Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 08:15:38 pm



Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 08:15:38 pm
Tên sách: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 1997
Số hoá: ptlinh, quansuvn



LỜI NÓI ĐẦU


Từ ngày Nam Bộ kháng chiến (23 tháng 9 năm 1945) đến trước ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (19 tháng 12 năm 1946), một phong trào Nam tiến, hướng về Nam Bộ, chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ kháng chiến đã bùng nổ sôi nổi, mạnh mẽ, rộng khắp các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và trong các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tiếp nối tinh thần quật khởi, toàn dân nhất tề đứng lên, đập tan chế độ thực dân phong kiến, giành lại độc lập dân tộc trong Cách mạng tháng Tám, phong trào Nam tiến thể hiện ý chí quật cường của toàn dân trước họa xâm lăng, khẳng định chân lý bất diệt: nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, Trung - Nam - Bắc là một nhà.


Phong trào Nam tiến tuy chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nhưng có ý nghĩa rộng lớn và vô cùng sâu sắc.

Những năm gần đây, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã tổ chức việc sưu tầm tư liệu và bước đầu nghiên cứu về phong trào Nam tiến. Năm 1995, cuốn sách "Chi đội 3 giải phóng quân Nam tiến" đã được xuất bản. Cuốn sách "Chi đội Vi Dân" chuẩn bị ra mắt bạn đọc. Ở các tỉnh phía Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về phong trào Nam tiến, trong đó cuốn sách "Chi đội Hải ngoại 4 (chi đội Trần Phú)" của Thiếu tướng Lê Quốc Sản đã được xuất bản.


Được sự đồng ỷ của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, trong tháng 9 năm 1997, tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam phối hợp với Bộ tư lệnh Quân khu 7 đã tổ chức cuộc Hội thảo khoa học nhằm tiếp tục sưu tập tư liệu và nghiên cứu về đề tài này.


Cuốn sách "Phong trào Nam tiến 1945-1946" tập hợp một số bài viết gửi đến cuộc hội thảo, chủ yếu là những bài viết của các cán bộ, chiến sĩ đã từng Nam tiến, từ Bắc Bộ, Trung Bộ và từ Hải ngoại (Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia) về nước cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang Nam Bộ, Nam Trung Bộ kháng chiến chống thực dàn Pháp xâm lược.


Viện Lịch sử quân sự Việt Nam rất mong sẽ tiếp tục nhận được nhiều tư liệu, nhiều bài viết về phong trào Nam tiến; mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phê bình cuốn sách này.


Nhân dịp cuốn sách "Phong trào Nam tiến 1945-1946" được xuất bản, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chân thành cảm ơn các chiến sĩ Nam tiến, các nhà khoa học đã cung cấp tư liệu và viết bài cho cuộc hội thảo; cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã nhiệt tình và khẩn trương giúp cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc.


VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 08:16:28 pm
HỒ CHÍ MINH

GỬI ĐỒNG BÀO NAM BỘ

Hỡi đồng bào Nam Bộ!

Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật, thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng hoặc chạy trốn. Nay vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân Pháp hoặc bí mật hoặc công khai mò lại. Trong 4 năm, họ đã bán nước ta hai lần. Nay họ lại muốn thống trị dân ta lần nữa.


Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp: "Thà chết tự do hơn sống nô lệ".

Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng ta là chính đáng.

Tôi chỉ muốn dặn đồng bào Nam Bộ một lời: "Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước".

Nước Nam độc lập muôn năm.
Đồng bào Nam Bộ muôn năm.


Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 1945


Báo Cứu quốc, số 54, ngày 29-9-1945


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 08:18:04 pm
NAM BỘ KHÁNG CHIẾN


Nhạc và lời: TẠ THANH SƠN


Mùa thu rồi ngày hăm ba ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến.

Rền khắp trời lời hoan hô dân quân.

Nam nhịp chân tiến ra trận tiền.

Thuốc súng kém chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước.

Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng.

Cờ thắm tung bay ngang trời, sao vàng xao xuyến khắp nơi bưng biền.    

Một lòng nguyện với tổ tiên.

Thề quyết chống ngoại xâm.

Thề quyết chống quân gian tham.

Ta đem thân ta liều cho nước.

Ta đem thân ta đền ơn trước.

Muôn thu sau lưu tiếng anh hào.

Người dân Việt Nam lắm chí cao

Xây giang san hạnh phúc muôn đời.

Nền độc lập khắp nước Nam.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Năm, 2021, 09:55:05 pm
NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN Ở
MIỀN NAM VÀ CUỘC NAM TIẾN TRONG THỜI ĐẠI MỚI


Trung tướng PGS NGUYỄN ĐÌNH ƯỚC
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Viêt Nam


Cách đây 52 năm, vào lúc rạng sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh giúp sức, thực dân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.

Sôi sục căm thù quân cướp nước, kiên quyết bảo vệ độc lập tự do vừa giành được trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, quân dân Sài Gòn dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề vùng dậy bằng mọi thứ vũ khí có trong tay tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, anh dũng đánh trả quân địch ở tất cả các đường phố xung yếu, các đầu cầu, vây chặt chúng trong thành phố.


Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, ngay từ chiều ngày 23 tháng 9, nhân dân Sài Gòn đã triệt để tổng đình công, bãi công, bãi khóa, bất hợp tác với giặc. Các công sở, hãng buôn, nhà máy đều đóng cửa. Chợ không họp. Chướng ngại vật mọc lên khắp nơi. Nhiều vị trí đóng quân, kho tàng của địch bị đánh phá. Điện nước bị cắt. Công nhân các nhà máy vừa làm nòng cốt trong các hoạt động kháng chiến trong thành phố, vừa khẩn trương chuyển máy móc thiết bị ra ngoại thành, đến các vị trí an toàn để lập công binh xưởng. Các trận đánh ác liệt của quân và dân ta ở Cầu Bông, Thị Nghè, Khánh Hội, Gia Định, Đa Cao... đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Chỉ trong tuần lễ đầu hàng trăm tên giặc đã phải đền tội. 160 kho tàng, xí nghiệp, 80 tàu xuồng, 200 xe ô tô, 20 đầu máy xe lửa của chúng bị phá hủy. Quân đội viễn chinh Pháp bị vây chặt trong nội thành Sài Gòn hơn 4 tuần lễ. Kế hoạch đánh chiếm thành phố bằng "một cuộc hành quân cảnh sát" sau đó đánh chiếm Nam Bộ trong 18 ngày của bọn thực dân hiếu chiến ngay từ đầu đã bị thất bại. Mặc dù vậy, sau khi có thêm viện binh, lại được quân Anh và quân Nhật (theo lệnh quân Anh) giúp sức, từ cuối tháng 10 năm 1945, quân Pháp dần dần phá được vòng vây xung quanh Sài Gòn rồi mở rộng phạm vi đánh chiếm các thành phố, thị xã thuộc Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Cũng giống như Sài Gòn, ở đâu địch cũng bị quân dân ta chặn đánh quyết liệt.


Với ý chí sắt đá vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, nhân dân miền Nam là những người đi đầu trong cuộc kháng chiến, đã ngăn chặn từng bước, đánh đòn đầu tiên vào âm mưu xâm lược và kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc của quân dân cả nước ta. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta ở miền Nam đã cống hiến những kinh nghiệm đầu tiên, nóng hổi và tạo điều kiện cho miền Bác chuẩn bị để bước vào cuộc toàn quốc kháng chiến (từ 19-12-1946).


Cuộc kháng chiến anh dũng của quân dân ta ở Sài Gòn nói riêng, ở miền Nam nói chung ngay từ đầu đã được Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm. Ngày 23 tháng 9, sau khi nhận được điện báo của Xứ ủy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng họp khẩn cấp, nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương quyết định kêu gọi nhân dân cả nước huy động sức người sức của cho cuộc chiến đấu ở tiền tuyến miền Nam, thành lập ngay các đơn vị Nam tiến, cử nhiều cán bộ vào tăng cường cho mặt trận miền Nam. Ngày 26 tháng 9 quân dân miền Nam đã được nghe những lời thống thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đài tiếng nói Việt Nam từ Thủ đô Hà Nội truyền đi:


"Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp "Thà chết tự do hơn sống nô lệ".

Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà"...1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.27)


Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương còn cử nhiều đoàn cán bộ thay mặt Chính phủ đi thăm, động viên quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ chiến đấu. Trong thư gửi các chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ, Nam Trung Bộ (tháng 12 năm 1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

"Từ ba tháng nay, các anh chị em đã đem xương máu ra để giữ lấy từng tấc đất của Tổ quốc.

Tôi, và tất cả đồng bào ở Bắc Bộ, và phía bắc Trung Bộ, đã bao nhiêu lần tức giận khi nghe bọn thực dân Pháp đạp lên lãnh thổ của ông cha ta, giết hại nòi giống ta.

Đã bao nhiêu lần phấn khởi khi nghe những chiến công oanh liệt do những vị vô danh và hữu danh anh hùng của dân tộc tạo nên, đã bao nhiêu lần hồi hộp cảm động trước những gương hy sinh vô cùng dũng cảm của những người con yêu của Tổ quốc.


Do đó, tôi càng tin chắc rằng: với một nước đã có những người con hy sinh như thế, anh hùng như thế, đã có một khối toàn dân đoàn kết như thế, nước ta nhất định không bị mất lại một lần nữa"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.134).

Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam diễn ra sôi nổi khắp nơi với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.


Đặc biệt sôi nổi và rầm rộ là phong trào tòng quân xung phong Nam tiến. Các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều lập "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện. Hàng chục vạn thanh niên, phụ nữ, thiếu niên và cả các cụ phụ lão thuộc đủ mọi tầng lớp: công nhân, nông dân, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, thầy thuốc, kỹ sư, nhà văn, nhà giáo, viên chức, cả những nhà sư, những kiều bào vừa về nước cũng tình nguyện gia nhập giải phóng quân xung phong vào miền Nam cùng đồng bào miền Nam chiến đấu chống xâm lược.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Năm, 2021, 09:56:15 pm
Với tinh thần đó, với ý chí đó, chỉ ba ngày sau khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn, chi đội Nam tiến đầu tiên của miền Bắc gồm 3 đại đội giải phóng quân Bắc Cạn, Bắc Sơn và Hà Nội đã lên đường từ ga Hàng Cỏ. Cùng đi với chi đội còn có 72 cán bộ quân sự vừa tốt nghiệp khóa 4 Trường quân chính Trung ương (tức Trường quân chính kháng Nhật trước đây) được Trung ương và Bộ Quốc phòng cử vào tăng cường cho mặt trận Nam Bộ. Tiếp theo, các chi đội: Bắc Bắc, Đông Triều, Nam Định, Ninh Bình, Kiến An, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi... cũng lần lượt lên đường. Những tháng cuối năm 1945 và đầu năm 1946 hầu như không ngày nào không có quân Nam tiến, không có chuyến tàu nào không chở quân Nam tiến, ở tỉnh Quảng Nam cứ 100 thanh niên nhập ngủ thì có 37 người xung phong vào các đơn vị Nam tiến. Đông nhất là tỉnh Quảng Ngãi đã có 10 chi đội Nam tiến với khoảng 15.000 người, chiếm tới 85% tổng số bộ đội và tự vệ toàn tỉnh trong thời điểm đó.


Trong cuộc Nam tiến đầy khí thế hào hùng này của dân tộc đã có hàng vạn gia đình ở khắp mọi miền Tổ quốc gửi con em mình ra trận. Nhiều gia đình có ba bốn người con cùng xung phong Nam tiến. Việc bảo đảm mọi mặt cho bộ đội Nam tiến hoàn toàn do địa phương đảm nhận. Nhân dân các địa phương có bộ đội Nam tiến đều dành những tình cảm nồng thắm cho đoàn quân Nam tiến của địa phương mình, gửi tặng các chiến sĩ Nam tiến quần áo, thuốc men, thực phẩm. Những khẩu súng tốt nhất, những băng đạn mới nhất được dành cho đoàn quân Nam tiến. Những buổi lễ trao tặng vũ khí và tiễn đưa bộ đội Nam tiến được tổ chức hết sức trọng thể, xúc động. Hướng về miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt đã sớm trở thành tình cảm cao đẹp của mỗi người dân, thành truyền thống của quân dân cả nước trong thời đại mới. Thời đại mà dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, có Đảng cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, có cương lĩnh chính trị với mục tiêu chiến lược thống nhất, có quân đội cách mạng thống nhất của cả nước, thì sự tổ chức và động viên sức mạnh của cả nước cho chiến tranh giải phóng hoặc bảo vệ Tổ quốc dù diễn ra trên bất cứ địa bàn nào của đất nước là lẽ đương nhiên và là tất yếu.


Nam Bộ kháng chiến là biểu hiện sáng ngời của ý chí bất khuất, tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân tộc ta ngay sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám. Và Nam Bộ lúc đó cũng là nơi hội tụ ý chí quyết chiến thắng, quyết không chịu mất nước một lần nữa của đồng bào cả nước, của kiều bào ta ở Thái Lan, ở Cam-pu-chia và ở Lào. Kiều bào ta đang sống ở các nước trên đã tổ chức các đội quân hải ngoại hành quân về tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nước cộng hòa non trẻ. Với Quân đội nhân dân Việt Nam, Nam tiến là một trang sử oanh liệt, là một cuộc hội quân của cả nước thể hiện chức năng, nhiệm vụ "Nước còn giặc còn đi đánh giặc", "Đâu có giặc là ta cứ đi'' như trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tháng 12 năm 1944) đã nhấn mạnh: "Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.


Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi khắp từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr.378).


Các đội quân Nam tiến là một biểu hiện rực rỡ ý chí chiến đấu cho độc lập thống nhất của đất nước, của toàn quân và toàn dân ta trong những tháng đầu của Nam Bộ kháng chiến. Sau đó các đội quân này đã hòa nhập vào cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam thành một khối thống nhất càng làm nổi bật sức mạnh và truyền thống của một dân tộc, một Đảng, một quân đội thống nhất.


Sự kiện Nam Bộ kháng chiến và cuộc Nam tiến của dân tộc cách đây 52 năm là một trang sử chói lọi trong những ngày đầu của thời đại mới của lịch sử dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh. Nam tiến là hình ảnh của cả nước ra trận, phản ánh ý chí "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một". Hình ảnh cả nước ra trận đã được thể hiện nổi bật trong cả cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên cả hai đầu của Tổ quốc.


Có thể nói những bài học lịch sử hơn 50 năm trước là vô cùng quý giá, luôn luôn mới. Tinh thần và ý chí của sự kiện lịch sử ấy đã, đang và sẽ tiếp tục cổ vũ động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, phát huy đồng bộ sức mạnh của cả nước để đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2021, 08:03:43 am
CÁC "CHI ĐỘI NAM TIẾN" VÀ CÁC "CHI ĐỘI VIỆT KIỀU"
SỚM CÓ MẶT TRONG CUỘC "KHÁNG CHIẾN NAM BỘ"
TỪ NGÀY 23 THÁNG 9 NĂM 1945


GS. TRẦN VĂN GIÀU


Nửa đêm 22 rạng 23 tháng 9 năm 1945, đúng 28 ngày sau khi đồng bào Sài Gòn khởi nghĩa thành công, tiếp theo Hà Nội, Huế. Đêm ấy quân Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh, đánh chiếm một số trụ sở của chính quyền cách mạng. Nội sáng 23, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát hành lời hiệu triệu đồng bào:

... "Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt Pháp và tiêu diệt tay sai của chúng. Hỡi anh em binh sĩ, dân quân tự vệ! Hãy nắm chắc vũ khí, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu".


Hiệu triệu phát hành toàn Nam Bộ, lên Việt kiều ở Cam-pu-chia và ra Trung Bộ. Một bức điện khẩn xin ý kiến Trung ương được gửi ra Hà Nội. Đồng bào Sài Gòn, Nam Bộ vùng lên và cấp kỳ được tiếp sức bởi đồng bào cả nước và đồng bào ở những nước lân cận. Cả dân tộc một lòng.

Kháng chiến mới nổ ra thì tôi được tin Việt kiều các tỉnh Cam-pu-chia tiếp giáp với Nam Bộ gọi nhau về Châu Đốc đầu quân.

Không quá vài tuần sau, tôi từ Chợ Đệm (nơi trụ sở mới của Bộ chỉ huy mặt trận) phóng xe lên Xuân Lộc (Biên Hòa) để đón tiếp các đồng chí Vũ Đức, Quang Trung, Nam Long dẫn mấy chi đội Nam tiến vào tới rồi! Khó hiểu thật: đường hỏng, cầu sập, xe ọc ạch, làm sao mà hàng ngàn thanh niên với súng ống, đạn dược, lương thực vượt ngàn cây số từ Bắc vào Nam nhanh như Quang Trung ngày xưa điều quân ra Bâc đánh Tôn Sĩ Nghị. Tôi không có điều kiện để biết hết thành tích của các chi đội Nam tiến, nhưng tôi đã chứng kiến tinh thần phấn khởi, khó tả nổi của đồng bào Nam Bộ, trước hết là của quân dân Sài Gòn khi được tin và thấy tận mắt các chiến sĩ từ Bắc, Trung vào cùng với mình đánh trả quân thù cướp nước.


Từ tết năm 1946 tôi sang mặt trận miền Tây Đông Dương, nhằm mục đích là:

1) Cùng với người yêu nước Cam-pu-chia biến Cam-pu-chia thành một "cứ điểm chiến lược" - mà đồng chí Văn ở Hà Nội gọi là một Appui logistique cho cuộc kháng chiến, vừa để cho Pháp khó lấy người, lấy của, lấy lãnh thổ Chùa Tháp để đàn áp kháng chiến ở Nam Bộ, vừa để góp sức nhỏ mọn của bọn tôi cho 5 triệu người dân Cam-pu-chia cùng với người Việt Nam (ở Nam Bộ) đánh quân Pháp xâm lược, tạo cái thế "đông có mầy, tây có tao" căng địch ra mà diệt.

2) Tập hợp, động viên lực lượng của Việt kiều ở Thái và ở tây Cam-pu-chia, lập thành những bộ đội có võ trang đầy đủ, lần lượt đưa về Nam Bộ là nơi đã kháng chiến cả nửa năm trời rồi, mà cũng là nơi có ít súng, ít đạn, lại phải đối đầu với những sư đoàn thiết giáp và bộ binh của Massu Leclerc bên Pháp đưa qua.

3) Tự tạo ra điều kiện và với sự trợ lực của phe tiến bộ người Thái (Sirithai) trong và ngoài chính quyền để một mặt là tuyên truyền quốc tế cho kháng chiến Việt Nam, mặt khác là "kiếm" viện trợ về vũ khí ngay trên đất Thái và cả ở một vài xứ láng giềng của Thái.


Tất cả ba việc đó, bọn tôi đã làm được một phần đáng kể. Nếu không có cuộc đảo chính của tướng Phibul Songram năm 1948, thì bọn tôi có thể làm nhiều hơn.

Tôi chỉ xin ghi lại mấy việc thuộc vài đề tài của các bạn đề ra: Các chi đội Việt kiều về Nam Bộ. Tôi chỉ nói cái gì mà bài đội quân Việt kiều chưa nói ở trong báo cáo của các đồng chí; còn phân lớn điều các đồng chí nói thì tôi lại không biết vì tôi không lúc nào trực tiếp tác chiến cả! Cũng có, nhưng trong trận quân Khơmer Issarak và quân Việt kiều đánh Ampin, ở chân núi Đăngrek, tôi có đi "lược trận’’ mà trong túi dết tôi chỉ có cây súng lục 6/35 bắn ghen thôi! Có mặt ở chỗ súng nổ bom rơi chẳng qua là để anh em thấy chính trị viên cũng ra trận chớ không phải chỉ biết ở văn phòng!


Bộ đội số 1 do Ngô Thất Sơn và Vàng chỉ huy đi đường bắc Biển Hồ về biên giới Tây Ninh - Soài Riêng. Sơn là cận vệ thân thiết của tôi giỏi tiếng Khơmer sau gọi là Srivotha, lấy tên một người anh hùng.

Bộ đội số 2 là bộ đội Quạng Trung do Thuận, Hoàng Xuân Bình chỉ huy, đi đường nam Biển Hồ, định về hoạt động ở biên cảnh Tà Keo - Châu Đốc.

Bộ đội số 3 (cũng gọi là Cửu Long 2) do Phúc chỉ huy, đi về Nam dọc theo biển, đường núi gay go. Trước đó, tôi và Phúc có đi Mã-lai xin được khá nhiều súng đạn của du kích kháng Nhật, có cả mấy đồng chí Mã-lai cùng về Nam Bộ. Nói thêm rằng, trong số vũ khí của bộ đội này có súng đạn mà Phúc và tôi chở từ nhà của Nai Tiang và Thôngin buổi sáng sau khi Phibul Songram làm đảo chính. Nai Tiang và Thôngin nguyên là bộ trưởng.

Bộ đội 1, 2, 3 phần lớn là Việt kiều Báttambang.

Bộ đội số 4 (bộ đội Trần Phú) tất cả là Việt kiều ở Thái do các anh Sản, Tẩm... chỉ huy, bộ đội đông nhất. Về hoạt động ở vùng Tiền Giang, Tháp Mười, Sa Đéc.

Tất cả bốn bộ đội Việt kiều đều được trang bị tốt, hầu hết là tiểu liên Mỹ, đạn khá nhiều; nón sắt, quân phục tử tế. Tác chiến hết sức gan dạ. Trên đường về, người Cam-pu-chia ủng hộ. Về tới Nam Bộ, đồng bào ta nhiệt tình hoan nghênh.


Các đồng chí Việt Nam hoạt động chính trị ở Thái, ở Báttambang đã đem hết sức mình ở phía đông bắc thì giúp cho Lào tiếp tục kháng chiến, ở phía đông nam thì giúp Cam-pu-chia tổ chức và phát triển phong trào du kích chống Pháp. Về sau tôi không rõ, song những năm từ 1946, 1947, qua đến 1948, người Cam-pu-chia có Ủy ban dân tộc giải phóng hợp tác rất chặt chẽ với chúng tôi; trong ủy ban này có người Cam-pu-chia Trà Vinh sau này làm chủ tịch Ủy ban dân tộc được tổ chức ở miền Đông Nam Cam-pu-chia. Đó là đồng chí Sơn Ngọc Minh. Sơn Ngọc Minh đã từng đi từ Báttambang về Nam Bộ với hai chi đội Việt kiều về nước; đồng chí được người Cam-pu-chia vô cùng cảm phục, giống như Ngô Thất Sơn vậy. Ủy ban dân tộc giải phóng Cam-pu-chia tổ chức ở tỉnh Báttambang đã lập được nhiều đội du kích mạnh, một đội mạnh là đội của Saru, Savan, Đapchun đã có lần đánh chiếm tỉnh lỵ Xiêm Riệp rồi lên chiếm Đế thiên, Đế thích một thời gian, khi ấy bộ đội du kích của người Cam-pu-chia chiếm Xiêm Riệp được sự tiếp viện của một bộ phận chi đội Việt kiều số 1 của Sơn, Vàng.


Cuối 1948, hay đầu 1949 - tôi nhớ không rõ - tôi về Việt Bắc, từ đó không còn biết gì ở mặt trận miền Tây Đông Dương nữa.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2021, 08:05:58 am
NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LỰC LƯỢNG TỪ XA VỀ CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM CHIẾN ĐẤU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, MỘT YÊU CẦU CÓ Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN


Thiếu tướng LÊ VĂN DŨNG
Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7


Cách đây năm mươi hai năm, quân dân Nam Bộ với tinh thần "Độc lập hay là chết" đã nổ phát súng mở đầu cuộc kháng chiến ở miền Nam cũng đồng thời bắt đầu cuộc chiến tranh giải phóng hào hùng của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài ba mươi năm, thực hiện nhiệm vụ "đi trước" trong tình thế cực kỳ khó khăn của một đất nước vừa mới giành lại độc lập sau hơn tám mươi năm bị đô hộ.


Ngày 25 tháng 8 năm 1945 nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành sứ mạng lịch sử cùng với nhân dân cả nước, khởi nghĩa cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào và Chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.


Nhưng với ý đồ khôi phục lại quyền thống trị của chúng đối với Việt Nam và các nước Đông Dương, 0 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh, gây hấn ở Sài Gòn, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Chúng hy vọng nhanh chóng bình định Nam Bộ để làm bàn đạp tiến chiếm miền Trung và Bắc Việt Nam. Nhưng chúng đã lầm. Cuộc khởi nghĩa tháng Tám đã biến thành cuộc chiến tranh cách mạng của hàng triệu con người Nam Bộ sẵn sàng hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc.


Sáng ngày 23 tháng 9, Ủy ban nhân dân Nam Bộ ra tuyên cáo quốc dân kêu gọi đồng bào kháng chiến.

Sau khi lời kêu gọi của Ủy ban nhân dân Nam Bộ phát ra, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã nhanh chóng bước vào cuộc chiến đấu đầy tự tin và quyết liệt.


Buổi chiều 23 tháng 9 tiếng súng diệt địch nổ vang kháp nội thành. Mười sáu khu tác chiến nội thành được thành lập. Ở ngoại thành ba mặt trận Đông, Tây và Nam, thành thế bao vây quân thù. Tuy vũ khí ít và thô sơ, nhưng quân và dân ta thật hăng hái và cực kỳ gan dạ. Chỉ trong vòng một tuần lễ, 138 xí nghiệp và công sở lớn, 22 kho tàng, 4 chợ, 30 tàu lớn, 51 tàu nhỏ, 200 xe hơi và một số cầu bị đốt phá. Gần 300 tên giặc bị đền mạng.


Gặp phải sức đề kháng quyết liệt của nhân dân ta, sau 8 ngày gây hấn, thực dân Pháp chỉ chiếm đóng được các vị trí, công sở then yếu ở khu vực trung tâm thành phố. Thành phố không họp chợ, không buôn bán, không điện nước, lương thực thực phẩm bị hao cạn. Viện binh chưa tới kịp. Bọn Việt gian tay sai ra mặt hoạt động bị thanh niên ta truy bắt, nghiêm trị. Nhiều lần dựa vào quân Anh, quân Nhật, đánh lấn ra ngoài, cố phá vỡ vòng vây, nhưng đều thất bại, quân Pháp lâm vào tình trạng khốn đốn.


Trước tình hình đó, thực dân Pháp nhờ Gracey làm trung gian, xin thương lượng với Ủy ban nhân dân Nam Bộ để thực hiện ý đồ "dục hoãn cầu mưu", chờ đại quân của tướng Lecỉerc đến Sài Gòn rồi sẽ mở một đợt tấn công mới nhằm phá vỡ vòng vây và chiếm các tỉnh Nam Bộ. Ta biết như vậy, nhưng bên ta cũng cần một thời gian hòa hoãn để chuẩn bị đối phó với đợt tấn công mới của chúng.


Kết quả hơn một tháng vây hãm quân xâm lược trong nội thành Sài Gòn đã thể hiện khí phách anh hùng của nhân dân Nam Bộ và của cả nước, phá vỡ ý đồ nhanh chóng chiếm lại Nam Bộ của thực dân Pháp và tạo điều kiện cho các tỉnh Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ chuẩn bị kháng chiến.


Từ khi có viện binh cho đến ngày nổ súng tiến công Hà Nội, thực dân Pháp đã phải sử dụng toàn bộ lực lượng mà theo dự kiến ban đầu của chúng là để đánh chiếm cả Đông Dương, nhưng vẫn không lập được xứ "Nam Kỳ tự trị" mà trái lại chúng đã sa lầy vào một cuộc chiến tranh du kích.


Sau hơn một năm hai tháng hai mươi bảy ngày kháng chiến (23-9-1945 - 19-12-1946), quân dân Nam Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ "đi trước” mà lịch sử đã giao phó.


Tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt đồng bào cả nước tặng quân dân Nam Bộ danh hiệu vẻ vang Thành đồng Tổ quốc. Tuy nhiên, niềm vinh dự đó không chỉ dành riêng cho quân dân Nam Bộ mà là vinh dự chung của cả nước. Bởi vì ngay từ những ngày đầu cực kỳ khó khăn, quân dân Nam Bộ chiến đấu không đơn độc.


Ngày 8 tháng 9 năm 1945, hai ngày sau khi quân Pháp núp bóng quân Anh vào Sài Gòn, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi:

"... Hỡi đồng bào!

Hiện một số quân Pháp đã lọt vào nước ta. Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu"1 (Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.19).

Nền độc lập dân tộc vừa giành được đang bị đe dọa, đồng bào ta trong, ngoài nước theo dõi từng bước chân quân xâm lược, đợi lệnh Chính phủ sẵn sàng lên đường ra mặt trận.


Sau đêm địch gây hấn ở Sài Gòn (23 tháng 9 năm 1945), Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại phát lời khẩn cấp gửi đồng bào cả nước: 

"Phải trút toàn lực vào đó, hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam"1 (Những sự kiện lịch sử Đảng, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tập II, tr.129).

Có thể nói sau lời kêu gọi, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ cúng là cuộc chiến đấu của cả nước. Nhân dân các dân tộc từ biên giới phía Bắc đến mũi Cà Mau, đồng bào Việt kiều ở Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan... hướng về Nam Bộ, tích cực và khẩn trương chuẩn bị cả người, vật chất để đưa ra tiền tuyến.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2021, 08:08:05 am
Ngay trong những ngày Sài Gòn "trong đánh ngoài vây", những cuộc mít tinh, biểu tình sôi sục diễn ra trên cả nước, biểu thị lòng phẫn nộ và quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập. Khẩu hiệu "đả đảo thực dân Pháp xâm lược", "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến"... giương cao khắp thành thị, nông thôn. Hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ lập "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện vào những đoàn quân Nam tiến. Danh sách người tình nguyện có già, trẻ, gái, trai, công nhân, nông dân, kỹ sư, nhà văn, nhà giáo, viên chức, cựu binh sĩ... Một số nhà sư cũng cởi áo cà sa tình nguyện lên đường giết giặc. Ba ngày sau khi quân Pháp khởi hấn ở Sài Gòn đã có đơn vị Nam tiến đầu tiên rời ga Hàng Cỏ, Hà Nội.


Ngay từ đợt đầu, lực lượng Nam tiến đã có nhiều đơn vị, nhiều chi đội giải phóng quân từ Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, đội du kích Ba Tơ...


Chỉ một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều tổ chức mỗi tỉnh từ một đến hai chi đội1 (Chi đội tương đương tiểu đoàn đến trung đoàn, cũng có chi đội tương đương đại đội) Nam tiến.

Suốt dọc đường Nam tiến, nhân dân mang cờ, băng khẩu hiệu, bánh trái, cơm nước ra đón bộ đội. Nam tiến trở thành hình ảnh cả nước ra trận và nói lên ý chí "nước Việt Nam là một".

Nhiều đơn vị Nam tiến đã kịp vào Nam tham gia chiến đấu trên mặt trận Thị Nghè, Cầu Bông... và suốt dải đất từ Sài Gòn đến Cực Nam Trung Bộ, miền Tây Nam Bộ.

Sát cánh đồng bào trong nước, cùng ý chí "độc lập hay là chết", "nước Việt Nam là một", theo tiếng gọi cứu nước, đồng bào Việt kiều trên đất Lào, Cam-pu-chia hướng về Tổ quốc khẩn cấp chuẩn bị sẵn sàng về Nam Bộ kháng chiến. Lúc bấy giờ bên bờ sông Mê Công thuộc đất Thái Lan đã có bốn vạn Việt kiều sinh cơ lập nghiệp, thêm sáu vạn Việt kiều từ Lào sang cũng sẵn sàng về nước chiến đấu. Tinh thần yêu nước của đồng bào Việt kiều luôn được nuôi dưỡng trong suốt quá trình tha phương sinh cơ ỉập nghiệp, được nung nấu từ các phong trào yêu nước thế kỷ XIX, từ khi Đảng cộng sản Đông Dương chuẩn bị thành lập, đặc biệt qua các lớp huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước trong đồng bào Việt kiều, do chính đồng chí Nguyễn Ái Quốc (lúc bấy giờ lấy tên là Thầu Chín) thực hiện, lại được sự đồng tình chống Nhật của Đảng Thái tự do (Sérithay); chiến khu Việt kiều cùng lực lượng "Việt Nam Độc lập quân" đã ra đời từ những ngày Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương.


Việt kiều Thái Lan (một phần lớn cũng đồng thời là Việt kiều Cam-pu-chia sau này, vì lúc bấy giờ một phần đất Tây Bắc Cam-pu-chia thuộc Thái Lan) thực sự trở thành hậu phương trực tiếp của mặt trận Lào - Cam-pu-chia và là lực lượng tiếp tế về Nam Bộ. Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, chiến khu Việt kiều trên đất Thái Lan phát triển mạnh, thu hút những người tình nguyện vào lực lượng vũ trang chuẩn bị về nước, xây dựng thành từng đơn vị Hải ngoại, có tổ chức Đảng lãnh đạo, được huấn luyện và trang bị mạnh, đồng phục, đặc biệt là được rèn luyện ý chí chiến đấu. Từ trước ngày toàn quốc kháng chiến đến tháng 6 năm 1947, các chi đội Hải ngoại mang những tên Độc lập số 1, Quang Trung, Trần Phú, Cửu Long 2, với quân số mỗi chi đội từ trên dưới 100 đến trên 400 người đã lần lượt hành quân về nước.


Bên cạnh lực lượng Hải ngoại còn một lực lượng con em Việt kiều mang tên "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" ra đời theo tiếng gọi thiêng liêng "cứu quốc".

Hướng về Tổ quốc, trên dưới hai tháng trời, chiến sĩ Hải ngoại vượt hàng trăm, hàng ngàn cây số từ Thái Lan qua đất nước Cam-pu-chia đang bị địch chiếm đóng, băng qua núi cao, rừng rậm, sông suối, chịu đói, chịu khát, bệnh tật, đánh địch mở đường mà đi, lập chiến công ngay trên đường hành quân. Có những ngày ăn chuối xanh, ăn mít non thay cơm, có những chiến sĩ đã ngã xuống mà chưa được nhìn thấy Tổ quốc...


Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, nơi "đi trước về sau" đã trở thành mảnh đất thiêng liêng của các lực lượng từ xa hội tụ về, biến lời kêu gọi "hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam" của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành hành động thực tế. Đồng bào miền Nam đặc biệt tin tưởng, ưu ái những người con từ xa về để cùng chung sức kháng chiến. Chín năm kháng chiến đầy gian khổ, các chiến sĩ bộ đội Nam tiến, bộ đội Hải ngoại, bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân có mặt trên khắp chiến trường từ Cực Nam Trung Bộ đến mủi Cà Mau, từ đất liền ra hải đảo Phú Quốc thực sự hòa nhập, cùng lực lượng tại chỗ hợp thành tổ chức thống nhất lực lượng vũ trang cách mạng. Đặc biệt một bộ phận lực lượng Hải ngoại đã gia nhập đội quân tình nguyện quốc tế mang tên Sivôtha, hành quân lên đất Cam-pu-chia, cùng lực lượng cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia chiến đấu chống kẻ thù chung. Bất kỳ ở đâu, những chiến sĩ từ xa về Nam Bộ đều tỏ rõ bản chất quân đội cách mạng, đi dân nhớ, ở dân thương.


Các lực lượng từ phía Bắc vào, từ nước ngoài về đã góp phần quan trọng làm tăng sức mạnh chiến đấu của quân dân Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, là một bộ phận đã góp phần xây nên truyền thống vẻ vang và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang miền Nam thời chống Pháp nói riêng, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Có nhiều chiến sĩ bộ đội Nam tiến, bộ đội Hải ngoại đã trở thành cán bộ cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam, có những người đã trở thành anh hùng lực lượng vũ trang, trong đó có liệt sĩ Ngô Thất Sơn vừa là một chiến sĩ bộ đội Hải ngoại, vừa là một chiến sĩ quân tình nguyện.


Quá trình hình thành, xây dựng và hoạt động của các lực lượng từ xa về tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để lại những bài học quý giá về truyền thống, về khoa học xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng. Tuy nhiên trước nay đề tài này chưa được nghiên cứu tổng kết một cách có hệ thống và đầy đủ. Thực hiện công việc này là một yêu cầu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần làm rõ cuộc kháng chiến toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bổ sung và làm phong phú thêm các công trình lịch sử ba mươi năm chiến tranh giải phóng, lịch sử quân đội nhân dân... đồng thời góp phần giáo dục truyền thống, tổng kết kinh nghiệm lịch sử, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Năm, 2021, 09:34:45 am
VAI TRÒ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO NAM TIẾN 1945-1946


NGUYỄN QUỐC DŨNG
PGS-PTS, Phó viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trước âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã sớm dự liệu tình hình, chủ động chuẩn bị, tìm phương lược đối phó.


Sau lễ Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), chi đội Vi Dân, đơn vị vũ trang tập trung được hình thành từ đội công nhân xung phong thành Hoàng Diệu1 (Thành Hà Nội) đã tham gia giành chính quyền ở Thủ đô, được điều lên Chợ Bến (Hòa Bình) để tập trung huấn luyện quân sự, sẵn sàng cơ động khi có tình huống bất trắc. Tiếp đó, ngày 10 tháng 9, chi đội 3 giải phóng quân được điều vào Thanh Hóa, sẵn sàng đánh quân Pháp từ phía tây tràn sang.


Ở Sài Gòn và Nam Bộ, theo chủ trương của Trung ương, trong nửa đầu tháng 9 năm 1945, một mặt ta kiên quyết đấu tranh với phái bộ Đồng minh để giữ vững chủ quyền; một mặt khác ta thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ lo việc chuẩn bị kháng chiến ở Sài Gòn và các tỉnh; Sài Gòn - Chợ Lớn và vùng kế cận được chia thành 5 mặt trận, trong nội thành lập 14 tiểu khu và hơn 300 tổ, đội xung kích...


Tinh thần bảo vệ độc lập, bảo vệ chính quyền nhân dân hừng hực trong toàn dân, trên khắp cả nước.

Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp được quân Anh giúp sức, trắng trợn nổ súng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngay sáng hôm đó, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ ra lời kêu gọi: "Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược!".


Trên tư thế người dân nước độc lập, với khí thế quật cường sục sôi nhiệt huyết của những ngày Tổng khởi nghĩa vừa diễn ra chưa đầy một tháng, nhân dân Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ đã nhất tề đứng lên kháng chiến!


Đồng bào cả nước và Việt kiều ở nước ngoài sôi sục căm thù, một lòng hướng về Nam Bộ, hết lòng chi viện Nam Bộ kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư "gửi đồng bào Nam Bộ":

"... Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ.

Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Tôi chắc và đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.27).


Theo lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một phong trào Nam tiến đã bùng lên, vô cùng sôi nổi, rộng khắp ở Bắc Bộ và cả trong Việt kiều ở nước ngoài. Nhiều nơi, nhân dân họp mít tinh, tuần hành, giương cao khẩu hiệu xin Chính phủ cho vào Nam Bộ đánh giặc, ở Hà Nội và các thành phố, thị xã đều có "Phòng Nam Bộ"; trên các đường phố có bàn ghi tên những người tình nguyện vào Nam Bộ chiến đấu.


Ngay trong đêm 23 tháng 9, Bộ Tổng tham mưu điện khẩn vào Chiến khu 5, Chiến khu 6 là địa bàn gần Nam Bộ nhất yêu cầu đưa ngay lực lượng vào chi viện cho Sài Gòn. Hai ngày sau (25-9), một đơn vị giải phóng quân Ba Tơ (Quảng Ngãi) hành quân vào đến cầu Bình Lợi (Sài Gòn). Ngày 26, chi đội 3 giải phóng quân làm lễ xuất phát từ ga Thanh Hóa. Tiếp đó, các chi đội Vi Dân, Thu Sơn, Hoa Lư (chi đội Độc lập 1), Bắc Bắc... là các đơn vị (tương đương trung đoàn) vũ trang tập trung, trang bị mạnh của Bộ và các địa phương lên đường Nam tiến. Nhận được điện, công văn có đóng dấu "hỏa tốc" của Trung ương, các chi đội giải phóng quân, các tỉnh, các trường quân chính đều khẩn trương chọn những cán bộ và vũ khí tốt, tổ chức các đội quân Nam tiến và gấp rút lên đường. Khẩn trương hơn nữa, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng lên Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên; xuống Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định... cùng lãnh đạo các địa phương, tổ chức và đôn đốc các đơn vị Nam tiến. Ga Hàng Cỏ (Hà Nội), đặc biệt là ga Nam Định và ga Ninh Bình trở thành nơi tập kết, là điểm xuất phát của các đoàn quân từ các tỉnh Bắc Bộ Nam tiến. Từ Thanh Hóa trở vào, tàu đến ga nào, nhất là các ga Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi... ở đâu cũng có đông đảo nhân dân địa phương mang quà bánh ra úy lạo, hát vang các bài ca cách mạng, khích lệ và tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ lên đường Nam tiến. Nhiều chi đội đã được bổ sung từng trung đội, đại đội, hoặc nhiều thanh niên nam và nữ khỏe mạnh, hăng hái của các địa phương ngay trên đường hành quân.


Cùng với phong trào hướng về Nam Bộ, chi viện Nam Bộ, tổ chức các đơn vị vũ trang Nam tiến vô cùng rầm rộ ở khắp các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ, một phong trào hướng về Tổ quốc, quyên góp tiền mua vũ khí tốt, động viên con em gia nhập các đơn vị vũ trang, tổ chức các chi đội hải ngoại, cứu quốc quân hành quân gấp về Nam Bộ tham gia chiến đấu củng phát triển sôi nổi trong Việt kiều ở Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia. Nhiều Việt kiều ở Pháp, trong đó có những trí thức giỏi tình nguyện về nước tham gia kháng chiến.


Nam tiến, không chỉ có nghĩa tiến vào phía Nam của các chi đội giải phóng quân lên đường từ Bắc Bộ và Trung Bộ mà còn có nghĩa tiến về Nam Bộ của các chi đội Hải ngoại từ nước ngoài. Đó là phong trào hướng về Nam Bộ, chi viện tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải cho Nam Bộ và cùng Nam Bộ kháng chiến của đồng bào, chiến sĩ cả nước và Việt kiều.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Năm, 2021, 09:36:32 am
Cho đến nay, vẫn chưa và thật khó có thể xác định chính xác đã có bao nhiêu đơn vị, bao nhiêu chi đội Nam tiến. Nhưng qua những sự kiện đã được lịch sử ghi lại, qua những dấu ấn không thể phai mờ trong nhân dân các địa phương trên cả nước, nhất là ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, cùng những kỷ niệm vô cùng sâu sắc của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã lên đường Nam tiến hơn 50 năm về trước, nay nhiều người vẫn còn sống, còn nhớ và kể lại, viết lại thì có thể khẳng định, Nam tiến là một sự kiện lịch sử hào hùng, một hiện tượng vô cùng đặc sắc của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.


1. Đó là phong trào yêu nước, chống xâm lược, hướng ra mặt trận, hành quân ra mặt trận, cổ vũ các đoàn quân và chi viện vật chất ra mặt trận vô cùng sôi nổi, mạnh mẽ, rộng khắp của toàn dân Việt Nam, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Đó là kết tinh của tinh thần quật cường trước họa xâm lăng, thà hy sinh tất cả, chứ quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ của toàn dân Việt Nam. Biểu hiện cụ thể của nó là phong trào tình nguyện vào và (từ nước ngoài) về Nam Bộ chiến đấu của hàng vạn thanh niên nam và nữ, được tổ chức thành các đơn vị Nam tiến và hành quân ngay ra mặt trận dưới sự lãnh đạo của Đảng; là phong trào toàn dân hướng về Nam Bộ, hăng hái động viên con em vào bộ đội, ủng hộ vật chất, khích lệ tinh thần các chiến sĩ lên đường Nam tiến đánh giặc cứu nước. Phong trào bùng nổ ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai và kéo dài sang năm 1946 khi chiến sự lan rộng ra các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, các đoàn quân Nam tiến hòa vào lực lượng tại chỗ, cùng quân và dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.


2. Bắt nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí quật cường chống ngoại xâm của dân tộc, phong trào Nam tiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, do cấp ủy đảng và chính quyền nhân dân vừa được thành lập ở các địa phương phát động, tổ chức và lãnh đạo. Được toàn dân hưởng ứng và không ngừng tiếp sức, phong trào đã phát triển rất nhanh chóng, ngày càng sôi nổi trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, miền xuôi đến miền ngược, trong nước và ngoài nước. Nhờ phân tích chính xác tình hình, có dự liệu từ sớm, ngay sau khi tiếng súng kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ và các địa phương đã cử ngay các đơn vị vũ trang tập trung vừa được hình thành và phát triển trước và trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám lên đường, đồng thời gấp rút lựa chọn những thanh niên ưu tú, chọn những vũ khí tốt nhất để thành lập thêm nhiều đơn vị mới, nhanh chóng tổ chức cho các đơn vị này hành quân ra mặt trận. Phần lớn học viên khóa 4 và khóa 5 Trường quân chính Việt Nam được điều vào Nam Bộ, hòa trong các đoàn quân Nam tiến, vừa kịp thời tăng cường cán bộ quân sự - chính trị cho các mặt trận, vừa có thêm cán bộ, giáo viên để mở các lớp huấn luyện tại chỗ, góp phần giải quyết khó khăn rất lớn do thiếu cán bộ quân sự, chính trị khi cuộc kháng chiến bùng nổ và ngày càng lan rộng, nhất là trong tình hình khá phức tạp về tổ chức và chỉ huy của các lực lượng vũ trang ở Sài Gòn và Nam Bộ những ngày đầu kháng chiến.


3. Khi thực dân Pháp xâm lăng, nhân dân Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ đã kiên quyết đứng lên kháng chiến. Có cuộc kháng chiến ở Sài Gòn và Nam Bộ mới có phong trào Nam tiến. Được phong trào Nam tiến cổ vũ, được các đoàn quân Nam tiến tiếp sức, nhân dân và các lực lượng vũ trang Sài Gòn, Nam Bộ và Nam Trung Bộ có thêm sức mạnh, càng quyết tâm và anh dũng chiến đấu. Cuộc kháng chiến anh dũng ở Nam Bộ và Nam Trưng Bộ lại tiếp thêm sức mạnh, cổ vũ tinh thần, tạo chỗ đứng và chiến đấu cho các đoàn quân Nam tiến trong thế trận toàn dân kháng chiến. Đó là hình ảnh sống động của toàn dân và cả nước đứng lên chống xâm lăng, dù kẻ thù đến từ hướng nào, chiến sự bắt đầu bùng nổ ở vùng đất nào. Nhân dân cả nước, các đoàn quân từ Bắc Bộ, Trung Bộ từ hải ngoại đều coi Nam Bộ "là máu cửa máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam", phải "trút toàn lực vào đó, hy sinh hết thảy vì kháng chiến, hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam!". Nhân dân Sài Gòn, Nam Bộ và Nam Trung Bộ đón các chiến sĩ từ Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn; từ Vinh, Huế, Quảng Ngãi; từ Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia... Nam tiến, như đón những người con về với gia đình, cùng nhau chung vai sát cánh chống kẻ thù xâm lược đất nước mình; bảo vệ quê hương, gia đình mình. Đó là hình ảnh sống động của Trung - Nam - Bắc là một nhà. Hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, đất nước bị chia thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã đập tan xích xiềng nô lệ, khôi phục độc lập, lập nên chính quyền nhân dân thống nhất trên cả nước. Phong trào Nam tiến chống xâm lược của toàn dân và cả nước ngay sau đó đã góp phần củng cố thành quả của Cách mạng tháng Tám, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ chia để trị của thực dân, khẳng định sự thống nhất tuyệt đối: nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một!


4. Các đoàn quân Nam tiến đã kịp thời chia lửa với quân và dân Sài Gòn, các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cùng tiến công và ngăn chặn quân Pháp xâm lược trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Chi đội 3 giải phóng quân vào đến cầu Bình Lợi (Sài Gòn). Một số phân đội vào đến các tỉnh đồng bằng Nam Bộ. Các chi đội Vi Dân, Thu Sơn, Bắc Bắc... vào chiến đấu ở Phan Thiết, Nha Trang, Phú Yên, Buôn Ma Thuột... Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, các chi đội Hải ngoại từ Lào, Thái Lan, sau cuộc hành quân vô cùng gian khổ và anh dũng đã về đến Tây Ninh, Châu Đốc, Hà Tiên và các tỉnh Khu 9. Ngoài một số cán bộ, đảng viên đã được rèn luyện trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, đã học qua một số lớp quân chính ngắn ngày và một số cựu binh yêu nước, đi theo cách mạng, lực lượng đông đảo nhất trong các đoàn quân Nam tiến là thanh niên học sinh. Tràn đầy nhiệt huyết, tình nguyện xung phong vào Nam đánh giặc, nhưng hầu như chưa hiểu biết gì về quân sự, vũ khí trang bị lại rất thiếu thốn, thô sơ. Nhưng trên khắp các mặt trận, các chi đội Nam tiến, các chiến sĩ Nam tiến được động viên bởi tinh thần Nam Bộ kháng chiến và được tiếp sức, được sự phối hợp của các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã chiến đấu anh dũng trước quân xâm lược có vũ khí trang bị hiện đại hơn, góp phần, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, làm chậm bước tiến của chúng, góp phần giữ vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tạo điều kiện cho cả nước có thêm thời gian chuẩn bị trước khi bước vào toàn quốc kháng chiến. Với tổ chức chặt chẽ, cán bộ và chiến sĩ một lòng quyết chiến, các chi đội Nam tiến được lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các tỉnh tin tưởng, coi như đơn vị vũ trang nòng cốt của địa phương, được giao trọng trách trên các hướng quan trọng và chia lực lượng đi nhiều hướng, chặn đánh quân xâm lược. Một số đơn vị vào đến Nam Trung Bộ vào lúc quân Pháp đã đánh rộng ra các tỉnh Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, Buôn Ma Thuột... Có đơn vị bộ đội hải ngoại đặt chân về tới Tổ quốc khi địch đã đánh chiếm phần lớn các tỉnh Nam Bộ. Trong tình thế rất khó khăn, mặt trận bị vỡ, có đơn vị tạm thời mất liên lạc với trên, có đơn vị bị địch tập kích bất ngờ, lực lượng bị tổn thất, nhưng không ai nao núng, bàn lùi. Địch chiếm được tỉnh lỵ, nhưng không chiếm được lòng dân. Mặt trận bị vỡ nhưng bộ đội và lòng dân không vỡ. Với niềm tin sắt đá kháng chiến nhất định thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân và các đơn vị bạn, các chi đội Nam tiến đã vượt lên mọi khó khăn thử thách, kiên cường bám trụ, cùng quân và dân các địa phương tiếp tục chiến đấu. Một số cán bộ, chiến sĩ tình nguyện ở lại địa phương, hòa vào dân để xây dựng cơ sở, đánh du kích trong vùng tạm bị địch chiếm. Một số đơn vị được trên điều động, làm nòng cốt cùng với lực lượng vũ trang địa phương xây dựng thành các tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực của tỉnh và liên khu. Trong và cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, phong trào Nam tiến, các chi đội Nam tiến đã hòa vào, trở thành một bộ phận của lực lượng vũ trang và phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia. Nhiều cán bộ, chiến sĩ Nam tiến đã trở thành cán bộ quân sự, chính trị ở các cơ quan, đơn vị vũ trang tập trung và ở các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Với phong trào Nam tiến, quân đội ta đã thực hiện thắng lợi chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người quyết định thành lập đội quân chủ lực đầu tiên - Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân: "đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam". Sau bước phát triển nhảy vọt và được tôi luyện trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, trong phong trào Nam tiến năm 1945-1946, quân đội ta đã tiếp tục phát triển lên một quy mô mới, rộng khắp và thống nhất trên cả nước, đã có thể tổ chức những đơn vị cơ động trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam, cùng nhân dân và lực lượng vũ trang tại chỗ chiến đấu chống quân xâm lược.


Từ sau ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các đơn vị vũ trang từ Bắc Bộ, Trung Bộ, và từ Hải ngoại về Nam Bộ chiến đấu những tháng cuối năm 1945 và năm 1946, không còn gọi là các đơn vị, các chi đội Nam tiến nữa. Nhưng trong lịch sử Việt Nam năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bộ đội Nam tiến, phong trào Nam tiến đã ghi lại một dấu son chói lọi. Trước họa xâm lăng, cả dân tộc Việt Nam đã đứng lên chiến đấu. Tinh thần quật cường của toàn dân Việt Nam một lần nữa lại bùng lên sau những ngày quật khởi Cách mạng tháng Tám. Cùng với Nam Bộ kháng chiến, phong trào Nam tiến đã tạo nên sức mạnh mới, niềm tin mới, động viên cao độ tinh thần và lực lượng của toàn dân, của cả nước vững bước tiến vào cuộc kháng chiến trường kỳ, nhất định thắng lợi.


Phong trào Nam tiến diễn ra cách đây đã hơn 50 năm. Rất nhiều vấn đề đã và đang được đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục sưu tầm tư liệu, nghiên cứu sâu sắc hơn, dựng lại bức tranh hoàn chỉnh, sinh động hơn về phong trào này. Đánh giá cao vai trò và ý nghĩa rộng lớn cửa phong trào Nam tiến trong lịch sử, chúng ta càng trân trọng những bài học sâu sắc của nó, trước hết là bài học đoàn kết thống nhất toàn dân, phát động và tổ chức toàn dân trong một phong trào, nhằm một mục tiêu chung, giải phóng dân tộc (trước đây) cũng như công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Năm, 2021, 07:13:53 am
GHI NHỚ VỀ BỘ ĐỘI NAM TIẾN


NGUYỄN CHÍNH (Du Phong)


Sáng sớm ngày 24 tháng 9 năm 1945, anh Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng cho gọi tôi (lúc đó là trưởng phòng bí thư) lên gặp có việc đột xuất.

Anh nói đại ý, ngày hôm qua (23-9) bọn Pháp đã đánh Sài Gòn. Theo chỉ thị của Bác Hồ và anh Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp), Bộ Tổng tham mưu cần đưa ngay lực lượng và điều cán bộ vào chi viện cho Nam Bộ.


Anh nói tiếp, ngay đêm qua đã điện vào Chiến khu 5, Chiến khu 6 đưa lực lượng chi viện vào Nam Bộ. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội đang trong cảnh "nghìn cân treo sợi tóc", "thù trong giặc ngoài”, vẫn phải đưa gấp mọi thứ vào chi viện cho Nam Bộ.


Anh Hoàng Văn Thái giao nhiệm vụ: Du Phong mời ngay các anh Nam Long, Vi Dân, Hữu Thành, Thu Sơn, Quang Trung... là những người đã được anh Văn báo cáo lên Bác, được Bác duyệt, về Bộ nhận nhiệm vụ vào Nam Bộ chiến đấu.

Tôi sang văn phòng viết giấy triệu tập, đóng dấu "hỏa tốc" đưa anh em đội liên lạc đặc biệt dùng xe ô tô (xe Jeép) đến từng người.

Dù đã có điện, có công văn cho các chi đội, các tỉnh, các trường quân chính về kế hoạch tác chiến, về việc chọn cử cán bộ vào Nam Bộ chiến đấu, nhưng để được khẩn trương hơn nữa, anh Hoàng Văn Thái trực tiếp xuống Nam Định kiểm tra, giao cho cơ quan quân sự tỉnh Nam Định nhiệm vụ thường trực đón tiếp bộ đội Nam tiến. Anh đến ngôi chùa có sân rộng cạnh ga Nam Định là nơi tập kết các đơn vị trước khi lên tàu vào Nam. Anh xuống Thái Bình giao thêm nhiệm vụ đào tạo cấp tốc cán bộ tiểu đội trưởng để bổ sung cho Nam Bộ. Rồi anh đi Kiến An, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn..., đôn đốc đơn vị Đông Triều, chi đội Bắc Bắc lên đường càng sớm càng tốt.


Tiếp đó, anh đi Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng. Tại Cao Bằng, tôi và anh Lê Tùng Sơn được dự lễ tiễn đưa trung đội do anh Hoàng Đình Giong chỉ huy. Lễ tiễn được tổ chức ở khu rừng trúc thuộc xã Trần Hưng Đạo, hầu hết đội viên là người các dân tộc Tày, Nùng. Đồng chí Lã, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng đến nói chuyện. Nhân dân địa phương lưu luyến tiễn đưa anh em lên ô tô về Nam Định để lên tàu hỏa vào Nha Trang.


Xuống Thái Bình (lần thứ hai) anh Hoàng Văn Thái giao thêm nhiệm vụ cho tỉnh đăng cai nhận quân ở Hải Phòng, Kiến An sang, cùng với lực lượng của tỉnh xây dựng thành chi đội Hải Kiến Thái. Anh bàn với đồng chí Bắc, Tỉnh đội trưởng; đồng chí Nam, Chính trị viên Tỉnh đội về chọn cử cán bộ chỉ huy chi đội, kịp đưa cả chi đội sang Nam Định lên tàu Nam tiến.


Đúng vào thời điểm đó, anh Văn giao cho tôi vào làm chánh văn phòng giúp việc anh Nguyễn Sơn (anh Nguyễn Sơn vừa có quyết định làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam). Tôi đến gặp anh Nguyễn Sơn đang làm việc với anh Hoàng Văn Thái ở Bộ Tổng tham mưu (16 Nguyễn Du, Hà Nội).


Anh Hoàng Văn Thái ngoảnh sang anh Nguyễn Sơn ngồi cạnh, ân cần dặn tôi: Tôi và anh Sơn đã thống nhất giao cho Du Phong vào trong đó làm ba việc. Du Phong cần chuẩn bị tài liệu mang theo, để giúp anh Sơn làm việc:

Một là, giữ liên lạc thông suốt giữa Ủy ban kháng chiến miền Nam với Bộ Tổng tham mưu ở Hà Nội; tổ chức mạng lưới thông tin, có cả đội liên lạc đặc biệt để giữ được mạch máu thông tin giữa đơn vị đang tác chiến với Ủy ban kháng chiến miền Nam, cũng như với Hà Nội.

Hai là, do lực lượng chiến đấu tại chỗ và lực lượng chi viện ngày càng mở rộng mà cán bộ quá thiếu, trong ấy cũng như ngoài này quyết tâm thực hiện chỉ thị của Bác Hồ, vừa khẩn trương mở lớp bổ túc cán bộ ngắn hạn, vừa mở lớp tương đối quy mô dài hạn. Do đó cần có tài liệu huấn luyện, cần tổ chức mở lớp ngay mới có cán bộ. Có thể chuyển ra Hà Nội một số sau khi đào tạo, ngoài Hà Nội cũng chuyển vào, để trao đổi kinh nghiệm cho nhau.

Ba là, ngoài Hà Nội, Bộ sẽ cố gắng sớm chuyển vào trong đó một số vũ khí, quần áo, thuốc men, trong đó tổ chức tiếp nhận và chuyển đến các đơn vị đang chiến đấu kịp thời. Ngoài này cũng tận dụng đường thủy đưa đến Quy Nhơn. Anh Nguyễn Bá Phát đang tiếp nhận hàng bằng đường thủy đấy!

Còn các công việc khác anh Nguyễn Sơn sẽ giao.

Tôi gấp rút bàn giao công việc văn phòng Bộ Tổng tham mưu và văn phòng Bộ Quốc phòng cho anh Nguyễn Sĩ Là, đồng thời soạn một số tài liệu cần thiết mang theo. Tôi đến gặp anh Quang Đạm nhận các bộ luật mật mã, gặp anh Hoàng Đạo Thúy nhận tài liệu về tổ chức mạng lưới thông tin... Tôi còn sang Tổng hành dinh quân Tưởng ở Hà Nội lấy một bức công hàm, đề phòng dọc đường hành quân gặp quan quân Tưởng đang giải giáp quân Nhật ra ngăn chặn tàu hỏa gây khó khăn như đã xảy ra một số vụ ở ga Thanh Hóa và ga Đà Nẵng.


Khoảng 18 giờ một ngày cuối tháng 11 năm 1945, tôi lên xe con theo anh Hoàng Văn Thái xuống Nam Định để cùng anh em đi tàu Nam tiến như kế hoạch đã định. Công việc từ lúc được lệnh vào Nam đến lúc lên xe con đến Nam Định chưa đầy 24 giờ đồng hồ.


Khi đến khu tập kết Nam Định, các đơn vị được sắp xếp biên chế lại, bổ sang cán bộ. Tôi được bổ sung vào ban chỉ huy hành quân. Đoàn tàu Nam tiến lần này có cả toa chở vũ khí, quân trang, thuốc men, cả kiện quà tết bà con Hà Nội tặng anh em chiến đấu tại Nam Bộ.


Đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng đến thăm cán bộ nói chuyện với anh em đã tập hợp trước sân chùa. Tôi cũng được đứng trong hàng quân Nam tiến, được nghe đồng chí Tổng tham mưu trưởng động viên.


Anh Hoàng Văn Thái bắt nhịp cho cả đoàn quân hát bài hành khúc ca "Phất cờ Nam tiến" do anh sáng tác khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Có lần, anh kể, khi sáng tác bài hát này, anh đã mơ ước, một ngày nào đó, sẽ có đội quân hùng mạnh tiến về phía Nam. Hôm nay, mơ ước đã thành hiện thực. Đội quân ấy là các chi đội, các cán bộ, các chiến sĩ khí thế hùng dũng đang lên đường vào Nam. Bài hát có đoạn: "Cờ giải phóng phất cao, mau thẳng tiến, trời phương Nam dân chúng đang chờ ta!". Tiếng hát mỗi lúc một vang to, bay xa, hùng tráng "mau phất cờ lên tiến tới cho kịp thời cơ. Sông Cửu Long reo hò đang đón chờ. Dãy Trường Sơn chuyển mình giục quân ta mau tiến tới!". Bài hành khúc ca "Phất cờ Nam tiến" nhịp điệu hùng mạnh có sức cổ vũ lớn đối với cán bộ chiến sĩ hành quân Nam tiến.


Buổi tiễn đưa ở ga Nam Định rất cảm động. Không khí vui vẻ tin tưởng hẹn ngày chiến thẳng trở về. Đồng bào trên sân ga, cả anh chị em đường sắt đều hướng về đoàn quân Nam tiến, vỗ tay theo nhịp bài hát.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Năm, 2021, 07:14:48 am
Anh Hoàng Văn Thái siết chặt tay tôi khi tôi bước lên tàu. Anh ân cần dặn như để tôi yên tâm: Du Phong cứ vào Nam công tác, chiến đấu, tôi sẽ đến gặp cụ, chị, cả Thục (em ruột tôi làm việc ở Bộ Tổng tham mưu)1 (Khi còn ở Thái Bình anh Hoàng Văn Thái cũng dạy học như tôi, từng chỉ đạo tôi đứng ra tổ chức Hội Ái hữu nhà giáo, sau là Hội Viên chức cứu quốc. Anh có biết bố tôi (ông Đồ Nho) và vợ tôi (hoạt động trong Phụ nữ cứu quốc Chợ Rã)).


Đoàn tàu xuôi vào Nam. Hai bên đường nhân dân tụ họp hoan hô bộ đội Nam tiến. Cờ đỏ sao vàng khắp nơi... Tôi suy nghĩ mung lung: Con ra đi vì Tổ quốc, không một lời từ biệt người bố thân yêu, chưa kịp thắp nén hương trước mộ người mẹ hiền vừa mất chưa tròn tháng; không một lời nhắn nhủ vợ con yêu quý vừa ở Chợ Rã về; không một lời nhắn lại với chú em ruột cùng ngủ chung một giường ở nhà số 10 + 12 Nguyễn Du, Hà Nội... rồi lại lan man nghĩ những việc anh Hoàng Văn Thái dặn, gặp bọn quan quân Tưởng ra ngăn chặn đoàn tàu Nam tiến thì ứng xử thế nào cho vẹn toàn; rồi những việc phải làm khi tới Ủy ban kháng chiến miền Nam, một chiến trường nóng bỏng, cần triển khai văn phòng thời chiến như thế nào cho thích hợp?...


Đến ga Thanh Hóa, nhân dân ra đón rất đông, cờ đỏ sao vàng cầm tay, tươi cười vẫy chào đoàn quân Nam tiến, nhiều người chạy vào ga reo hò "hoan hô" làm cho bọn quan quân Tưởng tay cầm súng mắt trơ trơ nhìn theo, không dám phản ứng gì.


Việc bảo đảm cho các đoàn quân Nam tiến được nhân dân các tỉnh chuẩn bị rất chu đáo và đón tiếp long trọng. Hội Phụ nữ cứu quốc các địa phương đứng ra vận động nhân dân quyên góp tiền bạc, lương thực và tổ chức các trạm đón tiếp, bảo đảm việc ăn ở tại ga. Bất cứ nửa đêm hay mờ sáng, dù ở ga nào, mỗi khi có đoàn tàu Nam tiến dừng lại, ở đó lại diễn ra những cuộc mít tinh đón tiếp và tiễn đưa bừng bừng khí thế chiến đấu.


Đoàn tàu đến Nghệ An rồi đến Huế. Thấy bà con ra đón, nhất là các em thiếu niên đánh trống ếch hát vang bài "Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi...." chúng tôi rất xúc động, tự hào là đoàn quân cách mạng vào Nam Bộ đánh đuổi quân cướp nước theo lệnh của Bác Hồ. Tàu vào đến Quảng Ngãi, nơi có phong trào du kích Ba Tơ, đến Bình Định quê hương của người anh hùng áo vải Quang Trung, những người ra đón, cả trai và gái, nhất là gái, ai cũng nai nịt gọn gàng, cắt tóc ngắn, tay cầm gậy, cầm đao. Khí thế cách mạng ở đây sôi sục, thật đáng khâm phục.


Ở trên đoàn tàu anh em chúng tôi được gặp gỡ thăm hỏi nhau, tình cảm thâm thiết như anh em một nhà. Tôi được gặp nhiều bạn bè cũ. Cùng viên chức cũ với nhau như anh Phi Hùng; cùng hoạt động trong Hội Ái hữu nhà giáo huyện Thái Ninh như anh Tô Văn Thiệu (có em ruột là Tô Đa Mạn, sau này là thiếu tướng); cùng tham gia Hội Thanh niên cứu quốc Thái Bình như anh Tô Hoàng Lân, Phan Thanh Lịch; cùng học với nhau ở Trường quân chính kháng Nhật như anh Triệu Đức Quang, Hồ Quang Đán... Tôi còn được gặp một số học trò cũ. Anh em xúm quanh chào: "Thưa cậu, thế là chúng em được đi cùng với cậu giáo vào Nam chiến đấu rồi!1 (Làng Thương Tầm (Thái Ninh, Thái Bình) lần đầu tiên mở trường hương sư, tôi làm thầy giáo còn rất trẻ, học trò hầu hết lớn tuổi (kém thầy giáo 6 đến 10 tuổi) nên được thân mật gọi là cậu giáo, học trò xưng là em với cậu giáo). Chúng em thích lắm! Chúng em được lên đường Nam tiến cho thỏa chí làm trai thời loạn!"... Các em còn "tố cáo" lẫn nhau: Cậu ạ, bạn này mới xấp xỉ 17 mà khai lên 18 mới được cử đi Nam đấy! Bạn này không chịu chờ ngày chiến thắng trở về lại cưới vợ ngay nên trong buổi tiễn đưa, bạn này với vợ bịn rịn, bốn mắt đỏ hoe, thế có phải là dại không hở cậu...


Tôi siết chặt tay các em để các em trở về toa của mình. Tôi ngẫm nghĩ, lời kêu gọi của Bác Hồ đã thấm đến từng làng quê, phố phường, thấm đến cả miền núi, miền xuôi... thanh niên trai tráng nô nức rủ nhau lên đường Nam tiến, không ai nhắc đến việc mọi gia đình đang vui lo cái tết độc lập đầu tiên dù vắng người thân đang hành quân vào mặt trận phía Nam. Số phận từng con người, từng mái nhà chưa bao giờ gắn bó máu thịt với số phận của dân tộc như lúc này...


Gần đến ga, anh em trong toa lại hát vang: "... Cờ giải phóng, phất cao mau thẳng tiến, trời phương Nam dân chúng đang chờ ta!". Xuống ga Bình Định đã có xe ô tô đón sẵn đưa tôi lên Phú Phong gặp anh Nguyễn Sơn. Tôi làm thư ký buổi họp ở Phú Phong, rồi cùng lên An Khê, làm thư ký hội nghị do anh Nguyên Sơn chủ trì. Dự hội nghị này có các anh Nguyễn Chánh, Phạm Kiệt, Trần Lương...


Tôi được phép xem các điện, các báo cáo của Chiến sĩ khu 5 để tổng hợp tình hình quân sự cho anh Nguyễn Sơn. Chỉ hai ngày sau khi quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, đơn vị quân giải phóng Ba Tơ đã vào chiến đấu tại mặt trận cầu Bình Lợi, sau đó nhập với chi đội Nam Long. Sự có mặt của chi đội Nam Long ở Biên Hòa là một cổ vũ lớn đối với nhân dân Nam Bộ nói chung và nhân dân Biên Hòa nói riêng.


Tôi cũng được biết tám cán bộ của Trường quân chính Việt Bắc đã tới Sài Gòn bổ sung kịp thời vào đơn vị vũ trang ở Nam Bộ như anh Đỗ Hy Vọng, Võ Văn Doãn...

Cuối năm 1945, đầu năm 1946, giặc Pháp đánh rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Anh Nguyễn Sơn vào nhận chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam trong tình hình rất căng thẳng. Anh gật gù nói: "Ngoài Hà Nội, anh Hoàng Văn Thái nắm rất vững diễn biến tình hình phía Nam. Anh nhắc chúng ta phải khẩn trương vào, phải chủ động hơn nữa!". Tôi được theo anh Nguyễn Sơn đến thăm đơn vị Plây Cu (anh Hùng Việt), trung đoàn Bình Định (anh Trần Hoài Ân), chi đội Phú Yên (anh Hữu Thành)... Cùng với các anh trong Ủy ban kháng chiến miền Nam, anh chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch ở Khánh Hòa, tăng cường cán bộ chỉ huy cho các tỉnh Nam Trung Bộ...


Đã hơn 50 năm, kỷ niệm về những ngày Nam tiến đối với tôi vẫn vô cùng sâu sắc!


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Năm, 2021, 07:19:53 am
TIẾNG GỌI NÚI SÔNG

Những dòng hồi ức, nhớ thương
Kính tặng các chiến binh chi đội Độc lập 1 thời Nam tiến

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG


Cuối năm 1944, Trung ương Đảng chủ trương xây dựng khu căn cứ mới ở vùng Hiệp Hòa - Yên Thế, mở rộng đến Na Lương - Mỏ Sắt Trại Cau tiếp giáp thị xã Thái Nguyên thành ATK2 (An toàn khu) cũng là bàn đạp phát triển phong trào xuống vùng xuôi. Ban cán sự Bắc Giang đã xây dựng được trung đội cứu quốc quân Yên Thế trang bị khá mạnh, hoạt động võ trang tuyên truyền mở ra vùng Nhã Nam, các đồng chí Tỉnh ủy và Hà Thị Quế luôn theo sát chỉ đạo. Ở khu Na Lương, đồng chí Cát Lượng (tức Quốc Vinh) cũng xây dựng được trung đội giải phóng quân, quét sạch băng thổ phỉ lâu nay vẫn xưng hùng xưng bá ở đất này. Thanh thế giải phóng quân Na Lương từ đấy càng lớn, phong trào Việt Minh phát triển cơ sở đến cả những làng dọc sông Đào, ven đường Hà Nội - Thái Nguyên.


1. Ngày Tuyên ngôn độc lập

Cuộc họp đầu tiên của các đơn vị giải phóng quân từ sau ngày về Hà Nội diễn ra ngày 28 tháng 8. Đồng chí Vương Thừa Vũ thay mặt Tổng chỉ huy đến thăm hỏi sức khỏe bộ đội và phổ biến nhiệm vụ khẩn cấp:

- ... Thực dân Pháp đang tìm cách quay lại thống trị Đông Dương. Tưởng Giới Thạch cũng lợi dụng danh nghĩa giải giáp quân Nhật để xâm chiếm Việt Nam... Các thế lực phản động đang rắp tâm thủ tiêu Chính phủ Cụ Hồ, lập chính quyền thân Hoa, phái phản động thân Nhật vẫn ngấm ngầm phá hoại, phái theo Đờ Gôn lại trỗi dậy chuẩn bị lực lượng lật đổ Việt Minh...


... Ngày 2 tháng 9 này Chính phủ cách mạng lâm thời tổ chức lễ ra mắt đồng bào. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam... Đế quốc và các đảng phái phản động âm mưu phá hoại. Đoàn thể giao trách nhiệm cho các chi đội giải phóng quân cùng với tự vệ Thành, phối hợp với nhân dân bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Chính phủ Cụ Hồ...


Đúng lệnh, các chi đội đến vị trí được phân nhiệm rất sớm. Sương thu vẫn còn vương trên búp cây, thảm cỏ quanh quảng trường, nhưng đã có vô vàn cờ sao rực rỡ. Biểu ngữ đỏ chói căng khắp ngả, những hàng chữ gây ấn tượng thiệt mạnh "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Độc lập hay là chết!". Anh Nông Văn Nùng người Tày giật giật tay tôi chỉ lên tấm vải đỏ thắm có dòng đại tự "Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh", ghé tai:

- Phải Ké Hồ Tân Trào không lố?

- Đúng. Hôm nay Ké Hồ đứng chỗ kia! - Tôi chỉ lên lễ đài.

Sương sớm tan dần. Các đoàn người băng cờ biểu ngữ tề chỉnh, quần áo đủ màu từ các cửa ô kéo đến. Thấp thoáng thấy cả những bạn học trường Bưởi, Thăng Long trong đội ngũ các đoàn thể cứu quốc. Lại có khoảng chục trung đội thanh niên tự vệ Thành tay đeo băng đỏ sao vàng, từ phía sau dinh toàn quyền cũ tiến sát các đơn vị giải phóng quân. Tất cả tạo thành một hàng rào che chắn quanh lễ đài.


Buổi lễ kết thúc. Nhân dân rầm rập diễu hành qua các đường phố. Khẩu hiệu ủng hộ Chính phủ, mặt trận được hô giãn lồng ngực. Các chi đội giải phóng quân hòa trong các đoàn tuần hành.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Năm, 2021, 07:21:37 am
2. Lên đường chinh chiến.

Mới ba tuần sau lễ Tuyên ngôn độc lập, giặc Pháp đã nổ súng xâm lăng giữa Sài Gòn.

Chính phủ, Hồ Chủ tịch hiệu triệu đồng bào cả nước tăng cường lực lượng, ủng hộ mọi mặt cho cuộc đấu tranh oanh liệt của đồng bào Nam Bộ. Người tuyên bố: "... Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!".


Cả nước căm phẫn, quyết tâm theo Chính phủ kháng chiến. Khí thế xung phong đầu quân bùng lên khâp nơi. Khẩu hiệu "Nam tiến giết giặc ngoại xâm" kích động hồn người, nhiều học sinh, sinh viên nghe hai từ "Nam tiến" liền bỏ lớp về đăng ký tình nguyện lên đường. Các tỉnh nhanh chóng thành lập những đội quân bừng bừng tinh thần "Sát Thát". Chính phủ quyết định đổi tên "Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" là vệ quốc đoàn, phát triển thêm hơn chục chi đội mới. Đại đội Thanh Cao nhận lệnh vào Ninh Bình tuyển binh bổ sung lực lượng. Ban chỉ huy đặt trụ sở tại Nho Quan, phái cán bộ đi các huyện tuyển thanh niên đầu quân.


Ủy ban mặt trận huyện xã tận tình giúp đỡ mọi mặt. Các mẹ các chị sốt sắng lo việc tiếp tế cấp dưỡng cho bộ đội. Chỉ hơn một tháng đại đội đã tuyển được 36 phân đội (số quân tương đương 3 tiểu đoàn).


Quân đã đủ nhưng thiếu súng. Bộ chỉ huy Khu 2 nghe các tỉnh báo cáo tình hình quân Pháp trốn chạy trước đây đã giao nhiều vũ khí cho các lang đạo. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, bọn sĩ quan ở Hòa Bình, Lạng Sơn đã giấu súng ở vùng này. Khu trưởng Hoàng Sâm chỉ thị cho đại đội Thanh Cao tổ chức lực lượng thu hồi bằng ba cách: thuyết phục quan lang ủng hộ, mua bằng bạc trắng, đổi súng săn để lấy súng trận. Đại đội điều một trung đội về Chi Nê nhận súng săn, điều một trung đội lên ngay Vụ Bản - Hòa Bình thực hiện việc thu hồi súng. Tuy đã được Ủy ban Việt Minh tỉnh, huyện nhiệt tình giúp đỡ mọi mặt, nhất là công tác vận động lang đạo, cán bộ chiến sĩ toàn trung đội hơn trăm người ráng hết sức trong hơn một tháng chỉ thu được gần 400 súng trường. Nguyên do chính là địa bàn quá rộng, lang đạo ở phân tán, thiếu lực lượng đi tiếp nhận, số bạc trắng không được giải quyết kịp thời. Khu trưởng đã khiển trách ban chỉ huy đại đội. Ít ngày sau có lệnh triệu hồi Thanh Cao về Hà Nội.


Khoảng giữa tháng 10 năm 1945, anh Ngô Thế Sơn (tức Kiểm) xuống Ninh Bình, triệu tập các cán bộ giải phóng quân nghe phản ánh tình hình, trực tiếp xem xét cụ thể mọi việc. Hai hôm sau anh kết luận:

- Phải phiên chế lực lượng theo tổ chức thống nhất của Bộ quyết định. Cấp tiểu đội có hai cán bộ trưởng, phó. Cấp phân đội lên trung đội có chính trị viên thành ban chỉ huy ba người. Đại đội có các tiểu ban chính trị, tham mưu, cung cấp. Chi đội có các ban chính trị, tham mưu, cung cấp. Tổ chức quân y theo hệ thống điều khiển chuyên môn từ chi đội xuống cứu thương phân đội. Chính trị viên ngang quyền với chỉ huy trưởng đơn vị. Sắp xếp tổ chức hai ngày xong, phải bắt tay vào huấn luyện theo chương trình đã định mới kịp tình hình. Ban chỉ huy đơn vị trực tiếp điều khiển...


Thật rõ ràng dứt khoát, không như trước chẳng hiểu cương vị trách nhiệm thế nào. Ngô Thế Sơn đưa mắt nhìn khắp lượt, từ tốn nói:

- Từ nay không lấy tên người chỉ huy đặt cho đơn vị như trước, mà gọi theo số. Tên chi đội, tôi đã thảo luận với các đồng chí lãnh đạo tỉnh đặt là chi đội Hoa Lư.


Trong thời kỳ tổ chức lại lực lượng có bao nhiêu chuyện giấy tờ sự vụ. Anh Sơn vốn biết tôi từ ngày ở chiến khu nên bảo tôi giúp việc.

Một hôm, sau cuộc họp, tiện miệng tôi hỏi:

- Nhiều chi đội đã Nam tiến đều mang tên chỉ huy, sao đơn vị mình lại đặt tên Hoa Lư?

- Úi! Cậu không nhớ một kỳ tích lịch sử ư? - Thế Sơn cười thú vị - Đinh Bộ Lĩnh cờ lau khởi nghĩa chính tại Hoa Lư đó. Cái tên ấy có ý nghĩa với quân cách mạng lắm chứ.

- Tên đơn vị chiến đấu nghe thế có thơ mộng quá không?

Thế Sơn suy nghĩ một chút, khe khẽ gật:

- Cái tên Hoa Lư nhiều ý nghĩa đấy, nhưng cũng hơi yếu thực. Mình có lúc chợt nghĩ thay đổi là Phòng Sơn hay Thành Sơn?


A! Ra anh cũng là người ham sử (!). Quả núi đứng mép sông Đáy thời xa xưa mang cái tên dân dã "Hòn Non Nước". Đinh Bộ Lĩnh sau khi đánh tan đạo quân cát cứ Phạm Phòng Ấp trên sông, ông thấy hòn Non Nước cách Hoa Lư khoảng 321 (Dặm ta bằng 444,4 mét, 32 dặm = 14km) dặm như một vị trí tiền tiêu trọng yếu của kinh đô thời ấy nên đặt tên Ngự Trấn Phòng Sơn. Khi Lê Hoàn nối ngôi vua Đinh đổi tên là Hộ Thành Sơn cho gọn... Có lẽ từ những sự tích đó mà anh Sơn muốn chọn tên gắn liền lịch sử chiến đấu cho đội quân được xây dựng trên đất này. Nhưng rồi mãi chẳng thấy đổi, tôi hỏi. Anh bảo:

- Tên mình cũng là Sơn, e bị hiểu lầm.

Tôi quý anh ở điểm ấy. Dù sau này anh đổi đi đơn vị khác, tôi vẫn mang mãi tình cảm đẹp về anh.


Tháng 11, anh Văn Tiến Dũng giao nhiệm vụ cho anh Nguyễn Quyết xuống Ninh Bình phụ trách chính trị viên, Ngô Thế Sơn chi đội trưởng, Kim Bảo chi đội phó. Vừa bắt tay vào chương trình tổ chức, huấn luyện thì Thế Sơn được giao nhiệm vụ đi chiến trường Khe Sanh, tây Quảng Trị. Anh Thịnh về thay.


Đầu tháng 1 năm 1946, chi đội đã được trang bị đủ súng. Bộ lại điều một phân đội của đại đội Việt - Mỹ được trang bị vũ khí Mỹ có cả tôm-sơn, ba-zô-ca, một phân đội quân giải phóng đã đánh Tam Đảo, trung đội Na Lương Thái Nguyên cũng trang bị khá mạnh, hai đơn vị thuộc đại đội Kiến Hải đủ vũ khí gia nhập đoàn quân Nam tiến. Các đơn vị này phân tán làm nòng cốt cho các trung, đại đội mới xây dựng. Ngẫu nhiên tôi được xếp trong một ban chỉ huy đều là giải phóng quân Việt Bắc.


Giữa tháng 1 năm 1946, toàn chi đội được Bộ cấp đủ quân trang, thống nhất ka ki vàng, mũ ca lô, giày da. Các trung đội, đại đội có cờ hiệu nghiêm chỉnh. Ban chỉ huy thống nhất với tỉnh cho hội quân về thị xã Ninh Bình làm lễ chính thức thành lập đoàn quân Nam tiến. Bộ Quốc phòng cho đổi tên là chi đội Độc lập 1 - mang ý nghĩa công khai đơn vị chính quy số 1 của quân đội Vệ quốc Việt Nam vào làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ đã độc lập.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Năm, 2021, 07:22:53 am
Thực ra thì trước đó đã có nhiều chi đội vào Nam chiến đấu như chi đội Thu Sơn, Nam Long, Vi Dân, Bắc Bắc, v.v... Nhưng quân Tưởng mang danh lực lượng Đồng minh, đặt trạm kiểm soát ở các tỉnh vào đến vĩ tuyến 16, luôn cản trở ta. Các chi đội Nam tiến trước đều đi tay không như dân thường, vũ khí đóng gói chở bí mật theo đường biển, mất nhiều thời gian chờ đợi trong khi chiến sự ngày càng cấp bách. Chính phủ ta đã phải làm công tác "ngoại vụ" rất "tế nhị" với Bộ tư lệnh quân Tưởng, vì cũng có lợi nên họ chấp thuận để các đơn vị vệ quốc đoàn "di chuyển" mang theo vũ khí nhẹ. Cuối tháng 1 năm 1946 tức gần hết tháng chạp năm Dậu, chi đội nhận lệnh xuất quân. Bộ Giao thông công chính điều đoàn xe lửa đến ga Ghềnh đón.


Lần đầu tiên một đơn vị lớn, phần lớn là con em tỉnh nhà trang phục thống nhất tề chỉnh, mang đủ vũ khí hùng dũng vào Nam đánh giặc khiến nhân dân rất phấn khởi. Tỉnh ủy, mặt trận, ủy ban, các đoàn thể Ninh Bình tưng bừng đưa tiễn đến tận sân ga. Nhiều ông bố, bà mẹ ở các huyện xa cúng về chúc con em mình lên đường cứu nước. Một cụ ông khăn đóng áo đoạn, râu tóc như bông bước lên trước hàng quân vẫy chào, trang trọng nói to:

- Xưa nay vì nước vì dân tráng sĩ đâu có vương thê nhi! Lão thay mặt các cụ kính chúc đoàn hùng binh mã đáo công thành - Cụ cao giọng đọc câu thơ chứ Hán: "Nhất nhung đại định hà thần tốc. Giáp tẩy cung nang lạc thái bình".

Tiếng vỗ tay rào rào đáp lễ. Có anh biết chữ nho gật gù khen:

- Ông cụ khéo chọn thơ Nguyễn Trãi chúc ta đấy.

- Dịch nghe thử!

- A! Đại ý "Động binh dẹp loạn nhanh như lốc. Cởi giáp treo cung hưởng thái bình".


Nghe hay, tôi ghi để nhớ. Đến phút chót, một người cao lớn đi như chạy tới xin gặp ban chỉ huy hành quân. Anh vọt lên tàu chạy vào toa giữa, rập chân giơ tay chào:

- Báo cáo đồng chí! Tôi là Nguyễn Ngọc Trân cùng hai đồng chí nhận nhiệm vụ của tỉnh Hà Nam đưa đơn vị gia nhập đoàn quân Nam tiến.

Ban chỉ huy chi đội hết sức ngỡ ngàng, nhưng qua nét mặt, phong độ của người cán bộ không có gì đáng hoài nghi. Anh Nguyễn Quyết bắt tay Ngọc Trân:

- Hoan nghênh tinh thần xung phong chiến đấu của các đồng chí. Tuy hơi chậm nhưng còn kịp. Các đồng chí có đem giấy của tỉnh không?

- Báo cáo đủ ạ! Ngọc Trân mở sà cột rút kẹp giấy.

Nguyễn Quyết mở xem lướt chữ ký và dấu rồi gấp lại.

- Được rồi, chúng tôi sẽ xem - Anh quay sang người ngồi bên. - Đồng chí Kim Bảo sẽ chỉ toa để anh em lên.


Sắp đặt cho đơn vị yên chỗ, Ngọc Trân cùng Lê Ninh, Xuân Đài đến trình diện và chuyển thư của các đồng chí lãnh đạo tỉnh.

Đoàn tàu chuyển bánh, tăng dần tốc độ, tiến nhanh xuống phía Nam. Dù không đỗ ở các ga lẻ, nhưng cũng không sao tránh khỏi các cuộc đón tiễn của chính quyền đoàn thể nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Mỗi nơi, nhanh gọn nhất cũng phải dừng lại hơn 3 tiếng, vì ở đâu chi đội cũng phải khuyên giải, ngăn giữ khá đông thanh niên đòi lên tàu vào Nam giết giặc. Một số nam nữ học sinh cứ ngồi giữa đường tàu đòi giải quyết... Mấy viên sĩ quan Tưởng đi theo chi đội thấy cảnh đó, bất giác thở dài: "Ở bên tôi lúc này phải lùng bắt lính mà cũng không được trai tráng đâu".


Do những chuyện dọc đường như thế, nên đúng chiều hôm tất niên, con tàu mới đến ga Thuận Hóa. Bà con đã túc trực từ khi được thông báo chi đội rời ga Quảng Trị. Tàu vừa dừng hẳn, đại biểu các đoàn thể liền lên tàu thăm hỏi úy lạo bộ đội. Ngọc Trân trực ban hành quân vội đón đoàn đến gặp chỉ huy, rồi xuống tàu gặp trưởng ga báo cáo lộ trình tiếp theo: "Tạm dừng ở Huế 2 tiếng, rồi đi Đà Nẵng thay đầu máy vào Quảng Ngãi kịp làm việc...". Nghe xong người trưởng ga cười to:

- Đồng chí vệ quốc đoàn ơi! Ông chủ tịch và chủ nhiệm Việt Minh vừa thông tri chưa làm kế hoạch vận hành cho "công-voa" ni. Đợi hội ý xong đã...

Ngọc Trân ngớ người. Thì ra đoàn đại biểu nào củng muốn lưu bộ đội qua đêm. Các mẹ nói thuyết phục lắm:

- Truyền thống tổ tiên mô có chuyện con cái cáo biệt ba mạ giữa đêm giao thừa...

Chẳng thể chối từ, ban chỉ huy phải điện báo cáo ra Hà Nội rồi thông tri cho chi đội dừng lại ăn tết Thuận Hóa đêm 30 và sáng mồng một, chiều đi.


Đến Quảng Ngãi, tin chiến sự ở Tây Nguyên hết sức khẩn trương. Pháp đang tấn công Buôn Ma Thuột... Chi đội nhận lệnh đi gấp vào Bình Định, xuống ga Tuy Phước hành quân bộ lên An Khê. Chi đội đóng quân theo kế hoạch bố phòng tuyến 2, sẵn sàng hỗ trợ hai mặt trận Buôn Hồ và Buôn Ma Thuột.


Sau ít ngày nghỉ hồi sức, chi đội tổ chức tập luyện tác chiến rừng núi; phối hợp với bộ đội Hùng Việt đánh địch ở Buôn Hồ, cùng chi đội 5 Gia Lai bố phòng chặn địch vượt đèo An Khê xuống Phú Phong... Không khí chuẩn bị chiến đấu đang khẩn trương, bỗng nghe tin Cụ Hồ đã ký Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3. Không có đài, mãi mới được tờ Cứu Quốc đăng tóm tắt nội dung chính. Nhiều từ ngữ khó hiểu: "Một nước tự do... trong khối liên hiệp Pháp...", "... trưng cầu dân ý về sự thống nhất ba kỳ...", "... quân đội Pháp vào Bắc Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa...". Mọi người xôn xao bàn cãi. Chính trị viên chi đội họp cán bộ giải thích nhưng vẫn cứ vướng mắc. Một hôm được lệnh tập trung đón "thượng cấp". Nghe tôn nghiêm quá, cả chi đội háo hức chờ đợi.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Năm, 2021, 07:23:58 am
Đúng giờ. Một người dỏng cao, da ngăm đen chắc nịch bước lên bục. Chi đội trưởng Thịnh hô bồng súng chào. Chính trị viên Quyết giới thiệu:

- Đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ đến thăm và nói chuyện với chi đội ta...


Cả đoàn quân rộ lên hoan nghênh kéo dài. Chủ tịch Sơn giơ hai tay đáp lễ. Ông đưa mắt nhìn đoàn quân khỏe mạnh, súng ống đầy đủ. Cán bộ chỉ huy đứng đầu hàng đi giày da, mang ghệt, súng ngắn, một số đeo cả kiếm Nhật lủng lẳng... Ông khẽ gật đầu, mỉm cười:    - Chi đội các đồng chí trông vẻ hùng dũng lắm. Đế quốc Pháp đã nổ súng xâm lăng Nam Bộ, đánh ra Trung Bộ. Các đồng chí rõ âm mưu của nó rồi chứ?

Nhiều tiếng đáp:

- Chúng tôi biết nên mới xung phong Nam tiến.

Nghe cách trả lời không điều lệnh của cán bộ, ông cười hà hà:

- Rất hoan nghênh tinh thần xung phong. Trải thời loạn mà! Nhưng còn phải học quân phong quân kỷ nữa đấy. Chuyện đó nói sau, bây giờ tôi muốn nói với các đồng chí một vấn đề hệ trọng...

Chúng tôi cảm nhận ngay ở ông phong thái nghiêm túc mà khoáng đạt. Ông cất tiếng sang sảng:

- Trước các đồng chí đã có ba chi đội Nam tiến rồi, nhưng không được mang súng. Các đồng chí có hiểu vì sao không?

- Vì quân Tưởng ngăn cản.

- Đúng đó! Hoa quân nhập Việt để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, nhưng chúng càn rỡ ngang nhiên cản trở ta để hậu thuẫn cho giặc Pháp dễ bề hành động. Ta buộc phải thương lượng cho nó chút ít, chi đội các đồng chí mới có thể mang theo súng.

Đoàn quân thoắt ào lên:

- Phải đuổi chúng nó cút khỏi nước ta...

Chủ tịch Sơn đưa hai tay vẫy vẫy ra hiệu trật tự:

- Đuổi chúng ra khỏi nước ta là đúng, nhưng làm như các đồng chí nghĩ lại sai. Vì quân Tưởng vào Việt Nam theo kế hoạch của phe Đồng minh, nếu ta nổi nóng thô bạo thì mình tự hóa thành người chống lại Đồng minh diệt phát xít, sẽ bị cô lập. Các đồng chí cần hiểu rõ điều đó.

Có tiếng hỏi to:

- Vậy làm sao lại ký tạm ước thuận cho quân Pháp ra Bắc? Khác nào chuyện rước cọp đuổi sói (?!).

Chủ tịch Sơn nhìn người vừa nói:

- Đồng chí tỏ ra nhớ cổ tích dân gian đấy nhỉ. Song các đồng chí có biết những ba con cọp với một con sói cùng lăm le vồ ta không?... Là Mỹ, Anh, Pháp và Tưởng đấy! Lại thêm Nguyễn Hải Thân, Vũ Hồng Khanh trùm phản động Việt quốc, Việt cách rất nguy hiểm đang dựa vào Tưởng ra sức phá ta từ bên trong để tiếp tay cho địch... - Ông nhìn khắp đoàn quân, rồi cao giọng. - Các đồng chí thử nghĩ một người vừa ốm khỏi, cùng lúc chọi với bốn năm kẻ dữ được không?... Cụ Hồ quyết tâm giành độc lập, cả nước đồng lòng, nhưng đánh tên địch nào? Đây là nghệ thuật chọn đối thủ dễ thắng và gạt bớt kẻ đánh hôi. Hiệp định 6 tháng 3 là cái "quyết bắt tà" tuyệt luân đấy. Mười tám vạn quân Tưởng phải ra đi, thay vào đó chỉ có một vạn rưỡi quân Pháp phối hợp với một vạn quân Việt Nam lam nhiệm vụ tiếp phòng... Thế là bọn phản động thân Tưởng mất chỗ dựa đành cuốn xéo. Ta đã ở trong khối liên bang Đông Dương thì Anh, Mỹ hết cớ nhảy vào xâu xé Việt Nam. Một đòn gạt bốn tên. Các đồng chí thấy sao?


Cả đoàn quân bừng lên hào hứng: "Hay lắm! Giỏi vô cùng". Chợt có tiếng hỏi to:

- Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, dựng nền dân chủ cộng hòa. Nhưng vì sao trong Hiệp định sơ bộ chỉ ghi nhận là "một nước tự do"?

- Một câu hỏi thời sự nóng hổi đấy! - Chủ tịch Sơn gật đầu: - Mục tiêu của cách mạng Việt Nam đúng như bản Tuyên ngôn 2 tháng 9, không thể khác được. Nhưng đấu tranh để tới đích là một quá trình gay go phức tạp. Kẻ địch đông, hùng mạnh hằm hè nuốt chửng ta, song chúng tham lam nên còn mắc dàn xếp với nhau. Ta thì đơn lẻ, sức còn yếu, phải có thời gian để phát triển lực lượng đủ mạnh. Nếu không tỉnh táo, bị khiêu khích thì cách mạng sẽ bị địch xúm lại dìm trong biển máu. Cụ Hồ là bậc đại cách mạng, chí thánh, nhà tư tưởng chiến lược vượt lên mọi tầm cao trí tuệ đương thời. Trong phút lâm nguy ngàn cân treo sợi tóc, Người quyết định "Hòa để tiến"... một truyền thống dân tộc "lấy chí nhân thay cường bạo", chứ không phải như các hòa ước 1883-1884 của nhà Nguyễn chịu sự đô hộ hoàn toàn... Xưa kia, Pháp chỉ có mấy cỗ đại bác mà làm được thế. Nay chúng đủ cả máy bay, xe tăng, tàu chiến mà phải nhận Việt Nam là một nước tự do, có chính quyền, quân đội, tài chính riêng... Đó là một thỏa ước pháp lý công bố toàn thế giới thì quả là thắng lợi ngoại giao chưa từng có trong thời thuộc Pháp... - Chủ tịch Sơn mỉm cười hỏi to: Các đồng chí còn gì chưa rõ?

Lê Ninh trung đội trưởng giơ tay:

- Xin hỏi: Thực dân Pháp rất xảo trá lật lọng, làm sao có thể tin được lời hứa của nó.

- Có nhiều anh em nghĩ thế không?

- Tất cả! Tất cả nghĩ vậy! - Đoàn quân ồn lên.

- Các đồng chí nghĩ đúng. Cụ Hồ đã dự kiến Pháp sẽ phản bội lời hứa, vì vậy chúng ta mới phải Nam tiến... Toàn dân đồng lòng ủng hộ hòa đàm và sẵn sàng tiến lên bằng cuộc kháng chiến trường kỳ. Chúng ta là quân nhân cũng đồng tâm chứ?

Một rừng tay vung cao:

- Sẵn sàng!

- Hòa để tiến!

- Quyết tâm kháng chiến trường kỳ!


Sau buổi nghe ông Sơn diễn giải, tôi cứ nghiền ngẫm mãi phương châm "Hòa để tiến", quả đã ứng nghiệm. Đến trước ngày bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc, thì công cuộc xây dựng vùng tự do các tỉnh miền Trung làm căn cứ và chuẩn bị kháng chiến đã vào nền nếp. Số lượng quân chủ lực tăng lên gấp 3-4 lần, tổ chức được các công xưởng chế tạo sửa chữa vũ khí, sản xuất quân trang. Thôn xã nào cũng có 1-2 trung đội dân quân du kích. Chi đội 5 Gia Lai và chi đội Độc lập 1 được chỉ thị phân tán làm nòng cốt cho 5 trung đoàn mới xây dựng của Khu 5 và Khu 15. Một số xung vào đội quân tình nguyện Việt - Lào, có đơn vị đươc điều gọn vào chiến trường Cực Nam, Nam Bộ. Riêng đại đội tôi bị phân tán đi nhiều nơi. Đại đội trưởng Phi Hùng nhận lệnh ra Bắc về đại đoàn 312, Triệu Đức Quang chính trị viên cùng mấy đồng chí đi trung đoàn 120 Bắc Tây Nguyên, tôi đại đội phó chuyển sang công tác chính trị vào chiến trường địch hậu Quảng Đà. Các anh Thịnh, Nguyễn Quyết, Kim Bảo cũng được, điều đi đơn vị khác...


Kể từ đấy, chi đội Độc lập 1 không còn nữa. Nó được hòa nhập vào các trung đoàn vệ quốc chiến đấu khắp mọi miền Tổ quốc. Một số tương đối đông qua được kháng chiến chống Pháp, lại tiếp tục vào cuộc trường chinh kháng Mỹ tới thắng lợi.


Đến nay đoàn quân gần hai nghìn người từ biệt đất Hoa Lư năm ấy, chỉ còn lại khoảng hơn nửa trăm người. Tất cả đều già yếu với nhiều thương tật. Nhưng so với bao đồng đội đã ngã xuống vì độc lập, chúng tôi được thấy cái đích phấn đấu lúc lên đường Nam tiến: độc lập, tự do.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:45:33 pm
GIẢI PHÓNG QUÂN

Nhạc và lời: PHAN HUỲNH ĐIỂU


Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
Toàn thắng vinh quang ghi ngày trở về.
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
Ra đi ra đi thà chết chớ lui.
Cờ bay phấp phới ngời màu Lạc Hồng.
Kèn reo vang tiếng gọi dòng Lạc Hồng cùng giải phóng quân.
Ra đi ra đi theo hồn sông núi, thù bao năm xưa có bao giờ nguôi.
Dưới cờ oai nghiêm sao vàng bay.
Đoàn quân Việt Nam có hay.
Ngày xưa biết bao vị hùng anh.
Quyết vì non sông ra tay bao lần.
Ngày nay đoàn quân ta gắng làm sao giành quyền tự do hạnh phúc cho dân.

Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
Dù có gian nguy nhưng lòng không nề.
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
Ra đi ra đi thà chết chớ lui.
(Cờ bay phấp phới...) lui!


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:47:38 pm
CHI ĐỘI BẮC BẮC


Đại tá NGÔ TỪ VÂN
Thay mặt đồng chí Lê Văn Lương, Trung tướng Lư Giang,
đồng chí Lê Chính (phân đội trưởng), đồng chí Lụa (chiến sĩ quân y),
thượng tá bác sĩ Hàn Thị Trang (vợ đồng chí Lư Giang)
   

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp được quân Anh giúp đỡ vũ khí phương tiện và lực lượng đã khởi hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa giành được độc lập.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ và đồng bào toàn quốc kêu gọi nhân dân Nam Bộ kiên quyết kháng chiến và nhân dân toàn quốc ra sức chi viện miền Nam đánh bại quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập và thống nhất của nước nhà.


Theo chỉ thị của Trung ương và lời kêu gọi của Bác Hồ, các địa phương theo khả năng của mình, khẩn trương tổ chức lực lượng võ trang và tuyển chọn ra đơn vị tinh nhuệ nhất để đưa vào miền Nam chiến đấu sát cánh với đồng bào Nam Bộ đánh bại bọn thực dân phản động Pháp đang âm mưu thôn tính nước ta một lần nữa.


Trên toàn miền Bắc và miền Trung, nhiều đoàn quân đã lên đường Nam tiến trong đó có những chi đội tập trung như chi đội Nam Long, Vi Dân, Thu Sơn Hữu Thành và những trung đội độc lập của nhiều huyện, nhiều tỉnh, từ Việt Bắc đến Bình Định, Phú Yên.


Thường vụ Tỉnh ủy ba tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên đã khẩn trương tổ chức lực lượng và tuyển chọn ra một số đại đội thành lập đơn vị Nam tiến của ba tỉnh Bắc Bắc Quảng. Đồng chí Lư Giang tên thật là Lê Bá Ước, được chỉ định làm chi đội trưởng, đồng chí Từ Vấn làm chi đội phó, đồng chí Lê Văn Lương chính trị viên chi đội. Tiếp sau đó, đồng chí Lê Hữu Quán được chỉ định làm chi đội phó trực tiếp chỉ huy lực lượng của tỉnh Quảng Yên nằm trong chi đội. Trong quá trình tổ chức biên chế chi đội, cả ba tỉnh đều lựa chọn những chiến sĩ, thanh niên tự nguyện, có sức khỏe và khả năng chiến đấu, đặc biệt ưu tiên những đồng chí đã tham gia Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, cứu quốc quân và các đội vũ trang thoát ly của các địa phương.


Trên thực tế ở ba tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên ngay từ sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám mỗi nơi đã tổ chức một chi đội. Do đó ban chỉ huy chúng tôi chỉ tập trung vào lựa chọn những cán bộ chiến sĩ ưu tú nhất từ ba chi đội để thành lập một chi đội Nam tiến. Theo phân công, anh Từ Vân đến Bắc Ninh tuyển chọn hai trung đội (thời đó trung đội ngang với đại đội hiện nay). Hai trung đội của Bắc Ninh tuyển chọn xong đưa lên Bắc Giang đóng tại Hà Vị cùng với lực lượng đã tuyển chọn ở Bắc Giang học tập chính trị và huấn luyện quân sự. Trong khi đó ở Quảng Yên cũng tuyển chọn một trung đội và phân công anh Lê Hữu Quán phụ trách huấn luyện tại chỗ, chờ có lệnh trên sẽ sáp nhập vào lực lượng đang huấn luyện ở Hà Vị để tổ chức thành chi đội. Như vậy khi hình thành, chi đội Bắc Bắc Quảng đã có 4 trung đội bộ binh (tương đương 4 đại đội), ngoài ra còn có một đội trinh sát và một phân đội hậu cần trực thuộc chi đội. Trong phân đội hậu cần có đội cứu thương và cấp dưỡng, chủ yếu là các chị em phụ nữ như các chị Tuấn, Thăng, Triệu, Tâm, Lụa... trong đó chị Thăng nguyên là chiến sĩ giải phóng quân ở Bắc Giang. Bốn trung đội trưởng là các anh: Chử, Quyết, Sơn, Lạng (tức Lê Chính). Sau khi tổ chức ổn định, các trung đội bước vào xây dựng nền nếp các mặt, từ sinh hoạt đến học tập chính trị, quân sự, rèn luyện kỷ luật và tác phong của quân nhân cách mạng. Chi bộ đảng được thành lập gồm có 4 đảng viên là: Lê Văn Lương, Từ Vân, Trà Sơn (tức Công), Lư Giang. Anh Lê Văn Lương được chỉ định làm bí thư chi bộ.


Trang bị của chi đội lúc đó khá mạnh. Chiến sĩ có súng trường (súng Nga, Pháp, Nhật). Hỏa lực trung đội có súng phóng lựu, trung liên. Hỏa lực của chi đội có súng cối 60 ly, đại liên "Hốt kít". Cán bộ chỉ huy từ trung đội trở lên đều có súng ngắn, một số có thêm kiếm. Ngày đó quân trang quân phục của chúng tôi có gì mặc nấy, quân phục Nhật hoặc lính bảo an cũ, có đồng chí mang cả áo blu-dông dạ, đội mũ cát két, ca lô, mang xanh tuya rông, quần soóc, đi giày da của nhà binh cũ. Cán bộ chỉ huy chi đội đều có ống nhòm.


Sau ngày tổng tuyển cử 6 tháng 1 năm 1946 (tức là ngày 8 tháng 12 âm lịch) hai trung đội Bắc Ninh và Bắc Giang đóng ở Hà Vị tập kết về thị trấn Lục Nam chuẩn bị làm lễ lên đường Nam tiến. Hai ngày trước khi lên đường, tất cả anh em bộ đội Nam tiến được về thăm gia đình, song có đồng chí vì lo công việc, đã không kịp về thăm.


Lãnh đạo tỉnh, cơ sở, đoàn thể, nhân dân đến chia tay tiễn biệt hẹn ngày chiến thắng. Chị Hà Thị Quế nguyên ủy viên quân sự tỉnh Bắc Giang thay mặt lãnh đạo hai tỉnh Bắc Bắc đọc lời chào mừng và giao nhiệm vụ. Không khí thật sôi động và cũng không ngờ cuộc ra đi như vậy đến mười mấy năm sau anh em chúng tôi mới có dịp trở về thăm quê nhà.


Đúng ngày 10 tháng 1 năm 1946, chúng tôi chuyển lên ba chiếc tàu mang tên Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư và Ký Con. Khi ba chiếc tàu cùng nổi lên hồi còi dài tiễn biệt, cảnh tượng thật cảm động. Kẻ ở người đi rưng rưng nước mắt. Hai mạn tàu vẫn có hàng chục người đuổi theo, cốt xin được nhập đoàn Nam tiến. Chúng tôi thuyết phục mãi anh em mới chịu quay trở về. Song cá biệt chúng tôi nhận giấu một vài người, thường là những anh em tha thiết, nhiệt tình, có năng khiếu quân sự.


Khi đi ngang đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo tại bến Lục Đầu Giang, ba con tàu dàn thành hàng ngang oai nghiêrn, dừng lại họp mít tinh với nhân dân trên bờ tổ chức tuyên thệ long trọng trước uy linh tổ tiên.

Đến Hải Dương chúng tôi được biết tin Chính phủ liên hiệp đã chính thức ra mắt do cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Chúng tôi đi thành đội ngũ chỉnh tề và tuyên bố chúng tôi là lực lượng giải phóng quân thuộc Việt Minh nay trở thành vệ quốc quân Nam tiến. Nhân dân vỗ tay chào mừng nhiệt liệt.

Rời Hải Dương, tàu chúng tôi xuôi xuống Ninh Giang, rồi theo dòng sông Thái Bình xuống Nam Định, ở đây chúng tôi gặp bộ đội Quảng Yên do anh Lê Hữu Quán chỉ huy và hợp lại thành 4 trung đội (đại đội). Anh Quán được bổ nhiệm phó chỉ huy bộ đội Bắc Bắc Quảng. Anh Hà Kế Tấn chỉ huy trưởng bộ đội tỉnh Nam Định cùng nhân dân tiếp đón rất long trọng, có người tặng chúng tôi hàng ngàn chiếc thắt lưng da.


Anh Hoàng Văn Thái đại diện Bộ Quốc phòng về Nam Định trực tiếp chỉ đạo chúng tôi ổn định tổ chức. Một buổi chiều chúng tôi nhận được điện của Bác Hồ gửi đến, thật là vui mừng khôn xiết. Bức điện khá dài, hết ba tờ giấy bưu điện. Chúng tôi giữ mãi bức điện ấy, nhưng đến năm 1949 thì bị mất trong một trận chống càn ở Hòn Hèo. Tôi còn nhớ đại ý bức điện của Bác: Nghe tin các cháu tình nguyện nhiều lần, nay đã được cấp trên đồng ý cho Nam tiến cùng bộ đội và đồng bào trong Nam đánh giặc Pháp. Tôi hoan nghênh lòng yêu nước của các cháu... Thanh niên được cống hiến cao nhất là ra tiền tuyến, đó là phần thưởng cao quý mà Tổ quốc dành cho các cháu... Kẻ địch, thực dân Pháp được bọn Anh - Ấn giúp sức đều là quân hùng tướng mạnh, nhưng ta có chính nghĩa thì nhất định thẳng. Các cháu không được chủ quan khinh địch, thắng không kiêu bại không nản. Các cháu vào Nam phải thực hiện đoàn kết Bắc Trung Nam, gương mẫu dũng cảm khắc phục khó khăn, bộ đội và đồng bào miền Nam đang hăng hái dũng cảm diệt địch. Các cháu phải noi gương học tập để xứng đáng là thanh niên Việt Nam. Tôi bận việc, tiếc là không đến thăm được, vậy đánh điện thay lời chúc các cháu lên đường mạnh khỏe lập nhiều chiến công.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:48:31 pm
Trong cuộc mít tinh nội bộ, chúng tôi đọc bức điện của Bác. Tất cả im lặng lắng nghe từng lời Bác căn dặn, lòng vô cùng xúc động. Tiếng hô "Hồ Chủ tịch muôn năm" vang lên. Sau đó chúng tôi thông qua một quyết tâm thư gửi lên Bác Hồ và Chính phủ hứa làm tròn nhiệm vụ.


Đoàn quân Nam tiến Bắc Bắc Quảng của chúng tôi rời Nam Định vào một buổi sáng. Bắt đầu từ đấy chúng tôi đi bằng tàu hỏa. Khi chúng tôi lên tàu đồng bào cắm cờ quanh tàu và tặng quà bánh đầy toa.


Miền Trung và Nam Trung Bộ lúc đó còn xen kẽ nhiều lực lượng. Từ vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) trở ra do quân đội Trung Hoa giải giáp quân đội Nhật, nên từ Nam Định đã có một viên thiếu tá được giới thiệu làm sĩ quan liên lạc đưa chi đội đi. Qua Vinh chúng tôi gặp viên sư đoàn trưởng quân đội Trung Hoa. Đến Huế chúng tôi lại gặp một viên sư trưởng khác và chúng tôi phải tiếp xã giao với họ.


Từ Đà Nẵng trở vào đáng lẽ phải chuyển sang giao tiếp với quân Anh, nhưng vì quân Anh đang mở đường cho quân Pháp đánh Nha Trang nên chỉ có bộ đội và nhân dân gặp gỡ nhau, vui mừng khôn xiết. Tam Kỳ là nơi phân chia hai lực lượng Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Bọn quốc gia liên minh âm mưu đặt mìn phá cầu để ngăn cản bộ đội ta hành quân vào Nam, nhưng bị ta phát hiện kịp thời, chúng không thực hiện được. Từ Tam Kỳ chúng tôi hành quân bí mật hơn.


Khoảng ngày 17-18 tháng 1 năm 1946, chúng tôi đến Quảng Ngãi gặp anh Nguyễn Sơn là chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam. Quảng Ngãi đang sẵn sàng chiến đấu, phố xá im lặng, canh gác nghiêm ngặt. Chúng tôi đều nghĩ "sắp đến mặt trận rồi".


Anh Nguyễn Sơn triệu tập ban chỉ huy chúng tôi đến giao nhiệm vụ. Anh nói tình hình ở đây rất khẩn trương, địch đã chiếm Phan Thiết và thành phố Nha Trang, đồng thời đang chuẩn bị đánh thông từ Phan Thiết ra Nha Trang. Mặt khác, từ phía tây chúng đang chuẩn bị chiếm Buôn Ma Thuột và sẽ từ Buôn Ma Thuột đánh xuống đường 21 cùng với lực lượng Nha Trang đánh lên, hợp điểm ở Ninh Hòa. Như vậy con đường xe lửa vào Nam Bộ sẽ bị tắc nghẽn. Trước tình hình đó, chúng tôi sẽ không vào Nam Bộ như đã được giới thiệu mà dừng lại ở miền Nam Trung Bộ, tham chiến ở Nha Trang, và sẽ tách đại đội Quảng Yên do đồng chí Lê Hữu Quán chỉ huy lên tăng cường phòng thủ mặt trận Buôn Ma Thuột. Qua ga Ninh Hòa, bộ đội Quảng Yên tách khỏi chi đội Bắc Bắc, ngược lên nam Tây Nguyên. Cũng vào khoảng ngày 17 - 18 tháng 1 năm 1946 chúng tôi được vinh dự đón đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Chủ tịch Quân ủy hội đang trên đường vào kiểm tra tình hình và truyền đạt những chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ. Với giọng nói ấm áp đầy yêu thương, anh căn dặn: "Các cậu có lực lượng hùng hậu nên sẽ có ảnh hưởng lớn và tác dụng lâu dài, kẻ địch sẽ thấy sức mạnh của cách mạng chỉ trong một thời gian ngắn đã tổ chức được hàng chi đội mà lại có kỷ luật nghiêm minh. Nhưng lần này vào mặt trận phải có nhận thức mới cần chú ý rằng: ban đầu ta đánh có đội hình quy củ trang bị mạnh, phát huy tính ngoan cường chủ động linh hoạt. Song sau này có khi không chiến đấu trong đội hình lớn mà phải phân tán trong lòng địch, phân tán đến từng tiểu đội, từng tổ, từng người, phát huy kinh nghiệm thời kỳ bí mật, chiến đấu du kích linh hoạt, biết giương đông kích tây. Khi quyết định đưa quân vào Nam, Bắc và Trung ương đã có cân nhắc kỹ lưỡng. Bác còn lưu ý thêm đánh ở mặt trận có chỉ huy, chỉ đạo, hậu cần tiếp tế, quân dự bị tiếp viện, còn đánh sâu trong lòng địch phải tự lo liệu lấy, ốm không thuốc, đói không cơm, thậm chí phải tự độc lập quyết định chiến đấu, dự kiến khi mất liên lạc phải độc lập xử trí. Do đó phải có tinh thần không sợ địch, luôn dựa vào dân và tìm cách đánh thích hợp. Phải chiến đấu đến cùng, quyết không để lọt vào tay địch".


Thế rồi chúng tôi đi xe lửa, anh Giáp đi ô tô. Tối đến chúng tôi lại gặp nhau. Anh cho chúng tôi xem bài nói chuyện của Bác căn dặn anh em học sinh trong ngày lễ tốt nghiệp khóa 5 Trường huấn luyện quân sự Việt Nam, ngày 15 tháng 1 năm 1946. Chỉ thị của Bác về tinh thần độc lập sáng tạo của người cán bộ đã khắc sâu vào tâm trí chúng tôi. Bác lấy ví dụ các anh cần đi Sài Gòn, người chỉ đường nói các anh cần đi về phương nam đi qua Thanh Hóa, Vinh, Huế... đã có phương hướng sẵn anh em cứ theo đó mà đi, đến tỉnh nào qua con sông ngọn núi nào anh em tìm tòi sau, miễn là anh em biết đi theo phương nam chứ không lầm đường đi ngược ra bắc là được.


Nghe những lời căn dặn đó, chúng tôi nhận thấy, Hồ Chủ tịch và các anh đã lường trước thế trận và căn dặn bày vẽ đường đi nước bước theo nhiều hoàn cảnh và khả năng khác nhau. Khi qua Đèo Cả và đến bắc Nha Trang xe anh Giáp cũng đi theo tàu chúng tôi. Quá nửa đêm chúng tôi đi qua đèo Rù Rì thuộc địa phận Lương Sơn. Chúng tôi gặp lại anh lần nữa. Trong bóng đêm, giọng anh sang sảng: "những ý kiến chỉ đạo của Bác và Trung ương tôi đã trao đổi với các anh nhất là việc chiến đấu lâu dài, còn nhiệm vụ trước mắt khi cần phải chuyển hướng từ đánh chính quy sang đánh du kích, đánh phân tán. Cần đánh một số trận thọc sâu đánh mạnh, đánh bất ngờ, tiêu diệt gọn để tạo thanh thế rồi hãy rút lui".


Như vậy trên đường Nam tiến, ngay từ đầu chúng tôi đã được tiếp nhận tư tưởng chỉ đạo của Bác thông qua đồng chí Võ Nguyên Giáp. Những điều đó giúp chúng tôi có đủ nhận thức và đứng vững trong khó khăn gian khổ...


Phía trước chúng tôi cách 15 ki-lô-mét là thị xã Nha Trang. Phía trong chúng tôi là Phan Rang, Phan Thiết, sau lưng là Buôn Ma Thuột, mặt trận diễn ra ở ba phía. Tới thị xã Khánh Hòa, đơn vị Bắc Bắc đóng tại phủ Diên Khánh, ban chỉ huy gặp đồng chí Trần Công Khanh là khu trưởng và Hà Văn Lâu tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy mặt trận. Nhiệm vụ của chúng tôi là chiến đấu tại mặt trận Nha Trang. Trung đội do Lê Văn Lương chỉ huy được điều đi bảo vệ căn cứ, hai trung đội còn lại do Lư Giang và Từ Vân chỉ huy được điều xuống mặt trận để thay phiên cho đơn vị Nguyễn Hải và Thu Sơn đang phòng ngự ở khu vực từ núi Xuân Sơn sang Cây Đa Quán Giếng và làng Phú Nấm chiều ngang khoảng 5 ki-lô-mét, cách ga Phú Vinh chừng 500 mét. Đồng chí Từ Vân chỉ huy trung đôi 3 đóng bên Xuân Sơn. Đồng chí Lư Giang chỉ huy trung đội 1 đóng ở Phú Nẫm. Trận địa quân ta phần lớn nằm bên hữu ngạn sông Cái, giữ quốc lộ 1 từ Nha Trang đến Khánh Hòa để khỏi sơ hở cạnh sườn. Phân đội đồng chí Chính sang tả ngạn sông Cái đề phòng địch đánh xuyên hông. Hậu cần, quân y do các nữ y tá của chi đội và một số cô ở Nha Trang, Huế phụ trách.


Đêm 24 tháng 12 âm lịch (tức 26 tháng 1 năm 1946) ban chỉ huy dự kiến đánh một trận tập kích vào nhà ga nhưng có lệnh trên rút lui khỏi mặt trận Nha Trang về Đồng Trăng nhận nhiệm vụ mới, vì tình hình các mặt trận lúc đó rất khẩn trương, địch từ Buôn Ma Thuột đang tiến xuống Ninh Hòa và từ Phan Rang, Phan Thiết đánh ra. Cả hai mặt trận đều bị thủng, khả năng đêm nay chúng sẽ đánh đến Khánh Hòa. Cùng với việc giúp đồng bào tản cư, đơn vị rút ra sông Cái, lập tuyến phòng ngự mới ở tả ngạn sông Cái.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:49:16 pm
Khoảng 9 giờ sáng ngày 27 tháng 1 năm 1946, với sự yểm trợ của máy bay, xe tăng, đại bác, súng cối, địch tấn công nhiều lần nhưng đều bị đánh lui. Bến đò T là nơi diễn ra ác liệt nhất, mấy lần chúng liều chết nhảy xuống thuyền bơi qua nhưng đều bị phân đội của đồng chí Chính quật ngã, quân địch chết chồng lên nhau dọc bên sông. Suốt một ngày chiến đấu khoảng 50 tên địch bị tiệt, ta hi sinh 4 đồng chí. Thắng lợi đầu tiên bên bờ sông Cái làm nức lòng bộ đội và nhân dân địa phương. Ngay đêm đó, bộ đội rút lui lặng lẽ theo hướng tây bắc. Phân đội đồng chí Chính rút lui sau cùng. Khi kiểm tra lại thì thấy thiếu 1 tiểu đội. Ban chỉ huy ra lệnh cho đồng chí Chính quay lại tìm, té ra tiểu đội này tự động tập kích địch. Họ cử ra một tổ vượt qua sông, dùng lựu đạn phá hủy 1 xe tăng và diệt 1 tiểu đội địch, rồi rút lui an toàn.


Nhưng rồi mặt trận Nha Trang bị vỡ. Địch chia làm ba mũi từ Buôn Ma Thuột (phía tây), Phan Rang (phía nam) và từ Ninh Hòa (phía bắc) tạo thành thế gọng kìm đánh ra Nha Trang. Nhờ có chủ trương đúng, toàn mặt trận cho rút quân sớm, ta không bị vây kẹp.


Thực tế là ở mặt trận Nha Trang, ta vừa phòng ngự, vừa đánh địch và rút lui bảo toàn lực lượng theo tinh thần chủ động để tính kế lâu dài, phù hợp với ý định chỉ đạo của Trung ương mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã truyền đạt cho cán bộ chỉ huy toàn mặt trận. Suốt ba ngày đêm địch cho nhiều tốp trinh sát thăm dò, nhưng đều bị ta chặn đánh sát thương, buộc phải rút về.


Sau ngày mồng 1 tết (tức 3 tháng 2 năm 1946), địch lại ồ ạt tấn công vào trận địa mới của chi đội. Do lực lượng quá chênh lệch, sau nhiều đợt tấn công địch chiếm được trận địa của chi đội, mặc dù bị thiệt hại không ít về binh lính và xe cộ. Trong trận này, đồng chí Đức phụ trách đại liên bình tĩnh bẳn vào từng chiếc xe và diệt nhiều lính lê dương trên xe. Anh chiến đấu rất dũng cảm và cuối cùng đã anh dũng hy sinh.


Quân địch tập trung đông, gấp ta 5-6 lần, lực lượng ta quá mỏng nên địch thọc được vào hữu ngạn sông Cái cắt đôi trận địa ta. Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi nghĩ thế địch đang mạnh, nếu ta tiếp tục giữ tuyến sông Cái trong điều kiện bị tiêu hao, hở sườn thì dễ có khả năng bị địch tiêu diệt. Hai mươi đồng chí đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh tại chiến hào. Chúng tôi rút vào trong khe núi, địch sợ không dám đuổi theo. Kể từ đó chúng tôi hầu như độc lập tác chiến, không còn nhân được sự chỉ đạo của trên nữa. Do các cánh quân rút lui theo nhiều hướng khác nhau, mấy ngày sau, vào ngày mồng 5 tết âm lịch (8 tháng 2 năm 1946), trừ những người đã hy sinh, chúng tôi tập hợp 204 người, đủ cán bộ chỉ huy của đại đội, phân đội. Đồng chí Chính bị thương ở cánh tay phải trong trận đánh ở sông Cái.


Nhân dân cho ăn uống tử tế, lại cho quần áo của địa phương để cải trang. Chúng tôi vào các thôn xóm vận động đồng bào chôn cất các đồng chí hy sinh, đồng bào đã chuẩn bị sẵn sàng, chôn cất chu đáo. Thế là thêm một số đồng chí an nghỉ nơi đây, máu các đồng chí đã thấm sâu xuống mảnh đất này. Các con cháu sau này sẽ kính cẩn và tự hào rằng: "Chỗ ta đứng và trưởng thành là nơi xưa kia các chiến sĩ Nam tiến tận ngoài Bắc xa xôi vào đây cùng ba má ta đánh giặc và đã hy sinh oanh liệt".


Địch đã rút về thành Khánh Hòa. Dưới chân đèo đã có mặt trận, phía sau Vạn Giã là trận địa của quân ta. Bộ chỉ huy mặt trận không biết đóng ở đâu, cơ quan tỉnh nghe nói ở khu rừng xung quanh đây, ở một phía còn có bộ đội Khánh Hòa do anh Lê Anh Thông, Hà Vi Tùng phụ trách. Anh Nguyễn Văn Vĩnh, Nam Hồ phụ trách phân đội ở Nam Bộ rút ra sau khi vỡ mặt trận bắc Sài Gòn.


Địch mới chỉ chiếm được tỉnh lỵ. Bộ đội ta vẫn bám trụ xung quanh. Riêng với chi đội Bắc Bắc, phải làm gì đây để liên lạc với cấp trên, phải tự lo liệu việc tiếp tế, cách đánh của bộ đội ra sao? Đánh tập trung hay phân tán, đi tiếp vào Nam Bộ hay ra Bắc hoặc ở lại đây để tổ chức đánh du kích, và nếu ở lại chúng tôi sẽ sống và chiến đấu theo phương cách nào? Tất nhiên chúng tôi sẽ gặp nhiều khó khăn vì mới từ Bắc vào hơn một tháng, bộ đội chưa am hiểu phong tục tập quán của đồng bào địa phương... Nhưng những khó khăn này ta sẽ khắc phục được. Trong thời kỳ thử thách vừa qua, nhân dân Khánh Hòa đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi. Xét cho cùng địch chỉ mới chiếm được tỉnh lỵ, chưa chiếm được dân. Tuy vỡ mặt trận, nhưng bộ đội ta và lòng dân chưa vỡ, chúng ta còn tất cả. Chúng tôi tin tưởng vào thắng lợi. Đa số bộ đội Bắc Bắc tinh thần vẫn vững vàng chỉ ân hận chưa làm được gì nhiều. Song cũng có một số ít anh em sợ khổ, sợ khó khăn, tuy không dám nói ra, nhưng có nhiều lo lắng.


Chúng tôi suy nghĩ mãi. Chính những lúc này tư tưởng của Bác đã soi sáng cho chúng tôi, làm cho bộ đội Bắc Bác củng cố lòng tin.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi triệu tập toàn bộ cán bộ và đảng viên họp bàn về nhiệm vụ sắp tới. Chúng tôi thống nhất tập họp toàn chi đội, đề ra ba phương hướng cho anh em lựa chọn:

1. Ai ở lại chiến đấu du kích sẽ hòa vào dân, sống lâu dài trong lòng địch, sẽ phải chịu mọi thiếu thốn gian khổ.

2. Ai về với đại quân ở mặt trận cách đây 70 cây số sẽ đánh trận có bài bản, có chỉ huy đơn vị tập trung.

3. Ai muốn ra Bắc sẽ cho giao thông đưa ra.


Hầu hết anh em ở lại, chừng 30 người xung phong ra mặt trận. Có vài ba người xin ra Bắc. Nắm được tư tưởng củạ anh em, chúng tôi bố trí những anh em ra Bắc trong lúc chờ đợi sẽ làm công tác hậu cần ở sâu trong căn cứ. Anh em ra mặt trận phải tạm thời ở lại vì địch án ngữ mọi con đường. Lực lượng ở lại đánh du kích chúng tôi cho tăng cường trinh sát, phân tán thành nhiều đơn vị nhỏ, lập nhiều căn cứ khác nhau, có nhiều kho vũ khí, lương thực, có một khu hậu cần để nuôi dê, bò, trồng ngô, lúa. Tôi được cử đi gặp đồng chí Tôn Thất Vĩ, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Khánh Hòa và đồng chí Hà Văn Lâu. Thì ra anh Hà Văn Lâu cũng mất liên lạc với cấp trên. Gặp chúng tôi anh Vĩ và anh Lâu rất mừng. Chúng tôi trình bày với các anh kế hoạch phân tán, hoạt động đánh du kích của đơn vị. Anh Lâu, anh Vĩ xiết chặt tay chúng tôi hoan nghênh và dặn chúng tôi mấy điều cần thiết về tình hình địch, tình hình dân. Anh Vĩ cho rằng việc làm của chúng tôi là hết sức đúng đắn. Anh chỉ thị cụ thể cho các xã hết sức ủng hộ bộ đội cùng phối hợp chặt chẽ với nhau để đẩy mạnh phong trào du kích chiến. Anh Vĩ bảo chúng tôi ít hôm nữa anh sẽ xuống ở đây với chúng tôi. Anh em muốn ra Vạn Giã về với các đơn vị vũ trang tập trung dần dần đã ở lại với chúng tôi.


Bộ đội về với dân như cá với nước. Các cụ, các mẹ và cô bác đều nghĩ rằng, chúng tôi xa gia đình vợ con vào đây hy sinh vì miền Nam ruột thịt.

Giờ đây chúng tôi cũng áo bà ba đen, đội nón lá, đi chân đất, chúng tôi làm ruộng, làm vườn... Tối đến, chúng tôi đi họp, củng cố các tổ chức quần chúng, huấn luyện các đội du kích tự vệ chiến đấu, bắt đầu chiến đấu từ hình thức thấp đến cao: trừ gian diệt tề, bắn tỉa giặc đi càn, phá hoại đường xe lửa đánh sập cầu...


Đồng bào rất phấn khởi. Sau đó nhờ liên kết với lực lượng địa phương chúng tôi đã góp phần khôi phục được một số cơ sở huyện xã. Lúc này ở địa bàn chúng tôi còn có anh Nguyễn Văn Vĩnh, anh Nguyễn Trọng Xuyên từ Nam Bộ ra. Đơn vị anh Hà Vi Tùng trước giữ trận địa tiến công ở đèo Rù Rì cũng ở lại địa bàn chiến đấu theo kế hoạch chung đã thống nhất với Ủy ban kháng chiến và Tỉnh ủy Khánh Hòa. Các phân đội của chúng tôi thâm nhập sâu vào dân bản, đồng bào các dân tộc, chia thành tổ vận động các giới ủng hộ kháng chiến.


Trong tình hình thực tế lúc đó, chúng tôi đã liên kết phối hợp mọi lực lượng quân sự tạo nên thế trận chiến tranh du kích rộng rãi. Nhờ cuốn sách chiến thuật đánh du kích được anh Lư Giang giữ gìn từ hồi học quân sự ở Thái Nguyên, chúng tôi đưa ra hướng dẫn cho anh em học tập. Lực lượng được chia làm 4 phân đội, 2 phân đội vốn là lực lượng cũ của Khánh Hòa, 2 phân đội của Bắc Bắc. Chúng tôi cùng anh Tôn Thất Vĩ, Chủ tịch Ủy ban Khánh Hòa chỉ đạo chung, chia Khánh Hòa ra làm 4 khu để dễ phụ trách. Nhờ việc bắt rễ sâu trong các tổ chức nhân dân, phong trào du kích vẫn được giữ vững trong suốt thời kỳ chống Pháp.


Nói riêng ở giai đoạn đầu sau khi ta ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, tổ chức chính quyền 84 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã được bảo vệ. Ta có lực lượng lấn ra, địch co về tỉnh lỵ, ta giữ vững địa bàn và phát huy ảnh hưởng tích cực cho đến lúc toàn quốc kháng chiến. Phương châm chuyển từ ngăn chặn sang chiến tranh du kích bề sâu và bề rộng để chuẩn bị phát triển lực lượng trong giai đoạn sau được chứng minh là đúng đắn. Được như thế vì chúng tôi đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, ở đây cũng cần nhắc lại "Hiệp định 6 tháng 3" và "Tạm ước 14 tháng 9". Đồng bào và đồng chí miền Nam đã lợi dụng được dịp đó để xây dựng lực lượng, thực sự là rất phù hợp với địa bàn chúng tôi đứng chân. Đến cuối năm 1946, các lực lượng ở mặt trận Khánh Hòa được chuyển thành trung đoàn 80 gồm 3 tiểu đoàn. Riêng tiểu đoàn 4 do đồng chí Lư Giang làm tiểu đoàn trưởng, Từ Vân làm tiểu đoàn phó gồm đại đội 1 là đại đội Bắc Bắc do anh Trà Sơn và anh Thọ chỉ huy; đại đội 2 chủ yếu là đại đội ở mặt trận bắc Sài Gòn ra có một số cán bộ chiến sĩ Bắc Bắc do anh Nguyễn Đình Mười và anh Nam Hồ chỉ huy; đại đội 3 chủ yếu là bộ đội Khánh Hòa do anh Hà Vi Tùng, Lê Anh Thông và anh Nguyễn Niệm chỉ huy.


Năm 1947, trung đoàn 80 được tổ chức lại, hợp với trung đoàn 83 thành liên trung đoàn 803, chủ lực của miền Nam Trung Bộ. Đồng chí Lư Giang là liên trung đoàn trưởng. Cán bộ chiến sĩ của chi đội Bắc Bắc tiếp tục cùng với quân dân Khánh Hòa, Phú Yên lập được nhiều chiến công vẻ vang trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, xứng đáng với lời hứa hẹn trước lãnh đạo và nhân dân quê hương Bắc Bắc khi lên đường Nam tiến.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Năm, 2021, 04:11:41 pm
CHI ĐỘI 3 GIẢI PHÓNG QUÂN NAM TIẾN


NGUYỄN TIỆP


Từ địa đầu cực bắc của núi rừng Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng của cả nước, theo chỉ thị của Bác Hồ, sau khi thành lập đội vũ trang tập trung đầu tiên, các đội xung phong Nam tiến mở "4 con đường quần chúng cách mạng" từ Cao Bằng về miền xuôi.


Sau khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Việt Nam giải phóng quân, ngày 13 tháng 8 năm 1945 tại Thịnh Đán, Thái Nguyên chi đội 3 giải phóng quân được thành lập gồm 3 đại đội (đại đội Đàm Quang Trung, đại đội Đàm Quốc Chủng, đại đội Đào Mạnh Vy) và trung đội hỏa lực Hồng An do đồng chí Lâm Kính làm chi đội trưởng và đồng chí Phương Cương làm chi đội phó.


Chi đội 3 giải phóng quân là một trong những chi đội mạnh đầu tiên của Việt Nam giải phóng quân, là lực lượng xung kích cùng nhân dân địa phương giải phóng thị xã Thái Nguyên. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, chi đội 3 và chi đội 4 giải phóng quân được lệnh về Hà Nội làm nhiệm vụ phối hợp cùng địa phương bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ lâm thời và Hồ Chủ tịch.


Chi đội 3 lúc này chỉ còn một đại đội do đồng chí Mông Phúc Thơ làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Rạng làm chính trị viên. Đại đội gồm 3 trung đội (Hồng An, Hiền Quân, Thanh Cao).


Đầu tháng 9 năm 1945, chi đội 3 được bổ sung một trung đội gồm 32 người tuyển chọn từ các đơn vị giải phóng quân Hà Nội với đầy đủ trang bị do đồng chí Mông Phúc Thơ làm chi đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Rạng làm chính trị viên. Chi đội 3 là chi đội đầu tiên sẵn sàng nhận nhiệm vụ Nam tiến.
Chi đội là một đội vũ trang đã được rèn luyện, thử thách trong Cách mạng tháng Tám. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ là con em các dân tộc Việt Bắc đã trải qua chiến đấu, quen với chiến trường rừng núi. Số đội viên mới bổ sung ở Hà Nội vào được biên chế thành một trung đội thường gọi là trung đội học sinh Hà Nội bởi phần lớn là học sinh, sinh viên trẻ, một số là công nhân, tất cả đều đã tham gia nhiều cuộc đấu tranh chính trị, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, là tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu nay tình nguyện gia nhập giải phóng quân sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì và đi bất cứ nơi nào mà cấp trên giao.


Đêm 9 rạng 10 tháng 9 năm 1945, chi đội lặng lẽ ra ga Hàng Cỏ Hà Nội lên tàu hỏa hướng về phía Nam làm nhiệm vụ "tuần hành vũ trang". Đến Thanh Hóa, chi đội được bổ sung lực lượng, tranh thủ thời gian huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị và được tổ chức thành 2 đại đội: Hồng An, Hiền Quân.


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Thường vụ Trung ương Đảng và Chính phủ hạ quyết tâm Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập của dân tộc, kêu gọi cả nước chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ và quyết định tổ chức các đơn vị Nam tiến cấp tốc hành quân vào phối hợp với quân dân miền Nam chiến đấu.


Ngày 26 tháng 9, chi đội 3 làm lễ xuất phát tại thị xã Thanh Hóa và lên tàu hỏa vào Nam. Ngày 27 tháng 9, được bổ sung thêm một trung đội, chi đội thành lập đại đội Thắng Lợi gồm 3 trung đội: trung đội học sinh Hà Nội, trung đội Thanh Hóa, trung đội Vinh. Ngày 28 tháng 9 đến Huế, 29 tháng 9 đến Quảng Ngãi. Ủy ban kháng chiến Trung Bộ quyết định tổ chức một đại đội gồm hai trung đội 1 và 3 giải phóng quân Huế, sáp nhập vào chi đội 3. Chi đội do đồng chí Mông Phúc Thơ làm chi đội trưởng, đồng chí Nam Long làm chính trị viên. Toàn chi đội tiếp tục đi tàu hỏa đến Diêu Trì rồi đi ô tô đến Quy Nhơn. Ngày 1 tháng 10, chi đội đến Lương Sơn (Nha Trang). Tại đây, theo yêu cầu của đồng chí Hoàng Đình Giong, người được Trung ương cử vào chỉ huy quân sự ở Nam Bộ, đồng chí Nam Long điều đại đội Hồng An (thiếu 1 trung đội) bảo vệ đồng chí Giong đi trước vào miền Tây Nam Bộ.


Khi chi đội đến Phan Thiết, Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ đã huy động ô tô ra đón. Ngày 5 tháng 10, chi đội chia làm hai bộ phận:

- Bộ phận do đồng chí Mông Phúc Thơ phụ trách đi tàu hỏa vào Thủ Đức.

- Bộ phận do đồng chí Nam Long phụ trách hành quân bằng ô tô vào Biên Hòa.


Vào đến Biên Hòa, đồng chí Nam Long cùng các đồng chí Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Đào Duy Kỳ, Phạm Văn Bạch, Bùi Công Trừng, Thanh Sơn họp ban và thống nhất chủ trương nhanh chóng bao vây, đánh chặn không cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng, nhất là ra hướng đông Sài Gòn.


Ngày 6 tháng 10, toàn chi đội đến Thủ Đức. Từ Hà Nội vào Thủ Đức, qua các địa phương, chi đội đều được đảng bộ, chính quyền và đông đảo nhân dân đón tiếp rất nồng nhiệt, được bổ sung thêm những người con ưu tú và những vũ khí tốt. Các địa phương còn tạo mọi điều kiện thuận lợi về ăn, ở, nhất là phương tiện cơ động để chi đội nhanh chóng vào Nam Bộ chiến đấu.


Có thể nói, ngay từ những ngày đầu, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự điều động của trên, chi đội 3 giải phóng quân đã tổ chức hành quân bằng nhiều phương tiện trên chặng đường dài từ Hà Nội vào Thủ Đức. Trong khoảng gần một tháng, vừa hành quân, vừa củng cố lực lượng, vừa tổ chức chiến đấu chi đội đã vào sớm nhất, vào sâu nhất, kịp thời cùng quân và dân Nam Bộ chiến đấu ngăn chặn, làm chậm bước tiến của thực dân Pháp xâm lược, góp phần tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.


Tại Thủ Đức, các đồng chí Hà Huy Giáp, Nam Long, Mông Phúc Thơ, Phan Đình Công đã bàn và thống nhất kế hoạch chiến đấu cụ thể:

- Trước tiên đánh chiếm và phá cầu Bình Lợi để chặn không cho địch sang bờ bắc sông Sài Gòn. Đêm 10 tháng 10 dùng tàu hỏa chở 2 đại đội, mỗi toa chở 1 tiểu đội, xung quanh đặt bao cát. Một đại đội diệt trung đội lính khố xanh gác đầu cầu phía nam, một đại đội diệt trung đội gác đầu cầu phía bác. Kỹ sư cầu cống chỉ huy phá cầu.

- Nghiên cứu đánh một số mục tiêu trong nội thành Sài Gòn. Sáng 10 tháng 10, các đồng chí Nam Long, Mông Phúc Thơ, Phan Đình Công cùng đồng chí kỹ sư và một tổ trinh sát đi nghiên cứu thực địa cầu Bình Lợi, liên lạc được với du kích Gia Định thống nhất kế hoạch khi phá cầu Bình Lợi thì du kích cũng phá cầu Ban Ky. Nhưng khi quay về thì quân Anh, Ấn, Nhật đã chiếm cầu Bình Lợi và ở Thủ Đức bọn Nhật đang đào công sự chiến đấu.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Năm, 2021, 04:12:35 pm
Chỉ huy chi đội 3 nhanh chóng triển khai 2 đại đội cùng với lực lượng địa phương chặn đánh địch ở cầu Bình Lợi.

Tin trinh sát cho biết ở đầu cầu phía bắc có 4 lính Nhật gác (thay cho trung đội lính khố xanh), đồng chí Thắng Lợi phái một tổ 6 người, có 1 đồng chí biết tiếng Nhật, bí mật tiếp cận, bất ngờ xông vào bốt gác chĩa súng vào bọn Nhật và hô "bỏ súng xuống, ra phía sau. Chúng tôi đã chiếm bốt, các anh được an toàn". Bọn Nhật không phản ứng, lặng lẽ rút qua cầu về bờ nam.


Ngày hôm sau (11 tháng 10), quân Anh tổ chức tiến công hòng chiếm lại bờ bắc, song bị ta đánh mạnh, truy kích sang bờ nam và đốt bốt nên buộc phải rút về. Những ngày 12, 13, 14, 15 tháng 10, địch liên tục tấn công, dùng nhiều súng cối, phóng lựu kết hợp cả ca-nô đánh sang bờ bắc nhưng đều bị quân ta chặn đứng, bị tiêu hao lực lượng.


Thời gian này, Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ được thành lập, đồng chí Mông Phúc Thơ đươc cử làm ủy viên quân sự. Chi đội 3 giải phóng quần do đồng chí Nam Long chỉ huy và từ đây gọi là chi đội Nam Long.


Tại Thủ Đức, một sĩ quan Nhật đến gặp đồng chí Hà Huy Giáp báo tin chúng đã nhận được lệnh phải đánh vào đằng sau quân ta và để tránh đánh nhau không có lợi cho ta thì ta nên rút, khi rút hai bên chỉ bắn chỉ thiên.
   

Đồng chí Hà Huy Giáp bàn với đồng chí Nam Long, so sánh lực lượng giữa ta và Nhật quá chênh lệch không có lợi cho ta. Ta lại chưa chuẩn bị đề phòng phía sau nên ra lệnh rút về Long Thành, Tân Mai, Biên Hòa. Ngày 23 tháng 10, đồng chí Nam Long nhận được lệnh chuyển quân về giữ Xuân Lộc. Quân địch ở Xuân Lộc rất đông, chúng đóng nhiều đồn bốt rải ra trên toàn huyện, tập trung nhiều ở khu Suối Tre và thị trấn. Các lực lượng vũ trang của ta tập trung về đây cũng đông và phức tạp, gồm du kích, tự vệ của nhiều địa phương như chi đội Vĩnh, chi đội Vy, chi đội Nam Long, bộ đội Bình Xuyên, đệ nhất sư đoàn... không có sự chỉ huy thống nhất. Quân ta tổ chức phòng ngự trận địa rải mỏng lực lượng, chặn địch trên đường số 1 là chính. Từ 0 giờ 30 phút ngày 30 tháng 10, quân Nhật tập kích quân ta, chúng bò đến gần dùng lựu đạn, lưỡi lê đánh gần, nhưng bị quân ta dũng cảm chặn đánh trên từng chặng, bị một số thiệt hại. Đến 16 giờ, đồng chí Mông Phúc Thơ ra lệnh rút về Phan Thiết. Một bộ phận lẻ vẫn tiếp tục đánh địch cho đến mấy ngày sau mới rút.


Đầu tháng 11 năm 1945, ở Phan Thiết tập trung rất đông quân từ miền Bắc mới vào chi viện cho Nam Bộ. Quân của nhiều đơn vị, nhiều địa phương từ Nam Bộ rút ra cũng tập trung ở đây. Cũng trong thời gian này, Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ đổi thành Ủy ban kháng chiến đặc khu Phan Thiết do đồng chí Đào Duy Kỳ làm chủ tịch, đồng chí Mông Phúc Thơ và đồng chí Nam Long làm ủy viên quân sự, chủ trương: "Lấy Phan Thiết, Bình Thuận làm bàn đạp, phản công lấy lại các vùng bị chiếm, từ miền Đông Nam Bộ tiến vào giải phóng Sài Gòn".


Chi đội Nam Long được củng cố, nhanh chóng triển khai sẵn sàng chiến đấu:

- Đại đội Thắng Lợi bố trí ở khu vực ga.

- Đại đội Phan Hạo bố trí ở Lạc Đạo, Phú Tải.


Quân Nhật ở Phan Thiết chỉ có 1 đại đội nên không hoạt động gì. Ngày 9 tháng 11 chúng được tăng cường 1 tiểu đoàn. 6 giờ sáng ngày 11 tháng 11, quân Nhật tấn công đánh chiếm các công sở trong thị xã. Quân ta trên 3 mặt trận: nhà ga, ngã ba Nhà thương và rừng Cây Dương ngoan cường chặn đánh giành giật từng mục tiêu trong thị xã. 17 giờ 13 tháng 11, ta mở đợt phản công đồng loạt trong toàn thị xã, chiếm lại được nhà ga, nhà hàng Xê-ra-nô (trụ sở Ủy ban nhân dân lâm thời), thu được một số vũ khí. Nhưng vì lực lượng ta có hạn nên phải chuyển sang bao vây địch trong những ngày sau. Ủy ban kháng chiến đặc khu họp tại Bình An (huyện Hàm Thuận) có các đồng chí Đào Duy Kỳ, Hà Huy Giáp, Cao Thanh Trà, Nguyễn Sắc Kim, Nam Long, Mông Phúc Thơ tham dự đã quyết định thành lập:

- Chi đội 1 do các đồng chí Mông Phúc Thơ, chi đội trưởng, Đào Mạnh Vy chi đội phó, Nguyễn Sắc Kim chính trị viên, hoạt động ở tỉnh Bình Thuận.

- Chi đội 2 do các đồng chí Cao Thanh Trà chi đội trưởng, Lê Tự Nhiên chính trị viên hoạt động ở tỉnh Ninh Thuận.

- Chi đội 3 (trừ đại đội Phan Hạo) do đồng chí Nam Long chi đội trưởng được bổ sung 2 trung đội rút ra tăng viện cho Phan Rang.


Ngày 14 tháng 11, chi đội 3 tập kết ở Ma Lâm. Ngày 15 tháng 11 đi tàu hỏa và ô tô ra Phan Rang.

Tại Phan Rang, quân Nhật có 1 đại đội gồm 4 trung đội rất ngoan cố, không chịu thương lượng với ta, buộc ta phải nộp vũ khí. Đêm 10 tháng 11 lực lượng ta gồm 6 trung đội địa phương và nhiều du kích, tự vệ chiến đấu bao vây địch. Sáng 11 tháng 11 ta tấn công, nhưng địch phản công mạnh, đánh bật quân ta ra ngoài thị xã gây cho ta một số thiệt hại, riêng trung đội cảm tử Dư Khánh bị thiệt hại nặng. Đêm 11 tháng 11, địch rút về cố thủ ở 4 nơi: dinh Công sứ, trường tiểu học, nhà thương Phan Rang và khu chợ Lò lợn. Sau khi đi trinh sát; về, đồng chí Nam Long đã cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương chủ trương tiếp tục bao vây toàn bộ quân địch và tập trung lực lượng lấy chi đội 3 là lực lượng chính tiêu diệt từng điểm một.


Sáng 17 tháng 11, ta bắt đầu tiến công. Địch chống cự rất mạnh, có mục tiêu ta và địch phải giành đi giật lại từ 2 đến 3 lần. Ta có dùng một khẩu pháo 25 ly nhưng chỉ bắn được 3 phát thì bị hóc đạn. Ta cũng dùng một số đông du kích, tự vệ đánh chiêng, trống... gây tiếng nổ to để uy hiếp tinh thần quân địch. Ta tấn công liên tục, dồn địch dần dần phải co về cố thủ ở dinh Công sứ. 3 giờ ngày 24 thảng 11, một số địch bí mật vượt sông Dinh rút lên hướng Vườn Xoài, Đá Trắng bị bộ phận chặn bên sông Dinh và du kích các buôn đánh diệt một số.


Được tin địch rút chạy, các hướng bao vây của chi đội Nam Long và của địa phương đều ồ ạt tấn công vào dinh Công sứ, tiêu diệt một số địch còn lại hòng ngăn chặn ta truy kích. Quân ta diệt, bắt sống toàn bộ quân địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Chi đội Nam Long cũng bị thương vong một số, đồng chí Thắng Lợi đại đội trưởng anh dũng hy sinh.


Trận Phan Rang là trận đánh tiêu diệt đầu tiên và giải phóng hoàn toàn một thị xã. Giải phóng Phan Rang góp phần buộc quân Nhật phải rút khỏi Phan Thiết (12 tháng 12 năm 1S45), góp phần làm thất bại âm mưu dùng quân Nhật thay quân Pháp chiếm đóng trở lại các tỉnh Nam Trung Bộ, bước đầu cùng nhân dân các tỉnh miền Nam đánh bại âm mưu chiến lược "đánh nhanh, giải quyết nhanh" của địch.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Năm, 2021, 04:13:32 pm
Sau các trận cầu Bình Lợi, Xuân Lộc, Phan Thiết, Phan Rang chi đội Nam Long bị thương vong một số, riêng trung đội học sinh Hà Nội có tới 16 đồng chí bị thương vong, mất tích. Trong khi đó, trên điều gần 2 đại đội đi làm nhiệm vụ khác và chuyển sang xây dựng đơn vị mới. Quân số của chi đội chỉ còn khoảng 250 người nhưng được trang bị đầy đủ và mạnh bằng vũ khí mới thu được của địch. Đồng chí Nam Long được chỉ định làm khu phó Khu 6.


Ngày 27 tháng 11 năm 1945, chi đội Nam Long được lệnh hành quân bằng xe lửa vào mặt trận Nha Trang. Các đồng chí Trần Công Khanh, Cao Văn Khánh chỉ huy trưởng và chỉ huy phó mặt trận phân công chi đội Nam Long chiếm lĩnh khu vực Chợ Mới cùng các đơn vị bạn bao vây quân Pháp trong nội thị. Ngày 29 tháng 11, sau khi trinh sát kỹ thực địa và nắm chắc quy luật đi sục sạo, càn quét của địch, đồng chí Nam Long trực tiếp chỉ huy một trung đội phục kích ở gần ga Phú Vinh. Trung đội này gồm những đồng chí có kinh nghiệm chiến đấu (trong đó có 6 đồng chí đã bị Nhật bắt đi lính cho chúng) bố trí trận địa theo hình chữ U, đợi địch lọt vào gần chừng mười mét mới nổ súng và xung phong đánh thiệt hại nặng 1 trung đội lính Pháp đi càn quét, 8 tên bị chết tại trận. Ta thu 1 súng cối 60, 1 trung liên, 5 tiểu liên, súng trường và một số đạn, quân dụng.


Trận phục kích Phú Vinh là trận phục kích đầu tiên đạt hiệu suất cao, tiêu hao nặng 1 trung đội lính Pháp, làm cho lính Pháp hoang mang lo sợ, mọi hoạt động của chúng bị chững lại, binh lính không dám ra ngoài công sự sau hơn một tuần lễ mới dám mò đi sục sạo gần.


Đêm 30 tháng 11 năm 1945, chi đội Nam Long tham gia trận đồng loạt tiến công vào nội thành Nha Trang ở hướng ga Phú Vinh, ga Nha Trang. Quân ta đánh mạnh, nhưng không diệt được vị trí nào vì không có vũ khí đánh địch trong công sự.


Ngày 4 tháng 12 năm 1945, đồng chí Nam Long nhận lệnh rút chi đội khỏi Nha Trang về Ninh Hòa, tập kết ở Ma-đrắc. Đồng chí Phạm Kiệt, Tư lệnh Khu 6 truyền đạt chủ trương đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột và phân công:

- Phía bắc đồng chí Lê Thanh chỉ huy.

- Phía đông đồng chí Nam Long chỉ huy, lực lượng có thêm đại đội của chi đội Bắc Sơn, đại đội của chi đội tỉnh, đại đội của Nha Trang và 1 khẩu đội sơn pháo 75 ly.


Vào lúc 2 giờ ngày (?) tháng 1 năm 1946, ta nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột. Hai mũi của chi đội đều phát triển được, lần lượt chiếm lại sân bay, trụ sở Ủy ban kháng chiến tỉnh, trại bảo an... dồn địch phải lùi về cố thủ ở một số nhà phía tây thị xã. Nhưng đến gần sáng địch dùng cơ giới phản kích mạnh, ta không chặn được cơ giới nên phải rút dần ra ngoài. Quân ta tổ chức nhiều trận đánh chặn địch trên trục đường 21 và 14 từ ki-lô-mét số 3 đến ki-lô-mét số 47 và cuối cùng ở đèo Ma-đrắc. Đặc biệt ở ki-lô-mét số 13 có một con suối chảy qua đường tạo địa thế thuận lợi cho ta tổ chức chặn địch. Ta đã tổ chức trận đánh cầm được chân địch, ở khu vực ki-lô-mét số 47 và Ma-đrắc, lợi dụng rừng cao su và cây cà phê trồng sát đường, ta đã đánh nhiều trận nhỏ, lẻ ngăn chặn làm chậm bước tiến của địch.


Ngày 23 tháng 1 năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp Chủ tịch Quân ủy hội vào khảo sát tình hình măt trận đã đến Ninh Hòa. Do phải ra Hà Nội gấp, đồng chí gọi điện thoại cho Nam Long và dặn: "Cố gắng giữ trận địa càng lâu càng tốt. Mấy ngày nữa sẽ có tình hình quan trọng. Sẽ có thư gửi sau".


Ngày 31 tháng 1 năm 1946, sau nhiều ngày luồn rừng rứt lui, chi đội Nam Long tập kết ở Đồng Bò.

Tháng 2 năm 1946, đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam đến Đồng Bò chỉ thị củng cố, tổ chức lại các chi đội thành trung đoàn. Chi đội 3 Nam Long chuyển dần ra đóng quân ở Tuy Hòa, Sông Cầu, Xuân Đài, Quy Nhơn, Bình Định. Đồng chí Nam Long được cử đi học lớp bổ túc trung cấp ở Quảng Ngãi, ngày 5 tháng 10 được điều ra nhận công tác ở Hà Nội. Thi hành sắc lệnh số 71/SL, tháng 6 năm 1946, chi đội 3 Nam Long chuyển thành trung đoàn 95 do đồng chí Trần Tất Thắng làm trung đoàn trưởng, Nguyễn Chính Cầu làm chính trị viên và Trương Văn Dương làm trung đoàn phó. Nhiều cán bộ và chiến sĩ của chi đội 3 được điều đi các đơn vị khác làm nòng cốt xây dựng các đơn vị mới. Trung đoàn 95 sau lại hợp cùng trung đoàn 96 thành trung đoàn 120. Trung đoàn 120 sau cũng lại hợp cùng trung đoàn 126 thành trung đoàn 120 mới.


Đến đây kết thúc mọi hoạt động của chi đội 3 giải phóng quân Nam tiến.

Chi đội 3 giải phóng quân hay thường gọi là chi đội Nam Long chỉ tồn tại và hoạt động không đầy một năm nhưng đã liên tục giữ vai trò lực lượng cơ động mạnh, chủ lực tại các mặt trận cầu Bình Lợi, Xuân Lộc, Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, Buôn Ma Thuột. Chi đội đã hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu do Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến đặc khu Phan Thiết, Tư lệnh Khu 6, Bộ chỉ huy mặt trận Nha Trang... giao cho trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của thời kỳ đầu kháng chiến trên chiến trường miền Nam và nam phần Trung Bộ. Chi đội 3 tiêu biểu một phân rất nhỏ "sức người, sức của của cả nước chuyển về Sài Gòn, góp phần quan trọng trong cuộc chiến đấu bao vây quân địch những ngày đầu kháng chiến, cả nước đã góp sức kháng chiến tại thành phố Sài Gòn"1 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.68). Chi đội 3 cũng đã góp một phần nhỏ chiến công "cùng với chiến công ngăn chặn địch trên các trục đường 14 và 21 (Tây Nguyên) và trên đường 1 (Phan Thiết, Phan Rang, Quy Nhơn) của bộ đội Nam Trung Bộ, hoàn thành nhiệm vụ trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, bảo toàn và xây dựng được lực lượng, cùng quân và dân cả nước tạo thêm thế và lực ngày càng có lợi để bước vào cuộc chiến đấu mới"2 (Sách đã dẫn, tr.71-72).


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Năm, 2021, 04:14:11 pm
Thời gian chi đội 3 giải phóng quân tồn tại ngắn, phạm vi hoạt động hẹp, nhưng ý nghĩa vô cùng sâu sắc:

1. Lòng yêu nước, truyền thống quật cường Việt Nam là nguồn gốc của mọi ý nghĩ và hành động cách mang của người dân Việt Nam. Một dân tộc có hàng nghìn năm lịch sử, có bề dày truyền thống chiến thắng quân xâm lược lại được lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh lãnh đao. Dân tộc Việt Nam là một, Nam Bắc là một nhà.


Ngày 8 tháng 2 năm 1941, khi trở về nước, đặt chân lên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc, Bác Hồ đã chỉ thị: "... Từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa có thể tiếp xúc với toàn quốc được"1 (Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.33). Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tháng 12 năm 1944), Bác Hồ đã chỉ rõ, "đó là đội quân đàn anh... có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr.378). Từ đó những "đội xung phong Nam tiến" được tổ chức và những "con đường quần chúng cách mạng" được mở ra liên tục cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 23 tháng 9, cuộc kháng chiến bùng nổ ở thành phố Sài Gòn. Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cả nước: "Phải trút toàn lực vào đó. Hy sinh hết thảy vì kháng chiến, hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam", cả nước đã hưởng ứng, các tỉnh, thành đều thành lập những đơn vị Nam tiến. Nam tiến là biểu tượng hào hùng của cả nước ra trận, là biểu hiện mới của tư tưởng "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", là kết tinh mới của sức mạnh đoàn kết, thống nhất của toàn dân. cả nước đã chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.


Theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, cán bộ, chiến sĩ chi đội 3 đã bỏ hết mọi suy tính cá nhân, tự nguyện sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì, đi bất cứ nơi nào, chịu đựng mọi khó khăn, thiếu thốn, nguy hiểm có thể đến với tinh thần không yêu cầu một điều kiện gì, không đòi hỏi một thứ gì. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, sáng chói, họ đã chủ động khắc phục muôn vàn khó khăn, thiếu thốn vật chất, non kém về kỹ thuật... của thời kỳ đầu kháng chiến, đã dũng cảm chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong chi đội có anh chị em ở Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội, Thanh Hóa, Vinh, Huế... anh em Bình Xuyên, Cao Đài, Cộng hòa vệ binh... có anh chị em người Kinh, người dân tộc với đủ thành phần xã hội, nhưng từ cán bộ đến chiến sĩ hết lòng thương yêu nhau hơn anh em ruột thịt, bảo ban nhau, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ, nhất là những lúc khó khăn, nguy hiểm. Hai cuộc rút lui đường dài đầy khó khăn, hiểm nguy từ Xuân Lộc về Phan Thiết và từ Ma-đrẳc về Đồng Bò, chi đội 3 giữ nguyên được đội hình và sức chiến đấu là một thắng lợi.


Nhìn lại cả thời gian hoạt động, toàn chi đội đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, từ phân đội nhỏ đến chi đội chỉ hành động theo mệnh lệnh, không hề có thoái thác nhiệm vụ, không có rút lui chạy dài, không có bỏ ngũ, rã ngũ, không có hành động vô kỷ luật nghiêm trọng.


Chính do lòng yêu nước và truyền thống quật cường Việt Nam, cán bộ chiến sĩ chi đội 3 đã có tinh thần chiến đấu cao, đoàn kết keo sơn, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm và đã giành được thắng lợi.


2. Chi đội 3 là một trong những chi đội mạnh đầu tiên của Việt Nam giải phóng quân được lệnh sớm nhất vào chi viện cho miền Nam. Việc Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến đặc khu Phan Thiết, Tư lệnh Khu 6 và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam trực tiếp điều động, sử dụng chi đội 3 giải phóng quân là lực lượng cơ động mạnh của mặt trận Đông Nam Bộ và nam phần Trung Bộ vào các trọng điểm chiến đấu trong những thời điểm quyết định của thời kỳ đầu cuộc kháng chiến là rất đúng đắn, sáng tạo.


Những chiến công của chi đội 3 cùng đơn vị bạn và nhân dân địa phương ngăn chặn địch 4 ngày đêm không cho chúng vượt sông Sài Gòn sang bờ bắc, ngăn chặn địch từng bước trên đường 1 từ Thủ Đức, Biên Hòa, Xuân Lộc đến Phan Thiết; trên đường 14 và 21 từ Buôn Ma Thuột về Ninh Hòa, bao vây địch ở Phan Thiết, Nha Trang, tiêu diệt địch giải phóng Phan Rang... là thực tiễn chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, vừa phát huy được sức mạnh của chi đội trên các mặt trận nóng bỏng nhất của chiến trường, vừa bảo tồn được lực lượng chủ lực cơ động để đánh lâu dài.


3. Trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phải coi trọng chất lượng, xây dựng đơn vị mạnh, có bề dày truyền thống làm nòng cốt. Chi đội 3 giải phóng quân được xâv dựng về chính trị, tổ chức, trang bị và được chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ nên đã hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.


Việc chấn chỉnh hay thay đổi tổ chức trong những điều kiện nhất định là cần thiết. Việc chuyển các chi đội tổ chức thành các trung đoàn thực hiện sắc lệnh 71/SL là đúng, song cũng cần nghiên cứu giữ phiên hiệu truyền thống của một số chi đội đã có bề dày thành tích chiến đấu trong phong trào Nam tiến.


Chi đội 3 giải phóng quân (chi đội Nam Long) là chi đội đầu tiên của miền Bắc chi viện miền Nam, là một chi đội mạnh, cơ động, chủ lực của mặt trận miền Đông Nam Bộ và nam phần Trung Bộ. Chi đội chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp không thể phai mờ trong nhân dân, trong lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, nam phần Trung Bộ và trong cán bộ, chiến sĩ của chi đội.


Nhiều cán bộ, chiến sĩ của chi đội được tăng cường cho những đơn vị mới đã liên tục chiến đấu trên khắp các chiến trường cho đến ngày toàn thắng. Trong ngày vui đại thắng 30 tháng 4 năm 1975 tại Sài Gòn nhiều đồng chí đã vui mừng gặp lại nhau, trong đó có các đồng chí Nam Long, Nguyễn Tiệp, Thái Vĩnh, Khiếu Anh Lân... một cuộc hội ngộ của các chiến sĩ từng tham gia phong trào Nam tiến. 


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Năm, 2021, 05:02:06 pm
NAM TIẾN
(Trích hồi ký do Đỗ Thân ghi)


Trung tướng NAM LONG


Nam Bộ, tôi được nghe nói đến lần đầu trong đời là từ lời một thầy đồ chữ nho ở Cao Bằng quê tôi. Tôi nhớ mãi cái giọng sang sảng của thầy đồ Khoa người Nam Định:

"Nam Kỳ nguyên tiền lục tỉnh. Kim phân vị nhị thập tứ tỉnh". Cụ vụt cây roi mây xuống sạp làm hiệu. Lũ chúng tôi gân cổ gào lên. "Nam Kỳ nguyên tiền"... Nam Kỳ trước đây gồm sáu tỉnh nay chia thành 24 tỉnh. Nam Kỳ ở đâu ai đặt ra sáu tỉnh trước, ai chia ra thành 24 tỉnh nào có biết vì học cốt để thuộc mặt chữ, không có bản đồ, cũng không được giải nghĩa. Cho tới khi học chữ quốc ngữ lần đầu, nhìn tấm bản đồ Đông Dương bằng chữ Pháp tôi cứ tưởng Cochinchine (Nam Bộ - tiếng Pháp) cũng như xứ Cambodge (Campuchia) hoặc Laos (Lào). Năm 1944 khi tham gia Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tôi khao khát được đến một miền đất xa xôi như trong bài hát:

"... Tiến về Sài Gòn, bãi Cà Mau, dấn bước mau quân giải phóng, hướng phía nam ta tiến tới.
   Diệt cho tan quân phát xít Nhật, Pháp. Nguyện đem máu hồng, xây dựng non sông".

Tháng 8 năm 1945, đang ở giải phóng quân, tôi được anh Văn (Võ Nguyên Giáp) phân công đi bảo vệ rước Bác Hồ về Hà Nội. Thấy tôi nhận lệnh mà mặt buồn hiu, anh Văn hỏi:

- Nam Long có yêu Ông Cụ không?

Tôi suýt phát khóc vì câu hỏi đó. Ai mà không yêu Ông Cụ?

Về Hà Nội trong những ngày đầu Bác ở số nhà 48 phố Hàng Ngang. Đây là một cửa hàng lớn buôn vải của ông Trịnh Văn Bô, một nhà tư sản yêu nước. Chúng tôi gác bí mật ở ngay nơi bán hàng, ăn trưa và ngủ ở lầu một, Bác ở tầng trên cùng. Lúc này quân Tưởng đã vào Hà Nội, miền Nam Pháp đang gây chiến, cả Hà Nội sục sôi trong không khí ghi tên vào Nam ở các phòng Nam Bộ. Hằng ngày tôi hay sang chơi bên trại giải phóng quân. Nhìn không khí hăng say luyện tập mà phát ham. Rồi tôi lại trở vế phố Hàng Ngang. Hằng ngày, các anh Nguyễn Lương Bẳng, Trần Đăng Ninh, Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp thường đến chỗ Bác làm việc. Một hôm không thấy các anh đến làm việc, tôi đánh liều lên chỗ Bác. Bác ngừng tay đánh máy hỏi tôi:

- Gì thế chú?

- Thưa Cụ, Pháp đã vào miền Nam, Cụ cho cháu vào Nam.

- Tổ chức phân công gì làm nấy. Còn gì nữa không?

- Dạ thưa không ạ!

- Vậy chú xuống cho Bác làm việc.

Một hôm, anh Văn đến làm việc, tôi theo anh lên gác. Bác hỏi:

- Chú Nam Long có việc gì?

Tôi hiểu ý Bác muốn phê bình nên lúng túng thưa:

- Thưa Cụ, cháu muốn đi đánh nhau quá.

Bác tủm tỉm cười vì tôi dùng từ sai, đáng lẽ nói xin ra trận lại nói xin đánh nhau. Cụ hỏi anh Văn:

- Ý chú Văn thế nào?

- Thưa, xin tùy Cụ. Nếu Cụ cho phép thì tôi cũng đồng ý.

- Được rồi, chiều chú lên gặp Bác.

Chiều hôm đó Bác dặn tôi quyết tâm đánh giặc là tốt nhưng lại phải biết đánh. Bác nói về cái mạnh, cái yếu của Pháp, về cách đánh khi nó đông, khi nó hành quân, khi tạm trú. Bác dùng những từ như "mai phục", "đánh úp". Rồi Bác dạy: phải dựa vào dân như ở Việt Bắc, có dân sẽ có tất cả, từ cơm ăn, thuốc men cho đến do thám địch, nắm tình hình đường sá. Cái này các chú thạo rồi.


Hôm sau, tôi đi nhờ một ô tô vận tải vào Vinh. Các anh ở đó rất cần cán bộ quân sự, thấy tôi người dân tộc, đã qua lớp học chính quy bên Trung Quốc, lại được ở gần Bác nên anh nào cũng coi như đứa em trai.


Một hôm, tôi đang làm việc với Lê Viết Lượng thì có người chạy xộc vào báo: anh Nam Long à! Bộ đội Việt Bắc Nam tiến đang ở ngoài ga Vinh đông lắm. Có người hỏi thăm anh đấy.

Tôi chạy ra ga. Có tiếng gọi Nam Long, Nam Long. Chao ôi toàn "cánh giải phóng quân". Thơ, người Võ Nhai nay là chi đội trưởng kiêm chính trị viên, Hồng An - đại đội trưởng. Thắng Lợi - đại đội trưởng. Người Hà Nội, người Thanh Hóa, Ninh Bình, lại có cả các cô tha thướt trong tà áo dài học sinh, anh em thợ Tràng Thi vạm vỡ trong bộ quần áo thợ. Ai cũng trẻ măng, quân phục chỉnh tề, đầu đội ca lô đính ngôi sao vàng thêu kim tuyến. Thơ bảo tôi: Mình vừa làm chi đội trưởng lại kiêm chính trị viên, làm không hết việc. Giá có thêm Nam Long thì hay quá. Trong cái hào khí tưng bừng ở ga Vinh hôm đó bỗng một giọng nam trung cất lên ngân nga:

"Tiếng súng vang sông núi miền Nam giục ta ra chiến đấu!... Hai ba này", cả toa tàu, cả sân ga cùng đồng thanh hát theo. Tôi run lên vì xúc động. Thấy một anh dắt cái xe đạp đang gân cổ hát, tôi nói: anh cho tôi mượn cái xe về chỗ ông Lê Viết Lượng rồi tôi trả ngay. Anh ta hình như biết tôi nên cho mượn ngay. Tôi đạp vội về chỗ anh Lê Viết Lượng xin phép cho tôi Nam tiến ngay sáng mai. Anh Lượng cười: Nam Long do Trung ương cử vào, tôi làm sao cho phép được. Tôi nói: Nếu Hà Nội đồng ý thì anh cho Nam Long đi chứ. Tôi vào buồng vơ vội mấy bộ quần áo nhét vào ba lô rồi đạp ra ga. Tôi lại chỗ anh thanh niên mượn xe, nhưng không thấy anh ta. Tôi vào nhà thấy một ông già, tôi nói: Thưa bác, cháu có mượn một chiếc xe đạp của một anh lúc nãy đứng trước nhà bác, xin bác nhận giùm cho, nói là Nam Long cám ơn. Nhưng ông cụ nói nhà mình không có cái xe đó. Rầy rà thế. Thôi thế cụ cho cháu gửi vậy, cứ nói là của Nam Long trả, ai có xe đến nhận. Ông cụ đành đồng ý. Tôi vào trạm bưu điện xin gọi ra Hà Nội.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Năm, 2021, 05:02:58 pm
- Hà Nội nghe đây! Một giọng nữ thánh thót. A lô ông cần gặp ai, thưa ông? - Cho tôi gặp anh Văn.

- Xin ông vui lòng cho biết số máy. Tôi ngớ người, làm sao mà biết được số máy anh Văn bây giờ. Có tiếng cúp máy. Tôi chờ một lát lại nói tiếp nhưng vẫn cái giọng lịch sự ban nãy cho xin số máy. Tôi ngồi một lúc rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Tôi giật mình vì tiếng còi tàu. Trời ba giờ sảng rồi. Đầu tàu đang lấy thêm nước. Tôi lại quay máy. Lần này là một giọng nam trầm:

- Hà Nội nghe đây.

- A lô, tôi là Nam Long đang ở Vinh đây, anh cho tôi số máy anh Văn.

- Anh Văn à, cái tên nghe quen quá, có phải anh Văn Cao không?   

- Trời ơi không phải, anh Văn là anh Võ Nguyên Giáp ở Bộ Nội vụ mà.

Có tiếng cười nhẹ trong máy. Lát sau anh ấy gọi lại:

- A lô Vinh đâu, có số máy Bộ Nội vụ, xin mời.

Tôi hét to:

- A lô anh Văn phải không?

- A lô tôi nghe đây. Ai đấy?

- Nam Long đây anh Văn à. Anh cho Nam Long Nam tiến nhé. Chỗ đội Nam tiến của Thơ đang thiếu chính trị viên, xin anh cho Nam Long đi nhé.

Dường như anh Văn có đắn đo, lát sau anh nói:

- Cái này phải hỏi các anh bên Quốc phòng. 

- Ấy dà! Thế thì lâu quá đấy anh Văn ơi. Một giờ nữa tàu chạy rồi. Anh Văn cử Nam Long vào Vinh thì anh cho đi được chứ!

- Ý kiến các anh bên Tỉnh ủy thế nào?

Anh Văn hỏi, tôi đáp bừa:

- Thưa anh, anh Lượng bảo nếu Hà Nội đồng ý thì các anh ấy cho đi?

- Vậy hả, để mình báo cáo với Ông Cụ và các anh trong Thường vụ.

Tôi lại vào nhà ông cụ gửi xe, mượn lại chiếc xe đạp vội về báo cáo với anh Lượng, anh siết chặt tay tôi chúc đánh thắng. Tôi đạp ra ga trao xe cho ông cụ rồi lên xe lửa, ngồi chưa ấm chỗ, con tàu đã rúc một hồi còi dài rùng mình chuyển bánh vào Nam.


Đoàn xe chúng tôi đi tới tỉnh nào cũng được cấp ủy, Mặt trận Việt Minh đón tiếp rất nồng nhiệt. Chúng tôi gần như không phải nấu cơm ăn, nước uống dọc đường. Lễ nghi, trang trọng là thế, bừng bừng khí thế có Quảng Ngãi. Nơi nào cũng có các đơn vị tình nguyện vào Nam. Và đến Thủ Đức thì thân thiết như đón những đứa con về gia đình. Các anh Trần Văn Giàu, Hà Huy Giáp, Dương Bạch Mai, Đào Duy Kỳ, Bùi Công Trừng, Phạm Văn Bạch anh nào củng chỉnh tề trong com-lê, nói chuyện đôi lúc xen từng tràng tiếng Pháp, khi cần tranh luận. Tôi nghĩ các anh là trí thức, con nhà khá giả mà bỏ gia đình và cuộc sống tiện nghi đi kháng chiến thế này thì nhất định ta thắng Pháp. Sau khi nghe anh Hà Huy Giáp phổ biến tình hình, tôi bàn với anh Thơ đi trinh sát, cùng đi có anh Công người Quảng Ngãi là cán bộ địa phương. Anh Công cho biết Pháp dựa vào thế Đồng minh đang nống ra nên chưa kip lập được tề điệp. Chúng tôi có thể cải trang đi lẫn vao dân để xem xét địa hình. Các anh cho mượn quần áo thợ đã cũ. Tôi cao to lại trắng trẻo nên phải lấy bùn xoa vào những mảng áo rách, tay cầm khúc mía vừa đi vừa nhai. Anh Công xách một đùm bánh tét. Anh Thơ cầm nải chuối đi giữa dòng người đến thẳng cầu Bình Lợi. Trên cầu có một bót gác của lính Nhật. Cầu Bình Lợi hồi đó bằng sắt, khoảng giữa có máy quay để khi có tàu ghe, tàu lớn thì khoang này quay theo dòng chảy cho tàu ghe đi qua vào một giờ nhất định. Chúng tôi vừa đi vừa bàn cách đánh ngay tại thực địa. Đến cầu Băng Ky, anh Công gặp một toán du kích, phân công du kích phá cầu Băng Ky, còn chúng tôi sẽ phá cầu Bình Lợi, không cho địch nống ra.


Bỗng có tiếng động cơ ô tô, chiếc xe giép đi đầu kéo cờ Anh, những xe tải đi sau đầy lính, đoàn xe vượt chúng tôi đến đầu cầu Bình Lợi, lính xuống xe tản ra hai bên đường. Sĩ quan đứng trên xe giép dùng ống nhòm sát bờ bắc. Thơ hỏi tôi: Làm sao đây, chúng nó vượt mình rồi. Tôi lạnh xương sống, chưa biết tính sao. Nhưng thấy bà con ta cứ đi, anh Công nói: Việc ai nấy làm, hồn ai nấy giữ cứ đi. Thế là chúng tôi đi giữa hàng lính. Sang bên kia cầu, gặp một chiếc xe thổ mộ chúng tôi bảo người đánh xe:

- Lính Đồng minh bên kia cầu, quay lại thôi. - Người đánh xe cười khà: Mấy chú ti tược tại sao ta không ti tược à. Nghe cách phát âm, biết ngay là người Hoa. Anh Công nói: Chúng tôi đi bộ đội, cái nị đánh xe ngựa cồng kềnh gặp xe Đồng minh tránh vô đâu? Quay lại Thủ Đức, cho chúng tôi đi nhờ. Thấy bác ta còn ngần ngừ, anh Công vỗ vai bác ta. - Nị đừng ngại, về trụ sở Ủy ban Thủ Đức bọn tôi sẽ trả tiền đàng hoàng. Về đến Thủ Đức, anh Đào Duy Kỳ cho biết trên điều anh Thơ lên Ủy ban quân sự miền Đông, tôi làm chi đội trưởng. Tôi và anh Công báo cáo tình hình với anh Hà Huy Giáp đề nghị ngăn chặn không cho địch nống ra. Muốn ra bờ bắc phải hành quân theo hướng tây chợ Bình Phước để bố trí dọc theo bờ sông Sài Gòn. Nhân dân Bình Phước thấy bộ đội hành quân qua bèn sai con cháu hái dừa cho. Một bà má đưa tôi trái dừa tơ nói: "Uống đi con. Uống lấy sức mà chạy". Tôi cầm trái dừa loay hoay không biết làm sao. Bà má dường như thông cảm với đứa con miền Bắc chưa quen uống nước dừa nên má bảo cô gái đứng cạnh: Con Hai vạt dừa cho anh con đi chớ, mắc chi mà cứ cười hoài. Cô gái đỏ bừng mặt đỡ trái dừa, bằng hai vạt dao rất lẹ cô đã hớt đi lớp vỏ xanh tơ, lấy mũi dao khứa một đường nhỏ hình chữ V rồi đưa tôi. Lần đầu tiên tôi được uống nước dừa, vì quê tôi Cao Bằng đâu có dừa.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Sáu, 2021, 05:51:50 pm
CHI ĐỘI VI DÂN


HỒ NHƯ HẢI


Cũng như các địa phương khác trong cả nước, dưới hai tầng áp bức của Nhật - Pháp, đời sống nhân dân thủ đô Hà Nội vô cùng cực khổ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, trực tiếp là Thành ủy Hà Nội, Mặt trận Việt Minh thành Hoàng Diệu1 (Thành Hà Nội) đã vận động và tập hợp ngày càng đông đảo quần chúng trong các tổ chức Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, v.v...


Bốn anh em chúng tôi, người là viên chức sở Thủy lợi, công nhân Quân giới Pháp, giáo viên trường làng ngoại thành... được tuyên truyền giác ngộ cách mạng từ cuối năm 1943 đã tập hợp nhau cùng thuê một gian nhà ở chùa Bát Mẫu (Ngọc Hà), vừa đi làm, vừa tổ chức dạy nhau học thêm văn hóa, vừa tập dượt tham gia công tác cách mạng. Qua một thời gian thử thách, tháng 4 năm 1944, bốn anh em chính thức được kết nạp vào Hội công nhân cứu quốc thành Hoàng Diệu, với bí danh là Vì Nước, Vì Dân, Vì Giống, Vì Nòi. Đồng chí Trần Ngọc Minh phụ trách công vận Thành ủy chỉ đạo tổ hoạt động, chủ yếu trong nội thành như rải truyền đơn "ủng hộ Việt Minh", "Đả đảo Nhật - Pháp", tuyên truyền hoạt động của Việt Minh trong cả nước, nhất là ở chiến khu Việt Bắc. Trước yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền và vận động cách mạng trong hàng ngủ địch, tháng 8 năm 1944, đoàn thể yêu câu đồng chí Vì Nước xin thi vào cảnh sát để phát triển thêm lực lượng, tạo điều kiện thuận tiện cho hoạt động của tổ. Đồng chí Vì Dân bỏ nhiệm sở Thủy lợi về dạy tư cho một gia đình ở phố Hàng Trống để có thêm thời gian hoạt động.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Khí thế cách mạng sôi sục trong cả nước. Anh em trong tổ vận động lấy được 2 khẩu súng trường, một số lựu đạn. Trong cao trào cách mạng ở Thủ đô, tháng 5 năm 1945, tổ 4 người ban đầu đã phát triển được gần 20 người. Cùng với các tổ chức công nhân cứu quốc vùng Cầu Giấy và một số công nhân cứu quốc trong các xí nghiệp như AVIA, xe lửa Hà Nội..., đội công nhân xung phong thành Hoàng Diệu được thành lập. Lễ tuyên thệ thành lập đội được tổ chức tại đình Thanh Nhàn, trụ sở của đội tại cửa hàng phở Châu, phố Cầu Giấy, đồng chí vì Dân được cử làm đội trưởng, đồng chí Mai làm chính trị viên. Đội do đồng chí Trần Ngọc Minh trực tiếp chỉ đạo. Nhiệm vụ của đội là vũ trang tuyên truyền ở nội và ngoại thành, dán áp phích, treo cờ, trừ gian, tiếp tục phát triển lực lượng cách mạng. Đội đã phối hợp với tổ chức bán vũ trang, tuyên truyền và trừ gian ở chợ Cổ Loa, chợ Nhổn, chợ Bưởi...


Đến đầu tháng 8 năm 1945, lực lượng của đội phát triển lên 60 người. Ngày 16 và đêm 17 tháng 8, đội bảo vệ hội nghị Thành ủy Hoàng Diệu mở rộng ở Dịch Vong (Từ Liêm, Hà Nội) bàn về quyết định khởi nghĩa giành chính quyền ở Thủ đô. Ngày 17 tháng 8, đội được phân công cùng một số tổ chức quần chúng cách mạng phá cuộc mít tinh của địch, biến thành cuộc biểu tình biểu dương lực lượng của ta. Hàng chục vạn nhân dân Thủ đô, cả bảo an và cảnh sát mang theo súng tuần hành qua một số phố chính Hà Nội. cả thủ đô sôi sục khí thế cách mạng, các nhà may may cờ đỏ sao vàng để chuẩn bị cùng lực lượng vũ trang cách mạng khởi nghĩa cướp chính quyền.


Ngày 18 tháng 8, đội được phân công vũ trang tuyên truyền công khai ở nội thành, biểu dương thanh thế của cách mạng và hô hào quần chúng nhân dân chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Trong khi đi vũ trang tuần hành, một số chiến sĩ bị quân Nhật tước vũ khí ở trước cửa ga Hàng Cỏ. Quần chúng kéo đến đứng đông nghịt trước cửa ga đấu tranh hàng giờ liền với quân Nhật. Cuối cùng chúng phải nhượng bộ, trả vũ khí cho đội.


Ngày 19 tháng 8, đội được phân công bảo vệ cụộc mít tinh lớn trước Nhà hát lớn thành phố. Sau đó đội được Thành ủy Hà Nội, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Quyết phân công làm lực lượng nòng cốt cùng quần chúng cách mạng giành chính quyền ở Bắc Bộ phủ, tước vũ khí của lực lượng bảo an. Tiếp đó, đội cử một bộ phận sang tiếp quản sở Đốc lý (cơ quan hành chính của địch ở Hà Nội). Để tăng cường lực lượng bảo vệ thành quả cách mạng, đội được tổ chức thành một chi đội gồm 3 phân đội, dưới phân đội là các trung đội. Thành phần gồm lực lượng công nhân xung phong Thành, tự vệ chiến đấu, quần chúng cách mạng tự nguyện và một bộ phận bảo an binh tiến bộ.


Ngày 21 tháng 8, quân giải phóng từ Việt Bắc tiến về Thủ đô bị quân Nhật cản trở bên Gia Lâm. Thành ủy giao cho chi đội cử một bộ phận sang đấu tranh và ngày 22 tháng 8 đón quân giải phóng Việt Bắc do đồng chí Quang Trung chỉ huy về Bắc Bộ phủ. Đây là hai đơn vị vũ trang cùng bảo vệ các cơ quan đầu não và bảo vệ thủ đô Hà Nội trong những ngày tháng 8 năm 1945. Sau Lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9, đội được lệnh bàn giao cho đơn vị đồng chí Quang Trung, hành quân lên chiến khu Chợ Bến để luyện quân.


Đầu tháng 11 năm 1945, chi đội hành quân theo đường Chi Nê - Nho Quan, lên tàu hỏa ở ga Ghềnh. Đến chiến khu Quỳnh Lưu - Ninh Bình, do quân Tưởng ngăn cản, đơn vị phải đi người không, vũ khí đóng hòm, cử lại một bộ phận vận chuyển vào Nam cho đơn vị. Đồng chí Hồ Như Hải và Lê Thanh cùng một số anh em được giao nhiệm vụ này. Bộ Quốc phòng giới thiệu với Tổng cục Đường sát cử người đi theo giúp đỡ, làm việc với các địa phương đoàn đi qua. Được sự giúp đỡ của các địa phương trên suốt dọc đường đoàn hành quân và của Tổng cục Đường sắt, số anh em này đã chuyển kịp thời và an toàn vũ khí vào Nam cho đơn vị.


Vào đến Quảng Ngãi do yêu cầu của các mặt trận, chi đội Vi Dân chia thành ba bộ phận, một bộ phận do đồng chí Quang Bích và đồng chí Châu chỉ huy lên Công Tum; một bộ phận do anh Vi Dân phụ trách vào tỉnh Phú Yên cùng lực lượng địa phương tổ chức thành chi đội 4 Phú Yên do anh Vi Dân làm chi đội trưởng, chiến đấu ở mặt trận Đèo Cả, mặt trận Củng Sơn phía nam và phía tây của tỉnh.


Đầu năm 1946, anh em Vi Dân và một số cán bộ chi đội được điều về Ủy ban kháng chiến miền Nam ở Quảng Ngãi học các lớp bổ túc quân sự, chính trị, lục quân Quảng Ngãi, sau được điều bổ sung cho các đơn vị vũ trang Liên khu 5.


Chi đội Vi Dân, đơn vị vũ trang cách mạng đầu tiên của Thủ đô, một trong những đơn vị Nam tiến cuối năm 1945 đã góp phần cùng lực lượng vũ trang địa phương xây dựng và chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược ở các tỉnh Trung Bộ và Tây Nguyên. Anh Vi Dân đã hy sinh anh dũng trong trận Tú Thủy (1947). Nhiều anh em khác liên tục chiến đấu ở các đơn vị, các chiến trường trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Ở đâu, trong bất cứ nhiệm vụ gì anh em đều nêu cao và phát huy truyền thống bộ đội Nam tiến, chi đội Vi Dân.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Sáu, 2021, 05:53:13 pm
TỪ ĐỘI CÔNG NHÂN XUNG PHONG THÀNH HOÀNG DIỆU
ĐẾN CHI ĐỘI VI DÂN NAM TIẾN


NGÔ THÔNG


Một buổi tối cuối xuân đầu hạ năm 1945, tiết trời còn mát mẻ, tại đình làng Thanh Nhàn, đội công nhân xung phong thành Hoàng Diệu (tên bí mật của thủ đô Hà Nội thời kỳ tiền khởi nghĩa) tổ chức lễ thành lập.


Thời gian này, Thành ủy Hoàng Diệu do đồng chí Nguyễn Quyết làm bí thư và đồng chí Vũ Oanh làm phó bí thư, quyết định tổ chức đội công nhân xung phong làm nòng cốt cho các hoạt động của các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, đồng thời là một trong những lực lượng xung kích trong cuộc tổng khởi nghĩa ở Thủ đô. Đồng chí Trần Ngọc Minh, thành ủy viên phụ trách công vận được giao nhiệm vụ thực hiện.


Đội công nhân xung phong được tuyển chọn trong số hội viên tiên tiến của các tiểu tổ bí mật công nhân cứu quốc của Mặt trận Việt Minh thành Hoàng Diệu. Các tiểu tổ này cũng do đồng chí Trần Ngọc Minh tổ chức (khoảng tháng 3, tháng 4 năm 1944) và trực tiếp chỉ đạo hoạt động ở một số cơ sở có phong trào công nhân mạnh lúc đó như các hãng sửa chữa ô tô Stai, Ford Indoto... sở thủy lợi và lâm nghiệp, Trường kỹ nghệ thực hành, Xưởng quân trang quân dụng của quân đội Nhật ở Đồn Thủy, v.v...


Trong số các tiểu tổ, công nhân cứu quốc trên, có một tổ hoạt động rất tích cực, thành lập tháng 4 năm 1944, gồm bốn người. Cùng chung ý chí chiến đấu đến cùng vì sự nghiệp cách mạng, bốn người đồng lòng lấy chung một "bộ bí danh” để hoại động, là Vì Nước (Hồ Văn Tuất), Vì Dân (Nguyễn Văn Trợ), Vì Giống (Phạm Xuân Chúc), Vì Nòi (Quý).


Khi đội công nhân xung phong được thành lập, toàn tổ gia nhập đội, tổ trưởng Vi Dân được cử làm đội trưởng. Để tiện giao dịch khi xưng hô, Nguyễn Văn Trợ bỏ bớt dấu huyền, lấy tên mới là Vi Dân.

Đội công nhân xung phong thành Hoàng Diệu có 30 đội viên, tuổi đời từ 20 đến 30.

Ngay sau khi thành lập, đội bước ngay vào các hoạt động như: phát triển lực lượng cách mạng, rải truyền đơn, dán áp phích, treo cờ, võ trang tuyên truyền ở các nơi đông người, diệt những tên Việt gian tay sai giặc Nhật, bảo vệ cán bộ, bảo vệ hội họp, v.v... Các hoạt động của đội gây ảnh hưởng lớn trong nhân dân Hà Nội nhất là ở các khu vực từ Ngã Tư Sở lên Cầu Giấy, Yên Thái, chợ Bưởi, vườn Bách Thảo...


Ngày 15 tháng 8 năm 1945, được tin phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, toàn đội tập trung về trụ sở ở Cầu Giấy, sau đó về làng Dịch Vọng bảo vệ cuộc họp Thành ủy mở rộng bàn việc tổng khởi nghĩa ở Thủ đô.

Ngày 18, đội được lệnh đi tuyên truyền xung phong ở nội và ngoại thành, vận động nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 19, đội được giao nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh ở quảng trường Nhà hát lớn. Đồng chí Nguyễn Đắc Kiện (tức Võ Sĩ Nghĩa), đội viên đội công nhân xung phong, vinh dự được Ủy ban khởi nghĩa cử ra kéo lá cờ đỏ sao vàng lên cột cờ ở giữa quảng trường.


Tối hôm đó, tại Bắc Bộ phủ, đồng chí Vi Dân tập hợp toàn đội, phân phối súng đạn và phiên chế thành đội ngũ, tuyên bố thành lập chi đội Việt Nam giải phóng quân.

Sau ngày quốc kháng 2 tháng 9, chi đội tập trung nhận nhiệm vụ mới. Tối 3 tháng 9, đơn vị hành quân vào thị xã Hà Đông và từ đó tiến về chiến khu Tuyết Sơn - Bảo Đài thuộc khu vực Hương Sơn, bước vào tập luyện quân sự, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ.


Khoảng một tuần sau đó, chi đội Quang Trung cũng được lệnh rút về đóng tại đồn điền Chi Nê, gần Hòa Bình. Việc giữ gìn trật tự trị an ở Thủ đô và bảo vệ chính quyền cách mạng giao cho các lực lượng công an và tự vệ chiến đấu đảm nhiệm. Đây là chủ trương quan trọng của Trung ương Đảng và Chính phủ nhằm bảo tồn lực lượng vũ trang chủ lực của cách mạng, che mắt quân Tưởng đang kéo vào Việt Nam.

Một thời gian sau, chi đội di chuyển sang Chợ Bến, tiếp tục tập luyện quân sự và được bổ sung một trung đội thanh niên học sinh Hà Nội.

Khoảng hạ tuần tháng 10 năm 1945, chi đội lên đường Nam tiến. Để tránh sự cản trở của quân Tưởng, đơn vị hành quân bộ từ Chợ Bến về tới vùng Nho Quan - Ninh Bình, lên tàu hỏa ở giữa đường. Cùng lên tàu có chi đội Hữu Thành gồm toàn anh em người các dân tộc ít người ở Lạng Sơn - Cao Bằng. Để che mắt quân Tưởng, cả hai đơn vị chỉ đi người không, vũ khí đóng gói để chở bằng thuyền theo đường biển vào Khu 5. Hành quân bằng tàu hỏa, tới các ga lớn, nhân dân địa phương được tin đến họp mít tinh, ra tận tàu đón chào quân Nam tiến, tặng quà bánh, lương thực, quần áo tiền bạc...


Vào đến Quảng Ngãi, được lệnh của Ủy ban kháng chiến miền Nam, chi đội chia làm ba bộ phận đi ba hướng khác nhau: Plây Cu, Đắc Lắc và Phú Yên.

Trung đội do anh Quang Bích chỉ huy tiến lên Plây Cu rồi phát triển lên tận Bo Keo giáp giới Cam-pu-chia. Gặp giặc Pháp đã tràn tới đó, anh em chặn đánh chúng hai trận liền, sau rút dần về trấn giữ đèo An Khê chặn địch tiến xuống đồng bằng.


Trung đội thứ hai do anh Sơn Nam chỉ huy tiến lên Buôn Ma Thuột. Lúc này, giặc Pháp đã từ vùng ba biên giới đánh lên Tây Nguyên. Anh em cùng phối hợp với một số đơn vị vũ trang địa phương chặn đánh địch rất quyết liệt, có lần tập kích vào nơi đóng quân của chúng. Nhưng trung đội bị tổn thất nặng, trong đó có anh Sơn Nam.


Lực lượng còn lại của chi đội, cùng một bộ phận của chi đội Hữu Thành (khoảng 400 người) theo Vi Dân về Phú Yên, tỉnh tiếp giáp với Khánh Hòa, nơi chiến sự đang diễn ra căng thẳng ở mặt trận Nha Trang.

Về tới Phú Yên, lúc đầu Vi Dân làm chi đội phó, sau một thời gian ngắn được cử làm chi đội trưởng chi đội 4. Cùng với việc tập trung xây dựng lực lượng, chi đội cử nhiều cán bộ đi các huyện, xã cả ở miền xuôi và miền núi của tỉnh Phú Yên để tuyên truyền vận động thanh niên tòng quân, vận động nhân dân đóng góp nuôi quân. Vi Dân tổ chức nhiều cuộc họp với các ngành các giới, mời các già làng người dân tộc về tận Sông Cầu để bàn việc nước. Phát triển kinh nghiệm thời kỳ ở Chợ Bến, chi đội tổ chức tại thị xã Sông Cầu "đại hội toàn tỉnh quân dân đoàn kết xây dựng lực lượng kháng chiến, cứu nước". Tại đại hội, đã tổ chức bán đấu giá ảnh chân dung Hồ Chủ tịch (đặt làm từ ở Hà Nội đem vào). Nhờ đó tạo được không khí ủng hộ kháng chiến, xây dựng quân đội rất sôi nổi. Số tiền thu được nhiều gấp hai lần ở Chợ Bến, chi đội may đủ cho mỗi chiến sĩ hai bộ quần áo xi-ta và trang bị một số vật dụng cần thiết.


Với gần 500 thanh niên tòng quân, chỉ trong vòng 2 tháng, chi đội từ gần hai tiểu đoàn phát triển thành ba tiểu đoàn và một đại đội độc lập. Vũ khí phần lớn là súng bộ binh trong đó có một số ít súng đạn vận động được từ một đơn vị quân Nhật. Nhờ cách đối xử khéo léo và những kinh nghiệm tích lũy được trong những ngày tổng khởi nghĩa ở Thủ đô đối với quân đội Nhật đã đầu hàng, chi đội giữ được họ trong doanh trại, tiếp tế cho họ lương thực, thực phẩm đầy đủ, làm cho họ không can thiệp vào phong trào kháng chiến trong tỉnh. Trước khi xuống tàu theo lệnh giải giáp của quân đội Đồng minh; họ bí mật để lại cho ta một ít súng đạn cất giấu ở nơi đóng quân.


Trong thời gian ở Phú Yên, chi đội tranh thủ tổ chức huấn luyện quân sự, tiếp tục vận động nhân dân toàn tỉnh chuẩn bị ứng phó khi giặc đến, đồng thời bố trí các đơn vị xây dựng trận địa phòng ngự chiến đấu ở những nơi hiểm yếu như Đèo Cả, Đồng Bò, Củng Sơn vào sâu tới Buôn Hồ, giáp Đắc Lắc.


Tháng 2 năm 1946, sau tết âm lịch, giặc Pháp từ Phan Rang - Phan Thiết đánh ra, từ Buôn Ma Thuột đánh xuống và từ các tàu ngoài biển bắn vào. Mặt trận Nha Trang bị vỡ. Một số đơn vị phải rút lên phía bắc.


Tại sở chỉ huy của chi đội ở thị xã Tuy Hòa, Vi Dân huy động toàn đơn vị tiếp đón đồng bào vả chiến sĩ từ mặt trận Nha Trang rút về. Người ốm, người bị thương được chăm sóc thuốc men. Người khỏe mạnh có thể tiếp tục chiến đấu, công tác được phiên chế về các đơn vị.


Sau khi xem xét tình hình và tập hợp lực lượng, đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam chủ trương đẩy mạnh hoạt động để gây lại khí thế, niềm tin cho quân và dân địa phương, tổ chức một số trận đánh quấy rối điểm đóng quân của địch ở gần thành phố Nha Trang; tập kích doanh trại địch ở Tu Bàng - Vạn Giã, phía bắc tỉnh Khánh Hòa. Trận này ta tiêu diệt được một số tên rồi rút lui an toàn. Trận đánh gây tiếng vang ỉớn, giảm bớt sự hung hăng của quân giặc, gây lại khí thế niềm tin trong nhân dân. Chính quyền, đoàn thể địa phương huy động nhân dân ra đến cầu Trường Thịnh (cách thị xã 16 ki-lô-mét về phía nam) đón bộ đội chiến thắng trở về, sau đó mở hội khao quân.


Sau Hiệp định sơ bộ (6 tháng 3), các đơn vị vũ trang ở miền Nam Trung Bộ (từ Phú Yên đến Phan Thiết) được tổ chức lại. Vi Dân được cử làm trung đoàn trưởng trung đoàn 95. Các chiến sĩ chi đội Vi Dân hành quân Nam tiến từ Chợ Bến hòa vào các đơn vị vũ trang của Khu 5, Khu 6 và Tây Nguyên.


Cũng như các đơn vị Nam tiến từ các địa phương trong cả nước hành quân vào mặt trận phía Nam của Tổ quốc sát cánh cùng quân dân địa phương chiến đấu ngăn chặn quân xâm lược, chi đội Vi Dân hình thành từ đội công nhân xung phong Thủ đô đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Sáu, 2021, 05:54:32 pm
CHI ĐỘI VI DÂN Ở MẶT TRẠN PHÚ YÊN


NGUYỄN HỮU THIỆU


Sau khi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Thủ đô và bảo vệ ngày Lễ Độc lập 2 tháng 9, chi đội Vi Dân được lệnh bàn giao các khu vực bảo vệ cho chi đội Đàm Quang Trung, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Từ các khu vực bảo vệ (trại bảo an binh (cũ), bệnh viện Phủ Doãn, Trường đại học Đông Dương, Bắc Bộ phủ...), các đội viên tập trung về sân Bắc Bộ phủ phiên chế thành tiểu đội, trung đội, đại đội. Từ Hà Nội, chi đội hành quân qua thị xã Hà Đông, Bình Đà..., đi thuyền vào Tuyết Sơn (chùa Bảo Đài, Hương Tích), ở đây núi non hiểm trở, dưới chân núi là đồng nước, lại xa dân nên đi lại, tập luyện, tiếp tế rất khó khăn. Chi đội phải chuyển về Chợ Bến (Mỹ Đức) và bước ngay vào tập luyện quân sự. Các đồng chí nguyên là công nhân xung phong thành Hoàng Diệu (anh Nguyễn Công Tâm, anh Lộc, anh Vi...) hướng dẫn cách tháo lắp, lau chùi, sử dụng súng, các tiểu đội trưởng (một số là cựu binh) hướng dẫn động tác chiến đấu cá nhân (tiến, lùi, nấp, bò, ném lựu đạn...). Anh Phạm Văn Thọ (Thọ lớn) nguyên là quan hai khố đỏ được phân công phụ trách huấn luyện quân sự cho toàn chi đội. Nhờ anh chỉ dẫn, tôi biết cách sử dụng bản đồ quân sự, sau này giúp được nhiều việc cho ban chỉ huy. Tôi thường đến nhà cụ thân sinh anh Nguyễn Tấn Quỳnh, đội viên của chi đội để xin bản đồ Đông Dương vì cụ công tác ở ngành mỏ - địa chất. Anh Vi Dân có một cuốn Binh pháp Tôn Tử. Chúng tôi chuyền tay nhau đọc rồi mạn đàm mưu lược chiến đấu. Anh Vi Dân có tài nhớ từng đoạn trong binh pháp, thường nói về cách đánh du kích thiên biến vạn hóa, yêu cầu mọi người phải nẳm vững động tác chiến đấu cá nhân, tiểu đội, tránh đỡ hòn đạn mũi lê của địch, giáng cho chúng đòn bất ngờ bằng thế, bằng mưu... Chúng tôi mạn đàm, tập luyện rất thích thú. Trên bãi tập vã mồ hôi, về nhà ăn uống kham khổ (chỉ có cơm với cá khô đã mục), nhưng không ai sờn chí. Đang mùa mưa, chỗ ở chật chội, các bao tải cá khô phải xếp ở hàng hiên, bị mưa hắt, cá mủn ra, bốc mùi rất khó chịu. Mỗi lần nấu ăn phải đãi rửa sạch sẽ, nhưng không ai kêu ca phàn nàn. Hàng ngày, anh Vi Dân viết thư, báo cáo đều đặn với anh Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến Hà Nội về tình hình chi đội. Ngoài nhiệm vụ chính là tập luyện quân sự, chi đội phân công đồng chí Hồ Như Hải (Vì Nước) phụ trách một số anh em làm công tác tuyên truyền gây cơ sở ở các xã xung quanh (Phù Lưu Tế, Phùng Xá, Thượng Quật, Hạ Quật, Vân Đình...). Chính quyền địa phương ở các xã này phối hợp với chi đội tổ chức các cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh, động viên thanh niên vào vệ quốc đoàn. Ngoài một số thanh niên địa phương, trong thời gian tập luyện ở Chợ Bến, chi đội được bổ sung một trung đội (phân đội Sơn Nam) gồm phần lớn là thanh niên học sinh Hà Nội.


Tháng 11 năm 1945, toàn chi đội rời Chợ Bến, hành quân Nam tiến.

Vào đến Quảng Ngãi, do chiến sự đã lan rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, chi đội Vi Dân đươc chia thành ba bộ phận, một bộ phận do Nguyễn Quang Bích chỉ huy hành quân lên Plây Cu; một bộ phận do anh Vi và anh Sơn Nam chỉ huy lên Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc); bộ phận lớn còn lại do anh Vi Dân chỉ huy tiếp tục hành quân vào Phú Yên.


Đến Phú Yên, lực lượng của chi đội Vi Dân hợp với một bộ phận lực lượng vũ trang tỉnh, hình thành một chi đội mạnh, mang tên chi đội 4 Phú Yên. Chi đội trưởng là Lê Đức, chính trị viên là Nguyễn Nên. Vi Dân được cử làm chi đội phó, Phạm Văn Thọ là tham mưu trưởng. Sau khi nắm tình hình, Vi Dân bàn với ban chỉ huy chi đội tập trung vào ba việc chính:

Một là, tham gia tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, vận động thanh niên nhập ngũ, phát triển số lượng và tăng cường huấn luyện quân sự nâng cao trình độ chiến đấu của chi đội. Để làm việc này, chi đội đã cử nhiều đoàn công tác vào các buôn làng, đồng bào dân tộc ở Củng Sơn, Đồng Bò... mời già làng ra Sông Cầu, Tuy Hòa cùng đàm đạo, thuyết phục; tổ chức các cuộc mít tinh tuyên truyền chính sách của Chính phủ, mặt trận... Để thuyết phục những người sợ Pháp có súng to, Vi Dân điều khẩu súng cối lên Củng Sơn, tổ chức cho anh em bắn thử ngay trước mặt họ để chứng tỏ ta cũng có súng lớn. Anh đi ngựa đến nhiều bản làng vận động nhân dân tổ chức canh gác, kêu gọi thanh niên vào bộ đội đánh Pháp. Phối hợp với chính quyền và nhân dân các địa phương, chi đội tổ chức "Tuần lễ vệ quốc đoàn", tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc ủng hộ Việt Minh, thanh niên gia nhập bộ đội. Đồng chí Nguyễn Văn Đường được cử làm trưởng ban tổ chức cuộc vận động. Được lãnh đạo tỉnh chỉ đạo, chi đội phối hợp với các địa phương tổ chức các đội thông tin tuyên truyền, đội nhạc, dạy học sinh các bài ca cách mạng... Cuộc bán đấu giá ảnh Bác Hồ ở Sông Cầu do chi đội tổ chức được nhiều chủ ghe bầu hưởng ứng. Số tiền bán ảnh (gấp đôi cuộc bán đấu giá ở Chợ Bến) cùng với tiền và vật phẩm ủng hộ, đủ cho chi đội may cho mỗi đội viên hai bộ quần áo bằng vải si-ta và cải thiện bữa ăn hàng ngày. Những "ngày đồng tâm", toàn dân trong tỉnh nhịn ăn để dành gạo cho bộ đội. Thật không thể kể hết tình cảm mặn nồng của đồng bào. Vì vậy, dù bữa ăn hàng ngày chỉ có mắm ớt, bộ đội vẫn hăng hái tập luyện. Để khuếch trương kết quả, chi đội cử các đồng chí Đường, Phương, Trang, Ngữ... đi các huyện Tuy An, Đồng Xuân, Tuy Hòa tuyên truyền vận động quần chúng ủng hộ Việt Minh, tổ chức lực lượng kháng chiến chống Pháp xâm lược. Chi đội còn cử một đoàn gồm bốn người là Nguyễn Văn Đường, Vũ Đình Thân, Nguyễn Đắc Kiện và Nguyễn Văn Trình ra Trung ương báo cáo tình hình, xin chi viện vũ khí.


Sau khi đồng chí Lê Đức được điều lên Plây Cu, Ủy ban kháng chiến miền Nam cử Vi Dân làm chi đội trưởng chi đội 4 Phú Yên. Với quân số và vũ khí được bổ sung, chi đội tổ chức thêm một đại đội độc lập do đồng chí Trương Thiên Lý làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Đường làm chính trị viên. Đại đội bố trí lực lượng phòng thủ ven biển từ đèo Cù Mông đến Tuy Hòa. Với chi đội 4 làm nòng cốt, lực lượng vũ trang Phú Yên phát triển nhanh không chỉ ở vùng đồng bằng mà cả ở vùng núi Củng Sơn, Cheo Reo, Đồng Bò...


Việc thứ hai mà chi đội cố gắng thực hiện là tranh thủ các đơn vị quân phát xít Nhật còn đóng trên địa bàn tỉnh để có thêm súng đạn và để tập trung lực lượng chống Pháp. Nhằm khống chế quân Nhật đóng ở núi Nhạn, Vi Dân bố trí một bộ phận lực lượng có hỏa lực mạnh trên đỉnh núi gần Tháp Chàm, đồng chí cử người thương lượng với sĩ quan chỉ huy yêu cầu chúng giao lại vũ khí, ta sẽ bảo đảm an toàn cho chúng rút đi. Lúc đầu quân Nhật không chịu, nêu lý do phải nộp vũ khí cho quân Đồng minh. Phát hiện có tàu của Nhật ở ngoài khơi, ta tiếp tục thuyết phục, nói rõ cho sĩ quan binh lính Nhật biết sắp được đón xuống tàu về quê hương, tốt nhất là để lại vũ khí cho ta. Cuối cùng quân Nhật đồng ý. Ta vừa có thêm vũ khí, vừa có điều kiện tập trung sức chống Pháp.


Việc thứ ba rất cấp bách lúc này là tổ chức lực lượng ngăn chặn quân Pháp xâm lược, bảo vệ vùng đồng bằng ven biển Khu 5. Trước tình hình chiến sự diễn biến ngày càng phức tạp ở Nha Trang - Khánh Hòa, Bộ tư lệnh Khu 5 cử đồng chí Phan Tử Lăng vào Phú Yên, cùng Tỉnh ủy và lực lựợng vũ trang tỉnh tổ chức bố phòng ở khu vực Đại Lãnh - Hải Sơn. Đây là địa bàn rất quan trọng, nếu vượt qua được, địch sẽ đánh ra Tuy Hòa, Sông Cầu và vùng ven biển các tỉnh Khu 5. Để chặn địch, quân và dân ta đào nhiều hố to, nhiều đoạn hào ở ven biển, ngăn quân đổ bộ từ tàu lên và chống xe tăng. Trên tuyến đường sắt, ta tổ chức tháo ray, bố trí vật cản ở các đường hầm xuyên núi, xếp chéo ray nọ đè lên ray kia lên đến tận nóc hầm, đầu các thanh ray tua tủa ra phía trước. Chi đội còn cử đồng chí Thiệu "Kính" ra Bình Định gặp đồng chí Nguyễn Bá Phát xin bom, mìn. Đại đội độc lập của Trương Thiên Lý và Nguyễn Văn Đường bố trí ở Đèo Cả, sẵn sàng chặn địch nếu chúng tiến ra theo đường bộ và đường sắt. Đường số 1 bị cắt, đại đội chuyển sang phòng thủ hướng Mađrak, Ma Phu, Buôn Đùng, Buôn Đức, Buôn Hai sẵn sàng đánh quân địch từ Tây Nguyên xuống.


Chiến sự ngày càng lan rộng. Lực lượng vũ trang trên chiến trường Khu 5 được tổ chức lại thành các trung đoàn. Chi đội trưởng Vi Dân được điều ra Quảng Ngãi. Khi chia tay, anh dặn chúng tôi: "Kháng chiến chắc còn dài, gian khổ. Đánh nhau với địch bằng quân sự đã đành, điều cốt yếu là phải đoàn kết nội bộ, giữ được lòng dân, coi dân như bầu sữa mẹ!".


Hơn một năm sau, chứng tôi được tin trung đoàn trưởng Vi Dân đã anh dũng hy sinh trong trận Tú Thủy. Nhớ anh, chúng tôi càng thấm thìa lời dặn sâu sắc của anh, nguyện noi gương anh, chiến đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2021, 08:17:21 pm
BỘ ĐỘI NAM TIẾN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG BUÔN MA THUỘT
(tháng 12 năm 1945)


NGUYỄN CHÍ HƯỚNG


Cuối tháng 11 năm 1945, chi đội Vi Dân hành quân đến Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa). Theo lệnh của ban chỉ huy mặt trận, một số phân đội lên chiến đấu ở Tây Nguyên. Ngày 11 tháng 12 năm 1945, phân đội chúng tôi đến thị xã Buôn Ma Thuột, được lãnh đạo tỉnh Đắc Lắc và nhân dân niềm nở đón tiếp, đưa vào nghỉ ở đồn khố xanh cũ. Bữa cơm trưa hôm ấy, lần đầu tiên chúng tôi được thưởng thức cơm gạo lúa nương của đồng bào Tây Nguyên. Hạt gạo gấp đôi gạo thường, ăn rất dẻo lại bùi; món canh thịt bò nấu với bí đỏ đặc như chè bà cốt, thịt bò thái to, cách nấu đơn giản nhưng ăn đậm đà, ngon miệng; đặc biệt là anh chị em phục vụ (người Kinh cũng như người dân tộc) rất tận tình, thật thà, chất phác, chăm sóc chúng tôi như người thân đi xa về. Anh chị em chỉ vào những món ăn, nói bằng tiếng Ê Đê: "Đây là cơm gạo lúa nương của đồng bào Tây Nguyên...". 


Sau bữa ăn, chúng tôi được bố trí ở hai phòng (tầng hai), một phòng cho hai tiểu đội và một phòng dành cho ban chỉ huy và tiểu đội chúng tôi. Qua một đêm hành quân vất vả, được đón tiếp nồng hậu, bữa ăn ngon miệng cùng khí hậu Tây Nguyên mát lạnh (cuối tháng 12), nhiều anh em vừa ngả lưng đã ngủ ngon lành. Riêng tôi và hai ba anh em nằm bên cửa vừa chợp mắt thì một luồng gió lạnh thổi vào làm tỉnh giấc. Không ngủ được nữa, chúng tôi rủ nhau ra ngoài lan can, rồi xuống sân dạo quanh hàng rào phía cổng để ngắm phong cảnh yên tĩnh, mát mẻ của thị xã. Bỗng có tiếng súng nổ từ phía tây nam thị xã. Chúng tôi vào phòng trực ban hỏi thì được các đồng chí cán bộ địa phương cho biết đó là những tiếng nổ do anh em "Việt Nam mới"1 (Những lính Nhật tự nguyện ở lại Việt Nam) thử súng, lựu đạn sau khi sửa chữa.


Vào đến giữa sân, chúng tôi lại nghe nhiều tiếng nổ. Thấy hiện tượng không bình thường, chúng tôi lên báo cáo ban chỉ huy. Anh Đỗ Tín, phân đội trưởng, anh Giám, chính trị viên phán đoán tình hình, giao nhiệm vụ cho 2 tiểu đội nhanh chóng ra bố trí sát hàng rào phía trước, ban chỉ huy và tiểu đội chúng tôi bố trí trên hành lang trước nhà nghỉ.

Vừa bố trí lực lượng xong, đạn pháo cối của địch đã bắn tới tấp vào thị xã, một quả nổ ngoài bốt gác, một quả trúng giữa sân. Xe địch nổ máy ầm ầm, tràn vào thị xã.

Qua cổng đồn, nơi phân đội chúng tôi ở, địch đặt 2 khẩu đại liên bắn chéo vào sân. Hai tiểu đội bố trí sát hàng rào phía trước, trong các ụ công sự, chỉ cách địch 4-5 mét xả súng tới tấp vào đội hình địch, gây cho chúng nhiều tổn thất. Ban chỉ huy phân đội và tiểu đội chúng tôi bố trí trên hành lang nổ súng yểm trợ. Anh em chiến đấu rất dũng cảm, dù lực lượng ít hơn, mỗi người chỉ có một khẩu súng trường, vài ba chục viên đạn.


Khi pháo địch bắn mạnh hơn, ban chỉ huy phân đội di chuyển vị trí. Đồng chí Giám, chính trị viên vừa xuống sân thì trúng đạn trọng thương. Anh hô to: "Đả đảo thực dân Pháp xâm lược", kêu gọi anh em nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm để trả thù cho những đồng đội hy sinh, thà chết không đầu hàng giặc.


Anh Đỗ Tín, phân đội trưởng cũng bị trúng đạn. Anh ra lệnh cho số anh em còn lại trên hành lang nhanh chóng vòng ra cửa sau, tìm cách liên lạc với các đơn vị bạn để ứng cứu.

Nhận được lệnh của đồng chí Tín, tôi và hai ba anh em còn lại vòng qua hành lang phía sau, nhảy xuống đất, vượt qua hàng rào bê tông cao khoảng 1,5 mét. Sau khi vượt qua hàng rào, gặp phải bãi gai (cây xấu hổ) dày đặc, chúng tôi đành phải luồn vào sâu đến 3-4 mét để ẩn náu. Khoảng 5-6 giờ chiều, lợi dụng trời nhá nhem tối và ngớt tiếng súng nổ, chúng tôi tìm cách vượt qua bãi gai. Trời càng lúc càng tối, đường khó đi, phải lần mò từng bước để dò tìm. Nhớ lời căn dặn của đồng chí Đỗ Tín, phải nhanh chóng tìm cách lần mò lên đồi. Vừa qua khỏi lùm cây, tôi nhìn thấy một người cao, to, cởi trần, đóng khố đứng trên sườn đồi. Tôi vừa mừng vừa lo vì không biết ta hay địch. May mắn thay, người này nói tiếng dân tộc, làm điệu bộ chỉ vào mũi và khua tay ra hiệu để tôi biết không phải Tây mủi lõ, đừng sợ. Tôi rất mừng, nhưng đi được một quãng xa, gặp con đường to và rộng, tôi sợ gặp địch nên yêu cầu trở lại vị trí cũ. Quay lại khoảng vài trăm mét, tôi nghe có tiếng người trong bụi cây: "Anh Hướng ơi, Trọng bị thương, cứu Trọng với".


Tôi lần tới bụi cây dìu anh Trọng ra, rờ vào cánh tay, thấy máu chảy đầm đìa, thấm ướt hết vạt áo, cũng may không bị gãy xương. Tôi xé vạt áo buộc vết thương, rồi dìu anh Trọng đi theo người dẫn đường.

Về gần vị trí cũ thấy có ánh lửa trong ngôi nhà phía trước, người dẫn đường ra hiệu cho tôi biết trong nhà một số cán bộ và nhân viên thị xã đang bàn việc sơ tán. Vì anh Trọng bị thương, tôi quyết định ở lại, nấu nước rửa vết thương băng bó cho anh. Thấy chạn bếp có mấy buồng chuối, tôi bẻ ít quả đặt vào bếp nướng để cùng ăn với anh Trọng cho đỡ đói, sau đó chúng tôi nằm ngủ quanh bếp. Khoảng 3 giờ sáng, tôi tỉnh giấc. Nhìn thấy ánh lửa phía xa, tôi lần tới, gặp một bà người Bắc. Bà nói với tôi đây là nơi tập trung rau quả tiếp tế cho thị xã. Bà dẫn tôi đi xem những đống rau quả và bảo tôi ăn bao nhiêu thì cứ lấy. Bà nói tiếp: "Trong nhà còn lưng thùng gạo và ít hạt mè (vừng), sáng mai tôi sẽ nấu hết và rang muối mè để mỗi người ăn một bát và nắm một bát mang đi đường".


Tôi trở về đưa anh Trọng xuống ăn cơm với bà. Trời sáng rõ, mọi người cùng nhau lên đường.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2021, 08:18:04 pm
Theo đường 21, đến cây số 12 thì gặp phân đội Sơn Nam. Chúng tôi mừng quá báo cáo với các anh tình hình trận chiến đấu. Ban chỉ huy phân đội Sơn Nam bố trí tôi vào tổ trinh sát, chuẩn bị dẫn đường cho các đơn vị đánh chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột.


10 giờ ngày 2 tháng 12 năm 1945, các đơn vị hành quân tiến vào thị xã. Nhân dân thị xã ra báo cho biết, quân địch đã rút từ lúc tờ mờ sáng. Vào tới đồn khố xanh, thấy nhiều thi hài đồng đội và nhân dân còn nằm ngổn ngang. Ban chỉ huy phân đội phân công anh em nhanh chóng thu dọn chiến trường, trước tiên là di chuyển thi hài của đồng đội và nhân dân đưa đi chôn cất chu đáo. Tôi được giao nhiệm vụ phụ trách một tiểu đội đóng tại nhà máy đèn, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ ban chỉ huy mặt trận, vừa làm trợ lý giúp việc cho đồng chí Sơn Vỹ, cán bộ chỉ huy mặt trận.


Bị địch tập kích bất ngờ, khi vừa đặt chân tới thị xã Buôn Ma Thuột, đóng quân ở vị trí bất lợi, lực lượng và trang bị vũ khí ít hơn địch, các chiến sĩ phân đội Đỗ Tín phần đông là thanh niên học sinh tuổi quân mới 3-4 tháng đã chiến đấu rất dũng cảm, gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng phân đội bị thiệt hại nặng1 (Nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột đã lấy ngày 27 tháng 10 âm lịch hàng năm là ngày tưởng niệm các liệt sĩ Nam tiến đã hy sinh. Lễ tưởng niệm tổ chức tại đình Lạc Giao. Trong 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, mặc dù địch tìm mọi cách ngăn cản, lễ tưởng niệm vẫn được nhân dân tổ chức hàng năm).


Sáng ngày 2 tháng 12, ban chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ cho các đơn vị nhanh chóng thu dọn chiến trường, giúp đỡ cho nhân dân thị xã sơ tán và di chuyển kho tàng về địa điểm an toàn (từ ki-lô-mét số 82 đến Ca Đa). Các đơn vị giải phóng quân và bộ đội địa phương triển khai lực lượng bố phòng các vị trí trọng yếu. Tự vệ chiến đấu bố trí các tổ chiến đấu và chướng ngại vật trên khắp các đường phố. Hàng ngày, ban chỉ huy các phân đội thường xuyên kiểm tra đôn đốc, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Trong sinh hoạt hàng ngày, trước mỗi bữa ăn các tổ dành một phút tưởng niệm những đồng đội đã hy sinh, nhắc nhở thực hiện nghiêm kỷ luật và sẵn sàng chiến đấu.


Khoảng 10 giờ sáng ngày 6 tháng 12, ban chỉ huy mặt trận, đồng chí Sơn Nam cùng một số cán bộ đi kiểm tra các trận địa. Chúng tôi nghe có nhiều tiếng súng nổ ở phía tây nam thị xã và được tin quân Pháp tiếp tục tấn công, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột bằng lực lượng và trang bị vũ khí mạnh hơn lần trước.


Khi địch tiến đến cầu Xê Rê Pak, lực lượng bảo vệ cầu nổ súng đánh trả quyết liệt, nhưng lượng thuốc nổ không đủ sức phá sập cầu. Địch tràn được qua cầu, đánh vào thị xã.

Các đơn vị giải phóng quân, bộ đội địa phương và tự vệ tổ chức ngăn chặn, gây cho địch nhiều tổn thất. Cuộc chiến đấu diễn ra từ sáng đến chiều. Khoảng 5 giờ chiều, ban chỉ huy mặt trận lệnh cho các đơn vị rút quân về các vị trí đã dự định để bảo tồn lực lượng.


Chiều ngày 6 tháng 12 giặc Pháp đã chiếm được thị xã Buôn Ma Thuột. Ta phát động chiến tranh du kích quấy rối tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.

Đồng chí Lê Thanh được giao nhiệm vụ trinh sát, tìm cách đánh phá nhà máy thủy điện, làm cho quân địch mất nguồn điện sử dụng.

Lực lượng chiến đấu được chia thành hai bộ phận. Một bộ phận do đồng chí Lê Thanh chỉ huy đánh phá nhà máy thủy điện ở suối Ea Nao, buôn Cô Xia. Một bộ phận do đồng chí Đặng Quân Thụy chỉ huy vượt suối buôn Cô Xia phục kích địch ra ứng cứu.


Đúng như ta dự kiến, khi nhà máy điện bị đánh, nguồn điện bị mất đột ngột, địch đã cho quân ra ứng cứu.

Khi xe chở quân ra tới ngã ba rẽ vào buôn Cô Xia, bộ phận phục kích vừa bố trí xong trận địa, kịp thời nổ súng diệt gần 20 tên, số còn lại hoảng hốt lên xe chạy về thị xã Buôn Ma Thuột.

Bên ta 3 đồng chí bị thương, trong đó có đồng chí Đặng Quân Thụy.

Trung tuần tháng 12 năm 1945, ban chỉ huy mặt trận họp tại Ca Đa, để kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm các mặt chiến đấu, củng cố chính quyền và các mặt công tác khác, chủ trương tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột, triển khai công tác chuẩn bị bầu cử quốc hội và chuẩn bị kháng chiến lâu dài.


Trận đánh lần thứ hai vào thị xã Buôn Ma Thuột có sự tham gia của một số phân đội thuộc chi đội Vi Dân, chi đội Nam Long... diễn ra rất quyết liệt. Do lực lượng chênh lệnh, địch phòng thủ kiên cố, ta chỉ tiêu hao được một số sinh lực địch. Tuy nhiên, trận đánh đã có ảnh hưởng tốt.


Sau trận đánh, một số đơn vị tự vệ tiếp tục hoạt động trong thị xã. Các đơn vị giải phóng quân và bộ đội địa phương rút về phía đường 21 và 14 tổ chức phòng tuyến chiến đấu ngăn chặn địch đánh xuống các tỉnh Khu 5. Từ đây, cùng với lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội Nam tiến trên chiến trường Buôn Ma Thuột bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2021, 08:19:21 pm
CHI ĐỘI THU SƠN ĐƠN VỊ GIẢI PHÓNG QUÂN
THUỘC BA TỈNH HÀ NAM NINH
TRONG PHONG TRÀO NAM TIẾN


TRẦN MINH VÂN
Nguyên chính trị viên trung đội, chi đội Thu Sơn


Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình là ba tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nơi có nhân tài vật lực dồi dào. Thành phố Nam Định là thành phố lớn thứ ba ở miền Bắc thời thuộc Pháp, có công nghiệp dệt, đội ngủ công nhân mạnh. Hà Nam Ninh là nơi có truyền thống đánh giặc giữ nước qua các thời đại lịch sử và là một trung tâm văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang cách mạng được tổ chức khá mạnh, bao gồm lực lượng quân sự của chiến khu Quỳnh Lưu (thành lập năm 1944, nơi giáp ranh giữa tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình), đội vũ trang tuyên truyền tỉnh Nam Định, lực lượng tự vệ do Việt Minh tổ chức ở các làng xã đã tham gia khởi nghĩa tháng Tám, các đội tự vệ công nhân nhà máy dệt Nam Định. Ba tỉnh đã tổ chức được bốn chi đội (Ninh Bình một chi đội, Hà Nam một chi đội, Nam Định hai chi đội), trang bị tương đối tốt do thu và mua được khá nhiều vũ khí của Nhật.


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nam Ninh gấp rút chuẩn bị lực lượng chi viện cho miền Nam đánh giặc. Đầu tháng 10 năm 1945, đồng chí Thu Sơn, một cán bộ quân sự của Cao Bắc Lạng từng học trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc); từng tham gia đội "Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân", là một tiểu đội trưởng xuất sắc trong các trận đánh đầu tiên của đội, được lệnh của đồng chí Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) về Nam Định nắm tình hình, bàn việc tổ chức lực lượng vũ trang Nam tiến. Chỉ huy lực lượng vũ trang địa phương lúc đó là đồng chí Hà Kế Tấn, Xứ ủy viên Bắc Kỳ. Do tình hình khẩn trương đồng chí đã quyết định lấy một đại đội thuộc chi đội Lạc Quần và một đại đội thuộc chi đội Ninh Bình thành lập một chi đội lấy tên là chi đội Thu Sơn do đồng chí Thu Sơn làm chi đội trưởng, tổ chức hành quân gấp vào Nam chiến đấu. Chi đội Hà Nam chuẩn bị một đại đội hành quân sau.


Đại đội 1 (Lạc Quần) do đồng chí Đặng Ngọc Tất (quản khố đỏ cũ) làm đại đội trưởng, đồng chí Lê Phù Sai (tức Thạch Sơn) làm chính trị viên. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ là đội viên tự vệ đã tham gia khởi nghĩa tháng Tám, một số là cựu binh theo cách mạng, một số là công nhân tự vệ nhà máy dệt Nam Định, là học sinh tham gia phong trào Việt Minh và cán bộ đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh Nam Định. Số cán bộ này đã được học lớp quân sự một tháng của Bộ Tổng tham mưu tại Hà Nội trước khởi nghĩa.


Đại đội 2 (Ninh Bình) nòng cốt là cán bộ chiến sĩ thuộc chiến khu Quỳnh Lưu đã từng tham gia đánh Nhật, có trận đã tiêu diệt địch và thu nhiều vũ khí. Cán bộ, chiến sĩ hầu hết là người Ninh Bình và một số của Việt Bắc. Đại đội trưởng là đồng chí Đặng Văn Thành, chính trị viên là đồng chí Quý.


Quân số mỗi đại đội khoảng 150 người chia thành 3 trung đội. Mỗi trung đội có 3 tiểu đội. Mỗi tiểu đội 13 người kể cả cán bộ tiểu đội. Đại đội bộ có tổ liên lạc, trinh sát, y tá và quản trị trưởng. Trung đội cũng có liên lạc, trinh sát, cứu thương và cấp dưỡng.


Về vũ khí, chi đội được trang bị khá đầy đủ (so với lúc đó), cán bộ đại đội có súng ngắn, cán bộ trung đội có tiểu liên, chiến sĩ có súng trường (kiểu súng Pháp, Nhật, Trung Hoa), lựu đạn, có một số súng phóng lựu đạn Nhật, súng cối 60 và trung liên.


Về trang phục, đại đội 1 được trang bị tương đối đầy đủ, mỗi người 2 đồng phục màu xanh và màu nâu bằng vải của nhà máy dệt Nam Định. Đại đội 2 được trang bị quần áo ka ki (quân phục của quân Pháp cũ).


Do tình hình khẩn trương, bộ đội được tập kết ở Đồng Giao (nay là nông trường Đồng Giao, thị trấn Tam Điệp), vừa là nơi làm lễ thành lập chi đội, vừa là nơi xuất phát bằng tàu hỏa đi vào Nam. Một ngày cuối tháng 10 năm 1945, khoảng 2 giờ chiều, bộ đội đã tập kết đầy đủ ở ga Đồng Giao. Dự lễ thành lập và xuất phát hành quân có đồng chí Hoàng Sâm, Khu trưởng Chiến khu 2 và các đại biểu hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Khai mạc buổi lễ, đồng chí Hoàng Sâm tuyên bố thành lập chi đội, giao nhiệm vụ cho chi đội, trao tặng một thanh kiếm và một lá cờ Tổ quốc, động viên cán bộ, chiến sĩ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng chí Thu Sơn thay mặt chi đội hứa với Khu trưởng và đại biểu hai tỉnh kiên quyết thành mọi nhiệm vụ trên chiến trường. Đồng chí dặn dò cán bộ chiến sĩ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, giữ nghiêm kỷ luật, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt. Buổi lễ diễn ra nghiêm trang, giản dị trong không khí phấn khởi được lên đường Nam tiến cùng quân và dân Nam Bộ đánh kẻ thù xâm lược. Trước khi lên tàu, toàn chi đội sôi nổi, say sưa hát vang những bài ca cách mạng.


Cùng đi trên chuyến tàu với đơn vị có một viên đại tá quân Tưởng có nhiệm vụ giao dịch, hạn chế khó khăn do quân Tưởng gây ra trên đường hành quân. Đồng chí Thu Sơn biết tiếng Trung Quốc cũng thuận lợi trong việc giao dịch. Tuy vậy cũng có lúc quân Tưởng gây căng thẳng (ở Huế). Chi đội được lệnh sẵn sàng chiến đấu để tự bảo vệ, song rồi cũng được thu xếp ổn thỏa.


Nửa tháng hành quân là thời gian bộ đội được động viên, cổ vũ, giáo dục sâu sắc. Đến ga nào cũng có đồng bào mang cờ hoa, khẩu hiệu ra đón tiếp, ở các ga chính, nơi cung cấp bữa ăn cho đơn vị hoặc nơi đơn vị dừng nghỉ ngơi một vài ngày thường có đại biểu chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương đến chào mừng, thăm hỏi, tặng quà bánh, trao các suất ăn đến từng chiến sĩ. Khí thế sôi nổi, hoan nghênh và cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội Nam tiến trên dọc đường hành quân của đồng bào đã cổ vũ niềm tự hào và trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Ấn tượng sâu sắc nhất là khi đơn vị đến Quảng Ngãi, được nghỉ ba ngày, được đi tham quan, gặp gỡ các đại biểu đến thăm đơn vị, thăm một số gia đình đồng bào thôn xóm xung quanh thị xã Quảng Ngãi. Cán bộ chiến sĩ chi đội được tận mắt chứng kiến tinh thần cách mạng sôi động và mạnh mẽ của nhân dân, quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập dân tộc vừa giành được. Tình cảm của nhân dân, các mẹ chiến sĩ, các em thiếu nhi rất thắm thiết, chân thực càng củng cố quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị.


Tàu vào đến Ninh Hòa gần đèo Rù Rì. Chi đội xuống hành quân bộ vào Diên Khánh là tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa cách Nha Trang khoảng 10km, trú quân tại xã Trường Lạc cạnh quốc lộ 1A, lối đi Nha Trang và đi Cam Ranh.


Đầu tháng 11 năm 1945, chi đội nhận được lệnh của Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ tăng cường cho mặt trận Nha Trang. Đồng chí Trần Công Khanh, chỉ huy trưởng mặt trận Nha Trang trực tiếp đến nơi đóng quân để nhận đơn vị, nắm tình hình và giao nhiệm vụ chiến đấu cho chi đội.


Tháng 10 năm 1945, sau khi phá vỡ mặt trận Bắc Sài Gòn, Bộ chỉ huy Pháp tập trung gần một vạn quân tinh nhuệ gồm phần lớn sư đoàn thiết giáp số 2 (2èDB), trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5èRIC) cùng không quân và tàu chiến mở cuộc tấn công theo hai hướng, phía đông theo quốc lộ số 1A đánh ra Nha Trang và phía tây theo quốc lộ 14 đánh lên Buôn Ma Thuôt với âm mưu đánh chiếm Nam Trung Bộ ra đến vĩ tuyến 16 trong vòng vài tháng. Cùng lúc đó, Bộ tư lệnh quân Anh ra lệnh cho quân Nhật đồn trú ở các thành phố, thị xã Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Đà Lạt bung ra chiếm giữ các vị trí quan trọng để phối hợp với các cánh quân của Pháp.


Ngày 22 tháng 10 năm 1945, quân Pháp tiến đánh Nha Trang. Sau những trận chiến đấu quyết liệt, gây cho địch nhiều tổn thất, đêm 23 tháng 10 ta chủ động rút ra khỏi thành phố, tổ chức trận địa bao vây quân địch. Quân Pháp ráo riết tập trung lực lượng chuẩn bị đợt tấn công mới hòng phá vỡ trận địa ta.


Được giao nhiệm vụ, chi đội Thu Sơn khẩn trương hành quân vào thay phiên cho đơn vị bạn ở khu vực ga Phú Vinh với nhiệm vụ tích cực bám sát, đánh tiêu hao tiêu diệt từng bộ phận địch, ngăn chặn cuộc tấn công của chúng, giữ vững trận địa.


Lực lượng địch ở ga Phú Vinh có một tiểu đoàn quân Pháp và một số tổ chức Việt gian. Chúng xây dựng lô cốt trên tháp nước nhà ga và trong nhà ga, có hàng rào dây thép gai và mìn, được pháo ở tàu chiến, phi cơ và pháo binh yểm hộ.


Trận địa của chi đội là những dãy chiến hào lẫn trong các làng mạc, một số đoạn có nắp sơ sài, các ụ súng được xếp bằng các bao cát. Phía trước các đại đội có những đội tiền tiêu bám sát địch, cách khoảng 200 mét. Đại đội 1 chiếm lĩnh trận địa bên phải ở khu vực nhà thờ "Khói đồng". Bên trái là đại đội 2 tại khu vực "cây đa xóm giếng". Các đại đội tranh thủ củng cố công sự làm thêm hầm hào để cơ động và chống phi pháo.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2021, 08:20:06 pm
Từ ngày 19 tháng 11 năm 1945, sáu tiểu đoàn quân Pháp có máy bay, đại bác và tàu chiến yểm hộ chia làm nhiều mũi tiến công trên toàn mặt trận Nha Trang hòng phá vỡ trận địa và tiêu diệt lực lượng ta. Tuy quân địch có ưu thế áp đảo cả về xung lực và hỏa lực, các đơn vị ta vẫn bám sát trận địa, dũng cảm ngoan cường chiến đấu, bẻ gãy, đẩy lùi các mũi tiến công của địch, gây cho chúng nhiều thương vong. Chiến sự diễn ra quyết liệt. Nhân dân sơ tán, chỉ còn bộ đội chiến đấu cùng dân quân phối hợp đánh địch và tiếp tế hậu cần, tải thương.


Chi đội Thu Sơn tổ chức từng tổ, từng tiểu đội có lúc từng trung đội chiến đấu ngày đêm bám sát địch, tập kích, phục kích tiêu diệt những toán quân tuần tiễu và từng bộ phận địch lấn ra hoặc dùng súng cối bẳn phá vào trận địa địch làm cho chúng mất ăn mất ngủ. Nhiều gương chiến đấu rất dũng cảm của cán bộ chiến sĩ xuất hiện. Trung đội trưởng Vân (đại đội 2) là học sinh Huế, người cao to luôn đeo bên mình một thanh kiếm Nhật hăng hái dẫn đầu đơn vị chiến đấu. Anh đã anh dũng hy sinh trong một trận đánh quân tuần tiễu địch.


Sau nhiều lần đánh phá trận địa ta không được, vào lúc 0 giờ ngày 24 tháng 11 năm 1945, một tiểu đoàn lê dương Pháp lợi dụng đêm tối bất ngờ từ ga Phú Vinh tiến đánh trận địa ta. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Một số cán bộ chiến sĩ bị thương vong, số còn lại vẫn kiên cường chiến đấu dưới hỏa lực phi pháo địch trong suốt ngày 24. Có đơn vị phải đánh giáp lá cà. xung phong đuổi địch về sát ga Phú Vinh. Xác địch chết ngổn ngang trên cánh đồng. Đồng chí Trần Công Khanh, chỉ huy trưởng mặt trận Nha Trang trực tiếp tham gia chiến đấu, chỉ huy bộ đội xung phong diệt địch. Vừa chạy theo bộ đội anh vừa hô "Các chiến sĩ Việt Nam hãy anh dũng tiến lên, giết, giết hết bọn thực dân xâm lược". Khí thế tiến công thật dũng mãnh.


Sau trận thất bại này, quân Pháp phải rút bỏ một số đồn bốt nhỏ lẻ, co về giữ thành phố Nha Trang để đợi quân tiếp viện. Chi đội giữ vững trận địa tiếp tục chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của dịch. Cuối tháng 1 năm 1946, chi đội được lệnh rút về phía sau củng cố lực lượng. Chi đội Bắc Bắc đến thay phiên.


Sau khi có quân tăng viện từ Pháp sang, Bộ chỉ huy quân Pháp tập trung 15.000 quân, tổ chức cuộc tấn công lần thứ hai đánh ra miền Nam Trung Bộ. Ngày 28 tháng 1 năm 1946, địch chiếm Phan Rang. Từ đây chúng chia làm hai mũi tiến đánh Nha Trang và Phan Thiết.


Ngày 28 tháng 1, đại đội 2 được lệnh rút về Diên Khánh, đại đội 1 hành quân xuống Ba Ngòi để ngăn chặn cánh quân phía nam của địch. Sáng 29, đại đội 1 hành quân vào đến suối Dầu thì địch đã chiếm Ba Ngòi, nên được lệnh hành quân về Đồng Tranh. Đầu tháng 2, toàn chi đội tập trung ở khu vực Đồng Tranh, Đất Sét. Củng cố được vài ngày thì có lệnh hành quân theo đường núi qua đường 21 về Sông Cầu, tỉnh lỵ Phú Yên.


Lúc này, cánh quân phía tây của địch đã từ Tây Nguyên tiến chiếm Ninh Hòa và kiểm soát đường 21. Từ Diên Khánh ra Đồng Tranh, Đất Sét đến Sông Cầu theo đường núi khoảng 200 ki-lô-mét. Bản đồ không có, lương thực chuẩn bị được có 3 ngày, lại không có người dẫn đường, bộ đội cứ theo dấu hành quân của đơn vị trước mà đi. Ra đến đường 21 thì gặp địch, đánh nhau một hồi thì địch rút, ta tiếp tục hành quân.


Một tuần hành quân vất vả, vừa đi vừa đánh nhau với địch, chi đội đã ra đến Đồng Bò thuộc huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Sau một tuần nghỉ ngơi, được cung cấp lương thực, ăn uống bình thường, sức khỏe hồi phục, đơn vị tiếp tục hành quân ra Sông Cầu nhận lệnh mới.

Ba tháng liên tục chiến đấu và hành quân, sức khỏe bộ đội giảm sút, một số thương vong, số ốm đau, thương binh nặng được chuyển tiếp ra Bắc điều trị. Đơn vị được bổ sung, chấn chỉnh tổ chức. Theo chủ trương của trên, các lực lượng từ Nha Trang rút ra củng cố được tổ chức thành chi đội 3 Sông Cầu, trong đó có đại đội 1 chi đội Thu Sơn do đồng chí Hữu Thành chỉ huy.


Sau Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946, một số cán bộ của chi đội được cử đi học Trường lục quân Quảng Ngãi. Đồng chí Thành đại đội trưởng đại đội 2 được bổ sung về trung đoàn tiếp phòng quân Đà Nẵng do đồng chí Nam Long làm trung đoàn trưởng.


Tháng 4 năm 1946, trung đoàn 79 được thành lập ở Phú Yên do đồng chí Thu Sơn làm trung đoàn trưởng. Lực lượng nòng cốt của trung đoàn này là các đơn vị của chi đội Thu Sơn cũ. Tháng 5 năm 1946, trung đoàn 79 cùng trung đoàn 80 của tỉnh Phú Yên do đồng chí Hữu Thành chỉ huy cơ động từ Phú Yên vào, tấn công phá hủy gần hết chi khu Vạn Giã, đánh thiệt hại nặng cứ điểm Hiền Lương, diệt và làm bị thương 150 tên địch, thu 100 súng các loại. Trung đoàn 79 tiếp tục chiến đấu trên địa bàn Nam Trung Bộ trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Là một đơn vị mới được thành lập sau Cách mạng tháng Tám, lực lượng còn non trẻ, tổ chức chưa thống nhất, trang bị còn lạc hậu so với địch, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, chi đội Thu Sơn là một đội quân cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, có lòng tin vững chắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.


Chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 4 năm 1946, chi đội đã tổ chức hành quân, chiến đấu trong tình hình rất khẩn trương, tuy còn nhiều thiếu sót bỡ ngỡ, nhưng đã nêu cao tinh thần chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của nhân dân Hà Nam Ninh, nhân dân miền Nam Trung Bộ và nhân dân toàn quốc.


Chi đội đã tỏ rõ sức mạnh của một đội quân cách mạng, phát huy truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, có tinh thần kỷ luật tự giác cao, tinh thần đoàn kết chiến đấu trong đơn vị và tình đoàn kết quân dân tốt, kiên quyết triệt để chấp hành mệnh lệnh cấp trên trong lúc thường cũng như lúc chiến đấu, dũng cảm ngoan cường chiến đấu, không ngại hy sinh, khó khăn gian khổ mặc dầu phải đương đầu với một đội quân nhà nghề có kinh nghiệm và trang bị mạnh hơn ta nhiều lần.


Chi đội Thu Sơn ra đời và hoạt động trong một thời gian rất ngắn, nhưng đã cùng với các chi đội Nam tiến khác và quân dân miền Nam Trung Bộ ở mặt trận Nha Trang bao vây tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân địch, kìm chân chúng được 3 tháng, chặn đứng mũi tiến quân phía đông của giặc, góp phần làm thất bại âm mưu của Bộ chỉ huy Pháp đánh chiếm nam phần Trung Bộ đến vĩ tuyến 16 trong vòng vài tháng, tạo điều kiện cho các tỉnh phía sau có thời gian chuẩn bị chiến đấu. Đây là một trong những chiến công to lớn trong những ngày đầu chống Pháp ở miền Nam, góp một phần kinh nghiệm thực tế cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Sáu, 2021, 09:17:04 pm
CÁN BỘ TRƯỜNG QUÂN CHÍNH TRUNG ƯƠNG KHÓA 4 VÀ 5
NAM TIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC


Thiếu tướng TRẦN ĐÌNH CỬU


Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công được gần một tháng, Chính phủ quyết định mở ở Hà Nội Trường quân chính Trung ương khóa 4 (tiền thân là Trường quân chính kháng Nhật ở Việt Bắc, đã mở 3 khóa).


Khóa 4 mở ở trường phổ thông trung học phố Cửa Bắc. Thời gian huấn luyện là 15 ngày, bế giảng đầu tháng 10 năm 1945.

Vào thời gian này, không khí cách mạng rất sôi động. Sau ngày Tổng khởi nghĩa, tuyên bố độc lập (2 tháng 9) khí thế quần chúng lên rất cao, nhưng tình hình có rất nhiều khó khăn.

Ở Nam Bộ, thực dân Pháp núp sau quân Đồng minh, khởi hấn đánh chiếm Sài Gòn (ngày 23 tháng 9 năm 1945) buộc nhân dân Sài Gòn - Gia Định phải đứng lên chiến đấu bảo vệ nền độc lập.

Ở Bắc Bộ (đến vĩ tuyến 16) quân Tưởng Giới Thạch cũng với danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp phát xít Nhật, đem theo bọn phản động là Việt quốc, Việt cách về quấy rối hòng lật đổ Chính phủ ta.


Trong tình hình khẩn trương đó, cùng với phong trào Nam tiến của các đơn vị (chi đội Nam Long, Vi Dân, Bắc Bắc...), Chính phủ chọn 72 học sinh tốt nghiệp khóa 4 Trường quân chính Trung ương Nam tiến. Cuộc tiễn đưa được tổ chức long trọng tại thủ đô Hà Nội do đồng chí Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến thành phố chủ trì.


Sau khóa 4, Trường quân chính Trung ương tiếp tục mở khóa 5. Do tình hình phức tạp (quân Tưởng gây sức ép không cho ta mở trường quân sự), nên ta lấy tên công khai là Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam.


Khóa 5 mở ở khu Việt Nam Học xá (Bạch Mai, Hà Nội). Thời gian học một tháng từ 15 tháng 10 đến 15 tháng 11 năm 1945. Số lượng học sinh khoảng 400, lựa chọn trong những thanh niên ưu tú, cốt cán của Mặt trận Việt Minh, đã được thử thách, rèn luyện trong Cách mạng tháng Tám và tiền khởi nghĩa. Từ Huế trở ra do Mặt trận Việt Minh tỉnh giới thiệu.

Trong ngày khai giảng và bế giảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và dặn dò học sinh.

Sau ngày bế giảng, đồng chí Trần Văn Giàu, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ và đồng chí Huỳnh Tấn Phát, ủy viên thông tin tuyên truyền Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ đã đến thăm và nói chuyện với học sinh về tình hình chiến sự ở Sài Gòn về đất nước con người Nam Bộ và động viên anh em Nam tiến. Tất cả 400 học sinh đều xung phong lên đường.


Theo chỉ thị của trên, nhà trường chọn 64 đồng chí gửi vào Nam Bộ giao cho đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm trưởng đoàn dẫn đi.

Sáng sớm ngày 20 tháng 11 năm 1945, đồng chí Trần Tử Bình, ủy viên chính trị nhà trường bí mật tiễn đưa 64 anh em tại ga Vọng (Hà Nội). Cuối tháng 11, vào đến thị trấn Ninh Hòa (Khánh Hòa) đoàn phải nghỉ lại vì địch đã chiếm thành phố Nha Trang. Đồng chí Huỳnh Tấn Phát xin ý kiến của Ủy ban kháng chiến miền Nam cho đi đường 21, đến thị xã Buôn Ma Thuột, đi tiếp theo đường 14 đến ngã ba biên giới rồi vào miền Đông Nam Bộ. Vì là đường mới nên chỉ chọn 25 đồng chí đi trước mở đường. Đến thị xã Buôn Ma Thuột, đoàn cán bộ phải chiến đấu với tàn quân Pháp có sự giúp đỡ của tàn quân Nhật. Trận này, ta hy sinh 9 học sinh. Đồng chí Phát lại chọn một học sinh (đồng chí Trần Đình Cửu) quay trở lại Ninh Hòa, đi bộ vào Bình Thuận đến Mũi Né (Phan Thiết) theo đường biển (nhờ ghe nước mắm của dân) vào Phước Hải (Bà Rịa). Sau đó, đi bộ qua Long Thành (Biên Hòa) đến Gia Định (Dĩ An, Thủ Đức, An Phú Đông).


Đồng chí Cửu được giao nhiệm vụ làm công tác vận động quần chúng, tuyên truyền cho tổng tuyển cử Quốc hội ở xã Thạnh Lộc (Hóc Môn). Trung tuần tháng 1 năm 1946, đồng chí Phát đưa đồng chí Cửu lên Khu bộ Khu 7 đóng ở Tân Uyên (Biên Hòa) gặp Khu trưởng Nguyễn Bình nhận công tác.


Số học sinh trong đoàn Nam tiến còn lại ở Ninh Hòa và Buôn Ma Thuột gặp nhiều khó khăn trên đường hành quân vào Nam Bộ, không có người dẫn đường vì địch đã mở rộng phạm vi chiếm đóng. Theo chỉ thị của trên và kết hợp với nguyện vọng của anh em, đoàn chia thành ba nhóm: một nhóm ở lại chiến đấu ở mặt trận Buôn Ma Thuột và các tỉnh miền Trung, một nhóm trở ra Bắc nhận nhiệm vụ mới, một nhóm gồm 5 đồng chí (Đặng Văn Quế, Nguyễn Công Minh, Hoàng Đức Bình, Cao Huy Thúc, Nguyễn Văn Nhự) kiên quyết xin tiếp tục vào Nam Bộ chiến đấu. Năm đồng chí này được đồng chí Kiều Đắc Thẳng (cán bộ quân giới) đưa đi đường bộ, băng rừng Phan Thiết vào đến Dầu Giây, Long Thành đến Tân Uyên (Biên Hòa) gặp Khu trưởng Nguyễn Bình nhận nhiệm vụ. Đồng chí Đặng Văn Quế được cử làm chỉ huy phó mặt trận B Tân Uyên cùng với đồng chí Hồng An làm chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Minh Thi làm chính trị viên...


25 đồng chí học sinh khóa 4 (trong số 72 đồng chí Nam tiến) đã vào đến Nam Bộ từ cuối tháng 10 năm 1945, được phân công nhiệm vụ ở các mặt trận và các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Trảng Bom, Xuân Lộc (Biên Hòa); Bà Rịa, Thuận Lợi, Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một); Gia Định, Tây Ninh); có đồng chí đi Khu 9.


Các học sinh khóa 4 đã chiến đấu ở nhiều mặt trận miền Đông, mở các lớp huấn luyện và trường bồi dưỡng cán bộ cho các chi đội và tỉnh đội, làm chính trị viên đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, phòng chính trị Khu 7, chính trị viên tỉnh đội trong những ngày đầu kháng chiến.


Cuối năm 1945, đầu năm 1946, học sinh khóa 5 có 6 người vào đến Nam Bộ (trong số 64 người) sau chặng đường hành quân chiến đấu vất vả (9 đồng chí hy sinh ở mặt trận Buôn Ma Thuột), các đồng chí này đã nhận nhiệm vụ chiến đấu ở mặt trận Tân Uyên (Biên Hòa), chiến khu Đ, mở lớp huấn luyện cán bộ ở khu, tham gia lãnh đạo và huấn luyện ở Trường quân chính Khu 7 (do đồng chí Nguyễn Xuân Diệu phụ trách), mở Trường quân chính khóa 1 và 2 ở Khu 8 rồi làm chính trị viên đại đội, tiểu đoàn bộ đội chủ lực ở các khu 7, 8, 9.


Học sinh khóa 4, khóa 5 vào đến Nam Bộ đều gắn bó với đồng bào miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, có đồng chí sau này trong kháng chiến chống Mỹ, Nam tiến lần thứ hai. Nhiều đồng chí đã hy sinh, nay chỉ còn lại 9 đồng chí còn sống, gần đây đã liên lạc được với nhau (4 đồng chí ở Nam Bộ)...


Đánh giá các hoạt động của số cán bộ Trường quân chính Trung ương khóa (4 và 5), không thể tách rời phong trào Nam tiến trong cả nước.


Đây là một vấn đề lớn, phạm vi rộng, cần phải có ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Nam Bộ, các Bộ tư lệnh khu 7, 8, 9 trong thời kỳ đó, phải có nhiều ý kiến của các nhân chứng lịch sử đã Nam tiến.


Là một nhân chứng lịch sử (học sinh khóa 5), tôi xin phát biểu vài suy nghĩ của mình đóng góp vào kho tàng kinh nghiệm quý báu của lịch sử quân đội.

1- Phong trào Nam tiến của các chi đội, các cán bộ Trung ương tăng cường cho Nam Bộ lúc đầu kháng chiến chỉ là một lực lượng nhỏ (cả về số lượng và trang bị vũ khí) so với lực lượng rất to lớn của quân và dân Nam Bộ lúc đó.

Về quân sự, lực lượng Nam tiến không làm chuyển biến được tình hình về chiến lược, chiến dịch mà chỉ góp phần làm chậm bước tiến của địch, tạo điều kiện cho quân dân Nam Bộ tổ chức lại lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài.


Nhưng về mặt trận chính trị - tinh thần, phong trào Nam tiến có ý nghĩa lịch sử rất to lớn. Nó góp phần cổ vũ nhân dân Nam Bộ nói chung, nhân dân Sài Gòn - Gia Định nói riêng anh dũng chiến đấu trong những ngày đầu kháng chiến rất khó khăn, vững lòng tin vào Chính phủ Trung ương do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, tạo niềm tin sâu sắc, tăng cường sự đoàn kết của cả nước chống quân xâm lược, xây dựng tình đoàn kết Bắc - Trung - Nam, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Trong hoàn cảnh lúc đó, điều này rất quan trọng, thậm chí là cơ bản nhất để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Không có niềm tin làm cơ sở, không thể chiến thắng được.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Sáu, 2021, 09:18:02 pm
2- Lực lượng cán bộ Nam tiến đã góp phần tích cực vào việc Xây dựng lực lượng vũ trang ở Nam Bộ.

Những ngày đầu kháng chiến, lực lượng vũ trang ở Nam Bộ có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng cảm chiến đấu, nhưng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở (trung đội, đại đội, tiểu đoàn) chưa có đủ hiểu biết về quân sự và chính trị, chưa biết các nguyên tắc và phương pháp của công tác chính trị tư tưởng trong quân đội, chưa nắm được đường lối, tư tưởng quân sự cách mạng, chiến thuật du kích... (ta mới chỉ tranh thủ đươc một số sĩ quan, hạ sĩ quan, binh lính có lòng yêu nước trong quân đội Pháp cũ và một số hạ sĩ quan, binh lính Nhật theo cách mạng), vì vậy trước lực lượng mạnh về tổ chức và trang bị của địch, ta mau bị vỡ mặt trận.


Đó là chưa kể đến một số lượng quân sự vô chính trị (như đệ tam sư đoàn...) xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân, làm giảm lòng tin của dân đối với quân đội.

Trong tình hình đó, bên cạnh các chi đội Nam tiến còn có một số cán bộ được Trung ương tăng cường cho Nam Bộ. Cấp khu có đồng chí Hoàng Đình Giong, Trung ương ủy viên (tức đồng chí Vũ Đức), đồng chí Nguyễn Bình, ở cơ sở có một số cán bộ Trường quân chính Trung ương (khóa 4, 5). Lực lượng này đã có tác dụng nhất định đối với việc tăng cường chất lượng lực lượng vũ trang ở Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến.


Về mặt chỉ đạo, các đồng chí có cương vị (Vũ Đức, Nguyễn Bình) đã góp phần cùng lãnh đạo Nam Bộ, các khu thống nhất lực lượng, thống nhất tổ chức, thống nhất chỉ huy.

Đối với các đơn vị từ trung đoàn, tỉnh đội, tiểu đoàn, đại đội, trung đội, các cán bộ Trường quân chính Trung ương bên cạnh việc chỉ huy chiến đấu trên một số mặt trận, đóng góp chủ yếu là huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, mở nhiều trường lớp quân sự ở cả 3 khu (7, 8, 9); truyền đạt tư tưởng quân sự, đường lối quân sự của Đảng như chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân, cách đánh du kích, công tác chính trị trong quân đội, xây dựng chất lượng chính trị, mục tiêu chiến đấu cho người chiến sĩ...


Có thể nói, việc xây dựng về chính trị vừa có ý nghĩa góp phần củng cố lực lượng vũ trang ở Nam Bộ những năm đầu kháng chiến, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với việc nâng cao sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhiều cán bộ được huấn luyện từ các lớp đầu tiên, sau này trở thành cán bộ cao cấp trong quân đội.


Còn phải kể đến tác dụng của một số cán bộ Trường quân chính Trung ương trên các lĩnh vực khác, như có đồng chí được phân công ngay từ đầu làm công tác vận động quần chúng, được Đảng giao nhiệm vụ làm trưởng ban Hoa vận Trung ương Cục, phụ trách Hoa kiều vụ Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp...


Từ vai trò, ý nghĩa lịch sử của các lực lượng và phong trào Nam tiến có thể rút ra một số bài học thực tiễn:

Một là: Phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi".

Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống đoàn kết chiến đấu. Dưới thời Pháp thuộc, trước Cách mạng tháng Tám biết bao đảng viên cộng sản quê ở miền Bắc, miền Trung đã sát cánh cùng đồng bào, đồng chí miền Nam hoạt động chính trị, chiến đấu kiên cường (như Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh...).


Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, địch trở lại chiếm Sài Gòn và Nam Bộ. Mặc dù miền Bắc cũng đang gặp nhiều khó khăn phức tạp (nạn đói, nạn quân Tưởng, nạn dốt...), nhưng luôn nghĩ tới miền Nam, tới phong trào Nam tiến, gửi nhân tài vật lực vào miền Nam. Số lượng tuy chưa nhiều, nhưng vào thời kỳ lịch sử đó, khi cách mạng còn đang trong thời kỳ trứng nước, cả nước chỉ có năm ngàn đảng viên cộng sản thì số cán bộ này thật đáng quý. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Trung ương lại tiếp tục tăng cường cán bộ, cử nhiều đoàn cán bộ vào miền Nam.


Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này thì ý chí Nước Việt Nam là một lại càng mạnh. Miền Bắc là hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn. Hàng chục vạn thanh niên miền Bác "xẻ dọc Trường Sơn" vào chiến đấu cùng đồng bào đồng chí ở miền Nam. Cuối cùng, các quân đoàn chủ lực thần tốc cùng đồng bào miền Nam tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Truyền thống đoàn kết Bắc - Nam thật quý báu. Không phải chỉ có Nam tiến. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, miền Nam cũng hướng ra miền Bắc, cử những người con yêu quý của mình cùng đồng bào miền Bắc chiến đấu (Quân khu 7 cử sư đoàn 303 ra Quân khu 3 để lên chiến đấu ở biên giới).


Bài học đó có ý nghĩa thực tiễn đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong tình hình hiện nay và bước vào thế kỷ XXI, đoàn kết trong nước và Việt kiều ở ngoài nước, nhất định chúng ta sẽ xây dựng được đất nước Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.


Hai là: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, bất cứ việc gi nếu có cán bộ tốt thì thành công".

Ngay từ những năm hai mươi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã coi trọng việc đào tạo những thanh niên ưu tú cho cách mạng. Từ khi về nước năm 1941, Bác Hồ càng chăm lo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ. Cách mạng tháng Tám thành công, dù đất nước gặp muôn vàn khó khăn phức tạp, dù bận trăm công nghìn việc, Bác Hồ và Chính phủ vẫn chăm lo huấn luyện đào tạo cán bộ, chủ trương mở Trường quân chính Trung ương ở Hà Nội để đào tạo những thanh niên ưu tú được thử thách rèn luyện trong phong trào quần chúng. Đây là một chủ trương rất đúng đắn, sáng suốt, có tầm nhìn chiến lược lâu dài. Bác Hồ đích thân đến khai giảng, bế giảng lớp học, dặn hò thắm thiết như tình cha con. Các đồng chí lãnh đạo Đảng cũng dành thời gian đến giảng dạy. Thời gian học tuy ngắn nhưng phù hợp với tình hình nhiệm vụ lúc ấy. Nội dung học rất thiết thực, cần thiết cho trước mắt và hướng cho cán bộ tiếp tục học tập phục vụ lâu dài cho cách mạng. Sự quan tâm của Bác và Trung ương đã để lại ấn tượng sâu sắc trong học sinh và có tác dụng rất lớn về sau này. Nhiều học sinh Trường quân chính Trung ương khóa 4, 5 đã trở thành những cán bộ cao cấp, những tướng lĩnh trong quân đội ta và những cán bộ cấp cao trên các lĩnh vực khác của cơ quan nhà nước.


Ngày nay trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa bài học "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc..." vẫn có ý nghĩa thực tiễn nóng hổi. Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) đã có nghị quyết chuyên đề về chiến lược cán bộ đến năm 2020.


Thực tiễn đòi hỏi ta phải khẩn trương đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tài năng cao rộng để kế tục đội ngủ cán bộ hiện nay. Nếu không có đội ngũ cán bộ kế tiếp thì sự nghiệp cách mạng có thể sẽ gặp khó khăn, hoặc chuẩn bị không kỹ thì có thể có nguy cơ chệch hướng vì âm mưu "diễn biến hòa bình" của địch đang nhằm vào thế hệ con cháu chúng ta.


Bác Hồ đã dặn dò học sinh khóa 5: "Muốn đi vào Sài Gòn, phải đi theo hướng nam qua các tỉnh Thanh Hóa, Vinh, Huế, Nha Trang,... Đã có phương hướng sẵn anh em cứ theo đó mà đi, đến tỉnh nào, phải qua các con sông, hòn núi gì, anh em sẽ tìm hỏi sau. Miễn là biết theo phương nam mà tiến chứ đừng lầm đường đi ngược lên bắc là được". Đó là lời dặn dò rất sâu sắc cho chúng ta ngày nay đang xây dựng nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là: Một trong những nguyên tắc cơ bản xây dựng quân đội chính quy tinh nhuệ từng bước hiện đại là phải xây dựng về chính trị làm cơ sở.

Những nội dung quân sự, chính trị của Trường quân chinh Trung ương được truyền đạt cho cán bộ và chiến sĩ ta ở Nam Bộ đã góp phần xây dựng chính trị tư tưởng, tăng cường công tác đảng - công tác chính trị cho các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Trên đây là một số vấn đề thực tiễn rút ra từ phong trào Nam tiến của các cán bộ Trường quân chính Trung ương; những vấn đề cho đến nay vẫn rất cơ bản trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Sáu, 2021, 09:21:22 pm
TỪ KHÓA 5 TRƯỜNG QUÂN CHÍNH VIỆT NAM
ĐẾN CÁC KHÓA ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUÂN SỰ Ở NAM BỘ


ĐẶNG VĂN QUẾ


Tôi xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Cha tôi thi đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1900), nhưng không chịu ra làm quan cho chế độ đương thời mà tham gia hoạt động chống Pháp trong tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội. Năm 1908, ông bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo 9 năm. Năm 1916, ông được ra tù về quê bí mật hoạt động. Năm 1931 ông lâm bệnh rồi mất. Mẹ tôi là con gái đầu của cụ Phan Trọng Mưu, một thân sĩ Cần vương hoạt động chống Pháp cùng cụ Phan Đình Phùng. Khi cha tôi bị Pháp đày đi Côn Đảo, bà thoát ly gia đình (danh nghĩa đi buôn chuyến) cùng bà Nguyễn Thị Thanh (chị ruột Bác Hồ) hoạt động giao liên cho Hội văn thân Nghệ Tĩnh. Năm 1918, sau khi sinh tôi được 8 tháng bà chẳng may bị bệnh mất. Sau khi cha tôi qua đời, tôi phải đến trông con và chăn trâu cho người chị gái. Năm 1934, cụ Phan Bội Châu (bạn đồng khoa và là người cùng hoạt động chống Pháp với cha tôi) cho người đón tôi vào Huế nuôi, dạy cho học chữ Hán. Năm 1937, do không muốn tôi trở thành gánh nặng cho cụ Phan, anh ruột tôi đã điện cho tôi về quê và giữ luôn ở nhà. Ba năm sống với cụ Phan được cụ dạy dỗ và được tiếp xúc với những người yêu nước như các ông Phan Đăng Lưu, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp... tôi đã có nhiều hiểu biết mới.


Năm 1942, tôi ra Thanh Hóa nhờ cậu ruột (Phan Quốc Lương) tìm việc làm thì gặp ông Hoàng Văn Khải (bạn tù Côn Đảo với cha tôi và đã gặp tôi lúc tôi ở với cụ Phan). Ông Khải nhân danh người của "tổ chức yêu nước", khuyên tôi học chữ Nhật để làm việc cho "tổ chức". Tôi tin tưởng và vui vẻ nhận lời. Sau hơn một năm theo học, với những điều tai nghe mắt thấy, lại được ông Đặng Thai Mai và Hoàng Đạo Thuý cho biết tình hình thời cuộc, tôi nhận ra sai lầm, lấy cớ đi tránh máy bay Mỹ để bỏ học trở về Thanh Hóa (cuối năm 1943). Tháng 4 năm 1945, tôi ra Hà Nội được ông Trần Phụng giới thiệu với tổ chức Việt Minh tại xưởng đúc Ăngtimoan (Phà Đen, Hà Nội) và được gặp các ông: Trần Vĩnh Phúc, Hoàng Tiêu Diêu (tức Hoàng Xuân Tùy nguyên Thứ trưởng Bộ đại học), Lê Thành Châu (tức Lê Bá Hoan, nguyên giám đốc Nhà xuất bản Khoa học). Từ đó tôi được tổ chức đưa lên chiến khu Yên Dũng (ấp Trường An) tỉnh Bắc Giang để huấn luyện tự vệ và in tài liệu Việt Minh.


Tháng 9 năm 1945, tôi cùng một số đồng chí trong tổ được lệnh lên trung tâm tỉnh lỵ Bắc Giang tham dự cuộc mít tinh chào mừng ngày độc lập. Sau khi dự mít tinh về, tất cả anh chị em trong tổ nhất trí kéo nhau lên tỉnh xin gia nhập giải phóng quân và được ban chỉ huy quân sự tỉnh (đồng chí Lộc Giang là chỉ huy trưởng, đồng chí Hà Thị Quế là chính trị viên, đồng chí Nguyễn Văn Hoạt (tức Lê Quang Đạo, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (là chính trị viên phó) chấp nhận). Thế là từ đấy cả tổ công tác của tôi đều trở thành đội viên giải phóng quân của Ủy ban quân sự tỉnh Bắc Giang. Sau đó tôi được chuvển vào một đại đội làm nhiệm vụ án ngữ đường Sơn Tây đi Hòa Bình. Tại đây, qua một kỳ sát hạch tôi được điều về Hà Nội học ở Trường cán bộ Việt Nam khóa 5 (cũng gọi là Trường quân chính Trung ương), tiền thân là Trường quân chính kháng Nhật ở Việt Bắc. Từ khi trường chuyển về Hà Nội đã mở được 1 khóa (khóa 4) học ở trường phổ thông trung học Cửa Bắc. Khóa 5 học ở Việt Nam Học xá (Bạch Mai). Giám đốc nhà trường lúc này là đồng chí đại tá Nguyễn Khắc An, ủy viên chính trị trường là đồng chí Trần Tử Bình, ủy viên quân sự trường là đồng chí Trương Công Quyền. Khóa học khai giảng ngày 15 tháng 10 kết thúc ngày 15 tháng 11 năm 1945. Thời gian học 1 tháng, số lượng học viên khoảng 400 người. Nội dung chương trình gồm:

- Chính trị:
+ Tình hình trong nước và thế giới, nhiệm vụ cách mạng.
+ Chương trình Việt Minh, 5 bước công tác cách mạng.
+ Đạo đức cách mạng, phương pháp làm việc.
+ Công tác chính trị trong quân đội.
+ 10 lời thề danh dự - 12 điều kỷ luật.

- Quân sự:
+ Động tác cơ bản.
+ Đội hình chiến đấu (tiểu đội, trung đội và biết đến đội hình đại đội).
+ Chiến thuật du kích.
+ Đi dã ngoại (bắn súng trường và ném lựu đạn).

- Giáo viên:
+ Ngày khai giảng được Hồ Chủ tịch đến dự.
+ Ngoài các đồng chí giáo viên của trường có các đồng chi lãnh đạo (Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam) lần lượt đến giảng về thời sự trong nước và quốc tế, đạo đức cách mạng, phương pháp làm việc.


Ngày bế giảng (15 tháng 11), Hồ Chủ tịch đến dự, nói chuyện căn dặn học viên. Sau ngày bế giảng đồng chí Trần Văn Giàu (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng Nam Bộ) và đồng chí Huỳnh Tấn Phát (Ủy viên tuyên truyền Ủy ban nhân dân cách mạng, đại biểu thanh niên Nam Bộ) đến thăm và nói chuyện với học sinh của trường về tình hình Nam Bộ và kêu gọi Nam tiến. Cuộc nói chuyện của đồng chí Trần Văn Giàu hấp dẫn và khơi động rất lớn đối với tinh thần Nam tiến của học sinh.


Sau khi kết thúc khóa học (khóa 5), học viên của các tỉnh Trung Bộ cử đi, đều được trở về tỉnh nhà nhận nhiệm vụ. Bộ Quốc phòng chỉ chọn trong số học viên của các tỉnh Bắc Bộ được 64 đồng chí để gửi vào Nam do đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm trưởng đoàn dẫn đường. Tình hình chính trị ở Hà Nội lúc này rất căng thẳng (bọn Việt quốc, Việt cách cố tình gây rối phá hoại, tổ chức bắt cóc, ám sát cán bộ ta) nên các học sinh luôn phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu và triệt để chấp hành mệnh lệnh của Chính phủ.


Sáng 20 tháng 11 năm 1945, đồng chí Trần Tử Bình thay mặt lãnh đạo nhà trường bí mật tiễn đưa 64 anh em học viên chúng tôi lên tàu hỏa, hành quân vào Nam1 (Trong số học viên khóa 5 cùng đi Nam tiến, tôi còn nhớ một số đồng chí: Trần Đình Cửu, Cao Huy Thúc, Nguyễn Công Minh, Nguyễn Văn Nhự, Vũ Liên, Nguyễn Văn Hiếu, Hoàng Đức Bình...). Tất cả anh em đều mặc thường phục, mỗi người được cấp 1 giấy giới thiệu và 1 chứng nhận kết quả học tập ở trường.


Đoàn bí mật rời Hà Nội. Nhưng suốt chặng đường từ ga Vinh vào đến Ninh Hòa, không khí cuộc hành quân rất hào hùng phấn khởi. Khi tàu dừng ở các ga lớn, đồng bào ra rất đông đón chào, tặng quà, động viên rất nhiệt tình. Nhiều người vẫy cờ, hô khẩu hiệu, giơ nắm tay chào theo kiểu Việt Minh. Khoảng cuối tháng 11 năm 1945, đoàn vào tới Ninh Hòa, phải nghỉ lại đây nhiều ngày vì địch đã đánh chiếm thành phố Nha Trang.


Sau khi đến Ninh Hòa được mấy hôm, đồng chí Huỳnh Tấn Phát dẫn 25 người đi đường Buôn Ma Thuột; số còn lại nằm tại Ninh Hòa cùng đồng chí Trương Công Nhân (tức bác sĩ Trương Công Cán) chờ kế hoạch tìm đường vào Nam Bộ. Số anh em đi đường Buôn Ma Thuột bị địch phục kích, 9 đồng chí hy sinh. Căn cứ vào nguyện vọng của anh em trong đoàn và qua trao đổi, xin chỉ thị cấp trên, số anh em còn lại của đoàn hình thành 3 nhóm: một số xin nhận công tác tại các tỉnh miền Trung, một số xin trở ra Bắc, số còn lại được tiếp tục vào Nam Bộ chiến đấu (gồm 6 người: Cửu, Thúc, Nhự, Minh, Bình và tôi). Đồng chí Cửu đi cùng đồng chí Huỳnh Tấn Phát dò đường, còn lại 5 anh em được anh Kiều Đắc Thắng (cán bộ quân giới) dẫn đường xuyên rừng Phan Thiết qua Dầu Giây, Long Thành vào Tân Uyên (nơi đóng cơ quan đầu não kháng chiến của Nam Bộ lúc bấy giờ).


Tháng 1 năm 1946 vào đến Tân Uyên, sau khi xuất trình giấy giới thiệu, chúng tôi được Khu bố trí về công tác ở các đơn vị. Tôi được đồng chí Phan Đình Công (bạn quen biết nhau từ ngày học tiếng Nhật ở Hà Nội đang làm thư ký cho Khu trưởng Nguyễn Bình) dẫn vào gặp đồng chí Nguyễn Bình và được giao nhiệm vụ chỉ huy phó mặt trận B của mặt trận Tân Uyên (Biên Hòa). Ban chỉ huy mặt trận B gồm: Hồng An (người Tày, là du kích Việt Bắc) chỉ huy trưởng, Hoàng Minh Thi (du kích Ba Tơ Quảng Ngãi) chính trị viên và tôi, chỉ huy phó. Chúng tôi vừa nhận nhiệm vụ được một tuần thì quân Pháp mở cuộc tấn công ồ ạt vào căn cứ Tân Uyên bằng đường bộ, tàu bay, tàu thủy. Đường bộ gồm lính Âu Phi, Anh Ấn và ngụy quân bao vây ta từ đêm. Sáng sớm máy bay địch đã bắn phá, dưới sông Đồng Nai tàu địch bắn lên. Quân ta vừa nổ súng chặn địch, vừa rút về căn cứ dự bị (suối Cá, Lạc An). Trận đánh diễn ra từ sáng sớm đến 4 giờ chiều mới chấm dứt. Địch chiếm được thị trấn Tân Uyên, ta rút sâu vào rừng. Khoảng 5 giờ chiều, tại Bưng Kè (suối Cá), Khu trưởng Nguyễn Bình tập hợp lực lượng bố trí phòng thủ. Đơn vị tôi còn một trung đội (gồm 3 phân đội). Sau khi Tân Uyên thất thủ, ban chỉ huy mặt trận B chỉ còn lại mình tôi nên Khu bộ rút tôi về giao nhiệm vu tổ trưởng huấn luyện (thuộc phòng quân huấn). Tôi cùng một số cán bộ (Trần Đình Cửu, Nguyễn Trọng Nghĩa, Đinh Ngọc Ngộ....) tổ chức ở Bưng Kè được hai khóa huấn luyện, mỗi khóa 15 ngày. Học viên hai khóa này là cán bộ phân đội, trung đội ở các chi đội gửi về như chi đội 1 (Thủ Dầu Một), chi đội 6 (Gia Định), chi đội 10 (Biên Hòa)...


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Sáu, 2021, 09:21:58 pm
Sau khi huấn luyện xong hai khóa, do địch tấn công, càn quét ráo riết không thể tiếp tục mở lớp, cán bộ, giáo viên được tổ chức thành một đơn vị cơ động chiến đấu. Trong trận Quới Xuân (vùng Lái Thiêu), đơn vị phục kích diệt gọn 1 tiểu đội địch đi càn. Sau đó, do tình hình khó khăn chưa thể tiếp tục mở lớp, quân khu điều một số cán bộ nhà trường đi các đơn vị trong quân khu. Tôi và đồng chí Trần Đình Cửu được điều về Trường quân chính Khu 7 (do đồng chí Xuân Diệu phụ trách) cùng 2 đồng chí Nguyễn Mạnh Liên, Nguyễn Quang Phục (học viên khóa 4 Trường cán bộ Việt Nam). Sau khi sáp nhập, trường tổ chức lớp huấn luyện lấy tên là "lớp Võ Nguyên Giáp" tại một ngôi chùa thuộc xã Khánh Vân (tỉnh Thủ Dầu Một) huấn luyện khoảng 50 học viên là cán bộ tiểu đội, trung đội của các đơn vị và một số thanh niên ưu tú do các tỉnh trong khu giới thiệu về. Sau 15 ngày huấn luyện, khóa học vừa kết thúc cũng là lúc địch càn quét đốt phá chùa. Cán bộ và học viên phải rút vào rừng, tổ chức bế giảng.


Sau đó, chúng tôi chuẩn bị mở tiếp một lớp nữa ở ấp 4 xã Vĩnh Lộc thuộc Chợ Lớn (nay là quận Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh) thì gặp địch càn lớn vào ấp. Cán bộ và học viên phải phân tán ra bưng chống càn. Từ đây, Trường quân chính Khu 7 trong tình trạng "vô địa khả thi" nên một số cán bộ trở về Sài Gòn hoạt động bí mật, một số đi tăng cường cho các đơn vị. Lúc này Quân khu 8 mới thành lập, đồng chí Trần Văn Trà giao nhiệm vụ cho hai chúng tôi vừa đi tuyên truyền huấn luyện dân quân du kích, vừa mở lớp bồi dưỡng cán bộ Việt Minh cho huyện Mộc Hóa (tại kinh Năm Ngàn xã Tân Ninh) rồi điều xuống Mỹ Tho mở một lớp huấn luyện cho chi đội 17 và một lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh cho tỉnh Mỹ Tho ở Ấp Bắc (huyện Cai Lậy). Tôi còn nhớ, trong số anh em học viên của lớp học mở cho chi đội 17 có đồng chí Nguyễn Hoài Pho là học viên xuất sắc nhất, sau là cán bộ cao cấp của quân đội và đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp.


Cuối 1946, Quân khu lại điều hai chúng tôi về khu giao cho thành lập Trường quân chính Khu 8. Ban giám đốc nhà trường gồm Nguyễn Văn Quạn (tham mưu trưởng quân khu) làm giám đốc, đồng chí Trần Đình Cửu làm chính trị viên kiêm giáo viên chính trị, tôi làm phó giám đốc, kiêm giáo viên chính trị. Trường tổ chức huấn luyện khóa đầu tiên thời gian một tháng cho cán bộ phân đội, trung đội tuyển chọn từ các chi đội, tỉnh đội trong quân khu tại trung tâm Đồng Tháp Mười. Đây là lớp thí điểm nên học viên chỉ có khoảng 50 người, tổ chức thành một trung đội. Hai học viên xuất sắc của lớp là Nguyễn Văn Tiến, Đặng Văn Sơ.


Cuối khóa học, Bộ tư lệnh khu chủ trương đưa học viên đi thực hành chiến đấu. Đúng ngày mồng một Tết âm lịch (22 tháng 1 năm 1947), trung đội học sinh do đồng chí Cửu làm chính trị viên phối hợp với chi đội 17 và 18 đánh trận Cổ Cò (thuộc huyện Cái Bè, Tiền Giang). Trận đánh thắng lợi, ta diệt một số xe, thu vũ khí và quân dụng. Sau trận này đồng chí Cửu và tôi được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương.


Sau khóa 1, Bộ tư lệnh khu quyết định mở tiếp khóa 2 và thành lập đại đội chủ lực đầu tiên của khu (đại đội xung phong) do đồng chí Nguyễn Doãn Bảy (quê Thanh Chương, Nghệ An, nguyên là học viên phân hiệu lục quân Nam Trung Bộ) làm đại đội trưởng; đồng chí Nguyễn Văn Hải (quê Thạch Hà, Hà Tĩnh) làm đại đội phó và tôi làm chính trị viên. Kết thúc khóa 2, Khu chủ trương cho đại đội xung phong và đại đội học viên phối hợp với các chi đội 17, 18 và dân quân du kích địa phương đánh trận giao thông chiến Giồng Dứa (thuộc huyện Châu Thành, Mỹ Tho) cách ngã ba Trung Lương khoảng 10km (cuối tháng 4 năm 1947). Trận đánh do Khu trưởng Trần Văn Trà chỉ huy. Sau một giờ chiến đấu, ta diệt gọn đại đội Âu Phi cùng tên chỉ huy là đại tá Ro Ka (người Pháp), đốt cháy 13 trong số 42 xe, thu nhiều chiến lợi phẩm khác, bắt một số tên trong chính phủ bù nhìn (đốc phủ Tâm, trạng sư Rùn...) gây tiếng vang và tác động lớn. Bên ta hy sinh đồng chí Nguyễn Doãn Bảy và một liên lạc.


Sau chiến thắng Giồng Dứa, đồng chí Cửu và tôi được công nhận là đảng viên chính thức và được đi học lớp bổ túc huyện ủy viên của Xứ ủy Nam Bộ mở (khóa Lý Tử Trọng) do đồng chí Hà Huy Giáp phụ trách giám đốc. Khóa học kết thúc đồng chí Nguyễn Bình điều tôi về Trường quân chính Khu 7 và tiếp tục mở khóa Huỳnh Thúc Kháng tại Giồng Lớn (Đức Huệ, Tân An).


Sau khóa Huỳnh Thúc Kháng, do địa điểm mở lớp và việc tiếp tế gặp khó khăn, chúng tôi đề nghị Bộ tư lệnh khu cho trường được mở lớp tiếp theo tại Khu 8 để được giúp đỡ lương thực thực phẩm và bảo đảm an toàn. Thành phần chiêu sinh là cán bộ tiểu đội, trung đội của chi đội, mỗi nơi cử một tiểu đội có trang bị súng trường, súng máy để có thể vừa học, vừa hành quân chiến đấu từ Khu 7 xuống Khu 8. Khóa này (kể cả số của Khu 8 gửi) khoảng 200 người, địa điểm được chọn là xã Đại Giang, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khóa học mang tên "khóa Hoàng Hữu Nam”, thời gian hai tháng. Giám đốc là đồng chí Nguyễn Xuân Diệu, ủy viên quân sự là đồng chí Võ Trịnh Quân, ủy viên chính trị bí thư hiệu ủy nhà trường là Đặng Văn Quế, đồng chí Trần Đình Cửu là giáo viên chính trị.


Hiệu ủy chủ trương, trong thời gian khóa học (2 tháng), trường sẽ kết hợp với đơn vị cũ điều tra, tuyên truyền giáo dục và kết nạp số học viên ưu tú vào Đảng để khi trở về đơn vị sẽ là những cốt cán chỉ huy.


Sau khóa Hoàng Hữu Nam, Bộ tư lệnh khu cho trường được mở một lớp tương đối quy mô (tại xã Phù Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Bà Rịa) khoảng 200 học viên gồm các cán bộ trung đội và một số cán bộ tiểu đoàn từ các đơn vị trong toàn khu, một số do trung đoàn 82 của Bình Thuận gửi vào. Khóa học lấy tên là "khóa Phan Chu Trinh”, thời gian học 2 tháng. Khóa học có tác dụng tốt, góp phần nâng cao tính thống nhất trong lực lượng vũ trang của toàn khu. Số đảng viên mới kết nạp trong khóa học góp phần củng cố, phát triển đảng trong Đảng bộ Quân khu, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng chính trị cho lực lượng vũ trang ở Nam Bộ.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Sáu, 2021, 07:13:08 pm
CÁC CHI ĐỘI GIẢI PHÓNG QUÂN NAM TlẾN
Ở NHA TRANG - KHÁNH HÒA


Thiếu tướng HÀ VI TÙNG


Tôi quê ở Tuyên Quang, trước năm 1945 học ở Hà Nội tại trường Văn Lang. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9 tháng 3 năm 1945), tôi bỏ học về nhà ở Tuyên Quang và theo lời khuyên của bạn bè, đi làm viên chức ăn lương công nhật ở ty Địa chính Tuyên Quang. Trong thời gian đó được tổ chức vào Mặt trận Việt Minh trong Đoàn Thanh niên cứu quốc ở thị xã Tuyên Quang. Tháng 5 năm 1945 tôi được đoàn thể giao nhiệm vụ lấy một số bản đồ tỉnh Tuyên Quang ở kho bản đồ ở ty Địa chính giao lên cấp trên, đồng thời tổ chức một tiểu đội tự vệ chiến đấu trong số các anh em thanh niên ở thị xã và viên chức của các ty Địa chính, Bưu điện, Thú y... hoạt động tuyên truyền gây cơ sở cách mạng ở thị xã. Đến giữa tháng 8 năm 1945, phân đội tự vệ của tôi được sáp nhập vào một đại đội giải phóng quân ở chiến khu về, chuẩn bị đánh quân Nhật đóng ở thành Tuyên Quang. Song, lực lượng quân địch đông hơn ta nhiều, hỏa lực mạnh và bố trí trong thành có công sự kiên cố nên chưa được lệnh tiến công. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, đồng chí Hoàng Văn Thái ở Lục An Châu về tìm tôi để cùng đi quan sát cách bố phòng của địch ở thành Tuyên Quang. Đồng chí cũng nhận thấy không đánh được nên đã chỉ thị cho tôi chuyển sang công tác tuyên truyền quần chúng tiếp tục vận động chính trị gây cơ sở trong thị xã chuẩn bị khởi nghĩa cướp chính quyền ở Tuyên Quang.


Sau khi khởi nghĩa thắng lợi được ít lâu, tôi được cấp trên cử về Hà Nội theo học khóa huấn luyện của Trường cán bộ Việt Nam, đào tạo cấp tốc về chính trị, quân sự. Khóa học được tổ chức tại khu Việt Nam Học xá và một phần ở trường trung học phổ thông Cửa Bắc lúc bấỵ giờ. Hạ tuần tháng 8 âm lịch năm đó, sau khi được Ủy ban kháng chiến Hà Nội cho dự ngày hội rằm tháng 8 với các em thiếu niên nhi đồng Thủ đô, chúng tôi nhận lệnh lên đường Nam tiến bằng xe lửa. Đến Huế dừng lại một buổi nghe anh Phan Tử Lăng nói chuyện về tình hình mặt trận miền Nam. Gần một tuần lễ sau, anh em chúng tôi được trên phân công ở lại một số địa bàn thuộc miền Trung và Nam Trung Bộ (7 đồng chí được phân công ở lại Đà Nẵng và Bình Định, 3 đồng chí được phân công ở Phú Yên, 4 đồng chí được phân công ở Khánh Hòa). Lúc này, quân Nhật vẫn còn nhiều đơn vị đóng ở Đà Nẵng, Nha Trang. Nha Trang còn là nơi đóng quân của cơ quan đại diện lực lượng Đồng minh ở Nam Việt Nam. Tại Nha Trang, Nhật có một sư đoàn bộ binh thiếu, gồm hơn 6.000 lính trong đó nhiều tên ốm, đau vì bại trận ở Miến Điện mới rút về, cùng với 1200 người Pháp gồm dân thường và viên chức trong các cơ quan của Pháp bị Nhật bắt giam từ cuộc đảo chính 9 tháng 3 năm 1945. Số này được quân Anh cho ra khỏi trại giam và trang bị vũ khí, tổ chức thành đơn vị chiến đấu. Các đơn vị quân Nhật được chỉ huy Anh bố trí ở các khu: nhà ga, kho bạc, kho đạn, bến tàu, Grand Hotel; quân Pháp thì đóng ở khu sân bay Nha Trang, là lực lượng trực tiếp bảo vệ cơ quan chỉ huy Đồng minh ở Nha Trang.


Tôi cùng mấy anh em được phân công về Khánh Hòa, đến gặp chủ nhiệm Việt Minh tỉnh. Sau khi nghe phổ biến tình hình, chúng tôi được giao nhiệm vụ mở ngay lớp đào tạo cấp tốc cán bộ chính trị quân sự cho Khánh Hòa. Lực lượng tại chỗ của Khánh Hòa lúc này có khoảng một đại đội tập trung, tuyển mộ từ những thanh niên nòng cốt trong các đoàn thể Việt Minh tỉnh. Cán bộ chỉ huy trung đội đều là cựu binh sĩ yêu nước. Nội dung huấn luyện của lớp học gồm: về chính trị học chương trình Việt Minh; về quân sự học chiến thuật du kích và kinh nghiệm đánh Nhật của cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ở khu giải phóng Việt Bắc. Ngoài ra còn học công tác chính trị trong bộ đội cách mạng. Tôi được phân công giảng chương trình Việt Minh. Học viên rất phấn khởi nghe những bài giảng về dân chủ mới, về quyền tự do bầu cử, về tổ chức quốc hội của nước nhà mới giành được độc lập, về nam nữ bình quyền (nhất là đối với các học viên nữ). Đó là những bài học tôi đã được nghe giảng ở Trường cán bộ Việt Nam do các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng giảng dạy. Một đồng chí khác được phân công giảng về cách đánh du kích và kinh nghiệm đánh du kích ở chiến trường Việt Bắc dựa vào những bài giảng của đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Tử Bình trong lớp học của Trường cán bộ Việt Nam ở Hà Nội. Sau khi mở được 2 lớp đào tạo cấp tốc, tôi được giao nhiệm vụ làm chính trị viên đại đội Khánh Hòa bố trí tại bắc sông Cái. Công tác chính trị ở đại đội lúc đó chủ yếu là giáo dục cho chiến sĩ tinh thần đoàn kết quân dân để xây dựng đất nước và chiến đấu chống quân xâm lược; đồng thời mở lớp bình dân học vụ dạy cho chiến sĩ đọc và viết; dạy và hướng dẫn cho anh em hát các bài ca cách mạng.


Trên mặt trận Nha Trang lúc đó, ngoài dân quân du kích đã bắt đầu được tổ chức ở các xã, lực lượng võ trang tập trung của Khánh Hòa chỉ có một đại đội. Còn lại đều là những đơn vị Nam tiến từ các tỉnh, các chiến khu ở miền Bắc và miền Trung Trung Bộ được Bác Hồ và Trung ương phái vào, ngày đêm đang hành quân gấp để kịp chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ đánh chặn bước tiến của giặc Pháp. Nghệ An có 1 đại đội, Quảng Trị có 1 trung đội do anh Lê Hữu Sở là trung đội trưởng, Thuận Hóa có 1 tiểu đoàn do anh Thế Lâm là tiểu đoàn trưởng; Quảng Ngãi có 1 tiểu đoàn được mang tên tiểu đoàn Lê Trung Đình do anh Lê Kích là tiểu đoàn trưởng... Từ miền Đông Nam Bộ rút ra sau khi Phan Thiết và Phan Rang đã bị địch chiếm, có đại đội do Nguyễn Văn Vĩnh là đại đội trưởng và Nam Hồ là đại đội phó. Chi đội Nam Long đã đánh địch ở Phan Thiết, Phan Rang ra... Chi đội đã dừng lại ở mặt trận Nha Trang một thời gian ngắn, hiệp đồng với lực lượng tại chỗ đánh trận tập kích thắng lợi giòn giã ở ga Phú Vinh. Sau đó, theo kế hoạch tiến lên mặt trận Tây Nguyên. Một bộ phận lực lượng của chi đội Thu Sơn cũng đã tới mặt trận Nha Trang đầu tháng 11 năm 1945. Trung tuần tháng giêng 1946, chi đội Bắc Bắc vào đến Khánh Hòa. Đây là đơn vị Nam tiến tập trung, trang bị đầy đủ, quần áo và vũ khí thống nhất, mang phong độ một đơn vị chính quy thực sự, gây lòng tin tưởng mạnh mẽ cho quân dân ở mặt trận. Như vậy có khoảng 10 đơn vị đã được Bác Hồ và Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cấp tốc vào Nam Trung Bộ chiến đấu. Những chỉ thị mà chúng tôi được phổ biến hồi đó, đều nói rõ Bác Hồ và Trung ương Đảng nhận định địch đang tập trưng binh lực mạnh phối hợp nhiều binh quân chủng hiện đại ở nhiều hướng để chiếm đóng lại kỳ được Nha Trang hòng cắt đường tiếp tế liên lạc của cả nước với Nam Bộ. Quân dân Nam Trung Bộ và cả nước phải giữ vững được đường liên lạc giao thông từ Bắc và Trung Bộ vào qua Nam Trung Bộ để chi viện Nam Bộ đánh bại âm mưu xâm lược của giặc Pháp. Lúc đầu, anh em chúng tôi chỉ nhận thấy hình thức tác chiến và cách đánh hiệu quả nhất là tổ chức trận địa phòng ngự với các tuyến chiến hào, giao thông hào kết hợp công sự chiến đấu chắc chán chống lại pháo và bom địch, giữ Nha Trang càng lâu càng tốt và đánh cho địch phải tổn thất nặng ở mặt trận này. Tuyến phòng thủ đầu tiên đặt ở hướng từ Xóm Bóng qua Bretelle đến phía nam cầu Dứa chiều sâu phòng thủ đến 100 mét, có 18 ki-lô-mét chiến hào, nhiều công sự kiên cố cho bộ binh chiến đấu và các trận địa hỏa lực. Nhưng với lối đánh của địch hồi đó là tiến công mạnh ở chính diện phối hợp với vu hồi lớn, đánh vào đằng sau lưng và cạnh sườn của ta, nhờ phương tiện cơ động và hỏa lực ở ngoài biển, ở mặt đất, ở trên không mạnh hơn ta hàng trăm lần... những phòng tuyến đó thực sự không thể giữ được thời gian lâu. Đầu tháng 1 năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp vào thị sát mặt trận Nha Trang đã phân tích tình hình, đề ra những ý kiến chỉ đạo hết sức quý giá giúp cho toàn mặt trận giữ được thế chủ động chiến đấu với địch, thực hiện được kế hoạch bao vây tiêu hao quân địch và giam chân chúng trong 101 ngày tại mặt trận Nha Trang, bảo đảm cho việc tiếp tế, chi viện lực lượng cho Nam Bộ thời gian đó thành công; đồng thời bảo đảm cho các địa bàn ở hậu phương từ Nha Trang trở ra có thêm thời gian chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến lâu dài với quân xâm lược.


Sau khi mặt trận Nha Trang chuyển hình thái chiến đấu, đơn vị chúng tôi còn lại gần 2 trung đội (khoảng 50 đồng chí). Tôi lại đi tìm gặp anh Minh Vỹ (lúc đó là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khánh Hòa) xin chỉ thị cho đơn vị tiếp tục hoạt động ở địa bàn Khánh Hòa. Anh Minh Vỹ rất mừng và phân công cho đại đội tôi trụ giữ địa bàn. Chúng tôi còn tích cực tìm bắt liên lạc với anh Lư Giang (lực lượng còn hơn 1 đại đội) và anh Nguyễn Văn Vĩnh, anh Nam Hồ (lực lượng cũng còn khoảng 1 đại đội) đang đóng quân ở các vùng Tứ Thôn, Đại Điền. Chúng tôi cùng nhau bàn bạc phối hợp để trụ lại ở trong vùng địch đang kiểm soát và giữ liên lạc với vùng tự do ở phía bắc và tây thành phố Nha Trang, tiếp tục đánh địch.


Chúng tôi trụ lại được ở Khánh Hòa là nhờ học được kinh nghiệm đánh du kích của giải phóng quân ở Việt Bắc và vận dụng được những bài học về xây dựng quan hệ quân dân như cá với nước, đoàn kết chiến đấu ở các khóa học Trường cán bộ Việt Nam. Hòa với dân để xây dựng cơ sở, giữ địa bàn và chiến đấu lâu dài với quân giặc. Đó là điều tâm niệm, ghi nhớ sâu sắc.


Nhìn lại, mặt trận Khánh Hòa, Nha Trang thời gian ấy, mặc dù quân địch tập trung lực lượng rất mạnh và phối hợp nhiều hướng tấn công, nhưng hậu phương ta vẫn vững vàng, lòng dân tin tưởng vào chính quyền, vào bộ đội cách mạng. Có được như vậy là nhờ sự tập trung chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ, luôn theo sát tình hình mặt trận, không ngừng tăng cường lực lượng vào mặt trận, liên tục tạo thế mạnh cho quân và dân Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ đánh địch về quân sự, về chính trị. Ngay sau Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, tại mặt trận Nam Trung Bộ, thanh thể của du kích Ba Tơ, lực lượng nòng cốt trong tiểu đoàn Nam tiến Lê Trung Đình (Quảng Ngãi) đã vang dội. Tiếp đó, nhiều đợt quân Nam tiến từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung nườm nượp vào chiến đấu bên cạnh lực lượng vũ trang tại chỗ. Khi tình hình khó khăn, chi đội Bắc Bắc lại vào tiếp, tổ chức chặt chẽ, trang bị đầy đủ khiến cho không khí phấn khởi lại nổi lên, giúp địa phương khắc phục những khó khăn trước mắt.


Ở Nha Trang, Khánh Hòa, lực lượng vũ trang địa phương trong mấy tháng trời ròng rã đã kiên cường chiến đấu; các tầng lớp nhân dân quên mình, quên nhà ủng hộ chiến đấu nên đã đánh chặn được quân địch. Có lực lượng Nam tiến vào tiếp sức, quân và dân Khánh Hòa giữ được mặt trận trong hơn 100 ngày, bảo đảm được cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 thắng lợi, tổ chức được "Tuần lễ vàng" thành công và các địa bàn hậu phương mới có thêm thời gian chuẩn bị đầy đủ để đi vào cuộc kháng chiến lâu dài một cách vững vàng.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Sáu, 2021, 07:14:04 pm
NHỮNG ĐOÀN QUÂN TỪ CÁCH MẠNG MÙA THU


THÁI VŨ


Ga Huế... Đã nghe từ xa, ngoài An Hòa tiếng còi xe lửa từ ngoài Bắc vào, báo hiệu tàu đang vào địa phận thành phố kinh đô. Nghe rõ dần tiếng chuyển động của cả đoàn tàu. Cả ga Huế đã rộn lên kể từ lúc đó.


Các cửa ga đều rộng mở, từ cửa chính đến cửa hông và các cửa phụ vốn chỉ để chuyển hàng hóa. Nhà ga không bán vé, mọi người vô ra tự do, thoải mái, và ai nấy đều hối hả náo nức, hồi hộp. Chỉ toàn là người đón, không có kẻ đi buôn, người đi bán. Không có va ly, túi xách, hàng hóa.


Mà không phải chỉ riêng ga Huế mới có đông người đón tàu Hà Nội, Vinh vào. Cả xứ Huế rộn ràng như có ngày hội lớn, kể từ sau ngày vua Bảo Đại thoái vị mong làm dân một nước tự do. Người ta đón tàu từ phía cầu Bạch Hổ, đông nghịt những người là người, các cụ ông, cụ bà, các cô gái, nhất là các mẹ, các chị buôn bán ở chợ Đông Ba, chợ An Cựu, Bến Ngự với những gánh bún bò, cơm hến, đủ các loại bánh bột đặc sản của xứ Huế bên cạnh mấy chiếc bàn bày sẵn mọi thứ thức ăn với nhứng nồi cơm được ủ kín nóng hổi.


Nhưng rực rỡ nhất là những lá cờ đỏ sao vàng và những biểu ngữ màu đỏ chứ vàng "Nước Việt Nam là một", "Nam Bắc một nhà", "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam". Cờ và biểu ngữ nối dài từ phía trong cầu Bạch Hổ, qua cầu Lòn vào ngợp cả sân ga Huế, ngoài ga Huế...


Nhưng rộn ràng nhất là những chàng trai, cô gái Huế, đa số là học sinh của các trường Quốc học (lúc đó còn gọi là trường Khải Định), trường nữ Đồng Khánh (nay là trường Trưng Vương), cả trường Việt Anh, Thuận Hóa...


Nữ sinh và các chị tiểu thương thì bận áo dài, đám con trai thì nhiều cậu vận áo dài đen, quần trắng, đi guốc như những buổi đến trường khi giã từ dịp hè. Khởi nghĩa 23 tháng 8 thành công. Chính quyền Trần Trọng Kim sụp đổ. Hầu hết các trường đều đã đóng cửa, nay đầu tháng 9 rải rác vài trường đã mở, nhưng lại vắng trò vì thiếu thầy. Trường Quốc học và Đồng Khánh đã trở thành trụ sở của đơn vị Thanh niên tiền tuyến thời Phan Anh, nay chuyển thành nơi giao tế lo việc nuôi quân của chi đội Trần Cao Vân đóng chính ở đồn Phan Đình Phùng vốn là trại lĩnh Tây thời Pháp mang tên đồn Decourcy, tên tướng đánh chiếm kinh đô triều đình Nguyễn ngày 7 tháng 5 năm 1885 (chi đội Trần Cao Vân sau chuyển xuống Mang Cá).


Kể từ ngoài Bắc vào miền Trung lúc đó, trung đoàn gọi là chi đội (như Nghệ An có chi đội Đội Cung, Quảng Bình có chi đội Cô Tám, Thừa Thiên - Huế có chi đội Trần Cao Vân).

Tin thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, Nam Bộ lan rất nhanh khắp nước. Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước dốc sức ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam. Hầu hết các tỉnh miền Bắc và miền Trung đều lập "phòng Nam Bộ", ghi tên những người tình nguyện vào Nam giết giặc.


Danh nghĩa là tình nguyện, nhưng các đơn vị Nam tiến được tổ chức hết sức chặt chẽ, hầu hết là thanh niên khỏe mạnh, hăng hái, đã được huấn luyện quân sự và ít nhiều có kinh nghiệm chiến đấu (những ngày đầu với những chuyến tàu Nam tiến đầu tiên thì tiêu chuẩn đúng là như thế, nhưng các chuyến sau thì tiêu chuẩn "đã được huấn luyện quân sự và chiến đấu" nhường cho tiêu chuẩn yêu nước, căm thù giặc, nhiệt tình cách mạng, bảo vệ phần đất ruột thịt của Tổ quốc).


Mỗi tỉnh đều tự lo cho đơn vị Nam tiến của mình, nhất là về vũ khí phải là loại tốt nhất; còn quần áo cũng tùy địa phương, tỉnh, nhưng hồi ấy đa số học sinh, sinh viên và viên chức trẻ của thành thị nên Nam tiến đánh giặc mà... rất diện: quần áo ka-ki, đi ghệt bó ống quần dưới vào trong. Giày thì là giày da tự đóng hay giày săn - đá của lính Tây, của hàng binh Nhật, gọi là brodequin, đế đóng đinh. Súng ống thì do đơn vị lo, nhưng nhiều "cậu" sắm súng lục riêng, đeo xệ bên hông, có cậu còn xoay được cả kiếm Nhật. Dường như khó phân biệt chỉ huy với đội viên. Đặc biệt có đại đội thuộc chi đội Đội Cung ở Vinh, lại đi xe chở lính của Nhật trước đây, các "cậu" đều đội mũ vải theo kiểu lính Nhật, phía sau mũ có hai mảnh vải bay phấp phới, khi xe vô Huế, qua cầu Tràng Tiền thanh niên nam nữ nhiệt liệt chào mừng.


Có thể nói đoàn tàu hỏa Hà Nội khởi hành đêm 26 tháng 9 năm 1945 là đoàn tàu lịch sử mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp toàn quốc. Ghé ga Nam Định nhận thêm đơn vị Ninh Bình - Nam Định, vào ga Thanh Hóa, Vinh hay Đồng Hới, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, ga nào cũng có đơn vị Nam tiến địa phương đón sẵn.


Nam tiến là hình ảnh toàn dân, cả nước ra trận. Đủ các thành phần, các giới nhập quân tự nguyện, cả đám thiếu niên 13, 14, 15 tuổi "nhập chui" vì không ai tuyển, nài nỉ xin làm liên lạc. Lại có cả các cô gái vốn là nữ sinh trường Đồng Khánh thắng áo sơ-mi trắng, váy ngắn dưới đầu gối màu xanh dương, các cô Đà Nẵng thì quần dài và sơ-mi trâng, có cô bận cả quần soọc trắng với cái mủ ca-lô trắng.


Chuyến tàu đầu tiên đó vào đến ga Huế trưa 29 tháng 9 năm 1945, chi đội Trần Cao Vân đặc cử chi đội trưởng dẫn một đại đội theo đoàn Nam tiến, do anh Cao Văn Khánh phụ trách, người sau này là đại đoàn trưởng đại đoàn 27... Hồi đó, xe lửa còn vào tới Biên Hòa và liên tiếp ngày đêm các chuyến tàu Bắc - Nam đưa các đoàn quân Nam tiến ra trận, với các chi đội giải phóng quân của hầu hết các tỉnh phía Bắc, miền Trung vào đến Quảng Ngãi, Bình Định. Hẳn anh em Nam tiến hồi đó nay đã cao tuổi khó ai quên được các chỉ huy trẻ tuổi của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân như Thu Sơn, Hoàng Đình Giong (Vũ Đức), Hoàng Thơ, Nam Long, Đàm Quang Trung, nhất là Vi Dân (đã hy sinh vào tháng 3 năm 1947 trong trận Tú Thủy)...


Chi đội Nam tiến đầu tiên của chuyến tàu đêm 26 tháng 9 năm 1945 xuất phát từ Hà Nội cũng là đơn vị đầu tiên vào miền Đông Nam Bộ, chiến đấu ở cầu Bình Lợi và Xuân Lộc, sau này chuyển ra Phan Thiết, chiến đấu ở Nha Trang và đường 21, Buôn Ma Thuột gồm các đại đội của Hà Nội, Bắc Sơn và Bắc Cạn.

Các chuyến sau thuộc các chi đội Quảng Ngãi và Bình Định thì chiến đấu ở bắc Sài Gòn, Dầu Tiếng và Nam Tây Nguyên.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Sáu, 2021, 07:15:07 pm
NHỮNG ĐOÀN TÀU NGHĨA TÌNH


Thiếu tướng PHÙNG ĐÌNH ẤM


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp sau quân Anh, tiếng súng của thực dân Pháp đã nổ ở Sài Gòn mở đầu cho âm mưu xâm lược nước ta lần nữa của chúng. Nhân dân Sài Gòn, nhân dân Nam Bộ đã đứng lên anh dũng kháng chiến chống quân thù. Để chia lửa và tăng cường sức chiến đấu cho quân và dân Nam Bộ, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Trung Bộ đã mở hội nghị quân chính quyết định các chủ trương:

- Bảo đảm thông suốt giao thông để chi viện cho Nam Bộ, kháng chiến.

- Huy động nhân dân chống thực dân Pháp.

- Điều động lực lượng từ Bắc và Trung Trung Bộ vào tăng cường cho các tỉnh Cực Nam Trung Bộ.

- Lập Ủy ban quân chính Nam phần để chỉ huy chiến đấu của các tỉnh Cực Nam Trung Bộ1 (Theo Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).


Thực hiện quyết định trên, đầu tháng 10 năm 1945 vệ quốc quân các tỉnh Nam Trung Bộ rầm rập lên đường vào Nam Bộ. Cùng với các đoàn quân Nam tiến của Trung ương, một đại đội du kích Ba Tơ của Quảng Ngãi, hai đại đội và hai trung đội của Quảng Nam - Đà Nẵng, một phân đội của Bình Thuận đã sớm có mặt ở mặt trận cầu Bình Lợi, ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa... tăng cường sức chiến đấu cho nhân dân Nam Bộ1 (Theo Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995). Nhân dân các tỉnh Cực Nam Trung Bộ sẵn sàng chiến đấu, các phòng tuyến chống địch được thiết lập trên các đường giao thông chiến lược, ở quốc lộ 1, quốc lộ 20, ở mặt trận Ba biên giới. Quân dân Bình Thuận đã bao vây bức rút 400 quân địch chạy về Sài Gòn bằng tàu biển ở Phan Thiết và đánh lui 60 xe chở đầy giặc Pháp từ Xuân Lộc theo quốc lộ 1 ra Bình Thuận (19-11-1945). Quân dân Đồng Nai Thượng và Lâm Viên đã chặn đánh đoàn xe 40 chiếc của quân Pháp từ Sài Gòn theo quốc lộ 20 tiến chiếm Blao, Di Linh và Đà Lạt. Trận đánh ác liệt diễn ra ở đèo Chuối (cách Blao 20 km về phía nam), giết chết và làm bị thương 30 tên2 (Theo Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995). Đây là trận bị thất bại nặng nề đầu tiên của thực dân Pháp ở vùng rừng núi này.


Riêng ở mặt trận Khánh Hòa, ngày 19 tháng 10 năm 1945, quân Pháp (có quân Nhật tham gia) được sự giúp đỡ của quân Anh đã đổ bộ lên Nha Trang, đánh chiếm nhiều vị trí trọng yếu trong thị xã và một số điểm ven biển. Nhân dân Nha Trang đã tiến hành cuộc đấu tranh ngay từ đầu bằng mọi cách: biểu tình thị uy, đình công bãi thị, bất hợp tác, không tiếp tế lương thực cho địch, cùng với cơ quan chính quyền tản cư ra ngoại ô và về nông thôn tham gia chiến đấu và đêm 23 tháng 10 năm 1945 quân dân ta tiến hành cuộc tấn công mãnh liệt vào giặc Pháp, bao vây chúng trong thị xã. Mặt trận Nha Trang thực sự bùng nổ, mở đầu cho cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Trung Bộ. Suốt tháng trời quân ta tấn công bao vây quân địch trong thị xã, đánh lui nhiều cuộc phản kích không cho chúng nống ra lấn chiếm vùng nông thôn và giữ vững đường giao thông Nam - Bắc để đảm bảo liên tục vận chuyển lực lượng và vật chất tăng viện cho quân dân Nam Bộ. Do thị xã đang bị quân địch chiếm đóng nên hằng đêm bộ đội, du kích và nhân dân Nha Trang đã dùng sức người để đẩy các toa tàu chở đầy vũ khí đạn dược, thuốc men và lương thực từ đèo Rù Rì (phía bắc thị xã) vào đến suối Dầu (nam thị xã), để từ đó đầu máy xe lửa móc các toa thành đoàn tàu kéo chạy về Nam Bộ, chi viện cho chiến trường "tiền tuyến" của cả nước1 (Theo Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).


Những đoàn tàu ấy mãi mãi đi vào ký ức của nhân dân Nha Trang, nhân dân các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, đã góp phần với nhân dân Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống xâm lược Pháp với nghĩa tình máu chảy ruột mềm, như lời Bác Hồ dạy: Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thế mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:40:36 pm
BỘ ĐỘI NAM TIẾN TẠI KHU 9


NGUYỄN BÁ


Đầu tháng 11 năm 1945, tại chiến khu Thuận Lợi (thuộc tỉnh Sông Bé ngày nay), một đơn vị Nam tiến gồm 100 cán bộ, chiến sĩ đa số người quê ở Quảng Ngãi, Nghĩa Bình do tôi chỉ huy, mang tên trung đội Đỗ Trữ, có nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Vũ Đức xuống miền Tây Nam Bộ làm khu trưởng Khu 9, sau đó ở lại tăng cường lực lượng cho Khu 9. Lúc bấy giờ đồng chí Vũ Đức là Chính trị ủy viên bộ đội Nam tiến toàn Nam Bộ, đặt chỉ huy sở ở đồn điền cao su Thuận Lợi. Đến Long Thành (Bà Rịa), chúng tôi theo sông qua Tuy Hạ, Cần Giờ, Lý Nhơn, vượt sông qua Gò Công, qua Bến Tre (đi vào cửa Bình Đại). Ở Bến Tre ít hôm, đồng chí Cái, Chủ tịch tỉnh yêu cầu chúng tôi ở lại chiến đấu ở Bến Tre. Chúng tôi nói, có lệnh Trung ương phải về Khu 9 gấp. Chúng tôi đi qua Vĩnh Long, Trà Vinh, gặp quân ta đang chặn địch ở mặt trận Cầu Ngang. Các đồng chí chỉ huy quân sự ở đây như Thiệt, Hưng, Hai Thi... đề nghị chúng tôi ở lại chiến đấu. Chúng tôi dàn quân mai phục một ngày đêm, sau đó phải gấp rút thu quân, tiếp tục cuộc hành trình về Khu 9. Vượt sông Hậu ở quãng Cầu Kè, tấp lên xã An Lạc Tây (huyện Kế Sách), ở nhờ trại cưa của ông chủ trại Trần Quang Thai. Tại đây, chúng tôi liên lạc với đồng chí Dương Kỳ Hiệp, Chủ tịch tỉnh Sóc Trăng, và qua đồng chí liên lạc với đồng chí Thanh Sơn (Nguyễn Văn Tây), thanh tra chính trị miền Tây và lãnh đạo công tác đảng của liên tỉnh Hậu Giang. Các đồng chí đưa đơn vị chúng tôi về tạm đóng quân tại Thiên Hương (Ba Rinh), Bố Thảo. Lúc này mặt trận Vĩnh Long, Trà Vinh đã bị vỡ, các đơn vị của ta ở đó rút xuống Sóc Trăng, gặp nhau tại Ba Rinh và cùng kéo về hướng Phước Long (nay là huyện Hồng Dân, tỉnh Minh Hải).


Đơn vị chúng tôi được cử đi liên lạc với đồng chí Phan Trọng Tuệ ở miệt Trà Bang (Long Mỹ) ngày 15 tháng 12 năm 1945. Lúc này địch vừa đánh vào Long Mỹ bằng đường sông và đường bộ. Đồng chí Phan Trọng Tuệ lệnh cho đơn vị chúng tôi triển khai chiến đấu ở mặt trận Long Mỹ. Khi được lệnh rút Long Mỹ, chúng tôi vẫn phải cố gắng bảo vệ khẩu 37 ly bị gãy chân và hết đạn. Mặt trận Ngã Năm đang được 1 trung đội của đồng chí Lê Văn Phát trấn giữ. Ở chỗ địa hình trống trải, các con sông tàu lớn vào được mà ta không có súng gì khống chế được nên chúng tôi bố trí một lực lượng nhỏ ở lại, cầm chân địch và triển khai làm tiêu hao chúng. Đại bộ phận rút về Cái Trầu, Mỹ Phước. Sau về tạm đóng quân tại thị trấn Phước Long. Đồng chí Vũ Đức đã chọn nơi đây làm chỗ ở lâm thời cho chỉ huy sở. Lúc này đúng vào dịp Tết nguyên đán năm Bính Tuất, khoảng tháng 2 dương lịch năm 1946. Để bảo vệ có hiệu lực cho "Tổng hành dinh lâm thời" của Khu 9 tại Phước Long, chúng tôi chọn điểm phòng ngự tại ngã tư Phó Sinh (Vĩnh Phú), chặn địch từ phía Ngã Năm vào bằng đường bộ và đường thủy. Cùng chiến đấu bên cạnh chúng tôi có một số đơn vị của Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá và bộ đội Việt kiều ở Cam-pu-chia (gọi là bộ đội Thoại Sơn) do các đồng chí Nguyễn Văn Lầu, Tăng Thiên Kim, Nguyễn Tái Giám, Đoàn Thành chỉ huy. Chúng tôi triển khai lực lượng chiến đấu từ ngày 15 tháng 12 năm 1946. Các lực lượng phối thuộc cử ra một ban chỉ huy do tôi làm chỉ huy trưởng, anh Nguyễn Văn Lầu và anh Lê Văn Phát làm chỉ huy phó. Với công sự gỗ, đất không có gì gọi là kiên cố, chúng tôi lợi dụng hai con lộ ở hai bờ sông để đào hầm đắp ụ chiến đấu, dưới sông đắp cản để ngăn tàu địch. Nhiệm vụ được đồng chí Vũ Đức giao phó là phải kiên quyết chiến đấu giữ được từ 10 ngày đến 1 tháng để quân và dân ta ở phía sau cũng như văn phòng Khu trưởng kịp chấn chỉnh và di chuyển về an toàn khu ở Cà Mau. Vừa chiến đấu ở chính diện, vừa theo dõi địch ở Bạc Liêu đánh lên, vừa tổ chức một số trận bí mật đánh tập hậu ra sau lưng địch, các đơn vị diệt nhiều tên, thu hàng chục súng trường, làm địch rất hoang mang. Lợi dụng tình hình có Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3, chúng tôi củng cố công sự, bổ sung quân số. Nhưng địch không hề thi hành hiệp định, chúng dùng máy bay bắn phá suốt ngày vào trận địa ta. Láo xược hơn, chúng rải truyền đơn và gọi loa kêu bộ đội Nam tiến bỏ súng đầu hàng, chúng sẽ cho về quê an toàn. Càng căm thù giặc và trước thái độ láo xược của chúng, anh em bảo nhau càng đánh mãnh liệt, bắn bị thương một số máy bay. Tối ngày 13 tháng 3 năm 1946, được lệnh đồng chí Vũ Đức, lực lượng phòng thủ ngã tư Phó Sinh rút về Phước Long, cùng văn phòng Khu đi về phía Bờ Đập và Cái Răng (thuộc Cà Mau). Một lực lượng được chọn ra tăng cường cho mặt trận Tân Hưng đang chặn địch, bảo đảm cho Cái Răng được an toàn. Mặt trận này cũng là chốt phòng ngự cuối cùng của Khu 9 do đồng chí Tăng Thiên Kim chỉ huy. Ở Cái Răng, đồng chí Vũ Đức cử một số cán bộ, trong đó có tôi (Nguyễn Bá), Nguyễn Phú Cường, Lê Thám, Nguyễn Văn Thi (cán bộ chỉ huy quân sự Trà Vinh) luồn trở lại vùng Gia Rai, Phước Long, Sóc Trăng để nghe ngóng tình hình địch và bọn hội tề, bọn Việt gian. Chúng tôi chỉ đem theo một lực lượng nhỏ, khoảng một tiểu đội để vừa tuyên truyền xung phong, vừa bảo vệ đoàn cán bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Lục (người Bình Định) chỉ huy tiểu đội này hy sinh tại điền Quách Ngọc Đống ở Phước Long trong trận đánh địch bao vây, chiều một ngày tháng 4 năm 1946.


Đại bộ phận lực lượng Nam tiến và một số đơn vị vũ trang các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ tạm đưa lực lượng vào rừng U Minh (Cà Mau) để củng cố lực lượng, khi có thể sẽ bung trở về địa phương chiến đấu. Trận đánh nổi bật nhất là trận phục kích của bộ đội Quốc gia tự vệ cuộc Sóc Trăng do đồng chí Nguyễn Hùng Phước chỉ huy, tiêu diệt 1 xe địch ở Trà Bang (Long Mỹ), thu hết vũ khí. Các đơn vị của Vĩnh Long, Trà Vinh do các đồng chí Phạm Ngọc Hưng, Nguyễn Văn Thi... chỉ huy; đơn vị Sóc Trăng do đồng chí Ngụyễn Văn Thơm, Lưu Khánh Đức... chỉ huy ; các đơn vị Cần Thơ do các đồng chí Trần Văn Hoài, Ngô Hồng Giỏi chỉ huy, lần lượt bung về địa phương của mình để chiến đấu. Tin thắng lợi dồn dập bay về chỉ huy sở của đồng chí Vũ Đức đóng ở rạch Ô, sông Cái Tàu (Cà Mau). Lực lượng Nam tiến vừa làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ địa Khu 9 ở ba xã Khánh An, Khánh Bình, Khánh Lâm (Cà Mau), vừa tìm địch đánh lấy súng đạn bổ sung cho mình. Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân sự địa phương của Rạch Giá. Đồng chí Nguyễn Hữu Phước, ủy viên quân sự tỉnh nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thông tin về tình hình địch, ta, cúng như về mặt hậu cần, tạo điều kiện cho đơn vị chúng tôi đánh nhiều trận quy mô ở Tân Bàng, Cán Gáo, rạch Cái Sắn, chợ Huyện Sử... làm cho địch hoang mang, phải co về phòng ngự bị động trong các công sự.


Từ khi có "Tạm ước 14-9-1946", từ căn chòi chỉ huy sở bên con rạch Ô, đồng chí Vũ Đức cho gọi tôi, đồng chí Nguyễn Gia Long và Phạm Hồng Thám. Đồng chí nói, đã có lệnh điều động về nhận nhiệm vụ ở Trung ương. Đồng chí yêu cầu tôi cho 1 tiểu đội bảo vệ đến địa phận tỉnh Trà Vinh, khi gặp các đồng chí Phạm Ngọc Hưng và Nguyễn Văn Thi, tiểu đội này sẽ quay trở lại. Đại bộ phận đơn vị Nam tiến chúng tôi ở lại bên bờ hữu ngạn sông Hậu thuộc huyện Kế Sách (Sóc Trăng) làm nhiệm vụ tuyên truyền xung phong ở cù lao Dung (các xã An Thạnh Nhì, An Thạnh Nhất), vùng xã An Lạc Tây, xã Nhơn Mỹ (Kế Sách). Khi tiểu đội bảo vệ đồng chí Vũ Đức (do đồng chí Nguyễn Biểu chỉ huy) trở về, chúng tôi hành quân về hoạt động ở vùng Thốt Nốt và Long Xuyên theo lệnh của Khu trưởng mới Huỳnh Phán Hộ. Từ đó, trung đội chúng tôi được gọi là trung đội 22, thuộc đại đội 66, chứ không gọi là bộ đội Nam tiến nữa. Như vậy không thể nói bộ đội Nam tiến theo đồng chí Vũ Đức xuyên đông (tôi còn giữ quyết định điều động và đặt tên mới cho đơn vị Nam tiến do đồng chí Huỳnh Phán Hộ ký).


Sau khi đánh chìm 1 ca nô địch trên sông Cờ Đỏ tại Vàm Nhơn (tháng 12 năm 1947), Bộ tư lệnh khu điều động trung đội 22, tức bộ đội Nam tiến lên Châu Đốc. Tôi được cử, làm chỉ huy trưởng quân sự tỉnh, kiêm đại đội trưởng đại đội 65. Sau khi được bổ sung một số đơn vị địa phương, 2 đại đội 1081, 1083 của Long Châu Tiền được thành lập (một thời gian sau được điều cho trung đoàn 115 Khu 8 ). Cuối tháng 10 năm 1948, tôi được điều về chỉ huy trung đoàn 127.


Như vậy, ngay từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đã sớm cử các đơn vị Nam tiến vào chi viện cho Nam Bộ, với tinh thần "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam...". Chúng tôi được đặt tên là bộ đội Nam tiến thứ nhất, vì chúng tôi là đơn vị đi đầu tiên (tháng 10 năm 1945), với quân số 100 người. Đơn vị đã chiến đấu liên tục trên các mặt trận ở Nam Bộ, lâu nhất là Khu 9, đã đóng góp xương máu 99 người, duy nhất tôi còn sống đến nay...


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:43:16 pm
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CHIẾN ĐẤU CỦA
CAO MIÊN VIỆT KIỂU CỨU QUỐC QUÂN
(1945-1946)


TĂNG THIÊN KIM
(Nguyên chỉ huy trưởng trung đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, phân khu trưởng khu Cà Mau, chỉ huy trưởng mặt trân Tân Hưng năm 1945-1946)


Ba nước Việt-Miên-Lào nằm trên bán đảo Đông - Dương, trước năm 1945 đều là thuộc địa của thực dân Pháp. Biên giới ba nước liền nhau. Bà con hai bên biên giới qua lại khá dễ dàng. Sự gắn bó nhiều đời, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn trở thành truyền thống tốt đẹp của ba dân tộc.


Đường lên Nam Vang không khó khăn gì nên Việt kiều khá đông. Một số viên chức Việt Nam do Pháp đào tạo, được chính quyền thực dân đưa lên phục vụ cho chúng. Một số đi tìm kế sinh nhai, buôn bán, làm nhiều nghề khác nhau.


Đa số Việt kiều nghèo, nhưng cũng có một số giàu có. Tinh thần yêu nước thương nhớ quê hương không bao giờ dứt. Trước năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, hoạt động chống Pháp của các đảng viên cộng sản phát triển hơn, song nhìn chung ở thủ đô Nam Vang phong trào vẫn yếu so với các tỉnh ở sát Việt Nam như Soài Riêng, Preyveng, Công Pông Chàm, Krâtié.


Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), phong trào cách mạng nổi lên khá mạnh. Cùng thời gian ở Việt Nam Nhật lập chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim thì ở Cao Miên, Nhật đưa Sơn Ngọc Thành lên làm thủ tướng, thân Nhật nhưng không chống Pháp. Bộ máy cai trị cũ vẫn được giữ nguyên, bọn tay sai: cò, biện, ma tà, mật thám, mã ky vẫn được sử dụng. Quân Nhật tự do hoành hành, viên chức nhà nước làm việc cầm chửng.


Lợi dụng tình hình này, các cơ sở Việt kiều yêu nước ở thủ đô Nam Vang sôi nổi hưởng ứng lời kêu gọi kháng Nhật cứu nước của Mặt trận Việt Minh. Một số cơ sở Việt kiều như: Hội Việt kiều yêu nước, một số nhân sĩ trí thức có tâm huyết đã bắt đầu hoạt động. Đầu năm 1945, tôi là đoàn viên thanh niên cứu quốc thuộc nhóm Việt Minh hoạt động ở khu vực chợ Bến Thành, làm thợ đóng giày cho hãng Charner. Nhật đảo chính Pháp. Binh lính, Pháp kiều, đầm Tây đều bị bắt. Hãng đóng cửa, tôi thất nghiệp đành phải báo cáo với tổ xin lên Nam Vang kiếm việc làm, được anh Đông Hải chủ tiệm giày Auchic ở đường Quai Piquet nhận (thời kỳ chống Mỹ nhà anh là cơ sở của Xứ ủy Nam Bộ). Nhiều cơ sở Việt kiều ở Nam Vang với các hình thức hợp pháp hoạt động mạnh. Các tổ chức vận động cứu đói cho đồng bào miền Bắc khá rầm rộ. Việc vận động quyên góp tiền bạc mua súng đạn, quân dụng, thuốc men bí mật gửi về nước được Việt kiều hưởng ứng tích cực.


Tháng 7 và 8 năm 1945, tin tức hoạt động vũ trang khởi nghĩa của Việt Minh đưa về dồn dập, làm cho phong trào của Việt kiều ngày càng trở nên sôi động. Đã có ý kiến thành lập các đội cảm tử trang bị súng ngắn và dao găm, nhưng một số chúng tôi không đồng ý vì làm như thế dễ lâm vào thế bất hợp pháp, dễ bị mật thám Nhật chú ý, ảnh hưởng đến phong trào hoạt động giúp nước của Việt kiều.


Ngày 15 tháng 8, quân Nhật đầu hàng, Việt kiều, Hoa kiều, một số bà con người Miên ghét Nhật hết sức vui mừng. Phong trào Việt kiều yêu nước hoạt động công khai. Tin cướp chính quyền thành công ở Hà Nội, ở Sài Gòn dồn dập dội về Nam Vang. Việt kiều cùng một số người Miên và Hoa kiều đi lùng bắt bọn cảnh sát ác ôn Pháp, bắt tên cò mặt đỏ (cò Bá-tóc). Chính quyền Sơn Ngọc Thành làm ngơ, quân lính Nhật không ra khỏi trại, nhậu nhẹt say sưa đứa cười, đứa khóc, đứa quay đầu về nước Nhật dùng súng, kiếm tự tử. Cũng trong thời điểm ấy tin về Hoa quân nhập Việt, quân Anh - Ân vào tiếp quản phía Nam, hàng ngàn Pháp kiều và binh lính Pháp được quân Anh thả ra... được bàn tán sôi nổi. Báo chí đưa tin cụ Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trong ngày 2 tháng 9 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Việt kiều rất tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đăng trong các báo từ Sài Gòn gửi lên.


Hoạt động của kiều bào ngày càng mạnh mẽ, sôi động. Có tin bọn phản động Hòa hảo nổi dậy chống Việt Minh, binh lính Pháp ở Sài Gòn được quân Anh - Ấn bao che ngang ngược tung hoành, chúng đã bắn vào cuộc mít tinh lớn nhấn ngày 2 tháng 9 tại Sài Gòn, làm thương vong trên 50 người. Dã tâm cướp lại nước ta một lần nửa của thực dân Pháp đã bộc lộ rõ rệt. Việt kiều rất phẫn nộ. Cùng với phong trào vận động tiền bạc, mua sắm súng đạn trước đây, nay thêm việc vận động Việt kiều tổ chức lực lượng về nước chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Đầu tháng 9 năm 1945 đã có từng tốp 10, 15, 25 anh em thanh niên và trung niên do Hội Việt kiều yêu nước và một số cơ sở độc lập vận động xuống tàu về nước, ở Châu Đốc, Long Xuyên đã có những trận đánh tàu Nhật yểm trợ cho tàu quân Pháp dự kiến đổ bộ lên chiếm lại thị trấn Tân Châu. Ngày 20 tháng 9 năm 1945, chúng tôi tập hợp 12 anh em thanh niên là thợ giày, tài xế, học sinh xuống tàu về nước. Đến trạm Ba Nam bị lính Miên bắt giữ giải lên gặp quận trưởng Miên. Chúng tra hỏi bằng tiếng Pháp. Trong đoàn có đồng chí Thân là thợ giày (nay là đại úy, nghỉ hưu tại Cần Thơ) biết tiếng Pháp khá, nói rõ: Nước chúng tôi đã được độc lập, chúng tôi về nước để bảo vệ nước mà thôi. Tranh cãi một hồi, được cả vợ tên quận trưởng là người Việt ủng hộ, chúng phải thả chúng tôi. Tàu tiếp tục hành trình về Châu Đốc.


Mờ sáng ngày 21 tháng 9, chúng tôi về đến biên giới Việt Nam (tại xã Vĩnh Xương, Thường Phước, huyện Tân Châu - Hồng Ngự). Trước mặt chúng tôi, các nhà hai bên bờ sông và các thuyền ghe dưới sông là một rừng cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trên bầu trời xanh cao của Tổ quốc. Ai nấy tràn đầy xúc động, có anh em đã khóc nhưng không thành tiếng. Tàu cặp bến thị xã Châu Đốc. Trên bờ, dưới tàu vẫy cờ vẫy tay mừng nhau khôn xiết, ngoài đoàn chúng tôi còn có những bà con Việt kiều đi cùng lên. Chúng tôi được cán bộ của Ủy ban kháng chiến đưa về ở tại nhà Cercle (câu lạc bộ thể thao) xây cạnh sân đá bóng Châu Đốc. Tại đây chúng tôi đã thấy trên 100 anh em Việt kiều về từ mấy chuyến trước, mỗi người được cấp một chiếu cá nhân trải ngủ trên nền nhà lát gạch, hàng bữa được cấp bánh mì, chưa có chăn màn, nhưng rất vui. Qua làm quen, tìm hiểu, được biết anh em ở rất nhiều nơi xa về, xa nhất là Biển Hồ, Cần Ché giáp Hạ Lào, có nhiều lớp tuổi, nhiều ngành nghề, thầy có, thợ có, học sinh, khố xanh, khố đỏ có, nhưng nhiều nhất vẫn là anh em lao động. Lúc này bọn phản động Hòa hảo đã được dẹp yên.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:43:55 pm
Sáng ngày 24 tháng 9, gần 2.000 anh em tập hợp tại sân bóng Châu Đốc. Từng đoàn hàng ngủ chỉnh tề, các cán bộ của tỉnh tuyên bố lý do tuyển quân tình nguyện, cách tuyển là mỗi anh em phải để một cục than hồng trên bàn tay, hoặc chặt một đốt tay út ở bàn tay trái, nếu chịu được thì cho nhập ngũ. Nhiều anh em xì xào cười nhưng đa số đều giơ tay đồng ý.


Đó là chuyện nói dọa để thử thách anh em chứ làm gì có thật. Sau đó các đồng chí cán bộ gọi tên, phân ra từng tiểu đội 12 người, trung đội có 4 tiểu đội, các đoàn được ở chung với nhau, đoàn tôi có 12 anh em được tổ chức thành 1 tiểu đội. Mỗi tiểu đội được trang bị 1 súng Mousqueton Pháp, 2 súng lửa 1 nòng, còn lại là mã tấu, dao găm, phi tiêu, ná nỏ. Ban chỉ huy trung đội 3 người (1 trưởng, 1 chính trị viên và 1 phó) được trang bị 1 súng ngắn. Mỗi anh em được cấp một cái nóp bàn thay chiếu, mùng mền. Mỗi tiểu đội được cấp 2 cái xoong để nấu ăn, do tiểu đội phó đảm nhận, quần áo thì ai có gì mặc nấy. Riêng mũ mỗi người được cấp một mũ ca lô có gắn 1 phù hiệu nền đỏ sao vàng hình vuông may bằng vải.


Sau khi ổn định tổ chức, trung đội của chúng tôi chấp hành lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây và Ủy ban kháng chiến tỉnh Châu Đốc hành quân đến thị trấn Tịnh Biên sát biên giới Việt - Miên. Tỉnh Tà Keo trên Miên có dãy núi Som, dưới Việt Nam có bảy ngọn núi, sát thị trấn có núi đất và núi Phù Cường dân cư đông đúc, sinh sống bằng nghề nông. Đến thị trấn Tịnh Biên, anh em gửi đồ đạc va li ở xóm Xuân Tô. Sau khi đi khảo sát thực địa và trao đổi kế hoạch phòng thủ với Ủy ban kháng chiến của thị trấn, tiểu đội 1 được điều ra trấn giữ bến đò (phà) Tịnh Biên đi tỉnh Tà Keo, sẵn sàng đánh địch từ Tà Keo xuống và địch đi tàu từ Hà Tiên ra. Ban chỉ huy trung đội và các tiểu đội 2, 3, 4 đóng tại đình, cạnh sân đá bóng của Tịnh Biên. Chúng tôi đã cùng anh em dân quân phá lộ, xây đắp phòng tuyến dọc theo bờ kênh Vĩnh Tế để phòng ngự, ngoài 1 súng trường Mousqueton của Pháp, 2 súng lửa 1 nòng, một số cung nỏ phi tiêu, tiểu đội tôi còn được Ủy ban kháng chiến tỉnh giao cho sử dụng 2 khẩu đại bác thời Minh Mạng, bà con ta thường gọi là "ông ầm", nhưng không có đạn. Sau khi đắp ụ, ngụy trang đưa pháo vào trận địa (trên hai bánh xe bò) tôi nhồi thuốc và nhét các loại bù loong đinh ốc, thêm sồi, đá rồi cho phát hỏa thử, tiếng đại bác nổ rất to (đúng là "ông ầm") vang dội cả một vùng, nhưng đạn không đi quá 60 mét. Lúc này đã hết mủa mưa, anh em chúng tôi che lán ở tạm tại bến phà, ngủ đêm bằng nóp, có đêm rắn nước chui cả vào nóp. Ăn uống khá đầy đủ vì ở đây rất có nhiều cá, đêm canh gác tuần tra, ngày luyện tập chủ yếu là tập thể dục và đi đều, học theo sách dạy đánh du kích của Bác Hồ, binh pháp của Tôn Tử, ngắm bắn súng trường, ná nỏ, ném phi tiêu, chương trình chính trị của mặt trận Việt Minh. Cuộc sống so với lúc ở Nam Vang thì quá vất vả, nhưng rất vui vì được nhân dân ở thị trấn chăm sóc, thăm hỏi chu đáo, hàng ngày lại có một số chị em thanh niên học sinh đeo chữ thập đỏ đến thăm bệnh và úy lạo. Vậy mà cũng có một vài anh em chịu gian khổ không nổi bỏ trốn về Nam Vang trong đó có cả tiểu đội trưởng, vì thế tôi phải kiêm luôn cả chức tiểu đội trưởng.


Giữa tháng 10 năm 1945, năm xe tăng Nhật từ thị xã Tà Keo chạy xuống gò Tà Lập, đến đoạn lộ bị chúng tôi phá, phải dừng lại (bà con ở đó hay gọi là lộ đứt). Chúng cử tên quan ba xuống gặp Ủy ban kháng chiến để mượn đường về thị xã Châu Đốc. Biết rõ âm mưu của chúng là mở đường cho quân Pháp bám theo sau, Ủy ban kháng chiến không đồng ý, ra lệnh bắt giữ. Tên này hoảng sợ, van lạy xin thả và thề sẽ đưa đoàn xe tăng quay lại Tà Keo. Sau một lúc trao đổi, đại diện Ủy ban kháng chiến thị xã tước cây kiếm rồi cho nó trở lại đoàn xe. Trên đường chúng rút đi, chúng tôi để ý bọn chúng rất chú ý 2 ụ súng đại bác "ông ầm" ló họng ra ngoài.


Sau đó, chúng tôi cử hai chiến sĩ rành tiếng Miên lên gặp dân ở gò Tà Lập hỏi, họ cũng cho biết là có 5 xe đi bằng dây (5 xe tăng), có cả lính Pháp nữa. Chúng hỏi tiếng súng ca nông (đại bác của ta) khi bắn thử, bà con lắc đầu lè lưỡi: súng to lắm, nó xí xô xí xào rồi lên xe chạy về Tà Keo.


Lúc này có tin báo là quân Pháp đã đánh chiếm thị xã Cần Thơ, tàu Nhật và Pháp liên tục chạy trên sông Tiền, đi ngang các thị trấn Tân Châu, Hồng Ngự, chúng bẳn lên bờ loạn xạ. Trung tuần tháng 11 lại có tin quân Nhật dùng tàu có cả lính Pháp đi theo, từ Hà Tiên qua Giang Thành ra thị trấn Tịnh Biên về Châu Đốc. Tiểu đội được lệnh hành quân vào Vĩnh Gia đón đánh địch. Tiểu đội đến Lạc Quới - Vĩnh Thông đã xế chiều, được đồng bào tiếp đón linh đình. Sau khi ăn cơm xong, chúng tôi kết hợp với hàng trăm dân quân, kẻ gậy người dao, cuốc, xẻng kéo nhau vào Vĩnh Lạc đào công sự hai bên kênh Vĩnh Tế. Anh em hỏi đánh tàu bằng gì, tôi giới thiệu khẩu Mousqueton có 3 gắp 9 viên đạn được chùi bóng loáng, đỏ au, anh em dân quân khoái cười. Để chặn tàu, chúng tôi trưng dụng hàng chục xà lan chở vôi của Hà Tiên còn nằm tại đây, dùng dây cáp buộc chặt vào 2 đầu các xà lan đậu ở hai bên bờ, để nếu tàu địch chạy ngang đụng dây cáp sẽ kẹp chặt lấy tàu. Các tổ dân quân đã được phân công nấp sẵn ở dưới xà lan đục cho nước chảy vào, xà lan chìm, vôi gặp nước sôi lên, binh lính địch ở trên tàu không chịu nổi buộc phải nhảy xuống nước lội vào bờ, trên bờ dân quân và chúng tôi sẽ dùng súng, cung tên ná nỏ, phi tiêu bắn xuống, tên nào thoát được vào bờ thì sẽ dùng tầm vông vạt nhọn, dao, xẻng diệt chúng. Được 3 ngày không có địch, chúng tôi được lệnh rút về Tịnh Biên. Vì hành quân gấp nên không thể lên Núi Tượng - Ba Chúc theo yêu cầu của bà con, mặc dù tiệc tùng đã chuẩn bị sẵn và chờ đợi mấy ngày. Chủng tôi không quên nhờ Ủy ban kháng chiến xã giải thích và động viên các chủ xà lan ủng hộ đánh Pháp, về đến thị trấn, tôi lên báo cáo tình hình chấp hành nhiệm vụ với Ủy ban kháng chiến huyện, được biểu dương về tinh thần tích cực, tuy không có giặc nhưng anh em đã làm công tác dân vận rất tốt, nhân dân rất phấn khởi và tin tưởng vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:44:29 pm
Lúc này giặc Pháp bung ra chiếm lại nhiều nơi. Chúng tôi họp bàn đề phòng mặt trận Tịnh Biên vỡ thì lui lại phòng ngự ở chợ Nhà Bàng. Ở đây hai bên có núi, đường đi độc đạo dễ phòng ngự và phục kích đánh địch. Để thực hiện được ý định này, chúng tôi đề nghị Ủy ban kháng chiến thị trấn và các xã xung quanh huy động dân quân cùng chúng tôi lập một mặt trận hỏa công bằng cách chặt cây lớn hai bên đường từ núi Cậu lên dốc Bô Dô và vận động nhân dân các xã Xuân Tô, Thới Sơn (trồng rất nhiều dừa) chặt lá dừa chất đầy hai bên vệ đường. Chúng tôi chế mìn bằng tĩnh nước mắm Phú Quốc, chuẩn bị một số chai xăng và dầu lửa, nếu mặt trận thị trấn bị vỡ thì rút về phục hai bên đoạn đường này, chờ khi đoàn xe của địch lọt vào trận địa sẽ đốt mìn, chặn xe, chế dầu phóng hỏa đốt xe địch. Đầu tháng 12, trận địa vừa làm xong thì đơn vị chúng tôi được lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây xuống tàu về núi Sập (huyện Thoại Sơn) dự lớp quân sự khổ luyện 15 ngày do sĩ quan Nhật huấn luyện. Núi Sập là nơi đẽo đá, đục đá làm các loại cối đá, bia đá, cột đá, nên dăm đá chỗ nào cũng có, qua 15 ngày lăn lê bò toài, khuỷu tay và đầu gối người nào cũng xây xát máu (đúng là khổ luyện). Khi về nước tòng quân anh em đều may quần áo cộc tay theo kiểu đồ lính Pháp. Tuy bị đau rát như vậy, nhưng không khí lúc nào củng vui vẻ. Sau giờ tập anh em lại ra thăm bà con, làm công tác dấn vận ở các xóm. Cuối tháng 12, khóa học kết thúc. Anh em phân công nhau tập luyện văn nghệ để làm lễ bế mạc và chào mừng ngày bầu cử quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sáng ngày 5 tháng 1 năm 1946, khán đài, sân khấu được dựng lên sau nhà lồng chợ, phông làm bằng lá dừa, màn bằng các tấm đâp kết lại, cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, khẩu hiệu được dán khắp nơi làm tưng bừng một khu chợ. Không khí nhộn nhịp, bà con đi chợ ai cũng ghé xem, miệng khen tay chỉ, đến tối ánh đèn măng-sông, khí đá, đèn tọa đăng sáng rực khắp nơi quanh chợ. Ngồi ở hàng đầu trên các bộ bàn ghế mượn của trường học là một số lãnh đạo địa phương, phía sau rất đông bà con đứng xem. Bắt đầu là lời tuyên bố của ban chỉ huy trung đội, kế tiếp, chủ tịch lâm thời huyện nói chuyện. Ông nói về âm mưu, hành động tội ác của giặc Pháp, tình hình ở Châu Đốc - Long Xuyên, lời kêu gọi của Bác Hồ, của Mặt trận Việt Minh kháng chiến cứu nước. Cuối cùng ông giải thích, động viên đồng bào tích cực đi bầu quốc hội vào sáng ngày mai. Bà con vỗ tay vang dội. Kế tiếp là hát, diễn kịch, đêm liên hoan kéo dài cho đến tận khuya; ra về ai cũng hồ hởi bàn tán về buổi liên hoan, tấm tắc khen.


Ngày 6 tháng 1, sau khi đi bỏ phiếu bầu cử quốc hội, chúng tôi được lệnh hành quân chiến đấu.

Sáng ngày 8 tháng 1, theo lệnh của Thanh tra chính trị miền Tây, trung đội 1 của đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân xuống ca nô, cùng đi có 4 tên Nhật.


Trên mủi ca nô đặt một khẩu ca nông 20 ly. Chạy qua Rạch Giá, về Sóc Trăng, đóng tại thị trấn Bố Thảo, ở trong dãy nhà trệt xưa của đồng bào đã tản cư. Ở đây chúng tôi cũng được Ủy ban kháng chiến thị trấn và các má, các chị thăm nom, chăm sóc rất chu đáo.


Trung tuần tháng 1 năm 1946, được trang bị thêm 4 súng trường Pháp, vài chục viên đạn cùng 5-6 trái lựu đạn đập của Nhật, đơn vị tôi nhận lệnh đánh đồn Nhu Gia.


Đồn Nhu Gia là một căn nhà xây theo kiểu xưa của địa chủ, được lính Pháp cải tạo thành đồn, nằm bên cạnh cầu Nhu Gia trên quốc lộ 4 (từ thị xã Sóc Trăng chạy xuống thị xã Bạc Liêu). Đồn thuộc địa phận tỉnh Sóc Trăng, do 1 tiểu đội lính Pháp cùng 2-3 tiểu đội lính người Việt và Miên đóng giữ. Chung quanh đồn chưa có rào kẽm gai. Đêm tấn công, trăng sáng lờ mờ, hành quân đến sát đồn thì trung đội dàn hàng ngang bắt đầu nổ súng. Súng ta nổ đì đạch, trong đồn giặc la ó bẳn và ném lựu đạn ra rất dữ, anh em ta tiến sát chân tường nhưng không có cách nào vào được trong đồn. Đánh nhau hơn 1 tiếng đồng hồ, quân ta có lệnh rút lui, mạnh ai nấy rút, lội qua các mương lạch sình lầy, mọc đầy ô rô, cóc kèn, mình mẩy xây xát, quần áo tả tơi, may gặp lúc nước ròng nên không có ai chết đuối. Về đến chợ Mỹ Tú còn được trên 20 anh em.


Sau trận đánh, ban chỉ huy trung đội đã bỏ trốn, một số anh em có ý định chôn súng trở về Nam Vang.

Tôi nghĩ đánh đấm theo kiểu này thì thất bại là đúng. Tôi cũng không biết ai là người chỉ huy mình nữa. Từng được Đảng bồi dưỡng giác ngộ cách mạng, rất căm thù giặc Pháp và bọn tổng lý, mã tà, nhớ mãi lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch ngày 2 tháng 9: "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ", tôi thấy rõ trách nhiệm của mình, nên đã dựa vào số anh em tiểu đội 1 Nam Vang cùng về với tôi làm nòng cốt, giải thích mục đích, ý nghĩa cao cả của chiến đấu cứu nước, nêu rõ tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta, nhất là những người lao động cùng khổ, phát động căm thù giặc, nhắc lại lời hứa với bà con Việt kiều ở Nam Vang trước khi xuống tàu về Tổ quốc đánh giặc, cứu nước...


Anh em đều nhất trí tiếp tục cầm súng đánh giặc, không khí trở nên sôi động, quyết tâm chiến đấu lại được nâng cao. Tôi trở thành người chỉ huy đơn vị. Còn trên 20 anh em, tôi chia thành 3 tiểu đội, phân tán anh em trong tiểu đội 1 ra làm nòng cốt và chỉ huy các tiểu đội. Những anh em này sau đều trở thành những cán bộ trung cao cấp trung kiên của Đảng, của quân đội.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:45:01 pm
Tôi chỉ huy đơn vị hành quân về quận lỵ Phước Long, vì nghe ở đó có đông bộ đội. Trên đường về chợ Ngã Năm, nhà cửa hai bên bờ kênh đều hoang vắng, thỉnh thoảng gặp tốp 2-3 người mặc quần áo ngắn ka ki vàng, đầu đội mũ ca lô, vác súng trường đi dọc theo lộ, trông có vẻ uể oải, mệt nhọc. Hỏi ra mới biết là anh em Cộng hòa vệ binh thất trận ở các mặt trận phía trên, bị lạc, rút về vùng còn tự do dưới này. Qua giọng nói biết anh em là người ngoài Bắc, tôi giải thích, động viên anh em gia nhập đơn vị, tiếp tục chiến đấu. Anh nào cũng phấn khởi đi theo. Cứ như thế tôi thu gom gần 10 người bổ sung cho các tiểu đội đưa quân số tăng lên trên 30 người. Có thêm người thêm súng, tinh thần chiến đấu được nâng lên rõ rệt. Gần tối 25 tháng 1, khi về đến gần Ngã Năm, nghe có tiếng súng nổ. Hỏi ra mới biết giặc Pháp đã chiếm Ngã Năm, bộ đội Nam tiến đang bao vây tấn công chúng. Tôi nói rõ tình hình và động viên anh em tiến nhanh về Ngã Năm. Khoảng 8 giờ tối đến sát chợ, được biết bộ đội Nam tiến đang tấn công, bọn lính pạc-ti-giăng đóng bên chợ chưa có lực lượng nào đánh, tôi họp các tiểu đội trưởng phổ biến tình hình. Theo nhân dân cho biết, địch có độ 1 tiểu đội đóng trong nhà lồng chợ. Anh em đốc đánh, tôi tán thành, bàn kế hoạch đánh, phân tán một tiểu đội vào chiếm các căn cứ trong chợ, đề phòng chúng có ở trong đó, hai tiểu đội chia làm hai mũi lợi dụng tiếng súng nổ ở Đầu Voi bên kia bí mật áp sát, đồng loạt xung phong tiêu diệt địch. Khoảng 23 giờ, địch phát hiện la ó và bắn loạn xạ. Theo kế hoạch hợp đồng, anh em đồng loạt nổ súng xung phong, một số địch chết, một số chạy trốn ra các khu nhà xung quanh chợ. Đánh nhau độ 30 phút, ta bắn chết 7 tên. Trận đánh kết thúc. Anh em ta thu được 5 súng trường Pháp, bị thương nhẹ 2 đồng chí. Đến sáng thì thấy Đầu Voi bên kia, bộ đội Nam tiến cũng kết thúc trận đánh, diệt được một số lính Pháp, một số tên bỏ chạy về Ngã Bảy, ta không có đồng chí nào hy sinh. Chúng tôi phân công lùng sục quanh chợ, được nhân dân chỉ bắt thêm 3 tên Việt gian lẩn trốn. Chúng tôi giáo dục rồi thả tại chỗ. Lúc đó bộ đội Nam tiến đã tập họp ở bên chợ, hai đơn vị bộ đội gặp nhau rất vui mừng phấn khởi. Tôi gặp anh Nguyễn Bá, chỉ huy bộ đội Nam tiến. Anh cho biết Khu bộ trưởng Vũ Đức hiện đóng trụ sở tại quận lỵ phước Long. Gần 10 anh em dân quân xin đi theo bộ đôi các tiểu đội đề nghị cho thu nhận, quân số tăng lên trên 40, vũ khí tăng thêm 5 súng trường và một số dao găm mã tấu của anh em dân quân vừa gia nhập. Sau khi chấn chỉnh đội ngũ, sáng ngày 30 tháng 1 năm 1946, tôi cho đơn vị hành quân về quận lỵ Phước Long. Tối hôm đó đơn vị tạm trú trong mấy nhà dân đối diện với trụ sở của đồng chí Vũ Đức.


Ngày hôm sau, tôi sang gặp Khu bộ trưởng ở một nhà sàn cao sơn xanh, có mành che (dinh quận trưởng cũ). Đồng chí đón tiếp rất nhiệt tình, lắng nghe tôi báo cáo tình hình về đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, đặc biệt là trung đội 1 hiện do tôi phụ trách. Nghe xong đồng chí Vũ Đức rất phấn khởi, khen tôi và anh em là có tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu cao. Đồng chí cũng nói rõ âm mưu và thủ đoạn của giặc Pháp, một số kinh nghiệm xây dựng đơn vị cả về ba mặt tác chiến, giáo dục chính trị, tư tưởng và nuôi dưỡng bộ đội. Đồng chí Phan Trọng Tuệ, Chính trị bộ chủ nhiệm khu dặn thêm, phải biết dựa vào dân, bảo anh em làm công tác dân vận cho tốt. Sau đó đồng chí đưa cho tôi 20 tờ giấy bạc 500 đồng rồng xanh phát hành trong thời kỳ Nhật chiếm Đông Dương, để cần gì thì chi phí. Sau khi trao đổi với nhau một lúc, đồng chí Vũ Đức gọi tôi lại giao nhiệm vụ. Đồng chí nói, hiện nay giặc Pháp đang tập trung lực lượng đánh vào trụ sở khu ở Phước Long từ ba hướng. Hiện cánh chính diện đã có bộ đội Nam tiến trấn giữ, cánh Ngang Dừa có bộ đội Rạch Giá do anh Huỳnh Thủ chỉ huy, bộ đội Sóc Trăng do anh Lưu Khánh Đức phụ trách. Mặt trận Vĩnh Hưng mới chỉ có một số du kích xã trấn giữ. Để bảo đảm bên sườn của mặt trận Phước Long, đơn vị chúng tôi phải nhanh chóng ra đóng ở chợ Vĩnh Hưng. Đồng chí bảo thư ký (đồng chí Toàn Thẳng) đưa cho tôi 300 đồng bạc Đông Dương và một giấy lệnh xuất 100 viên đạn Mousqueton Pháp. Hai đồng chí không quên dặn tôi chuyển lời thăm hỏi anh em. Tôi ra về, lòng tràn đầy phấn khởi, vì từ nay (đầu tháng 2 năm 1946), đơn vị đã có Quân khu chỉ huy, có người lãnh đạo để tiếp tục chiến đấu.


Vừa bước lên bờ, anh em đã ùa ra hỏi han rối rít. Tôi nói: Hãy khoan, vô nhà cái đã. Lúc này đã gần đến bửa cơm trưa, song không thể để ăn cơm xong mới nói được, tôi nói liên lạc viên gọi tất cả anh em về tập hợp ở trường học bỏ không ở gần đó. Tôi kể lại tất cả nội dung vừa đi gặp hai đồng chí Vũ Đức và Phan Trọng Tuệ. Anh em hết sức phấn khởi, bàn tán xôn xao về việc lại sắp được ra trận.


Đến chiều đồng chí Vũ Đức cho liên lạc mời tôi sang gặp. Đồng chí Phan Trọng Tuệ hỏi đơn vị có phấn khởi không? Tôi báo cáo: đơn vị rất mừng. Hai đồng chí đều cười, giới thiệu đồng chí Đào Công Tâm rồi đưa ra một tờ giấy pơluya có chữ đánh máy đóng dấu đỏ. Đồng chí Vũ Đức nói đây là quyết định thành lập ban chỉ huy dân quân ba tỉnh Rạch Giá, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Tôi được cử làm chỉ huy trưởng, đồng chí Đào Công Tâm làm chính trị viên và đồng chí Nhơn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Rạch Giá làm ủy viên. Ngoài ra còn có mấy đồng chí ở tù Côn Đảo mới về phụ giúp. Các đồng chí nói rõ thêm mục đích, ý nghĩa, tác dụng cũng như những kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng dân quân cách mạng.


Sau khi bàn bạc, đồng chí Đào Công Tâm ở tại thường trực liên hệ chặt chẽ với khu và giải quyết việc tiếp nhận anh em xin gia nhập dân quân, nhận và phân phối lương thực, thực phẩm do ban tiếp tế địa phương cung cấp. Tôi chỉ huy bộ đội ra trấn giữ mặt trận Vĩnh Hưng, vừa đón đánh giặc, vừa thu nhận dân quân tổ chức thành đơn vị.


Tháng 2 năm 1946 là mùa nắng, thời tiết khô ráo, đồng ruộng đã gặt xong, đất nứt nẻ, phố chợ Vĩnh Hưng rất đông người. Dân ở các nơi, cả dân Sài Gòn cúng chạy tản cư về đây. Sau khi khảo sát địa thế, tôi cho đơn vị cùng dân quân đào đắp công sự chiến đấu. Trung tuần tháng 2, hai lần Pháp dẫn bọn lính "Đàng thổ" (người Miên) từ quốc lộ Bạc Liêu - Cà Mau vào càn quét ở Đìa Chuối và điền Thày Cai Tài để đốt nhà cướp của. Cả hai lần đều bị bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu, quốc quân chặn đánh. Chúng không vào được trong xóm, nhưng cướp giật được các nhà ở lẻ ngoài đồng một số gà vịt, đồ đạc. Khi rút chạy chúng bỏ lại trên 10 xác chết. Ta thu 7 súng (có 1 tiểu liên), mang gà vịt, đồ đạc trả lại cho bà con bị mất. Nhân dân rất phấn khởi, cho lương thực thực phẩm, nhất là các loại bánh gói bâng nếp chất đầy trên các mặt bàn. Thanh niên, trung niên gia nhập dân quân rất đông, trên 10 thanh niên khỏe mạnh vào bộ đội. Số còn lại tổ chức thành các tiểu đội, trung đội, đại đội dân quân, trang bị chủ yếu bằng tầm vông vát nhọn, quần áo của ai nấy mặc. Ủy ban kháng chiến Vĩnh Hưng chỉ cấp cho mỗi anh một chiếc nóp. Ngoài việc canh gác tuần tra, luyện tập quân sự, học tập chính trị, thời gian còn lại anh em phân ra đi làm công tác dân vận.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:45:42 pm
Cuối tháng 2 năm 1946, tôi đang chỉ huy mặt trận Vĩnh Hưng thì được lệnh gọi về tổng hành dinh quân khu. Sau khi hỏi thăm và nghe tôi báo cáo tình hình địch ở Vĩnh Hưng, đồng chí Vũ Đức nói: Anh em làm được những việc như vậy rất là tốt. Đồng chí nói tiếp: Pháp đã chiếm thị xã Cà Mau, đang có âm mưu tiến xuống Năm Căn. Cán bộ xã Tân Hưng vừa lên đây báo cáo lực lượng đã quá yếu, "Đàng thổ" ở xã Khánh Bình nổi dậy chống lại ta, đang được Pháp khuyến khích vượt sông Ông Đốc qua Phong Lạc, Bà Đầm, Rau Dừa, Cái Nước giết người Việt Nam. Mặt trận Ngã Năm, Phước Long khó giữ được lâu, cố gắng thì được độ 2 tháng nữa. Bốn tên tàn quân Nhật vào ẩn náu ở thất Cao Đài Giồng Bốm đang kích động tín đồ, chức sắc Cao Đài chống lại Việt Minh, ta đi ngang, chúng cạo đầu và tước súng (đây là đường liên lạc từ Phước Long về Cà Mau). Hàng ngày, chúng bung ra hoành hành, cướp giật đồ đạc ghe xuồng của nhân dân, thậm chí mới đây chúng cướp cả ca nô của đồng chí Nguyễn Văn Tây. Nếu tình hình trên đây không được giải quyết sớm thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Để giải quyết những việc này, Quân khu đã bàn và quyết định đơn vị Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân về Cà Mau làm ba nhiệm vụ:

1. Cùng anh em giữ cho được mặt trận Cà Mau, giữ được càng lâu càng tốt, vì có giữ được vùng dưới đó thì khi mặt trận trên này vỡ mới có chỗ rút về để củng cố lực lượng. Đây là mặt trận cuối cùng ở miền Tây Nam Bộ.

2. Trên đường đi tìm cách thu xếp (đồng chí nhấn mạnh chữ "thu xếp”) vụ mấy tên Nhật đang làm loạn ở thất Cao Đài Giồng Bốm, trao thư của tôi cho cụ Cao Triều Phát và nói rõ cho các đạo hữu của Cao Đài biết âm mưu, tội ác của giặc Pháp và bọn quân phiệt Nhật. Động viên tinh thần yêu nước của bà con ra sức cùng chúng ta đánh Pháp để không phải làm nô lệ một lần nữa, giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta như lời cụ Hồ Chí Minh đã kêu gọi. Đồng chí dặn thêm, cố gắng tìm mọi cách không để xảy ra việc xô sát, đổ máu.

3. Đến Cà Mau, bàn ngay với địa phương dẹp cho được chuyện người Miên nổi dậy ở Khánh Bình trên bờ sông Ông Đốc (lúc này nhân dân thường gọi là "giặc Đàng thổ".


Tôi hỏi: Nhiệm vụ anh giao như vậy là tôi đã rõ, nhưng tôi đi với danh nghĩa gì để làm việc với địa phương. Đồng chí cười, đưa cho tôi quyết định bổ nhiệm đồng chí Tăng Thiên Kim về làm chỉ huy trưởng mặt trận Tân Hưng và một thư viết bằng chữ Hán dặn tôi trao tận tay cụ Cao Triều Phát.


Đồng chí cười và hỏi tôi còn gì nữa không? Tôi đáp không, đồng chí đưa tay ra bắt và vỗ vai nói: Cố gắng, cố gắng. Tôi chào ra về, chân bước xuống cầu thang mà đầu có nhiều suy nghĩ. Vừa về đến trụ sở, chưa kịp nói câu nào thì anh Đào Công Tâm đã hỏi ngay: Sao, có gì mới không? Tôi bảo anh ngồi, tôi báo cáo lại tất cả nội dung công việc vừa được anh Vũ Đức giao, anh lắc đầu thở ra: Chà, gay đấy, ông đi cũng có nhiều việc nặng, rất nặng, còn đám này ở lại cũng không ít khó khăn, nhất là việc tiếp tế, chỉ huy các đại đội dân quân cách mạng. Chiều 1 tháng 3 năm 1946, tôi trở lại Vĩnh Hưng, sáng hôm sau tập họp gần 60 anh em ra một chòm cây trên một gò đất giữa ruộng để phổ biến tình hình nhiệm vụ. Nghe xong chẳng ai biểu hiện lo lắng gì, mà không khí lại vui như tết. Tâm lý anh em là được đi nay đây mai đó, được nổ súng là thích. Sợ lộ bí mật nên tôi dặn anh em về nhà dân không được bàn tán, sáng mai trước khi lên đường mới được từ giã bà con, nhưng tuyệt đối không được lộ nhiệm vụ.


Nghỉ lại ở Phước Long một ngày, vận động thêm được gần 10 anh em của các đơn vị bạn đi lạc, người nào cũng có súng, quân số tăng lên trên 80, súng đạn nhiều hơn. Đơn vị tổ chức thành 9 tiểu đội (không có trung đội). Người thường thay tôi là đồng chí Hà Văn Khấu, đã đứng tuổi, là cán bộ quân sự của tỉnh Đồng Tháp cùng 7 anh em có súng vừa gia nhập. Nòng cốt của đơn vị là trên 20 anh em của trung đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, nhất là số anh em ở tiểu đội 1 từ Nam Vang về (số anh em này có trình độ văn hóa khá, có anh nói được cả hai thứ tiếng Pháp - Miên, biết cách đối nhân xử thế tốt, đi đâu cũng được bà con thương mến). Cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn gian khổ, nhưng cũng đã quen, nên không khí trong đơn vị lúc nào cũng vui nhộn. Hôm sau biết tin đơn vị hành quân về Cà Mau, một số anh em chiến sĩ Cộng hòa và dân quân cả nam và nữ xin đi theo, quân số tăng lên trên 100.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:46:14 pm
Khoảng 3 giờ chiều ngày 3 tháng 3 năm 1946, chúng tôi hành quân đến xã Phong Thạnh Tây, cách thất Cao Đài Giồng Bốm theo đường chim bay hơn 2 cây số. Sau khi liên lạc với xã hỏi tình hình và nhờ du kích dẫn đường, đơn vị hành quân đi tắt ruộng khô vào thất Cao Đài nằm trên một đoạn rạch giống như một cù lao của xóm Ô Rô (hai bên bờ kênh mọc đầy ô rô, cóc kèn), phía sau là một đầm lầy, nhiều rạch nhỏ, lắm bùn sình, muốn vào thất phải dùng xuồng ghe chứ không thể đi bộ được. Khoảng 17 giờ, bộ đội đã đến bờ rạch, đối diện thất. Tôi bảo anh Khấu dàn quân thành một hình vòng cung theo bờ rạch. Xuống xuồng có tôi, anh Phương, một em thiếu nhi 13 tuổi và một liên lạc bơi xuồng. Mấy anh em đi với tôi không ai mang súng, chỉ có tôi đeo một súng ngắn Nhật, trong túi quần có 1 súng 6,5 ly lên đạn sẵn, để cần thì tự vệ và làm súng lệnh. Trước khi xuống xuồng; tôi dặn anh Khấu và các cán bộ khi nào nghe có nhiều tiếng súng ở trong thất thì lập tức đồng loạt nổ súng tấn công, bố trí 3 tiểu đội nằm ở bờ rạch bắn yểm trợ, các tiểu đội khác nhanh chóng lội qua rạch chiếm bờ bên kia tiến thẳng vào trong thất. Anh em hỏi: "Còn anh và anh em đi với anh trong đó thì sao?". Tôi cười và nói: "Coi như chúng tôi đã hy sinh". Mặt anh em đanh lại, im lặng và gật đầu. Đợi dàn quân xong, xuồng bắt đầu rời bến ra đến giữa lòng rạch (rộng độ 80 mét, dân cho biết nước không ngập đầu), tôi đứng lên cởi súng ngắn trao cho cháu bé ngồi ở sau lưng (có ý để cho trên bờ thấy mình không có ý định dùng vũ lực), mắt nhìn thẳng lên bến, đường đi vào thất. Thấy trên bờ lố nhố có nhiều người, có cả người ngồi trên cây. Xuồng cặp bến, tôi vừa bước lên bờ thì có 4 tên Nhật tay cầm 4 khẩu súng trường Nhật cùng một số anh em tín đồ Cao Đài tay cầm giáo, mác xông ra bao vây chĩa thẳng vào chúng tôi. Do xác định từ trước, tôi bình tĩnh quay về chỗ mấy ông già đầu đội mũ xanh hình vuông, mặc quần áo trắng (tôi biết đây là các vị chức sắc trong thất) chắp tay cúi đầu chào, xong nói to: "Mục đích của chúng tôi đến đây là để đoàn kết với bà con đạo Cao Đài đánh Pháp chứ không phải đến để đánh giết lẫn nhau". Không khí bắt đầu dịu dần, vòng vây bắt đầu dãn ra (tôi nghĩ động tác tháo súng ngắn giữa rạch đã có tác dụng). Một vị chức sắc cao tuổi cùng một tên Nhật đến gần mời chúng tôi vào một căn nhà xây cất khang trang (có lẽ đây là nhà tiếp khách của thất). Trời bắt đầu tối dần, ánh đèn măng-sông sáng rực. Giữa nhà kê một bàn to hình chữ nhật, xung quanh có một ghế tựa, liếc nhìn trên tường thấy treo mấy cây kiếm Nhật và 6-7 cây súng trường Pháp, Nhật. Cuộc nói chuyện bắt đầu. Mấy tên Nhật hỏi tôi: "Các ông là bộ đội nào, đến đây có việc gì?". Tôi trả lời: "Chúng tôi là bộ đội Cụ Hồ, đến đây để đưa thư của cụ Vũ Đức cho cụ Cao Triều Phát, yêu cầu phối hợp cùng nhau đánh Pháp". Nhân tiện tôi nói luôn, Pháp hiện đã chiếm chợ Cà Mau, nay mai chúng sẽ càn quét đánh chiếm ra xung quanh. Đạo Cao Đài và chúng tôi đều là người Việt, trước đây đã có lúc Pháp khủng bố Cao Đài thân Nhật, còn các ông nay đã bị thua trận, bọn Anh - Pháp đang lùng bắt các ông nên các ông phai trốn vào đây, chắc là các ông không quên. Các ông không căm thù giặc Pháp? (Chỗ này cố ý đánh mạnh vào tâm lý thất trận và lòng tự trọng dân tộc của chúng). Mấy vị Cao Đài ngồi trầm ngâm, riêng mấy tên Nhật nghe phiên dịch mặt mày đỏ gay, tay nắm chặt. Hai bên nói chuyện qua lại một lúc thì thấy có mấy phụ nữ bưng cơm ra (sau hỏi mới biết là vợ của 4 tên Nhật). Đồ nhậu khá dồi dào, có cả mấy chai rượu trắng. Thấy dọn cơm, các vị chức sắc kiếu từ về (có lẽ các vị ăn chay). Tôi nói cần gặp cụ Cao để đưa thư của cụ Vũ Đức, các vị cho biết là hiện cụ Cao không có ở đây (tôi đoán là các vị giấu). Không thể có cách gì hơn, đành phải đưa thư nhờ các vị chuyển giúp. Bữa cơm bắt đầu. Lúc ở Sài Gòn tôi cũng học được vài tiếng Nhật, chúng cũng nói được vài tiếng Việt Nam, xí xô xí xào không phải chờ phiên dịch, chén qua chén lại, mấy tên Nhật mặt mày đỏ gay, anh em tôi bảo nhau thủ thế. Đột nhiên tên Nhật ngồi giữa quay lưng lại rút kiếm trên tường, tôi thò tay vào túi quần nắm súng, tên Nhật chọc mũi kiếm vào bắp tay, máu chảy rơi từng giọt xuống ly rượu trắng trước mặt, tôi hiểu ý cũng làm theo. Bốn tên Nhật mỗi đứa uống một hớp, anh em tôi cũng làm theo (trừ cháu nhỏ). Uống xong tên Nhật ngồi giữa, miệng nói tay chỉ lên tường: Đây là mấy khẩu súng chúng tôi đã tước, xin trả lại các ông. Tôi lắc đầu và nói, chúng tôi không thiếu súng, mục đích đến đây không phải để đòi lại mấy khẩu súng mà chính là để bàn cùng bà con đạo Cao Đài kết hợp cùng chúng tôi đánh Pháp để bảo vệ nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chúng tôi còn có thể cung cấp thêm súng đạn cho anh em thanh niên Cao Đài đánh Pháp (nói cho oai vậy thôi, thực ra chúng tôi cũng đang kiếm từng khẩu súng, từng viên đạn). Đòi lại mấy khẩu súng này anh em ở đây làm sao có súng để đánh Pháp. Bọn Nhật cám ơn rối rít. Lúc này đã khoảng 9-10 giờ đêm. Tôi giao ước mấy điều: 

1. Từ nay trở đi nơi đây coi như một trạm liên lạc của bộ đội Cụ Hồ. Cán bộ, chiến sĩ đi qua đây, các anh phải có nhiệm vụ tiếp tế ăn uống, bảo vệ và không được cạo đầu, tước súng.

2. Các anh không được bung ra các xóm làng xung quanh để hăm dọa lấy đồ của dân, trước mắt đem trả ngay một số xuồng ghe và đồ đạc mà vừa rồi các anh đã tịch thu (tôi tránh từ cướp), kể cả đem trả ngay chiếc ca nô của bộ đội ở kênh Huyện sử.

3. Mọi cán bộ chiến sĩ của hai bên đi lại qua vùng của nhau phải trình giấy chứng nhận có chữ ký của tôi và người chỉ huy ở đây.


Bọn Nhật đồng ý. Một tên, có lẽ là chỉ huy cầm bút ký chữ Nguyên (chữ Hán), còn tôi lúc nhỏ ở quê cũng học được một ít chữ Hán nên cầm bút ký luôn Tăng Thiên Kim bằng chữ Hán. Chúng chuyền tay nhau xem và gật gật đầu có vẻ chịu lắm. Chúng tôi cám ơn, bắt tay từ giã ra về. Bước chân ra cửa đã thấy mấy anh em tín đồ Cao Đài cầm đèn bảo đứng chờ để dẫn đường. Dưới bến đã có hai chiếc ghe lượn đậu sẵn, giữa ghe có mấy cần xé đầy cơm trắng tinh, bên cạnh là một cần xé nhỏ đựng đầy hột vịt muối. Lái mũi đều có anh em tín đồ Cao Đài cầm đèn bão và sào chống ghe. Tôi rất mừng vì đã giải quyết thêm được một mối lo là trời tối, bụng đói làm sao anh em lặn lội từ đây ra bờ kênh Xáng được. Tôi hỏi chiếc xuồng và cậu liên lạc mà chúng tôi đi qua lúc chiều ở đâu? Anh em Cao Đài trả lời đã bảo trả nhà dân rồi. Tôi, anh Phương và cháu bé xuống ghe để anh em chống đưa ra tận bờ kênh Xáng (Phong Thạnh Tây). Cám ơn anh em xong, ghe quay mũi, bộ đội ta khiêng mấy cần xé cơm và trứng vịt muối còn nóng lên bờ phân phối cho các bộ phận. Anh em ngồi nghe tôi kể lại chuyện, ai cũng phấn khởi, cho là đã giành được một thắng lợi to. Chúng tôi hành quân sớm, đi tắt đồng về xã Hòa Thành. Tối vượt lộ 4 (lúc này Pháp đã chiếm chợ Tắc Vân). Đêm ấy trăng sáng, gió mát, hành quân dọc theo đường đất bằng phẳng, ai cũng vui.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:47:09 pm
Sáng hôm sau anh em thức sớm. Cơm nước xong, bộ đội hành quân xuống cống đá xã Định Thành. Đến bờ sông Gành Hào, trinh sát đã mượn xuồng ghe đưa anh em sang kênh Xáng Đội Cường để về rạch Cái Răng. (Lúc này tuy Pháp đã chiếm thị xã Cà Mau, nhưng thỉnh thoảng mới có tàu nhà binh qua lại). Đêm đó, chúng tôi nghỉ trên bờ kênh Xáng Đội Cường. Nhân dân ở bên bờ kênh còn ở nhà đầy đủ, nhiệt tình tiếp tế cho bộ đội. Trên đường đi tôi gặp nhiều ghe xam bản mui ống, to nhỏ của bà con tản cư.


Sau khi ổn định nơi ăn ở, làm việc, tôi liên hệ với Ủy ban kháng chiến xã rồi cùng các đồng chí Phương, Yên đi xuồng dọc mương lộ xuống Cà Mau nghiên cứu địa hình. Qua cầu Nhà Phấn, cầu Cái Nhum, cầu Bà Bèo, đến Định Tân Hưng thì gặp bộ đội địa phương và du kích xã ở đó (khoảng 15 bộ đội, 10 du kích trang bị trên 10 khẩu súng trường và súng lửa, có cả mã tấu, dao kiếm, ná nỏ, phi tiêu). Trận địa cách thị xã Cà Mau độ 1,5 ki-lô-mét. Các nhà gạch đã được phá sập chỉ còn tường. Ngày đêm anh em áp sát ra cầu sắt Cà Mau, địch nống ra thì anh em vừa bắn vừa lui về mặt trận, địch rút về thị xã thì anh em lại tấn ra. Ngày, đêm địch thường bắn súng cối vào trận địa địch. Cứ như thế, hai bên đã đánh nhau cả tháng, địch không tiến được. Kế đó, tôi cùng anh Khấu và một số trinh sát dùng xuồng đi ra xóm Ong Tự, rồi qua sông Ông Đốc sang rạch Tham Trồi, qua kênh Công Nghiệp, gặp một số anh em du kích và đồng chí Dậu, chủ tịch xã nghiên cứu địa hình và tình hình người Miên ở xã Khánh Bình nổi dậy chống lại ta. Lúa cắt đã hết, bó chất thành từng đống chẳng ai thu gom về nhà, đồng khô trắng bóc, thấy có một xác chết. Chiến sự đã gần nửa tháng. Đồng chí Dậu cho biết xã này gồm 1.000 người Miên bị Pháp kích động kéo ngay cổ phảng nổi dậy giết người Việt. Họ đông lắm, cứ bắn người này ngã thì đám khác lại xông lên. Anh em ta ít người, vừa đánh vừa chạy. Họ bảo nhau có "bùa cà tha" bắn không lủng nên không sợ, chiều tối họ lại rút về nhà ở hai bên các kênh đào trong rừng tràm rậm. Tối hôm đó tôi gặp anh Hai Hoàng, cán bộ do tỉnh phái đến thăm hỏi và bàn việc tiếp tế cho chúng tôi.


Ngày 10 tháng 3 năm 1946, tôi họp cán bộ để triển khai lực lượng phòng thủ mặt trận Tân Hưng và giải quyết vụ người Miên nổi dậy ở Khánh Bình. Tôi báo cáo cho anh em biết tình hình, đưa 2 tiểu đội ra tăng cường cho mặt trận Tân Hưng, 2 tiểu đội ra trấn ở kênh Xáng Đội Cường có du kích và 1 tổ thủy lôi của tỉnh Bạc Liêu phối hợp, số còn lại 5, 6 tiểu đội do anh Hà Văn Khấu chỉ huy ra trấn giữ ở xóm Ông Tự. Mặt trận Tân Hưng - Rạch Rập tuy là chính diện, thường xuyên bị Pháp tấn công, nhưng ở đây đã có bộ đội địa phương và du kích mạnh, địa hình lại tốt, lợi thế cho bên phòng ngự. Còn kênh Xáng Đội Cường tuy là mũi bọc hậu mặt trận Tân Hưng từ phía đông nam, nhưng ở xa lại có cả thủy lôi chặn đánh tàu địch. Cánh Ông Tự, tuy địch có thể dùng tàu từ sông Ông Đốc đánh ngang sườn của Tân Hưng - Cái Răng, nhưng rạch nhỏ, đường khó đi. Sau khi nhận nhiệm vụ, ngay chiều hôm đó anh em hành quân đến nơi quy định. Sáng hôm sau tôi nghe tiếng súng nổ nhiều ở cánh Ông Tự. Đến chiều được trinh sát báo cáo bộ đội của ta sang sông cùng với du kích đánh nhau với "giặc Miên nổi dậy". Anh em nói, tay họ cầm phảng, gậy gộc, cờ phất, miệng la "cáp duồn”, cổ đeo một miếng vải trắng vẽ chữ đen, vấn thành vòng cung, người này ngã xuống người kia xông lên có ý định kẹp lấy quân ta. Bộ đội mình vừa bắn vừa lui, về xóm người Việt. Liên tục ba ngày đều diễn ra như thế. Tôi hỏi mấy ông già, các ông nói: Đánh nhau với họ, mà bắn lịch bịch mấy tiếng súng trường thì họ không sợ đâu, họ chỉ sợ tiếng súng liên thanh thôi. Được mấy cụ già mách nước, tôi nghĩ ngay đến 2 khẩu mi càng (tiểu liên Stell) hiện bố tri ở kênh Xáng và Tân Hưng. Sáng sớm hôm sau, tôi trực tiếp chỉ huy 5 tiểu đội dàn hàng ngang đón đánh một số Miên nổi dậy. Cánh đồng trống nên quan sát rất dễ dàng. Số này vẫn đánh theo kiểu dàn hàng ngang rồi hai đầu khép lại thành vòng cung kẹp lấy quân ta. Khác mấy ngày trước, bị tiểu liên bắn, hai đầu cánh cung cứ lui dần, cuối cùng họ la ó cõng nhau bỏ chạy. Biết họ đã núng thế, tôi cho tìm mấy bác nông dân, bạn của họ trước đây đem một số thuốc rê, đường cát, rượu trắng, xà bông sang tặng họ, giải thích cho họ đừng nghe lời Pháp chống lại bà con mình nữa. Tôi cũng dặn nói bộ đội ta nhiều súng liên thanh lắm. Thấy tình hình ngày một êm, tôi cử một số cán bộ do anh Trọng (tù Côn Đảo về) phụ trách sang gặp họ hòa giải và lập ban Việt - Miên đoàn kết, trụ sở đặt tại nhà máy xay Công Nghiệp. Ta đem dao búa, dầm, xuồng trước đây tịch thu trả lại họ. Tình hình trở lại ổn định như xưa. Bà con người Việt ở tả ngạn sông Ông Đốc ai cũng vui mừng vì không còn phải lo họ tràn sang nữa. Được tin Bác Hồ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp, nhân dân và bộ đội vui mừng, có phần chủ quan. Lúc đó mặt trận Phước Long chưa mất, anh Vũ Đức viết thư cho tôi, Tỉnh ủy Bạc Liêu cũng nói rõ ý chỉ đạo của Trung ương và Bác Hồ với tinh thần lợi dụng hiệp định, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn, củng cố lực lượng. Tôi nói với anh em không được chủ quan lơi lỏng để kháng chiến lâu dài. Lúc này khu vực kênh Xáng Đội Cường được tăng cường thêm một số đơn vị ở trên rút về. Mặc dù đã có Hiệp định sơ bộ, giặc Pháp vẫn cho ca nô bắn loạn xạ hai bên bờ kênh, đến chợ vàm Xáng, tàu quay lại, lọt vào ổ phục kích của quân ta. Thủy lôi nổ, tàu địch tròng trành hoảng hốt chạy thẳng về Cà Mau. Bờ kênh bị khoét một lỗ lớn vì thủy lôi nổ ở sau tàu. Sau lần đó địa phương đã huy động nhân dân, du kích và bộ đội chặt nhiều dừa tre sóc làm cản (lúc đó chưa biết làm cản đất). Theo tôi biết đây cũng là nơi nổ trái thủy lôi và làm cản ngăn tàu giặc đầu tiên của tỉnh.


Tôi báo cáo về vụ dẹp Nhật ở thất Giồng Bốm và Miên nổi dậy ở Khánh Bình đã giải quyết xong. Anh Vũ Đức khen và nhắc mặt trận Phước Long có thể sắp vỡ. Cần phải quyết tâm giữ vững mặt trận Tân Hưng càng lâu càng tốt. Khoảng 20 tháng 3 năm 1946, anh Trọng về báo tin là đêm qua bà con người Miên đã bí mật kéo nhau ra chợ Cà Mau, họ đi lúc nào cũng không biết, khi đi không hề đụng chạm đến cán bộ của ta... Đầu tháng 4, mặt trận Phước Long thất thủ, cơ quan khu bộ, đơn vị Nam tiến, một số dân quân du kích, một số bộ đội của các tỉnh như: bộ đội anh Xuyên ở Sa Đéc, anh Trương ở Sóc Trăng, anh Thiệt ở Trà Vinh, anh Đinh Công Thưởng ở Bạc Liêu và nhiều đồng bào tản cư đi theo rất đông, kéo về đóng dài theo nhà dân ở hai bên rạch Cái Răng. Tôi chuyển bộ phận chỉ huy của phân khu Cà Mau. nhường nhà sàn cho anh Vũ Đức, anh Tuệ và cơ quan khu bộ ở, làm việc. Đơn vị của anh Thưởng sau đó ra tăng cường cho mặt trận Tân Hưng.


Cuối tháng 4 năm 1946, được tin quân Pháp tập trung nhiều ở chợ Cà Mau. Khu phán đoán chúng định bung ra đánh chiếm lộ Cà Mau đi Năm Căn, trước mắt là phá vỡ mặt trận Tân Hưng. Cùng lúc đó, tôi được biết có cuộc họp của Tỉnh ủy Bạc Liêu ở ấp Bà Bèo sát mặt trận Tây Hưng và tại Rau Dừa, hình như Xứ ủy cũng có cuộc họp gần đó. Ở Cái Răng, tôi được anh Vũ Đức giao nhiệm vụ bảo vệ cuộc họp trên. Đến dự tôi thấy có các anh Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Vũ Đức, Phan Trọng Tuệ, Văn Viên, Cao Hồng Lãnh, Nguyễn Văn Tây, v.v... Hội nghị chủ trương đưa các đơn vị về địa bàn cũ hoạt động.


Đầu tháng 5 năm 1946, quân Pháp từ ba mặt tấn công mặt trận Tân Hưng. Cánh chính diện đi theo trục lộ Cà Mau-Năm Căn. Cánh tạt sườn đi xuồng đánh vào nhà thờ rạch Ông Tự, cánh bọc hậu dùng tàu sắt theo kênh Xáng Đội Cường vào cầu Cái Răng. Mặc dầu có phi cơ và pháo binh yểm trợ, nhưng ba cánh đều bị quân ta chặn đánh quyết liệt. Nhưng trước sức tấn công áp đảo của địch, quân ta (kể cả khu bộ) rút về Tân Duyệt, Tân Thuận, Đầm Dơi, U Minh để củng cố lực lượng. Lúc này mới gặp được trung đội 2 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân do anh Lầu chỉ huy. Anh cho biết sau khi trung đội 1 đi rồi thì trung đội 2 được điều về Núi Sam, địch đánh chiếm thị xã Châu Đốc, trung đội 2 đánh nhau với địch mấy ngày rồi rút về thị trấn Tri Tôn, sau đó về Thoại Sơn (Núi Sập), về Rạch Giá xuống U Minh. Trung đội 3 nghe nói ra thay cho trung đội 1 trấn giữ ở Tịnh Biên đánh với Pháp, tiêu hao gần hết. Như vậy, ban chỉ huy đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, ban chỉ huy trung đội 1 không còn, trung đội 3 hy sinh, song lực lượng Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân vẫn tiếp tục tồn tại và chiến đấu. Sau mấy ngày củng cố tại xã Tân Đức, Khu bộ trưởng Khu 9 quyết định đơn vị anh Lầu lên Long Xuyên, anh Phát về Hà Tiên, anh Ba lên Châu Đốc, đại đội của Bạc Liêu về Giá Rai - Hộ Phòng, đơn vị Tăng Thiên Kim đưa khu bộ sang Cái Tàu, Biện Nhị rồi quay về hoạt động ở Cà Mau, riêng đơn vị Nguyễn Bá vẫn gọi là bộ đội Nam tiến1 (Thời gian này, nhân dân thường gọi đơn vị theo người chỉ huy).


Những tháng sau đó, đơn vị tôi tiếp tục hoạt động ở nam Cà Mau dưới sự chỉ đạo của anh Tuệ, vừa tác chiến vừa vũ trang tuyên truyền, trừ gian diệt tề, đánh một số trận, góp phần cùng quân dân địa phương giữ vững một vùng giải phóng rộng lớn ở nam Cà Mau.


Đầu năm 1947, tôi được điều về công tác tại chi đội 124 do anh Huỳnh Thủ làm chi đội trưởng. Một số anh em Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân được điều từ Cà Mau về, tổ chức thành đội tuyên truyền xung phong trực thuộc phòng chính trị Quân khu 9. Sau này anh em đều trở thành cán bộ cốt cán của Đảng, công tác khắp mọi nơi, kể cả một số anh em lên Cao Miên làm quân tình nguyện như anh Thân, anh Huy. Cũng kể từ đây, tất cả anh em đều là vệ quốc đoàn, danh nghĩa Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân không còn nữa.


Ngày nay, đất nước đã được độc lập thống nhất. Số anh em Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân về Nam Bộ chiến đấu năm 1945 chắc không còn nhiều. Nhưng nhắc lại lịch sử của "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" ở Cao Miên để thấy đồng bào ta, bất kỳ làm ăn ở nơi đâu, nếu được sự giáo dục, phát động của Đảng và Bác Hồ kính yêu, khi Tổ quốc lâm nguy, đều sẵn sàng hy sinh tất cả cho Tổ quốc.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2021, 06:57:21 pm
ĐẠI ĐỘI CAO MIÊN VIỆT KIỀU CỨU QUỐC QUÂN
(24-9-1945 - 11-1946)


ĐOÀN THÀNH
TĂNG THIÊN KIM
NGUYỄN TÁI GIÁM


Trước năm 1945, ba nước Đông Dương đều là thuộc địa của Pháp. Chúng tuyển mộ nhiều viên chức, binh lính, công nhân (chủ yếu là công nhân cao su) ở Việt Nam sang Cam-pu-chia. Ngoài ra thợ thủ công (thợ giày, thợ may, thợ kim hoàn, thợ sửa chứa máy móc...), người buôn bán nhỏ Việt Nam sang làm ăn, buôn bán ở Cam-pu-chia khá đông, ước tính gần 500.000 người. Họ tập trung ở các thành phố lớn như: Phnom Pênh, Công Pông Chàm, Kratié, Kampốt và các đồn điền cao su ở Stung Treng, Mimốt.


Việt kiều phần lớn là người lao động, số ít là tầng lớp trung lưu, nhưng đều cần cù chịu khó, hội nhập dễ dàng với cuộc sống ở Cam-pu-chia. Tuyệt đại đa số đều hướng về Tổ quốc, căm ghét chế độ thực dân phong kiến.


Từ những năm bốn mươi, Phnôm Pênh, Công Pông Chàm đã có cơ sở bí mật của Đảng cộng sản Đông Dương. Những hoạt động cách mạng ở Cam-pu-chia có liên hệ mật thiết với Việt Nam vì cùng chung một mục tiêu là đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.


Từ sau vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, phong trào cách mạng của Việt kiều ở Càm-pu-chia sôi nổi hẳn lên, nhất là ở thành phố Phnôm Pênh, nơi có nhiều Việt kiều cư trú.

Đáng chú ý nhất là phong trào "Quyên góp cứu đói đồng bào miền Bắc"; "Truyền bá quốc ngữ” và trừng trị những tên cò, cảnh sát Pháp tàn bạo đối với Việt kiều.

Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 1945 và ở Sài Gòn ngày 25 tháng 8 năm 1945, cùng những tin tức về thực dân Pháp núp sau quân Anh Ấn vào giải giáp quân đội Nhật, thực hiện âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa, làm cho phong trào quyên góp tiền mua vũ khí gửi về nước và cuộc vận động Việt kiều về bảo vệ nền độc lập còn non trẻ của Việt Nam càng thêm sôi nổi ở Phnôm Pênh và Công Pông Chàm.


Chỉ tính từ cuối tháng 8 đến trước ngày Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945) đã có hàng ngàn người được tổ chức thành từng tốp (từ hàng chục đến hàng trăm người) từ các địa phương Cam-pu-chia xung phong về đầu quân ở các tỉnh Châu Đốc, Tây Ninh... Số đông nhất về bằng đường sông, xuôi theo dòng sông Mê Công từ Phnôm Pênh qua Bắc Ba Nam về thị xã Châu Đốc và vùng Tân Châu - Hồng Ngự.


Số người tình nguyện về đầu quân ở thị xã Châu Đốc (lên đến vài ngàn người) được phân ra trú đóng ở các nhà dân và tại nhà Cercle, sân vận động thị xã Châu Đốc.

Chiều ngày 23 tháng 9 năm 1945, tin tức về quân Pháp được quân Anh yểm trợ gây hấn ở Sài Gòn và tin về những trận chiến đấu ngoan cường, quyết tử của chiến sĩ ta tại Nam Bộ phủ, cột cờ Thủ Ngữ, cầu Mác-ma-hông, nhà đèn Chợ Quán... bay đến thị xã Châu Đốc.


Nhân dân thị xã, Việt kiều Cam-pu-chia tập trung đông đảo ở đường bờ sông thị xã, trước cổng Ủy ban nhân dân tỉnh và sân vận động để nghe tin tức, chờ lệnh của thượng cấp.

Không khí sôi sục căm thù. Mọi người đều biểu thị lòng căm phẫn và quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập và tự do của Tổ quốc. Tiếng hô khẩu hiệu "Đả đảo thực dân Pháp xâm lược", "Việt Nam độc lập muôn năm" và tiếng ca "Lên đàng" vang lên từng chập.

Trên 200 Việt kiều trú đóng tại nhà Cercle được lệnh: "Sẵn sàng ra mặt trận".

6 giờ sáng 24 tháng 9, trên 1.000 thanh niên, công nhân, viên chức Việt kiều Cam-pu-chia tập trung ra sân vận động Châu Đốc để tuyển chọn những người gan dạ nhất, thành lập đơn vị chiến đấu.

Sau lễ chào cờ, một vị trong ban tuyển quân tình nguyện công bố: "Đánh giặc Pháp chỉ cần những người cảm tử, nếu ai chịu đựng được điều kiện bỏ một cục than hồng lên lòng bàn tay đến khi nó cháy hết hoặc chịu chặt ngón tay út bàn tay trái thì được nhập ngũ". Vị này giải thích: Một chiến sĩ cảm tử, dù bị bỏng một bàn tay, chỉ còn một bàn tay lành ném lựu đạn về phía địch vẫn chiến đấu tốt (thực ra chỉ là nói dọa để thử thách).


200 người giơ tay trong giây phút đầu tiên đã được xếp riêng ra để thành lập đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân. Rất nhiều người tiếp tục giơ tay nhưng không được tuyển chọn nữa. Số còn lại được bổ sung cho các đơn vị cộng hòa vệ binh và dân quân cách mạng trong tỉnh.


Ngoài ban chỉ huy đại đội 3 người, ban chỉ huy mỗi trung đội 2 người, số còn lại được biên chế thành 3 trung đội (mỗi trung đội có 4 tiểu đội, mỗi tiểu đội có 12 người) và đưa về các bộ phận trinh sát, liên lạc, quân y, cấp dưỡng và văn phòng đại đội.

Phiêu hiệu của đại đội: "đại đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân".

Ban chỉ huy đại đội gồm:

- Đồng chí Tô Cương, đại đội trưởng (những năm sáu mươi, đồng chí là một trong những nhà quay phim tài liệu nổi tiếng của Xưởng phim truyện và tài liệu Việt Nam).

- Đồng chí Mộc, chính trị viên.

- Đồng chí Nguyễn Văn Mạnh, trung đội trưởng trung đội 1.

- Đồng chí Nguyễn Văn Lầu, trung đội trưởng trung đội 2 (tháng 7 năm 1954 tập kết ra Bắc với cấp bậc tiểu đoàn phó).

- Đồng chí Lạc, trung đội trưởng trung đội 3.

Mỗi tiểu đội được trang bị 2 súng mút-cơ-tông hoặc súng 2 nòng (loại súng săn). Còn lại được trang bị mã tấu, lựu đạn đập, phi tiêu và ná lẫy, gậy tầm vông, mìn tự chế. Mỗi cá nhân được cấp 1 chiếc nóp.


Chiều ngày 24 và 25 tháng 9, các tiểu đội bầu tiểu đội trưởng, chính trị chỉ đạo viên tiểu đội và học những quy định đầu tiên về điều lệnh đội ngũ.

Khoảng 14 giờ ngày 26 tháng 9, đại đội được tập trung đến phòng chính của nhà Cercle để nghe phái đoàn Trung ương từ Hà Nội vào nói chuyện và nhận lệnh đi chiến đấu của thanh tra chính trị miền Tây. Phái đoàn gồm các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, Nguyễn Văn Tây.


Đồng chí Cao Hồng Lãnh nói chuyện với anh em về âm mưu của thực dân Pháp, tình hình chiến đấu của quân và dân ta ở mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn. Đồng chí cho biết Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã gửi mệnh lệnh kháng chiến cho quân dân Nam Bộ.


Đồng chí kêu gọi: Các chiến sĩ thuộc bộ đội "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" hãy anh dũng tiến lên! Cùng đồng bào Nam Bộ đánh bại cuộc xâm lăng của thực dân Pháp.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2021, 06:58:47 pm
Tiếp đó đồng chí Nguyễn Văn Tây, thanh tra chính trị miền Tây ra lệnh:

Nhiệm vụ của đại đội là chia quân ra trấn giữ ba nơi:
- Trung đội 1 trấn giữ thị trấn Tịnh Biên.
- Trung đội 2 trấn giữ Núi Sam.
- Trung đội 3 trấn giữ Nhà Bàn.


Đến các nơi trên, các trung đội phối hợp với Ủy ban kháng chiến địa phương lập phòng tuyến chiến đấu, giặc đến phải chặn đánh quyết liệt, cùng với địa phương thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Giặc chưa đến thì ráo riết huấn luyện quân sự và bố phòng nghiêm ngặt.

Sáng ngày 28 tháng 9, các trung đội hành quân về các vị trí đóng quân mới.

Trong nửa đầu tháng 10 năm 1945, nhiệm vụ chủ yếu của các trung đội là huấn lệnh quân sự, tuần tra và phối hợp với dân quân cách mạng địa phương xây dựng các ụ chiến đấu từ thị xã Châu Đốc đến ngã ba Tịnh Biên.


Trung tuần tháng 10, trung đội 1 đóng tại ngã ba Tịnh Biên chặn đánh 1 đoàn xe Nhật, có 5 xe tăng (trên xe có chở 1 số lính Pháp) từ Tà Keo kéo xuống. Chúng đòi mượn đường để hành quân về thị xã Châu Đốc. Ta không cho phép và dụng ý cho tên quan ba Nhật đến thương thuyết đi qua trận địa pháo của ta. Chúng ngán "pháo của Việt kiều” nên quay xe về lại Tà Keo (ca nông cổ từ thời Minh Mạng).

Giữa tháng 11, trung đội 1 phục kích tàu giặc Pháp tại Giang Thành (kênh Vĩnh Tế).

Đầu tháng 12, trung đội 1 được lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây hành quân về Núi Sập dự khóa huấn luyện quân sự cấp tốc do sĩ quan Nhật phụ trách.

Trung đội 3 được điều về trấn giữ Tịnh Biên thay thế trung đội 1.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, toàn thể chiến sĩ "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân” tham gia bỏ phiếu bầu bác Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của nước ta làm đại biểu khóa 1 Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ngày 8 tháng 1 năm 1946, trung đội 1 được lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây xuống ca nô hành quân về Bố Thảo - Sóc Trăng.

Đêm 10 tháng 1, trung đội 1 được tăng cường thêm súng trường và lựu đạn do bốn sĩ quan Nhật chỉ huy tấn công đồn Nhu Gia (nằm trên quốc lộ 4. đoạn từ thị xã Sóc Trăng chạy xuống thị xã Bạc Liêu). Đồn Nhu Gia do một trung đội hỗn hợp Pháp, Việt gian và Miên gian đóng giữ. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, do không có loại vũ khí công đồn và do hợp đồng tác chiến không chặt, trận đánh không dứt điểm. Quân ta rút lui về Mỹ Tú. Trung đội 1 có 2 đồng chí hy sinh.


Ngày 20 tháng 1, quân Pháp dùng tàu chiến và bộ binh từ nhiều phía tấn công thị xã Châu Đốc và vùng phụ cận. Trung đội 2 do đồng chí Nguyễn Văn Lầu chỉ huy phối hợp với cộng hòa vệ binh và dân quân cách mạng địa phương chặn đánh địch ở ngoại vi thị xã và xung quanh Núi Sam. Khi Núi Sam mất, trung đội 2 chủ động di chuyển về mặt trận Tri Tôn. Tại đây, trung đội 2 đã cùng địa phương chặn đánh quyết liệt khi chúng tiến vào thị trấn. Ta diệt một số tên, trung đội có 3 hy sinh và 5 bị thương.


Mặt trận Tri Tôn vỡ. Trung đội 2 nhờ nhân dân dẫn đường băng đồng về Núi Sập (Long Xuyên). Sau khi mặt trận Núi Sập thất thủ, trung đội 2 hành quân về Rạch Giá tham gia giữ mặt trận Ngã tư Phú Sinh.

Cuối tháng 1 năm 1946, quân Pháp từ các hướng Tà Keo, Giang Thành và Nhà Bàn tấn công huyện lỵ Tịnh Biên. Trung đội 3 đang phòng ngự tại ngã ba Tịnh Biên đã dựa vào công sự đánh lui nhiều đợt xung phong của địch và giữ trận địa được hơn 4 tiếng đồng hồ.


Sau trận đánh ngã ba Tịnh Biên, trung đội 3 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân không còn nữa1 (Năm 1949 - 1950, khi chúng tôi trở lại vùng Tịnh Biên hoạt động, bà con ở đây hết lời ca ngợi các chiến sĩ trung đội 3 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân trong trận quyết chiến tại ngã ba Tịnh Biên).


Sau trận đồn Nhu Gia thất bại và được tin quân pháp đã chiếm hầu hết các thành phố, thị xã ở Nam Bộ, ban chỉ huy trung đội 1 do Nguyễn Văn Mạnh làm trung đội trưởng trốn chạy khỏi đơn vị.

Trung đội không còn chỉ huy và mất liên lạc với cấp trên. Không thể để đơn vị tan rã, hơn 20 anh em còn lại đã bầu đồng chí Tăng Thiên Kim làm trung đội trưởng và hành quân hướng về thị trấn Phước Long để bắt liên lạc với Khu trưởng Vũ Đức.


Như vậy, vào cuối tháng 1 năm 1946, đại đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân chỉ còn 2 trung đội hoạt động ở hai hướng khác nhau. Trung đội 1 do đồng chí Tăng Thiên Kim chỉ huy, trung đội 2 do đồng chí Nguyễn Văn Lầu chỉ huy.


Trên đường hành quân về Phước Long, chiều 25 tháng 5 năm 1946 khi trung đội 1 về gần đến Ngã năm (lúc này đã có trên 30 tay súng) thì được tin quân pháp đã chiếm Ngã năm và một bộ phận bộ đội Nam tiến do đồng chí Nguyễn Bá chỉ huy đang bao vây tấn công chúng.


Trinh sát phát hiện, ngoài số lính Pháp đóng ở Đầu Voi Ngã năm (đối diện chợ Ngã năm), phía nhà lồng chợ Ngã năm có một số lính pạc-ti-giăng (ngụy). Sau cuộc hội ý chớp nhoáng, trung đội 1 quyết định đến nửa đêm sẽ tấn công bọn lính pạc-ti-giăng trong nhà lồng chợ, sau khi tiếng súng tấn công bọn Pháp ở Đầu Voi của bộ đội Nam tiến bắt đầu nổ.


Khoảng 23 giờ đêm 25 tháng 1, bằng hai cánh, trung đội 1 tấn công bọn lính pạc-ti-giăng. Sau 30 phút chiến đấu, ta tiêu diệt 7 tên, thu 5 súng trường. Bọn ngụy còn lại tháo chạy khỏi chợ Ngã năm.

Rạng sáng 26 tháng 1, sau khi diệt một số tên Pháp, bộ đội Nam tiến kết thúc trận đánh. Số địch còn lại tháo chạy về Ngã bảy. Sau trận đánh thắng lợi, hai đơn vị gặp nhau, tay bắt mặt mừng rất phấn khởi.

Theo sự chỉ dẫn của đồng chí Nguyễn Bá, trung đội 1 tiếp tục hành quân về quận lỵ Phước Long để gặp Khu bộ trưởng Vũ Đức và Chính trị bộ chủ nhiệm khu Phan Trọng Tuệ.

Sáng ngày 1 tháng 2, đồng chí Tăng Thiên Kim chủ động gặp đồng chí Vũ Đức và Phan Trọng Tuệ tại trụ sở ở Phước Long.

Sau khi nghe đồng chí Tăng Thiên Kim báo cáo, hai đồng chí tỏ lời khen ngợi bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân đã biết khắc phục khó khăn, đoàn kết nội bộ, chiến đấu dũng cảm, giữ vững được lực lượng để kháng chiến lâu dài.

Hai đồng chí trao nhiệm vụ:

a) Đưa đơn vị ra đóng tại Vĩnh Hưng, đảm bảo bên sườn cho tổng hành dinh, đánh địch càn quét vào vùng đìa Chuối và đìa Cai Tài, bảo vệ vùng giải phóng.

b) Cử một bộ phận cán bộ đi xây dựng các đại đội dân quân cách mạng trong liên tỉnh Sóc Trăng, Rạch Giá. Bạc Liêu.

Đồng chí Tăng Thiên Kim được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng dân quân liên tỉnh kiêm chỉ huy đơn vị Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân.

Đồng chí Đào Công Tâm (chiến sĩ Côn Đảo về) được bổ nhiệm làm chính trị viên dân quân liên tỉnh.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2021, 06:59:43 pm
Trong một tháng (từ đầu đến cuối tháng 2 năm 1946) đơn vị phối hợp với dân quân địa phương hai lần chặn đánh bọn Pháp từ thị xã Bạc Liêu xuống càn quét vùng đìa Chuối và đìa Cai Tài. Ta diệt một số tên, thu 7 súng (có 1 tiểu liên Stell), thu lại nhiều tài sản do địch cướp trả lại cho dân. Bộ phận cán bộ biệt phái phối hợp với Ủy ban kháng chiến các địa phương tổ chức được 8 đại đội dân quân cách mạng.


Đầu tháng 3 năm 1946, đồng chí Tăng Thiên Kim nhận được lệnh của Khu bộ trưởng Vũ Đức về trụ sở ở Phước Long nhận nhiệm vụ mới.

Sau khi phân tích tình hình chiến sự trên toàn chiến trường miền Tây, đồng chí Vũ Đức cho biết: Mặt trận ngã tư Phú Sinh - Phước Long chỉ có thể giữ được khoảng một đến hai tháng nữa thôi, vì vậy phải quyết giữ cho được Tân Hưng để bảo vệ vùng giải phóng Cà Mau đặng có chỗ cho các đơn vị lui quân về Cà Mau củng cố lực lượng.


Đồng chí yêu cầu điều động gấp đơn vị Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân về cùng địa phương xây dựng mặt trận Tân Hưng. Đồng thời ghé qua thất Cao Đài Giồng Bốm đưa thư của đồng chí gửi cụ Cao Triều Phát người sáng lập phái Cao Đài 12 phái thống nhất. Sau đó đến Khánh Bình cùng địa phương giải quyết vụ xung đột giữa người Miến và người Việt ở xã Khánh Bình.


Đồng chí Vũ Đức công bố quyết định bổ nhiệm đồng chí Tăng Thiên Kim làm chỉ huy trưởng phân khu Cà Mau. Quân số đơn vị lúc này đã lên hơn 100 người.

Chiều 3 tháng 3 năm 1946, đơn vị hành quân đến xã Phong Thạnh Tây rồi tiến dần về thất Cao Đài. Đơn vị được bố trí trực diện với thất Cao Đài, sẵn sàng nổ súng yểm trợ cho đồng chí Tăng Thiên Kim vào thuyết khách trong thất.


Sau khi chuyển thư Khu trưởng Vũ Đức gửi cụ Cao Triều Phát cho một chức sắc Cao Đài và sau 2 giờ thương thảo, cắt máu ăn thề, hai bên đã đi đến thỏa thuận:

1. Thất Cao Đài Giồng Bốm từ 6 tháng 3 năm 1946 trở đi thành một trạm liên lạc của quân cách mạng. Khi bộ đội đi ngang qua đây, thất có nhiệm vụ tiếp tế cơm nước, bảo vệ và không được tước súng những người đi lẻ tẻ.

2. Không được bung ra các xóm xung quanh thất hãm dọa và lấy đồ của dân. Trả lại những đồ đạc đã lấy của dân.

3. Mọi cán bộ, chiến sĩ mỗi bên khi qua lại vùng của nhau đều phải có giấy chứng nhận có chữ ký của người chỉ huy.


Khoảng 19 giờ ngày 5 tháng 3 năm 1946, đồng chí Tăng Thiên Kim được thất Cao Đài dùng ghe chở về đơn vị đang dàn quân ở vòng ngoài kèm theo 3 cần xé cơm trắng và hột vịt muối. Sau này, khi về hoạt động ở vùng Tân Đức, Tân Thuận (giữa năm 1946), đơn vị nhiều lần nhận được gạo và thực phẩm do cụ Cao Triều Phát tiếp tế.


Từ 10 tháng 3 đến cuối tháng 4 năm 1946, đơn vị tập trung vào việc xây dựng tuyến phòng thủ Tân Hưng, chủ yếu ở kênh sáng Đội Cường và xung quanh chợ Tân Hưng, sẵn sàng đón đánh địch.


Sáng 15 tháng 3, đồng chí Tăng Thiên Kim chỉ huy 5 tiểu đội đến Rạch Ông chặn đường số người Miên bị giặc Pháp kích động đang kéo băng đồng Ông Tự đến đốt phá xóm nhà người Việt (bên tả ngạn sông Ông Đốc). Ta nổ một số loạt tiểu liên, nghe thấy tiếng súng liên thanh họ vội tháo chạy về xóm người Miên. Liền sau đó, ta cử cán bộ và một số người Việt ở địa phương có uy tín với đồng bào Miên đem thuốc rê, xà bông, đường cát và rượu trắng sang úy lạo đồng bào Miên và giải thích cho đồng bào biết phải đoàn kết Việt - Miên, không nên mắc mưu chia rẽ của thực dân Pháp.


Hai bên hòa giải, cùng thành lập ra ban Việt - Miên đoàn kết, trụ sở đặt tại nhà máy xay lúa kinh Công Nghiệp. Tình hình Khánh Bình đã ổn định trở lại. Nhưng sau đó ít lâu, đồng bào Miên bí mật rút ra ngoài chợ Cà Mau (lúc này thị xã Cà Mau đã bị quân Pháp chiếm đóng).


Đầu tháng 4 năm 1946, mặt trận Phước Long thất thủ. Cơ quan khu bộ, hầu hết các đơn vị của mặt trận Phước Long, một số đơn vị dân quân và một bộ phận nhân dân rút về tập trung ở rạch Cái Rắn. Tại Cái Rắn, đồng chí Vũ Đức chỉ thị cho đồng chí Tăng Thiên Kim đem một bộ phận đơn vị Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân đến bảo vệ hội nghị Xứ ủy. Tham gia hội nghị này có các đồng chí: Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Vũ Đức, Phan Trọng Tuệ, Cao Hồng Lãnh, Văn Viên, Nguyễn Văn Tây và một số đồng chí trong Liên tỉnh ủy miền Tây.


Bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân đã hoàn thành nhiệm vụ bao vệ hội nghị.

Đầu tháng 5 năm 1946, quân Pháp có phi cơ và pháo binh yểm hộ tấn công mặt trận Tân Hưng, cả ba cánh quân của địch (từ trục lộ Cà Mau - Năm Căn; theo rạch Ông Tự và cánh quân bằng đường tàu sát theo kênh sáng Đội Cường tiến vào) đều bị các tiểu đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân và các đội vũ trang của các tỉnh chặn đánh quyết liệt. Nhưng trước sức tấn công mạnh của địch, sau vài giờ cầm cự, toàn bộ quân ta đã rút về vùng Tân Duyệt, Tân Thuận, Tân Đức.


Tại Tân Đức, hai cán bộ chỉ huy hai trung đội Việt kiều cứu quốc quân (Tăng Thiên Kim chỉ huy trung đội 1, Nguyễn Văn Lầu chỉ huy trung đội 2) đã gặp nhau. Hai đồng chí đều phấn khởi vì sau gần một năm chiến đấu liên tục, gặp rất nhiều khó khăn, nhiều đồng chí đã hy sinh, nhưng đại đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, vẫn bảo tồn và phát triển được lực lượng (mỗi trung đội có trên 100 người và khoảng 80 súng).


Sau ít ngày củng cố và nghỉ ngơi tại Tân Đức; Khu bộ trưởng Khu 9 Vũ Đức hạ lệnh cho đơn vị của đồng chí Nguyễn Văn Lầu (trung đội 2) trở về hoạt động trên địa bàn hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên, đơn vị của đồng chí Tăng Thiên Kim (trung đội 1) bảo vệ khu bộ về vùng Cái Tàu - Biện Nhị (căn cứ U Minh) rồi quay lại hoạt động ở vùng Cà Mau.


Sau khi đưa an toàn khu bộ về rừng U Minh, trung đội 1 nhanh chóng quay lại vùng nam Cà Mau hoạt động.

Sau tạm ước 14 tháng 9, cùng với cao trào "vùng lên hoạt động" của toàn chiến trường Khu 9, đơn vị Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân do Tăng Thiên Kim chỉ huy (Đoàn Thành làm chính trị viên và Nguyễn Tái Giám làm trung đội phó) đã đánh một số trận có tiếng vang ở Bạc Liêu - Cà Mau:

- Hai lần phục kích quân Pháp đi càn quét ở quận Đầm Dơi, diệt 20 tên, thu 2 súng trường Anh.

- Đánh thiệt hại nặng đồn Tắc Vân - Hộ Phòng.

- Đánh thiệt hại nặng 1 trung đội Pháp trong trận phục kích trên lộ số 4 (đoạn nhà Vân)...


Cuối tháng 11 năm 1946, đồng chí Tăng Thiên Kim được đồng chí Phan Trọng Tuệ điều về làm ủy viên ban tham mưu tỉnh Bạc Liêu, với nhiệm vụ đi xây dựng đại đội Cửu Long 1 (đại đội được trang bị vũ khí mới từ Xiêm gửi về).


Đơn vị được trao lại cho đồng chí Bảy Hiền (cán bộ của ban quân sự tỉnh Bạc Liêu) và đổi tên là "trung đội Phạm Văn Đồng".

Ban chỉ huy trung đội có các đồng chí: Nguyễn Ngọc Hiền, trung đội trưởng; Đoàn Thành, chính trị viên; Nguyễn Tái Giám, trung đội phó. 

Đến đấy kết thúc vai trò lịch sử của bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân.

Tháng 1 năm 1947, theo lệnh của Khu bộ trưởng Huỳnh Phán Hộ, đồng chí Đoàn Thành được điều về làm chính trị viên trung đội 10 đại đội cửu Long 1; đồng chí Nguyễn Tái Giám được điều về huyện đội Hồng Dân - Rạch Giá; đồng chí Tăng Thiên Kim được điều về chi đội 24.


Đơn vị của đồng chí Nguyễn Văn Lầu cũng chuyển thành một đại đội vệ quốc đoàn Khu 9, hoạt động ở vùng Long Xuyên - Châu Đốc.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Sáu, 2021, 08:19:53 pm
SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ ĐỘI ĐỘC LẬP SỐ 1


HỒ SĨ TỤI
(Nguyên chiến sĩ bộ đội Độc lập số 1)


Năm 1941, thực dân Pháp ở Đông Dương bị thua trận, vừa phải đầu hàng Nhật, vừa phải trao tỉnh Bát-tam-băng và một số tỉnh biên giới Cam-pu-chia cho Thái Lan. Trước khi rút lui, chúng gạ gẫm kiều bào theo chúng, hứa hẹn sẽ bồi thường tài sản và cho định cư ở Cam-pu-chia. Nhưng kiều bào ta (lúc đó khoảng 16.000 người) kiên quyết không theo giặc Pháp kể cả số binh lính và công nhân viên chức người Việt cũng trốn ở lại. Vậy là từ năm 1942 cộng đồng người Việt ở Bát-tam-băng đã trở thành "Việt kiều Thái Lan".


Năm 1943, vợ chồng anh Lê Văn Xướng (Sáu Rỗ) lên Băng-cốc liên lạc được với Đảng bộ Việt kiều Thái Lan, nhận chương trình Việt Minh về vận động các ông Phạm Thành Trinh, Đặng Văn Duyệt, Phạm Thành Sẳng... đứng ra tổ chức Hội Việt kiều cứu quốc ở Bát-tam-băng.


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, tiếng súng Nam Bộ kháng chiến bùng nổ. Quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Bộ và âm mưu tái chiếm Cam-pu-chia đến sát biên giới Bát-tam-băng. Tin Pháp xâm lược Nam Bộ và đang ráo riết đòi lại tỉnh Bát-tam-băng khuấy động tinh thần yêu nước và căm thù giặc trong kiều bào.


Đảng bộ Việt kiều vừa lo củng cố Hội vừa phát động phong trào thanh niên thoát ly gia đình tham gia lực lượng vũ trang, xây dựng chiến khu, chuẩn bị chiến đấu để đối phó với tình hình xấu nhất có thể xảy ra.


Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, chính phủ Thái Lan thân Nhật sụp đổ. Đảng Thái Lan tự do "Séri Thai" cầm quyền có cảm tình với cách mạng Việt Nam đã làm ngơ cho Hội Việt kiều hoạt động công khai. Hội bí mật tổ chức bốn chiến khu, đó là:

- Chiến khu 1 ở cây số 5 thuộc làng Coskhnơi.

- Chiến khu 2 ở Kohveng thuộc Rạch Tơ.

- Chiến khu 3 ở Stưng Chok cách làng Chok 3 ki-lô-mét.

- Chiến khu 4 ở Tà Ôm thuộc làng Giòng Trăm.


Mỗi nơi có khoảng 50 - 60 người, đã tổ chức lạc quyên và tổ chức "Tuần lễ vàng yêu nước" để lo mua vũ khí và nuôi các lực lượng ở chiến khu.

Tháng 3 năm 1946, đồng chí Trần Văn Giàu, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ từ Trung ương về cử anh Ngô Thất Sơn (người bảo vệ đồng chí Giàu ra Bắc, được học Trường quân sự ở Sơn Tây, tốt nghiệp xuất sắc) trực tiếp giúp Hội Việt kiều huấn luyện cho lực lượng tân binh ở các chiến khu. Đồng chí Giàu còn bí mật liên hệ với nhà vua Thái Lan (Luông Blavydek) và một số bộ trưởng trong chính phủ Thái Lan vốn là bạn quen cũ, nhờ hỗ trợ phong trào yêu nước của kiều bào và mua giúp vũ khí. Nhờ đó ta có vũ khí tốt trang bị cho các đơn vị bộ   đội hải ngoại và chuyển về Nam Bộ trong các năm sau.


Tháng 6 năm 1946, các lực lượng ở các chiến khu được lệnh tập trung về Chiến khu 4 Tà Ôm để chuẩn bị về nước.

Ngày 10 tháng 8 năm 1946, đồng chí Trần Văn Giàu thay mặt Ủy ban kháng chiến Nam Bộ ký quyết định thành lập "Bộ đội Độc lập 1" tại Chiến khu 4 ở Tà Ôm và lệnh cho bộ đội lên đường về nước.

Đơn vị có 105 cán bộ chiến sĩ (tuyệt đại đa số là con em Việt kiều ở Bát-tam-băng) tình nguyện, được chọn lọc, trang bị đủ vũ khí đạn, có ba đảng viên làm nòng cốt. Đồng chí Huỳnh Văn Vàng là chỉ huy trưởng, Ngô Thất Sơn chỉ huy phó, Đặng Văn Duyệt là chính trị viên. Đồng chí Trần Văn Giàu giao nhiệm vụ cho toàn đơn vị mở đường về nước, bảo đảm an toàn về người và vũ khí. Việc đánh địch không phải là nhiệm vụ chủ yếu. Nhưng phải mở đường mà đi nếu gặp địch.


Đêm trước khi lên đường, buổi lễ tiễn đưa có các đồng chí lãnh đạo kiều bào ở Bát-tam-băng, đặc biệt có ông Achar Đươn và bà Mé Muôn đại diện cho lực lượng Khmer Issarăk, cùng đông đảo kiều bào và thân nhân anh em trong đơn vị. Anh em bộ đội hải ngoại nhớ mãi lời phát biểu của một phụ lão: Sau hơn 80 năm nô lệ cho Pháp, nhân dân ta đã hy sinh tranh đấu giành được độc lập. Nay chúng trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, vậy các con hãy hy sinh lên đường cứu nước. Bà má nhắc lại: "Các con hãy hy sinh" và mọi người đồng thanh hô to: "Hy sinh! Hy sinh! Hy sinh!".


Hôm sau bộ đội hành quân từ Chiến khu ở Bát-tam-băng, khoảng một tuần thì đến gần thị xã Siêm Reap. Nghe tiếng súng của lực lượng Khmer Issarăk tấn công vào thị xã Siêm Reap, đúng như ý đồ của lãnh đạo, "Bộ đội Độc lập số 1" hành quân đến địa phận Siêm Reap nhằm hút địch bung ra bỏ thị xã, tạo thuận lợi cho lực lượng Khmer Issarăk đánh chiếm thị xã thắng lợi.


Chiến thắng Siêm Reap gây chấn động lớn. Đây là lần đầu tiên lực lượng Khmer Issarăk đánh chiếm và làm chủ một tỉnh ở Cam-pu-chia. Bọn Pháp phải điều động một số binh đoàn từ Sài Gòn và Phnôm Pênh lên giải tỏa Siêm Reap. Bị địch phản kích, anh em Issarăk cho người đi ngựa đuổi theo "Bộ đội Độc lập số 1" yêu cầu đơn vị ở lại chi viện. "Bộ đội Độc lập số 1" đã để lại một tiểu đội mạnh 17 tay súng do đồng chí Luân làm tiểu đội trưởng tiếp ứng cho anh em Issarăk.


Mấy ngày hôm sau, được tin trinh sát báo thứ bảy hàng tuần có một xe Jeep từ Kompongthom xuống phát lương cho bọn lính và dân khai thác đá ở Phnôm Pênh, trên xe có hai lính Miên bảo vệ. Ban chỉ huy bố trí một tiểu đội mạnh do đồng chí Kiều Mạnh Giá chỉ huy yêu cầu bắt sống rồi đưa đơn vị vượt núi Phnom Dek về hướng Tây Ninh, đường này sẽ rút ngắn được thời gian về nước.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Sáu, 2021, 08:21:12 pm
Phục kích từ sáng đến chiều không thấy xe địch, tiểu đội đã định rút quân thì nghe tiếng xe đến gần, lúc đó khoảng 4 giờ chiều ngày 19 tháng 8 năm 1946. Đồng chí Kiều Mạnh Giá ra lệnh triển khai đội hình chiến đấu. 10 xe cam nhông, 1 xe nồi đồng, 1 xe cứu thương, 1 tiểu đoàn lê dương Pháp đổ bộ ngay trước đội hình phục kích, buộc ta phải nổ súng. Bị đánh bất ngờ địch chạy tán loạn. Trận chiến đấu rất ác liệt, giằng co cho đến tối. Địch phải gom xác, ta đếm được trên 40 tên, chúng rút lui, ta có 2 chiến sĩ hy sinh và 1 bị thương nhẹ. Trận đánh hoàn toàn không cân sức, nhưng nhờ ta dựa vào địa hình đồi núi, chủ động tấn công bằng hỏa lực khá mạnh nên địch thương vong nhiều. (Hiện nay còn hai đồng chí tham gia trận đánh này là Nguyễn Quang Thanh và Trần An). Từ đó, với danh nghĩa bộ đội Issarăk, ta cử đồng chí Ngô Thất Sơn có ngoại hình cao to và đen giống người Khmer, lại rất giỏi tiếng Khmer, công khai chỉ huy vũ trang tuyên truyền, phát động nhân dân trên đường hành quân đoàn kết đứng lên chống Pháp. Đồng chí Sơn chọn một tiểu đội gồm các chiến sĩ biết nói tiếng Khmer đi trinh sát mở đường. Gặp đồn bốt nhỏ lẻ hoặc bọn tề, ngụy, đồng chí Sơn thường giả làm quan phủ (Chau Vay Srok) dẫn lính đi kinh lý để công khai tiếp cận, chủ động tước súng và buộc chúng phải cho dân tiếp tế và dẫn đường cho đơn vị. Đến đâu đơn vị cũng được nhân dân, kể cả sư sãi nồng nhiệt đón tiếp và tiếp tế, dẫn đường. Có nơi đồng bào dùng voi đưa bộ đội đi. Súng thu được nhiều, đơn vị trang bị luôn cho nhân dân địa phương sau khi phát động họ đứng lên chống Pháp. Nhờ số súng này, lực lượng của nhóm Cru Um đã liên tục chống Pháp đến năm 1951, liên lạc được với bộ đội Sivotha II để phối hợp chiến đấu chống Pháp đến năm 1954.


Đơn vị hành quân đến vùng Stung Treng, đồng chí Sơn giả làm quan phủ đi kinh lý để đột nhập vào đồn Siempock tước súng của gần 50 tên lính. Quân ta làm chủ khu dân cư Siempock, vận động thuyền ghe chờ đêm tối tổ chức cho bộ đội vượt sông Mê Công.


Giữa mùa mưa lú, lròng sông rộng nước đổ vào mạnh. Đoàn ghe bị lạc làm hai. Cánh đồng chí Vàng và đồng chí Sơn có 20 người lọt về vùng Chho Long được Việt kiều hướng dẫn cắt đường về biên giới Tây Ninh tại vùng căn cứ kháng chiến Tân Biên, ngày 20 tháng 9 năm 1946.


Số còn lại trên 60 người về vùng Lộc Ninh, Hớn Quản không móc nối được cơ sở kháng chiến lại bị lộ; bị quân Pháp tập kích nhiều lần, sau vượt sông Bé về vùng bắc Đồng Xoài mới liên lạc được với trinh sát của chi đội 10, ngày 13 tháng 10 năm 1946. Sau đó được đưa về hội quân với cánh đồng chí Sơn tại căn cứ Cây Cầy (xã Hòa Hội, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh) vào ngày 20 tháng 10 năm 1946 và từ đây đổi tên thành "bộ đội Hải ngoại số 1".


Với lòng yêu nước nồng nàn và tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, với quyết tâm cao, mưu trí và dũng cảm, trong điều kiện thiếu thốn phương tiện (chỉ có một la bàn cũ kỹ và một tấm bản đồ đơn giản), phải tự tìm đường mà đi, tự lo tiếp tế mà sống, ròng rã 63 ngày đêm mới về đến Nam Bộ. Một số đồng chí đã hy sinh. Nhưng cuối cùng đơn vị đã về đến Tổ quốc tham gia kháng chiến. Đó là thắng lợi của một chủ trương sáng suốt của Đảng, người trực tiếp tổ chức là đồng chú Trần Văn Giàu. Bộ đội Hải ngoại về đến quê hương là nguồn động viên rất lớn đối với đồng bào, chiến sĩ Tây Ninh và toàn Nam Bộ, góp phần mở đường cho các đơn vị hải ngoại khác về nước sau này.


Tây Ninh là một tỉnh nghèo. Năm 1946 nhân dân trong tỉnh vừa phải chống Pháp vừa phải đối phó với lưc lượng Cao Đài phản động do Pháp huấn luyện và cung cấp vũ khí. Tại biên giới huyện Châu Thành giáp với tỉnh Svay Riêng (Cam-pu-chia), giặc Pháp đã kích động hận thù, tăng cường càn quét bắn giết, xúi giục hàng ngàn dân Khmer đi hôi của "Cap Doun" (chém An Nam). Vùng biên giới xơ xác tiêu điều, luôn vắng; bóng người, vô cùng căng thẳng. Nhiều sóc làng người Khmer nội địa ở các tổng Tropeng Yun, Băng Chrum, Khăn Xuyên, đồng bào sống trong tâm trạng hoang mang, sợ Pháp càn quét bắn giết, sợ bị trả thù, một số bỏ chạy qua đất Cam-pu-chia.


Lãnh đạo tỉnh Tây Ninh biết rõ bộ đội "Hải ngoại số 1" đã qua huấn luyện và chiến đấu, có vũ khí trang bị tốt, nhiều cán bộ chiến sĩ là con em Việt kiều biết tiếng và am hiểu tập quán Cam-pu-chia nên đã xin Bộ tư lệnh Quân khu 7 cho đơn vị ở lại đóng quân trên đất Tây Ninh. Đề nghị được trên chấp thuận. Trên rút đồng chí Huỳnh Văn Vàng về Sài Gòn - Gia Định, chỉ định đồng chí Ngô Thất Sơn là chỉ huy trưởng bộ đội "Hải ngoại số 1".


Đồng chí Ngô Thất Sơn nhanh chóng bố trí một đội công tác tại thị xã Tây Ninh để thường xuyên quấy rối địch, nắm tình hình, trừ gian diệt tề, bảo vệ phong trào địa phương, vận động thanh niên tòng quân, vận động đồng bào ủng hộ thuốc men dụng cụ y tế, in ẩn, phim ảnh, v.v...


Một đơn vị mạnh do đồng chí Kiều Mạnh Giá chỉ huy sát cánh với một đại đội của chi đội 11 hoạt động tác chiến trong tỉnh. Năm 1947, Bộ tư lệnh Quân khu 7 tổ chức liên quân A, kế đó là liên quân B nhằm đối phó với lực lượng Cao Đài phản động ở Tòa thánh Tây Ninh và tổ chức một số trận đánh đồn địch, chống càn; bảo vệ căn cứ. Trung đội "Hải ngoại số 1" luôn luôn là mũi nhọn trong các trận đánh và hoạt động này.


Ngoài nhiệm vụ bảo vệ biên giới của một đơn vị vũ trang, đồng chí Ngô Thất Sơn và đơn vị còn được Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Tây Ninh ủy quyền phụ trách dân, quân, chính vùng biên giới của tỉnh. Trong đó, Tỉnh ủy, Ủy ban giao hẳn bộ máy chính quyền huyện Khang Xuyên cho bộ đội Hải ngoại số 1 quản lý. Đồng chí Ngô Thất Sơn được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện. Nhờ đó, đơn vị có điều kiện hoạt động, xâv dựng phong trào Khmer Issarăk ở bên kia biên giới. Đây là một chủ trương hết sức đúng đắn và sáng suốt.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Sáu, 2021, 08:21:50 pm
Khởi đầu, đồng chí Ngô Thất Sơn chỉ thành lập một đội công tác biên giới với 11 cán bộ chiến sĩ giỏi tiếng Khmer. Gia đình ông Quản Bạt và ông Tà Chuôn ở Phum Kroma gần biên giới Cam-pu-chia được giác ngộ đầu tiên. Từ hai gia đình này, mở rộng tuyên truyền, giáo dục và tổ chức được cơ sở rộng rãi khắp các tổng Khang Xuyên, Tropeng Yun. Trong vài tháng các Phưm (ấp), Khum (xã) ở các vùng này đều có hội đoàn kết cứu quốc, dân quân tự vệ được thành lập, ngày đêm canh gác bảo vệ xóm làng.


Một số gia đình người Miên trước ở đất Việt Nam, sợ ta trả thù chuyện "Cap Doun" bỏ chạy sang Miên, nay tin tưởng dần dần trở lại chỗ cũ. Nhân dân hai bên biên giới dần dần đi lại làm ăn bình thường thân thiện như xưa.


Tận dụng các mối quan hệ đi lại thân thiện giữa nhân dân hai bên biên giới, cơ sơ ta móc nối và tổ chức được các cơ sở ở các gia đình tốt ở bên kia biên giới, có nơi móc nối được cả sư sãi. Lực lượng công tác biên giới phát triển nhanh, có nhiều gia đình Miên tham gia, đêm đêm len lỏi sâu vào các huyện Rumboul, Roméa Hek để móc nối xây dựng cơ sở trong đất bạn.


Đầu năm 1947, đồng chí Sơn là trung đoàn phó trung đoàn 305 và chỉ huy phó "Liên quân C", nhưng vẫn thường xuyên về Tây Ninh chỉ đạo công tác biên giới. Đồng chí tổ chức thêm một đại đội công tác biên giới ở Svay Teap (nam quốc lộ 1) thuộc tỉnh Svay Riêng do đồng chí Hồng Hy phụ trách tạo chỗ dựa cho Quân khu Đông Thành và xây dựng cơ sở ở vùng Svay Teap.


Đồng chí Sơn chỉ đạo anh em học tập truyền thống và phong tục tập quán dân tộc Miên, tập ăn Prohoc, biết lạy sư sãi, đặt tên Miên... để đi vận động quần chúng thuận lợi. Đồng chí Sơn tự đặt tên cho mình là Naisơn Sichăn. Anh em học và làm theo nên nhân dân, sư sãi càng gần gũi tin yêu cán bộ, chiến sĩ Việt Nam.


"Liên quân C" có giao 3 hàng binh lê dương Pháp cho đồng chí Sơn sử dụng (đồng chí Sơn rất giỏi tiếng Pháp). Đồng chí dùng 3 người này làm cận vệ trong những lần đi công tác tuyên truyền. Đồng bào và sư sãi Miên rất thán phục vị quan năm, thật tài giỏi có người Pháp làm lính bảo vệ.


Đồng chí Sơn thường đóng vai làm Chauvay Srok có lính Miên và quan Tây đi kèm xộc thẳng vào nhà một số tên Mê Kum (xã trưởng) ra lệnh tập trung lính Patisan rồi bất thần khống chế tước súng như đã từng làm trên đường về nước; sau đó tập trung dân làng tuyên truyền với danh nghĩa Issarăk, lính Miên thì cho về nhà làm ăn, giải tán tề ngụy. Súng thu được trang bị cho dân quân tự vệ các xã biên giới.


Khoảng tháng 5 năm 1948, đồng chí Sơn sử dụng một trung đội và 3 hàng binh lê dương đánh vào huyện ly Kompong Chok (cách tỉnh lỵ Say Riêng 10 ki-lô-mét). Đồng chí dùng hai xe đò chở bộ đội chạy thẳng vào dinh quận Kompong Chok. Đồng chí ngồi cạnh tài xế. Ba lính lê dương đứng hai bên vè xe trước để cho lính trong quận thấy, tưởng là lính của Pháp vào gặp. Xe vừa ngừng, ta nổ súng ngay, lính địch chạy toán loạn, ta bắt tên quận phó, thu trên 40 súng và chiếm giữ thị trấn đến chiều. Tuyên truyền xong ta rút về biên giới an toàn.


Thắng lợi lớn này làm địch rất hoang mang, các đồn bốt nhỏ lẻ chạy hoặc co cụm lại. Nhân dân Miên và Việt ở địa phương rất phấn khởi và tin tưởng. Mặt trận Issarăk nhanh chóng phát triển. Biên giới ta được củng cố vững chắc cho đến ngày đình chiến năm 1954.


Với quan điểm đoàn kết quốc tế trong sáng, biết dựa vào quần chúng, biết phối hợp công tác tuyên trụyền với công tác vũ trang trừ gian, diệt tề... nên chỉ trong vài tháng từ một biên giới đầy máu lửa và hận thủ dân tộc, tình hình đã êm dịu lại và chuyển hóa dần dần thành biên giới hữu nghị, thật sự đoàn kết.


Để mở rộng chiến trường, góp phần đẩy mạnh phong trào cách mạng Cam-pu-chia phát triển, cuối tháng 10 năm 1948 Bộ tư lệnh Quân khu 7 quyết định thành lập bộ đội "Sivotha" gồm các lực lượng Khmer Issarăk hiện có và tăng cường một bộ phận lớn của trung đoàn 305 và một đại đội của trung đoàn 311 do đồng chí Ngô Thất Sơn làm chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Văn Đẩu làm chỉ huy phó, đồng chí Trịnh Xuân Đức làm chính trị viên.


Bộ đội Sivotha là một đơn vị tình nguyện quân Việt Nam được giao nhiệm vụ hoạt động trên địa bàn các tỉnh Svay Riêng, Preyveng, Kompong Chàm, Krâtié (khu Đông Bắc Khmer). Với nhiệm vụ tuyên truyền phát động quần chúng giúp bạn xây dựng cơ sở cách mạng, mặt trận, chính quyền... lực lượng các đại đội được tổ chức thành các đội vũ trang tuyên truyền độc lập và phân chia các địa bàn hoạt động như: bộ đội 10 ở vùng huyện Mi Mốt (Kompong Chàm) và huyện Snul, tộ đội 20 ở vùng bắc hai tỉnh Svay Riêng và Preyveng, bộ đội 30 ở vùng Suông, Chúp và bộ đội 40 ở vùng Chôlong và huyện Krâtié,... Vùng giải phóng rộng lớn chạy dài dọc theo biên giới các tỉnh Svay Riêng, Preyveng, Kompong Chàm (Cam-pu-chia), tỉnh Tây Ninh và một phần của tỉnh Long An (khu Đông Thành nay là huyện Đức Huệ) hình thành, tạo thuận lợi cho Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận dân tộc giải phóng Cam-pu-chia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Bộ đội Sivotha ra đời thay thế và kế tục nhiệm vụ lịch sử của bộ đội Hải ngoại số 1. Từ đây, bộ đội Hải ngoại số 1 coi như đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, hòa nhập vào quân tình nguyện Việt Nam ở miền Đông Cam-pu-chia.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Sáu, 2021, 07:50:32 pm
ANH HÙNG LIỆT SĨ NGÔ THẤT SƠN


LẼ CHÂU BA


Ngô Thất Sơn tên thật là Trịnh Ngọc Anh, sinh năm 1919 tại xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn (vùng Bảy Núi), tỉnh An Giang. Sau khi học hết bậc tiểu học, Ngọc Anh được cha mẹ thay tên giấy tờ là Ngô Mảnh Gương để ở Phnôm Pênh thi vào trường Lycée Siơwat. Sau khi tốt nghiệp, Ngô Mảnh Gương đi dạy học ở Kom Pông Chàm. Năm 1940, Ngô Mảnh Gương và một số giáo viên trẻ người Khơ me được Pháp đưa đi học ở trường Thể dục thể thao Phan Thiết. Trở về được một thời gian, năm 1944 Ngô Mảnh Gương được bổ nhiệm làm đốc học (hiệu trưởng) trường tiểu học Kom Pông Chàm. Ngô Mảnh Gương cưới vợ là một giáo viên và từ đó có cuộc sống khá phong lưu.


Đầu năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, phong trào cách mạng do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo phát triển rầm rộ khắp nơi tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của bà con Việt kiều Cam-pu-chia. Ngô Mảnh Gương quyết định từ giã gia đình tìm đến với Mặt trận Việt Minh tham gia cứu nước. Khi chia tay với người vợ vừa mới mang thai, Ngô Mảnh Gương có dặn: "Con của chúng ta ra đời dù trai hay gái, em đặt tên là Hy Sinh để kỷ niệm giờ phút chia tay này".


Về Sài Gòn, Ngô Mảnh Gương lấy tên quê hương Bảy Núi đặt tên Ngô Thất Sơn, và xin gia nhập lực lượng bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Mặt trận Việt Minh, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn ngày 25 tháng 8 năm 1945. Thực dân Pháp được sự hỗ trợ của quân Đồng minh Anh - Ấn, từ đêm 22 rạng sáng 23 tháng 9 năm 1945, nổ súng đánh vào các công sở của ta tại thành phố. Ngô Thất Sơn cùng đoàn thân binh dũng cảm chiến đấu bảo vệ các đồng chí lãnh đạo cho đến ngày Ủy ban hành chính Nam Bộ rút khỏi chiến khu. Anh được phân công bảo vệ đồng chí Trần Văn Giàu ra Trung ương.


Trên đường đi ra Bắc, đồng chí Trần Văn Giàu và đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã tổ chức kết nạp Ngô Thất Sơn vào Đảng (tháng 11 năm 1945). Ra đến Trung ương đồng chí Giàu xin với đồng chí Võ Nguyên Giáp cho đồng chí Sơn đi học Trường sĩ quan ở Sơn Tây. Đồng chí Sơn học rất giỏi và thuộc số đứng đầu khi mãn khóa. Đầu năm 1946, trước khi được theo đồng chí Trần Văn Giàu về Thái Lan, đồng chí Sơn may mắn được gặp Bác Hồ. Là một trí thức ở Cam-pu-chia giỏi tiếng Khơ me, am hiểu phong tục tập quán Cam-pu-chia, vừa tốt nghiệp võ bị Sơn Tây về, đồng chí được Bác ân cần dặn dò: "Chú trở về Nam có trách nhiệm góp sức vào sự nghiệp giải phóng đất nước Miên, một nhiệm vụ chiến lược cực kỳ quan trọng, chú hãy cố gắng...”.


Về Thái Lan, được đồng chí Trần Văn Giàu giới thiệu giúp Hội Việt kiều ở Battambang; đồng chí cùng một số cán bộ mở trường huấn luyện tân binh, xây dựng bộ đội, tổ chức đưa bộ đội Hải ngoại số 1 về nước. Trên đường hành quân, xuyên qua vùng trắng ở các tỉnh phía bắc Cam-pu-chia, đơn vị kết hợp làm công tác võ trang tuyên truyền, tước súng tề ngụy, đánh phá một số đồn bốt, lấy súng địch trang bị cho nhân dân địa phương, giáo dục nhân dân đoàn kết chống Pháp, tạo điều kiện cho cách mạng Cam-pu-chia phát triển và mở đường cho các đơn vị Hải ngoại số 2, số 3 và số 4 hành quân về nước, về đến Nam Bộ, tại Tây Ninh, đồng chí Ngô Thất Sơn được cử làm chỉ huy trưởng bộ đội Hải ngoại số 1 Nam Bộ và đến tháng 10 năm 1948, được cử làm chỉ huy trưởng bộ đội Sivotha khu Đông Bắc Cam-pu-chia. Đơn vị được Bộ tư lệnh Nam Bộ sau đó là Bộ tư lệnh Quân khu 7 giao nhiệm vụ đứng chân ở Tây Ninh, vừa làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn ở Cam-pu-chia; vừa có nhiệm vụ phối hợp với quân dân Tây Ninh bảo vệ biên giới, bảo vệ căn cứ, đánh địch... Đồng chí bị địch bắt ngày 2 tháng 6 năm 1949 tại khu rừng Huỳnh thuộc xã Hòa Hội, huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh và bị địch thủ tiêu ngoài nhà lao Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 23 tháng 9 năm 1952.


Trong gần 10 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Ngô Thất Sơn đã có những đóng góp đặc biệt xuất sắc:

1. Cuối năm 1945, đầu năm 1946, khi chiếm lại Cam-pu-chia, âm mưu thâm độc của giặc Pháp là đẩy hàng ngàn dân Khơ me qua biên giới chém giết người Việt Nam, gây chia rẽ hận thù giữa hai dân tộc Việt Nam - Cam-pu-chia, nhiều xóm làng dọc theo biên giới Tây Ninh tang tóc, hoang tàn, dân bỏ làng chạy sâu vào nội địa.


Dưới sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 7 và dưới sự chỉ đạo giúp đỡ của Tỉnh ủy Tây Ninh, đồng chí Ngô Thất Sơn đã cùng đơn vị tổ chức đội vũ trang tuyên truyền, đột nhập các sóc người Khơ me ở biên giới, tuyên truyền giáo dục giác ngộ đồng bào, tổ chức Hội đoàn cứu quốc, xây dựng chính quyền, đoàn kết với quân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp, phá tan âm mưu chia rẽ của địch, xây dựng các tổng người Khơ me ở Tây Ninh thành căn cứ, bàn đạp cho đơn vị hoạt động gây dựng phong trào cách mạng ở Cam-pu-chia (phong trào Issarăk) biến hậu cứ của giặc Pháp ở Cam-pu-chia thành chiến trường, xây dựng vùng biên giới và nội địa các tỉnh miền Đông Cam-pu-chia thành chỗ dựa cho các vùng căn cứ kháng chiến của tỉnh Tây Ninh.


2. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, với tuổi đời chưa đến 30, đồng chí Ngô Thất Sơn đã tích cực tham gia công tác vận động quần chúng, vận động sư sãi; thuyết phục các tầng lớp trí thức Cam-pu-chia theo cách mạng, đào tạo cán bộ người Khơ me, thường xuyên giáo dục cán bộ chiến sĩ trong đơn vị bảo vệ dân, bảo vệ chính quyền và đoàn thể cách mạng, không quấy nhiễu dân, làm mất thanh danh bộ đội. Hoạt động ở Cam-pu-chia, đồng chí coi trọng giáo dục đơn vị thương vêu nhân dân Khơ me như nhân dân Việt Nam, không vì nạn ’’Cáp Doun" (chém giết Việt Nam) mà thù ghét họ, mắc mưu chia rẽ của địch; tôn trọng phong tục tập quán người Khơ me, giỏi tiếng Khơ me, biết ăn Prahoc và lạy sư sãi như người Khơ me... Bản thân đồng chí là một mẫu mực tiêu biểu với tên Khơ me là Naisơn Sichăn.


Ngô Thất Sơn là một cán bộ chỉ huy dũng cảm, mưu trí. Với lợi thế thạo tiếng Khơ me, tiếng Pháp, am hiểu nhiều về Cam-pu-chia, khi phát hiện địch sơ hở, đồng chí thường tổ chức bộ đội cải trang thành tề ngụy địa phương, đột kích đồn bốt địch, hạ đồn thu vũ khí, trương cờ Issarăk, rải truyền đơn tuyên truyền; phát động nhân dân đoàn kết chống Pháp. Trận đánh huyện lỵ Kom Pông Chàm ở Svai Riêng đầu năm 1948 thắng lợi gây chấn động cả vùng Soài Riêng, Prây Veng. Nhân dân phấn khởi, ngụy quân ngụy quyền hoang mang, tạo thuận lợi cho các đội võ trang tuyên truyền hoạt động gây dựng phong trào. Nhân dân quý trọng, gọi ông là "Sănk Pram (đại tá) Naisơn Sichăn", giặc Pháp cúng gọi ông là "Colonel Naisơn Sichãn".


3. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng "Cách mạng Khơ me là sự nghiệp của nhân dân Khơ me", Ngô Thất Sơn đặc biệt quan tâm đào tạo cán bộ người Khơ me. Cùng với việc chọn lọc bồi dưỡng, sử dụng số cán bộ xuất thân từ công nông, đồng chí có nhiều biện pháp lôi kéo, tranh thủ học sinh, sinh viên trí thức ở các đô thị, giúp đỡ họ giác ngộ cách mạng. Đồng chí mạnh dạn sử dụng một số tề ngụy, quan lại, công chức, binh lính và sĩ quan ngụy đã tự nguyện theo cách mạng, có trường hợp rước cả gia đình vợ con họ về căn cứ, trực tiếp bồi dưỡng công tác thực tế, chuyển hóa được nhiều người trong số này trở thành những cán bộ huyện, tỉnh, khu được đơn vị và nhân dân tin tưởng... Một số cán bộ Khơ me qua thử thách rèn luyện đã được Đảng bộ đơn vị kết nạp vào Đảng.


Điểm nổi bật nhất ở đồng chí Ngố Thất Sơn là tinh thần hy sinh vì cách mạng và khí tiết người chiến sĩ cách mạng trước kẻ thù. Khi bị địch bắt, bị đày hết nhà tù này đến nhà tù khác trong hơn ba năm, ở đâu đồng chí cũng nêu cao khí tiết cách mạng, vận động đấu tranh đòi địch bãi bỏ chế độ nhà tù hà khắc, vận động binh lính ngụy và Pháp ủng hộ cách mạng.


Địch dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, cho gia đình vợ con vào thăm nuôi, đồng chí Ngô Thất Sơn vẫn một mực giữ vững khí tiết, từ chối hợp tác với địch.


Ngô Thất Sơn không sinh ra và lớn lên ở Tây Ninh, nhưng được Đảng Bộ và nhân dân Tây Ninh, bạn bè đồng chí, đồng đội dành cho những tình cảm sâu đậm, sự kính trọng đặc biệt. Tên tuổi của đồng chí được đưa vào danh sách những người con của quê hương Tây Ninh, sở giáo dục Tây Ninh đã đặt tên đồng chí cho một trường học ở xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, lấy tên đồng chí đặt cho con đường Bến Sỏi đi ra biên giới Cam-pu-chia và đề nghị Hội đồng Nhà nước truy tặng đồng chí danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh đã ký quyết định truy tặng đồng chí danh hiệu cao quý ngày 20 tháng 12 năm 1994.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Sáu, 2021, 07:53:10 pm
TIỂU ĐOÀN HẢI NGOẠI CỬU LONG 2


ĐÀO MẠNH DUỆ


Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long 2 được thành lập ngày 16 tháng 5 năm 1947 tại Chiến khu 1, Prak Pông tỉnh Prachin Bouri (Thái Lan); ngày 28 tháng 6 năm 1947 hành quân trên 100 ki-lô-mét đến Chiến khu 2 Mai Ruột, thuộc tỉnh Trạt, biên giới Thái Lan - Cam-pu-chia, là đơn vị về Nam Bộ sau cùng. Quân số Cửu Long 2 có gần 300 người, đại đa số là con em Việt kiều đã và đang giúp bạn chiến đấu trên các mặt trận đánh Pháp ở Lào. Trong tiểu đoàn có nhiều đồng chí từ Nam Bộ sang, có bốn người là du kích Ma-lai-xi-a (trong kháng chiến ba anh đã hy sinh, hiện nay anh Trần Văn Quang tức Chăn Mun Poy còn sống); sáu anh em từ Cam-pu-chia sang nhập vào Hải ngoại Cửu Long 2 gồm Nguyễn Văn Hên, các anh Công, Bộ, Nhượng và hai anh người Cam-pu-chia là Tà Pin và Xà Rinh.


Thời gian đơn vị ở Mai Ruột có thêm 4 đồng chí: Sơn Ngọc Minh, Lê Tương Phụng, Nguyễn Ngọc Sanh và anh Lâm từ Khu 8 - Nam Bộ sang.

Ban chỉ huy tiểu đoàn đầu tiên gồm các đồng chí: Dung Văn Phúc (Dương Quang Đông) tiểu đoàn trưởng; Trương Văn Kỉnh, chính trị viên và Bông Văn Dĩa, tiểu đoàn phó1 (Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Bông Văn Dĩa lập công xuất sắc trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).


Khi tiểu đoàn về đến Khu 9 - Nam Bộ, các anh trong ban chỉ huy đi làm nhiệm vụ khác. Bộ chỉ huv quân sự Nam Bộ bổ nhiệm một ban chỉ huy mới thay thế. Trải qua chiến đấu đồng chí Trần Quang Lợi đã hy sinh, đồng chí Từ Thiện Tài bị thương nặng. Hiện nay chỉ còn đồng chí Đào Mạnh Duệ, chính trị viên đơn vị. Tiểu đoàn được trang bị vũ khí mới, phần nhiều là các loại súng liên thanh như: Thompson, Submatsine, Carbine trung liên (FM) Nhật, đại liên 7/7 (xết xết), hai khẩu cối 60 ly, mỗi tiểu đội có 1 khẩu Moocta (súng phóng lựu Nhật), súng trường Nhật (loại ngắn) chiếm 30% trong số vũ khí của tiểu đoàn. Cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên đều có la bàn (bousole) đeo tay và một bản đồ miền Tây Nam Cam-pu-chia. Toàn đơn vị được trang bị quần áo ka ki vàng, mũ sắt Nhật, giày ba ta, v.v... Mỗi người đều có một túi cơm khô nhỏ.


Thời gian 4 tháng ở Chiến khu 2 Mai Ruột trước khi lên đường về nước là thời gian rất gian khổ, thiếu thốn. Vừa lao động làm lán trại, vừa học tập chính trị, luyện tập quân sự, vừa phải tự lực giải quyết lương thực, thực phẩm. Mỗi đầu người từ ban chỉ huy tiểu đoàn đến chiến sĩ chỉ được cấp phát 200 gam gạo một ngày và một ít mắm muối, v.v... vì vậy từng tiểu đội hàng ngày phải phân công nhau vào rừng, núi tìm đào khoai mài về trộn với gạo. Khoai mài dính cơm, mỗi người ăn mỗi bữa cũng chỉ được hai chén lưng lưng còn thì ăn độn các thứ như: lá khoai lang, củ chuối (xin nhà dân), đọt choại (trong rừng), hẹ nước (dưới mương, ruộng). Hàng ngày tiểu đoàn còn tổ chức cho anh em ra biển đánh bắt cá. Khi cá về chia cho mỗi tiểu đội khoảng chục con lớn, nhỏ, phải đổ nhiều nước nấu canh mới đủ ăn. Ngày chủ nhật nghỉ tập quân sự anh em có dịp đi tìm kiếm thức ăn và ra bãi biển moi cát bắt nghêu.


Trước khi lên đường về nước một tuần, đơn vị đánh chiếm đồn Sằm Lốt, thuộc căn cứ Pailin, tỉnh Bát Tam Băng do Pháp chỉ huy ở biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, nhằm đánh lạc hướng địch. Bị đánh bất ngờ địch chạy tán loạn vào rừng, một số chết và bị thương, ta thu 7 súng, nhiều đạn dược. Bên ta 1 chiến sĩ hy sinh, vì trời tối bị đạn lạc. Đó là anh Viết, Việt kiều Thàkhek. Toàn tiểu đoàn đã liên hoan mừng chiến thắng Sằm Lốt.


Lễ xuất quân được tổ chức từ sáng sớm ngày 7 tháng 11 năm 1947. Toàn tiểu đoàn xếp hàng ngang, dưới lá cờ đỏ sao vàng có thêu dòng chữ "Tiểu đoàn Hải ngoại cửa Long 2". Đồng chí Dung Văn Phúc, tiểu đoàn trưởng phát biểu trước hàng quân, dặn dò anh em ít câu và ra lệnh xuất phát.


Trong 25 ngày đêm hành quân có 22 ngày đi qua vùng núi rừng trùng điệp, một số đêm trời mưa, anh em phải chịu ướt cầm súng dựa lưng nhau ngủ cho đỡ lạnh. Đơn vị đi đến đâu cũng được nhân dân dẫn đường và cung cấp lương thực thực phẩm. Đồng chí Sơn Ngọc Minh và một số anh em trinh sát biết tiếng Cam-pu-chia tích cực làm công tác dân vận. Địch cho quân đi sục sạo nhiều nơi nhưng đều không phát hiện được.


Ba ngày sau cùng (từ ngày 29 tháng 11 đến ngày 1 tháng 12 năm 1947) khi xuống đến đồng bằng tỉnh Kampốt - Cam-pu-chia diễn ra nhiều trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch. 5 giờ 30 sáng ngày 29, một đại đội địch do Pháp chỉ huy bị một đơn vị quân ta đánh lui, chạy ra lộ Chhuk. Trận kế tiếp lúc 6 giờ sáng, địch chết và bị thương thêm một số, phải tháo chạy. Đến 17 giờ 30 chiều 29, tại cánh đồng (mé rừng) cách lộ Tàni - Pang Hang 1 ki-lô-mét, ta đánh lui một tiểu đoàn địch, sau đó truy kích ra lộ Tàni và phục kích đánh địch từ đồn Tàni cách đó 2 ki-lô-mét ra tiếp viện. Đó là lúc 18 giờ 30, trời đã sắp tối, quân địch khoảng một đại đội có xe bọc thép yểm trợ, nhưng bị đánh bất ngờ, chết thêm một số buộc phải bỏ chạy. Trong hai trận này ta diệt gần 40 tên, thu 10 súng các loại. Bên ta anh Nhuận hy sinh.


Đơn vị ở lại đánh địch trên lộ Chhuk, khi đến lộ Tàni - Pang Hang thì gặp địch đi lấy xác. Quân ta nổ súng trước, địch vừa bắn trả vừa chạy về đồn. Anh em ta vượt lộ, tiếp tục hành quân theo hướng các đơn vị đi trước.


Về gần đến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia thuộc tỉnh Hà Tiên, đơn vị còn phải đánh một số trận nữa.

Sau bốn ngày nghỉ ngơi tại căn cứ Tà Teng - Hà Tiên, tiểu đoàn được một đại đội của liên chi đội Hà Tiên dẫn đường tiếp tục hành quân đêm bằng xuồng vượt lộ Cái Sắn. Đêm ngày 8 tháng 12 năm 1947 về đến Huyện Sử, xã Thới Bình, huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau). Nghe tin bộ đội Hải ngoại Cửu Long 2 về, các ba, các má, các chị, các em thiếu nhi, các đoàn thể thanh niên đã đem quà đến thăm hỏi, úy lạo đơn vị xuồng ba lá nườm nượp chở đến mía, chuối, dừa tươi khóm, bánh tét, bánh ít, v.v... Đồng bào ân cần thăm hỏi, thanh niên và các em thiếu nhi luôn bên cạnh chúng tôi để xem các loại vũ khí mới, nghe kể chuvện về kiều bào ở Thái Lan, dạy các em học các bài ca, bài múa lăm-vông. Thật vô cùng cảm động và phấn khởi trước tình thương yêu, chăm sóc của đồng bào. Hai ngày sau, đồng chí Phan Trọng Tuệ dẫn một phái đoàn thay mặt Bộ chỉ huy Khu 9 đến thăm đơn vị, trong đoàn có hai bác sĩ là Nguyễn Thiện Thành và Trương Công Trung ở Sài Gòn ra kháng chiến, ở Huyện Sử vài ngày, đơn vị hành quân đến rạch Bà Đặng và rạch Cái Sắn. Tiểu đoàn chọn một số anh em cho đi học lục quân Gia Định, một số đi làm nhiệm vụ khác. Thời gian chiến đấu ở Cà Mau - Bạc Liêu - Khu 9, đơn vị được bổ sung khoảng 60-70 anh em, đa số là người Cà Mau - Bạc Liêu. Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long 2 (bộ đội Hải ngoại Cửu Long 2) là đơn vị trực thuộc Bộ chỉ huv Khu 9, nhưng về tác chiến ở tỉnh Bạc Liêu thì thuộc sự chỉ huy của ban chỉ huy tiểu đoàn 125.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Sáu, 2021, 07:53:40 pm
Sau một thời gian điều tra tình hình địch và được trinh sát tiểu đoàn 125 cung cấp tin tức, giữa tháng 3 bộ đội Hải ngoại Cửu Long 2 bao vây đột nhập đồn Tắc Vân hỗ trợ để dân quân, du kích địa phương diệt ác trừ gian và phá lộ chặn xe. Cuối tháng 4 năm 1948, trong trận bao vây tấn công đồng ruộng muối Êvrack do Pháp chỉ huy, chủ trương của Cửu Long 2 và địa phương là "điệu hổ ly sơn" để tiêu diệt. Một số tên chạy ra bị ta bắn chết. Số địch cố thủ trong đồn, ta bắn kềm chế tạo điều kiện cho một đơn vị bộ đội và dân quân du kích tiến vào chiếm lại 50 xuồng, ghe và 30 con trâu địch cướp của dân. Trận Tân Lộc - Tân Lợi, thuộc huyện Thới Bình (cuối tháng 5 năm 1948) rất ác liệt. Quân phản động của Cao Đài tập trung khoảng 1.000 tên khủng bố vùng giải phóng Tân Lộc - Tân Lợi. Phía ta có bộ đội Cửu Long 2, đại đội 1093 và đại đội 1095. Địch chết và bị thương gần 200 tên. Bên ta 11 anh em hy sinh, trong đó có anh Trần Quang Lợi chỉ huy phó Cửu Long 2. anh Tao trung đội phó, anh Khang tiểu đội trưởng, anh Nguyễn Hữu Thời chiến sĩ; 4 dân quân du kích tiếp tế cơm củng bị hy sinh (trong đó có anh Phạm Văn Thái (thầy giáo), anh Trần Văn Quế, v.v...).


Trong trận ngã ba Thầy Cẩm, cách đồn Ngã năm 2 ki-lô-mét (tháng 7 năm 1948), ta cho một trung đội tăng cường, bố trí trong vùng địch hậu đánh địch. Nhờ giữ được bí mật, bất ngờ, các đơn vị địch đi trên lộ theo bờ kênh Sáng và dưới kênh bằng xuồng, ghe đều bị chặn đánh. Địch chết và bị thương 24 tên, ta bắt sống tên Pháp chỉ huy đồn Ngã năm, thu gần 20 súng các loại, có 1 FM, 1 súng cối 60 ly, một súng Colt 9mm, v.v... Bên ta anh Cường Để, trung đội trưởng hy sinh. Sau một thời gian củng cố, đầu tháng 6 năm 1948 quân Cao Đài phản động lại tiến vào chiếm Huyện sử - Thới Bình - huyện Cà Mau (nay là huyện Thới Bình). Một tiểu đoàn từ Cà Mau tiến vào Tân Lộc-Tân Lợi, đến ngã ba Chợ Hội, cách Huyện Sử 4 ki-lô-mét. Một đơn vị của Cửu Long 2 và trung đội biệt động bố trí đánh địch ngay từ ngã ba chợ Hội. Mặt trận chính bố trí tại Huyện Sử. Chờ cho chúng vượt kênh Sáng sang chợ Hội (khoảng 1 trung đội) quân ta nổ súng. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, địch chết và bị thương 32 tên, phải rút hết về thị xã Cà Mau. Ta thu 21 súng các loại có 1 FM và 3 carbine. Bên ta không ai bị thương vong.


Trong trận Tân Duyệt thuộc huyện Ngọc Hiển (cuối tháng 8 năm 1948) 1 đại đội Cao Đài phản động, từ thị xã Cà Mau theo lộ xe khủng bố xã Tân Duyệt (vùng giải phóng). Nhờ giữ được bí mật, khi địch lọt vào khu vực phục kích, ta mới nổ súng. Địch không thể tiến lên được, lại chết và bị thương nhiều tên, buộc chúng phải vừa bắn vừa rút chạy. Ta diệt tại chỗ 29 tên, thu 20 súng các loại có 1 FM, 3 carbine và 11 súng trường.


Nổi bật là trận chiến thắng tiểu đoàn quân viễn chinh lê dương Pháp tại ngã tư Vĩnh Hưng, huyện Hồng Dân (ngày 23 tháng 9 năm 1948) và trận Điền Tây Mập (ngày 24 tháng 9 năm 1948). Trung đoàn 25 tập trung quân chuẩn bị tiến đánh thị xã Bạc Liêu đêm ngày 22 tháng 9 năm 1948. Nhưng được tin tình báo, sáng 23 tháng 9 năm 1948 địch sẽ khủng bố vùng Vĩnh Hưng, đúng ngày kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến của quân dân ta. Trước tình hình đó, trung đoàn lệnh cho một số đơn vị nhỏ đã tiến sát thị xã Bạc Liêu rút ra hết. Bộ đội Cửu Long 2 và trung đội quốc vệ đội của anh Trần On được lệnh phối hợp với đánh địch tại ngã tư kênh Sáng Vĩnh Hưng. Sáng sớm ngày 23 tháng 9, quân địch đi theo hai bờ kênh đến ngã tư thì bị quân ta chặn đánh từ chính diện và hai bên sườn. Trận đánh kéo dài hơn hai giờ. Đại bác 105 ly của địch từ trên tàu đậu ở ngoài vàm kênh Sáng cách mặt trận 8 ki-lô-mét bắn mạnh chi viện cho bộ binh. Nhưng quân địch chết và bị thương khá nhiều, buộc phải rút chạy. Trận này, địch chết và bị thương gần hai đại đội, ta bắt một số tên, thu 30 súng các loại, có một số FM. Hôm sau dân quân du kích mò dưới kênh Sáng và dưới ruộng nước, thu thêm được nhiều súng các loại. Bên ta 4 anh em hy sinh, trong đó có đồng chí Trịnh Xuân Việt (Việt kiều), trung đội trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Tới, trung đội phó; chiến sĩ Trần Văn Thành (Việt kiều) và Nguyễn Văn Niên. Anh Từ Thiện Tài chỉ huy phó Cửu Long 2 bị trọng thương, sau mấy tháng điều trị phải chuyển công tác khác. Mộ phần anh Trịnh Xuân Việt được Ủy ban nhân dân xã Thới Bình đặt tại đầu con kênh Sáng (Thới Bình). Chiến thắng lớn tại ngã tư Vĩnh Hưng, huyện Hồng Dân (Vĩnh Lợi) đúng vào ngày kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến (23-9-1948) khiến nhân dân địa phương rất phấn khởi. Sau khi thu dọn chiến trường, ta rút vào rạch Điền Tây Mập. Địch cho hai máy bay ném bom, bắn phá trận địa. Sáng 24 tháng 9 địch cho máy bay trinh sát, bị khẩu đại liên 7/7 của ta bắn trúng. Hôm sau tình báo tỉnh Sóc Trăng cho biết 1 quan hai và 1 quan một Pháp chết.


Tính chung cả thời gian hành quân qua Cam-pu-chia về nước và thời gian ở Cà Mau - Bạc Liêu, đơn vị Cửu Long 2 đã cùng quân dân địa phương chiến đấu 23 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 586 tên, thu được 93 súng các loại. Bên ta 21 anh em hy sinh, 8 bị thương, 3 bị bắt (sau trốn ra được 2, tiếp tục chiến đấu ở miền Tây Nam Cam-pu-chia).


Đầu năm 1949, đơn vị Cửu Long 2 được giao nhiệm vụ cùng với bộ đội 251 tổ chức thành trung đoàn 131 chiến đấu ở chiến trường Cam-pu-chia. Lực lượng Cửu Long 2 chiếm hơn 2/3 quân số trung đoàn, trở thành quân tình nguyện Việt Nam ở miền Tây Nam Cam-pu-chia. Tháng 10 năm 1954, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả, đơn vị chuyển quân về Cà Mau, tập kết ra miền Bác theo Hiệp định Giơ-ne-vơ tiếp tục phát huy truyền thống của đơn vị trong chiến đấu và các mặt công tác khác.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:28:51 pm
BỘ ĐỘI HẢI NGOẠI SỐ 3 QUANG TRUNG


HOÀNG XUÂN BÌNH


Đầu năm 1946, quân viễn chinh Pháp đã chiếm lại được các đô thị và thị trấn chính của Nam Bộ. Ở Cam-pu-chia, quốc vương quay lại thuần phục Pháp. Lực lượng quân sự Pháp cố chiếm lại quyền kiểm soát Lào nằm ở phía bắc vĩ tuyến 16, chủ yếu là ba thị xã Savẳnnạkhệt, Thàkhẹt và Viêng Chăn, ba thành phố nằm bên tả ngạn Nậm Khoóng (sông Mê Công) vừa thành lập được chính quyền Lào Issala bằng lực lượng vũ trang, vũ khí lấy được của quân Nhật và quân Pháp. Điều đặc biệt là Việt kiều ở các thành phố đó, hưởng ứng Cách mạng tháng Tám trong nước, đã nhất tề đứng lên ủng hộ chính quyền mới ở Lào, tự trang bị cho con em mình để thành lập các đơn vị chiến đấu dưới sự chỉ huy của liên quân Lào - Việt.


Tuy nhiên, sau nửa năm chiến đấu, so sánh lực lượng trên chiến trường Lào dần dần thay đổi có lợi cho quân Pháp.

Ngày 16 tháng 3 năm 1946, liên quân bảo vệ Savẳnnạkhệt quyết định rút khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng.

Năm ngày sau, Thàkhẹt thất thủ sau nửa ngày chống trả sự tiến công ồ ạt của bộ binh, xe bọc thép và máy bay địch. Hàng trăm thường dân Lào, Việt đã bị chết, một số bị máy bay bắn trên sông khi dùng thuyền nan vượt qua Thái Lan.


Đầu tháng 4, liên quân phải rút khỏi Viêng Chăn, ra rừng. Các lực lượng vũ trang của Việt kiều chiến đấu ở Lào đều cất giấu vũ khí và tập trung sang hữu ngạn sông Khoóng, hòa trong hàng vạn kiều bào vừa ở Lào tản cư qua và kiều bào lập nghiệp ở Thái từ hàng chục năm trước. Ngày 21 tháng 3, ngày Thàkhẹt thất thủ trở thành "Ngày căm thù Sao-ết-mi-na" của nhân dân Lào và Việt kiều ta.


Trên lãnh thổ Thái Lan, Việt kiều tăng thêm hàng chục ngàn người, tập trung ở các tỉnh dọc bờ sông Khoóng vùng Đông Bác, đối diện với các thị xã Viêng Chăn (Noọng Khoai, U Đon), Thàkhẹt (Nakon, Phanom, Sakon, Nakon), Savẳnnạkhệt (Thai Phanom, Mukđahan, Bùng, Ubol Thani). Sự cưu mang đùm bọc nhau giữa Việt kiều "cũ" và Việt kiều "ty nạn" mới, đã nhanh chóng ổn định được cuộc sống cho hàng vạn người quyết đấu tranh không hợp tác với địch. Tinh thần đoàn kết tương trợ đó đã làm tăng thêm mối cảm tình và sự vị nể của nhân dân sở tại cũng như nhà cầm quyền Thái.


Sau vài tháng, khi cuộc sống đã ổn định, đoàn thể Việt kiều bắt tay vào lập chiến khu bí mật, tổ chức các đơn vị vũ trang để trở lại chiến trường Đông Dương. Với sự đồng tình, tuy ngấm ngầm, của nhà chức trách địa phương, một đơn vị Việt kiều cứu quốc quân đã tập kích thắng lợi thị trấn mỏ Pak Hinbun cách thị xã Thàkhẹt 30 ki-lô-mét về phía tây bắc (tháng 6 năm 1946). Một tháng trước đó, trong cuộc đổ bộ của Pháp qua Thabo, gần Noọng Khai, và trong cuộc pháo kích của Pháp vào vùng Nakon Phanom, nhà đương cục địa phương Thái cũng huy động lực lượng dân quân Việt kiều ra đối phó.


Trong khi chờ đợi xây dựng lực lượng quần chúng nông thôn ở Lào, làm cơ sở cho hoạt động vũ trang, chủ trương của Đoàn thể những năm 1946-1947 là thành lập những "bộ đội Hải ngoại", chi viện cán bộ, chiến sĩ và vũ khí trang bị cho cuộc chiến đấu trong nước, nhất là chiến trường Nam Bộ.


Tháng 11 năm 1946, tôi được Đại diện Chính phủ Việt Nam tại Thái Lan (đồng chí Nguyễn Đức Quỳ) triệu tập và báo cho biết có lệnh Bộ Quốc phòng gọi về làm cán bộ khung cho Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Tôi nêu nguyện vọng được về Nam Bộ chiến đấu. Sau đó mấy hôm, tôi nhận được quyết định do Ủy viên quân sự Hải ngoại Trần Văn Hoàng (tức Trần Văn Giàu) ký giao nhiệm vụ làm chỉ huy quân sự bộ đội Hải ngoại số 3 Quang Trung.


Lúc bấy giờ đại bộ phận đơn vị đã tập trung ở một chiến khu gần Phnum Tippaday, phía nam thị xã Bátđamboong (tỉnh vựa lúa của Cam-pu-chia nhưng đã bị Thái Lan chiếm 5 năm trước đó).


Ngày 13 tháng 11, đoàn cán bộ, chiến sĩ cuối cùng của đơn vị rời Băng Cốc lên xe lửa đi Bátđamboong. Đoàn có 15 người, gồm: Nguyễn Trọng Thường, sinh viên ban khoa học Hà Nội, huấn luyện viên Trường quân chính Hà Nội; Dương Cự Tẩm, thành viên của phái đoàn công tác đặc biệt ở mặt trận Lào; Lê Phùng Thời, sinh viên y khoa, tốt nghiệp khóa 1 Trường quân chính Hà Nội, được Chính phủ Việt Nam phái theo Hoàng thân Souphanouvong; Trần Ngọc Quế, chỉ huy đội bảo vệ Hoàng thân; Hoàng Ngọc Cừ, cán bộ Ủy ban kháng chiến Nam Bộ; Nguyễn Minh Duệ, tốt nghiệp Trường Cao đẳng thương mại Paris (con cụ Nguyễn Quý Anh, hiệu trưởng trường Dục Thanh ở Phan Thiết, người đã giúp Nguyễn Tất Thành trong thời gian anh dạy học ở đó); Lý Thành Thận; Mai Xuân Phán... Hành lý của đoàn có 1 "va ly" gỗ nẹp sắt, đựng súng tháo rời, gồm toàn Carbine và Thompson tự động, trung liên Bren; gần chục thùng gỗ ngoài có chữ "Milk, made in Danmark" (Sữa, sản xuất tại Đan Mạch) bên trong chứa đầy đạn cho các loại súng. Lại thêm mấy bao tải nhìn bề ngoài như đựng dừa khô thực ra là mũ sắt Nhật. Mỗi người có một ba lô đi rừng kiểu hướng đạo sinh, một bình đựng nước của nhà binh...


Hôm ấy, trà trộn trong khách ra ga, anh Trần Văn Giàu và trợ lý là cựu trung úy Nguyễn Văn Trọng kín đáo giám sát việc lên tàu của chúng tôi. Để tránh bị phát hiện, các hành lý nặng quá mức bình thường trong các va ly "thùng sữa’’... chúng tôi không thuê người giúp mà tự mình ráng sức khuân, bên ngoài, làm bộ như hành lý nhẹ nhàng...


Chúng tôi chọn một toa chở đá, không có mái che (khách đi tàu ai cũng chê không lên), phơi nắng nóng trên 40°C suốt một ngày mới tới ga Bátđamboong. Tại đây, nhà cầm quyền Thái hoàn toàn ủng hộ các hoạt động yêu nước của Việt kiều, nên việc giữ bí mật không gay gắt như ở Băng Cốc.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:29:58 pm
Chiều hỗm sau, bằng xe ô tô của Việt kiều, chúng tôi về Chiến khu Phnum Tippaday, ở ki-lô-mét số 31 trên đường đi Pồsạt (Pursat). Đó là lần đầu tôi tiếp xúc với đơn vị, gặp ban chỉ huy và tìm hiểu nhiệm vụ được giao.


Chiến khu gồm một số nhà bằng gỗ, tre, lợp lá, dựng trên rừng chồi, cách khá xa các xóm dân ở. Đơn vị được mang tên Quang Trung, và là đơn vị bộ đội Hải ngoại số 3.


Lực lượng chiến đấu gồm 50 người, trong đó có người đã từng hoạt động ở mặt trận Lào tập kết về đây mấy tuần trước do anh Giao - một cán bộ trung đội của các đơn vị vũ trang Việt kiều Viêng Chăn chỉ huy. Các cán bộ tiểu đội trưởng như Mai Xuân Phán, Phạm Văn Thi (cháu sư cụ Ba, chùa Lôkanukho, một cơ sở lớn của Việt kiều tại Băng Cốc), Lý Thành Thận, anh Khai (giữ đại liên), anh Minh (tiếp đạn), Đào Văn Thảo (quê Sài Sơn, Chùa Thầy), anh Đệ, Nguyễn Văn Huyền... đều đã nhiều phen xung trận. Những anh em Việt kiều sinh ở Thái Lan, ở Cam-pu-chia thì "chỉ mới bắn cắc, chưa bắn được đùng” (mới tập yếu lĩnh bắn chứ chưa bắn đạn thật). Đơn vị trinh sát do anh Châu Văn Mót và anh Nguyễn Văn Luận phụ trách gồm những người đã hoạt động ở Cam-pu-chia lâu năm nói tiếng Khmer như người Khmer và thuộc đường xuyên Cam-pu-chia nên được cử dẫn đường. Ngoài ra, còn một số cán bộ "quá giang" về tham gia các ngành khác, như anh Tiểu, Nhiên và Dẹo của ngành hàng hải Nam Bộ, anh Nguyễn Minh Duệ của ngành kinh tế, anh Ba "tạc đạn" ngành công an Vĩnh Long.


Anh Phạm Văn Thuận, một đảng viên quê ở Vĩnh Long được phân công làm tổng chỉ huy kiêm chính trị viên trưởng. Anh Hoành Xuân Bình làm chỉ huy quân sự. Hai anh Võ Hoàng (một nhà báo trong phong trào bình dân năm 1936) và Hoàng Ngọc Cừ làm chính trị viên phó. Anh Giao và anh Nguyễn Trọng Thưởng làm phó chỉ huy quân sự. Trên đường hành quân, đơn vị lấy danh hiệu công khai là lực lượng của Khmer Issarăk.


Riêng tôi được đặt tên Khmer "Uk Bin", cấp hiệu trung úy (gồm hai nút tam giác bằng kim loại gắn trên một miếng vải màu xanh rêu đính lên mũ). Anh Quế phụ trách trung đội mang theo một máy vô tuyến điện.


Về vũ khí, đơn vị có 1 trung liên Bren, 1 trung liên Nhật và 1 đại liên Mỹ. Súng cá nhân của chiến sĩ có súng trường Anh-đô-si-noa của Pháp, súng Tô-mi Gơn "đầu cụt" của Anh, súng Nhật cỡ 5,5mm và mấy chục khẩu Carbine, tiểu liên Thompson. Mỗi khẩu súng được phát từ 400-500 viên đạn. Hành trang mỗi người không dưới 30 ki-lô-gam. Hành trình dự kiến 2 tháng. Tuy có la bàn (loại của Anh) nhưng bản đồ chỉ có loại "chiến lược" không giúp được gì cho đơn vị trên đường hành quân.


Nhiệm vụ chính của đơn vị là:

1. Mở một đường mới về Nam Bộ qua phía tây Biển Hồ (Cam-pu-chia).

2. Vận tải về nước một số súng đạn bằng sức người có thể mang được trên lưng.

3. Hộ tống một số cán bộ ẩn trở về trong nước làm nhiệm vụ.

4. Kết hợp gây thanh thế cho lực lượng Issarăk dọc đường.

5. Cố gắng tránh địch, khi cần thiết mới chấp nhận chiến đấu.


Chiều ngày 15 tháng 11 năm 1946, lãnh đạo Hội Việt kiều đến sinh hoạt với cán bộ đơn vị. Khoảng hai giờ sau đó, cơm nước xong, đơn vị nhổ trại, hướng về Tổ quốc, "bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa".


Chúng tôi đi theo con đường nhỏ dẫn tới vùng ven dãy núi Đậu Khấu. Trời tối như bưng. Trận mưa dông làm cho con đường đi xuyên ruộng trơn như mỡ. Quá nửa đêm đơn vị mới dừng lại nghỉ ở làng Kôn-ka Ếch. Hôm sau đến làng Roung, gần biên giới hai tỉnh Bátđamboong và Pồsạt, nghỉ đêm ở chùa Wat Roung. Từ đây là vùng do đối phương chiếm, Việt kiều bị kiểm soát rất chặt. Để tiếp tế cho bộ đội mà không bị nghi ngờ, dân làng chỉ mua ít một, tích dần gạo, đường, thực phẩm khô... nhờ cán bộ địa phương chuyển vào nơi bộ đội dừng chân.


Lần tiếp tế cuối cùng trước khi đơn vị tiếp tục hành trình về nước, cán bộ địa phương cho biết đồng bào Việt kiều ở đây thiết tha xin được nhìn thấy người lính của nước nhà độc lập. Xúc động trước tấm lòng yêu nước của đồng bào, ban chỉ huy đồng ý, hẹn tối nay khi bộ đội lội qua sộng Pồsạt, bà con đứng dọc theo con đường mòn gần làng. Để tranh thủ thời gian, bộ đội sẽ đi hàng một, bà con tiếp tế cho từng người.


7 giờ tối, trăng rằm sáng vằng vặc. Chúng tôi cởi quần áo ngoài, ba lô và súng trên vai lội qua sông. Đến đầu đường mòn đã thấy cán bộ địa phương và một số kiều bào đứng chờ. Một số "cần xé" to bằng cái lu đặt bên đường. Mỗi chiến sĩ đi qua được nhận một gói quà không phải dừng lại. Một số gia đình tới muộn, khiêng cần xé chạy băng rừng, bắt cho kịp người chiến sĩ đi đầu để trao quà.


Đang mải nói chuyện với cán bộ địa phương, tôi cảm thấy có ai nâng nhè nhẹ ba lô trên lưng. Quay lại tôi thấy một bà cụ, có lẽ ngang tuổi với mẹ tôi quê ở Hà Tĩnh. Bà cụ muốn xem ba lô nặng nhẹ ra sao. Đoạn bà nắm cánh tay tôi, nắn nhè nhẹ để xem chắc hay "nhão", mập hay ốm... cử chỉ đó làm tôi chảy nước mắt, vì hồi nhỏ, mẹ tôi cũng thường làm như vậy để xem thằng con út của mình mạnh hay yếu ra sao. Bà cụ ôm tôi vào lòng và lẩm bẩm như tự nói với chính mình: "Mãi bây giờ mới được thấy!".


Trước tinh thần hăng hái của Việt kiều ở làng Koki, ban chỉ huy đồng ý để lại một tiểu đội vũ trang tuyên truyền do anh Giao chỉ huy. Nhiệm vụ của đội là xây dựng cơ sở trong kiều bào cùng với Issarăk chống Pháp, về phía Issarăk, cử 8 người phần lớn là sư sãi đi cùng bộ đội ta, vừa để dẫn đường, vừa để vận dụng nhân dân Khmer các tỉnh Kông Pông Spơ, Kôngpông Chnang, Takeo... Đội vũ trang tuyên truyền hoạt động được một thời gian thì bị địch càn, một số hy sinh (trong đó có anh Lý Thành Thận). Số còn lại đẩy trở lại Thái Lan (trong đó có anh Giao, anh Hên...).


Chia tay với dân làng Koki, toàn quân nhằm hướng đông nam đi theo đường mòn của xe bò. Ánh trăng lọt qua vòm lá rừng làm cho cuộc hành quân đỡ vất vả, đến sáng ra khỏi rừng, đến phum Reang Khvao, cách đường xe lửa đi Phnôm Pênh chưa đến 20 ki-lô-mét. Hành trình tiếp theo phải tránh một quả núi lớn và vượt qua một đồi hoang vu, tới phum Chres. Đường mòn khấp khểnh, xe bò không đi được nữa, chúng tôi phải phân hai tạ gạo cho người mang nên càng thêm nặng. Tới phum Roleap, các vị sãi vận động nhân dân địa phương cho mượn hai con voi để chở hành lý nặng. Bắt đầu vào tỉnh Kôngpông Spơ, qua thung lũng sông Prek Thnot, đường lớn dễ đi nhưng lại có đồn bốt địch. Đơn vị phải tạt về triền núi Kirirom và vượt lộ đá Phnôm Pênh đi hải cảng Riêm ở gần đèo Pech Nil. Bấy giờ là giữa tháng 12, mùa khô làm cho suối trong vùng cạn nước. Cuộc hành trình phải tùy thuộc vào việc tiếp tế nước uống cho người và voi. Ban chỉ huy đơn vị buộc phải cho hai thớt voi quay trở lại. Những ngày cuối năm 1946, việc tiếp tế cơm nước ngày càng khó khăn. Có người phải lấy nước đọng trong vũng, sặc mùi nước đái bò, để uống cho đỡ khát. Ngày 30 tháng 12 gạo hết, phải ăn cơm phơi khô. Đêm đó, đoàn tới dãy núi Đămrây Rômiên, giáp giới hai tỉnh Takeo và Kampốt, chuẩn bị vượt quốc lộ Phnôm Pênh đi Kampốt. Để tránh bị phát hiện, anh em hành quân băng qua ruộng, nhằm hướng đông nam. Quá nửa đêm ngày 1 tháng 1 năm 1947, tổ dẫn đường cho biết không nhận ra đường đi nữa. Bình minh đã trắng ở chân núi mà đoàn còn đi giữa cánh đồng lúa chín vàng. Ngày hôm đó đơn vị trú quân tại chân núi Chros Pok. Ban chỉ huy hội ý bàn cách đối phó với tình hình. Cuộc họp vừa xong, một vài cán bộ đã trở về chỗ trú của mình, một số đông hơn còn ngồi lại chỗ họp để trao đổi ý kiến thêm. Đúng lúc đó, đơn vị bị địch tập kích bất ngờ và bị tổn thất nặng. Năm đồng chí hy sinh là Phạm Văn Thuận (tổng chỉ huy), Võ Hoàng (chính trị viên phó), Nguyễn Trọng Thường (phó chỉ huy quân sự), Nguyễn Văn Luận (tiểu đoàn trưởng trinh sát) và Nguyễn Minh Duệ. Hai người bị thương là Hoàng Xuân Bình (chỉ huy quân sự) và anh Đệ (tiểu đội trưởng).


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:30:30 pm
Sau đó, chúng tôi mới được biết, quân Pháp ở đồn Tà Ni có người dẫn đường không đi theo con đường mòn có vọng gác của ta, mà theo dòng suối cạn. Cuộc họp của ban chỉ huy diễn ra ở bên con suối này. Địch bắn ở cự ly gần nên sát thương đại bộ phận ban chỉ huy.


Sau trận này, anh Trần Ngọc Quế được giao nhiệm vụ chỉ huy quân sự, anh Hoàng Ngọc Cừ, chính trị viên. Chúng tôi mang theo thương binh, xuống núi, nhằm hướng đông nam, băng đồng mà đi.


Khi vừng đông hé sáng, đơn vị tìm chỗ ẩn nấp trên cánh đồng, chờ đến tối lại tiếp tục hành quân. Phơi nắng từ sáng đến tối, bụng đói, cổ khát, nhưng ai cũng quyết tâm về đến Tổ quốc, dù phải mở đường máu mà đi.


Đêm ngày 4 tháng 1 năm 1947, sau khi vượt qua một vùng sình lầy, chúng tôi dừng lại một xóm nhỏ có chừng mươi nóc nhà, mua gạo nhờ dân nấu cơm. Đồng bào không lấy tiền, còn cử người dẫn đường cho đơn vị tiếp tục hành quân về hướng kênh Vĩnh Tế. Mặt trời lên cao, cả đoàn dừng lại nghỉ chốc lát. Người dẫn đường chỉ cụm ba cây lớn bên trái đường, cách khoảng 1 ki-lô-mét nói, ở đó có cột mốc biên giới. Chiếu theo la bàn thì chỗ chúng tôi đang nghỉ đã là đất của Tổ quốc. Không còn cách nào tả xiết cảm xúc của mấy chục đứa con "phiêu bạt", nay đã về tới Đất Mẹ! Không ai bảo ai, nhiều người nằm sấp mặt, dang hai tay như muốn ôm lấy Đất Mẹ vào lòng! Niềm vui tràn trề, càng làm chúng tôi thêm nhớ thương năm anh em đã hy sinh ba ngày trước.


Khoảng 10 giờ sáng ngày 5 tháng 1 năm 1947, chúng tôi đến bờ kênh Vĩnh Tế, lòng kênh rộng khoảng 40 mét. Chúng tôi nhờ cụ già và cháu nhỏ trên chiếc thuyền câu đưa bộ đội qua kênh. Vì thuyền quá nhỏ, mỗi chuyến chỉ chở được 3 người. Tổ trinh sát đi chuyến đầu. Khi thuyền rời bờ, chúng tôi đứng nghiêm trang đồng thanh hát quốc ca. Cụ già đã biết chúng tôi là ai nên không còn nghi ngờ, chở liền 20 chuyến đưa chúng tôi qua kênh. Khi lên bờ, cụ còn hỏi: "Tôi đã giúp các ông, vì xã tôi là xã kháng chiến. Nhưng tôi xin hỏi thật một điều để được yên tâm: Các ông là "bên ta thứ thiệt" phải không?". Sau khi nghe chúng tôi giải thích, cụ bảo cháu bé chống xuồng đi gọi dân làng về.


Đêm hôm đó, dân làng tổ chức liên hoan mừng đoàn quân của Việt kiều về nước tham gia kháng chiến. Mấy hôm sau, đơn vị chúng tôi vượt sông Hậu về đóng quân ở xã Vĩnh Hòa, quận Tân Châu (Châu Đốc). Anh Hoàng Ngọc Cừ, chính trị viên về U Minh Thượng báo cáo tình hình với Bộ tư lệnh Khu 9. Khi trở về anh mang theo quyết định của Bộ tư lệnh khen đơn vị đã vượt qua bao khó khăn gian khổ và hiểm nguy về tới Tổ quốc, chiến đấu chống giặc Pháp xâm lược. Cán bộ chiến sĩ đơn vị được điều động về nhiều cơ quan, đơn vị, chủ yếu là chi đội 22. Trong buổi lễ truy điệu các tử sĩ của đơn vị khi hành quân về Tổ quốc, anh Hoàng Ngọc Cừ đã vô cùng xúc cảm viết bài "Hận Chros Pok" với lời đề tặng hương hồn các bạn Duệ, Thường, Hoàng, Luận, Thuận hy sinh ở núi Chros Pok (Takeo Cam-pu-chia), ngày 2 tháng 1 năm 1947:

        Sông núi không ngăn tình thương
   Mưa gió không lay can trường
   Núi Chros Pok ngàn xa còn in bóng
   Trong tâm hồn chiến sĩ đội "Quang Trung"
   Vượt rừng xa, len núi thẳm mịt mùng
   Về cố quốc cùng đồng bào chiến đấu.
   Đoàn dũng sĩ quyết thề đem xương máu
   Tự trời xa về góp với núi sông
   Cùng đắp đài Độc lập với toàn dân
   Tìm Hạnh phúc trong lòng yêu Tổ quốc.
   Không thối chí trước thác, ghềnh, khổ, nhọc
   Quyết đi về chung sức diệt thực dân.
   Hai tháng trời ròng rã chịu gian truân
   Kìa đất Việt! Chỉ còn trăm dặm nữa
   Hai ngày trọn giữa rừng không ánh lửa
   Đội "Quang Trung" chịu đói, đã hết lương!
   Làm sao đây: Nghìn câu hỏi dập dồn!
   - Thôi hãy tạm đóng binh tìm phương kế.
   Núi Chros Pok nơi hoang vu lặng lẽ,
   Đoàn Việt quân Hải ngoại tạm trú chân.
   Ngày hôm sau quân địch đột tấn công!
   Tiếng súng đạn qua đầu như mưa bấc!
   Trận kịch chiến lặng êm trong khoảnh khắc
   Trên chiến trường, năm bạn đã bỏ thây!
   Ôi! Đau thương, ta đó các bạn đây
   Mà đôi ngả đã muôn nghìn xa cách!
   Lòng cương quyết mặc dầu bao thử thách
   Quyết đi về đất tổ chốn xa xăm,
   Đây Việt Nam yêu quý của muôn lòng!
   "Quang Trung" đấy xin góp phần kháng chiến.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:31:50 pm
CHI ĐỘI HẢI NGOẠI 4 (CHI ĐỘI TRẦN PHÚ)


Thiếu tướng LÊ QUỐC SẢN


Chi đội Hải ngoại 4 tức chi đội Trần Phú là một trong 4 đơn vị vũ trang, con em Việt kiều ở Thái Lan và Lào về chiến đấu ở Nam Bộ.

Nói về chi đội Hải ngoại 4, không thể không nói đến khối Việt kiều yêu nước ở Thái Lan và Lào.

Sự hình thành khối người Việt ở Thái Lan và Lào có mối quan hệ khăng khít với quá trình lịch sử và cách mạng ở nước ta. Nổi rõ nhất là những đợt di cư có tính chất tị nạn.

Những năm cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh cùng một số quan quân, bị quân Tây Sơn - Nguyễn Huệ đánh đuổi, phải chạy sang tị nạn ở Thái Lan (lúc đó gọi là Xiêm). Dưới thời Tự Đức, người Việt theo đạo Gia tô bị bức bách, năm 1885-1886 một số giáo dân chạy sang Lào rồi sang Thái Lan.


Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của các sĩ phu Văn Thân, Cần Vương hồi cuối thế kỷ XIX, các phong trào yêu nước Duy Tân, Đông Du những năm đầu thế kỷ XX đều thất bại. Những người yêu nước này đã vượt Trường Sơn sang Lào, rồi sang Thái Lan nương náu tạm thời để chờ thời cơ cứu nước.


Trước đó cũng có vài trăm gia đình sinh sống ở Thái Lan. Cùng với những người yêu nước sang đợt này, họ hợp thành những bản làng người Việt định cư dọc theo hai bên bờ sông Mê Công ở hai nước Thái Lan và Lào. Lớp người này đã trở thành những cơ sở cách mạng ở phía tây Tổ quốc, góp phần quan trọng vào việc tiếp đón, nuôi dưỡng, đào tạo cán bộ cho các phong trào cách mạng trong nước, đưa thanh niên yêu nước ra nước ngoài, đón các nhà ái quốc về nước.


Mùa thu năm 1928 đến cuối năm 1929, Việt kiều ở Thái Lan được đón tiếp Bác Hồ, lúc đó là Nguyễn Ai Quốc, lấy tên là Thầu Chín đến hoạt động trên đất Thái Lan. Bác đã đi nhiều nơi, mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước trong Việt kiều. Lòng yêu nước trong Việt kiều được nâng lên trình độ mới.


Năm 1930-1931, Xô Viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong máu lửa, đảng viên và quần chúng cách mạng chạy sang Thái Lan, càng nâng cao chí căm thù và lòng yêu nước của Việt kiều.

Ở Lào, từ khi xâm lược ba nước Đông Dương, để khai thác tài nguyên của nước Lào, thực dân Pháp đã đưa sang Lào hàng vạn công nhân, viên chức người Việt làm việc ở các công sở, hầm mỏ, làm đường... Phong trào Việt kiều yêu nước ở Lào cũng phát triển song song với phong trào Việt kiều yêu nước ở Thái Lan. Năm 1930, Đảng cộng sản Đông Dương ra đời, các đảng viên Lào - Việt sát cánh bên nhau, lãnh đạo quần chúng đấu tranh đình công, bãi thị chống chế độ hà khắc ở hầm mỏ, trên công trường làm đường...


Đế quốc Pháp bắt tay với phong kiến quân phiệt Thái Lan, khủng bố phong trào Việt kiều ở Lào và Thậi Lan. Hầu hết cán bộ và quần chúng cách mạng của ta bị bắt, bị tù đày, bị trục xuất. Phong trào Việt kiều ở Thái Lan, Lào tạm thời bị lắng xuống.


Những năm 1941-1942, cán bộ ta bị bắt, bị tù ở Thái Lan lần lượt được thả ra. Năm 1943, ban vận động Việt kiều được thành lập gây dựng lại phong trào, tổ chức quần chúng vào các hội tương tế. Năm 1944, thành lập Hội Việt kiều cứu quốc chống Pháp, chống Nhật. Phong trào phát triển lên cao, đòi hỏi phải tổ chức thống nhất và sự lãnh đạo phải chặt chẽ, nên đầu năm - 1945 các Hội Việt kiều cứu quốc thống nhất thành Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái - Lào...


Về lãnh đạo thì một số đồng chí trung kiên trong các ban vận động Việt kiều cứu quốc tổ chức lại thành đội Tiền phong. Trước tình hình thế giới và Đông Dương rất khẩn trương, đội Tiền phong chủ trương phát động rộng rãi phong trào cứu quốc trong Việt kiều và chuẩn bị lực lượng quân sự, cử người đi quan hệ với đảng Thái Tự do (Sérithay) là đảng có tư tưởng tiến bộ chủ trương chống Nhật, đề nghị họ giúp đỡ để thành lập Chiến khu Việt kiều. Do có sự quan hệ tốt từ trước, nhất là Việt kiều đã tích cực cùng nhân dân Thái Lan tham gia chống Nhật, nên được đảng Thái Tự do tán thành và tích cực giúp đỡ.


Tháng 3 năm 1945, một số đảng viên và nam nữ thanh niên Việt kiều ở Thái Lan và Lào tập trung về vùng núi Phu Phan, bản Tà Ngoi tỉnh Sakon (Đông bắc Thái Lan) để xây dựng chiến khu và thành lập "Việt Nam Độc lập quân". Chỉ trong vòng một tháng, đội quân này đã lên đến gần 140 người.


Tháng 6 năm 1945, theo chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương cho các đồng chí ở Lào và Thái Lan, đội Tiền phong trở thành "Xứ ủy Ai Lao lâm thời" có nhiệm vụ chuẩn bị mọi mặt khởi nghĩa cướp chính quyền ở Lào. Vì vậy "Việt Nam Độc lập quân" trong chiến khu Sakon được điều ra hai bên bờ sông Mê Công, gấp rút xây dựng lực lượng chuẩn bị cướp chính quyền ở Lào.


Ngày 15 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật bị đánh bại, đầu hàng Đồng minh. Xứ ủy Ai Lao lâm thời căn cứ vào chỉ thị tháng 6 năm 1945 của Trung ương Đảng đã phát động Việt kiều ở Thái Lan và Lào cùng với Việt Nam Độc lập quân làm nòng cốt giúp nhân dân Lào khởi nghĩa thành công ở 3 tỉnh lớn: Viêng Chăn ngày 20 tháng 8 năm 1945, Savẳnnạkhệt ngày 23 tháng 8 năm 1945 và Thàkhẹt ngày 25 tháng 8 năm 1945. Tháng 10 năm 1945, chính quyền Trung ương Lào được thành lập. Sau đó Hiệp định liên quân Lào - Việt được ký kết.

Tháng 9 năm 1945, sau khi đã gây hấn và tiến chiếm các tỉnh ở Nam Bộ, quân Pháp trở lại chiếm đóng Cam-pu-chia và các tỉnh Hạ Lào.

Tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp tập trung lực lượng lớn tấn công chiếm lại các thị xã ở Trung và Bắc Lào. Liên quân Lào - Việt, Việt kiều và nhân dân Lào đã chiến đấu anh dũng bảo vệ thị xã Savẳnnạkhệt.
Nhưng do tình hình bất-lợi, nên lực lượng vũ trang Lào - Việt đã rút qua Thái Lan. Toàn bộ 6 vạn Việt kiều 3 tỉnh lớn ở Lào, sinh sống dọc theo sông Mê Công cũng di cư sang Thái Lan làm vườn không nhà trống.


Thế là trên đất Thái Lan, cùng với 4 vạn Việt kiều đã ở từ trước, với 6 vạn Việt kiều từ Lào sang, hình thành lực lượng Việt kiều yêu nước đông đảo được giác ngộ, đoàn kết mang sẵn tinh thần đùm bọc lẫn nhau. Được sự tương trợ của các tầng lớp nhân dân Thái Lan và sự đồng tình ủng hộ của Chính phủ Thái Lan lúc đó, do ông Pha Nom Yong Pridi người của đảng Sérithay làm thủ tướng, kiều bào ở Lào tản cư sang nhanh chóng được ổn định. Với mối hận thù sâu sắc với thực dân Pháp, Việt kiều càng tăng thêm lòng yêu nước, hướng về Tổ quốc thân yêu.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:32:32 pm
Sau khi Việt kiều ở Lào tản cư sang Thái Lan ổn định cuộc sống, Xứ ủy Lào - Thái chủ trương tập hợp các lực lượng vũ trang đã chiến đấu ở Lào và tuyển mộ thanh niên để xây dựng lực lượng vũ trang, cử người đi quan hệ với chính quyền Thái Lan, xin mở những khu vực huấn luyện quân sự, lúc đó gọi là chiến khu. Chiến khu Um Kè - Nong Hỏi ra đời. Đầu tháng 8 năm 1946 đã có hơn 400 người tình nguyện từ các nơi tới. Ban chỉ huy được chỉ định gồm có các đồng chí: Nguyễn Chánh, Lê Quốc Sản, Đỗ Huy Rừa, Dương Cự Tẩm.


Để đỡ gánh nặng đóng góp nuôi quân của Việt kiều, chiến khu nhận thầu mở rộng con đường từ Um Kè - Nong Hỏi đi huyện Nake (Sakon). Trong thời gian học tập quân sự, chính trị các đơn vị thay nhau một tuần làm đường, một tuần học tập.


Sau 4 tháng học tập và lao động, ngày 10 tháng 12 năm 1946 đơn vị được lệnh về chiến đấu ở Nam Bộ. Ngày 20 tháng 12 năm 1946 tất cả cải trang giả làm phu đi đường, hành quân bằng xe khách. Qua hai ngày, đêm từ Thát Phanon (Trung Bộ Thái Lan) đến tập kết ở khu rừng Mường Đệt (Đông Nam Thái Lan). Trước ngày hành quân ít lâu, đơn vị được tăng cường thêm 3 cán bộ là các đồng chí Sơn Ngọc Minh cán bộ cách mạng Cam-pu-chia, Trần Văn Sáu ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh (sang Thái Lan mua vũ khí), Lê Quốc Trung (tức Hải Nam), đã hoạt động nhiều năm ở Thái Lan và 4 chiến sĩ.


Đơn vị tổ chức thành 3 đại đội chiến đấu, 1 phân đội trinh sát, 1 phân đội vận tải và đoàn bộ, gồm 426 người. Toàn đơn vị có 9 đảng viên, tổ chức thành một chi bộ, do đồng chí Trần Văn Sáu làm bí thư. Vũ khí trang bị phần lớn là các loại súng liên thanh mới, nhiều đạn. Quân phục thống nhất, dép da, ba lô, dây nịt, mũ sát. Ngoài trang bị, mỗi người mang 4 ngày lương khô (gạo rang) và 4 ngày gạo. Cán bộ và chiến sĩ đều phải mang vác khá nặng.


Đúng 16 giờ ngày 26 tháng 12 năm 1946, toàn đơn vị tập họp ở khu rừng Mường Đệt làm lễ xuất phát. Đồng chí Trần Văn Giàu, đại diện Bộ Quốc phòng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và đồng chí Nguyễn Hữu Bỉnh đại diện quân sự Tổng hội Việt Nam trao cờ, danh hiệu "Chi đội Trần Phú" cho chi đội. Ban chỉ huy chi đội gồm các đồng chí Nguyễn Chánh chi đội trưởng; Lê Quốc Sản và Đỗ Huy Rừa chi đội phó; Trần Văn Sáu chính trị viên; Lê Quán Trung và Dương Cự Tẩm chính trị viên phó. Đồng chí Sơn Ngọc Minh là cố vấn.


Cuộc lễ trang nghiêm của buổi xuất phát tại rừng Ampho Đệt đã để lại trong tâm khảm anh em trong chi đội những ấn tượng không thể nào quên.

Từ ngày giặc Pháp trở lại xâm chiếm Nam Bộ, tiếng vang của bài hát Tiếng súng Nam Bộ đã hun đúc trong lòng anh em nỗi hận thù phải trả, trong đó có những tội ác của giặc Pháp khi trở lại xâm lược nước Lào (tháng 3 năm 1946) tàn sát Việt kiều hết sức dã man. Câu hát "ta muốn băng mình tới phương Nam" thôi thúc mãnh liệt đối với anh em trong giờ phút lên đường.


Cuộc hành quân bằng đôi chân, vai mang nặng, có thể phải mất hàng tháng, khó khăn, nguy hiểm chưa lường được, vì đường dài hàng ngàn ki-lô-mét, tình hình địch, địa hình, nhân dân, đều chưa ai biết.


Ngày 31 tháng 1 năm 1947, sau 5 ngày hành quân từ Ampho Đệt, chi đội vượt qua dãy núi Dang Reck, biên giới giữa hai nước Thái Lan và Cam-pu-chia.


Từ đây đi sâu vào nội địa Cam-pu-chia, toàn đơn vị chỉ có cố vấn Sơn Ngọc Minh là người thông thạo tiếng, phong tục, tập quán Cam-pu-chia và một trinh sát, anh Hồ Hải biết chút ít. Phương tiện đảm bảo cho cuộc hành quân đường dài, chỉ có một bản đồ lụa, tỉ lệ 1/500.000 và một địa bàn do đồng chí Nguyễn Chánh giữ. Đường đi không được nghiên cứu trước, hoàn toàn căn cứ vào bản đồ, khi thì đối chiếu trên bản đồ, địa bàn cắt rừng đi; khi thì hỏi dân, nhờ dân dẫn từng chặng đường, khi thì nhờ dân chỉ đường cho đi. Về lương thực, hoàn toàn dựa vào nhân dân Cam-pu-chia. Có nơi dân ủng hộ, có nơi phải mua, có nơi dân không đủ gạo, bộ đội phải cùng dân ra đồng cắt lúa, giã gạo mới có gạo ăn.


Trên đường hành quân, ngày 9 tháng 1 năm 1947, đơn vị phải chiến đấu trận đầu tiên với địch ở Roviêng. Trận này anh Nhót bị thương, đội vận tải phải cáng anh. Ngày 18 tháng 1 năm 1947 trên đường hành quân đến Présenke, một địa điểm trên bờ sông Mê Công (bên kia là thị trấn Krauchmar) nơi ban chỉ huy chỉ định cho đơn vị vượt sông thì được tin địch đã ngăn chặn, tuần tiễu cả ngày đêm trên bờ, dưới sông và ra lệnh cho dân hai bên bờ sông phải cất giấu xuồng ghe. Trước tình hình đó, anh Nhót thương binh đã tự nguyện ở lại với một gia đình Việt kiều có chòi làm cá trong rừng (đầu năm 1948 anh tìm đường về gia nhập bộ đội miền Đông Nam Bộ).


Để nghi binh, lừa địch, tìm chỗ sơ hở vượt sông, chi đội phải tránh các phum, sóc đi ngược lên Kratié. Nhưng ở đây cũng bị địch phong tỏa gắt gao. Đơn vị lại hành quân trở về phía nam.


Ngày 3 tháng 2 năm 1947, khi trở lại Présenke, trinh sát báo cáo địch đã tăng cường lực lượng ở bên kia sông một cách khác thường. Thế là một lần nữa kế hoạch vượt sông không thực hiện được. Không còn cách nào khác, chi đội lại vượt lên phía bắc một lần nữa, lên trên Kratié, Stung Treng. Chặng đường nghi binh phải đi mất 25 ngày là chặng đường gian nan nhất. Đơn vị phải tự mở đường rừng mà đi. Đường đi đã khó, lại thiếu lương thực vì phải tránh phum, sóc, nhưng cái khó và sợ nhất là khát. Thời tiết ở Cam-pu-chia lúc này là mùa khô, càng lên phía bắc càng nóng. Đói, khát, mệt nhọc làm bệnh tật phát triển. Có người bị sốt đái ra máu. Hoàn cảnh thật khó khăn. Những cuộc họp của chi bộ, của chỉ huy không ai bàn ra, chỉ bàn cách khắc phục khó khăn, giữ vững quyết tâm, tìm cho ra sơ hở của địch để vượt sông.


Căn cứ theo bản đồ, ban chỉ huy hạ quyết tâm chọn phum Achin làm bến vượt. Chọn nơi đây vượt sông quả là táo bạo và bất ngờ đối với địch, vì khúc sông này rộng đến 8 ki-lô-mét. Muốn qua bờ bên kia phải vượt qua 3 cù lao, qua 4 nhánh sông nhỏ. Con sông thứ nhất rộng 800 mét, nước chảy xiết. Bên kia bờ sông là khu rừng già, không có dân. Achin là phum đông dân, trù phú, có ghe đánh cá của dân, bộ đội chỉ làm thêm bè mảng. Đêm 12 tháng 2 năm 1947, toàn chi đội qua sông lớn. Ngày 13 qua các cù lao và sông nhỏ. Mờ sáng ngày 14 tháng 2 năm 1947, người cuối cùng lên bờ sông an toàn. Cả đoàn quân ai cũng phấn khởi.


Từ chỗ vượt sông Mê Công, tới biên giới Tây Ninh... chiếu theo bản đồ không còn xa. Ban chỉ huy xác định lộ trình gần nhất. Quân Pháp đã phát hiện ta qua sông, chúng tăng cường tuần tiễu các con đường ô tô để ngăn chặn. Ngày 25 tháng 2 năm 1947, khi đơn vị định vượt qua lộ Kratié đi Mimốt thì bị địch phục kích. Đơn vị tạm rút vào ven rừng. Sau vài giờ, một trung đội trở lại tìm đường khác vượt lộ thì lại đụng địch. Sau hơn nửa giờ chiến đấu, địch rút lui để lại 12 xác chết. Bên ra một chiến sĩ hy sinh, đó là anh Đặng Mạnh Thường sinh ở Thái Lan, chưa nói sõi tiếng Việt, chưa được biết Tổ quốc. An táng anh Thường xong, đơn vị lại tiếp tục hành quân.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:33:34 pm
Ngày 27 tháng 2 năm 1947, lúc 5 giờ 30, chi đội về đến một làng không có tên trên bản đồ nằm trên Trại Bí, vùng biên giới Tây Ninh. Làng vừa bị bọn Cao Đài phản động càn quét đốt phá, không còn một người dân. Nhà cửa bị đốt cháy, giường tủ, lu khạp, chén đĩa bị đập phá. Giếng nước có xác người chết, cảnh tượng đau lòng đập vào mắt các chiến sĩ Hải ngoại mới bước chân về tới biên giới Tổ quốc, toàn chi đội đều ngậm ngùi và hết sức căm thù quân giặc. Lãnh đạo chi đội họp cán bộ để ổn định tư tưởng đơn vị. vì đã bị đói 3 ngày, chỉ huy tạm cho lấy trái mít non, chuối xanh chống đói, chờ liên lạc với địa phương. Hai ngày sau gặp Huyện ủy Châu Thành và chi đội 11, chi đội được dẫn về căn cứ Trà Vông của bộ đội Hải ngoại Ngô Thất Sơn (tức bộ đội Độc lập số 1 cũng mới ở Thái Lan về).


Chứng kiến cảnh xóm làng tan hoang điêu tàn, đồng chí Trần Văn Sáu đề nghị Tỉnh ủy Tây Ninh cho phép chi đội lấy danh nghĩa đơn vị Hải ngoại mới về nước, kêu gọi các chức sắc, tín đồ Cao Đài, các lực lượng đang bị kẻ địch lợi dụng, các giới đồng bào đoàn kết lại, chung sức chung lòng đánh kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược... Bản hiệu triệu ký tên chi đội Hải ngoại 4. Sở dĩ không lấy tên Trần Phú vì thời điểm chính trị lúc bấy giờ và cũng để báo cáo với đồng bào trong nước, lực lượng vũ trang con em Việt kiều Thái Lan - Lào đã có 4 đơn vị về chiến đấu ở Nam Bộ.


Về đến Tây Ninh, cuộc hành quân của chi đội về chiến trường Nam Bộ đã hoàn thành thắng lợi. Sau 65 ngày (từ 26 tháng 12 năm 1946 đến 29 tháng 2 năm 1947), vượt qua chặng đường dài hàng ngàn ki-lô-mét, xuyên rừng leo núi, lội suối, vượt sông, nhịn đói, nhịn khát, luồn lách che mắt địch và có lúc chiến đấu với địch, lòng yêu Tổ quốc thiết tha, tinh thần căm thù giặc sâu sắc đã tiếp thêm sức mạnh giúp đơn vị vượt qua khó khăn, gian khổ.


Sau ba ngày đóng quân ở chiến khu Trà Vông, đồng chí Nguyễn Chánh và Trần Văn Sáu về Khu 7 báo cáo và nhận nhiệm vụ. Cùng đi có 1 trung đội bảo vệ. Đoàn đến cơ quan Bộ tư lệnh buổi tối thì sáng hôm sau đã tham gia đánh quân Pháp nhảy dù ở Giồng Dinh và Giồng Thổ Địa. Hai đồng chí chỉ huy chi đội động viên anh em: "Phải đánh cho ra trò. Đây là thời cơ lập công, là trận đánh trình làng đó". Tuy lực lượng ít, nhưng được trang bị mạnh, địch bị bất ngờ nên cả hai trận đánh ta đều thắng giòn giã (trận buổi sáng đánh một đại đội nhảy dù xuống Giồng Dinh, trận buổi chiều đánh quân bộ vào Giồng Thổ Địa), tiêu diệt gần hết 2 đại đội địch, thu nhiều súng đạn. Chiến công đầu của chi đội gây tiếng vang lớn, mở đầu lịch sử chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của chi đội Hải ngoại 4.


Trong khi chờ hai đồng chí chỉ huy đi nhận nhiệm vụ, chi đội tham gia liên quân B của Khu 7, cùng với các đơn vị chi đội 11, bộ đội Hải ngoại 1, bộ đội Hoàng Thọ... hành quân chiến đấu ở hai huyện Trảng Bàng, Gò Dầu (Tây Ninh).


Sau khi nhận nhiệm vụ trên giao, hai đồng chí Chánh và Sáu trở về chi đội phổ biến quyết định của trên, về hoạt động ở tỉnh Sa Đéc. Toàn đơn vị rất phấn khởi khi được về hoạt động ở vùng đồng bằng đông dân.


Sau mấy ngày hành quân, ngày 2 tháng 4 năm 1947 chi đội về đến Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Hội (huyện Cao Lãnh). Ban chỉ huy đi gặp Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính và ban chỉ huy chi đội 18 (lúc đó chi đội 18 đang hoạt động ở Sa Đéc). Căn cứ vào nhiệm vụ của Bộ tư lệnh Khu 8 giao và yêu cầu của tỉnh, chi đội Hải ngoại về hoạt động ở hữu ngạn sông Tiền gồm các huyện Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò và thị xã Sa Đéc, nơi có đông đồng bào theo đạo Hòa hảo bị bọn phản động lôi kéo, kích động chống lại cách mạng. Chi đội 18 hoạt động bên tả ngạn sông Tiền (Cao Lãnh, Hồng Ngự, Tân Châu). Tháng 7 năm 1947 Bộ tư lệnh khu tăng cường đại đội Xung phong (đại đội tập trung đầu tiên của khu) vào đội hình của chi đội. Như vậy chi đội có 4 đại đội.


Trên chiến trường Sa Đéc, chi đội đã đánh hàng trăm trận lớn, nhỏ, vừa chủ động tiến công vừa đánh địch càn quét giành nhiều thắng lợi, góp phần đưa phong trào địa phương phát triển mạnh. Một số trận đánh tốt, có ảnh hưởng lớn trong vùng như:

- Trận đột nhập thị xã Sa Đéc đêm 18 tháng 5 năm 1947, lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 57 tuổi. Toàn chi đội cùng với công an xung phong, du kích của hai huyện Châu Thành và Lai Vung, tấn công vào trung tâm thị xã, đốt kho xăng dầu, đánh địch ở Cầu Quay và làm công tác vũ trang tuyên truyền phát động quần chúng. Ta làm chủ suốt đêm 18 đến rạng sáng 19 tháng 5 năm 1947.


- Trận đánh ở Rạch Chân Đùng huyện Chợ Mới Long Xuyên, tiêu diệt 1 tiểu đoàn lê dương thiện chiến mang danh tên tướng Nyo của Pháp.


- Trận phục kích trên sông Cái Tầu Thượng, đánh đoàn tàu tiếp tế, có tàu chiến hộ tống. Ta bắn chìm tàu và một số ghe chài, thu nhiều vũ khí có cả đại liên và nhiều quân trang, quân dụng, giải thoát hơn 100 đồng bào đang bị địch đưa đi thủ tiêu.


- Trận phục kích đoàn xe chở quân Pháp trên đường Sa Đéc đi Vĩnh Long tháng 12 năm 1947, diệt 6 xe, thu toàn bộ vũ khí và quân dụng. Sau đó ít ngày, ta lại đánh tiếp 1 trận nữa cũng ở đoạn này, diệt 3 xe quân sự, thu nhiều vũ khí.


- Trận đánh 2 đơn vị (khoảng 2 tiểu đoàn) "Dân xã” đầu sỏ của Năm Lửa, Hai Ngoán tháng 2 năm 1948 tại rạch Khoán Tiết, An Trường, Mỹ Thuận, diệt hơn 300 tên "Dân xã” nổi tiếng ác ôn, hung hãn, phá kế hoạch lấn chiếm của địch từ Cái Vồn lên huyện Châu Thành (Sa Đéc).


- Trận tiêu diệt một đại đội Âu Phi, khi chúng càn quét đánh phá để nối con đường từ Sa Đéc lên Cái Tầu Thượng. Ba Cụt (Lê Quang Vinh), một tên đầu sỏ "Dân xã" được giao việc này, nhưng không đủ sức. Giặc Pháp phải đưa thêm 1 đại đội Âu Phi lên để làm nòng cốt. Đại đội này rất hung bạo, tàn ác. Hàng ngày chúng hành quân càn quét vào các xã để cướp của, đốt nhà bắn giết, hãm hiếp phụ nữ. Hai đại đội 976 và 981 của chi đội Hải ngoại bố trí trận địa phục kích tại xã Tây Khánh, tiêu diệt đại đội Âu Phi này làm cho nhân dân trong vùng rất hả dạ. Sau trận đánh đại đội 976 phân tán lực lượng cùng du kích bao vây, đánh các đồn bốt lẻ buộc địch phải bỏ kế hoạch lấn chiếm, nối con đường Sa Đéc - Cái Tầu Thượng. Đồng thời, mở thông con đường giao lưu của ta từ tả ngạn sông Tiền sang hữu ngạn, cũng là con đường nối miền Đông với miền Tây Nam Bộ.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:34:21 pm
Song song với nhiệm vụ chiến đấu, chi đội đã tiến hành vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng ở những nơi bọn phản động Hòa hảo "Dân xã" và giặc Pháp chiếm đóng thuộc các huyện Lai Vung, Lấp Vò, một phần huyện Châu Thành và huyện Chợ Mới (Long Xuyên), ở các vùng này, nhất là ven sông Hậu, cán bộ và quần chúng cách mạng bị bọn "Dân xã" - Hòa hảo phản động khủng bố, bắt bớ, tàn sát phải chạy đi nơi khác. Quần chúng Hòa hảo bị bọn phản động dùng thần quyền mê tín, khống chế. Có nơi khi lực lượng ta đến, đồng bào đánh mõ báo động.


Trước tình hình đó, cuối tháng 5 năm 1947, theo chỉ thị của Khu 8, Tỉnh ủy Sa Đéc chủ trương mở đợt vũ trang tuyên truyền lớn ở huyện Lai Vung. Lực lượng được sử dụng gồm chi đội Hải ngoại 4, hai đại đội của chi đội 18 và đại đội 889 của tỉnh Bến Tre (được Bộ tư lệnh Khu 8 tăng cường) cùng với cán bộ dân, đảng. Khi lực lượng ta vào các xã vùng này, bọn "Dân xã" chống trả quyết liệt (quấy rối, bắn tỉa, đánh úp bộ phận đi lẻ). Trận đụng độ đáng kể xảy ra với đại đội 1 của Hải ngoại và đại đội 889 của Bến Tre ở Bò Húc, xã Phong Hòa. Sau trận này, bộ đội và cán bộ dân, đảng ở lại vùng này suốt một tuần lễ để xây dựng cơ sở quần chúng và chính quyền.


Cuối tháng 6 năm 1947 Xứ ủy Nam Bộ chủ trương mở đợt vũ trang tuyên truyền quy mô lớn vào hai huyện Lấp Vò, Chợ Mới (Long Xuyên). Lực lượng huy động có chi đội Hải ngoại 4, chi đội 18 của Khu 8 và 2 đại đội của Khu 9, cùng với cán bộ dân, đảng. Ngay trong ngày ra quân, vào lúc 6 giờ sáng, các cánh quân bắt đầu tiến vào vùng hoạt động được phân công. Một tình huống ngoài dự kiến đã xảy ra ở chi đội Hải ngoại 4. Khi đại đội 1 hành quân đến xã Định Yên ven sông Hậu, thì bị tàu chiến địch bắn chặn, ở hướng đại đội 2 và 3, khi đến ngọn rạch Chân Đùng thì phát hiện 1 tiểu đoàn địch đang từ Vàm Nao băng đồng xuống rạch Chân Đùng. Chỉ huy chi đội triển khai đội hình, dựa vào bờ rạch bố trí đánh địch. Cuộc chạm súng nổ ra quyết liệt, dữ dội. Quân địch tập trung hỏa lực mở nhiều đợt xung phong. Đại đội 2 và 3 đánh trả quyết liệt, bẻ gãy các đợt tấn công của địch. Trong lúc đó, đại đội 1 ở xã Định Yên, nghe tiếng súng dữ dội ở rạch Chân Đùng, đã linh hoạt cho đơn vị băng đồng đánh xuyên hông. Được đại đội 1 chi viện, đại đội 2 và 3 nhanh chóng tổ chức xung phong tiêu diệt địch. Kết quả, ta tiêu diệt 1 tiểu đoàn lê dương thiện chiến, mang danh hiệu tên tướng Nyo của Pháp, bắt tù binh thu nhiều vũ khí. Trận đánh có tiếng vang lớn lúc bấy giờ. Sau trận đánh này, toàn bộ lực lượng tham gia ở lại hai huyện Chợ Mới và Lấp Vò trong thời gian hơn 2 tháng để làm công tác tuyên truyền phát động, tổ chức quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng.


Sau 2 đợt vũ trang tuyên truyền quy mô lớn, chi đội phân tán từng đại đội, trung đội, tiểu đội vũ trang tuyên truyền ở từng khu vực (liên xã, xã, có khi ở một ấp).

Từ giữa năm 1947 đến năm 1949, chi đội kiên trì làm công tác vũ trang tuyên truyền, phát động quần chúng đạt kết quả tốt, góp phần xây dựng các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính quyền, đẩy mạnh phong trào du kích ở hầu hết các xã thuộc huyện Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò. Chi đội được Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đề nghị Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ biểu, dương khen thưởng.


Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng cơ sở cách mạng, trung đoàn 109 (Hải ngoại 4), đã cùng với địa phương tổ chức đường giao liên quân sự, bảo đảm cho các cơ quan Xứ ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ di chuyển từ Đồng Tháp Mười xuống miền Tây Nam Bộ an toàn. Cũng qua đường dây liên lạc này, việc vận chuyển lương thực từ miền Tây lên miền Đông, trong lúc miền Đông gặp khó khăn về lương thực được an toàn và kịp thời.


Quá trình hoạt động, đơn vị được mang danh hiệu chi đội Trần Phú, chi đội Hải ngoại 4, trung đoàn 109. Khoảng giữa năm 1949, trung đoàn 109 cùng với trung đoàn 111 tổ chức thành liên trung đoàn 109-111 hoạt động ở ba tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh (gọi tắt là Vĩnh - Sa - Trà). Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Khu 8, trước khi cùng với trung đoàn 111 tổ chức liên trung đoàn, trung đoàn 109 để lại một số cán bộ chiến sĩ, tổ chức thành tiểu đoàn 325, do đồng chí Nguyễn Như Văn làm tiểu đoàn trưởng tiếp tục hoạt động ở các huyện Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò và thị xã Sa Đéc. Đồng thời, đưa một số cán bộ đại đội về huyện đội, cán bộ trung đội, tiểu đội về làm xã đội và tiểu đội du kích xã.


Trong gần 8 năm hoạt động và công tác trên quê hương Sa Đéc (từ 2 tháng 4 năm 1947 đến Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954), chi đội Hải ngoại 4 đã trưởng thành. Từ những bỡ ngỡ ban đầu, được đảng bộ, các cơ quan, đoàn thể các cấp và nhân dân hết lòng giúp đỡ, cán bộ, chiến sĩ chi đội Hải ngoại sau là trung đoàn 109 và tiểu đoàn 325 đã hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu, góp phần xây dựng, phát triển các đoàn thể cách mạng và phong trào nhân dân du kích chiến tranh trên các huyện thuộc hữu ngạn sông Tiền, tỉnh Sa Đéc. Gần 300 cán bộ, chiến sĩ Hải ngoại 4 đã hy sinh anh dũng trên đất Sa Đéc, quê hương của Hải ngoại 4. Nhiều anh em Hải ngoại đã trở thành con em của nhân dân Sa Đéc.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Sáu, 2021, 07:18:48 pm
NHỚ NHỮNG NGÀY NAM TIẾN XÂY DỰNG CƠ SỞ
ĐÁNH QUÂN PHÁP XÂM LƯỢC Ở HÀ TIÊN


VÕ VĂN DOÃN


Sau ngày Hà Nội giành được chính quyền (19-8-1945), tôi và một số cán bộ đảng viên được Tỉnh ủy Thái Bình cử đi học lớp quân chính tại Hà Nội. Lớp học cấp tốc để có cán bộ cho lực lượng vũ trang nên nội dung rất ngắn gọn thiết thực. Những bài học chính trị là chương trình Việt Minh, phương pháp công tác cách mạng, tình hình chính trị trước mắt, các bài nói khi đến thăm trường của Bác Hồ, anh Văn (Võ Nguyên Giáp), anh Trần Huy Liệu... Sau thời gian học tập (khoảng 15 đến 20 ngày), trường tổ chức kiểm tra và lựa chọn một số cán bộ tự nguyện đưa vào Nam Bộ và Trung Bộ. Nam Bộ lúc ấy đang đứng trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp, cả nước sục sôi chiến đấu trước họa "thù trong giặc ngoài" và sẵn sàng chi viện lực lượng vào Nam Bộ chống xâm lược.


Anh em chúng tôi gồm 72 người, sau khi được kiểm tra và xem xét quá trình tham gia hoạt động Việt Minh... đã được trên lựa chọn. Trong số đó, 26 người được điều vào chiến trường Nam Bộ, tất cả được Bộ Quốc phòng phong là cán bộ trung đội, mỗi người được cấp 1 bộ quần soóc tây, giày săn-đá, mũ ca-lô... Bộ Tài chính cho mỗi người 50 đồng (lúc này ở Hà Nội giá một quả trứng vịt là 1 đồng). Nhà trường và Ủy ban nhân dân Hà Nội tổ chức một buổi liên hoan nhỏ ở Tòa thị chính thành phố, có bác sĩ Trần Duy Hưng Chủ tịch Ủy ban và đồng chí Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền dự, chia tay dặn dò. Sau đó được xem kịch do anh em sinh viên biểu diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội.


Sáng hôm sau, nhà trường, Ủy ban nhân dân Hà Nội cùng đông đảo nhân dân Thủ đô tiễn đưa chúng tôi ở ga Hàng Cỏ. Buổi tiễn đưa không rầm rộ, nhưng rất cảm động, đầy khí thế cách mạng. Đây là buổi tiễn đưa đoàn cán bộ Nam tiến đầu tiên của Trung ương vào miền Trung và Nam Bộ. Không có nước mắt và sự bịn rịn, mọi người đều vui vẻ, tin tưởng hẹn ngày chiến thắng, chan chứa tình Trung - Nam - Bắc một nhà. Con tàu chuyển bánh vào Nam... Hai bên đường nhân dân vẫy chào hoan hô... Cờ đỏ sao vàng khắp nơi... Tàu đến bờ bắc cầu Ninh Bình, do cầu đã bị bom Mỹ phá, chúng tôi phải hành quân bộ sang thị xã. Nhưng vào thời điểm đó, tất cả các chuyến tàu vào Thanh Hóa đã bị quân Tưởng huy động chở binh lính của chúng vào phía Nam. Các đồng chí lãnh đạo địa phương giúp chúng tôi thương lượng lấy lại dù chỉ một toa cũng không được... Nói với cố vấn Mỹ đi theo quân Tưởng thì họ bảo gặp sĩ quan Tàu... Nói với sĩ quan Tàu thì họ bảo "vì nước lụt, họ hành quân bị chậm, bây giờ phải đi gấp vào Huế nên không thể giải quyết được". Chúng tôi phải ở lại Ninh Bình. Đoàn thanh niên thị xã đưa chúng tôi đi xem núi Non Nước, vào thăm nhân dân ở xóm Núi Thúy. Đêm hôm ấy, Ủy ban nhân dân tỉnh trưng dụng 3 xe khách đưa chúng tôi vào Thanh Hóa. Anh chị em ở ga Thanh Hóa đã giấu đi một toa hạng nhất cho đoàn chúng tôi. Sau khi quân Tưởng đánh số vào từng toa cho quân lính của chúng, toa tàu được kéo ra lắp ngay trên đầu đoàn tàu quân sự. Chúng tôi đem cờ đỏ sao vàng ra treo lên đầu toa mặc cho quân Tưởng phản đối, coi đây là đoàn tàu quân sự của chúng.


Đến cầu cách Vinh 20 ki-lô-mét đoàn tàu phải dừng vì cầu bị bom Mỹ phá. Hai bên đường, cũng như ở các ga đã đi qua, nhân dân cầm cờ đỏ sao vàng, tươi cười vẫy chào chúng tôi, cho rất nhiều quà bánh, cam Vinh chất đầy một góc toa. Khoảng 8 giờ tối, chúng tôi xuống đò vượt sông sang đoàn tàu khác, tiếp tục hành quân vào phía Nam.


Tháng 10 năm 1945, đoàn chúng tôi đến ga Trảng Bom. Nhân dân vùng này củng như anh em phục vụ đều là công nhân cao su quê ở khắp ba miền Nam, Trung, Bắc. Anh chị em rất vui vẻ, chân tình trò chuyện, ai cũng sẵn sàng đánh giặc Pháp xâm lược. Nhiều người hỏi chúng tôi về tình hình nạn đói và lũ lụt ở miền Bắc. Khoảng hai, ba ngày sau, các đồng chí Trần Văn Giàu, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ và anh Nguyễn Bình lên gặp chúng tôi. Các anh cho biết giặc Pháp được liên quân Anh - Ân giúp sức, đã đánh chiếm Sài Gòn. Chúng đang tổ chức lực lượng và chờ quân tăng viện ở Pháp sang để đánh chiếm toàn Nam Bộ. Các lực lượng của ta còn rất non kém và chưa có sự lãnh đạo thống nhất. Nhiệm vụ của chúng tôi là về các đơn vị ấy để giúp huấn luyện, củng cố tinh thần chiến đấu. Một thời gian sau, tôi và đồng chí Thức được điều về mặt trận Châu Đốc - Hà Tiên. Lúc này, một số tàn quân Pháp, sau khi chiếm lại Cam-pu-chia, đã cùng một số ngụy Khơ me đánh sang Nam Bộ bằng hai đường: qua Châu Đốc và qua Hà Tiên. Một số đơn vị vũ trang ở Bạc Liêu và Cần Thơ đã được điều lên chi viện cho hai mặt trận này.


Anh Phan Trọng Tuệ (tù Côn Đảo về, là thanh tra quân đội miền Tây) đưa tôi và đồng chí Thức đi khảo sát một số mặt trận. Sau đó anh Thức ở lại mặt trận Châu Đốc làm việc với anh Ba Vàng (lúc ấy anh Vàng là ủy viên thư ký Ủy ban nhân dân Châu Đốc). Tôi đi với anh Tuệ sang mặt trận Hà Tiên. Thời gian này ở Hà Tiên có một lực lượng bán vũ trang của tỉnh Rạch Giá do đồng chí Nguyễn Văn Châu phụ trách đóng ở Hòn Chông và Ba Hòn, khoảng một trung đội vũ trang của tỉnh Bạc Liêu do anh Minh phụ trách đóng ở thị xã Hà Tiên. Lực lượng vũ trang của tỉnh có khoảng hai trung đội đóng ở Thạch Động và huyện Giang Thành, ngăn chặn quân Pháp từ Cam-pu-chia sang, ở thị xã Hà Tiên còn có lực lượng quốc vệ đội (công an) do đồng chí Nhẫn phụ trách, làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự. Quân đội Nhật ở đây có khoảng một trung đội, một kho vũ khí ở Tô Châu. Lãnh đạo tỉnh Hà Tiên đã thương lượng với quân Nhật lấy được kho vũ khí này trang bị cho bộ đội. Quân ta tổ chức phòng ngự, xây dựng công sự bằng đá gạch, bố trí hỏa lực tập trung. Tôi xin ý kiến đồng chí Gia Long (Bí thư Tỉnh ủy) và trao đổi với đồng chí Nhẫn tổ chức lớp quân chính 15 ngày cho các cán bộ lực lượng vũ trang tỉnh và huyện, kể cả ở Phú Quốc. Khoảng cuối tháng 11 năm 1945, lớp học gồm 20 người được tổ chức tại một trường học ở thị xã Hà Tiên do tôi phụ trách. Đây là một trong những lớp quân chính đầu tiên của miền Tây Nam Bộ. Nội dung giảng dạy ngoài phần quân sự còn có chương trình Việt Minh, các bước công tác cách mạng, 10 lời thề và các điều kỷ luật của quân giải phóng, góp phần nâng cao lòng yêu nước và tinh thần cách mạng theo con đường của Đảng và Bác Hồ, bước đầu gây cho anh em tính kỷ luật và lòng tự hào của người thanh niên yêu nước. Sau lớp học, tôi được đồng chí Phan Trọng Tuệ gửi thư khen và điều về Trường quân chính miền Tây ở đồn điền Phú Lộc tỉnh Sóc Trăng. Trường do đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng và Võ Quang Anh (đều là cán bộ ở tù Côn Đảo về) phụ trách. Đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng, giám đốc Trường quân chính Phú Lộc hỏi han rất tỉ mỉ về phong trào Việt Minh sau Nhật đảo chính ở Bắc Bộ, tình hình khó khăn, thù trong giặc ngoài sau 19 tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội. Anh còn trao đổi với tôi về các vấn đề chính trị, quân sự, các vấn đề cần bổ sung vào chương trình huấn luyện quân chính lúc ấy...


Lúc này thực dân Pháp đã chiếm Cần Thơ, đang chuẩn bị đánh chiếm Sóc Trăng. Một số đồng bào Khơ me và Hoa kiều ở thị xã bị bọn phản động thân Pháp xúi giục "nổi dậy" chống Việt Minh. Lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng của ta dưới sự lãnh đạc của Tỉnh ủy đã kịp thời ngăn chặn được âm mưu nguy hiểm này. Khi quân Pháp đánh chiếm Sóc Trăng, cơ quan Tỉnh ủy1 (Sau một thời gian ở Trường quân chính, tôi được điều về văn phòng Tỉnh ủy Sóc Trăng) rút về vùng Chắc Băng - Thới Bình. Bộ chỉ huy Quân khu 9, do đồng chí Vũ Đức ở miền Bắc vào làm tư lệnh, đồng chí Phan Trọng Tuệ làm chính trị bộ chủ nhiệm. Lãnh đạo Xứ ủy, Quân khu 8, Quân khu 9 chủ trương bám trụ xây dựng lực lượng đánh địch. Tôi và đồng chí "An Tư Mui" (tù Côn Đảo về) được điều về Hà Tiên, ở đây, đời sống nhân dân rất khó khăn, quần áo toàn bẳng vải bố, nhiều gia đình ở huyện An Biên trẻ con không có quần áo, cả nhà chỉ có một cái màn cũng bằng vải bố. Có gia đình hai vợ chồng chỉ có một cái quần xà lỏn vải bố, thay nhau đóng khố... Tôi cũng chỉ có một cái quần đùi vải bố, một cái áo vải đen. Nhưng đi đến đâu, bà con nghe giọng miền Bắc đều tin tưởng, thương mến và đùm bọc. Quân khu cấp cho tôi một cái xuồng con chở vài cây súng, tìm cách trở lại Hà Tiên hoạt động. Tôi và đồng chí An đến Rọ Ghẹ gặp các đồng chí Trần Đình Khôi, Phan Thành Dân và đồng chí Bính. Nhưng chỉ ở với nhau được ít ngày, mỗi người lại mỗi ngả... Tôi theo ghe biển đi Phú Quốc gặp anh Sáu "răng đen". Anh Sáu phân công tôi xuống ngay Cây Dừa (xã An Thới) để củng cố lực lượng phòng thủ. Đêm hôm đó quân Pháp đổ bộ chiếm Dương Đông và Cây Dừa. Lực lượng vũ trang ở đây quá yếu không ngăn được quân xâm lược có tàu chiến và vũ khí đầy đủ. Nhân dân bỏ nhà chạy vào rừng. Quân Pháp bắn giết bừa bãi, vơ vét tài sản của nhân dân. Chân ướt chân ráo vừa tới Phú Quốc, tôi cũng theo đồng bào vào rừng, cảnh tan tác, máu chảy khắp thôn xóm. Tôi chạy vào các rẫy ở Dương Tơ, bụng đói, người mệt. Thấy có nhà ở sâu trong rẫy còn ngọn đèn leo lét và tiếng người đàn ông hát ê a, tôi ghé vào xin ngủ nhờ. Cả hai anh chị đón tiếp tôi chân tình như người em đi xa mới về. Biết tôi là cán bộ của Cụ Hồ ở Bắc vào đang bị giặc săn lùng, anh Chín Nhỏ đưa tôi vào sâu trong rừng, cất một cái chòi con cho tôi ở, hàng ngày anh chị tiếp tế cơm nước cho tôi. Anh Chín Nhỏ rất thông minh, dũng cảm, trở thành người liên lạc giữa tôi và đồng chí Sáu "răng đen" ở bắc đảo. với các đồng chí Huỳnh Thành Nghĩa, Hai Xê, Hai Bộ (đã học Trường quân chính Hà Tiên)... Từ các đầu mối này, tôi đã cùng các đồng chí ở Phú Quốc gây dựng lại phong trào, xây dựng lực lượng vũ trang và chính quyền cách mạng huyện đảo Phú Quốc.


Sau khi liên lạc được với nhau và với các đồng chí ở trong đất liền ra, cơ sở quần chúng được tổ chức lại ở khắp các xã, thôn trong huyện. Sau vụ đồng chí Nhung (tù Côn Đảo về) cùng một số anh em tổ chức ám sát tên quận trưởng Pháp ở Phú Quốc không thành, cơ sở quần chúng có nguy cơ tan vỡ, một số anh em ở Phú Quốc bị địch bắt. Vào đúng thời điểm đó, tôi được giao nhiệm vụ làm chính trị viên ban quân sự Hà Tiên. Tôi quyết định tập hợp anh em ở Phú Quốc, tổ chức lực lượng vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích; đánh chiếm các đồn lẻ của địch ở Hàm Ninh, Cây Dừa, Bài Bổn... Đến trước Tạm ước 14 tháng 9 năm 1946, phần lớn huyện đảo đã được giải phóng. Địch chỉ còn một lực lượng nhỏ ở trong đồn tại thị trấn Dương Đông...


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Sáu, 2021, 07:19:49 pm
XUNG PHONG HỌC CỨU THƯƠNG ĐỂ VÀO BỘ ĐỘI NAM TIẾN


PHAN THỊ QUẾ


Lúc ấy là tháng 9 năm 1945, tôi làm công tác Phụ nữ cứu quốc ở thành phố Vinh, phụ trách thiếu nhi. Tin quân Pháp khởi hấn ở Nam Bộ làm cho nhân dân rất công phẫn. Phong trào Nam tiến chi viện miền Nam phát triển mạnh ở nhiều nơi. Tôi xung phong đi học cứu thương để vào bộ đội Nam tiến. Đồng chí phụ nữ cấp trên của tôi (chị Đinh Thị Cẩn) nói: "Con người bé nhỏ thế này thì đi sao được". Tôi phản đối, nói: "Thế thì phụ nữ giới thiệu em đi học cứu thương để làm gì?". Tổ chức phải cho tôi đi. Tôi vận động một chị bạn nữa cùng đi là chị Nguyễn Thị Sinh Quang (hiện nay là cán bộ hưu trí ở Vinh).


Chúng tôi được nhận quân trang, tập trung vào một trung đội độc lập gọi là trung đội An (tên anh trung đội trưởng là An, người Huế). Đội viên phần nhiều là lính khố xanh đi theo cách mạng, những người này đã được luyện tập quân sự, biết sử dụng vũ khí. Trung đội phó kiêm chính trị viên là Ngô Hy Sinh, nghe nói là cán bộ ở Chiến khu Việt Bẳc về. Tôi nhớ tên ba người trung đội trưởng là: Đặng Trần Thanh (con bác sĩ Đặng Trần Anh nổi tiếng ở Vinh), anh Hoàng Nha - cháu bốn đời của Hoàng Diệu và anh Vinh. Trung đội có 2 nữ cứu thương là Sinh Quang và tôi.


Chúng tôi đi bằng chuyến tàu hỏa riêng, có quân nhạc đi tiễn đến sân ga giữa tiếng hoan hô của nhân dân thành phố. Ông Trần Văn Quang (nay là thượng tướng, Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam) huấn thị.


Trên tàu chúng tôi học những bài ca cách mạng do anh chính trị viên dạy. Đến ga nào cũng có đồng bào ra rất đông để chào đón chúng tôi cũng bằng những bài ca cách mạng, và cho rất nhiều quà. Trước khi tàu chuyển bánh chúng tôi cũng đáp lại bằng những bài ca cách mạng mới toanh và nồng cháy.


Tàu dừng lại ở Quảng Ngãi, chúng tôi nghỉ lại mấy ngày. Tôi còn nhớ các chị du kích Quảng Ngãi mặc quần đùi, da đen trũi, tóc cắt ngắn, mặt gân guốc như con trai. Thấy chúng tôi các chị bảo: "Trông các cô liễu yếu đào tơ thế này, ra mặt trận đánh đấm cái gì? Đi để các anh phải cõng à?". Chúng tôi im lặng, vẫn giữ lòng tin tưởng ở mình.


Trên đường từ Quảng Ngãi vào Ninh Hòa, trung đội tôi ghé nghỉ ở Bình Định mấy ngày. Địa phương tổ chức liên hoan chào mừng. Anh chị em chúng tôi hát, một số anh chị em địa phương múa võ Bình Định. Riêng hai đứa nữ cứu thương chúng tôi hát vài bài ca cách mạng mới học chưa thạo và bài "tủ" Trông hoa bướm lượn theo điệu xàng xê mà chúng tôi rất thích từ khi còn là nữ sinh.


Tôi nhớ mãi bà con Bình Định hết sức nhiệt tình, thân thiết với chúng tôi như đón người nhà ở xa về và mổ trâu chiêu đãi. Tôi là con gái mới lớn chưa có kinh nghiệm nên thú thật trông các đĩa thức ăn thì vui, nhưng thường ngày ở nhà đã không quen ăn thịt trâu, lại càng không dám đụng đũa vào thịt trâu làm khác khẩu vị của mình. Sau này trưởng thành, mỗi khi nhớ lại tôi cứ tự ngượng mới mình.


Tàu đi tiếp đến Ninh Hòa, dừng lại ở hầm số 1, nơi có trụ sở của ban chỉ huy (lúc đó có ông Hà Văn Lâu chỉ huy mặt trận Khu 6). Chúng tôi ở đó một ngày rồi ra mặt trận.

Trong những tháng chiến đấu ở mặt trận Khánh Hòa, tôi nhớ nhất hai trận địch tấn công ác liệt. Đơn vị chúng tôi ở mặt trận Xóm Bóng. Một số nơi khác tôi còn nhớ tên là Cây Đa, Bến Giếng, Đồng Dài, Đất Sét. Lần đầu tiên tôi được "nếm mùi" đạn đum đum, chiến sĩ ta chỉ có súng trường. Chúng tôi đi đến đâu đều thấy vườn không nhà trống. Bộ đội ta rất nghiêm không lấy một thứ gì của dân. Địch tấn công khi đêm đã khuya, bắn rất nhiều đạn đum đum, rát cả tai. Khi tiếng súng im dần, giữa ánh trăng mờ (khoảng 2 giờ sáng) hai nữ cứu thương chúng tôi đi đến từng hầm chiến đấu đưa bánh mì cho các chiến sĩ. Các anh nói đùa: "Hai nàng tiên xuất hiện giữa đêm khuya".


Trận thứ hai chúng tôi cho là ác liệt nhất, gọi là trận ca nông. Pháo địch bắn liên tục hơn một tuần lễ, càng ngày càng dày, làm tan nát nhiều nhà dân, cắt đứt cả những cây to, những hàng dừa rất sai quả bị rụng sạch. Trước cuộc tấn công dữ dội của địch, các đơn vị bạn rút lui vì đã có lệnh trên. Đơn vị tôi chưa nhận được lệnh.


Giữa ban ngày và trên địa hình đồng bằng, ca nông và liên thanh của địch trên núi Bà Nghè vẫn bắn xuống, chúng tôi bò rất chậm. Các chiến sĩ nam trêu: "Các chị ơi bò nhanh, đi trước đi". Tôi bật cười nói: "Cứu thương đi sau để băng bó cho chiến sĩ khi bị thương chứ sao lại chạy trước?".


Thế rồi chúng tôi cũng về đến địa điểm an toàn. Đơn vị tôi về sau cùng nên nhiều người tưởng chúng tôi đã bị tiêu diệt. Các mẹ chiến sĩ nói: "Chúng tôi thương quá, tưởng hai chị cứu thương đã chết cả rồi".


Thời gian này, các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Lê Văn Hiến, đặc phái viên của Chính phủ, ra tiền tuyến thăm bộ đội. Sau khi ở mặt trận về, đồng chí Lê Văn Hiến đã viết thư khen ngợi, động viên các nữ cứu thương. Có những câu làm chúng tôi rất xúc động: "Đứng trước súng đạn các chị tỏ ra rất bình tĩnh. Tổ quốc không bao giờ quên những người con ưu tú như các chị".


Đơn vị tôi được điều ra Cam Ranh. Đến Ngã ba, dừng lại nghỉ mấy ngày ở một đồn điền, được chủ nhân tiếp đãi nồng hậu. Vùng này khí hậu rất độc. Ông trưởng ga Ngã ba cho uống một thứ trà có chất êmêtin để chống kiết lỵ và chữa kiết có hiệu quả. Anh chị em bị kiết đều khỏi.


Sau đó, tôi được phái đi Quảng Ngãi cùng bác sĩ Lê Khắc Quyến (phụ trách chiến trường Khu 6) để lấy thuốc. Đi đến Sông Cầu được điện báo, mặt trận Buôn Ma Thuột vỡ. Ở hầm số 1 có nhiều bộ đội các nơi dồn về trong đó có cả một số anh em thuộc đơn vị tôi. Qua Đất Sét, chúng tôi phải rút bằng con đường số 14, đi băng rừng vượt đèo Varela, phá vòng vây của địch. Mỗi ngày được phát một nắm cơm, ai cũng cố ăn để giữ sức còn đi tiếp, ở trong rừng cứ độ mười phút lại bị một trận mưa, hết mưa lại nắng, cứ như vậy khoảng chừng 20 ngày. Hai bàn chân đã được băng lại nhưng vẫn bị đá đâm nát gan bàn chân. Ban đêm chúng tôi được dừng chân mấy tiếng, ngủ ngay giữa rừng. Để vượt vòng vây của địch, chúng tôi phải qua một con sông nhỏ. Hàng ngàn người nối nhau đi, chỉ nghe tiếng lội nước và thỉnh thoảng tiếng người nói khẽ.


Sau khi nghỉ ở Tuy Hòa mấy hôm, tôi được về Huế điều trị khoảng nửa tháng vì hai chân bị sưng tấy, sau đó về Vinh. Lúc ấy khoảng tháng 3, tháng 4 năm 1946.

Tôi tiếp tục công tác ở Hội phụ nữ cứu quốc Nghệ An, xung phong đi miền núi Kẻ Bọn, Quỳ Châu, làm nhiều việc khác nhau, nhưng kỷ niệm những ngày Nam tiến vẫn vô cùng sâu sắc.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Sáu, 2021, 07:24:17 pm
NGƯỜI CHỈ HUY DŨNG CẢM CỦA BỘ ĐỘI NAM TIẾN
Ở MẶT TRẬN BUÔN MA THUỘT 1945-1946


NGUYỄN VĂN HÙNG


Lời BBT - Những mẩu chuyện dưới đây của tác giả Nguyễn Văn Hùng, nguyên trưởng ban chính trị trung đoàn 95 (Quảng Trị), hiện ở nhà số 65, đường Yersin thành phố Nha Trang, Khánh Hòa. Bài viết được ban chính trị trung đoàn 95 ấn hành nămi 1947 (in litô, họa sĩ Trần Thanh Tâm viết chữ, vẽ và in). Chúng tôi trích, đăng lại. Từ ngữ và câu văn giữ nguyên như bản in năm 1947.


Hùng Việt tên thật là Đinh Huy Phan, người làng Đổng Lư, phủ Nam Trực, tỉnh Nam Định, con một của ông Đinh Đức Long và bà Đinh Thị Thường, sinh năm 1908 giữa một gia đình Nho giáo. Vợ ông tên Lưu Thị Sửu hiện sống với năm con (năm 1947).


Lớn lên, Hùng Việt theo học chữ Nho với cha là thầy giáo lúc bấy giờ. Đến 14 tuổi, ông bắt đầu học chữ Việt và Pháp ở Nam Định, ở đấy ông giáo Du, một ông giáo mà Hùng Việt yêu nhất, đã thường kể cho Hùng Việt nghe những câu chuyện của các ông Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu làm khích lệ tinh thần yêu nước của Hùng Việt từ lúc ấy. Học lớp nhất được ba tháng, ông đi học ở trường "Huấn luyện võ bị Pháp". Một năm sau, ông bị nghi ngờ về việc thông đồng với Nguyễn Thái Học nên bị nhốt ở nhà pha nhà binh hơn bốn tháng. Vì không có bằng cớ đích xác nên ông được tha.


Những năm 1936, 1937, 1938, ông đi làm thuê ở các mỏ Uông Bí và Vàng Danh. Liên lạc với ông sư ở chùa Cả và chùa Cội ở Nam Định (những nhà cách mạng ẩn thân), ông Hùng Việt nhận trách nhiệm đi rải truyền đơn và khẩu hiệu đình công, đòi tăng lương cùng là treo cờ, nói chuyện ở các mỏ như Hòn Gai, Uông Bí. Bị vỡ lở nhưng thoát bắt, ông về Đông Triều để hoạt động như cũ. Trong thời kỳ ấy ông làm thư ký chấm công, trả công rồi đến đốc công ở mỏ. Sinh hoạt mỗi ngày một đắt đỏ, những cuộc đấu tranh, đình công iiên tiếp, ông đi Thái Nguyên để tìm kế sinh nhai. Đến năm 1939 ông lại về các mỏ Vàng Danh, Uông Bí làm thư ký, kế toán rồi đến phó trưởng ban chấm công. Biệt tài của ông là nhận diện rất giỏi, tính toán phân minh nên được ông chủ tin cậy. Lợi dụng lòng mến yêu của ông chủ, ông Hùng Việt thường đi nói chuyện với các anh em thợ thuyền ở bãi than nên bị Ty liêm phóng nhiều lần để ý. Tiếp cuộc đình công ở đó xảy ra, ông Hùng Việt bị Cung Đình Vận bắt về tra khảo và bị thải ra khỏi mỏ. Năm tháng sau, ông đi buôn than. Được ít lâu ông bị Cung Đình Vận kêu về tra tấn và kết hai tháng tù treo.


Năm 1940, ông lại bị bắt cùng với mấy người bạn hoạt động ở Lạng Sơn, đưa về Hà Nội bị kết án ba năm tù và bị đày lên Tam Đảo.

Vừa được cơ hội, ông thoát ly được nhà lao Tam Đảo nhưng sau cũng bị bắt, án lại tăng thêm hai năm tù nữa.

Ở Tam Đảo, ông liên lạc với các đồng chí mặt trận Việt Minh và tham gia hoạt động.

Tiếp tới cuộc đảo chính Pháp của Nhật, ở Tam Đảo một người Việt lên thay giám binh người Pháp. Người này được ông Hùng Việt tuyên truyền và giác ngộ nên ông được tự do đi lại lấy tài liệu hoạt động và công tác tuyên truyền ở các làng Lúa và Mạ ở phủ Vĩnh Tường. Sau bị lộ bí mật, đoàn thể địa phương quyết định đánh lấy Tam Đảo. Ông Hùng Việt hăng hái tham gia tác chiến và sau hai ngày chiến đấu dữ dội kết quả thu lại rất mỹ mãn! Giết hết tụi phát xít Nhật ở đó, thu thập được hết khí giới, giải phóng được một số lớn người Pháp trong số đó có hai vợ chồng giáo sư Bernard.


Ông Hùng Việt lúc bấy giờ sung vào đội quân du kích "Quang Trung". Sau khi được dự lớp quân chính ông tiếp tục chiến đấu đến khi cướp chính quyền, tham gia tác chiến ở Thái Nguyên, trận đánh quyết liệt trong sáu ngày sáu đêm.


Cách mạng thành công, ông Hùng Việt được tin cậy, về Thủ đô làm tự vệ cho Hồ Chủ tịch.

Bọn thực dân Pháp gây hấn ở miền Nam, ông Hùng Việt tình nguyện xin vào giết giặc.

Tháng 11 năm 1945 ông vào Nam. Đến Ninh Hòa rồi lên Buôn Ma Thuột, ông được cử làm chỉ huy phòng tuyến A ở Ca Đa.

Cuối tháng chạp, ông được ủy nhiệm làm chỉ huy mặt trận Buôn Hồ, đông bắc Buôn Ma Thuột.

Mặt trận Buôn Ma Thuột - Ninh Hòa vỡ, ông được cử làm phó chỉ huy mặt trận miền bắc Buôn Ma Thuột.

Ở đây ông đã làm cho bọn thực dân kinh hồn và khiếp đảm lối đánh vận động quân vô cùng chớp nhoáng.

Tới ngày 10 tháng 4 năm 1946, ông được cử làm tham mưu trưởng chi đội 5 (Gia Lai), nhưng sau ông lại giữ chức tiểu đoàn trưởng để tiện việc trực tiếp chỉ huy mặt trận ấy. Đáng chú ý nhất là trận tập trung hỏa lực phá gọng kềm Buôn Đá ngày 3 tháng 5 năm 1946, một chiến công rực rỡ đã nêu rõ sự sáng suốt của ông.


Trước sức mạnh ồ ạt của địch, ông đã khéo điều khiển cuộc rút lui, bộ đội không tan rã, vũ khí được vẹn toàn.

Tới Phú Mỹ, ông Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam nước Việt Nam tỏ lời khen ngợi ông và chỉ định ông làm trung đoàn trưởng trung đoàn 67.

Đến ngày 7 tháng 10 năm 1946, ông được lệnh dẫn một tiểu đoàn tấn công vào mặt trận An Khê.

Trong trận đột kích ở đồn Kannach, ông đã nêu cao tinh thần gan đảm phi thường hùng hổ như "một con cọp khi hăng", thúc đẩy bộ đội vào một trận đánh xung phong quyết liệt.

Quân địch xoay hướng, gây hấn ở miền Bắc Việt Nam, theo nghị quyết của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam, ông được lệnh ra Khu 4 để nhận chức trung đoàn trưởng trung đoàn Quảng Trị.


Gặp lúc quân địch tấn công ở biên giới Lào - Việt, ông Hùng Việt bố trí sắp đặt phòng thủ con đường số 9 và gần đấy những trận địa lôi chiến ở Rào Quán, Mò Ô, Đầu Mầu đã chấm vào ký ức bọn thực dân Pháp những dấu ghi đáng sợ và cũng đã tỏ cho mọi người thấy mưu trí và kế hoạch của ông Hùng Việt thu được rất nhiều kết quả tốt đẹp.


Tài cầm quân của ông không một ai ở Quảng Trị mà không biết tiếng. Đồng bào toàn tỉnh và anh em bộ đội đang đặt nhiều tin tưởng vào sự cương quyết chỉ huy của ông.

Ai gặp ông Hùng Việt lúc đầu cũng cho là một người sắt đá, nhưng sát cánh với ông lâu, thì mới biết tính tình ông rất tốt.

Ông rất quan tâm đến đời sống anh em binh sĩ từ cái ăn đến cái mặc, nhất là đặc biệt chú ý đến anh em đau ốm.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Sáu, 2021, 07:25:07 pm
Ông Hùng Việt đến đâu là những ai dĩ công vi tự lần lượt phơi ra ánh sáng nhờ ông có tài về điều tra và phần lớn là nhờ ở sự ân cần chăm sóc đến miếng ăn anh em từng ngày một.


Tôi còn nhớ có lần, ông đuổi cả một ban tiếp tế chạy vào rừng vì đã để cho anh em bị thương nhịn đói, và cũng đã nhiều lần, tôi được thấy ông ngồi hàng giờ bên cạnh anh em bị thương để tỏ lòng an ủi và nâng đỡ tinh thần.


Bởi vì ông Hùng Việt là một người yêu nước tha thiết nên chẳng những ông mến người đồng đội mà lòng yêu của ông lại tràn ngập tất cả mọi người đồng chủng.

Tháng hai vừa qua, khi trận Đầu Mầu thất thủ, bộ đội tán loạn rút lui. Được tin, hôm ấy ông tức giận đến cực điểm hết vò đầu đến giậm chân, hết phê bình cấp chỉ huy đến khiển trách bộ đội. Cả ngày hôm ấy, ông ngồi thừ người trên bàn giấy, đến đêm người ta thấy trên gò má xương xo điểm vài giọt lệ đau thương. Hình như ông Hùng Việt đã tưởng tượng nhiều đến sự tàn khốc sắp diễn. Bọn thực dân Pháp như ngọn nước lở bờ, đồng bào bị tha hồ khủng bố.


Ông Hùng Việt đã sống mãi trong thâm tâm mọi người chung lòng yêu mến của ông, với tất cả.

Ai cũng rõ ông Hùng Việt mỗi khi nghe hoặc thấy những sự không vừa ý đối với ông là thẳng thắn nói, phê bình ngay hoặc đôi khi không dằn được bản tính, ông thốt ra nhiều lời lẽ như búa bổ. Cái tính "thấy sao nói vậy" đã làm nhiều người mới thoáng qua không vừa ý cho lắm. Tuy nhiên sau mỗi lần nhận thấy mình có thái độ không hợp lý, ông lại là một người rất thành thực tự chỉ trích, nhận lỗi và cố tâm sửa chữa.


Lúc bình thường, ông Hùng Việt rất vui vẻ, bình dân, thân mật đối với tất cả.

Bởi vậy những người nào đã hiểu rõ ông đều phục ông hơn là sợ ông.

Ông Hùng Việt không thẹn mỗi khi nói "Chúng ta phải can đảm và xung phong trong sự nghiệp cứu quốc.

Trong trận Ngã Tư Sòng tháng hai vừa aua (1947), quân địch bắn liên thanh và đại bác không ngớt qua vị trí ta. Tinh thần bộ đội có phần lung lay.

Hôm ấy ông đến thăm anh em ở tiền tuyến để khuyến khích tinh thần và để chỉ bảo vài kế hoạch tác chiến. Đến nơi thì quân địch tấn công ồ ạt vào vị trí ta. Tiếng súng liên thanh của địch nổ liên tiếp. Tuy còn xa nhưng anh em bộ đội đã lăn bò và có ý sợ sệt. Ông Hùng Việt thấy vậy, vội xấn bước quát anh em "Địch còn xa mà anh em sợ như thế thì ai là người đánh giặc. Đi như thế này thì có chết không?". Thế rồi ông hùng hổ chạv về hướng địch, trong khi tiếng súng một lúc một gần liên tiếp nổ không ngớt. Tinh thần can đảm gương mẫu ấy đã đưa bộ đội đến chỗ vững tâm chiến đấu và kết quả là toàn thể xoay về một hướng, phòng ngự một cách anh dũng cương quyết cho đến lúc quân địch rút lui.


Trận đột kích đồn Kannach ở mặt trận An Khê đã chứng tỏ sự can đảm phi thường của ông trước sức mạnh của địch. Ai đã dự trận ấy cũng đều cảm  phục sự cương quyết hy sinh của ông Hùng Việt đã thúc đẩy toàn bộ một tiểu đoàn vào một trận quyết tử đáng ghi.


Lòng biết yêu người, tính thành thực, thêm sự can đảm gương mẫu, chí cương quyết hy sinh của ông làm nổi đức tính của một quân nhân cách mạng, đáng cho mọi người tin, mến phục.

Tháng 4 năm 1946, ông Hùng Việt lúc bấy giờ là một tiểu đoàn trưởng phụ trách mặt trận Buôn Ma Thuột.

Tuy Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946 đã ký, quân thực dân phản động vẫn cố ý lấn át về mặt quân sự. Chúng tập trung một số quân rất lớn ở Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Buôn Ayun và muốn chiếm đoạt nhanh chóng tỉnh Gia Lai bằng cách tấn công dọc theo đường số 14.


Lực lượng của chúng có đến hai - ba ngàn quân, lại có thêm đại bác, xe tăng, phi cơ yểm hộ.

Bên ta được một tiểu đoàn, nhưng hỏa lực rất kém lại thêm vì khí hậu độc địa, một số khá đông bị đau ốm, không thể đưa ra trận tuyến được.

Tình thế rất là khó xử. Liên tiếp mấy ngày liền, phi cơ địch bắn phá dữ dội vào phòng tuyến 52 và Buôn Rừng, một vài đội quân địch tấn công lẻ tẻ vào tiền tuyến của ta.

Trong khi chúng chọc ở mặt tiền thì hai bộ phận lực lượng khá mạnh của chúng bí mật len lỏi giữa rừng tránh những phòng tuyến, vị trí của ta xuyên hai bên đường số 14, định dùng lối gọng kềm đánh bọc hậu quân ta.


Được tin bộ phận bên mặt của địch đã đến Buôn Đá sau tiền tuyến của ta độ 30 cây số và định cùng gọng kềm bên trái tập trung tại cây số 82 đường 14 đánh tập hậu quân ta, ông Hùng Việt vội tập trung tất cả hỏa lực, thu quân tất cả dồn về cây số 78, mặc dầu ở tiền tuyến quân địch luôn luôn nghi binh đánh phá.


Kế hoạch thu quân đã đạt, ông cấp tốc cho một đại đội quyết tử chặn đánh đường tiến của bộ phận địch bên mặt và đồng thời để một số quân đóng các ngả thối (lui) của gọng kềm ấy.


Quả nhiên quân địch ồ ạt từ Buôn Đá kéo ra đường số 14 bị quân ta phục kích, quyết liệt chiến đấu, giết được viên quan ba chỉ huy của chúng, một số quân địch bất ngờ bị tử trận còn những đứa sống sót sợ hãi quay gót đâm đầu, băng rừng một mạch trở về vị trí cũ của chúng và không hề dám ghé vào một buôn nào để nghỉ chân. Gọng kềm bên trái của địch tiến đến cây số 82, bỡ ngỡ như những nàng dâu không gặp rể. "Liên lạc mất rồi ư? Hay là bộ phận kia bị tiêu hủy? Hay là đầy bộ đội Việt Nam đang giăng bẫy...??". Lạnh lùng và kinh hoảng trong trơ trọi, rồi không biết chúng nghĩ gì hơn, chỉ thấy chúng lủi thủi ôm gói băng rừng trở về vị trí cũ, thỉnh thoảng lại giật mình ngó lui.


Trận phá gọng kềm Buôn Đá này đã làm tan kế hoạch chung của địch và đã làm chậm bước tiến của chúng non một tháng rưỡi.

Trận phá gọng kềm Buôn Đá này đánh dấu vào những kinh nghiệm tác chiến, một phương pháp đối thủ có kết quả, một sáng kiến đáng ghi.

Trận phá gọng kềm Buôn Đá này là một chiến công oanh liệt của ông Hùng Việt và cũng là một chứng cớ hiển nhiên cho tài xuất chúng cầm quân của người chiến sĩ Hùng Việt.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Sáu, 2021, 07:26:15 pm
Chẳng những ông Hùng Việt có tài về quân sự mà ông lại là một người khéo tổ chức quần chúng, có căn bản giác ngộ và có một sự nhận định chính trị sâu sắc.

Trong khi ông là phó chỉ huy mặt trận miền bắc Buôn Ma Thuột, ngoài nhiệm vụ chiến đấu với quân thù, ông là một chiến sĩ vận động cho dân tộc thiểu số giác ngộ sự nghiệp giải phóng, chống xâm lăng.

Dân chúng địa phương thường gọi ông là "Khua Prong"1 ("Khua Prong" tiếng Ê Đê nghĩa là "ông lớn") hết sức thương mến ông, phục tùng ông và coi ông như một vị anh hùng.

Ngoài công việc tuyên truyền cho anh em thiểu số, ông thành lập và tổ chức các Ủy ban kháng địch, các đoàn thể thanh niên, đội quân du kích địa phương, các ban do thám tình hình địch và các ngành liên lạc.

Trong một thời gian rất ngắn mà ông đã tập hợp được toàn dân địa phương quay vào một hướng: diệt địch, đánh thực dân.

Trình độ dân chúng mỗi ngày một cao, sự ủng hộ của dân chúng đối với bộ đội mỗi ngày một mạnh.

Chúng ta có thể nói, sở dĩ ở mặt trận bắc Buôn Ma Thuột bộ đội ta thâu được nhiều thắng lợi, ấy cũng là nhờ một phần lớn ở sự gia khẩn công tác chính trị của ông Hùng Việt.

Đánh về miền rừng, ông Hùng Việt thường dùng chông hoặc giăng cung, một lợi khí mà ông rất chú ý.

Trong trận Buôn Ayun tháng 3 năm 1948, ông đã làm cho địch thiệt hại vì chông.

Buôn Ayun là một làng ở giữa hai vị trí ta và địch, ta không đóng và địch cũng thế, nhưng cả hai bên thường hay lui tới để xem địch tình.

Một hôm ông Hùng Việt cho anh em bộ đội đến Buôn Ayun đào phòng tuyến trước ngả địch vào làng. Theo sự chỉ bảo, anh em đào rất nhiều hầm tròn nấp máy bay một người, xong đâu đấy rồi về. Ngày sau tình báo địch đến xem và hết sức ngạc nhiên. Nhưng sau đó không việc gì xảy ra nên địch không chú ý nữa. Cách nửa tháng sau, có tin địch tấn công mạnh vào vị trí ta, ông Hùng Việt biết chắc thế nào địch cũng dùng đường Buôn Ayun qua nên vội vàng ông cho một tiểu đội bố trí xếp đặt kế hoạch đối phó ở buôn đó. Ông Hùng Việt cho anh em phục kích sau chỗ đào hầm tròn trước kia độ 30 thước. Ông bí mật cho anh em cắm chông ở dưới hầm tròn và xung quanh đấy rồi lấy lá khô ủ lấp rất kín đáo.


Đúng theo dự đoán, sáng hôm sau quân địch ồ ạt kéo đến Buôn Ayun. Khi quân địch đến gần chỗ các hầm tròn đã đào sẵn, quân ta phục kích ở sau ném rất nhiều lựu đạn. Thấy nổ lung tung, địch quân nhận thấy các hầm hố đào sẵn bên đường bèn tranh nhau nhảy xuống hầm toan tránh mảnh đạn. Nào ngờ! Chông nhọn không hề tha kẻ cướp nước, nhiều tên địch bị chông xuyên qua mình, qua ngực, qua đầu chết một cách ghê tởm.


Trận này địch thiệt hại nặng vì chông và mưu mô của ông Hùng Việt tuy thô sơ nhưng đã thành công trong việc chặn bước tiến của địch.

Ông Hùng Việt thích đánh địch bằng bom địa lôi hoặc treo, hoặc giật, dùng địa lôi chiến. Ông Hùng Việt thường nắm phần chắc thắng và quân địch đã trăm lần mắc mưu cả trăm. Bất cứ ở đâu, lúc nào, ông Hùng Việt cũng thường dùng lối đánh này.


Ở các trận Rào Quán, Đầu Mâu, Mò Ô, quân địch mấy lần hốt hoảng và thiệt hại vì những quả bom chôn. Tránh đường này đi đường khác chúng củng bị bom nổ. Một cây đổ giữa đường là một cái bẫy lựu đạn. Một thây chết bên sấn là một cái mưu khôn. Địch sợ lắm! Sợ đến nỗi, một hôm, trong một trận phục kích một đội viên ta bỏ quên một bầu nước ở giữa đường, bọn địch khi thấy vội tránh xa, lấy súng bắn xả liên tiếp vào bầu nước ấy đến khi sứt ra từng mảng vụn mới thôi.


Nghe đến tên Hùng Việt, địch cũng đã khiếp vía và đã nhiều lần, chúng treo đầu ông bằng một giá rất cao, rất đắt.

Thế rồi..., trong một túp nhà lá, ông Hùng Việt đã bỏ mình.

Hôm ấy, liên lạc viên các biệt động đội về báo cho ông hay những tin tháng trận, ông vồn vã, hỏi han và luôn tiện ông bày vẽ cho các anh em ấy cách dùng bom giật, mong trao thêm kinh nghiệm về tác chiến. Trong một phút vô ý, một trái bom nổ. Ông Hùng Việt đã hy sinh một cách đáng tiếc.

Đời của ông Hùng Việt là một chuỗi ngày tranh đấu đáng ghi.

Mà cái chết của ông Hùng Việt lại là một bài học đáng nhớ.   

Cuộc kháng chiến của toàn dân thiếu một chiến sĩ cứu quốc trung kiên.

Quân đội quốc gia thiếu một viên chỉ huy tài cán.

Ông Hùng Việt chết giữa lúc quân phản động thực dân định đẩy chúng ta vào con đường nô lệ cũ.

Cái chết của ông Hùng Việt thúc giục chúng ta cố gắng, cố gắng thêm nữa. Chúng ta nguyện noi gương chiến đấu của người chiến sĩ quá cố, vượt những nỗi khó khăn, đưa nước nhà đến hoàn toàn độc lập và thống nhất dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Viết tại Chiến khu, ngày 20-9-1947


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:24:14 pm
NHỮNG ĐOÀN QUÂN NAM TIẾN


QUỐC HƯNG


Đất nước độc lập chưa tròn tháng, ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp núp sau quân Anh, nổ súng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. Từ Sài Gòn vang lên "tiếng kều sơn hà nguy biến"!.


Sáng 24 tháng 9, tại cơ quan Bộ Tổng tham mưu, số nhà 16 đường Ri-ki-ê1 (Nay là số 18 phố Nguyễn Du), Hà Nội, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái triệu tập cơ quan truyền đạt chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Bọn Pháp đã đánh Sài Gòn. Bộ Tổng tham mưu cần tổ chức gấp lực lượng và điều cán bộ chi viện ngay cho Nam Bộ. Theo lệnh của Tổng tham mưu trưởng, văn phòng viết giấy triệu tập, đóng dấu "hỏa tốc", giao cho đội viên đội liên lạc đặc biệt dùng xe Jeep đến mời các đồng chí Nam Long, Vi Dân, Hữu Thành, Thu Sơn, Quang Trung... là những người trong danh sách do đồng chí Võ Nguyên Giáp đề nghị và được Bác Hồ duyệt, về Bộ nhận nhiệm vụ chỉ huy các đoàn quân vào Nam Bộ chiến đấu. Bộ Tổng tham mưu còn gửi gấp điện, công văn cho các chi đội giải phóng quân, các tỉnh, các trường quân chính yêu cầu chọn, cử cán bộ, tổ chức ngay các đoàn quân Nam tiến.


Tại Hà Nội, trên nhiều đường phố xuất hiện những bàn ghi tên thanh niên tình nguyện vào Nam đánh giặc. Ga Hàng Cỏ nhộn nhịp cảnh đưa tiễn người thân. Hầu như ngày nào cũng có những đoàn tàu rời ga, tiến về phía Nam. Chi đội Nam Long, chi đội Vi Dân và nhiều đơn vị khác hành quân từ Thủ đô, vào đến cầu Bình Lợi (Sài Gòn), Xuân Lộc, Phan Rang, Buôn Ma Thuột, Nha Trang... cùng nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu ngăn chặn quân xâm lược.


Tại các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Yên, Thường vụ Tỉnh ủy các tỉnh đã tuyển chọn một số cán bộ và đơn vị giải phóng quân lập ra chi đội Nam tiến Bắc Bắc Quảng. Đồng chí Lư Giang được cử làm chi đội trưởng, đồng chí Lê Văn Lương làm chính trị viên. Vũ khí tốt được ưu tiên dành cho chi đội Nam tiến. Chiến sĩ có súng trường (của các nước Nga, Pháp, Nhật chế tạo do bộ đội và nhân dân thu được trong Cách mạng tháng Tám). Hỏa lực có một vài khẩu cối 60 ly, đại liên "Hốt-kít". Cán bộ chỉ huy trung đội có súng ngắn và kiếm. Chỉ huy chi đội có ống nhòm. Quần áo thì có gì mặc nấy, có người mặc cả quân áo của lính Nhật, lính bảo an, mang xanh-tuya rông, quần soóc, đi giày da... Sau khi tham gia bỏ phiếu bầu quốc hội (6-1-1946), thực hiện quyền lợi thiêng liêng của công dân một nước độc lập, toàn chi đội tập trung ở thị trấn Lục Nam chuẩn bị lên đường. Đồng chí Hà Thị Quế, ủy viên quân sự tỉnh Bắc Giang thay mặt lãnh đạo ba tỉnh đọc lời chào mừng và giao nhiệm vụ cho chi đội vào Nam Bộ cùng đồng bào chiến đấu. Ngày 10 tháng 1 năm 1946, chi đội lên đường bằng ba chiếc tàu thủy mang tên Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư và Ký Con. Tàu nổ máy, hàng chục thanh niên vẫn chạy đuổi theo, xin được vào Nam đánh giặc... Qua đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo bên bến Lục Đầu Giang, ba con tàu dàn hàng ngang tổ chức trọng thể lễ tuyên thệ trước uy linh tổ tiên. Đồng chí Ngô Từ Vân, chỉ huy phó chi đội Bắc Bắc Quảng nhớ mãi một kỷ niệm sâu sắc. Rời Hải Dương, đoàn tàu chở chi đội xuôi xuống Ninh Giang rồi theo sông Thái Bình xuống Nam Định. Một buổi chiều chi đội nhận được điện động viên của Bác Hồ. Bức điện dài kín ba tờ giấy của bưu điện. Đồng chí Ngô Từ Vân giữ bức điện ấy, nhưng đến năm 1949 thì bị mất trong trận chống càn ở Hòn Hèo. Bác viết: "Nghe tin các cháu tình nguyện nhiều lần, nay đã được cấp trên đồng ý cho Nam tiến ủng hộ bộ đội và đồng bào trong Nam đánh giặc Pháp. Tôi hoan nghênh lòng yêu nước của các cháu... Thanh niên được cống hiến cao nhất là ra tiền tuyến, đó là phần thưởng cao quý mà Tổ quốc dành cho các cháu... Kẻ địch thực dân Pháp được bọn Anh, Ấn giúp sức đều là quân hùng tướng mạnh, nhưng ta có chính nghĩa thì nhất định thẳng. Các cháu không được chủ quan khinh địch, thắng không kiêu, bại không nản. Các cháu vào Nam phải thực hiện đoàn kết Bắc - Trung - Nam, gương mẫu dũng cảm khắc phục khó khăn. Bộ đội và đồng bào miền Nam đang hăng hái dũng cảm diệt địch, các cháu phải noi gương học tập để xứng đáng là thanh niên Việt Nam. Tôi bận việc, tiếc là không đến thăm được, vậy đánh điện thay lời chúc các cháu lên đường mạnh khỏe, lập nhiều chiến công". Bức điện bị mất, nhưng đồng chí Ngô Từ Vân còn nhớ như in từng chữ, từng lời của Bác!


Tại ba tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, theo chỉ thị của Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp, một chi đội Nam tiến - chi đội Thu Sơn được thành lập gồm ba đại đội của ba tỉnh1 (Đồng chí Thu Sơn, nguyên là tiểu đội trưởng trong Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập ngày 22-12-1944 được cử xuống Nam Định cùng lãnh đạo địa phương tổ chức một chi đội Nam tiến. Chi đội này do Thu Sơn làm chi đội trưởng, mang tên "chi đội Thu Sơn"). Đại đội 1 lấy từ chi đội Lạc Quần (Nam Định) gồm các đội viên tự vệ đã tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Nam Định, một số công nhân nhà máy dệt, một số thanh niên học sinh và cựu binh sĩ theo cách mạng. Đại đội 2 (Ninh Bình) nòng cốt là cán bộ chiến sĩ từng tham gia đánh quân Nhật ở chiến khu Quỳnh Lưu. Đại đội 3 lấy từ chi đội giải phóng quân tỉnh Hà Nam. Mỗi đại đội có khoảng 150 người, chia thành 3 trung đội. Đại đội bộ có tổ liên lạc, trinh sát, y tá và quản trị trưởng. Trung đội có liên lạc, trinh sát cứu thương và cấp dưỡng. Cán bộ đại đội có súng ngắn, cán bộ trung đội có tiểu liên, chiến sĩ có súng trường. Chiến sĩ đại đội 1 có hai bộ đồng phục màu xanh và màu nâu may bằng vải của nhà máy dệt Nam Định. Chiến sĩ đại đội 2 có một bộ quần áo ka-ki vốn là quân phục của lính Pháp. Đồng chí Trần Minh Vân, nguyên chính trị viên trung đội thuộc chi đội Thu Sơn còn nhớ: Khoảng 2 giờ chiều một ngày cuối tháng 10 năm 1945, bộ đội tập trung đầy đủ ở ga Đồng Giao tổ chức lễ thành lập và xuất quân. Đồng chí Hoàng Sâm, Khu trưởng Chiến khu 2 tuyên bố thành lập chi đội, giao nhiệm vụ và trao tặng chi đội một thanh kiếm và một lá cờ Tổ quốc. Đồng chí Thu Sơn hứa với Khu trưởng và đại biểu nhân dân ba tỉnh kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ. Buổi lễ thành lập và tiễn đưa ngắn gọn, trang nghiêm, đầy xúc động. Bộ đội lên tàu hỏa, vừa đi, vừa hát vang những bài ca cách mạng. Tàu đến ga nào cũng có đồng bào mang cờ, khẩu hiệu, hoa. quà bánh ra chào đón, động viên. Tết nguyên đán Bính Tuất (1946), nhiều đơn vị đã cùng đồng bào ăn tết ngay tại mặt trận Cực Nam Trung Bộ.


Tại Thái Bình, cơ quan quân sự tỉnh tổ chức tiếp nhận quân tình nguyện của hai tỉnh Hải Phòng, Kiến An, cùng với lực lượng của tỉnh thành lập một đơn vị Nam tiến mang tên "chi đội Hải Kiến Thái".


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:25:32 pm
Tại khu rừng Trần Hưng Đạo, tỉnh Cao Bằng, nơi ra đời Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gần một năm trước, đồng chí Bí thư tỉnh ủy tổ chức và tiễn đưa một trung đội do đồng chí Hoàng Đình Giong chỉ huy hành quân tiến xuống phía Nam, bắt đầu từ mùa xuân năm 1945 và đến mùa thu thì tiến về thụ đô Hà Nội, cùng nhân dân khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Cuộc "Nam tiến" lần này để cùng đồng bào Nam Bộ chống xâm lược, bảo vệ độc lập và chính quyền nhân dân mới thành lập.


Ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Lao Cai, Yên Bái, Phú Thọ... tỉnh nào cũng tổ chức lực lượng, tiễn đưa con em của mình Nam tiến.

Cả nước hướng về Nam Bộ thành đồng. Ga Hàng Cỏ (Hà Nội), ga Nam Định trở thành nơi tập kết các đoàn quân trước khi lên tàu vào Nam chiến đấu.

Đồng chí Nguyễn Chính (Du Phong), nguyên thư ký văn phòng Khu giải phóng, văn phòng Bộ Tổng tham mưu nhớ mãi hình ảnh hùng tráng trên sân ga Nam Định những ngày ấy. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, dáng người cao lớn đứng trước đoàn quân, bắt nhịp hành khúc "Phất cờ Nam tiến".

   "Cờ giải phóng phất cao mau thẳng tiến
   Trời phương Nam dân chúng đang chờ ta...
   Mau phất cờ lên, tiến tới cho kịp thời cơ
   Sông Cửu Long reo hò kia đang đón chờ
   Dãy Trường Sơn chuyển mình giục quân ta mau tiến tới!
   Tung cờ giải phóng trên đất Thăng Long
   Trên thành Huế, trên Sài Gòn, mũi Cà Mau
   Tiến bước mau Quân giải phóng
   Nhằm phía Nam ta tiến tới
   Diệt cho tan thực dân xâm lược Pháp
   Quyết đem máu hồng thề giành lại non sông"!


Lời ca trầm hùng vang động cả thành Nam! Điều đặc biệt thú vị là bài ca này do đồng chí Hoàng Văn Thái sáng tác. Đồng chí Võ Nguyên Giáp sửa chữa, bổ sung đôi chỗ và đã khen: "Đồng chí Khang (tên thường ngày của đồng chí Hoàng Văn Thái) làm bài hành khúc hay lắm, nhịp điệu hùng mạnh, có sức cổ vũ"!


Giờ đây, bài ca hùng tráng, đúng cảnh, đúng người đến từng ý, từng lời ấy lại giục giã các chiến sĩ trên đường hành quân, "phất cờ Nam tiến".

Chị Phan Thị Quế, chiến sĩ Nam tiến đi từ thành phố Vinh (Nghệ An) nhớ lại: "Chúng tôi đi bằng chuyến tàu hỏa riêng, có quân nhạc đưa tiễn đến sân ga giữa tiếng hoan hô của đồng bào hai bên đường. Trên tàu, chúng tôi học các bài ca cách mạng do anh chính trị viên dạy. Đến ga nào cũng có đồng bào ra rất đông, chào đón chúng tôi bâng những bài ca cách mạng và cho rất nhiều quà. Trước khi tàu tiếp tục chuyển bánh, chúng tôi đáp lại đồng bào củng bằng những bài ca cách mạng mới toanh và nồng cháy!...".


Dọc theo chiều dài đất nước, thanh niên nam nữ các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng rồi Quảng Ngãi, Bình Định... cũng nô nức lên đường, người vào đơn vị do tỉnh tổ chức, người hòa nhập vào các đoàn quân Nam tiến từ các tỉnh phía Bâc vào. Từ chiến khu Thuận Lợi (nay thuộc tỉnh Sông Bé), trung đội Đỗ Trữ gồm khoảng 100 người, phần lớn quê ở Quảng Ngãi, Bình Định, do Nguyễn Bá chỉ huy hành quân vào các tỉnh miền Tây Nam Bộ, làm nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Vũ Đức được Trung ương cử vào làm Khu trưởng Khu 9. Sau đó trung đội ở lại chiến đấu cùng đồng bào miền Tây. Đây là đơn vị Nam tiến vào sâu nhất.


Đất nước độc lập làm sống dậy niềm tự hào dân tộc. "Tiếng kêu sơn hà nguy biến" làm thức tỉnh lòng yêu nước trong các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Theo hồi ức của đồng chí Lê Quốc Sản, nghe tin quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, Việt kiều yêu nước ở Thái Lan và ở Lào đã tổ chức một chi đội (chi đội Hải ngoại 4) và mua nhiều vũ khí gửi về Nam Bộ chiến đấu. Theo hồi ức của các đồng chí Đoàn Thành, Tăng Thiên Kim, Nguyễn Tái Giám, đại đội "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" được thành lập cuối tháng 9 năm 1945 tại sân vận động thị xã Châu Đốc. Đại đội đã chiến đấu anh dũng, lập nhiều chiến công trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.


Phong trào Nam tiến những tháng cuối năm 1945, đầu năm 1946 không chỉ bùng lên, có sức lôi cuốn rộng khắp mạnh mẽ ở các tỉnh phía Bắc mà cả ở các tỉnh miền Trung, miền Nam và trong các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. "Nam tiến" không chỉ có nghĩa tiến về phía nam mà còn là hướng về Nam Bộ, chi viện Nam Bộ, một vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam, là "máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam" nơi đang nổ súng chống quân xâm lược, nơi "tiếng súng vang sông núi miền Nam, ầm đất nước Việt Nam" mà các chiến sĩ Nam tiến hát vang khi lên đường năm ấy. Nam tiến thể hiện ý chí quật cựờng của một dân tộc vừa vùng lên giành độc lập, nay lại "quyết tâm đánh tan quân cướp nước. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc"1 (Hồ Chí Minh - Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 77). Nam tiến là hình ảnh sống động của sự thống nhất đất nước, xóa bỏ hoàn toàn chính sách "chia để trị" với ba "kỳ" Bắc, Trung, Nam, mỗi "kỳ" có một chế độ cai trị khác nhau của thực dân Pháp. Phong trào Nam tiến mạnh mẽ rộng khắp từ Bắc đến Trung và Nam thể hiện chân lý bất diệt Bác Hồ đã nêu lên: Nam, Trung, Bắc là một nhà. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.


Khi chia tay người thân, khi từ trên tàu vẫy chào đồng bào ra tiễn, khi ca vang bài ca của những người chiến binh "một lần ra đi, nào có mong chi đâu ngày trở về", các chiến sĩ Nam tiến không thể ngờ rằng phải 10 năm sau và nhiều người còn ở lại miền Nam chiến đấu thêm 20 năm nữa, đi trọn chặng đường 30 năm, khi nước nhà độc lập, thống nhất mới có ngày gặp lại! Trên chặng đường 20 năm tiếp theo ấy, một thế hệ nửa, gồm hàng triệu người Việt Nam lại lớp lớp lên đường, thực hiện cuộc Nam tiến lần thứ ba, "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"! Đó là những ngày chống Mỹ hào hùng "cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục"... Cho đến mùa xuân năm 1975, với cuộc hành quân thần tốc vào chiến dịch Hồ Chí Minh, phong trào Nam tiến những tháng cuối năm 1945 và mùa xuân 1946 mới đi đến đích cuối cùng. Quân đội ta cũng thực hiện được trọn vẹn ước nguyện của Bác Hồ kính yêu trong ngày đầu thành lập: "... đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam".


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:27:22 pm
NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN


HOÀNG THỊ KHÁNH


Tôi là học sinh lớp nữ cứu thương do bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng dạy khi bác sĩ Đặng Trần Anh làm giám đốc bệnh viện Vinh. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi chưa học hết khóa tôi đã có giấy gọi nhập ngũ thay cho một người bạn (chưa đi được đợt này). Chỉ một ngày sau khi nhận quân trang quân dụng tôi cùng với một người bạn gái tên là Tâm (hiện ở Vinh) tập trung tại sân vận động trong thành của thành phố Vinh, tôi được phân bổ vào hàng ngũ, theo trung đoàn của đồng chí Vi Dân do ông Châu làm trung đội trưởng. Chuyến tàu Nam tiễn đưa chúng tôi qua Huế, Nha Trang, Tuy Hòa rồi vào Phan Thiết... Thời ấy trong trung đội chúng tôi một phần nửa là lính khố xanh cũ, còn lại là thanh niên xung phong hoặc du kích quân, trong số đó cũng có một số bạn tôi đã quen biết lúc còn đi học ở trường quốc học Vinh, trường Thuận An, trường Lễ Văn... như anh Tôn Thất Kỳ, anh Nguyễn Văn Phú có khuôn mặt dài (thường gọi là Phú "kinh kông") và Khôi làm chính trị viên, ạnh Nguyễn Đình Lạp (Lạp cao)... Những người này sau khi chiến đấu đã hy sinh hoặc mất tích, cho đến nay tôi không được biết tin tức gì. Thời gian đóng quân tại Phan Thiết (Bình Thuận), kỷ niệm làm cho tôi nhớ lâu dài nhất là lúc trung đội tôi được điều về Mũi Né (một thị trấn nhỏ cách Phan Thiết chừng 40-50 ki-lô-mét) nằm sát biển. Dân cư ở đây phần đông làm nghề đánh cá, về ướp thành nước mắm. Đơn vị đóng quân trên một đồi sát bờ biển tại Nhà thương chánh cũ. Ở đây, thường xuyên có tiếng súng đại bác dội vào. Chúng tôi nhìn ra xa cũng thấy được tàu chiến của Pháp đi tuần tra. Lúc này quân Pháp đã tạm chiếm tỉnh Phan Thiết và thỉnh thoảng lại về càn quét tại các làng xóm ngoại ô hoặc thị trấn để cướp của, hãm hiếp phụ nữ và truy kích lùng bắt bộ đội Việt Minh. Mỗi một lần như vậy là chúng tôi phải trà trộn vào dân và được bà con cất giấu che chở bằng cách: hoặc trèo lên nằm giữa các lòng máng nước của hai mái nhà kề nhau, hoặc đứng nấp giữa hai vựa to ướp cá để làm nước mắm cho đến khi quân địch rút. Chúng tôi đã thoát chết nhiều lần. Thời gian này đơn vị có tuyển thêm một số thanh niên địa phương để huấn luyện quân sự rồi nhập ngũ chiến đấu và lấy thêm một y tá tên là bác Cần cho đủ số cứu thương của 3 tiểu đội. Kỷ niệm in sâu đậm trong tâm trí của tôi mà mỗi lần nhớ đến tôi vẫn thấy rùng rợn nổi gai ốc là khi đơn vị chúng tôi tham gia trận đánh tại xóm Lụa thuộc tỉnh Phan Rí. Trận này đơn vị bị hy sinh nhiều nhất (3/4 số quân). Được lệnh điều quân từ Mũi Né về xóm Lụa để chặn quân Pháp đã đổ bộ vào chiếm Phan Rí, đơn vị dàn dọc theo đường quốc lộ từ Phan Thiết đến Phan Rí. Chiến thuật chiến đấu hồi ấy còn non yếu. Mặc dầu lực lượng vũ trang còn thô sơ không tương xứng với quân địch (địch dùng xe tăng, xe bọc thép, thiết giáp, súng liên thanh; ta chỉ có súng trường, đi bộ, v.v...), nhưng do tinh thần dũng cảm, hăng hái, quyết chiến quyết thẳng, nên khi quân địch tiến vào bằng xe tăng, xe thiết giáp, ta vẫn ra lệnh bắn làm cho chúng phát hiện được nơi bộ đội đóng quân. Chúng lệnh dừng xe và ồ ạt tấn công diệt quân ta, càn quét bắt bớ dân làng, cướp của dã man. Lúc ấy vào khoảng 2 giờ chiều. 3-4 giờ đồng hồ ấy thật là rùng rợn đối với tôi, một nữ thanh niên 20 tuổi vừa rời ghế nhà trường (sau khi thi tốt nghiệp trường trung học phổ thông). Tôi đã nhìn thấy cảnh những thằng Tây râu quai nón 1 ông đầy ngực (vì trời nóng nên chúng không mặc áo) tay cầm khẩu súng máy bắn liên hồi, đạn bay vù vù trên đầu. Vì tôi nằm dưới tầm đạn nên thoát chết. Theo lệnh chỉ huy, tôi được bố trí theo tiểu đội 1 để cấp cứu anh em. Trong khi chiến sự chưa xảy ra, tôi ngồi rỗi, tiện tay bẻ những cành cây có lá tua tủa găm cài lên mũ, lên người và cả chiếc ba lô để ngụy trang. Khi nghe tiếng xe, tiếng súng máy bắn liên tiếp và tiếng chân chạy gần tôi vội nằm sấp bẹp xuống vạt cỏ sum sê đầy cây cối rậm rập, mặt sát đất, mắt hé nhìn, thấy rõ từng thằng Tây, có tên cách chừng 10 mét. Nhưng vì chúng nó cũng sợ du kích bắn tỉa nên vội vàng quay súng máy bắn liên hồi rồi chạy nhanh, không quan sát kỹ. Vả lại tôi nằm dưới tầm súng, xung quanh lại vắng vẻ nên tôi thoát chết, mặc dầu hết tốp này đến tốp khác lần lượt đi qua. Tôi nghe rõ tiếng hô của chúng mỗi khi nhảy lên xe để vào Phan Rí. Có tên giơ tay cho đoàn xe đang tới dừng lại, ra hiệu nơi đây có Việt Minh. Khi hoàng hôn xuống, trong thành phố đã lên đèn, chiếc xe cuối cùng mới rút vào Phan Rí. Quanh tôi là bãi chiến trường im lặng và may mắn là tôi còn sống. Tôi thất tha thất thểu đi tìm đồng đội để sơ cứu. Tôi không gặp ai, kể cả dân làng và đồng đội. Đi khoảng vài chục mét tôi nhìn thấy nhiều xác chết của anh em đồng đội và dân làng nằm la liệt. Không còn ai thoi thóp hoặc bị thương để băng bó. Tôi vừa đi vừa khóc, không biết tối nay ở đâu, anh em đồng đội còn những ai? May sao tôi gặp được chị Tâm cùng ba, bốn anh trong đơn vị. Chị Tâm cũng đang khóc, tưởng tôi đã chết. Chị cho biết là chị ở tiểu đội 2. Khi có lệnh rút lui thì chị vội chạy ra ngoài đồng nằm lấp giữa hai ngôi mộ xây cao nên địch không nhìn thấy. Anh Cần, y tá ở tiểu đội 3 đả hy sinh.


Khuya hôm ấy, nhân dân ở Mũi Né đoán biết là trung đội chúng tôi phục kích và chiến đấu tại xóm Lụa đã gánh cơm nắm đến tiếp tế và đưa chúng tôi về nhà. Sau này chúng tôi mới biết gia đình cất giấu chúng tôi là cơ sở cách mạng. Ông cụ chủ nhà là thành viên trong hội "Đông Kinh nghĩa thục". Người con trai thứ hai của cụ năm nay cũng đã gần 80 tuổi, hiện vẫn ở Mũi Né. Gần đầy ông đã viết thư thăm tôi, mời tôi vào thăm lại chiến trường xưa, nơi tuổi trẻ nhiệt tình hăng hái của tôi đã cùng đồng đội Nam tiến và chiến đấu theo lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:28:39 pm
MIỀN NAM ĐI TRƯỚC CẢ NUỚC VÌ MIỀN NAM


VŨ TANG BỒNG


Chỉ ba tuần lễ sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp - kẻ đầu hàng nhục nhã phát xít Nhật ở Đông Dương trước đây - được quân Anh giúp sức đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Với bản chất ngoan cố, tham lam và ỷ vào sức mạnh quân sự, giới hiếu chiến Pháp chủ quan cho rằng chỉ cần dăm tiếng súng của một cuộc hành quân cảnh sát, chúng sẽ kiểm soát được thành phố, và chỉ trong hai tuần lễ sẽ hoàn thành việc đánh chiếm Nam Bộ rồi từ đó sẽ đánh chiếm nốt những phần còn lại ở Đông Dương.


Song chúng đã lầm, như Phi-líp Đờ-vi-le, một nhà sử học nổi tiếng của Pháp sau này đã nhận xét: hành động nói trên của quân Pháp "là bằng chứng đầu tiên của một cuộc tái xâm lược... đã thúc đẩy lòng căm thù (của dân tộc Việt Nam) lên tới cực điểm". Và, như cựu toàn quyền An-be Xa-rô thì ’’chiến tranh đã được trả lời bằng chiến tranh".


Từ sáng sớm ngày 23, hưởng ứng hiệu triệu của Ủy ban nhân dân Nam Bộ và Tổng bộ Việt Minh: "Ai có dao dùng dao, ai có mác dùng mác. Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi thước đất là một pháo đài... Tất cả hãy xông ra bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc vừa mới phôi thai..."1 (Báo Cứu quốc số 54 ngày 29 tháng 9 năm 1945) các tầng lớp nhân dân Sài Gòn đã nhất tề đứng dậy giáng trả quân xâm lược. Nội thành Sài Gòn được chia làm 16 khu tác chiến. Nhân dân triệt để thực hiện chủ trương không hợp tác với giặc. Tất cả các công sở đều đóng cửa. Các xí nghiệp ngừng hoạt động. Nhà máy điện, nhà máy nước bị phá. Tự vệ, công nhân, cảnh sát xung phong, thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên cùng toàn thể nhân dân dựng chướng ngại vật, lập các ổ chiến đấu đánh địch trong thành phố đồng thời tổ chức bao vây ngăn chặn không cho chúng nống ra ngoại thành. Người già, phụ nữ, trẻ em tản cư về nông thôn. Chỉ trong tuần lễ đầu, hàng trăm tên giặc đã phải đền tội, 160 kho tàng, xí nghiệp, 80 tàu xuồng, 200 xe ô tô, 20 đầu máy xe lửa bị phá hủy2 (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.66). Trong bản tin ngày 30 tháng 9 phóng viên hãng Roi-tơ viết: "Quân đội Anh Pháp phải chống chọi với 7.000 lính Việt Nam có đủ khí giới và hàng vạn dân quân được trang bị bằng dao, gậy, giáo, lựu đạn nhất định tử chiến... Chẳng những thế, từ khi mệnh lệnh tổng bãi công và bất hợp tác được ban ra, mọi nguồn lương thực thực phẩm bị phong tỏa và toàn thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn nằm trong tình trạng không có điện, nước, không chợ thì tình cảnh khốn quẫn của người Pháp bị vây hãm trong thành phố đã trở nên không chịu nổi... Sau bảy ngày tình thế càng nghiêm trọng thêm..."1 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1979, tr. 60, 61).


Mặc dù vậy sau khi có thêm viện binh, lại được quân Anh và quân Nhật (theo lệnh quân Anh) giúp sức, quân Pháp dần dần phá được vòng vây xung quanh Sài Gòn rồi mở rộng phạm vi đánh chiếm ra Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.


Cuộc kháng chiến anh dũng của quân dân ta ở miền Nam ngay từ đầu được Trung ương Đảng, Chính phủ, Hồ Chủ tịch và nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm. Ngày 23 tháng 9, ngay sau khi nhận được điện báo cáo của Xứ ủy; Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Thường vụ Trung ương Đảng họp khẩn cấp ở Bắc Bộ phủ nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định kêu gọi nhân dân cả nước tích cực tiếp sức người sức của cho Nam Bộ, lập ngay các đơn vị Nam tiến, cử nhiều đoàn cán bộ tăng cường cho Nam Bộ. Ngày 24 tháng 9, Chính phủ lâm thời ra huấn lệnh gửi quân dân Nam Bộ và kêu gọi quân dân cả nước sát cánh với đồng bào miền Nam đánh giặc. Ngày 26 tháng 9 qua làn sóng điện Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ. Người biểu dương tinh thần yêu nước, chiến đấu anh dũng của đồng bào Nam Bộ, nêu rõ quyết tâm "Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ" của toàn dân ta và khẳng định "Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà... Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.27).


Ngay sau khi được nghe lời Bác qua đài phát thanh, một khẩu hiệu hành động đã xuất hiện rất nhanh ở các chiến lũy đường phố Sài Gòn: "Quyết tử để bảo vệ thành phố Hồ Chí Minh" và rất nhanh chóng trở thành lời thề chiến đấu của quân dân Sài Gòn, của quân dân Nam Bộ.


Tiêu đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:29:38 pm
Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào ủng hộ Nam Bộ, các hoạt động thiết thực ủng hộ Nam Bộ của nhân dân ta đã diễn ra hết sức sôi nổi trên khắp mọi miền đất nước, với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân. Những cuộc lạc quyên bằng đủ mọi hình thức được phát động để ủng hộ Nam Bộ kháng chiến: quyên góp bớt bữa, diễn kịch, hội chợ, lao động... mà tiêu biểu là "tuần lễ ủng hộ Nam Bộ" do nhân dân Hà Nội tổ chức diễn ra từ ngày 7 đến ngày 14 tháng 10 năm 1945. Ngày 5 tháng 11 toàn quốc tổ chức "Ngày Nam Bộ kháng chiến". Trong ngày hôm đó riêng Hội phụ nữ cứu quốc Hà Nội quyên góp được 210.000 đồng, 5.342 mét vải, 141 ki-lô-gam len và hàng ngàn bộ quần áo gửi tặng các chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ. Đội thiếu niên cứu quốc làng Lương Quy huyện An Dương (tỉnh Kiến An) tổ chức diễn kịch ở nhiều nơi thu được 447 đồng. Cũng bằng cách đó Đội nhi đồng cứu vong làng Hoàng Xá phủ Đội Bình tỉnh Nguyễn Trãi (tức Hà Đông) thu được 200 đồng. Các em thiếu niên nhi đồng hai làng trên đã gửi thư và toàn bộ số tiền lên Hồ Chủ tịch "nhờ Bác mua súng đạn gửi vào cho các chiến sĩ Nam Bộ bán vào đầu giặc hộ chúng cháu"1 (Báo Cứu quốc ngày 30-11-). Một số anh em làm nghề kéo xe ở phố Nam An phủ Vĩnh Bảo tỉnh Hải Dương quyên góp được 50 đồng củng gửi lên Hồ Chủ tịch "Nhờ Người chuyển cho các chiến sĩ Nam Bộ gọi là có chút quà để tỏ lòng biết ơn của chúng con đối với chiến sĩ Nam Bộ"2 (Báo Cứu quốc ngày 23-1-1946). Đó chỉ là một vài trong số hàng ngàn hoạt động ủng hộ Nam Bộ của nhân dân ta đã được báo chí khi đó phản ánh.


Chính nhờ dựa vào sự ủng hộ hết lòng của toàn dân, Chính phủ đã nhanh chóng huy động được một lượng vật chất khá lớn đưa vào miền Nam. Chỉ tính riêng thời gian từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 11 năm 1946 Bộ Quốc phòng đã huy động hàng chục chuyến xe lửa chở hàng ngàn tấn gạo, 80.000 mét vải ka ki, 4.000 chiếc chăn cung cấp cho các đơn vị chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Tháng 12 năm 1946 một đoàn thuyền vận tải lớn chở vũ khí, thuốc quân y, hóa chất quý từ miền Bác vượt biển vào tiếp tế cho mặt trận Nam Bộ.


Đặc biệt sôi nổi và rầm rộ là phong trào tòng quân xung phong Nam tiến của thanh niên, học sinh, sinh viên, công nhân, viên chức, thầy thuốc và cả các nhà sư, các cựu binh sĩ ở khắp mọi vùng của đất nước. Tất cả các tỉnh huyện trên miền Bắc và miền Trung đều tổ chức "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện. Hàng vạn gia đình đã gửi con em mình vào tham gia chiến đấu ở miền Nam. Nhiều gia đình có ba bốn người con cùng xung phong Nam tiến như gia đình cụ bà Cao Xuân Tảo ở Nghệ An, gia đình ông Hoàng Tâm Tích ở Hải Phòng. Cụ Vũ Văn Giắc ở Quảng Yên đã 72 tuổi vẫn hăng hái xung phong theo con cháu vào miền Nam đánh giặc. Ngày 17 tháng 1 năm 1946 hai thượng tọa Nguyễn Châu và Võ Giác Thuyên yết kiến Hồ Chủ tịch bày tỏ nguyện vọng của trung đội tăng già cứu quốc chùa Phương Mỹ huyện Thủy Nguyên tỉnh Quảng Yên gồm toàn các nhà sư do sư cụ Lương Ngọc Trụ chỉ huy xin được tạm cởi cà sa xung phong vào giải phóng quân lên đường Nam tiến cùng đồng bào chiến sĩ miền Nam chống xâm lược. Có mấy kiều bào hồi hương cập bến Hải Phòng, trú lại ít hôm rồi về quê, thấy cả nhà đã chết đói hết, lại lễ mễ ôm ít tài sản dành dụm được trở lại thành phố biếu Chính phủ xin được tòng quấn xung phong Nam tiến. Các anh nói: "Nhà thì tan rồi. Nhưng lại có nước. Từ nay xin lấy nước làm nhà"1 (Hoàng Minh Thảo: Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Hải Phòng, Nxb Hải Phòng, 1986, tr.58).


Với tinh thần đó, với ý chí đó, với không khí đó, chỉ ba ngày sau khi giặc Pháp nổ súng ở Sài Gòn, chi đội Nam tiến đầu tiên của miền Bắc đã lên đường từ ga Hàng Cỏ. Những tháng ngày sau đó các đoàn xe lửa liên tục chở các đoàn quân Nam tiến ra trận. Dọc đường, chiến sĩ Nam tiến được nhân dân các địa phương mang cờ, biểu ngữ, quà bánh đón tiếp động viên, gửi gắm tình cảm nồng thắm đến miền Nam yêu dấu.


Có thể nói Nam tiến là hình ảnh tiêu biểu, đầy chất anh hùng ca của cả nước ra trận, của tinh thần, ý chí Việt Nam, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một", "Miền Nam là máu của máu Việt Nam. Là thịt của thịt Việt Nam. Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.237). Chỉ trong thời gian ngắn, tất cả các tỉnh Bắc Bộ và Bác Trung Bộ mỗi tỉnh đều tổ chức được từ 1 đến 2 chi đội Nam tiến (chi đội tương đương trung đoàn), ở tỉnh Quảng Nam cứ 100 thanh niên nhập ngũ thì có 37 người tham gia các đơn vị Nam tiến. Đông nhất là tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức được 10 chi đội Nam tiến với quân số khoảng 15.000 người2 (Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sđd, tr.89). Có thể nói phong trào ủng hộ Nam Bộ và xung phong lên đường Nam tiến thực sự là một cuộc động viên chính trị rộng lớn đã góp phần thổi bùng truyền thống yêu nước thương nòi trong mỗi người dân và trong toàn thể dân tộc Việt Nam, đúng như nhận xét của một nhà sử học Pháp: "Những niềm hy vọng, những mối oán hờn, những sự say sưa bị đẩy lùi hàng chục năm nay đột nhiên nổ ra trong sự hăng hái kỳ lạ, một nhiệt tình tập thể mà lịch sử dân tộc chưa hề thấy. Toàn thể nhân dân chan hòa với nhau trong một điều thiêng liêng là độc lập. Họ tìm thấy sự hùng mạnh và thống nhất của mình. Không có việc gì đối với họ là không thể làm được"1 (Phi-líp Đờ-vi-lem, Lịch sử Việt Nam 1940-1952, Tài liệu dịch, Viện LSQSVN, bản đánh máy, tr.177).


Được sự chi viện hết lòng của cả nước, quân dân ta ở miền Nam càng thêm anh dũng, kiên cường chiến đấu từng bước đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần bảo vệ chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho miền Bắc có thêm thời gian chuẩn bị và tăng cường lực lượng mọi mặt, sẵn sàng bưởc vào cuộc toàn quốc kháng chiến.