|
Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2021, 01:10:23 pm - Tên sách: Đường về đất mẹ
- Tác giả: Thiếu tướng Võ Sở - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2006 - Người số hóa: giangtvx, vnmilitaryhistory LỜI GIỚI THIỆU Đồng chí Thiếu tướng Võ Sở - nguyên Phó tư lệnh, Bí thư Đảng ủy Binh đoàn Trường Sơn, là một trong những cán bộ cao cấp đã gắn bó khá nhiều năm với tuyến chi viện chiến lược Đường Hồ Chí Minh - Đường Trường Sơn. Trong mười năm tham gia mặt trận nóng bỏng đầy gian khổ, hy sinh ác liệt này, đồng chí đã trải qua nhiều cương vị quan trọng, từ Trưởng phòng Tổ chức đến Chính ủy binh trạm, Phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh, Chính ủy Sư đoàn và sau khi kết thúc kháng chiến chống Mỹ là Chính ủy Binh đoàn. Do tín nhiệm vào ý chí và đức độ, năng lực của đồng chí, Bộ Tư lệnh 559 thường biệt phái hoặc giao nhiệm vụ đầy khó khăn thử thách nhất. Và có đồng chí, dù phải trải qua cam go, quyết liệt, tình thế khó khăn cũng được tháo gỡ, đưa đơn vị đến hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đó là những cung đường, những trận địa, những chuyến xe thần tốc gắn liền với các chương lịch sử hào hùng của Bộ đội Đường Hồ Chí Minh. Đó là các sự tích ở những địa danh đã góp phần tô nên huyền thoại Trường Sơn như: Seng Phan - Pha Nôp - Na Tông của Binh trạm 31; La Hạp của Binh trạm 42; Cô Ca Va, động Con Tiên, A Sầu, A Lưới, trận địa diệt trực thăng Mỹ - ngụy ở Bản Đông - đường 9 trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), những cung đường cơ bản xuyên Đắc Pét - Sa Thầy - Plây Khốc - A Tô Pơ của các sư đoàn 471, 472 và các đoàn xe thần tốc trên đường 14 cơ động Quân đoàn 1, Quân đoàn 3 vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975). Vừa là cán bộ trực tiếp gắn bó với cơ sở qua các giai đoạn chiến tranh ác liệt, nhưng lại vừa là một cán bộ chính trị có bản lĩnh, có năng lực tổ chức, đồng chí Võ Sở đã thông qua nhiều đoạn tự sự trong tập sách mong này mà dẫn dắt cho người đọc biết hầu như gần hết những nét cơ bản trong lịch sử tổ chức chiến đấu của các lực lượng Bộ đội Trường Sơn trong những năm từ khi đồng chí có mặt (1965-1975). Sau khi đọc kỹ tập sách này của đồng chí Võ Sở, với tư cách vừa là một Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn trước đây, vừa là một người đọc cựu chiến binh Trường Sơn, tôi như thấy lại mình trong nhiều sự kiện cụ thể, với nhiều chi tiết sinh động mà mình đã trải qua để suốt đời mang theo, không thể nào quên. Một điều mà tập sách này đã mẫn cảm gây xúc động cho người đọc, đó là nỗi lòng của một người con xa Mẹ, từ quê hương Quảng Ngãi đi ra Bắc tập kết, ghi sâu lời Mẹ dặn dò..., và đã vì lời hẹn ước với Mẹ, với quê hương mà tác giả đã có đủ chí khí, nghị lực và sức chịu đựng quả cảm vượt lên mọi thử thách để chiến thắng trở về. Trong niềm hân hoan to lớn của toàn dân đã đuổi sạch kẻ thù, thống nhất non sông, có cả những giọt nước mắt vui sướng ấm nồng của anh, khi được sà vào vòng tay Mẹ mà nghẹn ngào: "Mẹ ơi, con đã về đây với mẹ!". Với một vài lời giản lược nhưng chân thành tự đáy lòng, tôi trân trọng giới thiệu tập sách này của đồng chí Võ Sở cùng bạn đọc, với hy vọng rằng đồng chí, cùng nhiều đồng đội, bạn chiến đấu khác đã từng có mặt ở nhiều nơi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thần thánh của dân tộc ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, sẽ nói tiếp, nói kỹ thêm nhiều nữa về chiến công của Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, về cuộc đời và chiến công của mình để các thế hệ hôm nay và mai sau được đời đời ghi nhớ. ĐỒNG SĨ NGUYÊN Nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2021, 01:11:04 pm THƯA CÙNG BẠN ĐỌC Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quyết định mở tuyến vận tải quân sự Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và thực hiện thắng lợi quyết định đó là một sáng tạo chiến lược của Đảng, quân đội và nhân dân ta. Đường Trường Sơn là một kỳ tích, là một nhân tố có ý nghĩa quyết định chiến lược đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã qua một phần tư thế kỷ. Độ lùi thời gian cùng những nhân tố khác cho phép chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn vai trò của đường Trường Sơn đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ. Nhiều công trình lịch sử, nhiều tập hồi ký của cá nhân... lần lượt ra đời tái hiện chặng đường 16 năm tồn tại, cống hiến của tuyến đường và tinh thần kiên dũng, chiến công tuyệt vời của những người lính Trường Sơn, những nam nữ thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, văn nghệ sĩ, các nhà khoa học... từng sống và chiến đấu ở Trường Sơn. Tuy vậy, dựng lại bức tranh toàn cảnh hoành tráng, kỳ vĩ của kỳ tích Trường Sơn còn cần đến tâm sức, cố gắng của nhiều người, nhiều thời gian... Là một người con của miền Nam đất Việt, may mắn được sống, chiến đấu hơn mười năm trên tuyến đường mang tên Bác - con đường giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tôi xin được xâu chuỗi những mẩu hồi ức của mình trong tập "Đường về đất Mẹ" những mong góp một phần nhỏ khắc họa toàn cảnh đường Trường Sơn thời đánh Mỹ và khí phách anh hùng, tinh thần chiến đấu vô cung dũng cảm, bất chấp đạn bom, chết chóc, thiếu thốn, tật bệnh, tinh thần lạc quan cách mạng, lòng tương thân tương ái, nghĩa tình đồng chí đồng đội cao đẹp... của những người lính Trường Sơn; nghĩa tình tiền tuyến, hậu phương, tình quân dân, tình đoàn kết quốc tế. Mong đồng đội, bạn bè từng một thời gắn bó máu thịt với Trường Sơn nhận những dòng hồi ức tản mạn của tôi như những dòng tâm sự, sẻ chia bao niềm vui, nỗi nhớ. Xin hương hồn những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống vì sự sống của đường Trường Sơn đón nhận những dòng hồi ức ngắn ngủi của tôi như một nén hương lòng! Trường Sơn rộng mênh mông, đường Trường Sơn - Đường về đất Mẹ như "Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm", với bao kỳ tích, bao con người anh hùng, mà những gì tôi biết, tôi nhớ lại chẳng là bao. Vậy nên, sai sót là khó tránh khỏi. Rất mong đồng chí, đồng đội, bạn đọc lượng thứ và bổ khuyết. Chân thành cảm ơn Bộ Tư lệnh Binh đoàn 12, nhiều đồng đội, bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành tập hồi ức của minh. Chân thành cảm ơn đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn đã động viên, góp ý và viết lời giới thiệu cho tập hồi ức của tôi. Cảm ơn đồng chí Nguyễn Duy Tường đã giúp thể hiện tập hồi ức này. Cảm ơn Nhà xuất bản Quán đội nhân dân đã tạo điều kiện thuận lợi để tập hồi ức nhỏ nhắn của tôi đến với bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 55 năm thành lập nước Việt Nam mới. VÕ SỞ Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 05:03:06 pm I. MIỀN NAM GỌI
Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết. Đình chiến! Dẫu biết chiến tranh đã vào hồi kết kể từ khi quân Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ; nhưng, tin vui đến như cơn lốc - nhanh không ngờ; đúng vào lúc Tiểu đoàn 19 chúng tôi vừa kết thúc thật giòn giã trận đánh giao thông ngày 17 tháng 7, tại đèo Chư Đrêk trên đường 14, quãng giáp giới hai tỉnh Đắc Lắc và Gia Lai. Chỉ vẻn vẹn chưa đầy một giờ, Tiểu đoàn 19 Trung đoàn 108 chủ lực Liên khu 5 chặn đánh quân Pháp từ thị xã Buôn Ma Thuột chạy qua Chư Đrêk để chi viện cho thị xã Plây Cu. Quân địch ở Plây Cu bị bao vây, bị diệt và bắt gần 500 tên, phá hủy hơn 60 xe quân sự. Đây là trận phục kích giao thông thứ hai thắng lợi của Tiểu đoàn 19. Cùng với chiến thắng vang dội của Tiểu đoàn 19 và Trung đoàn 96 chủ lực Liên khu 5 vào ngày 25 tháng 6, phục kích giao thông đánh tan GM100 - binh đoàn cơ giới thiện chiến của Pháp ở đèo Măng Giang, đường 19, chiến thắng của Tiểu đoàn 19 là những đòn đánh bồi, đánh nhồi, góp phần hạ gục nhanh kẻ địch ở chiến trường Liên khu 5, Tây Nguyên. Khói súng chưa tan. Bộ đội đang hối hả thu chiến lợi phẩm - cơ man là xe pháo. Chúng tôi nhận được thông báo của chỉ huy trung đoàn rằng: Ngày 22 tháng 7, Hiệp định đình chiến có hiệu lực - Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ban bố lệnh ngừng bắn trong cả nước. Tiểu đoàn khẩn trương hành quân về Bình Định, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Không còn nghi ngờ gì nữa. Từ cán chí quân reo vang, tưởng nổ trời. Có chiến sĩ không kìm nổi vui mừng đã lia luôn mấy loạt đạn chỉ thiên - một kiểu "ăn mừng" đúng chất lính; mặc dù cán bộ tiểu đoàn đã can ngăn, thậm chí "đe" sẽ kỷ luật nặng. Trải 9 năm kháng chiến trường kỳ với bao mất mát, hy sinh, trăm bề gian khổ, thắng lợi mà ta giành được là to lớn; niềm vui là vô bờ bến. Tuy nhiên, là người lính chứng kiến sự tan rã hoàn toàn của địch trên chiến trường, nhiều anh em ý chừng chưa thỏa nguyện. Bơi lẽ, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên - Đông Xuân 1953-1954 phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, đang phát triển hết sức thuận lợi. Chủ lực Liên khu 5 đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Công Tum, phần lớn tỉnh Gia Lai, một phần phía bắc tỉnh Đắc Lắc; đang bao vây thị xã Plây Cu, cắt đường tiếp tế của chúng. Khả năng giải phóng hoàn toàn tỉnh Đắc Lắc và tiếp đó là toàn bộ Tây Nguyên nằm trong tầm tay. Ở vùng đồng bằng duyên hải Trung Bộ, các lực lượng chống chiến dịch Át Lăng của địch nống ra nam Phú Yên và đổ quân lên Quy Nhơn, Bình Định cũng phát triển tốt, chặn đứng được cuộc hành binh của chúng... Cứ đà này thắng lợi có thể lớn hơn...! Nếu nhìn cục bộ, trước mắt có thể là như vậy. Nhưng, với tôi, cái cục bộ phải nằm trong cái toàn cục, trong tầm nhìn chiến lược của Đảng, của Bác Hồ. Nhận được lệnh hành quân, chúng tôi quyết định đi bằng ô tô lấy được của địch. Lái xe là số ít cán bộ, chiến sĩ biết nghề, thiếu thì trưng dụng số tù binh là lái xe bắt được trong trận đèo Chư Đrêk vừa rồi. Trong bộn bề công việc và mặc dù thời gian quá gấp, nhưng bộ đội vẫn lục tìm bằng được vải đỏ, vải vàng lấy của địch để may cờ Tổ quốc. Đội hình hành quân, mỗi xe chở một trung đội. Xe nào cũng cắm một lá cờ đỏ sao vàng. Lần đầu tiên được hành quân bằng cơ giới, lại hành quân về xuôi trong ngày toàn thắng, khó tả nổi nỗi vui mừng của bộ đội. Suốt cả lộ trình, bộ đội hát vang bài "Tiến quân ca". Khi đoàn xe chúng tôi hùng dũng tiến qua thị xã Plây Cu, nơi quân Pháp và khinh quân ngụy còn chiếm giữ, chúng đều đổ ra đường ngơ ngác đứng nhìn. Dân chúng cũng ào ra đường, nhưng chưa hiểu hết sự tình, lại thấy kẻ địch bên cạnh, không mấy người dám vẫy chào. Khi bộ đội hô vang: Đã có Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngừng bắn rồi! Bà con mới nhất loạt hò reo: "Hoan hô ngừng bắn", "Hồ Chủ tịch muôn năm"... Rời Plây Cu, suốt quãng đường hơn 200 cây số về nơi tập kết, mỗi khi qua vùng dân cư đông đúc, chúng tôi lại chứng kiến, đắm mình trong không khí mừng vui, xúc động khôn tả. Tới Bình Định, theo lệnh triệu tập, tôi cùng một vài anh em cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn về ngay cơ quan chính trị Liên khu nhận công tác mới. Không ai bảo ai, hết thảy đếu phấn khởi nhưng không khỏi bồn chồn, thấp thỏm, ở cơ quan Liên khu, chúng tôi được phổ biến nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ, trọng tâm là việc hai bên tập kết lực lượng ở hai miền, lấy vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời. Lực lượng kháng chiến của ta tập kết từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc. Phía Liên hiệp Pháp tập kết từ vĩ tuyến 17 trở vào. Liên khu 5 lấy Quy Nhơn làm vị trí tập kết cuối cùng - khu vực 300 ngày. Các lực lượng kháng chiến của Liên khu ra Bắc theo trình tự: nơi xa đi trước, nơi gần đi sau. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tiến hành sau 2 năm kê từ khi Hiệp định đình chiến có hiệu lực. Theo đó, toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ quyết định chế độ xã hội của mình. Tuy vậy, trong khi phổ biến nội dung hiệp định đình chiến, các đồng chí lãnh đạo Liên khu cũng nói rõ với chúng tôi nhận định của Trung ương Đảng ta, rằng: Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chiến tranh kết thúc được quyết định bởi thắng lợi to lớn mà quân và dân ta giành được trên khắp các chiến trường trong cả nước, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ. Về thi hành hiệp định, phía Pháp đã chấp hành nghiêm lệnh ngừng bắn, tích cực chuyển quân tập kết. Còn việc tổng tuyển cử có thể sẽ rất khó khăn, vì bản chất ngoan cố của kẻ địch, nhất là đế quốc Mỹ. Trước đây Mỹ đã trực tiếp nhúng tay vào chiến tranh ở Đông Dương. Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, mặc dù là một thành viên của cuộc hòa đàm này, nhưng tổng thống Mỹ Ai-xen-hao đã ngang ngạnh tuyên bố: Mỹ không chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản của Hiệp định. Dẫu biết tổng tuyển cử thống nhất đất nước là rất mong manh, nhưng trong tâm khảm những người con miền Nam tập kết ra Bắc đều mong sau hai năm sẽ trở về quê hương, về với gia đình. Với niềm tin mãnh liệt và niềm mong mỏi đó, chúng tôi dồn mọi cố gắng cho chuyến ra đi. Tháng 8 năm 1954, theo quyết định của Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, Liên khu 5 thành lập hai đại đoàn chủ lực (sang năm 1955 đổi tên thành sư đoàn). Sư đoàn 305 gồm ba trung đoàn bộ binh: 108, 96, 210 và một trung đoàn pháo. Sư đoàn 324 cũng biên chế ba trung đoàn bộ binh: 120, 803, 812 và một trung đoàn pháo. Lễ thành lập Sư đoàn 305 của chúng tôi được tiến hành tại sân bay thị xã Quảng Ngãi. Tư lệnh Sư đoàn là anh Nguyễn Đôn - nguyên Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Liên khu 5. Phó tư lệnh là anh Nguyễn Bá Phát - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108. Chính ủy sư đoàn là anh Nguyễn Quyết - nguyên Phó chủ nhiệm Chính trị thứ nhất Liên khu. Tôi được điều về làm trợ lý Ban Tổ chức sư đoàn, do anh Nguyễn Nam Khánh làm Trưởng ban. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 05:04:11 pm Tháng 10 năm 1954, Sư đoàn 305 được lệnh chuẩn bị tập kết ra Bắc. Để lên đường đúng thời hạn quy định, mọi công việc chuẩn bị được triển khai rất khẩn trương, từ việc ổn định biên chế tổ chức, bàn giao một số vũ khí cho các đồng chí được phân công ở lại cất giấu để chủ động đối phó khi đối phương "trở mặt"... Hoàn tất mọi việc, các đơn vị hành quân về đóng ở các huyện phía nam Bình Định để lần lượt xuống tàu biển tại cảng Quy Nhơn. Cơ quan Sư đoàn 305 đóng tại Hoài Nhơn - Bình Định.
Trước ngày xuống tàu, cán bộ, chiến sĩ được phép về thăm nhà ba ngày. Đường từ Hoài Nhơn về tới nhà tôi gần bảy chục cây số. Để kịp thời gian, tôi vừa đi vừa chạy từ chiều hôm "nhận phép" và suốt đêm hôm đó, để mờ sáng hôm sau đã có mặt ở nhà trước sự ngỡ ngàng, sửng sốt của người thân. Vẻn vẹn hai ngày ở nhà, tôi tranh thủ dọi lại mái tranh, sửa sang lại chuồng gà, chuồng lợn...; làm hết thảy những gì có thể giúp mẹ, vợ và chị, bởi nay mai thiếu vắng bàn tay đàn ông. Mỗi lần nhắc chuyện tôi đi xa, mẹ tôi lại mủi lòng, kéo vội vạt áo lau nước mắt. Bởi lẽ, mẹ cũng đã được cán bộ xã phổ biến đại thể về Hiệp định Giơ-ne-vơ, về khả năng tổng tuyển cử rất mỏng manh... Mẹ thương tôi sức vóc có chừng, khó quen với khí hậu ngoài Bắc, nghe đồn lạnh lẽo lắm. Còn tôi, cố giấu nỗi lo, nén xúc động để nước mắt lặn vào trong. Bởi biết rồi đây quê hương tôi thuộc quyền kiểm soát của địch. Chắc rằng gia đình có người đi kháng chiến, đi tập kết, khó bề yên thân. Hết nội, tôi chạy sang bên ngoại thăm mẹ vợ và anh chị em bên vợ. Như mẹ đẻ, mẹ vợ cũng dặn tôi gắng giữ gìn sức khỏe, yên tâm ra Bắc phấn đấu bằng anh bằng em. ở nhà, mẹ con bâu túm lấy nhau. Mẹ sẽ chăm nom, động viên vợ tôi... Mẹ còn bảo mẹ là đảng viên, rồi đây chắc chắn địch sẽ gây khó khăn. Nhưng chi bộ cũng đã họp bàn thống nhất sơ bộ phương pháp đấu tranh. Tôi cũng tranh thủ qua thăm họ hàng, bà con thân thích, tâm tình gửi gắm xóm giềng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau khi hoạn nạn, khó khăn, lúc tối lửa tắt đèn, nhất là khi đối phương vào tiếp quản. Chút thời gian ít ỏi tôi về thăm, không khí gia đình thật đầm ấm, hạnh phúc. Năm đó Diện - vợ tôi mới 21 tuổi. Chúng tôi vừa lập gia đình được hơn bảy tháng. Cưới xong là đi. Trận đánh này kéo theo chiến dịch khác. Vợ chồng tính gọn được dăm ngày bên nhau. Lúc tôi tạm biệt gia đình, cả nhà đều tấm tức. Các cháu nhỏ con anh trai tôi vừa khóc, vừa níu chặt ba lô. Nhìn mẹ già, cháu nhỏ không muốn rời, tôi không cầm được lòng, đành bước thật nhanh. Diện tiễn chân tôi xuống ga Thủy Thạch. Dọc đường em giành mang ba lô giúp tôi. Bộ đội Liên khu 5 lúc đó được trang bị một chiếc ba lô bằng vải si ta, may thành bốn mảnh. Khi sử dụng, xếp quần áo, đồ dùng cá nhân vào giữa rồi buộc lại, gọn gàng nhỏ nhắn như hình chiếc bánh gai - Dân quê tôi vui gọi là "Ba lô bánh ít". Tranh thủ chút thời gian đợi xe goòng (ô tô ray), Diện tìm mua vội cho tôi bộ quần áo lót, lọ dầu chống lạnh, một ít bánh kẹo để vào đơn vị làm quà cho anh em. Xe goòng chuẩn bị rời ga, Diện dặn lại tôi rằng: Cứ yên lòng ra Bắc, trông cho chóng ngày về, hai năm hay bao lâu em vẫn đợi! Cuối cùng thì giờ phút tạm xa quê hương, tạm xa miền Nam cũng đến. Tôi đi chuyến đầu tiên với cơ quan sư đoàn trên tàu Kilinsky của hải quân Ba Lan. Trong cuộc đời mỗi con người có biết bao lần đi xa. Với tôi cũng vậy, có lần nhớ, có lần đã thuộc về dĩ vãng. Tuy vậy, đã ngót gần nửa thẽ kỷ trôi qua, nhưng tôi không sao quên được lần chia tay đầy ắp kỷ niệm, thấm đẫm nghĩa tình này. Một sáng tháng 10, gió mùa về. Biển động. Tàu rúc một hồi còi dài chào đất liền. Sóng lớn. Tàu lắc lư, chao đảo. Mặc, hết thảy chúng tôi tràn lên đứng chật boong tàu. Ai cũng giơ cao hai ngón tay làm hiệu, như thề nguyền nhắn gửi với đất Mẹ, với người ở lại rằng hai năm nữa chúng tôi sẽ trở về. Vừa đúng một tuần sau khi ra Bắc, bộ đội "chân ướt chân ráo" về tập trung tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa, Sư đoàn 305 vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thăm. Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ sư đoàn tại sân vận động huyện Tĩnh Gia, Đại tướng Tổng tư lệnh nhiệt liệt biểu dương thành tích của quân và dân Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp - đặc biệt là chiến công của các đơn vị chủ lực Liên khu. Đại tướng thông báo những nét chính của Hiệp định Giơ-ne-vơ và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn khẩn trương củng cố tổ chức, huấn luyện tốt, đồng thời tham gia vận động nhân dân, chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Đồng chí Võ Nguyên Giáp ân cần dặn dò: Có Hiệp định Giơ-ne-vơ, không phải là hết chiến đấu chống kẻ thù, mà phải còn chiến đấu nữa mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập hai sư đoàn chủ lực từ các đơn vị chủ lực Liên khu 5, hai sư đoàn chủ lực của Nam Bộ cùng các sư đoàn chủ lực khác ở miền Bắc là nhằm xây dựng quân đội ta mạnh hơn, đủ sức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mới, cho dù có tổng tuyển cử được hav không. Sau những ngày tập kết ở các huyện nam Thanh Hóa, Sư đoàn 305 rải ra đóng quân ở ba tỉnh: Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định. Bộ đội chủ yếu ở nhờ trong nhà dân. Vừa khẩn trương ổn định sinh hoạt, Sư đoàn vừa tổ chức lực lượng tham gia chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Địa bàn được phân công là Ba Làng (Thanh Hóa), Phát Diệm (Ninh Bình), Bùi Chu (Nam Định). Mỗi nơi, Sư đoàn sử dụng một tiểu đoàn. Riêng ở Bùi Chu, về sau phải huy động cả trung đoàn. Tôi được phân công là thành viên ban chỉ đạo Tiểu đoàn 30 trực tiếp chống địch cưỡng ép giáo dân ở Ba Làng - một làng công giáo toàn tòng ở Thanh Hóa. Chống địch cưỡng ép giáo dân di cư cũng là một cuộc chiến đấu võ cùng phức tạp, quyết liệt. Bộ đội vừa phải tuyên truyền giải thích cho nhân dân về chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đoàn kết lương giáo của Đảng và Nhà nước ta; động viên giáo dân ở lại xây dựng quê hương, xây dựng chế độ mới; vừa phải đối phó với một số không ít những kẻ quá khích bị kẻ địch lợi dụng, kích động dùng vũ khí, hung khí hành hung bộ đội. Trong khi đó, bộ đội tuyệt đối không được sử dụng vũ khí, chỉ chống đỡ bằng tay. Cũng vì vậy, không ít trường hợp bộ đội phải đổ máu, thậm chí thương vong. Dù là khó khăn, nhưng do kiên trì thuyết phục vận động nhân dân, phân loại và kiên quyết tiến công bọn phản động, nên sau gần nửa tháng, Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chống địch cưỡng ép di cư. Đa phần nhân dân ở lại quê hương, ổn định dần cuộc sống. Chỉ non nửa tháng đấu tranh chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam, chúng tôi cũng đã ý thức được cuộc chiến đấu mới đang đến với nhân dân và quân đội ta sẽ cam go, quyết liệt đến nhường nào! Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 05:05:11 pm Đầu năm 1955, vợ tôi cũng tập kết ra Bắc, theo đoàn cán bộ dân - chính - Đảng. Đoàn đi thẳng ra Nam Định. Được tin Diện ra, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì vợ chồng có điều kiện gần nhau. Lo vì mẹ già, các cháu nhỏ biết nương tựa ai khi "tối lửa tắt đèn"...
Vì công việc, lại chưa thông thuộc đường sá, tàu xe, nên mãi ba tháng sau, khi cơ quan Sư đoàn chuyển ra Nam Định, tôi mới gặp Diện. Em kể lại: Sau khi chúng tôi đi, đơn vị cũ và cấp ủy địa phương tổ chức cho số chị em là vợ bộ đội, cán bộ và là du kích cũng ra Bắc. Còn mẹ tôi cũng rất lo những người như em nếu ở lại sẽ khó bề yên thân với kẻ địch. Thời "chín năm", mẹ đã từng chứng kiến tại vùng địch tạm chiếm ở Khánh Hòa, lính Lê dương, lính ngụy hoành hành cướp bóc, hãm hiếp, nhất là vợ con những người đi kháng chiến... Diện buồn rầu báo cho tôi biết, ở nhà, chị dâu tôi vừa mất vì bạo bệnh, để lại bôn cháu nhỏ cho mẹ. Sợ mẹ khổ, em ra Bắc không đành. Nhưng vì thương tôi, mẹ kiên quyết bắt em phải đi, và động viên: Trông cho yên hàn để hai năm các con đoàn tụ trở về. Ôi! Niềm mong mỏi tự con tim người Mẹ - một ước nguyện mỏng manh, bình dị mà lớn lao quá đỗi khi nước nhà bị chia cắt. Tôi khắc dạ, ghi lòng. Nhưng phải hơn mười lần cái "hai năm" đó, tôi mới trở về với Mẹ. Công tác ở cơ quan Sư đoàn 305 chưa được bao lâu, hè năm 1955, tôi được điều động về Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị và được biên chế thuộc Phòng Công tác đảng - khi đó gọi là Phòng Đảng vụ; cụ thể là ở tổ công tác đảng ủy, chuyên nghiên cứu, theo dõi hoạt động của các cấp ủy Đảng từ tiểu đoàn đến sư đoàn, quân khu. Lúc tôi về công tác ở Cục Tổ chức, Cục trưởng là anh Nguyễn Trọng Vĩnh, Cục phó là anh Đồng Sĩ Nguyên, về sau, anh Phạm Ngọc Mậu thay anh Nguyễn Trọng Vĩnh; còn anh Đồng Sĩ Nguyên nhận nhiệm vụ khác. "Vạn sự khởi đầu nan". Công việc ở Cục Tổ chức, với tôi lúc đó là một thử thách quá nặng nề. Bởi lẽ, trước đó, mặc dù ở cấp cơ sở, 19 tuổi tôi đã là chính trị viên đại đội, rồi được bổ nhiệm cán bộ tiểu đoàn cũng khá sớm, trận mạc đã trải, nhưng chưa được học một lớp nào về chính trị - dù chỉ dăm ba tháng, về văn hóa, cũng chẳng hơn gì - mới chỉ qua năm thứ nhất bậc Thành chung. Với chút vốn liếng cỏn con đó mà làm công tác đảng ủy ở cơ quan cấp chiến lược là quá sức. Dần dà, được sự động viên, giúp đỡ của Thủ trưởng Cục, các bậc đàn anh giàu kinh nghiệm trong cơ quan; bản thân mày mò học hỏi, tôi cũng nhập cuộc được. Phần mình, tôi cố gắng, đặng hoàn thành tốt nhiệm vụ ở cơ quan, đồng thời góp nhặt một chút kiến thức cơ bản về công tác đảng, công tác chính trị, hy vọng có thể vận dụng vào thực tiễn chiến trường. Từ trong thâm tâm, tôi hy vọng làm tốt công tác ở cơ quan cũng là để tạo cớ "mặc cả" với lãnh đạo, chỉ huy Cục, xin được trở về miền Nam chiến đấu. Nếu nguyện vọng đó đạt được thì đúng là "nhất cử lưỡng tiện". Từ giữa thập kỷ năm mươi, bên cạnh việc chăm lo củng cố tổ chức, xây dựng theo hướng chính quy, hiện đại, quân đội ta vừa tham gia cùng toàn dân giải quyết hậu quả của chiến tranh, tích cực xây dựng cơ sở vật chất bước đầu của chủ nghĩa xã hội trên miến Bắc. Điển hình gần ba chục nông trường quân đội ra đời, hàng chục công trình thủy lợi, công nghiệp đậm màu áo lính cũng lần lượt mọc lên... Đặc biệt sau khi có Nghị quyết 12 (1957) và Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (1-1959), yêu cầu xây dựng quân đội càng khẩn trương hơn. Công tác bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp chiến dịch, chiến lược cũng vì vậy mà trở nên cấp thiết. Trong những năm từ 1957 đến 1964, 1965, Tổng cục Chính trị tập trung vào chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị, kiên cường đấu tranh giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Tổng cục Chính trị hết sức quan tâm xây dựng các văn kiện vừa có tính giáo khoa, vừa có tính chế định, như: Văn kiện về các quy chế Đảng lãnh đạo quân đội qua các thời kỳ; công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; công tác chi bộ; công tác đảng, công tác chính trị trong từng quân chủng, binh chủng; công tác đảng, công tác chính trị trong các chiến dịch tiến công, phản công, phòng ngự...; tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954... Những năm cuối của thập kỷ năm mươi, trong quân đội ta có một số cố vấn quân sự, chính trị của quân đội nước bạn. Trong quan hệ công tác, Tổng cục Chính trị luôn giữ nguyên tắc, tranh thủ tiếp thu có chọn lọc ý kiến của cố vấn bạn, nhưng hoàn toàn không giáo điều, rập khuôn. Thực tế đó cho phép phủ định sự ngộ nhận của một số người vào đầu thập kỷ tám mươi, cho rằng trước đây ta phạm phải giáo điều máy móc, nên trong công tác đảng, công tác chính trị chịu ảnh hưởng của tư tưởng người này, người khác. Một điều mà tôi tâm niệm sâu sắc, là vào những năm miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, chúng ta đã phạm một số sai lầm. Ủy ban cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức Trung ương cũng như các cấp phát hiện một số cán bộ trung - cao cấp trong quân đội đã kinh qua thực tế chiến đấu, có liên quan đến địa chủ phong kiến và Quốc dân đảng, rồi đề nghị giao cho họ xử lý. Với tầm nhìn sáng suốt, đánh giá bản chất sự việc với nhãn quan lịch sử cụ thể, Tổng Quân ủy (Quân ủy Trung ương), trực tiếp là đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã khẳng định vào thời điểm đó không có cán bộ quân đội phản động, và kiên quyết bảo vệ cán bộ. Với tôi, việc làm này không đơn thuần chỉ là bảo vệ cán bộ quân đội, mà cái lớn hơn là bảo vệ được sự đúng đắn của Đảng bộ quân đội; vừa giữ được đội ngũ cán bộ ưu tú trưởng thành từ trong máu lửa của cuộc kháng chiẽn chống Pháp, Đảng bộ quân đội đồng thời thể hiện sự đúng đắn, bản lĩnh vững vàng trong những lúc khó khăn, sóng gió... Thực tiễn thể hiện rõ quan điểm giai cấp vô sản nhưng cũng thấm đẫm tình người, đó là bài học vô giá đối với công tác quản lý, giáo dục và sử dụng cán bộ, không chỉ đối với quân đội. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 05:06:11 pm Trong bề bộn công việc, thời gian công tác ở Cục Tổ chức chưa có điều kiện dự những lớp đào tạo tập trung dài ngày, nhưng hằng năm hoặc hai - ba năm tôi cũng được dự một vài lớp tập huấn bồi dưỡng về chính trị, quân sự, kể cả các lớp tập huấn cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch (trung đoàn, sư đoàn). Và cùng với các anh trong cơ quan, tôi tranh thủ từng buổi tối, ngày chủ nhật dự các lớp bổ túc văn hóa, hoàn thành chương trình phổ thống cấp III và đại học văn sử.
Năng nổ và cần mẫn, lại được các anh lãnh đạo, chỉ huy Cục động viên, đồng sự giúp đỡ, tôi đã tham gia biên soạn một số tài liệu: Những quy định về việc tiến hành Đại hội Đảng từ cơ sở đến Đảng bộ toàn quân, và chế độ Đảng trong quân đội; những văn bản có tính chế định về tổ chức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo của Đảng trong quân đội... Gần mười năm công tác tại Cục Tổ chức là quãng thời gian giúp tôi học hỏi, trưởng thành về nhiều mặt. Chút vốn liếng chuyên môn góp nhặt trong những năm tháng này là tài sản, hành trang vô cùng quý giá của tôi khi trở về miền Nam chiến đấu và đi trọn cuộc đời quân ngũ của mình. May mắn được công tác ở cơ quan cấp chiến lược, tôi có điều kiện tiếp xúc nhiều nguồn thông tin cụ thể, cập nhật vẽ tình hình miền Nam. Hai năm đã qua kể từ khi Hiệp định Giơ-ne-vơ có hiệu lực, tổng tuyển cử không những không được tiến hành, mà Mỹ đã ngang nhiên chà đạp công ước quốc tế, từng bước hất cẳng Pháp, nhảy vào hòng độc chiếm miền Nam, dựng lên chính quyền bù nhìn tay sai thân Mỹ. Dưới ách thống trị của chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, miền Nam đang trở thành "địa ngục trần gian". Với luật "10-1959", Mỹ - Diệm đã lê máy chém đi khắp miền Nam và bao vụ thảm sát từng ngày từng giờ xảy ra, từ Hướng Điền, Duy Xuyên đẫm máu, đến Phú Lợi vang tiếng thét oán hờn "Thù muôn đời, muôn kiếp không tan"... Cũng như bao người con xa quê hương đi tập kết, suốt một thời gian dài, tôi sống trong cảnh "ngày Bắc - đêm Nam". Ngoài mối thù chung của cả dân tộc, chúng tôi còn bao nỗi lo, nỗi đau riêng. Ban ngày, cái bộn bề công việc khỏa lấp đi những vương vấn riêng tư. Chỉ có về đêm, hình bóng mẹ già, cháu nhỏ và bao người thân thương khác dưới đòn roi, trước họng súng của kẻ thù lại hiển hiện lên. Ai còn, ai mất? Mẹ đẻ tôi từng tham gia kháng chiến, mẹ vợ tôi là đảng viên, giờ đây lại có con đi tập kết... chắc khó thoát khỏi lưỡi dao đẫm máu của lũ sát nhân... Những hình ảnh đó luôn giằng níu, hối thúc tôi đề đạt nguyện vọng với cấp trên được trở về miền Nam chiến đấu. "Cây muốn lặng, gió chàng đừng!". Chúng ta muốn hòa bình, nhưng kẻ thù không muốn. Để cứu miền Nam khỏi cơn nguy biến, tháng 1 năm 1959, Trung ương Đảng ra Nghị quyết 15, đưa cách mạng miền Nam lên một cao trào mới, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, sử dụng bạo lực cách mạng đè bẹp bạo lực phản cách mạng. Nhân cơ hội này tôi liên tục viết đơn thiết tha đề đạt nguyện vọng của mình. Lúc này anh Phạm Ngọc Mậu đã thay anh Nguyễn Trọng Vĩnh làm Cục trưởng Cục Tổ chức. Hiểu và thông cảm với tâm trạng của tôi, anh Mậu điềm đạm nói: Cuộc chiến đấu còn lâu dài và quyết liệt, cậu gắng công tác, học tập tích lũy kiến thức và kinh nghiệm để rồi khi về miền Nam vận dụng, chắc sẽ bổ ích nhiều. Tháng 5 năm 1959, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đoàn công tác quân sự đặc biệt (Đoàn 559 sau này) có nhiệm vụ mở đường, tổ chức đưa đón cán bộ, vận chuyển vật chất vào chiến trường dọc theo dãy Trường Sơn. Anh Võ Bẩm được cử làm Đoàn trưởng kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng. Ngay khi Đoàn 559 được thành lập, tôi được Cục Tổ chức phân công theo dõi, tạo điều kiện giúp Ban Cán sự Đoàn về công tác tổ chức. Trụ sở buổi ban đầu của Đoàn 559 - nơi tôi thường qua lại quan hệ công việc là nhà số 63 phố Lý Nam Đế - Hà Nội. Tôi cũng xem đây là sự ưu ái của tổ chức, của các anh lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục, Cục Tổ chức đối với tôi. Bởi lẽ, chọn người để giao việc có liên quan đến Đoàn 559 lúc này yêu cầu rất chặt chẽ, mặc dù, trong thâm tâm, nguyện vọng tha thiết, chót cùng của tôi là được trở về chiến đấu trên chính chiến trường thân thuộc Liên khu 5 - Không phải là trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Đầu năm 1960, tôi được đi cùng đồng chí Nguyễn Chí Thanh vào công tác ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, tìm hiểu kiểm tra tình hình xây dựng thế trận phòng thủ ven biển và giới tuyến. Đến đồn biên phòng của ta ở đầu phía bắc cầu Hiền Lương, tôi đứng lặng nhìn sang bờ nam sông Bến Hải, lòng sôi trào uất hận. Kẻ thù đã biến dòng Bến Hải trong lành, dịu mát như muốn mọi dòng sông ở rẻo đất miền Trung này thành lưỡi dao cắt lìa hai miền đất nước. Chỉ cách nhau mỗi mái chèo mà Nam - Bắc như xa cách muôn trùng vời vợi. Nhìn cầu Hiền Lương, tôi hỏi chiến sĩ biên phòng: Vì sao hai nửa cầu hai màu khác nhau? Anh cho biết: nửa cầu phía nam do địch kiểm soát. Chúng không chịu để cây cầu nhỏ nhắn kia cùng một màu. Hễ chúng ta sơn cùng màu, thể hiện ý chí thống nhất Nam - Bắc, thì ngay lập tức chúng sơn lại màu khác. Sự việc cứ diễn đi diễn lại nhiều lần như vậy, nên ta không sơn lại nữa. Nhưng chuyện treo cờ ở đây lại khác. Ta may cờ Tổ quốc thật to, treo cao hơn cò "ba que" của địch ở bờ nam; liền sau đó, địch lại thay cờ to hơn, treo cao hơn. Qua nhiều lần đua như vậy, vì sợ leo cao, kẻ địch phải chịu thua. Trong nắng ấm cũng như giữa bom đạn, lá cờ đỏ sao vàng mang hồn thiêng sông núi, khí phách con người Việt Nam, vẫn tung bay ngạo nghễ... Từ năm 1960, chiến trường kêu gọi, nhiều đơn vị bộ đội lần lượt vào Nam chiến đấu. Để giữ bí mật, khi đó gọi là đi B. "Đi B" hai tiếng bình dị đó mà sao thiêng liêng, thôi thúc chúng tôi quá đỗi. Rồi dịp may tới. Vào giữa năm 1961, trong khi đang theo học lớp bổ túc trung - cao cấp chính trị của Bộ, tôi được lệnh về cơ quan chuẩn bị vào Nam làm Trưởng phòng Tổ chức Quân khu 5 theo yêu cầu của các anh trong Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu. Nhưng "mừng chẳng kịp no", khi kiểm tra sức khỏe, tôi bị yếu tim; đành ngậm ngùi chấp nhận lệnh cấp trên, gắng công tác, rèn luyện thể lực và thầm nuôi hy vọng. Trên chiến trường, kể từ sau khi Trung ương Đảng ra Nghị quyết 15, và đặc biệt sau cao trào Đồng Khỏi, cách mạng miền Nam đã từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công, liên tiếp giáng cho kẻ địch những đòn chí mạng, như Ấp Bắc, Bình Giã, buộc Mỹ phải "thay ngựa giữa dòng" làm đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Tiếp đó, để cứu vãn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" đang trên bờ vực của sự phá sản, Mỹ buộc phải chuyển sang thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam và từng bước leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 05:07:34 pm Kể từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 - ngày mà Mỹ dựng đứng lên cái gọi là "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", cho máy bay, tàu chiến đánh phá nhiều nơi trên miền Bắc, hòng "trả đũa Bắc Việt", lửa chiến tranh đã cháy rực khắp hai miền đất nước ta.
Tháng 8 năm 1964, nhân đợt đi công tác nắm tình hình Quân chủng Hải quân và Quân khu Tả Ngạn tổ chức đánh máy bay Mỹ, tôi tranh thủ bày tỏ với anh Huỳnh Đắc Hương - Cục phó Cục Tổ chức, nguyện vọng về Nam chiến đấu. Thật may mắn, sau chuyến đi đó, tôi nhận được quyết định vào làm Trưởng phòng Tỗ chức Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Vậy là, trước sau tôi là người nặng duyên nợ với Đoàn 559. Nhận quyết định cầm tay, dẫu chưa thật thỏa nguyện, nhưng cũng thấy thật ấm lòng, chưa được về hẳn chiến trường Khu 5, thì cũng được chiến đấu trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - trên "Đường về đất Mẹ". Lúc này, vợ và ba cô con gái bé bỏng của tôi đang ở Nam Định. Diện là công nhân Nhà máy dệt. Vì phải lên đường gấp, tôi không thể về thành Nam mà chỉ kịp điện báo với Diện rằng tôi sẽ đi công tác xa, dài ngày. Biết tôi trở về miền Nam, Diện gửi con - đứa lớn lên bảy, đứa bé lên ba cho bạn rồi nhảy tàu hỏa lên thăm tôi. Vợ chồng chỉ vẻn vẹn có một buổi chiều bên nhau mà biết bao điều lo toan, cần dặn dò... Tôi ý thức được rằng, sau niềm vui vì tôi được trở lại chiến trường, với Diện còn có trăm mối lo lắng, trăn trở. Tối hôm đó, khi mấy ngọn đèn đường phố Lý Nam Đế vừa hắt những quầng sáng vàng, nhỏ trong tán cây, tôi đưa Diện ra ga Hàng Cỏ để xuôi tàu về Nam Định. Vợ chồng bên nhau. Im lặng. Chỉ đến khi tàu kéo còi, gần chuyển bánh, Diện mới nói được mấy lời: Anh đi gắng giữ gìn sức khỏe và công tác tốt. Vào trong đó, có điều kiện về thăm mẹ, thăm quê. Ngoài này, em và con mong thư...! Ngày hôm sau, chúng tôi lên đường. Đi cùng tôi chuyến này có anh Võ Văn Dật. Anh Dật quê Bình Định - nguyên Chủ nhiệm hậu cần Quân khu Tả Ngạn, Cục trưởng Cục Quản lý hành chính kinh tế - Tổng cục Hậu cần, nay vào nhận chức Chủ nhiệm hậu cần Bộ Tư lệnh 559. Hành trình có anh có em, không khí càng thêm hồ hởi, vợi đi chút trăn trở khi nghĩ về gia đình, vợ con. Hành trang mỗi người mang theo gói gọn trong chiếc ba lô với vài bộ quần áo, vài thứ đồ dùng cá nhân, có thểm một chiếc võng bạt. Đã là đầu hè năm 1965. Máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc, đặc biệt từ Hà Nội trở vào ngày một ác liệt hơn. Dọc đường số 1, đường 15 vào Nam, tại nhiều nút giao thông quan trọng, máy bay địch đánh phá không kể ngày đêm. Nhiều cầu lớn như cầu Phủ Lý, Hàm Rồng, cầu Cấm, cầu Bùng... sập hoặc hư hỏng nặng. Xe phải vượt sông bằng phà. Từ Ninh Bình trở vào, xe chạy ban đêm là chủ yếu; lại qua nhiều phà, nên phải mất gần 5 ngày đêm chúng tôi mới có mặt ở R - nơi đặt sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh 559 - đầu đường số 12 thuộc địa phận Hóa Thanh, Hóa Tiên - huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Nơi đầy có nhiều núi đá với những hang động lớn. Tới mùa hè năm 1965, khi tôi thực sự là người lính Trường Sơn, thì những cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 đã trải qua 6 năm chiến đấu ngoan cường, vượt lên muôn vàn gian khổ, ác liệt, hy sinh, để viết nên khúc dạo đầu của ban trường ca "xẻ dọc Trương Sơn đi cứu nước". Từ những bước xoi đường âm thầm, lặng lẽ "Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" giữa mùa mưa năm 1959, những người lính Trường Sơn đã từng bước nghiên cứu, nắm bắt quy luật hoạt động, phá hoại của địch; nghiên cứu điều kiện tự nhiên, quy luật thời tiết vô cùng nghiệt ngã vùng đại ngàn Trường Sơn, mở được một hệ thống đường giao liên, gùi thồ kết hợp đường ô tô dã chiến, đường sông cả đông và tây Trường Sơn với tổng chiều dài gần 2.000 cây số - có hơn 750 cây số đường ô tô, hơn 600 cây số đường gùi thồ và hơn 300 cây số đường sông. Trên tuyến đường đó, đến cuối năm 1964, Đoàn đã chuyển giao chiến trường gần 3.000 tấn vật chất thiẽt yếu, tổ chức đưa đón, bảo đảm cho hơn 12.000 cán bộ, chiến sĩ vào tăng cường cho các chiến trường. Về lực lượng, Đoàn 559 cũng có bước phát triển đáng kể. Từ 500 cán bộ, chiến sĩ hoạt động chủ yếu với phương thức vận tải thô sơ: mang vác, gùi thồ, sau 6 năm, con số đó đã lên hơn 8.000. Đặc biệt vận tải cơ giới đã được đưa vào Trường Sơn với quy mô trung đoàn ô tô. Từ một đơn vị vận tải - giao liên đã dần dần phát triển thành một tổ chức bộ đội hợp thành, dẫu cho quy mô còn rất hạn chế, gồm: bộ đội vận tải, công binh, phòng không. Khắc phục muôn vàn khó khăn, thử thách; chấp nhận biết bao mất mát, hy sinh, kết quả những người lính Trường Sơn sau 6 năm chiến đấu xây dựng đã tạo cơ sở vật chất và kinh nghiệm bước đầu để đường Trường Sơn vươn sâu, vươn xa hơn nữa, làm tốt hơn chức năng cầu nối giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Để có được kết quả đó, ngoài nhân tố quyết định là sự lãnh đạo của Đảng - trực tiếp là Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng, sự hy sinh vô bờ bến của những người lính Trường Sơn, phải kể đến vai trò, công lao của các anh Nguyễn Thạnh, Nguyễn Danh, Chu Đăng Chữ..., đặc biệt là anh Võ Bẩm, anh Nguyễn Thạnh. Anh Bẩm vốn là cán bộ Liên khu 5, tham gia cách mạng từ năm 1930; từng bị thực dân Pháp bắt lưu đày tại các nhà ngục Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Theo anh kể lại, trong kháng chiến chống Pháp, đã có lần anh được Liên khu ủy 5 phân công chỉ huy một chiếc thuyền máy của Ban Kinh tài Liên khu ủy vượt biển sang Trung Quốc mua sắm vũ khí. Khi gần cập bến, thuyền hỏng máy, không khắc phục được. Anh được lệnh lên bờ và từ miền Bắc đi bộ vượt Trường Sơn về Khu 5. Chuyến đi không thành, nhưng chút kinh nghiệm của cuộc hành quân "xuyên Trường Sơn" ấy, cộng với bản lĩnh chính trị vững vàng, bề dày kinh nghiệm hoạt động ở Liên khu 5... đã đưa anh đến với cương vị Đoàn trương Đoàn 559. Anh Thạnh là đảng viên từ năm 1930 đã bị thực dân Pháp bắt, tù đày; anh là một trong những cán bộ cốt cán của đội du kích Ba Tơ - Quảng Ngãi. Trong kháng chiến chống Pháp, anh đã từng giữ chức trung đoàn phó. Vạn sự khởi đầu nan. Hơn 5 năm về trước, khi được phân công theo dõi, giúp đỡ "Đoàn công tác quân sự đặc biệt", ở Hà Nội, tôi đã được chứng kiến các anh Võ Bẩm, Nguyễn Thạnh, chạy đôn chạy đáo tới Sư đoàn 305 đóng ở Thậm Thình, Phong Châu, Phú Thọ và các đơn vị miền Nam tập kết chọn lựa, góp nhóp được hơn 400 cán bộ, chiến sĩ thành lập Tiểu đoàn 301 - Tiểu đoàn vận tải giao liên đầu tiên của tuyến. Liền đó, như con thoi, một người - một xe, anh Võ Bẩm vào Hồ Xá - Vĩnh Linh gặp gỡ đại biểu Đặc khu Vĩnh Linh, Trị - Thiên, Khu 5, họp bàn lập tuyến, mở đường. Rồi cũng chính anh đã trực tiếp cùng các anh Nguyễn Thạnh, Chu Đăng Chữ, Nguyễn Danh, Ngô Văn Diệm... vào Làng Ho, leo lên động Hàm Nghi - động Voi Mẹp, vượt đỉnh 1001, Chăng Hin... xoi đường mở lối về Nam. Theo những lối mòn nhỏ nhoi, thậm chí chỉ là lối thú rừng đi lại, qua bao triền khe, vách đá tai mèo..., đội quân chân đất, đầu trần, trang phục bà ba đen đã âm thầm, lặng lẽ "chọc thủng" đại ngàn Trường Sơn, gùi cõng những khẩu súng, viên đạn đầu tiên từ miền Bắc vào chi viện cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam đúng vào thời điểm đang quằn quại, rên xiết dưới chế độ tàn bạo của quân thù mà "trong tay không còn một tấc sắt". Trước yêu cầu chi viện ngày càng lớn của chiến trường, và khi điều kiện cho phép, các anh đã từng bước tổ chức lại lực lượng, từ đông lật cánh sang tây Trường Sơn... Không chỉ năng động, có tầm nhìn bao quát, anh Võ Bẩm còn là một cán bộ lãnh đạo, chỉ huy mẫu mực, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội. Lúc cấp dưới gặp khó khăn, anh thường trực tiếp tìm hiểu, hướng dẫn khắc phục, không rầy la, nóng nảy, và mọi chuyện đa phần là tốt đẹp. Anh Võ Bẩm cũng là người duy nhất được thay mặt Bộ đội Trường Sơn gặp Bác Hồ, báo cáo với Bác những việc làm, sự hy sinh thầm lặng của nhũng người lính Trường Sơn. Cũng chính buổi gặp gỡ quý báu đó, anh Võ Bẩm đã được Bác Hồ giao nhiệm vụ tổ chức chuyển vào cho đồng bào các dân tộc ít người dọc hành lang Tuyến 559 hơn ba chục tấn muối, mười tấn vải. Chỉ một thời gian ngắn sau khi tôi vào tuyến, do điều kiện sức khỏe nên anh Võ Bẩm được trên điều về công tác ở Cục Quản lý giáo dục - Bộ Tổng Tham mưu. Buổi chia tay anh Võ Bẩm về tuyến sau, không chỉ những người gắn bó với anh từ buổi đầu tiên, như anh Lê Trọng Tâm - Bí thư, anh Phạm Tề - Phó phòng Tổ chức... mà cả chúng tôi - vừa chân ướt, chân ráo vào đây, cũng vô cùng xúc động, quyến luyến. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:52:29 am II. TRƯỜNG SƠN NHỮNG THÁNG NGÀY THỬ NGHIỆM VẬN TẢI CƠ GIỚI
Sau vài ngày ổn định sinh hoạt, gắng hòa nhịp nhanh với mạch sống của một đơn vị chiến đấu, tôi bắt tay ngay vào tìm hiểu tình hình chung và lĩnh vực công tác của bản thân. Vào đầu năm 1965, yêu cầu chi viện chiến trường ngày càng lớn đã kéo theo biên chế tổ chức và nhiệm vụ của Đoàn 559 có bước phát triển đột biến. Theo quyết định của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương phát triển Đoàn 559 thành Bộ Tư lệnh 559, có quyền hạn, trách nhiệm tương đương cấp Quân khu, đồng thời, Trung ương tăng cường Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Giao thông vận tải vào làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559; điều anh Vũ Xuân Chiêm - Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần vào làm Phó chính ủy. Lúc này, anh Võ Bẩm giữ chức Phó tư lệnh Đoàn 559. Anh Nguyễn Thạnh do sức khỏe yếu, được điều ra tuyến sau. Cán bộ chủ trì các cơ quan có: anh Vũ Văn Đôn - nguyên Cục trưởng Cục Quản lý xe, làm Tham mưu trưởng; anh Đỗ Hữu Đào là Tham mưu phó phụ trách tác chiến, anh Nguyễn Cận là Tham mưu phó phụ trách phòng không; anh Nguyễn Văn Nhạn là Tham mưu phó phụ trách công binh; Chủ nhiệm hậu cần là anh Võ Văn Dật, Chính ủy Cục Hậu cần là anh Lê Xy. Anh Lê Nghĩa Sỹ là Phó chủ nhiệm chính trị. Sau một thời gian anh Ngô Thành Vân vào làm Chủ nhiệm chính trị, Phó chủ nhiệm chính trị có thểm anh Bùi Đức Tạm. Về Đảng, anh Phan Trọng Tuệ được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy. Các anh Vũ Xuân Chiêm, Võ Bẩm, Nguyễn An, Vũ Toàn là đảng ủy viên; khi anh Võ Bẩm chuyển công tác, bổ sung thêm các anh Hồng Kỳ, Vũ Văn Đôn. Lực lượng toàn Đoàn lúc này tổ chức thành ba tuyến, mỗi tuyến tương đương một lữ đoàn. Tuyến 1, do anh Vũ Toàn làm Chỉ huy trưởng, anh Hồ Thăng là Chính ủy, gồm các lực lượng vận tải, công binh, cao xạ hoạt động từ cửa khẩu đường 128 và đường 20 vào đến đường 9. Chỉ huy sở ở Xóm Péng. Tuyến 2, gồm các lực lượng hoạt động từ nam đường số 9 vào đến bắc Bạc (Nam Lào) và trục đường ngang B45 (từ La Hạp đi Trị - Thiên). Chỉ huy trưởng là anh Nguyễn Lang - nguyên Đoàn phó Đoàn 559, Chính ủy là anh Đặng Ba. Chỉ huy sở đặt tại Tà Beng. Tuyến 3, giới hạn từ nam sông Bạc vào tới Tà Xẻng, gồm cả lực lượng hoạt động trên tuyến đường ngang B46 (từ Chà Vằn đi Khâm Đức) và đường C4 (từ ngã ba Phi Hà xuống Tà Ngâu - giáp giới Cam-pu-chia). Chỉ huy trưởng là anh Nguyễn An. Chính ủy là anh Phạm Hương, sở chỉ huy đóng ở nam bến Bạc. Là người chủ trì cấp phòng, nhưng do tính chất công việc có liên quan đến mọi chủ trương, quyết định của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, nên tôi có điều kiện được tiếp xúc và làm việc với các anh trong Bộ Tư lệnh cũng như tập thể Đảng ủy. Đầu tháng 4 năm 1965, Bộ Tư lệnh họp bàn giải quyết một số việc cấp bách: tranh thủ thời gian còn rất ít của mùa khô, huy động hai trung đoàn xe 245 và 265 đưa hàng vào tạo chân hàng cho chiến trường trong mùa mưa tại Tuyến 3, củng cố và chống lầy đường đã có, mở gấp 400 cây số đường mới - trọng điểm là đường trục dọc 128 từ Xóm Péng, qua Lùm Bùm rồi nối xuống đường số 9. Yêu cầu đến cuối tháng 6 phải xong để vận chuyển trong mùa mưa. Trục dọc ở Tuyến 3 mở mới là đường từ nam Bạc vào Tà Xẻng. Hạn định trong tháng 10 phải xong để vận chuyển trong mùa khô 1965-1966. Về đảm bảo giao liên hành quân trong mùa mưa, tổ chức đưa đón mỗi ngày trung bình 300 quân... Công việc cấp bách chỉ gói gọn trong mấy con số "vô hồn", nhưng quả là thử thách vô cùng lớn lao đối với toàn tuyến. Bới khối lượng công việc lớn, lại dàn ra triển khai trên toàn tuyến, kẻ địch tập trung đánh phá bằng cả không quân và bộ binh; đặc biệt đã vào cuối tháng tư, trời nóng hầm hập; chiều chiều, những cơn mưa đầu mùa phũ phàng trút xuống. Sau mưa, mối cánh túa ra như mây... báo hiệu một mùa lũ dữ. Hạ quyết tâm xong, các anh trong Bộ Tư lệnh và cơ quan phân công nhau xuống từng đơn vị trực tiếp phổ biến và chỉ đạo triển khai kế hoạch vận chuyển, làm đường. Riêng anh Vũ Văn Đôn ra trực tiếp làm việc với Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, hiệp đồng huy động lực lượng, chủ yếu là thanh niên xung phong. Mọi việc được triển khai khá đồng bộ, nhịp nhàng. Nhưng có lẽ lúc này Bộ Tu lệnh 559 cũng như lãnh đạo, chỉ huy các tuyến chưa lường định hết những khó khăn, ác liệt do địch đánh phá và hiểm họa "giặc trời". Khi toàn tuyến bước vào thực hiện kế hoạch mới, cùng lúc Mỹ tăng cường đánh phá hậu phương miền Bắc ngày càng ác liệt, đặc biệt là vùng eo thắt Khu 4. Cầu, đường từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào tới Khe Ve (khu vực đặt sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 559) không ngày nào không bị đánh cắt. Có đoạn tắc liền ba bốn ngày. Đường từ Khe Ve vào đường số 9 với những trọng điểm Mụ Giạ, Pha Nốp... suốt ngày không dứt tiếng bom. Đêm đến, pháo sáng địch giăng đều, liên tục, soi mói từng hoạt động nhỏ của ta dọc trục đường, trên từng trọng điểm. Vì chưa có kinh nghiệm, hễ thấy pháo sáng của địch bật sáng, đa phần lái xe dừng xe, tránh bom đạn, nên thời gian thực hiện cung vận chuyển kéo dài. Đầu tháng 5 trời bắt đầu mưa. Những đám mây xám xịt, nặng trĩu, treo lơ lửng ngang triển núi bất ngờ vỡ toác ra. Nước ào ào trút xuống. Gần chục năm có lẻ, tôi lại trở về chứng kiến mưa Trường Sơn - Tây Nguyên. Vào kỳ mưa lũ lớn, nước từ bao triền núi đổ về, biến những trục đường nhỏ nhoi thành sông, thành suối. Đường vốn đã xấu bởi bom đạn thù cày xới, nay gặp mưa lớn càng lầy lội kinh khủng. Những quãng đường thấp qua Lằng Khằng, Pác Pha Năng (đường 12) tình cảnh càng tồi tệ. Cầu Pác Pha Năng bị nước cuốn trôi. Nước dâng lên hơn sáu mét, biến nơi đây thành túi nước khổng lồ. Hơn 100 xe của Tuyến 1 chạy trên cung đường này bị sa lầy nằm rải rác từ Pác Pha Năng vào tới Na Mô, Na Nhôm, dọc đường 129 trong suốt mùa mưa nghiệt ngã này. Hàng trên xe rặt là súng đạn, hàng quân nhu, nên anh em lái xe bị đói. "Đói, đầu gối phải bò", lái xe thay nhau đi tìm kiếm rau rừng, củ mài, củ chụp. Nhưng rồi rau, củ khan hiếm. Anh Toàn, anh Thắng vừa phải tổ chức cứu kéo xe vừa phải cứu đói cho người. Ở Tuyến 2, Tuyến 3, tình hình cũng chẳng khả quan hơn. Tuy cường độ đánh phá của địch không ác liệt như khu vực vượt khẩu, nhưng do đường xấu, nhiều đèo dốc rất nguy hiểm, như dốc 12 cua nam Bạc, hoạt động vận chuyển vô cùng khó khăn. Bình thường xe chạy một chuyến từ La Hạp vào Bạc chỉ mất 2 ngày; nhưng sang tháng 5, mưa nhiều chạy mất 15 ngày. Tháng 6 cao điểm mùa mưa, vận chuyển cơ giới tê liệt hẳn. Như vậy, trên cả ba tuyến hoạt động vận chuyển chi viện mấy tháng quý 2 thực hiện được rất thấp. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:53:56 am Bao trùm cơ quan - đặc biệt là cơ quan tham mưu vận chuyển là bầu không khí chừng hẳn xuống, đượm màu lo lắng.
Vận chuyển là vậy! Còn mở đường cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Trong cuộc họp đầu tháng 4, Bộ Tư lệnh chủ trương cùng với việc chống lầy, bảo đảm đường hiện có, cần ưu tiên tập trung thi công nhanh đường 128 để kịp có đường vận chuyển trong mùa mưa, kế đó là mở đường từ Bạc vào Tà Xẻng để kịp sử dụng vận chuyển trong mùa khô tới. Đường 128 là trục đường từ Xóm Péng chạy song song với trục đường 129, qua Tha Pa Chôn, Lùm Bùm, Cốc Mạc đèo Văng Mu, xuống Na Bo rồi nối vào đường 9; tổng chiều dài gần 140 cây số. Dự tính, nếu tập trung bốn đội thi công cơ giới của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Nông trường với hơn năm chục máy húc, cộng với hơn 600 dân quân do Quân khu 4 tăng cường; khởi công ngày 1 tháng 5, thì cuối tháng 6 sẽ thông đường. Dự tính là vậy. Nhưng bước vào thi công mới nảy sinh bao khó khăn khôn lường. Khi trời còn nắng ráo, thì địch tập trung đánh phá, chặn cắt làm tắc đường ở Khu 4; phương tiện thi công cơ giới không chuyển vào kịp. Ban chỉ huy công trường chủ trương dùng sức người thay sức máy. Nhưng, đã một tháng trôi qua kể từ khi phát lệnh khỏi công, mới làm được chừng mười cây số, chưa được một phần mười khối lượng dự kiến. Sang tháng 6, có thểm lực lượng và phương tiện thi công, trời lại đổ mưa tầm tã. Đất ba zan quánh lại. Máy móc không phát huy được hiệu lực. Đường mở đến đâu, lầy lún đến đó, nên phải san quân ra chống lầy. Lực lượng thiếu nghiêm trọng. Ngay cả lực lượng bảo đảm hậu cần nội bộ cũng không đủ. Bộ đội, dân công đói, thiếu thuốc, ốm đau hàng loạt, nhất là nữ thanh niên xung phong. Được cùng các anh trong cơ quan Bộ Tư lệnh xuống nắm tình hình, đốc chiến ở công trường, chúng tôi không cầm lòng nổi, khi tận mắt chứng kiến nỗi vất vả, cực nhọc của chị em. Những nữ thanh niên quê Thanh - Nghệ - Tĩnh, được Quân khu 4 tăng cường, khi vào tuyến mơn mởn sức xuân, chỉ dầm mấy trận mưa rừng, dăm ba cơn sốt rét... da dẻ bợt bạt đến không ngờ, tóc chỉ còn lơ thơ mấy sợi... Như nam giới, các cô cũng gồng mình lên, đội bom đạn, đánh vật với bệnh tật ốm đau, gánh gồng, đào xới san lấp... nhưng, thiếu thốn đủ bề, từ lưng cơm, viên thuốc sốt rét cho đến những thứ cần cho sinh hoạt mà tự nhiên chỉ dành cho phụ nữ... Lần giở những trang hồi ức về một thời đạn bom, một thời máu lửa và gian khổ, tôi không khỏi chạnh lòng, liên tưởng. Liệu có mấy ai bây giờ - thời đại "bùng nổ thời trang", "lạm phát" những cuộc thi sắc đẹp, hình dung nổi những gian khó, hy sinh vô bờ bến của những nam nữ thanh niên xung phong, bộ đội, công nhân giao thông... trên Trường Sơn ngày ấy? Ngày mà quả bồ kết để gội đầu là mơ ước của những cô gái Trường Sơn, dễ mấy khi có được! Tháng 10 năm 1965, mưa lũ đã qua. Song, khó khăn ở Công trường 128 chưa hết. Sau lần vào kiểm tra tình hình thực địa, Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đã chỉ thị ngay cho anh Vũ Toàn - Chỉ huy trướng Tuyến 1 tổ chức một chuyến hàng đặc biệt gồm 20 xe ô tô đưa hàng từ Xóm Péng vào Lùm Bùm cứu đói cho lực lượng thi công đường 128. Có thểm gạo, bộ đội hồi sức. Tiến độ thi công nhanh hơn. Nhưng cũng phải hết tháng 11, đường 128 mới nối thông vào đường 9 - chậm 5 tháng so với thời gian lường định ban đầu. Ở Tuyến 3, đường từ Bạc vào Tà Xẻng làm mới trên cơ sở đường cũ, dài chừng 250 cây số. Cái khó ở địa đoạn này là đường đi qua Đèo Long, Tăng Cát, Chà Vằn, Bô Phiên, Sê Ca Mán, Xê Sụ... nhiều đèo dốc rất hiểm trở, khối lượng đất đá phải đào đắp rất lớn. Do vậy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã tung vào đây một lực lượng công binh thiện chiến, bao gồm: Trung đoàn công binh 98 do anh Phan Quang Tiệp làm Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Phú Hồng làm Chính ủy và Trung đoàn công binh 279 do anh Hoàng Đình Luyến làm Trung đoàn trưởng và anh Đỗ Hoàng Thược làm Chính ủy; lực lượng tăng cường có hai đại đội cầu phà, bốn máy húc. Thời gian bắt đầu triển khai trùng với Công trường 128 (ngày 1 tháng 5) và dự kiến thông đường tới Tà Xẻng vào cuối tháng 10. Nhưng rồi cũng giống như việc mở đường 128, tiến độ thi công tuyến đường này rất chậm, do địch đánh tắc đường, Trung đoàn 279 vào muộn. Ngay cả khi người vào rồi, máy móc, thuốc nổ cũng thiếu. Từ tháng 6, trời đổ mưa liên tiếp, điều kiện thi công khó khăn hơn. Gặp những đoạn qua núi đá, các đơn vị phải thi công theo kiểu "nhảy cóc" - chuyển sang làm quãng khác, chờ khi có thuốc nổ mới quay lại làm nốt. Ở những quãng đèo dốc hiểm trở như dốc 12 cua nam Bạc, lèo Bô Phiên... lính công binh phải nối dài cán xẻng để bạt ta luy, thậm chí phải thắt dây ngang người, treo lơ lửng sườn núi để tác nghiệp... Vất vả, gian nan không thể nào tả xiết. Chưa hết, mưa lũ, địch đánh chặn gây tắc đường, lương thực chuyển vào không thấu. Bộ đội phải thay nhau tìm đào củ mài, củ dái ngựa, củ chuối rừng... thay cơm. Thức ăn chủ yếu là măng, lá sắn. Đói cơm, lạt muối, thiếu thuốc, lao động quá căng thẳng, khí hậu vô cùng nghiệt ngã..., sức khỏe của cán bộ, chiến sĩ sụt giảm nghiêm trọng. Quân số ốm ngày càng tăng, chủ yếu là sốt rét. Nhiều tân binh thuộc Trung đoàn 279, hôm nào gặp trên đường hành quân còn "đỏ da - thắm thịt", mà sau vài tháng có việc xuống đơn vị đã thấy họ mặt mày hốc hác, chân tay teo tóp, da tái xám... Dù vậy, anh em vẫn động viên nhau bám đường, quyết thông tuyến sớm. Kịp thời tháo gỡ khó khăn cho Tuyến 3, Bộ Tư lệnh 559 lệnh ngay cho Tiểu đoàn ô tô 56 thực hiện một chuyến vận chuyển đột kích mang mật danh "Ngọn đèn xanh Bác Hồ" chở lương thực, thực phẩm, thuốc nổ, thuốc quân y... xuất phát từ Xóm Péng, theo đường 129 chạy thẳng vào cấp cứu cho Tuyến 3. Có gạo, thuốc nổ, thuốc quân y... khí thế lao động trên công trường sôi nổi hẳn lên. Đầu tháng 1 năm 1966, đường mở thông từ Bạc vào Tà Xẻng. Dẫu cho đường mới còn hẹp, nhiều cua gấp, lắm dốc, gồ ghề, trồi trụt..., nhưng tạo được trục vận tải ô tô từ Mụ Giạ, Cổng Trời vào tới ngã ba biên giới là một sự kiện lớn, một thành quả được tạo dựng bởi nỗ lực phi thường của những người lính Trường Sơn, của biẽt bao nam nữ thanh niên xung phong suốt mấy năm ròng, đặc biệt là trong suốt mùa xuân 1965 hết sức khó khăn, gian khổ. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:54:54 am Lần đầu tiên vào tuyến, chỉ còn hai tháng mùa khô và trải qua hơn một mùa mưa Trường Sơn, tôi đã sớm ý thức được muôn vàn gian khổ, hy sinh, khó khăn thách đố thường nhật đối với những người lính, những nam nữ thanh niên xung phong nơi đây - những điều mà người "ngoài cuộc" khó hình dung nổi - Điều mà đồng chí Tố Hữu - một cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, một cây đại thụ trong "làng thơ Việt Nam" hiện đại, sau một lần đi thị sát chiến trường Trường Sơn, hè năm 1973, đã khái quát thành những chân lý rất giản đơn mà cũng giàu hình tượng:
"Trường Sơn xẻ dọc, rọc ngang Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng Trường Sơn vượt núi băng sông Xe đi trăm nẻo, chiến công bốn mùa Trường Sơn đông nắng, tây mưa Ai chưa đến đó như chưa rõ minh...". Một mùa mưa Trường Sơn qua đi trong thế giặc đánh, trời đánh, thắng lợi của toàn tuyến là đã mở thêm được hơn 300 cây số đường ô tô, mở thông trục vận tải cơ giới từ Cổng Trời vào khu vực ba biên giới; chuyển một khối lượng vật chất vào chiến trường lớn hơn nhiều lượng hàng hóa chi viện trong mùa khô trước...; đặc biệt đã bước đầu hình thành một tổ chức làm nhiệm vụ chi viện chiến lược bằng phương thức vận tải cơ giới quy mô tương đối lớn. Tuy nhiên, do chưa thật chủ động và chưa dự kiến, lường định hết khó khăn nên trận đầu ra quân vận chuyển bằng cơ giới, hiệu quả đạt được rất thấp, lãng phí lớn về sức người, phương tiện. Hơn hai chục xe bị phá hủy hoàn toàn; hơn 100 xe bị hỏng trong toàn bộ vốn liếng của toàn Đoàn có 700 chiếc. Bộ đội bị đói, rồi bị bệnh tật hoành hành ở các đơn vị. Riêng lái xe bị ốm mất non nửa. Điều đáng lo ngại là tâm lý bi quan, thiếu tin tưởng đã chớm xuất hiện. Đầu tháng 7 năm 1965, giữa lúc mưa lũ đang dữ dằn trút xuống các nẻo đường rừng; công binh, thanh niên xung phong đang vật lộn với "giặc trời" để mở đường 128, đường nam Bạc, trong lúc xe cộ sa lầy nằm chết gí ở Lằng Khằng, Pác Pha Năng..., Đảng ủy 559 nhóm họp, kịp thời phân tích để thấy rõ đâu là nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn tới hiệu quả vận chuyển thấp. Cái não nề, dầm dề của những cơn mưa rừng Trường Sơn, sự trì trệ của hoạt động vận chuyển trên tuyến đã làm cho không khí hội nghị kém lửa, nếu không nói là nặng nề. Qua "mổ xẻ" tình hình, các anh trong Đảng ủy, Bộ Tư lệnh cơ bản thống nhất: Do yêu cầu bức xúc phải tổ chức vận chuyển cơ giới - lại thực thi ngay cả trong mùa mưa, trong khi chưa chuẩn bị đầy đủ các yếu tố cần thiết - đặc biệt là về tư tưởng và tổ chức; trong quá trình thử nghiệm vận chuyển cơ giới quy mô tập trung, lãnh đạo, chỉ huy chưa thấy hết tính đặc thù của thời tiết Trường Sơn và cả thực lực của ta, từ đó đã đề ra chủ trương nóng vội, không sát thực tế, chưa thấy được tổ chức vận chuyển cơ giới quy mô lớn trong chiến tranh hiện đại là cuộc chiến đấu hiệp đồng binh chủng, tổ chức chặt chẽ, chỉ huy thống nhất. Dù chỉ là những nhận định bước đầu và hơn thế, chưa có được những giải pháp cụ thể để khai thông bế tắc này, nhưng dù sao đi nữa, theo tôi đây cũng là sự chuyển biến về nhận thức rất quan trọng. Đầu năm 1966, Quân ủy Trung ương quyết định chuyển Đoàn 559 về trực thuộc Tổng cục Hậu cần. Theo đó, Bộ Tư lệnh 559 có một số thay đổi về nhân sự. Anh Phan Trọng Tuệ được điều trở lại cương vị Bộ trưởng Giao thông vận tải, vì lúc này giao thông vận tải trên hậu phương chiến lược miền Bắc vô cùng nóng bỏng. Thay anh Tuệ là anh Hoàng Văn Thái - nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Anh Vũ Xuân Chiêm giữ chức Chính ủy. Lúc này chỉ huy sở của Đoàn được chuyển vào Ka Tốc, gần trọng điểm Lùm Bùm, thuộc tỉnh Khăm Muộn, nước bạn Lào. Đã vào cao điểm mùa khô, đường sá khô ráo. Toàn tuyến tung lực lượng, quyết tâm thực hiện kế hoạch. Nhưng cũng như các mùa khô trước, gần như nắm được quy luật hoạt động của ta, không quân địch tập trung đánh phá, chặn cắt, tâm điểm là khu vực vượt khau từ Mụ Giạ - Cổng Trời vào đường số 9. Các địa danh: Pha Nốp, Seng Phan, Pác Pha Năng, Văng Mu, Tha Mé, Thà Khống... trở thành những tọa độ lửa. Ban ngày, địch ném bom phá đường, phá cầu. Đêm đến, chúng cho máy bay C130 luân phiên thả pháo sáng cầm canh săn tìm xe, khống chế hoạt động vận chuyển của ta. Thâm hiểm hơn, địch đã tập trung máy bay ném bom phát quang, kết hợp rải chất độc hóa học làm trụi lá cây. Chỉ sau mấy ngày, biết bao cánh rừng rậm mượt mà dọc các trục đường từ Tha Pa Chôn qua Lùm Bùm, vượt đường 9 vào đến Bạc chỉ còn là những thân cây khô khét, trụi trần, trơ thân oan ức giữa trời xanh bất tận. Đường cầu, kho tàng, bãi đỗ xe và mọi hoạt động của bộ đội trước đây được che phủ bởi những tán rừng bỗng chốc bị "lột trần" ra dưới con mắt xoi mói của đám máy bay C130, máy bay cường kích, rất dễ làm mồi cho bom đạn. Trung tuần tháng 1, đường bị đánh tắc ở một loạt trọng điểm: Pha Nôp, Seng Phan, Pác Pha Năng, Văng Mu, Thà Không. Các lực lượng phải dồn sức khắc phục hơn chục ngày mới thông đường. Cũng vào thời điểm này, bộ đội vận tải cơ giới chịu một tổn thất lớn - một chuyến xe chở đầy hàng từ Na Bo chạy theo đường số 9 đến khu vực gần thị trấn Sê Pôn thì bị máy bay địch phát hiện, rồi hàng đàn máy bay cường kích bu bám, đánh cháy 45 xe trong đội hình gần sáu chục chiếc. Chúng tôi gọi sự kiện đau lòng này là "tổn thất lịch sử" ở cua chữ S trên đường số 9. Thực tế nghiệt ngã đã dần dần giúp lãnh đạo chỉ huy các cấp từng bước nhận rõ những yếu kém, bất cập trong tổ chức chỉ huy, xây dựng tư tưởng tiến công; ý thức được sự nguy hại của thế độc đạo trong vận chuyển nếu địch tập trung sức ngăn chặn - đặc biệt là thế độc đạo ở khu vực vượt khẩu. Khi bị không quân địch tập trung đánh phá có tính chất hủy diệt, thì hoạt động vận chuyền của ta gần như tê liệt hoàn toàn. Để khắc phục thế độc đạo ở khu vực vượt khẩu, tránh túi nước Lằng Khằng, Seng Phan trên trục đường 12 và làm phân tán, hạn chế sự đánh phá, ngăn chặn của địch, đầu tháng 1 năm 1966, đề án mở đường 20 được Trung ương Đảng và Chính phủ chấp thuận. Xác định đây là công trình trọng điểm, Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương ưu tiên về nhân lực, vật tư kỹ thuật, tập trung thi công nhanh để sử dụng trong mùa mưa năm 1966 và là trục vượt khẩu trọng yếu cho những năm sau. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:55:51 am Đường 20 còn gọi là đường Quyết Thắng có chiều dài 125 cây số, khởi nguồn từ vĩ tuyến 17,6 độ bắc, khu vực Phong Nha, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, qua dốc U Bò, Cà Roòng, Ta Lê, nối sang đường 128 tại Lùm Bùm. Điểm "chọc thủng" Trường Sơn ở vĩ tuyến 17,2 độ bắc. Để có được dự án tổng thể của con đường này, từ đầu hè năm 1965, anh Phan Trọng Tuệ đã chủ trì một cuộc họp gồm đại diện Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư lệnh 559, Bộ Tư lệnh Công binh, Ty Giao thông vận tải Quảng Bình. Sau cuộc họp đó, Bộ Tư lệnh 559 đã phối hợp với Ty Giao thông vận tải Quảng Bình cùng một đoàn cán bộ của Bộ Giao thông do anh Nam Hải - Viện trưởng Viện Kỹ thuật giao thông dẫn đầu vào tăng cường, tiến hành khảo sát cắm tuyến. Lực lượng thi công đường 20 - Quyết Thắng là Công trường 20.
Công trường 20 do anh Phan Trầm - chuyên viên của Bộ Giao thông vận tải làm Chỉ huy trưởng, anh Vũ Quang Bình - cán bộ Đoàn 559 làm Chính ủy. Lực lượng gồm Trung đoàn 4, Trung đoàn 10 công binh, 4 đội thanh niên xung phong thuộc các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Nam Hà và hơn một trăm cán bộ kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải. Công trường 20 có nhiệm vụ thi công 65 cây số từ điểm khởi đầu Phong Nha vào đến Ta Lê - đây là đoạn khó khăn nhất. Gần hai phần ba quãng đường này phải đi qua núi đá, với nhiều dốc đèo, mới nghe tên đã ghê người: Cù Mẹ, Cù Con, U Bò, đặc biệt là dốc Ba Thang, được coi là cái "chốt" khống chế tiến độ chung. Nhiều người khẳng định: hạ được dốc Ba Thang coi như thông đường 20. Trung đoàn 10 công binh thiện chiến, do anh Đinh Hào làm Trung đoàn trưởng và anh Hoàng Phú Túc làm Chính ủy, vinh dự được giao hạ dốc Ba Thang, chọc thủng Trường Sơn. Ở phía tây, Công trường 128 do anh Nguyễn Lang - chuyên viên Bộ Giao thông vận tải làm Chỉ huy trưởng, anh Dương Văn Hòa làm Chính ủy, được tăng cường Trung đoàn 5 công binh, co nhiệm vụ mở đường từ Lùm Bùm ra giáp nối với Công trường 20 tại Ta Lê. Đã gần 35 năm trôi qua, song sự kiện mờ đường Quyết Thắng vẫn hiển hiện trong tôi trọn vẹn là một kỷ niệm sống động, rất đỗi hào hùng. Sáng mùng một Tết Bính Ngọ (tức ngày 21 tháng 1 năm 1966), lễ khởi công đường 20 được tiến hành tại Công trường 20. Anh Nguyễn Tường Lân - Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 phát lệnh nổ loạt bộc phá đầu tiên mở đầu chiến dịch "Chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi". Bộ đội Trường Sơn cùng lực lượng giao thông vận tải Quảng Bình đón tết, đón xuân không phải bằng pháo tết mà bằng những phát đại pháo, với lượng nổ hàng trăm ký TNT. Sau lệnh khởi công là một cuộc thi đua ngấm ngầm nhưng hết sức quyết liệt giữa Công trường 20 và Công trường 128. Có dịp xuống thị sát thực địa nắm tình hình tư tưởng, tổ chức của bộ đội, thanh niên xung phong ở Công trường 20, tôi đã được chứng kiến không khí lao động quên mình, quên ngày, quên tháng của anh chị em trên công trường này. Các đội thanh niên xung phong được bố trí thi công xen kẽ với bộ đội và được ưu ái dành những phần việc dễ dàng hơn, những quãng thuận lợi hơn. Vả lại bóng dáng những nữ thanh niên xung phong hiển hiện ở chính "cung đường lửa" này như chất men đời màu nhiệm, khơi gợi thêm nhiệt huyết của những người lính Trường Sơn vốn đã có sức cuốn hút, thuyết phục lòng người. Ở công trường của Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 10 hạ dốc Ba Thang, tôi đã chứng kiến những người lính công binh ngất nghểu đứng trên đỉnh chiếc thang lênh khênh, dài bằng ba chiếc thang tre bình thường nối lại, cột mình hàng giờ vào sườn núi, đục đá để tra bộc phá. Hết tốp này đến tốp khác. Loạt này phát hỏa xong lại tiếp ngay loạt khác. Liên tục như vậy hàng nửa tháng trời, tiểu đoàn đã sử dụng gần một nghìn lượng bộc phá với hơn chín tấn thuốc nổ, hàng chục nghìn ngày công để hạ gục dốc Ba Thang. Tin vui này lập tức lan truyền làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ trên toàn tuyến. Sau gần hai tháng tập trung cao độ nhân lực, vật tư kỹ thuật, phương tiện thi công cho công trường, ngày 14 tháng 4, đường 20 - Quyết Thắng, con đường của ý chí, quyết tâm, được tạo dựng bởi tâm lực, mồ hôi, máu xương của những người lính Trường Sơn, của thanh niên xung phong, công nhân giao thông... đã hoàn thành về cơ bản. Ngày Bộ Tư lệnh tổ chức nghiệm thu để chính thức đưa vào sử dụng, chúng tôi đi dọc hơn một trăm cây số đường rừng khá kín đáo mà phong quang huyền diệu. Đường chạy dưới ba tán rừng già, gần như nguyên sinh. Nhưng, cũng thật đau lòng, hệt như trục đường 128 trước đây, chỉ qua một mùa vận chuyển, địch phát hiện được, là tất cả lại hoàn nguyên đất đá. Con đường kín đáo, huyền diệu kia lại quằn quại, phơi mình trơ trụi bởi hàng nghìn, hàng vạn tấn bom thù, bởi chất độc khai quang, bom na-pan... Nghĩ đến đường 20 - Quyết Thắng, trong tôi lại trào lên nỗi xúc động khôn tả. Giờ đây, biết bao khách du lịch thập phương, trong và ngoài nước đến thăm động Phong Nha - một danh thang được xem như một kỳ quan thiên nhiên ban tặng, hẳn mấy ai nghĩ rằng, khởi nguồn ở đó, vào những tháng năm máu lửa đã có biết bao người lính Trường Sơn, nam nữ thanh niên xung phong đánh đổi máu xương, mồ hôi, đánh đổi yêu đương để làm nên đường 20 - Đường Hồ Chí Minh, cũng là một kỳ tích của nhân loại trong thế kỷ hai mươi. Khai thông đường 20, ta có thểm một trục vượt khẩu. Cũng vào thời điểm này, Bộ Tư lệnh 559 quyết định giải thể hình thức tổ chức Tuyến; thành lập các binh trạm: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8. So với kiểu tổ chức thành ba tuyến trước đây, từng binh trạm đảm trách một khu vực hẹp hơn. Cũng vì vậy mà công tác chỉ huy được trực tiếp hơn, khi mà phương tiện thông tin liên lạc còn hạn chế, nếu không nói là thiếu thốn. Chỉ huy binh trạm lúc này có các anh: Ngô Kỷ, Hồ Thắng (Binh trạm 1), Nguyễn Chúc (Binh trạm 2); Nguyễn Lang, Đặng Ba (Binh trạm 3); Thiết Cương, Phạm Thái (Binh trạm 4); Nguyễn An (Binh trạm 5); Lê Quang Dự, Lê Xy (Binh trạm 6); Nguyễn Chúc (Chúc già) và Nguyễn Danh (Binh trạm 8). Mặc dù cầu đường có được cải thiện và tổ chức toàn tuyến đã xốc lại một bước khá quan trọng, nhưng hoạt động vận chuyển vẫn ở thế bị động, khó khăn. Vấn đề mấu chốt là quan điểm đánh giá địch - ta chưa rõ ràng. Chỉ thấy mặt mạnh của địch mà chưa thấy được hạn chế thuộc về bản chất của không quân Mỹ. Ngược lại chỉ thấy mặt non kém mà không thấy mặt mạnh của ta là người làm chủ mặt đất. Từ đó mà chưa hoạch định được cụ thể thế trận vận chuyển. Khâu chỉ đạo chỉ huy còn hạn chế; thông tin liên lạc chưa đáp ứng yêu cầu chỉ huy tập trung, đồng bộ, kịp thời... Đường, cầu có bước cải thiện hơn trước, nhưng về cơ bản vẫn ở thế độc đạo, chất lượng xấu. Lực lượng cao xạ quá mỏng, chưa đủ chốt giữ bảo vệ trọng điểm. Phương tiện xe cộ quá cũ kỹ - không ít đầu xe đã từng phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ hơn 10 năm trước, lại phải hoạt động trên một chiến trường vô cùng khốc liệt, địa hình cực kỳ phức tạp, thời tiết chẳng chiều người... Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:56:45 am Trong cái khó, cái yếu đa chiều như vậy, dù cho từ vị Tư lệnh đến những lính lái - "Chiến mã Trường Sởn" có dốc hết lực, nhưng phân nửa mùa khô qua đi mà các trọng điểm Mụ Giạ, Lùm Bùm, Văng Mu, Tha Mé, Thà Không, Bản Đông... vẫn bị địch khống chế, đánh tắc liên tục. Thiệt hại về xe và hàng không nhỏ. Khối lượng hàng toàn tuyến chuyển giao chiến trường chỉ đạt chừng 10 phần trăm kế hoạch. Cũng vì tập trung lực lượng, phương tiện vận chuyển chi viện cho chiến trường, nên lượng gạo bảo đảm cho nội bộ chẳng được bao lăm. Thật xót xa, khi hàng ngày, chúng tôi nhận tin báo về của các binh trạm, rằng bộ đội đói nghiêm trọng, gạo chỉ đủ nấu cháo mới chia được cho mỗi người một chút chất bột.
Trước tình thế khó khăn ngặt nghèo như vậy, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện, một mặt phái anh Hồng Kỳ vào trực tiếp tổ chức rút gạo từ hướng Tà Ngâu, Xiêm Pạng, Tà Xẻng, Chà Vằn về cứu đói cho bộ đội Khu 5, Tây Nguyên và các binh trạm tuyến cuối; mặt khác chỉ thị cho anh Đức Phương - ông chủ lớn, tổ chức mua hàng, hoặc bằng hình thức "đại ngạch", hoặc bằng "tiểu ngạch" ở Nam Lào và Cam-pu-chia, khoảng 10 nghìn tấn gạo, một tấn xăng dầu giao cho Đoàn 559. Rồi dường như không thể yên lòng với cách "điều khiển từ xa", khi tình hình trên tuyến ngày càng thêm nóng bỏng, đầu tháng 3 năm 1966, với tư cách là Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương, đặc trách công tác hậu Cần, anh Đinh Đức Thiện đã cùng anh Phạm Ngọc Mậu - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp vào Trường Sơn giúp Bộ Tư lệnh 559 tháo gỡ khó khăn. Với tác phong của một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, tác phong làm việc cụ thể, đầy quyêt đoán, sau khi nắm tổng thể tình hình, đặc biệt là thấu biêt những khó khăn của tuyến, anh Đinh Đức Thiện lệnh cho Bộ Tư lệnh 559 phối hợp cùng các cơ quan của Tổng cục Hậu cần điều chỉnh lại chỉ tiêu kế hoạch. Mục tiêu cốt yếu lúc này là bảo đảm bằng được nhu cầu thiết yếu về gạo cho các đơn vị hành quân qua tuyến, cho nội bộ Đoàn 559 và 500 tấn vũ khí cho Nam Bộ. Anh Đinh Đức Thiện cũng chỉ thị cho Bộ Tư lệnh 559 khẩn trương hoàn chỉnh đường 20, thi công dứt điểm đường Tha Mé - Mường Noòng, đường Xê Tư (C4); đồng thời tập trung lực lượng phòng không, công binh chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ vận chuyển... Sau khi nắm tình hình qua tổng hợp báo cáo của Bộ Tư lệnh, anh Đinh Đức Thiện lần lượt trực tiếp làm việc với chỉ huy các binh trạm, từ đường 9 trở ra và các đơn vị xe, công binh, trạm giao liên khu vực vượt khẩu. Tận mắt chứng kiến cuộc chiến đấu cực kỳ quyết liệt, điều kiện sinh hoạt kham khổ, thiếu thốn của bộ đội, thanh niên xung phong, anh Thiện vô cùng xúc động. Anh chuyện trò rất thân tình, động viên, dặn dò những việc cần làm, và khảng định: Cha ông xưa dạy "Có thực mới vực được đạo", anh em mình bây giờ thì có gạo mới đào được đất, vật được bom!... Đến đơn vị nào, anh Thiện cũng có quà cho cán bộ, chiến sĩ. Khi thì mấy ký thuốc lào, vài ba tút thuốc lá "Trường Sơn", "Tam Đảo"; khi thì ít kẹo, vài ba cân chè... Tuy vậy, anh cũng phê phán kịch liệt tác phong làm việc tùy tiện, tắc trách của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, đặc biệt là tư tưởng phòng tránh đơn thuần, bị động chờ đợi, thiếu tích cực chủ động khắc phục khó khăn. Anh nói: Cứ ngồi chờ khi nào thằng địch hết bom, hết đạn, đánh ít hoặc không đánh, mới hoạt động, thì nên nhớ rằng, chưa bị dính bom đạn địch, các ông đã chết đói...! Buổi làm việc nào của anh Thiện với chỉ huy các đơn vị cũng khá gay gắt, căng thẳng,... Nhưng chúng tôi, cũng như chỉ huy các đơn vị, binh trạm... không vì thế mà buồn, phật ý. Hết thảy đều nhận thức rõ hơn về nhiệm vụ, về tương quan lực lượng; cái yếu, cái mạnh giữa ta và địch; để rồi tự nhắc mình phải quyết tâm hơn nữa. Bởi, cũng dần sáng tỏ một chân lý hết sức giản đơn là: Trước cuộc chiến đấu một mất, một còn này, không có cái gì là dễ dãi, giản đơn được và con đường đi tới chiến thắng không phải được rải bằng nhung lụa. Khi còn công tác tại cơ quan Tổng cục Chính trị, đã đôi lần tôi được tiếp xúc với anh Đinh Đức Thiện, đã được nghe nhiều điều khá vui nhộn về vị tướng tài ba, khá nóng nảy này, nhưng đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến phần nào cá tính mạnh của anh. Sau này tôi còn được tiếp xúc và làm việc với anh nhiêu lần. Phải nói rằng: nếu cán bộ cấp dưới năng lực yếu, bản lĩnh non nớt; trách nhiệm, nhiệt tình công tác hạn chế..., khi làm việc với anh Đinh Đức Thiện, dễ toát mồ hôi hột. Anh Phạm Ngọc Mậu đi sâu tìm hiểu công tác tổ chức và tư tưởng của bộ đội. Với quan hệ gần gũi từ khi tôi được làm việc dưới quyền của anh ở Cục Tổ chức, anh tâm sự cùng tôi như một người anh: - Cậu công tác ở Cục Tổ chức hàng chục năm, được học tập, bồi dưỡng nhiều, nay xuống chủ trì cơ quan tổ chức đơn vị có 12 Đảng bộ, là điều kiện thời cơ thuận lợi thể hiện được, phát huy được sở trường của mình, từ đó góp phần củng cố, nâng cao tính hiệu quả của ngành công tác đảng, công tác chính trị. Nhưng phải nhớ là không dừng lại ở những văn bản, chỉ thị có tính hướng dẫn, mà phải thật sự thực tế. Phải nhớ khâu xây dựng tổ chức Đảng từ cấp ủy đến chi bộ, đảng viên trong chiến đấu là điểm trước tiên làm cho sức mạnh lãnh đạo của Đảng luôn được đề cao ở các đơn vị. Hiện thời, số đảng viên ở các đơn vị còn thấp, chưa bảo đảm được tiểu đội có đảng viên, trung đội có tổ Đảng. Đây là hạn chế rất lớn, nhất là đối với những đơn vị xe, công binh - hai binh chủng này trong chiến đấu đòi hỏi tính độc lập cao. Còn về tư tưởng của bộ đội, giai đoạn này cũng rất khó khăn; vì kẻ địch tập trung đánh phá quyết liệt, ta đang quá trình củng cố lại tổ chức; hoạt động binh chủng còn mới mẻ, cán bộ chưa có kinh nghiệm tổ chức chỉ huy. Gặp những tổn thất có thể nói là thường nhật, có khi còn trầm trọng, bộ đội khó tránh khỏi dao động. Vì vậy công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức. Trước hết phải tạo cho được thắng lợi ở một vài trọng điểm, một vài đơn vị; từ đó tổ chức rút kinh nghiệm để nhân rộng ra toàn tuyến. Anh Phạm Ngọc Mậu cũng nhắc nhở cơ quan chính trị chúng tôi phải thấy được cuộc chiến đấu vô cùng hào hùng, sự chịu đựng hy sinh, gian khổ vô bờ bến của bộ đội, nam nữ thanh niên xung phong trên những nẻo đường ra trận, từ đó phát hiện biểu dương, động viên kịp thời những nhân tố tích cực, những điển hình tiên tiến, chuẩn bị cho hội nghị thi đua toàn tuyên. Đợt làm việc của phái đoàn các anh Đinh Đức Thiện, Phạm Ngọc Mậu đã tháo gỡ kịp thời một phần khó khăn bí bách, đồng thời giúp Bộ Tư lệnh 559 sáng tỏ thêm một số vấn đề có tính định hướng. Tuy vậy, cái khó lúc này là mùa mưa đang gõ cửa và kẻ thù lại gia tăng cường độ đánh phá - kế cả những trục đường đang độ phôi thai. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:30:00 am Từ tháng 3 năm 1966, số máy bay địch hoạt động trên tuyến gấp ba lần so với những tháng đầu mùa khô 1965 - 1966. Ngoài trọng điểm là khu vực vượt khẩu từ đường số 9 trở ra, lúc này địch tập trung đánh phá địa bàn từ Thà Khống - Bản Đông vào Bạc. Khu vực đường số 9 - dốc Thơm - La Hạp bị hủy diệt trầm trọng.
Sang tháng 5, địch tăng cường đánh đêm; khống chế mạnh các trọng điểm Văng Mu, Cốc Mạc, Thà Khống, Sa Đi..., và bắt đầu đánh đường 20 - Quyết Thắng. Một hiểm họa lúc này là địch đã sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm ở Mụ Giạ, Tà Beng, La Hạp, ngã ba Sa Đi... Sau một vài tháng, ta nắm được quy luật hoạt động của thứ gọi là "Pháo đài bay" này, phòng tránh chủ động hơn; nhưng thoạt đầu chứng kiến những trận mưa bom rải thảm bất thần từ trên không chụp xuống, rồi cả triền rừng chao đảo ngả nghiêng, đường sá, núi đồi... bỗng chốc thành bình địa..., nhiều người không khỏi hoang mang, lo lắng. Để hạn chế hoạt động đánh phá của không quân địch bảo vệ vận chuyển, từ tháng 3 năm 1966, lực lượng phòng không của tuyến được tăng cường cho các trọng điểm và pháo phòng không của ta đã đánh địch tích cực, hiệu quả hơn. Điển hình là trận đánh của Tiểu đoàn 16 pháo 37 ly, ngày 15 tháng 3 ở bản Na Hi, nam đèo Văng Mu. Đây là một trận đánh rất xuất sắc, kéo dài suốt 8 giờ, từ gần trưa tới chập tối. Tiểu đoàn 16 đã hạ 8 máy bay Mỹ. Sang tháng 4, Tiểu đoàn 10 pháo phòng không cũng đánh thắng một trận giòn giã, bắn rơi 3 máy bay cường kích F105 của địch ở khu vực Ka Tốc... Rất tiếc là những trận đánh xuất sắc như trên lúc này quá hiếm hoi, chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Do có đơn vị phòng không mới vào tuyến, chưa hiểu rõ địch, thiếu kinh nghiệm kết hợp tác chiến với nghi binh lừa địch lại bố trí đội hình không hợp lý, pháo 37 không "với tối" máy bay địch, cấu trúc công sự thiếu vững chắc, nên về sau nhiều trận chiến đấu hiệu suất kém, thậm chí còn tổn thất, thương vong. Để gỡ một phần khó khăn cho Tuyến 559 và đáp ứng yêu cầu của chiến trường, ngay sau khi từ trong tuyến ra, anh Đinh Đức Thiện lệnh cho Cục Vận tải tổ chức hai đoàn xe chở 1.000 tấn đạn chạy thẳng từ Hà Nội vào Tà Xẻng, giao cho chiến trường Nam Bộ. Giao hàng xong lực lượng xe này sẽ ở lại tăng cường cho Bộ Tư lệnh 559. Đầu tháng 4, Đoàn 90 - đoàn xe thứ nhất gồm 100 xe Gát 63 do anh Nguyễn Văn Châu và anh Nguyễn Văn Nhuần chỉ huy, chở 200 tấn đạn vào Tà Xẻng. Sau khi giao hàng xong, Đoàn 90 thuộc biên chế của Binh trạm 8. Tiếp Đoàn 90 là Đoàn 100, gồm hơn 300 chiếc, do anh Trần Thăng Phúc và anh Nguyễn Ngọc chỉ huy xuất phát từ K800 - Nghĩa Đô - Hà Nội chở 600 tấn đạn vào giao cho Nam Bộ. Anh Đinh Đức Thiện gọi đoàn xe đặc biệt - Đoàn 100 là "Mũi tên xanh". Với "Mũi tên xanh", anh Thiện muốn làm một cú bất ngờ bắn trúng hai đích. Một lúc vừa chuyển giao khẩn cấp cho Nam Bộ một lượng lớn đạn, vừa tăng cường lực lượng vận tải cơ giới cho Tuyến 559. Khắc phục tình trạng "hụt hơi" cuối một mùa vận chuyển vô cùng khó khăn, căng thăng. Bốn trăm chiếc xe chở đạn vào tuyến trong khi lương thực vốn đã thiếu trầm trọng, cộng với bộ đội hành quân vào chiến trường còn lại trên cung đường từ Bạc ra La Hạp chừng 11 nghìn người, làm cho tình hình thiếu đói thêm trầm trọng. Ngày 10 tháng 4, theo chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ Tư lệnh 559 quyết định cho Đoàn 90 và Đoàn 100 tạm thời dỡ đạn xuống, tập trung chuyển gạo cứu đói cho bộ đội. Có sống trong những thời điểm căng thẳng cùng cực như vậy, mới thấm thìa điều mà các tướng lĩnh từng trải trận mạc đúc kết: Trên chiến trường có lúc "Gạo là tư lệnh". Quả thật, lúc này không có gạo thì khoan bàn những chuyện đại sự khác. Cái khó nảy sinh lúc này là hoạt động vận chuyển cơ giới được đẩy lên quy mô lớn hơn, thì công tác hiệp đồng chỉ huy chiến đấu chưa có kinh nghiệm càng bị động lúng túng. Bố trí xe chạy thẳng quá nhiều trong khi cầu đường cơ bản vẫn ở thế độc đạo, thường xuyên bị đánh với cường độ lớn... gây nên tình trạng ùn tắc nghiêm trọng. Và rồi như một hệ quả, tình trạng ùn tắc hỗn loạn rất dễ "làm mồi" cho đám "giặc trời". Chỉ trong hai tháng 3 và 4 năm 1966 toàn tuyến bị đánh cháy hơn 350 xe. Riêng Đoàn 100 của anh Thăng Phúc vừa "nhập cuộc" hơn một tháng đã cháy hơn tám chục xe... Bảy tháng mùa khô 1966-1967 qua đi với bao khó khăn, thử thách quyết liệt trong trận đầu thực nghiệm vận chuyển cơ giới quy mô tập trung, toàn Tuyến 559 đã chuyển giao cho chiến trường hơn 14.500 tấn hàng, bảo đảm cho bộ đội hành quân qua tuyến và bảo đảm vật chất hậu cần, kỹ thuật cho nội bộ. Lượng hàng kể trên tăng gấp ba lần khối lượng hàng vận chuyển 5 năm bằng phương thức thô sơ trước đây. Điều đó khẳng định ưu thế tuyệt đối của phương thức vận chuyển cơ giới. Tuy vậy so với chỉ tiêu kế hoạch chỉ đạt 48 phần trăm. Đặc biệt, hàng giao chiến trường chỉ đạt 14 phần trăm. Tất cả những điều đó đặt Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn cùng những người lính Trường Sơn chúng tôi trước nhiều vấn đề phải tính trong thời gian tới. Vậy là, thêm một mùa khô đi qua với bao toan lo, phấn khởi - dù niềm vui chỉ mới nhỏ nhoi, choán ngự tất cả đối với chúng tôi là tâm trạng nặng nợ với chiến trường và cả hậu phương. Đầu tháng 5, khi những trận mưa dữ dằn đầu mùa trút xuống rừng tây Trường Sơn, Bộ Tư lệnh 559 nhận được điện của Đại tướng Bộ trưởng chuyển một phần lực lượng về hậu phương, chỉ để lại số người và phương tiện cần thiêt làm nhiệm vụ bảo đảm hành quân và chuyển đạn là mặt hàng thiết yếu đối với chiến trường. Theo đó, từ đầu tháng 5, một chiến dịch "lui quân" khá quy mô với hơn 12 nghìn người cùng nhiều xe máy, phương tiện kỹ thuật được triển khai. Cơ quan đoàn bộ chuyển về Bõ Trạch, Quảng Bình. Cũng tại nơi đây, sau khi cơ bản thu gọn đội hình ra Bắc, Bộ Tư lệnh 559 tiến hành hội nghị tổng kết hoạt động thi đua, bình chọn những tập thể, cá nhân tiêu biểu - những gương mặt sáng láng nhất của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn đề nghị Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nổi bật lên trong cả một tập thể rất đỗi anh hùng, chúng tôi thấy có: Tiểu đoàn 20 pháo cao xạ (Binh trạm 3), Tiểu đoàn 25 công binh (Binh trạm 1), Đại đội súng máy 12,7 ly (trực thuộc Bộ Tư lệnh), Đại đội 9 ô tô vận tải - Tiểu đoàn 102, Đại đội 1 bộ binh (trực thuộc) và các anh Trần Minh Khâm, Hoàng Văn Nghiên, Nguyễn Viết Sinh, Hà Văn Kẹp, Phan Hữu Thoan1 (Những tập thể, cá nhân kể trên được Quốc hội, Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1967)... Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:31:26 am Mùa hè năm 1966, trên miền Bắc, đế quốc Mỹ leo nấc thang mới vô cùng nghiêm trọng; cho máy bay đánh mạnh một số vị trí nội - ngoại thành Hà Nội và Hải Phòng. Kho xăng Đức Giang - Gia Lâm - Hà Nội, kho xăng Thượng Lý - Hải Phòng trúng bom. Lửa chiến tranh bốc cao ngùn ngụt.
Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Lời của Bác là lời non nước, khích lệ, động viên quân và dân ta trên hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Cả miền Bắc sục sôi khí thế quyết tâm đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đẩy mạnh chi viện cho miền Nam - tất cả vì miền Nam ruột thịt. Để có thể tăng nhanh quân và phương tiện vật chất cho chiến trường, để miền Bắc thực thi ngày càng đầy đủ hơn sứ mệnh của hậu phương lớn, đòi hỏi tuyên chi viện chiến lược Trường Sơn phải có một sự lột xác - nói đúng hơn là một sự đổi mới toàn diện. Quả thật, đây không còn chỉ là công việc của những người lính Trường Sơn, mà là vấn đề quan tâm, lo lắng của Trung ương Đảng, Chính phủ, các bộ, các ngành. Đầu tháng 9 năm 1966, Thường trực Quân ủy Trung ương đã triệu tập hội nghị liên tịch, do Bí thư Quân ủy Trung ương Đại tướng, Bộ trướng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp chủ trì. Dự họp có đại diện Tổng cục Hậu cần, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư lệnh 559, Tổng cục Hậu cần tiền phương. Những chiến lược gia quân sự, các chuyên gia đầu ngành giao thông vận tải... cùng chụm đầu tìm giải pháp đưa vận tải cơ giới quy mô lớn vào Trường Sơn, giải quyết tình trạng ách tắc trì trệ hai mùa khô vừa qua. Theo các anh lãnh đạo, chỉ huy Bộ Tư lệnh 559 truyền đạt lại, tôi được biết trong hội nghị này có hai luồng ý kiến trái ngược nhau khi đánh giá về thực trạng và nguyên nhân chưa thành công, thậm chí tổn thất lớn trong mùa khô đầu đưa vận tải cơ giới quy mô cấp trung đoàn vào Trường Sơn. Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng với địa hình Trường Sơn bị chia cắt mạnh, đường xấu, địch đánh phá quyết liệt, ta không thể tổ chức vận tải cơ giới quy mô lớn, nên trở lại áp dụng phương thức vận chuyển thô sơ - tuy chậm nhưng chắc. Luồng ý kiến thứ hai chiếm đại đa số, tựu trung là quan điểm của các anh Đinh Đức Thiện, Phan Trọng Tuệ, đại diện Tổng cục Hậu cần tiền phương, Đoàn 559. Là những người trực tiếp chỉ đạo hoạt động của Tuyến 559, bước đầu thấy được mặt mạnh và cả mặt yếu của ta và của đối phương, các anh cho rằng: Để đáp ứng được yêu cầu của chiến trường đánh to thắng lớn, phương thức vận chuyển chủ đạo duy nhất từ đó về sau phải là vận tải cơ giới, kết hợp từng nơi, từng lúc vận chuyển thô sơ. Vấn đề cơ bản là ta phải nghiêm khắc tìm ra cái yếu về tư tưởng, tổ chức của chúng ta. Các anh Đinh Đức Thiện, Đồng Sĩ Nguyên còn khẳng định: Quay về với phương thức gồng gánh, xe đạp thồ... thì thậm chí không nuôi nổi mình (nội bộ Đoàn 559) chứ đừng nói chi viện cho chiến trường! Sau hai ngày nghe các đại biểu tranh luận sôi nổi, chân tình, thẳng thắn, đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương kết luận: Cục diện chiến tranh trên cả hai miền Nam - Bắc đã hoàn toàn khác trước. Mỹ tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, đẩy chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta lên quy mô lớn, cường độ ngày càng ác liệt. Những khó khăn, tổn thất của Tuyến 559 vừa qua là khó tránh khỏi. Trước yêu cầu của chiến trường, các cơ quan Bộ Quốc phòng, Đoàn 559... phải tính đến mọi biện pháp tổng hợp, phát triển vận tải cơ giới đường bộ, đường sông là chủ yếu, đồng thời tùy từng lúc, từng nơi mà kết hợp vận tải thô sơ. Trước những khó khăn nghiệt ngã từng nếm trải, quyết định của Quân ủy Trung ương thật sự là niềm khích lệ, động viên lớn lao, như thắp lửa trong mỗi con tim những người lính Trường Sơn chúng tôi. Bởi lẽ, dù có khó khăn, tổn thất trong mùa khô đầu thử nghiệm đưa vận tải quy mô lớn vào Trường Sơn, nhưng hầu hết cán bộ, chiến sĩ chúng tôi không hề có ý tưởng quay về với gồng gánh, gùi thồ... Có anh em bộc bạch một cách chân tình rằng: bàn cãi là việc của cấp trên. Có điều, kẻ thù hòng dùng bom đạn đưa chúng ta trở về thời kỳ đồ đá chẳng được. Cớ gì tự ta lại "chặt tay, chặt chân" chính mình! Mấy tháng mùa mưa ào qua. Tháng 9 tới, toàn Đoàn chuẩn bị nhập tuyến, về tổ chức, biên chế, lúc này toàn tuyến bố trí thành 10 binh trạm, gồm 8 binh trạm trục dọc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 53) và 2 binh trạm trục ngang (7, 21). Nhưng, ngay sau đó, theo ý kiến của Bộ Tổng Tham mưu, phiên hiệu các binh trạm trục dọc thêm số 3 đứng trước, cụ thể là các binh trạm: 31, 32, 33, 34, 35, 36, Binh trạm 8 thành Binh trạm 37, Binh trạm 53. Binh trạm 7 trục ngang thành Binh trạm 42, Binh trạm 21 thành Binh trạm 44. Cơ quan Bộ Tư lệnh được tăng cường một số cán bộ có năng lực, giàu kinh nghiệm, như anh Nguyễn An - Binh trạm trưởng Binh trạm 5 về làm Tham mưu trưởng vận chuyển. Anh Nguyễn Lang - Binh trạm trưởng Binh trạm 3 vê làm Tham mưu trưởng tác chiến. Anh Phạm Diêu làm Tham mưu trưởng công binh... Ngoài củng cố biên chế tổ chức, chuẩn bị nguồn hàng, một công việc mà tôi thấy có ý nghĩa lớn, có tác dụng thiết thực nhất lúc này là Bộ Tư lệnh tiến hành hội nghị quân chính tại Cự Nẫm, Bố Trạch, Quảng Bình. Chỉ vẻn vẹn 2 ngày hội nghị mà có biết bao vấn đề cần giải quyết, cần thống nhất đối với đội ngũ cán bộ "đứng mũi chịu sào" từ Bộ Tư lệnh tới từng Binh trạm, Trung đoàn... Điều đọng lại, chí ít theo tôi sau hội nghị này là đa phần cán bộ dự họp sáng tỏ hơn một số vấn đề còn băn khoăn, trăn trở. Ví như: Sức mạnh của Mỹ trong cuộc chiến ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn không phải là không có giới hạn, xu thế phát triển tất yếu của tuyến là lấy phương thức vận chuyển cơ giơiliàm chủ đạo. Mọi hoạt động của tuyến phải đi theo, tuân theo xu thế đó. Những giải pháp để tổ chức vận chuyển cơ giới quy mô lớn có hiệu quả, chưa thế giải quyết "tắp lự", đồng bộ ở bàn hội nghị mà chính ở thực tiễn từng cung đường, từng trọng điểm trong mùa khô tới, trong năm tới... Cũng tại hội nghị này, Đảng ủy Bộ Tư lệnh chính thức phát động phong trào thi đua "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, phục vụ chiến trường đánh to thắng lớn". Từng binh chủng có tiêu chí phấn đấu cụ thể. Với lực lượng lái xe "gan vàng dạ ngọc" tiêu chí là thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ vạn tấn", "Dũng sĩ năm nghìn tấn", "Binh trạm vạn tấn"... Hội nghị kết thúc. Cán bộ đơn vị, binh trạm hối hả ra về. Một mùa khô tới với bao vất vả, hy sinh đang chờ, nhưng cũng chính là một mùa khô có ý nghĩa sống còn đang chờ đợi. Những lời chúc đầy tin tưởng - những cái bắt tay thật chặt, thật ấm và bao ánh mắt tràn đầy tin tưởng. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:34:29 am Đầu tháng 11, khi những cơn gió heo may giao mùa quất ràn rạt những tán lá rừng xung quanh "Đại bản doanh" Bộ Tư lệnh 559; đường sá đã khô hanh, bộ đội xe chính thức nhập tuyến theo hai trục vượt khẩu: đường 12 và đường 20.
Mặc dù các đoàn xe được ngụy trang rất tốt, bảo đảm bí mật, nhưng cũng không thể "qua" được những cặp mắt xoi mói của kẻ địch trinh sát cả từ trên không, mặt đất. Đánh hơi thấy xe của ta nhập tuyến, may bay địch tập trung đánh chặn dọc các trục đường 12, 20, 128, 129. Cường độ đánh phá của địch ngay từ những ngày đầu đã vượt xa mùa khô trước. Nhưng, lúc này ở các trọng điểm Pác Pha Năng, Lùm Bùm, phà Tha Mé... đã có lực lượng điều chỉnh giao thông, công binh ứng cứu, khắc phục hậu quả đánh phá và lực lượng phòng không đánh địch. Đây là một nét mới trong chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Vì vậy đội hình xe vượt khẩu an toàn, nhanh gọn. Chiến dịch nhập tuyến thắng lợi, tạo tiền đề cho một mùa vận chuyển nhiếu hứa hẹn tốt lành. Sau hai tháng kể từ ngày lực lượng vận tải vượt khẩu; mọi hoạt động toàn tuyến dần dần đi vào quỹ dạo và thu được kết quả khả quan, vào đầu tháng 1 năm 1967, anh Đồng Sĩ Nguyên vào làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 thay anh Hoàng Văn Thái được bổ nhiệm Phó tư lệnh Mặt trận Trị - Thiên. Với độ lùi thời gian sau hơn ba mươi năm và những gì đã trải nghiệm, nhiều cán bộ, chiến sĩ từng gắn bó, sinh tử với tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn cho ràng việc trên đưa anh Nguyên vào Trường Sơn là một quyết định vô cùng quan trọng tạo bước ngoặt quyết định của tuyến, cách mạng là sự nghiệp quần chúng; nhưng vai trò của cá nhân nhiều khi cũng tạo nên cú "hích" dẫn tới bước nhảy vọt đột biến. Năm đó, anh Nguyên mới ngoài tuổi bốn mươi, đã từng giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng, Chính ủy Quân khu 4, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương (đặc trách địa bàn từ Nghệ An vào Vĩnh Linh); Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận 565 - Bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Trung - Hạ Lào. Ngần ấy chức vụ, lại từng lăn lộn ở địa bàn eo thắt Khu 4 - nơi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt nhất... đã giúp anh vào vai Tư lệnh Trường Sơn rất lẹ làng. Sau vài ngày nắm tình hình chung, anh Nguyên đã cùng một số anh chủ trì cơ quan vận chuyển, thông tin, giao liên làm một chuyến thâm nhập xuống nắm tình hình Binh trạm 31, Binh trạm 32 - là những binh trạm cửa khẩu và một vài trọng điểm ác liệt nhất, như Văng Mu, Tha Mé, Cốc Mạc... Anh đề nghị với cán bộ cơ quan chúng tôi rằng: Hãy tìm lời giải cho bài toán hóc búa - đưa vận tải cơ giới quy mô lớn vào Trường Sơn, từ thực tế; cần khắc phục ngay tư tưởng thụ động, phòng tránh là chính. Ấn tượng khá mạnh đối với chúng tôi lúc đó về anh Nguyên là hình ảnh vị Tư lệnh vóc dáng trẻ trung, vạm vỡ, đầu đội mũ sắt, vai khoác xắc cốt, thắt lưng đeo khẩu K59, chân dận ủng, bước phăng phăng, luôn dẫn đầu cả nhóm người xuống từng trọng điểm, bãi giấu xe, từng căn hầm của anh em công binh... Đêm xuống, anh lên buồng lái xe chở hàng, ngồi cạnh người lái xe, vừa trò chuyện tìm hiểu tâm tư người lính, vừa đếm từng chùm pháo sáng, quan sát vòng lượn của máy bay địch. Gặp các đoàn cán bộ, chiến sĩ hành quân qua tuyến, anh nhập vai, đón lấy ba lô ngươi lính, thử sức. Thế rồi, với nhãn quan của một chiến lược gia quân sự, với bề dày kinh nghiệm gạn lọc được từ nhũng năm tháng trận mạc cộng với những gì "mắt thấy, tai nghe" trên từng cung đường, từng trọng điểm, đã giúp anh cùng tập thể Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sớm thống nhất một số vấn đề rất cơ bản. Mấy ngày sau khi anh Nguyên khảo sát tuyến trở về, Thường vụ Đảng ủy có một cuộc họp quan trọng, nghe anh Nguyên báo cáo những kết luận bước đầu của anh, ở chừng mực nào đó, tập thể lãnh đạo chỉ huy tuyến trước đây đã ý thức được những vấn đề này, nhưng chưa tập hợp lại thành hệ thống, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn. Từ thực tiễn công tác ở tiền phương Tổng cục Hậu cần, và qua mấy ngày khảo sát thực địa, anh Nguyên khẳng định tinh thần chiến đấu kiên cường, nỗ lực lớn lao của bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân... là thực tiễn sống động. Tuy vậy, điều hạn chế, theo anh là không đánh giá đúng tương quan lực lượng, không đánh giá đúng cái mạnh, cái yếu của ta và địch trên Tuyến 559. Từ chỗ địch tập trung máy bay, bom đạn, bộ binh đánh phá ác liệt, liên tục; một số cán bộ, chiến sĩ ta chỉ thấy cái mạnh của địch mà không thấy hết mặt hạn chế của chúng; chỉ thấy khó khăn, hoặc nhấn mạnh điểm hạn chế mà không thấy mặt mạnh cơ bản của ta. Và hệ quả tất yếu là đánh giá địch quá cao, nảy sinh dao động, bị động phòng tránh, không mạnh dạn bứt ra khỏi lối làm ăn nhỏ lẻ, thô sơ, an toàn, nhưng hiệu quả chi viện thấp. Anh Nguyên đã sớm khái quát: ở Trường Sơn, cùng lúc ta phải chiến đấu với hai kẻ thù nguy hiểm không kém cạnh nhau là Mỹ - ngụy và "giặc trời". Đối với "giặc trời" ta sẽ tìm hiểu nắm bắt quy luật và hạn chế sự nghiệt ngã của điều kiện tự nhiên. Còn với kẻ thù bằng xương bằng thịt, phải thấy địch rất mạnh, nhưng sức mạnh của chúng không phải không có giới hạn. Chúng không thể làm chủ hoàn toàn cả về thời gian và không gian trên tuyến. Ngược lại, người làm chủ ở mặt đất chính là chúng ta. Vấn đề cơ bản, quyết định hiệu quả của các hoạt động đánh địch, vận chuyển chi viện chiến trường là phải trang bị thêm về kiến thức, nghệ thuật quân sự, đặc biệt là tư tưởng tiến công. Vận dụng tư tưởng tiến công vào từng lực lượng binh chủng, từng thời điểm thật phù hợp, sáng tạo. Tư tưởng tiến công đối với lực lượng phòng không là phải bố trí trận địa cao xạ bám đường, bám trọng điểm cần bảo vệ, lấy chốt bảo vệ trọng điểm là chính để đánh tiêu diệt, bảo vệ đội hình xe vận chuyển, đội hình tác nghiệp của công binh, bảo vệ cầu đường; đồng thời có lực lượng cơ động "quay nòng pháo theo bánh xe lăn". Với bộ đội công binh, phải bám trọng điểm, bám đường, ứng cứu khắc phục phá hoại kịp thời, kết hợp bảo đảm giao thông vận chuyển với mở đường mới, dần dần phá hẳn thế độc đạo. Toàn tuyến phải xem lực lượng vận tải ô tô là chủ lực quân để tổ chức hiệp đồng tác chiến binh chủng hợp thành. Xe phải chạy theo đội hình, có tổ chức chỉ huy. Có như vậy, bộ đội vận tải mới trút bỏ được nỗi ám ảnh "đơn thương độc mã", "lạnh lưng, hở sườn", mới hội đủ điều kiện để đương đầu và chiến thắng sự đánh phá, ngăn chặn của kẻ thù. Không quân địch thường tập trung đánh vào trọng điểm nhằm tạo ưu thế, chặn đứng và gây tổn thất cho đội hình xe tiến công, chia cắt hệ thống giao thông. Vấn đề mấu chốt là phải tổ chức chiến đấu hiệp đồng binh chủng tại từng trọng điểm, đánh bật địch, bảo vệ đội hình xe, bảo vệ vận chuyển. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:35:05 am Lần lượt, tư tưởng tiến công được anh Nguyên cụ thể hóa đối với bộ đội giao liên, thông tin, bộ binh tác chiến bảo vệ hành lang, lực lượng hậu cần bảo đảm... Các binh trạm phải trở thành một tổ chức chỉ huy chiến đấu của bộ đội hợp thành, biết nắm và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự vào đặc điểm chiến đấu trên tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn; khắc phục cách làm cũ là chỉ biết vận tải đơn thuần. Bộ Tư lệnh 559 cũng phải thay đổi phong cách chỉ huy, chuyển hẳn sang chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng, không dừng lại ở hình thức chỉ đạo. Để làm được điều đó, một trong những yếu tố quan trọng là xây dựng cho được mạng thông tin liên lạc đa phương tiện, thông suốt liên tục trực tiếp từ cơ quan đầu não - sở chỉ huy Bộ Tư lệnh đến các binh trạm, chí ít lúc đầu là các binh trạm từ Cổng Trời vào Bạc để nắm, chỉ huy trực tiếp một số trọng điểm ác liệt nhất, như Văng Mu, Cốc Mạc, ATP... sau đó phát triển ra toàn tuyến.
Một điều mà nhiêu người trong anh em chúng tôi được làm việc dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ trực tiếp của anh Nguyên, đều thấy được ở anh nét kết hợp hài hòa giữa tố chất của một cán bộ quân sự tài ba với tư duy của một cán bộ chính trị giỏi - là một vị Tư lệnh làm công tác chính trị tư tưởng rất giỏi. Anh kết thúc phần thuyết trình đầy ấn tượng của mình rằng: Giải quyết được cơ bản những vấn đề trên hoàn toàn không đơn giản; không thể trong ngày một, ngày hai. Đặc biệt phải đi từ gốc của vấn đề là công tác chính trị tư tưởng, công tác con người. Phải tập trung làm chuyển biến cho được tư tưởng tiến công; khắc phục tư tưởng dao động, phòng tránh đơn thuần; tập trung xây dựng cho được một tập thể cán bộ chủ trì, ngoài mục tiêu, lý tưởng, ý chí quyết tâm cao, còn phải có tác phong công tác sâu sát, cụ thể; phải thực hiện được. 4 trực tiếp: trực tiếp giao nhiệm vụ - trực tiếp kiểm tra - trực tiếp xử lý công việc kịp thời, nhất là những nơi khó khăn, ác liệt nhất - trực tiếp hiệp đồng chỉ huy chiến đấu. Rồi đúng như tính cách, tác phong của anh - nói là làm! Sau khi được Thường vụ Đảng ủy chấp thuận, anh Nguyên cho chuyển ngay sở chỉ huy Bộ Tư lệnh ra vị trí mới, gần các trục vận chuyển, gần trọng điểm, để tăng cường sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp. Anh trao đổi với chúng tôi rằng: Bộ Tư lệnh phải làm gương cho các binh trạm. Quả đúng vậy, liền sau đó, Binh trạm 31 rồi Binh trạm 32... điều chuyển sở chỉ huy binh trạm ra gần đường, gần trọng điểm. Thậm chí, anh còn chỉ thị cho Ban chỉ huy Binh trạm 32 - cụ thể là đồng chí Phó chính ủy binh trạm đào hầm cố thủ ngay đèo Cốc Mạc - một trọng điểm vô cùng ác liệt lúc đó, để chỉ huy bộ đội giải tỏa trọng điểm. Thực hiện lệnh của Bộ Tư lệnh, cao xạ bố trí ngay đèo Cốc Mạc, công binh củng cố công sự, bám trọng điểm sẵn sàng cứu xe, cứu hàng, cứu đường; các đơn vị xe tập kết theo đội hình, tiếp cận trọng điểm, đợi lệnh... Như thường lệ, máy bay địch kéo nhau tới khu vực đèo ném bom phá đường. Bất thần bị cao xạ quật "vỗ mặt", hoảng hốt quẳng bom bừa bãi và tháo chạy. Dứt tiếng bom, từ các công sự chữ A, công binh ào lên mặt đường, san lấp hố bom, khắc phục hậu quả địch đánh phá. Chiều xuống cũng là lúc đường thông. Những "Chiến mã Trường Sơn" được lệnh tung nước kiệu vượt trọng điểm trong niềm xúc động của những người lính công binh, thanh niên xung phong, những chiến sĩ phòng không, của Ban chỉ huy Binh trạm. Tinh thần quả cảm, tài trí, sức mạnh hiệp đồng của những người lính Trường Sơn đã chiến thắng đạn bom và mọi thủ đoạn thâm hiểm, tàn bạo của kẻ thù. Kinh nghiệm chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng giữa công binh, phòng không, vận tải ô tô... giải tỏa đèo Cốc Mạc và một số trọng điểm khác trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, được xem là mẫu mực và áp dụng trên toàn tuyến. Cùng với thời gian, tinh thần cố gắng nỗ lực của các lực lượng trên tuyến, mọi hoạt động đi dần vào nền nếp. Tư tưởng tiến công từng bước được định hình trong ý chí, hành động của từng người lính. Địch đánh cứ đánh. Xe, người, hàng của ta vẫn ngày đêm qua tuyến vào chiến trường. Tới cuối tháng 4, sau một đợt tổng công kích tăng đầu xe, chạy vượt cung, tăng chuyến, toàn tuyến đã hoàn thành vượt mức kế hoạch vận chuyển chi viện mùa khô 1966-1967. Quân và hàng giao cho chiến trường Nam Bộ đạt 120 phần trăm, Tây Nguyên đạt 98 phần trăm, Mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị đạt 100 phần trăm; Trung - Hạ Lào đạt 227 phần trăm. Khi vài trận mưa đầu hè rót xuống những cánh rừng, dẫu không quá say sưa với tấn, với tạ, với phần trăm này, phần trăm khác, nhưng kết quả kể trên đủ nói lên kế hoạch vận chuyển chi viện chiến trường của Tuyến 559 trong mùa khô này đã hoàn thành thắng lợi. Như vậy, sau hai mùa khô - kể từ ngày Trung đoàn ô tô 265 vào tuyến cuối năm 1964, chủ trương thực nghiệm vận chuyển cơ giới quy mô tập trung đã khẳng định được hiệu quả tuyệt đối. Thắng lợi của phương thức vận chuyển cơ giới đồng nghĩa với thắng lợi của tư tưởng tiến công, của trình độ tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng... những điều phải đánh đổi biết bao tâm sức, xương máu của người lính Trường Sơn mới có được. Từ thử nghiệm vận tải cơ giới tập trung chưa thành, tới khi thành công trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, có biết bao điều được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, các binh chủng, cơ quan chuyên môn gạn lọc, khái quát thành kinh nghiệm. Riêng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác đảng, công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức như chúng tôi, vấn đề được đặt ra là phải trả lời được câu hỏi: Tại sao một vài năm trước, có một bộ phận cán bộ, chiến sĩ dao động, ngại ác liệt hy sinh, mà mùa khô này - mùa khô 1966-1967, đặc biệt từ đầu năm 1967, trong khi không quân Mỹ gia tăng cường độ đánh phá hủy diệt, mà những "tiêu cực kể trên" lại giảm đáng kể. Bằng trải nghiệm thực tiễn, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 559 sơ bộ kết luận rằng: Chỉ có ngồi bên tay lái cùng lái xe vượt trọng điểm như Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên; cùng chiến sĩ công binh trụ lại trong hầm chữ A ngay giữa "tọa độ lửa", để dứt tiếng bom gầm là đội đất lao lên san lấp hố bom, hộ tống xe, cứu hàng... mới có thể lý giải được phần nào điều vô cùng lớn lao nhưng cũng hết sức bình thường đó. Trong cuộc chiến đấu cực kỳ quyết liệt, nơi "hòn đạn, mũi tên", ranh giới giữa sự sống và cái chết thường quá mỏng manh, và con người không phải là thánh thần. Điều cần thiết đối với công tác tư tưởng là giải thích để người lính hiểu để thắng được kẻ thù có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự, tàn bạo và vô cùng nham hiểm như đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tất yếu chúng ta phải mất mát, hy sinh. Để hạn chế tổn thất, mọi người phải tự bảo vệ mình và bảo vệ lẫn nhau trong khi làm nhiệm vụ. Cùng với giáo dục, về tổ chức phải tạo được sức mạnh hiệp đồng chiến đấu, để người lính không cảm thấy đơn độc khi đối mặt với kẻ thù. Đặc biệt là chiến sĩ lái xe, họ sợ nhất là cảnh một mình một xe - "đơn thương độc mã" giữa chiến trận. Nếu lực lượng pháo phòng không bỏ rơi họ, không chiến đấu bảo vệ đội hình xe hành tiến; nếu công binh ở xa trọng điểm, xa đường, xe chạy không chỉ huy, không theo đội hình chiến thuật; ở các trọng điểm thiếu chỉ huy thống nhất; rồi các đội cứu kéo, các trạm quân y... cũng vắng bóng trên đường..., thì tư tưởng dao động dễ trỗi dậy trong chính những người lính lái xe bằng xương bằng thịt ấy. Nhụt chí, thiếu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, tìm cố thoái thác nhiệm vụ là lẽ thường. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:35:46 am Mùa mưa năm 1967, sau khi tập kết đội hình ra Bắc, Bộ Tư lệnh 559 đã có nhiều buổi làm việc báo cáo tình hình với Quân ủy Trung ương, Bộ Quôc phòng và các cơ quan trực thuộc Bộ. Sự kiện gây ấn tượng mạnh đối với tôi khi được cùng các anh Đồng Sĩ Nguyên, Vũ Xuân Chiêm làm việc với lãnh đạo Tổng cục Chính trị là - chính những điều hết sức cụ thể được Bộ Tư lệnh cùng những người lính Trường Sơn gạn lọc được từ thực tiễn chiến đấu thấm đẫm mồ hôi, máu, nước mắt - qua báo cáo của anh Vũ Xuân Chiêm, đã được các anh Song Hào, Lê Quang Đạo, Phạm Ngọc Mậu xem như những bài học rất sống, rất quý giá về công tác chính trị, công tác tư tưởng.
Cũng vào mùa mưa năm 1967, tại Hương Xuân, Hương Khê, Hà Tĩnh, Bộ Tư lệnh 559 tiến hành hội nghị Tổng kết hoạt động mùa khô 1966-1967. Vì địa điểm họp gần Hương Đô - nơi đặt đại bản doanh của Đoàn, nên nhiều người quen gọi là hội nghị Hương Đô. Cái khác của hội nghị này so với các hội nghị tổng kết trước đó, là ngoài nội dung tổng kết còn có tập huấn. Và, nhiều người trong số anh em chúng tôi có "thiện cảm", nhớ dai hội nghị Hương Đô, bởi chính nội dung tập huấn. Quả đúng vậy, qua mấy ngày tập huấn chúng tôi được trang bị thêm nhiều điều mới bổ ích về nghệ thuật quân sự được vận dụng vào tổ chức chỉ huy vận tải và đã thực hiện thắng lợi trên tuyến. Những kinh nghiệm, những hoạt động thực tiễn được khái quát thành nghệ thuật quân sự với chúng tôi như chính những "cẩm nang" vô cùng quý giá. Nhưng, anh Nguyên và các anh trong Bộ Tư lệnh vẫn thường nhắc chúng tôi chớ tự bằng lòng với chính mình. Điều hẽt sức quan trọng là phải bám nắm đơn vị, bám sát thực địa. Điều đó cũng hoàn toàn dễ hiểu. Cuộc chiến và tình thế ở Trường Sơn ngày ấy biến động chóng vánh khôn lường. Hiển hiện trong mắt chúng tôi một cánh rừng già vừa lợp dày mấy tán lá rậm rạp, thế mà sau một đợt bom B-52 rải thảm, sau một quầng chất độc khai quang đã trụi trần, khô khát; một đồng đội, tối hôm trước còn chia nhau nửa khói thuôc lào; nhưng rồi cũng chỉ chưa đầy nửa cung đường ngồi sau vành tay lái, đã vĩnh viễn nằm lại ở nơi bìa rừng không tên, máu xương hòa vào đất đá, cỏ cây... Ngẫm vậy, đồng thời học phong cách của anh Nguyên, anh An..., những năm tháng ở cương vị Trưởng phòng Tổ chức, tôi cùng các anh phó phòng Phạm Tể, Nguyễn Văn Lạn và anh em trợ lý luôn động viên nhau bám sát thực tiễn, làm tốt chức năng giúp Đảng ủy, giúp anh Chiêm theo dõi chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị, chăm lo xây dựng Đảng bộ, chỉ đạo hoạt động của các đơn vị thanh niên xung phong phối thuộc Bộ Tư lệnh 559. Vào giai đoạn này, cơ cấu cũng như chất lượng tổ chức Đảng, đảng viên ở các đơn vị thường không đồng nhất. Do đó, cơ quan chính trị, đặc biệt là cơ quan tổ chức phải đi sâu đi sát thực tế nghiên cứu điều kiện, các trạng thái chiến đấu, công tác của các binh chủng lái xe, phòng không, công binh, giao liên, thông tin, kho, cơ quan và lực lượng thanh niên xung phong. Từ đó xác định nội dung, phương thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong từng lực lượng cho sát hợp với thực tiễn chiến trường 559, tránh tình trạng rập khuôn máy móc. Yêu cầu cao nhất lúc này là duy trì được sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, chi bộ, cấp ủy khi đơn vị nhận và triển khai nhiệm vụ, hoặc lúc gặp khó khăn, ác liệt - thậm chí tổn thất trong chiến đấu. Trong những tình huống "lửa thử vàng" đó, phải nêu cao được tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên, vai trò của cấp ủy, người bí thư Đảng. Khi công việc yêu cầu hoặc khi điều kiện cho phép, tôi cùng anh em cơ quan bươn bả trên các nẻo đường, xuống từng binh trạm, từng đơn vị. Lúc thì theo dõi, nắm tình hình; khi truyền đạt nhiệm vụ, cùng chỉ huy đơn vị động viên bộ đội, giúp đơn vị tháo gỡ khó khăn... Những cung đường đạn bom, những năm tháng đó đã lắng lại trong tôi bao kỷ niệm vui, buồn. Ví như, vào đầu mùa khô 1966-1967, tôi được cử làm phái viên ở Binh trạm 32 và Binh trạm 33, nắm tình hình, đôn đốc việc khắc phục ách tắc ngầm Tha Mé, là một trong những trọng điểm vượt đường số 9. Đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi còn nhớ hôm chúng tôi xuống đơn vị. Hôm đó, thời tiết xấu. Trần mây thấp. Tranh thủ "thiên thời", chúng tôi tranh thủ chạy lấn chiều. Chừng 7 giờ tối, chiếc xe chở chúng tôi chạy lẫn trong đội hình xe chở hàng, chuẩn bị vượt ngầm Tha Mé. Ngồi trong xe, tôi nghe tiếng máy bay ào qua và ngay tức khắc một chùm pháo sáng bật treo lơ lửng đúng đỉnh đầu. Rừng đang chạng vạng vào đêm bỗng chốc bừng sáng lóa. Ngầm Tha Mé và cả đoàn xe phơi mình lồ lộ dưới ánh sáng moi móc của hàng chục chiếc pháo sáng. Như mãnh thú phát hiện được mồi, máy bay địch tập trung ném bom và bắn đạn 20 ly như vãi trấu. Trên xe, ngoài tôi còn có anh Hoàng Phú Túc - trước là Chính ủy Trung đoàn 10 công binh, vừa được điều về cơ quan chính trị Bộ Tư lệnh 559, giữ chức Viện trưởng Viện Kiểm sát, và mấy anh em cùng cơ quan. Loạt bom này nổ chồng loạt bom khác. Những ánh chớp xanh loang loáng. Khói và lửa, đất đá, bùn nước. Đất trời như điên đảo, nghiêng ngả. Một chiếc xe chạy phía cuối đoàn trúng bom, bốc lửa. Một quả bom nổ rất gần, bứng cả tảng đá lớn tướng lên cao, rơi trúng anh Hoàng Phú Túc. Anh kêu to: Chết tôi rồi các anh ơi! Tôi ôm choàng lấy anh, sờ khắp người, không thấy ướt. Mừng quá, tôi bật cười và nói: Không chết được. Còn kêu được là còn sống. Anh Túc hoàn hồn, nói qua hơi thở: Đau quá! Tớ tướng như bị trời giáng! Chúng tôi cười lăn ra. Vậy là thoát chết! Qua ngầm, chúng tôi cho xe nép tạm vào ven đường, rồi tất cả tức tốc quay lại đôn đốc, xi nhan giúp các xe phía sau nhanh vọt lên. Máy bay địch vẫn bu bám, quần lượn, vãi bom đạn xuống chỗ xe cháy, may mà chiến sĩ lái xe đã kịp lao ra khỏi xe. Những xe còn lại tắt đèn gầm, căn giữa hai hàng "tiêu" là những chiến sĩ công binh, thanh niên xung phong, vượt ngầm an toàn... Sau này tôi và anh Hoàng Phú Túc còn nhiều lần cùng nhau đi thực địa. Mỗi lần qua ngầm Tha Mé, anh Túc không quên gợi lại kỷ niệm "Trời giáng" nhớ đời; để rồi đùa với nhau rằng: Giữa trọng điểm được xem như "tử địa" này, thì chết được cũng chẳng dễ chút nào. Nhưng, oái ăm thay, điều mà mũi tên hòn đạn của kẻ thù không làm được, thì không ít những người lính Trường Sơn, những người lính từ chiến trường trở về lại bị những căn bệnh quái ác cướp đi mạng sống, sự sống. Chiến tranh kết thúc, anh Túc rời quân ngũ về nghỉ hưu tại quê nhà Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Rồi anh lâm bệnh nặng. Năm 1991, biết bệnh ung thư đã di căn nặng, anh có nhắn tôi và bè bạn ở Hà Nội lên thăm. Được tin, tôi đáp tàu lên ngay Vĩnh Yên, nhưng không kịp. Đứng trước nấm mồ, trước vong linh người đồng đội vĩnh viễn ra đi bởi căn bệnh quái ác; nghĩ tới bao người lính, bao nam nữ thanh niên xung phong cùng cảnh ngộ như anh, hoặc sinh con đẻ cái dị dạng tật nguyền... trong tôi trào dâng sự uất hận. Phải chăng chất độc màu da cam, chất độc khai quang... mà người Mỹ ném xuống những cánh rừng Trường Sơn ngày ấy là thủ phạm của những cái chết, những tật bệnh đau lòng này? Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:36:29 am Cũng mùa khô 1966-1967, có lần tôi cùng một số anh em trong cơ quan xuống nắm tình hình vận chuyển dọc đường 20 Quyết Thắng, giải tỏa ATP. Đây là một tập đoàn trọng điểm trải dài chừng bảy cây số, gồm ba trọng điểm liên hoàn là cua chữ A, ngầm Ta Lê và đèo Phu La Nhích; nằm ở tây nam tỉnh Quáng Bình (Việt Nam) và đông nam tỉnh Khăm Muộn (Lào).
Cua chữ A là đoạn đường gấp khúc men quanh sườn núi; một bên là vách núi cao, một bên là vực thắm, dài gần ba cây số. Tiếp cua chữ A là ngầm qua sông Ta Lê có khẩu độ rộng chừng 100 mét, nước sâu và chảy xiết. Bên kia sông (phía nam) là đèo Phu La Nhích, quãng lên quanh co, gấp khúc dài chừng hai cây số, dốc 15 phần trăm. Qua đỉnh đèo, đường trườn sang triền tây Trường Sơn, chạy tiếp vào Ka Tốc, Lùm Bùm, giáp đường 128. Nắm được vị thế "thiên hiểm" của ATP, Mỹ đã cho máy bay, kể cả máy bay B-52 đổ xuống đây một khối lượng bom đạn khổng lồ, hòng biến tất cả núi đồi, cây rừng nơi đây thành bình địa. Nhưng, trên tập đoàn trọng điểm này, ngày nối ngày, tháng qua tháng, năm liền năm, những người lính Trường Sơn cùng bao nam nữ thanh niên xung phong đã trụ bám kiên cường, giành giật với kẻ thù từng tấc đường, chuyẽn hàng; bất chấp hy sinh, không nề nguy hiểm. Chiều hôm đó, khi đường rừng vừa choàng một màu hoàng hôn, im ắng, tôi cho xe xuất phát từ sở chỉ huy Binh trạm 32 đi nắm tình hình trên tuyến. Dọc đường có hai nữ thanh niên xung phong chặn xe, xin đi nhờ ra ngầm Ta Lê. Theo hai cô thì chiều đó, địch vừa đánh trọng điểm rất mạnh. Ngầm trúng bom. Đơn vị cô phải khắc phục, khẩn trương thông ngầm. Quả đúng vậy, tới giữa ngầm Ta Lê, xe chúng tôi bất ngờ rệ xuống một hố bom, bị lật nghiêng. Cả tám người không kịp ra khỏi xe, bị dồn xuống nước. Bỗng tiếng ai đó thét lên: Ôi! Chết tôi rồi. Hóa ra, anh Nguyễn Đình Ích - Trưởng phòng giúp bạn ngồi ở ghế dưới, bị cô thanh niên xung phong dẫm rồi đè lên đầu, sặc sụa trong nước. Cũng như sự kiện "Trời giáng" của anh Hoàng Phú Túc hôm nào, tôi bật cười và nói: Còn kêu to thế, làm sao mà chết được! Miệng nói, tôi cùng anh em túm lôi anh Ích và cô thanh niên xung phong lên. Cùng lúc, một đoàn xe chở hàng dàn đội hình vượt ngầm. Thấy xe chúng tôi sắp chìm nghỉm trong nước, còn người thì hết thảy ướt lướt thướt như chuột lội, nhưng vẫn đùa tếu, mấy tay lái xe ý chừng lão luyện, từng trải trọng điểm này, dừng xe quát lớn: - Ô, các ông định đi chầu ông bà ông vải hay sao mà đứng đùa ở đó. Muốn sống thì...! Dứt lời, người chiến sĩ đó tháo tời tròng vào đầu xe chúng tôi, nổ máy dắt xe chúng tôi qua ngầm. Bất thần, máy bay địch ập đến: Rồi pháo sáng treo từng chùm; từng loạt bom chụp xuống. Một loạt bom rơi đúng chỗ xe chúng tôi sa hố bom. Từng cột nước dựng cao hàng chục mét. Chia tay người lính lái xe, tôi đọc được trong ánh mắt, trong cái bắt tay của anh niềm vui pha lẫn tâm trạng gần như là hài hước: Chỉ chút nữa thôi, các bố đã đi ngủ với giun rồi! Quả thực, ai biết được điều gì sẽ đến sau loạt bom dữ dằn vừa rồi, nếu như cả đám chúng tôi vẫn loay xoay với chiếc xe bên miệng hố bom giữa ngầm Ta Lê. Thật cảm động xiết bao nghĩa tình đồng chí, đồng đội nơi "mũi tên hòn đạn", nơi mà những người lính chúng ta luôn sẵn sàng nhường nhau cọng rau, củ sắn và chia nhau cơn sốt rét rừng, chia nhau cái chết vì sự nghiệp chung. Trong cuộc chiến này, khi kẻ thù của chúng ta huy động mọi phương cách, mưu mô để hủy diệt sự sống của con đường mang tên Bác Hồ kính yêu, điển hình là các thủ đoạn chiến thuật "chẹt họng", "cắt cổ", "khoét đáy"...; khi mà biết bao nam thanh, nữ tú của đất Việt đã cống hiến tâm sức, máu xương, vĩnh viễn nằm lại với đại ngàn Trường Sơn, với những cung đường, con suối không tên... nếu như chúng ta thi vị hết thảy sẽ là tội lỗi; nhưng nếu như không có những ánh mắt tinh ranh, hóm hỉnh của chàng trai lái xe kia, không có những chuỗi cười nghiêng ngả rừng chiều nơi trọng điểm của đám nữ thanh niên xung phong, cũng khó lý giải hết nguyên cớ vì sao ta thắng địch... ! Theo đề nghị của Hội nghị tổng kết phong trào thi đua Quyết thắng toàn tuyến (tháng 5 năm 1966), năm 1967, đã có nhiều tập thể, cá nhân thuộc Bộ Tư lệnh 559 được Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; nhiều Dũng sĩ, Chiến sĩ Thi đua. Cùng với bộ đội, lực lượng thanh niên xung phong cũng đóng góp phần công lao to lớn. Và, những nẻo đường Trường Sơn cũng đã gắn bó máu thịt với những gương chiến đấu, hy sinh của những nam nữ thanh niên xung phong gây xúc động lòng người. Từ năm 1965, gần như các địa phương trên miền Bắc đều có lực lượng thanh niên xung phong ở Trường Sơn. Tỉnh ít, một đại đội; tỉnh nhiều, tương đương tiểu đoàn. Để chỉ đạo các đội và giúp Trung ương Đoàn theo dõi hoạt động của thanh niên xung phong, lúc đầu, Trung ương Đoàn thành lập một ban Cán sự, gồm ba đồng chí: Tích, Tú và Thịnh (nữ). Các đội thanh niên xung phong được biên chế thuộc đội hình các công trường làm đường, chủ yếu là Công trường 20 và Công trường 128; một số được tăng cường cho các trạm giao liên, đơn vị kho. Từ năm 1967, thanh niên xung phong cơ bản được biên chế thuộc các đơn vị bộ đội, thành một lực lượng thống nhất. Duy nhất còn đội thanh niên xung phong 67 chuyển ra đứng chân bảo đảm giao thông ở địa bàn bắc Quảng Bình. Cảm ơn đất nước, cảm ơn muôn lần những người mẹ trên đất Bắc tảo tần một nắng hai sương, lam lũ một đời, đã sản sinh và gửi những người con ưu tú vào chiến trường, vào Trường Sơn. Trong lửa đạn, gian nan khốc liệt, bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, văn nghệ sĩ, những nhà khoa học - đặc biệt là khoa học kỹ thuật quân sự... đã bện kết thành một tập thể "gang thép" anh hùng, chiến đấu kiên cường vì sự sống của con đường mang tên Bác Hồ, vì sự nghiệp chi viện chiến trường. Nhiều nam nữ thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến... đã để lại trong lòng những người lính Trường Sơn tình cảm tốt đẹp, lòng ngưỡng mộ... Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:37:14 am Những năm 1966-1967 là quãng thời gian toàn tuyến phải chịu đựng khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Giặc đánh, trời đánh - khí hậu nghiệt ngã của vùng rừng nhiệt đối cộng với thiếu đói... không ít người đã bị quật ngã bởi bệnh tật. Những cơn sốt rét ác tính đã cướp đi sự sống, tuổi xuân của biết bao đồng chí, đồng đội thân yêu của chúng tôi... Những lần xuống làm việc tại một số đội thanh niên xung phong, tôi có quen một nữ thanh niên xung phong tên là Thắm, quê vùng Kim Sơn - Phát Diệm - Ninh Bình, nơi tôi từng tham gia vận động đồng bào theo đạo Thiên Chúa chống địch cưỡng ép di cư vào Nam năm 1954. Khi vừa vào tuyến, cũng như bao thiếu nữ đồng chiêm cùng đội, Thắm là khuôn mẫu của "tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu". Nhưng chỉ sau mấy trận sốt rét, trông cô thật ái ngại: Môi thâm tái, da vàng bủng, mái tóc chỉ còn lưa thưa mấy sợi. Dù không muốn xa chị em, khi chưa hoàn thành nhiệm vụ, nhưng do sức khỏe quá yếu, buộc lòng đơn vị phải gửi cô về hậu phương. Sau này, trong một lần tôi ra Bắc công tác; tình cờ được tin, Thắm đến thăm gia đình tôi. Lúc đó cô công tác tại cơ quan Tỉnh đoàn Ninh Bình. Nhìn cô khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, tôi đùa: Bây giờ cô mới thật là Thắm. Nhắc lại chuyện bạn bè cùng trang lứa còn lặn lội trong tuyến, cô nói trong nước mắt: Em được trở lại hậu phương, cuộc sống dẫu còn khó khăn, nhưng cũng đầy đủ gấp nhiều lần hồi ở Trường Sơn. Nghĩ đến chị em trong đó, em không sao cầm lòng được.
Quả vậy, giờ đây khi chiến tranh đã thuộc về hồi ức, hồi niệm; nhưng đau thắt lòng vẫn là cảm giác trỗi dậy trong chúng tôi, mỗi khi bắt gặp, nghĩ về những thanh niên xung phong thời chống Mỹ chịu cảnh ôm đau, tật bệnh; những nữ thanh niên quá lứa lỡ thì, lẻ bóng cho tới khi bóng chiều đổ xuống cuộc đời. Ở Trường Sơn ngày ấy, ngoài bom đạn, bộ đội còn phải chống chọi với tật bệnh. Điều kiện thiên nhiên nghiệt ngã ở vùng rừng nhiệt đối là môi trường lý tưởng của biết bao loại bệnh hiểm nghèo - điển hình là sốt rét, nếu điều kiện nuôi dưỡng khó khăn, thiếu thốn. Bởi vậy, khắc phục gian khổ, thiếu đói, bệnh tật, để hoàn thành nhiệm vụ cũng là một cuộc chiến không kém phần ác liệt so với cuộc chiến đấu với kẻ thù bằng xương bằng thịt. Mùa mưa năm 1966, trong một lần xuống nắm tình hình ở Binh trạm 6 do anh Lê Quang Dự làm Binh trạm trưởng, anh Lê Xy làm Chính ủy, tôi chứng kiến gần như một trăm phần trăm quân số binh trạm bị sốt rét. Ban chỉ huy binh trạm cùng quân y ở đây đã vét cạn những viên quy-nin cuối cùng, quân nhu tập trung nuôi dưỡng, đồng thời cấp báo lên Bộ Tư lệnh 559. Nhưng vì binh trạm ở tuyến cuối, mưa lũ đang hồi cao điểm, vận chuyển vô cùng khó khăn. Gần hết mùa mưa, thuốc mới vào tới nơi. Thật đau lòng, đói thuốc, đói gạo, sốt hoành hành đã cướp đi của Binh trạm 6 gần năm chục cán bộ, chiến sĩ. Nói đến thiếu đói ở Tuyến 559, hẳn nhiều người khó tin. Bởi lẽ, người đời vẫn nghĩ mấy ai "làm nghề săng chết bó chiếu"; sẵn gạo, lương khô, thuốc... chuyển qua tuyến, anh em trên đường dây ắt phải đầy đủ trước. Trong khi đó, nguyên tắc nhất quán của Bộ đội Trường Sơn là: Tất cả vì chiến trường, ưu tiên chiến trường, hàng của chiến trường quyết không tơ hào. Bởi vậy, không chỉ mùa mưa, mà lắm lúc trong mùa khô, từ cán chí quân chúng tôi cũng đói quay đói quắt. Vào mùa mưa năm 1968, những khó khăn "hậu Mậu Thân" của ta đã bộc lộ trên các chiến trường với những mức độ, chiều cạnh khác nhau. Sau đợt 1 và đợt 2 ta tổng tiến công vào các đô thị, sào huyệt của Mỹ - ngụy, địch đã kịp hoàn hồn, dần dần củng cố lực lượng, vừa tăng cường phòng thủ đô thị, vừa tung quân đánh chiẽm lại các vùng nông thôn, vùng ven đã bị mất trong dịp tết. Mất dần bàn đạp đứng chân ở vùng ven, vùng đồng bằng, nông thôn; một số đơn vị chủ lực của ta phải lùi lên vùng rừng núi; một bộ phận chủ lực ta ở Nam Bộ tạm sang đứng chân ở Đông Bắc Cam-pu-chia. Một số đơn vị chủ lực Khu 5, Trị - Thiên vượt sang tây Trường Sơn, đứng chân trên tuyến hành lang 559. Tuyến 559 lúc này ngoài nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến lược còn là hậu cứ trực tiếp của chiến trường Trị - Thiên, Tây Nguyên và Khu 5; là địa bàn để các chiến trường tập kết củng cố lực lượng, là nơi thu dung điều trị nuôi dưỡng thương, bệnh binh của các mặt trận. Do dồn sức phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, chiến dịch Đường 9 Khe Sanh - xuân hè 1968, lúc này lượng lương thực, thuốc quân y dự trữ trên Tuyến 559 rất mỏng. Tình hình căng như dây đàn. Bộ Tư lệnh 559 quyết định thử nghiệm tổ chức vận tải cơ giới trong mùa mưa, hy vọng khắc phục một phần khó khăn. Mặc dù chỉ chạy đội hình tiểu đoàn xe, về sau hạ xuống cấp đại đội, nhưng không kết quả, thậm chí còn tổn thất... Giặc đánh, trời đánh nên vận chuyển gần như tê liệt. Người dồn về trên tuyến. Lương thực, thuốc men đã thiếu lại càng thiếu hơn. Cảnh bộ đội, thanh niên xung phong chia nhau mỗi ngày chưa nổi lưng cơm, chia nhau từng củ sắn, nửa bát măng rừng... là phổ biến toàn tuyến. Những ai, ngày qua ngày ăn măng củ luộc trừ bữa, họa chăng mới thấm cái gọi là "đói quay đói quắt" của những người lính Trường Sơn mùa mưa Mậu Thân 1968. Dù cho khó khăn - thậm chí là khó khăn nguy kịch, để có người vẫn ví là "hậu Mậu Thân", nhưng đòn tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên toàn miền mùa xuân này đã tạo được "một cú bom barder" - Lời của đồng chí Lê Duẩn - cố Tổng Bí thư Đảng ta1 (Đồng Sĩ Nguyên - Đường xuyên Trường Sơn - Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nôi. 1999. tr.108), làm suy sụp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đặc biệt là cuồng vọng hiếu chiến của những kẻ cầm đầu Nhà Trắng, tạo bước ngoặt có tính chiến lược, đặt nước Mỹ trên đà xuống dốc trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - đặc biệt là chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh xuân hè 1968 có ý nghĩa vô cùng to lớn. Giải phóng Khe Sanh - Hướng Hóa, ở địa bàn tây Quảng Trị, ta đã làm nên một "Điện Biên Phủ mới" ở miền Nam, nhổ được một vị trí trọng yếu - địch ví như "mỏ neo" chốt chặn Đường Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn mở một chính diện mới, phát triển đồng đều hai cánh đông và tây Trường Sơn. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:04:00 pm III. Ở HAI CỬA KHẨU - HAI BINH TRẠM "LỬA"
Sau một mùa hè vô cùng khó khăn, ác liệt trên Tuyến 559, một mùa hè mà nhiều người trong chúng tôi gọi là "Đội bom vượt lũ", vào đầu mùa khô 1968-1969 tôi được Bộ Tư lệnh bổ nhiệm làm Chính ủy Binh trạm 31 - là một trong hai binh trạm cửa khẩu phía bắc tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Hôm tiễn tôi xuống binh trạm nhận nhiệm vụ, anh Nguyên, anh Chiêm vừa như nhắc lại những việc cần giải quyết ngay ở dưới đó, vừa như thân tình dặn dò: Mùa khô này, Binh trạm 31 và Binh trạm 32 phải chuẩn bị thật chu đáo để đối phó với âm mưu "bịt cửa khẩu" của địch. Mỹ đã xuống thang, ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; suốt mấy tháng nay, chúng tập trung "cắt" vùng "cán xoong" Khu 4. Chỉ chờ ta nhập tuyến là chúng lại hủy diệt cửa khẩu phía bắc. Hai binh trạm ở khu vực vượt khẩu sẽ là trọng tâm đánh phá của chúng... Tôi trả lời khá tự tin: Các anh yên tâm, là cán bộ cơ quan chính trị, nhưng tôi cũng trưởng thành từ đơn vị chiến đấu, lại gần 4 năm ở Trường Sơn; những kinh nghiệm mà Bộ Tư lệnh 559 đúc kết bước đầu từ mấy mùa khô triển khai nhiệm vụ - cả thành công và chưa thành... là cẩm nang đối với tôi. Vả lại, lãnh đạo, chỉ huy Binh trạm 31 dưới đó là một tập thể mạnh, nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Vào thời điểm này toàn tuyến mới có hai binh trạm cửa khẩu phía bắc tổ chức vận tải cơ giới là Binh trạm 31 và Binh trạm 32. Đến cuối năm 1969, có thêm Binh trạm 9 phụ trách khu vực Pha Băng Nưa, và sang năm 1970, ta mở thêm trục vượt khẩu đường 16 do Binh trạm 27 đảm trách. Đón tôi tại sở chỉ huy binh trạm (khu vực Mụ Giạ-050) có anh Nguyễn Thăng Phúc - Binh trạm trưởng, anh Vũ Văn Trịnh - Binh trạm phó phụ trách tác chiến, anh Nguyễn Đức Lợi - Binh trạm phó phụ trách cầu đường, anh Trương Hữu Thanh - Binh trạm phó phụ trách vận chuyển. Hai anh Phan Biên, Nguyễn Văn Mịch là Phó chính ủy, anh Lê Văn Tưởng là Chủ nhiệm chính trị. Sau khi tôi xuống chừng một tháng, anh Đặng Ba được điều về thay anh Nguyễn Thăng Phúc; và kế đó, anh Hải Trình được tăng cường làm Binh trạm phó phụ trách tác chiến. Địa bàn từ cửa khẩu vào đường số 9, sau khi Bộ Tư lệnh 559 thay hình thức tổ chức theo tuyến bằng các binh trạm, do Binh trạm 1 phụ trách. Nhưng rồi, do tính chất trọng yếu và khốc liệt của địa bàn vượt khẩu, nên từ mùa khô 1967-1968 do hai binh trạm (1 và 2) phụ trách. Khi chuyển đổi phiên hiệu là Binh trạm 31 và Binh trạm 32. Binh trạm 31 phụ trách từ Mụ Giạ - Cổng Trời (cửa khẩu đường 12) vào tới Lùm Bùm (đường 128) và đường 12 từ Lằng Khăng vào Xóm Péng, đường 129 từ Ca Vát đi Na Phi Lăng. Trẽn các trục đường đó có biết bao địa danh đã trở thành "tọa độ lửa", "cửa tử", như Cổng Trời - Mụ Giạ, ngầm Na Tông, ngầm Tha Pa Chôn trên sông Pác Pha Năng, ngã ba Xóm Péng... và đặc biệt là Seng Phan. Binh trạm 31 thành lập đã được 2 năm. Qua hai mùa vận chuyển, phục vụ vận chuyển, Binh trạm đã bước đầu xây dựng được thế trận và cơ sở của một binh trạm vận tải cơ giới. Tuy vậy, lường định trước những khó khăn, khốc liệt của mùa khô tới, ngay sau khi "nhập cuộc", tôi cùng các anh trong Ban chỉ huy binh trạm rảo một vòng từ đầu đến cuối địa bàn đơn vị phụ trách, nghiên cứu thực địa, hoàn chỉnh thế trận mới, bao gồm: dự đoán các trọng điểm ác liệt nhất, xác định khu kho, bãi trú đậu xe, bãi khách, trận địa pháo phòng không, súng máy cao xạ, trận địa của công binh, bộ binh, địa điểm đặt trạm chỉ huy giao thông, trạm cấp cứu, và dự kiến sở chỉ huy của binh trạm cho từng phương án tác chiến. Chuyến thị sát này đã để lại trong tôi một kỷ niệm nhỏ nhưng đặc biệt thú vị. Vốn tính không ưa ồn ào, và cũng để kiểm tra thật sự hoạt động chiến đấu của bộ đội, tôi đề nghị Ban chỉ huy binh trạm không báo trước cho các đơn vị. Đến một đơn vị của Tiểu đoàn xe 101, sau một chặng đường rừng khá dài, lại sục vào kiểm tra một vài đơn vị, nên mấy anh em thấm mệt và đói! Vừa xuống xe, một đồng chí trong đoàn thân tình nói với chỉ huy đơn vị: Có gì cho chúng tớ lót dạ chút đỉnh, làm việc sau. Thật thà, bỗ bã như lính xế - quả đúng vậy, "chủ nhà" vui vẻ: Quá bữa rồi, còn cơm nguội đâu đó, các ông bảo cấp dưỡng lấy ăn tạm! Khi biết đây là đoàn do Chính ủy mới của binh trạm dẫn đầu, kiểm tra thực địa, chỉ huy đơn vị cứ lúng túng, xuýt xoa, xin lỗi mãi. Với tôi thì ngược lại: Không sao cả, mình vui vì lính xế còn cơm nguội, có nghĩa là lính ta "dư dật", không đói, vả lại, tướng sĩ ngày xưa - cái ngày phong kiến - mọi chuẩn mực quan hệ "khuôn vàng thước ngọc", còn "Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào" - huống chi nay là Bộ đội Cụ Hồ. Thời gian trôi, kỷ niệm luôn sống trong hồi niệm. Sau này không dưới mấy lần, anh em Binh trạm 31, Tiểu đoàn xe 101 thuở ấy, gặp lại tôi, thường nhắc chuyện này. Chỉ có những người lính từng lăn lộn nơi "mũi tên, hòn đạn", từng sẻ chia cái chết, nhường nhau sự sống, mới nâng niu những kỷ niệm thấm đẫm tình người như vậy. Lực lượng công binh của Binh trạm 31 vào đầu mùa khô này gồm hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn 25 công binh thiện chiến, vào tuyến từ năm 1963 - đơn vị Anh hùng (anh Nguyễn Bửu Ký làm Tiểu đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Phiên làm Chính trị viên, các anh Tô Duy Toan và Nguyễn Ngọc Trữ là Tiểu đoàn phó), được "chọn mặt gửi vàng" bảo đảm giao thông từ Cổng Trời vào ngã ba Xóm Péng. Tiểu đoàn 27 công binh thiện chiến (anh Chu Thế Kỳ làm Tiểu đoàn trưởng, anh Tống Duy Sự làm Chính trị viên) đảm bảo giao thông một nhánh đường 128 từ ngã ba Xóm Péng vào Lùm Bùm và đường 129 vào kho K3 thuộc Binh trạm 32. Vào cao điểm mùa khô, khi địch tập trung đánh phá ác liệt nhất, Binh trạm 31 được tăng cường Trung đoàn 83 công binh và Tiểu đoàn 2 công binh từ Binh trạm 12 vào. Lực lượng phòng không thuộc binh trạm có Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37 ly, chiến đấu bảo vệ giao thông từ ngầm Tha Pa Chôn vào Xóm Péng và hết địa phận Binh trạm 31. Phía bắc, ra đến Cổng Trời, do Tiểu đoàn 6 pháo 37 ly đảm trách. Từ tháng 11 năm 1968, Trung đoàn 84 pháo cao xạ thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân vào tuyến, chiến đấu trên đường 12 từ Cổng Trời vào tới bắc Seng Phan. Để bảo vệ đội hình xe cơ động trên đường 12b, chúng tôi bố trí một tiểu đoàn pháo cơ động, thực hiện "quay nòng pháo theo bánh xe lăn". Ngoài ra, mỗi tiểu đoàn công binh có ba tiểu đội súng máy 12,7 ly và 14,5 ly. Các tiểu đội này được bố trí tại địa bàn công binh tác nghiệp. Riêng tiểu đội súng máy của Tiểu đoàn 25 được bố trí ngay trên đỉnh núi đá trọng điểm Seng Phan. Một phần lực lượng súng máy phòng không của các tiểu đoàn còn cơ động theo đội hình xe, sẵn sàng đánh máy bay địch dọc đường vận chuyển. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:04:40 pm Lực lượng vận tải trong biên chế của binh trạm có hai tiểu đoàn ô tô - Tiểu đoàn 101 và Tiểu đoàn 53. Đầu mùa khô, do tuyến trong chưa có hàng, chúng tôi được tăng cường tạm thời Tiểu đoàn ô tô 55 của Binh trạm 42, tập trung tạo chân hàng cho Binh trạm 32. Tiếp đó, vào trung tuần tháng 11, được tăng cường Tiểu đoàn ô tô 990.
Trong điều kiện địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt, không thể tổ chức vận chuyển cung dài, chúng tôi bố trí thành ba cụm kho: một ở 050, một ở nam Seng Phan (K49) và một ở ngã ba Xóm Péng, mỗi cụm tương đương một tiểu đoàn. Đường giao liên bộ qua binh trạm do một tiểu đoàn phụ trách, rải thành năm trạm, có nhiệm vụ tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ qua tuyến và thương binh từ chiến trường ra. Vào cuối năm 1968 - đầu năm 1969, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định kéo dài tuyến đường ống dẫn xăng dầu quốc gia từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường dọc theo Tuyến 559. Binh trạm 31 được giao nhiệm vụ xây dựng đường ống từ Cổng Trời vào Xóm Péng. Tiểu đoàn 668 bộ đội xăng dầu, do đồng chí Nguyễn Văn Sỏi làm Tiểu đoàn trưởng được tăng cường cho Binh trạm 31 là lực lượng chủ công thực thi nhiệm vụ này. Đây cũng là tiểu đoàn bộ đội xăng dầu đầu tiên thuộc Cục Xăng dầu - Tổng cục Hậu cần, vào Trường Sơn. Như vậy, lực lượng lúc cao nhất - kể cả biên chế và tăng cường, của Binh trạm 31 vào mùa khô 1968-1969 lên tới hàng chục nghìn quân, gồm bốn tiểu đoàn ô tô vận tải; một trung đoàn, bốn tiểu đoàn công binh, một trung đoàn và hai tiểu đoàn pháo phòng không, ba tiểu đoàn kho, một tiểu đoàn giao liên, một tiểu đoàn bộ đội xăng dầu, hai đại đội thông tin, một đại đội bộ binh, bốn trạm phẫu thuật, bốn đội công tác giúp bạn Lào. Quả là một lực lượng hùng hậu với đầy đủ binh chủng, mà trước đó mô hình một binh trạm chưa bao giờ có được! Để chuẩn bị cho mùa khô này, từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 10, theo kế hoạch chung Ban chỉ huy binh trạm tập trung chỉ đạo bộ phận ở lại tuyến và lực lượng công binh, kho, giao liên, thông tin... vào sớm, dồn sức khắc phục hậu quả đánh phá của không quân địch và sự hủy hoại của mưa lũ suốt mấy tháng hè; mở thêm đường mới, ưu tiên phương tiện, lực lượng giải quyết những trục có tầm quan trọng đặc biệt đối với chiến thuật vận tải. Điển hình là hệ thống đường vượt khẩu 12A, 12B dài gẫn một trăm cây số, đường tránh Pác Pha Năng dài gần 40 cây số. Thế trận cầu đường được chuẩn bị khá chu đáo sẵn sàng đón lực lượng vận tải cơ giới nhập tuyến, thì giữa tháng 10, cơn bão số 8 bất thần ập vào. Gió lớn, mưa to gây ngập úng khu kho 050. Hàng nghìn tấn hàng dự trữ ngập nước. Binh trạm phải huy động khẩn cấp lực lượng công binh, cao xạ, cán bộ và nhân viên cơ quan tập trung chống lũ, cứu hàng. Bão tan, mưa tạnh, đường khô. Lực lượng vận tải nhập tuyến, mở màn chiến dịch vận chuyển mùa khô 1968-1969. Triệt để tận dụng yếu tố bất ngờ, những chuyến hàng đầu tiên, chúng tôi tổ chức cho Tiểu đoàn 101 và Tiểu đoàn ô tô 53 chạy đội hình tập trung từ 50 đến 100 xe; lấy hàng từ tổng kho 050 chuyển thẳng vào các kho thuộc Binh trạm 32. Tuy nhiên, thời gian đầu mùa khô, mức nước trên các sông suối còn cao. Xe vượt sông phải dùng phà, nên xe vào phía trong còn chậm; lượng xe vào cũng chưa được nhiều, không liên tục. Trong khi ùn tắc ở các bến vượt do thời tiết chưa khắc phục được, thì hoạt động đánh phá của không quân địch ngày càng ráo riết, cường độ đánh phá của chúng ngày một ác liệt hơn. Ngày 1 tháng 11 năm 1968, tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, chấp nhận hòa đàm bốn bên ở Pa-ri, thủ đô nước Cộng hòa Pháp. Quyết định này mặc nhiên công khai thừa nhận sự phá sản của chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và chiến tranh phá hoại miền Bắc. Tiếp tục theo đuổi mục đích xâm lược, thôn tính nước ta, ở miền Nam, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" - một chiến lược mới mà nhiều chiến lược gia Tây phương cho rằng chỉ là "Thay đổi màu da trên xác chết". Còn giới chức cầm đầu Nhà Trắng lại cho rằng: điều kiện tiên quyết bảo đảm cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" thành công là chặn cắt bằng được tuyến chi viện hậu cần chiến lược của ta - vô hiệu hóa hoạt động vận chuyển tiếp tế trên Đường Hồ Chí Minh. Để đạt được ảo vọng đó, ngay sau khi ngừng ném bom miền Bắc, Mỹ đã huy động tổng lực không quân đánh phá Tuyến 559. Cửa khẩu Seng Phan (đường 128) và cửa khẩu tập đoàn trọng điểm ATP (đường 20) lại là nơi "thử lửa" ác liệt nhất. Đánh vào ATP và Seng Phan, địch đã chọn đúng "huyệt" của Tuyến 559. Bởi vì lúc này, mọi nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc, nếu theo đường bộ phải qua hai cửa khẩu này mới vào được chiến trường. Mặt khác, với địa hình phức tạp, hiểm trở như Seng Phan và ATP, nếu địch tập trung đánh mạnh, liên tục thì đường tắc là không tránh khỏi, việc khắc phục cũng vô cùng khó khăn. Seng Phan thuộc địa phận tỉnh Khăm Muộn, cách biên giới Việt - Lào khoảng 15 cây số. Toàn bộ trọng điểm nằm trên trục đường men theo sông Pha Nôp, kẹp giữa hai dãy núi đá. Địa thế nơi đây khá hiểm trở, bất lợi cho việc tập kết quân và sử dụng máy húc để khắc phục kịp thời hậu quả địch đánh phá. Do vậy, kẻ địch đánh trúng đường, thường gây ách tắc kéo dài. Trước đây Seng Phan chưa là trọng điểm đánh phá của địch. Nhưng ý thức được địa thế của nó, Bộ Tư lệnh 559 và Ban chỉ huy Binh trạm 31 đều cho rằng sớm muộn, Seng Phan sẽ nằm trong "tầm ngắm" của không quân Mỹ. Theo đó, để chuẩn bị cho hoạt động mùa khô 1968-1969, từ Na Tông đến Pác Pha Năng, Binh trạm 31 đã cho mở hai đường ô tô bám theo sông Pha Nốp. Ngày 4 tháng 11 năm 1968, Mỹ tập trung máy bay cường kích và hàng chục lần chiếc B-52 ném bom hòng hủy diệt Seng Phan trên một địa bàn dài 2 cây số, rộng chừng 200 mét. Cường độ đánh phá ngày càng tăng và duy trì liên tục trong bảy ngày sau đó. Ban ngày, máy bay L19 bay trinh sát phát hiện mục tiêu, chỉ điểm cho cường kích và B-52 oanh kích. Mỗi lần đánh trọng điểm, máy bay B-52 rải thảm ba đợt. Xen kẽ giữa các lần B-52 hoạt động là các loại máy bay cường kích ném bom theo tọa độ được chúng tính trước. Đêm đến, địch dùng máy bay AC130 trang bị nhiều loại khí tài hiện đại để phát hiện mục tiêu, săn diệt... Bảy ngày, trên một vạn quả bom vừa là bom phá, vừa là bom sát thương, bom khai quang trút xuống một khoảnh đất hẹp, gần như xóa sổ con đường. Tất cả chỉ còn là những cồn đống ngổn ngang. Mặt đất, núi đồi bị biến dạng. Sườn núi bị bóc từng mảng lớn, hàng nghìn mét khối đất đá sụt lở gây ách tắc nghiêm trọng. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:05:29 pm Để khắc phục ách tắc, chúng tôi bố trí tại trọng điểm một lực lượng công binh thiện chiến kịp thời ứng cứu, giải phóng xe. Cứ khoảng 100 mét đến 200 mét có một tổ 5 người làm nhiệm vụ ứng cứu và ở ngay ven đường cách quãng 20 mét có một hầm chữ A bằng gỗ, khá kiên cố, đủ chỗ cho chừng 5 người ẩn nấp. Theo chỉ dẫn của các đài quan sát máy bay địch, cứ dứt từng đợt bom, bất kể ngày hay đêm, công binh đội đất chui lên dùng bộc phá, cuốc xẻng san lấp, sửa chữa kịp thời. Do máy ủi cơ động kém, dễ bị đánh cháy, vả lại đường hẹp, nên lúc này ở Seng Phan, chúng tôi không thể sử dụng máy ủi. Sức người chọi với bom đạn như núi. Ngày nào cũng có hoặc công binh hoặc lái xe hy sinh. Vì quá căng thẳng nên cứ 10 ngày, chúng tôi lại cho đại đội công binh chốt giữ Seng Phan thay phiên một lần. Các anh Tô Duy Toan, Nguyễn Ngọc Trữ... cán bộ Tiểu đoàn 25 công binh thay nhau trực chỉ huy đại đội ứng cứu trọng điểm. Nhưng dù cố gắng đên mấy, đường vẫn tắc.
Trong khi khó khăn, tổn thất đang bám riết Binh trạm 31 ở Seng Phan, thì ở Binh trạm 32 tập đoàn trọng điểm ATP, tình hình còn căng thẳng, ác liệt hơn. Kẻ địch tập trung B-52 và các loại máy bay cường kích đánh liên tục trọng điểm này trong 15 ngày liền. Qua liên lạc điện thoại với Bộ Tư lệnh, tôi được biết 3 khẩu pháo 37 ly bị đánh hỏng và gần năm chục cán bộ, chiến sĩ Binh trạm 32 hy sinh ở ATP. Tiểu đoàn 33 công binh do anh Đỗ Xuân Diễn làm Tiểu đoàn trưởng, anh Cao Xuân Hùng làm Chính trị viên, trụ bám ngay trọng điểm, vật lộn với đất đá, bom đạn, song cũng chưa giải tỏa được. Giải tỏa Seng Phan, ATP; giải tỏa hai trục vượt khẩu trọng yếu là yêu cầu nóng bỏng không chỉ đối với Bộ Tư lệnh 559 mà còn là vấn đề thu hút sự quan tâm lo lắng của Tổng hành dinh - Bộ Quốc phòng, của Tổng cục Hậu cần. Bộ kịp thời có những giải pháp tình thế điều hành tạo sự phối hợp gắn kết hơn giữa Tuyến 500 và Tuyến 559, và anh Đinh Đức Thiện đã kịp thời vào truyền đạt mệnh lệnh của Bộ. Liền sau khi nhận chủ trương của trên, ngày 14 tháng 11 năm 1968, Đảng ủy 559 họp bất thường, quyết định chậm nhất ngày 25 tháng 11 phải giải tỏa Seng Phan và 10 ngày sau phải giải tỏa nốt ÀTP. Trong khi chưa giải tỏa được ATP và Seng Phan, phải tận dụng triệt để nguồn lương thực do anh Đức Phương - "ông chủ lớn" tổ chức khai thác ở Cam-pu-chia; ở phía bắc, giải pháp tình thế là tận dụng số xăng tồn kho, tổ chức vận tải cơ giới đội hình nhỏ lẻ qua đường số 9 rồi tổ chức gùi thồ cung cấp cho Mặt trận Trị - Thiên. Hội nghị Đảng ủy kết thúc ngày 14 thì ngày 15 anh Đồng Sĩ Nguyên, anh Phạm Diêu - Tham mưu trưởng công binh và anh Đinh Hào - Trưởng phòng bảo đảm giao thông xuống trực tiếp chỉ đạo Binh trạm 32 giải tỏa ATP. Với Binh trạm 31, Bộ Tư lệnh phái anh Nguyễn Văn Kỷ - Tham mưu phó công binh xuống cùng chúng tôi tháo gỡ ách tắc ở Seng Phan. Những ngày sau đó tôi cùng anh Kỷ, anh Lợi đến từng tổ công binh chốt giữ trọng điểm; nghiên cứu kỹ địa hình, quy luật đánh phá của địch, tìm bằng được giải pháp khắc phục. Hết ngày qua đêm, mấy anh em trụ lại trọng điểm cùng cán bộ, chiến sĩ công binh. Địch đánh tất cả chui xuống hầm chữ A. Ngớt tiếng bom, lại cùng anh em san sửa. Nhưng rồi, sức người không chọi lại được với bom tấn, bom tạ. Phải mấy ngày đêm liền trụ ở chính nơi mà đạn bom biến núi đồi thành bình địa, chúng tôi mới thống nhất quyết định tạm thời mở đường từ Lằng Khằng xuống phía tây trọng điểm. Nhưng với lối tránh này cũng chỉ có thể tổ chức chạy đội hình từ ba đến năm xe, chớp thời cơ giữa hai đợt bắn phá của máy bay địch. Vì vậy, tổ chức vận chuyển ở đường tránh này cũng không an toàn, hằng ngày vẫn xảy ra thương vong. Chính vào lúc tình hình đang căng thẳng như dây đàn ấy, một mất mát lớn, rất thương tâm đã xảy ra chính nơi chúng tôi mở đường tránh. Một tiểu đội công binh gồm 12 cán bộ, chiến sĩ tránh máy bay trong hang núi, đã bị địch ném bom sập hang. Từ cán chí quân bàng hoàng đau xót, cắn răng nuốt nước mắt nhìn đồng đội thân yêu của mình vĩnh viễn bị chôn vùi trong núi đá. Dùng thuốc nổ phá đá, lấy xác đồng đội ư? Chúng tôi cũng cân nhắc hết mọi giải pháp. Có thể mất mấy tấn thuốc nổ. Nhưng điều thiêng liêng nhất là liệu thi thể anh em còn nguyên vẹn?... Seng Phan, ATP tắc - hai trục vượt khẩu đường 20 và 128 tắc gần một tháng đã dồn Bộ Tư lệnh 559 đến chân tường. Một ngày không dưới năm lần anh Nguyên, anh Chiêm, anh Nguyễn Lang gọi điện xuống nắm tình hình, hối thúc chúng tôi. Rồi dường như không thể chờ đợi hơn được nữa, có lần anh Nguyên nói rất gay gắt qua điện thoại: - Các anh có làm được không, để tôi cho người khác thay. Nguy kịch lắm! Tôi vừa từ đường 20 về. Xe vào chờ đường đỗ la liệt ở Cà Roong, dễ làm mồi cho máy bay lắm. Lúc này không giải tỏa Seng Phan và ATP là có tội lớn với bộ đội, với chiến trường... Tôi nghẹn ngào nhưng cũng tỏ ra rắn rỏi trả lời: - Báo cáo anh, thay ai là quyền của anh. Với chúng tôi, tư tưởng, quyết tâm chiến đấu bất di bất dịch là đánh địch, mở đường mà đi, mở đường mà vận chuyển chi viện chiến trường. Nhưng anh cho phép chúng tôi gắng tìm giải pháp tối ưu, giải tỏa được trọng điểm mà mình đỡ thương vong. Địch đánh dữ quá, không ngày nào tại trọng điểm không có người hy sinh. Vừa rồi thôi, địch đánh sập hang núi, 12 đồng chí của chúng tôi hy sinh, không lấy được xác. Khó khăn thật, nhưng đảm bảo với anh chúng tôi sẽ khắc phục được. Dường như thấu được khó khăn cũng như thấu được "ruột gan" của cấp dưới, anh Nguyên nói khẽ hơn, trầm hẳn xuống như để chúng tôi hiểu mà thông cảm: - Cả hai trục vượt khẩu tắc gần tháng rồi. Bộ Tư lệnh rất lo lắng. Có ý kiến đề xuất nên tìm đường tránh, tạm quay về với phương thức gùi thồ để đưa hàng vượt trọng điểm. Thủ trưởng Bộ Quốc phòng cũng đã tính tới khả năng đó. - Vậy ý anh thế nào? - Tôi hỏi. - Tôi chưa đồng ý - Anh Nguyên nói, làm như vậy là thua địch, cũng như trước đây tôi đã có lần khẳng định nếu chỉ gùi thồ thì hàng chuyển vào không đủ nuôi mình, chứ đừng nói tới chi viện chiến trường. Tôi tin Binh trạm 31 và Binh trạm 32 nhanh chóng khắc phục được khó khăn. Rồi bằng giọng trầm hẳn lại, anh nói: "Đồng chí Nguyễn Trọng Bách (thư ký của anh Nguyên), một cán bộ trẻ có năng lực đi công tác, vướng bom nổ chậm, hy sinh ở Chà Là, trên đường 20". Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:06:53 pm Lại những ngày, tôi cùng anh Nguyễn Văn Ký và anh em công binh "đội bom đạn", trèo đèo, lội sông tìm đường tránh để vượt Seng Phan. Lúc này đã gần giữa mùa khô, mực nước con sông chảy qua đây rất thấp. Bom đạn địch lại bứng cả nghìn khối đất đá lấp cạn nhiều quãng sông. Sau khi nghiên cứu kỹ địa hình, chúng tôi quyết định mở hai đường chéo vượt sông, tránh các đoạn đường sát chân núi đá, để xe vượt nhanh chóng, khi địch đánh trúng, cũng dễ khắc phục.
Dọc đường từ sở chỉ huy về binh trạm, tôi nói vui với anh Ký. "Cái khó ló cái khôn", địch đánh làm tắc đường, nhưng cũng giúp ta lấp sông mở đường tránh. Khi chúng tôi trình bày phương án mở đường tránh vượt sông, anh Đặng Ba rất phấn khởi và quyết định triển khai ngay. Để mở đường tránh trong tình hình vô cùng khẩn trương, không thể chỉ có sức người với vài thứ dụng cụ thô sơ, mà phải huy động cả máy ủi, cho dù địa hình hẹp, phức tạp, địch lại đánh dữ. Bởi vậy, ngoài hầm để người tránh bom, chúng tôi còn chỉ đạo công binh làm gấp mấy hầm chữ A cho xe ủi. Liền đó, chúng tôi tập trung lực lượng thiện chiến nhất, phương tiện thi công tốt nhất để làm đường. Trung đội công binh do Hoàng Hữu Thanh1 (Năm 1971, đồng chí Hoàng Hữu Thanh được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) phụ trách đã vật lộn đêm ngày với đất đá, san lấp hố bom, lấp sông, giành giật với địch từng thước đường. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 25 công binh Nguyễn Bửu Ký, Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Phiên ngày đêm bám trọng điểm cùng anh em tìm mọi phương cách thi công dưới tầm bom đạn địch, đạt hiệu quả cao, tránh được thương vong. Dù lực lượng ít, nhưng thiện chiến và tổ chức thi công hợp lý, nên chỉ sau hơn hai ngày đêm, đường tránh từ bắc Seng Phan đến Xóm Péng dài 10 cây số đã hoàn thành. Rồi giây phút mà chúng tôi nóng lòng chờ đợi, giây phút đánh đổi bởi bao máu xương, mồ hôi, nước mắt của những người lính đã đến. Chiều ngày 25 tháng 11 năm 1968 trọng điểm Seng Phan được giải tỏa. Đúng 5 giờ chiều - đúng hơn là chỉ chờ cho mặt trời khuất sau mấy ngọn núi phía tây, ba phát súng lệnh nổ vang. Lệnh "Vượt trọng điểm!" của binh trạm trưởng vang lên, đội hình gầm 100 xe của Tiểu đoàn 101 chất nặng hàng nhanh chóng lao qua trọng điểm an toàn. Nhìn những chiếc xe lao đi, nhòa dần trong ánh chiều đỏ lựng, anh Đặng Ba ôm chầm lấy tôi và anh Kỷ. Nước mắt anh rơi ấm vai tôi. Tin Seng Phan giải tỏa xong, gần một trăm chiếc xe vượt trọng điểm an toàn được báo ngay về Bộ Tư lệnh. Các anh trong Bộ Tư lệnh mừng tột độ. Anh Nguyên biểu dương Ban chỉ huy binh trạm cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ đã cố gắng hết mình vì mạch máu giao thông thông suốt, vì sự sống của tuyến đường. Vừa từ cơ quan xuống đơn vị, nhưng thực tiễn giải tỏa trọng điểm Seng Phan, giúp tôi ý thức được rằng: Tổ chức vận chuyển, bảo đảm giao thông trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, đòi hỏi việc tổ chức thế trận cầu đường, bố trí lực lượng đánh địch; tổ chức bốc xếp hàng hóa, chuẩn bị mọi mặt cho xe phải thật tỉ mỉ, chu đáo. Quan hệ điều hành chỉ huy từ Bộ Tư lệnh 559 đến chỉ huy binh trạm, xuống tới các đơn vị phải bảo đảm chặt chẽ; hệ thống thông tin đa phương tiện. Hữu tuyến, vô tuyến điện, đặc biệt là thông tin tải ba phải luôn thông suốt đến từng trận địa pháo phòng không, từng trạm chỉ huy giao thông, các trạm quan sát máy bay địch. Binh trạm chỉ huy trực tiếp hoạt động vận tải. Từ kế hoạch trong ngày đến bốc xếp hàng, tập kết xe, vận chuyển trên đường, vượt trọng điểm, đổ hàng (giao hàng)... đều được chỉ huy binh trạm nắm rất chắc, cụ thể qua báo cáo của cán bộ chỉ huy đơn vị bằng bộ đàm, hoặc qua trạm chỉ huy giao thông. Việc tổ chức cấp cứu xe hoặc do địch đánh, hoặc đổ rệ, giải quyết tắc đường, cấp cứu người bị thương... luôn được bố trí chu đáo, nên những tình huống xảy ra đều được xử trí kịp thời. Chừng 10 ngày sau khi Binh trạm 31 giải tỏa Seng Phan, Binh trạm 32 cũng giải tỏa được tập đoàn trọng điểm ATP. Vậy là âm mưu của địch tập trung đánh phá hòng hủy diệt khu vực cửa khẩu đã thất bại hoàn toàn. Từ khi khai thông trọng điểm Seng Phan, dù địch vẫn tiếp tục đánh phá với cường độ không giảm - không chỉ đánh tập trung vào 2 cây số men theo chân núi đá mà còn đánh suốt 10 cây số chiều dài trọng điểm; nhưng không còn thế độc đạo nên vận chuyển không bị ngưng, địch đánh đường chính ta đi đường tránh và ngược lại. Công binh túc trực khắc phục kịp thời. Đêm đêm xe vẫn vào ra đều đều. Có những ngày địch đánh suốt chiều dài trọng điểm, sườn núi sụt lở một khối lượng đất đá rất lớn. Anh em công binh có khẩu hiệu: "Hạn chế tắc giờ, không để tắc đêm". Tuy vậy có đêm phải gần bốn giờ sáng mới thông đường. Có mặt tại hiện trường lúc đó, anh em chúng tôi như đứng ngồi trên lửa. Trời gần sáng, trong khi gần một trăm chiếc xe nặng hàng của Tiểu đoàn 101 do anh Phạm Văn Thi - Tiểu đoàn trưởng và anh Hoàng Hồ làm Chính trị viên chỉ huy dàn đội hình ở bắc trọng điểm, chờ lệnh thông đường. Quả là "tiến thoái lưỡng nan". Quay về thì trời sáng, mà xe chẳng kịp về tới bãi tập kết giấu xe, sẽ làm mồi cho máy bay Mỹ. Chỉ có vượt nhanh, họa chăng xe, hàng tới kho an toàn. Năm ba cái đầu chụm lại bên ngọn đèn hạt đỗ trong căn hầm chữ A trên trọng điểm, bàn đi, tính lại cuối cùng chúng tôi quyết định, bằng mọi giá phải cho xe vượt trọng điểm. Liền đó, Ban chỉ huy binh trạm lệnh cho công binh bám đường, túc trực cứu kéo kịp thời, các trạm chỉ huy giao thông phối hợp nhịp nhàng, lực lượng kho chủ động đón xe, bốc dỡ hàng nhanh gọn và đặc biệt pháo phòng không tập trung hỏa lực đánh địch, bảo vệ đội hình xe. Toàn Binh trạm hiệp đồng chặt chẽ, như một guồng máy, một dây chuyền mang tính công nghiệp. Đường thông, trời tảng sáng; cả đoàn xe vượt trọng điểm an toàn. Nhìn đoàn xe như lùm cây di động dần xa trọng điểm, anh Đặng Ba nhìn anh Kỷ và tôi, thở phào nhẹ nhõm. Cũng để tăng cường lực lượng đánh địch, bảo vệ vận chuyển, tháng 11 năm 1968, Bộ Tư lệnh bổ sung cho Binh trạm 31 Trung đoàn phòng không 84, trang bị pháo 37 và 57 ly. Trung đoàn trưởng là anh Nguyễn Văn Thành, Chính ủy là anh Phạm Trang. Anh Phạm Trang cùng quê với tôi. Trong Cách mạng tháng Tám, anh Phạm Trang là Chủ tịch huyện Đức Phổ; kháng chiến bùng nổ, anh tham gia quân đội và những ngày đầu kháng chiến đã là Chính trị viên tiểu đoàn. Bạn bè cùng quê, lại gặp nhau ở "tọa độ lửa", tình càng đậm. Chỉ huy sở Trung đoàn 84 đóng gần sở chỉ huy Binh trạm. Một phần lực lượng được bố trí bảo vệ khu kho 050 và trục đường bắc Seng Phan; một tiểu đoàn cơ động đánh địch, bảo vệ vận chuyển trên đường 12B. Cũng trên tuyến đường này, chúng tôi bố trí Trung đoàn 83 công binh do đồng chí Cường làm Trung đoàn trưởng, có nhiệm vụ bảo đảm giao thông, mở đường, chuẩn bị lắp đường ống xăng dầu vào bắc Xóm Péng. Từ tháng 12, hoạt động vận chuyển nhịp nhàng, hiệu quả hơn. Ban chỉ huy binh trạm quyết định đưa Tiểu đoàn 2 công binh vào thay một phần vị trí đảm trách của Tiểu đoàn 25 - quãng từ 050 vào bắc Seng Phan; để Tiểu đoàn 25 tập trung cho quãng từ Seng Phan vào nam Pác Pha Năng. Về lực lượng vận tải, chúng tôi sử dụng cả hai tiểu đoàn ô tô 101 và 990 chạy theo đường 128 qua Seng Phan vào giao hàng cho Tiểu đoàn 53 tại Xóm Péng, còn Tiểu đoàn 53 chuyển hàng từ đó vào giao cho Binh trạm 32 ở Lùm Bùm - bắc đường 9. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:07:35 pm Trong chiến đấu trên Tuyến 559, tư tưởng tiến công được quán triệt vận dụng vào từng binh chủng với những nội dung cụ thể khác nhau. Với nguyên tắc lấy bộ đội vận tải cơ giới làm trung tâm, các binh chủng khác có nhiệm vụ chiến đấu bảo đảm cho xe chuyển hàng ra phía trước, nên tư tưởng tiến công của bộ đội phòng không là "quay nòng pháo theo bánh xe lăn, bảo vệ xe, bảo vệ hàng, bảo vệ trọng điểm, đánh tiêu diệt, bám trụ trọng điểm".
Nhưng với Trung đoàn phòng không 84, do mới vào tuyến, anh em vẫn trung thành với tư tưởng chỉ đạo đánh tiêu diệt của Quân chủng Phòng không - Không quân. Do đó, khi giao nhiệm vụ cơ động pháo theo đội hình xe vận chuyển để đánh địch, thì một số anh em phần vì chưa thật thông suốt, phần vì chưa quen, nên hiệu suất chiến đấu thấp. Chỉ khi chứng kiến Tiểu đoàn 14 và Tiểu đoàn 6 phòng không của Binh trạm đánh tốt, bắn rơi nhiều máy bay địch, bảo vệ trọng điểm, kho tàng và đội hình xe vận chuyển, chỉ huy Trung đoàn 84 mới chịu. Kết thúc thắng lợi nhiệm vụ mùa khô 1968-1969, trong buổi họp mặt để chia tay Trung đoàp 84, Ban chỉ huy Trung đoàn 84 hoàn toàn nhất trí với chúng tôi về tư tưởng tiến công và cách đánh tiêu diệt địch, mỗi chiến trường có nhiệm vụ và cách đánh riêng, phù hợp với đặc điểm chiến trường đó. Đối với hai tiểu đoàn cao xạ trực thuộc, trước khi về Binh trạm 31, Tiểu đoàn 14 chiến đấu hiệu suất chưa cao. Nhưng do nhanh chóng rút kinh nghiệm, đơn vị đã đánh tốt, thắng giòn giã, bắn rơi 15 máy bay trong một mùa khô, bảo vệ được xe, kho tàng. Tiểu đoàn 6 cao xạ cũng nhanh chóng "nhập cuộc" và từng bước làm chủ tình hình. Vào một ngày đầu tháng 12 năm 1968, tôi cùng một vài cán bộ tham mưu của Binh trạm xuống nắm tình hình chiến đấu của Tiểu đoàn 6. Sở chỉ huy tiểu đoàn đóng trên một đỉnh đồi ở giữa đội hình ba đại đội đang bảo vệ đội hình vận tải, kho 49, cung đường phía nam Seng Phan và Sở chỉ huy binh trạm (lúc này Sở chỉ huy binh trạm đã chuyển vào một dãy núi có nhiều hang động, cách kho K49 chừng 2 cây số, gần trục đường 128). Chúng tôi xuống tới Sở chỉ huy tiểu đoàn đúng vào lúc máy bay trinh sát của địch phát hiện được trận địa của Đại đội 1, đang chỉ điểm cho bọn cường kích tiến công, hòng "hót sạch" trận địa pháo. Mặc dù trận địa pháo Đại đội 2 và Đại đội 3 chưa bị lộ nhưng nếu cứ "án binh bất động", để bảo toàn lực lượng, chắc chắn địch sẽ "xơi" gọn Đại đội 1. Không chần chừ, qua trao đổi chớp nhoáng, tôi chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Văn Tú - Tiểu đoàn trưởng lệnh cho Đại đội 2 và Đại đội 3 tập trung hỏa lực phối hợp đánh địch. Đồng thời, tôi điện ngay về sở chỉ huy binh trạm đề nghị anh Đặng Ba cho khẩu cao xạ 100 ly chốt ở khu vực Na Tông đánh hỗ trợ. Gặp hỏa lực pháo 57 ly, 100 ly đánh khá dữ, từng tốp F4, F5 không dám bổ nhào thấp, phải dãn ra, ném bom ở tầm cao, xác suất trúng mục tiêu rất thấp. Có đợt, bom rơi trúng trận địa pháo, khói bụi trùm kín một vùng. Từ trên đài chỉ huy tôi không khỏi lo ngại. Hỏng rồi. Nhưng, khi máy bay địch bổ nhào tiếp, thì từ trong đám khói đen đặc đó, từng chùm đạn pháo vọt lên loang loáng, tiếng nổ gọn, đanh. Thật cảm phục tinh thần chiến đấu quả cảm của những người lính phòng không. Với trận đánh đó, Tiểu đoàn 6 bắn rơi hai máy bay. Ta hy sinh hai, bị thương ba đồng chí, hỏng hai khẩu pháo 37 ly. Nhưng cũng tại trận địa này, trong một trận chiến ác liệt sau đó, đồng chí Tú - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 đã anh dũng hy sinh trên đài chỉ huy. Được tin Tiểu đoàn báo về, anh Đặng Ba và tôi lặng người, tiếc thương vô hạn một cán bộ tiểu đoàn dũng cảm, năng động và sống rất mực tình cảm, trách nhiệm với đồng chí, đồng đội. Thực tiễn chiến trường từ cuối năm 1968 đúng với những nhận định của Bộ Tư lệnh 559, từ đầu mùa khô: địch gần như dồn hết đạn bom để hòng hủy diệt, chặn các tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Mọi thành tựu của nền khoa học công nghệ quân sự phi nhân tính của Hoa Kỳ đã được thực nghiệm ở Trường Sơn - Việt Nam lúc này. Không chỉ bom tấn, bom tạ, chất độc khai quang, mà cả hàng tá kiểu loại mìn để sát thương con người hiệu quả nhất đã được địch rải dày trên từng trọng điểm, từng lối mòn. Có lần địch thả mìn vướng dày đặc, vây chặt cả đại đội cao xạ trên đỉnh đồi. Là loại mìn mới, anh em chưa hề tháo gỡ, hễ đụng tói là thương vong. Chỉ khi Ban chỉ huy binh trạm phái công binh tới "giải tỏa", bộ đội mới có đường xuống suối lấy nước. Hoạt động trinh sát của địch bằng máy bay cũng vô cùng lợi hại. Máy bay OV10, OV2, C130 của địch thay nhau quần lượn vè vè suốt ngày, giương những cặp mắt cú vọ, xoi mói, lùng sục các khu vực tác nghiệp, kho tàng, trạm bãi giao liên của ta. Chỉ mấy tháng mùa khô này mà Sở chỉ huy binh trạm đã không ít lần trúng bom. Khi sở chỉ huy ở trong hang Na Tông đã mấy lần dính bom ở bên cạnh, thậm chí có lần bom nổ nóc hang, nhưng may không sập; sau khi chuyển vào gần khu kho K49 cũng bị đánh mấy lần, song thương vong rất ít. Duy nhất một lần, thượng úy Nguyễn Văn Bé vừa đi công tác về bị bom phạt đứt hai chân. Toàn bộ y, bác sĩ của binh trạm tập trung cứu chữa, giành giật với tử thần mạng sống của đồng đội. Sau ba lần phẫu thuật, phải cắt gần hết đùi cả hai chân mới cứu sống được Bé. Cán bộ, chiến sĩ cơ quan binh trạm góp nhóp từng con gà, chim rừng, hầm kỹ lấy nước để nuôi anh. Hôm chuyển anh về tuyến sau không ai trong chúng tôi cầm lòng nổi khi nghe Bé nói: Anh quyết sống một phần vì anh và một phần vì nghĩa tình đồng đội. Địa phận thuộc Tiểu đoàn 27 công binh phụ trách (trục đường 128 từ ngã ba Xóm Péng vào Lùm Bùm và đường 129 vào kho K3 - Binh trạm 32), mặc dầu cường độ đánh phá của địch không dữ như khu vực 050, Seng Phan, Pác Pha Năng - nơi Tiểu đoàn 25 công binh và Tiểu đoàn 2 công binh phụ trách; nhưng cũng vô cùng ác liệt. Bom từ trường, bom nổ chậm, mìn vướng, mìn lá nhan nhản dọc các trục đường, trong rừng; dày đặc ở những cao điểm, bến vượt sông suối, những nơi mà chúng nghi ta trú quân hoặc có kho tàng. Vì bom mìn dày đặc và kẻ địch thường xuyên cải tiến, "nâng cấp" các sản phẩm giết người này, nên chúng ta gặp không ít khó khăn, thương vong. Sau khi tìm được nguyên lý gây nổ, anh Chu Thế Kỳ - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 đã trực tiếp cùng một tổ công binh dùng gậy, sào chọc cho mìn vướng nổ và nhặt mìn lá tập trung lại đốt. Qua nghiên cứu, tìm hiểu các thủ đoạn đánh phá, ngăn chặn của không quân Mỹ, chúng tôi thấy: Nếu như mùa khô trước, địch chủ yếu đánh bằng bom phá, bom sát thương, bom bi, thì mùa khô này, địch sử dụng phổ biến các loại bom nổ chậm, bom từ trường, mìn vướng nổ, mìn lá, mìn "răng rồng". Thủ đoạn đánh phá của chúng là ném bom phá, hủy hoại đường trước; tiếp đó thả bom bi, bom từ trường và cuối cùng là mìn vướng, mìn lá... nhằm cản trở ta khắc phục hậu quả đánh phá, ngăn cản đội hình xe, gây sát thương lớn cho ta. Đặc biệt nguy hiểm lúc này là địch rải dọc các trục đường, khắp các triền rừng hàng vạn khí tài trinh sát điện tử, gồm các loại cảm ứng âm thanh có dù với tên gọi là Spike bouy; máy cảm ứng địa chấn có bộ ăng ten râu giống như cây thông, được gọi là "cây nhiệt đới", thả cắm xuống đất lẫn với cây rừng để thu chấn động của đất và máy cảm ứng hỗn hợp cả âm thanh và chấn động có tên là Acousid, khi rơi xuống thường vướng vào cành cây. Các loại khí tài này khi bắt được mục tiêu, lập tức phát tín hiệu báo cho máy bay đến đánh. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:09:05 pm Theo hướng dẫn của cơ quan kỹ thuật công binh, chúng tôi đã chỉ đạo, tổ chức cho anh em dò tìm và áp dụng mọi phương cách để phá bom mìn, ví như dùng khung dây phá bom từ trường, chọc nổ mìn vướng, gom đốt mìn lá...
Giúp Bộ đội Trường Sơn khắc phục - phá các loại khí tài giết người tối tân của địch, Nhà nước, Bộ Quốc phòng đã tung vào tuyến một lực lượng khá đông đảo các nhà khoa học kỹ thuật quân sự, chủ yếu là cán bộ Viện Kỹ thuật Quân sự - các anh Hoàng Đình Phu, Hoàng Đức Dụ, Chử Ngọc Bích, Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng... Đầu năm 1969, Bộ còn đưa vào tuyến một khí tài phá bom từ trường do ta mới nghiên cứu chẽ tạo là xe phóng từ. Binh trạm 31 cũng được trang bị loại khí tài này. Khi xe phóng từ hoạt động ở những quãng đường thẳng, diện tiếp xúc rộng, xa thì hiệu quả phá nổ tốt. Nhưng ở trường hợp xe đi qua cua hẹp, từ bị cản, sự kích thích nổ hạn chế, bom có thể nổ gần, xe dễ bị hỏng và người dễ bị thương vong. Có lần tôi xuống Seng Phan kiểm tra tổ xe phóng từ phá bom từ trường ở trọng điểm này. Do địa hình phức tạp, anh em không cho tôi đi cùng xe mà chỉ đứng quan sát từ xa. Ở quãng đường thẳng, xe gây nổ liên tiếp mấy quả rất gọn ghẽ; nhưng vào cua hẹp, bất ngờ một tiếng nổ dữ dội, rất gần, hất xe văng ra xa chừng 5 mét. Tổ ứng cứu có mặt kịp thời, chúng tôi cùng lao đến. Rất may, người trong xe bị sây sát chút ít. Còn xe thì bị hất nghiêng, nắp buồng lái và đầu xe móp méo, dúm dó. Khi máy húc đến lật lại, xe từ lại hoạt động bình thường. Mấy anh em trong tổ lái mặt mũi nhom nhoem, nhìn chiếc xe, cười "thả phanh" và nói với tôi: Với bọn em, chuyện này như cơm bữa Chính ủy ạ. Chỉ buồn cười là xe của chúng em bây giờ giống hệt con lợn bị cắt tai... Ôi cái hồn nhiên, nghịch ngợm của những người lính trẻ Trường Sơn lúc đó mới quý làm sao! Tổ chức bảo đảm giao thông, tổ chức cho đội hình vận tải cơ giới vượt trọng điểm đèo dốc đã khó, nhưng đối với các ngầm, bến phà, nhiệm vụ đó càng khó khăn hơn. Bởi lẽ cùng một lượng bom đạn nhưng nếu trúng ngầm, sự hủy hoại sẽ gấp nhiều lần ở địa hình đèo dồc, và dĩ nhiên để khắc phục được đòi hỏi nhiều công sức hơn. Ở Binh trạm 31 có hai ngầm ở thượng và hạ lưu sông Pác Pha Năng là hai trọng điểm đánh phá của địch. Anh Nguyễn Bửu Ký - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 25 đã có sáng kiến làm cầu chìm dưới mặt nước chừng hơn nửa mét ở quãng sông tương đối rộng, mớn nước không lớn và tổ chức ngụy trang kỹ đường hai đầu cầu. Bởi vậy suốt mùa khô này, xe vẫn vượt sông bình thường mà máy bay trinh sát của địch không thấy cầu phà, bến vượt. Không thực hiện được âm mưu hủy diệt khu vực vượt khẩu, từ đầu năm 1969 địch chuyển sang đánh rộng ra toàn tuyến. Cường độ đánh phá của không quân địch ở địa bàn Binh trạm 31 có giảm so với trước, nhưng ở Seng Phan, khu vực 050, Pác Pha Năng... không ngày nào không có tiếng bom. Với Seng Phan, chỉ trong vòng hơn 100 ngày đêm đầu mùa khô này, máy bay địch đã đánh 1.972 trận, ném 125 nghìn quả bom. Cao điểm, trong một ngày, địch đã sử dụng 50 lần máy bay B-52 ném bom rải thảm - không kể cường kích đánh xen kẽ. Nếu chia đều cho lực lượng chốt giữ trọng điểm này, thì mỗi người lính phải hứng chịu trên 1.000 quả. Núi đồi có thể thành bình địa, sông Sê Băng Phai chảy qua đây có thể bị đất đá lấp đầy; cỏ cây bị khai quang..., nhưng những người lính Binh trạm 31 vẫn trụ bám kiên cường. Để rồi, đêm đêm những đoàn xe lại vượt trọng điểm tiến về Nam - tiến về phía trước theo ánh lửa được thắp lên từ trái tim những người lính Trường Sơn. Ở địa bàn trọng yếu của tuyến, ở những "cửa tử" này, không chỉ tập kích bằng đường không, kẻ địch còn cho biệt kích, thám báo, bộ binh đánh phá. Có lần địch đổ một lực lượng khá lớn biệt kích xuống dãy Phu Át có độ cao 1.000 mét, nằm ở tây bắc huyện Lằng Khằng, trinh sát hoạt động của ta, vừa chỉ điểm cho máy bay, vừa phối hợp đánh phá ta. Phát hiện hoạt động của địch, chúng tôi kịp thời lệnh cho Đại đội 1 bộ binh trực thuộc Binh trạm phối hợp với lực lượng vũ trang bạn Lào truy lùng diệt gọn. Cùng với hoạt động trinh sát đường không, lực lượng biệt kích, thám báo của địch săn tìm vị trí đặt sở chỉ huy, kho tàng, bãi giấu xe, trận địa cao xạ... cũng gây cho ta vô vàn khó khăn. Địa bàn từ Cổng Trời (khu vực 050) đến ngầm Na Tông dài chừng 25 cây số, rộng từ 7 đến 8 cây số là khu rừng rậm, xen kẽ núi đá có nhiều hang động, đã được Bộ Tư lệnh 559 cho xây dựng thành khu kho cơ bản có sức chứa từ 5.000 đến 10.000 tấn hàng và là nơi trú đậu từ một đến hai tiểu đoàn xe. Vì vậy địch tập trung mọi lực lượng, phương tiện soi mói, săn lùng, đánh phá. Có lần địch đánh vào giữa cánh rừng già. Có lần, phát hiện xe của Binh trạm 12 từ 050 vào trả hàng muộn, chúng tập trung máy bay đuổi đánh, xe cháy, hàng cháy. Sau lần đó, chúng đánh khu kho 050 hàng tuần liền, đánh sập một hang núi chứa 1.000 tấn vũ khí, đạn. Binh trạm tập trung lực lượng đào bới gần nửa tháng mới lấy hết số súng đạn đó. Được tin, Bộ Tư lệnh 559 cử Tham mưu trưởng Nguyễn Lang trực tiếp chỉ đạo củng cố kho tàng. Và cũng chính những ngày lưu lại khu kho 050, anh Nguyễn Lang dính B-52 rải thảm. May mắn là bom nổ gần hầm anh trú, lấp cửa hầm, nhưng anh em moi, đưa anh lên kịp. Trong chiến đấu, đặc biệt là chiến đấu với kẻ thù là đế quốc Mỹ, chuyện thắng và tổn thất là chuyện thường; cũng như trong lãnh đạo, chỉ huy có đúng, có sai là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu thiếu sự hiệp đồng giữa các lực lượng, các đơn vị - đặc biệt là sự phối hợp, hiệp đồng giữa các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cấp binh trạm (trung đoàn) trở lên để cùng hoàn thành nhiệm vụ chung, thì vô tình sẽ gây khó khăn cho nhau, thậm chí gây thiệt hại về người và vật chất. Mùa khô này, Binh trạm 12 thuộc Bộ Tư lệnh 500 có nhiệm vụ chuyển hàng giao cho Binh trạm 31 chúng tôi ở cung độ sâu hơn. Đây là quyết định đầy tính thiện chí của Tổng cục Hậu cần và Bộ Tổng Tư lệnh, nhằm "chia lửa", vơi đỡ một phần cho Bộ Tư lệnh 559. Nhưng lúc này Binh trạm 31 đang bị địch đánh vô cùng ác liệt. Hầu như các trục đường, kho tàng, sở chỉ huy, bãi giấu xe... đều bị máy bay địch oanh tạc. Người cũng như xe bị tổn thất, việc vận chuyển hàng lên phía trước cho Binh trạm 32 bị ngưng trệ. Toàn Binh trạm 31 đang đồn sức tháo gỡ ách tắc, đặc biệt là giải tỏa trọng điểm Seng Phan. Nhận thông báo của trên, chúng tôi báo cáo ngay lên Bộ Tư lệnh đề nghị Binh trạm 12 tạm ngừng chuyển hàng vào. Khi nào đường thông, tình hình khá hơn, chúng tôi sẽ tiếp nhận không hạn chế. Nhưng rồi có thể đề đạt của chúng tôi không thấu tới đơn vị bạn, hoặc do ở tuyến ngoài, Binh trạm 12 không bị địch đánh dữ, nên vẫn tới tấp chuyển hàng vào. Thường thì thấy hàng vào nhiều, cán binh đều vui, nhưng lúc này anh em chúng tôi như đứng ngồi trên than, trên lửa. Do không đủ kho, hang để nhập, anh em lái xe cứ đổ hàng xuống hai bên đường... Hậu quả là bị địch đánh cháy khá nhiều. Việc anh Nguyễn Lang xuống trực tiếp kiểm tra Binh trạm 31, một phần cũng vì chuyện đó. Kết thúc mùa khô 1968-1969, Binh trạm 12 vẫn được biểu dương là hoàn thành tốt nhiệm vụ, đẩy nhiều hàng lên phía trước. Được tin đó, tôi cảm thấy xót xa. Trách nhiệm để tổn thất hàng, một phần thuộc về mình, đơn vị mình. Một hạt gạo, viên đạn vào tới cửa khẩu cũng đã đánh đổi bao mồ hôi xương máu của người hậu phương, của những chiến sĩ trên tuyến vận tải; để rồi lại thành tro, thành lửa. Nhưng, trong tổn thất, nguyên do chính là "tự ta làm khó cho mình". Một dây chuyền cần sự vận hành thống nhất, chúng ta lại tạo nên những nhát cắt không cần thiết. Kéo dài sự tồn tại Tuyến 559 độc lập với Tuyến 500, dĩ nhiên là nguyên cớ sâu xa cho việc thiếu đồng bộ, gây tổn thất đáng kể này. Cũng vì lý do đó, chỉ một thời gian sau, Tuyến 500 được sáp nhập vào Tuyên 559, và những trục trặc như trên được khắc phục cơ bản. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:09:44 pm Một chiến công đáng kể của Binh trạm 31 trong mùa khô này là đã hoàn thành mạng đường ống xăng dầu từ Minh Hóa (Quảng Bình) vào tới Xóm Péng, nối dài tuyến đường ống chiến lược từ hậu phương miền Bắc vào địa bàn Tuyến 559, bảo đảm cung cấp xăng dầu cho Binh trạm và chuyển tiếp cho các binh trạm tuyến trong. Đây là tuyến đường ống đầu tiên trên địa bàn 559. Cuối năm 1969, Bộ Tư lệnh 559 lắp đặt tuyến đường ống thứ hai theo trục đường 18 từ Ra Mai, Pha Băng Nưa vào Bản Cọ, Sê Pôn (bắc đường 9). Ngày 22 tháng 12 năm 1969, đúng vào lễ kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên đã chủ trì lễ khánh thành tuyến đường ống thứ hai này. Từ thành công của hai tuyến ống ban đầu này, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh 559 quyết tâm hoàn chỉnh tuyến đường ống xăng dầu suốt tuyến trong những năm sau. Đưa đường ống xăng dầu vào tuyến, Bộ đội Trường Sơn có thêm một phương thức vận chuyển xăng dầu mới, hiện đại, thêm một binh chủng mới, khắc phục được tổn thất lớn về xăng dầu do phải sử dụng ô tô vận chuyển bằng phuy hoặc xi-téc. Đây là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm cho vận tải hàng hóa bằng cơ giới và cơ động binh chủng kỹ thuật quy mô lớn.
Cùng với lực lượng công binh, vận tải, phòng không..., góp phần làm nên thành tích của Binh trạm trong mùa khô này, còn phải kể đến những người lính giao liên. Bất chấp bom đạn, các trạm giao liên vẫn tổ chức đưa đón, đảm bảo cho bộ đội hành quân qua tuyến an toàn. Bộ đội đói, giao liên chưa được nghỉ. Bộ đội chưa có chỗ nghỉ, giao liên còn phải lo. Nhường thuận lợi cho bộ đội hành quân, nhận khó khăn, thiếu thốn về mình... là nét đẹp thầm lặng, sự hy sinh vô bờ bến của những cán bộ, chiến sĩ hậu cần, giao liên. Trên lĩnh vực phối hợp chiến đấu giúp bạn, Binh trạm 31 có nhiệm vụ giúp huyện Lằng Khằng, tỉnh Khăm Muộn và các xã có đường ô tô đi qua. Binh trạm tổ chức bốn đội công tác và một đại đội bộ binh phối hợp cùng bạn đánh địch, đồng thời giúp bạn xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang. Có thể nói, từ cuối năm 1964 - đầu năm 1965, khi ta chủ trương "lật cánh" sang tây Trường Sơn, phát triển vận tải cơ giới quy mô lớn, đường ô tô "xẻ dọc, rọc ngang" đã có không ít bản Lào dành nương vườn cho bộ đội Việt Nam mở đường, lập tuyến. Dân bạn lại bồng bế, dắt díu nhau tìm lập bản mới. "Lửa thử vàng" - càng trong khó khăn mới thấy sáng lên tình nghĩa thủy chung son sắt Việt - Lào. Để đáp lại nghĩa tình của bạn, ngoài phối hợp với cán bộ huyện giúp bạn xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở, đánh địch, chúng tôi còn giúp bạn tổ chức sản xuất, cung cấp hạt giống, đỡ đần một phần gạo, muối... khi bạn gặp khó khăn; chữa bệnh cho dân... Chính nhờ sự phối hợp chặt chẽ này mà bạn đã giúp chúng tôi kịp thời phát hiện, tiêu diệt lực lượng biệt kích, thám báo của địch đổ xuống dãy Phu Át. Trong giúp bạn xây dựng cơ sở, mùa khô này, một tổ công tác của Binh trạm đã phát hiện Sao Đi - một thiếu nữ Lào bị bệnh phong. Trước sức ép của tập tục ác nghiệt, nặng nề của bản làng, của địa phương, gia đình buộc phải đưa Sao Đi vào sống biệt lập ở trong rừng. Khi hai chiến sĩ của ta bắt gặp, Sao Đi đã như người rừng, mình vấn lá cây, thịt da lở loét. Mặc dù bị cô phản ứng quyết liệt, nhưng anh em gắng sức thuyết phục, báo cho quân y sĩ của binh trạm, của Tiểu đoàn 25 công binh gắng sức nuôi dưỡng, chạy chữa. Và từ cõi chết, Sao Đi đã trở về với tuổi xuân tràn trề sức sống. Cô được học chữ, được học nghề y. Khi Sao Đi trở về bản, ngươi thân trong gia đình không tin là sự thật, ngõ là "bóng ma - hồn thiêng" của cô hiện về. Sau này Sao Đi trở thành một cán bộ cấp huyện giỏi của huyện Lằng Khằng. Báo Trường Sơn, cùng với một vài phương tiện thông tin đại chúng của ta hồi đó cũng có đề cập đến câu chuyện Sao Đi. Với mùa khô này - mùa khô khốc liệt nhất ở cửa khẩu, biết bao công việc phải lo, phải làm, để những trăm, nghìn... quân vào chiến trường, để hàng nghìn tấn hàng ra phía trước, nhưng chúng tôi vẫn tổ chức đội văn nghệ biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sĩ binh trạm; động viên cắc đơn vị chăm lo đời sống tinh thần cho bộ đội. Chỉ có thể sống trọn, sống cùng những người lính một thời lửa đạn, bi hùng ngày ấy, nơi ấy, mới hiểu được phần nào mấy chữ "tiếng hát át tiếng bom". Thời gian tôi ở Binh trạm 31, có một số đoàn văn công Trung ương và của tỉnh Quảng Bình vào phục vụ bộ đội, thanh niên xung phong. Nhiều nhà báo, nhà văn từ hậu phương vào đưa tin, lấy chất liệu thực tiễn để sáng tác; Tổng cục Chính trị cử một tổ làm phim do đồng chí Xuân phụ trách vào công tác. Tôi đã trực tiếp dẫn tổ làm phim xuống Seng Phan, ghi được một trận địch đánh trọng điểm bom rơi, lửa đạn ngùn ngụt, cây cối ngổn ngang tưa tướp, sườn núi sụt lở... và sau đó là cảnh công binh phá bom nổ chậm, khắc phục hậu quả... Hoạt động văn hóa, văn nghệ không thể nói là phong phú, đa dạng, nhưng cũng lắm kiểu. Tuy vậy xúc động nhất vẫn là những buổi "diễn" của đội văn nghệ binh trạm. Diễn viên là những người lính công binh, những nam nữ thanh niên xung phong gạt vội bùn đất trên đầu, trên mặt, không son phấn; trang phục chỉ là bộ quân phục tươm tất, lành lặn mà thôi. Sàn diễn là bãi trú quân. Diễn viên, khán giả không ranh giới. Từ những "sàn diễn" đó, biết bao khúc ca, bài thơ vừa bốc lửa, vừa đượm tình đã gây xúc động cho người nghe, như: Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Bài ca Trường Sơn... "Diễn viên" cùng khán giả rất mê những bài hát, bài thơ của chính người lính Trường Sơn; ví như: Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Niềm vui bám trụ của Trọng Khoát... Đặc biệt bài thơ "Nghe tiếng bom ở Seng Phan"'của anh Phạm Tiến Duật, thực sự gây xúc động mạnh, bởi anh đã nói hộ tâm trạng, ý chí, cốt cách... của những chủ nhân Seng Phan, của những người lính Trường Sơn trong mấy vần thơ ngắn ngủi: "... Tôi đến gần Seng Phan Nghe cây ào ào đổ Cốc chén chẳng nằm yên Lung lay cả ngọn đèn Tiếng bom như tiếng thú. Tôi đứng giữa Seng Phan Cao hơn tiếng bom là khe suối, tiếng đàn Tiếng mìn công binh phá đá. Tiếng điếu cày rít lên thong thả Tiếng oai phong, xe rú máy trên đường. Thế đấy giữa chiến trường, Tiếng bom nghe rất nhỏ...". Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:10:27 pm Vậy là từ tháng giêng năm 1969, hệ thống đường sá thuộc Binh trạm 31 quản lý thông suốt, bảo đảm xe vận tải chạy liên tục, giao hàng cho Binh trạm 32 và các hướng chiến trường vượt chỉ tiêu kế hoạch. Đặc biệt trong hai tháng 3 và 4 thực hiện chiến dịch vận chuyển đột kích do Bộ Tư lệnh 559 phát động, các lực lựợng đều hoạt động đạt hiệu quả cao. Bộ đội kho, công binh trong gần sáu chục ngày đêm của chiến dịch, bám hàng, bám đường; không khí như ngày hội, lập công cao, bù lại những lúc tắc đường. Anh em lái xe, những "chiến mã Trường Sơn", không chờ lệnh trên, chủ động đăng ký tăng cung, vượt chuyến. Lính lái yêu cầu Ban chỉ huy binh trạm lệnh cho các lực lượng khác, đặc biệt là bộ phận kho bốc dỡ hàng nhanh để anh em có đủ thời gian vượt cung, tăng chuyến.
Trong chiến đấu, công tác vô cùng khẩn trương, ác liệt, thường xảy ra những chuyện khúc mắc thuộc quan hệ nội bộ, quan hệ cán bộ, chiến sĩ. Nhưng cũng qua những "sự cố rất đời thường, đã xuất hiện những việc làm, những gương sáng tạo được cảm tình, uy tín lớn đối với đồng chí, đồng đội. Ở binh trạm bộ lúc đó, có nữ nhân viên tài vụ Hoàng Thị Vân, quê Hà Tĩnh. Với vốn học vấn tốt nghiệp cấp II, tác phong nhanh nhẹn, tháo vát, Vân được phụ trách tài vụ cơ quan binh trạm, được bầu là tổ trưởng phụ nữ cơ quan. Do công tác ở địa bàn chiến sự thường xuyên diễn ra hết sức ác liệt; nam nữ thanh niên xung phong đều được tổ chức và sinh hoạt như bộ đội. Tuy vậy, với đặc thù có đông nữ thanh niên xung phong, chúng tôi tổ chức thành các tổ phụ nữ, tạo điều kiện thuận lợi cho chị em trong sinh hoạt, công tác và giúp đỡ lẫn nhau, đề xuất với cấp chỉ huy những khó khăn của chị em... Là người phụ trách tài vụ, cô Vân thực hiện nghiêm túc chặt chẽ yêu cầu chuyên môn, không thâm hụt, nhưng vẫn bảo đảm được chế độ tiêu chuẩn của bộ đội. Sau vài năm công tác, Vân đã được kết nạp vào Đảng. Sống giữa chiến trường khốc liệt, con gái "chân yếu tay mềm" là đối tượng để anh em yêu quý, chiều chuộng. Nhưng có một số anh em đôi khi trêu chọc quá đà, dẫn tới có biểu hiện thái quá! Những trường hợp đó thường được phản ánh với tổ trưởng phụ nữ, để tổ trưởng có ý kiến với lãnh đạo, chỉ huy. Nhiều lần, cô Vân gặp tôi báo cáo những chuyện như vậy, và đề nghị chấn chỉnh số anh em có biểu hiện thái quá trong ứng xử với chị em. Để ý, thấy cô chỉ báo cáo tôi, chứ không là ai khác, tôi thân mật hỏi: Tại sao đồng chí chỉ trình bày những chuyện này với tôi? Tại sao không báo Binh trạm trưởng, Tham mưu trưởng? Không một chút ngần ngại, Vân trả lời: Vì chú là Chính ủy! Ôi! Thật giản đơn - mà cũng chí lý. Với chị em, Chính ủy luôn là người mẫu mực, khuôn thước nhất. Chỉ một vài chuyện nhỏ nhoi vậy thôi, nhưng cũng gợi nhắc tôi rằng cán bộ, chiến sĩ nói chung và chiến sĩ gái luôn tin tưởng người cán bộ làm công tác đảng, công tác chính trị. Cũng vì thế, mỗi lần chị em phản ảnh, tôi thường nhắc nhở anh em, kể cả gặp trực tiếp những người cần gặp, góp ý chân tình để đồng chí mình sửa chữa. Và dĩ nhiên, quan hệ giữa anh chị em ngày càng "yên ấm" hơn. Hai tháng vận chuyển đột kích, rồi tổng công kích kết thúc trong niềm vui tột đỉnh. Binh trạm 31 vinh dự được Bộ Tư lệnh 559 trao cờ thưởng luân lưu "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Bác Hồ - một phần thưởng đã bao lần anh em chúng tôi thầm ao ước, nhưng không nghĩ là có ngày mình có được. Kết thúc chiến dịch, tôi thay mặt Ban chỉ huy binh trạm về Bộ Tư lệnh nhận phần thưởng, nhận nhiệm vụ mới. Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh, tháng còn lại của mùa khô Binh trạm 31 chỉ để Tiểu đoàn 53 tiếp tục chuyển hàng từ phía sau vào giao cho Binh trạm 32. Tiểu đoàn 990 cơ động vào tuyến trong và Tiểu đoàn 101 tăng cường cho Binh trạm 32 của anh Ngữ và anh Phan Hữu Đại. Tôi sẽ trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 101 chuyển hàng giao cho Binh trạm 33. Mùa mưa đã "gõ cửa". Thời gian không chờ đợi. Nhận nhiệm vụ xong, anh Ngữ, anh Đại và tôi về ngay đơn vị. Xe anh Đại và anh Ngữ đi trước, xe tôi tiếp sau. Sáng sớm thấy trời nhiều mây, trần mây thấp, nghĩ là khá an toàn, chúng tôi cho xe xuất phát. Nhưng xe chạy độ một giờ thì trời quang quẻ quá. Xe mình dễ làm mồi cho AC 130 mất! Tôi giục lái xe tăng tốc độ. Ở trục vượt khẩu này, tôi đã chứng kiến nhiều lần, ở đông Trường Sơn, trời mây vần vũ, u ám, cứ như sắp trút mưa xuống. Lái xe phấn khởi, ung dung lên đường. Nhưng vượt Cổng Trời, sang tây Trường Sơn, chao ôi một mẩu mây không còn!... Dù lái xe của tôi dấn ga liên tục, nhưng không kịp. Xe chúng tôi và xe của các anh Binh trạm 32 đều lọt vào tầm ngắm của máy bay AC 130 bám đuổi chúng tôi như thú dữ đói mồi. Đạn 40 ly vãi theo xe như trấu. Với chút kinh nghiệm đối phó nhiều lần với AC 130, tôi vừa quan sát máy bay địch vừa động viên lái xe tăng tốc, cố vượt ra khỏi khu vực địch đánh. Thùng xe thủng nhiều vết đạn; một lốp xe cũng dính đạn, lép kẹp; chân tôi cũng bị một mảnh đạn ghim vào, máu chảy đầm đìa. Cuối cùng, chiếc xe "thọt" của chúng tôi cũng lết được tới trạm chỉ huy giao thông. Anh Ngữ và anh Đại đến trước, đang sốt ruột chờ, thấy tôi lóp ngóp, cà nhắc từ trong xe ra, anh Đại cười nói: - Lo quá, phúc to bằng núi rồi, tôi cứ tưởng AC130 đã xơi tái các anh rồi! Để xe hỏng đây, lên xe về Binh trạm 32, quân y sơ cứu, kẻo "cái sảy nảy cái ung". Không còn cách nào khác, tôi đi nhờ xe anh Đại, anh Ngữ về Binh trạm 32. Tại đây, quân y sĩ khuyên phải về đội phẫu mổ lấy mảnh đạn, nhưng tôi biết mảnh đạn chỉ nằm ở phần mềm; nên nhờ anh em băng bó cẩn thận để còn kịp đi theo Tiểu đoàn ô tô 101. Biết xe tôi bị địch đánh hỏng, người bị thương, anh Nguyên, anh Chiêm lo lắng gọi điện hỏi thăm. Tôi báo cáo cụ thể để các anh yên tâm. Liền đó cùng Tiểu đoàn 101 tôi triển khai gấp nhiệm vụ Bộ Tư lệnh giao. Cũng phải hơn nửa tháng, vết thương ở chân mới lành miệng. Đầu tháng 6, khi chiều chiều, mây đen treo đầy triền núi, rồi môi cánh tỏa ra đặc các nẻo đường rừng - báo hiệu một mùa mưa dữ dằn, chúng tôi được lệnh thu quân. Vậy là mùa khô 1968-1969 - một mùa khô sống trọn với cửa khẩu đối với tôi đã qua. Niềm vui trong tôi là khá trọn vẹn. Bởi Binh trạm 31 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt. Cứ thêm một ngày trải nghiệm thực tế, càng thấu hiểu thêm cuộc chiến đấu của các lực lượng trên Đường Hồ Chí Minh là cuộc chiến đấu liên tục, với cường độ cao, ngày nối ngày, tháng nối tháng, năm liền năm - nhất là mùa khô, suốt sáu - bảy tháng ròng căng thẳng và quyết liệt. Thực tiễn đó đòi hỏi mỗi người lính, hoặc nam nữ thanh niên xung phong phải có tinh thần chịu đựng bền bỉ, trí - dũng song toàn. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:11:04 pm Chiến sĩ lái xe, ngồi vào buồng lái là chính thức "xung trận". Một mình một xe đầy hàng, chạy trong đêm với chiếc đèn gầm tù mù rọi không quá hai mét đầu xe, trên đầu máy bay địch săn đuổi, ngăn chặn, làm sao vững tay lái, xử trí tỉnh táo, tránh được địch trong mọi tình huống, bảo đảm xe không cháy, không đổ, không bỏ xe hàng chạy thoát thân. Trường hợp địch đánh cháy xe, cháy hàng, phải tìm cách cứu xe, cứu hàng, hạn chế tổn thất. "Lửa thử vàng", đạn bom, chết chóc... như một thứ thuốc thử nhiệm màu làm sáng lên những gương đồng chí, đồng đội thân yêu. Đó là Đỗ Văn Chiến - lái xe Tiểu đoàn 101 anh hùng, Cao Duy Thuần - lái xe Tiểu đoàn 53, cùng bao tay lái lão luyện, "chiến mã Trường Sơn"... khác trên toàn tuyến, là những người luôn dẫn đầu đội hình xe vượt trọng điểm, vượt "tọa độ lửa"...; và các anh cũng là những người có số chuyến, số hàng giao ở tuyến trong cao nhất. Mùa khô này, tôi đã chứng kiến trong một lần giao hàng cho Binh trạm 32, cả đoàn xe của Tiểu đoàn 53 bị máy bay địch phát hiện, đuổi đánh ráo riết. Để hút hỏa lực địch về mình, đánh lạc hướng địch, Cao Duy Thuần bất thần cho xe vượt lên trước đội hình, bật hết đèn pha, dấn ga cho xe lao lên phía trước. Phát hiện xe của Thuần, máy bay địch tập trung đuổi đánh. Chớp thời cơ, cả đoàn xe nhanh chóng phân tán đội hình, đảm bảo an toàn. Biết đồng đội ẩn náu an toàn, Cao Duy Thuần tắt đèn pha, quay xe, tìm nơi ẩn náu. Hôm sau, tại nơi giao hàng, mọi người thấy "giáp" nứa nóc buồng lái và nhiều bao gạo trên xe của Thuần dính đầy đầu đạn 40 ly, 20 ly. Nếu như chở hàng khác thì xe anh đã là "bó đuốc"... Với những chiến công đặc biệt xuất sắc của mình, Cao Duy Thuần, Đỗ Văn Chiến - những chiến sĩ ưu tú của Binh trạm 31 đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong cuộc đọ sức vô cùng quyết liệt với kẻ thù, mỗi lực lượng binh chủng trên Tuyến 559 đều tỏ rõ những tố chất, những đặc trưng riêng, góp phần tạo nên hình tượng người lính Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Những chiến sĩ lái xe, xứng đáng với tên gọi "Gan vàng dạ ngọc". Bộ đội công binh kiên cường trụ bám trọng điểm, bám đường... luôn bảo đảm thông đường liên tục; dũng cảm, khéo léo trong rà phá bom mìn, xứng đáng danh hiệu "Tường đồng vách sắt". Bộ đội phòng không - cao xạ kiên cường dũng cảm "Quay nòng pháo theo bánh xe lăn" xứng danh danh hiệu "Đánh giỏi bắn trúng", bảo vệ được xe, kho... Bộ đội giao liên với đôi chân dẻo dai, tổ chức đưa đón bộ đội, thương bệnh binh qua tuyến chu đáo, an toàn, nhanh chóng, xứng đáng là "Người chiến sĩ tận tâm với đồng chí, tận nghĩa với chiến trường". Cán bộ cơ quan chỉ huy mưu trí linh hoạt thực hiện tốt ba bám: Bám nhiệm vụ, bám địch, bám đơn vị... Để có được những danh hiệu cao quý đó, bộ đội, thanh niên xung phong Trường Sơn đã phải đánh đổi bao mồ hôi, nước mắt, đánh đổi cả tuổi xuân và cả máu xương... Tuy vậy, cũng là con người bằng xương, bằng thịt, nên trong khó khăn thử thách ác liệt, cũng có anh em dao động, thoái thác nhiệm vụ, thậm chí đào, bỏ ngũ. Dĩ nhiên chỉ là hi hữu. Thường là sau một mùa mưa, Bộ Tư lệnh tổ chức tập kết ra Bắc, cuộc sống ở hậu phương, quan hệ gia đình có biết bao điều giằng níu tác động. Mẹ già, con dại; thưa vắng tiếng đạn bom hơn..., nên một số lái xe viện lý do để thoái thác nhiệm vụ. Ở trên tuyến, có người khi bị máy bay đuổi đánh, đã bỏ xe chạy; có chiến sĩ phòng không, công binh ngại trực trọng điểm... Nhưng trước gương hy sirih dũng cảm của đồng đội, sự bảo ban, động viên ân cần, chí tình của tổ chức, bạn bè, đa phần họ vượt qua được chính mình. Cũng như không ít trường hợp chiến sĩ ta ở chiến trường, trong một phút không thắng nổi mình đã thoái lui, tìm đường ra Bắc; nhưng khi ra tới Tuyến 559 được động viên đã trở về đội ngũ, hoặc xin ở lại Tuyến 559 để chiến đấu. Trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trên tuyến cũng có người, có lúc còn ngại gian khổ, ác liệt; tìm cớ né tranh những nhiệm vụ, những nơi khó khăn, khốc liệt nhất... Bước vào mùa khô này, khi được Bộ Tư lệnh 559 cử xuống làm Chính ủy Binh trạm 31, không phải không có lúc tôi băn khoăn, lo lắng; bởi mình chưa nắm được quy luật đánh phá của địch, kinh nghiệm tổ chức chiến đấu chống ngăn chặn hầu như chưa có gì. Nhưng khi "vào cuộc", khi thật sự hòa nhập cuộc chiến đấu hào hùng, quyết liệt của một tập thể những con người rất đỗi dung dị, bình thường và anh dũng phi thường, thì mọi toan tính riêng tư không còn đất tồn tại, dù chỉ là ở góc cạnh sâu kín nhất của tư duy. Kết thúc mùa khô 1968-1969, Binh trạm 31 giành thắng lợi lớn, hoàn thành nhiệm vụ vượt mức kế hoạch, đạt 120 phần trăm chỉ tiêu - trước một tháng. Các lực lượng của Binh trạm bắn rơi 20 máy bay các loại. Mặc dù vậy, để có được thắng lợi đó, ngoài nỗ lực cao độ của mỗi một cán bộ, chiến sĩ, đã có hơn 100 người con yêu quý vĩnh viễn nằm lại nơi đây; 85 xe bị cháy hoặc bị hỏng; chừng 100 tấn hàng bị cháy. Quả vậy, không có thắng lợi nào là không phải trả giá trong cuộc chiến này. Từ thực tiễn còn khét lẹt mùi bom đạn, bi hùng - xen lẫn tổn thất và thắng lợi và những điều tâm đắc gạn lọc được từ những ngày đầu vào tuyến, tôi cùng các anh trong Ban chỉ huy binh trạm thấy cần khái quát thành những vấn đề có tính cốt lõi không thể thiếu trong chỉ huy chiến đấu. Một là: Đánh giá đúng mạnh, yếu của địch, ở địa bàn Trường Sơn, địch tuy có nhiều máy bay, bom đạn, có lợi thế trên không, chúng có thể huy động tối đa lực lượng đánh phá gây tổn thất lớn cho ta; nhưng ta vẫn là người làm chủ dưới đất với các ưu thế: "Thiên thòi, địa lợi, nhân hòa". Từ đó xác định cho bộ đội tư tưởng tiến công, không dao động, bỏ nhiệm vụ. Hai là: Trong chiến đấu phải luôn tạo được dũng khí ở từng người lính, luôn động viên, phát huy được tính sáng tạo của tập thể. Muốn sáng tạo, cán bộ phải bám sát thực tế (sát thực tế, sát bộ đội, phải có mặt ở những trọng điểm ác liệt nhất để nắm được mạnh, yếu của ta; âm mưu, thủ đoạn của địch...). Thực tiễn cũng chứng minh rằng, chính người chiến sĩ thường giúp cán bộ có được giải pháp tối ưu để tháo gỡ khó khăn. Ba là: Biết chớp mọi thời cơ - dù nhỏ nhất, thời gian ngắn nhất, không gian hẹp nhất, nếu địch sơ hở, để vượt lên. Để có thể tranh thủ mọi thời cơ, phải chủ động xây dựng thế trận, tạo thế trận. Khi điều kiện chín muồi thì tiến hành tổng công kích, đột kích. Thực tiễn cho thấy, khi bộ đội, thanh niên xung phong... đã nhập cuộc thì năng suất không chỉ tính bằng phép cộng mà thường là cấp số nhân. Bốn là: Không chỉ biết động viên sự nỗ lực của bộ đội, mà còn phải biết yêu thương, chăm sóc anh em, nhất là khi cấp dưới gặp khó khăn, thiếu thốn, tổn thất; phải biết vui niềm vui, buồn nỗi buồn của anh em. Có như vậy, anh em chiến sĩ mới thật sự gắn bó máu thịt với đơn vị, với nhiệm vụ mà tổ chức giao phó. Năm là: Đoàn kết trong lãnh đạo chỉ huy; dân chủ bàn bạc phát huy trí tuệ tập thể, để thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Thực tế quãng thời gian tôi ở Binh trạm 31, cán bộ chủ trì Binh trạm lúc cao nhất lên hơn 10 người, lại có thêm cán bộ hai trung đoàn phối thuộc, cùng đồng cấp. Để tạo được sự đoàn kết nhất trí, mỗi cán bộ phải xác định rõ nhiệm vụ của Binh trạm cũng như nhiệm vụ của riêng mình. Mỗi kỳ họp Đảng ủy hoặc họp thủ trưởng quân - chính, chúng tôi đều chỉ đạo chuẩn bị chu đáo, bàn bạc khẩn trương, quyết định mọi chủ trương giải pháp chuẩn xác, thống nhất cao. Cuối cùng, khi tổ chức thực hiện, cán bộ chủ trì phải lăn xả vào nơi khó, việc khó, không né tránh, sai thì sửa; có vấn đề gì chưa thống nhất, kịp thời nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn để thống nhất lại. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:11:42 pm Dù chỉ là những vấn đề vừa có tính chung nhất, vừa mang tính đặc thù của một đơn vị cấp chiến thuật - một mắt xích của tuyến chi viện chiến lược, cần được bổ sung bằng thực tiễn, nhưng những nội dung nêu trên, ở chừng mực nào đó đã trở thành "cẩm nang" cho đội ngũ cán bộ binh trạm trong một thời gian khá dài. Cũng như những mùa mưa trước, đầu tháng 6 năm 1969, một cuộc rút quân ra hậu phương khá quy mô được thực hiện trên toàn tuyến. Theo lệnh của Bộ Tư lệnh 559, chúng tôi có bố trí một phần lực lượng ở lại củng cố cầu đường, kho tàng, tổ chức đưa đón bộ đội, thương bệnh binh qua tuyến bằng đường dây giao liên. Sau khi tập kết ra Bắc, chúng tôi tổ chức cho lực lượng xe máy đi sửa chữa, nhận xe mới; các đơn vị củng cố tổ chức, sinh hoạt chính trị, luân phiên nghỉ phép thăm gia đình, theo chủ trương của Bộ Tư lệnh 559. Ngày 31 tháng 7, hội nghị tổng kết hoạt động mùa khô 1968-1969 của Bộ Tư lệnh 559 được tiến hành tại Sầm Sơn - Thanh Hóa. Hội nghị vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều tướng lĩnh đại biểu của các cơ quan Bộ Quốc phòng, và điều rất đỗi thiêng liêng là tại hội nghị này, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn được đón nhận lẵng hoa của Bác Hồ gửi tặng. Nhưng rồi "Mừng chẳng kịp no". Niềm vui riêng của chúng tôi không bù nổi mất mát, đau thương của dân tộc, của toàn dân, toàn quân. Bác Hồ đã vĩnh viễn ra đi. Trong những ngày "Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa", trong những ngày đất trời cũng đau nỗi đau nhân thế, tôi vinh dự có mặt trong đoàn cán bộ, chiến sĩ đại diện cho Bộ đội Trường Sơn ra Ba Đình viếng Bác.
Sau tuần lễ cùng quân và dân cả nước tổ chức lễ viếng, để tang Bác Hồ, chúng tôi tập trung thu quân, chuẩn bị mọi mặt để nhập tuyến. Cũng trong thời gian trở lại hậu phương lần này, tôi có được một kỷ niệm hết sức cảm động - đúng hơn là một bài học không dễ gì quên được. Nhân tôi và anh Đặng Ba về Bộ Tư lệnh họp, anh Nguyễn Văn Thể - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn ô tô 101 nhờ chúng tôi ghé thăm, chuyển chút quà nhỏ tới gia đình; bởi anh chưa thể về thăm nhà, trong khi bộ đội chưa ổn định nơi nghỉ ngơi, xe hỏng chưa tổ chức đi sửa chữa và đổi được. Đinh ninh rằng bố mẹ, vợ con Thể rất mừng khi nhận tin vui và quà của anh. Nhưng, khi chúng tôi báo anh bận việc chưa thể về được, tạm gửi chút quà, thì cả nhà anh òa khóc dữ dội. Ngỡ ngàng, quá sức tưởng tượng! Bỗng chốc trong nhà, ngoài sân chật cứng bà con chòm xóm. Đợi cho "tình thế bớt căng thẳng chút xíu, chúng tôi gặng hỏi hồi lâu, mẹ đồng chí Thể mới nghẹn ngào hỏi lại: "Có thật con tôi còn sống không các bác?". Từ bộc bạch của gia đình và bà con chòm xóm, chúng tôi mới vỡ lẽ rằng: Khi cán bộ, chiến sĩ từ chiến trường ra Bắc, đến thăm gia đình đồng chí, bạn bè, dù có chuyển giùm quà nhưng không có thư của con, em họ, thì gia đình nghĩ ngay rằng những người này đến động viên an ủi, còn người thân của họ chắc chắn đã hy sinh. Ở địa phương này, đã có nhiều trường hợp như vậy. Vỡ lẽ, chúng tôi cố giải thích, thuyết phục mãi, gia đình mới nguôi ngoai, mới tin là Thể còn sống và để chúng tôi lên đường. Từ đó, chúng tôi cho rằng, với những gia đình có con em đi chiến đấu xa, ngoại trừ người thân của họ trở về, chỉ có mấy dòng thư do chính người thân họ viết mới có thể tin được, mới khỏa vơi phần nào nỗi mong ngóng đợi chờ. Chuẩn bị cho một mùa ra quân mới, Bộ Tư lệnh quyết định điều chỉnh một bước biên chế tổ chức. Theo đó, anh Đặng Ba có quyết định nhận nhiệm vụ ở tuyến ngoài; anh Vũ Trịnh được bổ nhiệm làm Binh trạm trưởng. Tôi và anh Vũ Trịnh vốn là bạn chiến đấu cùng đơn vị từ hồi kháng chiến chín năm, nên việc anh Trịnh nhận chức Binh trạm trưởng càng tăng thêm tính thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy. Trên toàn tuyến vào thời điểm này, Bộ Tư lệnh quyết định đưa Trung đoàn công binh 98 ra mở đường từ làng Ho vào đường số 10 thành đường ngang 16, mở đường 18 vào đường 9, thành lập Binh trạm 27 phụ trách hai hướng vượt khẩu mới. Đường 16 và đường 18 khai thông, đưa vào sử dụng, ta có thểm hai trục vượt khẩu mới, phá dần thế độc đạo ở địa bàn có tầm quan trọng chiến lược này. Triển khai kế hoạch mùa khô 1969-1970, do chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng và thế trận cầu đường, thế trận vận chuyển, nên cho dù địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt khu vực vượt khẩu như các mùa khô trước, Binh trạm 31 và Binh trạm 32 vẫn thực hiện tốt vai trò, thế mạnh của binh trạm cửa khẩu phía Bắc; chuyển nhanh, nhiều hàng, bảo đảm đưa đón nhiều quân vào chiến trường. Ba tháng đầu mùa khô là quãng thời gian trước đây ta thường gặp khó khăn nhất, thì năm nay cả hai binh trạm đều hoàn thành vượt mức kế hoạch trên giao. Vào thời điểm mọi hoạt động của Binh trạm 31 tiến triển tốt, ngày càng đi dần vào nền nếp, và tôi đã là người của Seng Phan, Pác Pha Năng, Cổng Trời, 050..., thì có điện của anh Nguyên: về gấp Bộ Tư lệnh, nhận nhiệm vụ mới. Thời gian không chờ đợi, tôi bàn giao công việc cho anh Phan Biên - người được bổ nhiệm thay tôi làm Chính ủy Binh trạm 31, rồi về ngay Bộ Tư lệnh. Phút chia tay anh Vũ Trịnh, anh Phan Biên cùng anh em trong binh trạm bộ thật bịn rịn, khó rời. Quả thật, đạn bom, khốic liệt, những sưóng khổ, buồn vui, thậm chí những giây phút cận kề cái chết đã gắn kết chúng tôi lại thành một khối dễ gì rời bỏ nhau, nếu không vì nhiệm vụ cách mạng. Về đến Bộ Tư lệnh, tôi được anh Nguyên, anh Chiêm trực tiếp gặp thông báo, giao nhiệm vụ vào làm Chính ủy Binh trạm 42 thay anh Lê Tự Do nhận nhiệm vụ mới. Cũng qua anh Nguyên, anh Chiêm, anh Lang, tôi được biết lúc đó Binh trạm 42 đang gặp nhiều khó khăn. Khu kho La Hạp và sở chỉ huy binh trạm ở A Túc bị biệt kích đột nhập, chỉ điểm cho máy bay đánh phá, gây tổn thất lớn. Binh trạm chưa có bãi giấu xe. Sau khi hoạt động, xe thường phải đỗ rải rác dưới các lùm cây dọc đường, dễ bị địch phát hiện, đánh cháy khá nhiều. Ban chỉ huy binh trạm chưa có sở chỉ huy cố định. Do địch đánh mạnh, lượng hàng mà Binh trạm 42 chuyển giao cho Mặt trận Trị - Thiên và cánh Bắc của Quân khu 5 ở Trao chẳng được bao lăm. Cuối mùa khô 1966-1967, do ý thức được tầm quan trọng của đường B45 thuộc Binh trạm 42, trong hoạt động vận chuyển chi viện trực tiếp cho chiến trường Trị - Thiên và bắc Khu 5, nên địch đã tập trung máy bay oanh tạc dữ dội. Mỹ còn cho trực thăng đổ quân xuống một số điểm cao để khống chế ngăn chặn vận chuyển. Riêng cao điểm Cô Ca Va đã bị sáu tiểu đoàn Mỹ - ngụy chiếm đóng, sắc áo rằn ri phủ kín núi đồi, tựa cây rừng. Lúc đó, Bộ Tư lệnh 559 đã phái anh Hồng Kỳ - Phó chính ủy xuống giúp Ban chỉ huy binh trạm tổ chức lực lượng tiêu diệt hàng trăm tên địch, buộc chúng chạy tháo thân. Lần này, cũng với ngón nghề cũ, thám báo, biệt kích địch vừa tập kích phá kho, vừa chỉ điểm cho máy bay đánh phá. Binh trạm 42 đã sử dụng Đại đội 643 bộ binh tiến công tiêu diệt địch, nhưng chúng đã kịp gây cho ta một số tổn thất. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:12:36 pm Vào thời điểm này, Binh trạm 42 đảm trách chủ yếu đường B45 từ cây số 10 đến Xưỏng Giấy (tây nam Thừa Thiên) với chiểu dài hơn 300 cây số. Lực lượng thuộc Binh trạm gồm hai tiểu đoàn công binh (37, 45), một tiểu đoàn xe ô tô (55), một tiểu đoàn cao xạ (12), một tiểu đoàn bộ binh (5), một tiểu đoàn giao liên (14), một quân y viện (Viện 48) và sáu đại đội trực thuộc. Ban chỉ huy binh trạm; ngoài anh Lê Tự Do - Chính ủy đã có quyết định nhận nhiệm vụ mới, còn có các anh: Hoàng Xuân Điển - Binh trạm trưởng, Hoàng Huềnh - Binh trạm phó phụ trách vận chuyển, Nguyễn Thăng và Hoàng Xuân Thanh - Binh trạm phó phụ trách cầu đường, Nguyễn Văn Toàn - Phó chính ủy.
Khi bước vào sở chỉ huy tạm thời của Binh trạm 42 ở rìa một cánh rừng già tại La Hạp, bị máy bay địch đánh tơi tả, đặc biệt là đi qua khu kho bị địch đánh còn khét lẹt mùi đạn bom, mùi hàng bị cháy; gặp một số xe bị cháy, chưa kịp tháo gõ, hoặc kéo đi chỗ khác... nỗi buồn trĩu nặng lòng tôi. Rồi nỗi buồn cũng nhường chỗ cho tâm trạng lo lắng - liệu rồi tôi sẽ cùng anh em chèo chống sao đây để khắc phục nhanh chóng hậu quả, triển khai tiếp kế hoạch, đặng hoàn thành sứ mệnh của một binh trạm tiếp giáp hai chiến trường Trị - Thiên và Khu 5. Sau khi nắm sơ bộ tình hình biên chế tổ chức và hoạt động của binh trạm, hoạt động đánh phá của địch, tôi dành ba ngày cùng mấy anh em cán bộ chủ chốt xuống trực tiếp nắm tình hình thực tế các đơn vị, từng trọng điểm. Sau đó, tôi cùng anh Điền cho triệu tập hội nghị Đảng ủy binh trạm, bàn bạc và quyết định củng cố lại thế trận của binh trạm. Việc đầu tiên chúng tôi cho triển khai ngay, là chuyển sở chỉ huy Binh trạm vào vị trí mới, xây dựng khu kho mới và khu trú đậu, bãi giấu xe của Tiểu đoàn 55 ở khu vực phía nam đường B45, cách La Hạp chừng bảy cây số, cách trục đường chính năm cây số; dưới chân một ngọn núi lớn, cao chừng 800 mét. Nghiên cứu cụ thể và qua tổng hợp báo cáo của cơ quan tham mưu, chúng tôi nắm khá chắc quy luật đánh phá của không quân địch, đặc biệt là máy bay B-52 ở khu vực này. Mỗi đợt rải bom của B-52 thường bắt đầu từ đường chính B45, vào đến đầu dãy núi là hết bom; từ loạt thứ nhất sang loạt thứ hai, và từ loạt thứ hai sang loạt thứ ba... thường ngắt quãng từ một đến hai cây số. Quãng rừng kín giữa hai đợt bom là tương đối an toàn. Chúng tôi quyết định xây dựng kho, bãi giấu xe, sở chỉ huy ở "mép an toàn" đó. Dĩ nhiên, khi xây dựng, phải kịp thời ngụy trang bằng những thứ vật liệu hợp với địa hình của đường ra vào khu căn cứ; việc chỉ huy xe ra vào bãi cũng phải hết sức chặt chẽ... Từ những căn cứ - cơ sở phân tích nêu trên, chúng tôi đã có được một căn cứ khá an toàn; để từ đó tiếp tục củng cố đường sá, khắc phục tình trạng đỗ xe tạm bợ dọc đường. Về đường, trước đó, từ La Hạp vào A Sầu, A Lưới duy nhất chỉ có đường B45 đi qua phía nam dãy Cô Ca Va, động Con Tiên, dốc Đá..., nên khi địch tập trung đánh phá, ngăn chặn, rất dễ bị ách tắc. Để khắc phục tình trạng độc đạo này, Bộ Tư lệnh tăng cường cho chúng tôi Trung đoàn công binh 83 mở trục đường thứ hai từ A Túc qua phía bắc dãy Cô Ca Va, chạy thẳng xuống A Lưới. Đoạn đường này dài 70 cây số, tránh được động Con Tiên. Đối với các khu trú đậu xe, trước đây do Binh trạm chưa có bãi giấu xe, lính lái xe thường tìm những lùm cây dọc trục đường, để trú đậu. Qua mấy lần xăm tìm, bắn cháy xe, không quân địch đã đánh nát những lùm cây, khoảnh rừng chúng nghi có xe ẩn náu. Vì thế, đường vốn trống trải, ngày càng trơ trụi. Xe đậu ban ngày khó thoát khỏi tầm kiểm soát của OV10, L19... Để khắc phục tình trạng này, qua nghiên cứu thực địa, chúng tôi phân cung độ xe chạy thật cụ thể, chọn điểm xe cần dừng, lợi dụng các khe suối, tổ chức sửa chữa thành những nơi đỗ xe khá lý tường. Những nơi này thường cách trục đường chính từ 500 đến 1.000 mét, bảo đảm người và xe an toàn hơn. Một công việc khác cũng khá quan trọng là chuẩn bị điểm đặt kho và điểm giao hàng mới cho Trị - Thiên, Khu 5. Để có được cơ sở hạ tầng - một thế trận mới tương đối cơ bản của Binh trạm cũng mất ngót hằng tháng. Trong khi thời gian mùa khô cứ vùn vụt qua mà lượng hàng chuyển cho Trị - Thiên và Khu 5 chưa được bao lăm. Để giúp Binh trạm 42 gỡ bí, Bộ Tư lệnh bổ sung cho Tiểu đoàn 55 một số xe tốt, đồng thời tăng cường Trung đoàn 4 công binh cho binh trạm. Có thêm ngươi, thêm phương tiện, chúng tôi tổ chức mở gấp một đường nhánh vào Trao để giao hàng cho cánh Bắc của Khu 5. Phải nói rằng lực lượng công binh của Binh trạm 42 lúc này khá mạnh - gồm chín tiểu đoàn (ba tiểu đoàn trực thuộc binh trạm, Trung đoàn 83 và Trung đoàn 4). Và rồi cũng như hồi ở Binh trạm 31, Bộ Tư lệnh lại cử một số cán bộ cơ quan có năng lực xuống giúp chúng tôi tháo gỡ khó khăn, ách tắc. Người "có duyên" với tôi trong việc giải tỏa trọng điểm là Tham mưu phó công binh Nguyễn Văn Kỷ. Với cương vị Binh trạm trưởng, anh Hoàng Xuân Điền có trách nhiệm chỉ đạo chung. Anh Nguyễn Thăng đặc trách chỉ huy bảo đảm giao thông. Còn tôi, anh Xuân Thanh và anh Kỷ ngày đêm chống gậy bươn bả đi nghiên cứu đường sá, tìm mở các đoạn tránh La Hạp, động Con Tiên, Cô Ca Va, A Lưới... Có lúc ngồi tránh bom trong hang núi ở động Con Tiên, tôi tâm sự cùng anh Kỷ: - Tôi với anh đúng là sống chết có nhau. Năm ngoái anh giúp tôi cùng Binh trạm 31 giải tỏa Seng Phan, mở toang trục vượt khẩu đường 128, năm nay anh lại cùng chúng tôi gỡ nút giáp chiến trường, không biết nay mai còn nơi đâu nữa...? Anh Kỷ cười - tiếng cười hồn hậu, hiền lành thoải mái như chính con người, nét ứng xử của anh, và nói: - Trường Sơn rộng dài, nhưng cũng hẹp thôi. Còn sống, còn khó khăn, anh em ta sẽ gặp nhau luôn mà. Giúp được nhau một chút gì đó để vượt được "cạn", vượt được khó mới sướng. Cuộc đời nếu cứ bằng lặng, suôn sẻ; vượt Trường Sơn mà như đi trên đại lộ, hẳn mấy người đã cần đến nhau... ! Trong cái hỗn mang kỳ quái, tứ bề ì ùng bom đạn, mấy lời tâm sự của người đồng chí sao mà sâu lắng! Cũng may "Giữa chiến trường, nghe tiếng bom rất nhỏ" tôi mới lắng được những điều rất chất lính Trường Sơn. Mấy ngày sau khi anh Kỷ xuống giúp chúng tôi, anh Bùi Đức Tạm - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh 559 cũng xuống kiểm tra tình hình, động viên cán bộ, chiến sĩ Binh trạm 42. Nhưng xe anh Tạm vừa xuống đã bị máy bay đánh cháy. May là không ai thương vong. Làm việc với anh Tạm sau sự cố đó, tôi đùa vui: Bom đạn thật khéo tránh anh! Lần trước gặp anh cũng ở đường B45. Khi vào Binh trạm 7, xe con của anh bị cháy. Rồi lần này nữa, xe cháy mà người chẳng sây sát gì. Nhưng anh cứ để chúng đốt hết xe con như thế này, thì chỉ huy binh trạm chúng tôi lấy xe đâu mà đi! Anh Tạm cười rất thoải mái: Ừ, cái số mình sao rủi ro vậy. Nhưng trong cái rủi có cái may. Mong sao đây là xe cuối cùng mình "đốt" . Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Hai, 2022, 03:13:13 pm Đúng là lúc đó chỉ huy Binh trạm 42 không có xe con, bởi năm nào cũng bị cháy, vả lại, các trục đường do Binh trạm quản lý lắm đèo dốc, chẳng xe con nào chịu nổi. Cho nên chỉ huy binh trạm đi công tác thường sử dụng xe Zin157 có đầu tời. Một lần tôi ngồi xe Zin157 đi cùng đội hình xe Tiểu đoàn 55 chuyển hàng từ La Hạp vào Trao giao cho Khu 5; khi quay về, qua động Con Tiên bị máy bay địch phát hiện, bu bám đuổi đánh. Tôi rời buồng lái nhảy lên thùng xe quan sát máy bay địch và hướng dẫn cho đồng chí lái xe vừa cho xe chạy vừa tránh đạn. Đạn địch vãi theo xe, nổ như bắp rang. Rồi một viên đạn 40 ly nổ đanh, chát chúa trên thùng xe, ngay sau lưng tôi. Giật mình ngoái lại, sàn xe bị thủng một lỗ to, nước chảy cả một vạt. Như một phản xạ tự nhiên, tôi quơ tay cầm chiêc bi đông sau lưng. Ôi thôi, nó đã vỡ thành hai mảnh, dét dẹt... Khi xe dừng tại một điểm khá kín đáo, an toàn, tôi mới đưa cho chiến sĩ lái xe xem "xác" chiếc bi đông. Đồng chí lái xe cười hì hì, rồi bảo: Số thủ trưởng còn lớn lắm. Thủ trưởng nên giữ xác chiếc bi đông này làm kỷ niệm một lần thoát hiểm và biết đâu sau này nó có giá đấy. cả hai cười vang. Thêm một lần nữa minh chứng cho cái triết lý lạc quan ở chiến trường 559. Địch lắm đạn bom, nhưng bom đạn chúng có phải lúc nào cũng đánh trúng xe, nếu trúng dễ gì xe hỏng và chắc gì đã trúng người... !
Từ tháng 2 năm 1970, mọi hoạt động của Binh trạm 42 diễn ra nhịp nhàng, thuận lợi và hiệu quả. Hàng do binh trạm chuyển giao cho Mặt trận Trị - Thiên và cánh Bắc Khu 5 ngày càng nhiều. Các chỉ tiêu kế hoạch, yêu cầu của chiến trường Trị - Thiên đều được Binh trạm đáp ứng khá kịp thời, đầy đủ. Đầu tháng 5 năm 1970, anh Hoàng Văn Thái - nguyên Tư lệnh Đoàn 559 hiện là Phó tư lệnh phụ trách hậu cần Quân khu Trị - Thiên ra Bắc công tác. Từ một trạm giao liên, anh gọi điện đến cảm ơn Binh trạm 42. Theo anh, chủ lực Trị - Thiên đã qua đận khó khăn về hậu cần. Nguồn vật chất Bộ Tư lệnh 559 chuyển giao cho đến cuối mùa khô này đảm bảo đủ đánh lớn. Việc đánh hay không do anh Trần Văn Quang và tập thể Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định. Nghe điện khen, cảm ơn của Thủ trưởng cũ, mấy anh em lặng nhìn nhau. Niềm vui có lúc khó nói thành lời. Cuối tháng 3 năm 1970, hoặc do máy bay trinh sát hoặc do biệt kích thám báo phát hiện chỉ điểm, B-52 đã ném bom rải thảm đúng khu vực sở chỉ huy binh trạm. Bom rơi trúng hầm làm ba trợ lý ban quân lực hy sinh. Điều may mắn là địch đánh đúng vào lúc đoàn chèo tỉnh Thái Bình đang phục vụ cán bộ, chiến sĩ Binh trạm 42, nhưng không ai việc gì. Mặc dù anh chị em yêu cầu tiếp tục đợt phục vụ Binh trạm, nhưng sáng hôm sau, chúng tôi quyết định đưa ngay những diễn viên mà cán bộ, chiến sĩ chúng tôi rất mến mộ trở lại tuyến sau, phòng có sơ sẩy gì ở đây thì chúng tôi ân hận lắm. Sau "sự cố" B-52, chúng tôi cho chuyển sở chỉ huy binh trạm, kho, bãi giấu xe vào vị trí dự bị gần động Con Tiên, vừa tránb tổn thất, vừa để chỉ huy sâu sát, trực tiếp hơn các hoạt động phía trước. Cùng với việc đánh phá, ngăn chặn bằng đường không, tháng 5 năm 1970, địch dùng trực thăng đổ một tiểu đoàn lính dù Mỹ xuống dãy Cô Ca Va hòng chốt chặn, khống chế ta vận chuyển chi viện cho Trị - Thiên, Khu 5. Quả là đối phương đã quên, hoặc chủ định quên bài học A Sầu, A Lưới tháng 4 năm 1967, điển hình là đồi A Bia đã trở thành "Cối xay thịt" quân dù Mỹ - như báo chí phương Tây đã ví von khá cay nghiệt lúc đó. Địch vừa chạm đất, chúng tôi lệnh cho Đại đội 643 bộ binh bám đánh, buộc chúng bị động chống đỡ, co cụm trên núi, không dám mon men xuống đường. Xe của Binh trạm vẫn chuyển hàng vào ra bình thường dưới chân núi. Sau đúng nửa tháng mất ăn mất ngủ, hao quân mà chẳng "nên cơm cháo" gì, chúng buộc phải dùng trực thăng bốc quân dù về Huế. Đầu tháng 6 - các trục vận chuyển ban đầu lầy lội, lép nhép bởi những trận mưa chiều liên tục trút xuống rừng Lào và tây Trị - Thiên. Những quãng đường thấp đã chớm hình thành "túi nước". Toàn Binh trạm triển khai kế hoạch mùa mưa. Đột xuất, một sáng, anh Nguyên gọi điện lệnh cho Binh trạm dùng 20 xe khẩn cấp chở hàng giao cho Quân khu 5. Ban chỉ huy binh trạm hội ý chớp nhoáng. Anh Hoàng Xuân Điền hỏi ý kiến anh em. Tôi cho rằng không thể vận chuyển bằng xe tải lúc này. Vì "túi nước" tại A Lưới khá sâu và dài tới năm cây số. Rất dễ tắc tại đó. Nếu địch phát hiện tập trung đánh chặn thì xe cháy, hàng cháy là không tránh khỏi. Vì yêu cầu quá cấp bách, nếu Tư lệnh cho phép, chúng ta sẽ tăng cường lực lượng công binh hộ tống cho xe con chuyển hàng theo đường thường sử dụng cho loại xe này, kết hợp vận tải gùi thồ, chi viện cho Quân khu 5. Dù như vậy sẽ vất vả, hàng vào chậm, nhưng khả dĩ đáp ứng được yêu cầu chiến trường, mà Binh trạm cũng đỡ tổn thất. Nghe tôi nói vậy, anh Điền bảo tôi cầm máy báo cáo trực tiếp với anh Nguyên giải pháp đó. Nghe tôi báo cáo xong, anh Nguyên yêu cầu chúng tôi nghiên cứu lại, bàn bạc cho thật kỹ. Chiều hôm đó, tôi gọi điện báo cáo anh Nguyên rằng chúng tôi vẫn giữ nguyên chủ trương như đã trình bày buổi sáng. Dường như chỉ chờ vậy, anh ngắt lời tôi, giọng rất gay gắt: Sao anh cãi tôi! Cứ làm theo lệnh. Tôi giải thích thêm: Quyết định của chúng tôi căn cứ tình hình thực tế của công binh vừa báo cáo. Không thể sử dụng xe tải chạy qua túi nước A Lưới. Bài học thử nghiệm vận tải cơ giới không thành trong mùa mưa 1968, buộc chúng tôi phải tính tới khả năng ách tắc ở túi nước A Lưới và hệ quả tất yếu là địch sẽ phát hiện, đánh gây tổn thất... Anh Nguyên không thay đổi quyết định của Bộ Tư lệnh. Còn chúng tôi buộc phải chấp hành. Kết cục sự việc diễn ra đúng như chúng tôi lường định, cả đoàn xe không vượt nổi "túi nước" A Lưới. 12 xe bị đánh cháy, 8 chiếc hỏng nặng, chúng tôi tổ chức cứu kéo vào để tạm hai bên đường. Số hàng không cháy, được tổ chức gùi thồ giao cho Trị - Thiên. Sự cố A Lưới của Binh trạm 42 được nêu ở hội nghị tổng kết hoạt động mùa khô của Tuyến. Tư lệnh nghiêm khắc tự phê bình. Khuyết điểm là không nắm vững tình hình cộng với không nghiên cứu kỹ đề xuất của cấp dưới. Anh còn dùng một ngạn ngữ rất đặc trưng của miền Trung là: "Dùi đánh đục, đục đánh khăng" - Do trên thúc dữ quá nên buộc anh cũng phải thúc chúng tôi. Ở "ngoài lề" hội nghị, anh Mai Trung - Bí thư của anh Nguyên cho tôi biết: nhiều người ở cơ quan Bộ Tư lệnh biết chuyện tôi khăng khăng không đồng ý cho 20 xe tải đi qua "túi nước" A Lưới, đã cho rằng: ông Sở lại giống ông đồ gàn Xứ Nghệ, dám cự lại ông Nguyên (ý muốn nói tôi giống như anh Nguyễn Văn Lạn, quê Nghệ - Tĩnh, đã phản đối quyết định thử nghiệm vận tải cơ giới mùa mưa năm 1967). Sự cố A Lưới tháng 6 năm 1970, thêm một lần nữa giúp chúng tôi thấm sâu hơn một chân lý đã được đúc kết từ trước: Thời tiết nghiệt ngã ở Trường Sơn - đặc biệt mưa lũ ở Trường Sơn cũng là một kẻ thù vô cùng nguy hiểm đối với công tác giao thông vận tải. Không nắm được tính đặc thù của thời tiết Trường Sơn cũng có nghĩa là không thấy được hết cả cái đa dạng và cái đặc thù của hoạt động vận chuyển chi viện trên tuyến đường mang tên Bác. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:36:56 am IV- VỚI HAI SƯ ĐOÀN 471 - 472
Những trận mưa lớn, kéo dài tưởng như "thối đất" đã khép lại một mùa khô 1969-1970, với tôi là đầy biến động, không ít thành quả, nhưng cũng còn nhiều món nợ với chiến trường. Cuối tháng 6, Đảng ủy 559 họp mở rộng, về dự hội nghị, tôi được thông báo có quyết định của trên bổ nhiệm giữ chức Phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh 559. Người thay tôi làm Chính ủy Binh trạm 42 là anh Trần Danh Hòa - phái viên của Bộ Tư lệnh đang ở dưới đó. Đã ba năm nay, hoặc trước một mùa khô, hoặc sau một mùa vận chuyển, tôi đều có quyết định thuyên chuyển công tác. Chuyển dịch lắm quả cũng khó làm được một việc gì đó cho ra tấm ra miếng. Bởi người đời thường nói: "Đá lăn chẳng mọc nổi rêu". Lần này về cơ quan chính trị, cho dù có quen người, quen việc, nhưng thâm tâm tôi vẫn muốn ở lại với binh trạm, với những cung đường, trọng điểm, "túi nước" mà ở những nơi đó, chúng tôi còn mang nợ với chiến trường. Hội nghị Đảng ủy lần này được tiến hành sau khi các anh trong Bộ Tư lệnh vừa ra Hà Nội nhận nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao, trở về, nên chúng tôi được phổ biến khá tường tận tình hình trên các hướng chiến trường. Theo nhận định của Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh thì từ khi Lon Non được Mỹ hậu thuẫn làm đảo chính, lên cầm quyền ở Cam-pu-chia, cảng Xi Ha Núc Vin bị khóa chặt, tuyến vận tải 559 trở thành tuyến chi viện chiến lược duy nhất từ hậu phương lớn miền Bắc vào miền Nam và chiến trường nước bạn. Vì vậy, chóng hoặc chầy, Mỹ - ngụy sẽ huy động tối đa sức mạnh tổng lực để hòng chặt đứt Tuyến 559 - Đường Hồ Chí Minh, vô hiệu hóa hoàn toàn nhân tố mà Mỹ vẫn cho là "vật cản", là nguyên nhân của mọi thảm bại của Mỹ trên chiến trường. Từ sự phân tích, gợi ý với một nhãn quan chiến lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và căn cứ vào thực tiễn chiến trường Trường Sơn, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 559 cho rằng: sắp tới địch sẽ tập trung không quân đánh mạnh, đồng thời kết hợp cho bộ binh nống ra để ngăn chặn hoạt động chi viện của Bộ đội Trường Sơn. Có thể chúng sẽ mở chiến dịch quy mô lớn bằng lực lượng binh chủng hợp thành đánh cắt Tuyến 559 theo đường số 9, hoặc nống ra ngã ba La Hạp, Phi Hà, Khâm Đức. Ở hành lang phía tây, địch có thể nống ra Sa Ra Van, A Tô Pơ, Mường Phin... Thời gian địch tập trung chặn cắt tuyến có thể là đầu mùa khô, hoặc đầu năm 1971. Vậy là, mới chớm mua mưa, mà những tiên liệu mọi điều sẽ đến trong mùa khô tới, đã đặt Tuyến 559 trước những thử thách mới. Bộ Tư lệnh quyết định mùa mưa 1970 chỉ rút một bộ phận nhỏ lực lượng cơ giới ra Bắc để củng cố, bổ sung phương tiện, còn đại bộ phận ở lại tuyến chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đối phó với các cuộc hành quân quy mô lớn của địch và chuẩn bị thế trận vận chuyển chi viện trong mùa khô tới. Cũng xuất phát từ việc lường định những khó khăn của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn từ sau khi Lon Non đảo chính ở Cam-pu-chia, ngày 15 tháng 4 năm 1970, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh 559, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh khu vực 470 - có quyền hạn tương đương sư đoàn, đứng chân và xây dựng khu căn cứ chiến lược ở khu vực ba biên giới, trực tiếp vận chuyển chi viện các chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ, Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Anh Nguyễn An - Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 được cử làm Tư lệnh 470. Chính ủy là anh Bùi Đức Tạm - Phó chính ủy 559. Để chuẩn bị cho mùa khô 1970-1971, hay nói đúng hơn là nhằm đảm bảo cho Bộ Tư lệnh 559 đủ sức đối phó với âm mưu mới của Mỹ - ngụy, ngay trong mùa hè 1970, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần đã tăng cường cho tuyến hơn 24 nghìn quân, trong đó có 3.335 lái xe, 382 thợ sửa chữa; bổ sung 3.657 ô tô các loại, gần 100 máy húc1 (Lịch sử Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân - Hà Nội, 1999, tr.405). Đặc biệt, để tạo lập một chiến trường thống nhất, đủ sức đánh chặn địch tiến công cả từ trên không và mặt đất, bảo vệ vững chắc tuyến chi viện chiến lược, giúp bạn củng cố và mở rộng vùng giải phóng..., ngày 29 tháng 7 năm 1970, Quân ủy Trung ương quyết định sáp nhập Đoàn 968 quân tình nguyện cùng Đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Trung - Hạ Lào vào Đoàn 559 và đổi tên Bộ Tư lệnh 559 thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn trực thuộc Bộ Quốc phòng; về Đảng, trực thuộc Quân ủy Trung ương. Cũng thời gian này, trên còn tăng cường cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhiều cán bộ cao cấp. Anh Hoàng Thế Thiện, anh Nguyễn Lệnh vào làm Phó chính ủy; các anh Nguyễn Hòa, Hoàng Kiện, Nguyễn Quang Bích là Phó tư lệnh. Anh Hà Tuấn Khanh - Đoàn trưởng Đoàn 565 kiêm chức Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Anh Trần Quyết Thắng - Chính ủy Đoàn 565 kiêm Phó chính ủy. Đầu mùa khô 1970-1971, anh Hoàng Văn Khánh cũng được tăng cường vào làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, phụ trách tác chiến. Anh Nguyên là Tư lệnh chung, phụ trách vận chuyển. Vì vậy, anh em cán bộ cơ quan chúng tôi thường nói vui: Bộ đội Trường Sơn lúc này thực hiện chế độ "đồng Tư lệnh - song trùng chỉ huy". Nhưng chỉ sau một tháng, khi ta quyết định mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, anh Cao Văn Khánh chuyển sang làm Tư lệnh Binh đoàn 70 - Bộ Tư lệnh cánh Đông chiến dịch. Vào đầu mùa mưa, đặc biệt là sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào trực tiếp làm việc với Bộ Tư lệnh Trường Sơn ở Quảng Bình (tháng 10-1970), mọi hoạt động của tuyến chuẩn bị cho một chiến dịch lớn, ngày một khẩn trương hơn. Trên thực tế, cũng từ đầu tháng 10, Mỹ - ngụy đã tiến hành một số trận đánh nhỏ dọc tuyến chi viện Trường Sơn. Ở hành lang tây Trường Sơn, quân ngụy Lào đã nống ra theo đường 23 đến Thác Hài... Những dấu hiệu, tín hiệu từ hai phía cho phép chúng tôi nghĩ một chiến dịch lớn - một "cuộc đụng đầu lịch sử" giữa chủ lực ta và chủ lực Mỹ - ngụy, dọc theo đường số 9 đang đến gần. Đầu tháng 11, anh Phan Hàm - Cục phó Cục Tác chiến, phái viên của Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vào thông báo với Bộ Tư lệnh Trường Sơn những nhận định của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về kế hoạch của Mỹ - ngụy mở một chiến dịch cắt hẳn Đường Hồ Chí Minh cả đông và tây Trường Sơn ở khu vực đường 9. Địch sẽ mở một cuộc hành quân quy mô lớn của các binh đoàn thiện chiến, với công thức: Bộ binh quân ngụy Sài Gòn, quân ngụy Lào - Thái Lan cộng với chỉ huy, hỏa lực, hậu cần Mỹ. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:37:38 am Căn cứ vào thông báo của trên và tình hình trên tuyến, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định triển khai một số nhiệm vụ cấp bách:
- Đẩy mạnh vận chuyển chi viện chiến lược, chuyển thật nhanh và nhiều hàng vào nam đường số 9, đảm bảo thẽ chủ động, phòng khi địch cắt tuyến. - Chuẩn bị chiến trường tổ chức vận chuyển bảo đảm hậu cần trực tiếp cho Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. - Tổ chức lực lượng tác chiến chiến dịch; đặc biệt bố trí lại thế trận tác chiến phòng không bắc và nam đường số 9, chủ động tham gia đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch. - Phối hợp với bạn Lào tiến công đẩy lùi quân ngụy Lào và Thái Lan ở phía tây, bảo đảm an toàn, vững chắc cho tuyến hành lang. Toàn tuyến vào cuộc! Về phần mình, sau tổng kết hoạt động mùa khô 1969-1970 và nhận nhiệm vụ mới, tôi được phân công xuống cùng các anh trong Ban chỉ huy các binh trạm 33, 34 củng cố các trạm giao liên, bảo đảm tốt hơn việc đưa đón quân vào và ra trong mùa mưa. Lúc này, ngoài việc tổ chức đưa đón quân vào, chuyển thương binh ra tuyến sau; đưa các cháu nhỏ từ miền Nam ra Bắc học tập, công tác, chúng tôi còn đưa đón cán bộ cao cấp từ chiến trường ra Bắc công tác và từ miền Bắc vào chiến trường ngày càng nhiều. Bởi vậy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định mở một đường kín cho xe con - theo đường 10 vào đường 9, tới A Túc và Bạc; có một nhánh ra A Sầu, gọi là đường 54. Các trạm giao liên cũng phải rải lực lượng ra, bảo đảm tổ chức đưa đón bộ đội hành quân bộ và hành quân bằng ô tô. Cũng như những mùa khô trước, khi lực lượng vận tải cơ giới nhập tuyến, địch đánh phá các trục vượt khẩu vô cùng ác liệt. Seng Phan (đường 12); ATP, Chà La (đường 20); Chà Lì, bến vượt Sê Băng Hiêng (đường 16); đèo 900 (đường 18); Văng Mu, Tha Mé (khu vực yết hầu đường 9)... lại "hoàn nguyên" là những tọa độ lửa. Có trọng điểm hứng tới 300 quả bom các loại trong một ngày đêm. Mặc dù vậy, do các đơn vị chủ động hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, vừa nghi binh lừa - tránh địch, nên đã hạn chế được tổn thất, bảo đảm cầu đường thông suốt. Các đơn vị vừa triển khai nhanh kế hoạch vận chuyển chi viện chiến lược, vừa khẩn trương tích cực chuẩn bị cho chiến dịch phản công nếu địch đánh ra Đường 9 - Nam Lào; chuẩn bị gấp một số trục đường cơ giới xe - pháo; củng cố kho tàng dự trữ vũ khí đạn dược, lương thực ở những khu vực cần thiết..., sẵn sàng bảo đảm phục vụ chiến dịch. Nhiều cán bộ tham mưu, vận chuyển, cầu đường, tác chiến, chính trị được phái xuống các binh trạm 9, 27, 32, 42 và Trung đoàn cao xạ 591, đôn đốc các đơn vị chuẩn bị. Một trong những nhiệm vụ cấp bách lúc này là đẩy nhanh việc xây dựng đường 16, nhằm đón trước tình hình, nếu chiến sự xảy ra ở đường 9 thì đường 16 sẽ trở thành trục vượt khẩu chủ yếu để tập kết lực lượng, cơ động binh khí kỹ thuật phục vụ chiẽn dịch; đồng thời nhanh chóng phát triển Binh trạm 27 thành binh trạm vận tải cơ giới quy mô lớn. Để chuẩn bị tham gia chiến dịch, ngoài những đơn vị đang hoạt động trên địa bàn, các "cú đấm thép" như các sư đoàn 308, 320, 304 lần lượt tập kết tại Hà Tĩnh, Quảng Bình. Trung tuần tháng 1 năm 1971, anh Phan Hàm lần thứ hai vào phổ biến dự lệnh cụ thể của Bộ Tổng Tư lệnh: Địch sẽ đánh Đường 9 - Nam Lào, cắt Đường Hồ Chí Minh bằng cả bộ binh và quân dù... Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, thành lập Bộ chỉ huy chiẽn dịch do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó tổng tham muu trưởng làm Tư lệnh chiến dịch. Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo chung. Bộ đội Trường Sơn vừa bảo đảm hậu cần - kỹ thuật phục vụ chiến dịch vừa trực tiếp tác chiến chiến dịch. Do được phổ biến dự kiến của Bộ từ tháng 10 năm 1970 nên Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã chủ động điều chỉnh thế bố trí lực lượng tác chiến đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch - chủ yếu là lực lượng cao xạ và công binh. Khi nhận lệnh chính thức của Bộ, tới ngày 28 tháng 1 năm 1971, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh họp quyết định triển khai gấp kế hoạch tác chiến tại chỗ của Mặt trận Y (Hạ Lào), Mặt trận R (Mường Pha Lan, Đồng Hến - Trung Lào), thành lập tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn phụ trách hướng phối hợp chiến dịch ở phía tây, do anh Nguyễn Hòa làm Tư lệnh, anh Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Tiền phương Bộ Tư lệnh trực tiếp chỉ huy các lực lượng trực thuộc và phối thuộc (Sư đoàn 968, Đoàn 565, Sư đoàn 2 - Khu 5) cùng một số đơn vị của bạn đánh tiêu diệt, chặn đứng quân ngụy Lào và Thái Lan nếu chúng đánh xuống Mường Phin phối hợp với quân ngụy Sài Gòn chiếm Tha Mé, Sê Pôn, cắt đứt tuyến chi viện của ta. Bộ Tư lệnh đặc biệt chú trọng chỉ đạo xây dựng thế trận tác chiến phòng không nhằm đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch. Đến cuối tháng 1, lực lượng phòng không Bộ đội Trường Sơn được huy động tham gia chiến dịch đã lên tới 5 trung đoàn (có Trung đoàn 275 tên lửa và 1 trung đoàn cao xạ của Bộ phối thuộc), 10 tiểu đoàn cao xạ, 25 đại đội và 33 trung đội súng máy phòng không, với hơn 300 nòng pháo, hơn 350 khẩu súng máy. Toàn bộ lực lượng trên được bố trí thành 8 cụm. Riêng địa bàn nam - bắc đường 9 - dự kiến là trung tâm chiến dịch, bố trí 4 cụm. Trung đoàn cao xạ 591 thiện chiến của Bộ Tư lệnh Trường Sơn được bố trí ở khu vực Bản Đông - Cha Ky. Cũng vào thời điểm này, mạng đường chiến dịch, các kho vật chất chuẩn bị bảo đảm cho chiến dịch đã được hoàn chỉnh về cơ bản. Đặc biệt lượng vật chất hơn 3.000 tấn đã sẵn sàng theo lưng bộ đội vào chiến dịch. Trong những buổi được làm việc với các anh trong Bộ Tư lệnh, nghe đơn vị báo cáo tình hình chuẩn bị cho chiến dịch, chúng tôi đã chứng kiến không khí rất khẩn trương, hệ trọng, nhưng đầy tin tướng. Tất cả đã sẵn sàng để giáng những đòn sấm sét xuống đầu thù. Đặc biệt anh Nguyên rất tin tưởng vào thắng lợi của chiến dịch. Anh khẳng định: Địch đánh lên đường 9 là "chui đầu vào rọ", bởi Bộ Tổng đã chuẩn bị, tập dượt cho chủ lực tác chiến ở địa bàn này rất kỹ. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:38:33 am Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Hơn 40 nghìn quân chủ lực Sài Gòn, 6.000 quân Mỹ, gồm những đơn vị tinh nhuệ nhất, cùng một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật: 580 xe tăng, xe bọc thép, 320 khẩu pháo, 1.000 máy bay (trong đó có 600 máy bay lên thẳng, 45 máy bay B-52) được huy động vào cuộc hành quân đánh ra khu vực đường 9 - Nam Lào. Phối hợp với quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, bốn tiểu đoàn quân ngụy Lào từ Đồng Hến đánh ra khu vực Mường Pha Lan - tây đường 9.
Địch ồ ạt đánh ra Đường 9 - Nam Lào gây phẫn uất cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Chỉ hai ngày sau khi địch hùng hùng hổ hổ kéo ra đường 9, ngày 3 tháng 2 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời "kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch: "Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận tải chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ... Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nôi. 1994, tr.337). Lời kêu gọi của Trung ương Đảng lập tức được cơ quan chính trị phổ biến xuống từng đơn vị. Không khí thi đua vốn đã hừng hực, nay như lửa gặp gió. Khắp nơi dấy lên cao trào thi đua giết giặc lập công. Cán bộ, chiến sĩ không những ý thức được tầm quan trọng của chiến dịch mà còn xem đây là cơ hội để Bộ đội Trường Sơn tác chiến tiêu diệt địch, khẳng định không chỉ là lực lượng bảo đảm, phục vụ mà còn là lực lượng tác chiến tại chỗ đầy uy lực. Đêm 6 tháng 2, anh Nguyên cho gọi anh Lê Xy (Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn) và tôi tới giao nhiệm vụ xuống Trung đoàn phòng không 591, cùng Ban chỉ huy trung đoàn chỉ đạo, tổ chức, động viên bộ đội chiến đấu. Anh dặn: Địa bàn Trung đoàn 591 chốt giữ là tâm điểm của chiến dịch, là nơi địch rất dễ đổ bộ bằng đường không. Vì vậy phải chỉ thị cho bộ đội quán triệt thật chắc tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Bộ Tư lệnh là nhử địch vào sâu hơn nữa, sẵn sàng chủ động tiến công vào đội hình trực thăng của chúng, sử dụng mọi vũ khí, phát huy mọi tầm hỏa lực, kiên quyết tiêu diệt địch, với khẩu hiệu: "Cứ cho nó đến, không cho nó về". Nhận lệnh, anh Lê Xy và tôi xuống ngay Trung đoàn 591. Từ Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh, chúng tôi phải đi theo đường 9 qua Bản Đông, quay lại đường 16 mới đến được sở chỉ huy Trung đoàn 591. Dọc đường, chúng tôi gặp đội hình xe vận tải của ta đang vượt ngầm Bản Đông. Cùng lúc đó, máy bay địch thả pháo sáng, phát hiện và đuổi theo bắn xe. Chúng tôi không dừng tìm chỗ ẩn nấp, mà vừa cho xe chạy vừa quan sát máy bay địch. Lúc thì cho xe chạy chậm, tránh máy bay địch bổ nhào bắn đón; khi thì cho chạy nhanh, tránh loạt đạn bắn đuổi phía sau. Cuối cùng, xe chúng tôi thoát hiểm, tới sở chỉ huy trung đoàn an toàn. Một đồng chí ở trạm chỉ huy giao thông cũng phấn khởi báo xe anh Hồ Quang Trung - Binh trạm trưởng Binh trạm 35 và một đoàn xe chở hàng cũng vừa vượt ngầm Bản Đông mà không bị sây sát gì. Sáng ngày 8 tháng 2, vừa chân ướt chân ráo xuống Trung đoàn 591, chúng tôi đã được chứng kiến một trận tập kích đường không như dông bão - đỉnh cao của chiến thuật "trực thăng vận" của Mỹ - ngụy. Từ 8 giờ sáng, được hỏa lực yểm trợ của máy bay cường kích và máy bay trinh sát, từng đàn máy bay trực thăng của địch bay rợp trời rồi ào ạt đổ quân xuống các điểm cao ở nam - bắc đường 9 - khu vực Bản Đông. Nhưng đúng như anh Nguyên nói - chúng đã chui vào rọ. Từ các trận địa cấu trúc sẵn, pháo của Trung đoàn 591 và súng, pháo các cỡ của đơn vị bạn tung lên một lưới lửa dày đặc, bắn rơi hàng loạt máy bay địch khi chúng chưa kịp đổ quân. Nhiều trực thăng trúng đạn, bốc cháy, nổ tan xác, lả tả rơi khắp khu vực Bản Đông. Dưới đất, các đơn vị bộ binh, thiết giáp của ta nhanh chóng tiếp cận tiêu diệt quân dù khi chúng vừa chạm đất không kịp trở tay. Dưới sự chỉ huy của anh Nguyễn Văn Lẫm - Trung đoàn trưởng và anh Nguyễn Văn Năm - Chính ủy, ngày đầu ra quân, Trung đoàn 591 đã chiến thắng giòn giã, bắn rơi 19 máy bay, góp phần xứng đáng vào chiến công vang dội của lực lượng phòng không Trường Sơn - trong hai ngày (8 và 9 tháng 2) bắn rơi 50 máy bay lên thẳng của địch. Với Mỹ - ngụy, đây là một thất bại cay đắng, mà chúng không ngờ tới. Đúng 21 giờ 30 phút ngày 10 tháng 2, Đài BBC của Vương quốc Anh đã phát đi bản tin: "Quân đội cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến quân lên Đường Hồ Chí Minh đã vấp phải lưới lửa phòng không dày đặc chưa từng thấy của Bắc Việt..., như vậy là trúng kế "Điệu hổ ly sơn" của họ...". Sang ngày thứ hai, địch phát hiện hỏa lực phòng không của ta, tập trung máy bay đánh phá vô cùng ác liệt vào các trận địa pháo của Trung đoàn 591, gây cho trung đoàn nhiều tổn thất. Anh Nguyễn Văn Lẫm đã anh dũng hy sinh trong khi đang chỉ huy bộ đội chiến đấu và một số pháo thủ đã ngã xuống trên mâm pháo. Sau khi tổ chức truy điệu, mai táng cho những đồng chí thân yêu của mình, ngay tối hôm đó, tôi nhận lệnh của Bộ Tư lệnh, xuống cùng Ban chỉ huy Binh trạm 32 và Binh trạm 33 tổ chức vận chuyển đưa hàng vượt đường 9 vào phía trong; đồng thời tôi được giao kiêm chức Chính ủy Binh trạm 32. Binh trạm trưởng Binh trạm 32 lúc này vẫn là anh Đặng Văn Ngữ. Chiến sự dọc đường số 9 đang ngày càng diễn ra quyết liệt ở cả hai hướng đông và tây. Đề phòng địch ngăn chặn đường 128 - đoạn đường Mường Noòng vào La Hạp, Bộ Tư lệnh quyết định khẩn trương tổ chức khôi phục đường 23 từ Mường Phin đi Thác Hài, vào Sa Ra Van (thuộc Binh trạm 39); đồng thời, chỉ thị cho Binh trạm 32 nghiên cứu điểm vượt sông mới ở hạ lưu ngầm Tha Mé, mở một tuyến ngắn hơn và kín đáo để vận chuyển hàng vào giao cho Binh trạm 34 ở KG4. Anh Hoàng Đình Luyến - Trưởng phòng thuộc Cục Tham mưu công binh được phái xuống giúp Binh trạm 32 tổ chức "mở đường". Thời gian không chờ đợi, xuống với Binh trạm 32 rồi mà dư âm những trận đánh ở Bản Đông vẫn còn thắp lửa trong tôi. Sau khi anh Luyến xuống, tôi cùng anh Luyến, anh Ngữ dẫn một tổ trinh sát công binh lặn lội hết ngày qua đêm dò dẫm dọc một đoạn sông dài chừng mười cây số cố tìm một điểm vừa cạn, vừa kín đáo để làm ngắm vượt sông. Sau hơn một tuần, chúng tôi đã triển khai được lực lượng công binh mở đường và làm ngầm mới vừa gần vừa kín. Theo trục đường này, chúng tôi đã bảo đảm được nhịp độ, lưu lượng hàng chuyển cho Binh trạm 34. Sau này, từ năm 1972, khi địch sử dụng nhiều máy bay AC130 trang bị khí tài săn xe ban đêm, Bộ Tư lệnh đã sử dụng đường này làm đường kín để vận chuyển cơ giới ban ngày. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:39:21 am Đúng là "lửa thử vàng", khói lửa khốc liệt của cuộc chiến, cuộc đối đầu với đủ sắc lính của Mỹ lẫn ngụy đã làm ngời lên bản chất anh hùng của Bộ đội Trường Sơn, cả lực lượng bảo đảm - phục vụ chiến dịch và cả lực lượng tác chiến chiến dịch. Bộ Tư lệnh chiến dịch yêu cầu bổ sung 2.000 quả đạn pháo lớn, 1.000 tấn vũ khí, lương thực ngoài dự kiến; Binh trạm 9 và Binh trạm 27 đã hoàn thành xuất sắc. Trên những cung đường chiến dịch đã xuất hiện không ít tập thể, cá nhân thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn bất chấp hiểm nguy, không quản hy sinh, cốt sao cho bộ đội có dư đạn, gạo, kịp thời chuyển sang tổng phản công. Tiêu biểu là các gương Anh hùng công binh Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Bá Tòng...
Ở cánh tây, Bộ đội Trường Sơn, dưới sự chỉ huy của anh Hoàng Thế Thiện, Nguyễn Hòa đã phối hợp cùng bạn tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở Thác Hài, Nậm Lức, Nậm Tiếng, Keng Coọc... Ở cánh đông, Binh đoàn 70 - trụ cột là các sư đoàn 308, 304, 320... đã thực hành phản công, tiêu diệt và bắt gần toàn bộ lực lượng bộ binh địch, đánh cắt Tuyến 559, theo đường số 9. Đặc biệt, Trung đoàn 64 Sư đoàn Đồng Bằng (Sư đoàn 320B) đã lập công xuất sắc, bắt đại tá Nguyễn Văn Thọ - lữ trưởng và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn 3 quân dù ngụy. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào toàn thắng. Cuộc hành quân "Lam Sơn - 719" - cố gắng cuối cùng, cố gắng cao nhất hòng chặn cắt tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, trong tổng thể chiến lược chiến tranh ngăn chặn của Mỹ - ngụy đã thất bại hoàn toàn. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Bộ đội Trường Sơn đã tự khẳng đinh mình không chỉ là lực lượng phục vụ chiến đấu, vận chuyển chi viện chiến trường mà còn là lực lượng tác chiến tại chỗ rất hiệu quả. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào xuân hè 1971 là khúc tráng ca của cuộc chiến đấu chống ngăn chặn của Bộ đội Trường Sơn trên tuyến đường mang tên Bác Hồ kính yêu. Sau khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, các đơn vị, binh trạm khẩn trương khắc phục hậu quả đánh phá của địch, khôi phục cầu đường, hoàn chỉnh lại thế trận cầu đường, tiếp tục hoàn tất chir tiêu vận chuyển nước rút "tổng công kích đợt 2", chủ động trước mùa mưa đang đến. Tháng 6, rừng Lào lại chìm trong mưa. Các triền sông suối, nước dâng cao. Nhưng, "cái khó chẳng bó nổi cái khôn", Bộ Tư lệnh chủ trương tận dụng nước cả, thả hàng trôi theo sông Sê Băng Hiêng. Hàng thả trôi chủ yeesu là gạo đóng thành bao, bọc hai lớp ni lông, và phuy xăng. Binh trạm 32, Binh trạm 27 và Binh trạm 41 tổ chức lực lượng, phương tiện để thả hàng, đón nhận rồi chuyển hàng về kho dự trữ, tạo chân hàng cho mùa khô tới. Nhưng rồi ở chiến trường mà "giặc trời" cũng dữ dằn chẳng kém Mỹ - ngụy, mỗi hạt gạo, giọt xăng vào tới chiến trường phải đổi biết bao sức lực và máu, xương. Cũng chính những ngày thả hàng trôi sông, đánh vật với lũ, với thác ghềnh, một ca nô của Binh trạm 32 chúng tôi bị nhấn chìm mất tích cùng với bảy cán bộ, chiến sĩ. Chúng tôi rải quân dọc triền sông phía hạ lưu, để kiếm tìm, nhưng bất lực nhìn dòng nước dữ dằn trôi đi. Cầu mong ở một nơi nào đó, đồng đội tôi được anh em ở một đơn vị khác hoặc bà con cô bác cưu mang, che chở! Vào cao điểm mùa mưa, một phần lực lượng tập kết ra Bắc. Bộ Tư lệnh ra tập kết ở Hiền Ninh - Quảng Ninh, Quảng Bình, tiến hành tổng kết mùa khô 1971-1972, chuẩn bị triển khai nhiệm vụ mới. Tôi cũng kết thúc nhiệm vụ tăng cường cho Binh trạm 32, trở về Cục Chính trị. Vào thời điểm này, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phê chuẩn phương án của Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức ba Bộ Tư lệnh khu vực (Sư đoàn) 471, 472, 473 và Bộ Tư lệnh khu vực hậu cứ 571. Sư đoàn khu vực 470 vẫn phụ trách tuyến cuối, trực tiếp chi viện cho Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Sư đoàn 472 phụ trách địa bàn từ đường 9 trở vào tới bắc Bạc, gồm hai tỉnh Sa Va Na Khẹt và Sa Ra Van. Sư đoàn 473 phụ trách các tuyến đông và tây Trường Sơn từ Cầu Khỉ, theo đường 14 vào tây nam Thừa Thiên và từ khu vực Chà Lỳ vào Bản Đông, La Hạp; theo đường B45 vào A Lưới, Trao, Giằng. Sư đoàn 471 phụ trách địa bàn đông Hạ Lào, từ Bạc vào Sê Ca Mán, gồm địa bàn cao nguyên Bô Lô Ven, tỉnh Tà Ven Oọc, A Tô Pơ. Bộ Tư lệnh khu vực hậu cứ 571 đóng ở tây nam Quảng Bình và tây Vĩnh Linh. Cùng với quyết định thành lập các sư đoàn khu vực, Quân ủy Trung ương đã tăng cường cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn một số cán bộ cao cấp. Anh Đặng Tính - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân được điều vào giữ chức Chính ủy thay anh Vũ Xuân Chiêm ra cơ quan Bộ. Anh Phan Khắc Hy - nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân được điều vào giữ chức Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn. Một số cán bộ trong cơ quan Bộ Tư lệnh cũng được bổ nhiệm chức vụ mới. Tôi có quyết định vào làm Phó chính ủy Sư đoàn khu vực 472. Tư lệnh Sư đoàn 472 là anh Ngô Huy Biên, Chính ủy sư đoàn là anh Lê Đình Truy. Vào Sư đoàn 472 được chừng một tháng, tôi lại được điều vào làm Chính ủy Sư đoàn 471. Người thay tôi ở Sư đoàn 472 là anh Bùi Thế Tâm. Khi vào nhận nhiệm vụ ở Sư đoàn 471, anh Nguyễn An - nguyên Tư lệnh Sư đoàn 470, cũng vừa được điểu ra giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 471. Phó tư lệnh Sư đoàn có các anh: Hồ Quang Trung, Bùi Quốc Uy, Cao Đôn Luân. Sau chừng một tháng, anh Nguyễn Văn Lạn được điều về làm Phó tư lệnh, anh Dương Văn Hòa làm Phó chính ủy, anh Nguyễn Tam Anh làm Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị. Vừa nhậm chức chưa được bao lâu, trong một lần xuống kiểm tra Binh trạm 35 và Binh trạm 46, xe của anh Tam Anh bị trúng bom và anh đã hy sinh. Anh Võ Phúc Kiến được điều vào thay, nhưng vì anh Kiến đau yếu luôn, Bộ Tư lệnh buộc phải đưa anh Hoàng Văn Thám - Chính ủy Binh trạm 35 lên thay. Cơ quan Bộ Tư lệnh sư đoàn cũng hội đủ những cán bộ dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và công tác trên tuyến: anh Chu Minh Đông - Tham mưu trưởng công binh, anh Trịnh Liễu - Tham mưu phó tác chiến, anh Nguyễn Bình - Chủ nhiệm hậu cần. Trực thuộc sư đoàn có các binh trạm 46, 47, 35, 36, 38, 44, Trung đoàn 10 công binh, Trung đoàn 593 cao xạ; tháng 1 năm 1972 tăng cường thêm Trung đoàn 210 cao xạ. Tháng 10 năm 1972 tăng cường thêm Trung đoàn 83 công binh - Trung đoàn này phối thuộc Sư đoàn 968 để đánh địch ở Bô Lô Ven. Nhiệm vụ của Sư đoàn khu vực 471 là tạo chân hàng cho Sư đoàn khu vực 470, giao hàng cho Quân khu 5 ở tây Quảng Nam, và giao cho Tây Nguyên ở bắc Công Tum, bảo đảm cho bộ đội tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Lào ở Hạ Lào đánh địch, mở rộng và củng cố vùng giải phóng; bảo đảm cho Trung đoàn 10 công binh mở đường xuyên cao nguyên Bô Lô Ven đến Tà Pao, Nậm Công, và tổ chức bảo đảm giao liên hành quân trên địa bàn được phân công phụ trách. Ngoài Sư đoàn 470 được thành lập từ trước, Sư đoàn 471 và những sư đoàn khu vực còn lại vừa mới ra đời nên gặp nhiều khó khăn; đặc biệt là thiếu kinh nghiệm tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng, phương tiện thông tin, trang bị kỹ thuật xe máy... Nhưng, với Bộ đội Trường Sơn, đã mấy khi nhiệm vụ được thực thi trong điều kiện "xuôi chèo mát mái"! Khó khăn không thể làm chùn bước được họ. Chúng tôi khẩn trương tổ chức sở chỉ huy và thiết lập mạng thông tin tải ba phục vụ cho công tác chỉ huy vào đến Nậm Mi - một con sông nhỏ thuộc tỉnh Tà Ven Oọc, phía nam sông Sê Công. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:40:11 am Vào mùa khô 1971-1972, địch đã có sự thay đổi cách đánh tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Hay nói đúng hơn là Mỹ đã nâng "công nghệ" đánh phá ngăn chặn Đường Hồ Chí Minh bằng đường không lên một trình độ mới với một thủ đoạn mới. Lúc này địch chú trọng tiêu diệt sinh lực ta; chủ yếu là bắn xe, trận địa pháo phòng không, kho tàng... Đối tượng nguy hiểm nhất lúc này của chúng tôi, của anh em lái xe là máy bay AC 130 có trang bị khí tài mới.
Từ đầu mùa khô, cùng với việc đánh phá các trọng điểm, đèo dốc, bến vượt... vào ban ngày, đêm đến, địch cho máy bay AC 130 canh riết dọc các trục đường để săn ô tô. Phát hiện được xe hoạt động, chúng liền hạ thấp độ cao, xả đạn 40 ly, 20 ly rất chính xác. Theo thông báo của Bộ Tư lệnh thì với thủ đoạn này, hầu như không đoàn xe nào của ta hoạt động mà không bị AC 130 phát hiện và đánh cháy. Trong ba tháng đầu mùa khô, mỗi đêm trên một cung đường, ít nhất cũng có từ ba đến năm xe hàng của ta bị đánh cháy. Do chủ quan, không kịp thời nắm bắt thủ đoạn đánh phá mói của địch, nên thời gian đầu không chỉ sư đoàn chúng tôi mà các đơn vị bạn cũng không tránh khỏi bị động lúng túng. Khi xe bị đánh cháy với tỷ lệ khá lớn, lái xe thương vong ngày càng nhiều, một số lái xe đã tỏ ra hoang mang, lo lắng. Thậm chí cá biệt có lái xe thoái thác nhiệm vụ chở đạn, xăng dầu... AC 130 trở thành vấn đề bức xúc, gây tranh cãi nhiều không chỉ đối với các cấp chỉ huy mà cả đối với lái xe. Đa phần anh em cho rằng AC 130 có trang bị khí tài phát hiện được mục tiêu trong đêm tối, và đánh bằng khí tài nên xác suất trúng mục tiêu rất lớn. Có người cho rằng AC 130 cũng chỉ đánh mò, nhưng do địch bắn đạn 40 ly, 20 ly rát quá, lại "dai như đỉa đói", lái xe sợ bỏ xe chạy, nên xe bị đánh cháy... Tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn khẳng định AC 130 đánh với khí tài mới. Một trong những bằng chứng là có lần vào đúng nửa đêm, AC 130 đã phát hiện đánh đúng vào một trạm sửa chữa xe của chúng tôi cách đường chính gần 20 cây số - mà không có dấu hiệu để lộ ánh sáng, chỉ có động cơ máy và xe đang hoạt động. Trong khi chưa tìm được giải pháp khắc phục, chúng tôi chủ trương cho xe chạy lấn sáng lấn chiều; tranh thủ tận dụng những quãng đường kín để chạy ban ngày, chạy theo kiểu "nhảy cóc"; đặc biệt phải tổ chức nhiều đài quan sát máy bay địch và tổ chức chỉ huy thật chặt chẽ; phát hiện máy bay địch, phải báo động kịp thời. Tuy nhiên lúc này đường kín còn ít nên hiệu suất vận chuyển rất thấp. Một thời gian sau, từ kết quả nghiên cứu thực địa, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học kỹ thuật quân sự và đặc biệt là một đơn vị cao xạ trên tuyến bắn hạ máy bay AC130, thu được khí tài, Bộ Tư lệnh đã thông báo cho chúng tôi chi tiết về loài "ác điểu" này. Đây là loại máy bay được trang bị tia hồng ngoại, khí tài để phát hiện tia lửa điện của động cơ xe, phương tiện khuếch đại ánh sáng mờ để nhận rõ mục tiêu trong đêm tối, sát thương mục tiêu bằng súng 40 ly, 20 ly và tên lửa tầm ngắn. AC 130 lại có ưu thế hoạt động trên không với thời gian dài - như một pháo đài di động, thay nhau liên tục khống chế đánh phá đội hình xe của ta. Các anh trên Bộ Tư lệnh nhắc nhở chúng tôi phải nắm thật chắc quy luật hoạt động của địch, tìm biện pháp đối phó thật linh hoạt, hiệu quả; nhất là khi lực lượng phòng không của ta chưa khống chế được hoạt động của AC 130, cần triệt để tổ chức chạy lấn sáng lấn chiều, tăng cường nghi binh bằng cách cho một số xe "rách" chạy hút địch vào hướng nghi binh. Biện pháp cơ bản, lâu dài là mở đường kín để chạy ban ngày. Lúc này, trừ Tư lệnh sư đoàn Nguyễn An trực chỉ huy ở cơ quan, còn hết thảy anh em trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn phân công nhau đi thực địa nghiên cứu địa hình để mở đường kín. Trong chiến tranh, có những việc làm có thể coi là kỳ tích. Bởi lẽ với sự bằng lặng cuộc sống đời thường dẫu có "ba đầu sáu tay" cũng khó làm nổi. Mở đường kín ở Sư đoàn 471 lúc này là một kỳ tích như vậy. Chỉ vẻn vẹn 20 ngày đầu tháng 2 năm 1972, Sư đoàn 471 đã mở được mấy trục đường kín. Một đường nối từ đường 24, từ Binh trạm 45 vào Binh trạm 46 qua ngầm Bạc, tránh những quãng trống của đường 22 vào đến Sê Ca Mán. Một đường từ B46 qua Phu Trường vào Tha Teng - Bản Phồn rồi theo đường 16 trên đất Lào xuống A Tô Pơ, vượt sông Sê Công phía thượng lưu, qua thị xã A Tô Pơ vào địa hạt Sư đoàn 470. Lần đó, tôi giao cho một kỹ sư cầu đường, được sử dụng một đại đội công binh, mở 20 cây số đường kín ở nam sông Bạc trong vòng 10 ngày. Nhận lệnh xong, đồng chí kỹ sư hỏi lại: Thủ trưởng có thấy nhiệm vụ này quá sức tưởng tượng của mình không? Hiểu sự lo lắng của anh em, tôi trả lời: Chiến tranh cần phải vậy. Đồng chí nghĩ gì khi ngày ngày đồng đội ta cứ ngã xuống, hàng cháy, xe cháy. Cứ đến với thực địa, tôi chắc sẽ làm được. Ngay sau đó, tôi cùng người kỹ sư dẫn đại đội công binh đến cánh rừng cần mở đường, hướng dẫn chỉ cần chặt những cây nhỏ, san sửa mặt đường chút xíu cho vừa xe chạy là được, bởi rừng khộp ở đây khá bằng phẳng. Chỉ những quãng có dốc mới dùng tới cuốc xẻng. Anh em làm đúng như vậy và chưa đầy 10 ngày, họ đã hoàn thành quãng đường cần mở. Mở đường kín trong rừng khộp khá thuận lợi. Nhưng cây thưa, tán mỏng, kín mà không thật kín. Vào mùa khô, xe chạy nhiều, đất bazan tơi tạo thành lớp dày. Chỉ cần một đoàn xe chạy qua là bụi đỏ bốc lên như khói cháy rừng, dễ bị máy bay phát hiện, đánh phá. Bởi vậy các đơn vị phải chỉ huy điều hành đội hình xe thật chặt chẽ; tổ chức tốt việc nghi binh; đặc biệt là bố trí lực lượng pháo phòng không đánh địch, bảo vệ đội hình xe. Trên tuyến từ Chà Vằn ra Khâm Đức, chúng tôi kết hợp vận chuyển đường kín ban ngày và "đường hở" ban đêm. Không chỉ Sư đoàn 471, mà mở đường kín còn là nhiệm vụ trung tâm của các đơn vị trên tuyến lúc này. Bộ Tư lệnh và cơ quan tham mưu công binh thường xuyên cử cán bộ xuống giúp đơn vị khảo sát, thi công đường kín. Anh Lê Xy xuống với sư đoàn chúng tôi. Nhiều lần anh Lê Xy cùng tôi và anh Phan Đức Tầm - Binh trạm trưởng Binh trạm 47 lội sông nghiên cứu khắc phục các bến vượt sông Sê Công. Vào một đêm trăng mấy anh em chúng tôi bì bõm qua lại mấy quãng sông cạn, theo chỉ dẫn của dân bạn Lào, để tìm ngầm cho xe vượt sông. Trăng sáng quá. Không sợ máy bay địch, mà chỉ sợ có đám nữ thanh niên xung phong hay phụ nữ bản Lào phát hiện. Từ khi đường kín được đưa vào sử dụng, xe chạy vào ban ngày. Bộ đội xe phấn chấn tột độ, năng suất vận chuyển tăng vọt. Đặc biệt, số xe và hàng bị cháy giảm hẳn. Đúng là "vỏ quýt dày có móng tay nhọn". Nếu chủ động trong việc nghiên cứu thủ đoạn đánh phá của kẻ thù, chúng ta sẽ kịp thời có giải pháp khắc phục. Người dưới đất luôn làm chủ là vậy. Kết thúc mùa khô 1971-1972, toàn tuyến đã hoàn chỉnh được hệ thống đường kín dài trên 800 cây số. Với kỳ tích này, Bộ đội Trường Sơn không chỉ vô hiệu hóa được thủ đoạn đánh phá, chặn xe của địch bằng máy bay AC130 mà còn thực hiện được vận tải cung dài với đội hình lớn, cơ bản chấm dứt những năm tháng dai dẳng xe phải chạy đêm, "làm ăn như cò như vạc", vận chuyển theo cung - trạm, hiệu quả thấp, chậm. Xây dựng thành công tuyến đường kín trên là một sáng tạo lớn, một đóng góp lớn của Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh vào lịch sử Công binh Việt Nam, lịch sử Ngành Vận tải quân sự và lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:41:17 am Cùng với việc phát triển hệ thống đường vận tải bộ, Sư đoàn 471 còn có nhiệm vụ vận chuyển trên sông Sê Công từ thị xã A Tô Pơ, đưa hàng xuống Tà Ngâu cho Sư đoàn 470 để chuyển tiếp theo sông Sê Công và sông Mê Công vào giao cho Nam Bộ. Tiểu đoàn 153 vận tải đường sông trực thuộc Sư đoàn 471, biên chế 3 đại đội. Mỗi đại đội trang bị từ 15-20 thuyền nhôm có trọng tải trên dưới một tấn hàng, lắp máy đẩy của Nhật. Cũng như ô tô trên đường bộ, thuyền máy trên sông luôn là mục tiêu săn đuổi của máy bay địch. Để hạn chế tổn thất, chúng tôi cho thuyền chạy lấn sáng, lấn chiều. Vận chuyển ban đêm an toàn hơn, nhưng xử lý thuyền vượt thác dữ thường phức tạp, khó khăn hơn, mặc dù lực lượng phá thác của Trung đoàn công binh 98 đã khắc phục rất nhiều. Trương Xuân Hòa - Anh hùng vận tải trên sông Bạc trước đây đã được giao phụ trách một đại đội thuyền.
Mùa khô này, lực lượng binh khí kỹ thuật từ hậu phương cơ động theo đường Trường Sơn vào chiến trường ngày càng nhiều, gồm pháo mặt đất Đ74, cao xạ, xe tăng, thiết giáp; vào với đội hình hoàn chỉnh cấp lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn. Sư đoàn 471 chúng tôi cũng có vinh dự tiễn đưa Trung đoàn 210 vào tăng cường cho Bộ Tư lệnh Miền. Các anh Hồ Quang Trung, Nguyễn Văn Lạn, Dương Văn Hòa được phân công chỉ đạo tổ chức cho lực lượng binh khí kỹ thuật hành quân qua tuyến đảm bảo an toàn. Sư đoàn 471 vừa tổ chức cho lực lượng này cơ động theo đường kín, vừa thu dung xe, pháo hư hỏng dọc đường để sửa chữa và tiếp tục chuyển giao cho chiến trường. Số xe pháo bị hỏng hóc nằm lại địa bàn Sư đoàn 471 đảm trách có đến hàng chục chiếc; có xe bị địch đánh cháy ngay trên đường hành quân. Cuối mùa khô năm 1972, chúng tôi được đón tiếp và đưa phái đoàn của các đồng chí Tố Hữu, Đinh Đức Thiện, Phạm Ngọc Mậu vào thị sát chiến trường Nam Bộ. Đến khu vực ba biên giới, xe của đoàn bị máy bay địch phát hiện đánh đuổi. Cũng may là không ai việc gì. Chỉ đến khi bộ phận tiền trạm báo cáo cụ thể tình hình của đoàn, chúng tôi mối trút được nỗi lo. Cũng vào thời điểm này, Sư đoàn 2 Quân khu 5 - sư đoàn của anh Nguyễn Chơn lúc đó, sau mấy tháng tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào trở về Quân khu có đi qua tuyến của Sư đoàn 471 để nhận thêm vũ khí, lương thực, thực phẩm. Bởi vậy, tôi đã tìm gặp được anh họ tôi là Võ Thanh Tư - Chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn Ba Gia. Tưởng sẽ biết được chút gì đó về mẹ tôi và những người thân thích ở quê, nhưng thật buồn, anh Tư cũng chẳng biết gì hơn tôi. Thế rồi công việc lại cuốn chúng tôi vào cuộc. Tôi nhờ anh về dưới đó gắng tìm cách liên lạc với mọi người ở quê rồi cho tôi biết, nhưng cũng "bặt vô âm tín". Từ sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, đặc biệt là thời gian ta mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Tuyến 559 không chỉ làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến lược mà còn vận chuyển bảo đảm chiến dịch, nên khối lượng công việc lắm khi quá sức mình. Trong khi đó nhu cầu bảo đảm nội bộ cũng ngày càng tăng thêm. Khó khăn càng thêm khó khăn. Từ tháng 11 năm 1971 đên tháng 2 năm 1972, Sư đoàn 471 luôn ở tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm. Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ đạo các đơn vị chủ động khai thác thu mua khoai sắn của nhân dân bạn Lào, nhưng cũng chẳng được bao lăm. Bời nhân dân bạn ở đây quá nghèo. Trường hợp quá khó khăn, chúng tôi dành gạo cho lái xe, giảm khẩu phần gạo của những lực lượng nào có thể giảm. Có những lực lượng chỉ chủ yếu là ăn ngô, ăn sắn. Thực phẩm hầu như chẳng có gì ngoài muối và chút ít mắm khô. Trước cảnh "túng quẫn" như vậy, Tư lệnh sư đoàn Nguyễn An - một người luôn lạc quan, dí dỏm, thích văn chương, đã có những câu thơ rất thật về Sư đoàn 471: Ta sinh ra giữa mùa mưa vất vả Còn trong nôi mà rau cháo nuôi nhau... Tết Nguyên đán Nhâm Tý (năm 1972) bàn đi tính lại, tôi và anh An mới quyết định cho bộ đội được ăn bảy lạng gạo trong ngày mùng Một Tết - chỉ mỗi ngày mùng Một mà thôi. Lệnh phát đi rồi, tôi như thấy có lỗi với anh em - Sao mà sắt se đến cùng cực như vậy! Nhưng không thể nào khác được. Điều đáng quan tâm, lo lắng đối với chúng tôi là cái "tết dài". Thật giống như nhà nông đang buổi nghèo, chưa hết Tết đã nghĩ đến giêng hai giáp hạt. Lúc đó, Bộ Tư lệnh Trường Sơn và các đơn vị tuyến ngoài, cùng với việc chuyển hàng cho các chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, còn tích cực chuẩn bị cho chiến dịch tiến công Trị - Thiên. Tuy vậy, biết chúng tôi khó khăn, anh Nguyên đã gọi điện cho Sư đoàn 470 chuyển gấp một số gạo, cá khô khai thác được ở Cam-pu-chia ra cho chúng tôi. Dù không được bao lăm, nhưng "một miếng khi đói bằng một gói khi no". Về quan hệ với bạn Lào, Sư đoàn 471 được phân công giúp đỡ các tỉnh Tà Ven Oọc, A Tô Pơ và Bô Lô Ven. Trong ba tỉnh, thì Tà Ven Oọc là tỉnh thường thiếu thốn, khó khăn nhất. Trong quan hệ công tác, chúng tôi thường xuyên gặp gỡ với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh bạn, thống nhất phối hợp hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Bí thư Tỉnh ủy Tà Ven Oọc lúc đó là anh Pô Lan. Dẫu còn nghèo khó, nhưng bạn sẵn sàng dời nhà, dời nương rẫy để chúng tôi mở đường, nhường đường sống cho chúng tôi vận chuyển. Khi Bộ đội Trưòng Sơn thiếu đói, bạn sẵn sàng nhường hết những bắp ngô, củ sắn cuối cùng. Cũng như các đơn vị bạn, Sư đoàn 471 giúp bạn Lào tổ chức sản xuất, xây dựng cơ sở; khi có điều kiện thì giúp nhân dân bạn vải, gạo, muối và các vật dụng khác... Cũng ở Tà Ven Oọc, có đồng chí Bun Nhơn là người Việt; quê ở miền Tây Quảng Nam, được tổ chức phân công sang giúp bạn từ năm 1949, lấy vợ người Lào và trở thành người Lào gốc Việt, là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy. Có lần, đồng chí Bun Nhơn tâm sự với tôi rằng, anh đã đề đạt nguyện vọng được về nước, nhưng Trung ương Đảng ta động viên anh ở lại, bởi vì giúp bạn cũng là tự giúp mình như Bác Hồ đã dạy. Sau ngày đất nước Lào được giải phóng, đồng chí Bun Nhơn là Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và có thời gian làm Bí thư Tỉnh ủy Sa Ra Van. Nhân dân bạn Lào tuy còn nghèo, nhưng sống chân chất, thủy chung, đôn hậu và cũng thẳng thắn hết lòng. Một lần, tôi và anh Hồ Quang Trung đi thị sát tuyến đường sông bằng ca nô dọc theo sông Sê Công, có gặp một số bà con đánh cá. Thấy bà con đánh được nhiều cá, chúng tôi muốn mua một ít để cải thiện, nhưng tiền "kíp" thì không có, mà muối và vải để đổi cũng không. Nhưng tình cờ, có cụ già đã nhận ra anh Hồ Quang Trung là "người quen", bởi anh có thời là bộ đội tình nguyện hoạt động ở Hạ Lào. Vậy là các cụ nhất mực: "Chúng mày cứ lấy mà dùng, chúng tao cho". Chúng tôi không chịu lấy không của dân, chỉ đồng ý mua chịu, sẽ đem vải và muối đến trả. Rồi các cụ cũng "xuống nước" - "Trả cũng được, không trả cũng được". Trong quan hệ với bạn, mỗi khi có chiến sĩ của ta vi phạm khuyết điểm, kể cả vi phạm phong tục tập quán tín ngưỡng của bạn - một điều tối kỵ, cán bộ đơn vị xử lý, thì chính nhân dân bạn đến xin: "Nó cũng như con em mình mà, nó sai với dân, dân tha rồi, cán bộ cũng tha cho nó". Nhân dân bạn Lào thủy chung, tình nghĩa, nhân hậu và giàu lòng vị tha là vậy. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2022, 08:42:05 am Mùa hè năm 1972, mưa rất sớm. Ô tô chạy đường kín ban ngày, ưu thế nổi trội nhiều mặt so với chạy đường hở ban đêm. Nhưng đường kín cũng có cái dở là chưa mưa đã lầy lún. Bùn ngập nửa bánh xe khi mùa khô, chỉ chờ vài trận mưa là tha hồ làm tình làm tội lính xế.
Trung tuần tháng 5, chúng tôi kết thúc kế hoạch mùa khô 1971-1972. Ngày 26 tháng 5 năm 1972, Đảng ủy Sư đoàn 471 họp sơ kết hoạt động của Sư đoàn từ ngày thành lập - chủ yếu là đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch mùa khô 1971-1972. Đảng ủy thống nhất nhận định: Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, tổ chức biên chế mới, địch đánh phá, ngăn chặn quyết liệt, đặc biệt là dùng AC 130 săn lùng diệt xe... nhưng với sự nỗ lực cao độ của cán bộ, chiến sĩ, Sư đoàn 471 đã hoàn thành 100 phần trăm kế hoạch: Vận chuyển giao cho các chiến trường 21.959 tấn hàng hóa (gồm 5.520 tấn gạo, 4.620 tấn xăng dầu, 8.200 tấn vũ khí); so với mùa khô 1970-1971, đạt 223 phần trăm. Tuy vậy, do không kịp thời đối phó với thủ đoạn đánh phá mới của địch, nên Sư đoàn cũng bị tổn thất khá lớn. 734 tấn hàng, 223 xe ô tô bị đánh cháy (số xe bị đánh cháy chiếm 29,8 phần trăm số xe hiện có của Sư đoàn - 744 chiếc). Đây là một tổn thất chưa có tiền lệ. Sau hội nghị Đảng ủy sư đoàn, anh Nguyễn An về lại cơ quan, giữ chức Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn. Anh Hồ Quang Trung được bổ nhiệm quyền Tư lệnh sư đoàn. Mùa mưa năm 1972, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, chúng tôi chỉ đạo cac tiểu đoàn xe cử thợ và lái xe ở lại bảo dưỡng số xe hỏng; số còn lại ra Bắc nhận xe bổ sung chuẩn bị cho mùa khô tới. Các lực lượng công binh, phòng không, bộ binh, giao liên, kho... và cơ quan ở lại tuyến. Tranh thủ mùa mưa, giảm cường độ vận chuyển, chúng tôi cho chuyển sở chỉ huy sư đoàn về tây Bản Phồn, gần Phu Trường. Cũng như các mùa mưa trước, thời tiết miền rừng ở Lào hết sức khắc nghiệt. Ngày, trời nóng như nung, đêm về lạnh ngắt. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ cơ quan cũng như đơn vị không tránh khỏi sốt rét. Người nhẹ thì mấy cơn sốt rét thường. Có người bị sốt rét ở thể ác tính rất nặng, dẫn tới tử vong, như cô Thắm ở đội văn nghệ sư đoàn. Đưa một cô gái phơi phới sức xuân, không chết bởi bom đạn thù mà lại ngã xuống bởi những cơn sốt rét rừng về nơi yên nghỉ cuối cùng, nỗi đau trong chúng tôi càng nhân lên gấp bội; đau bởi bất lực với đám ký sinh trùng oan nghiệt này! Chính sốt rét làm cho các đơn vị mất sức chiến đấu trầm trọng chứ không phải thương vong do bom đạn. Dĩ nhiên sốt rét nhiều một phần cũng do nuôi dưỡng kém - đúng hơn là đói. Mùa mưa này tôi cũng bị sốt rét quật ngã, nằm liệt giường hơn một tháng. Nhờ sự tận tình chăm sóc của quân y sĩ, đồng chí, đồng đội, tôi đã qua được phút hiểm nghèo. Ngay sau khi cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1972 của quân và dân ta nổ ra trên chiến trường miển Nam, Mỹ đã huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân, sử dụng một khối lượng bom đạn khổng lồ tiến công miền Bắc, hòng cứu nguy cho quân ngụy trên chiến trường. Bằng đòn tiến công quân sự này, Mỹ nuôi hy vọng buộc ta phải chấp nhận những giải pháp mà chúng đưa ra tại bàn đàm phán ở Pa-ri. Nhưng thực tế trên chiến trường không "chiều lòng" Mỹ. Sau đại thắng ở Đường 9 - Nam Lào, ta liên tiếp giành được nhiều thắng lợi trong chiến dịch Trị - Thiên xuân hè 1972. Toàn bộ một vùng rộng lớn, có tầm quan trọng chiến lược từ đường 9 vào Thành cổ Quảng Trị được giải phóng, ở tây Thừa Thiên, chủ lực của Mặt trận Trị Thiên - Huẽ (B4) đã phát triển xuống đồng bằng, áp sát thành phố Huế, các thị xã, thị trấn. Tuyến 559 lấy đường 9 làm bàn đạp - điểm xuất phát mới. Mùa hè 1972, đối với những đơn vị phía bắc của Tuyên 559 - đặc biệt là Sư đoàn 571, nhiệm vụ nặng nề hơn, vừa vận chuyển chi viện chiến lược vừa vận chuyển bảo đảm cho chiến dịch Trị - Thiên, chủ yếu là chiến dịch phòng ngự ơ Quảng Trị. Đầu mùa khô 1972-1973, lượng hàng hóa mà Tuyến 559 cần chuyển vào chiến trường nhiều hơn; lực lượng phải tổ chức bảo đảm qua tuyến vào chiến trường cũng nhiều hơn. Tranh thủ khi không quân địch đang tập trung đánh phá miền Bắc và bị thu hút vào Mặt trận Quảng Trị, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chỉ đạo các đơn vị đẩy nhanh hàng vào chiến trường ngay từ tháng đầu. Và các sư đoàn, binh trạm triển khai kế hoạch khẩn trương, không phụ lòng của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh. Tháng nào, kế hoạch cũng đạt 120 - 130 phần trăm. Cũng do hành lang đông Trường Sơn được cải thiện, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức nâng cấp tuyến đường từ Khe Sanh vào Làng Trầm, A Lưới, A Sầu, Bù Lạch, Trao, sông A Vương để chủ động bảo đảm cho cánh Bắc Khu 5 và chuẩn bị mở tiếp vào sâu hơn. Bước vào mùa khô 1972-1973, Sư đoàn 471 vẫn đảm trách địa đoạn cũ. Vừa vận chuyển hàng, bảo đảm quân vào chiến trường, Sư đoàn vừa tiếp tục mở đường 17 xuyên giữa cao nguyên Bô Lô Ven, để chuyển hàng thẳng xuống Chăm Pát Xắc và giao cho Sư đoàn 470 chuyển tiếp theo sông Mê Công qua Cam-pu-chia vào giao cho Nam Bộ. Sau bốn tháng dồn sức thi công cật lực, Trung đoàn 10 công binh đã thông đường 17 theo kế hoạch. Tháng 12 năm 1972, Quân khu 5 và Mặt trận Tây Nguyên giải phóng phần lớn tỉnh Công Tum. Nhiệm vụ cấp bách của Quân khu 5 lúc này là cung cấp ngay một khối lượng lớn lương thực cứu đói cho nhân dân vùng mới giải phóng. Anh Trần Kiên (tức Nguyễn Tấn Tài) - Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 5, phụ trách tỉnh Công Tum tức tốc ra gặp chúng tôi yêu cầu chi viện cho Công Tum 300 tấn gạo. Vì yêu cầu ngoài kế hoạch, tôi gọi điện báo cáo và xin quyết định của Bộ Tư lệnh. Tôi trình bày yêu cầu của anh Trần Kiên khó khăn của Công Tum và nghe từ đầu dây kia, anh Nguyên cứ "khụt, khịt" liên tục. Thường khi xúc động hoặc có biểu hiện bực bội về một điều gì đó, anh Nguyên hay có cử chỉ đó. Rồi anh chỉ thị luôn: - Anh Trần Kiên đã nói vậy là tình thế căng lắm. Không chỉ 300 mà Sư đoàn 471 chuyển giao cho Công Tum 500 tấn gạo và thực phẩm. Nhớ là chuyển thẳng, không qua Sư đoàn 470 và Mặt trận Tây Nguyên! Biết tính anh Nguyên, nên tôi vui vẻ nhận lệnh, hứa thực hiện sớm ngày nào hay ngày đó! Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:48:10 am Cũng qua sự kiện này, tôi càng hiểu thêm tính cách của Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên. Tôi biết anh Nguyên từ ngày tôi về nhận công tác tại Cục Tổ chức. Lúc đó anh Nguyễn Trọng Vĩnh là Cục trưởng, anh Nguyên là Cục phó. Sau rất nhiều cương vị công tác quan trọng khác nhau, tháng 1 năm 1967, anh Nguyên vào giữ chức Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn cho đến ngày cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ hoàn toàn thắng lợi.
Không chỉ nắm vững, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, anh Nguyên còn rất nhạy cảm - nhạy cảm chính xác với những quyết định chiến lược. Anh luôn tìm cái mới, rất chú trọng bám nắm thực tế, từ thực tế mà quyết định được những chủ trương kịp thời, đúng đắn. Anh cũng là người coi trọng tổng kết kinh nghiệm qua mỗi giai đoạn, qua mỗi mùa vận chuyển. Những điều mà anh tổng kết, gạn lọc được vừa có giá trị lý luận sâu sắc vừa mang tính thực tiễn sinh động. Không ít người từng công tác, cộng sự với anh Nguyên, xem anh là người thường xuyên nghiên cứu thay đổi biên chế tổ chức cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ. Khi giao nhiệm vụ cho cấp dưới, anh rất nghiêm khắc, nhưng lại lắng nghe, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của anh em, luôn theo dõi đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ. Trong quan hệ, anh tôn trọng cấp dưới. Tuy vậy những khi do yêu cầu nhiệm vụ quá ư bức xúc, anh cũng không ngần ngại hối thúc, làm cho cấp dưới bị động. Không chỉ với tôi (như sự cố Seng Phan, A Lưới) mà các anh Đặng Văn Ngữ, Phan Hữu Đại (Binh trạm 32), anh Nguyễn Văn Lạn (Binh trạm 41)... cũng được anh nhiều lần dành cho "đặc ân" ấy. Được sự chỉ đạo, giúp đỡ thẳng thắn, thân tình của anh, được anh tin giao nhiều nhiệm vụ, thường là khó khăn, tôi đã học hỏi được ở anh nhiều điều, đặc biệt là sự quyết đoán, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; là tác phong thực sự thực tế - mà anh khái quát thành "ba bám, bốn nhanh, năm trực tiếp". Trong sử dụng cán bộ, anh Nguyên là người biết động viên cao độ nhiệt tình cũng như năng lực của họ, khoan dung với những khuyết điểm mà anh em phạm phải... Hơn ai hết, cơ quan chính trị chúng tôi đã học hỏi được ở vị Tư lệnh của mình rất nhiều trong lĩnh vực này, từ đó giúp Bộ Tư lệnh sử dụng tốt đội ngũ cán bộ cơ sở tự đào tạo, cán bộ do Bộ Quốc phòng và cả cán bộ dân - chính - Đảng bổ sung cho Đoàn 559. Tuy nhiên, anh Nguyên cũng có một vài nhược điểm, mà anh em chúng tôi vẫn cho là những "nhược điểm đáng quý". Do quá tin cán bộ, nên có trường hợp cán bộ cấp dưới đã lợi dụng lòng tin của anh, làm những việc không đúng, hoặc báo cáo thêm thành tích. Suốt 10 năm ở cương vị Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, anh Nguyên luôn đặt nhiệm vụ chi viện bảo đảm cho chiến trường lên hàng đầu, kể cả chiến trường miền Nam, Trung - Hạ Lào và Cam-pu-chia. Anh không để thiếu hụt một ký hàng trong kế hoạch chi viện chiến trường, nếu như điều kiện cho phép. Khi cần, anh quyết định giao vượt chỉ tiêu cho chiến trường. Trường hợp giao 500 tấn khi tỉnh Công Tum yêu cầu 300 tấn vào cuối năm 1972 là một ví dụ. Sau này, vào năm 1973, ngoài chỉ tiêu kế hoạch Bộ giao, anh Nguyên còn chỉ thị cho Sư đoàn 471 chúng tôi giao cho Quân khu 5 thêm 1.000 tấn hàng... Đối với nhân dân các tỉnh vùng Nam Lào, ngoài kế hoạch trên giao, anh thường chỉ thị cho các đơn vị bảo đảm thêm cho mỗi tỉnh của bạn mỗi năm từ 300 đến 500 tấn lương thực. Nhiều lần anh tâm sự với chúng tôi: Nhân dân bạn dọc trục hành lang luôn thiếu đói, nhưng đã không tiếc gì khi bộ đội Đường Hồ Chí Minh cần, dẫu có chi viện bao nhiêu cũng không thể đền đáp hết tình cảm, sự hy sinh của bạn... Lịch sử Bộ đội Trường Sơn đã qua những năm tháng vô cùng khó khăn, ác liệt nhưng rất đỗi hào hùng. Sự tích anh hùng của Bộ đội Trường Sơn ngày một thêm phong phú, nhất là vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Mọi chiến công, thành tích lớn, nhỏ của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn đều được tạo dựng bởi mồ hôi, xương máu của bao người. Nhưng ở một chừng mực, chiều cạnh nào đó, tôi vẫn nghĩ, anh Nguyên đã để lại rất đậm "dấu ấn" của mình ở những chiến công, thành tích đó. Tháng chạp năm 1972, nuôi ảo vọng có thể dùng đạn bom để gây áp lực với ta tại bàn đàm phán ở Pa-ri, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không - chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng. Khi biết tin đế quốc Mỹ tập trung khối lượng lốn B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng một cách tàn khốc, cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 471 đã điện về Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng quyết tâm làm nhiệm vụ gấp bội để thiết thực vào việc chống đế quốc Mỹ. Một lần nữa, Mỹ lại hy vọng dùng đạn bom để khuất phục dân tộc ta. Nhưng mọi hy vọng của chúng đã trở thành ảo vọng. Xác pháo đài bay B-52 rơi lả tả trên đường phố Hà Nội, xác B-52 bị nhấn chìm trong hồ Hữu Tiệp - làng hoa Ngọc Hà. Một "Điện Biên Phủ trên không" đã ngời thêm khí phách, phẩm giá của dân tộc Việt Nam. Trắng tay trong "canh bạc" cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, Mỹ buộc phải ngậm đắng nuốt cay ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, từ những chiếc ra-đi-ô hiếm hoi, lanh lảnh vang lên giọng đọc thân thương của nữ phát thanh viên Đài tiếng nói Việt Nam thông báo Hiệp định Pa-ri được ký kết. Quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Nói sao hết nỗi niềm sung sướng của người lính chúng tôi. Đúng là: "Khao khát trăm năm mãi đợi chờ Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ". Như vậy, quyết tâm "Đánh cho Mỹ cút" như Bác Hồ đã từng khẳng định đã được thực hiện. Còn việc đánh cho ngụy nhào, để thống nhất đất nước, giành độc lập hoàn toàn đòi hỏi quân và dân ta cần gắng sức hơn nữa, tranh thủ thời cơ, tiến công, tiến công liên tục. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:50:25 am Từ cuối tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri bắt đầu có hiệu lực, trên Tuyến 559 không còn sự đánh phá của không quân Mỹ; không quân ngụy chỉ đánh phá một số điểm ở vùng ba biên giới, tây Trị - Thiên... Đây là thời cơ hết sức thuận lợi để Bộ đội Trường Sơn tập trung lực lượng xây dựng, hoàn thiện thế trận cầu đường, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu và đẩy mạnh vận chuyển ngày đêm; cơ động nhanh nhiều bộ đội, phương tiện vật chất hậu cần - kỹ thuật cho chiến trường. Khối lượng vận chuyển lúc này gấp từ năm đến bảy lần so với cùng thời gian những mùa khô trước.
Cuối tháng 3, cùng thời điểm mà những tên lính Mỹ - những tên lính thực thụ rút khỏi miền Nam, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn triệu tập hội nghị quân chính toàn tuyến quán triệt tình hình, bàn triển khai nhiệm vụ mới. Vào hội nghị, chúng tôi được phổ biến chỉ thị của Quân ủy Trung ương và lệnh của Bộ Quốc phòng giao cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn: Tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh vận chuyển, tổ chức bảo đảm cho bộ đội hành quân gấp vào chiến trường, đáp ứng yêu cầu bổ sung và thay thế lực lượng; tăng cường vật chất hậu cần, kỹ thuật, đảm bảo cho các quân khu tổ chức chiến trường, đổi mới vũ khí trang bị cho bộ đội chủ lực, xây dựng lực lượng dự trữ chiến lược, chuẩn bị sẵn sàng đón thời cơ mới; đồng thời, bảo đảm một phần nhu cầu kinh tế cho nhân dân vùng giải phóng, góp phần xây dựng các căn cứ hậu cần ở chiến trường miền Nam và vùng Trung - Hạ Lào... Để làm được tốt nhiệm vụ dó. Bộ Tư lệnh Trường Sơn phải nghiên cứu, khẩn trương xây dựng đường cơ bản và nhanh chóng mở thông đường đông Trường Sơn (hoàn toàn đi trên đất Việt Nam), từ miền Bắc vào đến miền Đông Nam Bộ (Bù Gia Mập), khẩn trương phát triển đường ống dẫn xăng dầu đông Trường Sơn cho đến Lộc Ninh. Nhìn tổng thể thế trận cầu đường của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn lúc này, tuy đã lấy đường 9 làm bàn đạp rút ngắn được các cung chặng vận chuyển, nhưng về cơ bản tuyến vẫn nằm trên đường bạn Lào, trên các địa phận các tỉnh ở Nam Lào, như Sa Va Na Khẹt, Sa Ra Van, Tà Ven Oọc, A Tô Pơ, Bô Lô Ven, Chăm Pát xắc và một số tỉnh vùng Đông Bắc Cam-pu-chia. Ở hành lang đông Trường Sơn, đường cơ giới mới thông đến A Vương, có thêm các đường nhánh 72, 73 thọc xuống đồng bằng Thừa Thiên. Bởi vậy, quyết tâm của Bộ Tư lệnh Trường Sơn là tích cực chuẩn bị để khi điều kiện cho phép khẩn trương thi công tuyến đường cơ bản đông Trường Sơn vào tới Bù Gia Mập - Lộc Ninh. Vào thời điểm này, Sư đoàn 471 đảm trách ba đường trục dọc: đường 128 từ sông Bạc đi Xê Sụ, đường 24 và đường 22 từ đông Sa Ra Van qua Sê Công - Bản Phồn, Sê Ca Mán, Xê Sụ; thứ ba là đường 17 từ Tha Teng đi Pắc Xoòng - qua cao nguyên Bô Lô Ven, đến Chăm Pát xắc và một đường ngang từ Chà Vằn đi Khâm Đức - Làng Hồi (Quảng Nam), Đắc Pét (Công Tum). Ngoài ra, Sư đoàn 471 còn quản lý tuyến đường sông Sê Công từ A Tô Pơ đẽn Tà Ngâu. Cùng với các đơn vị bạn, Sư đoàn 471 chúng tôi nuôi quyết tâm chuẩn bị "lật cánh" trở lại đông Trường Sơn. Vậy là, với tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, Hiệp định Pa-ri đã mở ra một vận hội mới. Bởi thế, một cuộc họp hội đủ những cán bộ chủ trì trên tuyến mà chẳng khác gì một ngày hội lớn. Cũng là anh em, đồng đội thân quen mà ai cũng như trẻ lại đến mấy tuổi. Với tôi, niềm vui còn nhân lên gấp bội, vì nhận được thư vợ báo tin vợ chồng tôi đã có con trai, lấy tên là Võ Trường Sơn. Hồi đó, để khắc ghi kỷ niệm những năm tháng chồng chiến đấu ở Trường Sơn, vợ đêm ngày khắc khoải ngóng trông về nơi đó, không chỉ vợ chồng tôi mà bạn bè, anh em cũng có mấy người đặt tên con là Trường Sơn... Qua làm việc với anh Nguyên và anh Đặng Tính, chúng tôi biết, ngay sau hội nghị quân chính, để chuẩn bị cho việc hoàn thiện thế trận vận chuyển, Tư lệnh sẽ dẫn đầu một đoàn cán bộ đi nghiên cứu tình hình tuyến đông Trường Sơn và Chính ủy sẽ khảo sát tuyến tây Trường Sơn. Bởi vậy, kết thúc hội nghị, anh em chúng tôi về ngay sư đoàn, phần để khẩn trương triển khai nhiệm vụ, phần để chuẩn bị tiếp đoàn của Chính ủy. Ngày 1 tháng 4 năm 1973, anh Đặng Tính vào tới sở chỉ huy Sư đoàn 471 ở bắc sông Bạc. Anh Tính làm việc với Bộ Tư lệnh Sư đoàn gần hai ngày, trao đổi, bàn bạc cùng chúng tôi nhiều vấn đề nhằm hoàn chỉnh thế trận cầu đường, góp phần tạo thời cơ, chủ động đón thời cơ; đặc biệt là việc xây dựng căn cứ hậu cần chiến lược ở khu vực ba biên giới... Cùng đi với anh Đặng Tính có các anh Vũ Quang Bình - Chính ủy Sư đoàn 968, anh Nguyễn Xuân Yêm - Tham mưu phó công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Đặng Đình Miên - Phó chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Danh - Chính ủy Cục Hậu cần, nhạc sĩ Trịnh Quý - Phó đoàn văn công Trường Sơn và một số cán bộ trợ lý cơ quan. Sau hai ngày làm việc, ngày 3 tháng 4, chúng tôi bố trí anh Nguyễn Đình Kiên - Trung đoàn phó Trung đoàn 59 bộ binh (một trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 471 phối thuộc cho Sư đoàn 968 chiến đấu ở Pắc Xoòng) phụ trách bộ phận hộ tống Chính ủy và đoàn đi kiểm tra Mặt trận Pắc Xoòng; sau đó làm việc với Tỉnh ủy của bạn ở Bô Lô Ven. Thời gian này, dọc đường 16 đi Pắc Xoòng, biệt kích, thám báo địch thường gài mìn. Một số xe tải của ta đã bị vướng mìn, có trường hợp gây thương vong. Để bảo đảm an toàn cho đoàn, chúng tôi bố trí hai xe Zin157 có đầu tời đi trước; xe con của anh Tính và các anh trong đoàn chạy sau. Đơn giản là nếu có mìn thì Zinl57 sẽ gây nổ trước. Một kế hoạch hành quân cũng được tính toán kỹ càng. Đoàn của Chính ủy sẽ đi theo đường 17 mới mở đến sở chỉ huy Trung đoàn 10 và Trung đoàn 59 ở Pắc Xoòng, sau đó vào làm việc với Tỉnh ủy của bạn. Sáng ngày 4 tháng 4, cả đoàn sẽ đi bộ lên thăm bộ đội ở các chốt. Chia tay đoàn, anh Hồ Quang Trung và tôi còn nhắc anh Nguyễn Đình Kiên tuyệt đối bảo đảm an toàn. Nghe chúng tôi dặn dò anh Kiên, anh Vũ Quang Bình còn đùa: - Yên chí, chúng mình đã bao năm là "thổ công" ở đây rồi. Phỉ, thám báo không làm gì được đâu! Nhưng, hàng trăm nghìn lần "không", để có một lần ngoài tầm suy nghĩ. Chúng tôi đâu có nghĩ đó chính là lần chia tay vĩnh viễn với anh Tính, anh Bình, anh Yêm... Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:51:20 am Theo anh em trong đoàn kể lại, vào khoảng 15 giờ 30 chiều ngày 3 tháng 4, đoàn đến quãng đường ngang từ Pắc Xoòng đi A Tô Pơ. Đây là quãng đường cũ, từ lâu cả bạn và ta đều không sử dụng, cách chốt Pắc Xoòng chừng 15 cây số. Trời có mù. Lẽ ra đã có thể kết thúc lộ trình một ngày. Nhưng anh Tính, anh Bình lại quyết định tranh thủ đi thẳng lên chốt thăm bộ đội. Anh Kiên, anh Miên và cả anh Danh thuyết phục, can ngăn rằng ở các trục đường giáp ranh này địch rất hay gài mìn đánh xe - chúng rất sợ thiết giáp của ta tiến công, nên khó bảo đảm an toàn. Nhưng mọi lời khuyên cũng không làm Chính ủy Đặng Tính thay đổi quyết định lên chốt thăm bộ đội. Buộc lòng anh Kiên phải nghe theo, nhưng với điều kiện xe của Chính ủy phải chạy sau xe các anh ấy chừng 30 mét và bánh xe sau phải ke đúng bánh xe đi trước.
Vẫn biẽt nơi chiến trường, nơi đối đầu với "mũi tên, hòn đạn" thì sống chết đâu có ranh giới rõ rệt, thậm chí giữa sự sống và cái chết chỉ là một sợi chỉ mỏng manh. Nhưng oái oăm thay cái không ranh giới oan nghiệt ấy đã đến với vị Chính ủy và những đồng đội yêu kính của chúng tôi. Ở quãng đường bằng, xe sau bám vết bánh xe đi trước, bình an vô sự. Nhưng, đến một chiếc cầu nhỏ, xe của Chính ủy Đặng Tính láng khẽ sang một bên, và bánh sau đè phải mìn chống tăng. Mìn nổ, xe bị hất tung một quãng chừng 20 mét. Người trên xe đều hy sinh, có các anh Đặng Tính, Vũ Quang Bình, Nguyễn Xuân Yêm, nhạc sĩ Trịnh Quý, một bác sĩ và chiến sĩ lái xe. Gần trưa ngày 4 tháng 4, giữa lúc mấy anh em chúng tôi đang nhóm họp bàn triển khai thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Trường Sơn giao và chi thị của Chính ủy Đặng Tính, bỗng thấy đồng chí Hoàng Ngọc Phách - Bí thư của anh Đặng Tính hốt hoảng chạy vào. Hỏng rồi! Không ai bảo ai, cả phòng cùng hỏi: Chính ủy đâu? Có chuyện gì vậy? Anh Phách bật khóc và chỉ nói được mấy tiếng: Chính ủy hy sinh rồi. Cùng lúc, anh Miên, anh Danh cũng tối. Anh Danh chỉ tay về phía chiếc xe Zin157. Chúng tôi ùa cả lại, không tin nổi mắt mình! Việc đầu tiên là tôi gọi điện báo về Bộ Tư lệnh. Anh Nguyên cũng đã rời sở chỉ huy, vào Tây Nguyên. Sau khi báo cáo tình hình cụ thể với anh Hoàng Thế Thiện, anh Ngô Thành Vân, tôi xin liên lạc với anh Nguyên. Rồi tôi cũng liên lạc được ngay với anh Nguyên đang ở tại một trạm giao liên cạnh sông Sa Thầy. Tôi đau đón báo cáo "602" (mật danh của anh Đặng Tính) và anh Bình, anh Yêm... đã hy sinh. Lặng đi một lúc vì xúc động, anh Nguyên nói: Vì đường sá quá cách trở, anh không thể về ngay chỗ chúng tôi, nên anh dặn dò khâm liệm thi hài Chính ủy và các anh Bình, Yêm, Quý... thật chu đáo. Cắt thuyền nhôm làm quan tài, lấy đường kính để lót trong quan tài, cố gắng giữ gìn thi thể các anh thật nguyên vẹn. Anh Nguyên còn chỉ thị: Mọi việc phải tiến hành hết sức khẩn trương, cẩn mật. Đồng chí Hoàng Ngọc Phách chuẩn bị thật chi tiết sự việc để báo cáo trực tiếp với anh. Còn tôi, sau khi tổ chức khâm liệm xong, trực tiếp hộ tống quan tài ba đồng chí cán bộ cao cấp ra bàn giao cho anh Ngô Thành Vân - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn sẽ vào đón ở KG4 (cụm kho của Binh trạm 34). Thi hài của những đồng chí còn lại tổ chức chôn cất chu đáo gần cơ quan sư đoàn. Y lời anh Nguyên, chúng tôi huy động tất cả cơ quan quân y, bệnh xá sú đoàn tập trung khâm liệm; do đồng chí Lệ - Chủ nhiệm quân y sư đoàn, đồng chí Hải - Phó chủ nhiệm quân y trực tiếp chỉ đạo. Thi hài anh Đặng Tính, anh Bình, anh Yêm được liệm bằng vải trắng, quàn trong quan tài nhôm, hai lớp, đệm lót bằng đường kính. Riêng thi hài anh Tính được đệm lót hai tạ đường. Anh Tính hy sinh nhưng thi thể anh còn nguyên vẹn. Anh Bình bị cụt cả hai chân, anh Yêm bị cụt một chân, một tay... Dù đã bao lần "vào sống ra chết", chứng kiến biết bao sự hy sinh của đồng chí, đồng đội, nhưng trực tiếp lo "nghĩa tử - nghĩa tận" với các Thủ trưởng, đồng đội của chúng tôi khi đó, không một ai cầm lòng được. Chúng tôi khóc vì một nỗi đau oan nghiệt, phũ phàng; khóc để nước mắt tuôn rơi và khóc để nước mắt chảy vào trong. Quả là một nỗi đau không thể nói bằng lòi. Đây là tổn thất lớn nhất về cán bộ đối với tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Lo chu tất khâu khâm liệm, chúng tôi hộ tống quan tài anh Tính, anh Bình, anh Yêm ra KG4. Anh Ngô Thành Vân đã đón đợi từ trước. Liền đó, thi hài anh Đặng Tính được Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng đưa ra an táng tại nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội. Thi hài anh Bình, anh Yêm được an táng ở Lệ Ninh - Lệ Thủy - Quảng Bình. Sau ngày đất nước yên bình, hai anh được gia đình, đơn vị đưa về quê nhà. Khi xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Bộ đội Trường Sơn có lập ba ngôi mộ tượng trưng, với mong muôn các anh luôn có mặt trong đội ngũ những người lính Trường Sơn - cả những người sống và nhũng người đã ngã xuống vì sự sống của tuyến đường, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế; đồng thời cũng để mọi người đến với nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn sẽ không quên các anh - đặc biệt là anh Đặng Tính. Tôi biết anh Đặng Tính từ khi anh còn làm Cục trưởng Cục Không quân vào những năm đầu hòa bình trên miền Bắc (1955-1960). Là cán bộ Cục Tổ chức, đã hơn một lần tôi được làm việc với anh. Tuy không tiếp xúc nhiều với anh Đặng Tính, bởi đầu năm 1965 tôi đã vào Trường Sơn. Tuy vậy, qua nhiều nguồn thông tin, tôi biết anh là một cán bộ chính trị mẫu mực - tiêu biểu cho hàng ngũ cán bộ chính ủy cấp quân khu, quân - binh chủng. Tháng 10 năm 1971, anh Đặng Tính vào làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn thay anh Vũ Xuân Chiêm. Lúc đó, tôi đã xuống làm Chính ủy Sư đoàn 471. Làm công tác đảng, công tác chính trị ở chiến trường Trường Sơn, có được sự chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của một cán bộ chủ trì mẫu mực về phong cách, tầm nhìn như anh Đặng Tính, vâi tôi quả là một may mắn, hạnh phúc, là sự động viên quá lân. Với bản tính năng động, vừa có tác phong sâu sát, cụ thể, vừa có tầm nhìn xa, anh Đặng Tính đã nhập cuộc, nhập vai Chính ủy Bộ đội Trường Sơn rất nhanh, ở cương vị Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, anh đã trực tiếp chỉ đạo các vấn đề công tác đảng, công tác chính trị; vừa hướng dẫn cụ thể nội dung, biện pháp tiến hành từng mặt công tác. Anh kết hợp chặt chẽ hai địa hạt lãnh đạo và chỉ huy, để đi sâu nghiên cứu những vấn đề quân sự, chính trị, biện pháp tổ chức thực hiện. Sau một năm vào tuyến, anh đã chỉ đạo tổng kết công tác đảng, công tác chính trị của Bộ đội Trường Sơn. Sư đoàn chúng tôi cũng đã nhận được sơ thảo bản tổng kết quan trọng đó. Anh Đặng Tính ra đi mang theo bao dự định lớn lao, đồng thời cũng để lại trong mỗi một người lính Trường Sơn chúng tôi biết bao niềm tiếc thương một người cán bộ mẫu mực, kiên trung, dũng cảm; bất chấp mọi gian nguy, khó khăn; đoàn kết, hết lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ... Lo chu tất những phần việc Bộ Tư lệnh giao, chúng tôi cùng ngồi lại với nhau, nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm chưa tròn của những người được phân công hộ tống và bảo vệ đoàn. Thấm thìa bài học xương máu này, một tháng sau, khi tổ chức cho đoàn của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh - Ủy viên Trung ương Đảng, cố vấn giúp bạn Lào đi thăm tỉnh ủy Bô Lô Ven, chúng tôi chỉ sử dụng xe Zin157 và kiên quyết buộc đoàn đi theo sự chỉ huy của chúng tôi, nên bảo đảm an toàn. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:52:07 am "Láng giềng" kề cận, cùng hoàn cảnh Sư đoàn 471 ở tuyến cuối cùng là Sư đoàn 470 - một sư đoàn khu vực có tầm quan trọng đặc biệt. Bởi lẽ Sư đoàn 470 phụ trách địa đoạn cuối cùng của tuyến chi viện chiến lược, trực tiếp chi viện cho các chiến trường Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Anh Nguyễn An, Nguyễn Lang - Phó tư lệnh 559; anh Bùi Đức Tạm và anh Hoàng Thế Thiện - Phó chính ủy 559, đã từng trực tiếp làm Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn 470; vừa lãnh đạo - chỉ huy sư đoàn vừa đại diện Bộ Tư lệnh Trường Sơn trực tiẽp giải quyết những yêu cầu ngoài "tầm với" của Bộ Tư lệnh sư đoàn. Địa bàn do Sư đoàn 470 đảm trách ác liệt, nghiệt ngã chẳng kém thua một địa danh nổi tiếng nào trên tuyến, đặc biệt nơi đây còn được coi là "rốn sốt rét của Đông Dương".
Sự gian khổ, ác liệt của địa bàn tuyến cuối kéo dài từ khi có Tuyến 3, do anh Nguyễn An phụ trách, qua giai đoạn tổ chức thành binh trạm, tới khi thành lập các sư đoàn khu vực, sư đoàn binh chủng. Được sự hỗ trợ của các chiến trường, từng bước Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã xây dựng địa bàn này thành một căn cứ hậu cần chiến lược. Ở chiến trường này, Sư đoàn 470 không chỉ đánh thắng địch trên không, khắc phục thác ghềnh sông nước, vận chuyển hàng hóa chi viện các chiến trường xa, mà còn cùng đơn vị bạn giải phóng A Tô Pơ, Sa Ra Van, Tha Teng; chặn địch đánh xuống Pắc Xoòng; tiêu diệt nhiều biệt kích, thám báo và bộ binh Mỹ - ngụy, khi chúng nống ra khu vực ba biên giới. Bằng những chiến công đặc biệt xuất sắc đó, Sư đoàn 470, Sư đoàn 471, bốn trung đoàn, sáu tiểu đoàn, một binh trạm giao liên và nhiều cán bộ, chiến sĩ của hai sư đoàn đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy nhiên, đường tới đích chiến thắng không được trải bằng nhung lụa. Không có một thắng lợi nào mà ta không phải trả giá, thậm chí phải đánh đổi bằng những tổn thất khá đau lòng. Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn, khí hậu nghiệt ngã của chiến trường Nam Lào cũng đã quật ngã không ít đồng chí, đồng đội của tôi. Trong đó có sự hy sinh của Chính ủy Đặng Tính; các anh Vũ Quang Bình, Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Tam Anh, Nguyễn Tuấn, Lê Phụng Kỳ, Nguyễn Huệ, Nguyễn Trung Đình, Nguyễn Tiến Thẳng, Nguyễn Xuân On... - những cán bộ mẫu mực, là tổn thất không có gì bù đắp nổi. Kể từ sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết. Chiến trường Trường Sơn thưa dần tiếng máy bay gầm gào và tiếng bom đạn dữ dằn của kẻ thù. Trên tuyến hành lang phía tây, các "chiến mã Trường Sơn" mặc sức tung hoành cả trên "đường kín" và "đường hở" suốt ngày đêm. Anh em lái xe đã có biểu hiện "kén cá chọn canh", chỉ thích chạy "đường hở", phóng tầm mắt thoải mái hơn. Điều này không có gì lạ với lính Trường Sơn. Chỉ có những người bị "nhốt" trong rừng lâu ngày, bị bủa vây bởi màn cây, vách núi, tầm nhìn không quá dăm trăm thước, mới thấu được sự sảng khoái, sung sướng đến nhường nào khi được phóng tầm mắt trước một cánh đồng, một dòng sông rộng... Chớp thời cơ, chúng tôi tranh thủ đẩy nhanh nhịp độ vận chuyển, bảo đảm hành quân. Lúc này phần đông bộ đội hành quân vào chiến trường bằng cơ giới. Các đơn vị binh khí kỹ thuật cũng được cơ động bằng ô tô. Đặc biệt, sau khi Bộ Tư lệnh quyết định bỏ các cung trung chuyển, phần lớn xe được chạy cung dài. Xe Sư đoàn 472 chạy thẳng vào giao hàng cho Sư đoàn 470. Xe Sư đoàn 471 chúng tôi phần lớn ra lấy hàng ở Đông Hà, đường 9 hoặc cụm kho KG4, chạy một mạch 500 cây sổ, chuyển giao cho Sư đoàn 470, có trường hợp giao thẳng cho chiến trường Nam Bộ. Hiệu quả vận chuyển tăng vọt. Vào đầu mùa hè năm 1973, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng chủ trương hoàn thiện thế trận vận chuyển, xây dựng đường cơ bản đông Trường Sơn, góp phần tạo thời cơ và chủ động đón thời cơ chiến lược mới. Bởi vậy, một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Bộ đội Trường Sơn lúc này là khẩn trương thi công đường cơ bản đông Trường Sơn từ Quảng Trị vào Bù Gia Mập. Theo đó, nhiệm vụ của Sư đoàn 471 là chuyển đội hình cơ bản về hành lang phía đông, nhanh chóng triển khai làm đường; trong mùa mưa, năm 1973 phải thông đường từ Trao vào Đắc Pét và khôi phục tuyến vào đến Sa Thầy kịp trước mùa khô; đồng thời tranh thủ vận chuyển đủ hàng cho Khu 5 và cánh Bắc Mặt trận Tây Nguyên. Tạm biệt những bản Lào, những cánh rừng khộp, rừng săng lẻ thân quen; tạm biệt những người dân bạn Lào hồn hậu, chất phác, tuy nghèo thiếu, thậm chí còn đói rách, nhưng nặng nghĩa, nặng tình, cưu mang đùm bọc bộ đội tình nguyện Việt Nam, những người lính Trường Sơn chúng tôi một thời đạn bom, cam go..., như con em ruột thịt. Được tin chúng tôi chuyển sang đông Trường Sơn, các cấp lãnh đạo, chính quyền của bạn từ huyện đến tỉnh, rồi bà con các bộ tộc Lào, kể cả dân bản xa cách hàng ngày đường cũng tìm đến sở chỉ huy sư đoàn thăm hỏi, chia tay. Tôi nhớ mãi một cụ ông cứ nắm tay tôi căn dặn: Bộ đội Cụ Hồ trở về nước đừng quên bà con dân bản Lào nghèo khổ này. Câu nói của cụ ông, bỗng chốc kéo tôi trở về với những hồi niệm, những tháng ngày có khi phẳng lặng, đầy ắp niềm vui, cũng có khi khó khăn hoạn nạn; hạt gạo củ sắn bẻ làm ba làm bốn, chung lưng đấu cật, vượt khó đi lên. Trong khó khăn mới thấy ánh lên sự thủy chung cao đẹp của tình đoàn kết Việt - Lào. Từ tháng 4 năm 1973, phần lớn Sư đoàn 471 chuyển dần sang hành lang phía đông. Lực lượng ở lại hành lang phía tây là một số đại đội công binh chốt giữ tại các trọng điểm. Các đơn vị xe tiếp tục vận chuyển, các trạm giao liên cơ giới. Như vậy là Sư đoàn 471 vừa triển khai xây dựng thế trận đông Trường Sơn từ đông A Vương vào Sa Thầy, vừa tiếp tục chỉ huy các đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ những tháng còn lại của mùa khô 1972-1973. Sau khi Trung đoàn cao xạ 210 vào tăng cường hẳn cho Nam Bộ, Trung đoàn cao xạ 593 tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên, Sư đoàn 471 được bổ sung Tiểu đoàn 24 pháo cao xạ 57 ly và một tiểu đoàn pháo phòng không nữa, bố trí dọc theo trục đường từ Thạch Mỹ đi Giằng. Đại đội bộ binh của sư đoàn có nhiệm vụ bảo vệ khu kho Khâm Đức và bao vây khống chế cứ điểm Đắc Pét, để công binh mở đường tránh qua cứ điểm này. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:54:14 am Mãi về sau, tôi vẫn không hết băn khoăn về quyết định mở đường tránh Đắc Pét của trên. Qua trinh sát nắm địch, chúng tôi biết ở Đắc Pét địch chỉ có khoảng hai đại đội. Căn cứ này được cấu trúc khá vững chắc, có cả hệ thống hầm ngầm. Nhưng quân địch ở đây đã bị ta cô lập hơn một năm. Địch chỉ có thể tiếp tế bằng đường không.
Trên cơ sơ phân tích mọi yếu tố, chúng tôi dự tính có thể dùng lực lượng cao xạ mạnh, đủ khống chế máy bay địch, triệt nguồn tiếp tế của chúng. Sau một thời gian, khi địch ở đây hết đạn, cạn gạo; chúng ta kết hợp sử dụng những tay súng thiện xạ bắn tỉa tiêu hao sinh lực địch, vừa dùng pháo cối uy hiếp liên tục, làm cho kẻ địch luôn ở trong tình trạng nơm nớp, hoảng loạn, tinh thần suy sụp, buộc phải đầu hàng; cùng lắm, ta chỉ dùng một lực lượng nhỏ tiến công, cũng cầm chắc thắng lợi. Nhổ được đồn Đắc Pét, ta dễ dàng khai thông đường vào Sa Thầy, không cần mở đường tránh. Sau khi cân nhắc kỹ, chúng tôi báo cáo phương án "nhổ" căn cứ Đắc Pét lên Bộ Tư lệnh và đề nghị Bộ Tư lệnh báo cáo với Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ chiến đấu cho Sư đoàn 471. Khi mới chuyển về đông Trường Sơn. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 471 đóng ở Khâm Đức (tây Quảng Nam); sau một thời gian ngắn, chuyển ra đóng ở Bến Giằng, cạnh bờ sông Tranh. Dù đang vào mùa mưa, nhưng hết thảy các đơn vị công binh đều được tung vào mặt trận cầu đường. Các lực lượng khác cũng coi bảo đảm, phục vụ cho mở đường là nhiệm vụ trung tâm. Công binh Binh trạm 44, Binh trạm 35 mở đường tránh Đắc Pét, khai thông đường 14 từ Khâm Đức vào Đắc Pét, Sa Thầy - giáp Trung đoàn 551 Sư đoàn 470. Bộ Tư lệnh Trường Sơn tăng cường cho chúng tôi hai trung đoàn công binh, Trung đoàn 529 tham gia mở đường từ Giằng ra A Vương (giáp Sư đoàn 473); Trung đoàn 99 khôi phục các cầu cũ trên đường 14, làm một số cầu và ngầm mới trên trục đường từ Thạch Mỹ ra A Vương. Ở tuyến cuối, Sư đoàn 470 tiếp tục đẩy nhanh nhịp độ hoàn chỉnh đường từ Sa Thầy ra giáp địa đoạn Sư đoàn 471 phụ trách và phía nam vào tối Bù Gia Mập, Lộc Ninh. Cả Trường Sơn - cả triền đông Trường Sơn vào trận. Chiến trường thưa dần tiếng bom đạn. Thay vào đó là âm thanh của một đại công trường xây dựng, hội tụ hàng chục vạn con người, cùng nhiều máy móc, phương tiện thi công khá hiện đại. Núi rừng rung chuyển không phải vì bom đạn Mỹ như những năm tháng trước đó, mà bởi tiếng mìn phá đá của công binh Trường Sơn. Nghe tôi trình bày xong phương án nhổ Đắc Pét, anh Nguyên trả lời: Bộ Tư lệnh cũng đã tính đến phương án "nhổ" Đắc Pét, đã trao đổi với Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tây Nguyên; nhưng hai quân khu cho rằng đấy là nhiệm vụ của Quân khu. Không chỉ "nhổ" Đắc Pét, mà cả cao điểm 900 (Đắc Min) nữa... Vậy là chúng tôi buộc phải quay về với phương án mở đường tránh Đắc Pét. Để bảo đảm cho công binh mở đường hành quân, chúng tôi phải bố trí 2 đại đội cao xạ 37 ly và 1 đại đội bộ binh chốt quanh cứ điểm đề phòng chúng nống ra và máy bay ngụy đánh phá. Chỉ trong hai tháng 4 và 5 năm 1973, Sư đoàn 471 đã thông đường từ Sa Thầy ra đến Trao - giáp địa đoạn Sư đoàn 473, đảm bảo cho xe của Sư đoàn 472 và Sư đoàn 473 chuyển hàng vào giao cho Sư đoàn 471 tại Giằng và Khâm Đức. Sư đoàn 471 nhận hàng và chuyển giao cho Quân khu 5 ở khu vực Thượng Đức (Đại Lộc - Quảng Nam), Làng Hồi (Tiên Phước), Trà Mi, và giao cho Mặt trận Tây Nguyên ở Sa Thầy. Trong khi đó, mãi sang năm 1974, căn cứ Đắc Pét của địch mới được "nhổ". Sau khi đường vào Sa Thầy và các trục ngang xuổng vùng ven Trị - Thiên và Khu 5 được khai thông, chúng tôi được lệnh chuyển giao 1.000 tấn gạo ngoài kế hoạch cho Quân khu 5. Anh Nguyên dặn chúng tôi cố gắng bảo đảm số lượng gạo mà Quân khu yêu cầu vào tháng 7 năm 1973, chậm nhất là tháng 8 phải dứt điểm. Có thể do lo lắng Sư đoàn 471 khó bảo đảm được lượng gạo đó trong một thời gian ngắn ngay đầu mùa mưa, anh Nguyễn Chánh - Phó tư lệnh Quân khu 5 đã gặp chúng tôi yêu cầu nhượng lại phần lương thực bảo đảm nội bộ sư đoàn cho Quân khu; Quân khu sẽ đổi lại bằng số sắn mà Quân khu trồng được ở Khâm Đức. Thấu hiểu và đồng cảm sự lo lắng của các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu 5, chúng tôi nói để anh Nguyễn Chánh yên tâm rằng: Anh Nguyên giao kế hoạch bổ sung là đã tính tới khả năng của Sư đoàn 471, kể cả khả năng thời tiết không bình thường. Chúng tôi nhất định giao cho Quân khu không thiếu một ký gạo. Nếu thiếu, chúng tôi sẽ bù lại bằng tiêu chuẩn của sư đoàn. Anh Chánh cười hồn hậu, giải thích là sợ chúng tôi vừa về lại đông Trường Sơn còn nhiều khó khăn... Kết quả là, chỉ trong vòng tháng 7, chúng tôi đã chuyển giao đủ số gạo mà Quân khu 5 yêu cầu. Không chỉ có vậy, Sư đoàn 471 còn chuyển một khối lượng hàng dân sinh cho nhân dân vùng giải phóng hai tỉnh Quảng Đà, Công Tum. Được trở về đông Trường Sơn chiến đấu và công tác, từ cán chí binh ấm lòng hơn bởi tình cảm "quê nhà", và cũng xem đó như nguồn năng lượng tinh thần, động viên cổ vũ mạnh mẽ chúng tôi nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ. Để tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương ở địa bàn đơn vị đảm trách, chúng tôi thường xuyên giữ được mối liên hệ và hiệp đồng chặt chẽ với huyện Giằng (Quảng Đà), huyện 10 (Công Tum) và Ủy ban mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Đà, do anh Nam làm Chủ tịch. Anh Nguyễn Hòa - Phó tư lệnh và đặc biệt là anh Lê Xy - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã vào cùng chúng tôi tổ chức hội nghị liên tịch với tỉnh Quảng Đà và tỉnh Công Tum, bàn kế hoạch, phương thức hiệp đồng chiến đấu và công tác ở địa bàn tây Quảng Đà, bắc Công Tum. Mặt trận cầu đường lúc này không căng thẳng, quyết liệt như những mùa khô rực lửa trên tuyến trước đây, nhưng các anh trong Bộ Tư lệnh luôn sâu sát đơn vị. Mỗi lần xuống đơn vị, các anh lại giúp chúng tôi tháo gỡ, giải quyết được bao vấn đề: Khi thì tạo mối hiệp đồng với địa phương, khi thì giải quyết khâu kỹ thuật thi công đường cơ bản, khi thì giải quyết vấn đề tư tưởng lừng chừng, thỏa mãn của một số anh em kể từ sau khi có Hiệp định Pa-ri. Anh Lê Xy đặc biệt lưu ý chúng tôi tư tưởng - nói đúng hơn là những biểu hiện "ảo tưởng hòa bình" trong một số cán bộ, chiến sĩ. Anh Lê Xy quê ở Hà Tĩnh, là cán bộ, đảng viên trước Cách mạng tháng Tám. Khi vào quân đội, anh đã là Tỉnh ủy viên tỉnh Hà Tĩnh. Vào công tác ở Đoàn 559, lúc đầu anh làm Chính ủy Cục Hậu cần, sau đó vào làm Chính ủy Tuyến 3, Chính ủy Binh trạm 36. Khi Bộ Tổng Tư lệnh thành lập Bộ Tư lệnh 500 - phụ trách công tác giao thông vận tải nam Khu 4, anh được bổ nhiệm làm Phó chính ủy (Chính ủy là anh Hồng Kỳ)... Anh Lê Xy và tôi có chung nhiều kỷ niệm sâu sắc trong khi cùng làm việc ở cơ quan cũng như khi tôi xuống binh trạm hoặc sư đoàn. Anh và tôi có sự tương đồng là luôn hướng về cơ sở, lấy việc đi sâu thực tế làm nội dung, biện pháp và tác phong công tác. Do vậy, khi còn công tác ở cơ quan mỗi lần đi thực địa, anh thường bảo tôi đi cùng. Những lần như vậy, chúng tôi thường cho xe chạy vào ban ngày xuống đơn vị. Chúng tôi thường nghĩ muốn nắm chắc tình hình bộ đội, phải trực tiếp xuống khi bộ đội xe đang hành quân, chở hàng, công binh đang làm đường; bộ đội phòng không, bộ binh đang chiến đấu ở trọng điểm, trận địa... Chúng tôi thường đến các trạm chỉ huy giao thông ở đầu, cuối, hoặc giữa trọng điểm để "mục sở thị" hoạt động đánh phá của địch; tình hình tổ chức chiến đấu, khắc phục địch đánh phá của các đơn vị... Để từ đó, vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp tư tưởng tiến công của Bộ đội Trường Sơn vào từng binh chủng, từng đơn vị, từng thời điểm nhằm đạt hiệu suất chiến đấu, công tác cao nhất. Sau này, anh Lê Xy thay anh Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, thì tôi cũng được điều về lại cơ quan làm Phó chủ nhiệm chính trị. Anh em chúng tôi có điều kiện gần gũi nhau hơn trong công tác và cuộc sống đời thường, cũng vì vậy mà tôi học hỏi được ở anh thêm nhiều điều. Anh Lê Xy là một cán bộ chính trị năng động, luôn gắn với cơ sở; có uy tín không chỉ với cán bộ cấp dưới, với chiến sĩ mà cả cán bộ chỉ huy các cấp; đặc biệt là đồng chí Tư lệnh. Điều rủi ro và đáng tiẽc là sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh Lê Xy phải chịu một căn bệnh hiểm nghèo. Đã gần hai chục năm anh sống, hay nói đúng hơn là anh tồn tại cùng tật bệnh. Cũng quãng thời gian đó, gia đình, người thân, đơn vị, đặc biệt là chị Thường - vợ anh hết lòng chăm sóc anh. Mỗi lần đến thăm anh, những kỷ niệm "một thời sôi nổi" ở Trường Sơn lại hiện về, và nước mắt lại giàn giụa trên khuôn mặt ốm yếu, tật nguyền của anh. Thật oái oăm, một con người, biết bao lần bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy, chiến thắng cả kẻ thù hung bạo, nhưng lại phải buông tay, trước bệnh tật, tuổi già... Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:55:21 am Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội lần lượt vào thăm và trực tiếp chỉ đạo Bộ Tư lệnh Trường Sơn tích cực chuẩn bị tạo thế, tạo lực cho chủ trương chiến lược mới.
Đầu xuân Quý Sửu 1973, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào thăm Bộ đội Trường Sơn. Đồng chí đã tới thăm một số đơn vị vận tải, công binh; một vài trọng điểm nổi tiếng...; động viên cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn. Sổ vàng truyền thống của Bộ đội Trường Sơn, còn lưu giữ những dòng chữ - những suy cảm của vị lãnh đạo cao nhất của Đảng ta lúc đó: "Đường Trường Sơn là một chiến công chói lọi trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Đường Trường Sơn là con đường của ý chí quyết chiến quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng. Đó cũng là con đường đoàn kết của các dân tộc ba nước Đông Dương... Quang vinh thay Bộ đội Trường Sơn anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng trên con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại...". Đầu tháng 3 năm 1973, Đại hội mừng công của Bộ Tư lệnh Trường Sơn được tổ chức tại Hiền Ninh - Quảng Ninh, Quảng Bình. Đại hội vinh dự được đón Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp. Hội nghị kết thúc, Đại tướng đã đến thăm một số đơn vị vận tải, công binh, thăm trọng điểm Văng Mu, tập đoàn trọng điểm ATP; gặp gỡ động viên những người lính Trường Sơn "Gan vàng dạ ngọc", thấp nén hương và kính cẩn nghiêng mình trước vong hồn các chiến sĩ đã ngã xuống tại những cung đường, trọng điểm mà Đại tướng tới thăm. Tháng 6 năm 1973, chúng tôi đón anh Tố Hữu và anh Đinh Đức Thiện dẫn đầu đoàn cán bộ Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần vào chiến trường công tác. Đoàn có làm việc với lãnh đạo các tỉnh Quảng Đà - Thừa Thiên - Huế. Anh Đinh Đức Thiện đặc biệt quan tâm việc xây dựng đường cơ bản và đường ống dẫn xăng dầu đông Trường Sơn. Vậy nên, Bộ đội Trường Sơn xem anh là Tổng công trình sư của tuyến đường ống chiến lược này. Anh Tố Hữu có ghé thăm làng Rô - một làng nhỏ ở huyện Giằng, tây Quảng Nam. Vào thời trước Cách mạng tháng Tám, khi vượt ngục Công Tum, anh Tố Hữu đã về sống ở làng Rô trong tình yêu thương, cưu mang của nhân dân. Người thân buổi ấy chẳng còn bao lăm, nhưng dân làng đón anh thật chân tình, xúc động. Làng Rô là một trong những điển hình trong phong trào chiến tranh nhân dân, đánh địch, bảo vệ bản làng của tỉnh Quảng Nam thời đánh Mỹ (lúc đó là Quảng Đà). Thời gian này, chúng tôi cũng tổ chức đưa đón, bảo đảm cho phái đoàn của Khu ủy Khu 5, do đồng chí Võ Chí Công - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy dẫn đầu ra Bắc công tác. Hôm ghé thăm sư đoàn, đồng chí yêu cầu chúng tôi báo cáo tình hình đơn vị, tình hình địa bàn Khu 5 mà sư đoàn đứng chân làm nhiệm vụ... Được biết tuy vất vả, thiếu thốn, nhưng cán bộ, chiến sĩ trên tuyến vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ chi viện chiến trường, đồng chí Võ Chí Công xúc động nói: Vậy mà trước đây, có lúc chúng tôi nhầm tưởng bộ đội hậu cần các đồng chí thì không thiếu thốn đến như vậy. Ở chiến trường mà cũng có lúc quan liêu. Liền đó, đồng chí quay sang dặn anh Dương Loan - đại tá, Ủy viên Khu uy, Phó tư lệnh Quân khu, chỉ thị cơ quan tài vụ Quân khu 5 trích cho sư đoàn một triệu đồng (tiền ngụy Sài Gòn) để mua máy thu thanh, pin..., cải thiện đời sống tinh thần cho bộ đội. Nhờ "lật cánh" về đông Trường Sơn mà tôi có điều kiện gặp một số bạn bè, anh em thân quen. Có lần tôi gặp anh Huỳnh Hữu Anh - nguyên là Tiểu đoàn trưởng của tôi hồi kháng chiến chín năm chống Pháp, nay là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3, anh Đặng Hòa - nguyên Trưởng ban tổ chức Phòng chính trị Liên khu 5 hồi đó, nay là Chính ủy Sư đoàn 3, Khu 5, cả hai anh ra Bắc công tác. Bạn bè thân quen, gặp lại nhau sau gần hai chục năm, giữa "đường về đất Mẹ", mừng khôn tả. Các anh tâm sự: Giá mà năm 1961, cậu về Khu 5 với bọn mình thì hay quá, anh em quen người, quen việc. Nhưng vào Trường Sơn cũng quý lắm rồi. Có Bộ đội Trường Sơn - 559 chi viện, không thì chúng mình gay go lắm...! Những lần gặp cán bộ miền Trung qua tuyến, tôi đều dò hỏi tin nhà, nhưng đều "bặt vô âm tín". Vào giữa năm 1973, tôi nhận được thư của vợ tôi, cho hay là có cháu con anh trai tôi ra Bắc học. Cháu báo tin: mẹ, chị gái và các cháu của tôi đã chuyển vào Khánh Hòa từ năm 1965. Một cháu trai con anh tôi vào quân giải phóng và hy sinh năm 1969, hai cháu gái thoát ly; một cháu hoạt động ở địa phương, bị địch bắt đày ra Côn Đảo. Mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi, nhưng cũng không quản nguy nan, tìm mọi cách nuôi giấu bộ đội, cán bộ, động viên con cháu hoạt động cách mạng. Hiện ở Quảng Ngãi chỉ còn mẹ vợ tôi và một cô em vợ. Một cậu em vợ tôi cũng vào quân giải phóng và hy sinh năm 1969. Rồi dịp may cũng đến! Một hôm đang đi thực địa nắm tình hình đơn vị, tôi được báo có người nhà đến. Mừng như "mở cờ trong bụng", tôi về ngay cơ quan. Không phải người nhà mà chỉ nhận được thư nhà. Hai chị cán bộ tỉnh Khánh Hòa trên đường ra Bắc công tác ghé thăm và chuyển cho tôi lá thư của, em tôi là Bùi Dư, hiện là Chính ủy Cục Hậu cần Quân khu 5. Nhận được thư em, biết bao niềm vui, nỗi lo luôn canh canh bên lòng. Ôi! Quê hương, gia đình, người thân... tưởng như gần trong tấc gang mà vẫn còn vời vợi. Tôi vẫn là đứa con mang nợ. Nhưng tình thế nay khác rồi. Một ngày không xa, tôi sẽ trở về. Đầu tháng 8, đông Trường Sơn vào cao điểm mùa mưa. Nhận điện báo của Bộ Tư lệnh, cán bộ các đơn vị lại tề tựu về cơ quan dự hội nghị tổng kết nhiệm vụ mùa khô 1972-1973 và triển khai nhiệm vụ mới. Như có linh tính mách bảo, hôm tôi lên xe về dự họp, mấy anh em trong cơ quan sư đoàn nói đùa: Anh đừng đi luôn nhé. Hai năm với hai mùa khô gian khổ, ác liệt, chúng ta đã là một tập thể tâm đầu ý hợp trong chiến đấu, công tác... mọi việc xuôi chèo mát mái... Tưởng đùa lại hóa thật! Để chuẩn bị cho một mùa khô "đổi mới", hoàn thiện thế trận vận chuyển, Bộ Tư lệnh Trường Sơn bố trí lại cán bộ. Theo đó, tôi được Quân ủy Trung ương chỉ định vào Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, và được điều trở lại tây Trường Sơn làm Chính ủy Sư đoàn 472. Vậy là vẫn còn duyên nợ với đất bạn Lào. Ở hội nghị này, chúng tôi được phổ biến rất cụ thể chủ trương chiến lược mới của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, về đẩy mạnh tiến công địch, hoàn thành thắng lợi phần còn lại Di chúc của Bác Hồ kính yêu: "Đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn có nhiệm vụ trực tiếp bảo đảm cho việc thực hiện chủ trương chiến lược đó. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:56:00 am Lúc này, lực lượng của Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã lên tới 17 vạn quân, đủ các lực lượng binh chủng, về tổ chức, các sư đoàn binh chủng bỏ cấp binh trạm, thay vào đó là những trung đoàn. Sư đoàn 471 chuyển hẳn sang hành lang đông Trường Sơn, phụ trách địa đoạn từ Trao vào Sa Thầy. Lực lượng chủ yếu của sư đoàn gồm Trung đoàn 36 vận tải ô tô; ba trung đoàn công binh (10, 529, 576). Địa bàn tây Trường Sơn mà sư đoàn đảm trách trước đó, được giao lại cho Sư đoàn 472. Sư đoàn 470 đảm trách địa bàn từ Sê Ca Mán vào Bù Gia Mập. Lực lượng chủ yếu của Sư đoàn 470 gồm Trung đoàn 27 ô tô vận tải, ba trung đoàn công binh (4, 551, 574) và Trung đoàn 53 vận tải đường sông Sê Công, Mê Công, đường bộ ở Đông Bắc Cam-pu-chia. Sư đoàn 473 là sư đoàn công binh, bảo đảm cầu đường từ Đông Hà vào Trao. Sư đoàn 571 khu vực hậu cứ phát triển thành sư đoàn ô tô vận tải biên chế bốn trung đoàn ô tô (11, 12, 13, 17). Đây là sư đoàn ô tô vận tải chủ lực, thiện chiến; nhận hàng ở cụm kho Đông Hà - Cửa Việt - đường số 9 vào giao cho các sư đoàn 472, 471, 470. Khi cần thiết, Sư đoàn 571 cũng "vượt tuyến" giao hàng cho Nam Bộ và Cam-pu-chia. Sư đoàn 968 bộ binh vẫn hoạt động ở chiến trường Trung - Hạ Lào, từ đường số 9 vào cao nguyên Bô Lô Ven. Cùng với các sư đoàn kể trên còn có ba trung đoàn đường ống xăng dầu, hai trung đoàn giao liên cơ giới, hai trung đoàn thông tin, một trung đoàn kho, Trường Quân chính, Trường đào tạo Lái xe, quân y viện... Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn kịp thời chuyển vào Thạch Bàn (tây nam Quảng Bình) tập trung chỉ đạo làm đường cơ bản đông Trường Sơn; sau đó chuyển vào Gio An, Gio Linh, Vĩnh Linh.
Xung quanh việc thành lập các sư đoàn binh chủng ô tô vận tải, công binh, lúc này không phải đã được nhất trí cao. Có ý kiến không đồng tình, thậm chí phản đối; viện dẫn quân đội nhiều cường quốc quân sự trên thế giới cũng không có sư đoàn binh chủng. Nhiều người tỏ ý nghi ngờ hiệu quả của các sư đoàn binh chủng cũng như khả năng tổ chức chỉ huy của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, của cán bộ chủ trì những sư đoàn này. Mặc dư âm của những buổi tranh luận, bàn cãi "có hay không?", các sư đoàn binh chủng nhanh chóng hòa trong nhịp sống sôi động thường nhật và chỉ đến Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, lịch sử mới trả lời một cách khoa học, khách quan, sòng phẳng câu hỏi kể trên! Việc thành lập các sư đoàn binh chủng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, trong đó có sư đoàn ô tô vận tải, sư đoàn công binh - những sư đoàn binh chủng đầu tiên của quân đội ta, đã cho phép Bộ Tư lệnh Trường Sơn tạo được những "quả đấm chiến lược", "cú đấm" tập trung cho việc hoàn thiện thế trận cầu đường và vận tải, giải quyết dứt điểm khối lượng lớn vật chất theo yêu cầu cụ thể của từng hướng chiến trường, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển như vũ bão của cả chiến trường miẽn Nam khi tình thẽ có bước đột biến về chiến lược. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 472 khi tôi xuống nhận công tác, có anh Võ Văn Quỳ là Tư lệnh; các anh Đào Kim Sơn, Nguyễn Đức Lợi - Phó tư lệnh, anh Hoàng Cam là Phó chính ủy. Sư đoàn 472 phụ trách địa bàn từ đường số 9 vào đến Sê Ca Mán. Biên chế sư đoàn gồm hai trung đoàn ô tô vận tải (Trung đoàn 32 và Trung đoàn 33), ba trung đoàn công binh (30, 34, 39) và Trung đoàn cao xạ 593, cụm kho KG4... Hai trung đoàn xe 32 và 33 nhận hàng tại cụm kho KG4 do Sư đoàn 571 chuyển giao; hoặc ra nhận hàng ở cụm kho dọc đường số 9 vào giao cho Sư đoàn 470, Nam Bộ... Bảo vệ cụm kho KG4 và những vị trí trọng yếu khác, có Trung đoàn cao xạ 593. Trên hành lang tây Trường Sơn, lúc này Sư đoàn 472 không tổ chức vận chuyển trên các trục đường 17, 23. Trục chính được sử dụng là đường 128. Các trục khác chỉ sử dụng chuyển hàng cho Sư đoàn 968 và bạn Lào. Do địch vẫn lén lút gài mìn, tập kích các đoàn xe, nên mỗi khi tổ chức vận chuyển ở đường 23, 16, Tha Teng, đường 9... chúng tôi đều bố trí công binh hộ tống. Từ đầu năm 1974, Sư đoàn 472 được Bộ Tư lệnh giao thí điểm làm đường cơ bản từ đường số 9 (Bản Đông) đi Mường Noòng và một số đoạn khác. Chúng tôi sử dụng một tiểu đoàn công binh (sáu đại đội, có một đại đội cầu) chuyên trách làm đường cơ bản. Bộ Tư lệnh cũng tăng cường cho chúng tôi một số kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và một số thiết bị làm đường. Đại đội cầu, do đồng chí Khoát làm Tiểu đoàn trưởng trực tiếp thi công cầu Bản Đông. Lần đầu tiên làm đường cơ bản theo tiêu chuẩn quốc gia, có cả cầu cáp treo cho xe tải trọng 6-8 tấn, Sư đoàn gặp không ít khó khăn. Và cũng chính trên mặt trận cầu đường tưởng như "bình lặng" này, máu của đồng đội chúng tôi vẫn đổ. Dù cho đã rà phá khá kỹ lưỡng, nhưng khi thi công đường từ Bản Đông trở vào, qua những bãi mìn dày đặc của địch cài khi chúng đánh ra Đường 9 - Nam Lào trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", ba chiến sĩ Tiểu đoàn 87 đã hy sinh, một số máy húc bị hư hỏng. Đối với yêu cầu bảo đảm giao thông, do phải đảm trách một địa bàn quá rộng, lực lượng công binh lại mỏng, nên chúng tôi chỉ rải quân ở những đoạn đường quá xấu, nơi đèo dốc hiểm trở, các bến vượt; khi yêu cầu cấp thiết thì tổ chức lực lượng sửa chữa lưu động để ứng cứu. Còn các đơn vị xe tự tổ chức khắc phục những quãng đường xấu, đường lầy cục bộ. Tháng 12 năm 1973, chúng tôi nhận nhiệm vụ đưa đón, bảo đảm cho một phái đoàn Trung ương Cam-pu-chia, do Iêng Xa Ri dẫn đầu trở về vùng giải phóng. Anh Đào Kim Sơn - Phó tư lệnh sư đoàn trực tiếp đi cùng đoàn. Khi đi qua cầu treo Bản Đông vừa khánh thành còn thơm mùi sơn, nhiều người trong phái đoàn của Cam-pu-chia rất đỗi ngạc nhiên, khâm phục những người lính công binh Trường Sơn, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, thiếu thốn đủ bề, vẫn làm được cầu cáp treo bảo đảm cho xe tải trọng lớn vượt sông. Trước đây, dù khó khăn, thiếu thốn, Bộ đội Trường Sơn cũng đã tổ chức đưa đón, phục vụ hết sức chu đáo phái đoàn Hoàng thân Nô Rô Đôm Xi Ha Núc và bà Hoàng Mô Ních theo đường Trường Sơn về vùng giải phóng. Cũng như sau này, khi Cam-pu-chia yêu cầu chi viện đạn pháo lớn để tiến công giải phóng Phnôm Pênh, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã kịp thời chuyển hàng trăm xe đạn pháo giúp bạn... Kể từ ngày đó đến nay, thời cuộc đã qua bao biến cố thăng trầm, ở đời có kẻ "sớm nắng chiều mưa"..., nhưng là người lính Trường Sơn, chúng tôi vẫn thầm tự hào đã góp một phần, tuy rất nhỏ, củng cố khối đoàn kết, liên minh Việt - Lào - Cam-pu-chia chiến đấu chống kẻ thù chung. Qua hơn 6 tháng hoạt động khẩn trương và có sự hiệp đồng chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các lực lượng, đến tháng 5 năm 1974, chỉ tiêu vận tải mùa khô toàn tuyến đã đạt 110-120 phần trăm. Riêng Sư đoàn 472 đã chuyển giao cho Sư đoàn 470 hơn 300 nghìn tấn vũ khí, lương thực, thuốc quân y, bảo đảm cho hành quân hơn 10 nghìn tấn, đưa hàng chục nghìn thương bệnh binh và năm nghìn trẻ em miền Nam ra Bắc an toàn. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Hai, 2022, 07:56:39 am Tranh thủ mùa mưa năm 1974 đến muộn hơn ở hành lang phía tây, trong tháng 6, chúng tôi huy động cả hai trung đoàn xe tập trung vận chuyển lập chân hàng ở KG4, đồng thời tạo chân hàng cho Trung đoàn 53 đủ hoạt động trên tuyến đường sông, tuyến cuối trong mùa mưa. Sư đoàn còn tập trung bốn tiểu đoàn xe vận chuyển đột kích bổ sung hàng trực tiếp cho Mặt trận Tây Nguyên và bạn Lào ở Sa Ra Van.
Cuối tháng 6, mưa lớn, dai dẳng. Đường sá lầy lún như muôn thuở. Quân ngụy Lào lại huy động một số binh đoàn cơ động đánh nống ra, hòng đẩy lực lượng Pa-thét Lào và Sư đoàn 968 ra xa trục đường 13, đường 17... Được phép của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Sư đoàn 472 kết thúc kế hoạch vận chuyển mùa khô 1973-1974. Cũng trong mùa khô này, Sư đoàn 472 còn vinh dự được giao nhiệm vụ khai thác gỗ quý để xây dựng Lăng Bác Hồ. Anh Phan Khắc Hy - Phó tư lệnh xuống trực tiếp cùng chúng tôi tổ chức triển khai nhiệm vụ mà tầm ý nghĩa vượt xa khối lượng công việc. Trường Sơn đại ngàn, gỗ đâu thiếu! Nhưng cái khó là phải tìm được gỗ tốt nhất. Sau hơn một tháng, chúng tôi cũng chọn được một xe gỗ quý, đưa ngay ra Hà Nội giao cho Ban quản lý xây dựng Lăng. Chỉ là một chút công việc nhỏ nhoi, lặng thầm, song với cương vị là những người lính đang sống, chiến đấu trên tuyến đường mang tên Bác, chúng tôi cũng không giấu nổi niềm vui, đã góp phần mình vào sự nghiệp: "Để Bác Hồ sống mãi với đất nước, với nhân dân". Cuối tháng 5 năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chuyển sở chỉ huy từ Thạch Bàn (ngã ba đường 15 và đường 16, cạnh sông Bang) vào Bến Tắt - bờ nam sông Bến Hải. Đồng thời cũng tại khu vực này, Bộ Tư lệnh đã quyết định xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn - một nghĩa trang có tầm cỡ quốc gia. Sau này, khi hoàn tất khâu xây dựng, di dời phần mộ liệt sĩ, nghĩa trang Trường Sơn là nơi yên nghỉ của hơn 10 nghìn ngôi mộ của những người lính trên khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên tuyến đường mang tên Bác, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và làm nghĩa vụ quốc tẽ cao cả. Tại sở chỉ huy mới ở Bến Tắt, cuối tháng 8 năm 1974, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn họp tổng kết nhiệm vụ mùa khô 1973-1974 và triển khai chuẩn bị cho chủ trương chiến lược mới. Hội nghị thống nhất đánh giá mùa khô 1973-1974 của tuyến chi viện chiến lược đã "kết thúc thắng lợi chưa từng có", cả về cải thiện thế trận vận chuyển và khối lượng vận chuyển chi viện các chiến trường. Trong thắng lợi tổng thể trên các mặt, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh cũng khẳng định bước tiến vượt bậc của toàn tuyến trong lĩnh vực công tác chính trị. Không phải chỉ mùa khô vừa qua, mà từ nhiều năm trước, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã rất coi trọng công tác tư tưởng, tổ chức. Những năm không quân Mỹ đánh phá ác liệt trên toàn tuyến, trọng tâm của công tác chính trị, tư tưởng là khắc phục hiện tượng tiêu cực, dao động, thoái thác nhiệm vụ. Còn hiện tại, vấn đề quan trọng nhất là xây dựng tư tưởng tiến công, tranh thủ thời cơ, liên tục bền bỉ chiến đấu, công tác, không kể tháng, kể ngày. Về tổ chức, vấn đề quan trọng bậc nhất - cũng là vấn đề thành công nhất của Bộ Tư lệnh Trường Sơn là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển nhảy vọt của chiến trường. Do yêu cầu của nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ Tuyến 559 được bổ sung từ nhiều nguồn: các cơ quan Bộ Quốc phòng, quân - binh chủng, các quân khu, cơ quan Nhà nước ở hậu phương miền Bắc và tự đào tạo. Đảng ủy 559 luôn xác định: mỗi cán bộ vào chiến đấu, công tác ở chiến trường Trường Sơn, là những đồng chí đã tự nguyện chiến đấu vì độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc. Dù trước đó, trình độ của cán bộ không đồng đều, các cấp ủy, chỉ huy cần phát huy mặt mạnh, mặt tốt của từng người, hạn chế mặt điểm yếu của họ. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cục bộ địa phương, bè phái. Với tư tưởng đó, nhiều cán bộ dân - chính vẫn được bố trí, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, hoặc cán bộ chủ trì cơ quan. Đó là các anh Nguyễn Tường Lân - Phó tư lệnh 559, Nam Hải - Tham mưu phó công binh 559; các anh Nguyễn Lang, Phan Trầm... chỉ huy trưởng công trình. Đại bộ phận cán bộ đều hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ của mình. Đó là một trong những thành công của công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Trong chiến tranh, do yêu cầu phát triển nhanh lực lượng, việc bổ nhiệm cán bộ nhiều khi có những bước "nhảy vọt" - phổ biến là cán bộ từ trung đội đến trung đoàn. Có đồng chí, đầu mùa khô mới là cán bộ trung đội, qua một mùa khô công tác, chiến đấu, đã trở thành cán bộ cấp tiểu đoàn. Chức vụ cán bộ thường cao hơn cấp bậc. Nhiều đồng chí thượng úy là cán bộ trung đoàn, trung úy là tiểu đoàn trưởng... Việc đề bạt cho cán bộ tuy có làm nhưng rất chậm. Đặc biệt là đối với số cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn; nhiều đồng chí vẫn chỉ là thượng sĩ. Cấp "sĩ" cũng phải qua Bộ Quốc phòng phê chuẩn, nên phải qua nhiều khâu, rất chậm là điều không thể nào khác được, ở Tuyến 559, đã có trường hợp anh em vẫn đùa là "thượng sĩ i-nốc" làm tiểu đoàn trưởng. Chưa hết, phụ cấp cho cán bộ lại không được hưởng theo chức vụ. Cũng vì điều này, mà khi làm Chính ủy Sư đoàn 472, tôi đã bị phê bình: "Chính ủy sư đoàn mà làm việc thiếu nguyên tắc". Chuyện là, vào mùa khô 1973-1974, Bộ Tư lệnh Sư đoàn được giao quyền bổ nhiệm cán bộ trung đội trưởng và đại đội phó. Trong thời gian chờ Bộ phong quân hàm, chúng tôi đề nghị Bộ Tư lệnh 559 cho số anh em vừa bổ nhiệm được hưởng phụ cấp chức vụ. Nhưng rồi chờ mãi vẫn không thấy Bộ Tư lệnh ý kiến gì, chúng tôi bèn giải quyết. Khi nhận được báo cáo của Phòng Tài vụ, anh Hoàng Thẽ Thiện đã thẳng thắn phê bình chúng tôi. Chúng tôi tự giác nhận khuyết điểm bởi "việc đã rồi", nhưng thâm tâm vẫn thật không thoải mái bởi điều nghịch lý - "bất đồng" giữa trách nhiệm và quyền lợi này. Nhưng chiến tranh là vậy,... Khái niệm "quyền lợi" thường nhường chỗ cho sự hy sinh và những điều lớn lao, thiêng liêng khác. Hội nghị Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn lần này tập trung quán triệt kỹ về quyết tâm chiến lược và nhiệm vụ chuẩn bị cho giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đối với Bộ Tư lệnh Trường Sơn, biên chế tổ chức tiếp tục có sự hoàn thiện, tăng cường các sư đoàn binh chủng. Cán bộ cơ quan Bộ Tư lệnh cũng có bước điều chỉnh. Tôi được điều trở lại cương vị Phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Chủ nhiệm chính trị lúc này là anh Nguyễn Quang Vân. Phó chủ nhiệm chính trị, ngoài tôi còn có các anh: Đặng Đình Miên, Phạm Tề, Hoàng Nguyễn. Đại biểu dự hội nghị thảo luận sôi nổi, tập trung bàn triển khai kế hoạch mùa khô 1974-1975 mà Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng giao, đồng thời chuẩn bị chủ động bảo đảm cho "phương án thời cơ", giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975. Sau gần ba ngày làm việc, chỉ huy các sư đoàn, trung đoàn trực thuộc hối hả về đơn vị. Tôi đọc được trong ánh mắt, nụ cười mọi người niềm vui, niẽm tin "phương án 2" đang đến gần. Từ đầu mùa khô, trừ anh Quang Vân thường trực ở cơ quan, còn tôi, anh Miên, anh Phạm Tề, anh Hoàng Nguyễn chia nhau xuống nắm tình hình, đốc chiến các hướng. Tôi được phân công sang tuyến hành lang tây Trường Sơn, đi sâu vào phía nam, đôn đốc các trung đoàn giao liên cơ giới cơ động quân và vận chuyển bảo đảm binh khí kỹ thuật cho các đơn vị. Một mình một xe, một lái xe, tôi bươn bả tới các trạm chỉ huy giao thông này đến trạm chỉ huy giao liên khác, trực tiếp nghe các đơn vị hành quân qua tuyến phản ánh các mặt bảo đảm, từ đó cùng các trung đoàn giao liên Sư đoàn 470 tổ chức bảo đảm tốt hơn. Nhiều lần, tôi và cán bộ sư đoàn, trung đoàn giao liên đi cùng xe chở quân vào giao cho Mặt trận Tây Nguyên ở đường 19, giao cho Nam Bộ ở Lộc Ninh. Cả nước vào trận, cả Trường Sơn vào trận. Người và xe, pháo tuôn đổ về Nam. Đường, bình thường vốn đã chật, lúc này như chật hẹp hơn. Nhưng không trở ngại nào ngăn được những "dòng sông người", những "dòng sông xe - pháo" đang rùng rùng tiến ra phía trước. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:23:01 am V. TRỞ VỀ TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG
Đầu năm 1975, với cương vị Phó chủ nhiệm chính trị, Đảng ủy viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn, đang là phái viên đốc chiến trên tuyến, tôi nhận được điện báo về hậu cứ họp Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Điểm họp là một trạm khách được Bộ Tư lệnh cho xây dựng ở Vĩnh Mốc, Vĩnh Linh, sau khi ta giải phóng Quảng Trị, để đón tiếp các đồng chí lãnh đạo từ chiến trường ra, hoặc từ ngoài Bắc vào. Dự họp có đông đủ các anh trong Đảng ủy Bộ Tư lệnh: Đồng Sĩ Nguyên, Hoàng Thẽ Thiện, Nguyễn Lang, Phan Khắc Hy..., cùng các anh chỉ huy cơ quan Bộ Tư lệnh và đơn vị. Vào hội nghị, anh Nguyên quán triệt lại quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong 2 năm 1975-1976, tranh thủ thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, nếu điều kiện cho phép, quyết tâm dứt điểm trong năm 1975. Đặc biệt, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên làm "đột phá khẩu" cho chủ trương chiến lược mới, thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch, do anh Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, anh Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. Do vậy, ngoài thực hiện nhiệm vụ chi viện chiến lược theo kế hoạch, Bộ Tư lệnh Trường Sơn còn có nhiệm vụ tham gia chiến dịch Tây Nguyên, cụ thể là làm đường chiến dịch, cơ động quân, vận chuyển bảo đảm vật chất hậu cần, vũ khí, khí tài cho các lực lượng tham gia chiến dịch và trực tiếp tác chiến chiến dịch. Để trực tiếp phục vụ chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương. Phó tư lệnh Nguyễn Lang được phân công phụ trách Bộ Tư lệnh tiền phương. Anh còn được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ định làm Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, đặc trách công tác hậu cần, kỹ thuật. Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh tiền phương đặt ở Sa Thầy, cạnh sở chỉ huy Sư đoàn 470. Tôi được chỉ định là thành viên của Bộ Tư lệnh tiền phương. Những gì lĩnh hội được từ hội nghị có tính lịch sử này đã tạo cho chúng tôi niềm tin mãnh liệt về một mùa xuân mới - mùa xuân toàn thắng. Thực hành mệnh lệnh của Bộ, Sư đoàn 470 được giao nhiệm vụ vừa vận chuyển chi viện chiến lược, vừa bảo đảm phục vụ chiến dịch Tây Nguyên và là lực lượng tác chiến tại chỗ của chiến dịch Sư đoàn bộ binh 968 quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào, trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn, khẩn trương cơ động về bắc Tây Nguyên, tác chiến trên một hướng chiến dịch. Sư đoàn ô tô 471 dâng toàn bộ đội hình sâu vào phía Nam, vừa vận chuyển chi viện chiến lược, vừa vận chuyển phục vụ chiến dịch. Bộ Tư lệnh Trường Sơn còn thành lập thêm hai trung đoàn công binh (574 và 575) để mở gấp đường chiến dịch, bảo đảm cơ động bí mật bất ngờ xe tăng, pháo hạng nặng... theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Do yêu cầu nhiệm vụ, hầu hết cán bộ các cơ quan Bộ Tư lệnh và Bộ Tư lệnh tiền phương được tung xuống các đơn vị, từng cung đường, trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của cấp trên, đôn đốc, kiểm tra, giúp đơn vị thực thi nhiệm vụ. Tôi được phân công xuống đốc chiến, giúp các anh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 471 và hai trung đoàn công binh 574, 575. Đối với Sư đoàn vận tải ô tô 471, sau khi chuyển sang làm Chính ủy Sư đoàn 472 và về cơ quan Bộ Tư lệnh, tôi vẫn luôn theo dõi từng "đường đi nước bước" của Sư đoàn - nơi tôi từng gắn bó suốt hai mùa khô 1971-1972 và 1972-1973. Bình tâm nhìn lại, đây là thời điểm gian khổ, quyết liệt nhất đối với Sư đoàn 471. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Sư đoàn 471 chuyển sang hoạt động chủ yếu ở địa bàn đông Trường Sơn, góp phần hoàn chỉnh thế trận cầu đường, chuẩn bị cho chủ trương chiến lược mới, vận chuyển chi viện chiến trường. Được sự hỗ trợ của lực lượng thanh niên xung phong, của Bộ Tư lệnh Khu 5, Mặt trận Tây Nguyên..., Sư đoàn 471 đã hoàn thiện mạng đường, cầu đông Trường Sơn từ A Vương đến Sa Thầy, vào năm 1974. Tháng 6 năm 1974, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập các sư đoàn binh chủng. Theo đó, Sư đoàn khu vực 471 và Sư đoàn khu vực hậu cứ 571 chuyển thành hai sư đoàn vận tải ô tô. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng trong lịch sử tổ chức quân đội ta, nếu không nói là chưa có tiền lệ cả với những cường quốc quân sự trên thế giới. Biên chế của Sư đoàn 471 lúc này có các trung đoàn ô tô 32, 33, 536 và 17, do anh Nguyễn Văn Lạn làm Sư đoàn trưởng, anh Phạm Thái làm Chính ủy; các anh Phạm Lê Hoàng, Nguyễn Tất Giới là Sư đoàn phó, anh Phan Biên là Phó chính ủy và anh Nguyễn Thuận Quảng là Tham mưu trưởng. Đây là một tập thể cán bộ sư đoàn vận tải cơ giới khá lý tưởng. Anh Nguyễn Văn Lạn, nguyên là cán bộ chính trị, là người khá quyết đoán, có chính kiến kể cả chính kiên trái với cấp trên như bản tính "đồ Nghệ" mà chúng tôi vẫn thường đùa gọi anh như vậy. Sự kiện anh phản ứng quyết định của Bộ Tư lệnh Trường Sơn thử nghiệm tổ chức vận chuyển cơ giới mùa mưa trước đây là một điển hình cho tính cách đó. Đến với Sư đoàn 471 trong những ngày khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch, nhớ về hội nghị Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn bàn triển khai thực hiện chủ trương chiến lược mới của Đảng, khi đó lãnh đạo, chỉ huy các sư đoàn 470, 471, 472, 571... nhận nhiệm vụ đột xuất, nặng nể mà đầy tự tin, không một chút lo lắng, tôi càng cảm phục tầm nhìn xa của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và sự năng động, sáng tạo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Chỉ bằng "vốn liếng" quý giá là mấy sư đoàn binh chủng - đặc biệt là hai sư đoàn vận tải thiện chiến sẵn trong tay thì Bộ Tư lệnh Trường Sơn mới chủ động hoàn toàn trước tình hình có bước phát triển đột biến, mới đủ khả năng bảo đảm nhanh nhất, đầy đủ nhất khối lượng vật chất kỹ thuật cho chiến trường; kể cả sử dụng lực lượng lớn vận tải cơ giới cơ động các binh đoàn binh chủng hợp thành của Bộ vào tham gia các chiến dịch quy mô lớn. Từ khi chuyển thành sư đoàn vận tải cơ giới, biên chế hơn 1.600 xe, trong điều kiện cầu đường cho phép, cường độ đánh phá của không quân địch giảm hẳn, Sư đoàn 471 đã tổ chức vận chuyển cung dài từ đường số 9 vào Xê Sụ, Sa Thầy; giao hàng trực tiếp cho chiến trường Khu 5, Tây Nguyên; một bộ phận chuyển tiếp vào Lộc Ninh, Bù Gia Mập, giao hàng cho Nam Bộ. Bước vào Tổng tiến công Xuân 1975, sở chỉ huy sư đoàn chuyển từ Đầu Mầu - đường số 9 vào Xê Sụ. Hai trung đoàn 33 và 536 lấy hàng ở Xê Sụ, Sa Thầy, chuyển giao cho các hướng chiến trường. Hai trung đoàn 32 và 17 trực tiếp lấy hàng từ cụm kho Đông Hà, đường số 9 chuyển thẳng vào giao cho Nam Bộ tại Lộc Ninh. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:24:04 am Chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên, theo yêu cầu của Bộ, Sư đoàn 471 huy động tổng lực phương tiện cơ động gấp toàn bộ đội hình Sư đoàn 316 cùng toàn bộ binh khí kỹ thuật từ Tây Nguyên, tập kết quanh đường số 19, bảo đảm tuyệt đối bí mật an toàn. Thành công của việc cơ động Sư đoàn 316 đã tạo tiền đề để chúng tôi tổ chức lực lượng cơ động Sư đoàn 968 từ Hạ Lào về Plây Cu, Công Tum thay chân Sư đoàn 10 tác chiến nghi binh ở hướng bắc chiến dịch. Tiếp đó, ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 471 tổ chức lực lượng, bí mật cơ động Sư đoàn 10 vào vị trí tập kết chiến dịch, chuẩn bị tiến công Đức Lập; chuyển hơn 100 tấn đạn pháo lớn theo lưng bộ đội vào tới tận trận địa pháo, kịp giò "G" phát hỏa mở màn chiến dịch.
Để bảo đảm kịp thời yêu cầu vận chuyển vật chất, cơ động lực lượng tham gia chiến dịch, tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định cho xe chạy lấn sáng, lấn chiều, nhưng tuyệt đối phải bảo đảm bí mật. Riêng các đêm 6 và 7 tháng 3, khi chuyển hàng giao tại những điểm gần địch, lái xe phải tắt đèn, đi mò trong đêm. Xen kẽ những ngày đốc chiến tại Sư đoàn 471, tôi sang nắm tình hình mở đường chiến dịch từ nam Đức Cơ xuống Chư Mơ Nga của các trung đoàn 574, 575. Trên hướng bắc Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 575, do các anh Nguyễn Văn Châu và Nguyễn Văn Liễu chỉ huy, khẩn trương khôi phục các trục đường 48, 50. Từ giữa tháng 2, Trung đoàn tiếp tục mở một trục dọc gồm đường 50B và hai nhánh là đường 50C, 50D. Tổng chiều dài trục đường này lên tới gần sáu chục cây số. Đa phần đường mới mở đi sát đồn điền cao su của các chủ tư bản Pháp trước đây. Vào gần thị xã Buôn Ma Thuột địa hình trống trải, dân cư đi lại nhiều, yêu cầu giữ bí mật được đặt lên hàng đầu. Khi đường mở vào cách thị xã chừng 20 cây số, chỉ huy trung đoàn được lệnh cho bộ đội tạm dừng, chuẩn bị vật liệu, phương tiện để khi có lệnh là hoàn tất quãng còn lại trong một ngày đêm. Chính thời gian này, anh em công binh đã bí mật, khôn khéo tổ chức thành từng nhóm nhỏ, cưa cắt sát gốc những cây to dọc trục đường sẽ mở, chỉ để lại một phần cho cây khỏi ngã; đào đặt sẵn lượng nổ cần thiết vào những gò đống phải phá... Tất cả sẵn sàng chờ lệnh thông đường. Dốc hết khả năng, phát huy cao độ trí tuệ, tính tổ chức kỷ luật cao, đến ngày 4 tháng 3, trục đường do Trung đoàn 575 mở từ hướng bắc đã vào đến bản Kơ Hia, Chư Mơ Nga, cách thị xã Buôn Ma Thuột chừng 20 cây số mà kẻ địch không hay biết gì. Để có được kết quả đó, cũng phải kể đến sự ưu ái của núi rừng Trường Sơn. Đúng là "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù". Dưới những tán rừng lặng lẽ là cả một chiến dịch ra quân của mấy chục nghìn quân, mấy nghìn xe ô tô, pháo lớn. Núi rừng Trường Sơn đang ẩn chứa sức mạnh tiềm tàng, to lớn mà đối phương không thể nào hình dung nổi. Thời gian mở màn chiến dịch đên gần, kế hoạch bảo đảm cho chiến dịch cũng hoàn tất. Ngoài cơ động Sư đoàn 968 và Sư đoàn 10 vào vị trí tập kết chiến dịch bí mật, an toàn, Sư đoàn 471 đã chuyển 10.300 tấn vũ khí, khí tài - chủ yếu là đạn pháo lớn, khí tài thông tin, phụ tùng xe tăng thiết giáp vào khu vực Sa Thầy, tập kết ở trục đường đông Trường Sơn, tại những nhánh rẽ xuống từng hướng chiến dịch... Qua theo dõi, kiểm tra của Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn, toàn bộ công tác chuẩn bị, bảo đảm vật chất kỹ thuật, cầu đường..., Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 30 phần trăm trước 3 ngày so với thời gian quy định. Đặc biệt, do chủ động chuẩn bị tốt, khi được lệnh mở tiếp các trục đường còn lại như dự kiến, Trung đoàn 575 đã dồn lực tổ chức thi công suốt ngày đêm. Đúng 23 giờ ngày 9 tháng 3, Trung đoàn đã khai thông trục đường 50B, hai nhánh 50C, 50D và tổ chức xong lực lượng hộ tống xe cùng binh khí kỹ thuật. Là người chủ trì tiền phương Bộ Tư lệnh trong "đêm trước" của chiến dịch, sau khi gọi điện báo cáo kết quả công tác chuẩn bị cũng như đánh giá của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, với anh Đồng Sĩ Nguyên và anh Lê Xy, anh Nguyễn Lang không giấu nổi vui mừng. Anh tâm sự với chúng tôi: Bộ đội Trường Sơn đã thực hiện tốt lời căn dặn một tháng trước đó của anh Văn Tiến Dũng và anh Đinh Đức Thiện... Niềm vui ngập tràn cơ quan Bộ Tư lệnh tiền phương, làm vợi đi tâm trạng bồn chồn, thấp thỏm của chúng tôi, bởi giờ mỏ màn chiến dịch Tây Nguyên đang đến gần. Ngày 10 tháng 3, ta nổ súng tiến công địch ở thị xã Buôn Ma Thuột. Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Trung đoàn công binh 575 đã phối hợp cùng Trung đoàn 7 công binh, Mặt trận Tây Nguyên bảo đảm cầu đường cho đội hình binh chủng hợp thành tiến công địch, giành thắng lợi. Cuộc tiến công đồng loạt của ta trên khắp chiến trường Tây Nguyên, đỉnh cao là đòn "điểm huyệt" Buôn Ma Thuột đã làm cho quân địch ở địa bàn chiến lược trọng yếu này hoàn toàn tan rã. Địch buộc phải bỏ Tây Nguyên tháo chạy theo đường số 7 về co cụm tạo "lá chắn" ở duyên hải miền Trung. Không cho địch chạy thoát, nhận chỉ thị của Đại tướng Văn Tiến Dũng, anh Nguyễn Lang lệnh cho Sư đoàn 471 tổ chức một lực lượng cơ động Sư đoàn 10 truy kích địch rút chạy theo đường số 7 và cơ động Sư đoàn 320 truy kích địch theo đường 19 xuống Buôn Hồ, Đạt Lý. Theo phân công của anh Lang, tôi may mắn được đi cùng cánh quân truy kích địch theo đường số 7. Khi Sư đoàn 10 phối hợp cùng Sư đoàn 3 Quân khu 5 chặn đánh tiêu diệt gọn lực lượng Quân khu 2 của địch từ Plây Cu tháo chạy theo đường số 7 xuống Phú Yên; chúng tôi lại đi cùng Trung đoàn ô tô 32 và Trung đoàn ô tô 536 cơ động Sư đoàn 320 truy kích địch, phía nam tiểu khu Buôn Hồ đến Đạt Lý. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm và tham gia chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 470 khẩn trương sửa chữa gấp trục đường 19 nối dài từ Đức Cơ xuống đường 14 ở khu vực Núi Hòn Rồng và trục đường từ Công Tum vào Buôn Ma Thuột... Khói súng chưa tan, Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn được lệnh khẩn trương tiếp quản và chuyển vào thị xã Buôn Ma Thuột, đóng tại khu vực kho Mai Hắc Đế và bộ tư lệnh sư đoàn 23 quân ngụy. Sư đoàn 470 cơ động toàn bộ lực lượng vào Đắc Lắc, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đóng tại ngã ba đường 14 và đường 21 đi Ninh Hòa. Sư đoàn 471 khẩn cấp chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm cứu đói cho nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận, kịp thời ổn định tình hình vùng mới giải phóng. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:26:12 am Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm đảo lộn hoàn toàn thế phòng thủ chiến lược của quân đội Sài Gòn, là cơ sở để Bộ Chính trị họp ngày 25 tháng 3, hạ quyết tâm "Tập trung lớn nhất và nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật, vật chất đảm bảo giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Nắm thời cơ chiến lược, tiêu diệt, làm tan rã quân đoàn 1 ngụy và đại bộ phận quân đoàn 2, không cho chúng co cụm quanh Sài Gòn".
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Bộ Tư lệnh Trường Sơn dốc toàn lực phục vụ cho Tổng tiến công. Sư đoàn ô tô 571 và một số trung đoàn công binh, cao xạ phục vụ Quân đoàn 2, Quân khu Trị - Thiên giải phóng Huế - Đà Nẵng. Sư đoàn 472 tiếp tục bảo đảm cầu đường tuyến tây Trường Sơn. Sư đoàn 470 sửa chữa, bảo đảm cầu đường trục đông Trường Sơn từ Buôn Ma Thuột vào Bù Gia Mập, Tây Ninh, sửa chữa đường 21 Buôn Ma Thuột - Ninh Hòa, do khi rút chạy, địch đã kịp phá hỏng một số cầu trọng yếu. Lúc này, tôi tiếp tục bám đốc chiến Sư đoàn 471 chuyển nhanh hơn 6.000 tấn đạn pháo lớn và một khối lượng lớn khí tài, vật tư kỹ thuật bảo đảm cho bộ đội tăng thiết giáp, pháo binh; đặc biệt là cơ động toàn bộ đội hình Quân đoàn 3 và tiếp đó là một số sư đoàn của Quân đoàn 1 vào Nam Bộ. Nhận nhiệm vụ cơ động đội hình cấp quân đoàn binh chủng hợp thành và một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật trong điều kiện lực lượng xe phân tán vừa chuyển hàng, vừa cơ động bộ đội truy kích địch; rồi người và xe cũng đã gần trọn 6 tháng mùa khô bám đường, bám hàng... là một thử thách vô cùng gay cấn đối với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 471. Nhưng chủ động dự kiến sớm tình hình, tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn thống nhất rằng: chần chừ, chậm trễ lúc này là có tội lớn với cách mạng, với nhân dân. Liền đó, chúng tôi phát lệnh thu quân, dồn dịch đội hình, quyết tâm từ 5 đến 7 ngày có đủ 1.620 xe. Các trạm xưởng làm việc liên tục suốt ngày đêm. Nhiều tốp thợ được tung đi các trục đường tháo gỡ phụ tùng xe cháy, khắc phục tối đa số xe hỏng. Đầu tháng 4, đủ xe. Các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn lại chia nhau bám theo đội hình xe, trực tiếp chỉ huy các trung đoàn cơ động quân theo đường 14 tiến vào Lộc Ninh, Đồng Xoài. Mọi hoạt động của các sư đoàn 470 và 471 tiến triển đồng bộ, khẩn trương, với nhịp độ "một ngày bằng hai mươi năm"; sau khi được anh Nguyễn Lang cho phép, tôi tranh thủ về Ninh Hòa thăm Mẹ, thăm quê. Dọc đường quê, cảnh chiến tranh vào hồi kết hiển hiện. Cờ Giải phóng ngạo nghễ, thấp thoáng bay ở công sở, giữa thôn, ngoài làng, tươi rói trong nắng tháng 3. Xác xe, pháo của địch ngổn ngang; thậm chí còn một số xác lính ngụy nằm rải rác còng queo. Đồng bọn còn sống của những kẻ xấu số ấy thì hồn xiêu phách lạc tìm kế dung thân; bộ đội ta đang truy đuổi địch, chưa kịp chôn cất... Trưa 15 tháng 4, tôi về tới thôn Lạc Ninh, thuộc huyện Ninh Hòa - nơi mà mẹ và chị tôi từng nương náu. Nhưng niềm vui chưa trọn, bởi chỉ gặp được mợ tôi, còn mẹ và chị tôi đã về Quảng Ngãi từ hơn một năm trước, nay không biết còn hay mất. Mợ cháu gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Biết tôi còn sống trở về, bà con thân thích kéo đến chật nhà, đầy sân. Gắng mãi tôi mới thoát được sự vây bủa của mọi người, để về Quảng Ngãi tìm mẹ. Rời Lạc Ninh, tối đó tôi và chiến sĩ lái xe nghỉ nhờ cơ quan Huyện ủy Tuy An - Phú Yên; được các anh ở Huyện ủy tiếp đón thân tình, chu đáo. Sáng hôm sau, chưa tỏ mặt người, hai "thầy trò" đã lên xe, ngược ra Quảng Ngãi. Đã bao năm sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn, dưới mưa bom bão đạn, địa hình núi rừng chia cắt mạnh, đường xấu, xe của chúng tôi chạy nhanh cũng chỉ chừng hai chục cây số một giờ. Nay về đồng bằng, đường tốt, lại sốt ruột muốn chóng được gặp mẹ, tôi giục lái xe tăng tốc. Hiểu lòng tôi, nhưng vốn cẩn thận, chiến sĩ lái xe động viên: Thủ trưởng yên tâm, trưa nay chắc chắn là chúng ta gặp được cụ! Chạy nhanh khi chưa quen đường, nguy hiểm lắm. Vậy là dẫu có sốt ruột, tôi cũng thuận theo quyết định rất thấu tình, đạt lý của ngươi lái xe. Cuối cùng, điều mong mỏi đến cháy lòng của tôi cũng đã thỏa nguyện. Trưa đó tôi gặp lại mẹ già và người chị thân thương sau 20 năm trời xa cách, tại chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Mảnh vườn xưa còn đó, nhưng nếp nhà của bố mẹ tôi đánh đổi cả cuộc đòi làm lụng, xây cất đã bị đạn bom thù thiêu hủy, thay vào đó là một túp lều tranh, chỉ kê được vẻn vẹn chiếc giường tre. Xuống xe, lao vội vào nhà, tôi kêu như lạc giọng: Mẹ ơi! Con đã về đây với mẹ! Sau giây lát bàng hoàng như mơ, mẹ và chị ôm riết lấy tôi với vòng tay run lẩy bẩy, rồi mẹ nói: Thế là mẹ còn sống đến ngày đất nước thống nhất để được gặp con! Tưởng là 2 năm mà đã 20 năm...! Lời mẹ hòa trong nước mắt. Đúng như một nhà thơ từng nói: Đất nước ta - đất nước của những người xa nhau không hề rơi nước mắt. Nước mắt chỉ để dành cho ngày gặp mặt. Tình cảm dồn nén sau bao tháng năm xa cách khó có thể giãi bày khỏa lấp trong chốc lát, nhưng tôi xin phép mẹ cùng bà con được sang thăm mẹ vợ ở làng bên. Nhà của bố mẹ vợ tôi xưa cũng chẳng còn, thay vào đó là túp lều đơn bạc như lều mẹ đẻ tôi. Rồi cũng như bao bà mẹ có con từ nơi bom đạn trở về, bà ôm chặt lấy tôi như một đứa trẻ thơ dại, dẫu lúc đó tôi đã xấp xỉ tuổi "tri thiên mệnh". Có tôi trong vòng tay mẹ khi quê nhà hoàn toàn giải phóng, rồi biết được vợ con tôi ở ngoài Bắc khỏe mạnh, trưởng thành..., mẹ mừng khôn xiết. Vậy là sau 20 năm xa cách, vượt qua bao gian khổ hy sinh, cùng đồng chí, đồng đội "lo việc nước, trả thù nhà", tôi đã được trở về quê hương nội - ngoại trong niềm vui chiến thắng của dân tộc, trong tình cảm nhớ mong của người thân. So với sự mất mát, hy sinh của bao người, tôi thấy niềm may mắn, hạnh phúc của mình lớn lao không tả nổi. Cố lách khỏi cái ồn ào, níu kéo của ngày vui đoàn tụ, chiều xuống, tôi lần theo những nẻo đường thôn, gặp lại những khóm tre đầu làng, những nhịp cầu tre, lối nhỏ từng in dấu chân tôi tới trường; những mảnh vườn, bãi cỏ, bò dứa dại..., như chính một mảng đời thơ ấu, lam lũ của đời tôi. Nơi nào cũng gợi lại trong tôi những kỷ niệm đau đáu về một miền quê nghèo khó. Biết bao nếp nhà thân thương không còn bởi đạn bom thù tàn phá, biết bao người thân đã ngã xuống để hôm nay tôi có được ngày về... Trong tôi trào lên niềm thương cảm vô bờ. Ngày mai, tôi sẽ trở về đơn vị. Đau thương sẽ biến thành căm thù dồn lên đầu súng, lên vành tay lái, quyết giành toàn thắng trong cuộc đọ sức cuối cùng với kẻ thù. Cùng lúc đó, tôi nghe vọng về từ phía đường số 1 tiếng động cơ rầm trời của các loại xe pháo. Đại quân ta đang ào ạt tiến về Nam, tiến về Sài Gòn. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:27:27 am Sau khi đưa mẹ và chị tôi vào Khánh Hòa, tôi gửi mẹ và chị ở nhà một người thân, rồi trở về ngay đơn vị. Anh Lang tiếp tục cử tôi xuống đôn đốc Sư đoàn 470 và Sư đoàn 471. Hôm xuống Sư đoàn 471, anh Nguyễn Văn Lạn và các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn quây lại chúc mừng tôi; ai cũng muôn sẻ chia cùng tôi niềm vui đoàn tụ gia đình - mẹ con sau hai chục năm ròng cách xa, vượt lên bao đạn bom, mưu ma chước quỷ của kẻ thù. Nhưng rồi, công việc như lốc, như bão, không cho phép chúng tôi say sưa với niềm vui đó. Nhiệm vụ lúc này của Sư đoàn 471 là tiếp tục vận chuyển gấp 6.100 tấn đạn pháo từ các cụm kho KG4 (Nam Lào), Xê Sụ, Buôn Ma Thuột (kể cả đạn hỏa lực lấy được của địch) vào miền Đông Nam Bộ.
Trong khi tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn bàn bạc triển khai nhanh lực lượng vận chuyển thì nhận được lệnh của anh Nguyên, điều động Trung đoàn 33 ô tô vận tải của Sư đoàn 471 đi phối thuộc cho Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Trung đoàn 33 có nhiệm vụ cơ động các đơn vị chủ lực theo trục đường Đồng Xoài - Dầu Tiếng - Bến Cát - Lò Gò - Chơn Thành vào tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Mặc dù hầu như toàn bộ xe máy đã tung hết lên tuyến, nhưng Sư đoàn 471 đã thực hiện nghiêm lệnh "hỏa tốc". Chỉ sau hơn một ngày, Trung đoàn 33 với đội hình 320 xe đã triển khai thực hiện nhiệm vụ đột xuất của Bộ. Trung tướng - Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và Thiếu tướng Phan Hàm - Cục phó Cục Tác chiến, phái viên đốc chiến của Bộ Tổng Tư lệnh, vô cùng cảm kích và đánh giá cao nỗ lực phi thường của Bộ đội Trường Sơn. Sau đợt tập trung vận chuyển đạn hỏa pháo, lực lượng chủ yếu của Sư đoàn 471 khẩn trương cơ động Quân đoàn 1 theo hướng Đồng Xoài - Chơn Thành - đường 13, đánh vào Sài Gòn. Ở trục thứ nhất, hai Tiểu đoàn xe 51 và 235 tham gia cơ động Sư đoàn 320 tiến qua Tân Uyên, phát triển vào Sài Gòn. Vào 9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, đội hình tiến công của ta trên trục này đã tập kết tại Tân Uyên. Trong cơn giãy chết, địch phản kích điên cuồng. Tiểu đoàn 51 có 3 xe bị cháy, 8 xe hỏng nặng, 1 lái xe hy sinh và một số khác bị thương. Gương hy sinh dũng cảm của đồng chí, đồng đội trước cửa ngõ Sài Gòn, trước giây phút toàn thắng đã gây xúc động mạnh, khích lệ những người còn sống vững tay lái, chắc tay súng. Khi chủ lực của ta vượt cầu Bình Triệu, địch tập trung máy bay và lực lượng dưới mặt đất chống trả quyết liệt. Nhưng thế giặc đã tàn. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 51 và Tiểu đoàn 253 đã hợp sức cùng bộ binh trên xe dũng mãnh tiến công, đánh địch trong hành tiến, phát triển nhanh vào đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy. Trên trục thứ hai, Tiểu đoàn 53, Tiểu đoàn 734 tham gia cơ động lực lượng còn lại của Quân đoàn 1, đánh chiếm Bến Cát vượt sông Bé vào nội đô Sài Gòn. Ở hướng tây bắc, Trung đoàn 17, Trung đoàn 536, sau khi dồn hàng - chủ yếu là đạn pháo phục vụ chiến dịch, đã cơ động Quân đoàn 3 đánh chiếm Đồng Dù - củ Chi, Hóc Môn, nhanh chóng phát triển vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Trên hướng đông nam Sài Gòn, Trung đoàn 512 ô tô vận tải Sư đoàn 571 đã tham gia cơ động Quân đoàn 2 vượt hàng nghìn cây số, tiến công địch trong hành tiến, đập nát các tuyến phòng thủ từ xa của địch, và sáng ngày 30 tháng 4, cũng cơ động bộ binh đồng loạt tiến vào nội đô. 11 giờ 30 phút, cò Giải phóng tung bay trên tầng cao dinh Độc lập - Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong giây phút vô cùng thiêng liêng, đợi chờ từ ba mươi năm, giữa Sài Gòn đã hiển hiện những đoàn "chiến mã Trường Sơn", những người lính Trường Sơn quân phục đỏ quạch bụi đường, làn da sạm màu sốt rét rừng, cơ động những binh đoàn đột kích thọc sâu, có mặt đầu tiên tiến vào làm chủ sào huyệt - dinh lũy cuối cùng của kẻ thù. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, các lực lượng Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tham gia chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vô cùng quan trọng là tham gia bảo đảm cầu đường, đảm bảo hậu cần - kỹ thuật, đặc biệt là đã cơ động các binh đoàn chủ lực đánh địch trong hành tiến, thần tốc vượt hàng nghìn cây số kịp vào miền Đông Nam Bộ, thực hành chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh giải phóng của dân tộc ta. Một trong những sáng tạo về nghệ thuật quân sự mà Bộ đội Trường Sơn thực hiện được trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân này, chiến dịch này Là đã "cơ giới hóa bộ binh, tạo nên khả năng cơ giới cao, sức đột kích mạnh của các binh đoàn chủ lực, nhanh chóng đè bẹp mọi sự phản kháng của kẻ thù, giành toàn thắng trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng"1 (Đường xuyên Trường Sơn - Sđd, tr.370). Là một người lính Trường Sơn, nuôi ước nguyện từ ngày ra Bắc tập kết được trở về góp sức giải phóng quê hương, giải phóng miền Nam, tôi không khỏi xúc động tự hào bởi ước nguyện đó đã trở thành hiện thực, và chính chúng tôi vừa là người trở về trong lòng đất Mẹ, vừa là những người đóng góp mồ hôi, máu xương mở những con đường về đất Mẹ. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:28:52 am Ngày 23 tháng 2 năm 1976, tại thành phố biển Nha Trang, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tiến hành hội nghị tổng kết mừng công 16 năm của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Cùng với các đồng chí đại biểu Đảng, Nhà nước, quân đội, các địa phương, đại biểu các đơn vị, các binh chủng đã từng kề vai sát cánh, chung lưng đấu cật, hiệp đồng chiến đấu suốt 16 năm ròng giữa đại ngàn Trường Sơn... vô cùng xúc động tự hào nghe anh Nguyên thay mặt Bộ Tư lệnh trình bày tổng thể bức tranh kỳ vĩ, hoành tráng, hào hùng của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, sự hy sinh lớn lao và những chiến công bất tử của những người lính trên tuyến đường mang tên Bác. Tôi xin mượn đoạn trích trong bản tuyên dương công trạng của Quốc hội, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đối với Bộ đội Trường Sơn anh hùng, thay cho việc dẫn báo cáo tổng kết tại hội nghị quan trọng này.
"Từ năm 1959 đến năm 1975, suốt mười sáu năm qua, Bộ đội Trường Sơn đã không ngừng phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần quyết chiến quyết thắng, kiên quyết tiến công, liên tục tiến công, vượt qua mưa bom bão đạn, đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, anh dũng mở đường thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ một cách đặc biệt xuất sắc, lập nên kỳ công trong lịch sử chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta"1 (Lịch sử Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1999, tr.667). Dĩ nhiên, để có được những "kỳ công" đó, chúng ta cũng đã phải chịu biết bao mất mát hy sinh. Sự hy sinh, tổn thất của Bộ đội Trường Sơn cũng chính là tổn thất chung của đất nước, của nhân dân hai miền Nam, Bắc. Giờ đây, cuộc chiến đã lùi xa hơn một phần tư thế kỷ, có nhiều công trình nghiên cứu tổng kết, tập hợp khối lượng bom đạn địch ném xuống Trường Sơn. Hai vạn cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn anh dũng hy sinh, ba vạn người bị thương; khoảng 14.500 lượt chiếc xe máy các loại, 400 khẩu pháo, 90 nghìn tấn hàng bị phá hỏng và phá hủy. Những số liệu trên gây một cú sốc cho bao người. Hy sinh, tổn thất lón lao quá! Tuy vậy, trong thâm tâm, tôi vẫn nghĩ thực tế tổn thất còn nhiều hơn, lớn hơn. Ví như số xe máy bị tổn thất chẳng hạn. Từ năm 1965, đặc biệt là từ năm 1967 đến hết năm 1972, cứ đầu mùa khô, chuẩn bị triển khai kế hoạch vận chuyển, mỗi tiểu đoàn xe được bổ sung từ 50 đến 60 xe. Tổng số xe của toàn tuyến trong một mùa vận chuyển thường là 2.500 đến 3.000 chiếc, lượng xe bổ sung khoảng hơn 1.000 chiếc. Nhưng qua mùa khô, lượng xe còn lại hơn 1.000 chiếc, trong đó có tới một nửa phải đại tu. Chỉ làm một phép tính nhẩm đơn giản, cũng thấy được số lượng xe bị tổn thất, hư hỏng từ khi toàn tuyến lấy cơ giới làm phưởng thức vận chuyển chủ yếu, sẽ lớn hơn... Giờ đây, khi dĩ vãng một thòi đạn bom khốc liệt hiện về, tôi không thể nào nguôi quên câu trêu đùa của một vài anh em ở cơ quan Bộ Tư lệnh, khi tôi từ Binh trạm 31, Binh trạm 32 hay Binh trạm 42 trở về sau một mùa khô: "Mùa này binh trạm ông "nướng" bao nhiêu xe, bao nhiêu hàng?". Một nỗi đau khó nói thành lời. Dĩ nhiên, khi phải đối đầu với một kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh bậc nhất hành tinh, huy động cả nền khoa học công nghệ quân sự vào mục đích phi nhân tính, thì mỗi một thắng lợi, cho dù rất nhỏ của ta cũng phải trả giá, phải mất mát, hy sinh. Có điều, điểm chót cùng là chúng ta đã thắng, thắng vang dội, trọn vẹn. Trong niềm vui toàn thắng của đất nước, tôi là một trong ngàn vạn người con ra Bắc tập kết ngày nào được trở về trong lòng đất Mẹ, trong lòng những người mẹ đã sinh thành, dung dưỡng tôi nên người. Cũng kiên gan chiến đấu, cũng nuôi niềm hy vọng như tôi, nhưng có biết bao đồng chí, đồng đội tôi đã phải vĩnh viễn nằm lại nơi bìa rừng khuất nẻo, cung đường, trọng điểm; máu xương họ hòa tan vào gió núi, mây trời, sông suối Trường Sơn, thậm chí - có những người đã ngã xuống trước cửa ngõ Sài Gòn trong ngày toàn thắng. Để rồi biết bao người mẹ như mẹ tôi, biết bao người vợ như vợ của tôi, nhưng vĩnh viễn cũng chỉ có chờ mong. Những người mẹ ấy, những người vợ ấy đều xứng đáng là những Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đi vào lịch sử, cùng toàn quân, toàn dân, Bộ đội Trường Sơn bước vào một thời kỳ mới. Nhiều đơn vị từng gắn bó một thời với tuyến đường mang tên Bác, lần lượt chuyển về các quân - binh chủng, quân khu, đơn vị. Rồi Binh đoàn 12 - Binh đoàn Trường Sơn - đơn vị vinh dự kế thừa truyền thống, sự nghiệp của Bộ đội Trường Sơn, được thành lập trên cơ sở các đơn vị còn lại tiếp tục làm nhiệm vụ xây dựng cơ bản đường đông Trường Sơn, từ Tân Kỳ (Nghệ An) đẽn Chơn Thành (Bình Phước). Khi Binh đoàn 12 thành lập, tôi được phân công làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy binh đoàn. Quân đội ta thực hiện cơ chế một người chỉ huy, tôi là Phó tư lệnh về chính trị, Bí thư Đảng ủy binh đoàn. Cùng với nhiệm vụ mở mới, nâng cấp đường cơ bản đông Trường Sơn, Binh đoàn 12 lần lượt tham gia khôi phục tuyến đường sắt Thống Nhất - đoạn Minh Cầm, Tiên An, nâng cấp các tuyến đường 7, 8, 9. Năm 1979, trước yêu cầu của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, những người lính Trường Sơn đã kịp thời có mặt ở tuyến biên giới phía Bắc thi công đường 279. Suốt một dải biên cương từ Quảng Ninh tới Hà Giang, Lai Châu, chúng tôi như sống lại cảnh Trường Sơn của thời đánh Mỹ. Chiến sự ở hai đầu đất nước lắng xuống, những người lính Trường Sơn chúng tôi lại dốc sức cho những công trường mới. Cùng với thời gian, năm tháng, mỗi lần xuống trực tiếp thị sát các công trình do Binh đoàn tham gia xây dựng, tôi như bắt gặp lại những người lính Trường Sơn năm xưa. Những người lính đã từng gắn bó máu thịt với các "tọa độ lửa": Seng Phan, Lùm Bùm, Cốc Mạc, ATP... giờ đây lại sống cùng những công trình thế kỷ: thủy điện Hòa Bình, thủy điện Ya Ly, Đrây H'linh... Những người lính năm xưa mò mẫm giữa đại ngàn Trường Sơn, với "ánh lửa" từ trái tim soi từng bước đường về đất Mẹ, giờ đây đang nâng niu, nâng cấp những cung đường từng thấm đẫm máu, mồ hôi, tâm lực của chính họ và của bao đồng đội ngày ấy. Chưa hết, họ còn góp trí tuệ, sức lực của mình xây dựng công trình đường điện 500KV Bắc - Nam, hòa dòng điện như huyết mạch trên cơ thể đất nước thống nhất. Lực lượng của Binh đoàn Trường Sơn ở thời điểm cao nhất lên tới tám sư đoàn, ba trung đoàn cầu và hai trung đoàn vận tải. Bước vào thời kỳ mới, với những người lính Trường Sơn, công trường cũng là "chiến trường", và dưới một góc độ nhất định thì thương trường cũng là chiến trường. Trong cuộc chiến đấu mới, trong công cuộc dựng xây đất nước, đòi hỏi những người lính chúng tôi ngoài ý chí, nghị lực phải không ngừng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật; sử dụng tốt, làm chủ nhiều trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, có trình độ quản lý kinh tế ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Từ những năm đầu thập kỷ tám mươi, Binh đoàn Trường Sơn đã tích cực thực hiện hạch toán kinh tế, tự cân đối thu chi, bảo đảm đới sống cán bộ, chiến sĩ và thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước. Suốt 40 năm chiến đấu, công tác, có 16 năm làm nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 24 năm tham gia xây dựng kinh tế, kết hợp quốc phòng, Bộ đội Trường Sơn trước đây và Binh đoàn 12 - Tổng công ty xây dựng Trường Sơn hiện nay đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với phần thưởng cao quý - Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất mà Đảng, Nhà nước khen tặng. Với tôi, sau 47 năm là người lính, trong đó có hơn 10 năm sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn, 17 năm công tác tại Binh đoàn 12, Binh đoàn Trường Sơn, năm 1992, tôi được Nhà nước, quân đội cho nghỉ hưu. Gần 10 năm trở về với cuộc sống đời thường, với gia đình, với bà con quê hương rất đỗi thân thương, nhưng những ký ức về những năm tháng sống, chiến đấu trên đường Trường Sơn - Đường về đất Mẹ đã để lại những dấu ấn sâu đậm, đã thành máu thịt, là một phần sống của cuộc đời tôi. Tình cảm đồng chí, đồng đội, những người đang sống và những người đã ngã xuống trên những nẻo đường xưa,... sẽ mãi mãi không phai mờ trong tôi, giúp tôi phấn đấu giữ gìn được phẩm chất của một người đảng viên Cộng sản, một cựu chiến binh, một người lính Cụ Hồ, một người lính đã từng sống và chiến đấu hơn mười năm trên tuyến đường mang tên Bác Hồ kính yêu. Tiêu đề: Đường về đất mẹ Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Hai, 2022, 07:29:56 am Thay lời kết
Ngày 19 tháng 5 năm 1999, Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tròn tuổi 40. Trời Hà Nội hôm đó xanh cao vời vợi. Nắng tháng 5 dữ dằn đổ lửa như nắng núi thuở nào. Nhưng cái nghiệt ngã của đất trời không làm chùn bước những người lính Trường Sơn đến với nhau, cùng nhau ôn lại chặng đường 40 năm chiến đấu, xây dựng; ôn lại những tháng năm rất đỗi cam go mà hào hùng của thời đánh Mỹ, thắng Mỹ và đón nhận Huân chương Sao vàng của Đảng, Nhà nước tặng thưởng. Đường Hà Nội - Hà Đông sáng 19 tháng 5 Kỷ Mão như chật hơn ngày thường. Xe từ Thanh - Nghệ - Tĩnh ra; xe từ Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương lên; xe từ Lạng Sơn, Thái Nguyên, Vinh Phúc, Lai Châu, Sơn La về... Khuôn viên bảo tàng Đường Hồ Chí Minh vừa mới khánh thành tại Ba La - Bông Đỏ (Hà Đông) chật như nêm người. Biết bao cảnh đời, biết bao thân phận! Bên cạnh những tướng lĩnh, cựu chiến binh, ngực lấp lánh Huân chương; những dáng dấp, tà áo dài thướt tha mang đậm chất thị thành, tôi đã gặp lại không ít đồng đội đến từ những vùng quê nghèo, đen đúa, gầy gò mà mảnh nón lá không che hết gian truân... Nhưng, bao trùm lên tất cả là những vòng tay ấm áp, những nụ cười, những giọt nước mắt cảm thông, sẻ chia, những giọt nước mắt hội ngộ... Trong cái ồn ã, náo nhiệt rất "người", rất "đời" đó, tôi vẫn cảm nhận được một "khoảng lặng" không cùng - khoảng lặng trong những người đang sống chúng tôi dành nhớ về những đồng đội thân thương vĩnh viễn nằm lại nơi bìa rừng khuất nẻo, những đồi lau xơ xác, những cung đường, hang đá... Trường Sơn; dành nghĩ về những đồng đội trên mọi miền đất nước, hoặc vì đường sá cách trở, hoặc vì "bát cơm manh áo ở đời" không về được trong vòng tay, ánh mắt trìu mến của bạn bè. Tôi cũng hình dung có thể không ít những đồng đội tôi trở về từ buổi hội ngộ đó, không tìm lại được bạn cũ, người xưa; không có lấy một chiếc huy hiệu - kỷ niệm chương "Bộ đội Trường Sơn". Là một trong những thành viên của Ban liên lạc cựu chiẽn binh Trường Sơn, tôi rất mong đồng đội, bạn bè lượng thứ. Có thể niềm vui là chưa trọn. Nhưng buổi gặp mặt của Bộ đội Trường Sơn sau một phần tư thế kỷ cuộc chiến lùi xa, lại thêm một lần khẳng định sức sống kỳ diệu của lịch sử, truyền thống; sức sống kỳ diệu của đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Năm tháng sẽ qua đi, nhưng những ngày sống, chiến đấu rất đỗi hào hùng ở Trường Sơn thời đánh Mỹ thật sự là máu, là xương, là một phần sự sống của dân tộc, của những người lính Trường Sơn. Cuộc chiến đã lùi xa, đất nước ta đang ngày đêm vật lộn với cuộc chiến chống đói nghèo, tụt hậu; nhưng gặp lại nhau, bao kỷ niệm của một thời máu lửa, một thời sôi nổi, một thời bi hùng ở Trường Sơn; những Seng Phan, Ta Lê, Phu La Nhích, Lùm Bùm, Cốc Mạc... lại ùa về, sống lại trong tâm thức của mỗi chúng tôi. Cuộc vui nào rồi cũng đến hồi kết. Gặp gỡ rồi chia tay. Niềm vui hội ngộ như một thoáng phù du vỗ cánh. Nhưng bù lại, chính trong thời khắc hội ngộ quý báu này, chúng tôi lại thêm một lần ý thức sâu sắc hơn chân lý: Lịch sử là một dòng chảy vĩnh hằng, liên tục, là sự kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai. Bởi lẽ, niềm vinh hạnh lớn lao của những người lính Trường Sơn chúng tôi không chỉ là sự hội ngộ, không chỉ là tấm Huân chương cao quý nhất do Đảng, Nhà nước khen tặng, mà cao cả hơn, to lớn hơn là Đảng, Nhà nước, nhân dân đã quyết định xây dựng đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh thành một tuyến đường xuyên Việt thứ hai. Khi tôi ngồi suy ngẫm, xâu chuỗi lại những dòng hồi ức này, cũng là khi biết bao người lính Trường Sơn thời kỳ đổi mới của đất nước đang "đổ mồ hôi, sôi nước mắt" ở Xuân Sơn, Long Đại, Thạch Mỹ, Trao, Giằng... để "Đường Hồ Chí Minh sáng đến mai sau". Nghĩ về Đường Hồ Chí Minh huyền diệu, tôi càng thấm sâu công lao trời biển của Bác Hồ - người là linh hồn của tuyến đường - Tên Người là tên tuyến đường cả dân tộc đang đi. Nghĩ về Đường Hồ Chí Minh, tôi càng cảm phục tầm nhìn của đồng chí Cố Tổng bí thư Đảng - Lê Duẩn. Bởi từ trong khói lửa của chiến tranh, từ trong những ngày mà mỗi một cung đường Trường Sơn - Đường về đất Mẹ của tôi còn oằn mình đớn đau bởi đạn bom kẻ thù, đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định: "Đường Hồ Chí Minh là con đường của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng. Đó là con đường nối liền Bắc - Nam, thống nhất nước nhà, là con đường của tương lai giàu có của Tổ quốc ta...". Hà Nội, tháng 9-2000 |