hương-tổng dũng tạo thành một mạng lưới chiếm đóng hoàn chỉnh.


Nếu lựa chọn đối tượng tác chiến cho ta thì rõ ràng chọn hương-tổng dũng là phù hợp nhất, bởi vì đó là loại quân yếu nhất (trang bị yếu từ vài súng tới vài chục khẩu, phần lớn là súng trường, được, huấn luyện sơ sài, cấp dưỡng kém cỏi, tinh thần yếu kém...) nhưng lại là thứ quân nguy hiếm nhất vì nó trực tiếp khống chế dân vùng chiếm đóng, đẩy lùi cơ sở chính trị của ta. Cho nên, chọn hệ thống hương-tổng dũng làm đối tượng tác chiến không chỉ là phù hợp với trình độ tác chiến của bộ đội ta hồi đó, mà còn là yêu cầu bức xúc của công cuộc giữ vững và phát triển cơ sở, ra sức giành dân với địch, phù hợp với nghị quyết của Tỉnh ủy. Chúng tôi quyết, định trước hết sử dụng đại đội tập trung của tỉnh là C95 (C/22), huấn luyện tác chiến đánh đối tượng tác chiến này, sau đó dần dần tập trung hai đại đội đang hoạt động phân tán về tập trung phá cho kỳ được hệ thống hương đồn trong thời gian ngắn nhất.


Tuy nhiên, bọn hương-tổng dũng có hai cái mạnh tương đối mà cho tới nay, bộ đội ta vẫn chưa khắc phục được, đó là chúng dựa vào lô cốt mà bộ đội ta chỉ được trang bị súng bộ binh, không có vũ khí công phá lô cốt và chúng ỷ lại vào quân ứng cứu của các vị trí lớn hơn ở gần đó; vì cho tới lúc đó, quân ta chỉ làm chủ được ban đêm, không làm chủ được ban ngày, chưa có khả năng đối địch trực tiếp với quân ứng chiến. Vì thế, chúng tôi phải nghĩ cách vượt qua hai chướng ngại vật tương đối đó, tìm ra cách đánh phù hợp, nghĩa là phải tạo ra cho mình một loại vũ khí có tác dụng phá lô cốt và phải đủ sức trụ lại ban ngày, sẵn sàng tiêu diệt hoặc chí ít cũng chặn được địch, chia cắt quân ứng chiến với bốt hương dũng. Nếu làm được như vậy, cũng tức là làm mất khả năng tự vệ của hương-tổng dũng, tạo thế cho cơ sở và nhân dân nổi dậy kháng chiến và làm mất khả năng vũ trang trở lại cho các hương đồn, do đó mà mở rộng địa bàn hoạt động của ta, xây dựng các khu du kích đang rất cần cho quân, dân trong tỉnh.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:06:46 pm
Về vũ khí phá lô cốt, chúng tôi được Cục quân giới (Tổng cục Cung cấp, nay gọi là Tổng cục Hậu cần) phân phối trang bị cho vài quả mìn lõm làm mẫu, sau đó anh em công binh xưởng tỉnh do đồng chí Nhuận làm tổ trưởng theo mẫu đó mà chế tạo nhiều quả khác. Mìn lõm ngày nay là loại vũ khí quá thông thường, nhưng vào hồi cuối năm 1950, do trình độ quân sự của cá nhân tôi còn quá ấu trĩ, non nớt nên coi nó như một chìa khóa thiêng để mở cái lô cốt (cả nghĩa đen và nghĩa bóng) mà tôi hằng mơ ước, nó sẽ là một phương tiện đắc lực, là một công cụ phá đồn mà tôi đã phải mất bao tháng dằn vặt suy tư, mong ngóng. Xin cho phép tôi mở ngoặc vấn đề kể một chuyện vui vui nhưng cũng rất nghiêm túc sau:

Hồi tháng 6-1950, địch đang mở rộng hệ thống hương đồn. Bộ đội Phù Cừ mang quân vào phá bốt Viên Quang. Bọn hương dũng chỉ có 4 khẩu súng trường, nhưng đã rút lên lô cốt cố thủ mặc cho bộ đội ta gọi hàng, kết quả tới sáng, bộ đội ta phái rút về. Nghe chuyện, tôi thấy cần phải có vũ khí công đồn, nhưng được nghe nói trên Việt Bắc, kỹ sư Trân Đại Nghĩa đã sáng chế ra loại súng gọi là SKZ (súng khóng giật) có thể phá được xe tăng, lô cốt địch. Tới khi tôi được triệu tập lên Việt Bắc dự hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới hồi đầu tháng 11-1950, tôi chủ tâm lên Bộ cố xin cho kỳ được loại SKZ này. Tại hội nghị, tôi tìm gặp anh Nguyễn Ngọc Xuân, là Cục phó Cục quân giới. Anh Nguyễn Ngọc Xuân quê ở xá Bạch Sam (Mỹ Hào). Gặp anh, tôi lấy tình nghĩa đồng hương báo cáo tình hình phong trào tỉnh Hưng Yên đang gặp khó khăn, đen tối do các đồn hương-tổng dũng gây ra là chủ yếu, nhưng để tiêu diệt được các đồn này, phải có vũ khí phá được lô cốt như súng SKZ mà lực lượng vũ trang Hưng Yên không có, cần xin được Bộ chi viện. Anh Xuân cho biết đúng là Cục quân giới đã sản xuất, được loại súng này, sau gọi là ĐKZ (đại bác không giật), nhưng mới sản xuất được vài khẩu, trước hết cần phải trang bị cho bộ đội chủ lực, khi nào sản xuất được nhiều, Bộ sẽ trang bị cho. Trước mắt, để phá lô cốt, có thể dùng loại mìn lõm. Mìn lõm là loại mìn cấu tạo theo dạng của đạn badôca, lõm một đầu, khi được kích thích nổ sẽ có tác dụng nổ xuyên sâu vào trong lô cốt, chỉ cần dùng nụ xòe, dây cháy chậm kích thích nổ mà thôi. Tuy trong lòng chưa được toại nguyện, nhưng có cái để phá được lô cốt còn hơn là không, tôi đành xin anh cho người đi lĩnh ngay vài quả loại 5kg mang về tỉnh sử dụng. Quả nhiên anh Xuân giữ lời hứa. Mấy tháng sau, anh gửi trang bị cho tỉnh một khẩu SKZ và tới đầu tháng 11-1951 đưa ra sử dụng phá vị trí tổng dũng của tên tổng Thân ở xã Tân Dân (thôn Dương Trạch, huyện Khoái Châu) rất có kết quả, buộc chúng phải đầu hàng.


Trở lại nói về mìn lõm. Từ hội nghị trở về, tôi cử người lên kho lĩnh ngay 2 quả, rồi cùng với tôi mang về tỉnh theo đường dây qua Sỏi Mẹt, Yên Dũng (Bắc Giang), Quế Võ, Nhất, Nhị Trai (huyện Lương Tài - Bắc Ninh), Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện (Hải Dương) rồi về tỉnh. Anh em công binh xưởng của tỉnh nghiên cứu và nắm được ngay nguyên lý chế tạo, hứa rằng có thể chế tạo được, trọng lượng bao nhiêu, 5kg, 10kg hoặc 15kg tùy theo yêu cầu trận đánh. Chúng tôi lại cho nổ thử một quả tại cánh đồng huyện Hưng Nhân, nghiệm thấy kết quả rất tốt nên rất yên tâm. Để giữ bí mật, chúng tôi đặt bí danh cho mìn lõm là VKM (vũ khí mới). Thế mà địch cũng nắm được bí danh này, thông tri cho các vị trí yêu cầu tìm xem loại vũ khí gì và nhắc phải đề phòng. Còn phía chúng tôi, tổ chức huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ đại đội C95 (C22) sử dụng thành thạo và anh em rất tin tưởng.


Như vậy là cái mạnh thứ nhất của bọn hương dũng có thể khắc phục được. Còn cái mạnh thứ hai, thực chất là làm sao chia cắt được bọn hương dũng với quân ứng chiến ở các nơi khác tới cứu viện, từ đó tạo điều kiện cho ta phát động quần chúng đứng lên kháng chiến. Đối với cá nhân tôi, được dự hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới chỉ có 10 ngày thôi, không những tôi được gặp đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân giúp cho tôi kiến thức về mìn lõm mà quan trong hơn, coi như tôi đã qua một lớp đại học về quân sự, tôi đã được trang bị tư tưởng chiến thuật mới, phương pháp tổ chức chỉ huy bộ đội chiến đấu giành thắng lợi. Thực vậy, tôi đã được bồi dưỡng một số khái niệm quân sự lúc đó còn mới mẻ đối với tôi, như mối quan hệ giữa diệt sinh lực địch và giữ đất, thì phải lấy diệt sinh lực địch làm chính, giữa đánh địch trong công sự và ngoài công sự thì phải lấy đánh địch ngoài công sự làm chính, giữa đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao, giữa đánh xa và đánh gần, thực hành "tam mãnh" (mãnh đả, mãnh xung, mãnh truy) thế nào; về tổ chức chiến đấu, cái gì cần làm chậm, chắc, cái gì cần phải làm nhanh...


Cho nên, sau khi dự hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới và sau hội nghị Tỉnh ủy Hưng Yên kết thúc, chúng tôi đã dành 2 tháng (tháng 1 và tháng 2 - 1951) để huấn luyện, tập huấn cho cán bộ, chiến sĩ đại đội 95 tạo một luồng sinh khí mới về kỹ thuật và chiến thuật, tác phong chiến đấu. Những nguyên tắc, tư tưởng chiến thuật mới rất cần thiết phải học tập nghiên cứu. Nhưng đó mới chỉ là những khái niệm chung, mà còn cần phải phân tích kỹ tình hình thực tế của nhiệm vụ chiến đấu mới theo đúng tác phong "thật sự cầu thị" để xây dựng được quyết tâm chính xác. Nếp nghĩ trước đây thường chỉ nghĩ đánh đồn, ít nghĩ tới đánh viện, thậm chí còn ngại và e sợ nữa. Bây giờ, theo tư tưởng chiến thuật mới, đánh đồn phải đi đối với diệt viện, lấy diệt viện là chính, diệt điểm hoặc vây điểm để diệt viện, vì đánh địch ngoài công sự dễ cho ta nhiều. Tất nhiên phải làm sao khắc phục được chỗ mạnh của địch, nhất là về phi pháo và cơ giới của địch và phải biết chọn đốì tượng tác chiến thích hợp.


Về đối tượng tác chiến, nếu ta đánh đồn hương dũng, rất nhiều khả năng là các vị trí ở gân, trước hết phải lo đi ứng cứu hoặc là hội quân một vài cứ điểm xung quanh, ít thì một trung đội, nhiều thì đại đội, về vũ khí thì địch không hơn hoặc kém ta. Tất nhiên, ta vẫn phải có phương án đánh quân ứng chiến của phân khu (Sous secteur) hoặc quân GM cơ động chiến lược của địch, mặc dầu khả năng này có rất ít. Nếu ta chủ trương đánh nhanh, không đánh kéo dài, và biết chọn khu vực tác chiến ở xa đường giao thông, thì hạn chế được khả năng hoạt động của cơ giới địch. Trường hợp quân cơ động địch dù có tới thì với trình độ quân sự và trang bị mới được cải tiến của bộ đội, ta cũng có khả năng tiêu diệt một bộ phận địch nếu ta biết đánh cận chiến (đánh gần) và giữ bí mật nơi xuất, phát tấn công của ta. Trường hợp xấu, ta có thể dựa vào làng chiến đấu phòng ngự bảo toàn lực lượng, giữ trận địa ít nhất, được ban ngày để đợi tối, ta cơ động đi nơi khác. Địa hình làng Việt Nam ở châu thổ sông Hồng có giá trị đặc biệt, về quân sự, nó có thể là bàn đạp bí mật bất ngờ để ta xuất phát tấn công địch, đồng thời nó cũng là một trận địa phòng ngự vững chắc cho ta. Mỗi làng có thể chiến đấu phòng ngự vòng tròn với địch, đồng thời lại chiến đấu liên hoàn với các làng khác cách nhau từ 300m tới 800m. Địa thế làng mạc ở Việt Nam tuy ở đông bằng mà rất hiểm trở đối với kẻ địch xâm lược phi nghĩa, đúng như câu thơ của Nguyễn Trãi:
   Quan hà bách, nhị do thiên thiết
   Hào kiệt công danh hữu địa tầng
Dịch ý là :
   Trời đã tạo nên núi sông này, hai người chọi được một trăm
   Hào kiệt ở đất này lúc nào cũng có.


Còn về khắc phục phi pháo của địch, chỉ còn là vấn đề đào công sự và ngụy trang, bộ đội đã quen làm, có chăng chỉ là vấn đề kỷ luật. Bộ đội hành quân tới đâu, dù muộn màng cũng phải đào công sự và làm kế hoạch chiến đấu đề phòng địch tấn công bất ngờ. Tiện đây, cũng cần nói lên giá trị của lũy tre làng Việt Nam. Làng Việt Nam nào ở Bắc bộ cũng có lũy tre bao bọc xung quanh, địch ở ngoài làng rất khó quan sát bên trong làng đang làm gì; ngược lại, ta ở rìa làng, qua chỗ hở của cây tre có thể quan sát mọi hành động của bên ngoài; lại nữa, gốc tre rất chắc, công sự làm ở gốc tre, pháo và bom thường chỉ nổ khi chạm vào cây tre, trước khi chạm mặt đất, cho nên tác dụng báo vệ rất tốt cho sinh lực của ta. Cấu trúc bên trong làng lại có ao lớn, ao bé, có những nhà không có hàng có lối, mỗi nhà có hàng rào bằng gạch hoặc bằng đất nện, chí ít cũng bằng cây xanh như dâm bụt, chẳng hạn. Hồi đó, làng chỉ có các ngõ nhỏ đi lại, ít làng có đường để xe cơ giới qua lại, cho nên cơ giới địch ít có khả năng tiến sâu vào trong làng và bên phòng ngự lại có thể dùng các nhà có hàng rào bao quanh tổ chức các ổ đề kháng rất hiểm ở ngay giữa làng.


Hiện nay, ta đang quy hoạch lại các làng mạc, tiến lên đô thị hóa nông thôn, ước gì ta hãy giữ lại cái đặc sản sẵn có của làng mạc trên ý nghĩa kết hợp kinh tế với quốc phòng, chí ít giữ lại lũy tre xanh bao quanh làng.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:07:43 pm
Từ sự đánh giá, nhận định trên, chúng tôi rút ra kết luận là bộ đội ta, với trình độ mới, có khả năng tiêu diệt quân địch ở các vị trí xung quanh hương đồn hội quân tới, có đủ khả năng chia cắt hoàn toàn bọn chúng với lực lượng hương đồn. Đối với quân cơ động GM, ta cũng có thể chia cắt chúng với hương đồn ít nhất được một ngày thì ta cũng có đủ thời gian công phá hoặc bao vây gọi hàng bọn hương dũng còn ngoan cố cố thủ trong lô cốt được. Xong, tổng quát lại, chúng tôi kết luận một cách tin tưởng là ta có thể diệt hương đồn (điểm) và diệt quân ứng cứu của địch (viện). Tuy vậy, trong tư tưởng của chúng tôi vẫn còn lấn cấn với việc đối phó với quân cơ động GM của Pháp được phi pháo, cơ giới hùng mạnh yểm trợ chúng. Phải đợi tới ngày 25-9-1951, trải qua trận chống càn "Trái chanh" ở Phan Tống Xá mới thực sự được thực tế chiến đấu thể nghiệm những suy đoán của mình. Ngày nay, sau vài chục năm nhìn lại, chúng tôi thấy rằng chính nhờ những suy tư, tính toán kỹ lưỡng và thận trọng đó, đã giúp cho quân dân Hưng Yên đột phá hệ thống tháp canh, hương đồn của địch bằng hành động quân sự một cách táo bạo, hợp lý và có hiệu quả lớn. Chỉ trong vòng 8 tháng, kể từ ngày 31-3-1951 là ngày đầu tiên mở cơ sở ở Thọ Lão (Phù Cừ) tới hết tháng 12-1951, tất cả các huyện phía nam đường số 5 đã phá tan về căn bản tổ chức tề dũng của ngụy quyền. Huyện nào cũng có khu du kích vững chắc, công tác giành dân với địch thu được thắng lợi lớn.


Dưới đây, xin lần lượt kể việc mở cơ sở từng khu vực theo thứ tự thời gian, phối hợp với chiến trường chính.

1. Trận đột phá đầu tiên diễn ra đêm 31-3-1951 và ngày 1-4-1951 ở Thọ Lão, Viên Quang, Hạ Cát, Cát Dương.

Xin được kể chi tiết trận này. Thực ra, trước đó chúng tôi xây dựng kế hoạch phá bốt hương dũng Khả Duy (Phù Cừ), nhằm nối khu du kích Phan Tây Hồ (Tiên Lữ) với xã Minh Hoàng, gồm các thôn: Hoàng Tranh, Quế Ải (Phù Cừ), nhưng tới ngày 5-3-1951, địch càn quét và cắm bốt Canh Hoạch ở ngay giữa xã Phan Tây Hồ, làm mất bàn đạp tấn công của ta, buộc chúng tôi phải chuyển hướng nhằm vào bốt hương dũng Thọ Lão, dựa vào khu du kích huyện Thanh Miện (Hải Dương) làm nơi xuất phát tấn công; khu này chỉ ngăn cách với Thọ Lão bởi một con sông nhỏ. Đúng lúc đó, để phối hợp với chiến trường chính mở trên đường số 18 (chiến dịch Trần Hưng Đạo) theo chỉ thị của khu Tả ngạn, tiểu đoàn 664 thuộc E42 phối hợp chiến đấu với Hưng Yên. Chỉ huy tiểu đoàn gồm các đồng chí Mạc Đình Vịnh - tiểu đoàn trưởng, Phan Huy Thứ - chính trị viên, Trương Thao - tiểu đoàn phó. Kế hoạch tác chiến hợp đồng giữa tiểu đoàn 664 với bộ đội tỉnh Hưng Yên và cơ quan chính quyền, quân sự huyện Phù Cừ như sau: Mục tiêu mở cơ sở cho 3 xã ở phía đông huyện Phù Cừ thông với khu du kích huyện Thanh Miện (Hải Dương), trọng tâm diệt cho kỳ được bốt hương dũng công giáo phản động ở Thọ Lão. Chiến thuật vận dụng diệt điểm và diệt viện thời gian hoạt động 2 đêm và một ngày, bắt đầu từ đêm 31-5-1951 phân công cụ thể:


Đại đội 92 (đại đội Thanh Bình của tỉnh) được phân công tiêu diệt bốt Thọ Lão bằng sức mạnh lấy mìn lõm làm vũ khí công phá lô cốt, có một bộ phận chặn viện từ vị trí Nhật Lệ ở phía nam lên, bộ phận này bố trí ở thôn Ngũ Lão. Chỉ huy đại đội 92 gom các đồng chí Trần Trí Dũng - đại đội trưởng, Minh Chiếu - chính trị viên, Mai Dương - đại đội phó (đã từ trần năm 1085 ở Hải Phòng).


Tiểu đoàn 664 bố trí khu vực thôn Vũ Xã ở phía đông nam vị trí Cao Xá, có nhiệm vụ tiêu diệt địch từ Cao Xá hoặc Đình Cao cách đó khoảng 3km lên ứng cứu cho bọn địch ở Thọ Lão.


Bộ đội tập trung huyện Phù Cừ có một bộ phận hỏa lực của D664 hỗ trợ bao vây tiêu diệt bốt hương dũng Viên Quang. Sau 1 ngày chiến đấu, cụ thể là đêm ngày 1-4-1051, thực hiện kế hoạch khuếch trương chiến thắng (sau này có tên gọi kế hoạch dung dọa) tiến vào 2 thôn Hạ Cát và Cát Dương võ trang thuyết phục bọn hương dũng nộp súng và vận động nhân dân đứng dậy ủng hộ kháng chiến. Dân quân du kích ở thôn nào có bộ đội tới sẵn sàng hỗ trợ bộ đội phối hợp chiến đấu trong việc đào công sự, giữ bí mật; huy động nữ du kích Hoàng Ngân tổ chức tiếp tế, cứu thương bộ đội, đặc biệt lựa chọn một số chị em tốt, có điều kiện hoạt động công khai, giả làm 2 người đi chợ nắm tình hình địch ngay từ vị trí của chúng, làm nhiệm vụ quân báo cho bộ đội. Chỉ huy huyện đội Phù Cừ là các đòng chí Đạt - huyện đội trưởng, Bổn - chính trị viên, Tuyên - huyện đội phó. Đại diện Đảng và chính quyền huyện là đồng chí Biểu - thường vụ Huyện ủy và chủ tịch huyện Phù Cừ.


Tỉnh đội Hưng Yên có tôi - Võ An Đông và đồng chí Phan Mạnh Hà đi cùng, trực tiếp đi sát xây dựng kế hoạch tác chiến và chỉ huy C92 đánh Thọ Lão và cùng với lãnh đạo huyện Phù Cừ đặt kế hoạch huy động lực lượng địa phương phối hợp phục vụ chiến đấu trong và sau trận đánh. (Đồng chí Phan Mạnh Hà mới có quyết định chuyển về khu công tác, trong khi chờ giao thông đưa về khu công tác cũng vẫn theo sát bộ đội, đồng chí đã bị địch bắt trong trận càn "Con rắn" (Reptile) ở Bình Giang ngày 20-4-1951 thật đáng tiếc).


Trong ý định của kế hoạch còn có điểm hoàn toàn khác trước, là thái độ đối với tề và đối với tù binh bắt được. Theo tinh thần nghị quyết Tỉnh ủy hồi cuối năm 1950, cần phải tận dụng thế hợp pháp, công khai, giữ kín lực lượng bảo vệ dân ở mức tối đa, đưa quần chúng dân từng bước đấu tranh với địch, từ thấp tới cao, từ công khai tới bán công khai, bất hợp pháp, cho nên sau khi phá xong bốt hương dũng, ta vẫn chủ trương, vẫn giữ nguyên ban tề hoạt động, nhưng phải theo sự hướng dẫn của ta, lúc đầu vẫn nộp cho địch đủ phu sai tạp dịch, sau bớt dần, đi tới xóa bỏ hẳn. Ta lại mớm cho tề vừa hù dọa địch vừa khuếch trương sức mạnh của ta, làm cho địch càng khiếp sợ ta. Trong khi đó, ta tranh thủ tuyên truyền tập hợp tổ chức củng cố chi bộ, các đoàn thể, trang bị huấn luyện cho dân quân, du kích; bộ đội về làng thì đào công sự và sẵn sàng đánh địch, đồng thời có kế hoạch cho dân cất giữ thóc lúa, phòng tránh phi pháo, khi bộ đội rút đi thì dùng rơm lấp công sự và phủ trên lớp đất mỏng, đồng thời chuẩn bị cho tề và dân cách đấu tranh công khai với địch, hạn chế sự khủng bố hung bạo của chúng, cứ thế, cho tới khi ta mạnh và bọn địch ở các vị trí xung quanh không dám bén mảng nữa thì tự nhiên tề phải tự giải tán, không cần dùng các hình thức gì khác. Ví như thôn Thọ Lão, sau khi được giải phóng, tề vẫn còn, dân vẫn dùng thế tề đi lại công khai vào vùng địch hậu, dân vẫn yên ổn làm ăn và bọn địch xung quanh không dám bén mảng tớ ; cho nên tề tự nó không còn tác dụng, hương đồn cũng không lập lại được. Khu du kích của ta ngày càng được củng cố vững chắc, tình đoàn kết quân dân ngày càng gắn bó.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:08:07 pm
Còn thái độ đối với tù binh bắt được thì thế nào? Xuất phát từ nhận thức về ngụy binh, tề dõng tuy có hành động bóc lột áp bức nhân dân nhưng trừ một số rất ít tên đại gian ác còn đại bộ phận do hoàn cảnh địch mạnh, ta yếu mà bị dụ dỗ, bắt buộc đi lính chứ không phải tất cả là phản động chống lại kháng chiến, và cũng do điều kiện vùng của ta kiểm soát không rộng, khả năng cung cấp có hạn và ở sâu trong địch hậu, tổ chức đưa tù binh ra vùng tự do hết sức khó khăn, chủ trương của ta là thực hiện đầy đủ chính sách khoan hồng của Chính phủ đối với tù binh, nhất là ngụy binh. Ta chỉ giữ lại 1 hoặc 2 ngày giáo dục chúng hiểu kẻ thù dân tộc chính là thực dân Pháp chứ không phải là ngụy binh, rồi thả chúng về với vị trí của chúng, nhưng căn dặn, nhắc nhở chúng về với địch thì hoặc là xin về với vợ con làm ăn hoặc bí mật liên lạc với kháng chiến, quay súng bắn lại Pháp hoặc thậm chí phải đi càn quét thì không được cướp hóc, giết hại dân và bắn chỉ thiên, sẵn sàng giơ tay hàng bộ đội ta... Vì vậy, kế hoạch tác chiến bao giờ cũng có kế hoạch địch vận đi kèm. Ban địch vận Tỉnh đội do đồng chí Nguyên Hữu Vận làm trưởng ban đã chuẩn bị trước bài vở lên lớp, đi sát sở chỉ huy, sẵn sàng làm nhiệm vụ "quản giáo" tù binh một cách có hiệu quả. Thái độ khoan hồng đối với tù binh như trên đã đem lại kết quả trực tiếp và sâu rộng trong hàng ngũ địch. Tù binh bắt được trong trận tới được thả về bốt Cao Xá và nói um lên sức mạnh của ta lại càng reo rắc tâm lý hoang mang, sợ hãi của bọn địch. Trực tiếp ngay là tề phản động ở thôn Trà Bồ đã vội bí mật liên lạc với ta, xin giao nộp vũ khí cho ta, tạo cho ta mở tiếp luôn khu du kích mới ở phía bắc Phù Cừ sau đó hơn 10 ngày. Về sau, có những trận địch vừa gặp ta nổ súng xung phong là đã hàng ngay, ta gần như không bị thương vong gì. Ví như trận đánh địch ở thôn Nhân La Lương (làng Mát) có 2 tên sĩ quan Pháp chỉ huy hơn 1 trung đội ngụy bốt Ân Thi và Thổ Hoàng tới, ta vừa nổ súng xung phong đã bắt gọn ngay toàn bộ quân địch (trận đánh của C22 ngày 20-10-1951); hoặc trận đánh của C27 cũng vào thời gian đó, đã bắt sống 1 trung đội địch có 2 sĩ quan Pháp chỉ huy tại thôn Đống Long, sau đó tiến lên diệt bốt Thanh Sầm (huyện Kim Động) và nhiều trận nữa cũng tương tự như vậy.


Ngày nay, suy ngẫm lại, cá nhân tôi lại càng thấy chủ trương đối với tề, ngụy lúc đó thật là sáng suốt, thông minh, tạo cho ta thêm bạn, bớt thù, lực lượng kháng chiến ngày càng được bổ sung đã thực sự uốn nắn tư tưởng và hành động rất sai lạc của một số đồng chí mà ta gọi là "bệnh ấu trĩ" tả khuynh. Tôi lại càng thấm thía lời căn dặn chân thành của Bác Hồ trong thư gửi cho cán bộ, nhân dân tỉnh Hưng Yên đang bị quằn quại dưới sự kìm kẹp, khủng bố của địch, có câu "Các chú phải khéo đánh giặc và khéo tránh giặc".


Trận đánh diễn ra và thực hiện suôn sẻ đúng theo kế hoạch. Đêm 31-3-1951, trận đánh Thọ Lão quyết liệt nhất. C92 dùng mìn lỏm đánh sập 2 lô cốt. Địch rút lên gác chuông nhà thờ chống cự quyết liệt, không chịu hàng, giết hại 8 chiến sĩ ta, cố đợi tới sáng hy vọng quân ứng cứu. Nhưng 5 giờ ngày 1-4-1951, nhà thờ bốc cháy, khói hun lên gác chuông, địch bị ngạt khói, rơi xuống đất chết hết. Tiểu đoàn 664 diệt và bắt sống một trung đội ngụy từ vị trí Cao Xá định ứng cứu cho Thọ Lão. Ta không bị thương vong người nào. C24 Phù Cừ bao vây gọi hàng bốt hương dũng Viên Quang và đêm 1-4-1951, khuếch trương chiến thắng, dùng chiến thuật "dung dọa" gọi hàng 2 bốt Hạ Cát và Cát Dương, không tốn một viên đạn nào. Nhân dân, dân quân du kích các xã hồ hởi phục vụ các mặt chiến đấu và bảo đảm đặc biệt giữ bí mật rất tốt. Uy thế của lực lượng kháng chiến lên rất cao. Trận đánh đêm 31-3-1951 và ngày 1-4-1951 tuy không tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn đối với lịch sử kháng chiến của Hưng Yên. Đó là trận mở đầu có tính chất đột phá thắng lợi vào hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, mở được 1 khu du kích đầu tiên của tỉnh đang ở thế bị tạm chiếm hoàn toàn. Đó là trận đã tạo được một mô thức khá hoàn hảo và toàn diện để ta vừa mở được cơ sở, lại vừa diệt được địch, vừa bào toàn bồi dưỡng được lực lượng, kết hợp chủ lực với địa phương, kết hợp tác chiến với địch vận, kết hợp quân sự với chính trị.


Từ nay diệt, vị trí hương dũng không chỉ đánh một đêm rồi rút mà phải trụ lại ban ngày để đánh viện, chủ lực có phối hợp thì đảm nhiệm đánh viện, địa phương diệt hoặc bao vây bốt địch để gọi viện. Sau trận đánh đều có kế hoạch khuếch trương chiến quả (dung dọa), vừa mở thêm cơ sở, vừa đánh lạc hướng phán đoán của địch, có phương châm và cách thức xử lý đối với tề, tù binh bắt được, có kế hoạch ổn định, bảo vệ dân trong và sau trận đánh, coi như đã được thành "bài bản" từ trận Thọ Lão. Duy nhất trận Cao Xá (năm 1953) vì không theo bài bản này nên bị thất bại. Tiện đây, cũng xin cải chính một tư liệu ghi trong cuốn "Lịch sử cuộc khảng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng", trang 265 có nói D664 diệt vị trí Cầu Tràng là không đúng. Thời kỳ này, địch chưa đóng vị trí Cầu Tràng mà về sau, năm 1952, chúng mới cắm vị trí này và bị một đơn vị của E42 tiêu diệt.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:08:47 pm
2. Mở khu du kích giữa tháng 4 năm 1951 ở bắc huyện Phù Cừ.

Thực ra, hoạt, động này coi như sự tiếp nối của trận đánh Thọ Lão. Khu này ở phía bắc huyện Phù Cừ, bắc vị trí Cao Xá, gồm một số xã, như Minh Hoàng, Phan Sào Nam, Minh Tân, Trường Chinh, có bốt hương dũng vũ trang Trà Bồ, Phương Bồ, Đại Duy, trong đó bốt Trà Bồ, Đại Duy được coi là phản động, còn Phương Bồ tuy là thôn công giáo, lại được vũ trang nhưng vẫn là cơ sở ngầm của kháng chiến. Cuốn ''Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng" lại xác định là bốt phản động là không đúng, cần phải được cải chính lại. Cá nhân tôi thấy Phương Bồ là thôn công giáo, lại đi theo kháng chiến, ngay cả những giờ phút đen tối như lúc bấy giờ cững là một sự hiếm có. Ảnh hưởng chiến thắng của trận Thọ Lão cùng với chính sách khoan hồng với tù binh, tề dũng đã tác động trực tiếp tới bọn phản động ở Trà Bồ, chúng bí mật liên lạc với ta, sẵn sàng xin nộp súng, quy hàng. Chớp thời cơ đó, Tỉnh đội và E42 nhanh chóng tổ chức hợp đồng tác chiến theo như bài bản đã tiến hành ở Thọ Lão.


Lần này, khác với lần trước là bộ đội không phải tốn sức công đồn, mà chỉ vào tiếp nhận sự giao nộp vũ khí của 2 bốt Trà Bồ và Phương Bồ, và phát động quần chúng đứng lên kháng chiến, sẵn sàng đánh viện. Ngoài C22 vào thôn Trà Bồ, Tỉnh đội tập trung thêm C20 bố trí ở thôn Ba Đông, Phương Bồ, còn D664 của E42 ở khu vực thôn Viên Quang. Bọn địch ở bốt Cao Xá bị đánh đau ở trận trước, nên án binh bất động, nhưng địch ở bốt Thố Cầu ở đông nam huyện Ân Thi giáp với thôn Ba Đông, cách nhau một con sông nhỏ, được tin, chủ quan tập hợp cả quân của một số vị trí thuộc huyện Yên Mỹ, lực lượng khoảng gần 1 đại đội kéo sang ứng cứu thì bị C20 được sự chi viện rất có hiệu quả của D664 đã tiêu diệt toàn bộ toán quân này. Trong trận này, ta đã bắn chết tên đội Tự chỉ huy ngụy binh ở vị trí Từ Hồ (Yên Mỹ) và bắt sống tên đội Cửu khét tiếng gian ác cả vùng nam Ân Thi, bắc Phù Cừ; tin này đã gây chấn động lớn tới tâm lý bọn ngụy binh và gây luồng không khí phấn khởi, hào hứng trong nhân dân, càng tin tưởng vào lực lượng kháng chiến (ngay sau đó, thể theo nguyện vọng của nhân dân, ta lập phiên tòa án quân sự do đồng chí Phan Huy Thư, chính trị viên D664 làm chánh án, tuyên bố tử hình tên đội Cửu.


Bộ đội Phù Cừ tiếp tục thực hiện chiến thuật "dung dọa", khuếch trương chiến thắng, giải phóng vị trí hương dũng ở thôn Đại Duy. Như vậy, miền bắc huyện Phù Cừ cùng với miền trung gồm trên 10 xã đã chuyển thành khu du kích, tạo thành chỗ đứng chân và bàn đạp cho bộ đội và dân quân tấn công sang địa bàn khác của tỉnh.


3. Mở khu du kích thư 3 ở phía bắc huyện Tiên Lữ, ngày 5-6-1951.

Phối hợp với chiến dịch của Bộ mở tại Hà Nam Ninh bên hữu ngạn sông Hồng, Tỉnh đội với 2 đại đội tập trung, E42 với tiểu đoàn 664 có đồng chí Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng chỉ huy trực tiếp, lại cùng nhau phối hợp mở đợt hoạt động tại khu bắc Tiên Lữ và vẫn theo bài bản cũ. Khu vực hoạt động này tiến gần tới thị xã Hưng Yên, nên ta chuẩn bị khá kỹ phương án đánh viện. Nhưng lạ thay, nếu trận Thọ Lão ta diệt một trung đội ở vị trí Cao Xá, trận Ba Đông, Trà Bồ ta diệt gần một đại đội ngụy hội quân ở một số vị trí, thì trận này không gặp một đơn vị địch nào đi cứu viện, duy chỉ có 2 tên sĩ quan, một là tên trung úy người Pháp tên là Gồmbe (Gombert) và một tên thiếu úy người Việt tên là Tô đi xe zep từ thị xã Hưng Yên tới thôn Đầu Đặng, không biết có quân ta bí mật bố trí ở đó, bất ngờ bị E42 nổ súng, chúng bỏ xe chạy tới cánh đồng thôn Cao Cương thì bị bộ đội tỉnh xông ra bắt sống. Ta đã bức hàng, bức rút tất cả 11 vị trí địch. Thực ra, ta chỉ có ý định công đồn bằng mìn lõm ở vị trí thôn Tính Linh, nhưng do anh em yếu kém về kỹ thuật không diệt được trong đêm, mà phải bao vây ban ngày gọi bọn dõng ra hàng. Bộ đội huyện và trung đoàn 42 bao vây gọi hàng 2 vị trí ở Đầu Đặng, bắt được một bang tá tên là Thát (bang là cấp chính quyền ngụy, dưới cấp quận nhưng trên cấp tổng). Vị trí Phố Dung nằm trên đường 200 nối chợ Thi với Phố Giác, phát hiện quân ta từ Phù Cừ vượt qua đường 200 nhảy cóc sang bắc Tiên Lữ, nên chúng hoảng sợ bỏ chạy, còn lại những vị trí như Trại Nai, Trịnh Xá... là kết quả của chiến thuật "dung dọa". Đợt hoạt động này phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chính, có hiệu quả, nên đã được Bộ chỉ huy chiến dịch Hà Nam Ninh biểu dương trong báo cáo tổng kết chiến dịch.


Cũng hết sức vui mừng nói thêm về kết quả của đợt hoạt động này, nhưng là kết quả của sự xe duyên chắp mối tình duyên giữa đồng chí Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng E42 với chị Trịnh, hồi đó là bí thư chi bộ và nữ du kích Hoàng Ngân, qua sự gặp gỡ bàn chuyện bảo đảm chiến đấu mà nảy sinh mối tình thắm thiết. Được đồng đội vun đắp, nên 2 người đã nên vợ, nên chồng sau đó không lâu.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:09:30 pm
4. Mở khu du kích thư 4 ở tây nam huyện Ân Thi, cuối tháng 8-1951.

Tiếp theo thắng lợi ở phía bắc huyện Tiên Lữ, E42 và Tỉnh đội Hưng Yên dự định lại cùng nhau hợp đồng mở khu Giang Mát, Cổ Lễ ở phía tây nam huyện Ân Thi, sẵn sàng phối hợp với chiến trường chính, khi có lệnh.


Trong khi chờ đợi, Tỉnh đội quyết định mở khu bắc huyện Kim Động, nam huyện Khoái Châu bằng cách tiêu diệt bốt tổng dũng thôn Thanh Sầm, do tên tổng Đại khét tiếng phản động chỉ huy. Bốt Thanh Sầm nằm giữa đường số 39 và đê sông Hồng đã khống chế toàn bộ các làng xung quanh vẫn có lòng hướng về kháng chiến, nhưng rất sợ tên tổng Đại. Đại đội 27 trước vẫn hoạt động phân tán tại vùng này mới được về tập trung, do anh Doãn làm đại đội trưởng, được giao nhiệm vụ tiêu diệt vị trí này và trụ lại ban ngày để phát động quần chúng theo kháng chiến. Do tôi (Võ An Đông) - Tỉnh đội trưởng và đồng chí Trần Trí Dũng, tiểu đoàn phó đi theo trực tiếp chỉ huy, giúp đỡ, tháng 7 chúng tôi xây dựng kế hoạch tác chiến ở thôn Thọ Lão ròi hành quân tới thôn Long Cầu, Đông Minh, trú tại đó một ngày rồi sẽ xuất phát từ đó nhảy qua đường số 39 tiến đánh vị trí Thanh Sầm. Thật không may, tối hôm hành quân tới thôn Long Cầu, thì tên Doãn mang 2 liên lạc đi đầu hàng giặc tại bốt Phố Giác. Trong 2 người liên lạc này, có 1 người nhất định không theo tên Doãn đầu hàng, chạy về báo chúng tôi ngay trong đêm (rất tiếc tới nay tôi không còn nhớ tên họ người liên lạc dũng cảm này). Chúng tôi buộc phải bỏ dở kế hoạch tấn công và báo cáo với Khu xin ý kiến. Tại cuộc họp của Khu, lúc đó do đồng chí Nguyễn Khai làm khu trưởng, có đồng chí Nguyễn Như Thiết - trung đoàn trưởng E42 và tôi, chúng tôi đi đến nhận định tên Doãn tuy không được phổ biến nhưng cũng có thể đánh hơi thấy kế hoạch mở cơ sở tại vùng Ân Thi và có thể nó đã báo với địch, cho nên kết luận là tạm thời bỏ kế hoạch đánh Thanh Sầm và vẫn quyết định mở cơ sở ở huyện Ân Thi vừa để đánh lạc hướng quân địch, vừa để ly gián tên Doãn với địch, nhưng về lực lượng thì chỉ sử dụng 2 đại đội của tỉnh và đơn vị tập trung của huyện, còn E42 sẽ không tham gia đợt hoạt động này.


Thế là, vào cuối tháng 8 năm 1951, chúng tôi hành quân mở cơ sở diệt các vị trí chợ Lão, Phổ Vân và làng Mát theo đúng kế hoạch. Chỉ có tình tiết xảy ra là ban đêm ta không diệt được bốt Mát (thôn Nhân La Lương), phải đợi đến trưa hôm sau. Bọn hương dũng không thấy quân cứu viện ở các bốt Trương Xá và Kim Động tới, đã theo lời gọi hàng, chịu nộp vũ khí cho ta. Còn bọn địch biết có quân ta nhưng không dám đi ứng cứu, địch ở bốt Kim Động (cầu Ngàng) tới cánh đồng làng Dưỡng Phù năm bắn chỉ thiên rồi tới trưa thì rút về, còn bọn địch ở Trương Xá cho 1 tiểu đội đi thám thính, bị ta diệt gọn, chúng đóng chặt cổng bốt lại, không dám làm gì.


Trận đánh thắng lợi trọn vẹn, đánh dấu khả năng của bộ đội địa phương có thể tự tiếp tục phá nốt hệ thống tháp canh hương đồn của địch và lực lượng E42 được rảnh tay, chuẩn bị tác chiến ở mức cao hơn, phức tạp hơn.


5. Mở khu du kích thứ 5 tại bắc huyện Kim Động, nam huyện Khoái Châu (cuối tháng 10-1951).

Đây là trận đánh mở khu du kích nhưng không có kế hoạch từ trước mà do có sự nắm bắt nhanh nhạy thời cơ và do có sự chỉ huy năng động, thông minh, sáng tạo.

Chuyện xảy ra như sau:

Sau trận càn lớn Trái chanh, Trái quýt, ta có chủ trương đưa bộ đội tỉnh luồn từ Thái Bình trở về địa bàn cũ của tỉnh, phân công đại đội 27 trở về huyện Kim Động, đại đội 20 huyện Ân Thi cùng với đại đội 22 bố trí ở làng Mát dùng lối đánh cận chiến, bắt sống 2 tên Pháp và 30 tên ngụy ở bốt chợ Thi và Thổ Hoàng hội quân tới càn quét, ta không có một người nào bị thương vong.


Cùng thời gian này, đại đội 27 bố trí ở thôn Đống Long (Kim Động) bắt sống 2 tên Pháp và 20 tên ngụy từ vị trí Ngọc Đống đi hành quân trên đê sông Hồng vào thôn Đống Long. Ta xuất kích tiêu diệt chúng, không thương vong ai, vẫn giữ bí mật nơi đóng quân. Tiếp đó, tên tổng Đại mang theo một số tên dõng qua thôn Đống Long cũng bị C27 bất ngờ xông ra bắt sống. Anh Kiên - chính trị viên phó Tỉnh đội và anh Nguyễn Năng Thịnh - đại đội trường C27 đã vừa thuyết phục, vừa ép tên Đại dẫn bộ đội về thôn Thanh Sầm (cách đó khoảng 2km) kêu gọi lính hương dũng còn ở trong hương đồn ra đầu hàng nhanh và gọn. Ngay trong đêm khuếch trương chiến thắng, đại đội 27 cùng với dân quân dùng chiến thuật dung dọa tiến lên phá tề và diệt các hương đồn phố Dàn (Sài Thị), Đại Quan, Tiẻu Quan, Thọ Nham, Phó Nham, mở một khu rộng lớn ở nam Khoái Châu, bắc Kim Động, làm bàn đạp cho quân ta tiến lên hoạt động ở huyện Yên Mỹ và Văn Giang sau này. Trận đánh này có nhiều ý nghĩa. Trước hết, công cuộc phá hương đồn, mở cơ sở vẫn được tiếp nối, không bị các cuộc càn quét lớn làm gián đoạn. Trận đánh này tuy không có ý định tác chiến từ trước nhưng đã được hoàn thành một cách trọn vẹn kế hoạch mà ta buộc phải bỏ dở cách đó chừng 3 tháng do có sự đầu hàng của tên Doãn và cũng chính cán bộ, chiến sĩ đại đội 27 đã trả thù đích đáng sự phản bội của tên chỉ huy cũ của mình. Về mặt quân sự, trận đánh đã là tấm gương sáng chói của trình độ, bản lĩnh chỉ huy của đồng chí Nguyễn Năng Thịnh rất linh hoạt, sáng tạo, biết cướp thời cơ thuận lợi, táo bạo, dẫn dắt bộ đội dưới quyền hoạt động có tính chất một đợt hoạt động đã thắng lợi giòn giã, diệt nhiêu địch và vẫn bảo tồn mình. Đồng chí Nguyễn Năng Thịnh rất trẻ, lúc đó khoảng 23 hoặc 24 tuổi đời, là thanh niên ở thị xã Hưng Yên, từ cán bộ chính trị chuyển sang làm quân sự mà đã thể hiện một tài năng chỉ huy quân sự. (Rất đáng tiếc, đồng chí đã anh dũng hy sinh trong trận đánh viện ở đường 39, ngày 3-2-1952). Trận đánh này cùng với trận đánh ở thôn Mát (Ân Thi) cùng thời gian đã nổi lên hiện tượng địch dù có Pháp chỉ huy, bọn ngụy đã vội vã giơ tay hàng khi bất ngờ gặp quân ta nổ súng và xung phong. Điều rõ ràng là tinh thần bọn chúng đã hết sức bạc nhược trước sức mạnh chiến đấu của quân ta, nhưng phải chăng đó cũng là kết quả chính sách binh-địch vận của ta tỏ rõ lượng khoan hồng, bắt rồi qua giáo dục ngắn và thả về, để làm loa tuyên truyền cho kháng chiến.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:10:14 pm
6. Mở khu du kích bắc huyện Khoái Châu, nam huyện Yên Mỹ (tháng 11 năm 1951).

Ngày 9-11-1951, Pháp tập trung toàn bộ quân các binh đoàn cơ động (GM) đánh chiếm tỉnh Hòa Bình. Chúng tôi thấy việc phối hợp với chiến trường chính không chỉ là nghĩa vụ mà là thời cơ rất tốt, đã mở rộng hoạt động mạnh mẽ hơn, vì không phải lo lắng nhiều về quân GM và phi pháo. Mặt khác, chúng tôi lại vừa nhận được một khẩu SKZ (súng không giật) của Bộ trang bị theo sự hứa hẹn của anh Nguyễn Ngọc Xuân, Cục phó Cục quân giới.


Tỉnh đội có 2 đại đội, phân công C27 bao vây, gọi hàng địch ở vị trí Dương Trạch (xã Tân Dân) do tên tổng Thân khét tiếng phản động chỉ huy và C22 bố trí ở thôn Bình Phú, Khóa Nhu (xã Quang Phục, huyện Yên Mỹ) sẵn sàng đánh viện ở bốt Từ Hồ hoặc bốt Lục Điên tới. Tỉnh đội trưởng Võ An Đông và chính trị viên tỉnh đội kiêm phó bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Ngọc Vũ trực tiếp chỉ huy trận đánh.


Kết quả là địch không tới cứu viện mà chỉ có 5 tên lính ở bốt Từ Hồ đi tuần qua thôn Bình Phú bất ngờ bị quân của C22 xông ra bắt sống, thu vũ khí rồi buổi tối trước khi bộ đội chuyển quân, được bộ đội thả về bốt Từ Hồ, tạo nên tâm lý hoang mang cao độ trong hàng ngũ địch. Tại đồn hương dũng Dương Trạch, bộ đội gọi hàng, bọn chúng không chịu hàng, nên C27 đã sử dụng khấu SKZ bắn một phát làm cho lô cốt bị thủng một mảng lớn, sau đó tên tổng Thân phải chịu hàng và nói một câu rất thô bỉ: "Chúng tôi đành sống nhục hơn chết vinh, xin hàng các ông".


Sức công phá cûa SKZ không chỉ phá lô cốt Dương Trạch mà nó còn làm suy sụp sức chiến đấu của bọn địch. Biểu hiện rõ nhất là sau đó 10 ngày, bọn địch ở Từ Hồ vừa ngửi thấy quân ta tiến gần không phải là có ý định đánh chúng mà chúng đã hoảng hốt bỏ chạy để ta chiếm đồn, hoặc là vị trí bang tá ở Đa Ngưu đã vội tháo chạy khi mới nghe tiếng chó cắn đầu làng, tới khi bộ đội vào chiếm vị trí, chăn chiếu bọn địch vẫn còn hơi nóng người, hoặc là bọn bảo chính đoàn ở vị trí Thiết Trụ đã vội bí mật liên lạc với ta. Tên Liễu là thiếu úy chỉ huy đồn đã tự nguyện mở cửa, nộp súng cho bộ đội ta sau đó 1 tháng. Và cũng trong đợt hoạt động này, với chiến thuật "dung dọa", ta đã phá thêm các bốt hương dũng Mỹ Xá (Yên Mỹ), Đông Tảo, Đức Nhuận (Khoái Châu), tạo một bàn đạp để giải phóng huyện Văn Giang sắp tới.


Cũng cần nói thêm, trước đó vài ngày, du kích thôn Ông Đình, thôn Yên Vĩnh (Khoái Châu) đã chủ động phá bốt hương dũng không cần sự hỗ trợ của bộ đội, góp phần làm cho toàn huyện Khoái Châu thành một khu du kích liên một dải, từ Đông Tảo, Dương Trạch ở phía bắc tới Thọ Nham, Phổ Nham ở phía nam.


7. Mở khu du kích, giải phóng toàn huyện Văn Giang, phối hợp với chiến dịch Hòa Bình, tháng 12-1951

Đầu tháng 12-1951 phối hợp với chiến dịch tiến công địch ở Hòa Bình, bộ đội tỉnh đã tiến lên mở liên tiếp cơ sở phía tây nam huyện Yên Mỹ và giải phóng gằn như toàn vẹn huyện Văn Giang, giáp với huyện Gia Lâm, kế cận với thành phố Hà Nội.


Trận đánh chia ra làm hai bước hoạt động ngắn, được chuẩn bị cẩn thận, nhưng diễn biến lại hết sức thuận lợi, không tổn thương một chiến sĩ nào, không phải bắn một viên đạn, thế mà bọn địch ở các npi khác đã đầu hàng hoặc bỏ chạy.


Bước 1, ta định phá các bốt hương dũng Ngân Hạnh, Đại Hạnh, nhảy cóc qua vị trí Từ Hồ; nhưng bọn lính ở Từ Hồ do tên đội Truy chỉ huy vừa phát hiện quân ta ở xã Quang Phục (thôn Bình Phú - Khóa Nhu) đã vội rút chạy về vị trí Lực Điền, nên ta đã giải phóng thêm vị trí này. Ngoài ra, vị trí bang tá đóng ở thôn Đa Ngưu, huyện Văn Giang, vừa thấy bộ đội vào đầu làng đã vội cuốn chạy, để lại toàn bộ quân trang, quân dụng. Trong ngày, bộ đội đóng quân ở thôn Đại Hạnh. Với tư cách là chủ tịch cũ của huyện Yên Mỹ, tôi tập hợp tuyên truyền cho nhân dân trong thôn và thuyết phục tề tại Yên Mỹ nộp súng. Nhân dân ta hồ hởi đón tiếp bộ đội.


Sang bước 2 cũng vậy, sau đó vài ngày, ta tiến vào thôn Cửu Cao (tên Nôm gọi là làng Rồng). Dân ở thôn này do tên chánh Phả không chế đã mất liên lạc với kháng chiến ngay từ đầu năm 1947. Nhưng lần này cũng vậy, tên chánh Phả cũng vội chạy trốn khi vừa phát hiện thấy bộ đội, nên bộ đội ngày hôm sau chỉ làm nhiệm vụ tuyên truyền, giải thích kháng chiến cho dân. Đợi đến tối hôm sau, tiến lên dọc theo đê sông Hồng bức hàng tên chánh Phát ở bốt Phi Liệt, thu vũ khí của hương dũng thôn Xuân Quan và không phải tốn một viên đạn nào mà giải phóng vị trí Cống Luận là quận lỵ hành chính của huyện. Bọn bảo an ở đây cũng bỏ chạy một cách lặng lẽ.


Như vậy là ta đã kết thúc đợt hoạt động thứ 7, đồng thời cũng là kết thúc về cơ bản nhiệm vụ phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn. Đáng kể có huyện Tiên Lữ đã diệt và bức hàng, bức rút các đồn Vân Phương, An Chiểu, Phương Chiểu, Hải Yên, mở khu du kích tới sát thị xã Hưng Yên. Huyện Phù Cừ diệt bốt tổng dũng Hoàng Xá, Hoàng Các, bắt sống tên tổng Nham phản động, mở rộng cơ sở ở phía nam huyện Ân Thi cùng với đại đội 20 diệt và bức hàng các vị trí Huệ Lai, Đô Thượng, Gia Cốc... mở rộng khu du kích ở bắc huyện.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:25:15 pm
VÀI LỜI KẾT LUẬN

Thế là, kể từ ngày 31-3-1951 tới hết tháng 12-1951, trải qua 8 tháng liên tiếp mở những đợt hoạt động nhằm phá hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, tích cực mở cơ sở, tranh thủ nhân dân, giữ gìn và phát triển lực lượng, các khu du kích mở tới đâu được củng cố tới đó. Quân, dân Hưng Yên đã tự mình tạo một thế trận mới, từ một thế bị địch o ép bao vây ta trong suốt năm 1950 và 3 tháng đầu năm 1951, đã chuyển sang một thế ngược lại, chính ta bao vây, chia cắt trở lại chúng, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Cái thế đó đã được giữ vững và phát triển tới khi kết thúc chiến tranh. Chính nhờ cái thế đó đã tạo cho bộ đội địa phương Hưng Yên có cơ hội đánh thắng và tiêu diệt một bộ phận quân cơ động chiến lược của địch trong trận hành quân "Trái chanh" ngày 25-9-1951.


Thắng lợi của đợt hoạt động này đem lại ý nghĩa sâu sắc, có giá trị lịch sử đối với sự chỉ đạo chiến tranh trong vùng địch hậu của một cấp lãnh đạo địa phương cũng như đối với nghệ thuật quân sự của cán bộ chỉ huy quân sự, trong điều kiện địch ưu thế hơn ta về nhiều mặt. Nguyên nhân trực tiếp tạo nên sự chuyển mình đáng tự hào đó, trước hết là do ảnh hưởng chiến thắng Biên giới lịch sử. Bộ đội Hưng Yên không chỉ được tăng cường trang bị vũ khí mà điều có tính quyết định là được, học tập, bồi dưỡng tư duy quân sự, tư tưởng chỉ đạo tác chiến mới, làm cho trình độ chỉ huy được biến đổi về chất.


Phải kể đến sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Hưng Yên qua nghị quyết tháng 12-1950 với những chủ trương, biện pháp đúng đắn, mềm dẻo đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, địch vận, đối với dân thì kiên trì thuyết phục, động viên, đối với địch thì độ lượng, có chính sách phân loại, đối sách thích hợp để "thêm bạn, bớt thù", khắc phục khuynh hướng tả khuynh phổ biến hồi đó.


Cuối cùng, phải kể đến sự trưởng thành về quân sự của cán bộ chỉ huy và chiến sĩ, thể hiện ở chỗ xác định được phương thức tác chiến cỏ hiệu quả trong việc chọn lựa đối tượng và địa bàn tác chiến chính xác, dám mạnh dạn hoạt động, trụ bám ngay cả ban ngày, bỏ hẳn phương thức cũ cất giấu vũ khí xuống hầm bí mật mỗi khi địch tới càn; thể hiện ở sự kết hợp giữa tác chiến với địch vận, kết hợp tác chiến giữa trung đoàn 42 với địa phương, giữa bộ đội tỉnh, huyện và dân quân-du kích xã.


Thắng lợi của đợt hoạt động này được đánh dấu bằng việc quân dân tỉnh Hưng Yên vinh dự đón nhận lá cờ của Chủ tịch Hô Chí Minh trao tặng vào tháng 5 năm 1952, lá cờ có 8 chứ vàng "Đoàn kết nhân dân, đánh thắng giặc Pháp". Thật là giàu ý nghĩa, quân dân Hưng Yên đánh thắng giặc Pháp không phải bằng vũ khí gì khác mà bằng vũ khí "đoàn kết nhân dân".

Trước đó, ngày 15-1-1952, cá nhân tôi cũng được vinh dự nhận bức thư khen của Ban thường vụ Liên khu ủy 3 do Bí thư Lê Thanh Nghị ký.


SƠ ĐỒ PHÁT TRIỂN KHU ĐU KÍCH HƯNG YÊN
THỜI GIAN TỪ 31/3/1951 - 12/1951

(https://i.imgur.com/zWQqzKS.jpg)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:26:15 pm
III
ĐÁNH THẮNG QUÂN CƠ ĐỘNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỊCH


Trước Sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang của ta trong địch hậu, hệ thống bình định của địch có nguy cơ bị tan rã. Quân ứng chiến địa phương của chúng, sau mấy lần bị đánh tan tác, quay về cố thủ; các đồn bốt của địch cũng phải co lại, không dám đi càn quét, như trước, hoặc chỉ dám đi lùng sục quanh vị trí.


Trước tình thế nguy ngập đó, tướng De Lattre de Tassigny được cử làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp, chủ trương tập trung lực lượng thành những binh đoàn cơ động, gọi là GM (viết tắt của chữ Groupement Mobile), nhầm đối phó với lực lượng của ta trên chiến trường chính, đồng thời tranh thủ lúc bộ đội chủ lực của ta nghỉ ngơi chưa đánh lớn, chúng quay về càn quét vùng địch hậu, nhằm đẩy lùi lực lượng ta đang uy hiếp chúng. Các cuộc hành quân càn quét của lực lượng ứng chiến địa phương của địch trước đây thường quy mô nhỏ, trên một địa bàn hẹp và thời gian hành quân thường chỉ không quá 1 ngày, từ sáng tới chiều lại quay trở về đồn bốt. Khác với trước, các cuộc hành quân của quân cơ động GM quy mô lớn hơn nhiêu, phi pháo tập trung, tập kết từ xa, bất ngờ vận động bằng cơ giới bao vây ta trên địa bàn khá rộng và đặc biệt tiến hành trong thời gian khá dài, từ 5 tới 7 ngày (riêng trận Lạc Đà ở Hưng Yên hồi 5-1952 kéo dài tới 1 tháng) lùng sục đi lại nhiều lần, khui hầm bắt cán bộ ta. Khu Tả ngạn từ ngày 19-5-1951 tới cuối tháng 5-1951, địch có 2 cuộc hành quân mang tên Međuse (Con Sứa) và Reptile (Con Rắn). Như vậy, riêng trận Reptile ở huyện Bình Giang, bắc Thanh Miện đã gây những tổn thất nặng nề cho ta do chưa có kinh nghiệm đối phó. Trong trận đánh này, đồng chí Phan Mạnh Hà, nguyên tỉnh đội trưởng Hưng Yên đang chuẩn bị lên Khu nhận công tác củng bị bắt do địch khui hầm lên.


Về phía Hưng Yên, cho tới trước trận càn "Trái chanh", ta đã mở được cơ sở ở 3 huyện bắc Phù Cừ, bắc Tiên Lữ và trung Ân Thi. Ta đã có địa bàn đứng chân và cơ sở khu du kích được củng cố một phần, tuy chưa được vững chắc.


Vấn đề được đặt ra là, dù muốn hay không, trước sau thế nào cũng phải chạm trán với quân cơ động chiến lược của Pháp trên địa bàn Hưng Yên đã được một phần giải phóng. Làm thế nào không để tổn thất như trong trận Reptile mà vẫn bảo toàn được lực lượng, tiêu hao, tiều diệt bộ phận quân địch và giữ vững được các khu du kích mới được mở ra, bảo vệ được tính mạng, tài sản của dân. Đó là bài toán buộc lãnh đạo và chỉ huy tỉnh đội Hưng Yên phải có những câu giải đáp phù hợp với tình thế lịch sử hồi đó.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:27:42 pm
A. Ngày 25-9-1951 - ngày lịch sử quân dân Hưng Yên đánh thắng cuộc hành quân càn quét "Trái chanh" (Citron) bằng quân cơ động chiến lược GM của địch.

1. Sự chuẩn bị:

Ngày 25-9-1951, ta đánh thắng hào hùng trận càn quét lớn "Trái chanh" đã được ghi nhận trong lịch sử. Thực ra, lập được chiến công oanh liệt đó không phải là sự ngẫu nhiên, đó là kết quả của sự chuẩn bị kỹ lưỡng, thận trọng, chu đáo, thế hiện trong bản lĩnh, tư duy quân sự cũng như trong công tác chuẩn bị tư tưởng và chiến thuật, phương thức tác chiến trên cơ sở đánh giá khách quan đúng đắn khả năng chiến đấu của hai bên đối địch.


Trước đây, trong điều kiện bộ đội và du kích hoạt động phân tán là chủ yếu, trang bị vũ khí kém cỏi, địch mạnh hơn ta gấp bội, đã trở thành cái lệ quen là mỗi khi phát hiện thấy địch tập trung quân chuẩn bị đi càn quét, bộ đội và du kích trừ một số trường hợp riêng lẻ, thường xuống hầm cất giấu vũ khí, đợi khi địch rút quân về (thường chúng chí càn ban ngày, tới chiều tối rút về đồn bốt), anh em lại đội hầm lên hoạt động theo kế hoạch. Phương thức, hoạt động này của ta cũng đã đem lại kết quả là về cơ bản bảo toàn được lực lượng, duy trì được sự chiến đấu, tuy thỉnh thoảng cũng xảy ra một số vụ địch sục hầm bắt giết cán bộ, chiến sĩ ta. Thế nhưng, địch đã thay đổi phương thức tác chiến, càn quét dài ngày, tập trung phi pháo, lực lượng cơ động trên một địa bàn khá rộng càn đi quét lại. Với trận Reptile, ta lại áp dụng phương thức cũ phân tán xuống hầm, kết quả phải chịu tổn thất nặng nề.


Rút kinh nghiệm trận Reptile, bộ đội Hưng Yên chúng tôi kiểm điểm nghiêm túc, thấy phương thức hoạt động cũ là bộ đội cất giấu vũ khí xuống hầm là rất bị động, không thể đánh được địch, lại bị địch sục hầm bắt giết. Đặc biệt, hoàn cảnh lịch sử lúc đó, bộ đội đã được trang bị đầy đủ, phổ biến hoạt động đại đội tập trung chứ không phân tán từng tổ, từng tiểu đội như trước nữa. Mỗi đại đội tỉnh, quân số thường từ 150 tới 180 người, được trang bị 2 súng cối 60 ly, 6 trung liên, mỗi tiểu đội một tiểu liên, súng trường, lựu đạn mang theo đầy đủ (riêng đại đội 22 còn thêm 2 đại liên) bố trí ở 2 hoặc 3 thôn, nên sẽ rất dễ bị lộ nếu phân tán xuống hầm.


Qua nhiều lần trao đổi, nghiên cứu, so sánh lực lượng hai bên, nghiên cứu địa hình, đặc biệt là địa hình làng mạc đồng bằng rất có lợi cho bên phòng ngự, chúng tôi, cán bộ chỉ huy từ đại đội tới tỉnh đội đều thống nhất đi đến kết luận: Chừng nào còn hoạt động tập trung đại đội trở lên thì dù địch tới càn bất luận với quy mô nào, tính chất ác liệt tới đâu, bộ đội không được xuống hầm bí mật, phải kiên quyết đánh trả với phương thức tác chiến phù hợp, đáp ứng nhu cầu vừa bảo toàn được lực lượng, vừa tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận quân địch.


Để giải quyết thống nhất tư tương và phương thức chiến thuật, phù hợp với ý đồ tác chiến đã nêu trên, chúng tôi tổ chức một lớp học, thành phần từ cán bộ tiếu đội trở lên của 3 đại đội tập trung tỉnh (C20, C22, C27) và bộ đội huyện Phù Cừ tại thôn Ngũ Lão, thời gian 2 ngày, diễn ra vào đầu tháng 9-1951, nghĩa là chỉ vài ngày trước khi xảy ra trận "Trái chanh”. Gọi là lớp học, thực ra chỉ là một ngôi nhà rộng 3 gian, vừa ngồi trên giường tre (thời đó gần như không có giường gỗ) vừa ngồi trên nền nhà, không có bảng, phấn, mà dạy và học theo phương pháp vấn đáp. Người ta đặt ra câu hỏi, học viên đua nhau trả lời, trao đổi ý kiến từng câu hỏi, cuối cùng người dạy tóm tắt, hướng dẫn kết luận. Người dạy là tôi - Tỉnh đội trưởng, có anh Căn là Phó ban quân sự (lúc đó chưa dùng từ tham mưu) giúp việc.


Sau đây Ta mấy câu hỏi và trả lời chính:

Câu hỏi 1: Nếu gặp địch dùng quân GM càn lớn, thì bộ đội tỉnh nên xử trí thế nào để ít nhất bảo toàn được lực lượng ?

Trả lời: Có 3 cách xử lý, cần chọn một :

a/ Hoặc là phân tán, cất giấu vũ khi như đã làm trước đây. Phương án này phải vứt bỏ ngay vì kinh nghiệm trận Reptile đã cho thấy là tự hứng lấy sự thất bại nhục nhã trước phương thức tác chiến mới của địch.

b/ Hoặc là rời trận địa sang khu vực khác để tránh va chạm với địch, phương án này chỉ thực hiện trong trường hợp vị trí đóng quân của ta bị lộ liễu, quân địch đã trinh sát dò thấy địch còn ở xa ta. Còn như địch đã tiến sát ta, hoặc phi pháo đã phát hỏa chuẩn bị, nếu ta rời trận địa, tức là ta tự bỏ công sự đã xây dựng từ trước chạy cánh đồng để làm mồi cho phi pháo địch. Thêm nữa nếu chuyển bộ đội tới trận địa mới, công sự phải sửa sang lại, phương án tác chiến phải xét duyệt lại. Tinh thần chiến đấu của bộ đội chắc phải củng cố lại. Tóm lại, sức chiến đấu chắc bị suy giảm, cho nên trong trường hợp địch đã triển khai lực lượng càn quét sát với quân ta, ta không nên và không được tự ý rời bỏ trận địa.

c/ Chỉ còn cách kiên quyết trụ lại đánh địch ngoan cường dũng cảm, kết hợp cách đánh thích hợp và hệ thống công sự đã được chuẩn bị từ trước, chỉ còn cách trụ lại và đó là cách duy nhất có thể cho ta khả năng tiêu hao, tiêu diệt bộ phận sinh lực địch và bảo toàn được lực lượng ta.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:28:42 pm
Câu hỏi 2: Nếu ta trụ lại đánh địch, hãy phân tích khả năng đánh thắng địch và giữ gìn lực lượng ta ra sao?

Trả lời: Đó là một khả năng rất thực tế, sau khi phân tích, đánh giá chỗ mạnh và chỗ yếu của địch và ta.

Thứ nhất, địch mạnh hơn hẳn ta về hỏa lực phi pháo, nhưng đó chỉ là hỏa lực, bản thân nó không thể giải quyết được chiến trường mà phải hợp đồng với bộ binh làm việc này. Đối phó lại, ta có hệ thống công sự đảm bảo mức thiệt hại thấp nhất. Hồi đó ta vận động gia đình nào cũng có hầm tránh pháo và ở rìa làng ta đào công sự cá nhân dưới gốc tre, tuy chỉ bằng đất nhưng lại rất chắc, bom đạn địch thường chỉ nổ trên không, khi chạm vào thân cây tre.

Trong tác chiến, ta có thể vô hiệu hóa, hoặc chí ít cũng hạn chế tác dụng yểm trợ của phi pháo bằng nghệ thuật đánh gần, đánh giáp lá cà với bộ binh địch.


Thứ hai, địch đông quân hơn ta, thành phần tuyệt đại bộ phận là Âu Phi, ta có thể khắc phục chỗ mạnh này của địch bằng cách tổ chức trận địa phòng ngự chống càn, trên một khoảng không gian rộng cho phép kết hợp với mạng lưới dân quân, du kích bắn tỉa, đánh lạc hướng quân địch; mặt khác, dù chúng có đông quân cũng không thể ào ạt xung phong một lúc được, mà phải chia ra nhiều đợt xung phong; nếu ta dùng cách đánh bất ngờ, cận chiến, tiết kiệm đạn, tận dụng địa hình làng mạc thì có thể giữ vững được trận địa, dù cuộc chiến đấu có ác liệt tới đâu.


Thứ ba, ta mạnh hơn địch ở chỗ chúng không khắc phục được, đó là ta tác chiến trên địa bàn đã chuẩn bị sẵn, từ công sự ta sẽ tăng cường hiệu lực của hỏa lực và xung lực, còn địch tác chiến ở ngoài công sự, phơi mình ra giữa cánh đồng nên dễ trở thành mục tiêu cho ta tiêu diệt. Ta rất thông thạo địa hình mà địch lại xa lạ, mò mẫm. Tinh thần 2 bên thì khỏi phải nói, ta hơn hẳn địch, nhất là bộ đội Hưng Yên vừa mở mấy khu du kích đang trên đà phát triển. Tất nhiên lực lượng phi pháo và bộ binh địch hùng hậu có thể kéo dài ngày trong cuộc hành quân, còn ta nếu trụ lại tác chiến thời gian dài thì khó có thể thực hiện vì lực lượng có thể bị suy yếu dần, yếu tố bí mật, bất ngờ sẽ không còn. Nhưng trụ lại trong một ngày, đợi tối sẽ cơ động sang địa bàn khác là hoàn toàn có thể được. Do đó, lớp học đồng thanh nhất trí có thể và phải trụ lại chiến đấu ít nhất trong một ngày.


Câu hỏi 3: Cách tổ chức chiến đấu và thực hành chiến đấu như thế nào để vừa bảo toàn lực lượng, vừa tiêu diệt địch?

Trả lời: Trước hết, phải tổ chức trận địa thật vững chắc để giảm thương vong, giữ gìn sinh lực chiến đấu.

Bộ đội tới đâu, cán bộ đại đội phải xây dựng phương án đánh càn, đã có rồi thì phải xét duyệt lại, chiến sĩ nào cũng phải củng cố công sự cá nhân chiến đấu xong mới được đi ngủ, bố trí đội hình phải trải rộng ở thế chân kiêng, hoặc ít nhất ở hai thôn liên hoàn chiến đấu với nhau, trung đội nào ở thôn nào cũng phải kết hợp, vừa cơ động lực lượng đánh được địch từ mọi phía xung phong vào làng (sau này ta gọi là phòng ngự vòng tròn). Nếu địch đột nhập vào trong làng thì phải dựa vào nhà cửa, rào giậu, tổ chức thành những ổ đề kháng, kiên quyết đánh bật chúng ra khỏi làng. Địa hình làng mạc ở đồng bằng sông Hồng nói chung, ở Hưng Yên nói riêng rất đặc biệt, có lợi cho ta chiến đấu. Ta có thể dựa vào hào, lũy thiên nhiên quanh làng, kết hợp với ao, chuôm, ngõ ngách, rào, giậu trong làng thành một thế phòng ngự rất vững chắc với cái thế 1 người có thể chọi được trăm tên địch.


Để tránh phi pháo địch và đề phòng sự tấn công bất ngờ của địch, việc giữ bí mật lực lượng, trận địa được đặc biệt chú ý. Đại đội nào trú quân ở đâu không quá 3 ngày đêm. Công sự làm tới đâu, ngụy trang tới đó. Công tác cảnh giới, liên lạc tận dụng phối hợp với nữ du kích Hoàng Ngân hoặc bộ đội phải cải trang như dân trong làng.


Trong thực hành chiến đấu, tư tưởng chỉ đạo tác chiến là phải tích cực tạo điều kiện thuận lợi tấn công tiêu diệt một bộ phận quân địch, hạn chế tác dụng của phi pháo địch. Muốn vậy, cả lớp học phải quán triệt tư tưởng đánh gần (cận chiến) quân địch cách ta chỉ khoảng 50m trở lại, rồi thực hành "mãnh đả" - nghĩa là tập trung hỏa lực bắn mạnh, "mãnh xung" (xung phong mạnh), riêng "mãnh truy" chỉ thực hiện xuất kích ngắn, truy đuổi bọn địch không quá 100m, cũng để hạn chế phi pháo địch và giữ gìn sinh lực ta càng ít thương vong bao nhiêu càng tốt; xuất kích xong, nhanh chóng thu dọn chiến trường trở về trận địa, sẵn sàng đợi đánh đợt xung phong tiếp của địch.


Anh em đều xác định với nhau rằng, không thể để địch mới bắn vu vơ đã để chúng thu hút hỏa lực mình; hoặc địch còn ở xa đã vội nổ súng, không những không diệt được địch mấy mà còn rất nguy hiểm để bộc lộ lực lượng mình, làm mồi cho phi pháo.


Câu hỏi 4: Trụ lại chiến đấu trong thời gian bao lâu và hướng cơ động đi về đâu?

Trả lời: Yêu cầu trụ ít nhất phải một ngày, tới đêm tận dụng sự thông thạo địa hình của mình mà di chuyển sang chỗ khác. Hướng di chuyển cơ động phải luồn sang bên sườn hoặc sau lưng địch, tuyệt đối không lùi dần về phía sau, dễ bị phi pháo và sức ép của bộ binh địch.


Cuối cùng, các câu hỏi liên quan tới bảo đảm chiến đấu như quân báo, liên lạc, cấp dưỡng, chăm sóc cất giấu thương binh, anh em học viên rất dễ nhất trí và thành nếp trong hoạt động ở địch hậu rồi, nghĩa là phải dựa vào dân, nhất là phong trào nữ du kích Hoàng Ngân đang lên mạnh, chị em rất thích thú được góp phần phục vụ chiến đấu cùng bộ đội.


Lớp học kết thúc với không khí hân hoan, tự tin ở nơi mình, không những giải quyết được tư tưởng "sợ quân GM", ngại phi pháo mà còn được hướng dẫn bồi dưỡng tư tưởng chỉ đạo tác chiến, động tác chiến thuật khá cụ thể để đối phó với các cuộc hành quân lớn của địch và góp phần tiêu diệt địch, bảo toàn mình.


"Không sợ GM, không ngại phi pháo" - đó là mấy khẩu hiệu kết thúc lớp học, cùng với hành trang nhận thức vừa được bồi dưỡng, anh em đã sẵn sàng đón chờ thời cơ lập chiến công mới.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:29:49 pm
2. Diễn biến:

Trong cuốn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng” (từ trang 285 tới 296) và cuốn "Quân khu 3 - Những trận đánh trong kháng chiến chống Pháp” (từ trang 58 tới 68), tác giả - Đại úy Nguyễn Đức Chăm đã kể lại khá tỉ mỉ diễn biến trận đánh. Vì vậy, với tư cách là người chỉ huy trận đánh đó, tôi rất hoan nghênh các tác giả đã phác họa lại khá đầy đủ toàn cảnh diễn biến trận đánh lịch sử này, nhưng xin cho phép tôi chỉ nêu lên những chi tiết có tính bổ sung hoặc chỉnh lại một sự kiện mà tôi cho là chưa được chính xác, chứ không nhắc lại toàn bộ sự diễn biến.


Sau lớp học ngày 24 tháng 9, đội hình bố trí như sau:

- C20 bố trí tại hai thôn Tống Xá và Phan Xá, đại đội trưởng Nguyễn Tất Đảo chứ không phải Cao Thắng (đồng chí Đảo về sau làm Phó chỉ huy quân sự Hải Hưng, đã về hưu ở thị xã Hải Dương).

- C27 tại hai thôn Ngủ Lão và Thọ Lão, đại đội trưởng Nguyễn Năng Thịnh thay tên Doãn chỉ huy (tên Doãn đầu hàng giặc hồi tháng 7-1951).

- C24 bộ đội huyện Phù Cừ, tại thôn Viên Quang.

- C30 bộ đội huyện Ân Thi, tối 24-9 từ huyện Ân Thi cơ động xuống đóng tại thôn Vũ Xá, mới tới ngày 25-9 khi đã nổ súng mới biết.


Tỉnh đội đóng tại thôn Thọ Lão, tỉnh đội trưởng Võ An Đông, phó ban quân sự, đồng chí Căn, quê thôn Nghĩa Vũ (Phù Cừ) và một số liên lạc trinh sát. Đính chính trong cuốn lịch sử: đại đội 22 bố trí tại Long Cầu, Phú Mãn, chứ không phải đại đội 27.


Ngày nay, nhìn lại đội hình các đơn vị thì đây là đội hình bố trí của một tiểu đoàn tăng cường khá hoàn chỉnh, nhưng do phương tiện chỉ huy lúc đó còn nghèo nàn, không có vô tuyến, điện thoại mà chỉ liên lạc bằng chân, cho nên thực chất vẫn lấy đại đội là đơn vị tác chiến cơ bản.


Các đơn vị đều ở tư thế sẵn sàng chống càn và đợi lệnh của tỉnh đội lúc đó đang chuẩn bị kế hoạch tác chiến mở cơ sở tại khu bắc Kim Động và nam Khoái Châu.


Tối 24, dấu hiệu duy nhất phát hiện thấy ở phía đường 39 và đê sông Hồng từ thị xã Hưng Yên và La Tiến là có tiếng động cơ ầm ĩ, liên hồi không dứt. Chúng tôi ở Thọ Lão phán đoán chắc chắn đây là cuộc hành quân lớn, mà mục tiêu của chúng chỉ có thể ở phía bắc Phù Cừ và nam Thanh Miện mà thôi, nên chỉ kịp báo cho C20, C27 phải thiết thực chuẩn bị chống càn, duyệt lại kế hoạch chiến đấu, củng cố lại công sự, tăng cường cảnh giới, quan sát. Không quên nhắc lại là dù tình huống ác liệt tới đâu cũng phải chiến đấu trong ngày, không được phép tự ý bỏ trận địa. Về sau, sơ kết thấy thủ đoạn của tướng Đơlát cũng rất có tính toán, chúng muốn giành một thế bất ngờ, bôn tập bằng cơ giới từ xa tới, hòng bất thình lình tập kích bao vây cất vó quân ta, nhưng thực tế diễn biến, người bị hất ngờ đau đớn chính là quân Pháp chứ không phải "Việt Minh", đến nỗi ngày 26-9-1951, chính tướng Đơlát phải bay trực thăng tới Ninh Giang thẩm định lại tình hình và động viên quân lính.


Hồi 5 giờ sáng ngày 25-9 bắt đầu nổ súng đồng thời ở cả hai khu vực Phú Mãn, Long Châu và Phan Xá, Tống Xá, Ngũ Lão, chiến đấu giữ vững trận địa suốt ngày, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch, chặn đứng hẳn bước tấn công của chúng, gây thiệt hại cho chúng và buổi tối, các đơn vị đã chủ động di chuyến về sau lưng địch, bảo toàn lực lượng. Tóm lại, tất cả những điều thu hoạch được trong buổi học tập quân sự mấy ngày trước được đem ra ứng dụng trong trận đánh đã được hoàn toàn chứng minh trong thực tế. Thử hỏi còn gì vui thích hơn khi mà bằng nỗ lực chủ quan, thiết kế một trận đánh, một công trình, lại được diễn biến khách quan đã kiểm nghiệm, đem lại thắng lợi giòn giã.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:30:19 pm
Xin bổ sung thêm chi tiết :

Anh Nghĩa - trung đội trưởng của C20 (trước đó là cán bộ quân sự của huyện Văn Giang mới được bổ sung về và sau này hy sinh do trúng bom ở Ân Thi hồi tháng 4-1953), kể lại: Hồi 5 giờ sáng, mấy trăm tên địch từ đường Đình Cao - Cao Xá rẽ xuống theo đường làng Tống Xá. Tới khoảng 300m, chúng dừng lại, cho 3 tên lặng lẽ vào sát cổng thăm dò trước.


Trung đội tôi bố trí tập trung hỏa lực từ hai bên cống vẫn bí mật im lặng. Ba tên địch thấy không có gì, quay ra vẫy gọi bọn địch năm chờ ở ngoài tiến vào. Thế là chúng hoàn toàn không phát hiện được quân ta ở trong làng. Chúng đi về phía làng với tư thế hành quân, ba lô trên lưng, súng trên vai. Đợi chúng vào sát ta cách 10 - 15m, toàn bộ hỏa lực của trung đội tôi và trung đội bạn gồm 4 trung liên, 6 tiểu liên và mấy chục súng trường bắn thẳng vào đội hình tập trung của địch. Hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp triển khai chiến đấu, bọn chúng kẻ thì bỏ chạy, đứa thì nằm sát đất tránh đạn. Lập tức, trung đội tôi xông ra bắt sống được 25 tên Âu Phi, vài chục tên ngụy và phu, mấy chục khẩu súng, trong đó có một khẩu Bazoka (lúc đó không biết anh em báo cáo tại trận về Tỉnh đội là nòng khẩu DKZ); đồng thời trung đội anh Diệp bố trí ở Phan Xá cùng xuất kích, xung phong tiêu diệt địch. Rất tiếc, khi trở về đội hình, anh Diệp bị hy sinh.


Sau đó, địch tổ chức mấy đợt xung phong, dùng phi pháo bắn yểm trợ, bộ binh lò dò tiến quân, vừa gặp vài loạt đạn của quân ta đã vội vàng lùi ra xa, gọi phi pháo bắn vào làng. Duy chỉ có đơn vị huyện Ân Thi do chưa được bồi dưỡng cách đánh, không chịu được hỏa lực phi pháo và sức ép bộ binh địch, vẫn giữ cách đánh cũ, đã tự ý rút lui về phía sau; còn lại toàn bộ đại đội 20 ở Phan Xá, Tống Xá vẫn trụ lại trận địa, mặc cho phi pháo và các đợt xung phong, anh em vẫn ngoan cường chiến đấu, tới tối mới chủ động di chuyến theo lệnh.


Địch ở vị trí Nhật Lệ tiến đánh, hy vọng chiếm thôn Ngũ Lão, Thọ Lão, bao vây quân ta từ phía sau ở Phan Xá, Tống Xá, nhưng vừa chạm súng với C27 đã vội rút về gọi phi pháo bắn phá, thành ra C27 và Tỉnh đội đã suốt ngày cùng chịu ê ẩm về đạn, bom, nhưng do công sự được vững chắc nên không bị thương vong gì đáng kể.


Suốt ngày, Tỉnh đội giữ liên lạc chặt chẽ với C20 và C27, còn C22 ở Long Cầu, Phú Mãn coi như độc lập chiến đấu theo phương hướng tư tưởng chỉ đạo từ trước. Mặt trận phía Long Cầu, Phú Mãn cũng diễn ra rất ác liệt, không kém gì phía Phan Xá, Tống Xá. Chính đài phát thanh, báo chí công khai của địch khi diễn tả diễn biến gay go của trận càn cũng phải nhắc tới địa danh hai khu vực trên.


Đại đội 22 là đại đội mạnh, có thêm một trung đội trợ chiến bố trí một trung đội ở Phú Mãn, một trung đội ở Trà Bồ, hai trung đội (có trung đội trợ chiến ở thôn Long Cầu cùng với ban chỉ huy đại đội, gồm đại đội trưởng Trần Trí Dũng, đại đội phó Mai Dương).


Bọn địch đi cơ giới chuyển về chợ Thi, từ đó hành quân bộ, ý định qua Phú Mãn, Trà Bồ rồi tiến tới cầu Tràng hợp điểm với cánh quân ở Đình Cao qua Phan Xá, Tống Xá sang. Trung đội ở Phú Mãn chạm súng đầu tiên với địch, lại được, hỏa lực trợ chiến ở Long Cầu yểm trợ bắn tập hậu vào đội hình địch, buộc chúng phải chia một mũi sang đánh chiếm Long Cầu nhưng bị chặn đánh quyết liệt hơn. Cứ như thế, đại đội 22 cầm cự với địch suốt ngày, chịu đựng phi pháo và sức ép nhiều đợt xung phong của địch. Kết cục, địch bị thiệt hại rất nặng, mũi tấn công bị chặn đứng ở đó không tới được mục tiêu, ta vẫn giữ vững được trận địa và đợi trời tối, đại đội cũng không lùi về phía sau, mà chủ động vượt khỏi vòng vây chiến dịch của địch luồn về phía sau địch, bảo toàn duy trì được sức chiến đấu. Có một tình huống xảy ra do đồng chí Mai Dương lúc đó là đại đội phó (sau này là phó phòng quân huấn QK3, về hưu, từ trần năm 1985 ở Hải Phòng) kể lại, là trong khi đại đội ở thôn Long Cầu đang tập trung đối phó với địch ở phía tây từ chợ Thi tới, thì có khoảng một tiểu đội địch luồn theo con sông nhỏ phía đông, đột nhập vào trong thôn. Phát hiện thấy tình hình, đại đội điều ngay một tiểu đội tăng cường hỏa lực do đồng chí Dương trực tiếp chỉ huy đánh bật bọn này ra khỏi làng, bắt một tù binh, thu một trung liên.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:32:09 pm
Như vậy là trong suốt ngày 25-9-1951, trận đánh kết thúc.

a/ Địch bị chết, bị thương, bị bắt 1.050 tên, do chính tin từ địch phát ra, tình báo ta nắm được và do bà con thị xã Hưng Yên quan sát trực tiếp hàng mấy trăm xe ô-tô địch chở lính chết và thương binh kể lại. Mục tiêu cuộc hành quân do chúng đề ra là bí mật bao vây, cất vó, tiêu diệt bộ đội và du kích ta đã hoàn toàn bị phá sản.


Ta đạt được đầy đủ mục tiêu đề ra là bảo toàn được lực lượng, tiêu hao và tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, bắt 25 tù binh Âu Phi, thu vũ khí, chặn đứng các mũi tấn công của địch, chủ động đánh và chủ động di chuyển theo ý định ta. Nói một cách khác, phần chủ động chiến thuật thuộc về ta.


Tiện đây, cũng xin kế mấy tình tiết khá thú vị:

25 tù binh Âu Phi là người nước Angiêri, thuộc đơn vị 4/7 RTA (tiểu đoàn 4 trung đoàn 7 bộ binh Angiêri) theo chỗ tôi biết, đó là thành tích bắt sống số lượng tù binh Âu Phi lớn nhất trong một trận chống càn trên địa bàn khu Tả ngạn thời đó. Bọn này được giải qua Thái Bình, chuẩn bị đưa về trại tù binh của Liên khu thì gặp cuộc càn "Trái quýt". Trước, tình thế đó, Tỉnh đội chủ trương thực hiện chính sách khoan hồng, thả số tù binh này như ta vẫn đối xử với ngụy binh. Về sau, cán bộ địch vận Tỉnh đội kể lại, sau khi giáo dục, giảng giải cho chúng biết hai dân tộc Việt Nam và Angiêri đều bị thực dân Pháp biến thành dân nô lệ, vì vậy lính Angiêri phải ủng hộ Việt Nam bằng cách khi trở về với quân đội Pháp thì đòi được trả về quê hương, hoặc nếu còn bị ép đi lính thì không bắn giết, đốt phá nhà cửa người Việt Nam v.v..., rồi ta tuyên bố thả chúng về. Bọn chúng được giảng giải như vậy rất cảm động, có người rớt nước mắt, lắp bắp nói lời cảm ơn và quyến luyến không muốn xa ta.


b/ Ta chiến đấu suốt ngày 25-9-1951 cho tới tối. Theo ý định trước, ta chủ động di chuyển về phía sau quân địch, vượt khỏi vòng vây của chúng. Phía Long Cầu, C22 luôn qua xã Minh Hoàng và chuyển sang Thái Bình an toàn. Phía Phan Xá, Tống Xá, chúng tôi tập hợp C20 và C27 sau khi thu dọn chiến trường, cơ động về phía nam, nhưng quân số đông, tốc độ hành quân rất thấp, ỳ ạch chuyển tới thôn Phù Oanh thì trời gần sáng, buộc phải dừng lại, củng cố công sự chuẩn bị đánh địch. Thôn Phù Oanh chỉ cách Phan Xá, Tống Xá không đầy 10km, gân sát bốt tổng dũng của tên tổng Nham ở Hoàng Xá, Hoàng Cát. Tên này phát hiện được ta, vội báo cho bọn địch ở La Tiến, ở đó có trận địa pháo 6 khẩu 105mm. Vị trí La Tiến cách chỗ trú quân của ta là 3km. Bọn địch tưởng ta chuẩn bị tấn công chúng, một mặt điều thêm một tiểu đoàn bộ binh về bảo vệ, mặt khác suốt ngày nã pháo vào thồn Phù Oanh có quân ta trú đóng. Ta chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tới càn. Và suốt ngày 26-9 chịu ê ẩm vì đạn pháo xé không khí ở trên đầu, nhưng trận càn không xảy ra, ta cũng không tổ chức tấn công chúng ở La Tiến và nhờ có công sự tốt, nên vẫn giữ được sinh lực an toàn. Tiếp đó, hành quân vê thôn Phi Xá - Giai Lệ (huyện Tiên Lữ) rồi chuyển quân về Thái Bình hội đủ ba đại đội của tỉnh.


c/ Trong 3 ngày, từ 28 đến 30-9, chúng tôi tranh thủ họp mặt cán bộ rút kinh nghiệm. Có thể nói vẻ mặt người nào cũng hân hoan, khí thế phấn khởi, tự hào vì thấy trải qua trận đánh quyết liệt với mật độ phi pháo dày đặc, sức ép quân GM khá nặng nề, thế mà lực lượng cán bộ còn nguyên vẹn, duy hy sinh có một trung đội trưởng là đồng chí Diệp và lại diệt được địch, bắt tù binh, thu vũ khí. Nhưng thu hoạch lớn nhất và kết quả không gì so sánh được, là có hai vấn đề: Một là, anh em đã được thực tế chạm trán với quân GM, tự đánh giá quân GM không có gì ghê gớm lắm, mà còn có thể đánh thắng chúng nếu có cách đánh thích hợp. Nếu quân GM không còn đáng sợ nửa thì tự nhiên đi đến kết luận khá quan trọng nữa là, bộ đội tỉnh có thể hoạt động bất cứ ở đâu trên địa bàn Hưng Yên. Đặc biệt ở địch hậu, ta càng tiến sâu bao nhiêu, địch càng dàn mỏng và suy yếu bấy nhiêu, dân càng dễ nổi dậy và ủng hộ kháng chiến bấy nhiêu. Chúng ta phải sớm trở về Hưng Yên và nêu khẩu hiệu "Muốn lập được nhiều chiến công thì phải Bắc tiến” (Bắc tiến ở đây có nghĩa là phía bắc tỉnh Hưng Yên, lúc đó còn là vùng địch hậu).

Hai là, chúng tôi tóm tắt quy trình hoạt động chống càn của bộ đội tỉnh như sau:

- Cất giấu lực lượng tốt, bao gồm giữ bí mật nơi trú quân và di chuyển luôn không quá ba ngày một lần.

- Công sự vững chắc.

- Cận chiến, xuất kích ngắn khi địch tới càn.

- Giữ trận địa ban ngày và cơ động sang bên sườn hoặc phía sau lưng địch vào ban đêm.

Quy trình này đã giúp chúng tôi hoạt động ở sâu trong địch hậu, vừa đảm bảo tính vững chắc của địa bàn, vừa đảm bảo tính chủ động đối phó với mọi tình huống bất ngờ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.


Quân địch trong trận càn "Trái chanh" xem như bị thiệt hại nặng và không đạt được mục tiêu nào. Ngày 30-9-1951, bọn chúng chuyển đội hình sang càn quét khu Tiên - Duyên - Hưng - Thái Bình, mở cuộc hành quân "Trái quýt" (Mandarine). Theo lệnh của Khu, chúng tôi bố trí ở phía huyện Hưng Nhân sát với đê sông Hồng, phối hợp chiến đấu với trung đoàn 42 ở phía huyện Tiên Hưng. Trong suốt 6 ngày bố trí đánh địch, nhưng chỉ có một lần địch chớm vào, phát hiện thấy ta, chúng lùi ra nã pháo bắn vào trận địa ta, nhưng không gây thiệt hại gì.


Sau đó, được lệnh của Khu, vượt ra khỏi vòng vây của địch, chúng tôi lại trở về Hưng Yên, vượt qua sông Luộc, lấy cây chuối làm phao bơi sang sông, sẵn sàng ở tư thế chống càn. Quả nhiên, với bài bản kinh nghiệm chiến đấu vừa rút ra được sau 10 ngày luồn càn trận "Trái quýt", trong vòng từ 18 đến  20-10-1951, 2 đại đội tỉnh ở địa bàn khác nhau đã lập chiến công xuất sắc, chứng minh ta càng đánh càng mạnh.

C27 đứng chân ở thôn Đống Long (huyện Kim Động) bất ngờ mãnh đả và mãnh xung, diệt và bắt gọn 1 trung đội địch (có 2 tên Pháp chỉ huy) và phát triển diệt bốt Thanh Sầm, mở cơ sở ở phía nam Khoái Châu.

C22 đứng chân ở thôn Nhàn La Lương (tên Nôm là thôn Mát, thuộc Ân Thi), tiêu diệt 1 đại đội, bắt sống 30 tên, trong đó có 2 tên chỉ huy người Pháp.


Yếu tố bảo đảm thắng lợi vẫn là cất giấu lực lượng rất kín đáo, bất ngờ nổ súng đánh gần và xuất kích ngắn. Đồng chí Các - trung đội trưởng của C22 kể lại: Địch có một đại đội tiến về đội hình của ta, nhưng chúng cho một tiểu đội vào sát bờ tre thăm dò trước, không phát hiện được ta, nên cả đại đội địch chủ quan tiến vào, bị ta bất thình lình nổ súng xung phong, làm chúng không kịp triển khai chiến đấu, đành phải giơ tay xin hàng. Cách xử trí tình huống khôn ngoan này đúng như tình huống của C20 diễn lại trong trận đánh 25-9 ở Phan Xá, Tông Xá.

Những năm tiếp theo, Hưng Yên còn chịu đựng 2 cuộc hành quân có quân GM cơ động chiến lược nữa, đó là :

- Trận càn Lạc Đà (Dromadaire) hồi tháng 5-1952, sau khi địch thất bại ở Hòa Bình.

- Trận càn Cá Măng (Brochet) hồi tháng 9-1953, trước khi Pháp đổ bộ xuống Điện Biên Phủ.

Cả hai trận càn này diễn ra trên địa bàn đã được ta mở rộng hơn trước nhiều. Phong trào du kích chiến tranh càng mạnh hơn trước. Bộ đội chủ lực và địa phương đã có kinh nghiệm chiến đấu với quân GM, cho nên địch không đạt được mục tiêu tiêu diệt hoặc khu trục lực lượng ta, còn ta thì tiêu hao nhiều địch và bảo toàn được lực lượng, tuy không tạo được trận đánh thắng giòn giã như trận Phan Xá, Tống Xá.


Hưng Yên cũng phá được 2 trận càn vào loại vừa nữa, thiết tưởng cũng cần được lịch sử ghi nhận: Một là, trận phá càn của 1 tiểu đoàn cơ động của Secteur (tương đương với trung đoàn) Gia Lâm, khoảng tháng 8-1952 tại thôn Như Lân, Như Phương (huyện Văn Giang) do đại đội 25 (được xây dựng thay thế C22, bổ sung lên Khu, do đồng chí Trữ - đại đội trưởng, đồng chí Khôn - chính trị viên) thực hiện đã bắt sống 80 tên (do 1 sĩ quan Pháp chỉ huy), toàn bộ biên chế 1 đại đội. Trận thứ hai là trận phá càn chống 2 tiểu đoàn của Zone Hải Dương (tạm dịch là Miền) hồi tháng 12-1952 ở thôn Ninh Vũ (Khoái Châu), do đồng chí Đào Cơ - Tiểu đoàn phó chỉ huy C27 và C29, bẻ gẫy 1 mũi hành quân của địch, diệt 1 đại đội, bắt sống 32 tên ngụy.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:33:39 pm
Vài lời kết luận

Trong địch hậu, càn quét và chống càn quét là một quy luật. Lực lượng kháng chiến càng lớn mạnh, địa bàn chiến đấu càng mở rộng, thế uy hiếp, chia cắt địch ngày càng phát triển, tất yếu địch phải dùng lực lượng mạnh nhất của chúng, tức là quân GM hành quân nhằm tiêu diệt, khu trục lực lượng vũ trang của ta. Đứng về chiến lược mà nhận xét, đó là thế bị động chiến lược của quân thù. Nhưng về mặt chiến đấu với phương thức tác chiến mới, địch đã gây một số tổn thất cho ta ở một số nơi.


Bài học lịch sử lớn nhất đối với quân dân Hưng Yên hồi đó, là bình tĩnh đứng trước phương thức tác chiến mới của địch, không sợ địch nhưng cũng không khinh địch, phân tích một cách thận trọng hoàn cảnh chủ quan và khách quan, nên đã chuẩn bị đầy đủ tư tưởng dám đánh, dám đương đầu với quân GM một cách khôn ngoan. Bằng nỗ lực chủ quan của mình, biến khẩu hiệu "không sợ quân GM" thành hiện thực. Không những thế, đánh thắng ngay trận đầu, thắng giòn giã tiêu diệt được địch, bắt tù binh, thu vũ khí, đồng thời bảo toàn được lực lượng mình.


Hoạt động ở địch hậu luôn luôn phải ở tư thế chống địch càn quét bất ngờ với binh, hỏa lực mạnh nhất. Chính nhờ qua kinh nghiệm chiến đấu ác liệt, quân dân Hưng Yên đã luôn được bồi dưỡng, hoàn thiện nghệ thuật chiến đấu, nghệ thuật chỉ huy của mình. Sức chiến đấu của quân dân ta thế hiện ở chỗ quân dân nhất trí đánh giặc. Đó không phải là khẩu hiệu suông mà là một thực tế sinh động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân trong địch hậu nói chung, nhân dân ở Hưng Yên nói riêng thật tuyệt vời. Dân quân du kích, đặc biệt nữ du kích Hoàng Ngân đã cùng với bộ đội tham gia chiến đấu, đảm bảo các việc hậu cần như cấp dưỡng, tiếp tế đạn, băng bó, cất giấu thương binh, thu dọn chiến trường. Ngoài rà, chị em Hoàng Ngân đảm bảo công tác quân báo, liên lạc rất thích hợp với hoàn cảnh lúc đó. Đó là yếu tố "nhân hòa" được vận dụng ngay trong chiến đấu.


Địa hình làng mạc với đầm lầy, lũy tre, ao chuôm... thật là lý tưởng cho lực lượng vũ trang ta tổ chức trận địa phòng ngự vững chắc, bảo toàn lực lượng, tiêu hao, tiêu diệt địch. Yếu tố "địa lợi" đã được ta vận dụng triệt để.


Quân dân Hưng Yên đã dày công nghiên cứu phân tích, khắc phục được 2 cái mạnh của địch là hỏa lực phi pháo và quân đông, bằng cách đánh và các thủ đoạn chiến thuật phù hợp, như biết giấu kín lực lượng, bố trí công sự vững chắc, đánh gần, xuất kích ở cự ly thích hợp, cơ động đúng thời cơ, v.v..,


Như vậy là quân dân Hưng Yên không chỉ đánh địch mà còn biết đánh địch một cách thông minh và khôn ngoan. Dám đánh và biết đánh là 2 điều đảm bảo cho ta thắng địch trong các cuộc hành quân của lực lượng cơ động chiến lược của quân Pháp ngay từ trận đầu tiên ngày 25-9-1951 và những trận càn sau trong suốt thời chống Pháp.


Để kết luận, tôi xin trích lời của nhà sử học Pháp tên là Yves Gras trong cuốn "Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương" (Histoire de la guerre de l'Indochine) như sau:

"Cuộc hành quân thứ nhất mang tên "Trái chanh" tiến hành trên một khu vực 100 km2 ở phía tây bắc Ninh Giang. Người ta nghĩ rằng có ở đây một tiểu đoàn chính quy của trung đoàn 42 và 2 tiểu đoàn địa phương. Tướng De Berchoux chỉ huy cuộc hành quân, nắm trong tay 4 binh đoàn cơ động và 2 thủy đội. Đó không phải quá mức, bởi vì cần phải có một số quân hết sức ưu thế so với địch để có thể bao vây và tiêu diệt họ. Chiều ngày 25, binh đoàn cơ động số 1 vẫn không tiến được mục tiêu. Cái lờ đã không đóng lại được, đêm sau, quân Việt thoát được, về phía nam".


Rõ ràng tình báo của Pháp đã sai. Ở đây không có tiểu đoàn chính quy của E42, còn về địa phương chỉ có một tiểu đoàn tỉnh và hai đại đội huyện. Dù sao, ông Yves Gras đã thú nhận cuộc hành quân "Trái chanh" có đến 4 binh đoàn cơ động mà vẫn "không thể bao vây và tiêu diệt họ" và mục tiêu của cuộc hành quân đã không đạt.


Về phía ta, xin ghi lại bài thơ đã hơn 40 năm qua vẫn còn lưu truyền trong ký ức của cán bộ và chiến sĩ năm xưa. Tác giả bài thơ là đồng chí Thân, người thôn Đại Quan, lúc đó là y tá của C20.

   Thơ ca ngợi chiến thắng Phan Xá, Tống Xá (25-9-1951) :
   Báo cáo anh Đông lắm
   Toàn Tâỵ đen, Tây trắng
   Nó vây kín cả làng
   Không kể được hàng trăm
   Phải trên nghìn là ít
   Kìa trông xa, xa tít
   Mà vẫn thấy Tây đen
   Chuyến này hẳn là phen
   Trận giao tranh quyết liệt
   Rồi dân làng đều biết
   Nhớn nhác nói xôn xao
   Chúng tôi chạy đường nào?
   Lúc bấy vừa sóng rõ,
   Thế là quân mũi lõ
   Xồng xộc kéo vào làng
   Chúng tôi bố trí sẵn sàng
   Chờ khi địch tới tung hoành một phen
   Ngông nghênh Tây trắng, Tây đen
   Vừa hai chục thước, trung liên nổ giòn
   Tây chết như ngả rạ
   Chúng rút lui vội vã
   Chúng tôi thét xung phong
   Ra sức đuổi kỳ cùng
   Đến Cát Dương, Hạ Cát
   Cướp được khẩu đại bác
   Ba bốn cỗ trung liên
   Hơn một chục khẩu tuyn
   Cả các-bin, máy nói
   Súng trường thì vô khối
   Tây, bắt mấy chục thằng
   Pa-ti-giăng, mấy chú
   Giao chị em phụ nữ
   Chuyển tải lại phía sau
   Chúng tôi lại bắt đầu
   Ai nấy về công sự
   Thế rối tất cả một ngày
   Na-pan, đại bác, tàu bay nổ rền
   Cửa nhà, cây cối đổ rầm
   Mấy lần giặc tiến, mấy lần giặc lui
   Đồng quê giặc chết tơi bời
   Máu thù và xác còn phơi đầy đồng
   Tống-Phan chiến thắng oai hùng
   Đoàn quân ứng chiến coi chừng từ đây.

   Tác giả: PHẠM THÂN
   (Đồng chí Lưu Trí Yến và Vũ Ngọc Vấn, chiến sĩ cũ C20 sưu tầm)


(https://i.imgur.com/ntviEGe.jpg)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:43:41 am
IV
DIỆT CĂN CỨ HẬU PHƯƠNG GM3,
MỞ ĐẦU CHIẾN THUẬT MẬT TẬP


Đó là đầu đề của một mục trong cuốn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng" đã diễn tả khá tỉ mỉ trận tập kích vị trí căn cứ hậu phương của GM3, mở đầu cho cả một đợt hoạt động vận dụng hình thức chiến thuật độc đáo khởi sự từ ngày 10-5-1953 cho tới kết thúc chiến tranh năm 1954.


Đó là kết quả của một quá trình sáng tạo của tư duy quân sự và của nghệ thuật tổ chức và chỉ huy chiến đấu, của tinh thần công kích đầy dũng cảm và khôn ngoan của lực lượng vũ trang tỉnh Hưng Yên. Đó là quá trình đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của quân dân Hưng Yên, tạo nên một nét đặc thù của Hưng Yên trong chiến công chói lọi của quân dân toàn khu Tả ngạn và của cả nước đánh thắng kẻ thù xâm lược. Chính vì lẽ đó, tôi xin phép được trình bày dưới đây những suy nghĩ, tìm tòi ra cách đánh rất hiệu quả này trong hoàn cảnh địch hậu thời đó. (Hiệu quả hiểu theo nghĩa là tiêu diệt được địch, bắt tù binh, thu vũ khí, ta thương vong ít) đồng thời cũng xin trình bày cả một chuỗi hoạt động mang tính chất một đợt hoạt động theo thứ tự thời gian cũng như đặc điểm riêng từng trận đánh của chiến thuật tập kích vị trí này trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.


1. Sự tìm tòi sáng tạo

Năm 1952, sau trận càn Lạc Đà và 2 trận càn của Secteur Gia Lâm và Zone (Miền) Hải Dương bị ta đánh bại, bọn địch ở các vị trí đều co lại. Ta có tổ chức được một số trận phục kích trên đường 39, đáng chú ý có trận phục kích của bộ đội tỉnh ở ấp Dâu cách thị xã 3 km, trận phục kích chợ Đìa đi Trương Xá của E42, địch lại càng co lại. Ta cũng có một số trận nội ứng tiêu diệt vị trí ở Thiết Trụ (1-1952) lần thứ nhất, trận nội ứng ở Trương Xá (2-1952), địch càng co lại, ít có thời cơ diệt địch ở ngoài công sự.


Thu Đông 1952, phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, trên chiến trường, quân dân ta chỉ có thể bao vây chặt chẽ hơn nữa các vị trí địch, phá hoại đường sá quan trọng như đường 39, thực sự chia cắt địch. Nhìn chung, thế của ta ngày càng làm chủ, càng o ép quân địch và bọn địch thì dựa vào vị trí, công sự, chướng ngại vật cố thủ cầm cự với ta. Từ trạng thái đó, yêu cầu tiêu diệt các vị trí địch vừa để phối hợp với chiến trường trong cả nước, vừa để tranh thủ mở rộng địa bàn là một yêu cầu bức xúc. Có 2 cách diệt đồn địch mà ta đã dùng, nhưng cái mà ta ít có cơ hội để vận dụng, cái thì không phù hợp với khả năng của bộ đội địa phương ở địch hậu thời đó. Đó là:

Cách diệt đồn bằng nội ứng, vận động được nhân mối ngay trong hàng ngũ địch, có cái lợi về chiến thuật là nhân mối giúp ta mở cổng đồn bí mật, để quân ta xung phong ngay trong lòng địch. Đặc biệt, nếu nhân mối đó là người trực tiếp chỉ huy đồn như ở Thiết Trụ do anh Liễu chỉ huy đồn và ở vị trí Trương Xá do anh đội Thuần chỉ huy, cả hai người này đều bắt liên lạc với ta thì việc diệt đồn lại càng dễ. Tuy nhiên, cách này lại bất tiện cho ta, ở chỗ phải dày công gây nhân, bắt mối. Đặc biệt, từ cuối năm 1952, ta đã bao vây chặt các đồn địch, nên việc bắt liên lạc vận động ngụy binh lại càng thêm khó khăn. Thêm nữa, nhân mối thường hay giao động, hay thay đổi ý kiến, nhiều khi làm cho ta phải bỏ dở cuộc tấn công đã định. Do đó, cách đánh bằng nội ứng rất có hiệu quả vẫn rất cần khuyến khích, nhưng cách đánh này không cho ta quyền chủ động lựa chọn vị trí cần tiêu diệt và chọn thời gian tấn công.


Cách diệt đồn thứ 2 bằng chiến thuật công kiên, như bộ đội chủ lực ta đã nhiều lần sử dụng. Cách này thường chia ra giai đoạn chiến đấu mở cửa (thuật ngữ thường dùng lúc đó là "đột phá khẩu") và giai đoạn chiến đấu trong trận nội (chiến đấu tung thâm). Cách đánh này thường phải đối phó với quân địch đã triển khai chiến đấu dựa vào công sự đã chuẩn bị sẵn, cho nên ta phải có nhiều hỏa lực yểm trợ và tỷ lệ thương vong của ta thường lớn hơn nhiều so với quân địch đồn trú. Do đó, cách đánh công kiên rõ ràng khòng phù hợp với bộ đội địa phương ở địch hậu không được trang bị hỏa lực đầy đủ và yêu cầu phải giữ gìn lực lượng chiến đấu dẻo dai với địch.


Qua nghiên cứu, suy nghĩ, so sánh, phân tích 2 cách đánh trong mấy tháng đầu năm 1953, chúng tôi đi đến kết luận là phải học cách đánh bằng nội ứng, tìm ra biện pháp mở cửa bí mật do ta chủ động lấy, không nhờ tới nhân mối làm nữa và phải học cách tổ chức chiến đấu tỉ mỉ, cẩn trọng như bộ đội chủ lực đã làm.


Trong lúc vắt óc tìm ra được cách thay nhân mối, chủ động việc mở cửa vị trí, chính hành động của người ăn trộm đã gợi ý giúp giải đáp bài toán khá gay cấn. Số là, năm 1947, tôi còn làm chủ tịch kháng chiến huyện Yên Mỹ, có một anh ăn trộm thường mò vào vị trí địch ở Lực Điền để làm ăn, nhưng anh này lại có lòng yêu nước nên cứ vài ngày anh lại mang ra cho kháng chiến vài chục viên đạn súng trường, mà lúc đó bộ đội đang thiếu tựa như khát mong có nước uống vậy. Nghiên cứu tại sao người ăn trộm lại có thể vào được vị trí mà địch không biết, thì thấy đã là ăn trộm thì phải nắm được quy luật thức, ngủ, canh phòng của chủ nhà và động tác đột nhập phải nhanh nhẹn, biết cất giấu mình khi có động tĩnh và nhẹ nhàng không để phát ra tiếng động, nếu chủ nhà có chó sủa thì phải đánh bả chó...


Từ đó Tỉnh đội Hưng Yên tổ chức một trung đội chuyên trách trinh sát vị trí, động tác mô phỏng theo như động tác người ăn trộm.

Trung đội trinh sát này mệnh danh là trung đội Tiên Phong, trực thuộc Tỉnh đội, biên chế 20 người, do đồng chí Tựa làm trung đội trưởng, có nhiệm vụ trinh sát ngoại vi vị trí địch, bao gồm các hàng rào dây thép gai, các loại mìn, quy luật hoạt động cùa địch và cùng với bộ đội đảm bảo việc phá gỡ bí mật các loại chướng ngại vật trên đường hành tiến của bộ đội. Tóm lại, trung đội này cùng với bộ đội đảm bảo việc mở cửa bí mật. Trung đội này được tổ chức từ tháng 2-1953, đã được huấn luyện chu đáo trước khi làm nhiệm vụ. Nội dung huấn luyện gồm cách bí mật vượt qua các loại dây thép gai, cách phát hiện và vô hiệu hóa các loại mìn (mìn chống bộ binh, mìn chiếu sáng, mìn chống tăng...), cách xử trí khi gặp địch chiếu sáng hoặc đi tuần, cách ngụy trang và xóa vết tích, khôi phục lại hiện trường từ ngọn cỏ tới các dấu vết khác trong khi bộ đội chưa có kế hoạch tiến đánh để che mắt địch, không để chúng nghi ngờ...


Căn cứ vào ý định của tỉnh đội trưởng, phân chia các vị trí cần trinh sát, trung đội tổ chức thành những tổ từ 4 - 6 đồng chí, mỗi vị trí tùy theo chia thành 2 hoặc 3 mũi, mỗi mũi 2 đồng chí, mũi trinh sát này đồng thời sẽ là mũi tiến quân của bộ đội sau này. Như vậy, trung đội có thể đồng thời trinh sát từ 4 tới 5 vị trí địch. Thứ tự động tác trinh sát như sau: Lợi dụng đêm tối trời, tổ trinh sát vào sát vị trí nghe ngóng, nắm quy luật địch đi tuần tra, bật đèn chiếu sáng hoặc nổ súng bắn vu vơ, rồi tiến vào hàng rào rất nhẹ nhàng, lọt qua dựng đứng từng ngọn cỏ, sờ tay phát hiện từng quả mìn, lấy ghim băng gài lại, soài người tiến từng bước, vừa tiến vừa nghe ngóng, có đêm chỉ tiến được vài thước rồi lại quay về, đợi tối hôm sau làm tiếp cho tới khi sờ vào tới ụ súng của địch mới coi là đạt yêu cầu. Chính vì yêu cầu phải sờ tới ụ súng địch như vậy, về sau thường gắn cho cái tên chiến thuật "Sờ" để gọi cách đánh bí mật tập kích của ta.


Tổ trinh sát với lực lượng rất nhỏ, không đông người, không ồn ào, vừa đảm bảo được bí mật, vừa không cho địch phán đoán được ý định tác chiến của ta, giả định nếu chẳng may trinh sát của ta bị sa vào lưới giặc hoặc anh em bị địch giết hại.


Thực tế ta đã tập kích tiêu diệt hơn 10 vị trí, cũng gặp một số tình huống trinh sát phải xử trí. Tổ trinh sát vào vị trí Lực Điền, một đồng chí bị bắn chết, ta bỏ công việc này, chuyển sang địa bàn khác, nhưng địch cũng chỉ cho đó là du kích đến quấy rối bị chết mà thôi. Tháng 12-1953, ta trinh sát vị trí Dị Sử xong xuôi, đưa cán bộ vào trinh sát thực địa lần cuối, vào sát hố xí của địch, chẳng may gặp một tên địch mở cổng đi vệ sinh, đồng chí cán bộ sợ quá bỏ chạy, ta phải tạm hoãn kế hoạch tác chiến. Tiếp tục theo dõi phản ứng của địch, thấy địch cho là du kích nên chỉ rào giậu qua loa, không nghi ngờ gì lớn, cho nên vài hôm sau, 15-12-1953, ta lại tiến đánh vị trí Dị Sử thắng lợi hoàn toàn.


Tháng 1 năm 1954, cũng như ở Dị Sử, đồng chí Ca - trung đội trưởng vào vị trí Kênh Cầu trinh sát thực địa lần cuối, chẳng may bị tử thương tại hàng rào. Ta thu dọn tử thi chu đáo, nhưng địch vẫn chủ quan để hai hôm sau ta vẫn tiêu diệt vị trí này.


Sở dĩ bộ đội Hưng Yên lập được nhiêu chiến công, tiêu diệt nhiều vị trí cỡ tiểu đoàn địch, chính là nhờ biết tổ chức trinh sát vị trí, coi đó là yếu tố đầu tiên và trước hết quyết định cho tháng lợi. Công tác trinh sát đã giúp cho chỉ huy nắm được tỉ mỉ quy luật hoạt động, những chỗ sơ hở của địch, nắm được chính xác mọi chướng ngại vật, đặc điểm địa hình ở ngoại vi vị trí địch. Tóm lại, chính những người lính trinh sát bằng sự gan dạ, khôn ngoan và tài năng của mình đã là những người có công đầu tiên trong việc tiêu diệt vị trí bằng chiến thuật mật tập, đã thực hiện phần lớn công việc mở cửa bí mật, giảm bao thương vong, tạo cho bộ đội bất ngờ xung phong trong lòng địch, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu.


Kế tiếp công tác trinh sát, chúng tôi cũng học tập ở bộ đội chủ lực cách tổ chức chiến đấu một cách tỉ mỉ, cẩn trọng đối phó với quân địch ở trong vị trí đã sẵn có chướng ngại vật, có công sự vững chắc, có kế hoạch phòng thủ từ trước. Tổ chức chiến đấu tập kích thắng lợi đầu tiên ở Bần đã trở thành hình mẫu cho các trận sau.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:47:25 am
2. Đêm 10-5-1951, diệt căn cứ hậu phương GM3, mở màn cho các trận tập kích tiếp theo

Vị trí căn cứ hậu phương của GM3 (tiếng Pháp gọi là Base arrière) đóng ở xóm Lẻ, thôn Bần Yên Phú, cách thị trấn Bần Yên Nhân có đường 5 đi qua khoảng 800 m. Tại thị trấn, có một vị trí của quân Liên hiệp Pháp khoảng một đại đội và một vị trí quận lỵ Yên Mỹ có gần một đại đội bảo an trấn giữ.


Vị trí căn cứ hậu phương có một đại đội bộ binh phòng thủ, cùng với đội quân hậu cần như quân nhu, tài vụ, coi kho... tổng cộng khoảng 300 tên, vị trí có 3 hàng dãy thép gai, xen giữa có gài các loại mìn, các ụ súng xây bằng gạch hoặc đắp đất bố trí khắp xung quanh, vị trí lại ở sâu trong địch hậu nên địch rất chủ quan. Đầu tháng 4, tổ trinh sát gồm 4 đồng chí sau khi nhận nhiệm vụ thì qua một tuần đã về báo cáo kết quả đã vào được hai mũi, qua hết 3 hàng rào và phát hiện được các bãi mìn. Được báo cáo, Tỉnh đội nghiên cứu và xác định có thể đánh được, phác họa phân chia nhiệm vụ cho các đại đội; liền đó tổ chức đi trinh sát thực địa, thành phần gồm Võ An Đông - tỉnh đội trưởng, Đào Cơ - tiểu đoàn phó, Vũ Thành (lúc đó tên là Chiến) - chính trị viên tiểu đoàn, Mai Dương - tác huấn tiểu đoàn, ba đại đội trưởng 25, 27, 29 và mỗi mũi có trung đội trưởng đầu cầu. (Từ năm 1952, C25 và C29 mới được xây dựng thay thế C20 và C22 bổ sung lên Khu). Đi thực địa trở về, tỉnh đội trưởng và các cán bộ giở phác đồ ra để bàn bạc, đề ra câu hỏi: "Trước đây, ta chỉ tiêu diệt bằng nội ứng, một số vị trí cỡ trung đội, nhưng nay đã đánh vị trí cỡ tiểu đoàn lại bằng phương pháp tự ta mở cửa lấy, như vậy có khả năng tiêu diệt không? Đây là chuẩn bị cho chủ trương tác chiến cho nên chúng ta cứ bàn, bàn vào cũng được, bàn ra cũng được, chỉ khi nào có chủ trương dứt khoát rồi thì lúc đó chúng ta chỉ được phép bàn vào, chứ không bàn ra". Hội nghị đã thảo luận, phân tích mổ xẻ chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và ta, kết quả anh em hoàn toàn nhất trí, không một ý nào khác, thống nhất chủ trương đánh tập kích tiêu diệt vị trí này tuy quy mô lớn hơn, tin tưởng sẽ giành được thế bất ngờ, diệt địch trong khi chúng chưa kịp triển khai chiến đấu.


(https://i.imgur.com/7oDX7iQ.jpg)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:48:06 am
Sau đó, tập hợp cán bộ từ tiểu đội trở lên phân chia nhiệm vụ và hợp đồng chiến đấu ngay trên sa bàn. Nhiệm vụ giao tới đâu, mũi tên chỉ tới đó, với khẩu hiệu đề ra là chủ trương tác chiến đã định rồi, bây giờ anh em tự thảo luận nhưng chỉ được bàn vào, chứ không được bàn ra, có nghĩa là được tha hồ nêu khó khăn, nhưng phải tìm cách khắc phục chứ không được bàn lùi nữa. Sau đó từng trung đội dẫn chiến sĩ của mình lên phổ biến động tác chiến đấu cho từng người, có sự giám sát bổ sung của đại đội. Kế hoạch tác chiến như sau:

Đại đội 27 và đại đội 29 đảm nhận diệt vị trí địch, đại đội 25 vào làm chủ thị trấn Bần Yên Nhân, kéo hỏa lực của địch ở thị trấn về phía mình, hỗ trợ cho bạn đánh địch ở Bần Yên Phú.

Bí mật cắt 2 hàng rào ngoài cùng, tháo gỡ mìn, rải bẹ chuối hai bên tạo đường tiến an toàn cho bộ đội phía sau, dùng bộc phá phá hàng rào thứ 3 trong cùng; rồi khi bộc phá nổ, tập trung 4 khẩu cối 60 bắn hai loạt hỗ trợ cho bộ đội xung phong.


Huy động 500 dân quân bố trí cách trận địa 1 km, sẵn sàng làm nhiệm vụ thu dọn chiến trường, mang vác thương binh, thu dọn chiến lợi phẩm...


Trong tổ chức chiến đấu, chúng tôi phải tổ chức huấn luyện đánh địch cố thủ các ụ súng và căn nhà, làm sao vừa đảm bảo diệt được địch, vừa đảm bảo an toàn cho ta, từ đó tổ chức tổ 3 ngưôi, chiến sĩ đầu tiên được trang bị một số thủ pháo, ném vào nhà uy hiếp địch bằng tiếng nổ; tiếp đó chiến sĩ thứ 2 dùng tiểu liên nã một loạt đạn để chiến sĩ thư 3 dùng súng trường có lưỡi lê áp sát lá cà bắt tù binh địch. Tổ này không được mang lựu đạn, vì những mảnh lựu đạn bắn ra có thể gây thương vong ngay cả cho tổ 3 người lúc đó đã ở sát địch. Về sau, bắt được một tù binh ở bốt Phương Trù, nó khai rằng đang ngủ, mở mắt thì thấy như có hoa cải rập rình ở mắt rồi ngất đi, bộ đội ta bắt thì mới biết.


Tổ chức trận tập kích đầu tiên lại đánh địch cỡ tiểu đoàn, chúng tôi rất lo lắng phải tự nghĩ ra những khó khăn có thể nảy sinh và tìm cách khắc phục.

Cái kéo cắt dây thép gai hồi đó không có trong tay, phải giao cho tổ quân giới tự rèn lấy. Nó không phải là kéo cộng lực, mà chỉ là kéo đơn giản, tổ chức cắt thế nào để không phát ra tiếng động, phải tổ chức 2 người, một người cầm 2 đầu dây, một người mắm môi vất vả cắt từng sợi rồi nhẹ nhàng vén 2 đâu dây vừa bị cắt xong để ra 2 bên. Cũng may, tuy rất chậm và không sắc nhưng kéo cắt cũng đạt yêu cầu. Chính sau trận đánh này, tôi vào kho thấy một số kéo của địch, thật quý hóa vô cùng, tôi trực tiếp mang một cái, giao thêm một cái nữa cho đồng chí liên lạc đi theo, nói rằng cái này quý hơn khẩu đại liên. Về sau, với các mẫu kéo chiến lợi phẩm đó, tổ quân giới sản xuất hàng loạt phục vụ các trận đánh.


Đánh trong trận nội địch một cách bất ngờ, đồng loạt nổ ra một lúc trong lòng địch, cách đánh như vậy về sau anh em gọi là chiến thuật "nở hoa trong bụng địch".

Triển khai chiến đấu, tiếp cận với đội hình hàng trăm người, chúng tôi rất lo sơ ý bị lộ, nên phải bắt mọi người bôi nhọ từ mặt tới chân như tây đen, áo ngụy trang phải chọn lá êm nhẹ, ai nấy đều ngậm gừng để chống ho, ai thường mắc chứng ho phải ở lại không được đi chiến đấu, quần áo trang bị theo người phải gọn, và đội quân phải chạy tại chỗ xem có phát ra tiếng động không. Chưa đủ, chúng tôi còn tổ chức diễn tập như thật, triển khai đội hình đầy đủ, có hàng rào dây thép gai gài bộc phá ống. Địa điểm diễn tập ở vườn chuối thôn Đông Tảo cách mục tiêu địch đánh khoảng 10 km. Tổ cắt dây thép gai đi trước bí mật cắt dây thép gai, rải bẹ chuối, làm dấu hiệu đường tiến. Để giữ bí mật, đội hình chiến đấu còn bố trí cách 100m, đợi khi tổ cắt dây hoàn thành việc mở cửa, đội hình chiến đấu lúc đó mới bắt đầu tiếp cận địch và xung phong.


Kết quả diễn tập đã đạt yêu cầu, các đơn vị thứ tự dàn đội hình đúng kế hoạch và giữ bí mật. Tổ cắt dây thép gai đúng thời gian. Bộ đội xung phong đúng theo đường mở cửa.

Nhờ công tác tổ chức chiến đấu tỉ mỉ, kỹ lưỡng, lường hết các khó khăn để khắc phục, cho nên đêm 10-5-1953, bộ đội hành quân tiếp cận. Từ khi nổ súng tới khi kết thúc diễn ra trong khoảng 30 phút, ta hoàn toàn áp đảo làm chủ chiến trường, quân địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp triển khai chiến đấu. Hơn 100 tên địch bị bắt. Ta thu được 300 khẩu súng gồm đủ loại Bazoka, cối 81, 60, trung - đại liên, tiểu liên, súng trường. Thời bấy giờ thu được một lượng súng chiến lợi phẩm nhiều như vậy là chưa hề có, nhưng cái đáng quý hơn cả trong số chiến lợi phẩm là 3 thứ bộ đội Hưng Yên chưa có, lại rất cần cho phục vụ chiến đấu mật tập vị trí địch sau này, đó là :

1. Kéo cắt dây thép gai.

2. Thủ pháo đúc thành bánh có loại 1 lạng, có loại 5 lạng, bọc bằng giấy nến cát-tông, có lỗ sẵn để nhét kíp nổ. Loại này có uy lực hơn loại thủ pháo của ta bằng vải ép không chắc. Ta thu được hàng chục tạ thủ pháo, loại này dùng cho tới khi kết thúc chiến tranh.

3. Gần chục cái máy điện thoại và hơn 10 km dây máy điện thoại có thể dùng để nói thầm được, nói không thành tiếng, rất lợi cho việc chỉ huy hiệp đồng các mũi khi tiếp cận địch. Trận đánh đầu tiên ở Bần vẫn chỉ hợp đồng theo tiếng nổ của bộc phá. Còn về sau, các trận đánh lớn như Vân Trì, Dị Sử có nhiều mũi ở tương đối xa nhau đã được thống nhất chỉ huy hợp đồng chiến đấu nhờ có phương tiện này.


Trận tập kích tiêu diệt vị trí căn cứ hậu phương của GM3 ở Bần Yên Phú đêm 10-5-1953 không chỉ có ý nghĩa lớn về việc quân ta đánh sâu trong vùng tạm chiếm, đánh thẳng vào quân cơ động của Pháp trên sát đường chiến lược số 5, mà còn tiêu diệt hoàn toàn vị trí địch, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm các loại. Về phía ta thì tổn thất thương vong rất ít. Đối với bộ đội Hưng Yên có ý nghĩa đặc biệt nữa là trận này đánh dấu một bước trưởng thành về chất lượng của bộ đội trong việc sáng tạo ra một hình thức chiến thuật tiêu diệt vị trí phù hợp với hoàn cảnh địch hậu, đáp ứng được yêu cầu tác chiến là tiêu diệt được địch mà vẫn bảo toàn, bồi dưỡng lực lượng ta. Trận này là trận đánh thắng đầu tiên mở màn cho một loạt các trận tiếp theo, đồng thời nó cũng xây dựng một mô hình chuẩn bị tổ chức và thực hành chiến đấu cho một hình thức chiến thuật mật tập vị trí địch (hiểu theo nghĩa tập kích bí mật) hoặc nôm na gọi là chiến thuật "sờ địch" hoặc "nở hoa trong lòng địch".


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:50:37 am
Từ năm 1951 - 1953, có 3 ngày lịch sử đánh dấu từng bước phát triển của phong trào kháng chiến Hưng Yên. Đó là ngày 31-3-1951 phong trào kháng chiến Hưng Yên phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn của địch. Ngày 25-9-1951 quân dân Hưng Yên đã đánh thắng quân cơ động GM của địch. Ngày 10-5-1953 quân dân Hưng Yên mở màn các trận tập kích vị trí tiếp theo.

Dưới đây, chúng tôi xin ghi lại thứ tự theo thời gian các trận mật tập dựa theo mô hình, kinh nghiệm của trận Bần trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.


Trận thứ hai là trận tiêu diệt vị trí bảo an quận hành chính Khoái Châu, đóng tại thôn Đào Viên trên đường 39, diễn ra đêm 19 rạng ngày 20 tháng 6 năm 1953, do đại đội 25 đảm nhiệm. Đại đội trưởng là đồng chí Phạm Du, tỉnh đội trưởng Võ An Đông đi sát chỉ huy. Đặc điểm trận đánh này là sau khi rút kinh nghiệm trận Bần, đại đội tự mình tổ chức một tổ trinh sát mà tổ trưởng là đồng chí Hoàng Hải sau này là một gương sáng chiến đấu các trận tiếp theo. Trận này ta bí mật cắt hàng rào thép gai không dùng bộc phá, nên tiến sát vào lô cốt, nhà nghỉ của bọn bảo an và nổ súng, bắt gọn địch, ta không bị thương vong.


Trận thứ ba là trận Phương Trù, diễn ra ngày 10-7-1953, do đồng chí Đào Cơ - tiểu đoàn phó chỉ huy đại đội 27 và một trung đội bộ đội Khoái Châu. Trận này cũng vậy, địch hoàn toàn bị tiêu diệt bất ngờ và bắt gọn. Đặc điểm trận này là ta bắt đầu sử dụng máy điện thoại để chỉ huy, lần đầu tiên bộ đội Khoái Châu do đồng chí Chức - huyện đội phó chỉ huy phối hợp và chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Về vũ khí, ngoài súng trung - tiểu liên, súng trường, ta thu được khẩu DKZ57.


Trận thứ tư là trận tiêu diệt vị trí Vân Trì đêm 15 rạng 16-8-1953. Đồn này do một tiểu đoàn gồm hai đại đội bộ binh, một đại đội xe tăng và cơ giới, một đại đội pháo 105, bốn khẩu, trấn giữ ở sát đường 39. Về ta, tham chiến có 3 đại đội tỉnh (đại đội 25, 27 và 29) có đại đội huyện Khoái Châu phối hợp do tỉnh đội trưởng Võ An Dông chỉ huy. Kết quả, diệt 75 tên, bắt sống 70 tên Âu Phi, phá hủy 14 xe tăng và cơ giới, phá hỏng 4 khẩu pháo 105 mm. Rất. tiếc là mũi phía đông của đại đội 25 vào chậm nên ta không làm chủ hoàn toàn chiến trường, nhưng địch sau đó buộc phải rút về vị trí Lực Điền. Bộ Tổng tư lệnh đã tặng thưởng Huân chương Quân còng hạng ba cho đơn vị dự trận này.


Trận thứ năm là trận tập kích vị trí cống Ao Sầu ở huyện Văn Giang, trên đê sông Hông, ngày 14-10-1053, do đồng chí Phạm Du chỉ huy đại đội 25 thực hiện. Trận này không thắng lợi hoàn toàn, nhưng địch buộc phải rút đi nơi khác.


Trận thứ sáu là trận tập kích tiêu diệt hoàn toàn vị trí ngụy Thiết Trụ ở trên đê sông Hồng lần thứ 2, đêm 8 rạng 9-11-1953. Lực lượng tham gia có đại đội 27 và đại đội huyện Khoái Châu. Chỉ huy trận đánh là tỉnh đội trưởng Võ An Đông, diệt và bắt 50 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Đặc điểm trận đánh, sau khi diệt xong vị trí, hôm sau ta để lại một bộ phận án ngữ, đánh địch, thu dọn chiến trường và bố trí trận phục kích trên sông bằng ĐKZ và đại liên bắn trọng thương một ca-nô địch.


Trận thứ bảy tiêu diệt vị trí Vĩnh An (Văn Giang) do đại đội 25, người chỉ huy Mai Dương - tiểu đoàn phó đảm nhiệm. Trận đánh diễn ra chỉ 3 ngày sau trận Thiết Tra vào đêm 11-11-1953, diệt và bắt 90 tên bảo an, hương dũng.


Trận thứ tám tiêu diệt hoàn toàn cụm vị trí Dị Sử đêm 15 rạng 16-12-1953. Cụm này gồm 2 vị trí liên nhau, một căn cứ hậu phương của GM3 gồm một tiểu đoàn thiếu, một vị trí quận lỵ hành chính Mỹ Hào gồm 1 đại đội bảo an năm trên đường số 5.

Ta có một tiểu đoàn (đại đội 25, 27, 29) do tỉnh đội trường Võ An Đông chỉ huy.

Khác với các trận trước, khi ta trinh sát thực địa, các bộ phận vào liên trong hàng vào, phát hiệu thấy một tên địch đi ra hố xí, tưởng lộ, đồng chí cán bộ nhảy qua hàng rào bỏ chạy nên phải tạm ngừng kế hoạch. Sau đó vài ngày, trinh sát thấy địch chỉ củng cố qua loa, ta nhận định chưa hoàn toàn bị lộ, lại nữa do ý của Khu cần đánh mạnh để phối hợp với bộ đội bên tỉnh Thái Bình chống càn, nên ta vẫn quyết định đánh, mặc dù thời gian này là thượng tuần tháng âm lịch, trời sáng trăng.

Diễn biến của trận đánh phức tap hơn. Ngày hôm ta đánh, địch mới rào thêm một hàng rào dây thép gai. Đồng chí Bế - đại đội trưởng C27 đã dũng cảm chỉ huy bộ đội vượt rào xông vào trận địa. Nhưng một số tên địch phát, hiện ra đã rút lên tháp chùa cũ để ném lựu đạn, bắn súng chống cự (tháp chùa này giống như hình lô cốt, địch lợi dụng trổ một số lỗ châu mai quanh tường, tháp này hiện nay vẫn còn, thiết, tưởng nên giữ lại kỷ vật này). Đồng chí Vũ Văn Thới lúc đó mới là tổ trưởng 3 người đã dẫn tổ vào tháp địch, từ dưới đánh lên và tiêu diệt hoàn toàn số tên địch cố thủ nên đã tạo cho quân ta làm chủ chiến trường, bắt tù binh, thu vũ khí. Kết quả, ta bắt hơn 300 tên địch (trong đó có bắt tên Minh là quận trưởng hành chính Mỹ Hào, thu 500 súng rác loại. Ta hy sinh 10 đồng chí (có đồng chí Quý là đại đội trưởng C29), hơn 10 đồng chí bị thương nặng và vừa.


Sau trận Bần, trận Dị Sử là trận thư hai tiêu diệt căn cứ hậu phương GM3 ở hai nơi khác nhau. Đây là trận chiến thắng oanh liệt trong điều kiện địch đã ít nhiều có đề phòng, lợi dụng lô cốt cố thủ, thời tiết sáng trăng không thuận lợi cho chiến thuật mật tập, đánh tiêu diệt một cụm gồm hai vị trí tính chất khác nhau. Đây là trận đánh thu được nhiều các loại vũ khí nhất, gần 500 khẩu, bắt được gần 300 tên tù binh. Về ta, so với các trận đánh trước có thương vong nhiều hơn, nhưng hy sinh cũng chỉ có 10. Như vậy là ít so với thiệt hại của địch gần 300 tên.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:51:35 am
Trận thứ chín, ngày 18-1-1954, đại đội 25 tập kích tiêu diệt vị trí Kênh Cầu (huyện Yên Mỹ) diệt một đại đội, người chỉ huy là đồng chí Nguyễn Văn Chiện - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 58 của tỉnh và đồng chí Lê Đức Thịnh - chính trị viên Tỉnh đội (đồng chí Thịnh sau này là Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và sau là Bộ trưởng Bộ Nội thương).

Trong khi đi trinh sát thực địa, đồng chí Nguyễn Văn Ca, trung đội trưởng bị trúng mìn hy sinh ở sát hàng rào, nhưng bọn địch vẫn không phát hiện được ý đồ tác chiến của ta, vài ngày sau ta vẫn tổ chức tiến công tiêu diệt.


Trận thứ mười, tập kích ở Dốc Lã (Kim Động) do đại đội 29 tiến hành dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Chiện, tiểu đoàn trưởng D58. Trận này tiêu diệt được một ụ súng, thu 3 súng. Đội hình bị lộ, địch chống cự ác liệt. Do chỉ huy do dự, động tác chiến thuật không dứt khoát nên ta không xung phong được, vào trận nội của địch, hị hy sinh và bị thương 20 đồng chí. Đây là một trận thất bại không diệt được địch, ta thương vong nhiều.


Trận thứ mười một, tiêu diệt vị trí Đình Dù (huyện Văn Lâm) của D58 tỉnh, đêm 11-3-1054. Đặc điểm trận này là đánh hợp đồng phối hợp với E42, tiêu diệt vị trí Nghĩa Lộ (Lạc Đạo, Văn Lâm) với E50 phục kích trên đường số 5 khu vực chợ Đường Cải, với D54 của tỉnh tiêu diệt, vị trí hương dũng Hoàng Nha, Thanh Đặng cùng với bộ đội và dân quân du kích các huyện dọc đường 5 và đường sắt Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ và các huyện thuộc tỉnh Hải Dường đồng loạt phá hoại đường sắt và đường số 5 do Bộ tư lệnh khu Tả ngạn chỉ huy. Trận Đình Dù là một bộ phận của các hoạt động tổng hợp trên, có tính chất một chiến dịch nhằm đánh phủ đầu phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Điên Biên Phủ sẽ mở màn sau đó 2 ngày, tức là ngày 13-3-1954.

Về chiến thuật, trận đánh dù không được sự chuẩn bị từ trước, chỉ được có 5 ngày trinh sát vị trí, tổ chức chiến đấu khẩn trường, thực hiện chiến tranh nhanh gọn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Người chỉ huy là đồng chí Lê Đức Thịnh, chính trị viên Tỉnh đội và Nguyễn Văn Chiện - tiểu đoàn trưởng D58.


Trận thứ mười hai, tiêu diệt vị trí Nghi Xuyên (huyện Khoái Châu) do D54 thực hiện đêm 26-3-1954, do đồng chí Võ An Đông - Tỉnh đội trưởng và đồng chí Vũ Thành (tức Chiền) tiểu đoàn trưởng D54 chỉ huy. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, diệt một đại đội, bắt 25 lính Âu Phi làm tù binh. Đây là trận tập kích thắng lợi đầu tiên của tiểu đoàn 54 mới được thành lập 3 tháng, hồi đầu năm 1954.


Trận thứ mười ba, đêm ngày 14-4-1954, đại đội 29 tiêu diệt vị trí Chùa Đàm (huyện Văn Giang) tập kích tiêu diệt một đại đội ngụy binh, thu toàn bộ vũ khí.


Trận thứ mười bốn, đêm 30-4-1954, D54 do đồng chí Vũ Thành chỉ huy, tập kích tiêu diệt gọn vị trí Cửa Gàn cách thị xã Hưng Yên 1km, diệt và bắt gọn hai trung đội ngụy binh.

Sau những trận mật tập trên, D58 có nhiệm vụ quần lộn với GM3 quay về bảo vệ đường sắt, phát triển hình thức tập kích địch trú quân dã ngoại, có những trận thắng lợi như trận Quản Ròn, Hành Lạc, Tuân Lương... D54 đang tung trinh sát chuẩn bị đánh vào thị xã Hưng Yên thì ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, sau đó ký kết hiệp định Giơnevơ. Chiến trường Hưng Yên cũng chuyển sang trạng thái khác.


Như vậy là từ 10-5-1953 tới 30-4-1954, trải qua 12 tháng, quân dân Hưng Yên đã tiêu diệt 14 vị trí địch bằng hình thức mật tập, bình quân mỗi tháng đánh hơn một trận, gồm 3 vị trí cỡ tiểu đoàn, còn lại ở trên dưới một đại đội. Trong 14 trận, chỉ có 1 trận Dốc Lã được coi là thất bại, còn lại ta đều tiêu diệt gọn, thu vũ khí, bắt tù binh. Về phía ta, tỷ lệ thương vong hết sức thấp, càng đánh càng mạnh, không chỉ được bồi dưỡng về kinh nghiệm chiến đấu mà còn ngày càng thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, mở rộng địa bàn ta. Không những thế, mỗi vị trí là một cái kho chứa vũ khí, quân trang, quân cụ, chính nơi đó đã cung cấp cho bộ đội va du kích hàng chục ngàn khẩu súng các loại, hàng trăm tấn đạn dược, đỡ phải cất công lên Việt Bắc lĩnh về.


Về bộ đội tỉnh thì đại đội nào cũng lập chiến công, thuần thục hình thức chiến thuật này, đáng kể có bộ đội huyện Khoái Châu (C10) đã tổ ra mũi phối hợp chiến đấu xuất sắc trong tất cả các trận đánh như Phương Trù, Vân Trì, Thiết Trụ...


Trong hoàn cảnh địch hậu lúc đó, vận dụng sáng tạo ra một hình thức chiến thuật này, thể hiện sự thông minh và khôn ngoan của cán bộ, chiến sĩ Hưng Yên đã tạo ra cách đánh có hiệu suất chiến đấu lớn, vừa tiêu diệt được nhiều địch, vừa mở rộng địa bàn, lại đảm bảo thương vong ít, giữ gìn và phát triển lực lượng ta, đã khéo biết tìm cái yếu trong cái mạnh của địch để khoét sâu, việc chuẩn bị và thực hành chiến đấu có tính toán thận trọng nhưng lại rất táo bạo.

Thiết tưởng đó cũng là một sự tự hào chính đáng của quân dân Hưng Yên trong kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:27:28 pm
V
NỮ DU KÍCH HOÀNG NGÂN, MỘT PHONG TRÀO PHỤ NỮ KHÁNG CHIẾN ĐẶC SẮC VÙNG ĐỊCH HẬU HƯNG YÊN


Xuất phát từ đánh giá vị trí, tầm quan trọng, khả năng kháng chiến của phụ nữ vùng địch hậu, nghị quyết Tỉnh ủy Hưng Yên hồi tháng 12-1950 đề ra phải coi trọng xây dựng, phát triển nữ du kích đồng thời với việc củng cố về tổ chức lực lượng vũ trang.


Trong hoàn cảnh địch hậu, nam thanh niên ở các thôn xã trở nên thiếu vắng, hoặc là họ đi theo kháng chiến, vào bộ đội hoặc họ bị bắt đi làm ngụy binh cho giặc, cho nên còn lại ở nhà, lực lượng phụ nữ, đặc biệt nữ thanh niên trở thành lực lượng hùng hậu đáng kể, thay nam giới làm các công việc đồng áng hoặc tham gia nhiều công việc của kháng chiến giao cho. Phụ nữ lại có khả năng hoạt động công khai với giặc, có lợi thế hơn nam giới rất nhiều. Đúng lúc Tỉnh ủy chuyển hướng công tác, để giữ vững và phát triển cơ sở, coi trọng công tác đấu tranh hợp pháp đi đôi với đấu tranh nửa hợp pháp và bất hợp pháp với kẻ địch thì việc huy động quần chúng vào việc đấu tranh công khai hợp pháp với địch, thúc đẩy kháng chiến tiến triển, không tầng lớp nào có khả năng bằng phụ nữ. Ngoài ra, từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, một chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ Hưng Yên nói riêng đều có truyền thống quý báu yêu nước thương nòi, một lòng một dạ kiên trung với chồng con, với nước.


Triển khai nghị quyết của Tỉnh ủy, rút từ những kinh nghiệm trước về tổ chức nữ du kích, Tỉnh đội và Ban chấp hành phụ nữ tỉnh cùng phối hợp tổ chức một mô hình tổ chức như sau: Ban chấp hành phụ nữ các cấp có trách nhiệm tổ chức, động viên hội viên của mình tự nguyện tham gia du kích ở thôn, xã, luôn theo dõi nuôi dưỡng phong trào, coi đó là mũi nhọn công tác kháng chiến của phụ nữ. Cơ quan quân sự các cấp có trách nhiệm tổ chức chị em thành những tổ đội nữ du kích riêng song song với nam du kích. Những tổ nữ du kích này không thoát ly khỏi sản xuất, vẫn là người dân bình thường. Khi giặc chưa tới vẫn sinh hoạt đều đặn với đoàn thể phụ nữ, nhưng khi có giặc hoặc khi huấn luyện quân sự thì đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của xã đội trưởng dân quân.


Để sự phối hợp được chặt chẽ, ở cấp xã, Ban chấp hành phụ nữ cử hẳn một ủy viên có sức khỏe và khả năng quân sự sang nhận chức xã đội phó đặc trách chỉ đạo và chỉ huy nữ du kích; ở cấp huyện thì cử một vài cán bộ nữ sang làm cán sự dân quân của huyện đội, ở cấp tỉnh cử một ủy viên thường xuyên liên lạc và cùng với cơ quan quân sự thống nhất chỉ đạo phong trào nữ du kích. Cụ thể, Tỉnh hội phụ nữ Hưng Yên đã cử chị Thu Thịnh lúc đó là Hội phó phụ nữ sang cùng với Tỉnh đội Hưng Yên đặc trách chỉ đạo phong trào nữ du kích.


Tỉnh đội Hưng Yên đã nghiên cứu các hình thức công việc chiến đấu trong tình hình cụ thể lúc đó nhằm phát huy lợi thế của nữ du kích và phù hợp với khả năng tâm-sinh lý của phụ nữ, nhằm động viên phụ nữ hoạt động kháng chiến từ thấp đến cao, theo hoàn cảnh từng người, do đó mà gây được lòng tự tin cho chị em đóng góp phần mình cho công việc kháng chiến. Tỉnh đội đã xây dựng một giáo trình huấn luyện, rồi cùng với Tỉnh hội phụ nữ tổ chức những lớp tập huấn, huấn luyện quân sự dành riêng cho các cán bộ phụ nữ sắp tới chuyển sang công tác quân sự. Từ tháng 1 đến tháng 3/1951, đã tổ chức được hai lớp huấn luyện, mỗi lớp từ 60 - 80 cán bộ nữ du kích, tiến hành tại huyện Hưng Nhân (Thái Bình) do chị Thu Thịnh trực tiếp phụ trách hướng dẫn. Sau đó, một số huyện và xã cũng tổ chức một số lớp huấn luyện tương tự nhưng chương trình và thời gian rút gọn hơn.


Về chương trình, ngoài những vấn đề chung như kháng chiến trường kỳ, công tác đoàn thể phụ nữ, kỹ thuật quân sự (bắn súng, ném lựu đạn, v.v...), lớp học tập trung vào những vấn đề thật sự hợp với khả năng của nữ giới, đại loại như đảm bảo chiến đấu, đảm bảo hậu cần cho bộ đội, các cách đánh du kích v.v... Về đảm bảo chiến đấu, triệt để tận dụng khả năng hoạt động công khai của phụ nữ, thực hành công tác điều tra tình hình địch ở thị xã, thị trấn, đồn bốt địch, thông tin liên lạc; ban ngày khi bộ đội trú quân cần che mắt quân địch, cùng bộ đội đào công sự, kể cả hầm bí mật, khi cần thiết phá hoại đường sá. Về đảm báo hậu cần: làm cấp dưỡng nấu ăn, làm hậu cần trong chiến đấu, tổ chức lực lượng thu dọn chiến trường như vận tải, cứu thương, nuôi thương binh, mang vác chiến lợi phẩm, thành lực lượng trực tiếp ở sát sau tuyến chiến đấu của bộ đội.


Công tác hậu cần tại chỗ này xem ra rất bình thường, nhưng lại vô cùng quan trọng, không thể thiếu được trong thực hành chiến đấu. Nó bảo đảm cho bộ đội nâng cao quân số trực tiếp cầm súng chiến đấu tới gần 100% gọn nhẹ, đảm bảo tính cơ động rất cao, đặc biệt những công việc này hoàn toàn phù hớp với khả năng của phụ nữ, ai cũng có thể làm được. Về các cách đánh du kích, tùy theo khả năng của từng người, từng nơi, đặc biệt chú trọng công tác vận động binh lính địch (địch vận) quay súng trở về với kháng chiến và cách đánh hóa trang diệt địch. Phương pháp huấn luyện theo cách nêu vấn đề để học viên trao đổi, thảo luận, qua đó giúp cho chị em tự thấy công tác quân sự có nhiều mặt, nhưng có không ít việc chị em có thể làm tốt được, miễn là mình có lòng yêu nước, dũng cảm, xây dựng cho chị em lòng tự hào, tự tin vào khả năng của mình.


Về tên gọi, theo gợi ý của Tỉnh ủy, chị Thu Thịnh phụ trách lớp thay mặt Ban chấp hành Tỉnh hội phụ nữ thống nhất với Tỉnh đội đặt tên lớp học là "Hoàng Ngân” để kỷ niệm tên một lãnh tụ nữ vừa mới từ trần1 (Chị Hoàng Ngân (1921-1949), tên thật là Phạm Thị Vân, sinh ra trong một gia đình tiểu thương ở phố Savatxiơ (phố Quang Trung, Hải Phòng hiện). Ngay từ thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), chị đã tham gia hoạt động thanh niên. Năm 17 tuổi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1939, chị bị Pháp bắt. Năm 20 tuổi ra tù, tham gia Ban thường vụ Hội phụ nữ giải phóng Bắc kỳ. Tháng 1-1941 chị bị địch bắt ở Hà Đông, rồi bị kết án 12 năm tù giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Tháng 3-1945 chị làm Bí thư Đoàn thanh niên Cứu quốc tại Hà Nội, ủy viên Thành bộ Việt Minh. Cuối năm 1947, chị là Bí thư Trung ương lâm thời Đoàn phụ nữ Cứu quốc Việt Nam. Năm 1949, Hoàng Ngân mất tại Việt Bắc, vừa tròn 29 tuổi). Sau đó, học viên về tổ chức các đội nữ du kích, xã nọ theo xã kia, tự gọi là nữ du kích Hoàng Ngân, dần dà trở thành phong trào rộng khắp tỉnh. Cái tên Hoàng Ngân trở nên rất trìu mến, hãnh diện với chị em du kích, đến nỗi thường gọi là nữ Hoàng Ngân hoặc em là Hoang Ngân, vừa để phân biệt với du kích nam giới, vừa để phân biệt với hội viên Hội phụ nữ nói chung.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:27:57 pm
Việc tổ chức lớp huấn luyện quân sự dành riêng cho cán bộ nữ du kích của ban chấp hành Tỉnh hội phụ nữ kết hợp chặt chẽ với Tỉnh đội Hưng Yên được sự chuẩn bị và hướng dẫn chu đáo, đã đem lại kết quả nhanh chóng, rộng khắp, biến thành phong trào sâu rộng, thiết thực, có tác dụng lớn cho sự nghiệp kháng chiến của Hưng Yên hồi đó. Tất nhiên, trước khi có nghị quyết của Tỉnh ủy về xây dựng nữ du kích Hoàng Ngân, không phải phụ nữ không tham gia một tí gì cho kháng chiến, ngược lại cũng có nhiều gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu tốt, nhưng đó chỉ là hành động lẻ tẻ, thiếu sự chỉ đạo xuyên suốt. Nay du kích Hoàng Ngân lại được đoàn thể phụ nữ quan tâm, thường xuyên giáo dục, động viên và được cơ quan quân sự các cấp chỉ đạo và chỉ huy các mặt công tác, chiến đấu và đàm bảo chiến đấu, cho nên phong trào có sức sống khá sôi nổi. Lực lượng dân quân, du kích ở các xã tăng lên hẳn về số lượng và chất lượng, tự nhiên có sự thi đua sôi nổi giữa nam du kích và nữ du kích, thậm chí giữa nữ du kích và bộ đội đều là những thanh niên đầy sức sống. Bộ đội địa phương hầu như giao toàn bộ công tác bảo đảm hậu cần cho nữ du kích Hoàng Ngân. Bộ đội về tới thôn nào, phân tán tới nhà nào, cũng có chị em giúp cho việc thổi cơm, nấu nước, lo việc ăn uống chu đáo.


Bộ đội muốn trú quân bí mật, cất giấu lực lượng mà vẫn nắm được tình hình địch, đã có chị em cử người tới giả đi chợ hoặc đi phu ở đồn bốt xem địch có động tĩnh gì kịp về báo gấp cho cấp chỉ huy; hoặc đi cấy, đi chăn trâu ở đầu làng làm nhiệm vụ cảnh giới cho bộ đội. Muốn đánh tiêu diệt đồn nào thì chọn một chị giao cụ thể trinh sát trong đồn địch, trinh sát ụ súng, trận địa, nhà cửa, quy luật tuần tra, ăn ngủ của địch. Em Đào Thị Liêm mới 15 tuổi thường đi phu cho địch ở bốt Vân Trì (em người làng Hồng Vân Ngoại ở gần bốt này), theo yêu cầu của bộ đội nắm từng khẩu pháo, xe tăng, từng nhà ở của địch, giúp cho bộ đội vẽ được sơ đồ, lên được sa bàn, nên bộ đội đã tiêu diệt được vị trí Vân Trì gồm một tiểu đoàn hỗn hợp có xe tăng, pháo binh hạng nặng vào đêm 15-8-1953. Em Liêm sau này được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua và thưởng huân nhương Chiến công.


Kế hoạch tốc chiến của bộ đội bao giờ cũng có 2 phần: Phần 1 là kế hoạch tác chiến của bộ đội, phần 2 gồm kế hoạch bảo đảm hậu cần, bao gồm kế hoạch tiếp đạn, tải thương, thu dọn tử sĩ, chiến lợi phẩm, tiếp giải tù binh. Các trận đánh vị trí địch, thông thường số lượng hậu cần bằng hoặc hơn lực lượng trực tiếp chiến đấu, ít thì vài chục, nhiều thì hàng vài trăm, tại các trận đánh lớn như Bần Yên Phú, Vân Trì, Dị Sử... trong đó lực lượng du kích Hoàng Ngân chiếm tuyệt đại đa số.


Điển hình chăm sóc, nuôi dưỡng thương binh phái kể đến các bà, các chị nữ du kích Hoàng Ngân ở 3 xã thuộc huyện Khoái Châu là Ninh Tập, Đại Tập, Mạn Trù Châu. Từ năm 1952 cho tới năm 1954 khi hòa hình lập lại, các mẹ, các chị 3 xã này thường xuyên nuôi dưỡng từ 30 - 50 thương binh. Ban quân y Tỉnh đội chỉ bố trí bác sĩ, y tá để giải quyết các việc chuyên môn, hậu cần chỉ có 1 quản lý chuyên lo việc thanh toán, đảm bảo chế độ, còn mọi việc từ hộ lý, cơm nước, phục vụ thương binh, hầm bí mật cho thương binh, thậm chí cử người lên Hà Nội mua thuốc men theo con đường hợp pháp đều giao cho nữ du kích Hoàng Ngân. Thành tích nuôi dưỡng thương binh một cách bền bỉ, thắm tình quân dân đó đã được tặng thưởng huân chương ngay từ năm 1953 (đáng tiếc là trong báo cáo không nêu rõ thành tích của cả 3 xã thuộc khu vực xã Mạn Trù Châu, nên huân chương chỉ trao cho xã Mạn Trù Châu, thật là một thiếu sót không đáng có).


Hồi đầu tháng 6-1951, khi mở khu du kích bắc Tiên Lữ, bọn địch ở bốt Phố Dung cắm trên đường số 20 giữa chợ Thi và phố Giác, sợ hãi bỏ chạy. Chúng tôi trên đường rút quân phát hiện thấy địch đã rút chạy, khi về tới xã Minh Hoàng (huyện Phù Cừ) đã yêu cầu xã đội huy động dân quân du kích tới san phẳng bốt trong đêm, không cho địch chiếm đóng trở lại. Ra tới sân đình thôn Hoàng Tranh, tôi thấy toàn là nữ du kích Hoàng Ngân, người mang cuốc, kẻ mang xẻng, đang chăm chú lắng nghe chị Ái là xã đội phó truyền lệnh rất rõ ràng khúc chiết, sau đó cá đội khoảng trên 50 người lặng lẽ bí mật nhưng hùng dũng ra phía bốt Dung cách đó khoang một cây số và chị em đã phá xong ngay trong đêm. Tôi cũng rất xúc động trước lời lẽ linh hoạt lanh lảnh của người nữ chỉ huy là chị Ái, rất tiếc là tôi không nhớ họ của chị, chắc rằng chị sẽ sống hạnh phúc và ngày nay sau hơn 40 năm, cuộc đời đã phôi pha chắc chị đã thành bà rồi. Lại có một chị làm công tác mật giao (địch vận) vào bốt Thiết Trụ (Khoái Châu) thuyết phục được tay sếp bốt tên là Liễu quay về với kháng chiến, đưa bộ đội vào chiếm bốt, bắt hết binh lính trong đồn, thu toàn hộ vũ khí hồi tháng 1-1952. Về sau chị và anh Liễu kết hôn với nhau đẻ một đứa con và yên ổn làm ăn.


Cuốn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng" (trang 373, 374) đã kẻ nhiều gương chiến đấu của nữ du kích Hoàng Ngân các xã, các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động, Khoái Châu, Yên Mỹ, Văn Lâm... Kể được khá nhiều chuyện, nhưng theo tôi chắc chắn vẫn chưa đủ mà chỉ đưa ra được một số mẩu chuyện điển hình thôi. Bởi vì đây là một phong trào rộng khắp, hoạt động hết sức đa dạng phong phú, từ việc đảm bảo hậu cần, tải thương, nuôi dưỡng thương binh, bảo vệ cán hộ, tới việc trực tiếp tham gia đánh Tây một cách độc lập hoặc phối hợp với nam du kích và bộ đội, cũng như làm địch vận, làm công tác bảo đảm chiến đấu cho bộ đội như quân báo, liên lạc, làm công sự... Tới đâu, bất kỳ ở thôn nào, chị em đã sóng thời kỳ những năm 1950 đều hồ hởi ôn lại chuyện cũ mà mình đã góp phần cho công cuộc kháng chiến, rất tự hào và hãnh diện.


Phong trào nữ du kích Hoàng Ngân đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong ký ức của người dân tỉnh Hưng Yên xưa trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:28:04 am
MỘT TRONG NHỮNG CHIẾN CỐNG LỚN Ở TẢ NGẠN SÔNG HỒNG ĐƯỢC TỔNG TƯ LỆNH TẶNG THƯỞNG HUÂN CHƯƠNG QUÂN CÔNG HẠNG BA


TRẬN TIÊU DIỆT VỊ TRÍ VÂN TRÌ
(Bài đăng trên báo Cứu Quốc số 2437, ra ngày 2-10-1953. Tư liệu này do Bảo tàng tỉnh cung cấp)


Nằm trên đường số 39 (Hưng Yên), Vân Trì là vị trí chỉ huy tiểu khu quan trọng của địch, lọt giữa các vị trí Trương Xá, Đào Viên và tiểu khu Lực Điền.

Địch đến đóng ở Vân Trì từ tháng 6-1952, chúng đã san phẳng nửa làng Vân Trì, chiếm ngót 50 mẫu ruộng để xây vị trí.

Trong vị trí, địch chia thành nhiều khu vực yểm hộ lẫn nhau, mỗi khu vực có nhiều ụ lớn đặt đại liên bắn chéo các mặt, dàn thành một lưới lửa. Xung quanh vị trí có một lũy đất cao và dày, một hào sâu đầy nước, dưới đổ mảnh chai và cắm chông, và 3 hàng rào dây thép gai rộng từ 3 đến 5 thước.


Địch thường xuyên đóng 1 tiểu đoàn ở đây, gồm 1 đại đội khinh binh, 1 đại đội cơ giới và nhiều xe ô tô, thiết giáp, đại bác...

Với một lực lượng mạnh như vậy, địch hy vọng dùng Vân Trì để bảo vệ đường 39 và các đồn lân cận, đồng thời uy hiếp các khu du kích của ta ở Khoái Châu, Kim Động và bắc Ân Thi.

Được nhân dân tích cực giúp đỡ và giữ bí mật, đêm 15-8, lợi dụng địch sơ hở tập trung quân đi càn quét ở miền nam Nam Định, bộ đội và du kích đã anh dũng tấn công tiêu diệt Vân Trì để lập thành tích chào mừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám.


Hơn 3 giờ sáng, sau khi đã bí mật chiếm lĩnh trận địa, quân ta dùng mìn phá tan các hàng rào dây thép gai và một số ụ ngoại vi, xung phong tiêu diệt địch. Các tổ 3 người luôn luôn sát cánh, động viên nhau chiến đấu anh dũng và noi gương tổ Giáp Văn Khương, quyết tâm diệt địch.

Đồng chí Thịnh bị sức ép của mìn quăng xuống hào ngất đi, tỉnh dậy, lại xông lên tích cực diệt địch và chiếm ụ.

Bị đánh bất ngờ, bọn địch đang ngủ trong các công sự hoảng sợ vùng dậy, kêu la ầm ĩ, mấy phút sau mới kịp chống cự. Xe tăng chúng gầm lên, lồng lộn chạy đi chạy lại, cuống quít nhả đạn.

Trong đêm tối, các chiến sĩ ta nhằm thẳng tia lửa ở nòng súng của xe tăng, lao tới phá xe.

Dưới làn mưa đạn của địch, quân ta vẫn anh dũng bò sát các xe tăng, ném lựu đạn, rồi nhảy lên dùng mìn phá hủy xe. Trong khi đó, ở các mặt, các chiến sĩ ta liên tiếp phá các kho đạn, cơ giới, đại bác của địch...


Diệt, xong các ụ xung quanh, ta đánh thẳng vào khu vực trung tâm, nơi bọn chỉ huy pháo binh ở. Đồng chí Lập vừa xông lên phía xe tăng địch, bị 2 tên bắn gãy một tay. Còn một tay, Lập vẫn bình tĩnh cắp súng vào nách rồi đuổi theo xe tăng địch. Súng tắt, Lập quàng súng vào vai, còn một tay cố bám lấy xe nhảy lên, rồi lấy báng súng quật chết 2 tên giặc, và tiếp tục chiến đấu cho đến khi máu ra nhiều, người lả đi, Lập mới chịu để đưa về trạm cấp cứu. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta, giặc bắn lại dữ dội hồi lâu, rồi cuối cùng bị vây kín nên không dám chống cự, phải giơ tay hàng.


Sau hơn một giờ chiến đấu anh dũng, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn vị trí Vân Trì, diệt và hắt sống 2 đại đội địch, phá hủy 4 đại bác 105 ly, 1 đại bác 37 ly và 49 xe tăng, xe vận tải.

Chiến thắng Vân Trì, cũng như chiến thắng Dị Sử, Chùa Bần gần đây đã gây phấn khởi cho quân dân Hưng Yên, và là kết quả tốt đẹp của phong trào chiến tranh du kích ở Hưng Yên trong mùa hè vừa qua. Đồng thời, chứng tỏ sự trưởng thành rõ rệt của bộ đội và du kích ta, đã nêu cao tinh thần chiến đấu anh dũng, biết lợi dụng sơ hở, nhanh chóng tiêu diệt những vị trí kiên cố của địch nằm sâu trong vùng tạm bị chiếm.


Đơn vị dự trận này đã được Bộ Tổng Tư lệnh tặng thưởng huân chương Quân công hạng ha.

(Theo V.N. T.T.X)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:29:30 am
TRẬN TIÊU DIỆT BỐT THIẾT TRỤ
(Lần thứ hai) ngày 8-11-1953

Đại tá ĐÀO NGỌC QUẾ
(Nguyên Chánh, án Tòa án Nhân dân Hải Phòng)


Hồi năm 1953, tôi giữ chức trung đội trưởng cùng với anh Nguyễn Quốc Thanh1 (Đồng chí Thanh nay là đại tá, đã nghỉ hưu tại Thông Quan, huyện Châu Giang) chính trị viên trung đội thuộc trung đội 14, đại đội 10, bộ đội huyện Khoái Châu.


Đầu tháng 11-1953, đơn vị tôi được lệnh tham gia cùng với một đơn vị của Tỉnh đội Hưng Yẻn tập kích diệt bốt Thiết Trụ. Bốt này đặt trên đê tả ngạn sông Hồng, thuộc huyện Khoái Châu, cách Hà Nội khoảng 20km, đã được Pháp xây dựng từ năm 1947, hiện có khoảng một đại đội chiếm giữ. Trước đó, đơn vị tôi cũng đang cùng dân quân du kích các xã ven bao vây chặt, sát hàng rào quanh bốt. Bọn địch trong đồn vô cùng khốn đốn, chỉ được tiếp tế bằng máy bay và tàu chiến.


Chúng tôi phấn khởi bắt tay vào chuẩn bị. Trước hết phái một tổ trinh sát phối hợp với tổ trinh sát của Tỉnh đội do đồng chí Tựa làm đội trưởng. Bộ phận trinh sát có nhiệm vụ tìm đường vào bốt địch với yêu cầu bí mật vượt qua các hàng rào, phát hiện mọi loại mìn trên đường tiềm nhập và phải sờ vào tới lô cốt, ụ súng địch thì mới coi như hoàn thành nhiệm vụ (cách đánh này thường được gọi là chiến thuật "sờ tường").


Tổ trinh sát của C10 do đồng chí Truy, quê ở xã Phú Nham, làm tổ trường, lại có một chiến sĩ tên là Hộ, quê ở làng Thiết Trụ rất thông thạo địa hình làng Thiết Trụ và rất gan dạ, đã tìm được đường vào đến ụ súng đại liên trên đê, đầu dốc gạch. Đồng chí Tựa đã kiểm tra lại, xác nhận kết quả trinh sát của tổ và báo cáo cấp trên mở đầu trận đánh. (Đồng chí Hộ sau này đã hy sinh đầu năm 1954 trong trận chống càn ở thôn Mãn-Xã Đông, Thuận Thành, Bắc Ninh).


Trong khi đó, chúng tôi được lệnh tập trung luyện tập đánh ban đêm với thực tế địa hình như tập động tác tiềm nhập bí mật, ngụy trang trong đêm, cắt hàng rào dây thép gai, gỡ mìn...

Tỉnh đội trực tiếp xây dựng kế hoạch tác chiến, phân chia nhiệm vụ cho trung đội 14, C10 tiêu diệt các ụ súng và bọn địch trên đê, đại đội 27 của Tỉnh đội tiêu diệt các ụ súng, lô cốt và bốt địch ở phía trong đê. Chỉ huy trận đánh đều hạ xuống một cấp, như tỉnh đội trưởng Võ An Đông trực tiếp chỉ huy trận đánh, có đồng chí Chiện tiểu đoàn phó giúp sức, đồng chí Bế, đại đội trưởng đại đội 27 chỉ huy trung đội đi đầu, còn trung đội tôi được đồng chí Chức tăng cường chỉ huy (đồng chí Chức sau này là Trung tướng ở Quân khu 9). Để phù hợp với cách đánh ụ súng, căn nhà, bộ đội được biên chế thành tổ 3 người (có một chiến sĩ ném thủ pháo, một chiến sĩ có tiểu liên, một chiến sĩ trang bị súng trường có lưỡi lê để đánh giáp lá cà).


Kế hoạch chiến đấu được phổ biến tỉ mỉ trên sa bàn rất chi tiết cho động tác từng tổ, từng người, phổ biến trước cho cán bộ đại đội và trung đội, sau đó lần lượt phổ biến đến từng chiến sĩ tham gia trận đánh.


20 giờ ngày 7-11-195M, chúng tôi được lệnh hành quân chiến đấu từ ấp Đức Nhuận - Ông Đình ra thẳng trận địa. Tới một giờ sau, ngày 8-11, chúng tôi đã cắt xong hàng rào, chiếm lĩnh trận địa, cách địch khoảng 10 - 15m chờ lệnh xung phong. Theo kế hoạch, giờ G là vào hồi 1 già 30 sáng. Đến giờ đã định, chưa được lệnh xung phong, chúng tôi vô cùng sốt ruột, lo lắng, không dám ho hắng, không dám gây ra tiếng động mạnh, cố gắng giữ bí mật đội hình. Cho tôi 4 giờ sáng chúng tôi mới nhận được lệnh của Tỉnh đội trưởng truyền thầm qua máy điện thoại: "Bằng mọi giá tiến vào, gặp địch đánh ngay" (về sau được biết có tình huống để chậm thời gian này là do bộ phận cắt rào của C27 nghi ngờ còn một hàng rào nữa, chỉ huy bộ phận xung kích loay hoay không dám xung phong ngay, phải đợi lệnh chỉ huy của cấp trên). Sau khi được lệnh của Tỉnh đội, chúng tôi bí mật tiến vào đốc Gạch rẽ lên đê, bọn địch vẫn không hay biết gì. Tổ đồng chí Truy, Hộ, Phùng dẫn đầu lao nhanh lên đề. Tới ụ gác, đồng chí Truy đã nổ súng mở đầu trận đánh, chiếm ụ gác và gặp ngay cửa hầm ngâm. Đồng chí Khuy quê ở Yên Cảnh Hạ liệng một quả thủ pháo vào hầm ngầm, bọn địch trong hầm kêu xin hàng. Cùng lúc đó, tổ đồng chí Nghĩa, A phó - xông lên bắt gọn bọn lính gác tại ụ súng đầu cổng. Riêng đồng chí Hải - tiểu đội trưởng dẫn đầu tiểu đội xông vào dãy nhà ngủ có lính. Vừa lúc một số tên chạy ra chống cự thì bị chiến sĩ Khao - quê ở Phù Xa dùng lưỡi lê đâm một lúc chết 2 tên địch, có tên bị đâm xuyên từ sau lưng ra ngực chết, trong tư thế quỳ gập. Đồng chí Hải quét một băng tiểu liên có tới 4 tên địch bị thương vào chân, chúng kêu xin hàng rối rít. Bọn địch ở phía cổng ra chợ Mễ Sở chưa đánh đã xin hàng nộp súng. Thế là chỉ sau 5 phút, chúng tôi đã giải quyết xong hoàn toàn trận địa, tiêu diệt và bắt toàn bộ bọn địch trên đê và báo cáo về sở chỉ huy. Cùng lúc đó, mũi của C27 cũng lao nhanh xuống dốc Gạch đánh thẳng vào đài chỉ huy, lô cốt mẹ và các bộ phận khác, đánh chiếm rất nhanh tất cả các ụ súng, nhà lính còn lại. Bọn địch đều không kịp trở tay, những tên còn sống sót vội đầu hàng. Thế là trong vòng 5 phút, C27 và trung đội 14, C10 của huyện bắt đầu nổ súng và tiêu diệt hoàn toàn 1 đại đội địch, có 27 tên bị bắt sống, ta thu 2 súng đại liên, 3 trung liên, 2 súng cối, nhiều tiểu liên, súng trường, quân trang, đạn dược. Quân ta không một ai hy sinh. Còn bọn tù binh bị bắt, tên nào tóc cũng dài ngang lưng do bị bao vây không cắt tóc được.


Đây là một trong nhiều trận đánh đồn tiêu diệt gọn và nhanh hiếm có. Đó là chiến thuật "mật tập" (tiếng gọi của anh em lính chúng tôi là chiến thuật "sờ"), đặc điểm cách đánh là tuyệt đối bí mật tiếp cận địch, bí mật cắt rào, gỡ mìn, áp sát rồi bất thình lình nổ súng xung phong trong khi quân địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp triển khai chiến đấu. Trận đánh này phải kéo dài thời gian chiếm lĩnh trận địa tưởng chừng không đánh được làm chúng tôi hết sức lo ngại. Nhưng nhờ có quyết tâm cao, chỉ huy rất linh hoạt và cương quyết của tỉnh đội trưởng Võ An Đông nên đơn vị đã giành được chiến thắng oanh liệt.


Đối với bộ đội huyện Khoái Châu, đây là trận thứ ba sau trận tiêu diệt vị trí Phương Trù (7-1953), và vị trí Vân Trì (8-1953). Chúng tôi đã xây dựng được truyền thống phối hợp tác chiến với bộ đội tỉnh trong vận dụng chiến thuật "sờ".

Với thắng lợi này, chúng tôi vô cùng phấn khởi, sung sướng, cùng nhau học tập rút kinh nghiệm để rồi tiến tới tiêu diệt hàng loạt bốt địch tiếp theo.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:30:09 am
HOẠT ĐỘNG DU KÍCH CHIẾN TRANH CỦA QUÂN VÀ DÂN
HUYỆN ÂN THI, PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC
NĂM 1951 - 1952


Đại tá VŨ ĐÌNH TUÂN
(Nguyên ủy viên thường vụ Huyện ủy, CTV đại đội 30)


Cuối năm 1951, tôi tham gia Ban thường vụ Huyện ủy Ân Thi, được, cử làm chính trị viên đại đội 30 của huyện. Thời điểm này, ta đã tiêu diệt, bức hàng một loạt các đồn hương - tổng dũng, phá tề, lập chính quyền ta ở các thôn xã. Toàn huyện Ân Thi chỉ còn lại mấy bốt chính như chợ Thi, Đa Lộc, Bình Trì (bốt Đởm), quận Ân Thi, Đô Mỹ.


Theo chỉ thị của Tỉnh đội và Huyện đội, đại đội 30 của huyện phối hợp với dân quân du kích xã phân tán về các xã, tiến hành bao vây chặt các bốt đồn địch vào trong vị trí củng cố và mở rộng khu du kích. Bộ đội huyện và du kích đã tổ chức đào giao thông hào, bao vây bốt, bắn tỉa quấy rối, ngày càng xiết chặt, vòng vây áp sát bốt địch, đồng thời huy động nhân dân phá hoại, cắt đứt đường giao thông chính, cô lập các bốt, gây cho địch nhiêu khó khăn trở ngại trong tiếp tế. Địch buộc phái tiếp tế bằng máy bay thả dù xuống và nhiều dù đã rơi ra ngoài hàng rào, du kích lại thu được đồ tiếp tế đó. Hoặc từng thời kỳ chúng phải tổ chức lực lượng lớn mở càn quét hành quân đế tiếp tế hoặc thay quân.


Từ kết quả bao vây chặt đó, lực lượng trung đoàn 42 phối hợp với đại đội 30 và dân quân, du kích đã đào giao thông hào và hầm áp sát qua hàng rào dây thép gai của địch, đã tổ chức công đồn tiêu diệt hoàn toàn bốt Đa Lộc lần thứ hai, diệt gọn một đại đội (12-12-1952). Ta bao vây chặt bốt Đô Mỹ, buộc địch ở Kẻ Sặt phải đem 300 quân tiếp tế, giải vây bốt. Nắm được quy luật đó, đêm 20-4-1952, đại đội 30 do đồng chí Vũ Đình Tuân, thường vụ Huyện ủy chỉ huy, phối hợp với du kích xã Đô Lương (nay chia thành 2 xã Phù Ung và Bãi Sậy) phục kích ven đường số 38 từ Kẻ Sặt đến Bình Trì. Đội hình bố trí như sau:

- Tại thôn Bối Khê, bố trí một trung đội tăng cường cùng du kích xã và sở chỉ huy đại đội làm một mũi đột kích chủ yếu.

- Tại trại Bối Khê, có một tiểu đội cùng du kích là mũi đánh vào sườn đội hình quân địch.

- Tại thôn La Mát, có một trung đội kết hợp du kích có nhiêm vụ đánh bịt, chặn đuôi địch.


5 giờ sáng ngày 21-4-1952, 300 quân địch hành quân từ Secteur Kẻ Sật, qua Cống Tranh, Kim Lũ, La Mát đến thôn Bối Khê. Địch xông vào làng Bối Khê, ta nổ súng đánh giáp lá cà. Sau hơn một giờ chiến đấu ác liệt, địch bị chết, bị thương nhiều, buộc chứng phải dùng phi cơ và pháo bắn yểm trợ để chúng bỏ chạy toán loạn về Kẻ Sặt. Kết quả địch không tiếp tế, giải vây được cho bốt Đô Mỹ và bị ta diệt 108 tên, trong đó ta bắt sống 1 quan ba Pháp, 1 lính Pháp và 36 ngụy binh. Ta thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Sau đó ít lâu, địch ở bốt Đồ Mỹ buộc phải rút về Kẻ Sặt.


Sau trận chiến thắng này, Chính phủ đã tặng Huân chương Chiến công cho địa phương.

Bao vây vị trí, đánh chặn quân đi tiếp tế giải vây cùng với bộ đội chủ lực diệt bốt, là nét đặc sắc trong hoạt động của quân dân huyện Ân Thi phối hợp với chiến dịch Tây Bắc vào cuối năm 1951 và 1952.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:31:02 am
VÀI CHIẾN TÍCH CỦA NỮ DU KÍCH HOÀNG NGÂN


NGUYỄN HỮU SẠ
(Nguyên cán bộ tuyên huấn Hưng Yên)


1. Hồi năm 1953, bộ đội sông Luộc (huyện Tiên Lữ) phối hợp với nữ du kích Hoàng Ngân giả làm người bị thương võng xuống thị xã. Khi đến dốc Suối thì đỗ võng xuỗng, người nằm võng cắp tiểu liên bắn, nữ du kích phối hợp ném lựu đạn diệt và đánh tan một trung đội địch.


2. Nữ du kích giả gánh rạ đổ trên đường 39 thuộc thôn Cốc Ngang, xã Nghĩa Dân, chặn đốt một xe jép của địch đi từ Cầu Ngàng (Kim Động) lên Trương Xá.


3. Nữ du kích xã Hiệp Cường (Kim Động) nhử Tây vào làng Tân Câu, dùng đòn gánh đánh giặc, cướp súng.

Vậy có thơ rằng:

Trận dốc Suối mới lạ sao!
Mấy người khiêng cáng giả vào chữa thương
Gặp giặc đi ở ngang đường
Cáng thời đạt xuống, tiểu liên bắn vào
Lựu đạn ném tới rào rào
Toán giặc, tan nát, lăn nhào nát thây
Đường 39 đốt xe Tây
Mấy cô gánh rạ đỗ ngay ngang đường
Xe Tây đi đến phải dừng
Xuống xe quát mắng tưởng chừng dân quê
Ngờ đâu bi súng bắn què
Rạ kia kéo đến đốt xe tức thì
Tân Cầu cướp súng ban ngày
Mấy cô du kích nhử Tày vào làng
Xèo xèo đòn gánh quật ngang
Thằng Tây cùng với Việt, gian ngã dài
Cướp súng rồi chạy ra ngoài
Khi chúng tỉnh dậy, thấy ai đâu nào?


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:31:51 am
HƯƠNG NHÃN LỒNG

   
(Thân tặng đồng chí VÕ AN ĐÔNG,
người chỉ huy đánh giặc tài tình ờ Hưng Yên)

   Ngày vui thơ viết tặng anh
   Hưng Yên thuở ấy lừng danh người tài
   Chỉ huy đánh giặc tuyệt vời
   Làm cho giặc Pháp rụng rời hãi kinh
   Chiến lược, chiến thuật tài tình
   Từ không đến có quân mình lớn lên
   Bân Yên Nhân thật gan bền
   Đêm luồn ổ giặc, ngày bàn quân cơ
   Cướp vũ khí tận trong kho
   Ngụy quân khiếp vía nằm co trong đồn
   Bao năm cháo bụi, cơm hâm
   Làm nên sức mạnh sóng còn biển dâng
   Rào gai, xiềng xích phá bùng
   Đêm dài tăm tối nay bừng ánh sao
   Hưng Yên anh dũng tự hào
   Có anh đóng góp phần vào công chung
   Mở trang sứ cũ anh hùng
   Tình người quê đất nhãn lồng tỏa hương.


NGUYỄN HỮU SA
(Đỗ TỈNH hiệu đính)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:32:17 am
DÂN QUÂN

Tác giả khuyết danh
Nhạc sỹ Thế Dương soạn


Dân quân Hưng Yên vùng lên tiến ra chiến đấu. Bức tường sắt nguyện bền lòng ngăn bước quân thù bạo tàn nguy khốn không sờn thực dụng vũ khí thô sơ. Đây Văn Lâm Yên Mỹ quân giặc kinh hồn. Này Văn Giang Mỹ Hào Lực Điền oai hùng, dùng địa lôi phá đoàn xe tăng cắt đường giao thông quyết phá hội tề cho dân an ninh, diệt trừ Việt gian làm giặc thất kinh. Dân quân Hưng Yên ta thề luôn luôn xung phong xung phong. Ta thề quyết chiến. Bãi Sậy năm xưa còn ghi chiến công. Mã tấu dao găm ngăn quân xâm lược. Xứng danh nam nhi một dòng hào hùng. Một mai xứng danh anh hùng nước Nam.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:29:11 am
PHẦN II
QUÊ HƯƠNG - NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG THỂ NÀO QUÊN!
(Hồi ký của đồng chí Nguyễn Huy Trường, chiến sĩ thi đua toàn quốc, nguyên Đội trưởng đội giao thông chiến ”820" Tỉnh đội Hải Dương)


Với tư cách là một chiến sĩ đánh mìn của Kim Thành trước đây, một cán bộ chỉ huy Đội giao thông chiến "S20" của Tỉnh đội Hải Dương, tôi viết dưới đây một số sự kiện, một số trận đánh, nhằm mục đích nói lên truyền thống chiến đấu chống xâm lược của quân dần tỉnh nhà và góp phần làm cho sợi dây liên hệ giữa những người đồng chí đồng đội ngày thêm bền chặt.


Năm tháng trôi qua, bây giờ hồi tưởng lại những ngày chiến đấu sôi nổi trên chiến trường quê hương, tôi không tránh khỏi bồi hồi xúc động, nhớ ơn đồng bào, đồng chí ở các thôn xã ven đường thuộc các huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Ninh Giang, Thanh Miện, Kim Thành, Tứ Kỳ, Gia Lộc và vô cùng thương tiếc các cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.


NGUYỄN HUY TRƯỜNG 


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:30:31 am
... TỪ TRẬN ĐÁNH HÔM NAY!
(Trận đánh xe lửa trên đường 5, ngày 02-03-1951)


Hồi ấy, tôi là một lính văn phòng, được cấp trên chiếu cố nguyện vọng, cho xuống đơn vị làm đội viên chiến đấu. Vốn là một thanh niên hăng hái nhiệt tình, từ lâu đã có ý muốn trở thành một chiến sĩ trực tiếp cầm súng giết giặc lập công, sau khi về nhận công tác ở trung đội 1 đại đội Kim Thành, tôi được biên chế vào tiểu đội đánh mìn. Sau đó không lâu, tôi được lựa chọn tham gia trận đánh xe lửa tại quãng đường thuộc địa phận làng Mân Lộc - cách Hải Phòng 21 kilômét.


Mặc dầu trời mưa, đêm mồng 1 tháng 3 năm 1951, chúng tôi vẫn hăm hở ra quân, gần hai giờ sáng, công việc chôn mìn đã hoàn thành, đơn vị được lệnh rút khỏi trận địa. Tôi được ở lại gốc dây mìn cùng tiểu đội trường Nguyễn Văn Quyền1 (Anh Nguyễn Văn Quyền - người thôn Văn Dương, xã Kim Khê - Kim Thành) trực tiếp đánh địch.


Trong trận đánh này, anh Quyền chỉ huy, có nhiệm vụ ngắm mục tiêu, phát lệnh điểm hỏa; còn tôi phải chấp hành lệnh đó thật chính xác - dí điện cho mìn nổ.


Sau khi xem xét nguỵ trang nơi ẩn nấp, chúng tôi thay nhau quan sát tình hình và nghĩ cho đỡ mệt. Trời vê khuya, gió đông bắc càng thổi mạnh. Mưa phùn từng đợt thi nhau rải xuống khu vườn. Nước mưa đọng trên cành cây thỉnh thoảng lại nhỏ xuống người thấm lạnh. Bộ quần áo ướt sũng nước mưa, càng gây cho tôi thêm rét buốt khó chịu. Hai chúng tôi phải ngồi sát bên nhau cho thêm ấm.


Xung quanh im lặng, những "làng tề" ven đường chìm trong đêm mưa. Thỉnh thoảng, phía bên kia đường lại lóe lên những vệt sáng từ bốt Mân Lộc, quét dọc, quét ngang rồi tắt lịm. Bây giờ mọi việc đã xong xuôi, tôi thấy người thấm mệt, bụng đói cồn cào. Tôi lấy ra một nắm cơm nếp, một ít thịt gà kho - khẩu phần đặc biệt đơn vị dành cho những người ở lại gốc dây mìn.


Hai chúng tôi ăn ngon lành, người thấy ấm hẳn lên. An xong, anh Quyền giục tôi đi ngủ một lát cho lại sức. Thấy tôi tỏ ý không muốn ngủ, anh nói giọng trìu mến:

- Chú cứ ngủ đi, mình tôi quan sát là được rồi, sức chú còn yếu, càn phải ngủ để có sức ngày mai mà chiến đấu.

Nhìn anh trong bóng tối lờ mờ của đêm mưa, tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Chính anh là người dẫn dắt tôi vào bộ đội. Ngày ấy, tôi thường lân la ở vùng căn cứ, đem sẵn bên mình lá đơn tình nguyện xin vào bộ đội, hy vọng gặp một ai đó, có thể giới thiệu mình vào hàng ngũ những chiến sĩ mà chỉ mới nghe đến, tôi đã thấy say sưa. Rồi tôi gặp anh. Sau lần gặp ấy, tôi trở thành một liên lạc viên của đơn vị mà anh đang có mặt. Cũng từ đấy, tôi luôn nhận được từ anh sự giúp đỡ ân cần. Anh coi tôi như một đứa em cần sự hướng dẫn dìu dắt của người anh đã trưởng thành. Hôm nay được ở lại gốc dây mìn cùng anh, tôi thấy vững tin. Vội nén những suy nghĩ về anh đang trào lên trong tôi, tôi nói:

- Báo cáo tiếu đội trưởng! Em có thể thức suốt đêm để đón nhận mệnh lệnh chiến đấu.

Đáp lại giọng nói vẻ nghiêm trang của tôi, anh Quyền đưa tay kéo tôi vào sát bên anh. Hai chúng tôi lặng lẽ theo dõi mọi động tĩnh xung quanh.


Thời gian chờ đợi như dài ra. Mưa phùn vẫn phủ dày từng đợt. Đầu óc tôi miên man những suy nghĩ về trận đánh sắp tới. Trong trận này, sau khi mìn nổ, chúng tôi phải rút qua một cánh đồng trống trải, vượt qua một con sông, mới về được khu vực an toàn. Còn trái mìn có giữ được bí mật hay không? Câu hỏi đó làm tôi liên tưởng đến trận đánh mìn trước đây trên quãng đường Quỳnh Khê - Phương Duệ. Lần đó, tôi cũng được phân công ở lại cùng đồng chí Quyết để điều khiển mìn, nhưng rất tiếc địch đã phát hiện và lấy mất mìn. Trận đánh bị thất bại!

Lần này, bọn địch kiểm tra đường lại phát hiện thấy mìn thì sao?

Một cơn gió ào tới, rũ những cành cây, làm nước mưa thi nhau trút xuống. Anh Quyên phải bật đứng dậy vì lạnh. Tồi cũng vội đứng lên rồi buột miệng nói:

- Trời đêm nay ác quá!

- Mưa rét có làm cho anh em mình gian khổ thật, nhưng mưa cũng giúp ta ngụy trang mìn thêm chắc chắn. - Anh Quyền rủ rỉ nói với tôi: - Mưa sẽ xóa đi tất cả những vết chân đi lại, hoặc đất đá rơi vãi trên mặt đường. Lớp nước mưa đêm nay làm cho địch khó có thể phát hiện ra điều gì nghi ngờ. Mìn và vị trí ẩn nấp có điều kiện đảm bảo an toàn, trận đánh của chúng ta nhất định giành thắng lợi, điều đó là chắc chắn.


Nói xong, anh đứng quan sát một hồi lâu, rồi ngồi xuống, quàng tay lên vai tôi, anh nói nhỏ:

- Lần này ở lại gốc dây mìn với anh, chú có sợ gì không?

Nếu anh đặt ra câu hỏi này từ đầu, có lẽ tôi không dám giấu anh những ý nghĩ thầm kín của mình. Còn bây giờ, khi đã an tâm về những câu hỏi đã được giải thích, tôi vui vẻ đáp lời:

- Em chỉ sợ đánh không trúng đầu tàu và không lật đổ được cả đoàn tàu!

- Chú mày cứ yên trí, "Con lợn" năm mươi cân này, thế nào cũng đủ sức lật đổ đầu tàu và hơn chục toa xe. Nếu là tàu chở quân, ít nhất cũng "thịt" được năm bảy "C"; còn chở bom đạn thì ít ra cũng "xài" được vài trăm tấn.


Giọng anh nói lạc quan, như nắm chắc phần thắng, làm tôi càng tin tưởng vào người chỉ huy đã từng trải và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu. Như thấu hiểu suy nghĩ của một chiến sĩ còn đang mò mẫm học tập kinh nghiệm, anh vui vẻ nói tiếp:

- Trong chiến đấu, bao giờ cũng phải tính đến nhiều khá năng, kể cả những trường hợp khó khăn nhất để chủ động đối phó. Nhưng phải tùy từng trận mà đặt ra cho phù hợp. Lần này chúng ta đặt mìn vào gần vị trí địch, nơi chúng thường chủ quan và có nhiều sơ hở, vì vậy không nên suy nghĩ quá nhiều về những diễn biến phức tạp, làm cho ta rối trí, thiếu niềm tin, dẫn đến giảm quyết tâm chiến đấu!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:31:24 am
Câu nói chứa đựng nhiều ý nghĩa của anh đã gạt đi những gì còn rớt lại về sự không "may mắn" lần trước ở Quỳnh Khê - Phương Duệ. Tôi nhìn anh, lòng thầm biết ơn người chỉ huy đã khéo léo xua đi những băn khoăn không cần thiết của chiến sĩ khi vào trận đánh!

- Nhất định phải thắng trong trận này! Nghĩ vậy, tôi ngồi lặng lẽ nhìn ra đường sắt. Con đường chạy dọc quê hương tôi mà giặc Pháp đã chiếm đóng từ hồi đầu kháng chiến. Hình ảnh những làng mạc bị địch đốt phá xác xơ..., đồng bào, đồng chí bị giết hại dã man..., tội ác quân thù cứ lần lượt hiện qua óc tôi. Tôi thấy mình như biến hết nỗi giá lạnh, bật đứng dậy loay hoay kéo tấm vải nhựa che kín cho hòm điện khỏi bị nước mưa làm ướt. Thấy tôi đứng dậy đột ngột, anh Quyền cũng đứng lên nhìn công việc tôi vừa làm, rồi đưa tay kéo tôi ngồi xuống sát bên anh và nói:

- Trận đánh hôm nay rất có ý nghĩa với bước đường công tác của chú. Đây là một dịp rất tốt, chú cần cố gắng hoàn thành nhiệm vụ!


Chưa hiểu hết ý tư câu nói của anh, tôi liền hỏi lại:

- Theo anh thì ý nghĩa quan trọng nhất đối với em trong trận đánh này là ở điểm nào?

- Riêng đối với chú - anh Quyền nói - Chi bộ sẻ qua trận đánh này mà tiếp tục xem xét giúp đỡ để chú nhanh chóng trở thành đảng viên của Đảng!


Phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng là nguyện vọng tha thiết và thiêng liêng nhất của tôi. Lẽ ra, tôi đã có mặt trong đội ngũ đảng viên của chi bộ từ giữa năm ngoái. Nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt, sau khi chi bộ có nghị quyết kết nạp tôi vào Đảng, các đồng chí cấp ủy phải chia nhau bám sát từng bộ phận xây dựng lực lượng bảo vệ cơ sở, nên chưa có điều kiện tổ chức họp chi bộ đế công bố kết nạp tôi. Cứ như thế, công việc cuốn hút và thời gian trôi đi thì đến cuối năm 1950, có chỉ thị của Trung ương tạm ngừng phát triển để củng cố Đảng. Việc ngừng kết nạp tôi cũng theo chỉ thị này. Một thử thách mới đến với tôi. Tôi tưởng như mình bị đứt quang gẫy đòn gánh giữa đường. Nhưng không, chi bộ vẫn ở bên tôi, vẫn quan tâm dìu dắt giúp đỡ tôi, tạo cho tôi nhiều thuận lợi để vững bước tiến lên. Các đồng chí Phí Văn Tư, Trần Kim Thịnh - những cán bộ chỉ huy mà tôi không thể nào quên, đã thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của tôi - quyết định chuyển tôi từ văn phòng xuống đơn vị chiến đấu, trực tiếp cầm súng giết giặc lập công, tiếp tục rèn luyện phấn đấu. Và hôm nay, tôi đã là một chiến sĩ trực tiếp chiến đấu, đang có mặt ở trận địa.


Trong giờ phút căng thẳng chuẩn bị đánh địch, chi bộ vẫn theo sát bên tôi. Anh Quyền, một đảng viên của chi bộ vẫn đang kèm cặp, giúp đỡ tôi. Anh đã truyền hơi ấm cho tôi trong đêm mưa giá lạnh, đã động viên cổ vũ cho tôi có thêm sức mạnh để chiến thắng! Chi bộ và các đồng chí đảng viên đang chắp cánh cho tôi, để tôi có điều kiện bay lên con đường chiến đấu vinh quang vì lý tưởng cao cả của Đảng.

Nén nỗi xúc động trước sự quan tâm dìu dắt của chi bộ, tôi nói với anh Quyền:

- Em xin hứa học tập các đảng viên của chi bộ, quyết tâm phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ của đơn vị giao cho.


Tiếng gà gáy dồn. Trời sáng dần. Bốt Mân Lộc đã hiện rõ trong tầm nhìn của chúng tôi. Đến bây giờ, khi màn đêm bị xua đi, tôi mới thấy hết công phu của việc đặt mìn. Hai đêm trước, cả đơn vị tham gia vào trận đánh. Ngoài những chiến sĩ bảo vệ bộ phận chôn mìn, một nhóm ba người bám sát cổng vị trí địch để theo dõi mọi động tĩnh của chúng.


Bằng những răng bừa thô sơ, anh em làm nhiệm vụ chôn mìn đã bền bỉ khéo léo gạy từng viên đá để đào hố, không hề gây ra tiếng động. Trái mìn giả được đặt vào đó và đêm qua chúng tôi chỉ có việc lấy trái mìn giả ra, đặt vào đó quả bom 50 cân đã được kiểm tra đủ điều kiện để đánh đoàn tàu của địch.


Gần 6 giờ sáng, bọn địch ở bốt Mân Lộc đã xua quân đi kiểm tra đường. Anh Quyền nhắc tôi kiểm tra lại hòm điện và nhẩm lại khẩu lệnh chiến đấu.


Bọn lính tuần tra đã từng tốp ra khỏi cổng bốt. Tốp địch đi đầu làm nhiệm vụ sục sạo, thằng nào cũng lăm lăm tay súng, mắt soi mói dọc ngang. Thỉnh thoảng, chúng lại đưa ống nhòm lên quan sát vào những bờ bụi gần đường mà chúng không có điều kiện đi tới. Ngang qua chỗ chúng tôi ẩn nấp, một tên đột ngột dừng lại, đưa ống nhòm lên như phát hiện thấy điều gì, hai ống kính của nó cứ bám chặt lấy khu vườn hoang vắng - nơi chúng tôi đang ở đó.


Lộ rồi chăng? Tôi lo lắng tự hỏi mình! Mắt qua khe lá, vẫn bám sát từng hành động của địch, anh Quyền nhắc tôi ngồi thật yên, tránh làm rung động bụi cây, bình tĩnh theo dõi chúng. Nhìn ngó một hồi lâu, tên lính buông ống nhòm xuống rồi bước tiếp. Tôi thở phào nhẹ nhõm, còn người chỉ huy trận đánh thì vẫn tỉnh khô như không có chuyện gì xảy ra. Anh nói:

- Địch vẫn thường làm cái trò quan sát nghi binh như vậy. Nếu không bình tĩnh mà cho rằng nó phát hiện thấy mình, rồi vội vã nổ mìn thì trận đánh sẽ không đem lại kết quả mong muốn.


Hai tên tìm dây mìn lại xuất hiện trước mặt chúng tôi. Chúng đi cách đường khoảng hai chục mét, quần sắn đến bắp đùi, dùng câu liêm gò lưng kéo trên mặt cỏ - "Kéo thật sát xuống mặt đất, thấy dây mìn phải cắt ngay!" - Tiếng của tên chỉ huy quát tháo vọng đến tai chúng tôi.

- "Chúng bay đừng hòng tìm thấy dây mìn của tao" - Tôi lấm bẩm nói với mình. Tin chắc dây mìn không thế bị địch phát hiện vì chúng tôi đã chôn sâu một thép mai.

- Ổn rồi anh ạ! - Tôi sung sướng khẽ thốt lên khi hai tên lính tìm dây mìn đã đi qua.

- Mới qua hai bước kiểm tra thôi, tốp dò mìn đang đi tới kia mới nguy hiểm. Chú sẵn sàng ngòi điện đi. - Anh Quyền điềm tĩnh nhắc tôi.


Năm tên lính dò mìn đang tiến gần đến khu vực đặt mìn. Thằng nào cũng đeo súng vắt chéo qua vai, tay cầm chiếc gậy sắt xâm chọc xuống đường đá, mắt nhìn chăm chú trên từng ô tà vẹt. Tiếng kêu lạo xạo của gậy sắt chạm vào đá vọng đến làm tôi hồi hộp, toàn thân tôi nóng ran lên. Anh Quyền ngồi im, mắt đăm đăm hướng vào từng động tác của tốp địch. Phút căng thẳng nhất của những người đánh mìn và cũng là phút quyết định thành bại của trận đánh không làm thay đổi sắc mặt người chỉ huy của tôi.


Tên đi đầu tốp dò mìn đã bước đến tận nơi đặt mìn, nó chọc chọc ngó ngó rồi bước tiếp. Mấy thằng đi sau cũng làm theo như thế và lần lượt đi qua. Còn tên cuối cùng đi hơi xa đồng bọn, cặm cụi dò xét, trông vẻ chậm chạp nhưng cẩn thận hơn. Nó đi đến ô tà vẹt có mìn ngó nghiêng tìm xét rồi bỗng kêu lên mấy tiếng í ới. Hai tên đi trong tốp đi trước vội trở lại vẻ hốt hoảng! Mô hôi tôi toát ra! Nó phát hiện được mìn rồi chăng? Tôi quay nhanh sang tiểu đội trưởng. Anh đang khom người vạch mấy cành lá trước mặt để quan sát cho chuẩn xác.

- Chuẩn bị ! - Anh phát lệnh nhỏ gọn.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:32:17 am
Tôi cầm chắc hai ngòi điện nhăm nhăm đợi lệnh phát hỏa. Tôi hiểu rằng, anh Quyền đang xem xét để quyết định xử lý khí tình huống cần thiết xuất hiện, có thể cho mìn nổ để tiêu diệt những tên lính phát hiện ra mìn.


Sau khi bọn địch cụm lại, đứng sát bên nhau, nói điều gì chúng tôi không nghe rõ, rồi móc thuốc lá, xòe lửa châm hút. Cả hai chúng tôi đều reo lên khe khẽ khi nghe thấy một tên trong bọn chứng chửi: "Đ... mẹ mày, làm ông hết hồn, lần sau xin thuốc lá kiểu ấy thì đừng có hòng...". Cả bọn địch cười phá lên rồi tiếp tục tìm xét theo hướng đi của chúng. Trái mìn vẫn nằm yên nguyên vẹn. Tôi sung sướng đến trào nước mắt. Anh Quyền cũng phấn chấn hẳn lên khi bọn địch dò mìn đã đi qua.

- Vừa rồi, chú có sợ không ? Anh hỏi tôi.

- Em không sợ, nhưng trống ngực to hơn trống làng anh ạ - Tôi đáp lời anh, trong niêm vui dào dạt.

- Thông thường trong những trận đánh, lúc quân thù đã ở trước mặt mà chưa có lệnh phát hỏa, thì ai cũng trải qua giây phút căng thẳng hồi hộp. - Nói xong với tôi, anh lại quan sát bọn địch đi trên đường, nhắc tôi kiểm tra lại hòm điện.


Mưa đã tạnh, tầm nhìn của chúng tôi được mở ra. Bây giờ chúng tôi ở vào thế hoàn toàn chủ động, nhưng vẫn phải cảnh giác với toán quân tuần tra của địch, vì sau khi hoàn thành việc kiểm tra đoạn đường từ Mân Lộc đến Lương Xá, chúng còn quay lại, chia thành từng nhóm gác đường cho đến lúc tàu chạy qua. Tranh thủ lức rảnh rỗi, anh Quyền nhắc lại để tôi nắm chắc động tác chập ngòi điện, hướng dẫn cụ thể cho tôi lúc rút lui sau khi mìn nổ.


Ở cùng đơn vị với anh, tôi đã nhiều lần cảm phục con người lúc thoạt nhìn tưởng như bình thường và có vẻ mộc mạc này, hôm nay lại một lần nữa, tôi phải kính nể trước sự bình tĩnh sáng suốt của anh. Đáp lại câu hỏi của tôi: "Tại sao anh không cho mìn nổ khi bọn địch gọi nhau đến cụm lại ở nơi đặt mìn làm như đã phát hiện ra mìn ?" - Anh cười và giảng giải:

- Quân địch vốn nhát gan sợ chết, mỗi khi phát hiện thấy điều gì đe dọa chúng, thì hành động đối phó tức thời của chúng rất dễ nhận thấy. Nếu quả thật đã tìm thấy mìn thì chúng lập tức nổ súng báo động, hò hét ầm ĩ, chứ không chỉ gọi nhau quay lại một cách bình thường như hiện tượng vừa xảy ra.


Vì vậy, phải xem xét thật cụ thể, chính xác hành vi của kẻ thù, rồi mới quyết định cách xử lý có hiệu quả nhất. Anh có ý định chỉ khi nào chúng bắt đầu đào mìn, hoặc bao vây khu vực gốc dây mìn thì mới tính chuyện cho mìn nổ. Anh nói với tôi:

- Bảo vệ được mìn an toàn bí mật để thực hiện đúng mục tiêu của trận đánh mới là khó, còn cho mìn nổ để diệt mấy tên lính ngụy thì quả là việc đơn giản.


Ở trường hợp vừa rồi, nếu là người chỉ huy chưa dày dạn kinh nghiệm có lẽ đã cho mìn nổ không đúng kế hoạch và hiển nhiên không đạt yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu. Sự bình tĩnh xét đoán đi đến quyết định giải quyết chính xác diễn biến vừa xảy ra, anh Quyền đã cho tôi một bài học bổ ích giúp tôi có những kinh nghiêm để hoàn thành nhiệm vụ trong các trận đánh tiếp sau đó.


Sắp đến giờ đoàn tàu tới, hai chúng tôi lặng lẽ theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình. Phía Hải Phòng, tiếng máy vọng lại mỗi lúc một thêm rõ. Chấp hành lệnh của tiểu đội trưởng, tôi kiểm tra lại hòm điện và ngòi điện.


Tàu địch đã lộ rõ trên đoạn đường cống Kim Sen - cách chỗ đặt mìn không bao xa. Chiếc đâu máy đang nhả khói, kéo theo hai mươi toa bịt kín, nặng nề tiến vào trận địa. Anh Quyền đã đứng hẳn lên, mắt dính vào mục tiêu. Còn tôi cũng như bị kích động, nhổm dậy, căng thẳng, đợi lệnh. Mặt đất rung rinh, bánh xe nghiến trên đường ray ken két, nghe lạnh người. Tâm trí tôi đã hoàn toàn cuốn hút vào trận đánh. Tiểu đội trưởng bắt đầu phát lệnh:

- Đồng chí Trường!

- Có!

- Chuẩn bị!

- Rõ!

- Chuẩn bị!

- Đã sẵn sàng!


Mặc cho mặt đất phập phồng dưới sức nặng của đoàn tàu và âm thanh tự nó phát ra, tôi chỉ còn nghe thấy khẩu lệnh của người chỉ huy:

- Chuẩn bị! Chuẩn bị! Chuẩn bị! Toàn thân tôi căng ra trước khẩu lệnh của anh Quyền. "Dí"! Lệnh phát ra như một tiếng hét chói tai. Tôi lập tức chập hai ngòi điện, "ùng", hai chúng tôi chao đảo trong tiếng mìn nổ - khói lửa trùm kín đầu tàu. Đất đá, sắt thép tung lên bốn phía, rồi rào rào rơi xuống. Đầu tàu của địch bị trái mìn nổ hất nó ra vệ đường vỡ toác. Các toa phía sau chở đầy bom đạn ầm ầm đổ theo. Đoàn tàu lúc này, giống như một con rắn bị cắt thành từng khúc, khúc lật đổ ra vệ đường, khúc gục đầu xuống ruộng. Bọn lính gác đường và những tên đi bảo vệ tàu còn sống sót ở toa phía cuối, sau dây phút kinh hoàng cũng đã cùng với bọn lính ở bốt Mân Lộc nhốn nháo chạy ra đuổi bắn ầm ĩ.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:32:48 am
Sau khi giấu xong hòm điện vào nơi đã định sẵn, hai chúng tôi rút khỏi khu vườn. Mới ra đến cánh đồng, bọn địch đã phát hiện chúng tôi, hô nhau đuổi bắt! Hơn mười tên lính ngụy la hét; vừa đuổi, chúng vừa bắn như vãi đạn. "Bắt sống lấy chúng nó"! Thằng chỉ huy cay cú ra lệnh cho bọn lính. Mặc, chúng tôi vẫn chạy trên cánh đồng trống trải, băng ra hướng con sông. Bờ ruộng hẹp, nhão ra sau những ngày mưa dầm gió bấc, trơn lầy như muốn níu chân chúng tôi lại. Bọn địch đuổi mỗi lúc một thêm gần, đạn rít trong không gian chiu chíu, rồi lụp bụp rơi xuống xung quanh chúng tôi. Dồn hết sức lực vào đôi chân, tôi cố chạy thật, nhanh - lúc chạy trên bờ, lúc tắt qua ruộng, có khi phải nằm xuống tránh đạn, nên khoảng cách giữa chúng tôi và quân địch mỗi lúc một rút ngắn lại. Tôi đã quá mệt sau một đêm căng thẳng không ngủ, lại phải ngâm mình trong mưa rét, bây giờ mũi mồm tôi thi nhau thở, cổ họng khô đắng, mà lạ thay, cánh đồng hôm nay cứ như dài thêm ra. Phía trước tôi, anh Quyền vẫn sải những bước dài vững chãi. Anh vừa chạy, vừa chờ tôi. Có lúc anh quay lại động viên tôi:

- Cứ bình tĩnh mà tránh đạn, bọn địch vướng giày và súng nên không đuổi kịp đâu! Gắng lên! Tôi ra bờ sông trước để chuẩn bị phao vượt sông.


Một tràng trung liên của địch bắn kéo dài, từng loạt đạn bén sát bờ ruộng, buộc tôi phải nhào xuống, nằm tránh đạn. Phía sau tôi, bọn chúng ngừng bắn reo ầm lên: "Nó chết rồi, nó chết rồi!”. Tưởng tôi bị trúng đạn, anh Quyền dừng bước định quay lại. Lợi dụng lúc ngớt tiếng súng, tôi vùng dậy chạy tiếp hai bàn chân cứ bồng bềnh trên mặt đất. Sức đã cạn, tôi chỉ còn chạy bằng quyết tâm: "Phải thoát, không để bọn chứng bắt!". Vừa lúc đó, tổ yểm hộ bố trí mé bên kia sông do anh Hứa Văn Chư1 (Anh Hứa Văn Chư - người thôn Lương Xá, xã Kim Lương, huyện Kim Thành) phụ trách bắt đầu lên tiếng. Từng loạt trung liên, súng trường bắn xối xả vào đội hình địch, buộc chúng phải chựng lại, tìm nơi ẩn nâp, đặt súng bắn đuổi. Tiếng súng của đồng đội như có thêm sức mạnh giúp tôi chạy hết quãng đường còn lại. Bờ sông đã ở phía trước mặt. Tôi lao xuống sông định bơi. Túm cổ áo tôi kéo lại, anh Quyền hét lên: "Bơi ngay mà chết à! Thở đi để lấy sức rồi hãy bơi". Ngồi bệt xuống mé sông, tôi thở như thổi lửa. Súng của ta vẫn nổ để yểm hộ cho chúng tôi. Bọn địch vẫn cay cú vãi đạn ra phía bờ sông.


Sau mấy phút lấy lại sức, anh Quyền đẩy cho tôi một cây chuối để làm phao - chúng tôi vượt sông! Không có cây chuối mà bám, có lẽ tôi không thể bơi nổi. Chân tay tôi rã rời, không còn đủ sức đẩy nữa, mặc dầu tôi đã gắng hết sức để khỏi phiền tiểu đội trưởng, thỉnh thoảng anh vẫn phải đẩy tôi đi từng đoạn. Dòng sồng Đồng Rồi, lúc thường nhìn thấy hẹp, sao bây giờ cứ như rộng thêm ra, chứng tôi loay hoay mãi mới vượt qua được. Sang đến bờ sông, chúng tôi trườn mình vào bãi lúa, năm ngửa lên mặt trời, cùng nhau thở dốc.


Tổ yểm trợ đã ngừng nổ súng sau khi chúng tôi sang sông an toàn. Bên cánh đồng Mân Lộc, tiếng súng nổ thưa dần rồi im bặt. Trên bầu trời, chiếc máy bay "bà già" làm nhiệm vụ trinh sát vè vè bay tới, lượn vòng quanh khu vực tàu đổ mà ở đó khói đen mỗi ngày một bốc cao, thỉnh thoảng lại kèm theo một loạt tiếng nổ phụ của đạn đại bác chất trong những toa tàu vừa bị trúng mìn.


Bọn quân truy đuổi, sau một hồi nghe ngóng dò dẫm, chúng đã mon men đến tận bờ sông. Các cỡ súng thỉnh thoảng nổ mấy loạt đạn vu vơ vào những nơi chúng nghi ngờ. Tìm đi xét lại khu vực ven sông, vừa tìm kiếm, chúng vừa cãi nhau ầm ĩ! Thằng cho rằng đã bắn trúng chúng tôi, có thể bị thương còn ẩn nấp đâu đây! Có tên nói vẻ bực tức: "Chạy mẹ nó rồi, còn đâu nữa mà tìm"!


Trận đánh mìn để phối hợp với bộ đội chủ lực đang mở chiến dịch đường số 18 của đơn vị Kim Thành đã thắng lợi. Quân thù phải gánh chịu thất bại nặng nề. Đối với tôi, trận đánh hôm nay đã cho tôi những bài học quý báu, để từ đó, tôi đã cùng đồng đội đánh thắng địch bằng nhiều trận mìn tiếp theo.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:28:32 am
NIỀM VINH HẠNH NHẤT CỦA ĐỜI TÔI...
(Viết về trận đánh mìn điện tự động đầu tiên
trên đường sắt Kim Thành, ngày 28-12-1951)


Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đội du kích Kim Thành đã nổi tiếng về sở trường đánh mìn phá tàu địch trên đường số 5. Tháng 3 năm 1948, Hồ Chủ tịch đã gửi thư khen ngợi và căn dặn du kích Kim Thành: "Các chú phải luôn nhớ: du kích như cá, nhân dân như nước...". Và tháng 3 năm 1948, Bác Hồ lại có thư gửi cho các chiến sĩ đường số 5, Người viết: "... Nam nữ dân quân du kích đường số 5, năm ngoái đánh giặc khá. Sang năm 1949, anh chị em du kích đường số 5 phải cố gắng thêm, đánh nhiều hơn, mạnh hơn để lập công to lớn hơn nữa. Tôi chờ đón các trận thắng lớn của các bạn..."1 (Thư Hồ Chủ tịch đăng Báo Cứu quốc tháng 3-1949).


Thư của Bác Hồ đã truyền cho du kích đường 5 tăng thêm sức mạnh và quyết tâm chiến đấu. Hồi đó, sau khi đọc thư của Bác, chúng tôi thường truyền miệng nhau mấy câu ca:
   "Trên đường 5 có trăm cái bốt,
   Dân đường 5 có một lòng son,
   Dù cho sông cạn đá mòn,
   Ngàn năm vẫn vững là dân Bác Hồ..."


Làm theo lời Bác, du kích Kim Thành đã liên tục bám đường đánh địch. Hàng chục trận phục kích, đánh mìn nổ ra trên đường 5, làm cho địch thiệt hại nặng nề, nhiều đoàn tàu chuyên chở binh lính, vũ khí của địch bị lật đổ. Con đường giao thông huyết mạch quan trọng bậc nhất của chiến trường Bắc bộ nhiều phen bị tê liệt, buộc quân đội Pháp phải tìm mọi cách đối phó!


Ngoài việc xây dựng thêm đồn bốt tháp canh, củng cố lại hệ thống tề dõng để bảo vệ đường, từ năm 1948, chúng cho rào dây théo gai dọc theo đường sắt; dùng vôi trắng quét trên mặt đá trong từng ô tà vẹt để đánh dấu mặt đường. Ban đêm chúng rải quân phục kích, cho xe goòng vũ trang chạy đi chạy lại trên đường tàu để ngăn cản việc chôn mìn của quân ta. Ban ngày chúng xua quân đi kiểm tra đường, xông vào sục sạo những bờ bụi ở ven đường để tìm diệt những chiến sĩ đánh mìn.


Mặc cho quân địch đối phó gắt gao, đội du kích Kim Thành quyết không chịu bó tay, đã phát triển cách đánh địch bằng "mìn giật dây" lên cách đánh địch bằng "mìn điện có người điều khiển". Hai cách đánh này đều có nhược điểm rất cơ bản là nhất thiết phải có vị trí gốc dây mìn ở những nơi ẩn nấp thuận lợi ở gần đường, để người đánh mìn ngắm mục tiêu điều khiển cho mìn nổ chính xác. Vì vậy, mỗi khi có mìn nổ, bọn địch thường tìm đến khu vực gốc dây mìn đốt phá nhà cửa, bắn giết nhân dân, khủng bố cơ sở của ta rất dã man!


Trong bối cảnh quân địch đối phó rất quyết liệt ấy, một vấn đề mới được Huyện ủy và Huyện đội Kim Thành đặt ra là "Đánh thắng địch nhưng phải bảo vệ được nhân dân và cơ sở kháng chiến của ta". Vậy đánh địch bằng cách nào để chiến thắng mà nhân dân và cơ sở kháng chiến của ta vẫn giữ được an toàn? Đây là một bài toán chưa có đáp số! May mắn cho chúng tôi, được cấp trên giao nhiệm vụ giải bài toán để tìm ra cách đánh mới.


Hồi đó, tiểu đội tôi do anh Nguyễn Xuân An1 (Anh Nguyễn Xuân An quê ở Kim Anh, Kim Thành) làm tiểu đội trưởng, ém quân ở thôn Văn Dương và làng Bất Nạo. Tôi là tiểu đội phó. So với anh em trong tiểu đội thì trình độ học vấn của tôi cũng khá hơn anh em đôi chút. Nói như vậy nhưng am hiểu về điện đóm cũng còn rất i tờ - chỉ biết rằng, hòm điện có 2 đầu dây - một đầu nóng, một đầu lạnh - đầu lạnh nối liền vào mìn. Muốn cho mìn nổ, đem chặp ngòi nóng vào ngòi lạnh là mìn nổ ngay! Cứ nguyên tắc ấy mà suy ra rồi tìm ra cách đánh địch.


Là một thanh niên mới lớn2 (Năm 1951 - tôi 19 tuổi), có tý chút chữ nghĩa, lại say sưa tìm hiểu cách đánh địch theo định hướng mới nên tôi được các đồng chí chỉ huy trong trung đội giao cho nhiệm vụ cùng anh Nguyễn Xuân An nghiên cứu áp dụng đưa mìn tự động vào đánh thí điểm trên đường sắt.


"Đưa mìn tự động lên đường sắt mà đánh địch" là một định hướng rất mới của ban chỉ huy Huyện đội, nhưng chúng tôi cũng chưa nhìn thấy quả mìn tự động hình thù ra sao. Hồi đó, chưa sử dụng mìn tự động ở chiến trường Kim Thành, kể cả mìn tự động đánh ở đường chạy xe cơ giới. Bây giờ lại phải tìm ra cách đánh mìn tự động trên đường sắt thì quả là một việc không đơn giản.


Để tìm ra đáp số cho cách đánh này, chúng tôi phải lần lượt giải quyết các công việc:

- Đánh mìn tự động có nghĩa là phải có một bộ phận thay người để điều khiển cho mìn nổ. Lúc đầu, chúng tôi tự tạo ra một dụng cụ làm bằng tre theo hình cái nạng, có chốt đẩy làm chặp ngòi điện để gây nổ. Qua nhiều lần thử nghiệm, dụng cụ này không thành công. Mô hình điều khiển tự động thứ hai ra đời bằng khúc gỗ nhỏ đục hình chữ U. Dụng cụ này "gây nổ" rất nhạy và đạt yêu cầu, được đặt tên là "cạm điện".

- Có "cạm điện" thay người gây nổ rồi, nhưng hai ngòi điện trong "cạm điện" đặt cách nhau bao nhiêu và đặt "cạm điện" vào đường sắt như thế nào thì mìn mới giữ được bí mật và mìn nổ trúng đầu tàu? Do vậy, một việc nữa được đặt ra là, hai ngòi điện trong "cạm điện" muốn chặp được vào nhau cho mìn nổ chính xác thì phải biết được sức lún xuống của đường ray khi tàu lăn bánh trên điểm đặt "cạm điện" - một dụng cụ đo sức nặng của đoàn tàu ép xuống đường ray được chế tạo bằng "củ chuối có mặt phẳng cắm đinh", đem đặt vào phía dưới thanh tà vẹt ở nơi định đặt mìn. Kết quả, sau hai đêm đặt dụng cụ đo, đã tìm được khoảng cách để đặt hai ngòi điện chỉ bằng một hạt gạo nằm ngang!


- Một việc tiếp theo phải tính toán là, địch thường bố trí một số toa chở đất đá đi phía trước để bảo vệ đầu tàu. Theo hướng tàu chạy, chúng tôi đặt "cạm điện" cách nơi chôn mìn băng cự ly của các toa tàu chở đá. Mọi việc được thí nghiệm thành công. Bước cuối cùng là chọn người đặt "cạm điện" và đấu điện vào mìn để đánh thí điểm thu được kết quả.


Sau những đêm điều tra nắm vững quy luật hoạt động của địch, đào hố chôn mìn giả và hoàn thành việc đo sức lún của đường ray, đêm 27-12-1951, mặc dầu trời mùa đông giá rét, tiểu đội tôi, do anh Nguyễn Xuân An chỉ huy bắt đầu trận đánh thí điểm bằng "mìn điện tự động" trên đường sắt Kim Thành ở đoạn Lương Xá - Phú Thái (gần mộ Ký Châu). Tại đoạn đường này, thời gian trước đây, trong một trận đánh "mìn điện có người điều khiển", do một sơ suất nhỏ về kỷ thuật, mìn đã cướp đi của chúng tôi cả một tổ chôn mìn!


Chờ cho bọn địch phục kích kéo nhau về bốt, các tổ bảo vệ của ta được đặt vào vị trí cảnh giới, công việc chôn mìn và đặt "cạm điện" được tiến hành khẩn trương. Tôi được đơn vị phân công đặt "cạm điện" và trực tiếp đấu điện vào mìn. Mười hai giờ đêm, mọi việc chủ yếu của trận đánh đã xong xuôi, chỉ còn việc cuối cùng là đấu điện vào mìn. Hôm nay, tôi được phân công đảm nhiệm công việc này.


Để tránh sự cố bất ngờ xảy ra, trước khi thực hiện động tác không kém phần nguy hiểm trong công đoạn cuối cùng của trận đánh, tôi đề nghị anh An cho tất cả tổ chôn mình ra khỏi phạm vi mình có thể gây nguy hiểm. Còn lại một mình, tôi ngồi trên quả bom 50 cân với tâm trạng băn khoăn khó tả! Hình ảnh cả tổ chôn mìn của tiểu đội đồng chí Ốp bị nổ tung và hy sinh ở đoạn đường này cứ hiện lên trong trí nhớ của tôi. Không thế chần chừ, tôi lần lượt nối từng dây điện vào bom. Nối dây thứ nhất, không có điều gì phải đắn đo suy nghĩ, dây thứ hai mới là quyết định. Nếu buộc vào mà an toàn thì trận đánh "mìn điện tự động" thí điểm coi như đã thành công. Nếu sự cố bất ngờ xảy ra thì kết quả ngược lại - mìn nổ, người đấu điện chết, trận đánh thí điểm thất bại!


Ngôi trên quả bom, trời thì giá buốt, vỏ bom lạnh toát, hai chân tôi cứ run lên, mà lạ thay trên trán tôi lại rớm ướt mồ hôi, cổ tôi thấy nghèn nghẹn! Thời gian không cho phép kéo dài thêm nữa, dù thế nào cũng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao trong trận đánh thí điểm này! Nghĩ vậy, tôi nhớ đến Bác Hồ và Đảng. Tôi khẽ hô: "Hồ Chủ tịch muôn năm! Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!". Nhờ có sức mạnh tinh thần ấy, tôi chặp nhanh ngòi điện vào ngòi bom. "An toàn rồi! Thành công rồi!". Tôi nghĩ vậy và thở phào nhẹ nhõm. Đứng thẳng người trên quả bom, tôi phát tín hiệu cho anh em vào lấp hố ngụy trang. Tôi đã cùng anh em trong tiểu đội hoàn thành bước cuối cùng của trận đánh "mìn điện tự động" đầu tiên trên đường sắt Kim Thành.


8 giờ sáng ngày 28-12-1951, đoàn tàu chở vũ khí, lương thực của địch từ Hải Phòng lên Hà Nội, đang nhả khói lao vào nơi chúng tôi đặt mìn. Một tiếng nổ vang trời! Quả "mìn điện tự động" chúng tôi đặt đêm qua, đã nổ tung, hất tung đầu tàu ra vệ đường, đổ theo 18 toa, có 8 toa lật xuống ruộng, mãi 6 ngày sau địch mới giải quyết xong hậu quả.


Sau khi mìn nổ, bọn địch ở Phú Thái và Lương Xá cùng với những tốp lính gác đường xua nhau ra truy đuổi người đánh mìn! Nhưng lạ thay, cả một cánh đồng trống trải, không hề có một người nào rút chạy! Địch không tìm đâu ra gốc dây mìn. Và từ đó, chúng không có cớ gì khủng bố nhân dân, đánh phá cơ sở của ta. Cán bộ và nhân dân rất phấn khởi trước thắng lợi của trận đánh. Cụ Chắt, một gia đình cơ sở của kháng chiến ở làng Bất Nạo, đã sắm một chiếc áo đẹp để tặng cho người có công đầu của trận đánh. Và cũng sau 20 ngày của trận đánh ấy, tôi được trở thành đảng viên Đảng Lao động Việt Nam - là một trong những đồng chí đầu tiên của Đảng bộ Kim Thành được kết nạp trong thời kỳ có chỉ thị của Trung ương tạm ngừng phát triển đảng viên mới. Trận đánh thắng lợi này là niềm vinh hạnh lớn nhất của đời tôi!


(https://i.imgur.com/4BbIZRS.jpg)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:37:39 am
NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN ĐẤU Ở ĐƠN VỊ GIAO THÔNG CHIẾN "S20"


Năm tháng trôi qua, mỗi khi hồi tưởng lại những ngày chiến đấu sôi nổi trên chiến trường Hải Dương trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, hình ảnh cán bộ chiến sĩ "S20" lại hiện ra trước mắt tôi. Những câu hát trong bài hát truyền thống của đơn vị lại ngân vang trong lòng tôi:

   Anh em ta trong đoàn giao thông chiến,
   Là những lớp dân cày nghèo kết đoàn.
   Quê hương ta, có sông dài, đường cải rộng,
   Bọn giặc Tây kéo nhau về chiếm.
   Này xe tăng, kia tàu chiến, lũ quân thù quét càn dân ta.
   Ta xung phong, cùng xung kích,
   Ghi chiến công đường số 9 oai hùng...

Những câu hát trong bài hát do nhạc sĩ Huy Thanh (văn công Tỉnh đội) sáng tác hồi đó, đã ghi lại một cách sinh động và khái quát về những chiến công vang dội của một đơn vị chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, đã nhiều phen làm cho quân thù khiếp sợ.


Từ những năm 1951, 1952 - phong trào đánh phá giao thông địch đã phát triển rộng khắp trên chiến trường Hải Dương. Cùng với những trận đánh tàu trên đường sắt, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tổ chức nhiều trận đánh mìn trên đường bộ, nhằm phá hủy phương tiện vận tải, tiêu hao sinh lực và chặn bước tiến của địch trong các cuộc hành quân càn quét. Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của chiến tranh du kích, xét thấy cần phải có một đơn vị chiến đấu làm nòng cốt cho phong trào đánh phá giao thông địch, ngày 22-12-1952, Tỉnh ủy và Tỉnh đội Hải Dương đã quyết định thành lập đội "Giao thông chiến" có nhiệm vụ vừa đánh địch, vừa dìu dắt dân quân du kích đánh mìn trên các đường giao thông trong tỉnh.


Từ chủ trương ấy, hơn 30 cán bộ chiến sĩ được tuyển lựa từ các đơn vị có nhiều kinh nghiệm đánh mìn thuộc bộ đội Kim Thành, Cẩm Giàng, Gia Lộc..., tổ chức thành một đơn vị độc lập trực thuộc ban tham mưu Tỉnh đội. Cán bộ chỉ huy, lúc đầu gồm 3 đồng chí: Nguyễn Văn Tuy (tức Tân), bộ đội Cẩm Giàng làm đội trưởng1 (Nguyễn Văn Tuy (Tân) đại tá, nghỉ hưu ở xã Tân Trường (Cẩm Giàng)); Trần Hồng Nguyên, bộ đội Cẩm Giàng làm chính trị viên2 (Trần Hồng Nguyên nghỉ hưu tại Văn Thai, Cẩm Giàng); Nguyễn Huy Trường, bộ đội Kim Thành làm đội phó.


Để mở đầu chặng đường chiến đấu của một đơn vị mới thành lập, vào khoảng trung tuần tháng 2 năm 1953, dưới sự chỉ huy của đồng chí Tân - đội trưởng, chúng tôi đã tổ chức trận đánh đầu tiên tại quãng đường 20 từ Kẻ Sặt đi Phủ Vạc (xã Thái Học ngày nay).


Trận này dùng mìn vỏ bằng kim loại. Để đối phó với máy dò mìn của địch và nắm chắc phần thắng, chúng tôi đã đánh theo chiến thuật "hố không mìn", nghĩa là hố mìn được đào từ đêm trước, được đặt vào đó một vật rắn không có chất kim loại với kích thước tương tự như quả mìn định đánh, rồi ngụy trang như có mìn thật. Sau khi toán quân dò mìn của địch đã đi qua, không phát hiện thấy mìn giả đã chôn, một chiến sĩ hóa trang thành đàn bà đi chợ, mang theo một thúng cám, có giấu quả mìn thật trong đó. Lúc đến hố mìn, người đó giả vờ làm động tác đánh để thúng cám tung tóe trên mặt đường, phải ngồi xuống hót lại, dùng dao găm đem sẵn bên mình, nhanh chóng gạy hố mìn, lấy mìn giả ra, đặt mìn thật vào, ngụy trang lại như cũ và rút về nơi quy định. Trong khoảnh khắc, quả mìn đã được đặt vào vị trí sẵn sàng chờ địch.


Hơn 9 giờ sáng ngày hôm đó, một chiếc xe díp chở hai tên sĩ quan từ Kẻ Sặt chạy về Phủ Vạc vừa tới nơi đặt mìn. Quả mìn do đồng chí Đoàn Văn Ninh  vừa đặt, đã nổ tan tác chiếc xe này, diệt gọn 3 tên địch.


Trận đầu đánh thắng, cả đơn vị phấn khởi mừng công. Tỉnh đội gửi tặng bằng khen. Và từ đó, để ghi nhớ trận đánh mở đầu truyền thống chiến đấu của đơn vị, đội "Giao thông chiến" được đặt phiên hiệu "S20". (S là con đường, 20 là đánh thắng trận đầu tiên trên đường 20).


"S20" ra đời trong bối cảnh của phong trào chiến tranh du kích đang phát triển rộng khắp trên địa bàn Hải Dương. Vừa xây dựng, vừa chiến đấu, chẳng bao lâu vai trò nòng cốt của nó đã nổi bật trên mặt trận đánh giao thông địch. Nó đã giải quyết thành công nhiều vấn đề chiến thuật, kỹ thuật đánh mìn; đối phó có hiệu quả với mọi thủ đoạn dò mìn, kể cả máy tìm mìn hiện đại của địch và đã lập nhiều chiến công vang dội trên đường số 5, số 9, 17 và 20.


Chặng đường chiến đấu của một đơn vị mới thành lập, đánh giặc chưa trọn 600 ngày, cán bộ chiến sĩ "S20" đá đánh gần 200 trận mìn lớn nhỏ trên các đường giao thông, diệt và phá hủy 145 xe, có 20 xe tăng, xe bọc thép, lật đổ 17 đầu tàu và 85 toa xe địch trên đường số 5, diệt và làm bị thương hàng ngàn binh lính địch.

Lá cờ Quyết chiến quyết thắng của đơn vị sáng ngời hai tấm huân chương "Quân công hạng 3" và "Chiến công hạng nhất".

Chúng tôi không thể nào quên từng trận đánh, từng chiến công của cán bộ, chiến sĩ "S20” và mãi mãi tự hào đã góp phần cùng quân dân tỉnh nhà viết nên những trang sử vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, bảo vệ quê hương.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:41:08 am
ĐÁNH TRÚNG CHIẾC XE TĂNG ĐI ĐẦU

Giữa lúc cán bộ, chiến sĩ "S20" đang sôi nổi hường ứng đợt thi đua "lập công mừng sinh nhật Bác" thì chúng tôi được lệnh của Tỉnh đội, đem đơn vị phối hợp với đại đội 75 tổ chức trận đánh phục kích xe tăng địch trên đường số 9, với mục đích châm ngòi nổ cho phong trào đánh tiêu diệt "hộ binh có cơ giới yểm trợ" của địch trên chiến trường Hải Dương.


Là chiến sĩ đánh mìn, chúng tôi đã tìm đến hầu hết những con đường có tàu, xe địch qua lại trong tỉnh. Mỗi lùm cây, mô đất trên những đoạn đường có điều kiện đặt mìn đánh địch, chúng tôi đều nắm vững. Và để những trận đánh thu được kết quả, chúng tôi còn tìm hiếu để biết rõ về đặc điểm cấu tạo của mặt đường.


Hôm ấy, trong cuộc họp cán bộ bàn kế hoạch đánh địch, đứng trước sa bàn trận địa, tôi đã thấy ngay đặc điểm của đoạn đường được chọn cho trận đánh sắp tới. Đường có độ cao gần 2m, cấu tạo của mặt đường làm bằng đá lèn đất, do đó sẽ gặp khó khăn cho việc ngụy trang mìn. Hàng ngày địch thường xua quân đi kiểm tra đoạn đường này bằng máy dò mìn. Bộ binh địch lùng sục hai bên đường dưới sự yểm trợ của xe tăng, xe bọc thép.


Trận địa phục kích được bố trí ở một đoạn đường năm giữa hai con sông - sông Luộc và sông An Thổ. Sau khi kết thúc trận đánh, bộ đội phải vượt qua hai con sông này rút về căn cứ.

Hiểu rõ khó khăn của trận đánh, nên cuộc họp ngay từ phút đầu đã sôi nổi. Vấn đề được mọi người quan tâm nhất và cho đó là quyết định của trận đánh, là: "Làm sao đánh trúng chiếc xe tăng đi đầu". Nhiều đồng chí đã nêu ý kiến: Nếu chiếc xe tăng đó không bị tiêu diệt ngay từ phút đầu thì các mũi xung kích của ta rất khó xông lên mặt đường đánh địch, và khi bộ đội rút qua sông, sẽ bị pháo trên xe tăng truy kích, không tránh khỏi tổn thất.


Sau khi lắng nghe ý kiến của mọi người, anh Đỗ Trọng Khoát1 (Đỗ Trọng Khoát, đại tá, nghỉ hưu tại phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, Hải Phòng), chỉ huy trưởng của mặt trận - trao đối với chính trị viên Tính, rồi quay lại phía tôi: "Chiến sĩ Trường! Anh em nêu vấn đề như vậy, đồng chí thấy thế nào?"


Tôi nghĩ ngay, chiếc xe tăng đi đầu là cái nút của trận đánh, cái nút này không tháo gỡ sẽ ảnh hưởng đến quyết tâm của các mũi xung kích.


Hai tiếng "Chiến sĩ” mà anh Khoát gọi tôi, làm tôi nhớ lời hứa của tôi với Bác kính yêu tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất: "Cháu xin hứa với Bác, dù khó khăn gian khổ, dù phải hy sinh cả tính mạng, cháu quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam". Như có thêm sức mạnh, tôi bình tĩnh đứng dậy xin phát biểu ý kiến. Một vài đồng chí nói nhỏ: "Chúng tôi tin tưởng ở chiến sĩ Trường".

- Căn cứ vào tình hình đã nắm được về địch, những kinh nghiệm bản thân và đơn vị tôi đã có, tôi xin đảm bảo với các đồng chí, chúng tôi sẽ đánh trúng chiếc xe tăng đi đầu mà các đồng chí quan tâm. Tôi sẽ trực tiếp chỉ huy diệt chiếc xe tăng đó.


Tôi vừa nói dứt lời, cả cuộc họp đã ào lên tiếng hoan hô, xen lẫn tiếng nói "Chúng tôi tin tưởng, rất tin tưởng ở chiến sĩ Trường". Cảm động trước lòng tin của đồng đội đặt vào mình, tôi bối rối ngồi xuống, mà thấy như trách nhiệm được giao phó nặng nề hơn. Lời hứa liên quan đến thành bại của một trận đánh, đến sinh mạng của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, làm tôi không khỏi lo lắng. Vừa lúc, anh Khoát yêu cầu tôi nói rõ để anh em biết kế hoạch bố trí các cụm mìn.


Nhìn vào sa bàn, tôi thuyết trình cách thức bố trí trận địa mìn:

- Để đánh trúng chiếc xe tăng đi đầu, chúng tôi đặt một cụm mìn liên hoàn - kết hợp giữa "mìn điện có người điều khiển" với "mìn điện tự động". Tại cụm mìn này, sẽ đặt quả mìn có người điều khiển có sức công phá 17 cân thuốc nổ. Cách quả mìn nói trên 30m, bố trí một mìn điện tự động 15 cân để đề phòng quả thứ nhất, vì một lý do nào đó mà không nổ, hoặc nổ không trúng mục tiêu thì xe tăng vẫn bị quả mìn tự động tiêu diệt. Chắc chắn hơn nữa, cách quả mìn thứ hai 30m theo hướng xe đi, chúng tôi đặt thêm một quả mìn tự động 15 cân ở vị trí so le với vết xe lăn trên quả mìn thứ hai. Như vậy, xe tăng địch sẽ không thoát khỏi tiêu diệt ở cụm mìn này. Để giải quyết các xe đi sau, căn cứ vào cự ly đội hình của địch hành quân hàng ngày, chúng tôi đặt cụm mìn thứ hai. Tại đây bố trí 3 quả mìn điện đấu nối tiếp, có người điều khiển. Nhiệm vụ của cụm mìn này là tiêu diêt những xe đi sau đã dừng lại khi chiếc xe đi đầu trúng mìn. Mìn nổ, nếu không trúng các xe ấy, thì cũng có sức mạnh uy hiếp địch, tạo điều kiện cho các mũi xung kích xông lên mặt đường, dùng bộc phá tiêu diệt chúng.


Vừa trình bày xong, anh Khoát vui vẻ bắt tay tôi và nhắc tôi nói cụ thể về cách thức chỉ huy quả mìn phát hỏa.

Địa hình ở đây rất trống trải, hai bên đường là cánh đồng lúa nước, không có địa điểm ẩn nấp quan sát ngắm mục tiêu.


Để khắc phục khó khăn đó, chúng tôi đặt trạm điều khiển cách đường 70 mét. Tại đây, đào một hố sâu giữa ruộng lúa, bố trí một chiến sĩ cùng hòm điện để điều khiển mìn, còn tôi chỉ huy phát hỏa sẽ hóa trang làm phụ nữ đi gặt. Đề nghị ban chỉ huy mặt trận liên hệ với địa phương nơi xảy ra trận đánh - cho tôi một nữ du kích để cùng đi ra vị trí chỉ huy.

Nghe nói đến đây, mọi người đêu cười ồ lên, có người nói:

"Đề nghị ban chỉ huy tìm cho chiến sĩ Trường một cô du kích xứng đáng và có duyên ạ!".

Chính trị viên Tính cười vui vẻ:

- Không những có duyên mà còn dũng cảm nữa!

Tất cả lại cười và vỗ tay hoan hô. Mặt tôi nóng ran trước những câu nói vui của mọi người.


Để đảm bảo chắc chắn cho trận đánh và do khối lượng mìn đặt vào trận địa khá nhiều, tôi đề nghị ban chỉ huy mặt trận cho "S20" đặt mìn trước 3 ngày, cung cấp cho chúng tôi số mìn có sức công phá như đã nói ở trên, vỏ mìn làm bằng gỗ, đóng đinh đồng để chống máy dò mìn của địch. Ngay tại cuộc họp, anh Khoát đã yêu cầu anh Phạm Sĩ Cới1 (Phạm Sĩ Cới người Cổ Châm, Thanh Hà) chủ nhiệm cung cấp của Tỉnh đội giải quyết đủ và đúng yêu cầu về mìn trước ngày 16-5 để trận đánh diễn ra đúng dự kiến.


Có cán bộ chỉ huy đơn vị bộ binh chưa thông thạo về các loại mìn điện, nên trong cuộc họp có một vài ý kiến nêu thắc mắc:

- Đặt mìn tự động trước 3 ngày, trong khi các bộ phận xung kích chưa có mặt ở trận địa, trận đánh chưa bắt đầu, nếu xe địch đi qua mìn nổ thì sao?

- Mìn điện tự động có hai bộ phận - mìn và bộ phận gây nổ thường gọi là "cạm điện". Chúng tôi sẽ đặt "cạm điên" vào đêm cuối cùng.

Thế là mọi vướng mắc thuộc công việc bố trí trận địa mìn đã được giải quyết. Mọi người an tâm, phấn khởi, sôi nổi thảo luận vè nhiệm vụ của các mũi xung kích.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:42:03 am
Tại đơn vị tôi, chi bộ đã ra quyết định các biện pháp lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cấp trên giao cho. Đồng chí Trần Hồng Nguyên - bí thư chi bộ, Nguyễn Văn Tân - đội trưởng, đã phân công tôi đặc trách chỉ huy một bộ phận của "S20" tham gia trận đánh phối hợp này. Các cán bộ, chiến sĩ đã được thử thách, có nhiều kinh nghiệm đánh mìn, ai cũng xung phong nhận nhiệm vụ điều khiển mìn, ghi chiến công cho đơn vị, lập thành tích mừng ngày sinh Bác 19-5.


Đêm 17-5, chúng tôi đặt quả mìn đầu tiên vào trận địa với tâm trạng náo nức đánh địch. Mọi công việc được tiện hành nhanh gọn, bảo đảm kỹ thuật.

Đêm 18-5, chúng tôi lại vác mìn lên đường, đặt thêm 3 quả nữa. Rồi đêm 19-5, hai quả còn lại cũng được chúng tôi đặt vào vị trí đã định.

Công việc đặt mìn trôi chảy. Riêng tôi, liên tục trong ba ngày, sáng nào cũng cùng một cán bộ ở lại gần trận địa để quan sát bọn lính dò mìn. Nhìn chúng đưa đẩy chiếc máy dò mìn trên những vị trí đã đặt mìn, tim tôi có lúc tưởng như ngừng đập. Mặc đầu tin tưởng vào cách ngụy trạng của mình nhưng tôi vẫn lo, có thể có sơ suất nào đó để địch phát hiện thấy mìn thì trận đánh sẽ diễn ra vô cùng phức tạp. Khác với những trận đánh mìn thông thường có mục đích tiêu hao sinh lực địch, trận này đánh với yêu cầu tiêu diệt, bắt tù binh, thu vũ khí. Vì vậy, ngoài những quả mìn chôn ở đường, còn có một đại đội xung kích bố trí ở xung quanh.


Để đảm bảo bằng được yêu cầu đặt ra, chúng tôi đã tổ chức cho anh em ôn luyện cấp tốc phương pháp đào hố mìn trên đường đá, không phát ra tiếng động; cách thức quan sát mặt đường trong đêm tối, để sau khi chôn mìn, ngụy trang mặt đường giống hệt như cũ. Việc đặt dây mìn sâu dưới đất cũng đòi hỏi phải thực tập hết sức tỉ mỉ. Những yêu cầu kỹ thuật quan trọng như: đặt "cạm điện" mìn tự động, dùng dòng điện kiểm tra kíp nổ của những quả mìn đã chôn, đều được ôn luyện một cách chu đáo. Do vậy, việc đặt mìn được đảm bảo bí mật. Máy dò mìn của địch mất tác dụng. Đến ngày 20-5, cả trận địa mìn còn nguyên vẹn - 6 quả ở trận địa chính chỉ còn chờ lắp điện và bộ phận điều khiển.


Công việc bước đầu đạt kết quả, tôi như trút bớt gánh nặng, thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm, tin tưởng nhất định diệt được xe tăng địch.

Đùng một cái, mười hai giờ trưa ngày hôm ấy, ban chỉ huy mặt trận quyết định giao thêm cho đơn vị tôi nhiệm vụ dùng mìn chặn quân tiếp viện của địch từ thị trấn Ninh Giang kéo ra ứng cứu cho đồng bọn khi trận đánh nổ ra.


Khó khăn lại đến với chúng tôi. Trong trường hợp này, dùng mìn điện có người điều khiển là kết quả nhất. Nhưng rất tiếc, chúng tôi không có loại mìn đó, nguồn điện cũng đã hết, yêu cầu cấp trên giải quyết thì không kịp thời gian vì trận đánh đã quyết định vào sáng 21-5-1953.


Làm thế nào bây giờ? Nếu dùng mìn tự động thì không được - mìn sẽ nổ vào các xe tuần tiễu của địch trước khi chúng vào trận địa chính! Đầu óc tôi như muốn vỡ ra trước bao nhiêu giả thiết đánh địch. Tôi triệu tập ngay những anh em có nhiêu kinh nghiệm chiến đấu của đơn vị bàn cách giải quyết. Có đồng chí đề xuất dùng súng BADOKA thay mìn chặn viện. Nhưng địa hình không cho phép, hỏa lực địch mạnh, không thể chặn chúng lại bằng phương pháp này. Bàn đi tính lại, cuối cùng chúng tôi quyết định dùng loại mìn mà chúng tôi đã đạt cho nó cái tên "chiến thuật hố không mìn" để chặn viện binh của địch.


Khi nghe tôi trình bày về những khó khăn và kế hoạch đánh quân tiếp viện, các đồng chí trong ban chỉ huy đều bật cười. Một đồng chí hỏi tôi:

- Hố không mìn là loại mìn gì mà chúng tôi nghe mới thế ?

Vâng, đúng là cách đánh mới, do cán bộ, chiến sĩ "S20" tìm ra, đã đánh thử một vài trận đều thu được kết quả tốt. Cũng có thể gọi loại mìn này là "mìn tự động theo ý muốn"! Tại địa điểm chặn quân tiếp viện, chúng tôi đặt hai ổ mìn kiểu này - ở đó, sẽ đào trước hai hố mìn theo "chiến thuật hố không mìn". Chọn một nơi thích hợp, bố trí hai chiến sĩ mang theo hai quả mìn chống tăng tự động đã lắp sẵn kíp nổ. Khi quân địch vượt qua đoạn đường này vào trận địa chính, trận đánh bắt đầu nổ ra, hai chiến sĩ đó ôm mìn chạy lên đường, dùng dao găm gạy nhanh hố không mìn, đặt mìn thật vào, rồi ngụy trang như cũ và rút về nơi quy định. Làm như vậy, quân tiếp viện tiến đến, bọn thua trận chạy về, hoặc sau khi kết thúc trận đánh, chúng kéo đến giải quyết hậu quả cũng vấp phải mìn.

- Hay lắm! Hay lắm! "Hố không mìn" hay lắm! - Các đồng chí trong ban chỉ huy mặt trận cười thích thú.

Đăm chiêu suy nghĩ một lát, anh Tính chính trị viên nhẹ nhàng hỏi:

- Sau khi trận đánh nổ ra, quân tiếp viện của địch lập tức kéo đến, thời gian gấp như vậy, các đồng chí ngụy trang có kịp không?

- Để bảo đảm thật nhanh gọn, chúng tôi sẽ đặt mìn ở vị trí có điều kiện ngụy trang thuận lợi. Song có điều, quân địch sẽ hoàn toàn bất ngờ, vì đội quân tuần tiễu đi trước đã sục sạo rất kỹ bằng máy dò mìn và xe đi qua đã không vấp phải mìn ở đoạn đường này. Đoàn quân tiếp viên ở vào tình thế cấp bách, không còn thời gian để kiểm tra, như vậy mìn của ta ngụy trang có gấp, nhưng chúng cũng không thể phát hiện được. Chúng tôi bảo đảm với các đồng chí, hoàn toàn có khả năng chặn đứng đoàn quân ứng cứu của địch ở cụm mìn này!


Nghe tôi trình bày, các đồng chí trong ban chỉ huy mặt trận đều cho rằng áp dụng "chiến thuật hố không mìn" của chúng tôi vào việc chặn viện là sáng tạo, nhất trí cách đánh này và quyết định đặt cụm mìn chặn viện ở đầu làng Hà Hải, cách trận địa chính trên một kilômét.


Ngày hôm ấy sao mà dài thế! Ai cũng mong thời gian đi nhanh để đến giờ ra trận! Sau bứa cơm chiều, màn đêm vừa trùm xuống, tôi dẫn đơn vị đến địa điểm tập trung để cùng đại đội 75 nhận lệnh xuất quân. Hai đơn vị gặp nhau, tay trong tay mừng rỡ. Chúng tôi chúc nhau chiến thắng, chúc nhau diệt được nhiều địch, lập được nhiều chiến công.

Trước khi xuất kích, chúng tôi được nghe thư của Tỉnh đội gửi động viên và mệnh lênh chiến đấu của ban chỉ huy mặt trận.

Chúng tôi hành quân ra trận!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:43:29 am
Bầu trời không một đám mây. Những vì sao lấp lánh soi đường. Lũy tre làng đung đưa trước gió như vẫy chào đoàn quân ra trận. Chúng tôi lặng lẽ đi giữa cánh đồng ngát hương của lúa. Tôi đi mà bên tai vẫn văng vẳng lời của lá thư vừa nghe: Nhân dân đang trông đợi ở các đồng chí... Tổ quốc đang mong chờ chiến công oanh liệt của các đồng chí...". Tôi nghĩ đến quê hương tôi, cũng cái cảnh đồng quê mộc mạc này mà thương nhớ đến quặn lòng - ở đó đang còn bóng quân xâm lược, còn bốt quân thù đang làm nhơ bẩn quê hương tôi!...


"Sắp tới nơi rồi, đi nhanh lên..."! Tiếng nói của ai đó làm tôi trở lại thực tại. Trận địa đã ở trước mặt. Các đơn vị xung kích chiếm lĩnh các vị trí theo kế hoạch. Tôi đi kiểm tra lại trận địa mìn. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn! Chúng tôi bắt tay vào làm những công việc còn lại của đêm cuối cùng. Tuy khối lượng không nhiều, nhưng công việc đêm nay có tính chất quyết định cho thắng lợi của trận đánh ngày mai.


Trước khi đặt "cạm điện" cho những quả mìn tự động, thông đường dây cho những quả "mìn có người điều khiển", việc quan trọng trước hết là phải dùng dòng điện thử lại kíp nổ cho tất cả những quả mìn đã chôn sâu trong lòng đường. Việc này, đòi hỏi phải có sự bình tĩnh, sáng suốt. Chỉ một nhầm lẫn nhỏ cũng dẫn tới hậu quả nghiêm trọng - mìn nổ, người thử mìn chết, trận đánh phải hủy bỏ. Trong thực tế chiến đấu, chính việc này đã cướp đi của chúng tôi hai đồng chí và để lại cho chúng tôi những bài học xương máu!


Để tránh sự bất ngờ có thể xảy ra gây thiệt hại đến tính mạng cán bộ, chiến sĩ và bảo đảm chắc chắn cho trận đánh thắng lợi, đêm nay tôi trực tiếp đảm nhận công việc này.

Sau khi anh em đã ra khỏi khu vực mìn có thể gây nguy hiểm, tôi thận trọng dùng dòng điện thử lại từng quả mìn. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi quả mìn cuối cùng được thông mạch an toàn. Tất cả 6 quả mìn ở trận địa đều bảo đảm đầy đủ điều kiện kỹ thuật.


Thời gian trôi đi thật nhanh, vì ai cũng mải mê với công việc được giao. Mười hai giờ đêm, mọi nhiệm vụ trên trận địa chính đã hoàn thành. Tôi và anh Khoát đến cụm mìn chặn viện và lần lượt gặp các chiến sĩ ở lại điều khiển mìn. Gặp chúng tôi, cả năm đồng chí ở ba cụm mìn đều phấn khởi, hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Tất cả đồng đội của tôi đã ở vị trí sẵn sàng đánh địch. Riêng tôi, còn một việc đi gặp cô du kích để ngày mai cùng tôi ra trạm chỉ huy quả mìn phát hỏa.


Chúng tôi gặp xã đội trưởng nơi xảy ra trận đánh. Vốn đã quen nhau từ trước và được cấp trên giao nhiệm vụ, khi thấy tôi, xã đội trưởng đã vồn vã nói ngay:

- Tôi đã chọn cho đồng chí một cô du kích rất tuyệt, chắc đồng chí sẽ vừa ý!

- Cô ấy chiến đấu có khá không anh? - Tôi hỏi ngay vào công việc, cố giấu đi sự nhút nhát của mình trong việc đi gặp một cô gái.

- Việc ấy, đồng chí không phải lo. Du kích xã tôi, trai cũng như gái, ai cũng có tinh thần chiến đấu rất gan dạ.

- Anh đã cho cô ấy biết gì về trận đánh chưa?

- Tình hình ở đây còn phức tạp. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật cho trận đánh, tôi mới nói với cô ấy, ngày mai cùng đồng chí ra đường nắm tình hình địch thôi!


Sau khi đã nói cho tôi biết tình hình gia đình người nữ du kích, xã đội trưởng dẫn tôi theo một con đường ở ven sông đi vào xóm. Vừa đi, tôi vừa hỏi để thăm dò đối tượng mình sẽ gặp:

- Anh Hiểu này, cô ấy tên là gì? Tính tình có dễ chịu không anh?

- Cô ấy tên là Bình1 (Cô Bình người xóm Gạch, Bình Cách, Tứ Kỳ) đẹp người, tốt nết. Xã tôi có nhiều cô du kích như thế, nhưng tôi chỉ chọn cô Bình đi với đồng chí thì mới hoàn thành tốt nhiệm vụ mà thôi!


Đã đến nhà cô Bình, hai chúng tồi nhẹ nhàng bước vào sân. Từ trong nhà, có tiếng người con gái hỏi nhỏ vọng ra:

- Ai đấy?

- Tôi, Hiểu đây.

Bước ra cửa, cô gái đi sát đến chúng tôi, thì thào:

- Anh Hiểu đấy à, em chờ mãi, sao bây giờ anh mới đến? Rồi quay lại phía tôi, cô chào lễ phép:

- Em chào anh.

- Chào cô Bình - Tôi đáp lại.

- Ô! Anh biết tên em rồi à? - Cô thốt lên vẻ ngạc nhiên.

- Tôi nghe tên cô từ lâu, hôm nay mới có may mắn được gặp. - Cố nén tính nhút nhát trước phụ nữ, tôi trả lời trôi chảy.

Đang vui câu chuyện, anh Hiểu nhắc chúng tôi nói nhỏ, để khỏi làm thức giấc những người trong gia đình và quay sang cô Bình, anh nói:

- Như đã bàn với cô, hôm nay tôi dẫn đồng chí Sinh1 (Để giữ bí mật, thời gian hoạt động ở vùng này, tôi cải tên là Sinh) ở đơn vị "S20" về đây, để sáng mai ra đường 9 làm nhiệm vụ. Đồng chí Sinh sẽ hóa trang làm con gái, cùng cô đóng vai "hai chị em" đi gặt lúa.

- Vâng, anh cứ an tâm. Công việc ấy, em đã chuẩn bị rồi.

- Tình hình thực tế, khi ra đường diễn biến như thế nào, cách giải quyết ra sao, đồng chí phải chấp hành tuyệt đối ý kiến của đồng chí Sinh.

Bắt tay tạm biệt tôi, anh Hiếu2 (Anh Hiếu ở thôn Kiều Long, Tứ Kỳ) nói nhỏ, nhưng cũng đủ để cô Bình nghe rõ:

- Từ giờ phút này, cô Bình là người của đồng chí. Hai đồng chí sẽ bàn kỹ với nhau về công việc. Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ.

Trong bóng tối, tôi thấy cô Bình giấu một nụ cười thẹn thùng trước câu nói của xã đội trưởng!

Tiễn chân anh Hiểu ra cổng mà tôi vẫn băn khoăn. Tôi mạnh dạn ghé sát tai anh hỏi nhỏ:

- Tại sao chúng ta không nói rõ cho cô Bình biết về trận đánh?

- Thôn Bình Cách tuy là cơ sở của ta, nhưng vẫn nằm trong vùng kiểm soát của địch. Bộ máy chính quyền do địch lập ra, hàng ngày vẫn giữ mối liên hệ với đoàn quân tuần tiễu mỗi khi chúng hành quân đến đầu làng. Cô Bình là người rất đáng tin cậy, nhưng cũng đề phòng tình cảm bồng bột của tuổi trẻ, lỡ miệng nói ra với người thân, rồi loang ra xóm làng, thì thế nào cũng lọt vào tai mắt địch. Như vậy, trận đánh sẽ không được giữ kín. Đồng chí cứ an tâm. Chúng tôi chịu trách nhiệm về cô Bình trong việc này!

- Không nói thật với cô ấy, tôi thấy khó xử quá, anh ạ!

Thông cảm sâu sắc với nỗi băn khoăn của tôi, anh Hiểu đưa tay vỗ nhẹ lên vai tôi, nói nhỏ:

- Thôi, tùy đồng chí. Nói hay không nói, hoặc nói vào lúc nào, do đồng chí quyết định, nhưng đồng chí hết sức lưu ý - cấp trên dặn "Đây là kỷ luật chiến trường"!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:46:28 am
Tôi bần thần giây lát, đứng nhìn anh Hiểu nhòa vào trong bóng đêm.

Thôi được, tôi sẽ nói cho cô Bình biết về trận đánh vào lúc nào thuận lợi nhất. Tự nhủ mình xong, tôi quay bước vào sân. Cô Bình mời tôi cùng ngồi trên chiếc ghế tre mà cô vừa mang rạ. Trời về khuya, cái oi bức của mùa hè đã dịu đi. Tiếng thở đều đều từ trong nhà vọng ra, mọi người vẫn say sưa trong giấc ngủ. Bờ tre quanh nhà im lặng như lắng nghe một điều gì trong cảnh tĩnh mịch hiếm hoi. Bao năm vào bộ đội, cho tới hôm nay, tôi mới có phút chú ý đến cảnh vật xung quanh. Có lẽ vì bên tôi có một cô gái, nên tôi phải chú ý đến nó để giấu đi sự lúng túng. Lần đầu tiên, kể từ khi lớn lên, trong đêm khuya thanh vắng, tôi ngồi với một cô gái. Lúc giáp mặt với quân thù, tôi chưa hề tỏ ra sợ hãi, thế mà ngồi trước cô Bình, tôi thấy bối rối, chưa biết mở đầu câu chuyện như thế nào thì cô Bình đã cất tiếng hỏi, phá vỡ sự yên lặng đang vây lấy chúng tôi:

- "S20" là đơn vị gì, anh Sinh nhỉ?

- "S20" là cái tên mà cấp trên đặt cho đơn vị tôi, nó có nhiệm vụ chuyên lo đánh địch trên các đường giao thông.

- À, thế thì em biết rồi, "S20" là đơn vị đánh mìn, có phải không anh?

- Vâng, đúng như vậy đấy, cô ạ!

- Ngày mai, em dẫn anh đi nắm tình hình rồi các anh có đem mìn về đánh chúng nó không? Nếu đánh, đừng quên cho em tham gia nhé!


Câu nói thật bất ngờ, làm tôi lúng túng khó xử. Mìn tôi đã chôn xong. Trận đánh sắp bắt đầu. Thế mà tôi chưa nói thật, còn giấu một người con gái hồn nhiên, ham mê đánh giặc và ngày mai cùng tôi ra trận. Thật là một "điều bất đắc dĩ" đối với tôi. "Cơ sở ở đây còn phức tạp, phải giữ bí mật tuyệt đối cho trận đánh..." - Anh Hiểu nói thế. Thôi đành chịu!

Tôi lựa lời nói với cô:

- Chúng tôi mà đánh, nhất định có công cô trong đó.

Nghe tôi nói, cô mừng rỡ hẳn lên:

- Anh nhớ cho em tham gia đấy nhé.

Qua mấy phút đầu gặp gỡ, tôi đã thấy mến người con gái mà cũng như tôi, coi việc đánh giặc là niềm vui lớn nhất. Mới gặp lần đầu mà tưởng như đã quen từ lâu. Nghe cô nói chuyện mà lòng tôi thấy vui vui.


Nhưng thôi, nhiệm vụ còn nặng nề. Các cán bộ, chiến sĩ đang dầm mình trong các hố sâu giữa ruộng, để chờ tiếng mìn phát hỏa của tôi xông lên diệt địch. Tôi vội gạt đi những ý nghĩ riêng tư vừa chợt đến. Tôi nói với cô Bình xem xét lại công việc ngày mai, có còn gì trở ngại không?

- Anh an tâm, mọi việc em chuẩn bị xong cả rồi.

Cô trả lời, giọng tự tin. Tôi thì nóng lòng sốt ruột, còn cô vẫn bình thản! Chắc cô chỉ nghĩ một cách đơn giản: Sáng mai, cô sẽ cùng tôi ra giữa cánh đồng, rồi từ xa quan sát bọn địch qua lại trên đường. Tất cả chỉ có thế và hoàn toàn đơn giản! Mình mà chủ quan, thêm vào đó là cách nghĩ của cô - ngày mai rất dễ mắc sai lầm. Nghĩ vậy, tôi thong thả nói:

- Công việc kể cũng không có gì lớn, nhưng để tránh những điều không hay xảy ra do sơ xuất trong việc chuẩn bị, theo tôi, chúng ta nên kiểm tra lại và...

Tôi chưa kịp nói dứt câu thì cô Bình đã nói một mạch:

- Thứ nhất: Có quần áo để biến anh thành một bà chị.

- Thứ hai: Có hái và đòn càn để anh đi gặt.

- Thứ ba: Khi nào đi gặt, thì em đi cùng với anh.

- Thứ tư: Ăn cơm sáng xong, mới được đi gặt.

Giọng nói dứt khoát, chắc chắn, đầy vẻ quân sự của cô đã hoàn toàn thuyết phục được tôi. Tôi thật sự an tâm, tin tưởng vào công việc của cô đã làm.

Sợ bộ quần áo không vừa với mình, tôi đề nghị cô cho mặc thử. Cô sốt sắng bước vào nhà, và một lát sau, đem ra cho tôi một quần đen, một áo cánh nâu đã cũ. Đoán là quần áo của cô, tôi lo ngại hỏi:

- Quần áo của cô liệu tôi mặc có vừa không?

- Anh mặc thử xem, chắc là vừa thôi.

Ôi, sao mà mộc mạc và thân thương đến thế! Bộ quần áo của cô trao cho tôi mặc để che mắt quân thù, tôi nhận nó trên tay mình mà lòng thấy xốn xang xúc động, thầm cảm ơn người con gái hồn nhiên, sẵn lòng giúp đỡ bộ đội.

Bộ quân phục tôi đang mặc, bây giờ đã được thay bằng chiếc quần đen, chiếc áo mỏng của cô Bình. Lần đầu mặc bộ quần áo con gái, tôi cảm giác nó muốn bung ra trước tác phong đàn ông cứng nhắc của mình. Bộ quần áo sao mà mềm nhẹ đến thế! Tôi ngắm mình xong, rồi trở lại chỗ cô Bình:

- Cô xem tôi mặc có được không?

Nhận thấy mình có trách nhiệm với việc hóa trang của tôi, cô đứng dậy nhìn trước nhìn sau, kéo lại vạt áo cho tôi. Cô nói:

- Hơi ngắn một chút, nhưng không sao anh ạ. Mình đóng vai người đi gặt lúa, mặc như vậy là được rồi.

- À, còn khăn đội đầu thế nào, cô nhỉ?

- Khăn thì đơn giản thôi. Anh chỉ cần trùm chiếc khăn đen lên đâu rồi đội nón vào là được.

Đóng vai một cô gái có tuổi đời hai mươi, một đặc điểm không thể thiếu được là phải có một bộ ngực tràn đầy sức sống. Nhưng tôi không thấy cô nói gì về việc này. Chẳng lẽ lại nói thẳng ra và đòi hỏi ở cô những thứ đó. Tôi liên gợi ý:

- Là con gái, có đặc điểm khác với con trai, là ở những đường nét riêng biệt. Tôi đóng con gái thế này hình như chưa đạt lắm, có phải không cô Bình?

Hiểu ý tôi, cô thốt lên:

- Chết thật, tý nữa em quên thì hỏng cả bà chị!

Cô quay vào nhà và sau đó, đưa cho tôi hai chiếc khăn mặt bông, chiếc áo lót, mấy cái kim băng. Xoay người lại phía sau, tôi loay hoay hóa trang cho bộ ngực của mình. Khi đã an tâm với hai chiếc khăn không sợ nó rơi ra nữa, tôi quay người lại. Hai mắt nhìn tôi, chân giậm nhẹ xuống đất, cô Bình cười ngặt nghẽo.

- Cô cười gì thế, tôi mặc như vậy không giống con gái hay sao?

- Không, không phải thế. Giống lắm! Em cười bà chị đẹp quá, trông chẳng khác gì những cô gái xóm Gạch của em.

Nói xong, cô bước lại gần tôi, xem xét kỹ việc hóa trang của tôi, vuốt lại cho tôi những chỗ ghồ ghề xiêu vẹo. Cô ngắm đi ngắm lại bộ quần áo tôi đang mặc và sau khi cảm thấy đã an tâm, cô nói:

- Hóa trang như thế này mà anh em mình đi gặt thì Tây cũng phải chịu, anh ạ.

- Ấy, cô phải nói là chị em mình chứ! Nói cho quen đi, kẻo mai ra đồng gặp ai hỏi chuyện, lại gọi là anh thì hỏng hết.

- Vâng. Em nhớ điều ấy. Nếu ai có hỏi, em sẽ trả lời anh là chị của em từ bên ngoại sang chơi và đi gặt giúp. Như vậy có được không anh?

- Tôi nhất trí như thế, nhưng cố tránh không nên gặp và nói chuyên với ai là tốt nhất.

- Vâng. Em xin cố gắng làm theo lời anh. Bây giờ đã muộn, anh thay quần áo rồi đi nghỉ cho đỡ mệt, để sáng mai còn có sức đi gặt.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:48:10 am
Mặc lại bộ quân phục, tôi xem đồng hồ đã bốn giờ. Tôi theo cô Bình vào nhà. Sau khi đã chỉ cho tôi nơi nằm nghỉ trên một chiếc giường nhỏ đã chuẩn bị sẵn, cô Bình xuống bếp nhóm lửa nấu cơm.

Đã ba đêm liền, lại sắp trôi qua một đêm nữa, tôi quên cả giấc ngủ. Mọi việc bây giờ đã tạm ổn, phải ngủ một chút cho lại sức. Đặt lưng xuống giường, thấy người dễ chịu, tôi thiu thiu ngủ.

Tôi mới chợp mắt được chưa đầy hai mươi phút thì giật mình thức dậy. Từ lúc đó, tôi không tài nào ngủ được nữa. Trận đánh sắp tới lại cuốn hút tôi. Tôi nằm, nghĩ lại công việc và duyệt lại động tác chỉ huy phát hỏa quả mìn mở màn cho trận đánh.

Ăn cơm sáng xong, tôi ra vườn, đứng khuất vào một bụi cây quan sát trận địa. Tất cả vẫn yên lặng. Cánh đồng lúa chín đang khoe sắc vàng dưới nắng sớm.

Tôi vào nhà, nhanh chóng thay quần áo dưới sự đạo diễn của cô Bình. Nhìn tôi, cả nhà mỉm cười kín đáo. Cô Bình cũng chuẩn bị xong để sẵn sàng cùng tôi đi gặt. Mọi người trong nhà đèeu nhắc chúng tôi phải thật cẩn thận.


Hơn bảy giờ, nhìn xa xa về phía Ninh Giang, quân địch đã xuất hiện. Xe và bộ binh của chúng đang tiến về hướng trận địa. Chúng đi từng bước thận trọng, lúc dừng, lúc tiến. Hai "chị em" tôi cũng bắt đầu đi gặt. Đầu đội nón, vai mang đòn càn, chúng tôi hòa vào những người đi gặt, tiến thẳng con đường từ xóm ra đường 9.


Quân địch tiến đến. Chúng tôi tiến ra trận địa. Khoảng cách giữa chúng tôi và quân địch đang rút ngắn lại từng hước. Thời gian nặng nề trôi đi. Tôi cảm thấy tốc độ tiến quân của chúng quá chậm. Nhưng cuối cùng, chúng đã đến sát đoạn đường chúng tôi đặt mìn. Tôi đã nhìn rõ bọn lính đang dò mìn, những toán bộ binh đang sục sạo hai bên đường và những thửa ruộng ở ven đường. Chiếc xe tăng đi đầu ngạo nghễ đã dừng lại đầu làng Bình Cách, chỉ cách trận địa mìn khoảng 200 mét. Tôi giục cô Bình đi nhanh hơn.

- Anh định lên mặt đường à?

- Không, tôi muốn đến gần đường để quan sát chúng rõ hơn. - Nói xong, tôi thấy lòng mình day dứt như có điều gì hổ thẹn. Tại sao đến giờ phút quyết định này, mà mình chưa nói thật với một người con gái đang cùng mình tiến vào trận đánh?


Không, không thể làm khác được - người chiến sĩ ra mặt trận, phải biết rõ nhiệm vụ mới có quyết tâm và hành động chính xác. Nghĩ vậy, tôi quyết, định nói lướt nhanh cho cô biết về trận đánh sắp nổ ra... Nghe tôi nói, cô Bình phấn chấn hẳn lên:

- Em hiểu, anh an tâm, em chỉ biết chấp hành lệnh của anh.

Vừa nói chuyện, chúng tôi vừa cặm cụi bước. Đường 9 đã ở trước mặt. Thửa ruộng có trạm điều khiển kia rồi. Ba tên ngụy vác máy dò mìn, đang đưa đẩy máy tìm xét trên đường. Phía đầu làng, xe tăng địch vẫn gầm gừ chờ đợi. Tiếng máy xe như thúc giục tôi. Không thể chậm trễ được nữa! Tôi nói với cô Bình đi rảo bước hơn một chút.

- Đi nhanh sợ nó nghi ngờ anh ạ.

Chưa kịp trả lời thì trước mặt tôi đã xảy ra một tình huống bất ngờ: hai tên lính da đen, tay lăm lăm tiểu liên, tách khỏi đồng bọn rẽ xuống con đường mà chúng tôi đang đi, tiến lại phía chúng tôi.

- Làm thế nào, anh ? - cô Bình lo lắng hỏi.

Còn tôi, lúc đó cũng lo cho trận đánh tưởng như nghẹt thở. Tại sao hai tên da đen này lại đi vào đây? Giáp mặt nó mà bị lộ, mình sẽ xử sự thế nào? Không, không thể lùi bước. Lùi lại hoặc rẽ ngang, chúng sẽ nghi ngờ, chắc chắn trận đánh sẽ bị lộ. Dù phải hy sinh, củng phải bình tĩnh đi thẳng về phía chúng, để tạo sự bình thường đối với chúng. Sau khi tự vạch cho mình cách đối phó, tôi nói với cô Bình:

- Xung quanh chúng ta đã có những nòng súng bảo vệ. Trận đánh lớn sắp bắt đầu. Cô bình tĩnh theo tôi.

Thấy tôi rảo bước vượt lên phía trước, cô Bình sửng sốt:

- Cẩn thận anh ạ, đề phòng chúng nó biết.

Hai tên da đen vẫn đi về phía chúng tôi. Những hàm răng trắng nhởn, những cặp mắt cú vọ của chúng nằm trong tầm nhìn của tôi. Không gian vắng lặng, hồi hộp, tôi đã nghe thấy cả tiếng chúng xì xồ nói chuyện với nhau. Đầu óc tôi đang căng ra, trước khoảng cách đang rút lại nhanh chóng. Khi còn cách chúng tôi chừng ba chục mét, hai tên da đen đột ngột rẽ xuống một bờ ruộng và bắt đầu sục sạo, nhòm ngó ở đó. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Nhìn sang cô Bình thấy mắt cô như đang cười. Vừa lúc đó, chúng tôi cũng đến một lối rẽ để đi về thửa ruộng có trạm điều khiển mìn. Hai tên lính da đen kia vẫn men theo bờ ruộng, đi cách xa chúng tôi về hướng tuần tra của chúng!


Đến thửa ruộng mà đồng chí Ninh đang nằm đợi, gạt những giọt mồ hôi trên trán, tôi nói với cô Bình: "Hôm nay, chị em mình phải gặt xong thửa ruộng này". Nhận ra mật hiệu của tôi, từ giữa ruộng lúa, đồng chí Ninh đáp lại nhỏ gọn:

- Đã sẵn sàng!

Tôi an tâm quan sát bọn địch trên đường. Cô Bình hỏi:

- Bây giờ làm gì, anh?

- À, chúng ta gặt lúa đi thôi.

Hai chúng tôi bước xuống ruộng, tay vờn vòn cắt lúa, mắt tôi theo dõi bọn lính dò mìn. Chúng đã rà qua cụm mìn số 2. Ba tên lính ngụy đi thành hàng ngang lưng đeo hòm điện, tay vác máy đang tiếp tục dò mìn. Chúng rà tới rà lui đoạn đường có cụm mìn phát hỏa. Tôi lo lắng, chúng phát hiện ra điều gì chăng? Không, không thể có chuyện đó xảy ra, vì chính tôi là người kiểm tra lần cuối sau khi chôn mìn. Tất cả 6 quả mìn và "cạm điện" ở trận địa chính đều được làm rất cẩn thận. Tin chắc, bọn chúng đã kiểm tra ba ngày rồi, thì hôm nay cũng không thể phát hiện được mìn. Cuối cùng, những phút lo lắng cũng trôi qua. Tôi muốn reo lên, khi máy dò mìn của địch đã rà qua đoạn đường chúng tôi đặt mìn. Tất cả những quả mìn vẫn nằm im chờ lệnh!.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:49:31 am
Từ nắp chiếc xe tăng đang chờ thông đường ở đầu làng, bỗng thò lên một cái đầu. Một tên địch dùng máy đàm thoại nói điều gì đó. Tôi đoán, có lẽ nó hỏi toán quân dò mìn sục sạo, để chuẩn bị đi tiếp...

- Thế là chắc ăn rồi. - Tôi tự nhủ thầm - Chúng mày đừng hòng mà chạy thoát những quả mìn của tao.


Chiếc xe tăng đi đầu rú ga, rùng mình, chuyển động. Các xe sau theo nó chạy lên. Xích xe nghiến trên đường nghe sạo sột chối tai. Tôi đứng thẳng người, mắt nhìn vào mục tiêu không chớp, phát lệnh nhỏ gọn:

- Đồng chí Ninh!

- Có!

- Chuẩn bị!

- Rõ!

Xe tăng địch tiến lại gần, gần nữa. Chúng lồng lên như một con cọp đói trên quãng đường mà chúng tưởng hoàn toàn không có mìn đe dọa. Nòng pháo trên nóc xe ngạo ngược. Tôi nhìn rõ số xe "257". Tôi phát lệnh to hơn:

- Đồng chí Ninh!

- Chuẩn bị!... Chuẩn bị!... Chuẩn bị!...

Chiếc xe tăng vừa chạm mục tiêu, tôi phát lệnh thật to: - "Dí"!

Một tiếng nổ vang tròi, lửa khói trùm kín chiếc xe tăng địch. Quả mìn có sức công phá bằng 17 cân thuốc nổ đã nổ trúng mục tiêu, hất chiếc xe về phía trước, lật ngược bánh xích lên trời.

Quên cả nguy hiểm, cô bạn gặt của tôi reo lên:

- A, xe tăng địch đổ rồi! - Tiếng reo của cô trong trẻo, náo nức...

Tôi nói to:

- Cô Bình ngồi thấp xuống mà tránh đạn!

- Xung phong! Xung phong! - Tôi thét to, rồi hướng về cụm mìn số 2, Đồng chí Đính1 (Anh Đính quê ở Trung Xá, Bình Dân, Kinh Thành) đã phát lệnh. Ba quả mìn đều nổ, một xe bọc thép của địch lật sang vệ đường. Cùng lúc, các cỡ súng của ta liên tục nã vào đội hình của địch. Tiếng thét "Xung phong" vang lên các ngả. Cô Bình lại reo lên kinh ngạc:

- Đông lắm, bộ đội ta đông lắm, anh ơi!

- Trận đánh hôm nay có cả cô nữa đấy!

Tôi đáp nhanh, rồi ra lệnh cho cô rút về trong xóm. Vác hai chiếc đòn càn, cô hòa vào dân làng ở cánh đồng đang tản nhanh vào sau những lũy tre.


Binh lính địch trước đòn đánh phủ đầu của ta, chúng hoảng sợ lúng túng, rồi cụm lại chống cự dữ dội. Pháo địch từ Ninh Giang ầm ầm bắn về xung quanh trận địa. Các mũi xung kích của bộ đội ta dưới sự chỉ huy của các anh Khoát, Khánh, Toàn vẫn tiến thằng lên mặt đường anh dũng chiến đấu, tiêu diệt nốt những chiếc xe và bọn địch còn lại.


Trong lúc trận đánh vừa diễn ra, tại cụm mìn chặn viện, đồng chí Kỳ1 (Anh Kỳ quê ở xã Đại Đức, Kim Thành) và Đoàn2 (Anh Đoàn quê ở xã Chí Minh, Cẩm Giàng) đã làm xong nhiêm vụ đặt mìn vào "hố không mìn" để sẵn sàng đón diệt đoàn quân tiếp viện của địch. Đúng như dự đoán, từ thị trấn Ninh Giang, những chiếc xe tăng, xe vận tải chở đầy quân lồng lên như những con trâu điên, chạy về hướng trận địa để cứu nguy cho đồng bọn đang bị đánh tả tơi. Chúng cho rằng, đội quân tuần tiễu đã kiểm tra, xe đi qua không vấp phải mìn ở đoạn đường này, thì chắc chắn không còn nguy hiểm gì đối với chúng. Bọn giặc không ngờ số phận của đoàn quân tiếp viện đã bị chúng tôi định trước. Đoàn xe vẫn hối hả lao vào cụm mìn dành riêng cho nó. Chiếc xe tăng đi đầu chưa kịp bắn phát đạn ứng cứu nào, đã bị quả mìn đầu tiền ở cụm mìn chặn viện nổ tung, hất nó ra cạnh đường. Cả đoàn xe dừng lại, các cỡ súng của địch thi nhau vãi đạn ra xung quanh. Sau khi đã hoàn hồn và do tình thế khẩn cấp, chiếc xe thứ hai chr đầy quân liêu chết chạy lên. Quả mìn thứ hai lại xé tan xác chiếc xe này tại chỗ. Quân địch hốt hoảng thực sự, không một chiếc xe nào dám vượt lên nữa. Đoàn quân tiếp viện của địch đã bị chặn đứng. Pháo địch đang tập trung bắn vào trận địa chính, bây giờ lại quay sang bắn như đổ đạn để bảo vệ cho đoàn quân ứng cứu. Chúng hoảng sợ, tưởng như đang có một lực lượng lớn của Việt Minh tiến công vào đoàn xe cấp cứu này! Thật là thú vị, chúng tôi chỉ có hai đồng chí Kỳ và Đoàn đánh cho địch đòn bất ngờ này. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các anh đã rút về bên kia bờ sông, ngồi hút thuốc, hả hê nhìn xe địch bốc cháy.

Do hiệu quả rất đáng kể của hai quả mìn chặn viện, các đồng chí đại đội 75 có điều kiện rảnh tay làm nhiệm vụ trên trận địa chính. Chẳng mấy lúc, ở khu vực đánh địch đã im tiếng súng. Đội quân tuần tiễu của địch xuất phát từ thị trấn Ninh Giang có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ đã bị tiêu diệt. Giải quyết xong chiến trường, bộ đội ta đã lần lượt rút qua sông trở về căn cứ.


Nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị đánh mìn vẫn còn tiếp diễn. Hai quả mìn tự động ở cụm mìn phát hỏa còn nằm yên chờ địch. Tôi và đồng chí Ninh ở lại theo dõi để đánh tiếp. Hai chúng tôi vào trong một bãi ngô, trước mặt là dòng sông An Thổ, nhìn sang thấy cả trận địa.


Trên bầu trời, chiếc máy bay trinh sát của địch đang bay lượn, lúc ngóc lên cao, khi sà xuống thấp, nghiêng cánh tìm xét. Tiếng súng nhỏ đã im bặt. Thỉnh thoảng, mấy quả đại bác nổ bên sông. Từ nơi quan sát, chúng tôi đã nhìn thấy bộ binh địch lô nhố trên đường 9, đang dè dặt tiến vào nơi đồng bọn vừa bị tiêu diệt.


Ô, sao lại có cả đàn trâu đi theo nó! Đúng là đàn trâu đang đi vào hướng trận địa. Tôi nhận ra ngay - sau khi đoàn quân tiếp viện bị chặn đứng bởi hai quả mìn của đồng chí Kỳ và Đòàn, địch hoang mang không dám chạy tiếp. Chúng vào làng, bắt hơn hai chục con trâu của dân đem ra quần trên mặt đường để tìm mìn. Chúng đã bất lực và bây giờ chúng đã phải bắt những con vật đi làm thay cho những tên lính tìm mìn!


Thật là dã man! Nhìn đàn trâu mà lòng tôi xót xa - "Con trâu là đầu cơ nghiệp", hình ảnh con trâu thân quen với tôi từ thuở nhỏ. Con trâu hiền lành, có nghĩa với người, đang bị giặc kéo vào trận chiến!

Nhưng không, chúng nó sẽ phải đền tội! Tôi chăm chú nhìn đàn trâu. Một con đi qua, hai con đi qua, cả đàn trâu đi qua quả mìn thứ nhất, qua quả mìn thứ hai. Đàn trâu vẫn nghênh sừng bước bước trên đường. Hai quả mìn vẫn nằm im không nổ. Chúng lại mắc một sai lầm nữa, cho răng đàn trâu đã giúp chúng thông đường, thông xe!


Từ bên kia bến đò An Thổ, máy xe địch ầm ì. Bọn chúng từ phía Kiến An kéo về. Đoàn xe qua phà sang sông, chậm chạp bò vào trận địa. Mắt tôi dính chặt vào chiếc xe tăng đi đầu khi nó tới nơi chôn quả mìn thứ nhất còn lại ở cụm mìn phát hỏa. Tại sao mìn không nổ? Xe qua rồi, tại sao mìn không nổ? Tôi run lên vì căm giận. Chiếc xe vượt qua mìn mà không bị tiêu diệt! Xe tăng địch tiếp tục bò lên trong lúc đầu óc tôi đầy những giả thiết về quả mìn thứ nhất.


Ùng! Một tiếng nổ dậy đất vọng đến cắt ngang suy nghĩ của tôi. Quả mìn thư hai còn lại ở cụm mìn phát hỏa đã nổ, hất chiếc xe tăng sang bên đường. Bọn lính gác đường và ở các xe sau như đàn mối vỡ tổ hoảng loạn tìm kiếm nơi ẩn nấp. Các cỡ súng địch lại thi nhau vãi đạn. Pháo địch từ Ninh Giang lại giật mình trút đạn về phía bờ sông. Đại liên địch từ vị trí An Thổ cũng nổ từng tràng rát rạt để ứng cứu. Tình hình trở lại yên tĩnh sau những phút kinh hoàng, bọn địch từ nơi ẩn nấp kéo nhau ra xúm xít quanh những chiếc xe vừa bị diệt, quát chửi ầm ĩ. Rồi chiếc xe cần trục ở phía sau được gọi vào để giải quyết hậu quả. Một tiếng nổ đanh mạnh làm chiếc xe cần trục sụp xuống. Chiếc cần cẩu to là thế đã gục đầu xuống ruộng, trông thật thảm hại!

À ra thế! Chiếc xe tăng đi đâu đã lăn bánh không trúng "cạm điện" của quả mìn thứ nhất - nó đã dành cho chiếc xe cần trục quả mìn này để cùng chịu chung số phận!

Quả mìn thứ tám đã nổ. Nhiệm vụ của chúng tôi - đơn vị đánh mìn "S20" trong trận đánh phối hợp này đến hai giờ chiều đã kết thúc thắng lợi!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:58:47 am
... NHƯ CHIẾN CÔNG TIÊU DIỆT MỘT TIỂU ĐOÀN ĐỊCH
(Viết về trận đánh phá cầu Bía, ngày 14-6-1953)


Chúng tôi đang đánh địch ở đường 20, thì có lệnh của Tỉnh đội đem đơn vị về Ninh Giang để tổ chức trận đánh phá cầu Bía trên đường 17 - con đường hành lang quan trọng nối liền thị xã Hải Dương với thị trấn Ninh Giang.


Tỉnh đội trưởng Tăng Bá Dụ đến tận đơn vị giao nhiệm vụ tổ chức gấp việc đánh phá cầu Bía. Anh nói rõ ý nghĩa của việc cắt đứt đường giao thông để chặn bước tiến của địch ngay từ lúc chúng đang chuẩn bị hành quân càn quét và khẳng định: "Đánh phá cầu Bía trong lúc này, được coi như chiến công tiêu diệt một tiểu đoàn địch". Theo chỉ thị của anh, chúng tôi phải hoàn thành trận đánh trong vòng một tuần lễ.


Thời gian quy định quá ngắn là một khó khăn rất lớn mà chúng tôi phải có kế hoạch chi tiết để đảm bảo đúng ý định của cấp trên. Thông thường, một trận đánh như thế, chúng tôi phải có những bước công tác cần thiết: điều tra trinh sát, lập kế hoạch tác chiến, chuẩn bị vật chất, tinh thần, triển khai chiến đấu... Ngay việc trinh sát nắm tình hình lần này, cũng có những điều cần chú ý. Ngoài việc làm quen với địa hình địa vật, nắm vững quy luật phòng thủ của địch, xác định mục tiêu công kích, chúng tôi còn phải tìm hiểu để biết được cấu trúc của cầu, dòng chảy của nước, độ sâu của sông... Hơn thế nữa, việc chui lặn qua những lớp rào thép gai ngâm dưới nước cũng là điều rất mới cần có thời gian nghiên cứu thực tập.


Ban tham mưu Tỉnh đội đã quyết định tăng cường cho chúng tôi một cán bộ quân báo có kinh nghiệm. Tôi được đồng chí Tân - đội trưởng, phân công cùng đồng chí Thái bắt tay ngay vào việc trinh sát trận địa. Ba đêm liền, chúng tôi lặn lội trong vị trí địch, đã nắm được một số điều cần thiết.


Cầu Bía bắc qua sông Quang Bí (còn gọi là sông Gồm) có chiều dài trên một trăm mét, chia thành bốn nhịp. Mặt cầu lát bằng sắt, rộng 4 mét đặt trên những dầm sắt cỡ lớn. Cột cầu là những cây gỗ lim to. Mỗi cột gồm 12 cây, có chốt đóng liên kết, tạo thành một khối vững chắc. Mố cầu ở hai bên sông đặt trên hai lô cốt xây kiểu "boong-ke", có lỗ châu mai quan sát và bắn thẳng gầm cầu.


Để bảo vệ cầu, địch bố trí ở hai đầu cầu hai vị trí - mỗi bên có một trung đội lính da đen và lính ngụy thay nhau canh giữ. Nhất là từ mấy năm trước, bộ đội ta hóa trang làm người đi chợ, đem bộc phá đột nhập mặt cầu giữa ban ngày không thành công, thì chúng càng đề phòng cẩn mật hơn. Các cột cầu đều có lưới thép loại cứng bao bọc từ đỉnh cột xuống sâu dưới mặt nước chừng 2, 3 mét. Mặt sông ở hai phía cầu mỗi bên có rải 3 hàng rào thép gai có gắn phao nổi trên mặt nước nối liền với hàng rào của hai vị trí trên bờ. Do vậy đoạn sông và chiếc cầu nằm lọt vào giữa một căn cứ mà quân địch đã sử dụng nhiều biện pháp phòng thủ chắc chắn.


Sau những đêm điều tra nghiên cứu, tôi và đồng chí Thái đã thông thạo đường ra vào cầu. Chúng tôi đã bơi đến từng cột cầu, vén tấm lưới thép lặn chui vào trong, rồi nhẹ nhàng leo lên đỉnh cột tìm nơi đặt thuốc, nổ. Từ những kết quả bước đầu ấy, chúng tôi về báo cáo với đơn vị. Sau khi nghe tình hình và thảo luận, ban chỉ huy đội nhận thấy việc vận chuyển thuốc nổ qua hàng rào thép gai ngầm, lặn xuống lòng sông chui qua lớp lưới thép bao quanh cột cầu để đặt thuốc nổ vào đỉnh cột và cách thức vượt qua đoạn sông nguy hiểm ở gần cầu, cần phải nghiên cứu thêm. Đồng chí Nguyễn Văn Tân, đội trưởng đã quyết định thực hiện một đêm trinh sát nữa để cùng tôi vào cột cầu xem xét tại chỗ. Sau đó đã thống nhất một kế hoạch hành động để báo cáo với tỉnh đội trưởng.


Khó khăn lớn nhất khi thông qua kế hoạch này là "Làm thế nào để bộ đội vượt được đoạn sông từ hàng rào trong cùng vào đến chân cầu". Do hàng rào vắt qua sông, đã ngăn lại mọi vật trôi nổi trên mặt nước, tạo cho khu vực gầm cầu kéo dài ra mỗi bên 50m mặt nước rất phẳng lặng, không một vật gì có thể trôi qua được. Đây là một đoạn sông nguy hiểm, bọn địch gác trên mặt câu thường dùng đèn pin soi xuống để quan sát. Chỉ một sơ suất nhỏ gây thành tiếng động hoặc làm gợn sóng trên mặt nước là bọn lính gác cầu có thể nổ súng ngay lập tức. Việc này, chúng tôi đã gặp phải trong một đêm trinh sát: Vào khoảng 12 giờ đêm, từ một chiếc phao ở hàng rào giữa sông, có tiếng động nước lõm bõm. Bọn tôi đoán - chắc là mấy chú chuột hoặc con "rái cá" đi kiếm ăn, vật lộn với con mồi, gây nên tiếng động. Thế mà bọn lính gác cầu cũng báo động soi đèn và nổ súng ầm ĩ, giữa lúc chúng tôi đang nép mình ở cột cầu chẳng khác gì những con gà đang nằm trong một chiếc lồng sắt! Sau một hồi nghe ngóng quan sát, không thấy hiện tượng gì nghi ngờ, bọn chúng báo yên, chúng tôi mới ra khỏi gầm cầu.


Vượt qua đoạn sông nguy hiểm này trong những lần trinh sát dù sao cũng thuận lợi hơn, vì số người vào cầu ít, lại trang bị gọn nhẹ. Lọt qua ba hàng rào, ngâm mình theo rìa sông, đến một khoảng cách thích hợp, chúng tôi lặn vào gầm cầu. Lợi dụng bóng tối do mặt cầu che khuất, chúng tôi bơi từ cột này sang cột kia một cách dễ dàng. Nhưng, khi triển khai trận đánh số người vào nhiều hơn, mang theo khối lượng thuốc nổ lớn cùng các thứ cần thiết khác thì vượt qua đoạn sông này là một việc không đơn giản. Trong kế hoạch hành động chúng tôi coi đây là một vấn đề có tính chất quyết định thành bại của trận đánh, cần có cách giải quyết chu đáo để đảm bảo thắng lợi.


Cũng trong cuộc họp thông qua kế hoạch đánh địch, một giả thiết nhằm giải quyết triệt để về tư tưởng được đơn vị nêu ra: "Trường hợp đặt xong thuốc nổ, chiến sĩ ta chưa kịp ra khỏi cột cầu mà bị địch phát hiện thì hành động như thế nào?". Nêu vấn đề này ra là một điều cần thiết. Chúng tôi nhất trí phải lường đến một tình huống như thế và đã cùng nhau thảo luận thẳng thắn, thống nhất cách giải quyết bằng một phương án tác chiến đầy đủ, cụ thể, cộng với tinh thần chủ động sự hy sinh cần thiết của cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn làm nhiệm vụ trực tiếp đặt thuốc nổ.


Vừa báo cáo xong công việc chuẩn bị cho trận đánh, tỉnh đội trưởng đã phát biểu một số ý kiến, làm sáng tỏ thêm cách đánh lần này và từ đó, phương án tác chiến của chúng tôi được bổ sung đầy đủ, chi tiết hơn. Anh cũng rất xúc động khi nghe chúng tôi dự kiến tình huống "đặt thuốc nổ xong, chiến sĩ ta chưa kịp ra khỏi cột cầu mà bị địch phát hiện" và xử lý tình huống đó bằng sự tình nguyện hy sinh của các đồng chí đem thuốc nổ vào cầu.


"Tinh thần hy sinh dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ S20 như vậy là cao cả, đáng được biểu dương. Nhưng trách nhiệm của chúng ta nhất thiết không để tình huống đó xảy ra". - Tỉnh đội trưởng nói vậy, rồi quyết định: dùng thật ít lực lượng, tuyệt đối giữ bí mật, đánh cắt hẳn nhịp cầu giữa.


Quyết định của tỉnh đội trưởng là mệnh lệnh chiến đấu. Chúng tôi động viên nhau phải tìm mọi cách thực hiện bằng được những biện pháp mà anh đã chỉ ra. Với trách nhiệm được phân công trực tiếp chỉ huy trận đánh, tôi vô cùng lo lắng. Thời gian quy định hoàn thành trận đánh chỉ một tuần mà hôm nay đã là ngày thứ năm. Tôi ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng như lửa đốt. Tối hôm ấy, chúng tôi đã tổ chức ngay việc thực tập vượt đoạn sông nguy hiểm.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:59:30 am
Ở giữa làng Xuân Trì có một cái ao to. Cạnh bờ ao có một cây cổ thụ vươn ra mặt nước. Cho một đồng chí trèo lên cành cây ở tầm cao tương ứng với mặt câu, tôi và ba anh em nữa xuống ao thực tập theo kiểu "bơi ngửa hở mũi". Sau nhiêu lần nhẹ nhàng bơi đi bơi lại, chúng tôi rút ra kết luận "người ở trên cao phải thật chú ý mới phát hiện được". Chúng tôi an tâm áp dụng cách bơi này để vượt đoạn sông ở gần cầu, tin rằng không gặp trở ngại vì kẻ địch nhiều lúc sơ hở, chủ quan.


Việc vận chuyển thuốc nổ vào cầu, chúng tôi được anh em công binh xưởng nghiên cứu và lo liệu chu đáo. Anh em đã sản xuất cho chúng tôi bốn quả bộc phá, mỗi quả chứa 20 cân thuốc nổ, lắp kíp điện - chế tạo theo kiểu đúc rắn, có vỏ sắt, không ngấm nước, mỗi quả được buộc vào một chiếc phao, giữ chúng ở giới hạn không chìm, không nổi, chỉ lập lờ dưới mặt nước, để chúng tôi dùng dây kéo từ hàng rào trong cùng vào gầm câu.


Trong mấy đêm trước, các chiến sĩ được lựa chọn làm nhiêm vụ đột nhập cầu đều được bố trí xen kẽ đi theo tổ trinh sát để làm quen với hiện trường. Do vậy, đến đêm thứ sáu, ba đồng chí Cứ, Thanh, Cứng1 (Anh Cứ quê ở Phương Bằng, Gia Lộc. Anh Thanh quê ở Mao Điền, Cẩm Giàng. Anh Cứng quê ở Tâng Thượng, Gia Lộc)  đã được thực tập ngay trong căn cứ của địch. Cả ba đồng chí đều tỏ ra gan dạ, khéo léo, giữ được bí mật trong lúc chui qua những hàng rào ngầm, vượt đoạn sông nguy hiểm, leo lên đỉnh cầu nhận vị trí đặt thuốc nổ.


Sáu ngày qua kể từ khi nhận nhiệm vụ, tôi đã dành trọn 5 đêm cùng anh em lần mò trong vị trí địch. Căng thẳng, thiếu ngủ, lại phải ngâm mình suốt đêm dưới nước, người tôi rã rời ê ẩm. Thời gian không chờ đợi chúng tôi, không thể dừng lại nghỉ ngơi trong lúc yêu cầu hành động để chống địch hành quân càn quét đang đặt ra từng giờ, từng phút khấn cấp. Chúng tôi thống nhất phải triển khai nhiệm vụ đúng thời gian quy định, nghĩa là sẽ cho trận đánh nổ ra vào đêm của ngày thứ bảy - đêm cuối cùng của thời hạn mà tỉnh đội trưởng giao cho.


Với tinh thần bí mật, gọn nhẹ, lực lượng tham gia trận đánh này chúng tôi chỉ sử dụng: 4 chiến sĩ vận chuyển thuốc nổ đến nơi tập kết, sau đó làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ vành ngoài, bắn yểm trợ khi cần thiết; hai đồng chí phụ trách dây điện và hòm điện, bộ phận đột nhập có 4 người do tôi chịu trách nhiệm chỉ huy.


Mọi việc chuẩn bị được hoàn thành chu đáo. Cả đơn vị bừng bừng khí thế lập công. Ai cũng xung phong nhận nhiệm vụ mang thuốc nổ vào cầu.

Ngày hôm ấy, thời tiết xấu. Mưa từ sớm đến chiều. Chúng tôi xuất quân vào 6 giờ tối.

Đêm tối, trời mưa nhẹ. Sấm giật, rồi pháo địch ùng ùng vang lên ở phía đường 17. Chúng tôi lặng lẽ vượt qua những cánh đồng ngập nước. Mười một giờ đêm, chúng tôi đến nơi tập kết ở ven sông. Mưa nhiều, nước sông dâng lên cao, trời trở lạnh. Sau mấy phút nghỉ, lấy lại sức, chúng tôi bắt đầu hành động theo kế hoạch. Học tập kinh nghiệm của những người dân chài, trước khi ngâm mình xuống nước, tổ đột nhập mỗi người uống một chén nước mắm đã đem sẵn để chống lạnh, rồi lần lượt lặn chui qua các hàng rào.


Chui qua hàng rào thép gai ngầm dưới nước là việc không đơn giản. Bộ phận đột nhập chia làm hai nhóm, mỗi nhóm 2 người, chui theo kiểu "sâu đo" - người lặn, người quan sát, chui đến đâu, đẩy thuốc nổ vào đến đó.


Khác với những đêm trinh sát, đêm nay mỗi chúng tôi phải đem theo hai chục cân thuốc nổ và dây điện nên việc chui lặn qua các hàng rào ngầm phải thực hiện hết sức thận trọng để giữ cho kíp nổ không bị hư, dây điện không bị đứt hoặc xây xát.


Nước sông chảy mạnh, chúng tôi lần lượt chui vượt qua những lớp thép gai. Vượt qua được hàng rào thứ nhất một cách khá thuận lợi, đến hàng rào thứ hai, thì không may cho tôi. Tôi vừa ngụp xuống lách mình vào giữa thì bị kẹp do lớp rào thép gai bùng nhùng quấn chặt vào lưng áo lót. Ôm chặt khối thuốc nổ, lấy hết sức trườn lên, nhưng không tài nào gỡ ra đượ., tôi đành phải ngoi đầu lên mặt nước để thở. Người và mặt tôi bị thép gai cào toạc, rướm máu, da xót cứng. Loay hoay mãi, tôi mới ra khỏi nơi vướng mắc, tiếp tục cùng anh em vượt nốt hàng rào cuối cùng.


Hơn hai giờ nghe ngóng, chui lặn, chúng tôi đã vào đến đoạn sông nguy hiểm ở gần cầu, chờ thời điểm đột nhập.


Chiếc cầu sừng sững vắt qua sông, hiện rõ trong tầm nhìn xuyên đêm của chúng tôi. Những lô cốt, ụ súng nằm sát bờ sông đang đắm chìm trong giấc ngủ chập chờn với những lỗ châu mai đen ngòm, mà bên trong thỉnh thoảng chiếu ra những vệt sáng quỷ quyệt. Tôi đã nghe rõ tiếng rì rào của nước chảy, cọ sát vào cột cầu. Hai tên lính gác vẫn đi lại trên cầu. Con chó đi theo chúng, thỉnh thoảng lại hậm hực rồi sủa lên mấy tiếng. Sau 30 phút theo dõi động tĩnh, nhận thấy quy luật canh phòng của địch không có gì thay đổi, tôi kiểm tra lần cuối rồi quyết định hành động.


Kế hoạch hành động được quy định theo phương pháp "bơi ngửa chỉ hở mũi" và hành tiến theo kiểu "chim tập bay". Theo sự phân công, tôi và Thanh vào trước theo trình tự vào cột số 1, sau đó lợi dụng bóng tối ở gầm cầu bơi sang cột số 2. Khi nhóm tôi vào đến nơi đã xác định thì đồng chí Cứ - tiểu đội trưởng dẫn nhóm của mình vào chiếm lĩnh cột số 1. Kế hoạch đề ra như thế, nhưng rất tiếc lúc này đã xảy ra sự trục trặc. Tôi chưa rời cột số 1, thì nhóm đồng chí Cứ đã tiến đến. Có lẽ vì đêm tối, các đồng chí này không nhìn rõ sự di chuyển của nhóm tôi dưới gầm cầu. Tình huống diễn ra thật là nguy hiểm. Cả bốn người cụm lại một chỗ, tất cả đều bám vào lớp lưới thép bọc cột cầu số 1. Nước chảy xiết, đẩy mạnh vào thân người, tạo thành một lực kéo, chuyển động lên phía trên kêu rào rào. Tôi lạnh người, bàng hoàng như đứng trước một thử thách quan trọng. Vội trấn tĩnh, kiểm tra lại thuốc nổ, dây điện và trước vi phạm gây nên tình trạng bối rối này, tôi tức đến điên người, nhưng cố nén chịu và động viên anh em nhanh chóng chiếm lĩnh cột cầu. Tôi và Thanh bơi sang cột giữa.


Chúng tôi lần lượt lặn xuống lòng sông, vén tấm lưới thép chui vào, thận trọng leo lên cột cầu đặt thuốc và đấu điện. Mọi việc được hoàn thành hết sức mau lẹ. Chúng tôi thu mình ngồi vào khe cột, chờ thời cơ rút ra ngoài để phát hỏa. Vừa lúc đó, có tiếng rậm rịch của bước đi bằng giày đinh nện trên mặt cầu vọng đến. Những tên lính gác cầu đang đi tới. Ngang chỗ chúng tôi, hai tên lính dừng lại, rì rầm nói chuyện với nhau bằng tiếng người châu Phi. Con chó lăng xăng chạy theo nó, nghe thấy tè tè dưới nước do hai tên lính đứng lại tiểu tiện, lại hậm hực, rồi gâu gâu sủa lên một hồi. Tiếp theo là một giọng nói lơ lớ nặng chịch: "Ai kia? Ai kia?"... Chúng tôi vội ra hiệu cho nhau tụt nhẹ xuống, ngâm mình dưới nước đề phòng chó đánh thấy hơi người lạ. Giây lát hồi hộp qua đi. Tình hình vẫn yên tĩnh. À bọn này nói vu vơ bắt bóng - một thủ đoạn của địch mà chúng tôi vẫn thường gặp khi đi trinh sát. Nếu yếu bóng vía, nghe chúng hỏi vậy mà vội tháo chạy, thì dễ dàng bị chúng phát hiện. Lúc đó, tôi nghĩ đến một tình huống đã dự kiến. Thuốc nổ đă đặt xong, ngòi điện đã nối liên với nơi điều khiển. Theo quy ước, nếu bây giờ mà bị lộ thì ở trong này, chúng tôi hét "Xung phong", coi đó là hiệu lệnh chỉ huy - người điều khiển ở phía ngoài cứ việc chập điện cho bộc phá nổ!


Đứng gần nơi chúng tôi, hai tên lính gác cầu không phát hiện thấy một chút gì về những việc đang diễn ra ngay dưới chân nó. Sau một hồi lâu trò chuyện, chúng cùng nhau đi về phía đầu cầu. Tôi ra khỏi lồng sắt, bơi về kiểm tra cột số 1, rồi cùng anh em lần lượt rút ra ngoài chuẩn bị điểm hỏa.


Hai giờ mười lăm phút đêm 14 tháng 6 năm 1953, nhân dân ở các vùng phụ cận thuộc các huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc, ai cũng giật mình thức giấc vì một tiếng nổ vang trời. Trước mắt chúng tôi là một ánh chớp khổng lồ, xé rách màn đêm, soi sáng cả đoạn sông. Chiếc cầu đã được cắt phăng nhịp giữa. Các nhịp còn lại đều gục đầu xuống nước. Bọn địch ở hai đầu như bị đạp gẫy xương sống. Chúng hoảng loạn, kêu la, rồi các cỡ súng bắn như vãi đạn ra xung quanh. Chúng tôi sung sướng đã hoàn thành nhiệm vụ đánh phá cầu Bía, cắt đứt đường 17, góp phần cùng quân dân trong tỉnh thực hiện có kết quả kế hoạch chuẩn bị chống địch càn quét đánh phá vào khu căn cứ của ta.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 07:00:22 am
CHỌC THỦNG VÒNG VÂY TRÊN ĐƯỜNG 17
(Viết về trận đánh xe tăng địch, ngày 21-6-1953)


Tiếng súng càn quét của địch ở khu đông Gia Lộc - bắc Tứ Kỳ kéo dài đến tận tối 21 tháng 6 năm 1953.

Từ sáng sớm và cả ngày hôm đó, chúng tôi luôn nhận được thông báo của huyện đội Gia Lộc về tình hình địch ở khu vực này. Đạn súng nhỏ nổ liên hồi dồn dập, xen lẫn tiếng đại bác, súng cối và khói lửa bốc lên nghi ngút cả một vùng, cũng đủ để chúng tôi thấy được mức độ ác liệt mà quân địch đang đánh phá vào một khu căn cứ du kích của ta. Cán bộ và nhân dân các xã Hoàng Diệu, Quốc Tuấn (Gia Lộc), Hưng Đạo (Tư Kỳ) bị kẹt lại trong vòng vây khép kín của địch bởi hai con đường 17 và 191.


Trời đã tối mà xe tăng địch vẫn gầm rú, chạy đi chạy lại trên quãng đường từ bốt Trắm (Tân Lâm) đến Phương Điếm, nhằm ngăn chặn, không để cán bộ và nhân dân ta thoát khỏi khu vực chúng đang vây hãm.


Tại thôn Cẩm Đới xã Thống nhất - nơi đóng quân của chúng tôi ở Gia Lộc, cán bộ, chiến sĩ "S20" đã tổ chức một cuộc họp cấp tốc để thảo luận kế hoạch hành động, nhằm đánh phá vòng vây của địch trên đường 17. Chúng tôi đã phát động cả đơn vị tham gia ý kiến với ý thức của những chiến sĩ chiến đấu trên đất quê hương, mang nặng nghĩa tình với đồng bào, đồng chí đang nằm trong vùng địch càn quét - mà ở đó có cả gia đình, người thân của một số chiến sĩ đang có mặt tại đơn vị. Bằng tình thương nhân dân, với lòng căm thù giặc sâu sắc, cả đơn vị dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Hồng Nguyên1 (Sau trận đánh cầu Bía (14-6-1953), đồng chí Tân đội trưởng được cấp trên điều động đi công tác ở đơn vị mới. Tôi được đề bạt làm đội trưởng nên cuộc họp này do đồng chí Trần Hồng Nguyên - bí thư chi bộ - CTV chủ trì) đã sôi nổi thảo luận và chẳng mấy lúc, chúng tồi đã thống nhất một ý chí - quyết tâm phá bằng được vòng vây của địch ngay đêm nay. Nhiều đồng chí nêu ra cách đánh rất táo bạo. Có đồng chí đề xuất dùng súng bộ binh bắn uy hiếp như trước đây vẫn thường làm để truy kích xe địch lúc rút lui sau những trận càn quét. Có đồng chí đề nghị dùng thủ pháo đánh theo cách của anh hùng Cù Chính Lan trong chiến dịch Hòa Bình.


Tất cả những ý kiến của đơn vị nêu lên, chúng tôi đều phân tích chọn lọc và tính đến các điều kiện thực hiện, hiệu quả của nó, nhằm đạt được mục đích của trận đánh. Trận này, chúng tôi đánh nhằm phá vòng vây của địch để hỗ trợ cho cán bộ và nhân dân đang bị địch kìm kẹp ở vùng chúng đánh phá.


Sau khi bàn đi tính lại, chúng tôi quyết định dùng 2 quả mìn chống tăng (Anti - tank), đánh chung một hố để có sức nổ lớn, vừa diệt được xe địch, vừa cắt đứt được đường, buộc địch phải đình chỉ việc cho xe chạy đi chạy lại để khống chế mặt đường.


Tối hôm ấy, sau khi thống nhất với chính trị viên Trần Hồng Nguyên, tôi trực tiếp chỉ huy 7 cán bộ, chiến sĩ lên đường làm nhiệm vụ như đã bàn định. Nhờ ánh đèn pha của xe trong đêm tối, từ xa chúng tôi đã nắm được quy luật đi lại của địch: cứ 15 đến 20 phút, xe của chúng lại chạy qua đoạn đường này một lần.


Vượt qua đầu làng Ngà, chúng tôi vừa ra khỏi đầu làng Bung Đại, thì 3 xe tăng địch đã vượt qua trước mặt đi về phía Phương Điếm. Tranh thủ lên mặt đường, tôi cho anh em cứ dọc đường chạy ngược lại hướng Tân Lâm, nhằm tạo ra một khoảng cách tương đối giữa chúng tôi và xe địch khi quay lại, để có thời gian kịp chôn mìn. Chạy như thế được chừng 400m thì xe địch đã quay lại, ánh sáng của đèn pha dọi về phía chúng tôi. Thời gian không thế kéo dài, phải nhanh chóng tìm chỗ đặt mìn. Sợ đặt mìn không kịp, có anh em đề xuất cứ để cho xe chạy về Tân Lâm rồi hãy chôn mìn đón đánh lúc chúng chạy quay lên. Tôi không đồng ý làm như vậy. Nếu xe địch về Tân Lâm rồi không chạy tiếp nữa thì sao? Chờ cho đến sáng rồi đem mìn về hay sao? Gặp địch phải tranh thủ đánh ngay. Tôi nghĩ thế, rồi quyết định: Lợi dụng vũng nước mưa, xe vừa chạy qua làm tung tóe trên mặt đường, tập trung hai xà beng, nhanh chóng đào hố mìn. Cũng rất may mắn là đoạn đường này nền đường ít đá nên việc đào hố cũng thuận lợi. Thế mà đặt xong mìn, cũng chỉ kịp ngụy trang sơ bộ thì xe địch đã tiến gần đến nơi.


Chúng tôi rời khỏi mặt đường, ngâm mình xuống những thửa ruộng ngập nước ở ven đường. Vừa lúc đó, một tiếng nổ dậy đất làm chiếc xe tăng đi trước tung lên rồi chúi đầu ngay xuống hố mìn vừa nổ. Quãng đường đang sáng rực ánh đèn pha bỗng tắt ngấm. Các xe sau dừng lại bắn loạn xạ, rồi quay đầu chạy về Phương Điếm. Cả đêm ấy, không một chiếc xe nào của chúng dám chạy qua đoạn đường này nữa.

Vòng vây của địch trên đường 17 đã bị chúng tôi chọc thủng!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 07:01:26 am
ĐƯỜNG 20 - GIẶC PHÁT KHÓC!...


Sau trận đánh thắng diệt một xe díp và 3 tên địch trên đoạn đường 20 từ Kẻ Sặt đi Phủ Vạc hồi trung tuần tháng 2 năm 1953, đơn vị "S20" chuyển về cắm chốt tại thôn Cẩm Đới, huyện Gia Lộc để có điều kiện triển khai lực lượng đánh địch ở cả đường 17 và đường 20.


Tại đường 17, ở địa đoạn Đại Đồng, Quán Phấn, mìn của chúng tôi liên tiếp nổ trúng xe địch. Có ngày, ở đoạn đường từ vị trí Phương Điếm ra ngã ba đường 17, mìn đã nổ diệt 2 xe địch.


Với tinh thần thi đua giết giặc lập công, bộ phận phụ trách đánh địch ở đường 20 cũng không thua kém - đã đặt mìn đánh đổ nhiêu xe địch - đặc biệt là trận đánh ngày 22 tháng 7 năm 1953 tại đoạn đường gần khu vực đống Cô Quế. Đống Cô Quế là địa danh nhân dân địa phương thường gọi, nằm sát đường 20, ở quãng từ ấp Me Kiều về đầu làng Bình An. Hai bên đường là cánh đồng lúa nước, lại có thêm mấy cái "chuôm" sâu ở sát cạnh đường. Tại đây, đã nổ ra nhiều trận mìn, làm đường hư hỏng nặng, buộc địch phải sửa chữa để đảm bảo đi lại hàng ngày. Đó là một thuận lợi để chúng tôi tiếp tục đặt mìn vào đoạn đường mà bọn chúng mới sửa chữa tạm thời này. Tuy vậy, sau nhiều trận mìn liên tiếp nổ ra, bọn địch ở Kẻ Sặt đã ra tay đối phó. Chúng tăng cường máy dò mìn từ 1 lên 3 chiếc để rà quét trên đường, thường xuyên cho hàng chục con trâu đi quần trên mặt đường để phá mìn. Nhưng chúng đã bất lực! Chúng tôi xác định "Vỏ quýt dày, có móng tay nhọn" và kiên quyết phải tìm ra cách đánh phù hợp để chống lại có hiệu quả thủ đoạn đối phó của địch.


Sau khi bàn bạc thống nhất trong ban chỉ huy, chúng tôi quyết định tổ chức một trận đánh, làm cho bọn địch ở đường 20 phải khiếp sợ. Trận này, chúng tôi bố trí một trận địa mìn, nhằm đánh liên tiếp nhiều xe trong một ngày. Căn cứ vào quy luật hành quân vận tải và các thủ đoạn tìm mìn cùa địch, chúng tôi đặt 3 ổ mìn tự động đủ sức công phá để diệt gọn 3 xe vận tải ở đoạn đường mà chúng mới sửa chữa.


Để bảo đảm thắng lợi, chúng tôi áp dụng hai cách đánh "mìn chôn sâu, có ngõng gỗ và cột chống", gọi tắt là "mìn ngõng có cột chống" - nghĩa là đặt mìn sâu hơn cách đánh cũ chừng 30cm, đáy hố mìn đặt một miếng gỗ phẳng, đặt mìn nằm trên miếng gỗ, bốn góc chồng 4 cột làm bằng ruột cây chuối đã cắt buồng rồi đặt trên quả mìn một miếng gỗ có diện tích tương tự như miếng gỗ ở đáy hố. Phía trên miếng gỗ này có một khúc gỗ cứng làm ngõng để truyền lực ép từ phía trên xuống kíp mìn, làm cho mìn tự động nổ tức thời.


Trong một đêm mà đặt được 3 ổ mìn như thế vào trận địa là một việc không đơn giản. Chúng tôi quyết định, đêm 20-7, đặt mìn giả để thăm dò địch vào ngày hôm sau. Ngày 21-7, địch kiểm tra đường, không phát hiện thấy điều gì nghi ngờ, rồi đêm đó, chúng tôi đặt mìn thật vào những hố đã định sẵn. Mọi công việc được tiến hành rất cẩn thận. Tôi trực tiếp kiểm tra đặt mìn và ngụy trang lần cuối.


Sáng 22-7-1953, vẫn như thường lệ, quân địch từ Kẻ Sặt đi kiểm tra đường, 3 máy dò mìn của chúng vẫn rà quét tìm mìn. Đàn trâu đi theo vẫn hì hục bước trên đường. Những quả mìn của chúng tôi vẫn nằm im không nổ.


Sau khi hoàn thành việc kiểm tra mìn, bọn địch cho rằng đoạn đường này đã an toàn và cho thông đường, thông xe. Đến 10 giờ trưa ngày hôm đó, 3 chiếc xe vận tải chở hàng và lính bảo vệ xuất phát từ Kẻ Sặt chạy đi tiếp tế cho các vị trí chiếm giữ đường 20. Khi tới đoạn đường chúng tôi đặt mìn, có lẽ chiếc xe đi đầu lăn bánh không trúng nơi đặt mìn, nên quả mìn thứ nhất không nổ. Đoàn xe tiếp tục chạy lên thì một cột khói đen tung lên trùm kín chiếc xe thứ hai - quả mìn đón đầu trận địa đã nổ, làm chiếc xe này sụp xuống ngay tại chỗ. Các xe đi cùng lập tức dừng lại. Bọn lính bảo vệ và những tên còn sống sót tranh nhau nhảy xuống mặt đường, nổ súng ầm ĩ, rồi chạy đến xúm quanh chiếc xe vừa bị diệt.


Chiếc xe đi đầu, lúc này ở vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan” nên đành liều chết chạy lên. Vừa lăn bánh được chừng mươi mét, thì quả mìn thứ hai đã nổ hất nó ra bên đường. Bọn lính trên xe hoang mang khiếp sợ, phải gọi máy bay trực thăng đến cấp cứu, và đem lính đến kiểm tra lại đường. Khoảng 2 giờ chiều, các hố mìn vừa nổ đã được lấp lại, công việc giải quyết hậu quả được giải quyết xong xuôi và bọn chúng chắc mẩm mìn của chúng tôi đã nổ hết, rồi quyết định cho chiếc xe còn lại chạy tiếp! Chúng không ngờ, quả mìn thứ 3 của chúng tôi vẫn nằm im chờ chúng! Đúng như dự định, chiếc xe vận tải nặng nề chuyển bánh, bò lên được chừng 300m thì quả mìn cuối cùng trên trận địa đã không cho nó chạy thoát!


Trận đánh mìn ngày 22-7-1953, chúng tôi đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách đánh mới được áp dụng đạt hiệu quả chiến đấu cao - 3 quả mìn diệt ba xe địch trong một ngày và từ đó "mìn ngõng có cột chống" được áp dụng đánh địch ở cả đường 9 và đường 17.


Tiếp sau đó, chúng tôi còn đánh nhiều trận mìn ở đoạn đường Cây Đa, Quán Cháy, ấp Me Kiều, đống Cô Quế, đầu làng Bình An... phá hủy hơn chục chiếc xe nữa.


Nhiều trận mìn nổ ra liên tiếp làm cho địch khiếp sợ, không dám cho xe chở hàng tiếp tế cho các căn cứ ở Phủ Vạc, Thọ Chương... Có lúc vì sợ xe chạy vấp phải mìn, địch phải dùng máy bay trực thăng hoặc bắt tù nhân đi bộ khiêng vác thay phương tiện vận tải.


Hễ có xe địch chạy trên đường 20 là mìn của chúng tôi lại nổ. Thật là tình cờ và lý thú - "S20" đánh địch trên đường 20, đã diệt sạch sẽ số xe vận tải của tiểu đoàn ứng chiến số 20 của căn cứ Kẻ Sặt.


Từ Cẩm Giàng, chúng phái 4 xe vận tải chở hàng tiếp tế cho đường 20 do 4 tên da đen cầm lái. Khi bắt đầu vào đoạn đường mà địch thường gọi là "con đường mìn đây nguy hiểm", chúng cho xe dừng lại Cống Xộp ngồi khóc rồi cho xe quay lại! Từ đó, trong bài hát truyền thống của đơn vị do nhạc sĩ Huy Thanh sáng tác mới có câu: "Đường 20, giặc phát khóc, hết xe rồi, tắc đường giao thông..."


Cũng trong thời gian này, để đánh thắng địch bằng các loại mìn trên đường chạy xe cơ giới, cán bộ, chiến sĩ ”S20" đã tìm ra nhiêu cách đánh rất lợi hại. Mìn tự động chỉ nổ vào xe địch, không nổ vào những đàn trâu do địch dong đi phá mìn. Áp dụng "mìn điện tự động" đánh ở đường bộ hạn chế tác dụng của máy dò mìn; tìm ra cách đánh ’’mìn ngõng có cột chống" đế chống lại thủ đoạn của địch dùng trâu đi quân trên mặt đường để phá mìn. Đặc biệt, chúng tôi đã tự tạo được một loại mìn để diệt những tên dò mìn. Loại mìn này, được đặt tên là "mìn sờ" - nghĩa là địch phát hiện thấy mìn, đến đào hố lấy mìn, chỉ mới gạy sờ vào mặt đất là mìn nổ ngay!


Máy dò mìn hiện đại của địch mất tác dụng trước kỹ thuật đánh mìn khôn khéo của cán bộ, chiến sĩ "S20". Ở đường 17, có lần địch đập nát máy dò mìn, vì toán quân tìm mìn đi trước, xe yểm trợ chạy theo sau lại bị nổ tan xác vì mìn. Ở đường 9, đường 20, nhiều lúc địch khiếp sợ vì mìn, đã bắt hàng chục con trâu của dân đi quân trên mặt đường để tìm mìn thay cho máy dò mìn hiện đại. Nhưng chúng vẫn bất lực, mìn của chúng tôi vẫn không ngừng nổ vào những đoàn xe của chúng.

   ... Anh em ta luôn tìm ra sáng kiến,
   Nhờ chiến sĩ "T"1 (Chiến sĩ "T" là chiến sĩ Nguyễn Huy Trường) đầu tàu dắt dìu.
   Tây dong trâu, dắt qua mìn, mìn không nổ,
   Một xe tăng vụt qua là tan tành xác...

Câu hát ấy, nhạc sĩ Huy Thanh đã ghi lại sự sáng tạo trong quá trình chiến đấu đầy mưu trí của cán bộ, chiến sĩ đánh mìn "S20". 


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:36:50 am
HỌP MẶT CÁN BỘ CHIẾN SĨ S20 (HẢI DƯƠNG)

16 cán bộ chiến sĩ "S20" họp mặt nhân ngày Quốc phòng tòan dân 1992 tại trận địa của Cẩm Giàng

* Từ trái sang phải - hàng đứng phía sau:

1. Đ/c Quyết, thôn Lai Cầu - Gia Lộc

2. Đ/c Đoàn Văn Ninh - Kim Anh, Kim Môn

3. Đ/c Hồng - Cẩm Đới, Gia Lộc

4. Đ/c Nguyễn Văn Nam - Mao Điền, Cẩm Giàng

5. Đ/c Nguyễn Huy Trường - Kim Anh, Kim Môn

6. Đ/c Trần Hồng Nguyên - Văn Thai, Cẩm Giàng

7. Đ/c Nguyễn Văn Tản (Tuy) - An Điền, Cẩm Giàng

8. Đ/c Bái - Đan Tràng, Cẩm Giàng

9. Đ/c Nguyễn Tiến Thái - Phú Lộc, Cẩm Giàng

* Từ trái sang phải - hàng ngồi phía trước:

10. Đ/c Lợi - Lai Cách, Cẩm Giàng

11. Đ/c Giao - Lai Cách, Cẩm Giàng

12. Nữ đ/c Rào - Cẩm Giàng

13. Đ/c Dương Văn Quế - Kim Anh, Kim Môn

14. Đ/c Ngát - Lý Dương - Binh Giang

15. Đ/c Nhẩn - Lai Cách, Cẩm Giàng

16. Đ/c Hoàng Kỳ - Đại Đức, Kim Môn


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:37:57 am
"MÌN SỜ” - NỖI KINH HOÀNG CỦA NHỮNG TÊN LÍNH DÒ MÌN!


Ở những đoạn đường có tàu xe qua lại trong vùng kiểm soát của địch, hàng ngày chúng phải xua quân đem các máy dò mìn rà quét xục xạo trên đường để tìm mìn. Mỗi khi phát hiện thấy mìn, chúng nổ súng, bủa vây rồi đào lấy mìn về nộp cho bọn chỉ huy và nhận tiền thưởng.


Tuy không phải là đối tượng tiêu diệt, nhưng bọn dò mìn đã trở thành mối đe dọa nguy hiểm hàng đầu đối với những người đánh mìn. Vì vậy, trước hết chúng tôi phải tìm mọi cách để chiến thắng mọi thủ đoạn tìm mìn của bọn này, mới có thể bảo đảm cho các trận đánh mìn thắng lợi!


Chúng tôi đã thắng chúng bằng cách đánh với kỹ năng nghề nghiệp của mình, nhưng cũng có trận chúng tôi bị chúng lấy mất mìn.


Người chiến sĩ đánh mìn mà bị địch lấy mất mìn thì có biết bao nỗi cơ cực. Tôi còn nhớ, trong trận đánh xe lửa trên quãng đường Quỳnh Khê - Phương Duệ, tôi được ở lại gốc dây mìn cùng tiểu đội trưởng Quyết để điều khiển mìn. Sáng sớm hôm đó, bọn địch tuần tra phát hiện thấy mìn và bủa vây chúng tôi. Trước tình thế không thể làm khác được, anh Quyết hạ lệnh cho chúng tôi dí điện phá hủy mìn. Tôi thực hiện mênh lệnh ngay. Nhưng thật đáng tiếc, địch đã cắt đứt dây mìn! May mắn cho chúng tôi thoát được vòng vây của chúng để trở về đơn vị.


Trận đánh bị thất bại này đã cho tôi nhiều bài học sâu sắc. Trong những năm tháng chiến đấu trên mặt trận đánh phá giao thông địch, hầu như không trận đánh mìn nào, chúng tôi không phải đối phó vất vả với chúng nó. Bọn dò mìn là đối tượng nguy hiểm, là kẻ thù trực tiếp của những chiến sĩ đánh mìn chúng tôi. Mỗi khi nhìn chúng đưa đẩy chiếc máy dò mìn trên những đoạn đường đã đặt mìn, chúng tôi chỉ muốn xông lên tiêu diệt lập tức bọn chó săn theo giặc này. Từ lâu, tôi đã có một ý định: "Phải tìm cách đánh tan xác những tên dò mìn, để bảo đảm cho những trận mìn thu được thắng lợi".


Trong trận đánh xe tăng địch trên đường số 9 ngày 21-5-1953, tôi có giao ước với các chiến sĩ xung kích: "Tôi quyết tâm đánh trúng chiếc xe đi đầu, nhưng các đồng chí phải bắt bằng được cho tôi một thằng dò mìn". Tôi đã làm đúng lời hứa và các chiến sĩ đại đội 75 cũng đã bắt được tù binh, trong đó có một tên lính dò mìn.


Nhận được tin báo, tôi đến ngay nơi tạm giữ tù binh để gặp tên lính dò mìn mà bốn ngày qua ở trận địa, sáng nào tôi cũng theo dõi nó. Qua sự gặp gỡ này, tôi khai thác những khía cạnh cần thiết cho việc chống thủ đoạn dò mìn của chúng. Tôi hỏi:

- Anh làm nhiệm vụ dò mìn trong đội quân tuần tiễu sáng nay phải không?

- Thưa... từ trước tới nay, em chỉ làm lính dò mìn thôi ạ. Em chưa hề cầm súng và chưa bắn một viên đạn nào bao giờ!


Nó tưởng làm lính dò mìn là nó nhẹ tội, nên trả lời tôi có vẻ không e ngại. Nhưng nó đã không biết người đang đối thoại với nó là ai?

Nghe tên tù binh thú tội "Từ trước tới nay chỉ làm lính dò mìn", tôi liên tưởng đến những lần bị chúng lấy mất mìn, căm tức hỏi:

- Trong đời làm lính dò mìn cho giặc, anh đã tìm thấy của chúng tôi bao nhiêu quả mìn?

- Thưa anh, tìm được mìn của các anh không phải là dễ. Ngay sáng nay, mìn của các anh đặt ở trên đường nhiều như vậy, mà chúng em cũng không tìm được dấu vết của quả mìn nào!

Tôi hỏi cắt ngang để thăm dò:

- Tại sao các anh lại không tìm thấy mìn?

- Thưa anh, máy dò mìn chúng em sử dụng vẫn hoạt động bình thường, nhưng không hề có dấu hiệu nào nghi ngờ. Vả lại, chúng em đi bộ bốn, năm cây số, lưng đeo hòm điện, tay vác máy nặng nề, có phải chỗ nào chúng em cũng chú ý được cả đâu. Chúng em chỉ dò kỹ ở những nơi có dấu vết nghi ngờ trên mặt đường mà thôi!


Nghe tên tù binh nói có lý, tôi nghĩ đến biện pháp hàng đầu để chống máy dò mìn là kỹ thuật ngụy trang khi chôn mìn. Tôi hỏi tiếp:

- Anh nghĩ về số phận của những người lính dò mìn như thế nào?

Với giọng kể lể phân trần, tên lính ngụy đáp:

- Chúng em bị bắt buộc vào lính. Cuộc đời của lính dò mìn chúng em là cả một chuỗi ngày đây lo sợ! Đi dò mìn, lúc nào cũng vác máy nghênh ngang giữa đường rất dễ bị các anh bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu trong những trận phục kích; kiểm tra đường rồi mà vẫn có mìn nổ thì cũng bị tù hoặc mất đầu; phát hiện thấy mìn lại là điều đáng sợ nhất!

- Tại sao các anh lại sợ nhất khi phát hiện thấy mìn?

Tên lính dò mìn ngồi lặng đi giây lát như để hồi tưởng lại một điều gì khủng khiếp đã xảy ra trong quá khứ, rồi nói:

- Chúng em sợ nhất điều này, vì trước đây, mấy anh bạn của em cũng làm công việc như em đã bị tan xác khi phát hiện thấy mìn, vào đào hố lấy mìn!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:38:42 am
Nghe nó giải thích, đầu óc tôi lóe lên một ý nghĩ: Phải tìm cách diệt những tên lính dò mìn để chúng phải khiếp sợ mỗi khi nghĩ đến mìn. Phải diệt những tên lính dò mìn bằng chính quả mìn mà chúng phát hiện.


Tôi nghĩ về một quả mìn như thế. Mìn thì dễ thôi, chỉ cần một quả đại bác, quả đạn súng cối của địch không nổ, hoặc vài ba lạng thuốc "TNT" là tôi có thể làm thành những quả mìn rất lợi hại. Nhưng làm thế nào để bọn lính dò mìn, khi phát hiện thấy mìn, chỉ mới sờ vào mặt đất nơi hố mìn, là mìn nổ ngay - đó là điều mà tôi đang suy tính.


Muốn cho mìn nổ, phải có bộ phận điều khiển nổ. Thế là các cỡ "cạm điện", "mìn điện" đánh tàu, đánh xe lần lượt xuất hiện trong đầu óc tôi. Tôi xác định phải dùng "mìn điện tự động" thì mới diệt được bọn này. Nhưng cho mìn nổ bằng cách nào? Không thể dùng "cạm điều khiển" tác động bằng lực nén từ trên xuống như các loại mìn thường dùng để đánh tàu, đánh xe. Cách đánh này đòi hỏi "cạm điều khiển" phải tác động bằng lực đẩy từ dưới lên; có như vậy, khi bọn địch phát hiện thấy mìn, chỉ mới bới nhẹ trên mặt đất làm bộ phận đẩy lên của "cạm điện" hoạt động thì mìn lập tức nổ.


Từ tỉnh đội về đơn vị đã giúp tôi hoàn thành bản thiết kế trong đầu óc một quả mìn chuyên dùng để diệt những tên địch làm nhiệm vụ dò mìn. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc chế tạo, thử nghiệm bộ phận điều khiển nổ của quả mìn mà tôi vừa nghĩ ra. Kết quả thử nghiệm cho biết: Sự gây nổ của bộ phận điều khiển thực hiện rất nhạy và chính xác. Cả ngày hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục hoàn thiện hơn nữa các chi tiết cấu tạo của mìn và cách đánh kiểu mìn này, đặt tên cho nó là "mìn sờ".


Quả "mìn sờ" đầu tiên được chế tạo bằng quả đạn súng cối 81 ly của địch không nổ, do anh em du kích Gia Lộc đào được, đem đến cho chúng tôi từ mấy ngày trước đây. Chúng tôi đánh thí điểm quả mìn này tại một địa điểm gàn Quán Phấn, đường 17, nhăm diệt tốp lính dò mìn vẫn thường tìm mìn trên quãng đường từ nhà thờ Hui đến Phương Điếm.


Vào một đêm cuối tháng 12 năm 1953, chúng tôi đem mìn lên đường làm nhiệm vụ. So với lúc thử nghiệm ở nhà thì bây giờ thực tế có những điểm phải chú ý hơn. Cả ba bộ phận của một hệ thống là mìn, cạm điều khiển, ống pin, đều đạt chung trong một hố. Quá trình đặt một ổ mìn như thế, nếu để xảy ra một sự nhầm lẫn dù chỉ là nhỏ thì lập tức mìn sẽ nổ, người đặt mìn chết. Để bảo đảm chắc chắn cho trận đánh thí điểm, đêm nay tôi đảm nhiệm toàn bộ công việc đặt ổ mìn này. Mọi việc được thực hiện hết sức tỉ mỉ, thận trọng, bảo đảm an toàn.


Sáng sớm ngày hôm sau, toán quân đi kiểm tra đường vác máy dò mìn rà quét trên đường, đã phát hiện thấy dấu hiệu nghi ngờ mà chúng tôi cố tình để lộ. Chúng nổ súng báo động, hò la, hí hửng tưởng như sắp đào được vàng. Năm tên lính ngụy, thằng đứng, thằng ngồi, xúm xít xung quanh chỗ chúng tôi đặt mìn. Đúng như dự kiến, khi chúng đào lấy mìn thì một cột khói đen bốc lên dựng đứng - quả đạn cối 81 ly đã phát ra một tiếng nó đanh mạnh, làm tan xác cả 5 tên địch.


Quả "mìn sờ" đầu tiên đã nổ rất đẹp và đem lại kết quả đúng như dự kiến. Đánh trận đầu thắng lợi, chúng tôi rút kinh nghiệm, tiếp tục hoàn thiện cách đánh mới để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người đặt mìn, hoặc khi phải gỡ mìn đem về thì cũng không xảy ra sự cố nguy hiểm. Rồi trận thứ hai được tổ chức đánh tại đường 9, gần An Thể (Tứ Kỳ). Trận này chúng tôi đánh kết hợp "mìn sờ" với mìn đánh xe cơ giới, hai quả mìn tự động đánh xe đặt cách nhau 200 mét. Phía trước, chúng tôi bố trí một ổ "mìn sờ" chế tạo trong quả đạn pháo 105 ly nhằm diệt bọn lính dò mìn để bảo vệ hai quả mìn ở trận địa chính.


Sáng 18-1-1954, vẫn như thường lệ, toán quân tuần tra của địch từ thị trấn Ninh Giang kéo nhau đến đoạn đường chúng tôi đặt mìn. Ba tên lính vác máy dò mìn ra quét trên đường. Tên vác máy đi đầu vừa tới nơi có quả "mìn sờ" đã hốt hoảng hét to: "Mìn! Có mìn!... Mìn!...”. Hai tên đi sau vác máy vội chạy đến, rà đi rà lại rôi cũng hét lên: - "Đúng rồi, đúng có mìn rồi!".


Nghe báo có mìn, những tên lính làm nhiệm vụ sục sạo chạy nhốn nháo trên đường, có tên nằm sụp xuống ven đường, nổ súng vu vơ. Tên chỉ huy đi phía cuối, hớt hải chạy lên, vừa chạy vừa la: - "Cứ để nguyên, tao coi... Cứ để nguyên, tao coi...". Ba tên lính sục sạo cũng vác súng chạy theo nó. Tôi đoán, có lẽ bọn này thi nhau chạy đến đào mìn để lập công nhận thưởng!


Khi tới nơi vừa phát hiện có mìn, tên chỉ huy vội vàng kiểm tra máy dò mìn rồi cũng reo lên: "Đúng rồi, đúng có mìn rồi. Để tao coi..!".


Tên chỉ huy vừa cúi người, đưa tay rờ rờ xuống mặt đất thì nó và 6 tên đứng xung quanh đă biến mất trong cột khói đen và tiếng nổ dữ dội của trái đạn pháo 105 ly. Quả "mìn sờ" thứ 2 đã nổ, kết liễu đời của 7 tên lính sục sạo dò mìn. Những tên còn lại hốt hoảng, nổ súng ầm ĩ. Sau một hồi lâu, nhận thấy không có sự tiến công tiếp theo của Việt Minh chúng mới dám kéo nhau ra lấy xác đồng đội, lấp hố mìn, khôi phục giao thông.


Bọn dò mìn sững sờ, với những chiếc máy tìm mìn hiện đại đã bị quét sạch bởi quả mìn vừa nổ, mặt khác phải tập trung vào việc giải quyết hậu quả, nên đoạn đường còn lại, chúng bỏ luôn không kiểm tra nữa. Hai quả mìn tự động đánh xe của chúng tôi đặt ở đoạn đường này vẫn giữ được nguyên vẹn và đến chiều hôm đó, đã nổ trúng hai xe vận tải của địch chạy từ phía Kiến An về Ninh Giang.


"Mìn sờ" là một loại vũ khí mới tìm ra, chủ yếu dùng vào việc diệt bọn lính dò mìn trên các đường giao thông. Không để cho địch tìm cách đối phó, sau trận thứ hai ở đường 9 đạt hiệu quả chiến đấu cao, chúng tôi đã chỉ đạo đơn vị áp dụng "mìn sờ" đánh rộng ra những con đường có địch tuần tiễu để tranh thủ thời cơ diệt bọn lính dò mìn càng nhiều càng tốt. Thế là, "mìn sờ" liên tiếp nổ ra ở đường 17, đường 20 và nổ lên cả trên đường 5. Tôi trực tiếp đánh 7 quả, diệt 32 tên dò mìn. Các đồng chí Đặng Văn Đính, Nguyễn Văn Cứ - đội phó cũng chỉ huy đơn vị đánh nhiều ổ "mìn sờ", diệt hàng chục tên địch.


"Mìn sờ" ra đời và áp dụng đánh trên khắp mọi nẻo đường làm cho bọn địch khiếp sợ! Và từ đó, mỗi khi phát hiện hoặc nghi nơi có mìn, chúng phải đứng thật xa, dùng lựu đạn hoặc súng nã vào cho đến lúc nát cả mặt đường mà không thấy tiếng nổ, mới dám đến tận nơi khám xét!


"Mìn sờ" thật sự đã trở thành nỗi kinh hoàng của những tên lính dò mìn!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:39:44 am
ĐÁNH VÀO ĐƯỜNG SẮT PHỐI HỢP VỚI ĐIỆN BIÊN PHỦ


Tiếng súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ vừa nổ, thì cũng là lúc chúng tôi đánh vào đường số 5. Với khẩu hiệu "Không ngừng tiếng súng, không ngừng tiếng mìn trên đường 5 để phối hợp với Điện Biên Phủ", đêm 13-3-1954, bộ đội ta đã tiến công san bằng hàng chục đồn bốt của địch trên đất Kim Thành, Cẩm Giàng. Trong đêm ấy, đơn vị "S20" được phân công dùng mìn chặn quân tiếp viện của địch ở cổng Chông phía bắc thị xã Hải Dương. Sau đó, được lệnh của tỉnh đội chia đơn vị làm hai bộ phận - một cắm chốt ở Gia Lộc để đánh địch ở đường 17 và đường 20, một bộ phận do tôi trực tiếp phụ trách, lên phía bắc Cẩm Giàng để đánh địch trên đường sắt. Từ đó, chúng tôi đã liên tục chiến đấu ở đoạn đường từ thị xã Hải Dương đến thị trấn Cẩm Giàng cho đến ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc.


Lúc này, trình độ kỹ thuật, chiến thuật đánh mìn của ta đã phát triển lên mức độ cao. "Mìn điện tự động" đã được chúng tôi vận dụng đánh địch một cách phổ biến trên đường sắt Cẩm Giàng và đã nghiên cứu nâng cách đánh này lên đỉnh cao mới, giải quyết thành công "mìn điện tự động" đánh trúng đầu tàu đối với bất cứ quy luật đi lại hoặc bố trí đoàn tàu của địch theo kiểu nào. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu hoàn chỉnh "mìn điện bán tự động" đặt ở vị trí thích hợp để lựa chọn đánh vào những mục tiêu theo ý muốn - tạm gọi là "mìn điên tự động theo ý muốn", nhằm đánh những đoàn tàu quân sự, loại bỏ tàu dân sự.


Với cách đánh lợi hại này, gần 150 ngày đêm chiến đấu ở đất Cẩm Giàng, chúng tôi đã đánh hàng chục trận mìn trên đường sắt, phá hủy 17 đầu tàu, lật đổ 85 toa xe chuyên chở binh lính, vũ khí, hàng quân dụng của địch chi viện cho đồng bọn đang bị quân ta bao vây ở Điện Biên Phù và các chiến trường. Những đoạn đường Hán Thượng, Đồng Niên, Cao Xá, An Tĩnh, Đức Trạch, Chùa Dê, Mai Trung, Kinh Nguyên, Ngặt Kéo... là những địa danh mãi mãi ghi lại chiến công oai hùng của những chiến sĩ đánh mìn "S20" trong thời gian chiến đấu phối hợp với bộ đội chủ lực của ta ở mặt trận Điên Biên Phủ năm 1954.


Mỗi trận đánh là một chiến công. Mỗi chiến công đều có những đặc sắc riêng của nó. Một số trận đánh tiêu biểu nổ ra trong những ngày tháng 4, tháng 5 năm ấy, đã để lại cho chúng tôi những điều kỳ diệu khó quên.


Ngày mồng 6 tháng 4 nãm 1954, trên quãng đường Đồng Niên - Cao Xá, chúng tôi thực hiện một trận đánh liên hoàn - cả đường sắt lẫn đường bộ (đường phụ cận đường tàu), kết hợp "mìn điện tự động" đánh tàu với "mìn chống tăng" và "mìn sờ" để diệt xe và binh lính của chúng đến giải quyết hậu quả sau khi lật đổ các đoàn tàu.


Trận này, chúng tôi đặt 2 quả mìn đánh trên đường sắt, mỗi quả 40 cân thuốc nổ, cách nhau chừng 500 mét, để đánh 2 đoàn tàu trong ngày. Tại hố đặt "cạm điện" của 2 quả mìn này, mỗi hố chúng tôi đặt một ổ "mìn sờ", nhằm diệt những tên địch đến móc lấy hòm điện sau khi những quả mìn đã nổ tung trên đường sắt; và đặt 2 quả chống tăng ở đường phụ cận nằm sát đường tàu để đón đánh những chiếc xe đến giải quyết chiến trường.


Trận đánh đã diễn ra đúng kế hoạch. Cả 5 quả mìn đều nổ rất chính xác. Một ngày lật đổ 2 đoàn tàu quân sự của địch, phá hủy một xe tăng, một xe díp chở 2 tên sĩ quan đến quan sát trận địa. Hai quả "mìn sờ" cũng diệt hơn 10 tên địch. Quang cảnh trận địa ngổn ngang tàu đổ, binh lính địch ngược xuôi cả ngày mà không giải quyết xong hậu quả. Đêm đó, chúng phải cho xe tăng đến mai phục và bắn cầm canh suốt đêm để bảo vệ những đoàn tàu bị lật đổ. Đường sắt bị cắt đứt, giao thông vận tải bị ngừng trệ hoàn toàn suốt 3 ngày.


Sau đó không lâu, cũng đoạn đường này, với kế nghi binh, chúng tôi đã đánh thắng một trận rất bất ngờ đối với địch. Đêm mồng 2 tháng 5 năm 1954, tổ đào hố mìn đang làm nhiệm vụ, thì bỗng có hàng loạt súng trung liên bắn xối xả vào chỗ chúng tôi, làm một chiến sĩ bị thương nhẹ. Tôi ra lệnh nổ súng bắn lại và cho anh em nhanh chóng rút khỏi mặt đường. Đồng chí Đính - đội phó, phát hiện thấy địch bắn ra từ trong những toa tàu bị lật đổ lần trước, liền có sáng kiến rúc lên những hồi còi gay gắt chói tai rồi hô to: "Không được bắn, đuổi bắt sống lấy chúng nó!"... Được đà, tôi cũng hô tiếp: "Trung đội 1 bên phải, trung đội 2 bên trái - đuổi bắt sống lấy chúng nó!". Thực ra, lúc đó chúng tôi chỉ có hơn 10 người với 4 khẩu súng trường, 2 tiểu liên, còn lại là mìn, dây điện, xà beng, thúng và vải bạt dùng để đựng đất đá khi đào hố mìn.


Thấy chúng tôi hô dõng dạc, mạnh mẽ và còi rúc liên hồi, bọn địch phục kích hoảng sợ, bỏ chạy về bốt Đồng Niên, dùng súng cối và đại liên bắn ra uy hiếp. Sau một hồi bọn chúng bắn vu vơ, trận địa trơ lại yên tĩnh. Chúng tôi lên mặt đường xem xét tình hình rồi chuẩn bị đánh tiếp. Bị địch nổ súng bất ngờ, chúng tôi không kịp thu dọn, nên lúc này đất đá mới đào lên tung tóe cả xung quanh hố mìn. Thấy vậy, tôi nảy ra một ý định: đánh tiếp ngay vào những hố mìn đang đào dở dang này, mặc dầu địch đã phát hiện được chúng tôi cách đây mấy chục phút.


Sau khi kiểm tra tình hình, bố trí lại các tổ bảo vệ, chúng tôi lại đào thật sâu hố cũ, khoét ngang sang một bên, đặt quả mìn 40 cân vào đó, lấp chặt đất đá đến lưng chừng hố, rồi để hở không ngụy trang. Làm như vậy để đánh lạc hướng quân địch - cho rằng, sau khi bị bắn dữ dội, chúng tôi đã bỏ chạy không đánh nữa. Thực tế chúng tôi đã đặt xong 2 ổ mìn theo kiểu này cách nhau chừng 300 mét để đón đánh hai đoàn tàu trong ngày.


Đúng như dự đoán, sáng hôm sau (3-5-1954), bọn địch từ bốt Đồng Niên đi kiểm tra đường. Vừa tới nơi chúng tôi đặt mìn, thấy đất đá rơi vãi tứ tung và miệng hố đào dở còn bỏ nguyên đó, chúng liên kêu lên: "Đ... mẹ nó, đêm qua không nã đạn vào bọn Việt Minh thì hôm nay mất đầu cả lũ!". Nói xong, chúng gọi nhau lấy đất đá lấp chặt hố mìn, rồi yên trí đi tiếp về phía Cao Xá. Mìn của chúng tôi đã giữ được bí mật và sẵn sàng chờ nổ.


Khoảng 9 giờ sáng, đoàn tàu từ Hải Phòng vượt qua thị xã Hải Dương, đang hối hả lao về phía Hà Nội. Khi đến nơi chúng tôi đặt mìn - một tiếng nổ dậy đất - quả mìn có sức công phá bằng 40 cân thuốc nổ, đã nổ vào 3 toa cuối cùng chở lính, làm chết và bị thương 120 tên địch. Bọn chúng phải đưa 6 xe vận tải đến lấy xác chết.


Sau khi giải quyết xong hậu quả, cắt bỏ lại 3 toa phía cuối, đến quá chiều ngày hôm đó, đoàn tàu này chạy tiếp và khi tới quả mìn thứ 2, chiếc đầu tàu đã bị trúng mìn vỡ toác, kéo đổ theo 2 toa nữa. Việc vận chuyển trên đường sắt bị ngừng trệ cả đến ngày hôm sau.


Trận đánh nghi binh, biến bại thành thắng, đã phá hủy một đầu tàu, 5 toa xe, diệt 120 tên địch. Vì thế, trong buổi họp mặt mừng công ở đơn vị, một đồng chí cao hứng đã sáng tác một bài hò (theo điệu hò lơ) :
   Ai về Cao Xá, Đồng Niên
   Mà xem mưu mẹo đánh mìn của ta,
   Chôn mìn, hố để hở ra,
   Lính dò mìn đến giúp ta lấp vào.
   Tàu qua, mìn nổ lật nhào,
   Hỏi rằng tài trí ai nào hơn ai!


Nhiều trận mìn của chúng tôi nổ ra, vận tải đường sắt của địch liên tiếp bị cắt đứt. Để bảo vệ con đường chiến lược quan trọng này nhằm duy trì sự vận chuyển chi viện cho các chiến trường, đặc biệt là chi viện cho các binh đoàn đang bị quân ta bao vây ở Điện Biên Phụ, đêm đêm bọn địch phải tung lực lượng đi phục kích, canh giữ từng đoạn đường, rải mìn ở các lối đi nhằm ngăn chặn và phát hiện không để một ai có thể đặt chân lên đường sắt. Ở những đoạn đường không có điều kiện rải quân bảo vệ thì có đêm chúng dùng pháo bắn cầm canh để uy hiếp, khống chế không cho chiến sĩ ta lên đường đặt mìn.


Phản ứng gay gắt của địch đã đem lại cho chúng tôi những khó khăn không nhỏ. Nhiều đêm bám đường, bám địch mà cũng không lên được đường làm nhiệm vụ, có lần còn xảy ra thương vong đối với một số chiến sĩ lên đường làm nhiệm vụ trinh sát do vấp phải mìn của địch.


Không thể ngồi khoanh tay trong lúc yêu cầu chiến đấu đang đòi hỏi khẩn trương. "Vỏ quýt dày, có móng tay nhọn", dần dần chúng tôi cũng tìm ra cách đối phó lại địch. Chúng tôi tổ chức lực lượng đánh đuổi tụi quân phục kích, buộc chúng phải giam chân trong đồn bốt, ban đêm không dám tung lực lượng ra đường; thành lập nhóm trinh sát tháo gỡ mìn và thường xuyên bám sát địch; chuẩn bị lực lượng sẵn sàng bám đường để chớp thời cơ quân địch sơ hở là lên đường đặt mìn được ngay. Thời kỳ này, đặt được một quả mìn vào đường sắt là một sự giành giật từng giờ, từng phút, từng đoạn đường với địch rất quyết liệt, có lúc còn tốn cả xương máu của chiến sĩ. Nhưng khó khăn hơn nữa lại là chúng tôi phải tìm ra cách đánh như thế nào trước thủ đoạn đối phó của địch để đạt hiệu quả chiến đấu cao. Đây là một việc cấp bách đòi hỏi phải vắt óc mà tìm ra cách đánh cho phù hợp với thực tế chiến trường. Chúng tôi đã tìm được cách đánh tốt hơn - cách "đánh trực tiếp" - nghĩa là mìn và "cạm điện" cùng một hố. Chúng tôi đã áp dụng cách này trên đường sắt Cẩm Giàng cho đến ngày hoà bình lập lại. 7 giờ sáng ngày 27-7-1954, khi Hiệp định đình chiến ký kết giữa ta và Pháp có hiệu lực - quả mìn cuối cùng của "S20" còn đặt ở đoạn đường Mai Trung - Kim Nguyên thuộc đất Cẩm Giàng đã được chúng tôi đào lên và khiêng về trước sự ngỡ ngàng, thất vọng của những tên lính viễn chinh bại trận!


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:40:58 am
TƯ LIỆU


(https://i.imgur.com/a1fUlfE.jpg)


Thân gửi đồng chí Quang Vinh, Nguyễn Huy Trường
   (Chiến sĩ thi đua Quân đội)

   Tôi thân ái gửi lời thăm 2 đ/c. Chúc 2 đ/c mau khỏe.
   Tôi đang bị ốm sơ, chi ủy hôm qua có cho tôi 10 quả trứng gà và 1 nải chuối.  Tôi chia gửi biếu 2 đ/c 10 quả trứng gà. Mong 2 đ/c nhận lấy.

Thân ái
NGUYỄN CHÍ THANH

Tư liệu do Bảo tàng QK3 cung cấp


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:10:56 pm
TRẬN HÓA TRANG TẬP KÍCH CỦA 24 NỮ DU KÍCH ĐÁNH BỌN ĐỊCH
GIỮA BAN NGÀY Ở CHỢ THỌ TRƯƠNG
(THANH MIỆN)


TRẦN THỊ NÚI
(tức Xuân Liên)


Trận đánh xảy ra ngày 1-3-1953, đã trên 40 năm. Là người được trực tiếp tham gia trận đánh, tôi muốn ghi lại trận đánh này bằng người thực việc thực, hy vọng giúp phần nào cho sự nghiên cứu kinh nghiệm của nữ du kích đánh giặc.


Chợ Thọ Trương nằm ở phía đông bắc thôn Thọ Trương thuộc xã Lam Sơn, chia làm 4 thôn: thôn Thọ Trương nằm giữa và là thôn to nhất, thôn Kim Trang ở xóm đông có một nhà thờ nhỏ, có mấy gia đình giáo dân, phía tây có thôn ấp Lam Sơn, phía tây nam là thôn Thọ Xuyên. Các xã bên cạnh có xã Phạm Kha, Đoàn Tùng, Hồng Quang. Mặc dù địch o ép, khủng bố và bắt phải lập hội tề nhưng tất cả chánh phó hương chủ đều do ta cử ra, lựa chiều đấu tranh hợp pháp với giặc, bảo vệ quyền lợi nhân dân. Trừ một vài tên ngầm làm chỉ điểm cho giặc, còn đại bộ phận nhân dân một lòng một dạ hướng về kháng chiến.


Chợ Thọ Trương chỉ cách bốt quận Trương có 70m và chung quanh địch đóng quân dày đặc. Phía tây bắc, cách 1,5 km có tháp canh nhà thờ Gừng, thôn công giáo toàn tòng phản động khét tiếng. Phía đông bắc, có tháp canh nhà thờ Đọ. Phía đông có tháp canh nhà thờ Ba Đông. Phía đông nam là bốt Triệu Nội có 1 đại đội lính địch, chính nam có bốt Neo đóng 1 đại đội. Phía tây nam là tháp canh nhà thờ An Lạc và bốt Hoành Bồ. Mỗi nơi chỉ cách chợ Trương khoảng từ 1,5 km - 2 km. Riêng quận Trương là quận hành chính, sự hoạt động của địch nặng về mơn chớn, phỉnh phờ, lừa bịp dân, thường tung chỉ điểm ngầm báo cho chúng những tin về hoạt động của ta. Cán bộ, dân quân - du kích không ít bị chỉ điểm vây bắt và giết chết như trận vây bắt và giết chết 5 du kích ở ao làng Thọ Trương, trong đó có anh Vũ Thuật và Đỗ Kiểm bị bắn chết ngay tại chỗ. Anh Nguyễn Văn Thạch lúc đó là bí thư chi bộ cúng bị bắn chết ngay ở cầu cuối đường 20.


Hàng ngày, chợ Trương có từ 20 - 30 tên bảo hoàng vào chợ để kiểm soát và quấy nhiễu nhân dân. Nhằm tiêu diệt bọn lính bảo hoàng này, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ và hướng dẫn của Ban chỉ huy Huyên đội Thanh Miện mà trực tiếp là đồng chí Điều, huyện đội trưởng, đảng ủy, UBKCHC và xã đội Lam Sơn hạ quyết tâm sử dụng nữ du kích giả làm người đi chợ trà trộn đột nhập vào chợ Trương lúc chợ đông, dùng đấu đong, đòn gánh, dao găm tập kích địch; đồng thời có kế hoạch kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch và đấu tranh chính trị để tránh sự khủng bố của địch, đảm bảo an toàn cho dân.


Kế hoạch là dùng 24 nữ du kích của các xã Lam Sơn, Phạm Kha, Đoàn Tùng và Hồng Quang, cử nữ đồng chí Hoa là cán sự huyện trực tiếp chỉ huy trận đánh. Ngoài ra, còn được đồng chí Lựa - cán bộ trung đội và một chiến sĩ của đại đội Lý Thường Kiệt mang 2 tiểu liên đi cùng đồng chí Hoa sẵn sàng chi viện hỏa lực; đồng thời còn có một tiểu đội có trung liên của đại đội bố trí ở cụm tre sẵn sàng đánh địch ở tháp canh Gừng ra chặn đường rút lui của chị em.


Theo kế hoạch, đúng 7 giờ sáng ngày 1-3-1953, các lực lượng đã tập kết đay đủ ở thôn ấp Lam Sơn. Sau khi trinh sát thấy ở bốt quận không có gì đặc biệt ảnh hưởng tới trận đánh và sau khi kiểm tra chuẩn bị đã đầy đủ, hồi 7 giờ 45 phút toàn lực lượng chia làm 3 mũi tiến quân. Mũi thứ nhất do đồng chí Vũ Thị Lý là xã đội phó xả Lam Sơn trực tiếp chỉ huy, đi từ đường thôn Thọ Xuyên tiến qua cánh đồng, rồi đột nhập vào chợ. Mũi thứ hai từ ấp Lam Sơn do tôi - Trần Thị Núi (tức Xuân Liên) là chi ủy viên, hội trưởng phụ nữ xã Lam Sơn chỉ huy đi theo đường cổng chùa Trương đột nhập vào chợ. Mũi thứ ba do đồng chí Hoa, cán sự Huyện đội chỉ huy chung trận đánh, trực tiếp chỉ huy và có đồng chí Lựa cán bộ trung đội theo sát giúp đỡ. Mũi 3 đi theo đường thôn Dừa, xã Hồng Quang, rồi theo đường làng xóm Ngũ Thương, đột nhập vào chợ.


Khoảng 9 giờ sáng, sau khi quan sát thấy tất cả các mũi đã đột nhập và sẵn sàng tấn công, đồng chí Hoa "ngả nón ở trên đầu" ra lệnh tấn công. Ngay lập tức, các chiến sĩ đã dùng đấu đong, đòn gánh đồng loạt tấn công. Tôi - Trần Thị Núi - dùng đòn gánh phang mạnh vào gáy một tên địch. Tên này loạng choạng, tôi cầm tay áo nó kéo xuống định bắt sống nhưng tên thứ hai lao tới dùng báng súng đánh phía sau. Đồng chí Lựa lập tức dùng tiểu liên bắn một phát, tên này chết ngay. Còn tên thứ nhất cố tình kháng cự bị tôi dùng đấu đong ghè tiếp vào đầu mấy chiếc, tên này cũng chết ngay tại chỗ.


Mũi đồng chí Lý đánh một tên, nó nhảy xuống ao; đồng chí Lý và một đồng đội nữa cũng nhảy xuống ao đánh chết tên này. Toàn chợ, chỗ này đòn gánh, chỗ kia đấu đong, đánh đồn dập; gạo, khoai, quà bánh, thịt, cá đổ tứ tung. Nhân dân thì vừa kêu "Việt Minh" vừa chạy. Bọn lính bảo hoàng chạy vội về bốt. Cùng lúc, chánh - phó hương chủ và một số dân đã được chuẩn bị từ trước chạy vào quận, vừa chạy vừa kêu: "Viêt Minh về đông lắm, cứu chúng con với"! Bọn địch rất hoang mang, đóng cổng lại. Mãi về sau chúng mới hoàn hồn, dùng súng cối và đại liên bắn đuổi theo vu vơ.


Trận đánh diễn ra trong vòng 5 phút, rất nhanh, mạnh mẽ, táo bạo và gọn gàng. Kết quả, địch chết 3 tên và bị thương một số. Ta thu 7 khẩu súng trường và tiểu liên, bảo tồn được lực lượng và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nhân dân. Trận đánh gây được tiếng vang trong dân và lực lượng vũ trang, góp phần đẩy mạnh du kích chiến tranh, gây cho địch hoang mang sợ hãi, buộc chúng phải co lại.


Sau đó, Đài tiếng nói Việt Nam, báo chí của ta, đài các nước anh em và đài của địch cúng loan tin trận đánh hay này của nữ du kích.

Lực lượng vũ trang rất phấn khởi, nhất là nữ du kích tự hào là mình đã sánh vai cùng với nam giới giết giặc lập công.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:11:31 pm
LẬP MỘ CHO NỮ ĐỒNG CHÍ TRẦN THỊ THÂN


ĐÀO NGỌC QUẾ
(Đại tá, nguyên Chánh án Tòa án nhân dân Hải Phòng)


Nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị Tỉnh đội Hưng Yên thời chống Pháp đều biết Trần Thị Thân, một nữ chiến sĩ liên lạc và nuôi quân, một đồng chí có phẩm chất, tư cách, đạo đức tốt, tận tụy công tác suốt từ đầu kháng chiến đến thắng lợi 1954, là một thương binh được xếp hạng. Sau ngày hòa bình lập lại, Trần Thị Thân đã chuyển ngành sang Công ty Giao nhận Kho vận Ngoại thương Hải Phòng và đã về hưu tại nhà số 2 phố Lý Tự Trọng, Hải Phòng.


Do cuộc đời riêng tư của chị Thân có nhiều trắc trở nên chị sống độc thân và đã từ trần ngày 3-8-1985, thọ 65 tuổi. Vì không có người thân chăm sóc phần mộ nên sau khi cải táng, cơ quan quản lý nghĩa trang đã chuyển mộ chị sang nghĩa trang Phi Liệt ở khu vô thừa nhận.


Cuối năm 1993, có sự phát hiện của đồng đội, đại tá Võ An Đông, nguyên Tỉnh đội trưởng Hưng Yên đã đề xuất việc lập lại mộ của chị đưa vào khu chính của nghĩa trang.

Cảm động trước việc làm tình nghĩa đối với một nữ cán bộ có công lao đã khuất, ban lãnh đạo Công ty Giao nhận Kho vận Ngoại thương, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội quận Hồng Bàng và một số bạn bè đồng đội đã góp tiền xây mộ cho chị Thân. Công ty Dịch vụ mai táng nhận giúp việc di chuyển và xây mộ không lấy tiền công.


Từ ngày 15-12-1993, trong 3 ngày, Ban quản lý nghĩa trang đã làm xong việc xây cất chuyển mộ vào khu vực chính. Mộ được xây 3 tầng, có bia khắc rõ họ tên, quê quán và công tác của chị Trần Thị Thân.

Ngày 18-12-1993, đoàn cán bộ, bè bạn, có đại biểu của Công ty Giao nhận Kho vận Ngoại thương đã tổ chức lễ viếng mộ long trọng. Đại tá Võ An Đông đã thay mặt đoàn đọc lời viếng đây xúc động và cùng đoàn làm lễ tưởng niệm người nữ chiến sĩ ngoan cường và thân thương.


Cho đến nay, chị Trần Thị Thân đã có mồ yên, mả đẹp, đồng đội và bè bạn vui mừng vì đã làm được một việc nghĩa tình tốt đẹp. Một số người ở nước ngoài về thăm quê có họ hàng với chị Thân, được tin này đã đến viếng mộ chị hết sức cảm động, đã gửi lời cảm ơn đến các cơ quan, đơn vị, tập thể đồng đội tỉnh đội Hưng Yên, đá hết lòng lập lại mộ chị Trân Thị Thân khang trang đẹp đẽ.


Hiện nay nhiều người cùng anh chị em đồng đội luôn tưởng nhớ tới một nứ chiến sĩ ngoan cường và thân thương của chúng ta tại khu A nghĩa trang Phi Liệt.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:12:17 pm
TẤM LÒNG NHỮNG NGƯỜI BIÊN SOẠN
BỘ SÁCH NHIỀU TẬP 'ĐƯỜNG 5 ANH DŨNG, QUẬT KHỞI"


HƯƠNG GIANG
   

Trước mắt tôi là tập 3 của bộ sách truyền thống nhiều tập "Đường 5 anh dũng quật khởi” của Hội khoa học lịch sử thành phố Hải Phòng và Ban liên lạc đồng đội Tỉnh đội (cũ) Hải Dương - Hưng Yên, do Nhà xuất bản Hải Phòng vừa ấn hành. Như vậy, kể từ tập 1 xuất bản vào tháng 9-1995 đến nay, trong khoảng thời gian hơn hai năm. Nhà xuất bản Hải Phòng đã cho ra mắt bạn đọc 3 tập dày dặn của bộ sách giáo dục về truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Hải Dương - Hưng Yên - những địa phương có đường giao thông huyết mạch quốc lộ 5 đi qua. Có thể nói, công lao đó thuộc về nhóm biên soạn gồm các đồng chí Võ An Đông, Nguyễn Huy Trường, Đào Ngọc Quế, Đàm Minh, Trương Văn Thuấn - những cán bộ quân đội là lãnh đạo, chỉ huy từng tham gia những trận đánh nổi tiếng trên đường 5 gây cho quân thù bao nỗi kinh hoàng trong những ngày cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất.


Tôi đến thăm bác Võ An Đông tại nhà riêng số 180 phố Chùa Hàng, quận Lê Chân, trong lúc bác đang miệt mài biên soạn nội dung tập 4 "Đường 5 anh dũng quật khởi”. Căn hộ bài trí giản dị, đơn sơ nhưng ấm cúng. Tạm ngừng bút, bác Võ An Đông gỡ cặp kính lão dày cộp để sang một bên rồi nói với tôi:

- Quỹ thời gian của chúng tôi còn rất hạn chế, sức khỏe thì ngày một giảm mà công việc lại còn nhiêu. Song, chúng tôi động viên nhau phải khẩn trương khai thác "những nhân chứng sống" của một thời lịch sử hào hùng của dân tộc để phản ánh trong bộ sách truyền thống ”Đường 5 anh dũng quật khỏi”... Chỉ mấy năm nứa thôi, thì...


Tôi hiểu bác Võ An Đông định nói gì và càng cảm thông những cỗng việc bác cùng với những người cộng sự với bác đang làm. Năm nay bác qua tuổi 76. Năm 1986, ở cương vị chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng với quân hàm đại tá, bác nghỉ hưu. Lúc này bác thường nghĩ: "Nghỉ không có nghĩa là ngừng hoạt động. Phải tạo cho mình một nếp sinh hoạt, một chế độ làm việc phù hợp với hoàn cảnh hiện tại...". Từ tâm niệm ấy, bác say sưa dành thời gian viết hồi ký với ý nghĩ ban đầu "trước hết viết cho mình và cho gia đình mình" về những năm tháng tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Sâu xa hơn, bác nghĩ tới những người viết lịch sử sau này phải có những cuốn sách tư liệu để làm căn cứ, mà người viết hồi ký cách mạng ví như những người thợ mỏ khai thác quặng để cho thế hệ mai sau căn cứ vào những tư liệu đó mà viết lịch sử. Ngày này qua tháng khác, với tư duy lô-gíc và ký ức về một thời hoạt động trong lực lượng vũ trang Hưng Yên, bác đã hoàn thành một số bài viết người thật, việc thật khá xúc tích, sinh động. Quan điểm "chiến tranh nhân dân” của Đảng và vai trò của nhân dân trong chiến tranh luôn luôn bao trùm trong các hồi ký của bác, chân thực và công bằng. Khi đã có "vốn liếng", bác nghĩ đến việc xuất bản để "trình làng" những hồi ký của mình. Rồi trong một lần gặp gỡ những chiến hữu của mình thời kỳ "chín năm", bác đem ý kiến trên ra trao đổi. Bác Nguyễn Huy Trường, vốn là chiến sĩ thi đua toàn quốc trong kháng chiến chống Pháp; rồi các bác Đào Ngọc Quế, Đàm Minh... những sĩ quan quân đội từng trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc, hoàn toàn ủng hộ. Họ quyết định thành lập Ban liên lạc đồng đội Tỉnh đội (cũ) Hải Dương - Hưng Yên (có sự giúp đỡ nhiệt tình của các ban ngành chức năng), tạo tiền đề cho bộ sách truyền thống cách mạng của các tỉnh, thành phố có đường 5 đi qua, sớm hình thành. Và cũng chính bác Võ An Đông là người đem các bài hồi ký của mình để mọi người trao đổi, góp ý, coi đó là "bài mẫu" để cùng nhau "tập" viết hồi ký. Một vấn đề quan trọng được các bác quan tâm là "những nhân chứng sống" của một thời lịch sử ở Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên đang ngày một thưa vắng dần. Phải tranh thủ khai thác tư liệu, nếu không thì... mất hết. Thế rồi, các bác phân công nhau về các địa phương thời hoạt động cách mạng để lo tổ chức mạng lưới cộng tác viên, lực lượng viết hồi ký... Những cán bộ lãnh đạo ở các địa phương này lúc ấy, nay chuyển về công tác hoặc nghỉ hưu ở Hà Nội, cũng được các bác tìm đến trình bày nguyện vọng và yêu cầu giúp đỡ, cộng tác. Trước tấm lòng và ý thức trách nhiệm đối với việc giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ mai sau, các bác đã giành được sự nhiệt tình ủng hộ về nhiều mặt. Bài vở viết theo từng chủ đề từ các nơi gửi về cho Ban liên lạc đồng đội ngày một nhiều. Cả những xã ven quốc lộ "tiếng sấm đường 5", một số "nhân chứng lịch sử" tuy "mắt mờ, chân yếu" cũng tích cực hưởng ứng viết và gửi bài về Ban liên lạc đồng đội. Sự cổ vũ vô giá ấy động viên các bác nỗ lực lao vào nhiệm vụ tuyển chọn, biên tập cho tập đầu tiên của bộ sách sớm hoàn thành. Có một vài chi tiết cần được xác minh, các bác lại động viên nhau vượt hàng chục ki-lô-mét, có đoạn phải vượt qua những con đường "sống trâu" bằng xe đạp, để gặp tác giả trực tiếp kiểm tra lại cho rõ...


"Đường 5 anh dũng quật khởi" tập 1 ra đời vào đúng dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1995 với sự giúp đỡ tận tình của Nhà xuất bản Hải Phòng và Hội khoa học lịch sử Hải Phòng. Ngay buổi đầu, tập sách đã giành được những tình cảm trân trọng của bạn đọc, nhất là đối với những người từng một thời sống và chiến đấu trên dải đất nóng bỏng khí thế diệt quân xâm lược, bảo vệ quê hương. Cảm thông với những người làm công tác biên soạn tập sách, Bộ tư lệnh Quân khu Ba, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh trong Quân khu và nhiều cơ quan, đơn vị vừa trích quũy mua sách, vừa dành một khoản tiền nhất định để tài trợ "Đầu vào" và "Đầu ra" của tập sách ổn định, là yếu tố quan trọng giúp cho nhóm biên soạn của bác Võ An Đông yên tâm, tiếp tục làm nhiệm vụ...


(Đăng báo Hải Phòng
số ra ngày 10-1-1998)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:13:29 pm
HƯNG YÊN QUẬT KHỞI MỘT CUỐN HỒI KÝ QUÝ GIÁ


HỌC PHI
Nhà văn - Giải thưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch ủy ban nhân dân dầu tiên tỉnh Hưng Yên


Những năm kháng chiến chống Pháp, tôi công tác ở xa trên Việt Bắc chỉ được biết về cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân Hưng Yên qua các mẩu tin đăng trên báo "Cứu quốc" hoặc qua những câu chuyện của các anh em ở dưới khu 3 lên Trung ương họp kể lại. Những mẩu tin, những câu chuyện ấy đã làm tôi rất xúc động và tự hào về quê hương mình và càng nhớ quê da diết.


Sau khi về Hà Nội, tôi đã có ý định viết một tác phẩm về cuộc chiến đấu ngoan cường của quê tôi, nhưng rồi bận hết việc này đến việc khác cứ phải khất lần với mình. Mãi đến gần đây, sau khi đã hoàn thành kế hoạch sáng tác về thời kỳ hoặt động bí mật của Đảng, tôi mới bắt tay vào làm cái việc mà tôi cho là món nợ tình cảm với quê hương. Nhưng vì tôi không có mặt ở nhà trong những ngày kháng chiến nên không có vốn sống, chỉ còn dựa vào tài liệu. Mà tài liệu thành văn thì không có bao nhiêu, tôi phải đến hỏi anh Vũ Thơ là Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên ngày ấy. Sau khi giới thiệu khái quát về tình hình Hưng Yên trong những ngày chiến đấu ác liệt nhất, anh Vũ Thơ cho tôi mượn cuốn hồi ký "Hưng Yên quật khởi" của anh Võ An Đông. Tôi mang về đọc nghiến, đọc ngấu ngay.


Thật là một tài liệu vô giá đối với tôi. Trong cuốn hồi ký của mình anh Võ An Đông đã vẽ nên một bức tranh sinh động về phong trào kháng chiến ở Hưng Yên. Là tỉnh đội trưởng, nhưng anh Đông không chỉ đi sâu về quân sự, mà còn đi sâu vào phong trào quần chúng, vào sự lãnh đạo của Tỉnh ủy mà anh là một ủy viên. Đường lối chính trị đúng thì đấu tranh quân sự thành công, đường lối sai thì thất bại, anh không né tránh nói đến những thất bại do bệnh tả khuynh ấu trĩ của lãnh đạo gây ra trong năm 1950, biến Hưng Yên thành một nơi đen tối nhất của khu Ba: mất đất, mất dân, cán bộ, du kích, bộ đội phải bật ra ngoài, toàn tỉnh chìm trong một bầu không khí thê thảm.


Trước tình hình ấy, trong Hội nghị tháng 12-1950, Tỉnh ủy đã phân tích đánh giá một cách khách quan tương quan lực lượng giữa ta và địch - địch mạnh, ta yếu - và đề ra chủ trương thích hợp với hoàn cảnh lúc ấy và hợp với lòng dân. Được nhân dân đồng tình ủng hộ, lại được các cấp, các ngành, các giới tích cực thực hiện nên chỉ trong vòng 1 năm từ một tỉnh bị địch kìm kẹp nặng nề nhất, đen tối nhất, Hưng Yên đã trở thành một tỉnh quật khởi, liên tiếp đánh thắng địch về mọi mặt, tiến tới thắng lợi hoàn toàn.


Có thể nói cuốn hồi ký "Hưng Yên quật khởi" của anh Võ An Đông không phải viết chỉ bằng mồ hồi và sức lao động mà còn bằng cả xương máu của tác giả. Nó cần phải được trân trọng bảo vệ trong kho tàng lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta đế làm gương cho các thế hệ mai sau và để cho các nhà văn có tài liệu chính xác viết về kháng chiến chống Pháp.

Xin cảm ơn tác giả Võ An Đông.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:15:04 pm
THẬT SỰ LÀ BỘ SÁCH QUÝ TRONG TỦ SÁCH CỦA MỖI GIA ĐÌNH


LÊ HOÀI THAO


Trong cái nghề làm báo, viết lách của mình, cứ mỗi cuộc kỷ niệm lớn của đất nước diễn ra, tôi lại long đong đi sưu tầm các sự kiện và nhân chứng có liên quan cho bài viết của mình. Dịp kỷ niệm 50 năm ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946 - 19-12-1996) vừa qua, chạy ngược, chạy xuôi, thật "hên" làm sao, khi đến Ban tuyên giáo Huyện ủy Kim Môn (Hải Dương), đồng chí Nguyễn Đức Diện "chuyên viên sử" đưa cho tôi mượn cuốn "Đường 5 anh dũng quật khởi" tập I do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành. Chẳng khác nào được viên "ngọc ước", tôi đọc ngấu nghiến không sót một bài, một trang, một dòng nào. Cuốn sách nêu lên không chỉ có những sự kiện, những cuộc chiến đấu gay go, ác liệt, những cuộc chống càn oanh liệt mà còn cả gương mặt những chiến sĩ trực tiếp cầm súng giết giặc, những anh dân quân, những chị du kích và mọi người dân của hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương hờn căm quân giặc cướp nước đều nhất tề đứng dậy. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy hai tỉnh, sự chỉ huy tài tình của cán bộ quân sự các cấp, họ đã quật khởi đánh trả quân xâm lược một cách ngoan cường, dũng cảm, giành được thắng lợi vẻ vang. Tôi thật sự khâm phục các bậc đàn anh ở thế hệ trước. Họ là tấm gương cho chúng tôi lớp đàn em thuộc thế hệ đánh Mỹ noi theo. Với người cầm bút, tôi đã khai thác ờ đây ("Đường 5 anh dũng quật khỏi" tập I) và những tài liệu khác có liên quan đến lịch sử cuộc chiến đấu trên địa bàn hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương... được nhiều điều cần phải viết và nên viết về họ đầy đủ hơn chi tiết hơn, sống động hơn, khắc họa cái riêng trong cai chung để lọc lấy những con người cụ thể với hành động và chiến tích cụ thể. Thế là tôi có "Vua mìn" cho đặc san "Sự kiện và nhân chứng" báo QĐND kịp thời cho số 35 ra tháng 11-1996. Tuy nhiên, với khuôn khổ một bài báo nên chỉ nói được những nét đại cương, những cái chung chung nhất mà thôi "Đường 5 anh dũng quật khởi" thật sự là pho sách quý trong tủ sách mỗi gia đình quê hương hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương. Lại nữa, lâu nay báo chí và cả sách nữa chỉ mới nói đến các cán bộ chỉ huy ngoài mặt trận lớn của quân chủ lực cơ động từ cấp quân khu, trung đoàn, sư đoàn của Bộ mà ít nói đến những cán bộ chỉ huy "phương diện quân" ở vùng địch hậu, thuộc cấp tỉnh, tức là quân địa phương. Do vậy, tôi đã sưu tập và lọc ra được một gương mặt mà tôi nghĩ là có thể đưa lên mặt sách, báo được. Đó là tỉnh đội trưởng Võ An Đông của Hưng Yên thời đánh Pháp, sau là Tư lệnh thành phố Hải Phòng không hề hư cấu hay cường điệu mà trên cơ sở có thực. Qua một vài tư liệu, tôi cố gắng nêu lên tuy chỉ mới là khái quát về người chỉ huy "phương diện quân" đã phải trải qua, phải trăn trở để tháo gỡ không biết bao nhiêu khó khăn, khắc phục những thiếu thốn về vật chất, mà lại chỉ được phép hoạt động trên địa bàn tỉnh mình, đánh giặc và giải phóng quê hương mình trong cái thế ban đầu tưởng như không thể nào vượt nổi. Vậy mà từ chỗ như chim trong lồng, ông đã cùng bộ đội Hưng Yên, dân quân du kích và toàn dân trong tỉnh kết hợp với E42, vật lộn với giặc, đảo ngược thế cờ, không những thoát khỏi lồng mà còn lùa giặc vào cái lồng của mình...


Tự hào về đất nước! Tự hào về truyền thống quê hương mình, tôi muốn góp đôi dòng để làm sống dậy những gì thuộc về quá khứ để thế hệ chúng tôi, thế hệ mai sau biết thêm, hiểu thêm về truyền thống ông cha, thế hệ đi trước và những sự kiện xảy ra cùng thời với họ. Vì thế tôi đã mạo muội viết 3 bài "Trận đánh của những ông thổ địa", "Tỉnh đội trưởng trong vùng địch hậu”, "Vua mìn - người reo rắc nỗi kinh hoàng cho giặc”.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:16:04 pm
TỈNH ĐỘI TRƯỞNG VÙNG ĐỊCH HẬU


LÊ HOÀI THAO


Cuối năm 1949, đầu năm 1950, tĩnh Hưng Yên chìm trong bóng đêm của giặc. Quân Pháp chiếm đóng và biến thành sân sau của chúng toàn bộ 9 huyện thị. Bọn phản động đầu hàng chạy ra ôm chân giặc. Những tên cường hào, ác bá thâm thù cách mạng ngo ngoe ngóc đâu dậy. Lũ tề ngụy xin súng Tây về trang bị, xây bốt, lập đồn, khống chế o ép nhân dân, bắt giết cán bộ và những người đân yêu nước có cảm tình với kháng chiến. Nhiều cán bộ chủ chốt của tỉnh và huyện bị địch bắt đem thủ tiêu. Một số cán bộ kiên trì cách mạng phải bật đi nơi khác, thỉnh thoảng mới "vọt cần câu" về hoạt động chớp nhoáng rồi lại vội vã, khẩn trương đi ngay hoặc phải nằm hầm bí mật ngoài đồng, ngoài bãi hoang... Một số khác với lý do này nọ, hoặc sợ địch khủng bố nên nằm im, cầu an, thậm chí có kẻ đã đầu hàng giặc, khai báo với địch rồi làm tay sai cho chúng. Phong trào kháng chiến của Hưng Yên lâm vào tình trạng cực kỳ khó khăn. Không khí chính trị vùng địch hậu vô cùng ngột ngạt.


Hồ Quí Thoa, Tỉnh ủy viên phụ trách công tác quân sự trăn trở đứng ngồi không yên, ngày đêm vắt óc ra suy nghĩ đặng tìm ra kế sách đấu tranh chống lại thế mạnh tạm thời của địch, giữ vững và mở rộng địa bàn hoạt động, tiêu diệt và từng bước dẩy lùi quấn giặc. Biết rằng muốn tống chúng đi không có cách nào khác là phải đánh, đánh thật mạnh, đánh chúng ở khắp nơi, đánh cả ban ngày, đánh cả ban đêm, cả quân và dân cùng đánh. Nhưng đánh thế nào đây?

- Phục kích, gài mìn, quấy rối địch ư? Hình thức này may lắm chỉ diệt được bộ phận nhỏ sinh lực địch chứ không làm cho chúng co lại, không có tác dụng phát triển cơ sở.

- Chống càn quét ư? Càn và chống càn là quy luật tất yếu trong đấu tranh quân sự vùng địch hậu. Nhưng trong hoàn cảnh cả tỉnh đã nằm sâu trong vùng địch hậu thì khó có thể tránh đòn khủng bố, trả đũa tàn bạo của kẻ thù.

- Triệt phá tháp canh, hương đồn ư? Việc này là cần thiết nhưng đánh là phải chắc thắng, phải giữ và mở rộng được cơ sở cả về chính trị và quân sự, muốn vậy phải làm sao có thể công phá được lô cốt, làm sao có thể đánh chặn và diệt quân ứng viện của địch?


Những câu hỏi ấy cứ lởn vởn trong đầu mà mãi anh vẫn chưa tìm được lời giải đáp. Cho đến sau chiến thắng Biên Giới Thu Đông năm 1950, được đi dự tổng kết chiến dịch vĩ đại này, từ đó anh đã tìm ra chìa khóa để mở tung những suy tư lâu nay. Cũng vừa may khi anh vê tới "nhà" thì cũng là lúc Tỉnh ủy mở hội nghị lịch sử đánh giá lại phong trào của tỉnh, chỉ ra phương hướng biện pháp đấu tranh nhằm củng cố, mở rộng cơ sở phù hợp với suy nghĩ của mình, tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy đối với công tác quân sự. Trước đây chỉ phân công một ủy viên phụ trách thì nay phân công ba người. Bí thư Tỉnh ủy Vũ Thơ làm chính trị viên. Đồng chí Phúc (Kiên) làm chính trị viên phó. Còn anh, từ chính trị viên chuyển sang làm tỉnh đội trưởng. Để giữ bí mật trong hoạt động, ngay sau việc phân công mới này, tháng 1 năm 1950, anh mang tên Võ An Đông để kỷ niệm quê gốc anh ở Hà Đông, hoạt động quân sự (võ) ở Hưng Yên (an).


Từ tinh thần của Nghị quyết Tỉnh ủy và những tri thức quan trọng về mặt quân sự tiếp thu được ở hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới, tỉnh đội trưởng Võ An Đông như được tiếp thêm sức mạnh. Anh hăng hái lao vào cuộc chiến đấu đang tiếp diễn ngày một gay cấn và ác liệt với quyết tâm và niềm tin mới.


Vốn xuất thân từ một sinh viên đại học, tham gia Cách mạng từ trước khi nổ ra cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Sau khi cướp chính quyền, anh làm Chủ tịch UBND cách mạng huyện Thanh Oai - Hà Đông. Năm 1946, anh sang làm Chủ tịch rồi Bí thư huyện ủy Yên Mỹ. Đến tháng 3 năm 1949, anh được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách công tác quân sự. Đã kinh qua công tác phong trào ở cơ sở nên anh rất hiểu những khó khăn, thuận lợi, những đặc điểm làng quê Việt Nam. Do đó, trong công tác quân sự địa phương, anh đã vận dụng nó vào chiến thuật đánh địch rất có hiệu quả.


Trong thời kỳ này, địch vẫn chiếm ưu thế về mặt quân sự. Binh đoàn số 3 (GM3) đóng quân trên địa bàn tỉnh. Tại thị xã có phân khu (Sous secteur). Mỗi huyện có một đại đội (Quartier). Một số vị trí tề có một trung đội. Cuối cùng là hệ thống hương - tổng dũng. Tất cả tạo thành hệ thống chiếm đóng hoàn chỉnh. Bức tranh quân sự xám xịt này không khỏi làm cho vị chỉ huy quân sự tỉnh đội băn khoăn "làm thế nào để phá được thế bị kìm kẹp này".


Nghĩ đến toàn cục, sau chiến thắng Biên Giới, hình thái chiến tranh đã nghiêng về phía có lợi cho ta. Phần mình đã có nghị quyết Tỉnh ủy (12-1950) soi sáng, bộ đội tỉnh và huyện dần dần được bổ sung thêm vũ khí, trang bị cả về kiến thức quân sự và chiến thuật đánh địch, anh yên tâm, tin vào triển vọng tốt của cuộc chiến đấu mà anh chịu trách nhiệm trước Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Bằng việc đánh giá đúng đối tượng tác chiến, khả năng và trình độ chiến đấu của bộ đội tỉnh và huyện, đề ra phương án chuẩn xác, anh đã chỉ huy các đơn vị được sự phối hợp của E42 thời kỳ đầu, bắt đầu từ 31 tháng 3 năm 1951 trở đi cho đến cuối tháng 12 năm ấy, trong 8 tháng liên tục, lần lượt nhổ hết bốt hương dũng này đến tháp canh hương đồn khác thuộc tất cả 7 huyện phía nam đường số 5, giải phóng hàng chục ngàn dân, mở thêm hàng chục khu du kích, phát triển nhiều cơ sở kháng chiến. Ta đã chuyển thế cờ từ bị địch bao vây, o ép sang thế chủ động tấn công, chia cắt, bao vây lại chúng, biến hậu phương của chúng thành tiền phương của ta. Càng đánh, càng thắng, càng trưởng thành, quân và dân Hưng Yên như có một sinh lực mới có thể hoạt động vững vàng ở bất cứ chỗ nào trên địa bàn tỉnh. Từ đánh thắng bọn hương dũng, diệt quân ứng viện, tiến tới đánh thắng cả quân cơ động chiến lược của địch (GM), phá tan nhiều cuộc hành quân càn quét qui mô lớn và vừa của chúng. Chẳng hạn như trận càn "Trái chanh" (Citron) ngày 25 tháng 9 năm 1951. Trận này, anh trực tiếp chỉ huy 4 đai đội (20 24, 27 và 30) cùng một đội đại độc lập tác chiến khác (C22 theo phương hướng chỉ đạo từ trước). Suốt một ngày quần nhau với giặc, ta kiên trì giữ vững từng tấc đất, ngoan cường đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch có phi pháo yểm trợ. Kết quả là địch bị thất bại thảm hại. Cả chết, bị thương và bị bắt làm tù binh 1.050 tên. Hoặc như trận càn của Secteur Gia Lâm với một trung đoàn hồi tháng 8 năm 1952 trận càn của Zone Hải Dương tháng 12 cùng năm, cả 3 trận chống càn, ta đã tiêu diệt hoàn toàn 3 đại đội, bắt sống 112 tên giặc.


Sự trưởng thành của bộ đội Hưng Yên là kết quả của quá trình sáng tạo, tư duy quân sự và nghệ thuật tổ chức, chỉ huy chiến đấu, tinh thần công kích đầy dũng cảm và khôn khéo mà người chỉ huy cao nhất có vai trò vô cùng quan trọng. Từ những trận chống càn giành được thắng lợi đáng ghi nhớ, tiến tới chủ động tấn công căn cứ hậu phương, tập kích các vị trí lớn của địch như đêm 10 tháng 5 năm 1953, diệt căn cứ hậu phương GM3 ở Bần Yên Phú, có 1 đại đội bộ binh phòng thủ, cùng với đội quân hậu cần của chúng, tổng cộng tới 300 tên. Trước khi đánh trận này, Tỉnh đội trưởng Võ An Đông đã dẫn đầu một tổ trinh sát vào điều tra sự bố phòng của địch. Ta đã tiêu diệt gọn hoàn toàn vị trí này, thu toàn bộ quân trang quân dụng, bắt sống nhiều tù binh. Thắng lợi quan trọng này có ý nghĩa lớn. Nó trở thành mô hình cho các trận đánh tiếp theo. Đêm 19-6-1953 anh đã trực tiếp chỉ huy đại đội 25 của tỉnh do Phạm Du làm đại đội trưởng tập kích vị trí bảo an quân hành chính Khoái Châu. Kế tiếp với lối đánh đặc sắc thường gọi là chiến thuật "sờ" là những trận đánh vang dội như Vân Trì, Thiết Trụ, Dị Sử, v.v...


Bộ đội Hưng Yên còn đánh hàng chục trận, như thế dưới sự chỉ huy hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp của Tỉnh đội trưởng Võ An Đông, giành được thắng lợi trọn vẹn cho đến ngày chiến tranh kết thúc tháng 7-1954. Hiểu rõ công lao anh, tháng 2-1952 Bí thư Liên Khu ủy 3 Lê Thanh Nghị đã gửi thư khen ngợi đích danh anh và ngay trong khói lửa chiến tranh năm 1953, Bộ Quốc phòng đã tặng anh Huân chương Chiến công hạng nhất. Có một bài thơ ca ngợi anh thế này:
   Ngày vui, thơ viết tặng anh
   Hưng Yên thuở ấy, lừng danh người tài
   Chỉ huy đánh giặc tuyệt vời
   Làm cho giặc Pháp rụng rời hãi kinh
   Chiến lược, chiến thuật tài tỉnh...


Sau hiệp định Geneve, đất nước chuyển giai đoạn, tỉnh đội trưởng Võ An Đông cũng chuyển vị trí công tác. Tại Ủy ban liên hợp đình chiến Bắc Bộ anh tham gia, chuẩn bị bản hiệp định sẽ ký kết và tiếp quản khu 300 ngày mà trọng tâm là thành phố Hải Phòng, anh được cử làm Thành đội trưởng Hải Phòng, chỉ huy đoàn quân tiền vệ, vào trước thành phố trực tiếp giao dịch với Pháp để tiếp nhận các cơ sở quân sự và các công trình lợí ích khác.


Tháng 8-1972, anh được chỉ định làm Tư lệnh thành phố Hải Phòng. Khi giặc Mỹ cho máy bay đánh phá thành phố, anh đã trực tiếp chỉ huy bộ đội đánh trả chúng quyết liệt suốt 12 ngày đêm liên.


Khi non sông liền một dải, anh cùng tập thể có sáng kiến thành lập câu lạc bộ "Trung dũng - quyết thắng" tập hợp các sĩ quan về nghỉ hưu tại Hải Phòng, mà lúc đó trong cả nước chưa nơi nào tiến hành. Anh còn để nhiều tâm trí vào xây dựng nếp sống quân sự trong các nhà trường phổ thông và đại học. Đặc biệt là xây dựng một số công trình kết hợp với kinh tế và quốc phòng. Nổi bật nhất là công trình lấn biển đường 14 (Hải Phòng đi Đồ Sơn) và đường xuyên đảo...


Năm 1986, anh nghỉ hưu giữa lúc anh vừa tròn 64 tuổi. Tiếng là thế nhưng anh vẫn bận rộn với công việc đời thường, tham gia Hội khoa học lịch sử thành phố, các câu lạc bộ, Ban liên lạc đồng đội Hải Dương - Hưng Yên, Ban liên lạc vũ trang Hải Phòng, Trung đoàn 42 và viết hồi ký - công việc đầy hứng thú của những người có tâm huyết.


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:17:04 pm
GẶP VUA MÌN


LÊ HOÀI THAO


... "Vua mìn" là ông Nguyễn Huy Trường. Ông sinh ngày 15 tháng 4 năm 1932 tại làng Bất Nạo, xã Đại Đồng xưa, nay là thôn Bất Nạo, xã Kim Anh, huyện Kim Thành. Ông nhập ngũ ngày 30 tháng 10 năm 1949 khi chưa đầy 18 tuổi. Lúc đầu, ống làm lính văn phòng, rồi làm liên lạc. Nhưng vốn tính hiếu động, không thích ngồi bàn giấy, ông nằng nặc xin xuống đơn vị, trực tiếp cầm súng giết giặc. Cấp trên đồng ý. Ông được biên chế vào tiểu đội đánh mìn, thuộc trung đội 1, bộ đội Kim Thành.


Ngày 2-3-1951, ông tham gia đánh trận đầu tiên trên đoạn đường sắt (trục quốc lộ 5A) thuộc địa phận Kim Thành, cách Hải Phòng về phía đông chừng 21 km. Lực lượng của ta vẻn vẹn chỉ có 2 người: Nguyễn Văn Quyền, tiểu đội trưởng chỉ huy và ông chịu trách nhiệm dí điện cho mìn nổ. Hôm ấy, đoàn tàu hỏa của địch từ phía Hải Phòng lên chở đầy bom đạn, đã bị lật nhào.


Tám tháng sau, trong trận đánh ngày 29-12-1951 tại đoạn đường sắt Lương Xá - Phú Thái, ông được phân công đặt "cạm điện", đấu dây và ngòi điện vào quả mìn 50 kg. Đây là cung đoạn quan trọng nhất và cũng nguy hiểm nhất, nếu sơ suất dù rất nhỏ cũng cầm chắc cái chết. Hôm ấy, vào khoảng 8 giờ sáng, một đoàn tàu địch vận chuyển vũ khí, lương thực rời ga Hảỉ Phòng, xăm xăm lao về phía trước. Một tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển cả không gian, đất đá bay mù trời, khói tàu, khói mìn quyện vào nhau, phủ kín đầu máy và 18 toa tàu đổ ngả nghiêng (có 8 toa lăn xuống ruộng). Địch phải mất 6 ngày mới giải quyết xong hậu quả.


Cuối năm 1952, đúng ngày 22-12, tỉnh thành lập đội "Giao thông chiến". Ông được điều về làm đội phó cùng với hơn 30 cán bộ, chiến sĩ có nhiều kinh nghiệm đánh mìn thuộc bộ đội Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Kim Thành... Từ đó, ông cùng đơn vị đánh địch trên mọi nẻo đường thuộc địa bàn tỉnh bằng thứ vũ khí chủ yếu là mìn, cắt đứt giao thông, chống càn... gây cho địch nhiều thiệt hại về phương tiện chiến tranh, sinh lực, phá vỡ nhiều ý đồ chiến thuật của chúng. Nhiều trận đánh thắng lợi được ghi chép lại trên sách, báo và trên các trang sử của địa phương như trận phục kích xe tăng địch trên đường số 9 sáng 21-5-1953, trận đánh phá cầu Bía (trên đường 17 thuộc địa phận Ninh Giang) ngày 14-6-1953... Kỳ tích của ông rất đáng nể trọng. Trong suốt quãng đời chiến đấu của mình, ông đã chỉ huy đơn vị đánh gàn 200 trận (riêng ông trực tiếp đánh 70 trận), phá hủy 145 xe quân sự, 20 xe tăng và xe bọc thép, 1 xe cần cẩu hạng nặng, lật đổ 17 đâu máy và 85 toa xe lửa chở vũ khí, quân trang, quân dụng, lương thực của địch và tiêu diệt hàng nghìn tên xâm lược. Ngay từ lúc mới 3 tuổi quân, 20 tuổi đời, ông đã được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký tặng danh hiệu "Chiến sĩ toàn quốc" trong phong trào thi đua ái quốc năm 1951 - 1952 với thành tích "đã nghiên cứu được cách đánh mìn tự động 100%, phá 3 đầu tàu và 25 toa xe địch".


Nguyễn Huy Trường không những là một chiến sĩ dũng cảm, người chỉ huy tài ba mà còn là "Cây sáng kiến" có hạng. Trên cơ sở nghiên cứu cách đánh "mìn giật dây", "mìn điện có người điều khiển" để phát triển thành "mìn điện tự động", "bán tự động" hay còn gọi là "mìn tự động theo ý muốn", đặc biệt là "món" MÌN SỜ do ông tự thiết kế và chế tạo từ đạn cối 81 hoặc đạn pháo 105mm của địch bị điếc, trở thành nỗi kinh hoàng, luôn luôn ám ảnh những tên lính đi làm nhiệm vụ dò mìn, hoặc đi càn mà phải qua những nơi nghi ngờ có mìn của ta. Cái thứ "mìn sờ" này hễ chạm tay vào đất, định bới lấy lên là nó nổ liên. Và, nó đã nổ liên tiếp trên đường số 5, đường số 9, đường 17, đường 20. Mình ông đã trực tiếp đánh 7 quả, diệt 32 tên địch. Ông còn sáng tạo nhiều cách đánh với những kỹ thuật, chiến thuật khác nhau như "cạm điện của mìn tự động", "mìn ngỗng có cột chống", "hố không mìn"... làm cho quân địch kinh hồn, bạt vía. Ông nhớ mãi trận đánh chặn quân cứu viện cho cứ điểm Điện Biên Phủ ở đoạn đường sắt Cao Xá - Đồng Niên trên trục đường số 5, cách thành phố Hải Dương khoảng 3km. Trận này, ông đã chỉ huy đơn vị dùng chiến thuật "ta và địch cùng đánh... địch", chỉ với 2 quả min, đã lật đổ 2 đoàn tàu quân sự của chúng vào 9 giờ sáng ngày 3-5-1954 và 4 giờ chiều cùng ngày. Kết quả là 1 đầu tàu vỡ toác, 5 toa xe bị đổ, 120 tên địch chết và bị thương.

   Ai về Cao Xá - Đồng Niên
   Mà xem mưu mẹo đánh mìn của ta
   Chôn mìn, hố để hở ra
   Lính dò mìn đến giúp ta, lắp vào
   Tàu qua, mìn nổ, lật nhào
   Hỏi rằng tài trí ai nào hơn ai?


Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Do chiến trận liên miên nên sức khỏe có nhiêu giảm sút, không thể ở quân đội lâu dài, ngày 31-7-1958, ông chuyển ngành sang làm việc ở Bộ Giao thông vận tải - ngành đường biển. Đến ngày 1-7-1989, ông về nghỉ hưu tại phường Quán Trữ, thành phố Hải Phòng. Người CCB già ấy vẫn tiếp tục công tác xã hội tại địa phương, từ Đảng ủy phường, Hội đồng nhân dân, bí thư chi bộ cụm, rồi phó chủ tịch MTTQ. Bây giờ, ông lại đảm nhận chức Chủ tịch Hội người cao tuổi phường. Việc nào ông cũng hoàn tất một cách trọn vẹn với hiêu quả cao nên thành phố đã tặng ông nhiều bằng khen.


Ông là chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 1952 và được tặng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Huân chương Chiến thắng hạng ba, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Nhưng hiện thời, ông vẫn là Nguyễn Huy Trường như xưa, không đòi hỏi, kể công mà vẫn vui vẻ, sống chan hòa cùng bà con phường khóm, sẵn sàng giúp đỡ mọi người và thích làm việc thiện. Ông còn có một niềm say mê nữa là viết sách. Mấy năm qua, ông đã lặn lội, đi ngược thời gian, tìm gặp các nhân chứng, đến các địa điểm xưa đã từng xảy ra những cuộc chiến đấu oanh liệt của quân và dân Hải Dương chống lại đội quân viễn chinh của thực dân Pháp trên địa bàn tỉnh nhà, ghi chép, dựng lại các sự kiện, cùng với một số bạn bè tâm huyết tập hợp lại, viết thành sách. Hội khoa học lịch sử thành phố Hải Phòng và Hội đồng ngũ Hải Dương - Hưng Yên tại Hải Phòng đã cho in và phát hành 3 tập, mỗi tập dày trung bình 200 trang với tên gọi "Đường 5 anh dũng quật khời”. Tập 4 đang được soạn thảo. Đó là niềm vui và cũng là nguồn an ủi, động viên ông. Nhất là ông lại có một gia đình mẫu mực mà thành phố Hải Phòng đã công nhận.


(Đăng báo Hải Dương
số 197 (3977) tháng 4-1998)


Tiêu đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:18:39 pm
CỘNG HOÀ XẢ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hải Phòng, ngày 15 tháng 7 năm 1998

THƯ GỬI BAN BIÊN TẬP SÁCH
“ ĐƯỜNG 5 - ANH DŨNG - QUẬT KHỞI “


Cuốn sách “Đường 5 - Anh dũng - Quật khởi” rất bổ ích cho những người đã từng biết về Đường 5 và đặc biệt cho con cháu mai sau. Nó có giá trị khoa học, có nhiều sự kiện mang tính sử liệu cao lại được trình bày súc tích, cảm động.

Ban Biên tập bỏ ra sức lao động nhiều nhưng tài chính lại eo hẹp mà xuất bản được 4 tập, đó là sự cố gắng lớn rất đáng trân trọng.

Để góp phần công sức cho xuất bản những tập tiếp theo, từ đó góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ hiện nay và mai sau, tôi xin gửi tặng một số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vào quỹ xuất bản, rất mong được chấp nhận vì đây là món quà chân thành của tôi.

Xin gửi tới Ban Biên tập lời chào kính trọng!


NGUYỄN GIA THẢO
Tổng Giám đốc Công ty Da giầy Hải phòng



Hải Phòng ngày 10 tháng 5 năm 1998

Kính gửi: BAN BIÊN TẬP "ĐƯỜNG 5 ANH DŨNG QUẬT KHỞI"


Nhân dịp chúng cháu được đọc 2 tập "Đường 5 anh dũng quật khởi", chúng cháu rất cảm động và vô cùng kính phục các cụ. Trong lúc đất nước có muôn vàn khó khăn mà các cụ vẫn vui vẻ, hăng hái đánh giặc bằng mọi cách làm cho kẻ địch dù mạnh như đế quốc Pháp, Mỹ cũng phải khiếp vía, kinh hồn. Và cũng nhờ có các cụ đã chiến đấu anh dũng kiên cường như vậy nên ngày nay chúng cháu mới được thừa hưởng hòa bình, hạnh phúc.

Cũng nhân dịp này, chúng cháu gọi là có chút ít đóng góp với Ban biên tập 100.000đ. Kính chúc Ban biên tập và toàn thể các cụ là tác giả luôn có sức khỏe dồi dào, cuộc sống hạnh phúc và viết thêm nhiều hơn nữa.

ĐÀO THÚY HÀ
(62 phố Quang Trung HP)


LỜI CẢM ƠN


Chúng tôi trân trọng cảm ơn các vị lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, các quý vị dưới đây đã hết lòng giúp đỡ, khuyến khích, tài trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái bản tập sách này. Đó là: Quân khu 3, Tỉnh ủy Hưng Yên, Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng, tỉnh Hải Dương, tỉnh Hưng Yên, Bưu điện Hải Phòng, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Hải Phòng, Công ty xăng dầu khu vực 3, Nhà xuất bản Hải Phòng, Công ty vận tải biển (VOSCO), Công ty than Đông Bắc và các quý vị: Thượng tướng giáo sư Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Văn Kha ủng hộ bằng tiên nhuận bút của mình; ông Nguyên Gia Thảo, Tổng giám đốc Công ty Da giày Hải Phòng, chị Đào Thúy Hà có tiền tài trợ và thư cổ vũ kèm theo.


HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ HẢI PHÒNG
BAN LIÊN LẠC ĐỒNG ĐỘI TỈNH ĐỘI
HẢI DƯƠNG - HƯNG YÊN TẠI HẢI PHÒNG