|
Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tám, 2021, 10:51:20 am Tên sách: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp
Tác giả: Phùng Đình Ấm Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân Năm xuất bản: 2009 Số hoá: ptlinh, quansuvn LỜI GIỚI THIỆU Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2007 Đồng chí Thiếu tướng Phùng Đình Ấm tham gia quân đội từ năm 1947, khi đồng chí 18 tuổi và liên tục 50 năm ở trong quân ngũ. Phần lớn thời gian đồng chí trực tiếp ở các chiến trường Liên khu 5, Tây Nguyên, Nam Lào và Campuchia. Trải qua thử thách trong khói lửa, đồng chí đã tỏ rõ là một cán bộ, đảng viên kiên định, vững vàng, liêm khiết, giản dị, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, trong đó có 19 năm là chiến sĩ tình nguyện quân và chuyên gia Việt Nam ở Campuchia, đặc biệt là thời kỳ giúp bạn những năm 1978-1991. Để giúp bạn được tốt, phải hiểu rõ nhân dân bạn, hiểu rõ truyền thống của dân tộc Campuchia. Muốn vậy phải học tiếng, học chữ nước bạn. Đồng chí đã rất nỗ lực, kiên trì, bền bỉ và chỉ trong thời gian ngắn đồng chí đã thông thạo cả nói và cả chữ Campuchia, viết và dịch các văn bản từ chữ Campuchia sang chữ Việt Nam rất chuẩn xác, cố gắng tự học và sớm biết tiếng, biết chữ Khme đã tạo thêm sự thuận lợi khi phối hợp cùng bạn chiến đấu và công tác. Đồng chỉ đã giành được tình cảm chân thành của Nhà nước và nhân dân Campuchia. Đồng chí đã góp phần quan trọng cùng tình nguyện quân và chuyền gia Việt Nam hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, giúp bạn chống bọn diệt chủng, hồi sinh đất nước, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị láng giềng Việt Nam - Campuchia bước sang trang sử mới. Cuốn hồi ức của đồng chí tuy mới nói được một phần nhỏ, nhưng tôi tin rằng nó có ích cho bạn đọc, sẽ tìm thấy ở đồng chí Phùng Đình Ấm một nhân cách của con người Việt Nam, của chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, của người đảng viên cộng sản Việt Nam, họ đã thực hiện đúng tinh thần "giúp bạn là tự giúp mình”, đó là đường lối quốc tế trong sáng, thủy chung của Đảng và Nhà nước ta. LÊ KHẢ PHIÊU Nguyên Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia Nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Tám, 2021, 03:07:45 pm LỜI NÓI ĐẦU Truyền thống quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đảnh thắng”1 (Trích bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi chiêu đãi mừng quân đội ta tròn 20 tuổi (22.12.1944 - 22.12.1964), Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 11 (1963-1965), Nxb CTQG, H.2002, tr.350). Trung thành với truyền thống đó, quân đội ta đã làm tròn nhiệm vụ chiến đấu giải phóng và bảo vệ đất nước, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đặc biệt với hai dân tộc Lào và Campuchia, hai nước láng giềng, cùng có chung kẻ thù là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Tháng 4.1947, vừa tròn 18 tuổi, tôi vinh dự được đứng vào hàng ngũ Bộ đội Cụ Hồ. Ngót 50 năm trong quân ngũ, trừ 14 năm hoạt động công tác ở hậu phương, thời bình, còn lại 36 năm lăn lộn ở chiến trường, trong đó có 19 năm làm chiến sĩ tình nguyện quân chiến đấu trên chiến trường Campuchia, gắn liền nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc thiêng liêng với nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong cả ba thời kỳ liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ bọn phản động, diệt chủng Pôn Pốt, tôi đều có mặt trên chiến trường Campuchia, góp phần nhỏ công sức vào việc thực hiện đường lối quốc tế của Đảng, lời dạy “giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình” của Bác Hồ, vào truyền thống của Quân đội nhân dân anh hùng và xây đắp tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Campuchia. Với cuốn sách “Ba lần gắn bó với đất nước Chùa Tháp" này, tôi muốn kể lại những gì tôi đã trải qua trong những năm tháng đầy tình nghĩa mặn nồng chung thủy của nhân dân và cách mạng Campuchia đối với người chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam được xây đắp, vun vén bằng xương máu và lòng nhân hậu của cả hai dân tộc. Nhưng với một không gian rộng và thời gian khả dài, nhiều sự kiện không thể nhớ đầy đủ, chính xác được và khả năng cũng có hạn, nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, mong các vị độc giả gần xa thông cảm và lượng thứ, góp ý bổ sung để cuốn sách được hoàn hảo hơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn. Thiếu tướng Phùng Đình Ấm Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Tám, 2021, 03:08:29 pm I. Đất nước Campuchia
1. Mối quan hệ lâu đời giữa hai dân tộc Đất nuớc Campuchia nằm trên bán đảo Đông Dương, rộng 181.000 km2, biên giới gắn liền với hai nước Việt Nam và Lào, có chung dòng sông Mêkông hùng vĩ và dựa lưng vào dãy Trường Sơn trùng điệp. Campuchia là một Vương quốc, trong lịch sử dân tộc có thời kỳ hưng thịnh với nền văn hóa Ăngkor phát triển rực rỡ huy hoàng. Tự hào là một đất nước Chùa Tháp, với nhiều đền đài đồ sộ trải qua các thế hệ: Ăngkor Thôm và Ăngkor Wat, thời xưa Việt Nam gọi là “Đế Thiên”, “Đế Thích”, là hai đền đài nổi tiếng, liệt vào hạng “kỳ quan thứ bảy” của thế giới. Là một nước, theo thống kê năm 1945 có dân số hơn 4 triệu người, với 21 dân tộc, trong đó dân tộc Khme là đông hơn cả. Hơn 90% nhân dân Campuchia theo đạo Phật, cả nước tôn đạo Phật là “Quốc giáo độc tôn”. Nền kinh tế Campuchia giàu tài nguyên nhưng chưa được khai thác. Quốc trưởng Sihanúc thường nói: “Nền kinh tế Campuchia dựa vào hai bầu sữa là nông nghiệp và du lịch”. Do đất đai, sông núi, biên giới liền nhau, nên từ lâu đời nhân dân Việt Nam - Campuchia nói chung có mối quan hệ mật thiết với nhau trong làm ăn sinh sống cũng như trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngược dòng lịch sử, từ thời xa xưa các triều đại phong kiến của hai nước cũng có những liên minh chiến đấu chống quân xâm lược và có mối quan hệ hữu hảo: năm 1618, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gả con gái thứ hai của mình là Ngọc Vạn công chúa, cho vua Chey Chella II của Campuchia. Năm 1962, Ngọc Vạn công chúa được phong làm Hoàng hậu, với danh hiệu Somđech Préa Pcáccácyo Dey Préavorcác Ksattrey. Năm 1705, quân Xiêm xâm lược Campuchia, vua Nặc Ông Yêm của Campuchia sang Việt Nam liên minh với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cử Cai cơ Nguyễn Cửu Vân sang giúp đánh bại quân Xiêm, xong rút quân về nước. Năm 1772, quân Xiêm kéo sang đánh chiếm Hà Tiên của Việt Nam và Phnôm Pênh của Campuchia. Chúa Nguyễn đánh tan quân Xiêm ở Hà Tiên và cử tướng Nguyễn Hữu Đàm đưa quân thủy bộ lên phối hợp với Campuchia đánh tan quân Xiêm khỏi Phnôm Pênh rồi rút về nước. Năm 1785, quân Xiêm đưa 4 vạn thủy quân sang lấy danh nghĩa cứu viện cho Nguyễn Ánh, bị quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ, vị anh hùng thiên tài quân sự, áo vải cờ đào đánh cho đại bại, tan tác ở Rạch Gầm - Xoài Mút (Mỹ Tho). Một bộ phận quân Xiêm sống sót đã bỏ ghe, thuyền, chạy bộ băng qua đất Campuchia để thoát về nước, đã bị quân và dân Campuchia phối hợp với Việt Nam chặn đánh, gây cho chúng thiệt hại, chẳng còn được mấy tên chạy thoát. Đầu thế kỷ XIX, năm 1807, quân Xiêm lại xâm chiếm Campuchia. Theo yêu cầu của vua Angchan II, tướng Lê Văn Duyệt từ thành Gia Định đưa quân sang chi viện, đánh đuổi quân Xiêm, khôi phục độc lập chủ quyền cho Campuchia, xong rút hết quân về nước1 (Sau này kẻ xấu bịa ra chuyện quân tướng Lê Văn Duyệt lên Campuchia, chặt đầu người Khme chụm lại làm ông táo nấu nước chè (trà) để uống, thành một truyền thuyết gọi là "tức tè ôông". Bọn Pôn Pốt lợi dụng truyền thuyết này để kích động tâm lý hận thù Việt Nam trong nhân dân Campuchia). Bên cạnh những cuộc liên minh đã đi vào huyền thoại ấy, trong quan hệ cư trú làm ăn giữa hai dân tộc cũng ngày càng tốt đẹp. Đến năm 1945, trong tổng số hơn 4 triệu dân Campuchia có đến 350.000 Việt Kiều làm ăn sinh sống và mang quốc tịch của Vương quốc. Giữa người Campuchia và người Việt Nam còn có nhiều mối quan hệ hôn nhân, gia đình, nhiều mối tình đầy hạnh phúc nảy nở trong mối quan hệ hữu hảo giữa hai dân tộc. Giữa thế kỷ XIX, ba nước Việt - Campuchia - Lào bắt đầu nằm vào lăng kính nhòm ngó của một số nước Phương Tây. Nguyễn Ánh, đưa con là hoàng tử Cảnh sang Pháp làm con tin, để viện binh đánh Tây Sơn. Từ đó thực dân Pháp từng bước tiến hành âm mưu xâm chiếm ba nước. Việt - Campuchia - Lào cùng có kẻ thù chung. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Tám, 2021, 03:09:18 pm 2. Ba nước Đông Dương đoàn kết chống kẻ thù chung
Ngày 1.9.1858, thực dân Pháp và quân liên minh Tây Ban Nha đưa 2.500 quân với 13 chiến thuyền, trang bị hiện đại đổ bộ đánh chiếm Đà Nẵng, với ý đồ vượt Hải Vân, chiếm kinh thành Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng. Nhưng chúng bị quân dân ta chặn đánh, không thực hiện được ý đồ, chúng phải từ bỏ kế hoạch và chuyển vào tấn công Gia Định. Tháng 2.1859, bước chân xâm lược đầu tiên của giặc Pháp và liên quân Tây Ban Nha đặt lên đất Gia Định, bị 5.800 nông dân với gươm giáo, gậy gộc phối hợp với lính triều đình chống lại. Năm 1861, đồn Kỳ Hòa của Gia Định bị thất thủ. Trong lúc nhân dân Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Thủ Khoa Huân chống Pháp, thì triều đình nhà Nguyễn khiếp nhược, thậm chí cản trở cuộc chiến đấu của nghĩa quân. Ngày 5.6.1862, triều đình Tự Đức cử Phan Thanh Giản làm chánh sứ và Lâm Duy Hiệp làm phó sứ, dại diện triều đình mở cuộc ký “Hòa ước 1862” gồm 12 điều khoản với đoàn đại diện nước Pháp, cắt 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) giao cho thực dân Pháp, trước sự căm phẫn của nghĩa quân và nhân dân các tỉnh phía Nam. Cái câu “Phan - Lâm mãi quốc, Triều đình khi dân!” mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc. Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông của Việt Nam, thực dân Pháp nghĩ ngay đến Campuchia. Ngày 11.8.1863, đô đốc Đơ la Gơ-răng-đi-e (De La Grandière) đến Phnôm Pênh uy hiếp vua Nôrôđôm, bắt buộc phải ký hiệp ước “Bảo hộ”, để người Pháp được tự do đi lại, truyền đạo, buôn bán và cư trú trên đất Campuchia và đặt một “Khâm sai bên cạnh nhà vua để thực hiện quyền Bảo hộ của nước Pháp”. Ngày 6.6.1884, triều đình nhà Nguyễn hoàn toàn bất lực, bị thực dân Pháp buộc phải đầu hàng và ký một hiệp ước đặt toàn bộ nước Việt Nam dưới quyền bảo hộ của chúng. Lập tức, đêm 17.6.1884 một phái đoàn Pháp có bộ binh đi kèm, xông thẳng vào Hoàng cung, đến tận nơi vua Nôrôđôm đang ngủ, buộc phải ký văn bản điều ước 11 điểm chúng vạch sẵn, đặt quyền bảo hộ hoàn toàn đất nước Campuchia. Sau khi đã chiếm hai nước Việt Nam, Campuchia, đến 1893 quân Pháp đánh chiếm nước Lào, đặt ba nước dưới quyền cai trị của toàn quyền Đông Dương (Ba nước Đông Dương còn có tên là Đông Pháp) Từ đó, ba nước Việt, Campuchia, Lào cùng chịu một ách thống trị, một kẻ thù chung là thực dân Pháp. Trong suốt hơn 80 năm nô lệ, nhân dân ba nước liên tục có những cuộc khởi nghĩa vũ trang của những người yêu nước lãnh đạo. Có những cuộc có sự liên minh chặt chẽ với nhau, như cuộc khởi nghĩa của Achar Svar (1864-1866) phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân) ở Châu Đốc, Hà Tiên (Việt Nam) và Kampốt (Campuchia). Cuộc nổi dậy của Achar Pôkômpô (1865-1867) phối hợp với nghĩa quân của Trương Quyền ở Tây Ninh. Liên quân Khơme - Việt, tiến công tiêu diệt trại lính Pháp ở Tây Ninh, sau đó 2 bên hoạt động để hỗ trợ phong trào cho nhau. Cuộc nổi dậy của Sivottha (1885-1895) liên minh với nghĩa quân Việt Nam đánh chiếm Kampốt rồi đánh sang Hà Tiên ... Từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập đã nhận rõ ba nước Đông Dương cùng có chung kẻ thù, mỗi nước không thể giành thắng lợi, giải phóng riêng cho mình được. Đầu năm 1930, trong thư gởi những người Cộng sản Đông Dương, Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: “Nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của những người Cộng sản Đông Dương là sáng lập một Đảng có tính chất quần chúng ở Đông Dương”. Trong Nghị quyết Hội nghị 8 của Trung ương Đảng (khóa I) cũng đã viết: “Pháp, Nhật ngày nay không chỉ là kẻ thù của Công Nông mà còn là kẻ thù chung của dân tộc Đông Dương. Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp, Nhật”. Vì cùng chung một kẻ thù, cùng chung một cảnh ngộ mất nước và làm nô lệ cho thực dân Pháp, nên để đánh bại thực dân Pháp, giải phóng cho ba nước và cho mỗi nước, ba dân tộc Đông Dương phải liên minh nhau lại, chịu sự lãnh đạo của một Đảng. Trong kháng chiến đánh Pháp, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã chỉ rõ: “Về quân sự, Việt Nam - Lào - Campuchia là một chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung”. Hồ Chủ tịch, vị cha già của dân tộc và Quân đội ta cũng thường nhắc: “Giúp bạn cũng là tự giúp mình, Việt Nam kháng chiến có thành công thì Lào, Miên (Campuchia) mới thắng lợi và Lào, Miên có thắng lợi thì Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi!”1 (Trong Hội nghị liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương họp tháng 9-1952, Hồ Chủ tịch nói: "Việt Nam, Lào, Miên như anh em một nhà. Cả ba dân tộc đoàn kết chặt chẽ thì nhất định đánh bại thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Miên một cách vô điều kiện. Sự thật thì chưa tìm ra chữ gì thay thế chữ "giúp", chứ thật ra không phải là "giúp", mà là nghĩa vụ quốc tế (tổng kết kháng chiến chống Pháp)). Thấm nhuần quan điểm quốc tế của Đảng và Bác Hồ: “giúp bạn là tự giúp mình”, “nghĩa vụ quốc tế gắn liền với lợi ích dân tộc”, đoàn kết với nhân dân Lào, Campuchia cùng chống kẻ thù chung là một trong những truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Tám, 2021, 08:51:52 pm II. Trên đất nước Chùa Tháp
(lần thứ nhất) 1. Vượt Trường Sơn Sau chiến dịch hè 1950 của nam Tây Nguyên kết thúc, Tiểu Đoàn 365 - Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn 803, chủ lực của Liên khu 5, rút về Phú Yên để củng cố và xây dựng, được lệnh tách ra một bộ phận nòng cốt, từ tổ trưởng tổ 3/3 đến các cấp tiểu đội, trung đội, đại đội đến tiểu đoàn, để tiếp nhận tân binh của các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi tổ chức huấn luyện, thành lập tiểu đoàn thứ 2, lấy phiên hiệu là 365B, gồm các đại đội 211B, 212B và 213B cùng cơ quan Tiểu đoàn bộ. Đồng chí Bùi Dư (có biệt hiệu là “Dư u”) sang làm quyền chính trị viên Tiểu Đoàn. Tôi, nguyên là Trưởng Ban công tác Chính trị Đại đội 212, được Liên khu đề bạt làm Chính trị viên đại đội 212B và sau đó, đại đội 212 B được liên khu 5 điều động bổ sung trực thuộc Trung đoàn 84 Tây Nguyên, để chuẩn bị biệt phái sang làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Đông Bắc Campuchia (lúc đó gọi là Đông bắc Miên), giúp bạn kháng chiến chống Pháp. Ý định của cấp trên là trong thời gian đại đội 212B tổ chức huấn luyện và xây dựng đơn vị hoàn chỉnh, trung đoàn 84 đưa một đội vũ trang tuyên truyền đi trước mở đường và đại đội 212B sẽ tiến theo sau, xuyên qua vùng địch hậu nam Tây Nguyên, tiến qua vùng Bô Khâm - Bô Keo bên kia biên giới Việt Nam - Campuchia. Những ngày đầu xây dựng đại đội 212B, Ban chỉ huy đại đội chỉ có mình tôi phải lo cả về quân sự và chính trị. Ba tháng sau, Liên khu 5 bổ sung về đại đội trưởng Hồ Quang Trung, từ chiến trường Quảng Nam vào. Anh quê ở Đà Nẵng, tham gia “tiếp phòng quân” từ đầu 1946. Tuổi lớn hơn tôi một con giáp, người cao to, vốn là một cầu thủ bóng đá của đội bóng đá Đà Nẵng từ hồi Pháp thuộc. Chúng tôi sống chung và công tác với nhau rất tâm đầu ý hợp. Về tuổi tác chênh lệch nhau, chúng tôi đối xử với nhau như hai anh em. Nhờ thế, đơn vị rất mau tiến bộ, trưởng thành. Sau 3 tháng huấn luyện quân sự và học tập chính trị, chúng tôi chuyển quân từ Tuy Hòa ra Đồng Xuân, trú quân tại làng Tân Lập, xã Xuân Sơn, Hà Bằng, ăn Tết Canh Dần và chuẩn bị lên đường sang Đông Bắc Campuchia. Ăn tết xong, mệnh lệnh hành quân có thay đổi. Cấp trên cho biết, con đường xuyên qua nam Tây Nguyên để đến Đông Bắc Campuchia còn gặp khó khăn chưa thể thực hiện được, trong khi chiến trường đòi hỏi sự có mặt của lực lượng vũ trang tăng cường sớm. Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam ở Đông Bắc Campuchia nhanh chóng sử dụng con đường xuyên qua Hạ Lào để đến chiến trường. Thế là chúng tôi rời Xuân Sơn - Hà Bằng, tạm biệt Phú Yên đầy kỷ niệm thân thương để làm cuộc hành quân, kết hợp cả phương tiện “xe goòng” (Wa-gông xe lửa cải tạo thành xe chạy trên đường ray sắt do người đẩy) và đi bộ ra Bình Định, trú quân tại An Thường, cách Bồng Sơn hơn 10 cây số về phía tây, để tiếp tục công việc chuẩn bị. Ở đây, đơn vị được đón đồng chí Bùi San - Phó Bí thư Liên khu ủy 5 đến thăm. Đồng chí giáo dục chúng tôi về tinh thần quốc tế vô sản và vinh dự của một chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam, chiến đấu vì nhân dân ba nước Đông Dương, cùng kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Pháp. Tất cả chúng tôi, cán bộ cũng như chiến sĩ, ai nấy đều khắc cốt ghi tâm lời huấn thị ấy và hăm hở mong được sớm lên đường. Riêng tôi, ngoài những nhận thức được Đảng dạy dỗ, tôi còn có cái háo hức của một cán bộ trẻ với tuổi hai mươi hai. Tôi muốn làm một chuyến đi xa, xa đặc biệt cho thỏa thích lòng ham muốn hiểu biết những chuyện lạ ở cái xứ gọi là “đất Chùa Tháp” này. Tôi quyết định giấu hẳn về chuyến đi xa với nhiệm vụ đặc biệt ấy, không cho mẹ tôi biết. Sợ rằng mẹ sẽ không muốn cho tôi đi xa, mẹ sẽ tìm đến đơn vị, sẽ khóc, sẽ khuyên tôi xin cấp trên ở lại Việt Nam, chiến đấu trên bất cứ chiến trường nào (vì quan niệm của người dân lúc này nghe nói “đi Miên, đi Lèo (Lào)” là cái gì ghê gớm lắm). Nhưng rồi mẹ tôi cũng phát hiện ra địa điểm trú quân của tôi và đến thăm. Mẹ con được sống cạnh nhau hai ngày. Hiểu ý tôi, suốt hai ngày mẹ không khóc, cũng không hé một lời nào cản bước tôi. Mẹ chỉ cầu mong tôi ra đi chân cứng đá mềm, đến chiến trường vạn sự bình an. Một ước ao da diết của mẹ là muốn sớm có cháu nội. Tôi nhớ lại, cái hồi đầu năm 1947, nghe tin đơn vị tôi ở Bồng Sơn, sắp hành quân vào mặt trận Phú Khánh, mẹ tôi cũng tìm đến thăm, gặp lúc đơn vị tôi xảy ra sự cố, vì một bất cẩn làm nổ quả mìn tự tạo bằng quả đạn 105 ly, cả tổ mìn không một ai sống sót. Tôi ngỡ là mẹ sẽ run sợ, có thái độ làm nhụt ý chí tôi trước khi lên đường. Nhưng không, mẹ tôi vẫn bình tĩnh, khuyên tôi an tâm lên đường, hết lòng chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ. Lần này cũng vậy, tôi càng hiểu hơn tấm lòng của mẹ. Mẹ là một bà mẹ dũng cảm, đã nâng bước chân tôi ra chiến trường hết sức thanh thản, đầy nghị lực. Tôi vô cùng biết ơn mẹ. Mẹ đã cho tôi dũng khí trước khi lên đường đến chiến trường xa. Gần tới ngày hành quân ra Quảng Nam, cấp trên bổ sung Ban chỉ huy Đại đội 212B hai đại đội phó là đồng chí Thái Mật và Phan Văn Dưỡng. Đồng chí Phan Trử được bổ sung làm Trưởng Ban công tác chính trị đại đội (bộ đội lúc này chưa có biên chế cấp Phó Chính trị viên) Đến Quảng Nam, sau khi chuẩn bị chu đáo, chúng tôi làm một cuộc hành quân dài ngày. Từ Tam Kỳ qua Đèo Le, lên Sé, đến Bến Giằng và bắt đầu trèo núi, vượt đỉnh Trường Sơn. Cùng hành quân với chúng tôi có một Đại đội thứ 2, hầu hết là cán bộ Dân, Chính, Đảng và một bộ phận cơ quan của Quân tình nguyện Việt Nam ở Đông Bắc Campuchia, do đồng chí Võ Toàn (đồng chí Võ Chí Công) và đồng chí Trần Hoài Ân (sau này là Thiếu tướng, đã mất) lãnh đạo. Cuộc hành quân khá vất vả. Đại đội 212 B chúng tôi hầu hết là chiến sĩ mới, tuy được huấn luyện bài bản, nhưng chưa tham gia chiến đấu. Đây là lần đầu tiên các chiến sĩ trẻ lên đường ra trận, lại đi đến chiến trường xa, vượt qua bao sông núi, có những dốc cao chót vót như đỉnh núi Công-tơrơn, Tăng Đam, Aró, Đắk Úc... những trận mưa đầu mùa đổ xuống làm đường trơn như mỡ, từng đàn vắt lổm ngổm, bu bám trông rất tởm, có người bị vắt cắn chảy máu đỏ cả bàn chân... thế nhưng tất cả đều hăng hái, suốt tháng trời hành quân chỉ rơi rớt lại năm, bảy đồng chí vì đuối sức. Nhưng khi khỏe lại, anh em vẫn tích cực đuổi kịp đơn vị. Ai cũng mong nhanh chóng vượt đỉnh Trường Sơn, đến chiến trường nước bạn. Rời Hạ Lào, chúng tôi vượt sông Mê Kông bằng những chiếc thuyền độc mộc và hành quân một ngày đường nữa mới tới được địa đầu Đông Bắc Campuchia. Làng đầu tiên chúng tôi dừng chân ở Đông Bắc Campuchia là Na Va và Khâm Phốc, thuộc huyện Siêm Pang, tỉnh Stưng Treng. Stưng Treng có nghĩa là sông nhiều cây đế. Ở đây cũng như ở Hạ Lào, đồng bào đón chúng tôi như những người thân. Đồng bào không cho chúng tôi nấu cơm chiều, mỗi nhà đều bưng cơm và thức ăn đến để nuôi bộ đội Ít-xa-rắc (theo tiếng Balây, Ít-xa-rắc có nghĩa là tự do). Đồng bào nói: “Chúng con là Việt Nam, nhưng đã tình nguyện sang đây, đoàn kết với nhân dân Campuchia đánh đuổi thằng Phalăng (tức giặc Pháp) thì các con cũng đều là bộ đội Ít-xa-rắc cả thôi!” Những ngày đầu tiên đến Đông Bắc Campuchia, chúng tôi rất phấn khởi trước phong trào chung của Miền. Được sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam, phối hợp với lực lượng kháng chiến Campuchia, cơ sở cách mạng đang mở rộng. Phum, bản (làng) nào cũng có chính quyền Ít-xa-rắc, dù chỉ mới là tổ chức. Ủy ban dân tộc giải phóng ở các Huyện Siêm Pang, Vơnsai, Bôkeo... đã có điều kiện thành lập. Thời cơ Ủy ban Dân tộc Giải phóng miền Đông Bắc Campchia ra mắt nhân dân đã chín muồi. Đó là thành quả của đại đội 105 và các tổ võ trang tuyên truyền do các đồng chí Quỳnh, Cận, Ngọc, Nhãn, Tài, Mưu, Đường (sau này đồng chí Đường được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) phụ trách, dưới sự chỉ huy của đồng chí Tống Đình Phương, Trần Thanh Hòe, cùng đồng chí Xi Đà cán bộ Campuchia tiến lên đây từ đầu năm 1950. Lực lượng chúng tôi đến là nhằm thêm sức mạnh để phát huy thành quả đó, đưa vùng Đông Bắc theo kịp phong trào Ít-xa-rắc chung cả nước. Do đó, sau cuộc hội nghị cán bộ tại làng Chăn Tú, thành lập Ban cán sự Đảng và tổ chức Ủy ban dân tộc giải phóng miền Đông Bắc Campuchia xong, Ban cán sự giải thể đại đội 212B, chúng tôi đưa đi tăng cường cho các chiến trường... có bộ phận về Vơn Sai, Bô Keo, Lom Phát thuộc Rát-ta-na-ki-ri ngày nay. Có bộ phận ở lại Xiêm Pang, hoặc sang Pha-la-khanh thuộc tỉnh Stưng Treng. Đặc biệt, có một trung đội được điều động về tây sông Mê Công, sang hoạt động tận Kông Pông Thơm, theo lời yêu cầu của các đồng chí Ít-xa-rắc vùng Tây Bắc. Ở đây, phong trào quần chúng kháng chiến chống Pháp mạnh nhưng lực lượng vũ trang còn hạn chế, cần được tăng cường. Trung đội này do đồng chí Võ Thể làm trung đội trưởng và đồng chí Nguyễn Thần làm Trung đội phó. Chúng tôi chia tay nhau trong niềm lưu luyến khôn nguôi. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Tám, 2021, 08:53:27 pm 2. Tà Phưn và căn cứ miền Đông Bắc - Xê Mo
Sau khi đơn vị đã phân tán, tôi nhận quyết định của Ban cán sự về phụ trách Văn phòng miền Đông Bắc. Với danh nghĩa Văn phòng, chúng tôi phục vụ đồng thời cho hai cơ quan: Ban cán sự Đảng và Ủy ban Dân tộc Giải phóng Miền. Văn phòng Miền chỉ có một chi bộ Đảng, các đồng chí đảng viên Việt Nam, Campuchia cùng sinh hoạt chung với nhau. Ban cán sự Đảng lúc bấy giờ do đồng chí Võ Toàn làm Bí thư. Chủ tịch ủy ban Dân tộc Giải phóng miền Đông Bắc Campuchia lúc bấy giờ là đồng chí Xi đà, tên thật là Kim Xêng. Tôi quen biết đồng chí Kim Xêng từ năm 1948, ở mặt trận Khánh Hòa. Quê đồng chí ở Kông Pông Chàm, bị Pháp bắt lính đưa sang Việt Nam, đến Khánh Hòa, đồng chí được giác ngộ và tìm cách chạy sang hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành chiến sĩ cách mạng. Đồng chí được bổ sung về trung đội tôi một thời gian, lúc đó tôi là Chính trị viên trung đội. Sau đó đồng chí được điều về Khu bộ Liên khu 5. Nay gặp lại, đồng chí đã là đảng viên. Tháng trước, đồng chí đã lên tận mặt trận Hạ Lào đón chúng tôi, gặp nhau chúng tôi mừng vô hạn. Ban cán sự và Ủy ban Miền vẫn đóng trụ sở ngay tại làng Xê Mo, riêng tôi ở trong một gia đình nông dân nghèo, tên ông là Tà Phưn. Hai vợ chồng Tà Phưn hiếm con, chỉ có một cô gái rượu tên Văn Ni. Với cái tuổi mười lăm, Văn Ni hồn nhiên cởi mở. Cô thích hát và múa Lâm vông. Văn Ni rất mến bộ đội Việt Nam. Mỗi ngày đi chơi ở đâu về, cô cũng cố tìm cho được một chùm hoa Chăm-pa tặng cho chúng tôi. Ở đây giao dịch hàng ngày nhân dân dùng tiếng và chữ Lào, còn tiếng và chữ Campuchia phổ thông dành để dùng trong văn tự và công việc hành chính của nhà nước. Để thuận lợi cho việc tiếp xúc, gần gũi đồng bào tôi, siêng học tiếng và chữ Lào, học được tiếng nào đem ra ứng dụng tiếng đó, có tiếng phát âm sai, đồng bào lăn ra cười rồi giúp tôi sửa giọng nói lại cho đúng. Thấy tôi ham thích, Văn Ni tích cực dạy cho tôi cả tiếng và chữ. Lúc nào Văn Ni cũng coi tôi như người anh, còn vợ chồng Tà Phưn thì thương yêu tôi như con trai của ông bà. Một lần, tôi cùng các đồng chí cơ quan vào rừng chuẩn bị mật khu cho Ban cán sự và Ủy ban Mặt trận, khi về thì trên nhà sàn Tà Phim đã đặt sẵn cỗ tháp làm bằng lá chuối trên một đĩa đầy gạo, trứng gà luộc và những sợi chỉ trắng, lại còn có cả mấy đòn bánh “khậu tụm” gói bằng nếp trộn nước cốt dừa, nhân chuối và nhiều quả cam, chuối nữa. Tôi không biết trong nhà có lễ gì, vì tôi không nghe ông bà nói. Vợ chồng Tà Phưn nắm tay tôi, kéo lại trước cỗ tháp, làm theo phong tục đồng bào tôi ngồi xếp hai chân về phía sau, như người ta thường ngồi trong chùa khi làm lễ, hai tay tôi đặt lên vành đĩa đặt cỗ tháp. Bà Phưn khoác chiếc khăn màu hồng nhạt chéo qua ngực. Chiếc khăn bà vẫn dùng trong những ngày dự lễ. Đốt bảy ngọn nến cháy đều lên, chắp hai bàn tay đưa lên ngang trán, miệng vái. Bấy giờ tôi đã biết tiếng Lào bập bẹ nghe được lời bà. Bà vái: “Cầu trời cầu Phật, cầu thần Tê-vê-đa phù hộ cho đứa con Việt Nam ở tận xa xôi đến đất nước này, giữ cho nó bình yên trước làn đạn mũi tên, cho nó được luôn luôn khỏe mạnh và giành được nhiều thắng lợi, giết được nhiều thằng giặc Pha-lăng...” Hai ông bà Tà Phưn và Văn Ni lần lượt cột chỉ cổ tay cho tôi. Xong bà Phưn nói: “Kể từ nay, con là con người Campuchia. Con phải có một cái tên thật đẹp. Mẹ đặt tên cho con là Khâm Tằn, Khâm là vàng, Tằn là nén”. Bà giải thích: “Con từ mường Việt sang đây, đoàn kết giúp Campuchia đánh Pha lăng giành độc lập. Cha mẹ quí con cũng như vàng nén vậy”. Tôi không dám từ chối tấm lòng tốt của mẹ. Tôi chắp tay xá, sung sướng nhận cái tên của hai ông bà đặt cho mình. Không bao lâu cái tên Khâm Tằn của tôi cả làng Xê Mo đều biết. Từ đó đến đâu người ta cũng gọi tôi là Khâm Tằn. Còn cái tên Ấm mà đồng bào ở đây thường đọc là “Am” thì chỉ người quen thân mới gọi đến. Gia đình Tà Phưn và căn cứ Xê Mo sau này là chỗ dựa của tôi trong những ngày khắc nghiệt nhất của chiến trường. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Chín, 2021, 02:39:42 pm 3. Bước ngoặt của chiến trường
Bước vào những ngày cuối năm 1951, địch phản kích mạnh, chúng mở những cuộc hành quân dài ngày, càn quét liên tục. Từ trận chiến ác liệt không cân sức ở làng Ka-lanh, đại đội trưởng Quế, một cán bộ trẻ, xông xáo đã hy sinh. Địch lấy được cuốn sổ tay của đồng chí, chúng biết nhiều cơ mật, cơ sở bị vỡ ở nhiều nơi, căn cứ của Ban cán sự tạm lui về miền núi, tiếp giáp khu Hạ Lào đóng tại làng Kher. Tôi được quyết định làm Đội trưởng vũ trang công tác tả ngạn Xê Công thuộc huyện Xiêm Pang, trụ lại đồng bằng để gầy dựng cơ sở. Đội của chúng tôi vẻn vẹn có bảy đồng chí. Tôi là đội trưởng kiêm Bí thư chi bộ. Đồng chí Khâm Đeng quê ở Nava, một cán bộ Campuchia nhanh nhẹn, tháo vát và đồng chí Trung đội trưởng Đỗ Văn Hy làm đội phó. Đội công tác lúc này tổ chức theo hình thức kết hợp nhau giữa Việt Nam và Campuchia. Đội viên của đội gồm các đồng chí Trung đội phó Lương, chiến sĩ Lư, Thìn, cán bộ Hưởng và y tá Sâm. Vũ khí chỉ có một khẩu PMmas, một khẩu Sten, ba súng trường Anh-đô-sinoa, mỗi khẩu súng chỉ có ba đến năm viên đạn. Chiến trường đồng bằng tả ngạn Xê Công lúc này không phải như những ngày đầu năm 1950, khi lực lượng Ít-xa-rắc mới tiến về. Lúc đó địch bất ngờ, ta có kế hoạch nghi binh giỏi mười thành trăm, hư hư, thực thực. Bọn chúng hốt hoảng, hoang mang. Chỉ có đại đội 105 và một số cán bộ vũ trang tuyên truyền mà trong thời gian ngắn đã làm chủ tình thế một vùng rộng lớn. Từ Xiêm Pang sang Vơn Sai đến tận Bô Khâm, Bô Keo, ảnh hưởng tận bên kia sông Mê Kông. Ở Vơn Sai, ta bao vây đồn, địch rút chạy. Huyện trưởng là A Nha Còn đi theo cách mạng. Tể tổng... tề xã co rúm lại đầu hàng, ngụy quyền tan rã hàng mảng. Những ngày ấy, khí thế cách mạng lên cao. Ai cũng muốn rước Ít-xa-rắc về làng mình. Đến đâu, Ít-xa-rắc và nhân dân cũng tổ chức lễ uống nước ăn thề để đoàn kết đánh Tây cứu nước. Bây giờ, phong trào đang đi vào bước ngoặt, trừ làng Xê Mo, hầu hết các làng ở đây đều bị địch gom dân lại lập thành “gum”1 (Khu tập trung có tổ chức vũ trang phản động chống cách mạng) để kiểm soát chặt, với những quy định cực kỳ hà khắc. Vận động quần chúng phá gum là một nhiệm vụ cấp bách của đội. Cuộc họp toàn đội vũ trang công tác tại khu rừng bắc làng Xê Mo, ngay trong ngôi nhà Văn phòng căn cứ cũ của Ban cán sự. Chúng tôi bàn kế hoạch vũ trang tuyên truyền vào gum Chăn Tú. Trước bảy khuôn mặt đăm chiêu của các đồng chí cán bộ, đội viên thân yêu, tôi trịnh trọng đọc lại chỉ thị của Ban cán sự Miền về nhiệm vụ, quyết tâm nắm và giành lại kỳ được nhân dân, phá tan khu gum Chăn Tú. Tôi nói chậm rãi: - Cái gum Chăn Tú như cây gai khổng lồ cắm ngay giữa rốn vùng tả ngạn Xê Công. Phá được nó, bung dân về lại làng cũ là ta có thể khôi phục lại toàn bộ cơ sở trên địa bàn mà Đảng giao cho chúng ta đảm nhiệm. Nhiệm vụ ấy rất nặng nề, nhưng chúng ta phải bắt đầu từ tranh thủ lòng dân. Tôi dứt lời thì đồng chí Lương nói: - Tầm quan trọng đó nhất trí rồi. Nhưng tôi xin hỏi, hai tháng nay chúng ta không thể liên lạc với người dân nào trong gum, cả chú bé Xi Tha, con ông già Phửi cũng bặt tin. Mới tuần trước, tổ chúng tôi gặp năm người Na Phô về làng cũ lấy dầu làm cà boong. Vừa thấy chúng tôi họ quay đầu chạy như chạy tà. Có người vứt cả khăn cà ma. Vậy ta căn cứ vào tình hình nào để đột nhập vào gum? Tôi để cho Trung đội phó Lương nói hết ý kiến, tôi biết anh vốn là một cán bộ đơn vị chủ lực, quen đánh tập trung hơn đi làm nhiệm vụ lẻ trong vùng địch hậu. Anh cũng có cái lý của anh. Nhưng anh mới thấy hiện tượng bên ngoài của những người dân đau khổ đó. - Đồng bào sợ liên lụy nên họ chạy. Cái bụng họ không giết mình đâu. Tôi biết mà! Người phát biểu đó là Khâm Đeng. Khâm Đeng có nghĩa là vàng đỏ, Khâm Đeng người làng Na Va. Chàng trai làng Na Va ấy nhập đội quân Ít-xa-rắc đã hơn một năm, tính tình vui vẻ hoạt bát. Tôi tán thành câu phát biểu của đồng chí Khâm Đeng và kể lại tỉ mỉ ý kiến của đồng chí Ty Pheng đã nói với tôi đêm gặp nhau trong làng Xê Mo. Bảy gương mặt của toàn đội đồng loạt sáng lên. Tôi phác họa ra kế hoạch: - Theo hiệp đồng giữa tôi và đồng chí Ty Pheng, trước đêm đột nhập vào Chăn Tú, Ty Pheng và anh Lốt, một cơ sở giả vờ đi làm ăn đến đó để nắm tình hình. Nếu có địch từ đồn Xiêm Pang đến thì Ty Pheng và anh Lốt lập tức di về bằng con đường tắt, đến làng cũ Phôn- gia-nàng đặt ám hiệu, để báo cho mình đình chỉ việc đột nhập. Nếu không có địch từ đồn đến, hai người ngủ lại trong làng Chăn Tú để tiếp tục sau khi chúng mình vào “gum” các anh nắm tình hình báo lại. - Nhưng nếu khi mình vào gum, dân bị bọn xấu kích động cả làng nổi mõ, đốt đuốc vây bắt mình thì sao? Một chiến sĩ người ốm, dong dỏng cao, tên là Thìn hỏi. - Làm gì có chuyện đó! - Trung đội trưởng Hy đáp lại. - Biết đâu đấy! - chiến sĩ Thìn trả lời. Thật ra câu nói của Trung đội trưởng Hy chưa thể giải đáp cho Thìn. Tôi biết anh em trong đội tuy tin dân làng Chăn Tú, nhưng lòng tin đó có mức độ. Tôi phải nói sao đây cho toàn bộ đội nhất trí hoàn toàn với nhận định của đồng chí Ty Pheng về làng Chăn Tú. Cuộc họp diễn ra rất sôi nổi và cuối cùng toàn đội đi đến kết luận thống nhất: “Đột nhập vũ trang tuyên truyền vào gum Chăn Tú là cần thiết, dù rằng phải gánh chịu hy sinh. Nếu xảy ra tình huống phức tạp như dân làng bị bọn xấu kích động, thấy ta vào gum, họ đốt đuốc, nổi mõ vây bắt thì toàn đội phải bình tĩnh, không hoang mang hốt hoảng, phải kiên trì giải thích cho nhân dân biết rằng mình là bạn của họ, đến đây cùng họ đoàn kết đánh đuổi Pha Lăng, giành độc lập cho cả hai dân tộc. Giả sử tình huống xấu nhất ta không thể nào nói cho đồng bào hiểu hết được lòng dạ của mình, bị đồng bào vây bức bách quá, dù một người nào trong đội bị dân bắt đi nữa thì ta cũng chỉ được quyền bắn chỉ thiên để giải vây, nhất thiết không được bắn chết một người dân nào, dầu bị bắt làm tù binh hoặc thậm chí phải hy sinh. Không phải ta thủ tiêu chiến đấu mà vì lợi ích lâu dài, nếu bắn một người dân nào chết trong cuộc xô xát này là ta đã bị mắc mưu địch, đẩy dân trong gum đứng về phía chúng, sự tổn thất ấy to lớn không thể lường trước được. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Chín, 2021, 02:40:33 pm Để bảo đảm thắng lợi cho nhiệm vụ trước khi đội chuẩn bị lên đường, giữa khu rừng Phôn-gia-nàng, nhân danh đội trưởng và bí thư chi bộ, tôi nói:
- Vào Chăn Tú, nếu đồng chí nào xét thấy mình có thể thực hiện được những điều quyết định trong cuộc họp của đội thì hãy hành quân. Đồng chí nào xét thấy mình còn do dự thì ở lại căn cứ, sẽ đi công tác vào dịp khác. Tất cả sáu người như một đều nắm chặt tay, giơ cao, đồng thanh hô “quyết tâm!”. Rất tiếc là hôm chúng tôi lên đường tiến hành cuộc đột nhập vũ trang tuyên truyền vào gum Chăn Tú lại vắng mặt đồng chí Khâm Đeng, vì có giấy cấp trên triệu tập đồng chí đi dự một khóa học tập. Đến làng cũ Phôn-gia-nàng, không thấy ám hiệu của đồng chí Ty Pheng và anh Lốt, chúng tôi càng phấn khởi. Vốn thông thạo địa thế, chúng tôi bỏ tất cả đường mòn, xuyên rừng đến thẳng Chăn Tú. Mặt trời còn cao, tôi cho toàn đội dừng lại ven rừng tìm chỗ núp, chờ trời tối. Tôi và Trung đội truởng Hy len lỏi theo các bụi rậm vào sát ven làng, chọn một ụ mối để nhô lên quan sát tình hình động tĩnh trong gum. Gum Chăn Tú nằm vắt ngang qua hai bờ suôi Xê Mo. Bên cạnh những nóc nhà cũ, mọc lên thêm hàng trăm ngôi nhà mới của dân các làng Nong Xẻng, Phôn-gia-nàng, Vân Phuông, Na Phô xung quanh dồn về, làm cho Chăn Tú vốn đã là một làng lớn càng lớn lên gấp bội. Chiều về, tiếng chày giã gạo thùm thụp, tiếng chuông kêu leng keng ở cổ con bò, tiếng mõ kêu lốc cốc ở cổ trâu, tiếng í ới gọi nhau của các cô gái... những tiếng quen thuộc ấy gợi lên trong lòng tôi một cái gì da diết... Tôi nhớ lại những ngày gần đây, chỉ mới cách đây một mùa mưa, cũng ở cái làng Chăn Tú này, các mẹ các chị thương yêu bộ đội Việt Nam, chăm sóc các anh bộ đội Việt Nam từng miếng ăn, miếng uống, những cà tip xôi, những con cá nướng, những bát canh chua. Rồi dưới đêm trăng, giữa sân chùa, các cô gái các chàng trai làng hòa cùng các anh bộ đội Việt Minh, bộ đội Ít-xa-rắc trong những điệu múa lâm vông hài hòa tha thiết, thế mà hôm nay cũng cái làng Chăn Tú ấy... Chao ôi, tim tôi như thắt lại. Tôi đang mải suy nghĩ thì từ phía sau lưng có tiếng leng keng của mấy chú bò đi ăn rong trên đường về làng. Tôi quay lại, một tiếng kêu thảng thốt: - Anh Khâm Tằn! thằng bé Xi Tha, con ông già Phửi ở Phôn-gia-nàng từ trên lưng con bò mộng phát hiện ra tôi, kêu lên và tụt xuống khỏi lưng bò rồi lủi mất hút. - Lộ rồi, ta lui thôi! Trung đội trưởng Hy giục. - Khoan đã ... Tôi khoát tay cho Trung đội trưởng Hy nấp kín vào ụ môi và dán mắt vào làng trông theo chú bé. Tôi vẫn tin chú bé con ông già Phửi này. Trong những ngày gom dân lập gum của địch ác liệt, ông già Phửi vẫn kiên quyết ở lại làng cũ. Bà Phửi chết từ lâu. Ông già sống cảnh gà trông nuôi con, đứa gái đầu là Xảo Xun, đứa gái thứ hai là Xảo Nhi, còn thằng Xi Tha là út... Một hồi khá lâu, chú bé từ trong làng ra, tôi thoáng thấy theo sau là một cô gái. Đúng là Xảo Nhi rồi. Sau Xảo Nhi không có người lạ mặt nào khác. Với tinh thần cảnh giác của một chiến sĩ địch hậu, chúng tôi di chuyển địa điểm để đề phòng bất trắc. Khi hai chị em đến chỗ Xi Tha đã thấy tôi lúc nãy, nhìn trước nhìn sau rồi cả hai khẽ gọi: - Anh Khâm Tằn ơi, em đây mà! Tôi nghe rất rõ tiếng hai chị em Xi Tha, nhưng một hồi sau mới lên tiếng trả lời. Từ bụi rậm, tôi bước ra. Xi Tha nhảy lại ôm chầm lấy tôi, em mừng rỡ áp đôi má vào ngực tôi. Nước gì ấm ấm trên lòng ngực tôi? Trời ơi! Chú bé khóc. Những giọt nước từ đôi mắt ngây thơ của chú thấm qua làn áo mỏng, đem hơi ấm truyền cho quả tim tôi. Lòng tôi rung động, hai tay vuốt lên mái tóc hoe nắng của chú bé. Còn Xảo Nhi, hai bàn tay xinh xắn mềm dịu cứ nắm chặt lấy bàn tay tôi. - Anh Khâm Tằn ơi, gia đình em, mấy chị em của em bị dồn về Chăn Tú nhưng lòng em vẫn nghĩ về các anh... - Cảm ơn Xi Tha! Tôi cảm động quá đặt nhẹ một cái hôn lên chiếc má đầy lông măng của chú bé, lòng tràn đầy sung sướng. Tôi quay lại trêu Xảo Nhi: - Xảo Nhi về làng Chăn Tú vui quá, quên các anh ở ngoài rừng hết rồi! - Không quên đâu, em vẫn nhớ các anh mãi, nhưng biết làm sao đi thăm các anh được. Thân em chẳng khác nào con chim nhốt trong lồng, con cá thả trong chậu... - Còn Phò thế nào? (Phò là cha, ý chúng tôi muốn hỏi cụ thân sinh của Xảo Nhi và Xi Tha) - Phò nhớ các anh lắm, có lúc Phò bảo cứ liều đi Phôn-gia-nàng tìm thăm các anh rồi ra sao thì ra. - Tội nghiệp Phò quá! Bây giờ anh muốn gặp Phò có chút việc được không? - Sao không được! Thôi để chúng em về làng bảo Phò ra gặp anh. Hôm nay làng không có lính huyện đến đâu. Nói xong, chị em Xảo Nhi vội vã về làng. Tôi nói với các đồng chí trong đội rằng: ta liên lạc với ông già Phửi, coi như chuyến đột nhập Chăn Tú của chúng ta chắc chắn thành công! Anh em ai nấy đều vui... Vào mùa khô 1952, một sự kiện mới lại đến với địa bàn hoạt động của chúng tôi. Ban cán sự và Ủy ban Dân tộc Giải phóng Đông Bắc Campuchia chuyển hướng, dời cơ quan về phía đông - đông bắc Vơn Sai, tiếp giáp Bô Keo và Lom Phát. Nhiều cán bộ chủ chốt của bạn được tổ chức tham quan ở Lào và Việt Nam. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ ta luân phiên về nước nghỉ dưỡng và học tập. Các đội vũ trang công tác của hai huyện Xiêm Pang và Vơn Sai được thống nhất lại. Ban lãnh đạo đội được chỉ định gồm ba người: tôi làm Bí thư cùng hai ủy viên là đồng chí Phan Trữ và Huỳnh Văn Thức. Nhưng sau đó đồng chí Phan Trữ trong một chuyến công tác đã bị thương về khu Hạ Lào điều trị dài ngày, còn lại tôi và đồng chí Thức. Đồng chí Thức quê ở xã Ân Tín, Hoàn Ân (Bình Định) đến chiến trường Đông Bắc Campuchia cùng lúc với tôi, nhưng hành quân trong đội hình đại đội dân chính đảng. Đồng chí nói tiếng Brâu rất sõi, thông thạo vùng bắc Vơn Sai và đã kết “xiều” (làm bạn) với ông Chánh Niết, một tộc trưởng có tên tuổi vùng này, rất thuận lợi cho công tác. Cuộc họp thống nhất đội vũ trang công tác hai huyện tổ chức tại làng của Nai-koong Grạ. Grạ là tên của ông già đứng đầu thị tộc, còn Nai-koong là một chức danh hành chính do Pháp đặt cho ông, để nắm dân cả vùng núi bắc Xiêm Pang, lớn hơn chức chánh tổng. Hội nghị nhất trí chia đội thành hai bộ phận. Một bộ phận hoạt động ở Xiêm Pang do tôi phụ trách. Một bộ phận hoạt động ở Vơn Sai do đồng chí Thức phụ trách và đề cử đồng chí Thay, một cán bộ địa phương làm đội phó, cùng đồng chí Thức chỉ đạo cánh hoạt động ở hướng Vơn Sai. Căn cứ của đội đặt tại một nhánh của thượng nguồn con suối Xà-mõn, vùng dân tộc Brâu. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Chín, 2021, 02:41:20 pm Theo thư chỉ đạo của Ban cán sự, nhiệm vụ trọng tâm của chúng tôi lúc bấy giờ là: “Ra sức tuyên truyền vận động cách mạng, vạch trần âm mưu địch, giáo dục chính sách ta, xây dựng vững chắc căn cứ địa miền núi, gây dựng, khôi phục cơ sở đồng bằng, tạo điều kiện đưa cách mạng phát triển”. Phương châm, phương thức hoạt động có thể tóm tắt gọn bốn chữ: “Kiên trì, bí mật”.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, chi bộ chúng tôi đã quyết nghị: “Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đội phải triệt để quần chúng hóa”. Nghĩa là phải nói tiếng Brâu, để tóc dài chấm vai, chít khăn đỏ, ở trần, đóng khố, đi chân không. Thực ra thì lúc này chúng tôi cũng không có dép để đi nữa. Ba lô là chiếc gùi đi rẫy của đồng bào Brâu. Đi đâu cũng phì phà ống vố dài theo kiểu của địa phương và vai súng, vai chà gạc. Chà gạc là một kiểu rựa của đồng bào. Chúng tôi dùng chà gạc có hai tác dụng. Một là nghi binh lúc đi đường, hai là đến đâu xáp vào phát rẫy với dân. Phải tập cách ăn ở chan hòa với quần chúng, đặc biệt là ăn món “đắc-rét”, nấu bằng chất chưa tiêu hóa hết trong ruột của con nai. Lúc đầu, mới ăn mùi vị rất khó chịu, nhưng ăn lâu thành quen, cảm thấy ngon. Mọi người đều phải học tiếng nói của dân tộc Brâu, để thuận lợi cho việc tiếp xúc với quần chúng và dễ dàng “cùng ăn, cùng ở, cùng làm”, gắn bó với quần chúng. Nhân dân dân tộc Brâu khu vực chúng tôi hoạt động có nhiều phong tục tập quán khá độc đáo và phức tạp. Ngoài các tục lệ cà răng, căng tai như nhân dân thường nói để phân biệt sự khác nhau giữa con khỉ và con người, còn có tục lệ xăm râu cho con gái và những tục lệ kiêng cữ khác. Nhân dân sợ liên lụy, không muốn Ít-xa-rắc vào làng, vào rẫy. Họ chặt một cành là tươi, treo ngược ở cổng làng, hoặc ở cửa nhà rẫy, thì dù có gấp đến mấy chúng tôi cũng không dám phá cái tục lệ ấy. Nhưng do cuộc sống bị nhiều tầng lớp áp bức của giặc Pháp, của bọn phong kiến dưới xuôi, của bọn Nai-koong, tà-xẻn miền núi, họ dễ gần gũi cách mạng, thương cán bộ Ít-xa-rắc, thương bộ đội Việt Minh. Thấy chỉ có đi với Ít-xa-rắc, với Việt Minh thì người Brâu mới được giải phóng, mới có cuộc sống tự do, bình đẳng, không bị ai khinh miệt. Nhân dân rất thật thà. Đã tin ai, thì tin thực sự. Nhưng ai đã làm cho họ mất lòng tin thì về sau khó bề khôi phục lại lòng tin cho họ. Vốn trình độ kiến thức còn thấp, nặng nề mê tín thần quyền và hay cả tin, nên dễ bị bọn xấu lừa mị, kích động. Có khi vì bị kích động mà giữa thị tộc này và thị tộc kia đã dẫn đến xô xát nhau bằng vũ lực. Lợi dụng nhược điểm này, giặc Pháp tuyên truyền xuyên tạc và lừa mị nhiều cách, để kích động nhân dân chống Việt Minh và Ít-xa-rắc. Hôm đó, tôi đi công tác ở làng Bượi, Nai-koong cho du kích mật đến tìm. Gặp tôi, anh ta chẳng nói chẳng rằng gì cả, miệng thở hổn hển, mình đẫm mồ hôi, đặt chiếc tà lẹp xuống, mở nắp lấy đưa cho tôi cái tín hiệu “hỏa tốc” của ông Grạ. Đó là một mũi tên nhỏ, ở đuôi cánh có cột kèm một hòn than và một chiếc lông gà. Ông Nai-koong Grạ thường bảo: đấy là làm theo cái phong tục người Brâu. Cái hòn than tượng trưng công việc gấp nóng như lửa. Chiếc lông gà tượng trưng công việc gấp phải chạy nhanh như chim bay. Người nhận được tín hiệu phải đến nhanh mục tiêu như chiếc tên bắn vào đích. Gặp Nai-koong Grạ, việc đầu tiên ông báo cho tôi biết là địch đã đánh vào cái căn cứ nào đó của tôi ở Huội Xà-mỏn. Việc thứ hai là ông khuyên tôi không nên lui tới rẫy làng của ông nữa. Tôi ngạc nhiên về thái độ của ông. Ông nói: “Khâm Tằn ạ! thằng Tây nó giỏi lắm. Các con ngồi đâu, ở đâu, nó có cái máy, thấy hết. Các con gặp ai, nói gì, nó có cái máy nghe hết. Người ta nói nó nghe được cả chuyện bên Tây, bên Tàu nữa. Đấy, thì cái căn cứ của các con bí mật, dân làng không biết mà thằng Tây nó biết để đến đánh...!”. Ông tỏ vẻ hoang mang thực sự. Tôi biết, bọn Pháp lừa ông Nai-koong Grạ. Chúng đã dùng ống nhòm quan sát và máy thu thanh để bịp, làm cho nhân dân sợ. Tôi tìm cách giải thích, nhưng một lần ông Grạ không thể tiếp thu ngay được. Công việc cấp tốc là chúng tôi phải về xem địch đánh vào căn cứ ngọn suôi Xà-mỏn như thế nào... Nói là căn cứ, nhưng đây chỉ là một cái nhà ở tạm, làm bằng cây rừng lợp lá trung quân. Chúng tôi cất lên nhưng có mấy khi ở. Toàn đội đã phân tán đi hoạt động ở hai huyện, mỗi tháng cán bộ gặp nhau một lần để đánh giá tình hình, bổ sung nhiệm vụ. Từng quý mới tập trung toàn đội sinh hoạt một lần. Căn cứ bỏ trống, chỉ còn ở đó khoảng năm, bảy chục ký gạo và một cà tho mười hai ký muối, là nguồn dự trữ của đội mà thôi. Thế mà làm sao bọn điệp biết đưa địch đến đánh. Vả lại, theo ông Nai-koong Grạ cho biết là sau khi đánh vào căn cứ, địch hành quân qua làng ông. Ông thấy chúng thu được đồ đạc của chúng tôi, ngoài gạo và muối ra còn có cả vải bạt ni lông, một ít quần áo và một khẩu súng trường không có “cui-lát” nữa. Thật là một chuyện lạ. Hai chúng tôi dò từng bước về căn cứ. Nhìn thấy dấu vết phá phách của địch, chúng tôi nghĩ: hình như những ngày chúng tôi đi vắng, có bộ phận nào lại ở đây. Chúng tôi đến hộp thư bí mật được đặt ở cái bộng cây gần đó, thấy có một lá thư, nhìn nét chữ quen quen, đúng là nét chữ của đồng chí Phạm Thục. Tôi bóc vội bức thư xem. Đồng chí Thục báo cho biết, Ban cán sự bổ sung về đội vũ trang công tác liên huyện thêm ba đồng chí gồm: Hứa Anh quân y sĩ1 (Hứa Anh sau này là bác sĩ, công tác ở Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương), Hà Văn Tý đội viên và đồng chí Thục được bổ sung vào Ban lãnh đạo. Ba anh em được đồng chí Chương và Xuất liên lạc viên dẫn đường đến thẳng căn cứ, nằm chờ tôi về. Chẳng may mới ở ba hôm thì bị địch tập kích. Tất cả đều an toàn, chỉ mất đồ đạc cá nhân và khẩu súng trường đồng chí Chương đang tháo lau chùi, khi địch bắn chỉ cầm được cái cơ bẩm. Cuối cùng đồng chí Thục ghi: “Chúng tôi đợi Khâm Tằn ở ngọn suối Tà Ngâu”. Đọc thư đồng chí Thục tôi vừa phấn khởi, vừa lo. Phấn khởi là đội được tăng lực lượng và trên phân công đồng chí Thục về tham gia ban lãnh đạo. Được đồng chí tăng cường vào ban lãnh đạo, tôi an tâm. Nhưng lo vì người đông, lương thực thiếu và đặc biệt là muối. Thiếu gạo chúng tôi có thể dựa vào củ rừng, vì đã từng quen ăn củ nầng, khoai chụp để sống, mà thiên nhiên ở đây sẵn sàng cung cấp. Nhưng thiếu muối thì thật khó giải quyết. Bọn địch ở đây tiến hành “chiến dịch bao vây muối”. Chúng kiểm soát rất nghiêm ngặt, có thể bắt bỏ tù, thậm chí xử bắn bất kì ai tiếp tế muối cho Ít-xa-rắc, Việt Minh. Nhân dân, nhất là ở vùng núi thiếu muối nghiêm trọng. Lợi dụng tình hình đó, bọn giặc treo giải thưởng bằng muối cho bất cứ ai giết được Việt Minh, Ít-xa-rắc cắt tai đem về nộp cho quan Pha-lăng. Mỗi cặp tai là một bao muối trăm kí lô. Nhưng nhân dân thà ăn nhạt chứ không ai làm việc đó. Chúng tôi đã hết sức khéo léo tổ chức cơ sở mua và ki cóp dành dụm được một cà tho mười hai ký muối làm “vốn liếng” sống cho đội, nay người tăng cường mà cà tho muối ấy đã bị địch lấy mất, phải lâu lắm mới tìm cách có lại được. Bây giờ trước mắt phải chịu ăn nhạt. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Chín, 2021, 02:42:03 pm Chúng tôi gặp bộ phận đồng chí Thục tại ngọn suối Tà Ngâu đúng như thư hẹn.
Suốt mùa mưa năm 1952, công tác củng cố căn cứ địa miền núi, tạo điều kiện khôi phục lại cơ sở đồng bằng của chúng tôi đi vào chiều hướng tốt. Nhờ sự lãnh đạo của ban cán sự, có đường lối đoàn kết dân tộc đúng đắn của mặt trận Ít-xa-rắc và việc vận dụng phương châm, phương thức hoạt động của chúng tôi phù hợp, tình hình ngày càng thuận lợi và phát triển. Mặc dù địch vẫn tiếp tục càn quét đánh phá, nhất là ở huyện Xiêm Pang có tên xếp Xuôn, trưởng đồn, mới được thăng hàm thiếu úy. Sau cuộc hành quân bất ngờ do y trực tiếp chỉ huy, từ Xiêm Pang đi theo đường Hạt Hài, thọc lên Sâm Poi của Hạ Lào, vòng lên vùng núi La Ve, Brâu trở về Xiêm Pang, y hung hăng tuyên bố là đã đuổi Việt Minh và Ít-xa-rắc ra khỏi lãnh thổ. Trước tiệc rượu mừng thăng quan đủ mặt bọn tề tổng, tề xã và tên thiếu úy Pháp, y ngạo mạn nói rằng: “Trong huyện Xiêm Pang từ nay không còn bóng dáng một tên Ít-xa-rắc hay Việt Minh nào cả”. Và y thề: “Bao giờ nước sông Xê Công chảy ngược về Lào, thì đồn Xiêm Pang mới có thể mất!”. Y có biết đâu, sông Xê Công không bao giờ chảy ngược, nhưng đốm lửa cách mạng đang âm ỉ cháy khắp rừng, làng mạc, chỉ chờ cơn gió lớn sẽ bùng lên đốt trụi cái đồn Xiêm Pang tàn ác của y. Những tin tức ấy, do cơ sở nhân dân miền núi đi liên lạc với cơ sở và móc nối với người tốt dưới đồng bằng về báo lại cho đội. Mỗi lần như vậy, cơ sở ở đồng bằng thường gửi cho chúng tôi ít thức ăn, vật dùng. Thỉnh thoảng được nửa lon muối. Muối coi như hàng chiến lược. Cơ sở mang được muối từ đồng bằng về phải là người có gan và nhiều mưu trí, do đó, muối là vật vô giá đối với chúng tôi. Mỗi khi nhận được số muối ít ỏi đó, chúng tôi chia nhau toàn đội, cho từng khẩu phần, đựng vào những tuýp thuốc Đa-giê-năng cũ để dành, lúc ăn cơm xong dùng tăm chấm muối xỉa răng, hoặc bốc một hạt ngậm cho “mặn miệng” để uống nước, cho đỡ nhớ muối. Tình trạng thiếu muối kéo dài gần ba tháng, chúng tôi phải ăn cơm chủ yếu với tro rễ tranh. Rễ tranh rửa sạch phơi khô, đốt cháy, lấy tro đem ngâm, lọc lấy nước, nấu sắc lại để ăn. Lúc đầu khó ăn, nhưng lâu cũng quen dần. Cái chất chát chát mặn mặn của nó cũng giúp chúng tôi ăn được cơm... Tuy vậy, thiếu muối lâu trong người thấy khó chịu, có đồng chí bị phù thũng, chân sưng húp, leo dốc rũ đầu gối. Các đồng chí khỏe phải nhường muối cho người ốm. Có thể nói đây là những ngày tháng chúng tôi cho là gian khổ nhất. Đói muối, thèm muối, chúng tôi khao khát được một bữa ăn mặn, dù chỉ cơm vắt với muối thôi, nhưng được ăn thoải mái, đầy đủ, mỗi người ăn một bữa có thể hết cả ký gạo. Có lần tôi và đồng chí tiểu đội phó Dương Văn Kiều đi công tác, ghé ngủ đêm ở chòi rẫy của nguời dân làng Bượi. Nhà rẫy bỏ trống chỉ có mình tôi và Kiều. Tôi đang lụi cụi nấu cơm tôi. Kiều đi hái rau rừng để làm canh. Khi về, Kiều phát hiện ra hơi mặn của muối. Anh sục tìm trên giàn bếp của chòi rẫy, thấy một ông ba đẹt1 (Ba đẹt là loại mắm đặc sản của đồng bào vùng này). Kiều đưa ông ba đẹt đến gần ngửi một cách thú vị, xuýt xoa: - Anh Khâm Tằn! Ba đẹt ngon quá, hình như họ bỏ muối hơi nhiều một chút. Hay là ... (anh ngập ngừng) ta lén lấy một ít... ăn thử! Tôi biết lòng dạ của Dương Vân Kiều, anh là một tiểu đội phó xuất sắc, chiến đấu tốt, công tác cần cù, kỷ luật nghiêm. Nhưng đã mấy tháng qua đội thiếu muối, ăn nhạt lâu ngày, hôm nay thấy mùi ba đẹt anh thèm. Không phải anh thèm chất cá của ba đẹt, mà cái chính là anh thèm muối. Muối! Ôi cái tiếng muối với cái mùi vị mặn của nó, kích thích vị giác con người vô cùng. Nghe Kiều nói giọng anh không được tự nhiên và sắc mặt anh bỗng đỏ ửng rồi tái dần đi. Đọc qua nét mặt đó, tôi biết anh tự thấy với câu nói vừa rồi là mình đã vi phạm một trong những điều kỷ luật sắt của đội. Hiểu rõ tâm trạng của Kiều, tôi an ủi anh: - Kiều ơi! Tôi và Kiều đều khao khát một bữa ăn mặn miệng, nhưng có thể nào mình vi phạm kỷ luật được. Giả sử mai đây nhân dân ra rẫy thấy mất ba đẹt, họ sẽ nghĩ gì? Họ sẽ nghi chúng mình chứ còn ai vào đây nữa. Như phong tục ở đây Kiều đã biết, của bỏ đâu còn nguyên đó, trong nhân dân không có người ăn cắp. Mà khi nhân dân đã biết chúng ta lấy ba đẹt của họ, thì uy tín của chúng ta, chính nghĩa cách mạng còn gì nữa. Kiều lặng lẽ đặt ống ba đẹt lên giàn bếp. Anh cười vui vẻ. Bữa ăn tôi dọn ra, bên ánh lửa bập bùng, chúng tôi vừa hít cái hơi mặn của ông mắm vừa ăn cơm nhạt với canh rau rừng nấu với nước rễ tranh. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp ánh mắt của Kiều liếc nhìn ống ba đẹt trên giàn bếp, nhưng rồi bữa cơm nhạt vẫn cứ đi qua.. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục chuyến công tác xuống đồng bằng móc nối cơ sở ở Xê Mo. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Chín, 2021, 07:32:06 am 4. Miền Đông Bắc chuyển mình
Mùa hè 1953, tôi được về nước dự chỉnh huấn tài liệu Quân đội nhân dân của Liên khu. Vừa học xong tôi được lệnh trở lại ngay chiến trường để đón thời cơ mới. Đó là những ngày cả nước đang bước vào chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Vẫn con đường năm xưa tôi đã đi và về, nhưng bước chân chúng tôi nhẹ nhàng hơn, bị cuốn hút bởi không khí rầm rập của quân dân ta chuẩn bị cho một chiến dịch lớn, phối hợp với dân và quân hai nước bạn, giải phóng Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Từng toán dân công, Kinh có, Thượng có, tải gạo và vũ khí tuôn ra chiến trường. Trên dọc đường hành quân, tốp đi, tốp về, người cứ như trảy hội. Cái không khí nhộn nhịp đó nhắc nhở mọi người “ngày chiến thắng đã gần kề”. Ai nấy đều vui vẻ, hể hả. Rời Công Trơn, vượt qua trạm Đắk Úc, đi thêm nửa ngày đường, chúng tôi đã đứng trên sườn núi nghiêng về phía nước bạn. Từ trên triền cao nhìn xuống, những đồi thông nối tiếp nhau trước mặt, trông như một tấm thảm xanh trải rộng và kéo dài vô tận. Chúng tôi đi theo con đường mòn cát trắng và chìm ngập trong tấm thảm xanh đó. Dòng người ùn ùn, kẻ ngược người xuôi, gió thông vi vu chào đón họ. Một chiến dịch đang được chuẩn bị một cách thật tích cực... ... Chúng tôi liên hoan vui tết Âm lịch năm ấy bằng một bữa thịt gà rừng, bồ chao, cò ngãng do tài đánh bẫy của đồng chí Thay đội phó của đội. Đồng chí Thay là người Khme gốc Lào, có vợ là người dân tộc Brâu, không con. Vợ đồng chí mất trong một cơn bệnh hiểm nghèo. Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ khi đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên mới đến Vơn Sai. Cái tết này nữa là cái tết thứ tư của tôi trên chiến trường Đông Bắc Campuchia. Theo phong tục cổ truyền, chúng tôi tổ chức đón giao thừa, đọc thư Bác Hồ chúc đồng bào và bộ đội nhân dịp năm mới. Bức thư đó do tôi cắt được từ tờ báo. Bài xã luận có đoạn đại ý như sau: “Năm nay là năm Ngọ, tức là năm ngựa mà năm ngựa thì mã đáo công thành”. Lòng tin ngày thắng lợi đã đến gần. Tôi kể lại những điều mắt thấy tai nghe trên đường hành lang, ở khu Hạ Lào. Những tin chiến thắng ở mặt trận Tây Nguyên, ở mặt trận Tây Bắc, những binh đoàn lớn của ta phối hợp với quân giải phóng nhân dân Lào mở mặt trận Thượng Lào, thắng lớn ở Xa-ra-van và Thà Khẹt tiến về Át-tô-pơ... đã làm náo nức cán bộ, chiến sĩ trong đội. Đồng chí Thức lạc quan nói: “Năm nay ta đón giao thừa ở làng Chánh Niết, nhưng sang năm ta sẽ đón giao thừa ở thị xã Stưng Treng”. Ăn xong một cái tết đạm bạc nhưng rất vui, đồng chí Huỳnh trở lại căn cứ miền núi Xiêm Pang, nắm lại cơ sở và tổ chức thu mua lương thực, chuẩn bị cho chiến dịch. Đồng chí Thức tổ chức thu mua lương thực ở căn cứ miền núi và phái người đi nắm tình hình đồng bằng để chuẩn bị cho hoạt động tới. Tôi trực tiếp đưa tổ trinh sát chủ lực đi điều tra thị trấn và đồn lính Vơn Sai. Lúc này đồng chí Thục đã về Liên khu học tập. Tôi và tổ trinh sát do đồng chí Thay cắt đường đi xuống đồng bằng. Vốn sống lâu năm ở miền núi, đồng chí Thay cắt đường rất giỏi, không cần địa bàn, đồng chí thuộc địa thế như thuộc những kẻ chỉ trên lòng bàn tay. Đường vào thị trấn Vơn Sai phải đi qua làng Pa-kè đã bị địch gom về Kơ-lanh. Đến làng, chúng tôi nghe có tiếng rầm rì trong ngôi nhà bỏ trống. Tôi đoán đó là dân Pa-kè ở khu tập trung đi vào rừng làm ăn, tối không về, ngủ lại làng cũ. Muốn biết họ đang nói gì, tôi và đồng chí Thay mò sát vào để nghe. Thì ra họ đang bàn tán về thời sự. Một người nói: - Ở Mường Mày, Việt Minh với Ít-xa-rắc đánh mạnh lắm, Pha-lăng bỏ chạy ở nhiều nơi. - Thì ở mình nay mai cũng thế thôi! Một người đáp lại. Người thứ ba lẩm bẩm: - Lạy trời! Mưa xuống mau, nóng nực lắm rồi. Tôi và đồng chí Thay quay ra chỗ tổ trinh sát. Đồng chí Thay hỏi tôi: - Khâm Tằn có nghe người thứ ba nói cái gì không? - Có! Người ta trông trời mưa! - Ha ha! Khâm Tằn chưa hiểu, không phải người ta trông mưa đâu, người ta trông bộ đội mình tới cho mau đó. Mặc dù bị kìm kẹp nhưng đồng bào vẫn hướng về cách mạng. Tình thế đã chín muồi! Ba đêm ra vào thị trấn Vơn Sai, tổ trinh sát đã nắm được quy luật hoạt động của địch, địa hình và công sự phòng ngự của đồn lính và khu vực hành chính của huyện. Đêm thứ ba, tôi và tổ trinh sát đang bám chiếc lô cốt chính của chúng, bỗng phát hiện một bóng đen từ xóm nhà trong thị trấn đi ra. Quan sát kỹ, đó là một tên lính đi đánh bạc, hay tìm gái về. Nó đi vòng hàng rào kẽm gai và chui vào lô côt. Đồng chí tổ trinh sát theo vết của tên lính, mò sát vào lô cốt. Chúng tôi phấn khởi, nhiệm vụ trinh sát đã hoàn thành. Chúng tôi về đến căn cứ thì quân chủ lực cũng đã đến. Đó là một đơn vị mang mật danh “Chí Long”, một tiểu đoàn xung kích đánh giỏi thuộc Sư đoàn 325, do đồng chí Trung đoàn phó Lê Kích làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Phó Chính ủy Đức làm Chính trị viên, đồng chí Bình Sơn, Tiểu đoàn trưởng làm Tiểu đoàn phó và đồng chí Định, Chính trị viên làm Chính trị viên phó. Theo các đồng chí cho biết, mỗi đồng chí đều nhận chức thấp hơn cấp của mình, để tăng cường sức mạnh chỉ huy cho đơn vị thọc sâu. Suốt mấy năm chiến đấu trên chiến trường Đông Bắc Campuchia, làm người chiến sĩ tình nguyện, chưa có lúc nào tôi vui bằng lúc này. Tôi thấy như cả núi rừng Đông Bắc Campuchia cùng chia sẻ những niềm vui với chúng tôi. Rồi đây, chúng tôi sẽ tràn xuống đồng bằng, đánh cho quân thù tan tác. Vùng giải phóng sẽ mở rộng mênh mông. Vùng Đông Bắc Campuchia sẽ góp phần mình vào chiến cuộc Đông Xuân của cả ba nước. Rồi đây chúng tôi sẽ rời miền núi, căn cứ địa thân yêu, nơi đồng bào đã chia sẻ cho chúng tôi từng lon gạo, hạt muối và cả chén cơm nhạt. Nơi có những người cha ngày tháng chở che, đùm bọc, có những bà mẹ Brâu chắt chiu cho con Việt Nam từng quả trứng, trái chuối khi ốm đau trong rừng. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Chín, 2021, 07:33:04 am Thư của Ban cán sự Đông Bắc Campuchia chỉ thị cho tôi có trách nhiệm cùng tiểu đoàn chủ lực tổ chức cho trận giải phóng Vơn Sai, xong quay về Xiêm Pang. Việc tiếp quản vùng giải phóng bước đầu ở Vơn Sai do ban cán sự giúp bạn lo.
Thế là tôi cùng tiểu đoàn hành quân. Hôm xuất phát, đồng chí Thay, người cán bộ già thay mặt địa phương cảm ơn các đồng chí bộ đội Việt Nam. Đồng chí chúc tình đoàn kết ba nước Đông Dương mãi mãi bền vững. Bộ đội ta nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí và cảm ơn đồng chí đã tận tình giúp đỡ trong những ngày trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Một đoàn đại biểu nhân dân vùng căn cứ do cụ Chánh Niết dẫn đầu gùi gạo, chuối đến tiếp tế cho bộ đội. Thấy bộ đội về núi rừng mình đông, nhân dân vui lắm, ai cũng mong bộ đội sớm đánh cái đồn Vơn Sai. Trận đánh giải phóng Vơn Sai vào đêm 11 rạng sáng ngày 12 tháng 3 năm 1954, những tiếng súng mở màn chiến dịch đã bắt đầu từ chiều ngày 11 tháng 3 năm 1954. Để bảo đảm đường tiến quân vào thị trấn Vơn Sai, một đại đội của tiểu đoàn được bô trí phục kích trên con đường tỉnh lộ 15 về phía tây thị trấn, đề phòng địch có thể tăng quân bất ngờ. Đúng như dự đoán, một đoàn xe GMC mười lăm chiếc chở đầy quân, từ Xiêm Pang chạy về Vơn Sai. Bị quân ta chặn đánh, bốn chiếc bị diệt tại trận, số còn lại tháo chạy lui về Xiêm Pang. Trận thắng đầu tiên đã làm nức lòng cán bộ chiến sĩ. Trận đánh Vơn Sai, chính thức bắt đầu nổ súng lúc 1 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1954, tôi cùng đi với chỉ huy sở của Ban chỉ huy tiểu đoàn. Đến 5 giờ sáng, thị trấn Vơn Sai đã lọt vào tay quân ta, địch bị bắt hàng lũ, chiến lợi phẩm chất cả đống. Trong khi trận đánh ở Vơn Sai đang diễn biến thì từ hướng Ka-lanh (tây nam Vơn Sai) một đơn vị địch không rõ chúng tăng cường từ lúc nào tiến lên chi viện. Chúng bị đơn vị chặn viện của ta đánh tan, chạy tán loạn. 7 giờ sáng, ta hoàn toàn làm chủ thị trấn Vơn Sai. Tôi gặp lại đồng chí Nguyễn Cận - Ủy viên Ban cán sự Đông Bắc Campuchia và đoàn đại biểu quân dân chính của bạn vào tiếp thu vùng giải phóng. Tất cả đều là những đồng chí thân yêu, chí cốt, xa nhau từ mùa mưa năm 1951. Các đồng chí Chăn Đeng, đồng chí Bua Chuông, chị Xảo Huột, vợ chồng Chăn Nủ Kẹo là những cán bộ chủ chốt của Ủy ban Dân tộc Giải phóng Miền, tôi từng phục vụ cho các đồng chí lúc ở căn cứ Xê Mo, gặp nhau vui mừng khôn xiết. Tôi nhớ lại những ngày mùa mưa ảm đạm năm 1951, lúc tình hình cơ sở đang bước vào khúc ngoặt, chúng tôi chia tay nhau hẹn ngày gặp lại là ngày chiến thắng huy hoàng, ngày nay lời hẹn ước đó đã trở thành sự thật. Cách mạng Campuchia trải qua bao bước thăng trầm, dưới lưỡi gươm thanh trừng của bọn diệt chủng Pôn Pốt, các đồng chí nòng cốt của miền Đông Bắc kẻ còn, người mất. Sau ngày thắng lợi lịch sử 7 tháng 1 năm 1979, đồng chí Chăn Nủ Kẹo là Ủy viên Thường trực ban cán sự Đảng và đồng chí Bua Chuông là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Răt-tă-nă-ki-ri. Chị Huột là nữ đồng chí Keo Lay, Ủy viên Ban chấp hành Hội liên hiệp phụ nữ Trung ương và Hội trưởng Hội phụ nữ tỉnh Stưng Treng. Đồng chí Chăn Đeng, người chồng thân yêu của chị Huột bị Pôn Pốt quản thúc ở Phnôm Pênh và mất tích. Còn biết bao người con ưu tú của miền Đông Bắc không còn nữa. Suốt ngày 12 tháng 3, tiếng súng của bộ đội cách mạng truy quét tàn quân địch còn rải rác nổ ở miệt Kalanh, Bản Pồng, Bản Phầng, Cà Chôn, Cổ Piệt, Khi Lek, I Tụp... Bị kềm kẹp lâu ngày, nay được Ít-xa-rắc về giải phóng, nhân dân hăng hái nổi dậy, tham gia đánh địch. Nhân dân vùng phụ cận Vơn Sai phối hợp với bộ đội lùng bắt địch. Từng tốp, từng tốp tù binh địch được nhân dân và du kích mật nay ra công khai, áp giải về tập trung vào trại tù binh huyện, trong đó có cả tên Huyện trưởng, hắn đang xuống thuyền định xuôi sông Sê-San chạy trón cũng bị nhân dân chặn bắt lại. Rồi từng đoàn dân công miền núi gùi gạo xuống tiếp tế cho bộ đội và tham gia chuyển thương, tải chiến lợi phẩm. Tôi đặc biệt chú ý đến đoàn dân công của làng Cà Chôn, do đồng chí Nang Đăm dẫn đầu. Người phụ nữ dân tộc Tà-bun đó là một trong những đảng viên đầu tiên của vùng này. Chị đã trực tiếp giao đứa con trai đầu lòng thân yêu của mình cho Mặt trận Ít-xa-rắc huyện để tiếp tục đánh giặc cứu nước, giải phóng quê hương. Đó là chàng trai Bu-Thoong mới mười bảy tuổi, có đôi mắt đen, sáng và cái trán cao đầy thông minh. Trong những ngày quê hương còn đắm chìm trong đêm tối, Bu-Thoong tham gia du kích mật của làng Cà Chôn, dưới sự chỉ huy của cha mẹ. Nay quê hương đã được giải phóng, như cờ gặp gió, Bu Thoong không còn bị ràng buộc trong cái làng Cà Chôn bé nhỏ của mình. Bu Thoong từ giã cha mẹ, xung phong gia nhập bộ đội địa phương huyện, dưới quyền chỉ huy của đồng chí Bua Chuông, hăng hái dẫn đường cho bộ đội Ít-xa-rắc ngược dòng suôi La Lay lên tận vùng Tà Bột, Tà Dặc, kết hợp với quân Ít-xa-rắc Lào truy quét tàn quân Pháp. Đó là những ngày đẹp đẽ trong cuộc đời chiến đấu của đồng chí Bu Thoong. Sau ngày đánh đổ chế độ diệt chủng của Pôn Pốt tôi có gặp lại, đồng chí Bu Thoong, chàng trai năm xưa ấy nay đã là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, Phó Chả tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia. Chị Nang Đăm đã mất do bọn đao phủ Pôn Pốt hãm hại. Chị không còn sống để thấy được bước trưởng thành của đứa con thân yêu trong sự hồi sinh rực rỡ của đất nước... Trưa lại, đồng chí Nguyễn Cận thay mặt Ban cán sự Đông Bắc Campuchia giao nhiệm vụ cho tôi về lại phụ trách huyện Xiêm Pang. Trước mắt dẫn đường đưa một đại đội bộ binh của tiểu đoàn “Chí Long” cùng đồng chí Bình Sơn là cán bộ tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy tiến về Xiêm Pang, theo tỉnh lộ 15, để phối hợp với các đơn vị của trung đoàn 101 đang bao vây tiêu diệt Xiêm Pang. Bọn địch ở Xiêm Pang bị bao vây hết sức khốn quẫn. Đạn cối ta pháo kích vào, một số xe của chúng bốc cháy. Nguy cơ bị tiêu diệt không tránh khỏi. Chúng phải đem đạn dược đổ xuống sông Xê Công, ngay bến trước cổng đồn và tập trung số xe còn lại chở toàn bộ binh lính, ngụy quyền mở đường máu tháo chạy về Stưng treng. Cuộc tháo chạy của địch đúng như dự đoán của ta. Đoàn xe lọt vào trận địa phục kích mà quân ta chờ sẵn chúng trên đoạn đường 15, từ Khế đi Xôm Hông. Đại bộ phận bị tiêu diệt. Số ít còn lại chạy thục mạng. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Chín, 2021, 07:34:29 am Lại đến dịp nhân dân Xiêm Pang lùng bắt địch. Có một số tên địch người Khơme gốc dân tộc Cui chạy ẩn nấp vào các làng Khế, lợi dụng tình cảm cùng dân tộc Cui với nhau để che mặt Ít-xa-rắc. Nhưng lần lượt đồng bào cũng dẫn ra trình diện với cách mạng. Đồng bào khuyên bọn chúng trình diện để được hưởng chính sách khoan hồng.
Thế là Xiêm Pang được hoàn toàn giải phóng sau Vơn Sai mấy tuần, Tiểu đoàn “Chí Long” không phải chi viện cho Xiêm Pang, các đồng chí đã quay lại Vơn Sai, phát triển về hướng đông, tiếp tục giải phóng La-băng Xiết, Bô Keo, Lom Phát. Đơn vị chủ lực phía hữu ngạn sông Xê Công tiếp tục phát triển xuống phụ cận Stưng Treng, một bộ phận vượt sông Mêkông. Những tên tề tổng, tề xã lần lượt ra hàng cách mạng. Nhân dân bầu lên những người đại diện cho chính quyền giải phóng của làng mình. Nhân dân hăng hái giã gạo tiếp tế lương thực cho các đơn vị chủ lực. Lễ ăn mừng chiến thắng của Xiêm Pang được tổ chức ở sân chùa Pha-băng nhày, tức là Pha-băng lớn. Đại biểu nhân dân các xã toàn huyện tham dự, đủ tầng lớp, đủ dân tộc Khme, Lào, Cui, Brâu, Khạ-lun... Có một đơn vị chủ lực tham gia. Các chiến sĩ ta bắn nhiều loạt trọng liên chỉ thiên chào mừng buổi khai mạc. Ông chủ tịch Mệt đọc diễn văn. Ông nói rõ ý nghĩa của chiến thắng, triển vọng của tình hình. Ông nêu lên nhiệm vụ sắp tới của nhân dân xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng. Đặc biệt, ông nhấn mạnh tình đoàn kết gắn bó Campuchia - Việt Nam - Lào. Ông nói: “Campuchia có đoàn kết chặt chẽ với Việt Nam và Lào thì mới đánh thắng được Pha-lăng, đuổi chúng nó ra khỏi đất nước”. Phát biểu tiếng phổ thông xong, ông phát biểu bằng tiếng miền núi. Quê ông ở làng Na Phô, một làng nhỏ tiếp giáp với vùng miền núi, quan hệ qua lại làm ăn lâu ngày với người dân tộc, nên ông rất thông thạo tiếng Brâu... Trước toàn thể cuộc mít tinh, ông Mệt trân trọng giới thiệu Ủy ban Dân tộc Giải phóng lâm thời của huyện. Phò Lạ, lão nông người làng Na Va năm xưa, nay là đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Khơme làm Phó chủ tịch. Đồng chí Chăn Phanh là ủy viên kiêm Chủ tịch Mặt trận Ít-xa-rắc huyện. Các phó chủ tịch Mặt trận có ông Chăn-khu Lạ ở Chăn Tú và các đại biểu người dân tộc ít người như ông Đà người Cui, anh Thanh và Giang người Khạ-lun, ông Rươm dân tộc Brâu, đồng chí Ty Pheng làm Ủy viên quân sự huyện và trực tiếp giữ nhiệm vụ Chính trị viên bộ đội địa phương huyện. Anh Khâm Phửa một học sinh quê ở Stưng Treng, làm thư ký Ủy Ban huyện. Sau này ra miền Bắc Việt Nam. Anh học đậu bác sĩ, năm 1970 về lại Campuchia phụ trách một bệnh viện lớn, bị bọn Pôn Pốt sát hại. Hiện nay còn lại em trai tên là Khăm Phàn đang phụ trách Trưởng ty công an tỉnh Kôm-pông Som. Đội vũ trang công tác của chúng tôi lúc bấy giờ đã hoàn thành nhiệm vụ. Cấp trên bổ sung thêm một số cán bộ, những người đã từng quen biết chiến trường này trong thời kỳ đầu trước đây, để hình thành đơn vị “Quân-Dân-Chính-Đảng” giúp bạn bảo vệ và xây dựng huyện. Mỗi đồng chí được phân công phụ trách từng khu vực để giúp bạn tuyên truyền giáo dục vận động quần chúng xây dựng chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Bộ đội địa phương huyện lúc đầu mới chỉ có một trung đội do đồng chí Khâm Phanh làm Trung đội trưởng, đồng chí Khâm Đeng làm Trung đội phó (đồng chí Khâm Đeng năm 1970 về Campuchia phụ trách kinh tế vùng 4, bị Pôn Pôt sát hại năm 1975) và đồng chí Phu Mi làm Phó chính trị viên. Như đã nói trên, đồng chí Ty Pheng, một đảng viên ưu tú, trực tiếp làm chính trị viên của đơn vị. Chiến sĩ của đơn vị lúc đầu đa số là thanh niên làng Xê Mo và các làng bên tả ngạn Xê Công, trong đó có chú bé Xi Tha (đồng chí Xi Tha năm 1970 về Campuchia phụ trách công tác ở Xiêm Pang nhưng đến năm 1975 cũng bị Pôn Pốt sát hại) con trai ông già Phửi ở Phôn-gia-nàng. Đặc biệt có nhà sư trẻ tuổi, hăng hái cởi áo cà sa vàng, rời cửa Phật đế bước vào hàng ngũ lực lượng vũ trang giải phóng, cầm súng đánh giặc bảo vệ quê hương, như sư “lục nên” Đi Phin1 (Sau khi đánh đổ diệt chủng của Pôn Pốt, Đi Phin làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần của Quân đội cách mạng Campuchia). Ngày nay đồng chí Đi Phin còn đó, nhưng đồng chí Khâm Phanh, Khâm Đeng, Phu Mi cùng bao nhiêu đồng chí khác của chúng ta không còn nữa, do bàn tay tàn bạo của bọn diệt chủng sát hại. Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội khắp năm châu, làm chấn động các bộ óc hiếu chiến của đế quốc Pháp và bọn diều hâu can thiệp Mỹ. Xu thế hòa bình ngày càng có lợi cho ta trong cuộc đấu tranh tại bàn hội nghị quốc tế về Đông Dương, đang nhóm họp ở tận đất nước Thụy Sĩ xa xôi. Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chiến sự chấm dứt trên toàn cõi Đông Dương. Bản tin ấy được truyền từ chiếc đài thu thanh và loan nhanh khắp phum làng. Các chiến sĩ ta cả Campuchia, cả Việt Nam ôm nhau nhảy cẫng lên reo hò. Chúng tôi đến đâu đồng bào trai gái, trẻ già đều vây quanh để hỏi xem tin đó có thật không? Khi biết đích xác là thật, ai nấy đều vui mừng khôn xiết. Những ngày đầu giải phóng có thể nói là trăm công nghìn việc. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng Nhân dân cách mạng do đồng chí Lạ làm bí thư (sau này đồng chí Chăn Phanh thay) được sự giúp đỡ của các cán bộ và chiến sĩ quân tình nguyện, tình hình chung ngày càng phát triển tốt đẹp. Đồng chí Ty Pheng càng tỏ rõ vai trò nòng cốt của mình. Đồng chí là Đảng viên Đảng Nhân dân Cách mạng Khơme từ năm 1951, mùa khô 1952 bị địch bắt, chúng đưa vào “Các chê” (Quartier) Kratíe, dùng cực hình tra tấn dã man, kể cả đóng kim vào đầu ngón tay, chúng vẫn không moi được gì ở người đảng viên trung kiên ấy và chúng phải thả đồng chí ra. Về đến nhà, đồng chí bắt liên lạc với đội công tác tả ngạn Sê Kông của chúng tôi và tiếp tục hoạt động dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt của kẻ thù. Nay quê nhà được giải phóng, đồng chí quên cả việc nhà, lao vào công tác. Tuy là một ủy viên quân sự, nhưng đồng chí đã có mặt ở mọi nơi, tham gia ý kiến, góp phần quan trọng giải quyết bao khó khăn của những ngày đầu Xiêm Pang vừa thoát khỏi ách kìm kẹp của giặc Pháp và tay sai. Việc bận rộn và sôi nổi nhất lúc này là tổ chức học tập cho nhân dân quán triệt ý nghĩa, nội dung của Hiệp định Giơ-ne-vơ, làm cho đồng bào cán bộ nhận rõ thắng lợi và nắm vững điều khoản trong hiệp định. Chúng tôi phân công nhau giúp đỡ chi bộ Đảng bạn và Ủy ban Mặt trận Ít-xa-rắc tổ chức cho đồng bào học tập, chuẩn bị lý lẽ để đấu tranh chính trị bảo vệ thành quả dân chủ, tự do mà cách mạng đã đem lại cho mình. Sách lược chung lúc đó là hòa hợp dân tộc để đấu tranh bảo vệ đường lối độc lập, hòa bình, trung lập tích cực. Nhưng làm cho nhân dân thấy việc “hòa hợp” cũng không đơn giản dễ dàng. Tôi nhớ cuộc học tập hơn ba trăm cán bộ tại chùa lớn làng Kèng Nhày do đồng chí Lạ phụ trách. Một bà cụ già tám mươi tuổi, mẹ đồng chí Phửi, một cán bộ, một đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương ở làng Kèng Nhày, bị tay sai của chính quyền Hoàng gia bắt giam và tra tấn đến chết trong tù, đã vào lớp học chất vấn: “Bây giờ kháng chiến thắng lợi rồi sao lại đi hòa hợp?” Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Chín, 2021, 07:35:07 am Những chất vấn của bà cụ đã khơi bùng lên cái thắc mắc âm ỉ trong tất cả cán bộ. Đồng chí Lạ và chúng tôi phải giải thích mãi.
Chúng tôi nói: - Làm cách mạng cũng như người leo núi, muốn leo lên đỉnh, không phải đi thẳng một mạch từ chân dốc lên đỉnh, mà có khi phải chịu đi quanh. Trước mắt hiện nay, hòa hợp dân tộc tất cả các lực lượng vì hòa bình trung lập là để tập trung chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính, nguy hiểm nhất trong giai đoạn mới là đế quốc Mỹ và bọn tay sai phản động của chúng. Cuối cùng cán bộ và bà cụ mới đồng ý. Công việc chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới cũng được gấp rút chuẩn bị một cách tích cực. Đồng chí Mệt, chủ tịch huyện Xiêm Pang, có một đứa con trai tên là Bun Không đang làm Trung đội trưởng bộ đội địa phương (Đồng chí Bun Không năm 1970 cũng về Campuchia, nhưng đến 1973, đồng chí bị Pôn Pôt giết hại. Khi về Campuchia, đồng chí phụ trách Trưởng ban kinh tế Quân khu Đông Bắc. Đồng chí còn có tên nữa là Khăm Mon). Trước khi tham gia cách mạng, Chủ tịch Mệt nguyên là một chánh tổng trong chính quyền Hoàng gia, chuẩn bị sẵn sàng đứng ra công khai, thực hiện cái gọi là “bàn giao” với chính quyền mới tiếp quản vùng giải phóng. Đồng chí Lạ, Phó chủ tịch huyện, một đảng viên trung kiên của Đảng Nhân dân cách mạng Khơme, được chuẩn bị căn cứ miền núi làm chỗ dựa, tạo thế lâu dài để chỉ đạo cuộc đấu tranh mới. Các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, một bộ phận phục viên tại chỗ. Nhưng các đồng chí đã nhìn xa trông rộng, phải chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh quyết liệt cuối cùng, để giành toàn thắng cho hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên đất nước Chùa Tháp thân yêu. Thực hiện chủ trương chung của hai Đảng, chúng tôi tích cực giúp đỡ cho một số đơn vị bộ đội địa phương của miền Đông Bắc, cùng với các đơn vị Ít-xa-rắc toàn quốc lên đường đi miền bắc Việt Nam để học tập, xây dựng quân đội, tiếp thu khoa học kỹ thuật, để một ngày nào đó trở về Tổ quốc, làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh mới, giải phóng và xây dựng đất nước. Đại đội địa phương huyện Xiêm Pang do đồng chí Ty Pheng phụ trách, để thống nhất lực lượng với đại đội địa phương của Vơn Sai, cùng với các bộ phần khác trong toàn miền Đông Bắc ra đi theo tiếng gọi của non sông. Tôi tiễn chân các đồng chí vào một buổi sáng tháng bảy, tại sân chùa Pha Băng. Tôi bắt tay từng đồng chí, từ các cán bộ nòng cốt như Bun Không, đứa con độc nhất của ông Mệt, chủ tịch Mặt trận, Khâm Phanh, Phu Mi, Phửa, Khâm Đeng, em Xi Tha và bao chiến sĩ khác. Tôi ôm hôn đồng chí Đi Phin khá lâu và nhớ mãi ơn đồng chí đã che giấu tôi trước mặt kẻ thù mấy năm về trước. Tôi chia tay đồng chí Ty Pheng mà lòng bâng khuâng khôn tả. Ra đi, đồng chí còn để lại quê hương cha mẹ già, người vợ trẻ và hai đứa con nhỏ dại. Kẻ thù sẽ làm gì đối với gia đình mà khi tên tuổi đồng chí cùng với cái bản án treo còn nằm trong tay chúng nó? Là một đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương trước kia, giờ đây là một đảng viên của Đảng Nhân dân cách mạng Khme, vì sự nghiệp đấu tranh của giai cấp và dân tộc, vì tương lai của đồng bào và đất nước, đồng chí tự thấy nhiệm vụ của mình không thể vắng mặt trong đoàn quân cách mạng lên đường, nhưng ra đi là một thử thách lớn lao. Hậu phương gia đình đồng chí còn rất khó khăn. Lực lượng vũ trang bạn đi rồi, lực lượng vũ trang ta cũng lần lượt lên đường tập kết. Hầu hết các đồng chí không về đường Khu 5 mà theo đường Hạ Lào đi thẳng ra miền Bắc. Cuộc đấu tranh mới của nhân dân Khơme còn nhiều gay go phức tạp, trong đó lực lượng lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Khme còn non trẻ kinh nghiệm chưa dày dạn, phải đương đầu với một đối phương có bộ máy chính quyền và lực lượng vũ trang do Pháp để lại khá to lớn, với nhiều âm muu thủ đoạn xảo quyệt, thâm độc. Tình hình đó cần có sự giúp đỡ của các cán bộ tình nguyện Việt Nam. Tôi là một trong ba đồng chí được Ban cán sự Đông Bắc dự định không đi tập kết, tiếp tục ở lại giúp đỡ các đồng chí Đảng bộ Đảng Nhân dân cách mạng Khơme huyện Xiêm Pang trong cuộc đấu tranh mới. Cuộc đấu tranh đó không phải bằng vũ lực, mà chủ yếu đọ sức với quân thù bằng chính nghĩa cách y mạng và trí tuệ của mình. Nhận được quyết định này, lòng tôi không khỏi bồi hồi. Ở quê tôi, tôi còn một mẹ già và một người vợ trẻ. Ngày tôi về Liên khu 5 chỉnh huấn và lên đường trở lại chiến trường, mẹ tôi chống gậy tiễn đưa. Giọng nói đã phều phào mẹ dặn: “Bây giờ, mẹ như trái chín trên cành, mong kháng chiến mau thắng lợi, con về để mẹ được thấy mặt con lần nữa trước giờ nhắm mắt!”. Còn người vợ trẻ, chúng tôi mới cưới nhau chưa hết tuần trăng mật, thì đã đến ngày trở về H12, cơ quan đại diện của Ban cán sự Đông Bắc Campuchia đặt tại Liên khu 5 để trả phép và cho kịp ngày hành quân trở lại chiến trường. Lời cô ấy lúc chia tay như còn văng vẳng bên tai tôi: “Anh đi mạnh khỏe, ngày kháng chiến thắng lợi mau mau về với em”. Giờ đây, kháng chiến đã thắng lợi, nhưng tôi không về. Nghĩa vụ đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc mà Đảng và nhân dân giao phó cho tôi đến đây chưa kết thúc. Tôi biết mẹ và vợ tôi biết bao mòn mỏi đợi trông, nhưng tôi đâu có quyền từ chối nhiệm vụ? Đây là giai đoạn “lửa thử vàng” đối với tôi, một đảng viên của Đảng. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Chín, 2021, 09:57:03 am 5. Chia tay đất nước Chùa Tháp (lần thứ nhất)
Bộ phận ở lại giúp bạn của huyện Xiêm Pang có ba người. Đồng chí Bùi Mãng là Ủy viên Ban cán sự Miền được cử về làm Bí thư phụ trách chung. Đồng chí Phan Thái Vân phụ trách khu vực miền núi, còn tôi phụ trách giúp bạn ở khu vực đồng bằng. Chúng tôi đã bàn kế hoạch thống nhất đi vào giúp bạn một cách căn bản. Cuộc chiến đấu mới chắc là gay go và có những phức tạp mà chúng tôi chưa lường trước được. Những ngày cuối tháng mười năm ấy, tôi đã hoàn thành một số việc, đang say sưa chuẩn bị cho cơ sở mật và giúp bạn tổ chức học tập các đối tượng phát triển đảng viên mới để tăng cường lực lượng lãnh đạo của huyện thì được lệnh của Ban cán sự rút về tập trung tại Kèng Nhày, để cùng đoàn tập kết cuối cùng của quân tình nguyện tại vùng Đông Bắc, dùng phương tiện của đối phương về nước dưới sự kiểm soát của Ủy ban Liên hiệp đình chiến hai bên. Còn hai đồng chí Mãng và Vân, năm 1956, Đảng bộ bạn đã trưởng thành, các đồng chí đều về nước. Lúc đó đồng chí Vân còn có tên là Thào Iệt hiện nay đồng chí đã nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian quá gấp, tôi không có điều kiện từ giã hết đồng bào, đồng chí vùng Đông Bắc, nơi tôi đã sống với bao kỷ niệm. Nhưng dù gấp đến mấy tôi cũng phải về từ giã làng Xê Mo thân yêu. Tôi bươn bả từ Khê đi một mạch về thẳng đến Xê Mo. Đêm từ giã ấy, cả làng vây quanh lấy tôi, ai cũng không muốn rời tôi ra. Đồng chí Chăn Phanh, một đảng viên vốn người trầm tĩnh ít nói. Hôm chia tay, đồng chí không nói nhiều, nhưng đã khóc. Đặc biệt là mẹ Xỉn, thân mẫu của đồng chí Ty Pheng nắm chặt tay tôi. Bà nói một câu tục ngữ đại ý rằng: tôi đến đây giúp dân trồng trầu, trầu đã ra lá, trồng cau, cau đã ra quả, mà sao không ở lại ăn một miếng trầu và cau do chính tay mình trồng? Ông già Chăn Ty, cha của đồng chí Ty Pheng thì bảo: Mày cứ ở lại đây, đối phương không làm gì được mày đâu. Làng Xê Mo còn thì mày còn! Ông già bao giờ cũng nói chắc nịch như vậy. Người vợ hiền của Ty Pheng, người phụ nữ đảm đang chăm lo cho các con cái, gia đình để chồng đi làm cách mạng, nắm tay tôi hồi lâu như để truyền cảm nỗi lòng của chị và thỏ thẻ nói: “Anh Khâm Tằn đi về Việt Nam, gặp anh Ty Pheng nói anh ấy vững cái bụng học tập, đừng lo gì cho em và con ở nhà. Nhờ anh giúp đỡ anh Ty Pheng tiến bộ”. Hai giọt nước mắt lăn trên đôi má, nhưng chị không hề bật ra tiếng khóc. Thật là một người phụ nữ hiếm có, tôi thầm khen chị. Sau này, nghe đồng chí Vân nói lại chị trở thành đảng viên, một cán bộ cốt cán trong những ngày đấu tranh chính trị với địch. - Khâm Tằn! Con có về Việt Nam thì cũng đừng quên cái tên mẹ đặt cho đấy nhé! Đó là lời nói của mẹ Phưn. Tôi cảm động nắm chặt tay bà mẹ đã cho mình cái tên suốt một đời. - Con không bao giờ quên đâu mẹ ạ! - Tôi hứa với mẹ Phưn như vậy. Làm sao tôi có thể quên được cái tên đẹp đẽ đầy tự hào mà người mẹ Campuchia đã đặt cho tôi. Còn Văn Ni, em gái nhỏ nắm chặt tay tôi, rưng tưng hai khóe mắt. Em nhỏ nhẹ dặn: anh Khâm Tằn về mường Việt cũng đừng quên em! Tôi hứa sẽ không bao giờ quên cô giáo đã dạy chữ và tiếng cho mình. Lễ phục khẻn cột chỉ tay cầu phước cho tôi được tổ chức vào buổi sáng hôm sau. Những vòng chỉ trắng là những vòng tình, vòng nghĩa của nhân dân Campuchia đôi với chiến sĩ tình nguyện Việt Nam cùng những chiếc khăn cà ma, những tấm xà rông tơ các mẹ, các chị tặng. Tôi một mực từ chối, tôi biết sắp tới nhân dân còn khó khăn nhiều. Cả làng Xê Mo kéo nhau ra tận bến, đứng nhìn theo bóng tôi đi. Hai chiếc ca nô của đối phương chở chúng tôi xuất phát từ Kèng Nhày, xuôi dòng Xê Công, về Stưng Treng. Mỗi khi ngang qua bến của một làng ven sông, hoặc gặp một chiếc thuyền ngược dòng, chúng tôi đều đón nhận những bàn tay vẫy đầy trìu mến, những tiếng chào tiễn đưa với theo tha thiết. Chúng tôi đi mang theo bao tấm lòng thương yêu của đồng bào in đậm trong cuộc đời chiến sĩ tình nguyện, qua bao năm chung lưng đấu cật chiến đấu chống kẻ thù chung. Rời Strưng Treng, xe hơi của quân đội Liên hiệp Pháp chở chúng tôi qua Kratié, qua Mê Mốt, đến ngã ba Chúp rẽ ngoặt về Prây Veng. Chúng tôi đã vượt chặng đường dài của con quốc lộ 13, quốc lộ 7, và tỉnh lộ 15. Đến đâu đồng bào hai bên đường cũng đều dành cho chúng tôi những tiếng hoan hô “Chây-dô”, cùng những cử chỉ lưu luyến. Một buổi chiều hạ tuần tháng 10.1954, gió nhẹ từ dòng Mê Công mơn man vuốt ve hàng me hai bên tỉnh lộ 15, xua động những tán lá phất phơ như vạn bàn tay mềm mại vẫy chào đoàn chiến sĩ tình nguyện Việt Nam tại Campuchia lên đường về nước, cỏ cây cũng thấu hiểu lòng dạ thủy chung của người chiến sĩ. Một chiếc tàu chiến Pháp - kẻ bại trận vận chuyển chúng tôi rời Campuchia về khu tập kết Chắc Băng, Cà Mau. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Chín, 2021, 02:44:39 pm III. Ở Môn-đun-ki-ri (Trở lại đất nước Chùa Tháp lần thứ hai) 1. Tạm biệt Nam Nung Nam Nung, dãy núi cao hơn 1.500m so mặt nước biển, như một biểu tượng của Quảng Đức (ngày nay là tỉnh Đắk Nông), quê hương của vị anh hùng N'Trang Lơng suốt 23 năm lãnh đạo người Mơ Nông đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp hào hùng và oanh liệt. Tôi đến với Nam Nung cuối tháng 10 năm 1959, sau bốn tháng xẻ dọc Trường Sơn, “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, hành quân từ Hà Nội vào. Theo chỉ thị của Bác Hồ, của Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng, đoàn B90 chúng tôi có nhiệm vụ về đến Nam Đắk Lắc, vùng núi Nam Nung, phối hợp với đội vũ trang công tác bám chiến trường từ sau hiệp định Giơ-ne-vơ đến nay ở đây để gây dựng cở sở và xoi mở hành lang vào Nam, nối liền hai chiến trường nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, xây dựng từ “một vùng trắng”, chưa có cơ sở chính trị trong quần chúng dân tộc trở thành vùng căn cứ cách mạng và hoàn thành con đường hành lang chiến lược Bắc Nam ở khu vực nầy, việc mà suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ta đã tốn nhiều xương máu nhưng chưa thực hiện được. Đón đoàn B90 chúng tôi ở đây là đội vũ trang công tác nam Đắk Lắc, do đồng chí Trần Phòng làm đội trưởng và các đồng chí cán bộ là Ama Nhao (Lê Đạo), Ama Thu (Lê Văn Hòa) và Ama Sa (Y Bớ, người dân tộc Mơ Nông). Theo chỉ thị của cấp trên, chúng tôi thống nhất với nhau thành một đơn vị với phiên hiệu mới là B4 do đồng chí Vũ Anh Ba (Hồng Ưng) làm Bí thư chỉ đạo chung. Từ đó, chúng tôi được sống trong lòng đồng bào dân tộc Mơ Nông. Vốn có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm từ phong trào N'Trang Lơng, đồng bào tiếp thu cách mạng nhanh, đùm bọc, cưu mang và giúp đỡ chúng tôi trong công tác xây dựng cơ sở mở rộng địa bàn và từng bước xoi mở đường hành lang chiến lược. Quá trình cùng sống và chiến đấu ở đây, đã để lại trong lòng chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Từ một vùng chưa có cơ sở chính trị trong quần chúng, trở thành vùng căn cứ cách mạng, bảo vệ hành lang chiến lược, xây dựng lực lượng chính trị vũ trang nhanh chóng trưởng thành, lập nên những chiến tích vẻ vang, theo kịp với sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn Miền. Đồng bào Mơ Nông vùng núi Nam Nung đã dành cho những người chiến sĩ giải phóng chúng tôi tình cảm đậm sâu của mối tình đoàn kết Thượng, Kinh, trong những ngày cực kỳ gian khổ của chiến trường. Là một Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Đức, tôi đã gắn bó với nhân dân và các lực lượng vũ trang qua 10 năm chiến đấu và công tác, cùng lăn lộn ở cơ sở, từng cùng xung trận diệt đồn, phá ấp chiến lược, từng có lúc mang bắp hạt, mì khô làm lương thực hành quân giết giặc... và cũng nơi đây, dưới chân núi Nam Nung, hạnh phúc gia đình đã đến với tôi trong hoàn cảnh ngọt ngào. Thư, người con gái Củ Chi, nữ sinh Sài Gòn, chiến sĩ quân giải phóng đã đem lại cho tôi một tình yêu chân thành, sâu đậm. Bữa tiệc kết hôn thật đơn giản, chỉ có đĩa đậu phộng rang ngào đường với cốc trà B’lao, nhưng tình sâu nghĩa nặng, chúng tôi sông trong yêu thương, ý hợp tâm đồng đến nay đã 40 năm, có đủ cháu nội, cháu ngoại trong gia đình dầm ấm, thuận hòa và chứa đầy kỷ niệm của dải dất Nam Nung. Tháng 12 năm 1968, tôi nhận dược quyết định của Bộ Tư lệnh Miền về làm Phó phòng Chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 10. Nhưng thực tế, tôi xa Nam Nung vào mùa Xuân năm 1970. Hồi đó, tôi phụ trách Chính ủy tiền phương Quân khu 10, trực tiếp chỉ huy các đơn vị chủ lực của Quân khu chiến đấu ở các mặt trận trọng điểm, theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh. Tháng 3.1970, đơn vị chúng tôi đang trên đường hành quân từ mặt trận Phước Long ra Quảng Đức để tấn công vào thị xã Gia Nghĩa, phối hợp cùng đợt tấn công đồng loạt của toàn miền Nam. Đêm lại, tạm dừng chân ở suối Đắk Đam, nghe đài phát thanh giải phóng đưa tin: Ngày 18.3, Lon Non đã làm cuộc đảo chánh, lật đổ Chính phủ Hoàng gia Campuchia, dựng lên cái gọi là “Chính phủ Cộng hòa Khơme”. Quốc trưởng Xi-ha-núc dang lưu vong ở nước ngoài và vận động thành lập Mặt trận Đông Dương chống Mỹ và tay sai. Anh em cán bộ các cơ quan tiền phương nói vui: “Tình thế này chắc thế nào anh Ba (tức là tôi) cũng đi Campuchia, giúp nhân dân Campuchia chống Lon Non”. Tôi không ngờ lời nói vui của anh em trở thành sự thật. Đêm 30.3.1970, phối hợp với tiếng súng toàn miền, lực lượng Quân khu 10 hiệp đồng với lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Đức tấn công vào một số mục tiêu trong thị xã Gia Nghĩa và ngày hôm sau trụ lại đánh địch phản kích. Tôi đang cùng với đồng chí Đặng Ngọc Sĩ - Tư lệnh Quân khu 10 ngồi ở hầm chỉ huy sở, cầm máy điện thoại theo dõi tình hình quân ta đánh phản kích do đồng chí Nguyễn Thành Văn, người đồng hương Bình Định - Chính trị viên tiểu đoàn 212 báo cáo, thì được nhân viên cơ yếu trình cho tôi bức điện hỏa tốc của Bộ chỉ huy ở Quân khu cơ bản chuyển đến. Nội dung ngắn gọn như sau: “Nhận được điện, đồng chí Ba Cung mang toàn bộ quân tư trang về hậu cứ Quân khu ngay để nhận nhiệm vụ mới" Đồng chí Tư lệnh Quân khu Đặng Ngọc Sĩ nói: “Có lẽ Ba Cung về đi nhận nhiệm vụ ở Campuchia!”. Tôi cũng nghĩ như thế, lời nói vui của anh em không sai. Nêu đúng như thế thì kể từ nay tôi mới thật sự xa Quảng Đức, xa dãy núi Nam Nung mến yêu và nhiều kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời chiến đấu, nơi tôi coi như một trong những quê hương thứ hai của mình. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Chín, 2021, 02:47:24 pm 2. Trở lại đất Chùa Tháp (lần thứ hai)
Tôi về đến hậu cứ, đồng chí Việt Hồng, Phó Chính ủy Quân khu 10 trao cho tôi bức điện hỏa tốc của đồng chí Chín Vinh (Trần Độ), Phó Chính ủy Bộ chỉ huy Miền, lệnh cho tôi đến thẳng Trường H14, gặp anh Chín Hồng (Đồng Văn Cống) nhận nhiệm vụ. Thời gian gấp rút, tôi không có điều kiện chia tay với đồng chí, đồng đội. Bữa cơm thân mật tiễn tôi trước khi lên đường, có các đồng chí Thường vụ Khu ủy, Bộ Chỉ huy Quân khu đầy lưu luyến và cảm động. Các đồng chí động viên tôi hoàn thành nhiệm vụ mới, tặng tôi chiếc đài Standar, một số thuốc men và 500 đồng tiền riêl (tiền Campuchia) làm lộ phí. Tôi ra đi mang theo biết bao kỷ niệm của những ngày ở khu 6, khu 10, cùng đồng chí, đồng đội ăn canh măng, lá bép, khoai sắn thay cơm, mang mì lát, bắp khô làm lương thực hành quân chiến đấu. Tôi nhớ K58, nhớ căn cứ Nam Nung, đồng bào Mơ Nông đã đùm bọc che chở cho tôi những ngày đầu gian khổ của chiến trường. Tôi biết, ra đi lần này không có điều kiện trở về khu 6, khu 10 nữa. Tôi và tiểu đội trưởng Châu, người công vụ, bảo vệ cần mẫn và tin cậy, tự lực tìm đường về Trường Quân chính Miền (H.14), vượt qua những cụm rừng chi chít hố bom, ngổn ngang cây cối đổ gãy, có những cây bị bom quật chổng gốc lên trời, chứng tích của những trận B52 rải thảm, cuộc chiến tranh ác liệt nhất trong lịch sử dân tộc. Khi tìm được trường, quang cảnh vắng tanh, không một bóng người. Tôi cầm bức điện của anh Chín Vinh trong tay, đang ngơ ngác chưa biết đi đâu, thì may quá gặp được đồng chí Ngân - Chủ nhiệm Hậu cần nhà trường, vừa đi đâu đó về. Anh cho biết, Quân Giải phóng ta đang triển khai giúp Campuchia giải phóng hai tỉnh Kratié và Môn-đun-ki-ri. Tất cả cán bộ giáo viên và học viên của trường được Miền huy động ra chiến trường cả rồi. Tôi chìa bức điện cho đồng chí Ngân xem và ngỏ ý muốn tìm đồng chí Chín Hồng (Đồng Văn Công). Đồng chí Ngân cho biết, anh Cống hiện giờ đang ở mặt trận Kra-ti-é và mời tôi ở lại H14 ngủ qua đêm, sáng mai đồng chí hướng dẫn đường để chúng tôi theo vết xe vận tải của Đoàn hậu cần 70, lên Soài Chịa. Soài Chịa tiếng Campuchia gọi là Svay Chréa, một làng lớn nằm trên trục lộ 13, địa điểm hậu cần đoàn 70 đang tập kết ở đó.... Chúng tôi lội bộ suốt ngày, chạng vạng tối mới đến Soài Chịa, gặp được tổ trinh sát của R. Các đồng chí trinh sát cho biết, ta nổ súng giải phóng thị xã Kratié tối hôm kia (tôi nhớ không nhầm là đêm 4 tháng 5 năm 1970), bây giờ đang truy kích địch và thu dọn chiến trường. Họ không rõ anh Chín Hồng ở đâu, nhưng biết cánh rừng cách sông Tê khoản 4,5 km có cơ quan chỉ huy của R và ở đó có ông Mười, nhưng họ không rõ tên. Tôi đoán đó là anh Mười Khang, tức đồng chí Hoàng Văn Thái - Chỉ huy trưởng Quân Giải phóng miền Nam (B2), liền viết thư xưng rõ họ tên, chức vụ và sao nội dung bức điện của anh Chín Vinh để xin ý kiến anh Mười, cho anh biết tôi chờ ý kiến anh tại đơn vị hậu cần đoàn 70, đóng tại phum Đa. Tôi nhờ các đồng chí trinh sát chuyển gấp cho anh Mười. 14 giờ chiều hôm ấy, tôi nhận đuợc thư anh Mười, ngắn gọn mấy chữ: đồng chí Ấm! Đợi tôi ở cầu sông Tê, vào lúc 17 giờ, đi nhận công tác. Ký tên Mười Khang. Tôi mừng quá đỗi, tôi và Châu tháp tùng xe hậu cần trở lại sông Tê. Đúng 17 giờ, chiếc xe du lịch màu sữa từ hướng nam chạy đến, đậu tại đầu cầu sông Tê. Một người đàn ông vạm vỡ bước xuống. Đoán biết đó là anh Mười Khang, tôi đứng nghiêm chào. Anh bắt tay tôi và hỏi: - Ấm phải không? Tốt lắm, lên xe vào Kratié nói chuyện! Lần đầu tiên, sau 10 năm kể từ ngày về miền Nam, được ngồi trên xe du lịch chạy bon bon trong vùng giải phóng, lòng tôi lâng lâng khó tả. Từ băng ngồi phía sau, anh Mười hỏi: - Tiếng Lào và tiếng Campuchia, Ấm biết thứ tiếng nào giỏi hơn? - Thưa anh tiếng Lào ạ! Tiếng Campuchia chỉ mới biết được xin ăn uống thôi ạ! Anh bảo: rất tốt! Vào đến Kratié, cán bộ sở chỉ huy ra chào đón anh. Anh Mười giới thiệu tôi với mọi người và bảo tôi ngồi vào bàn làm việc. Anh cho biết, sáng mai, Sư đoàn 5 sẽ hành quân lên giúp Campuchia giải phóng thị xã Stưng Treng. Anh cử tôi cùng hành quân với sư đoàn, lên đó phụ trách Ủy ban Quân quản Stưng Treng, nhanh chóng ổn định đời sống và an ninh trật tự cho đồng bào. Anh đã điện cho Đại tá Nguyễn Môn - Chính ủy B3, tôi ra đó nhận nhiệm vụ cụ thể. Anh bảo tôi tranh thủ ngủ lấy sức để mai hành quân sớm, nhưng nào tôi có ngủ được. Cứ thao thao, thức thức. Mỗi lần trông vào phòng làm việc vẫn thấy anh Mười ung dung ngồi trước tấm bản đồ, đưa chiếc kính lúp soi soi, rọi rọi tìm từng con số, đánh dấu tọa độ... ghi ghi, chép chép. Tôi thương anh quá chừng. Bỗng anh biểu đồng chí bảo vệ đánh thức tôi dậy và vào phòng làm việc gặp anh. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay mới 1 giờ 30 phút sáng. Anh hỏi tôi ngoài tiếng Lào còn biết tiếng gì nữa. Tôi thưa với anh mình biết tiếng M’Nông. Anh lại hỏi đồng bào ở tỉnh Môn-đun-ki-ri nói tiếng gì? Tôi nói ở đó đại đa số là đồng bào dân tộc Mơ Nông. Anh Mười suy nghĩ một lát và nói: Bây giờ việc quân quản ở Stưng Treng giao cho B3 phụ trách. Ấm trở lại tỉnh Môn-đun-ki-ri. Ở đó, ta đã giúp Campuchia giải phóng, tình hình đang diễn biến phức tạp. Anh Chín Hiền - Hiệu trưởng trường Lục quân giao cho Liên đội 97 biên phòng giải quyết. Ấm đến đó phụ trách Liên đội 97, để ổn định tình hình và giúp bạn xây dựng vùng giải phóng. Sáng hôm sau, tôi theo chân anh Mười Khang trở về căn cứ nam sông Tê, để chuẩn bị đi Môn-đun-ki-ri. Những ngày sống bên cạnh anh Mười là những ngày rất thú vị. Tác phong giản dị và ân cần của anh, đã làm cho tôi vững tâm trình bày với anh một số kinh nghiệm về công tác phát động quần chúng dân tộc, mà bản thân mình đã tích lũy được trong mấy năm qua ở vùng miền núi Phước Long - Quảng Đức. Anh rất tâm đắc và truyền đạt cho tôi những vấn đề cốt lõi của chủ trương, chính sách của ta giúp Campuchia, trong mặt trận đoàn kết nhân dân Đông Dương chống đế quốc Mỹ và tay sai. Thái độ đoàn kết của ta đối với Đảng Cộng sản Campuchia lúc bấy giờ1 (Từ Đảng nhân dân cách mạng Khme cũ được thành lập ngày 26-6-1951. Sau đó Pôn Pốt ám hại Tổng bí thư Tusamut, đoạt quyền lãnh đạo, tổ chức đại hội đổi tên Đảng là Đảng Cộng sản Campuchia) là liên minh chiến lược và sách lược của ta là nhằm mục đích “thêm bạn bớt thù”, tập trung mũi nhọn vào chống đế quốc Mỹ và tay sai. Anh đã trang bị cho tôi cái vốn để về Môn-đun-ki-ri vận dụng vào tình hình thực tế ở chiến trường, xa cơ quan chỉ đạo cấp trên, độc lập công tác ở nơi hoàn toàn mới lạ. Bữa cơm thân mật giữa tôi và anh Mười chỉ có bát canh chua với đĩa thịt hộp của Trung Quốc, đạm bạc nhưng đầy tình nghĩa. Ăn xong, anh Mười phổ biến cho tôi quyết định của Trung ương Cục và Quân ủy, Bộ Chỉ huy Miền thành lập Đoàn Tây Sơn và Ban cán sự giúp bạn. Anh thay mặt Quân ủy Miền chỉ định tôi làm Bí thư Ban cán sự và anh cho biết anh có việc về Bộ Chỉ huy Miền gấp, tôi chờ anh Chín Hồng gặp sẽ giao nhiệm vụ cụ thể. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Chín, 2021, 02:48:06 pm Hôm sau, tôi gặp anh Chín Hồng “con hùm xám Bến Tre”, nghe danh anh từ lâu nay mới có dịp tiếp xúc. Dáng vóc anh to, cao, đầu tóc đã điểm bạc. Sau cái bắt tay niềm nở, anh trao cho tôi quyết định của R và cho tôi biết anh đã chỉ thị cho Liên đội 97 biên phòng, đặt dưới quyền chỉ huy của Ban Liên lạc Tây Sơn và điều từ Đoàn 79, bổ sung cho đơn vị tôi một khung bệnh xá với đủ y sĩ, y tá, người phục vụ và dụng cụ thuốc men cần thiết của một bệnh xá cấp trung đoàn. Lệnh tài vụ cấp cho tôi 2.000 đồng tiền riêl (giấy bạc Campuchia) làm cái vốn để xây dựng một đơn vị cấp tỉnh...
Từ Kratié đi Môn-đun-ki-ri xa vời vợi, rừng núi mênh mông, không có liên lạc dẫn đường, tôi và đồng chí Châu công vụ căn cứ theo địa bàn và bản đồ cắt đường mà đi. Giữa rừng, gặp một đám tàn binh Lon Non thất thủ Môn-đun-ki-ri, chúng cũng đang cắt rừng tìm đường về Kratié. Tuy là lính thất trận nhưng chúng đông người, vũ khí đầy đủ, chặn đường uy hiếp chúng tôi. Tương kế, tựu kế, tôi lấy chiếc huy hiệu có lồng hình Xi-ha-núc đeo lên ngực. Vốn là lính Hoàng gia, mới dưới quyền Lon Non sau ngày đảo chính, nên nhìn thấy ảnh Xăm Đéc Xi-ha-núc cả bọn chúng quỳ mọp xuống, chắp tay xá lia lịa. Nhờ lúc ở Kratié tôi nhặt được cuốn sách tự học đọc và viết chữ Khme, tranh thủ ngày đêm tôi học đến lúc này đem ra ứng dụng. Tôi bập bẹ giải thích cho chúng hiểu, từ ngày Lon Non đảo chính Chính phủ Hoàng gia, Xăm Đéc Xi-ha-núc đoàn kết với Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh đuổi Lon Non thân Mỹ, phục hồi nền hòa bình trung lập của Campuchia. Tôi chỉ đường cho chúng tìm đến Phum Đa, ở đó có tổ chức người yêu nước của Campuchia đón tiếp. Nghe xong tên chỉ huy rất mừng, chúng cảm ơn rối rít, rồi ai đi đường nấy. Chúng tôi cắt rừng đến vùng Keo Sma, cuộc càn Đông Dương của Mỹ và ngụy đang diễn ra, chịu một trận pháo quyết liệt của địch từ biên giới bắn qua. Chúng tôi lại cắt rừng qua Ô Răng đến Đay E. Đồng bào ở đây hầu hết là dân tộc Mơ Nông, thấy tôi nói được tiếng của họ trong giao dịch, tiếp xúc, hỏi đường, đồng bào thương, đem cơm lam, thịt rừng ra cho và dùng voi chở, dẫn đường cho chúng tôi tìm được một đơn vị của Quân khu 10 cử sang do đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn Lê Mâu phụ trách, đang phối hợp với Liên đội 97 giúp bạn ổn định tình hình. Đồng chí Lê Mâu chỉ đường cho tôi đến căn cứ một đội công tác thuộc Liên đội 97 biên phòng, do đồng chí Quốc Việt phụ trách. Đồng chí ấy cho biết, Liên đội có lệnh cho đơn vị mình tìm cách đón bắt liên lạc với người của R xuống và cho biết đội của đồng chí đang giải quyết một vụ rắc rối. Một đoàn voi của Khơme đỏ (danh từ quen gọi lúc bấy giờ đối với lực lượng cách mạng Campuchia) từ Kratié xuống Môn-đun-ki-ri, đào hầm súng do địch chôn giấu. Cả người và súng đội đang bắt giữ, người chỉ huy đàn voi tên là Koong. Tôi nói với Quốc Việt: - Người này tôi chưa biết mặt, nhưng có nghe tên. Đồng chí ấy là Phó bí thư tỉnh ủy Kratié của Đảng bạn. Tối nay Quốc Việt cho tôi gặp. Đêm đó nghe Koong trình bày rõ ràng, mới biết là đám lính tàn quân tôi chỉ đường về Phum Đa, đã gặp lực lượng cách mạng Campuchia trình diện và chỉ cho họ hầm vũ khí do mình cất giấu ở Môn-đun-ki-ri. Bạn đã sử dụng voi đi nhanh hơn chúng tôi và đào hầm lấy súng, trên đường về bị đội biên phòng Việt Nam bắt giữ. Tôi xác định với đội biên phòng, lời của đồng chí Koong là đúng sự thật và đề nghị đồng chí Koong thông cảm sự hiểu nhầm bất đắc dĩ của anh em Việt Nam, vì đồng chí đi không có giấy tờ của ai giới thiệu. Tôi trao đổi với đồng chí Quốc Việt, trả lại toàn bộ vũ khí và voi để đồng chí Koong trở về Kratié. Koong vui lắm, anh bảo lúc được mời lên gặp chỉ huy đơn vị, anh có suy nghĩ xấu với Việt Nam. Anh đã lận dao nhọn trong người, để đề phòng lúc cần đối phó (sau này Koong có báo cáo về sự hoà giải của tôi lên Khu 304 và Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia). Căn cứ đội công tác biên giới của Quốc Việt đóng ở Đây E, thuộc huyện Chờ-Par, tỉnh Môn-đun-ki-ri, còn cách nơi Ban chỉ huy Liên đội 97 ở Kó Nhét hai ngày đường nữa. Quốc Việt đưa tôi đến Lao Ca, một phum nằm ở giáp ranh hai huyện Chờ-par và Kó Nhét. Lao Ca là một phum dân tộc Mơ Nông, nhưng có một số người biết tiếng Lào. Thấy tôi nói được cả tiếng Mơ Nông và tiếng Lào nhân dân rất thương. Họ hỏi tôi nhiều chuyện, từ việc liên minh nhân dân Đông Dương chống Mỹ và Lon Non thế nào? Nhà vua Xi-ha-núc hiện giờ sống ra sao? Tại sao gọi là Khme đỏ, Khme đỏ tốt hay xấu, để chống Lon Non dân phải theo ai?, v.v... Đêm ngủ tại Lao Ca đã tạo ra một tình cảm sâu sắc giữa tôi và nhân dân trong làng. Nhờ thông thạo ngôn ngữ (cả tiếng Lào và tiếng Mơ Nông) tôi đã giải thích cho họ mọi ngọn ngành, ngóc ngách, đặc biệt là tình đoàn kết Việt Nam - Campuchia chống kẻ thù chung. Cuộc nói chuyện kéo dài cho mãi đến khuya, nhân dân còn đem cồng chiêng và rượu cần ra vui chơi tới sáng (Mấy tháng sau, vợ và con tôi từ Keo-Sêma về Kó Nhét, nghỉ lại đây. Nhân dân Lao Ca biết là vợ con tôi nên đối xử rất tử tế, còn cho cả trứng và gà để bồi dưỡng). Sáng hôm sau, nhân dân Lao Ca lấy voi chở tôi đi Kó Nhét. Gặp Ban chỉ huy Liên đội 97 đóng quân ở trung tâm thị trấn Kó Nhét. Kó Nhét là một thị trấn trù phú, hầu hết là nhân dân Khme từ các tỉnh đồng bằng di dân lên lập nghiệp, đất đai phì nhiêu, rừng giàu gỗ quý, sông suối cá nhiều, nhà cửa khang trang, khác với những phum làng khác của người dân tộc ít người. Cũng như Quốc Việt, đồng chí Quát - Liên đội trưởng và đồng chí Bảo - Chính trị viên Liên đội cho tôi biết là anh Chín Hồng có điện thông báo tôi sẽ về đây và báo cáo là sau ngày Môn-đun-ki-ri được giải phóng, Tỉnh ủy Quảng Đức có cử đồng chí Trần Thành - Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy cùng một số cán bộ sang giúp Đảng và nhân dân Campuchia. Tôi gặp đồng chí Trần Thành, được biết là các đồng chí đang cùng Liên đội 97 quan hệ với Tỉnh ủy Môn-đun-ki-ri để tổ chức thành lập Mặt trận giải phóng Quốc gia Campuchia của tỉnh Môn-đun-ki-ri. Đồng chí Trần Thành cho biết đồng chí cũng vừa nhận được lệnh của tỉnh chỉ thị bàn giao công việc lại cho tôi và đồng chí về lại Quảng Đức. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Chín, 2021, 02:49:00 pm Qua giới thiệu của Liên đội 97, tôi và các đồng chí Tỉnh ủy bạn gặp nhau. Bí thư Tỉnh ủy Môn-đun-ki-ri là đồng chí Xu Văn, người dân tộc Lào, vốn là Ít-xa-rắc thời chống Pháp. Nghe tôi tự giới thiệu mình thời kỳ đánh Pháp là quân tình nguyện Việt Nam, hoạt động vùng Đông Bắc Campuchia, có tên là Khâm Tằn. Anh mừng lắm và nói hồi đó không biết mặt nhưng có nghe tên Khâm Tằn, vì lúc ấy anh là bộ đội địa phương miền Đông Bắc. Đồng chí Dem - Phó bí thư và đồng chí Mây - Ủy viên Thường vụ, cả hai đều là dân Phnôm Pênh, vào Đảng nhân dân cách mạng Khơme từ hồi “hòa hợp dân tộc”1 (Đảng Nhân dân cách mạng khi ra công khai ở Phnôm Pênh sau Hiệp định Giơ-ne-vơ) và thoát ly vào rừng từ sau khi cách mạng Campuchia bắt đầu bị khủng bố. Nghe nói tôi là cán bộ từ Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam đến, các đồng chí rất phấn khởi. Tôi sử dụng tiếng Lào để trình bày lại những vấn đề tiếp thu ý kiến của anh Mười Khang. Đồng chí Xu Văn vừa lắng nghe, vừa dịch lại cho hai đồng chí Dem và Mây. Các đồng chí nghe, ghi chép và nói việc họ liên lạc với Quân Giải Phóng miền Nam chưa được lệnh hay chỉ thị của Trung ương, nhưng trước tình hình có bước nhảy vọt như thế này thì cứ xắn tay áo lên mà làm, tranh thủ thời cơ có lợi cho cách mạng, khi liên lạc được với Trung ương, có vấn đề gì sai trái thì sửa.
Cuộc gặp gỡ đầu tiên rất thuận lợi, hai bên trao đổi với nhau trên tinh thần đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau. Họ là những đảng viên chân chính, rất tiếc là họ không thoát khỏi lưỡi gươm thanh trừng của Pôn Pốt, đã bị chúng sát hại từ những năm 1976-1977. Đặc biệt là đồng chí Xu Văn đối với anh em Việt Nam như người thân trong gia đình. Với danh nghĩa Trưởng ban liên lạc giúp bạn, tôi đem kinh nghiệm công tác vận động đồng bào dân tộc xây dựng vùng giải phóng, để trao đổi với bạn. Việc đầu tiên bạn thống nhất với tôi là mở rộng Mặt trận Giải phóng, tập trung mũi nhọn vào mục tiêu đánh Mỹ và tay sai, với phương châm tổ chức là “trên rộng, dưới chặt”. Do đó, ở mặt trận cấp tỉnh, bạn cử Rô-son quan tư rưỡi, Tút quan tư và Xâm quan ba, ba người đã kéo quân ở Đây E và Kó Nhét ra hàng cách mạng ngay từ khi ta mới bao vậy kêu gọi, vào làm Phó chủ tịch và Ủy viên Ủy ban Mặt trận giải phóng Campuchia của tỉnh. Có cả Xếp Chok, đồn trưởng biên phòng vùng Srê-pốc, từng bảo vệ các đoàn công voa quân đội Hoàng gia Campuchia vận chuyển gạo, vũ khí đạn dược, từ cảng Xi-ha-núc-vin đưa lên tiếp tế cho ta ở mặt trận B31 (Hàng miền Bắc chi viện cho QGP miền Nam vào cảng Xi-ha-núc-vin, vận chuyển từ đó lên B3 bằng phương tiện công voa của quân đội Hoàng gia Campuchia). Nhưng, những người này sau đó không bao lâu bị Trung ương Đảng cộng sản Campuchia, dưới sự lãnh đạo của Pôn Pốt, liệt họ vào đối tượng nguy hiểm cần phải bị loại khỏi đời sống xã hội. Cuộc thanh trừng tiến hành rất bí mật, Đồng chí Xu Văn, Bí thư Tỉnh ủy rất bất bình với chủ trương trên, trong cuộc họp trao đổi thường kỳ giữa hai bên, đồng chí có đem vấn đề này trao đổi với tôi. Tôi nghĩ trong lúc ta mở rộng Mặt trận: “thêm bạn, bớt thù”, họ là kẻ đầu hàng, xử lý như vậy không có lợi, nhưng tôi không thể phê phán chủ trương của Trung ương Đảng bạn. Cuối cùng tôi nói với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy là mình không dám có ý kiến vì vấn đề quá lớn... Thấy tôi bỏ lửng câu chuyện, đồng chí Xu Văn hình như hiểu được ý nghĩ của tôi, đồng chí chép miệng và bật ra tiếng thở dài. Vấn đề trước mắt chúng ta giúp bạn lúc này, theo chỉ đạo của Miền là nhanh chóng nâng cao giác ngộ cách mạng trong quần chúng, phát động phong trào toàn dân tham gia xây dựng vùng giải phóng về chính trị, kinh tế vản hóa, xã hội và xây dựng lực lượng vũ trang. Về xây dựng lực lượng, bạn chỉ yêu cầu ta giúp về trang bị và huấn luyện quân sự, về chính trị và công tác tổ chức hoàn toàn do bạn đảm nhận. Trong hoàn cảnh chiến trường miền núi, kinh tế nghèo nàn, địa phương vừa mới giải phóng, bạn vừa mới từ chỗ hoạt động bí mật, lẻ tẻ, ra công khai quản lý một tỉnh hoàn toàn giải phóng, trăm bề khó khăn, nhất là về vật chất cần thiết để xây dựng lực lượng. Thay mặt Ban cán sự và Đoàn công tác giúp bạn, một mặt tôi viết thư gởi anh Chín Hồng (Đồng Văn Công), Mười Khang (Hoàng Văn Thái) để trình bày với Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, một mặt viết thư cho anh Minh Chánh, Út Tùng, Đoàn hậu cần 86, trình bày những yêu cầu giúp bạn. Đoàn 86 điện trả lời là đã nhận được chỉ thị của R, trước mắt giúp bạn 100 bộ quân trang và quân dụng, đủ trang bị cho một đại đội, nhận tại kho ở Pha-la-khê... Được lời như cởi tấm lòng. Tôi mừng quá, bàn với bạn huy động voi của dân và đoàn cử người đi về kho Pha-la-khê nhận quân trang, quân dụng. Còn vũ khí vận động quần chúng, tận thu số súng do tàn quân Lon Non tan rã hiện còn giấu rải rác trong dân, ta giúp bạn về đạn dược. Đồng chí Nguyễn Quốc Việt, cán bộ của Liên đội 97 biên phòng, được cử ra giúp bạn tổ chức huấn luyện kỹ, chiến thuật cho đơn vị mới. Môn-đun-ki-ri có năm huyện: Kó Nhét, Chơ-pa, Bách Chăm Đa, Keo-Sêma và Ô Răng. Bạn bỏ tỉnh lỵ Môn-đun-ki-ri cũ ở Ô Răng, cơ quan Tỉnh ủy của bạn tạm thời đóng ở Kó Nhét, là một huyện có đông dân người Khơme, kinh tế sầm uất và có đường giao thông về Kratié, liên lạc với Khu 304 thuận lợi. Lớp huấn luyện quân sự đầu tiên thành công, bạn chỉ giữ lại tỉnh một ít, còn phân phối về làm bộ đội địa phương các huyện. Lệnh của Bộ Chỉ huy Miền giải thể Liên đội 97, quân số chuyển hẳn cho Đoàn Tây Sơn (tức Ban Liên lạc giúp bạn ở Môn-đun-ki-ri) do Đoàn sắp xếp. Bổ sung cho đoàn một tiểu đoàn tân binh từ miền Bắc mới vào, do đại úy Phúc chỉ huy và một số cán bộ khác bổ sung vào ban Cán sự và thành lập cơ quan chỉ huy của đoàn. Miền quyết định tôi làm Bí thư ban cán sự, Trưởng ban liên lạc giúp bạn kiêm Chính ủy Đoàn Tây Sơn. Các đồng chí khác trong Ban chỉ huy Đoàn và Ban cán sự là Vương Lưu (Đoàn trưởng), Thân Văn Giai (Phó chính ủy), Nguyễn Tiến Đào (Đoàn phó), Nguyễn Hưởng (Tham mưu trưởng), Phạm Văn Đức (Chủ nhiệm Chính trị), Nguyễn Xuân (Chủ nhiệm Hậu cần),... Ban chỉ huy Liên đội 97 cũ về các cơ quan Đoàn, đồng chí Bảo, Chính trị viên Liên đội làm Phó Chủ nhiệm Chính trị, Hoàng Nga - Liên đội phó về làm Tiểu đoàn phó tiểu đoàn tập trung. Các đội trưởng như Đoàn văn Hòa, Quốc Việt, Trần Óng... được bổ nhiệm làm Trưởng ban giúp bạn ở các huyện. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Chín, 2021, 02:49:47 pm Tuy từ nhiều nguồn hợp lại, nhưng tất cả cán bộ đều được quán triệt nhiệm vụ “giúp bạn là tự giúp mình”, nâng cao nhiệt tình công tác, vượt qua khó khăn bước đầu. Quân đông, lương thực thiếu thốn, có bộ phận phải vào rừng đào củ từ gai, nấu ăn thay cơm. Sinh hoạt phí mỗi ngày một cán bộ, chiến sĩ chỉ được 0,5 riêl (tiền Campuchia) nhưng tiền không đủ phát, chủ yếu đơn vị phải dựa vào đánh cá và săn bắn. Ở đây, được thiên nhiên ưu đãi. Các sông, suối như Kó Nhét, Chơ-pa cá rất nhiều, mỗi đơn vị chỉ cần một tay lưới, giăng dưới suối qua đêm là cũng đủ thực phẩm cung cấp cho bữa ăn. Còn thịt thú rừng cũng rất sẵn, nhất là voọc, trong các khu rừng nguyên thủy như Đây E, Bách Chăm Đa chúng sống từng đàn, dễ tìm và dễ bắn, anh em gọi đùa đó là những kho thực phẩm tươi sống của Đoàn. Sau một tháng ổn định về tổ chức, Đoàn Tây Sơn đi vào nền nếp, thực hiện kế hoạch giúp bạn xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng toàn diện. Tôi được Ban Cán sự phân công đặc trách công tác giúp bạn phát động quần chúng, thực hiện ba phong trào hành động cách mạng: đánh địch (không để địch tái chiếm), sản xuất và xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt. Nghe tôi trình bày dự thảo kế hoạch phát động quần chúng. Tỉnh ủy bạn rất tán thành. Đồng chí Xô Văn, Bí Thư Tỉnh ủy nói: “Việc nâng cao giác ngộ cách mạng cho quần chúng là một yêu cầu cấp bách, cần phải tiến hành thí điểm ở một nơi, rồi cùng nhau rút kinh nghiệm, nhân rộng ra”. Đấy là một phương pháp tốt, ta và bạn đều nhất trí lấy Srê Thum làm nơi phát động thí điểm. Srê Thum có nghĩa là “cánh đồng lớn”. Phum Srê Thum là một làng đông dân nằm ở trung tâm tỉnh Môn-đun-ki-ri, có đủ thành phần dân tộc: Khơme, Mơ Nông, Hoa và một ít gia đình người Lào. Chủ yếu là nông dân Mơ Nông, nhưng cũng đủ các tầng lớp như người buôn bán, sĩ quan, binh lính, công chức chính phủ Hoàng gia, có thể đại diện cho các địa phương của tỉnh. Bạn quyết định thành lập đội công tác phát động quần chúng thí điểm, do đồng chí Mây - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy làm đội trưởng và đề nghị tôi làm đội phó. Tôi từ chối vai trò này và tình nguyện làm người giúp việc cho đội trưởng. Qua hơn tháng trời công tác, đồng chí Mây rất tâm đắc với công tác phát động quần chúng, luôn luôn trao đổi học hỏi kinh nghiệm và tận tụy với công việc. Nhờ công tác điều tra tốt, phân từng đối tượng để giáo dục phù hợp, quần chúng giác ngộ cách mạng, thấy rõ bạn thù, dấy lên phong trào hành động cách mạng sôi nổi, các tổ chức ủy ban dân tộc tự quản, đoàn thể cách mạng, dân quân du kích được hình thành và củng cố. Bước vào vụ mùa, đồng bào tích cực sản xuất và hăng hái tham gia đóng góp cách mạng, nhiều thanh niên xung phong tòng quân, bổ sung cho lực lượng quân giải phóng Campuchia ở phía trước, số tàn quân Lon Non còn ẩn náu và giấu súng trong nhân dân lần lượt ra trình diện và nộp cho cách mạng hơn 20 súng các loại, có cả trung liên và cối 60 ly. Đặc biệt, vấn đề đoàn kết Việt Nam - Campuchia, bạn thấy rõ hơn, ta thực tâm giúp đỡ và tôn trọng cách mạng và nhân dân bạn. Riêng đồng chí Mây - Thường vụ Tỉnh ủy trực tiếp làm đội trưởng rất mến anh em Việt Nam và coi tôi như người bạn thân. Có những lúc rảnh rỗi, bên bát trà rừng chúng tôi kể chuyện cổ tích Campuchia, Việt Nam cho nhau nghe. Tôi tâm đắc nhất là chuyện đồng chí Mây kể về “À Xay” nói dối, lừa được cả bọn chúa đất, vua quan, như truyện Trạng Quỳnh của Việt Nam. Hết chuyện cổ tích, nói chuyện gia đình, đồng chí cho biết ở Phnôm Pênh mình còn người vợ và đứa con còn nhỏ. Từ thoát ly đi tham gia cách mạng, không nhận được tin tức, không rõ gia đình như thế nào, chưa biết cuộc kháng chiến còn bao lâu. Một hôm, đồng chí tâm sự: - Những ngày cách mạng Campuchia trải qua thời kỳ đen tối, chúng tôi bị địch đánh dạt ra biên giới. Được các đồng chí Quân giải phóng miền Nam Việt Nam giúp đỡ gạo, muối, quân trang... để chúng tôi tồn tại, ơn này rất lớn, chúng tôi không quên. Người chúng tôi mang ơn nhiều nhất là anh Mười Bày... cán bộ hậu cần vùng biên giới Môn-đun-ki-ri. Nhưng khi tình hình có phát triển đột xuất, Môn-đun-ki-ri được giải phóng. Thiếu phương tiện thông tin và chưa có liên lạc của Trung ương, chúng tôi còn trông ngóng chỉ thị của trên và theo dõi tình hình, thì gặp được anh Mười Bày. Vừa thấy chúng tôi, anh Mười bảo: “Tình hình này mà các anh còn vác lá cờ Cộng sản ngồi trong rừng!”. Nghe anh nói tôi tự ái và giận thật sự. Cho rằng các đồng chí Việt Nam, ỷ quân hùng tướng mạnh coi thường mình, nên không muôn liên lạc với nhau nữa.. Tôi biết anh Mười Bày, người đồng hương với tôi, là một cán bộ hậu cần của Miền, rất xông xáo, dũng cảm, tận tụy với nhiệm vụ, nhưng tính tình bộc trực, bỗ bã. Tôi xin lỗi về lời nói vô tình chứ không phải cố ý của anh Mười Bày, đối với đồng chí Mây và các đồng chí Tỉnh ủy. Thấy thái độ đồng chí Mây vui vẻ, tôi an tâm. Tiếc là đồng chí Mây đã bị Pôn Pốt thanh trừng từ năm 1976 ... Phát động quần chúng thí điểm ở Srê Thum thắng lợi. Tỉnh ủy bạn triệu tập cuộc hội nghị cán bộ rộng rãi để đồng chí Mây phổ biến kinh nghiệm và chủ trương phát động quần chúng trong toàn tỉnh. Do mối quan hệ công tác tốt, bạn đã chỉ thị cho các huyện trong tỉnh hợp tác chặt chẽ với các ban liên lạc của Việt Nam trên địa phương mình, chủ yếu là đi sâu vào công tác phát động quần chúng. Riêng ở Tinh ủy, mối quan hệ giữa hai bên ngày càng cảm thông, gần gũi nhau hơn. Nghe chúng tôi tổ chức hội nghị kiểm điểm công tác, bạn gởi bò tặng và thơ đến chúc mừng, động viên chúng tôi. Có lần, đồng chí Xu Văn chở người bạn đời của mình đến tận cơ quan tôi, đề nghị giúp đỡ đưa vào bệnh viện của quân giải phóng điều trị. Đồng chí cho biết vợ mình là người đồng đội, đồng chí, sống chết có nhau từ thời Ít-xa-rắc đến nay, hiện đang giữ chức Hội trưởng Phụ nữ tỉnh Môn-đun-ki-ri, bị bệnh dạ dày cấp tính. Tỉnh không có khả năng điều trị, nếu chị có mệnh hệ nào thì đó là sự mất mát lớn đối với đồng chí, không có gì bù đắp được. Tôi thông cảm và chỉ thị Quân y Đoàn, lập tức tổ chức chuyển bệnh nhân đưa vào bệnh viện Đoàn 86 ở phía tây phum Lao Ca, trên đường đi Kratié. Tôi viết một lá thư chân tình gởi cho bác sĩ Lễ - Viện trưởng, đề nghị đồng chí tận tình điều trị cho chị Xu Văn và cử một y tá theo chăm sóc dọc đường. Đoàn voi chuyển chị đi rồi, đồng chí Xu Văn mắc võng nghỉ chung phòng với tôi và ở lại đêm cùng nhau tâm sự. Qua câu chuyện thân tình, đồng chí tỏ ra bất bình về một số sự kiện không hay trong quan hệ hai bên, xuất phát từ phía Campuchia. Đồng chí nói: “Campuchia hay Việt Nam, chúng ta đều là những Đảng viên Cộng sản, đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, phải có tinh thần quốc tế vô sản và quan điểm biện chứng đối với lịch sử. Bây giờ mà một số người còn đem chuyện “Tức tè ôông” ra nói, một câu chuyện trong quá khứ xa xưa, trước các triều đại phong kiến thì đâu phải là người Cộng sản”1 (Dưới sự lãnh đạo của Pôn Pốt, Đảng Cộng sản Campuchia lúc này đã bộc lộ quan điểm kỳ thị dân tộc, xuyên tạc lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia). Liên hệ với tình hình gần đây ở nơi này, nơi khác, tôi đồng tình với ý kiến của đồng chí Xu Văn. Tôi thấy ở đồng chí người đảng viên chân chính (rất tiếc là sau ngày 17 tháng 4 giải phóng Phnôm Pênh, đồng chí bị Pôn Pốt sát hại). Tôi viết thư báo cáo về Quân ủy Miền... Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Chín, 2021, 02:50:34 pm Thời gian sau, được điện của anh Mười Khang gọi tôi về R báo cáo tình hình. Vừa thấy tôi, anh Mười hỏi ngay:
- Ấm đấy phải không? - Thưa anh, phải ạ! Tôi trả lời anh và lòng đầy xúc động. Từ lần gặp ngắn ngủi ở rừng sông Tê hơn một năm trời, nay mới được gặp lại anh. Sau cái bắt tay thân mật, anh Mười Khang chỉ tôi ngồi vào ghế trước bàn làm việc. Anh bảo tôi khỏi phải báo cáo những gì mình chuẩn bị sẵn, mà kể chuyện, theo những gì anh cần biết. Thế là tôi thoải mái thuật lại cho anh nghe, từ chuyện tự lực tìm đường từ Kratié về đến Kó Nhét, chỉ một thầy một trò với tấm bản đồ trong tay, nhờ biết tiếng địa phương nên đã dựa vào đồng bào dân tộc để đi đến đích, giữa đường gặp đám tàn quân và mình đã xử sự ra sao, việc xử trí tình huống Liên đội 97 bắt giữ voi và vũ khí của bạn, buổi gặp gỡ đầu tiên với Tỉnh ủy Môn-đun-ki-ri, sự giúp đỡ tận tình của ta với bạn về xây dựng lực lượng, về phát động quần chúng xây dựng vùng giải phóng, thành lập và củng cố mặt trận, chính quyền, mối quan hệ gắn bó nhau có tính chất gia đình giữa ta và bạn, việc hằng tháng bạn tặng ta tập san “Rứ Xmay Páđếvốt” (Ánh sáng cách mạng) tiếng nói của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia, kể cả việc đồng chí Đươn - Bí thư Khu 304 gởi thư, hoan nghênh tôi có thái độ đúng đắn khi giải quyết vụ việc đồng chí Koong và đàn voi chở vũ khí của Kratié ở Môn-đun-ki-ri... Anh Mười lắng nghe suốt buổi chiều. Đến bữa, cùng ăn tối với anh và tiếp tục làm việc cho đến giờ khuya. Anh bảo: - Quan hệ giữa ta và địa phương, Ấm phụ trách giúp bạn như thế là tốt. Ngày mai, Ấm sang báo cáo trực tiếp với Trung ương Cục. Anh Bảy Hồng (tức đồng chí Phạm Hùng) - Bí thư Trung ương Cục và đồng chí Trần Nam Trung, Thường vụ Trung ương Cục muốn nghe tình hình cụ thể. Trung ương Cục ở khu rừng sâu bên kia sông Mêkông. Tôi không có quyền tò mò về địa điểm của căn cứ Trung ương Cục, chỉ biết đến đó phải vượt sông Mêkông vào ban đêm và nhất nhất đều phải chấp hành theo đúng nội quy của hành lang. Tôi theo chân đồng chí chiến sĩ giao liên từ thị trấn Chlông, ngược tả ngạn Mê Kông, tạm nghỉ ở trạm liên lạc một buổi chiều, chờ chạng vạng tối mới xuống thuyền vượt sông. Chiến sĩ chèo thuyền cho tôi vượt sông là người của trạm giao liên bên bờ hữu ngạn, đây là một nguyên tắc để đảm bảo bí mật cho “an toàn khu” ở trạm bờ sông. Ở đây, tôi gặp đồng chí Trần Thắng Minh, Trưởng ban giao bưu của R. Đồng chí cho biết, nội quy của đoạn hành lang vào căn cứ Trung ương Cục rất nghiêm ngặt và đãi tôi một gói mì Thái Lan. Hoạt động ở chiến trường rừng núi lâu ngày, lần đầu tiên được thưởng thức gói mì, ngon miệng quá. Tôi ăn xong, đồng chí Trần Thắng Minh bảo tôi ngủ sớm, để mai còn hành quân. 4 giờ sáng hôm ấy, anh em giao liên tiếp tục đưa tôi vào căn cứ văn phòng. Đến trạm trực của văn phòng đã hơn 6 giờ. Tôi ngồi chờ ở trạm, để anh em giao liên vào văn phòng báo cáo. Khoảng một giờ sau, người của văn phòng Trung ương Cục ra gặp tôi. Chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, vừa thấy tôi anh đã hỏi với vẻ mặt giận dữ: - Đồng chí là cán bộ dưới tỉnh, ai cho phép được vào căn cứ Trung ương Cục? Đồng chí có biết vấn đề bảo mật của cơ quan Trung ương Cục không? Tôi rất đỗi ngạc nhiên, không hiểu tại sao “lão” đồng chí này có thái độ kỳ quặc như vậy? Tôi tự kiềm chế và bình tĩnh đáp: - Tôi đến đây là theo lệnh của anh Bảy Hồng (Phạm Hùng) và anh Mười Khang tổ chức đưa đi. Nếu không, làm sao tôi biết đường mà vào! Đồng chí không nói gì thêm và quày quả bỏ đi. Đồng chí trưởng trạm nói với tôi, đó là anh Bảy Kiến, Chánh văn phòng Trung ương Cục. Tôi bảo: Chánh gì thì Chánh chứ sao lại có thái độ với tôi như vậy? Tôi nghĩ, cứ tức anh ách trong bụng... Một giờ sau, anh Bảy Kiến trở ra trạm trực xin lỗi tôi và mời vào cơ quan. Thái độ anh lúc này rất ân cần, chu đáo. Tôi tự hiểu sự việc xảy ra khi sáng là do anh hiểu lầm. Ngày làm việc ở Văn phòng Trung ương Cục là một ngày hạnh phúc trong cuộc đời chiến đấu của tôi. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục vẫn dành thì giờ cùng với đồng chí Trần Nam Trung - Ủy viên Thường vụ tiếp và làm việc, nghe tôi báo cáo tình hình, đặc biệt là về mối quan hệ ta, bạn ở địa phương và những gì tôi tìm hiểu được về bạn nói chung. Thái độ ân cần, khiêm tốn lắng nghe của đồng chí Bí thư và Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục đã khuyến khích tôi rất nhiều. Ngồi bên các đồng chí ấy tôi thấy gần gũi như những người anh hơn là người lãnh đạo cấp Trung ương. Nghe tôi báo cáo xong, đồng chí Phạm Hùng bảo: “Môn-đun-ki-ri là tỉnh nằm ở địa đầu con đường hành lang chiến lược của B2 nối liền với tuyến hậu cần của Bộ, mối quan hệ ta và bạn giữ được như vậy có lợi cho lâu dài về sau. Và chỉ thị cho tôi gặp và báo cụ thể thêm với Ban K1 (Ban phụ trách theo dõi tình hình công tác giúp bạn gọi tắt là Ban K) của R ... Chiều hôm đó, tôi rời cơ quan Văn phòng Trung ương Cục, theo chân chiến sĩ giao liên trở lại bờ sông, thuyền đã đợi sẵn, chờ tôi ở đó... Mặc dù về phía bạn có những biểu hiện khó hiểu trong mối quan hệ hai bên, nhưng ta vẫn giữ tinh thần đoàn kết quốc tế trước sau như một. Với phương châm “Đông Dương là một chiến trường”, cùng có chung kẻ thù là đế quốc Mỹ và quán triệt lời dạy của Bác Hồ, lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã sát cánh cùng nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia liên tục tấn công địch, đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1.1971” của Mỹ, ngụy ở Đông Bắc Campuchia, buộc chúng phải kết thúc cuộc càn Đông Dương đầy tội ác, trên hai vạn tên bị diệt, hàng trăm máy bay bị bắn rơi. Những chiến thắng oanh liệt ở Đầm Be, Vôt-thơ-mây vang dội của quân ta đã làm nức lòng nhân dân Campuchia. Vùng giải phóng Campuchia mở rộng đến tận Kông Pông Chàm, ở phía tây sông Mê Kông, được sự phối hợp và hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ của bộ đội ta với quân chủ lực bạn, đã giành chiến thắng lớn ở chiến dịch Chen La 2, đập tan lực lượng xương sống chiến tranh của bè lũ Lon Non, cách mạng Campuchia giành thế chủ động trên toàn bộ chiến trường. Để phát huy thắng lợi của quân dân ta ở đường 9 - Nam Lào và kết quả đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1.1971” của Mỹ - ngụy, đầu năm 1972, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta chủ trương: “Phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường Đông Dương, tiến lên giành thắng lợi quyết định ở chiến trường miền Nam”. Thực hiện ý đồ trên và để phối hợp với chiến trường chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở Trị Thiên. Ở B2, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch “Nguyễn Huệ” vào tháng 3 năm 1972, diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của dịch, giải phóng Lộc Ninh, bao vây An Lộc, mở rộng vùng giải phóng ở Đông Nam Bộ nối liền với vùng giải phóng của đông và đông bắc Campuchia thành một vùng hậu phương rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tiến công lớn của ta sau này. Trong bối cảnh chung nói trên, tình hình ở Môn-đun-ki-ri ngày càng đi vào chiều hướng ổn định. Lực lượng bạn đã trưởng thành đủ khả năng bảo vệ vùng giải phóng. Hệ thống lãnh đạo, chỉ huy của bạn ngày càng ổn định, hoàn chỉnh, đi vào nền nếp. Riêng về mặt quân sự, Môn-đun-ki-ri là một tỉnh giải phóng, nằm ở vùng phía sau của chiến trường Campuchia, từ sau giải phóng đến giờ địch không có hoạt động gì đáng kể, chủ yếu cho máy bay rà, do thám và thả từng toán biệt kích nhỏ thăm dò đường hành lang của ta. Tháng 1.1972, lực lượng của Đoàn Tây Sơn hạ một trực thăng Mỹ ở khu vực tỉnh lỵ cũ và tiếp đó du kích và lực lượng bạn hốt gọn 2 toán biệt kích ở Bách Chăm Đa, thì tình hình ngày càng ổn định. Thấy Môn-đun-ki-ri không cần thiết có lực lượng ta nhiều, Bộ Chỉ huy Miền quyết định điều động tiểu đoàn chủ lực của Đoàn Tây Sơn xuống bổ sung cho đồng bằng sông Cửu Long. Nhiệm vụ của Ban liên lạc giúp bạn ở đây cũng thu hẹp lại, chủ yếu giữ tốt mối quan hệ ta và bạn. Cơ quan Ban liên lạc cũng dần chuyển về hướng biên giới, nhằm phục vụ bảo đảm an toàn cho hành lang tây Trường Sơn, đi qua các huyện Bách Chăm Đa, Ô Răng và Keo Sơma. Tháng 3.1972, tôi được quyết định của Bộ chỉ huy Miền thăng cấp Trung đoàn bậc trưởng và điều động về nhận công tác Phó trưởng phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Chín, 2021, 02:12:15 pm 3. Chia tay Môn-đun-ki-ri
Tình hình khẩn trương, cả miền Nam đang chuẩn bị bước vào chiến dịch. Ở B2, tập trung cho chiến dịch “Nguyễn Huệ”. Nhận được tin khẩn của Bộ Chỉ huy Miền, tôi nhanh chóng bàn giao công việc cho đồng chí Phạm Văn Đức, vừa được quyết định làm Chính ủy Đoàn Tây Sơn thay tôi (đồng chí Thân Văn Giai - Phó Chính ủy Đoàn cũng đã được điều động về nhận công tác ở Đoàn Hậu cần 86). Ra đi nhận công tác mới ở R, tôi còn gởi lại cho các đồng chí ở Môn-đun-ki-ri hai đứa con trai yêu quý. Đứa lớn tên Phùng Đình Dũng, sinh ra ở chân núi Nam Lia vừa mới lên 5, đứa nhỏ Phùng Đình Sĩ, sinh ra ở suối Chơ-pa vừa bước vào tuổi lên 2. Vợ tôi, là dược tá độc nhất của Đoàn, được Hậu cần R chỉ định đi dự lớp dược sĩ ở Miền từ mấy tháng trước. Nay tôi lại ra đi, xa con thương đứt ruột, nhưng nhiệm vụ là trên hết, tôi không thể do dự. Đồng chí Đức và các đồng chí Ban Chỉ huy Đoàn cũng như anh chị em cơ quan Đoàn bộ động viên tôi an tâm lên đường và hứa sẽ giúp tôi săn sóc tốt các cháu. Tôi hoàn toàn tin tưởng tấm lòng tốt của các đồng chí. Các đồng chí đã cùng tôi gắn bó với nhau hai năm rưỡi, đã dành cho tôi tình cảm ưu ái sâu sắc, nhận trách nhiệm giúp chăm sóc hai con tôi với tấm lòng thật cao đẹp. Nhất là đồng chí Độ, Chính trị hiệp lý viên Đoàn bộ và cô nữ y tá Diệp Lan. Đồng chí Độ đã lớn tuổi, từ khi vợ tôi về R học, mỗi lần tôi đi công tác xa hai cháu cứ bám chặt bác Độ. Còn Diệp Lan, những ngày sống chung ở quân y Đoàn với vợ tôi, hai chị em như hình với bóng. Tôi có thể yên tâm gởi gắm con cho họ. Để tránh cú sốc cho hai cháu, tôi phải nói dối với hai con là “anh em ở nhà với bác Độ và dì Lan, ba đi công tác mấy hôm ba về”. Đứa bé không biết gì, nhưng đứa lớn thỏ thẻ bảo: “Ba đi rồi “về voi” nghe ba!”. Nghe con nói, tôi muôn rơi nước mắt, bởi vì trước đây lần nào tôi đi công tác xa về, đồng bào đều cho voi chở tôi đến tận cơ quan, cháu thấy vậy nên lần này cũng dặn tôi “về voi”, cháu có biết đâu lần này tôi đi xa các cháu lâu lắm. Nghe tin tôi đi nhận công tác khác, tôi chưa kịp chào Tỉnh ủy Bạn, đồng chí Mây, lúc này đã là Phó Bí thư Tỉnh ủy vào tận cơ quan để chia tay. Buổi tiễn đưa đầy tình cảm, đồng chí cử một tiểu đội vệ binh cùng đi bảo vệ dọc đường và cho voi cơ quan chở, tiễn tôi lên tận Kratíe. Xa Môn-đun-ki-ri tôi mang theo nhiều kỷ niệm, đã cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi và cả đắng cay. Nhất là đối với những tấm lòng thương yêu, đùm bọc của bạn và nhân dân bạn, đặc biệt là đồng bào Mơ Nông, còn đọng mãi trong tôi. Về sau này, tôi nghe anh em ở Môn-đun- ki-ri kể lại, thời gian tôi đi xa, một số cán bộ bạn và một vài gia đình đồng bào biết tôi còn để lại hai đứa con, thỉnh thoảng họ gởi cho các cháu lúc nải chuối, khi chai mật, con cá, tình cảm ấy quý giá vô cùng, tôi không thể nào quên... Chia tay với Môn-đun-ki-ri, cũng là lần thứ hai tạm biệt đất nước Chùa Tháp thân yêu! Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Chín, 2021, 02:12:08 pm IV. Hoàn thành nghĩa vụ trên đất nước Chùa Tháp (lần thứ ba) 1. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và cuộc phản công chiến lược Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng đất nước kéo dài 30 năm đã kết thúc. Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975 đại thắng, đã ghi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta một nét son ngời sáng. Cách mạng Việt Nam bước sang thời kỳ mới: thời kỳ Bắc - Nam hòa bình thống nhất, hoàn toàn độc lập tự do, nhân dân cả nước đồng thời làm hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chiến tranh đã kết thúc, nhưng hậu quả để lại rất nặng nề. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân ta ra sức khắc phục, vượt qua muôn vàn khó khăn của thời kỳ hậu chiến. Nền kinh tế vốn nghèo nàn lạc hậu, lại bị bom đạn, chất độc hóa học của Mỹ phá hoại xác xơ, muốn khôi phục và phát triển phải có thời gian và sự nỗ lực cao độ. Thế nhưng, sau ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975, nhân dân và quân đội ta phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại mới do bè lũ phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri gây nên ở biên giới Tây Nam Tổ quốc. Ngày 3.5.1975, chúng xua quân đánh chiếm đảo Phú Quốc. Ngày 7.5.1975, chúng chiếm đảo Wây và ngày 10.5.1975, chúng đánh chiếm đảo Thổ Chu của ta, mặc dù chúng phải tháo chạy khi quân ta phản công, nhưng đã gây cho nhân dân ta nhiều tổn thất về tính mạng và tài sản. Tiếp đến, chúng bất ngờ cho quân nổ súng tấn công vào các đồn biên phòng và làng mạc của nhân dân ta dọc biên giới ở Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Sông Bé, Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum gây nhiều tội ác, giết hại nhiều đồng bào ta, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em. Chúng cướp thóc lúa, tài sản, lùa bắt trâu bò, đốt phá nhà cửa, ruộng rẫy, thậm chí ngang ngược nhổ cột mốc biên giới di dời sâu vào đất ta để lấn chiếm ở nhiều nơi. Chúng ra sức xây dựng lực lượng, đưa từ 12 đến 19 sư đoàn chủ lực và địa phương áp sát biên giới, liên tục uy hiếp và tấn công đánh vào Việt Nam. Đặc biệt, ngày 25 tháng 9 năm 1977, Bộ chỉ huy tối cao của Khme đỏ (gọi là Angka 870) hạ lệnh cho lực lượng chúng đồng loạt tấn công các chốt biên phòng của ta trên biên giới thuộc ba huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (Tây Ninh). Lực lượng ta tại chỗ đã dũng cảm đánh địch, nhưng do ban đầu mất cảnh giác, bị bất ngờ nên quân và dân ta ở đây bị tổn thất tương đối nặng. Trước âm mưu đen tôi, chuyển bạn thành thù, phá hoại thành quả cách mạng của nhân dân ta đã giành được sau 30 năm chiến tranh đầy hy sinh gian khổ và tình đoàn kết hữu nghị, chung một chiến hào chống đế quốc Pháp, Mỹ xâm lược của hai dân tộc, hai nước, hai quân đội, bọn phản động Pôn Pôt - Iêng Xa-ri đã tạo cuộc chiến tranh “gặm nhấm” ở biên giới Tây Nam Tổ quốc ta, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã chỉ thị cho các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, phối hợp tác chiến với Quân đoàn 4 kiên quyết đánh trả địch, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân vùng biên giới. Nhưng sau những trận phản kích đẩy lùi địch, vi thiện chí hòa bình ta thu quân về bảo vệ biên giới. Song, ta càng thiện chí, chúng càng lấn tới, vừa ăn cướp vừa la làng, lớn tiếng rêu rao “Việt Nam xâm lược Campuchia” để đánh lừa dư luận thế giới. Trước tình hình đó, tháng 1 năm 1978, Bộ Tổng tham mưu ta ra mệnh lệnh số 04/ML, nêu rõ quan điểm của Đảng và Chính phủ ta giữ vững đường lối hòa bình về vấn đề biên giới với Campuchia. Đẩy mạnh các mặt đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình của quốc tế, tình lý rõ ràng. Ngày 5 tháng 2 năm 1978, Bộ Ngoại giao ta tuyên bố lập trường ba điểm nhằm tiến tới giải quyết vấn đề tranh chấp biên giới Campuchia - Việt Nam. Ba điểm đó là: 1. Chấm dứt mọi hoạt động quân sự thù địch ở biên giới. Lực lượng vũ trang của mỗi bên đóng sâu trong lãnh thổ của mình cách đường biên giới 5 kilômét. 2. Hai bên gặp nhau để thỏa thuận một hiệp ước hữu nghị, không xâm lược nhau và ký hiệp định về biên giới của hai nước. 3. Thỏa thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm quốc tế và giám sát quốc tế. Đáp lại thiện chí của ta, tập đoàn phản động Pôn Pốt tuyên bố: “Mâu thuẫn giữa Campuchia và Việt Nam không thể giải quyết bằng thương lượng, mà phải giải quyết bằng quân sự!". Sau đó, ngày 7 tháng 2 năm 1978, chúng xua quân đồng loạt tấn công, vượt biên giới vào bắc Tà Tum (Tây Ninh) đánh chiếm vùng ở Thiện Hưng, Thiện Phước (Bù Đốp), Tà Nốt, Tân Thanh, Phước Hòa, Lo Gò, Xóm Rẫy (Tây Ninh)... giết hại hàng ngàn đồng bào ta. Trong khi đó, ở trong nước, với chiêu bài của cái gọi là Ăngka và Campuchia dân chủ, bọn Khme đỏ thực hiện một chế độ cực kỳ phản động, phát xít hơn cả Hít-le. Chúng xây dựng ở Campuchia một xã hội quái gở: không tiền - hàng, không chợ búa, không chùa chiền, không trường học, xóa bỏ chế độ lương bổng, thủ tiêu triệt để chế độ của riêng, đuổi nhân dân ra khỏi thành phố, lùa về nông thôn. Thực hiện chính sách xáo dân, buộc nông dân rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa dồn vào các trại tập trung trá hình gọi là các “công xã”. Xóa bỏ nếp sống gia đình, vào công xã sống theo từng giới tính, độ tuổi làm cho cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Lao động khổ sai như những nô lệ, ăn không đủ no, áo không đủ mặc. Đói khát, cực nhọc không dám than vãn, ai chống lại sẽ bị chúng trừng phạt bỏ đói, phơi nắng và giết hại dã man bằng chày vồ, cán cuốc... Tức nước vỡ bờ, những đảng viên cộng sản, cán bộ chân chính và nhân dân yêu nước không đồng tình với chính sách cai trị của chúng, thì chúng thẳng tay đàn áp, thanh trừng. Hàng loạt người từng chiến đấu, vào sinh ra tử trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược để giành độc lập cho Tổ quốc Campuchia bị chúng bắt bớ, giam cầm và thủ tiêu bí mật hoặc giết công khai. Sau 3 năm, 8 tháng, 20 ngày cai trị, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã làm đất nước Campuchia đảo lộn, kiệt quệ toàn diện. Với chính sách diệt chủng, chúng đã tàn sát gần ba triệu người vô tội, đặt nhân dân Campuchia đứng trước miệng hố diệt vong... Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Chín, 2021, 02:12:46 pm Trước tình hình ấy, một số cán bộ, đảng viên cộng sản chân chính đã thoát ly khỏi hàng ngũ chúng, để tìm đường cứu nước, cứu dân và không nén được ngọn lửa căm thù đang âm ỉ khắp nơi, nhiều cuộc nổi dậy chống chế độ diệt chủng diễn ra từ Đông Bắc đến Tây Nam, mà đỉnh cao là ở Quân khu Đông, các tỉnh Kông Pông Chàm, Prây Veng, Svây Riêng đã có hàng vạn nhân dân đã chạy thoát, tỵ nạn ở Việt Nam. Tháng 6.1977, ông Hun Sen sớm nhận rõ bản chất phản động của Pôn Pốt, đã tập hợp những cán bộ ly khai Pôn Pốt và thanh niên yêu nước, xây dựng và huấn luyện những đơn vị “lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nguy dân tộc Campuchia” (Kon Cầm Lăng Prồ Đắp Avút Xamăki Xoong Krúa Chiết Campuchia) đầu tiên và cùng với các ông Hêng Xom Rin, Chia Xim, Bu Thoong, Sai Phù Thoong... những người lãnh đạo các cuộc nổi dậy chống Pôn Pốt ở Quân khu Đông, Đông Bắc, Tây Nam và các nơi, tập họp và xây dựng lại Đảng nhân dân cách mạng Campuchia để lãnh đạo phong trào nhân dân chống Pôn Pốt - Iêng Xa- ri trong nước.
Trong lúc này, tôi bị bệnh tai biến mạch máu não, sau 4 tháng điều trị, chân trái và tay trái bắt đầu hồi phục. Vốn là một cán bộ Quân tình nguyện, từ tháng 4 năm 1978, tôi được Bộ Tư lệnh Quân khu 7 giao nhiệm vụ bằng mọi cách giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước theo lời yêu cầu của Bạn. Lúc đầu là Ban K, về sau là Đoàn 778 (tương đương cấp sư đoàn). Từ phụ trách Ban K, tôi được bổ nhiệm Chính ủy Đoàn 778 giúp bạn1 (Đến tháng 12-1978, ta đã giúp bạn xây dựng được 21 tiểu đoàn (có một tiểu đoàn nữ) và 90 đội vũ trang công tác với tổng quân số trên 5.000 người. Trong chiến dịch phản công chiến lược đập tan chế độ diệt chủng của Pôn Pốt, 3 tiểu đoàn thành lập binh đoàn 1 do Nhất Huôn làm Binh đoàn trưởng phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam đánh chiếm Phnôm Pênh. Các tiểu đoàn còn lại và 90 đội công tác phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam giải phóng các tỉnh trong cả nước, giữ gìn trật tự trị an, truy quét tàn quân địch và vận động quần chúng trong công cuộc hồi sinh dân tộc). Lực lượng chính trị, vũ trang của cách mạng Campuchia nhanh chóng trưởng thành, dựa vào nguyện vọng của toàn dân Campuchia, ngày 2 tháng 12 năm 1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước do Đảng nhân dân cách mạng Campuchia (ngày nay là Đảng nhân dân Campuchia)2 (Đảng nhân dân cách mạng Khme được thành lập ngày 26.6.1954. Bị Pôn Pốt tiếm quyền lãnh đạo, 30.9.1960 chúng tôi tên là Đảng Cộng sản Campuchia, phản bội đường lối của Đảng, thực hiện chính sách diệt chủng. Nay các đảng viên chân chính phục hồi lại. (Ngày nay là Đảng nhân dân Campuchia gọi tắt là CPP)) làm nòng cốt, lãnh đạo đã thành lập và ra mắt nhân dân Campuchia tại vùng giải phóng Snuôl thuộc tỉnh Kratié. Ban chấp hành Trung ương Mặt trận do ông Hêng Xom Hin đứng đầu, ra lời tuyên bố 11 điểm, nêu rõ chương trình hành động của Mặt trận, đã hiệu triệu tinh thần nhân dân Campuchia vùng lên mạnh mẽ, đưa cách mạng Campuchia bước vào thời kỳ mới và thiết tha kêu gọi nhân dân và Chính phủ các nước, các tổ chức dân chủ yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới ủng hộ, giúp đỡ cuộc đấu tranh của nhân dân Campuchia. Giữa tháng 12 năm 1978, Ban lãnh đạo tối cao của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hêng Xom Rin, phân tích tình hình trong và ngoài nước, hạ quyết tâm chiến lược giải phóng Campuchia, nêu rõ: “Chính lúc này hơn lúc nào hết, nhân dân Campuchia căm thù Pôn Pốt cao độ, quần chúng cách mạng đã sẵn sàng đợi lệnh xuất phát của một cuộc tổng tiến công và nổi dậy, lật đổ chế độ diệt chủng của Pôn Pốt, giành lại chính quyền về tay nhân dân và một cuộc tiến công và nổi dậy như vậy được rộng rãi nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ!”. Phát huy nội lực của cách mạng Campuchia làm chính, nhưng trước kẻ thù tàn bạo với hệ thống cai trị hà khắc và có lực lượng quân sự mạnh, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia khẩn thiết kêu gọi quân đội và nhân dân Việt Nam giúp đỡ cách mạng và nhân dân Campuchia, giải phóng đất nước và dân tộc thoát khỏi thảm họa diệt chủng... Mặc dù mấy năm qua, Việt Nam chúng ta đã tự kiềm chế rất nhiều, nhưng do đầu óc cuồng chiến, ngoan cố của bè lũ Pôn Pốt, dù cố gắng đến đâu cũng không cứu vãn được hòa bình trên tuyến biên giới. Yêu cầu cơ bản và bức bách lúc bấy giờ là phải xóa bỏ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, nguyên nhân và nguồn gốc gây ra nạn diệt chủng thảm khốc đối với nhân dân Campuchia và cuộc chiến tranh xâm lược “gặm nhấm” man rợ trên biên giới Tây Nam đất nước ta. Thể theo lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước và nguyện vọng của nhân dân Campuchia, với tinh thần nhân đạo và yêu chuộng công lý, để cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, đồng thời với sứ mệnh bảo vệ tổ quốc thiêng liêng của mình. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, quân đội nhân dân Việt Nam đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tấn công quy mô lớn của Pôn Pốt hòng đánh chiếm thị xã Tây Ninh, gây cho chúng tổn thất nghiêm trọng và sau đó, cùng với các lực lượng vũ trang cách mạng của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia phát triển cuộc phản công chiến lược, thành cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xiiân 1979, phối hợp và giúp bạn đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Thời kỳ chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc thiêng liêng trên mặt trận Tây Nam đã kết thúc, chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta, đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Campuchia. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Chín, 2021, 09:18:12 pm 2. Mười năm giúp bạn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước Chùa Tháp
Ngày 7.1.1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, đến ngày 17.1.1979 tất cả các thành phô, thị xã, thị trấn trên đất nước Campuchia đã được hoàn toàn thoát khỏi chế độ diệt chủng, cả nước Campuchia được hoàn toàn giải phóng. Riêng phạm vi Quân khu 7 giúp bạn, lực lượng vũ trang cách mạng Bạn có sự phối hợp của ta đã đánh chiếm các tỉnh Svây Riêng, Prây Veng, Kông Pông Chàm, Kông Pông Thơm, Kratié, Xiêm Riệp, Bát Đom Boong. Là một cán bộ đã hai lần tham gia trong đội hình Quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn trên chiến trường Campuchia, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 quyết định điều động tôi từ Chính ủy Đoàn 778 về làm Trưởng phòng K, phục vụ cho đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) - Phó Tư lệnh Quân khu 7 ở tiền phương Quân khu giúp bạn. Qua thời gian thống trị, tập đoàn diệt chủng Pôn Pốt đã đẩy xã hội Campuchia rơi vào con đường đen tối, cực kỳ bi thảm. Nay được lực lượng cách mạng Campuchia và quân tình nguyện Việt Nam đến giải phóng, nhân dân Campuchia coi như là những ân nhân đem cho họ cuộc “cải tử hoàn sinh”. Nhiều người đã được cứu sống ngay khi sắp bị bọn đồ tể Pôn Pốt hành quyết, hoặc sắp trút hơi thở cuối cùng vì đói lả, kiệt sức. Từ các hướng, đến đâu các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam cũng được đón tiếp bằng sự vui mừng không kể xiết của nhân dân Campuchia. Ai cũng gọi đó là “đội quân nhà Phật”, từ cõi thiện xa xôi đến cứu họ khỏi họa diệt chủng và cán bộ, chiến sĩ Việt Nam rất đỗi bàng hoàng, xúc động trước sự đau khổ tột cùng của nhân dân Campuchia dưới bàn tay tàn bạo của bè lũ Pôn Pốt. Như những cánh chim sổ lồng, sống lại từ cõi chết. Từ các công xã, các tập đoàn sản xuất, thực chất là các trại giam trá hình của Pôn Pốt, nhân dân Campuchia lầm lũi dìu dắt nhau trở về quê cũ. Họ tận dụng bất cứ thứ gì có thể làm phương tiện vận chuyển, để đỡ cho đôi vai gầy guộc. Trên khắp nẻo đường đất nước, từng đoàn người tiều tụy lê bước chân đi trong đói khát, bệnh tật, thân hình héo hắt, hậu quả của những ngày lao động kiệt sức và sự kìm kẹp hà khắc của cái gọi là Ăngka. Về đến nơi chôn nhau cắt rốn, nơi mà Pôn Pốt đã buộc họ rời bỏ trước đây, nay trở thành hoang vắng điêu tàn, phải bắt đầu xây dựng lại từ hai bàn tay trắng, cực kỳ khó khăn. Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương của cấp trên “Đánh tan rã địch và cứu dân là hai việc đều cấp bách như nhau”, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chỉ thị cho các đơn vị thuộc quyền, vừa tự mình giúp lực lượng bạn cứu trợ kịp thời cho nhân dân với khẩu hiệu: “Không để một người dân Campuchia chết đói, hay ôm đau không được cứu chữa. Không để một người dân Campuchia bị tàn quân Pôn Pốt sát hại”. Các đơn vị đã tổ chức trạm cấp cứu dọc đường, nhịn bớt khẩu phần ăn để lấy gạo cứu đói cho dân, thu nhận người đau ốm, chia sẻ phần thuốc để điều trị tận tình, có những ca đẻ khó, có người không còn đi nổi phải cõng, khiêng như chăm sóc người thân của mình. Để giúp nhân dân nhanh chóng ổn định cuộc sống, bộ đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp nhân dân trên địa bàn sửa sang lại nhà cửa, cất trường học, tổ chức nơi họp chợ, vệ sinh vườn tược, vét giếng nước, tu bổ chùa chiền để nhân dân có chỗ ở, có nơi mua bán, có chỗ học hành và thờ Phật. Có người về nước đem giống lúa, hạt rau tốt của quê hương sang giúp từng gia đình, từng xóm ấp. Quân khu cho chở sang 600 tấn lương thực và hàng trăm tấn lúa giống để giúp nhân dân trên địa bàn được phân công giúp bạn vượt qua nạn đói và bước vào sản xuất vụ mùa 1979-1980. Bọn Pôn Pốt không để cho nhân dân Campuchia được sống yên vui, dựng xây lại đất nước. Chúng chỉ mới bị đánh tan, số đông chạy sang bên kia biên giới phía tây, tây bắc, một số lén lút lẩn trốn ở một số vùng rừng núi trong nội địa, âm mưu khôi phục lực lượng đánh phá cách mạng và giết hại nhân dân, hòng lật đổ chính quyền cách mạng, quay lại thống trị nhân dân Campuchia lần nữa. Quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được. Ngày 18 tháng 2 năm 1979, Hội đồng nhân dân cách mạng (sau này là Chính phủ Cộng hòa nhân dân Campuchia) được thành lập, do Chủ tịch Hêng Xom Rin đứng đầu gánh vác sứ mệnh lịch sử giao phó. Chính quyền cách mạng từ Trung ương đến cơ sở được hình thành. Nhưng hệ thống chính quyền còn non trẻ, nguy cơ chế độ Pôn Pốt trở lại là nỗi lo âu hằng ngày đang đè nặng lên tâm trí người dân Campuchia. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Hội đồng nhân dân cách mạng chính thức yêu cầu Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam ở lại, tiếp tục giúp đỡ cách mạng và nhân dân Campuchia đánh tan tàn quân địch, xây dựng lại đất nước, được nêu rõ trong hiệp ước “Hòa bình, hữu nghị và hợp tác”, giúp nhau bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được giữa 2 nước ký kết ngày 18.2.1979, do 2 vị đứng đầu 2 Nhà nước: Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Hêng Xom Rin. Đáp ứng yêu cầu đó, các đơn vị bộ đội ta tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế với tinh thần: “Giúp nhân dân nước bạn là tự mình giúp mình”, như lời Bác Hồ đã dạy, hết lòng vì nhân dân Campuchia. Một trong những yêu cầu chủ yếu trong nhiệm vụ giúp bạn có tầm quan trọng chiến lược mà Bộ Chính trị và Bộ Tư lệnh tình nguyện Việt Nam chỉ đạo và thường xuyên nhắc nhở chúng tôi là: “Giúp bạn mạnh lên về mọi mặt, đủ sức tự bảo vệ và xây dựng đất nước”. Khi lực lượng bạn đủ mạnh, có khả năng chống chế độ diệt chủng quay trở lại, thì quân tình nguyện Việt Nam rút về nước. Thực hiện theo tinh thần đó, với cương vị Trưởng phòng K, tôi đề nghị anh Năm Ngà (Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu) Tư lệnh tiền phương Quân khu 7, tổ chức giúp bạn về tinh thần, vật chất để bạn mở lớp huấn luyện, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ các đội vũ trang công tác, đội ngũ cán bộ phum, xã về vận động thực hiện ba phong trào cách mạng ở cơ sở. Đó là: Phong trào xây dựng, phát triển thực lực chính trị và lực lượng vũ trang. Phong trào đánh địch và vận động làm tan rã địch và phong trào tăng gia sản xuất, xây dựng kinh tế, cải thiện đời sống... Tư lệnh tiền phương Quân khu giao tôi trực tiếp giúp đỡ các trường chính trị, bồi dưỡng cán bộ của các tỉnh Kông Pông Chàm, Prây Veng, Svây Riêng và giúp bồi dưỡng giảng viên cho các tỉnh Kông Pông Thơm và Kratié, đồng thời từng lúc đi sâu xuống cơ sở giúp đỡ bạn và cùng bạn rút kinh nghiệm về đội công tác phát động quần chúng ở các vùng trọng điểm và vùng sâu, vùng xa như Peam Chô và Cam Chai Mia ở tỉnh Prây Veng, Rồ Mi Hét ở Svay Riêng, Đầm Be ở Kông Pông Chàm, Ba Rài, Sân Túc ở Kom Puông Thôm... Với vốn liếng tiếng Campuchia học được trong thời gian giúp bạn ở Môn-đun-ki-ri thời kỳ chống Mỹ, nay có điều kiện sống sát nhân dân tôi tích cực học tiếng và chữ Campuchia ngày càng thạo nói, viết và đọc được, nên thuận lợi cho công tác, dễ gần gũi và tiếp xúc nhân dân, đặc biệt là trong vận dụng cạ dao, tục ngữ rất có lợi trong công tác và giao tiếp. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Chín, 2021, 09:19:29 pm Tiền phương Quân khu 7 lúc đầu phụ trách giúp bạn trên địa bàn các tỉnh từ Bát Đom Boong, Xiêm Riệp giáp biên giới Thái Lan, đến các tỉnh Kông Pông Thơm, Kông Pông Chàm, Prây Veng, Svay Riêng, Kratié giáp biên giới Việt Nam. Từ tháng 4 năm 1979, Bộ Quốc phòng quyết định tách địa bàn 2 tỉnh Bát Đom Boong và Xiêm Riệp, thành lập Mặt trận 479 giúp bạn, tách các tỉnh địa bàn giúp bạn ở phía đông tổ chức tiền phương thứ 2 của Quân khu, do đồng chí Bùi Thanh Vân (Út Liêm) - Phó Tư lệnh Quân khu 7 làm Tư lệnh tiền phương thay anh Năm Ngà, sau đó đồng chí Vũ Minh Như - Phó Tư lệnh Quân khu thay.
Đến tháng 7 năm 1981, Bộ Quốc phòng chính thức quyết định thành lập Mặt trận 779, đồng chí Đặng Quang Long (Tám Quang) được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Quân khu 7 kiêm Tư lệnh Mặt trận, đồng chí Đỗ Quang Hưng - Phó Tư lệnh, Nguyễn Văn Thoạn - Phó Tư lệnh về chính trị, tôi được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh phụ trách chuyên gia giúp bạn (về sau, qua từng thời có các đồng chí Chín Tùng, Hai Vọng, Năm Nhỏ, Bảy Dũng, Út Đặng, Chín Mây, Hai Cửu, Huỳnh Văn Bê, Nguyễn Nam Hưng, Ba Minh, Nguyễn Chí Tôn nối tiếp nhau làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Hậu cần, kỹ thuật, chính trị. Riêng đồng chí Đỗ Quang Hưng thời kỳ cuối làm Tư lệnh thay đồng chí Đặng Quang Long và các đồng chí Đoàn Thành Long (Tư Diệp) - Phó Tư lệnh kiêm chuyên gia Tư lệnh khu vực 2 và đồng chí Phạm Thành Hưng - Phó Tư lệnh kiêm chuyên gia chính trị viên khu vực 2 (tức Quân khu 2 của bạn). Ở Mặt trận 779, với cương vị Phó Tư lệnh phụ trách chuyên gia, tôi đi sâu giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, hình thành các đội du kích ấp, xã, bộ đội địa phương huyện, tiểu đoàn tập trung tỉnh và Binh đoàn 4 về sau là Sư đoàn 179 chủ lực của miền Đông Campuchia (Sư đoàn 179 do các đồng chí Nguyễn Mến chuyên gia quân sự, Hà Đình Ngôn chuyên gia chính trị, Nguyễn Văn Tiến chuyên gia Hậu cần - Kỹ thuật). Đi đôi với công tác giúp bạn xây dựng lực lượng, Bộ Tư lệnh Mặt trận phân công tôi tiếp tục phụ trách nhiệm vụ giúp bạn đẩy mạnh ba phong trào cách mạng của quần chúng, đặc biệt là phát động quần chúng chống phá chủ trương, âm mưu xây dựng chính quyền hai mặt của tàn quân Pôn Pốt, chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, nơi tàn quân Pôn Pốt còn ẩn náu, lũng đoạn chính quyền cách mạng của bạn, tập trung vào việc đánh rã các nhen nhóm phản động cấu kết với tàn quân Pôn Pốt, như cùng với đồng chí Hà Mẫn, Đoàn 77031 (Phiên hiệu của các Đoàn quân sự giúp bạn ở các tỉnh: Đoàn 7701 ở Kông Pông Thơm; Đoàn 7704 ở tỉnh Bát Đom Boong; Đoàn 7705 ở tỉnh Xiêm Riệp; Đoàn 7706 ở tỉnh Prây Veng, Đoàn 7707 ở tỉnh Kratié; Đoàn 7708 ở Thành phố Phnôm Pênh) giúp bạn mở đợt truy quét và phát động quần chúng đánh rã nhóm phản động “Voi trắng ngà xanh” (Đầm ray xo, Phlúc khiêu). Cùng với Ban chỉ huy Đoàn 7702 và ủy ban Kông Pông Chàm phát động quần chúng, truy quét tiêu diệt Tiểu đoàn tàn quân Pôn Pốt nằm vùng ở Nông trường chuối Bok Kh’nor và nhen nhóm “Cô gái tóc dài” (Nek Xray sokòngvênh). Cùng với đoàn 7706 giúp Bạn đánh rã nhen nhóm phản động “Linh hồn dân tộc Khme” (Prồ lưng chiết Khme)... Đi sâu vào cơ sở, sát dân trong các đợt truy quét địch, thấy cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang Campuchia đến đâu cũng được nhân dân Campuchia yêu mến, hết lòng ủng hộ đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Tôi không thể nào quên bà mẹ Đầm Be. Trong một đợt cùng Đoàn 7702 hoạt động, phát động quần chúng truy quét địch ở Tức Chơ-riêu, tôi bị cảm nặng, mẹ đã cạo gió, nấu cháo cảm và lá xông để chăm sóc tôi như chăm sóc con của chính mình. Tôi cũng không bao giờ quên ơn của nhân dân khu vực Bok Kh’nor đã đứng giang tay chặn đường, không để xe tôi rơi vào trận địa phục kích của tàn quân Pôn Pốt, trong một chuyến công tác xuống Sư đoàn 179 đóng quân ở Chòmca Lơ. Tôi còn nhớ mùa mưa năm 1982, trong một lần về Phnôm Pênh họp gấp, nhưng tôi và một số cán bộ của Mặt trận 779 đến bờ sông Mêkông trễ chuyến phà ở bến Kông Pông Chàm. Chuyến phà đã rời bến, sông nước mênh mông, tôi bắt tay làm loa kêu, nhờ phà quay lại bến giúp chở chúng tôi qua sông để kịp chuyến công tác. Theo thông lệ, phà đã rời bến không quay trở lại, nhưng anh em công nhân và tài xế phà khi nghe tôi yêu cầu đã điều khiển phà quay lại cập bến để rước chúng tôi qua sông, trước sự đồng tình của hành khách trên phà. Chúng tôi cảm ơn mọi người. Đây là một hành động ưu ái, phá thông lệ của phà chỉ có vì cái tình đối với chiến sĩ quân tình nguyện, một ngoại lệ để lại trong lòng tôi và đồng đội kỷ niệm sâu đậm. Còn bao nhiêu câu chuyện cảm động khác, tôi không thể ghi lại hết trong trang hồi ký này. Năm 1984, một số sự kiện đáng ghi nhớ trong đời tình nguyện và chuyên gia của tôi. Ngày 7.1.1984, Bạn tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 5 năm ngày Quốc khách nước Cộng hòa nhân dân Campuchia, cũng là 5 năm ngày giải phóng Phnôm Pênh (7.1.1979-7.1.1984) đánh dấu sự kiện lịch sử của đất nước thoát khỏi thảm họa diệt chủng và hồi sinh dân tộc. Bộ Tư lệnh 719 (BTL Quân tình nguyện Việt Nam) cử tôi làm Trưởng đoàn, đồng chí Phạm Văn Trà - Phó Tư lệnh Mặt trận 979 làm Phó đoàn, phụ trách một đoàn 12 đồng chí đại biểu anh hùng và Đơn vị anh hùng Quân tình nguyện Việt Nam đi dự. Chúng tôi được các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Campuchia: Hêng Xom Rin, Chia Xin, Hun Sen... đón tiếp nồng hậu. Cũng dịp này chúng tôi được gặp Chủ tịch Trường Chinh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và Bộ trưởng Chánh văn phòng Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Việt Dũng, được chủ tịch Trường Chinh mời cơm thân mật tại nhà khách điện Chòm Ca Mon. Chủ tịch Trường Chinh biểu dương quân tình nguyện Việt Nam và chuyên gia đã hết lòng giúp bạn và dặn dò chúng tôi giữ gìn, vun đắp tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Campuchia. Tôi thay mặt đoàn và Quân tình nguyện, chuyên gia Việt Nam hứa sẽ làm đúng lời dạy của Chủ tịch. Tháng 5.1984, tôi được Bộ Tư lệnh 719 (tức Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam) cử đi dự hội nghị cán bộ toàn qucíc Campuchia của bạn về tổng kết 5 năm phát động quần chúng thực hiện 3 phong trào cách mạng ở cơ sở. Bộ Tư lệnh 719 ủy quyền tôi thay mặt Quân tình nguyện Việt Nam báo cáo trước hội nghị tình hình hoạt động và kết quả đạt được trong 5 năm cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam tham gia cùng bạn trong cuộc vận động lớn này, đã gây được ấn tượng tốt đẹp trước hơn 500 đại biểu cán bộ các cấp cả nước có mặt trong hội nghị. Tháng 8.1984, sau trận tàn quân Pôn Pốt đột kích, đốt chợ ở Bô Nhia Krek, Bộ Tư lệnh 779 phân công tôi cùng Ban Chỉ huy đoàn 7702 giúp lực lượng tỉnh Kông Pông Chàm truy quét chúng ở rừng Đầm Be - Tức Chơ-râu. Tôi bị cảm về điều trị tại bệnh viện 7A (Quân khu 7) nhận được thư của Bộ trưởng Ngoại giao Hun Sen gởi qua Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh mời gia đình tôi sang thăm Phnôm Pênh, với tư cách khách mời của Bộ Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Campuchia. Phòng đối ngoại Quân khu và Tổng Lãnh sự Campuchia giúp gia đình tôi hoàn thành chuyến đi đầy kỷ niệm này. Là những người bạn quen biết nhau từ ngày đầu xây dựng lực lượng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Hun Sen1 (Đồng chí Hun Sen lúc này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Campuchia nhưng đón tôi với tư cách Bộ Ngoại giao) cùng vợ là chị Pun Vani và vụ Lễ tân đón tiếp gia đình tôi rất thân thiết và tổ chức đưa đi tham quan, nghỉ mát ở Tôn Lê Pati một thắng cảnh của tỉnh Takeo. Đây cũng là một kỷ niệm khó quên đối với tôi và gia đình. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Chín, 2021, 09:20:18 pm Chuẩn bị bước vào mùa khô 1984-1985, tháng 10.1984 tôi được Bộ Quốc phòng điều động lên làm Phó Tư lệnh Mặt trận 479, phụ trách chuyên gia, giúp bạn xây dựng Khu vực 4 (tức Quân khu 4).
Khu vực 4 gồm địa bàn hai tỉnh Xiêm Riệp và Bát Đom Boong (về sau lập thêm tỉnh mới Bần Tia Miên Chay), là khu vực xung yếu, nằm phía bắc, tây bắc Campuchia, tiếp giáp biên giới Thái Lan. Lực lượng địch cả 3 phái phản động (Pôn Pốt, Xrây Ka, Mulinaka) đã xây dựng một loạt căn cứ dọc biên giới Campuchia - Thái Lan, làm bàn đạp đưa người và vũ khí vào nội địa và từ đây xuất phát tấn công đánh phá cách mạng Campuchia. Về phía bạn, lực lượng chủ lực cũng tập trung trên chiến trường trọng điểm này đến 4 sư đoàn. Mỗi sư đoàn phụ trách một hướng xung yếu. Sư đoàn 196 hướng PaiLin. Sư đoàn 179 hướng Poi Pet - Thmo Puốc, sư đoàn 286 hướng Ô Pốc - Ô S’Mach. Sư đoàn 6 hướng Phnum Mê Lai. Được sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam (Đoàn 719), sự hướng dẫn của Đoàn chuyên gia Quân sự Trung ương (Đoàn 478) sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Quân sự Quân khu 7, nhất là sự trực tiếp chỉ đạo của anh Năm Ngà (Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu, quyền Tư lệnh Quân khu thường xuyên có mặt ở mặt trận 479) và các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận 479 cũng như sự hết lòng giúp bạn của các đồng chí Phan Cảnh, Hồ Đình Quý, Hoàng Công Mịch, Lê Huỳnh chuyên gia Thủ trưởng Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật cùng đội ngũ các đồng chí chuyên gia các cơ quan chuyên môn và các đoàn chuyên gia các sư đoàn chủ lực, các đơn vị chuyên môn kỹ thuật, bệnh viện... nên mọi mặt dần dần đi vào nền nếp. Về sau, Bộ quyết định điều động đồng chí Trần Đối nguyên Tư lệnh Sư đoàn 5 Quân tình nguyện Việt Nam về làm Phó Tư lệnh Mặt trận 479 phụ trách chuyên gia quân sự khu vực 4, tôi đi sâu giúp bạn về mặt công tác đảng và công tác chính trị. Đoàn chuyên gia Khu vực 4, ngày càng củng cố ổn định và phát huy hiệu quả, thành một đơn vị độc lập đặt dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận 479 về mặt nội bộ và mối quan hệ phối hợp chiến đấu và xây dựng, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn của Đoàn chuyên gia quân sự Trung ương và giúp bạn thực hiện mọi mệnh lệnh, mọi chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và các cơ quan chuyên môn của các tổng cục xung quanh Bộ Quốc phòng Campuchia. Đảng ủy Đoàn chuyên gia khu vực 4 trực thuộc Đảng ủy Mặt trận 479 cũng hình thành trực tiếp lãnh đạo Đoàn, do tôi làm Bí thư. Trong công tác giúp bạn nội bộ đoàn chuyên gia rất tâm đồng ý hợp, thương yêu tôn trọng nhau, cùng nhau thực hiện “mục tiêu làm cho bạn mạnh lên”, coi đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Chúng tôi cũng rất chú ý trong quan hệ đoàn kết với bạn, cố gắng đề cao vai trò làm chủ của bạn, bảo đảm ba được: “được việc, được người, được đoàn kết” như kinh nghiệm đã rút ra trong cuộc hội nghị tổng kết 5 năm công tác giúp bạn, do Tổng Cục chính trị, Đại tướng Chu Huy Mân chủ trì đầu năm 1984. Đối với các Tư lệnh Khu vực 4: Prum Thao, Hôl Xa Von, Phó Tư lệnh Long Xô Phiếp chúng tôi luôn luôn kính trọng trong bàn bạc công tác và trong đối xử, sinh hoạt. Đối tượng chuyên gia chính của tôi là hệ thống chính trị viên và các mặt công tác đảng, công tác chính trị. Lúc đầu là chính trị viên Hom Kinh, người cán bộ quen biết nhau từ ngày ở Long Giao, nên có mối quan hệ với nhau rất tốt. Sau đợt đầu hoạt động mùa khô 1984-1985, Hom Kinh được Nhà nước Campuchia bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Campuchia, đồng chí On Sum làm chính trị viên Khu vực 4 thay Hom Kinh. Chính trị viên On Sum là cán bộ trưởng thành trong phong trào, quen biết nhau từ lúc ở Long Giao. Anh có trình độ văn hoá cấp trung học, thông minh và quả cảm. Chúng tôi đối với nhau như anh em, nói đúng hơn là như đôi bạn vong niên, gần gũi nhau như hình với bóng. Thường xuyên cùng nhau đi công tác xuống các sư đoàn, các đơn vị cơ sở để nắm tình hình, phát hiện vấn đề, giúp cấp dưới tháo gỡ khó khăn. Cùng nhau ra tận các trận địa phòng ngự ở phía trước như ở Pai Lin, cao điểm Phnum Mê Lai, Poi Pét, Ô Pốc, Ô S’Mách, leo núi Đoong Rét, đến tận hàng rào K5 tuyến phòng ngự biên giới và một số nơi ở vùng rừng núi sâu, như Băng Mêlia, núi Hồng, Phnum Cu Leng, v.v... bọn tàn quân Pôn Pốt phục kích trên đường về để đón chúng tôi, nhưng chúng tôi cảnh giác, hành quân tránh quy luật nên chúng đã đánh hụt và chúng tôi thoát hiểm. Mùa khô 1984-1985, Quân tình nguyện Mặt trận 479 phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang Khu vực 4, giành thắng lợi to lớn trên chiến trường biên giới tây và tây bắc Campuchia, phá vỡ toàn bộ thế trận mà bọn phản động ba phái đã dày công xây dựng 5, 6 năm trời. Bộ Tư lệnh 479 và Bộ Tư lệnh Khu vực 4 khẳng định đây là: “Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, làm đảo lộn mưu toan và kế hoạch của địch, dồn chúng vào thế đã suy yếu càng suy yếu hơn. Về phía ta, qua chiến dịch (mùa khô 1984-1985) bản thân lực lượng cách mạng Campuchia trưởng thành lên một bước cả về mặt tác chiến diệt địch, cả về tư tưởng, tổ chức và xây dựng nội bộ, cổ vũ động viên chuyên gia rất nhiều”1 (Báo cáo của Ban Liên lạc truyền thống Mặt trận 479 nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Mặt trận (16.4.1979-16.4.1999)). Chiến thắng và sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang Khu vực 4, đặc biệt là của các sư đoàn chủ lực coi như phần thưởng lớn đôi với chúng tôi - những chuyên gia trên chiến trường. Tháng 8.1985, tôi được Bộ Tư lệnh 719 chỉ định tham dự lễ trao tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia tổ chức tại Hoàng Cung, ở Phnôm Pênh, cùng với đồng chí Mai Xuân Tần - Trưởng đoàn chuyên gia Quân sự Trung ương và một số chuyên gia các ngành Công an, kinh tế, Việt Nam giúp bạn. Được chủ tịch Hêng Xom Rin gắn lên ngực tấm Huân chương cao quý, lòng tôi vô cùng phấn khởi, tự hào...1 (Đây là lễ gắn Huân chương trong phạm vi hẹp ở Trung ương. Sau đó, tổ chức trao tặng hàng loạt cho Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam ở các mặt trận và các tỉnh). Tháng 12.1985, tôi được Nhà nước ta quyết định thăng quân hàm Thiếu tướng, cùng một lúc với đồng chí Trần Đối, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chuyên gia Tư lệnh Khu vực 4. Đó là sự đánh giá và ghi nhận đối với quá trình phục vụ trong quân đội nhân dân của chúng tôi. Tôi có ngờ đâu, một chú bé mồ côi, nghèo khổ, bơ vơ giữa dòng đời trong xã hội cũ, đi theo cách mạng, theo Đảng, làm người chiến sĩ “Bộ đội Cụ Hồ” và đội quân tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng nay trở thành một tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Tại hội trường của đơn vị không quân ở Tân Sơn Nhất, Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng gắn quân hàm Thiếu tướng lên quân phục của tôi, lòng tôi trào dâng niềm vui khó tả. Trong giờ phút tràn đầy vinh dự này, lòng tôi càng biết ơn cách mạng, ơn Đảng, nhân dân và quân đội đã qua 40 năm (1945-1985) rèn luyện, giáo dục và nuôi dưỡng tôi trưởng thành trong khói lửa chiến tranh và hồi tưởng lại, nhớ mãi công sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha từ thuở ấu thơ và sự nuôi nấng, cưu mang của hai bên nội ngoại, giúp tôi vượt qua những ngày côi cút, bần hàn để lớn lên và được như ngày hôm nay. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Chín, 2021, 07:56:29 pm 3. Từng bước Quân tình nguyện rút quân về nước
Cuối năm 1987, tình hình có những chuyển biến mới. Các đồng chí Lê Đức Anh và Đoàn Khuê, Tư lệnh, Phó Tư lệnh Mặt trận 719 (Tình nguyện quân Việt Nam ở Campuchia) lần lượt về Hà Nội làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng Quân đợi nhân dân Việt Nam, đồng chí Lê Ngọc Hiền thay làm Tư lệnh Mặt trận 719. Tôi được Bộ Quốc phòng điều động về Phnôm Pênh làm nhiệm vụ phái viên của Bộ bên cạnh Bộ Tư lệnh 719, dưới sự lãnh đạo của các đồng chí Lê Ngọc Hiền - Tư lệnh 719, Lê Hai - Phó Chính ủy Mặt trận 719 và Lê Khả Phiêu - Chủ nhiệm Chính trị. Trách nhiệm chủ yếu của tôi lúc này là giữ vững mối quan hệ giữa ta và bạn ở cấp Trung ương trong bối cảnh đang diễn ra các cuộc đàm phán tìm giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia, giữa Nhà nước Cộng hòa nhân dân Campuchia do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Hun Sen dẫn đầu với nhà vua Xihanúc và đại diện 3 phái đối phương (Pôn Pốt, Srây Ka, Mulinaka) đang mở ra ở Paris (và sau đó lần lượt ở Inđônêxia, Páttaya (Thái Lan)... Tháng 5.1988, Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam (Mặt trận 719) rút về nước, tôi được Bộ Quốc phòng trao quyết định giữ chức Đoàn trưởng Đoàn K88 cùng với các thành viên Ban lãnh đạo Đoàn là các đồng chí: Thiếu tướng Lê Văn Trân, Thiếu tướng Trần Ngọc Khuê, Đại tá Võ Ngọc Thức (về sau được phong Thiếu tướng), Thiếu tướng Lưu Dương và một số trợ lý: Đại tá Phùng Lộc (vận động quần chúng), Đại tá Phùng Kể (tác chiến), Đại tá Nguyễn Văn Dũng (tổ chức động viên), Đại tá Nguyễn Quang Dung (chính trị) cùng một số chuyên môn phục vụ gọn nhẹ, tiếp tục ở lại giúp bạn cho đến khi lực lượng chính trị, vũ trang Campuchia đủ sức đảm đương nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, chống bọn Pôn Pôt diệt chủng quay trở lại, Quân tình nguyện Việt Nam rút hết quân về nước. Và, cái ngày ấy đã đến. Tháng 9.1989, tất cả Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam ở các Mặt trận 479, 579, 779, 979 và ở Phnôm Pênh rút hết về nước. Sau 10 năm liên minh chiến đấu, Quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế, giúp bạn chống bọn diệt chủng, hồi sinh đất nước và bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, đã để lại trong lòng nhân dân Campuchia biết bao tình cảm sâu đậm. Tôi đã trực tiếp chứng kiến nhiều hình ảnh tốt đẹp của mối tình đoàn kết Campuchia - Việt Nam trong giờ phút chia tay. Tại các buổi lễ ở các địa phương tiễn đưa quân tình nguyện lên đường về nước, nhiều bậc cha, mẹ, anh, chị và các cô em gái sụt sùi khóc và không rời tay, nắm chặt tay. Những lời chúc tụng đẹp đẽ nhất, những ánh mắt yêu thương, những cái bắt tay lưu luyến bịn rịn, những quả dừa tươi, những khúc mía ngọt ngào, những chiếc bánh “Num On Sum” thơm ngát đầy tình nghĩa, những chiếc khăn rằn “cà ma”, gởi theo đoàn quân Việt Nam trên đường về nước, kể sao cho hết niềm xúc động sâu xa của cái tình kẻ ở, người đi. Tại Quảng trường Hoàng Cung, ngày 26.9.1989, Đảng, Chính phủ và nhân dân Cộng hòa nhân dân Campuchia tổ chức trọng thể lễ tiễn Quân tình nguyện Việt Nam. Trong lời phát biểu của mình, chủ tịch Hêng Xom Rin đã nói: “Hình ảnh hy sinh, chịu đựng gian khổ, tận tình của Quân tình nguyện Việt Nam cho đất nước Campuchia rất lớn lao, vô tư, trong sáng và hiệu quả. Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Campuchia vô cùng biết ơn và khắc sâu vào tâm khảm mỗi người dân Campuchia, không thể nào quên!...”. Trên khán đài, các nhà lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Mặt trận bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Campuchia âu yếm chào đoàn quân tình nguyện Việt Nam hùng dũng, oai nghiêm đi qua trên con đường, giữa rừng cờ hoa rực rỡ cùng với những bàn tay vẫy trìu mến, những dòng lệ nghẹn ngào và hàng vạn tiếng hô khẩu hiệu: “Campuchia - Việt Nam đoàn kết muôn năm!”, “Tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia đời đời bền vững!” vang lên từ Quảng trường Hoàng Cung đến khắp nẻo đường thành phố Phnôm Pênh, kéo dài đến tận Nek Lương và cửa khẩu Mộc Bài, biên giới Việt Nam - Campuchia. Ngày 27.9.1989, người chiến sĩ cuối cùng của Quân tình nguyện Việt Nam đi qua cửa khẩu Mộc Bài, đánh dấu ngày lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang trên đất nước Campuchia. Tại cửa khẩu Mộc Bài đông đảo đại biểu, bộ đội và nhân dân Việt Nam ở các cơ quan Trung ương và tỉnh Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh cờ hoa nồng nhiệt đón chào đoàn quân hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về trong không khí tưng bừng đầy trân trọng, tự hào... Do yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ, tôi được cấp trên quyết định giao làm “Tham tán Quân sự” của Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia. Ngày 29.9.1989, tại dinh Thống Nhất ở Trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, cùng một số đồng chí tôi vinh dự đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất của Nhà nước ta trao tặng, khẳng định sự đóng góp của tôi trên chặng đường dài trong hàng ngũ Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia1 (Trên chiến trường Campuchia, với nhiệm vụ giúp bạn tôi được Nhà nước và quân đội tặng thưởng: 1 Huân chương Quân công hạng nhất, 1 Huân chương Quân công hạng ba và 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì). Khi đồng chí Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công gắn Huân chương Quân công hạng Nhất lên ngực, lòng tôi rưng rưng cảm động, vô cùng biết ơn Đảng, Nhà nước và Quân đội đã trao tặng tôi phần thưởng cao quý này. Tháng 4.1991, Đảng ủy Quân sự Trung ương chỉ định tôi làm đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quân. Tại Đại hội này tôi được đắc cử đại biểu chính thức đi dự Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, khai mạc vào tháng 6 năm 1991 tại Hà Nội. Sau 44 năm được đứng trong hàng ngũ của Đảng, lần đầu tiên được tham gia Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc, tôi thực sự xức động. Vinh dự này lớn quá và nhiệm vụ cũng hết sức nặng nề. Suốt 4 ngày đại hội với trách nhiệm của Đảng bộ toàn quân giao cho, tôi tập trung tư tưởng, tích cực đóng góp ý kiến đối với các văn kiện của đại hội và bầu cử người tin cậy vào Ban chấp hành Trung ương khóa VII, lòng đầy tự hào đã đóng góp phần nhỏ vào thành công của Đại hội. Từ diễn đàn Đại hội, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Ủy viên Chủ tịch đoàn Đại hội thông báo kết quả cuộc đàm phán về vấn đề Campuchia ở Páttaya (Thái Lan) đạt được thỏa thuận giữa các bên và đi đến ký tắt một hiệp định về một giải pháp chính trị và ngưng bắn. Đại hội kết thúc, đồng chí Lê Đức Anh chỉ thị tôi về gấp Phnôm Pênh làm nhiệm vụ “tham tán” với Đại sứ Ngô Điền. Đầu tháng 10.1991, tôi hoàn thành, nhiệm vụ Tham tán Quân sự ở Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia, lên đường về nước, kết thúc thời gian 13 năm làm nhiệm vụ giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và làm nghĩa vụ Quân tình nguyện và chuyên gia trên đất nước Campuchia. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Chín, 2021, 07:57:19 pm 4. Tạm biệt đất nước Chùa Tháp (lần thứ ba)
9 giờ, ngày 10.8.1991, rời sân bay Pô-chen-tông trên chiếc máy bay Mi-8, tôi tạm biệt đất nước Chùa Tháp anh hùng và thân yêu, tạm biệt những người bạn chiến đấu của quân đội cách mạng Campuchia, từng chung một chiến hào kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược và chống Pôn Pốt diệt chủng, tạm biệt nhân dân Campuchia giàu lòng nhân ái, trọng đạo, mến khách từng trải qua bao đọa đầy, đau thương dưới ách thống trị của bọn diệt chủng, đang nỗ lực dựng xây lại cuộc sống, khắc phục hậu quả do chế độ cai trị của bè lũ Pôn Pốt để lại. Từ đây, tiếng sóng dạt dào của Biển Hồ (Tôn Lê Sáp), của dòng sông Mêkông, những vũ điệu Rom-vông và tiếng hát à-day trữ tình, những ánh mắt nụ cười ngọt ngào của các cô thiếu nữ, những ống nước thốt nốt đặc sản, say đắm lòng người... Tất cả, tất cả đã đi vào dĩ vãng. Và, ngồi trên máy bay nhìn xuống, thành phố Phnôm Pênh kiên cường và tươi đẹp, dòng sông Mêkông như dải lụa thiên thanh, những cánh đồng bạt ngàn, những rặng cây thốt nốt sừng sững, thẳng đứng biểu tượng của đất nước Chùa Tháp. Tất cả cũng lùi về phía sau. Nhưng cũng tất cả, mãi mãi đi sâu và ký ức của tôi những kỷ niệm khó quên và lòng tôi đặt một niềm tin tưởng lớn vào một tương lai của đất nước Chùa Tháp, rồi đây trong cuộc đấu tranh mới cho một nền hoà bình, độc lập, trung lập và hòa hợp dân tộc, đất nước và nhân dân Campuchia vững bước đi lên. Tình đoàn kết Việt Nam - Campuchia đời đời bền vững và không ngừng phát triển. Nhìn lại cuộc đời 50 năm trong quân ngũ, hơn 1/3 thời gian gắn bó với đất nước Chùa Tháp, một đất nước huyền thoại với nền văn hóa Ảngkor, rất mực anh hùng nhưng cũng lắm đau thương bi tráng, cùng chung lưng đấu cật với nhân dân Khơme kháng chiến chống thực dân Pháp, xâm lược Mỹ và Pôn Pốt diệt chủng, làm nghĩa vụ quốc tế vô tư, trong sáng của Đảng giao, coi Campuchia như quê hương thứ hai của mình. Mặc dù ngày nay, nghĩa vụ quốc tế đã hoàn thành, trở về với cuộc sông đời thường, tuy tuổi cao, sức yếu, nhưng những gì đã và đang diễn ra và phát triển trên đất nước Chùa Tháp anh em trong công cuộc bảo vệ và kiến thiết xây dựng đất nước, vẫn gắn bó trong tâm tư tình cảm của tôi. Năm 2005, nhận được giấy mời của Phó Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Vũ Khoan, vợ chồng tôi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội dự bữa cơm thân mật chào mừng Hun Sen - Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia thăm chính thức nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 11 tháng 10 năm 2005 tại khách sạn Melia. Lâu ngày được gặp lại Thủ tướng Hun Sen, người đồng chí, người bạn, người anh em kết nghĩa, chúng tôi tay bắt mặt mừng và ôm hôn nhau thắm thiết. Tan bữa cơm thân mật, trong phòng riêng, sau câu chuyện tình cảm, Thủ tướng Hun Sen đã thông báo cho chúng tôi những gì Đảng nhân dân và Chính phủ Hoàng gia Campuchia đã giành được trong sự nghiệp bảo yệ và xây dựng đất nước. Chúng tôi rất đỗi vui mừng khi được biết tuy còn nhiều khó khăn, phức tạp nhưng có Đảng nhân dân làm nòng cốt và lãnh đạo, tôi càng khẳng định lòng tin của mình ở một tương lai sán lạn của đất nước Chùa Tháp, nơi tôi đã ba lần gắn bó trong cuộc đời Tình nguyện quân năm xưa của mình. Thành phố Hồ Chí Minh 2007 Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Chín, 2021, 07:59:51 pm Phút chia tay của hai ngưởi lính (Kỷ niệm ngày Quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, rút quân về nước) Giữa đường phố Phnôm Pênh Hai người lính hôn nhau Hai chiếc mũ trên đầu Một ngôi sao lấp lánh Năm tháp vàng lung linh Họ ôm như đôi bạn tình Miệng chẳng nên lời chỉ rơi nước mắt Đôi quả tim thổn thức Bốn cánh tay ghì chặt Không muốn rời nhau Hai người lính chung một chiến hào Tự thưở Phnôm Pênh: "thành phố chết" Vừa thoát khỏi vòng tay Pôn Pốt Lũ diệt chủng, sát nhân Đón tiếp ngày Tổ quốc hồi sinh Hôm nay giữa thành phố Phnôm Pênh Rực rỡ cờ hoa Không khí hòa bình Họ lại chia tay... Nghẹn ngào trong giây phút lặng thinh Lòng muốn nói với nhau nhiều điều tha thiết Họ không muốn nói lời tạm biệt Tình quốc tế vẫn keo sơn thắm đậm tình người... Phnôm Pênh, 26.9.1989 Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Chín, 2021, 08:00:25 pm PHỤ LỤC TUYÊN BỐ CỦA MẶT TRẬN ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỨU NƯỚC CAMPUCHIA (Nguồn: Báo Nhân dân số 8945, ra ngày thứ hai, 4.12.1978, tr.1-4. Tạp chí Cộng sản số 12, ra tháng 12 năm 1978) Thưa toàn thể đồng bào kính mến! Thưa toàn thề anh, chị em cán bộ và nam, nữ chiến sĩ thân mến! Thưa toàn thể anh, chị em kiều bào ở nước ngoài thân mến! Suốt cả quá trình lâu dài dưới ách chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến, biết bao đồng bào, cán bộ và chiến sĩ ta đã phát huy truyền thống oanh liệt của cha ông, không quản gian khổ hy sinh, liên tục chiến đấu vô cùng anh dũng chống thực dân Pháp, rồi đế quốc Mỹ để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, làm rạng rỡ non sông Ăngko huy hoàng. Đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tinh thần tự lập, tự cường và được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhân dân ta đã chiến thắng vẻ vang, giành thắng lợi vĩ đại ngày 17 tháng 4 năm 1975, giải phóng hoàn toàn đất nước, mở ra cho dân tộc Campuchia một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Lẽ ra sau khi nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hưởng hòa bình, đem hết tinh thần và lực lượng cùng nhau xây dựng lại đất nước, đoàn kết hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các nước yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do ở đông nam châu Á và trên thế giới. Nhưng hơn ba năm qua, sự thật đã diễn ra hoàn toàn ngược lại. Một chế độ độc tài quân phiệt, tàn bạo có một không hai trong lịch sử, được dựng lên ở Campuchia. Tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri nắm toàn bộ quyền hành vào tay gia đình chúng, đi theo con đường phản nước, hại dân, gây ra biết bao đau thương, tang tóc cho đồng bào, đẩy dân tộc ta vào nguy cơ diệt chủng. Những hành động phản trắc, bạo ngược của tập đoàn này được các nhà cầm quyền Trung Quốc ra sức khuyến khích và tiếp tay. Chỉ trong vài ba ngày sau giải phóng, dưới chiêu bài “cách mạng xã hội toàn diện, triệt để”, “Làm trong sạch xã hội”, chúng xóa bỏ thành thị, cưỡng bước hàng triệu nhân dân thành phố, thị xã phải bỏ nhà cửa, tài sản đi về nông thôn sống trong cảnh cơ cực và chết dần, chết mòn dưới chế độ lao động khổ sai. Bọn chúng cắt đứt mọi tình cảm thiêng liêng đối với bố mẹ, anh em, vợ chồng và họ hàng, láng giềng, trên thực tế chúng xóa bỏ làng mạc, là nơi gắn liền tình cảm và nơi sinh sống từ nghìn xưa của nhân dân ta. Chúng đề ra các chính sách “Hợp tác xã tập thể”, “ăn chung, ở chung”, “xóa bỏ tiền tệ, chợ búa”, thực chất là giam hãm đồng bào ta trong những trại tập trung trá hình, tước đoạt toàn bộ phương tiện sản xuất và sinh hoạt, bắt nhân dân ta lao động quá sức, ăn đói, mặc rách, làm cho mọi tầng lớp phải bần cùng và biến thành nô lệ. Chúng còn đề ra chính sách phân loại nhân dân để chúng dễ kìm kẹp sai khiến và chém giết lẫn nhau. Tội ác của bọn đại gian, đại ác Pôn Pốt - Iêng Xa- ri thật không sao kể xiết! Nhân dân ta ở khắp nơi đều chứng kiến cảnh chúng giết người còn tàn bạo, dã man hơn dưới thời Trung cổ, hơn cả bọn phát xít Hít-le. Chúng từng tuyên bố rằng dù có phải hy sinh cả triệu dân để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu của chúng thì chúng cũng cứ làm. Nhiều nơi chúng giết sạch cả làng, cả xã, từ em bé đang nằm trong bụng mẹ, bọn chúng cũng không tha. Thậm chí chúng định giết sạch khoảng trên một triệu bảy mươi vạn dân miền Đông. Trước tình hình ấy, hàng trăm nghìn người đã nổi dậy chống lại chúng, hàng vạn người vì tính mạng bị đe dọa đã buộc phải xa rời Tổ quốc, lánh nạn ở nước ngoài - người còn sống sót ở trong nước thì ngày đêm nơm nớp lo âu, khác nào cá nằm trong giỏ, không biết lúc nào đến lượt mình bị giết hại. Tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã cướp quyền lãnh đạo của Đảng, quên hết công lao của nhân dân cách mạng dã nuôi dưỡng, che chở cho chúng. Đến lúc chúng nắm được quyền bính cao nhất trong tay thì chúng trả ơn nhân dân bằng chém giết, nhục hình! Chúng đã phản bội đồng bào, đồng chí của chúng. Biết bao cán bộ, đảng viên, những người cách mạng và yêu nước chân chính, biết bao cán bộ và chiến sĩ trong lực lượng vũ trang đã có công giải phóng đất nước, một mực trung thành với Tổ quốc, chỉ vì không tán thành đường lối phản động và chính sách tàn bạo của chúng mà bị giết hại hàng loạt ở khắp các cấp, các nơi. Chúng còn chà đạp lên mọi truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân ta, phá hoại nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta. Chúng không cho tự do tín ngưỡng, chúng tổ chức các cuộc cưỡng bức hôn nhân tập thể, chúng gây ra biết bao cảnh gia đình tan nát, phong hóa suy đồi. Chúng đã phá tan hệ thống chùa chiền của đạo Phật, nền quốc đạo lâu đời của nhân dân Campuchia, cưỡng bức sư sãi hồi tục. Chúng diệt cả đạo Hồi đi đôi với diệt dân tộc Chămpa. Chúng đã xóa bỏ gần hết các nhà trường từ cấp tiểu học đến đại học, bắt tất cả thiếu niên 13, 14 tuổi không được học hành, phải đi lính phục vụ lợi ích của chúng. Chế độ tập đoàn Pôn Pôt - Iêng Xa-ri là chế độ nô lệ kiểu mới, tuyệt nhiên không có một chút gì là xã hội chủ nghĩa! Để che giấu tội ác tày trời của chúng đối với nhân dân ta và đánh lạc hướng dư luận trong, ngoài nước, để phục vụ mục đích đen tối là xây dựng một chế độ độc tài quân phiệt tàn bạo sẵn sàng chém giết những ai không tuân theo lệnh của chúng, đồng thời phục vụ ý đồ chiến lược bành trướng nước lớn của nhà cầm quyền Trung Quốc, chúng đã gây ra chiến tranh biên giới với Việt Nam, biến bạn thành thù. Chúng đã làm cho bộ đội cách mạng của ta thành công cụ đàn áp phong trào nổi dậy của nhân dân. Thưa toàn thể đồng bào kính mến! Thưa toàn thể anh, chị em cán bộ và nam, nữ chiến sĩ thân mến! Thưa toàn thể anh, chị em kiều bào ở nước ngoài thân mến! Bọn phản bội và bạo ngược Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã nhuộm đất nước Campuchia bằng máu và nước mắt! Sục sôi căm thù trước những hành động dã man, vô nhân đạo và chính sách phản nước, hại dân đó, những lực lượng cách mạng yêu nước chân chính đã cùng với nhân dân trong cả nước đứng lên đấu tranh quyết liệt đánh đổ bọn chúng, cứu nước, cứu nòi khỏi ách nô lệ và họa diệt vong. Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã thành lập, trịnh trọng tuyên bố: Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia được xây dựng trên tinh thần độc lập chân chính của nhân dân Campuchia, đoàn kết tất cả các dân tộc trong nước, tập hợp mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng tôn giáo, gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, sư sãi, những người yêu nước còn ở trong hàng ngũ của bọn cầm quyền hiện nay và kiều bào đang sống ở nước ngoài, già trẻ, gái trai trên dưới một lòng thi hành nhiệm vụ cách mạng trước mắt của nhân dân Campuchia là: đoàn kết toàn dân, nổi dậy đánh đổ tập đoàn phản động gia đình trị Pôn Pôt - Iêng Xa-ri, bè lũ độc tài quân phiệt trong nước làm tay sai cho lực lượng phản động nước ngoài; xóa bỏ chế độ tàn ác đẫm máu của chúng, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân, phát huy truyền thống Ăngko, làm cho nước Campuchia thật sự là một nước hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập, không liên kết và tiến lên chủ nghĩa xã hội, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung cho hòa bình và ổn định ở khu vực đông nam châu Á. Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Chín, 2021, 08:01:46 pm Để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử trên đây, Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia chủ trương.
1. Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đánh đổ chế độ độc tài, quân phiệt, gia đình trị của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri. Giải tán Viện đại biểu nhân dân do Pôn Pốt - Iêng Xa-ri nặn ra. Tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội; tổ chức lại chính quyền dân chủ nhân dân các cấp; thảo ra Hiến pháp mới nhằm bảo đảm các quyền bình đẳng, tự do, dân chủ thực sự của nhân dân và định ra những pháp luật của một Nhà nước độc lập, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội. 2. Xây dựng các đoàn thể quần chúng cách mạng Campuchia, thành viên của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, để tập hợp các giới đồng bào, làm cho họ nhận rõ bộ mặt phản nước, hại dân của tập đoàn phản động Pôn Pôt - Iêng Xa-ri, từ bỏ mọi tổ chức, đoàn thể do bọn chúng lập ra, tích cực tham gia vào Hội thanh niên cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Nghiệp đoàn cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc và Hội trí thức cứu quốc nhằm đánh đổ tập đoàn phản động gia đình trị Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, đưa lại quyền làm chủ đất nước thật sự cho mọi tầng lớp nhân dân. 3. Xây dựng và phát triển quân đội cách mạng Campuchia, cùng nhân dân đập tan chính quyền phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tăng cường bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Campuchia. 4. Thực hiện các quyền tự do dân chủ thật sự và tôn trọng nhân phẩm của nhân dân. Mọi người dân Campuchia có quyền trở về quê quán của mình, xây dựng lại đời sống gia đình hạnh phúc. Toàn thể nhân dân Campuchia có quyền tự do cư trú và đi lại trong nước, có quyền ứng cử, bầu cử, quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, quyền lao động, nghỉ ngơi và học hành. Bảo đảm quyền tự do thân thể của mỗi người dân. Mọi dân tộc trong cộng đồng xã hội Campuchia có quyền tự do, bình đẳng, có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau. 5. Thực hành chính sách kinh tế độc lập, tự chủ theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội tốt đẹp và thật sự. Xây dựng lại đất nước bị chiến tranh tàn phá. Khôi phục nền kinh tế quốc dân bị bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xa-ri làm suy sụp. Nền kinh tế mới là một nền kinh tế phục vụ lợi ích nhân dân trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp; đó là một nền kinh tế vừa có kế hoạch, vừa có thị trường, thích hợp với nhu cầu tiến lên của xã hội. Xóa bỏ chế độ cưỡng bức “làm chung, ăn chung”, xóa bỏ chính sách vơ vét lúa gạo, tài sản của nhân dân của bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri. Giúp đỡ và khuyến khích các hình thức tương trợ, hợp tác trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, tự giác của nông dân nhằm đẩy mạnh sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân. Thành lập ngân hàng, phát hành tiền tệ, khôi phục và phát triển lưu thông hàng hóa. Mở rộng buôn bán trong nước và tăng cường quan hệ kinh tế với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Xóa bỏ chế độ cưỡng bức lao động làm kiệt sức người của bọn Pôn Pôt - Iêng Xa-ri. Thực hiện chế độ ngày làm tám giờ và trả lương theo nguyên tắc hưởng thụ theo lao động. 6. Xóa bỏ chế độ hôn nhân cưỡng bức, thực hiện chế độ tự do kết hôn, phục hồi đời sống hạnh phúc của mỗi gia đình. Thực hiện nam nữ bình đẳng. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ nữ được học tập văn hóa, trau dồi nghề nghiệp của mình để phục vụ xã hội như nam giới. Chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Chăm sóc người già, người tàn tật và trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Chú trọng bảo vệ quyền lợi chính đáng của kiều bào ở nước ngoài. Có chính sách đúng đắn với ngoại kiều ở Campuchia. 7. Xóa bỏ mọi văn hóa phản động của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri. Xây dựng nền văn hóa mới có tính dân tộc và nhân dân. Xóa bỏ nạn mù chữ - phát triển giáo dục quốc dân, xây dựng các trường phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp. Trọng dụng các nhà khoa học, kỹ thuật, văn hóa và nghệ thuật. Giữ gìn và tu bổ di tích lịch sử, chùa chiền, công viên bị bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri hủy hoại. 8. Hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi cho sĩ quan, binh lính trong lực lượng vũ trang, cho cán bộ, nhân viên trong bộ máy chính quyền phản động trở về với nhân dân, chống lại tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri để cứu nước, cứu nhà. Nghiêm trị những tên đầu sỏ phản động ngoan cố chống lại nhân dân và có nhiều nợ máu với nhân dân. Khoan hồng với những người thật thà hối cải. Khen thưởng thích đáng những người lập công với cách mạng. Đối xử nhân đạo với những người trong hàng ngũ chính quyền và lực lượng vũ trang của Pôn Pốt - Iêng Xa-ri bị bắt trong chiến đấu và giúp họ trở thành những người lương thiện, những người có ích cho xã hội. 9. Thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị và không liên kết với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. 10. Giải quyết mọi vấn đề tranh chấp với các nước láng giềng bằng thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Chấm dứt cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam do bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri gây ra. Lập lại quan hệ hữu nghị, hợp tác và láng giềng tốt với các nước đông nam châu Á, góp phần xây dựng một khu vực đông nam châu Á hòa bình, độc lập, tự do, trung lập, ổn định và phồn bình. Campuchia không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào và không cho phép bất cứ nước nào lập căn cứ quân sự và đưa các loại thiết bị quân sự vào lãnh thổ Campuchia. 11. Tăng cường đoàn kết với các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thê giới. Kiên quyết ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Thưa toàn thể đồng bào kính mến! Thưa toàn thể anh, chị em cán bộ và nam, nữ chiến sĩ thân mến! Thưa toàn thể anh, chị em kiều bào ở nước ngoài thân mến! Dân tộc ta đang đứng trước nguy cơ bị diệt chủng! Tổ quốc ta đang lâm nguy! Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia kêu gọi: Toàn thể đồng bào, mọi dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân, kiều bào ở nước ngoài, già trẻ, gái trai, không phân biệt xu hướng chính trị, tôn giáo, hãy xiết chặt hàng ngũ dưới ngọn cờ của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, đồng tâm nhất trí nổi dậy đánh đổ chế độ độc tài quân phiệt, diệt chủng do tập đoàn gia đình trị Pôn Pốt - Iêng Xa-ri khát máu cầm đầu. Đó là con đường duy nhất để cứu dân, cứu nước và tự cứu mình. Chỉ có như vậy mới đem lại hòa bình, độc lập thật sự cho đất nước, tự do, dân chủ thật sự và hạnh phúc cho nhân dân ta. Anh chị em cán bộ, nhân viên, chiến sĩ đang bị o ép trong bộ máy chính quyền và quân đội của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri hãy nổi dậy chống lại mọi chủ trương, chính sách phản dân, hại nước của chúng, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân; hãy đứng dậy diệt bọn chỉ huy ác ôn, chuyển thành lực lượng vũ trang cách mạng chân chính của nhân dân! Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia thiết tha kêu gọi nhân dân và Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức dân chủ thế giới đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội hãy tích cực ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân chúng tôi. Chế độ thống trị của tập đoàn phản động Pôn Pôt - Iêng Xa-ri vô cùng dã man tàn bạo, nhưng đã lung lay đến tận gốc, không tránh khỏi sẽ sụp đổ hoàn toàn. Trong thời đại ngày nay, không một thế lực phản động quốc tế nào dù hung hãn, xảo quyệt đến mấy cũng không tiêu diệt nổi nhân dân Campuchia anh hùng. Lực lượng cách mạng chân chính Campuchia dù phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ nhưng có đường lối cách mạng đúng đắn, có mục tiêu chiến đấu chính nghĩa, phù hợp với nguyện vọng thiêng liêng của dân tộc và với trào lưu lịch sử, có khối đoàn kết toàn dân vững chắc, lại được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình công lý và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang. Thời cơ cách mạng đã đến! Đồng bào, anh, chị em cán bộ và nam, nữ chiến sĩ hãy đoàn kết anh dũng tiến lên! Kiên quyết đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pôt - Iêng Xa-ri! Nhân dân ta nhất định thực hiện được một nước Campuchia hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập, không liên kết và tiến lên chủ nghĩa xã hội! Cách mạng Campuchia nhất định thắng! Tiêu đề: Ba lần gắn bó với đất nước Chùa tháp Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Chín, 2021, 08:05:34 pm HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN CAMPUCHIA* (Nguồn: Báo Nhân dân số 9021, ra ngày thứ hai, 19.2.1979, tr.1) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia. Xuất phát từ truyền thống đoàn kết chiến đấu và hữu nghị anh em Việt Nam - Campuchia đã vượt qua nhiều thử thách và trở thành một sức mạnh không gì phá vỡ nổi, bảo đảm thắng lợi cả sự nghiệp bảo vệ và xây dựng của mỗi nước. Nhận thức sâu sắc rằng độc lập, tự do, hòa bình và an ninh của hai nước có quan hệ khăng khít với nhau và hai bên có nghĩa vụ hết lòng, hết sức giúp nhau củng cố và bảo vệ những thành quả cách mạng vĩ đại đã giành được trải qua gần 30 năm đấu tranh gian khổ, đầy hy sinh. Khẳng định rằng tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác hữu nghị lâu dài về mọi mặt giữa Việt Nam và Campuchia đáp ứng lợi ích sống còn của nhân dân hai nước, đồng thời là một nhân tố bảo đảm hòa bình, ổn định vững chắc ở đông nam châu Á phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân các nước trong khu vực này và góp phần giữ gìn hòa bình thế giới. Tin tưởng rằng thắng lợi hoàn toàn của nhân dân Campuchia dưới ngọn cờ vẻ vang của Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia, đường lối đúng đắn, độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế của mỗi nước, sự tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau là cơ sở vững chắc để phát triển không ngừng quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước. Nhằm mục đích tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, sự hợp tác hữu nghị lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt để củng cố nền độc lập, xây dựng đất nước phồn vinh và cuộc sống hạnh phúc của nhân dân mỗi nước, góp phần giữ gìn hòa bình và ổn định ở đông nam châu Á và trên thế giới, phù hợp với những mục tiêu của phong trào các nước không liên kết và Hiến chương Liên Hợp quốc. Đã quyết định ký Hiệp ước này và đã thỏa thuận những điều sau đây: ĐIỀU 1 Hai bên cam kết làm hết sức mình để bảo vệ và phát triển không ngừng truyền thống đoàn kết chiến đấu, quan hệ hữu nghị hợp tác anh em Việt Nam - Campuchia, lòng tin cậy và sự giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Hai bên ra sức giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nước mình bảo vệ truyền thống đoàn kết chiến đấu và hữu nghị thủy chung Việt Nam - Campuchia đời đời trong sáng. ĐIỀU 2 Trên nguyên tắc việc bảo vệ và xây đựng đất nước mình là sự nghiệp của chính nhân dân mỗi nước, hai bên cam kết hết lòng ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt và bằng mọi hình thức cần thiết nhằm tăng cường khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân mỗi nước, chống mọi âm mưu và hành động phá hoại của lực lượng đế quốc và phản động quốc tế. Hai bên sẽ tiến hành các biện pháp có hiệu quả nhằm thực hiện điều cam kết này khi một trong hai bên yêu cầu. ĐIỀU 3 Nhằm giúp nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hai bên sẽ tăng cường quan hệ trao đổi và hợp tác anh em cùng có lợi và giúp đỡ nhau về các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, kỹ thuật, đào tạo cán bộ và trao đổi chuyên gia, trao đổi kinh nghiệm xây dựng đất nước về mọi mặt. Nhằm mục đích đó, hai bên sẽ ký những hiệp định cần thiết, đồng thời tăng cường tiếp xúc và hợp tác giữa các cơ quan Nhà nước có liên quan và các tổ chức quần chúng của hai nước. ĐIỀU 4 Hai bên cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hòa bình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ giữa hai nước. Hai bên sẽ đàm phán để ký một hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới hiện tại; quyết tâm xây dựng đường biên giới này thành biên giới hòa bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước. ĐIỀU 5 Hai bên hoàn toàn tôn trọng đường lối độc lập, tự chủ của nhau. Hai bên kiên trì chính sách đối ngoại độc lập, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và không liên kết, theo nguyên tắc không can thiệp dưới bất cứ hình thức nào vào công việc nội bộ của nước mình và không cho phép bất kỳ nước nào dùng lãnh thổ nước mình để can thiệp vào các nước khác. Hai bên coi trọng truyền thống đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị anh em lâu đời giữa nhân dân Campuchia, nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam, nguyện ra sức tăng cường quan hệ truyền thống đó trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Hai bên tăng cường quan hệ mọi mặt với các nước xã hội chủ nghĩa. Là những nước ở đông nam châu Á, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Campuchia kiên trì chính sách quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt với Thái Lan và các nước khác ở đông nam châu Á, tích cực góp phần vào hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực đông nam châu Ả. Hai bên phát triển quan hệ hợp tác với các nước dân tộc độc lập, các phong trào giải phóng dân tộc và phong trào dân chủ, kiên quyết ủng hộ sự nghiệp đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hai bên tích cực góp phần vào sự đoàn kết và lớn mạnh của phong trào không liên kết chống chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động quốc tế khác, giành bảo vệ độc lập dân tộc, tiến tới xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới. ĐIỀU 6 Hai bên sẽ thường xuyên trao đổi ý kiến với nhau về những vấn đề thuộc quan hệ hai nước và những vấn đề quốc tế mà hai bên cùng quan tâm. Mọi vấn đề trong quan hệ giữa hai nước sẽ được giải quyết bằng thương lượng trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, có lý, có tình. ĐIỀU 7 Hiệp ước này không nhằm chống một nước thứ ba nào và không liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo các hiệp định hai bên hoặc nhiều bên mà họ tham gia. ĐIỀU 8 Hiệp ước này có hiệu lực ngay từ ngày trao đổi thư phê chuẩn; việc phê chuẩn sẽ làm theo thủ tục của mỗi bên. ĐIỀU 9 Hiệp ước này có giá trị trong hai nước mươi lăm năm và sẽ được mặc nhiên ra hạn thêm từng mười năm nếu một trong hai bên ký kết không thông báo bằng văn bản cho bên kia ý muốn hủy bỏ hiệp ước một năm trước khi hiệp ước hết hạn. Hiệp ước này làm tại Phnôm Pênh, Thủ đô nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia ngày 18.2.1979, thành hai bản bằng tiếng Việt và tiếng Khơme, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau. |