|
Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2021, 01:08:00 pm - Tên sách: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Văn hóa Thông tin - Năm xuất bản: 2001 - Người số hóa: giangtvx, vnmilitaryhistory Liên khu III nằm phía Tây Nam nội thành, trên con đường huyết mạch nối liền trung tâm thành phố với Khu an toàn của Thành phố và của Trung ương. Trong 5 đợt chiến đấu ác liệt của 60 ngày đêm, quân dân Liên khu III, về sau là Liên khu III - Đống Đa đã cùng với Liên khu II phối hợp chiến đấu mật thiết, có bài bản, có hiệu suất chiến đấu cao với Liên khu I dưới sự lãnh đạo và chỉ huy của Khu uỷ và Bộ chỉ huy Hà Nội. Chúng tôi hoan nghênh cố gắng của Trung tướng Đỗ Trình, nguyên Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu III - Đống Đa hồi đầu kháng chiến đã chủ trì cùng các bạn chiến đấu cũ của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội thu thập và tổng hợp tư liệu cùng hồi ký cá nhân biên soạn nên tập sách "Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội". Tâp sách này, cùng với các tài liệu, hồi ký của các cán bộ, chiến sĩ Liên khu I, Liên khu II và vành đai ngoại thành sẽ góp phần quan trọng vào việc tái hiện thiên anh hùng ca toàn vẹn của Thủ đô Hà Nội. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả. Hà Nội ngày 19-12-2001 NGUYỄN VĂN TRÂN Nguyên Bí thư Khu uỷ, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Khu XI (Hà Nội) Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2021, 01:09:06 pm Lời mở đầu Từ đầu năm 1946, để bảo vệ Thủ đô chống xâm lược, nội thành Hà Nội được chia làm ba Liên khu. Liên khu I nằm ở trung tâm phía Đông Bắc thành phố, Liên khu II ở phía Đông Nam, Liên khu III ở phía Tây Nam. Các Liên khu I, II, III đều giáp với vành đai đở các khu ngoại thành. Do nhu cầu của kháng chiến phát triển, Liên khu III trở thành Liên khu III - Đống Đa, rồi sau đổi thành Quận V. Trong 60 ngày đêm khói lửa, Liên khu III, Liên khu III - Đống Đa đã cùng với Liên khu II phối hợp chiến đấu mật thiết với Liên khu I theo kế hoạch trong đánh ra, ngoài đánh vào của Khu XI (Hà Nội). Quân dân Liên khu III Đống Đa đã chiến đấu anh dũng và sáng tạo, góp phần xứng đáng vào chiến công chung của cả Thủ đô. Sau 60 ngày đêm, quân dân Quận V đã tiếp tục chiến đấu thắng lợi ở mặt trận Tây Nam thủ đô, chặn đánh địch mở rộng chiến thắng, xây dựng lực lượng và cơ sở cách mạng, đẩy mạnh đấu tranh các mặt, trở thành bàn đạp quan trọng để đưa lực lượng trở lại chiến đấu ở địch hậu Thủ đô. Trong thời gian qua, đã có nhiều tài liệu được công bố về cuộc kháng chiến ở Thủ đô, đặc biệt là về cuộc kháng chiến ở Liên khu I. Về cuộc kháng chiến ở Liên khu III và Liên khu III - Đống Đa, Quận V, năm 1994 Quận ủy Đống Đa đã xuất bản sách: Đống Đa trong nhũng năm đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp. Sách có giá trị, nhưng mô tả cuộc đấu tranh vô cùng phong phú của quân dân Đống Đa Quận V trong thời gian dài từ thời chuẩn bị cuộc Cách mạng tháng Tám cho đến hết kháng chiến chống Pháp nên trong cuốn sách này, cuộc đấu tranh và chiến đấu trong mỗi thời kỳ chỉ được đề cập trên những nét chính. Nhằm mục đích làm rõ hơn cuộc chiến đấu của quân dân Liên khu III - Đống Đa trong 60 ngày đêm khói lửa ở Hà Nội, làm rõ hơn sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ giữa Liên khu III - Đống Đa và Liên khu I và tác dụng của sự phối hợp đó, vị trí của Liên khu III - Đống Đa qua 5 đợt khác nhau của 60 ngày đêm chiến đấu và của Quận V thời gian sau đó, các bạn chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V đã thu thập và sắp xếp tư liệu, kết hợp với hồi ức và suy nghĩ của mỗi người, in thành một quyển sách để Kỷ niệm 55 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-2001) ở Thủ đô, góp phần tái hiện thiên anh hùng ca toàn vẹn của Thủ đô Hà Nội. Chúng tôi rất cảm ơn đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư Khu uỷ, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Khu XI (Hà Nội), Thành uỷ và Ủy ban Nhân dân Hà Nội, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Đảng uỷ Quận Đống Đa, Công an Thành phố Hà Nội, Công an Quận Đống Đa, Ban Giám đốc Nhà máy bia Hà Nội, các bạn chiến đấu Liên khu III - Đống Đa - Quận V cùng nhiều cơ quan khác đã vui lòng tích cực giúp đỡ chúng tôi trong việc xuất bản cuốn sách này. Cuộc kháng chiến ở Thủ đô Hà Nội đã đi qua 55 năm. Các anh chị em tham gia biên soạn đã cố gắng đối chiếu tư liệu, bảo đảm tính khách quan xác thực, nhưng chắc chắn khó tránh khỏi những chỗ chưa rõ ràng. Mong các bạn đọc, nhất là các đồng chí đã chiến đấu ở Hà Nội thời gian đó góp ý kiến nhận xét để sau này quyển sách được hoàn chỉnh hơn. TM Ban liên lạc bạn chiến đấu Liên khu III - Đống Đa - Quận V Trung tướng GSTS ĐỖ TRÌNH Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Mười, 2021, 07:15:56 am LIÊN KHU III - ĐỐNG ĐA TRONG 60 NGÀY ĐÊM KHÓI LỬA Ở HÀ NỘI Trung tướng GS-TS Đỗ Trình* (Nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu III - Đống Đa - Hà Nội) Để bảo vệ thủ đô chống xâm lược, nội thành Hà Nội từ đầu 1946 được chia làm 3 liên khu: Liên khu I, Liên khu II và Liên khu III. Liên khu III nằm ở phía Tây Nam nội thành, Đông giáp Liên khu II lấy đường Hàng Lọng làm giới tuyến, Bắc giáp Liên khu I, đường giới tuyến đi từ phố cửa Nam, qua phía Bắc các phố Nguyễn Thái Học, Kim Mã, Ngọc Khánh ngày nay, Tây Nam giáp khu Đống Đa ngoại thành. Đường Hàng Bột chạy từ sát Văn Miếu, gặp phố Khâm Thiên, đường La Thành ở Ô Chợ Dừa, rồi chạy ra Ngã Tư Sở, Hà Đông, là đường huyết mạch nối liên Liên khu III một bên với Liên khu I và một bên với khu an toàn của Hà Nội và của Trung ương. Đặc biệt, khu vực đầu Hàng Bột trên, Văn Miếu là nơi kế cận với Cửa Nam và cửa Tây thành Hà Nội, thường là nơi xuất phát của các lực lượng địch tiến công ra các cửa ô và ra ngoại thành. Liên khu III gồm các tiểu khu Văn Miếu, Hỏa Xa, Thăng Long (Kim Mã). Lực lượng vũ trang hoạt động ở Liên khu III gồm tiểu đoàn 523 (tiểu đoàn trưởng là đồng chí An Giao - uỷ viên Ủy ban Kháng chiến Liên khu), tiểu đoàn 56 (tiểu đoàn trưởng là đồng chí Anh Đệ), một phân đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, một đội công binh của thành, các đội tự vệ công nhân hoả xa, các đơn vị tự vệ phố Hàng Bột, phố Khâm Thiên, phố Kim Mã, Sơn Tây, dân quân các xã Hào Nam, khu Văn Chương, Giảng Võ. Các đơn vị tiểu đoàn 523 và tiểu đoàn 56 cũng phối hợp chiến đấu với các đơn vị của tiểu đoàn 145 (tiểu đoàn trưởng là đồng chí Trắc Vi Nam) hoạt động ở khu vực đường Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn, Ngọc Hà thuộc Liên khu I. Các đoàn thể quần chúng của Mặt trận Việt Minh Liên khu III gồm Công nhân cứu quốc (tiểu khu hoả xa), Việt Nam cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Cựu binh sĩ cứu quốc... Đảng uỷ Liên khu III gồm các đồng chí Đỗ Trình bí thư (kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến với bí danh Lê Minh Trầm), Minh Quang phó bí thư, và các uỷ viên Nguyễn Kỷ và Hà Đăng Ấn. Đầu tháng 1 năm 1947, khu Đống Đa ngoại thành được sáp nhập với Liên khu III thành Liên khu III - Đống Đa. Vào giữa tháng 12-1946, tình hình chính trị, quân sự ở thủ đô Hà Nội diễn ra rất khẩn trương. Tối 18-12, tướng Moóc-li-e của Pháp đã gửi tối hậu thư cho chính phủ ta, chúng định sáng 20-12-1946 sẽ tiến hành cuộc đảo chính quân sự, bắt chính phủ ta, tiêu diệt lực lượng ta, đánh chiếm thủ đô Hà Nội trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Theo quyết định của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, quân dân ta buộc phải đánh trả để tự vệ, nhằm kìm chân quân Pháp ở Hà Nội càng lâu càng tốt, tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang kháng chiến. Sau mấy ngày đêm lúng túng chống đỡ, giặc Pháp cố giành lại chủ động. Trước hết chúng dồn sức đánh ra phía ngoài, đẩy các lực lượng của Liên khu II, Liên khu III ra các cửa ô, rồi ra đến vùng ngoại thành. Sau đó chúng quay lại tập trung lực lượng đánh vào Liên khu I, là nơi có nhiều mục tiêu đầu não của chúng, mưu toan tiêu diệt lực lượng ta, đánh chiếm Hà Nội trong một thời gian ngắn. Nhưng cuộc chiến đấu đã kéo dài ngoài dự kiến của chúng. Và chúng hoàn toàn bị bất ngờ khi Trung đoàn Thủ đô an toàn rút khỏi Liên khu I. Quân dân Liên khu III - Đống Đa đã cùng với quân dân Liên khu I. Liên khu II, quân dân các quận ngoại thành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng và chính phủ giao cho, kìm chân giặc Pháp ở Thủ đô trong 60 ngày đêm, bảo toàn được lực lượng mình, đập tan mưu đồ chiến lược của chúng. Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm ở Hà Nội từ 20 giờ 3 phút đêm 19 tháng 12 năm 1946 đến 24 giờ ngày 17 tháng 2 năm 1947 được chia làm 5 đợt. Trong mỗi đợt, quân dân Liên khu III - Đống Đa đã sát cánh với Liên khu II và vành đai ngoại thành, phối hợp chiến đấu với quân dân Liên khu I theo cách đánh "trong đánh ra ngoài đánh vào" của Bộ chỉ huy Khu XI, dưới sự lãnh đạo của Khu uỷ XI. Đợt 1: Từ 19-12-1946 đến 23-12-1946. Các Liên khu đánh địch trong thành phố: Tích cức tiến công địch, đập tan âm mưu đảo chính của quân Pháp. Sau khi đèn điện thành phố tắt vào 20 giờ 3 phút, trong lúc pháo binh ta ở các pháo đài Láng, Xuân Tảo đang bắn, đạn pháo đang bay ào ào qua đầu, Khu hậu cần Pháp trong thành dang bốc cháy, thì đại đội 29, tiểu đoàn 523 phối hợp với một trung đội tự vệ thành khu Văn Miếu bắt đầu tiến công nhà Đơ-lê-vô (Deléveaux), nay là nhà số 9 phố Cát Linh. Đây là một ổ chiến đấu tiền tiêu của Pháp khống chế đường Hàng Bột, đường giao thông nối liên nội thành với Khu an toàn của thành phố và của Trung ương ở Hà Đông. Ta đánh tầng một, địch rút lên gác chống cự. Ta đưa một quả bom 50 kilô vào đặt, nhưng bom không nổ. Đại đội trưởng Lưu Vân cùng một số chiến sĩ và tự vệ khu phố trèo lên mái nhà, dỡ ngói thả lựu đạn xuống, diệt được vài tên và gọi một số ra hàng. Địch đưa xe háp-tờ-rắc đến cứu viện. Khẩu ba-dô-ca của mặt trận kịp cơ động đến bắn cháy được một xe. Chiều 20-12 số địch còn lại ở nhà Đơ-lê-vô lên xe chạy thoát. Vì xe cắm cờ Hồng thập tự, các chiến sĩ ta không kịp bắn. Trong đêm 19-12-1946, nhiều phân đội của tiểu đoàn 523 phối hợp với tự vệ thành phố Hàng Bột đã tiến công tiêu diệt các ổ chiến đấu và khu nhà hạ sĩ quan của Pháp ở khu vực Hàng Bột trên, giữa nhà Đơ-lê-vô và Văn Miếu và ở khu vực Kim Mã. Ta bắt được nhiều tù binh. Ở khu vực nhà ga và đầu phố Khâm Thiên (giáp Hàng Lọng) tình hình có khó khăn. Ở nhà dầu Sen, tiểu đội bộ đội gác chung với lính Pháp chuẩn bị chiến đấu trước 20 giờ, bị lộ. Địch sinh nghi, đã chuẩn bị sẵn sàng. Khi đèn tắt, súng các nơi bắt đầu nổ, chúng chủ động tiến công trước. Ta phải rút ra ngoài. Sau đó đại đội 27 tiểu đoàn 523 được điều đến đánh, gặp địch tăng viện, ta phải rút. Ở nhà ga Hàng Cỏ, bộ đội và tự vệ bao vây địch, triển khai đội hình, áp sát địch, nghe đâu có tiếng địch là đánh vào. Địch có hoả lực mạnh, lại chiếm vị trí trên cao bắn xuống, ta không tiến được. Sau hơn một giờ phải chuyển sang bao vây. Trung đội 50 thuộc đại đội 27 tiến vào ga, gặp địch từ nhà Đêpô tiến sang, chiến đấu gây cho chúng tổn thất. Đánh đến 2 giờ sáng 20-12 quân ta rút. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Mười, 2021, 07:16:31 am Cũng tối 19-12-1946, một trung đội của đại đội 1 tiểu đoàn 56 phối hợp với các phân đội của tiểu đoàn 145 và tự vệ Ngọc Hà - Đội Cấn đã tiến công đánh chiếm nhà máy bia Ô-men (tức nhà máy bia Hà Nội ngày nay), diệt tiểu đội quân Pháp canh gác ở đây. Sau đó phát triển tiến công, diệt 2 ổ chiến đấu nhỏ của địch ở dốc Ngọc Hà.
Như vậy trong đêm 19-12, tuy có chỗ tiến công địch chưa thắng lợi, nhưng trong những giờ phút nổ súng đầu tiên, trong trạng thái từ thời bình chuyển sang thời chiến, các lực lượng vũ trang Liên khu III đã nổ súng được ngay, gần như đồng loạt sau khi có hiệu lệnh đèn tắt và pháo bắn, tiêu diệt được nhiều ổ chiến đấu của địch, cùng quân dân Liên khu I và Liên khu II thực hiện một đợt tiến công phủ đầu quân địch rất bất ngờ, chỉ mấy giờ trước khi quân Pháp định mở cuộc tiến công để đảo chính đánh chiếm các cơ quan đầu não của ta ở Thủ đô. Đó là một thành công bước đầu, mở đầu giờn giã cuộc kháng chiến toàn quốc, buộc địch phải bị động đối phó. Đồng thời với việc đánh địch, các lực lượng tự vệ và đoàn viên các đoàn thể Việt Minh cùng đông đảo nhân dân các khu phố đã khẩn trương tham gia hoàn chỉnh việc chuẩn bị chiến trường đánh địch. Việc đầu tiên là tăng cường hoàn chỉnh hai ba-ri-cát đầu phố Khâm Thiên và Hàng Bột. Ba-ri-cát Khâm Thiên đã chắn ngang đường phố Khâm Thiên từ trước ngày 19-12-1946, nay được tăng cường bằng gỗ, đất và tà vẹt. Ba-ri-cát đầu Hàng Bột được đắp một nửa từ trước 19-12 để xe ôtô của ta có thể chạy qua khi các cơ quan chính phủ rút khỏi nội thành, nay được đắp thêm, hoàn toàn chắn ngang đường. Dọc hai phố Khâm Thiên và Hàng Bột, tự vệ và nhân dân đục tường từ nhà nọ thông sang nhà kia. Bàn, ghế, sập, tủ, giường v.v... được xếp trên mặt đường làm chướng ngại vật. Nồi niêu, xoong chảo, xô chậu, rổ rá được úp xuống mặt đường để nghi binh làm mìn. Đồng chí Hà Đăng Ấn, chỉ huy tiểu khu hoả xa đã điều động 5 toa tàu hàng chở đầy đá có đầu máy đẩy lên phía bắc, cắt từng toa chắn ngang đường ở các ba-ri-e Sinh Từ, chợ cửa Nam, đường Nguyễn Thái Học, Điện Biên Phủ, Trần Phú ngày nay, đánh trật bánh xe, tạo nên những vật chướng ngại khó khắc phục. Trong khu Văn Miếu, trên đường Hàng Bột, một số cây to và cột điện đã được ngả xuống đường để chặn xe cơ giới của địch. Một số toa xe điện được lật đổ, chắn con đường từ Ô Chợ Dừa đi ra Thái Hà Ấp. Các đội tuyên truyền ban đêm đi giải thích cho dân chủ trương toàn quốc kháng chiến. Đoàn thể phụ nữ tổ chức nhiều nhóm các chị đi tiếp tế cho bộ đội ở những nơi đang chiến đấu. Sáng 20-12-1946 đồng chí Tổng chỉ huy đến thăm phố Khâm Thiên. Sau đó, đồng chí đã chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu điều hai tiểu đoàn của Chiến khu 2 tăng cường cho Hà Nội. Một trong hai tiểu đoàn đó là tiểu đoàn 56, những ngày tiếp theo về chiến đấu ở Liên khu II, rồi đến đầu tháng 1-1947 về chiến đấu trên địa bàn Liên khu III. Ngày 21 và 22-12-1946, quân Pháp ở Phủ Toàn quyền nống ra phố Ngọc Hà và Kim Mã hòng đẩy quân ta ra xa, nhưng bị ta đẩy lùi. Trong trận đánh diễn ra ở phố Sơn Tây gần chùa Kim Mã (nay là Nhà hát chèo Trung ương), đồng chí Vơn, một chiến sĩ tự vệ bắn tỉa rất giỏi, người đã bắn chết 4 - 5 tên địch trong những trận trước, đã anh dũng hy sinh. Sau ba ngày chiến đấu, đến ngày 23 tháng 12, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội quyết định điều chỉnh lại lực lượng theo thế trận đã xác định từ trước. Các lực lượng Liên khu I co về khu vực cố thủ để đánh dài ngày. Liên khu II và Liên khu III bố trí lại lực lượng để đánh địch tiến công trên các trục đường ra cửa ô. Đêm 23-12 trung đội 50, đại đội 27 cùng tự vệ tiến công nhà dầu Sen lần thứ hai, không gặp địch, chuyển sang bắn quấy rối địch đóng trên gác cao quán cơm hoả xa. 23 giờ 30 phút, quân ta rút. Các đơn vị bộ đội và tự vệ thuộc Liên khu III tiếp tục tăng cường chiến luỹ, công sự, hầm hố, đường giao thông qua các nhà dọc hai phố Khâm Thiên và Hàng Bột, đặt thêm chướng ngại, tiếp tục động viên chiến đấu trong các lực lượng vũ trang và nhân dân, bổ sung đạn dược, lương thực. Các đoàn thể quần chúng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang, tiếp tục hướng dẫn việc tản cư dân. Ủy ban Kháng chiến tiếp tục phát hành tờ báo "Thép", động viên quân dân Liên khu III hăng hái kháng chiến. Các hoạt động chiến đấu và tăng cường thế trận phòng thủ của Liên khu III có tác dụng phối hợp hành động với Liên khu I và Liên khu II, bất ngờ đồng loạt đánh địch, dồn chúng vào thế bị động đối phó, đập tan kế hoạch đánh chiếm Hà Nội trong 24 tiếng đồng hồ của chúng. Đồng thời cũng là chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sẽ còn tiếp diễn. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Mười, 2021, 07:17:48 am Đợt 2. Từ 24-12-1946 đến 14-1-1947: Liên khu III chặn đánh địch nống ra các cửa ô (trong lúc Liên khu I trụ bám đánh trong lòng địch)
Sau 3 ngày đêm bị động đôi phó, quân Pháp điều chỉnh lực lượng, chuẩn bị đánh nống ra các cửa ô hòng đẩy các lực lượng Liên khu II, Liên khu III ra xa, cô lập các lực lượng chiến đấu của Liên khu I. Đêm 24 rạng 25-1-1947 đại đội 27 của tiểu đoàn 523 được tăng cường một khẩu pháo 37 ly với 6 viên đạn và một khẩu trọng liên 12,7 ly với 175 viên đạn, phối hợp với tự vệ hoả xa đã tiến công khu nhà dầu Sen và nhà ga. Mục đích của trận đánh là tiêu diệt địch, đánh chiếm một mục tiêu quan trọng có thể làm bàn đạp cho địch khi chúng tiến công ra Ô Chợ Dừa. Trên hướng tiến công chủ yếu là nhà dầu Sen, khoảng 0 giờ 30 phút ngày 25-12-1946, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh cho pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn vào các ụ súng của địch, khống chế sân nhà dầu. Tiểu đội quyết tử làm nhiệm vụ đột kích liên tục xung phong, vượt qua hàng rào đánh chiếm sân nhà dầu cùng các mũi tiến công khác. Lúc đó địch từ gác cao quán cơm hoả xa bắn vào quân ta. Ngay sau đó, thấy một xe thiết giáp ở quán cơm hoả xa bắn lên các cửa số nhà gác mà địch không bắn trả lại. Sau lại thấy xe thiết giáp tiến ra giữa đường bắn vào các ụ súng của địch ở nhà dầu Sen, rồi bắn ra ngã tư. Lúc đó, biết rằng bên quán cơm hoả xa quân ta đã làm chủ và cướp được xe thiết giáp. Trong khu nhà 5 gian sát sân nhà dầu, nhiều tên địch bị thương vong do hoả lực trực tiếp của ta và do súng máy từ xe thiết giáp bắn sang. Chúng tháo chạy tán loạn theo đường xe lửa về phía nhà ga. Ta làm chủ vị trí, thu chiến lợi phẩm và rút lui. Trên hướng thứ yếu là quán cơm hoả xa, bộ đội và tự vệ hoả xa cùng phối hợp đánh. Sau khi nghe tiếng súng bên nhà dầu nổ, quân ta đã áp sát tường nhà, bắt đầu bắn súng và ném lựu đạn lên các cửa sổ ở gác hai rồi vượt tường vào trong sân, đánh vào các nhà. Một tổ nhảy vào nhà số 2 phát hiện trên sân có một xe háp-tơ-rắc, ném một quả lựu đạn lên thùng xe và nhảy lên thùng xe. Sau khi hai tự vệ gạt xác tên lính da đen sang một bên, đồng chí Nguyễn Vũ Giáp, quân khí viên của tiểu đoàn 523 chiếm khẩu 12,7 ly trên xe, ngước nòng súng lên bắn vào các cửa sổ đang có súng bắn ra, rồi bắn sang các ụ súng của địch và cống nhà dầu Sen. Sau đó đồng chí Giáp giao súng 12,7 cho đồng chí Triệu bắn và nổ máy lái xe ra đường, đến ngã tư Khâm Thiên Hàng Lọng. Đồng chí Triệu tiếp tục bắn. Lúc này có tiếng súng từ Hàng Lọng bắn tổới và tiếng động cơ cơ giới rú từ phía ga. Xe háp-tơ-rắc dừng ở ngã tư Khâm Thiên, Hàng Lọng, bắn vào quân địch đang từ nhà ga tiến xuống. Bọn này phải rút lui. Anh em lái xe về nhà dầu và quán cơm hoả xa, lúc này đã im tiếng súng, tìm cách tháo khẩu súng máy trên xe mà không được, anh em đành gài lựu đạn vào ổ súng để phá và ném lựu đạn vào đầu máy để phá xe. Các hướng đã hoàn thành nhiệm vụ. Anh em thu chiến lợi phẩm và rút lui an toàn. Trận tiến công nhà dầu Sen là một trận đánh hay, đạt kết quả khá, có sự phối hợp mật thiết giữa bộ đội và tự vệ hoả xa, biết cướp vũ khí và phương tiện của địch để đánh lại chúng ngay trong trận đánh. Cán bộ và chiến sĩ tỏ ra mưu trí, linh hoạt. Nếu anh em có phương án đốt cháy kho dầu của địch ở nhà Sen thì thắng lợi sẽ còn lớn hơn. Ngày 27-12-1946 quân Pháp đánh thông đường số 5 và tăng thêm quân cho Hà Nội. Ngày 30-12 địch huy động 600 quân, có 30 xe tăng, thiết giáp và vận tải tiến đánh Ô Chợ Dừa từ hai hướng, một hướng từ nhà Gian Đa theo đường Hàng Bột, một hướng từ nhà Sen theo đường Khâm Thiên. Thống nhất với Ủy ban Kháng chiến Liên khu III, tiểu đoàn trưởng 523 bố trí một đại đội ở đường Hàng Bột và xóm Văn Chương, một đại đội dọc đường Khâm Thiên và xóm Thổ Quan, còn một đại đội đứng ở 3 chỗ: một trung đội ở Thịnh Hào, một trung đội ở Ô Chợ Dừa và một trung đội ở Kim Liên. Mỗi đơn vị Vệ quốc Đoàn đều có kế hoạch phối hợp hành động với lực lượng tự vệ ở các khu phố Khâm Thiên, Hàng Bột. Từ 25-12-1946 Va-luy đã chỉ thị cho quân Pháp: "Đừng ngần ngại gì mà không đánh mạnh bằng bom và pháo..., phải sớm kết thúc, phải làm cho kẻ thù hiểu rõ ưu thế áp đảo của các phương tiện của ta". Từ 5 giờ sáng ngày 30-12, địch tiến hành hoả lực chuẩn bị rất lâu bằng pháo binh và không quân. Bom nổ trúng vào sở chỉ huy của tiểu đoàn 523 và Ủy ban Kháng chiến Liên khu III ở nhà máy Tóc, nhưng không gây thiệt hại về người. Tiếp đó, 300 bộ binh có 4 xe tăng và 2 xe thiết giáp mở đường tiến vào Hàng Bột. Đại đội 29 và trung đội tự vệ Hàng Bột dựa vào chiến luỹ và công sự đào ở các nhà hai bên đường dùng súng trường và lựu đạn chặn đánh địch. Địch dùng xe ủi phá ba-ri-cát. Đến 10 giờ chúng vẫn chưa tiến được đến ụ ba-ri-cát thứ hai nên cho một bộ phận có xe tăng dẫn đầu từ Nhà Tiền (nay là nhà In Tiến Bộ) tiến xuống xóm Thịnh Hào ở phía Tây Hàng Bột. Ở Thịnh Hào, ta đánh địch, chặn chúng được khoảng 20 phút rồi phải rút. Địch từ Thịnh Hào thọc ngang ra đường Hàng Bột. Ở đây ta tiếp tục chặn đánh, gây cho chúng nhiều thương vong. Trên đường Khâm Thiên, bộ đội, tự vệ, công nhân đường sắt dựa vào chiến luỹ và công sự đường phố ngoan cường đánh địch. Chúng không tiến được. Địch cho một bộ phận từ Sinh Từ tiến qua xóm Văn Chương xuống cắt ngang đường Khâm Thiên. Nhưng ta vẫn chặn được địch, giữ vững Ô Chợ Dừa. Quân địch bị diệt 30 tên, ta hy sinh 35 đồng chí, bị thương 20 người. Đêm 30-12, đại đội 29 tiểu đoàn 523 lui về chặn địch ở Thái Hà Ấp. Đại đội 4 của tiểu đoàn 56 lên thay, tổ chức phòng ngự ở Ô Chợ Dừa. Sở chỉ huy của Ủy ban Kháng chiến Liên khu III và của tiểu đoàn 523 chuyển về Thái Hà Ấp. Ngày 6-1-1947, Pháp huy động gần 1.000 quân, 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, xe ủi đất cùng pháo binh, máy bay yểm trợ đánh ra Ô Chợ Dừa, Giảng Võ. Trên hướng Giảng Võ - Đê La Thành, quân địch chia làm hai cánh. Cánh thứ nhất theo đường Hàng Bột, làng Hào Nam dọc theo Đê La Thành có xe tăng dẫn đầu đánh vào trận địa trung đội 1, đại đội 2, tiểu đoàn 56. Trung đội đã dùng hoả lực bắn chặn, từng bước lui dần về phía ngã tư Giảng Võ. Ở đầu dốc làng Hoàng Cầu đã diễn ra trận đánh giáp la cà, quân ta dùng lưỡi lê, kiếm, dao xông ra đánh địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai đã anh dũng đâm bom ba càng tiêu diệt một xe tăng địch. Cánh quân thứ hai từ nhà Tiền (phố Nguyễn Thái Học), nhà Năm Diệm (phố Cát Linh) tiến dọc đường Giảng Võ, có xe tăng yểm trợ, chia làm 2 mũi: một mũi triển khai tiến công vào làng Giảng Võ, một mũi tiến thẳng xuống ngã tư hợp vây với cánh quân thứ nhất. Tại làng Giảng Võ, địch đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của trung đội 2 (đại đội 2), trung đội quyết tử và trung đội cựu binh sĩ cứu quốc làng Giảng Võ. Dựa vào luỹ tre dày đặc, các trận địa, ụ súng, giao thông hào, ngõ ngách trong làng, quân và dân Giảng Võ đã đánh bật ba đợt xung phong đột nhập vào làng của địch. Ở khu ngã tư Giảng Võ, cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Đại đội trưởng Vũ Công Định đã trực tiếp chỉ huy trung đội 3 chiến đấu và huy động tất cả lực lượng còn lại của đại đội ra chiến hào. Tiểu đội nữ cứu thương của Liên khu III phối thuộc cũng cầm súng, dao, kiếm chiến đấu cùng bộ đội. Hoả lực của ta đã cản phá nhiều đợt tiến công của dịch. Địch đã dùng pháo binh, xe tăng bắn phá trận địa ta và các chướng ngại vật. Nhiều nơi đã diễn ra trận giáp la cà, vật lộn giữa ta và địch. Đến trưa, đại đội trưởng Vũ Công Định bị trọng thương, gãy đùi. Thấy quân ta khó giữ được trận địa, để bảo toàn lực lượng, đại đội trưởng hạ lệnh rút lui. Riêng mình ở lại với một số lựu đạn, tiểu liên bắn cản địch, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Chính trị viên Lê Chí Thực dẫn bộ đội rút về phía Nam. Anh đi cuối, bắn yểm hộ. Quân địch đông hơn xông lên định bắt sống. Anh đập lựu đạn nổ và hy sinh. Những tên địch xông lên gần anh cũng tan xác. Trên hướng Ô Chợ Dừa, địch từ Khâm Thiên, Hàng Bột tiến công, cùng với thời gian tiến công Giảng Võ. Đại đội 4, tiểu đoàn 56 phòng ngự ở khu vực này. Địch tập trung tiến công trung đội 1, được bố trí bên dãy số lẻ của đường Hàng Bột (tức khu vực, cơ quan Đảng uỷ và uỷ ban nhân dân Quận Đống Đa ngày nay). Trung đội 1 đã chiến đấu quyết liệt, lợi dụng đường xuyên tường, giành giật với địch từng ngôi nhà, từng căn gác. Chiến sĩ Trần Văn Phúc ném quả đạn pháo từ ban công nhà gác đã phá một xe ủi đất. Nhiều tên địch bị chết và bị thương. Đến trưa, địch chiếm được dãy phố số lẻ và tổ chức đánh sang bên dãy số chẵn. Đại đội 4 đã kịp thời điều động lực lượng đánh chặn, địch không đánh sang được, cuối cùng phải rút lui về Khâm Thiên. Tiểu đoàn 56 đã phá được cuộc tiến công của địch đánh ra Ô Chợ Dừa, Giảng Võ. Quân địch bị thương vong khoảng một đại đội, để lại 30 xác chết, 1 xe tăng và 1 xe ủi đất bị phá. Ta đã buộc địch phải ngừng cuộc tiến công ra các cửa ô trên hướng Liên khu III. Cuộc chặn đánh địch ở Giảng Võ và Ô Chợ Dừa là một trận đánh phòng ngự cấp đại đội rất kiên cường, nổi bật trong 60 ngày đêm chiến đấu ở Thủ đô. Cán bộ và chiến sĩ đã nêu cao tinh thần quyết tử, chiến đấu cực kỳ anh dũng và mưu trí, phối hợp mật thiết chiến đấu của bộ đội, của tự vệ, của tổ chức chính quyền và của các đoàn thể cứu quốc. Nhìn chung lại, trong đợt 2, quân dân Liên khu III đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, đánh chiếm nhà dầu Sen và quán cơm hoả xa, thủ tiêu một bàn đạp trên hướng quan trọng mà địch sẽ phải dùng khi nống ra các cửa ô, và khi địch tiến công ra, thì đã chặn đánh địch thiệt hại và đẩy lùi chúng về phía trong. Như vậy, những hoạt động đó đã có tác dụng cùng với Liên khu II tạo điều kiện thuận lợi cho Liên khu I trụ bám dài ngày, tranh thủ thời gian, củng cố lực lượng và thế trận đánh trong lòng dịch. Đầu tháng 1 năm 1947, căn cứ tình hình diễn biến cuộc kháng chiến ở Thủ đô, Ủy ban Kháng chiến Hà Nội quyết định sáp nhập Khu Đống Đa với Liên khu III để tiện việc lãnh đạo và chỉ huy tác chiến trên một trục đường từ Ô Chợ Dừa đến Ngã Tư Sở. Đồng chí Đỗ Trình vẫn tiếp tục làm Bí thư Liên khu uỷ kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu III - Đống Đa. Sở chỉ huy của Ủy ban Kháng chiến Liên khu III - Đống Đa và của tiểu đoàn 523 chuyển về Thái Hà Ấp. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Mười, 2021, 07:18:26 am Đợt 3. Từ 15-1-1947 đến 5-2-1947: Đánh địch tiến công ra ngoại thành (trong lúc Liên khu I tiếp tục đánh địch).
Ngày 13-1-1947, đại diện chính quyền ta và Pháp, với sự có mặt của các lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Hoa, đã gặp nhau ở Ô Chợ Dừa. Hai bên thoả thuận sẽ ngừng bắn ngày 15-1 để dân tản cư ra khỏi Liên khu I. Vi phạm thoả thuận đó, ngày 15-1-1947, lợi dụng lúc ta ngừng bắn, Pháp huy động trên 1.000 quân cùng khoảng 150 xe cơ giới các loại tiến công về phía nam Hà Nội với âm mưu tiêu diệt chủ lực của ta, mở rộng phạm vi chiếm đóng. Quân dân Liên khu II kiên cường ngăn chặn địch ở ngã tư Trung Hiền, Ô Cầu Dền, nhà thương Vọng. Một toán quân địch đánh vào phía đông trường bay Bạch Mai phối hợp với toán quân từ phía tây nhà thương Vọng tạt xuống. Hai trung đội thuộc đại đội 29 tiểu đoàn 523 chặn địch từng bước, tới Khương Trung giặc Pháp bị ta bắn chết hơn 20 tên. Chúng phải lui về trường bay Bạch Mai. Ngày 16-1-1947, một toán quân địch từ Ô Chợ Dừa địch tiến thẳng nối liền với quân Pháp ở Ngã Tư Sở. Nhưng tới gò Đống Đa, bị chặn lại quyết liệt, quân địch phải đi vòng đường cánh đồng để bắt liên lạc với bọn Ngã Tư Sở. Quân dân Liên khu III - Đống Đa (cũng như Liên khu II) đã kiên quyết đánh chặn những toán, những cánh quân địch tiến công ra ngoại thành. Mặt khác, theo lệnh của Ủy ban Kháng chiến và Bộ chỉ huy khu XI, các đơn vị bộ đội và tự vệ, dân quân cử những nhóm, những tổ còn sung sức vòng về sau lưng địch, ban đêm tập kích vào những nơi sơ hở của chúng. Ngay trong đêm 15-1, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh cho các tiểu đoàn 523, 56 và các tiểu đoàn thuộc Liên khu II dùng những bộ phận ban ngày chưa phải chiến đấu vòng vào sau lưng địch, tiến công ở Ô Chợ Dừa, ga Hàng Cỏ, Ô Cầu Dền v.v... Ban đêm, trên các mặt trận Hà Nội, tiếng súng lại nổ ran. Các chiến sĩ bí mật bò, lọt vào giữa vị trí giặc ném lựu đạn, tẩm ét-xăng vào chăn đốt cháy vị trí giặc rồi rút lui. Ở nội ngoại thành, cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trên nóc nhà một số vị trí của địch, trên ngọn tre, ụ đất, chướng ngại vật... Các đội tuyên truyền xung phong ban đêm ca hát sát vị trí địch, kêu gọi lính Âu Phi, lính Pháp phản chiến, đòi hồi hương... Cả Hà Nội sôi sục đấu tranh, nhất là trong dịp chào mừng một tháng toàn quốc kháng chiến. Đầu tháng 2 năm 1947, Sở chỉ huy của Ủy ban Kháng chiến Liên khu III - Đống Đa và của tiểu đoàn 523 chuyển về làng Nhân Mục. Như vậy, tính từ 19 tháng 12 năm 1946 đến 25 tháng 1 năm 1947, quân dân Liên khu III và Liên khu II đã chống lại 8 cuộc tiến công của địch, đánh mấy chục trận, tiêu hao tiêu diệt hàng ngàn tên và điều quan trọng là làm chậm bước tiến của địch. Từ giữa thành phố đến vành đai ngoại thành, đường dài khoảng 5km, địch phải đi mất 40 ngày, bình quân mỗi ngày chúng chỉ tiến được 120 mét. Đó là một thành tích rất quan trọng, vì nó có tác dụng ngăn chặn, kìm chân lực lượng quan trọng của địch, làm chậm bước tiến của chúng, kéo dài thời gian tiến công của dịch ra ngoại thành, tạo điều kiện thuận lợi cho Liên khu I có thểm thời gian củng cố lực lượng và thế trận, trụ bám vững chắc, đánh địch và giam chân chúng ở Hà Nội dài ngày hơn nữa1 (Theo "Tổng kết 60 ngày đêm chiến đấu mở đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp của quân và dân Thủ đô Hà Nội", NXB Quân đội Nhân dân. HN 1997, tr.149). Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Mười, 2021, 07:19:02 am Đợt 4. Từ 6-2-1947 đến 14-2-1947. Đánh địch tiến công Liên khu I.
Sau khi nhận được quân tăng viện, từ ngày 6-2-1947, địch tập trung lực lượng đánh Liên khu I, với quyết tâm tiêu diệt Trung đoàn Thủ đô. Chúng tập trung đánh nhà Xô-va rồi Trường Ke ở phía Đông, đánh Hàng Thiếc ở phía Tây Nam Liên khu. Sau đó chúng chuyển hướng, tiến công khu vực Đồng Xuân ở phía Bắc. Quân dân Liên khu I đánh trả quyết liệt, đẩy lùi nhiều đợt tiến công, gây cho địch thương vong lớn. Ở vành đai ngoại thành, giặc Pháp củng cố các vị trí mới đóng, cho từng tốp nhỏ thọc ra ngoài thăm dò các làng mạc xung quanh vị trí chiếm đóng. Để phối hợp với Liên khu I, quân dân Liên khu III - Đống Đa một mặt tiến công các vị trí địch đóng ở vành đai, chặn đánh các tốp địch thọc ra ngoài, mặt khác tích cực tiến công sâu vào các điểm quan trọng của địch bố trí gần Liên khu I, tiếp tục cùng quân dân Liên khu I giữ vững thế trận "nội công, ngoại kích". Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội ra lệnh cho đồng chí chỉ huy bộ đội ở Liên khu III - Đống Đa điều động các đơn vị tiến công vào Hàng Bột, Ô Cầu Giấy, Kim Mã, trong lúc các đơn vị của Liên khu II tiến công vào Ô Cầu Dền. Đồng thời ra lệnh cho các lực lượng ở ngoại thành tiếp tục hoạt động mạnh, phục kích, tập kích, quấy rối, nghi binh. Quân dân Liên khu III - Đống Đa đã nghiêm chỉnh thi hành lệnh đó. Các hoạt động của quân dân Liên khu III - Đống Đa cùng với Liên khu II đã có tác dụng chia lửa với Liên khu I, ngăn chặn, kìm chân lực lượng địch đánh ra ngoại thành, kéo dài thời gian kháng chiến và không cho chúng điều động lực lượng này để quay về tiến công Liên khu I. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Mười, 2021, 07:19:54 am Đợt 5. Từ 15-2-1947 đến 17-2-1947. Tích cực đánh địch ở vòng ngoài, để phối hợp khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu I.
Sáng 15-2-1947 Hồ Chủ tịch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng phê chuẩn đề nghị của Bộ Tổng chỉ huy cho rút Trung đoàn Thủ đô ra khỏi Liên khu I. Bác Hồ khen ngợi: "Các chú giam chân địch một tháng là thắng lợi. Đến nay giữ Hà Nội được hai tháng là đại thắng lợi". Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh cho quân ta tiếp tục nổ súng trên toàn mặt trận, chú trọng đánh mạnh ở vòng ngoài, thực hiện thu hút lực lượng của địch ra các mặt trận bên ngoài để tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn Thủ đô rời khỏi Liên khu I về căn cứ. Đêm 15-2 các đơn vị Liên khu III - Đống Đa đánh vào Hàng Bột, Cầu Giấy, Kim Mã, trong lúc Liên khu II đánh Ô Cầu Dền. Các đơn vị vận dụng các cách đánh tập kích, biệt kích, quấy rối, nghi binh. Đêm 16-2 các đơn vị lại tiếp tục nổ súng ở Liên khu I cũng như trên toàn ngoại thành. Đêm 17-2 nhiều tốp nhỏ bộ đội, tự vệ, dân quân Liên khu III - Đống Đa áp sát các vị trí của Pháp hoạt động quấy rối. 20 giờ tối 17-2-1947, theo kế hoạch, Trung đoàn Thủ đô bắt đầu bí mật rút quân. Đến 24 giờ bộ phận cuối cùng rút khỏi Liên khu I. Khoảng 11 giờ đêm ngày 18-2, tuyệt đại bộ phận của Trung đoàn sang tới Dâu Canh. Các hoạt động chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa, cũng như của Liên khu II có tác dụng nghi binh, thu hút sự chú ý của địch, phục vụ cho việc Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu I được bí mật, an toàn. Sau khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu I, quân dân Liên khu III - Đống Đa (về sau đôi thành quận V của Hà Nội) vẫn tiếp tục chiến đấu hết sức anh dũng, đánh địch tiến công ra trên đất chiến khu 2, lập nhiều chiến công, điển hình là trận đánh địch ở Cự Đà Khúc Thuỷ ngày 27-3-1947, trận tập kích sân bay Bạch Mai ngày 18-1-1950. Đồng thời xây dựng cơ sở, đẩy mạnh đấu tranh các mặt, tiếp tục động viên và tổ chức cho dân tản cư và trở thành bàn đạp quan trọng để thành uỷ Hà Nội đưa lực lượng trở lại xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh trong lòng địch ở nội thành. Trong hoàn cảnh mới, các tổ chức kháng chiến được kiện, toàn thêm: Đảng uỷ quận V được thành lập, Bí thư Đảng uỷ lúc đầu là đồng chí Minh Quang, sau là đồng chí Nguyễn Kỷ. Quận uỷ viên là các đồng chí Hồ Trúc, Hà Đăng Ấn. Trong hội nghị toàn đảng bộ tháng 4-1947, đồng chí Hồ Trúc được cử làm bí thư quận uỷ. Ủy ban Kháng chiến quận do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch. Quận bộ Việt Minh do đồng chí Ước làm chủ nhiệm. Phụ nữ quận do đồng chí Nguyễn Kim Phượng làm bí thư. Các bộ phận trực thuộc của quận, chuyên trách từng mặt công tác được thành lập như ban Quân báo do đồng chí Lê Trần Lợi phụ trách, ban Tiếp tế do đồng chí Ước phụ trách, ban Tuyên truyền xung phong do đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh phụ trách, ban Ca kịch do đồng chí Nguyễn Kim (Quế) phụ trách, Đội uý lạo thương binh có các đồng chí Thái Tiên, Hồng Ngọc tham gia. Như vậy, quân dân Liên khu III - Đống Đa, sát cánh với Liên khu II và các quận ngoại thành đã phối hợp chặt chẽ với quân dân Liên khu I, làm tròn nhiệm vụ Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Khu ủy XI giao cho, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của quân dân cả Thủ đô, kiên cường đánh địch. Kìm chân chúng trong nửa tháng, rồi trong một tháng, rồi trong 60 ngày đêm, góp phần tích cực bảo đảm cho cả nước chuyển vào kháng chiến. Ta gây cho địch tổn thất đáng kể về người và trang bị kỹ thuật. Đồng thời lại bảo toàn và phát triển lực lượng ta. Qua chiến đấu ác liệt dài ngày, quân và dân Liên khu III - Đống Đa - Quận V đều được thử thách, dày dạn, ngày càng vững vàng, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới với khí thế mới. Đảng viên, cán bộ, đoàn viên các đoàn thể cứu quốc đều được rèn luyện, sẵn sàng đảm nhiệm những công việc nặng nề hơn. Tổ chức lực lượng vũ trang phát triển mạnh. Ban chỉ huy quận đội Quận V được thành lập do đồng chí Lê Thanh làm quận đội trưởng, đồng chí Hồ Trúc làm chính trị viên. Các đơn vị vũ trang tập trung của quận được xây dựng gồm 2 đại đội, đội nữ du kích và trường huấn luyện. Đại đội 2 do đồng chí Ngọc già làm đại đội trưởng, đồng chí Phương làm chính trị viên. Đại đội 3 do đồng chí Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) làm đại đội trưởng. Đội nữ du kích do đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm đội trưởng kiêm chính trị viên. Trường huấn luyện do đồng chí Lam Sơn làm giám đốc. Các đơn vị bộ đội đều trưởng thành: Sau 60 ngày đêm, tiểu đoàn 523 cùng với tiểu đoàn 145 và một tiểu đoàn khác của Hà Nội được tập hợp lại thành Trung đoàn 80 (Trung đoàn Thăng Long), trung đoàn này về sau được chấn chỉnh thành Trung đoàn 48, trung đoàn chủ công của đại đoàn 320. Tiểu đoàn 56 trở thành cốt cán để xây dựng trung đoàn 35 có nhiệm vụ đánh địch trên đường số 6 Hà Đông - Hoà Bình. Liên khu I đánh địch từ trong ra, từ nơi quan trọng nhất của Thủ đô, vượt qua những cuộc chiến đấu ác liệt nhất do mật độ cao của quân số và bom đạn địch. Quân dân Liên khu III - Đống Đa đánh địch từ ngoài vào, phối hợp chặt chẽ với quân dân Liên khu I đã kiên cường chiến đấu, với tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, góp phần xứng đáng vào "đại thắng lợi" của quân dân Thủ đô Hà Nội. Hà Nội, ngày 25 tháng 9 nám 2001 Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 09:05:24 am Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp (1946-1947) Hồ Trúc* Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyên Chính trị viên Quận đội V, Bí thư Quản ủy V - Hà Nội Năm 1946, tôi ở nhờ gia đình một đồng chí ở phố Trịnh Hoài Đức và sinh hoạt ở chi bộ khu Thăng Long. Những ngày đầu tháng 11 ở Hà Nội đã bàn tới việc có thể phải đánh nhau với Pháp. Sang tháng 12 (1946) thì việc chuẩn bị đã trở nên sôi động. Đồng bào đã bắt đầu rời Hà Nội, tản cư ra vùng quê. Tôi được giao tập hợp số anh em học sinh lớn chuẩn bị cho công tác tuyên truyền địch vận. Chúng tôi có một số tập trung ở một ngôi nhà ngõ Đội Cấn. Còn một số thì vẫn đi đi về về, không ở hẳn nơi tập trung. Anh em bắt đầu tập huấn luyện quân sự và chuẩn bị các phương tiện cho công tác sẽ nhận khi xảy ra cuộc kháng chiến. Cũng có kế hoạch mỗi người dự trữ một ít lương khô dùng cho 2, 3 ngày đầu kháng chiến, nhưng rồi cứ cạn dần, đến hôm 19-12-1946 thì coi như chẳng còn gì. Đêm hôm ấy (tức đêm 19-12-1946) đã được báo trước, anh em tề tựu đủ mặt, chỉ có vài người không có liên lạc là vắng. Tuy biết trước, nhưng lúc tắt đèn, ai nấy vô cùng hồi hộp và phát súng ở Láng đầu tiên nổ đã bay qua đầu chúng tôi mà rót vào Thành. Tiếng nổ vang rền và ai nấy đều phấn khởi vì là súng của ta. Ta đã dùng đại bác để đánh địch bất ngờ. Phút bỡ ngỡ lúc đầu tan dần khi thấy địch không phản pháo. Thế là đổ ra đường, ồn ào gặp gỡ nhau, vác loa đi tuyên truyền trong Tiểu khu, thoả lòng tức tối bọn lính Pháp lộng hành bấy lâu, tự hào ta có súng lớn bắn vào đầu chúng. Chưa làm được gì, thì khoảng 10, 11 giờ đã thấy các bà các chị gánh cơm nóng, đậu kho đi khao quân. Xem ra nhiều người tin tưởng hồ hởi, có thể quân Pháp bị cú bất ngờ, khéo mà quị sớm, vì người ta nhớ tới đêm 9-3 ở Hà Nội (đêm 9-3-1945 quân Nhật đảo chính quân Pháp). Nhưng rồi tiếng súng lớn súng nhỏ kéo dài mãi đến sáng, có thể máy bay địch sẽ bắn phá và lo cho pháo đài Láng. Cuộc chiến đấu tiếp diễn, dòng người ra đi từ đêm tiếp tục, phố xá vắng dần. Tin tức truyền nhau nói về các trận đêm qua làm náo nức lòng người. Chúng tôi có được tin thắng lợi nào là phát thanh bằng loa kịp thời, cả những tin chưa chắc chắn như bom ba càng đánh xe tăng, một chiến sĩ bắn giỏi chỉ bắn một viên đạn hạ hai lính Pháp, rồi có cả "Việt Nam mới" chiến đấu cùng ta v.v... cũng phát lên để cổ vũ nhau. Đi đến đâu cũng thấy đục phá tường để luồn xuyên từ nhà nọ sang nhà kia. Đến những chỗ trống nhà, phải vượt qua thật nhanh. Qua các ngã ba ngã tư phải cúi thấp người chạy, đề phòng đạn địch bắn tỉa. Cứ thế anh em lên sát trận địa để tán phát truyền đơn hoặc gọi loa địch vận bằng tiếng Pháp. Cũng có nơi địch bắn vào chỗ loa ta vừa phát ra, nhưng không ai việc gì. Chúng tôi được chứng kiến cảnh các gia đình tản cư vội vã: chăn màn, quần áo, ấm chén, cả thư từ, ảnh vợ chồng mới cưới, tung toé khắp nơi. Vài ngày sau, bắt đầu lan ra chuyện bắt Việt gian ở xa, ở gần. Nào "nó" có huy hiệu tam tài giấu kín; nào quần áo, khăn quàng có 3 mầu, rồi người ta xử lý tên này tên nọ. Đặc biệt là chuyện súng "tắc bọp" của bọn chỉ điểm lọt vào hậu phương ta, ra hiệu cho địch bắn tới. Cứ nghe tiếng "tắc bọp" là đổ xô đi hòng tìm, xì xào nghi kỵ, mất khá nhiều thì giờ. Cái chết gây xúc động đầu tiên đến với chúng tôi là anh Vơn, một người lính tàu bay của Pháp, bắn rất giỏi, đã hạ được 4, 5 tên địch sau vài ngày chiến đấu. Nghe nói anh rất gan dạ, luôn dũng cảm đứng thẳng chỉ huy anh em. Xác anh được đưa về ngôi chùa gần Núi Bò. Anh em rất thương tiếc anh Vơn và đã mặc niệm anh tại chỗ. Một hôm, tôi từ Nhổn đạp xe về Tiểu khu, dọc đường thấy khiêng ra ngoài nhiều đồng chí bị thương máu me khắp mình, thì ra hôm ấy địch tấn công ra Tiểu khu Thăng Long. Ta đánh trả, nhưng vũ khí đạn dược thiếu, cơ bản là dùng lựu đạn. Nhưng lựu đạn thì quả nổ quá sớm, quả ném ra lăn long lóc không nổ, nên trận đó bị thương vong khá nhiều. Ta đã phải nghi binh, lấy ống bơ, nồi đất để doạ xe tăng. Tôi chạy cả ngày mới xin viện trợ được 70 viên đạn "mút" cũng không đủ dùng. Tuy vậy tinh thần anh em không hề sa sút, chẳng ai chịu rút lui. Súng đạn thì như vậy, còn ăn uống thì ra sao, lúc này không nhớ lại hết được. Chỉ biết hàng ngày có quang gánh tiếp tế, cơm nhiều nhưng thức ăn rất thiếu. Chúng tôi đã phải "tiêu thổ những thứ mà gia đình tản cư để lại như cà, dưa, tương, mắm... Sau này cũng có bữa ăn thịt chó vì "chiến dịch diệt cẩu" để khỏi ảnh hưởng đến hành quân đêm của du kích. Còn lúc ấy, thậm chí quà ủy lạo chiến sĩ cũng toàn là bỏng ngô, một bữa xôi đậu đen ở ngã ba Cầu Giấy cũng được coi như một bữa tiệc ngon vô cùng. Địch đánh lan rộng, phải chuyển máy in, hộp chữ ra xa. Dân công không huy động được, phải xin chỗ anh Phong Nhã mấy chục em ở Đội Hoàng Hùng đi khuân vác. Trời mưa, đường lầy, các em vất vả lắm mới chuyển hết về Tây Mỗ. Hình ảnh các em ướt như chuột lột, vất vả đến gần tối mới ổn định. Thế mà làm xong nhiệm vụ, các em nhất định đốt đuốc trở về vị trí, không chịu ngủ lại đêm. Tinh thần các em thật là cao vô cùng. Tờ báo "Thép lửa" của chúng tôi phải đình bản và nhập vào báo Thủ đô. Nhưng nhà in do bác Bình, anh Sự, anh Long phụ trách sau vẫn đưa về Cự Đà in xong cuốn "Du kích Nga", phát không cho các đơn vị, rồi mới chuyển hẳn đi nơi khác. Đầu tháng 2 năm 1947 thì có lệnh tập kết về Cự Đà, Khúc Thuỷ. Chính ở đây mới tập hợp nhau lại thành Quận V. Ở đây có Quận uỷ mới do anh Kỷ làm Bí thư, tôi được cử làm Chính trị viên Quận. Thời kỳ này đánh dấu việc xây dựng các Trung đội, đại đội du kích. Việc huấn luyện được triển khai, có anh Lam Sơn phụ trách, có mấy anh Việt Nam mới giúp sức. Cũng có lập cả đội nữ du kích do chị Kim Thoa phụ trách. Vì có ít súng, nên có anh em đã ở trong đội du kích mà chưa được sờ vào khẩu súng lục. Do đó có chuyện một du kích mân mê khẩu "côn bát", cướp cò làm chết một chị cứu thương (hình như tên là Lan) ở ngay nhà dân ở Khúc Thuỷ, làm bà con cũng run sợ lây. Công tác huấn luyện làm anh em mệt nhọc vì tập theo kiểu quân đội đế quốc. Lại còn phải học chính trị nữa. Chúng tôi có mang theo cuốn "Người chính trị viên trong quân đội" cứ cóp y nguyên để huấn luyện; kèm theo là các lời răn đe "bắn bỏ" vì thấy có một số hành vi lấy vải vóc, màn thờ của dân để làm khăn quàng và túi sách. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 09:06:26 am Cự Đà lúc đó chỉ xa Hà Nội có nửa giờ chim bay, nhưng tập trung rất đông người tản cư, quà bánh sầm uất, nhất là xung quanh khu đình làng. Rồi bên kia bờ sông còn mở hội hè 2, 3 ngày trống chiêng lu bù. Sở dĩ như vậy là vì các đường dẫn tới Cự Đà đã bị đào phá, ta chặn đánh úp địch hành quân, còn bản thân địch cũng chưa có tiếp viện để nống ra qua vòng đai.
Lúc này, ta đã có một cơ quan tiếp phẩm đàng hoàng, đã lấy thóc về xay, đã có người đi lĩnh thức ăn, gạo nước cho từng đơn vị. Tôi nhớ chuyện này vì có một hôm thấy đồng chí Ước hớt hơ hớt hải về xin người lên vận chuyển mắm muối tương cà gạo để chạy giặc sắp tiến quân đến gần. Tết năm ấy là một Tết khá rôm rả, có đủ bánh chưng, kẹo bánh của hậu phương ủng hộ. Rồi có tin Trung đoàn Thủ đô ra khỏi Liên khu I vài ngày sau Tết. Địch như vậy là được rảnh tay ở phía sau lưng. Và chỉ nửa tháng sau, ngày 2-3-1947 chúng đã mở cuộc tấn công ra Hà Đông, đe doạ Cự Đà. Ta để quân đóng dọc sông Nhuệ, còn bản doanh rút Xuống Bối Khê, rồi về vùng Bồ Nâu, Tri Lễ. Ta vẫn từ Cự Đà xuất quân vào quấy rối ngoại ô nội thành và sân bay. Đấy là lý do địch hành quân nhiều phía đánh vào Cự Đà. Trận quyết liệt diễn ra vào ngày 27-3, khi địch ập từ Hà Đông, Mậu Lương, Đa Sĩ xuống Cự Đà. Để cản bước địch, 2 đồng chí Sự và Tự đã chiếm giữ ngôi nhà ở bên sông Nhuệ đánh lại địch từ sáng đến chiều ngày 27. Địch có súng to, súng nhỏ, có cả xe tăng thiết giáp đi theo, nhưng không dùng được vì địa bàn chung quanh ngôi nhà khó xoay trở. Chúng bắn phá từ xa rồi vào gần giáp ngôi nhà. Các đồng chí Sự và Tự sử dụng lựu đạn là chính, quyết ghìm chân chúng. Từ tầng dưới lên tầng trên, rồi lên hẳn tầng thượng. Địch không làm sao chiếm được ngôi nhà bèn chất rơm... đốt. Có lúc súng xì-ten của ta bắn được vài viên thì tắc, đồng chí Sự ức quá ứa nước mắt, phải dựa vào quả lựu đạn cuối cùng. Trời đã gần tối, địch không thắng được ta. Ta cũng đinh ninh sắp đến giờ phút hy sinh, hai anh đã ghi lại lời trối trăng quyết tử. Đúng lúc ấy thì địch rút lui sợ khi đêm đến ta tập trung bao vây chúng. Thắng lợi này được cả báo ta và báo địch đăng tin. Tiếng vang về ý nghĩa trận này cổ vũ tinh thần Quận V rất nhiều. Đến gần một năm sau, khi tôi là Trưởng ban Tuyên huấn Hà Nội lên họp Hội nghị Tuyên huấn ở Trung ương tại Đại Từ (1948) còn phải kể lể tỉ mỉ về trận này cho các đại biểu. Nó nổi lên tinh thần quyết tử của ta, ít thắng nhiều, gieo rắc niềm tin có thể thắng địch nếu gan dạ và thông minh. Về nơi tập kết mới khoảng cuối tháng 3, lẻ tẻ có cha mẹ đem con ở tuổi thiếu niên xin cho theo kháng chiến, cũng có một ít người bắt được liên lạc với gia đình xin rút lui về hậu phương. Nói về các em thì phải nói đến công lao liên lạc của các em và cả việc lấy tin tức từ các em đem về. Tôi nhớ có một lần theo anh em lên quấy rối sân bay Bạch Mai. Từ căn cứ lên đến Cự Đà thì trời tối, trăng lưỡi liềm bị mây che lúc khuất lúc hiện. Chú bé 14 tuổi người miền Trung đã dẫn đường cho chúng tôi, chú thoăn thoắt qua các bờ ruộng đường làng đưa chúng tôi đến chỗ dấu thuyền. Chú chở đi chở về qua sông Nhuệ và luồn lau lách đi vào phía sân bay. Lúc trở về, tôi mệt quá không còn sức đi ra khỏi vùng tầm súng của địch, ngủ ngồi ngay bên một quán nhỏ. Trong khi đó chú liên lạc vẫn nhanh nhẹn đi vận động mua ăn cho anh em. Phải nói là trong cuộc chiến đấu, các em chuyển biến rất nhanh và nhiều em đã dũng cảm thông minh có khi hơn cả người lớn. Thời kỳ đầu về Ước Lễ, Tri Lễ cũng là thời kỳ xả hơi. Dân tản cư về đây khá đông. Việc ăn xài lu bù, anh em ta sau những ngày gian khổ cũng bị cuốn vào môi trường đó, có đồng tiền nào cũng bị hút vào quà bánh, cà phê. Có đồng chí bán cả quần áo, xe đạp để khao lẫn nhau, chuyện tiếu lâm, chuyện tầm phào phát triển. Vào lúc đó có "Thư của Bác Hồ gửi các đồng chí Bắc Bộ và Trung Bộ". Quận uỷ tổ chức học tập, kết quả dẹp được các xu hướng tự do vô kỷ luật, được nhận thức về trường kỳ kháng chiến, về tư cách người chiến sĩ cách mạng, ổn định được tư tưởng, bắt đầu phát triển được nhiều đảng viên... Có lúc quan niệm còn ấu trĩ, đem cả súng xì-ten, lựu đạn chầy bày lên bàn thờ Tổ quốc đế làm lễ kết nạp Đảng. Buổi ra quân một đại đội mới cũng làm quá long trọng, động viên quá mức, có phần kích động, dẫn đến vài hôm sau trong một trận với địch đã thương vong gần một trung đội. Tính chất tiểu tư sản còn rất nặng nề trong chỉ đạo. Việc đánh Thạch Bích cũng chứng tỏ sự chỉ đạo không vững vàng ấy. Chỉ vì một đồng chí bị địch giết dã man, vì nhân dân các làng bên uất ức kêu ca lãnh đạo mà hai cấp uỷ Thanh Oai và Quận V đã chủ trương đánh vào làng Công giáo có số phản động ấy (đồn Thạch Bích). Hậu quả phải vài ba năm sau mới tạm giải quyết được. Về Tri Lễ, Ước Lễ một thời gian, có chủ trưởng giảm biên chế, vì số người phải cáng đáng quá đông, không chịu nổi. Đây là bước khó khăn. Nhiều anh chị em đã gắn bó 3, 4 tháng rồi, công tác chiến đấu rất tốt. Công chức có, học sinh có, thương gia cũng có. Lại có cả thành phần trước vốn là lưu manh đã làm quân báo tình báo rất đắc lực. Thậm chí có cả chị em vốn là cô đầu nhà thổ, xung phong vào các đội cứu thương, rất tận tuỵ thương yêu anh em. Có trận bom, có nhiều thương vong, các chị nhặt từng mảnh ruột, từng bàn tay, vừa làm vừa khóc, tình nghĩa đồng đội rất sâu sắc. Nay cho ai về sản xuất, ai ở lại. Nhưng rồi cũng ổn thoả, an tâm, người về gia đình sản xuất, người bổ sung sang quân đội chính quy, người vào tình báo, quân báo, người hoà lẫn vào dân hồi cư để làm nhân mối hoạt động nội thành của ta. Những cuộc chia tay liên tiếp thật vô cùng xúc động. Một hôm xuống kiểm tra quân số một trung đội được báo cáo đã giảm biên. Anh em điểm danh đến số 22, bỗng có một chú bé lao ra, tay cầm cái quạt nan, điểm tiếp 23. Thì ra trung đội phải nói dối trên, dấu quân số, chia khẩu phân để nuôi em liên lạc. Còn em thì đinh ninh mình vẫn là chiến sĩ trong đơn vị. Có hôm phải tiếp riêng một chị trước là me Tây nay xin được vào thành làm nghề cũ cốt để làm việc cho ta. Hôm tiễn chị ra Ba La Bông Đỏ, chị khóc rất lâu, tiếc không ở lại được với anh chị em để chiến đấu công khai. Sang tháng 6, trời bắt đầu nóng. Chúng tôi đang họp ở Quế Sơn, cách Bồ Nâu một cánh đồng thì có máy bay Dakota lượn quanh. Chúng tôi đề phòng bị ném bom, nên rút ra ngoài sân đình. Máy bay lượn lại, hạ tháp, cánh cửa bên mở ra, rồi bay thẳng đi. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dự đoán được tình hình. Và hôm sau, chúng đã nhảy dù xuống Bồ Nâu, Úc Lý. Tiếng súng bắn liên hồi, từng cột khói bắt đầu bốc lên. Quân ta bố trí ở Tri Lễ, đợi đánh địch tràn vào. Nhưng địch chỉ phá phách ở Bồ Nâu. Hôm sau chúng rút, ta đánh vuốt đuôi. Xem ra địch cũng không cố tình sục sạo nhiều. Một đơn vị tuyên truyền xung phong của ta nằm dưới hầm đình làng Bồ Nâu không bị phát hiện. Cán bộ ta trốn trong cột rơm cũng thoát, các tài liệu máy chữ cũng dấu kịp, ta không mất một người nào. Nhân dân cũng thiệt hại phần nào. Xem ra, đó là một cuộc tập nhảy dù chuẩn bị cho Thu Đông đánh lên Việt Bắc là chính. Sau trận này, ta mới cảnh giác hơn: bí mật từ việc dùng giấy vệ sinh đến sắp xếp ba lô, tập báo động, di chuyển ban đêm v.v... Vào tháng 9-1947, Khu uỷ XI quyết định lập Thành ủy Hà Nội, cũng là lúc tôi thôi giữ chức Bí thư Quận ủy, được điều động lên Tuyên huấn Khu XI và sang đầu năm 1948 thì về làm Trưởng ban Tuyên huấn Hà Nội. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:32:13 am NHÂN DÂN VÀ CHIẾN SĨ LIÊN KHU III ĐỐNG ĐA - QUẬN V - HÀ NỘI những ngày đêm chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược thời kỳ 1946 -1348 Ban Liên lạc bạn chiến đấu Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội ĐOÀN HẢI - nguyên Phó Vụ trưởng Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Nguyên liên lạc Quận đội V Hà Nội Đặc điểm địa bàn Liên khu III - Đống Đa Hoạt động gây hấn của thực dân Pháp. Từ đầu năm 1946, các phố ở nội thành Hà Nội được tổ chức thành 3 Liên khu, đó là Liên khu I, Liên khu II và Liên khu III; Vành đai ngoại thành gồm 5 khu Lãng Bạc, Mê Linh, Đống Đa, Đại La, Đề Thám. Liên khu III nằm ở phía Tây Nam nội thành. Phía Đông giáp Liên khu II lấy đường Hàng Lọng làm giới tuyến. Bắc giáp Liên khu I, đường giới tuyến đi từ phố Cửa Nam qua phía Bắc các phố Nguyễn Thái Học, Kim Mã, Ngọc Khánh ngày nay. Tây Nam giáp khu Đống Đa ngoại thành. Đường Hàng Bột, chạy từ sát Văn Miếu, gặp phố Khâm Thiên, đường La Thành ở Ô Chợ Dừa, rồi ra Ngã Tư Sở, Hà Đông, là đường huyết mạch nối liền Liên khu III một bên với Liên khu I và một bên với Khu an toàn của Hà Nội và Trung ương. Đặc biệt, đầu Hàng Bột trên - Văn Miếu là nơi kế cận Cửa Nam, Cửa Tây Thành Nội - nơi xuất phát của các lực lượng địch tiến công ra ngoại thành và các cửa ô. Trên phân lớn diện tích của địa bàn này, có nhiều làng xóm xen kẽ đồng ruộng, chia cắt bởi nhiều ao, hồ lớn, đầm lầy rộng, tập trung ở bên tả hữu tuyến đê La Thành, đường Kim Mã, đường Đội Cấn... hình thành đặc điểm của địa hình tự nhiên. Thành Nội là nơi các lực lượng quân Pháp đóng quân tập trung nhất. Trên địa bàn Liên khu III, Pháp còn đóng quân ở nhiều vị trí xung yếu như nhà Gian-đa (nữ tu viện Saint Jeanne d'Arc - nay là Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam), ga Hàng Cỏ (nay là ga Hà Nội), nhà Dầu Shell, Khâm Thiên, Khu nhà Hạ sĩ quan Pháp (đầu đường Hàng Bột), nhà Đờ-lê-vô (nay là cửa hàng lương thực số 9 Cát Linh). Nhà thờ Hàng Bột và tu viện Sơ Ăng-toan (Soeur Antoine) được coi là nơi trú ngụ của Trung tâm tình báo Pháp. Nhà thờ Nam Đồng dòng Chúa Cứu thế, những toà biệt thự của sĩ quan cao cấp Pháp, công chức cao cấp Pháp, Pháp kiều và ngoại kiều khác; cả toà báo "Vì nước" của bọn Việt quốc phản động v.v... sẽ là những tai mắt và ổ đề kháng của địch sau này. Cư dân Việt Nam vốn sinh sống trên địa bàn Liên khu, từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần. Tuyệt đại bộ phận là dân lao động. Khu Hoả xa Hà Nội có nhiều đơn vị (Ga Hà Nội, Văn phòng Giám đốc, Ty Xa vụ, cầu đường nhà cửa, Xương toa xe, Xương và Đoạn đầu máy) đóng trụ sở từ đầu phố Sinh Từ, suốt đến Ngã tư Khâm Thiên, hoạt động nhộn nhịp ngày đêm, có ảnh hưởng nhiều mặt tới hoạt động của cả thành phố Hà Nội. Công nhân, viên chức Hoả xa là bộ phận cư dân đông đảo của Liên khu từng có chiều dày truyền thống đấu tranh yêu nước, đấu tranh cách mạng. Trong đội ngũ công nhân, còn có những người thợ thuộc ngành điện, sửa chữa điện cơ, bưu điện, in.. Công nhân ở các xưởng tư nhân: nhà máy Tóc, phân Năm Diệm, thuỷ tinh Cầu Giấy. Thợ thủ công xưởng tư nhân mộc, rèn, cơ khí nhỏ... tập trung nhiều ở Hàng Bột, Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến). Hoạt động giao thông vận tải, sản xuất công nghiệp nhỏ và tiêu thủ công sôi động tháng ngày đã cuốn hút người lao động gắn bó trong cuộc sống xã hội đô thị. Cư dân ở các làng Lương Sử, An Trạch, Văn Chương, Thổ Quan, Trung Tự, Vạn Phúc v.v... nơi có đồng ruộng, nhiều hồ, ao, đầm lầy...; đa số làm nghề trồng rau, lúa, chăn nuôi gà lợn, bò sữa, chạy chợ, bồi bếp, phu phen... Cùng những người thợ, họ là lực lượng cơ bản của cuộc chiến đấu giành độc lập và giữ nước trên địa bàn Liên khu. Các tầng lớp viên chức, tiểu thương, tiểu chủ, bác sĩ, kỹ sư... ở xen kẽ, rải rác trong các phố xá, làng xóm. Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, con em của các thành phần cư dân, nhiều thanh niên nam nữ, học sinh hoạt động trong các đoàn thể Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc, là lực lượng đông đảo, nhiệt tình cổ động và thực hiện những chủ trương đường lối của Hồ Chủ tịch, của Đảng Cộng sản và Chính phủ. Trên địa bàn Liên khu III còn có Việt Nam nhân dân Cứu quốc, tập hợp nhiều người trung niên trở lên, tự nguyện hoạt động nhân đạo ở Bích Câu đạo quán; Nông dân Cứu quốc, Cựu binh sĩ Cứu quốc (như ở làng Giảng Võ)... Là nhân lõi trung kiên gắn Đảng Cộng sản với mọi tầng lớp quần chúng, đội ngũ những gia đình yêu nước, gia đình cơ sở cách mạng và chiến sĩ cách mạng đã có những đóng góp quan trọng cho cách mạng, cho kháng chiến. Đó là nữ đồng chí Nhâm (nhà ở gần Thịnh Hào) là người phụ nữ bị mật thám Pháp bắt trong vụ rải truyền đơn ở trường Sinh Từ. Là đồng chí Liêm, cán bộ Công vận ở phố Trương Vĩnh Ký (nay là phố Phan Văn Trị). Đồng chí Nguyễn Kỷ quê gốc Mỹ Hào, Hưng Yên, trú ngụ ở làng An Trạch, hoạt động Công vận, Đảng trong tầng lớp công nhân viên chức ở Thuỷ tinh Cầu Giấy, Bệnh viện Bạch Mai, Vô tuyến Vọng... Trong làng An Trạch có ông Nguyễn Văn Lan, ông Nguyễn Văn Mậu, ông Hiền, cụ Nguyễn Đình Nhẫn ở 86 Khâm Thiên là viên chức Hoả xa Đông Dương, vốn có cảm tình với cách mạng, cụ khuyến khích các người con lớn tham gia cách mạng. Nhà cụ Hai Lộc ở ngõ Thổ Quan là nơi ở và làm việc của đồng chí Nguyễn Thành Lê, là nơi tạm tránh sau khi vượt ngục Hoả Lò đêm ngày 9-3-1945 của các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lam, Lê Trọng Nghĩa. Căn biệt thự 96 Hàng Bột (nay là số 106) của cụ Tri phủ họ Nguyễn, vốn là cơ sở cách mạng, nơi nuôi dấu cán bộ, nơi lui tới liên lạc hội họp của các đồng chí Vũ Oanh, Vũ Quang v.v... Căn nhà 73 Hàng Bột của cụ Tống Bá Nho vốn là thành viên của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, người con gái của cụ - bà Tống Thị Hiên là liên lạc viên nhóm đảng viên Cộng sản Trần Thuyên, Võ Sán v.v... Ở Liên khu III, bên cạnh đời sống xã hội của những cư dân lao động, còn có một đời sống khác - tàn dư của chế độ cũ, đời sống bèo bọt của những người phụ nữ bất hạnh hành nghề cô đầu, nhà thổ, tập trung ở phố Khâm Thiên, Đội Cấn, Trại con gái Ngọc Hà, Ngã Tư Sở... Sau khi Nhà nước Dân chủ Cộng hoà ra đời, hoạt động của Đảng bộ Liên khu chỉ đạo các đoàn thể Cứu quốc trong Việt Minh, chủ yếu là tổ chức và tuyên truyền giáo dục quần chúng. Chính quyền các phố do Ủy ban Hành chính điều hành. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:33:03 am Tổ Tuyên truyền ở các phố được hình thành gồm các thành viên chọn lựa từ các đoàn thể Cứu quốc, đã tổ chức những cuộc họp với dân, những cuộc mít tinh nhỏ để giải thích các chủ trương của Đảng và Chính phủ; vạch trần các âm mưu phản động, phản quốc của bọn Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng đông minh hội... Qua những tháng đấu tranh chống quân Tàu Tưởng và bọn tay sai, người dân Liên khu được tôi luyện và trưởng thành. Anh em Hoả xa Hà Nội đã kiên trì đấu tranh bọn Tàu Tưởng bằng việc chống trả sự doạ nạt, phá phách của chúng, bằng các biện pháp nghiệp vụ đã phá được âm mưu của chúng định giành độc quyền sử dụng và hoạt động kinh doanh đường sắt, chúng ta đã lập được những đoàn tàu vận chuyển vũ khí, chi viện Nam Bộ kháng chiến. Người dân Hàng Bột được tập hợp lại do đồng chí Tống Văn Lập chỉ huy ở đại đội tự vệ phụ trách, đã bền bỉ dũng cảm đấu tranh buộc bọn Tầu Tưởng phải thả anh Nguyễn Xuân Hồng, anh Tùng (ở ngõ Văn Chương) bị chúng bí mật bắt đi giam ở Yên Phụ.
Đồng bào gắn bó trong đấu tranh xây dựng và giữ gìn chính quyền cách mạng non trẻ, nhiệt tình tham gia bầu cử Quốc hội 6-1-1946, hưởng ứng quyên góp cho "Tuần lễ vàng", thanh niên Hàng Bột vinh dự được nhận nhiệm vụ tổ chức Rước Vàng. Đồng bào các giới, các tầng lớp hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch đã sôi nổi thực hiện 3 cuộc vận động lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm bằng các phong trào sâu rộng, liên tục, khai sáng lòng người như tháng 3-1945, phong trào "Khất thực" ở Hàng Bột. Phụ nữ cùng thanh niên, học sinh đi đến các gia đình trong phố để quyên gạo, cơm..., nấu cháo, phân phát cho đồng bào bị đói, đi thu gom xác đồng bào bị chết đói chờ xe chở đi chôn cất. Đồng bào các phố, các làng trong Liên khu tự nguyện giành "Hũ gạo cứu đói" (khoảng tháng 10-1945). Hoạt động nhân đạo, tương thân tương ái, anh Nguyễn Khắc Kỳ cùng một số chị em phụ nữ cũng thu gom một số trẻ em mồ côi về trại Bảo Anh, phố Hàng Đẫy (nay là số 139 Nguyễn Thái Học). Phong trào Bình dân học vụ được tiếp tục phát triển sâu rộng hơn trước Cách mạng tháng Tám, ở các phố, các ngõ lớn, các lớp Bình dân học vụ nở rộ. Người học tự nguyện đến, còn sách vở giấy bút... người có - mang đến, người nghèo - do đã có quyên góp. Người dạy là những học sinh, thanh niên, cán bộ phụ nữ, anh lính Vệ quốc đoàn... Họ đến lớp để vui, để học, để cùng nhau sáng mắt sáng lòng. Trong những ngày sôi động cách mạng, người dân Liên khu III ghi nhớ hình ảnh yêu quý của Hồ Chủ tịch đối với thế hệ tương lai của đất nước. Trưa ngày rằm Trung thu độc lập đầu tiên năm 1945, Hồ Chủ tịch đến thăm và chia quà Trung thu cho các cháu ở nhà nuôi trẻ mồ côi Bảo Anh. Tại đây Người đã căn dặn cán bộ phụ trách "... phải tổ chức trồng rau để cải thiện cho các cháu. Đồng chí Nguyễn Khắc Kỳ đã xúc động thưa với Bác "Chúng cháu xin vâng lời Bác và sẽ làm rau ngay". Bốn tháng rưỡi sau đó, Hồ Chủ tịch lại đến thăm và chia quà Tết Nguyên đán Bính Tuất (30-1-1946) cho các cháu, Người khen ngợi Trại đã biến vườn cỏ thành vườn rau xanh to và đẹp. Nghĩa cử bình dân và nhân hậu của Cụ Hồ thấm đượm lòng người, làm vững thêm niềm tin và kính yêu, gắn bó giữa Người với mọi tầng lớp dân chúng. Giữa lúc nhân dân và quân đội Việt Nam chăm lo bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng chính quyền dân chủ mới và gìn giữ cuộc sống thanh bình thì ở Nam Bộ, lợi dụng Đồng minh vào tiếp nhận Nhật đầu hàng và giải giáp quân đội Nhật Bản, quân Pháp đã núp sau quân đội Anh - Ấn thực hiện dã tâm chiếm đóng và gây hấn. Bốn ngày sau khi Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, ngày 27 tháng 9 năm 1945, công nhân viên chức Hoả xa Hà Nội, hưởng ứng lời kêu gọi ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, đã mở đầu phong trào tình nguyện làm thêm giờ ủng hộ đồng bào Nam Bộ, vận chuyển vũ khí và bộ đội tình nguyện Nam tiến. Thanh niên nô nức tòng quân. Phụ nữ, thiếu nhi miệt mài đi quyên góp tiền của, vải vóc, áo quần... gửi giúp chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ. Máu chảy, ruột mềm! Toàn dân Liên khu III sôi nổi góp quỹ đảm phụ quốc phòng, tự nguyện góp tiền mua sắm vũ khí, thiết thực chi viện Nam Bộ kháng chiến. Trong Nam đã vậy. Còn từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, bọn phản động trong nước như Quốc dân đảng, Đại Việt được lực lượng quân đội Tàu Tưởng bao che, dung túng đã khiêu khích, gây rối... âm mưu lật đổ chính quyền ta. Trước tình thế chính trị phức tạp đó, ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chính phủ ta ký Hiệp định sơ bộ đồng ý để quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân đội Tầu Tưởng. Quân Tầu rút về nước. Ở Hà Nội, lúc đầu quân Pháp chiếm đóng tại các vị trí quân Tâu đồn trú, dần dần phát triển nhiều điểm đóng quân mới ở nhiều đường phố, bí mật phân phát vũ khí, thậm chí lập ổ tác chiến ngay tại các nhà riêng của Pháp kiều. Từ tháng 10 năm 1946, quân Pháp đã gây nhiều vụ khiêu khích, nhân dân Hà Nội vẫn kiên nhẫn mít tinh, biểu tình phản đối hành động phá hoại Hiệp định sơ bộ của thực dân Pháp. Đồng thời, trên các đường phố, nhân dân và tự vệ cũng đã phải đắp ụ, lập các vật chướng ngại để hạn chế sự hung hăng của Pháp. Đầu tháng 11 năm 1946, hai xe Háp-trắc của Pháp đã húc phá ụ chướng ngại ở đầu phố Khâm Thiên và bắt người của ta. Lực lượng Vệ quốc quân, công an và Tự vệ đã bố trí sẵn sàng chiến đấu, đồng thời khẩn báo Liên kiểm Việt - Pháp đến giải quyết. Trên địa bàn Liên khu III, chúng ta đã bình tĩnh không nổ súng, tránh mắc bẫy khiêu khích của Pháp. Nghiêm trọng hơn nữa, ngày 17 tháng 12 năm 1946, quân Pháp đã tiến công Tự vệ, xả súng tàn sát dân lành ở phố Hàng Bún, Yên Ninh. Tiếp đến, ngày 18-12-1946, Pháp hạ tối hậu thư, đòi tước vũ khí của tự vệ, đòi Chính phủ ta trao quyền giữ gìn trật tự ở Thủ đô cho quân đội Pháp. Nhận định quân Pháp sẽ gây hấn ở Thủ đô đang thành hiện thực. Thi hành chỉ thị của Thành uỷ Hà Nội, lúc đó đổi thành Khu uỷ XI, Liên khu III tổ chức lực lượng, chuẩn bị kháng chiến và chiến đấu. Dã tâm tái xâm lược nước ta của thực dân Pháp đã rõ ràng. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:33:52 am Thực hiện chủ trương giáo dục quần chúng nhân rõ âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, vận động nhân dân góp của góp công bảo vệ đất nước, tăng cường xây dựng và phát triển thực lực cách mạng. Khẩn trương xúc tiến công tác chuẩn bị kháng chiến và sẵn sàng chiến đấu. Yêu cầu về tổ chức và tăng cường cán bộ cho các Liên khu trong thành phố Hà Nội để củng cố vững chắc sự lãnh đạo của Đảng lúc này đặt ra rất cấp bách.
Về phần Liên khu III, từ đầu năm 1946, đồng chí Lê Trung Toản, Bí thư Liên khu uỷ, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Liên khu III. Đến giữa năm 1946 đồng chí Đỗ Trình - Thành uỷ viên là Bí thư Liên khu, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Liên khu III, thay đồng chí Toản. Liên khu uỷ được thành lập gồm 4 đồng chí, phân công đồng chí Đỗ Trình - Bí thư phụ trách chung và chính quyền, quân sự; phó Bí thư Minh Quang phụ trách công tác đảng vụ, tuyên truyền, các đoàn thể quần chúng và chi bộ Khu Văn Miếu (Khu Văn Miếu là một trong ba khu của Liên khu III); Liên khu uỷ viên Nguyễn Kỷ phụ trách Công vận và chi bộ khu Thăng Long. Đồng chí Hà Đăng Ấn - phụ trách khu Hoả xa. Cũng trong dịp điều động cán bộ tháng 10 năm 1946, Thành uỷ Hà Nội cử về Liên khu một số cán bộ như đồng chí Hồ Trúc, Phạm Hướng (Tư Koóng)... cùng một số thanh niên, học sinh như Trịnh Khắc Dụng, Trần Phi Hiển... Thành uỷ Hà Nội cũng in, phát cho mỗi đảng viên một chứng minh thư có in chữ CB trên góc đế tiện liên lạc, sinh hoạt phòng khi nổ chiến sự. Cơ sở Đảng trên địa bàn Liên khu, ngoài hai chi bộ đường phố trực thuộc là chi bộ Văn Miếu, chi bộ Thăng Long, còn có chi bộ Thuỷ tinh Cầu Giấy, chi bộ sở vô tuyến ở Vọng, chi bộ Hoả xa Hà Nội (từ thời điểm tháng 10 năm 1946, không kể 5 đồng chí được tách ra thành lập chi bộ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy), số lượng đảng viên của Liên khu III trên 30 đồng chí: Đỗ Trình, Minh Quang, Nguyễn Kỷ, Hồ Trúc, Phạm Hướng, Quách Đình Kiên, Nguyễn Kim Thoa, Nguyễn Minh Thanh, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Đình Sơn, Chu Xuân Ấm, Nguyễn Ngọc Bảo, Văn Lâm, Nguyễn Văn Sửu, Nguyễn Văn Tân, Trần Quốc Diệp, Hà Đăng Ấn, Phạm Hồng, Tuỵ, Inh, Nghĩa, Trạc, Phúc, Chân, Hông, Công, Bằng, Bỉnh... Chi bộ Văn Miếu phụ trách các phố Sinh Từ, Hàng Đẫy, Hàng Bột, Khâm Thiên..., các làng An Trạch, Lương Sử, Văn Chương, Thổ Quan, Xã Đàn, Trung Tự, Thịnh Hào... Đồng chí Minh Quang trực tiếp phụ trách chi bộ. Chi bộ Thăng Long phụ trách các phố Ngọc Hà, Đội Cấn, Sơn Tây, Kim Mã (đoạn đến Tám Mái), một số phố Tây (nay là phố Trần Phú, Cao Bá Quát...). Đồng chí Chân là bí thư. Chi bộ Hoả xa Hà Nội do đồng chí Trần Quốc Diệp làm Bí thư. Chi bộ Thuỷ tinh Cầu Giấy có đồng chí Nguyễn Văn Sửu làm Bí thư. Chi bộ Sở vô tuyến Bạch Mai (Vọng) có đồng chí Nguyễn Văn Tân làm Bí thư. Các đồng chí đảng viên giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng, có đồng chí trực tiếp chỉ huy chiến đấu, đã nêu tấm gương đấu tranh bền bỉ, sâu sát quần chúng, được dân tin. Đoàn thể Phụ nữ Cứu quốc, do đồng chí Nguyễn Minh Thanh làm Bí thư, là lực lượng nòng cốt trong phong trào quần chúng. Đoàn Thanh niên Cứu quốc, lực lượng xung kích của các phong trào ở Khu Thăng Long có đồng chí Văn Lâm làm Bí thư; ở Văn Miếu có đồng chí Bàng. Về chính quyền, Ủy ban Hành chính đổi thành Ủy ban Bảo vệ (khi kháng chiến là Ủy ban Kháng chiến). Đồng chí Đỗ Trình là Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Liên khu, đồng chí Nguyễn Quốc Chương (Thuỵ Hồng) là Phó Chủ tịch. Ủy ban Bảo vệ khu Thăng Long có Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo. Ủy ban Bảo vệ khu Văn Miếu có Chủ tịch Cao Cự Đôi (vắng mặt trước ngày 19-12-1946), còn ở các phố: Hàng Bột có Chủ tịch Nguyễn Văn Mậu; Sinh Từ có Chủ tịch Nguyễn Chính; phố Khâm Thiên có Chủ tịch Khuyến. Ủy ban Bảo vệ khu Hoả xa Hà Nội có Chủ tịch Hà Đăng Ấn, kiêm Uỷ viên Bảo vệ Liên khu. Để chuẩn bị cho kháng chiến, Liên khu đã chỉ đạo mở các lớp huấn luyện cho tự vệ, huấn luyện cứu thương ở các phố, đồng thời vận động quyên góp cho đảm phụ quốc phòng. Phụ nữ Cứu quốc, Tự vệ, Tuyên truyền ở các phố sôi nổi thực hiện các hoạt động. Nữ đồng chí Minh Quang huấn luyện quân sự cho phụ nữ làng Thổ Quan. Đồng chí Quỳnh Vân cán bộ Phụ nữ Cứu quốc Liên khu, đồng chí Tống Thị Hoà đã mời đồng chí Nguyễn Khắc Kỳ (Cục Quân y - Bộ Quốc phòng) huấn luyện 3 lớp cứu thương mở tại chùa Bà Trẻ và ngôi đền số 35 Hàng Bột. Một lớp kết thúc trước ngày 19-12-1946 một tuần. Ở khu Thăng Long, đồng chí Chu Xuân Ấm vừa ráo riết củng cố tổ chức tự vệ chiến đấu, huấn luyện quân sự, mở lớp cứu thương ở phố Sơn Tây, Đội Cấn. Tại phố Hàng Bột trên, đại đội tự vệ được ông Quản Chấn (lính quân đội Pháp trước) huấn luyện quân sự bài bản. Đồng chí Nguyễn Hữu Thành được cử làm Liên đội trưởng với đội tự vệ bên Tám Mái (do anh Kẹo chỉ huy). Lớp huấn luyện quân sự do Việt Nam Cứu quốc Hội tổ chức cho các hội viên học tập tại trụ sở ở phố Bích Câu, dưới sự huấn luyện của đồng chí Von - vốn là lính tàu bay của Pháp. Các học viên, hội viên tuỳ tâm góp tiền của để mua sắm, vũ khí, tự trang bị, mua thuốc men bông băng và dụng cụ y tế thông thường; ai có gì góp nấy, sử dụng phương tiện có sẵn để rèn dao, mác... Tự vệ Hoả xa vừa tổ chức huấn luyện quân sự cho gần 1.200 công nhân viên chức, vừa tự sản xuất súng trường khai hậu và hơn chục khẩu Sten bắn phát một. Còn ở các phố, quần chúng hội viên bàn ra cách giải quyết như Phụ nữ Cứu quốc và Tự vệ phố Hàng Bột bàn phối hợp tổ chức được 2 tối diễn văn nghệ. Tự vệ được phân công lo phần biểu diễn nhạc - kịch. Phụ nữ lo việc làm bánh ngọt, làm hộp nhung để bán. Đồng bào Hàng Bột và các phố xóm lân cận hưởng ứng mua vé... và tuỳ tâm ủng hộ. Số tiền thu được dùng mua thêm vũ khí, thuốc men. Lập ra Trạm cứu thương Hàng Bột do đồng chí Nguyễn Khắc Toàn làm Trạm trưởng. Việc làm này được Liên khu khen ngợi. Đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch Hà Nội cũng đến thăm và biểu dương. Ở phố Khâm Thiên, Tuyên truyền và Tự vệ cũng tổ chức biểu diễn văn nghệ tại sân nhà bánh kẹo Việt Hương (gần Cống Trắng). Đồng chí Lê Trung Tín, đội viên Tuyên truyền đã sao vẽ bức chân dung Hồ Chủ tịch, đem bán đấu giá tại buổi biểu diễn đã thu hút sự chiêm ngưỡng tôn kính của đồng bào đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông chủ hiệu thuốc Đông Mỹ ở số 139 phố Khâm Thiên, là người may mắn được nhận bức ảnh với mức giá cao nhất, trên một ngàn bạc Đông Dương. Anh em Khâm Thiên cũng lập được Trạm cứu thương ở đình Trung Tả do đồng chí Khuyến làm Trưởng trạm. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:35:04 am Trong không khí sôi động chuẩn bị kháng chiến, ở lớp học Bình dân vẫn vang tiếng học viên đọc theo cậu giáo Bình dân học vụ Nguyễn Khắc Kỳ trong học vần anh qua câu thơ:
Xây nhà, mà ở têu tranh nát Dệt lụa quanh nám, áo chẳng lành. Bài học vừa giúp học viên nhớ vần, vừa khơi gợi căm phẫn với bất công xã hội, đi vào lòng người xúc động êm dịu. Bài học bình dân cũng ít nhiều góp phần làm thức dậy lòng yêu nước ở một số phụ nữ bó buộc hành nghề ả đào. Sau này, một số chị em đó đã tình nguyện vào tự vệ, cứu thương v.v... Ngay từ tháng 11 và đầu tháng 12, nhận thức rằng bảo toàn cho dân để chuẩn bị kháng chiến là công việc rất quan trọng nên Liên khu đã chỉ đạo các phố lập Ban Tản cư. Hàng Bột, trong số đi đầu thực hiện đã cử Đội trưởng Tự vệ Nguyễn Hữu Thành làm Trưởng ban Tản cư đứng ra lo liệu. Khẩu hiệu vận động dân chúng lúc này "Tản cư là yêu nước". Tổ tuyên truyền ở các phố sôi nổi hoạt động. Tại các cuộc họp dân để vận động giải thích như vẫn làm, nhiều tổ còn dùng hình thức giải đáp thắc mắc tại chỗ, đối thoại trực tiếp, nên đã làm đồng bào thông tỏ hơn các chủ trương, các việc làm của Hồ Chủ tịch, của Đảng và Chính phủ, cũng như vô hiệu hoá các luận điệu xuyên tạc của bọn xấu, bọn khiêu khích đã trà trộn vào định phá rối cuộc họp. Cách làm này có tác dụng rèn dũa cán bộ ta về nhiều mặt. Thực ra lúc đó mọi người bàn về đánh Pháp thì nhiều, bàn về Tản cư thì ít. Giải thích tuy thông, nhưng vẫn còn ấm ức. Guồng máy tản cư dân chuyển động. Có gia đình cử người về quê trước chuẩn bị. Đối tượng đưa đi trước là các cháu nhỏ, người ốm, người già. Nhiều gia đình tản cư về các làng ven đô ngoại thành. Bà con thôn xóm vui lòng tiếp đón và thu xếp chu đáo nơi ăn chốn ở. Không ít gia đình, vì nhiều lẽ, còn nấn ná ở lại. Ở trại nuôi trẻ mồ côi Bảo Anh, các cháu bé được đưa đi tản cư do một số các bà, các chị tự nguyện trông nom; những em tuổi từ 14 đến 16 được lựa chọn đưa sang Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc chăm sóc, sau này nhiều em đã thành đạt, nhiều em làm liên lạc viên cho các đơn vị Vệ quốc quân. Em Tý, 16 tuôi, lớn tuổi nhất trong số đó đã hy sinh tại Mặt trận Ninh Bình năm 1952 trong cương vị Trung đội trưởng bộ binh. Những người có điều kiện ở lại, cùng hội viên các đoàn thể cứu quốc tiếp tục được biên chế theo tự nguyện vào các đội Tự vệ, các tổ Tuyên truyền, giao thông, cáng thương, cứu thương... Tổ tiếp tế - hoả thực Hàng Bột do bà Tống Thị Hiền phụ trách. Ở Thổ Quan, Khâm Thiên do bà Định phụ trách, cùng cụ Nguyễn Đình Toàn tổ chức tiếp nhận, thu gom gạo, dưa cà, mắm muối của dân ủng hộ. Ban Tuyên truyền Liên khu do đồng chí Nguyễn Minh Thanh phụ trách, tổ chức các Đội Tuyên truyền ở các phố. Ở Hàng Bột, có đội do đồng chí Lê Kim Tùng đội trưởng; ở Sinh Từ, có đội đồng chí Bằng; ở Khâm Thiên, có đội đồng chí Kiêm. Chúng ta bình tĩnh, lặng lẽ, khẩn trương xúc tiến chuẩn bị cho kháng chiến. Đồng chí Đỗ Trình cử đồng chí Hồng phụ trách công tác trinh sát các phần tử nghi vấn và các cơ sở có liên quan với thực dân Pháp, lập danh bạ điều tra; cử cán bộ đi thống kê vật tư phục vụ chiến đấu (như xăng, xi măng, thùng phuy...) và dự kiến cấp xăng dầu cho bộ đội. Đồng chí Nguyễn Kỷ được cử đặc trách chỉ đạo công việc tháo dỡ, di chuyển các máy móc thiết bị ở Sơ Vô tuyến Bạch Mai (Vọng), Nhà thương Bạch Mai, nhà máy sửa chữa điện cơ bưu điện, các bốt điện... Máy móc, thiết bị nào không di chuyển được, cũng được dự định phá dỡ. Dân phố còn ở lại được huy động cùng Tự vệ sao vuông hối hả đào hào giao thông, hố chiến đấu cá nhân, khuân đất, chở cát, vác gỗ cây, tà vẹt sắt... thậm chí cả bàn, ghế, tủ, tràng kỷ... để dựng ụ chướng ngại. Dọc đường Khâm Thiên, ta đắp 3 chướng ngại: ụ đầu phố lớn nhất, có luỹ đất được tôn cao thêm, dày hơn, hào được đào sâu thêm, cắt ngang đường (ụ này được đắp từ hồi tháng 11); ụ Cống Trắng và ụ cuối phố (gần trụ sở công an quận Đống Đa hiện nay). Phía đường Hàng Bột, có 2 ụ: một ụ đắp ngang đường, ở đầu phố Hàng Bột dưới; còn một ụ ở Hàng Bột trên, ụ này được đắp từ 15-12-1946, vị trí ụ gàn đầu phố Đoàn Thị Điểm, ụ có hào sâu, luỹ đất đắp cao ngập đầu chen vào các cây gỗ, giữa ụ để trống trải một khoảng cách độ 2m để dân tản cư đi qua. Đại đội Tự vệ Hàng Bột trên đã thực hiện đúng chỉ thị và yêu cầu đắp ụ. Những cây to và cột điện ở một số đường phố lớn được đục lỗ, khoan lỗ sẵn để nhét mìn (chuẩn bị phá sập để ngáng đường). Tự vệ các phố chuẩn bị các chai ét-xăng, Krêp để phá xe cơ giới dịch. Tự vệ Hoả xa tổ chức thu gom các bu-lông, lập lách, eclipse, nhồi chai xăng krếp, làm pháo ném, pháo đốt, cưa đường ray hỏng thành từng đoạn, tự tạo nên những vũ khí thô sơ, chuẩn bị mìn điện, magnéto để phá cột nước và đánh bom. Đội Tự vệ các xí nghiệp, một mặt lo vận chuyển máy móc, thiết bị về nơi tản cư, một mặt cắt cử người ở lại canh gác, bảo vệ trụ sở, bàn phối hợp chiến đấu với Tự vệ khu phố và Vệ quốc quân. Có đêm công nhân Hoả xa tổ chức 4 - 5 chuyến tàu liên tục chở máy đi về phía Nam. Tự vệ các phố cũng vận động nhân dân đục tường liên thông các ngôi nhà để di chuyển khi xảy ra chiến sự. Lực lượng tự vệ chiến đấu và hậu cần của các phố và xí nghiệp trong Liên khu có trên 12 đội và đại đội, quân số ước độ 400 người, chưa kể đội Tự vệ Bệnh viện Bạch Mai. Khu Thăng Long có 4 đội: Đội Phan - Tống (Phan Chu Trinh - Tống Lê Chân) do đồng chí Lộc (toét) chỉ huy. Đội Thăng Long có đội trưởng Quách Ngọc Hải. Đội Tám Mái có anh Kẹo chỉ huy. Đội Thuỷ tinh Cầu Giấy có đội trưởng Nguyễn Văn Sửu. Khu Văn Miếu có 8 đội: Đội Sinh Từ do đồng chí Nguyễn Phi Hùng trực tiếp chỉ huy. Đội Việt Nam Cứu quốc do ông Hồng, ông Mậu chỉ huy. Đại đội Hàng Bột trên, có đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thành, quân số 145. Đại đội Hàng Bột dưới, do đại đội trưởng Đỗ Lập Sơn chỉ huy (vắng trước ngày 19-12). Đại đội Hoả xa Hà Nội, quân số trên 90 do đại đội trưởng Hà Đăng Ấn chỉ huy. Trung đội Cựu binh sĩ Cứu quốc làng Giảng Võ, Đội tự vệ làng Hào Nam v.v... Đội Khâm Thiên có đội trưởng Ngọc (già). Đội Thổ Quan có đội trưởng Nguyễn Đình Hiếu. Đội Tự vệ Sở Vô tuyến Bạch Mai do đồng chí Nguyễn Văn Tân chỉ huy. Vũ khí của các lực lượng tự vệ, chủ yếu có dao, kiếm, mã tấu..., súng trường các loại độ 15 khẩu, hơn chục khẩu tiểu liên các loại, hơn 120 quả lựu đạn, hơn chục quả mìn điện và một quả bom. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:35:48 am Tăng cường cho Liên khu, còn lực lượng tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, Công an, Vệ quốc quân và Giao thông công binh. Một đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 phối thuộc trong đội hình Tiểu đoàn 145 hoạt động vùng giáp ranh Liên khu III và Liên khu I.
Một bộ phận của Trung đội Hà Huy Tập - thuộc Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, đồn trú tại trường học phố Sinh Từ được lệnh phối hợp với Tự vệ của Liên khu, do đồng chí Cát chỉ huy. Về lực lượng Công an, từ hồi cuối tháng 10-1946, Nha Công an Bắc Bộ đã bổ sung cho Liên khu 20 cán bộ chiến sĩ thuộc lực lượng trinh sát có đồng chí Trần Hoàng Bá, Đạt đen, Bảo trố, Thái Dũng, Đình, Điện Quang, Trường... Đội này có nhiệm vụ phối hợp với Tự vệ và các đoàn thể xem xét khả năng số người trụ lại chiến đấu, rà soát và dự kiến phương án giải quyết đối với phần tử nghi vấn và Pháp kiều, điều tra những ngôi nhà địch có thể lập ổ đề kháng..., vận động dân đi tản cư. Lực lượng Công an bố trí ở 3 khu vực: Giám - Hàng Bột - Hào Nam; Nhà dầu Shell Khâm Thiên - Ô Chợ Dừa (gồm cả Văn Chương, Xã Đàn; Ô Chợ Dừa - Cầu Giấy - Láng - Ngã Tư Sở). Hoạt động trên địa bàn Liên khu còn có một đội trinh sát Thành (thuộc Ban Trinh sát Thành bộ Việt Minh) do đồng chí Tân và Việt Sơn phụ trách, gồm các đồng chí Đoàn Kính, Đoàn Đức Thành, Kim Giang, Vọng, Thịnh, Tuyết, Bích, Huyền, Kim... Đội có nhiệm vụ cùng Liên khu nắm bắt tâm tư của dân và cán bộ chiến sĩ, điều tra tình hình địch, tham gia trừ gian, diệt phỉ, bắt một số Pháp kiều nguy hiểm... Đội Trinh sát Bắc Bộ đóng trụ sở tại 73 Hàng Bột. Lực lượng Vệ quốc quân đóng tại địa bàn Liên khu là Tiểu đoàn 523 do Tiểu đoàn trưởng An Giao chỉ huy, từ tháng 11 năm 1946, Tiểu đoàn bộ đóng tại Nhà máy Tóc (nay là Xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội). Tiểu đoàn có 3 đại đội. Đại đội 27 do Đại đội trưởng Ngô Chuyền chỉ huy, đóng tại vùng Ngã Tư Sở. Đại đội 28 đóng tại Nhà Tiền (nay là Nhà máy in Tiên Bộ). Đại đội 29 đóng quân tại vùng trung tâm xung yếu của Liên khu do Đại đội trưởng Lưu Vân và chính trị viên Trần Hải chỉ huy, Đại đội bộ đóng tại ngõ Văn Chương. Quân số Đại đội 29 có 150 chiến sĩ trẻ, có 2 đảng viên. Trang bị vũ khí của Đại đội có mã tấu, lựu đạn Phan Đình Phùng, súng trường các loại 38 khẩu với cơ số đạn mỗi khẩu độ 10 viên, một khẩu trung liên Mắc-xim với một băng 50 viên đạn, một khau đại liên Nga với 150 viên đạn. Đại đội 29 có 3 trung đội bố trí như sau: Trung đội 58 đóng quân tại nhà Cai Mơ (chủ xe tay - xích lô ở phố Sinh Từ) có nhiệm vụ phối hợp đơn vị Vệ quốc quân và Tự vệ Hoả xa Hà Nội, Tự vệ Sinh Từ đánh chặn quân địch có ý đồ đánh chiếm đầu mối Ngã tư Khâm Thiên. Trung đội 56 đóng quân trong nhà dân ở phố Hàng Bột, cử một tiểu đội dấu quân bí mật trong Văn Miếu. Trung đội 57 phân tán đóng quân tại nhà ông Phan Kế Toại và nhà dân ở phố Bích Câu, có nhiệm vụ cảnh giới phía nhà Deléveaux và bãi Septo (nay là sân vận động Hà Nội). Tiểu đoàn 523 tăng cường trinh sát các mục tiêu trong địa bàn trách nhiệm và phối hợp với tiểu đoàn đồng chí Quang Tuần ở Liên khu II để nắm tình hình địch ở nhà Dầu Shell Khâm Thiên. Từ tháng 1-1947 được tăng cường Tiểu đoàn 56 do Tiểu đoàn trưởng Anh Đệ chỉ huy. Bộ chỉ huy Khu XI (Hà Nội), ngày 21-12-1946 cử về Liên khu III một đội Công binh (thuộc Cục Giao thông Công binh - Bộ Quốc phòng) gồm 20 cán bộ chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Văn Nhạn chỉ huy, có cố vấn người Đức - tên giới thiệu Nguyễn Dân. Đội có nhiệm vụ: góp ý kiến về kỹ thuật trong công tác phá hoại (nhà, cầu, cống); đắp ụ, lập chướng ngại vật ở các ngả đường; hợp đồng với Tiểu đoàn An Giao và các lực lượng khác để đào đắp công sự chiến đấu, tuyến phòng ngự v.v... Về lực lượng quân Pháp, gần đến ngày kháng chiến toàn quốc, ở nhà Deléveaux có độ một trung đội; một tiểu đội ở nhà Dầu Shell Khâm Thiên; một số quân không cố định đóng trong khu vực Ga (gác kho hàng, toa xe hàng); một hoả điểm Moóc-chiê đặt trên tầng thượng tu viện Jeanne d’Arc. Chưa kể tới lực lượng địch có thể huy động từ Thành Nội ra. Để thuận tiện cho việc lãnh đạo và chỉ huy phối hợp, đồng chí Đỗ Trình cho dời trụ sở Liên khu uỷ, Liên khu bộ Việt Minh và Ủy ban Bảo vệ Liên khu từ nhà Dépot đầu phố Khâm Thiên về Nhà máy Tóc - nơi đặt sở chỉ huy tiểu đoàn 523. Cơ quan tuyên truyền của Liên khu từ chùa Thanh Nhàn (sau Hàng Bột) di chuyển sang làng Thành Công cùng máy in Minerve, hộp chữ in... và công nhân in, đồng chí Thanh, Long, Bình... Những thiết bị in ấn này của Nhà in Đại Chúng (phố Phùng Hưng), chủ nhà in đi tản cư để lại; đồng chí Minh Quang đã vận động anh em công nhân khuân về Liên khu. Đến trung tuần tháng 12-1946, nhất là sau vụ quân Pháp thảm sát đồng bào ta ở Yên Ninh và khiêu khích ở trụ sở Bộ Tài chính (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao) ngày 17-12-1946, không khí chiến tranh ở Hà Nội càng ngột ngạt. Các lực lượng tự vệ, tuyên truyền... được lệnh ngày đêm tập trung tại nơi qui định, mang sẵn gạo, thức ăn dự phòng cho cá nhân. Gần ngày chiến đấu, đồng chí Trần Quốc Hoàn (Khu XI) gửi cho đồng chí Đỗ Trình 5 quả bom (50kg/quả) với yêu cầu chuẩn bị sẵn dây cháy chậm và kíp nổ để dùng phá nổ ở những vị trí của ta bị địch đánh chiếm. Trước ngày 19 tháng 12, dân chúng đã tản cư nhiều. Tự vệ đã hoàn thành việc đục thông tường các nhà. Bộ phận Vệ quốc quân đóng bí mật trong Văn Miếu đã đào xong đoạn đường hầm chạy ngầm từ trong Văn Miếu ra trước cửa nhà Jeanne d’Arc. Trên địa bàn toàn Liên khu, ta thực hiện nghi binh chuyển quân mấy ngày liền, cả ban ngày từ nhiều hướng, quân cùng vũ khí kéo vào đóng quân ở các vị trí, đêm tối lại bí mật rút. Dân đi tản cư, nhiều gia đình còn giao lại nhà cửa, thậm chí cả chìa khoá nhờ Tự vệ và Vệ quốc quân trông nom. Trật tự trị an trong những ngày này được giữ nghiêm. Ban ngày rất căng thẳng, nhưng mọi sinh hoạt đường phố vẫn diễn ra bình thường. Ban đêm đường phố vắng lặng. Ai có nhiệm vụ đi lại phải dùng mật khẩu để nhận "là người của ta". Đến nay nhiều người còn nhớ mật khẩu 6:4 hồi đó. Gặp nhau trong dân hoặc phát hiện tiếng người khi cơ động qua lỗ đục tường mà hỏi - đáp đúng mật khẩu thì yên tâm lắm, thân thiết lắm. Liên khu III đã thực hiện chủ trương giáo dục quần chúng lòng căm thù giặc Pháp, cảnh giác âm mưu gây hấn khiêu khích nổ súng của địch, tranh thủ thời gian xây dựng thực lực cách mạng, bảo vệ sự an toàn cho dân, đã tạo ra thế chính trị làm cơ sở cho vũ trang toàn dân, chuẩn bị đi vào kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiếp tục tinh thần tiến công của Cách mạng tháng Tám, cả Liên khu trào dâng khí thế "Quyết tử để bảo vệ Thủ đô". Ở các đội Tự vệ, các đại đội Vệ quốc quân đã xuất hiện Tổ Cảm tử, Tiểu đội cảm tử. Liên khu III sẵn sàng chiến đấu. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 01:44:47 pm Giờ nổ súng. Diễn biến cuộc chiến đấu bảo vệ mảnh đất Tây Nam Hà Nội.
Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1946, đồng chí Đỗ Trình về thành phố nhận chỉ thị. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, Bí thư Khu uỷ, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Khu XI cho biết Trung ương đã chủ trương phát động cả nước đứng lên kháng chiến. Liên khu III phải tấn công các mục tiêu địch chiếm đóng, ngăn chặn địch từ Thành Nội đánh ra, kìm chân địch mấy tuần (tôi nhớ là khoảng hai tuần lễ - Đỗ Trình), phối hợp chiến đấu với các Liên khu I và II; bảo vệ đường ra ATK của Trung ương (tức là theo hướng Hà Nội - thị xã Hà Đông). Vào giờ nổ súng, điện sẽ tắt và pháo ta sẽ bắn mạnh vào Thành. Các lực lượng của Liên khu III phải sẵn sàng đánh địch vào thời gian đó. Giờ cụ thể sẽ được thông báo vào buổi chiều theo mật hiệu mà đồng chí Nguyễn Văn Trân đã qui ước với đồng chí Đỗ Trình. Trong thời gian đó, Tiểu đoàn trưởng An Giao cũng nhận được lệnh từ Bộ chỉ huy Khu XI. Từ trưa, việc chuẩn bị chiến đấu được thực hiện ráo riết thêm một bước. Luỹ chướng ngại ở đầu phố Khâm Thiên được củng cố thêm, ụ chướng ngại ở phố Hàng Bột trên được tăng cường gia cố theo quy định. Các đơn vị Vệ quốc quân và Tự vệ được giao nhiệm vụ lần cuối. Lực lượng Công an được lệnh chuẩn bị hành động, đồng thời chuyển địa điểm tập trung về Ngã Tư Sở. Các hoạt động chuẩn bị kháng chiến được tiến hành rất khẩn trương nhưng kín đáo. Mặt khác, cũng theo chỉ thị của đồng chí Nguyễn Văn Trân, ở mỗi ụ chướng ngại vật, vài anh em được phân công làm động tác giả, vờ như phá ụ, để lừa trinh sát của địch. Khoảng 15 giờ ngày 19-12-1946, đồng chí Nguyễn Văn Trân gọi điện thoại đồng chí Đỗ Trình báo "chuyến hàng sẽ đến vào 18G:00" (theo quy ước: 18G00 + 2G00 = 20G00). Bên lực lượng Vệ quốc quân, từ 18 giờ ngày hôm đó, Tiểu đoàn trưởng An Giao hạ lệnh nổ súng tới từng Ban chỉ huy Đại đội. Ngay sau đó, Ban chỉ huy Đại đội 29 xuống kiểm tra và giao nhiệm vụ tác chiến đến từng trung đội, cùng bàn phối hợp chiến đấu với Ban chỉ huy đội Tự vệ Hàng Bột. Tiểu đoàn điện lệnh Đại đội 27 chuyển hai trung đội lên phối hợp Đội Tự vệ Khâm Thiên, Thổ Quan, còn một trung đội đóng tại phố Nam Đồng làm lực lượng dự bị của tiểu đoàn. Đại đội 28 đóng chốt vùng Nhà Tiền được lệnh sẵn sàng. Lực lượng Tự vệ vùng trung tâm của Liên khu (Hàng Bột, An Trạch...) cũng được bố trí phối hợp tác chiến với Vệ quốc quân: Đội tự vệ do đồng chí Ngô Đoàn Ngọc chỉ huy phụ trách đánh địch ở các phố Phan Phù Tiên và Hàng Cháo; ở phố Hàng Bột (trên) bên dãy số lẻ có đội tự vệ do đồng chí Phạm Văn Nhã chỉ huy, bên số chẵn có đội Tự vệ do đồng chí Tống Văn Lập chỉ huy cùng đồng chí Nguyễn Ngọc Phương; bên phố Bích Câu, Đặng Trần Côn do đội Việt Nam Cứu quốc và Tự vệ làng An Trạch đảm nhận. Đúng 20 giờ 03 phút ngày 19-12-1946, đèn điện thành phố vụt tắt. Tiếp đó, pháo lớn từ Láng (nay là Láng Trung) bắn vào rền vang. Nhiều đám cháy bốc lên ở hướng cửa Bắc. Sau hơn nửa giờ lẻ tẻ, tiếng súng của ta và của địch bắt đầu nổ ran. Chúng ta đã chính thức bước vào cuộc toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngay sau khi chiếc xe ô tô du lịch (sau này được biết, đó là xe Chính phủ ta) xuôi theo đường Hàng Bột, qua ụ chướng ngại Hàng Bột, thì Đại đội trưởng Tự vệ Nguyễn Hữu Thành thi hành lệnh đắp nối ngang đường. Cột điện và cây to được đánh đổ gục ngáng đường. Chuyến tầu điện cuối cùng trong ngày chở bà con đi tản cư, sau khi đổ khách ở Ngã Tư Sở quay về cũng được lật đổ ngáng đường. Đồng chí Hà Đăng Ấn, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hoả xa Hà Nội điện lệnh đoàn tàu khách tù Nam Định về ga Hà Nội (sẽ đến lúc 20 giờ) phải đỗ trả hết khách, để tránh cho đồng bào gặp nguy hiểm, tại cột tín hiệu miếu Hai Cô; còn đầu máy cho chạy đến barie Khâm Thiên đỗ lại làm thành chướng ngại vật trước lúc điện thành phố tắt độ 2 phút. Đồng chí Ấn cũng cho lập một đoàn tầu gồm 5 toa SS khởi hành về phía Bắc do tài xế Nghĩa lái vào lúc 19 giờ 50 và lần lượt đánh trật bánh từng toa để thành chướng ngại vật tại 5 barie Trần Phú, Điện Biên Phủ, Hàng Đẫy, Hàng Lọng, Sinh Từ. Trên Mặt trận Liên khu III, ngay đêm đó, ta đánh các vị trí địch tại nhà Deléveaux, Khu gia đình Hạ sĩ quan, Nhà Dầu Shell Khâm Thiên, Khu Hoả xa Hà Nội... Phía Hàng Bột, Sinh Từ, cả 3 trung đội thuộc Đại đội 29 đều vào trận. Trận đánh nhà Deléveaux. Vị trí này là toà nhà 2 tầng, nằm ở đầu phố Cát Linh. Lúc đó lực lượng địch có một tiểu đội, được trang bị toàn tiểu liên, lựu đạn, có một xe cứu thương, một môtô. Lực lượng tiến công của ta có Trung đội 57 và một Trung đội Tự vệ do Đại đội trưởng Lưu Vân trực tiếp chỉ huy. Khẩu đại liên được bố trí bên dãy phố đối diện, bắn thẳng sang vị trí địch. Địch bắn trả quyết liệt. Xạ thủ đại liên - chiến sĩ Vọng trúng đạn địch, hy sinh tại chỗ. Đồng chí Lưu Vân dẫn một tiểu đội tìm cách trèo lên nóc nhà, phá ngói để ném lựu đạn xuống. Ta vừa đánh, vừa gọi hàng. Có một tên Pháp với vợ người Việt mang theo một súng, cùng một tên người Việt ra hàng, số còn lại tiếp tục cố thủ, bắn trả. Chiến đấu đã gần một tiếng, lực lượng ta vẫn chưa lọt được vào trong, tiểu đội trưởng Tự vệ, đồng chí Phạm Gia Nho trúng đạn, hy sinh. Đồng chí Lưu Vân lệnh cho Tự vệ do đồng chí Nguyễn Hữu Thành chỉ huy mang một quả bom 50kg đặt dưới chân tường để phá sập, nhưng bom không nổ. Cuộc chiến giằng co đến gần sáng. Lực lượng ta phải rút ra, bố trí một bộ phận bao vây phía ngoài vị trí. Địch đưa xe Hap-tơ-rắc đến cứu viện. Khẩu Ba-zô-ca của mặt trận kịp cơ động đến bắn cháy được một xe. Chiều 20-12, số địch còn lại ở nhà Deléveaux lên xe chạy thoát, vì xe cắm cờ Hồng thập tự, ta không bắn. Cũng đêm 19, bên phố Bích Câu, Đặng Trần Côn, Đội Việt Nam Cứu quốc bắt được một số địch, trong đó có tên De Massei là thanh tra lính khố xanh thời Pháp (Inspecteur de la garde indigène). Trong trận đánh nhà Deléveaux, dù là trận đầu, nhưng quân ta đánh gan dạ. Anh em Tự vệ chủ yếu dùng lựu đạn Phan Đình Phùng do ta sản xuất, có quả nổ, có quả không. Cũng có anh em Tự vệ lần đầu giáp trận, do luống cuống quên kỹ thuật thao tác, nên lựu đạn ném ra chỉ lăn lông lốc, không nổ. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 01:45:24 pm Cùng lúc, Chính trị viên Đại đội Trần Hải chỉ huy hai tiểu đội của Trung đội 56 và một tiểu đội tự vệ đánh vào khu nhà Hạ sĩ quan Pháp. Quân ta vừa nổ súng, vừa phát loa kêu hàng. Địch rút lên gác, không bắn trả. Cửa vào tầng dưới địch chặn kỹ, ta chưa phá được, bèn chất đống chăn màn và các thứ dẫn cháy, tưới xăng định đốt thì vợ con địch kêu khóc xin hàng. Ta không đốt, lệnh cho chúng mở cửa ra hàng. Ba hàng binh sĩ quan Pháp cùng vợ con và một xì-ten, một súng lục được đồng chí Tô Văn Nhật và một số đội viên dẫn giải về Sở chỉ huy ở Nhà máy Tóc.
Quả bom chôn ngầm trên đường Nguyễn Thái Học (trước Nữ tu viện Gian-đa), giật không nổ khi xe cơ giới địch chạy qua. Phía Sinh Từ, Trung đội 58 Đại đội 29 cùng Tự vệ nổ súng đánh chặn cánh quân Pháp có xe cơ giới yểm trợ đánh khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hoá Lao động Việt - Xô) và khu Hàng Lọng. Tại khu vực Hoả xa Hà Nội, Tự vệ Hoả xa từ phố Khâm Thiên đánh vào các mục tiêu có địch, đốt phá một số toa xe hàng, diệt một số tên, cây nước không phá được vì sức công phá của mìn không đủ mạnh. Lúc gần nửa đêm 19-12 xuất hiện xe tăng và xe thiết giáp địch bắn rất mạnh vào nhà Ga, cả 3 tốp gồm 5 chiếc xe tăng rải suốt từ cửa Ga đến Ngã tư Khâm Thiên, có một xe tăng đậu ngay trên quả bom ta chôn sẵn ở tim đường ngã tư Khâm Thiên, ta châm mìn điện, giật, bom không nổ. Cùng lúc, Trung đội 50 Đại đội 27 tiến vào, gặp địch từ nhà Đê-pô sang, đã đánh ngay gây cho địch tổn thất. Đến rạng sáng ngày 20-12, ta chỉ để một tiểu đội chốt trên gác nhà Ga. Trên khu vực Thăng Long, lực lượng Tự vệ vào nhà thờ Đa Minh, tên Cờ-rat-sơ, tình báo địch đội lốt tu sĩ chạy thoát. Ta bắt được một số me Tây, đã dẫn giải về phía sau. Lực lượng Vệ quốc quân, Đại đội 1 tiểu đoàn 56 phối hợp với các phân đội của Tiểu đoàn 145 đã cùng tự vệ tiến công các ổ chiến đấu của địch. Trung đội 1 Đại đội 1 chiếm lĩnh Trại con gái Ngọc Hà (nay là Trạm 354 - nơi đón tiếp gia đình bộ đội). Trung đội 2 Đại đội 1 và một phân đội của Tiểu đoàn 145 phối hợp Tự vệ chiến đấu của Đại đội Lam Sơn đánh chiếm nhà máy bia Ô-men (nay là Nhà máy Bia Hà Nội) diệt 11 địch, thu vũ khí trang bị ngay cho tự vệ. Rồi đánh tiếp ổ chiến đấu địch ở Vườn hoa Lapho (nay là Vườn ươm Hà Nội), diệt 4 tên địch; diệt ổ đề kháng của địch ở dốc Ngọc Hà, thu nhiều lương thực, thực phẩm. Lực lượng Công an và Tự vệ đã bắt một số đối tượng nghi vấn, một số sĩ quan Pháp và Pháp kiều ở khu vực sân bay Bạch Mai, một số me Tây. Trong thời gian ta tiến công các vị trí địch ở phía trước, thì ở phía sau ta đã huy động mang số lượng lớn nồi, xoong, bát, ống bơ... rải úp dọc trục đường Hàng Bột đến ngõ Văn Chương, Hàng Đẫy, Kim Mã... để nghi binh làm trận địa mìn, lựu đạn. Thực tế những ngày sau cho thấy tác dụng của nghi binh buộc địch không liều lĩnh xông xáo, xe cơ giới địch phải dừng từ xa bắn thăm dò, bắn uy hiếp. Người dân Liên khu III cùng cả Hà Nội bấy lâu nay dồn nén lòng căm hận giặc Pháp, nay được bung ra sau phát súng lệnh. Lòng háo hức mong đợi giờ đánh Tây đã điểm. Sướng quá! Tự hào thay "súng thần công của ta"! Hà Nội vùng đứng lên... Anh em, bà con ta, ai nấy đều phấn khích. Có nơi anh em mừng quá chạy ra đường phố ôm nhau nghẹn ngào. Không ít người nghĩ rằng Tây bị cú bất ngờ thế này, khéo mà quỵ sớm, vì lẽ người ta nhớ tới chỉ nội một đêm 9-3-1945 Pháp đã gục trong cuộc đảo chính của Nhật. Phút hồi hộp, ngỡ ngàng qua đi nhanh chóng, ai vào việc nấy. Loa tuyên truyền vang lên các phố loan tin chiến đấu, thúc giục bà con tiếp tục đi tản cư. Tổ Tuyên truyền Hàng Bột, Đội Cấn tiếp cận vị trí địch và các phố có Pháp kiều, phát loa địch vận bằng cả tiếng Pháp, tiếng Việt. Tổ tiếp tế - hoả thực có nơi chuẩn bị khá nhanh, độ 10, 11 giờ đêm các bà, các chị đã gánh cơm nóng, thịt, đậu kho... đi khao quân. Cũng may cho Tổ Tuyên truyền, Tự vệ nào đã dùng hết số gạo cá nhân mang theo dự phòng từ những ngày trước, ăn bát cơm chiến trận đầu tiên này, có lẽ mỗi người ít nhiều đều có cảm xúc khó tả, một kỷ niệm khó phai nhạt. Bà con dân phố tiếp tục đi tản cư. Có gia đình đã chuẩn bị trước, nên đi ngay được. Có gia đình vội vã thu gói, nên rơi vãi dọc đường. Bà con làng Lương Sử, An Trạch đã bắc thêm cầu tre qua ao, chuôm, nên dân trong phố tản cư qua đó rất nhanh chóng thuận tiện. Người đi tản cư, chẳng tiếc gì của cải vật chất để lại, dù là bó buộc. Có người tự nguyện khuân cả tủ chè, sập gụ... ra hè phố, để Tự vệ làm vật cản chặn địch. Cho dù trong dòng người tản cư ra nơi an toàn, có nhiều người nghĩ rằng việc ra đi chỉ tạm thời ít ngày, song trong họ hửng sáng niềm tự hào, niềm tin ở Cụ Hồ, tin ở kháng chiến. Những người ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, trong dạ cũng yên tâm thanh thản hơn, giữa họ cảm thấy gần gũi gắn bó với nhau hơn trong cùng đội ngũ... Anh em bùi ngùi thương tiếc chôn cất những đồng đội của mình đã hy sinh ngay trong đêm nổ súng: đồng chí Đạt - chiến sĩ Tự vệ Khâm Thiên, đồng chí Phạm Gia Nho - chiến sĩ Tự vệ Hàng Bột; chiến sĩ Vọng - Vệ quốc quân v.v... Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 01:46:23 pm Những ngày chiến đấu cuối tháng 12 năm 1946.
Liên khu III đã tổ chức đưa phần lớn bà con dân phố đi tản cư, hướng dẫn số hành khách bị kẹt lại trong ga Hàng Cỏ ra khỏi nơi có chiến sự. Suốt đêm 19, lực lượng Liên khu III quấy rối địch bằng địch vận và bắn áp chế. Ban Tuyên truyền Liên khu cử người đi liên lạc lấy tin, các đồng chí Minh Quang, Kim Quế, Công viết bài. Tờ báo "Thép" của Liên khu do đồng chí Minh Quang phụ trách, in typô đầu tiên, sáng ngày 20-12 được đưa đến các tổ tuyên truyền kịp loan tin chiến đấu cho đồng bào và đồng chí trong Liên khu. Lực lượng ta tiếp tục củng cố hầm hào chiến đấu. Các đồng chí Liên khu uỷ phân công đi kiểm tra các khu phố: đồng chí Đỗ Trình kiểm tra tình hình chiến đấu ở các đơn vị; đồng chí Minh Quang và Nguyễn Kỷ kiểm tra ở các phố Khâm Thiên, Hàng Bột, các làng Lương Sử, An Trạch v.v... Hầu hết dân đã tản cư. Chỗ gần nhà Ban chỉ huy Khu Văn Miếu có hàng chục con lợn lớn nhỏ bị trói gô nằm bên bò ao rau muống, 4 - 5 con bò sữa buộc ở cột nhà hậu của chùa; trên bàn nhà hậu có cả một thúng xôi lạc đang bốc hơi. Những món quà lặng lẽ để lại ủng hộ quân ta như gửi gắm tình nghĩa của đồng bào. Bộ phận tiếp tế - hoả thực các phố cùng đi thu gom lương thực, thực phẩm ở các nhà đã đi tản cư để lại. Có nhà còn hàng thúng, hàng chum gạo, vại dưa cà, chai mắm, hũ muối... Ta cũng tiếp nhận ở kho 2 nhà bánh kẹo Việt Hương và Cự Hương có đến mấy chục chum đường trắng, đường phèn, đậu xanh, gạo, hàng thúng trứng gà, hàng bồ lạp xường v.v... Những nguồn lương thực, thực phẩm này có thể đảm bảo được bao lâu, cho bao nhiều người. Hồi đó, ít ai nghĩ tới. Tuy thê, Ban tiếp tế - hoả thực các bà, các chị cũng biết tùng tiệm cho ăn dần, miễn sao lo được miếng cơm nóng cho anh em chiến đấu; có được hộp sữa, bát cháo trứng gà cho anh em bị thương - đó là bản chất bà nội trợ Việt Nam mà! Còn anh chị em Tự vệ, cứu thương, cáng thương... đa số là những chàng trai, con gái Hà Nội vừa rời tay bút, tay búa..., rời cuộc sống Hà Nội thường nhật, thậm chí có người vừa rời cuộc sống nhung lụa mới học được chút ít "quân sự", đến lựu đạn na cũng chưa biết sử dụng, mà nay đã lăn xả vào cuộc chiến với lòng mến yêu đất nước và lòng tin nơi Cụ Hồ. Bước sang ngày thứ hai đánh Tây, ngày 20-12-1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trần Quốc Hoàn được đồng chí Chỉ huy trưởng Khu XI (tức là Mặt trận Hà Nội) Vương Thừa Vũ hướng dẫn, đã vào quan sát mặt trận phố Khâm Thiên và thăm đơn vị chiến đấu tại đó. Anh em phấn khởi và tin tưởng lắm. Sau một ngày đêm chiến đấu, Liên khu III đã góp phần cùng quân dân toàn Thành làm thất bại ý đồ đánh chiếm Hà Nội trong vòng 24 giờ của bọn thực dân xâm lược Pháp. Ngày 21 và 22, địch đánh ra Kim Mã. Tự vệ ta bố trí chặn đánh ở gần chùa Kim Mã (nay là Nhà hát chèo Trung ương). Anh Vơn, một chiến sĩ Tự vệ bắn rất giỏi, mấy ngày qua đã bắn tỉa được 4, tên địch, trong trận này anh chỉ huy rất gan dạ, đánh quyết liệt. Có tốp địch bố trí trên tầng cao, đã bắn gục đồng chí. Đồng chí Vơn hy sinh. Nữ đồng chí Kim Thoa, đồng chí Chu Xuân Ấm cùng đồng đội thương tiếc chôn cất anh tại nghĩa trang Phúc Thiện (Voi Phục). Đội trưởng tự vệ Phạm Văn Nhã bị địch bắn trọng thương gần Hàng Cháo, khi cùng đơn vị đi trinh sát. Đêm 22, máy bay địch bắn phá, ném bom các làng Lương Sử, Hào Nam... giết hại một số thường dân chưa kịp tản cư, càng nung nấu thêm lòng căm thù giặc Pháp. Ngày 23 tháng 12, quân Pháp trong khi tiến đánh Hàng Bông, Phủ Doãn, Chợ Hôm thuộc Liên khu I và II, đã đồng thời hướng sang Liên khu III nhằm đẩy dãn lực lượng ta. Từ sáng sớm, để kiềm chế lực lượng cơ động của ta, quân Pháp cho 2 xe tăng từ cửa Tây xộc ra, án ngữ tại góc đường Hàng Bột - Cát Linh. Hai chiếc này, hoặc tăng hoặc thiết giáp, hàng ngày suốt từ 8 giờ đến 16 giờ đóng chốt tại đó, kéo dài đến ngày cuối tháng 12. Vừa án ngữ, địch vừa bắn đại liên vào các mục tiêu di động của ta dọc trục Hàng Bột. Bên mặt trận Khâm Thiên, hàng ngày lực lượng cơ giới và bộ binh địch từ trong Thành ra, được cối 82 ly ở vị trí ga Hàng Cỏ bắn yểm trợ, chúng liên tiếp tấn công vào trận địa ta. Ta chống trả chặn đánh, buộc địch phải rút. Đêm 23, chấp hành lệnh toàn thành phố nổ súng quấy rối của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, Trung đội 50 của Đại đội 27 cùng Tự vệ Khâm Thiên tấn công nhà Dầu Shell, ta áp sát, bắn và ném lựu đạn. Không thấy địch bắn trả. Ta đột nhập, không có địch. Đến 3 giờ sáng ta rút. Bên Hàng Bột, chỉ huy Đại đội 29 trực tiếp chỉ huy hai trung đội luồn sâu vào phố Hàng Đẫy, Cao Bá Quát v.v... không gặp ổ đề kháng của địch. Bộ đội ta vào một số nhà chỉ còn phụ nữ Pháp kiều chưa kịp chạy vào Thành Nội, họ sợ bị giết, nên có người đem vàng ra nộp và xin tha mạng. Chiến sĩ ta không nhận vàng và để họ an toàn tính mạng. Cao đẹp thay nghĩa cử chính trực và nhân đạo của người lính Cụ Hồ. Ngày 24, Trung đội 58 từ Sinh Từ được lệnh chuyển về tập trung ở Hàng Bột trong thế bố trí mới của Đại đội 29. Trong Văn Miếu chỉ bố trí một tổ 3 người để tiếp tục giữ làm vị trí tiền tiêu quan sát địch chuyển quân từ Thành Nội ra tiến công vào khu vực bố trí chiến đấu của ta. Ngày 25 tháng 12, Đại đội trưởng Lưu Vân chỉ huy một tổ bộ đội và Tự vệ trang bị nhiều lựu đạn, định bất ngờ áp sát diệt 2 xe tăng thường án ngữ đầu phố Cát Linh - Hàng Bột. Do ta không có hoả lực mạnh yểm trợ, nên vừa vượt qua đường, địch nổ súng bắn chặn, đồng chí Trung đội phó Thọ trúng đạn bị thương. Tổ này không hoàn thành nhiệm vụ. Bên phía Hàng Lọng, Khâm Thiên từ đêm 21 - 27 tháng 12, Tự vệ chiến đấu Hoả xa cùng Tự vệ Khâm Thiên đêm nào cũng tổ chức đánh quấy rối cụm các vị trí địch trong khu vực Hoả xa Hà Nội. Đêm 25, một tổ Tự vệ do đồng chí Dậu chỉ huy đột nhập Ga Hà Nội lục soát gần nửa tiếng đồng hồ, không gặp địch, thu được một máy chữ v.v... trên đường rút về đến Hàng Cà (Hàng Đũa), bị địch phục kích, tổ bắn trả, rút được, đồng chí Dậu bị thương, mất tích. Cũng đêm 25 tháng 12, tổ địch vận luồn sâu vào các phố dán truyền đơn, phát loa địch vận, rồi trụ lại ở nhà Cai Mơ (Phố Sinh Từ); do anh em ta chủ quan đàn hát nên bị địch phát hiện, bao vây, anh em ta rút xuống hầm, địch quăng rơm phun xăng đốt. Các đồng chí ta không hàng địch, một số lớn đã hy sinh như đồng chí Chính - Chủ tịch phố Sinh Từ, đồng chí Nguyễn Khắc Thành (chú ruột đồng chí Nguyễn Phi Hùng - chỉ huy Tự vệ), đồng chí Nguyễn Văn Nhã (thợ nhuộm ở 78 phố Sinh Từ) và một số Vệ quốc quân v.v... Tại lễ truy điệu tổ chức ở Thái Hà ấp, đồng chí Minh Quang thay mặt Liên khu biểu dương tinh thần đánh địch, nhắc nhở không chủ quan, tránh hy sinh không cần thiết. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 01:47:15 pm Đặc biệt, đêm 24 rạng sáng 25,-12, thực hiện đánh tập trung, lực lượng Tiểu đoàn 523 phối hợp Tự vệ Hoả xa, Tự vệ Khâm Thiên tấn công vào cụm 5 vị trí địch có nhà Dầu Shell, quán cơm Hỏa xa (2B Khâm Thiên), số 2A Khâm Thiên, Nhà chè Phú Xuân (đầu phố Vũ Hữu Lợi) và Trụ sở Công đoàn Hoả xa Việt Nam. Trong đó trọng điểm là nhà Dầu Shell, do Đại đội 27 đảm trách. Sau khi tiểu đoàn ra lệnh, pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn dồn dập vào các ụ súng và chế ngự sân nhà Dầu, các tiểu đội quyết tử vượt rào xung phong đột nhập, địch bắn chặn quyết liệt, quân ta xung phong lần hai. Vào lúc này, sau khi đánh chiếm vị trí quán cơm Hoả xa, quân ta đã bắn sang yểm trợ. Quân địch bị rối loạn và rút sang phía Ga. Ta chiếm được vị trí nhà Dầu Shell, sở dĩ có thuận lợi vì lẽ khi quân ta đánh vào quán cơm Hoả xa đã diệt được tên địch lái xe thiết giáp, đồng chí Nguyễn Vũ Giáp, quân khí Tiểu đoàn được tăng cường cho Đội Tự vệ Hoả xa, đã cùng hai đồng chí Tự vệ sử dụng súng 12,7 ly trên xe bắn sang yểm trợ, lái cả xe vừa tiến vừa bắn sang hướng nhà Dầu Shell và ra đầu đường Khâm Thiên. Trong lúc ấy, một số đồng chí khác xông lên chiếm tầng trên quán cơm, tiêu diệt bọn địch bắn trả, phá huỷ một khẩu 12,7 ly và thu được 2 hòm đạn 12,7 ly.
Trong trận này, lực lượng Tự vệ Hoả xa có tổn thất: đồng chí Hội hy sinh, 6 bị thương, mất tích 1. Ta tiêu diệt 2 vị trí địch, loại khỏi vòng chiến đấu 20 tên địch, phá huỷ 1 xe thiết giáp, phá hỏng 2 khẩu 12,7 ly, thu được một số súng đạn. Chiến thắng có ý nghĩa quan trọng. Anh em được Bộ chỉ huy Khu XI khen thưởng. Công đoàn Hoả xa Nghệ An gửi ra ủng hộ 3.000đ. Qua mấy ngày tiến công và chống trả chặn địch, thực tiễn chiến đấu cung cấp thêm kiến thức quân sự cho anh em ta, những người dân bình thường chưa hề mặc áo lính, nay dám cầm vũ khí chọi lại lính đế quốc xâm lược nhà nghề. Để hạn chế sức mạnh xe cơ giới của địch và bảo đảm an toàn bí mật cho lực lượng ta cơ động, Liên khu đã động viên anh em ngày đêm đào thêm hào giao thông ngang dọc chữ chi tuỳ địa hình trên các trục đường, đào hào giao thông từ trong nhà ra ụ chiến đấu bên hè phố, gia cố công sự chiến đấu... Đề phòng pháo địch bắn phá trong tầm, Ban Tuyên truyền Liên khu cho di chuyển máy in cùng vật phẩm... lên Làng Cót (Hạ Yên Quyết). Hàng ngày địch thường câu Moóc chiê. Trong lần di chuyển máy, đồng chí Công trúng đạn moóc chiê rơi trước nhà, bị thương nặng, may mắn được bác sĩ Tôn Thất Tùng ở Trạm quân y Kim Lũ cứu chữa. Việc thông tin liên lạc giữa sở chỉ huy Liên khu với các khu phố, các đơn vị do các liên lạc viên dưới sự chỉ huy của Trưởng ban Giao thông Tô Văn Nhật vẫn được đảm bảo. Tổ Tiếp tế - hoả thực các phố tuy dè sẻn, nhưng lượng gạo và thực phẩm gọi là có dự trữ ít nhiều cũng cạn dần. Các bà, các chị vẫn len lỏi mang từng nắm cơm muối vừng, miếng thịt đến tiếp tế từng hầm chiến đấu. Đã phải ăn thịt chó, vì lẽ nguồn thịt lợn... đã cạn, hai nữa phải diệt chó đế tránh lộ khi ta cơ động. Các tổ Tuyên truyền, các nhóm Tự vệ luôn di chuyển phân tán, nên việc ăn uống phải tự lo một phần. Anh em ta,, ban đêm luôn vào sát vị trí địch phát loa địch vận, quấy rối, ban ngày vừa lo chống trả chặn địch, vừa lo truy tìm bọn bắn lén, bọn tắc... bọp. Chúng đã làm ta tốn thời gian truy tìm và khắc phục những xì xào nghi kỵ trong nội bộ ta. Khoảng 16 giờ ngày 28-12, quân Pháp bất thần cho 1 xe tải quân sự GMC chở lính đổ quân (có cả nữ binh Pháp) xuống bãi Septo (nay là Sân vận động Hà Nội). Chúng chuẩn bị tiến công khu vực Bích Câu, nơi trung đội 57 đóng quân. Đại đội trưởng Lưu Vân chỉ huy Trung đội 57 và Tự vệ Hàng Bột, An Trạch thừa lúc địch đang bố trí đội hình, đã nổ súng tập trung, địch bị thương một số. Một tổ 3 đồng chí Tự vệ được lệnh vượt đường sang cướp súng, bị địch bắn trả. Sau độ nửa giờ chiến đấu giằng co, địch phải rút mang theo hơn 10 tên bị thương. Cùng lúc, ổ chiến đấu của ta bố trí ở đầu phố Hàng Bột bị lộ, xe tăng địch án ngữ gần đó đã dùng pháo 37 ly bắn sập gian gác, đồng chí Nguyễn Thế Lĩnh, Chính trị viên Trung đội 57 hy sinh. Để đề phòng quân Pháp mở rộng cuộc tiến công vào địa bàn Liên khu, ta đã xúc tiến đào giao thông hào, nghi binh trận địa mìn. Lực lượng công binh của ta hướng dẫn và phối hợp với lực lượng Tiểu đoàn 523 cùng Tự vệ các phố đã phá một số nhà cao tầng ở phố Khâm Thiên, Nam Đồng... đề phòng địch chiếm dùng làm cao điểm áp chế quân ta; đắp thêm một số chướng ngại vật kiên cố trên hướng Khâm Thiên - Hà Đông, bóc đường xe điện Hà Nội - Hà Đông, phá sân bay Bạch Mai, đánh đổ cột điện, thu hồi dây điện trên tuyến Nam Đồng - Thái Hà Ấp, đào đắp tuyến phòng ngự chuẩn bị cho một tiểu đội hoặc hơn, có công sự chiến đấu, có hầm... ở Đê La Thành (hướng Khâm Thiên - Giảng Võ), ở Ngã Tư Sở - Láng, Ngã Tư Sở - Văn Điển (đến Kim Giang); phá sập Cầu Mới. Chuẩn bị tiêu thổ kháng chiến, chúng ta cũng đã phá vỡ những căn nhà kiên cố, những căn nhà ở vị trí có lợi thế kiểm soát bằng hoả lực. Nhiều chủ những căn nhà đã tự nguyện. Đó là căn nhà số 73 Hàng Bột của gia đình đồng chí Tống Thị Hoà, là căn nhà góc đường Hàng Bột - Trương Vĩnh Ký (nay là Phan Văn Trị) của gia đình đồng chí Liêm; là căn nhà đồng chí Liên đội trưởng Tự vệ Hàng Bột Nguyễn Hữu Thành. Đối với chúng ta, căn nhà là nơi chôn rau, cắt rốn thiêng liêng của mỗi thành viên gia đình. Người dân Liên khu III đã thề quyết tử để bảo vệ Thủ đô thì căn nhà thân thiết quý giá cũng chẳng hề nuối tiếc. Sau hơn 10 ngày địch dồn sức đánh bao vây Liên khu I, đánh rộng đẩy dãn lực lượng ta ở Liên khu II, ngày 30 tháng 12 năm 1946, từ mờ sáng quân Pháp mở trận đánh hợp vây lớn vào sâu địa bàn Liên khu III. Theo hướng Hàng Bột - Ô Chợ Dừa có độ 300 quân. Cánh quân theo đường Hàng Lọng - Kim Liên có khoảng 200 tên. Cả hai cánh tiến quân đều có xe tăng, xe bọc thép xe ủi đất và xe cơ giới yểm trợ. Hướng Khâm Thiên, quân địch dùng xe cơ giới hợp với bộ binh húc san luỹ chướng ngại đầu phố, đánh thọc sâu dọc phố. Chúng tràn vào Văn Chương, Thổ Quan. Chúng điên cuồng bắn phá, đốt nhà dân làng Thổ Quan. Địch bắt và chôn sống một chiến sĩ Vệ quốc quân gần nhà Đỏ (xế căn nhà số 66 ngõ Thổ Quan). Lực lượng quân ta dựa vào các ngõ ngách cơ động đánh chặn địch tùng đoạn phố, ngõ xóm rất quyết liệt. Tổ Tự vệ Hoả xa gồm đồng chí Vũ Văn Sự (Trung đội trưởng), Nguyễn Đôn Tự và đồng chí Bật bố trí đánh địch ở các đầu ngõ gần chợ Khâm Thiên. Các đồng chí phân công hai người bắn yểm trợ, đồng chí Bật lợi dụng góc ngõ đâm thẳng lê vào địch. Cứ mỗi đầu ngõ, hạ một tên. Cũng diệt được 5 tên địch, đầu lê đã quằn, đạn đã cạn, buộc anh em phải rút. Trên đường Hàng Bột, địch cho một lực lượng đánh vào sườn trái của Đại đội 29 từ bãi Septo hướng vào Bích Câu bằng xe tăng, xe cơ giới và bộ binh. Trung đội 57 cùng một tổ Tự vệ làng An Trạch bố trí ở mấy nhà cao tầng phố Bích Câu đã tổ chức đánh chặn địch. Địch dùng ưu thế binh hoả lực tấn công. Quân ta phải bắn yểm trợ thoát ra ngoài, tránh thế bị bao vây. Đại bộ phận lực lượng địch đánh dọc đường Hàng Bột, xe tăng, xe cơ giới vừa di chuyển vừa bắn vào các nhà, ném lựu đạn vào các hố chiến đấu cá nhân. Lực lượng ta chống trả quyết liệt, giành giật với địch từng nhà, từng ngõ phố, buộc địch không thể tiến nhanh. Đồng chí Nguyễn Đình Phả - Trung đội trưởng Trung đội 58, trong giờ phút đầu tiên bắn chặn địch đã hy sinh tại căn nhà đầu phố Hàng Bột (trên). Tổ Tự vệ Hàng Bột (dưới) thuộc Trung đội Tự vệ Hàng Bột (dưới), gồm 5 người có đồng chí Bùi Văn Nghĩa trực chiến ở căn nhà số 186 phố Hàng Bột (dưới) đã tổ chức đánh chặn địch, 2 đồng chí Nguyễn Văn Nhân và Hoàng Văn Tỵ đã trúng đạn địch hy sinh khi di chuyển qua bên phía ngõ Huy Văn, trong khi đó 3 đồng chí từ trên gác bắn và ném lựu đạn, diệt được 3 tên địch, thu được 1 súng. Đồng chí Nguyễn Xuân Khánh, tiểu đội trưởng Việt Nam Cứu quốc hy sinh khi đánh địch ở nhà Tế bần phố Đoàn Thị Điểm - Bích Câu. Cuộc chiến kéo dài đến 3 giờ chiều. Sau khi phá được các ụ chướng ngại trên đường, xe cơ giới địch yểm trợ bộ binh cả hai cánh cố tiến đến Ô Chợ Dừa. Trong lúc tiến đánh, máy bay chiến đấu của Pháp bắn xuống các mục tiêu phòng ngự của ta, ném bom Nhà máy Tóc, nơi đóng sở chỉ huy Liên khu III. Chủ tịch Đỗ Trình và Tiểu đoàn trưởng An Giao không nguy hiểm tính mạng. Các đơn vị chiến đấu của ta ở phía Hàng Bột vừa chặn địch, vừa rút qua đê La Thành, bố trí dọc đường xuống Thái Hà Ấp. Phía Khâm Thiên, lực lượng ta trên đường rút về Chùa Bộc bị máy bay bà già phát hiện, chỉ điểm pháo địch bắn rượt đuổi. Anh em ta bị thương một số. Đồng chí Phúc, chiến sĩ Tự vệ Thổ Quan trúng đạn hy sinh. Ngay đêm 30, trên dọc đường Nam Đồng - Thái Hà Ấp, quân ta củng cố và đắp mới ụ chướng ngại, đặt bom ở cống Nam Đồng; đồng thời phái các tổ chiến đấu luồn sâu tập kích địch. Quân Pháp đánh ra Kim Mã bị Tự vệ Tám Mái (Kim Mã), Tự vệ Thuỷ tinh Cầu Giấy chặn đánh, tại gần cống mương Ngọc Khánh, 6 nữ Tự vệ hy sinh (người sống sót là Nguyễn Thị Nấm, em con cô cậu đồng chí Chu Xuân Ấm, sau này kể lại). Đồng thời quân địch đã mở hai gọng kìm hòng khép chặt Liên khu III, hòng nhanh chóng đè bẹp nghiền nát sức chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang Liên khu III. Địch đã gặp phải sức chống trả dai dẳng quyết liệt. Mặc dù thiếu vũ khí, Tự vệ vẫn dũng cảm chặn địch chủ yếu bằng lựu đạn, đạn bắn rất dè sẻn, không có đạn tiếp tế, phải đi kiếm đi xin, như ở mặt trận Kim Mã, 70 viên đạn mútcơtông do đồng chí Hồ Trúc vào tận Hà Đông xin viện trợ cũng không đủ cho trận đánh. Đánh địch trong hoàn cảnh như vậy mà anh em ta vẫn lạc quan, dám đánh. Lại nữa, mặc bom đạn địch, các chị hoả thực và cả hai vợ chồng ông già (vốn ngồi bán nước trước rạp Kim Mã) vẫn luồn qua lỗ thông tường đến từng ngách chiến hào, ụ chiến đấu tiếp tế cho anh em từng nắm cơm rời rã. Anh em ta xúc động và tự hào, lòng quyết chiến thêm vững. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 06:51:06 pm Bước sang năm dương lịch 1947.
Đầu tháng 1-1947, ta vẫn giữ được Ô Chợ Dừa. Trụ sở của Liên khu và sở chỉ huy Tiểu đoàn 523 được phép chuyển về khu nhà Hoàng Trọng Phu ở Thái Hà Ấp. Các trạm cứu thương, tiếp tế, các Tổ tuyên truyền cũng đóng quanh khu vực. Đội Tự vệ Khâm Thiên - Thổ Quan lui về đình làng Khương Trung, Khương Hạ, một bộ phận đóng ở Thượng Đình đề phòng chặn địch đánh Ngã Tư Sở. Chỉ huy khu Thăng Long, sau khi địch đánh Tám Mái đã chuyển về Giảng Võ. Bộ phận nhà in báo "Thép" phải chuyển từ Cót về Tây Mỗ. Không huy động được dân giúp ngay, đồng chí Hồ Trúc bàn với đồng chí Phong Nhã cử cho mấy chục thiếu nhi đội Hoàng Hùng đến giúp vận chuyển giữa trời mưa đường lầy. Các em vất vả đến gần tối mới làm xong việc, không chịu ngủ lại qua đêm, đốt đuốc kéo nhau về vị trí. Hình ảnh các em thực là đẹp. Lúc này, để đảm bảo có địa bàn thích hợp nhằm tiếp tục ngăn chặn địch, Khu XI quyết định sáp nhập Liên khu III và Khu Đống Đa thành Liên khu III - Đống Đa. Đồng chí Đỗ Trình là Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến, Bí thư Liên khu uỷ Liên khu III - Đống Đa. Trong đội ngũ Liên khu III - Đống Đa có thêm đồng chí Nguyễn Vĩnh Lợi - Chủ tịch Đống Đa, đồng chí Ước, nữ đồng chí Vóc... Vừa đứng chân trên địa bàn mới, chúng ta liên tiếp tổ chức nhiều đợt quấy rối và tập kích nhỏ, buộc địch phải co cụm đối phó. Các Tổ Tuyên truyền làm nhiệm vụ địch vận nhiều hơn, đồng thời còn làm nhiệm vụ động viên bằng tiếng đàn giọng ca đến từng trận địa uỷ lạo, chuyển thư từ và khâu vá quần áo. Trong hoàn cảnh chiến đấu thiếu vũ khí, thiếu áo ấm, thiếu ăn..., anh em ta gánh chịu gian truân, cùng nhau chia lửa, sẻ áo nhường cơm. Họ gắn bó nhau trong cùng mục tiêu "đánh Tây" trên hết, đánh để kìm chân tiêu hao lực lượng, giảm sức ép bao vây Liên khu I của địch. Tổ Tuyên truyền Hàng Bột còn giữ lệ đứng nghiêm chào ảnh Hồ Chủ tịch trước lúc vác loa đi trận. Cuối tháng 12, quân Pháp mở rộng tiến công, đánh chiếm Ô Chợ Dừa, phát triển về phía sau, nhưng bị chặn lại trước Ngã Tư Sở. Địch tạm dừng lại với ý định củng cố vành đai bảo vệ cho thành phố. Về phía ta, ngay từ đầu tháng 1 năm 1947 Bộ Chỉ huy Khu XI điều động 2 Đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 (vốn thuộc Chiến khu II) tăng cường chốt giữ các cửa ô mặt trận Liên khu III. Đại đội 2 chốt giữ Giảng Võ - Đê La Thành do Đại đội trưởng Vũ Công Định và Chính trị viên Lê Chí Thực chỉ huy. Đại đội 4 chốt giữ Ô Chợ Dừa do Chính trị viên Trần Quân Lập chỉ huy. Đại đội 29 Tiểu đoàn 523 vẫn đóng quân từ sân bay Bạch Mai, Cầu Mới đến Hạ Yên Quyết. Ngày 6 tháng 1 năm 1947, Pháp huy động 1.000 quân, 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, xe ủi đất, có pháo binh, máy bay yểm trợ, chia theo hai hướng Giảng Võ - Đê La Thành và Hàng Bột - Ô Chợ Dừa. Ở hướng Giảng Võ - Đê La Thành, địch chia làm 2 cánh. Cánh thứ nhất tù đường Hàng Bột, làng Hào Nam, dọc theo Đê La Thành, có xe tăng dẫn đầu đánh vào vị trí trung đội 1 - Đại đội 2. Ta bắn chặn, từng bước lui dần về phía ngã tư Giảng Võ. Tại đầu dốc làng Hoàng Cầu, quân ta dùng lê, dao, kiếm đánh giáp lá cà với địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai đã anh dũng đâm bom ba càng diệt một xe tăng địch. Liệt sĩ Nguyễn Phúc Lai năm 1997 được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, được thành phố ghi ơn đặt tên một đường phố tại đê La Thành. Cánh quân thứ hai từ Nhà Tiền, nhà phân Năm Diệm (phố Cát Linh) tiến dọc đường Giảng Võ, có xe tăng yểm trợ, chia làm hai mũi: một mũi đánh vào làng Giảng Võ, một mũi đánh thẳng xuống ngã tư Giảng Võ để hợp vây với cánh quân thứ nhất. Tại làng Giảng Võ, lực lượng ta gồm có Trung đội 2 - Đại đội 2, Trung đội quyết tử, Trung đội Cựu binh sĩ làng Giảng Võ dựa vào luỹ tre dày đặc và công sự chiến đấu đã kiên cường đánh bật ba đợt xung phong đột nhập của địch, gây cho địch nhiều thương vong. Tại ngã tư Giảng Võ, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Đại đội trưởng Vũ Công Định trực tiếp chỉ huy Trung đội 3 chiến đấu, huy động lực lượng còn lại của Đại đội bố trí yểm trợ tại các chiến hào. Tiểu đội nữ cứu thương Liên khu III chiến đấu cùng bộ đội bằng súng, dao, kiếm... Ta đã cản phá nhiều đợt tiến công của dịch. Pháo binh, xe tăng địch bắn phá trận địa ta và các ụ chướng ngại. Trên nhiều quãng đường đã diễn ra nhiều cuộc vật lộn, đánh giáp lá cà giữa ta và địch. Đại đội trưởng Vũ Công Định bị trọng thương gãy đùi. Nhận định quân ta khó giữ được trận địa, để bảo toàn lực lượng, đại đội trưởng hạ lệnh rút lui. Riêng mình anh ở lại bắn chặn địch, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Chính trị viên Lê Chí Thực dẫn bộ đội rút về phía Nam. Anh đi cuối bắn yểm hộ. Địch xông lên định bắt sống. Anh đập lựu đạn nổ, hy sinh, cũng diệt được một số địch. Liệt sĩ Vũ Công Định và Lê Chí Thực được tặng thương Huân chương chiến công hạng nhất năm 1947. Ở hướng Ô Chợ Dừa, địch từ Khâm Thiên và Hàng Bột tiến xuống Ô Chợ Dừa. Đại đội 4 quân ta bố trí phòng ngự ở khu vực cửa ô. Địch tập trung tấn công bên dãy số lẻ cửa ô, nơi có Trung đội 1, Đại đội 4 bố trí. Quân ta đánh quyết liệt, giành giật với địch từng căn nhà. Nhiều lính địch bị thương, bị chết. Chiến sĩ Trần Văn Sức từ ban công nhà gác đã ném quả đạn trái phá diệt một xe ủi đất. Chính trị viên Trung đội Nguyễn Văn Hoan dũng cảm chỉ huy chiến đấu, trúng đạn địch, hy sinh. Đến trưa, sau khi chiếm được bên số lẻ, địch quay sang tấn công bên số chẵn. Đại đội 4 điều lực lượng đánh chặn dữ dội, buộc địch phải rút về hướng Khâm Thiên. Trong ngày chiến đấu này, có hai đội viên Việt Nam Cứu quốc Trương Văn Thức và Phạm Văn Điển hy sinh. Tiểu đoàn 56 đã dánh một trận phòng ngự rất kiên cường, quyết tử chặn được cuộc tấn công dữ dội của địch, buộc địch phải ngừng tiến công ra các cửa ô trên hướng Liên khu III. Địch bị thương vong khoảng 1 đại đội, bỏ lại 30 xác chết, 1 xe tăng, 1 xe ủi đất bị phá huỷ. Trận đánh phòng ngự này có sự phối hợp chặt chẽ và tinh thần chiến đấu quyết tử của lực lượng Tự vệ Giảng Võ, Hoàng Cầu, Hào Nam và Liên khu. Dân làng Hoàng Cầu ngậm ngùi thương xót thu gom chôn cất các liệt sĩ ở khu vực gần cây đa Hoàng Cầu và lập bàn thờ cúng tưởng nhớ. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 06:56:41 pm Từ đầu cuộc chiến đến nay, quân đội xâm lược Pháp đã gặp sức chống trả quyết liệt ngày đêm, bị tiêu hao về lực lượng, giảm sút về tinh thần, có những khó khăn về tăng viện... Phía ta, nhiều dân thường còn bị mắc kẹt ở các phố, chưa kịp tản cư ra ngoài...
Giữa lúc đó, vào một buổi sáng đầu tháng 1 năm 1947, có 3 người nước ngoài mang 3 lá cờ Mỹ - Anh - Trung Hoa đi ra hướng Ngã Tư Sở. Quân ta ngăn lại và báo cáo lên Thành. Ngày 13-1-1947, đại diện chính quyền ta và Pháp, với sự có mặt của các lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Hoa (Tưởng) đã gặp nhau ở Ô Chợ Dừa. Hai bên thoả thuận sẽ ngừng bắn ngày 15-1-1947 để dân tản cư ra ngoài. Đại diện chính quyền ta có đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Khu XI, đồng chí Hoàng Minh Giám - Bộ trưởng Ngoại giao và đồng chí Hoàng Hữu Nam - Thứ trưởng Nội vụ. Lực lượng ta bố trí bí mật bảo vệ, có các đồng chí Tổ trinh sát của Liên khu như đồng chí Đoàn Đức Thành, Đoàn Kính, Việt Sơn. Sớm ngày 15-1-1947, Pháp vi phạm thoá thuận ngừng bắn. Chúng đã huy động hàng ngàn quân, trên 150 xe cơ giới các loại tiến ra phía Nam Hà Nội bao đường vòng quanh thành phố từ Vĩnh Tuy - Ngã tư Trung Hiền - Ngã tư Vọng - Ngã Tư Sở - Ô Cầu Giấy, với âm mưu tiêu diệt các đơn vị Vệ quốc quân và lực lượng kháng chiến, mở rộng phạm vi chiếm đóng và tạo địa bàn tăng sức ép Liên khu I. Phía Liên khu II kiên cường chặn địch ở Ô Cầu Dền, Ngã tư Trung Hiền, nhà thương Bạch Mai. Địch đánh vào sân bay Bạch Mai. Lúc này có một bộ phận của Đại đội 29, Tiểu đoàn 523 đang đóng ở đây, đã tổ chức đánh chặn địch. Địch tràn vào. Đơn vị do Chính trị viên Đại đội Trân Hải chỉ huy, chia thành nhiều tốp nhỏ, phân tán nhiều hướng, vượt ra ngoài sân bay, cùng một số đơn vị bạn tổ chức đánh chặn địch từ nhà thương Bạch Mai bật ra. Quân ta chặn địch từng bước. Địch thương vong trên 20 tên, phải rút về sân bay Bạch Mai. Ngay đêm 15, thi hành lệnh của Bộ chỉ huy Khu XI, các đơn vị thuộc địa bàn Liên khu III đã tổ chức các nhóm nhỏ luồn sâu tập kích các vị trí địch ở Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa... Ở các vị trí rải rác địch mới tạm chiếm, do bị đòn liên tiếp, nên chỉ cần gây tiếng động cũng khiến địch bắn loạn xạ hàng tràng đạn. Địch vận nhiều lần, cũng có hiệu quả. Tổ Tuyên truyền phát loa địch vận ở nhà Dầu Shell Khâm Thiên, địch để ta nói xong, kêu lên "Attention", rồi bắn chỉ thiên. Suốt đêm như vậy, cũng làm cho địch thêm mỏi mệt. Tập kích, quấy rối, địch vận là một cách tấn công địch có hiệu quả. Cho đến ngày 25, Pháp chiếm đóng Nhật Tân, Vĩnh Tuy, dồn sức kiểm soát vòng cung ngoài cùng thành phố Hà Nội. Địch dùng một lực lượng khá lớn tiến ven sông Tô Lịch, từ Láng đánh vào Mọc, một Trung đội của Đại đội 29, lực lượng Tự vệ chiến đấu Liên khu và một số chiến sĩ công binh tổ chức đánh chặn. Địch thương vong một số, phải rút. Từ đầu tháng 2 năm 1947. Pháp lại tập trung quân đánh vào Liên khu I, đồng thời vẫn cố gắng kiểm soát các làng mạc bên ngoài các vị trí đóng quân trên vòng cung ngoại thành. Bên ta, sở chỉ huy Liên khu đóng ở Mọc, rồi dần chuyển sang Lủ. Chúng ta vừa xốc lại đội ngũ, vừa tổ chức chiến đấu. Đội Tuyên truyền xung phong được thành lập ở Lủ do đồng chí Minh Quang trực tiếp phụ trách. Lập đội kịch Thăng Long do đồng chí Sinh (già) phụ trách. Các trung đội Vệ quốc quân, Tự vệ chiến đấu Liên khu vẫn chốt giữ từ Cót về Mọc, Khương Trung, Khương Hạ. Lực lượng công binh cơ động phá huỷ nhà cao tầng bên Ngã Tư Sở, đánh sập Cầu Mới, đào hố cắt đường đi thị xã Hà Đông... Ở các nơi đóng quân của lực lượng vũ trang, đội hình bố trí theo thế Vệ quốc quân vòng ngoài, Tự vệ chiến đấu vòng trong; vẫn giữ được phối hợp chiến đấu. Các đơn vị tổ chức các tổ chiến đấu phù hợp yêu cầu phục kích, bắn tỉa, tập kích, nghi binh... Với cách tổ chức chiến đấu linh hoạt liên tục đêm ngày các tổ chiến đấu luân phiên nhau xuất trận. Ban ngày tổ chức phục kích, bắn tỉa. Ban đêm tập kích quấy rối địch. Có tổ cơ động vào Hàng Bột, Kim Mã tìm địch mà diệt. Việc đánh địch được ta mở rộng, chia cắt. Những hoạt động quân sự, chính trị của Liên khu III - Đống Đa củng cố thêm quyết tâm chiến đấu trong nội bộ, thu hút lòng dân hướng vào kháng chiến, có tác dụng kìm chân địch tại các vị trí mới chiếm giữ, gây khó cho địch tập trung trở về tấn công Liên khu I. Tết Đinh Hợi đang đến gần. Tết đầu tiên kháng chiến chống Pháp, vừa chiến đấu, vừa lo Tết cổ truyền. Tổ tiếp tế - hoả thực đã chuẩn bị gói bánh chưng, chè lam. Bà con làng xóm đem đến ủng hộ bánh chưng, chân giò, mứt kẹo... thật rôm rả. Có gia đình ở Ngã Tư Sở còn đem ủng hộ cả tạ gạo, một con lợn đã làm sẵn. Từ trận tuyến, quà tết được chuyển đến từng vị trí chiến đấu của anh em ta. Lần ăn Tết này, đội kịch Thăng Long cho biểu diễn hoạt cảnh "Tiễn chồng đi trận" do đồng chí Giao sáng tác, nữ tuyên truyền viên Minh Thái, Hồng Ngọc vào vai diễn rất tự nhiên, tạo nhiều cảm xúc cho anh em ta và bà con thôn xóm. Trước Tết mấy ngày liên, đặc biệt đêm 15, 16, 17-2-1947, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được lệnh mở các cuộc tấn công quấy rối vào các vị trí địch. Ở khu vực Láng, Cầu Giấy... khắp địa bàn Liên khu vang rền tiếng súng các loại, đánh nghi binh ở nhiều hướng. Sau này anh em mới rõ hoạt động quân sự liên tục phối hợp chiến đấu nghi binh, thu hút hoả lực địch để tạo điều kiện Trung đoàn Thủ đô bí mật, an toàn rút khỏi Hà Nội. Như vậy từ 19-12-1946 đến 17-2-1947, trọn 60 ngày đêm khói lửa, quân dân Liên khu III - Đống Đa đã kiên cường chiến đấu chống chọi đội quân Pháp xầm lược nhà nghề có trang bị vũ khí hiện đại. Đã cùng Liên khu II phối hợp chiến đấu vòng ngoài, chia lửa, chi viện và bảo vệ cho Liên khu I. Thực tế chiến đấu và được chứng kiến những sự kiện quân sự, chính trị đã diễn ra ở địa bàn này, cũng phần nào hiểu rõ hơn Liên khu III - Đống Đa là cửa ngõ quan trọng của Thủ đô Hà Nội. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 06:58:04 pm Quân và dân Liên khu III - Đống Đa đã làm được các nhiệm vụ do Khu XI giao phó, đó là:
- Nổ súng tấn công ngay các ổ chiến đấu của địch; ngăn chặn quân địch đánh dãn nới rộng nên đã góp phần làm thất bại âm mưu của Pháp đánh chiếm Hà Nội trong 24 tiếng. - Kìm được chân địch trong Hà Nội suốt nhiều tuần, do vậy đã đóng góp tích cực bảo đảm cho cả nước chuyển vào kháng chiến. - Bảo vệ an toàn đường rút ra ATK của Trung ương, tản cư được dân, bảo toàn được lực lượng để có thể kháng chiến lâu dài. Chúng ta đã nghiêm chỉnh thực hiện cách đánh "trong đánh ra, ngoài đánh vào" của Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội, với tinh thần quyết tử để bảo vệ Thủ đô và bằng hành động mưu trí, táo bạo. Sở dĩ làm được như vậy bởi nhiều lẽ, trong đó nổi bật là: Huy động được sức mạnh tổng hợp của mọi tầng lớp nhân dân và các lực lượng vũ trang trên địa bàn Liên khu. Sức mạnh này bắt nguồn từ lòng yêu nước của người dân lao động hoà quyện trong chính sách đoàn kết rộng rãi của Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản, được thừa hưởng khí thế tiến công của Cách mạng tháng Tám nên trên dưới một lòng, sẵn sàng hy sinh, quyết không chịu mất nước, không trở lại cuộc đời nô lệ. Trong bức tranh chiến đấu của Liên khu hiện lên hình ảnh kháng chiến toàn dân: thanh niên - chiến đấu, phụ nữ - phát loa, trung niên - hoả thực, em bé - đưa tin, ả đào - tiếp tế. Nòng cốt trong đó là những Đảng viên cộng sản, được dân tin, đồng đội mến phục. Đội ngũ Đảng viên của Liên khu từ sau ngày nổ súng đã kết nạp thêm nhiều đồng chí: Bùi Văn Phi, Nguyễn Ngọc Cảnh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Kim (Quế), Bình Long, Thanh, các nữ đồng chí Phạm Thị Thiệp, Nguyễn Kim Phượng (Vân). Sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Khu uỷ XI, Ủy ban Kháng chiến, Bộ chỉ huy Khu XI đã chỉ đạo chỉ huy đúng đắn, chủ động, quyết tâm, quan tâm tăng cường lực lượng cho Mặt trận Liên khu, giành sự chi viện về người và vật chất của Hà Đông, trực tiếp là hai huyện Thanh Oai, Thanh Trì cho Mặt trận Liên khu III - Đống Đa. Bộ máy chỉ huy của Liên khu từ thực tiễn chiến đấu đã vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến phù hợp, đạt hiệu suất như chủ động tấn công để ngăn chặn, vừa tác chiến vừa phòng ngự, vừa tấn công nhỏ bằng tập kích, phục kích, bắn tỉa; vừa bắn súng, vừa phát loa... Trong tổ chức chỉ huy, ngay từ đầu đã giữ được tính thống nhất bàn bạc phối hợp, phân công giữa các lực lượng vũ trang, giữa chiến đấu và hậu cần, đảm bảo duy trì thế đánh liên tục, bảo đảm mối quan hệ thống tin với cấp trên - cấp dưới được kịp thời, thông suốt. Thực hiện quyết định của Trung ương để chuẩn bị kháng chiến lâu dài, Mặt trận Hà Nội bao quát cả 4 huyện Thanh Oai, Thanh Trì (thuộc tỉnh Hà Đông). Hoài Đức, Đan Phượng (thuộc tính Son Tây). Hà Nội lập 3 quận IV, V và VI. Quận V là phiên hiệu mới của Liên khu III - Đống Đa. Địa bàn huyện Thanh Oai là căn cứ hậu phương của Quận V. Tháng 2-1947 các lực lượng kháng chiến của Quận dần dần di chuyển khỏi Hà Nội, tập kết về quanh khu vực Cự Đà - Khúc Thuỷ (bên hữu ngạn huyện Thanh Oai). Quận V hoạt động và đóng quân trong phạm vi: kể từ Ngã Tư Vọng theo quốc lộ I đến Văn Điển, ven sông Nhuệ qua Đa Sĩ, Mậu Lương, Hống về Rùa rồi qua Trừ, Chẩy, Từ Châu; phía Bắc, kể từ thị xã Hà Đông xuống Ba La Bông Đỏ, Thạch Bích rồi dọc theo bờ Đông sông Đáy đến Chuông, Miêng, Ngã tư Vác, vòng sang Đông Quan, Tía. Ở vùng ngoại thành Hà Nội tạm chiếm, Quận V hoạt động trong phạm vi từ Ngã Tư Vọng - Láng - Ô Cầu Giấy - Dịch Vọng - Mọc - Mễ Trì đến phía Bắc đường 70. Trong các phố ở nội thành Hà Nội, do hoàn cảnh đặc biệt, không xác định ranh giới hoạt động giữa 3 Quận V, VI và IV. Khi quân Pháp tiến quân ra ngoài Hà Nội, trong Thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào toàn quốc ngày 5-3-1947 đã chỉ rõ: "... địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng". Hội nghị Cán bộ Trung ương lần 2 (3 đến 6-4-1947) có quyết nghị: "... để nắm chắc thắng lợi, phải mở một mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay ở cả sau lưng địch, trong ruột địch". Khu XI cùng quyết định chỉnh đốn lại hàng ngũ, trước hết là đội ngũ Đảng để trở về hoạt động sau lưng địch. Quán triệt nhiệm vụ chiến lược toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và sự chỉ đạo của trên, trong suốt thời gian từ tháng 2-1947 đến tháng 3-1948, các chủ trương công tác và hoạt động của Quận V xoay quanh 3 vấn đề lớn, đó là: - Chấn chỉnh đội ngũ kháng chiến. Huấn luyện cán bộ, chiến sĩ. - Chống địch càn quét, chủ động đánh địch. Tiếp tục xây dựng lực lượng ta. - Xây dựng cơ sở kháng chiến trong lòng Hà Nội. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 06:59:02 pm Về đến Cự Đà. Quận V tiếp tục thực hiện việc chấn chỉnh đội ngũ, tranh thủ thời gian huấn luyện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với dân sơ tán.
Đồng chí Đỗ Trình được cấp trên điều động đến Mặt trận Bắc (Ninh) - Bắc (Giang). Đồng chí Minh Quang thay làm Bí thư Quận. Sau đó đồng chí Minh Quang được điều lên Khu XI. Quận uỷ do đồng chí Nguyễn Kỷ làm Bí thư, có các đồng chí quận uỷ viên Hồ Trúc, Hà Đăng Ấn. Ủy ban Kháng chiến Quận do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch. Quận bộ Việt Minh do đồng chí Ước làm Chủ nhiệm. Phụ nữ Quận do đồng chí Nguyễn Kim Phượng (Vân) làm Bí thư. Ban chỉ huy Quận đội có Quận đội trưởng Lê Thanh, Chính trị viên Hồ Trúc, Quận đội phó Chu Văn Biên, Chính trị viên phó Lương Hoài Tín. Công an Quận do đồng chí Lê Tuấn được Ty Công an Hà Nội cử về làm Quận trưởng từ tháng 4-1947, hiện thành lập một số bộ phận trực thuộc chuyên trách từng mặt công việc. Ban Tiếp tế do đồng chí Ước phụ trách; Ban Quân báo do đồng chí Lê Trần Lợi (Sáng) phụ trách. Ban Tuyên truyền Xung phong do đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh, Lê Kim Tùng phụ trách. Ban Ca - kịch có Trưởng ban Nguyễn Kim (Quế); Đội uỷ lạo Thương binh có các đồng chí Thái Tiên, Hồng Ngọc... Các đơn vị vũ trang của Quận được xây dựng gồm 2 đại đội du kích, Trường huấn luyện và Trung đội nữ du kích, Đại đội 2 có Đại đội trưởng Ngọc (già), đồng chí Phương là chính trị viên. Đại đội 3 có Đại đội trưởng Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) và 2 Đại đội phó là Nguyễn Viết Châu và Lê Đình Cầu. Trường huấn luyện có nhiệm vụ chính là đào tạo tổ trưởng và tiểu đội trưởng do đồng chí Lam Sơn làm Giám đốc, trường có 2 người Việt Nam mới (quốc tịch Nhật) có tên là Được và Quý giúp việc huấn luyện. Trung đội nữ du kích do đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm Đội trưởng kiêm Chính trị viên, nhiệm vụ chính của Trung đội làm công tác địch vận và vũ trang tuyên truyền. Lực lượng Công an Quận, kể cả các cơ sở, ước độ 50 người, ngoài bộ phận chỉ huy, văn phòng... còn tổ chức 4 trạm đóng rải rác các làng bao quanh thị xã Hà Đông, Mọc, Lủ, Ngã Tư Sở... làm nhiệm vụ điều tra tình hình dịch, xây dựng mạng lưới lượm tin... Việc chấn chỉnh đội ngũ lần đầu này đặt cơ sở cho guồng máy kháng chiến Quận V hoạt động phù hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, tiếp nối bước đi thắng lợi của Liên khu III - Đống Đa. Quá trình chấn chỉnh diễn ra cảnh bịn rịn xen lẫn phấn khởi giữa kẻ ở - người đến - người đi. Anh em tiếc nuối những kỷ niệm cùng chịu gian truân, nhường cơm sẻ áo trong những ngày đầu tiên vào trận. Nhiều đồng chí được bổ sung vào Vệ quốc quân như hơn 30 đồng chí Tự vệ Hỏa xa; sang quân báo... Có đồng chí cần theo gia đình, vì nhiều hoàn cảnh. Có đồng chí muốn được tiếp tục học văn hóa... Việc tiễn đưa đầu tiên này chưa mấy cam go như lần phải giảm nhẹ số người diễn ra giữa năm 1947. Quận V đồng thời cũng tiếp nhận nguồn sinh lực mới từ trên cử về, từ các Liên khu I, II như đồng chí Lê Thanh, Lê Tuấn, nữ đồng chí Đoàn Thị Nguyệt, Đỗ Thị Tiến..., từ các em đứt liên lạc và tự nguyện tìm đến như Phạm Vũ Kiệm, Đoàn Đình Hải. Lúc này ở vùng đất tự do Cự Đà - Khúc Thủy đã đông thêm do nhiều gia đình Hà Nội tản cư đến, do lực lượng kháng chiến của Liên khu III - Đống Đa và của các Liên khu khác... di chuyển đến. Các gia đình tản cư thuộc hàng trung lưu trở lên thì sinh hoạt thường nhật còn đầy đủ hoặc còn dễ thở. Nhiều gia đình nghèo túng hoặc đông người, hoặc do nhiều cảnh ngộ khác thì lương ăn cạn dần, bắt đầu đã phải chạy chợ, buôn thúng bán mẹt, đời sống bấp bênh, vất vả. Mức sống vốn dư dả của người dân quê vùng cận ven đô này được thói quen đô thị của đồng bào Hà Nội tản cư mang theo hoà nhập vào càng làm tăng thêm hoạt động chợ búa, quán sá sầm uất, nhộn nhịp suốt ngày từ chợ Cự Đà đến chợ Sổ. Tin tức chiến đấu lan truyền, đặc biệt cuộc rút quân thắng lợi của Trung đoàn Thủ đô làm bà con phấn chấn lạ thường. Cò làng bên tả ngạn sông Nhuệ mở hội 2, 3 ngày, chiêng trống ăn mừng. Anh em ta, sau những ngày gian nan thiếu thốn, về tới đây gặp lại gia đình, gặp được người thân nên hoan hỉ lắm, người còn sẵn tiền được dịp này cũng xả hơi đôi chút. Bộ phận in báo "Thép" của Liên khu, sau khi di chuyển từ Mỗ về Cự Đà. trước khi chuyển nhập về báo Thủ đô của Khu XI, đã in xong cuốn "Du kích Nga" do đồng chí Hồ Trúc sưu tầm và biên soạn, kịp cung cấp cho các đơn vị trong quân. Lúc này các nội dung tuyên truyền nhằm cổ vũ tinh thần kháng chiến qua những mẩu chuyện chiến thắng và gương chiến đấu nhắc nhở đồng bào và anh em ta cảnh giác về những tin đồn nhảm của bọn Việt gian trà trộn vào vùng tự do tung tin, giữ gìn bí mật nơi đóng quân... Hình ảnh Hồ Chủ tịch luôn được trân trọng ghi nhớ trong các cuộc mít tinh, cổ động... Việc thường xuyên nhắc nhở cảnh giác cũng có hiệu quá uốn nắn dần tình trạng còn ấu trĩ khi khám xét người lạ (cứ thấy nẹp áo có viền màu xanh trắng đỏ... thì cho là mang mật hiệu cờ tam tài, là Việt gian). Quận chủ trương tổ chức huấn luyện quân sự. Trừ bộ phận chốt chặn phía trên, đại bộ phận lực lượng chiến đấu được huấn luyện có bài bản từ đầu, học lăn lê bò toài, học sử dụng súng và lựu đạn... Ở trường huấn luyện, thầy dạy là mấy anh Việt Nam mới, quen dạy theo cách của quân đội Nhật Bản, rất nghiêm, quân phiệt với học viên, bất kể nam hay nữ. Nam giới tập huấn luyện rất mệt, còn chịu được. Còn nữ du kích, có chị vốn là nữ sinh, tiểu thương, ni cô, ả đào... gặp trường hợp quân phiệt rất bất bình. Tuy vậy thầy trò vẫn hăng hái luyện tập, nhất là nữ, như hai chị em Ai Chi Lung, Ai Chi Miên rất tích cực học, kết quả khá. Anh em còn nhớ lại một chuyện đau lòng khi mới về đóng ở Khúc Thuỷ. Trước đây vì có ít súng, nên có người đã chiến đấu nhưng chưa hề sử dụng súng lục. Lần ấy có một chiến sĩ mân mê xem khẩu côn-bát, chẳng may súng cướp cò nổ, làm chết đồng chí Lan, nữ cứu thướng. Vì thế khi được học, anh em ta rất chăm chỉ. Về nội dung chính trị, Chính trị viên Hồ Trúc huấn luyện theo cuốn "Người chính trị viên quân đội", kết hợp khuyến cáo những hành vi vô kỷ luật của đội viên du kích đối với tài sản của dân. Chấn chỉnh, huấn luyện, tuyên truyền giáo dục đã làm đội ngũ Quận V chặt chẽ hơn về tổ chức, tự giác hơn trong kỷ luật. Quan hệ giữa lực lượng kháng chiến Quận V với dân sở tại, với đồng bào tản cư chưa xảy điều gì đáng tiếc. Hồi đó, lực lượng của Quận đóng nhờ ở chùa, ở đình, số lớn tản ra nhờ nhà dân. Có một trung đội được bố trí ở nhờ nhà của ông phó lý cũ. Anh em chấp hành quy định của gia chủ không được nấu ăn bằng rơm và nước bể của gia đình. Sau ít ngày, từ thông cảm đến thương anh em vất vả, ông chủ gặp Ban chỉ huy trung đội ủng hộ cả cây rạ và cho dùng nước, ủng hộ cả gạo. Theo ông nói: "... cứ nấu cháo để đêm về các em ăn". Quận V sống trong tình dân đậm đà, vừa huấn luyện vừa sẵn sàng chiến đấu. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:02:00 pm Sau khi quân Pháp lại được tăng viện, chúng đã tập trung lực lượng đánh ra ngoài nhằm truy kích chủ lực ta, tiêu diệt các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, mở rộng vùng kiểm soát chung quanh Hà Nội.
Ngày 2-3-1947 quân Pháp đánh chiếm thị xã Hà Đông, rồi bắt đầu hành quân kiểm soát vùng ngoại thị. Cuộc sống yên ổn của đồng bào vùng Cự Đà - Khúc Thuỷ bị chiến tranh đe doạ. Dân tản cư Hà Nội liên tiếp về Bối Khê - Đại Định. Các cơ quan của Quận chuyển về Bối Khê - Bồ Nâu - Úc Lý. Cuộc hành quân thăm dò của quân Pháp từ thị xã Hà Đông tiến ra hai hướng: một hướng theo đường 70, sau có cả cánh quân từ Văn Điển vào, hợp điểm tại Ngà ba Tó. Có xe tăng và xe bọc thép yểm trợ, chúng tiến xuống Tó, Nhân Hồi; hướng khác từ thị xã qua Đa Sĩ, Mậu Lương, đánh xuống Hữu Từ. Cự Đà. Lực lượng dân quân du kích các thôn và du kích Quận V chặn đánh quyết, liệt từ sáng, bên ta không mấy thương vong, chỉ có đồng chí Tiến - Công an của Quận hy sinh vì đạn lạc của địch ở Nhân Hoà. Đến chiều, địch phải rút vô Thanh Liệt và đường 70. Ngay đêm đó, đơn vị đồng chí Vũ Văn Sự tập kích cụm quân đóng trên đường 70, diệt một số tên và đánh hỏng một xe tăng địch. Cùng lúc Đại đội 29 tập kích cụm quân ở Thanh Liệt. Thắng lợi chặn địch đã cổ vũ anh em Quận V. Suốt trong tháng 3-1947, lực lượng du kích Quận vẫn từ vùng Cự Đà - Khúc Thuỷ xuất quân vào quấy rối các vị trí địch ở ngoại thành Hà Nội và sân bay Bạch Mai. Kế đó, quân Pháp liên tục mở nhiều cuộc hành quân hòng mở rộng phạm vi kiểm soát Hà Đông. Sau khi đánh chiếm Ba La Bông Đó, địch tập trung vào hướng đường 22 (Hà Đông - Vân Đình). Trận Cự Đà. Tháng 3-1947. Quận đội chỉ thị Đại đội 3 cử một Trung đội lên trực chiến thay Trung đội Vũ Văn Sự (thuộc Đại đội 2) lui về nghỉ ở tuyến sau. Trung đội Vũ Văn Sự lúc đó đang đóng ở Cự Đà, có nhiệm vụ bảo vệ Cự Đà - Khúc Thuỷ. Vào khoảng 8 giờ sáng ngày 27 tháng 3 năm 1947, Trung đội trưởng Vũ Văn Sự được tin một Đại đội Lê dương Pháp có xe tăng dẫn đầu tiến từ phía Mậu Lương đã đến gần chợ Cự Đà. Lúc này, cả 3 tiểu đội đang ở Khúc Thuỷ, chỉ còn Trung đội bộ đóng ở Cự Đà tại một căn nhà 2 tầng kiên cố ngay bên rìa đường cái giáp sông Nhuệ, cách chợ độ 100 mét. Tại Trung đội bộ có Trung đội trưởng Vũ Văn Sự, Trung đội phó Nguyễn Văn San, Chính trị viên Nguyễn Đôn Tự, quản lý Thái và em Dân liên lạc. Trong tình hình gay go không kịp điều quân, Ban chỉ huy Trung đội quyết định cố thủ chặn địch tại nhà Trung đội bộ, trang bị vũ khí có một súng trường với 2 viên đạn ghém, 1 xì ten với 1 băng đạn và 11 qua lựu đạn. Từ 9 giờ sáng, cuộc chiến đã ác liệt. Địch phá được cổng vào ngõ, dồn nhau xông vào. Từ trên gác đồng chí Tự ném xuống quả lựu đạn đầu tiên gây thương vong gần chục tên. Địch rên la, chửi bới, rút chạy về phía chợ. Chúng đổi cách đánh, không tiến theo đường cái mà luôn qua các lỗ đục tường lọt vào dãy nhà ngang phía sau, cũng bị đánh bật. Địch tập trung hoả lực, kế cả pháo tăng bắn thủng 2 mảng tường sát mái. Bọn Lê dương mũ đỏ ào ạt đánh chiếm nhà bếp và tầng dưới. Đồng chí San và đồng chí Thái sau khi đã chống trả quyết liệt đã anh dũng hy sinh. Một Trung đội mũ đỏ đến tiếp viện, liều mạng leo qua xác chết xung phong vào cầu thang gác. Đồng chí Sự và Tự cố thủ tầng 2. Bọn giặc xông lên cầu thang, đồng chí Sự lia nửa băng xì-ten, một tên mũ đỏ ngã gục. Địch tiếp tục xông lên, có lần chúng tung lựu đạn lên, đồng chí Sự bắt được ném trả lại. Khâu xì-ten đang bắn, bị hóc. Chỉ còn lại một quả lựu đạn. Địch bị thương vong nhiều. Không đánh lên gác được, chúng xếp đồ gỗ vào chân cầu thang, phun xăng đốt. Khói lửa mù mịt tầng hai. Hai đồng chí Sự và Tự buộc phải lên sân thượng, náu mình trên đó, lấy gạch vỡ ghi lại lời trăn trối quyết tử, lúc 5 giờ 30 chiều... Đến gần tối, sợ bị quân ta tập kích bao vây, địch phải rút. Trong khi địch tập trung đánh chiếm nhà Trung đội bộ bên Cự Đà, trạm Công an Quận đóng ở Nhân Hoà bắn chặn phía sau địch. Tổ công tác của Công an Quận do đồng chí Đăng chỉ huy chặn đánh bọn địch định vượt sông sang bọc Cự Đà. Từ làng Khê Tang, một Trung đội thuộc Đại đội 3 đang trên đường vào thay thế Trung đội Vũ Văn Sự cũng tổ chức đánh hỗ trợ giải vây. Đồng chí Hồng, chiến sĩ của Trung đội đã hy sinh trên mảnh ruộng làng Khê Tang (gần cuối làng Cự Đà). Những cuộc đánh kiềm chế, hỗ trợ. giải vây của ta ở phía ngoài Cự Đà đã gây cho địch lúng túng đối phó. Khoảng 8 giờ tối hôm đó, anh em chiến sĩ đốt đuốc vào tìm xác đồng đội để chôn cất đã gặp hai đồng chí chỉ huy của mình còn sống sót. Họ ôm nhau vui mừng khôn tả. Họ bùi ngùi vĩnh biệt các đồng chí đã anh dũng hy sinh. Hai đồng chí Sự và Tự được tặng thương Huân chương, được bà con thân thương kêu tên "Hùm sám Cự Đà". Trận Cự Đà "... khiến 40 lính Pháp Đức bị giết và hơn 10 tên nữa bị thương” (Giấy khen ngày 10-4-1947 của Ủy ban Kháng chiến Khu XI), có ý nghĩa cổ vũ rất nhiều đối với anh em Quận V. Với ý chí quyết tử và thông minh của ta thì ít cũng thắng nhiều, yếu cũng thắng mạnh. Nhằm mục đích tiêu hao sinh lực địch, ngăn chặn địch mở rộng địa bàn chiến sự, Quận V chủ động đánh địch bằng những lực lượng nhỏ từ tổ đến tiểu đội, có lúc sử dụng lực lượng trung đội, luân phiên liên tục chiến đấu. Cũng có lúc ta sử dụng cả lực lượng đại đội như lần đánh nhà Dầu Shell Khâm Thiên gây cháy, suốt mấy ngày sau địch mới dập tắt được. Ta dùng nhiều hình thức chiến đấu gồm hoạt động thăm dò, quấy rối (như những lần đánh vị trí Cầu Mới), đánh phục kích, hoạt động quân sự kết hợp chính trị (binh vận). Lãnh đạo Quận V thường cùng lãnh đạo huyện Thanh Oai bàn phối hợp chiến đấu, bàn về tiếp tế hậu cần... Từ khi đóng quân trên địa bàn Thanh Oai, Quận V dần hình thành hai trung tâm: Cơ quan uỷ ban, Quận đội bộ, Công an đóng ở Bồ Nâu - Úc Lý. Cơ quan Quận uỷ, Quận bộ Việt Minh, Tuyên truyền xung phong đóng ở Tri Lễ, Ước lễ, Quế Sơn... Vào khoảng tháng 4-1947, Hội nghị Đảng bộ Quận được tiến hành ở Quế Sơn. Các đồng chí đảng viên lần đầu tụ họp đông đủ, phấn khởi bàn bạc công tác lãnh đạo, công tác phát triển Đảng.... Đồng chí Hồ Trúc làm Bí thư Quận uỷ thay đồng chí Nguyễn Kỷ được điều lên Khu XI. Các mặt hoạt động của Quận tiếp tục sôi nổi. Lúc này vấn đề lương ăn có Ban Tiếp tế chuyên lo tổ chức lực lượng gánh thóc từ các kho về phân phối các đơn vị, các bộ phận tự lo xay giã. Anh em ta, đêm lên công tác vùng tạm chiếm, ngày về nghỉ ở hậu cứ trong nhà dân, lại cùng dân làng làm nón, xe chỉ... vừa giúp dân, vừa cải thiện. Bữa cơm hàng ngày rất đạm bạc, nhưng giữ được điều độ. Còn vũ khí đạn dược, phải trông vào "cái kho" của địch, lấy súng đạn của địch mà đánh địch. Mìn địch cũng có. Tổ quân giới - anh em đặt tên là Binh công xưởng của Quận lo chữa súng, lo chữa mìn. Thường xuyên ta đánh phục kích bằng mìn, ở Chuông Vác, có tổ đánh mìn làn mò vào tận Mai Lĩnh. Cũng trong thời gian này, Chủ tịch Hà Đăng Ấn cùng tổ quân giới mày mò sáng chế súng ngựa trời. Hôm thử súng, anh em bị một phen hú vía, may không ai việc gì. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:09:08 pm Ở vùng này, đới sống dân địa phương sung túc, dân tản cư về khá đông. Có đường thông từ đường 22 vào Tri Lễ, Ước Lễ - một làng có nghề làm giò chả nổi tiếng, đến Cống Thần Chợ Đại - khu vực chợ sầm uất vào bậc nhất nhì Hà Đông lúc đó. Dân buôn bán qua lại nhiều. Chợ búa, quán ăn nhộn nhịp suốt ngày. Anh em ta đóng quân trong vùng, không ít người sau những lúc chiến đấu, công tác vất vả thường là ca nơi quán xá. Có người ăn uống tiêu pha quá mức. Có người bán cả áo quần, xe đạp... để khao lẫn nhau, bù khú chuyện tiếu lâm. Tệ tán gẫu phát triển. Vào dịp ấy, khoảng gần giữa năm 1947, Quận tỏ chức học tập, Thư của Hồ Chủ tịch "Gửi các đồng chí Bắc Bộ và Trung Bộ". Từ anh em đến lãnh đạo tỉnh ngộ nhiều điều. Luồng gió mới đã xua đi chiều hướng tự do vô kỷ luật. Nhận thức rõ hơn về trường kỳ kháng chiến, về tư cách người chiến sĩ cách mạng, về trách nhiệm người lãnh đạo... Qua học tập các đồng chí lãnh đạo Quận cũng nhận ra sự thiếu chín chắn vững vàng trong chỉ đạo. Trong trận đánh vị trí địch ở làng công giáo toàn tòng Thạch Bích, có chứng tỏ sự chỉ đạo không vững vàng ấy. Chỉ vì dân các làng lân cận Thạch Bích căm uất, kêu ca lãnh đạo vì một đồng chí ta bị giết chết mà 2 cấp uỷ Thanh Oai và Quận V đã chủ trương đánh. Trong trận đánh. Có gây ra việc đốt nhà, cháy lớn. Hậu qua phải vài ba năm sau mới tạm giải quyết được, lấy lại được lòng dân.
Tư tưởng của mọi người ổn định trở lại. Bắt đầu phát triển được nhiều đảng viên. Công tác chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu đang được tiến hành thì Quận V bị bất ngờ phải đối phó một tình huống chưa từng dự kiến. Trận đánh quân Pháp nhảy dù ở Bồ Nâu Úc Lý. Tháng 6 năm 1947, sau vụ gặt, trên cánh đồng chiêm còn đầy gốc rạ. Cuộc sống của đồng bào Bồ Nâu Úc Lý, Tri Lễ, Ước Lễ đang diễn ra thanh bình. Các cơ quan Quận đóng quân trong vùng đó. Đại đội 2 ở Tri Lễ, Ước Lễ, Từ Châu. Đại đội 3, một nửa ở Kim Lâm, Động Giã do Đại đội trưởng Bùi Văn Phí chỉ huy, một nửa ở Bối Khê - Quan Nhân do Đại đội phó Châu chỉ huy. Trong vùng lân cận có lực lượng Công an Quận VI đóng bên Rùa; một Đại đội Vệ quốc do Đại đội trưởng Mậu chỉ huy đóng ở Khu Vác và Canh Hoạch. Sáng sớm ngày 17-6-1947, xen tiếng máy bay và tiếng súng, có tiếng bà con hô hoán: Tây thả võng. Nhiều máy bay lơ lửng trên bầu trời, dù trắng... phấp phới nhan nhản. Quân Pháp đang nhảy dù xuống cánh đồng giữa Bồ Nâu Úc Lý - Tri Lễ Ước Lễ. Tiếng súng rộ lên ở nhiều hướng. Vùng quê yên tĩnh sôi rộn náo động. Các đồng chí chỉ huy quân đội và anh em đêm trước vào đánh vị trí, vừa về nghỉ ngơi nơi đóng quân, thì tình huống bất ngờ ập tới. Ngay từ trước lúc thả dù, bộ binh Pháp từ đường trục 71 đã tiến đánh Bối Khê, Đại định để về Bồ Nâu. Phía đường 22, giặc tiến vào Kim Lâm, Trình Xá nhằm hướng Tri Lễ, Quế Sơn. Hành động tập kích táo bạo của địch đã gây cho ta bị động ban đầu. Các cơ quan Quận đóng tại Bồ Nâu Úc Lý vội vã vùi dấu tài liệu, máy chữ... một số cùng dân xóm thoát khỏi làng. Du kích Bồ Nâu bố trí chặn địch từ Thanh Đa sang. Các đại đội tự lo việc bố trí chặn đánh. Đại đội trưởng Phi cử trinh sát lên bám sát tình hình địch ở đường 22, bố trí chặn địch ở Trình Xá, Đỗ Động, lệnh cho Đại đội phó Châu tổ chức chặn đánh tại Bối Khê, đồng thời cùng dân quân địa phương hướng dẫn dân làng tản vào Quế Quyển. Một trung đội của Đại đội 2 bố trí chặn địch ở Tri Lễ. Một trung đội bố trí bên Phúc Lâm Ước Lễ. (https://i.imgur.com/C1PWBZQ.jpg) Cánh quân Pháp theo đường 22 tiến vào Trình Xá, Cự Thần, gặp sức kháng cự của quân ta, không vào được làng. Ta bắn bị thương 6 tên địch ở cánh đồng Văn Quán Cự Thần. Sau nhiều lần tiến đánh, địch không tới được Quế Sơn. Đến chiều, địch phải rút. Cánh quân địch theo đường 71 tiến xuống Bối Khê, Đại Định, Quan Nhân, gặp sức chống trả của bộ phận Đại đội 3, trường huấn luyện và du kích các thôn. Ta chặn không để địch tiến về hợp điểm Bồ Nâu với quân dù. Còn cánh quân nhảy dù một phần do gió thổi mạnh, một phần nơi tiếp đất là cánh đồng chiêm còn lầy lội nên lực lượng bị phân tán. Bọn dạt xuống cánh đồng Tri Lễ bị lực lượng ta bố trí dọc bờ tre rìa làng bắn chặn. Đến chiều, địch không vào được Tri Lễ, Phúc Lâm, rút lên Bồ Nâu. Có một hình ảnh vui mà thương tâm xảy ra bên quán gạch nhỏ trên đường liên thôn Bồ Nâu - Tri Lễ - Phúc Lâm, đúng lúc địch nhảy dù một anh điên mặc áo tơi đội nón đang lởn vởn ở đó, bỗng nhiên anh chạy quanh gốc đa, vừa hô xung phong bằng cây gậy vừa bắn súng mồm. Thế mà lính dù Tây vừa tiếp đất cũng hốt hoảng bắn loạn xạ. Anh điên trúng đạn hy sinh. Bà con thương cảm chôn cất anh. Vào được Bồ Nâu Úc Lý, bọn quân dù đập phá đồ đạc, đốt nhà dân, bắt giết gà lợn. Tên Chung kều, vốn là người của tổ Quân giới Quận đã về hàng bọn Pháp trước đây, nay nó dẫn địch vào từng nơi cơ quan của Quận đóng, chiếu danh sách gọi tên cán bộ ta ra hàng. Quận V, không một ai bị bắt. Công an Quận trong thế bị bao vây cũng thoát ra ngoài, an toàn về người và tài liệu. Cho đến chiều 17-6, cả 3 cánh quân đều không gặp được nhau, một bộ phận quân dù rút lên đóng tại Thanh Đa. Một bộ phận đóng tại Bồ Nâu. Ngay đêm đó đồng chí Phi cử hai tiểu đội qua đường Tri Lễ sang Bồ Nâu bắn phá quấy rối. Địch không bắn trả. Một bộ phận của Đại đội 3 cùng trường Huấn luyện tập kích vào bọn dù đóng ở Thanh Đa. Sáng 18-6 quân dù từ Bồ Nâu, men đê sông máng rút sang Bối Khê. Đại đội phó Châu chỉ huỵ anh em ta đánh rượt đuổi. Địch bị thương một số tên và bỏ lại một hòm đạn súng cối. Dù bị địch bất ngờ tập kích, nhưng tinh thần chiến đấu của du kích Quận và du kích các thôn làm bà con thêm tin tưởng. Đồng bào tự động lo tiếp tế cơm nước cho anh em. Thôn xóm có bộ binh địch tràn vào dân làng vừa biết giấu tài sản của gia đình, vừa lo bảo quản tài sản của Quận. Như trường hợp bà chủ nhà bên Quan Nhân đã lập mẹo lấy lại được một máy chữ của Quận bị địch lấy nhưng chưa kịp mang đi. Tài sản và nhà cửa của dân có bị thiệt hại phần nào, song lòng dân Thanh Oai đối với kháng chiến thật là gắn bó về phía lực lượng của Quận, có một vài chiến sĩ bị thương. Hoạt động của bọn dù đóng ở Bồ Nâu chứng tỏ chúng không cố tình sục sạo nhiều, vì thế một đơn vị Tuyên truyền xung phong của Quận ẩn nấp dưới đình làng Bồ Nâu không bị phát hiện. Cán bộ ta trốn trong cột rơm cũng thoát. Nơi vùi dấu tài liệu của Quận đội bộ, Công an... không bị phát hiện. Cuộc tập kích bằng đường không của Pháp ở Bồ Nâu được coi như một cuộc tập nhảy dù chuẩn bị cho Thu Đông đánh lên Việt Bắc là chính. Tuy địch không bắt được cán bộ ta, song báo địch ở Hà Nội vẫn đăng tải tin bắt được Quận trưởng Công an Lê Tuấn. Ta đã tương kế tựu kế đánh địch. Sau trận này, ta có thêm kinh nghiệm trong phán đoán địch tình, trong bảo đảm bí mật và trong công tác bảo vệ nội bộ... Nhờ đó, sau này trong tháng 8, tháng 9 năm 1947, địch cho máy bay dội bom và pháo binh bắn tới Ước Lễ, Tri Lễ, lực lượng ta và dân làng có bị thương vong nhưng không đáng kể. Trại giam của Công an Quận khi đó còn đặt ở chùa Sổ vẫn an toàn. Những lần tập kích vị trí địch bảo đảm được yếu tố bí mật trong hành quân và chiến đấu. Có trận đạt hiệu suất cao như trận đánh vào sân bay Bạch Mai, một Trung đội của Đại đội 3 do Trung đội trưởng Dư chỉ huy đã đốt phá 2 máy bay của địch. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:11:28 pm Lực lượng kháng chiến Quận V tích cực hoạt động quân sự, đồng thời đẩy mạnh việc tuyên truyền chính trị và địch vận. Nội dung tuyên truyền về ba giai đoạn cuộc kháng chiến, về Hồ Chủ tịch, về nuôi dưỡng ý chí căm thù giặc Pháp... được các đồng chí tuyên truyền xung phong thể hiện qua các áp phích, tờ bướm, tranh vẽ, truyền tin ngắn gọn trong các nơi họp dân, họp chợ. Tố ấn loát của Đội Tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Hữu Hạnh phụ trách, mùa hè năm 1947 đã phát hành tờ báo in litô "Quân du kích" đến tay các đơn vị trong Quận, dán nơi họp chợ và tán phát vào vị trí địch ở ngoại thành Hà Nội. Đội kịch - nhạc có cây đàn viôlon Quang Toản, anh Sinh già và các đồng chí khác đã tự biên tự diễn nhiều vở kịch, bài ca ngắn gọn, đã tổ chức những tối biểu diễn suốt từ Bối Khê về Ước Lễ, ra tận Cống Thần. Công tác địch vận được tiến hành ở mỗi ngành theo đặc điểm hoạt động của mình. Bộ phận lực lượng công an cắm trong địch hậu cũng vận động hàng binh có kết quả. Như trường hợp gián tiếp thông qua hai chị hội viên Phụ nữ Cứu quốc đã cảm hoá lôi kéo được 3 lính nguỵ mang súng ra hàng ta. Một trong số 2 phụ nữ đó - chị Vòng, đã được ta tác thành với anh Thái hàng binh (gia đình này hiện vẫn ở Hà Nội).
Quận V thực hiện đánh địch bằng bao vây kinh tế. Công an Quận lập một số trạm bao vây kinh tế địch, có trạm đóng sát ven đô để ngăn chặn việc mang lương thực, thực phẩm vào nội thành, bắt giữ người buôn hàng từ nội thành ra, đồng thời cũng ngăn chặn địch trà trộn ra vùng tự do. Chúng ta có làm được vài vụ việc. Như việc ta phá chợ Lủ hồi tháng 3 tháng 4-1947, đồng chí Nguyễn Tử Quát - Công an Quận dùng súng bắn tên lính gác chợ, đạn không nổ, đồng chí Quát đã hy sinh tại trận. Như việc ta theo dõi một đám tang, có nhiều nghi vấn. Đến trạm bao vây kinh tế bị chặn lại, khám thấy trong quan tài đựng trứng gà, trứng vịt... Việc thu giữ cả chiếc thuyền buôn gạo ở Rùa. Hàng trong Thành ra hầu hết là vải, hàng bách hoá, thuốc lá thơm, thuốc men... Những biện pháp thực hiện lúc ban đầu còn ấu trĩ, hiểu chưa đúng bao vây kinh tế địch. Thực ra lúc đó ngoài vùng tự do, chúng ta thiếu nhiều thứ, đặc biệt về thuốc tân dược, dụng cụ y tế, văn phòng phẩm. Vả lại, đường ra vào Thành muôn ngả, việc kiểm soát không làm xuể. Vì vậy hiệu quả, của biện pháp bao vây kinh tế địch bị hạn chế nhiều mặt. Trong việc này đội ngũ cán bộ và chiến sĩ Công an Quận V vẫn giữ được trong sạch, không bị vật chất cám dỗ. Hàng đống thuốc lá thu giữ, để mốc chẳng ai tơ hào. Trong quá trình tổ chức đánh địch, Quận V tiếp tục làm công tác xây dựng lực lượng nội bộ. Sau khi về đóng quân ở Tri Lễ, Ước Lễ một thời gian, có chủ trương giảm biên chế. Lúc này số người trong lực lượng của Quận khá đông, không cáng đáng nổi. Giải quyết vào lúc này, đối với Quận thực là rất khó. Vì lẽ dĩ nhiên anh chị em đã ở trong đội ngũ từ ngày khởi chiến công tác và chiến đấu rất tốt. Có người trước đây là công chức, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thuyền, học sinh... Có anh em vốn là trộm cắp, cầu bơ cầu bất nhưng làm công tác tình báo, quân báo rất xông xáo dũng cảm. Có những chị em đã từng là cô đầu, nhà thổ, rồi xung vào các đội tiếp tế cứu thương rất tận tuỵ chăm sóc anh em, có lần thu dọn hậu quả sau trận bom địch, vừa nhặt từng mảnh tay khúc ruột của anh em mà các chị vừa ngậm ngùi nước mắt. Tất cả gắn bó trong nghĩa tình đồng đội sâu xa. Nay để ai về, ai ở lại. Tâm tình, trao đổi, rồi cũng ổn. Người về gia đình sản xuất, người bổ sung đơn vị khác, người hoà lẫn vào dòng người hồi cư để làm nhân mối của ta hoạt động nội thành... Những cuộc chia tay thật là xúc động. Có những tình huống làm sững sờ lòng người. Lần đồng chí Bí thư Quận uỷ phải gặp riêng một chị trước là me Tây, nay xin tự nguyện trở về Thành làm nghề cũ cốt để làm việc cho Quận. Hôm tiễn chị ra Ba La Bông Đỏ, chị bịn rịn, khóc rất lâu, tiếc không được ở lại với anh chị em để chiến đấu công khai. Lại có lần đồng chí xuống kiểm tra quân số ở một trung đội có báo cáo đã làm xong giảm biên chế. Anh em điểm danh đến số 22 bỗng nhiên có một chú bé lao ra, tay cầm quạt nan điểm tiếp số 23. Thì ra trung đội phải nói dối trên, dấu quân số, chia khẩu phần để nuôi em liên lạc. Còn em thì đinh ninh mình vẫn là chiến sĩ trong biên chế của trung đội. Ý chí khát khao quyết tâm đánh Pháp như vậy, hèn chi giặc Pháp chẳng thể đè bẹp nổi nhân dân ta. Kháng chiến là sự nghiệp chính nghĩa của toàn dân. Chân lý ngày được sáng tỏ dân, khai sáng trí thức cách mạng lúc đầu còn hạn hẹp của cán bộ và chiến sĩ Quận V. Đồng bào địa phương nơi đóng quân cũng đã chịu cảnh bom đạn, đốt phá của giặc Pháp. Có gia đình mất của, mất người thân. Bà con ủng hộ kháng chiến. Thanh niên gia nhập lực lượng kháng chiến. Bà con Thanh Oai yêu mến Thủ đô kháng chiến. Dịp Trung thu năm 1947, Quận tổ chức họp trại vui chơi cho các em của Quận với các em dân làng, thả bóng diều kèm thư mừng Trung thu các bạn trong Thành. Cũng nhân kỳ lễ Pakơ, được linh mục nhà thờ Từ Châu đồng tình, thiếu nhi Quận gặp mặt dân làng kể chuyện kháng chiến, hát múa để bà con thưởng thức. Quan hệ với bà con thôn xóm đậm đà tình nghĩa. Cuộc sống vật chất của đồng bào Hà Nội tản cư ở vùng này ngày thêm khốn khó. Vì sinh kế, nhiều gia đình đã phải hồi cư. Từ đầu năm 1947, bà con các làng ven nội như Mọc, Lủ, Đình Công... đã lục tục hồi cư. Cho đến giữa năm 1948, các làng ven ngoại thành Quận V đã hồi cư khá đông. Ở vùng Quận V tạm chiếm, Pháp đã ráo riết dồn dân, lập tề, phát Tít (thẻ căn cước), phát giấy thông hành cho dân vào nội thành. Bọn Pháp dùng thủ đoạn vừa vây ráp, khủng bố, vừa mị dân bằng hàng hoá. Chúng tuyên truyền cho việc lập chính phủ bù nhìn. Chúng tìm chọn tay sai làm chỉ điểm, cài cặp tình báo. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:12:16 pm Hồi lực lượng kháng chiến Liên khu III rút khỏi Hà Nội là rút hết, không để một người nào ở lại làm công tác bí mật. Việc này lúc ấy không ai nghĩ tới. Thiếu sót này đã gây khó khăn cho ta về nắm tình hình địch, tình hình dân chúng hồi cư và chuẩn bị cơ sở để trở về hoạt động trong hậu địch.
Quận V đã chỉ đạo các lực lượng kháng chiến chuẩn bị điều kiện để trở về đánh địch ngay trong lòng Hà Nội. Trước hết, cần xây dựng chỗ đứng ngay tại các làng ngoại thành, đồng thời xây dựng cơ sở nội thành. Vì vậy phá tề, trừ gian được thực hiện ngay từ đầu. Quận V không cho địch lập tề, kiên quyết phá tề. Công an Quận từ hồi còn đóng ở cầu Chiếc - Đan Thầm (tháng 5-1947) đã thường xuyên cử lực lượng lên Mọc, Lủ, Cầu Mới... gài mìn buộc địch không dám ra ngoài khu vực đóng quân, nhằm ngăn chặn chúng dồn dân để lập tề. Mặt khác, qua đó ta cũng có điều kiện nắm dân. Nắm được dân là yêu cầu cơ bản trong việc phá tề. Vì thế, đến đầu năm 1948, dù địch đã đóng bốt ở Quang Liệt, Công an Quận vẫn mở rộng phạm vi nắm dân lên tận Láng, Vạn Phúc. Quận V phá tề theo cách vừa chủ động đánh được địch, vừa bảo vệ được dân. Trong hỗ trợ dân đấu tranh chống lập tề, Công an Quận là lực lượng chủ yếu đã thực hiện cách làm có hiệu quả là: bắt những tên chỉ điểm đưa về hậu phương xử lý; thuyết phục người được địch dự định chọn đứng ra lập tề, hoặc ta lựa chọn sẵn rồi cho dân giới thiệu với địch nhận làm tề, sau đó một thời gian, bố trí "tề hờ" trốn vào Thành, nói dối là do Việt Minh bắt, nhằm cố tình kéo dài thời gian không lập được nguỵ quyền. Cứ lặp đi lặp lại như vậy theo cách khác nhau, nên có nơi đến hơn một năm, trắng không tề như ở Kim Lủ, Đại Từ, Đình Công, Hạ Đình, Láng, Mọc Quan Nhân, Nhân Chính... Chính nhờ có cơ sở bám rễ trong dân nên sau này khi được Thành giao nhiệm vụ, Công an Quận đã bố trí dân mang thư của chính phủ ta gửi Cao uỷ Pháp (người dân đó vào Ngã Tư Sở giao cho Đại Lý Hoàn Long để chuyển về Hà Nội). Lúc này, cuộc sống của đồng bào ngoại thành hồi cư về làng rất đói khổ. Nhiều nhà mùa rét chỉ có chiếu đắp. Tuy gia đình ăn cháo, ăn khoai nhưng đồng bào còn tin Hồ Chủ tịch, tin Chính phủ ta. Có gia đình nhận em giao thông làm con nuôi. Thương cán bộ chiến sĩ ta, bà con cho anh em đào hầm bí mật trong nhà, dấu anh em ta mỗi khi giặc bất thần ập tới. Có lần không kịp xuống hầm, anh em đành đánh trâu lủi ra đồng, ra bãi tha ma tránh giặc, trưa đến đồng bào tiếp tế cho củ khoai. Lòng dân không chịu theo giặc lập tề. Dân làng 3 thôn Lủ và Đại Từ rất kiên quyết, đã tự động giải tán nhiều hội tề, tối đến đóng chặt cổng làng, báo ám hiệu khi địch vây ráp. Lần vây ráp lớn và bất ngờ vào ngày 15-12-1947 ở cả ba thôn Lủ, giặc Pháp đã bắn và bắt được em Nghiêm Dũng Nhi, giao thông Quận đội, chúng họp dân làng ở dinh Lủ thượng để dân nhận diện, mặc dù em Nhi có bà mẹ nhận là con, nhưng giặc Pháp vẫn gọi là "Pơ-ti Việt Minh" và bắt về bốt Quang Tó đánh đập, em Nhi không khai báo cơ sở, sau được đoàn thể cứu thoát ra học tiếp. Dù địch có vây ráp, nhưng Kim Lủ được coi như "chiến khu” của Quận V. Khi cá đã trở về với nước thì ta hoạt động bán công khai. Một số tổ chức đoàn thể và chính quyền được lập lại. Tết Mậu Tý (năm 1948) Công an Quận đã cùng cán bộ làng Khương Hạ tổ chức mít tinh mừng năm mới ở xóm Hồng, cạnh cống Lủ. Khoảng ngày mồng 2 hay mông 4 Tết, đồng chí Trần Hoàng Bá, trạm phó tình báo hướng dẫn Quận trưởng Công an Lê Tuấn và Chủ tịch Phạm Dụ từ ngoài Cầu Chiếc vào thôn Phương Liệt, Mọc, Láng để xem xét tình hình đời sống của dân và thăm đồng bào. Trong lần đi này, hai đồng chí đã nổ súng trừng trị một tên phản bội. Phá tề đồng thời phải trừ gian, thực hiện chủ trương của Công an Khu XI, khoảng tháng 9-1947, Công an Quận lập đội Thanh Việt (có nghĩa là thanh niên Việt Nam, cũng có nghĩa là thanh trừ Việt gian). Sau đó ít lâu, Đội đã trừng trị tên trưởng phố Hàm Long khét tiếng gian ác. Không lập được tề, địch điên cuồng lồng lộn, coi vùng tạm chiếm Quận V là là trọng điểm đánh phá, nên chúng đã đặt Đại lý Hoàn Long tại Ngã Tư Sở, ở đây lập riêng Ty Công an nguỵ, lập đơn vị mật thám. Không quân ở sân bay Bạch Mai, lập bọn Mật thám Phòng Nhì bốt Vọng. Ban ngày địch tuần tra liên tục. Ban đêm phục kích mọi ngả đường. Một vài đồng chí Công an Quận hy sinh do địch phục kích trên đường ra vào vùng tự do, một số khác bị thương. Như trường hợp đồng chí Mỳ (ở Hạ Đình) bị bắt cùng một khẩu tiểu liên, một giao thông bị bắt, sau địch phải thả vì không có tài liệu, đồng chí Dân bị địch bắn vào tay nhưng thoát được. Quá trình phá tề trừ gian, lực lượng Quận V đã hỗ trợ quần chúng đấu tranh, ta đã xây dựng được chỗ đứng ở ngoại thành, tạo điều kiện để phát triển vào nội thành. Để xây dựng cơ sở trong nội thành, các lực lượng của Quận từ đầu năm 1947 đã tiến hành công tác chuẩn bị. Ngay từ tháng 4-1947 Ban Quân báo đã cử nhóm công tác vào nội thành thăm dò. Hai nữ đồng chí Nhị và Thoa từ Khương Trung vào Ngã Tư Sở, xin giấy thông hành, về nhà đồng chí Thoa ở ngõ Văn Chương, vào Giám, lên Hàng Gai để thám sát. Cùng thời gian đó, đồng chí Lê Kim Tùng vào làng Thành Công thăm dò xây dựng cơ sở, người bắt mối đầu tiên là cụ Hỗ - bán hàng nước dưới gốc đa Thành Công. Làng Thành Công nhỏ, ao hồ quanh làng, lại ven đê La Thành, nên đặt cơ sở chưa thuận. Công an Quận khi lập các Trạm tình báo đã xây dựng các tuyến giao thông từ ngoài vùng tự do vào ngoại thành, đồng thời tìm cách đưa cán bộ vào nội thành nắm tình hình. Được biết đồng bào rục rịch hồi cư, trinh sát công an được trao nhiệm vụ phát hiện những gia đình gốc Hà Nội. Tháng 5-1947, Công an Quận đã bố trí một nữ cán bộ - đồng chí Chén đi theo cùng các em ruột đồng chí Hiển hồi cư về gia đình ở 48 Phùng Hưng. Đồng chí đã đặt cơ sở bắt mối đầu tiên của Công an Quận V tại nội thành. Đồng chí Thái Dũng thuyết phục ông Tống Văn Giám (thân phụ đồng chí Tống Văn Lập) đưa gia đình hồi cư, về ở 60 phố Sinh Từ, để trở thành cơ sở kháng chiến. Tiếp đó là một số đồng chí Công an được tung vào bám rễ như đồng chí Bảo Hùng, em Vân, em Đức... Các đồng chí này được đưa vào gia đình vốn đã quen biết, có em ban ngày lên các phố trung tâm tìm việc làm thuê, điều tra tình hình, rồi về ngủ qua đêm tại các nhà vắng chủ ở các phố phía Nam Hà Nội. Trong việc tuyển chọn người, chúng ta cũng lưu tâm người dân có tâm huyết cứu nước, tự nguyện tham gia đội ngũ. Sư nữ Trang là một trong nhiều trường hợp. Sư Trang tu tại ngôi chùa to lớn nằm giữa Cống Thần - Tía, là vị sư nữ trẻ đẹp, đã tự nguyện gặp Quận trưởng Công an xin nhận nhiệm vụ và đã đi theo suốt cuộc kháng chiến, chịu nhiều gian khó trong công tác địch hậu. Đến hoà bình lập lại, đồng chí Trang xin nghỉ việc đời, trở lại đường tu hành, hiện ở chùa Ngải Cầu - Hà Tây. Chính phương pháp "bắt nhân mối" và tận dụng thời cơ công khai hồi cư hợp pháp đã cho phép Quận V có điều kiện là đi thẳng vào xây dựng cơ sở tại nội thành. Như trường hợp đồng chí Nguyễn Đình Hiếu, phải sau 3 lần bố trí, đến tháng 7 năm 1947 mới đi cùng gia đình con gái bác sĩ Đặng Vũ Lạc hồi cư về trú tại nhà bác sĩ được 3 tháng. Sau những lần tiếp xúc với cán bộ ta, bác sĩ Lạc hiểu kháng chiến hơn, đã không tham gia hoạt động chính trị do Pháp ve vãn. Từ nơi này, đồng chí Hiếu quay trở lại xây dựng cơ sở kháng chiến tại làng Thổ Quan. Đến tháng 10-1947, việc chỉ đạo đưa cán bộ vào hoạt động nội thành được tập trung về Ban Nội thành của Quận, không kể tuyến Công an - do đồng chí Bùi Văn Phi phụ trách. Các đồng chí ta tiếp tục vào nội thành hoạt động. Làng Thổ Quan dần trở thành nơi trú ngụ của anh em ta từ ngoài vào, kể cả cán bộ lãnh đạo như đồng chí Tiến Đức... Thổ Quan lại tiếp tục là nơi nuôi dưỡng, che dấu cho lực lượng kháng chiến Quận hoạt động. Các đồng chí Lê Kim Tùng, Lê Đình Cầu, Nguyễn Ngọc Cảnh, Bảo Ngọc... bám cơ sở tại đây để chỉ đạo công tác địch vận, thám sát, chỉ huy hoạt động vũ trang. Từ địa bàn đầu cầu này, các đồng chí Quận V toả sâu vào nội thành, vươn ra các làng lân cận nhanh hơn, nhất là sau Tết Mậu Tý (1948). Quận V tạo dần chỗ đứng tại nội thành, chuẩn bị tích cực cho cuộc vật lộn quyết liệt giữa ta và địch ngay trong lòng Hà Nội. Thời điểm sau tháng 3-1948, cho dù có sự xáo trộn về tổ chức chỉ đạo (Lưỡng Hà) nhưng cán bộ chiến sĩ Quận V vẫn còn phiên hiệu, đã cắm được rễ trên mảnh đất của mình, tiếp tục phát triển cơ sở kháng chiến, tiếp tục kiên cường đánh địch, không khuất phục ngay tại nhà lao Hoả Lò như đồng chí Hiếu, các nữ đồng chí Trinh (Tiến), Phượng (Ván), Nhị, Nguyệt... Vững vàng kiên trinh trong ngục tù Côn Đảo như đồng chí Phạm Hướng, Lê Đình Cầu, Nguyễn Ngọc Cảnh. Quận V tự hào có những đồng chí đã hy sinh anh dũng, thương tiếc đồng chí Phạm Hướng (Tư Koóng) đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi Côn Đảo trong lần vượt ngục. Trong đội ngũ hành quân đến chiến thắng cuối cùng của cả Hà Nội, chiến tích và tên tuổi các đồng chí, dù còn sống hay đã mất của Liên khu III - Đống Đa - Quận V trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp xâm lược, vẫn còn được ghi lại nguyên vẹn trong lòng của đồng bào, đồng chí, để lại cho mỗi người chúng ta một niềm tự hào xứng đáng. Tháng 10 năm 2001 Người thể hiện: ĐOÀN HẢI Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:25:52 am NĂM 1946 BÁC HỒ ĂN TẾT Nguyễn Khắc Kỳ Nguyên Giám đốc Nhà in Diên Hồng Mỗi lần Tết Trung thu và Tết Nguyên đán đến, là tôi lại nhớ đến một kỷ niệm ăn Tết với Bác Hồ - Bởi lẽ rằm tháng 8 năm Ất Dậu, đúng 32 ngày sau ngày 19-8-1945, Bác đã biết ở Hà Nội có nuôi dưỡng một số trẻ em mồ côi ở trại Bảo Anh, phố Hàng Đẫy (nay là Nguyễn Thái Học, thuộc địa bàn Liên khu III) (Một cơ sở của Hội Bảo Anh thời Pháp thuộc, cũng dùng để nuôi trẻ mồ côi, gọi là Cô nhi viện Bảo Anh. Lúc này đã bỏ hoang, không có ai ở. Chúng tôi một số thanh niên, sinh viên, giáo viên, y tá cùng với các bà, các chị lớn tuổi như bà Tú Dục (gia đình ông Bùi Tường Chiểu), nữ sĩ Vân Đài, bà Thuận, bà Thi ở phố Nhà thờ, bác sĩ Nguyền Thúc Mậu đã cùng nhau từng làm việc cứu đói từ đầu năm 1945 - nay xin cụ Nguyễn Văn Tố cho phép nhận riêng một số cháu mất cha mẹ lang thang trên đường phố, để tập trung về nuôi ở cơ sở này và vẫn gọi là Hội Bảo Anh) - Bác đến thăm và cho các cháu nhiều thùng kẹo, bánh Trung thu - và 4 tháng sau, Tết Nguyên đán Bính Tuất (30-1-1946) Bác lại đến và cho các cháu bánh chưng, mứt kẹo. Cả hai lần Bác đến, tôi có vinh dự được đón đưa Bác đi thăm trại trẻ. Niềm hạnh phúc ấy chẳng bao giờ phai mờ trong tôi. Tết Trung thu năm Ất Dậu (1945), trẻ em Việt Nam được người lớn tổ chức cho một cái tết có lẽ vui nhất trong lịch sử nước ta. Vì mới giành được chính quyền một tháng, niềm vui đang tràn ngập khắp nơi, anh Phong Nhã và các anh chị phụ trách thiếu niên nhi đồng đã tổ chức các cuộc vui chơi trên mặt hồ Hoàn Kiếm, diễu hành xung quanh hồ, bầy cỗ trên bờ hồ. Hè phố Hà Nội, trước cửa các gia đình cũng bày cỗ để tất cả mọi em đều được phá cỗ chung, không coi là của riêng nhà mình. Đi xem cỗ của gia đình hoặc ở Bờ Hồ cũng có nhiều thú vị, vì như lệ cũ, các bà các chị thường trổ tài tỉa hoa bằng quả bưởi, quả đu đủ và các vật khác thành những con giống, bông hoa cực đẹp mà đều ăn được. Bánh dẻo, bánh nướng cũng muôn hình muôn vẻ. Ngày nay - 1996 - những ai ở độ tuổi trên dưới 70 chắc còn nhớ. Ở Hội Bảo Anh, chúng tôi cũng bày cỗ cho các em, trong hoàn cảnh nghèo nhưng cũng vui vẻ tấp nập lắm. Cũng tổ chức làm đầu sư tử để múa thi. Nhưng có một sự kiện bất ngờ xảy đến đột ngột, niêm vui quá lớn, đó là việc buổi trưa ngày hôm đó, Bác Hồ đến cho kẹo, bánh Trung thu. Hơn mười một giờ, anh chị em phụ trách các lớp học, bệnh xá đã về cả, các cháu ăn cơm xong về phòng ngủ. Chỉ còn mấy bà mấy chị và tôi thường trực ở lại. Khi nghe có tiếng gọi, tôi chạy ra thấy các cháu mở cổng rồi. Nhìn thấy Bác Hồ và hai ba cán bộ đã vào đến sân, tôi bấn loạn cả lên, chào lạy Bác ạ và quay gọi trong nhà "Hồ Chủ tịch đến. Hồ Chủ tịch đến". Các bà các chị chạy ùa ra, luống cuống bước xuống sân chắp tay "lạy Bác, lạy Bác" (đó là cách chào tôn kính đối với những người có tuổi). Mọi người chúng tôi bàng hoàng, bối rối vì chuyện quá bất ngờ. Nhìn cảnh ấy, Bác cười và nói: hôm nay là ngày Tết của trẻ em. Chính phủ không quên các cháu nghèo. Đồng bào các nơi gửi quà biếu đến. Bác đến thăm và chia quà cho các cháu. Tôi xin tập hợp các cháu lại, Bác bảo thôi, để các cháu nghỉ. Hãy đưa Bác đi thăm trại. Tôi hướng dẫn Bác đến các phòng ngủ, các lớp học văn hoá, học nghề, bệnh xá và cả nhà ăn, nhà bếp. Bác hỏi các cháu có được ăn no không, thức ăn có những gì... Bác khen chúng tôi tổ chức cơ sở ngăn nắp, trật tự, sân chơi, đường đi tôn bằng đất nện mà sạch sẽ cao ráo. Cuối cùng, Bác đứng ở hiên nhà ăn nhìn ra vườn cỏ rộng một lúc rồi Bác bảo phải tổ chức giồng rau để cải thiện cho các cháu. Ôi! Một điều thật đơn giản và cần thiết mà lâu nay, chúng tôi không hề nghĩ tới. Tôi rất xúc động và thưa với Bác: "Chúng cháu xin vâng lời Bác và sẽ làm rau ngay"... Bốn tháng rưỡi sau, vào ngày Tết Nguyên đán, Bác lại đến thăm và cho nhiều bánh chưng, mứt tết, cam bưởi. Lần này Bác đến sớm hơn, trước giờ ăn và trước giờ các anh chị bác sĩ, giáo viên ra về. Chúng tôi đã đón mời Bác vào thăm cơ sở, bây giờ đã gọn gàng sạch sẽ hơn trước nhiều. Khi qua nhà ăn Bác đã vào xem thức ăn, cơm canh của các cháu. Trước hiên nhà ăn bấy giờ không còn bãi cỏ nữa, mà là một vườn rau to, đẹp. Giữa vườn có ngôi nhà nhỏ hai gian, lợp rơm để ông bà làm vườn ở và chứa dụng cụ làm vườn. Tôi giới thiệu với Bác: Theo sự chỉ bảo của Bác Hồi Tết Trung thu, chúng con đã dọn sạch cỏ, mời được hai ông bà làm vườn ngoài Mai Dịch, nhà nghèo chỉ đi làm thuê. Về đây ông bà ấy nhận lời làm rau chia đôi với trại. Buổi sáng thu hoạch xong bà cân một nửa, gánh đi chợ bán, còn một nửa các chị nhà bếp nhận và nấu cho các cháu. Từ đấy ông bà làm vườn có thêm tiền để dành, các cháu được ăn thêm thịt cá. Bác hài lòng và khen ngợi chúng tôi nhiều. Bác nhìn ngôi nhà nhỏ và mảnh vườn, Bác nói: "Tôi cũng rất mong khi về già có một ngôi nhà nhỏ và một mảnh vườn như thế này". Chị Anh Tân (sau này là bác sĩ Quân y) mời Bác về lại sân thăm các cháu. Các cháu đã được xếp hàng ngay ngắn như khi tập thể dục buổi sáng. Các cháu hô to chúc Bác sống lâu mạnh khoẻ. Các cháu tập một bài thể dục và hát bài Anh hùng xưa, Lên đàng do chị Anh Tân điều khiển. Bác khen và động viên các cháu. Bác thăm hỏi mọi người rồi nói: Các cô các chú vừa đi làm việc kiếm sống, vừa giành thời gian đến đây làm việc thiện giúp các cháu. Thế là rất tốt. Hiện nay nước nhà mới độc lập, đồng bào còn nhiều khó khăn. Bác mong các cô chú vận động thêm nhiều người bạn cùng tham gia công việc từ thiện như thế này. Chúng tôi đưa sổ vàng của Hội xin Bác ghi kỷ niệm, và tôi nhớ mãi là Bác ký rất khiêm tốn trên góc trang giấy, bên ngoài cả khung kẻ để đại biểu ghi cảm tưởng như ý nhắc nhở tránh hình thức và lãng phí giấy vở. Việc Bác Hồ đến thăm trại trẻ mồ côi Bảo Anh ngay từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám - trong lúc Người bận trăm công nghìn việc - là một ân đức có lẽ cả đời chúng tôi và các cháu mồ côi chẳng thể nào quên. Riêng tôi, niềm mong ước của Bác có ngôi nhà nhỏ với một mảnh vườn và việc Bác ký trên góc một trang sổ lớn năm ấy đã để lại trong tôi suốt đời như một lời giáo huấn. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:28:08 am Cuộc chiến đấu ở mặt trận Hàng Bột trên Từ 19 đến 30/12/1946 (Hội thảo của Ban chỉ huy C29 D523, Ban chỉ huy tự vệ và cứu thương phố Hàng Bột - Liên khu III Hà Nội) Đại tá Tống Thị Hoà thực hiện I. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ Đường phố Hàng Bột là một trong nhiều đường phố chính trong Liên khu III. Khu phố Hàng Bột trên bao gồm nhiều phố nhỏ như: Hàng Cháo, ngõ Hàng Bột, Phan Phù Tiên, Cát Linh, Bích Câu, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Trương Vĩnh Ký (nay là Phan Văn Trị) vào làng An Trạch, phố Quốc Tử Giám. Khu phố Hàng Bột phía Bắc - Đông Bắc giáp phố Nguyễn Thái Học. Bên kia phố Nguyễn Thái Học là khu phố Tây vì hầu hết các nhà đó đều do Pháp kiều ở. Cách khoảng 500m là cổng thành phía Tây, cách khoảng 800m là cổng thành phía Nam, trong đó quân đội Pháp đóng. Cách Nha Tài chính 700m (nay là Bộ Ngoại giao, ngày 27-3-1946 quân đội Pháp đã chiếm đóng trái phép). Các đường phố Hàng Cháo, ngõ Hàng Bột, Phan Phù Tiên, Cát Linh dẫn ra sân vận động Septo rất trống trải không có tường bao (nay là sân Vận động Hà Nội). Phía Đông là phố Quốc Tử Giám, có Văn Miếu, Hồ Giám. Phía Tây giáp đường Giảng Võ và là khu vực ruộng lầy. Phía Nam giáp Hàng Bột dưới (từ ngã tư Trương Vĩnh Ký trở xuống) có nhà thờ Hàng Bột, nhà cố đạo Hiến, nhà Soeur Antoine (Sơ - Ăng-toan), nhà trẻ mồ côi. Các làng Văn Hương, Văn Chương, Thịnh Hào nhiều ngõ và ao hồ. Đường phố Hàng Bột nằm ngay đầu Ô Chợ Dừa, quân Pháp muốn mở rộng chiến sự ra xa Hà Nội bắt buộc phải qua cửa ô đó, nên cuộc chiến đấu với quân Pháp sẽ rất ác liệt, không những phải đương đầu trực tiếp mà còn phải đánh lại những mũi vu hồi của chúng. II. TÌNH HÌNH DÂN CƯ Thành phần nhân dân hầu hết là dân lao động: công nhân, người làm nghề tự do, buôn bán nhỏ, trồng rau, chăn nuôi; một số ít công và tư chức trung cấp, sơ cấp; một số ít trung thương. Đa số là sinh viên, học sinh. Cơ sở cách mạng ở đây có: - Tại chùa Bà Trẻ, số nhà 59 cạnh đình (là trụ sở Tự vệ nay là Câu lạc bộ) là nơi ông bà Khiêm, cô chú ruột của anh Trần By và chị Trần Thị Lê, đã nấu cơm cho số sinh viên trọ học đồng thời là những đảng viên cộng sản, sau này bị sở mật thám Pháp đến khám xét thu tài liệu và bắt các anh: Võ Sán người miền Trung, Trần Thuyên người Nam Định, sau hoà bình làm ở Bộ Ngoại thương; anh Hộ, anh Điếm ở Hải Dương, anh Câu bị bắt rồi chết. Anh Trần By (nay là Đại tá QĐNDVN ở 20 Tăng Bạt Hổ và bà Tống Thị Hiên ở 71-73 Hàng Bột (chết) làm liên lạc cho nhóm này. Sau này phát hiện do tên Phán Sinh theo dõi (mật thám Sinh). - Nhà 71-73 Hàng Bột là nhà cụ Tống Bá Nho, một thành viên của Đông Kinh Nghĩa Thục. - Đối diện với nhà này là nhà anh Liêm, cán bộ công vận Hà Nội hoạt động tiền khởi nghĩa. - Nhà 96 Hàng Bột là nhà cụ Tri phủ thân sinh các anh chị em: Lê Quân, chính uỷ Trung đoàn 48, Thái Tiên, Quỳnh Vân, Hồng Ngọc, Phương Trâm, cơ sở cách mạng, nuôi dấu cán bộ, nơi hội họp của các đồng chí Vũ Oanh, Vũ Quang... - Trong làng An Trạch có trại trồng nhãn, ruộng ao trồng rau. Cư dân hiền lành vốn có lòng yêu nước. Tại đây một thời là nơi hội họp của các cụ cử, cụ tú, cụ đồ Trần Xuân Nhuận trong phong trào chống Pháp, sau tan rã theo cụ cử Lương Văn Can bị Pháp bắt. Tiền khởi nghĩa có anh Nguyễn Kỷ về sinh sống và hoạt động gây cơ sơ cách mạng như cụ Nguyễn Văn Mậu, Nguyễn Văn Lan (đã chết), anh Nguyễn Hồng Chương lãnh đạo Việt Nam Cứu quốc hội (đã chết). Trong phố có một số hộ theo Thiên chúa giáo, là người lao động thái độ tốt. Có vài tên lưu manh, trộm cắp vặt. Một số thanh niên ăn chơi, ngổ ngáo, tính chất "anh chị" nhưng không phản động. Số nhà 1 phố Cát Linh là nhà "Săm" Thái Lai, hồi Nhật chiếm đây là nơi lui tới của bọn sĩ quan Nhật nghe nói là cơ sở tình báo Nhật. Số 9 phố Cát Linh là nhà tên Pháp lai Henri Deléveaux có vợ Việt Nam và 5 con trai: Jean 25 tuổi, Victor 19 tuổi, Etienne 18 tuổi, Pierre 16 tuổi, Laul 14 tuổi và 1 con gái Léonne 15 tuổi, có một cháu gái giúp việc. Bọn con khoe bố chúng là Deléveaux trước kia đã tham gia trận chiến 1914 - 1918 ở Pháp. Ở một nhà gần phố Phan Phù Tiên có Toà báo Vì Nước, một tờ báo chống đối chính phủ ta, có một thời gian ngắn chúng bắc loa đưa ra những luận điệu phản tuyên truyền. Lác đác có vài gia đình Pháp lai, dân thường, họ chuyển nơi khác ngay khi có lệnh tản cư. Đầu phố Hàng Bột số chẵn là khu nhà của bọn Pháp lai vợ Việt Nam. Năm 1946, thỉnh thoảng có bọn sĩ quan mũ đỏ Pháp lui tới. Là một đường phố chính, cửa ngõ Hà Nội, người dân ở đây đã từng chứng kiến những cuộc lùng sục của Pháp vào những ngày Quốc tế Lao động; cảnh chị Nhâm ở Hàng Bột dưới sau khi diễn thuyết ở trường Sinh Từ bị Pháp bắt dẫn trên đường phố về nhà; cảnh biểu tình tuần hành ngày 1-5-1938, công nhân quần xanh áo trắng cà vạt đỏ, đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Hàng Bột. Ngày 17-8-1945 nhiều thanh niên nam nữ ở Hàng Bột đã đến Quảng trường Nhà Hát lớn Thành phố (nay là Quảng trường Tháng Tám) rồi tham gia chiếm Trại bảo an binh, chiếm Toà Khâm sai (sau là Bắc Bộ phủ) ngày 19-8-1945. Từ đó các đoàn thể ở khu phố được thành lập như: Thanh niên, Phụ nữ Cứu quốc, Thiếu niên tiền phong. Ủy ban Hành chính khu phố Hàng Bột do ông Nguyễn Văn Mậu làm Chủ tịch. Hai năm 1945 - 1946, các đoàn thể làm rất nhiều việc, ví dụ: + Chống lụt: Thanh niên được lệnh đi đắp đê ở Trần Nhật Duật, Gia Lâm, Đông Lao Hà Đông. + Khất thực: Thanh niên, phụ nữ đi quyên cơm, gạo nấu cháo để cho những người đói nằm la liệt trên hè phố, có người đang ăn cháo bị nghẹn mà chết. Theo lời Bác Hồ kêu gọi phụ nữ: đi vận động lập "Hũ gạo tiết kiệm". Thanh niên kéo xe bò gạo quyên được đưa vào Tây Mỗ phát. + Tham gia bảo vệ Tuần lễ vàng tại sân vận động Hàng Đẫy (nay là phố Nguyễn Thái Học) bảo đảm an toàn suốt trong tuần đó. + Tổ chức lớp học Bình dân học vụ vào buổi tối cho các bà, các chị trong phố. + Tổ chức bày cỗ Trung thu ở Bờ Hồ cho các em thiếu nhi vui chơi rồi phá cỗ. + Tự vệ phối hợp cùng Công an khám xét nhà Deléveaux vì nghi chứa chấp vũ khí. + Chọn một số em trong đội Thiếu niên tiền phong nhanh nhẹn, linh lợi có đủ điều kiện để làm trinh sát. Các em đã phát hiện được hai vụ là có người ở nơi khác đến rải truyền đơn, và nói "Pháp từ biên giới đã về đến Hoà Bình" hòng gây hoang mang trong dân chúng. Các em cũng phát hiện một số vụ bọn lưu manh đến địa phương ăn cắp. Trong các cuộc vận động đó, các đoàn thể được nhân dân trong khu phố tin tưởng và nhiệt tình hưởng ứng. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:29:50 am III. CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN
Sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, đoàn Thanh niên đổi tên thành Tự vệ Hoàng Diệu, gồm 120 anh chia thành các tiểu đội và trung đội, do anh Nguyễn Hữu Thành làm đại đội trưởng (sau kiêm cả Kim Mã làm liên đại đội trưởng) có 3 trung đội và 9 tiểu đội. Chị Tống Thị Thiện, Bí thư Phụ nữ Cứu quốc cũng tổ chức đội Cứu thương và mời anh Nguyễn Khắc Kỳ, công tác ở Cục Quân y Bộ Quốc phòng, nhà ở phố Hàng Đẫy (Nguyễn Thái Học ngày nay) dạy cứu thương. Sau này anh Nguyễn Khắc Toàn làm trưởng trạm. Chị còn mời chị Nguyễn Thị Châu, nữ tự vệ chiến đấu về dạy cho các chị tập quân sự (nguyên Trung tá trường Đại học An ninh nay đã nghỉ hưu). Ủy ban Hành chính chuyển thành Ủy ban Bảo vệ phố Hàng Bột vẫn do ông Mậu làm Chủ tịch. Còn nhớ chị Tống Thị Thiện và anh Tống Văn Lập là uỷ viên. Thanh niên, phụ nữ dựa vào Ủy ban Bảo vệ tổ chức các cuộc họp, lạc quyên, diễn kịch bán đô lưu niệm. Số tiền thu được một phần mua vũ khí, một phần mua thuốc, bông băng v.v... được 10 cái mác búp đa, 2 khẩu súng Pháp, 15 quả mìn, 5 quả lựu đạn Nhật và được trang bị thêm gần 10 quả lựu đạn Phan Đình Phùng. Ngoài ra cá nhân tự trang bị thêm súng, dao. Luyện tập quân sự của tự vệ do ông Quản Chấn (đóng quản trong quân đội Pháp) dạy các động tác cơ bản, chiến thuật đánh trên đường phố, sử dụng vũ khí, đi dã ngoại. Xác định nhiệm vụ lúc đó là giữ gìn trật tự trị an. Giải quyết nhiều vụ trộm có kết quả, trong đó có vụ một tự vệ bị thương nhẹ nên dân tin và thương mến lắm. Tên Ba Lại là một tên lưu manh ở trong ngõ 220, thái độ lời nói coi thường chính quyền, tự vệ. Hắn bị gọi ra trụ sở tự vệ thì xanh mặt, sợ, xin chừa. Giải quyết các vụ rắc rối với quân Tàu Tường. Lúc đó có khoảng trên 1 tiểu đoàn đóng rải rác, sau chúng tập trung ở Bích Câu - Đoàn Thị Điểm, có 1 thiếu tá chỉ huy. Anh Thành nhờ một người biết tiếng Trung Quốc phiên dịch yêu cầu mỗi bên cử một người cùng trực ở chợ giải quyết mâu thuẫn, buộc chúng phải thả anh Nguyễn Xuân Hồng, đại đội phó tự vệ. Bọn Tàu gác cửa toà báo Vì Nước cho bọn này bắc loa phản tuyên truyền, tự vệ và trinh sát Bắc Bộ tập trung phía đối diện đấu khẩu và ngầm đe doạ, bọn báo Vì Nước sợ, dần dần kém đi, khi quân Tàu rút, bọn này cũng chạy mất. Tự vệ còn tổ chức một đoàn đi sau đội kèn diễu hành biểu tình trong đoàn 20 vạn người qua Bắc Bộ phủ hô các khẩu hiệu ủng hộ Bác và Chính phủ. Công tác tuyên truyền thực hiện một cách tích cực: vận động, giải thích chủ trương, chính sách, kẻ khẩu hiệu lên tường, gọi loa địch vận khi chiến đấu. Trong khi quân Tưởng chờ rút thì bọn Pháp đã đến. Sau khi quân Tưởng rút, Pháp bắt đầu đưa quân đi chiếm đóng, một trung đội ở phố Bích Câu, có xe ôtô thường xuyên tiếp tế, liên lạc với bọn Deléveaux và hạ sĩ quan ở đầu phố. Chúng tôi đã thực hiện bất hợp tác với Pháp, vận động các gia đình viên chức không đi làm cho Pháp, người bán hàng không bán cho Pháp. Có một cô bé làm công cho Pháp đi mua hàng tự vệ giữ lại, giải thích cho về nói với chủ. Các khẩu hiệu bất hợp tác với Pháp được kẻ to xen lẫn các khẩu hiệu sống chết với Thủ đô; Tản cư là yêu nước v.v... 12-12-1946 tự vệ vận động nhân dân để được đục tường nhà nọ thông sang nhà kia. Trung đội nào ở đâu thì đục ở nơi ấy, tránh bọn lưu manh lợi dụng. Chỉ vài ngày là xong. Các gia đình lại lấy bàn, tủ che lại, khi chiến đấu chỉ cần đẩy mạnh là được. Tháng 10-1946 Đại đội 29 về khu phố thì tự vệ tiếp tục đào hố cá nhân trước nhà mình nhưng không đào lối thông vào nhà nên sau này không dùng được. 15-12-1946 đắp ụ chướng ngại. Chọn nơi đắp ở đoạn đường Hàng Bột cách đầu phố Đoàn Thị Điểm độ 5m, như vậy địch không thể đi vòng ra sau ụ được vì vướng các nhà. Chỉ thị của trên còn nhấn mạnh phải để lại hơn 2m ở giữa đường để dân đi tản cư. Sau này mới rõ là con đường được chọn để Trung ương, Chính phủ ra ngoại thành. Để làm ụ, tự vệ vào nhà ông cai Thiệu, chủ xưởng gỗ phố Đoàn Thị Điểm xin và mượn gỗ. Ông vui vẻ nhiệt tình giúp đỡ. Tự vệ đào 8 cái hố, mỗi hố chôn một cây gỗ to bằng người ôm, nhét các cây gỗ khác vào giữa các cột. Khi xong thành hai cái ụ cao quá đầu người, giữa ụ là đường tàu điện chạy qua, và khoảng cách theo đúng yêu cầu. Sau đó còn đào trước mỗi ụ một cái hố to, lấy đất đắp thêm lên ụ. Hai bên hè đào hố rộng bằng cả cái hè độ 2m sâu hơn 1m. Đoạn đường còn lại giữa hai hố đục sẵn một lỗ mìn khi nổ súng sẽ phá nốt. 15-12-1946, Tự vệ lập một đội cảm tử do đồng chí Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thành phụ trách. Nhiệm vụ là phá hoại những nơi cần thiết. Đội được cung cấp 10 lọ nhỏ, trong mỗi lọ có một miếng phốt-pho to bằng ngón tay út ngâm trong nước. Khi định đốt xe địch thì chờ dịp địch không chú ý, lấy miếng phốt-pho ra đặt cạnh nắp thùng xăng, độ 10 phút sau miếng đó sẽ tự cháy. Nhưng không lúc nào có dịp thực hiện được. Đội còn được cung cấp 10 thỏi mìn dẻo để phá trạm biến thế và cây. Bác phụ trách trạm điện đã hướng dẫn tự vệ cách đóng mở cầu dao, giao chìa khoá cho tự vệ. Tự vệ đã đục sẵn một lỗ ở giữa sàn trạm và hai cây gần đền Sòng Sơn, đục ở trước ụ và 15 chỗ trên mặt đường. Trong suốt thời gian đó hầu như ngày nào tự vệ cũng tập trung ở vị trí được phân công. Phụ nữ thì ở 71-73 Hàng Bột gần trụ sở tự vệ. Khoảng 17, 18-12-1946 thì lập trạm tại ngõ Văn Hương trại ông Đỗ Lợi, thân phụ cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Huân. Vận động nhân dân tản cư, đến khoảng 15-12, dân đi tản cư gần hết, giao lại cửa nhà cho tự vệ sử dụng khi cần, kể cả sập gụ, tủ đứng các loại. Tháng 10-1946, Tiểu đoàn 523 được giao nhiệm vụ bảo vệ đường giao thông quan trọng này của Trung ương. Đại đội 29 được phân công phụ trách đánh địch ở mặt trận phố Hàng Bột. Vệ quốc đoàn và tự vệ đã phối hợp tốt. Dãy số lẻ do tự vệ Hàng Bột phụ trách, dãy số chẵn do Việt Nam Cứu quốc Hội phụ trách để tiện đường tiến lui. Nhiệm vụ đại đội 29 là: "Đơn vị tác chiến tuyến đầu của tiểu đoàn, phối hợp với tự vệ khi có lệnh chiến đấu phải tiêu diệt các ổ tác chiến của địch trên đường phố Hàng Bột. Không cho địch thọc sâu, nống ra chiếm đường phố Hàng Bột, thu hút và tiêu hao một bộ phận lực lượng địch tại đây để phối hợp với các đơn vị trong toàn thành chiến đấu thắng lợi...". Đại đội đã bố trí: - Trung đội 58 phân tán các nhà dân. Nửa tiểu đội ở sát rào chắn tàu Sinh Từ trông ra cửa Nam. - Trung đội 56 đầu phố Hàng Bột gồm trạm biến thế điện trông sang Văn Miếu. Do không thực hiện được đào giao thông hào sát đầu đường Hùng Vương bây giờ với sân vận động Septo nhằm chặn cơ giới địch, nên phải sử dụng một tiểu đội của Trung đội 56 bí mật vào đóng trong Văn Miếu, ngày nghỉ đêm đào đường hầm xuyên qua tường ra ngoài đường Nguyễn Thái Học để đặt bom. Khi chiến đấu làm sẽ nổ tung đường, cản trở hoạt động của cơ giới địch từ cổng thành phía Tây ra. - Trung đội 56, 57 có nhiệm vụ phối hợp đánh nhà Deléveaux và khu nhà hạ sĩ quan, yểm trợ cho Trung đội 58 chiến đấu ở Sinh Từ. - Trung đội 57 đóng tại nhà cao tầng phố Bích Câu bảo đảm sườn trái của đại đội, không để địch lợi dụng địa hình trống trải ở bãi Septo mà tràn từ trong Thành ra. Đại đội bộ đóng tại ngõ Văn Chương. Toàn đại đội có 150 chiến sĩ trẻ, 2 đảng viên. Vũ khí có 38 khẩu đủ loại Nga, Nhật, Pháp, nhiều nhất súng trường khai hậu, mỗi khẩu không quá 10 viên; một đại liên Nga cũ với một băng đạn 150 viên; một trung liên Anh với 50 viên, lựu đạn Phan Đình Phùng và mã tấu. Về phía Pháp, tay sai: - Quân Tưởng rút, toà báo Vì Nước không còn. - Nhà Cố Hiến, nhà thờ Hàng Bột không có quân Pháp. - Còn lại khu nhà hạ sĩ quan Pháp được trang bị tiểu liên, súng ngắn, lựu đạn. - Nhà Deléveaux có khoảng một tiểu đội trang bị súng trường, tiểu liên, lựu đạn, một xe môtô ba bánh, một xe cứu thương. Hai nơi này là ổ tác chiến nằm sẵn trong lòng trận địa ta. - Nhà Jeanne d’Arc một cao điểm khống chế cả Văn Miếu và đầu Hàng Bột. Địch trang bị ngoài súng trường, tiểu liên còn có một khẩu cối 82 ly. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:32:40 am IV. TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN 19-12-1946 - 30-12-1946
Sau vụ Yên Ninh, thái độ quân Pháp càng hung hăng. Thanh niên, tự vệ, phụ nữ Cứu quốc phải tự kiềm chế và giải thích cho dân hiểu để tránh các vụ khiêu khích theo lệnh trên. Ví dụ: - 20 giờ ngày 17-12, một xe cơ giới đến gần trước ụ đèn pha bật sáng trưng, một tên xuống ụ đặt mìn vào ụ. Tự vệ được lệnh không bắn. Chúng lên xe đi thì mìn nổ rất lớn. - Một tối khoảng 20 giờ, một xe jép đỗ ở ngoài ngõ Văn Hương, một tên da đen vào, tên da trắng ngồi xe gục xuống tay lái chợt ngẩng đầu lên, nó nhìn thấy anh Ca đội mũ sao vuông, sợ quá y phóng xe chạy, tên da đen đành đi bộ về nhưng không ai làm gì chúng. - Có lần chúng tiếp tế cho bọn ở Bích Câu, khi về vòng qua phố Đoàn Thị Điểm - Hàng Bột, thấy tự vệ, đến đầu Cát Linh chúng quay lại. Không thấy tự vệ có phản ứng gì chúng lại đi. Đến 19-12-1946 anh Phi Hùng khu trưởng tự vệ ba lần báo cho anh Nguyễn Hữu Thành đại đội trưởng tự vệ chuẩn bị, khi đèn thành phố tắt, pháo đài Láng bắn vào Thành là mở màn cuộc chiến. 19 giờ Trung đội 57 Vệ quốc đoàn và tự vệ đang tiến dần đến vị trí tập kết chuẩn bị đánh nhà Deléveaux. Đánh nhà Deléveaux. Khi quả đạn đầu tiên từ pháo đài Láng bay vun vút vào Thành thì những đơn vị Vệ quốc đoàn và tự vệ đã được phân công rầm rập áp sát mục tiêu tiến công: nhà Deléveaux và khu nhà hạ sĩ quan Pháp. Chỉ huy trực tiếp đánh nhà Deléveaux là Đại đội trưởng Lưu Vân. Khẩu đại liên đặt phía trước nhà Deléveaux bắn mở đầu, tiếp đó là súng các loại từ hai phía Bích Câu - Hàng Bột do Trung đội 56, 57 và tự vệ đồng loạt bắn vào. Bên trong địch dùng tiểu liên bắn ra. Xạ thủ đại liên là chiến sĩ Vọng vệ quốc đoàn trúng đạn hy sinh. Các cửa nhà chúng đóng chặt. Ta vừa bắn uy hiếp vừa tiến sát chân tường tìm cách phá xông vào, chưa được phía nào thì anh Phạm Gia Nho tiểu đội trưởng tự vệ hy sinh. Địch rút lên tầng cao bắn xuống. Sau đó địch bắn thưa thớt có lẽ vì thấy lực lượng ta đông. Khoảng 30 phút sau, Vệ quốc đoàn, tự vệ dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Lưu Vân theo đường ống máng phía Hàng Bột leo lên mái nhà dỡ ngói ném lựu đạn xuống gọi hàng. Bên trong địch không bắn trả. Sau đó một tên Pháp vợ Việt Nam và một người Việt ra hàng mang theo một khẩu súng trường. Tiếp tục bao vây gọi hàng. Địch vẫn im lặng. Cùng lúc đó tự vệ mang đến một quả bom 50kg đặt sát chân tường phía Hàng Bột, giật cho sập nhà, nhưng bom không nổ, phải khiêng ra. Lại có lệnh cho tự vệ đến chợ dỡ các lều quán mang chất cửa nhà nó đốt, nhưng cửa nhà ấy bằng gỗ quí, tốt, nguyên liệu đem đến không đủ gây cháy. Lúc đó đã gần sáng, lệnh của Đại đội trưởng Lưu Vân cho rút lực lượng về bố trí dọc đường đề phòng hôm sau địch có thể thoát ra và lực lượng trong thành ra ứng cứu. Để lại một tổ bao vây theo dõi nhà Deléveaux. Kết quả trận đánh đêm đầu tiên nbà Deléveaux ta thu được: 1 súng trường, 1 môtô ba bánh, gọi hàng ba tên (1 Pháp, 2 Việt Nam). Bên ta hai người hy sinh (1 Vệ quốc đoàn, 1 Tự vệ). Tại khu nhà hạ sĩ quan Pháp, chính trị viên Trần Hải chỉ huy chiến đấu. Lực lượng ta có một bộ phận của trung đội 56 và tự vệ đã tiến đánh khu nhà hạ sĩ quan Pháp. Tại đây bọn Pháp đều được trang bị tiểu liên stel, súng ngắn nhưng khi bắt đầu đèn tắt, súng nổ, bọn này vẫn im lặng. Ta bao vây gọi hàng, chưa nổ súng. Chúng không bắn cũng không hàng. Không chần chừ, tự vệ vào các nhà lân cận mang giát giường, chăn bông chất đống trước cửa nhà đổ dầu và xăng. Khi chúng nghe có lệnh cho đốt thì bọn vợ chúng từ trên gác sợ hãi kêu khóc xin ra hàng. Sau đó cửa nhà dưới mở, lần lượt 3 tên hạ sĩ quan Pháp hai tay giơ cao cùng vũ khí ra trước, tiếp sau là vợ con chúng. Ta thu được một tiểu liên Stel, một súng ngắn, giải về tiểu đoàn bộ ở nhà máy Tóc. Đốt trạm biến thế điện do Đại đội trưởng tự vệ Nguyễn Hữu Thành chỉ huy. Đội phá hoại mở cửa vào trạm biến thế đặt mìn rồi đốt. Kết quả kém phải dùng xà beng phá thủng máy cho dầu chảy ra chất rơm ném lựu đạn. Lửa cháy bùng lên đến 23 giờ mới hết. Đốt xong trạm biến thế, đội phá hoại đặt mìn vào các lỗ đục sẵn ở cây nhưng cũng như ở trạm biến thế, cuối cùng phải dùng cưa, cưa một ít là cây đổ. Tiếp đó dùng búa tạ, xà beng đánh đổ cột đèn ở gần nhà anh Đại (khoảng số 21 hay 23 Hàng Bột, phía dưới nhà "Săm" Thái Lai). Cùng lúc đánh ở các điểm, đội phá hoại phá đoạn đường giữa hai cái hầm trước ụ chướng ngại đề phòng địch có đưa xe tăng đến cũng không vượt qua được. Kết quả chỗ đường còn lại bị phá băng, anh em lấy xà beng cuốc chim phá nốt cho sâu xuống. Kết quả trận đánh tại nhà hạ sĩ quan Pháp, ta thu một tiểu liên Stel, một súng ngắn, 3 hàng binh và vợ con chúng. Đạt yêu cầu các điểm cần phá huỷ ngăn chặn địch. Các trận đánh tiêp theo. Ngày 20-12-1946 đường phố yên tĩnh, 4 anh tự vệ: Nhã, Lập, Thọ, Lộc đi hàng một lên đầu phố. Gàn đến Phan Phù Tiên, địch trong Văn Miếu bắn ra, anh Nhã bị trúng đạn vào hông, 3 anh kia không việc gì. Chị Thiện và Lê băng anh Nhã cõng về trạm. Tự vệ cử một tiểu đội vào Văn Miếu lùng sục nhưng không bắt được tên nào. Chiều 20-12-1946, bọn nhà Deléveaux bị bao vây suốt đêm, lại không có quân ứng cứu, nên chúng bất ngờ dùng xe ô tô cắm cờ Hồng thập tự chạy vọt ra cửa thẳng đường vào Thành. Quân ta nhìn thấy xe có dấu Hồng thập tự nên không bắn và không truy đuổi, do nhận thức ấu trĩ. Tuy vậy trên trận địa ta không còn một ổ tác chiến tiền tiêu nào của địch nữa. Đêm 20-12-1946, tại nhà Jeanne d’Arc ở vị trí khá kiên cố nên Ban chỉ huy tiểu đoàn tăng cường cho thêm lực lượng trợ chiến gồm 1 khẩu 37 ly với 5 viên đạn, 1 khẩu 12,7 ly và 75 viên đạn. Kế hoạch là Trung đội 56 và tự vệ áp sát tường nhà này thì khẩu 37 ly bắt đầu bắn, sau đó đến khẩu 12,7 ly yểm trợ cho các đơn vị xông vào. Nhưng đại bác 37 ly bắn vào được một phát thì mối hàn bệ súng rời ra, khẩu 12,7 ly bắn được vài phát thì hóc, chữa mãi không được phải cho 2 khẩu đó về phía sau. Ta tiếp tục bao vây, súng trường, lựu đạn từ ngoài bắn, ném vào phía trong. Hoả lực địch bắn liên tục không cho ta đột nhập. Cuộc bao vây chiến đấu kéo dài thì cùng lúc đó chĩ huy được báo cáo quả bom chôn tại Ngã tư Văn Miếu giật không nổ. Đề phòng lực lượng cơ giới địch trong Thành kéo ra chi viện, nên cho các lực lượng rút về bố trí giữ trận địa đường phố sẵn sàng chống địch tấn công sáng hôm sau. Từ ngày 21-12-1946, tự vệ được lệnh nghi binh, lập bãi mìn giả bằng cách úp các nồi, xoong, chậu trên mặt đường từ Ngã tư Cát Linh - Hàng Bột đến ngõ Văn Chương. Việc này đã phát huy tác dụng tốt, làm chậm bước khi chúng tiến đánh ta 30-12-1946. Trận đánh xe tăng địch. Từ 12-12-1946 đến cuối tháng 12-1946, hàng ngày từ 7 giờ đến 16 giờ đều có 2 xe tăng hoặc thiết giáp từ trong Thành ra án ngữ tại Ngã tư Cát Linh - Hàng Bột không dám tiến sâu vào trận địa ta. Chúng đã dùng đại bác 37 ly, hai trung liên 12,7 ly bắn dọc phố và vào các điểm cao nghi ta bố trí chiến đấu. Kết hợp, tại nhà Jeanne d'Arc địch cũng thỉnh thoảng dùng cối 82 ly bắn sâu vào trận địa ta, gây khó khăn cho ta trong việc di chuyển, tiếp tế, thông tin liên lạc. Tình hình trên là điều bất lợi cho ta. Do nôn nóng muốn thanh toán càng sớm càng tốt nên dù ban ngày đồng chí Thọ, trung đội phó dùng tổ 3 người chọn lựu đạn Nhật bất thân vượt qua đường áp sát xe tăng, dùng lựu đạn phá. Nhưng mới vọt lên tiến giữa ngã tư thì bị địch phát hiện, dùng đại liên trên xe bắn chặn làm đồng chí Thọ bị thương ở chân. Một tổ chiến đấu của Trung đội 56 bố trí tại nhà cao đầu phố bắn yểm trợ cho tổ đánh xe tăng rút nhưng lại bị địch phát hiện và khẩu 37 ly bắn vào nhà đó làm Chính trị viên Trung đội 56 là Nguyễn Thế Lĩnh và tự vệ Nguyễn Chí Chung hy sinh. Ngày 23-12-1946, trong khi quân Pháp tiến đánh Hàng Bông, Phủ Doãn, Chợ Hôm thuộc Liên khu I và Liên khu II thì đồng thời chúng hướng sang đánh Liên khu III nhằm dãn lực lượng ta. Từ sáng sớm, để kiềm chế lực lượng cơ động của ta, quân Pháp cho 2 xe tăng từ cửa Tây xộc ra án ngữ ngã tư Cát Linh - Hàng Bột. Lực lượng ta bắn trả làm địch bị thương một số và phải rút quân. Trận đánh chiều 28-12-1946 chống địch với đông lực lượng, hoả lực mạnh, có cơ giới yểm trợ từ bãi Septo định đánh chiếm tiêu diệt lực lượng ta phía phố Bích Câu (sườn trái của đại đội). Khoảng 14 giờ ngày 28-12, trên đường phố đang yên tĩnh thì phát hiện có tiếng xe cơ giới hoạt động phía bãi Septo, sau đó có khoảng 5 chiếc GMC chở lính Pháp, có một số là nữ chạy từ đường Hùng Vương - Nguyễn Thái Học vào đổ quân tại bãi Septo. Ta phán đoán mấy hôm nay địch không đánh sâu vào trận địa ta bố trí dọc Hàng Bột, có thể chúng dùng lực lượng đông đánh vào sườn trái trận địa ta mà ở đây địa hình trống trải, địch có xe cơ giới vận động áp sát để nhanh chóng tiêu diệt lực lượng ta và có thể chiếm các nhà cao tầng do ta đang bố trí để uy hiếp toàn bộ đường phố này. Do vậy, ta tranh thủ lúc chúng mới từ xe xuống, hàng ngũ còn lộn xộn đã lệnh cho Trung đội 57 và tự vệ Việt Nam Cứu quốc đồng loạt nổ súng. Bị bất thân, đội ngũ chúng hỗn loạn, kêu la gọi nhau ầm ĩ, chạy toán loạn trên bãi phẳng, nhiều tên chui vào gầm xe, nấp sau xe tránh đạn. Ta tiếp tục bắn và cho một số chiến sĩ Vệ quôc đoàn và tự vệ nhanh chóng từ trong nhà vận động ra để cướp một số súng. Nhưng cơ số đạn của ta có hạn nên bắn thưa thớt. Địch sau giây phút hỗn loạn đã củng cố lại đội hình, chỉ huy các hoả lực súng trường, tiểu, trung, đại liên, cối 82 ly bắn mạnh về phía ta và bắn chặn, nên số Vệ quốc đoàn và tự vệ này phải quay lại vị trí chiến đấu. Hai bên bắn nhau giằng co kéo dài khoảng 40 phút, địch tranh thủ chuyển số bị thương lên xe, sau đó rút khỏi bãi Septo vào Thành. Số địch bị thương độ 10 tên. Trận này ta không có ai bị thương vong gì. Trong những ngày này ta vừa đánh chặn địch không cho chúng nống ra, vừa đánh tiêu hao địch, vừa tiếp tục củng cố công sự, đào giao thông hào để bí mật lực lượng chiến đấu cơ động. Ta đã hạn chế thương vong và địch không tiến được một mét đất nào. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:33:51 am Trận đánh ngày 30-12-1946 giành giật từng căn nhà, từng ngõ hẻm trên đường phố Hàng Bột.
Sau 10 ngày địch dồn sức quyết liệt đánh bao vây Liên khu I, đánh sâu đẩy dãn lực lượng ta ở Liên khu II, ngày 30-12-1946, từ tờ mờ sáng quân địch đã mở trận đánh hợp vây lớn vào sâu địa bàn Liên khu III, theo hướng Hàng Bột - Ô Chợ Dừa có khoảng 500 quân. Cánh quân theo đường Hàng Lọng xuống Kim Liên có khoảng 200 tên. Cả hai cánh quân đều có xe tăng, xe bọc thép, xe ủi và các xe cơ giới khác yểm trợ. Hướng Khâm Thiên quân Pháp dùng xe cơ giới hợp với bộ binh húc san luỹ chướng ngại dọc phố, tràn vào các làng xung quanh: Thổ Quan, Văn Chương đốt phá. Ở mặt trận phố Hàng Bột, quân Pháp tấn công từ hai hướng: Bãi Septo vào khu nhà cao tầng phố Bích Câu - sườn trái của Đại đội 29 - và dọc phố Hàng Bột. + Tại phố Bích Câu, địch dùng ưu thế cơ động của cơ giới, xe tăng thọc nhanh qua bãi Septo vào phố Bích Câu vây khu nhà cao tầng nơi Trung đội 57 và một tổ tự vệ bố trí chiến đấu. Lực lượng bộ binh địch tiến chậm ở phía sau. Về phía ta do không có chướng ngại vật nên khi chiến sĩ gác trận địa nghe tiếng xe tăng thì cũng là lúc địch áp sát, bao vây nhanh và dùng hoả lực 37 ly trung liên 12,7 ly bắn mạnh vào các cửa ra vào, lối rút về phía sau của đơn vị. Sau một hồi bắn và dùng lựu đạn đánh trả địch, cơ số đạn đã hết, thấy không thể tiếp tục chiến đấu ở đây được nên Trung đội trưởng Hoàng Dung lệnh cho các chiến sĩ nhanh chóng vượt qua tường và một số ở tầng trên đã nhảy xuống yểm hộ cho nhau thoát khỏi sự bao vây của địch, và tập trung bố trí chiến đấu ở nhà trẻ mồ côi. Riêng hướng này Trung đội trưởng và một số chiến sĩ bị thương nhẹ do trúng đạn và nhảy từ trên cao xuống. Từ hướng Hàng Bột xe tăng địch dừng lại ở Ngã tư Hàng Bột - Cát Linh, tập trung hoả lực bắn mạnh trên đoạn đường có các vật nghi giả bãi mìn, không dám tiến nhanh thọc sâu, dùng xe háp trắc kéo cây và cột đèn ngang đường. Bộ binh đi men theo hai bên hè phố thì bị Vệ quốc đoàn và tự vệ từ các hố cá nhân và trong nhà bắn, ném lựu đạn ra. Địch dừng lại từ xa ném lựu đạn vào các hố cá nhân gây cho ta bị thương vong một số, phải rút lực lượng ở đây vào, tổ chức đánh từ trong nhà ra, buộc địch không tiến nhanh được. Địch cũng chuyển cách đánh từ xa, ngoài bắn vào và cũng chiếm nhà, diễn ra cuộc chiến từng căn nhà qua các lỗ đục tường thông nhau. Đồng thời trên trời máy bay địch ném bom Nhà máy Tóc nhưng ở tiểu đoàn bộ và Liên khu ủy III không ai việc gì. Để hạn chế sự tiến công của địch, anh em tự vệ đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến, đốt một số nhà cao tầng như nhà cụ Tống Bá Nho, anh Liêm, anh Nguyễn Hữu Thành. Cuộc chiến đấu diễn ta từ mờ sáng đến khoảng 12 giờ, phía Bích Câu địch đã chiếm được nhà cao tầng và bắn vào trại trẻ mồ côi. Dọc đường Hàng Bột địch đã đến được hai bên phố. Đại đội 2 và tự vệ rút xuống chặn địch ở ngõ Văn Hương. Khoảng gần 12 giờ trưa địch đánh thọc sâu vào ngõ Văn Chương, tại đây có trạm cứu thương, Trung đội 56 do Trung đội phó Chu Thế Hùng chỉ huy đã cùng anh Bạch Hải tự vệ chặn đánh để trạm kịp thời di chuyển thương binh về phía sau. Xe tăng của địch tiến đến gần ụ, anh Ngô Mai quyết tử quân của tự vệ ôm bom ba càng xông ra bị trúng đạn vào đùi, đồng đội yểm trợ đưa về tuyến sau. Bộ binh địch tiếp tục giành giật từng căn nhà với ta. Hướng Khâm Thiên gần 12 giờ trưa địch cũng đã nhanh chóng phát triển chiếm nhà cao tầng gần ngã tư Hàng Bột - Khâm Thiên với ý đồ phối hợp lực lượng của chúng ở đường phố Hàng Bột bao vây tiêu diệt lực lượng Vệ quốc đoàn và tự vệ và để chiếm đóng ngã tư Ô Chợ Dừa, đẩy lùi lực lượng của ta ra xa hơn. Nhưng đến chiều 29, tự vệ, cứu thương, tiếp tế đã rút qua đê La Thành tiếp tục bố trí dọc đường Thái Hà Ấp. Lập tức Đại đội 4 Tiểu đoàn 56 do anh Trần Quân Lập chỉ huy được lệnh thay thế Tiểu đoàn 523 đóng giữ trận địa Ô Chợ Dừa, Đê La Thành tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ ngã tư vành đai Hà Nội. Song song hoạt động chiến đấu là đội cứu thương đã được học tập chuyên môn, quân sự luôn cùng tự vệ lên mặt trận làm nhiệm vụ. Trong tự vệ cũng có một số anh tải thương vì số chị em Phụ nữ Cứu quốc lúc đó còn khoảng 20 người, một số chị là tiểu thương, còn lại là học sinh. Trong khi làm nhiệm vụ có một chị bị đạn "tắc bọp" bắn vào đùi. Các chị đã cùng tự vệ làm lễ truy điệu gây ý chí căm thù giặc và chôn cất anh Tiểu đội trưởng Phạm Gia Nho, anh Nguyễn Chí Chung, xạ thủ Vọng, Chính trị viên Trung đội 56 Nguyễn Thế Lĩnh và Trung đội trưởng 56 Nguyễn Văn Phả ở trại chuối phố Trương Vĩnh Ký. Ban Tiếp tế do bà Tống Thị Hiền phụ trách đã cùng tự vệ đi thu chiến lợi phẩm tại nhà Deléveaux, nhà hạ sĩ quan Pháp và lương thực của các gia đình để lại đã bảo đảm cho lực lượng chiến đấu những bữa ăn mà trong không khí chiến đấu hào hùng ai cũng thấy ngon, vui, ấm tình gia đình. Trên đường phố Hàng Bột ngày 30-12-1946, cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch diễn ra từ mờ sáng đến chiều; Từ ngã tư Cát Linh - Hàng Bột đến ngã tư Ô Chợ Dừa - Khâm Thiên không quá 400m địch đã phải huy động một lực lượng khá đông quân thiện chiến có tăng và các loại xe cơ giới yểm trợ, phải mất hơn 10 tiếng đồng hồ mới đẩy lùi được lực lượng ta. Chúng ta vẫn giữ được Ô Chợ Dừa và đã bảo toàn lực lượng ra khỏi Hàng Bột. KẾT LUẬN CHUNG Tại mặt trận Hàng Bột trên, từ 19-12-1946 đến 30-12-1946, cuộc chiến đấu giữa ta và quân Pháp đã diễn ra rất ác liệt giữa hai lực lượng không cân sức. Một bên là quân thiện chiến nhà nghề, vừa đông, vừa có hoả lực mạnh hơn ta gấp nhiều lần, có các loại cơ giới yểm trợ, hung hăng hiếu thắng. Một bên là quân đội nhân dân non trẻ chưa qua chiến đấu, tự vệ là thanh niên học sinh còn đang trên ghế nhà trường với vũ khí vừa ít, vừa thô sơ, nhưng sức mạnh là lòng yêu nước sâu sắc, có chí căm thù giặc, quyết giữ từng tấc đất. Với sự hy sinh của 3 chiến sĩ Vệ quốc đoàn và 2 Tự vệ, một số bị thương, Đại đội 29 và tự vệ Hàng Bột ngay từ đầu đã nhổ được hai mũi dao nhọn cắm bên sườn ta, đã khiến cho địch phải hao tổn nhiều trong 10 ngày để chỉ tiến được 400m. Các anh đã góp phần vào nhiệm vụ chung của quân dân Thủ đô. Dân Hàng Bột tự hào đã triệt để tản cư, tạo điều kiện cho chiến đấu thuận lợi; có gia đình 3 người, 2 người ở lại tham gia kháng chiến. Những người kháng chiến đã chiến đấu đến phút chót, không ai đào ngũ, tất cả cho kháng chiến. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 07:32:59 am 15 NGÀY CHẶN ĐÁNH ĐỊCH Ở ĐƯỜNG ĐỘI CẤN - NGỌC HÀ (Từ 19/12/1946 đến 3/1/1947) Đại tá Nguyễn Đăng Đào * Đại tá Nguyễn Đăng Đào, 72 tuổi nguyên chiến sĩ Đại đội I Tiểu đoàn 56. Viết dựa thêm tài liệu của đồng chí Việt Hồng, 74 tuổi, nguyên Chính trị viên Trung đội 2, Đại đội I từ Bà Rịa - Vũng Tàu gửi ra cung cấp Chiều 19-12-1946, đại đội 1 Tiểu đoàn 56 được lệnh cấp tốc hành quân vào tập kết ở nhà thờ Liễu Giai phối thuộc với Tiểu đoàn 145. Đại đội đảm nhiệm trục đường Đội Cấn - nhà thờ Liễu Giai, tuyến trước cánh trái đến dốc Ngọc Hà tiếp giáp đường Hoàng Hoa Thám, cánh phải tiếp giáp với ngã ba đầu đường Sơn Tây. Đại đội được tăng cường hai tiểu đội tự vệ chiến đấu của Đội Cấn - Ngọc Hà vừa phối hợp chiến đấu, vừa dẫn đường. 19 giờ các đơn vị phải xuất phát nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí, tổ chức chiến đấu và nổ súng tiến công địch theo quy định thống nhất ám tín hiệu của Bộ Chỉ huy Mặt trận Hà Nội. Đại đội trưởng Thế Môn và Chính trị viên Tế Độ giao nhiệm vụ cho Trung đội 1 do Trung đội trưởng Nguyễn Tấn chỉ huy tiến thẳng lên phố Đội Cấn chiếm lĩnh trại con gái (khu gia binh cũ, nay là trạm 354 và bên kia đường là khu Bảo tàng Hồ Chí Minh) bố trí lực lượng hai bên chiến luỹ đầu phố. Trung đội 2 do Trung đội trưởng Đặng Chung Đình chỉ huy, có đại đội phó Trần Dương Oai đi cùng, đi xuyên Ngọc Hà đánh chiếm nhà bia Hô-men (nay là Nhà máy bia Hà Nội), cạnh đường Hoàng Hoa Thám. Trung đội 3 thiếu một tiểu đội bố trí ở ụ chiến luỹ giữa phố Đội Cấn làm dự bị của đại đội. 1. Đánh chiếm nhà máy bia Ômen và vườn hoa La-pho 20 giờ ngày 19-12-1946, Trung đội 2 tiếp cận nhà máy bia đúng lúc đèn điện tắt. Đại đội phó Dương Oai nhắc trung đội trưởng chú ý bắt liên lạc với đơn vị tiểu đoàn 145 và tự vệ chiến đấu Lam Sơn. Một cuộc "hội chiến" giữa ba đơn vị mới chỉ được báo trước đây mấy tiếng lúc chiều tối. Cứ chủ động nổ súng, ngoài bắn vào là ta, trong bắn ra là địch. Mũi tấn công của trung đội vừa nổ súng thì phía đơn vị bạn cũng bắt đầu bắn. Quân Pháp ở đây có khoảng một tiểu đội. Trận đánh diễn ra khá nhanh, bọn gác cổng bị tiêu diệt trước, ba mặt cùng đột nhập, 11 tên lính Pháp vừa Tây trắng vừa Tây đen bị tiêu diệt. Vũ khí thu được trang bị ngay cho anh em tự vệ chiến đấu của đại đội Lam Sơn. Ngay sau đó Đại đội phó Dương Oai chủ động đề xuất chủ trương ba đơn vị phối hợp bố trí phòng ngự, sẵn sàng đánh địch tấn công chiếm lại. Phạm vi nhà may bia rất rộng, mỗi đơn vị để một tiểu đội đảm nhiệm một khu vực, chỉ huy chung do cán bộ đơn vị của Tiểu đoàn 145. Toàn bộ số bia phân phát hết, nếu không sẽ mất vào tay địch. Ngày hôm sau hàng trăm két bia được chuyển đến các đơn vị toàn tuyến. Phát huy thắng lợi ở nhà máy bia, Đại đội phó Dương Oai tổ chức lực lượng còn lại của Trung đội 2 phối hợp với đơn vị tự vệ chiến đấu Lam Sơn tiến đánh địch ở vườn hoa La-pho (vườn ươm cây ngày nay) gần dốc Ngọc Hà. Ở đây địch đã đề phòng, khi ta nổ súng, chúng rút lên gác ném lựu đạn, bắn súng xuống. Chiến sĩ bắn trung liên của Trung đội 2 đặt ngay trên mặt đường, ngang tầm với tầng hai, nhả đạn phá toang cửa sổ. Một tổ tự vệ chiến đấu có sáng kiến ôm rơm vào đốt câu thang, ta xung phong lên tiêu diệt 4 tên. Trong trận này, Chính trị viên Trần Việt Hồng bị thương đưa về trạm cứu thương Cống Vị điều trị. Cũng trong đêm 19-12-1946, ở dốc Ngọc Hà, một tổ chiến đấu của Trung đội 1 cùng với một tổ tự vệ chiến đấu Đội Cấn lên chiếm lĩnh, đã tiêu diệt một ổ đề kháng bí mật ở trong lâu đài của chị vợ Bảo Đại. Sáng 20-12-1946, phản ứng đầu tiên của địch là cho 2 xe bọc thép từ Phủ Chủ tịch tiến ra đường Chùa Một Cột trên đường Lê Hồng Phong, bắn hàng tràng đại liên vào trận địa của Trung đội 1 ở đầu đường Đội Cấn và trại Con gái. Khoảng nửa tiếng sau, không thấy ta động tĩnh gì, chúng quay về phía Cột Cờ. Chiều 25-12-1946, một xe tăng, 2 xe bọc thép không có bộ binh đi cùng từ đường Cột Cờ tiến ra bắn phá ụ chiến luỹ và bắn đạn lửa làm cháy mấy nhà trong trại Con gái. Sau một hồi bắn phá không thấy ta bắn trả, chúng lại rút về. Ngay đêm ấy, đại đội trưởng điều lực lượng ở tuyến sau lên cùng với Trung đội 1 đắp thêm ụ đất, đá, gạch và các vật chướng ngại củng cố chiến luỹ vững chắc thêm và đào giao thông hào ở hai đầu chiến luỹ thông vào nhà, điều chỉnh lại lực lượng, rút tiểu đội bố trí ở trại Con gái về phía trong chiến luỹ. Đêm 28-12-1946, Trung đội trưởng Trung đội 1 cho một tổ chiến đấu bí mật luôn qua các dãy nhà trại Con gái vào quấy rối địch ở trường Nhà Thờ đạo đến phố Lê Hồng Phong. 3 giờ sáng rút về vị trí ở căn nhà hai tầng bên trong cụm chiến đấu đầu phố Đội Cấn. Vừa nằm ấm chỗ, thì tai hoạ khôn lường ập đến, hàng loạt đạn tiểu liên của địch nổ ran cả trên gác cả dưới nhà, cả 7 chiến sĩ, 4 ở trên gác, 3 ở dưới nhà không kịp trở tay, đều bị hy sinh. Thật là một giá quá đắt về tư tưởng chủ quan đơn giản không cảnh giác. Không ngờ rằng khi tổ quấy rối rút về, có một nhóm địch lập tức bí mật theo hút và lặng lẽ lọt vào trận địa ta, nổ súng bắn ta và nhanh chóng rút. Đã hơn một tuần lễ, anh em ta thường ăn cơm nắm với thức ăn khô thiếu chất rau, trong khi ở các vườn của nhân dân trong làng Ngọc Hà còn rất nhiều bắp cải, xu hào, hành, tỏi, khi tản cư chưa kịp mang theo. Một vài tối lác đác có bà con về chặt nhổ rau. Được sự đồng ý của bà con: "Các chú cứ lấy mà ăn, nếu không địch cũng cướp mất". Được lời như cởi tấm lòng, các chị em cấp dưỡng nhẹ đi nỗi băn khoăn bộ đội thiếu rau mà cán bộ chỉ huy không cho lấy của dân. Thế là một kế hoạch "thu hoạch" rau được ban ra: Lần lượt đơn vị tuyến trước nhổ rau, chuyển về cho cấp dưỡng, nhổ ruộng nào hết ruộng ấy. Tuyến sau tiếp nhận nấu luộc chuyển cho tuyến trước. Mấy bộ phận ở gần bếp cấp dưỡng, được hưởng nước luộc bắp cải ngọt như pha đường. 2. Chặn đánh cuộc tấn công của địch ngày 3-1-1947 Sáng sớm ngày 3-1-1947, một chiếc máy bay thám thính "bà già" lượn đi, lượn lại, bay rất chậm nghiêng ngó, có lúc bay xuống thấp nhìn rõ cả tên cầm lái. Khoảng 20 phút nó bay đi, lập tức từng loạt đạn đại bác và súng cối rơi xuống dãy nhà đường Đội Cấn và trong làng Ngọc Hà, Vạn Phúc. Một xe tăng và hai xe bọc thép từ phía trại Con gái xông tới bắn xối xả vào trận địa của ta. Anh em vẫn nằm im chờ bộ binh tiến lại gần mới nổ súng. Khoảng một đại đội lính Âu Phi tiến theo hai đường: đường Ông Ích Khiêm men theo dãy phố đánh cào cánh phải ụ chiến luỹ; và đường Chùa Một Cột tiến đánh cánh trái. Ở đây có Tiểu đội 2 là tiểu đội hoả lực của Trung đội 1 với khẩu trung liên duy nhất của đại đội do một cựu binh sĩ chuyên trách sử dụng, bố trí có góc bắn rất rộng khống chế cả ngã ba. Bọn địch chủ quan, hò hét xông lên. Lập tức khẩu trung liên nổ ròn và bắn hết cả băng, đồng thời súng trường, lựu đạn đồng loạt xả đạn vào đội hình địch. Hơn 10 tên địch to cao đổ gục, cả hai mũi tấn công khựng lại. Chúng nằm rạp xuống mặt đường, tạt vào các mép nhà bắn trả loạn xạ. Liền sau đó, chiếc xe tăng và hai xe bọc thép chạy ngang, chạy dọc, phát động máy nổ gầm rú hết cỡ để kích động lại tinh thần quần chúng và bắn dữ dội liên hồi vào vị trí của ta. Anh em ta lại nằm im chờ đợi đợt tấn công thứ hai của địch. Chúng phát hiện cánh trái giáp đường Sơn Tây có quãng trống thúc bộ binh tấn công, đánh tạt sườn quân ta. Cùng lúc đó một xe bọc thép có khẩu đại liên tiến sát vào cụm chiến luỹ bắn đạn Dum Dum. Một chiến sĩ tự vệ chiến đấu nấp dưới giao thông hào khi thấy chiếc xe tiến đến gần đã chớp thời cơ khoảnh khắc bất thần nhảy lên ném quả thủ pháo và bồi thêm chai xăng cờ rếp trúng khẩu đại liên, tiêu diệt tên bắn súng rồi nhanh như chớp nhảy xuống giao thông hào luồn vào trong nhà thông ra vườn, rút về tuyến hai ở giữa phố. 9 giờ địch chiếm được chiến luỹ đầu phố nhưng bị chặn lại ở chiến luỹ 2 giữa phố. Ở phía dốc Ngọc Hà, đầu đường Hoàng Hoa Thám, địch cũng đã chiếm được. Tiểu đội thuộc trung đội 2 bố trí ở nhà chị vợ Báo Đại đã rút vào trong làng Ngọc Hà. Đến trưa, chiếc máy bay "bà già" lại xuất hiện chỉ điểm cho đại bác và cối 81 bắn vào toàn bộ khu vực phòng ngự. Địch thay đổi chiến thuật, không đánh chiếm hai bên dãy nhà dọc phố, dừng lại ở chiến luỹ 2, chế áp ta bằng đại liên. Chúng tập trung lực lượng bộ binh tổ chức mũi "vu hồi" cánh trái xuyên qua làng Vạn Phúc đánh vào sau Nhà thờ Liễu Giai định bao vây tiêu diệt ta ở đường Đội Cấn. Để tránh bị tiêu hao, giữ được lực lượng, Đại đội 1 được lệnh rút về Cống Vị Hai ngày sau, đại đội chuyển về Thái Hà Ấp - Ngã Tư Sở - Cầu Mới, lại trở về chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 56. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 07:35:58 am TRẬN ĐÁNH NHÀ DELÉVEAUX - SỐ 9 CÁT LINH Trích Bản giới thiệu di tích của Ban Quản lý di tích danh thắng - Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội Phố Cát Linh dài 725 mét đi từ phố Tôn Đức Thắng đến phố Giảng Võ. Đây nguyên là đất của thôn An Trạch thuộc tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận. Thời Pháp phố này có tên là đường Cát Linh (Route de Cát Linh) nay là phố Cát Linh, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Hiện nay số nhà 9 Cát Linh thuộc phố Cát Linh, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Nhà số 9 Cát Linh nằm ở đầu đường phía bên trái đi từ đường Tôn Đức Thắng sang - quay mặt về hướng Bắc. Sau khi ta ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, thực dân Pháp đã bất chấp những điều khoản trong hiệp ước, chúng ngang nhiên nổ súng đánh chiếm Hải Phòng và một số nơi khác trên toàn quốc. Tại Hà Nội quân Pháp tăng cường các hoạt động khiêu khích và lấn chiếm, chúng tăng cường phân phát vũ khí cho các khu vực đóng quân và khu phố người Âu. Từ đầu tháng 12-1946 chúng bí mật đưa thêm quân số, vũ khí từ Hải Phòng lên Hà Nội. Ngày ngày bọn lính Pháp ngang nhiên cướp phá, hành hung dân chúng, bắn vào xe điện đang chạy, ném lựu đạn vào đám đông... Âm mưu của chúng đã bộc lộ rõ: Chúng muốn cướp nước ta, thống trị dân tộc ta một lần nữa. Kẻ thù xảo quyệt còn muốôn đẩy chúng ta vào hoàn cảnh bắt buộc phải nổ súng, chấp nhận một cuộc chiến tranh không tuyên bố khi chưa có sự chuẩn bị chu đáo. Trước hành động khiêu khích đặc biệt nghiêm trọng của thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã chỉ ra rằng: "Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình nhất định cũng phải đánh Pháp". Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương, Đảng ủy Khu XI đã giáo dục quần chúng nhận rõ kẻ thù nguy hiểm đang đe doạ đến nền độc lập của dân tộc ta là thực dân Pháp, kêu gọi quần chúng tích cực chuẩn bị kháng chiến. Trong lúc quân và dân cả nước ra sức chuẩn bị kháng chiến, Chính phủ ta vẫn kiên trì đấu tranh ngoại giao kéo dài thêm thời gian hoà hoãn để chuẩn bị thêm lực lượng cách mạng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới, đặc biệt là những ngày cuối tháng 12-1946 tại Hà Nội thường xuyên xảy ra những vụ gây hấn, khiêu khích của quân viễn chinh Pháp. Trước tình hình đó, trong 2 ngày 18 và 19-12-1946 Thường vụ Trung ương Đảng đã họp phiên bất thường tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Hội nghị đã phân tích sâu sắc tình hình cách mạng cả nước và đi đến quyết định: Động viên sức người, sức của của cả dân tộc tiến hành cuộc chiến tranh yêu nước chính nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời định ra những nội dung cơ bản về đường lối kháng chiến. Sáng 19-12-1946 thực dân Pháp lại gửi cho ta "tối hậu thư" thứ ba đời ta phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến, đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang nhân dân ta và đe doạ: Nếu những yêu cầu trên trong 24 giờ không được thực hiện thì quân Pháp sẽ hành động. Trưa ngày 19-12-1946 Thường vụ Trung ương Đảng thông báo tình hình tại Hà Nội cho các tỉnh và chỉ huy trưởng 12 chiến khu trong cả nước. Chỉ thị của Trung ương "tất cả hãy sẵn sàng". Quyết giành quyền chủ động trong chiến tranh, phá tan ngay từ đầu âm mưu đánh úp của thực dân Pháp. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy quyết định mở cuộc tiến công lớn trên quy mô toàn quốc. Cuộc tiến công sẽ bắt đầu vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946. Tại Hà Nội, đúng 20 giờ ngày 19-12-1946 công nhân Nhà máy Điện Yên Phụ phá máy. 20 giờ 3 phút đèn điện toàn thành phố vụt tắt, trung đội pháo binh ở pháo đài Láng bắn quả đạn đầu tiên vào thành Hà Nội làm hiệu lệnh tiến công. Lập tức các pháo đài Xuân Canh, Xuân Tảo nhả đạn vào các mục tiêu đã định trước. Các lực lượng vũ trang của nhân dân Thủ đô đồng loạt tiến công vào các vị trí đóng quân của giặc Pháp trong toàn thành phố như Nhà máy đèn Bờ Hồ, khách sạn Mê-tơ-rô-phôn, tập kích nhà tướng Pháp Moóc-lie, tiêu diệt lính Pháp ở cầu Long Biên... Tại Liên khu III, Vệ quốc đoàn, tự vệ chiến đấu cùng các đồng bào thủ đô tiến công uy hiếp địch ở sở xe điện, nhà giặt, đánh địch bật ra khỏi nhà máy bia Ô-men (nay là nhà máy bia Hà Nội) và nhà Đờ lê vô (Deléveaux). Ở nhà Đờ lê vô (tức số 9 Cát Linh hiện nay), chủ ngôi nhà là Henri Deléveaux làm nghề thuộc da bò là một tên rất xảo quyệt. Đây là một ngôi nhà hai tầng được xây kiên cố, có mái ngói chìa ra ngoài, các cửa đều bằng lim mặt tiền trông ra phố Cát Linh - ba mặt khác sát với nhà dân. Muốn tấn công ngôi nhà này, trước mắt chỉ có phương pháp tấn công chính diện. Ta vừa kiên quyết nổ súng tiến công, vừa kêu gọi địch hạ vũ khí đầu hàng. Nhưng dựa vào công sự kiên cố, hoả lực mạnh, địch vẫn ngoan cố chống cự. Sau nhiều giờ chiến đấu lực lượng địch bị tiêu hao nặng, ta thu nhiều vũ khí, đạn dược. Trong cuốn sách "Tổng kết 60 ngày đêm chiến đấu mở đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân Thủ đô Hà Nội" trang 115 đã viết về trận đánh nhà Đờ lê vô như sau: "Một trung đội của Đại đội 29, tiểu đoàn 523 cùng một trung đội tự vệ tiến công địch ở nhà Đờ lê vô (Deléveaux - số 9 Cát Linh hiện nay). Địch co lên gác ngoan cố chống cự, ta đặt bom không nổ, đại đội trưởng Lưu Vân cùng một số chiến sĩ leo lên dỡ mái ngói thả lựu đạn diệt được vài tên và gọi một số tên ra hàng. Địch đưa xe cơ giới đến cứu viện, khẩu Ba-dô-ca của mặt trận cơ động đến kịp bắn huỷ được một xe. Ngày 25 địch ở nhà Đờ lê vô lên xe chạy thoát vì xe cắm cờ Hồng thập tự nên ta không bắn". Còn trong tài liệu "Những trận đánh trên đường phố Hàng Bột từ 19-12-1946 đến 30-12-1946 của Trung tướng Đỗ Trình - Trưởng ban liên lạc Bạn chiến đấu Liên khu III, nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu III tường thuật trận đánh nhà Đờ lê vô như sau: ... "Chỉ huy trực tiếp là Đại đội trưởng Lưu Vân, khẩu đại liên do một chiến sĩ vệ quốc đoàn là xạ thủ Vọng phụ trách đặt trước cửa chính lúc này đã đóng chặt. Súng các loại từ hai phía Bích Câu, Hàng Bột do trung đội 56, 57 và tự vệ đồng loạt bắn vào. Bên trong địch dùng tiểu liên bắn ra. Xạ thủ đại liên trúng đạn hy sinh. Ta vừa bắn vừa áp sát chân tường, leo đường ống máng tìm cách vào nhà thì tiểu đội trưởng Phạm Gia Nho trúng đạn hy sinh. Địch rút lên tầng cao bắn xuống, sau đó bắn thưa dần vì thấy lực lượng ta đông. Đạn ta vẫn tiếp tục nổ xen lẫn tiếng loa gọi địch hàng. Bên trong địch không bắn trả. Từ trên cao Đại đội trưởng Lưu Vân ném lựu đạn khói, lát sau một tên Pháp và vợ Việt Nam ra hàng mang theo một khẩu súng trường. Cùng lúc đó tự vệ mang đến một quả bom 50kg đặt sát chân tường phía Hàng Bột giật cho sập nhà nhưng bom không nổ phải khiêng ra. Lại có lệnh cho tự vệ đi dỡ các lều quán ở chợ mang chất ở cửa nhà nó để đốt nhưng cửa nhà ấy bằng gỗ quá tốt, nguyên liệu mang đến không đủ gây cháy. Sau hai giờ chiến đấu đội giao thông đã mang tin báo cáo từ Liên khu III và tiểu đoàn 523 lên chỉ huy trưởng mặt trận Vương Thừa Vũ là Đại đội 29 đang vây đánh nhà Đờ lê vô. Đó là báo cáo đầu tiên của đêm đầu toàn quốc kháng chiến. Vì không nắm chắc số lượng địch, vả lại gần sáng, Đại đội trưởng Lưu Vân cho lực lượng bao vây giải quyết sau. Các lực lượng khác về bố trí dọc đường đề phòng hôm sau địch có thể thoát ra vì lực lượng trong Thành có thể ra ứng cứu. Hôm sau nhà Đờ lê vô thấy khu nhà hạ sĩ quan đã bị tiêu diệt gọn trong đêm trước rồi, chúng ở vào thế cô lập bị bao vây và không thể chờ địch từ trong Thành ra ứng cứu nên chiều 20-12 chúng bất thân dùng xe ô tô vẽ chữ thập đỏ chạy vụt ra vào Thành. Quân ta thấy xe có dấu thập đỏ nên không bắn. Kết quả trận đánh đêm đầu tiên ở nhà Đờ lê vô ta thu: - 1 súng trường. - 1 mô tô ba bánh. - Gọi hàng 3 tên (1 Pháp, 2 Việt Nam). Bên ta hy sinh hai đồng chí". Có thể nói trận đánh nhà Đờ lê vô đêm 19 rạng ngày 20-12-1946 ta đã đánh cho địch một đòn bất ngờ làm cho tinh thần địch hoang mang, lo sợ. Tuy kết quả trận đánh thu được không lớn song đây là một trận đánh cùng với hàng loạt trận đánh mở màn trên các đường phố đêm 19 rạng ngày 20-12-1946 mở đầu cho cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của quân dân Thủ đô. Ngôi nhà số 9 phố Cát Linh hiện nay là cửa hàng kinh doanh lương thực thuộc Liên hiệp các công ty lương thực Hà Nội. Nhìn chung kiến trúc ngôi nhà vẫn giữ nguyên như cũ song phần nội thất ở cả 2 tầng thì đã bị cải tạo rất nhiều để làm nơi làm việc, bán hàng của cửa hàng lương thực. Ngôi nhà số 9 Cát Linh là nơi diễn ra trận đánh đêm 19 rạng ngày 20-12-1946 mở đầu cho hàng loạt cuộc tiến công của quân dân Thủ đô vào lực lượng địch trong lòng Hà Nội nhằm uy hiếp, giam chân và tiêu hao lực lượng địch, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc chiến đấu 60 ngày đêm (19-12-1946 đến 18-2-1947) của quân và dân Hà Nội. Đây là một trận đánh bất ngờ phủ đầu có sức động viên to lớn đối với nhân dân Thủ đô, làm cho địch phải bàng hoàng khiếp sợ, gây cho địch nhiều tổn thất, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về việc lãnh đạo và thực hành chiến tranh nhân dân ở thành phố. Cuộc chiến đấu ở nhà Đờ lê vô của quân dân Liên khu III đã góp phần làm thất bại âm mưu tiêu diệt lực lượng ta và làm thất bại hoàn toàn âm mưu đánh chiếm Hà Nội trong vòng 24 giờ của địch. Với trận đánh nhà Đờ lê vô, ngôi nhà số 9 Cát Linh đã đi vào lịch sử cách mạng vẻ vang của Hà Nội như một mốc son đánh dấu cho hàng loạt cuộc tiến công mở đầu của quân dân Thủ đô vào các vị trí của địch đêm 19 rạng ngày 20-12-1946 góp phần thắng lợi vào cuộc chiến đấu 60 ngày đêm mở đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp của quân dân Thủ đô Hà Nội. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 07:37:05 am Nhớ lại Nguyễn Văn Mậu* (hồi ký) Nguyễn Văn Mậu - Chủ tịch Ủy ban HCKC tiểu khu Hàng Bột 1945 -1946 Cụ Mậu sinh ngày 25-5-1906, cụ cư trú tại số nhà 28B An Trạch phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa. Tuổi đã cao, cụ nhớ lại một vài kỷ niệm sâu sắc thời kỳ đầu kháng chiến toàn quốc 19-12-1946. "1945 tôi sinh hoạt trong tổ Việt Nam Cứu quốc Hội do đồng chí Nguyễn Quốc Chương, bí danh Hồng phụ trách. Tôi đã tham gia Ủy ban hành chính khu Văn Miếu thuộc Liên khu III, và Trương ban bảo vệ khu phố Hàng Bột. 1946 tôi được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến tiểu khu Hàng Bột. Chúng tôi đã cho tự vệ Hàng Bột và An Trạch (anh em Việt Nam Cứu quốc khi kháng chiến chuyển sang Tự vệ) đắp ụ ngăn đường ở phố Đoàn Thị Điểm - Hàng Bột và cống Huy Văn; bắc cầu làm đường trong các ngõ xóm cho dân tản cư; đục thông tường nhà suốt hai dãy phố Hàng Bột trên và Hàng Bột dưới; tổ chức Ban tiếp tế phục vụ bộ đội và tự vệ. Các lực lượng tự vệ triển khai tiêu diệt ngay từ giờ đầu các ổ tác chiến của địch như: khu nhà hạ sĩ quan Pháp ở dãy nhà Cố Hồng (cô đạo Pháp tên Việt là Hồng xây dựng) 7 gian khu nhà sĩ quan Pháp ở giữa hai phố Bích Câu và Đặng Trần Côn. Trong đêm 19-12-1946, Vệ quốc đoàn đại đội Lưu Vân và tự vệ Hàng Bột đã bắt sống 7 tên hạ sĩ quan tại dãy nhà Cố Hồng. Anh em tự vệ (Việt Nam Cứu quốc) bắt 4 tên tại Bích Câu và Đặng Trần Côn, trong đó có tên Massei là thanh tra trại lính khố xanh (Inspecteur de la garde indigène). Tất cả bọn này đều được dẫn về Tiểu đoàn bộ 523. Riêng nhà Deléveaux ta đánh rất mạnh, nhưng mấy tiểu đội địch không chịu ra hàng. Ta khiêng bom đến nhưng giật không nổ. Tự vệ dỡ hết lều quán ở chợ Phan Văn Trị đem chất đống rồi đốt, bom vẫn không nổ, lại phải khiêng đi. Ta giữ được mặt trận Hàng Bột 11 ngày. Đến 30-12 quân địch mở một trận hợp vây lớn định chia cắt Hàng Bột với các tiểu khu khác thì trên cho lệnh rút khỏi Đê La Thành. Trong trận đánh nhà Deléveaux ta hy sinh 1 tự vệ là anh Phạm Gia Nho. Trong trận đánh ở nhà Tế bần cuối Bích Câu - Đoàn Thị Điểm 30-12, ta hy sinh một tiểu đội trưởng tự vệ (Việt Nam Cứu quốc) là anh Nguyễn Xuân Khánh, tìm không thấy xác. Trong trận đánh Cầu Mới 6-1-1947 ta hy sinh 2 tự vệ là anh Trương Văn Thức và Phạm Văn Điển". TỐNG THỊ HOÀ ghi Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 07:40:54 am THỜI THANH NIÊN SÔI NỔI Nguyễn Hữu Thành* (trích hồi ký) Nguyễn Xuân Hồng Nguyễn Hữu Thành - nguyên Liên Đại đội trưởng Tự vệ Hoàng Diệu phố Hàng Bột, Kim Mã và Nguyễn Xuân Hồng, Đại đội phó Những ngày của cái thời 1945 - 1946 sôi nổi khí thế cách mạng Tổng khởi nghĩa ấy, cách đây đã 50 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ những sự kiện khó có thể quên. Nhưng với khoảng thời gian lâu như thế, không ai dám bảo đảm tất cả các sự kiện đều được nhớ chính xác. Dù sao tôi cũng xin viết ra đây với trách nhiệm trước các đồng chí đã hy sinh, đã quá cố, góp phần vào bản báo cáo đề nghị gắn biển trận đánh nhà Deléveaux số 9 phố Cát Linh. Từ 19-8-1945 đến 19-12-1946 Trong lúc quân Nhật còn chiếm đóng, rất nhiều người phố tôi đã trông thấy 4 chữ rất to trên bức tường Văn Miếu phía đường Hàng Bột "Đánh Pháp đuổi Nhật", mọi người rủ nhau đi xem trầm trồ khen ngợi cảm phục. Ai cũng mong Việt Minh sớm về. 19-8-1945 nhân dân phố tôi náo nức đón mừng cách mạng. Cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở tất cả các nhà. Mấy ngày sau có tin quân Pháp đang tiến về Hoà Bình. Đó là bọn tàn quân bại trận trước quân Nhật (9-3-1945) đã chạy sang Trung Quốc. Không ai bảo ai mọi người đều xuống đường trong tay người nào cũng có một vật gì đó, người cầm cái xẻng, hoặc con dao thái thịt, cái gậy. Tôi cũng vớ được cái then chặn cửa to tướng. Ai nấy tự xếp thành hàng, chẳng có ai chỉ huy, chỉ có ông Đỗ Đức Long ở số 3 phố Hàng Bột (chủ hãng thuộc da) đi ngoài hàng hô một, hai. Thế mà đoàn người khá dài tuần hành qua các phố Hàng Bột, Cát Linh, Bích Câu, Đặng Trần Côn, vừa đi vừa hô khẩu hiệu "đả đảo thực dân Pháp". Có ai đó mang một lá cờ đỏ sao vàng chạy lên hàng đầu, làm tăng thêm khí thế. Bọn Tây lai ở đầu phố đóng chặt cửa không dám ra ngoài. Đoàn tuần hành đi 2 vòng rồi giải tán. Lập đoàn Thanh niên. Cũng trong tháng 8, có chỉ thị thành lập Đoàn Thanh niên. Có khoảng 30 người ghi tên, bầu anh Phạm Giao, sinh viên trường Luật làm đoàn trưởng. Rồi thành lập Ủy ban Hành chính phố Hàng Bột, ông Nguyễn Văn Mậu ở làng An Trạch làm Chủ tịch, ông Phạm Gia Nhung (chú anh Phạm Giao) thông phán Sở Tài chính làm Phó chủ tịch. Một tháng sau bận học tiếp anh Giao xin thôi. Anh Nguyễn Hữu Chấn (anh tôi) lên thay, rồi bận học cũng xin thôi. Anh em bầu tôi (Nguyễn Hữu Thành) lên thay. Tất cả chúng tôi đều từ 17 đến 25 tuổi, mặc toàn quần áo trắng mũ calô trắng, cùng lúc đó thành lập Đoàn Phụ nữ, có việc cùng chung hoạt động. Năm đó nước lên to, lụt ở nhiều nơi. Chúng tôi được lệnh đi đắp đê chống lụt ở Trần Nhật Duật, Gia Lâm và đê Đông Lao (Hà Đông). Lần đầu tiên lao động tập thể ai cũng rất vui tuy rất mệt, bùn đất đầy người vẫn đi qua các phố. Giá như thường ngày thì ngượng lắm lắm nhưng hôm ấy ai cũng tỏ ra rất hãnh diện được lấm bùn đất như vậy. Sau khi thành lập Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, chúng tôi được lệnh thành lập Đội Thiếu niên tiền phong (cả nam và nữ) và Đội Nhi đồng tháng 8. Được gia đình khuyến khích, chỉ một thời gian ngắn đã có khoảng 30 em ghi tên. Ban đầu anh Bảo phụ trách, sau không phù hợp, nên lại giao anh Chung độ 16 tuổi ở khoảng số nhà 80, rồi cũng bổ sung thêm anh Hợp, anh Hạnh ở phố Hàng Cháo. Hoạt động chính là ca hát, diễn kịch, tập đi một, hai. Trang phục là quân âu áo sơ mi nâu, mũ calô nâu viền vàng do gia đình tự may. Trong số các em, chúng tôi chọn vài em lớn luôn nhanh nhẹn lập một đội thiếu nhi trinh sát. Các em này thường có hoàn cảnh riêng, làm việc vặt, có điều kiện la cà nhiều nơi biết nhiều chuyện. Các em đã giúp chúng tôi khám phá nhiều vụ trộm, phát hiện kẻ phao tin nhảm, kẻ rải truyền đơn phản động. Cứu đói Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ toàn dân lập "hũ gạo cứu đói", thanh niên, phụ nữ đi tuyên truyền vận động và thu nhận gạo cứu đói. Thanh niên dùng xe bò chở gạo quyên góp được, thực tế các gia đình nộp số lượng nhiều hơn "mỗi người, mỗi ngày, một nắm". Chở đi nộp ở đâu, không nhớ. Lại có lần được lệnh chở một tấn gạo vào làng Tây Mỗ. Gạo lấy từ đâu, không nhớ, chỉ biết rằng đi mượn xe bò, ai cũng sẵn sàng cho mượn, chở gạo vào Hà Đông đi cách đó khoảng 5km. Tới nơi lúc 9 giờ dân dã xếp hàng chờ. Các vị phụ trách thôn, làng gọi tên, chúng tôi đong gạo cho từng người. Đến một giờ trưa mới xong. Ra về mà lòng nặng trĩu, đói cũng chẳng muốn ăn khi nhìn cả một vùng rộng lớn, lúa bị hạn chết khô vàng rực toàn rơm. Đến lúc đó số người chết đói đã vãn hẳn rồi. Được gặp Bác. Một tuần sau, tôi được gọi lên Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, không ai nói rõ có việc gì. Đến nơi có 2 anh nữa, cỡ tuổi tôi đã chờ ở đấy. Có một người phổ biến 3 chúng tôi được vinh dự sang Bắc Bộ Phủ gặp Bác. Không thể hiểu nổi tại sao lại có 3 người và trong đó lại có tôi. Chỉ nhớ rất hồi hộp được gặp Bác, nằm mơ cũng không thấy. Thế mà lại là thật. Ông này dẫn 3 chúng tôi đi bộ sang Bắc Bộ Phủ. Đến cổng đã thấy cụ Nguyễn Văn Tố. Bộ trương Bộ Cứu tế, khăn xếp áo the đứng đón. Cụ đưa chúng tôi vào nhà. Qua một hành lang dài. Chúng tôi vào một phòng nhỏ. Cụ Tố sang một phòng khác bằng một cửa thông. Một lát sau có một thanh niên trạc 30 tuổi (sau này biết là anh Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác) vào báo "Bác đến". Vừa nói xong thì Bác vào. Chúng tôi đứng cả dậy, chẳng biết làm thế nào đành chào theo kiểu Việt Minh. Bác bắt tay từng người. Tôi nhìn thấy hai gò má Bác ửng đỏ nhưng gầy. Bác ngồi ngay chỗ chúng tôi và bảo báo cáo việc đi cứu đói. Tôi xin phép nói trước về chính sách của Đảng thương dân, dân phấn khởi, cuộc cứu đói diễn ra mĩ mãn. Bác nhìn tôi không nói gì. Anh bạn ngồi cạnh tôi nói về mùa màng thất bát, dân khổ cực. Tôi còn nhớ một câu đại ý: lúa ngoài đồng bị hạn chết khô đến nỗi cháu tưởng tượng rằng chỉ cần một que diêm thôi thì cả cánh đồng sẽ bùng cháy (và một câu gì nữa). Anh bạn nói xong, xung quanh vẫn yên lặng không một tiếng động. Tôi nhìn lên thấy Bác xịu mặt xuống. Bác rút khăn tay chấm nước mắt. Xong Bác nghẹn ngào nói "Các chú là thanh niên, mong các chú cố gắng". Nói xong Bác bắt tay từng người rồi đi ra. Tổ chức Tuần lễ vàng tại sân vận động Hàng Đẫy (Septo) là địa điểm trong khu vực Hàng Bột trên nên đoàn thanh niên chúng tôi có nhiệm vụ bảo vệ trong suốt thời gian đó. Chúng tôi vận động gia đình và bản thân mỗi người đóng góp riêng. Giữa lúc ấy có lệnh khám nhà Deléveaux nghi có vũ khí, chúng tôi cũng phải cử 5 thanh niên đi hỗ trợ vòng ngoài. Mặc dù Đoàn Thanh niên có làm được một số việc nhưng đoàn viên cũng chỉ có 30 người. Hăng hái tích cực nhất là Lộc, Sinh, Đại, Phúc Nghiêm và Lập. Nhất là anh Lập cả lúc đó và sau này có nhiều ý kiến hay đóng góp cho chúng tôi. Trong một cuộc họp của Đoàn Thanh niên, chúng tôi mời được nhiều vị nhân sĩ trí thức, thương gia trong phố tới dự, ông Khuất Duy Tiến, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố cũng đến dự. Sau khi tôi trình bày xong báo cáo hoạt động của Đoàn, ông Khuất Duy Tiến cho ý kiến nên có nhiều hình thức thể thao văn nghệ v.v... thu hút đông đảo thanh niên vào Đoàn. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 07:42:49 am Thành lập Tự vệ Hoàng Diệu phố Hàng Bột
Ít lâu sau có chỉ thị đổi tên Đoàn Thanh niên thành Đại đội tự vệ Hoàng Diệu. Tôi trở thành Đại đội trưởng. Chúng tôi lại tiếp tục vận động các gia đình nhấn mạnh lòng yêu nước trước tình hình nước sôi lửa bỏng. Không gia đình nào từ chối. Chỉ vài ba ngày thanh niên hăng hái ghi tên tới 120 người. Rất đáng biểu dương là ông Đỗ Đức Long nhà doanh nghiệp số 3 Hàng Bột và ông Đoàn Phú Tư (em ruột ông Đoàn Phú Tứ, nhà thơ có tên tuổi) cũng tham gia. Chúng tôi mở đại hội bầu ra ban chỉ huy đại đội, các trung đội, tiểu đội. Không khí sôi nổi thân mật vui vẻ. Đại đội có 4 trung đội, trung đội có 4 tiểu đội. Các trung đội trưởng là Nhã, Lập, Hồng, Ngọc bố trí suốt từ đầu Hàng Bột giáp phố Nguyễn Thái Học đến Nhà thờ Hàng Bột. Trung đội anh Ngô Đoàn Ngọc ở phố Hàng Cháo; anh Nguyễn Xuân Hồng ở phía Quốc Tử Giám, anh Tống Lập từ bên chẵn ngã tư Cát Linh - Hàng Bột (nhà "Săm" Thái Lai nay là trụ sở Công an phường Quốc Tử Giám) đến chợ (nay là phố Phan Văn Trị). Anh Phạm Văn Nhã bên số lẻ từ ngõ Thông Phong xuống. Sau này còn tổ chức lễ phong quân hàm cho các cấp Tự vệ. Để có tiền sắm vũ khí, chúng tôi phải dựa vào uỷ ban lúc này đã được đổi tên là Ủy ban bảo vệ, tổ chức các cuộc họp ở Nhà Tế bần (nay là trường Trung cấp Y tế phố Đoàn Thị Điểm); các buổi diễn kịch có bán vé như vở "Hội nghị Diên Hồng", các buổi ca múa nhạc. Trong các buổi ấy Đoàn Phụ nữ Cứu quốc tổ chức bán bánh ngọt, các đồ lưu niệm đan, thêu do các chị tự làm. Kết quả tốt đẹp. Chúng tôi còn tổ chức tại rạp Tố Như một đêm diễn vở cải lương "Mạnh Lệ Quân thoát hài". Số tiên thu được rất khá. Toàn bộ các số tiên thu được đều dùng mua vũ khí và thuốc men. Gia đình nào, người nào đi dự đều ủng hộ rất nhiệt tình vì mỗi người dân đều hiểu rằng việc làm này nhằm bảo vệ an ninh khu phố và chuẩn bị kháng chiến. Có tiền rồi, chúng tôi nhờ anh Voòng rèn cho 10 cái mác búp đa. Lưỡi mác được gắn vào đầu gậy bằng hóp dài độ 1.60m. Số này để ở trụ sở cho trung đội trực chiến đi tuần tra. Mua được hai khẩu súng kiểu Pháp, 10 quả mìn, một số lựu đạn của lính Nhật và Tầu sắp về nước. Trên cấp cho gần 10 quả lựu đạn Phan Đình Phùng. Cá nhân tự trang bị lựu đạn, kiếm, súng ngắn. Trang phục tự vệ đều tự lo thống nhất quần áo, mũ calô bằng kaki, trên mũ đều gắn phù hiệu vuông màu đỏ có sao vàng. Phù hiệu chỉ huy có vành vàng. Giây có gì dùng nấy. Chúng tôi luyện tập quân sự do tôi huấn luyện. Động tác chính là đi đều. Sau có ông quản Chấn và ông Cai Phúc giúp đỡ. Các ông dạy từ động tác cơ bản đến đánh trận địa chiến, đánh trên đường phố. Quân Tầu còn đang đóng ở Bích Câu thấy chúng tôi hét "xung phong" to quá, chúng nháo nhác không hiểu ra sao. Sau chúng tôi phải đi xa hơn, có lần dã ngoại về Cổ Bi quê tôi cách Hà Nội 15km. Để đảm bảo an ninh trật tự, trước cửa trụ sở Tự vệ (đóng ở đình nay là 69 Hàng Bột Câu lạc bộ hưu trí) có đắp một ụ cát nhỏ, có 3 lỗ châu mai. Mỗi tối có một trung đội trực, cắt cử một tiểu đội đi tuần tra. Ban ngày, các anh em ở gần, rỗi rãi cũng đến trụ sở. Ban chỉ huy đại đội thay nhau có mặt, nhiều nhất là Đại đội trưởng Thành, Đại đội phó Tống Văn Lập. Chúng tôi bắt được nhiều vụ trộm, thu hồi tài sản trả lại người mất. Cảnh cáo một số tên "anh chị" (nhưng không phải là phản động). Đặc biệt có một vụ chúng tôi tìm đến tận nơi ẩn náu của tên trộm, kiên quyết bắt mặc dù nó chống trả chúng tôi không kém, rồi tự lập Toà án nhân dân để xét xử. Việc này có ý kiến tham gia góp phần quyết định của anh Hồng Chương, lãnh đạo Việt Nam Cứu quốc Hội, trụ sở tai làng An Trạch. Sáng hôm sau có hai anh công an trên Ty Liêm phóng đến xem xét báo cáo rằng chúng tôi lập Toà án nhân dân không có ý đồ xấu nhờ vào nội dung biên bản anh Đoàn Phú Tư viết rất chính xác, có lý, có tình, nên chí bị phê bình mà không kỷ luật. Từ đó danh tiếng Tự vệ Hàng Bột nổi như cồn và cũng từ đấy phố tôi không xảy ra một vụ trộm nào nữa. Chúng tôi còn phải giải quyết những vụ rắc rối đối với dân của bọn quân Tâu phù, rồi quân Tàu của Tiêu Văn, Lư Hán. Chúng có khoảng một tiểu đoàn đóng rải rác, sau tập trung vào phố Bích Câu và Đoàn Thị Điểm. Tôi, Lập, Ngọc, Nhã phải nhờ một ông biết tiếng Trung Quốc để giao dịch, hoặc bút đàm chữ Hán. Họ cũng có một thiếu úy biết tiếng Anh, chúng tôi cử anh Phạm Giao nói chuyện. Mỗi bên một người trực tại chợ, do vậy chúng giảm hẳn quấy nhiễu dân. Có lần còn cứu được một ông thầy cúng bị chúng bắt trói nghi ăn cắp của nó. Nhiều lần chúng tôi tổ chức đe doạ ngầm bọn Việt gian ở toà báo "Vì Nước" dựa vào thế quân Tầu gọi loa phản tuyên truyền. Thấy chúng tôi ngày nào cũng có đông tự vệ, thái độ rất căng, chúng phải giảm và rút chạy đi nơi khác khi quân Tầu về nước. Các em trinh sát thiếu nhi còn phát hiện cho chúng tôi những tên Việt Cách rải truyền đơn của Nguyễn Hải Thần; hoặc Việt gian đi tuyên truyền Tây đã đến Hoà Bình. Bắt và xử lý đúng đối tượng giải về Ty Liêm phóng. Chúng tôi còn được tham dự cuộc tuần hành biểu dương lực lượng sau khi quân Lư Hán đến Hà Nội. Tự vệ Hàng Bột được cử 30 người đi đầu đoàn tuần hành gồm 20 vạn quần chúng diễu qua phủ Chủ tịch hô vang các khẩu hiệu "ủng hộ Hồ Chủ tịch", "ủng hộ Chính phủ VNDCCH" v.v... Đoàn đi từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa mới dứt. Tôi nhìn thấy có Bác Hồ, Hà Ứng Khâm và Nguyễn Hải Thần đứng trên thềm. Trong lúc quân Tầu đang chờ rút, thì quân Pháp đã vào Hà Nội, đóng ở trong Thành. Ít lâu sau chúng bắt đầu đưa quân đi chiếm đóng một số nơi khác; chúng còn liên lạc với Pháp kiều, Pháp lai như Deléveaux và một trung đội đóng ở phố Bích Câu, có xe ô tô thường xuyên đến tiếp tế. Truớc tình hình đó chúng tôi phải thay đổi cách bố trí: Các tiểu đội trưởng gan dạ chiếm giữ các vị trí xung yếu, như Tiểu đội Đỗ Đức Long đóng tại nhà ông ở số 3 Hàng Bột (ngã tư Hàng Bột - Cát Linh); tiểu đội Ngô Đoàn Ngọc ở một nhà sát sân vận động Septo; tiểu đội Phạm Gia Nho ở đền Sòng; một bộ phận trực bên nhà số 8. Một mặt kiềm chế bọn Pháp lai, một mặt thông qua người nhà và người làm cho nó để nó biết chúng tôi không hại chúng nó nếu nó không đánh lại chúng tôi. Có lẽ một phần vì thế mà khi xảy ra chiến sự, chúng không dám chống cự. Chúng tôi còn tham dự một cuộc biểu dương lực lượng vũ trang. Một trung đội được cử đi, nhưng sao và quân hàm thì đút túi. Các nơi khác cũng thế. Đúng giờ quy định tất cả đều mũ calô gắn sao vàng trên nên đỏ hình vuông và đeo quân hàm. Phút chốc cả thành phố đầy quân đội. Tin đồn Việt Minh quân đông như kiến. Chúng tôi thực hiện bất hợp tác với Pháp: giải thích cho dân không đi làm, không bán hàng cho Pháp, bảo cho người làm của gia đình Pháp kiều về nói lại với chủ biết. Lúc này các khẩu hiệu chiến đấu bảo vệ Thủ đô được kẻ khắp nơi. Ngày 12-12-1946 chúng tôi được lệnh đục thông các tường nhà. Trung đội nào đóng ở đâu thì giải thích và cùng chủ nhà đục tường, xong lại lấy bàn, tủ kê vào khi cần chỉ đẩy mạnh là được. Sau khi Đại đội 29 về phố thì chúng tôi đào thêm các hố cá nhân trước nhà, nhưng không có lối thông vào nhà, chiến sự xảy đến không dùng được. Ngày 15-12-1946 chúng tôi được lệnh đắp ụ trên đường Hàng Bột, cách phố Đoàn Thị Điểm độ 5m, để giữa đường khoáng 2m để dân tản cư. Sau này mới biết là đường đi của Trung ương, Chính phủ ra ngoại thành, chỉ khi nổ súng mới phá nốt đoạn đó. Để làm ụ, chúng tôi đã xin ông chủ xưởng gỗ, thường gọi là ông cai Thiệu ở 25 phố Đoàn Thị Điểm. Ông nhiệt tình giúp đỡ. Chúng tôi đào 8 cái hố, mỗi hố chôn một cây gỗ to bằng người ôm. Những cây gỗ khác nhét vào giữa 4 cái cột, khi xong thành 2 ụ nhỏ, cao quá đầu người. Khoảng cách giữa 2 ụ đúng như yêu cầu và tàu điện vẫn chạy qua. Trước mỗi ụ còn đào một cái hố rộng bằng cái ụ sâu hơn 1m lấy đất đắp lên ụ. Hai bên hè còn đào hố rộng bằng cả cái hè hơn 2m, sâu hơn 1m. Ở đoạn đường còn lại giữa 2 hố, chúng tôi đục sẵn một lỗ mìn, khi nổ súng sẽ phá nốt. Như vậy xe tăng địch có đến được cũng khó vượt qua được. Đến lúc này dân đã đi tản cư nhiều. Chỉ còn ít người ở lại. Người ra đi dặn dò nơi để lương thực thực phẩm cứ lấy mà dùng, trao chìa khoá giữ nhà hộ. Trong thời gian đó, nhiều lần địch khiêu khích chúng tôi, lúc ban ngày, lúc ban tối. Chúng tôi giải thích cho mọi người triệt để chấp hành lệnh trên, hết sức kiềm chế không mắc mưu chúng. Đáng kể là 20 giờ ngày 17-12-1946, anh Phúc Nghiêm vào báo cáo có một xe gíp đỗ trước cửa trụ sở tự vệ, một tên Pháp xuống xe đến chỗ ụ không rõ làm gì. Anh Phúc Nghiêm vẫn chĩa súng nhưng không bắn, tiểu đội anh Nho đã vào vị trí, anh Ngô Mai đã bám sát tôi. Mấy phút sau khi chúng lên xe đi rồi thì mìn nổ. Lập tức đội tuần tra đi để ổn định trật tự và trấn an dư luận. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 07:45:11 am Những chuẩn bị cuối cùng
Khoảng 15-12-1946 chúng tôi thành lập đội cảm tử do tôi đứng đầu, nhiệm vụ là phá hoại những nơi cần thiết. Đội được phát 10 lọ, trong mỗi lọ có một miếng phốt-pho to gần bằng ngón tay út ngâm trong nước. Loại này khi định đốt xe thì lừa lúc địch không chú ý, ta lấy miếng phốt-pho ra đặt cạnh nắp thùng xăng. Khoảng 10 phút sau miếng ấy sẽ tự bốc cháy. Nhiều lần chúng tôi định làm nhưng bọn Pháp lại cảnh giác, chúng tôi không thực hiện được. Đội này còn nhận được 10 thỏi mìn dẻo để phá trạm biến thế điện và cây. Chúng tôi được bác thợ điện phụ trách trông nom trạm biến thế điện ở đầu phố Quốc Tử Giám gần sát Hàng Bột hướng dẫn cách mở trạm, đóng mở cầu dao và trao cho chìa khoá thứ hai. Chúng tôi đục sẵn lỗ mìn ở giữa sàn trạm. Hai cây to gần đền Sòng phố Hàng Bột và trước ụ chướng ngại chúng tôi cũng đục khoảng 15 lỗ trên mặt đường. Đại đội còn được trao một quả bom ba càng. Có một chuyện rất cảm động là sau khi được nghe nói mục đích, ý nghĩa và sự nguy hiểm cho người đánh bom, tôi hỏi "Ai xung phong cầm bom ba càng?" thì lập tức anh Ngô Mai đứng phắt dậy. Sau anh còn một anh khác nữa trẻ hơn. Tôi bèn trao bom cho anh Ngô Mai, anh kia hai quả lựu đạn để yểm hộ. Anh Ngô Mai đã đứng tuổi, buôn bán vặt ở chợ. Trước 19-8-1945, anh gần như một tay "anh chị" nhưng đứng đắn và không làm hại ai. Bắt đầu từ 16-12-1946 hầu như ngày nào tự vệ cũng tập trung toàn đội ở vị trí quy định. Tình hình rất căng thẳng, hầu như không còn ai đi làm, người đi tản cư nhiều, phố vắng hẳn, chỉ có ít người đi lại ngoài đường. Ngày 18-12-1946, chúng tôi đi nghe ngóng tình hình để tận mắt chứng kiến sự chuẩn bị của nhân dân ta. Thành, Lập, Lộc, Sinh đi lên Sinh Từ, Cửa Nam, Hàng Bông; đường vắng ngắt, càng đi càng thấy rợn người, chỉ có xe bọn Pháp chạy mà chúng cũng không để ý gì đến chúng tôi. Giờ nổ súng 3 giờ chiều anh Phi Hùng thông báo có thể tối nay đánh. Đến 7 giờ tối lại báo là 8 giờ. Gần 8 giờ tôi lại nhắc lại là đúng 8 giờ tối pháo đài Láng sẽ bắn mở màn. Trong khi ấy trung đội Vệ quốc đoàn của Đại đội 29 do anh Lưu Vân. Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy và trung đội tự vệ phối hợp đánh nhà Deléveaux đang tiến dần đến vị trí tập kết. Đúng 8 giờ tối 19-12-1946, đèn điện toàn thành phố tắt. Pháo của ta ở Láng bắt đầu bắn. Nhìn những viên đạn đại bác sáng xanh lừ đừ bay trên không hướng vào Thành Hà Nội rồi rơi xuống các vị trí đóng quân của Pháp làm thành những tiếng nổ rung chuyển cả đất. Vệ quốc đoàn và Tự vệ rất nhanh chiếm lĩnh các ổ chiến đấu. Súng máy, súng trường thi nhau bắn vào nhà Deléveaux. Một số Tự vệ thì áp sát nhà và ném lựu đạn vào sân. Anh Sinh dùng bít tất buộc vào đuôi mìn cũng ném vào nhà nó. Bọn Tây lai trong nhà kêu là inh ỏi và rút lên gác. Chúng cũng tổ chức bắn lại ban đầu nhiều sau thưa dần. Phía ta cũng vậy, đạn có ít nên phải dè sẻn. Trong chiến đấu, tiểu đội trưởng Phạm Gia Nho khi xung phong lên phá cửa nhà chúng, chẳng may bị trúng đạn, hy sinh tại chỗ. Có một câu chuyện rất cảm động về anh Nho. Anh từ đâu đến buôn bán guốc ở chợ, hay uống rượu, uống say thì không nể ai. Hôm 15-12-1946, anh nói với tôi: "Từ nay anh không uống rượu nữa, cho vợ về quê viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác". Từ đó ai mời rượu cũng không uống nữa. Vốn tính ngay thẳng nên khi anh mất anh chị em ai cũng tiếc. Cùng lúc Vệ quốc đoàn và Tự vệ đánh nhà Deléveaux thì cũng là lúc đội phá hoại bắt đầu các công việc. - Phá trạm biến thế điện Đội cảm tử mở cửa trạm, vào đặt mìn rồi đốt. Sau một tiếng nổ to, mìn chỉ phá được một miếng bằng cái thúng ở sàn. Chúng tôi phải dùng xà beng chọc thủng máy, dầu trong máy chảy ra, một bộ phận đã lấy rơm nhét vào trạm rồi ném quả lựu đạn vào. Dầu bùng lên cháy đến 23 giờ mới hết. - Chặt cây Trong khi trạm bùng cháy to, đội đi đặt mìn vào các lỗ cây rồi đốt. Cũng do chưa có kinh nghiệm như khi đốt trạm, cây chỉ bung ra một mảng. Đội phải cùng chủ nhà gần đó cưa cho cây đổ, rồi dùng búa tạ, xà beng đánh đổ cột đèn. - Phá đường Một bộ phận xuống phá đoạn đường giữa hai cái hầm trước ụ, chướng ngại ở phía dưới phố Đoàn Thị Điểm đã nói trên. Cần phá ngay để lỡ địch có đưa xe tăng đến cũng không vượt qua được. Lần này rút kinh nghiệm, chính tay tôi nhồi mìn và đốt. Kết quả mìn phá băng chỗ đường còn lại. Đội lấy xà beng cuốc chim phá nốt cho sâu xuống. Đốt cửa nhà Deléveaux và đặt bom Dùng sức phá cửa không được, Vệ quốc đoàn cho khiêng đến một quả bom đặt ở chân tường nhà Deléveaux. Đại đội trưởng Lưu Vân cho giật bom. Nhưng giật mấy lần mà bom không nổ lại phải khiêng ra. Sau đó, không rõ lệnh của ai, Tự vệ đến chợ dỡ hết lều quán đem đến đốt ở cửa nhà nó, nhưng cửa bằng gỗ tốt quá nên không cháy được cửa. Lúc ấy đã gần sáng, anh em chỉ bao vây không đánh tiếp. Đến hôm sau 20-12-1946 thì bọn địch trong nhà Deléveaux mở toang cửa và tất cả đi trên xe ô tô chạy ra. Nhìn thấy phía trước xe có biển kẻ dấu hiệu Hồng thập tự, quân ta tôn trọng luật quốc tế nên không bắn. Chúng chạy thoát vào Thành. Quân ta vào chiếm nhà Deléveaux. Cùng với Tự vệ và Vệ quốc đoàn, các chị cứu thương cũng lên mặt trận xử lý kịp thời các thương binh và tử sĩ đưa về trạm đóng ở trại nhà ông Đỗ Lợi trong ngõ Văn Hương. Lúc này bộ phận tiếp tế sẵn sàng vào việc: đi thu lương thực, thực phẩm, lo đầy đủ cơm nước cho chiến sĩ ở tất cả các chốt và tại đại đội bộ Tự vệ ở Văn Chương. Sau ngày 19-12-1946 và khi nhà Deléveaux đã rút chạy, xuất hiện tại mặt trận loại đối tượng bắn súng "tắc bọp", bắn lén rồi chạy ngay, ta khó bắt được chúng. Hậu quá là anh Phạm Văn Nhã bị bắn trúng vào mông trong khi cùng anh Lập, Thọ, Lộc đi lên phía đầu phố Hàng Bột. Lùng sục trong Văn Miếu không bắt được tên nào. Và một chị cứu thương bị bắn vào đùi, may vào phần mềm (chị Liên lấy chồng Nhật). Trận địa mìn giả Đêm 23-12-1946, theo sáng kiến của anh Lưu Vân, đội phá hoại đã đem các rổ rá, nồi, xoong, chậu v.v... úp đầy tại ngã tư Cát Linh từ trước cửa nhà ông Đỗ Đức Long 3 Hàng Bột. Anh em lấy cuốc chim, xà beng đào be bét như vừa chôn mìn. Bọn địch rất sợ, chỉ dám đứng xa bắn vào nơi nghi binh. Bọn chúng thường dùng xe thiết giáp đi trước yểm hộ, bộ binh tiến sau, nhưng cũng chưa xuống được đến ụ chướng ngại. Xe tăng ở đầu phố Cát Linh bắn đại bác thẳng vào ụ, ụ vẫn không đổ. Chúng bắn vào trận địa mìn giả, rồi cho nhặt hết rổ rá, xoong, chậu, dùng xe háp-trắc kéo cây và cột đèn sang bên đường. Có mấy lần chúng tiến xuống đều bị lựu đạn và chai xăng ném ra làm chúng phải rút. Các trận chiến ngày càng ác liệt. Địch dùng tăng, xe thiết giáp chiếm Ngã tư Cát Linh - Hàng Bột bắn vào các nơi nghi có quân ta đóng. Chúng chiếm Văn Miếu. Có lúc xe tăng địch đã tiên gần đến ụ. Anh Ngô Mai, một quyết tử quân Tự vệ cầm bom ba cang từ trong nhà xông ra nhưng bị trúng đạn vào đùi. Đồng đội bắn yểm hộ đem vào được và đưa về tuyến sau. Tuy vậy địch cũng sợ phải rút. Địch còn dùng cối bắn, kể cả bom máy bay ném vào trận địa ta. Ta vẫn trụ vững. Đến ngày 30-12-1946, địch tràn vào như báo cáo đã nêu và đánh qua được ụ Khâm Thiên. Trên cho lệnh chúng tôi rút về Nam Đồng. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tích cực, thiệt hại về người rất ít. Hai đồng chí Tự vệ Hàng Bột hy sinh là anh Phạm Gia Nho và anh Nguyễn Văn Chung, học sinh, con trai thứ của ông Phán Mạc ở 11 phố Đoàn Thị Điểm. Một nữ cứu thương bị thương nhẹ có lẽ chị Liên ở phố Hàng Cháo, vợ một anh người Nhật - người Việt Nam mới - thường gọi là chị Liên Nhật. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 07:45:40 am Kết luận
Xưa nay có một câu nói đã trở thành nổi tiếng: "Một trận đánh được chuẩn bị chu đáo coi như trận đánh ấy thắng lợi một nửa". Chúng tôi không dám tự hào, nhưng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, những thanh niên, phụ nữ, phụ lão, thiếu nhi và các tầng lớp khác ở Hàng Bột đã được giáo dục thấm nhuần chủ trương chính sách của trên, thực hiện nghiêm chỉnh có trách nhiệm với mọi kế hoạch việc làm theo chỉ thị từng thời điểm. Ngay từ 19-8-1945 đến 30-12-1946, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh và Chính phủ VNDCCH nhân dân Hàng Bột đã vùng lên giành chính quyền và sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ phút đầu giờ đầu của cuộc kháng chiến, không một ai chần chừ hoặc rời bỏ hàng ngũ. Ngay từ lúc Đại đội 29 chiếm lĩnh địa bàn Hàng Bột thì mọi việc đã và đang được tiếp tục chuẩn bị giữa Vệ quốc đoàn, Tự vệ và các đoàn thể đã được phối hợp thống nhất, chặt chẽ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban kháng chiến Liên khu III thuộc Mặt trận Hà Nội. Do vậy khi pháo đài Láng bắn vào Thành là các lực lượng tiến công ngay, dù khi có lệnh rút về Nam Đông cũng là vừa đánh vừa rút, tiếp tục làm địch chậm tiến công và bảo toàn lực lượng. Bao vây và nhổ được những ổ tác chiến tiền tiêu của địch trong lòng trân địa Hàng Bột (nhà hạ sĩ quan Pháp đầu phố và nhà Deléveaux số 9 phố Cát Linh), chúng tôi đánh giá là một thắng lợi lớn như là nhổ được con dao găm cắm bên cạnh sườn ta, mà trước 19-12-1946 Hàng Bột là con đường huyết mạch của Trung ương và Chính phủ rút ra An toàn khu để có thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Điều có ý nghĩa lớn lao nữa là một đoạn đường khoảng 400m từ đầu phố đến ụ chướng ngại gần cuối Hàng Bột trên mà địch phải mất 12 ngày mới tới được. Quân và dân Hàng Bột đã cùng với toàn Liên khu III góp phân thắng lợi đập tan kế hoạch của thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội trong 24 giờ. TỐNG THỊ HOÀ ghi Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 07:50:38 am ĐẠI ĐỘI 29 TIỂU ĐOÀN 523 VỚI NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẤU CHỐNG PHÁP TRÊN ĐƯỜNG PHỐ HÀNG BỘT LIÊN KHU III đêm 19-12-1346 đến 30-12-1946 Lưu Vân Đại úy Trần Hải Lưu Vân - nguyên Đại đội trưởng c29, D523. Trần Hải - nguyên Chính trị viên c29, D523 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nổ ra trên toàn quốc đến nay đã 55 năm. Biết bao con người với những hoàn cảnh khác nhau đã đứng chung trong chiến hào ở giờ phút lịch sử ấy đều góp phần nhỏ bé của mình vào thắng lợi to lớn của đất nước, của thủ đô thân yêu. Tôi thay mặt cho tất cả đồng đội (bộ đội và tự vệ), những người còn sống và những người đã ngã xuống ngay trên mảnh đất này, ghi lại một số trận đánh trên đường phố Hàng Bột thân thương của chúng tôi. I. Vị trí quan trọng của đường phố Hàng Bột, hình thái chiếm đóng và bố trí chuẩn bị chiến đấu của địch ngay sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946. 1. Sau đảo chính Nhật - Pháp 9-3-1945, quân Pháp bị bắt làm tù binh và nhốt trong Thành khoảng 1.500 tên. Tháng 11-1945 bọn chỉ huy Pháp đã được sự đồng loã của phái đoàn Mỹ - Anh - Tưởng, trên danh nghĩa vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật và đã trang bị vũ khí cho số tù binh này. 2. Chuẩn bị cho âm mưu và hành động xâm lược của chúng và bảo đảm an toàn cho lực lượng của chúng đã ở trong Thành nên sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 thì ngày 27-3-1946 chúng đã chiếm đóng trái phép Nha Tài chính (nay là Bộ Ngoại giao); tiếp đến đưa từng tiểu đội, trung đội lính mũ đỏ đến chiếm đóng tu viện Jeanne d’Arc (nay là Viện Bảo tàng Mỹ thuật). Tại đây có khoảng một trung đội và có một khẩu súng cối 82 ly. Đầu phố Hàng Bột trông sang Văn Miếu có một dãy nhà hạ sĩ quan Pháp ở từ trước 9-3-1945, nay cũng được trang bị lựu đạn, tiểu liên, súng ngắn, thực chất là các ổ tác chiến. Sâu hơn nữa là nhà tên Tây lai Henri Deléveaux số 9 phố Cát Linh (nay là cửa hàng lương thực). Lực lượng của chúng tại đây có khoảng một tiểu đội có vũ khí súng trường, tiểu liên, lựu đạn, một xe mô tô 3 bánh, một xe cứu thương. Bên ngoài là nơi thu mua lương thực thực phẩm cho lực lượng trong Thành, nhưng thực chất là cơ sở thu thập tình báo. Có một số người Việt giúp việc cho chúng. Như vậy lực lượng chủ lực trong Thành đã có các vị trí tiền tiêu làm nhiệm vụ phát hiện, án ngữ, kìm chế mọi hoạt động của ta, mặt khác là điểm đầu cầu xuất phát tiến công sâu vào hậu phương ta một cách nhanh chóng khi cần. 3. Hàng Bột nằm trên trục đường Hà Nội - Hà Đông. Đầu phố là đầu mối giao thông quan trọng tiếp giáp nội thành gần các vị trí quan trọng của địch: Phủ Toàn quyền, cửa Tây thành Hà Nội và cũng không cách xa đầu mối giao thông lớn là khu Ga Hà Nội, Nhà Dầu Shell. Phía sau là các ngã tư Ô Chợ Dừa, Ngã Tư Sở đi Hà Đông nối liên với nhiều trục đường đi các hướng ra vào nội ngoại thành. Đặc biệt có sân bay Bạch Mai là một mục tiêu có tầm chiến lược mà chúng rất muốn chiếm đóng sử dụng. 4. Với ta trục đường Hà Nội - Hà Đông có vị trí hết sức quan trọng trong tình thế bấy giờ. Vùng hậu phương là Hà Đông - Sơn Tây là địa bàn cơ sở cách mạng, đầu mối thuận lợi trong khi cần di chuyển lên phía Bắc hoặc vào phía Nam rất cơ động khi nổ ra chiến tranh. Do đó tháng 11-1946, lệnh trực tiếp của Chỉ huy trưởng Khu XI giao cho Ban chỉ huy Tiểu đoàn 523 và các Đại đội 27, Đại đội 29 phải bảo vệ đường giao thông quan trọng này của Trung ương. Cụ thể suốt các tháng 10, 11 đến trước đêm 19-12-1946 các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, các lãnh tụ của Đảng, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, Trường Đào tạo cán bộ quân sự, chỉ huy sở Tiểu đoàn 523 đều đóng quân và làm việc rải rác từ Ô Chợ Dừa, Thái Hà - Ngã Tư Sở vào đến thị xã Hà Đông. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 07:52:11 am II. Chuẩn bị của ta về mọi mặt đối phó với âm mưu và hành động xâm lược của quân Pháp trên đường phố Hàng Bột (Liên khu III) từ tháng 11-1946 đến trước đêm 19-12-1946.
Trước âm mưu và hành động xâm lược của Pháp ngày càng bộc lộ trắng trợn, tình hình Thủ đô trong thời gian này hết sức căng thẳng. Hội nghị quân sự toàn quốc tháng 10-1946 đã kịp thời chỉ thị cho mọi hoạt động của lực lượng vũ trang bán vũ trang của Hà Nội có sự chuẩn bị khẩn trương và cụ thể hơn. Sang tháng 11-1946, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 523 đã điều chỉnh thế bố trí chiến đấu mới. Riêng Đại đội 29 nhận lệnh mới: "Là đại đội tác chiến tuyến đầu của tiểu đoàn có sự phối hợp với lực lượng tự vệ, khi có chiến đấu phải tiêu diệt các ổ tác chiến của địch trên đường phố Hàng Bột. Tổ chức bảo vệ chiến đấu không cho địch nống ra thọc sâu vào chiếm đường phố Hàng Bột, thu hút và tiêu hao một bộ phận lực lượng địch tại đây để phối hợp với các đơn vị trong toàn thành chiến đấu thắng lợi...". Từ mệnh lệnh trên, Ban chỉ huy Đại đội 29 gồm Đại đội trưởng Lưu Vân và Chính trị viên Trần Hải đã khẩn trương tiến hành các bước chuẩn bị chiến đấu: 1. Đại đội bộ chuyển từ Nhà máy Tóc lên đóng tại ngõ Văn Chương và có thời gian sang đóng cả ở ngõ Thổ Quan thuộc Khâm Thiên. 2. Di chuyển và bố trí bí mật phân tán Trung đội 58 ở các nhà dân, nhà Cai Mơ thuộc ngõ 226 phố Nguyễn Khuyến, phối hợp với Tự vệ đục thông tường lập các ụ chiến đấu các góc phố. Sử dụng nửa tiểu đội trong trung đội lên bố trí tại điểm sát rào chắn tầu Sinh Từ trông ra cửa Nam để khi chiến đấu có nhiệm vụ cùng tự vệ tại đấy ngăn chặn địch trong Thành ra chi viện cho bọn lính của chúng đóng ở Ga Hàng Cỏ. Trung đội 56 bố trí tại đầu phố Hàng Bột (gần trạm biến thế điện và trông sang Văn Miếu) phân tán ở nhà dân cùng các tự vệ, đục thông tường nhà, đắp các ụ chiến đấu ở các góc đường, trong các lối dẫn vào các ngõ hẻm. Dự kiến ban đầu định dùng lực lượng bộ đội, tự vệ, nhân dân đào một giao thông hào sát đầu đường Hùng Vương (bây giờ) với sân vận động Hàng Đẫy (Septo) nhằm chặn cơ giới địch khi nổ súng không thọc ra uy hiếp lực lượng ta bố trí ở các phố Bích Câu, Hàng Bột, nhưng có nhiều khó khăn không thực hiện được. Sau đó phải thay đổi sang thực hiện phương án sử dụng một tiểu đội của Trung đội 56 bí mật vào trong Văn Miếu ngày nghỉ, đêm đào đoạn đường hầm xuyên qua tường ra đường Nguyễn Thái Học để đặt bom khi chiến đấu làm nổ tung đường cản trở hoạt động cơ giới địch. Ngoài ra Trung đội 56 còn có nhiệm vụ phối hợp với Trung đội 57 đánh vào nhà Deléveaux, khu nhà hạ sĩ quan Pháp, nhà Jeanne d'Arc và sẵn sàng yểm hộ cho Trung đội 58 chiến đấu ở khu vực Sinh Từ - Nguyễn Khuyến khi bị địch uy hiếp mạnh không còn sức chống cự sẽ rút về Hàng Bột tiếp tục chiến đấu. 3. Trung đội 57 đóng tại nhà to, cao tầng tại phố Bích Câu (nay là khu tập thể CNVC) phối hợp với tự vệ đục thông tường, lập các ụ chiến đấu, tuần tra canh gác và là lực lượng bảo đảm sườn trái của đại đội không để địch lợi dụng địa hình trống trải từ trong Thành ra tràn qua bãi Hàng Đẫy (Septo) đánh vào Bích Câu và khi có lệnh sẵn sàng bố trí lực lượng cùng Trung đội 56 đánh nhà Deléveaux. Trong những ngày này, trên đường phố một không khí sục sôi, mọi việc diễn ra ngày đêm hết sức khẩn trương tấp nập, nhưng lại hết sức bình tĩnh, trật tự. Mọi người, mọi nhà đều tự nguyện hăng hái làm một việc gì đó cho cuộc chuẩn bị chiến đấu ở đường phố. Người ra đi tản cư về hậu phương thì nhà cửa và mọi của cải gửi lại cho bộ đội, tự vệ như những người thân, vui vẻ chia tay và hẹn ngày về. Mọi gia đình sẵn sàng thu gọn đồ đạc, vui lòng và hết sức giúp đỡ cho bộ đội, tự vệ đục thông tường theo yêu cầu của chiến đấu. Lực lượng tự vệ tổ chức tuần tra, canh gác ngày đêm, không một vụ trộm cắp xảy ra. Mọi hoạt động đi lại trên đường phố chỉ ngừng lại từ 8 giờ tối đến 5 giờ sáng hôm sau, dưới ánh sáng mờ của đèn đường chỉ còn có sự hoạt động của bộ đội, tự vệ tiếp tục làm mọi việc chuẩn bị theo kế hoạch chiến đấu. Những người ở lại với đường phố trong tâm trạng như bị một sức gì dồn nén, bồn chồn xen lẫn háo hức chờ đón từng giờ từng phút của cuộc chiến đấu sắp đến. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 07:55:38 am III. Bước vào chiến đấu và những trận đánh địch trên đường phố Hàng Bột.
Đến trước giờ nổ súng và suốt 11 ngày đêm chiến đấu trên đường phố Hàng Bột, điểm lại lực lượng vũ trang chỉ có: 1. Đại đội 29 với 150 cán bộ, chiến sĩ trẻ, hăng hái, nhiệt tình cách mạng, chỉ với tấm lòng yêu nước nồng nàn và sục sôi căm thù giặc Pháp, chưa hiểu biết sâu và sử dụng thành thạo vũ khí, chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Nòng cốt lãnh đạo chưa có chi bộ Đảng vì đến lúc này toàn đại đội mới có 2 đảng viên. Trang bị vũ khí hết sức thô sơ. Toàn Đại đội có 38 khẩu súng đủ các loại của Nga, Nhật, Pháp, nhiều nhất vẫn là khai hậu. Mỗi khẩu không quá 10 viên đạn. Lựu đạn do ta sản xuất cũng không đủ trang bị cho mọi chiến sĩ. Hoả lực chủ chốt của toàn đại đội là khẩu đại liên bầu nước của Nga đã cũ với một băng 150 viên đạn, một khẩu trung liên của Anh sản xuất với 50 viên dạn. Số chiến sĩ không được trang bị súng và lựu đạn thì được trang bị mã tấu. 2. Tự vệ Hàng Bột có một đại đội do đồng chí Nguyễn Hữu Thành chỉ huy, trang bị ít, phổ biến là mỗi người có một đến hai quả lựu đạn hoặc dao găm, kiếm Nhật, lưỡi mác, có một số tự trang bị súng ngắn loại Pạc-hoọc do mua lại của quân Tưởng. Về chỉ huy đồng chí Hồng điều lên làm phái viên đốc chiến của lực lượng tự vệ Thành, giao đồng chí Nhã chỉ huy, nhưng trên thực tế đồng chí Tống Lập lại là đầu mối nhận và giải quyết mọi việc. Sau này đồng chí Lập tham gia vào c29 - d523 và trải qua 9 năm kháng chiến ở đơn vị chủ lực (nay đã mất vì bệnh tật). 3. Các trạm cứu thương, tiếp tế, giao thông từ trận địa đến tuyến sau đều đã hình thành và đi vào túc trực hoạt động phục vụ chiến đấu. Trận đánh mở màn đêm 19-12-1946. Chiều ngày 19-12-1946 chỉ huy các đơn vị bộ đội, tự vệ đường phố nhận lệnh sẵn sàng chiến đấu của Ủy ban kháng chiến Liên khu III và của Ban chỉ huy Tiểu đoàn 523, giờ nổ súng cụ thể không được phổ biến, hiệu lệnh chiến đấu cũng chỉ nhận được trước giờ nổ súng một thời gian rất ngắn. Lệnh chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu được phát ra đã mang đến một không khí hết sức phấn chấn, mọi người cảm thấy nhẹ nhõm và ai nấy náo nức vào công việc của mình và mong chóng đến giờ phút hằng mong đợi từ lâu. Mọi sinh hoạt đi lại trên đường phố vẫn như mọi ngày, nhưng nếu quan sát kỹ có thể thấy những hiện tượng khác các ngày thường. Càng về chiều và gần tối người từ nội thành ra nhiều hơn là người ngoại ô vào. Xe ô tô ở nội thành ra thưa thớt, ngược lại không có xe ở ngoại thành vào. Đúng 20 giờ đêm đèn thành phố vụt tắt, tiếng đại bác pháo đài Láng bắn vào Thành, đó là hiệu lệnh chiến đấu bắt đầu. Tiếng đạn nổ vang khắp trong thành phố, dưới ánh sáng của đạn pháo và tiếp đến lửa ở các đám cháy bùng lên sáng rõ từng tốp bộ đội, tự vệ nối nhau từ trong các nhà theo kế hoạch đã phân công lần lượt theo đội hình tiến về các mục tiêu phía trước và có lúc xen lẫn cả vào dòng người đang từ nội thành tiếp tục ra. Tiếng cười nói, gọi nhau, lời động viên chúc tụng bộ đội tự vệ diệt nhiều địch vang lên ồn ã trên đường phố. Đạn nổ càng nhiều sáng cả bầu trời thì dòng người tản cư dường như đi chậm lại, đôi lúc dừng lại thành từng tốp chỉ trỏ và đoán với nhau ta và địch đang đánh nhau ở đâu. Một sự kỳ lạ, không khí đi vào cuộc chiến đấu sao mà thấy náo nức, phấn khởi và hồn nhiên. 1. Vây đánh nhà Deléveaux. Theo kế hoạch đã phân công, sau khi có hiệu lệnh chiến đấu của toàn thành, Trung đội 57 cùng một bộ phận tự vệ tiến hành bao vây nhà Deléveaux tại phố Bích Câu, khẩu đại liên đặt phía trước nhà Deléveaux mở màn đầu tiên thì sau đó tiếng súng trường, lựu đạn ở cả hai phía Bích Câu, Hàng Bột do lực lượng hai Trung đội 57, 56 và tự vệ đồng loạt nhả đạn vào nhà Deléveaux. Địch bắt đầu dùng tiểu liên trong nhà bắn ra, và xạ thủ đại liên của ta trúng đạn hy sinh, anh tên là Vọng. Các cửa ra vào, cửa sồ tầng dưới và trên gác đều đóng chặt. Ta vừa bắn uy hiếp địch và tiếp cận sát chân tường tìm cách phá cửa để xông vào nhưng chưa phía nào lọt vào được. Địch thấy ta vào sát chân tường nên đã rút lên tầng trên bắn xuống, nhưng có thể địch quan sát thấy lực lượng ta bao vây quá đông nên sau đó địch bắn trả thưa thớt. Khoảng nửa tiếng ta và địch ở thế giằng co, ta chưa vào được trong nhà, địch cũng đã rút lên gác cao cố thủ, nên sau đó ta theo ống máng phía Đặng Trần Côn trèo lên mái nhà dỡ ngói ném lựu đạn xuống và gọi hàng thì bên trong địch im lặng không bắn trả lại và sau đó có một tên Pháp và một người Việt, cùng vợ tên Pháp cũng là người Việt nói to là xin đừng bắn và ra hàng, mang theo một khẩu súng. Khi ra hàng hắn run rẩy và tên phiên dịch lại là người Y-pha-nho không phải người Pháp. Ta tiếp tục bao vây, gọi hàng, nhưng địch vẫn im lặng, cùng lúc tự vệ đem đến một quả bom 50kg đặt sát chân tường nhà phía Hàng Bột giật thì bom không nổ. Cuộc bao vây, gọi hàng và tìm mọi cách không vào được trong nhà, thời gian đã gần sáng, ta cho lệnh rút về bố trí các vị trí dọc đường phố và cho một tổ theo dõi quan sát mọi tình hình ở trong nhà Deléveaux. Tại nhà Deléveaux ngay đêm đầu tiên ta gọi hàng được một tên mang theo súng, lấy được một xe mô tô ba bánh, một con ngựa giao lên chỉ huy sở Tiểu đoàn và Ủy ban Liên khu III tại Nhà máy Tóc. Do ta thiếu kinh nghiệm và sơ hở không tiếp tục đánh quân địch liên tục của ngày sau mà chỉ bao vây, nên chiều 20-12, số địch còn lại tại đây bất thần dùng xe cứu thương vẽ cờ Hồng thập tự dưới sự yểm trợ của xe tăng địch án ngữ tại đầu phố đã tháo chạy mà tổ bao vây không kịp có phản ứng, một bộ phận tự vệ lại tôn trọng luật quốc tế nên không truy kích địch. 2. Vây đánh khu nhà hạ sĩ quan Pháp, phá trạm điện. Đồng thời với lực lượng vây đánh nhà Deléveaux thì một bộ phận lực lượng của Đại đội 29 cùng tự vệ tiến đánh các nhà Jeanne d'Arc, khu nhà hạ sĩ quan Pháp tại đầu phố Hàng Bột giáp đường Nguyễn Thái Học. - Tại khu nhà hạ sĩ quan Pháp đầu phố Hàng Bột, từ sô 14 đến số 24 đều là nhà riêng và vợ con họ là người Việt. Chúng đều có trang bị tiểu liên, súng ngắn, lựu đạn. Khi có hiệu lệnh chiến đấu toàn Thành, đèn tắt, súng nổ thì các khu nhà này vẫn im lặng. Lực lượng ta bao vây gọi hàng, chúng không bắn ra nhưng cũng không ra hàng, ta cũng chưa nổ súng. Sau đó các anh em tự vệ vào các nhà lân cận vác một số giát giường và chăn bông chất đống vào trước cửa các khu nhà và chuẩn bị đổ dầu và xăng vào đốt, bọn chúng, nhất là vợ con là người Việt nghe thấy ta hạ lệnh đốt nhà, nếu không ra hàng thì lập tức có nhiều tiếng vợ con tụi sĩ quan Pháp từ trên gác kêu khóc và xin đừng đốt để ra hàng. Sau đó cửa nhà dưới mở, lần lượt 3 tên sĩ quan Pháp hai tay giơ cao cùng vũ khí ra trước, liền đó là vợ con chúng ra theo. Lập tức ta tước một khẩu tiểu liên, một súng ngắn và cho giải về phía sau. Các trận đánh tiếp theo từ ngày 20-12-1946 đến trưa ngày 30-12-1946 trên đường phố Hàng Bột. - Tại nhà Jeanne d’Arc, vì là vị trí khá kiên cố nên Ban chỉ huy tiểu đoàn tăng cường cho bộ phận đánh vào đây thêm lực lượng bộ đội trợ chiến gồm có một khấu 37 ly với 5 viên đạn và một khẩu 12,7 ly và 75 viên đạn. Kế hoạch tác chiến là lực lượng bộ đội, tự vệ áp sát tường nhà thì khẩu 37 ly bắt đầu bắn ra sau đó 12,7 ly cũng phát huy hỏa lực yểm trợ cho các đơn vị xông vào. Nhưng đại bác 37 ly bắn được một phát thì mối hàn bệ súng rời ra không tiếp tục sử dụng được, hoả lực 12,7 ly bắn được vài viên thì súng bị hỏng hóc chữa không được nên phải cho hai loại hoả lực 37 ly và 12,7 ly về phía sau, các bộ phận còn lại dùng súng trường và lựu đạn từ bên ngoài tường bắn và ném vào phía trong, địch dùng mọi hoả lực bắn liên tục chặn không cho ta đột nhập. Cuộc chiến đấu tại đây kéo dài, cũng lúc đó được báo cáo quả bom chôn gần ngã tư Văn Miếu giật không nổ, đề phòng có thể lực lượng cơ giới của địch kéo ra chi viện nên sau đó ta cho lệnh trở về bố trí giữ trận địa đường phố để sẵn sàng chống địch sẽ tấn công ta vào những ngày sau. 21-12-1946 một ngày yên tĩnh. Nhưng đến ngày 22-12-1946, địch đã có những hoạt động mới. - Buổi sáng đều có hai xe tăng từ trong Thành ra đến án ngữ tại ngã tư Hàng Bột - Cát Linh, dùng đại bác hoặc 12,7 ly bắn dọc theo đường phố vào các điểm cao tầng nghi có ta bố trí, đến chiều lại rút về trong Thành. Kết hợp với bắn phá của xe tăng thì khẩu 82 ly của chúng tại nhà Jeanne d’Arc cũng thỉnh thoảng bắn sâu vào trận địa ta, gây cho việc tiếp tế, di chuyển, bố trí, thông tin liên lạc trên đường phố gặp không ít khó khăn. Một sáng tạo, một hành động nghi binh là huy động nồi, xoong, chậu... úp suốt dọc chiều dài từ ngã tư Cát Linh đến ngõ Văn Chương giả làm trận địa mìn ngăn chặn địch không dám thọc sâu. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 07:58:16 am Trận đánh xe tăng địch tại ngã tư chiều 23-12-1946.
Ngày 22-12-1946 xuất hiện xe tăng địch đến án ngữ và dùng hoả lực bắn phá trận địa ta là một điều bất lợi. Trong tình thế hết sức khẩn trương và cũng do nôn nóng muốn thanh toán trở ngại này đối với ta càng sớm càng tốt nên dù đang là ban ngày, một tổ ba người do đồng chí Thọ, Trung đội phó chỉ huy chọn một số quả lựu đạn Nhật bất thần vượt qua đường áp sát vào xe tăng dùng lựu đạn để phá. Nhưng mới từ các hố cá nhân sát ngã tư vọt lên chạy đến giữa ngã tư thì đã bị hoả lực trên xe của chúng phát hiện bắn mạnh, đồng chí Thọ bị thương vào chân. Một tổ chiến sĩ thuộc Trung đội 56 tại nhà cao tầng đầu phố bắn yểm hộ và cả tổ đã rút về vị trí cũ. Nhưng sau đó khẩu 37 ly trên xe tăng địch phát hiện bắn vào nhà đó làm Chính trị viên Trung đội 56 Nguyễn Thế Lĩnh và tự vệ Nguyễn Văn Chung hy sinh. Trận đánh địch có lực lượng đông, có xe cơ giới, hoả lực mạnh từ sân Hàng Đẫy định đánh chiếm, tiêu diệt lực lượng ta tại phố Bích Câu (sườn trái của Đại đội) chiêu 28-12-1946. Khoảng 14 giờ chiều ngày 28-12-1946 trên đường phố đang yên tĩnh, thì phát hiện có tiếng xe cơ giới hoạt động phía sân Hàng Đẫy (Septo), sau đó thấy vài chiếc GMC chở lính Pháp, trong số này có cả một số lính là nữ chạy từ đường Hùng Vương - Nguyễn Thái Học vào đổ quân tại trong sân vận động Hàng Đẫy. Thấy hành động này ta phán đoán địch không thọc sâu được vào trận địa của ta dọc Hàng Bột nay có thể dùng lực lượng đông đánh vào sườn trái của trận địa ta mà ở đây địa hình trống trải, địch có xe cơ giới vận động áp sát để nhanh chóng thọc sâu vào tiêu diệt lực lượng ta và có thể chiếm các nhà do ta đang bố trí để uy hiếp toàn bộ đường phố này. Do đó tranh thủ khi quần chúng mới từ xe xuống, hàng ngũ còn lộn xộn, Ban chỉ huy đã ra lệnh cho Trung đội 57 và đơn vị tự vệ là anh em Việt Nam Cứu quốc làng An Trạch đang bố trí tại nhà cao tầng phố Bích Câu đồng loạt nổ súng. Bị bất ngờ nên đội ngũ chúng hỗn loạn, kêu la, chạy toán loạn. Ta tiếp tục bắn và sử dụng một tổ tự vệ xông ra cướp một số súng, nhưng cơ số đạn của ta có hạn nên bắn thưa thớt. Địch sau giây phút bị hỗn loạn đã củng cố lại đội hình, chỉ huy mọi hoả lực tiểu, trung, đại liên bắn mạnh về phía ta làm cho cả tổ bị hoả lực địch bắn chặn phải quay lại trận địa. Ta tiếp tục bắn vào đội hình chúng, còn địch cũng chỉ dùng hoả lực bắn mãnh liệt và liên tục về trận địa ta cho bọn cứu thương chuyển số bị thương bị chết lên xe không dám xông lên thọc vào nơi ta bố trí. Hai bên bắn nhau giằng co kéo dài khoảng 40 phút, sau khi địch đã chuyến hết số lính thương vong thì cũng rút khỏi sân vận động về trong Thành. Trận này ta diệt và làm chúng bị thương khoáng trên 10 tên. Bên ta không có thương vong. Trận đánh giành giật từng căn nhà, từng ngõ hẻm trên đường phố Hàng Bột ngày 30-12-1946. Đối với địch, sau một thời gian bị động, đối phó lúng túng nay đã có những cuộc hành quân giành thế chủ động trong Liên khu I, II và ngay trên đường phố Hàng Bột và Khâm Thiên thuộc Liên khu III. Mờ sáng ngày 30-12-1946 trời còn lạnh, nhiều sương mù đã thấy tàu bay địch ném bom tại khu vực chỉ huy sở Tiểu đoàn và Ủy ban kháng chiến Liên khu III tại Ô Chợ Dùa và địch đã dùng xe tăng cùng lực lượng bộ binh tấn công vào đường phố Hàng Bột ở hai hướng. Tại đầu ngã tư Hàng Bột - Cát Linh địch có xe tăng và bộ binh đi kèm tấn công dọc hai bên phố. Xe tăng địch còn ngại bãi mìn nghi binh của ta trên dọc đường nên chỉ đứng án ngữ tại ngã tư dùng hoả lực bắn dọc phố vào các đồ vật đặt trên đường để thăm dò và tìm đường tiến mà chưa dám thọc sâu, bộ binh địch đi men theo hai bên phố thì bị ngăn lại không tiến nhanh được do phải đối phó các chiến sĩ bộ đội, tự vệ dưới các hố cá nhân trước cửa các nhà cạnh hè phố và trong từng căn nhà bắn hoặc ném lựu đạn ra. Địch dừng lại và từ xa ném lựu đạn vào từng hố cá nhân gây cho ta một số chiến sĩ bị thương vong do ta thiếu kinh nghiệm đào hố cá nhân chiến đấu nhưng lại không có giao thông hào di chuyển vào trong nhà. Trong tình thế đó phải rút hết các lực lượng bố trí ở các hố cá nhân vào tổ chức chiến đấu ở trong nhà bắn ra buộc địch không thể tiến nhanh được. Cùng thời gian thì tại hướng Bích Câu xe tăng địch cùng bộ binh tràn qua khoảng trống từ sân vận động Hàng Đẫy nhanh chóng bao vây nhà cao tầng có bộ đội ta đang bố trí, dùng hỏa lực mạnh của xe tăng như đại bác 37 ly, trọng liên 12,7 ly bắn vào và quét chặn các cửa ra vào, lối rút về phía sau của đơn vị. Sau một hồi bắn và dùng lựu đạn đánh trả địch thì trung đội trưởng Hoàng Dung và một số chiến sĩ ta bị thương, một số thì hết đạn đã dũng cảm nhảy từ tầng cao xuống tổ chức yểm trợ cho nhau và cũng đã thoát khỏi sự bao vây của địch, chuyển về phía sau nhà cô nhi viện tiếp tục chiến đấu. Trên đường phố Hàng Bột cuộc chiến đấu giữa ta và địch giằng co từ tờ mờ sáng và chặn bước tiến của chúng cho đến 15 giờ cùng ngày địch mới đẩy lùi lực lượng ta đến ngã tư Ô Chợ Dừa. Với cự ly chiều dài từ ngã tư Hàng Bột - Cát Linh đến ngã tư Ô Chợ Dừa khoảng 1000 mét, địch đã huy động một lực lượng khá đông có tăng yểm hộ mà phải mất hơn 10 tiếng đồng hồ mới đẩy lùi ta ra khỏi trận địa. Trong một ngày chiến đấu căng thẳng và quyết liệt này, một trung đội trưởng Trung đội 56 của ta hy sinh đồng chí Nguyễn Văn Phả và một số chiến sĩ bộ đội, tự vệ chết và bị thương. Âm mưu của địch là dựa vào đội quân viễn chinh muốn đánh chiếm Hà Nội trong 24 giờ. Về ta, chỉ ở một đường phố nhỏ bé này, lực lượng vũ trang non trẻ, chưa qua chiến đấu, vũ khí thô sơ, được mọi tầng lớp nhân dân tuyệt đối tin cậy ủng hộ tất cả cho kháng chiến. Quân và dân đã dũng cảm chiến đấu, linh hoạt, sáng tạo trong 11 ngày đêm chống lại quân đội thực dân nhà nghề, góp phần cùng quân dân cả nước làm thất bại âm mưu địch là đánh nhanh thắng nhanh. Đại đội 29 cùng lực lượng Tự vệ Hàng Bột đã hoàn thành nhiệm vụ cầm chân giặc, tiêu hao lực lượng giặc tại Hàng Bột. 31-12-1946 Đại đội 29 lại cùng các đơn vị trong Tiểu đoàn chặn đánh địch từng bước tại Ấp Thái Hà, thị xã Hà Đông, góp phần hoàn thành nhiệm vụ Bộ chỉ huy Khu XI giao cho Tiểu đoàn 523 ở ngoại ô Thủ đô từ 30-12-1946 đến 2-3-1947. Sau 2-3-1947 Đại đội 29 lại nhận lệnh hành quân của tiểu đoàn đến mặt trận mới. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 08:00:52 am VÀI KỶ NIỆM THỜI HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN XUNG PHONG LIÊN KHU III Lê Minh Thái - Chuyên viên Ban Tuyên giáo Đảng uỷ Tổng cục Đường sắt Lê Hồng Ngọc - Kỹ sư quản đốc Nhà máy kẹo Hải Hà Gia đình tôi trước Cách mạng tháng Tám ở ngôi nhà 96 phố Hàng Bột (nay là 106 Tôn Đức Thắng) là ngôi nhà hai tầng khang trang, gần khu Văn Miếu và nhà Đờ lê vô. Nhiều cán bộ hoạt động trước Cách mạng tháng Tám và Liên khu III Hoàng Diệu đều biết ngôi nhà này vì đó là cơ sở của Việt Minh. Xuất thân từ gia đình thuộc tầng lớp trên nhưng bố tôi mất sớm, mẹ tôi phải nuôi đàn con thơ dại nên cuộc sống gia đình cũng bị sa sút dần. Tuy vậy mẹ tôi vẫn cho các con ăn học đầy đủ, con trai học trường Bưởi, con gái học trường Đông Khánh. Mẹ tôi cũng nhìn rõ cuộc sống chật vật của dân thành thị, cảnh chết đói năm 1945 trên đường phố, nên bà cũng có cảm tình với Việt Minh. Bà không hề ngăn cản các con hoạt động. Người anh trai lớn của chúng tôi là anh Nguyễn Bá Lương - sinh viên Luật, hoạt động Đảng Dân chủ, đến kháng chiến là đội viên Tuyên truyền xung phong Liên khu III, rồi là cán bộ tình báo Bộ Tổng tham mưu, được cử vào Nam hoạt động trong Bộ Ngoại giao nguỵ quyền (là Tiến sĩ Luật), bị địch bat giam hai lần, đến hoà bình lập lại anh đã được quân đội xác nhận hoạt động nhưng vì đau ốm nên được nghỉ hưu và mất năm 1980. Người anh thứ hai là Nguyễn Diệp Câu (Lê Quân), anh là người hoạt động Việt Minh đầu tiên trong gia đình do anh Vũ Oanh giác ngộ. Sau Cách mạng tháng Tám anh là Chính uỷ Trung đoàn 48, Đại đoàn 320, anh đã có nhiều thành tích chiến đấu trên mặt trận tả ngạn, đến 1952 anh đã hy sinh, được tặng thương Huân chương quân công hạng ba. Các anh tôi đều hoạt động Việt Minh bí mật, nhiều cán bộ Việt Minh thường qua lại hội họp, ăn ở, hoạt động cất giấu in ấn các tài liệu truyền đơn, súng đạn... như các anh Vũ Oanh, Vũ Quang, Lê Đức Vân, Lê Anh Bảo, Nguyễn Quyết, Hà Minh Tuân, Thái Hy, Quang Liên và nhiều anh khác nữa. Để tạo thuận lợi cho mọi hoạt động, anh Lê Quân đã giác ngộ và dìu dắt cho các em gái tham gia như cho đọc và cất giấu các tài liệu, báo Cứu quốc, Cờ giải phóng, ủng hộ quĩ Việt Minh, khâu cờ đỏ sao vàng và tham dự các cuộc mít tinh do Việt Minh tổ chức. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng tôi tham gia Ban chấp hành Phụ nữ Cứu quốc Liên khu III do chị Minh Thanh phụ trách. Cùng hoạt động có các chị Kim, Hoà, Thiện, Kim Thoa, Chúc v.v... Chị Lê Minh Thái phụ trách phụ nữ phố Sơn Tây và làng An Trạch, chị Quỳnh Vân phụ trách phụ nữ Hàng Bột, Hồng Ngọc phụ trách phụ nữ Sinh Từ và thiếu nhi An Trạch. Chúng tôi còn tham gia sôi nổi các phong trào dạy Bình dân học vụ, cứu thương, tự vệ, Tuyên truyền xung phong và học hát các bài ca cách mạng do anh Quản Liên hướng dẫn. Đến 19-12-1946 tiếng súng kháng chiến bùng nổ, chúng tôi bắt đầu thoát ly khỏi gia đình đi theo đội Tuyên truyền xung phong. Chị Quỳnh Vân lúc đó bị ốm nên phải tạm thời cùng mẹ tôi và em út Phương Trâm đi tản cư ra Cự Đà. Ít lâu sau anh Vũ Quang và Lê Đức Vân tổ chức đón chị ra hoạt động kháng chiến ở Bắc Giang. Ba anh em chúng tôi (anh Lương, Thái, Ngọc) đã sẵn sàng ba lô trên vai tham gia đội Tuyên truyền xung phong Liên khu III. Toàn đội chỉ có 3 nữ là Thái Ngọc Hải và vài chục anh trong đó có các anh cùng ở phố Hàng Bột như anh Hựu, Phú, Giao, Khoa... đội trưởng là anh La, thời kỳ đó phụ trách Liên khu III là anh Đỗ Trình. Từ 4 giờ chiều chúng tôi được lệnh tập trung ở nhà chị Nhâm (Thịnh Hào), chuẩn bị buổi mít tinh tối, chị Thái được phân công lên diễn thuyết ở đầu Ô Chợ Dừa. Đến 8 giờ tối đột nhiên toàn thành phố tắt điện, tiếng súng vang lên ầm ầm và pháo sáng fusée bay lên vùn vụt làm sáng cả bầu trời. Cuộc kháng chiến đã bắt đầu! Chúng tôi theo lệnh tập trung kéo nhau chạy băng qua cánh đồng đến một ngôi mộ phía sau Ô Chợ Dừa, mật lệnh là "Phượng hoàng", vừa chạy khom khom vừa phải nằm rạp xuống khi tiếng đạn bay qua kêu "chiu chiu vèo vèo" xen lẫn tiếng "tắc bọp" trong đêm tối làm cho chủng tôi vừa hoảng sợ, cũng vừa thích thú. Đêm hôm đó chúng tôi nghỉ ở nhà bác sĩ Lam, trong một buồng kho không có giường chiếu, toàn đội đều ngồi ngả lưng vào tường. Chúng tôi vừa bị lạnh, vừa là đêm đầu tiên xa nhà nên không ngủ được. Sáng hôm sau mỗi người được phát một nắm cơm khô rã rời hơi có mùi thiu với một ít rau muống luộc, muối vừng đặt trên mảnh lá chuối xanh, đứng ăn ở đầu bờ tường. Lúc đó cảm giác đầu tiên của tôi ngỡ ngàng "bắt đầu gian khổ từ đây rồi" vừa mới hôm qua còn sống ở gia đình nay bỗng thay đổi sinh hoạt hoàn toàn, nên bước đầu không khỏi bàng hoàng... Tuy đói, mệt nhưng cố ăn cũng không được, tôi là cô gái nhỏ tuổi nhất trong đội, nên tủi thân oà lên khóc! Nhưng rồi qua cơn xúc động ấy tôi lại xác định được ngay, nghĩ rằng "kháng chiến tất cả mọi người đều như vậy", dấn thân vào cuộc chiến đấu tự nguyện đầy thử thách gian lao nhưng cũng rất tự hào... Mấy hôm sau chúng tôi đã thích nghi và say sưa ngay vào nhiệm vụ trong không khí hừng hực sục sôi của ngày đầu kháng chiến. Chị Thái vào đội Tuyên truyền chuyển đến các nơi đông dân và gần cơ sở địch đóng, bắt tay lên miệng làm loa đọc các tài liệu Trường kỳ kháng chiến, lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, nhật lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và lời kêu gọi binh lính Pháp (tiếng Pháp). Còn tôi tham gia đội tán phát chạy đi dán áp phích, rải truyền đơn ở các địa điểm như gần nhà Đờ lê vô, đầu phố Hàng Bột Văn Miếu. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn quần lụa sồi đen (thay vì hàng ngày đi học vẫn mặc quần trắng), áo dài the đen, dép cao su con hổ, cứ mỗi lần trước khi "xuất quân" thì áo dài thắt chéo vạt trước ra sau, tóc phi dê búp ănglê được buộc túm gọn gàng, biết rằng nguy hiểm tính mạng nhưng chúng tôi vẫn rất hồn nhiên, hoan hỉ không biết gì là sợ, bắt tay anh chị em với lời chào táo bạo adieu (vĩnh biệt), tinh thần sẵn sàng trước mọi tình huống xảy ra. Trên đường đi phải chui qua các lỗ ngách đục thông tường từ nhà này sang nhà khác, rồi vụt chạy qua đường, nhanh chóng phết áp phích lên tường. Có lần đạn từ bốt của địch phía Hàng Đẫy bắn vèo vèo dọc theo đường Hàng Bột, chúng tôi nằm rạp xuống rồi lại chạy vượt qua, làm xong nhiệm vụ trở về mới thở phào nhẹ nhõm. Còn những kỷ niệm rất ngây thơ, ở tuổi đó tôi vẫn còn rất nhớ nhà, chỉ muốn quay về nhìn lại ngôi nhà, và rồi lấy đi mấy bánh xà phòng, một cái gương con, một mảnh vải trải giường làm chăn đắp, còn bao nhiêu thứ quý giá đều bỏ lại. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 08:01:49 am Rồi từ đấy mặt trận mở rộng, đội Tuyên truyền xung phong cũng phải rút dần ra ngoại thành về làng Khương Trung. Đi đến đâu các buổi tối đều tổ chức mít tinh tuyên truyền trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, và còn đóng cả kịch cho dân xem. Có một hôm đóng kịch đến đoạn mẹ khóc con chết ("mẹ" do chị Thái đóng, "con" do Ngọc đóng)... Khi mẹ quỳ xuống ôm con khóc thì lại cười rũ rượi làm cho người xem cũng phải cười "đáng lẽ bi kịch thành hài kịch"!
Hồi đó cuộc sống thật gian khổ nhưng rất vui, hầu như đêm nào chúng tôi cũng phải hành quân suốt từ làng này qua xã khác, qua các cánh đồng bờ ruộng tối om, người nọ bám sát người kia nắm tay nhau hoặc nhìn hình mờ mờ phía trước mà đi, lúc nghỉ ngơi vẫn đàn hát không biết gì là mệt nhọc. Mẹ tôi đã nhiều lần nhắn gọi tôi ra hậu phương để đi học tiếp vì mẹ thương tôi còn nhỏ (lúc đó tôi mới 16 tuổi), nhưng tôi đã xác định thoát ly đi kháng chiến theo lý tưởng của thanh niên và phải dấn thân vào cuộc đời cán bộ như đã hứa với người yêu trước ngày kháng chiến. Sau thời gian ngắn, đội Tuyên truyền xung phong giải thể, chúng tôi được anh Lê Quang Đạo phân công đi làm nhiệm vụ mới. Anh Lương vào quân đội, chị Thái vào đội ATK của Khu uỷ (An toàn khu do anh Trần Quốc Hoàn phụ trách), còn tôi vào đội Ủy lạo binh sĩ của Khu uỷ XI, toàn các chị em nữ thanh niên do chị Đỗ phụ trách, đi đến các trạm thăm hỏi thương binh. Sau đó tôi chuyển dần lên công tác ở cơ quan Phụ nữ trên chiến khu Việt Bắc. Cở sở nhà 96 phố Hàng Bột và hoạt động của chúng tôi chỉ là một trong nhiều cơ sở cách mạng của Hà Nội, là thực tế chứng minh tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ, sẵn sàng hy sinh tất cả tài sản và tính mạng tham gia vào cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Để nhớ lại kỷ niệm ngày đầu kháng chiến, năm 1993 chúng tôi đã làm mấy bài thơ, trong đó có một đoạn như sau: Ngày đầu kháng chiến năm xưa Chúng ta cùng vác ba lô lên đường Bao ngày dãi nắng dầm sương Nước nhà chinh chiến sẵn sàng hy sinh Tham gia tán phát, xung phong Truyền đơn, áp phích, loa rong gọi thù... Một lòng gìn giữ Thủ đô Bảo vệ độc lập Bác Hồ mới trao Đấu tranh chung một chiến hào Lên đường công tác vẫy chào "adiơ" (adieu) Vĩnh biệt mà chẳng "ôuoa" (au revoir) Biết đâu xấu số: thành ma chiến trường Tiếng súng "tắc bọp" nổ ran Chẳng ai sơi đạn, mà càng hăng say Nắm cơm rau muối đánh Tây Vũ khí: võ miệng, cùi tay... sợ gì! Vẫn vui, vẫn khỏe, vẫn đi Xông pha lửa đạn, xá gì nắng mưa Nhớ nhà, thương mẹ già nua Thương người yêu chốn phương xa sống, còn? Lúc này trước phải chữ Trung Trên đầu chữ Hiếu, trong tâm chữ Tình Quý nhau tình bạn trong lành Bài ca, câu hát, tiếng đàn làm vui Hát bài: "Cô hái hoa tươi" "Dừng chân đứng lại cho tôi nhắn cùng "Hái hoa xin chớ bẻ cành "Để hoa lại nở, mùa Xuân đến rồi!" Chiến trường, nhiệm vụ xong xuôi Rút về hậu tuyến khắp nơi, nẻo đường... Ngày nay đã có hoà bình Ơn Đảng, ơn Bác, một lòng kiên trung. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:07:17 am NHỚ VỀ NHỮNG ĐỒNG ĐỘI NĂM XƯA Đại tá Tống Thị Hoà* Tống Thị Hoà - nguyên chiến sĩ Hàng Bột, 1946 Phố Hàng Bột của chúng tôi bắt đầu từ số 2 giáp đường Nguyễn Thái Học, một bên là Văn Miếu kéo dài đến Ô Chợ Dừa, chia ra Hàng Bột trên (đến nhà cô đạo Hiến, cắt ngang bằng phố Trương Vĩnh Ký, nay là Phan Văn Trị) và Hàng Bột dưới kéo dài đến Ô Chợ Dừa. Sinh sống trong phố này hầu hết là bà con quen biết nhau, do vậy các con cũng chơi với nhau theo lứa tuổi. Nhưng cũng chỉ đến lúc Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 mới thật sự gắn bó thân thiết như ruột thịt, nhất là những ngày chuẩn bị kháng chiến và chiến đấu trên đường phố Hàng Bột. Mỗi nhóm chúng tôi có liên lạc nhiều, ít với cán bộ Việt Minh hay cảm tình của Việt Minh theo mối quan hệ riêng nhưng vẫn giữ nguyên tắc bí mật. Ví dụ chúng tôi đều biết nhà 96 phố Hàng Bột là cơ sở cách mạng nhưng không ai tự mình quan hệ, hay như anh Tống Lập và tôi, chơi với anh Tô Quang và Tô Băng Khải là em anh Tô Liêu (tức Tô Duy), cháu ruột đồng chí Tô Hiệu, từ đó chịu ảnh hưởng và dấn thân theo con đường cách mạng. Cũng như các hộ ở rất đông trong chùa Bà Trẻ (lúc đó là 59 phố Hàng Bột, nay là trụ sở cán bộ hưu trí phường Quốc Tử Giám), ai cũng biết ông bà Khiêm (cô chú ruột chị Trần Thị Lê) nấu cơm tháng cho một số đảng viên cộng sản, dưới hình thức là sinh viên trọ học, nhưng ai cũng có ý thức giữ bí mật. Chỉ đến khi mật thám đến bắt và khám nơi ở thì hàng phố mới biết. Và lúc đó anh Trần By (anh ruột chị Trần Thị Lê) và bà Tống Thị Hiền đổi họ là Trần Thị Hiền thay nhau vào thăm "anh" là Trần Thuyên để thông tin tức. Hay anh Liêm con cụ Hai Hân nhà ở góc Hàng Bột - Phan Văn Trị (sau đổi bí danh là Chín ở Công vận Hà Nội) hoạt động bí mật. Năm 1950 anh bị chết trong Hà Nội. Bà Tống Thị Hiền đến đặt trên thi hài anh miếng lụa đỏ. Có thể còn nữa mà tôi không biết hết. Tháng 3-1945, người các vùng nông thôn đến phố tôi, chết đói rất nhiều. Đầu tiên chúng tôi rất sợ. Sau rồi tình thương lấn át. Chúng tôi đoàn khất thực phố Hàng Bột - lúc đó mới chỉ là Thiện, Thọ, Đức, Nhiên v.v... và thanh niên có Lập, Ban, Phúc Nghiêm, Đạt... đi xin cơm và gạo nấu cháo đổ cho từng người. Các bố mẹ chúng tôi bảo đổ ít một, kẻo đói lâu, ăn no chết luôn. Còn anh Lập cùng các anh Thọ, Ban, Phúc Nghiêm, Đạt đen đi nhặt xác gom lại chờ xe bò đến chở mang đi đâu không biết. Tuy được cứu đói như vậy nhưng cũng không mấy người qua khỏi được cái chết. Việc làm tuy mang tính tự giác nhưng chính là nhờ được đọc báo bí mật (Cứu quốc) càng thêm căm thù giặc Pháp và Nhật. Ý thức và tình cảm cách mạng đã hun đúc trong chúng tôi từ những ngày còn bị Pháp - Nhật đô hộ, nên khi có lệnh Tổng khởi nghĩa thì lập tức tất cả đều thành những dòng người trong các cuộc tuần hành, cờ đỏ sao vàng ở đâu mà nhiều thế. Tôi, ít tuổi hơn, nhưng lại dám mạnh dạn đến vận động các chị Trần Thị Lê, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Nguyệt (hai chị em bán chuối ở chợ Đồng Xuân), chị Trần Thị Chắt (bán chuối) đều ở trong chùa Bà Trẻ. Hồ Thị Thọ, Đức, Hội (đan len) vào Đoàn Phụ nữ Cứu quốc. Các chị nhiệt tình tham gia ngay vì các chị đều biết gia đình tôi mà tôi lại đang là học sinh - được coi là có văn hoá. Chúng tôi cũng sinh hoạt các buổi tối. Tài liệu thì lên Phụ nữ Cứu quốc Hoàng Diệu và các anh thanh niên (sau là Tự vệ Hoàng Diệu phố Hàng Bột) cung cấp. Ít ngày sau chị Minh Thanh đến sinh hoạt công nhận đoàn Phụ nữ Cứu quốc Hàng Bột trong Liên khu III. Tiếp đến các chị Hải (Nha công an sau này, vợ đồng chí Bùi Lâm) rồi chị Thoa (vợ đồng chí Đỗ Trình bây giờ) đến khai hội và dạy hát, đặc biệt chị Thoa có giọng hát ấm, rất hay, có sức cuốn hút nên đoàn Phụ nữ Cứu quốc ngày một đông. Tôi lại vào làng An Trạch gặp chị Sầu (sau là Liên phó phòng Thương nghiệp quận Hoàn Kiếm) và chị Hảo ở chùa Trại (Cát Linh) bàn lập đoàn Phụ nữ Cứu quốc An Trạch. Quỳnh Vân ở 96 phố Hàng Bột đến gặp tôi, nắm lại tình hình phụ nữ. Tù đó Quỳnh Vân lo cho phong trào Phụ nữ Cứu quốc An Trạch qua chị Liên và chị Hảo. Còn Hàng Bột dưới tôi giới thiệu Quỳnh Vân đến gặp chị Trọng (nay là Thuỷ, vợ cố đại tá QĐNDVN Lê Tư) không rõ Quỳnh Vân có liên lạc được không. Đến tháng 10-1946 thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (mà nòng cốt là PNCQ). Tôi và Thọ lại đến chị Thái con ông thầu khoán Trần Đình Thọ, chị Hanh ở gần nhà anh Nguyễn Xuân Hồng, hai chị Vinh, Quỳnh (Thiên chúa giáo) mời các chị đứng ra thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phố Hàng Bột. Các chị đều vui vẻ nhận lời vì đều biết gia đình tôi (sau này vào nội thành, năm 1951 tôi còn đến nhà hai chị Vinh và Quỳnh ở phố Bát Sứ vẫn được các chị tiếp đón). Sau khi thành lập Phụ nữ Cứu quốc, chúng tôi vận động các gia đình cho các em lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng tham gia vào đội Thiếu niên tiền phong và Nhi đồng tháng 8 và đều bàn giao cho anh Hạnh và Hợp ở Hàng Cháo phụ trách. Trung thu 1945, Phụ nữ Cứu quốc Hàng Bột và An Trạch tổ chức bày cỗ Trung thu cho các em, riêng một gian tại bờ hồ Hoàn Kiếm còn tham gia trò chơi chống xâm lăng do các anh thanh niên tổ chức trên các thuyền trên hồ. Đến kết thúc ta thắng Tây thua thì ra về. Mệt nhưng ai cũng vui, phấn chấn. Học cứu thương. Sau nạn đói ít lâu xảy ra tình hình có bệnh sốt rét định kỳ và chấy rận. Tôi lên nhà Bảo Anh Đường (nay là Hội người mù 135 Nguyễn Thái Học) đề nghị cho được đi tham gia chữa bệnh từ thiện. Tôi được một anh lớn tuổi - Nguyễn Khắc Kỳ - tiếp, rất hoan nghênh và hứa dạy chúng tôi tiêm chủng. Trước tiên thực tập trong Bảo Anh Đường, sau anh Kỳ tổ chức cho chúng tôi gồm: Thiện, Thọ, Đức, Nhiên... thành đoàn do anh lãnh đạo mang theo thuốc và dụng cụ y tế về các xã thuộc huyện Thanh Trì tiêm và phát thuốc. Cũng từ đây chúng tôi có mối liên hệ tốt với anh, được anh dạy thêm cách làm cáng, tải thương, băng bó sơ cứu trong điều kiện không có thuốc men, và trên địa hình không thuận lợi khiêng cáng vì anh Kỳ là sĩ quan quân y, phải đi theo Bộ Quốc phòng nên trước ngày Toàn quốc kháng chiến, anh giới thiệu cho tôi gặp anh Nguyễn Khắc Toàn và mời anh Toàn về phụ trách trạm cứu thương của Hàng Bột mà tháng 12-1946 đóng tại ngõ Văn Hương trại ông Đỗ Lợi (thân phụ cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Huân ở 30 Nguyễn Thái Học). Chúng tôi còn tổ chức làm bánh, thêu hộp lưu niệm v.v... để bán trong những buổi Tự vệ diễn kịch bán vé lấy tiền mua vũ khí, thuốc men. Quỳnh Vân đã tổ chức việc này rất tốt: tất cả đều làm tại nhà 96 với sự giúp đỡ của tất cả các chị Châu Thi, Thái Tiên, Hồng Ngọc và em Phương Trâm. Kết quả tiền bán các thứ thu được khá lớn, chủ yếu do các gia đình nhiệt tình ủng hộ nhiều hơn giá bán. Học quân sự. Tình hình ngày càng khẩn trương, chị em cần phải được học tập quân sự, sử dụng vũ khí cần thiết khi chiến đấu. Tôi liền mời chị Nguyễn Thị Châu, bạn học (nay là Tường Việt, trung tá Trường Đại học An ninh Bộ Công an, đã nghỉ hưu) lúc đó là nữ Tự vệ chiến đấu ở 107 Trần Hưng Đạo, về phố Hàng Bột huấn luyện quân sự. Phụ nữ Cứu quốc Hàng Bột, An Trạch tham gia đầy đủ, hăng hái, tích cực. Việc này phát huy tác dụng tốt cho công tác cứu thương trong chiến đấu. Chuẩn bị vào kháng chiến, chúng tôi cũng phân công theo Tự vệ, là Phụ nữ Cứu quốc An Trạch chịu trách nhiệm từ Đặng Trần Côn, Bích Câu vào An Trạch, ngoài Hàng Bột là chúng tôi. Như vậy cơ động thuận tiện và tránh được đạn địch. Chiến sự nổ ra, đã sẵn sàng ai vào việc nấy. Tại Trạm cứu thương còn có thêm chị Nhâm - người phụ nữ năm xưa xung phong diễn thuyết ở Sinh Từ (nay là trường Lý Thường Kiệt) và chị Hiếu chị ruột liệt sĩ Nguyễn Chí Chung ở 11 Đoàn Thị Điểm. Rất tiếc chúng tôi không được tạm biệt với Quỳnh Vân, người bạn gái hiền dịu, da ngăm ngăm đen so với các chị và em, giọng nói trầm ấm, nhỏ nhẹ. Cho đến bây giờ mỗi lần nhắc lại những kỷ niệm xưa, trong chúng tôi ai cũng nhổ lại Quỳnh Vân với tình cảm tốt đẹp. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:09:56 am Khoảng sau tháng 3-1946, có một số các anh trinh sát Bắc Bộ về hoạt động ở phố, ăn tại nhà bà Tống Thị Hiền ở Bích Câu, còn ở rải rác đâu không biết. Các anh phối hợp với Tự vệ Hàng Bột và Việt Nam Cứu quốc trong An Trạch. Tôi nhớ được có anh Đạt đen (cùng phố), Bảo đen, Bảo trố, Thái Dũng (ốm bệnh chết ở TP Hồ Chí Minh sau 1975), Diện Quang, Trường ô Văn Chương (nay cùng sinh hoạt Liên khu III), anh Chi Việt Nam Cứu quốc An Trạch (ôm bệnh chết 1955). Tôi nhớ vài việc: cùng Tự vệ Hàng Bột giải quyết bọn phản động ở toà báo Vì Nước; răn đe bắt buộc tản cư sơ tán gia đình nhà Louis, thường dân Pháp lai, số cuồng tín tay chân cha cố Hiến ở nhà thờ Hàng Bột.
Bây giờ nghĩ lại tôi thấy có lẽ những việc đó cũng góp phần đảm bảo tuyệt đối an toàn con đường huyết mạch Trung ương, Chính phủ rút ra An toàn khu, và các trận đánh của ta khi nổ súng đêm 19-12-1946. Trong các ngày 17 và 18-12-1946, chúng tôi vẫn tập trung cùng phụ nữ An Trạch tại nhà cụ chánh tôi, và tối lại về 71-73 Hàng Bột, gần trụ sở Tự vệ. Anh Kỳ đến thăm và tạm biệt. Đó cũng là lần cuối gặp nhau trước khi vào trận đánh. Riêng anh Toàn không ngày đêm nào là không ở trạm, dù chỉ là để kiểm tra sắp xếp chuẩn bị dụng cụ thuốc men. Tôi nhớ anh Toàn thích nhất là mua được nhiều poudre Calomel, loại thuốc đặc trị các loại vết thương lở loét kể cả sâu quảng. 19-12-1946 khoảng 19 giờ 30, chúng tôi chia nhau từng tốp theo từng trung đội Tự vệ Thiện, Lê, Chắt ở ngay điểm chốt của Tự vệ tại nhà "Săm" Thái Lai cách Đơlêvô 5 nhà. Trung đội này anh Tống Văn Lập phụ trách. Chị Thọ, Thu, Nguyệt ở nhà ông Đỗ Đức Long bên số lẻ đối diện với chúng tôi, trung đội này do ông Đỗ Đức Long phụ trách. Còn tốp chị Liên Nhật (lấy chống người Nhật), Hội và nhiều chị nữa thì lên gần khu gia binh đầu phố, số chẵn. Khi tiếng súng đại bác ở pháo đài Láng bắn vào Thành, chúng tôi đã thấy bao nhiêu là bộ đội Vệ quốc đoàn, Tự vệ và Việt Nam Cứu quốc rầm rập chạy tới các điểm nói trên. Tâm trạng háo hức như muốn làm việc gì thì một lát sau đã nghe tin có một Vệ quốc đoàn hy sinh. Chúng tôi vội chạy vào thì ai đó đập mạnh vào người tôi bảo thấp xuống bò vào. Được một quãng thì tự vệ khiêng đồng chí ấy ra, chúng tôi chuyển tiếp cho Tự vệ khiêng đồng chí ấy ra. Đến khoảng gần nửa đêm Tự vệ và chúng tôi chuyển tiếp anh Phạm Gia Nho đã hy sinh, đưa về phố Trương Vĩnh Ký. Không rõ đến lúc nào thì làm lễ truy điệu, chôn cất. Tôi còn nhớ anh Thọ híp bắn một phát súng và hát bài gì như "Hồn tử sĩ". Chúng tôi ai cũng khóc nhưng không ai thấy sợ. Nói đến anh Phạm Gia Nho, ai cũng tiếc anh, người thẳng thắng, trực tính. Anh quê ở Nam Định lên Hà Nội bán guốc ở chợ Phan Văn Trị. Anh lấy chị Gái con nuôi ông Tư Hen, nhà ở trong chợ. Anh vào Tự vệ xin vào đội cảm tử. Anh nói đã dặn chị nếu đẻ con trai đặt lên là Tức, con gái đặt tên là Bực, dặn chị đi lấy chồng. Năm 2000 tôi đi tìm lại những người thân của vợ anh thì được biết chị hiện ở thành phố Hồ Chí Minh và có một con gái chị đặt tên là Bực. Cuộc sống sung túc. Ít ngày sau vào khoảng 23-12-1946, chúng tôi lại lên cáng anh Nguyễn Chí Chung hy sinh. Tôi lấy các giấy tờ trong túi anh Chung đưa cho chị Hiếu và chị hiểu ngay việc gì đã xảy ra. Chị được anh em nói dối là đưa anh Chung vào Bình Đà để chữa. Lúc đó chúng tôi mói thấy thật buồn trong cảnh tử biệt sinh ly giữa những người ruột thịt. Có một chuyện vui không bao giờ quên được. Đó là hôm 20-12 anh Phạm Văn Nhã bị thương vào mông ở số chẵn Hàng Bột trên Cát Linh, không biết do bọn địch trong Văn Miếu hay ở nhà Jeanne d'Arc bắn ra. Chị Lê khoẻ hơn tôi mới cõng nổi anh Nhã mà chỉ lom khom còn tôi phải đi phía trên để che cho anh Nhã. Anh bảo "Thiện ơi! ghi vào sổ cho anh là Phạm Văn Nhã, trung đội trưởng bị thương nhé". Tôi và chị Lê bật cười, tôi bảo anh "chết đến đít rồi" mà vẫn nhớ là Trung đội trưởng. Chắc thực dân Pháp, nếu biết không thế hiểu nổi "Tu-ve" "Việt Minh ca rê" đánh Tây bị thương mà vẫn bình thản vui đùa như vậy. Chúng tôi còn phải băng bó, cáng thương, chôn cất một số anh Vệ quốc đoàn nhưng không nhớ tên được hết, chỉ biết anh Phả, anh Lĩnh, có anh chết hôm 30-12 chôn rất vội. Trong chúng tôi có chị Liên Nhật (lấy chồng Nhật người Việt Nam mới) bị thương do đạn tắc bọp bắn phải, nay vào phần mềm nên nhẹ (trong khi đó bố tôi ở nơi tản cư lại nghe là Thiện nên vội vàng ra thăm tôi). Nói cứu thương là nhiệm vụ chính lúc đánh nhau, còn chúng tôi phải làm tất cả các việc: từ việc dán áp phích, kẻ khẩu hiệu cùng tự vệ lúc chuẩn bị kháng chiến như là "Thanh niên Thủ đô thề sống chết với Thủ đô"; cùng Tự vệ gọi loa kêu gọi phản chiến hát bài "Li-li bai bai"; mang cơm nắm, nước từ trạm tiếp tế của bà Tống Thị Hiền lên các nơi đóng quân, đưa vào hố cá nhân cho chiến sĩ chuyển lương thực thực phẩm từ các nhà cũng như lúc chuyển từ nhà Deléveaux về trạm tiếp tế. Ngày rút khỏi Hàng Bột Tờ mờ sáng 30-12-1946 đã nghe thấy tiếng súng địch từ trên đầu phố. Nghe các anh Tự vệ nói là địch tấn công. Khác với mọi lần các anh bảo cứu thương không lên vội. Súng nổ, bắn phá rất nhiều. Anh Toàn cho lệnh tải thương binh còn lại trạm về ngay tuyến sau, đồng thời chuyển vận cả dụng cụ thuốc men. Mấy anh chị lớn, khoẻ mạnh phải làm việc này. Lại có tin nói địch đã tràn xuống Hàng Bột, có xe thiết giáp yểm trợ, bộ binh đi sát hè nhà. Vệ quốc đoàn và Tự vệ vừa bắn vừa ném lựu đạn chai cháy chặn địch. Riêng anh Chu Thế Hùng giúp cứu thương vận chuyển và rút đến người cuối cùng. Tôi, Thọ, Nguyệt ra phố Trương Vĩnh Ký, cũng là nhà ở của chúng tôi thì thấy anh Hoàng Dung, Trung đội trưởng đang ôm tay và rất nhiều bộ đội chạy từ phía Đoàn Thị Điểm xuống. Cùng lúc đó có một anh bộ đội bảo lệnh của Đại đội trưởng là đốt các nhà cao tầng ở các ngã tư rồi rút ra Đê La Thành. Thọ, Nguyệt dìu thương binh về trạm. Anh tôi Tống Văn Lập cũng từ phía số chẵn chạy sang. Theo sau là anh xe lùn ở với nhà tôi. Vì khi gia đình tôi tản cư, anh bảo với anh Lập cho anh vào Tự vệ cùng trung đội của anh Lập. Ba chúng tôi vào nhà soát lại các tủ tìm giấy tờ nhưng không có gì. Sau này gặp lại gia đình mới biết tủ có hai vách, nhét đầy tiền. Anh tôi bảo đốt từ cái xe nhà (vẫn đưa tôi đi học), ba chúng tôi đều lưu luyến căn nhà, anh xe tiếc cái xe, nhưng rồi việc đốt vẫn phải đốt. Vào trạm cứu thương gặp anh Bạch Thái Hải, vẫn thấy anh Chu Thế Hùng (lúc đó chỉ biết là Hùng thôi) đang giục mấy anh chị chuyển hết. Anh quát mắng chúng tôi sao bây giờ còn ở đây. Trạm tiếp tế đi lúc nào không biết. Đến chiều chúng tôi gặp nhau ở ấp Thái Hà. Tôi ghi lại những dòng này không đầy đủ hết các anh các chị. Nay người mất, người còn, người ở xa, lại có những người không được nhắc đến. Xin lượng thứ cho. Hy vọng sẽ còn nhiều dịp hội ngộ, cùng nhau ôn lại chuyện xưa với những kỷ niệm không thể phai mờ. Ngày 20 tháng 9 năm 2001 Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:13:00 am ĐÁNH ĐỊCH Ở HÀNG BỘT DƯỚI Bùi Văn Nghĩa * Bùi Văn Nghĩa, nguyên chiến sĩ tự vệ Hoàng Diệu phố Hàng Bột dưới Cuối tháng 12-1946, 5 chiến sĩ tự vệ được trung đội giao nhiệm vụ trực chiến, gồm: 1. Đồng chí Bùi Văn Nghĩa. 2. Đồng chí Nguyễn Út. 3. Đồng chí Nguyễn Văn Thêm. 4. Đồng chí Nguyễn Văn Nhân. 5. Đồng chí Hoàng Văn Tỵ. Đồng chí Nghĩa và Út được giao mỗi người một quả lựu đạn Nhật, các đồng chí khác có dao và kiếm. Chúng tôi đóng chốt phía trên trụ sở tự vệ là đình Thịnh Hào cách khoảng 4 nhà. Nhà ngoài có một người đàn ông trạc ngoài 40 tuổi có một con chó bécgiê to để trông nhà, mặt phố nhìn vào, bên phải có cổng đi vào nhà trong, tầng dưới dành cho anh em tự vệ, khi cần phải trực gác, có để một số gươm, dáo, gậy gộc làm vũ khí. Bên trái căn phòng có cầu thang lên gác, bình thường anh em không qua lại đó. Giữa sân là một bể cá cảnh, có hòn non bộ. Đó là sơ đồ khái quát thời bấy giờ. Đứng ngoài mặt phố, lúc đó có thể quan sát rõ hai bên dường lên đến nhà thờ Hàng Bột, nhìn xuôi phía dưới cũng rất thoáng. Khoảng 9 giờ sáng đã nghe thấy tiếng súng đạn nổ rền vang phía Hàng Bột trên, chúng tôi hội ý: nếu phải chiến đấu thì 3 đồng chí chỉ có gươm giáo và tay không, nên phân tán hai đồng chí sang bên kia đường, qua ngõ Huy Văn để giảm bớt thương vong, đồng thời còn có người về báo tin được cho trung đội. Gần 10 giờ sáng thì phát hiện thấy địch từ phía nhà thờ men theo hai bên đường, đổ 2 cánh quân xuống, tôi đã cho 2 đồng chí Nhân và Tỵ sang đường. Hai đồng chí vừa chạy ra đến giữa đường thì bị liên thanh địch nỏ, đồng chí Tỵ chạy được lên hè thì ngã gục, còn đồng chí Nhân gục ngay phía bên kia đường. Chúng còn phát hiện được nhóm chúng tôi nên quay liên thanh nổ rào rào tới, tôi ũung bị thương hai chỗ vào chân và sát ở ngực. Còn 3 anh em dìu nhau qua cổng vào nhà trong, chủ nhà đã chứng kiến rất rõ tình thế nguy kịch của chúng tôi khi tuyên thệ quyết chiến: "Đã hết đường chạy và cũng không còn chạy kịp, nếu phải đối mặt với giặc mà không chống cự nổi thì sẽ nổ lựu đạn tự sát chứ nhất định không chịu để bị địch bắt". Chủ nhà thật là người trọng nghĩa, biết sự sống và cái chết của anh em chí còn là gang tấc, đã tự nguyện chạy lên mơ cửa nhà gác cho anh em lên bố trí chiến đấu. Chủ nhà đã trở về gian ngoài, anh em tổ 3 người đã nhanh chóng ổn định vị trí chiến đấu, trao đổi với nhau phải nổ hai quả lựu đạn sao cho đạt hiệu quả tốt nhất, trường hợp nếu lựu đạn xịt hoặc địch quyết chiến xông lên thì dùng gươm giáo chiến đấu đến cùng: "Thà chết vinh còn hơn sống nhục". Mọi việc chỉ có thể bàn ngắn gọn, thì đúng lúc nghe thấy tiếng rầm rầm ngoài cửa trước, bọn chúng đã đến, dùng báng súng đập phá cửa, nghe tiếng chó sủa, chúng càng đập khoẻ hơn, chỉ trong chốc lát cửa bị phá vỡ tung, chó béc giê lồng lộn sủa cắn, chúng nổ súng bắn chết ngay. Rồi chúng túm lấy chủ nhà đánh đập tàn nhẫn, tiếng kêu la, van xin lẫn tiếng quát hỏi Việt Minh... "tu ve" đâu? Không có tiếng tra lời, chúng đập phá vơ vét nhặt nhạnh rồi đẩy chủ nhà ra khỏi cửa, đưa về điểm tập trung. Còn lại 4 tên. Có tiếng hô "entrez" (đi vào). Qua sân đến căn phòng tầng dưới 2 thằng vào lục soát, quăng vứt bừa bãi, không lấy được gì, chúng đi ra, vừa đi vừa nói: "Tu ve" vừa giơ gươm giáo cho bọn đứng ngoài trông thấy. Tiếng hô tiếp "à l étage" (lên gác). Phía trên chúng tôi quan sát chúng rất rõ, 4 thằng lăm lăm tay súng, 2 thằng vẫn đứng sau, 2 thằng từ trong phòng đi ra, chuẩn bị bước lên gác. Tên thứ nhất đã bước đến bậc thứ 3, thằng đi sau cũng vào đến bậc thì anh Út rút chốt, ném quả lựu đạn thứ nhất xuống. Trời ơi! Lúc này mỗi tích tắc là cả thời gian rất dài, mà vẫn còn chưa nổ, thì quả thứ hai của tôi phải rút chốt và chờ cho cháy xì xì... mới thả xuống, thì nổ ngay và liên tiếp quả số 1 cũng nổ. Thằng từ bậc trên đổ xuống, thằng đứng dưới cũng quị luôn, còn 2 thằng kia kêu "Oh Grenade" (lựu đạn) rồi chúi xuống thành bể tránh đạn. Trời đất! Ai đã một lần được chiêm ngưỡng cảnh trình diễn tuyệt tác này, hẳn thật vô cùng mỹ mãn. "Những người hùng của thế kỷ XX" to như con bò mộng được trang bị vũ khí đến tận răng, đã từng gây hấn, bắn phá, đốt nhà, cướp của, giết chóc đồng bào ta ở khắp nơi và hôm nay ngay tại đây, 2 thằng đang dãy dụa kêu la, máu me bê bết, còn 2 thằng núp sau bể cá đã hoàn hồn vội đứng dậy vào nâng thằng bị thương dìu lên đi khập khễnh và kéo lên thang dãy dụa sền sệt theo cổng ra đường rút khỏi điểm chết, bỏ lại một khẩu súng trường và một quả lựu đạn cạnh bể. Trông những người khổng lồ Tây lê dương mũi đỏ, thất trận dìu nhau, kéo nhau đi mà chúng tôi tiếc quá. Nếu còn có thêm 1 - 2 quả lựu đạn nữa thì chắc diệt gọn. Nhưng lại nghĩ ta đã hết, chẳng còn gì nữa, phải nhanh chân đi nhặt ngay khẩu súng và quả lựu đạn. Lợi dụng lúc thằng bị kéo lê chắn được mặt trong, anh Út đã theo chân chúng xuống lượm gọn chiến lợi phẩm, khi chúng còn chưa ra khỏi cổng mà không hề hay biết gì hết. Sung sướng quá! Khi tay cầm nâng niu khẩu súng còn mới tinh, nạp đầy đạn, cả đạn lửa lẫn đạn nổ, còn quả lựu đạn thì đẹp và hiện đại hơn quả lựu đạn Nhật mà chúng tôi đã ném. Thế là từ tay không lại được trang bị vũ khí tối tân, vui mừng quá. Ba anh em ôm lấy nhau dàn dụa nước mắt. Khi định thần lại, nghe rõ tiếng xì xồ của lê dương Pháp ở cả mặt phố lẫn phía sau nhà, thế là chúng tôi đã nằm giữa khu vực tấn công càn quét của chúng, nên phải nhanh chóng di chuyển sang địa điểm khác, đề phòng bị phản kích. Chúng tôi đứng cửa, xuống cầu thang, còn nhìn rõ 2 điểm nổ lựu đạn và máu chảy ướt cả sàn nhà. Chúng tôi luồn theo giao thông hào sang cách 3 nhà, từ trên gác nhà này quan sát rất rõ mặt phố, cố tìm xác hai đồng chí bị hy sinh, nhưng không còn trông thấy nữa, không biết là đã nhoài bò đi hay bị địch hót đi về điểm tập trung rồi. Đứng phía sau nhà, nhìn sang đình Thịnh Hào là trụ sở tự vệ phố thì không còn ai cả liền theo đường trong rút sang làng Thịnh Hào xuống cuối phố, đến tổ tiếp tế cứu thương (hiện là cơ quan giao thông) thì gặp Ban chỉ huy trung đội và một số anh em của các tiểu đội khác. Mọi người đều cho rằng chúng tôi bị hy sinh cả không ngờ lại giành được thắng lợi oanh liệt trở về, đều vô cùng mừng rỡ, mọi người chiêm ngưỡng ngắm nghía chiến lợi phẩm, ca ngợi chiến công và cảm phục tinh thần chiến đấu quyết tử của tổ 3 người chúng tôi. Thay mặt Ban chỉ huy trung đội, đồng chí Nguyễn Văn Côn là Trung đội phó đã tiếp nhận chiến lợi phẩm là khẩu Remington và quả lựu đạn chày Mỹ, đồng chí đã khen ngợi anh em và hứa sẽ báo cáo lên trên để tuyên dương thành tích đặc biệt xuất sắc này. Sau đó trung đội bố trí một số anh em đi tìm hai đồng chí Nhân và Tỵ và quan sát tình hình trận địa, được biết không tìm thấy cả 2 đồng chí lẫn chủ nhà chốt đâu cả. Còn quân địch cũng chỉ xuống được đến giữa phố - quãng vào làng Thịnh Hào thì thôi, vì biết có Việt Minh - Tuve - và chúng vị sát thương nên phải thu quân, rút lui, bỏ cuộc trận tấn công đánh phá ngày hôm đó. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:14:17 am MỘT SỐ KỶ NIỆM VỀ NHỮNG ĐỒNG ĐỘI đã tham gia kháng chiến ở mặt trận Hàng Bột Nguyễn Hữu Thành * Nguyền Hữu Thành, nguyên Liên đại đội trướng tự vệ khu phố Hàng Bột và Kim Mã 1. ANH PHẠM GIAO Hồi đó, anh Giao là sinh viên luật, người nhỏ nhắn, vóc dáng thư sinh, trắng trẻo. Anh biết chơi đàn vi-ô-lông. Tiếng Pháp giỏi, tiếng Anh cũng khá. Tính tình hoà nhã, vui vẻ, nhanh nhẹn. Sau Cách mạng tháng Tám, trên có chủ trương thành lập Đoàn Thanh niên khu phố Hàng Bột (sau này chuyển thành Đội tự vệ thành Hoàng Diệu), anh Giao được anh em tín nhiệm bầu đoàn trưởng. Bước đầu, đoàn hoạt động có hiệu quả, được nhân dân khu phố yêu mến. Nhưng được một thời gian ngắn thì anh Giao phái đi học tiếp môn luật nên chuyển cho anh Chấn là anh tôi. Anh Chấn cũng chỉ làm được ít lâu thì cũng đi học nốt môn xây dựng. Anh em lại bầu tiếp tôi là đoàn trưởng. Sau này, mặc dù anh Giao không giữ chức đoàn trưởng nữa, nhưng khi thành lập Đại đội tự vệ Thành, chúng tôi đã mời anh Giao làm cố vấn. Cứ khi nào rảnh rỗi là anh Giao lại ra sát cánh cùng anh em để tham gia giải quyết các việc cần thiết, nhất là trong thời gian quân Tàu Tưởng đóng quân trong khu phố, anh Giao suốt ngày có mặt ở chợ cùng với một sĩ quan của quân Tàu để can thiệp kịp thời những rắc rối xảy ra. Anh Giao cũng góp với chúng tôi nhiều ý kiến hay. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, anh Giao được đi học một lớp để chuẩn bị đi công tác xa, lớp này do chính ông Trường Chinh giảng bài; nhưng tiếc thay cũng chính tại lớp này, giặc Pháp đã cho máy bay đến ném bom và anh Giao bị hy sinh khi nằm đè lên người một đồng đội và đến nay đã được công nhận liệt sĩ. 2. ANH TỐNG VĂN LẬP Anh Lập là một học sinh, hơi cao, nhưng không mập, da bánh mật, lúc nào cũng tươi cười, đặc biệt không bao giờ to tiếng với ai. Lúc nào nói chuyện cũng thủ thỉ như tâm tình. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, được thừa hưởng một nền giáo dục có nền nếp, nên anh Lập có tinh thần yêu nước khá cao. Là Đại đội phó tự vệ, anh rất gương mẫu trong công tác, mọi việc dù nguy hiểm anh đều xung phong và đều làm tròn trách nhiệm. Ngoài ra, anh còn liên lạc được với các đoàn thể trong khu phố như Việt Nam Cứu quốc, Đội trinh sát Liên khu, và chính anh là người đã có sáng kiến thành lập và lãnh đạo Đội thiếu nhi trinh sát. Đội này gồm các em đủ mọi thành phần, có tai mắt khắp nơi nên đã giúp chúng tôi bắt được bọn phản động rải truyền đơn hoặc bọn lưu manh ăn cắp. Bản thân rất khiêm tốn và chịu nhường nhịn nên chưa làm mất lòng người nào. Sau này, anh chuyển sang bộ đội chính quy và cuối cùng chuyển ngành làm giám đốc Nhà máy Bia Hà Nội. Tuy anh mất đã lâu nhưng hàng năm, những ngày giỗ tết, ban Giám đốc nhà máy vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi gia đình. 3. ANH PHẠM GIA NHO Anh Phạm Gia Nho, tiểu đội trưởng tự vệ là một người buôn bán nhỏ ở chợ Hàng Bột. Vóc người thấp, hơi đậm, chắc nịch, tóc cắt ngắn. Tính thẳng thắn, nóng, có gì không vừa ý nói thẳng thừng không kể người đối diện là ai. Anh Nho lãnh đạo tiểu đội vào bậc nhất trong đại đội tự vệ, vì vậy nên tiểu đội ấy có tính kỷ luật rất cao. Nhưng anh Nho có nhược điểm là uống rượu, khi uống rượu nhiều dễ bị kích động. Có một lần đến gần ngày toàn quốc kháng chiến, tôi có sai sót bị anh ta phê bình, tôi trót nặng lời liên bị anh rút kiếm định chém, sau anh em can được. Ngày hôm sau, tỉnh rượu, anh đến xin lỗi tôi và nói xin cai rượu. Anh em có xác nhận anh ấy không uống một tí nào nữa. Đến ngày 17-12-1946, anh ấy cho vợ con về quê và viết giấy đưa cho vợ để đi lấy chồng khác. Tối 19-12-1946, anh Nho là người đầu tiên xung phong phá cửa nhà Đờ lê vô và trúng đạn, hy sinh tại chỗ. 4. ANH NGÔ MAI Anh Ngô Mai cũng là người buôn bán vặt ở chợ Hàng Bột. Người trầm tính, ít nói, hơi có tính chất anh chị ở ngoài chợ. Gặp lúc nguy hiểm cũng đều có mặt trước tiên. Là tiểu đội phó, anh đều tích cực tham gia mọi việc lớn nhỏ. Gần đến ngày toàn quốc kháng chiến, đại đội tự vệ Hàng Bột được cấp trên gửi về một quả bom ba càng. Chúng tôi họp toàn đại đội, phân tích tính năng của quả bom, phân tích sự nguy hiếm khi dùng quả bom đâm vào xe địch. Nói trắng ra, người cầm quả bom mười phần chết chín, hoặc nói cách khác, là một quyết tử quân. Thế mà khi nói xong, sang đến phân "ai xung phong!". Lập tức anh Ngô Mai đứng phắt dậy, giơ tay lên nói giõng dạc: "Tôi". Ngay tiếp sau đó, một tự vệ khác cũng đứng lên chỉ sau anh Mai chưa đến một cái chớp mắt. Cả cuộc họp lặng đi, im phăng phắc một giây rồi tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô kéo dài tưởng không bao giờ ngớt. Vì có hai người giơ tay nhưng chỉ có một quả bom, nên anh Ngô Mai là người giơ tay trước nên được nhận quả bom còn anh kia thì được nhận hai quả lựu đạn (cũng do trên cung cấp) và cho theo sát anh Mai để yểm hộ. Sau này, anh Mai trong một lần xông ra định đánh xe tăng địch nhưng bị địch bắn bị thương vào đùi, may được anh em bắn yểm hộ cứu được. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:23:35 am CÁC CHỊ "CÔ ĐẦU" PHỐ KHÂM THIÊN từ học sinh lớp Bình dân học vụ đến cô Tự vệ thành Nguyễn Khắc Kỳ Nguyên Giám đốc Nhà in Diên Hồng Tôi muốn nói đến một số người cùng khổ đã đã trực tiếp tham gia kháng chiến chống Pháp năm 1946 ở Liên khu III Hà Nội (nay thuộc phạm vi quận Đống Đa). Họ còn sống hay đã hy sinh, không ai nhắc đến. - Đó là các em nhỏ mồ côi được nuôi dưỡng ở trại Bảo Anh (nay là trụ sở Hội người mù, 135 Nguyễn Thái Học). Trước ngày Toàn quốc kháng chiến, một số em đã được gửi đến các đoàn thể, cơ quan và nhất là các đơn vị quân đội để làm liên lạc viên. - Đó là những người nghèo sống ở khu vực sau ga Hà Nội, làm đủ các thứ nghề như bốc vác, đi ở làm thằng nhỏ, con sen, kéo xe. Họ cũng đã ở lại tham gia kháng chiến ở Liên khu III Hà Nội. - Đó là các cô đầu ở phố Khâm Thiên. Họ cũng ở lại chiến đấu cùng với các đơn vị quân đội và tự vệ thuộc Liên khu III. Họ đều là những bạn thân của tôi. Bởi từ những năm 1944, 1945, 1946 tôi đã nuôi dạy các em mồ côi ở trại Bảo Anh. Tôi đã dạy Truyền bá quốc ngữ (sau Cách mạng tháng Tám đổi thành Bình dân học vụ) trước còn tổ chức và dạy ở các xã ngoại thành. Sau Cách mạng tháng Tám được mở lớp Bình dân học vụ ngay ở nhà Tế Sinh (cũng là nhà nuôi trẻ em nghèo của cụ Cả Mọc). Các học viên ở lớp học này là bà con lao động ở khu vực sau Ga Hà Nội. Tôi cũng dạy một lớp Bình dân học vụ đặc biệt nhất, mà học viên toàn là chị em cô đầu ở phố Khâm Thiên. Sau ngày 19-8-1945, tôi vào bộ đội, làm việc ở Cục Quân y. Bộ Quốc phòng. Theo chế độ sinh hoạt của sĩ quan nên buổi tối và ngày chủ nhật tôi không phải ở tập thể mà vẫn được về ở nhà mình, nên vẫn có điều kiện tiếp tục công việc ở khu phố. Từ 19-12-1946, cơ quan rút lên Việt Bắc, tôi được tuyển làm liên lạc viên đặc biệt, nên thỉnh thoảng cũng có việc phải vào mặt trận Hà Nội, do đó lại có dịp được đi qua đất Liên khu III đang tác chiến và được gặp lại một số bạn bè. Ở đây tôi kể chuyện về mấy chị em làm nghề hát ả đào ở phố Khâm Thiên. Năm 1946 tôi đang dạy ở lớp Bình dân học vụ nhpr trong nhà Hội Tế sinh (ngõ Sinh Từ) thì chị Quỳnh Vân bạn của tôi (sau là vợ anh Vũ Quang), là cán bộ phụ nữ khu vực nhờ tôi thu xếp dạy thêm cho một lớp ở phố Khâm Thiên, mà phải dạy buổi trưa, vì học viên toàn là cô đầu. Tối họ còn bận. Buổi khai giảng cái lớp này cũng thật là đặc biệt. Học sinh bợm trạo, bát nháo, không chút gì nghiêm túc. Một vài học sinh có giấy bút, còn một số đến người không, mà số này quấy phá nhất. Vì không phải là buổi tiếp khách, họ mặc áo cánh quần dài trắng nhầu bẩn, mỏng manh. Thời ấy xem là "khó coi". Sau mấy lời khai mạc, chị Quỳnh Vân giới thiệu hai giáo viên và một chị cũng là cô đầu làm trưởng lớp. Tôi định nói vài lời để bắt đầu buổi học, thì có một chị táo tợn nói to: Anh giáo cho em hỏi: anh có dạy chữ "sờ em xem" không? Tôi lặng đi một lúc để cơn cười lắng xuống. - Có đấy các chị ạ. Chỉ độ một tuần hay mười hôm nữa, các chị sẽ học đến. - Ấy chết, thầy lại gọi trò là chị thì dạy làm sao được. Có ai gọi chúng em là chị bao giờ. - Không đâu, chúng tôi thực sự coi các chị như các chị em các lớp khác. Những người lớn tuổi chưa biết chữ đến lớp học, chúng tôi quý mến và nhiệt tình giúp đỡ. Cuộc đời xô đẩy các chị vào cảnh làm ăn như vậy chắc không phải tự mình thích thú mà tìm đến chốn này. Không còn ai nói, cả lớp trầm xuống. Tôi nói vài lời nghiêm túc, chân thành mong muốn mọi người chịu khó học tập để được sáng mắt, sáng lòng. Thế rồi, lớp học ấy cũng như các lớp khác, mọi người duy trì nền nếp học tập tốt. Chúng tôi suy nghĩ tìm tòi nhiều cách để cho bài học có sức hấp dẫn, học viên không chán, không bỏ lớp. Chúng tôi kể chuyện, đọc thơ, ca dao, có khi vận động học viên hát dân ca, ngâm Kiều. Có khi đố học viên nói lên trong truyện Kiều, có đoạn nào tả cảnh đẹp như tranh vẽ. Khi học đến bài có vần au, âu, tôi viết lên bảng cả câu: Bán hàng ăn những chũm cau, Chồng con có biết cơ mầu này không? Hay trong bài có vần anh, tôi viết: Xây nhà mà ở lều tranh nát, Dệt lụa quanh năm áo chẳng lành. Tuy học viên chưa đọc được, họ xúc động vì hợp cảnh mình, và cũng thấy mình sẽ tự đọc được, viết được những câu hay như thế. Cách giảng dạy này khuyến khích và gây ấn tượng mạnh đối với họ. Bên cạnh những vấn đề thanh toán nạn mù chữ, giáo viên còn có trách nhiệm giúp học viên giác ngộ chính trị, nâng cao hiểu biết về chế độ xã hội mới, từ bỏ thói hư tật xấu. Sửa đổi lối sống cũ, sống có văn hoá, không tự ti mặc cảm, mạnh dạn tham gia các buổi họp với tổ dân phố, làm các công tác xã hội ở địa phương... Tiếc thay, từ tháng 11-1946, tình hình Hà Nội căng thẳng, nhân dân và cơ quan tản cư nhiều. Các lớp bình dân học vụ tan rã. Học viên cũng cho gia đình về quê, ai khoẻ mạnh ở lại làm thuê, vào tự vệ, cứu thương, đào đường đắp ụ. Có nhiều chị cô đầu cũng ở lại. Tôi không còn lớp học Bình dân học vụ thì giúp Hội Phụ nữ Hàng Bột đào tạo cấp tốc lớp cứu thương tháo vát của anh em Hướng đạo như mang vác người bị thương không cần cáng, cố định vết thương gẫy xương v.v... đề phòng khi ở mặt trận không sẵn hộp thuốc và dụng cụ như ở bệnh viện. Từ 19 tháng 12 nội thành đang đánh nhau. Từ ngoài liên lạc vào mặt trận gặp nhiều khó khăn. Một hôm có công tác, tôi phải đi từ Việt Trì, qua Chèm, Ngã Tư Sở sang đường số 1. Qua Ngã Tư Sở tìm tổ liên lạc để xin người dẫn đường. Chiều muộn tôi đang phân vân tìm đường, bỗng thấy một chị mặc măng tô tím dài, quần buộc túm, tay cầm thanh kiếm Nhật. Biết là tự vệ, tôi đi về phía chị. Chị cũng chú ý đến tôi, thấy cũng áo quần bộ đội, có mang súng ngắn. Chị yên tâm và hỏi xem giấy tờ. Chị đọc còn chậm, một lúc hân hoan ngửng mặt nhìn tôi: "A, anh Kỳ, anh Kỳ! Anh là bộ đội à, thích nhỉ. Bọn chúng em cũng xin được vào tự vệ ở đây. Anh vào trạm đi, có mấy đứa trước cũng học anh đấy. Rồi chúng em sẽ dẫn anh đi đường tắt, vừa nhanh vừa an toàn". Trong trạm cũng có nhiều anh chị tự vệ chiến đấu, riêng mấy chị học viên cô đầu rất vui mừng khi gặp lại tôi. Các chị mời tôi cùng ăn để được nói chuyện nhiều. Tôi hỏi sao các chị không tản cư? - "Chúng em còn biết về đâu, có chuyện không hay mới phải bỏ làng, ra đây lại sống cuộc đời nhơ nhuốc, còn mặt mũi nào trở về làng cũ. Chúng em cũng liều sống chết ở đây thôi. Các anh bảo làm gì thì chúng em làm". Nghe các chị tâm sự, lòng tôi bùi ngùi thương cảm. Các chị chịu chết ở đây còn hơn về làng chịu nhục, đơn giản thế thôi. Lúc chia tay, chúng tôi bịn rịn, nghĩ chắc không có ngày gặp lại. Hai chị dẫn tôi qua Khương Thượng, xa khu sân bay, tới đường 1 rồi các chị chỉ đường tới nơi tôi cần đến. Lúc chào tôi các chị nghẹn ngào muốn khóc, muốn ôm tôi thân mật. Tôi cũng tần ngần nhìn theo hai chị quay về, vai vác kiếm khuất dần vào bóng tối. Ngày nay, người ta cũng đã nhắc nhở đến các anh chị giao liên, thanh niên xung phong, với những công lao, thành tích, cuộc sống gian khổ, cảnh hy sinh anh dũng của họ. Nhưng chưa thấy ở đâu nói đến các chị cô đầu ở Hà Nội. Chỉ một lần nói đến chị "me tây" trong vụ đánh chìm tàu Ami-Ô Đanh vilơ. Cho đến bây giờ, tôi vẫn thường nhớ đến các bạn nghèo của mình - Tôi trăn trở một điều là các người ấy khi lập công hay khi bị hy sinh, có ai ghi công hay báo tử cho họ không. Giấy tờ gửi về đâu và báo cho ai. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:27:43 am NGÂN VANG KÝ ỨC Nguyễn Văn Minh * Nguyễn Văn Minh, nguyên chiến sĩ tự vệ Thổ Quan Sau ngày Mười Chín Tháng Tám Bốn Lăm Minh tôi cùng Lễ Dựng xây chính quyền Ở xã Thổ Quan Rồi cùng anh Lợi Chủ tịch Uỷ ban Lập nên Tự vệ Chuẩn bị kháng chiến Đào hào, đắp ụ Giữa phố Khâm Thiên Từ ngõ Sơn Nam Sang nhà Đỗ Thận Cô đầu hàng gạo Nhà trăm mươi mốt Hai cây gỗ lớn Chôn xuống đất dày Cao trên hai mét Tối hôm Mười Chín (19-12-46) Đèn điện vụt tắt Kháng chiến súng lệnh Đại bác ầm vang Bà già, con trẻ Sẵn sàng tản cư Ra đi từ trước Ai còn ở lại Tiếp tục tản cư Giao cho Tự vệ Bàn, ghế, giường, tủ Khuân vứt ngáng đường Nhằm ngăn quân địch Tự vệ Đội tôi Đục tường thông nhà Thổ Quan, Cống Trắng Cùng quân chủ lực Đại đội Lưu Vân (C29 - D523) Phối hợp nhịp nhàng Bố phòng chặn địch Mặt trận Khâm Thiên Rồi cùng Đại đội Ngô Chuyền Hai Bẩy Tập kích Dầu Sen Hoả xa Hà Nội Đến ngày Ba Mươi Tháng Chạp Bốn Sáu Quân Pháp tiến công Thẳng xuống Kim Liên Khâm Thiên, Hàng Bột Bằng cả xe tăng Pháo binh, xe ủi Máy bay, bom ném Trúng Sở chỉ huy Không ai việc gì Quân ta dũng cảm Quyết tử, quyết sinh Chặn Tây từng bước Thực dân xâm lược Cố sức vượt qua Nhiều ụ chướng ngại Nhưng không chiếm được Cửa Ô Chợ Dừa Cho tới chiều tà Được lệnh tạm rút Qua Đê La Thành Đi sang Chùa Bộc Phi pháo thằng địch Bắn rượt, sát thương Anh Phúc hy sinh Xót lòng, nuối tiếc Chôn cất tại vườn. Nhà thờ họ Nguyễn Vẫn còn để lại Dấu vết tày trời Tội ác giặc Tây Một hình người chết Đọng trên nền nhà Gạch hoa tầng hai Nơi ban chỉ huy Tự vệ, Vệ quốc Đóng quân ở đó Và một bộ đội Còn đủ quân trang Chôn sống, đối diện Số nhà Sáu Sáu Ngõ phố Thổ Quan. Khi dân hồi cư Phát hiện, đắp mồ Trồng một cây si Dấu ghi, tưởng niệm Hoà bình lập lại Ủy ban Đống Đa Đã cho khai quật Tập trung đưa vào Nghĩa trang liệt sĩ Cùng với hài cốt Rải rác hy sinh Của nhiều con người... Sau lại khai quật Đưa lên nghĩa trang Liệt sĩ Yên Kỳ. Trở lại việc rút Về đến Tam Khương Chia đôi lực lượng, Một Thái Hà Ấp Một ở Thượng Đình Phối hợp công binh Đào hố, đặt bom Nơi cống Nam Đồng Chặn đường tiến công Đánh địch đẩy dãn Ra Ngã Tư Sở Sang năm Bốn Bảy Đánh địch mấy lần Rồi sang Quang Tó Vượt qua sông Nhuệ Về tới Cự Đà Xếp lại đội ngũ Sau Tết Đinh Hợi Khu Ba - Đống Đa Có phiên hiệu mới Quận Năm Hà Nội Tự vệ chiến đấu Chuyển thành du kích Tôi là Bê trưởng Của Đại đội Ba Việt Châu phụ trách Quận trưởng Lê Thanh. Tháng Ba Bốn Bảy Cự Đà, Khúc Thuỷ Sáng, địch mò xuống Xe tăng, lê dương Hung hăng nhào tới Trung đội Sự, Tự Không kịp điều quân Tại nhà chỉ huy Nhằm địch đang đi Phủ đầu tức khắc Địch gấp lùi ra "A-la-sô" vào Súng, "Na" quật trả Pháp no đòn ta Chiều tà, rút sạch Bước sang Tháng Sáu Lúc chiêm vừa gặt Giặc Pháp hung hăng Xua quân bắn phá "Võng Tây" dù thả Bồ Nâu Úc Lý Dựa lũy tre làng Quân dân chặn đánh Địch không thể vào Nơi địch muốn đến Chỉ điểm bất thành Hôm sau, địch rút Sau ngày dưỡng thương Bí thư Hồ Trúc Gọi về công tác Dự các lớp học Anh Tiến Đức giảng Công tác bí mật Anh Lê Quang Đạo Huấn luyện trực tiếp Lúc này Thành uỷ Chỉ đạo cán bộ Vào thẳng nội thành Quận Năm kiên trì Ba lần bố trí Anh Lễ bằng đường Công khai hợp pháp Lần đầu vào nhà Vũ Bão, Cầu Gỗ Lần hai vào nhà Sơn Hải, Chả Cá Lần ba đi cùng Gia đình con gái Ông Đặng Vũ Lạc ... Sau ba tháng trời Hoạt động nội thành Gây được một số Cơ sở tuyên truyền Với Bác sĩ Lạc Giác ngộ thêm sâu Tin tưởng bội phần Ta nhất định thắng Địch nhất định thua Giặc không mua được ... Tạm biệt ông Lạc Dần chuyển về làng Nơi chốn Thổ Quan Lễ đã nhanh chóng Phát triển cơ sở Đón đưa cán bộ Từ ngoài vào trong Vào sâu nội thành Hoạt động toả khắp Trung Tự, Trung Phụng Hào Nam, Thịnh Hào Văn Chương, Hàng Bột Phá tề trừ gian Thu hết sổ sách Triện lý trưởng tề Lấy giấy của địch Để ta dễ đi Bán cả trái phiếu Võ trang ban ngày Phá phòng thông tin Bờ Hồ sôi sục Bốn Bẩy, Bốn Chín (1947-1949) Đã có các vùng Tinh thần quần chúng Phát triển lên cao Quân địch lo sợ Ta liên tập kích Đánh nhà dầu Sen (Shell) Đánh bốt Việt Hương Bốt Ô Chợ Dừa Bắn pháo vào Thành Bắn bom Vê Hai (V2) Ra đi nhiệt tình Nay già an dưỡng Hồi tưởng xưa nay Hồn thơ bay bổng Cùng nhau chiến đấu Kẻ mất người còn Sự nghiệp hoàn thành Cùng vui chiến thắng. Tháng 8 năm 2001 Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:23:55 am TRẬN TẬP KÍCH TIÊU DIỆT Ổ CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN PHÁP TẠI NHÀ DẦU SHELL ngày 25-12-1946 của Tiểu đoàn 523 Nguyễn Tiệp * Nguyễn Tiệp - nguyên Tiểu đoàn trưởng 523 (1947 - 1948) Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội và Liên khu III chủ trương tích cực đánh chặn các cuộc tiến công lấn chiếm của giặc Pháp và tập kích tiêu diệt một số ổ chiến đấu của địch nhằm tiêu diệt một phần lực lượng địch và làm chậm bước tiến của chúng, góp phần làm thất bại âm mưu đánh chiếm nhanh Thủ đô Hà Nội. Tiểu đoàn 523 nhận nhiệm vụ tiêu diệt ổ chiến đấu của quân Pháp tại nhà Dầu Shell ở đầu phố Khâm Thiên. Tiểu đoàn đã tập kích hai lần vào ổ chiến đấu này những đêm 19 và 23-12-1946 nhưng đều không đạt kết quả. Quân địch ở khu vực này gồm các ổ chiến đấu ở nhà Dầu Shell, ở quán cơm Hoả xa, ở nhà chè Phú Xuân và ở Ga Hàng Cỏ hình thành một cụm chiến đấu lấy ổ chiến đấu chính là nhà dầu Shell và Ga Hàng Cỏ để án ngữ một phần quan trọng cửa ngõ phía Nam thành phố Hà Nội. Mỗi ổ chiến đấu có khoảng trên dưới một tiểu đội trang bị 1 - 2 trung liên, riêng ở nhà Dầu Shell và Ga Hàng Cỏ có khi có một súng cối 60 ly. Nhà Dầu Shell là kho chứa dầu, có một nhà 5 gian một tầng, có nhiều bồn xăng 2 - 3 tấn và thùng xăng 200 lít, xung quanh chỉ có hàng rào cột bê tông 10 x 10cm với một hàng dây thép gai rất thưa, ở cổng phía Khâm Thiên có 2 ụ súng máy do quân Nhật xây sau ngày 9-3-1945. Quán cơm Hoả xa có 4 nhà 2 tầng xung quanh có tường cao khoảng 1,50m. Rút kinh nghiệm hai trận tập kích trước, Tiểu đoàn trưởng An Giao và Đại đội trưởng Ngô Chuyền quyết tâm tập trung lực lượng tập kích lần thứ ba tiêu diệt ổ chiến đấu ở nhà Dầu Shell và quán cơm Hoả xa. Tiểu đoàn được Bộ chỉ huy Mặt trận tăng cường một pháo 37 ly có 6 viên đạn, một trọng liên 12,7 ly có 175 viên đạn lập thành đội trợ chiến tiểu đoàn. 1. Kế hoạch tập kích của Tiểu đoàn: a. Sử dụng lực lượng: - 2 trung đội Vệ quốc quân của Đại đội 27 (C27). Mỗi trung đội có một trung liên 24 - 29 viên đạn/khẩu. Mỗi tiểu đội có 6 - 7 súng trường các loại (khai hậu, Pháp, Nga, Nhật...), đạn có 20 - 25 viên/khẩu. Mỗi chiến sĩ có hai lựu đạn Phan Đình Phùng (do quân giới sản xuất). - Đội quyết tử của Tiểu đoàn có 20 người trang bị chủ yếu mã tấu, lựu đạn. - 2 trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III và công nhân Hoả xa trang bị mỗi tiểu đội 2 - 3 súng trường, còn mã tấu, lựu đạn. - Đội trợ chiến có n ột pháo 37 ly, một trọng liên 12,7 ly. b. Phân công và nhiệm vụ: - Hướng tập kích chính: Nhà Dầu Shell. Lực lượng gồm: Trung đội 50 + Trung đội 51 (thiếu một tiểu đội)/C27 + Đội quyết tử + Trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III và Đội trợ chiến. Có nhiệm vụ: 21 giờ ngày 24-12 xuất phát từ Ô Chợ Dừa luồn theo các lỗ đục tường dọc phố Khâm Thiên đến chợ chia làm hai mũi: + Mũi một gồm Trung đội 50 + một tiểu đội quyết tử luồn qua chợ Khâm Thiên áp sát phía Nam nhà 5 gian làm nhiệm vụ chủ yếu tiêu diệt địch ở nhà 5 gian. Đội trợ chiến bố trí pháo 37 ly, trọng liên 12,7 ly ở phía hậu ngôi nhà có hàng rào trông sang nhà Dầu Shell bắn áp chế 2 ụ súng và nhà 5 gian, chi viện cho mũi một. + Mũi hai gồm Trung đội 51 (thiếu một tiểu đội)/C27 + Trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III + một tiểu đội quyết tử men theo đường nhỏ giữa hai bờ ao áp sát phía Tây nhà 5 gian tiến công diệt địch, phối hợp với mũi một. - Hướng tập kích thứ yếu: Quán cơm Hỏa xa. Lực lượng gồm: một tiểu đội Trung đội 51/C27 + Trung đội tự vệ chiến đấu công nhân Hoa Xũ có quân khí viên tiểu đoàn Nguyễn Vũ Giáp đi theo. Đội hình này xuất phát trước 20 phút luồn theo các lỗ đục tường bên số chẵn phố Khâm Thiên đến đầu ngõ rẽ vào làng Linh Quang ra đường nhỏ sát tường sau nhà Ga qua lỗ đục tường dùng một tiểu đội tự vệ kiềm chế địch ở nhà Ga không cho chúng chi viện quán cơm Hoả xa, và để 3 chiến sĩ tự vệ bố trí ở nhà Đê pô giữ đường về, còn 1 tiểu đội/trung đội 51/C27 + Trung đội tự vệ công nhân Hoả xa (thiếu) chia làm 4 tổ tập kích tiêu diệt địch ở quán cơm Hoả xa và phối hợp với hướng chính tập kích nhà Dầu Shell, Sở chỉ huy Tiểu đoàn 523 và Đại đội 27 đặt tại nhà số 37 phố Khâm Thiên (gần ngã ba chợ Khâm Thiên). Tiểu đoàn trưởng An Giao trực tiếp phố biến kế hoạch tập kích và giao nhiệm vụ đến cán bộ tiểu đội của bộ đội và cán bộ trung đội của tự vệ chiến đấu. (https://i.imgur.com/w6jVxcr.jpg) Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:25:39 am 2. Diễn biến trận tập kích:
Các phân đội tổ chức chiến đấu và hành quân chiếm lĩnh trận địa theo đúng kế hoạch. a. Hướng chính: Nhà Dầu Shell. Cả hai mũi sau khi bí mật áp sát hàng rào triển khai xong đội hình chiến đấu báo cáo về Sở chỉ huy Tiểu đoàn sẵn sàng nhận lệnh xung phong. 0 giờ 30 ngày 25-12, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn vào hai ụ súng và chế ngự sân nhà Dầu Shell làm lệnh tiến công. Các trung liên và súng trường của 2 mũi đồng loạt nổ súng bắn vào nhà 5 gian. Ngay từ phút đầu ta đã diệt được một ụ súng của địch. Tiểu đội quyết tử do Tiểu đội trưởng Trần Đình Quyết chỉ huy là tiểu đội đột kích được lệnh xung phong nhưng bị địch bắn mạnh chặn đường tiến phải nằm lại. Pháo và trọng liên lại bắn tiêu diệt được ụ súng thứ hai tạo điều kiện cho các tiểu đội quyết tử nhanh chóng vượt qua hàng rào, băng qua sân, dẫn đầu hai mũi cùng tiến công nhà 5 gian. Lúc này bên quán cơm Hoả xa địch ở gác hai bắn sang sân nhà Dầu Shell nhưng ngay sau đó súng máy ở xe thiết giáp bắn lên các cửa sổ nhà gác làm địch ở đây không bắn được sang nhà dầu Shell nữa. Bọn địch ở nhà 5 gian bị tiến công từ 2 hướng nên chống cự yếu ớt, nhanh chóng bị rối loạn, một số bị thương vong, còn một số tháo thân chạy theo đường xe lửa về phía nhà ga. Ta kiểm soát vị trí, thu được 1 súng trường, 1 các bin, một số đạn, lựu đạn. Sau 45 phút ta rút lui. b. Hướng thứ yếu: Quán cơm Hoả xa. Sau khi đã triển khai lực lượng kiềm chế dịch ở nhà ga và giữ đường về ở nhà Đề pô, cả 4 tổ bí mật áp sát tường sau 4 nhà hai tầng của quán cơm Hoả xa đợi lệnh tiến công chung của tiểu đoàn. Khi pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn ở nhà Dầu Shell phát lệnh tiến công, cả 4 tổ đồng loạt bắn lên cửa sổ gác hai, ném lựu đạn vào sân và vượt tường đánh vào nhà được phân công. Một tổ có đồng chí Triệu, Trung đội trưởng tự vệ, chiến sĩ Quảng và quân khí viên Giáp đánh nhà số 2 phát hiện trên sân có một xe thiết giáp Halftrack liên ném lựu đạn lên thùng xe rồi nhảy lên xe thấy một tên lính da đen chết bên cạnh khẩu trọng liên 12,7 ly. Tổ nhanh chóng dùng trọng liên bắn lên các cửa sổ chi viện cho các tổ đánh chiếm 4 nhà rồi chuyển bắn 2 ụ súng bên nhà Dầu Shell chi viện hướng chính. Đồng chí Giáp lần mò trong đêm tối khởi động được, xe và cùng tổ lái xe ra ngã tư Khâm Thiên - Hàng Lọng. Từ phía nhà Ga có tiếng xe cơ giới địch đang tiến xuống ngã tư Khâm Thiên. Địch bắn có đạn vạch đường nên ta biết mục tiêu bắn trả lại. Đồng chí Triệu và Giáp thay nhau bắn hết 2 hòm đạn 12,7 ly. 10 phút sau không thấy địch bắn nữa và tiếng động cơ cơ giới nhỏ dần, các đồng chí đoán địch ở nhà Ga định tiếp viện cho nhà Dầu Shell nhưng bị đánh mạnh nên phải rút lui. Các đồng chí lùi xe về nhà Dầu Shell. Lúc này cả căn nhà Dầu Shell và quán cơm Hoả xa đều đã im tiếng súng. Tại quán cơm Hoả xa ta làm chủ trận địa, đã kiểm soát cá 4 nhà và đang chuẩn bị rút lui. Khi nhận lệnh rút lui, các đồng chí Triệu và Giáp không tháo được khẩu trọng liên 12,7 ly phải dùng lựu đạn phá máy xe và phá ổ súng trọng liên, chỉ mang về được một hòm đạn 12,7 ly và một số lựu đạn. Quân ta rút lui an toàn. Sáng ngày 25-12-1946 địch phản ứng cho máy bay ném bom, bắn phá ngõ trại khách và khu nhà xung quanh. 3. Kết quả và ưu điểm, khuyết điểm của trận tập kích: - Trận đánh thắng lợi, quân địch thương vong khoảng 20 tên. Quân ta có 7 đồng chí bị thương. Ta đánh chiếm được 2 ổ chiến đấu, phá được một xe thiết giáp Halftrack, một trọng liên 12,7 ly và thu được một súng trường, một các bin, một số đạn, lựu đạn. Đây là một trận tập kích có hiệu suất chiến đấu cao trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc ở Mặt trận Thủ đô Hà Nội. Trận đánh thực hiện được mục đích tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch, phá một phần âm mưu của địch khống chế phía Nam thành phố. Đây cũng là một trận đánh đầu tiên tập trung cấp đại đội do Tiểu đoàn trưởng và Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy, có trợ chiến của Bộ chỉ huy Mặt trận tăng cường, có phối hợp với tự vệ chiến đấu hiệp đồng chặt chẽ, phát huy được sức mạnh của cả bộ đội và tự vệ, của cả xung lực và hoả lực. Trận đánh thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội và tự vệ đã linh hoạt khi chiếm được xe thiết giáp liền sử dụng ngay để yếm trợ quân ta tiến công và đánh lui quân địch tiếp viện. Tuy vậy kết quả của trận đánh còn bị hạn chế vì việc kiểm soát và thu dọn chiến trường để sót vũ khí, để địch chạy một số, đặc biệt là ta không có kế hoạch đốt kho xăng dầu nhà Dầu Shell và đốt chiếc xe thiết giáp. Nếu ta đốt kho xăng dầu, một khối lửa lớn bốc cao cháy rực trời phía Nam thủ đô thì hiệu qua chiến đấu và ảnh hưởng của trận đánh sẽ lớn hơn rất nhiều. Trận đánh thắng lợi góp một phần cùng Liên khu III và Mặt trận Hà Nội thực hiện 3 nhiệm vụ mà Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng. Bộ Tổng chỉ huy giao cho Thủ đô Hà Nội là: tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch. Kìm chân địch một thời gian để cả nước chuyển sang thời chiến. Bảo toàn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài. Làm gương cho cả nước. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:27:08 am ĐỘI TỰ VỆ HOẢ XA HÌNH THÀNH VÀ CHIẾN ĐẤU TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC THÁNG 12-1946 Chu Văn Biên* Nguyên Vụ trưởng - ủy ban Kế hoạch Nhà nước Nguyên Đại đội trưởng Tự vệ chiến đấu Hỏa xa Hà Nội 1946 Đầu năm 1946 chi bộ Hoả xa Hà Nội tổ chức Đội Tự vệ chiến đấu Hoả xa Hà Nội. Đội gần 40 cán bộ, công nhân viên tích cực, đoàn viên công nhân cứu quốc của các đơn vị Toa xe Hà Nội, Đề pô Hà Nội, cầu đường, ga Hà Nội, Ty Xa vụ. Các đơn vị này đóng trong địa phận Liên khu III và giáp giới Liên khu II: đông giáp đường Hàng Lọng; Bắc giáp đường Sinh Từ; Nam giáp đường Khâm Thiên; phía Tây là con đường sau Ga chạy từ Sinh Từ đến Khâm Thiên. Số lượng đội viên tự vệ, đến tháng 12-1946 lên đến gần 80 người, tổ chức thành 9 trung đội (trong đó một trung đội chỉ có 2 tiểu đội). Đơn vị được trang bị hơn 10 súng trường các loại Nhật, Pháp, Nga, có Remington, khai hậu; gần 10 xìten bắn phát một hiện đại nhất là khẩu xìten Mỹ (của tên chánh Hoả xa bỏ lại hôm Nhật đảo chính 9-3-1945). Đơn vị còn được trang bị hơn 100 lựu đạn lọ mực Phan Đình Phùng, hơn chục lưỡi lê, mã tấu. Tháng 12-1946 có thêm mìn điện và một quả bom. Mỗi tự vệ được phát một bộ đồng phục xanh công nhân. Hàng ngày anh em vẫn làm việc chuyên môn. Đến tối, luân phiên canh gác xí nghiệp. Có đến 20 người không vướng gia đình hoặc xa gia đình thì ngủ tập trung ở trụ sở. Hàng tuần sinh hoạt hai buổi tối: học chính trị, nghe thời sự, học hát (do anh Văn Cao hướng dẫn). Ngoài những hoạt động ở xí nghiệp, đội còn tham gia tổ chức ngày 1 tháng 5 ở Việt Nam Học xá, xây dựng kỳ đài cho ngày ra mắt Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại Nhà hát lớn, ngày thành lâp Đảng Xã hội Việt Nam ở cuối phố Bà Triệu. Tháng 9-1946, anh em tham gia sửa sang đầu máy, toa xe lập đoàn tầu đón Bác Hồ ở Pháp về. Ngày đoàn tầu đón Bác về đến ga Hà Nội, Tự vệ Hoả xa được cùng các đồng chí công an bảo vệ vòng ngoài nghênh đón Bác tại sân Ga, tại tiền sảnh Ga, - nơi Người nói chuyện với đồng bào ta và binh lính Pháp ra đón. Có mấy lần vận chuyển vũ khí vào Nam bằng đường sắt, tự vệ phải chuẩn bị những toa xe tốt, và bằng biện pháp nghiệp vụ che mắt bọn Tàu Tưởng, nối toa xe vũ khí vào các đoàn tầu bảo đảm được các yêu cầu của đồng chí phụ trách vận chuyển quốc phòng. Những ngày ráo riết chuẩn bị chiến đấu. Từ đầu tháng 12-1946 tình hình ngày càng căng thẳng, thực hiện chủ trương di chuyển máy móc lên chiến khu, tự vệ làm nòng cốt trong việc tháo dỡ máy, có đêm tổ chức 4, 5 chuyến tầu chở máy đi về phía Nam. Khoảng ngày 15-12-1946 anh em trổ tường phía sau ga ở ba vị trí Cây nước, bãi Thiên hùng và góc tường sát đường Khâm Thiên để chuẩn bị chiến đấu. Tự vệ cũng thu gom éclipse, lập lách (thiết bị để nối hai đoạn đường ray), bu loong... để trữ trên gác nhà ga, chuẩn bị cho phòng thủ đánh địch; chuẩn bị mìn điện, magnéto để phá cây nước và đánh bom. Đào hố cá nhân để di động chiến đấu theo kinh nghiệm chiến trường phía Nam. Mua sẵn mấy bồ pháo ném để chuẩn bị cho đánh quấy rối. Từ ngày 17-12-1946 đã tập trung lực lượng tự vệ, ăn ngủ tại trụ sở. Bố trí lực lượng trực chiến tại các vị trí chiến đấu: gác nhà ga, cổng toa xe, kho vật tư, góc ngã tư Khâm Thiên - Hàng Lọng. 19-12-1946, khoảng hơn 17 giờ chúng tôi được phổ biến lệnh chiến đấu vào 20 giờ lúc điện thành phố tắt và đại bác bắn vào Thành Nội. Theo kế hoạch tác chiến định trước, đồng chí Hà Đăng Ấn phụ trách việc chí đạo cho trưởng ga Hà Nội điện cho trưởng ga Văn Điển ra lệnh cho đoàn tầu từ Nam Định về ga Hà Nội (giờ quy định đúng 20 giờ) phải đỗ tại cột tín hiệu đỏ ở miếu Hai Cô, đổ khách xuống hết. Tại đây, đồng chí Inh chỉ đạo việc cắm pháo hiệu và đèn đỏ để hãm tầu. Khi tầu đỗ thì cắt đầu máy cho chạy đến giữa đường Khâm Thiên đỗ lại, làm tụ "đinh chì" để đầu máy trở thành chướng ngại vật. Việc này đã làm đúng kế hoạch. Chướng ngại vật là đầu máy Pacific được hình thành trước khi điện thành phố tắt độ 2 phút. Đồng chí Ấn cũng phụ trách việc cho lập một đoàn tầu gồm 5 toa SS, đầu máy đẩy sau, khởi hành lúc 19 giờ 50 lên hướng Bắc để làm trật bánh tại 5 đường: Trần Phú, Điện Biên Phú, Nguyễn Thái Học, Hàng Đẫy và Sinh Từ. Đoàn tầu do tài xế Nghĩa - Đảng viên phụ trách. Đồng chí Chu Văn Biên - phụ trách lực lượng tác chiến, đã chỉ huy cung cấp thêm lựu đạn, nước uống, lương khô cho tiểu đội bố trí ở gác nhà ga, kiểm tra các chốt bố phòng ở cống và nhà máy toa xe, kho hàng; và lúc 19 giờ 50 chỉ đạo việc đào hố để đặt bom ở tim đường ngã tư Khâm Thiên - Hòng Lọng. Việc đặt bom và giật nổ giao cho trung đội trưởng Nguyên phụ trách. Lúc 20 giờ điện thành phố tắt, đại bác ở Láng bắn vào Thành Nội (citadelle) thì mọi việc được thực hiện như kế hoạch, trừ việc dùng mìn phá cây nước không thực hiện được vì sức công phá của mìn không đủ mạnh làm hỏng van nước. Đến khoảng hơn 23 giờ mới xuất hiện xe tăng và half-track của địch ở cửa ga Hà Nội: 5 chiếc bắn rất mạnh vào tiền sảnh và hai cánh gà Ga, còn 3 tốp 3 chiếc rải từ cửa Ga đến ngã tư Khâm Thiên, trong đó có một xe tăng đỗ ngay trên quả bom ta chôn ở tim đường ngã tư Khâm Thiên - Hàng Lọng, đồng chí Nguyên và anh em châm mìn điện và giật nhưng bom không nổ. Ta chờ bộ binh địch tiến vào mới nổ súng, nhưng địch chỉ dùng súng trên xe bắn. Đèn rạng sáng 20-12 vì hoàn cảnh chiến đấu ban ngày không thuận lợi, ta chỉ để tiểu đội chốt trên gác nhà ga ở lại, còn toàn bộ rút về chốt ở nhà dân đầu phố Khâm Thiên. Suốt ngày hôm đó, dịch chỉ dùng súng trên xe cơ giới bắn, không dùng bộ binh tấn công. Chiều tối 20, ta cho tiểu đội chốt trên gác ga rút ra ngoài tổ chức đánh du kích. Các tối tiếp theo từ 21 đến 24 tháng 12, tối nào cũng có 1, 2 tổ tự vệ đi quấy rối các vị trí địch từ khoảng 8 giờ đến 11 giờ đêm. Ngày 25 tháng 12, đồng chí Dậu, đại đội phó dẫn một tổ đột nhập nhà ga Hà Nội, lên gác hai, cũng không có địch; thấy trong văn phòng giám đốc còn một máy chữ trên bàn, anh em mang về, trên đường về, đến Hàng Cà thì bị địch phục kích, quân ta chạy thoát được cả, trừ anh Dậu đi sau, bị mất tích (liên hai ngày đi tìm, không thấy xác). Đêm 24 rạng sáng 25, Tự vệ Hoá xa được lệnh tấn công vị trí quán cơm Hoá xa ở số 2B Khâm Thiên, anh em diệt ngay tên địch gác cửa đang ngủ gật, nhanh chóng đột nhập. Địch bị bất ngờ, choàng dậy, chạy hoảng loạn. Quân ta chiếm luôn cả tầng dưới, tầng trên và truy kích địch, phát hiện tên lính Pháp chạy ra trèo lên xe thiết giáp (ban ngày không thấy có xe này), ta nổ súng tiêu diệt. Hai đồng chí ta nhảy lên chiếm xe, dùng luôn khẩu 12,7 ly trên xe bắn như vãi đạn sang nhà Dầu Shell, số đồng chí khi lên chiếm tầng gác cũng phát hiện khẩu 12,7 ly đặt ở cửa trông ra đường, do không ai biết sử dụng và tháo rắp nên chỉ đập hỏng. Ta tiêu diệt được vị trí này, thu được một hòm lựu đạn nổ, một hòm lựu đạn hoả mù và mấy băng đạn. Cùng lúc đó, bộ phận tự vệ khống chế vị trí địch ở số 2A Khâm Thiên, cũng nổ súng, địch hoảng loạn, tháo chạy sang bên kia đường tầu, phía nhà Công đoàn Hoả xa. Bọn địch phục kích ở bốt cảnh sát góc đường Hàng Lọng - Khâm Thiên nổ súng, 3 đồng chí ta trúng đạn trọng thương. Khi tự vệ rút quân, 3 đồng chí chỉ huy cũng bị thương do đạn cối địch từ Đấu Xảo và số 12 Sinh Từ bắn theo. Sau trận đánh này, đơn vị được Bộ chỉ huy Khu XI thưởng giấy khen và một súng Carbine. Công đoàn Hoả xa Nghệ An gửi ra ủng hộ 3.000 đồng. Đội Tự vệ Hoả xa còn liên tiếp chiến đấu giữ chân địch theo chỉ đạo của Liên khu. Cho đến tháng 2-1947, 37 đồng chí được gia nhập Trung đoàn 66. Số còn lại chuyển vào bộ đội du kích Quận V. Một số được giải quyết về hậu phương giúp đỡ gia đình. ĐOÀN HẢI biên tập Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:33:05 am ĐÁNH LUI QUÂN PHÁP TẤN CÔNG Ô CHỢ DỪA - ĐÊ LA THÀNH - GIẢNG VÕ (6-1-1947) Đại tá Trần Quân Lập * Trần Quân Lập - nguyên Chính trị viên Đại đội 4, Tiểu đoàn 56 Sau hơn nửa tháng chiến sự nổ ra tại Hà Nội, hình thái xen kẽ, cài răng lược đang dần chuyển sang tuyến. Liên khu I vẫn trụ giữa nội thành. Bên ngoài các cửa ô, quân ta vẫn bao vây chặt. Quân Pháp rất cần phá thế bị bao vây, muốn đẩy dãn lực lượng ta, để rồi sau đó tập trung trở lại tiêu diệt lực lượng ta ở Liên khu I. Ngày 30-12-1946, địch đưa 600 quân, 50 xe, có phi pháo yểm hộ đánh ra Khâm Thiên, Hàng Bột, Ô Chợ Dừa. Ngày 31-12-1946, địch tiến công Kim Liên, dùng xe lội nước vượt qua hô Bảy Mẫu đánh vào phía Nam Kim Liên. Ngày 3-1-1947, địch mở đợt tiến công ra phía Tây, có 700 quân với 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, 70 ôtô đánh chiếm 3 trục đường Thuỵ Khuê, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn. Ngày 6-1-1947, địch mở đợt tiến công ra phía Nam, có gần 1000 quân, với 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, xe ủi đất, cùng pháo binh, máy bay đánh ra Ô Chợ Dừa, Giảng Võ theo hai hướng. Về phía ta, Tiểu đoàn 56 Chiến khu II, từ Hà Đông được lệnh điều động tăng cường cho Hà Nội (Thời gian này, Tiểu đoàn 56 thuộc quyền chỉ huy của Khu trưởng Chiến khu XI (Hà Nội)), ngay từ khi nổ súng 3 đại đội ra trước tăng cường cho các Tiểu đoàn 145, 523, 212. Tiểu đoàn 56 với hai đại đội số 2 và 4 ngày 21-12-1946 bước vào chiến đấu, phòng ngự tại Mặt trận Ô Cầu Dền Liên khu II. Sau ngày 30-12-1946, Tiểu đoàn được lệnh chuyến sang mặt trận Liên khu III, thay thế Tiểu đoàn 523. Đại đội 2 tổ chức phòng ngự ở Giảng Võ, đê La Thành. Đại đội 4 tổ chức phòng ngự ở Ô Chợ Dừa, Thái Hà Ấp. Đại đội 4 có cơ cấu chiến sĩ hầu hết là lính hải ngoại từ Pháp trở về nước sau Hiệp định sơ bộ (6-3-1946). Anh em cao lớn, khoẻ, bắn giỏi, phục tùng kỷ luật, có hiểu biết về lính Pháp nên coi thường chúng, lại được giáo dục chính trị, giác ngộ lý tưởng cách mạng nên nhiều người chiến đấu rất dũng cảm, đã trở thành đảng viên và cán bộ quân đội. Còn cán bộ chỉ huy Trung đội, Đại đội đều là hội viên Việt Minh, từng tham gia khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945, tuổi đời còn trẻ hơn lính, chưa có kinh nghiệm chiến đấu, song rất nhiệt tình, phẩm chất đạo đức tốt, nên chiếm được lòng tin và mến phục nơi chiến sĩ. Khi ở Mặt trận Liên khu III, sự động viên tinh thần chiến đấu của nhân dân và lực lượng kháng chiến chiến sở tại đối với Đại đội 4 cũng vẫn là yếu tố đặc biệt quan trọng. Dù rằng dân đã tản cư nhiều, song thường xuyên vẫn còn qua lại. Bà con thấy đồ đạc gia đình không bị suy suyển, mất mát, nên rất mến phục bộ đội, lần nào qua lại cũng đem về ủng hộ bộ đội mớ rau, miếng thịt, quả trứng, trái cây. Trung đội Tự vệ chiến đấu, một tiểu đội nữ cứu thương tiếp tế của Liên khu III tăng cường cho Đại đội, rất sẵn sàng nhận nhiệm vụ, không nề hà. Do quen địa bàn, nên mỗi đêm anh em dẫn bộ đội đi chôn mìn, chiến đấu... cũng gây cho địch nhiều kinh hoàng, tổn thất. Về hậu cần, cơm canh nóng... được các nữ tiếp tế theo đường xuyên tường nhà đưa đến từng chiến hào. Chiến đấu trong mối tình quân dân gắn bó như vậy, anh em chúng tôi càng xúc động cảm kích. Lúc này, Đại đội 4 có 3 trung đội bộ binh, 1 tiểu đội hoả lực, 1 tiểu đội trinh sát - liên lạc. Vũ khí có súng trường gióp 5 - gióp 3, tiểu liên Xì-ten, Tôm-sơn, gươm, mã tấu, lựu đạn, trái Ô-buy (đạn trái phá), bom ba càng, chai xăng Cờ-rếp, hiện đại nhất là khẩu trung liên đầu bạc và cối 60 ly. Những trận đánh của Tiểu đoàn 56 ở Hà Nội từ 19-12-1946 đến 17-1-1947 (https://i.imgur.com/huUzfvC.jpg) Đại đội bố trí phòng ngự hai bên dãy phố từ chiến lũy Ô Chợ Dừa đến Thái Hà Ấp. Bên dãy trái (nhà số lẻ) có Trung đội 1. Bên dãy phải (nhà số chẵn) có Trung đội 2, 3 và đại đội bộ. Các trung đội chia ra từng tổ chiến đấu, mỗi tổ có từ 3-4 người, chiếm lĩnh các nhà cao tầng, tạo ra các lỗ châu mai, lợi dụng các chướng ngại vật để khống chế đường phố. Di chuyển liên lạc bằng đường xuyên tường các nhà, cũng có chỗ bị ngắt quãng trống trải do ao, vườn... cũng gặp trở ngại; trong đó, nguy hiểm nhất là khi vượt qua ngõ phố rẽ vào nhà thờ Nam Đồng. Tôi vẫn nhớ nơi này, vì ở đây đồng chí Trung đội trưởng Nguyễn Châu đã trúng đạn hy sinh do bọn "tắc bọp" biệt kích Pháp ẩn náu trong nhà thờ Nam Đồng bắn giết. Những ngày qua, hoả lực của Đại đội được bố trí bảo vệ chiến luỹ Ô Chợ Dừa. Dưới chân ụ, có các cảm tử quân trực chiến cùng bom ba càng, đạn Ô-buy và chai cháy. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:33:58 am Mờ sáng ngày 6-1-1947, quân Pháp tiến công ra phía Nam theo hai hướng đánh vào Ô Chợ Dừa và Giảng Võ - đê La Thành.
Hướng Ô Chợ Dừa Trên trời, máy bay bà già bay dọc đường Hàng Bột - Ngã Tư Sở, nghiêng cánh chỉ điểm cho pháo binh bắn vào chiến luỹ Ô Chợ Dừa và các vị trí hoả lực của Đại đội 4. Dưới đất, từ đường Hàng Bột, Khâm Thiên, đoàn xe tăng dẫn đầu bắn phá chiếm luỹ, các ụ súng đặt trên nóc nhà cao tầng và yểm trợ cho xe ủi lao vào phá chướng ngại vật. Đòi xe địch đến gần, các cảm tử quân từ chỗ ẩn nấp xông ra, ném lựu đạn, chai cháy, buộc chúng phải lùi lại. Hoả lực trung liên, súng cối, súng trường của quân ta đã gây cho dịch thiệt hại, đánh lui nhiều đợt tiến công vào chiến luỹ. Địch tập trung xung, hoả lực tiến công dãy phố bên trái - nơi Trung đội 1 bố trí phòng ngự. Chiến sĩ Trần Văn Sức từ trên cửa sổ nhà gác bên chiến luỹ, ném xuống quả đạn Ô-buy trúng mục tiêu, một xe ủi đất bốc cháy. Bộ binh địch lao vào đánh chiếm từng căn nhà. Các tổ chiến đấu dùng tiểu liên, lựu đạn, chai cháy, quả đạn Ô-buy, mã tấu... đánh giáp lá cà với địch từ nhà này sang nhà khác. Quân ta thông thạo địa hình, thoắt ẩn thoắt hiện, đánh rất trúng, gây cho địch nhiều thương vong. Chính trị viên Trung đội, đồng chí Nguyễn Văn Hoan vừa động viên cổ vũ chiến sĩ, vừa trực tiếp chiến đấu, chẳng may đồng chí trúng đạn, hy sinh. Liên lạc viên Nguyền Văn Giảng, một hải ngoại quân đã dũng cảm cõng chính trị viên băng qua đường về Đại đội bộ. Đến trưa, địch chiếm được dãy phố bên trái. Lúc này, Đại đội đã kịp thời điều chỉnh lực lượng. Trung đội 2 được lệnh cụm lại, tập trung chặn địch tiến sang đường để liên lạc với bọn dịch ở nhà thờ Nam Đồng. Trung đội 3 ngăn địch phát triển xuống Thái Hà Ấp. Còn địch chủ quan, tiến dọc xuống phố Nam Đồng. Qua những quãng trống, tài thiện xạ của chiến sĩ Đại đội 4 đã được phát huy, nhiều tên địch bị trúng đạn, gục tại chỗ. Địch phải ngừng lại, gọi pháo binh, súng cối bắn chi viện, và tổ chức tiến công sang dãy phố bên phải. Mỗi lần địch vượt qua đường lại bị Trung đội 2 và Trung đội 3 dùng hoả lực lựu đạn, chai cháy, đạn Ô-buy ném xuống. Nhiều tên bị diệt, bị thương. Chúng phải dìu nhau tháo chạy. Đến chiều, địch phải ngừng tiến công, phải rút về nơi xuất phát - Khâm Thiên. Hướng Giảng Võ, Đê La Thành: Cùng lúc tấn công hướng Ô Chợ Dừa, trên hướng Giảng Võ - đê La Thành, quân Pháp chia làm 2 cánh tiến quân. Cánh quân thứ nhất theo đường Hàng Bột, làng Hào Nam dọc theo đê La Thành, có xe tăng dẫn đầu đánh vào vị trí Trung đội 1 - Đại đội 2. Trung đội đã dùng hoả lực bắn chặn, từng bước lui dần về phía Ngã tư Giảng Võ. Trên đầu dốc lang Hoàng Cầu đã diễn ra trận đánh giáp lá cà, quân ta dùng lưỡi lê, kiếm, dao xông ra đánh địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai đã anh dũng đâm bom ba càng tiêu diệt 1 xe tăng địch. Sau trận đánh, dân làng Hoàng Cầu đã chôn cất nhiều liệt sĩ của ta ở gần cây đa, hiện nay dân vẫn lập bàn thờ cúng tưởng niệm. Cánh quân thứ hai, địch từ Nhà Tiền (phố Nguyễn Thái Học), nhà Năm Diệm (phố Cát Linh) tiến dọc đường Giảng Võ, có xe tăng yểm trợ chia làm hai mũi: một mũi triển khai tiến công vào làng Giảng Võ; một mũi tiến thẳng xuống ngã tư hợp vây với cánh quân thứ nhất. Tại làng Giảng Võ, địch đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của Trung đội 2 - Đại đội 2, Trung đội Quyết tử, Trung đội Cựu binh sĩ cứu quốc làng Giảng Võ. Dựa vào luỹ tre dày đặc, các trận địa ụ súng, giao thông hào, ngõ ngách trong làng, quân và dân Giảng Võ đã đánh bật 3 đợt xung phong đột nhập vào làng của địch. Nhiều tên đã bị chết và bị thương (Lịch sử phường Giảng Võ có ghi cụ thể). Mũi tiến công thẳng xuống ngã tư Giảng Võ diễn ra rất quyết liệt. Đại đội trưởng Vũ Công Định đã trực tiếp chỉ huy Trung đội 3 chiến đấu và huy động tất cả lực lượng còn lại của Đại đội ra chiến hào. Tiểu đội nữ cứu thương của Liên khu III phối thuộc cũng cầm súng, dao, kiếm chiến đấu cùng với bộ đội. Hoả lực trung liên, tiểu liên, súng trường của quân ta đã cản phá nhiều đợt tiến công của địch. Địch đã phải dùng hoả lực pháo binh, xe tăng bắn phá các ụ đất, trận địa hoả lực, chướng ngại vật trên đường. Nhiều quãng đã diễn ra trận giáp lá cà, vật lộn giữa ta và địch. Đến khoảng trưa, Đại đội trưởng Vũ Công Định bị trọng thương gãy đùi. Biết rằng ta không thể giữ được trận địa, để bảo toàn lực lượng, Đại đội trưởng hạ lệnh rút lui. Riêng mình anh ở lại với một số lựu đạn, tiểu liên bắn cản địch và chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Chính trị viên Lê Chí Thực dẫn bộ đội rút về phía Tây Nam. Anh đi cuối, bắn yểm hộ. Địch xông lên định bắt sống. Anh đập lựu đạn nổ và hy sinh. Những tên địch xung quanh anh cũng tan xác (trích 60 ngày đêm khói lửa của cố Trung tướng Vương Thừa Vũ - Nhà xuất bản QĐND năm 1964). Bị thương vong nặng, địch phải rút lui về Nhà Tiền, Năm Diệm. Đại đội 2 đã chiến đấu rất dũng cảm, Nguyễn Phúc Lai ôm bom ba càng đâm cháy một xe tăng. Đồng chí Nguyễn Phúc Lai năm 1997 được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang và được Thành phố Hà Nội đặt tên phố Nguyễn Phúc Lai tại Đê La Thành. Liệt sĩ Vũ Công Định và Lê Chí Thực được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất năm 1947. Làng chiến đấu Giảng Võ 3 lần đánh bật 3 đợt xung phong của địch. Đại đội 2, Đại đội 4 - Tiểu đoàn 56 đã đánh lui quân Pháp tấn công Ô Chợ Dừa, Giảng Võ, đê La Thành. Sự hy sinh chiến đấu của Vũ Công Định, Lê Chí Thực, Nguyễn Phúc Lai, Nguyễn Văn Hoan, Nguyễn Châu và gần 50 liệt sĩ, quân nhân, dân quân, tự vệ, nữ cứu thương... đã làm quân địch khiếp sợ, lực lượng bị tổn thất nặng. Mười ngày sau đó, được viện binh 2.000 quân ở Hải Phòng lên, địch mới tiếp tục mở các cuộc tiến công ra các cửa ô. Ngày 15-1-1947, địch từ Ô Chợ Dừa đánh xuống, Ngã Tư Vọng đánh sang Ngã Tư Sở. Từ gò Đống Đa đến Ngã Tư Sở, chúng bị các chiến sĩ Đại đội 4 ngăn chặn, bắn tỉa diệt một số tên địch. Để bảo toàn lực lượng, Đại đội 4 được lệnh vừa đánh vừa lui dần về Cầu Mới, sau đó về tổ chức phòng thủ tại Thị xã Hà Đông. Trận đánh ở Ô Chợ Dừa đã đi vào lịch sử. Nghĩ lại, khi đó quân ta chỉ có vũ khí thô sơ, tương quan lực lượng ta - địch tựa như "châu chấu đá voi", song ta có cách đánh phù hợp, tận dụng được địa hình, lợi dụng ưu thế nhà cửa đô thị, dựng chiến luỹ trên đường phố kết hợp với bố trí hỏa lực các loại để chặn địch. Đường giao thông liên lạc xuyên tường là một sáng kiến độc đáo trong chiến tranh nhân dân vừa cơ động đánh địch, vừa bảo toàn lực lượng ta. Cũng do ta đã huy động được toàn dân đánh địch bằng những hoạt động dẫn đường, tải thương, tiếp tế, dựng chướng ngại vật..., đồng thời hướng lòng dân về với Chính phủ Cụ Hồ, trên dưới một lòng, sẵn sàng tiêu thổ kháng chiến, không chịu mất nước v.v... Đó là những yếu tế vô cùng quan trọng đảm bảo đi tới thắng lợi. Ngày nay, Hà Nội đang có nhiều đổi mới, kinh tế, quốc phòng mạnh hơn trước. Tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", vận dụng chiến lược chiến tranh nhân dân... vẫn còn giá trị trường tồn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Thủ đô anh hùng của chúng ta. ĐOÀN HẢI biên tập Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:39:39 am LÍNH CÔNG BINH HOẠT ĐỘNG TRÊN MẶT TRẬN LIÊN KHU III - HÀ NỘI từ tháng 12-1846 đến tháng 3-1947 Đại tá Nguyễn Văn Nhạn* Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn I Cục Giao thông công binh Bộ Quổc phòng Sau Hiệp định sơ bộ (6 tháng 3 năm 1946) ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ quân Pháp tiếp tục tấn công, bình định vùng chiếm đóng. Ở miền Bắc, chúng gây ra nhiều vụ khiêu khích ở Lạng Sơn, Móng Cái, Sơn La, Hà Nội. Ngày 15, 16 tháng 12 năm 1946, quân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn làm chết nhiều dân thường, công an và bộ đội ta ở Hà Nội. Ngày 17, chúng cho xe ủi phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đồng thời gây ra vụ thảm sát Hàng Bún. Ngày 18, chúng gửi tối hậu thư đe doạ ta, "... đến sáng 20 tháng 12, những điều trong tối hậu thư không được chấp nhận, thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động". Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến. Chỉ thị nêu rõ: - Triệt để dùng du kích vận động chiến. - Bảo đảm thực lực kháng chiến. - Phá hoại nhiều hơn, triệt để làm cho địch đói, khát, què, mù, điếc, câm, tiêu hao mệt mỏi, chán nản. Riêng tại Hà Nội, đêm 19 tháng 12 năm 1946, tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Theo chủ trương chung là: tiêu hao tiêu diệt một bộ phận quân địch, chặn đánh, giam chân chúng một thời gian ở Hà Nội, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào trạng thái chiến tranh. Phần nhiệm vụ của phúng tôi, một số cán bộ thuộc Công binh - Bộ Quốc phòng (khi đó gọi là Cục Giao thông Công binh), ngày 21 - 22/12/1946 xuống nhận công tác của Mặt trận Hà Nội để thực hiện công tác phá hoại, ngăn chặn không cho quân địch nhanh chóng đánh ra các cửa ô của thành phố, hợp đồng với các lực lượng của Trung đoàn Thủ đô để đánh địch trong Liên khu I. Riêng ở Liên khu III, thuộc cửa ô Ngã Tư Sở, Ngã tư Khâm Thiên, chúng tôi có nhiệm vụ: - Góp ý kiến về mặt kỷ thuật trong công tác phá hoại: nhà cửa, câu cống. - Làm các ụ, chướng ngại vật ở các ngả đường. - Hợp đồng với các lực lượng bộ binh - lúc đó ở địa bàn Liên khu III có tiểu đoàn của đồng chí An Giao. Quân số kể cả cán bộ và chiến sĩ có 20 người gồm: - Một số là học sinh trường Cao đẳng Công chính (của Pháp, trước mở tại Hà Nội - Ecole des Travaux Publics). - Một số là các hạ sĩ, trung sĩ và đội viên các đơn vị công binh của quân Pháp cũ (Troupe du Génie). Số này sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công đã xung phong nhập ngũ và được cơ quan Bộ Quốc phòng Việt Nam giới thiệu về Cục Giao thông Công binh. Sau đó lực lượng này được bổ sung thêm số lượng đủ một tiểu đoàn. Mặt trận Hà Nội cũng cử một cố vấn người Đức, thường gọi là đồng chí Hồ Chí Dân, nhưng theo giấy giới thiệu gửi cho chúng tôi thì có tên Nguyễn Dân, xuống giúp Đội chúng tôi rất tận tình. Đồng chí Dân vốn ở quân đội Đức, có nhiều kinh nghiệm thực tế. Để thực hiện nhiệm vụ phá hoại nhà cửa, cầu cống và yêu cầu của Mặt trận Liên khu III phải làm các công sự cho cá nhân, cho hoả lực của ta, chủ yếu là trung liên, đại liên và súng trường các loại, chúng tôi đã mò mẫm tìm hiểu trong các sách quân sự của Pháp. Đặc biệt trong "Cuốn sách của hạ sĩ quan công binh Pháp" (Manuel du gradé du génie) đã tra cứu các mẫu chướng ngại vật bằng gỗ, đất, bằng đường ray xe hoả...; giao thông hào, chiến hào; các mẫu công sự trung liên, đại liên; hầm ẩn nấp có nắp, không nắp; lỗ châu mai, lỗ bắn... Lực lượng công binh làm công sự, làm công việc phá hoại nhà cửa, cầu cống. Lực lượng của dân có công nhân, học sinh, phụ nữ. Trong số phụ nữ, có chị em hồi Pháp thuộc là cô đầu hát ở phố Khâm Thiên, khi vào việc rất hăng hái, tự nguyện xin đứng vào các đội phá hoại, tiếp tế, cứu thương, hoạt động rất tích cực trong suốt 60 ngày đêm khói lửa. Sau này, trong số các thành viên trên có người tham gia đơn vị công binh, bộ binh, dân quân du kích; có người tản cư về hậu phương. Đội công binh đã phá toàn bộ cầu lớn trên đường từ Ngã tư Khâm Thiên qua Ngã Tư Sở vào tới thị xã Hà Đông. Đặc biệt đối với Cầu Mới và cầu thị xã Hà Đông được xây dựng bằng bê-tông cốt thép rất kiên cố, anh em công binh vận dụng kỹ thuật và dùng thuốc nổ kiếm được (từ đạn pháo của địch, từ thuốc nổ phá đá của công chính) đã tập trung phá các chân cầu, mố cầu nên cầu đổ sập. Sau này do địch có trang bị kỹ thuật hiện đại hơn ta, nên chúng đã tương đối nhanh chóng khôi phục được giao thông. Dầu sao mỗi một câu được phá hỏng đã trở thành chướng ngại vật ngăn cản tiến công của địch. Song phải có hỏa lực kết hợp. Tiếc rằng khi đó hoả lực của ta rất yếu, chủ yếu chỉ có súng trường, súng máy, không có khả năng tiêu diệt quân địch tới khôi phục giao thông. Nhà cao tầng ở dọc đường từ Khâm Thiên vào tới thị xã Hà Đông được công binh chú trọng phá hủy. Có cán bộ quân sự quan sát thấy những gác chuông nhà thờ Giáp Bát, Phùng Khoang... nổi lên rất cao giữa các đồng ruộng, làng mạc, e ngại nếu địch đánh ra sẽ chiếm lĩnh để biến thành đài quan sát rất lợi hại, nên đã bàn cân phá, đã trèo lên gác chuông đục lỗ sẵn gài thuốc nổ, khi địch đến gần, sẽ phát nổ. Khi xin chỉ thị hành động, Mặt trận Hà Nội đã hạ lệnh: không được phá các nhà thờ, các đền chùa, miếu mạo, để đảm bảo thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ. Các đơn vị đã nghiêm chỉnh chấp hành lệnh, tuy nhiên cung có nơi vi phạm đến đền chùa. Theo lệnh của Mặt trận Hà Nội, Đội Công binh chúng tôi phải xây dựng một số trận địa phòng ngự xung quanh thành phố Hà Nội và trực tiếp trên địa bàn Liên khu III, để đảm bảo cho bộ binh có chỗ ẩn nấp, ngăn chặn, tiêu hao tiêu diệt các lực lượng tiến công của Pháp. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12 năm 1946 đến 15-2-1947, Trung đoàn Thủ đô và các lực lượngTự vệ đã chiến đấu anh dũng bảo vệ các đường phố. Quân Pháp dồn sức tấn công ở nội thành, còn đánh ra ngoại thành, chủ yếu dùng bộ binh có cơ giới rất ít phối hợp. Tuyến phòng ngự của ta rất đơn giản, bao gồm: một số công sự cho trung liên, đại liên đào dọc theo đường từ Khâm Thiên đến Giảng Võ, từ Ngã Tư Sở đi Láng, từ Ngã Tư Sở đi Văn Điển (đến Kim Giang). Mỗi tuyến dài khoảng 200 - 300m, cứ từng đoạn một, dựa theo địa hình địa vật cụ thể. Nòng cốt của tuyến phòng ngự là các công sự cho hoả lực của ta chống lại với trung liên, đại liên, súng cối 81 ly và đặc biệt với pháo 105 ly của địch. Chúng tôi đã làm công sự gỗ, đất, có nắp dày khoảng 1 mét, chống được đạn cối, đạn pháo của địch. Công sự có lỗ châu mai, có hầm để đạn. Tuyến phòng ngự chuẩn bị cho một tiểu đội, khi cần có thể cho một trung đội, vì vậy chúng tôi cho làm cả hố bắn cá nhân và giao thông hào lộ thiên. Vật liệu làm công sự, chủ yếu là đất, gỗ, dùng các giường, tủ... của các gia đình tản cư bỏ lại, dùng cả xe đổ rác vất chỏng chơ ở Giảng Võ. Kết hợp với công sự phòng ngự, trên tuyến Khâm Thiên vào thị xã Hà Đông, công binh có làm một số chướng ngại vật kiên cố, tốn nhiều công sức. Sau này thực tế cho thấy, các chướng ngại vật và tuyến công sự ít có tác dụng vì lẽ các lực lượng chiến đấu của ta không trụ trong các tuyến phòng ngự để ngăn chặn địch, phải đánh du kích, vận động để chống chọi phi pháo và hoả lực áp đảo của địch. Các tuyến phòng ngự chỉ có tác dụng làm chậm phần nào cuộc hành quân đánh ra Liên khu III của địch. Trên địa bàn Liên khu III, lực lượng Đội Công binh đã làm: 60 hầm súng máy, 120 hầm cá nhân, 3000 mét giao thông hào; bóc đường xe điện Hà Nội - Hà Đông- phá sân bay Bạch Mai, nhà cửa ở Bạch Mai, Ngã Tư Sở, thị xã Hà Đông, đánh đổ tất cả các cột điện, thu hồi dây điện; cùng lực lượng khác tham gia chiến đấu ở Cầu Mới, đánh chặn được địch hơn một tuần. Tóm lại, trong công tác phá hoại và phòng ngự, đơn vị Công binh phối thuộc cho Liên khu III lúc ấy, đã cùng các lực lượng chủ lực, tự vệ và nhân dân làm được một số việc trong tình hình lúc đầu kháng chiến vô cùng khó khăn, đã giam chân địch trong Thủ đô Hà Nội. Nhưng do tổ chức quá gấp, huấn luyện kỹ thuật còn sơ sài, kinh nghiệm lại chưa có nên công sức bỏ ra nhiều mà hiệu quả chưa cao. Chúng tôi cũng chưa làm được việc nghiên cứu về hoạt động đánh lấn của địch, về phục hồi giao thông của địch, nên có những đoạn phá hoại dài hàng trăm mét, tốn hàng ngàn công, dùng cả tà vẹt đường ray làm vật chướng ngại, nhưng địch có cơ giới, có hoả lực mạnh nên chúng khắc phục cũng nhanh chóng. Kinh nghiệm những ngày đầu kháng chiến trong công tác phá hoại, công tác đánh chặn địch sau này trở thành những bài học quý cho chúng ta. Khoảng tháng 3 năm 1947, lực lượng công binh phối thuộc cho Liên khu III rời khỏi khu vực Hà Nội, Hà Đông và đi chiến đấu ở các quân khu khác. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:41:24 am NHỚ LẠI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Ở QUẬN V HÀ NỘI NĂM 1947 Đại tá Lê Thanh Quang * Nguyên Quận đội trưởng Quân V - Hà Nội năm 1947 Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu ở Liên khu III, lực lượng kháng chiến rút ra ngoại thành. Theo chỉ thị của trên thành lập Quận V tiếp tục cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Chủ trương của Quận uỷ lúc này là: 1. Chấn chỉnh, sắp xếp lại bộ máy công tác, lực lượng chiến đấu. 2. Phòng chống địch tấn công ta và chủ động tích cực đánh địch. 3. Tuyên truyền vận động nhân dân kháng chiến và giúp đỡ cán bộ, bộ đội. 4. Đưa người trở về nội thành. Thực hiện các chủ trương trên, Ban chỉ huy Quận đội đã họp bàn với các Ban chỉ huy Đại đội để thực hiện. 1. Chấn chính, sắp xếp lực lượng: Trước khi sắp xếp lại lực lượng, các đại đội đã tuyên truyền những gương chiến đấu dũng cảm hy sinh của nam nữ tự vệ trong Liên khu, động viên mọi người tiếp tục chiến đấu, bổ sung cho bộ đội, đồng thời cũng nêu lên những ai cần phải theo gia đình tản cư để giúp đỡ gia đình... Sau đợt vận động này chỉ có một số chị em phải về theo gia đình, một số em còn ít tuổi sau này ta đưa đi học, còn số nam thanh niên bổ sung cho Tiểu đoàn Quốc Đảm. Ta sắp xếp được hai Đại đội nam, một Trung đội nữ (sau này chuyển số nữ chiến sĩ sang công tác Phụ nữ, Tuyên truyền). Bộ phận huấn luyện quân sự do anh Lam Sơn phụ trách. Bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu: Sau khi ta sắp xếp lại lực lượng, cũng là thời gian địch đã chiếm thị xã Hà Đông. Lực lượng ta bố trí như sau: Đại đội đồng chí Cầu và Phúc cơ động ven hai bên sông Nhuệ đảm nhiệm chiến đấu từ Quang Tó đến Nhân Hoà ở tả ngạn và từ Hữu Lê đến Khúc Thuỷ bên hữu ngạn sông Nhuệ. Trung đội nữ ở Bối Khê và Trường Huấn luyện ở Hưng Giáo đảm nhiệm đánh địch từ Bình Đà theo đường 71 (Trường Huấn luyện đào tạo Tổ trưởng và Tiểu đội). Đại đội đồng chí Phi và Lãng đóng quân từ Kim Lâm đến Tri Lễ có nhiệm vụ đánh giặc từ đường 22 vào. Tất cả các đơn vị đóng quân ở đây đều phối hợp với quân dân du kích và bộ đội nơi đó có. Ngoài ra lúc này còn có một tiểu đoàn bộ đội của đồng chí An Giao, sau là đồng chí Quốc Đảm thay. Các cơ quan khác của Quận đóng ở các thôn từ Bồ Nâu, Úc Lý, Tri Lễ, Ước Lễ, Quế Sơn. 2. Phòng chống địch tấn công và chủ động tích cực đánh giặc a. Chủ động tích cực đánh giặc: Một mặt ta tích cực phòng địch tấn công, lúc này ta cũng đã nhận thức được địch mở rộng chiếm đóng ra ngoại thành và thị xã Hà Đông thì phía trong địch còn ít lực lượng hoặc có chỗ không có. Ta tổ chức những bộ phận nhỏ từ 3 đến 6 người gan dạ, bình tĩnh, tháo vát, trở về nơi địa bàn mình ở trước để thăm dò tình hình. Từ những hoạt động của các bộ phận nhỏ ấy, ta đã tạo ra được đường ra vào Thành, nắm tình hình địch và nhân dân còn lại trong nội thành. Từ đó tổ chức những bộ phận lớn hơn tuỳ theo nhiệm vụ của từng việc riêng rẽ chính trị, quân sự hay chính trị quân sự phối hợp, như trừ gian thì chỉ cần 3 người, khi làm công tác tuyên truyền thì nửa tiểu đội kể cả người của quân sự và tuyên truyền. Khi hoạt động mang tính chất quân sự như quấy rối, gây tiêng động, tiếng nổ cũng chỉ dùng đến vài tiểu đội có cán bộ trung đội đi theo. Có lần ta dùng đến đại đội đánh nhà Dầu ở Khâm Thiên, đốt cháy dầu, đến mấy ngày sau địch mới dập tắt được. Những hoạt động này đã phá luận điệu tuyên truyền của giặc, rằng chúng đã đánh dãn được chúng ta. Những hoạt động như vậy làm bà con ta hiểu thêm đường lối kháng chiến và tạo điều kiện để sau này đồng bào ủng hộ kháng chiến. b. Phòng chống dịch tấn công (chống càn quét): Song song sử dụng lực lượng nhỏ đi sâu vào hoạt động trong nội thành, đại bộ phận lực lượng chiến đấu của Quận vẫn thường xuyên luyện tập và sẵn sàng đánh địch. Sau khi chiếm thị xã Hà Đông, giặc thường xuyên nống ra tấn công ta từ phía Bắc theo hai hướng: - Từ thị xã Hà Đông theo đường 70 (đôi khi có cả cánh quân từ Văn Điển theo đường 70 vào), đến ngã ba Tó hợp với nhau có xe tăng, xe bọc thép đánh xuống Tó, Nhân Hoà (tả ngạn sông Nhuệ). - Từ thị xã Hà Đông qua Đa Sĩ, Mậu Lương xuống Hữu Từ, Cự Đà. Ngay từ cuộc tiến công đầu tiên này, sau khi chiếm thị xã Hà Đông, chúng tiến công để thăm dò tạo điều kiện mở rộng địa bàn xuống Tó và dãn lực lượng ta. Chúng đã bị đánh quyết liệt bởi quân dân du kích ở các thôn ven sông và du kích Quận V. Chiều, chúng phái rút về Thanh Liệt và đường 70. Ngay đêm đó, trung đội đồng chí Sự tập kích vào cụm quân ở đường 70, diệt một số địch và đánh hỏng một xe tăng địch, ngày hôm sau địch phải dùng xe kéo đi. Cùng lúc tiểu đoàn đồng chí Quốc Đảm tập kích vào cụm quân ở Thanh Liệt. Sau đó ta và giặc còn nhiều lần giáp chiến với nhau ở khu vực này. Không lần nào khi rút quân mà chúng toàn vẹn không vác xác nhau về. Ở đây đã có trận chiến đấu nổi tiếng "Hùm sám Cự Đà" - tức là đồng chí Sự, trung đội trưởng du kích Quận V Hà Nội. Cuộc chiến đấu káo dài từ sáng sớm của dân quân du kích ven hai bên tả hữu ngạn sông Nhuệ và du kích Quận V từ Hữu Từ, Quang Tó, đến gần trưa giặc đến được thôn Cự Đà. Lúc này, đồng chí Sự, Tự và một số anh em du kích Quận V rút về đến đây quyết định quyết chiến với giặc ở một căn nhà kiên cố ven đường đi bên sông Nhuệ để hạn chế địch triển khai lực lượng. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt không cân sức, ta chỉ có không đến nửa tiểu đội với tiểu liên, súng trường, lựu đạn chọi với bọn Lê dương cùng các loại súng hiện đại và xe tăng. Bọn Lê dương cứ thay nhau hết đợt này đến đợt khác dồn dập tấn công. Khi chúng bị thương vong nhiều, không còn sức tấn công thì chúng lại dùng đại bác ở xe tăng và đại liên bắn vào nơi cố thủ của ta để vác số thương vong ra và cũng là hoả lực chuẩn bị cho đợt đánh tiếp. Cứ như vậy diễn ra nhiều lần cho đến lúc tai các đồng chí ta bị điếc, trao đổi và chỉ huy phải ra hiệu cho nhau. Cuối cùng giặc phải bỏ cuộc, rút lui với nhiều tên bị thương và chết, trận đánh này có ảnh hương rất rộng, có tác dụng cổ vũ mọi người kháng chiến, kể cả nhân dân trong nội thành. Sau này, địch giảm dần cuộc tấn công ở hướng sông Nhuệ khi chúng có điểm tựa ở Thạch Bích, từ đây chúng tấn công ra xung quanh và theo trục đường 71 chúng càn vào khu Đại Định, Hưng Giáo, Bối Khê, chúng càn nhiều lần nhưng không lần nào vượt qua được lực lượng dân quân du kích các thôn và Trường Huấn luyện để xuống đến thôn Quan Nhân. Để hạn chế việc sục sạo của bọn đóng quân ở Thạch Bích có lần du kích Quận V cùng với Tiểu đoàn của đồng chí Quốc Đảm tập kích vào Thạch Bích đã gây cho địch một số thiệt hại, đồng thời cũng gây một số thiệt hại cho dân thường, nên sau trận này ta cũng được Khu nhắc nhở! Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:42:53 am c. Đánh quân nhảy dù ở Bồ Nâu (Bạch Nao), Úc Lý
Vào khoảng tháng 6-1947 sau trận tập kích vị trí Cầu Mới (nằm trên đường Ngã Tư Sở đi Hà Đông) về đến các vị trí đóng quân thì nghe có nhiều tiếng động cơ máy bay và nhân dân kêu "Tây thả võng". Tôi ra quát sát thì thấy giặc đang nhảy dù xuống cánh đồng chiếm lầy lội, lắm đỉa, nhân dân mới gặt lúa xong. Đây là một bất ngờ đối với tôi - người chỉ huy quân sự lúc này vì không dự tính đến tình huống này. Tôi bình tĩnh trở vào, chỉ đường cho đồng chí Xuân Oanh - phái viên của Khu XI, về mạn Chương Mỹ; chỉ đường cho nhân dân sơ tán. Tôi lại trở ra ngoài làng quan sát và tính toán thời gian địch có thể vào đến làng và tin tưởng lực lượng của ta kịp triển khai vào vị trí chiến đấu ở khắp tất cả các ngả đường để chặn đánh địch. Trong khi bọn địch nhảy dù chưa tiếp đất thì ở phía Bối Khê, Đại Định, Hưng Giáo nằm trên trục đường 71 đã có tiếng súng nổ giữa ta và giặc quyết liệt giành giật từ bìa làng, ngõ xóm với đủ các loại súng của giặc. Cùng lúc này ở phía Kim Lâm, Trình Xá bọn giặc từ đường 22 vào đến Trình Xá thì gặp Đại đội của đồng chí Phi (Quận V) cùng với dân quân du kích các thôn theo tuyến làng từ Trình Xá qua Đỗ Động đến Tri Lễ, Ước Lễ, Quế Sơn. Để vào được Tri Lễ gặp cánh quân nhảy dù, giặc không có cách nào khác phải đánh phá từng làng, ở đây chúng cũng gặp sức chiến đấu ngoan cường của du kích Quận V và dân quân du kích các thôn đã nhiều lần hất địch ra khỏi luỹ tre làng bằng súng trường và lựu đạn, nhưng do trang bị của ta có hạn, phải rút bỏ từng thôn, cho đến chiều, địch vẫn không đến được nơi chúng muốn, nên chúng phải rút ra đường 22. Đơn vị đồng chí Phi cũng tổn thất một số. Trở lại cánh quân dù, một phần do gió thổi, một phần nhảy xuống cánh đồng chiêm lầy lội, khi tiếp đất chúng không gần nhau, có tên ở làng Ước Lễ, có tên ở gần làng Tri Lễ, có tên ở cánh đồng Tri Lễ - Úc Lý. Cũng giống như các cánh quân đường bộ, khi chúng xông tới gần làng Tri Lễ, Úc Lý cũng bị đánh. Đến trưa, bọn dù vẫn không gặp được bọn bộ binh, song chúng cũng ập vào được Úc Lý. Tôi và anh em du kích Bồ Nâu bố trí ở phía sau làng, dựa vào luỹ tre làng và các cây rơm, đề phòng địch từ Úc Lý sang Thanh Đa tới. Chúng tôi nghe thấy cả tiếng đập phá và tiếng gà lợn giặc bắt. Cho đến tối chúng rút lên Thanh Đa qua Bồ Nâu. Ngay đêm đó một bộ phận của đơn vị đồng chí Phi và Trường Huấn luyện tập kích vào Thanh Đa và sáng hôm sau ta truy kích khi chúng rút. 3. Hai chủ trương tuyên truyền vận động nhân dân kháng chiến và Xây dựng cơ sở đưa người về Thành Về hai chủ trương này, tôi không nắm được rộng, chỉ nhận xét qua sự thực hiện của lực lượng du kích. Nhìn chung, trong công tác tuyên truyền vận động quần chúng, anh em làm khá tốt. Chỉ trong thời gian ngắn, anh chị em đã tạo được những nơi đi lại để lấy tin tức, điều tra nắm tình hình. Dù ở nội thành, ở vùng tự do nơi đóng quân, được dân cưu mang, giúp đỡ, chan hoà không cách biệt và được dân bảo vệ. Trong trận giặc nhảy dù, quần chúng đến được làng Quan Nhân, lùng sục bắt lớn, vô tình chúng phát hiện máy chữ ở chuồng lợn, nhưng vì tham ăn chúng chỉ khiêng lợn gà đi. Bà chủ nhà ẩn nấp gần đó bèn vào lấy cất dấu chỗ khác, bên ngoài nơi cất giấu mới, bà vất ngổn ngang nhiều thứ cả bu gà. Sau này tôi hỏi vì sao bà làm thế, bà kể: để ngổn ngang như vậy làm giặc vướng chân, còn bu gà là vì chúng tham ăn. Khi cướp được cái ăn rồi thì không lục lọi nữa, lại còn sợ du kích nữa, nên phải rút nhanh. 4. Việc xây dựng cơ sở đưa người về nội thành Từ sau tháng 6-1947 ta làm được nhiều hơn, đưa được nhiệu cán bộ đáng viên vào nội thành qua đường bí mật, qua cách hồi cư cùng gia đình. Trong số anh chị em này, có đồng chí bám trụ được lâu dài, thực hiện tốt công việc được giao, có đồng chí bị giặc bắt, đã một lòng kiên trung với Đảng với dân, không phản bội công khai. Những đồng chí này được Đảng chăm nom, được cơ sở nuôi dưỡng tin yêu, tiếp tục thăm nuôi ngay cả khi bị giặc bắt giam. Có đồng chí sau một thời gian hoạt động bị lộ, lại trở ra vùng kháng chiến tiếp tục hoạt động. Ban chỉ huy Quận khi đó gồm 4 đồng chí: Lê Thanh Quang, Quận đội trưởng; Chu Văn Biên, Quận đội phó; Hồ Trúc, Chính trị viên; Lương Hoài Tấn, Chính trị viên phó. Những ấn tượng sâu sắc về tình cảm đồng chí, đồng đội, những gương chiến đấu của nam nữ tự vệ, tấm lòng của nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ kháng chiến điển hình là những cán bộ chiến sĩ nhận nhiệm vụ không một chút đắn đo khi đi sâu vào vùng địch đổ nắm tình hình..., hay các trận chiến đấu ở Cự Đà, ở Hưng Giáo, Bối Khê, Trình Xá, Đỗ Động đánh bộ binh địch trong trận chúng nhảy dù ở cánh đồng Bồ Nâu - Tri Lễ; lòng dân đối với kháng chiến và bảo vệ tài sản (máy chữ của Quận đội) ở thôn Quan Nhân. Những hình ảnh ấy đã đi cùng tôi trọn cả cuộc đời chiến đấu, đã tạo cho tôi tiếp thu những lý luận được học sau này để nhận thức tình hình và xử lý trong công việc. Ngày 10 tháng 3 năm 1992 Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:46:58 am MỘT VÀI KỶ NIỆM CHIẾN ĐẤU THỜI KỲ 1946-1948 Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) * Nguyên đại sứ VN tại Phillipin Nguyên Chính trị viên kiêm Đại đội trướng Đại đội 3 - Quận V - Hà Nội Tôi tham gia lực lượng Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, đã cùng đơn vị chiến đấu bảo vệ Khu Đấu Xảo. Sau khi giặc Pháp đánh chiếm Đấu Xảo, tôi về văn phòng Khu ủy Hà Nội, gặp đồng chí Đỗ Trình và nhận làm nhiệm vụ phái viên quân sự. Khi Ủy ban Kháng chiến Liên khu III rút xuống Kim Lủ, đồng chí Đỗ Trình giao cho tôi nhiệm vụ xây dựng thêm một đại đội mới, có phiên hiệu Đại đội 3. Tôi là Đại đội trưởng, hai đồng chí Châu và Câu là Đại đội phó. Đại đội đóng quân ở đình làng Hữu Lê, Hữu Từ. Rồi sau đó, đội hình đóng quân của đại đội lần lượt ở Cự Đà, Khúc Thuỷ, Khê Tang, Bối Khê, Úc Lý và Cự Thần, Động Giã. Về trận chiến đấu tháng 3-1947 ở Cự Đà, lực lượng Đại đội 3 được đánh hỗ trợ trong tình huống ngoài dự kiến như sau: Trung đội Vũ Văn Sự thuộc Đại đội 2, vốn đóng quân ở Cự Đà đã lâu, được lệnh rút về Tri Lễ, Ước Lễ để nghỉ. Quận đội chỉ thị Đại đội 3 đưa một trung đội lên thế chỗ. Đúng vào hôm các tiểu đội của trung đội anh Sự vừa rút xong về phía sau, trung đội thay thế chưa kịp đến vị trí, thì địch tiến đánh Cự Đà. Trung đội bộ gồm anh Sự, Tự... phải tổ chức chiến đấu tại chỗ. Còn trung đội thay thế do anh Minh chỉ huy phải bố trí quân ở Khê Tang, tổ chức đánh hỗ trợ, thu hút một phần hoả lực địch. Anh Hồng thuộc trung đội này đã hy sinh ngay tại thửa ruộng làng Khê Tang (gần cuối làng Cự Đà), chúng tôi đã mai táng anh Hồng tại đó. Về trận đánh quân nhảy dù ở Bồ Nâu tháng 6-1947. Khi ấy, trong vùng địa bàn đóng quân của Quận V có hai đại đội. Đại đội 3, một nửa quân số đóng quân từ Bối Khê xuống Quan Nhân do anh Châu - Đại đội phó phụ trách; một nửa đóng quân từ Kim Lâm xuống Cự Thần, Đống Giã do tôi (Bùi Văn Phi) trực tiếp phụ trách, chỉ huy sở đặt tại nhà cụ Được ở thôn Động Giã (con trai cụ là Vũ Báo, đại tá không quân đã về hưu). Đại đội 2 của anh Ngọc già, có anh Phương là Đại đội phó kiêm Chính trị viên, đóng quân ở Tri Lễ, Ước Lễ, Từ Châu. Ngoài ra, còn một Đại đội Vệ quốc quân do anh Mậu - bạn học của tôi, làm Đại đội trưởng, đóng quân ơ Khu Vác và Canh Hoạch. Sáng sớm hôm đó (17-6-1947) thức giấc do báo động có tiếng máy bay. Ra sân quan sát thấy có hai máy bay bà già bay lượn trên bầu trời, tôi phán đoán có thể địch nhảy dù. Lập tức tôi cử một trinh sát lên Kim Lâm, Văn Quán bám sát, canh chừng địch theo đường 22 về phối hợp với quân nhảy dù, một mặt bố trí lực lượng chốt chặn ở Cự Thần, Động Giã. Đồng thời tổ chức, vận động dân làng sơ tán xuống Quế Sơn và phía dưới. Tôi cũng cử giao thông đưa thư sang cho anh Châu yêu cầu bố trí chặn đánh địch hướng từ Cự Đà, Khúc Thuỷ xuống, nếu địch mạnh, thì che dấu lực lượng tại chỗ, chờ khi địch rút, sẽ đánh tập hậu. Sau khi máy bay bà già đi khỏi, tốp máy bay khác ào tới bắn phá các làng trong khu vực, rồi đến máy bay thả quân dù xuống cánh đồng Bồ Nâu. Cánh quân địch từ Cự Đà Khúc Thuỷ xuống, phối hợp được với bọn quân dù. Còn cánh quân địch đi theo đường 22 đến Cự Thần bị Đại đội 3 chặn lại, không vào được làng, quân ta bắn bị thương 6 tên địch ở cánh đồng Văn Quán xuống Cự Thần; cho đến chiều, địch phải rút. Bọn quân dù tập trung vây quét làng Bồ Nâu - nơi có cơ quan Quận đội và Quận ủy. Cán bộ ta không có ai bị thương, bị bắt. Đêm đó, địch tập trung ở Bồ Nâu, cướp phá, đốt nhà dân. Tôi cử hai tiểu đội đi từ Tri Lễ sang Bồ Nâu đánh quấy rối địch. Địch không bắn trả. Ta cũng không nắm được thiệt hại của địch. Sáng hôm sau, khi địch rút từ Bồ Nâu sang Bối Khô (theo đường đê sông máng) về hướng Cự Đà, anh Châu cho quân đánh đuổi, địch bị thương một số và vứt bỏ lại một hòm súng cối. Quân Đại đội 3 cũng đánh một số trận tập kích. Hai lần đánh úp nhà dép Con Nhân (gần Bạch Mai). Một lần đánh vào sân bay Bạch Mai, đốt phá hai máy bay của địch (báo Thủ đô có đưa tin). Trận này do anh Dư - Trung đội trưởng chỉ huy. Nhiều lần đánh vị trí Thạch Bích, nơi đây là làng Công giáo toàn tòng, giặc Pháp và bọn Công giáo phản động thường càn quét, cướp phá Khê Tang, Bối Khê, Bình Đà v.v... Đến tháng 10-1947, tôi (Phi) được cử làm Trưởng ban nội thành Quận V, huấn luyện và tổ chức đưa cán bộ về Thành theo các tuyến, hoặc theo các gia đình hồi cư, về để xây dựng cơ sở ta trong lòng địch. Những cán bộ tôi trực tiếp bố trí đưa về chị Vóc, chị Cặp, cô Nguyệt, cô Mai (tức Nhị), cô Vân (Phượng) v.v... Các đồng chí hoạt động khá, cung cấp nhiều tin tức tốt. Có đồng chí vào hoạt động một thời gian thì được kết nạp Đảng. Từ tháng 3 năm 1948, tôi (Phi) được điều đi công tác khác (Tuyên huấn). ĐOÀN HẢI ghi theo lời kể của đồng chí Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) Ngày 16 tháng 6 năm 1993. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:49:31 am CHÚNG TÔI ĐÁNH PHÁP XÂM LƯỢC Đại tá Lê Quang Chúc* Nguyên Đại đội phó Đại đội 3 - Quận V Hà Nội Trong khí thế sục sôi của Cách mạng tháng Tám 1945, ba anh em tôi cùng hoà chung vào sóng người Hà Nội, tham gia tổng khởi nghĩa. Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, ba anh em tôi cùng gia nhập đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, dù em trai tôi lúc đó mới 14 tuổi. Hơn một năm trước ngày nổ súng chống Pháp là thời gian rất quý báu. Chúng tôi được giáo dục về chính trị, được huấn luyện. Những vấn đề cơ bản về quân sự, rèn luyện quân phong quân kỷ, học chiến thuật du kích, tập dã ngoại... Công tác xã hội cũng khá sôi nổi như tham gia chống giặc đói (mỗi tháng nhịn ăn một bữa), chống giặc dốt (buổi tối đi dạy bình dân học vụ), dạy thiếu nhi hát, vận động Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, chống bọn Việt quốc, Việt cách phá hoại trên các đường phố; vận động nhân dân bãi thị chống âm mưu của thực dân Pháp. Bản lĩnh của người chiến binh còn rất khiêm tốn song ý thức tổ chức kỷ luật, rèn luyện nếp sống đoàn kết đồng đội, nhất là lòng yêu cách mạng, ghét Việt quốc, Việt cách, ghét thực dân thì được kế là tốt. Trưa ngày 19 tháng 12 năm 1946, mẹ tôi đến thăm ba anh em chúng tôi ở Đấu Xảo - nay là Cung Văn hoá Hữu nghị trên đường Trần Hưng Đạo. Chỉ sau đó mấy tiếng đồng hồ, súng kháng chiến chống Pháp đã nổ, gia đình tôi ly tán mỗi người một nơi. Em rể tôi là Phạm Văn Chương hy sinh ngay sáng 20-12-1946 ở khu vực hồ Ha-le (Thiền Quang), được hai đồng đội là đồng chí Thọ và đồng chí Tôn thuộc Trung đội Ký Con khiêng về Bệnh viện Bạch Mai, nay vẫn không tìm được mộ. Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, gia đình tôi mới được gặp lại nhau. Mẹ tôi và em trai tôi cũng đã mất lâu rồi. Những người thân yêu nhất trong gia đình tôi hồi đó nay không còn ai. Nhưng những kỷ niệm sống và chiến đấu những ngày đầu kháng chiến ở Hà Nội, cho dù đã qua 55 năm - từ một thanh niên mới độ trưởng thành, nay đã ngoại 70, tôi vẫn còn nhớ như mới ngày nào đây thôi. Tôi lược ghi lại một số trận tôi được trực tiếp đánh địch thời kỳ đó. Ngày đầu, trận đầu đối mặt với lính Pháp bằng quả lựu đạn Phan Đình Phùng. Chập chiều ngày 19-12-1946, tổ tôi - tôi là tiểu đội trưởng - đã triển khai xong ở ngã tư Hàng Lọng - nay là dường Lê Duẩn - sẵn sàng đánh địch. 20 giờ 3 phút đêm 19-12-1946, đèn tắt, súng đã nổ nhưng khu vực chúng tôi còn yên tĩnh. Chúng tôi có một đêm xem xét địa hình, luồn qua các nhà dân theo đường mở đã chuẩn bị sẵn. Nhân dân ở đây đã sơ tán hết. 8 giờ sáng ngày 20-12-1946, quân Pháp đã từ phía Đường Thành ra Hàng Lọng, tiến về phía ga Hàng Cỏ. Bộ binh đi sát dãy phố, cứ cách 5 - 6 mét một tên, lưng dựa vào nhà, mặt quay sang phía đối diện. Dừng lại trước mặt tôi bố trí nhìn xuống đường là một háp-tơ-rac trên đặt trọng liên 13,2 do ba tên lính Pháp điều khiển. Chúng bắn vương vãi hướng chúng sắp đi tới. Tôi nằm ở tầng hai, xem lại trụ ẩn nấp, bệ tường hoa, nơi thật rắn rồi đập lựu đạn mực. Lần đầu đập chưa thấy bép, tôi đập lại lần hai thật mạnh rồi thả lựu đạn xuống thùng xe ngay trước mặt. Lựu đạn nổ, tôi không kiểm tra được kết quả do bọn lính bên đường bắn sang xối xả vào chỗ tôi bố trí. Tôi cơ động sang vị trí khác. Suốt dọc đường Hàng Lọng tới ga Hàng Cỏ, chúng tiến tới đâu đều bị chúng ta chặn đánh. Chỉ với lựu đạn, súng trường, quân thưa không đủ sức đánh bật chúng trở lại nhưng cũng buộc chúng phải dè chừng, không dám xông vào nhà, tiến rất chậm chạp. Trận thứ hai đánh xe tăng địch bằng súng trường. Sau trận đánh ở Hàng Lọng, tiểu đội tôi đã nhanh chóng tập hợp thêm anh em Tự vệ Sao vuông, tổ chức thành một trung đội do tôi làm Trung đội trưởng, có chính trị viên và Trung đội phó, mấy chị cứu thương, cấp dưỡng. Chúng tôi được phối thuộc vào Đại đội 29 (đồng chí Lưu Vân làm Đại đội trưởng), Tiểu đoàn523. Cả Trung đội bố trí dọc phố Hàng Bột trên - nay là phố Tôn Đức Thắng - Từ Trung đội trưởng trở xuống, mỗi người chiếm lĩnh một hố cá nhân ngay trên vỉa hè. Đã tọt xuống hố cá nhân thì cứ ém ở đó tối ngày, bất di bất dịch. Đến bữa, chị em cấp dưỡng thả xuống mỗi hố một suất cơm nắm, còn nước uống thì hãy đợi đến tối. Sáng 23-12-1946 xuất hiện xe tăng địch tiến từ phía Hàng Bột trên xuống. Trên mặt đường la liệt bát úp, nghi binh. Giả thiết dưới bát úp nào cũng có mìn thì mìn úp bát lên trên chắc hẳn mìn không to, không đủ sức phá hỏng xe tăng, và địch cũng hiểu rõ quân ta lấy đâu ra mà nhiều mìn như thế; giá mà có B40, B41, mìn định bướng, mìn đánh tăng như bây giờ thì khỏi nói. Tăng địch cứ lù đù bò qua; vào tầm súng, ta cứ nhè vào tăng mà đùng đoàng, trọng liên của địch hối hả bắn trả. Đánh bộ binh địch trong công sự, ngoài công sự. Ngày 24-12-1946, Đại đội trưởng Lưu Vân lệnh cho trung đội tôi xung phong vào Tu viện Jeanne d'Arc (nay là Viện Bảo tàng Mỹ thuật). Địch có ổ đề kháng rất lợi hại ở đây. Chúng có FM Thompson, quan sát được xa, phát hiện bóng quân ta là chúng bắn. Quân ta được bổ sung thêm đạn mousqueton, 7-9 và chỉ có thế thôi. Tuy ta đông hơn nhưng hoả lực kém bạch binh không sao đột phá được tường vừa dày, vừa cao cổng chắc. Ta áp sát nhưng chúng bắn rát không tiến lên được nên chỉ đánh từng đợt rồi lại nghỉ. Đồng chí Lưu Vân nổi giận, tay lăm lăm khẩu súng ngắn, tìm Trung đội trưởng để trừng trị vì không chiếm được điểm chốt của địch. Cũng may lúc đó tôi đang nằm đối đầu với địch mà không đối diện với Đại đội trưởng nên chẳng xảy ra chuyện gì cả. Những ngày tiếp theo bộ binh địch cố lấn chiếm sang trận địa ta. Chúng luồn qua sân Septo (sân vận động Hà Nội bây giờ) thì bị trung đội chặn đánh. Trên những điểm cao thuận lợi, dễ phát hiện chúng từ xa; tên nào xuất hiện, chúng tôi đàng hoàng làm đúng yếu lĩnh xạ kích, tỉa liền, buộc chúng phải quay lại, nhiều ngày vẫn không vượt qua được sân Hàng Đẫy. Cầm cự dài ngày ở khu Hàng Bột, chúng tôi rút dần về Cầu Mới, Ngã Tư Sở. Ăn Tết kháng chiến đầu tiên ở Phùng Khoang. Bộ đội và nhân dân luôn bên nhau cùng đánh giặc. Khi địch tràn qua, quân ta luôn trở lại và dân cũng trở lại, trừ ông bà già và trẻ em sơ tán. Địch đã lấn chiếm đến Ngã Tư Sở. Ban ngày chúng nống rộng, kiểm soát xung quanh. Ban đêm, co vào một số nhà dân vững chắc, tổ chức hình thành điểm đề kháng, công sự chưa có gì đáng kể. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:51:57 am Chúng tôi đón Tết Đinh Hợi bằng trận tập kích địch ở Ngã Tư Sở. Trong đội hình của đại đội, trung đội tôi lặng lẽ trong đêm tiến về điểm địch chốt không khó khăn gì. Địch đi lại, hút thuốc. Ta nằm im chờ lệnh. Đúng giờ đón giao thừa, quân ta nhằm vào địch, đồng loạt nổ súng. Địch rút vào trong nhà, chốt chặt cửa lại. Ta tiếp cận, thả lựu đạn vào cửa sổ. Rút lên tầng trên, địch bắn và thả lựu đạn xuống. Ta đánh tiếp, không rõ thương vong của địch. Bên ta, một chiến sĩ bị thương nhẹ ở tay do lựu đạn của ta nổ nhanh trong cửa sổ. Cả đại đội không đánh chiếm được điểm nào, gần sáng thì rút về làng Phùng Khoang (quận Thanh Xuân) ăn Tết, cũng đủ bánh chưng, thịt lợn. Quân dân vui vẻ chúc nhau năm mới, năm kháng chiến chống Pháp đầu tiên ở Hà Nội.
Sau Tết, trung đội tôi trở về đội hình Đại đội 3, Quận V, đồng chí Việt Châu làm Đại đội trưởng, đồng chí Bùi Văn Phi chính trị viên. Đơn vị đóng quân ở khu vực Quang Tó, Cự Đà Khúc Thuỷ, Tam Hưng... Địch đã tràn xuống Ngã Tư Vọng, trường bay Bạch Mai nhưng do lực lượng có hạn, ban ngày còn cơ động quanh khu vực, đêm trụ lại một số điểm. Vượt qua cánh đồng Định Công thượng, trung đội tôi tập kích vào sân bay Bạch Mai. Bí mật tiếp cận, vượt qua đường bảng, đột nhập vào một số hăng ga để máy bay, không gặp địch; chúng tôi phá gỡ một cửa máy bay Air - France mang về làng Động Giã. Đêm đêm, chúng tôi vẫn liên tục hoạt động: tập kích vào Ngã Tư Vọng, Thịnh Liệt, Thạch Bích, đặt mìn cài lựu đạn, cắt dây điện thoại của địch. Do luôn bị ta tập kích nên địch đã đóng thành những vị trí nhất định, có công sự, có hàng rào nhưng cũng chỉ vài hàng tre nứa, chưa có gì vững chắc lắm. Quân ta vẫn súng trường, lựu đạn và còn học thêm cả bắn cung nỏ ở làng Ước Lễ, vậy mà vẫn luôn chủ động tiếp cận địch, thông thường bắn nhau đến gần sáng thì rút lui để bảo toàn lực lượng. Trong trận đánh của quân ta ở Cự Đà do đồng chí Sự chỉ huy, trung đội tôi cũng đã tham chiến. Đóng quân ở khu vực này, ban ngày đặt cảnh giới ở câu Quang Tó, có tổ luôn sâu giáp nội thành để nắm địch. Đêm hôm trước khi xảy ra trận Cự Đà, đơn vị tôi vừa bàn giao nhiệm vụ chống giữ Cự Đà, Khúc Thuỷ cho đồng chí Sự. Đơn vị bạn vừa giải quân, đơn vị tôi vừa rút sang Hữu Lê bên sông Nhuệ ngang Cự Đà thì tờ mờ sáng, cũng là lúc xe tăng, thiết giáp và bộ binh địch tấn công vào Cự Đà. Xe tăng địch vượt qua ruộng vườn, xông vào giữa làng Cự Đà. Đơn vị đồng chí Sự dựa vào những nhà hai tầng, đánh trả quyết liệt. Chúng bắn AT, nổ mìn vào những ổ đề kháng của ta nhưng không kết quả, buộc phải dừng lại. Đơn vị tôi nằm đối diện với Cự Đà, cách một con sông nhỏ, quan sát rõ tây đen, tây trắng đi lại sục đồ và kiếm ăn. Chúng tôi cứ nhè từng tên bắn tỉa. Cả ngày, chúng không tiến được xuống Khúc Thuỷ, phải rút về. Đánh địch nhảy dù xuống Bồ Nâu, Úc Lý. Sau buổi họp chiều ở Bồ Nâu về, tôi thấy một Đa-cô-ta lượn vòng cánh đồng Bồ Nâu, Úc Lý. Tôi cho là chuyện thường, không quan tâm lắm. Sớm hôm sau (không nhớ ngày tháng), nhiều đợt Đa-cô-ta thả một tiểu đoàn Âu Phi xuống cánh đồng, đúng nơi chúng vừa lượn trinh sát chiều hôm trước. Lượng sức mình, chúng tôi không tiếp cận đánh địch khi chúng mới nhảy dù xuống giữa cánh đồng, vẫn trông rõ khi chúng tiếp đất, gấp dù, tập trung lại thành từng bộ phận. Qua Bồ Nâu. Úc Lý không gặp quân ta, chúng vượt qua cánh đồng, tiến về phía quân ta. Các làng đã tổ chức rào làng kháng chiến, có công sự và có ít hầm bí mật. Địch đi ngoài rìa làng, trang bị nhẹ. Quân ta bố trí trong công sự, dưới luỹ tre rào, chờ địch đến thật gần mới đồng loạt nổ súng. Qua rìa làng Động Giã xuống làng Khê Tang, ta vận động đánh tiếp, chúng không vào được làng. Cuối ngày, chúng tập trung tại làng Đan Thầm để rồi hôm sau rút hết, có thể do vấp trận Cự Đà, xe tăng và bộ binh cũng không tiến sâu được vào hậu phương ta nên chúng dùng chiến thuật nhảy dù tuy không xa trung tâm Hà Nội bao xa. Gọi là đánh quân nhảy dù, xem ra cũng giống những trận chống càn khác, có chăng chỉ là do chúng nhảy dù từ máy bay xuống. Cuối năm 1947, tôi đã là Đảng viên, là cán bộ Đại đội bậc phó, được Quận V cử đi học lục quân khoá IV. Nhìn lại một năm chiến đấu trong khu vực Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội, lúc mới kháng chiến chống Pháp còn đánh giữ trong nội thành, sau lui dân ra ngoại thành, vẫn nhập thành đánh địch. Kinh qua nhiều hình thức tác chiến như tập kích, chống càn, đánh ngày, đánh đêm, đánh xe tăng, xe bọc thép, đánh quân dù... với trang bị thô sơ xoay tròn cả năm đánh địch, ta thương vong ít nhưng cũng không có trận nào đánh lớn, không tiêu diệt được cứ điểm nào, song đối chiếu với sự chỉ đạo của cấp trên, của Thành, của Quận, quân ta đã luôn luôn quấy rối đánh tiêu hao địch, làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên không thực hiện được ý đồ đánh nhanh, giải quyết nhanh. Một đơn vị nhỏ là thế. Cả đại đội, cả lực lượng của Quận, của Thành cùng Liên khu I, Liên khu II, các đơn vị bạn và nhân dân nội ngoại thành đánh lại giặc Pháp, làm cho chúng không thể nhanh chóng chiếm lĩnh được Hà Nội. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:58:55 am THOÁT KHỎI VÒNG VÂY CỦA QUÂN PHÁP NHẢY DÙ BỒ NÂU Lê Tuấn* Nguyên chuyên viên 4 Phòng Tổng hợp Bộ Công an Nguyên Trưởng Công an Quận V Rạng sáng 27-6-1947, anh Hưng là giao thông của Công an Quận V chạy vào báo tin quân Pháp "Thả võng" (thả lính dù). Chúng tôi đã nhanh chóng thu dọn tài liệu, phương tiện, tập trung chờ lệnh. Tôi quyết định trời chưa sáng hẳn, tất cả tản ra, đi lẫn vào dân. Thoát ra khỏi làng. Địa điểm tập trung là trạm giao thông ở làng Quảng Bị bên kia sông Đáy. Còn 3 em giao thông theo tôi (Quý Đoan, Hưng). Tôi phán đoán nên thoát ra phía sau làng, nơi đó là đồng chiêm trũng, chưa gặt hết. Còn phía đường qua chợ về phía Ước Lễ hay sang Úc Lý đều là đồng khô, chắc địch sẽ nhảy dù xuống đó trước, và còn phải tập trung quân mới vào làng được. Tôi bảo cho mọi người biết rõ điêu đó và phải thoát nhanh. (https://i.imgur.com/0s7wweR.jpg) Một lát sau mọi tiếng ồn ào nổi lên, tiếng dân gọi nhau, tiếng máy bay gầm rú, tiếng chó sủa khắp nơi. Đến bờ tre, tôi liền chui vào, hai tay nâng cành tre để các em giao thông chui ra trước, tôi ra sau cùng, tôi không còn thấy cảm giác đau đơn vì gai cào. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:59:47 am Trời đã sáng, sương chưa tan, tôi nhìn lên trời thấy mấy chiếc Dacota quần đảo một vùng rộng quanh làng và tiếp tục thả dù. Một số tên lính rơi xuống ruộng nước, lội bì bõm tìm lên chỗ khô ráo tập trung. Tôi báo các em làm theo tôi: lách người mình sát ven bờ ruộng, không làm cây lúa đổ rạp, địch nhìn thấy rõ sẽ bắn ngay.
Trên vùng trời quê như vỡ ra, dù trắng, đỏ khắp nơi. Tiếng máy bay xen lẫn tiếng súng nổ, chưa rõ địch nhằm bắn nơi nào, nhưng chỗ tôi nằm vẫn yên lặng. Tôi nằm sát bờ ruộng, quan sát hướng địch tiến vào làng để tính đường thoát an toàn. Tôi thấy những tên đã nhảy xuống đất, liền gỡ dù rồi lên đường tiến về phía chợ là bãi rộng trước đình làng Bồ Nâu. Trên đường từ Bồ Nâu lên Làng Sái bọn lính Pháp và da đen đang tập trung tiến về phía chợ. Có vài tên lính da đen nổ súng vu vơ về phía đồng nước. Nhìn lên phía con đường từ Hà Đông đi Vân Đình không thấy xe và bộ binh địch, tôi yên tâm từ từ bò về phía cánh đồng nước đây cỏ lác, có chỗ nước sâu đến cổ 3 em giao thông, nhưng các em không thấy sợ, mà lo cho các anh chị trong cơ quan không biết ra sao. Còn tôi phải cõng từng em qua đoạn nước sâu, vừa lội vừa khoả nước gạt những con đỉa trâu to như ngón tay cái đang lao vào chúng tôi, nhưng cũng không xuể, quanh người chúng tôi đều có vệt máu đỏ loang trên áo quần. Đến chỗ gò cao chúng tôi ngôi nghỉ vắt nước quần áo và gạt những con đỉa trâu đang bám chặt những bắp chân làm chảy những dòng máu đỏ tươi, trong khi các em quá sợ những con vật nhỏ mà sao hung dữ thế, lao nhanh, bám chặt, dứt mãi không ra. Tôi đang gạt đỉa cho các em thì chợt thấy bà hàng xóm nơi đóng cơ quan, đang lội về phía chúng tôi, cho biết dân làng không ai việc gì, nhưng lợn, gà, chó chắc mất hết. Nói xong bà thọc tay vào bị cói đội trên đầu lấy ra một nắm khoai lang luộc đã phơi khô dặn chỉ nhấm dần thôi, đừng nhai rồi nuốt cả... Tôi cảm ơn bà và dặn bà nói lại với mọi người nên đứng tản ra đường, cụm lại dễ dị địch bắn. Đến trưa chúng tôi đến được làng Chuông và qua sông Đáy sang trạm giao thông ở Quảng Bị. Tạm thay quần áo mượn, tôi viết báo cáo tình hình về Ty Công an. Đến gần tối, tôi quyết định trở lại làng Bồ Nâu nắm tình hình, cùng với một giao thông là em Quý. Vượt qua đường cái, chúng tôi lao mình vào cánh đồng nước nhẹ nhàng trườn đi. Đêm ấy trăng thượng tuần chỉ mỏng như lưỡi liềm, toả ánh sáng mờ ảo; trời đầy sao, tiếng ếch nhái kêu râm ran, chúng tôi cứ bò dần đến sát bìa làng mới dừng lại. Đến chỗ ruộng xâm xấp nước, tôi nhìn lên thấy hiện trên nên trời bóng tên lính gác, nhưng nó trên cao nhìn xuống đồng nước không phát hiện được chúng tôi. Chúng tôi lại bò trệch sang hướng khác sát chân bãi tha ma. Trong làng vẫn yên lặng chỉ thấy một quầng sáng ánh lửa phía trước đình. Em Quý kéo tay tôi ra hiệu về một chỗ có hai người ngôi gác. Tôi khẽ kéo em Quý lùi lại và rút. Chúng tôi bì bõm đến sáng thì về tới Quảng Bị. Ngày hôm sau không thấy anh em về địa điểm tập trung, tôi bày cách cho em Hưng mới lên 10 tuôi, cởi trần truồng cho đỉa cắn chảy máu vài chỗ rồi cứ thế tiến vào làng Bồ Nâu vừa đi vừa khóc gọi mẹ khắp các ngõ xóm, đến đình. Giặc không nghi ngờ em mà còn trêu đùa nhại lại "Mê ơi! Hu hu!...". Đến hôm thứ ba thì địch rút quân. Đến chiều nhân dân kéo nhau về làng. Biết chắc địch đã rút, tôi và 3 em giao thông về ngay làng Bồ Nâu. Tối hôm ấy chúng tôi gặp nhau đầy đủ, không ai bị sa vào tay giặc, vui vẻ kể lại chuyện mình thoát ra khỏi vòng vây của địch. Duy có anh Thực tức Tâm (đại tá công an đã chuyến sang Hải quan) không kịp rút nên liều trốn vào nhà dân, sát chuồng lợn. Anh lấy dây khoai đắp kín lên người ngôi thu lu một góc. Anh kể lại anh nhìn thấy rõ mồn một lính Pháp và lính da đen bắn chết con lợn trong chuồng vác ra đình làm thịt trong lòng vô cùng lo sợ chúng phát hiện ra. Đến tối, anh theo chân một số bà con thoát ra khỏi làng mà địch cũng không kiểm soát. Đến Ngã tư Vác anh vào nghỉ ở một làng, chờ địch rút lại về cơ quan. Đêm hôm ấy văn phòng Công an Quận lại hoạt động bình thường, đánh máy báo cáo gửi về Ty. Ngày hôm sau tôi cho cơ quan rút xuống đóng ở làng Ước Lễ. Trong báo cáo tôi có nhận xét: 1. Địch có ý định nhảy dù để bắt sống cơ quan Công an và Quận đội V đóng ở Bồ Nâu và Úc Lý. Có thể cơ quan đóng quân không giữ được bí mật. 2. Địch nhảy dù xuống bao vây làng Bồ Nâu, không có bộ binh đi kèm, kiểu như chúng thực tập một chiến thuật nhảy dù đột ngột bắt sống cán bộ đầu não ở một địa phương. 3. Trong trận này chỉ có một người điên ở làng Bồ Nâu vẫn sống cạnh chợ, chạy ra vừa cười vừa hô "xung phong" bị chúng bắn chết. Thiệt hại 2 ngôi nhà nhỏ bị chủng đốt cháy, lợn, gà, chó bị thiệt hại nhiều. Trong cuộc họp rút kinh nghiệm, anh Nguyễn Tài cho biết báo chí trong Hà Nội đã đăng tin quân Pháp nhảy dù xuống làng Bồ Nâu thuộc huyện Thanh Oai, Hà Đông đã bắt sống được trưởng Công an Quận V Lê Tuấn (tin này đã giúp chúng tôi tương kê tựu kế thực hiện một kế hoạch nghiệp vụ khác). Hội nghị thống nhất nhận định có thể địch sẽ nhằm vào các địa điểm trên chiến khu Việt Bắc. Đúng 4 tháng sau, ngày 7-10-1947 quân Pháp nhảy dù Bắc Cạn và cũng đưa tin bắt sống được Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến tên Va-luy, Tống tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã tức tốc bay ngay ra Hà Nội để rồi lại lập tức bay vào Sài Gòn mà không dự tiệc đón, vì tin đó là nhầm! Trong trận quân Pháp nhảy dù Bồ Nâu ấy, cán bộ chiến sĩ Công an Quận V đã tỏ ra quân sự hoá tốt, bình tĩnh ứng phó tình hình, có kế hoạch bảo toàn lực lượng thoát khỏi vòng vây địch, cũng có thể ghi nhận đó là một thắng lợi lớn. TỐNG THỊ HOÀ ghi Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2022, 07:56:50 am KÝ ỨC VỀ CÔNG AN Ở QUẬN V HÀ NỘI TỪ 4-1947 - 1949 Lê Tuấn Sau những ngày chiến đấu ở Lào về Hà Nội, rồi phụ trách tiểu khu 6 thuộc Liên khu II, đến 3-1947 tôi được anh Lê Hữu Qua, Trưởng ty Công an Hà Nội gọi về giao công tác Trưởng Công an quận V. Tôi chính thức nhận nhiệm vụ tháng 4-1947. Cơ quan Công an quận V đóng tại làng Bối Khê, tại nhà ông chủ hiệu thuốc Hồng Khê. Tôi lúc đó mới 22 tuổi, quen chỉ huy chiến đấu, nay là Trưởng Công an thì thật chưa biết làm gì và cơ quan ở xa Hà Nội thì làm như thế nào. Cán bộ Công an đều thuộc Sở Công an Bắc Bộ, có một số anh mới từ tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu chuyển sang. Quân số trên 50 người, chia làm 4 trạm đóng rải rác ở các làng bao quanh Hà Đông: Đa Sĩ, Mậu Lương, Cự Đà, Khúc Thuỷ. Nhiệm vụ là thu thập tin tức hoạt động của địch. Có một trạm giao thông với độ 7, 8 em làm liên lạc; một văn phòng với 6, 7 nhân viên. Anh Nguyễn Tài, phó Trưởng ty Công an Hà Nội đưa cho tôi cuốn "Service de Renseignements" của Pháp nói về cách tổ chức Phòng Nhì (2e Bureau), cách tổ chức bộ máy, cách tuyển người, cách điều tra thu tin, các hệ thống liên lạc... Tôi nghiên cứu để xây dựng tổ chức của ta và cách hoạt động. Chủ yếu lúc đó là tình hình hoạt động quân sự của Pháp. Tin thu được đều báo cáo về Ty và quận V, lúc đó Bí thư là anh Hà Đăng Ấn, Chủ tịch là anh Thi. Ngược lại có chủ trương gì thì các anh trực tiếp gặp tôi thông báo. Chất lượng tin lúc đó còn kém, chỉ nắm được ở vùng giáp ranh, còn hậu địch chưa nắm được. Lúc này tôi đã hình dung ra Công an phải tích cực đưa người vào nội thành. Tháng 5-1947, giặc càn quét Bối Khê. Công an quận V lại chuyển ngay sang làng Hống, cầu Chiếc. Trong năm 1947 dân chúng hồi cư nhiều. Tôi giao nhiệm vụ cho trinh sát phát hiện những gia đình gốc Hà Nội đang định hồi cư để nghiên cứu. Tôi đã gặp một bà gồng gánh dắt díu 4,5 em nhỏ, ngôi khóc vì bố mẹ mắc kẹt trong nội thành, anh trai đi kháng chiến không biết đâu. Tôi đưa cả gia đình về trụ sở hỏi kỹ thì biết đó là các em anh Trần Phi Hiển đang công tác ở đội Tuyên truyền xung phong Hà Nội. Anh Hiển đã được gặp lại các em và bà vú nuôi, bố mẹ còn ở 48 Henri d'Orléans (Phùng Hưng bây giờ). Anh Hiển xin cho các em nhỏ về, em lớn là Diệu Tân ở lại làm giao thông. Tôi thấy đây là cơ hội tốt để đưa cán bộ vào nội thành, liên bố trí chị Chén là cơ sở đầu tiên vào hoạt động hậu địch. Từ cách đó tôi đã đưa được nhiều cơ sở vào Hà Nội ban ngày lên các phố tương đối đông (Hoàn Kiếm bây giờ), tối về các phố phía Nam Hà Nội trú tại các nhà vắng chủ, ít người. Anh Ấn rất hài lòng và chỉ đạo tiếp các ngành đoàn thể, theo cách đó mà xây dựng cơ sở nội thành. Từ 1947 đến 1948 Công an đã đưa được khá nhiều cơ sở và cán bộ. Ví dụ: Bảo Hùng (đại tá Công an nghỉ hưu), cô Đoan, cô Quý, cô Xuân, cô Vân (chủ nhiệm hợp tác xã Thành phố, nghỉ hưu). Tuy nhiên cũng có người cầu an bỏ nhiệm vụ. Trước tình hình Pháp phát thẻ căn cước (titre d’identité) cho dân để kiểm soát, ta chưa làm được giống thế, phải mua hoặc nhờ người thân quen mua hộ. Có thẻ căn cước là có điều kiện hợp pháp để hoạt động lâu dài. Tuy nhiên, ở ngoại thành, ta phải phá việc làm này. Chúng tôi đã vận động người chụp ảnh là anh Mai bỏ nghề, ta thu một vali cuộn phim, 3 máy ảnh. Địch lại cử tên khác. Ta phải "chụp ảnh", "lấy căn cước" như dân vùng địch tạm chiếm bằng cách khống chế lý trưởng bắt phải nhận là dân để phát thẻ. Trong năm 1947, Công an đã tiến sát vào nội thành. Các trạm tình báo đã xây dựng được cơ sở vững chắc ở ngay Phương Liệt, Khương Thượng, Bạch Mai v.v... Phạm vi quận V ở ngoại thành thì bên này từ Phương Liệt đến Văn Điển rẽ theo Sông Nhuệ qua Đa Sĩ, Mậu Lương, Hống, Rùa, Trù, Chẩy. Phía Bắc theo thị xã Hà Đông đến Ba La Bông Đỏ, Thạch Bích, bên này sông Đáy đến Chuông, Vác, Tía, Đông Quan. Nhưng trong nội thành thì không có ranh giới. Do hoàn cảnh dân nội thành tản cư, nay hồi cư, thì ở quận V lại vào Nam Hà Nội. Các trạm thu tin ngày càng tiến sát nội thành, ngược lại cơ quan quận tránh địch càn quét cứ phải lùi xa mãi. Thường tôi vẫn ra đầu làng Văn Quán nhìn về Hà Nội, lấy cột vô tuyến điện Bạch Mai làm chuẩn. Bỗng một hôm, khoảng 9-1947, tôi không nhìn thấy nữa. Ngay hôm sau anh em đã báo tin về là địch đã cho lính công binh đặt mìn phá cột vô tuyến điện vì sợ ta dùng vật đó làm chuẩn để pháo kích; và địch cũng xây dựng ở đây một vị trí có lô cốt canh gác kiểm soát ngay từ Phương Liệt chặn đường ta thâm nhập vào nội thành. Cuối 1947 anh Phạm Dụ về làm Chủ tịch thay anh Thi. Anh ngỏ ý muốn vào ven nội quan sát tình hình nhân dân. Tôi đã tổ chức cho Phó trạm tình báo ở vùng này là Trần Hoàng Bá (đại tá Bộ Nội vụ đã nghỉ hưu) nắm tình hình để đưa tôi và anh Dụ vào thăm dân. Anh Bá cùng một số nhân viên phụ trách Cầu Giấy - Ngã Tư Sở đưa chúng tôi đi đêm qua Khúc Thuỷ, đường số 7 (Văn Điển - Hà Đông) vào làng Mọc sang làng Láng, bên này Cống Mọc. Chúng tôi được bố trí ở ngay nhà lý trưởng, ngày làm việc cho địch, tối làm việc cho ta. Sáng hôm sau chúng tôi thăm mấy nhà dân về đời sống và tư tưởng của họ. Đến quá trưa đang ăn cơm, có tin địch đổ quân vây quét. Chúng tôi phải chạy lội qua đồng nước giữa Láng Hạ và lăng Hoàng Cao Khải. Chúng càn vào làng, không thấy gì, đến chiều chúng rút. Cơ sở lại đón chúng tôi vào làng. Công an phát hiện ra kẻ báo cho địch về càn quét là một người trước ở bộ đội, bỏ ngũ, trốn về quê là Mọc Trung Kính, muốn lập công với giặc. Ngay tối hôm ấy chúng tôi rút ra vùng kháng chiến. Trước khi rút, anh Dụ nói cần phải xử bắn tên này để làm gương cho bọn tay sai địch phản bội ta. Chúng tôi leo qua tường vào nhà gọi anh ta nói rõ cho biết mình là ai, muốn đi thăm dân yêu cầu anh ta dẫn đường. Đến quán gạch gần đường giáp bốt Cầu Mới, tôi tuyên bố tội anh ta và nổ súng, viết một mảnh giấy nội dung "những kẻ phản bội Tổ quốc sẽ bị xử như thế này" và cài vào áo tím của hắn. Địch ở bốt Cầu Mới nghe tiếng súng nổ, chúng bắn liên thanh loạn xạ. Chúng tôi rút an toàn. Về cơ quan báo cáo lên ty là đội hành động đã vào ven nội trừng trị Việt gian. Anh Qua, anh Tài đã phê bình tôi chủ quan, liều lĩnh. Cuối xuân sang hạ 1947, trong trận địch nhảy dù Bồ Nâu, tôi đã bố trí cho toàn cơ quan phân tán, cất giấu tài liệu, phương tiện, tản ra cánh đồng, hẹn địa điểm gặp nhau. Ngày hôm sau không có một nhân viên nào đến điểm hẹn. Tôi cử em Hưng giao thông nhỏ tuổi nhất trở về làng Bồ Nâu nắm tình hình có ai bị địch bắt không (Hưng hiện ở Mọc Trung Kính làm nghề sửa xe máy). Tôi bày cho em trần truồng lội ruộng cho đỉa bám cắn, đầy người máu chảy, cứ thế đi thẳng vào làng vừa đi vừa khóc vừa gọi "mẹ ơi!". Địch không nghi ngờ gì cười hô hô doạ dẫm em, nhại theo "mẹ ơi!". Em đi khắp nơi trong làng, chỗ địch đóng quân không thấy anh chị Công an nào bị bắt, lại trở ra báo cáo cho tôi. Mọi người đều nghĩ tôi bị địch bắt. Sau này gặp lại nhau vui mừng quá và bàn luôn đến tin của địch tung ra "đã bắt được Trưởng Công an quận V Lê Tuấn" thành tin của ta để giữ bí mật cho tôi sau này. Báo Cứu quốc bèn đưa tin trong vụ Pháp nhảy dù Bồ Nâu, Lê Tuấn, trưởng Công an quận V bị mất tích. Tin đó làm cho anh tôi là Lê Khởi Nghĩa - thư ký cho đồng chí Phạm Văn Đồng - buôn bã thở dài, khiến đồng chí Phạm Văn Đồng phải "chia buồn" về "cái chết" của tôi. Mùa hạ năm 1947, sau khi vào công tác ở ven nội về, tôi được tin địch nổ súng dữ dội ở Cự Đà. Trận này Vũ Văn Sự, cán bộ quận đội chiến đấu rất dũng cảm, địch không tràn xuống được Công an quận V, cũng có cán bộ nằm tại Cự Đà báo cáo về "Pháp cho cả trẻ con Tây (con bọn Tây bị giết đêm 19-12-1946) cầm súng đi đầu bắn vung mạng miệng hò hét chửi rủa. Đầu năm 1948 Thành uỷ có chủ trương cho các quận tích cực bao vây kinh tế địch, không cho dân mang lương thực thực phẩm vào các chợ gần bốt địch, vào nội thành; và bắt những người mang hàng từ nội thành ra, đồng thời cũng bằng công tác nghiệp vụ mà phát hiện số người địch lợi dụng làm tay sai. Các trạm bao vây kinh tế địch đóng sát ven nội ngăn chặn từ xa. Nhưng rất khó khăn. Đường đi muôn ngả, không chặn xuể, tuy có hạn chế được. Ví dụ Công an quận V theo dõi một đám tang từ Cống Thần mà sao cứ đi ngược mãi không thấy rẽ vào làng nào, người khiêng quan tài thì đi nhanh như chạy. Qua Trừ Chẩy thì trạm bao vây kinh tế ngăn lại xét hỏi, thì ra trong quan tài toàn trứng gà trứng vịt. Cũng có thuyền buôn gạo ngược Sông Nhuệ qua làng Rùa thì bị giữ lại, ta tịch thu cả gạo và thuyền chuyển Uỷ ban quận giải quyết. Hoặc hàng nội thành ra là thuốc lá Cotab, Phillip Moris, tân dược, bách hoá v.v... tất cả đều chuyển về Ủy ban quận và ty Công an. Trong công tác này, Công an quận V không có ai vi phạm. Cho đến lúc này tôi đã nắm rõ nhiệm vụ cụ thể của Công an chủ yếu mấy việc lớn là: 1. Xây dựng mạng lưới, đường giây bí mật giao thông vào nội thành, có từng chặng cơ sở nhân dân tốt ở các làng hẻo lánh địch ít sục sạo. Ở nơi này đều có hầm bí mật cho cán bộ lên công tác, hầm bí mật cho trinh sát, hầm cho cơ sở... 2. Xây dựng cơ sở tai mắt trong nội thành, tung người vào làm trong các cơ quan của Pháp, nguỵ quyền. 3. Điều tra âm mưu địch xây dựng các làng tề. Bám sát các bốt địch nắm tình hình chuyển quân, chuẩn bị càn quét vùng nào để báo trước. 4. Ngăn chặn mang hàng vào vì dân đang đói. 5. Ngăn chặn bọn buôn lậu trong nội thành ra, chủ yếu phát hiện gián điệp. 6. Tổ chức đội hành động chuyên phục kích lại địch để đánh địch, bảo vệ đường dây liên lạc vào nội thành được thông suốt. Ngoài ra còn phải xây dựng tổ chức Công an ngày càng hợp lý, cán bộ phải được nâng cao trình độ, phục vụ công tác yêu cầu ngày một cao. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2022, 07:59:54 am Qua công tác dân vận, Công an còn giác ngộ cả những nhà sư có lòng yêu nước. Cụ thể 1948 tôi gặp ni cô tên Trang trụ trì ở một ngôi chùa gần Đông Quan (không nhớ rõ). Nhà sư xin được tham gia công tác. Tôi đã nói rõ để nhà sư suy nghĩ công tác Công an rất gian khổ, không chịu đựng được thì nên ở lại coi chùa. Nhà sư ấy đã quyết tâm và làm công tác cho Công an quận V suốt cuộc kháng chiến, tiếp cận thân nhân nguỵ quyền thường hay lễ bái để lấy tin. Sau hoà bình, hoàn thành nhiệm vụ, lại tiếp tục đi tu.
Cũng có chú tiểu khi cơ quan đóng ở chùa, hợp tính tình các em giao thông, thường chơi đùa với nhau. Khi cơ quan chuyển đi, chú cũng nằng nặc theo đi đòi được công tác. Chú tiểu ấy sau này là Trần An, phó Giám đốc Công an thành phố Hà Nội đã nghỉ hưu. Cũng năm 1948, Công an quận V đã phối hợp với trinh sát Ty Công an Hà Nội điều tra vụ án tên Việt Dũng, quận đội trưởng quận V, VI bí mật làm việc cho địch, báo cho địch những kế hoạch tác chiến của ta, nhất là trận Hoành Bồ ta thiệt hại rất nhiều mà địch không thiệt hại gì. Vụ này còn có tên Bảo giữ điện đài. Việt Dũng ra sao không rõ. Tên Bảo thì năm 1962 làm đơn khiếu oan, có lẽ y nghĩ rằng sự việc trôi qua đã lâu không ai nhớ. Nhưng tôi đã không để lọt một kẻ phản bội mà lại khiếu oan! Cơ sở ở nội thành đã mạnh. Nhiều tin cho thấy những tên tay sai làm việc cho địch đã gây nhiều tác hại cho cách mạng, nhất là những tên phản bội, vì những tên này hiểu biết khá rõ về cán bộ, về địa hình, về sự việc, về cơ sở của ta, rất nguy hiểm cho cán bộ hoạt động hậu địch. Mùa thu năm 1947, tại làng Viên Nội bên bờ sông Đáy, Công an Hà Nội họp với 3 quận IV, V, VI để bàn cách chống lại hoạt động phá hoại này. Tất cả nhất trí thành lập đội hành động lấy tên là đội Thanh Việt, có nghĩa là thanh niên Việt Nam và cũng có nghĩa là thanh trừng Việt gian. Đội Thanh Việt được thành lập. Anh Kim Tấn làm trưởng ban, Lê Tuấn phó ban. Mỗi quận có một đội Thanh Việt của mình. Công an quận V đã trừng trị tên trưởng phố Hàm Long gian ác khét tiếng với dân hồi cư; ném lựu đạn vào các bốt giặc, đặt mìn phá nhà máy nước đá. Hoạt động của các đội Thanh Việt đã có tác dụng lớn, làm bọn tay sai phải nhụt chí chùn tay, và các đầu mối nội thành dễ dàng hoạt động hơn. Cũng thời gian này Công an quận V đóng ở làng Ước Lễ. Trại giam ở chùa Sở. Địch cho máy bay "bà già" thám thính chỉ điểm cho địch pháo kích nhưng chỉ sập vài nhà ngói, cháy mấy nhà tranh. Cơ quan Công an quận V và trại giam vẫn an toàn. Vào gần tết đầu năm 1948, tôi được anh Trần Hoàng Bá, phó trạm một trạm trinh sát nội thành tổ chức bảo vệ tôi vào sát nội thành thăm hỏi cơ sở. Sáng 23 Tết tôi đã vào làng Phương Liệt, vào nhà lý trưởng. Ông này làm cho địch nhưng theo ta. Ông làm cỗ cúng và nhất định mời tôi ở lại ăn cơm. Bữa cơm có thêm anh Hiệp, một cơ sở tình báo của ta ở nội thành, là người làng. Biết tin tôi vào thăm anh cũng ra đón (nay anh về hưu ở trường trung học nông nghiệp Việt Yên, Hà Bắc). Bữa cơm vừa xong thì có tiếng gọi cổng. Chúng tôi rút lên gác. Hai tên sĩ quan Pháp không mang súng bước vào. Nghe chúng nói với chủ nhà thì tôi biết là chúng vào đây kiếm ăn. Thời cơ rất thuận lợi để có thể bắt sống chúng và tước đoạt vũ khí. Nhưng nghĩ đến bảo vệ cơ sở nội thành, chúng tôi không làm. Đến khuya, chúng tôi mới ra về. Chúng tôi rút ra vùng kháng chiến, ông lý trưởng tiễn ra khỏi làng. Tôi đi sau anh Bá một quãng. Thỉnh thoảng trên đường số 1, cứ cách độ 1km lại có bóng một người mặc quần áo trắng bên đường. Có tới 4,5 người như vậy. Hỏi ra thì anh Bá cho biết đó là dân vệ của làng, địch bắt mặc quần áo trắng ban đêm để khi đi tuần chúng dễ nhận ra và kiểm soát được. Nay họ đứng gác cho mình đi, có địch họ sẽ báo cho mình biết mà tránh. Chúng tôi đi đến Đuôi Cá, rẽ vào cánh đồng Huỳnh Cung qua các làng Cự Đà, Khúc Thuỷ, xuôi về Thanh Oai an toàn. 23 Tết ông Táo lên chầu trời, còn tôi, quận trưởng Công an quận V lên "chầu cơ sở ven nội" như thế đấy. Đó là một trong nhiều sự việc còn in sâu trong ký ức không thể phai mờ. Còn nhiều lần đụng độ với địch phục kích trong những lần vào cơ sở ven nội. Như lần vào Yên Sở, một làng ven sông Hồng, gặp Tây lùn phục kích. Tên này gian ác nổi tiếng không kém tên Marcel. Anh Bùi Đức Việt đã đánh trọng thương một tên đội Pháp bằng đòn gánh. Hai bên quần nhau dưới ao, anh Việt đã dùng dao đâm chết nó, máu loang cả mặt ao. Nhưng rồi máu dân lành cũng đổ. Tuy vậy dân vẫn đón tiếp chúng tôi bằng thịt trâu bị địch bắn chết và một bát cơm trắng bong giữa mâm bánh đúc ngô vàng rộn có rất nhiều mày ngô. Bà mẹ già nói với tôi, dân làng quanh năm ăn ngô giã rập nấu bánh đúc, thương ông quận trưởng gian khổ vì dân nên có ít gạo trắng nấu cơm mời ông. Ôi! tấm lòng yêu nước thương cán bộ của những người dân vùng tạm chiếm, khiến lòng tôi vô cùng xúc động, ăn qua quýt miếng cơm cho bà mẹ yên lòng. Bước chân tôi như được tiếp thêm sức mạnh tiến sâu mãi vào vùng địch hậu. Còn anh Bùi Đức Việt sau công tác ở vùng giới tuyến bên bờ Hiền Lương. Năm 1960 anh đã hy sinh khi vượt sông Bến Hải. 1949 tôi chuyển sang công tác khác. Hơn 50 năm đã trôi qua. Lại trải qua nhiều công tác nữa. Thời gian có thể không chính xác, nhưng sự kiện và con người thì không thể nào sai, vì từ trong sâu thẳm trái tim những đồng đội của tôi đã cùng tôi vào sinh ra tử vẫn đậm nét trong tôi. Ghi lại đôi dòng ký ức cũng là để tưởng niệm những đồng chí đã khuất. TỐNG THỊ HÒA ghi Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2022, 08:08:07 am MỘT SỐ CÔNG TÁC CỦA CÔNG AN QUẬN V HÀ NỘI (1946-1948) Đại tá Trần Hoàng Bá * Nguyên cán bộ Công an quận V Hà Nội Từ 11-1946 đến 3-1947 Sau Cách mạng tháng 8-1945, Sở Công an Bắc Bộ kiêm nhiệm luôn chức năng của Công an Hà Nội. Mọi hoạt động lúc này là chống các phần tử phản động trong nước, chống đặc vụ Tưởng; gián điệp và tay sai của Pháp. Cuối tháng 10-1946 anh em trinh sát thuộc Phòng Bảo vệ Chính trị Sở được bổ sung cho các quận, huyện. Tôi và 20 đồng chí được bổ sung về tiểu khu Văn Miếu thuộc Liên khu III làm các nhiệm vụ: 1. Phối hợp với tự vệ, các đoàn thể cứu quốc, nắm lại lực lượng, đánh giá thực chất đội ngũ có khả năng trụ lại và chiến đấu. 2. Rà soát lại những phần tử nghi vấn, Pháp kiều, những nhà kiên cố có khả năng địch sẽ đóng quân để tiến công lực lượng ta. Với những người đó thì phải bắt buộc họ tản cư sớm; hoặc có kế hoạch tước vũ khí của Pháp kiều, khi chiến sự nổ ra thì phải tiêu diệt và phá huỷ các căn cứ đó. 3. Vận động nhân dân đi tản cư 20 chúng tôi với số cán bộ Công an chia khu vực để thực hiện nhiệm vụ trên. Cụ thế là: a/ Từ Giám đến hết Hàng Bột, Hào Nam. b/ Từ nhà Dầu Shell (số 1 Khâm Thiên) đến Ô Chợ Dừa, Xã Đàn bao gồm cả các làng Văn Chương, sau Ga. c/ Từ Ô Chợ Dừa (nhà máy Tóc nay là khu Công ty Vệ sinh) đến Cầu Giấy quặt về Láng, Ngã Tư Sở. Tin tức tập hợp được đều báo cáo cho chỉ huy Công an đại diện Ban Bảo vệ Liên khu III đóng ở trụ sở Công an quận Đống Đa bây giờ. Khoảng 15-12-1946 lệnh trên truyền xuống đắp các ụ chiến đấu: đầu phố Khâm Thiên, phía dưới nhà thờ Hàng Bột, đầu phố Nam Đồng, đầu Ngã Tư Sở. Trong phố thì đục tường thông các nhà. Chiều 19-12-1946, tất cả các đơn vị Công an, quân đội tiểu đoàn An Giao, tự vệ... được phổ biến chuẩn bị chiến đấu nhưng chưa nói giờ nào. Cán bộ chiến sĩ sẵn sàng gọn nhẹ tư trang, sẵn sàng vũ khí chiến đấu. Chúng tôi chuyển địa điểm xuống tập trung ở Ngã Tư Sở. Tối 19-12-1946, khi có tiếng súng nổ liên hồi trong thành phố, chúng tôi cùng với bộ đội, tự vệ vây đánh nhà Deléveaux, khu nhà sĩ quan Pháp ở đầu phố Hàng Bột. Các tổ Công an luôn theo lỗ tường trong các nhà đi nắm tình hình ở Hàng Bột, Khâm Thiên, đồng thời tiếp tục vận động dân đi tản cư. Ngày 20-12-1946, mặt trận Hàng Bột, Khâm Thiên tương đối yên tĩnh. Đến 30-12-1946 quân Pháp với lực lượng đông, nhiều xe cơ giới phá dần các ụ chướng ngại trên đường Hàng Bột, Khâm Thiên đến gần Ô Chợ Dừa. Do chiến sự ngày một lan rộng, một số Công an, bộ đội tự vệ dân dân được chuyển đi bổ sung cho địa phương khác. Công an Liên khu III chỉ còn khoảng 20 và nhiệm vụ chủ yếu là điều tra quân báo mặt trận báo cáo cho Liên khu tình hình ở vùng đai Khương Trung, Khương Hạ, Hạ Đình, Mọc Quan Nhân, Trung Kính, đồng thời sàng lọc số dân từ trong Thành ra và ngăn họ vào Thành. Sự thật họ bị nghẽn lúc đánh nhau nay mới ra được hoặc trở về thu vén của cải đi tản cư. Nhưng do ấu trĩ về nghề nghiệp nên cứ thấy ai mang trong người bất cứ vật gì có 3 màu xanh, trang, đỏ là đều giữ lại đưa về nơi thẩm vấn để phân loại. Địch tấn công chiếm thị xã Hà Đông 3-1947, Công an Quận V sát nhập với Công an Thanh Oai, chia thành nhiều đơn vị đóng rải rác sát các khu vực Hà Đông, Ngã Tư Sở để: - Điều tra tình hình địch. - Xây dựng mạng lưới báo tin trong nhân dân, mục đích hạn chế địch dồn dân về vùng chúng tạm chiếm, vũ trang giải thoát cho nhân dân không theo địch đi lính lập tề; bao vây kinh tế địch không để hàng ngoại nhập vào vùng ta và không cho mang lương thực thực phẩm vùng tự do đem vào chợ gần đồn bốt địch. Thỉnh thoảng ta chôn mìn trên đường Cầu Mới đi Hà Đông; gài mìn, ném lựu đạn khi chúng ép dân ra làm lại Cầu Mới (đã bị ta phá). Khoảng tháng 3,4-1947, ta không cho địch lập chợ Lủ bằng cách ném lựu đạn vào địch, đồng chí Nguyễn Tử Quát đã dùng súng bắn một tên lính nguỵ bảo vệ chợ, nhưng tiếc thay súng không nổ, đồng chí Quát hy sinh tại trận. Chiếm được Hà Đông, Cầu Giấy, địch mở rộng ra vùng xung quanh như Bương Cấn, Chương Mỹ (chùa Trầm), Thanh Oai (Khúc Thuỷ, Cự Đà). Khoảng tháng 4-1947, địch tấn công ra Cự Đà trước khi nhảy dù Bồ Nâu 7-1947, có ý chộp cơ quan đầu não Khu XI Trung ương ở Chương Mỹ và quận V ở Cự Đà, ở Bương Cấn để thăm dò lực lượng ta. Ở quận V ta cũng bố trí phòng ngự ở Cự Đà và Nhân Hoà ở bên kia sông Cự Đà nên chúng không dám đi nữa và rút ngay. Những trận thăm dò đó địch không thiệt hại gì. Nhưng ở Nhân Hoà có đồng chí Tiến công an bị đạn lạc, vết thương nặng mất nhiều máu nên hy sinh. Tuy chiếm được thị xã Hà Đông, đóng quân ở Ngã Tư Sở, trường bay Bạch Mai và cố ra sức bình định khu vực quận V của ta, nhưng cán bộ Công an từ căn cứ Cầu Chiếc, Đan Thâm (gần Sái, Cự Đà) vẫn len lỏi lên tận Cầu Mới, Mọc, Lủ để hoạt động, không cho địch dồn dân, lập tề. Công an cũng gài mìn buộc địch không dám ra ngoài khu vực đóng quân nên ta đi lại không chỉ ban đêm mà cả ban ngày. Cho mãi tới đầu 1948 chúng đóng đồn Quang Liệt ta mới chịu rút vào bí mật, hoạt động vào ban đêm và vẫn bôn tập từ ngoài vào các khu vực quận V, mở rộng phạm vi nắm dân cả ở Láng, Vạn Phúc là khu vực triển lãm Thành Công bây giờ. Cũng từ những hoạt động điều tra địch, nắm dân, vận động nhân dân không chịu lập tề, Công an quận V còn làm nhiệm vụ vận động lính nguỵ, lôi kéo lính nguỵ phản chiến nữa. Công an đã có thành tích dùng 2 phụ nữ cứu quốc lôi kéo được 2 lính nguỵ mang súng ra hàng ta (có một chị sau đó được ta tác thành lấy một hàng binh đó - gia đình chị Vòng anh Thái nay còn sống). Từ 4-1947 đến 12-1948 Sau khi nhảy dù ở Bồ Nâu hòng chộp cơ quan đầu não của Thanh Oai và quận V, địch tiến đến đóng bốt ở Thạch Bích thì trên chủ trương tách Lưỡng Hà thành hai tỉnh Hà Đông và Hà Nội. Ở Hà Nội, thành lập ở ngoại thành thành 3 quận IV, V, VI. Địa giới quận V từ đường Tàu Bay (nay là Trường Chinh) qua Ngã Tư ra Láng đến Cầu Giấy trở xuống và lấy đường 1 làm ranh giới giữa quận V và VI cũng như Dịch Vọng, Trung Kính, Mọc, Mễ Trì thuộc quận V và lấy đường 7 để làm ranh giới giữa quận V với Thanh Oai (Hà Đông). Lực lượng Công an quận V lúc này chỉ còn 10 đồng chí trong biên chế và 5 là tạm tuyển hưởng phụ cấp. Xét về địa bàn thì quận V hoàn toàn bị đồn bốt địch bao vây và nhân dân hầu như đã và đang hồi cư về để cùng cán bộ ta giữ làng, giữ đất và làm ăn để tự cung tự cấp. Địch thì bằng nhiều thủ đoạn vây ráp khủng bố bắt bớ những người nghi đã và đang làm việc cho ta. Đi đôi với những hành động bạo lực đó, chúng ra sức mị dân, tung hàng hoá ra bán, cho tay chân tuyên truyền có chính phủ (bù nhìn), có quân đội riêng v.v... Đồng thời tìm mọi đối tượng tiêu cực, lạc hậu để làm tay sai cho chúng, trước mắt là lập tề, cấp giấy thông hành cho dân để tự do ra vào nội thành làm ăn, buôn bán. Cán bộ ta lúc này gần như bán công khai hoạt động, có nhiều nơi đã phải đào hầm bí mật để ở. Cán bộ làm công tác vũ trang nay cũng khó khăn tập hợp trong các đội tự vệ, làm du kích... Công an ta phải vừa ra sức điều tra những tên làm chỉ điểm cho địch để bắt đưa về hậu phương xử lý, bằng nhiều cách thuyết phục những người mà địch đưa vào làm tiên chỉ, lý trưởng hoặc hương lý, làm trương tuần canh gác không cho Việt Minh vào làng. Nhờ quần chúng đùm bọc nên có nhiều thôn xã không lập được hội tề. Xã Đại Kim (gồm 2 thôn Lủ, Đại Từ là những nới quần chúng kiên cường đã tự động giải tán nhiều hội tề; tối đến là đóng hết các cửa cống vào thôn xóm và đã báo cho cán bộ ta những ám hiệu mỗi khi có địch đi tuần tra, vây ráp. Mỗi khi có cán bộ tới, đúng ám hiệu, khẩu hiệu mới mở cổng. Tết âm lịch Mậu Tý (2-1948), công an đã cùng cán bộ xã Khương Hạ còn tổ chức mít tinh chúc mừng năm mới. Khoảng 2 hay 4 Tết (không nhớ rõ ngày) tôi đã cùng đồng chí Lê Tuấn (quận trưởng Công an quận V) đã ra thôn Phương Liệt cạnh sân bay Bạch Mai để thăm một cơ sở. Sau đó cả hai chúng tôi được cơ sở dẫn ra đường cái để vào nội thành. Vào thời gian này, do Công an hướng dẫn, Quận trưởng Công an Lê Tuấn và Chủ tịch quận Phạm Dụ đã lên thăm, động viên đồng bào. Chúng tôi đều có cơ sở ở các xã từ Vạn Phúc, Láng, Mọc, Mễ Trì, Thượng Hạ Đình, Lủ và Thanh Liệt (có bốt Quang), và Kim Lủ được coi như "chiến khu" của ta. Ở Kim Lủ từ già trẻ, gái trai đều biết tên tôi, một cán bộ Công an quận V. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2022, 08:08:45 am Công tác diệt tề trừ gian ở quận V có nhiều kinh nghiệm, như để phá tề, diệt tề chúng tôi chủ yếu dùng lực lượng quần chúng; còn quận IV thì dùng lực lượng vũ trang, lập làng chiến đấu để phá tề, đánh địch, nên bị tổn thất nhiều. Có thể kinh nghiệm này đã được cấp trên chú ý phân tích khi xác định phương châm công tác vùng địch. Cũng nên thấy rằng, địch rất chủ trọng địa bàn trọng điểm này. Chúng đặt Ngã Tư Sở là Đại lý Hoàn Long, có Ty Công an nguỵ, lập đơn vị mật thám không quân ở sân bay Bạch Mai. Tàn ác nhất là tên Marcel Tây lai trước ở phố Hàng Bột, lập ra bọn mật thám Phòng Nhì. Chúng luôn phục kích trên mọi ngả đường, ban ngày liên tục tuần tra. Hoạt động của Công an quận gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng bị tổn thất không đáng kể, chỉ có đồng chí Mỳ ở Hạ Đình bị địch bắt và ta mất một tiểu liên, một giao thông bị bắt, sau được thả vì chúng không tìm được tài liệu, đồng chí Dân (sau này là Phó Giám đốc Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, đã nghỉ hưu) bị địch bắn thương nhưng không bị bắt. Cũng có đồng chí hy sinh, do địch phục kích trên đường ra vào vùng tự do.
Trong việc địch lập tề, Công an quận V cũng có cách đánh khác, chẳng hạn người ra làm tề là do ta chọn, rồi để quần chúng giới thiệu với địch, được địch đồng ý, thì sau một thời gian ta phá bằng cách bố trí "tề" chạy vào nội thành, để quần chúng nói dối địch do Việt Minh bắt. Có thể nói, hầu hết tề là do ta chọn người, rồi ta lại phá bằng cách vận động họ khước từ với địch, hoặc để trốn vào Thành v.v... Chủ ý của ta là kéo dài thời gian không có nguỵ quyền. Cứ thế, lặp đi lặp lại. Có nơi tới năm rưỡi mà địch không lập được tề nguỵ, như ở Kim Lủ, Đại Từ, Định Công, Hạ Đình, Mọc Quan Nhân, Nhân Chính... Nhân đó, ta đã xây dựng các tổ chức quần chúng, chính quyền ta ở xã, và bám trụ được ở địa bàn. Tôi còn nhớ việc chuyển thư của Chính phủ ta gửi Bollaert - Cao uỷ Pháp ở Đông Dương (sau này y đọc diễn văn muốn cùng ta cứu vãn hoà bình ở Việt Nam) vào khoảng giữa năm 1947. Khi đó Thành uỷ trao nhiệm vụ cho Công an quận V, còn tôi là người đã bố trí quần chúng đưa thư vào Ngã Tư Sở giao cho Đại lý Hoàn Long để chuyển về Hà Nội. Còn việc xây dựng cơ sở ở các thôn, xóm, xã trong quận, chúng tôi có sáng kiến dùng người thân ở thôn này có người nhà, họ hàng, thông gia... ở thôn khác để bắc cầu tạo dựng cơ sở, thông qua giác ngộ giáo dục họ trở thành cơ sở nuôi dấu cán bộ ta; qua đó anh em đỡ phải ngủ ở ngoài ruộng lúa, bờ mương... Với thành tích đó, tôi đã được Ty Công an Hà Nội cấp giấy khen và Ủy ban Kháng chiến Hành chính Hà Nội có thư khen đặc biệt về thành tích phá tề trừ gian (nay vẫn còn lưu) và đi báo cáo ỏ một hội nghị Thành. Công an quận V cũng là lực lượng có thành tích đáng kể trong việc bán công phiếu kháng chiến. Chúng tôi bán cho nhân dân trong quận và qua quần chúng bán cả trong nội thành. Để thực hiện ý đồ bình định cho được nội và ngoại thành Hà Nội, gây thanh thế cho bọn bù nhìn, tạo điều kiện đàm phá với ta trên thế mạnh, và cũng để làm áp lực cho phái hữu ở Pháp dốc tiền của vào chiến tranh, nên hành động xâm lược của Pháp nguy hiểm hơn, thâm độc hơn. Từ giữa năm 1948, sau khi đã đẩy lùi hoạt động của ta ở quận IV, địch quay sang quận V và quận VI. Chúng ra sức càn quét vây ráp, phục kích, tung gián điệp ra các vùng Yên Duyên, sở Thượng (quận VI) và các thôn xã ven đường 6 (Cầu Mới, Hà Đông... thuộc quận V) để quét vét cán bộ, cơ sở ta, đi đôi với việc khủng bố dân, ép cho được việc lập tề. Chúng thẳng tay san bằng thôn Khương Trung, đuổi dân Khương Trung vào nội thành hoặc ra Ngã Tư Sở để làm trắng khu vực bảo vệ sân bay Bạch Mai. Đồng thời đưa những tên tay sai vốn đang cộng tác với chúng ở nội thành, có quê quán ở vùng ven các địa phương ven sông Hồng, đường 1, vùng xung quanh Ngã Tư Sở và lập đội bảo an, lập tề, đi đôi với việc cấp phát "giấy thông hành" cho dân... Chỉ trong vòng 2 tháng sau thì hầu như mọi thôn xóm, xã đều đã có tề và hoạt động của tề nguỵ lúc này lại khá phản động, đã bắt bớ những quần chúng nghi là người của Việt Minh, với thanh niên thì ép vào bảo chính đoàn, các cụ già, phụ lão nếu thấy ai có vẻ "bướng" là đánh đập. Hàng tuần (có nơi chỉ vài ba ngày) chúng lại vây làng, bắt mọi người tập trung ở đình, chùa v.v... để kiểm tra giấy thông hành, ai không có chúng nghi là Việt Minh, thấy ai ghẻ lở hoặc nước da xanh xao chúng cũng cho là Việt Minh để rồi bắt bớ đánh đập. Có trường hợp chúng đánh hoặc bắn tại nơi tập trung. Hành vi dã man bạo lực đó chẳng mấy chốc đã làm quần chúng sợ sệt, tiêu cực đi đến không dám nuôi giấu cán bộ hoặc nếu vì sự xót xa, có ý chí đấu tranh thì cũng chỉ dám đưa cơm ra một chỗ hẹn ở ngoài thôn xóm để nuôi dưỡng, tiếp tế cho cán bộ ta... Tình hình trên còn làm cho một số cán bộ tạm tuyển không trong biên chế của lực lượng Công an quận V cũng dao động đi đến tiêu cực, lúc đầu nhận giấy thông hành của lý trưởng cấp, sau rồi có người lờ đi không nhận việc, có người chạy vào nội thành tìm việc để sinh sống vừa là cầu an, vừa để tránh cho gia đình không bị khủng bố. Các đoàn thể quần chúng như phụ nữ, phụ lão cũng dần dần tan rã và cán bộ các ngành: quân sự, phụ nữ, cán bộ Đảng ở địa phương hầu như ra vùng tự do, về căn cứ... Riêng lực lượng Công an quận V, sớm có ý thức công tác nên đã sơ tán sang thôn Triều Khúc, sang Văn Quán xã Tân Triều, lúc đó thuộc thị xã Hà Đông, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội xây dựng cơ sở, đào hầm bí mật để tối đến lại bôn tập về địa bàn để tiếp tục nắm dân, giữ cơ sở... Tuy vậy, với lực lượng cán bộ Công an quận V chỉ còn lại rất ít 6 - 7 đồng chí (vì một số trong biên chế lại điều động về Ty, đại bộ phận tạm tuyển thì hết tác dụng) nên việc khôi phục lại cơ sở, phong trào không có kết quả mấy. Cũng do điều kiện chính trị như trên và do có chủ trương và phương châm công tác vùng địch nên số cán bộ còn lại đã được chuyển hướng công tác... Những cán bộ xây dựng phong trào cũng bằng cách này cách khác để hợp pháp hoá sự hoạt động của mình. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2022, 08:11:10 am SƯ BÀ TRANG, MỘT NỮ CHIẾN SĨ TÌNH BÁO XUẤT SẮC Lê Tuấn Bước chân qua cổng Tam quan của ngôi chùa bên đường từ Đông Quan ra Tía, tôi hơi ngỡ ngàng vì cái bề thế rộng rãi của ngôi chùa này. Chiếc sân gạch Bát Tràng đỏ au, thênh thang dưới bóng rợp của mấy cây ngọc lan cành lá xanh thẫm, lấm tấm những búp nụ trắng ngà, e ấp dưới tán lá um tùm, toả hương thơm ngan ngát, càng làm cho cảnh chùa thêm u tịch trang nghiêm. Tôi hơi rụt rè bước đến chỗ "trai phòng" thấy một bác nông dân đứng tuổi, từ sân sau chạy ra chào đón: - Thưa! Ông là... - Vâng! Tôi là quận trưởng Công an Quận V, Hà Nội, đến xin gặp vị sư trụ trì ở chùa này. - Thưa ông! Sư bà chúng tôi cũng đã dặn chúng tôi là sẽ có khách quý đến thăm chùa. Đang nắng nôi thế này, ông không để mát trời hãy đi! - Cơ quan tôi ở xa lắm. Đi từ sáng sớm đến đây, mong được gặp nhà chùa để bàn công việc, xong rồi còn về cho kịp trước trời tối. - Sư bà chúng tôi đang tụng kinh. Xin mời ông ngồi nghỉ ở "trai phòng" để tôi lên báo cho sư bà biết. - Ông cứ để sư bà tụng kinh cho xong. Tôi ngồi chờ một lúc cũng được. - Giờ này không phải lúc tụng kinh, nhưng có lẽ sư bà chúng tôi muốn cầu xin đức Phật điều lành... "Trai phòng" là gian nhà tiếp khách thập phương, thoáng đãng, nối liền sân trước với sân sau, rồi đến dãy nhà bếp, chuồng trâu, chuồng lợn, ao cá và vườn rau... Tôi ngôi xuống ghế tràng kỷ bằng gỗ gụ đã lên nước đen bóng, thấy bàn ghế, nên nhà sạch như li, như lau, không chút bụi bẩn, cảm thấy thoải mái với không khí thanh bình, nhẹ lâng lâng ở vùng hậu phương yên tĩnh. Gió mát thổi lộng làm tôi thấy hết nỗi nhọc nhằn mệt đường xa... Bác Mộc đem siêu nước sôi. Bác pha ấm chè xanh, đặt trong chiếc khay vuông bằng gỗ trắc chân quỳ, trong có đĩa Thất hiền, đặt bốn chiếc chén nhỏ, sóng sánh màu vàng tươi của nước chè, bốc mùi thơm ngai ngái. Tôi nhấp ngụm nước chát, thấy vị ngọt trong cổ họng và làm dịu ngay cơn khát. Chợt có tiếng chào: "A di đà Phật!". Tôi quay lại, chưa kịp đáp lễ, bác Mộc đã đỡ lời: - Sư bà trụ trì chùa chúng tôi. Trước mặt tôi là sư bà? Đây chí là cô thôn nữ xinh xắn, dưới chiếc khăn nâu và bộ áo dài màu nâu, chân chất của đồng quê. "Sư bà" là chức vụ của người tu hành đã lên cấp mà không do tuổi tác... Vì sư bà lắm hơn tôi vài ba tuổi, độ 27, 28 là cùng, nên tôi không biết xưng hô thế nào mà chỉ gọi chung chung: - Thưa nhà chùa! Tôi là Lê Tuấn, được anh Thuyên cho biết ý định của nhà chùa muốn trực tiếp gặp tôi để hiểu rõ về công việc... - Thưa ông quận! Tuy tôi đã rũ bỏ cuộc đời trần tục, nhưng nước nhà đang gặp nạn chiến tranh, tôi suy nghĩ nhiều thấy mình không thể cứ núp dưới bóng Phật để sống an nhàn, sáng chiều kinh kệ... mà muốn được đóng góp chút công sức nhỏ mọn vào việc cứu nước. Cụ Hồ đã dạy "Nước nhà chưa được độc lập thì cuộc sống của nhân dân ta còn lầm than, cực khổ...". Tôi nhập thiền, cắt tóc, khoác áo nâu sống, cũng mong cứu khổ cho dân bằng lời kinh kệ... Nhưng thời thế này, muốn giúp dân khỏi khổ chỉ còn cách phải hoạt động thực tế. Tôi mong được gặp ông quận để biết rõ hoàn cảnh dốt nát của tôi, ngoài cầu kinh, niệm Phật, sớm chiều với tiếng mõ, tiếng chuông, còn có thể làm được việc gì khác nữa? - Thưa nhà chùa! Lòng yêu nước của nhà chùa thật đáng quý. Người ta ở hoàn cảnh nào cũng có thể góp sức mình cho cuộc kháng chiến của toàn dân... Ở chỗ chúng tôi có chú tiểu Kính, cũng đã theo chúng tôi làm giao thông liên lạc (sau này là Phó Giám đốc Công an Hà Nội Trần An). Nhà chùa đã cho tôi biết rõ ý định của mình, nhưng tôi cũng xin nói rõ: công việc của công an chúng tôi, hoạt động trong lòng địch có nhiều khó khăn, nguy hiểm chưa lường hết được... Chỉ sơ xẩy một chút là bị tra tấn, tù đày ngay... Nhà chùa đã nghĩ đến như vậy chưa. - Thưa ông quận, tôi đã núp dưới bóng Phật từ ngày còn trẻ tuổi, đã có suy nghĩ kỹ về những lời anh Thuyên gợi ý, tôi cảm thấy mình đã thoát tục là coi nhẹ cuộc đời vật chất của bản thể con người, thì một khi đã quyết đóng góp sức mình vào công cuộc kháng chiến cứu nước, sẽ không ngần ngại gì trước mọi chuyện nguy hiểm, dù có phải hy sinh cũng cam lòng... Xin ông quận cứ cho biết hoàn cảnh tôi có thể làm được việc gì có lợi cho kháng chiến... - Nhà chùa có thể "hoàn tục" (trở về với đời sống thường dân) tham gia vào các đoàn thể Phụ nữ Cứu quốc hoạt động ngay ở địa phương, cũng là kháng chiến, đỡ phải dấn thân vào nơi hang hùm nọc rắn làm chi... Sư bà cười để lộ hai hàm răng đen nhánh, đều đặn như hạt na: - Anh Thuyên cũng đã khuyên tôi như vậy. Nhưng khi lòng mình đã định cởi bỏ chiếc áo nâu sông này thì phải được đặt mình vào nơi đầu sóng, ngọn gió mới bõ công quay về nơi trần tục! - Công việc của công an chúng tôi cần hoạt động điệp báo trong nội thành... mà ở hoàn cảnh nào cũng được. Ngay như hoàn cảnh nhà chùa càng thích hợp với nhiệm vụ này, khi nhà chùa đã có quyết tâm như vậy... - Xin ông quận cứ cho tôi biết rõ công việc... - Nhà chùa có quen biết vị sư nào trụ trì ở chùa trong nội thành như chùa Trấn Quốc, chùa Quán Sứ, chùa Thiền Quang, chùa Chân Tiên... - Tôi có quen với sư cụ chùa Chân Tiên! - Thế thì tốt quá! Nay nhà chùa lại có thể đến xin ở chùa ấy có được không? - Có nghĩa là... tôi lại vẫn đi tu... Sư bà mỉm cười, hơi cau mày suy nghĩ... Tôi chờ đợi, nhấp ngụm nước chè xanh chát, đưa mắt lướt nhìn quang cảnh chùa thấy rõ tấm lòng của sư bà, dứt bỏ ngôi chùa to lớn nguy nga như thế này, có nghĩa là sư bà cũng không màng chi đến lợi lộc của khách thập phương đến lễ. - Ông quận có nói đến một chú tiểu nào cũng đã bỏ chùa đi làm giao thông... Không... Tôi đã cởi bỏ chiếc áo nâu này là không muốn quay về với cảnh Phật trong lúc nước nhà còn chiến tranh. Tôi mong ông quận cứ giao cho tôi bất cứ công việc gì cũng được. Tôi nghĩ nhiều rồi... Nếu ở chùa này thì tôi cũng tham gia được nhiều việc thiện khác... Nhưng tôi đã nói với ông quận từ trước là khi rời bỏ cảnh chùa, dấn thân lại vào cuộc đời thì phải là nơi gian nguy nhất. Tôi đã quyết tâm như vậy và nguyện đem hết sức mình để làm nhiệm vụ... Mong ông quận hiểu rõ cho lòng chân thành của tôi... Tôi không còn lý do gì để từ chối một yêu cầu chính đáng, tha thiết và quyết tâm như vậy của nhà chùa, nên nói ngay: - Nhà chùa cứ thu xếp công việc chu đáo, vài ba hôm nữa đến gặp tôi ở làng Ước Lễ, huyện Thanh Oai. Trạm liên lạc của tôi đóng ngay ở ngôi chùa ngoài đầu làng... Nói xong, tôi đứng dậy, xin phép nhà chùa ra về, thì bác Mộc đã rối rít: "Đang trưa nắng thế này, ông đừng về vội. Sư bà cháu mời ông ở lại xơi tạm bữa cơm rau nhà chùa". - Xin mời ông quận ở lại ăn bữa cơm thanh đạm... Trời nắng, nóng quá, tôi đã bảo bác Mộc làm cơm xong rồi và thu xếp để ông quận nghỉ lại qua trưa... Mấy bà vãi đã đến từ bao giờ, vẫn ngồi xếp dưới nền gạch nghe câu chuyện, cũng lên tiếng chào mời tôi ở lại và vội vã xuống bếp... Chỉ một loáng, bác Mộc đã bưng chiếc mâm gỗ sơn son còn mới chưa tróc sơn, có lẽ chỉ dành trong dịp lễ hội, nay có khách quý là tôi nên đã được đem ra dùng. ... Trong mâm chỉ có bát rau muống, bát dưa chua, bát cà dầm tương... Tôi lúng túng nhìn mâm cơm chỉ có một bát, một đôi đũa... ông Mộc như hiểu ý tôi nên nói ngay: - Sư bà và chúng cháu đã ăn cơm từ sáng sớm. Đến trưa có nồi khoai lang luộc, đến chiều tối mới ăn cơm... Xin mời ông xơi cơm rau nhà chùa. Chúng cháu xin vô phép... Ăn cơm xong, tôi được một bà vãi dẫn đến gian buông che mành mành ngoài cửa để nghỉ trưa. Trong buồng tịnh không có con ruồi nào và không khí mát dịu, yên tĩnh đã ru tôi vào giấc ngủ trưa hè ngon lành... Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2022, 08:12:38 am Mấy hôm sau, lúc tôi đang bận làm việc thì em giao thông vào báo có người chờ gặp tôi ở dưới nhà ngang. Tôi nghỉ làm việc, xuống nhà ngang, nhận ngay ra sư bà với quần láng đen, áo nâu non, chiếc khăn vuông đen chít mỏ quạ... trông rõ một phụ nữ nông thôn xinh đẹp...
- Xin lỗi nhà chùa, bây giờ tôi phải gọi là gì? - Tên em là Trang... Anh cứ gọi em như vậy. Chị "sư bà" nói nhỏ nhẹ, ngượng ngùng trong dáng điệu bẽn lẽn của cô gái đồng quê, của một nhà sư mới học lại tiếng nói của đời trần tục... - Chị Trang ạ! Chị ở lại đây học qua vài điểm cơ bản về nguyên tắc hoạt động bí mật trong lòng địch tạm chiếm, nhưng tôi đề nghị, tóc chị chưa dài, ăn mặc thế này vào vùng địch dễ bị chúng sinh nghi. Chị cứ ăn mặc quần áo nhà sư vào đến trong ấy, khi có nơi ăn chốn ở chu đáo yên ổn tại nhà cơ sở, chị sẽ cải trang lại, để tóc cho hợp với người thành thị và để chờ liên lạc của tôi vào giao nhiệm vụ... Chị Trang thấy tôi nói có lý nên ưng thuận ngay... Sau đấy chị được cài vào gia đình một nhà buôn lớn, là cơ sở kháng chiến ở phố Hàng Bồ... Những ngày rằm, mồng một, chị hay đi lễ chùa Quán Sứ. Chị dùng vốn liếng hiểu biết về đạo Phật nên quan hệ được nhiều bà vợ của bọn nguỵ quân, nguỵ quyền cao cấp. Chị đã lợi dụng mối quan hệ rộng rãi này để moi tin tức tình báo. Và cũng từ đấy, suốt những năm tháng hoạt động bí mật trong nội thành, chị Trang đã cung cấp cho điệp báo nhiều tin tức có giá trị. Có một lần chị ra vùng Tự do gặp lại tôi để xin chỉ thị mới về một chủ trương khác, tôi thấy chị tươi tỉnh, hoạt bát trong bộ quần áo người thanh nữ tỉnh thành, tôi thấy mừng cho chị... Khi xong việc, tôi nói đùa, gợi ý: "Chị Trang cũng nên nghĩ đến việc lập gia đình sau này chứ! Tôi sẽ giới thiệu với chị một cán bộ thật tốt!...". - Em là phụ nữ, cũng có trái tim, nhưng người mà em gửi gắm tâm hồn chỉ có thể trong mong ước mà không thể xây dựng hạnh phúc được. Anh cứ để cho em được suy nghĩ về cuộc đời của mình... Tôi cũng không dám gợi sâu thêm, chắc phải là đau buồn nên mới làm cho chị cắt tóc đi tu... Một cuộc tình duyên ép uổng nào chăng? Thế rồi, chị lại trở vào nội thành để hoạt động bí mật... cho đến ngày hoà bình lập lại. Chị đến gặp tôi và anh Thuyên, nét mặt buồn, ngập ngừng chào tôi để từ biệt. Chị lại quay về với cảnh Thiền êm ả ở làng quê. Tôi và anh Thuyên khuyên nhủ chị thế nào cũng không được đành để chị theo ý nguyện của mình cũng như lúc chị cương quyết cởi bỏ áo nâu sồng, lăn mình vào công tác điệp báo của ngành công an mà không ai ngăn được ý nghĩ sắt đá của chị. Chị là con người có ý chí độc lập, có tư tưởng dũng cảm để quyết định dứt khoát những bước đi của cuộc đời mình... Tôi hỏi chị có trở về chùa cũ nữa hay không? Chị cho biết sẽ trở lại thăm cảnh cũ, người cũ nếu còn, lễ Phật để xin lại trở về làm con của Người... Chị không rõ sẽ ở lại chùa nào, nhưng tin chắc là nơi cửa Phật nào cũng rộng mở với chị... Hơn 40 năm qua, một lần tôi và anh Thuyên rủ nhau đi chơi ra ngoại thành vãn cảnh... - Anh Tuân còn nhớ đến chị Trang không? - Nhớ chứ ! Nhưng biết tìm chị ở nơi đâu! - Tôi biết nơi chị ở rồi... Chị lại đi tu ở chùa Ngãi Cầu. Hôm nay tôi đến rủ anh đi chơi về thăm chị Trang đấy... Tôi và anh Thuyên đạp xe về chùa Ngãi Cầu, hỏi thăm một bà vãi về sư bà Trang. Bà vãi không biết "Sư Trang là ai" nên chúng tôi chưa biết có nên quay về hay đi hỏi thăm ở chùa khác, thì chợt có tiếng nói nhè nhẹ: "Ôi ! Anh Tuấn, anh Thuyên!". Sư cụ Trang đây rồi! Đã gần nửa đời người, trông chị có già đi, nhưng nét mặt và hình dáng thì không thay đổi mấy. Chị Trang tíu tít mời hai chúng tôi vào trai phòng, pha trà, lấy oản chuối bày cả lên bàn mời mọc ân cần... - Chị Trang ạ! Chúng tôi đi tìm chị trong suốt gần 44 năm trời rồi đấy. Tôi vẫn nhớ ngôi chùa ở gần Tía, chén nước chè xanh, bữa cơm thanh đạm của buổi đầu gặp chị trưa hè năm xưa... - Anh nhớ lâu đấy. Tôi cũng không quên được từ ngày xa rời cảnh Phật đi công tác với các anh và buổi trưa hè gặp anh lần đầu mà cứ lưu lại cho tôi một kỷ niệm đẹp trong cuộc đời... Tôi đã qua mấy chùa rồi và nay đến gửi mình dưới cửa Phật nơi này... Hơn 76 tuổi rồi, còn gì. Chị hỏi thăm tôi và anh Thuyên về gia đình và công tác và những anh chị em cùng công tác ngày trước. Tôi nói rõ hoàn cảnh từng người để chị biết... Anh Thuyên thì đã có chắt gọi bằng cụ, còn tôi đã có 6 cháu nội, ngoại... Chúng tôi đã về hưu và vẫn sống ung dung với cuộc đời ngoài vòng danh lợi của người cán bộ kháng chiến năm xưa... - A di đà Phật! Những tiếng niệm Phật của mấy bà vãi già trong làng ra thắp hương lễ Phật, chúng tôi vội từ giã chị Trang đế chị còn tiếp các vãi và đi thắp hương... Một năm sau, có dịp, tôi và anh Thuyên lại rủ nhau về Ngãi Cầu thăm sư cụ Trang... Nhưng đến nơi thấy ra tiếp đón là một sư thầy khác còn trẻ tuổi. Chúng tôi có hỏi đến sư cụ Trang thì sư thầy trả lời: - Cụ chúng tôi đã lại đi trụ trì nơi khác... Chính toà nhà ba gian còn mới màu ngói đỏ, tường vôi trắng này và cả khu vườn chuối rộng ngoài kia là do cụ tôi gây dựng nên... Trước đây chùa này nghèo khổ lắm... Đầu năm nay, cụ tôi đi lễ chùa ở vùng Ninh Bình về và sau đó cụ tôi lại quyết định ra đi và nói sẽ đến ngôi chùa nhỏ điêu tàn nào đấy ở vùng non nước để gây dựng lại cảnh Phật cho khang trang cũng như ở đây trước kia. Tính tình cụ tôi là như vậy. Cứ nơi nào khó khăn thì lại lao đến... Chuyện trò một lúc chúng tôi hỏi thăm Sư thầy về chùa mà sư cụ Trang đang trụ trì thì chính sư thầy cũng không biết đích xác nơi nào. Trên đường ra về, anh Thuyên cứ lẩm bẩm: "Tấm lòng của chị Trang thật đáng quý... Luôn tự nguyện đến những nơi khó khăn nhất để cáng đáng công việc...". Tôi không nói gì, nhưng trong lòng cứ thầm nghĩ mãi một câu: "Thế là cánh chim Hạc lại bay về với non nước thiên nhiên... Chúng tôi là người trần tục biết tìm chị ở nơi đâu!". Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2022, 08:15:44 am SƠN ĐEN TRỞ THÀNH TRINH SÁT VIÊN Sở Công an Bắc Bộ hồi đầu Toàn quốc Kháng chiến Lê Tuân Trong một căn phòng của Sở Công an Bắc Bộ, Lê Tuấn, một cán bộ trẻ đang tiếp một thanh niên đen, quắt, dáng vẻ khúm núm, vụng về, như chưa bao giờ được đặt chân đến đây (Sở Mật thám Pháp cũ). Với Lê Tuấn, anh thanh niên tỏ ra tin cậy, chuyện trò thoải mái thân mật. Sơn tâm sự cuộc đời mình: Sơn không có gia đình, không biết quê quán, 4, 5 tuổi Sơn đã ở Cống Chéo Hàng Lược, tự bươn chải kiếm sống. Lớn lên Sơn là phu đòn đám ma cho nhà ông Louis Chức (Lu i Chức) ỏ phố Takou (Hàng Cót bây giờ), đêm đến Sơn ngủ ở hàng hiên hè phố. Nhờ anh em đồng nghiệp mà Sơn hiểu được nguyên nhân gây ra năm 1945 bao nhiều người chết đói, chính Sơn và các bạn lúc đó cũng đang ngắc ngoải, nên Sơn rất ghét Pháp và Nhật. Võ vẽ đánh vần được khẩu hiệu do các anh Việt Minh kẻ nên Sơn biết rằng nước ta đã được độc lập, Sơn muốn được làm "mật thám" cho ta để trả thù bọn chúng. Nghe Lê Tuấn báo cáo lại, anh Doãn (Chủ nhiệm Phòng Trinh sát) xúc động cảm thông cuộc đời Sơn. Anh tiếp Sơn, giải thích cho Sơn hiểu mục đích và sự khác nhau của công tác trinh sát và mật thám của địch, với tất cả sự khó khăn nguy hiểm đến tính mạng, nhất là phải tuyệt đối trung thành với cách mạng, khi cần thiết không quản ngại hy sinh. Bằng một giọng chân thành, quả quyết, Sơn xin được làm việc. Nhìn Sơn đi ra anh Doãn nghĩ nếu được rèn luyện chắc chắn Sơn sẽ có nhiều công hiến. Sơn được học văn hoá, được giác ngộ cách mạng, được hiểu biết mục đích ý nghĩa của công tác trinh sát của người Công an cách mạng. Song song với học tập là những việc được giao để kiểm tra thử thách và rèn luyện. Việc nào được giao Sơn cũng cố gắng và cố quyêt tâm để hoàn thành tốt. Một thời gian sau, Sơn thay đổi như một con người khác từ nhận thức đến tác phong hành động. Sơn được bố trí chính thức vào một đội trinh sát. Trong hơn một năm Sơn đã góp nhiều công lao trong các vụ trấn áp phản cách mạng như Đại Việt Quốc dân đảng ở Ngũ Xã, Quán Thánh, Đỗ Hữu Vị, nhất là vụ án phố Ôn Như Hầu. Ngày Toàn quốc kháng chiến, trinh sát Bắc Bộ được phân chia nhiều bộ phận và về các Liên khu I, II, III để phối hợp với các lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu. Sau 60 ngày đêm chiến đấu trong nội thành, Sơn được điều về Quận V. Tại đây Sơn được gặp anh Lê Tuấn lúc này đã là Trưởng Công an Quận V. Sơn xin được về đơn vị trực tiếp chiến đấu và được bố trí vào đội hành động. Nhiều lần chạm súng với địch đi phục kích chặn bắt cán bộ, giao thông, Sơn rất gan dạ dũng cảm tiến lên trước và rút sau cùng. Trong một lần đánh chặn địch càn quét sớm vào làng Mậu Lương, đội hành động đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ dân sơ tán ra cánh đồng. Khi rút Sơn vẫn là người đi sau cùng... bắn yểm trợ cho đồng đội rút an toàn. Bất chợt Sơn bị trúng đạn vào bụng, ngã vật xuống. Bọn giặc thấy im bặt tiếng súng, bèn tràn vào làng, bắt sống được Sơn. Theo lệnh tên quan hai Pháp, bọn lính dẫn Sơn đi. Anh đã hi sinh anh dũng. Cảm phục thay người trinh sát xuất thân trong hoàn cảnh bần cùng, được giác ngộ cách mạng, đã cống hiến tuổi thanh xuân cho Tố quốc như ước mơ giản dị của anh. Thể xác không còn và không biết ở nơi đâu, song tinh thần và tình cảm của anh luôn tồn tại trong tâm khảm tôi và đồng đội. TỐNG THỊ HOÀ ghi Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:38:31 am TRẬN CỰ ĐÀ - HÀ ĐÔNG 27 tháng 3 năm 1947 Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự* Nguyên Chính trị viên Trung đội 517 - Đại đội II Sau khi các đơn vị chiến đấu của ta rút ra khỏi Thủ đô, địch thường sục ra các làng ngoại thành, mở rộng vùng kiểm soát, chiếm Cầu Mới, rồi thị xã Hà Đông. Từ đây ngày ngày chúng đi cướp phá, có khi mở hành quân lớn để tiêu diệt hoặc đẩy lùi lực lượng vũ trang của ta ra xa thành phố. Các đơn vị chiến đấu tại Liên khu III đã từng giáng cho địch những đòn chí tử ở nhà Dầu Shell, Khâm Thiên... nay được tổ chức lại, đáng chú ý là sự thành lập Trung đoàn Thăng Long (27-2-1947) với nhiệm vụ chiến đấu ở phía Tây và Nam Hà Nội. Tiểu đoàn 523 có nhiệm vụ đánh địch tiến ra huyện Thanh Oai, được tăng cường đại đội tự vệ chiến đấu của quận V, bố trí các đại đội ở các làng hai bên bờ sông Nhuệ, đặc biệt sử dụng một trung đội có kinh nghiệm chiến đấu trong phố để bảo vệ Cự Đà - Khúc Thuỷ. Hai làng này nằm dọc hữu ngạn sông Nhuệ, cách thị xã Hà Đông 10km về hướng Đông Nam, trù phú nhất tỉnh Hà Đông, nhà ngói, nhà hai tầng san sát, có đường lớn dọc sông, ôtô chạy được, đường làng lát gạch rộng và sạch, trông không khác gì một vài khu phố của Hà Nội. Ban chỉ huy trung đội đóng ở Cự Đà còn ba tiểu đội ở Khúc Thuỷ. Ban chỉ huy đóng ở một nhà hai tầng kiên cố, ngay rìa đường cái nhìn ra sông Nhuệ, cách chợ Cự Đà khoảng 100 mét; phía sau có một căn nhà năm gian lợp ngói nhìn ra một sân rộng, có tường cao ngăn cách với nhà bên, có cổng ra vào ở phía ngõ. Trung đội bộ có 5 người: trung đội trưởng Vũ Văn Sự, trung đội phó Nguyễn Văn San, chính trị viên Nguyễn Đôn Tự (Sự và San là công nhân, Tự là học sinh), quản lý Thái và một em liên lạc (trước giờ chiến đấu em này được cho về phía sau). Vũ khí có 11 quả lựu đạn, một khẩu súng trường với 2 viên đạn đum đum, một khẩu tiểu liên sten với một băng đạn. Sáng 27 tháng 3 năm 1947, khoảng 8 giờ sáng, ban chỉ huy trung đội được tin một đại đội Pháp và lê dương tiến từ phía Mậu Lương có xe tăng dẫn đầu đã đến gần chợ Cự Đà. Ban chỉ huy không kịp điều các tiểu đội nên quyết tâm cố thủ ngay tại nhà trung đội bộ để chặn địch. (https://i.imgur.com/69cjeDZ.jpg) Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:39:13 am Từ 9 giờ sáng, cuộc chiến ác liệt diễn ra ngay từ đầu khi địch phá được cổng vào ngõ, dồn nhau định xông vào thì quả lựu đạn đầu tiên do Tự ném từ trên gác gây thương vong gần một chục tên, chúng rên la, chửi bới, một số bỏ chạy về phía chợ.
Chúng không dám tiến theo đường cái nữa mà luồn qua các lỗ đục ở tường để lọt vào dãy nhà ngang. Một tên mũ đỏ nhô đầu trên bức tường nhà phía sau để quan sát bị Sự bắn một phát đạn đum đum vào giữa mặt. Một tên khác chạy từ nhà ngang qua sân để mở cổng thì bị viên đạn đum đum Sự bắn trúng lưng, ba lô bốc cháy, nó mở được cửa và ngã vật ra ngõ, tiếng kêu như bò rống hoà với tiếng rên la của bọn bị thương nằm ở cổng ngõ. Bị đánh đau, địch tập trung mọi hoả lực, cả pháo trên xe tăng bắn như đổ đạn vào ngôi nhà, phá thủng hai mảng tường sát mái. Rồi chúng thúc bọn mũ đỏ tiến vào chiếm tầng dưới. Bọn này tập trung ở sân nhỏ cạnh bể nước chuẩn bị đánh chiếm nhà bếp thì một quả lựu đạn Tự ném qua khe cửa sổ con ở cầu thang, ít nhất cũng dăm bảy tên bị loại. Địch bắn loạn xạ, ném nhiều lựu đạn lên gác hai để yểm trợ cho việc lấy xác và tải thương. Rồi chúng lại tiếp tục tấn công chiếm tầng dưới. Trung đội phó San và quản lý Thái chống trả quyết liệt và hy sinh trong đợt này. Chúng chiếm được bếp và tầng dưới, đang tập trung chuẩn bị xung phong lên gác thì bị quả lựu đạn Tự ném qua khe sàn quật ngã cả chục tên, nghe rõ tiếng giãy đành đạch, tiếng rên rỉ. Một vài tên chạy về phía Bắc chợ kêu cứu. Một trung đội lính mũ đỏ kéo đến tiếp viện. Bọn này liều mạng hết loạt này đến loạt khác leo qua xác chết xung phong vào cầu thang nhưng đều bị đẩy lui bằng lựu đạn. Có lần chúng tung lựu đạn lên cầu thang. Sự bắt được ném trả lại. Tình hình trở nên gay go vì chỉ còn một quả lựu đạn, Sự và Tự đang suy tính thì hai thằng mũ đỏ xông lên cầu thang, bị Sự lia cho một nửa băng sten ngã gục (sau đó súng hóc). Địch phía sau hoàng hốt kêu lên: Việt Minh có tiểu liên! Sau đó chúng hô: đốt nhà! Chúng dồn các đồ gỗ vào chân cầu thang rồi tưới xăng đốt. Khói lửa mịt mù cả tầng hai. Sự và Tự buộc phải lên sân thượng, nép mình trên đó, sẵn sàng dùng quả lựu đạn cuối cùng để diệt bọn liều lĩnh trèo lên mài. Đã 4 giờ chiêu, địch vẫn bắn nhiều để đưa số thương vong ra xe. 5 giờ, Sự và Tự thấy người rã rời, khát khô cả cổ, vẫn còn căng thẳng vì địch còn ra lệnh cho lính sục tìm xem Việt Minh còn ấn nấp ở đâu. Nhưng cả hai đều rất bình tĩnh, lúc này mới nghĩ đến anh em trong đơn vị. Tự nảy ra ý nghĩ viết vài chữ để lại, lấy gạch vỡ viết "5 giờ 30 chiều hôm 27-3-1947, Sự và Tự cầm cự trong một ngày với non 200 giặc, đã chết ở đây sau khi bắn viên đạn cuối cùng. Sự gật đầu đồng tình. Thời gian trôi qua, Tự lại chữa 6 giờ 30, rồi 7 giờ. Đến 8 giờ tối, một toán chiến sĩ của Trung đội mang đuốc sáng rực đến tìm xác và chôn cất ban chỉ huy trung đội. Thật vui mừng khôn xiết khi họ thấy Sự và Tự còn sống, mặt mũi quần áo đen sạm, sặc mùi thuốc súng. Nhưng họ cũng đau buồn vì sự hy sinh của hai đồng đội. Dù sao địch cũng phải trả giá rất đắt. Trận Cự Đà (Hà Đông) có tiếng vang thời kỳ đầu kháng chiến vì là trận thử sức quyết liệt giữa mấy người chỉ huy trẻ tuổi (từ 21 đến 25) với quân địch có ưu thế về vũ khí và số quân; trận này cùng với một số trận khác đã chứng tỏ thực dân Pháp không thể đè bẹp được ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Ủy ban Kháng chiến Khu XI (Hà Nội) có giấy khen (10-4-1947): "Hai anh với một gan dạ phi thường, đã chiến đấu rất có kỷ luật khiến 40 lính Pháp Đức bị giết và hơn 10 tên nữa bị thương". Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp cũng có giấy khen (25-4-1947) và có quyết định tặng huân chương cho Vũ Văn Sự và Nguyễn Đôn Tự (20-9-1947). Trong quyển "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi", đồng chí Trường Chinh có dẫn ra trận Cự Đà (Hà Đông) "thật đáng nêu gương cho toàn quốc" (Đã được Thôi Hữu viết trong quyển "Đợi giờ chết". Nhà xuất bản Vệ Quốc quân - 1949). Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:42:26 am TRẬN ĐÁNH PHI TRƯỜNG BẠCH MAI TRONG LÒNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI 18-1-1950 Đại úy Trần Hải * Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 108 Mặt trận Hà Nội Tại Thủ đô Hà Nội thời Pháp thuộc, chúng đã xây dựng 2 sân bay: Gia Lâm và Bạch Mai. Sân bay Gia Lâm kề đường 5 đi Hải Phòng. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, quân đội Nhật đã dùng sân bay này là nơi cất cánh của các khu trục cơ đi bắn phá và ném bom các nơi khác ngoài biên giới Việt Nam. Năm 1942 - 1943 sân bay này đã bị không quân Mỹ ném bom gây thiệt hại cho lực lượng không quân của Nhật. Đến đầu cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp tại Thủ đô, sân bay Gia Lâm đã bị bộ đội và dân quân ta đánh gây cho địch một số thiệt hại. Tiếp đến năm 1954, lực lượng vũ trang Thủ đô đột nhập vào sân bay phá huỷ 18 máy bay của chúng. Riêng sân bay Bạch Mai sau khởi nghĩa tháng 8-1945 cho đến năm 1946 tại đây là Trường Quân chính đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở theo nhiệm vụ của Bộ chỉ huy Liên khu XI giao. Đến ngày 15-1-1947, địch huy động lực lượng lớn gồm xe tăng, bộ binh bằng nhiều hướng tiến đánh và chiếm được sân bay này. Địch chiếm được sân bay Bạch Mai nhưng lực lượng bộ đội, dân quân, tự vệ vẫn bao vây và quấy rối nên địch chưa sử dụng được sân bay. Đến ngày 2-3-1947, địch huy động nhiều lực lượng từ nội thành ra, từ Văn Điển qua đường 70 vào. Sau một ngày dựa vào địa hình các thôn xóm, ta tiêu hao và làm chậm bước tiến của chúng, cho đến tối ngày 2-3-1947 địch mới đẩy lùi ta ra khỏi thị xã Hà Đông. Sau đó khi chúng đã củng cố thêm các vành đai an toàn mới có kế hoạch sử dụng sân bay Bạch Mai. Đêm 12-7-1949 dân quân nội thành đã bắn AT vào sân bay Bạch Mai phá hủy 2 chiếc Đakôta của chúng. I. VỊ TRÍ XUNG YẾU VÀ KẾ HOẠCH BỐ PHÒNG CỦA ĐỊCH ĐỐI VỚI SÂN BAY BẠCH MAI SAU 3 NĂM CHIẾM ĐÓNG (1947 - 1949). A. Bố phòng của địch Sau khi quân xâm lược Pháp chiếm đóng được Thủ đô, chúng ráo riết củng cố và sửa sang lại 2 sân bay này phục vụ đắc lực cho ý đồ xâm lược của chúng: 1. Sân bay Gia Lâm là căn cứ đỗ và cất cánh của các phi cơ khu trục hàng ngày bay vào ném bom hay bắn phá vùng tự do của ta. 2. Sân bay Bạch Mai là căn cứ đỗ và cất cánh của các máy bay ném bom, vận tải vũ khí, đạn dược, lương thực tiếp tế cho các đồn bốt địch chiếm đóng sâu trong vùng hậu phương của ta, hoặc chở quân nhảy dù khi chúng mở các chiến dịch lớn đánh chiếm vùng tự do. Để bảo đảm an toàn cho cơ quan đầu não và các vị trí trọng yếu của địch trong nội thành, nhất là với sân bay Bạch Mai, địch đã thiết lập được các tuyến vành đai từ trong và ngoài sân bay, còn bố trí nhiều lực lượng bảo vệ nghiêm ngặt. Các tuyến vành đai sau 3 năm chiếm đóng chúng đã củng cố xong: 1. Phòng tuyến thứ nhất từ Nhật Tân qua Bưởi, Cầu Giấy, Ngã Tư Vọng và đến Vĩnh Tuy. 2. Phòng tuyến thứ hai từ Chèm qua Cầu Diễn, Đại Mỗ, Tây Mỗ, Hà Đông Thanh Liệt, Văn Điển và lên Đông Trạch. 3. Phòng tuyến thứ ba từ Bông Lai qua Phùng, Giá, Mai Lĩnh, Thạch Bích, Khúc Thuỷ, Chùa Thông và Bằng Sơ. Trên 3 phòng tuyến địch đóng tới 32 vị trí với hơn 2.000 quân cộng với khoảng 6.000 quân cơ động bảo vệ Hà Nội. Địch thường xuyên cho quân lính từ các đơn vị sục sạo vào các xã, phục kích trên cả ngả đường giao thông, tổ chức các đội tuần tiễu, thành lập Hội tề, lực lượng hương dũng ở xã, tổ chức canh phòng suốt ngày đêm. Ngoài ra chúng còn sử dụng các đơn vị đại đội hoặc tiểu đoàn thuộc lực lượng cơ động phối hợp với quân ở các vị trí chúng chiếm đóng mở các cuộc càn quét ngăn chặn lực lượng ta vào nội thành. Đặc biệt với sân bay Bạch Mai còn nằm trong sự bảo vệ của 2 Tiểu khu (sous - secteur) là Tiểu khu Ngã tư Trung Hiền và Tiểu khu Ngã Tư Sở và được hỗ trợ của Khu (secteur) Hà Đông. Ngoài ra còn có 3 đội Com-măng-đô đặc biệt tàn ác là đội Tây lùn ở Tiểu khu Trung Hiền và đội Tây lai ở Tiểu khu Ngã Tư Sở ngày đêm lùng sục ngăn chặn phát hiện bắt bớ tiêu diệt lực lượng ta từ vùng tự do thâm nhập vào nội thành hoạt động. B. Tình hình sân bay Bạch Mai. 1. Về địa hình: - Sân bay Bạch Mai nằm tiếp giáp giữa nội và ngoại thành ở phía Nam Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 4km, cách vùng tự do của ta khoảng 25 - 30km. - Phía Bắc giáp đường trục từ Ngã Tư Vọng sang Ngã Tư Sở (thường gọi là đường Tàu Bay). - Phía Nam giáp cánh đồng Định Công. - Phía Đông giáp Phương Liệt (cách bởi một con sông thoát nước). - Phía Tây giáp Khương Thượng, Khương Trung và Khương Hạ. Phía ngoài xung quanh sân bay có nhiều đầm nước sâu đầy bèo tây và cỏ cao ngang đầu xen với tầng lớp hàng rào kẽm gai. Để sân bay không bị úng ngập khi có mưa, nên giữa sân bay địch xây một hệ thống cống to chạy suốt thoát nước ra ba đầm nước từ Tây Bắc sang Tây Nam, đầu cống đều có chắn song sắt nhưng lâu ngày phần nhiều đã bị gỉ mục biến dạng có thể mở rộng chui qua được. Vòng ngoài sân bay được xây nhiều đồn bốt như: Thượng Đình - Định Công Thượng - Kim Lủ - Cầu Mới - Văn Điển - Đuôi Cá - Quang Bằng - Vĩnh Tuy. 2. Cách bố phòng trong sân bay. - Sân bay dài khoảng 1.800 - 2.000m, bề mặt đường bằng rộng chừng 30m. Số lượng máy bay địch đỗ tại đây thường khoảng 15 đến 20 chiếc, có nhiều lúc số lượng máy bay ở đây lên tới 31 chiếc. Khi không có nhiệm vụ cất cánh, các máy bay đỗ theo hàng trong sân cỏ. Cách đường băng không xa có 3 gian nhà to khung sắt lợp tôn có thể chứa được từ 3 đến 6 chiếc khi kiểm tra hay sửa chữa. Kho xăng được chứa trong 3 bồn to, cao nổi trên mặt đất, cách khu đỗ máy bay khoảng 700 - 800m, dây thép gai bao quanh. Lực lượng trực tiếp bảo vệ trong sân bay gồm một Đại đội lính Âu Phi và một Trung đội lính dù cùng một số chó Béc-giê, xe jép hoặc thiết giáp tuần tiễu, nhất là ban đêm lực lượng này thường đi lại kiểm tra trên đường băng. Xung quanh sân bay còn có 6 lô cốt, tháp canh, mỗi lô cốt có hàng tiểu đội canh gác suốt ngày đêm. Ban đêm địch dùng các đèn pha trên các tháp canh chiếu sáng trong và ngoài sân bay để phát hiện lực lượng ta đột nhập sân bay. Với cách bố phòng như vậy, địch cho rằng sân bay Bạch Mai là mục tiêu được bảo vệ an toàn, ta khó có điều kiện tấn công. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:43:14 am II. CHỦ TRƯƠNG ĐÁNH PHÁ SÂN BAY BẠCH MAI CỦA BAN THƯỜNG VỤ THÀNH UỶ VÀ BAN CHỈ HUY MẶT TRẬN HÀ NỘI
1. Sự thất bại ngày càng lớn của quân viễn chinh Pháp ở chiến trường chính Bắc Bộ từ Thu Đông 1947 đến giữa năm 1949 đã ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ âm mưu xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp - Chính phủ Pháp phải cấp tốc cử tướng Rơ-ve sang Việt Nam, nghiên cứu chiến trường để thay đổi chiến lược, đối với vũ khí, tăng viện trợ và thay quân. 2. Để đẩy mạnh công cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp đang có nhiều thuận lợi phát triển lên một thời kỳ mới, năm 1948 Bộ Tổng tư lệnh đã triệu tập đại biểu quân sự các tỉnh, thành trong toàn quốc về dự cuộc họp "phát động phong trào luyện quân lập công" tại Lục Ba (Đại Từ - Thái Nguyên). Đoàn đại biểu quân sự Hà Nội đã hứa trước Hội nghị, trước Đại tướng Tổng Tư lệnh và cùng giao ước thi đua với đại biểu thành phố Sài Gòn và Hải - Kiến: Hà Nội kiên quyết đánh phá sân bay địch tại Thủ đô. 3. Sang năm 1949 tình hình cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp trên toàn quốc đã có nhiều điều kiện thuận lợi cả về quân sự chính trị ảnh hương không chỉ riêng trong nước và đã thu hút ngày càng rộng rãi sự ủng hộ của các nước trên thế giới đối với cuộc chiến tranh của Việt Nam chống xâm lược Pháp. Trên tình hình đó Trung ương, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh đã có Nghị quyết về tình hình quân sự với khẩu hiệu chiến lược là: "Tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công...". Bộ Tổng tư lệnh lần lượt ra lệnh "chuẩn bị chiến trường" cho các mặt trận. Ngày 30-3-1949 mệnh lệnh chuẩn bị chiến trường được chuyển đến Bộ Tư lệnh Liên khu III, UBHCKC Thành phố và Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội. Lệnh cho Hà Nội, Bộ Tổng tư lệng nhấn mạnh: "Hà Nội không những là địa bàn quan trọng vào bậc nhất của địch và cũng là chiến trường quan trọng của ta trong giai đoạn mới". 4. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Thành uỷ và Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội đã có các nghị quyết và khẩn trương tổ chức chỉ đạo các mặt công tác trong vùng địch nên đã nhanh chóng củng cố, bổ sung, sắp xếp ổn định tổ chức, bố trí cán bộ, quy định chặt chẽ phương thức hoạt động, đồng thời xây dựng đơn vị tập trung mạnh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội để kịp thời sử dụng khi có tình hình mới. Trong thời gian này dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tư lệnh Liên khu III đang mở chiến dịch Lê Lợi, đòi hỏi quân và dân Thủ đỏ phải có những hoạt động quân sự phối hợp đảm bảo thắng lợi của chiến dịch. Từ lâu trong tư tưởng chỉ đạo của Thành uỷ, Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội đã có ý định đánh sân bay này, lực lượng quân báo liên tục tổ chức theo dõi tình hình sân bay nhưng chưa đạt yêu cầu để thể hiện ý định của lãnh đạo. Một sự ngẫu nhiên, trong thời gian này (cuối 1949) có anh Hải1 (Anh Hải chính là đồng chí Chu Duy Kính, sau này là Trung tướng Tư lệnh Quân khu Thủ đô) dưới vỏ bọc là học sinh nội thành (được giao nhiệm vụ hoạt động nội thành của ngành công an) bị địch bắt cùng một số khá nhiều cán bộ hoạt động nội thành bị giam tại Nhà Tiền đã lâu, nay địch điều xuống làm "lao công tù binh" xây dựng, dọn dẹp sửa sang lại sân bay. Trong thời gian anh Hải lao công tại đây đã để ý quan sát địa hình, cách bố phòng của địch trong sân bay và đã tìm cơ hội cùng hai đồng chí nữa trốn ra được và cung cấp rõ mọi tình hình trong sân bay giúp cho lãnh đạo Thành uỷ và Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội có quyết tám đánh sân bay Bạch Mai. Tuy vậy lãnh đạo Thành ủy, Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội cũng rất thận trọng cho tiến hành điều tra sự việc trên, nhất là sau khi có tù binh trốn. Sau khi đã điều tra và xác minh chính xác lại sự việc, địch cũng không có gì thay đổi trong hoạt động bảo vệ sân bay, nên Thành uỷ hạ quyết tâm đánh sân bay Bạch Mai nhằm đạt các mục tiêu sau: 1. Trận đánh trường bay Bạch Mai thắng lợi là ta đã đánh trúng và phá huỷ vào lực lượng mạnh của địch là không quân mà địch không thể nhanh chóng phục hồi và bổ sung trong thời gian ngắn. Tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho ta tiến công tiêu diệt hoặc bức địch phải rút một số vị trí chúng đã cắm sâu vào vùng tự do, vì không có điều kiện tiếp tế vũ khí, lương thực như trước bằng đường hàng không. Trước mắt chiến dịch Lê Lợi của ta có thêm nhiều điều kiện thắng lợi, vì thiếu không quân chi viện thì tác động không nhỏ đến tinh thần chiến đấu và kế hoạch hành quân của chúng. 2. Sân bay Bạch Mai là sân bay nằm trong lòng Thủ đô, bố phòng hết sức nghiêm ngặt nay bị tiến công là một sự thất bại nặng nề đối với địch về mọi mặt chính trị và quân sự. Đối với ta trận đánh vào sân bay thắng lợi trực tiếp cổ vũ và củng cố lòng tin của mọi tầng lớp nhân dân Thủ đô vào cuộc kháng chiến và trên trường quốc tế sự ủng hộ cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp càng mạnh mẽ. 3. Đánh sân bay phải giành thắng lợi lớn, có sự phối hợp hoạt động của các lực lượng, các ngành có liên quan đối với yêu cầu của trận đánh, mà còn có vấn đề quan trọng nữa là phải có kế hoạch bảo vệ được cơ sở, được phong trào quần chúng trong vùng địch, nhất là các xã liền kề với sân bay, địch sẽ điên cuồng tìm mọi cách phá cơ sở và các phong trào cách mạng của ta. 4. Là dịp quân và dân Thủ đô thực hiện được lời hứa ở Hội nghị quân sự toàn quốc năm 1948 giao ước thi đua giữa 3 thành phố lớn Hà Nội - Sài Gòn và Hải - Kiến, lời hứa trước Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:43:56 am III. PHƯƠNG CHÂM CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC VÀ MỌI HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CỦA CÁC LỰC LƯỢNG TRONG TRẬN ĐÁNH SÂN BAY BẠCH MAI
Với tầm quan trọng của trận đánh sân bay Bạch Mai này, Thường vụ Thành uỷ chỉ đạo trực tiếp, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành uỷ làm Chính uỷ, đồng chí Phùng Thế Tài, chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội lãnh đạo trực tiếp trận đánh. Nhiệm vụ trận đánh được giao cho tiểu đoàn 108 là Tiểu đoàn tập trung duy nhất dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội. Tiểu đoàn mới được thành lập tháng 10 năm 1949 trên cơ sơ rút 3 Đại đội tập trung của một số quận, huyện ngoại thành. Thuận lợi là cán bộ, chiến sĩ đều đã chiến đấu tại Thủ đô ngay từ ngày đầu cuộc kháng chiến, tham gia nhiều trận đánh địch, thông thạo địa hình kể cả trong vùng địch hậu. Để bảo đảm có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng tập trung đánh sân bay với các lực lượng vũ trang trong vùng địch nên Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội quyết định thành lập "Ban chỉ huy trận tấn công phi trường Bạch Mai" gồm đồng chí Trần Hải, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 108 làm chỉ huy trưởng và đồng chí Văn Tân, nguyên chính trị viên Thành đội dân quân Hà Nội làm Chính trị viên. Trận đánh có ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt và có nhiều khó khăn nên Thành uỷ và Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội đã chỉ đạo một số phương châm và nguyên tắc tổ chức huấn luyện và tác chiến, yêu cầu các lực lượng tham gia trong trận đánh phải triệt để thực hiện trước, trong và sau trận đánh. 1. Tiểu đoàn được tổ chức thành 3 bộ phân: bộ phận trực tiếp vào đánh, bộ phận vào chuẩn bị chiến trường và bộ phận bảo vệ đường hành quân vào ra an toàn cho bộ phận đánh sân bay. Cụ thể là: a. Bộ phận trực tiếp vào đánh sân bay chọn lọc 32 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có 2 cán bộ cấp Đại đội, 1 cán bộ cấp Trung đội và 2 thuộc cấp Tiểu đội). b. Bộ phận vào chuẩn bị chiến trường bao gồm nội dung trao đổi kế hoạch với lãnh đạo các xã tiếp giáp sân bay Đại Kim - Định Công - Tam Khương về sự phối hợp hành động quân sự bảo vệ cho lực lượng vào đánh sân bay khi đánh sân bay xong trên đường ra sẽ tập trung tại xã Đại Kim. c. Bộ phận của Tiểu đoàn còn lại gồm 2 Đại đội với đại liên, trung liên, súng cối cùng các vũ khí bộ binh, bố trí tại Cầu Đen, phối hợp cùng dân quân các xã lân cận chôn mìn trên đường 70, trước các vị trí Chùa Thông, Bàng Sở, bao vây các vị trí địch, chặn đánh không cho chúng hành quân ra ngoài, đảm bảo đường vào rút ra của bộ phận vào đánh sân bay. 2. Nguyên tắc giữ bí mật được thực hiện triệt để: a. Bộ phận 32 cán bộ, chiến sĩ được chọn lọc vào đánh sân bay chuyển đến nơi trú quân mới, số cán bộ, chiến sĩ còn lại không được biết và không được phép liên hệ. b. Địa điểm huấn luyện luôn luôn thay đối và chỉ luyện tập về đêm. Sa bàn để nghiên cứu phương pháp tác chiến được đắp ngay trong một ngôi đình mà ông từ trông coi đình cũng không biết. Chính quyền địa phương cũng chỉ biết có bộ đội đến đóng và học tập ở tại đình làng, ngoài ra không biết gì hơn. c. Vũ khí sử dụng cho trận đánh chỉ ít ngày trước trận đánh mới cho lực lượng vào đánh sân bay tập sử dụng và xem thử nghiệm kết quả (tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình). d. Các lực lượng phối hợp nhất là dân quân, du kích các xã liên quan ở vùng địch trong trận đánh này chỉ được biết nhiệm vụ cụ thể với thời gian rất ngắn trước khi có lệnh đánh sân bay của Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội. e. Tuyệt đối giữ bí mật đường hành quân khi vào và khi đánh sân bay. Khi có lệnh hành quân bộ phận vào đánh sân bay phải tổ chức cải trang và chọn giờ thích hợp để từ vùng tự do xâm nhập vào vùng địch chiếm đóng không bị lộ. Khi đã vào đến sân bay phải tuyệt đối bí mật, nhanh chóng tiếp cận mục tiêu đã phân công và chỉ hành động theo giờ và kế hoạch phân công được quy định thống nhất. Tình huống vào tiếp cận sân bay mà bị lộ thì dù hy sinh tất cả chỉ có xông vào áp sát các máy bay và đánh theo kế hoạch đã phân công. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:44:53 am IV. THƯC HIỆN MỆNH LỆNH, TỔ CHỨC CHỈ HUY TRẬN ĐÁNH
Sau 45 ngày rèn luyện và chờ đợi chiến đấu lập công, sáng 17-1-1950, Ban chỉ huy "trận tấn công phi trường Bạch Mai" được triệu tập về Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội nhận lệnh vào đánh sân bay và cũng rút ra ngay trong đêm. Để thực hiện mệnh lệnh của Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội, kế hoạch hành quân và tổ chức chiến đấu được tiến hành như sau: 1. Lệnh cho bộ phận trực tiếp đánh vào sân bay đúng 14 giờ ngày 17-1-1950 tập trung tại đình Xà Kiêu (cách Ngã tư Vác khoảng 3km) để động viên tinh thần trước trận đánh, kiểm tra lại nhiệm vụ từng bộ phận, kiểm tra việc hoá trang và trang bị vũ khí (quần áo ngắn, dài theo kiểu con buôn trong vùng tề), mỗi người một cái bị trong đó có 2 chai mìn được đan rọ bọc ngoài va chạm không vỡ và tiện khi treo vào động cơ máy bay, 2 kíp nổ chậm và mỗi người 2 đến 3 quả lựu đạn trứng (loại nhỏ gọn, công phá mạnh). - Theo quy định vũ khí của bộ phận đánh sân bay gồm mìn, lựu đạn, lưới nguỵ trang gừng trộn mật chống lạnh, chống ho cũng như tỏi xoa vào người chống chó Bécgiê đánh hơi đã được giao cho bộ phận khác chuyển đến tập trung tại Cầu Đen và bộ phận đánh sân bay sau khi hành quân đến tập trung tại đây sẽ nhận các thứ nói trên để tiếp tục tiến vào sân bay. 2. Từ 15 giờ cùng ngày, lực lượng bộ đội địa phương trong vùng tạm chiếm của Thủ đô đã giả dạng là người mò cua, bắt ốc, cắt cỏ xen lẫn với nhân dân làm ruộng chia thành từng tốp nhỏ tung ra khắp nơi, cả trước cổng đồn địch để nghe ngóng tình hình làm thành hàng rào bảo vệ và án ngữ chôn mìn trên đường 70 đề phòng địch từ Hà Đông, Quang Tó kéo ra Văn Điển và từ Văn Điển kéo vào Hà Đông. Lực lượng này có nhiệm vụ bảo vệ cho bộ phận vào đánh sân bay cũng như khi rút ra. 3. Bộ phận 32 cán bộ, chiến sĩ trực tiếp đánh vào sân bay sau bữa cơm chiều tại đình Xà Kiều mỗi người được phát đặc biệt thêm đường và bánh mì. Khoảng 16 giờ 30 phân tán từng tốp nhỏ, đi theo nhiều ngả và đến Cầu Đen nhận vũ khí và các vật dụng phục vụ chiến đấu. Thời tiết là mùa đông, hôm đó rất lạnh, sương mù đến sớm, đường vắng vẻ, thuận lợi cho việc hành quân. Lực lượng còn lại của Tiểu đoàn hành quân tiếp sau bộ phận vào sân bay chiếm lĩnh vị trí tại Cầu Đen trước 19 giờ đảm bảo an toàn cho bộ phận đánh sân bay cũng như khi rút ra. 4. Chặng đường hành quân cấp tốc dài hơn 20km nên bộ phận vào đánh trong sân bay phân tán thành các nhóm cách nhau, nhưng phải vừa đi vào vừa chạy cho kịp giờ hành động. Thời tiết đêm tối đến sớm, khi không còn trông rõ mặt nhau nữa thì bộ phận này cũng đã tiến sâu vào hệ thống đồn bốt kiểm soát của địch. Hành quân qua Chùa Thông, Khúc Thuỷ, len giữa Văn Điển - Thanh Liệt. Phải lội qua hai con sông Nhuệ và sông Tô Lịch khoảng Đan Nhiễm - Huỳnh Cung ai nấy đều lạnh, rét. Khoảng 21 giờ, bộ phận đánh sân bay đến một thửa ruộng giữa Xóm Trại Định Công và Định Công Hạ đã gặp nam nữ dân quân du kích Định Công mang nước, quà bánh đón tiếp và nghe quân báo báo cáo lại tình hình địch trong sân bay lần cuối cùng. Khoảng 22 giờ kiểm tra lại lần cuối về quân số, vũ khí và kế hoạch hoạt động, số 32 cán bộ, chiến sĩ vào đánh sân bay dưới sự hướng dẫn của một số du kích địa phương thuộc địa hình theo hướng Tây Nam đến tiếp cận sân bay bằng 3 mũi theo kế hoạch đã định. a. Mũi thứ nhất gồm 18 chiến sĩ do Đại đội trưởng Hà Giáp trực tiếp chỉ huy có thêm anh Hải dẫn đường, phải chui qua cống ngầm chạy chéo qua sân bay với nhiệm vụ đánh phá dãy máy bay về phía Đông Nam từ đường băng thứ ba đến bốt thứ năm. Đề phòng bất trắc và không để địch phát hiện sớm nên mũi này phải trừ lại không được đánh 3 chiếc ở mỗi đầu của dãy máy bay đang đỗ. b. Mũi thứ hai gồm 8 chiến sĩ do Chính trị viên Đại đội Trần Thành trực tiếp chỉ huy cùng hai du kích địa phương nắm chắc lối vào, đi men theo bờ đầm nước bèo tây vào sân bay có nhiệm vụ đánh phá dãy máy bay đậu tại phía Tây, mũi này cũng trừ lại không được đánh hai chiếc đầu vì gần bốt địch. Trường hợp có thay đổi nếu số máy bay đêm nay không đậu tại đây thì phải chuyển sang phá 4 chiếc máy bay đậu ở phía Bắc trên bốt số 4. c. Mũi thứ ba gồm 6 chiến sĩ do Trung đội trưởng Tráng trực tiếp chỉ huy và có thêm một xã đội phó địa phương trước bị bắt giam trong sân bay đã trốn thoát dẫn đường. Mũi này đi cùng hướng với mũi thứ 2 và còn phải đi sâu hơn vào trong sân bay nơi có kho xăng. Trong kế hoạch đánh sân bay đã tính toán rất nhiều về thời gian hiệp đồng tác chiến giữa 3 mũi đánh vào sân bay do cự ly không giống nhau - đặc biệt mũi thứ nhất phải đi chui dưới cống ngầm với đoạn đường xa nhất và có khả năng gặp những trở ngại không lường trước nên có quy định thời cơ thống nhất hành động cho các mũi nhọn như sau: a. Bất cứ mũi nhọn nào, dù vào sân bay được sớm nếu không bị lộ phải tuyệt đối đợi đúng 24 giờ mới được hành động. b. Trường hợp bất lợi là một, hai mũi đã lọt vào trong sân bay rồi mà bị lộ phải cương quyết thực hiện kế hoạch, quyết tâm đánh đạt tới mục đích dù có phải hy sinh (đã tính đến khi địch phát hiện ta đã áp sát các máy bay thì địch không dám bắn vì bắn ta sẽ không tránh khỏi đạn bắn vào các máy bay bốc cháy, nên đây là thời cơ tốt cho ta, dù có hy sinh nhưng hiệu quả đạt được sẽ cao). c. Riêng mũi thứ ba đốt kho xăng, dù có vào sớm cũng phải đánh sau các mũi nhọn khác 10 phút. Nếu đã đúng giờ hành động, các mũi khác đã có tiếng nổ mà lực lượng còn cách xa kho xăng thì phải dũng cảm xông tới với tốc độ nhanh, tiếp cận đốt bằng được kho xăng. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:45:32 am V. DIỄN BIẾN TRẬN ĐÁNH
Thời gian lúc này đã quá 22 giờ, các mũi đang tiến tiếp cận sân bay, thời tiết hết sức thuận lợi cho ta là sương mù xuống nhiều. Đèn pha trên các bốt canh của địch vẫn hoạt động nhưng vì sương mù nên đã hạn chế tác dụng đứng cách nhau hai, ba mét đã không nhìn thấy nhau. Càng gần sân bay các máy bay của chúng to như thế mà cũng chỉ trông thấy lờ mờ. 1. Mũi thứ nhất đang tiếp cận gần miệng cống thì đột nhiên thấy chó Bécgiê sủa, toàn mũi phải dừng lại và phái trinh sát tiến lên điều tra, sau đó tình hình đã trở lại yên tĩnh, tất cả tiếp tục theo nhau chui vào cống. Trong cống đầy bùn và rất nhiều dơi. Mùi hôi thối xông lên nồng nặc, khó thở, tâm trạng cán bộ, chiến sĩ lúc này lo lắng nếu bị địch phát hiện bịt công xả liên thanh hay lựu đạn vào thị sẽ bị hy sinh hoàn toàn mà không thực hiện được nhiệm vụ. Nhưng sau gần hai tiếng đồng hồ vất vả, chịu đựng, toàn bộ lực lượng đã chui qua chiếc cống dài đó trót lọt và đến cự ly nằm dọc theo bờ đầm mép sân bay để chuẩn bị đột nhập vào sân bay. Cũng lúc này trên đường băng sân bay thấy chiếc ô tô bọc sắt thường trực sân bay theo quy định chạy kiểm soát nhưng địch không phát hiện được gì. Tranh thủ lúc xe tuần tra đã đi qua, tất cả mọi người tranh thủ nhanh chóng vượt rào thép gai, cỏ gianh vào nằm áp sát dưới các máy bay mà địch không hay biết. Đúng 24 giờ lệnh hành động ở mũi một bắt đầu. Các chiến sĩ nhanh nhẹn trườn tới, người nọ nối người kia hai người một, công kênh nhau leo lên cánh máy bay gài mìn vào đúng chỗ quy định đã từng tập nhiều lần ở nhà một cách thành thạo, nhanh chóng. Cứ lặp đi lặp lại động tác trèo leo, gài mìn từ chiếc nọ sang chiếc kia. 2. Mũi thứ hai theo giờ quy định chia theo đội hình chiến đấu làm nhiệm vụ đã được phân công, mọi hoạt động thuận lợi. 3. Mũi thứ ba (đốt kho xăng) cũng đã tiến sát hàng rào thép gai bao quanh các bồn xăng. Tình hình rất khẩn trương, các mũi đều gặp thuận lợi và thực hiện đúng kế hoạch đã quy định, địch chưa phát hiện được lực lượng và hành động của ta ngay trước sự bố phòng nghiêm ngặt của chúng ở sân bay. Bất ngờ ở mũi thứ nhất xảy ra một tình huống đáng tiếc là cuối dãy máy bay đỗ có một tên lính gác, do sương mù dày đặc và ta hành tiên nhẹ nhàng nên tên lính này không phát hiện được, không may đối với đồng chí Tăng Văn Khang sau khi gài mìn xong chiếc máy bay cuối cùng không phát hiện được tên lính gác đang gác gần đó, nên khi nhảy xuống đất định chạy vượt qua sân bay ra ngoài thì bị tên lính đò trông thấy hô to và bắn làm đồng chí Khang bị thương (sau này được tin báo ra địch bắt được đồng chí Khang đưa về băng bó tại bệnh viện Đồn Thuỷ, sau đó tra tấn đồng chí Khang đến hy sinh). Sau khi tên gác phát hiện và bắn đồng chí Khang thì sân bay của địch báo động, các lực lượng ở các bốt gác và lực lượng tuần tra của địch nhốn nháo cả lên. Nhưng cũng lúc này quả mìn đầu tiên ở mũi thứ nhất nổ, chiếc máy bay bốc cháy và nổ tung ở mũi thứ hai, máy bay bốc cháy sáng rực trời. Mũi đốt kho xăng sắp đến giờ hành động đã có hai chiến sĩ nằm sát hàng rào dây thép gai và đã mở được đường chui vào. Rất tiếc chỉ huy bộ phận đốt kho xăng là Trung đội trưởng mất tinh thần định ra lệnh tất cả rút lui, nhưng đồng chí Đỗ là Tiểu đội trưởng đã kiên quyết chỉ huy toàn đội lao vào đặt mìn đốt kho xăng theo đúng kế hoạch. Như vậy, đến 24 giờ 20 phút, ở các dãy máy bay và kho xăng tiếp tục nổ nhưng không đồng loạt mà cách nhau vài giây lại phát nổ. Lửa cháy rực cả bầu trời, sân bay Bạch Mai sáng rực cả lên. Nhiệm vụ đã hoàn thành, các mũi (kể cả mùi thứ nhất không qua cống nữa) theo kế hoạch, tận dụng lúc địch đang hoảng hốt, dù phát hiện lực lượng ta còn trong sân bay chúng cũng không dám bắn sợ đạn trúng máy bay nên các mũi theo những đường đã quy định từ trong sân bay rút hết ra ngoài về nơi tập trung là xã Đại Kim. Sau khi kiểm tra quân số và nhận quà của nhân dân tiếp tế, đơn vị khẩn trương ra đến vùng tự do trước khi trời sáng. Một sự nhầm lẫn xảy ra là bộ phận chôn mìn trên đường 70 khi thấy bộ phận đầu tiên đánh sân bay chạy ra, lầm tưởng là địch, đã cho nổ mìn may không có ai bị thương vong. Ngay lập tức đã nhận ra nhau nên không cho nổ mìn tiếp. Trong sân bay lửa bốc cháy sáng bầu trời từ 24 giờ cho đến sáng 18-1-1950. Sau khi sân bay bị đánh, địch cho đại bác ở các đồn bảo vệ sân bay như Chùa Thông, Văn Điển v.v... bắn tới tấp quanh sân bay để hòng tiêu diệt lực lượng ta nếu chưa kịp rút ra. Xe tăng, thiết giáp bảo vệ sân bay rú còi inh ỏi lồng lộn lao vào sân bay xả đạn ra các phía ngoài sân bay và có một số ra chốt ở các đoạn đường nhằm bao vây ngăn chặn không cho quân ta rút lui. Hai chiếc xe chữa cháy được cấp tốc điêu đến nhưng vì những tiếng nổ nối tiếp nhau, máy bay và xăng bốc cháy quá lớn nên các xe này đành phải lùi ra xa nên việc chữa cháy không có kết quả. Cuối cùng địch thấy còn một số máy bay chưa bị cháy nên chúng điều xe đến móc cáp kéo ra xa. Nhưng địch không biết được rằng các máy bay chưa cháy là do kíp mìn chưa đến lúc nổ, nên khi móc cáp định kéo ra thì máy bay bị nổ và cháy làm cho địch không còn cách nào cứu vãn. Kết quả trận đánh này ta đã phá huỷ 25 chiếc máy bay, 32 tấn vũ khí đạn dược, lương thực đã chứa sẵn trong máy bay và trên 60 vạn lít xăng. Vùng hậu phương ta suốt mấy ngày liền vắng tiếng máy bay, trừ một số ít khu trục hoạt động lẻ tẻ. Ta hy sinh một đồng chí. Vũ khí sử dụng hết 28 quả mìn chai và 120 quả lựu đạn trứng. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:46:02 am VI. KẾT LUẬN
1. Trận đánh kết thúc nhanh gọn và đạt hiệu quả cao. Tiểu đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và trên 30 cán bộ, chiến sĩ trực tiếp vào đánh sân bay đều được tặng thương huân chương chiến công hạng 1, 2, 3 và Tiểu đoàn tặng cho mỗi đồng chí một huy hiệu bằng bạc "Chiến sĩ xung phong phi trường Bạch Mai ngày 18-1-1950" - Tiểu đoàn 108 - Mặt trận Hà Nội. 2. Đánh vào sân bay Bạch Mai, nơi địch bố phòng nghiêm ngặt, nằm trong lòng Thủ đô, cách xa vùng hậu phương, ta phải vượt qua nhiều tuyến vành đai dày đặc đồn bốt dịch..., gây cho địch tổn thất nặng nề. Một thời gian dài địch không hiểu nổi cách đánh của ta và lo lắng đến sự an toàn của các vị trí quan trọng khác trong Thủ đô cũng có thể bị đánh phá. 3. Trận đánh sân bay Bạch Mai ở Thủ đô thắng lợi là một đòn nặng nề đối với lực lượng không quân địch và cũng là trận mở đầu cho những trận đánh các sân bay sau này ở các chiến trường. 4. Cách đánh làm cho địch thiệt hại nặng nề ở sân bay Bạch Mai là một sáng tạo mở ra cho việc nghiên cứu cách đánh tính chất đặc công sau này. 5. Trận đánh sân bay Bạch Mai nằm sâu trong vùng địch giành thắng lợi lớn là sự chứng minh sức mạnh của chiến tranh nhân dân thể hiện sự chỉ đạo phối hợp giữa các lực lượng vũ trang địa phương, sự giữ gìn bí mật, kế hoạch đối phó với địch sau trận đánh làm cho địch thiệt hại nặng nề về vật chất, không phát hiện được đối tượng, số lượng, cách đánh, từ đâu đến. Do đó mà các xã gần sân bay liên tiếp sau đó bị địch điên cuồng khủng bố bắt giam tra hỏi một số người, ném bom bắn phá nhưng cơ sơ cũng như các phong trào vẫn được củng cố và phát triển. 6. Trận đánh sân bay Bạch Mai thắng lợi có tác động mạnh mẽ, tích cực tới chiến cuộc Xuân - Hè và Thu - Đông 1950, trực tiếp hỗ trợ cho chiến dịch Lê Lợi của Liên khu III. Mặt khác, chiến thắng phá sân bay Bạch Mai đã góp phần cùng quân dân cả nước đang cố gắng thực hiện chủ trương mở rộng và đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong lòng địch, nhất là các đô thị nhằm tạo khí thế cho cuộc kháng chiến trường kỳ chuyển sang tổng phản công. Tiêu đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2022, 07:46:34 am Lời bạt Cuốn sách này viết về những điều mà tôi sẽ không bao giờ biết được nếu như không đọc nó. Bởi vì khi xảy ra những sự việc mà cuốn sách này mô tả, thì tôi còn ở trong bụng mẹ. Nhưng tôi lại có may mắn nhờ bổn phận nghề nghiệp nên đã gặp mặt hầu hết các tác giả viết nên những câu chuyện này. Giờ đây họ đã là những ông già bà cả, người trẻ nhất cũng đã qua tuổi "cổ lai hy", và những người già nhất được viết trong cuốn sách thì chắc chắn đã không còn nữa. Sự thật ấy là điều không thể cưỡng nổi. Vậy mà khi diễn ra những sự việc được phản ánh trong cuốn sách này, tức là cách đây đã 55 năm... họ là những người trẻ và rất trẻ. Họ là những người đã làm nên chiến tích chung của quân dân Hà Nội những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lăng. Sách vở đã nói nhiều, mặc dầu vẫn chưa đủ, về 60 ngày đêm chiến đấu ở Liên khu I, gắn liền với không gian cổ kính của 36 phố phường, và cuộc rút quân thần kỳ gắn với một trung đoàn huyền thoại "có một không hai" - Trung đoàn Thủ đô. Và sách vở còn chưa nói nhiều và cũng là rất chưa đủ về cuộc chiến đấu không kém phần kiên cường trên những phần đất còn lại của cái thành phố khi đó còn có tên là thành Hoàng Diệu. Đó là Liên khu II ở phía Nam và Liên khu III ở phía Tây Nam của nội thành. Cuốn sách này viết về mặt trận phía Tây Nam là "Liên khu III - Đống Đa - Quận V (Vào dịp kỷ niệm lần thứ 55 ngày Toàn quốc Kháng chiến năm nay, một cuốn sách viết về Liên khu II cũng được xuất bản). Cuốn sách này chưa phải là một cuốn sử, nó là những mảng hồi ức được viết theo trí nhớ đọng lại sau hơn nửa thế kỷ chất chồng những biến cố, nhưng nó là chất liệu để viết lịch sử. Bởi lẽ, tác giả của cuốn sách này không phải là những nhà viết sử mà họ đã góp phần làm nên lịch sử. Người ta thường nói: thời gian là thứ thuốc hiện hình của lịch sử, phải có độ lùi thời gian người ta mới viết được lịch sử. Vậy thời gian sẽ là bao lâu khi cuộc sống của mỗi con người là hữu hạn? Tôi cứ hình dung 5 năm nữa, tức là vào dịp kỷ niệm 60 năm (tròn một hội, một vòng đời theo quan niệm cổ điển) ngày Kháng chiến toàn quốc (1946 - 2006), rất có thể sự kiện này đã "đi vào lịch sử' hiểu theo nghĩa là liệu còn mấy ai trong số họ có mặt trong ngày lễ trọng nữa. Và đến khi đó, chắc chắn cuốn sách này sẽ càng trở nên vô giá nhờ giá trị của nó là cái may mắn được cứu khỏi sự quên lãng, là cái sẽ vĩnh viễn mất đi nếu không kịp ghi chép lại. Nói cách khác, cuốn sách này là một công trình "bảo tồn ký ức". Tôi nói trước điều này chính là để thay mặt bạn đọc hôm nay và mai sau tỏ lòng biết ơn đến những tác giả cũng là những người đại diện cho thế hệ đã làm nên một trong những trang sử vẻ vang nhất của Thủ đô Hà Nội được lưu giữ lại một phần trong cuốn sách này để lưu truyền cho hậu thế. Lời cảm ơn kịp nói vào lúc này còn có địa chỉ để gửi đến: Ban Liên lạc Bạn chiến đấu Liên khu III - Đống Đa - Quận V. Hà Nội, tháng 12 năm 2001 DƯƠNG TRUNG QUỐC Tổng Thư kỷ Hội KHLSVN |