Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: nhinrathegioi trong 07 Tháng Tám, 2021, 06:59:16 am



Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Tám, 2021, 06:59:16 am
Tên sách: Mưu lược quân sự
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2009
Số hoá: ptlinh, nhinrathegioi


Sưu tầm - biên soạn:
   NGUYỄN THANH HÀ



LỜI GIỚI THIỆU


Trong lịch sử phát triển của mình, các dân tộc trên đất nước Trung Hoa đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh. Đã có không ít những giai đoạn lịch sử ngập tràn trong máu lửa liên miên. Có thể nói, lịch sử Trung Quốc luôn gắn liền với những cuộc chiến tranh giành lãnh thổ, thôn tính lẫn nhau như vậy. Mỗi trận chiến là một dấu ấn không thể quên như: trận Thành Bộc giữa hai nước Tấn - Sở, trận Hàn Tín phá Triệu, trận Xích Bích giữa Ngô - Ngụy...


Cuốn sách "Mưu lược quân sự" lựa chọn giới thiệu với bạn đọc một số trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, mỗi trận đánh gắn liền với tên tuổi của một vị tướng lĩnh, chỉ huy cùng với những mưu lược quân sự tài tình. Trong mỗi một trận chiến đều có giới thiệu về bối cảnh lịch sử giai đoạn đó, nguyên nhân chính, tình hình diễn biến của trận chiến và đặc biệt phần kết luận là những bài học kinh nghiệm rút ra từ trận đánh. Qua đó chúng ta có thể học hỏi được một số kinh nghiệm về tính toán kế sách, vận dụng binh pháp, lợi dụng thiên thời địa lợi của người xưa để phục vụ cho chiến đấu giành thắng lợi.


Cuốn sách được tác giả Nguyễn Thanh Hà sưu tầm biên soạn công phu dựa trên nhiều nguồn tài liệu lịch sử đáng tin cậy. Tuy nhiên trong quá trình sưu tầm và biên soạn không tránh khỏi những điểm còn thiếu sót, hạn chế, rất mong sự đóng góp ý kiến của quý độc giả để cuốn sách được hoàn thiện hơn.

Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Tám, 2021, 07:00:29 am
TRẬN THÀNH BỘC GIỮA HAI NƯỚC TẤN - SỞ


Trận Thành Bộc là trận chiến có ý nghĩa quyết định trong cuộc chiến tranh tranh giành quyền bá chủ diễn ra nhiều năm giữa hai nước Tấn - Sở trong thời kỳ Xuân Thu (năm 770-476 trước Công nguyên). Đây là một ví dụ điển hình về sự phát huy đầy đủ tính năng động chủ quan, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh trong chiến tranh quân sự. Thành ngữ "thoái tỵ tam xá” (thoái lui 90 dặm) của Trung Quốc được ra đời chính từ trận chiến này. Người nói câu này chính là Công tử Trùng Nhĩ của nước Tấn thời Xuân Thu.


1. Trùng Nhĩ lưu vong về nước

Trùng Nhĩ là con trai của Tấn Hiến công. Tấn Hiến công có một phi tử rất được sủng ái tên là Li Cơ. Li Cơ muốn con trai của mình là Hề Tề được lập làm Thái tử, đã sắp đặt âm mưu sát hại Thái tử đương triều là Thân Sinh, lại tiếp tục nghĩ kế để loại trừ công tử Trùng Nhĩ và một người con trai khác của Tấn Hiến công là công tử Di Ngô. Trùng Nhĩ và Di Ngô sau khi nghe phong thanh biết được âm mưu của Li Cơ bèn vội vàng trốn sang nước ngoài tỵ nạn. Trong thời gian lưu vong, Trùng Nhĩ đã đi qua rất nhiều nước. Khi đến nước Sở, Sở Thành vương đã tiếp đón Trùng Nhĩ như một khách quý. Trong một buổi yến tiệc, Sở Thành vương hỏi Tấn công tử Trùng Nhĩ:


"Nếu như công tử trở về làm vua nước Tấn, ngài sẽ báo đáp lại ta như thế nào?".

Tấn công tử Trùng Nhĩ trầm ngâm một lát rồi trả lời:

"Tôi nghĩ, nếu như tôi có thể quay trở về nước Tấn, làm vua của nước Tấn, sau này chẳng may hai nước Tấn - Sở có xảy ra chiến tranh, tôi nhất định sẽ cho quân đội nước Tấn "thoái tỵ tam xá" (thời xưa một xá bằng 30 dặm, ba xá bằng 90 dặm, ở đây Tấn công tử Trùng Nhĩ có ý muốn nói sẽ nhượng bộ, lui quân 90 dặm). Nếu như quân đội nước Sở vẫn không muốn lui binh thì tôi chỉ còn mỗi một cách là tay trái cầm roi và cung, vai phải đeo túi tên, cùng ngài đọ sức một phen".

(Nguyên văn trong "Tả truyện - Hy công năm thứ 23")

Tấn công tử Trùng Nhĩ lưu vong 19 năm, cuối cùng đã trở về nước Tấn, lên làm vua lấy hiệu là Tấn Văn công.

Tấn Văn công đã được tôi luyện bằng cuộc sống lưu vong gian khổ, cực nhục trong suốt một thời gian dài, là người có kiến thức và tài năng, sau khi lên ngôi, ông rất để tâm vào công việc cai trị đất nước, vì vậy nước Tấn nhanh chóng trở thành một quốc gia cường thịnh thời Xuân Thu. Tấn Văn công quyết tâm mở rộng thế lực ra bên ngoài, tranh giành ngôi bá chủ với các nước chư hầu khác. Tấn Văn công muốn làm bá chủ thì trước tiên phải so tài với nước Sở - một quốc gia có thực lực rất lớn mạnh thời đó, bởi vì Sở Thành vương cũng muốn bành trướng thế lực, tranh ngôi bá chủ thiên hạ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Tám, 2021, 07:01:55 am
2. Quân Tấn tấn công Tào cứu Tống

Mùa đông năm Chu Tương vương thứ 18 (năm 634 trước Công nguyên), để tranh đoạt quyền bá chủ đất Trung Nguyên, mượn lý do nước Tống trước kia vốn thần phục nước Sở, nay lại sang thần phục nước Tấn, Sở Thành vương đích thân thống lĩnh quân đội nước Sở và các nước thần phục Sở như Trịnh, Trần, Thái, Hứa... đi tấn công nước Tống (nay thuộc vùng đất phía đông tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), bao vây kinh đô của nước Tống là Thương Khâu (nay là thành phố Thương Khâu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc).


Tống Thành công bèn sai quan Đại tư mã của nước Tống là Công Tôn Cố đến nước Tấn cầu cứu. Các quan đại phu của nước Tấn là Tiên Chẩm và Hồ Diễn đều chủ trương xuất binh cứu Tống. Thế nhưng, về thực lực mà nói, nước Sở mạnh hơn nước Tấn, hơn nữa, nước Sở còn có rất nhiều quốc gia đồng minh, thanh thế rất lớn. Về vị trí địa lý mà nói, nước Tống lại không nằm ở vị trí sát với nước Tấn, nếu đem quân đi một quãng đường xa để cứu viện thì việc cung cấp lương thực và vật dụng rất khó khăn. Vì vậy, Tấn Văn công không thể quyết định việc này ngay trong chốc lát được.


Để đối phó với tình huống này, Hồ Diễn đưa ra sách lược tấn công Tào, Vệ để giải vây cho nước Tống. Nước Vệ và nước Tào là hai nước có vị trí đất đai nằm giữa nước Tấn và nước Tống.

Hồ Diễn nói với Tấn Văn công rằng:

"Nghe nói gần đây nước Sở mới hàng phục được nước Tào, lại kết thân với nước Vệ, hai nước đó đều là đồng minh của nước Sở. Nếu như chúng ta tấn công hai nước này, nước Sở ắt sẽ phải đến cứu viện. Như vậy, vòng vây ở Tống sẽ không phải cứu mà tự tan vỡ".


Tấn Văn công tiếp thu ý kiến của Hồ Diễn, nhận lời thỉnh cầu của Công Tôn Cố, bảo ông ta hãy trở về nước trước, nói với Tống Thành công hãy cố thủ ở đô thành, đại quân nước Tấn sẽ đến cứu viện sau.


Tấn Văn công lập tức bổ sung biên chế quân đội nước Tấn, từ chỗ chỉ có hai cánh quân là thượng quân và hạ quân thành ba cánh quân là thượng quân, trung quân và hạ quân. Mỗi cánh quân có khoảng 12.500 người, cấp tốc tổ chức thành một đội quân chiến đấu hùng mạnh.


Tháng giêng năm Chu Tương vương thứ 20 (năm 632 trước Công nguyên), Tấn Văn công tập trung quân đội của mình tại vùng biên giới giữa hai nước Tấn và Vệ. Lấy cớ khi xưa trên đường lưu vong qua nước Tào, Tào Cộng công đối xử với mình vô lễ, nên Tấn Văn công yêu cầu nước Vệ cho mượn đường để mang quân đi đánh Tào. Nước Vệ không đồng ý, Tấn Văn công liền sai quân tấn công nước Vệ trước, chiếm đánh thành Ngũ Lộc của nước Vệ (nay thuộc huyện Bộc Dương, Hà Nam, Trung Quốc).


Hành động đó của Tấn Văn công đã làm Vệ Thành công hoảng sợ. Ông ta liên tục cử ngươi đến cầu hòa với Tấn Văn công, nhưng bị Tấn Văn công cự tuyệt. Vệ Thành công lại phải nghĩ đến chuyện sang cầu cứu viện binh của nước Sở. Dân chúng nước Vệ bất mãn với Vệ Thành công, bèn đuổi Vệ Thành công ra khỏi Sở Khâu - kinh đô của nước Vệ (nay thuộc huyện Hoạt, Hà Nam, Trung Quốc).


Tấn Văn công tiếp tục dẫn quân đội tấn công xuống phía nam, bao vây tấn công Đào Khâu - kinh đô của nước Tào (nay thuộc vùng đất phía tây nam huyện Định Đào, Hà Nam, Trung Quốc). Tháng ba năm đó công hạ Đào Khâu, bắt sống quốc vương của nước Tào là Tào Cộng công. Để có được sự ủng hộ của nhân dân nước Tào, Tấn Văn công tuyên bố tội trạng của Tào Cộng công trước công chúng, nói rằng ông ta không trọng dụng bậc hiền thần là Hi Phụ Ki. Tấn Văn công còn ra lệnh cho quân Tấn không được xâm phạm đất đai nhà cửa của Hi Phụ Ki, bảo vệ an toàn cho Hi Phụ Ki và cả gia tộc để thể hiện sự tôn trọng của mình đối với bậc hiền thần.


Để giữ nghiêm quân kỷ, Tấn Văn công đã ra lệnh chém đầu viên võ tướng của mình là Điên Kiệt vì tội dám trái lệnh vua và thông báo đến toàn quân đội. Quân đội nước Tấn vì thế mà có kỷ luật nghiêm minh, sức chiến đấu được nâng cao.


Để khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa hai nước Tống - Sở, Tấn Văn công còn ra lệnh giao tù binh Tào Cộng công cho quân Tống trông coi.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Tám, 2021, 07:03:25 am
3. Quân Tấn "thoái tỵ tam xá"

Mặc dù quân Tấn đã đánh hạ được hai nước Tào và Vệ, nhưng quân đội nước Sở vẫn bao vây chặt kinh thành Thương Khâu của nước Tống, nước Tống lại sai người đến cầu cứu nước Tấn.

Lúc đó, hai cường quốc khác của thời ấy là nước Tần và nước Tề vẫn khoanh tay đứng ngoài. Tấn Văn công vẫn không thể biết được ý đồ của họ, vì vậy vẫn chưa có quyết định dứt khoát trong việc có tiếp tục tiến quân giao chiến với nước Sở hay không. Viên tướng chỉ huy trung quân của nước Tấn là Tiên Chẩm hiến kế rằng:

"Biện pháp tốt nhất là xui nước Tống mang của cải châu báu sang hối lộ cho hai nước Tề và Tần, nhờ bọn họ can thiệp, khuyên nước Sở rút quân. Chúng ta thì giữ Tào Cộng công tại đây, lại đem một phần đất đai của hai nước Tào và Vệ chia cho nước Tống. Nước Sở với nước Tào và nước Vệ là đồng minh, thấy đất đai của Tào và Vệ bị Tống chiếm, nhất định sẽ không nghe theo lời khuyên của hai nước Tề, Tần. Như thế thì Tề và Tần sẽ không nuốt trôi của hối lộ của Tống, sẽ oán ghét nước Sở không chịu nghe lời và sẽ không thể không xuất binh tham chiến".

(Theo "Tả truyện - Hy công năm thứ 28")

Sách lược xuất phát từ tình thế khách quan, tạo ra mâu thuẫn, lợi dụng mâu thuẫn của Tiên Chẩm đã được Tấn Văn công tán thành. Tấn Văn công lập tức làm theo kế đó. Quả nhiên, hai nước Tề, Tần đều xuất binh tham chiến. Thế là, so sánh về lực lượng tương quan giữa đôi bên, lợi thế dần dần nghiêng về phía Tấn.


Sở Thành vương nghe được tin nước Tấn và nước Tề, nước Tần kết thành liên minh, cảm thấy rằng tình thế trở nên bất lợi đối với phía mình, đồng thời ông ta cũng biết rõ là Tấn Văn công sau nhiều năm lưu vong ở nước ngoài, nếm trải nhiều gian khổ, thông thuộc tình hình các nước, hơn nữa lại luôn có những thủ đoạn chính trị linh hoạt, là một đối thủ rất khó khuất phục. Vì vậy, Sở Thành vương chỉ thị cho viên tướng chỉ huy quân đội nước Sở là Tử Ngọc rằng, nếu thấy khó khăn thì phải tạm lui quân, tránh phải quyết chiến với quân đội nước Tấn. Thế nhưng Tử Ngọc lại là một viên tướng kiêu ngạo, chủ quan khinh địch, không nhìn thấy hết được sự thay đổi của tình thế nên vẫn cứ mù quáng đòi quyết chiến với quân đội nước Tấn. Tử Ngọc nói với Sở Thành vương rằng:

"Thần không dám khẳng định là sẽ chiến thắng quân Tấn, nhưng muốn được quyết một trận thắng bại cùng quân Tấn để bịt miệng những kẻ hèn nhát, nói xấu thần trước mặt đại vương".

Nghe lời yêu cầu của Tử Ngọc, Sở Thành vương có thái độ không dứt khoát, không hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Tử Ngọc, nhưng lại cũng không kiên quyết phản đối. Với tâm lý cầu may, Sở Thành vương bèn cấp cho Tử Ngọc một cánh quân không nhiều, coi đó làm lực lượng tăng viện.


Sau khi có thểm viện binh, Tử Ngọc bèn suy nghĩ cách tác chiến với quân Tấn. Tử Ngọc bày ra một chiêu thức nghi binh, sai sứ giả Uyển Xuân đến đề nghị một điều kiện "hòa giải" với Tấn Văn công: Nếu như quân Tấn đồng ý để cho Tào, Vệ khôi phục lại đất nước, thì nước Sở cũng có thể rút quân khỏi nước Tống. Điều kiện "hòa giải" này cũng khiến cho Tấn Văn công cảm thấy rất khó nghĩ. Hồ Diễn cho rằng, điều kiện của Tử Ngọc quá khắt khe, không thể chấp nhận được nên vẫn giữ chủ trương xuất binh tấn công nước Sở. Tiên Chẩm lại không đồng ý làm như vậy, nói rằng:

"Chúng ta đến đây với danh nghĩa cứu Tống, nếu như chúng ta công khai phản đối điều kiện đó của nước Sở, để cho nước Tống vì thế mà gặp phải họa diệt vong thì các nước chư hầu khác sẽ có cớ để trách móc chúng ta. Như vậy, sẽ khiến cho nước Sở trở thành ân nhân của ba nước Tào, Vệ và Tống, trong khi đó nước Tấn lại trở thành kẻ thù với ba nước đó. Quân địch đông, còn có thể nói đến chuyện thắng trận được hay không?".

Tiên Chẩm lại kiến nghị với Tấn Văn công rằng:

”Chúng ta chi bằng ngầm đồng ý để cho hai nước Tào, Vệ khôi phục lại, điều kiện là bắt hai nước đó phải cắt đứt quan hệ với nước Sở; đồng thời bắt giữ Uyển Xuân lại, khiến cho Tử Ngọc nổi giận để khiêu chiến với hắn, như vậy quyền chủ động sẽ nằm trong tay chúng ta".

Sách lược của Tiên Chẩm đúng là vô cùng cao minh. Bằng cách đó, vừa có thể giải thoát cho nước Tấn khỏi thế bất lợi về ngoại giao trong cuộc giao tranh rất phức tạp, lại vừa không đắc tội với nước Tống, lại vừa phá vỡ liên minh giữa nước Sở và hai nước Tào, Vệ, khiến cho nước Sở rơi vào thế cô lập.


Tấn Văn công mừng rõ, chấp thuận làm theo kiến nghị của Tiên Chẩm. Ngay lập tức, Tấn Văn công ra lệnh bắt giữ sứ giả Uyển Xuân của Tử Ngọc lại, đồng thời đồng ý để hai nước Tào, Vệ khôi phục lại đất nước. Hai nước Tào, Vệ vô cùng cảm kích, đều cắt đứt quan hệ ngoại giao với nước Sở.


Quả nhiên, Tử Ngọc vô cùng tức giận, lập tức thống lĩnh quân đội nước Sở và quân đội các nước đồng minh khác tiến quân đến kinh đô Đào Khâu của nước Tào để tấn công quân đội nước Tấn.

Tấn Văn công thấy quân đội nước Sở tấn công áp sát thì không những không xuất quân nghênh chiến, ngược lại còn ra lệnh cho quân Tấn lui khỏi biên giới của nước Vệ. Một số tướng sĩ trong quân đội nước Tấn không hiểu vì sao Tấn Văn công lại hành động như vậy, cảm thấy rất kỳ lạ. Hồ Diễn giải thích rằng:

"Xuất binh đánh trận, bên nào có lý lẽ ngay thẳng thì sĩ khí sẽ bừng bừng; bên nào đuối lý thì sĩ khí sẽ suy sụp. Quốc vương của chúng ta trong khi lưu vong đã từng được hưởng ân huệ của Sở vương, đã từng hứa với Sở vương rằng: Nếu hai nước Tấn - Sở xảy ra chiến tranh, nhất định sẽ cho quân đội "thoái tỵ tam xá". Ngày nay, chúng ta lui quân, chính là để báo đáp ân nghĩa của Sở vương. Nếu như chúng ta nói lời không biết giữ lời, thì cái lý sẽ thuộc về quân Sở mà quân Tấn sẽ đuối lý. Nếu như quân Tấn đã lui rồi mà quân Sở vẫn cứ một mực không chịu bãi binh, như vậy là quân Sở đến xâm phạm quân Tấn, kẻ đuối lý sẽ là quân Sở, chúng ta sẽ có đầy đủ lý do để đánh họ”.


Quân Tấn theo đúng kế hoạch rút lui 90 dặm, rút đến Thành Bộc ở trong lãnh thổ của nước Vệ. Sau khi quân Tấn rút lui, tướng sĩ nước Sở đều thấy rằng, nước Sở đã giữ được thể diện, nên không còn muốn tiếp tục truy kích quân Tấn nữa. Thế nhưng, tướng Sở là Tử Ngọc lại quá ư kiêu ngạo, vẫn không chịu dừng bước tại đó, vẫn ra lệnh cho quân Sở tiếp tục tiến đánh, đuổi theo quân Tấn đến tận Thành Bộc, hạ trại đóng quân, chuẩn bị quyết chiến với quân đội nước Tấn.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Tám, 2021, 07:04:05 am
4. Quyết chiến ở Thành Bộc

Sau khi quân Tấn rút về Thành Bộc, quân đội của các nước Tề, Tấn và Tống cũng lần lượt tụ hội tại đó. Tấn Văn công kiểm duyệt lại quân đội, nhận thấy quân dung đã chỉnh tề, sĩ khí dâng cao, có thể cùng quân Sở giao chiến. Vì vậy, khi Tử Ngọc phái Đậu Bột đến thỉnh chiến, Tấn Văn công bèn sai Loan Chi viết thư trả lời, đại ý nói rằng: Quốc vương của chúng tôi chỉ là vì không dám quên ơn của Sở vương khi xưa, cho nên mới lui quân đến đây. Bây giờ, nêu như ngài đã hiếu chiến như vậy thì ngày mai sẽ gặp nhau ở chiến trường.


Ngày 4 tháng 4 năm đó, quân đội hai nước Tấn - Sở bày binh bố trận quyết chiến với nhau ở Tân Bắc phía nam Thành Bộc.

Tử Ngọc bố trí quân đội nước Sở thành ba đội quân: trung quân, tả quân và hữu quân; trong đó, trung quân là đội quân tinh nhuệ nhất, do Tử Ngọc trực tiếp chỉ huy; hữu quân là do quân đội các nước Trần, Sái tổ chức thành, có sức chiến đấu kém nhất.


Trận chiến bắt đầu. Viên phó tướng chỉ huy hạ quân của nước Tấn là Tư Thần phủ da hổ lên mình ngựa kéo xa giá, bất ngờ phát lệnh tấn công vào hữu quân của nước Sở. Các đội quân hỗn hợp của các nước Trần, Sái bị tập kích bất ngờ, lập tức tan vỡ trong sự hoảng loạn kinh hoàng, tranh nhau rút chạy ra khỏi trận tuyến. Thế là hữu quân của Sở tan vỡ.


Đúng lúc đó, chủ tướng thượng quân của quân đội nước Tấn là Hồ Mao đã cố ý dựng hai lá cờ đại trên chiến xa, dẫn quân lui về phía sau, giả bộ như đang lui quân.

Chủ tướng Loan Chi của hạ quân nước Tấn thì lại ra lệnh dùng chiến xa kéo theo những cành cây mà chạy để cho bụi bốc lên mù mịt, cũng giả bộ như đang rút quân.

Tử Ngọc không biết đó là mưu kế của quân Tấn, hạ lệnh tả quân tấn công truy kích.

Chủ tướng của trung quân nước Tấn là Tiên Chẩm, phó tướng là Hý Chân chỉ huy trung quân nắm lấy thắt lưng quân Sở mà đánh. Hồ Mao chỉ huy thượng quân cũng quay trở lại phản kích. Tả quân của Sỏ trước sau đều bị bao vây, đường lui cũng bị cắt đứt, phần lớn tướng sĩ đều bị quân Tấn tiêu diệt, chỉ có một bộ phận nhỏ là chạy thoát được, cánh quân này hầu như tan rã hết.


Tử Ngọc thấy hai cánh quân tả, hữu của mình đều đã thất bại, vội vàng thu quân, rút lui khỏi chiến trường mới may mắn tránh được cái họa bị tiêu diệt toàn bộ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Tám, 2021, 07:05:24 am
5. Kết luận

Trận chiến Thành Bộc giữa hai nước Tấn - Sở là một trận chiến quan trọng trong cuộc chiến tranh tranh giành quyền bá chủ ở thời kỳ Xuân Thu. Quân Sở có lực lượng hùng mạnh, thực lực của quân Tấn tương đối yếu, nhưng kết quả lại ngược lại: quân Tấn đánh bại quân Sở. Vậy nguyên nhân là do đâu?


Thứ nhất, nước Tấn bên trong thì đã áp dụng một loạt các biện pháp chỉnh đốn chính quyển, phát triển sản xuất, huấn luyện quân đội để tăng cường sức mạnh của nhà nước, chuẩn bị một cơ sở vững chắc cho thắng lợi của cuộc chiến.


Thứ hai, về mặt ngoại giao, nước Tấn đã triển khai một loạt các cuộc đấu tranh linh hoạt và khéo léo, mở rộng đồng minh của mình, cô lập nước Sở; thực hiện sách lược "thoái tỵ tam xá" để mình đứng vào vị trí có lợi.


Thứ ba, trong khi tác chiến, quân Tấn đã chọn khâu yếu nhất trong liên quân nước Sở để tiến hành đột phá, dùng kế dụ địch truy đuổi sau đó chia cắt quân đội Sở ra để mà tiêu diệt, cuối cùng đã thu được toàn thắng.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Tám, 2021, 04:11:13 pm
TRẬN TRƯỜNG BÌNH GIỮA TẦN - TRIỆU


Trong lịch sử Trung Quốc, tiếp ngay sau thời Xuân Thu là thời Chiến quốc. Trải qua thời kỳ chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các nước chư hầu của vương triều nhà Chu thời Xuân Thu, đến thời Chiến quốc, chỉ còn lại bảy nước chư hầu lớn và một số ít các nước nhỏ. Bảy nước chư hầu lớn đó được lịch sử Trung Quốc gọi là "Chiến quốc thất hùng".


Để tranh giành đất đai, nhân khẩu và tô thuế, giữa bảy nước lớn thời Chiến quốc liên tục xảy ra chiến tranh. So với thời Xuân Thu, các cuộc chiến tranh xảy ra trong thời kỳ Chiến quốc có quy mô lớn hơn, mức độ ác liệt hơn, phương pháp tác chiến cũng có sự thay đổi và phát triển.


Chiến tranh thời Xuân Thu chủ yếu dựa vào chiến xa để tác chiến. Đến thời Chiến quốc, do sự tiến bộ của vũ khí đặc biệt là đã phát minh ra nỏ bắn tên tầm xa có cò bắn, loại vũ khí này có thể bắn trúng mục tiêu cách xa ngoài trăm bước, khiến cho các chiến xa không thể nào phát huy được uy lực. Vì vậy hình thức tác chiến dần chuyển từ xa chiến sang dã chiến giữa bộ binh và kỵ binh.


Năm thứ sáu đời vua Hiếu Thành vương nước Triệu (năm 260 trước Công nguyên), giữa nước Tần và nước Triệu xảy ra trận chiến Trường Bình, đó là một trận đánh tiêu diệt có quy mô lớn nhất trong thời Chiến quốc của Trung Quốc.


1. Triệu vương tham lợi nhận đất

Nước Tần thời Chiến quốc vốn nằm ở dải đất thuộc tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) ngày nay, là một quốc gia tương đối lạc hậu. Giữa thế kỷ 4 trước Công nguyên, Tần Hiếu công đã bổ nhiệm Thương Ưởng thực hiện biện pháp, làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh hơn. Sau đó, nước Tần thường xuyên cất quân tấn công các nước phía đông, đến cuối thế kỷ 3 trước Công nguyên, nước Tần đã trở thành một quốc gia phong kiến mạnh nhất trong số "Chiến quốc thất hùng”.


Năm 262 trước Công nguyên, Tần Chiêu vương sử dụng sách lược "viễn giao cận công" (giao hảo với các nước ở xa, tấn công các nước ở gần) của Phạm Tuy, phái binh đi tấn công tiêu diệt Dã Vương nước Hàn (nay là huyện Tẩm Dương, Hà Nam, Trung Quốc), cắt đôi nước Hàn thành hai nửa. Hàn Hoàn vương lo sợ nước Tần tấn công thêm một bước nữa nên dự định đem quận Thượng Đảng (nay thuộc vùng đất thành phố Trường Trị, Sơn Tây, Trung Quốc) dâng cho nước Tần để cầu hòa. Thế nhưng, Quận thú Thượng Đảng là Phùng Đình lại có một kế sách khác. Ông chủ trương dâng vùng đất Thượng Đảng cho nước Triệu, như vậy là có thể hướng mũi nhọn tấn công của quân đội nước Tần về phía nước Triệu, nhằm giảm bớt áp lực quân sự của nước Tần đối với nước Hàn; mặt khác, có thể mượn việc đó để kết giao với nước Triệu. Hai nước Hàn, Triệu liên hợp lại với nhau sẽ có thể chống lại được cuộc tấn công của nước Tần.


Thế là Phùng Đình phái người đến nước Triệu. Triệu Hiếu Thành vương thấy rằng, mình chẳng hề phải hao phí chút công sức nào mà lại được thêm quân Thượng Đảng của nước Hàn thì rất vui mừng cử người đến nhận đất.


Tần Chiêu vương thấy miếng thịt béo bở đã đưa đến miệng mình rồi còn bị kẻ khác cướp mất thì đương nhiên là không cam tâm, bèn phái Vương Hà dẫn quân đến tấn công Thượng Đảng. Quân đội nước Triệu đóng ở Thượng Đảng binh lực rất ít, không chống lại được với sức tấn công của quân Tần, buộc phải rút quân về Trường Bình (nay thuộc vùng đất phía tây bắc huyện Cao Bình, Sơn Tây, Trung Quốc) phòng thủ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Tám, 2021, 04:12:06 pm
2. Quân Tần tấn công, Triệu vương thay tướng

Triệu vương nghe tin quân Tần tấn công Thượng Đảng, liền cử danh tướng nước Triệu là tướng quân Liêm Pha dẫn đại quân đến Trường Bình để chống lại sự tấn công của quân Tần.

Tần mạnh, Triệu yếu. Quân đội nước Tần có lợi thế trong các trận đánh nhanh, quân đội nước Triệu lại có lợi thế trong các trận đánh kéo dài. Liêm Pha căn cứ vào đặc điểm này quyết định dựa vào địa thế hiểm trở để cố thủ, cương quyết không chịu xuất quân giao chiến với quân Tần. Quân Tần khiêu chiến, Liêm Pha cũng không chịu ứng chiến. Liêm Pha toan tính đẩy quân Tần vào một cuộc chiến lâu dài, khiến cho quân lính mệt mỏi, cung cấp lương thực khó khăn thì sẽ tìm đánh vào điểm yếu của quân Tần. Chủ trương này của Liêm Pha là rất đúng đắn, cho nên Liêm Pha giữ vững được phòng thủ ở Trường Bình trong suốt ba năm.


Thế nhưng, Triệu vương lại cho rằng Liêm Pha nhát gan sợ chết, không dám ứng chiến, cứ liên tục trách cứ Liêm Pha. Tần vương thấy chiến tranh kéo dài đã lâu mà vẫn không hạ được Trường Bình bèn thi hành kế li gián của Phạm Tuy, sai người mang vàng bạc châu báu đến Hàm Đan (kinh đô nước Triệu, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) để hối lộ bọn quan lại xung quanh vua Triệu, đồng thời cho người đi rêu rao ở khắp mọi nơi rằng:

"Liêm Pha đã già, rất dễ đối phó, hơn nữa ông ta cũng sắp đầu hàng đến nơi rồi! Nước Tần sợ nhất là Triệu Quát!”.

Triệu vương nghe được những lời đồn đại ấy, quyết định triệu hồi Liêm Pha về, cử Triệu Quát thay Liêm Pha đến thống lĩnh quân đội ở Trường Bình.

Triệu Quát là con trai của danh tướng Triệu Xa nước Triệu. Từ nhỏ, Triệu Quát đã được cha dạy cho rất nhiều binh thư, học được trọn bộ binh pháp, có kiến thức quân sự nên luôn tự cho mình là người đứng đầu trong thiên hạ. Thậm chí, có lần bàn luận về binh pháp với cha, danh tướng Triệu Xa cũng phải chịu thua con trai mình. Triệu Xa cũng rất hiểu Triệu Quát: con trai của mình chỉ biết nói miệng chứ chưa có bản lĩnh thực sự. Triệu Xa đã có lần nói với vợ mình về Triệu Quát rằng:

"Đánh trận là một việc lớn có liên quan đến sự sống chết tồn vong, thế mà Triệu Quát lại nói năng một cách quá dễ dàng như vậy. Từ nay về sau, nếu như nước Triệu không trao quyền cầm quân cho Triệu Quát thì thôi cũng đành vậy. Nếu như cho nó làm đại tướng thì người kết liễu quân đội nước Triệu chính là nó".


Triệu Quát là một viên tướng như vậy, thế mà lần này Triệu vương lại sử dụng Triệu Quát làm đại tướng. Thừa tướng nước Triệu đương triều là Lạn Tương Như cực lực phản đối quyết định này của Triệu vương. Lạn Tương Như nói với Triệu vương rằng:

"Triệu Quát chỉ biết đọc binh thư của cha, không hề biết cách vận dụng một cách linh hoạt vào thực tế, như vậy thì sao có thể làm đại tướng được?".

(Theo "Sử ký - Liêm Pha, Lạn Tương Như liệt truyện")

Triệu vương vẫn không nghe theo lời can ngăn của Lạn Tương Như. Mẹ đẻ của Triệu Quát cũng gửi thư cho Triệu vương, khuyên Triệu vương không nên giao cho Triệu Quát làm đại tướng để khỏi làm hỏng việc quốc gia đại sự. Bà còn nói thẳng với Triệu vương rằng:

"Triệu Xa làm đại tướng, luôn gần gũi thân thiết với bộ hạ, khi được thưởng luôn chia đều cho tất cả quan lại binh lính, sau khi nhận nhiệm vụ thì không nghĩ gì đến việc nhà nữa. Còn Triệu Quát bây giờ thì sao? Vừa mới nhận lệnh đã nghênh ngang kiêu ngạo, khi hội kiến với tướng lĩnh, mọi người không ai dám ngẩng đầu lên nhìn nó nữa. Đại vương ban thưởng châu báu tiền của, nó đều mang hết về nhà để mua ruộng đất nhà cửa. Nó làm sao có thể sánh với cha nó được? Đại vương ngàn vạn lần đừng cho nó cầm quân đi đánh trận".

(Theo "Sử ký - Liêm Pha, Lạn Tương Như liệt truyện")

Triệu vương vốn dốt nát, không có một chút hiểu biết gì về việc dụng binh đánh trận, bèn nói với mẹ của Triệu Quát rằng:

"Ngươi đừng có can thiệp, ta đã có chủ ý của ta rồi".

Triệu Quát nhận ấn tín đại tướng, thống lĩnh viện binh nước Triệu, rầm rộ tiến đến Trường Bình, thay Liêm Pha làm chủ tướng quân đội nước Triệu.

Vừa mới đến tiền tuyến, Triệu Quát liền lập tức thay đổi toàn bộ các quy định kỷ luật trong quân đội của Liêm Pha, thay đổi tướng lĩnh, rút tất cả các điểm đóng quân phòng thủ của Liêm Pha về, ra lệnh cho toàn quân chuẩn bị tiến hành xuất kích, định rằng sẽ một trận đánh bại quân Tần, thu về đất Thượng Đảng.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Tám, 2021, 04:13:02 pm
3. Quyết chiến Trường Bình

Tần vương nghe tin quân Triệu đã thay chủ tướng mới là Triệu Quát, trong lòng vui mừng khôn tả, cho rằng cơ hội tốt để đánh bại nước Triệu đã đến. Tần vương giao cho danh tướng nước Tần là Bạch Khởi làm thượng tướng quân, đổi Vương Hà làm thiên tướng (tướng chỉ huy cánh quân bên sườn), tăng cường thêm một số lượng lớn quân đội đến, xây dựng phương án tác chiến tấn công nước Triệu. Tần vương còn ra lệnh cho toàn bộ tướng sĩ trong quân đội giữ bí mật tuyệt đối, không ai được phép tiết lộ tin Bạch Khởi được cử làm chủ tướng để tránh gây sự chú ý của quân Triệu.


Bạch Khởi nhằm thẳng vào nhược điểm của Triệu Quát là chưa có kinh nghiệm tác chiến, lỗ mãng khinh địch để quyết định lựa chọn chiến thuật vu hồi đánh bọc sườn và tiến hành phân công bố trí một cách cụ thể như sau:

Thứ nhất, tạo thành một trận địa hình túi tại Trường Bích, dùng quân chủ lực cố thủ doanh trại, ngăn chặn sự tấn công của quân Triệu.

Thứ hai, dùng đội quân vốn ở trận tuyến hàng đầu thành đội quân lừa địch, lệnh cho đội quân này khi bị quân Triệu tấn công phải rút chạy về phía Trường Bích, nhử quân Triệu vào vòng vây của quân Tần.

Thứ ba, tại hai cánh ở Trường Bích bố trí 22.000 tinh binh, chuẩn bị bất ngờ thọc sâu vào hậu phương quân Triệu, cắt đứt con đường tiếp lương của quân Triệu và hiệp đồng hỗ trợ với quân ở Trường Bích bao vây quân Triệu đến đánh.

Thứ tư, phái thêm 5.000 kỵ binh thọc sâu vào giữa dinh lũy của quân Triệu, chia cắt quân Triệu thành hai phần, khiến cho đầu và đuôi quân Triệu không liên hệ phối hợp được với nhau.


Tháng 8 năm 206 trước Công nguyên, viên tướng kiêu ngạo mù quáng Triệu Quát của nước Triệu quả nhiên chỉ huy quân Triệu tấn công quân Tần trên quy mô lớn. Bộ phận quân tiên phong của quân Tần giả bộ thua chạy, rút lui. Triệu Quát không điều tra hư thực, bèn ra lệnh quân Triệu truy kích. Quân Triệu truy kích đến Trường Bích thì vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân Tần. Lúc này, 22.000 quân Tần được bố trí sẵn ở hai cánh lập tức xuất quân, đánh vào hậu phương quân Triệu, chiếm hai đồn lũy ở phía tây (nay thuộc vùng cao Hàn Ngọc Sơn ở phía bắc huyện Cao Bình, Sơn Tây, Trung Quốc), tạo thành thế trận bao vây. Sau đó 5.000 kỵ binh cũng thần tốc thọc sâu vào đột kích quân Triệu.


Quân Triệu đã mấy lần phát động tấn công, đều không thành công, đành dừng lại xây dựng đồn lũy tại chỗ, biến thế tấn công thành phòng ngự, đợi viện binh đến cứu.

Tin thắng trận từ đội quân Tần bao vây Triệu được báo về kinh đô Hàm Dương của nước Tần (nay thuộc phía tây bắc thành phố Hàm Dương, Thiểm Tây, Trung Quốc). Tần vương liền đích thân đến Hà Nội (nay thuộc huyện Tẩm Dương, Hà Nam, Trung Quốc) tổ chức tất cả các nam thanh niên ở địa phương tuổi từ 15 trở lên thành một đội quân, điều đến chiến trường Trường Bình, chiếm cứ điểm cao ở phía đông bắc Trường Bình, cắt đứt đường viện binh và vận chuyển lương thực của quân phía Triệu Quát. Nằm trong vòng vây tứ phía của quân Tần, quân tăng viện của nước Triệu không thể vượt qua vòng vây, việc cung cấp lương thực cho quân đội cũng bị cắt đứt.


Đến tháng 9 năm đó, quân Triệu thiếu lương ăn đã 46 ngày, quân sĩ bị đói khát đến mức phải chém giết ăn thịt lẫn nhau, tình hình vô cùng nghiêm trọng. Triệu Quát tổ chức bốn cánh quân đột phá vòng vây, cùng nhất tề xung phong, hòng mở một con đường thoát, thế nhưng liên tục bốn năm lần đột phá đều không thành công.


Trong cơn tuyệt vọng, Triệu Quát quyết định lựa chọn một đội quân tinh nhuệ, trực tiếp chỉ huy, mang giáp dày, cưỡi chiến mã, quyết tâm phá vây.

Không ngờ, khi Triệu Quát vừa mới xuất hiện trên trận tiền, liền bị loạn tên của quân Tần bắn chết. Quân Triệu mất chủ tướng, không có người chỉ huy, lập tức rơi vào tình trạng hỗn loạn.

Quân Tần nhân cơ hội phát động tấn công mãnh liệt, quân Triệu chịu thất bại thảm hại.

Trong trận Trường Bình này, quân Tần đại thắng, quân Triệu thảm bại, hơn 40 vạn tù binh nước Triệu bị Bạch Khởi chôn sống toàn bộ. Đây là một sự kiện điển hình về việc sát hại tù binh chiến tranh cực kỳ tàn bạo trong lịch sử Trung Quốc.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Tám, 2021, 04:15:18 pm
4. Kết luận

Trong trận Trường Bình, quân Tần tổng cộng đã giết chết 45 vạn quân Triệu, giành được thắng lợi lớn về mặt quân sự. Đây là một trận đánh không những tiêu hao phần lớn binh lực nước Triệu mà còn trấn áp được các nước chư hầu ở phía đông, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp thống nhất Trung Quốc của nước Tần về sau. Kết quả của trận chiến Trường Bình là Tần thắng, Triệu thua, vì sao lại như vậy?


Từ phía nước Tần mà nói, nước Tần đã khéo léo áp dụng một loạt chiến lược, chiến thuật rất chuẩn xác như: thực hiện "viễn giao cận công” cô lập nước Triệu; vận dụng kế phản gián để nước Triệu thay tướng giữa chừng; lại áp dụng các chiến thuật lui quân dụ địch, chia cắt bao vây để diệt địch... Tất cả những việc đó tất nhiên đã góp phần rất lớn cho thắng lợi của quân Tần.


Thế nhưng, nguyên nhân quan trọng nhất lại thuộc về phía nước Triệu. Vua tôi nước Triệu chủ quan khinh địch, không biết tự lượng sức mình, trong lúc bản thân mình hoàn toàn không nắm được tình hình, lại mạo hiểm tiến hành quyết chiến với một đội quân rất mạnh. Triệu Quát chỉ là một kẻ "đánh trận trên giấy", một nhà quân sự chỉ biết nói những điều lý thuyết trống rỗng mà không chú trọng thực tế, vì vậy đã chuốc phải thất bại thảm hại. Đây chính là một bài học lịch sử cực kỳ quan trọng.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 15 Tháng Tám, 2021, 02:27:04 pm
TRẬN CỰ LỘC GIỮA TẦN - SỞ


Người Trung Quốc có câu thành ngữ "phá phủ trầm chu”, nghĩa là đập vỡ nồi, đánh chìm thuyền, ví với việc chấp nhận hy sinh tất cả, quyết tâm hoàn thành công việc. Điển cố này nói về câu chuyện tướng Sở là Hạng Vũ dẫn quân khởi nghĩa cứu Triệu, đại phá quân chủ lực của nước Tần.


1. Hạng Vũ dẫn quân lên phía bắc cứu nước Triệu

Năm đầu đời vua thứ hai nhà Tần (năm 209 trước Công nguyên), dưới sự lãnh đạo của Trần Thắng, Ngô Quảng, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc nhằm lật đổ chế độ chính trị tàn bạo của vương triều nhà Tần. Sau khi Trần Thắng, Ngô Quảng hy sinh, hai cánh quân khởi nghĩa do Hạng Vũ và Lưu Bang lãnh đạo tiếp tục cuộc chiến tranh chống Tần.


Khi cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, quý tộc của sáu nước cũng nhân cơ hội khởi binh. Hạng Vũ là cháu nội của viên đại tướng Hạng Yến nước Sở, uy vũ dũng mãnh, gan dạ tài trí. Sau khi Trần Thắng, Ngô Quảng khởi nghĩa, Hạng Vũ cùng chú ruột của mình là Hạng Lương giết chết quận thú của quận Cối Kê (nay là thành phô Tô Châu, Giang Tô, Trung Quốc), hưởng ứng khởi nghĩa. Hạng Lương lãnh đạo 8.000 con em ở miền Giang Đông vượt sông tiến lên phía bắc, lần lượt đánh bại quân Tần, thế lực phát triển rất nhanh. Sau khi Trần Thắng hy sinh, để tiện cho việc kêu gọi sự ủng hộ của dân chúng, Hạng Lương bèn lập cháu nội của Sở Hoài vương (nước Sở thời Chiến quốc) là Hùng Tâm lên làm Sở vương, vẫn gọi là Sở Hoài vương. Từ đó, cuộc chiến tranh nông dân cuối thời nhà Tần bước vào một giai đoạn mới.


Cuộc chiến do Hạng Lương lãnh đạo gặp nhiều thuận lợi, luôn luôn chiến thắng, vì vậy nên đã nảy sinh tư tưởng kiêu ngạo chủ quan, buông lỏng cảnh giác đối với quân địch.


Tháng chín năm thứ hai của đời vua thứ hai nhà Tần (năm 208 trước Công nguyên), Chương Hàm chỉ huy quân Tần nhân đêm tối tập kích Định Đào (nay thuộc huyện Định Đào, Sơn Đông, Trung Quốc), đại phá quân Sở, Hạng Lương hy sinh trong chiến đấu. Chương Hàm đã mắc phải sai lầm khi cho rằng, một khi Hạng Lương đã chết trận thì quân Sở không còn đáng lo ngại nữa, bèn không để ý gì đến quân Sở, tiếp tục dẫn quân Tần tiến lên phía bắc để tấn công nước Triệu.


Nước Triệu lúc này không còn là nước Triệu của thời Chiến quốc nữa, mà là một nước Triệu mới được xây dựng trong chiến tranh chống Tần do Vũ Tín Quân làm vua, lực lượng vẫn còn khá mỏng yếu. Chương Hàm chỉ huy quân Tần đánh cho quân Triệu đại bại, nhanh chóng tấn công tiêu diệt kinh đô Hàm Đan của nước Triệu. Tướng nước Triệu là Trần Dư tập kết lại được vài vạn quân, tổ chức lại quân đội, đóng quân tại Cự Lộc (nay thuộc huyện Bình Hương, Hà Bắc, Trung Quốc). Chương Hàm cử tướng Tần là Vương Li mang quân bao vây Cự Lộc, còn bản thân mình thì dẫn binh đến đóng tại Cức Nguyên, vùng đất thuộc phía nam của Cự Lộc, làm hậu thuẫn. Chương Hàm còn cho xây dựng một con đường nối từ Cức Nguyên đến Cự Lộc, hai bên đường đắp tường đất dày để làm đường cung cấp lương cho quân của Vương Li. Quân đội của Vương Li được cung cấp đầy đủ, tấn công thành càng mạnh hơn.


Triệu vương đã mấy lần cử người đến cầu cứu Sở Hoài vương. Sở Hoài vương bèn cử Tống Nghĩa làm thượng tướng quân, Hạng Vũ làm thứ tướng quân, dẫn quân khởi nghĩa chủ lực tiến lên phía bắc cứu nước Triệu. Ngoài ra, còn cử Lưu Bang dẫn một bộ phận binh lực tấn công Quan Trung (nay là khu vực trung bộ tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc).


Tống Nghĩa dẫn đại quân lên phía bắc, đến An Dương (nay thuộc phía đông nam An Dương, Hà Nam, Trung Quốc) thì dừng lại 46 ngày liền, không chịu tiến quân nữa. Hạng Vũ khuyên rằng:

"Hiện nay quân Tần đang bao vây tấn công Cự Lộc, chúng ta nên mau chóng dẫn quân vượt sông. Chúng ta từ bên ngoài tấn công vào, quân Triệu từ bên trong tiếp ứng, nội ngoại giáp công, nhất định có thể đánh bại được quân Tần".

Tống Nghĩa không đồng ý với quan điểm của Hạng Vũ. Tống Nghĩa chủ trương để cho quân Tần và quân Triệu đánh nhau trước, đợi đến khi hai bên đều bị tổn thất thì quân Sở mới bắt đầu ra tay. Tống Nghĩa không những từ chối làm theo kiến nghị của Hạng Vũ, mà còn bày đặt yến tiệc linh đình để tiễn con trai ông ta đến nước Tề làm quan.


Lúc đó, thời tiết giá lạnh, lại có mưa lớn, quân Sở bắt đầu thiếu lương thực, quân sĩ không chịu được đói rét. Nếu quân Tần hạ được thành Cự Lộc thì tất cả những lực lượng chống Tần đều rơi vào thế nguy hiểm. Thấy tình hình như vậy, Hạng Vũ vừa lo lắng lại vừa tức giận, bèn lợi dụng lúc triều kiến buổi sáng, giết chết Tống Nghĩa, sau đó kêu gọi toàn quân:

"Tống Nghĩa ngầm câu kết với nước Tề, âm mưu chống lại nước Sở, ta đã phụng mệnh Sở Hoài vương xử tội chết hắn!”.

Lúc đó, tất cả tướng sĩ nước Sở đều tỏ ý hưởng ứng sự chỉ huy của Hạng Vũ, không ai dám có ý kiến phản đối. Hạng Vũ báo cáo việc Tống Nghĩa về cho Sở Hoài vương biết, Sở Hoài vương bèn thăng chức cho Hạng Vũ làm thượng tướng quân, thay thế chức vụ của Tống Nghĩa, đem quân đi cứu nước Triệu.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 15 Tháng Tám, 2021, 02:27:33 pm
2. Đập nồi dìm thuyền, chiến thắng giờn giã


Tháng 12 năm thứ hai đời vua thứ hai của nước Tần (năm 208 trước Công nguyên), quân Tần cậy có binh nhiều lương đủ, định rằng sẽ đánh hạ Cự Lộc trong một thời gian ngắn, khí thế tấn công rất mạnh mẽ. Quân Triệu ở trong thành do binh ít, lương thiếu đang ở vào tình thế rất nguy hiểm. Trần Dư chỉ huy mấy vạn quân đóng tại thành bắc, con trai của Trương Nhĩ là Trương Ngạo chỉ huy hơn một vạn người và viện binh của nước Yên, nước Tề, xây dựng doanh trại ở gần khu vực đóng quân của Trần Dư, xây hào đắp lũy ở đó. Thế nhưng, bọn họ đều sợ thế mạnh của quân Tần, chỉ dám đứng nhìn lẫn nhau, không có một ai dám xuất binh giao chiến. Có một lần, Trần Dư bị Trương Nhĩ ép buộc, phải cử 5.000 quân đi tấn công quân Tần, kết quả là bị tiêu diệt toàn bộ.


Lại nói đến Hạng Vũ, sau khi giết chết Tống Nghĩa, Hạng Vũ bèn cử Anh Bố, Bồ tướng quân mang hai vạn quân tiên phong vượt sông Chương Thủy, cắt đứt đường vận chuyển lương thực của quân Tần, chia cắt quân của Chương Hàm và Vương Li. Sau đó, Hạng Vũ dẫn quân chủ lực gấp rút tiến quân. Sau khi qua sông, Hạng Vũ ra lệnh cho toàn quân đập hết toàn bộ số chảo dùng để nấu cơm, đánh chìm toàn bộ số thuyền dùng để vượt sông, đốt sạch toàn bộ lều trướng doanh trại, mỗi một người lính chỉ chuẩn bị ba ngày lương khô, để bước vào quyết chiến với quân Tần, nếu không chiến thắng quyết không sống để quay trở về.


Quyết tâm và dũng khí của Hạng Vũ có tác động rất lớn đối với việc cổ vũ động viên sĩ khí của quân sĩ. Quân Sở vừa đến chiến trường đã bao vây chặt quân của Vương Li lại, với khí thế mạnh như sấm sét, hành động nhanh như chớp giật, nhanh chóng triển khai thế trận kịch chiến với quân Tần.


Quân Sở lấy một chọi mười, dũng mãnh xông lên đánh đuổi, không cho quân Tần có cơ hội triển khai chống đỡ.


Sau chín cuộc chiến đấu cực kỳ ác liệt, quân Sở đã đánh cho quân Tần đại bại. Lúc đó, các đội quân cứu viện của các nước cũng nhập vào cuộc chiến, giết chết tướng Tần là Tô Giác, bắt sống Vương Li, buộc một viên tướng khác là Thiệp Gian phải tự sát. Quân chủ lực của Tần bị tan vỡ, Cự Lộc được giải cứu.


Khi quân Sở đánh nhau với quân Tần, tướng lĩnh của các cánh quân viện binh khác đều sợ quân Tần như sợ hổ, chỉ dám nấp sau chiến lũy quan sát chiến trận. Bọn họ thấy cảnh tượng quân Sở tả xung hữu đột, dũng mãnh xông lên giết địch thì đều sợ hãi đến ngây cả người. Sau khi chiến trận kết thúc, Hạng Vũ triệu kiến tướng lĩnh các chư hầu, bọn họ đều không dám đi tới cửa trại của Hạng Vũ mà đều quỳ gối lê bước đến, cũng không dám ngẩng đầu lên mà nhìn Hạng Vũ. Từ đó trở đi, Hạng Vũ uy trấn thiên hạ, các nước chư hầu đều một lòng ủng hộ Hạng Vũ, lập Hạng Vũ là "Thượng tướng quân của các nước chư hầu”. Các nước chư hầu đều tình nguyện trở thành bộ hạ của Hạng Vũ, nghe theo lời chỉ huy của Hạng Vũ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 15 Tháng Tám, 2021, 02:28:07 pm
3. Chương Hàm đầu hàng


Sau khi trận Cự Lộc thất bại, Chương Hàm tập trung toàn bộ quân Tần ở Cức Nguyên, phía nam Cự Lộc. Hạng Vũ thừa thắng đem quân truy kích đến bờ nam sông Chương Thủy, hai cánh quân tạm thời hình thành cục diện đối mặt nhau. Do quân Tần liên tục thất bại, Tần nhị thế sai người đến quở trách Chương Hàm, Thừa tướng Triệu Cao sợ liên lụy, bèn lấy Chương Hàm ra để chịu tội thay mình. Chương Hàm nghe được tin đó thì vô cùng sợ hãi. Trần Dư nhân cơ hội đó viết thư gửi Chương Hàm, khuyên hắn trở giáo chống Tần. Trần Dư chỉ ra cho Chương Hàm thấy rằng: Bạch Khởi, Mông Điềm đều là danh tướng nước Tần, đều lập được đại công, thế mà cuối cùng cũng không tránh khỏi bị sát hại. Tần triều là một vương triều tàn bạo, người có công cũng bị giết, kẻ không có công cũng bị giết, ai ai cũng đều biết rằng triều đình nhà Tần trước sau rồi cũng bị diệt vong, tại sao tướng quân không liên kết với các chư hầu, cùng nhau tiêu diệt Tần, phân đất làm vương!


Chương Hàm sau khi nhận được thư vẫn còn chút nghi ngại, ông ta ngầm sai người đến gặp Hạng Vũ xin cầu hòa, Hạng Vũ vẫn không vội đồng ý. Hạng Vũ phái Bồ tướng quân ngày đêm hành quân, vượt sông Chương Thủy ở bến Tam Hộ, một lần nữa đánh bại quân Tần, cắt đứt đường rút lui của quân Tần.


Hạng Vũ lại dẫn quân chủ lực dũng mãnh tấn công, đánh tan quân Tần ở sông Vu Thủy (một nhánh của sông Chương Thủy, nay ở gần huyện Lâm Chương, Hà Bắc, Trung Quốc).


Chương Hàm liên tiếp bị bại trận, vừa không có quân chi viện, lại vừa sợ bị Tần nhị thế và Triệu Cao sát hại, một lần nữa xin đầu hàng Hạng Vũ. Lần này thì Hạng Vũ đồng ý. Tháng bảy, năm thứ ba đời vua Tần nhị thế (năm 207 trước Công nguyên), Chương Hàm dẫn hơn 20 vạn quân Tần đầu hàng Hạng Vũ tại Ân Khư, bờ nam sông Hoàn Thủy (nay thuộc phía tây thành phố An Dương, Hà Nam, Trung Quốc). Hạng Vũ phong Chương Hàm làm Ung vương, trực thuộc quân Sở.


Từ đó trở đi, quân khởi nghĩa do Hạng Vũ lãnh đạo đã giành được thắng lợi, tiêu diệt toàn bộ quân chủ lực của nước Tần, đặt nền móng cho cuộc chiến tiêu diệt toàn bộ quân Tần, tạo điều kiện thuận lợi cho Lưu Bang tiến đánh Quan Trung, đánh chiếm kinh đô Hàm Dương của nước Tần.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 15 Tháng Tám, 2021, 02:28:25 pm
4. Kết luận


Thắng lợi to lớn của trận Cự Lộc là thắng lợi của quân khởi nghĩa chống lại chế độ chính trị tàn bạo của vương triều nhà Tần, là thắng lợi của cuộc chiến tranh chính nghĩa. Vì vậy, quân khởi nghĩa mới có được sức mạnh một chọi mười, dũng mãnh chiến đấu. Đồng thời, chiến thắng này cũng là do tài năng chỉ huy quân sự xuất sắc của Hạng Vũ, đặc biệt là giải pháp "phá phủ trầm chu" của Hạng Vũ là phù hợp với điều kiện địa lý và trạng thái tâm lý của tướng sĩ nước Sở lúc bấy giờ. Biện pháp này của Hạng Vũ đã khiến cho quân sĩ nước Sở đồng lòng hạ quyết tâm: Chỉ có kiên quyết tấn công, giành được thắng lợi mới có đường sống, từ đó mà đạt được thành tích huy hoàng trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc cổ đại, giành được thắng lợi trong chín trận đánh liên tiếp.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Tám, 2021, 06:56:55 am
TRẬN HÀN TÍN PHÁ TRIỆU

   "Qua giáp tòng quân cửu,
   Phong vân thức trận nan.
   Kim triều bái Hàn Tín,
   Kê nhật trảm Thành An".

   
(Dịch nghĩa: Vác giáo, mặc giáp đi theo quân đội đã lâu năm, đã biết được khó khăn của các trận đánh. Nay về triều phục Hàn Tín, tính từng ngày chờ chém Thành An quận Trần Dư)


Đây chính là bài thơ Tòng quân từ của nhà thơ Vương Nhai thời Đường (Trung Quốc). "Qua" là binh khí, "giáp" là áo giáp, là trang bị của quân đội; "Phong vân" là tên gọi của loại hình trận đồ tác chiến. Tác chiến thời cổ đại chia thành "bát trận" (tám loại thế trận): Thiên, Địa, Phong, Vân, Long, Hổ, Điểu, Xà; Hàn Tín là một viên đại tướng nổi tiếng đầu thời vương triều nhà Hán, là nhà quân sự kiệt xuất của Trung Quốc cổ đại. Thành An chính là tướng Triệu Trần Dư, từng được phong là Thành An quận.


Bài thơ Tòng quân từ ca ngợi Lưu Bang và Hàn Tín. Lưu Bang trong thời điểm quan trọng đã biết cách sử dụng người tài giỏi. Hàn Tín trong trận đánh phá Triệu, đã khéo léo vận dụng "bội thủy trận" (bố trí thế trận quay lưng lại với mặt nước), giành thắng lợi bất ngờ, tiêu diệt mười mấy vạn quân Triệu, chém chết Trần Dư tại trận, lập nên một thắng lợi điển hình "lấy ít thắng nhiều" nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Ngày nay, chúng ta hãy cùng xem lại Hàn Tín đã vận dụng "bội thủy trận" như thế nào để giành được thắng lợi trong trận chiến phá Triệu hồi đó.


1. Dương đông kích tây, bắt sống Ngụy vương Báo

Vào mùa hè năm thứ hai đời vua Lưu Bang nhà Hán (năm 205 trước Công nguyên), Lưu Bang bị quân Sở đánh cho đại bại ở bờ bắc Tuy Thủy. Ngụy vương Báo vốn đã quy phục quân Hán, nay thấy thế lực quân Sở lớn mạnh, bèn phản bội Lưu Bang, quay sang đầu hàng Hạng Vũ. Ngụy vương Báo lúc đó chiếm cứ Hà Đông (nay thuộc vùng đất phía tây nam tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc), nếu ông ta tiến quân về phía tây thì có thể uy hiếp được sự an toàn của Quan Trung; nếu tiến quân về phía nam thì có thể cắt đứt sự liên hệ giữa Quan Trung và Huỳnh Dương, tạo thành thế phối hợp với quân Sở, áp sát tấn công Huỳnh Dương từ hai phía. Như vậy, đối với quân Hán, đây sẽ giống như một cái gai nhọn đâm thẳng vào phía sau lưng. Để loại trừ cái gai nhọn đó, Lưu Bang sai người đi tranh thủ vận động Ngụy vương Báo một lần nữa đứng về phía mình, nhưng không ngờ Ngụy vương Báo không chịu nghe theo. Tháng tám năm đó, Lưu Bang cử Hàn Tín, Tào Tham dẫn quân tấn công Ngụy vương Báo.


Ngụy vương Báo nghe nói quân Hán tấn công đến, liền bổ nhiệm cho Bách Trực làm đại tướng, thống lĩnh toàn quân, cố thủ tại Bồ Bản (nay thuộc phía tây huyện Vĩnh Tế, Sơn Đông, Trung Quốc), bờ đông sông Hoàng Hà. Quân Ngụy phong tỏa bến sông Lâm Tấn, ngăn chặn quân Hán vượt sông. Bách Trực còn tổ chức một đội quân biệt động đi tuần men sông Hoàng Hà, đồng thời còn đuổi toàn bộ thuyền bè của ngư dân không cho qua lại trên hồ. Bách Trực sau khi sắp đặt xong lấy làm đắc ý, cho rằng quân Hán nếu như có vượt được qua sông thì cũng chỉ có thể mạo hiểm vượt qua Bồ Bản chứ không còn cách nào khác.


Hàn Tín dẫn quân đến tiền tuyến, nhìn thấy hình thế Bồ Bản rất hiểm yếu, Ngụy vương Báo lại sai Trọng Binh chiếm giữ thì biết rằng nếu như tấn công chính diện sẽ rất khó giành được thắng lợi. Sau khi nghiên cứu kĩ tình hình, Hàn Tín quyết định áp dụng trận pháp "thanh đông kích tây, tị thực tựu hư” (hô đông đánh tây, tránh mạnh đánh yếu). Hàn Tín cho quân Hán xây dựng đại bản doanh ở bờ đối diện với Bồ Bản. Xung quanh khu vực doanh trại cho cắm đầy cờ xí, tập trung toàn bộ thuyền bè của quân Hán ở đó. Ban ngày, Hàn Tín ra lệnh cho quân sĩ đánh trống hò reo, ban đêm đèn đuốc sáng trưng, điều binh khiển tướng rầm rập không ngớt. Bề ngoài quân Hán làm như chuẩn bị qua sông ở đó, nhưng thực ra Hàn Tín đã ngầm điều động toàn bộ chủ lực của quân Hán đi về hướng Bắc, lựa chọn Hạ Dương (nay là phía nam huyện Hàn Thành, Thiểm Tây, Trung Quốc) làm nơi qua sông.


Quân Ngụy thấy quân Hán ở bờ đối diện điều quân rầm rập, lại tưởng rằng Hàn Tín thực sự muốn qua sông ở Bồ Bản. Bách Trực cho rằng, doanh trại ở Bồ Bản kiên cố như vậy, lại có đội quân hùng hậu trấn giữ, hơn nữa nước sông Hoàng Hà chảy rất xiết, cho dù là Hàn Tín có tài giỏi đến mấy cũng không thể vượt sông ở đây, quân Ngụy chỉ cần giữ chắc doanh trại là có thể kê gối cao ngủ yên, không phải lo nghĩ gì nữa. Thế là Bách Trực hầu như hoàn toàn yên tâm, không hề phòng bị gì ở vùng thượng du Hoàng Hà cả.


Sau khi quân Hán tiến đến Hạ Dương, Hàn Tín ra lệnh cho quân sĩ làm một loạt những thùng gỗ miệng nhỏ, cứ vài chiếc thùng gỗ lại được liên kết lại với nhau thành một khối, úp ngược trên mặt nước, bên trên buộc sào gỗ để làm bè qua sông. Loại bè như vậy vừa thăng bằng lại vừa có sức nổi tốt. Quân Hán bí mật vượt sông ở Hạ Dương dựa vào những chiếc bè như vậy.


Quân Ngụy ở Hạ Dương hoàn toàn không có bố phòng, quân Hán vượt qua sông Hoàng Hà một cách thuận lợi, tấn công tiêu diệt hậu phương quan trọng của quân Ngụy là An Ấp (nay thuộc vùng đông bắc huyện An Ấp, Sơn Tây, Trung Quốc).


Đến lúc đó, Ngụy vương Báo mới hoảng hốt dẫn quân ra nghênh chiến, thế nhưng ông ta đâu phải là đối thủ của Hàn Tín. Chỉ vài ngày sau, Hàn Tín đã chỉ huy quân Hán đánh cho quân Ngụy đại bại, cuối cùng bắt sống Ngụy vương Báo, giải ông ta về Huỳnh Dương là nơi Lưu Bang đóng quân.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Tám, 2021, 06:58:24 am
2. Hàn Tín công Triệu, thế trận bội thủy

Sau khi tiêu diệt Ngụy, Hàn Tín liền gửi thư cho Lưu Bang yêu cầu tăng số quân lính lên thành ba vạn để đi tiêu diệt hai thế lực quân cát cứ là nước Triệu và nước Đại, nhằm thay đổi vị thế bất lợi của quân Hán trong cuộc chiến Thành Cao. Lưu Bang phê chuẩn kế hoạch tác chiến đó của Hàn Tín, cấp cho Hàn Tín ba vạn bộ binh, đồng thời tăng cường thêm Trương Nhĩ là người rất thông thạo tình hình ở Hà Bắc đến để hỗ trợ cho Hàn Tín.


Tháng chín năm thứ hai đời nhà Hán, Hàn Tín đại phá quân Đại, bắt sống tướng quốc của quân Đại là Hạ Nguyệt. Qua hai thắng lợi lớn là diệt Ngụy, bình Đại, Hàn Tín đã thu dụng được một số lượng lớn tù binh, tăng cường thêm lực lượng của nhà Hán.


Tháng mười năm thứ ba đời nhà Hán (năm 204 trước Công nguyên), Hàn Tín thống lĩnh mấy vạn quân Hán vượt qua Thái Hành Sơn sang phía đông, tấn công vào nước Triệu. Quân Hán và quân Triệu gặp nhau ở hẻm núi hiểm yếu ở vùng biên giới phía tây nước Triệu là cửa khẩu Tỉnh Hình. Một trận quyết chiến sắp bắt đầu.


Cửa khẩu Tỉnh Hình là một trong tám cửa ải hiểm yếu của Thái Hành Sơn, cũng chính là cửa khẩu ở phía đông huyện Tỉnh Hình, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay. Ở phía tây cửa khẩu Tỉnh Hình có một con đường hẹp dài khoảng một trăm dặm, địa thế hiểm trở, dễ phòng thủ, khó tấn công. Triệu vương Yết và thống soái Trần Dư của quân Triệu đã tập trung hơn mười vạn quân Triệu ở đây để phòng thủ.


Quân đội của Hàn Tín chỉ có mấy vạn người, hơn nữa có quá nửa là lính mới chiêu mộ, chưa được huấn luyện, không có kinh nghiệm tác chiến. Xét về mặt binh lực, quân Triệu có ưu thế lớn hơn rất nhiều.


Trước khi chiến tranh bắt đầu, mưu sĩ nước Triệu là Lí Tả Xa đã từng đề xuất một kế hoạch tác chiến với thống soái Trần Dư. Trước tiên, ông ta chỉ ra cho Trần Dư thấy rằng:

"Hàn Tín sau khi bắt sống Ngụy vương Báo, xuất binh công phá nước Đại. Hiện tại Lưu Bang lại cử Trương Nhĩ đến giúp sức Hàn Tín, thừa thắng tiến đánh nước Triệu, khí thế của quân Hán đang rất mạnh, chúng ta nên tránh mũi nhọn của quân Hán, không thể khinh địch".

Tiếp sau đó, Lí Tả Xa còn đưa ra kế hoạch phá địch:

"Quân Hán từ đường xa đến tấn công nước ta, lương thảo phải vận chuyển từ ngàn dặm đến, như thế chẳng khác nào đợi tiều phu đốn củi về xong mới nổi lửa nấu cơm, quân sĩ sẽ không được ăn no. Đường đi ở cửa khẩu Tỉnh Hình rất chật hẹp, xe ngựa không thể dàn hàng ngang mà tiến, quân Hán tuy có thể vượt qua được cửa ải nhưng bộ phận hậu cần của họ sẽ không theo kịp được bộ phận chủ lực, nhất định sẽ bị rớt lại ở phía sau đại quân. Xin ngài hãy cấp cho tôi ba vạn người ngựa phục sẵn ở các con đường nhỏ, xông ra cướp lương thảo của quân Hán, cắt đứt đường vận chuyển lương thực của quân Hán, đồng thời chặn đứng đường rút lui của họ. Còn ngài thì thống lĩnh quân Triệu đào hào sâu, đắp thành cao, dựa vào địa thế hiểm yếu mà cố thủ, không nên quyết chiến với quân chủ lực của Hàn Tín, khiến cho hắn đánh không được, rút lui cũng không xong. Làm như vậy, chỉ trong vòng mười ngày tôi có thể đem đầu của Hàn Tín và Trương Nhĩ dâng cho ngài. Nếu không như vậy, chúng ta sẽ nhất định bị quân Hán đánh bại”.


Kế hoạch tác chiến của Lí Tả Xa đề xuất dựa vào tình hình thực tế của hai bên nên tương đối hợp lí và đáng tin cậy. Thế nhưng, Trần Dư là kẻ thư sinh, lại là người kiêu ngạo chủ quan khinh địch, nóng nảy vội vàng, cho rằng: "Nghĩa binh bất dụng trá mưu kì kế" (Quân chính nghĩa thì không dùng những mưu kế xảo trá); lại vận dụng lý luận "Thập tắc vây chi, bội tắc chiến'’ (Binh lực gấp mười lần quân địch, cần phải áp dụng trận pháp bao vây; binh lực nhiều gấp đôi quân địch thì có thể phát động tấn công quân địch)... trong binh pháp để làm căn cứ phản bác lại Lí Tả Xa. Trần Dư nói:

"Quân Hán danh nghĩa là có hàng vạn, trên thực tế bất quá chỉ có vài ngàn người. Bọn họ từ xa ngàn dặm đến đây để tấn công nước Triệu, quân sĩ đã sớm mệt mỏi quá sức. Với loại quân địch yếu như vậy, nếu như chúng ta chỉ tránh mà không dám đánh, sau đây nếu gặp phải cường địch tấn công thì sẽ phải làm thế nào? Như vậy, các lộ quân chư hầu sẽ chê cười chúng ta non gan, khinh thường chúng ta mà dễ dàng đem quân tấn công chúng ta".


Thế là Trần Dư không nghe theo kế sách của Lí Tả Xa.

Hàn Tín là một nhà quân sự mưu sâu chước cao, ông ta hiểu rất rõ về sự chênh lệch lực lượng rất lớn giữa hai bên, vì vậy không thể trực tiếp tấn công, bèn ra lệnh đóng quân ở một nơi cách xa cửa khẩu Tỉnh Hình để quan sát tình thế, nghiên cứu sự bố trí của quân Triệu, tìm cơ hội có lợi để đánh địch.


Sau khi do thám biết được thống soái nước Triệu Trần Dư không nghe theo phương án tác chiến của Lí Tả Xa, Hàn Tín mừng thầm trong bụng. Đồng thời, Hàn Tín cũng nắm được tham vọng của Trần Dư là muốn một trận nuốt trôi quân Hán ở cửa khẩu Tỉnh Hình. Nhắm vào tâm lý chủ quan khinh địch của Trần Dư, Hàn Tín đã xây dựng một phương án tác chiến bất ngờ để chiến thắng quân Triệu.


Hàn Tín lập tức chỉ huy quân Hán đóng quân ở một vị trí cách cửa khẩu Tỉnh Hình 30 dặm, lại chọn lấy 2.000 kị binh trẻ khỏe dũng mãnh trong số quân Hán, cho mỗi người mang một lá cờ đỏ, đợi đến lúc nửa đêm, nhân lúc tối trời lặng lẽ theo đường núi nhỏ vòng về phía sau doanh trại của quân Triệu, mai phục sẵn ở đó. Hàn Tín dặn dò số binh sĩ này rằng:

"Ngày mai quân ta sẽ quyết chiến với quân Triệu. Quân Triệu nếu như nhìn thấy quân ta rút lui về phía sau, sẽ nhất định dốc quân truy kích. Các ngươi nhân lúc quân Triệu bỏ trống doanh trại, nhanh chóng tấn công, hạ toàn bộ cờ xí của quân Triệu xuống, cắm cờ đỏ của quân Hán chúng ta lên".


Sau khi giao nhiệm vụ cho cánh quân đó xong, Hàn Tín bèn truyền lệnh nấu cơm. Lần xuất chinh này không giống với các lần xuất chinh bình thường khác, những lần trước, bao giờ quân sĩ cũng ăn một bữa no trước khi xuất trận, lần này lại chuẩn bị cho tướng sĩ rất ít thức ăn, tất cả tướng sĩ đều lấy làm lạ, không hiểu duyên cớ tại sao. Hàn Tín giải thích rằng:

"Các ngươi hãy tạm ăn ít đi một chút, đợi đến sáng ngày mai sau khi đại phá quân Triệu sẽ tổ chức tiệc ăn mừng thịnh soạn!".


Tướng sĩ biết rằng quân Triệu người đông, thế mạnh, là một kẻ địch đáng gờm nên không thật tin tưởng lời của thống soái, chỉ miễn cưỡng đáp lại: "Vâng!".

Mọi người đều chuẩn bị tinh thần để tấn công quân địch.

Sau khi 2.000 quân khinh kị của Hàn Tín xuất phát không lâu, Hàn Tín liền phái một vạn quân làm đội quân tiên phong, tiến đến gần cửa khẩu Tỉnh Hình, men theo dòng Miên Man Thủy để bố trí trận địa. Miên Man Thủy là dòng sông chảy từ vùng phụ cận phía bắc của thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) đến cửa khẩu Tỉnh Hình hiện nay; hồi đó là một dòng sông sâu, nước chảy rất xiết. Hàn Tín biết rằng Trần Dư định một mẻ lưới hốt gọn quân Hán nên sẽ không tiêu diệt một vạn quân tiên phong này vội. Vì vậy, Hàn Tín dặn viên tướng chỉ huy đội quân tiên phong này rằng:

"Quân Triệu đã chiếm được địa hình có lợi trước, xây dựng thành lũy kiên cố, một vạn quân này của chúng ta vừa không phải quân chủ lực, lại không mang theo cờ đại tướng, Trần Dư tất nhiên sẽ không tấn công các ngươi trước. Bởi vì hắn sợ nếu tấn công các ngươi thì quân chủ lực của chúng ta ở phía sau sẽ quay đầu rút chạy".


Sự tình quả nhiên đúng như Hàn Tín đã dự đoán, cánh quân tiên phong không hề vấp phải một sự cản trở nào, tiến quân một cách rất thuận lợi đến bờ phía đông của dòng Miên Man Thủy và xây dựng trận địa ở đó. Quân Triệu nhìn thấy quân Hán bày trận quay lưng lại phía dòng nước, không có đường để lui quân, đều cười nhạo Hàn Tín không hiểu gì về binh pháp.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Tám, 2021, 06:59:17 am
3. Đại chiến Tỉnh Hình, chém Trần Dư tại trận


Quân Hán dựa theo kế hoạch của Hàn Tín bố trí xong trận địa thì trời đã gần sáng. Hàn Tín đích thân chỉ huy quân Hán, giương cao cờ hiệu và nghi trượng của đại tướng, thúc trống tiến quân, hô hào binh lính tấn công vào cửa khẩu Tỉnh Hình. Trần Dư thấy quân Hán phát động tấn công, cho rằng thời cơ tiêu diệt quân Hán đã đến, lập tức truyền lệnh cho quân Triệu xuất kích. Quân Triệu rất đông, nhằm phía quân Hán xông lên, hai bên đại chiến một hồi lâu. Hàn Tín, Trương Nhĩ giả vờ thua trận, vứt hết cả cờ hiệu và nghi trượng, rút lui về phía dòng Miên Man Thủy. Triệu vương Yết và Trần Dư thấy Hàn Tín, Trương Nhĩ rút lui, nhầm tưởng rằng quân Hán thực sự đã bị đánh bại bèn ra lệnh cho toàn bộ quân Triệu bỏ trống doanh trại, dốc sức tấn công. Mười mấy vạn quân Triệu vừa tranh cướp chiến lợi phẩm, vừa truy đuổi theo quân đội của Hàn Tín, Trương Nhĩ.


Hàn Tín, Trương Nhĩ dẫn đội quân chủ lực của quân đội Hán rút lui đến bên dòng Miên Man Thủy thì phối hợp với một vạn quân Hán đã được bố trí trận địa sẵn ở đó, quay lại triển khai tấn công quân Triệu. Trước mắt là quân địch dốc sức truy đuổi, sau lưng là dòng Miên Man Thủy chảy xiết, trong thời khắc nguy hiểm đó, quân Hán chỉ còn cách hoặc là liều chết xông vào tiêu diệt địch, hoặc là rút lui thì sẽ chết đuối. Thế là tướng sĩ nhà Hán đều dũng cảm xông lên, lấy một địch mười, liều chết chiến đấu.


Quân đội nước Triệu dựa vào người đông thế mạnh, nhiều lần xông lên tấn công, nhưng mãi vẫn không thể phá vỡ được trận địa của quân Hán. Cứ như vậy, Hàn Tín, Trương Nhĩ chỉ huy quân Hán ghìm chặt mười mấy vạn quân Triệu bên dòng Miên Man Thủy.


Lại nói đến hai nghìn quân khinh kị của quân đội Hán đang mai phục ở phía sau doanh trại của quân Triệu, vừa nhìn thấy quân Triệu dốc toàn lực tấn công, bỏ trống doanh trại thì lập tức nhân cơ hội chiếm doanh trại của quân Triệu, nhổ hết toàn bộ cò xí của quân Triệu thay bằng cờ đỏ của quân Hán. Chỉ trong chốc lát, đại bản doanh của quân Triệu đã trở thành đại bản doanh của quân Hán.


Quân Triệu đánh nhau với quân Hán bên dòng Miên Man Thủy gần một ngày trời vẫn không giành được thắng lợi. Trần Dư thấy quân sĩ đã nhiều lần tấn công, tỏ ra rất mệt mỏi mà vẫn không thực hiện được giấc mộng bắt sống Hàn Tín, Trương Nhĩ, bèn hạ lệnh thu quân. Quân Triệu mệt mỏi quá sức, ồn ào hỗn loạn rút lui, đi đến giữa đường thì nhìn thấy đại bản doanh ở phía xa kia bốn phía xung quanh đã cắm đầy cờ đỏ của quân Hán, vậy nên vô cùng hoảng sợ, tưởng rằng Triệu vương đã bị quân Hán bắt làm tù binh, thế là vứt hết vũ khí, mũ giáp, dẫm đạp lên nhau mà bỏ chạy. Tướng Triệu mặc dù đã giết không biết bao nhiêu quân sĩ bỏ chạy, vẫn không thể nào ngăn chặn được sự tan vỡ của quân Triệu. Quân Hán đang chiếm doanh trại của quân Triệu thấy vậy bèn thừa thế xông lên. Hàn Tín chỉ huy quân chủ lực đồng thời cũng phản công đến đó, tiêu diệt toàn bộ quân chủ lực của nước Triệu, chém chết chủ soái Trần Dư của quân Triệu, bắt sống Triệu vương Yết. Quân đội nước Hán do tướng Hàn Tín thống soái giành được thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Tỉnh Hình.


Chiến tranh kết thúc, các tướng lĩnh quân đội Hán lần lượt dâng lên thủ cấp tướng địch, báo cáo số quân địch bị bắt làm tù binh, cùng chúc mừng thắng lợi. Tướng lĩnh trong quân đội Hán đều vô cùng khâm phục nghệ thuật chỉ huy của Hàn Tín, nhưng vẫn không hiểu nổi nguyên nhân thắng lợi, bèn tranh nhau hỏi Hàn Tín:

"Theo binh pháp, khi hành quân và bố trí trận địa thì phía bên phải và phía sau lưng phải dựa vào núi, phía trước mặt và phía bên trái quay ra nước, thế mà tướng quân lại làm ngược lại quy định của binh pháp, bố trí trận địa quay lưng về phía sông nước, hơn nữa lại còn hứa một cách chắc chắn với tướng sĩ rằng, đợi đến khi trời sáng đánh bại xong quân Triệu sẽ cùng nhau ăn một bữa no. Chúng tôi lúc đó đều không dám tin tưởng ở lời nói của đại tướng quân, thế mà đại tướng quân giành được thắng lợi, đó là vì lí do gì vậy?".


Hàn Tín trả lời rằng:

"Bố trí trận địa quay lưng về phía sông nước là điều trong binh pháp cũng đã có, chỉ có điều các vị chưa xem kĩ mà thôi. Trong binh thư chẳng phải là đã từng nói: Hãm chi tử địa nhi hậu sinh, trí chi vong địa nhi hậu tồn (đại ý là: rơi vào chỗ chết thì sẽ phải tìm cách để sống) đó sao? Ta sở dĩ bố trí trận địa quay lưng về phía sông nước, chính là dựa vào lí do đó. Ta biết rằng, thời gian mình ở trong quân đội chưa phải là dài, vẫn chưa xây dựng được cho mình một uy thế. Huống hồ, quân Hán đại bộ phận đều là tân binh mới được chiêu mộ, không được huấn luyện đầy đủ, ý chí chiến đấu chưa đủ kiên định, chỉ huy lính mới đánh trận cũng chẳng khác nào lùa người đi chợ ra chiến đấu vậy. Vì vậy, cần phải bố trí họ ở vào "chỗ chết", không cho họ có đường rút lui mới có thể khiến cho họ tự giác chiến đấu, liều chết xông lên. Nếu như bố trí những quân sĩ đó vào nơi an toàn, có đường để rút chạy, thì khi trận chiến trở nên ác liệt, bọn họ sẽ tranh nhau mà bỏ chạy, làm sao còn có thể chỉ huy được bọn họ nữa!”.


Các tướng lĩnh nghe Hàn Tín giải thích như vậy đều không khỏi thán phục, đồng thanh nói:

"Kế sách của đại tướng quân thật là kì diệu, chúng tôi quả là không thể nào theo kịp được!".


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Tám, 2021, 06:59:42 am
4. Kết luận

Trận chiến Hàn Tín phá Triệu là một chiến dịch quan trọng trong cuộc chiến tranh giữa hai nước Hán và Sở. Do trong trận chiến đấu này, "bội thủy trận” của Hàn Tín đã trở nên nổi tiếng và lưu truyền đến hậu thế, Hàn Tín từ đó cũng trở thành một nhà quân sự nổi tiếng trong lĩnh vực vận dụng linh hoạt binh pháp. Những trận pháp như kiểu "bội thủy trận" ngày nay chúng ta không thể áp dụng được trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình. Có điều, ở tại thời điểm đó, Hàn Tín đã có thể căn cứ vào tình hình thực tế của hai bên địch - ta và tư tưởng chủ quan khinh địch của tướng Triệu để vận dụng một cách linh hoạt nguyên tắc trong binh pháp, tương kế tựu kế, tiến hành bày thế trận quay lưng về phía sông nước, cố ý để lộ điểm yếu ra cho quân địch thấy, dẫn dụ quân Triệu rời khỏi địa hình có lợi, bỏ trống doanh trại ra ngoài đánh nhau, sau đó dùng kị binh tập kích vào đại bản doanh của quân Triệu, hai cánh quân phối hợp tấn công kẹp quân Triệu vào giữa, chỉ một trận là giành thắng lợi, tiêu diệt toàn bộ quân Triệu. Tất cả những điều đó đã thể hiện tài năng quân sự nổi trội của Hàn Tín.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 21 Tháng Tám, 2021, 01:57:29 pm
TRẬN CHIẾN CAI HẠ GIỮA SỞ - HÁN


Trên bàn cờ tướng ngày nay, ở giữa thường có bốn chữ: "Sở hà", "Hán giới", đó chính là so sánh việc đánh cờ tướng với cuộc chiến giữa hai nước chư hầu Hán và Sở trong lịch sử Trung Quốc thời cổ đại. Cuộc chiến Hán và Sở thực chất là cuộc chiến tranh giữa Hạng Vũ và Lưu Bang. Cuộc chiến này kéo dài hơn ba năm, diễn biến phức tạp, tình tiết li kì, chiến đấu rất ác liệt, tổng cộng số người chết và bị thương của cả hai bên lên tới mấy chục vạn người. Trận chiến này lấy trận đánh ở Thành Cao làm trung tâm để triển khai chiến tranh, kết thúc bằng trận đánh ở Cai Hạ, Hán thắng Sở thua.


1. Mở màn của chiến tranh

Sau chiến thắng của Hạng Vũ tiêu diệt quân chủ lực của Tần ở Cự Lộc (nay là huyện Bình Dương, Hà Bắc, Trung Quốc), Lưu Bang thống lĩnh quân đội khởi nghĩa tiến về phía tây cũng phát triển rất thuận lợi. Tháng mười năm Hán vương thứ nhất (năm 206 trước Công nguyên), quân đội của Lưu Bang đánh vào Quan Trung, chiếm lĩnh kinh đô Hàm Dương của vương triều nhà Tần.


Lưu Bang là một con người rất có con mắt chính trị, biết được lúc đó nhân dân mong muốn cái gì, căm ghét cái gì. Để thu phục lòng người, Lưu Bang rất chú ý tới việc quản lí quân lính dưới quyền mình, an ủi vỗ về dân chúng. Ông ta hạ lệnh niêm phong toàn bộ các cung điện, kho tàng của triều đình nhà Tần ở Hàm Dương, nghiêm khắc cấm chỉ quân lính dưới quyền không được sử dụng các của cải châu báu trong cung thất. Lưu Bang đóng quân ở bên ngoài thành Hàm Dương, triệu tập các phụ lão ở Quan Trung, đưa ra những điều quy ước đối với quân lính dưới quyền của mình: Kẻ giết người sẽ bị tử hình; đánh người bị thương và cướp bóc sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ phạm tội nặng nhẹ. Lưu Bang còn tuyên bố xóa bỏ toàn bộ luật pháp hà khắc của triều đình nhà Tần. Tất cả những biện pháp đó của Lưu Bang được người dân Quan Trung nhiệt liệt hoan nghênh.


Một tháng sau, đại quân của Hạng Vũ kéo đến Hàm Cốc quan (nay là vùng đất thuộc phía tây nam huyện Linh Bảo, Hà Nam, Trung Quốc). Hạng Vũ thấy Lưu Bang được sự ủng hộ của Sở Hoài vương, sẽ được làm vua ở đất Quan Trung thì vô cùng tức giận, đích thân chỉ huy 40 vạn đại quân phá cửa ải tiến vào Quan Trung. Hạng Vũ đóng quân ở Hồng Môn (nay thuộc phía đông huyện Lâm Đồng, Thiểm Tây, Trung Quốc). Từ đó, mâu thuẫn giữa Hạng Vũ và Lưu Bang ngày càng trở nên gay gắt.


Lúc đó, Lưu Bang chỉ có 10 vạn quân. Hạng Vũ ỷ thế quân đông tướng mạnh, dự định tiêu diệt Lưu Bang, độc chiếm Quan Trung. Lưu Bang muốn chống lại Hạng Vũ, nhưng lại sợ đánh không được Hạng Vũ, đành phải làm theo kế sách của Trương Lương, đích thân mình đi đến chỗ Hạng Vũ đóng quân để tạ tội. Hạng Vũ mở yến tiệc ở Hồng Môn chiêu đãi Lưu Bang. Trong lúc yến tiệc, quân sư của Hạng Vũ là Phạm Tăng ra hiệu cho Hạng Vũ giết chết Lưu Bang. Hạng Vũ chần chừ không quyết, Lưu Bang bèn kiếm cớ trốn thoát khỏi bữa tiệc. Đó chính là tích "Hồng Môn yến” nổi tiếng trong lịch sử cổ đại Trung Quốc.


Mấy ngày sau, Hạng Vũ dẫn quân tiến vào Hàm Dương giết chết Tần vương Tử Anh, vơ vét không biết bao nhiêu của cải châu báu trong kinh thành, bắt và hãm hiếp rất nhiều phụ nữ, phóng hỏa đốt sạch các cung điện của triều đình nhà Tần, sau đó rút quân về phía đông. Nhân dân vô cùng thất vọng trước những việc làm của Hạng Vũ.


Hạng Vũ cắt đất phong tước vị cho rất nhiều quí tộc cũ của sáu nước chư hầu trước đây làm vương; phong cho Lưu Bang là Hán vương, bắt Lưu Bang chuyển từ khu vực Quan Trung đến Hán Trung và Ba Thục. Hạng Vũ tự xưng là Tây Sở Bá vương, có địa vị cao nhất, trên thực tế là nắm quyền chỉ huy tất cả các vua chư hầu. Việc cắt đất phong tước vị của Hạng Vũ đã đi ngược lại với khát vọng thống nhất của nhân dân thời đó, làm mất lòng dân. Vì vậy, sau khi cắt đất phong tước vị không lâu, chiến tranh lại nổ ra.


Cựu quý tộc của nước Tề là Điển Vinh tự xưng là Tề vương. Hạng Vũ đích thân mang quân đi đến nước Tề (nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) để tấn công Điền Vinh. Lưu Bang bèn nhân cơ hội đó chiếm lại đất Quan Trung, mở màn cuộc chiến tranh giữa Sở và Hán.


Tháng tư năm 205 trước Công nguyên, Lưu Bang liên kết với 56 vạn quân của các nước chư hầu, chỉ huy quân lính tiến về phía đông, chiếm lĩnh Bành Thành - đô thành của nước Sở (nay thuộc thành phố Từ Châu, Giang Tô, Trung Quốc).


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 21 Tháng Tám, 2021, 02:01:42 pm
2. Trận chiến tranh đoạt Huỳnh Dương, Thành Cao


Sau khi Hạng Vũ đánh bại Điền Vinh, quay về tấn công quân Hán, đánh bại Lưu Bang ở Bành Thành. Lưu Bang mang theo tàn binh bại tướng của mình tháo chạy về phía tây, đóng quân tại Huỳnh Dương (nay là vùng đất phía tây nam huyện Huỳnh Dương, Hà Nam, Trung Quốc). Hạng Vũ đã mấy lần phái binh đến tấn công, đều bị quân Hán đánh bại. Hai bên giữ thế đối địch, giằng co với nhau ở Huỳnh Dương.


Làm thế nào để đánh bại một kẻ địch mạnh như Hạng Vũ, giành được thiên hạ trong tình thế địch mạnh ta yếu? Lưu Bang đã áp dụng kế sách của Trương Lương và một số người khác, xây dựng một phương án tác chiến hoàn hảo, nội dung chủ yếu là:

Thứ nhất, Lưu Bang đích thân chỉ huy quân chủ lực của quân đội Hán, lợi dụng ưu thế địa hình của Huỳnh Dương - Thành Cao (nay là thị trấn Tị Thủy, huyện Huỳnh Dương), cùng Hạng Vũ duy trì thế trận lâu dài.

Thứ hai, phái Hàn Tín dẫn một cánh quân vượt qua sông Hoàng Hà đánh một trận tiêu diệt thế lực cát cứ phía bắc Hoàng Hà, uy hiếp sườn bên phải của quân đội Sở.

Thứ ba, sai người đến khuyên giải thuyết phục Cửu Giang vương Anh Bố đầu hàng, để Anh Bố tấn công sườn bên trái của quân đội Sở từ phía nam.

Thứ tư, ra lệnh cho Bành Việt ở đất Lương (nay là dải đất từ bắc xuống nam thuộc khu vực thành phố Thương Khâu, Hà Nam, Trung Quốc) tiến hành quấy nhiễu để uy hiếp hậu phương quân đội Sở.


Lưu Bang đã thực hiện thắng lợi phương án tác chiến này.

Tháng tám năm Hán vương thứ hai (năm 205 trước Công nguyên), Lưu Bang cử Hàn Tín làm chủ tướng, dẫn quân vượt qua sông Hoàng Hà, lần lượt tiêu diệt quân đội các nước Ngụy, Đại, Triệu; hàng phục nước Yên; bình định khu vực từ sông Hoàng Hà trở lên phía bắc, biến những thế lực vốn ủng hộ Hạng Vũ, uy hiếp Lưu Bang quay lại hình thành thế trận uy hiếp Hạng Vũ. Lưu Bang còn rút một bộ phận binh lực của Hàn Tín, bổ sung đến Huỳnh Dương, tăng cường lực lượng cho chiến trường chính diện ở đó.


Tháng mười một năm Hán vương thứ ba, Lưu Bang cử Tiêu Hà đến Cửu Giang, thuyết phục Cửu Giang vương Anh Bố phản bội Hạng Vũ, quy phục Lưu Bang, phát binh tấn công Sở, uy hiếp sườn bên trái của quân đội Sở. Hạng Vũ buộc phải chia bớt một phần binh lực để trấn giữ trên chiến trường Cửu Giang, như vậy đã giảm nhẹ áp lực cho chiến trường Huỳnh Dương - Thành Cao. Lưu Bang còn bổ sung quân đội của Anh Bố đến Thành Cao, tăng cường thêm lực lượng ở đó.


Quân đội của Bành Việt không ngừng tiến hành những trận đánh quấy nhiễu hậu phương của quân đội Sở, thậm chí có lần còn tấn công Hạ Phi áp sát kinh đô Bành Thành của nước Sở. Lần khác, quân đội của Bành Việt lại liên tiếp đánh hạ 17 tòa thành trì trên đất Lương, khiến cho hậu phương của quân đội Sở rối loạn, không lúc nào được yên thân, buộc Hạng Vũ phải mấy lần điều binh quay đầu về đối phó với quân đội của Bành Việt.


Lại nói đến chiến trường chính diện ở Huỳnh Dương - Thành Cao. Theo binh lực, nhất là giai đoạn ban đầu, Hạng Vũ mạnh hơn Lưu Bang rất nhiều. Từ tháng tư năm Hán vương thứ hai đến tháng mười năm Hán vương thứ tư, trong khoảng thời gian hơn hai năm, hai bên quân đội Hán - Sỏ luôn ở thế giằng co, không phân thắng bại. Trong quá trình đó, Lưu Bang dần dần từ yếu chuyển sang mạnh, lực lượng ngày một lớn mạnh, ngày càng nắm được quyền chủ động trên chiến trường. Ngược lại, quân đội nước Sở do chiến tuyến quá dài, phải chạy đông chạy tây, vô cùng mệt mỏi, lực lượng ngày càng yếu đi, rơi vào thế bị động. Đặc biệt là đến tháng mười năm Hán vương thứ tư, trong trận Tị Thủy, quân Hán đại thắng, toàn bộ quân Sở ở Thành Cao sụp đổ tan rã. Thế trận ở Huỳnh Dương - Thành Cao kết thúc, cuộc chiến tranh Sở - Hán bước vào giai đoạn mới.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 21 Tháng Tám, 2021, 02:02:16 pm
3. Ranh giới Hồng Câu

Hạng Vũ đang ở đất Lương thì nghe tin Thành Cao lại một lần nữa thất thủ, vội vàng mang quân về ứng cứu. Quân Hán dựa vào địa thế hiểm yếu, cố thủ không chịu ra ứng chiến. Quân Sở đã nhiều lần tấn công mạnh mẽ vào trận địa của quân Hán, nhưng quân Hán phòng thủ rất kiên cố, không sao phá vỡ được trận tuyến của quân Hán, ngược lại càng làm cho quân Sở mệt mỏi và vô cùng chán nản.


Quân đội hai bên Hán - Sở tạm thời hình thành thế trận đối đầu ở Quảng Vũ. Mấy tháng trôi qua, quân lương của quân Sở ngày càng ít đi, Hạng Vũ vô cùng sốt ruột, muốn nhanh chóng giao chiến với quân Hán. Trên chiến trường, Hạng Vũ công khai nói với Lưu Bang rằng:

"Ta muốn cùng ông chỉ hai người quyết một trận thắng bại, không hiểu ông có dám hay không?".

Lưu Bang cười mà trả lời rằng:

"Ta chỉ muốn đấu trí cùng ông, chứ không muốn đấu sức cùng ông!".

Để làm dao động tâm trí quân lính sở, đánh vào sĩ khí quân Sở, có một lần trước trận tuyến của hai bên quân đội, Lưu Bang cho người kể ra mười tội trạng lớn của Hạng Vũ. Hạng Vũ xấu hổ, nổi giận, bèn lén bắn một mũi tên, trúng vào ngực Lưu Bang. Lưu Bang sợ quân Hán biết được tin mình bị thương sẽ dao động tinh thần, lại cũng sợ quân Sở biết tin sẽ thừa cơ tấn công quân Hán, bèn cố nén đau, cố ý cúi người xuống xoa xoa vào chân và nói to lên rằng:

"Mẹ kiếp! Mũi tên bắn trúng vào ngón chân ta rồi!".

Thế là Lưu Bang đã khéo léo che đậy được vết thương ở ngực.

Vì vết thương rất nặng, Lưu Bang phải nằm liệt giường. Trương Lương mời Lưu Bang cố gắng đứng dậy để tham dự buổi kiểm duyệt đội ngũ, ổn định tinh thần của binh lính. Thế nhưng, cũng chính vì vậy mà vết thương của Lưu Bang nặng thêm, chưa dự hết buổi lễ duyệt binh, Lưu Bang đã được quân lính kỵ binh hộ tống quay về Thành Cao để dưỡng thương.


Hai bên quân đội cứ ở thế giằng co như vậy suốt mấy tháng trời, quân lương của quân Sở đã sắp cạn hết. Nếu tấn công thì không đủ lực lượng, nếu rút lui thì sẽ bị quân Hán truy đuổi, thật là "tiến thoái lưỡng nan". Đồng thời, quân đội của Bành Việt lại không ngừng tấn công vào hậu phương của quân Sở, nhiều lần cắt đứt đường tiếp tế của quân đội Sở. Hơn nữa, lại có tin là Hàn Tín sau khi phá Tề lại chuẩn bị tấn công quân Sở. Hạng Vũ cảm thấy tình thế quả thực là đã vô cùng nghiêm trọng, đành phải miễn cưỡng ký hòa ước với Lưu Bang.


Nội dung của hòa ước là: Lấy Hồng Câu (phía nam của Huỳnh Dương) làm ranh giới. Khu vực từ Hồng Câu trở về phía tây thuộc Hán, khu vực từ Hồng Câu trở về phía đông thuộc Sở, hai bên phân ranh giới để cai trị.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 21 Tháng Tám, 2021, 02:03:08 pm
4. Bá vương Hạng Vũ vĩnh biệt nàng Ngu Cơ

Sau hoà ước Hồng Câu, Hạng Vũ dẫn quân rút lui về phía đông. Lưu Bang cũng dự định lui quân về phía tây. Trương Lương và Trần Bình thì đều nhất trí cho rằng không nên "thả hổ vế rừng". Bọn họ nói với Lưu Bang rằng:

"Hiện nay Hán vương đã chiếm được quá nửa thiên hạ, rất nhiều chư hầu đều ủng hộ ngài. Còn Hạng Vũ thì quân mệt lương cạn, đây chính là cơ hội tốt để tiêu diệt Sở. Bây giờ nếu như để cho Hạng Vũ đi, không truy kích hắn thì chẳng khác nào nuôi hổ để hại chính mình!".


Lưu Bang nhận thấy Trương Lương và Trần Bình nói rất có lý, bèn quyết định lợi dụng trong khi Hạng Vũ rút quân về phía đông, lơ là việc cảnh giác, đột ngột phát động tấn công truy kích và hẹn với Hàn Tín, Bành Việt hội quân ở phía nam, cùng nhau tiêu diệt quân Sở.


Tháng mười hai năm Hán vương Lưu Bang thứ năm (nảm 202 trước Công nguyên), toàn bộ quân đội của Hạng Vũ bị quân Hán bao vây ở Cai Hạ (nay là phía đông nam huyện Lãnh Bích, An Huy, Trung Quốc). Quân Sở đã nhiều lần giao chiến với quân Hán, nhưng đều không giành được thắng lợi, binh lực bị tổn thất rất lớn. Để làm tan rã ý chí chiến đấu của quân Sở, Lưu Bang ra lệnh cho quân sĩ cùng nhau hát vang những bài ca của nước Sở. Quân Sở nghe thấy vậy, ai cũng nhớ nhà, chán ghét chiến tranh, tâm lí binh lính bị dao động rất lớn. Một đêm, Hạng Vũ đang uống rượu giải sầu trong trướng, bỗng nhiên nghe thấy từ tứ phía vọng lại bài ca của nước Sở, giật mình kinh hãi mà nói rằng:

"Quân Hán lẽ nào đã chiếm hết toàn bộ đất Sở rồi sao? Nếu không phải như vậy thì cớ sao trong quân đội Hán lại nhiều người Sở đến thế?".

Lúc đó, nàng Ngu Cơ - người đẹp được Hạng Vũ yêu quí nhất đang ngồi bên cạnh, con ngựa Ô Chuy đã cùng Hạng Vũ trải qua trăm trận (ngựa Ô Chuy là loại ngựa có màu lông trắng xanh) cũng đang đứng ở bên ngoài cửa lều trại của Hạng Vũ. Hạng Vũ tâm trạng vô cùng rối loạn và tuyệt vọng, bất giác chảy nước mắt, hát lên một bài ca đầy bi tráng:

   "Lực bạt sơn hề, khí cái thế,
   Thời bất lợi hề Chuy bất thệ.
   Chuy bất thệ hề, khả nại hà?
   Ngu hề, Ngu hề, nại nhược hà?".
   (Theo "Sử ký - Hạng Vũ bản kỷ")

Dịch thơ:
   Sức dời núi, khí ngất trời,
   Ngựa Chuy chùn lại bởi thời không may.
   Ngựa sao chùn lại thế này?   
   Nàng Ngu, biết tính sao đây hỡi nàng?

   Hạng Vũ hát đi hát lại bài ca đó mấy lượt. Nàng Ngu Cơ cũng hát họa lại rằng:
   "Hán binh dĩ lược địa,
   Tứ diện Sở ca thanh.
   Đại vương ý khí tận,
   Tiện thiếp hà liêu sinh".

Dịch thơ:
   Quân Hán chiếm hết đất rồi,
   Sở ca bốn phía giục người buông gươm.
   Đại vương nhụt chí bi thương,
   Hỏi rằng tiện thiếp còn vương vấn gì?
   Ngu Cơ hát xong bài hát đó bèn tự sát mà chết.


Hạng Vũ nhân lúc trời chưa sáng, cưỡi ngựa Ô Chuy, mang theo tám trăm kị binh còn sót lại, liều mạng đột phá vòng vây ở phía nam. Lúc trời sáng, quân Hán phát hiện ra Hạng Vũ đã trốn chạy bèn cử 5.000 quân kị binh truy đuổi. Hạng Vũ vội vàng mang quân vượt sông Hoài tháo chạy. Lúc này, số quân đi theo hạng Vũ chỉ còn có hơn 100 người. Bọn họ lại bị lạc đường, phải hỏi đường một người nông dân. Người nông dân cố ý chỉ sai đường khiến quân Hạng Vũ bị sa vào đầm lầy. Lúc này, quân Hán đã đuổi kịp đến nơi, bao vây chặt Hạng Vũ tại Ô Giang (nay là bờ sông Trường Giang, phía đông bắc huyện Hòa, An Huy, Trung Quốc). Bấy giờ, cùng đi với Hạng Vũ chỉ còn có 28 kị binh. Hạng Vũ tự liệu mình không thể trốn thoát được nhưng vẫn ngoan cường bày trận, quyết chiến một trận cuối cùng. Hạng Vũ chia kị binh ra làm bốn đội, quay về bốn phía, xông vào trận địa của quân Hán, giết chết một số tướng lĩnh và binh sĩ của quân Hán.


Hạng Vũ đi đến bên bờ sông Ô Giang, người lái đò ở Ô Giang mời Hạng Vũ nhanh chóng lên thuyền qua sông. Thế nhưng Hạng Vũ cảm thấy mình không còn mặt mũi nào gặp lại dân chúng ở Giang Đông nữa nên không muốn lên thuyền. Hạng Vũ bèn tặng lại ngựa Ô Chuy cho người lái đò, sau đó một mình bộ chiến cùng quân Hán và giết thêm được rất nhiều quân Hán nữa. Bản thân Hạng Vũ cũng bị thương nặng, cuối cùng tự sát mà chết.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 21 Tháng Tám, 2021, 02:03:41 pm
5. Kết luận


Trong trận chiến Thành Cao - Cai Hạ giữa hai nước Hán và Sở, lúc bắt đầu, binh lực và thanh thế của quân đội Hạng Vũ đều lớn hơn rất nhiều so với quân Hán của Lưu Bang, kết thúc thì lại là Sở thua, Hán thắng. Nguyên nhân đầu tiên là do Lưu Bang và Hạng Vũ đại diện cho hai chủ trương chính trị chia cắt và thống nhất khác nhau.


Trong cuộc chiến lật đổ vương triều nhà Tần, Lưu Bang và Hạng Vũ đều đã có cống hiến rất lớn. Thế nhưng, sau khi diệt Tần, Hạng Vũ lại đại diện cho lợi ích của tầng lớp quý tộc cũ, cắt đất phong tước cho rất nhiều chư hầu khác nhau, đi ngược lại nguyện vọng xây dựng một nhà nước thống nhất của nhân dân. Thêm vào đó, trong chiến tranh Hạng Vũ lại ra tay sát hại những quân lính thua trận và đã đầu hàng, cướp bóc của cải, hãm hiếp phụ nữ, khiến cho nhân dân rất oán hận. Ngược lại, Lưu Bang đại diện cho lợi ích của giai cấp địa chủ mới nổi lên lúc bây giờ, muốn xây dựng một nhà nước phong kiến thống nhất. Điều này phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, về khách quan mà nói, lại phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.


Về chính trị, Lưu Bang phế bỏ chế độ luật pháp hà khắc của vương triều nhà Tần, chú ý tranh thủ lòng dân, vì vậy có được sự ủng hộ ở mức độ nhất định của dân chúng. Nhân dân ủng hộ Lưu Bang, chống lại Hạng Vũ, đó chính là nguyên nhân căn bản khiến Lưu Bang thắng, Hạng Vũ thua.


Về mặt quân sự, Lưu Bang có cách xử lý đối với toàn cục của cuộc chiến một cách tương đối thỏa đáng, có thể duy trì được thế cân bằng ở phía chính diện, không ngừng quấy rối ở phía hậu phương và hai bên sườn của quân địch, lại tạo ra được sự phối hợp chiến lược nhịp nhàng, vì vậy nhanh chóng thay đổi được sự tương quan lực lượng giữa đôi bên, thực hiện bao vây chiến lược đối với quân Sở, đẩy quân Sở vào thế phải đối phó ở nhiều mặt, mệt mỏi đến mức mất hết sức chiến đấu. Trong khi Hạng Vũ đã thế suy, lực kiệt, tình thế trên chiến trường đã thay đổi căn bản thì Lưu Bang lập tức tập trung ưu thế binh lực, chuyển sang truy kích, tiêu diệt toàn bộ quân Sở, giành được thắng lợi cuối cùng.


Hạng Vũ thì ngược lại, mặc dù Hạng Vũ có lực lượng tương đối mạnh, lại có tài trong chỉ huy quân sự, nhưng về mặt chiến lược đã không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Hạng Vũ đã đánh giá quá cao lực lượng của mình, đánh giá quá thấp lực lượng của đối thủ; lại không biết chú ý vận dụng mưu trí, xuất kích khắp nơi, đi đến đâu cũng gây chiến nên không thoát khỏi thế bị động, khiến cho quân lính dưới quyền Hạng Vũ rơi vào tình trạng mệt mỏi vì phải dịch chuyển liên miên, sĩ khí tiêu hao, trong lòng chán ghét chiến tranh, cuối cùng rơi vào kết cục "tứ diện Sở ca, nhất bại đồ địa'' (bốn phía hát bài ca nước Sở, một trận là thất bại hoàn toàn).


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 22 Tháng Tám, 2021, 09:15:07 am
TRẬN CHIẾN CÔN DƯƠNG CỦA TRIỀU TÂN HÁN

   Văn Thúc năng độc thư,
   Triết tiết như nho sinh.
   Nhất chiến tồi đại địch,
   Đốn sử Hà Vũ bình.

   (Tạm dịch là: Văn Thúc chịu khó học hỏi, giảng giải mọi điều như một nhà Nho, chỉ một trận đã đánh lui được quân địch mạnh, bình định được đất Hà Vũ).

Đây là bài thơ do nhà tư tưởng tiến bộ của Trung Quốc cuối thời nhà Minh tên là Cố Viêm Vũ sáng tác để ca ngợi hoàng đế nhà Đông Hán: Quang Vũ đế Lưu Tú. Văn Thúc là tên tự của Lưu Tú, hai câu đầu của bài thơ ca ngợi Lưu Tú chịu khó chăm chỉ học hỏi; hai câu sau của bài thơ ca ngợi Lưu Tú đã quét sạch quân địch trong một trận chiến mang tính then chốt, bình định thiên hạ, thu lại giang sơn về cho nhà Hán. Câu thơ "chỉ một trận đã đánh lui được quân địch mạnh", chính là nói về trận chiến Côn Dương do quân khởi nghĩa nông dân cuối thời Tây Hán, lật đổ vương triều thống trị Tân Hán của Vương Mãng.


1. Tân quân áp sát, Lưu Tú phá vây

Vào cuối thời Vương Mãng, khắp nơi trên đất nước Trung Quốc nổ ra các cuộc khởi nghĩa nông dân. Trong số rất nhiều các cuộc khởi nghĩa đó, có hai cuộc khởi nghĩa nổi bật nhất, đó là quân Xích Mi vang tiếng Sơn Đông và quân Lục Lâm tung hoành Trung Nguyên. Trong lúc các cuộc khởi nghĩa phát triển một cách mạnh mẽ, chính quyền Vương Mãng nghiêng ngả sắp sụp đổ thì ba anh em ruột trong vương thất nhà Tây Hán cũ vốn bị Vương Mãng cướp ngôi là Lưu Huyền, Lưu Diễn và Lưu Tú cũng gia nhập vào đội ngũ của quân khởi nghĩa mang tên Lục Lâm quân.


Năm 23, Lục Lâm quân liên tiếp tấn công mười mấy vạn quân của Vương Mãng ở Kinh Châu, lại đánh bại một cánh quân khác của Vương Mãng do các đại tướng là Nghiêm Vưu, Trần Mậu chỉ huy. Tiếp đó, thủ lĩnh của Lục Lâm quân là Vương Khuông chỉ huy quân chủ lực Hán bao vây Uyển Thành (nay là Nam Dương, Hà Nam, Trung Quốc). Vương Phượng dẫn một cánh quân khởi nghĩa khác tấn công Côn Dương (nay là phía bắc huyện Diệp, Hà Nam, Trung Quốc), Định Lăng (nay là phía bắc Vũ Dương, Hà Nam, Trung Quốc) và Yển Thành (nay là Yển Thành, Hà Nam, Trung Quốc), gây uy hiếp rất lớn cho chính quyền của Vương Mãng.


Tại kinh thành Trường An lúc bấy giờ, Vương Mãng nghe tin Côn Dương thất thủ, Yển Thành bị bao vây, Nghiêm Vưu, Trần Mậu thua trận thì vô cùng lo lắng, quyết định dốc hết lực lượng đánh một trận sông còn với quân khởi nghĩa.


Tháng ba năm 23, Vương Mãng ra lệnh cho Đại Tư đồ Vương Tầm, Đại Tư không Vương Ấp điều động 42 vạn tinh binh ở các nơi, nói khống lên thành trăm vạn, tiến quân áp sát Uyển Thành, định một trận quét sạch quân Hán (Lục Lâm quân về sau gọi là quân Hán).


Sau khi tân quân tập trung ở Lạc Dương, cờ xí, xe cộ, quân lính kéo dài đến ngàn dặm, khí thế rất uy phong mãnh liệt. Vương Mãng lấy ra vài trăm người biết binh pháp trong số quân mới trưng tập từ các nơi về, tập trung lại thành Tham mưu trong quân đội của mình, đặc biệt còn sử dụng một người khổng lồ tên là Cự Vô Bá, có thân hình cao đến một trượng (khoảng 2,3 mét) làm nhiệm vụ phòng thủ trận tuyến, gọi là "Lũy uý".


Vương Mãng nghe nói Cự Vô Bá có thể sai khiến được mãnh thú, bèn mở cửa thả thú dữ trong vườn thú của hoàng cung như: hổ, báo, tê giác, voi... ra cho Cự Vô Bá chỉ huy, nhằm phô trương thanh thế cho tân quân, đe dọa quân Hán.


Tháng 5 năm 23, đại quân của Vương Mãng hợp binh với tàn quân của Nghiêm Vưu, Trần Mậu ở Dĩnh Xuyên (nay là huyện Vũ, Hà Nam, Trung Quốc), ào ào như nước lũ tiến quân về Côn Dương. Tướng lĩnh của tân quân đều khí thế ngất trời, tưởng rằng việc tiêu diệt quân Hán ở Côn Dương chỉ trong chớp mắt là có thể thực hiện được.


Lúc đó, quân Hán trấn thủ ở Côn Dương chỉ có khoảng tám, chín ngàn quân, không thể nào so sánh được với lực lượng của Vương Mãng. Làm thế nào để đối phó lại với một đội quân vừa đông đúc, vừa hung hãn như vậy được? Các tướng lĩnh của quân Hán đã có người chủ trương bỏ mặc Côn Dương để chờ viện binh. Riêng chỉ có Lưu Tú - một tướng lĩnh xuất thân từ trong hoàng tộc nhà Tây Hán chủ trương kiên quyết cố thủ Côn Dương, sau đó sẽ tìm cách phản công. Lưu Tú phân tích tình thế quân sự lúc đó như sau:

"Hiện tại chúng ta binh ít lương thiếu, quân địch có binh lực hùng mạnh, nếu như chúng ta có thể tập trung lực lượng kháng cự lại quân địch thì vẫn có thể chiến thắng được quân địch. Nếu như phân tán lực lượng ra, thế tất yếu sẽ bị quân địch chia cắt ra để tiêu diệt, lúc đó thì không ai có thể bảo toàn được lực lượng. Huống hồ, quân chủ lực của chúng ta còn chưa tấn công hạ được Uyển Thành, không thể nào đến cứu viện cho chúng ta được. Nếu như Côn Dương bị tân quân đánh bại, chỉ trong một ngày, chúng ta sẽ chết sạch".

(Theo "Hậu Hán thư - Quang Vũ đế kỷ")


Phương án phòng ngự địch của quân Hán vẫn chưa được quyết định thì Vương Ấp đã dẫn quân tiên phong của tân quân áp sát phía bắc thành Côn Dương, phần sau của quân đội tân quân cũng liên tục di chuyển đến, bằng mắt thường không thể nhìn hết được độ dài của hàng quân. Không lâu sau, Côn Dương đã bị tân quân bao vây chặt. Tình hình vô cùng khẩn cấp. Lưu Tú lại một lần nữa nói với mọi người rằng:

"Nhất định phải cố thủ Côn Dương, bởi vì điều này có quan hệ đến sự sống còn của quân khởi nghĩa".

Sau khi nghiên cứu kỹ, chủ soái Vương Phượng quyết định mình và Vương Thường sẽ ở lại cố thủ Côn Dương; cử Lưu Tú, Lý Dật... đột phá vòng vây đi đến Định Lăng, Yển Thành để điều động tập trung viện binh phối hợp trong ngoài cùng tấn công quân của Vương Mãng.


Một đêm mùa hạ, ánh trăng mờ nhạt, Lưu Tú, Lý Dật dẫn theo 11 tinh binh, cưỡi ngựa tốt, toàn thân mang giáp, tay cầm vũ khí, từ phía nam thành Côn Dương đột phá vòng vây xuất kích, xông qua muôn vàn lớp vòng vây trùng trùng điệp điệp của tân quân, mở một con đường máu, chạy như bay về phía đông nam.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 22 Tháng Tám, 2021, 09:16:01 am
2. Tân quân vây thành, quân Hán phòng ngự

Vương Tầm, Vương Ấp chỉ huy tân quân bao vây tấn công thành Côn Dương, ngay từ đầu đã vấp phải sự kháng cự kiên quyết của quân Hán. Đại tướng của tân quân là Nghiêm Vưu đã từng nếm nỗi khổ trong tác chiến với quân Hán, bèn đề nghị với Vương Tầm, Vương Ấp rằng:

"Thành Côn Dương tuy nhỏ nhưng rất kiên cố, không thể hạ được trong chốc lát. Trước mắt, Lưu Huyền đang bao vây tấn công Uyển Thành, đó mới là chiến trường chủ yếu, nếu như chúng ta rút quân chủ lực đến cứu Uyển Thành, Lưu Huyền nhất định sẽ phải bỏ chạy. Quân Hán ở Uyển Thành bị chúng ta đánh bại thì Côn Dương không phá cũng phải vỡ”.


Vương Tầm, Vương Ấp ỷ thế quân đông tướng nhiều, vốn không coi việc hạ quân Hán ở Côn Dương là một chuyện khó khăn, Vương Ấp nói với Nghiêm Vưu rằng:

"Ta trước kia bao vây quân phản loạn chống triều đình là Địch Nghĩa, chỉ có đánh bại chứ không bắt sống được chúng, khiến chúng sau khi bỏ chạy tự sát mà chết, việc này đã để người khác thường trách móc ta. Nay chúng ta thống lĩnh cả trăm vạn quân, nếu như một thành Côn Dương cỏn con này mà cũng không hạ được thì hỏi còn gì là uy phong nữa?".

Vương Ấp còn điên cuồng gào thét:

"Ta nhất định phải tắm máu thành Côn Dương, đạp lên xác địch mà tiến, cuối cùng sẽ mở tiệc ăn mừng thắng lợi, nghĩ mà sung sướng biết bao!”.

Vương Tầm, Vương Ấp từ chối lời đề nghị của Nghiêm Vưu, quyết định phải hạ thành Côn Dương trước, rồi mới tiến quân đến Uyển Thành. Tân quân toàn bộ có 42 vạn người, bao vây mấy chục vòng quanh thành Côn Dương nhỏ bé. Bọn họ dựng hàng trăm lều trại bên ngoài thành Côn Dương, cờ xí rợp trời, bụi đất mù mịt, tiếng trống khua và tiếng la hét vang xa đến mấy chục dặm.


Vương Tầm, Vương Ấp một mặt ra lệnh cho quân sĩ đào địa đạo để tấn công thành, một mặt dùng chiến xa tấn công mãnh liệt vào cửa thành. Quân Hán ngoan cường kháng cự, tân quân không có cách nào tấn công nổi.


Vương Ấp lại ra lệnh cho tân quân chồng chiến xa lên cao đến mười mấy trượng, áp sát tường thành, từ trên cao bắn đá và tên vào trong thành. Đá và tên của tân quân bắn vào thành như mưa, dân chúng trong thành không dám đi ra khỏi cửa, mỗi khi đi ra giếng lấy nước, dân chúng đều phải đội cánh cửa trên đầu để che đỡ đá và tên của tân quân. Vương Tầm, Vương Ấp lại càng đắc ý, cho rằng việc tấn công hạ thành Côn Dương chỉ còn là việc một sớm một chiều mà thôi, việc còn lại là ung dung ngồi chờ tin thắng trận, không cần để ý đến các việc khác.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 22 Tháng Tám, 2021, 09:20:42 am
3. Côn Dương đại chiến, chém Vương Tầm tại trận

Việc phòng thủ ở thành Côn Dương đã kéo dài được hơn 20 ngày, quân Hán người ít, lương thiếu, điều kiện tác chiến ngày càng gian khổ.

Một ngày thượng tuần tháng sáu, quân Hán ở trên thành nhìn ra phía ngoài thành, đột nhiên nhìn thấy ở phía nam có bụi đất bốc lên. Một lát sau, thấy có tiếng trống trận và tiếng la hét giết địch. Lúc sau nữa thì lính gác ở tiền tiêu báo về:

"Lưu Tú dẫn viện binh đến rồi!".

Tin tức nhanh chóng được truyền đi khắp thành, mọi người đều tràn đầy hy vọng, củng cố thêm niêm tin vào thắng lợi.

Bọn Lưu Tú mang theo vài ngàn quân chi viện từ Định Lăng, Yển Thành tiến đến bên ngoài thành Côn Dương. Khi đến một địa điểm cách thành Côn Dương khoảng bốn, năm dặm, triển khai bố trí trận địa, chuẩn bị tác chiến với quân địch. Lưu Tú quan sát thế trận của tân quân, quyết định dùng chiến thuật "tiên phát chế nhân" (chủ động tấn công trước để khống chế quân địch). Lưu Tú đích thân chỉ huy 1.000 quân tiên phong bao gồm lính bộ binh và kỵ binh, dũng mãnh xung phong vào tấn công quân địch.


Vương Tầm, Vương Ấp kiêu ngạo chủ quan khinh địch, cho rằng quân Hán ít, cho nên chỉ điều vài ngàn quân ra nghênh chiến. Quân Hán dũng cảm tấn công, chỉ trong chốc lát đã tiêu diệt được rất nhiều quân địch. Trải qua trận chiến đấu nhỏ đó, Lưu Tú đã phát hiện ra rằng sĩ khí của tân quân rất thấp, quân lính không muốn đánh nhau, thế là thừa thắng tấn công, lại chém chết hơn 1.000 tân quân nữa, giành được thắng lợi trong trận đầu.


Trước khi Lưu Tú trở về Côn Dương ba ngày, Vương Khuông đã chỉ huy quân chủ lực nhà Hán tấn công hạ được Uyển Thành, thế nhưng đến tận lúc đó, tin tức vẫn chưa được thông báo đến Côn Dương, Lưu Tú cũng chưa hề biết. Để cổ vũ sĩ khí quân Hán, làm tan rã ý chí chiến đấu của quân địch, Lưu Tú căn cứ vào dự đoán chủ quan của bản thân mình, tạo ra thông tin Uyển Thành đã bị hạ, sau đó dùng tên bắn vào trong thành Côn Dương. Lưu Tú còn cố ý viết một bức thư báo tin công hạ được Uyển Thành, rồi giả bộ làm thất lạc vào đội hình của tân quân để bọn họ tự truyền tin tức cho nhau biết. Khi tin tức này được truyền đi, quân dân trong thành Côn Dương được tiếp thêm một nguồn cổ vũ to lớn, sĩ khí dâng cao, quyết tâm trấn thủ thành càng mạnh mẽ. Bên ngoài thành, tân quân đã trải qua một tháng khổ chiến, chẳng tiến thêm được tấc nào, lại nghe tin Uyển Thành thất thủ thì vô cùng thất vọng, sĩ khí tiêu tan gần hết.


Lưu Tú thấy sĩ khí của tân quân ngày càng xuống thấp, cho rằng điều kiện để chiến thắng quân địch đã chín muồi, bèn tổ chức 3.000 tinh binh thành một đội cảm tử quân, vu hồi phía tây nam thành, bất ngờ vượt qua sông Côn Thủy, tấn công mạnh mẽ vào đại bản doanh của tân quân. Trong chốc lát, tiếng trống tiến quân, tiếng reo hò xung trận của quân Hán vang động trời đất.


Vương Tầm, Vương Ấp vẫn chủ quan khinh địch, thấy lực lượng của quân Hán ít, cho rằng không có gì đáng lo ngại nên không bố trí chiến đấu, chỉ thân chinh dẫn hơn một vạn quân ra nghênh chiến với Lưu Tú, đồng thời cũng ra lệnh cho số quân lính còn lại không được tự ý hành động.


Quân Hán do liên tiếp giành được thắng lợi, càng thêm gan dạ quyết chiến. Còn binh sĩ của tân quân đại bộ phận là nông dân bị ép đi lính, vô cùng căm hận Vương Mãng đã đẩy mình vào chốn gươm đao nguy hiểm nên đều không muốn đánh nhau. Tướng lĩnh của tân quân thì mượn cớ Vương Tầm, Vương Ấp đã ra lệnh "không được tự ý hành động" nên cứ điềm nhiên "án binh bất động". Vì vậy, khi quân Hán tấn công vào trận địa của tân quân không hề gặp phải sự kháng cự nào, cứ một địch trăm, như đi vào chốn không người vậy. Quân Hán càng đánh càng hăng, càng chiến đấu càng mạnh, khí thế không có gì cưỡng nổi. Chẳng tốn bao nhiêu công sức, quân Hán đã đánh bại hơn một vạn tân quân do Vương Tầm, Vương Ấp chỉ huy. Thừa thắng, Lưu Tú chỉ huy quân Hán truy kích, chém chết Vương Tầm tại trận.


Khi tân quân bắt đầu tan vỡ, Vương Phượng chỉ huy quân Hán trong thành Côn Dương thừa thế tấn công từ trong ra, kẹp tân quân vào giữa mà tiêu diệt.

Lúc này, tân quân thấy chủ soái của mình đã tử trận, sĩ khí gần như cạn kiệt, đã hoàn toàn mất hết tinh thần chiến đấu, đạp lên nhau mà tháo chạy, ầm ầm như núi lở, thương vong không biết bao nhiêu mà kể. Các con thú dữ như hổ, báo, voi, tê giác cũng bị sổ lồng tháo chạy hết. Đúng lúc đó, trời bỗng nhiên lặng gió, tối sầm lại, rồi tiếp đến là một trận cuồng phong nổi lên, sấm chớp nhằng nhịt, mưa như trút nước, con sông Trĩ Xuyên ở thành bắc bị vỡ bờ, nước tràn lên. Tiếng gió, tiếng sấm, tiếng mưa, tiếng nước réo và tiếng hò reo của quân Hán hòa quyện lại với nhau, dường như muốn dìm nghỉm đám binh sĩ của tân quân vốn đang hồn xiêu phách lạc. Trên thực tế, số tân quân bị nước dìm chết đã có tới hơn một vạn, xác chết chất đầy, làm tắc cả một khúc sông Trĩ Xuyên.


Thế là mấy vạn binh lính của Vương Mãng, số thì bị chết, số thì bị thương, số thì chạy trốn, đã hoàn toàn tan vỡ. Vương Ấp may mắn thoát chết, nhưng cũng một phen sợ đến mức hồn vía lên mây, vội vàng cùng với Nghiêm Vưu, Trần Mậu và một số ít quân lính cưỡi ngựa, đạp lên xác chết của tân quân mà chạy trốn, vượt qua sông Trĩ Xuyên, rút về Lạc Dương.


Sau khi Côn Dương đại thắng, quân Hán thừa thắng tấn công Lạc Dương và Trường An. Giữa tháng mười năm đó, Vương Mãng bị giết ở Trường An, toàn bộ tân triều bị lật đổ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 22 Tháng Tám, 2021, 09:21:15 am
4. Kết luận

Trận chiến Côn Dương là một cuộc chiến tranh chính nghĩa do quân khởi nghĩa Lục Lâm quân tiến hành chống lại vương triều tân quân tàn bạo, cũng là một ví dụ điển hình của một trận chiến lấy ít thắng nhiều trong lịch sử Trung Quốc cổ đại.


Nguyên nhân chiến thắng của quân Hán chủ yếu là xuất phát từ sự căm hận của nhân dân đối với tân triều tàn bạo của Vương Mãng, muốn lật đổ sự thống trị độc ác của hắn. Cả hai phía quân đều là nông dân, quân Hán dũng mãnh chiến đấu, lấy một địch mười, tân quân không muốn đánh nhau, khi lâm trận thì chỉ bỏ chạy, đó đều là biểu hiện phản đối chính quyền Vương Mãng của nông dân Trung Quốc thời đó. Vì vậy, có thể nói rằng, kết quả huy hoàng của trận chiến Côn Dương là của nông dân cả hai phía làm nên.


Về quân sự mà nói, quân Hán thắng, tân quân thua một mặt là do Vương Tầm, Vương Ấp không hiểu gì về binh pháp, mù quáng khinh địch, chủ quan dẫn đến lãnh đạo sai lầm. Mặt khác, đứng trước sự bao vây của cường địch, quân Hán đã tích cực phòng ngự, kiên quyết cố thủ để chờ viện binh, đó là một chủ trương đúng đắn. Trong chiến đấu, quân Hán đã dũng cảm chiến đấu, không sợ quân địch, phát huy tinh thần anh hùng cách mạng, lại có thểm sự lãnh đạo sáng suốt của những vị tướng lĩnh chỉ huy như Vương Phượng, Lưu Tú... cuối cùng đã giành được thắng lợi mang tính quyết định.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Tám, 2021, 10:03:33 am
TRẬN CHIẾN QUAN ĐỘ GIỮA HAI THẾ LỰC VIÊN - TÀO


Ngày nay, ở một nơi ngay cạnh bến sông cách huyện Trung Mâu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc khoảng năm dặm có một thôn nhỏ tên gọi Quan Độ Kiều. Chính tại đây, khoảng 1.700 năm trước là chiến trường của trận Quan Độ giữa Viên Thiệu và Tào Tháo. Hiện nay, ở gần thôn Quan Độ Kiều, tương truyền còn lưu giữ dấu vết của nơi tích trữ lương thảo của Tào Tháo gọi là "thảo trường" và nơi đóng quân của Viên Thiệu gọi là "Viên Thiệu cương". Không còn nghi ngờ gì nữa, những di tích cổ đó có tên chính từ trận chiến này.


1. Tào Tháo xây dựng phòng tuyến Quan Độ

Năm Kiến An thứ tư thời Hán Hiến đê (năm 199), Viên Thiệu dựa vào ưu thế kinh tế, quân sự lớn mạnh của mình, tập trung 10 vạn đại quân, một vạn chiến mã, chuẩn bị tấn công Hứa Đô (đô thành tạm thời của triều đình nhà Hán, cũng là đại bản doanh của Tào Tháo, nay là phía nam Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), định tiêu diệt toàn bộ binh lực của Tào Tháo. Tin tức đó truyền tới Hứa Đô, tất cả tướng dưới quyền của Tào Tháo đều vô cùng hoang mang lo sợ. Để đối phó với tình hình này, Tào Tháo triệu tập tất cả các mưu sĩ và tướng lĩnh dưới quyền lại, phân tích tình thế lúc đó cho mọi người thấy:

"Viên Thiệu là một kẻ có dã tâm rất lớn, nhưng mưu trí thiển cận, bề ngoài thì ghê gớm nhưng bên trong thì chẳng có chút tài cán gì; đối xử với người khác thì nghi ngờ, hà khắc, thiếu uy tín; quân sĩ đông nhưng chỉ huy lại không xứng tầm, tướng lĩnh kiêu ngạo mà chính lệnh bất nhất; đất đai rộng lớn, lương thực dồi dào, vừa hay có thể trở thành một món quà hậu hĩnh cho chúng ta”.

(Theo "Tam quốc chí - Ngụy chí - Vủ đế kỷ')


Mưu sĩ của Tào Tháo là Quách Gia, Tuần Vực đều tán thành cách nhìn nhận đánh giá của Tào Tháo. Trước đó, Quách Gia cũng đã có lần đánh giá về Viên Thiệu tương tự như Tào Tháo. Các tướng lĩnh nghe lời phân tích của Tào Tháo, cảm thấy vững dạ hơn nhiều, dũng khí và lòng tin cũng tăng thêm.


Tiếp đó, căn cứ vào sự phân tích như trên, tập đoàn chính trị của Tào Tháo tiến hành bố trí quân sự hết sức chặt chẽ, quyết định trước tiên phải tiêu diệt tất cả các thế lực cát cứ xung quanh, đề phòng bọn họ liên kết với Viên Thiệu, khiến cho tập đoàn của mình rơi vào thế bất lợi là bị kẹp giữa hai trận tuyến.


Tháng hai năm Kiến An thứ tư, Tào Tháo trước tiên cử Tào Nhân tấn công Xạ Khuyển - một yếu địa chiến lược ở phía bờ bắc Hoàng Hà (nay là phía đông bắc huyện Tiết Dương, Hà Nam, Trung Quốc), cắt đứt con đường ven sông tiên về phía tây của quân Viên Thiệu.


Tháng tám, Tào Tháo cử Tang Bá dẫn quân tiến vào Thanh Châu, ngăn chặn Viên Thiệu tấn công từ phía đông.

Đúng vào lúc Tào Tháo đang bố trí tác chiến với Viên Thiệu thì ở Hạ Phi (nay là phía đông huyện Hạ Bì, Giang Tô, Trung Quốc) - Lưu Bị vốn dựa vào Tào Tháo, nay quay lại hưởng ứng lời kêu gọi của Viên Thiệu, chống lại Tào Tháo. Tào Tháo bèn đích thân đem quân tiến về phía đông, nhanh chóng tấn công tiêu diệt Hạ Phi, bắt sống đại tướng của Lưu Bị là Quan Vũ.


Sau khi tiêu diệt quét sạch những thế lực cát cứ xung quanh, Tào Tháo bèn đích thân thống lĩnh toàn bộ quân chủ lực, đồn trú tại Quan Độ (nay là phía đông bắc của huyện Trung Mâu, Hà Nam, Trung Quốc), chuẩn bị nghênh chiến Viên Thiệu.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Tám, 2021, 10:04:46 am
2. Trận chiến Bạch Mã, Diên Tân

Khi Tào Tháo xuất quân tấn công Lưu Bị, Hứa Đô bỏ trống. Tin tức truyền đến Hà Bắc, mưu sĩ của Viên Thiệu là Điền Phong cho rằng, đây chính là cơ hội tốt để tiêu diệt đại bản doanh của Tào Tháo, cần phải xuất binh đến tập kích Hứa Đô.


Bộ hạ của Tào Tháo đã sớm cảnh báo với Tào Tháo, cần phải đề phòng Viên Thiệu nhân cơ hội Hứa Đô bị bỏ trống đến tập kích. Thế nhưng Tào Tháo lại cho rằng, Viên Thiệu vốn là người hay chần chừ do dự, gặp việc hay trì hoãn, tất sẽ không quyết đoán nhân cơ hội để tấn công Hứa Đô. Quả nhiên, không ngoài dự đoán của Tào Tháo, lấy cớ con trai bị bệnh, Viên Thiệu không tiếp thu ý kiến đúng đắn của Điền Phong. Điền Phong vô cùng tức giận, chọc mạnh gậy xuống đất mà than rằng:

"Thật đáng tiếc! Đáng tiếc! Đây là cơ hội hiếm có, thế mà lại lấy lý do con nhỏ bị ốm mà bỏ qua!".

Tháng giêng năm Kiến An thứ năm (năm 200), Lưu Bị chiến bại, lui quân về Nghiệp Thành (nay là huyện Lâm Chương, Hà Bắc, Trung Quốc), nương nhờ vào Viên Thiệu. Lúc đó, Viên Thiệu mới triệu tập hội nghị các tướng lĩnh để bàn cách tấn công đánh chiếm Hứa Đô. Điền Phong cho rằng, tình thế đã xảy ra những sư biến đổi lớn, bây giờ mà lại tấn công Hứa Đô thì bất lợi, vậy nên khuyên Viên Thiệu rằng:   
"Tào Tháo một khi đã đánh bại Lưu Bị, Hứa Đô sẽ không còn bị bỏ trống nữa. Huống hồ, Tào Tháo lại rất biết cách dụng binh, lại là người cơ trí linh hoạt, biến hóa khó lường. Quân Tào tuy ít, nhưng không thể khinh thường được. Từ nay về sau, chi bằng tính cách giữ gìn lâu dài. Ngài chiếm cứ một khoảng sơn hà rộng lớn, có đất đai hiểm trở, lại có rất đông dân chúng của bốn châu, nên lợi dụng hình thế có lợi mà kết giao với anh hùng hào kiệt ở bên ngoài, củng cố việc cai trị ở bên trong, tăng cường binh lực, sau đó tuyển chọn tinh binh, thừa cơ tập kích hai bên sườn của Tào Tháo, triển khai tác chiến lưu động, khiến cho quân của Tào Tháo phải chạy đông chạy tây, mệt mỏi chán nản; làm cho dân chúng dưới quyền Tào Tháo không được sống cuộc sống yên ổn, oán ghét Tào Tháo. Như vậy chỉ cần thời gian chưa đến hai năm là chúng ta có thể không đánh mà thắng. Nếu như không làm như vậy, mà vội vàng quyết chiến với Tào Tháo, ngộ nhỡ có thất bại, hối hận cũng không kịp!".

(Nguyên văn xem "Tam quốc chí - Viên Thiệu truyện")

Những phân tích xuất phát từ tình hình thực tế của Điền Phong là rất có lý, thế nhưng, vốn là người chỉ có dã tâm mà không có mưu lược, Viên Thiệu không những không để lọt một lời nào vào tai, mà ngược lại còn thêm ghét Điền Phong. Mặc dù như vậy, nhưng Điền Phong vẫn kiên nhẫn phân tích điều hơn lẽ thiệt cho Viên Thiệu nghe, khuyên Viên Thiệu những điều đúng đắn. Thế là trong cơn nóng giận, Viên Thiệu bèn ghép cho Điền Phong tội "làm rối lòng quân sĩ", hạ lệnh tống giam Điền Phong vào ngục tối. Về sau, trong trận chiến ở Quan Độ, Viên Thiệu quả nhiên thất bại. Sợ bị người đời chê cười, Viên Thiệu đã hạ lệnh giết chết Điền Phong.


Tháng hai năm Kiến An thứ năm, Viên Thiệu tập kết mười vạn quân tại Lê Dương bờ bắc sông Hoàng Hà (nay thuộc phía đông bắc huyện Tuấn, Hà Nam, Trung Quốc), chuẩn bị vượt sông sang phía nam, thẳng tiến đến Hứa Đô. Đồng thời, Viên Thiệu còn cử tướng Nhan Lương tấn công Bạch Mã (nay là phía đông bắc huyện Hoạt, Hà Nam, Trung Quốc).


Tháng tư, Tào Tháo từ Quan Độ dẫn quân lên phía bắc, giải cứu cho quân lính của mình đang bị quân của Viên Thiệu vây khốn ở Bạch Mã. Tào Tháo làm theo phương án "thanh đông kích tây" của viên mưu sĩ Tuân Du, trước tiên dẫn quân tiến đến Diên Tân (nay là phía bắc huyện Diên Tân, Hà Nam, Trung Quốc), giả bộ sẽ vượt sông tập kích vào hậu phương của Viên Thiệu, khiến cho Viên Thiệu phải chia quân để ứng cứu, sau đó, Tào Tháo lại dùng lính khinh kỵ quay lại tập kích Bạch Mã, tấn công vào chỗ mà Viên Thiệu không phòng bị.


Viên Thiệu quả nhiên trúng kế, chia một bộ phận binh lực quay về Diên Tân nghênh chiến. Tào Tháo lập tức dẫn quân khinh kỵ, dùng Trương Liêu, Quan Vũ làm tiên phong, tấn công Bạch Mã. Khi quân của Tào Tháo tiến đến cách Bạch Mã mười dặm, Nhan Lương mới phát hiện ra, hoảng hốt lên ngựa ứng chiến. Quan Vũ bất thần xông vào trận địa của quân Viên Thiệu, vung đao chém chết Nhan Lương. Thấy chủ soái bị giết, quân của Viên Thiệu lập tức bị rối loạn, kẻ bị giết, kẻ bị bắt làm tù binh, kẻ thì tháo chạy, chỉ trong chốc lát đã hoàn toàn tan vỡ. Sau khi trận chiến đấu kết thúc, Tào Tháo ra lệnh cho toàn bộ dân cư trong thành Bạch Mã phải dời khỏi đó đi theo quân đội, men sông Hoàng Hà rút lui về Quan Độ.


Viên Thiệu nghe nói Tào Tháo rút quân từ Bạch Mã, bèn đích thân chỉ huy đại quân truy kích, định ăn tươi nuốt sống quân của Tào Tháo. Mưu sĩ của Viên Thiệu là Thư Thụ khuyên ngăn Viên Thiệu rằng:

"Sự biến đổi thắng bại trong chiến tranh không thể không xem xét một cách kĩ lưỡng. Hiện nay, tốt nhất là hãy cứ đóng quân ở Diên Tân, chia một phần binh lực ra để tấn công Quan Độ. Nếu như không thể đánh thắng thì đại quân đóng ở Diên Tân sẽ tiếp tục tấn công cũng chưa phải là muộn. Nếu cứ mù quáng tiến công về phía nam, chẳng may thất bại thì rất dễ có nguy cơ mất trắng toàn bộ binh lực”.


Thế nhưng Viên Thiệu lại từ chối ý kiến rất xác đáng của Thư Thụ, ra lệnh cho toàn bộ quân chủ lực vượt sông truy kích.

Thư Thụ đã dự đoán trước được thất bại của Viên Thiệu nên khi đại quân vượt sông đã không cầm lòng mà than rằng:

"Hoàng Hà, ơi Hoàng Hà! Chúng ta còn có ngày qua sông quay trở về nữa hay không?".

Thế rồi, Thư Thụ lấy cớ mình bị bệnh, xin từ chức. Viên Thiệu không đồng ý, ngược lại còn rút bớt một phần binh lực trong cánh quân của Thư Thụ, giao cho Quách Đồ chỉ huy.

Đội quân tiên phong của Viên Thiệu nhanh chóng áp sát Diên Tân. Tào Tháo ra lệnh cho quân lính của mình đóng trại dựa vào sườn núi phía nam của Diên Tân, cho quân trinh sát đi điều tra, nắm vững từng động tĩnh của quân Viên Thiệu. Khi quân trinh sát phát hiện ra quân của Viên Thiệu, lập tức báo cáo lại với Tào Tháo:

"Đã có năm, sáu trăm quân kỵ của Viên Thiệu đuổi tới nơi!".

Một lát sau, lại có báo cáo rằng:

"Quân kỵ của Viên Thiệu lại tăng thêm, bộ binh đông đến mức không thể đếm nổi nữa".

Các tướng lĩnh dưới quyền Tào Tháo đều cho rằng quân địch quá đông, sợ khó có thể địch lại nổi, chủ trương rút về sau chiến lũy cố thủ. Tào Tháo một mặt ra lệnh không cần báo cáo tiếp nữa, một mặt ra lệnh cho toàn bộ lính kỵ binh của mình tháo yên cương, thả ngựa cho ra ăn cỏ, tất cả các loại xe lương thảo đều cho đỗ ở ven đường mà quân của Viên Thiệu sẽ đi qua. Các tướng lĩnh đều cảm thấy kỳ lạ trước những mệnh lệnh này, riêng chỉ có mưu sĩ Tuân Du là hiểu được ý định của Tào Tháo, nói với mọi người rằng:

"Làm như vậy chính là mồi nhử dụ quân địch mắc câu, làm sao còn có thể lui bước được nữa?".

Không lâu sau, tướng của Viên Thiệu là Văn Xú dẫn năm, sáu ngàn quân lần lượt tiến vào Diên Tân. Các tướng lĩnh của Tào Tháo đều cảm thấy tình hình rất khẩn cấp, năn nỉ Tào Tháo ra lệnh lên ngựa ứng chiến. Tào Tháo vô cùng bình tĩnh, nói với bọn họ rằng:

"Vẫn chưa đến lúc!".

Lại thêm một lát nữa, phần lớn hậu quân của quân đội Viên Thiệu đã kéo đến, thấy quân của Tào Tháo vứt đầy vật tư quân dụng ra đường, bèn tranh nhau vơ vét, đội ngũ lập tức bị rối loạn. Đến lúc đó, Tào Tháo ra lệnh cho kỵ binh lên ngựa, nhất tề xông trận, đánh cho quân của Viên Thiệu đại bại. Quân đội của Tào Tháo chém đầu đại tướng Văn Xú, bắt sống toàn bộ quân lính.


Sau khi giành được chiến thắng Diên Tân, Tào Tháo ung dung rút quân về Quan Độ, là vị trí phòng ngự rất có lợi nhằm thu hút quân địch, chuẩn bị quyết chiến.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Tám, 2021, 10:05:47 am
3. Tấn công và phòng ngự trước tiền tuyến Quan Độ

Trải qua hai trận Bạch Mã, Diên Tân, quân đội hai bên Viên - Tào tạm thời ở vào giai đoạn giằng co với nhau trên tiền tuyến. Viên Thiệu tuy liên tiếp vấp phải thất bại, nhưng vẫn giữ được ưu thế trên chiến trường, về nhân lực mà nói, quân đội của Viên Thiệu có gần mười vạn, Tào Tháo nhiều lắm cũng chỉ có ba đến bốn vạn quân. Xét về sức mạnh kinh tế ở hậu phương, Tào Tháo chiếm lĩnh hai châu: Duyễn Châu và Dự Châu, là những khu vực bị tàn phá nghiêm trọng nhất vào cuối thời nhà Hán, thua xa vùng Hà Bắc giàu có, nơi Viên Thiệu chiếm cứ. Mặc dù cùng năm tiến quân vào Hứa Đô, Tào Tháo đã bắt đầu cho quân đội triển khai trồng trọt, tích luỹ lương thực, nhưng dù sao cũng mới chỉ được vẻn vẹn bốn, năm năm nên dự trữ lương thực vẫn rất ít ỏi, không thể so được với lượng quân lương dồi dào phía quân đội Viên Thiệu được. Tuy vậy, Tào Tháo vốn là một nhà chính trị có tài năng xuất chúng và tầm nhìn xa trông rộng, vì vậy để thu phục lòng dân, Tào Tháo đã áp dụng một loạt các biện pháp chính trị tương đối tiến bộ. Ví dụ: ông ta đã từng đem toàn bộ vải lụa trưng thu được ở quận Dương An (thành cũ nay thuộc phía đông bắc huyện Xác Sơn, Hà Nam, Trung Quốc) trả lại cho dân. Lại một ví dụ khác, Tào Tháo ra lệnh cho toàn bộ quân lính của mình trong khi hành quân không được cho phép ngựa xéo vào ruộng lúa, kẻ nào vi phạm sẽ bị xử tội chết. Một lần, chính ngựa của Tào Tháo xéo vào ruộng lúa của dân, Tào Tháo kiên quyết bắt các tướng dưới quyền cứ chiểu theo lệnh mà xử tội. Cuối cùng, chính Tào Tháo đã tự rút kiếm, cắt một nắm tóc của mình ném xuống đất, biểu thị tự mình xử phạt mình. Những biện pháp mà Tào Tháo sử dụng về khách quan đã đem lại lợi ích cho dân chúng, vì vậy, ở một mức độ nhất định, ông ta có được sự ủng hộ của dân chúng. Đây cũng là một điều kiện khách quan rất có lợi cho việc giành chiến thắng trên mặt trận quân sự của Tào Tháo sau này.


Viên Thiệu trong thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh đã phải chịu những thất bại tương đối nặng nề, nhưng ông ta vẫn không rút ra được bài học từ những thất bại đó, vẫn ỷ thế quân đông lương nhiều, trang bị và vật chất dồi dào, kiên quyết tiến hành chiến tranh với Tào Tháo. Sau một thời gian nghỉ ngơi để chỉnh đốn lực lượng, đến tháng bảy năm đó, Viên Thiệu lại tập kết quân chủ lực của mình tại Dương Vũ - một địa điểm ở phía bắc của Quan Độ, chuẩn bị tiếp tục phát động tấn công. Lúc đó, Thư Thụ lại một lần nữa phân tích tình hình chiến tranh cho Viên Thiệu rằng:

"Phía ta tuy quân đông, nhưng không so được với sự dũng cảm và thiện chiến của quân đội Tào Tháo. Nhược điểm của quân Tào Tháo là quân lương ít, không có dự trữ vật chất dồi dào như quân ta. Quân Tào Tháo có lợi thế trong những cuộc chiến nhanh chóng, chúng ta có lợi thế trong cuộc chiến trường kỳ. Vì vậy, chúng ta nên đánh lâu dài nhằm tiêu hao lực lượng của quân Tào Tháo, cuối cùng giành được thắng lợi".


Viên Thiệu không chịu nghe những lời khuyên bảo ấy của Thư Thụ, vẫn cứ một mực hành động theo chủ ý của mình. Viên Thiệu ra lệnh cho quân chủ lực tiến đến trận tuyến Quan Độ, dựa vào bãi cát để xây dựng doanh lũy kéo dài đến mấy chục dặm từ đông sang tây. Quân của Tào Tháo cũng chia nhau đóng trại, đối kháng với quân của Viên Thiệu.


Tháng chín, Tào Tháo phát động tấn công quân của Viên Thiệu, nhưng không giành được thắng lợi. Tào Tháo bèn thay đổi phương châm, dùng thành cao hào sâu, cố thủ trận địa, đợi thời cơ có lợi sẽ lại tấn công Viên Thiệu một lần nữa.


Viên Thiệu nóng lòng muốn đánh nhau, thấy quân Tào Tháo thu về cố thủ trong doanh trại, bèn ra lệnh cho quân sĩ đắp rất nhiều núi đất bên ngoài doanh trại của quân Tào, trên các núi đất cho xây dựng lầu cao để quân sĩ từ trên đó bắn tên vào trong thành lũy của quân Tào. Khi hiệu lệnh vừa phát ra, hàng vạn mũi tên của quân Viên Thiệu từ trên lầu cao bắn như mưa vào doanh trại của quân Tào. Quân sĩ của Tào Tháo chỉ có cách dùng mộc chẹ thân, trong lòng rất đỗi kinh sợ.


Để đối phó với Viên Thiệu, Tào Tháo cho gọi thợ mộc đến, ngày đêm chế tạo ra một loại xe bắn đá, đặt ở bên trong thành lũy, đối diện với núi đất của Viên Thiệu. Đợi đến khi quân lính của Viên Thiệu bắn tên, các xe bắn đá của quân Tào Tháo nhất tề bắn đá sang phía quân của Viên Thiệu, đá bay như mưa. Các lầu bắn tên của phía Viên Thiệu bị đá bắn hỏng, đổ nát hết, các cung thủ bị thương vong cũng khá nhiều. Khi các xe bắn đá khai khẩu, phát ra tiếng động như sấm nổ, vì vậy mọi người gọi nó là "xe sấm sét".


Thấy dùng lầu bắn tên không thành công, Viên Thiệu bèn ra lệnh cho quân lính bí mật đào địa đạo, thông thẳng sang thành lũy của quân Tào. Tào Tháo bèn ra lệnh cho quân lính đào những hào sâu trong tường thành để tiến hành phòng ngự. Khi địa đạo của quân Viên Thiệu đào đến bên chân tường thành lũy của quân Tào, quả nhiên là không thể tiếp tục tiến sâu được vào bên trong nữa, ngược lại, tốn phí rất nhiều công sức vô ích.


Cứ như vậy, hai bên ở trong thế giằng co nhau được gần ba tháng.

Phía Tào Tháo, quân ít lương ít, tình thế rất khó khăn, chiến tranh nếu như cứ kéo dài mãi như vậy sẽ rất bất lợi cho quân đội của Tào Tháo. Đứng trước tình thế đó, bản thân Tào Tháo cũng có những lúc dao động, định lui về cố thủ ở Hứa Đô. Mưu sĩ của Tào Tháo là Tuân Úc bèn gửi thư, phân tích tình hình cho Tào Tháo rằng:

"Trộm nghĩ, Viên Thiệu đem đại quân tập hợp cả ở Quan Độ quyết một trận được thua, minh công lấy yếu địch mạnh, nếu không chống nổi, tất sẽ bị đè bẹp ngay. Lúc này chính là cơ hội để dùng mưu trí. Quân Thiệu tuy nhiều, nhưng không biết sử dụng binh lực, minh công là bậc thần vũ minh triết, xoay xở thế nào mà chẳng được. Nay quân lương dù ít, cũng chưa đến nỗi nguy khốn như lúc Sở Hán đánh nhau ở Huỳnh Dương hay Thành Cao. Minh công vạch đất cố giữ, chẹn cuống họng kẻ địch, không cho tiến, tình thế sẽ thay đổi, xin minh công xem xét kĩ mà định liệu".

(Theo "Tam quốc chí")

Tào Tháo tiếp thu ý kiến của Tuân Úc, quyết định sẽ chiến đấu với Viên Thiệu đến cùng. Một mặt, Tào Tháo ra lệnh cho quân lính tiếp tục cố thủ trận địa ở Quan Độ, mặt khác chú ý quan sát động thái từ phía quân địch, tìm thời cơ có lợi tiến hành trận quyết chiến cuối cùng.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Tám, 2021, 10:07:26 am
4. Tào Tháo đốt lương, Viên Thiệu thảm bại

Trong khi hai bên đang ở thế giằng co, có thể liên tục cung cấp quân lương cho quân đội hay không là một trong những nguyên nhân trực tiếp liên quan đến thắng bại của cuộc chiến. Một hôm, lính trinh sát của Tào Tháo thám thính biết được rằng, có vài ngàn chiếc xe chở lương của quân đội Viên Thiệu đang tiến về phía Quan Độ. Viên quan áp tải lương thực của phía quân đội Viên Thiệu là Hàn Mãnh - một viên tướng hữu dũng vô mưu, khi đánh trận luôn chủ quan khinh địch. Nghe được tin đó, Tuân Du bèn đề nghị Tào Tháo cho quân đi cướp lương của Viên Thiệu.


Tào Tháo cử bộ tướng của mình là Từ Hoảng và Sử Hoán dẫn quân đi, giữa đường gặp đoàn xe tải lương của Hàn Mãnh bèn đánh cho tan tác và đốt cháy toàn bộ đoàn xe tải lương.

Đến tháng mười, Viên Thiệu lại sai người vận chuyển từ Hà Bắc hơn một vạn xe quân lương, đến tích trữ tại Cố Thị, Ô Sào, cách đại bản doanh của Viên Thiệu 40 dặm về phía bắc (nay thuộc huyện Diên Tân, Hà Nam, Trung Quốc). Viên Thiệu còn sai đại tướng Thuần Vu Quỳnh mang một vạn quân đến đồn trú để canh giữ lương thực. Do trước đó đoàn xe chở quân lương đã bị quân của Tào Tháo đốt cháy nên Thư Thụ đã nhắc nhở Viên Thiệu cần phải đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ quân lương, phải cử thêm một viên võ tướng khác mang quân đóng gần địa điểm của Thuần Vu Quỳnh để giữ lương, đề phòng Tào Tháo mang quân tập kích. Viên Thiệu lại một lần nữa không nghe theo lời của Thư Thụ.


Một mưu sĩ khác của Viên Thiệu là Hứa Du đã nhận định rằng, phía Tào Tháo binh lực ít, quân chủ lực lại đã đều tập trung tại Quan Độ, hậu phương sẽ bị bỏ trống, Hứa Du kiến nghị Viên Thiệu nên cho một cánh quân khinh kỵ binh, nhân lúc trời tối đến tập kích Hứa Đô. Viên Thiệu chủ quan võ đoán, lại hay tính toán đa nghi nên không nghe theo ý kiến của Hứa Du, ngược lại còn nói rằng:

"Không cần, ta nhất định bắt sống được Tào Tháo ngay tại đây!".

Hứa Du thấy Viên Thiệu kiêu ngạo khinh địch như vậy, cuối cùng chắc chắn sẽ bị thất bại trong tay Tào Tháo, vì vậy tư tưởng bắt đầu dao động. Cũng đúng lúc đó, trong gia tộc của Hứa Du sống tại Nghiệp Thành có người phạm pháp, bị bắt giam xử tội. Trong cơn tức giận, Hứa Du bèn phản bội Viên Thiệu, quay sang đầu quân cho Tào Tháo.


Tào Tháo và Hứa Du vốn là chỗ quen biết cũ, nay được tin Hứa Du quay sang cộng tác với mình thì vô cùng phấn khởi, chân không kịp xỏ giày, vội chạy ra cổng doanh trại nghênh đón bạn cũ. Tào Tháo vỗ tay nói:

"Tử Viễn (tên tự của Hứa Du) đường sá xa xôi đến đây thì đại sự của ta nhất định có thể thành công rồi!".

Hứa Du vừa ngồi xuống, đã hỏi ngay Tào Tháo:

"Thế lực của quân đội Viên Thiệu rất mạnh, ngài định đối phó lại như thế nào? Trước mắt còn bao nhiêu quân lương?".

Tào Tháo đáp: "Còn có thể kéo dài được một năm!".

Hứa Du biết Tào Tháo nói dối, bèn nói:

"Không thể còn nhiều như thế được, hãy nói lại đi xem nào”.

Tào Tháo lại đáp: "Còn có thể kéo dài được nửa năm!".

Hứa Du biết Tào Tháo vẫn nói dối, bèn nói:

"Ngài có định đánh bại Viên Thiệu không? Tại sao lại không nói sự thật?".

Tào Tháo biết không thể giấu được Hứa Du, bèn cười, nói:

"Vừa rồi đều chỉ là nói đùa mà thôi, thực ra, lương chỉ còn đủ ăn một tháng, Tử Viễn xem có cách nào giải quyết được không?".

Hứa Du biết Tào Tháo đã nói thật, bèn đem toàn bộ tình hình tích trữ quân lương của Viên Thiệu ở Ô Sào nói hết cho Tào Tháo biết, đồng thời bày cách cho Tào Tháo cử quân khinh kỵ binh đến tập kích kho quân lương của Viên Thiệu, đốt sạch kho tàng dự trữ lương thảo. Làm như vậy thì chỉ trong vòng ba ngày là có thể đánh bại được Viên Thiệu.


Kế sách của Hứa Du khiến cho Tào Tháo vô cùng vui mừng. Đêm hôm đó, bầu trời đầy sao, Tào Tháo chỉ để lại Tào Hồng và Tuân Du ở lại phòng thủ đại doanh của mình ở Quan Độ, đích thân dẫn 5.000 bộ binh và kỵ binh, mang cờ của Viên Thiệu, quân lính miệng ngậm que gỗ (ngày xưa đi hành quân đêm hoặc tập kích doanh trại địch, để tránh nói chuyện hoặc phát ra tiếng động thì miệng mỗi người ngậm một que gỗ, hai đầu buộc dây choàng về phía sau cổ), tay cầm một thanh củi khô, toàn bộ vó ngựa và mõm ngựa được bọc giẻ, lặng lẽ theo đường nhỏ tiến về Ô Sào. Trên đường đi, quân của Tào Tháo mấy lần gặp quân của Viên Thiệu đều giả danh là quân đến chi viện cho Ô Sào, cứ như vậy vượt qua phòng tuyến của quân Viên Thiệu tiến đến Ô Sào mà không gặp phải trở ngại gì. Trời chưa sáng thì quân của Tào Tháo đã có mặt tại Ô Sào, bao vây chặt căn cứ quân lương của Viên Thiệu. Tào Tháo ra lệnh cho quân sĩ dùng củi khô mang theo nổi lửa đốt kho quân lương của Viên Thiệu. Trong chớp mắt, bốn phía xung quanh trở thành biển lửa, lửa cháy rực trời đất, quân lính của Viên Thiệu đang còn say sưa trong giấc ngủ, bị ánh lửa đánh thức, vô cùng hoảng hốt, lúng túng, không biết đối phó ra sao cả. Tướng giữ kho lương Thuần Vu Quỳnh vội vàng ra ứng chiến, nhưng không chống cự lại được với sức tấn công dũng mãnh của quân Tào Tháo, đành phải rút về cố thủ ở cửa doanh trại.


Viên Thiệu cũng rất nhanh biết được ý định tập kích Ô Sào của Tào Tháo, nhưng vẫn chủ quan nói với con trai cả của mình là Viên Đàm rằng:

"Cho dù quân của Tào Tháo có đánh bại Thuần Vu Quỳnh, nhưng chỉ cần chúng ta tấn công đại doanh của hắn thì Tào Tháo sẽ không còn chỗ mà về nữa”.

Thế là Viên Thiệu bèn ra lệnh cho đại tướng Trương Hợp và Cao Lãm mang quân đi đánh đại doanh của Tào Tháo ở Quan Độ. Trương Hợp cho rằng, Tào Tháo đã đích thân mang tinh binh đi đánh Ô Sào thì sợ rằng Thuần Vu Quỳnh không thể địch lại nổi, nếu như mất Ô Sào thì việc lớn coi như đã thất bại hoàn toàn. Vì thế Trương Hợp xin Viên Thiệu điều quân đi cứu Ô Sào trước, nhưng Viên Thiệu lại nghe theo lời Quách Đồ, vẫn kiên quyết cử quân chủ lực đi đánh doanh trại của Tào Tháo ở Quan Độ, còn chỉ phái một cánh quân kỵ nhỏ đi cứu Ô Sào. Doanh trại thành lũy của Tào Tháo ở Quan Độ rất kiên cố, binh sĩ gan dạ cố thủ, quân của Viên Thiệu đánh mãi mà không hạ được, càng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho Tào Tháo đánh Ô Sào.


Lại nói đến tình hình ở Ô Sào. Khi quân tăng viện của Viên Thiệu tiến đến Ô Sào, lính của Tào Tháo cũng tỏ vẻ hoang mang, đến báo với Tào Tháo rằng:

"Kỵ binh của quân địch sắp tới nơi rồi, chúng ta phải mau chóng chia một bộ phận ra để chống cự lại!".

Tào Tháo nghiêm mặt ra lệnh cho bộ hạ của mình rằng:

"Đợi đến khi quân địch đến ngay sau lưng ta mới được báo cáo!".

Dưới sự chỉ huy kiên quyết, quả đoán của Tào Tháo, binh sĩ ai cũng liều mạng quyết chiến, thế mạnh như chẻ tre, giết chết chủ tướng Thuần Vu Quỳnh, đốt cháy hoàn toàn hơn một vạn xe quân lương của Viên Thiệu cất giữ ở Ô Sào.


Tin tức Thuần Vu Quỳnh thua trận bị giết chết đã truyền về đến tiền tuyến Quan Độ, Trương Hợp thấy đại thế đã mất, lại nghe nói Quách Đồ vu cáo nói xấu mình trước mặt Viên Thiệu thì vừa tức giận lại vừa sợ hãi, bèn cùng Cao Lãm đốt hết toàn bộ khí giới tấn công thành, đến đầu hàng Tào Tháo.


Quân lính của Viên Thiệu trong lòng vốn đã sẵn có dao động, thấy chủ tướng đầu hàng liền lập tức rối loạn, tự tan vỡ. Tào Tháo thừa thế phản kích, quân của Viên Thiệu đại bại, hầu hết quân chủ lực của Viên Thiệu đều bị tiêu diệt. Viên Thiệu và Viên Đàm chỉ còn có 800 thân binh hộ vệ, kéo nhau chạy về phía bắc Hoàng Hà.


Sau thất bại thảm hại lần này, Viên Thiệu không thể khôi phục lại được lực lượng nữa, cuối cùng do ưu phiền mà mang bệnh. Tháng 5 năm 202, Viên Thiệu phát bệnh chết. Các con trai của Viên Thiệu do tranh đoạt ngôi vị, tàn sát lẫn nhau, cuối cùng đều bị Tào Tháo đánh bại. Chế độ thống trị tàn bạo của cha con nhà họ Viên đã kết thúc trong thảm bại, cục diện thống nhất ở miền bắc Trung Quốc đã được hình thành bởi tập đoàn chính trị của Tào Tháo.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Tám, 2021, 10:07:50 am
5. Kết luận

Trận chiến Quan Độ là một cuộc chiến nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc thời cổ đại với phương châm "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh".

Sở dĩ Tào Tháo có thể giành được thắng lợi là do đã thực hiện nguyên tắc tác chiến một cách chính xác và linh hoạt. Ví dụ: Trước tiên quét sạch các thế lực cát cứ tương đối yếu ở xung quanh mình, sau đó tập trung lực lượng đối phó với kẻ địch mạnh ở phía chính diện, dùng chiến lược trước nhượng bộ, sau khống chế, dương đông kích tây, bất ngờ giành thắng lợi, đốt phá lương thảo, làm dao động tư tưởng binh lính trong quân đội địch... để giành được thắng lợi cuối cùng.


Nguyên nhân thất bại của quân đội Viên Thiệu cũng đã được thể hiện một cách khá rõ, đó là do chế độ chính trị hủ bại, thói kiêu ngạo, chủ quan khinh địch, chỉ biết tấn công một cách cứng nhắc, không biết dùng kế sách, mưu mẹo...


Tào Tháo là người luôn biết khiêm tốn tiếp thu ý kiến của cấp dưới, Viên Thiệu thì chỉ một mực làm theo ý kiến cá nhân mình, đó cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến cho Tào Tháo thắng lợi, Viên Thiệu thất bại.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 28 Tháng Tám, 2021, 10:01:14 am
TRẬN CHIẾN XÍCH BÍCH GIỮA HAI THẾ LỰC NGÔ - NGỤY


Trong bài từ "Niệm Nô kiều” của nhà văn nổi tiếng Trung Quốc thời Tống là Tô Thức có bày tỏ nỗi lòng của nhà văn hoài niệm về trận Xích Bích, viết rằng:

"Trận Xích Bích, Chu Du và Gia Cát Lượng ung dung nói cười, đốt sạch thiến thuyền của Tào Tháo thành tro bụi".

Tất nhiên, trong tác phẩm văn học không khỏi có sự khoa trương, nhưng nó cũng đã phản ánh một cách chân thực những tình huống có thật trong trận chiến Xích Bích.

Xích Bích là một chiến dịch quân sự nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc thời cổ đại, câu chuyện về trận chiến Xích Bích được lưu truyền một cách rộng rãi, trở thành đề tài của các nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch trong lịch sử Trung Quốc bao nhiêu đời nay. Đã từng có rất nhiều bài thơ, bài từ, vở kịch nổi tiếng của Trung Quốc viết về đề tài này. Bộ tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng Trung Quốc "Tam quốc diễn nghĩa" có 124 hồi, cũng dành đến 8 hồi để viết về trận chiến Xích Bích.


1. Tranh đoạt Giang Lăng

Sau trận chiến ở Quan Độ, Tào Tháo thống nhất miền Bắc, trong quá trình chiến tranh để tranh giành Trung Nguyên, Tào Tháo đã thực hiện một số chính sách như: củng cố việc đóng quân làm kinh tế của quân đội, tu sửa hệ thống thủy lợi, đánh đổ các thế lực cường hào, giảm nhẹ tô thuế cho nhân dân, tuyển dụng nhân tài cho các chức quan địa phương, chỉnh đốn và cải biến quân đội... Chính nhờ vậy, cả khu vực miền Bắc Trung Quốc sau khi bị chiến tranh tàn phá đã được khôi phục lại ở một mức độ nhất định nào đó, thế lực của Tào Tháo theo đó cũng lớn mạnh dần lên, hùng tâm của Tào Tháo lại càng thêm lớn. Tào Tháo dự định tiến quân về phương Nam, tiêu diệt thế lực của Lưu Biểu tại Kinh Châu (nay là dải đất thuộc hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc của Trung Quốc) và Tôn Quyền ở Giang Đông (nay là các tỉnh thuộc hạ du sông Trường Giang của Trung Quốc) nhằm đạt mục đích thống nhất toàn quốc của mình.


Tháng 7 năm Kiến An thứ 13 (năm 208), Tào Tháo thống lĩnh đại quân tấn công Kinh Châu, khi đi đến nửa đường, được tin Lưu Biểu bị bệnh chết, con trai thứ hai của Lưu Biểu là Lưu Tông kế vị cha lên làm đầu mục ở Kinh Châu.


Tháng 9, quân của Tào Tháo ầm ầm kéo đến Tân Dã (nay là huyện Tân Dã, Hà Nam, Trung Quốc). Lưu Tông khiếp sợ, phản bội lại người anh em của Lưu Biểu là Lưu Bị, ngầm sai người đến gặp Tào Tháo xin đầu hàng.


Lúc đó, Lưu Bị đang đóng quân ở Phàn Thành, (nay thuộc vùng đất phía bắc huyện Tương Dương, Hồ Bắc, Trung Quốc) nên không hề biết tin Lưu Tông đã phản bội, đầu hàng Tào Tháo. Khi biết được tình hình đó thì đã muộn, không kịp tổ chức lực lượng chống lại quân của Tào Tháo nữa. Lưu Bị chỉ đành vội vàng rút quân về Giang Lăng (nay là huyện Giang Lăng, Hồ Bắc, Trung Quốc). Trên đường rút quân, Lưu Bị còn thu nạp thêm không ít quân lính và dân chúng dưới quyền Lưu Biểu cũ, vì vậy, tốc độ rút quân lại càng chậm chạp hơn. Gia Cát Lượng thấy tình hình khẩn cấp, bèn quyết định cử đại tướng quân Quan Vũ thống lĩnh một vạn quân thủy đi theo đường thủy rút về Giang Lăng trước, đợi ở đó để hội quân.


Giang Lăng là một trọng điểm quân sự của Kinh Châu, là căn cứ địa cung cấp binh lực và vật lực trọng yếu của quân đội. Tào Tháo sợ Giang Lăng bị Lưu Bị chiếm cứ nên đích thân thống lĩnh 5.000 kỵ binh tinh nhuệ, không kể ngày đêm gấp rút truy đuổi theo Lưu Bị. Quân của Tào Tháo trong một ngày một đêm đã tiến được hơn 300 dặm, cuối cùng đuổi kịp quân của Lưu Bị tại Trường Bản - một địa điểm ở phía đông bắc Đương Dương (nay thuộc phía đông huyện Đương Dương, Hồ Bắc, Trung Quốc).


Lưu Bị đành phải bỏ lại toàn bộ binh lính, dân chúng và tất cả quân lương, cùng với Gia Cát Lượng, Trương Phi, Triệu Vân và vài chục thân binh tách sang một hướng khác, rút chạy về hướng đông bắc theo dòng sông Hán Thủy. Trên đường đi, quân Tào thu nhặt được rất đông người ngựa, của cải và chiếm được Giang Lăng mà gần như chẳng phải hao phí một chút sức lực nào cả. Lưu Bị và bộ hạ rút về bến Hán Tân, hội quân với quân thủy do Quan Vũ chỉ huy cùng vượt sông Hán Thủy. Con trai cả của Lưu Biểu và Thái thú Giang Hạ là Lưu Kỳ cũng mang quân đến tiếp ứng. Thế là các cánh quân quy tụ lại với nhau, cùng kéo về Hạ Khẩu (nay là Hán Khẩu, Hồ Bắc, Trung Quốc). Sau đó, lại lui tiếp về Phàn Khẩu, bờ nam của Trường Giang (nay là phía tây bắc huyện Ngạc Thành, Hồ Bắc, Trung Quốc) và đóng quân tại đó.


Sau khi chiếm lĩnh Giang Lăng, Tào Tháo dự định xuôi dòng về phía đông, thừa thế đánh bại Tôn Quyền. Bộ hạ của Tào Tháo là Giả Hử nói với Tào Tháo rằng: cần phải lợi dụng tài nguyên phong phú của Kinh Châu, nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại quân đội, vỗ về dân chúng, ổn định nội bộ đã, sau đó mới ép Tôn Quyền phải đầu hàng.


Xuất phát tình hình thực tế lúc đó, những kiến nghị của Giả Hử là rất hợp tình hợp lý, nhưng Tào Tháo do chiếm được Giang Lăng một cách quá dễ dàng, lại thu phục được toàn bộ bộ hạ của Lưu Biểu, có được một số lượng lớn chiến lợi phẩm là quân dụng, nên sinh ra tư tưởng chủ quan khinh địch. Tào Tháo chủ quan cho rằng, dựa vào ưu thế chính trị và sức mạnh quân sự của mình lúc bấy giờ, thì có thể ép Tôn Quyền phải đầu hàng, vì vậy Tào Tháo đã không đếm xỉa đến kiến nghị đúng đắn của Giả Hử, quyết định thừa thắng thôn tính Giang Đông.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 28 Tháng Tám, 2021, 10:02:06 am
2. Chuẩn bị liên kết

Trước khi Tào Tháo tiến hành tấn công Kinh Châu, Tôn Quyền đã có ý định cướp đoạt đất Kinh Châu để chống lại Tào Tháo. Sau khi Lưu Biểu chết, mưu sĩ quan trọng của Tôn Quyền là Lỗ Túc đã đề nghị với Tôn Quyền để mình lấy danh nghĩa đến viếng Lưu Biểu, nhân cơ hội đó thăm dò tình hình và thừa cơ thuyết phục Lưu Bị kết thành liên minh Tôn - Lưu, cùng nhau chống lại Tào Tháo. Nào ngờ, khi Lỗ Túc vừa mới đến địa giới Giang Lăng đã nghe tin Lưu Tông đầu hàng Tào Tháo, còn Lưu Bị đang từ Phàn Thành rút lui về phía nam. Lỗ Túc đã gặp gỡ với Lưu Bị và Gia Cát Lượng tại dốc Trường Bản (Đương Dương), cùng nhau thảo luận về tình thế đương thời và cùng nhất trí nhận định rằng: hai nhà Tôn - Lưu chỉ có liên minh với nhau, cùng hợp lực chống lại Tào Tháo thì mới tránh được thảm họa từng nhà bị diệt vong. Lưu Bị quyết định phái Gia Cát Lượng cùng đi với Lỗ Túc đến Sài Tang (nay thuộc phía tây nam thành phô Cửu Giang, Giang Tây, Trung Quốc) để gặp Tôn Quyền bàn bạc kế hoạch liên minh chống lại Tào Tháo.


Gia Cát Lượng là một chính trị gia đại tài của Trung Quốc thời Tam quốc. Khi gặp Tôn Quyền, Gia Cát Lượng trước tiên nhằm vào tâm lý do dự không quyết đoán của Tôn Quyền, tiến hành phân tích một cách thấu đáo tình thế đương thời cho Tôn Quyền thấy. Gia Cát Lượng nói:

"Toàn quốc đại loạn, tướng quân khởi binh ở Giang Đông, Lưu Dự Châu (chỉ Lưu Bị, vì Lưu Bị đã từng làm chức quan Thích sử ở Dự Châu) chiêu tập binh mã ở Hán Nam, cùng nhau tranh đoạt thiên hạ với Tào Tháo. Hiện nay Tào Tháo đã tiêu diệt được kẻ địch chính là Viên Thiệu, bình định xong phương Bắc, lại kéo quân xuống phương Nam tấn công Kinh Châu, tiếng tăm chấn động thiên hạ. Lưu Dự Châu trở thành anh hùng không có đất dụng võ, vì vậy phải chạy đến đây. Mong ngài có thể căn cứ vào lực lượng của mình mà quyết định. Nếu như ngài cho rằng có thể lợi dụng sức người sức của của Giang Đông để chống lại Tào Tháo thì hãy sớm cắt đứt quan hệ với ông ta. Còn nếu như ngài nhận thấy không thể địch lại được với Tào Tháo thì hãy mau giải tán quân đội, thu vũ khí, đầu hàng Tào Tháo. Nay, ngài bề ngoài thì giả bộ thần phục Tào Tháo, trong lòng thì không có quyết định dứt khoát, tình thế đã đến lúc cấp bách mà ngài vẫn còn chưa có quyết định, sợ rằng tai họa sẽ rơi xuống đầu ngay bây giờ đó".

(Theo "Tam quốc chí - Gia Cát Lượng truyện")

Những lời của Gia Cát Lượng đã nhằm đúng vào mâu thuẫn nội tâm của Tôn Quyền. Tôn Quyền trầm tư một hồi, rồi hỏi lại Gia Cát Lượng:

"Cứ theo như lời ngài nói, Lưu Dự Châu đã bị đánh bại, thế thì tại sao còn chưa đầu hàng Tào Tháo?".

Gia Cát Lượng nghe thấy Tôn Quyền hỏi như vậy thì không nén nổi sự vui mừng thầm trong bụng, bèn nắm lấy cơ hội đó mà trả lời ngay rằng:

"Lưu Dự Châu là bậc anh hùng của thời nay, được rất nhiều người ngưỡng mộ, lòng người đều quy phục, giống như những dòng sông đổ ra biển lớn. Lưu Dự Châu đã quyết định chống lại Tào Tháo đến cùng, nếu như không thắng được thì cũng quyết không đầu hàng!".


Câu nói của Gia Cát Lượng quả nhiên đã kích thích Tôn Quyền. Tôn Quyền kích động nói:

"Ta không thể để 10 vạn binh giáp và toàn bộ Giang Đông này để cho người khác sai khiến được. Chủ ý của ta đã định! Hiện nay không có Lưu Dự Châu thì khó có thể chống lại được Tào Tháo".

Tuy nói như vậy, nhưng Tôn Quyền vẫn có sự hoài nghi về lực lượng của Lưu Bị, vẫn lo lắng về uy lực quân sự của Tào Tháo. Vì vậy, tiếp theo đó, Tôn Quyền lại hỏi Gia Cát Lượng:

"Có điều, Lưu Dự Châu đã bị Tào Tháo đánh bại, làm sao có thể có lực lượng để xoay chuyển tình thế này được?".


Để xoá hết băn khoăn trong lòng Tôn Quyền, làm kiên định lại quyết tâm chống Tào Tháo của ông ta, Gia Cát Lượng bèn đi sâu phân tích hơn về tình hình thực tế của lực lượng hai bên. Gia Cát Lượng chỉ ra rằng, khi Tôn - Lưu hai nhà liên minh với nhau để chống Tào thì hoàn toàn có thể đánh bại Tào Tháo. Gia Cát Lượng nói:

"Lưu Dự Châu tuy vừa mới thua trận ở Trường Bản, nhưng lực lượng quân đội đã tập hợp lại được, lại thêm cánh quân thủy do Quan Vũ chỉ huy vẫn còn nguyên vẹn, hợp lại với nhau thì vẫn còn được hơn một vạn tinh binh. Quân đội do Lưu Kỳ thống lĩnh ở vùng Giang Hạ cũng không ít hơn một vạn. Quân đội của Tào Tháo từ phương Bắc xa xôi kéo đến đây, đã rất mệt mỏi. Nghe nói, để truy đuổi Lưu Dự Châu, Tào Tháo đã cưỡi ngựa suốt cả ngày đêm, mỗi ngày đi được tới hơn 300 dặm. Hiện nay có thể nói rằng quân của Tào Tháo giống như ngựa thồ cuối ngày, đến một sợi tơ cũng không thể chất thêm lên được nữa. Hơn nữa, tướng sĩ phương Bắc không quen thủy chiến, số quân mà Tào Tháo thu phục được ở Kinh Châu cũng đều là do tình thế bức bách mà phải đầu hàng, họ không thể vì Tào Tháo mà hy sinh tính mạng một cách dễ dàng được”.


Cuối cùng, Gia Cát Lượng nói với Tôn Quyền:

"Nếu như quả thực ngài có thể điều vài viên mãnh tướng, chỉ huy vài vạn tinh binh cùng đồng tâm hiệp lực với Lưu Dự Châu, liên hiệp tác chiến thì nhất định sẽ giành thắng lợi! Sau khi Tào Tháo thất bại, tất nhiên sẽ phải quay về phương Bắc, như vậy thì thế cục ở Kinh Châu và Giang Đông sẽ ổn định trở lại, thế thiên hạ chia ba sẽ xuất hiện. Thành công hay thất bại đều còn phải chờ xem quyết sách của ngài ngày hôm nay thế nào đã".


Tôn Quyền nghe Gia Cát Lượng nói vậy thì rất vui mừng, lập tức triệu tập bộ hạ tới bàn bạc kế hoạch liên minh với Lưu Bị chống Tào Tháo.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 28 Tháng Tám, 2021, 10:03:08 am
3. Chém bàn quyết định

Đúng vào lúc Tôn Quyền triệu tập bộ hạ tới họp hội nghị bàn bạc kế hoạch liên minh với Lưu Bị chống Tào Tháo thì Tào Tháo lại sai người mang đến cho Tôn Quyền một bức thư, trong thư dùng lời lẽ uy hiếp nói rằng:

"Ta phụng mệnh thiên tử tiến hành chinh phạt, sau khi tiến về phương Nam, Lưu Tông đã phải đầu hàng. Hiện nay ta thống lĩnh 80 vạn đại quân, định sẽ cùng tướng quân so tài cao thấp tại đất Giang Đông này!".


Ý đồ của Tào Tháo là buộc Tôn Quyền không đánh mà phải đầu hàng. Tôn Quyền đưa bức thư cho các tướng lĩnh dưới quyền chuyền tay nhau xem, rất nhiều người tỏ ra kinh hoàng. Trong số đó, có một người tên là Trương Chiêu nói:

"Tào Tháo thống lĩnh quân trăm vạn, mượn tiếng thiên tử, đánh dẹp bốn phương. Nay chúng ta muốn chống lại ông ta thì là ngược với đạo vua tôi. Vả lại, chỗ dựa của chúng ta để chống lại Tào Tháo là nhờ vào địa thế hiểm yếu của Trường Giang. Nay, Tào Tháo đã chiếm lĩnh Kinh Châu, đã chiếm được hàng ngàn chiến thuyên của Lưu Biểu và phần lớn thủy quân, đem bố trí trên mặt sông. Ông ta thống lĩnh toàn bộ thủy, lục quân xuôi dòng tiến xuống Giang Đông. Trên thực tế, địa thế hiểm yếu của Trường Giang ông ta đã chiếm được một nửa. Về mặt số lượng quân mà nói, chúng ta lại càng không thể so sánh được với quân đội của Tào Tháo. Vì vậy, thượng sách trước mắt e rằng hòa hảo với Tào Tháo là kế tốt nhất".


Các tướng lĩnh quần thần của Tôn Quyền, người thì tán thành theo ý kiến của Trương Chiêu, người thì không đồng ý, nhất thời thảo luận rất sôi nổi. Duy chỉ có Lỗ Túc ngồi bên cạnh là không nói không rằng một câu. Khi Tôn Quyền đứng dậy ra ngoài đi vệ sinh, Lỗ Túc cũng giũ áo đứng đậy đi ra theo. Tôn Quyền biết ý Lỗ Túc có điều muốn nói riêng với mình, sau khi đi vệ sinh xong bèn đứng lại đợi dưới hiên nhà. Tôn Quyền nắm tay Lỗ Túc hỏi:

"Tử Kính (tên tự của Lỗ Túc) có điều gì muốn nói phải không?".

Lỗ Túc thẳng thắn nói:

"Tôi cho rằng ý kiến của những người như Trương Chiêu chỉ làm hỏng sự nghiệp của ngài mà thôi, không thể dựa vào đó để mà định ra quyết sách được! Giảng hòa có nghĩa là đầu hàng. Nếu muốn đầu hàng Tào Tháo thì Lỗ Túc tôi có thể làm như vậy được, ngài thì bất luận thế nào cũng không thể làm theo ý kiến đó được. Tôi mà đầu hàng Tào Tháo thì chí ít có thể nhận một chức quan nhỏ như huyện lệnh, nếu ngài đầu hàng Tào Tháo thì hắn sẽ cho làm cái gì đây? Mong rằng ngài hãy thận trọng suy nghĩ, mau chóng đưa ra quyết định, đừng bao giờ tin theo những lời bàn luận của bọn Trương Chiêu!".


Nghe xong những lời nói thắng thắn chân thành của Lỗ Túc, Tôn Quyền không nén nổi cảm xúc, bèn than rằng:

"Chủ trương của bọn Trương Chiêu làm ta vô cùng thất vọng, những lời phân tích tình hình vừa rồi của ông hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ta!”.

Mặc dù Tôn Quyền hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Lỗ Túc, nhưng vấn đề hòa hay chiến có liên quan rất lớn đến sự an nguy của cả vùng Giang Đông, khiến cho Tôn Quyền không khỏi phải đắn đo suy nghĩ trong lòng: Nếu đánh nhau với Tào Tháo, lại sợ binh lực quá lớn mạnh của Tào Tháo, không nắm chắc được thắng lợi. Nếu đầu hàng Tào Tháo, trong lòng Tôn Quyền không cam tâm tình nguyện. Vì vậy, trong chốc lát Tôn Quyền chưa thể có ngay được quyết định.


Lỗ Túc đoán được tâm tư đó của Tôn Quyền bèn đề nghị mời Chu Du - viên tướng có quyền hành lớn nhất vùng Giang Đông từ Phồn Dương (nay là huyện Ba Dương, Sơn Tây, Trung Quốc) về để cùng nhau bàn bạc.


Chu Du vừa về đến nơi, gặp mặt Tôn Quyền liền đề nghị triệu tập hội nghị các đại thần, một lần nữa cùng nhau xem xét tình hình và bàn bạc xem nên hòa hay chiến. Trong hội nghị, Chu Du phân tích đầy đủ tình hình cụ thể về tình thế địch ta lúc đó và khả năng chiến thắng Tào Tháo. Chu Du chỉ rõ, lần dùng binh này của Tào Tháo có bốn điều đại bất lợi:

Thứ nhất, miền Bắc chưa hoàn toàn thống nhất, Mã Siêu và Hàn Toại vẫn còn đang cát cứ vùng Lương Châu (nay là dải đất thuộc tỉnh Cam Túc), uy hiếp hậu phương của Tào Tháo.

Thứ hai, quân của Tào Tháo đa số là người miền Bắc, không giỏi đánh đường thủy; bọn họ bỏ mất thế mạnh dùng quân kỵ đánh đường bộ mà lại chuyển sang dùng thuyền để so tài cao thấp với quân Giang Đông thì làm sao có thể giành thắng lợi được.

Thứ ba, hiện tại đang là mùa đông, trời đất còn đang giá lạnh, quân mã thiếu lương thảo.

Thứ tư, đem quân lính ở vùng lục địa tiến sâu vào chỗ sông hồ, nơi bọn họ không quen thủy thổ khiến nhiều người sinh bệnh tật ốm đau.

Cuối cùng, Chu Du kết luận rằng:

"Bốn điều nói trên đều là chỗ đại kỵ trong việc dụng binh, thế nhưng Tào Tháo cứ một mực mạo hiểm, nếu muốn bắt sống được Tào Tháo thì nay chính là cơ hội tốt nhất!".

Chu Du cho rằng, chỉ cần Tôn Quyền cấp cho mình vài vạn tinh binh, đến đóng ở Hạ Khẩu, Chu Du bảo đảm sẽ đánh bại được Tào Tháo.

Nghe lời phân tích của Chu Du, cuối cùng Tôn Quyền cũng có được quyết định dứt khoát. Tôn Quyền đứng dậy, rút thanh gươm đeo ở bên mình, chém một nhát đứt góc chiếc bàn trước mặt, nghiêm giọng tuyên bố rằng:

"Bắt đầu từ ngày hôm nay, ai còn dám nói đến chuyện đầu hàng Tào Tháo thì sẽ giống như chiếc bàn này!".

Kế hoạch lớn liên minh với Lưu Bị để chống lại Tào Tháo đã được quyết định như vậy.

Để xác định lòng tin cho Tôn Quyền, giải tỏa nỗi lo trong lòng của ông ta, ngay tôi hôm đó, Chu Du lại đến gặp riêng, nói với Tôn Quyền rằng:

"Tào Tháo trong thư nói khoác lên rằng mình có 80 vạn quân, trên thực tế, số quân ông ta mang từ phương Bắc đến chỉ khoảng 15 đến 16 vạn là cùng. Hơn nữa, trải qua một thời gian dài tác chiến, quân đội của Tào Tháo đã trở nên mệt mỏi quá sức. Số quân mới thu thập được của Lưu Biểu, quá lắm cũng chỉ khoảng 7 đến 8 vạn người, số này luôn mang lòng thù ghét Tào Tháo, tư tưởng bất ổn. Ngài hãy nghĩ mà xem, với một đội quân mệt mỏi bệnh tật như vậy, lại thêm một số lượng lớn quân lính ăn ở hai lòng như thế thì số lượng có đông cũng có gì đáng sợ đâu!"

(Theo "Tam quốc chí - Chu Du truyện" phần chú dẫn "Giang Đông truyện")


Những lời nói của Chu Du quả nhiên đã giúp Tôn Quyền loại bỏ được nỗi lo sợ về số lượng quân của Tào Tháo vẫn còn đang đè nặng trong lòng. Tôn Quyền lập tức tuyển chọn ba vạn binh lính và chiến thuyền, lương thảo cùng các quân trang vật dụng khác giao cho Chu Du chỉ huy. Tôn Quyền bổ nhiệm Chu Du, Trình Phổ làm tả, hữu Đô đốc; Lỗ Túc làm Tán quân Hiệu úy, mang quân đến hợp lực cùng quân của Lưu Bị, tiến lên phía tây, chống lại Tào Tháo.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 28 Tháng Tám, 2021, 10:03:39 am
4. Hiến kế trá hàng

Tháng 10, năm Kiến An thứ 13 (năm 208) liên quân của Chu Du và Lưu Bị đụng đầu với cánh quân tiên phong của Tào Tháo tại Xích Bích (nay là bờ nam của sông Trường Giang, thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc). Quân sĩ của Tào Tháo do không quen cuộc sống trên sông nước, nên rất nhiều người bị mắc bệnh tật, sĩ khí rất thấp. Khi hai quân vừa chạm trán với nhau, quân của Tào Tháo đã bị ngay một trận thất bại nhỏ. Tào Tháo buộc phải lui quân về bờ bắc Trường Giang, đóng quân tại Ô Lâm (nay thuộc địa giới huyện Hồng Hồ, Hồ Bắc, Trung Quốc), giữ thế đối đầu hai bên bờ sông với liên quân hai nhà Tôn - Lưu.


Để thuyền bè bớt sự tròng trành nghiêng ngả, Tào Tháo ra lệnh cho thợ thủ công dùng xích sắt để buộc vài chiến thuyền hoặc vài chục chiến thuyền lại với nhau, bên trên phủ ván gỗ. Như vậy, thuyền trở nên vững chãi hơn, không những tạo điều kiện cho người ở trên thuyền có thể đi lại giữa các thuyền một cách dễ dàng mà thậm chí còn có thể cưỡi ngựa di chuyển từ thuyền nọ sang thuyền kia được. Làm như vậy gọi là "thuyền chiến liên hoàn". Tào Tháo cho rằng, đó là một biện pháp rất tốt.


Bộ hạ của Chu Du là Hoàng Cái - một lão tướng rất có kinh nghiệm quân sự. Hoàng Cái ngay lập tức đã nhìn ra nhược điểm rất lớn của "thuyền chiến liên hoàn”, bèn hiến kế với Chu Du rằng:

"Kiểu bố trí "thuyền chiến liên hoàn" này mục tiêu lớn, khó hành động, chúng ta có thể dùng kế hỏa công để tấn công đánh phá".

Tấn công băng hỏa công thông thường phải mượn sức gió, thế nhưng lúc đó đã bước vào mùa đông, thường chỉ có gió tây bắc. Quân Tào Tháo ở phía tây bắc, liên quân Tôn - Lưu ở phía đông nam, nếu có nổi lửa trên sông thì rất dễ là tự thiêu cháy chiến thuyên của mình trước, vì vậy kế hoạch hỏa công của Hoàng Cái rất khó thực hiện.


Chu Du và Gia Cát Lượng căn cứ vào sự thay đổi của thời tiết ở địa phương trong thời điểm đó, tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ, dự đoán rằng trước và sau ngày Đông chí có thể có gió đông nam, thế là phía liên quân liền gấp rút chuẩn bị chiến thuyền cho kế hoạch tấn công bằng hỏa công, chỉ đợi đến khi có gió đông nam nổi lên là sẽ phát lệnh tấn công.


Để có thể lừa lấy được sự tin cậy của Tào Tháo, tạo điều kiện cho các chiến thuyền tấn công tiến sát thủy trại của quân địch, Hoàng Cái bèn viết một bức thư, sai người mang đến cho Tào Tháo. Trong thư viết rằng:

"Binh lực ở sáu quận trên đất Giang Đông không thể chống lại với đội quân trăm vạn người của ngài, thế thất bại của Tôn Quyền đã rõ ràng, để thuận theo đại sự trong thiên hạ, tôi tình nguyện đầu hàng ngài. Quân đội do Chu Du thống lĩnh quân số chỉ có hạn, không khó tấn công tiêu diệt, đợi đến khi quân đội hai bên giao chiến với nhau, tôi có thể lợi dụng điều kiện có lợi, tìm cơ hội lập công với ngài”.


Tào Tháo xem thư, mới đầu còn có chút hoài nghi, nhưng lại nghĩ rằng, với ưu thế tuyệt đối của mình trên các mặt chính trị và quân sự lúc đó thì việc trong nội bộ chính quyền của tập đoàn chính trị Tôn Quyền có nảy sinh sự phân hóa, Hoàng Cái đến đầu hàng mình cũng là việc hoàn toàn có khả năng. Do tư tưởng kiêu ngạo khinh địch nên Tào Tháo không hề nghi ngờ, hoàn toàn tin tưởng vào việc trá hàng của Hoàng Cái. 


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 28 Tháng Tám, 2021, 10:04:17 am
5. Hỏa thiêu chiến thuyền

Vào một đêm tháng 11 năm Kiến An thứ 13 (năm 208), quả nhiên có gió đông nam nổi lên, gió thổi rất mạnh. Chu Du lập tức ra lệnh cho Hoàng Cái xuất phát theo kế hoạch. Hoàng Cái chỉ huy một đội chiến thuyền hỏa công, chèo lướt trên sóng nước, phi như bay về phía thủy doanh trại của quân Tào Tháo, trên các chiến thuyền đều chất đầy dầu mỡ, cỏ khô và củi đuốc, bên ngoài dùng vải buồm che đậy; ngoài ra, còn chuẩn bị một số thuyền nhỏ và nhẹ, giấu ở đuôi các chiến thuyền để sau khi nổi lửa đốt thuyền thì sẽ dùng thuyền nhẹ rút quân. Dẫn đầu đoàn thuyền chiến đó là 10 chiến thuyền lớn. Khi 10 chiến thuyền đó đi đến giữa sông, Hoàng Cái ra lệnh cho các chiến thuyền giương buồm, tốc độ của các chiến thuyền lại càng được nâng lên, đã dần áp sát thủy trại của quân Tào Tháo. Đến một khoảng cách thích hợp, Hoàng Cái lệnh cho binh sĩ đồng thanh hô to:

"Hoàng Cái đến hàng!".

Các tướng lĩnh trong doanh trại của Tào Tháo nghe thấy tiếng hô "Hoàng Cái đến hàng” thì đều bước ra ngoài, thò cổ ra xem. Khi các chiến thuyền của Hoàng Cái chỉ còn cách thủy doanh của Tào Tháo khoảng hai dặm nữa, Hoàng Cái liền ra lệnh: "Phóng hỏa!”.


Hiệu lệnh vừa mới phát ra, tất cả các chiến thuyền của Hoàng Cái nhất tề nổi lửa đốt thuyền. Các chiến thuyền giống như những con rồng lửa nhằm thẳng về phía thủy doanh của quân Tào Tháo xông tới. Gió đông nam càng lúc càng thổi mạnh, lửa mượn sức gió, gió trợ sức cho lửa, toàn bộ doanh trại của quân Tào bị bốc cháy, "thuyền chiến liên hoàn" trong chốc lát không thể gỡ rời ra được, lửa không những không dập tắt được mà càng cháy càng mạnh, lan dần mãi đến tận bờ sông. Chỉ thấy lửa cháy ngút tròi, ánh lửa chiếu sáng rực cả một vùng rộng lớn, doanh trại trên sông và trên bờ của quân Tào Tháo chìm ngập trong biển lửa. Quân sĩ của Tào Tháo bị lửa thiêu chết, bị chết đuối không biết bao nhiêu mà kể.


Chu Du từ bờ nam nhìn thấy ngọn lửa, biết rằng Hoàng Cái đã ra tay thuận lợi, lập tức chỉ huy các chiến thuyền tấn công như vũ bão vào quân Tào. Trong trận Xích Bích, liên quân Tôn - Lưu đã tiêu diệt đại bộ phận binh lực của Tào Tháo, thiêu hủy toàn bộ số chiến thuyền của quân Tào Tháo.


Trong khói lửa ngút tròi, Tào Tháo chỉ huy một nhóm tàn binh bại tướng theo đường nhỏ rút chạy về Hoa Dung (nay là phía tây bắc huyện Giám Lợi, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc). Không ngờ, đi đến giữa đường lại gặp mưa to gió lớn, đường đi lầy lội, dường như không còn đường để mà đi tiếp được nữa. Tào Tháo ra lệnh cho tất cả đám tàn quân tìm chặt cành cây, cắt cỏ lá đắp một con đường xanh phủ lên trên lớp bùn lầy để lấy đường tiến cho kỵ binh. Thế nhưng sau đó, đám tàn binh lại bị chính kỵ binh dẫm đạp giày xéo lên làm cho họ bị chết và bị thương rất nhiều. Liên quân Chu Du - Lưu Bị hai đường thủy bộ cùng tiến, truy đuổi tàn quân của Tào Tháo đến tận Nam Quận (nay thuộc địa phận huyện Giang Lăng, Hồ Bắc, Trung Quốc).


Trải qua cuộc đại chiến này, nguyên khí của Tào Tháo đại thương, quân bị tổn thất mất quá nửa. Tào Tháo đành lưu lại một bộ phận quân đội của mình để phòng thủ Giang Lăng và Tương Dương, còn bản thân mình chỉ huy số tàn quân còn lại rút về phương Bắc.


Trận chiến Xích Bích là chiến dịch quân sự mang tính quyết định trong việc thành lập nên thế chân vạc trong cục diện Trung Quốc thời Tam quốc. Sau thất bại lần này, thế lực của Tào Tháo bị giới hạn ở miền Bắc Trung Quốc, không còn sức để kéo xuống phương Nam nữa. Sau chiến tranh, Tôn Quyền củng cố chính quyền thống trị của mình ở vùng đất Giang Đông. Lưu Bị thừa cơ chiếm lấy Kinh Châu, về sau phát triển về phía tây, chiếm lĩnh Ích Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc).


Năm Kiến An thứ 25 (năm 220), sau khi Tào Tháo chết, con trai của Tàe Tháo là Tào Phi phế truất hoàng đế nhà Hán là Hán Hiến đế, tự lập mình làm hoàng đế, lấy quốc hiệu là Ngụy, xây dựng kinh đô ở Lạc Dương.


Năm sau đó, Lưu Bị cũng xưng đê ở Thành Đô. Lấy quốc hiệu là Thục Hán.

Tám năm sau, Tôn Quyền xưng đế ở Kiến Nghiệp (nay là thành phố Nam Kinh, Trung Quốc), lấy quốc hiệu là Ngô.

Như vậy là thế chân vạc Ngụy - Thục - Ngô được thành lập.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 28 Tháng Tám, 2021, 10:04:43 am
6. Kết luận

Tào Tháo là một nhà chính trị - quân sự lớn của Trung Quốc thời Tam quốc. Tào Tháo rất có tài dụng binh, khi đánh trận thường là thắng nhiều thua ít. Thế nhưng, trong trận Xích Bích, Tào Tháo lại phải nếm một thất bại cực kỳ nặng nề, đó là do nguyên nhân nào?


Trước khi trận chiến Xích Bích diễn ra, Tào Tháo liên tục nhiều năm giành được thắng lợi trên chiến trường, tiêu diệt được rất nhiều thế lực cát cứ ở các địa phương trên khắp đất nước Trung Quốc hồi đó. Trong tình hình thuận lợi như vậy, Tào Tháo đã có sự đánh giá quá cao về sức mạnh quân sự cũng như tài năng quân sự của mình, đồng thời lại đánh giá quá thấp nhược điểm của bản thân mình và quân đội mình cũng như đánh giá quá thấp sức mạnh và dũng khí của liên quân hai thế lực chính trị Tôn - Lưu. Chính tư tưởng kiêu ngạo chủ quan khinh địch này của Tào Tháo đã trở thành nguyên nhân chính của thất bại trong trận chiến Xích Bích.


Về mặt bố trí tác chiến, Tào Tháo đã không dựa vào điều kiện thuận lợi của địa thế và thời gian mà lại dựa vào sở đoản của mình để tấn công vào sở trường của quân địch, bộc lộ điểm yếu của mình ra cho đối phương nhận thấy, như vậy khác nào tự vươn cổ ra cho đối phương nắm lấy mà diệt. Đó cùng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất bại của Tào Tháo.


Về phía liên quân Tôn Quyền - Lưu Bị, do Chu Du, Gia Cát Lượng có thể phân tích được một cách chính xác tình thế địch - ta, quyết định liên minh với nhau tác chiến, cùng tiêu diệt địch, đây là một quyết định rất sáng suốt.


Trong chỉ huy quân sự, Chu Du và Gia Cát Lượng lại có thể dự đoán được sức mạnh của liên quân, nhược điểm của quân Tào, dựa vào sở trường của mình để tấn công vào sở đoản của địch, từ đó giành được thắng lợi cuối cùng.


Trong lịch sử chiến tranh quân sự Trung Quốc thời cổ đại, trận chiến Xích Bích được coi là một trang sử huy hoàng được truyền tụng suốt hàng ngàn năm qua.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Tám, 2021, 07:32:59 am
TRẬN CHIẾN PHÌ THỦY GIỮA TẦN - TẤN


Nếu như có người vì một nguyên nhân nào đó mà thể hiện sự hoài nghi, kinh hoàng và sợ hãi một cách cực độ thì người Trung Quốc sẽ dùng câu thành ngữ "Thảo mộc giai binh" (cỏ cây đều là lính) để hình dung.

Câu thành ngữ "Thảo mộc giai binh" được ra đời chính trong trận chiến Phì Thủy giữa hai nước Tần - Tấn. Vậy trận chiến Phì Thủy rốt cuộc diễn ra như thế nào? Nguyên nhân, diễn biến và kết quả ra sao?


1. Hội nghị ở điện Thái Cực

Năm 316, vương triều Tây Tấn (Trung Quốc) diệt vong. Năm sau đó, một người trong hoàng tộc của Tây Tấn là Tư Mã Nhuệ xây dựng lại chính quyền của giai cấp địa chủ Hán tộc ở Giang Nam, định đô ở Kiến Khang (nay là thành phố Nam Kinh, Trung Quốc), lịch sử Trung Quốc gọi là Đông Tấn.


Khi vương triều Đông Tấn định cư ở phương Nam, thì ở biên giới tây bắc Trung Quốc, rất nhiều các dân tộc thiểu số thừa cơ tiến vào lưu vực Hoàng Hà, chủ yếu gồm có 5 tộc người là Hung Nô, Tiên Ti, Kiệt, Đê, Khương. Tầng lớp quí tộc thống trị trong các tộc người thiểu số đó lại cắn xé lẫn nhau, gây chiến tranh liên miên trong nhiều năm liền. Trong vòng 130 năm đó, lần lượt mười mấy chính quyền thống trị lớn nhỏ đã được lập nên. Lịch sử Trung Quốc gọi giai đoạn này là thời kì "thập lục quốc" (16 nước).


Trong các cuộc hỗn chiến chia cắt đất đai, tranh giành quyền lực đó, đến giữa thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, có một Quốc gia do người dân tộc Đê dựng nên và ngày một lớn mạnh, đó là Tiền Tần.

Năm 357, hoàng đế của Tiền Tần là Phù Kiên đã sử dụng một mưu sĩ là người dân tộc Hán là Vương Mãnh. Trải qua hơn 20 năm nỗ lực xây dựng, vương triều Tiền Tần đã lần lượt tiêu diệt vương quốc Tiền Yến hùng mạnh do người Tiên Ti xây dựng nên và vương quốc Đại ở ngoài Ưng Môn Quan, chính quyền Tiền Lương của họ Trương (người Hán) ở khu vực Cam Túc, thống nhất toàn bộ khu vực lưu vực sông Hoàng Hà, trở thành một quôc gia lớn nhất trong các quốc gia ở phương Bắc lúc bấy giờ.


Như vậy là, nếu lấy sông Hoài làm giới tuyến thì ở Trung Quốc lúc đó hình thành một cục diện đối đầu Nam - Bắc giữa Tiền Tần và Đông Tấn.

Mâu thuẫn giữa Tần - Tấn ngày càng gay gắt.

Tháng 10 năm thứ 7 (năm 382) thuộc niên hiệu Thái Nguyên của Hiếu Vũ đế nhà Đông Tấn, vào một buổi sáng sốm, trời mới mờ mờ sáng, các văn võ đại thần của vương triều Tiền Tần trong thành Trường An đang tập trung trước điện Thái Cực đợi Tần vương Phù Kiên lâm triều, triệu tập hội nghị ngự tiền.


Phù Kiên uy nghiêm bước vào, nhìn khắp bốn phía một lượt rồi cất giọng nói:

"Ta kế thừa vương vị đến nay đã gần 30 năm rồi, khắp bốn phương tám hướng đại thể đã bình định xong, chỉ còn có nước Tấn là vẫn chiếm cứ một góc phía đông nam, không chịu hàng phục, thật khiến cho ta tức giận. Nay trong tay ta có 97 vạn hùng binh, ta dự định đích thân thống lĩnh quân đội đi phạt Tấn, các ngươi thấy có được không?".


Trong số các đại thần, chỉ có một người tên là Chu Dung nịnh bợ phụ họa theo ý kiến của Phù Kiên, còn tất cả các đại thần khác đều cho rằng thời cơ vẫn chưa chín muồi, nếu tấn công Đông Tấn thì vẫn chưa nắm chắc được thắng lợi. Đại thần Quyền Dực nói rằng:

"Bệ hạ, hiện nay tuy nước Tấn yếu, nhưng nội bộ vẫn chưa phân tán, quốc vương của họ cũng chẳng phạm phải tội ác nào đáng phải trừng phạt; huống hồ các đại thần Tạ An, Hoàn Xung của họ đều là nhân tài kiệt xuất của Giang Nam, rất biết cách làm việc. Theo như thần nhận thấy, việc tiêu diệt Tấn hãy đợi để sau hẵng hay".


Đại thần Thạch Việt cũng nói rằng:

"Nước Tấn không chỉ trên dưới một lòng, mà còn có sông Trường Giang làm lá chắn thiên nhiên, lại được dân chúng trăm họ ủng hộ, xem ra không thể coi khinh họ được".


Nghe những lời phản đôi của Quyền Dực và Thạch Việt, Phù Kiên cảm thấy trong lòng rất không vui. Ông ta nghiêm mặt lại, nói một cách vô cùng tự tin rằng:

"Người, ngựa của ta nhiều như vậy, chỉ cần ra lệnh một tiếng, mọi người quẳng roi ngựa xuống sông Trường Giang thì có thể chặn được cả dòng nước sông lại. Trường Giang thì có gì là ghê gớm đâu!".


Hội nghị họp bàn rất lâu, quần thần đểu lần lượt phát biểu, hầu như tất cả quần thần đều đứng vê phía Quyền Dực và Thạch Việt, kiên quyết phản đối việc mang quân đi đánh Đông Tấn. Phù Kiên rất tức giận, ra lệnh cho quần thần bãi triều, chỉ giữ lại em trai của mình là Phù Dung. Phù Kiên nói với Phù Dung rằng:

"Từ xưa đến nay, mọi việc quốc gia đại sự đều do một hai người quyết định, vừa rồi, tại hội nghị của triều đình mỗi người một ý, chỉ khiến lòng người thêm rối loạn mà chẳng mang lại được kết quả gì cả, bây giờ ngươi hãy nói ý kiến của ngươi cho ta biết đi!".


Phù Dung ngồi im lặng một lúc lâu bên bàn, không nói năng gì cả; Phù Kiên lại một lần nữa thúc giục, Phù Dung mới chậm rãi nói:

"Theo ý kiến của thần, trước mắt, việc tấn công nước Tấn có ba khó khăn lớn: Trước tiên, rất nhiều người ở phương Bắc trong lòng còn hướng về nhà Tấn, bây giờ xuất binh thời cơ bất lợi; thứ hai, nội bộ nước Tấn vẫn đang đoàn kết, không có bất kỳ cơ hội nào để có thể lợi dụng được; thứ ba, quân đội của chúng ta chinh chiến liên miên đã nhiều năm nay, binh sĩ đều đã vô cùng mệt mỏi và chán ghét chiến tranh, vì vậy, trong hội nghị hôm nay mọi người phản đối xuất binh là có lý, mong bệ hạ hãy chấp nhận ý kiến của mọi người".


Tiếp theo, Phù Dung còn phân tích thêm:

"Hiện nay, người Tiên Ti, người Khương và người Kiệt có ở khắp nơi quanh kinh thành, bọn họ đều có thâm thù với chúng ta. Nếu như bệ hạ mang quân nam chinh, chỉ để lại Thái tử và một số ít binh sĩ già nua yếu đuối lại trấn thủ kinh thành, thật lòng là thần rất lo lắng họ sẽ dấy lên làm phản, đến lúc đó, có hối hận cũng không kịp nữa. Mong bệ hạ suy xét kỹ rồi hãy hành động".


Phù Kiên không ngờ rằng ngay cả Phù Dung cũng phản đối ý định mang quân đi đánh nước Tấn của mình, ông ta đứng đậy, bừng bừng tức giận, nói:

"Hừ! Đến nhà ngươi mà cũng nói như vậy thì ta còn biết bàn bạc với ai đây? Bây giờ ta có trăm vạn binh hùng, của cải và vũ khí chất cao như núi, chẳng lẽ lo không tiêu diệt nổi nước Tấn hay sao? Ta quyết không để cho nước Tấn ở Giang Nam đe dọa ta lâu hơn nữa, việc tấn công nước Tấn, ý ta đã quyết!".


Phù Dung nhiều lần khuyên ngăn Phù Kiên không nên dụng binh, nhưng Phù Kiên không hề nghe theo. Thế là, cuối cùng Phù Kiên đã quyết định thống lĩnh quân đội phát động cuộc chiến tranh tấn công nước Tấn.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Tám, 2021, 07:35:42 am
2. Tiền Tần phát binh tấn công nước Tấn

Tháng 7 năm Thái Nguyên thứ 8 (năm 383), Phù Kiên ban bố mệnh lệnh tấn công Đông Tấn. Mệnh lệnh quy định: Trong dân chúng, cứ 10 nam giới thì rút ra một người đi lính; phàm là con em các gia đình quý tộc, tuổi dưới 20 mà có võ nghệ thì đều được phong là Vũ Lâm lang, biên chế vào quân cấm vệ, cùng với quân đội đi đánh trận. 


Ngựa công, tư của các châu nhất loạt đều bị trưng thu để phục vụ cho quân đội.

Các quan lại của chính quyền Tiền Tần lúc đó khi nhận được mệnh lệnh trên, đều bất kể đến sự sống chết của nhân dân, chỉ ra sức đi bắt người cướp ngựa ở khắp mọi nơi, hơn nữa, chúng lại còn nhân cơ hội này lừa dối để cướp bóc thêm của cải của nhân dân, khiến cho dân chúng phải chịu cảnh gia đình cha mẹ vợ con ly tán, nhà tan cửa nát.


Tháng 8 năm đó, Phù Kiên trưng tập binh mã của các châu, tổng cộng được hơn 60 vạn lính bộ binh, 27 vạn kị binh và 3 vạn Vũ Lâm quân, gọi là "bách vạn đại quân”. Phù Kiên giao cho Phù Dung làm Chinh nam Đại tướng quân, cùng với nhà quý tộc của dân tộc Tiên Ti là Mộ Dung Thùy thống lĩnh 25 vạn quân bộ binh và quân kỵ binh làm đội quân tiên phong, bắt đầu xuất phát từ Trường An.


Phù Kiên còn phong cho một tướng quân người dân tộc Khương là Diêu Trường làm Long tương Tướng quân, thống lĩnh quân đội ở Tứ Xuyên, men theo dòng chảy của sông Trường Giang mà tiến quân.

Phù Kiên đích thân thống lĩnh quân chủ lực xuất phát từ Trường An. Trên đường đi, đội quân chủ lực của Phù Kiên khí thế rất mạnh mẽ: ngựa hí, người hô, cò xí rợp trời, quân đi chật đường, ngựa xe, lương thảo, vũ khí trang bị rầm rầm không ngớt, kéo dài đến mấy trăm dặm.


Số quân lính bị trưng tập đi chiến đấu lần này thì lại chỉ luôn nhớ về gia đình, không muốn đi đánh trận. Một bộ phận binh lính trong quân đội trên đường đi còn cướp đoạt tài sản của dân chúng, khiến cho cuộc sống của dân đã khổ sở lại càng thêm điêu đứng. Quân đội của Tiền Tần tuy rằng rất đông, nhưng tính kỷ luật rất kém, sĩ khí rất thấp, thiếu sức chiến đấu.


Tháng 9, đội quân chủ lực do Phù Kiên thống lĩnh đã tấn công hạ Hạng Thành của Đông Tấn (nay là huyện Hạng Thành, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) và đóng quân lại tại đó.

Đội quân tiên phong do Phù Dung chỉ huy sau một tháng liền hành quân cũng đã tới được Dĩnh Khẩu ở bờ bắc sông Hoài (nay thị trấn Chính Dương, phía đông nam huyện Dĩnh Thượng, tỉnh An Huy, Trung Quốc) và triển khai tấn công theo hướng bờ tây Phì Thủy (một nhánh của sông Hoài, nay thuộc huyện Thọ Dương, tỉnh An Huy, Trung Quốc).


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Tám, 2021, 07:37:08 am
3. Quyết sách của Tạ An

Tin tức về cuộc tấn công trên quy mô lớn của Tiền Tần đã truyền về đến Kiến Khang, Tấn Hiếu Vũ đế và rất nhiều văn võ trong triều đình Đông Tấn đều tỏ ra vô cùng sợ hãi. Phần lớn dân chúng đều sợ phải chịu đựng ách thống trị tàn bạo của các quý tộc người dân tộc Đê, kiên quyết yêu cầu chống lại. Giai cấp thống trị nhà Đông Tấn một mặt muốn bảo vệ và duy trì sự thống trị ổn định và lợi ích của mình; mặt khác, rút kinh nghiệm xương máu của triều đình nhà Tây Tấn trước đó, do không chống lại ngoại xâm mà mất nước, nên cũng cảm thấy rằng ngoài việc quyết tâm chống lại sự tấn công của Tiền Tần thì không còn con đường lựa chọn khác. Dưới sự chủ trì của Tể tướng Tạ An, chính quyền Đông Tấn quyết định phát binh chống lại cuộc tấn công của quân đội Tiền Tần.


Tạ An, tự An Thạch là một nhà chính trị thuộc giai cấp địa chủ có kinh nghiệm chính trị phong phú và con mắt chính trị nhìn xa trông rộng. Tổ tiên của Tạ An vốn xuất thân từ giai cấp địa chủ ở phương Bắc, về sau toàn bộ gia đình chuyển xuống Giang Nam. Khi còn trẻ, Tạ An đã được triều đình vời vào làm quan, nhưng ông từ chối. Sau đó, ông ẩn cư tại Cối Kê, Đông Sơn (nay là Đông Sơn, phía tây nam huyện Thượng Ngu, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc). Năm 373, Tạ An cuối cùng đã nhận lời triều đình ra nhậm chức Tể tướng, lo việc triều chính. Sau khi Tạ An nắm việc triều chính, ông hợp tác mật thiết với một nhân vật quan trọng khác trong triều đình Đông Tấn lúc bấy giờ là tướng quân Hoàn Xung, đồng thời trọng dụng một số người tài đã từng bị thất thế trên trường chính trị, để cho họ thi thố tài năng giúp ích cho đất nước, về mặt quân sự, sử dụng Tạ Thạch, Tạ Huyền... làm tướng lĩnh, tăng cường phòng ngự đối với Tiền Tần. Vì vậy, trước khi trận chiến Phì Thủy xảy ra, nội bộ giai cấp thống trị của triều đình Đông Tấn là tương đối ổn định và đoàn kết, xã hội tương đối yên bình, chính quyền vững chắc, về mặt quân sự đã có sự chuẩn bị trước.


Trong lần tấn công của đại quân Tiền Tần này, Tạ An được Hiếu Vũ đế giao đảm nhận chức thống soái cao nhất trong thời chiến là Chinh thảo Đại đô đốc. Đầu tiên, Tạ An ra lệnh cho nhân dân ở phía bắc sông Hoài chuyển đến phía nam sông Hoài, thực hiện "vườn không nhà trống" để đề phòng Tiền Tần cướp đoạt sức lao động của Đông Tấn, đồng thời lấy số dân chúng đó bổ sung nguồn lực cho quân đội của mình.


Vê quân sự, Tạ An nhận định rằng, Hoài Hà sẽ là phương diện tấn công chủ yếu của quân đội Tiền Tần, vì vậy, trước tiên phải bố trí binh lực phòng ngự tại trận tuyến sông Hoài. Tạ An điều động em trai mình là Tạ Thạch thay mặt Chinh thảo Đại đô đốc chỉ huy toàn quân; tuyển chọn viên tướng xuất sắc Tạ Huyền làm Tiên phong Đô đốc, cùng với các tướng lĩnh trẻ tuổi khác như Tạ Viêm và Hằng Doãn... thống lĩnh 8 vạn quân tinh nhuệ "Bắc phủ binh" đi nghênh kích quân Tần. Ngoài ra, Tạ An còn giao cho tướng quân Hồ Bân mang 5.000 thủy quân đi tăng viện cho Thọ Dương.


Trước khi thống lĩnh "Bắc phủ binh” xuất phát, Tạ Huyền đến gặp Tạ An, hỏi cách làm thế nào để đánh bại được quân Tần. Tạ An ung dung trả lời rằng:

"Triều định đã sắp xếp xong cả rồi, ngài cứ việc đi là được".

Nói xong, Tạ An im lặng, không nói gì thêm nữa. Tạ Huyền thấy vậy hơi lo lắng và khó hiểu, nhưng không dám hỏi thêm, bèn nhờ một đồng sự tên là Trương Huyền đến hỏi lại Tạ An một lần nữa. Tạ An không những không trả lời, lại còn cùng Trương Huyền ngồi xe đi đến ngôi biệt thự của mình bên ngoài thành để chơi. Tạ An mời Trương Huyền cùng mình đánh cờ vây. Tài nghệ cờ vây của Trương Huyền vốn rất cao minh, thông thường khi đánh cờ cùng Tạ An, bao giờ Trương Huyền cũng thắng, vậy mà lần đó, do trong lòng mang nặng mối lo về quân sự, nên kết quả là Trương Huyền không thể thắng nổi Tạ An, đành chịu hòa cờ. Tạ An ở chơi trong núi đúng một ngày, mãi tận khuya mới trở về nhà.


Quân địch lớn đã đến trước mặt, Tạ An không những rất bình tĩnh, ung dung không hề lo sợ mà còn tràn đầy tin tưởng vào thắng lợi. Thấy thái độ của Tể tướng như vậy, toàn thể văn võ bá quan trong triều đình Đông Tấn cũng đã trấn tĩnh lại được phần nào, không còn quá khiếp sợ trước kẻ địch mạnh nữa.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Tám, 2021, 07:37:59 am
4. Chiến dịch Lạc Giản

Phù Kiên dựa vào binh lực hùng hậu, không đợi các cánh quân tập trung lại đầy đủ đã ra lệnh cho Phù Dung tiến hành tấn công mãnh liệt vào Đông Tấn.

Tháng 10, Phù Dung tấn công hạ thành Thọ Dương. Khi ấy, thủy quân do Hồ Bân chỉ huy chưa kịp đến nơi tăng viện, đi đến giữa đường nghe được tin thành Thọ Dương bị hạ, đành phải rút quân về Hiệp Thạch (nay là phía tây nam huyện Phượng Đài, An Huy, Trung Quốc) - một địa điểm kẹp giữa một bên là sông, một bên là núi cao. Hồ Bân cho quân lính của mình đóng quân tại địa điểm hiểm yếu đó, chờ đợi đại quân của Tạ Thạch tới.


Sau khi Phù Dung đánh chiếm Thọ Dương, một mặt cử quân đi bao vây tấn công Hiệp Thạch, một mặt cử Lương Thành mang năm vạn quân đi khống chế Lạc Giản (là nơi Lạc Thủy chảy vào Hoài Thủy, nay là phía tây nam huyện Định Viễn, tỉnh An Huy, Trung Quốc), ngăn chặn quân Tấn của Hồ Bân từ phía đông đến cứu viện. Tạ Thạch ra lệnh cho quân Tấn đóng quân tại một địa điểm cách Lạc Giản 25 dặm.


Đại quân của Tạ Thạch không thể tiến về phía trước được, quân của Hồ Bân bị bao vây cô lập ở Hiệp Thạch, lương thực sắp cạn, tình hình vô cùng khẩn cấp. Để đánh lừa kẻ địch, Hồ Bân ra lệnh cho quân sĩ mang rá vo gạo, hàng ngày ra bờ sông xóc đá sỏi, để cho quân Tần từ xa trông lại tưởng là quân Tấn đang vo gạo, nghĩ rằng lương thực của quân Tấn rất dồi dào. Đồng thời, Hồ Bân cũng gửi thư khẩn cấp báo cho Tạ Thạch biết:

"Hiện tại thế lực của quân địch rất lớn, quân lương ở đây đã ăn hết, tình hình vô cùng khẩn cấp, sợ rằng không thể còn có cơ hội hợp quân với đại quân được".


Bức thư mật được Hồ Bân sai một tên lính thân cận cưỡi ngựa ngay trong đêm vượt vòng vây mang đến cho Tạ Thạch. Không may, tên lính đưa thư giữa đường bị quân lính của Tiền Tần bắt được, bức thư mật cũng bị quân Tần thu được.


Phù Dung có được tin tức đó, lập tức cử người ngay trong đêm mang về Hạng Thành báo cáo với Phù Kiên:

’’Hiện tại quân Tấn người ít, lương thiếu, chính là cơ hội tốt để tấn công tiêu diệt bọn họ, hãy mau phát động tấn công, không nên để cho quân Tấn chạy thoát".


Phù Kiên là một kẻ tự cao tự đại, đang dương dương tự đắc về thắng lợi của mình ở Hạng Thành, khi nhận được tin mật báo của Phù Dung lại càng thêm đắc ý. Ngay trong đêm hôm đó, Phù Kiên để lại đại quân ở Hạng Thành, chỉ lẳng lặng tuyển chọn 8.000 quân khinh kị, đích thân do mình chỉ huy, không kể ngày đêm tiến thẳng về Thọ Dương, định bất ngờ bắt sống Tạ Thạch, một đòn là đánh tan quân Tấn. Khi rời khỏi Hạng Thành, ông ta còn nghiêm khắc ra lệnh cho các tướng sĩ:

"Nếu có ai tiết lộ tin tức ta đi Thọ Dương, ta sẽ cắt lưỡi kẻ đó!”.

Phù Kiên đến Thọ Dương, bàn bạc với Phù Dung, cho rằng có thể bắt quân đội Đông Tấn không đánh mà phải đầu hàng, cho nên quyết định cử Chu Tự đến thuyết hàng quân Tấn.

Chu Tự vốn là người Hán, từng làm Thích sử Lương Châu của triều đình Đông Tấn, do bị thất bại trong trận chiến phòng thủ Tương Dương nên bị bắt làm tù binh. Chu Tự "thân tại Tần doanh, tâm tại Tấn", vẫn mang lòng muốn báo đền nợ nước. Khi đến doanh trại của quân Tấn, Chu Tự không những không khuyên Tấn đầu hàng, ngược lại còn đem tất cả tin tức mà mình biết được về tình hình quân Tần bí mật báo cho Tạ Thạch, Tạ Huyền và bày cách cho Tạ Thạch, Tạ Huyền tấn công quân Tần. Chu Tự nói:

"Lần này Phù Kiên tận dụng toàn bộ binh lực của cả nước, tổng cộng có 90 vạn quân. Nếu như toàn bộ số quân này kéo tới hết thì quả thực rất khó đối phó. Nhưng trước mắt, đại bộ phận quân Tần còn đang trên đường hành quân, quân lính ở Lương Châu chỉ mới vừa qua khỏi Hàm Dương; binh lực của quân Tần ở tiền tuyến không có gì là hùng hậu cả. Nếu quân Tấn phát động tấn công, thì bây gì chính là thời cơ tốt nhất. Các ngài chỉ cần cử một cánh quân tinh nhuệ đánh bại quân tiên phong của Tần, làm tổn thương nhuệ khí của quân đội, thì quân Tần trên toàn trận tuyến sẽ sụp đổ".


Nói rồi, Chu Tự lại vội vội vàng vàng quay trở về doanh trại của quân Tần ở Thọ Dương.

Mới đầu Tạ Thạch tưởng rằng toàn bộ quân chủ lực của Phù Kiên đã kéo đến Thọ Dương, định chọn cách cố thủ khiến cho quân Tần mệt mỏi. Về sau, khi cùng Tạ Huyền, Tạ Viêm nghiên cứu kỹ những tin tức bí mật do Chu Tự cung cấp, quyết định nhân lúc quân chủ lực của Phù Kiên chưa đến, sẽ tiêu diệt quân Lương Thành, quét sạch trở ngại trên đường tiến quân, cứu viện giải vây cho quân Tấn ở Hiệp Thạch. Tạ Thạch bèn cử dũng tướng Lưu Lao Chi mang 5.000 quân "Bắc phủ binh” đi tập kích quân của Lương Thành đang đóng ở Lạc Giản.


Nhận được mệnh lệnh, Lưu Lao Chi bèn ngay trong đêm hôm đó mang 5.000 quân "Bắc phủ binh” xuất phát đến Lạc Giản. Nghe nói sẽ được tấn công quân Tần, quân lính "Bắc phủ binh" đều hăm hở, khí thế chiến đấu lên cao ở mức khác thường.


Quân Tấn đến cách Lạc Thủy 10 dặm thì Lưu Lao Chi nhận được báo cáo từ tuyến trinh sát rằng, quân của Lương Thành đóng trại ở bờ sông Lạc Thủy phía đối diện thành một dải đen ngòm nhưng không có động tĩnh gì cả, dường như đều đã ngủ say. Lưu Lao Chi lập tức ra lệnh cho quân lính khẩn trương hành quân. 5.000 quân "Bắc phủ binh" như mãnh hổ lội qua sông, xông vào trận tuyến của quân Tần, gào thét, chém giết quân địch. Quân Tần đang trong giấc ngủ say, còn chưa kịp rõ tình hình thì đã bị quân Tấn tấn công vào doanh trại chém giết, chết nhiều như ngả rạ. Lương Thành đang ngủ say, bỗng nghe tiếng gào thét bên ngoài, giật mình hoảng hốt bò dậy, khoác giáp trụ nhảy lên ngựa định chống cự. Chỉ thấy Lưu Lao Chi xông lên, tay cầm giáo dài lao thẳng đến trại của Lương Thành. Vừa hay Lương Thành xông ra, hai bên đánh nhau mười mấy hiệp. Lương Thành khiếp đảm run tay, lát sau không tiếp chiêu nổi, bị giáo của Lưu Lao Chi đâm trúng, ngã ngựa.


Quân Tần mất chủ tướng, càng không có lòng dạ nào để chống cự lại, lũ lượt kéo nhau rút chạy về phía sau. Quân Tấn thừa thắng truy đuổi theo quân Tần đến tận bên bờ sông Hoài. Lưu Lao Chi lập tức bố trí quân mình cắt đứt đường rút lui của quân Tần. Quân Tần bị đuổi đến cùng đường, tranh nhau nhảy xuống sông tháo chạy, rất nhiều binh lính Tần bị chết đuối. Sau một đêm chiến đấu ác liệt, số lính chết và bị thương bên quân đội Tiền Tần lên tới 15.000 người, Lạc Giản bị "Bắc phủ binh" của Lưu Lao Chi thu phục, trận tuyến trên sông Hoài của quân đội Tiền Tần bị phá vỡ.


Tạ Thạch, Tạ Huyền nghe được tin thắng trận từ Lạc Giản báo về, một mặt ra lệnh cho Lưu Lao Chi tiếp tục men theo Hoài Hà tiến vế phía tây, giải cứu vòng vây ở Hiệp Thạch; một mặt đích thân chỉ huy các lộ binh mã thừa thẳng tiến đến bờ đông Phì Thủy, đóng quân tại đó, đối mặt với quân đội của Phù Kiên ở phía bên kia sông. Được tin chiến thắng cổ vũ, sĩ khí của quân đội Đông Tấn càng lên cao, một trận chiến quyết liệt lại sắp sửa nổ ra.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Tám, 2021, 07:38:37 am
5. Trên núi Bát Công, cỏ cây như lính

Nghe tin Lạc Giản thất thủ, Lương Thành bị giết, lại nghe báo cáo là đại quân của Đông Tấn đã đến bờ đông Phì Thủy thì Phù Kiên cũng bắt đầu cảm thấy tình hình có sự bất ổn. Phù Kiên vội cùng Phù Dung trèo lên lầu thành Thọ Dương, quan sát động tĩnh bên phía bờ đông Phì Thủy. Nhìn sang phía bờ đông, chỉ thấy thế trận của quân Tấn rất nghiêm chỉnh, cờ hiệu phấp phới, các doanh trại sắp đặt thành hàng lối ngay ngắn trên bờ sông Phì Thủy. Dưới chân núi Bát Công, thỉnh thoảng lại vọng tới tiếng reo hò của binh lính đang thao luyện. Phù Kiên bất giác ngầm kinh ngạc. Một trận gió bắc thổi tới, Phù Kiên nhìn theo hướng gió về phía bắc, trong lúc hoảng hốt, chỉ thấy khắp nơi trên núi Bát Công đâu đâu cũng đầy quân lính Đông Tấn. Phù Kiên cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, nói với Phù Dung:

"Nhà ngươi hãy nhìn xem, quân Tấn đông binh mã như vậy, rõ ràng là cường địch, sao lại nói rằng quân đội Tấn yếu được?".


Thực ra, trên núi Bát Công làm gì có binh lính Đông Tấn! Chỉ là cỏ cây trên núi lay động theo gió mà thôi! Phù Kiên do trong lòng đang lo lắng, lại vì ảo giác nên nghĩ rằng khắp nơi đều có quân Tấn. Về sau, người Trung Quốc dùng câu thành ngữ "Thảo mộc giai binh" để ví với sự sợ hãi quá độ của một người nào đó.


Phù Kiên không dám coi thường quân Tấn nữa. Ông ta đi xuống thành, truyền lệnh cho tướng sĩ của mình phòng thủ nghiêm mật phòng tuyến Phì Thủy, không có mệnh lệnh của Phù Kiên, không ai được qua sông tấn công.


Trận địa của quân Tần bố trí dày đặc, tầng tầng lớp lớp trên bờ Phì Thủy, nếu quân Tấn muốn qua sông sẽ vấp phải khó khăn rất lớn. Mặc dù quân Tần bị thất bại ở Lạc Giản, sĩ khí có bị giảm xuống phần nào, nhưng quân số vẫn còn đông gấp mấy lần quân Tấn. Tạ Thạch, Tạ Huyền nhận định rằng: Hiện tại quân Tấn chỉ có thể nắm chắc thời gian, tranh thủ chủ động, tiến hành thần tốc tấn công thì mới có thể có khả năng giành được thắng lợi. Nếu không như vậy, một khi mà quân chủ lực của Phù Kiên đã tề tựu đông đủ, sự thắng thua khó mà lường trước được.


Tiến thêm một bước, họ nhử quân Tần tiến hành quyết chiến, đồng thời vạch ra kế hoạch tác chiến nhằm chỉ một trận phá tan quân Tần.

Tạ Huyền phái một sứ giả nhà Tấn đến Thọ Dương, nói với Phù Dung rằng:

"Tướng quân mang quân thâm nhập vào biên giới nước chúng tôi, lại lập trận án binh bất động trên bờ Phì Thủy, như vậy là muốn kéo dài thời gian, sao không cùng chúng tôi quyết chiến một trận? Nếu như tướng quân lùi quân lại một chút, chừa ra một khoảng trống làm chiến trường, để chúng tôi vượt sông rồi hai bên quyết một trận thắng thua, chẳng phải là tốt hơn sao?"


Phù Dung báo cáo ngay yêu cầu của phía quân Tấn cho Phù Kiên biết.

Phù Kiên nghĩ: Quân Tấn tuy có giành thắng lợi ở Lạc Giản, nhưng lực lượng cũng chỉ có hạn, lẽ nào ta lại sợ không dám quyết chiến một trận với chúng? Nếu không đáp ứng yêu cầu của quân Tấn, có nghĩa là thể hiện sự run sợ của ta. Thế là Phù Kiên bèn triệu tập hội nghị các tướng lĩnh dưới quyền để cùng bàn bạc về vấn đề này.

Các tướng lĩnh của Phù Kiên đều nói:

"Chúng ta quân đông, phía Tấn quân ít, chẳng thà cứ phòng thủ chắc ở bờ Phì Thủy, không cho quân Tấn vượt sông, sau đó tìm cơ hội tấn công tiêu diệt chúng, đấy mới là kế sách vẹn toàn!".

Nhưng Phù Kiên lại có sự tính toán khác, ông ta muốn tương kế tựu kế, đợi đến khi quân Tấn đến giữa dòng Phì Thủy sẽ bất ngờ tấn công, áp dụng chiến thuật bất ngờ tập kích, một trận tiêu diệt sạch quân Tấn. Vì vậy, Phù Kiên không chịu nghe theo ý kiến bàn bạc của các tướng lĩnh. Phù Kiên bảo Phù Dung thông báo với sứ giả quân Tấn, đồng ý lui quân, còn hẹn thời gian cho Tạ Huyền dẫn quân vượt sông sang quyết chiến.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Tám, 2021, 07:39:28 am
6. Đại chiến Phì Thủy

Nhận được tin trả lời của phía quân Tần, quân Tấn lập tức khẩn trương hành động.

Tạ Huyền thống lĩnh 8 vạn quân Tấn, sắp đặt trận thế ở bờ đông Phì Thủy: phía trước là kị binh, phía sau là bộ binh, quân dung vô cùng chỉnh tề.

Thời khắc quyết chiến đã đến!

Phù Kiên ngồi trên chiến xa có vẽ hình vân mây rất đẹp, được mấy chiến tướng hộ vệ xuất hiện trên thành Thọ Dương. Phù Dung và đại tướng Trương Hào, mang giáp trụ, cưỡi ngựa đến trước trận tiền. Phù Kiên nhìn trận địa phía đối diện một lượt rồi gọi Phù Dung đến truyền mệnh lệnh, ra lệnh cho toàn quân lui lại phía sau, để lại một khoảng trống làm chiến trường, cho quân Tấn vượt sông lên quyết chiến.


Đại bộ phận quân Tần là do bị Phù Kiên cưỡng bức vào lính, trong số đó có nhiều người Hán và cả những nô lệ thuộc các dân tộc khác, họ đều chán ghét chiến tranh, lại càng không muốn chết thay cho giai cấp quý tộc dân tộc Đê. Thấy Phù Dung phát lệnh lui binh, tất cả quân Tần đều nhân cơ hội tranh nhau lui vê phía sau, dẫm đạp lên nhau để rút chạy khỏi chiến trường, vỡ thế trận không thể nào ngăn cản nổi. Lúc đó, Chu Tự từ phía sau hô lớn: "Quân Tần thua rồi! Quân Tần thua rồi!".


Nghe thấy vậy, quân sĩ nhà Tần lại càng hô nhau chạy cho nhanh, toàn bộ hàng ngũ quân Tần rối loạn. Các tướng Tần dùng biện pháp chém đầu quân lính rút chạy để ngăn chặn, nhưng không sao ngăn nổi. Ngay cả bản thân các tướng lĩnh cũng bị dòng người cuốn trôi về phía sau. Đúng lúc đó, Tạ Huyền cùng Tạ Viêm, Hằng Doãn thống lĩnh 8.000 kị binh, nhảy xuống sông Phì Thủy, đại quân Tấn ở phía sau cũng theo sát phía sau vượt sông, Sắp xếp thế trận tấn công.


Phù Kiên thấy tình thế bất lợi, bèn bảo Phù Dung nhanh chóng ra lệnh cho quân Tần ngừng lui quân, quay lại nghênh chiến với quân Tấn. Thế nhưng quân Tần đang ở thế vỡ trận, không thể nào ngăn cản được.


Tạ Huyền bèn nắm lấy thời cơ có lợi đó, chỉ huy quân Tấn ở phía sau gấp rút truy kích. Chủ tướng của quân Tần là Phù Dung còn muốn mình đích thân áp trận để ngăn chặn sự sụp đổ của quân đội. Nào ngờ, một đám loạn quân xông tới đẩy Phù Dung ngã lăn xuống ngựa, bị đám binh sĩ của quân Tấn chém chết. Quân Tần mất chủ tướng lại càng thêm hỗn loạn, người ngựa quân Tần số thì tự dẫm đạp lên nhau mà chết, số thì bị quân Tấn giết chết, nhiều không đếm xuể. Cảnh tượng trên chiến trường lúc đó đúng là "thây rơi đầy nội, máu chảy thành sông", vô cùng kinh hãi!


Những tướng sĩ Tiền Tần còn may mắn giữ được tính mạng đều hồn bay phách lạc, bỏ chạy một mạch về hướng tây bắc Thọ Dương. Sợ bị quân Tấn truy đuổi, trên đương rút chạy, không dám đi đường lớn, chỉ dám đạp bừa vào các con đường nhỏ để mà rút, tối đến cũng không dám vào trú trong nhà dân, đành phơi thân ngoài đồng nội. Dân hai bên đường cũng rủ nhau mang vũ khí ra tiêu diệt, khiến cho quân Tần lại càng khiếp sợ, không dám quay đầu lại xem có quân đội Tấn truy đuổi phía sau không, thậm chí, nghe tiếng gió thổi phía sau cũng đạp lên nhau mà chạy. Lúc đó là vào tháng 11, thời tiết rất lạnh, đám tàn binh bại tướng nhà Tần vừa đói vừa rét, cuối cùng mười phần cũng đã chết mất bảy, tám phần.


Lại nói đến Phù Kiên, khi thấy cảnh đại bại ở ngoài trận tuyến Thọ Dương như vậy, cũng sợ đến mức hồn vía lên mây, vội chạy khỏi xe, nhảy lên ngựa lẫn vào đám loạn quân chạy trốn. Khi chạy được chẳng bao xa, Phù Kiên bị trúng tên vào vai, máu tươi chảy đầm đìa, cuống cuồng chạy trốn. May mắn cho Phù Kiên, cuối cùng cũng đã vượt được sông Hoài, theo sau chỉ còn lại vài tên lính thân cận. Phù Kiên dừng lại Hoài Bắc thu thập tàn binh, chỉ còn được có hơn 1.000 kỵ binh. Quân lính dưới quyền của Phù Kiên chỉ còn có 3 vạn quân dưới sự chỉ huy của viên tướng quý tộc người Tiên Ti là Mộ Dung Thùy thì chưa bị tổn thất gì cả. Phù Kiên bèn mang hơn 1.000 quân kỵ đó đến chỗ Mộ Dung Thùy, cùng rút lui về Lạc Dương. Trên đường đi, Phù Kiên lại thu thập thêm được một số tàn quân khác nữa, khi về đến Lạc Dương thì quân số là mười mấy vạn. Phù Kiên rất đau lòng, nói với người vợ yêu của mình rằng:

"Lần này thất bại thảm hại đến như thê này, ta còn mặt mũi nào mà thống trị thiên hạ được nữa!".


Tin thắng lợi từ trận chiến Phì Thủy báo về Kiến Khang, lúc đó, Tể tướng Tạ An đang ngồi ở nhà đánh cờ với một người bạn. Sau khi xem hết tin chiến trận của Tạ Thạch báo về, biết là quân Tần đã thất bại, bèn tiện tay để thư xuống giường, tiếp tục đánh cờ, dường như không có chuyện gì xảy ra cả. Người bạn của Tạ An không nén nổi tò mò, hỏi Tạ An:

"Tình hình trên chiến trường thế nào rồi?".

Lúc đó Tạ An mới ung dung trả lời:

"Không có gì đâu, bọn trẻ đã đánh bại quân của Phù Kiên rồi!".


Người bạn của Tạ An nghe thấy vậy, bèn hất đổ bàn cờ, vội vàng chạy đi báo tin thắng trận với các bạn đồng liêu. Một lát sau, Tạ An đứng dậy đi vào nhà trong, tới lúc đó thì không thể nén nổi vui mừng được nữa, đến nỗi vấp vào bậc cửa tung cả đế guốc mà không hay.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Tám, 2021, 07:40:08 am
7. Kết luận

Trận chiến Phì Thủy là một cuộc chiến tranh lớn nhất trong thời kỳ Đông Tấn và thập lục quốc ở Trung Quốc. Từ lúc xuất phát mang đại quân sang tiến công nước Tấn cho đến lúc trận Phì Thủy xảy ra, Tiền Tần bị tan vỡ hoàn toàn trong thời gian chỉ có bốn tháng. Qua trận chiến này, cục diện tương đối ổn định của Đông Tấn lại được củng cố thêm, kinh tế, văn hóa vùng Giang Nam được phát triển thêm một bước. Ngược lại, do thất bại của Phù Kiên, chính quyển của Tiền Tần cũng theo đó mà sụp đổ, các nước trước đây bị Phù Kiên đánh bại liên tiếp nổi lên phục quốc, những dân tộc thiểu số trước đây chưa thành lập nhà nước cũng nôi dậy thành lập nhà nước riêng của mình, miền Bắc Trung Quốc lại một lần nữa rơi vào cục diện chia cắt phân tranh cực kỳ hỗn loạn.


Trong cuộc chiến tranh Tần - Tấn này, quân đội của Tiền Tần có hơn 90 vạn, Đông Tấn chỉ có 8 vạn quân. Kết quả của cuộc chiến lại là Tấn thắng, Tần bại. Nguyên nhân căn bản ở đây là cuộc chiến do Phù Kiên phát động chỉ nhằm mục đích mở rộng bờ cõi, bành trướng sự thống trị, cướp đoạt sản vật của miền Giang Nam trù phú. Đây là một cuộc chiến tranh hoàn toàn phi nghĩa. Ngược lại, Đông Tấn chiến đấu để bảo vệ đất đai quê hương, chống lại sự xâm lược của kẻ ác, là cuộc chiến chính nghĩa.


Tuy quân đội của Tiền Tần chiếm ưu thế cả về kinh tế lẫn quân sự, nhưng trong nội bộ rất nhiều mâu thuẫn, nhân dân chán ghét chiến tranh, ngoài mặt thì thanh thế rất lớn, nhưng thực chất bên trong thì lại chẳng có sức mạnh gì. Hơn nữa, lúc đó ở Trung Quốc vẫn chưa đủ điều kiện để có thể thống nhất được hai miền Nam - Bắc. Đông Tấn tuy kinh tế không mạnh, quân đội cũng không lớn, nhưng nội bộ tương đối đoàn kết, hậu phương tương đối ổn định, nhân dân tích cực ủng hộ, trải qua nỗ lực chủ quan, cuối cùng Đông Tấn đã giành được thắng lợi huy hoàng.


Thắng lợi của Đông Tấn trong trận chiến Phì Thủy chủ yếu do công lao của binh sĩ và nhân dân cùng với sự đóng góp rất lớn của Tể tướng Tạ An, đã bình tĩnh có quyết sách đúng đắn. Các tướng lĩnh nhà Đông Tấn như Tạ Huyền đều đã căn cứ vào tình hình cụ thể trên chiến trường để có được sự vận dụng linh hoạt chiến lược, chiến thuật trong chiến tranh, đây cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thắng lợi của Đông Tấn.


Phù Kiên đã chủ quan khinh địch, bất chấp tình thế khách quan, không nghe theo những ý kiến đúng đắn, một mình một ý hành động, kết quả là đã dẫn đến thất bại thảm hại của quân Tần.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Chín, 2021, 08:06:48 pm
TRẬN CHIẾN LÝ TỐ PHÁ SÁI


Đại tướng Lý Tố của triều đình nhà Đường (Trung Quốc), trong một đêm tuyết rơi đầy trời đất, đã chỉ huy quân lính một trận đánh tan thành Sái Châu quan trọng ở phía tây sông Hoài, làm nên một kỳ tích về một cuộc chiến nổi tiếng giành chiến thắng bất ngờ trong lịch sử Trung Quốc cổ đại.


1. Ngô Nguyên Tế cát cứ Hoài Tây

Giữa thời nhà Đường, An Lộc Sơn và Sử Tư Minh phát động cuộc chiến tranh chia cắt đất đai chống lại triều đình, lịch sử Trung Quốc cổ đại gọi là "loạn An Sử". Sau "loạn An Sử", sự thống trị của vương triều nhà Đường suy yếu hẳn đi, khắp các địa phương trên đất nước Trung Quốc nổi lên rất nhiều phiên trấn. Bọn họ về danh nghĩa thì là các Tiết độ sứ của Đường triều, nhưng về căn bản thì không hề phục tùng mệnh lệnh của vương triều nhà Đường, về kinh tế, chính trị, quân sự, các phiên trấn đều tự ý hành động. Về sau, ngay cả chức vị Tiết độ sứ cũng truyền theo các đời, trở thành chế độ thế tập (chế độ cha truyền con nối). Trên thực tế, các phiên trấn đã trở thành các vương quốc độc lập. Tại các khu vực do bọn họ thống trị, sản xuất xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cuộc sống của nhân dân không được ổn định, vì vậy dân chúng rất phản đối và chán ghét sự cát cứ phân chia của các phiên trấn.


Vào các triều đại của Đường Đức tông, Đường Thuận tông, Đường Hiến tông, Hoài Tây Tiết độ sứ Ngô Nguyên Tế cùng với cha đẻ và bác ruột lấy Sái Châu (nay là huyện Nhữ Nam, Hà Nam, Trung Quốc) làm căn cứ địa, bàn cứ trên khu vực Hoài Tây hơn 30 năm. Bọn họ thường xuyên cử quân lính đến cướp của giết người, đốt phá ở các châu huyện xung quanh, khiến cho cuộc sống của nhân dân càng thêm khốn khổ.


Vương triều nhà Đường cũng nhận thức được mối họa trong lòng đó, từng phái quân đi đánh dẹp Ngô Nguyên Tế, thế nhưng do triều đình bổ nhiệm các tướng lĩnh không có năng lực, nên đánh đã hơn một năm mà không có tiến triển. Đến tháng 12 năm thứ 11 niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường Hiến tông (năm 816), triều đình nhà Đường cử Lí Tố làm Tiết độ sứ của ba châu Đường (nay là huyện Đường Hà, Hà Nam, Trung Quốc) - Tùy (nay là huyện Tùy, Hồ Bắc, Trung Quốc) - Đặng (nay là huyện Đặng, Hà Nam, Trung Quốc), tổ chức một đội quân phía tây, tiếp tục thảo phạt Ngô Nguyên Tế.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Chín, 2021, 08:07:35 pm
2. Quyết sách ngầm của Lý Tố

Tháng giêng năm Nguyên Hòa thứ 12 (năm 817), Lí Tố đến Đường Châu nhậm chức. Khi đó chính là lúc quan quân Đường triều liên tục nếm mùi thất bại, sĩ khí xuống rất thấp, quân lính đểu sợ phải đánh nhau.

Để ổn định lòng quân sĩ, vỗ về dân chúng Hoài Tây, Lí Tố cố tình nói với những người ra đón ông rằng:

"Hoàng thượng biết ta yếu đuối, sợ phiền phức, có thể chịu đựng được sự nhục nhã, vì vậy cử ta đến đây để an ủi các ngươi. Ngay cả việc đánh trận tấn công thành, cũng chẳng phải việc của ta".


Quân sĩ nghe trước mặt Lí Tố nói không phải đánh nhau thì trong lòng mới yên tâm. Lí Tố đích thân tới tận doanh trại để thăm hỏi sĩ tốt, hỏi han các thương bệnh binh, cấp ăn, cấp uống mà không hề tỏ vẻ hống hách của một vị đại quan. Những giải pháp đó của Lí Tố đã nhanh chóng truyền khắp vùng Hoài Tây. Ngô Nguyên Tế tự cho rằng mình đã từng đánh bại mấy tướng lĩnh giỏi của Đường triều, thêm vào đó, danh vọng địa vị của Lí Tố không cao nên không bận tâm lắm và cũng chẳng chú ý phòng bị Lí Tố tấn công.


Lúc đó, cánh quân phía đông của Đường triều tấn công Hoài Tây đang ở tại trận tuyến Cố Thủy (nay thuộc phía đông huyện Cố thủy, Hà Nam, Trung Quốc), tình hình không có tiến triển gì lớn. Cánh quân phía nam tấn công Thân Châu (nay là huyện Tín Dương, Hà Nam, Trung Quốc) thì trước thắng, sau bại. Chỉ có cánh quân phía bắc do Lý Quang Nhan chỉ huy là đang giành được thắng lợi trên chiến trường. Thế là Ngô Nguyên Tế chỉ tập trung chú ý vào chiến tuyến ở phía bắc. Ngô Nguyên Tế ra lệnh cho Hoài Tây Đại tướng quân Đổng Trọng Chất chỉ huy quân chủ lực Hoài Tây đóng quân cố thủ ở Hồi Khúc (nay là phía đông bắc huyện Yến Thành, Hà Nam, Trung Quốc) để chống lại sự tấn công của quan quân triều đình nhà Đường. Còn sào huyệt cũ của mình là Sái Châu, Ngô Nguyên Tế cũng không chú ý phòng ngự, chỉ để lại một lực lượng rất mỏng ở đó vì hắn cho rằng quan quân nhà Đường đã hơn 30 năm qua không xâm phạm được đến đó thì từ nay về sau cũng không thể đến đó được. Nắm được tình hình đó, Lý Tố âm thầm quyết định bất ngờ tấn công vào Sái Châu và bắt tay vào công tác chuẩn bị.


Lý Tố cho rằng, nếu muốn lấy được Sái Châu, nhất định phải có một đội quân có thể thực hiện được nhiệm vụ này. Lý Tố một mặt rút một bộ phận quân tinh nhuệ ở cánh quân phía đông Sơn Nam (nay là dải đất thuộc vùng đông bắc tỉnh Tứ Xuyên, phía tây nam tỉnh Hà Nam và phía tây bắc của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), đồng thời động viên chiêu mộ các tráng sĩ khỏe mạnh, có võ nghệ, gan dạ ở các châu Đường, Đặng bổ sung vào quân đội; mặt khác, ông dâng sớ lên hoàng đế nhà Đường, xin cử quân đến tăng viện cho mình. Đường Hiến tông bèn điều hơn 2.000 kị binh và bộ binh ở các nơi khác đến tăng viện cho Lý Tố. Lực lượng cánh quân phía tây do Lý Tố chỉ huy đã dần dần được tăng cường, sức chiến đấu mạnh dần lên.


Quân Hoài Tây tuy đã có được sức chiến đấu nhất định, nhưng bọn họ đều là những người dân bị cha con nhà họ Ngô dùng các thủ đoạn dụ dỗ hoặc uy hiếp, cưỡng bức buộc phải vào quân đội, thực chất họ đều chán ghét chiến tranh và không cam tâm tình nguyện chết thay cho các thế lực quân phiệt cát cứ. Tâm lý của tướng sĩ Hoài Tây đều không tán thành việc chia cắt cát cứ mà chỉ mong muốn vương triều nhà Đường có thể thống nhất đất nước. Nắm được đặc điểm đó, Lý Tố đã áp dụng chính sách ưu đãi trọng dụng tù binh để phân hóa làm tan rã hàng ngũ quân địch. Khoảng tháng hai, đội tuần tra của quân đội nhà Đường bắt được Hoài Tây dũng sĩ Đinh Sĩ Lương, Lý Tố không giết anh ta, ngược lại, cho anh ta một chức quan, dựa vào anh ta để bắt sống Trần Quang Hiệp - tham mưu Thủ quân của Văn Thành Bằng (một cứ điểm ở phía tây Sái Châu), buộc viên tướng trấn thủ ở Văn Thành Bằng là Ngô Tú Lâm mang theo 3.000 quân về quy hàng. Thế là Lý Tố đã chặt đứt "cánh tay trái" của Hoài Tây.


Tháng 5, Lý Tố lại làm theo đề xuất của Ngô Tú Lâm, dùng kế bắt sống viên tướng trấn thủ Hưng Kiều Bằng - một viên tướng kỵ binh nổi tiếng ở Hoài Tây tên là Lý Hựu. Lý Tố đích thân đến cởi trói cho Lý Hựu, đối đãi với Lý Hựu như với khách. Lúc đó, nha môn Tiết độ sứ của Lý Tố ở Hoài Tây có 3.000 vệ quân, đều là lính tinh nhuệ được rút về từ Sơn Nam, gọi là "Lục viện binh mã". Lý Tố giao cho Lý Hựu làm chức ”Lục viện binh mã sứ", chỉ huy đội quân này. Cảm kích trước sự ưu đãi và tín nhiệm của Lý Tố, Lý Hựu đã hiến nhiều kế sách cho kế hoạch đánh chiếm Sái Châu.


Đối với gia thuộc của các tù binh, hàng binh, Lý Tố cũng rất quan tâm và thường xuyên chiếu cố đến cuộc sống của bọn họ. Nghe nói có một số hàng binh ở nhà vẫn còn cha mẹ già, bèn ra lệnh cấp phát vải vóc, lương thực, cho phép họ về nhà. Lý Tố nói với bọn họ rằng:

"Các người đều là những người dân tốt, hãy mau quay về quê hương đoàn tụ cùng người thân và gia đình đi".

Những người hàng binh đều cảm động đến rơi nước mắt. Với những binh sĩ và dân chúng chạy trốn khỏi Sái Châu, Lý Tố cũng bố trí cho nơi ăn chốn ở thỏa đáng và cung cấp lương thực đầy đủ, vì vậy, số người chạy trốn khỏi Sái Châu đến đầu hàng quân của Đường triều ngày càng đông, lực lượng của quân địch ngày càng mỏng yếu, ảnh hưởng của quân đội Đường triều ngày càng mở rộng.


Lý Tố đặc biệt coi trọng việc tìm hiểu tình hình các hướng của Hoài Tây, mỗi khi có người từ Hoài Tây đến đầu hàng, nhất định Lý Tố phải đích thân đến hỏi han tỉ mỉ về tình hình quân địch, vì vậy, những vấn đề có liên quan đến phòng ngự ở Hoài Tây, Lý Tố đều nắm rất chắc. Đó chính là căn cứ để Lý Tố xây dựng kế hoạch tấn công Sái Châu một cách cụ thể và đầy đủ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Chín, 2021, 08:08:18 pm
3. Hai trận chiến vòng ngoài

Vương triều nhà Đường bắt đầu chinh thảo Hoài Tây từ năm Nguyên Hòa thứ 9 (năm 814) đến thời điểm đó đã là ba năm, thế nhưng vẫn không có tiến triển gì đáng kể, thế là trong triều có đại thần đã chủ trương ngừng việc đó lại. Tể tướng Bùi Độ lại kiên quyết chủ trương tiếp tục bình định Hoài Tây, còn xin với triều đình cho mình đích thân ra tiền tuyến để thị sát chiến trường. Đường Hiến tông đồng ý, còn bổ nhiệm Bùi Độ làm Tể tướng kiêm Hoài Tây tuyên úy chiêu thảo xử trí sứ - trên thực tế là Nguyên soái, chỉ huy toàn bộ quân đội chinh thảo Hoài Tây. Do chủ lực của đại quân chinh thảo Hoài Tây là cánh quân phía bắc, nên Bộ tổng chỉ huy của Bùi Độ được đặt ở Yển Thành (nay là huyện Yển Thành, Hà Nam, Trung Quốc).


Lý Tố biết được sứ mệnh của Bùi Độ, dự đoán rằng kế hoạch tấn công Sái Châu của mình có thể được Bùi Độ ủng hộ, nên lại càng tin tưởng hơn vào việc dụng binh của mình. Trong tháng 9, Lý Tố chọn một ngày xấu, gọi là ngày "hắc đạo hung nhật" (theo quan điểm mê tín, ngày tốt gọi là "hoàng đạo cát nhật") để bất ngờ tấn công chiếm ngoại thành Ngô Phòng (nay là huyện Toại Bình, Hà Nam, Trung Quốc), giết chết hơn 1.000 binh lính của Hoài Tây, số tàn binh rút chạy vào trong thành cố thủ, không dám đi ra khỏi thành. Lý Tố cố ý ra lệnh cho quân lính rút lui để nhử quân địch ra khỏi thành, quả nhiên tướng địch là Tôn Hiến Trung mang 500 kỵ binh từ phía sau đuổi đến. Quan quân Đường triều vô cùng hoảng sợ, định tháo chạy, Lý Tố lập tức xuống ngựa ra lệnh:

"Kẻ nào dám chạy trốn sẽ bị chém đầu!".

Lý Tố chỉ huy quân lính triều đình đánh nhau với địch, chém chết tướng địch Tôn Hiến Trung, quân địch bèn co lại, rút về trong thành. Các tướng lĩnh kiến nghị thừa thắng tấn công vào trong thành Ngô Phòng. Lý Tố nói:

"Đó chưa phải là mục đích của chúng ta".

Lý Tố không đồng ý, bèn dẫn quân quay về đại doanh. Trước khi tấn công chiếm Ngô Phòng khoảng ba tháng, Lý Tố đã từng cử một cánh quân đi tấn công Lang Sơn. Quân Hoài Tây tiến hành đánh trả, quan quân của triều đình bị thất bại. Tướng sĩ trong quân đội của triều đình đều cho rằng trận đánh đó vốn không đáng thất bại, vì vậy rất không phục. Lý Tố ngược lại, tỏ ra vui mừng, nói:

"Lần đánh nhau này, không thể để cho các ngươi chiến thắng được, phải để cho các ngươi nếm mùi thất bại một chút! .

Nghe vậy, các tướng sĩ đều lấy làm lạ, Lý Tố nói:

"Đó chính là kế sách!".

Tháng 10 năm đó, kế hoạch đánh vòng ngoài Sái Châu đã hoàn thành đúng theo dự định, điều kiện tấn công Sái Châu đã chín muồi. Hàng tướng Lý Hựu đề xuất phương án tác chiến cụ thể tấn công thành Sái Châu được Lý Tố chấp nhận, sai người đến Yển Thành báo cáo với Bùi Độ. Bùi Độ cũng cho rằng cần phải bất ngờ tấn công mới có thể giành được thắng lợi, thế là phương án tác chiến của Lý Tố được phê chuẩn.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Chín, 2021, 08:09:07 pm
4. Đêm tuyết phá Sái Châu

Mùa đông ở vùng Hoài Bắc đến tương đối sớm, trung tuần tháng 10 đã rất lạnh. Liên tục mấy ngày liền, bầu trời dày đặc mây, đến ngày 15 tháng 10 thì trời nổi gió, tuyết rơi đầy trời. Lý Tố bước ra cửa doanh trại nhìn trời, thấy rằng thời cơ tập kích Sái Châu đã đến. Ngay lập tức, Lý Tố truyền lệnh cử Lý Hữu chỉ huy đội quân tiên phong gồm 3.000 lính, bản thân Lý Tố chỉ huy một đội 3.000 lính trung quân còn Bộ tướng Lý Tiến Thành thì chỉ huy đội hậu quân cũng gồm 3.000 lính, tất cả xuất phát từ Văn Thành Bằng. Các bộ tướng không biết phải tiến quân về hướng nào, Lý Tố nói:

"Quân đội tiến về hướng đông!".

Tuyết vẫn không ngừng rơi, đến lúc hoàng hôn thì quân đội của Lý Tố hành quân đến thôn Trương Sài, cách thành Sái Châu 70 dặm. Quân đội của Lý Tố lập tức tiêu diệt toàn bộ số quân Hoài Tây phòng thủ và đài báo tin của chúng, chiếm lĩnh thôn Trương Sài. Lý Tố ra lệnh cho quân lính của mình nghỉ ngơi một lúc, ăn lương khô, kiểm tra lại vũ khí trang bị, sau đó chỉ để lại 500 quân trấn thủ thôn Trương Sài, còn tất cả đại quân lại tiếp tục lên đường, vượt tuyết rơi tiến vê phía đông. Tướng sĩ Đường triều càng ngày càng thêm lo lắng, hỏi Lý Tố rằng rốt cục thì họ đang đi về đâu? Lý Tố nói:

"Đến thành Sái Châu, bắt sống Ngô Nguyên Tế!".

Các tướng lĩnh nghe nói vậy đều ngạc nhiên, nhưng không ai dám nói không theo, chỉ đành phục tùng mệnh lệnh, dẫn quân tiến về phía trước.

Gió càng thổi càng lớn, tuyết càng rơi càng dày, thời tiết ngày càng thêm lạnh. Những cơn gió mang tuyết quất vào mặt tướng sĩ nhà Đường khiến cho da mặt họ tê buốt, rét thấu xương. Cờ xí cũng đông cứng cả lại. Chiến mã lạnh đến mức không dám kêu, chỉ mải miết đạp trên tuyết dày, khó nhọc tiến từng bước về phía trước. Lúc đầu, đội ngũ còn tranh nhau lấn bước hành quân, chỉ có một bộ phận lính già yếu bị chết cóng, về sau, đến cả những người lính khỏe mạnh cũng chết cóng không ít, ngựa chiến cũng chết mất khá nhiều. Do gió tuyết lạnh lẽo, lại phải hành quân xa, nên các tướng sĩ của nhà Đường đều chắc mẩm là mình sẽ không thoát nổi cái chết, song không ai dám chống lệnh. Họ đều cố gắng hết sức để chiến đấu với giá lạnh, giành giật lấy mạng sống cho mình. Cứ như vậy, trước khi trời sáng, quân đội của Lý Tố cuối cùng cũng đến được bên ngoài thành Sái Châu. Bên ngoài thành Sái Châu có một hồ nuôi vịt, ngỗng, Lý Tố ra lệnh cho quân sĩ khua cho vịt, ngỗng kêu loạn lên để che lấp tiếng người ngựa.


Từ khi cha con nhà họ Ngô cát cứ Hoài Tây cho đến lúc đó là hơn 30 năm, quan quân Đường triều đã không thể đến được thành Sái Châu, không ai có thể ngờ rằng trong đêm gió to tuyết lớn như vậy, quan quân lại có thể tiến áp sát thành được. Chính vì vậy, quân đội của Lý Tố đến sát thành mà không hề bị quân địch phát giác. Tướng tiên phong Lý Hựu chỉ huy một số ít quân lính trèo vào thành, giết chết toàn bộ số lính gác đang say sưa trong giấc ngủ, chỉ để lại một tên lính làm nhiệm vụ đánh trống canh, bảo hắn đánh trống canh như thường lệ, sau đó mở cổng thành cho đại quân Đường triều tiến vào bên trong.

Lúc đó, Ngô Nguyên Tế vẫn còn say sưa trong giấc ngủ, có người vào báo rằng:

"Quan quân của triều đình đến rồi!".

Ngô Nguyên Tế cười, nói:

"Chắc lại mấy tên trộm vào phá quấy chứ gì, đợi khi trời sáng sẽ đem chúng ra chém hết!".

Một lát sau, lại có người vào báo cáo:

"Thành đã bị mất rồi!".

Ngô Nguyên Tế nói:

"Đây nhất định là con em ởỏ Hồi Khúc đến xin áo rét đây mà!".

Sau đó, hắn nghe thấy tiếng truyền hiệu lệnh của quan quân, mới hoảng hốt chồm dậy khỏi giường, mang theo mấy tên tùy tùng trèo lên tường trong thành nội để kháng cự. Lý Tố ra lệnh quân lính Đường triều bao vây chặt thành nội. Nhân dân trong thành Sái Châu đã phải chịu đựng sự áp bức bóc lột của cha con nhà họ Ngô suốt mấy chục năm trời, đều căm hận chúng, nay thấy quan quân Đường triều đã công phá thành ngoại, bao vây thành nội, đều tranh thủ giúp quan quân chở củi, cỏ khô đến thiêu cháy cửa phía nam của thành nội. Cổng thành bị thiêu cháy, quan quân tràn vào bên trong thành. Ngô Nguyên Tế tuyệt vọng đành đứng ở trên thành xin đầu hàng. Lý Tiến Thành phải dùng thang đưa hắn xuống. Đó là ngày 17 tháng 10.


Ngày hôm sau, Lý Tố một mặt dùng xe tù áp giải Ngô Nguyên Tế về kinh thành Trường An, mặt khác, sai người báo tin thắng lợi cho Tể tướng Bùi Độ.


Bộ tướng của Ngô Nguyên Tế là Đổng Trọng Chất đang còn thống lĩnh 10.000 quân tinh nhuệ trấn thủ tại Hồi Khúc. Để kêu gọi đám quân này đầu hàng, Lý Tố đích thân đến thăm nhà Đổng Trọng Chất ở bên trong thành Sái Châu, động viên những người trong gia đình của Đổng Trọng Chất và đưa thư cho con trai Đổng Trọng Chất mang đến chỗ cha mình đóng quân, kêu gọi ông ta về đầu hàng triều đình. Sau khi đọc thư của Lý Tố, Đổng Trọng Chất một mình cưỡi ngựa đến chỗ Lý Tố xin đầu hàng. Hai cánh quân của Ngô Nguyên Tế đóng ở hai châu Thân và Quang nghe nói thành Sái Châu bị hạ, Ngô Nguyên Tế đã bị bắt làm tù binh cũng lần lượt kéo nhau về đầu hàng Lý Tố. Cả vùng Hoài Tây được bình định, cuộc chiến ở Hoài Tây đến đó là kết thúc. Tháng 11, Đường Hiến tông hạ lệnh giết Ngô Nguyên Tế.


Lý Tố đón Tể tướng Bùi Độ về Sái Châu, bản thân mình chỉ huy quân lính rút về Văn Thành Bằng. Tướng sĩ hỏi ông:

"Tại sao lúc đầu ngài bị bại trận ở Lang Sơn mà không thấy ngài lo lắng gì cả, ngược lại còn tỏ ra vui mừng? Tại sao đánh thắng Ngô Phòng mà không thừa thắng đánh chiếm luôn nơi đó? Vượt qua bão to tuyết lớn, đêm ngày cấp tốc hành quân, một mình một cánh quân đi sâu vào đất địch mà không hề sợ hãi, cuối cùng chỉ một trận đánh là giành thắng lợi, hạ được thành Sái Châu, đó là vì sao vậy?".

Lý Tố giải thích rằng:

"Chúng ta cố ý thua trận ở Lang Sơn để kẻ địch coi thường chúng ta, không để ý phòng bị chúng ta. Nếu chúng ta chiếm Ngô Phòng, quân địch ở đó sẽ chạy về Sái Châu, hợp sức phòng thủ. Để lại Ngô Phòng là để phân tán lực lượng của quân địch, có lợi cho việc chúng ta tấn công tập kích Sái Châu. Trong gió to tuyết lớn, thời tiết âm u, kẻ địch nhìn không rõ tin tức báo trên các đài quan sát phong hỏa, không có cách nào để biết được quân ta lại đột ngột tập kích. Một mình một cánh quân đi sâu vào đất địch, mọi người đều hiểu đó là sự nguy hiểm, nên mỗi người đều phải gắng sức mà chiến đấu, vì vậy có cơ sở để nắm chắc thắng lợi".


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Chín, 2021, 08:09:31 pm
5. Kết luận

Những phân tích của Lý Tố là rất có lý, ông có thể che mắt kẻ địch, lợi dụng thiên thời. Tuy nhiên, vẫn còn một điểm rất quan trọng nữa mà Lý Tố chưa nói ra, đó là từ đầu đến cuối, Lý Tố đã rất thành công trong thực hiện chính sách ưu đãi tù binh và trọng dụng các tướng lĩnh hàng binh, từ đó mà có thể phân hóa làm tan rã hàng ngũ quân địch, tăng cường sức mạnh của mình, cuối cùng chỉ một trận đánh là giành thắng lợi hoàn toàn.


Sau khi Hoài Tây được bình định, rất nhiều phiên trấn khác thấy triều đình nhà Đường có quyết tâm và có thực lực để trấn áp phản loạn, bèn buộc phải thu hẹp ảnh hưởng, phục tùng triều đình. Vì vậy, từ đó về sau, trong suốt một quãng thời gian tương đối dài, hình thức chính trị của vương triều nhà Đường được cải thiện, xuất hiện cục diện chính trị tương đối tập trung và thống nhất, điều đó đã mang lại lợi ích cho cuộc sống của nhân dân lao động Trung Quốc thời bấy giờ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Chín, 2021, 07:03:30 am
TRẬN CHIẾN YỂN THÀNH GIỮA TỐNG - KIM


Mùa thu năm Thiệu Hưng thứ 11 triều Nam Tống (năm 1140), Nhạc Phi đóng quân tại Yển Thành (Hà Nam, Trung Quốc) xây dựng phòng tuyến giao chiến với thống soái của quân Kim là Ngột Truật, đại phá quân kị binh thiết giáp của nhà Kim, đánh cho tướng Kim là Ngột Truật phải ôm đầu tháo chạy về Biện Kinh. Tướng Kim Ngột Truật phải đau đớn kêu lên rằng: "Ta khởi binh từ trên biển giành được thắng lợi hoàn toàn dựa vào Thiết phù đồ và Quải tử mã, nay thì đã hết rồi!".

Đó là câu chuyện về trận chiến giữa danh tướng nhà Nam Tống Nhạc Phi giao chiến với quân Kim ở Yển Thành và giành được thắng lợi.


1. Người Kim phá bỏ hiệp ước, xâm lược phía Nam

Năm 1127, quân Kim bắt hoàng đế nhà Bắc Tống là Tông Huy tông và con trai là Tống Khâm tông, vương triều Bắc Tống chấm dứt. Cũng vào năm đó tại phủ Ứng Thiên (nay là Thương Khâu, Hà Nam, Trung Quốc), một số quan văn võ trong triều đình nhà Tống đã lập em trai của Khâm tông là Triệu Cấu làm hoàng đế, đó chính là Tống Cao tông.


Triều đình nhà Tống được gây dựng lại, lịch sử Trung Quốc gọi đó là triều Nam Tống. Tống Cao tông sợ người Kim, không dám chống lại, chỉ chạy dài về phía nam, cuối cùng xây dựng thủ đô ở Hàng Châu, đổi tên là Lâm An. Từ đó triều đình nhỏ bé nhà Nam Tống chỉ sống một cách thầm lặng vụng trộm ở phương Nam, bỏ mặc dân chúng ở Trung Nguyên.


Để bảo vệ vương vị của mình, Tống Cao tông không hề cảm thấy nhục nhã khi cầu hòa với vương triều nhà Kim, lại còn đặc cách dùng Tần Cối - một tù binh được người Kim tha cho về nước làm Tể tướng, giao cho chủ trì việc hòa nghị với người Kim. Sợ đắc tội với người Kim, Triệu Cấu, Tần Cối thường xuyên trấn áp những tướng lĩnh yêu nước, chống lại người Kim. Có một lần, Nhạc Phi thắng lớn trên chiến trường, Triệu Cấu vội vàng ra lệnh cho Nhạc Phi không được truy kích quân địch, khiến Nhạc Phi không khỏi căm phẫn.


Không lâu sau đó, triều đình nhà Kim cử người sang "nghị hòa", bắt Triệu Cấu phải quỳ bái để nhận "chiếu dụ" của hoàng đế nhà Kim. Tất cả những quan văn võ theo phái chủ trương kháng chiên trong triều đình đều nhìn thấy rõ, việc "nghị hòa" của Tần Cối thực chất chính là muốn Nam Tống đầu hàng nhà Kim. Các quan trong triều có người dâng thư đòi chém đầu Tần Cối, bêu đầu thị chúng. Nhạc Phi cũng gửi thư lên cho Cao tông kể tội Tần Cối:

"Tướng thần làm việc quốc gia đại sự không thỏa đáng, sợ rằng sẽ bị hậu thế chê cười".

(Theo sách "Tống sử - Nhạc Phi truyện")

Về sau, Tần Cối còn thay mặt Triệu Cấu quỳ lạy nhận chiếu thư của triều đình nhà Kim, cùng nhà Kim ký hòa ước, nội dung là: Tống triều sẽ thần phục triều đình nhà Kim; mỗi năm cống nạp 25 vạn lượng bạc, nộp 25 vạn súc lụa; nhà Kim cam kết trả lại hai tỉnh Thiểm Tây và Hà Nam cho Tống triều.

Đó là vào tháng giêng, năm Thiệu Hưng thứ 9 (năm 1139).

Cái gọi là nghị hòa của tập đoàn thống trị nhà Kim vốn chỉ là kế sách tạm thời. Mùa thu năm Thiệu Hưng thứ 9 (năm 1139), nội bộ nước Kim xảy ra biến loạn, Hoàn Nhan Ngột Truật (Tông Bật) lên nắm quyền chấp chính, phản đối việc trả lại hai tỉnh Thiểm Tây và Hà Nam cho Tống triều, phá bỏ hòa ước mà hai nước Tống - Kim đã ký kết hồi tháng giêng năm đó. Tháng 5 năm sau, quân Kim chia làm bốn đường kéo vào tấn công Nam Tống, chiến tuyến bắt đầu từ Hoài Hà ở phía đông, phía tây bắt đầu từ Thiểm Tây. Ngột Truật đích thân giữ chức Đô nguyên soái, thống lĩnh hơn 10 vạn quân chủ lực nhà Kim tấn công Khai Phong. Trường An và Lạc Dương cũng lần lượt bị quân Kim tấn công vây hãm. Ngột Truật chỉ huy quân chủ lực tấn công vào Khai Phong Đông Kinh, tiếp theo đó lại tấn công chiếm Thương Khâu Nam Kinh, sau đó lại thừa thắng tấn công lên Hoài Tây.


Lúc đó, Tống Cao tông đang ăn mừng việc nghị hòa thành công, mở tiệc phong quan tiến chức, không hề phòng bị gì trước sự tấn công của nhà Kim. Vì vậy, khí thế tấn công của quân Kim lúc ban đầu vô cùng mạnh mẽ, nhưng không lâu sau vấp phải sự chống cự ngoan cương của quân và dân nhà Nam Tống dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh Nam Tống như Nhạc Phi, Lưu Kỳ, Hàn Thế Trung... nên đã bị chững lại. Trong các trận đánh đó, trận phản kích tại Yển Thành (nay là Yển Thành, Hà Nam, Trung Quốc) của Nhạc Phi là trận đánh xuất sắc nhất.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Chín, 2021, 07:04:19 am
2. Quân Tống đại thắng ở Yển Thành

Tin tức về việc Ngột Truật của nhà Kim phá bỏ hòa ước, chuẩn bị mang quân xâm lược Nam Tống đã truyền đến triều đình Nam Tống làm Tống Cao tông có phần hoảng hốt. Cao tông vội vàng truyền lệnh cho các tướng lĩnh như Nhạc Phi phải phòng vệ cẩn mật. Tống Cao tông cử Nhạc Phi giữ chức Chiêu Thảo sứ ở các lộ Hà Nam và Hà Bắc, phụ trách việc bố trí quân sự ở các châu: Quang (nay là Hoàng Xuyên, Hà Nam, Trung Quốc), Sái (nay là Nhữ Nam, Hà Nam, Trung Quốc), Trần (nay là Hoài Dương, Hà Nam, Trung Quốc), Hứa (nay là nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc). Sau khi nhận được mệnh lệnh, Nhạc Phi lập tức dẫn đại quân tiến về phía bắc.


Trước khi tiến hành phản công, Nhạc Phi một mặt phái các bộ tướng của mình là Ngưu Cao, Trương Hiến chia nhau đi thu phục lại các vùng đất ở Hà Nam; mặt khác, cử thủ lĩnh nghĩa quân là Lương Hưng quay trở lại vùng Thái Hành sơn, liên kết với các cánh quân khởi nghĩa khác triển khai hoạt động ở vùng địch hậu để hưởng ứng quân đội ở phía bắc. Trong một khoảng thời gian rất ngắn, quân đội nhà Tống đã thu phục lại các vùng đất Dĩnh Xương (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), Trần Châu (nay là Hoài Dương, Hà Nam, Trung Quốc), Trịnh Châu, Lạc Dương... Nhạc Phi đích thân chỉ huy khinh kỵ binh đóng quân tại Yển Thành, chỉ huy toàn bộ cục diện quân sự.


Trung Nguyên là khu vực tranh chấp của Tống và Kim. Ai khống chế được Trung Nguyên, người đó có thể từ trung ương đột phá trận tuyến của đối phương, tạo thành địa thế chiến lược có lợi cho việc phân chia kẻ địch. Vì vậy, Nhạc Phi dẫn quân thẳng tiến Trung Nguyên khiến cho viên tướng của nhà Kim đóng tại Đông Kinh là Ngột Truật cảm thấy vô cùng kinh hoàng. Hắn vội vàng triệu tập các tướng lĩnh dưới quyển đến họp để bàn kế sách đối phó. Ngột Truật cho rằng, các lộ quân của Nam Tống đều dễ dàng đối phó, duy chỉ có đội quân do Nhạc Phi chỉ huy là "tướng dũng binh tinh, lại có quân trung nghĩa ở Hà Bắc hưởng ứng chi viện, khí thế khó mà ngăn nổi". Vì vậy, Ngột Truật quyết định dẫn dụ cánh quân của Nhạc Phi một mình tiến sâu vào đến ngoại vi của Khai Phong, sau đó tập trung quân chủ lực giáng một đòn chí tử vào đối phương.


Nhạc Phi đã nhìn thấu âm mưu của kẻ địch, bèn tương kế tựu kế, mỗi ngày phái một cánh quân đến khiêu chiến quân địch. Ngột Truật tưởng rằng Nhạc Phi đã bị trúng kế, bèn đích thân chỉ huy các cánh quân: Long Hổ đại vương, Cái Thiên đại vương và Ngụy Chiêu Vũ đại tướng quân Hàn Thường tiến thẳng đến Yển Thành, chuẩn bị quyết chiến với Nhạc Phi.


Nhạc Phi trước tiên ra lệnh cho con trai mình là Nhạc Vân chỉ huy "Bội nguy quân" (thân quân thị vệ) tiến thẳng đến trận địa quân địch, đánh trả một đòn thật nặng nể. Trước khi xuất kích, Nhạc Phi nghiêm khắc nói với Nhạc Vân rằng:

"Lần này con nhất định phải giành được thắng lợi, sau đó mới có thể quay trở về. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ này, ta sẽ chém đầu con trước đó!".

Nhạc Vân ghi nhớ lời dặn dò của cha, hành động vô cùng cẩn thận, khi tác chiến với quân địch thì dũng cảm phi thường, lấy một địch mười, giết được rất nhiều quân địch, thu được hàng vạn con ngựa.


Quân Kim trong lần xâm lược phương Nam này, Ngột Truật đã đích thân thống lĩnh hơn 15.000 quân tinh nhuệ "Thiết phù đồ" và "Quải tử mã", chuẩn bị tập kích vào đại bản doanh của Nhạc gia quân, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân chủ lực của Nhạc gia quân. "Thiết phù đồ" là đội quân kỵ binh đặc chủng của Ngột Truật, cả người và ngựa đều được mang một thứ giáp dày và nặng, cứ ba kỵ binh thành một đội, làm thành quân tiên phong ở mặt trận chính diện. Mỗi khi tiến công, đội quân này đều dùng các vật chướng ngại để chặn đường phía sau, chỉ cho phép tiến chứ không cho phép lùi. "Quải tử mã" là hai cánh quân kỵ binh bên trái và bên phải. Trong khi tác chiến, phối hợp với "Thiết phù đồ” bao vây tấn công ở hai bên. Loại quân kỵ binh này đều do người Nữ Chân tổ chức thành. Khi vào trận, đội hình này giống như một bức tường sắt bao vây quanh trận địa, rất khó đối phó.


Nhạc Phi nhận thấy "Thiết phù đồ" và "Quải tử mã" tuy rất lợi hại, nhưng vẫn có thể lợi dụng được nhược điểm của nó để tìm ra biện pháp đối phó. Ông đã phát hiện thấy chân ngựa của đội quân "Thiết phù đồ" không thể lắp giáp che được, chỉ cần chặt đứt chân ngựa, cả ngựa và kỵ sĩ trên lưng ngựa đều bị đốn ngã. Vì vậy, Nhạc Phi đã mưu trí chỉ huy các tướng sĩ cầm chắc mã đao, trường phủ đối đầu với quân địch. Quân Tống trên thì chém đầu quân địch, dưới thì chém chân ngựa. Quân Kim ngựa ngã, người cũng ngã, người ngựa đại loạn. Nhạc Phi giương cung, phi ngựa, đích thân lao vào trận tiền, tả xung hữu đột, tướng sĩ thấy vậy, dũng khí càng lên cao. Viên bộ tướng được Nhạc Phi yêu quý là Dương Tái Hưng một mình một ngựa xông vào trận tuyến của quân địch, khí thế vô cùng dũng mãnh, suýt nữa thì bắt được Ngột Truật. Trong trận đại chiến kéo dài từ giờ thân (khoảng 4 giờ chiều) đến hoàng hôn, quân Kim đại bại, kẻ bị bắt sống, kẻ bị chết, bị ngựa giày xéo, thây phơi đầy nội. Âm mưu hợp vây quân Tống của tướng Kim Ngột Truật đã bị phá sản hoàn toàn. Ngột Truật thấy đội quân giáp kỵ binh tinh nhuệ của mình bị quân Tống tiêu diệt thì vô cùng đau đớn. Hai hôm sau lại tăng cường thêm binh lực đến tập trung ở cách Yển Thành 5 dặm, chuẩn bị tái chiến.


Thủ hạ của Nhạc Phi là Vương Cương mang 50 lính kỵ binh đi trinh sát địch tình, dũng cảm xông vào trận địa của quân địch chém chết được một số tướng cấp thấp của quân địch. Nhạc Phi thừa cơ dẫn lính khinh kỵ xuất kích, đại bộ phận binh lính theo sau từ hai bên tả hữu bắn vào quân địch, lại một lần nữa đánh bại quân của Ngột Truật. Trải qua 3 ngày kịch chiến, quân của Ngột Truật phải chịu thất bại thảm hại, Nhạc gia quân giành được thắng lợi to lớn ở Yển Thành.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Chín, 2021, 07:04:49 am
3. Lại đánh bại quân Kim ở Lâm Dĩnh

Ngột Truật thua trận, càng thêm phẫn chí, thế là tập trung 12 vạn binh lực tiến đến Lâm Dĩnh (nay là Lâm Dĩnh, Hà Nam, Trung Quốc). Nhạc Phi phái binh nghênh chiến, cử bộ tướng của mình là Dương Tái Hưng mang 300 kỵ binh đảm nhận mũi tiên phong. Trong trận Tiểu Thương Kiểu (ở phía nam, cách Lâm Dĩnh 25 dặm), quân Tống giết chết hơn 2.000 quân Kim, thế nhưng do quân số ít, Dương Tái Hưng đã hy sinh trong chiến đấu. Ngày hôm sau, quân của hai bên lại giao chiến hai lần, quân Kim đại bại, phải tháo chạy.


Nhạc Phi phán đoán quân Kim nhất định sẽ mang quân tấn công Dĩnh Xương nên bèn ra lệnh cho Nhạc Vân chỉ huy kỵ binh nhanh chóng cứu viện cho quân của Vương Quý đang đóng ở Dĩnh Xương. Khi Nhạc Vân đến Dĩnh Xương, quả nhiên Ngột Truật cũng đích thân mang quân đến tấn công Dĩnh Xương. Nhạc Vân và Vương Quý hợp lực tấn công, quân phòng thủ trong thành cũng mang quân dự bị ra chiến đấu, chí khí của Nhạc gia quân càng lên cao. 800 lính kỵ binh của Nhạc gia quân đảm nhiệm mũi chính diện, bộ binh sắp xếp ở hai bên cánh tả hữu để đối phó với kỵ binh của quân Kim. Hai bên đánh nhau từ sáng cho đến trưa, tướng sĩ của Nhạc gia quân không một ai lui bước. Nhạc Vân tay nắm song chùy, tả xung hữu đột trong trận địa quân địch, tuy người bị trọng thương, máu ướt đẫm chiến bào, nhưng vẫn hăng hái chiến đấu. Tiếp đó, Đổng Tiên, Hồ Thanh mang quân bộ binh kéo đến, xông vào trận chiến, cuối cùng đánh bại quân Kim, tiêu diệt hơn 5.000 quân địch. Chỉ huy quân Kim là thượng tướng Hạ Kim Ngô (con rể của Ngột Truật) cũng bị Nhạc Vân dùng đại thiết chùy đánh chết tại trận. Ngột Truật thấy thế trận đã mất, đành phải ngay trong đêm đó ra lệnh rút quân về Khai Phong.


Bộ tướng của Nhạc Phi là Trương Hiến cũng mang quân đánh quân Kim ở phía đông bắc Lâm Dĩnh, đánh tan 6.000 quân Kim, thu được hàng trăm con ngựa chiến. Toàn bộ trận tuyến của quân Kim sụp đổ, thần thoại "bất khả chiến bại" của "Thiết phù đồ" và "Quải tử mã" đã bị tan vỡ hoàn toàn. Nhạc Phi thừa thắng dẫn quân truy kích quân Kim đến tận Chu Tiên trấn cách Khai Phong Đông Kinh 45 dặm. Quân Kim thua trận, rút về Khai Phong, chuẩn bị tháo chạy về phương bắc.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Chín, 2021, 07:05:21 am
4. Nhac Phi nén đau rút quân quay về

Thắng lợi ở Yển Thành, Dĩnh Xương đã động viên tinh thần kháng chiến chống quân xâm lược Kim của quân dân miền Bắc nước Tống. Thủ lĩnh của "Trung nghĩa bảo xã" ở Thái Hành sơn là Lương Hưng và viên tướng của "Hà Đông trung nghĩa quân" là Triệu Vân cùng thu phục lại Viên Khúc ở Sơn Tây đồng thời tiến đến sát hai huyện Vương Ốc (nay là phía tây nam Dương Thành, Sơn Tây, Trung Quốc), Tế Nguyên (nay là Tế Nguyên, Hà Nam, Trung Quốc), giết và bắt sống rất nhiều quân địch, thu được nhiều vũ khí chiến lợi phẩm, ngựa xe. Nhạc Phi cử Lương Hưng đi đến chỗ các vị hào kiệt trung nghĩa ở Lưỡng Hà, tuyên bố ý chỉ của triều đình, mời họ cùng hợp sức chống địch. Nghĩa quân ở các châu phủ vùng Sơn Tây đều giương cao ngọn cờ có chữ ’’Nhạc", hẹn nhau ngày tiến quân. Nghe tin Nhạc gia quân đóng quân ở Chu Tiên trấn, nghĩa quân ở vùng Lưỡng Hà đều rất hân hoan, chuẩn bị đón tiếp Nhạc gia quân sang sông. Nhân dân hai vùng nam, bắc Đại Hà cũng công khai chuẩn bị hương án, lương thực để đón mừng đại quân. Quan lại của quân địch ở địa phương chỉ giương mắt ngồi nhìn mà không dám can thiệp. Từ Yển Kinh trở xuống phía nam, hiệu lệnh của chính quyền nhà Kim hoàn toàn vô hiệu lực.


Chính vào lúc Nhạc Phi liên tục giành được thắng lợi lớn trên tiền tuyến, chuẩn bị kế sách vượt sông thì lại vấp phải sự phản bội đê hèn của bọn Triệu Cấu, Tần Cối. Bọn chúng lo sợ thắng lợi của Nhạc Phi sẽ phá vỡ kế hoạch đầu hàng của chúng, lại lo sợ Nhạc Phi sau khi thắng lợi sẽ uy hiếp địa vị của bọn chúng, nên giữa lúc quân đội của Nhạc Phi đang trên đà thắng lớn thì vội vàng ra lệnh cho Nhạc Phi phải đình chỉ kế hoạch tấn công trên các trận tuyến. Tiếp sau đó, lấy cớ "cô quân bất khả cửu lưu" (quân đơn độc không nên lưu lại lâu trên đất địch), chỉ trong một ngày đã hạ 12 đạo "kim tự bài” (một thứ thẻ gỗ sơn trên khắc chữ vàng, dùng để ra lệnh trong những trường hợp việc quân khẩn cấp, do nhà vua trực tiếp ban lệnh, một ngày phải đi 400 đến 500 dặm) buộc Nhạc Phi phải rút quân.


Trong tình cảnh đó, Nhạc Phi buộc phải đau đớn rút quân về Tương Dương. Trên đường rút quân, nhân dân Trung Nguyên ngăn Nhạc gia quân lại mà kêu khóc, tiếng khóc than vang dậy trời đất. Nhân dân vùng Hà Nam cũng lũ lượt kéo nhau rút theo quân đội. Sau khi Nhạc Phi rút quân đi, vùng Hà Nam lại rơi vào tay người Kim.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Chín, 2021, 07:05:38 am
5. Kết luận

Sau hoà ước Thiệu Hưng (tháng 11 năm Thiệu Hưng thứ 11) được ký kết không lâu, Tần Cối làm theo ý chỉ của Tống Cao tông, gấp rút tiến hành hoạt động hãm hại Nhạc Phi. Ngày 29 tháng 12 năm Thiệu Hưng thứ 11, cha con danh tướng họ Nhạc đã bị ghép vào tội mưu phản, khi đó Nhạc Phi mới chỉ 39 tuổi, Nhạc Vân mới 23 tuổi.


Trận chiến giữa Tống và Kim xảy ra vào thế kỷ 12 là cuộc chiến tranh dân tộc có phạm vi lớn và thời gian khá dài trong lịch sử Trung Quốc. Khi Nhạc Phi còn sống, thảm hoạ của cuộc chiến tranh khốc liệt đã lan tràn trên khắp lãnh thổ Trung Quốc, phá hoại nặng nề kinh tế. Hơn nữa cục diện đối đầu chia cắt nam bắc giữa Tống và Kim cũng làm ảnh hưỏng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội, gây nên bao nỗi thống khổ cho nhân dân các dân tộc trên cả nước Trung Quốc. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống nhà Kim mà người đại diện là Nhạc Phi không chỉ phục vụ cho chính quyền nhà Tống, mà thực chất đã thể hiện lợi ích và mong muốn của nhân dân các dân tộc, là cuộc đấu tranh chính nghĩa chống lại sự chia cắt, đòi sự tiến bộ của nhân dân lao động đối với triều đình lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 05 Tháng Chín, 2021, 07:42:27 am
TRẬN CHIẾN HỒ PHỒN DƯƠNG GIỮA CHU - TRẦN


Vào những năm cuối thời Nguyên (1271-1368), ở Trung Quốc nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân với quy mô lớn. Khắp các địa phương trên đất Trung Quốc nổi lên các cuộc đấu tranh vũ trang chống lại sự thống trị tàn bạo của giai cấp quý tộc Mông Cổ và bọn địa chủ. Trải qua nhiều năm chiến tranh, các cuộc khởi nghĩa có cuộc thất bại, có cuộc phát triển lớn mạnh, trở thành thế lực cát cứ địa phương. Tại khu vực trung hạ du của lưu vực sông Trường Giang, có hai cánh quân vũ trang mạnh nhất, một là của Trần Hữu Lượng, một là của Chu Nguyên Chương. Hai cánh quân này một mặt tự tiến hành cuộc chiến đấu chống lại quân Nguyên Mông, mặt khác lại mâu thuẫn với nhau. Trần Hữu Lượng vốn là bộ hạ của lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Từ Thọ Huy, nhưng lại âm mưu sát hại lãnh tụ, cướp quyền lãnh đạo, tự lập vương quốc, lấy quốc hiệu là Đại Hán. Để độc chiếm quyền bá chủ Giang Nam, Trần Hữu Lượng luôn muốn tiêu diệt Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương cũng nhận thấy rằng, nếu như không tiêu diệt Trần Hữu Lượng và các thế lực cát cứ thù địch khác ở phương Nam thì sẽ không củng cố được căn cứ địa của mình, không tập trung được lực lượng để tiến lên phía Bắc tiêu diệt quân Nguyên Mông, cuộc chiến tranh chống nhà Nguyên cũng sẽ không tiến hành được một cách triệt để và không xây dựng được chính quyền thống nhất trên toàn đất nước Trung Quốc được. Vì vậy, hai cánh quân này không ngừng tấn công tiêu diệt lẫn nhau. Trận đánh dưới đây chính là một trận đại chiến giữa hai đội quân của Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng - trận đánh ở hồ Phồn Dương.


1. Lưu Cơ định kế

Trần Hữu Lượng chiếm cứ một vùng đất rộng thuộc địa phận ba tỉnh Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc Trung Quốc. Hắn ỷ thế quân đông, tướng nhiều, lực lượng hùng hậu, quyết định men theo Trường Giang về phía đông và hẹn với Trương Sĩ Thành đang chiếm cứ vùng đông nam Giang Tô cùng nhau phối hợp tấn công Ứng Thiên (nay là Nam Kinh, Trung Quốc), hòng một trận tiêu diệt Chu Nguyên Chương.


Chu Nguyên Chương lấy Ứng Thiên làm căn cứ địa, chiếm cứ một phần đất đai thuộc ba tỉnh Giang Tô, An Huy, Triết Giang ngày nay, lực lượng cũng ngày một phát triển lớn mạnh.

Tin tức Trần Hữu Lượng sẽ tấn công truyền đến Ứng Thiên. Chu Nguyên Chương triệu tập quần thần đến họp bàn kế sách đối phó. Lưu Cơ đưa ra phương châm chiến lược là: "Dĩ dật đãi lao, hậu phát chế nhân" (lấy quân nhàn rỗi khỏe mạnh để đối phó với quân phải vất vả từ nơi khác đến, nhường thế chủ động rồi sau mới nắm lấy quyền khống chế kẻ địch). Lưu Cơ cho rằng, trước tiên phải làm tốt công tác cổ vũ động viên sĩ khí, chỉ cần sĩ khí hưng thịnh, sau đó sắp đặt phục binh, dùng kế phá địch thì hoàn toàn có thể giành được thắng lợi. Chu Nguyên Chương hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Lưu Cơ. Để tránh bị Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành từ hai phía tấn công, Chu Nguyên Chương cho rằng phải nhân lúc bọn họ chưa kịp hợp quân, bằng mọi cách nhử cho Trần Hữu Lượng tấn công trước, chỉ cần đánh tan quân của Trần Hữu Lượng thì quân của Trương Sĩ Thành ắt sẽ không dám tấn công nữa.


Bộ tướng của Chu Nguyên Chương là Khang Mậu Tài vốn có quen biết từ trước với Trần Hữu Lượng. Chu Nguyên Chương bèn nói với Khang Mậu Tài:

"Ông hãy viết một bức thư sai người mang tới cho Trần Hữu Lượng, giả bộ muốn đầu hàng hắn, tỏ ý muốn cùng với hắn hợp tác trong đánh ra, ngoài đánh vào, dụ hắn mau chóng tấn công. Để không gây sự nghi ngờ, ông có thể tiết lộ cho hắn một số bí mật quân sự giả, khuyên hắn chia làm ba đường đến tấn công Ứng Thiên".

Khang Mậu Tài đồng ý, nói:

"Được, nhà tôi có một người hầu già, trước đây đã từng làm việc cho Trần Hữu Lượng, để hắn mang thư của tôi đi thì Trần Hữu Lượng nhất định sẽ không nghi ngờ gì hết!".


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 05 Tháng Chín, 2021, 07:42:50 am
2. Khang Mâu Tài hạ thư

Vào một đêm tối yên tĩnh, người hầu già của Khang Mậu Tài chèo một chiếc thuyền nan nhỏ, lén sang phía kia sông, mang thư của Khang Mậu Tài đến gặp Trần Hữu Lượng. Trần Hữu Lượng mừng lắm, hỏi Khang Mậu Tài đang đóng quân ở đâu? Người hầu già nói Khang Mậu Tài đóng ở cầu Giang Đông. Trần Hữu Lượng lại hỏi: cầu gỗ hay cầu đá? Người hầu già nói: cầu gỗ. Trần Hữu Lượng thưởng cơm rượu cho người hầu già, trước khi về còn dặn dò:

"Khi ta xuất quân đánh cầu Giang Đông, sẽ gọi "lão Khang” làm ám hiệu, lúc đó Khang tướng quân hãy đến tiếp ứng".

Người hầu già trở về nơi đóng quân của Chu Nguyên Chương, báo cáo lại toàn bộ tình hình với Chu Nguyên Chương. Ngày hôm sau, có một người lính trốn từ chỗ của Trần Hữu Lượng sang báo cáo với Chu Nguyên Chương rằng:

"Trần Hữu Lượng đã thăm dò cách đi đến cửa sông, xem ra hắn có khả năng sẽ tấn công nơi đây".

Chu Nguyên Chương căn cứ vào tình hình này để tiến hành bố trí chiến đấu. Trên các cứ điểm quan trọng thuộc tuyến đường Trần Hữu Lượng tiến công đều bố trí các đại tướng và cho quân mai phục. Chu Nguyên Chương đích thân đốc chiến ở núi Lư Long, đồng thời cho người ngày đêm sửa cầu Giang Đông thành cầu đá. Tất cả công việc chuẩn bị đều đã hoàn tất, chỉ còn chờ Trần Hữu Lượng chui vào bẫy.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 05 Tháng Chín, 2021, 07:43:16 am
3. Trần Hữu Lượng tự chui vào lưới

Trần Hữu Lượng quả nhiên đích thân chỉ huy thủy quân thuận theo dòng nước tiến về phía đông, trước tiên cập cảng Đại Thắng, dự định sẽ đổ bộ ở đây. Thế nhưng, cửa sông ở đây rất hẹp, hơn nữa hắn lại phát hiện ra Chu Nguyên Chương đã có sự chuẩn bị trước, bèn vội vàng quay mũi thuyền tiến thẳng tới cầu Giang Đông. Khi đến gần mói phát hiện ra là cầu đá chứ không phải cầu gỗ, hắn đã không nén nổi kinh ngạc. Tiếp đó, theo ám hiệu đã hẹn trước, hắn cho người gọi to: "Lão Khang!", nhưng không thấy có ai đáp lại. Trần Hữu Lượng lúc này mới bừng tỉnh, nhận ra rằng mình đã mắc mưu Khang Mậu Tài nên vội vàng chỉ huy quân rút chạy.


Đúng vào lúc đó, đột nhiên trống trận nổi lên, phục binh của Chu Nguyên Chương nhất tề xông ra, từ hai phía thủy bộ kẹp chặt quân của Trần Hữu Lượng vào giữa mà đánh. Quân của Trần Hữu Lượng bị đánh bất ngờ, muốn đánh lại không được, muốn tháo chạy cũng không xong, bị giết, bị chết đuối nhiều không kể xiết. Số bị bắt làm tù binh đến 7.000 người, hơn 100 chiến thuyền lớn bị đánh chìm và bị bắt giữ, các loại chiến thuyền hạng nhỏ và vừa thì nhiều không kể xiết. Trần Hữu Lượng được các bộ tướng bảo vệ, cướp được một chiếc thuyền nhỏ trốn thoát.


Chu Nguyên Chương chỉ huy đại quân thừa thắng truy kích, thu phục lại các vùng đất như: Thái Bình (nay thuộc huyện Đương Đồ, An Huy, Trung Quốc), tiếp đến lại tấn công hạ được An Khánh (nay thuộc thành phố An Khánh, An Huy, Trung Quốc), Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân, Giang Tây, Trung Quốc) và Giang Châu (nay là thành phố Cửu Giang, Giang Tây, Trung Quốc)..., chiếm lại rất nhiều châu huyện của Giang Tây và vùng đất phía đông nam Hồ Bắc.

Trần Hữu Lượng tháo chạy về Vũ Xương.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 05 Tháng Chín, 2021, 07:43:58 am
4. Đại chiến ở hồ Phồn Dương

Địa bàn của Chu Nguyên Chương ngày càng mỏ rộng, địa bàn của Trần Hữu Lượng ngày càng bị thu hẹp, sự phát triển của tình thế ngày càng có lợi cho Chu Nguyên Chương và bất lợi cho Trần Hữu Lượng. Trần Hữu Lượng lại càng tức giận, càng quyết tâm phải tiêu diệt Chu Nguyên Chương. Hắn điều động một lực lượng lớn thợ mộc đến đóng hàng trăm chiến thuyền cỡ lớn, chiều cao nhiều trượng, chia thành ba tầng: thượng, trung, hạ, mỗi tầng đều có đường đi cho ngựa, thân thuyền quét sơn đỏ. Chiến thuyền lớn nhất có thể chứa được đến hơn 1.000 người, thuyền cỡ nhỏ cũng phải chở được vài trăm người.


Tháng 4 năm 1363, Trần Hữu Lượng huy động toàn bộ quân đội của hắn, gọi là "60 vạn”, mang theo cả gia thuộc và văn võ bá quan, ầm ầm tiến vào Hồng Đô (nay là thành phố Nam Xương, Giang Tây, Trung Quốc).


Khi Trần Hữu Lượng tiến đến Hồng Đô, lên bờ vây thành, tướng trấn thủ thành Hồng Đô là Chu Văn Chính ra lệnh cho quân lính chia nhau ra cố thủ các cổng thành. Trần Hữu Lượng ra lệnh cho quân sĩ liều mạng tấn công, phá được một lỗ hổng lớn dài đến hơn 20 trượng trên tường thành. Viên tướng thủ thành là Đặng Dũ ra lệnh cho quân lính dùng súng hoả mai bắn lui quân địch, ngay trong đêm đó dựng một tường rào bằng gỗ chắn ngang lỗ thủng ở tường thành, yểm hộ cho quân lính xây lại tường thành. Chỉ trong một đêm, tường thành đã lại được xây xong. Quân của Trần Hữu Lượng dùng đủ mọi cách để tấn công thành, quân của Chu Văn Chính cũng dùng đủ mọi cách để giữ thành. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, quân đội của cả hai bên đều bị thương vong rất nặng nề.


Cuộc chiến ở Hồng Đô kéo dài đến 85 ngày đêm, cho mãi đến tháng 7 năm đó, Chu Nguyên Chương đích thân mang 20 vạn quân cứu viện, tiến đến Hồ Khẩu, Trần Hữu Lượng mới buộc phải rút quân bao vây Hồng Đô về, đưa đại quân đến hồ Phồn Dương để nghênh chiến.


Quân đội của Trần Hữu Lượng có quân số đông, chiến thuyền của thủy quân vừa cao vừa to, về mặt binh lực thì chiếm ưu thế hơn quân đội của Chu Nguyên Chương. Trước một kẻ địch mạnh như vậy, Chu Nguyên Chương chia thủy quân thành 11 đội, mỗi đội đều trang bị súng hoả mai, trường cung, đại nỏ, mỗi khi tác chiến trước tiên dùng súng hoả mai, sau đến bắn tên, cuối cùng thì dùng dao găm để giết giặc.


Bộ tướng của Chu Nguyên Chương là đại tướng Từ Đạt đã mang quân xuất trận trước, đánh bại quân tiên phong của Trần Hữu Lượng, giết chết 1.500 địch, thu về một chiến thuyền lớn. Sĩ khí của quân đội Chu Nguyên Chương ngày càng dâng cao.


Trong một lần chiến đấu, dũng tướng của Trần Hữu Lượng là Trương Định Biên xông vào trước chiến thuyền của Chu Nguyên Chương, vì nước nông, chiến thuyền của Chu Nguyên Chương mắc cạn, không nhúc nhích được. Để giúp Chu Nguyên Chương thoát hiểm, Nha Tương Hàn bèn khoác mũ áo của Chu Nguyên Chương, nhảy xuống nước. Quân địch trông thấy vậy lại tưởng rằng Chu Nguyên Chương đã nhảy xuống nước trốn chạy nên đã nới lỏng vòng vây. Một bộ tướng khác của Chu Nguyên Chương là Thường Ngộ Xuân bắn một mũi tên trúng vào Trương Định Biên, lúc này thuyền chiến của quân địch mới chịu rút lui về phía sau. Nhân lúc nước sông dâng cao, chiến thuyền của Chu Nguyên Chương mới thoát được khỏi khu vực nguy hiểm.


Trong tiến hành chiến đấu, Chu Nguyên Chương nhận thấy nhược điểm của phía quân Trần Hữu Lượng là bố trí trận địa theo kiểu liên kết các chiến thuyền, động tác không thật linh hoạt vì vậy Chu Nguyên Chướng quyết định áp dụng ý kiến của bộ tướng Quách Hưng, dùng hỏa công để tấn công quân địch.


Chu Nguyên Chương ra lệnh cho quân lính chuẩn bị hỏa pháo, hỏa tiễn, súng hoả mai và các loại hỏa khí khác, đợi đến khi phát động tấn công sẽ đồng loạt sử dụng các loại vũ khí đó bắn về phía quân địch, đốt cháy chiến thuyền của chúng. Chu Nguyên Chương còn ra lệnh chuẩn bị một số thuyền nhỏ dùng cho hỏa công, phía trên chất lau sậy, phía dưới giấu thuốc pháo, xung quanh thuyền dựng hình người bằng cỏ mình khoác giáp trụ, tay cầm vũ khí để ngụy trang. Trên các thuyền này đều chuẩn bị sẵn những thuyền thúng nhỏ để sau khi phát hỏa đốt thuyền, quân lính có thể rút chạy bằng các thuyền thúng đó.


Tất cả đều đã được chuẩn bị đầy đủ, đợi đến lúc hoàng hôn có gió đông nổi lên, Chu Nguyên Chương bèn phát lệnh cho quân lính cảm tử trên 7 chiếc thuyền hỏa công xông vào giữa đội thuyền chiến của quân đội Trần Hữu Lượng thừa gió đốt thuyền, bắt đầu tấn công. Bảy chiếc thuyền giống như bảy con rồng lửa xuyên vào giữa đội hình chiến thuyền của quân địch, đồng thời cùng lúc đó, Chu Nguyên Chương ra lệnh cho quân lính sử dụng các loại hoả khí, đốt cháy các loại chiến thuyền lớn nhỏ của địch. Gió càng to, lửa càng lớn, lửa cháy ngút tròi, biến cả vùng hồ Phồn Dương thành một đám cháy khổng lồ. Vô số quân lính của Trần Hữu Lượng bị chết đạn, chết cháy, chết đuối, số quân lính ra đầu hàng lại càng nhiều hơn. Chu Nguyên Chương lệnh cho binh sĩ của mình không được giết hại tù binh, cứu chữa cho người bị thương, sau đó lại thả cho họ trở về với gia đình. Làm như vậy, Chu Nguyên Chương tranh thủ được cảm tình của quân sĩ trong quân đội của Trần Hữu Lượng, vì thế rất đông binh lính, trong đó có cả các tướng lĩnh của Trần Hữu Lượng ra đầu hàng quân đội của Chu Nguyên Chương.


Từ khi bắt đầu cuộc chiến cho đến khi kết thúc, Chu Nguyên Chương luôn đích thân chỉ huy binh sĩ, kiên trì chiến đấu. Mặc dù các vệ sĩ bên mình đều bị tử chiến, Chu Nguyên Chương vẫn không chịu lui về phía sau một bước.


Sau đó trải qua vài cuộc chiến đấu ác liệt nữa, cuối cùng quân của Chu Nguyên Chương đã khống chế được cửa hồ, quân của Trần Hữu Lượng hoàn toàn thất bại, thêm nữa lương thực cũng đã cạn, không thể tiếp tục cầm cự được nữa. Trần Hữu Lượng thấy thế lớn đã mất, đành phá vây rút quân về. Không ngờ, trên đường rút lui, Trần Hữu Lượng bị tên lạc bắn trúng mà chết. Trương Định Biên dùng chiến thuyền đưa thi hài của Trần Hữu Lượng và thái tử Trần Lý chạy suốt đêm về đến Vũ Xương. Ngày hôm sau, phó tướng của Trần Hữu Lượng là Trần Vinh kiểm điểm lại quân số của mình, thu thập được hơn 50.000 tàn quân, bèn kéo nhau đến đầu hàng Chu Nguyên Chương. Trận chiến ở hồ Phồn Dương đã kết thúc với sự thất bại của quân Trần và sự thắng lợi hoàn toàn của quân Chu.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 05 Tháng Chín, 2021, 07:44:21 am
5. Kết luận

Trận chiến ỏ hồ Phồn Dương là một cuộc đại chiến mang tính sống còn giữa hai cánh quân của Trần Hữu Lượng và Chu Nguyên Chương. Cuối cùng quân của Chu Nguyên Chương hoàn toàn thắng lợi, đặt cơ sở cho việc bình định Giang Nam của ông ta về sau. Đây cũng là một bước chuẩn bị trong công cuộc tiến lên phía Bắc tiêu diệt quân Nguyên, thống nhất Trung Quốc của Chu Nguyên Chương.


Sau cuộc chiến này, trong một hội nghị quân sự, Chu Nguyên Chương đã tiến hạnh phân tích nguyên nhân thắng bại của hai bên rằng:

"Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa, suy cho cùng, đánh trận là phải dựa vào lòng người. Trần Hữu Lượng tuy có thuyền to người đông, nhưng nội bộ không đoàn kết, mỗi người một ý, trên dưới nghi kỵ lẫn nhau, hơn nữa lại chiến tranh liên miên, luôn luôn bại trận, không tích trữ được lực lượng, không biết nắm lấy thời cơ có lợi, vì vậy cuối cùng đã thất bại. Quân ta sở dĩ có thể giành được thắng lợi là bởi vì có thể nắm chắc thời cơ, tướng sĩ trên dưới một lòng, có được nhân hòa, vì vậy mà trong trận hồ Phồn Dương đã khiến cho quân của Trần Hữu Lượng phải tơi bời, tan tác".


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 10 Tháng Chín, 2021, 02:41:53 pm
TRẬN CHIẾN NINH VIỄN GIỮA MINH - KIM


”Ta kể từ khi 25 tuổi bắt đầu cầm quân đi đánh trận, cho đến nay không trận nào không thắng, tại sao chỉ có một tòa thành Ninh Viễn mà lại không đánh nổi?". Đây là câu hỏi của lãnh tụ nhà Hậu Kim là Nỗ Nhĩ Cáp Xích (tức Thanh Thái tổ) hỏi các tướng lĩnh của mình sau thất bại ở trận chiến Ninh Viễn. Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã từng nhiều lần tiến hành chiến tranh với triều đình nhà Minh và lần nào cũng giành được thắng lợi, thế nhưng trận Ninh Viễn lại kết thúc bằng sự thất bại thảm hại. Tại sao lại như vậy?


1. Tôn Thừa tông xuất trấn Sơn Hải quan

Sau trận chiến Tát Nhĩ Hử, tháng 3 năm 1621 quân đội nhà Hậu Kim lại lần lượt tấn công Liêu Dương, Thẩm Dương, công hạ và chiếm lĩnh hơn 70 tòa thành lớn nhỏ từ Liêu Hà trở về đông. Nỗ Nhĩ Cáp Xích dời đô thành về Liêu Dương và tiếp tục đánh bại quân Minh, chiếm lĩnh Quảng Ninh (nay thuộc huyện Bắc Trấn, Liêu Ninh, Trung Quốc), hình thành sự uy hiếp đối với khu vực bên trong Sơn Hải quan. Tin thất thủ Quảng Ninh truyền đến đô thành Bắc Kinh, chính phủ nhà Minh được một phen hoảng loạn. Rốt cục là chống lại quân Hậu Kim ở bên ngoài Sơn Hải quan hay rút lui vào cố thủ bên trong? Triều đình nhà Minh các đại thần chia làm hai phái, bàn luận mãi mà không ngã ngũ.


Minh Hy tông bổ nhiệm Tôn Thừa tông làm Binh bộ Thượng thư, điều đến cứu vãn tình thế nguy hiểm ở Liêu Đông, lại cử Vương Tại Tấn đến đảm nhiệm chức Liêu Đông Kinh lược, chỉ huy quân đội ở Liêu Đông. Vương Tại Tấn vốn là một kẻ nhát gan, tham sống sợ chết. Sau khi đến Liêu Đông, hắn không những không dám xuất trận mà còn định lấy danh nghĩa thu hẹp trận tuyến, bỏ mặc cả một vùng đất rộng lớn bên ngoài cửa khẩu, rút về cố thủ ở Sơn Hải quan. Thế nhưng ý kiến đó của hắn bị viên bộ tướng là Viên Sùng Hoán kịch liệt phản đối.


Viên Sùng Hoán là người rất khảng khái, có tinh thần trách nhiệm, làm việc hiệu quả, có cơ mưu. Viên Sùng Hoán rất quan tâm đến quân sự, thích bàn chuyện binh thư, thường hay tìm đến những võ quan đã về hưu để bàn luận tình hình biên phòng, hỏi họ về các địa hình sông núi vùng biên thuỳ. Năm Thiên Khải thứ hai (năm 1622), Viên Sùng Hoán giữ một chức quan thấp là Binh bộ chủ sự ở Bộ binh. Không lâu sau đó, Ninh Viễn lâm nguy, triều đình hoảng loạn, giữa lúc mọi người đang bàn tán xôn xao thì Viên Sùng Hoán một mình cưỡi ngựa đi đến Sơn Hải quan quan sát kỹ lưỡng tình hình quan nội, quan ngoại. Sau khi quay trở về, Viên Sùng Hoán báo cáo tường tận tình thế ở Sơn Hải quan với triều đình và xin với triều đình cấp cho mình binh mã lương thực để đảm nhận việc phòng thủ Liêu Đông. Lúc đó, một số đại thần trong triểu đình nhà Minh đã bị quân thiết kị của Nỗ Nhĩ Cáp Xích dọa cho sợ vỡ cả mật, đang không có kế gì hay để chống lại, bèn quyết định cho Viên Sùng Hoán đến làm giám binh ở vùng quan ngoại.


Viên Sùng Hoán cho rằng phải dựa vào phương châm phòng ngự tích cực, cố thủ quan ngoại để bảo vệ quan nội. Ông chủ trương đem quân ở Ninh Viễn (nay thuộc huyện Hưng Thành, Liêu Ninh, Trung Quốc) đến xây dựng phòng tuyến kiên cố, ngăn chặn quân đội Hậu Kim tiến về phía nam, thế nhưng chủ trương đúng đắn đó của Viên Sùng Hoán lại không được viên quan chủ trương phòng ngự tiêu cực là Vương Tại Tấn ủng hộ. Viên Sùng Hoán đành viết thư báo cáo lại ý kiến đó của mình với Thừa tướng đương triều là Diệp Thượng Cao và chỉ ra sai lầm trong chủ trương phòng ngự tiêu cực của Vương Tại Tấn. Diệp Thượng Cao nhận được cáo thư, bèn cử Tôn Thừa tông đích thân đến thị sát tình thế ở Sơn Hải quan rồi sau đưa ra quyết định.


Tôn Thừa tông đến tiến hành điều tra ở Sơn Hải quan, khảo sát và tìm hiểu tình hình cụ thể ở vùng quan ngoại. Tôn Thừa tông cũng nhận thấy Ninh Viễn có địa thế dựa vào núi, nằm bên bờ biển, bên phải là đảo Giác Hoa (nay gọi là đảo Cúc Hoa, nằm ở trên mặt biển phía đông nam huyện Hưng Thành, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc), hợp lại với nhau thành một địa thế rất hiểm yếu. Nếu như xây dựng ở hai nơi này thành lũy kiên cố thì có thể khống chế được con đường vào trong cửa quan. Thế là Tôn Thừa tông đồng ý cho Viên Sùng Hoán và Diêm Minh Thái chia nhau đảm nhiệm vị trí phòng thủ ở thành Ninh Viễn và đảo Giác Hoa. Đích thân Tôn Thừa tông trấn thủ tại Sơn Hải quan, áp dụng một loạt các biện pháp tăng cường phòng thủ, xây dựng Sơn Hải quan thành một cửa khẩu tương đối kiên cố.


Tiếp đó, Tôn Thừa tông lại dốc toàn lực vào xây dựng doanh trại ở Ninh Viễn. Ông lần lượt ra lệnh cho Tổ Đại Thọ, Viên Sùng Hoán xây dựng thành Ninh Viễn. Theo quy định của Viên Sùng Hoán, tường thành Ninh Viễn có độ cao 3 trượng 2 xích, rộng 2 trượng 4 xích, tường nấp bắn tên trên thành cao 6 thước (1 trượng bằng 10 xích, 1 xích bằng 33cm). Sau khi thành Ninh Viễn được xây dựng xong, bên trên bố trí các loại hỏa khí, hỏa pháo, bao gồm cả loại vũ khí có uy lực lớn thời đó gọi là "Tây dương hỏa pháo" và còn huấn luyện cả một đội pháo thủ nữa. Thành Ninh Viễn trở thành một trọng điểm quân sự khá kiên cố lúc bấy giờ.


Tôn Thừa tông lại điều quân đội đồn trú ở Cẩm Châu, Tùng Sơn (nay thuộc phía nam huyện Cẩm, tỉnh Liêu Ninh), Hạnh Sơn (nay thuộc phía tây nam huyện Cẩm, tỉnh Liêu Ninh), Hữu Đồn (nay thuộc phía đông huyện Cẩm, tỉnh Liêu Ninh), Đại Lăng Hà, Tiểu Lăng Hà (cũng thuộc phía đông và phía đông nam huyện Cẩm, tỉnh Liêu Ninh ngày nay)... đến phòng vệ ở Ninh Viễn. Như vậy, Ninh Viễn trở thành phòng tuyến trọng điểm Cẩm Ninh, đẩy phòng tuyến ở đông bắc lên phía trước đến hơn 200 dặm.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 10 Tháng Chín, 2021, 02:42:38 pm
2. Cao Đệ không đánh tự lui

Tôn Thừa tông và Viên Sùng Hoán phải đổ bao nhiêu công sức mới có thể bước đầu xoay chuyển được tình thế nguy hiểm ở vùng Liêu Đông. Nhân dân địa phương rất tin tưởng, ủng hộ họ. Thế nhưng ở triều đình, bọn hoạn quan đứng đầu là Ngụy Trung Hiền lại đố kị ghen ghét và căm thù bọn họ. Đầu tiên, Ngụy Trung Hiền dùng thủ đoạn uy hiếp và dụ dỗ, định lôi kéo Tôn Thừa tông về phía bè phái của bọn chúng, thế nhưng Tôn Thừa tông không chịu. Thấy mưu kế không thành, Ngụy Trung Hiển bèn kéo bè kết đảng, gửi tấu thư lên hoàng đế nhà Minh, nói xấu Tôn Thừa tông. Trước sự công kích của bè lũ hoạn quan, Tôn Thừa tông buộc phải từ chức.


Tôn Thừa tông bị loại khỏi cuộc chiến, Minh Hy tông lại cử Cao Đệ đến Liêu Đông làm Kinh lược. Cao Đệ là kẻ thuộc bè đảng của Ngụy Trung Hiền, hèn yếu nhu nhược, nhát như thỏ đế. Khi vừa đến nhận chức, hắn bèn rút quân, triệt bỏ hoàn toàn phòng tuyến phòng ngự ở Cẩm Châu, Hữu Đồn, rút toàn bộ quân đội vào trong quan nội. Viên Sùng Hoán kiên quyết phản đối, nói với Cao Đệ rằng:

"Binh pháp có tiến không thoái. Mấy tòa thành ở quan ngoại đã thu phục được, những địa điểm đó làm sao có thể dễ dàng bỏ trống được? Một khi vứt bở Cẩm Châu, Hữu Đồn thì Ninh Viễn và Tiền Đồn (phía tây nam Ninh Viễn) sẽ bị uy hiếp, Sơn Hải quan cũng sẽ bị mất đi tấm bình phong. Bây giờ chỉ cần tuyển chọn một viên tướng có năng lực đến phòng thủ những nơi đó, không thể có suy nghĩ khác đi được".


Cao Đệ không những không nghe theo lời khuyên chân thành của Viên Sùng Hoán mà còn định tiến thêm một bước nữa, dở bỏ cả hai đồn phòng thủ là Ninh Viễn và Tiền Đồn. Viên Sùng Hoán kiên quyết phản đối:

"Tôi là quan đảm nhiệm việc phòng thủ ở Ninh Viễn, tôi phải chết ở chỗ này, quyết không rời khỏi Ninh Viễn một bước!”.

Cao Đệ không biết làm thế nào, đành phải để lại một bộ phận nhỏ binh lực cho Viên Sùng Hoán chỉ huy. Tiếp đó, Cao Đệ vội vàng ra lệnh rút toàn bộ quân Minh trấn thủ ở các phòng tuyến ở Cẩm Châu, Tùng Sơn, Hạnh Sơn, Hữu Đồn, Đại Lảng Hà, Tiểu Lăng Hà và toàn bộ trang bị vũ khí vào trong quan nội. Mệnh lệnh đó phát ra quá là đột ngột, trước đó lại không có công tác tổ chức chu đáo nên khiến cho việc rút quân khỏi các cứ điểm trên phòng tuyến trở nên vô cùng lộn xộn, phải bỏ cả hơn 10 vạn thạch (đơn vị đo dung lượng cũ của Trung Quốc, bằng 10 đấu) quân lương được tích trữ từ trước đó. Nhân dân trong vùng vô cớ phải chịu nỗi thống khổ chạy nạn lưu vong, mang lòng oán hận quân lính triều đình, quân đội lại càng mất ý chí chiến đấu.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 10 Tháng Chín, 2021, 02:43:10 pm
3. Nỗ Nhĩ Cáp Xích thừa cơ tiến công

Nỗ Nhĩ Cáp Xích nghe tin quân Minh ở phòng tuyến Liêu Đông thay đổi chủ soái, lại tự động rút khỏi phòng tuyến ở Cẩm Châu, Hữu Đồn thì vô cùng vui mừng. Tháng giêng năm Thiên Khải thứ 6 (năm 1626), Nỗ Nhĩ Cáp Xích mang 13 vạn đại quân vượt qua Liêu Hà ở phía tây, tiến thẳng đến Ninh Viễn. Tuy số quân trong thành chỉ có hơn 10.000 người nhưng Viên Sùng Hoán không hề sợ hãi trước ưu thế binh lực của quân địch. Cùng với đại tướng Mãn Quế, phó tướng Tả Phụ, Chu Mai và tham tướng Tổ Đại Thọ... Viên Sùng Hoán đã tập trung toàn bộ tướng sĩ trong thành lại để chống lại quân địch, cùng nhau thề sẽ tử thủ với thành.


Viên Sùng Hoán áp dụng sách lược "kiên bích thanh dã": Cho toàn bộ cư dân ngoài thành mang vũ khí phòng thủ chuyển vào trong thành, sau đó nổi lửa đốt sạch nhà dân ở bên ngoài thành, khiến cho khi quân địch đến không thể lợi dụng bất cứ một vật gì để tấn công. Viên Sùng Hoán chích máu viết huyết thư, cổ vũ sĩ khí, cùng họ ăn thề biểu thị ý chí quyết tâm chống địch. Tướng sĩ trong thành hết thảy đều cảm động, đều biểu thị mong muốn sống chết cùng thành Ninh Viễn. Viên Sùng Hoán còn gửi thư khẩn cấp đến các tướng trấn thủ ở Hữu Đồn và Sơn Hải quan để bọn họ nếu bắt được quan binh chạy trốn thì chém đầu, nhằm trừng trị những kẻ sợ chết, bỏ trốn khi lâm trận. Những biện pháp thủ thành kiên quyết của Viên Sùng Hoán đã cổ vũ lòng quyết tâm của quân dân trong thành Ninh Viễn, ai nấy đều vững vàng ở vị trí của mình, sẵn sàng đợi quân địch đến để tiêu diệt.


Ngày 24, dưới sự chỉ huy của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, quân Hậu Kim triển khai một cuộc tấn công vô cùng ác liệt vào thành Ninh Viễn. Viên Sùng Hoán đích thân chỉ huy quân Minh, bắn cung tên và dùng các loại hỏa khí đẩy lui quân Kim. Khi cuộc chiến đến hồi căng thẳng, từ trên thành tên và đạn pháo đổ như mưa xuống đầu quân địch, quân Hậu Kim bị bắn chết và bị thương rất nhiều.


Nỗ Nhĩ Cáp Xích đích thân chỉ huy quân lính Hậu Kim hòng đục tường để tấn công vào thành. Quân lính Hậu Kim đầu đội mộc che tên, luồn qua làn đạn pháo, mang vũ khí tấn công thành tiến lên. Lớp trước ngã xuống, lớp sau lại tràn lên, không có ai dám bỏ chạy về phía sau. Quân Minh tuy rất dũng cảm, nhưng số hỏa pháo chỉ có hạn, lại không có hy vọng Cao Đệ sẽ mang quân đến cứu viện.


Trong tình thế đó, Viên Sùng Cao cho rằng quân Minh chỉ có lợi thế khi tiến hành chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh, ông bèn ra lệnh cho các pháo thủ nhằm vào chỗ có quân Kim tập trung đông, bắn phá ác liệt. Chỉ nghe thấy tiếng nổ, tiếng đạn rít trên không trung, quân Kim chết như ngả rạ. Lúc đó trời cũng bắt đầu tối dần, cuộc tấn công của quân Hậu Kim tạm thời bị đánh lui.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 10 Tháng Chín, 2021, 02:43:40 pm
4. Thắng lợi của trận chiến Ninh Viễn

Ngày hôm sau, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lại tổ chức tấn công với ưu thế về binh lực. Ông ta ra lệnh cho các tướng sĩ mang áo giáp dày, đầu đội mộc che, một lần nữa tấn công mạnh mẽ vào thành trì của quân Minh.


Hai bên kịch chiến ròng rã một ngày trời, quân Hậu Kim đã dùng hết mọi phương sách tấn công thành, quân Minh cũng dốc hết sức để phòng thủ. Tên của quân Kim bay sang dày như châu chấu, quân lính theo đó tràn lên. Quân lính nhà Minh đều hoảng sợ, mong muốn Viên Sùng Hoán ra lệnh pháo kích. Viên Sùng Hoán rất bình tĩnh, lắc đầu. Quân Kim tiếp tục xông lên, Viên Sùng Hoán đứng trên tường thành chờ đợi đến khi quân Kim áp sát tường thành mới phát lệnh: "Khai pháo!".


Chỉ trong chớp mắt, tiếng pháo vang rền, chấn động trời đất, quân lính Hậu Kim lại bị bắn gục hàng loạt. Những binh lính may mắn không trúng đạn đều hoảng sợ quay đầu tháo thân, giẫm đạp lên nhau mà chạy, đội ngũ đại loạn. Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng bị trúng đạn, trọng thương.


Quân Hậu Kim đã bị tan vỡ, Nỗ Nhĩ Cáp Xích không thể tiếp tục tổ chức tấn công, đành hạ lệnh rút lui. Viên Sùng Hoán thừa thắng mang quân truy sát, đuổi ra tận ngoài thành hơn 30 dặm, giết chết hơn 10.000 quân địch, sau đó mới quay về thành. Nỗ Nhĩ Cáp Xích ra lệnh cho đám tàn binh bại tướng của mình rút đến Ái Dương, cách Thẩm Dương 40 dặm mốới dừng lại đóng quân. Bản thân Nỗ Nhĩ Cáp Xích sau khi phải chịu thất bại thảm hại này, trong lòng ưu phiền, lại thêm vết thương quá nặng nên đã sinh bệnh mà chết. Trận chiến Ninh Viễn đã kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của quân Minh, quân Hậu Kim thất bại hoàn toàn.


Khi Ninh Viễn vừa mới bị bao vây, tất cả bộ máy thống trị của vương triều nhà Minh đều cho rằng tòa thành này sẽ không trụ vững, bọn họ chỉ mong giữ được Sơn Hải quan. Không ngờ, mười mấy ngày sau, tin thắng trận của Viên Sùng Hoán được truyền về, toàn bộ văn võ bá quan trong cả triều đình quả thật nằm mơ cũng không dám nghĩ đến chiến thắng, đều vui sướng như muốn phát cuồng.


Tiêu đề: Mưu lược quân sự
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 10 Tháng Chín, 2021, 02:44:03 pm
5. Kết luận

Trận chiến Ninh Viễn của quân dân nhà Minh là một cuộc chiến chính nghĩa. Tướng nhà Minh là Viên Sùng Hoán bằng sự can đảm và tinh thần kiên định, đã kiên quyết phản đối kế hoạch rút lui tiêu cực, chủ trương tích cực kháng chiến.


Trong chiến đấu, Viên Sùng Hoán đã biết dựa vào đông đảo lực lượng quân dân trong và ngoài thành, thực hiện kế sách "kiên bích thanh dã", đồng tâm hiệp lực, cùng nhau giữ thành. Vì vậy, trước tương quan lực lượng vô cùng chênh lệch, tình thế vô cùng bất lợi, song Viên Sùng Hoán không những giữ vững được một tòa thành giữa hoàn cảnh bốn phía không người cứu viện, mà còn đánh tan được cuộc tấn công của quân Hậu Kim, tiêu diệt một số lớn sinh lực địch, lập nên một chiến công hiển hách.


Nỗ Nhĩ Cáp Xích tuy là một người dũng cảm thiện chiến, dùng binh luôn rất thận trọng, cho nên luôn giành được chiến thắng. Nhưng cũng chính vì nhiều lần giành chiến thắng nên Nỗ Nhĩ Cáp Xích sinh ra tư tưởng kiêu ngạo, chủ quan khinh địch. Nỗ Nhĩ Cáp Xích chỉ nhìn thấy ưu thế binh lực của mình mà không nhìn thấy tính chất phi nghĩa của chiến tranh. Chỉ nhìn thấy điểm yếu về binh lực của đối phương mà không nhìn thấy điều kiện có lợi của đối phương, đó là tướng sĩ trên dưới một lòng, dũng cảm quyết chiến; quân dân đồng tâm hiệp lực, cùng nhau quyết tâm tiêu diệt địch. Chính vì vậy mà Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã phải chịu thất bại thảm hại là bị hao binh tổn tướng, bản thân bị trọng thương rồi mất mạng.