|
Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2021, 01:17:18 pm Tên sách: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân Năm xuất bản: 2005 Số hoá: ptlinh, vnmilitaryhistoy Chỉ đạo biên soạn: Đại tá, TS LÊ VĂN ĐỆ Ban biên soạn: Đại tá, TS PHẠM HUY DƯƠNG Đại tá, ThS PHẠM BÁ TOÀN Đại tá, Nhà văn HOÀNG ĐỨC NHUẬN Đại tá, TS LÊ BÁ HÙNG Đại tá, NGUYỄN THIỆN KHẢO LỜI GIỚI THIỆU Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc là một thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta, mở ra khả năng hoà bình thống nhất đất nước. Sau 9 năm chiến đấu đầy hi sinh, gian khổ, hớn ai hết, nhân dân ta có nguyện vọng tha thiết được sống trong hoà bình và thống nhất Tổ quốc. Trong những năm từ 1950 đến 1954, trên thực tế, nhân dân ta đã phải tiến hành cuộc chiến tranh không chỉ với Pháp mà cả với Mỹ. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy sức mạnh kinh tế, quân sự và cả sự tàn bạo, nguy hiểm của đế quốc Mỹ. Vì vậy, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, Đảng ta, nhân dân ta đã hết sức kiềm chế, tìm nhiều cách để tránh cuộc chiến tranh trực tiếp với đế quốc Mỹ. Nhưng là một cường quốc quân sự tham vọng thống trị, "lãnh đạo" thế giới, theo đuổi chiến lược toàn cầu, đối với đế quốc Mỹ, Việt Nam là một mắt xích, một trọng điểm, một điểm nóng trong chiến lược toàn cầu đó. Dùng chính trị, kinh tế, quân sự và tiến hành chiến tranh để thôn tính miền Nam nước ta, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở mảnh đất này mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn phong trào cách mạng, răn đe các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu đầy tham vọng đó và lợi ích của giới tư bản Mỹ là yếu tố quyết định âm mưu, hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam từ đầu những năm 50 đến 1975. Chính đế quốc Mỹ đã đẩy nhân dân ta vào tình thế không có sự lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác là phải chiến đấu. Không chiến đấu chống Mỹ sẽ không thể hoàn thành được sự nghiệp thiêng liêng giải phóng Tổ quốc, mà sẽ có nguy cơ hoặc mất nước, hoặc đất nước bị chia cắt lâu dài. Vì thế chúng ta phải chấp nhận một cuộc chiến đấu mới. Đây là cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống sự xâm lược tàn bạo và những mưu đồ thâm độc của đế quốc Mỹ vì quyền lợi tối cao, sự mất còn của dân tộc ta và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao chói lọi là Chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975 đã bảo vệ được nền độc lập của dân tộc, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, khởi đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên của nước Việt Nam độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội; Kỷ nguyên của nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đây là một trong những sự kiện lớn nhất không chỉ trong lịch sử ngàn năm của dẫn tộc ta, mà còn của lịch sử nhân loại thế kỷ XX. Xác định tầm vóc to lớn, ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tìm ra nguyên nhân dân đến thắng lợi của quân và dân ta, tổng kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc... của đâu tranh và chiến thắng là nguyện vọng cũng là trách nhiệm, của các thế hệ người Việt Nam, không chỉ để khẳng định quá khứ anh hùng mà còn thể hiện lòng biết ơn cha anh, như chính các tác giả của công trình này đã tâm niệm rằng: "Thế hệ chúng ta và mai sau vẫn cần tiếp tục nghiên cứu, khám phá, vận dụng vào hoạt động quân sự, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc". Sau khi trình bày tiến trình cuộc đối đầu chiến lược từ chiến tranh đặc biệt đến chiến tranh cục bộ và Việt Nam hoá chiến tranh dẫn tới thắng lợi từng bước, ngày càng to lớn của quân dân ta, thất bại ngày càng nặng nề của đế quốc Mỹ và tay sai, các tác giả đã phân tích, đánh giá các sự kiện từ khởi đầu đến trận quyết chiến chiến lược cuối cùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975. Với tầm nhìn của những người trong cuộc, sỹ quan quân đội, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học quân sự. Công trình cũng đã trình bày sáng rõ, với những sự kiện lịch sử cụ thể, chuẩn xác, sự hình thành, phát triển và những chiến công to lớn của những binh đoàn, những cánh quân thần tốc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Cùng với những cố gắng nhìn cuộc chiến tranh một cách tổng thể, toàn diện, phát huy thế mạnh của mình, các tác giả của công trình đã tập trung phân tích, làm rõ những vấn đề chiến lược, về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, về nghệ thuật quân sự và nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là một kỳ tích, còn nhiều giá trị và ý nghĩa tiềm ẩn trong sự kiện lịch sử đó. Cần sự nối tiếp nhau của nhiều thế hệ để tìm hiểu giá trị và ý nghĩa của sự kiện này. Mặc dầu không tránh khỏi những nhược điểm và thiếu sót, song công trình này như là một nỗ lực của quá trình chạy tiếp sức để khám phá và phát hiện tầm vóc, ý nghĩa và những giá trị lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc ta. Với ý nghĩa đó, tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc công trình này. Đại tá, PGS, TS. ĐINH XUÂN DŨNG Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười, 2021, 05:23:32 pm PHẦN I Những cuộc đối đầu chiến lược I. Chiến tranh đạc biệt Vào thời điểm những năm cuối của thập kỷ năm mươi, trên thế giới nổi lên ba điểm nóng: Trung Đông, Cu Ba, Việt Nam. Song, ở Trung Đông, mặc dù có những cuộc chiến tranh giữa các nước Arập với Ixraen, nhưng các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở đó do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo. Lợi ích của các nước đế quốc, các công ty tư bản độc quyền ở vùng này không bị đe doạ. Mặt khác, Ixraen đồng minh của Mỹ - đủ mạnh để ngăn chặn phong trào cách mạng ở Trung Đông thay Mỹ, cho nên Hoa Kỳ chưa can thiệp trực tiếp, ở Cu Ba, bị thất bại trong vụ đưa quân đánh tHuế xâm lược Cu Ba ở vịnh Con Lợn tháng 4-1961 và cuộc khủng hoảng tên lửa ở vùng Caribê tháng 10- 1962. Mỹ buộc phải cam kết không xâm lược Cu Ba để đổi lấy việc Liên Xô rút tên lửa khỏi nước này; âm mưu của Mỹ là dùng phong toả, cấm vận kinh tế, kết hợp với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt hòng làm sụp đổ Cu Ba. Ở Đông Dương, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Pháp, giành độc lập dân tộc và cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới đang làm suy yếu một hướng chiến lược trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Những thắng lợi của Việt Nam trong cuộc chiến chống Pháp đã góp phần làm thức tỉnh lương tri nhân loại, cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa vùng lên đấu tranh để tự giải phóng. Việt Nam trở thành một ngọn cờ của phong trào giải phóng dân tộc, tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại. Các nhà chiến lược Mỹ nhận định rằng có đè bẹp được cuộc kháng chiến của Việt Nam, Mỹ mới có thể đẩy lùi được phong trào đấu tranh của các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, Việt Nam trở thành trọng điểm trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - nơi diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai hệ thống đế quốc chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Hòng biến Việt Nam thành một con đê ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở phía Đông Nam châu Á, trong sáu năm kể từ năm 1953 đến năm 1960, Mỹ đã dựng lên ở miền Nam chính quyền Ngô Đình Diệm và viện trợ cho chính quyền ấy khoảng 2 tỷ đôla, trung bình mỗi năm 300 triệu. Số việr trợ của Mỹ đủ nuôi bộ máy Ngụy quân, Ngụy quyền để đàn áp các cuộc đấu tranh hoà bình yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam, chuẩn bị "lấp sông Bến Hải". Với chiêu bài "độc lập", "tự do", cùng với viện trợ tương đối dồi dào, Mỹ che đậy một phần bộ mặt xâm lược thực dân của chúng, giữ cho chế độ Sài Gòn, trong những năm 1957, 1958, bề ngoài có vẻ ổn định. Mỹ hy vọng sẽ hoàn tất chương trình bình định miền Nam trong một vài năm tiếp theo, rồi chuyển sang thực hiện kế hoạch khai thác, kinh doanh. Điều hoàn toàn bất ngờ đối với Mỹ là tình hình miền Nam tưởng chừng như đang "biển lặng sóng yên", thì năm 1960, nhân dân ta đồng loạt nổi dậy, đánh sập bộ máy cai trị của địch ở nhiều vùng nông thôn thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và một số vùng của các tỉnh Khu V, Tây Nguyên. Cuộc đồng khởi thắng lợi làm tiêu tan hy vọng của Mỹ, làm lộ rõ bộ mặt tay sai bán nước của tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến lược ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng. Chủ nghĩa thực dân đứng trước nguy cơ tan rã. Giữa lúc đó vào năm 1959-1960 tình hình ở Lào có nhiều biến động. Theo các yêu cầu của Lào, khởi đầu là tiểu đoàn Pathét Lào tiếp đến là Coongle - Bộ trưởng bộ quốc phòng trong chính phủ Vương quốc Xuyanaphuma, tiếp nữa là chính phủ ba phái do hoàng thân Xuyanaphuma làm thủ tướng, Việt Nam liên tiếp phái Quân tình nguyện sang giúp bạn Lào tiến công giải phóng thị xã Sầm Nưa; Cánh Đồng Chum, Noọng Hét (Xiêng Khoảng), Thị xã Phong Xa Lỳ, Nậm Bạc, Bản Ban, Tha Viềng, Vang Viêng, Tha Thơm, Mường Hiềm, Pa Thí. Chính phủ liên hợp Lào yêu cầu Liên Xô, Trung Quốc viện trợ. Liên Xô đưa sang một Trung đoàn không quân và lập cầu hàng không để tiếp tế cho Lào, Trung Quốc giúp vũ khí bộ binh. Trước tình hình đó, Mỹ định đưa 30.000 quân chiến đấu của các nước trong hiệp uớc SEATO vào "bảo vệ" Đông Dương theo kiến nghị của Ngoại trưởng Đin Raxcơ, nhưng Anh và Pháp không ủng hộ. Tình hình cách mạng Đông Dương, đặc biệt ở Việt Nam phát triển mạnh theo chiều hướng bất lợi đối với Mỹ-Ngụy1 (Trong Nhìn lại quá khứ..., Mắc Namara kể lại rằng, ông đã nói với Kennơđi: "Trước khi có bất cứ cam kết gì ở Đông Dương, nên cân nhắc, so sánh Lào với các vấn đề thế giới khác". Cụ thể Mắc Namara cho biết, lúc bấy giờ, vấn đề Béclin đã căng thẳng đến mức Bộ Quốc phòng Mỹ "đang dự tính chuyển 6 sư đoàn (khoàng 90.000 quân chiến đấu) đến châu Âu". Nếu thế, "không thể tưởng tượng được rằng Mỹ lại có khả năng làm như vậy và tiến hành một cuộc chiến ở Đông Nam Á mà không có cuộc tổng động viên"). Cùng vào thời điểm này, chiến lược quân sự toàn cầu trả đũa ồ ạt tượng trưng cho sức mạnh của Mỹ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa - nhất là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tình hình Béclin và Cônggô căng thẳng. Cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô diễn ra gay gắt. Liên Xô vượt Mỹ về chế tạo vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Điều này đặt Mỹ trước một tình thế khó khăn trước phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh sự lớn mạnh của Liên Xô hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1961 giữa lúc khó khăn, Kennơđi được bầu làm Tổng thống nước Mỹ thay Aixenhao. Sau khi xem xét, đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, chính quyền Kennơđi quyết định loại bỏ chiến lược trả đũa ồ ạt vì không thể ngăn chặn nổi những cuộc chiến tranh nổi dậy (chiến tranh giải phóng), tiêu biểu là ở Việt Nam. Kennơđi quyết định thành lập Nhóm đặc nhiệm gồm các quan chức nội các mới, do Rốtnen Ginpatrích, Thứ trưởng Quốc phòng lãnh đạo, nghiên cứu, thăm dò các hướng hành động của Mỹ để đối phó với tình hình Việt Nam và thế giới. Nhóm này vạch kế hoạch hành động toàn diện gồm các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, công khai và bí mật, tăng nhanh số lượng nhân viên quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam. So sánh Việt Nam với nhiều nơi khác trên thế giới mà trọng điểm là châu Âu, với khả năng của Mỹ, Kennơđi chưa thể tự tung tự tác mà trước mắt chỉ cho phép đưa vào Việt Nam khoảng 100 đến 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt để huấn luyện quân Ngụy; đồng thời, chấp nhận phương hướng chiến lược toàn cầu mới do Mácxoen Taylơ đề xướng: chiến lược phản ứng linh hoạt. Thực hiện chiến lược mới này, Mỹ vẫn duy trì lực lượng hạt nhân chiến lược, đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế. Theo đánh giá của các nhà quân sự Mỹ thì việc phát triển chiến tranh hạn chế là rất có lợi, vì tránh được đụng độ với các nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa, nhưng lại có thể giành thắng lợi ở các nơi khác bằng cách chủ động tạo ra ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể do Mỹ lựa chọn như cuộc chiến tranh Việt Nam. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười, 2021, 05:28:06 pm Căn cứ vào việc sử dụng lực lượng, các nhà vạch chiến lược Mỹ phân chiến tranh hạn chế thành hai hình thức:
Một là, hình thức chiến tranh đặc biệt, trong đó, dùng quân bản xứ làm lực lượng chiến lược chủ yếu, Mỹ giữ vai trò cố vấn, chỉ huy. Hai là, hình thức chiến tranh cục bộ trong đó quân Mỹ làm lực lượng chiến lược, trực tiếp tiến hành chiến tranh ngoài lãnh thổ nước Mỹ. Cả hai hình thức chiến tranh hạn chế trên đây là một bộ phận quan trọng hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt, được các nhà quân sự Lầu Năm Góc đánh giá là "lưỡi kiếm" tiến công sắc bén vào những nơi nguy hiểm nhất đối với "thế giới tự do". Đế quốc Mỹ triển khai chiến lược Chiến tranh đặc biệt cuộc chiến tranh bằng quân đội Ngụy tay sai với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ - nhằm đè bẹp và tiêu diệt cách mạng miền Nam. Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị song song, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân ở miền Nam để đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai. Từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm đứng trước nguy cơ thất bại, đế quốc Mỹ có ý đồ thay đổi chiến lược, chuyển sang dùng chiến tranh đặc biệt để đối phó với cách mạng miền Nam, chiếm lại những địa bàn và vùng dân cư đã mất do cuộc đồng khỏi của ta. Chiến tranh đặc biệt, chiến lược đầu tiên trong ba loại chiến tranh của chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt của đế quốc Mỹ. Đặc điểm của chiến lược này là dùng quân đội Ngụy tay sai làm công cụ tiến hành chiến tranh. Cốt lõi của chiến lược chiến tranh đặc biệt là kế hoạch Xtalây - Taylo - còn có tên gọi là kế hoạch 3M (Man = con người + Money = tiền + Materia = vật liệu) - kế hoạch bình định miền Nam trong 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962), sau đó là kế hoạch Giônxơn - Mắc Namara bình định miền Nam trong 2 năm 1963 - 1964. Nội dung vẫn là kế hoạch Xtalây - Taylo có sửa đổi và nâng cao mức độ quyết liệt. Mỹ, Diệm coi việc lập ấp chiến lược là "quốc sách" và là "xương sống" của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Mục tiêu của chúng là lập 16.000 ấp trong tổng số 17.000 ấp ở toàn miền Nam. Để thực hiện kế hoạch đó, địch đã tiến hành nhiều thủ đoạn, biện pháp khốc liệt và đẫm máu: bắn pháo ném bom bừa bãi, phá ruộng vườn, hÚc ủi nhà cửa, rải chất độc hoá học. Chúng đã mở hàng chục nghìn cuộc hành quân càn quét dài ngày, dùng bom đạn đánh phá ác liệt, chà đi xát lại từng khu vực để lừa dân vào ấp. Chúng dùng cả máy bay trực thăng, xe cơ giới, thiết giáp để "xúc" dân đến những nơi lập ấp. Trong các cuộc càn, địch đã áp dụng những chiến thuật mới của Mỹ mà chúng gọi là "bủa lưới phóng lao", "trên đe dưới búa", "phượng hoàng vồ mồi"... nhằm tiêu diệt bộ đội và du kích, thanh lọc quần chúng, bắt giết cán bộ ta. Các cuộc đột kích bất thần của lính biệt kích Ngụy đánh sâu vào các căn cứ kháng chiến đã gây cho ta không ít khó khăn, lúng túng trong việc bảo vệ hậu phương và căn cứ tại chỗ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của ta. Ngày 29 tháng 4 năm 1961, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ nhóm họp đề ra chính sách, biện pháp và các bước tiến hành chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam. Ngày 11 tháng 5 năm 1961, Kennơđi chính thức phê chuẩn các quyết định của Hội đồng An ninh Quốc gia, mang tên Bị vong lục về hành động An ninh Quốc gia số 52. Mục tiêu và hành động của Mỹ ở miền Nam được xác định trong Bị vong lục là nhằm: "Để ngăn chặn cộng sản thống trị Nam Việt Nam... để xúc tiến với nhịp độ ngày càng nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau có tính chất quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý và không công khai nhằm thực hiện mục tiêu nói trên"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1971, t.1, tr.121). Những "hoạt động hỗ trợ" đó bao gồm các biện pháp: tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy, yểm trợ của phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG), kể cả việc huấn luyện thêm 20.000 người cho quân đội Sài Gòn, cố vấn cho lực lượng dân vệ lúc đó đã có khoảng 40.000 người; đưa 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ tới Nha Trang làm nhiệm vụ huấn luyện, trang bị, kể cả việc huấn luyện và trang bị cho lực lượng dân vệ dự tính lên tới 68.000 người để đối phó với chiến tranh du kích; khẩn trương triển khai kế hoạch bình định, lấy việc lập ấp chiến lược làm trọng tâm; tiến hành các chương trình kinh tế để "gây ảnh hưởng ngắn hạn và góp phần vào sự tồn tại lâu dài về kinh tế Nam Việt Nam"2 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1971, t.1, tr.121); phong toả vùng biển, bịt chặt biên giới nhằm chống việc xâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam; tiến hành các hoạt động chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam1 (Bị vong lục của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (NSAM 52) gọi cuộc chiến tranh chống phá miền Bắc là "Chương trình hành động bí mật". Thoạt đầu, Kennơđi chấp thuận tiến hành các biện pháp như tuyển lựa, huấn luyện, trang bị, đài thọ và tung người vào miền Bắc để thu thập tin tức tình báo; tổ chức lực lượng biệt kích thâm nhập vùng Đông Nam Lào và vào sâu trong nội địa miền Bắc để tiến hành các hoạt động phá hoại; tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý); ra sức củng cố hệ thống Ngụy quyền các cấp; cải thiện quan hệ giữa Chính phủ Sài Gòn với các nước khác, đặc biệt với Chính phủ Campuchia. Đồng thời với việc chuẩn y các biện pháp trên đây, để tranh thủ sự đồng tình của các đồng minh châu Á và làm cho chính quyền, quân đội Sài Gòn yên tâm về chính sách chiến tranh của Mỹ, thăm dò khả năng triển khai quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, Kennơđi cử Phó tổng thống Mỹ L.B. Giônxơn sang thăm các nước Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Pakixtan và miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, Giônxơn và Ngô Đình Diệm ra thông cáo chung gồm những thoả thuận chính sau đây: - Mỹ tăng thêm viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho Nam Việt Nam. - Tăng cường và mở rộng lực lượng vũ trang, bán vũ trang của Sài Gòn gồm quân chủ lực, bảo an và dân vệ. - Lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp của hai bên để xây dựng kế hoạch hành động chung giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Sài Gòn. - Mỹ hoan nghênh các nước khác viện trợ và hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm. - Triển khai mạnh mẽ chương trình lập ấp chiến lược. Ngoài ra, thông cáo chung Giônxơn - Diệm còn khẳng định: Những biện pháp mà hai bên đã thoả thuận "có thể sẽ được tiếp nối bằng những biện pháp rộng lớn hơn nữa"1 (Hồi ký Giôn xơn, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1972, tr.33) khi tình hình đòi hỏi. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười, 2021, 05:29:15 pm Thực hiện thoả thuận trên đây, ngày 19 tháng 6 năm 1961, Kennơđi cử "Phái đoàn kinh tế đặc biệt" do E.Stalây thuộc Viện Nghiên cứu Stanphót dẫn đầu sang Nam Việt Nam giúp Diệm xây dựng chương trình bình định. Sau gần một tháng tìm hiểu tình hình tại chỗ, gặp gỡ một số nhân vật phụ trách về bình định trong chính quyền Sài Gòn, hội đàm với Diệm, cuối tháng 7 năm 1961, phái đoàn Stalây trình lên Kennơđi bản báo cáo trong đó yêu cầu Chính phủ Mỹ tăng thêm viện trợ về quân sự và kinh tế để phục vụ cho kế hoạch bình định. Kế hoạch này gồm ba giai đoạn.
Giai đoạn 1: Dự định trong vòng 18 tháng (kể từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962), cơ bản "bình định" xong miền Nam bằng cách triển khai mạnh mẽ việc dồn dân tập trung vào 16.000 ấp chiến lược để triệt phá cơ sở cách mạng ở nông thôn; phát triển quân đội Sài Gòn gồm quân chính quy, bảo an, dân vệ, đồng thời tăng cường lực lượng yểm trợ Mỹ nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam; thiết lập hệ thống cứ điểm chốt chặn ở biên giới và giới tuyến quân sự tạm thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát vùng biển để ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam; đẩy mạnh các hoạt động tình báo, gián điệp, biệt kích, chiến tranh tâm lý... chống phá miền Bắc, hỗ trợ cho nỗ lực "bình định" ở miền Nam. Giai đoạn 2: Dự kiến trong năm 1963, củng cố những kết quả đạt được trong giai đoạn một bằng cách tập trung vào khôi phục kinh tế, hoàn tất chương trình "bình định", tiếp tục tăng cường quân Ngụy, đẩy mạnh các hoạt động chống phá miền Bắc. Giai đoạn 3: Dự kiến trong hai năm 1964 và 1965, hoàn tất các mục tiêu của chiến lược chiến tranh đặc biệt bằng việc chuyển hẳn trọng tâm sang phát triển kinh tế trong khi vẫn tiếp tục tăng cường quân Ngụy nhằm làm cho miền Nam trở thành một quốc gia mạnh về quân sự, phồn vinh về kinh tế của "thế giới tự do". Dựa trên kế hoạch này, từ tháng 7 năm 1961, Mỹ - Ngụy gấp rút tăng cường lực lượng vũ trang, tổ chức và kiện toàn bộ máy chỉ đạo "bình định" từ trung ương xuống các tỉnh, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá ác liệt cơ sở cách mạng miền Nam, triển khai thí điểm dồn dân, lập "ấp chiến lược" ở các địa phương thuộc Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hoà, Quảng Ngãi... và kế đó, áp dụng rộng rãi ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Thomsơn (Thompson), một chuyên gia của quân đội Anh dày dạn kinh nghiệm chống chiến tranh du kích ở Malaixia cũng được mời sang Nam Việt Nam làm cố vấn "Bình định" cho Bộ chỉ huy cố vấn viện trợ Mỹ (MAAG) và cho chính quyền, quân đội Sài Gòn. Diệm còn cử các phái đoàn và gửi nhiều nhân viên sang Malaixia, Philippin để tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm chống du kích, dồn dân, lập các khu tập trung của những nước này nhằm áp dụng vào miền Nam Việt Nam... Những cố gắng trên đây của Mỹ - Diệm không mang lại kết quả như Mỹ dự tính. Điều làm cho Mỹ - Diệm đặc biệt lo lắng là các cuộc tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị của quân và dân miền Nam gia tăng ở cả các vùng nông thôn, đô thị và rừng núi, làm cho quân đội Sài Gòi mất dần thế chủ động. Ngày 18 tháng 10 năm 1961, Chính phủ Mỹ cử Taylo và Rôstâu, hai thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia, dẫn đầu một phái đoàn gồm các chuyên gia về quân sự, dân sự sang miền Nam Việt Nam để nghiên cứu, đánh giá lại tình hình cụ thể và kết luận tại chỗ, đề ra các phương án đối phó. Phái đoàn này đề ra ba phương án hành động của Mỹ như sau: - Đưa vào miền Nam Việt Nam ba Sư đoàn quân Mỹ để "đánh bại Việt cộng". - Đưa tượng trưng một số quân chiến đấu Mỹ "cốt nhằm mục đích xác lập sự có mặt của Mỹ ở Nam Việt Nam" để nâng đỡ tinh thần quân đội và chính quyền Sài Gòn đang sa sút mạnh và cũng để tạo điều kiện cho việc tăng viện quân Mỹ khi cần. - Tăng thêm viện trợ, vũ khí, trang bị chiến tranh và đẩy mạnh công tác huấn luyện cho lực lượng vũ trang Sài Gòn để nâng cao sức chiến đấu của nó. Ngày 3 tháng 11 năm 1961, phái đoàn Tay lo gửi về Oasinhtơn bản báo cáo nói trên, trong đó, kiến nghị một loạt các biện pháp cấp bách để cứu vãn tình hình. - Cử các cố vấn hành chính sang tham gia vào bộ máy chính quyền Sài Gòn. - Cùng chính phủ Sài Gòn tiến hành các biện pháp cần thiết để cải thiện mạng lưới tình báo quân sự, chính trị trong chính quyền và quân đội. - Mở cuộc điều tra rộng lớn ở các tỉnh trên khắp miền Nam để lượng định các nhân tố xã hội, chính trị, kinh tế, tình báo, quân sự, tâm lý... có liên quan tới "công tác chống nổi loạn" để có thêm cơ sở cho việc đề ra các biện pháp hiệu quả hơn. - Tăng cường viện trợ, vũ khí, trang bị và huấn luyện cho lực lượng bảo an, dân vệ để lực lượng này đủ sức thay thế các đơn vị chính quy làm nhiệm vụ "diện địa" (giữ đất), tạo điều kiện cho các đơn vị chính quy đẩy mạnh các cuộc hành quân cơ động, có tính tiến công. - Giúp đỡ chính phủ Sài Gòn giám sát và kiểm soát vùng biển và các đường thuỷ nội địa bằng cách cung cấp cố vấn, nhân viên điều hành và phương tiện cần thiết cho nhiệm vụ này. - Tổ chức lại và tăng biên chế phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ. - Đưa vào miền Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm gồm 6.000 đến 8.000 quân hoạt động dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Mỹ để tạo ra sự có mặt về quân sự, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự và khi cần, có thể mở các cuộc hành quân mang tính chất tiến công. Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệm này còn đóng vai trò "như một bộ phận đi trước của lực lượng Mỹ sẽ được đưa vào nếu như dùng đến các kế hoạch khẩn cấp của Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương hoặc của khối SEATO"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tlđd, t.1, tr.140). - Tăng thêm viện trợ để hỗ trợ thích đáng chương trình "chống nổi loạn mở rộng". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười, 2021, 05:30:15 pm Ngoài những biện pháp chung trên đây, phái đoàn Taylo còn kiến nghị một "chương trình tham gia có giới hạn" của Mỹ trong lĩnh vực quân sự; cử sang Nam Việt Nam các cố vấn cấp cao tham gia các cơ quan chính phủ và các Bộ chủ chốt; thành lập Ban thanh tra quân sự hỗn hợp từ trung ương xuống Quân khu và các tỉnh; tăng cường một cách cơ bản nhân viên huấn luyện Mỹ ở mọi cấp và trên mọi lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hoá, xã hội; triển khai vào Nam Việt Nam các đơn vị công binh, hậu cần, máy bay lên thẳng nằm trong khuôn khổ lực lượng quân sự đặc nhiệm Mỹ đã được đề nghị trước đây; đưa thêm các đội lực lượng đặc biệt Mỹ để cùng lực lượng đặc biệt Sài Gòn tăng cường cho vùng biên giới; đẩy mạnh các hoạt động tiến công bí mật ra miền Bắc Việt Nam và Lào, kể cả những hoạt động biệt kích bằng không quân, nếu tình hình Nam Việt Nam tiếp tục xấu đi, Mỹ sẽ ném bom miền Bắc để gây áp lực.
Để thực hiện Chương trình tham gia có giới hạn, phái đoàn Taylo cho rằng, cần có sự thay đổi trong quy chế tinh thần và tổ chức của Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự ở Nam Việt Nam. "Phái đoàn này cần phải được chuyển từ một tổ chức cố vấn thành một cái gì gần giống - tuy chưa hoàn toàn - một Sở chỉ huy tác chiến tại một nơi có chiến tranh..."1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tlđd, t.1, tr.99). Hơn thế nữa, để giành thắng lợi, "Mỹ phải trở thành một người tham gia có giới hạn vào cuộc chiến tranh, một mặt phải tránh câu nệ, nghi thức trong việc cố vấn; mặt khác phải tránh tự mình tiến hành chiến tranh"2 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tlđd, t.1, tr.141). Sau một năm thăm dò thử nghiệm, Mỹ từng bước hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược chiến tranh đặc biệt và triển khai mạnh mẽ các biện pháp nhằm trước hết, cơ bản "bình định" xong miền Nam Việt Nam trong 18 tháng. Ngày 8 tháng 2 năm 1962, Phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được chuyển thành Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (MACV) do Đại tướng Pôn Hắckiri (Pau Harikins) thay Mácga làm tư lệnh. Dưới quyền chỉ huy và điều hành của MACV, số lượng cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ không ngừng tăng lên. Nếu năm 1960, lực lượng yểm trợ và cố vấn Mỹ mới chỉ 1.077 tên, thì năm 1962, con số đó lên tới 10.640 tên gồm hai bộ phận: Cố vấn 2.360 người và 8.280 thuộc lực lượng yểm trợ, đơn vị kỹ thuật. Cố vấn Mỹ không chỉ nắm lực lượng quân đội, lực lượng bảo an và lực lượng dân vệ mà còn len vào tất cả các ngành, các cấp trong bộ máy chính quyền Diệm. Để tăng cường khả năng chỉ huy và tận dụng được lực lượng quân Ngụy trong công tác bình định, ngay từ thắng 4 năm 1961, hệ thống tổ chức chiến trường theo từng Quân khu được chuyển thành bốn Vùng chiến thuật1 (Vùng chiến thuật 1: từ vĩ tuyến 17 đến hết tỉnh Quảng Ngãi do Quân đoàn 1 Ngụy đảm trách. Vùng chiến thuật II: gồm Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ do Quân đoàn 2 đảm trách. Đầu năm 1963, tách các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long ra khỏi vùng chiến thuật III, thành lập vùng chiến thuật IV) và một Biệt khu. Mỗi Vùng chiến thuật do một Quân đoàn chủ lực đảm nhiệm với đủ thành phần quân địa phương và các quân binh chủng yểm trợ như pháo binh, công binh, thiết giáp, biệt động, biệt kích, không quân, hải quân, tiếp vận... Dưới vùng chiến thuật là khu chiến thuật. Tiếp đó là các tiểu khu (tỉnh), chi khu (quận hoặc huyện). Do vị trí đặc biệt, Sài Gòn - Gia Định được tổ chức thành "Biệt khu Thủ đô". Lực lượng yểm trợ Mỹ được bố trí xuống từng vùng chiến thuật, nhất là các đơn vị máy bay trực thăng và vận tải đường không. Cố vấn quân sự Mỹ có mặt khắp các vùng chiến thuật, khu chiến thuật, tiểu khu chiến thuật và các trung tâm huấn luyện, các cơ quan điều hành tác chiến, chỉ huy, các trại lực lượng đặc biệt, các chi khu trọng yếu. Phục vụ cho chiến tranh đặc biệt, Mỹ bỏ tiền tHuế hàng chục cơ quan nghiên cứu, trường đại học, tổ hợp công nghiệp... nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, đưa vào sản xuất nhiều loại vũ khí, thiết bị chiến tranh mới; nghiên cứu, thử nghiệm các chiến thuật chống du kích, chống nổi dậy. Mỹ còn thiết lập Cơ quan phát triển khả năng tác chiến nhằm ứng dụng kịp thời những phát minh, sáng chế mới trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau nột thời gian làm thí điểm ở một số địa phương thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hoà, Quảng Ngãi, từ tháng 4 năm 1962, Mỹ - Diệm triển khai thực hiện rộng rãi trên toàn miền chương trình gom dân, lập "ấp chiến lược". Chúng xem đó là "quốc sách", "xương sống" của chiến lược chiến tranh đặc biệt nhằm giành giật nông dân và địa bàn nông thôn với phía cách mạng; triệt phá tận gốc cơ sở của chiến tranh du kích để hoàn tất kế hoạch bình định trong vòng 18 tháng. Mỹ - Diệm liên tục mở khoảng 6.780 cuộc hành quân càn quét, hành quân "bình định" với quy mô lớn, nhỏ và thời gian dài, ngắn khác nhau nhằm tiêu diệt cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang của cách mạng, hỗ trợ cho nỗ lực gom dân, lập "ấp chiến lược". Trong các cuộc hành quân đó, quân Mỹ và quân Sài Gòn dùng máy bay lên thẳng, xe tăng, xe bọc thép là những phương tiện chiến tranh hiện đại để thực hiện các chiến thuật "bủa lưới phóng lao", "phượng hoàng vồ mồi", "trên đe dưới búa"... đánh vào những người dân thường không có vũ khí. Đó là những chiến thuật điển hình gây tai hoạ khủng khiếp đối với nhân dân mà Mỹ áp dụng ở miền Nam nước ta trong chiến tranh đặc biệt. Mỹ còn dùng một khối lượng lớn bom đạn, chất độc khai quang đánh vào vùng giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến, các hành lang vận chuyển, khu giới tuyến quân sự tạm thời phía Nam sông Bến Hải, san phẳng nhiều làng, phá nát từng khu rừng. Hỗ trợ cho nỗ lực "bình định", Mỹ - Diệm đồng thời triển khai các hoạt động phong toả vùng biển, bịt kín biên giới nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam. Cùng với việc thiết lập hơn 70 căn cứ, đồn bốt, trại "lực lượng đặc biệt" Mỹ - Ngụy dọc các tuyến hành lang, xung quanh vùng căn cứ của ta, địch tổ chức hệ thống ra đa, tình báo mặt đất, thực hiện các chuyến bay trinh sát đường không... hòng phát hiện quy luật hoạt động của ta trong việc đưa người, vũ khí, phương tiện, vật chất vào miền Nam để chúng tổ chức các cuộc hành quân, đánh phá, ngăn chặn. Ở vùng ven biển, cửa sổng, ngoài hệ thống đồn, bốt, trạm tuần tra, kiểm soát, địch sử dụng từ 30 đến 40% lực lượng hải thuyền, 100% lực lượng giang thuyền... ngày đêm cảnh giới, khám xét tàu thuyền ra vào, phá hệ thống vận chuyển đường thuỷ của ta. Toàn bộ nỗ lực chiến tranh trên đây của Mỹ nhằm tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, phá hoại miền Bắc Việt Nam, đặt nhân dân ta vào tình thế muốn bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước phải tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười, 2021, 05:31:24 pm Để đối phó với chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ, trên cơ sở thế mới và lực mới do cao trào Đồng khởi tạo ra, Đảng ta chủ trương chuyển cách mạng giải phóng miền Nam lên giai đoạn mới. Từ đây các cuộc khởi nghĩa từng phần phát triển lên thành một cuộc chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền Nam. Trong giai đoạn này, chiến tranh giải phóng có những nét nổi bật sau đây:
Trong quá trình tiến hành chiến tranh, các cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp tục, Chiến tranh cách mạng và Khởi nghĩa của quần chúng được kết hợp chặt chẽ với nhau. Đấu tranh chính trị được giữ vững và đẩy mạnh, đồng thời đấu tranh vũ trang được phát triển nhanh lên một bước mới, ngang tầm với đấu tranh chính trị. Thực hành kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị song song, đẩy mạnh đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận. Vận dụng phương châm đấu tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, thành thị. Mũi nhọn đấu tranh tập trung vào nhiệm vụ chống càn quét và phá ấp chiến lược, đẩy lùi và đánh bại chính sách bình định, giành dân của địch. Để thực hiện sự chuyển hướng lớn trên đây, nhất là để đáp ứng kịp yêu cầu nâng cao địa vị và vai trò của đấu tranh vũ trang ở miền Nam lên một bước mới. Đảng ta đã kịp thời chỉ đạo việc triển khai nhiều biện pháp chiến lược quan trọng, đẩy nhanh việc xây dựng lực lượng vũ trang cả lực lượng tại chỗ và các khối cơ động; chú trọng mở rộng căn cứ địa, xây dựng hậu phương tại chỗ. Mặt khác, ta phát triển mạnh chiến tranh du kích rộng khắp cả ba vùng chiến lược, chú trọng tăng cường hoạt động đánh phá các nơi xung yếu như sân bay, kho tàng, bến cảng, đường giao thông huyết mạch; động thời xúc tiến các mặt công tác tổ chức, huấn luyện và tăng cường hoạt động chiến đấu của các đơn vị chủ lực, nâng dần trình độ tác chiến tập trung, về tổ chức và chỉ đạo, chỉ huy, Bộ Chính trị đã ra một số quyết định quan trọng; giao cho Quân uỷ Trung ương cùng Ban thống nhất của Trung ương giúp Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam; tăng cường cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục, các Khu uỷ về mặt quân sự, tổ chức và kiện toàn Bộ chỉ huy quân sự Miền và Bộ chỉ huy quân sự các Quân khu. Tổ chức phân chia lại các chiến trường theo yêu cầu phát triển của chiến tranh; mở rộng đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam, cả đường bộ và đường biển; tăng cường cán bộ chỉ huy, chính trị, hậu cần và một số đơn vị chiến đấu cấp đại đội, Tiểu đoàn, nâng dần quy mô và khối lượng tiếp tế, vận chuyển phương tiện vũ khí, cung cấp tài chính từ miền Bắc vào miền Nam; củng cố Đảng về tư tưởng và tổ chức nhất là Đảng bộ miền Nam theo kịp yêu cầu trực tiếp chỉ đạo, chiến tranh. Đồng thời, ở miền Bắc, ta chủ trương đẩy mạnh công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, triển khai thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất về kinh tế - xã hội; thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai, trong đó có chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, thực hiện chính quy hoá, từng bước hiện đại hóa tiến tới xây dựng lục quân chính quy, tương đối hiện đại; đặc biệt chú trọng xây dựng các đơn vị chủ lực cơ động, tăng cường xây dựng một số binh chủng kỹ thuật mới như pháo binh, thiết giáp, đặc công, công binh, hoá học; xây dựng các đơn vị "quân tăng cường" để từng bước đưa vào chiến trường miền Nam; tích cực xây dựng các đơn vị phòng không, không quân sẵn sàng đối phó với mưu đồ của Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc. Thực hiện chủ trương trên, quân và dân ta trên cả hai miền Nam Bắc đều vượt lên giành được thắng lợi lớn. Ở miền Nam, với kinh nghiệm đấu tranh mặt đối mặt với quân thù, từ khí thế và bài học của cuộc Đồng khởi, dưới ánh sáng của đường lối chiến tranh nhân dân kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nhân dân miền Nam đã sáng tạo ra hình thức tiến công "hai chân, ba mũi, ba vùng". Cái mới ở đây là ba mũi giáp công đã kết hợp đấu tranh của lực lượng chính trị với tiến công của lực lượng vũ trang và binh vận được thể hiện trong từng cuộc, từng đợt đấu tranh, từng chiến dịch. Bằng ba mũi giáp công, nhân dân ta đã bẻ gãy cả những cuộc hành quân càn quét khủng bố của địch. Nếu phương châm hai chân, ba mũi được mở đầu và giữ vai trò quan trọng trong tiến công địch ở thời kỳ Đồng khởi thì nó cũng góp phần rất tích cực trong việc đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Tình hình địch gom dân lập ấp chiến lược diễn ra khắp các vùng nông thôn miền Nam đã làm dấy lên phong trào quần chúng đấu tranh sôi nổi, rầm rộ chưa từng có. Đồng bào ta ở những vùng bị gom kiên quyết đấu tranh bám đất, giữ làng, nêu cao khẩu hiệu "một tấc không đi, một ly không rời". Ta vừa đấu tranh lẻ tẻ tại chỗ, vừa tổ chức biểu tình thị uy quy mô hàng ngàn người kéo đến đấu tranh với bọn chỉ huy quân đội và chính quyền, mang theo những ngươi bị thương hoặc đã chết vì bom, pháo, những tang vật bị nhiễm độc. Điển hình của phong trào phá ấp chiến lược của thời kỳ này là các cuộc đấu tranh chống gom dân của đồng bào ấp Bầu Mây, xã An Tịnh (huyện Trảng Bàng, Tây Ninh), của đồng bào Cai Lậy (Mỹ Tho), của đồng bào Khơme tỉnh Trà Vinh và An Giang, cuộc đấu tranh chống địch rải hoá chất độc của nhân dân huyện Châu Thành (Bến Tre)... Trong suốt ba năm (1962-1964), cuộc đấu tranh chống càn quét và phá ấp chiến lược của nhân dân miền Nam diễn ra cực kỳ quyết liệt. Cuối cùng, hệ thống ấp chiến lược do Mỹ - Diệm ra sức xây dựng trên toàn miền Nam về cơ bản đã bị nhân dân phá rã bằng sức mạnh tổng hợp của mình với sự vận dụng sáng tạo phương châm đánh địch bằng hai chân, ba mũi. Có thể nói phong trào đấu tranh chính trị của đông đảo quần chúng cách mạng dâng lên rất cao ở cả nông thôn, thành thị. Ở nông thôn là phong trào chống gom dân lập ấp; ở thành thị là phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ của công nhân và lao động, phong trào học sinh sinh viên chống địch bắt lính, phong trào đòi bình đẳng về tôn giáo của tăng ni Phật tử. Mặt trận đấu tranh vũ trang có bước phát triển mới, trên hầu khắp các chiến trường, tiêu biểu là trận chống càn ở Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho), bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng và diệt nhiều xe bọc thép M.113. Chiến thắng Ấp Bắc bước đầu đánh bại chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận", mở ra khả năng sau khi chống càn, bộ đội có thể bám trụ lại ban ngày ở vùng đồng bằng đông dân cách Sài Gòn ba, bốn chục kilômét. Nhiều trận đánh tiêu diệt từng đại đội, tiểu đoàn quân Ngụy, trong đó có một số tiểu đoàn biệt kích khét tiếng gian ác, đã diễn ra trên một số chiến trường, báo hiệu sự tiến triển đáng mừng của tác chiến tập trung quy mô cấp tiểu đoàn, hoặc nhiều tiểu đoàn của bộ đội chủ lực ta trên chiến trường miền Nam. Chiến tranh du kích miền Nam phát triển, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, theo chiều hướng nâng vai trò của đấu tranh vũ trang lên ngang với đấu tranh chính trị. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười, 2021, 05:32:43 pm Cao trào cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam đã đẩy cuộc khủng hoảng trầm trọng của Mỹ - Ngụy được khởi đầu từ cuộc Đồng Khởi 1959 - 1960, vào tình thế cực kỳ gay gắt, đến mức cuối năm 1963, Mỹ phải "thay ngựa giữa dòng", phế bỏ Diệm - Nhu làm cho nền chính trị tay sai Mỹ lâm vào cuộc khủng hoảng triền miên.
Trên miền Bắc, các mặt kinh tế, văn hoá, nhất là quốc phòng và an ninh đều có bước phát triển mới. Đặc biệt, hơn 10 triệu nông dân trong hợp tác xã nông nghiệp đã phấn đấu đưa sản lượng nông nghiệp đến năm 1963 cao hơn hai lần so với năm 1939 là năm phát triển cao nhất thời thuộc Pháp và trước cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Các hợp tác xã nông nghiệp có vai trò chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Có nó, ta mới củng cố và phát triển được nông thôn - một địa bàn chiến lược rộng lớn nhất của căn cứ địa miền Bắc - tạo nên sự nhất trí cao về chính trị - tinh thần của cả miền Bắc, động viên và tổ chức được hàng triệu thanh niên ra tiền tuyến, bảo đảm hậu phương quân đội, hậu phương chiến tranh ngày càng vững mạnh. Sau này, khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc, nó là cơ sở vững mạnh bảo đảm thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không, về thế trận quốc phòng, ta đã hình thành một số khu vực phòng thủ ở ven biển và nội địa. Quân đội đã được chấn chỉnh thêm một bước cả về tổ chức, biên chế, trang bị, nhất là về giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng cơ động trên các chiến trường. Ta đã tổ chức được nhiều sư đoàn, lữ đoàn bộ binh, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật và Không quân, Hải quân. Đầu năm 1962, trên nước bạn láng giềng Lào, bộ đội Pathét Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Nậm Thà thắng lợi. Tổng thống Mỹ Kennơđi phải nhân nhượng một bước. Hội nghị Giơnevơ về Lào xác nhận việc thiết lập chính quyền Liên hiệp ba phái ở Lào trong đó có Pathét Lào. Bối cảnh quốc tế lúc này lại phát triển rất phức tạp. Mâu thuẫn Xô - Trung chẳng những không dịu đi mà còn gay gắt hơn và bộc lộ công khai qua những cuộc tranh chấp đất đai, đả kích nhau trên hệ thống thông tin đại chúng. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực cho ta cả về tư tưởng và tâm lý. Đảng viên, cán bộ và nhân dân ta, nhiều người rất lo lắng trước sự chia rẽ ngày càng sâu sắc trong nội bộ Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (11 năm 1963) đã kịp thời xác định nhiều vấn đề rất quan trọng cả về đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam cũng như đường lối đoàn kết quốc tế của Đảng ta. Về phần quốc tế, Đảng ta đã thể hiện quan điểm rất đúng về tình hình thế giới và trách nhiệm cao trước vận mệnh Phong trào Cách mạng Thế giới. Với tinh thần độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế trong sáng, Đảng ta thẳng thắn và chân tình góp phần bảo vệ sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin; và hướng mọi hoạt động quốc tế của toàn Đảng, toàn dân ta vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ. Đặc biệt là về phần cách mạng miền Nam, Trung ương Đảng đã quyết định nhiều vấn đề chiến lược nhằm thúc đẩy cuộc chiến tranh cách mạng tiến lên mạnh mẽ hơn nữa: Tiếp tục khẳng định đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mới của đấu tranh vũ trang để chủ động và kịp thời đối phó với hành động tăng cường chiến tranh leo thang của địch. Xác định đấu tranh vũ trang ngày càng đóng vai trò quyết định trực tiếp việc tiêu diệt lực lượng quân sự địch, nhấn mạnh điều mấu chốt lúc này là tăng cường lực lượng quân sự và đẩy mạnh hoạt động đấu tranh vũ trang. Đưa chiến tranh du kích phát triển, đồng thời nâng dần quy mô tác chiến tập trung, nâng mức đánh tiêu diệt và quyết định đưa từng đơn vị chủ lực (cấp tiểu đoàn, trung đoàn) từ miền Bắc vào miền Nam, lập các khối chủ lực ở chiến trường miền Nam và lực lượng cơ động ở miền Bắc. Tiếp tục khẳng định phương châm chiến lược ba vùng và vận dụng linh hoạt phương thức tiến công trên từng vùng, đồng thời nhấn mạnh kiên quyết phấn đấu không cho địch phân tuyến, phân vùng để giữ vững thế trận cài xen hiểm hóc, vững chắc của chiến tranh nhân dân. Tìm mọi cách kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với chiến tranh cục bộ quy mô lớn của đế quốc Mỹ. Đối với miền Bắc, tiếp tục xác định trách nhiệm đối với cách mạng miền Nam, đồng thời nâng cao cảnh giác, triển khai mọi mặt sẵn sàng đối phó với âm mưu đánh phá của đế quốc Mỹ. Triển khai thực hiện Nghị quyết 9, về mặt quân sự, đầu năm 1964, Quân uỷ Trung ương đã xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược quân sự lúc này là bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh chiến tranh giải phóng miền Nam và giúp đỡ về mặt quân sự cho cách mạng Lào; tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị song song ở miền Nam, đẩy mạnh hoạt động vũ trang thường xuyên, liên tục, đồng thời tổ chức từng đợt tác chiến quy mô lớn hoặc tương đối lớn; coi trọng xây dựng chủ lực cơ động, tập trung giải quyết việc vận chuyển chiến lược để đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của chiến tranh cách mạng ở miền Nam, chỉ đạo chuẩn bị sẵn sàng đối phó với chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ... Quán triệt và thực hiện chủ trương chiến lược trên, quân và dân ta trên cả hai miền Nam Bắc đã đưa cuộc đấu tranh chống Mỹ lên một bước phát triển mới. Trên miền Bắc, tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Có thể nói đây là Hội nghị Diên Hồng của dân tộc Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh. Hội nghị biểu thị khối đại đoàn kết toàn dân và ý chí quyết tâm sắt đá chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Hội nghị càng thôi thúc cao trào hành động cách mạng và chiến tranh cách mạng của cả nước. Khẩu hiệu "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” đã dấy lên trên toàn miền Bắc các phong trào thi đua sôi nổi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục... Thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965); về mặt quốc phòng, quân và dân ta trên các địa bàn sôi nổi chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường miền Nam làm cho quân và dân miền Bắc, trước hết là lực lượng vũ trang, ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao, đồng thời trực tiếp làm nhiệm vụ hậu phương đối với chiến tranh giải phóng miền Nam. Nhờ vậy, khi Mỹ dùng không quân đánh phá một số nơi ở miền Bắc, quân và dân ta đánh thắng chúng ngay từ trận đầu (5-8-1964) và kiên quyết đánh trả những chiến dịch ném bom của không quân Mỹ khi chúng phát động cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc (7-2-1965) và nhanh chóng chuyển đất nước sang tình trạng chiến tranh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Mười, 2021, 05:33:25 pm Tháng 11 năm 1964, Hội nghị Quân uỷ Trung ương đề ra những quyết định nhằm thúc đẩy cuộc chiến tranh nhân dân miền Nam phát triển cao hơn và tăng cường chuẩn bị mọi mặt cho miền Bắc sẵn sàng chiến đấu. Một lần nữa, Đảng ta đã khẳng định những quan điểm chiến tranh nhân dân trong xây dựng lực lượng và tác chiến, chuẩn bị tác chiến trên chiến trường cả nước.
Ở miền Nam, chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng trên cả ba vùng chiến lược, các hình thức vũ trang, đấu tranh chính trị, ba mũi giáp công trên các chiến trường cũng phát triển mạnh làm cho quốc sách ấp chiến lược của địch bị phá sản, các chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận" giảm hiệu lực. Với lực lượng chủ lực được tăng cường, ta tiến hành thắng lợi một số chiến dịch tiến công quy mô nhỏ và vừa (Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài) tiêu diệt nhiều tiểu đoàn hoặc chiến đoàn hoặc trung đoàn của quân Ngụy, đánh dấu một bước tiến mới của trình độ tác chiến tập trung đánh tiêu diệt của chủ lực ta, tạo một bước ngoặt mới cho hình thái đấu tranh vũ trang của chiến tranh giải phóng miền Nam. Cùng với lực lượng đặc công tinh nhuệ, những đội biệt động luồn sâu, đã đánh thắng nhiều trận vang dội ngay tận các hậu cứ, các trung tâm chỉ huy, các kho tàng trong các đô thị, diệt nhiều sinh lực cao cấp của Mỹ: sĩ quan, phi công, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại như máy bay, pháo lớn, tàu chiến, xe tăng... Trên chiến trường miền Nam, phương thức đấu tranh kết hợp "hai chân", "ba mũi", "ba vùng" phát triển đến mức cao chưa từng thấy, nhất là ở các vùng đồng bằng đông dân của Nam Bộ, Khu V. Vùng giải phóng được mở rộng sát các căn cứ địch ở đô thị. Các mạch đường giao thông thông suốt mặc dù có đồn bốt, tháp canh canh giữ, cán bộ và bộ đội ta vẫn có thể đi lại, ra vào. Chiến lược tiến công tổng hợp của chiến tranh nhân dân miền Nam đã phát huy được hiệu lực rất lớn trong việc chống phá "quốc sách" ấp chiến lược của địch, tiêu hao tiêu diệt quân chủ lực Ngụy từ nhiều tiểu đoàn đến chiến đoàn. Còn ở miền Bắc, những chiến dịch đánh phá của không quân và hải quân Mỹ trong mấy tháng đầu đã bị quân và dân ta đánh trả hết sức quyết liệt. Đặc biệt là không quân Mỹ đã không chặn nổi sự chi viện ngày càng tăng của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Ngụy quyền Sài Gòn lâm vào cuộc khủng hoảng triền miên, chỉ trong hơn một năm rưỡi (11 năm 1963 - 6 năm 1965) đã có 14 lần đảo chính và phản đảo chính. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara từ miền Nam Việt Nam về đã báo cáo trước Nhà Trắng và Quốc hội Mỹ rằng "quân lực Việt Nam Cộng hoà đã không còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ). Thế là chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ được đẩy đến mức cao nhất đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn. Đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược đưa quân Mỹ vào tham chiến ở miền Nam và tăng cường cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam lại chuyển sang một giai đoạn mới. Đánh giá sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn này, có thể thấy những ưu điểm nổi bật sau: 1. Đã kịp thời chuyển cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng, nhưng vẫn tiếp tục tiến hành khởi nghĩa trong chiến lược, kết hợp chiến tranh với khởi nghĩa; kịp thời nâng vị trí đấu tranh vũ trang lên theo yêu cầu của chiến tranh, nhưng vẫn thực hiện vũ trang và chính trị đi đôi, đưa cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam phát triển lên đỉnh cao mới: đánh địch bằng cả quân sự và chính trị, bằng cả ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược. 2. Tập trung đánh bại các biện pháp lớn của chiến lược chiến tranh đặc biệt, nhưng hướng đúng mũi nhọn đấu tranh vào phá "ấp chiến lược" và làm thất bại các cuộc càn quét của quân chủ lực Ngụy, làm phá sản mục tiêu chủ yếu trong chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - Ngụy. 3. Không ngừng đẩy mạnh chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời chủ động tổ chức sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc; kiềm chế và thắng địch trong chiến lược chiến tranh đặc biệt của chúng ở miền Nam, đồng thời sớm có chủ trương sẵn sàng đối phó với chiến lược chiến tranh cục bộ của chúng. Nhìn tổng quát, trong giai đoạn này, chỉ đạo chiến lược của Đảng ta có nhiều thành công như dự kiến đúng, chuẩn bị tốt, chuyển hướng nhanh và có biện pháp chiến lược thích hợp vận dụng chiến lược tổng hợp rất sáng tạo nên luôn chủ động về chiến lược và giành thắng lợi ngày càng to lớn. Quyết tâm đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ và tổ chức sẵn sàng đối phó với một phương hướng chính xác và nhạy bén, là sự chuẩn bị chủ động và tích cực của ta. Do đó khi Mỹ đưa mấy chục vạn quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ thì ta đã sẵn sàng và chủ động cả về tổ chức, tư tưởng, lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:45:16 am II. Chiến tranh cục bộ
Thắng lợi trên các mặt quân sự, chính trị của quân và dân miền Nam Việt Nam đã làm cho Ngụy quyền Sài Gòn ngày càng lún sâu vào khủng hoảng trầm trọng. Chỉ trong hơn một năm rưỡi (11/1963 - 6/1965) đã xảy ra 14 lần đảo chính và phản đảo chính chiến tranh đặc biệt của Mỹ được đẩy lên đến mức cao nhất, đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn. Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ đưa quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước phụ thuộc Mỹ vào tham chiếm ở miền Nam, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. cả nước ta trực tiếp đánh Mỹ, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao trên cả hai miền, đánh thắng chiến lược chiến tranh cục bộ tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ đầu năm 1965, cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ leo thang lên một bước mới. Trước sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt, Mỹ chuyển sang dùng chiến lược chiến tranh cục bộ, xuất con chủ bài quân viễn chinh Mỹ từng bước phản công giành lại quyền chủ động, giành thắng lợi quyết định về chiến lược. Chiến tranh cục bộ, chiến lược chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965-1968) sau khi chiến tranh đặc biệt bị thất bại (Mỹ xác định chiến lược chiến tranh này ở Việt Nam là chiến tranh hạn chế trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ). Về mục tiêu chiến lược và các biện pháp chiến lược cơ bản thì chiến tranh cục bộ và chiến tranh đặc biệt là thống nhất (chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, tìm diệt, bình định, phong toả biên giới để ngăn chặn chi viện). Nhưng chiến tranh cục bộ khác với chiến tranh đặc biệt ở chỗ: Một là quân viễn chinh Mỹ trực tiếp đảm nhiệm tiến hành chiến tranh. Là lực lượng cơ động chủ yếu trong các cuộc hành quân tìm diệt bộ đội chủ lực Quân Giải phóng miền Nam; chỗ dựa và nòng cốt cho chính quyền và quân đội Sài Gòn; hai là, tìm diệt bộ đội chủ lực Quân Giải phóng miền Nam được nâng lên hàng đầu và được coi là mục tiêu chủ yếu để giành toàn thắng kết thúc chiến tranh; ba là, ngăn chặn chi viện của miền Bắc một cách quyết liệt hơn: tăng cường phong toả biển, ngăn chặn biên giới bằng hàng rào điện tử Mắc Namara, mở rộng đánh phá ác liệt các đường vận chuyển bằng không quân; tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân. Mục tiêu chủ yếu của chiến lược chiến tranh cục bộ là đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng 25-30 tháng (giữa 1965 đến 1967), với kế hoạch 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 phá kế hoạch mùa mưa của ta, chặn chiều hướng thua bảo đảm triển khai nhanh lực lượng quân viễn chinh Mỹ; giai đoạn 2 mở các cuộc phản công chiến lược tìm diệt chủ lực ta và kiểm soát vùng nông thôn; giai đoạn 3 hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực của ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967. Về lực lượng chiến tranh, quân viễn chinh Mỹ tuy là con chủ bài, là nòng cốt, nhưng quân đội Ngụy vẫn được sử dụng như một lực lượng chiến lược quan trọng. Quân Mỹ là lực lượng cơ động chủ yếu để "tìm diệt" bộ đội chủ lực ta; quân Ngụy là lực lượng chiếm đóng để bình định, kìm kẹp nhân dân. Quân viễn chinh Mỹ và quân Ngụy là hai lực lượng chiến lược. Biện pháp chủ yếu của chiến lược mới của Mỹ ở miền Nam là tìm diệt, sau đó là tìm diệt và bỉnh định được coi là chiến lược hai gọng kìm; đưa quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, mở các cuộc tiến công lớn tìm diệt chủ lực ta ở miền Nam; đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn cản sự chi viện từ Bắc vào Nam; cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam, làm suy yếu căn cứ địa cách mạng của cả nước, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến. Đây là cố gắng quân sự lớn nhất, bước leo thang chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ ở miền Nam, cũng là lần đầu Hoa Kỳ đưa nhiều quân nhất đi xâm lược, kê từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ, Lầu Năm Góc đã ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước phụ thuộc vào miền Nam Việt Nam, đồng thời củng cố và tăng cường quân Ngụy, sử dụng hai lực lượng chiến lược này với số quân đông nhất, 100 vạn rồi 120 vạn, với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất (trừ vũ khí nguyên tử), kể cả máy bay chiến lược B52, liên tục mở các cuộc tiến công lớn vào cả miền Đông Nam Bộ và Khu V, trong hai cuộc phản công chiến lược vào hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967. Quân Mỹ dùng những thủ đoạn tác chiến mới như hoả lực mạnh, cơ động cao, bước nhảy sâu, quây vùng rộng, để tìm diệt chủ lực ta với tham vọng "bẻ gãy xương sống Việt cộng" và "chụp bắt" cơ quan đầu não kháng chiến của ta ở miền Nam. Đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc với mưu đồ đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá; chủ yếu là ngăn chặn chi viện từ miền Bắc và quốc tế vào miền Nam nhằm bao vây, cô lập cách mạng miền Nam; chúng còn kết hợp tiến hành những hoạt động ngoại giao xảo quyệt, lừa bịp dư luận, hù doạ các nước hòng cô lập, đè bẹp ta. Đế quốc Mỹ đã tăng quân chiến đấu Mỹ, cả lục quân, không quân và hải quân với tốc độ rất nhanh, đẩy cường độ chiến tranh và tính chất ác liệt lên rất cao. Trong giai đoạn này, với cố gắng quân sự lớn, giới cầm quyền Mỹ đã huy động lực lượng và tiền của đến mức cao nhất theo khả năng của chúng có thể huy động được vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với việc thay đổi chiến lược chiến tranh như trên của đế quốc Mỹ, cách mạng và cuộc kháng chiến của nhân dân ta đứng trước một tình thế hiểm nghèo. Đảng ta, nhân dân ta sẽ đối phó với sự thách thức ấy như thế nào? Trên chiến trường cách đánh với quân Mỹ ra sao? Có tiếp tục tiến hành đấu tranh chính trị được nữa hay không? Vận mệnh của dân tộc, chiều hướng phát triển của sự nghiệp cách mạng nước ta và một mức độ nào đó, của cả phong trào cách mạng thế giới, phụ thuộc vào câu trả lời về cách thức chúng ta xử trí tình huống chiến lược hệ trọng này. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:46:07 am Đảng ta đã đánh giá tình hình chiến lược mới một cách bình tĩnh và sáng suốt, tạo nên sự nhất trí rất cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cả nước một lòng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Các Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965), nhất là lần thứ 12 (12-1965), đã phân tích toàn diện, sâu sắc chiến lược mới của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam và đề ra chủ trương đối phó đúng đắn, chủ động và sáng tạo. - Về địch, quân viễn chinh Mỳ trực tiếp xâm lược miền Nam, không quân, hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc, nhưng tính chất cơ bản chiến tranh của Mỹ vẫn là chiến tranh xâm lược thực dân mới. Tuy Mỹ có tăng lực lượng quân sự lớn (cả số quân và vũ khí) những chúng lại có nhiều chỗ yếu cơ bản, nhất là về chính trị. Dùng quân chiến đấu Mỹ trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược thực dân mới là điều thất sách, là mâu thuẫn lớn về chính sách và chiến lược. - Về ta, Đảng ta chủ trưởng kịp thời động viên và tổ chức cả nước kháng chiến chống Mỹ; từ nửa nước có chiến tranh thành cả nước có chiến tranh với mức độ và hình thức khác nhau; miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn; quyết định chuyển miền Bắc sang thời chiến, chuyển toàn bộ cả tư tưởng, tổ chức, quốc phòng và kinh tế. Cả dân tộc ta phải bước vào cuộc chiến đấu gay go quyết liệt hơn, nhưng ta đã vững mạnh hơn hẳn trước, thế trận tiến công của chiến tranh nhân dân ở miền Nam phát triển cao, đã có sự chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức để đón đánh quân viễn chinh Mỹ. Từ đó, rút ra kết luận: Quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, tính chất ác liệt của chiến tranh tăng lên nhiều, gây cho ta những khó khăn, nhưng so sánh lực lượng địch - ta căn bản không thay đổi. Vì thế ta vẫn giữ vững và phát huy chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng miền Nam. Ta tiếp tục tiến công và phản công, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, nhưng đấu tranh quân sự ngày càng có tác dụng quyết định trực tiếp. Cụ thể hoá nghị quyết Trung ương Đảng và tổng kết kinh nghiệm chiến trường, lúc này Quân uỷ Trung ương đã xác định nhiều tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, kịp thời: - Nắm vững trọng tâm là chỉ đạo chiến tranh, chiến trường chính là miền Nam; chú trọng cả chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng; tăng cường lực lượng lớn ở miền Nam; đề ra 6 phương thức tác chiến chiến lược đưa chiến tranh nhân dân chống Mỹ cứu nước ở miền Nam phát triển lên trình độ mới; phát triển nhanh lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam, nhất là bộ đội chủ lực. Bối cảnh quốc tế lúc này cũng rất phức tạp, vừa có thêm thuận lợi mới cho ta, lại vừa có khó khăn mới. Chủ nghĩa xét lại Khơrútxốp sụp đổ là một bước ngoặt trong đời sống chính trị của Liên Xô và trong chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam, có lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Liên Xô đã giành cho ta sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả hơn so với trước đó. Nhưng do đánh giá quá cao sức mạnh của Mỹ, Liên Xô tìm mọi cách hướng ta đi vào thương lượng với Mỹ khi điều kiện chưa chín muồi. Ở Trung Quốc, cuộc cách mạng văn hoá đang tiến hành với quy mô lớn và quyết liệt, nhưng Trung Quốc vẫn tích cực giúp ta kháng chiến chống Mỹ. Ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao, chủ động công bố lập trường (4 điểm, 5 điểm) của ta; tăng cường tiếp xúc cả công khai và bí mật giữa ta với nhiều nước trên thế giới làm rõ chính nghĩa và thiện chí của ta, góp phần hình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân toàn thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Nghị quyết Trung ương 11, nhất là Nghị quyết 12 là những văn kiện lịch sử cực kỳ quan trọng trong cuộc chống Mỹ, cứu nước, những văn kiện có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn phát triển cao của chiến tranh, khi chúng ta trực tiếp đương đầu với 120 vạn quân địch, trong đó có hơn 50 vạn quân chiến đấu Mỹ. Theo phương hướng của Nghị quyết Trung ương và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương, quân và dân ta ở miền Nam đã đánh thắng quân viễn chinh Mỹ những trận đầu khi chúng vừa đổ bộ vào miền Nam. Đó là những trận thắng oanh liệt ở Núi Thành, và khi chúng bắt đầu ra quân tìm diệt chủ lực ta là ở Vạn Tường, Plây Me, Đất Cuốc, Bầu Bàng... Chiến tranh du kích chống Mỹ phát triển mạnh. Những "vành đai du kích diệt Mỹ" hình thành ở Chu Lai, Đà Nẵng, Củ Chi... tạo thế trận đánh Mỹ ngay sát các căn cứ của chúng. Phong trào "dũng sĩ diệt Mỹ" phát triển sâu rộng trên các chiến trường có quân Mỹ. Đây là nét sáng tạo mới của chiến tranh du kích miền Nam. Qua những cuộc đọ sức đầu tiên đó, quân và dân ta đã từng bước phát hiện chỗ yếu cụ thể của bộ binh Mỹ, bắt đầu tìm được cách đánh thắng quân Mỹ trên từng chiến trường khác nhau. Quân và dân miền Bắc bắn rơi hàng trăm máy bay hiện đại Mỹ, bắt tại chỗ nhiều phi công, tổ chức phòng tránh, sơ tán thành công, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt; đặc biệt vẫn tiếp tục tăng cường sự chi viện lực lượng ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam. Điều đó chứng tỏ quân và dân ta có thể đánh thắng được lục quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam và không quân hiện đại Mỹ ở miền Bắc. Bước vào mùa khô 1965-1966, với 72 vạn quân, trong đó có 18 vạn quân Mỹ, địch mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất với ý đồ "tìm diệt" và "bẻ gãy xương sống Việt cộng" ở cả Nam Bộ và Trung Bộ. Những cuộc hành quân "tìm diệt" đầu tiên này của quân Mỹ đã gây cho quân và dân ta trong những vùng chúng tiến công biết bao khó khăn, gian khổ, ác liệt và hy sinh. Chúng sử dụng bừa bãi bom đạn để đánh phá huỷ diệt nhiều vùng; dùng hàng trăm máy bay lên thẳng đổ quân vào hậu phương ta để "tìm diệt" chủ lực ta. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:47:11 am Về phía ta, trên thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, với phương châm "kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chen vào giữa địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh", quân và dân ta ở miền Nam đã liên tục phản công và tiến công cả quân Mỹ, quân Ngụy và quân các nước phụ thuộc Mỹ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Mục tiêu chủ yếu của cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của Mỹ không đạt được. Tháng 5 năm 1966, đại sứ Mỹ Cabốt Lốt báo cáo về Mỹ rằng: "Mỹ không tiêu diệt được một đơn vị chính quy nào của Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển, lực lượng Mỹ không khắc phục được tình hình ngày càng xấu đi và Quân đội Sài Gòn giảm chất lượng nhanh và vẫn bị động". Trên miền Bắc, ta tiếp tục bắn rơi hàng trăm máy bay Mỹ và không ngừng tăng cường sức người, sức của vào miền Nam. Như vậy, quân và dân ta đã đánh thắng chiến tranh cục bộ của Mỹ ngay từ hiệp đầu. Riêng về mặt đấu tranh chính trị, khi quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến, lúc đầu đồng bào ta còn nhiều lo ngại chưa thể đấu tranh chính trị mặt giáp mặt với quân Mỹ vì sự khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán. Nhưng từ cuộc đấu tranh đầu tiên với quân Mỹ ở Chu Lai thắng lợi, khi chúng bắn phá, càn quét xóm làng, đã dấy lên phong trào đấu tranh chính trị ở cả nhiều chiến trường khác, ở Đông Nam Bộ, khi Mỹ đưa Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ" vào lập căn cứ và đi càn quét, phụ nữ Củ Chi, Trảng Bàng đã tràn ra đồng cản xe bọc thép Mỹ, không cho chúng cán lúa, bám vào trực thăng không cho chúng bắt thanh niên, ngăn chặn bọn lính Mỹ đốt phá nhà dân. Phong trào đấu tranh của đồng bào thành thị phát triển sôi động. Công nhân, người lao động, học sinh, sinh viên, tăng ni Phật tử đã xuống đường chống chính sách xâm lược của Mỹ. Tại Đà Nẵng, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ bọn tay sai Mỹ, đồng bào đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh làm mất ổn định hậu phương địch, tiến lên gần như làm chủ thành phố 76 ngày đêm (từ 10 tháng 3 đến cuối tháng 5 năm 1966). Tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi lịch sử toàn dân chống Mỹ, cứu nước: "Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa tới 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa đi đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội ác của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Sau thất bại trong cuộc phản công lần thứ nhất, đế quốc Mỹ lại tăng quân để tiếp tục "tìm diệt" chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta ở miền Nam và leo thang đánh phá miền Bắc hòng cố sức ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đến mùa khô 1966 - 1967, với 98 vạn quân, có 39 vạn quân Mỹ, chúng tiến hành cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Khác với trước, lần nàv chúng tập trung trên một hướng miền Đông Nam Bộ. Từ biện pháp chiến lược "tìm và diệt", chúng chuyển sang "tìm diệt và bình định", đồng thời dùng thủ đoạn ngoại giao nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta. Với kinh nghiệm đánh giá Mỹ vừa tích luỹ được qua hiệp đầu đánh thắng chúng, thế trận chiến tranh nhân dân của ta được củng cố vững chắc hơn, lực lượng được tăng cường hơn. Tháng 6 năm 1966, ta mở mặt trận Đường số 9 Bắc Quảng Trị ở Nam giới tuyến để thu hút và giam chân một lực lượng lớn lính thuỷ đánh bộ Mỹ vốn quen tác chiến ở vùng ven biển lên chiến trường miền núi bất lợi với chúng. Mỹ phải đưa 2 trong 7 Sư đoàn Mỹ lên chiến trường này, một chiến trường núi rừng hiểm trở, có thể hạn chế tối đa chỗ mạnh của quân Mỹ, nhưng lại phát huy tối đa sở trường đánh rừng núi của bộ đội ta. Ta có điều kiện trực tiếp phát huy sức mạnh lớn nhất của chủ lực ở miền Bắc, các đơn vị chủ lực của ta có thể thay phiên nhau vào tác chiến tại chiến trường này. Việc mở mặt trận Đường số 9 đã phá vỡ ý định đưa quân chiến đấu Mỹ vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, chủ động phá kế hoạch đánh ra miền Nam Khu IV của Mỹ. Quân và dân ta trên cả nước đã kiên cường chiến đấu đánh bại các bước leo thang rất nguy hiểm này của địch. Đồng thời, ta đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và kiên trì đấu tranh chính trị, đẩy mạnh tác chiến của cả ba thứ quân, tập trung đánh bại liên tiếp ba cuộc hành quân lớn của quân viễn chinh Mỹ vào miền Đông Nam Bộ (Áttơnborơ, Xida Phôn và Gianxơn Xity), nhất là chiến dịch phản công của ta đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity, cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (45 nghìn quân trên địa bàn một huyện). Ta lại tiến hành thắng lợi nhiều cuộc tiến công trên nhiều hướng khác, nhất là các chiến dịch tiến công của chủ lực ở các chiến trường rừng núi Bắc Tây Nguyên, miền Tây Khu V. Đường số 9; kết hợp tiến công cả quân sự và chính trị ở các chiến trường đồng bằng Nam Bộ, Khu V, Trị - Thiên. Lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của ta đánh nhiều mục tiêu trọng yêu trong các Thành phố Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế... Ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch làm phá sản các mục tiêu chủ yếu của Mỹ trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai là tiêu diệt chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến ở miền Nam; đẩy Mỹ vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược, làm cho nội bộ giới cầm quyền Mỹ bắt đầu phân hoá, dao động. Quân và dân miền Bắc tiếp tục đánh trả có hiệu quả các cuộc tiến công bằng không quân và hải quân của Mỹ, vừa bắn rơi nhiều máy bay địch, bắt phi công, vừa tổ chức phòng tránh và sơ tán tốt, hạn chế tổn thất của ta. Đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn phát triển và nâng cấp, xe cơ giới chạy sâu vào phía trong bảo đảm giao thông liên tục thông suốt trong điều kiện không quân hiện đại Mỹ đánh phá quyết liệt, không ngừng chi viện sức người, sức của từ miền Bắc vào miền Nam. Chưa lúc nào khí thế đánh Mỹ dâng cao như thời kỳ này trên cả hai miền Nam Bắc, thành cao trào toàn dân chống Mỹ, cứu nước sục sôi trên cả nước, ở miền Nam, nổi lên các phong trào: "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt”, "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh", "Căng địch ra mà đánh, vây chúng lại mà diệt"... ở miền Bắc có các phong trào "Phụ nữ ba đảm đang", "Thanh niên ba sẵn sàng", "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng", "Tiếng hát át tiếng bom", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người"... Trên các tuyến giao thông là phong trào "Xe chưa qua nhà không tiếc". Trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn có phong trào "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến". Đây không chỉ là những khẩu hiệu có sức động viên cổ vũ rất lớn, mà còn là phương hướng hành động của hàng chục triệu quân chúng sẵn sàng xả thân chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần "Cả nước ra trận", "Toàn dán đánh Mỹ, cứu nước". Với thắng lợi to lớn trên chiến trường, đầu năm 1967, Hội nghị Trung ương 13 quyết định mở mặt trận mới vê' ngoại giao, coi đó như một mũi tiến công nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ sâu rộng và mạnh mẽ hơn nữa của thế giới đối với cuộc kháng chiến cứu nước của ta, đồng thời khoét sâu thêm mâu thuẫn nội bộ kẻ thù, cô lập chúng cao độ để đánh thắng chúng. Như vậy, sau hai cuộc phản công chiến lược của địch, thực tế chiến trường nổi lên tình hình: địch đã thất bại về nhiều mặt, trên cả phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, cả quân sự, chính trị và ngoại giao. Đó là thất bại của giai đoạn đầu rất quan trọng trong chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:48:26 am Sau hai mùa khô thất bại nặng nề trên chiến trường Việt Nam và trước dư luận rộng rãi trên thế giới ngày càng phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng phát triển rộng lớn ngay trong lòng nước Mỹ. Giới cầm quyền Mỹ bắt đầu dao động, lúng túng, nhưng vẫn ngoan cố tiếp tục tăng quân, chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công lần thứ ba với 120 vạn quân, có 50 vạn quân Mỹ.
Tình hình trên chiến trường lúc này rất phức tạp. Mỹ đã thua to nhưng vẫn chưa từ bỏ âm mưu tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ta đã thắng lớn nhưng chưa làm chuyển biến cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Các Hội nghị Bộ Chính trị nửa cuối năm 1967, nhất là Hội nghị tháng 12 năm 1967, được Hội nghị Trung ương 14 (1 năm 1968) nhất trí thông qua đều chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của ta lúc này cần phải có thể tạo một chuyển biến lớn giữa lúc đế quốc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đã dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ, để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định; phải tạo được một bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh. Muốn vậy, không thể tiến từng bước, tuần tự, đặt ra chỉ tiêu diệt ngần này địch, ngần này dân giành quyền làm chủ, v.v... như những năm trước đó. Không đánh theo cách cũ như Đông - Xuân trước, vì như vậy thì cuộc chiến tranh sẽ nhùng nhằng và kéo dài. Phải tạo một bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ. Đó là một cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng hiếm có trong lịch sử chiến tranh cách mạng, khiến cho Mỹ - Ngụy không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới. Yêu cầu hàng đầu của cuộc tiến công này vẫn là tiêu diệt nhiều địch, nhưng có nhiều nội dung mới khác hẳn trước. - Hướng tiến công chủ yếu không phải là rừng núi và nông thôn, mà là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi địch đang sơ hở, cũng là nơi dễ nhạy cảm và tạo thôi động lớn. - Mục tiêu tiến công chủ yếu không phải là các tập đoàn quân chủ lực địch, mà nhằm vào các cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ - Ngụy, các trung tâm chỉ huy, các hậu cứ, vừa tiêu diệt sinh lực vừa phá hủy phương tiện chiến tranh. Đây là chỗ hiểm yếu, dễ chấn động nhất. - Không gian tiến công, không phải chỉ một vài vùng, mà là toàn miền, tiến hành đồng loạt trên quy mô rộng lớn nhất từ trước đến nay. - Thời gian tiến công, không vào các thời điểm thông thường mà đúng vào giữa đêm giao thừa Tết Nguyên Đán, lúc bất ngờ nhất. - Phương châm đánh địch, vẫn là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhưng trên diện rộng ở cả ba vùng chiến lược trong toàn miền, thực hiện kết hợp tổng công kích với tổng khởi nghĩa v.v... Tất cả các mặt trên đây đều nhằm một mục tiêu: giáng cho địch một đòn thật mạnh và hiểm, bất ngờ và đồng loạt, làm cho Mỹ phải lung lay ý chí xâm lược, tạo nên sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Theo phương hướng đó, ta triển khai nhiều biện pháp tổ chức thực hiện: Bàn bạc kỹ lưỡng tạo sự nhất trí cao giữa Trung ương và chiến trường, sự thống nhất cao cả về tư tưởng và hành động; tiến hành nghi binh bằng cả ngoại giao và quân sự, cả về chiến lược và chiến dịch, làm cho địch bị lạc hướng; tiến hành chuẩn bị trên quy mô rất rộng lớn nhưng theo một quy định chặt chẽ, nghiêm ngặt, giữ được bí mật tuyệt đối ý định chiến lược của ta... Ta cũng dự kiến ba khả năng: 1. Ta thắng lớn, buộc Mỹ phải chịu thua và nhận thương lượng với ta để kết thúc chiến tranh; 2. Ta giành được thắng lợi ở nhiều nơi nhưng địch vẫn giữ được nhiều vị trí quan trọng để tiếp tục chiến tranh; 3. Mỹ tăng thêm quân và dùng lục quân đánh ra miền Bắc... mở rộng chiến tranh ra cả Đông Dương. Ta chủ trương mở hoạt động lớn ở mặt trận Đường số 9 - Khe Sanh, xem đó là một trong những mặt trận của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, là một đòn chính, một chiến địa nghi binh của bộ đội chủ lực ta nhằm thu hút quân cơ động của Mỹ, tiêu diệt một bộ phận, vây hãm và giam chân tiêu hao chúng, tạo thế cho các chiến trường nhất là Huế, Đà Nẵng tiến công và nổi dậy thắng lợi. Ta đã nổ súng tiến công trước vào Khe Sanh, vào hầu hết các vị trí địch trên Đường số 9 trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 1 năm 1968. Tướng Mỹ Oétmolen vội vã tăng cường lực lượng chống giữ và cho không quân ném bom Khe Sanh và khu vực giới tuyến. Nhà Trắng và Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá rằng tiến tới khả năng ta có thể tập trung lực lượng tạo ra "một cái giống như Điện Biên Phủ". Trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đên ngày 27 tháng 1 năm 1968, quân đội Pathét Lào và quân tình nguyện Việt Nam mỏ chiến dịch Nậm Bạc và thắng to. Chiến thắng Nậm Bạc có ý nghĩa to lớn, toàn diện cả về quân sự chính trị đối với cách mạng Lào, cũng như đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta. Chiến thắng này đi trước và phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam. Đúng đêm giao thừa và đêm mồng 1 Tết Mậu Thân (30 và 31 tháng 1 năm 1968), ta đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền; đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn; đánh vào hầu hết cơ quan đầu não trung ương, địa phương cả Mỹ lẫn Ngụy, bao gồm cả 4 Bộ Tư lệnh Quân khu - Quân đoàn, 8 Bộ Tư lệnh Sư đoàn, 2 Bộ Tư lệnh biệt khu Ngụy, 2 Bộ Tư lệnh dã chiến, 30 sân bay, nhiều tổng kho lớn. Trong đó có những trận gây chấn động lốn như đánh toà Đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập Ngụy, Bộ Tổng Tham mưu Ngụy ở Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ Thành phố Huế... Đồng thời, nhân dân hầu khắp vùng nông thôn được sự giúp sức của lực lượng vũ trang đã nổi dậy, phá tan từng mảng hệ thống kìm kẹp của Ngụy quyền ở thôn xã, giành thắng lợi oanh liệt cả về tiêu diệt sinh lực địch và giành quyền làm chủ. Tuy nhiên, mục tiêu khởi nghĩa ở các địa phương không đạt. Trên thực tế đã không diễn ra tổng khởi nghĩa như kế hoạch dự kiến. Trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trừ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng sau này, chưa có cuộc động binh và huy động lực lượng nào có quy mô lớn và khí thế cao như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2022, 07:49:37 am Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta như "một đòn sét đánh" đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới. Theo dư luận chính giới Mỹ lúc này, nó làm nổi bật lên trước mắt chính quyền Giônxơn, nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh.
Sau 1 tháng, tướng Oétmolen, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam bị cách chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara từ chức. Sau 2 tháng, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố ba điểm: 1. Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2. Nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari; 3. Không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai nữa... Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, chiến lược chiến tranh quan trọng nhất được Mỹ công phu chuẩn bị và đánh giá cao trong chiến lược toàn cầu "phản ứng linh hoạt" của Mỹ những năm 60. Đến tháng 5 năm 1968, Mỹ phải bắt đầu đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Rõ ràng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta đã làm cho ý chí xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ lung lay một bước nghiêm trọng. Thắng lợi của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - Xuân 1968 thật là to lớn. Cùng với thắng lợi liên tiếp trong Đông - Xuân 1965 - 1966 đánh bại hai cuộc phản công mùa khô của địch, thắng lợi oanh liệt Tết Mậu Thân đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bằng cuộc tổng tiến công chiến lược này, ta đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc chúng dù rất ngoan cố và còn gây cho ta nhiều khó khăn, vẫn phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, phải chuyển sang chiến lược "phi Mỹ hoá chiến tranh" rồi "Việt Nam hoá chiến tranh", phải bắt đầu rút dần quân Mỹ về nước, chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, phải cử người đàm phán với Chính phủ ta ở Hội nghị Pari. Ta có điều kiện mở ra mặt trận tiến công mới về ngoại giao, mở ra cục diện "vừa đánh vừa đàm", thật sự kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao để đánh thắng một kẻ địch có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh nhất thế giới. Trên miền Bắc, ta cũng giành thắng lợi lớn về nhiều mặt, cả về chiến đấu, sản xuất, bảo đảm giao thông thông suốt, tăng cường sức người, sức của ngày càng lớn từ Bắc vào Nam. Sự chỉ đạo chiến lược của Đảng trong giai đoạn này, giai đoạn đánh thắng nỗ lực chiến tranh cao nhất của cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ, nổi lên những điểm sau: 1. Đã dự kiến sớm và đúng xu hướng phát triển của chiến tranh, nên có sự chủ động chuẩn bị đối phó. Khi địch đang đưa chiến lược chiến tranh đặc biệt đến mức cao ở miền Nam, Nghị quyết Trung ương 9, tháng 12 năm 1963 đã dự kiến khả năng địch có thể leo thang lên nấc cao hơn và tiến hành chiến tranh cục bộ; cũng như lúc địch đang còn tiến hành "bí mật phá hoại" đối với miền Bắc, Nghị quyết 9, tháng 12 năm 1963 đã dự kiến khả năng Mỹ đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân khi cuộc chiến tranh đặc biệt bị thất bại lớn. Do đó, trước sự thay đổi chiến lược và bước leo thang chiến tranh mới, Mỹ đưa hàng chục vạn quân ồ ạt vào miền Nam, dùng hàng ngàn máy bay, hàng chục tàu chiến lớn đánh phá miền Bắc, ta đều chủ động chuẩn bị đối phó và đánh thắng bước đi chiến lược mới của Mỹ. 2. Đã đánh giá đúng so sánh lực lượng địch, ta khi Mỹ đưa mấy chục vạn quân ồ ạt vào miền Nam; kiên định quyết tâm đánh Mỹ, giữ vững và thực hành chiến lược tiến công và kịp thời xác định quyết tâm trực tiếp đánh quân chiến đấu Mỹ với chủ trương chiến lược kết hợp phản công với tiến công; đã chỉ đạo đánh thắng Mỹ ngay từ những trận đầu, chiến dịch đầu, thời kỳ đầu. Đặc biệt, ta đã động viên xây dựng được quyết tâm và khí thế đánh Mỹ trên cả nước cao chưa từng thấy, củng cố được niềm tin và tạo được đà thắng Mỹ trên chiến trường miền Nam, liên tiếp đánh bại hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của địch cũng như đánh thắng không quân và hải quân Mỹ trên miền Bắc. 3. Đã chọn đúng hướng tiến công rất hiểm là thành thị, sáng tạo cách đánh mới trong Tết Mậu Thân - Xuân 1968 rất bất ngờ và đầy hiệu lực, giành thắng lợi oanh liệt khi Mỹ đang dốc sức cố gắng cao nhất về quân sự, tạo được bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng; làm rung chuyển cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới; làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, mở đầu quá trình xuống thang chiến tranh của đế quốc Mỹ. 4. Tuy nhiên, ta cũng mắc một số khuyết điểm lớn như "chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó; nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm ngay để đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời; ta chậm thấy cố gắng mới của địch và những khó khăn lúc đó của ta... cho nên đã gặp khó khăn trong một thời gian... Mặc dù có những khuyết điểm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị trí to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ...". Ngày 1 tháng 11 năm 1968, đế quốc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá (lần thứ nhất) trên toàn bộ miền Bắc nước ta, đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ; nhưng chúng vẫn ngoan cố và xảo quyệt tiếp tục mưu đồ xâm chiếm Việt Nam bằng chiến lược khác. Rất rõ ràng, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân Việt Nam ta không chỉ quyết đánh và quyết thắng mà còn biết đánh và biết thắng đế quốc Mỹ ngay khi chúng dốc những cố gắng chiến tranh cao nhất. Ngày 3 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, khẳng định nhiệm vụ của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc: "hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:24:32 am III. Việt Nam hoá chiến tranh
Trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ, Việt Nam tuy không phải là hướng trọng điểm như châu Âu, nhưng lại là nơi mà như ngoại trưởng Mỹ Đalét từng tuyên bố "Quyền lợi của Mỹ ở Viễn Đông về phương diện chiến lược gắn liền với cái thường gọi là chuỗi cù lao ven biển. Chuỗi cù lao này có hai căn cứ trên lục địa: Triều Tiên ở phía Bắc và Đông Dương ở phía Nam; giữa hai căn cứ đó là các đảo Nhật Bản, Riou Kiou, Okinaoa, Đài Loan, Philíppin, Úc và Tân Tây Lan. Nếu Đông Dương sụp đổ thì hậu quả sẽ cực kỳ nghiêm trọng, không những Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện mà cả Inđônêxia sẽ bị cộng sản thu hút mất"1 (Trích tuyên bố của Dalét ngày 13 tháng 1 năm 1954). Các đời Tổng thống Mỹ kế tiếp đều nhất trí với đánh giá này của Đalét và cho rằng, "Đông Dương là một bộ phận cần thiết trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - một bức tường thành quan trọng trong chiến tranh lạnh"2 (Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.42, 43). Nếu để Nam Việt Nam rơi vào tay "cộng sản" thì vô hình trung Mỹ tạo điều kiện cho "Liên Xô, Trung Quốc đang hợp tác với nhau mở rộng bá quyền của họ"3 (Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.42, 43), và điều đó theo quan niệm của các nhà vạch chính sách Mỹ, sẽ dẫn đến một phản ứng dây chuyền "đe doạ an ninh của nước Mỹ và thế giới phương Tây"4 (Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.42, 43). Mặt khác, bằng cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng của mình, Việt Nam trở thành ngọn cờ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, là tấm gương khích lệ, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ latinh vùng lên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Vì vậy, Mỹ đã nhiều năm dính líu và ngày càng lún sâu vào cuộc chiến xâm lược Việt Nam với quyết tâm ngăn chặn "cộng sản" và ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đặc biệt, qua bốn năm đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh Nam Triều Tiên, Úc, Tân Tây Lan, Philíppin, Thái Lan sang Việt Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh, đế quốc Mỹ chẳng những không đánh bại được đối phương mà ngược lại, bị thất bại nặng nề về quân sự và chính trị, bị hao tổn lớn về quân số, vũ khí phương tiện chiến tranh trên chiến trường. Tình hình đó đã tác động đến nước Mỹ, làm dấy lên phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, đòi chính quyền Mỹ rút quân về nước, đòi chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam của nhân dân Mỹ và thế giới. Do áp lực của nhân dân Mỹ ngày càng mạnh, nhiều nghị sĩ Quốc hội ở Thượng viện và Hạ viện Mỹ cũng lên tiếng phản đối chính quyền, đòi luận tội Giônxơn, kêu gọi rút quân Mỹ về nước và tìm giải pháp chính trị chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam trong danh dự... Tập đoàn cầm quyền hiếu chiến Giônxơn thấy không thể không rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, mở đường cho một cuộc thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về vấn đề Việt Nam. Đó là chiều hướng đang phát triển mà giới lãnh đạo cao cấp Mỹ không thể cưỡng lại được. Song trong tính toán của chính quyền Giônxơn, việc rút quân Mỹ và quân một số nước đồng minh khỏi Nam Việt Nam phải đi đối với việc chính quyền và quân đội Sài Gòn mạnh lên, đủ sức đứng vững. Lên thay L.Giônxơn làm Tổng thống nước Mỹ, Níchxơn giải thích nhiệm vụ của Mỹ giờ đây là phải "làm cho các lực lượng Nam Việt Nam có đủ sức đảm nhận toàn bộ trách nhiệm về an ninh của Nam Việt Nam để rút toàn bộ quân chiến đấu Mỹ trên bộ"1 (Trích Tuyên bố của Níchxơn ngày 3 tháng 11 năm 1969 về vấn đề Việt Nam). Muốn thế, Níchxơn phải kéo dài thời hạn rút quân Mỹ về nước bằng cách rút quân "nhỏ giọt", song song với việc triển khai chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Menvin Leđơ (Melvin Laird) đã tuyên bố rằng "Trong tất cả những thay đổi về chính sách trong năm đầu tiên của chính quyền Níchxơn không có gì quan trọng bằng Việt Nam hoá, vì chính sách mới này đối với Việt Nam thực tế là sự áp đụng và thử thách một chính sách rộng lớn hơn đối với châu Á mà Tổng thống đã tuyên bố tại Guam tháng 7 năm 1969 và đã được mang tên là "học thuyết Níchxơn"1 (Trích diễn văn của Menvin Leđơ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đọc tại Caliphoócnia (California) ngày 14.1.1970). Chính sách mà Níchxơn tuyên bố tại Guam là các nước đồng minh phương Tây và các nước phụ thuộc Mỹ cùng nhau "liên minh phòng thủ", "chia sẻ gánh nặng" với Mỹ. nhưng Mỹ vẫn giữ vai trò lãnh đạo. Thực chất của chính sách đó là "dùng người bản xứ đánh người bản xứ" dưới sự chỉ huy của Mỹ. Vận dụng vào Việt Nam, Níchxơ điều chỉnh chủ trương "phi Mỹ hoá chiến tranh" thời Giônxơn thành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, nhằm tìm cách rút dần quân chiến đấu Mỹ khỏi Việt Nam, song song với quá trình chuyển giao trách nhiệm chiến đấu, bảo vệ an ninh cho chính quyền và quân đội Sài Gòn với công thức: Người Việt Nam + trang bị vũ khí, hậu cần của Mỹ do Mỹ chỉ huy. Thực chất, chiến lược này nhằm kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng sinh mạng và máu của người Việt Nam, giảm được việc sử dụng quân Mỹ; Níchxơn cho rằng, Mỹ "không thể bỏ rơi bạn bè và không thể chuyển gánh nặng cho ngươi Việt Nam quá nhanh được", rằng Mỹ "phải giữ sự thăng bằng giữa việc làm quá nhiều nhằm ngăn ngừa tâm lý ỷ vào Mỹ với việc làm quá ít do đó phá hoại lòng tự tin"2 (Níchxơn: Đi tìm một chính sách đối ngoại, Tạp chí Tuần tin tức Mỹ, số ra ngày 14 tháng 12 năm 1970) của chính đồng minh Nam Việt Nam. Nội dung chủ yếu của chiến lược Việt Nam hoá được Tổng thống Mỹ Níchxơn công bố ngày 18 tháng 2 năm 1970 là: Tăng cường khả năng tự vệ cho chính quyền, quân đội Sài Gòn, bảo đảm an ninh cho Nam Việt Nam; tăng cường quyền lực của chính quyền Việt Nam Cộng hoà ở khắp các vùng nông thôn Nam Việt Nam bằng việc đẩy mạnh chương trình bình định Việt Nam hoá chiến tranh là chiến lược chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (7-1969-4.1975) do Tổng thống Níchxơn đề xướng; chủ trương chuyển gánh nặng chiến tranh Việt Nam cho cho quân đội Sài Gòn để Mỹ rút hết về nước; là sự phát triển của phi Mỹ hoá chiến tranh bằng kế hoạch, biện pháp đầy đủ và mạnh mẽ hơn. Vẫn tiếp tục thực hiện ba biện pháp chiến lược cũ (bình định, tìm diệt, phong toả biên giới) nhưng với tên gọi mới (chiến tranh giành dân, chiến tranh huỷ diệt, chiến tranh bóp ngạt) và nâng cao cường độ hoạt động, kết hợp với hoạt động ngoại giao để kìm chế sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam. Kế hoạch được triển khai theo ba bước. Bước 1, xây dựng quân đội Sài Gòn thành quân đội chính quy, hiện đại đủ sức thay thế lực lượng chiến đấu trên bộ để rút dần quân Mỹ về nước; đẩy mạnh bình định để khôi phục "an ninh lãnh thổ" trên phần lớn nông thôn miền Nam. Bước 2, chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân đội Sài Gòn và tiếp tục củng cố để đủ sức đảm nhiệm chiến đấu khi quân Mỹ rút hết. Bước 3 Mỹ hoàn thành rút quân (dự tính vào năm 1972) khi chính quyền và quân đội Sài Gòn đã đứng vững, lực lượng cách mạng miền Nam bị đẩy lùi. Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh đã gây nhiều khó khăn cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, nhưng bằng những cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 ở miền Nam và đánh bại chiến dịch tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52 ở miền Bắc, quân và dân Việt Nam đã gây tổn thất nặng nề cho Mỹ và quân đội Sài Gòn. buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari 1973 về Việt Nam. Sau khi Mỹ rút hết quân, chính quyền và quân đội Sài Gòn không đương đầu nổi với cách mạng miền Nam, đã bị thất bại hoàn toàn trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của nhân dân Việt Nam vào mùa xuân 1975. Theo Níchxơn Việt Nam hoá có hai phần chính: - Tăng cường quân đội Việt Nam Cộng hoà về số lượng, trang bị, lãnh đạo, chỉ huy, tài nghệ chiến đấu và năng lực toàn diện. - Mở rộng chương trình bình định, làm cho chính quyền Sài Gòn kiểm soát được toàn bộ nông thôn Nam Việt Nam. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:25:27 am Nội dung cụ thể:
1. Ra sức đôn quân, bắt lính, thay đổi trang bị, vũ khí cho quân đội Sài Gòn, huấn luyện cấp tốc về chiến thuật, kỹ thuật cho quân đội đủ sức thay thế mỗi khi quân Mỹ rút đi. 2. Xây dựng chính quyền Việt Nam Cộng hoà ở Trung ương và các địa phương mạnh bằng cách ra sức tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng, gạt bỏ khủng bố; củng cố và mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn trong nhân dân các thành thị, các vùng nông thôn đông dân; "chấn hưng kinh tế", cố gắng ổn định nền kinh tế, tài chính Nam Việt Nam đang suy sụp. 3. Ra sức bình định cho được nông thôn và kiểm soát đại bộ phận dân chúng miền Nam Việt Nam; đánh bật lực lượng vũ trang giải phóng ra khỏi cơ sở nông thôn và thành thị; tiêu diệt hạ tầng cơ sở của cách mạng; xây dựng hệ thống đồn bốt liên hoàn đế ngăn ngừa "Việt cộng" đột nhập. Đây là biện pháp chiến lược được xem là chủ yếu và về thực chất, cũng là mục tiêu của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh mà Mỹ thực hiện ở miền Nam Việt Nam. Ngoài ba biện pháp trên, đế quốc Mỹ còn tập trung lực lượng không quân, pháo binh, biệt kích đánh phá ác liệt các tuyến hành lang của ta, nhất là khu giới tuyến quân sự tạm thời và hệ thống đường vận tải chiến lược Trường Sơn, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, cô lập cách mạng miền Nam. Đế quốc Mỹ dự định thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh theo kế hoạch ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Tăng cường đánh phá làm cho lực lượng cách mạng miền Nam suy yếu nghiêm trọng. Trên cơ sơ đó, từng bước chuyến giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho quân đội Việt Nam Cộng hoà (quân Ngụy) đồng thời với việc rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân đội Việt Nam Cộng hoà. Tăng cường sức mạnh toàn diện cho quân đội Việt Nam Cộng hoà, đảm bảo cho đội quân này đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang giải phóng trên chiến trường Nam Việt Nam và Đông Dương. Giai đoạn 3: Hoàn tất những mục tiêu của Việt Nam hoá chiến tranh mà Níchxơn đã tuyên bố ở Guam. Củng cố kết quả đạt được. Miền Nam Việt Nam trở thành một "quốc gia tự do" dưới sự lãnh đạo của Mỹ, ngăn chặn có hiệu quả chủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á. Trong ba giai đoạn trên, giai đoạn 1 được xem là giai đoạn quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Giai đoạn này được dự định thực hiện trong thời gian từ đầu 1969 đến giữa năm 1972, chia làm ba bước. Bước một, bắt đầu từ 1969 đến giữa năm 1970. Mỹ sẽ bình định được một số vùng đông dân cư quan trọng, xoá bỏ toàn bộ cơ sở cách mạng trong vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, thanh lọc dân cư. Rút một số đơn vị chiến đấu Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam. Khống chế và đẩy lùi lực lượng vũ trang giải phóng ra xa các vùng nông thôn và đô thị, hạn chế đến mức tối đa những hoạt động quân sự của cách mạng. Bước hai từ tháng 7 năm 1970 (tên tháng 5 năm 1971, bình định hết các vùng đông dân quan trọng ở Nam Việt Nam, làm cho lực lượng vũ trang giải phóng phải phân tán nhỏ, không thể hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên. Hoàn thành kế hoạch hiện đại hoá quân đội Việt Nam Cộng hoà; rút phần lớn quân Mỹ về nước. Bước ba từ tháng 7 nàm 1971 đến tháng 6 năm 1972, cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam. Lực lượng vũ trang giải phóng không còn hoạt động ở các vùng căn cứ trên biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Quân đội Việt Nam Cộng hoà đủ sức đương đầu với khối chủ lực miền Bắc Việt Nam. Rút đại bộ phận quân chiến đấu Mỹ về nước. Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, đế quốc Mỹ đề ra năm biện pháp cụ thể: 1. Xây dựng quân đội Việt Nam Cộng hoà thành một lực lượng mạnh, hiện đại, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng và đủ sức làm nòng cốt cho các đội quân tay sai Mỹ trên bán đảo Đông Dương. 2. Củng cố chính quyền các cấp của Việt Nam Cộng hoà, ổn định an ninh và gia tăng nền kinh tế miền Nam Việt Nam. 3. Tập trung sức hoàn thành chương trình bình định, bảo đảm an ninh lãnh thổ ở mức cao nhất, phản kích ra ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam. 4. Tập hợp liên minh chống cộng khu vực do quân đội và chính quyền Sài Gòn làm nòng cốt. 5. Chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho cách mạng miền Nam, xúc tiến hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập, đẩy lùi cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam. Như thế, với việc đề ra và thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, đế quốc Mỹ càng lộ rõ bản chất xâm lược, bản chất chống cộng triệt để, thâm độc và nham hiểm, toan "thay đổi màu da xác chết" bằng việc dùng người Việt Nam bắn giết những người yêu nước Việt Nam, nhưng lại "giấu mặt trá hình" để đánh lừa nhân dân thế giới. Thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, đế quốc Mỹ còn nhằm khai thác triệt để nhân tài, vật lực của Nam Việt Nam phục vụ cho chiến tranh xâm lược, giảm bớt được gánh nặng cho Mỹ. Thực chất, Việt Nam hoá là sự kết hợp ba loại chiến tranh của Mỹ. Chiến tranh giành dân; chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh huỷ diệt do người Việt Nam tiến hành dưới sự nuôi dưỡng, chỉ huy của Mỹ, hòng làm cho lực lượng quân sự, chính trị của cách mạng Việt Nam ở miền Nam bị suy yếu, bị tiêu diệt. Như vậy, Việt Nam hoá không phải để chấm dứt chiến tranh, mà là tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược bằng chiến lược mới, thủ đoạn mới rất tàn bạo và thâm độc trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao của đế quốc Mỹ. Nói cách khác, với chiến lược mới này. Mỹ không hề từ bỏ các mục tiêu thực dân mới ở Việt Nam, mà kiên trì thực hiện nó trong điều kiện buộc phải rút dần quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, giảm dần chi phí chiến tranh mà theo dự tính của Mỹ sẽ chỉ còn ở mức thấp nhất, khoảng 5 tỉ đôla/năm thay vì 30 tỉ/năm trong chiến tranh cục bộ. Với mức chi phí này, theo tính toán của chính quyền Níchxơn, ngân sách chính quyền liên bang có thể chịu được, nhân dân Mỹ có thể chấp nhận và quên đi lời hứa của Níchxơn khi tranh cử Tổng thống là "sẽ chấm dứt chiến tranh Việt Nam trong sáu tháng sau ngày lên cầm quyền", ổn định được tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ. Kế hoạch chiến lược mới để thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn rất thâm độc, xảo quyệt, vì một mặt nó nhằm tăng cường sức mạnh quân sự, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; mặt khác, nó lôi kéo các nước phương Tây "chia sẻ trách nhiệm" bằng việc đóng góp tiền của, xương máu càng nhiều cho Mỹ củng cố vị thế bá quyền lãnh đạo thế giới. Thâm độc hơn, là với chủ trương "bắc nửa nhịp cầu", hoà hoãn Đông - Tây", "kết bạn" với từng nước, đế quốc Mỹ lợi dụng sự bất hoà giữa Liên Xô với Trung Quốc, tìm cách chia rẽ, lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa khác, tạo nên "thế hoà hoãn" giữa các nước lớn, phục vụ cho âm mưu cô lập được Việt Nam, giảm bớt sự ủng hộ của phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc để Mỹ thực hiện thắng lợi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:26:05 am Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn là một kế hoạch đồ sộ, hoàn chỉnh, biểu hiện tư tưởng chủ quan đánh giá mình quá cao, nhưng lại chứa đựng những mâu thuẫn mà đế quốc Mỹ không thể nào khắc phục được. Đó là, mâu thuẫn giữa yêu cầu giảm sự tham chiến của Mỹ với tham vọng tăng cường sức mạnh quân sự để ép nhân dân ta phải nhân nhượng theo điều kiện của Mỹ; mâu thuẫn giữa kế hoạch rút quân Mỹ, quân đồng minh của Mỹ khỏi Việt Nam với yêu cầu quân đội và chính quyền Sài Gòn vốn đã suy yếu phải mạnh lên đủ sức thay thế quân Mỹ tiến hành chiến tranh. Trong quá trình Việt Nam hoá chiến tranh, các mâu thuẫn trên sẽ càng phát triển theo chiều hướng không có lợi cho Mỹ và Sài Gòn. Do đó, nhân dân Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ khả năng khoét sâu mâu thuẫn đó, tạo thếm cho mình sức mạnh, đánh thắng chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn. Sau này, trong Hồi ký của mình, Kitsinhgơ cố vấn của Tổng thống Mỹ Níchxơn kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, thừa nhận rằng: "Rút quân Mỹ, vấn đề không phải là giành thắng lợi với quân số ngày càng giảm bớt, trong khi với quân số đầy đủ nhất mà cũng chẳng giành được thắng lợi. Chỉ còn việc làm cho Tổng thống Thiệu chấp nhận quyết định của Mỹ1 (Henry Kissinger: Hồi ký Những năm ở Nhà trắng, Thư viện Trung ương Quân đội sao lục) về cuộc hoà đàm Paris.
Về chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã vạch trần âm mưu thâm độc của Mỹ trong tuyên bố ngày 6 tháng 11 nàm 1969 như sau: Cái gọi là "sự thay đổi chính sách" trên chiến trường và bàn Hội nghị mà ông Níchxơn ra sức đề cao, chỉ có nghĩa là tăng cường chiến tranh, bám lấy miền Nam Việt Nam, không muốn Hội nghị Pari đi đến một giải pháp đúng đắn về vấn đề Việt Nam. Ai cũng thấy rõ Tổng thống Níchxơn không muốn chấm dứt chiến tranh mà Việt Nam hoá chiến tranh, tức là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam vì quyền lợi ích kỷ của bọn hiếu chiến Mỹ. Để củng cố Ngụy quân, Ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam nhằm thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ sẽ rút quân một cách nhỏ giọt và không chịu định thời hạn rút hết quân Mỹ, tức là kéo dài chiến tranh Việt Nam một cách vô hạn định. Mỹ tuyên bố chỉ rút bộ binh chiến đấu, nghĩa là rút một phần quân Mỹ, phần còn lại sẽ chiếm đóng lâu dài miền Nam Việt Nam. Rõ ràng, Chính phủ ta coi chiến lược Việt Nam hoá là âm mưu kéo dài và tăng cường chiến tranh bằng lực lượng tay sai Mỹ ở miền Nam, chiếm đóng lâu dài Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ. Ngày 7 tháng 11 năm 1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng ra tuyên bố vạch trần âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh: Việt Nam hoá chiến tranh của Tổng thống Mỹ Níchxơn thực chất là chính sách thâm độc dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam để kéo dài chiến tranh xâm lược và thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Trò rút quân nhỏ giọt, cái gọi là chương trình rút hết quân chiến đấu Mỹ của Tổng thống Níchxơn là những thủ đoạn nhằm xoa dịu dư luận Mỹ, che giấu âm mưu duy trì lâu dài một số lớn quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tranh thủ thời gian tăng cường Ngụy quân, củng cố Ngụy quyền, dùng bọn này để tiếp tục mưu đồ xâm lược và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Để chống lại yêu cầu cấp bách và chính đáng của hàng triệu nhân dân Mỹ đang đòi Chính phủ Mỹ phải nhanh chóng rút hết quân Mỹ về nước, Tổng thống Mỹ đưa ra những lý do xằng bậy về hậu quả ở Việt Nam sau khi Mỹ rút quân. Sự thật là hơn nửa triệu quân xâm lược Mỹ hằng ngày gây chết chóc và tai họa cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chà đạp thô bạo các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, uy hiếp nghiêm trọng hoà bình, an ninh ở Đông Nam Á. Mỹ chấm dứt xâm lược và rút hết quân Mỹ về nước thì tức khắc mọi tai hoạ và tàn phá ở miền Nam Việt Nam sẽ được chấm dứt. Tổng thống Níchxơn đã công khai phơi bày ý đồ kéo dài chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, duy trì vai trò sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á và trên thế giới. Chính sách chiến tranh của Tổng thống Mỹ Níchxơn là trở ngại duy nhất cho việc tiến tới một giải pháp hoà bình đúng đắn ở Việt Nam, là nguyên nhân của tình hình bế tắc của Hội nghị Pari về Việt Nam. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam kiên quyêt vạch trần và cực lực lên án chính sách xâm lược ngoan cố của chính quyền Níchxơn. Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh thể hiện bản chất ngoan cố và hiếu chiến của đế quốc Mỹ, bởi vì trong thế thua, phía Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược, trong thế bị động, buộc phải chuyển hướng chiến lược, nhưng lại cố kéo dài chiến tranh xâm lược bằng cách tăng thêm gánh nặng cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, nghĩa là dùng người Việt đánh người Việt dưới sự trợ giúp, chỉ huy của Mỹ. Đó là một kế hoạch toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế của Mỹ, trong đó chúng tập trung vực quân Ngụy Sài Gòn mạnh lên đủ sức thay thế quân Mỹ rút đi và đẩy mạnh chương trình bình định. Thời kỳ đầu, khi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh được triển khai, địch cũng có những chỗ mạnh tạm thời về quân số đông, vũ khí và phương tiện chiến tranh dồi dào, hiện đại, sức cơ động cao. Nhưng những chỗ mạnh đó không thể nào khắc phục được những chỗ yếu cơ bản của quân đội Việt Nam Cộng hoà trong chiến lược mới này của Mỹ. Chỉ xét về khả năng thay thế quân đội Mỹ đảm nhận gánh nặng chiến tranh của quân đội Sài Gòn, có thể thấy rất rõ ràng rằng, trong những năm chiến tranh cục bộ đó là một đội quân thua trận, luôn luôn dựa vào quân Mỹ để tồn tại, thì giờ đây trong chiến tranh Việt Nam hoá dù đội quân đó có số lượng đông, được trang bị hiện đại, với sự yểm trợ tối đa về hậu cần, không quân, hải quân, pháo binh của Mỹ nhưng tinh thần chiến đấu sa sút, nó không thế làm nên chiến thắng mà Níchxơn mong muốn được. Nói cách khác, trong 15 năm kể từ khi Mỹ nhảy vào gạt Pháp để độc chiếm miền Nam cho đến năm 1969, Mỹ đã ra sức nuôi dưỡng, xây dựng quân đội Sài Gòn, nhưng đội quân này không đứng vững được trước đòn tiến công của Quân giải phóng, thì nay quân Mỹ thua phải rút dần về nước, chính sách Việt Nam hoá của Níchxơn không còn cách nào để biến một đội quân chiến bại thành một đội quân chiến thắng được. Mặc dù vậy, Níchxơn vẫn hy vọng về một thắng lợi quân sự để làm áp lực ép ta trên bàn hội nghị. Tại Hội nghị Pari, Mỹ luôn lẩn tránh việc tìm một giải pháp chính trị đúng đắn để chấm dứt chiến tranh, mà luôn đòi "phải có đi có lại", "hai bên đều rút quân". Chính Níchxơn đã thú nhận rằng Việt Nam hoá là một kế hoạch nhằm biến cuộc chiến tranh của Mỹ thành cuộc chiến tranh lâu dài của người Việt Nam với nhau do Mỹ điều khiển. Bân cơ - Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn nói, mục tiêu của Việt Nam hoá là "thay đổi màu da xác chết", là làm giảm thương vong của lính Mỹ bằng mọi giá... chứ không phải là kế hoạch chấm dứt chiến tranh, đem lại hoà bình cho Việt Nam thật sự. Leđơ - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thú nhận, âm mưu cơ bản của Mỹ trong việc thực hiện chiến lược Việt Nam hoá là nhằm đưa đến một thắng lợi quân sự cho Nam Việt Nam và không loại trừ khả năng Mỹ lại có cuộc leo thang khác nếu chương trình Việt Nam hoá và cuộc nói chuyện ở Pari tan vỡ. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Giêng, 2022, 07:27:58 am Trong khi đó, những nhà hoạt động chính trị, những trí thức chân chính cũng như đông đảo nhân dân tiến bộ Mỹ và thế giới lên tiếng phê phán, phản đối chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của chính quyền Níchxơn. Thượng nghị sĩ Mỹ Mắc Cách nói: "Việt Nam hoá chuyển cố gắng chiến tranh cho quân đội Nam Việt Nam, thực chất là đang tạo ra một đạo quân đánh thuê chống lại nhân dân nước họ, để xây dựng một chính phủ không đại diện cho ai" (Theo Ngôi sao buổi chiều, ngày 19 tháng 2 năm 1970). Trong khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Huyghết vạch rõ: "Việt Nam hoá sẽ không đưa chúng ta ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam mà sẽ kéo dài mãi sự tham gia của chúng ta (Mỹ) vào cuộc chiến tranh đó" (Theo AP, ngày 8 tháng 2 năm 1970).
Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn thực chất là chính sách nhằm kéo dài chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng "dùng người Việt đánh người Việt" do Mỹ chỉ huy. Đế quốc Mỹ có thể gây thêm cho nhân dân ta nhiêu đau thương, hy sinh và mất mát, nhưng không thể đảo ngược được chiều hướng của cuộc chiến tranh. Quân và dân ta ở miền Nam đang ở thế thắng, thế chủ động, càng đánh càng mạnh càng thắng to và cuối cùng nhất định sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn. Triển khai chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, trước tiên Mỹ điều chỉnh chủ trương phi Mỹ hoá của Giôn xơn theo hướng Việt Nam hoá chiến tranh. Vì phi Mỹ hoá là một kế hoạch quân sự nhằm giảm thương vong cho quân Mỹ bằng cách đẩy quân đội Sài Gòn ra phía trước đương đầu trực tiếp với Quân giải phóng, quân Mỹ đứng ở phía sau chi viện bằng pháo binh, nếu quân đội Sài Gòn bị đánh bại thì quân Mỹ mới nhảy vào tham chiến. Như vậy, phi Mỹ hoá có giảm được một phần thương vong cho quân đội Mỹ nhờ ở tuyến sau các cuộc hành quân so với trong chiến tranh cục bộ, nhưng không thể nào giảm được lực lượng Mỹ ra trận với ảnh hưởng ít nhất đên khả năng chiến đấu của binh lính để rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Còn Việt Nam hoá là một chủ trương toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao để tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ là chiếm miền Nam bằng chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", vừa bảo đảm cho Mỹ rút quân, vừa tăng cường quân đội Sài Gòn và làm suy yếu lực lượng kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đồng thời, với điều chỉnh phi Mỹ hoá, Mỹ bỏ chiến lược "tìm diệt" trong chiến tranh cục bộ thời Giôn xơn, gấp rút củng cố bộ máy lãnh đạo, chỉ huy của Mỹ ở miền Nam gồm Đại sứ quán; Bộ Tư lệnh Mỹ MACV, Phân cục Tình báo Trung ương Mỹ, hệ thống cố vấn quân sự và dân sự Mỹ trong chính quyền và quân đội Sài Gòn. Đồng thời, Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện biện pháp chiến lược phòng ngự có trọng điểm, bằng việc dồn lực lượng lại, hình thành những căn cứ, những cụm cứ điểm mạnh đê bảo vệ các thành phố lớn như Sài Gòn, Biên Hoà, Đà Nẵng, bảo vệ những địa bàn chiến lược quan trọng; kết hợp giữa phòng thủ tại chỗ mạnh với phòng thủ từ xa cơ động, linh hoạt; dùng pháo binh, xe tăng, không quân - kể cả máy bay ném bom chiến lược B52 phong toả vòng ngoài, ngăn chặn ta tiến công và yểm trợ cho quân Ngụy hành quân càn quét, hành quân bình định. Tăng cường quân đội Việt Nam Cộng hoà là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Bởi vậy, trong hai năm 1969-1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức đôn quân, bắt lính để tăng quân Ngụy hàng năm lên từ 50.000 ngươi đến 100.000 người cho đến khi đạt mức quân số 1.100.000 quân chính quy. Trong việc tăng cường quân Ngụy, Mỹ rất chú trọng hai quân chủng hải quân và không quân. Đến cuối năm 1969, mỗi quân chủng quân số tăng lên xấp xỉ 45.000 người. Mỹ khẩn trương gia tăng số lượng và nhịp độ đào tạo phi công, thuỷ thủ, nhân viên kỹ thuật, hoa tiêu cho không quân và hải quân tại các trường đào tạo ở Mỹ và trường không quân, hải quân ở Nha Trang. Các quân, binh chủng quân đội Việt Nam Cộng hoà (Ngụy) được Mỹ trang bị các loại vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Quân chủng không quân được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1500 máy bay trực thăng các loại. Tháng 3 năm 1970, quân đội Sài Gòn thành lập thêm một Sư đoàn không quân, cùng nhiều phi đoàn độc lập khác. Hải quân được trang bị 1600 tàu chiến các loại và tuần dương hạm DE. Mỹ chuyển giao cho quân chủ lực Ngụy 700.000 súng M16 - loại súng trường cực nhanh và hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ, 30.000 súng phóng lựu, 10.000 súng máy các loại. Về thiết giáp, Mỹ đưa sang Nan Việt Nam 200 xe tăng M41, M48, 1000 xe bọc thép, nâng tổng số xe tăng, thiết giáp của quân đội Sài Gòn lên 1897 chiếc. Quân đội Sài Gòn lập thêm 20 Tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105mm đến 175mm, đưa tổng số đại bác quân Ngụy lên 1300 khẩu và 10.000 súng cối các loại. Ngoài ra, quân đội Sài Gòn còn được Mỹ trang bị 20.000 máy thông tin, 24.000 xe vận tải để phục vụ cho tác chiến. Bên cạnh đội quân chính quy, chính quyền Sài Gòn bắt tất cả những người từ 13 tuổi đến 45 tuổi vào lực lượng bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự (địa phương quân và nghĩa quân). Lực lượng này đến năm 1970 có 268.000 bảo an, dân vệ, 90.000 cảnh sát được trang bị 100% súng; 1,5 triệu phòng vệ dân sự, một phần ba trong số đó được trang bị súng các bin. Trong chiến tranh cục bộ, quân chủ lực Sài Gòn có nhiệm vụ bảo vệ an ninh tại các nơi bình định, xây dựng nông thôn trong tỉnh. Ngoài các khu vực bình định, xây dựng nông thôn, nếu nơi nào có lực lượng cách mạng hoạt động, thì quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ chịu trách nhiệm an ninh. Do đó, tỉnh trưởng tiểu khu trưởng chỉ chịu trách nhiệm liên đới. Nay tiến hành Việt Nam hoá, quân Mỹ, quân các nước đồng minh của Mỹ lui về phía sau chuẩn bị rút về nước. Quân đội chính quy Sài Gòn thay thế quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ, là lực lượng cơ động chiến lược, làm nhiệm vụ "tìm diệt" và "quét giữ"; lực lượng địa phương quân và nghĩa quân được đôn lên đảm nhiệm yểm trợ bình định, bảo đảm an ninh cho nhiệm vụ xây dựng nông thôn trên từng vùng lãnh thổ. Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Tổng thống Mỹ công bố rút 25.000 quân Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam. Ngày 7 tháng 7 năm 1969, một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ rút khỏi Việt Nam đầu tiên. Ngày 16 tháng 9 năm 1969, Níchxơn công bố rút thêm 35.000 quân Mỹ đợt hai. Đồng thời với việc rút bớt quân Mỹ khỏi Việt Nam, ngày 30 tháng 9 năm 1969. Tổng thống Mỹ công bố lệnh rút 6000 quân Mỹ khỏi Thái Lan vào tháng 10 năm 1970. Tiếp tục quá trình không thể cưỡng lại đó, năm 1970, Mỹ rút 50.000; năm 1971, rút 250.000; đầu năm 1972, rút thêm 70.000 quân khỏi Việt Nam. Đến ngày 1 tháng 5 năm 1972, số quân Mỹ còn lại ở Nam Việt Nam là 69.000. Số này sẽ tiếp tục rút khỏi Nam Việt Nam cuối năm 1972 và sau Hiệp định Paris được ký kết. Trong khi quân Mỹ rút nhỏ giọt, thì quân đội Việt Nam Cộng hoà tăng rất nhanh về số lượng. Đến cuối năm 1970, đội quân này đã đạt hơn 700.000 tên, gần đúng kế hoạch mà Mỹ trù định. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:24:01 am Cùng với việc lần lượt rút quân Mỹ, Bộ Tư lệnh Mỹ MACV, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn thống nhất tái phối trí lực lượng chủ lực Ngụy thay thế quân Mỹ ở những địa bàn chiến lược quan trọng để thực hiện chiến lược phòng thủ trọng điểm, kết hợp phòng thủ tại chỗ mạnh với phòng thủ từ xa linh hoạt. Ở Vùng chiến thuật I, Sư đoàn 1 Ngụy thay Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ số 3; Vùng chiến thuật II, Trung đoàn 47 thuộc Sư đoàn 22 Ngụy lên Tây Nguyên thay cho Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ rút về An Khê. Trung đoàn bộ binh 47 sẽ cùng với Sư đoàn 23 Ngụy trấn giữ Tây Nguyên, ở Vùng chiến thuật III, Sư đoàn 5 Ngụy tiếp nhận căn cứ Lai Khê thay cho Sư đoàn bộ binh số 1 (Anh cả đỏ); Sư đoàn dù Ngụy thay thế dần vị trí Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở Tây Ninh và Sư đoàn bộ binh 25 Ngụy thay thế vị trí Sư đoàn 25 Mỹ (Tia chớp nhiệt đới) ở Đồng Dù; ở Vùng chiến thuật IV, Sư đoàn bộ binh 7 quân Sài Gòn thay thế vị trí của Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ... Ngoài ra, lực lượng chủ lực quân đội Sài Gòn còn lại được bố trí phòng thủ dọc biên giới và giới tuyến quân sự tạm thời, vùng ven Sài Gòn - Gia Định, nội đô các thành phố, thị xã thay cho quân Mỹ và chư hầu.
Thời kỳ Níchxơn thay Giôn xơn làm Tổng thống nước Mỹ, là thời kỳ phát triển các loại vũ khí công nghệ cao. Chính thời kỳ này ở Mỹ xuất hiện "thế hệ vũ khí thứ ba". Các nhà quân sự Mỹ thường nói đến một "cuộc chiến tranh kỹ thuật", "cuộc chiến tranh điện tử", "chiến tranh tự động hoá", "chiến tranh tăng cường tư bản", v.v... Cho nên, chính quyền Níchxơn trong khi ra sức củng cố, tăng cường quân đội Sài Gòn, đã đồng thời tăng ngân sách chiến tranh, tận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật đã đạt được, thiết bị một chiến trường điện tử tự động hoá ở Nam Việt Nam. Chiến trường này gồm phần tử âm thanh nhạy để xác định mục tiêu, các máy tính đê thu thập tin tức, các màn hình ti vi khép kín để kiểm soát hoả lực máy bay lên thẳng, những máy tia hồng ngoại để phát hiện đối phương di chuyển ban đêm, hệ thống giám sát đối phương bằng bụi phản xạ và cả những người máy được kiểm soát bằng rađiô, có thể tự vũ trang và tự nổ bằng tín hiệu của máy tính, máy dò địa chấn để phát hiện tiếng động trong lòng đất v.v.. Ước tính thiết bị một chiến trường điện tử còn đang thời kỳ xây dựng, thí nghiệm, nhưng việc nó được Mỹ triển khai thực hiện ở Việt Nam đã gây cho ta nhiều khó khăn. Đối với chính quyền, quân đội Sài Gòn thì đây là "lá bùa hộ mệnh" nâng đỡ tinh thần đang suy sụp của họ, là "liều thuốc" góp phần làm cho quân Ngụy đứng vững trong thời gian Mỹ rút quân. Đi đối với tăng cường và hiện đại hoá quân đội Việt Nam Cộng hoà (Ngụy), việc củng cố chính quyền Nam Việt Nam để làm chỗ dựa cho Mỹ tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, là mối quan tâm hàng đầu của Níchxơn. Vì thế, Mỹ ra sức củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tạo cho nó vỏ bọc "hợp pháp" "hợp hiến" để lừa bịp dư luận Mỹ chẳng những giữ nguyên cơ cấu của "nền Đệ nhị cộng hoà" do Thiệu đứng đầu, mà còn ủng hộ Thiệu ép Thượng viện Sài Gòn thông qua luật Bảo đảm an ninh, uỷ quyền đặc biệt cho Tổng thống "toàn quyền hành động". Rút kinh nghiệm việc phân định quyền lãnh đạo hành chính và quyền chỉ huy quân sự trước đây do hai ngươi đảm nhiệm đã hạn chế phần nào tác dụng, nay thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ chủ trương cần phải tập trung quyền hành vào một người để tăng tính thống nhất, hiệu lực và sức mạnh của bộ máy chiến tranh. Mỹ và chính quyền Sài Gòn sắp xếp tổ chức lại bộ máy lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương, tăng cường quyền lực cho cấp tỉnh, tiểu khu và quân, chi khu, cấp đại diện Trung ương tại các miền: miền Trung, Tây Nguyên, phụ cận Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long có toàn quyền về chính trị và quân sự. Trước đây, cấp quận có quận trưởng chịu trách nhiệm về hành chính, chi khu trưởng chịu trách nhiệm về quân sự; cấp tỉnh trưởng chịu trách nhiệm về hành chính, tiểu khu trưởng chịu trách nhiệm về quân sự. Sự phân chia quyền hạn này lên đến cấp Quân khu. Nay chính quyền Sài Gòn tập trung trách nhiệm hành chính, chính trị, quân sự ở mỗi cấp vào một người. Theo đó, quận trưởng kiêm chi khu trưởng, Tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng, Tư lệnh Quân đoàn, Quân khu kiêm đại biểu Chính phủ... Mỹ coi sự kết hợp này rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách Việt Nam hoá. Dựa vào quyền hành đặc biệt đó, lại được Mỹ hỗ trợ, Thiệu trắng trợn ban hành luật cấm biểu tình, bãi công, bãi chợ, tuyên bố sẽ bỏ tù hoặc bắn chết những ai đi lại trong giờ giới nghiêm, bắt giam và tịch thu những chủ bút và máy in báo nào xâm phạm đến "An ninh Quốc gia(!)", "nói xấu chế độ", "đưa tin thất thiệt" v.v... Nguyễn Văn Thiệu còn cho phép bắt, thủ tiêu hoặc bắn giết những người chúng tình nghi có quan hệ với "cộng sản", đàn áp phong trào đấu tranh chống Mỹ của thanh niên, sinh viên, học sinh, những nhà tu hành và nhân dân đô thị. Mỹ và chính quyền Sài Gòn chỉ thị cho Phòng 5 quân Mỹ và Phòng 5 quân Sài Gòn1 (Phòng kế hoạch - Bộ Tổng Tham mưu) lập kế hoạch hỗn hợp mục tiêu chiến lược của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà (quân Ngụy) dài hạn. Mục tiêu đề ra trong kế hoạch này là, xây dựng Nam Việt Nam thành một quốc gia độc lập, tạo lập một nền hoà bình cho Nam Việt Nam dù có hay không có sự thoả hiệp của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Trong kế hoạch này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn chủ trương tăng cường sức mạnh về chính trị, kinh tế, quân sự cho Nam Việt Nam để thu hẹp dần những hoạt động của lực lượng vũ trang giải phóng và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, tiến tới làm cho lực lượng cách mạng không còn khả năng hoạt động và do vậy, an ninh của Nam Việt Nam sẽ được bảo đảm như một "quốc gia tự do" trong Khối các nước thân Mỹ chống cộng, về kinh tế, sẽ phát triển kinh tế miền Nam đến chỗ thịnh vượng để nhân dân Nam Việt Nam có mức sống cao ngang với mức sống của nhân dân các nước tiên tiến. Đây thực sự là một kế hoạch lừa bịp, che giấu âm mưu chiếm miền Nam Việt Nam của Mỹ bằng chính sách Việt Nam hoá chiến tranh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:25:30 am Ngày 26 tháng 3 năm 1970, Thiệu ban hành Luật người cày có ruộng để thâu tóm ruộng đất vào tay giai cấp địa chủ, tư sản thân Mỹ và tăng cấp ruộng đất cho những gia đình có người phục vụ trong chính quyền, quân đội Sài Gòn nhằm lôi kéo một bộ phận nông dân vào hàng ngũ của chúng, tạo ra cơ sở xã hội làm chỗ dựa cho Mỹ tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh. Với luật người cày có ruộng, tầng lớp nông dân chính sống trong các vùng nông thôn bị cướp không ruộng đất, vô kế sinh nhai, buộc phải vào các Ấp tân sinh, ấp đời mới do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Thiệu còn đặt thêm nhiều loại thuế môn bài mới đánh vào những người buôn bán, nghề kỹ nghệ, làm ruộng, đánh bắt cá và những nghề tự do khác, làm cho đời sống nhân dân miền Nam ở nông thôn và thành thị thêm điêu đứng, về vấn đề này, Việt Nam Thông tấn xã - cơ quan Thông tấn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 3 tháng 11 năm 1969 phát đi bài cải cách điền địa - một trò bịp bợm và phản động trong đó chỉ rõ: "Theo chỉ thị của Mỹ - Ngụv quyền Sài Gòn phải tìm mọi cách kể cả đàn áp khủng bố và lừa gạt mua chuộc để "tranh thủ trái tim, khối óc" của nông dân là lực lượng cách mạng đông đảo nhất ở miền Nam. Trò hề cải cách điền địa cũng như tung tiền bạc và hàng viện trợ Mỹ vào nông thôn đều nằm trong âm mưu chung này của chúng.
Ở miền Nam hiện nay, ở vùng giải phóng hay trong vùng còn tạm bị kiểm soát, hầu hết ruộng đất, từ ruộng đất của địa chủ đến ruộng đất Pháp kiều bán lại cho Diệm - Nhu từ năm 1958 đều do cách mạng chia cấp và do nông dân làm chủ cấy cày, làm ăn từ ngày đồng khởi đến nay. Thực tế đã xảy ra và đang xảy ra trong vùng chúng còn tạm kiểm soát hoặc vùng chúng lấn chiếm, là bọn Ngụy quyền ấp xã và một số địa chủ lưu vong cướp giật ruộng đất cách mạng đã cấp cho nông dân từ trước, ruộng đất của gia đình cán bộ, chiến sĩ ta, đem chia cho bọn tề Ngụy và tay chân của chúng, ở các huyện Đức Hoà, Bến Lức, Thủ Thừa (Long An) chúng lấy đất nông dân được cấp trong kháng chiến trước để cấp cho Ngụy binh. Ở xã Nhị Bình (tỉnh Long An), chúng lấy đất của cách mạng cấp cho nông dân để cấp cho gia đình Ngụy quân rồi cấp bằng khoán để chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất cho số này. Ở huyện Gò Dầu (Tây Ninh), chúng lấy ruộng đất của nông dân di tản cư bán cho kẻ khác, ở tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa, chúng còn lấy công điền nông dân đang cày cấy đem bán đấu giá hoặc cấp cho gia đình Ngụy quân... Trò hề cải cách điền địa của Thiệu - Kỳ không những là trò bịp đối với nông dân, mà thực chất là một âm mưu cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của nông dân, của gia đình cán bộ, chiến sĩ ta còn trong vùng chúng kiểm soát để cấp cho bọn tay sai của chúng nhằm tạo một chỗ dựa về chính trị phản động ở nông thôn, chống lại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp1 (Theo Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, t.5, tr.408, 409). Ở các địa phương, tỉnh trưởng được toàn quyền trách nhiệm về an ninh lãnh thổ. Từ tỉnh đến quận, xã, ấp, chính quyền mỗi cấp có toàn quyền hành động "bảo đảm an ninh" trong phạm vi lãnh thổ mình cai quản. Do vậy, bọn chúng tha hồ lộng hành, sách nhiễu nhân dân, tự do bắt bớ đánh đập, giam cầm, tra tấn dã man những người dân lương thiện bị chúng liệt vào loại tình nghi có quan hệ với "cộng sản". Nguyễn Văn Thiệu còn ban hành các sắc luật quy định án tử hình đối với những người chống lại các chính sách về kinh tế, chính trị, quân sự của Mỹ và Sài Gòn. Bộ máy cai trị của chính quyền Sài Gòn thời kỳ Việt Nam hoá chiến tranh độc tài phát xít không thua kém thời Diệm - Nhu. Song song với tăng cường và hiện đại hoá quân đội Việt Nam Cộng hoà, củng cố chính quyền Sài Gòn làm chỗ dựa cho Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ - Ngụy đẩy mạnh chương trình bình định, dùng tổ chức Phượng Hoàng, Thiên Nga điều tra, phát hiện cán bộ và cơ sở cách mạng, tiêu diệt những người yêu nước. Địch coi đây là biện pháp quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh giành dân, giành quyền làm chủ của chúng. Chương trình bình định được Níchxơn và Nguyễn Văn Thiệu xem như xương sống của Việt Nam hoá chiến tranh. Đây là một bộ phận quan trọng gắn liền với toàn bộ hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của cơ quan chỉ đạo Trung ương. Cơ quan này là sự hợp nhất các cơ quan chỉ đạo bình định của Bộ Tư lệnh MACV, Sứ quán Mỹ, Phân cục Tình báo Trung ương CIA Mỹ ở Sài Gòn do tướng A.Bơram. Tư lệnh quân viễn chính Mỹ ở Nam Việt Nam điều hành. Theo Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì bình định dồn vào các ấp tân sinh, ấp đời mới là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chính quyền Sài Gòn và sự thành bại của Việt Nam hoá chiến tranh. Do tầm Quan trọng đó, địch chia kế hoạch bình định ra làm nhiều giai đoạn để thực hiện: Từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969, tiến hành bình định cấp tốc. Từ tháng 7 năm 1969 đến tháng 6 năm 1970, bình định phát triển nông thôn. Từ tháng 7 năm 1970 đến tháng 2 năm 1971, bình định đặc biệt. Từ tháng 3-1971 đến tháng 3-1972, chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn... Tiến hành bình định cấp tốc và bình định phát triển nông thôn, Níchxơn và Thiệu nhằm ba mục đích: khôi phục và mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn ở nông thôn Nam Việt Nam đang bị thu hẹp; tăng cường đánh phá phong trào cách mạng ở cơ sở để triệt tận gốc "cộng sản", tranh thủ trái tim và khối óc của nhân dân bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị đầu độc, lôi kéo quần chúng; vơ vét nhân tài, vật lực của nhân dân miền Nam để giảm bớt chi phí cho Mỹ kéo dài chiến tranh. Chúng coi đây là "trận cuối cùng"; "ai thắng ai trong trận này sẽ chiến thắng trong cuộc chiến tranh". Đây là mũi phản công chủ yếu của Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đánh vào cách mạng miền Nam. Địch tập trung mọi lực lượng, mọi sức mạnh quân sự và chính trị, quyết thực hiện cho được chỉ tiêu kế hoạch bình định năm 1969 là kiểm soát 90% dân số miền Nam tương đối an toàn; tiêu diệt 33.000 cán bộ cơ sở của "Việt cộng"; thiết lập chính quyền Ngụy ở tất cả các xã, ấp, tuyển cho được hai triệu người vào địa phương quân và nghĩa quân. Do đó, chương trình bình định của Mỹ - Ngụy thời kỳ này nổi lên những đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, lực lượng tập trung vào nhiệm vụ bình định đông, địch huy động từ 60% đến 70% quân chủ lực phối hợp với 800 đội, đoàn bình định gồm 40.000 tên, cùng hàng trăm đơn vị cảnh sát, bảo an, địa phương quân, nghĩa quân đánh phá cơ sở cách mạng liên tục ở hầu hết các vùng nông thôn chúng kiểm soát. Chúng dùng không quân, hải quân, pháo binh bắn phá, ném bom suốt ngày đêm vô cùng ác liệt, san phẳng nhiều làng mạc, ruộng vườn, gây nên cảnh tàn phá hoang tàn, làm cho dân chúng hoảng loạn, kết hợp với thanh lọc dân cư, bắt, tra tấn dã man những người dân lương thiện, ép buộc dân phải vào trong các ấp tân sinh, ấp đời mới mà thực chất là những "trại giam" trá hình. Hơn nửa triệu quân chủ lực của chính quyền Sài Gòn được huy động vào bình định, nên Mỹ gọi đây là "cuộc tổng tiến công" nhằm "tiêu diệt du kích", "nhổ tận gổc cộng sản, đánh bật Việt cộng ra khỏi xóm làng", "lập hệ thống an ninh nghiêm ngặt 100%". Khẩu hiệu của địch đề ra trong cuộc "tổng tiến công" này là "bành trướng kiểm soát toàn bộ lãnh thổ quốc gia", "diệt trừ tất cả cán bộ hạ tầng cơ sở của cộng sản". Như vậy, cuộc đấu tranh chống phá địch bình định của nhân dân ta diễn ra trên quy mô rộng lớn ở hầu hết vùng nông thôn đông dân và với tính chất rất ác liệt. Đây là một trong những thử thách quyết tâm, sức mạnh, ý chí của quân và dân ta ở miền Nam trong những năm đầu địch tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh. Thứ hai, cuộc chiến tranh giành dân rộng lớn ở miền Nam mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai giờ đây không chỉ gồm những cuộc bao vây, càn quét, bắt bớ, đốt nhà, dồn dân như thời kỳ chiến tranh đặc biệt, mà còn là việc biến những vùng nông thôn trù phú, đông dân thành những "vùng bắn phá tự do", buộc những người nông dân phải rời bỏ xóm làng, ruộng vườn, quê cha đất tổ vào các ấp tân sinh, ấp đời mới, vào các khu dinh điền sống dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bọn ác ôn. Âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn là tàn phá các vùng đông dân, uy hiếp dữ đội tinh thần nhân dân để tạo tên một cuộc di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị hoặc buộc người nông dân miền Nam phải vào các ấp đời mới, ấp tân sinh để tách dân chúng khỏi cơ sở của cách mạng theo phương châm cổ điển "tát nước, bắt cá", về điểm này, một học giả người Mỹ Nôam Chômxky (Noam Chomsky) nhận xét: "Điều rõ ràng là chừng nào một đời sống xã hội có tổ chức còn có thể duy trì được ở Nam Việt Nam thì chừng đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng còn là một lực lượng mạnh, còn chiếm ưu thế", cho nên "tàn sát nhân dân ở nông thôn Việt Nam và buộc họ phải ly tán không phải là một sản phẩm ngẫu nhiên của chiến tranh, nó thuộc vào nội dung chiến lược của Mỹ"1 (Dẫn theo Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, Sđd, t.5, tr.406, 407). Thứ ba, địch lập ra các ấp tân sinh, ấp đời mới lớn thay cho các làng xã bị bom đạn Mỹ huỷ diệt, rồi dồn dân vào đó. Của cải, nhà cửa của người nông dân miền Nam bị cướp, bị đốt; vườn tược, mồ mả ông bà bị bom đào xới và máy xúc san ủi. Nhân dân bị dồn vào ấp chiến lược, khu dồn dân với hai bàn tay trắng, sống bằng gạo cứu tế từng ngày một của Mỹ. Đây thực sự là một loại trại giam khổng lồ mà ở đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dễ dàng bóc lột sức lao động của người dân để phục vụ chính sách Việt Nam hoá và cũng dễ dàng bắt lính đôn quân. Vừa càn quét, đánh phá triệt hạ xóm làng, dồn dân vào các ấp tân sinh, ấp đời mới, Ngụy vừa triển khai chương trình cấp phân bón, thuốc trừ sâu, giống lúa mới cho nông dân sản xuất, xây trạm y tế, trường học; mở mang đường sá, chợ búa ở nông thôn, cố tạo ra sự đối lập về cuộc sống giữa vùng chúng kiểm soát với vùng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, hòng thu hút đồng bào ở vùng giải phóng chạy sang vùng địch. Nhưng, trên thực tế, cuộc sống của đồng bào ta trong các khu dồn dân, các ấp tân sinh vô cùng khốn khổ, mất hết quyền tự do, phải sông nhờ của bố thí mà Mỹ - Ngụy cấp cho từng ngày một. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:26:23 am Mặc dù đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom và mọi hành động quân sự khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, song chúng vẫn thường xuyên dùng máy bay trinh sát do thám và khiêu khích miền Bắc Việt Nam, đồng thời tăng cường ném bom, bắn phá vùng giới tuyến quân sự tạm thời, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh. Trong hai năm 1969, 1970, máy bay Mỹ đã ném xuống chiến trường Đông Dương năm triệu tấn bom, trong số đó chủ yếu là ở Việt Nam, gấp đôi số lượng bom các nước đồng minh đã thả xuống châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ tính riêng năm tháng đầu của năm 1970, máy bay Mỹ đã ném xuống các vùng giải phóng miền Nam và đường mòn Hồ Chí Minh hơn 600.000 tấn bom, bằng xấp xỉ số bom đã thả trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Tiếp đó, tổng số bom Mỹ thả xuống Việt Nam trung bình 1.400.000 tấn mỗi năm. Những năm 1970, 1971, bầu trời Việt Nam không lúc nào ngớt tiếng gầm rú của các loại máy bay trinh sát, máy bay phản lực tiêm kích, máy bay trực thăng và máy bay B52 của Mỹ quần lượn, do thám, chỉ điểm, ném bom bắn phá và tung biệt kích, thám báo xuống phá hoại các vùng căn cứ, vùng giải phóng. Máy bay B52 thường xuyên ném bom rải thảm các vùng Mỹ cho là "tự do bắn phá", các khu vực chúng tình nghi lực lượng ta tập kết, đường chiến lược Trường Sơn. Chúng ném xuống miền Nam và đường Trường Sơn những loại bom phát quang bom đào, bom mảnh sát thương, bom na pan và các loại "bom thông minh" được điều khiển bằng tia la de và tín hiệu vô tuyến truyền hình. Cũng vào những năm này, phía Mỹ còn tiến hành cuộc chiến tranh hoá học hết sức tàn bạo, dã man. Cuộc chiến này thực ra được xúc tiến từ thời Kennơđi nấp dưới màn che lừa bịp dư luận, là chúng chỉ dùng "chất diệt cỏ". Không quân Mỹ đã trút xuống các cánh đồng lúa làng mạc và rừng núi Nam Việt Nam, nhất là núi rừng Trường Sơn, hàng triệu thùng chất độc hoá học "diệt cỏ". Thực chất "chất diệt cỏ" là chất độc vô cùng nguy hiểm, tác dụng của nó đối với người và gia súc không có thứ phản độc tố nào có thể chữa trị được. Trong thời kỳ tiến hành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Níchxơn đã thả xuống miền Nam Việt Nam 72 triệu lít chất độc hoá học, trong đó có 62% chất độc da cam, làm hơn 2 triệu km2 rừng và biết bao làng mạc, ruộng vườn bị phá huỷ. Ở một mức tàn ác hơn, chất độc hoá học của Mỹ đã gây tai hại cho sản xuất và đời sống nhân dân miền Nam, phá huỷ môi trường sinh thái và để lại những di chứng nặng nề cho con người là nạn đói, bệnh tật, các quái thai trong nhiều năm sau không thể khắc phục được. Đó là một cuộc chiến tranh diệt chủng, huỷ hoại môi trường sống, một tội ác ghê rợn vô nhân đạo nhất mà đã tiến hành ở Việt Nam. Bộ Quốc phòng và Cục Tình báo Trung ương Mỹ còn mở các chiến dịch "chiến tranh khí tượng học" gây mưa nhân tạo trên vùng rừng núi Trường Sơn, làm cho nước sông, suối dâng cao, chảy xiết, đồi núi sụt lở, đường trơn lầy lội quanh năm, ngăn cản ta vận chuyển vật chất, vũ khí vào chiến trường, hạn chế quân ta di chuyển... Mỹ cũng đã dùng các chất hoá học đặc biệt rắc vào mây, tạo ra những trận mưa a-xít làm hư hỏng vũ khí và phương tiện chiến đấu của ta. Theo báo cáo ngày 20 tháng 5 năm 1974 của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lên Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ về chương trình hoạt động chiến tranh khí tượng gây mưa nhân tạo trên đường mòn Hồ Chí Minh thì trong bảy năm chi phí cho chương trình này là 26,6 triệu đô la.
Dồn sức mở các cuộc chiến tranh không quân, chiến tranh hoá học, chiến tranh khí tượng cùng với việc thiết lập chiến trường điện tử ở Nam Việt Nam, phía Mỹ hy vọng rằng, bằng cách đó, sẽ nâng đỡ tinh thần, gây niềm tin cho quân lực Việt Nam Cộng hoà, hỗ trợ được phần nào cho chúng tiến hành các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định. Bằng việc xây dựng chiến trường điện tử tự động hoá, tiến hành cuộc chiến tranh vũ khí công nghệ cao theo hướng cuộc "chiến tranh tăng cường tư bản", đế quốc Mỹ gây cho ta không ít khó khăn trong năm đầu chống "Việt Nam hoá chiến tranh", nhất là khó khăn về tiếp tế hậu cần. Song, những vũ khí ấy, chiến trường điện tử tự động ấy không làm suy giảm được ý chí, quyết tâm của nhân dân và lực lượng vũ trang ta giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ Quốc. Bởi vì Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: "Cuộc chiến tranh này không phải chỉ là sự đối chọi giữa những thiết bị tối tân và ít tối tân mà còn là sự lạ đối chọi giữa những khối óc. Mỹ đã huy động những trí tuệ thông thái nhất, những nhân vật có năng lực nhất trong quân đội, trong bộ máy hành chính và các trường đại học. Họ hẳn có những bộ óc rất cừ, nhưng những bộ óc đó không được sử dụng tốt bởi vì bị đưa vào một cuộc chiến tranh mà người ta thấy trước là họ sẽ thua. Họ đã dựng lên một bộ máy hùng mạnh, nhưng bộ máy ấy thế nào cũng thất bại. Và, ở Mỹ có những khối óc khác đang tố cáo cuộc chiến tranh này, tố cáo những mục tiêu và phương pháp tiến hành cuộc chiến tranh này. Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh này với tất cả những phương tiện khoa học mà họ có thể có trong tay. Nhưng với phương tiện mà chúng tôi có, chúng tôi tiến hành cuộc chiến tranh này một cách khoa học, ngay cả khi trang bị của chúng tôi chỉ ở mức trung bình. Cố nhiên chúng tôi không có ý hạn chế chúng tôi trong việc sử dụng những vũ khí hiện đại mà chúng tôi có thể có được, nhưng không phải chỉ cần có trong tay những phương tiện tiên tiến về kỹ thuật là đủ để cho chiến tranh được tiến hành một cách khoa học. Nhận thức của chúng tôi về chiến tranh là khoa học, bởi vì chúng tôi chiến đấu trên mảnh đất của chúng tôi, vì những mục tiêu của chính chúng tôi và những phương pháp của riêng chúng tôi. Vì lẽ đó mà mặc dù có cả một bộ máy khoa học, kẻ địch đã bị thua chạy. Chính chúng tôi là những người nắm quyền chủ động"1 (Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Cờlốt Guyliêng (Claude Julien) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 18 tháng 5 năm 1972). Song song với việc thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, duy trì các hoạt động do thám, khiêu khích miền Bắc, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thi hành chính sách Khơme hoá, Lào hoá chiến tranh. Âm mưu của đế quốc Mỹ là xoá bỏ "đất thánh của Việt cộng" ở Campuchia, đưa nước này đi vào quỹ đạo của Mỹ; thu hẹp vùng giải phóng của cách mạng Lào, uy hiếp sườn phía Tây miền Bắc xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, cô lập cách mạng miền Nam. Mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào, đế quốc Mỹ đã làm cho ta bị động lúng túng trong năm đầu Việt Nam hoá chiến tranh, nhưng đây lại cũng chính là một sai lầm lớn về chiến lược của Mỹ. Sai lầm ấy xuất phát từ tính tự mãn quá cao, tham vọng quá lớn, qua sông rộng mà không chịu ngồi đò, đặt mục tiêu mà không tính khả năng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:28:25 am Do sai lầm về chiến lược, lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn bị phân tán trên chiến trường ba nước Đông Dương, nên cho dù quân chủ lực Sài Gòn có được tăng cường và hiện đại hoá, thì kế hoạch bình định của địch trong hai năm đầu Việt Nam hoá trên thực tế đã sụp đổ. Đến năm 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dù đã nỗ lực tối đa, huy động tất cả lực lượng và phương tiện để thực hiện cho được kế hoạch bình định đã đề ra, nhưng cho đến thời điểm đó, chúng cũng chỉ mới lập được 72 ấp tân sinh, ấp đời mới.
Từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1972, kết hợp với hành động phiêu lưu quân sự mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành bình định đặc biệt và chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển nông thôn, nhằm tiếp tục thực hiện những mục tiêu mà chương trình bình định cấp tốc trước đây chưa làm được, đồng thời chuẩn bị trước một bước cho chính quyền Sài Gòn đủ sức chống đỡ các đòn tiến công của cách mạng miền Nam, khi Mỹ buộc phải chấp nhận một giải pháp chính trị cho vấn đề miền Nam Việt Nam. Địch đề ra mục tiêu cho chương trình bình định này phải đạt; một là, xây dựng, phát triển lực lượng địa phương quân (bảo an), nghĩa quân (dân vệ) mạnh, có khả năng hoạt động trên địa bàn rộng, bảo đảm an ninh lãnh thổ và có thể thay chân quân chủ lực ở một số vùng ngoài phạm vi đảm trách của quân địa phương; hai là, mở rộng lực lượng cảnh sát, tổ chức cho mỗi xã có từ 6 đến 12 cảnh sát vũ trang để phát hiện và diệt trừ cán bộ và cơ sở cách mạng ở nông thôn; ba là, bắt nhân dân trong vùng chúng kiểm soát vào lực lượng phòng vệ dân sự, phát súng cho lực lượng này chống lại cách mạng dưới sự giám sát, kìm kẹp của cảnh sát; bốn là, dùng vật chất mua chuộc, lung lạc cán bộ cách mạng; năm là, ra sức tuyên truyền đầu độc nhân dân "tinh thần chống cộng" "quốc gia dân tộc”; sáu là; xoa dịu lòng căm phẫn trong thương phế binh Ngụy bằng cách hứa "cải thiện đời sống" cho họ; bảy là, củng cố bộ máy hành chính xã ấp, tận thu các sắc thuế địa phương để tăng thêm cho phí chiến tranh đỡ bớt gánh nặng cho Mỹ; tám là, tuyên truyền "chuẩn bị kế hoạch phát triển kinh tế" để che giấu "bức tranh kinh tế đen tối" ở vùng Mỹ, Sài Gòn tạm thời kiểm soát để lừa bịp nhân dân. Điểm khác giữa bình định đặc biệt và chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển nông thôn với bình định cấp tốc là, trước đây địch sử dụng hơn 70% quân chủ lực vào bình định nhưng nay, do việc quân chủ lực phải thay thế quân Mỹ, nên bình định chủ yếu do lực lượng địa phương quân (bảo an), nghĩa quân (dân vệ) đảm nhiệm. Quân địa phương không đủ sức chống đỡ trước những đòn tiến công, phản công của lực lượng vũ trang giải phóng và quần chúng cách mạng, nên kế hoạch bình định đặc biệt dự định thực hiện trong bốn tháng, đến tháng 10 năm 1970 kết thúc nhưng trên thực tế, Mỹ phải kéo dài thêm bốn tháng nữa bằng kế hoạch bình định bổ túc và kế hoạch này kết thúc vào tháng 2 năm 1971. Trong khi đó, bị thất bại về quân sự, quân chủ lực ngụy Nam Việt Nam ngày càng sa sút ý chí chiến đấu và điều đó đã tác động xấu đến tinh thần của quân địa phương, làm cho kế hoạch bình định đặc biệt, bình định bổ túc thất bại. Tám mục tiêu mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt ra cho chương trình bình định năm 1970, 1971, không có một mục tiêu nào đạt được. Trước tình hình bình định ngày càng tụt dốc, Việt Nam hoá chiến tranh không tiến triển mà hơn thế, đang đứng trước nguy cơ có thể phá sản, trong một cố gắng nhằm cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ quyết định chi hơn một tỷ đôla cho chương trình "bình định và phát triển mới" mang tên "chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn" do Bộ Quốc phòng Mỹ và Cục Tình báo Trung ương Mỹ đảm nhiệm chính. Chương trình này phát triển, củng cố phòng vệ dân sự; lập một "hệ thống thông tin đại chúng" mà thực chất là tổ chức một mạng lưới tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý; lùng diệt cán bộ kháng chiến và quần chúng cách mạng ở cơ sở để bảo đảm an toàn cho lực lượng tề điệp ác ôn, địa phương quân và cán bộ bình định. Để thực hiện được các mục đích bình định trên đây, Mỹ và chính quyền Sài Gòn kết hợp quân sự với chính trị, kinh tế và văn hoá với những thủ đoạn tàn bạo, nham hiểm đánh vào lực lượng cách mạng và quần chúng nhân dân nông thôn. Về quân sự, địch sử dụng lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và cảnh sát làm lực lượng chủ yếu, trực tiếp tiến hành bình định. Quân chủ lực Sài Gòn kết hợp với một phần quân địa phương mở liên tiếp các cuộc hành quân quy mô từ tiểu đoàn đến sư đoàn càn quét đánh phá vòng ngoài hỗ trợ cho các đoàn, đội bình định dồn dân vào các ấp tân sinh, đời mới. Hệ thống đồn bốt dày đặc cũng được thiết lập, củng cố và tăng cường để khống chế nhân dân. Về chính trị, Mỹ - Ngụy ra sức tuyên truyền cho tinh thần "quốc gia, dân tộc", tô vẽ cho "nền Đệ nhị Cộng hoà" của Thiệu, xuyên tạc mục tiêu, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, ráo riết tăng cường chiến tranh tâm lý, chiêu hàng, chiêu hồi, ép thanh niên vào các tổ chức phản động của chúng. Về kinh tế, địch dùng các phương tiện và kỹ thuật (kể cả chất độc) phá hoại mùa màng, triệt đường sống của nhân dân, đồng thời với "cải cách điền địa" tịch thu ruộng đất của nông dân lương thiện đem chia cho những người trong quân đội, chính quyền Sài Gòn chống lại Tổ quốc, dân tộc, làm xáo cộng nông thôn. Mặt khác, Mỹ tìm cách mị dân bằng cách đưa máy móc, phương tiện sản xuất về các ấp tân sinh, cho nông dân trong ấp vay tiền, giống cây trồng để sản xuất. Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng và Cục Tình báo Trung ương Mỹ, gần như toàn bộ các hoạt động quân sự, chính trị của Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn giờ đây đều tập trung vào công tác dồn dân, lập ấp chiến lược. Ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng, địch dựng hàng vạn đồn bốt, tháp canh, tăng thêm binh lính trực tiếp làm nhiệm vụ kìm kẹp, khống chế dân chúng, đạt đến tỷ lệ cứ bảy người dân (kể cả già trẻ, lớn nhỏ) có một lính ngụy. Mặc dù kẻ địch đã nỗ lực tối đa thực thi chính sách "Việt Nam hoá", huy động toàn lực vào nhiệm vụ bình định để giành dân, giành quyền làm chủ với ta, nhưng kết quả trên các lĩnh vực đạt được chẳng là bao. Về quân sự, quân số lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng hoà được tăng lên về số lượng đông, được trang bị hiện đại và được huấn luyện kỹ để lãnh vai trò thay thế quân Mỹ, nhưng tinh thần của đội quân này đang ngày càng sa sút, ý chí chiến đấu thấp kém, chẳng những không thay thế được quân Mỹ trong nhiệm vụ đương đầu với Quân giải phóng miền Nam, mà còn bị thiệt hại nặng trên các chiến trường, không hỗ trợ được cho quân địa phương trong nhiệm vụ bình định như tính toán ban đầu của Mỹ. Những chương trình phát triển kinh tế trong khuôn khổ Việt Nam hoá chỉ đạt những kết quả rất hạn chế vì những trận ném bom, bắn pháo bừa bãi vào xóm làng, ruộng đồng, vì những cuộc hành quân càn quét, vây ráp, dồn dân của quân Ngụy diễn ra liên miên. Trong những điều kiện đó, để lấp vào chỗ trống thiếu hụt của nền kinh tế Nam Việt Nam, hàng hoá Mỹ nhập vào miền Nam ngày càng nhiều, biến miền Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng Mỹ. Mặt khác, Hoa Kỳ nhận lãnh trách nhiệm cung ứng hậu cần cho quân đội Sài Gòn. Kết quả là kinh tế Nam Việt Nam vốn phụ thuộc nặng nề vào viện trợ của Mỹ nay càng phụ thuộc thêm và điều đó khiến cho vốn là một vựa lúa lớn ở vùng Đông Nam Á đã không còn tự cung, tự cấp được nữa. Một nền kinh tế lệ thuộc Mỹ cộng với một chế độ phản nước, hại dân, khiến cho chính quyền Sài Gòn - một thứ chính quyền tầm gửi, mặc dù tìm mọi cách tuyên truyền cho cái "tinh thần quốc gia, dân tộc" vẫn không thể nào lường gạt được, tranh thủ được "trái tim, khối óc" của nhân dân miền Nam. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:29:13 am Từ "phi Mỹ hoá" đến "Việt Nam hoá"
Tình thế khốn quẫn mọi mặt của Mỹ. Đối với bọn xâm lược Mỹ, hậu quả nghiêm trọng của những thất bại trong cuộc chiến tranh "Mỹ hoá" cao độ này không phải chỉ là tạm thời, trước mắt mà "sẽ còn kéo dài trong nhiều thế hệ". Mắc kẹt trong một cuộc chiến tranh dài ngày nhất, tốn kém nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, đế quốc Mỹ đang bị dồn vào một tình thế đầy dẫy khó khăn và mâu thuẫn về quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội ở Việt Nam, ở Mỹ và trên thế giới. Quân viễn chinh Mỹ ở chiến trường Việt Nam ngay từ đầu đã là một đội quân thua trận. Số lính Mỹ chết và bị thương ở chiến trường Việt Nam đã vượt xa số quân Mỹ chết và bị thương trong cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên. Quân Mỹ còn ở lại Việt Nam ngày nào thì số thương vong càng cao, tổn thất càng lớn. Việc chi phí 30 tỉ đô la một năm cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là quá tốn kém, vượt quá cái giới hạn mà nước Mỹ giàu có có thể chịu đựng được. Nước Mỹ sa vào cảnh lạm phát triền miên không chế ngự nổi. Cán cân thanh toán thiếu hụt, ngân sách mất cân đối ngày càng nặng, kho tàng dự trữ của Mỹ cạn dần, đồng đô la ngày càng nhẹ cân. Kinh tế Mỹ sau một thời gian ngắn "náo nhiệt" bề ngoài do chiến tranh mở rộng đang bị kẹp chặt giữa hai gọng kìm suy thoái và lạm phát. Đời sống chính trị và xã hội Mỹ bị đảo lộn. Người Mỹ phẫn nộ vì lương tâm của họ bị xúc phạm, cuộc sống của họ bị đe doạ, tình cảm của họ bị tổn thương. Bọn cầm quyền Mỹ không thể che giấu thực tế phũ phàng là Mỹ đã và đang bị thất bại ở Việt Nam, không thể làm ngơ trước sự công phẫn của nhân dân Mỹ - sự công phẫn quyết liệt đến mức lật đổ cả một Tổng thống. Thất bại nặng nề, tình thế khốn quẫn và sức ép mạnh mẽ của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới không cho phép bọn xâm lược tiếp tục "Mỹ hoá" cuộc chiến tranh như trước. Cùng với việc xét lại từ đầu chí cuối chính sách, chiến lược của Mỹ ở Việt Nam và những bước lùi liên tiếp có ý nghĩa chiến lược, một danh từ mới, một khái niệm mới trong từ điển quân sự - chính trị của đế quốc Mỹ xuất hiện: "phi Mỹ hoá" chiến tranh. Đó là một chính sách lớn, một chủ trương của Giônxơn được nặn ra một cách bất đắc dĩ trong bối cảnh Mỹ đã thua rõ ràng trong chiến lược chiến tranh cục bộ. Theo cách nói của Mỹ, "phi Mỹ hoá" có nghĩa là phải giảm bớt các gánh nặng chiến tranh về người và đô la của Mỹ. Nội dung cơ bản của chủ trương "phi Mỹ hoá" đã được Giônxơn nêu lên trong diễn văn ngày 31 tháng 3 năm 1968: "Chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ trang bị lại cho quân đội Nam Việt Nam (Ngụy) để đối phó với hoả lực ngày càng tăng của kẻ địch. Làm được điều đó quân đội Việt Nam (Ngụy) có thể đảm đương được ngày càng nhiều cuộc chiến tranh chống cộng sản". Ngay sau khi nhận chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Cơ-líp-phớt đã nói rõ: "Mỹ có ý định để cho Nam Việt Nam (Ngụy) đảm nhiệm ngày càng nhiều gánh nặng chiến tranh ở Việt Nam". "Mỹ sẽ trao dần trách nhiệm sang tay lực lượng Nam Việt Nam (Ngụy) theo từng giai đoạn" (Tuần tin tức, 6 tháng 8 năm 1968). Trong những ngày cuối cùng ở Nhà Trắng, Tổng thổng "vịt què" Giônxơn cũng không đề ra được điều gì cụ thể hơn, đầy đủ hơn ngoài việc tung ra các khái niệm "phi Mỹ hoá". Tuy nhiên, điều đó cũng đã đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách của Mỹ ở Việt Nam, một sự điều chỉnh về chiến lược, thay đổi biện pháp chiến lược, nhằm những mục tiêu hạn chế. Níchxơn, lợi dụng lòng căm phẫn của nhân dân Mỹ đối với chính sách xâm lược ngoan cố của Giônxơn, đã giành phần thắng trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Trong dịp đi vận động bầu cử ở Niu Hamsơ, Níchxơn đã cam kết nếu được làm Tổng thống, "ban lãnh đạo mới sẽ chấm dứt chiến tranh (xâm lược Việt Nam) và mang lại hoà bình ở Thái Bình Dương”. Níchxơn quả quyết rằng ông ta "sẽ thực hiện hoặc bảo đảm việc giải quyết cuộc xung đột Việt Nam trong thời gian ngắn nhất sau khi nhận chức" (trả lời phỏng vấn báo Tin Mỹ và thế giới). Thế nhưng, điều mà Níchxơn quan tâm thật sự vẫn là những mục tiêu Mỹ đã đeo đuổi và chưa thực hiện được trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngay trong những ngày chờ đợi chính thức bước vào Nhà Trắng, ở Phơloriđa, Níchxơn đã phải vùi đầu vào đống hồ sơ về Việt Nam, nghiên cứu tình hình, thăm dò ý kiến, tham khảo những lời khuyên của các cố vấn, cân nhắc và phân tích các khả năng... để định ra cái mà y gọi là "chiến lược kết hợp" về Việt Nam. Trong số những kiến nghị nêu ra, Níchxơn đã đặc biệt chú ý mấy phương án của Kítxinhgơ và Thomxơn. Trong hàng ngũ các cố vấn của Níchxơn, Henri Kítxinhgơ - với tư cách là cố vấn của Tổng thống về các vấn đề An ninh Quốc gia - là một cố vấn thân cận nhất, có kinh nghiệm nhất. Kít-xinh-gơ được coi là "tác giả của công thức cơ bản của Níchxơn để giải quyết vấn đề Việt Nam". Nội dung cơ bản của kiến nghị của Kítxinhgơ về vấn đề Việt Nam đã được nêu lên trong bài báo "Thương lượng về Việt Nam" đăng trong Tạp chí Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969. Kítxinhgơ tán thành quan điểm của Đin Ratxcơ, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cam kết của Mỹ ở Việt Nam; sự cam kết đó, ngoài những lý do khác, còn nhằm cho Oasinhtơn "giành được niềm tin" đối với các nước trên khắp thế giới. Y nhấn mạnh "vấn đề hiện nay là niềm tin ở những lòi hứa hẹn của Mỹ" và "Việc kết thúc chiến tranh một cách danh dự là cần thiết cho hoà bình trên thế giới". Phê phán sai lầm của Giônxơn và những thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Kítxinhgơ vạch ra rằng: về quân sự, do không nắm được tính chất của chiến tranh du kích, Mỹ đã áp dụng chiến lược quân sự cổ điển, không đúng nơi, đúng lúc, chỉ nhằm chiếm đất, không nhằm kiểm soát dân; hoạt động quân sự không nhằm tạo ra (cho Mỹ - Ngụy) một lợi thế chính trị, lập ra được một cơ cấu chính trị mạnh. Về chính trị, cuộc tiến công Tết Mậu Thân (của quân và dân miền Nam) "đã trì hoãn có lẽ mãi mãi việc củng cố quyền lực (của Ngụy quyền Sài Gòn) ở nông thôn". Thất bại cơ bản của Mỹ, theo Kítxinhgơ là: "Chiến lược của Mỹ không thể nào đạt được mục tiêu của nó trong khoảng thời gian và với mức quân số mà người Mỹ có thể chấp nhận được về chính trị". Y đã đề ra phương án giải quyết vấn đề Việt Nam như sau: Mỹ phải điều chỉnh lại sự cam kết và xác định rõ mục tiêu, phải có một chiến lược quân sự, chính trị phù hợp với đặc điểm tình hình trong giai đoạn tới, "Không để thua về quân sự, không để cho bất cứ một lực lượng hay sức ép quân sự nào (của đối phương) làm thay đổi chế độ miền Nam". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:30:13 am Để thực hiện được mục tiêu đó, Mỹ "cần áp dụng một chiến lược giảm bớt tổn thất (của quân Mỹ) và tập trung vào việc bảo vệ dân chúng (kiểm soát nhân dân); tiếp tục tăng cường quân đội Nam Việt Nam (ngụy) để có thể rút dần một số quân Mỹ, và cần khuyến khích Sài Gòn (ngụy) mở rộng cơ sở mạnh hơn trong cuộc đấu tranh chính trị với cộng sản".
Từ những kiến nghị của Kítxinhgơ, người ta có thể thấy rõ: tuy đã bị thất bại, Mỹ vẫn cố bám miền Nam Việt Nam. Tình thế khó khăn về mọi mặt không cho phép Níchxơn tiếp tục cuộc chiến tranh "Mỹ hoá" như cũ, nhưng Mỹ vẫn chỉ rút quân có mức độ, duy trì sự có mặt của quân viễn chinh Mỹ lâu dài để vực Ngụy quân và Ngụy quyền dậy. Viên cố vấn số một của Níchxơn đã khẳng định tính chất "đúng đắn" và "khả năng thành công" của phương án này, vì theo ông ta: - Tư tưởng chiến lược đã thay đổi: từ chiếm đất, tiêu hao đối phương nay tập trung vào vấn đề kiểm soát dân, xây dựng và củng cố cơ sở chính trị (Ngụy quyền), phù hợp với "tính chất của chiến tranh du kích". - Mỹ thực hiện "phi Mỹ hoá" chiến tranh, giảm số quân và thương vong của lính Mỹ. Đó là phương án có thể tiếp tục và kéo dài chiến tranh xâm lược mà nhân dân Mỹ không phản đối, vừa tạm thời giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chính của Mỹ, vừa phù hợp với yêu cầu không làm xáo trộn nền kinh tế Mỹ do chiến tranh Việt Nam chấm dứt đột ngột. Đối phương đánh kéo dài sẽ vấp phải những khó khăn về vật chất và kinh tế, sẽ không đủ ý chí theo đuổi chiến tranh, không giữ được đường lối độc lập tự chủ. Sau Kítxinhgơ là Rôbớt Thomxơn, một người Anh chính cống, được Níchxơn hết lời ca tụng và được sử dụng làm một quân sự quan trọng. Thomxơn nguyên là một sĩ quan không quân trong quân đội Hoàng gia Anh, đã từng khét tiếng xảo quyệt trong việc chống phá phong trào cách mạng Malaixia, đã từng khoác áo Trưởng đoàn viện trợ Anh ở Sài Gòn làm cố vấn cho Ngô Đình Diệm trong kế hoạch xây dựng "ấp chiến lược". Theo Níchxơn, Thomxơn là "một chuyên gia", một "người thông thạo" về chống chiến tranh du kích, đã có "ý kiến độc lập" và có "nhiều kiến nghị rất xây dựng". Giữa lúc Níchxơn sắp nhận chức Tổng thống, Thomxon đã viết một quyển sách nhan đề "Không ra khỏi Việt Nam", đưa ra một đề nghị hoàn chỉnh về đường lối, chủ trương đối với vấn đề Việt Nam. Như kẻ đang chết đuối vớ được cọc mục, Níchxơn đã khen lấy khen để và mời Thomxơn làm chuyên gia, cử sang miền Nam Việt Nam xem xét và đề đạt ý kiến. Cũng giống như Kítxinhgơ, Thomxơn lớn tiếng phê phán Giônxơn thất bại vì "không hiểu bản chất của cuộc chiến tranh ở Việt Nam", "không có mục tiêu rõ ràng, nhất quán", "không biết vận dụng sức mạnh một cách đúng đắn để thắng cuộc chiến tranh". Từ đó, Mỹ "không có một chiến lược thích hợp", "chịu ảnh hưởng nặng nề của các học thuyết đã lỗi thời của các nhà chiến lược thời cổ". "Chiến lược của Mỹ, xét về quân sự, thì không tiêu diệt nổi đối phương ở Nam Việt Nam"; xét về chính trị, thì "không phù hợp với những kết quả chính trị, vì nó không có liên quan đến mục đích giành chiến thắng". Thomxơn nhận xét, quân đội Mỹ "giống như một cái máy chiến đấu đáng sợ" nhưng "trống rỗng về chiến lược, chiến thuật". Còn quân Ngụy thì do cách tổ chức và qui mô quá lớn, đã "trở thành trở ngại đầu tiên và lớn nhất đối với mọi hình thức tiến bộ về quân sự hay chính trị", cơ cấu "quá cồng kềnh, khiến cho nó trở nên hoàn toàn bất lực trong các hoạt động chống du kích". Sau khi đánh giá thất bại, phê phán sai lầm, phân tích nguyên nhân, Thomxơn đã trình bàv một loạt những điều mà y gọi là "bản chất chiến tranh nhân dân" làm cơ sở lý luận cho kiến nghị về đường lối phương châm chiến lược và những biện pháp chiến lược để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Về mục tiêu, Thomxơn cho rằng, muốn thắng lợi, Mỹ phải có mục tiêu đúng đắn. Mục tiêu đó "phải mang tính chất chính trị", phải "nhằm đánh bại đối phương theo quan điểm của họ về chiến tranh", và "chỉ cần đánh bại mục đích của họ là đủ, không nhất thiết phải giành một thắng lợi về quân sự". Do đó, "mục tiêu của Mỹ là phải biến miền Nam thành một nước tự do, thống nhất và độc lập, chính trị ổn định và kinh tế phát triển với một giá mà nước Mỹ có thể chấp nhận được". Kiến nghị của Thomxơn về mục tiêu chiến lược thực chất vẫn là chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam thành một thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự để chống lại phe xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng ở Đông Nam Á. Muốn thực hiện mục tiêu đó, theo Thomxơn, phải loại trừ 4 khả năng: - "Giải quyết bằng thương lượng, để đạt được hoà bình trong danh dự, một khả năng không thể lựa chọn". - "Chính sách cứ như thế mà thêm nữa (tức là tiếp tục tăng quân Mỹ theo đuổi chiến lược chiến tranh cục bộ). Hay là leo thang cao hơn nữa cũng không còn là những khả năng có thể lựa chọn được. Vì tiếp tục những chiến lược cũ... rõ ràng sẽ đưa Mỹ đến những thất bại ngày càng thảm hại". - "Ném bom tại miền Bắc... cũng là việc khó làm...". Và "cũng không có gì chứng tỏ là ném bom ồ ạt miền Bắc theo kiểu cổ điển sẽ có tác dụng để giải quyết vấn đề miền Nam. Việc đó chỉ làm hại đến chiến lược lớn của Mỹ (cô lập Mỹ, làm tổn hại vị trí và thanh thế của Mỹ)". - "Rút lui cũng không phải là khả năng có thể nghĩ đến". "Rút lui sẽ là một thất bại không thể tha thứ được". Vậy Mỹ cần phải nên làm như thế nào? Thomxơn gợi ý: "Bây giờ hơn lúc nào hết, trong vòng 10 năm qua, một điều trọng yếu đối với nước Mỹ là giữ lời cam kết của mình và đứng sát cánh với Nam Việt Nam (ngụy)". "Để đạt được mục tiêu, sự lựa chọn duy nhất là một chiến lược lâu dài, ít tôn kém". Thomxơn giải thích: "Tác dụng của đường lối chiến lược này là giảm bớt tốc độ của chiến tranh và tiết kiệm sức lực". "Trong thời gian phải chăng từ một đến ba năm, có thể hạ chi phí xuống một nửa và dần dần tiếp tục giảm đi cho tới mức gần tương đương với mức tăng hàng năm của thu nhập liên bang", "Với việc giảm bớt các cuộc hành quân lùng diệt, với việc thúc quân đội đối phương phải xuất đầu lộ diện, chiến đấu tại nơi không phải do họ lựa chọn, thì mức thương vong (của quân Mỹ) sẽ giảm đi một cách có ý nghĩa". "Như thế toàn bộ chi phí của cuộc chiến tranh có thể hạ xuống tới mức mà đa số người Mỹ có thể chấp nhận được, không tiêu tốn quá mức sức người, tiền của và những tình cảm xúc động của nước Mỹ", "Đồng thời phải làm cho việc tiếp tục chiến tranh trở nên chính đáng. Chính vì lý do này, Mỹ phải duy trì các cuộc thương lượng", "Đáp số cho cuộc chiến đấu trong lúc đàm phán là chiến đấu cho một giải pháp danh dự và có thể chấp nhận được". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:31:13 am Xuất phát từ lập luận cuộc chiến tranh (xâm lược) của Mỹ ở Việt Nam, thực chất là "một cuộc chiến tranh chống chiến tranh nổi dậy", Thomxơn coi việc "chống nổi loạn" là vấn đề cơ bản nhất, và nhấn mạnh, một trong năm nguyên tắc cơ bản của hoạt động chống nổi dậy mà Thomxơn gọi là "quy luật không được thay đổi" là "phải ưu tiên đánh bại hoạt động lật đổ chính trị". Vấn đề này được phân tích như sau:
"Về cơ bản - theo Thomxơn - cuộc chiến tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam) là một cuộc nổi dậy", "Trong cuộc chiến tranh nổi dậy, vũ khí hàng đầu là tổ chức hạ tầng cơ sở trong dân chúng. Vũ khí thứ hai là quân du kích. Quân du kích này tuỳ thuộc vào hạ tầng cơ sở về mặt nhu cầu, đồng thời họ yểm trợ cho sự phát triển của hạ tầng cơ sở", " Trong chiến tranh nổi dậy, tổ chức hạ tầng vừa là nền móng, vừa là mũi dùi". "Sở dĩ Việt cộng có đủ sức chiến đấu được là nhờ có tổ chức hạ tầng cơ sở chính trị xây dựng từ nhiều năm nay". "Tổ chức bí mật ở hạ tầng không bị phá vỡ thì du kích và quân chủ lực không thể bị đánh bại". Do đó "chiến lược (của Mỹ) muốn thành công thì phải theo phương pháp gián tiếp", "Phải thọc sâu vào tổ chức chính trị bí mật, cơ sở của chiến tranh du kích, để tổ chức chính trị bí mật, cơ sở của chiến tranh du kích, để đạt được thắng lợi". Giônxơn thất bại vì chỉ nghĩ đến giành thắng lợi về quân sự mà coi nhẹ việc đánh phá cơ sở chính trị của cách mạng miền Nam. Do đó, cái lõi của vấn đề, điều cốt tử đối với Mỹ để giành thắng lợi là phải cố gắng tập trung lực lượng diệt các tổ chức cơ sở, đánh bật gốc rễ của cách mạng miền Nam trong nhân dân. Bí quyết của thắng lợi trong chiến lược lâu dài, ít tốn kém, theo Thomxơn là vấn đề "bình định". Phải từ bỏ "quan niệm sai lầm" "coi bình định là có tính chất phòng thủ", "chọn không đúng các vùng cần phải ưu tiên bình định". Thomxơn khuyên "Mỹ phải có một chiến lược thông minh có đầu có đuôi"; "cần phải quan niệm bình định là một chiến lược tiến công về chiến lược", "cần phải ưu tiên đánh vào vùng đông dân cư", "phá vỡ những tổ chức, cơ sở bí mật của Việt cộng". "Trước hết phải chú trọng chặt đứt đường dây liên lạc giữa các tổ chức chính trị cơ sở và các đơn vị du kích. Thứ đến là đánh bật tổ chức cơ sở và sau đó là tiến công các lực lượng du kích". Về lực lượng tiến hành "bình định", Thomxơn nhấn mạnh việc phải lấy các lực lượng tình báo, gián điệp "làm lực lượng xung kích, phải tăng cường cảnh sát và quân Ngụy, phải phân tán hoạt động trong những đơn vị nhỏ để hỗ trợ bình định". Phương án giành thắng lợi phù hợp với đường lối chiến lược đó, theo Thomxơn, gồm ba giai đoạn. - Giai đoạn một, đối phương "sẽ mở một đợt tiến công nữa". Và Mỹ "cần phải làm cho đợt tiến công mới của đối phương thất bại một cách rõ ràng". - Giai đoạn hai, "sau một, hai năm, đối phương phải hoạt động du kích ngắt quãng có tính cách phòng ngự, trong lúc các chương trình xây dựng (bình định) của Mỹ được xúc tiến với một tốc độ nhanh hơn, Mỹ có thể giảm bót chi phí và quân số". "Đây là lúc các cuộc thương lượng (theo điều kiện của Mỹ) có thể mở rộng". - Giai đoạn ba, "đối phương quay về tình trạng cũ (như thời kỳ 1954) với hy vọng xuất hiện một thời cơ khác trong tương lai". Về thời gian, "phải mất từ 3 đến 5 năm trước khi đối phương chịu từ bỏ ý đồ của họ (hoặc tan biến dần)", "Khả năng giành chiến thắng ở Việt Nam chắc chắn phải mất từ 10 đến 15 năm". Philip Gúthao, một nghị sĩ người Anh, nhận xét: "Luận điểm của Thomxơn phù hợp một cách lý tưởng với tâm trạng của chính quyền Níchxơn" (Thời báo chủ nhật, 30 tháng 3 năm 1969). Đó chính là cái lý do khiến Níchxơn đã không tiếc lời ca ngợi Thomxơn là "một chuyên gia Anh có thái độ khách quan, có kinh nghiệm nhiều, đã đánh giá một cách độc lập và không thiên vị cho tôi". Tháng 8 năm 1968, phát biểu về cách giải quyết vấn đề Việt Nam trong lúc vận động tuyển cử, Níchxơn nói: "Mỹ phải dựa nhiều hơn vào hoạt động của những đơn vị nhỏ và quân đội Nam Việt Nam để cho Mỹ rút quân. Mỹ sẽ tăng cường viện trợ kinh tế, trao nhiệm vụ chiến đấu nhiều hơn cho Nam Việt Nam, kêu gọi thành lập khối Liên minh khu vực Đông Nam Á để Mỹ giúp họ tiến hành chiến tranh, không làm thay họ". Bước vào Nhà Trắng, sau một thời gian dài thăm dò, nghiên cứu và tham khảo các phương án, Níchxơn đã chính thức công bố chính sách về vấn đề Việt Nam. Trong bài diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1968 và tiếp đó, trong bản "báo cáo về chính sách đối ngoại của Mỹ những năm 70", khái niệm "Việt Nam hoá" chiến tranh được chính thức ghi vào từ điển quân sự - chính trị của Mỹ, thay thế cho khái niệm "phi Mỹ hoá" của Giônxơn. Khái niệm này được đưa ra từ sau cuộc gặp gõ Níchxơn - Thiệu tại Mítuây hồi tháng 6 năm 1969, nhưng từ tháng 11 năm 1969, qua của miệng của Níchxơn, nó đã trở thành đường lối chính sách chủ yếu của Mỹ đối với vấn đề Việt Nam. Theo Níchxơn, "Việt Nam hoá" là một kế hoạch hoà bình, một kế hoạch chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, một "lối thoát danh dự cho Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam", một kế hoạch "mang lại hoà bình không chỉ ở Việt Nam mà còn cả ở Thái Bình Dương và trên thế giới"! Thế nhưng, âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ càng lộ rõ qua nội dung và biện pháp của cái gọi là chính sách "Việt Nam hoá" của chúng. Níchxơn nói rõ, chính sách đối với Việt Nam là "không rút lui vội vã", "không bỏ rơi người Nam Việt Nam" (ngụy quyền). Níchxơn giải thích, trong tình hình hiện tại, Mỹ "bỏ cuộc ở Việt Nam thì lợi bất cập hại", làm như vậy là "hại đến lòng tin" của "đồng minh" (bọn tay sai và các nước chư hầu), làm "chia rẽ nước Mỹ"... "Việt Nam hoá", theo Níchxơn, là "một con đường khác để giải quyết vấn đề Việt Nam trong khi vấn đề thương lượng không đưa lại một nền hoà bình công bằng" (theo điều kiện của Mỹ), "một kế hoạch sẽ đưa cuộc chiến tranh tới chỗ kết thúc bất chấp điều gì xảy ra trên mặt trận thương lượng". Níchxơn hợm hĩnh tuyên bố, hắn "cực lực chỉ trích cách thức tiến hành chiến tranh" của Giônxơn. Hắn phê phán chính sách của Chính phủ trước là không nhấn mạnh một cách thích đáng mục tiêu tăng cường cho bọn tay sai để chúng có thể tự vệ được khi Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam. Với kế hoạch "Việt Nam hoá", theo Níchxơn, Mỹ sẽ "tăng cường sức mạnh cho Nam Việt Nam (Ngụy) cho phép họ thay thế quân Mỹ theo một thời gian biểu có trình tự", và "tăng cường khả năng tự vệ cho Chính phủ Nam Việt Nam (Ngụy)". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:34:57 am Leđơ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ còn nói thêm: "Chính sách "Việt Nam hoá" của Mỷ, mở ra khả nảng rút quân Mỹ, giảm bớt thương vong, giải quyết cuộc chiến tranh mà Mỹ không bỏ những mục tiêu cơ bản".
"Việt Nam hoá" - theo định nghĩa của Leđơ là "chuyển dần cho người Việt Nam (Ngụy) trách nhiệm về tất cả các mặt của cuộc chiến tranh và trách nhiệm quản lý công việc của họ: có một chính phủ mạnh hơn, một nền kinh tế mạnh hơn, một lực lượng quân sự mạnh hơn, một lực lượng cảnh sát mạnh hơn để giữ gìn an ninh nội bộ UPl 26 tháng 9 năm 1969). "Việt Nam hoá" chiến tranh, không phải chỉ là "một kế hoạch" như Níchxơn thường rêu rao mà là một chiến lược mới, một đường lối tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam theo học thuyết Níchxơn. Dưới nhãn hiệu "Việt Nam hoá", ý đồ và mục tiêu chiến lược, âm mưu và biện pháp chiến lược, tư tưởng và cách sử dụng lực lượng chiến lược của Mỹ đã được điều chỉnh thích hợp với điều kiện và khả năng của Mỹ, với đặc điểm và tính chất của chiến tranh trong giai đoạn mới, giai đoạn Mỹ đã phải chuyển hướng chiến lược, chấp nhận những bước lùi có ý nghĩa chiến lược phải từ bỏ chính sách leo thang chiến tranh vô hạn độ. Đặc trưng nôi bật của chiến lược mở của Níchxơn là: Mỹ từ bỏ chủ trương đánh nhanh, giải quyết nhanh, thực hiện chủ trương tiến hành chiến tranh theo đường lối "lâu dài, ít tốn kém". Dư luận Mỹ rất nhạy cảm đã vạch trần thực chất tư tương chiến lược này của Níchxơn. "Về lý luận, chiến lược "Việt Nam hoá" của Níchxơn hình như là nhằm gỡ Mỹ ra khỏi Việt Nam mà không phải chịu một thất bại. Thực chất kế hoạch đó là nhằm biến cuộc chiến tranh này thành một cuộc xung đột lâu dài!" (Bưu điện Oa-sinh-tơn, 22 tháng 12 năm 1969). "Chiến lược của chúng ta (Mỹ) là để tranh thủ sự kiên nhẫn và chịu đựng của nhân dân Mỹ đối với sự chiếm đóng lâu dài vô hạn định (của Mỹ) ở Nam Việt Nam", (Tuần tin tức, 1 tháng 12 năm 1969). Níchxơn và bè lũ có trình bày vấn đề "Việt Nam hoá" như là một "kế hoạch", một việc làm có tính chất nhất thời, một bộ phận nhỏ trong toàn bộ chính sách của Mỹ đối với vấn đề Việt Nam, kỳ thực đó là một chiến lược nhằm thực hiện một ý đồ rõ rệt; đeo đuổi cuộc chiến tranh lâu dài, lộ rõ qua cái phương án chiến thắng 3 giai đoạn của Thomxơn cũng như qua bài phân tích của Écman Can. "Nó là một chiến lược nước đôi, vừa bình định nhân dân Nam Việt Nam, vừa bình định nhân dân Mỹ" (Thời báo Niu Yóoc, 1 tháng 1 năm 1970). Trong bài diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1969, Níchxơn nói: "Kế hoạch Việt Nam hoá nhằm rút tất cả quân chiến đấu Mỹ và thay thế bằng quân Nam Việt Nam đủ mạnh để bảo vệ nền tự do của họ". Như vậy, kế hoạch "Việt Nam hoá" của Níchxơn là kế hoạch tiếp tục cuộc chiến tranh với công thức mới về cách sử dụng hai lực lượng chiến lược Mỹ - Ngụy. Quân Mỹ từ vai trò là lực lượng chủ yếu, nay làm vai trò chỗ dựa quan trọng của "Việt Nam hoá”, quân Ngụy trở thành công cụ chủ yếu của "Việt Nam hoá". Điều khác nhau giữa cuộc chiến tranh "Mỹ hoá" cao so với cuộc chiến tranh "Việt Nam hóa" là như sau: - Trong chiến lược chiến tranh cục bộ, quân Mỹ đã từng giữ vai trò lực lượng nòng cốt, là công cụ chủ yếu để "tìm và diệt" thực hiện nhiệm vụ "đánh gãy xương sống của Việt cộng". Ngày nay, trong kế hoạch "Việt Nam hóa", nó vẫn là một chỗ dựa quan trọng với những nhiệm vụ cụ thể như: giữ một số vị trí chiến lược và căn cứ then chốt; giữ các vị trí xung yếu nhất trong hệ thống các vành đai phòng thủ; hỗ trợ và phối hợp chiến đấu bằng không quân, pháo binh, cơ giới, vũ khí cần thiết; trực tiếp dùng xung lực ứng cứu cho quân Ngụy; huấn luyện, kèm cặp và làm chỗ dựa tinh thần cho đội quân tay sai. Báo chí Mỹ tiết lộ, bọn xâm lược Mỹ đã có ý đồ để lại lầu dài ở miền Nam một bộ phận lực lượng quân Mỹ. Theo tờ Thời báo (Mỹ) ngày 21 tháng 1 năm 1970, thành phần quân Mỹ ở lại có thể bao gồm các loại: - Bộ binh 5 vạn tên (cao nhất là 10 vạn). - Lực lượng hỗ trợ 7 vạn tên (chỉ mới tính số quân hỗ trợ về không quân, hậu cần, chưa kể pháo binh và cơ giới). - Cố vấn 4 vạn tên - Cố vấn quân sự và dân sự làm nhiệm vụ bình định, 8.600 tên. - Lực lượng đặc biệt 3.500 tên. Quân Ngụy theo ý đồ của Mỹ, phải là lực lượng chủ yếu, là xương sống "Việt Nam hoá", có nhiệm vụ: thay thế dần quân Mỹ giữ một số vị trí và các tuyến phòng thủ, đặc biệt là đánh chiếm các vùng đông dân, thực hiện nhiệm vụ "bình định", kìm kẹp nhân dân, làm chỗ dựa cho bộ máy ngụy quyền. Bọn xâm lược Mỹ đã nhiều lần nhấn mạnh, một trong những mục tiêu quan trọng của chúng trong kế hoạch "Việt Nam hoá" là làm cho quân Ngụy "đủ mạnh" đề "đối phó được với mọi lực lượng của cộng sản, bất luật kết quả ở Hội nghị Pari ra sao". Bâncơ, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn nhưng bộc lộ đầy đủ nhất sự thâm độc và xảo quyệt của Oasinhtơn: "Việt Nam hoá có nghĩa là thay màu da của các xác chết trên chiến trường". Đối với Mỹ, vực quân Ngụy dậy, biến cả đội quân bại trận suy yếu và rã rời này thành một đội quân có thể "tự đứng vững" để đảm đương cái gánh nặng chủ yếu của chiến tranh trên mặt đất là một vấn đề then chốt, rất cấp bách và có tính chất quyết định: Từ quan niệm về phân công và sử dụng hai lực lượng chiến lược - quân Mỹ và quân Ngụy - trong chiến tranh "Việt Nam hoá", xuất hiện một công thức tiến hành chiến tranh mới: "Bộ binh Ngụy + hoả lực, không quân và hậu cần Mỹ". Đó là hai yếu tố cấu thành, không thể thiếu một, của chiến lược của Níchxơn, trong đó, yếu tố Mỹ vẫn giữ phần quan trọng có tính chất quyết định". Dù bộ binh Mỹ - theo lý thuyết sẽ không trực tiếp tham gia chiến đấu trên mặt đất, thì lực lượng quân Mỹ - theo ý đồ của Níchxơn - vẫn còn một bộ phận lớn tham gia chiến đấu dưới các hình thức khác nhau. Bộ máy chiến tranh (của Mỹ - Ngụy) ở miền Nam, tuy có giảm một bộ phận quân Mỹ, vẫn không thể phát động được nếu không có Mỹ chỉ huy, Mỹ vạch kế hoạch, Mỹ yểm trợ hoả lực và không quân, Mỹ tiếp tế vận chuyển bảo đảm hậu cần, Mỹ phối hợp chiến đấu và làm chỗ dựa. Quân Mỹ vẫn là những chiếc bánh xe chính làm chuyển động toàn bộ máy. Trước tình thế và sự chuyến biến trong so sánh lực lượng từ sau Tết Mậu Thân, Níchxơn không thể không chấp nhận chủ trương "quét và giữ", một chủ trương chiến lược phòng ngự của Giônxơn để lại, phản ánh sự thất bại của Mỹ - Ngụy trên chiến trường. Nhưng dưới con mắt của các cố vấn chiến lược của Níchxơn, nội dung và biện pháp của chủ trương đó mang tính chất phòng ngự thụ động hoàn toàn. Nó cần phải thích hợp với "sức mạnh" hiện có và ý đồ tạo thế mạnh của Mỹ. Từ đó, chiến lược "quét và giữ" được điều chỉnh. Abơram ráo riết thực hiện; thực chất của nó là phòng ngự kết hợp với phản kích bộ phận. Điều đó đã thể hiện rõ rệt qua một loạt các biện pháp chiến lược của chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:37:04 am Bọn cố vấn của Níchxơn nhận xét, Giônxơn thất bại vì không hiểu được vị trí của vấn đề "bình định"..., không hiểu rằng "cuộc chiến tranh của Việt cộng, do tính chất và mục đích của nó không phải là giành quyền kiểm soát đất đai mà là nắm lấy quyền kiểm soát dân chúng... Do đó, Mỹ đã tập trung 80% lực lượng ở những vùng có chưa đến 4% số dân...". Chúng phân tích, Mỹ thất bại vì "đã có những quan niệm sai lầm", "coi bình định là có tính chất phòng thủ", "đã chọn không đúng các vùng phải ưu tiên bình định" nên khi thì chọn mục tiêu quá hẹp ở quanh một số thành phố và vị trí, khi thì lại làm tràn lan ở nhiều tỉnh mà mục đích cơ bản vẫn chỉ là để giữ an toàn cho các căn cứ, vị trí chiến lược của Mỹ. Từ những kinh nghiệm thất bại của Giônxơn, bọn Níchxơn chủ thương đeo đuổi một chiến lược mà chúng cho là "thông minh" hơn, nhấn mạnh đến "tính chất tiến công về chiến lược" của nó. Chìa khóa của vấn đề "bình định" theo các cố vấn của Níchxơn là "phá vỡ những tổ chức cơ sở của Việt cộng" và "tiền đề của chương trình bình định" là "bảo vệ an ninh cho dân chúng".
Trong chiến lược "Việt Nam hoá", vấn đề "bình định" trở thành một vấn đề mấu chốt để chống lại chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam, một mũi phản công chiến lược chủ yếu để chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam. Tham vọng của Mỹ là với chủ trương "bình định", chúng có thể "lập được một nền an ninh tin cậy ở thôn xóm", phá vỡ các tổ chức chính trị cơ sở của cách mạng, cắt đứt mối liên lạc giữa nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng, tạo được chỗ đứng chân cho Ngụy quyền Sài Gòn, phá các bàn đạp tiến công của ta, thực hiện âm mưu vơ vét sức người sức của tại chỗ; thực hiện chính sách thâm độc "dùng người Việt đánh người Việt", lấy tiền của của người Việt Nam ném vào cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Trong những lời tuyên bố về chiến lược "Việt Nam hoá", Níchxơn đã nhấn mạnh việc "mở rộng chương trình bình định" là "một trong hai phần chính", với tiêu chuẩn: "thành lập ở nông thôn một lực lượng phòng thủ thích đáng và một chính quyền hoạt động 24 giờ", nhằm "làm cho lực lượng đối phương bị cô lập và phải chiến đấu như một đội quân viễn chinh", "tạo nên một sự bảo đảm an ninh và tăng cường quyền lực cho Chính phủ Sài Gòn ở khắp các vùng nông thôn". Ước mơ của Níchxơn là thực hiện được hai tiêu chuẩn đó, Mỹ - Ngụy sẽ "ngăn chặn được những hoạt động "lật đổ" (nổi dậy) của đối phương (nhân dân miền Nam), buộc họ phải chiến đấu như một đội quân viễn chinh thông thường, không dựa được vào sự ủng hộ tích cực của nhân dân nông thôn về tình báo, lương thực, tiền bạc và nhân lực..., khiến cho đối phương không thể dùng nông thôn làm bàn đạp để tiến công các thành phố và các căn cứ chủ yếu của Nam Việt Nam” (Báo cáo về chính sách đối ngoại của Níchxơn, 17 tháng 2 năm 1970). Về lâu dài, theo cách tính toán của Mỹ, "bình định" có kết quả không những tạo cho chúng một thế mạnh về quân sự mà còn tạo được một lợi thế rất lớn trong trường hợp có giải pháp chính trị. Kítxinhgơ, cố vấn số một của Níchxơn đã từng nhấn mạnh: "Vì mục đích thương lượng, Mỹ hãy kiểm soát lấy 100% của 60% còn hơn là kiểm soát 60% của 100% nước này". Đánh phá hậu phương, hệ thống hậu cần, biện pháp chiến lược rất quan trọng Mỹ phải thừa nhận không thể đánh gãy được xương sống Việt cộng, phải từ bỏ mục tiêu ngông cuồng này trong chiến lược quân sự mới ở miền Nam. Song, sự có mặt của các quả đấm chủ lực của Quân giải phóng đang là một mối nguy lớn thường xuyên uy hiếp quân Mỹ, quân Ngụy và khả năng "thành công" của kế hoạch "Việt Nam hoá" chiến tranh. Một điều cốt tử đối với Mỹ là, muốn giữ vững hệ thống phòng ngự, nhất thiết phải làm suy yếu và ngăn chặn bằng được sự tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng. Ý đồ này, một mặt được thực hiện bằng biện pháp "bình định" nông thôn (biện pháp chiến lược này, theo Thomxơn không những chỉ có tác dụng kiểm soát dân mà còn "có hiệu lực ngăn chặn các cuộc tiến công của đối phương"), mặt khác, bằng biện pháp đánh phá hậu phương, các cơ sở, các căn cứ, các hệ thống hậu cần và tiếp tế của Quân giải phóng. Báo Pháp, Lơ Phigarô, trong một bài phân tích về chiến lược của Ních-xơn, đã nhận xét: "Để mang lại cho quân đội Sài Gòn khả năng sống sót với sự yểm trợ của không quân Mỹ, Níchxơn đã đưa ra một chiến lược không giống như thời Giônxơn và tướng Oétmolen là đánh vào quân đội đối phương mà là đánh vào hậu cần của họ". Theo tính toán của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, thì đây là một biện pháp chiến lược lợi hại vì nó phát huy được chỗ mạnh vốn có của Mỹ là không quân, để đánh vào "chỗ yếu" của đối phương, bảo đảm giảm bớt thương vong cho Mỹ, khiến cho sức tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng bị giảm sút đến mức thấp nhất, nếu có hoạt động thì cũng chỉ ở mức "thoi thóp". Và điều đó có nghĩa là thế mạnh sẽ thuộc về Mỹ - Ngụy, chiến tranh sẽ "tàn lụi" dần. Tham vọng ngông cuồng. Mục tiêu chiến lược làng đầu của "Việt Nam hoá" chiến tranh, theo cách nói của Kítxinhgơ, nhằm vào "vấn đề bao trùm nhất là phát triển một cơ cấu chính trị vững mạnh" ở miền Nam, thực chất là một bộ máy tay sai "mạnh" về quân sự, chính trị và kinh tế, đủ sức chống các lực lượng cách mạng miền Nam, giữ miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của Mỹ. Kítxinhgơ còn nói rõ thêm, "phải có một Chính phủ (ngụy) có quyền lực được củng cố, "một cơ cấu chính trị vững mạnh, nối liền được Sài Gòn và các vùng nông thôn... đó là định nghĩa có ý nghĩa duy nhất của chữ thắng lợi". Tham vọng giành thắng lợi của Níchxơn còn lộ rõ khi ông ta tuyên bố: "Tôi không muốn là viên Tổng thống đầu tiên thua trận trong cuộc chiến tranh này". Điều đó đã được báo Mỹ Luận đàn thông tin quốc tế ngày 19 tháng 2 năm 1970 nói rõ hơn: "Ông Níchxơn muốn có một kết thúc thắng lợi ở Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, thắng lợi có nghĩa là Mỹ rút quân và để lại ở Sài Gòn một chính quyền không cộng sản tự đứng vững được, có đủ khả năng chống lại sự đe doạ của cộng sản". Tuy nhiên, đó chưa phải là tham vọng cuối cùng của Níchxơn trong chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh. Trong diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1969, khi trình bày chính sách "Việt Nam hoá", Níchxơn đã nhấn mạnh, chính sách đó "phù hợp với sự thay đổi lớn", "với phương hướng mới trong chính sách đối ngoại của Mỹ". "Việt Nam hoá" không phải là một chiến lược cụ thể của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nó còn thể hiện đường lối đối ngoại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ trong điều kiện mới. Dư luận Mỹ đã vạch rõ, "Việt Nam hoá” là hòn đá tảng của học thuyết Níchxơn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Giêng, 2022, 07:37:49 am Thực hiện chính sách "Việt Nam hoá" ở Việt Nam, Níchxơn có tham vọng nêu lên một mẫu mực về đường lối quân sự theo học thuyết của hắn, lấy chiến trường Việt Nam làm nơi thí điểm của một học thuyết chiến tranh xâm lược, tiến hành theo công thức "vũ khí và hỗ trợ hoả lực Mỹ + bộ binh bản xứ", chống lại các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của các nước.
Người ta có thể thấy, "Việt Nam hoá" chiến tranh thực chất là một chính sách xâm lược thâm độc và tàn bạo. Đó là kế hoạch tiếp tục chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam bằng quân Ngụy và một bộ phận quan trọng quân Mỹ; là âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng thủ đoạn "dùng người Việt đánh người Việt", lấy máu Ngụy thay máu Mỹ, là kế hoạch Mỹ thao túng miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Qua kế hoạch "Việt Nam hoá" chiến tranh, tập đoàn Níchxơn đang ấp ủ những tham vọng rất lớn. Chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, vẫn cố bám chặt lấy miền Nam nước ta. Chúng vẫn tiếp tục đeo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài, hòng cứu vãn tình thế thất bại, hoặc ít ra cũng hạn chế được thất bại và tạo điều kiện đê tiến lên giành những thắng lợi trong điều kiện và tình hình cho phép. Trong tình thế buộc phải ngồi nói chuyện với đại diện của nhân dân ta ở hai miền Nam, Bắc, Níchxơn đã từng tuyên bố: "Việt Nam hoá là nhân tố thúc đẩy thương lượng". Chúng tính rằng với chính sách "Việt Nam hoá" chiến tranh, Mỹ có thể làm một công đôi việc: tạo nên thế mạnh cho Mỹ - Ngụy, làm cơ sở cho các cuộc đàm phán và giải pháp thương lượng, gây sức ép đối với nhân dân ta, buộc phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ; và trong tình hình "nếu đối phương không khoan nhượng và chiến tranh tiếp tục thì đó là cách đơn phương của Mỹ nhằm đạt được mục tiêu (xâm lược) càng nhiều càng tốt" (Kítxinhgơ - Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969). Đương nhiên, không phải là Níchxơn và những "chuyên gia xây dựng chiến lược" của hắn không có tính toán, cân nhắc mọi mặt khi vạch ra kế hoạch (“Việt Nam hoá” đầy tham vọng đó. Chúng đã phân tích so sánh lực lượng, đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của đôi bên. Chúng đã xem xét cả các nhân tố bên trong và bên ngoài, các điều kiện trong nước và ngoài nước... - Níchxơn cho rằng, ông ta đã rút được bài học kinh nghiệm của Giônxơn; với chiến lược mới, Mỹ đã khôn khéo sửa chữa được những sai lầm về cách thức sử dụng sức mạnh và điều kiện chiến tranh. - Mỹ có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn. "Dù chiến lược của Mỹ có thiếu nhạy cảm đến thế nào đi nữa thì Mỹ vẫn mạnh tới mức làm cho đối phương không thể thắng Mỹ được về quân sự" (Kítxinhgơ - Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969) - Mỹ còn có một số quân đông trên chiến trường, còn có lực lượng hoả lực lớn, sức cơ động cao, còn chiếm giữ được một số căn cứ, vị trí then chốt. Hơn nữa, bọn chuyên gia Lầu Năm Góc còn cho rằng, "hình như cái thế quân sự của Mỹ đã được cải thiện". - Níchxơn đặc biệt hy vọng vào yếu tố thời gian. Ông ta cho rằng, với chiến lược "chiến tranh lâu dài, ít tốn kém mà người Mỹ có thể chấp nhận được", sẽ "tháo được cái kíp của quả bom dư luận ở Mỹ", giảm bớt những khó khăn của Mỹ ở Việt Nam, trong nước Mỹ và trên thế giới. Với thời gian, quân Ngụy được cải tiến trang bị sẽ mạnh lên; nhân dân miền Nam sẽ ngả theo Mỹ - Ngụy. Với thời gian, thế chiến lược của Mỹ - Ngụy sẽ chuyến biến tốt dần lên, Ngụy quyền Sài Gòn sẽ tự đứng vững được. Với thời gian, nhân dân ta sẽ gặp khó khăn lớn về điều kiện vật chất và một loạt khó khăn khác như: sức người, sức của kiệt quệ, tinh thần sa sút, đoàn kết rạn nứt, sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới cũng giảm bớt... Toàn bộ những điều trên cho phép Mỹ "có thể thuyết phục người Việt Nam (bọn tay sai) rằng không nhất thiết thời gian ủng hộ họ (nhân dân miền Nam)" (Kítxinhgơ - Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969). Ý đồ thâm độc và thực chất của "Việt Nam hoá" chiến tranh. Qua những lời phát biểu của Níchxơn, những cố vấn thân cận của ông ta và Menvin R.Ledơ - Bộ trưởng quốc phòng, người ta có thể thấy ý đồ thâm độc của Níchxơn và thực chất của chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh của Mỹ. "Việt Nam hoá" chiến tranh trước hết là một chính sách được sản sinh ra trong thế thua, thế yếu, đồng thời cũng thể hiện rõ âm mưu ngoan cố đến cùng của đế quốc Mỹ. Trước những thất bại liên tiếp và khó khăn chồng chất, đế quốc Mỹ không thể không tính đến chuyện rút chân ra khỏi bãi lầy - chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhiều người trong chính giới Mỹ đã thừa nhận, chính sách rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam là điều không thể tránh khỏi, là chiều hướng không thể thay đổi, bất kể tình hình diễn biến như thế nào. Song, do bản chất xâm lược, hiếu chiến, ngoan cố, mặt khác chúng lại có tiềm lực kinh tế và quân sự, nên bọn xâm lược Mỹ còn cố kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược với mức độ thấp hơn, với hy vọng làm cho đối phương mệt mỏi, tạo nên thế mạnh, tìm "lối, thoát danh dự" cho Mỹ. Đó là một kế hoạch đề ra trong một tình thế đầy dẫy khó khăn, khốn quẫn nhằm điều hoà mâu thuẫn giữa khả năng thực tế của Mỹ đã giảm sút với tham vọng xâm lược điên cuồng của chúng. Cái mà Níchxơn gọi là "con đường khác" để giải quyết cuộc chiến tranh thực ra là con đường "Việt Nam hóa cuộc chiến tranh", con đường tiếp tục giải pháp quân sự theo đường lối của Níchxơn, nhằm hạn chế thất bại, cứu vãn thất bại, đối phó với cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, tiếp tục thực hiện âm mưu duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam với một mức độ nào đó, dưới một hình thức nào đó. Kế hoạch "Việt Nam hoá" và chủ trương rút quân nhỏ giọt là một kế hoạch mà bọn cầm quỵền Mỹ đang thực sự đi vào con đường chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng thực tế, Mỹ vẫn kéo dài cuộc chiến tranh đó. Níchxơn tính rằng nếu thực hiện được trót lọt, thì với kế hoạch "Việt Nam hóa" hắn sẽ làm được một công đôi việc, được cả chì lẫn chài: vừa cứu vãn được thất bại của Mỹ, vừa đạt được những mục tiêu xâm lược mà Mỹ vẫn rút chân khỏi vũng lầy ở Việt Nam, lại vừa giữ được miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của Mỹ; vừa tránh được sự đổ vỡ đột ngột của Ngụy quyền Sài Gòn, giảm bớt sự dao động trong hàng ngũ bọn chư hầu, lại vừa làm dịu làn sóng phản kháng của nhân dân Mỹ, giảm bớt được khó khăn về mọi mặt. Níchxơn cố gắng làm cho mọi người có ấn tượng là chính sách của ông ta khác hẳn, thậm chí ngược lại hoàn toàn với chính sách của Giônxơn. Thực tế là, với kế hoạch "Việt Nam hoá" chiến tranh, Níchxơn không từ bỏ mục tiêu xâm lược mà chỉ thay đổi phương pháp tiến hành chiến tranh xâm lược; tìm cách giảm bớt khó khăn để tiếp tục tăng cường và kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược. Đã không đưa hết quân Mỹ vê nước, hắn còn chủ trương duy trì không thời hạn một số lớn quân Mỹ trên chiến trường. Đã không chịu gạt bỏ bọn Ngụy quyền tay sai bán nước, hắn vẫn chủ trương bám chặt lấy bọn này, coi đó là một cố gắng hàng đầu trong kế hoạch "Việt Nam hoá". Dư luận thế giới đã vạch rõ: "Mặc dù Níchxơn cố tìm những lời hay ho nhất để nói rằng chính sách của ông ta khác hẳn chính sách của Giônxơn, song người ta vẫn thấy không có sự khác nhau cơ bản nào giữa hai chính sách đó cả. Bởi vì chính sách của Níchxơn cũng nhằm giải quyết cuộc chiến tranh trên thế mạnh về quân sự... Giônxơn đã đi khỏi Nhà Trắng, nhưng đường lối của ông ta vẫn còn trong đó. Văn chương là văn chương của Níchxơn, nhưng lý luận đó vẫn là lý luận của Giônxơn (Sao hôm, 4-4. Asahi, 5-4) Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 07:59:54 am PHẦN HAI Đại thắng mùa xuân 1975 những bước ngoặt chiến lược Đấu tranh vũ trang là đặc trưng chủ yếu, quyết định của chiến tranh, thành bại của một cuộc chiến tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, không có những đòn quyết chiến chiến lược bằng sức mạnh quân sự trên chiến trường, không thể có những hồi kết của chiến tranh. Đây là một qui luật tất yếu đã được lịch sử chứng minh. Trong lịch sử, mỗi cuộc chiến tranh đều gắn liền với những trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Mỗi trận quyết chiến chiến lược đó đều có những giá trị riêng lẻ, giá trị nhân bản mang dấu ấn tổng thể của lịch sử. Những trận quyết chiến chiến lược đó phần lớn đều đã kết thúc chiến tranh, hoặc là tạo ra những bước ngoặt chiến lược lớn có lợi cho ta, có lợi cho một chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta: thời Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn đều giành thắng lợi quyết định bằng một trận quyết chiến chiến lược, nhưng Cuộc tổng tiến công và nổi dậy - Đại thắng mùa xuân 1975 - Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, là chiến thắng oanh liệt nhất, vĩ đại nhất, cố tầm quan trọng quốc tế lớn lao và có tính thời đại sâu sắc nhất. Đại thắng mùa xuân 1975 đã khắc sâu vào lịch sử bằng những trang vàng chói lọi, đã minh chứng cho ý chí kiên cường, bất khuất, sáng tạo, sức mạnh của một dân tộc khát khao tự do độc lập. Trong thời gian 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh "một ngày bằng 20 năm", với sức mạnh tổng hợp áp đảo cả về chính trị, quân sự đã được tích luỹ từ nhiều năm. Được Đảng của giai cấp công nhân có kinh nghiệm dày dạn trong tổ chức đấu tranh vũ trang, quân và dân ta đã giành toàn thắng bằng ba chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, mở đầu bằng trận tiến công chiến lược Buôn Ma Thuột; Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, quét sạch địch ở ven biển miền Trung và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh với năm cánh quân thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc chiến tranh thống nhất Tổ quốc. Tổng tiến công và nổi dậy - Đại thắng mùa xuân 1975 - Trận quyết chiến chiến lược, một trang sử vàng chói lọi của dân tộc ta đã đập tan bộ máy chính trị, quân sự của một chế độ thực dân kiểu mới được Mỹ dốc sức người, sức của xây dựng trong hai mươi năm. Đại thắng mùa xuân 1975 chứng minh cho cả nhân loại thấy con người Việt Nam yêu hoà bình, yêu độc lập tự do vừa là một truyền thống vừa là sức mạnh trí tuệ vô địch. Đại thắng mùa xuân 1975 đồng nghĩa với một bước ngoặt vĩ đại ở tầm chiến lược trong lịch sử các cuộc chiến tranh vì độc lập tự do của dân tộc. I. Những cội nguồn lịch sử của bước ngoặt Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết. Hiệp định quy định quân Mỹ phải rút hết khỏi miền Nam nước ta. Hiệp định ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét "tràn ngập lãnh thổ”, tập trung lực lượng thực hiện các kế hoạch "bình định ba năm 1973 - 1975", "kế hoạch bình định sáu tháng từ 3 năm 1973 đên tháng 8 năm 1973", "kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt", "kế hoạch xây dựng quân đội từ 1974 - 1979"... nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và tổ chức cách mạng của ta. Với âm mưu phá hoại Hiệp đinh, trong năm 1973 quân địch đã thu được một số kết quả, nhưng vẫn không thể thực hiện được ý định xoá "thế da báo" của ta. Quân Ngụy cũng đã được củng cố một bước quan trọng. Ngụy quyền cũng củng cố thêm, nhất là ở cơ sở, nhưng vẫn bị cô lập về chính trị. Để thực hiện mưu đồ đó, địch đã khẩn trương củng cố và tăng cường xây dựng quân Ngụy, nhất là các quân binh chủng, nhằm bảo đảm cho quân Ngụy đủ sức đối phó với quân chủ lực của ta trong mọi tình huống. Trong năm 1973, địch đã bắt khoảng 240.00 lính, thu gom trên 130.000 quân đào ngũ và bị thương đưa tổng quân số lên xấp xỉ 710.000. Chúng còn tăng quân số của các tiểu đoàn chủ lực và địa phương quân, phát triển không quân, nhất là không quân chiến thuật và máy bay trực thăng, tăng thêm xe tăng, xe bọc thép và bắt đầu sử dụng xe tăng M-48 thay dần xe tăng M-41. Về cơ bản đã hoàn thành tổ chức Tiểu đoàn và các Chiến đoàn bảo an. Nâng lực lượng bảo an thành lực lượng cơ động của tiểu khu và quân khu, nâng tổng quân số của lực lượng phòng vệ dân sự từ 10.000.000 tên, có 230.000 được vũ trang lên 1.500.000 tên, có 400.000 được vũ trang. Như vậy, đến cuối năm 1973, quân Ngụy đã được củng cố một bước về tổ chức, biên chế và được tăng cường một số binh khí kỹ thuật. Trước khi phải cuốn cờ rút quân, Mỹ đã đưa vào miền Nam: 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng và xe bọc thép, nhiều tàu chiến và gần 2 triệu tấn vật chất dự trữ cho chiến tranh. Thực hiện mưu đồ phá Hiệp định Pari, địch đã tiến hành kế hoạch bình định lấn chiếm, nhằm tiêu diệt lực lượng ta và phá căn cứ lõm của ta trong vùng chúng kiểm soát; bao vây kinh tế ở các vùng giáp ranh, lấn chiếm các vùng ta đã giải phóng trước ngày ký Hiệp định. Thực hiện âm mưu xoá trạng thái hai vùng, hai quân đội và hai chính quyền, biến miền Nam thành một vùng hoàn toàn do chúng kiểm soát; trong vòng 11 tháng của năm 1973, địch đã sử dụng 60% quân chủ lực và toàn bộ lực lượng vũ trang địa phương, mở trên 360.000 cuộc hành quân lấn chiếm, giải toả và hành quân an ninh; tập trung lực lượng lớn tiến công vào các vùng trọng điểm: Sa Huỳnh (Nam Quảng Ngãi) Bắc Kon Tum, Chư Nghé (Tây Plâyku), Kiến Đức, Quảng Đức, Nam Bắc lộ 4 ở Mỹ Tho, Chương Thiện, Núi Dài, Tri Tôn, lấn chiếm hầu hết các vùng ta mới giải phóng trong đợt hoạt động tháng 1 năm 1973. Mặc dù phải chấp nhận rút quân khỏi miền Nam nhưng đế quốc Mỹ vẫn duy trì một "lực lượng răn đe" ở Đông Nam Á sát miền Nam Việt Nam gồm: 15.200 quân bộ binh, 1026 máy bay kể cả máy bay chiến lược B52 và gần 56 tàu chiến các loại, chưa kể lực lượng Hạm đội 7 thường xuyên có mặt tại Thái Bình Dương, đồng thời tăng cường ngoại giao nhằm hạn chế khả năng tiến công lớn của ta. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:02:50 am Đối với quân đội Ngụy Sài Gòn, sau khi quân Mỹ rút thực trạng theo đánh giá kết luận của ta:
Một là: quân số còn đông, có tổ chức, có kinh nghiệm chiến đấu: quân chủ lực là 70 vạn gồm 13 sư + 4 trung đoàn, sẽ tăng là 14 sư và 15 trung đoàn. Quân địa phương 369 tiểu đoàn (liên đội), sẽ lập thêm 36 - 40 trung đoàn. Lực lượng phòng vệ dân sự từ 1,1 triệu (23 vạn có vũ trang), sẽ tăng lên 1,5 triệu (40 vạn có vũ trang). Phát triển các binh khí kỹ thuật, hoả lực còn mạnh, sức cơ động còn cao cùng với sự viện trợ của Mỹ: Không quân gồm 51 phi đoàn (1.110 máy bay). Xe tăng thiết giáp: 22 Tiểu đoàn (1879 xe) sẽ tăng 3 Tiểu đoàn M48. Pháo binh gồm: 66 tiểu đoàn (1360K) sẽ tăng 4 tiểu đoàn 175mm (loại vua chiến trường). Hai là: Còn chiếm và kiểm soát nhiều vùng: Vùng đông dân, thành phố và thị xã, các trục giao thông quan trọng. Ba là: Hệ thống Ngụy quyền từ Trung ương đến cơ sở có nhiều kinh nghiệm chống phá cách mạng, kìm kẹp dân trong vùng chúng kiểm soát. Nhưng quân ngụy Sài Gòn cũng có hai điếm yếu chí tử thuộc bản chất của một đội quân tay sai phản dân tộc, phản cách mạng. Một là: Mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán với quân số đông nhưng nhiều vùng quan trọng vẫn chưa được củng cố. Nếu ta có kế hoạch tốt, lợi dụng triệt để, khuyếch trương thì có nhiều khả năng, khi có lực lượng cơ động để ứng cứu cho những khu vực bị tiến công mạnh. Hai là: Trên 50 vạn quân Mỹ và chư hầu cùng phần lớn binh khí kỹ thuật phải rút khỏi miền Nam, tạo một lỗ hổng lớn, mất chỗ dựa trực tiếp và chủ yếu. Trước đây được Mỹ chi viện tận răng mà vẫn thất bại, nay tinh thần càng sa sút, nên thế và lực quân Ngụy giảm sút rất nhiều. Nếu bị đánh mạnh, đánh đau, đánh liên tục, đánh đúng chỗ hiểm yếu thì cả Ngụy quân, Ngụy quyền dễ bị phân hoá và thất bại. Một vấn đề đặt ra cho cơ quan Tham mưu chiến lược của ta là phải đánh giá thật chính xác điểm mạnh yếu của lực lượng quân sự Sài Gòn, mạnh như thế nào, suy yếu đến mức độ nào? Có phải quân Ngụy suy yếu đến mức ta đánh mạnh, đánh đau, tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn và phương tiện chiến tranh là chúng bắt đầu đổ vỡ ngay; hay quân Ngụy còn sức chống đỡ để kéo dài một thời gian buộc Mỹ phải đưa quân chiến đấu trở lại miền Nam. Trước thực trạng của quân Ngụy nhiều tư duy chiến lược nghiêng về khả năng quân Ngụy còn có sức chống đỡ, nên trong kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam 2 năm, Tổ trung tâm Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu đã vạch ra một kế hoạch tổng thể chiến lược gồm ba đòn quyết chiến chiến lược (hai đòn song song và một đòn kế tiếp) tập trung lực lượng ưu thế, tiêu diệt cho được nhiều sư đoàn, quân đoàn địch trong một thời gian tương đối ngắn thì mới làm thay đổi so sánh có lợi cho ta, tạo mọi điều kiện cho ta giành thắng lợi trọn vẹn mà Mỹ không kịp can thiệp, có thể và không thể đưa quân chiến đấu vào miền Nam1 (Trước những ngày thắng lợi lịch sử Xuân 75 của Đại tướng Lê Trọng Tấn, Văn nghệ quân đội, tháng 4 năm 1975, tr.15). Về phía Mỹ, ta đã đánh Mỹ 19 năm, cả nước là một chiến trường thống nhất, Nam Bắc là một, người Việt Nam ở miền Bắc và đánh Mỹ ở miền Nam là quyền tự bảo vệ của người Việt Nam. Cuộc chiến tranh do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một quân đội thống nhất, toàn dân cùng đánh Mỹ. Điều này hoàn toàn khác ở Triều Tiên: hai miền Nam Bắc Triều Tiên có chính quyền, có quân đội riêng. Người Bắc Triều Tiên muốn vào miền Nam cũng làm theo kiểu Mỹ Ngụy đổ biệt kích ra miền Bắc Việt Nam. Mỹ đã thua phải rút hết quân chiến đấu về, nay đưa quân chiến đấu trở lại không phải dễ. Chính là bị nhân dân Mỹ, các lực lượng chính trị tiến bộ ở Mỹ phản đối. Hơn nữa, đã 19 năm đưa 550.000 quân (11 sư và 11 trung đoàn), đã huy động 70% Lục quân, 60% Lính thuỷ đánh bộ, 40% Hải quân, 60% Không quân của toàn nước Mỹ, trên 6,5 triệu lượt thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh Việt Nam, cùng 22.000 xí nghiệp trên đất Mỹ trực tiếp phục vụ chiến tranh mà vẫn bị thua1 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi và bài học, Nxb CTQG 1995, tr.312). Nay Mỹ đưa quân quay trở lại Việt Nam, đưa bao nhiêu? Đưa quân trở lại nhằm mục đích gì? Tuy nhiên ta phải luôn luôn cảnh giác với "lực lượng răn đe" của Mỹ ở Đông Nam Á: Hải quân, Không quân, Bộ binh, căn cứ của Không quân - Hải quân vẫn còn nguyên ở Thái Lan, Philippin, Đài Loan, Guam v.v... Trên cơ sở phân tích lịch sử, thực trạng theo quan điểm khách quan toàn diện và phát triển. Kết luận của Tổ Trung tâm: Mỹ không dám đổ quân chiến đấu trở lại miền Nam Việt Nam để gây lại chiến tranh, nhưng có thể: Chiếm một vài vùng dọc ven biển miền trung Trung Bộ nhằm ngăn chặn, làm chậm tốc độ tiến công của ta. Tạo điều kiện để chúng củng cố vùng đồng bằng sông Cửu Long nơi đông người, nhiều của, hòng có điều kiện mặc cả với ta trong thế thua. Với tầm nhãn quan chiến lược, Bộ Chính trị và Quân Ủy Trung ương chỉ đạo Tổ Trung tâm, Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục chuẩn bị kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam và 8 lần thông qua bản dự thảo kế hoạch chiến lược: Dự thảo lần thứ nhất (số 306/TG ngày 05 tháng 6 tháng 1973) nhận định: "Lúc đầu Mỹ cố dùng quân Ngụy trực tiếp đối phó với ta, Mỹ viện trợ trang bị kỹ thuật. Ngụy gặp khó khăn, Mỹ mới chi viện bằng Không quân - Hải quân, tiếp theo là cố vấn Mỹ và quân chư hầu. Trước nguy cơ Ngụy sụp đổ thì Mỹ mới điều bộ binh". Dự thảo lần thứ hai (số 353/TG ngày 16 tháng 7 năm 1973) chỉ đạo: "Phải chú ý đến lực lượng răn đe của Mỹ ở Đông Nam Á". Dự thảo lần thứ 3 và 4 (số 365/TG, số 106/TG ngày 15 tháng 8 năm 1973 và ngày 31 tháng 5 năm 1974) xác định: "Quân đội đế quốc không còn trên đất nước ta nhưng lực lượng Không quân - Hải quân răn đe của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á sẵn sàng can thiệp". Đặc biệt tại hai Hội nghị Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương có mời các đồng chí lãnh đạo chủ yếu của các chiến trường, các quân khu tham gia bàn kế hoạch tác chiến chiến lược trong tháng 10 năm 1974 (lần thứ 7, số 172/TG) và lần thứ 8, tức lần cuối cùng là ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975 (số 288/TG). Quá trình nghiên cứu, chuẩn bị kế hoạch chiến lược, chỉ đạo tác chiến trên chiến trường. Sau Nghị quyết Trung ương 21 và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương về quân sự, cục diện chiến trường đang có chiều hướng chuyển biến có lợi cho ta. Quân và dân ta đã chủ động đưa thế và lực cách mạng tiến lên từng bước vững chắc, đã phản công và tiến công địch liên tục, giành thắng lợi ngày càng lớn với nhịp độ ngày càng nhanh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:03:52 am Trên chiến trường Quân khu 9 nắm vững tư tưởng chỉ đạo chiến lược tiến công, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, xoá hẳn hơn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn 400 ấp với gần 800.000 dân. Khu 8 xoá hẳn 800 đồn bốt, giải phóng thêm hơn 200 ấp với 130.000 dân. Khu 7 duy trì thế tiến công địch, đánh bại cuộc hành quân giải toả của địch, giữ vững bàn đạp phía Bắc Sài Gòn. Khu 5 đã chuyển sang thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng vùng bàn đạp giáp ranh (Nông Sơn, Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt...), tăng cường đánh phá địch ở đồng bằng, xoá gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân. Trên chiến trường Tây Nguyên ta tiến công tiêu diệt và bức rút Đắc Pét, Chư Nghé, Măng Bút, Măng Đen, Iaxúp... Tiếp tục mở rộng vùng giải phóng và hành lang chiến lược. Chiến trường Trị Thiên, tiếp tục giam chân Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến, sư đoàn cơ động chiến lược của địch, áp sát vùng giáp ranh đẩy mạnh chống "bình định" ngày càng hiệu quả.
Như vậy, âm mưu lấn chiếm và các kế hoạch chiến lược của địch không những không thực hiện được mà còn rơi vào thế bị động, thất bại. Tinh thần và sức chiến đấu của quân đội ngụy giám sút rõ rệt. Tổng quân số giảm 20.000, đào ngũ 170.000. Mỹ viện trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn giảm: 1972 - 1973: 1.614 triệu đôla; 1973 - 1974: chỉ còn 1.026 triệu đôla; 1974 - 1975: chỉ còn 700 triệu đôla... Từ hành quân tác chiến tiến công nhảy sâu, qui mô lớn bằng máy bay lên thắng, sang phòng ngự chốt chặn, lấn dũi, lùng sục nhỏ. Đặc biệt trong thời gian này ta có 2 thắng lợi được đánh giá là những đòn trinh sát chiến lược thăm dò ý đồ và khả năng đưa quân trở lại của Mỹ: Thắng lợi Thượng Đức ở Quân khu V; Chiến thắng Phước Long (13 tháng 12 năm 1974 đến 06 tháng 1 năm 1975) nhất là chiến thắng Phước Long, tuy Phước Long là một tỉnh nhỏ nhưng lần đầu tiên một tỉnh ở sát Sài Gòn - Gia Định khoảng 120km được giải phóng nhưng Mỹ cũng làm ngơ. Chứng tỏ Mỹ không có khả năng trở lại can thiệp bằng quân sự ở miền Nam. Người phát ngôn của Nhà Trắng tuyên bố: "Tổng thống Pho không có ý vi phạm những đều cấm chỉ (của Quốc hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam". Trong cuộc họp báo ngày 14 tháng 1 năm 1975 Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Giêm Sơlisinhgiơ nói: "Bây giờ tình hình ở miền Nam cho thấy Bắc Việt Nam không muốn tung ra một đòn tấn công rộng khắp, qui mô. Cái mà họ đang chú ý là làm suy yếu sự kiểm soát của chế độ Nam Việt Nam trên khắp nước, đặc biệt là làm đảo lộn chính sách bình định đang thành công. Do đó điều mà chúng tôi tiên đoán trong vài tháng tới chỉ là một số trận đánh lớn. Lúc này tôi không tin hiện sẽ có cuộc tiến công qui mô lớn như hồi năm 1972". Rõ ràng Giêm Sơlisinhgiơ cố tình đánh giá thấp sự kiện Phước Long. Hơn nữa ngày 22 tháng 01 năm 1975, Tổng thống G.Pho lại giội thêm một gáo nước lạnh xuống đầu chính quyền Sài Gòn bằng lời tuyên bố, Mỹ không thể có hành động nào khác ngoài việc bổ sung viện trợ cho Sài Gòn. Mỹ sẽ không can thiệp vào miền Nam Việt Nam nếu xét ra không phù hợp với Hiến pháp và luật pháp". Qua 2 sự kiện quan trọng trên, nhất là qua đòn trinh sát Phước Long ta thấy khả năng trở lại của bộ binh Mỹ là rất hiếm1 (Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb CTQG, 2000, tr.164 - 166). Nắm được Mỹ không có khả năng đưa quân chiến đấu trở lại miền Nam Việt Nam, nhưng trong Hội nghị thông qua lần thứ 7 (10 năm 1974), Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương vẫn nhận định: "Nếu ta chuẩn bị chu đáo, nắm chắc thời cơ, đánh đổ Ngụy quyền nhanh gọn có thể Mỹ không vào. Nếu nguy cơ sụp đổ lớn của quân Ngụy có thể Mỹ sẽ dùng không quân, hải quân can thiệp ở miền Nam, mở rộng ra miền Bắc, khả năng dùng lục quân rất ít. Ta vẫn không loại trừ Mỹ đưa vào miền Nam vài ba sư đoàn, chuẩn bị một số căn cứ, không cho ta phát triển tấn công để rồi mặc cả. Mỹ can thiệp không phải để mở rộng chiến tranh như trước kia, mà có thể trở lại thi hành Hiệp định, chấp nhận chính phủ ba thành phần. Mỹ vừa không làm đảo lộn cục diện nhùng chúng sẽ gây khó khăn cho ta và hạn chế thắng lợi của ta. Do đó ta phải vừa đánh, vừa tiếp tục theo dõi phản ứng của Mỹ và tìm mọi biện pháp để cô lập Mỹ, hạn chế khả năng can thiệp của chúng". Lần thông qua thứ 8, lần cuối cùng vẫn nhận định: "Kìm chế Mỹ, đánh đổ Ngụy, hạn chế chiến tranh ở phạm vi miền Nam, đồng thời sẵn sàng đối phó phản ứng, quyết liệt của Mỹ bằng không quân, hải quân và quân cứu hoả". Khi Kítxinhgơ sang Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có hỏi: "Quân Nguyên Mông đánh chúng tôi ba lần, còn các ông sẽ đánh chúng tôi mấy lần?". Kítxinhgơ chỉ giơ một ngón tay. Nên trong Hội nghị thông qua lần thứ 8, anh Đồng nói: "Lúc này có cho kẹo, Mỹ cũng không dám đưa lục quân trở lại"1 (Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, tr.136). Quá trình chuẩn bị kế hoạch chiến lược song song với chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường của ta. Một số nước lo cuộc chiến tranh của ta ở miền Nam sẽ nổ ra cuộc chiến tranh lớn, chiến tranh thế giới thứ ba, ảnh hưởng đến hoà bình thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đền kế hoạch xâv dựng và phát triển hoà bình của đất nước họ. Đặc biệt là khi Hiệp định Pari được ký kết thì họ đều không chi viện cho ta thêm một viên đạn, một khẩu súng nào nữa, nhất là súng đạn lớn, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Với truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường của dân tộc, với sự hy sinh lớn lao xương máu để giành được thành quả cách mạng, nhân dân ta không thể ngồi yên nhìn Mỹ - Ngụy vi phạm Hiệp định, vừa đánh trống vừa ăn cướp. Với kinh nghiệm dày dạn chỉ đạo chiến tranh. Đảng ta đánh giá, phân tích tình hình một cách toàn diện, chính xác, trên cơ sở khoa học và khách quan, đề ra phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng cả nước trong giai đoạn mới. Hội nghị lần thứ 21 (Nghị quyết 21) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 10 năm 1973 đề ra phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao và xác định rõ: "Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản trong giai đoạn mới...". Nội dung cốt lõi, tinh thần cơ bản của Nghị quyết 21 là: Địch không thi hành Hiệp định, tiếp tục chiến tranh Việt Nam hoá, thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng chiếm lấy cả miền Nam, thì ta không có con đường nào khác là phải tiến hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng giải phóng miền Nam. Như vậy, Nghị quyết 21 của Đảng vừa là tư tưởng chỉ đạo cách mạng, phương châm hoạt động vừa là "mệnh lệnh" cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công để giành mục tiêu lý tưởng của dân tộc. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:11:52 am Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, trong thời gian 20 ngày Bộ Chính trị họp với các tướng lĩnh chỉ huy trên các chiến trường, các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và các Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác chiến. Hội nghị có ý nghĩa lịch sử, đánh giá đúng thực chất tình hình, nắm vững những qui luật của chiến tranh cách mạng, kịp thời phát hiện những nhân tố thời cơ mới đế hạ quyết tâm chiến lược chính xác, đẩy nhanh tiến trình cách mạng. Đây là một mong muốn có căn cứ khoa học, sau khi đã phát hiện thời cơ nắm lấy thời cơ chiến lược. Bộ Chính trị nêu quyết tâm: "Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975 - 1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi tiến hành Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan dã Ngụy quân, đánh đổ Ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam..."1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H, 2003, tr.28, 29). Kết luận Hội nghị đồng Tổng bí thư Lê Duẩn nói: "Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị như hiện nay đê hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc..."2 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H, 2003, tr.28, 29).
Tính đến tháng 3 năm 1975 thế bố trí lực lượng của quân Ngụy như sau: Trên địa bàn Quân khu 1 - Quân đoàn 1 từ thành Quảng Trị đến hết tỉnh Quảng Ngãi gồm: 5 sư đoàn chủ lực (có 2 Sư đoàn dự bị chiến lược: sư dù và sư thủy quân lục chiến); 4 liên đoàn biệt động quân; 21 tiểu đoàn và 1 số đại, trung đội pháo/421 khẩu; 5 thiết đoàn, 6 chi đoàn xe tăng thiết giáp/449 xe; 1 sư không quân/96 máy bay chiến đấu; bố trí tập trung giữa Đà Nẵng và Huế. Trên địa bàn Quân khu 2 - Quân đoàn 2 (Tây Nguyên) gồm: 2 sư chủ lực; 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu đoàn và một số đại, trung đội pháo/382 khẩu; 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng xe bọc thép độc lập/447 xe; 2 sư đoàn không quân/138 máy bay; bố trí chủ yếu để giữ Tây Nguyên và các thành phố lốn ở miền Trung dọc bờ biển. Trên địa bàn Quân khu 3 - Quân đoàn 3 gồm: 3 Sư đoàn chủ lực (khi cần rút 1 - 2 sư dự bị chiến lược); 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu đoàn và 1 số đại đội pháo/376 khẩu; 7 thiết đoàn và 15 chi đội xe tăng, xe bọc thép/655 xe; 2 sư đoàn không quân/250 máy bay chiến đấu; bố trí tập trung ở xung quanh Sài Gòn - Gia Định khoảng 50km. Trên địa bàn Quân khu 4 - Quân đoàn 4 gồm: 3 sự chủ lực; 18 liên đoàn biệt động quân; 15 tiểu đoàn và 55 đại đội pháo/380 khẩu; 5 tiểu đoàn và 17 chi đội xe tăng thiết giáp/493 xe; 1 sư đoàn không quân/72 máy bay; tàu xuồng các loại/580 chiếc; bố trí tập trung giữa Cần Thơ, Chương Thiện và Quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) Với thế trận bố trí và ý đồ sử dụng lực lượng của quân địch cho thấy: Thế trận bố trí nặng ở hai đầu (QK1 - QK3), nhẹ giữa (QK2 - QK4). Thiếu lực lượng dự bị để có thể đối phó trên nhiều hướng cùng một lúc bị tấn công mạnh, không có thể trận chiến lược, sở dĩ địch không điều chỉnh thế bố trí chiến lược vì đánh giá thấp hoạt động của ta. Mỹ, Ngụy cho năm 1975 ta chỉ có thể hoạt động qui mô như năm 1974, nhưng không lớn và rộng khắp cả miền Nam như năm 1968 hay năm 1972. Tổng thống ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu họp với các Trưởng quân khu, Trưởng tiểu khu mở chiến dịch "càn quét cấp tốc" trong 3 tháng kể từ 1 tháng 1 năm 1975 để ngăn chặn chiến dịch Đông Xuân của ta. Chúng sử dụng 70 - 80% chủ lực cùng tất cả lực lượng quân chủ lực còn lại để càn quét, đánh phá, quyết giành và giữ dân về theo chúng "lấn đất, giành dân là keo cuối cùng, thắng cũng là ở đây mà thua cũng là ở đây". Như vậy, chúng ta có quyết tâm rất cao, quyết tâm đó xuất phát trên cơ sở phân tích đánh giá, kết luận tình hình rất khoa học, có nghị quyết về quyết tâm chiến lược. Vấn đề đặt ra, thực hiện quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam này bắt đầu từ đâu, ở đâu? Thế trận bố trí của địch và sự vận động của thế trận đó trên toàn bộ chiến trường miền Nam "nặng ở hai đầu". Xét cả yếu tố lịch sử, cụ thể và phát triển thì Quân khu 2 trong đó có Tây Nguyên, địch chỉ có 2 sư đoàn chủ lực, lại phải phân tán vừa giữ các tỉnh Tây Nguyên, vừa phải bảo vệ các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận. Nhưng Tây Nguyên là một chiến trường hết sức cơ động, có nhiều lợi thế để phát triển về phía Nam theo Đường số 14 hoặc xuống phía Đông theo Đường số 19, 7, 21. Địa hình là cao nguyên, kín đáo, tiện cho ta làm đường cơ động binh khí kỹ thuật, phát huy hết sức mạnh của các lực lượng. Đây là một địa bàn chiến lược rất quan trọng. Hội nghị Bộ Chính trị đã nhất trí thông qua phương án của Bộ Tổng Tham mưu, chọn hướng chiến trường Tây Nguyên là hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tổng tiến công lón và rộng khắp năm 1975. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Chọn địa bàn Tây Nguyên hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn vì: các hệ thống giao thông chính ấy chạy qua các địa hình núi cao rừng rậm, nhiều đèo hiểm. Nếu các trục giao thông ấy bị "khoá chặt" thì các tỉnh Tây Nguyên hoàn toàn bị cô lập. Các hệ thống giao thông bị khoá chặt thì lực lượng chi viện, ứng cứu không thể ào ạt tới bằng đường bộ mà chỉ bằng đường không thì bộ binh cũng chỉ có khả năng cơ động từng trung đoàn, trong 1- 2 ngày mới di chuyển được một trung đoàn; xe tăng và pháo lớn không thể cơ động được, chỉ có loại pháo 105 và xe thiết giáp. Các thị xã ở Tây Nguyên trừ Plâyku được xây dựng vững chắc còn Kon Tum, đặc biệt Buôn Ma Thuột là yếu nên vừa với sức tấn công của chủ lực ta. Mặt khác, toàn bộ Tây Nguyên là rừng núi hiểm trở, kín đáo thuận lợi cho ta đánh vận động, hạn chế rất nhiều binh khí kỹ thuật của địch, nhất là ta có kế hoạch khoá chặt các trục giao thông chính; đồng thời lại rất thuận lợi cho ta nổi dậy và phát huy được uy lực của binh khí kỹ thuật theo cách đánh của ta. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Giêng, 2022, 08:19:05 am Từ sau trận đánh, thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, chiến trường Tây Nguyên (B3) đã liên tiếp tiêu diệt một loạt cứ điểm cứng của địch, những căn cứ xuất phát của địch để đánh phá vùng căn cứ giải phóng của ta; từ Bắc Chư Nghé gần Bản Đôn đến Đức Lập, Đắc Pét, Côn Rổi, Mang Cut, Iasung, Lệ Ngọc, mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng ở phía Tây Đường 14 và Bắc thị xã Kon Tum"1 (Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1991, tr.9). "Vùng giải phóng phía Tây, Tây Nam Plâyku và phía Tây Tây Bắc Đắc Lắc được bảo vệ vững chắc và hoàn chỉnh thêm một bước mới"1 (Lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb QĐND, 1970, tr.270). Thêm nữa, Đường Trường Sơn đã đi qua mặt trận Tây Nguyên và Bù Gia Mập, bảo đảm khối lượng vật chất lương thực, quân y và đặc biệt là vận chuyển tăng cường khối lượng lớn các đơn vị kỹ thuật như pháo binh, cao xạ, xăng dầu, bảo đảm cho lực lượng B3 đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Điều hết sức quan trọng là ở Tây Nguyên (B3) địch yếu, sơ hở nhưng lại rất hiểm yếu. Bọn tướng tá Mỹ - Ngụy đều công nhận: Ai làm chủ cao nguyên Tây Nguyên kẻ ấy sẽ làm chủ miền Nam Đông Dương.
Vậy là hướng tấn công chủ yếu được xác định, nhất trí còn mục tiêu chiến lược chủ yếu đột phá khẩu chủ yếu nên chọn vào đâu: Tây Nguyên có 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai (thị xã Plâyku), Đắc Lắc (thị xã Buôn Ma Thuột), Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1964, có bí danh là Bộ chỉ huy B3 gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai và Đắc Lắc. Tây Nguyên là một cao nguyên trên 1000m so với mặt biển. Đường 14 chạy suốt từ Kon Tum, qua Plâyku, Buôn Mê Thuột đến Tây Lâm Đồng - đỉnh cao nguyên. Tây Nguyên là dãy đất ba gian, đỏ quánh rất màu mỡ, hợp cho chăn nuôi lớn và trồng các loại cây ăn quả quý hiếm. Sườn Tây thoai thoải sát với biên giới bạn Campuchia nhưng sườn Đông thì cây cao, rậm, nhiều núi cao nhiều dốc, nhiều đèo hiểm. Từ đỉnh Tây Nguyên xuống đồng bằng ven biển miền Trung phải qua bậc thang, sườn "bậc thang" cách nhau khoảng 300 - 350m (đèo Măng Giang; đèo Đầu Đèo - Thượng An). Bắc Tây Nguyên, đến Bắc Gia Lai và Kon Tum địa hình hiểm trở, còn phía Nam gần Đắc Lắc địa hình đã bằng phẳng hơn. Thời tiết cũng chung như cả nước và các vùng rừng núi khác là 2 mùa rõ rệt, nhưng ở mỗi tỉnh cũng có khác chút ít. Phía Kon Tum thường là giữa tháng 4 dương lịch đã bắt đầu mưa, đã mưa thì ngày đêm như trút nước, thường có 1- 2 ngày trong 1 tháng không có mưa, ít có 1- 2 giờ trong ngày không có mưa, mưa đến nỗi thối cỏ, lá cây. Còn ở PLâyku có chậm hơn, thường là cuối tháng 4, tuy mưa nhưng 1 tuần cũng có 1 - 2 ngày hửng nắng. Một ngày cũng có được 1- 2 giờ trời tạnh. Tỉnh Đắc Lắc chậm hơn ít nữa, thường đến tháng 5 mới mưa, mỗi tuần cũng có 1- 2 ngày tạnh, mỗi ngày cũng có được 2 - 3 giờ hửng sáng. Sông ngòi ở 3 tỉnh Tây Nguyên thì nhiều, mùa mưa qua lại rất khó khăn ngay mùa khô cơ động binh khí kỹ thuật lớn cũng rất khó vì nhiều sông lớn rộng 300 - 800m, nước chảy xiết, hai bên bờ sông phần lớn là rừng “khoọc” tức rừng dầu, mùa khô lá rụng gần hết vì rừng tranh nên rất dễ lộ. Đặc biệt có các sông Pôcô, Sêrêpốc, sông Ba chạy lượn quanh các thị xã Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột khoảng 10 - 15km về phía Tây. Sườn Đông Tây Nguyên sát với các tỉnh vùng tự do của ta thuộc các tỉnh Nam Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Do đó, hoạt động của ta cũng thường từ phía Đông lên, tức là hướng chính diện, hướng vỗ mặt. Từ 1 tháng 5 năm 1964, ta thành lập mặt trận B3 tạo thế đánh địch từ phía Tây, phía sau lưng địch là một thế rất hiểm, địch ít đối phó, nhất là trong 9 năm kháng chiến chống pháp và những năm đầu kháng chiến chống Mỹ. Có thể khái quát, gần như mất 9 năm kháng chiến chống pháp, chủ lực của ta từ đơn vị cấp tiểu đoàn, trung đoàn, chưa bao giờ bám được Đường 14, nhưng trong lúc đó thì các đội vũ trang, các trung đội độc lập đã gây được cơ sở ở Tây Đường 14 từ Kon Tum đến Đắc Lắc; ở Đắc Lắc đã có đội đến Bản Đôn, chung quanh Đức Lập. Chỉ trong Đông Xuân 1953 - 1954, trong thế trận chung cả nước, lần đầu tiên ta tập trung 2 trung đoàn chủ lực, cùng tất cả đơn vị kỹ thuật, phối hợp với lực lượng tại chỗ tấn công, giải phóng Kon Tum và toàn bộ tỉnh Kon Tum, phần lớn tỉnh Gia Lai. Nhưng không tấn công được vào thị xã Plâyku vì chung quanh rất trống trải. Ta đang phát triển xuống Bắc Buôn Ma Thuột đánh một trận phục kích lớn ở đèo Chư Rế trên Đường 14, Đông Bắc Buôn Ma Thuột khoảng 15km thì được lệnh ngừng bắn, thi hành Hiệp định Giơnevơ. Như vậy chỉ có Kon Tum bị tấn công lớn, Plâyku chỉ là những trận tập kích cỡ tiểu đoàn, trung đoàn rồi rút ra, Buôn Ma Thuột vẫn bình an vô sự. Trong kháng chiến chống Mỹ nhờ dần dần có đường dây vận chuyển chiến lược 559, từng bước mặt trận B3 được tăng cường lực lượng, binh khí kỹ thuật, ta bắt đầu đánh với qui mô vừa và liên tục. Nhưng những năm đầu cũng chỉ mới chạm tới Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột vẫn rất “an toàn”. Xuân Mậu Thân 1968, ta tập trung lực lượng định đánh to ở Kon Tum nhưng không được. Phía Plâyku cũng chỉ là những trận tập kích hoả lực và của những đơn vị đặc công, biệt động, phá hoại nhiều kho tàng, các căn cứ không quân và pháo của địch. Phía Buôn Ma Thuột ta hoạt động tác chiến khó hơn, có thể nói đây là lần đầu tiên từ 19 tháng 12 năm 1945 đến 1968, Buôn Ma Thuột mới bị đánh với qui mô vừa một lần, ta diệt được một số vị trí của địch, làm chủ và giữ được một số vị trí địch trong thời gian 2-3 ngày. Đến 1972, ta lại thắng lợi ở Bắc Kon Tum tại Plâycần, lực lượng chủ lực ta lập 2 kỷ lục: một số đơn vị chủ lực ta được 1 Trung đoàn pháo và 1 Tiểu đoàn xe tăng yểm hộ đã tiêu diệt một lực lượng địch tương đương 1 sư đoàn trong công sự vững chắc vàột trung đoàn chủ lực ta được 1 trung đoàn pháo và 1 ại đội xe tăng yểm trở đã diệt gọn 1 lực lượng gần 1 trung đoàn địch trong công sự vững chắc chỉ trong 1 ngày đêm. Nhưng phía Plâyku và nhất là Buôn Ma Thuột vẫn chưa bị tiến công lớn lần nào. Từ yếu tố địa hình, thời tiết, qua tác chiến của ta nên hồi mồ ma Pháp cũng như quân Mỹ - Ngụy đến sát ngày bị ta tấn công tiêu diệt vẫn hoàn toàn bị bất ngờ, chỉ chú ý đề phòng Kon Tum, Plâyku. Mỹ tập trung giữa cao nguyên Tây Nguyên là "mái nhà” - của Nam Đông Dương. Mỹ bố trí một sư ở 3 tỉnh Tây Nguyên: thì 1 lữ ở Kon Tum - Tân Cảnh - Đường 12, 1 lữ và Bộ Tư lệnh sư đoàn ở Plâyku, còn 1 lữ làm dự bị đóng ở sân bay Hoà Bình. Cứ mỗi lần bị ta đánh mạnh lên Tân Cảnh - Kon Tum - Plâyku, lập tức Mỹ điều lữ đoàn ở Buôn Ma Thuột lên tăng cường cho Plâyku hay Kon Tum. Nay Ngụy cũng bố trí đúng như vậy, Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy bố trí phần lớn lực lượng ở Tây Nguyên, sở chỉ huy tiền phương cũng ở Plâyku, Sở chỉ huy cơ bản ở Nha Trang. Quân khu 2 địch có 12 tỉnh: ven biển miền trung có 5 tỉnh (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận) và 4 tỉnh ở Nam Tây Nguyên có: Sư bộ binh 22 (4e: 40, 41, 42, 47) 45 tiểu đoàn bảo an, 5 tiểu đoàn pháo (146k), 1 thiết đoàn và 8 chi đội thiết giáp (117 xe), 12 phi đoàn không quân (337 máy bay: 102 máy bay chiến đấu + 184 trực thăng. Còn ở Tây Nguyên (3 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc): Sở chỉ huy Quân đoàn 2, sư 23 (3e: 44, 45, 53), 7 tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp, 230 khẩu pháo, sư 6 hải quân; 130 máy bay chiến đấu. Cụ thể ở 3 tỉnh Tây Nguyên thì: 2 tỉnh Kon Tum, Gia Lai: 42 tiểu đoàn bộ binh, 360 xe tăng thiết giáp, 230 khẩu pháo, còn ở Buôn Ma Thuột chỉ có 4 tiểu đoàn bộ binh, 12 xe tăng thiết giáp, 16 khẩu pháo các loại1 (Chiến dịch tấn công Tây nguyên, 1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1991, tr.15 và 34). Qua bố trí lực lượng địch thể hiện rõ là địch tập trung lực lượng đối phó ở Kon Tum và Plâyku. Căn cứ địa hình và đánh giá tần suất hoạt động tác chiến của ta trong hai cuộc kháng chiến, đến sát tháng 3 năm 1975 nên địch đều tập trung đối phó với ta ở Kon Tum, Plâyku là chính. Địch cho là ta ít có khả năng tiến công lớn vào Buôn Ma Thuột vì ở xa và sâu nên chủ quan, thực trạng vẫn là khu vực yếu nhất so với Kon Tum và Plâyku. Tóm lại: Cơ sở cội nguồn để hình thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy - Đại thắng mùa xuân 1975 và tạo lên những bước ngoặt chiến lược hoàn toàn đúng qui luật, khách quan, lịch sử, cụ thể và toàn diện. Xuất phát từ đánh giá chính xác các yếu tố: địch, ta, địa hình, thời tiết, thế thời với tư duy rất nhạy bén sáng tạo chủ động của Đảng ta trong chỉ đạo chiến tranh, chỉ đạo trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh. Đặc biệt là tạo nắm và tận dụng được thời cơ chiến lược hoàn toàn đúng, có lợi nhất. Xuất phát từ vị trí Buôn Ma Thuột có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, giải phóng được Buôn Ma Thuột thì đập võ được hệ thống phòng ngự của địch ở Tây Nguyên, tạo ra một thế trận hiểm và cơ động có thể làm thay đổi nhanh cục diện chiến trường. Vấn đề "chọn Tây Nguyên làm hướng tấn công chủ yếu và chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đột phá chủ yếu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là một đề xuất "vô cùng đúng đắn, sáng suốt"2 (Lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb QĐND, 1980, tr.284). Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:36:04 am II. Bước ngoặt mở đầu - “Chiến dịch 275”
Chiến dịch mang ý nghĩa đột phá chiến lược đầu tiên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là chiến dịch Tây Nguyên, mục tiêu đột phá mở đầu là Buôn Ma Thuột. Chiến dịch còn được mang mật danh “Chiến dịch 275”. Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, công tác tổ chức và chuẩn bị kế hoạch chiến dịch đã trải qua ba lần điều chỉnh thay đổi. Điều này cho thấy tình hình phát triển rất khẩn trương mau lẹ, sự chuyển hoá thế và lực giữa ta và địch luôn có những sự vận động. Vì vậy, việc tổ chức chuẩn bị của ta cũng gặp nhiều khó khăn phức tạp. Cơ quan Tham mưu chiến lược phải chỉ đạo hàng loạt các hoạt động tác chiến của các binh đoàn, liên binh đoàn cơ động, các hướng chiến trường cùng phối hợp hành động. Đây cũng chính là những biện pháp cụ thể hữu hiệu nhất trên chiến trường. Tổ chức chuẩn bị chiến dịch Một là: Mở rộng và giữ vững vùng giải phóng, tổ chức chiến trường, chuẩn bị đường cơ động và chuẩn bị hậu cần Từ tháng 9 năm 1973 trên hướng Plâyku, Sư đoàn bộ binh 320 đã thực hành tiến công căn cứ Chư Nghé. Tháng 4 năm 1974, Sư đoàn 320 tiêu diệt căn cứ Lệ Ngọc, điểm cao 711 và 601. Tháng 5 năm 1974, Trung đoàn 25 đánh chiếm Iaxúp. Những hoạt động tác chiến này đã mở rộng vùng Tây - Tây Nam Plâyku, Tây Bắc Đắc Lắc, dồn ép quân địch vào các thị xã, thị trấn. Bước đầu đánh bại ý đồ lấn chiếm của địch. Tháng 3 năm 1974 trên hướng Kon Tum, Sư đoàn bộ binh 10 tiêu diệt địch ở điểm cao Kon Rốc, diệt Tiểu đoàn 95 và 2 đại đội địch. Sau đó, đánh chiếm quận lỵ Đắc Pét và quận lỵ Măng Đen, Măng Bút... Giải phóng toàn bộ vùng Bắc thị xã Kon Tum, bao vây ép địch sát thị xã Kon Tum. Trước yêu cầu phát triển của nhiệm vụ mới, nhiệm vụ mang tính chiến lược quyết định trong tác chiến hiệp đồng binh chủng. Các đơn vị từ bộ binh đến các binh chủng kỹ thuật, các ngành được kiện toàn về tổ chức, tăng cường vê trang bị, được huấn luyện bổ sung về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng. Các sư đoàn bộ binh được hoàn thiện các mặt. Lực lượng pháo binh được tổ chức thành 2 trung đoàn hoàn chỉnh, lực lượng phòng không cũng được tổ chức lại thành 2 trung đoàn. Thành lập Trung đoàn xe tăng, Trung đoàn đặc công và Trung đoàn thông tin của mặt trận. Đây là những yếu tổ khẳng định sức chiến đấu của các đơn vị được tăng lên, sức mạnh khi tác chiến hiệp đồng binh chủng hợp thành, tác chiến tập trung qui mô lớn cũng được khẳng định một cách chắc chắn. Để bổ sung trình độ tác chiến cho các lực lượng, từ cấp chiến dịch trở xuống đã tổ chức huấn luyện cho cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên về lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam và chiến dịch tiến công, lý luận về các loại hình chiến dịch. Nghiên cứu, học tập lý luận chiến thuật tiến công bằng đánh công sự vững chắc, đánh vận động, đánh trong thành phố, thị xã. Nghiên cứu Chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, các chiến dịch tiến công năm 1972 và cả những kinh nghiệm của chiến dịch tiến công Đường 14 - Phước Long. Cấp sư đoàn tổ chức tập huấn cho cán bộ đại đội, tiểu đoàn theo các hình thức chiến thuật đã được xác định, theo hướng kế hoạch sử dụng. Các đơn vị tự tổ chức huấn luyện cho bộ đội tại đơn vị mình một cách chu đáo. Đơn vị huấn luyện nhiều nhất là 2 tháng, đơn vị huấn luyện ít nhất cũng được 15 ngày. Kết quả huấn luyện đã nâng cao trình độ của bộ đội Tây Nguyên lên một bước mới, có khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô vừa và lớn; có khả năng tiêu diệt địch cả trong công sự vững chắc và trong vận động tiến công; có khả năng tác chiến tiến công và phòng ngự từng khu vực. Công tác giáo dục chính trị và tư tương tập trung vào quán triệt Nghị quyết Trung ương 21. Triển khai nhiều cuộc vận động thi đua sát thúc, tạo nên khí thế sôi nổi với quyết tâm cao, kỷ luật nghiêm. Có thể khẳng định, trình độ mọi mặt, đặc biệt là trình độ tác chiến của bộ đội Tây Nguyên trước lúc bước vào chiến dịch đã hơn hắn trình độ tác chiến của quân chủ lực Ngụy ở Quân khu 2. Để bảo đảm cho lực lượng chủ lực, có trang thiết bị, vũ khí lớn cơ động linh hoạt, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu tác chiến qui mô lớn từ Bắc Tây Nguyên xuống Nam Tây Nguyên, lực lượng tại chỗ, các đơn vị trên địa bàn đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo đảm của Đoàn 559 hoàn chỉnh tuyến Đường chiến lược Hồ Chí Minh trên khu vực chạy qua Tây Nguyên. Trên tuyến Nam Tây Nguyên, Bắc Đức Lập đã làm các Đường 6B, N1, N5, 2B, 14C, 22, 23, 128. Từ tháng 10 năm 1974 đã bắc 3 cầu Pôcô Hạ; Diên Bình; Đắc Mót. Thực hành bắc cầu pháo lớn có trọng tải trên 50 tấn qua sông Pôcô và sông Sêrêpốc, bảo đảm tuyến cơ động lực lượng và vận tải chiến lược thông suốt. Ngày 3 tháng 01 năm 1975 chiến dịch bắt đầu khôi phục Đường 50 và Đường 48 ở phía Bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Đến tháng 2 mở thêm tuyến Đường mới 503, 500, 50B dài 61km; Đường 51, 57C, 57B dài 75km. Để bảo đảm bí mật chung cho toàn chiến dịch, Đường 20C nằm ở phía Tây sông Sêrêpốc chỉ đánh dấu sẵn và cưa một phần những cây lớn trên đường. Hai Bến phà 3A, 3B vượt sông Sêrêpốc cũng được đánh dấu, chuẩn bị sẵn lực lượng phương tiện, phương án, khi thực hành nổ súng mới thực sự thông tuyến. Tận dụng các đường lâm nghiệp và làm mới có tổng chiều dài 560km. Với hệ thống đường đó, đã bảo đảm cho các lực lượng phương tiện tham gia chiến dịch cơ động rất thuận tiện. Đây là yếu tố góp phần rất lớn, rất quan trọng cho bộ đội cơ động triển khai, góp phần vào hắng lợi của chiến dịch. Các tướng lĩnh của chính quyền Sài Gòn luôn bị ám ảnh bởi sự phức tạp, chia cắt của địa hình xung quanh Buôn Ma Thuột nên cho rằng ta không có khả năng đánh lớn vào thị xã Buôn Ma Thuột vì không có đường cơ động lực lượng, vận tải khối lượng vật chất cấp chiến lược đến Buôn Ma Thuột. Vì vậy, gần như trong tư duy của chúng đã loại trừ khả năng Buôn Ma Thuột bị tiến công ra khỏi kế hoạch tác chiến năm 1975 trên địa bàn Quân khu 2. Đây là một sai lầm chiến lược không thể đối phó kịp của địch, một sai lầm góp phần không nhỏ dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy cũng như toàn bộ địa bàn Tây Nguyên. Thực tiễn của sự bất ngờ này ta đã vận chuyển 14.000 tấn hàng vào các kho dự trữ ở Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai. Trong đó đầu tháng 1 Đoàn 559 đã vận chuyển vượt kế hoạch 10% năm 1975. Đến tháng 3 năm 1975 hậu cần chiến dịch đã chuyển giao cho các đơn vị đạt 78%, lương thực thực phẩm đạt 114%, vũ khí đạt 83%, xăng dầu đạt 23%. Hậu cần chiến dịch căn cứ ở khu vực suối Đắc Sam, phân cụm hậu cần kỹ thuật ở Tây Eahơ Leo, bảo đảm phục vụ trên cả 2 hướng của chiến dịch. Đặc biệt là ngoài số đạn pháo cần có cho trận đánh Buôn Ma Thuột ta còn chuẩn bị được một số lượng lớn về số đạn pháo chiến lợi phẩm. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:36:45 am Hai là: Chọn hướng, mục tiêu tiến công chiến lược
Từ phần tích những yếu tố khách quan khoa học ở tầm chiến lược lớn, có ý nghĩa quyết định, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm mục tiêu đánh trận mở đầu và cũng là trận then chốt quyết định của chiến dịch Tây Nguyên. So sánh hình thái chiến trường, giữa Kon Tum với Buôn Ma Thuột, thị xã Kon Tum là một khu vực phòng ngự của địch nằm nhô ra trên đoạn đầu của tuyến phòng thủ chiến lược ở địa bàn Tây Nguyên. Sau khi Hiệp định Pari được ký, đối diện với thị xã là vùng giải phóng của ta, có lực lượng chủ lực bố trí bám sát. Địch luôn cho rằng ta sẽ đánh ở phía Bắc Tây Nguyên. Vì vậy, địch đã tập trung lực lượng để giữ Kon Tum và Plâyku. Lực lượng phòng ngự khu vực thị xã Kon Tum luôn được tăng cường về mặt bố phòng và có lực lượng mạnh hơn Buôn Ma Thuột. Nếu ta chọn thị xã Kon Tum làm trận then chốt mở đầu chiến dịch có ý nghĩa chiến lược xuân 1975 thì ta phải trực tiếp đột phá vào nơi địch bố phòng cẩn mật, có lực lượng phòng ngự mạnh, vững chắc có chuẩn bị đối phó, tính bất ngờ không cao. Chọn Kon Tum có vị trí nhô ra "địa đầu" trên vùng địa bàn tác chiến, không phải là khu vực có thể cơ động, chia cắt. Đồng thời sau khi đánh chiếm Kon Tum xong lực lượng ta không có thể phát triển tiến công đi các hướng khác, ít có sự liên kết về chiến dịch chiến lược với toàn bộ chiến trường, không phù hợp với ý định tác chiến chiến lược của ta. Mặc dù chọn Kon Tum chúng ta sẽ có nhiều thuận lợi cho công tác chuẩn bị tiến công, nhưng chọn làm mục tiêu mở đầu, then chốt mở đầu thì không thích hợp và không đạt được yếu tố bất ngờ, hiểm, không tận dụng được thế để phát triển, không tạo được thế chia cắt ở tầm chiến lược. Sau khi đánh chiếm Kon Tum lại phải tiếp tục tổ chức đột phá chiến dịch, đột phá vào tuyến phòng ngự chính của đối phương là Plâyku. Khi mất Kon Tum địch sẽ có điều kiện phản kích, phản đột kích rất quyết liệt, địch sẽ có thời cơ củng cố, tăng cường cố thủ Plâyku, tình huống diễn ra rất phức tạp cho ta. Chiến dịch sẽ dễ lâm vào tình huống bế tắc, không phát triển được, ta phải liên tục tổ chức đột phá chiến dịch. Như vậy, ta khó có điều kiện để phá vỡ thế trận của địch, khó làm rung chuyển được chiến trường Tây Nguyên, không tạo được đột biến lớn về chiến dịch, chiến lược. So sánh với Kon Tum thì thị xã Buôn Ma Thuột nằm sâu trong vùng địch kiểm soát, là trung tâm kinh tế, chính trị văn hoá của Tây Nguyên. Đây cũng là nơi tập trung nhiều bọn đầu sỏ phản động ở địa bàn. Xét về yếu tố quân sự thì Buôn Ma Thuột lại có vị trí cơ động hơn Kon Tum. Thị xã đứng ở ngay ngã ba Đường chiến lược 21 nối liền Nha Trang với Đường 14, phía Bắc đi Cheo Reo, Plâyku, phía Nam đi Gia Nghĩa, xuôi về miền Đông Nam Bộ. Do vị trí địa lý nằm sâu trong vùng địch kiểm soát của địch nên lực lượng quân sự chiếm đóng không trực tiếp đối mặt với chủ lực ta như ở Kon Tum. Mặc dù có hậu cứ của Sư đoàn bộ binh 23 và một số đơn vị khác nhưng lực lượng chiếm đóng cũng ít hơn Kon Tum, đặc biệt là bố phòng cũng không chặt chẽ, tư tưởng chủ quan không bị tiến công đang bao trùm trong binh lính và dân chúng. Chọn Nam Tây Nguyên làm địa bàn tác chiến chiến lược, Buôn Ma Thuột làm mục tiêu tiến công mở đầu chiến dịch ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong công tác nắm địch, địa hình, vận chuyển, tập kết, cơ động lực lượng... Triển khai mọi công tác chuẩn bị phải tiến hành rất công phu, tuyệt đối giữ bí mật, chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp mới giữ được bí mật bất ngờ, có như vậy nghi binh đánh lừa địch mới thành công. Xét về tổng thể các yếu tố, lịch sử, truyền thống và thực trạng để tiến hành lựa chọn địa bàn mở chiến dịch, chọn mục tiêu tiến công mở đầu chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Bộ thống soái, cơ quan đầu não chiến lược của ta lựa chọn Buôn Ma Thuột làm trận đánh then chốt, trận then chốt mở đầu là rất chính xác, có tính thuyết phục và tính khoa học rất cao. Đây là một đòn đánh hiểm, nhằm vào nơi địch sơ hở, điểm yếu của địch; hiểm, sơ hở, yếu ở tầm chiến lược. Đánh chiếm được Buôn Ma Thuột ta sẽ tạo được đà, tạo được bàn đạp, tạo được thế và tạo được lực nhanh chóng phát triển xuống miền Trung, duyên hải ven biển. Khi thực hiện được chia cắt chiến lược đến sát ven biển miền Trung hình thành thế trận chia cắt toàn bộ quân địch ở Quân khu 1 - Quân đoàn 1 của địch ở Huế và Đà Nẵng. Đồng thời có thể phát triển xuống miền Đông Nam Bộ. Khi đã tạo được những điều đó, đồng nghĩa với việc ta làm chuyển biến tình thế chiến lược chủ động có lợi cho ta, mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược trên toàn bộ chiến trường miền Nam của địch, cô lập hoàn toàn lực lượng còn lại ở Quân khu 2 - Quân đoàn 2 địch. Trực tiếp uy hiếp thế trận ở Quân khu 3 - Quân đoàn 3 của địch. Chọn tiến công thị xã Buôn Ma Thuột còn có một giá trị khác về nghệ thuật chiến dịch là thế trận được cài sẵn để "trói địch lại" mà đánh. Theo kế hoạch đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, trước khi thực hành nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột ta đã chiếm giữ, chia cắt Đường 19, đánh chiếm Cẩm Ga - Thuần Mẫn trên Đường 14 đi Plâyku ở Bắc Buôn Ma Thuột. Đồng thời đánh chiếm Đức Lập - Gia Nghĩa - Núi Lửa. Mọi đường bộ đến Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị cắt đứt. Muốn tiếp viện, phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột duy nhất chỉ còn đường không. Phản kích bằng đường không cũng không thể có tức thì, lực lượng phản kích cũng không nhiều và khó có thể có xe tăng pháo binh xe kéo đổ bộ cùng bộ binh để cứu vãn Buôn Ma Thuột được. Đường không cũng không thể đổ quân xuống phía Nam, phía Bắc hay phía Tây thị xã được mà duy nhất cũng chỉ còn đổ xuống phía Đông thị xã. Đây là nơi ta đã "đón lõng" sẵn trong kế hoạch bằng một lực lượng giỏi đánh cơ động. Tất cả những chi tiết, tình huống trên đều được dự kiến tương đối chuẩn xác, phù hợp với thực tế có thể xảy ra và được chuẩn bị các phương án trong thế trận hoàn toàn chủ động thuộc về ta. Chọn mục tiêu mở đầu, then chốt mở đầu và phương án tiến công Buôn Ma Thuột là một tư duy sáng tạo, thực tiễn, có tầm nhìn phát triển chiến lược của Bộ thống soái. Đã trực tiếp tạo ra một biến động lớn trên chiến trường, thể hiện tư tưởng tích cực tiến công của một quân đội cách mạng. Đây là kết quả của quá trình điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, xem xét mọi vấn đề công phu, khoa học, quyết tâm cao và thể hiện trình độ nghệ thuật chiến dịch phát triển cao. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:41:20 am Ba là: Chuẩn bị phương án tác chiến chiến dịch, trận then chốt mở đầu chiến dịch
Hướng tiến công chiến lược đã được xác định - chiến trường Tây Nguyên, mục tiêu tiến công - trận then chốt mở đầu Buôn Ma Thuột đã được ấn định. Lập thế, cài thế, chia cắt chốt giữ... trên toàn mặt trận đã xong. Mưu - kế - thế - trận đã được tính toán tỷ mỷ, chính xác và khoa học. Dự kiến những phương án và kế hoạch tác chiến như thế nào thực chất không phải đến khi hoàn thành tạo lập thế trận mới tiến hành. Bộ Tổng Tham mưu và cơ quan Tham mưu Mặt trận, chiến dịch đã gần như tiến hành song song, đồng thời với tạo lập thế trận trên toàn bộ chiến trường. Lực lượng tham gia chiến dịch bao gồm: - Trên hướng chủ yếu Nam Tây Nguyên: + 3 Sư đoàn bộ binh (10, 320, 316) + 3 Trung đoàn bộ binh (25, 95B, 271) + Trung đoàn đặc công 198, 2 Tiểu đoàn đặc công (14, 27) + 2 Trung đoàn pháo binh (40, 675) + 3 Trung đoàn pháo phòng không (232, 234, 593) + Trung đoàn xe tăng thiết giáp 273 + 2 Trung đoàn công binh (7, 575) + Trung đoàn thông tin 29 + Trung đoàn ôtô vận tải + Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc - Trên hướng Bắc Tây Nguyên và Đường số 19 + Sư đoàn bộ binh 968 (-1e) + Sư đoàn bộ binh 3/QK5 (-1e) + Trung đoàn bộ binh 95A. + Lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum và Gia Lai - Tính riêng lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch, ta đã tập trung tới 6 trung đoàn, 3 tiểu đoàn độc lập với 478 khẩu pháo, súng cối các loại. Trong đó có 129 khẩu pháo xe kéo và hoả tiễn, 349 khẩu pháo mang vác với 88.000 viên đạn pháo, có 32.000 viên đạn pháo xe kéo, chi viện cho 5 sư đoàn bộ binh và các lực lượng binh chủng hợp thành tiến công trên các hướng1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bộ Tư lệnh Pháo binh, Lịch sử nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch (1945 - 1975), Nxb QĐND, H. 1996), trong đó: + Hướng tiến công chủ yếu Nam Tây Nguyên bố trí 5 trung đoàn, 2 tiểu đoàn, gồm: 87 khẩu pháo xe kéo, 213 khẩu pháo súng cối mang vác. + Hướng phối hợp, Plâyku, Kon Tum, Đường 19 bố trí 1 trung đoàn, 1 tiểu đoàn, trong đó có 42 khẩu pháo xe kéo. Tiến công Buôn Ma Thuột - trận then chốt mở đầu chiến dịch, có qui mô lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Trận đánh, chiến dịch có ý nghĩa đột phá, mở đầu cho cuộc tiến công chiến lược giải phóng miền Nam, kết thúc chiến tranh. Vì vậy, kế hoạch và các phương án được tập trung trí tuệ chuẩn bị rất kỹ, rất công phu. Tuy nhiên dù có công phu, khoa học, sáng tạo gì thì cũng phải xuất phát từ nhiệm vụ chiến dịch căn cứ vào tình hình ta, địch, điều kiện chiến trường. Đặc biệt là căn cứ vào thủ đoạn phòng ngự và những động thái biện pháp phòng ngự của địch trên toàn bộ chiến trường Tây Nguyên. Trước những thực trạng đó, để bảo đảm chắc thắng trận then chốt mở đầu (tiến công Buôn Ma Thuột) có ý nghĩa rất lớn này, ta đã đề ra hai tình huống có thể xảy ra khi mở đầu chiến dịch Tây Nguyên. Tình huống 1: Đánh địch chưa có phòng ngự dự phòng Ta tổ chức tiến hành nghi binh tạo thế tốt, giữ được bí mật ý định chiến dịch, lực lượng chiến dịch đã triển khai xong, địch vẫn chưa tăng cường lực lượng, biện pháp để phòng ngự dự phòng ta tiến công. Lực lượng ở thị xã Buôn Ma Thuột vẫn chỉ có 1 trung đoàn hoặc tăng thêm một trung đoàn nữa, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh, các căn cứ, hậu cứ của: Sư đoàn bộ binh 23, Trung đoàn bộ binh 53, Trung đoàn 8 thiết giáp, Trung đoàn 232 pháo binh, sân bay, các đơn vị địa phương: 2 đại đội bảo an, 9 trung đội dân vệ, 800 cảnh sát, các lực lượng bảo an, dân vệ quận lỵ chi khu, ấp chiến lược, Trung đoàn 23 cùng lính bảo vệ sân bay Hoà Bình. Tổng cộng khoảng 8.400 tên. Mọi hoạt động có thể có biến đổi nhưng vẫn giữ nguyên trạng thái phòng ngự bình thường. Trên các trục Đường 19, 21, 14 ta vẫn chốt giữ chia cắt được. Tình huống 2: Đánh địch đã có phòng ngự dự phòng Ta tổ chức tiến hành nghi binh tạo thế kém hiệu quả, địch phát hiện được ý định chuẩn bị tiến công lớn của ta ở Nam Tây Nguyên, chúng có thể tăng cường lực lượng, bố trí lại thế trận trên từng khu vực cũng như toàn Quân khu 2, tăng cường các biện pháp, thủ đoạn phòng ngự dự phòng ở Buôn Ma Thuột, Đức Lập, Gia Nghĩa từ 3 - 5 trung đoàn bộ binh, 1 - 2 thiết đoàn xe tăng thiết giáp. Đối với khu vực thị xã Buôn Ma Thuột có thể tăng thêm 1 - 2 trung đoàn và trong quá trình tác chiến có thể còn tăng thêm 1 - 2 trung đoàn bộ binh nữa. Từ thực trạng trên chiến trường và những tình huống cụ thể đã được xác định, chiến dịch đã đề ra cách đánh chung như sau: Tổ chức bí mật cơ động lực lượng, hoạt động nghi binh tạo thế, cài thế, thu hút và kìm giữ lực lượng chủ lực của địch trên hướng khác. Tập trung lực lượng ưu thế, giáng đòn bất ngờ vào mục tiêu chủ yếu mở đầu chiến dịch. Thực hiện bao vây cô lập từng cụm quân địch, kết hợp đột phá với luồn sâu, thọc sâu, kết hợp trong ngoài cùng đánh, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ tạo điều kiện thực hiện các trận then chốt để thúc đẩy chiến dịch. Lấy đột phá các cụm đột kích làm chính, phá vỡ từng cụm phòng ngự địch đi đôi với đánh bại địch cơ động phản kích, lần lượt tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch, tiến tới tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả 3 thứ quân trên địa bàn chiến dịch. Trên cơ sở cách đánh chung của chiến dịch, nội dung cơ bản cụ thể của cách đánh thể hiện: - Tích cực hoạt động bằng các hành động tác chiến tiến công nghi binh để thu hút giam chân lực lượng chủ lực địch ở Plâyku, Kon Tum, tiến công đánh chiếm Thuần Mẫn, Cẩm Ga, cắt đứt Đường 14 chia cắt Nam Tây Nguyên với Bắc Tây Nguyên, cô lập Buôn Ma Thuột. - Chiếm giữ, chốt chặn, chia cắt Đường 19, 21, chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng ven biển, ngăn chặn, tiêu diệt lực lựợng dự bị của địch từ đồng bằng ven biển lên Tây Nguyên và tiến công tiêu diệt quân địch rút chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng. - Đánh chiếm Đức Lập, Gia Nghĩa, Núi Lửa cô lập địch ở Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện cho trận tiến công trực tiếp vào Buôn Ma Thuột. - Tập trung lực lượng chủ yếu của chiến dịch thực hành đột phá mãnh liệt, đột phá liên tục, giáng đòn quyết định tiêu diệt quân địch ở thị xã, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. - Sẵn sàng đánh bại phản đột kích của địch có thể bằng đổ bộ đường không, giữ vững thị xã Buôn Ma Thuột. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:43:04 am Từ nhiệm vụ, ý định, cách đánh chung, nội dung cơ bản của cách đánh cụ thể của chiến dịch cho thấy: Chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 - chiến dịch mang ý nghĩa mở đầu chiến lược được tổ chức trên 3 hướng:
- Hướng chủ yếu, hướng Nam, trận then chốt mở đầu đồng thời là mục tiêu chủ yếu của chiến dịch là Buôn Ma Thuột. Trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, sử dụng 1 cụm lực lượng binh chủng hợp thành gồm Sư đoàn bộ binh 316 và một số trung đoàn bộ binh, đặc công, pháo binh xe tăng và các binh chủng khác. Riêng lực lượng tiến công Đức Lập - Quảng Đức sử dụng Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu Trung đoàn 24), Trung đoàn -271, Tiểu đoàn pháo binh thuộc Trung đoàn pháo binh 40 và Tiểu đoàn đặc công 14. Hoạt động tác chiến chia cắt trên Đường 21 từ Chư Cúc đến Khánh Dương, sử dụng Trung đoàn bộ binh 25. - Hướng thứ yếu, tiến công Đường 14, Thuần Mẫn, Phú Bổn sử dụng Sư đoàn bộ binh 320. - Hướng nghi binh, hướng Bắc Tây Nguyên, khu vực thị xã Plâyku và thị xã Kon Tum sử dụng Sư đoàn 968, lực lượng vũ trang địa phương của Gia Lai, Kon Tum. Tác chiến chia cắt trên Đường 19 sử dụng Sư đoàn 3 (thiếu 1 trung đoàn) thuộc Quân khu 5, Trung đoàn 95A. Trung tuần tháng 2, trong quá trình chuẩn bị chiến dịch địch cũng manh nha phát hiện Trung đoàn bộ binh 25 của ta cơ động xuống Đường 21. Với triệu chứng đó địch cũng phán đoán ta có thể chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột, nhưng đánh như thế nào? Đánh nhằm mục đích gì? Lực lượng tiến công là bao nhiêu, ở đâu, bao giờ đánh?... vẫn đang là bài toán hóc búa mà tướng Phú cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Quân đoàn 2 không bao giờ tự giải đáp được. Như người đang đi mò trong đêm bị giật mình, tướng Phú điều ngay Trung đoàn bộ binh 53 (thiếu) ra lùng sục ở Bắc Buôn Ma Thuột trên khu vực Quảng Nhiêu - Mê Van để thăm dò lực lượng ta, để tìm Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320. Nhưng Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 mà Phú sai quân đi tìm vẫn biệt vô âm tín. Trong thời điểm cân não giữa hai bên một tên đào ngũ đã khai với địch: "Sư đoàn 10 đang chuẩn bị đánh Đức Lập, Sư đoàn 320 đang ở Ea Hơ Leo chuẩn bị đánh Thuần Mẫn, một lực lượng khác đang chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, H.1991, tr.39, 41). Những nguồn tin thật giả trên đã làm tướng Phú và bọn Ngụy quyền Sài Gòn rất hoang mang, đã có lúc chúng định điều Sư đoàn bộ binh 23 về Buôn Ma Thuột! Trong khi đó tình báo Mỹ lại khẳng định Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 vẫn đang ở chỗ cũ (Bắc Tây Nguyên). Đến cuối tháng 2 năm 1975 địch vẫn đang lúng túng chưa phát hiện được ý định chiến dịch của ta. Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo cho Sư đoàn 968 và các lực lượng khác tăng cường hoạt động nghi binh trên hướng Bắc Tây Nguyên để kéo Trung đoàn bộ binh 45 của địch về Plâyku, kìm giữ Trung đoàn 44 và các lực lượng khác ở lại Bắc Tây Nguyên. Khi địch điều Trung đoàn 45 xuống Ea Hơ Leo ta đã phát đi bức điện giả gửi cho các đơn vị với nội dung: "Địch đã bị mắc lừa, cho rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột nên đã điều quân xuống phía Nam"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, H.1991, tr.39, 41). Khi nhận được tin điện trên địch càng hoang mang, không biết tin lời khai của tên đào ngũ hay tin vào nguồn tin kỹ thuật vô tuyến do chúng thu được. Trên các hướng của toàn mặt trận, từ các đớn vị lẻ đến các cụm lực lượng đã tích cực chuẩn bị chiến dịch, cơ động điều chỉnh đội hình áp sát các mục tiêu tiến công chuẩn bị trực tiếp. Các đơn vị, cụm lực lượng trên các hướng tiếp tục thực hiện mưu kế của ta. Cuộc đọ sức âm thầm giữa ta và địch trong suốt thời gian chuẩn bị chiến dịch. Đến cuối tháng 2 địch vẫn chưa phán đoán được ý định chiến dịch của ta là tập trung lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột. Quyền chủ động chuẩn bị chiến dịch vẫn hoàn toàn thuộc về ta trên tất cả các hướng. Về vấn đề này Eran Seppơ - chuyên viên Tình báo chiến lược CIA ở Sài Gòn - DAO cơ quan Tình báo Mỹ có viết: "Tuy có chú ý đến dấu hiệu về sự chuyển quân không bình thường của Bắc Việt ở phía Tây và Bắc Buôn Ma Thuột, nhưng tôi không dự kiến một cuộc tiến công trực tiếp vào thành phố, mà chỉ dự kiến cộng sản sẽ tìm cách cắt đứt đường sá trong khu vực và cô lập thành phố. Tuy nhiên, không phải chỉ mình tôi nghĩ như vậy, mà cả DAO và các bạn đồng nghiệp CIA của tôi ở Mỹ cũng đều tập trung vào Plâyku - Kon Tum mà không nói gì đến Buôn Ma Thuột"2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, H.1991, tr.39, 44). Ngày 6 tháng 3, Bộ Tổng Tham mưu ngụy và CIA vẫn khẳng định: hướng đối phó chính vẫn là Plâyku và Kon Tum. Chúng cho rằng hành động cắt Đường 19, 14, 21 chỉ là hoạt động phối hợp của ta. Ngày 7 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ lệrh cho Sư đoàn 320 sử dụng một lực lượng đánh chiếm Điểm cao Chư Djrê ở Nam Thuần Mẫn trên Đường 14. Sáu giờ sáng ngày 8 tháng 3, Trung đoàn 48 được tăng cường 3 khẩu lựu pháo 105mm nổ súng tiến công Thuần Mẫn. Thuần Mẫn là một quận lỵ nằm trên ngã ba Đường 14 và tỉnh lộ 7B đi Cheo Reo, Phú Bổn. Thuần Mẫn cách Buôn Ma Thuột 80km về phía Bắc. Quận lỵ này do một tiểu đoàn bảo an chiếm giữ. Sau 80 phút chiến đấu, Trung đoàn 48 đã diệt gần hết quân địch, chiếm giữ quận lỵ, bắt 121 tên, thu 200 súng, có 2 khẩu lựu pháo 105mm và 1 súng cối 106,7mm. Do ta không vây chặt nên địch đã chạy thoát một số, trong đó có tên quận trưởng. Như vậy, đến ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 320 đã cắt cái "nút" chia cắt chiến dịch cuối cùng, Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị cô lập với tất cả các nơi trên địa bàn Tây Nguyên, Đường 14 đã chính thức bị chia cắt hoàn toàn. Trước những diễn biến ngày càng trở lên phức tạp cấp bách, Buôn Ma Thuột bị cô lập, với sự nhận định sai lầm của Tình báo và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Ngày 7 tháng 3 tướng Phạm Văn Phú cử Vũ Thế Quang làm "Tư lệnh lãnh thổ Nam Cao Nguyên Trung phần". Vừa chạy thoát trong trận phục kích của ta khi từ Plâyku về Buôn Ma Thuột. Về đến nơi, Quang ra lệnh báo động ở Buôn Ma Thuột và Đức Lập. Đồng thời ra lệnh cho Trung đoàn 53 (thiếu) bỏ cuộc hành quân quay trở về Buôn Ma Thuột. Chiều ngày 8 và 9 tháng 3 địch đã dùng máy bay lên thẳng chở Liên đoàn biệt động quân 21 từ Bắc Tây Nguyên đổ xuống sân bay Hoà Bình và đưa Liên đoàn này lên Buôn Hồ cách Nam Thuần Mẫn 30km nhằm bảo vệ Buôn Ma Thuột. Như vậy, lực lượng ở Buôn Ma Thuột đến thời điểm này đã tăng thêm 1 trung đoàn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:45:00 am Để giảm áp lực, giảm lực lượng địch tăng cường về Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã ra lệnh cho Tiểu đoàn pháo 33 đang bám trụ ở Đông Bắc Plâyku bắn phá mãnh liệt vào sân bay Cù Hanh, phá huỷ đài không lưu và đường băng, sân bay bị gián đoạn, máy bay không cất, hạ cánh được.
Chiều ngày 8 tháng 3, sau khi kiểm tra lại tình hình trên toàn mặt trận, những yếu tố cơ bản trong công tác chuẩn bị chiến dịch đã hoàn tất. Sư đoàn bộ binh 10 đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị tiến công. Cùng thời điểm này các lực lượng có nhiệm vụ tiến công Buôn Ma Thuột cũng đã sẵn sàng ở tư thế chuyển sang tiến công theo kế hoạch chung của chiến dịch đã xác định. Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: "Tiến công Đức Lập". Đức Lập là một quận lỵ nằm sát với biên giới Việt Nam - Campuchia, Tây Nam thị xã Buôn Ma Thuột khoảng 50km. Quận lỵ Đức Lập nằm trên Đường 14, án ngữ vùng địa hình đến sát biên giới. Vì vậy, đường Hồ Chí Minh nối từ Tây Ngdyên vào Nam Bộ (Đường 14B) khi chạy đến khu vực này phải vòng sang đất Campuchia. Riêng quận lỵ Đức Lập, vấn đề tiến công để giải phóng "chốt" này đã được đặt ra từ lâu, nhằm nối tiếp đường chiến lược vào Lộc Ninh là rất quan trồng và rất cần thiết cho cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, có cả ý nghĩa chiến lược, chiến dịch. Giải phóng Đức Lập sẽ tạo ra thế trận uy hiếp trực tiếp Buôn Ma Thuột từ phía Nam. Bốn là: Nghi binh, cơ động lực lượng, tạo thế và các yếu tố để tác chiến hiệp đồng binh chủng Sau khi giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh năm 1972, một số đơn vị, đặc biệt là Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 của ta đều hoạt động trên địa bàn phía Bắc Plâyku, Bắc Đường 19. Vì vậy, chủ lực của địch ở Tây Nguyên cũng dồn lên Bắc Tây Nguyên đế đối phó với chủ lực của ta. Khi địch phát hiện ta mở Đường 220 dài khoảng 40km nối Võ Định vòng qua Đông Bắc Kon Tum sang Đường 19 đến Đông thị xã Plâyku. Cùng với sự hoạt động của trận đánh tiêu diệt Tiểu đoàn biệt động quân 95 ở Đông Bắc Kon Tum, địch lại càng tin tưởng rằng ta chuẩn bị đánh lớn vào Kon Tum. Lại một yếu tố sai lầm của địch, tự địch "xây" thêm yếu tố bất ngờ mang cho ta. Kế hoạch nghi binh chiến dịch rất toàn diện, công phu và đồng bộ. Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho một đồng chí Phó Tham mưu trưởng Mặt trận trực tiếp chỉ huy điều hành. Trên tất cả các hướng mọi hoạt động của các lực lượng diễn ra thường xuyên, liên tục. Sư đoàn bộ binh 10 sử dụng pháo binh bắn vào Kon Tum, tổ chức các trận đánh nhỏ xung quanh thị xã. Sư đoàn bộ binh 320 đánh nhỏ trên Đường 19, tổ chức bắn pháo vào Thanh An, La Sơn. Trung đoàn bộ binh 95 đánh cắt giao thông trên Đường 19. Trung đoàn đặc công 198 tổ chức tập kích vào kho xăng ở thị xã Plâyku. Huy động dân công các huyện xung quanh địa bàn thị xã Kon Tum, Gia Lai rầm rộ đi làm đường vào thị xã Kon Tum và Plâyku. Sử dụng Sư đoàn 968 bí mật vào thay thế Sư đoàn 10, 320 duy trì các hoạt động trên hướng của hai Sư đoàn này vẫn hoạt động. Khi Sư đoàn 968 vào thay thế ta giữ bí mật nhưng địch vẫn phát hiện được và nhận định rằng ta tăng thêm lực lượng để tiến công Plâyku. Địch vẫn tiếp tục sai lầm trong đánh giá nhận định tình hình. Sư đoàn bộ binh 10, 320 bí mật cơ động về Nam Tây Nguyên. Đây là một việc làm cực kỳ phức tạp, khó khăn khi phải rút Sư đoàn 10 ra khỏi khu vực Bắc Kon Tum. Sau khi giải phóng khu vực Diêu Bình, ta bố trí Sư đoàn này ngay trên địa bàn, địa bàn này lại rất nhiều gián điệp của địch cài lại đó. Một phương án kỳ công được xác định để thực hành cơ động Sư đoàn 10 về Nam Tây Nguyên bảo đảm bí mật tuyệt đối: Trước khi hành quân chính thức, ta đã giành 15 ngày cho các đơn vị của Sư đoàn 10 hành quân thay vị trí của nhau liên tục, nhiều lần thay đổi chỗ cho nhau. Khi chín muồi, địch ít nghi ngờ, cho đây là cơ động thay phiên thông thường giữa các lực lượng chuẩn bị vào đánh Plâyku. Khi địch không còn nghi ngờ sự cơ động thay đổi khu vực hoạt động giữa các đơn vị, ta đưa Sư 10 lên ôtô cơ động thẳng về Đức Lập. Đầu tháng 2 năm 1975 Sư đoàn bộ binh 320 cũng bí mật hành quân về tập kết ở Tây Ea Hơ Leo. Cả Sư đoàn 10 và 320 khi cơ động về Nam Tây Nguyên, toàn bộ nhân viên báo vụ, điện đài của 2 sư đoàn vẫn ở lại vị trí cũ, hoạt động như thông thường, vẫn phát sóng, thu phát các bức điện giả để đánh lừa địch. Tiếp tục một thành công nữa trong quá trình tổ chức chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột trong cơ động lực lượng. Kế hoạch chiến dịch cũng được Bộ Tư lệnh Mặt trận tổ chức giữ bí mật tuyệt đối như kế hoạch nghi binh. Các lực lượng tham gia nghi binh cơ động giả cũng không biết mình đang hoạt động nghi binh giả để lừa địch. Thế trận là sự liên hoàn giữa địa hình với lực lượng tác chiến, giữa thế bố trí với sự chuyển hoá phát triển của các lực lượng trong một tổng thể chung. Giữa thế trận cấp chiến thuật với thế chiến dịch và thế chiến lược trên toàn Mặt trận Tây Nguyên. Đó là một kế hoạch thống nhất đồng bộ và khả thi nhất. Đặc biệt là thế chia cắt khi tác chiến ở địa hình rừng núi như Tây Nguyên. Thế chia cắt chiến lược, sau khi vào thay thế Sư đoàn 10, 320. Ngày 1 tháng 3, Sư đoàn 968 đã diệt 2 đồn trên Đường số 19 phía Tây Plâyku, áp sát lực lượng vào quận Thanh An. Địch càng tin và khẳng định ta chuẩn bị địa bàn tiến công Plâyku. Với nhận định như vậy, ngày 3 tháng 3 địch vội điểu Trung đoàn bộ binh 45 tu Thuần Mẫn lên Thanh An. Sự điều động lực lượng này càng khẳng định địch chưa hề phát hiện ta đang gấp rút chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột. Trên Đường số 19, ngày 4 tháng 3 Trung đoàn 95 và Sư đoàn 3 Quân khu 5 thực hành tiêu diệt một loạt đồn bốt cắt đứt hai đoạn trên trục Đường 19 ở khu vực Tây và Đông An Khê. Lại tiếp tục mắc vào mưu kế "điệu hổ ly sơn" của ta, địch điều 2 trung đoàn của Sư đoàn 22 từ Bình Định lên giải toả cho Đông An Khê, cơ động Lữ kỵ binh 2 từ Plâyku xuống giải toả cho Tây An Khê. Những hoạt động tác chiến chia cắt của ta đã thúc đẩy tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 dồn sự cố gắng tăng cường phòng thủ Bắc Tây Nguyên, tập trung phòng thủ cố thủ ở Plâyku một cách tuyệt vọng mù quáng. Phú đã tung Liên đoàn biệt động quân 4, 6 ra Tây Bắc Kon Tum và Tây Bắc - Plâyku để tìm Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 của ta. Phú còn sử dụng hoả lực không quân và pháo binh tập trung oanh kích bất kể nơi nào nghi ta đứng quân hoặc nghi có các trận địa pháo. Ngày 5 tháng 3 trên Đường 21, Trung đoàn bộ binh 25 đã thực hành chốt giữ đoạn đường từ Chư Cúc đến Khánh Dương, diệt một đoàn xe hơn 80 chiếc, cắt đứt Buôn Ma Thuột với Nha Trang. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:46:05 am Sau khi các lực lượng thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh Mặt trận tăng cường các hoạt động quân sự, cơ động lực lượng, thực hành chia cắt Tây Nguyên với các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, cắt Đường chiến lược số 19, số 21, cô lập hoàn toàn Tây Nguyên với các chiến trường khác, ta đã thực hiện chia cắt chiến lược thành công, trong khi địch vẫn rất lúng túng bị động đối phó, tin ta sẽ tiến công Plâyku và tập trung mọi cố gắng để phòng thủ Plâyku.
Chia cắt chiến dịch, ta đã thực hành cơ động lực lượng, đánh chiếm một số đồn bốt, chia cắt Bắc và Nam Tây Nguyên, chốt giữ một số đoạn Đường 14, 19 làm cho các khu vực Kon Tum, Plâyku, Thuần Mẫn, Buôn Ma Thuột, Đức Lập... không liên hệ được với nhau bằng đường bộ. Tăng cường các hoạt động mạnh ở các khu vực khác, bí mật áp sát, tạo ra sự sơ hở và cô lập Buôn Ma Thuột để ta dễ tiêu diệt. Trên khu vực phía Bắc Buôn Ma Thuột, Sư đoàn bộ binh 320 sau khi cơ động về Nam Tây Nguyên vẫn nằm bí mật ở Tây Đường 14, cách đường có 5km trên đoạn từ cầu Ea Leo đến Chư Xê, nhưng không chốt giữ Đường 14. Như vậy đến thời điểm ta cắt xong Đường 19, Đường 21 ta đã hoàn thành mục đích chia cắt chiến lược nhưng chưa thực hiện "nút" cuối cùng chia cắt chiến dịch. Đó là, chia cắt Buôn Ma Thuột với Plâyku, giữa Buôn Ma Thuột và Plâyku địch vẫn cơ động đi lại bằng đường bộ, Đường 14. "Nếu cắt Đường số 14 sớm thì sẽ có thể bị lộ ý định đánh Buôn Ma Thuột. Và muốn cắt Đường 14 trên hai đoạn phía Bắc và Nam quận lỵ Thuần Mẫn thì phải đánh chiếm quận lỵ này. Mà đánh chiếm quận lỵ thì địch sẽ biết ta có một Sư đoàn đứng ở Bắc Buôn Ma Thuột. Trong trường hợp đó, địch sẽ tìm cách đưa thêm lực lượng về tăng cường cho Buôn Ma Thuột và giải toả đường bằng cách dùng máy bay lên thắng đổ bộ hoặc đánh thông Đường số 14. Cuộc chiến đấu ở đây có thể sẽ sớm "cộm lên", yếu tố bí mật trước khi đánh Buôn Ma Thuột sẽ không còn. Ta chủ trương: bắt đầu đánh Buôn Ma Thuột thì đồng thời đánh quận lỵ Thuần Mẫn và cắt Đường số 14"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H.2003, tr.60, 61). Trong chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch mở đầu bước ngoặt lịch sử vấn đề chia cắt chiến dịch diễn ra muộn hơn so với chia cắt chiến lược trên cơ sở ta hoàn toàn nắm quyền chủ động và có cơ sở khoa học thực tiễn. Ngày 3 tháng 3 Sư đoàn đã cho Tiểu đoàn 9 vượt Đường 14 sang Đông quận lỵ Thuần Mẫn sẵn sàng hành động chốt chặn, chia cắt Thuần Mẫn với Cheo Reo, không cho địch tăng cường từ Phú Bôn lên Đường 14. Sẵn sàng chặn địch tháo chạy từ Thuần Mẫn về Cheo Reo. Hàng ngày địch vẫn cơ động trên Đường 14, tổ chức các cuộc hành quân cỡ trên 2 tiểu đoàn có xe tăng thiết giáp lùng sục Đông Bắc Buôn Ma Thuột đến Quảng Nhiêu 10-11km để phát hiện ta, và chốt lại ở Quảng Nhiêu đến ngày 7 tháng 3 vẫn không rút về Buôn Ma Thuột như qui luật chúng vẫn làm hàng ngày. Điều này chứng tỏ địch vẫn không hay biết gì khi chỉ còn mấy ngày nữa ta nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột, và không đề phòng, không tăng cường lực lượng gì cho Buôn Ma Thuột. Trong quá trình hoạt động này, lực lượng của Sư đoàn 320 vẫn bí mật tránh những cuộc đụng độ với địch, chịu đựng những đợt pháo bắn vu vơ của địch từ Thuần Mẫn bắn ra và vẫn theo dõi nắm được địch cơ động, hành quân trên Đường 14. Sau 30 phút chiến đấu, ngày 7 tháng 3 ta diệt Chư Xê tạo thêm điều kiện chốt giữ vững chắc trên Đường 14, nhưng địch ở Quảng Nhiêu vẫn không rút. Sáng 8 tháng 3 Sư đoàn 320 đánh chiếm quận lỵ Thuần Mẫn, cắt đứt Đường 14, đến trưa địch bỏ cuộc hành quân vội vã rút về Buôn Ma Thuột. Ngày 9 tháng 3 ta nổ súng đánh chiếm Đức Lập, Đắc Soong, Núi Lửa, mở thông hoàn toàn đường hành lang chiến lược Bắc Nam nằm ở phía Đông Trường Sơn. Phía Bắc đánh chiếm quận lỵ Thanh An, trên hướng Đông Đường 19 ta đã áp sát Plâyku. Xét toàn cục của Mặt trận Tây Nguyền với chiến dịch Tây Nguyên 1975 và mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn của chiến lược với chiến dịch là mối quan hệ biện chứng không tách rời. Bộ Tư lệnh Mặt trận dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã điều quân khiển tướng theo một kế hoạch rất chặt chẽ, táo bạo, bí mật bất ngờ cài lập thế trận đúng như mưu kế định sẵn, đạt được cả ba thế chia cắt của cấp chiến lược và chiến dịch. Thứ nhất, chia cắt Đường 19, tạo ra cảnh hiểm nghèo nhất đối với địch, vì nó là tuyến huyết mạch chính, địch vẫn dùng để vận chuyển vật chất từ Qui Nhơn lên thị xã Plâyku, nuôi sống tập đoàn chủ yếu của Tây Nguyên và Kon Tum. Thứ hai, chia cắt được Đường 21, cũng là tuyến mạch máu vận chuyển từ thị trấn Ninh Hoà lên thị xã Buôn Ma Thuột để nuôi sống các lực lượng địch ở Đắc Lắc và tỉnh Quảng Đức, đồng thời còn là đường dự bị vận chuyển bổ sung cho hướng Plâyku - Kon Tum. Thứ ba, chia cắt Đường 14, đã thực hiện được ý đồ chia cắt chiến trường Tây Nguyên ra làm đôi, khiến bản thân Tập đoàn Tây Nguyên của địch cũng bị xé làm hai cụm, cụm Bắc - cụm Nam, hai cụm này hoàn toàn cô lập với nhau, không thể chi viện ứng cứu cho nhau được bằng đường bộ. Ngày 9 tháng 3 theo đúng kế hoạch ta đã thành công chia cắt, cài thế chiến lược, chiến dịch. Chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng, đồng nghĩa với chia cắt Tây Nguyên với chiến trường khác. Cài thế vững chắc, chia cắt Bắc với Nam Tây Nguyên, hoàn toàn cô lập Buôn Ma Thuột. Đến đây địch vẫn cho là ta đánh Đức Lập để mở thông Đường 14 vào Nam Bộ, và vẫn đang vò đầu vắt óc để đối phó với ta ở Plâyku. Các thế chia cắt trên thực sự đã mang đến cho địch một hiểm hoạ. Việc giao lưu giữa thị xã Qui Nhơn với thị xã Plâyku - Kon Tum, giữa thị xã Nha Trang với thị xã Buôn Ma Thuột, Gia Nghĩa và giữa thị xã Plâyku, Cheo Reo với thị xã Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cắt đứt. Từ lúc này không một chiếc ôtô nào chạy được trên Đường 19, 21, 14. Thế chia cắt, cài chốt thật hiểm hóc không mưu kế gì gỡ nổi đối với quân địch lại là thế có lợi, thế tạo ra lực vô cùng mạnh mẽ như "chẻ tre" của ta. Chính thế này khi thực hành nổ súng tiến công đã làm cho binh lính địch hoang mang, sợ hãi, dao động, xáo trộn hoảng loạn và rối loạn, đồng nghĩa với sự tan vỡ. Cuộc đấu trí giữa ta với địch về chọn hướng chiến lược, mục tiêu chiến dịch, lập thế, cài thế, cơ động lực lượng, chia cắt chiến lược, chiến dịch đã kết thúc một bước cực kỳ quan trọng, phần thắng đã hoàn toàn thuộc về ta, đến lúc này dù có phát hiện được ta tiến công Buôn Ma Thuột thì cũng quá muộn, lực - thế - thời - mưu ta đã bày sẵn, địch không có gì phá vỡ nổi. Lập xong thế, cài xong thế, điều quân khiển tướng, sắp xếp lực lượng, bày binh bố trận xong, tự thân những điều đó đã thể hiện trình độ nghệ thuật quân sự của ta phát triển rất cao, vượt bậc, thể hiện tư duy khoa học và tầm nhìn chiến lược lớn. Thể hiện trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn của bộ đội trên toàn mặt trận đã được nâng lên rất nhiều. Một thế trận tiến công vững chắc, mạnh mẽ, chủ động và chắc thắng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:47:02 am Thực hành tác chiến
Tiến công Đức Lập - Thuần Mẫn - Chia cắt chiến dịch 05 giờ ngày 9 tháng 3, Sư đoàn bộ binh 10 nổ súng tiến công Đức Lập. Sau đòn hoả lực chuẩn bị của các loại pháo binh súng cối, Trung đoàn 66 đã đột kích vào Căn cứ 23, Tám giờ 39 phút Trung đoàn đã đánh chiếm được Căn cứ 23. Cùng diễn ra ở thời điểm này, Trung đoàn 28 nổ súng tiến công Căn cứ Núi Lửa. Sư đoàn 10 cùng các lực lượng thực hành đột phá liên tục vào quận lỵ Đức Lập, quân địch đã lợi dụng hầm ngầm, cùng xe tăng thiết giáp chống trả quyết liệt. Sư đoàn không đánh chiếm giải quyết dứt điểm được Đức Lập trong ngày phải tạm dừng lại để tổ chức đột phá lại. Đến thời điểm này, trên hướng Bắc Buôn Ma Thuột ta đã cắt Đường 14 đánh chiếm Thuần Mẫn, hướng Đông cắt Đường 21, hướng Bắc Tây Nguyên cắt Đường 19, đánh phá Plâyku, Kon Tum, hướng Nam tiến công Đức Lập. Tướng Phú đã trực tiếp đáp trực thăng xuống Buôn Ma Thuột, tuy có nhận định đúng một số vấn đề đang diễn ra như: một bộ phận của Sư đoàn 320 tiến công Thuần Mẫn, một bộ phận của Sư đoàn 10 tiến công Đức Lập nhưng vẫn tiếp tục sai lầm và hùng hồn với thuộc hạ Vũ Thế Quang, Tư lệnh Nam cao nguyên Trung phần và Nguyễn Trọng Luật tỉnh trưởng Đắc Lắc rằng: "Mục tiêu chính của họ vẫn là Plâyku và Kon Tum". Phú chỉ thị và cũng để ra oai với Quang: "Hãy sử dụng lực lượng có trong tay của ông để giữ Buôn Ma Thuột". Trước khi lên máy bay Phú còn dặn thêm: "Tổng thống Thiệu có nói: nơi nào bị đánh thì cố gắng giữ lấy 3 tháng. Hội nghị Pari sẽ họp lại, cố giữ để mà mặc cả với đối phương". Chấp hành những phán quyết của tướng Phú, và cũng từ nhận thức để tự bảo vệ lấy mình, Quang đã tức khắc điều Liên đoàn biệt động 21 từ Buôn Hồ về Đạt Lý để bảo vệ sườn Đông Bắc Buôn Ma Thuột. Đồng thời Quang cũng điều luôn Tiểu đoàn bảo an 224 từ Bản Đôn về bảo vệ sườn Nam Buôn Ma Thuột. Vẫn cảm thấy chưa yên tâm Quang điều luôn 1 tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 53 về bảo vệ sở chỉ huy Sư đoàn 23 nơi Quang đang làm Tư lệnh. Sư đoàn 10 sau khi tổ chức bố trí lại đội hình, sáng ngày 10 tháng 3 tiếp tục tiến công đánh chiếm Đức Lập lần thứ 2 và đã tiêu diệt, bắt sống toàn bộ quân địch, tiếp tục phát triển đánh chiếm luôn Căn cứ Đắc Xắc, Đắc Soong. Giải phóng toàn bộ quận lỵ Đức Lập, bắt tù binh thu nhiều vũ khí. Sau khi giải phóng quận lỵ Đức Lập, theo kế hoạch đã được tạo lập và cài sẵn Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều ngay một bộ phận lực lượng, phương tiện của Sư đoàn 10 cơ động về phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh địch phản đột kích của lực lượng dự bị Quân khu 2 - Quân đoàn 2. Theo kế hoạch chiến dịch ta chuẩn bị từ trước, Buôn Ma Thuột bị tiến công, đánh chiếm địch sẽ tổ chức phản đột kích bằng lực lượng dự bị của Quân khu 2, thực tiễn đã diễn ra và đang diễn ra, địch không thể phản đột kích được bằng bất kỳ đường bộ nào để cứu vãn cho Buôn Ma Thuột. Tình huống gần như duy nhất là đổ bộ đường không bằng máy bay lên thắng chở quân và cũng đồng nhất với chỉ đổ xuống Đông thị xã Buôn Ma Thuột, còn các hướng Tây, Nam, Bắc không thể thực hiện được tình huống phiêu lưu đó. Vì vậy Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ động điều ngay Sư đoàn 10 về Đông thị xã là kịp thời, chính xác. Kịp thời, chính xác cả về lý luận, thực tiễn trong dự kiến chuẩn bị và cả thực tiễn đang diễn ra. Xét tổng thể các yếu tố ở tầm chiến dịch, chiến lược, chúng ta thấy: các tướng lĩnh và cơ quan Tham mưu chiến lược, Cơ quan Tình báo của địch không những không nắm được gì về ta ngoài một số tình tiết lộ liễu hoặc những tình tiết đã quá rõ ràng ở tầm chiến thuật là chính, mà còn đưa ra những phán quyết luẩn quẩn, luôn bị ám ảnh ta sẽ tiến công Kon Tum. Không nhìn thấy Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị cô lập, muốn tiếp viện cho Buôn Ma Thuột duy nhất chỉ còn đường không, đường không cũng chưa phải là giải pháp chắc chắn, trong khi trên các hướng khác chưa có động thái của tiến công lớn. Ngaỵ trong nhận thức về phòng thủ, phòng ngự chiến lược trên địa bàn Tây Nguyên cũng mang tâm trạng nửa vời, mặc dù luôn cho rằng địa bàn Tây Nguyên (Quân khu 2 - Quân đoàn 2) rất có giá trị về chiến lược, cố giữ chỉ để "mặc cả" với ta. Với những tư duy, nhận thức và xử lý các tình huống ở tầm chiến dịch, chiến lược như vậy, kết cục bị tiêu diệt và tan vỡ thế chiến lược của địch là đúng với trình tự của qui luật đấu tranh vũ trang, trong giai đoạn "kết" của chiến tranh. Tính đến thời điểm này, tất cả những nỗ lực cao nhất của cán bộ chiến sỹ toàn Mặt trận, của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong quá trình chuẩn bị để bày mưu - kế - thế và một số trận nhỏ trên lý thuyết trong kế hoạch đã trở thành hiện thực. Đánh dấu một điểm mốc chuẩn bị rất công phu, kịp thời và chính xác, tạo ra một thế mới rất vững chắc và lực mới vô cùng mạnh mẽ cho tiếp sau của mưu - kế - thế và đương nhiên sẽ là "trận". Trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên 1975 lịch sử - trận tiến công Buôn Ma Thuột. Bộ Tư lệnh chiến dịch xem xét lại tất cả tình hình các mặt. Điều kiện thời cơ mở cửa đột phá chiến dịch Tây Nguyền, chiến dịch mở đầu tạo ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại nhất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ bất khuất và anh dũng đã tới. Bộ Tư lệnh đã hạ quyết tâm: TIẾN CÔNG BUÔN MA THUỘT. Tiến công thị xã Buôn Ma Thuột - Đánh trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên 1975 - Đòn điểm đúng huyệt Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:48:46 am Theo kế hoạch đã được xác định, chiến dịch tổ chức thành một cụm lực lượng binh chủng hợp thành do Sư đoàn bộ binh 316 làm nòng cốt. Được sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh chiến dịch, được hỏa lực pháo binh chiến dịch chi viện, được chiến dịch bảo đảm hậu cần kỹ thuật. Toàn bộ cụm lực lượng này có nhiệm vụ đánh trận then chốt mở đầu chiến dịch, tiến công tiêu diệt quân địch, đánh chiếm, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Sẵn sàng làm các nhiệm vụ phát triển tiếp theo của chiến dịch. Sư đoàn được tăng cường:
- Trung đoàn bộ binh 95B, Trung đoàn 24 (thiếu 1 tiểu đoàn), Tiểu đoàn 21 Đoàn 559. - Trung đoàn đặc công 198 và Tiểu đoàn đặc công 28. - Trung đoàn thiết giáp 273 (thiếu 1 tiểu đoàn) - 2 Trung đoàn pháo binh xe kéo (40, 675) - 2 Trung đoàn cao xạ (234, 232) - 2 Trung đoàn công binh (7, 575) - Trung đoàn thông tin 29 Đây là trận then chốt mở đầu có qui mô lớn nhất trong lịch sử hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ. Chiến dịch đã tập trung đến 5 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn đặc công (tăng cường), 3 trung đoàn pháo binh xe kéo, mang vác và 5 trung đoàn binh chủng khác. Riêng lực lượng pháo binh tiến công Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tập trung 119 khẩu pháo cối các loại, trong đó có 48 khẩu pháo xe kéo cỡ lớn, lực lượng pháo binh được tổ chức thành 6 cụm, trong đó có 3 cụm pháo chiến dịch. Lượng đạn chuẩn bị cho trận đánh là 15.000 viên các loại. - Cụm pháo binh 1 chiến dịch gồm: 6 khẩu Đ74 (đại bác nòng dài 122mm) của Trung đoàn pháo binh 40; 2 khẩu lựu pháo 122mm của Trung đoàn pháo binh 4 thuộc Sư đoàn 316, cộng 8 khẩu. Cụm pháo này bố trí ở Tây thị xã Buôn Ma Thuột. - Cụm pháo binh 2 chiến dịch gồm: 5 khẩu Đ74; 3 khẩu lựu pháo 122mm; 4 khẩu súng cối 82 của Trung đoàn pháo binh 675, cộng 12 khẩu. Cụm pháo này bố trí ở phía Bắc thị xã. - Cụm pháo binh 5 chiến dịch gồm: 3 khẩu lựu pháo 122mm của Trung đoàn pháo binh 40; 2 khẩu ĐKB của Trung đoàn pháo binh 4 thuộc Sư đoàn 316; 2 khẩu lựu pháo 122mm và 2 khẩu súng cối 160mm của Trung đoàn pháo binh 4 thuộc Sư đoàn 10, cộng 9 khẩu. Cụm pháo này bố trí ở phía Bắc thị xã. Nhiệm vụ của các cụm pháo binh chiến dịch được xác định rất cụ thể: - Bắn phá hoại; chế áp tiểu khu Đắc Lắc, sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh 23, khu vực Trung đoàn 8 thiết giáp, Trung đoàn bộ Trung đoàn 45. - Chi viện trực tiếp cho bộ binh xe tăng đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. - Kiềm chế các trận địa pháo binh địch; bắn phá khống chế không cho địch đổ bộ đường không xuống sân bay Hoà Bình và các khu vực phía Đông thị xã; sẵn sàng đánh quân ứng cứu, giải toả, co cụm lớn. - Sẵn sàng cơ động theo đội hình chiến dịch chi viện cho các hướng phát triển chiến dịch. Pháo binh tăng cường và Trung đoàn pháo binh 4 trong biên chế của Sư đoàn 316 tổ chức thành 3 cụm pháo của 3 trung đoàn bộ binh, không tổ chức lực lượng pháo binh của sư đoàn. - Cụm pháo binh 4 thuộc Trung đoàn bộ binh 174 gồm: 4 khẩu lựu pháo 122mm; 2 khẩu chống tăng 85mm; 2 khẩu súng cối 120mm, cộng 8 khau. Cụm pháo này bố trí trong đội hình của Trung đoàn 174 ở phía Tây thị xã, có nhiệm vụ bắn ngắm gián tiếp, bắn ngắm trực tiếp chi viện cho Trung đoàn đột phá, phát triển cùng các hướng khác đánh chiếm thị xã. - Cụm pháo binh 8 thuộc Trung đoàn bộ binh 148 gồm: 4 khẩu lựu pháo 122mm: 3 khẩu pháo chống tăng 85mm; 2 khẩu súng cối 120mm, cộng 9 khau. Cụm pháo này bố trí trong đội hình của Trung đoàn 148 ở phía Tây thị xã, có nhiệm vụ bắn ngắm gián tiếp, bắn ngắm trực tiếp chi viện cho Trung đoàn đột phá, phát triển cùng các hướng khác đánh chiếm thị xã. - Cụm pháo binh 9 thuộc Trung đoàn bộ binh 149 gồm: 2 khẩu lựu pháo 122mm; 2 khẩu pháo chống tăng 85mm; 2 khẩu súng cối 120mm, cộng 6 khẩu. Cụm pháo này bố trí trong đội hình của Trung đoàn 148 ở phía Tây Nam thị xã, có nhiệm vụ bắn ngắm gián tiếp, bắn ngắm trực tiếp chi viện cho Trung đoàn đột phá, phát triển cùng các hướng khác đánh chiếm thị xã. Các cụm pháo binh của các trung đoàn bộ binh sau khi đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột xong nhanh chóng cơ động về phía Đông thị xã, trở về đội hình sư đoàn để tổ chức thành cụm pháo binh sư đoàn, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không, co cụm lớn ở sân bay Hoà Bình và làm các nhiệm vụ bổ sung khác của chiến dịch. Thị xã Buôn Ma Thuột có 5 khu vực mục tiêu: 1. Sân bay thị xã 2. Khu vực trận địa pháo binh - xe tăng thiết giáp 3. Tiểu khu Đắc Lắc 4. Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và các phân đội trực thuộc, mục tiêu phụ trợ 5. Khu kho Mai Hắc Đế Trong 5 mục tiêu cần đánh chiếm trên, sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy được xác định là mục tiêu chủ yếu. Tiểu khu Đăc Lắc và trận địa pháo binh - xe tăng thiết giáp được xác định là mục tiêu quan trọng. Các khu vực mục tiêu phụ cận liên quan, trực tiếp bảo vệ xung quanh thị xã bao gồm: hậu cứ Trung đoàn bộ binh 45 thuộc Sư đoàn 23 bố trí ở dọc Đường 21 cách thị xã 2km về phía Đông. Sân bay Hoà Bình và hậu cứ Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23, bố trí cách thị xã 5km về phía Đông, Đông Nam và bố trí trên các Điểm cao Che Duê, Chư E Bua, 596, 491... xung quanh thị xã còn có một hệ thống ấp chiến lược dày đặc. Xét tổng thể các yếu tố, với điều kiện trận đánh có qui mô lớn. Bộ Tư lệnh quyết định vận dụng cách đánh: đồng thời đánh bên ngoài, kết hợp với tiến công trực tiếp vào thị xã, lấy tiến công trực tiếp vào thị xã làm chủ yếu; kết hợp giữa đột phá với đặc công luồn sâu, thọc sâu của bộ binh xe tăng xe bọc thép, thực hành chia cắt, cô lập quân địch ra từng khu vực, đột phá kết hợp với thọc sâu làm chủ yếu để tiêu diệt địch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:50:44 am Căn cứ vào hình thái bố trí lực lượng phòng ngự, chiếm giữ của địch trong, ngoài và các vùng phụ cận thị xã Buôn Ma Thuột. Căn cứ các yếu tố địa hình, khả năng phát triển trong quá trình tiến công, cụm lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột được sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của chiến dịch, ta đã xác định 4 hướng tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột và một đội dự bị binh chủng hợp thành mạnh. Khi thông qua kế hoạch Bộ chỉ huy tiền phương Bộ Tổng Tư lệnh, xét thấy tầm quan trọng của trận quyết chiến mở đầu chiến dịch, nên đã bổ sung thêm một mũi thứ 5 (hướng), đó là mũi thọc sâu từ hướng Tây vào.
Trên tất cả các hướng, mũi tiến công và thọc sâu đều tổ chức lực lượng đột kích bằng binh chủng hợp thành cỡ tiểu đoàn và trung đoàn, được trang bị tương đối mạnh. Trong 5 hướng tiến công thì 4 hướng có xe tăng xe bọc thép. Đó là, hướng Đông Bắc (trung đoàn 95B); hướng Tây Bắc (trung đoàn 148); hướng Tây Nam (trung đoàn 174); hướng thọc sâu (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, Sư đoàn B10). Trên hướng Đông Nam, do phải cơ động xa, cơ động qua nhiều địa hình phức tạp, nên không tổ chức được xe tăng đột phá cùng bộ binh. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật đến giờ chót, Bộ Tư lệnh qui định, bắt đầu từ 16 giờ ngày 9 tháng 3, trên tất cả các hướng, lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột mới bắt đầu rời khu vực tập kết để cơ động lên tuyến tiến công. Trong khi đường cơ động, cự ly cơ động của các lực lượng không đồng đều. Đơn vị xa nhất phải cơ động khoảng 25km, đơn vị cơ động gần nhất cũng 10km. Điều khó khăn nhất, phức tạp nhất là những đơn vị phải vượt qua sông Sêrêpốc, trong đó phức tạp nhất là lực lượng pháo binh xe kéo, pháo phòng không và các đơn vị xe tăng. Để khắc phục những phức tạp đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tổ chức chỉ huy và điều hành chặt chẽ suốt quá trình cơ động và triển khai của bộ đội. Cả 12 trung đoàn bộ binh và các trung đoàn binh chủng cùng lúc cơ động triển khai trên cả 5 hướng để chuyển sang tiến công. Từ 02 giờ ngày 10 tháng 3 các đơn vị đặc công, có bộ binh đi cùng, luồn sâu, áp sát mục tiêu, cùng với pháo phản lực mang vác nổ súng tiến công trước. Bất ngờ đánh chiếm sân bay thị xã, phát triển đánh chiếm và chốt giữ Ngã Sáu trong thị xã. Súng cối 160mm bắn phá hoại căn cứ Sư đoàn 23, sau đó đặc công và bộ binh đánh 5 chiếm khu kho Mai Hắc Đế và sân bay Hoà Bình. Hành động tác chiến này, ngay từ đầu ta đã cắt đứt ngay nguồn cung cấp vật chất đạn dược và cắt đứt khả năng tháo chạy bằng đường không của địch. Đây là hành động thể hiện sự hiệp đồng rất thực tiễn, khoa học và chặt chẽ khi tác chiến với qui mô lớn, cần sự bí mật và tính bất ngờ cao của chiến dịch. Các lực lượng công binh đã nâng cao hiệu suất bảo đảm đường trên các hướng vào sát thị xã, các hướng mũi đột kích binh chủng hợp thành và các binh chủng kỹ thuật, xe tăng, pháo xe kéo, pháo cao xạ trên các hướng đã lợi dụng tiếng nổ của pháo binh súng cối và hành động tiến công của bộ binh, thực hành cơ động vào chiếm lĩnh triển khai vị trí trận địa bắn, vị trí xuất phát tiến công đúng kế hoạch đã xác định. Ta đã thực hành đồng loạt tiến công thị xã Buôn Ma Thuột trên các hướng, nhưng Tư lệnh Nam cao nguyên Trung phần Nguyễn Thế Quang vẫn cho rằng: "Cộng sản chỉ dùng pháo đặc công đánh thị xã, đến sáng họ sẽ rút". Quang đã ra lệnh cho các đơn vị phải chống cự đến cùng. Trong khi ở Plâyku tướng Phú đang ngủ cũng nhận được tin sét đánh:"Buôn Ma Thuột đã bị tiến công". Kế hoạch pháo bắn chuẩn bị được chỉ định sớm hơn, nhưng do sương mù dày đặc, tầm quan sát của các đài quan sát pháo binh của ta trên các hướng không thể nhìn thấy được mục tiêu bằng mắt thường, ngay cả hệ thống khí tài kính quang học bội số lớn nhất của pháo binh cũng không quan sát được. Vì vậy, đến 07 giờ 15 phút ngày 10 tháng 3, khi sương mù bắt đầu tan, các cụm pháo binh trên các hướng đồng loạt nổ súng bắn vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, Tiểu khu Đắc Lắc, khu vực trận địa pháo binh xe tăng... Ngay từ loạt bắn đầu tiên đạn pháo binh đã rơi trúng sở chỉ huy tiểu khu. Tên đại tá Nguyễn Trọng Luật phải tháo chạy về Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Trên hướng Đông Bắc Buôn Ma Thuột do Trung đoàn 95B đảm nhiệm. Lợi dụng đòn đánh chiếm sân bay thị xã của đặc công, 08 giờ 00 ngày 10 tháng 3, Tiểu đoàn bộ binh 5 thuộc Trung đoàn 95B tiến vào đánh chiếm Ngã Sáu. Địch chống trả quyết liệt, máy bay ném bom vào đội hình tiến công của tiểu đoàn, bộ binh cùng xe tăng địch phản kích đẩy tiểu đoàn ra khỏi Ngã Sáu. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95B được tăng cường 4 xe tăng được tung vào chiến đấu. Cuộc tranh chấp giữa ta với địch tại Ngã Sáu diễn ra rất quyết liệt, ta đã bắn cháy nhiều xe tăng của địch, buộc bộ binh phải rút chạy Tiểu đoàn 4 đã làm chủ hoàn toàn Ngã Sáu. Theo kế hoạch và nhiệm vụ đã được xác định, Trung đoàn 95B theo trục Đường 14 phát triển chiến đấu. Đến 15 giờ 30 phút Trung đoàn đã đánh chiếm được Tiểu khu Đắc Lắc, một mục tiêu quan trọng trong thị xã. Trên hướng Tây Bắc Buôn Ma Thuột do Trung đoàn 148 đảm nhiệm. Theo kế hoạch Điểm cao Chư EBua, nằm trên hướng tấn công của Trung đoàn vào khu vực pháo binh xe tăng. Trung đoàn phải đánh chiếm được Điểm cao này vào lúc 02 giờ, trong quá trình cơ động chiếm lĩnh vị trí tiến công bộ đội đã đi lạc đường. Đến 06 giờ 30 phút mới tiêu diệt được lực lượng bảo an chốt giữ và đánh chiếm được Chư EBua. Theo kế hoạch đã được xác định, kế hoạch pháo bắn chuẩn bị cũng đã được tổ chức hiệp đồng. Trung đoàn bộ binh 48 có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực trận địa pháo binh - xe tăng địch. Trong kế hoạch hoả lực sẽ sử dụng hoả lực của lựu pháo 122mm và pháo chống tăng 85mm bắn ngắm trực tiếp vào các mục tiêu đột phá trên các cửa mở. Trong quá trình cơ động lực lượng pháo binh đi lạc đường, bộ phận đi trước cấu trúc công sự lại không tổ chức đón, sau đó lại cơ động sau xe tăng trên cùng một trục đường, xe pháo lại bị lầy không khắc phục được. Đến giờ nổ súng đột phá pháo xe kéo có nhiệm vụ bắn ngắm trực tiếp trên hướng Trung đoàn 148 (cụm pháo binh Trung đoàn 148) không vào chiếm lĩnh được. Đồng thời trong suốt cả ngày đột phá đầu tiên, ngày 10 tháng 3 Trung đoàn không có sự chi viện hoả lực của cụm pháo này. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chậm thời gian, 10 giờ 00 Trung đoàn mới bắt đầu đột phá. Địch đã lợi dụng sự chậm chễ này kịp thời tổ chức đối phó, ngăn cản bộ binh mở cửa. Các lực lượng mở cửa bị thương vong nhiều, đội hình xung kích bị ùn tắc ngay tại cửa mở. Đến khi đồng chí Trung đội trưởng đội bộc phá đã anh dũng ôm bộc phá vượt qua làn đạn của địch xông lên mở thông cửa mở, tạo điều kiện cho bộ binh xe tăng xung phong đánh chiếm trận địa địch. Bộ binh xe tăng ta đã vượt qua cửa mở, phát triển chiến đấu. Quân địch trong căn cứ lợi dụng hầm ngầm, vật cản, bám công sự chống trả rất quyết liệt. Trước sức mạnh đột phá liên tục của bộ đội hợp thành, quân địch trong căn cứ lần lượt bị tiêu diệt, số còn lại phải bỏ chạy về hướng sở chỉ huy Sư đoàn 23. Đến 13 giờ 30 phút, Trung đoàn bộ binh 148 đã làm chủ được toàn bộ khu vực trận địa pháo binh xe tăng và khu vực hậu cứ của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 45. Thừa thắng Trung đoàn tiếp tục phát triển tiến công theo hướng đường Phan Bội Châu, tiêu diệt lực lượng địch chống cự ở Chùa Bồ Đề, tiến đến Ngã Sáu bắt liên lạc được với Trung đoàn 95B. Trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ được xác định trong ngày, nhưng trong quá trình đột phá không có hoả lực của pháo binh xe kéo chi viện. Quá trình đột phá chậm thời gian, để địch có cơ hội tổ chức chống trả, bộ đội bị thương vong nhiều. Đây là một bài học xương máu bộ đội ta phải trả, khi công tác chuẩn bị không chu đáo, không kiên quyết của chỉ huy các phân đội pháo binh đồng thời cũng thể hiện sự thiếu linh hoạt sáng tạo trong xử trí các tình huống của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Hai, 2022, 07:51:35 am Trên hướng Tây Tây Nam Buôn Ma Thuột do Trung đoàn 174 đảm nhiệm.
Cùng với các hướng tiến công khác, Trung đoàn 174 có nhiệm vụ đánh chiếm khu kho Mai Hắc Đế và các lực lượng trực thuộc của Sư đoàn 23. Cuộc chiến trên hướng này diễn ra hết sức quyết liệt. Trước nguy cơ bị cắt mất "cái dạ dày" của toàn bộ quân địch ở Buôn Ma Thuột. Ngay từ lúc 6 giờ sáng 10 tháng 3 địch đã sử dụng 2 xe M113 và 2 xe GMC chở đầy lính ra tổ chức phản kích nhằm chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế. Đội đặc công 2 sau khi đánh chiếm khu kho đã cùng một bộ phận bộ binh của Trung đoàn 179 tổ chức đánh bại quân địch ra phản kích giữ vững khu kho. Đồng thời Trung đoàn 174 đã cùng đại đội xe tăng thực hành đột phá thẳng vào thị xã, một mặt làm giảm áp lực của địch phản kích chiếm lại kho, một mặt để tăng tốc độ tiến công vào thị xã. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174 tổ chức đánh chiếm Điểm cao Chư Duê. Tiểu đoàn 1 đánh chiếm khu kho xăng của Sư đoàn 23. Nguy cơ toàn bộ khu kho và các đơn vị trực thuộc bị tiêu diệt. Sở chỉ huy của Sư đoàn 23 đang bị uy hiếp từ hướng này. Địch đã tổ chức bộ binh cùng xe tăng phản kích rất quyết liệt, Tiểu đoàn 1 không phát triển được, buộc phải dừng lại. Trung đoàn đưa tiếp Tiểu đoàn 3 và xe tăng vào chiến đấu, sau một thời gian giành giật quyết liệt, Trung đoàn 174 đánh chiếm được toàn bộ khu kho xăng và các khu vực của các đơn vị trực thuộc Sư đoàn 23 ở phía Nam đường 429, hoàn thành nhiệm vụ. Trên hướng Nam Buôn Ma Thuột do Trung đoàn 149 đảm nhiệm. Quá trình đặc công nổ súng đánh chiếm khu kho Mai Hắc Đế, pháo binh súng cối bắn phá Tiểu khu Đắc Lắc, Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Trên các hướng, các lực lượng bí mật cơ động vào triển khai cơ bản đều bảo đảm thời gian, kế hoạch đã được xác định. Vào thời điểm này, Trung đoàn 149 vẫn còn đang cơ động ở quá xa khu vực triển khai tiến công. Bộ đội đã phải vận động bằng chạy bộ để triển khai đội hình tiến công. Quá trình trinh sát thực địa mặc dù có được dự kiến trước nhưng đội hình Trung đoàn vẫn bị con suối Ea Tam cản trở. Suối Ea Tam nước lớn, sâu lại chảy xiết, Trung đoàn buộc phải dừng lại để tổ chức cho đội hình vượt qua. Vì vậy, đội hình đã chậm hơn so với hướng khác lại càng chậm hơn. Khu vực phía Nam thị xã Buôn Ma Thuột, địa hình rất trống trải, chủ yếu là nương rẫy, máy bay địch đã phát hiện lực lượng ta và đánh phá ngay vào đội hình của Trung đoàn, gây cho ta một số thương vong. Trong lúc đang giằng co quyết liệt, một bộ phận của Trung đoàn đã chủ động vượt lên trước, bám được Đường 14. Bộ phận này tổ chức phát triển chiến đấu tiến thẳng về phía quận lỵ Hoà Bình nhưng bị địch lợi dụng công sự vật cản tổ chức chống trả rất quyết liệt, Trung đoàn phải tạm thời dừng lại chưa đánh chiếm được mục tiêu nào theo nhiệm vụ, kế hoạch đã qui định. Trong thời khắc gay go quyết liệt đó, trên hướng Tây - Tây Nam Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 174, được một bộ phận của đội công tác của lực lượng vũ trang địa phương dẫn đường đã phát triển chiến đấu tiến sát quận lỵ Hoà Bình, lập tức Tiểu đoàn 9 triển khai ngay đội hình tiến công vào quận lỵ. Đến 11 giờ 30, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 174 đã chiếm được quận lỵ Hoà Bình, tiêu diệt phần lớn quân địch chốt giữ ở đây, số còn lại đã tháo chạy và tan rã. Lợi dụng tiếng súng tiến công của bộ đội, sự sơ hở hoảng loạn của địch, anh em tù binh đã phá ngục chạy thoát ra ngoài được 350 người. Trên hướng Tây Buôn Ma Thuột mũi thọc sâu do Tiểu đoàn 4 cùng xe tăng, Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 đảm nhiệm. Mũi thọc sâu, được tổ chức bằng lực lượng binh chủng hợp thành bao gồm bộ binh, xe tăng pháo cối mang vác đi cùng. Nhân lúc địch đang choáng váng vì bị tiến công đồng loạt vào thị xã, vào hầu hết các khu vực mục tiêu trên các hướng, đã nhanh chóng cơ động theo Đường 429 vượt qua khu kho Mai Hắc Đế thọc vào chiếm khu trung tâm thông tin, áp sát Sở chỉ huy Sư đoàn 23 từ hướng Tây. Chiếc xe tăng đi đầu bị lầy, đội hình bị ùn lại, địch sử dụng máy bay đánh phá vào đội hinh. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng hy sinh, đồng chí Tiểu đoàn phó lên thay tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh chiếm khu quân y và đánh địch ở khu thông tin. Nguy cơ sở chỉ huy Sư đoàn 23 bị tiêu diệt, địch đã nhiều lần tổ chức bộ binh, xe tăng, pháo binh để phản kích liên tục. Tại khu vực phụ cận phía Tây sát gần sở chỉ huy Sư đoàn 23 đã diễn ra cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch hết sức ác liệt. Cuộc chiến giành nhau từng căn nhà, từng góc phố giữa lực lượng cố thủ của địch với lực lượng thọc sâu của ta. Lực lượng thọc sâu đã đánh bại nhiều đợt phản kích của địch, đột phá rất dũng mãnh nhưng cũng chưa phát triển thắng vào sở chỉ huy Sư đoàn 23 được, tạm thời giữ vững khu vực đã chiếm. Mặc dù bị tiến công bất ngờ, trên các khu vực mục tiêu, lực lượng địch cũng còn khá mạnh. Hơn nữa trước khi ta nổ súng tiến công, địch cũng đã tăng cường về Buôn Ma Thuột hơn 1 trung đoàn, do đó sức đề kháng của địch cũng vẫn còn rất mạnh. Trên các hướng địch đã nhiều lần tổ chức phản kích và phản kích liên tục, chống lại lực lượng tiến công của ta. Chiến dịch đã phải điều lực lượng dự bị bước vào tổ chức tiến công, đột phá liên tục. Mãi đến 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3 quân ta mới phát triển tiến công vào được cổng Tiểu khu Đắc Lắc. Tuy có sự chống cự lẻ tẻ, hoặc rộ lên một đợt phản kích nhưng cũng không làm giảm tốc độ tiến công của ta. 17 giờ 30 phút ta đã hoàn toàn làm chử sở chỉ huy tiểu khu tỉnh Đắc Lắc. Sau khi ta đã giải quyết xong sở chỉ huy tiểu khu, ta tổ chức tách một bộ phận lực lượng phát triển sang khu hành chính đầu não của chính quyền địch, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên Ngụy quyền đầu sỏ. Thừa thắng, ta phát triển đánh chiếm luôn khu quân cảnh và tiêu diệt gọn một đại đội địch ở Bắc sân bay thị xã Buôn Ma Thuột. Như vậy, trải qua một ngày chiến đấu, trên 4 hướng tiến công của 4 trung đoàn bộ binh, một mũi thọc sâu của binh chủng hợp thành, kết quả đánh hiểm của Trung đoàn đặc công. Được sự chi viện rất hiệu của hoả lực pháo binh súng cối trên các hướng. Ta đã đánh chiếm được phần lớn thị xã Buôn Ma Thuột, đánh chiếm sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, tiêu diệt và bắt sống nhiều địch. Mục tiêu chủ yếu duy nhất còn lại chưa đánh chiếm được là sở chỉ huy Sư đoàn 23 và một số mục tiêu nằm ở phía Đông thị xã. Lực lượng sống sót, phần lớn tan rã số còn lại đều co về để cố thủ Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:09:16 pm Bị đánh bất ngờ, đối phó lúng túng, các mục tiêu bị đánh chiếm, lực lượng bị tiêu diệt, hoặc bị bắt sống, hoặc tự tan rã. Nguy cơ sở chỉ huy Sư đoàn 23 mục tiêu cuối cùng đang chống đỡ tuyệt vọng và sẽ bị tiến công tiêu diệt chỉ tính bằng giờ, nhưng địch vẫn ngoan cố, chưa hết chủ quan. Bị tiến công từ nhiều hướng, các lực lượng trong thị xã bị rối loạn. Tin xe tăng hạng nặng của ta xuất hiện ở Ngã Sáu trong thị xã Buôn Ma Thuột đã được cấp báo về Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: "Phải tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá". Các đài báo liên tục loan tin về sự thất thủ Buôn Ma Thuột. Hãng tin UPI của Mỹ đưa tin: "Việt cộng cùng một lúc dùng đặc công, bộ binh, có xe tăng với nhiều pháo binh và phòng không ập tới tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, một trung tâm trù phú của Cao Nguyên Trung phần". Hãng tin AFP của Pháp tường thuật: "5 giờ 15 phút họ kiểm soát sân bay quân sự, 6 giờ 10 đến lượt sân bay dân sự, 7 giờ chiếm kho đạn và sở chỉ huy tỉnh trưởng". Thực chất là bị choáng váng, bất ngờ, rối loạn. Choáng váng, bất ngờ, rối loạn từ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đến Bộ Tư lệnh Quân Khu 2 - Quân đoàn 2, xuống đến chính quyền tỉnh Đắc Lắc và chỉ huy Sư đoàn 23.
Bị tiêu diệt chỉ tính bằng giờ nhưng chúng vẫn cho rằng, mức độ tiến công của ta cao lắm cũng chỉ đến mức như Xuân 1968. Nếu chúng trụ được 3 - 4 ngày thì có khả năng khôi phục lại được tình thế cũ. Tướng Phạm Văn Phú yêu cầu Vũ Thế Quang cố giữ thị xã 2 - 3 ngày để chúng đưa Sư đoàn 23, một Sư đoàn bộ binh được "quảng cáo" là "Nam bình - Bắc tiến - Tây Nguyên trấn" đang bị "xé rách" ra từng mảng về cứu Buôn Ma Thuột. Chấp hành lệnh Phú, Quang đã điều Liên đoàn biệt động quân 21 từ Buôn Hồ về phản kích chiếm lại Ngã Sáu và khu kho Mai Hắc Đế. Xét về toàn cục thì Liên đoàn biệt động quân 21, không làm cách nào đế chấp hành nổi được mệnh lệnh không có căn cứ thực tiễn này của Quang vào giữa ban ngày. Mãi đến đêm 10 tháng 3 Liên đoàn biệt động quân 21 chỉ mon men về được đến đông suối Ea Tam, định luồn vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, nhưng vừa tới khu vực tiểu khu thì đã đụng ngay phải lực lượng của ta, chúng chuồn thẳng ra rừng cà phê ở phía Đông thị xã và luẩn quẩn ở đó, không dám hoạt động gì. Đêm ngày 10 tháng 3, sau khi nghe cơ quan Tham mưu báo cáo tình hình toàn mặt trận. Đặc biệt là báo cáo về trận tiến công Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh đã nhận định:"Trong ngày đầu tiên tiến công vào thị xã, ta đã thu được thắng lợi lớn, đã chiếm được 2 mục tiêu quan trọng là sân bay thị xã và bộ chỉ huy tỉnh trưởng, khống chế được sân bay Hoà Bình. Các hướng đều đánh tốt, song hướng Nam có khó khăn, tổn thất của ta so với thắng lợi thu được chưa đáng kể". Từ thực tiễn diễn biến đó, Bộ Tư lệnh đã bổ sung quyết tâm như sau: 1. "Phải đánh chiếm nhanh căn cứ Sư bộ 23 và các mục tiêu còn lại trước khi dự bị chiến dịch địch tăng cường đến. 2. Các đồng chí chỉ thị ngay cho các đơn vị giữ vững các khu vực đã chiếm, truy quét tàn quân. 3. Chuẩn bị kỹ để sáng 11 tháng 3 nhìn rõ mục tiêu tổ chức đánh dứt điểm Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 4. Điều toàn bộ Sư đoàn 10 từ Đức Lập về Đông Bắc thị xã sẵn sàng tiêu diệt quân địch phản kích lớn, phản đột kích 5. Chấp hành tốt các chính sách khi vào thị xã Đến thời điểm cuối ngày 10 tháng 3, khi địch thực sự nhìn toàn cảnh: - Các mục tiêu lớn trong thị xã đã bị ta đánh chiếm, chỉ còn lại Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy đang vội vã cố thủ chắp vá trên giấy. - Đường số 21 đã hoàn toàn bị cắt đứt, muốn cứu vãn cho Buôn Ma Thuột từ Ninh Hoà Nha Trang lên, không hể cơ động lực lượng bằng đường này. - Đường số 19 cũng đã gián đoạn không thể cơ động được. - Đường số 14 không có biện pháp hữu hiệu nào để đưa quân từ Plâyku - Kon Tum về giải nguy cho Buôn Ma Thuột được. - Lực lượng cơ động, chủ lực Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 là Sư đoàn 23, đang bị xé lẻ, giam chân trên các hướng, không dám cơ động đường bộ và cũng không đủ phương tiện để cơ động bằng đường không để ứng cứu. Đến đây thực sự địch mới ngã ngửa ra rằng, ta đã đánh chiếm Buôn Ma Thuột là hoàn toàn có chủ định. Khi sự thật rõ ràng đã được "bày" ra trên chiến trường. Lúc này thì đã quá muộn đối với chúng. Địch vô cùng hoang mang, dao động vì phần lớn gia đình vợ con chúng đều sống trong thị xã Buôn Ma Thuột. Trong lúc tình huống khốn quẫn đang diễn ra, ta lại đồng thời pháo kích rất mạnh sân bay Plâyku, gây trở ngại thực sự cho địch trong việc dùng máy bay chở quân về cứu nguy cho Buôn Ma Thuột. Theo quyết tâm đã được bổ sung, trên các hướng bộ đội đang rất khí thế. Các đơn vị đã tổ chức rất khẩn trương, chuẩn bị cho trận tiến công tiêu diệt dứt điểm Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy vào ngày 11 tháng 3. Từ 6 giờ đến 8 giờ ngày 11 tháng 3 các loại pháo binh hạng nặng của ta bắn dồn dập vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Dưới sự chi viện mạnh mẽ của các loại hoả lực, của các cụm pháo binh chiến dịch, pháo binh súng cối đi cùng bộ binh và xe tăng nhanh chóng phá vỡ vành đai lô cốt xe tăng và địch. Đột phá mãnh liệt đè bẹp sự kháng cự tuyệt vọng của địch. Bộ binh xe tăng ta chia làm 3 mũi kết hợp đột phá với thọc sâu vào tung thâm trận địa cố thủ của địch. - Từ hướng bắc, 1 đại đội của Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 95B cùng 2 xe tăng đã đột kích thẳng vào cổng chính của sư đoàn địch. Tiêu diệt nhiều xe tăng bộ binh địch tiến thẳng vào trung tâm sở chỉ huy Sư đoàn 23. - Từ hướng Tây, 1 đại đội của mũi thọc sâu cùng 2 xe tăng cùng đồng thời đột kích thẳng vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23. - Từ hướng Đông, Tiểu đoàn bộ binh 7 thuộc Trung đoàn 149 xuất phát từ khu hành chính vượt qua khu Nhà Thờ chọc thẳng vào vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Cùng lúc này Trung đoàn 148 cũng đã phái 1 đại đội và 2 xe tăng vượt qua sự chống cự yếu ớt để thoát thân của một số binh lính địch tiến thẳng vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, nhưng đến nơi thì đơn vị bạn đã chiếm xong. Trước sức tiến công áp đảo từ mọi hướng như vũ bão của quân ta, máy bay địch đã hốt hoảng ném bom bừa bãi xuống khu vực Sở chỉ huy Sư đoàn 23 không phân biệt được đâu là quân của chúng và đâu là quân của đối phương. 10 giờ 30 phút Liên đoàn biệt động quân 21 đã điện cho cấp trên của chúng: "Hiện nay Ban chỉ huy Liên đoàn, Đại đội 23 trinh sát và pháo đang ở tình trạng rất căng thẳng, tiểu khu Đắc Lắc mất rồi, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 mất rồi. Hậu cứ của Liên đoàn 23 cũng mất, tiền cứ của Tiểu đoàn 72 cũng mất. Tiểu đoàn 72 và 96 hiện đang nằm ở phía sau tiểu khu, nay ở đó có nhiều tăng của Việt cộng. Liên đoàn 21 cũng bất lực, không cứu được Sư đoàn bộ Sư đoàn 23. Hiện nay đạn gần hết. Pháo chỉ còn 2 khẩu và 100 viên đạn, nếu không tiếp tế thì nguy lắm"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H.2003, tr.72). Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:11:06 pm Trong lúc hỗn loạn, lúc 8 giờ 15 phút tên đại tá Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23, "Tư lệnh Nam cao nguyên Trung phần" mới bổ nhiệm chưa ráo mực, Chỉ huy trưởng các lực lượng vũ trang của địch ở Đắc Lắc - Quảng Đức và tên đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tiểu khu trưởng Đắc Lắc, bỏ lại sở chỉ huy, bỏ lại quân lính đang hoảng loạn tan tác tháo chạy. Đến chiều 11 tháng 3 Nguyễn Trọng Luật đã bị bộ đội Trung đoàn bộ binh 24 bắt sống ngay tại ngoài rìa Sư đoàn bộ Sư đoàn 23. Tên đại tá Vũ Thế Quang đã bị bộ đội Trung đoàn 174 bắt sống lúc 2 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1975 ở khu vực Buôn Alê trong khi đang tìm cách chạy trốn về hướng Phước An.
Thừa thắng trên các hướng, mũi quân ta tràn vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiêu diệt bọn tàn quân đang hoảng loạn tháo chạy. Xe tăng ta phá vỡ hầm chỉ huy của cơ quan hành quân sự đoàn 23. Đầu não của quân địch ở Buôn Ma Thuột, hang ổ cuối cùng của chúng đã bị đập tan. 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã được kéo lên tung bay trên cột cờ cao của sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy. Trận tiến công Buôn Ma Thuột - Trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên - Chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược - Chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Trận đánh mở đầu bước ngoặt lịch sử của dân tộc ta đã kết thúc thắng lợi rực rỡ sau 32 giờ tiến công mănh liệt. Trong lịch sử cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta, chưa có một trận đánh nào với qui mô lớn như vậy. Một thành phố lớn về diện tích, đông về dân số, nhiều lực lượng địch chiếm giữ và nhiều loại mục tiêu cần đột phá tiến công liên tục lại kết thúc thắng lợi rực rỡ đến như vậy trong thời gian 32 giờ. Điều này khẳng định thế và lực của ta đã được kết hợp đúng thời cơ, tạo thành một sức mạnh tổng hợp không có gì có thể ngăn cản nổi. Ngược lại, cũng khẳng định thế và lực của địch đã đang trên đà đi xuống, báo hiệu sự diệt vong và tàn lụi của một chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ dựng, lên. Chế độ hào nhoáng, bán nước hại dân thối nát đã mục nát cả về thể chất và tinh thần, không có gì cứu vãn nổi. Ngay trong ngày 11 tháng 3, Quân uỷ Trung ương đã chỉ thị cho Bộ Tư lệnh chiến dịch: "Ở Buôn Ma Thuột cần nhanh chóng tiêu diệt địch còn lại, vừa phát triển ra xung quanh, vừa sẵn sàng đánh viện của địch, nhanh chóng phát triển về hướng Cheo Reo, hình thành thế bao vây ngay Plâyku để tiến tới tiêu diệt Plâyku, cô lập Kon Tum, mở rộng phạm vi kiểm soát. Đường số 19, thực hiện chia cắt chiến lược tiến tới tiêu diệt An Khê"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, H. 1991, tr.56). Bộ Tư lệnh chiến dịch đã đồng thời chỉ thị cho khai thác ngay hai tên đại tá Quang và Luật để nắm thêm tình hình cụ thể, kịp thời ra những quyết định chính xác thực hiện chấp hành công điện của Quân uỷ Trung ương. Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23 - Tư lệnh trưởng Nam cao nguyên Trung phần khai: "Việc các ông đánh Buôn Ma Thuột nằm ngoài dự kiến của Bộ Tổng Tham mưu chúng tôi và cả của người Mỹ nữa. Sau trận Phước Long, chúng tôi nhận định: trong thời gian tới, các ông có thể đánh một số thị xã nhỏ như Gia Nghĩa, An Lộc, còn thị xã lớn như Buôn Ma Thuột, Plâyku, Tây Ninh chưa đánh được. Khi Buôn Ma Thuột bị tiến công, chúng tôi đã cho rằng nghi binh để đánh Gia Nghĩa. Muốn phòng thủ Quân khu 2 hiện nay, Sài Gòn phải giữ Nha Trang, ở đó có cơ sở thứ hai của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Ban chỉ huy tiếp vận 5, sân bay, hải cảng. Phải có một trung đoàn giữ đèo Mơ Đrắc, một trung đoàn giữ từ đèo Cả trở vào, một trung đoàn phòng thủ Nha Trang. Nha Trang - Phan Thiết quan trọng hơn Qui Nhơn. Qui Nhơn chỉ quan trọng khi còn Plâyku và Kon Tum. Sư đoàn 23 có thể thành lập lại nhưng sau 3 tháng mới được 50 phần trăm quân số. Nếu các ông đánh Nha Trang bây giờ thì thuận lợi, vì ở đây đang hoang mang. Chỉ cần chú ý hải pháo, chỉ có pháo 76 ly, còn 122 ly rất ít. Không quân ở đây hoạt động dễ dàng hơn. Nhưng số lượng không nhiều, mỗi ngày chỉ được 30 lần chiếc máy bay F.5 cho toàn miền, còn là máy bay A.37. Tiếp tế đường biển dễ hơn, song tinh thần binh sỹ suy sụp và thế phòng thủ chưa hình thành. Bây giờ Sài Gòn chỉ còn dựa vào quân dù và thuỷ quân lục chiến. Mà lính dù thì thiếu tin tưởng. Lúc này đánh thiệt hại quân dù hoặc thuỷ quân lục chiến là đánh sụp tinh thần quân lực Sài Gòn. Cam Ranh chẳng có gì phòng thủ cả. Chỉ có vẻ mạnh bề ngoài thôi. Quân đoàn làm nhà toàn hướng ra biển để hóng mát. Với cách đánh của các ông thì đánh là được ngay. Cam Ranh muốn phòng thủ lại cũng mất ít nhất là 3 tháng. Mà chưa chắc đã tổ chức được vì thiếu nhiều thứ. Từ khi Mỹ rút, túi đựng cát, dây kẽm gai, xi măng, xe cộ đều thiếu. Tình hình này thì dễ vỡ lắm"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H.2003, tr.75). Bị mất Buôn Ma Thuột, bọn tàn quân địch chạy về Căn cứ 45, trường huấn luyện, Căn cứ 53, một số chạy về ấp Châu Sơn, nhằm co cụm, cố giữ những căn cứ còn lại làm bàn đạp, chờ quân ở Bản Đôn, Chư Nga kéo về và quân tăng viện tới, cùng nhau phối hợp thực hành phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định tình hình "Ta đã chiếm hết các mục tiêu quan trọng nhất, làm chủ được thị xã Buôn Ma Thuột, khống chế được sân bay Hoà Bình, nhưng một số căn cứ quan trọng ven thị xã địch vẫn đang chiếm giữ, chúng có thể đổ quân xuống các căn cứ đó để tổ chức phản kích đánh chiếm lại thị xã". Chấp hành chỉ thị của Quân uỷ Trung ương và căn cứ vào tình hình trên, Bộ Tư lệnh nhanh chóng hạ quyết tâm: "Nhanh chóng phát triển thắng lợi, tiêu diệt địch ở ngoại vi, phụ cận, trọng điểm là các căn cứ Trung đoàn 45, 53, quét sạch tàn binh địch, củng cố giữ vững chắc những khu vực đã chiếm, sẵn sàng đánh bại phản kích địch". Bộ Tư lệnh đã ra lệnh cho Sư đoàn bộ binh 10 nhanh chóng cơ động về Đông Bắc thị xã, sẵn sàng làm dự bị và chuẩn bị đánh phản kích lớn. Trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược, mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 thắng lợi nhanh, gần sát với dự kiến, thể hiện một lối đánh bất ngờ. Lối đánh này đòi hỏi trình độ tổ chức hiệp đồng hết sức chặt chẽ, vì rất phức tạp. Mục tiêu tiến công nhiều, phạm vi đánh chiếm rộng, lực lượng địch đông, tính quyết liệt rất cao. Ta đã cố gắng tổ chức chuẩn bị để thực hiện bằng được các ý định chiến dịch đã được tính toán chu đáo, công phu và có cơ sở thực tiễn, khoa học. Nhưng khi tiến công địch, thế và lực của địch đã tan vỡ rồi thì ở một số đơn vị và từng lúc ta cũng còn bộc lộ một số mặt yếu mà ta cần nhanh chóng khắc phục. Từ nhận thức đến cung cách làm ăn đều chưa tiến kịp trong điều kiện và yêu cầu mới, vẫn còn vướng mắc kiểu cũ, họp hành nhiều và kéo dài. Người đứng quyết đoán và tổ chức hành động mau lẹ chưa nổi lên. Có tình trạng chưa nắm chắc bộ đội, có máy vô tuyên điện mà không sử dụng, cứ lách cách kéo theo đường dây điện thoại; có xe lấy được của địch, có tù binh biết lái xe cũng không dám dùng để cơ động bộ đội mà vẫn cứ lẽo đẽo đi bộ. Địch đang rối loạn, không như địch có tổ chức chuẩn bị phòng ngự đợi ta tiến công, nhưng khi thực hành đột phá vẫn cứ đòi hỏi đầy đủ bài bản, phải chuẩn bị từ đêm đến sáng mới đánh. Không quân địch đánh phá có hạn và bay cao, thả bom toạ độ thiếu chính xác nhưng vẫn không cho bộ đội vận động ban ngày, để chờ đợi về đêm mới cơ động, chậm trễ, bỏ phí thời gian, bỏ lỡ thời cơ... Tất cả những vấn đề đó phải được nhắc đi nhắc lại nhiều lần mới được khắc phục, nhưng cũng còn thiếu sự sáng tạo. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:12:55 pm Kết quả: Trận then chốt mở đầu tiến công thị xã Buôn Ma Thuột
Tính cả trong và ngoài thị xã ta đã tiêu diệt làm tan rã và bắt sống 10.210 tên (riêng trong thị xã có 3.523 tên); bắt sống 5.197 tên, có 186 sỹ quan, có 3 tên đại tá, trong đó có tên Sư đoàn phó Sư đoàn 23 và tên Tỉnh trưởng Đắc Lắc; làm tan rã 1.490 tên. Các đơn vị bị diệt trong thị xã có: Sở chỉ huy Sư đoàn 23 cùng các đơn vị trực thuộc: Tiểu đoàn 23 thông tin, Tiểu đoàn 23 công binh, Tiểu đoàn 23 vận tải, Tiểu đoàn 23 tiếp vận, Tiểu đoàn 23, Đại đội 23 trinh sát, Đại đội 23 vận tải, Đại đội 23 thông tin hữu tuyến điện, Đại đội 154 thông tin vô tuyến điện; Ban chỉ huy Thiết đoàn 8, Chiến đoàn 3 Thiết đoàn 8; Liên đoàn biệt động quân 21; Tiểu đoàn 1 Trung đoàn bộ binh 53; lực lượng bảo vệ hậu cứ Trung đoàn 45; các Tiểu đoàn 230, 232 pháo binh và số lính đang huấn luyện; 2 đại đội bảo an, 9 trung đội dân vệ; 2 đại đội cảnh sát; cơ quan Ngụy quân Ngụy quyền tỉnh; 1 đại đội máy bay lên thẳng và nhân viên kỹ thuật. Các đơn vị bị diệt và tan rã ở ngoại ô thị xã có: Cơ quan chỉ huy, nhân viên kỹ thuật, cảnh sát sân bay Hoà Bình; Ban chỉ huy Trung đoàn 53, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 53; Đại đội 45 trinh sát; 1 tiểu đoàn và 4 đại đội bảo an; 57 trung đội dân vệ, cảnh sát quận, xã; 5 trung đội pháo hỗn hợp; 1 chi đội xe thiết giáp. Ta thu được 3.215 súng các loại, có 42 khẩu pháo cối, 355 xe ôtô; 24 xe tăng xe bọc thép; phá huỷ 386 xe các loại; thu 3.200 tấn đạn dược, hàng triệu lít xăng dầu. Bắn rơi phá huỷ 50 máy bay, có 30 máy bay A.37; 4 máy bay L.19; 13 máy bay lên thẳng; 3 máy bay C.130. Trận then chốt thứ hai - Xoá sổ Sư đoàn bộ binh 23 Ngụy - Đánh bại phản đột kích chiến dịch Thực hiện quyết tâm mới của Bộ Tư lệnh, ngày 12, 13 tháng 3. Các lực lượng ta một mặt tổ chức ngay lực lượng, nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm các mục tiêu còn lại ngoài thị xã, mặt khác nhanh chóng truy lùng tàn quân địch đang lẩn trốn, để ổn định tình hình trong thị xã và rảnh tay chuẩn bị đánh địch đổ bộ đường không. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95B đánh chiếm khu nhà lao, bắt hơn 100 tên, giải phóng số tù nhân còn lại. Sáng 12 tháng 3 Trung đoàn 24 và 1 đại đội xe tăng đánh chiếm hậu cứ Trung đoàn 45 và khu trung tâm huấn luyện Sư đoàn 23, diệt và bắt hơn 350 tên, thu hơn 400 súng các loại. Chiều 12 tháng 3 Trung đoàn 174 tiến công tiêu diệt cụm quân địch ở cầu Sêrêpốc, bắt 300 tên. Trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, Điểm cao Chư Bao, ấp Đạt Lý. Ngày 13 tháng 3 một bộ phận của Trung đoàn 148 đánh chiếm ấp Châu Sơn. Ngày 14 tháng 3, Tiểu đoàn 21 giải phóng Bản Đôn, gọi hàng tiểu đoàn bảo an, phá rã một căn cứ Fulrô. Trên các hướng chiến trường Tây Nguyên Đường 19, Plâyku, Đường 21, Đường 14, sự phối hợp tiến công các mục tiêu ngoại vi và đánh cắt giao thông rất hiệu quả. Ngày 11 tháng 3, Trung đoàn 25 diệt một đoàn xe địch đang cơ động trên Đường 21. Ngày 12 tháng 3 Trung đoàn 19 Sư đoàn 968 chiếm thêm 2 vị trí địch ở Nam Plâyku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, uy hiếp Thanh An, tiếp tục pháo kích vào Plâyku và Kon Tum. Ngày 13 tháng 3, Trung đoàn 95A tiêu diệt một cụm quân địch ở ngã ba Plâyku. Tiếp đó, đã diệt 2 chi đoàn xe thiết giáp, đánh bại phản kích của địch và phát triển xuống đèo Măng Giang. Sư đoàn 3 (thiếu) Quân khu 5 sau khi diệt 9 chốt của địch đã phát triển tiến công về hướng Vườn Xoài, Đường 19 vẫn hoàn toàn bị cắt đứt. Các hành động tác chiến này đã giúp Bộ Tư lệnh chiến dịch rảnh tay chuẩn bị một quyết tâm mới đánh địch phản kích lớn. Ngày 12 tháng 3 Thiệu gửi điện cho tướng Phú, Tư lệnh Quân khu 2 - Quân đoàn 2: "Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào, trách nhiệm chỉ huy thống nhất cả mặt trận Nam cao nguyên là do Tư lệnh Sư đoàn 23 đảm nhận". Ngày 12 tháng 3 tướng Phú đã bay trực thăng trên vùng trời Căn cứ 53, phong quân hàm lên đại tá cho tên Võ An, động viên tên này chống cự đến cùng, chò Sư đoàn 23 về phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Tên An đã chỉ huy trung đoàn chống cự rất ngoan cố. Y ra lệnh cho thuộc hạ: "Kẻ nào ra khỏi công sự sẽ bị bắn tại chỗ". Căn cứ Trung đoàn 53 Ngụy nằm ở Đông Nam sân bay Hoà Bình, cách trung tâm thị xã khoảng 10km, được thiết bị phòng ngự rất vững chắc. Trong căn cứ có Trung đoàn 53 (thiếu), một chi đội M113, hậu cứ của cả 2 Trung đoàn 53 và 44. Đây là điểm tựa để cho địch tổ chức triển khai phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Sau khi thấy mất Buôn Ma Thuột, luẩn quẩn trong đồn điền ca phê một hồi, Liên đoàn biệt động quân 21 cũng mò được về phía Đông Căn cứ 53. Các loại lính thuộc các đơn vị thất trận cùng lần mò về tập trung ở Căn cứ 53. Lúc này căn cứ của Trung đoàn 53 như một cái túi đựng đủ mọi loại tàn quân, rất ô hợp, không ai chỉ huy được. Ngày 14 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 316: "Sử dụng Trung đoàn 149, được tăng cường 1 đại đội xe tăng tiến công tiêu diệt Căn cứ 53". Quá trình chuẩn bị chiến đấu gấp, nhận không rõ mục tiêu, Trung đoàn 149 đã đánh nhầm vào khu hành chính của sân bay Hoà Bình, sau đó mới phát triển tiến công Căn cứ 53 nhưng không thành công. Ngày 15 tháng 3 tiến công lần 2 vẫn không giành được thắng lợi. Trong thời khắc giành giật quyết liệt này. Trung đoàn 45 Sư đoàn 23 Ngụy đã đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống Đông Bắc Căn cứ 53. Đại đội trinh sát của Trung đoàn 45 Ngụy đang tiến sát hàng rào căn cứ 53. Được tiếp sức, hy vọng đang lóe lên, quân địch trong Căn cứ 53 càng chống trả điên cuồng. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã quyết định tung Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn bộ binh 10, được tăng cường 1 đại đội xe tăng vào tham chiến. Đêm 16 rạng 17 tháng 3 được chi viện hiệu quả của hoả lực pháo binh chiến dịch. Trung đoàn 66 từ hướng Tây Bắc, Trung đoàn 149 từ hướng Tây Nam đã đồng thời đột phá vào Căn cứ 53. Quân địch phần lớn bị tiêu diệt trước sức mạnh đột kích dũng mãnh của bộ binh và xe tăng ta, số còn lại tháo chạy về phía Đông. Căn cứ Trung đoàn 53 bị tiêu diệt, tia hy vọng mỏng manh làm bàn đạp phản kích của Sư đoàn 23 vừa loé lên đã bị dập tắt. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:13:54 pm Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, bọn chỉ huy cầm đầu chính quyền Sài Gòn "vẽ" ra một số tình huống:
- Tìm mọi cách ngăn chặn bước tiến của quân ta từ Buôn Ma Thuột theo Đường 21 về Ninh Hoà, Nha Trang. - Cố thủ, đối phó với cuộc tiến công tiếp theo của quân ta vào Plâyku. - Có điều kiện thì phản kích tái chiếm lại Buôn Ma Thuột, vì lực lượng của Sư đoàn 23 vẫn còn. Cả 3 tình huống trên lý thuyết thì có thể nhận định là đúng, nhưng thực tiễn không có khả năng để thực hiện bất kỳ tình huống nào. Bản thân Quân đoàn 2 - Quân khu 2 ở Tây Nguyên chỉ có Sư đoàn 23 là đáng kể, còn các liên đoàn biệt động quân và các lực lượng khác thì sức chiến đấu kém, ô hợp, lại đang bị choáng váng, tan rã, không còn khả năng để tập hợp lại. Lực lượng tổng dự bị đang bị phân tán và đang phải loay hoay chống đỡ những cuộc tiến công của ta ở khắp mọi nơi, không những trên chiến trường Tây Nguyên mà còn bị tiến công trên khắp các chiến trường khác. Bọn chỉ huy Quân khu 2 đang sống dở chết dở, phải tự mình lo liệu, không nhờ cậy gì vào sự chi viện của bọn cầm đầu Mỹ - Ngụy ở Sài Gòn. Ngay cả chi viện hoả lực không quân cũng rất khó khăn. Trông chờ vào chi viện là ảo tưởng, điều đó không thể xảy ra. Vô cùng bối rối và hoảng loạn, chỉ còn cách duy nhất là tung đứa con cưng là Sư đoàn 23 (thiếu) gồm Trung đoàn 44 và Trung đoàn 45 xuống phía Đông Buôn Ma Thuột, trên Đường số 21. Mọi đường bộ đến Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị ta cắt đứt. Không còn phương cách nào là đổ quân xuống bằng máy bay lên thẳng. Đổ quân để thực hiện kế hoạch phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột bằng máy bay không thể đổ cả xe tăng và pháo binh hạng nặng được. Chỉ có thể có một số pháo lựu 105 với một số đạn, vật chất khác rất hạn chế. Tư lệnh Sư đoàn 23, tướng Lê Trung Tường tình nguyện đưa quân về đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột, mặt khác Sư đoàn 23 từ lâu được bọn Ngụy quân Ngụy quyền phong là "Sư đoàn Nam bình, Bắc tiến, Cao Nguyên trấn" là lực lượng dự bị mạnh của Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy. Mặt khác hậu cứ của Sư đoàn 23 lại ở Buôn Ma Thuột. Đưa Sư đoàn 23 về phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột cũng là tất yếu cả về hình thức và nội dung. Không đưa Sư đoàn 23 về phản kích Quân khu 2 cũng chẳng còn lực lượng nào đáng kể để thực hiện một việc tác chiến lớn không tưởng này đối với tướng Phú. Thực hiện ý đồ này, ngay từ chiềụ ngày 13 và cả ngày 13 tháng 3 địch đã sử dụng 145 lần chiếc máy bay lên thẳng và 81 lần chiếc máy bay chiến đấu cường kích các loại yểm trợ cho Lê Trung Tường thực hiện kế hoạch đổ Trung đoàn 45 và Pháo đội 232 xuống phía Đông Buôn Ma Thuột, từ điểm cao 581 dọc theo Đường 21 đến Phước An. Trước khi thực hiện đổ quân tên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 đã báo cho Căn cứ 53 ở sân bay Phụng Dực (sân bay Hoà Bình) đang cùng đường rằng: cố thủ đến cùng, sẽ có lực lượng xuống ứng cứu và sẽ thực hiện phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột. Với ý đồ đổ quân trên một dải địa hình trên. Địch đã bộc lộ hướng phản kích từ khu vực Căn cứ 53 đến Căn cứ 45 và Điểm cao 581 làm bàn đạp, các lực lượng tàn quân phải về đó, hợp quân với lực lượng đổ bộ đường không vừa xuống phản kích từ phía Đông - Đông Nam Buôn Ma Thuột. Thật tai hoạ cho Trung đoàn 45, Căn cứ 45 đã bị ta chiếm giữ từ lúc 9 giờ 30 phút ngày 12 tháng 3. Trung đoàn 45 và Pháo đội 232 không còn nơi đứng chân để mà triển khai đội hình, thực tiễn cũng chẳng liên lạc và chẳng hợp quân được với Căn cứ 53. Chẳng còn cách nào, buộc phải đổ quân xuống nơi không được xác định trước là Nông Trại - Phước An. Trong khi bọn tàn quân của Liên đoàn biệt động 21 đang tháo chạy tan tác, xô nhau ào tới nhờ quân vừa đổ xuống che chở yểm hộ để chạy trốn. Như vậy, dù có thực hiện đổ quân trót lọt xuống khu vực đã định, với 2 trung đoàn đang hoang mang cũng không thể đối chọi lại với thế đã chuẩn bị chờ sẵn và lực rất mạnh của ta có đầy đủ các binh chủng đang hừng hực khí thế chiến thắng được. Sai lầm kế tiếp sai lầm của địch, tiếp tục đổ lực lượng vào chỗ chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Trong kế hoạch tác chiến chiến dịch hoàn toàn chủ động, không những ta đã dự kiến tương đối chính xác về thành phần lực lượng phản đột kích mà còn dự kiến đúng cả về thời gian, hướng và khu vực đổ bộ, khu vực triển khai, phương pháp cơ động lực lượng phản đột kích. Một phán đoán, dự kiến có cơ sở chắc chắn, đã tạo ra một thế trận vững chắc đón sẵn cho các lực lượng. Ta hoàn toàn chủ động cơ động di chuyển các cụm pháo binh, pháo phòng không ra phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiến công giải phóng Đức Lập, Sư đoàn bộ binh 10 cùng các lực lượng khác đã lần lượt hành quân bằng cơ giới vượt qua hơn 100km đường quân sự làm gấp về Đông thị xã Buôn Ma Thuột. Mặc dù chủ động nhưng Trung đoàn 24 và các lực lượng của ta đã phải vượt qua mọi địa hình sình lầy, gai góc, đường quân sự làm gấp nhỏ hẹp, khúc khuỷu, dưới hoả lực không quân pháo binh địch để tiến vào vị trí xuất phát tiến công. Đội hình cơ động triển khai trên các hướng mũi gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy trung đoàn đã không thực hiện được kế hoạch hiệp đồng theo giờ "G" qui định. Đến 7 giờ ngày 14 tháng 3 pháo binh mới bắt đầu bắn được. Với thế trận này, Trung đoàn 45, Pháo đội 232 thuộc Sư đoàn 23 Ngụy vừa đổ quân xuống đã bị Trung đoàn 24 thuộc Sư 10 đón sẵn đánh luôn một trận phủ đầu và lập tức bị ngăn chặn, không liên lạc được với Trung đoàn 53 đang bị ta bao vây, áp sát, uy hiếp ở sân bay Hoà Bình. Chưa kịp thực hiện bất kỳ hành động tác chiến nào, Trung đoàn 45 đã liên tiếp bị bao vây cô lập. Sau gần hai giờ chiến đấu ta làm chủ được trận địa, trận đánh kết thúc, ta mới chỉ tiêu diệt làm tan rã Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 45 và Tiểu đoàn bảo an đang cố thủ tại chỗ. Ta đã chiếm Điểm cao 581, giải phóng đoạn Đường 21 dài 12km, diệt 210 tên, bắt sống 180 tên, thu 260 súng bộ binh, 4 khẩu lựu pháo 105mm. Bị tiến công dồn dập, Trung đoàn 45 và Liên đoàn biệt động 21 đã phải tháo chạy về co cụm ở Nông Trại và Đông điểm cao 581. Trung đoàn 24 được tăng cường 1 đại đội xe tăng, được hoả lực pháo binh chi viện đã thực hiện một trận tiến công bất ngờ, kịp thời tạo thế cho các lực lượng của Sư đoàn 10 đến tiếp sau triển khai đội hình tiến công. Một đội hình tiến công gần như trong hành tiến bằng sức mạnh của binh chủng hợp thành với sức đột kích rất mạnh của xe tăng vào đội hình đổ bộ của quân địch. Trên thực tiễn địch vẫn còn khả năng đổ thêm quân tăng viện, nhưng bàn đạp để triển khai đội hình phản kích vào Buôn Ma Thuột đã bị đẩy ra xa hơn. Thế và lực, sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất của địch, trước mắt dù có tiếp tục đổ quân cũng không tạo được đủ sức và thời cơ để phản kích trực tiếp vào Buôn Ma Thuột cũng không còn nữa. Theo các nguồn tin của ta nắm được, quân tăng viện đã bị tiến công phủ đầu thua chạy. Buộc phải co cụm chắp vá vội vàng chống đỡ trước sức mạnh tiến công của ta. Thực chất những hành động co cụm vội vàng trên chưa thể coi đây là hành động phòng ngự có chủ định để ngăn chặn ta được. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:16:26 pm Ngày 15 và 16 tháng 3, địch đổ tiếp Trung đoàn 44 và Sở chỉ huy nhẹ của Sư đoàn 23 xuống Phước An. Riêng sở chỉ huy Sư đoàn di chuyển xuống ở luôn khu vực Nông Trại cùng với tàn quân của Trung đoàn 45 đang ngơ ngác tìm cách thoát thân. Như vậy toàn bộ lực lượng, đội hình của cái gọi là "Nam bình - Bắc tiến - Cao Nguyên trấn" đã về Đắc Lắc, đang dồn chân ở phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột. Một đội quân thất trận ô hợp ở khu vực từ Nông Trại đến Phước An tổng cộng có khoảng 5.600 tên, từ Đông Phước An đến Chư Cúc có đến 3 Tiểu đoàn bảo an chốt giữ.
Các lực lượng tham chiến của ta đang từ thế trận đánh quân tăng viện đã nhanh chóng hình thành một thế trận mới, thế trận tiến công trong hành tiến. Hướng tiến công và phát triển về Phước An - Chư Cúc là hướng chủ yếu. Một thế trận ta cũng chưa có thời cơ điều kiện vận dụng nhiều trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Chiều ngày 15 tháng 3, Sư đoàn 10 cho pháo kích vào Đông Điểm cao 581. Sáng 16 tháng 3 Trung đoàn 24 được tăng cường thêm Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn bộ binh 66 đột kích vào Nông Trại tiêu diệt gần hết lực lượng đang co cụm của Trung đoàn 45 Ngụy, số còn lại tháo chạy về Phước An. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ thị cho Sư đoàn bộ binh 10 sử dụng xe cơ giới cơ động Trung đoàn 28 hành quân ngay trong đêm 15 tháng 3 để tăng cường sức chiến đấu cùng với Trung đoàn 24. Ngay trong đêm 15 tháng 3, Trung đoàn 66 (-1d) được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 2 khẩu pháo 85mm, phối hợp chiến đấu cùng Trung đoàn 149 thuộc Sư đoàn 316 tiến công dứt điểm Căn cứ 53, đập tan ý đồ hy vọng lấy Căn cứ 53 làm bàn đạp phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch. Ngày 17 tháng 3, Sư đoàn 10 lại tiến công cụm quân địch ở Phước An, tiêu diệt và làm tan rã gần hết quân địch đang dồn về đây. Số còn lại tiếp tục kéo súng chạy về Chư Cúc. Trước nguy cơ bị truy kích, uy hiếp Ninh Hoà - Nha Trang địch đã sử dụng không quân ném bom phá huỷ cầu trên Đường 21. Ngày 18 tháng 3 Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 10 được sự phối hợp với Trung đoàn 25 tiếp tục tiến công quân địch ở ngã ba Phước An và quận lỵ Phước An, trận đánh kết thúc. Ta đã hoàn toàn làm chủ trận đánh, Sư đoàn bộ binh 23, lực lượng cơ động của Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy ở Tây Nguyên, đồng thời là lực lượng phản đột kích chủ yếu hòng tái chiếm lại Buôn Ma Thuột về cơ bản đã hoàn toàn bị tiêu diệt và tan rã. Tên tướng Trần Trung Tường, Sư đoàn trưởng tình nguyện đưa Sư đoàn 23 về phản kích, đã “tình nguyện” tháo chạy bằng máy bay trực thàng và bị lực lượng pháo phòng không của ta bắn bị thương nặng. Trong quá trình tác chiến, Trung đoàn 28 đang thực hiện truy kích quân địch chạy về Phước An, Trung đoàn đã cử trinh sát bám địch để đón Trung đoàn sang đánh Phước An, theo kế hoạch ban đầu của chiến dịch. Nhưng thừa thắng đột kích liên tục Trung đoàn 66 đã kết thúc tiến công Phước An giành thắng lợi. Quân địch còn sống sót đã tháo chạy khỏi Phước An. Trên hướng Đông Bắc quận lỵ Phước An chỉ còn một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 44 Ngụy đổ bộ xuống chiều 16 tháng 3. Tiểu đoàn này có nhiệm vụ đứng chân ở đây để đón các lực lượng tàn binh của Trung đoàn 53 Ngụy ở sân bay Hoà Bình bị Trung đoàn 66 và Trung đoàn 149 đang tiến công quyết liệt. Đến lúc này về cơ bản căn cứ và các lực lượng ô hợp dồn chạy về Căn cứ 53 đã bị tiêu diệt, ta đã hoàn toàn làm chủ Căn cứ 53. Tiểu đoàn nguỵ làm nhiệm vụ thu dung và chặn bước tiến của quân ta tuyệt nhiên không thấy đâu cả. Sau khi hợp đồng tác chiến với Trung đoàn 28, Trung đoàn 24 đã tiến công tiêu diệt lực lượng địch, đánh chiếm quận lỵ Phước An, truy lùng bọn tàn quân lẩn trốn, đón đánh bọn tàn quân của Trung đoàn 53 Ngụy. Sáng 18 tháng 3, mặc dù kém địch nhiều về số lượng, song ta nắm thời cơ địch đang nao núng tan rã, thực chất không còn khả năng tổ chức tác chiến, mạnh kẻ nào kẻ đó tìm cách thoát thân; Trung đoàn 28 nhanh chóng hạ quyết tâm, cùng xe tăng pháo binh pháo cao xạ cơ động lực lượng tiến công trong hành tiến dọc Đường 21. Sử dụng các lực lượng nhỏ nhanh chóng vượt qua đội hình ngăn chặn chắp vá của địch ở khu vực phía Tây và Đông Chư Cúc, hình thành thế bao vây chặt, hiệp đồng với các lực lượng đột phá phía trước lần lượt tiêu diệt các lực lượng của Trung đoàn 44 Ngụy, tiến công Chư Cúc và phát triển về hướng đông. Bằng cách đánh linh hoạt chủ động tiến công với sử dụng lực lượng đột kích mạnh hơn hẳn địch về thế trận và sức mạnh, Trung đoàn đã đánh một đòn dứt điểm, bất ngờ vào lực lượng còn lại của Trung đoàn 44 quân Ngụy. Ta tiêu diệt một số, số còn lại tháo chạy tán loạn. Trước tình thế hết sức nguy ngập, địch đã sử dụng không quân ngăn chặn ta và đánh sập cầu số 13 trên Đường 21. Lợi dụng lúc công binh ta bắc cầu, địch co lại tập trung thành một lực lượng lớn trên Đường 21 từ cầu số 15 đến cầu số 20, tình hình rất hỗn loạn. 11 giờ 30 phút sau khi công binh ta vừa bắc cầu xong, đội hình bộ binh xe tăng lập tức tiến công như vũ bão ngay. Cụm quân địch ở khu vực này bị tiêu diệt và tan rã, không thể chống đỡ nổi. Số tàn binh tiếp tục chạy về phía Đông cũng không thoát khỏi bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống. Trung đoàn bộ binh 25 của ta đang tổ chức chuẩn bị tiến công Khánh Dương, thấy quân địch ào tới đã chủ động chặn đánh ngay. Kết quả 500 tên đã bị tiêu diệt và bắt sống, số còn lại chạy tan tác vào rừng. Trận đón đánh quân tăng viện bằng đổ bộ đường không của địch đã chính thức trở thành trận tiến công quân địch trong hành tiến ở khu vực Nông Trại - Phước An - Chư Cúc của các lực lượng ta đến đây kết thúc. Quân ta đã đập tan ý định phản đột kích của địch tái chiếm lại Buôn Ma Thuột và ngăn chặn tốc độ tiến công của quân ta về đồng bằng. Một loạt các trận đánh không những xoá sổ Sư đoàn 23 “những thiên thần lịch sử” của quân Ngụy mà còn quét sạch lực lượng bảo an, chính quyền địa phương và tàn quân địch ở các nơi khác “trôi dạt” về đây, giải phóng thêm hai quận Phước An và Chư Cúc. Đập tan cuộc phản kích, xoá sổ Sư đoàn 23 Ngụy. Đòn then chốt thứ 2 của chiến dịch diễn ra gần như dự kiến. Cùng với đòn then chốt mở màn chiến dịch đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Hai đòn chiến thắng lớn và hoàn chỉnh trong một thế trận vững chắc, đã tạo đà phát triển tiến công trên các hướng của toàn bộ mặt trận Tây Nguyên. Hai trận quyết chiến thắng lợi nàv đã tạo ra thế và lực mới đế các lực lượng ta tiến công xuống các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung. Đồng thời thúc đẩy sự sụp đổ, tan rã nhanh chóng của Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy ở Tây Nguyên đang chuẩn bị tháo chạy, bỏ lại Tây Nguyên. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:17:46 pm Với sự thất thủ Buôn Ma Thuột, ngay cả đại sứ Mỹ Ma tin cũng không dám nhìn thẳng vào sự kiện Tây Nguyên. Ngày 14 tháng 3, ngay sau khi mất Tây Nguyên, từ Mỹ đại sứ Ma tin viết cho Thiệu một bức thư, chỉ thị cho Thiệu phải cố giành lấy một vài thắng lợi vang dội để gây loãng tin và vòi Quốc hội Mỹ cho tiền. Ma tin yêu cầu Thiệu đánh một trận đẹp mắt không phải là ở Tây Nguyên mà ở Tây Ninh "Như tôi đã nói với ngài từ trước, tôi không nghĩ rằng hiện nay ngươi Mỹ thực sự có đủ tiêu chuẩn (về pháp lý) để giúp ý kiến cố vấn về quân sự. Vì tác động chính trị, nếu như trong vài tuần tới có thể có cơ hội để quân lực Cộng hoà đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam làm cho công chúng thấy rõ, thì ít ra có tác dụng. Phản ứng chính trị ở đây (Mỹ) sẽ rất tốt nếu có sự kiện như vậy. Có thể các trận đánh tối ở quanh Tây Ninh hoặc các nơi khác trong Quân Khu 3 sẽ tạo ra cơ hội trên, ở đây một số người lo ngại rằng ngài có thể dùng quá nhiều lực lượng để tái chiếm Buôn Ma Thuột ngay"1 (Tài liệu thu được ở nhà Thiệu, Lưu trữ Bộ Tổng Tham mưu, Hoàng Minh Thảo, Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, trích dẫn, Nxb QĐND, H, tr.154).
Như vậy, sau khi thất thủ Buôn Ma Thuột, ngay cả đại diện của Mỹ làm "quân sư" cho Thiệu, cũng không bàn tính gì đến việc phản kích tái chiếm lại hoặc bàn về chiến lược, chiến dịch, thế trận... mà chỉ tính đến khuyên Thiệu tìm cách để xin tiền viện trợ của Quốc hội Mỹ. Kết quả: Trận then chốt thứ 2 - Đánh bại phản đột kích chiến dịch Tổng cộng, ta tiêu diệt và bắt sống 5.266 tên Thu 3.718 khẩu súng các lọai, có 5 khẩu pháo 155mm, 9 khẩu pháo 105mm; 170 xe vận tải GMC; 8 xe M113; 127 xe Jép và 1 máy bay lên thẳng. Các đơn vị bị tiêu diệt: Sư đoàn bộ binh 23 gồm 2 Trung đoàn 44 và 45; các lực lượng bảo an dân vệ địa phương và tàn quân các nơi khác chạy về. Trận then chốt thứ 3 - Tiêu diệt quân địch rút chạy trên Đường số 7. Ngay từ khi Buôn Ma Thuột vừa bị đánh chiếm, khả năng phản đột kích chiến dịch tái chiếm lại Buôn Ma Thuột khi một số căn cứ, địa hình phụ cận Buôn Ma Thuột vẫn chưa bị ta đánh chiếm, lực lượng cơ động của Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 là Sư đoàn bộ binh 23 vẫn còn. Nhưng khi Đường 19 bị cắt đứt, Plâyku, Kon Tum bị bao vây, sân bay Cù Hanh bị pháo kích dữ dội suốt ngày đêm, quân địch đã tự dồn mình vào tình thế khốn quẫn. Ngày 13 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu họp Hội đồng An ninh Quốc gia công bố quyết định chiến lược: “Nặng ở đáy, nhẹ ở đầu”. Theo quyết định chiến lược của Thiệu: rút bỏ những vùng chúng cho là không quan trọng, hoặc không thể giữ được để đưa quân về giữ những vùng có tính chất sống còn của chúng. Trên địa bàn Quân Khu 1, Thiệu quyết định bở Quảng Trị đồng thời rút luôn Sư đoàn lính dù về trấn giữ Sài Gòn. Trên địa bàn Quân Khu 2, Thiệu quyết định rút bở Tây Nguyên về trấn giữ duyên hải miền trung, chủ yếu là giữ Nha Trang, Cam Ranh. Thật nực cười cho những cái đầu của Hội đồng An ninh Quốc gia Ngụy Sài Sòn. Chính những quyết định vội vàng thiếu tính toán của Thiệu đã giội thêm tinh thần đang hoảng loạn, tan rã của thuộc hạ và binh lính địch, sau đòn choáng váng mất Buôn Ma Thuột, mất luôn Sư đoàn 23 lực lượng cơ động và mạnh nhất của Quân Khu 2. Quyết định rút bỏ chiến lược của Thiệu đã đẩy thế chiến lược của toàn bộ “lãnh thổ” Việt Nam Cộng hoà đi nhanh đến sụp đổ hoàn toàn. Sau quyết định rút bỏ chiến lược với Hội đồng An ninh Quốc gia, ngày 14 tháng 3 Thiệu bay ngay đến Cam Ranh, kéo theo Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang và gọi tướng Phú về hội đàm tại Cam Ranh. Tại cuộc đàm đạo này Phú đã báo cáo: “Đã cho 2 Trung đoàn 44 và 45 về giải toả, tái chiếm Buôn Ma Thuột, nhưng đã bị lực lượng của đối phương quá mạnh đẩy lùi về phía Đường 21. Ở Plâyku và Kon Tum, Liên đoàn biệt động 23 bị đánh mạnh. Phi trường Cù Hanh bị pháo kích liên tục. Ở quốc lộ 19, Trung đoàn 95 cộng sản đánh mạnh vào Liên đoàn biệt động quân 4 và Thiết đoàn kỵ binh 3, đã có 12 thiết giáp bị cháy, ở Bình Định, cộng sản đang nỗ lực chiếm phi trường Phù Cát. Cộng sản rất mạnh, họ đã bắt đại tá Vũ Thế Quang. Ông Quang bị bắt tức là họ biết rất rõ tình hình Nha Trang và Cam Ranh (Quang nguyên là thị trưởng Cam Ranh). Thiệu hỏi tướng Phú: ‘‘Trước tình hình đó anh tính sao”? “Tôi sẽ giữ Cao Nguyên bằng mọi giá. Tối đa cho Sư đoàn 23 về tăng viện cho Buôn Ma Thuột, rút 2 Liên đoàn biệt động quân ở Kon Tum về tăng cường cho mặt trận phía Đông và phía Tây, chuẩn bị chiến đấu đến cùng. Tôi sẽ ở lại Plâyku chiến đấu và tôi sẽ chết ở đó, với điều kiện Tổng thống và tướng Viên cho không quân yểm trợ tối đa, tiếp tế bằng không vận đầy đủ nhu cầu về vật liệu, vũ khí, đạn dược và bổ sung quân số đủ bù thiệt hại vừa qua. Nếu được tăng viện, tôi sẽ giữ được Cao Nguyên. Thiệu quay sang hỏi Viên: “Còn quân trù bị để tăng viện cho Quân đoàn 2 không”? Viên trả lời: “Không còn” Cuối cùng, Thiệu quyết định: rút khỏi Kon Tum và Plâyku để bảo toàn lực lượng, lấy quân về giữ đồng bằng ven biển, tiếp tế thuận lợi hơn. Thiệu hỏi Viên: “Rút theo Đường số 19 có được không”? Viên trả lời: “Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo Đường số 19 mà không bị tiêu diệt”. Nghe xong Thiệu quyết định phải rút theo Đường số 7, tuy đường xấu, nhưng đã lâu không dùng nên tạo được yếu tố bất ngờ. Khi thấy Thiệu ra quyết định rút bở Tây Nguyên, Phạm Văn Phú đã phản đối. Nhưng Thiệu nói thẳng. Nếu không chấp hành mệnh lệnh sẽ bị ngồi tù hoặc bị cách chức! (55 NGÀY CHẾ ĐỘ SẢI GÒN SỤP ĐỔ - ALOEN DOWSON)1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự, Chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975, H, 1991, tr.63, 64). Trong một thời gian ngắn, đánh chiếm Buôn Ma Thuột và diệt gần hết Sư đoàn 23 chủ lực của Quân Khu 2 - Quân đoàn 2. Liên tiếp hai đòn sấm sét với thế và lực hoàn toàn áp đảo ở Nam Tây Nguyên, đã làm rung chuyến thế chiến lược của địch. Địch cũng bắt đầu nhận thấy, hành động tác chiến của ta không phải là nghi binh. Thực sự đây là những đòn điểm đúng huyệt của địch, chúng bắt đầu ngấm đòn. Địch đã choáng váng và rối loạn về chiến lược. Lại chồng thêm một sai lầm chiến lược lớn của địch. Sự sụp đổ sau những sai lầm như thế về chiến lược là tất yếu. Trở về Plâyku ngay trong ngày hôm đó, Phú triệu tập ngay cuộc họp khẩn cấp, trình bày lại ý kiến của Thiệu và giao cho Trần Văn Cẩm phụ tá của Tư lệnh Quân đoàn 2 làm kế hoạch rút lui. Phú căn dặn cấp dưới: Phải rút rất nhanh và rất bí mật. Không được thông báo cho các tỉnh trưởng. Địa phương quân toàn là người Thượng thì trả chúng về với Cao Nguyên. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:18:36 pm Triển khai kế hoạch rút lui ngay trong đêm 14 rạng 15 Sư đoàn 16 không quân đã di chuyển cơ quan Quân đoàn 2 và lính không quân về Nha Trang.
Theo kế hoạch sau này ta nắm được, lực lượng rút chạy của địch gồm có: 6 Liên đoàn biệt động quân; Lữ kỵ binh 2; 6 tiểu đoàn pháo binh có 1 tiểu đoàn "vua chiến trường - tự hành 175mm"; 1 tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 44; Tiểu đoàn 89 thuộc Liên đoàn biệt động 21; Liên đoàn 20 công binh; Liên đoàn 26 truyền tin; cơ quan Quân đoàn 2; sỹ quan của Sư đoàn 6 không quân; 2 Liên đoàn bảo an của tỉnh Kon Tum - Gia Lai và một số tàn quân các nơi chạy về; tổng cộng lên tới 27 đầu mối. Ngoài ra, trên đường rút chạy còn có ô hợp các loại sắc lính đồn trú trong các thị trấn, thị tứ, căn cứ từ Phú Thiện đến Củng Sơn. Thời gian bở Plâyku rút chạy về Cheo Reo được ấn định trong 3 ngày. Ngày 15 tháng 3, sử dụng Liên đoàn biệt động quân số 6 và số 23 cùng Lữ đoàn kỵ binh số 2 làm nhiệm vụ bảo vệ đường; sử dụng Liên đoàn công binh đi trước để bảo đảm đường, bắc cầu. Ngày 16 tháng 3 rút Kon Tumu ngày 17 tháng 3 rút Plâyku. Đến lượt bộ phận nào rút thì bộ phận đó biết. Vừa thực hiện sửa đường vừa rút, sửa xong đường đến đâu rút đến đó. Kế hoạch rút bở Tây Nguyên đã phải sử dụng đến lực lượng ở đồng bằng lên hỗ trợ. Bởi vì, hình quân rút chạy là ô hợp nên hoang mang, hỗn loạn. Địch đã dự kiến đến tình huống bị du kích ta phục kích mà không dự kiến đến những trận phục kích, truy kích lớn của lực lượng chủ lực ta. Mặt khác, chúng phải sửa chữa và khắc phục năm đoạn đường từ Nam Củng Sơn đến Tuy Hoà sẽ phải mất rất nhiều thời gian và lực lượng, trong khi lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị tiến công bất thần từ nhiều hướng tới. Mọi biện pháp được địch đưa ra nhằm bảo đảm sự bí mật của cuộc hành quân "bất đắc dĩ" này. Cơ quan Tham mưu Quân đoàn 2 còn phóng tin đi là di chuyến sở chỉ huy về Nha Trang để chỉ huy tái chiếm lại Buôn Ma Thuột. Những thông tin cố làm để giữ bí mật một mặt chỉ nằm trên giấy, mặt khác không thể che giấu được những triệu chứng tháo chạy của các lực lượng. Càng giấu giếm, thì những thông tin loan truyền lại càng quan trọng, cấp bách và được thổi phồng lên nghiêm trọng hơn. Tất cả những thông tin về sự tháo chạy của những người cầm súng trấn giữ Tây Nguyên đã lan truyền rất nhanh trong dân chúng. Thị xã Plâyku thực sự đã rơi vào cảnh hỗn loạn, cảnh rút chạy của binh lính và sỹ quan Quân đoàn 2 diễn ra trong tình trạng hoảng loạn, không có phương thức hữu hiệu nào có thể kiểm soát được. Kế hoạch rút bở Tây Nguyên của Thiệu và thuộc hạ đã thực sự trở thành thảm hoạ, một bi kịch trong chiến lược "nặng ở đáy, nhẹ ở đầu" của chính quyền Sài Sòn. Ngược dòng lịch sử các cuộc chiến tranh ở Đông Dương, trong phạm vi chiến dịch, một Quân đoàn được trang bị đầy đủ hiện đại về vũ khí, có lực lượng nhiều, đã phải bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng để rút chạy, điều này chưa bao giờ xảy ra trong quá khứ. Chính sự ấu trĩ và sai lầm này của đối phương sẽ dẫn đến nhiều sự kiện quan trọng đột biến khác, cái đột biến lớn nhất có thể dẫn đến việc ta kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh? Vào thời khắc lịch sử này, ngày 16 tháng 3 sự rút chạy khỏi Plâyku - Kon Tum chưa xảy ra. Ngay từ ngày 13 tháng 3, Quân uỷ Trung ương đã thông báo cho Bộ chỉ huy chiến dịch, trong đó có đoạn viết: "Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương dự kiến là nếu địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, thị xã Buôn Ma Thuột và nhiều quận lỵ khác bị mất, Đường số 19 bị cắt, thì lực lượng còn lại ở Tây Nguyên sẽ cụm lại ở Plâyku và cũng có thể chúng buộc phải rút lui chiến lược, bở Tây Nguyên”. Do đó, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị: “Cần hình thành ngay việc bao vây Plâyku, triệt cả đường bộ lẫn đường không của địch, chuẩn bị tốt cho việc tiêu diệt địch trong cả hai tình huống"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự, Chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975, H.1991, tr.65). Như vậy, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã dự kiến cuộc rút lui chiến lược của địch ở Tây Nguyên trước 2 ngày so với thực tế xảy ra. Vào lúc 21 giờ ngày 16 tháng 3, tại sở chỉ huy chiến dịch, đồng chí trực ban nhận được tin địch đang rút chạy khỏi Plâyku, một đoàn xe đã qua ngã ba Mỹ Thanh theo hướng Đường số 7, kho đạn ở Plâyku đang nổ và có nhiều đám cháy trong thị xã. Như vậy, điều đột biến đó đã bắt đầu xảy ra. Chấp hành chỉ thị của Quân uỷ Trung ương mà trực tiếp là tiền phương Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: "truy kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn đang tháo chạy hỗn loạn trên Đường số 7 từ Plâyku - Kon Tum về Cheo Reo. Đoạn tập trung tiêu diệt địch chủ yếu từ Cheo Reo đến Củng Sơn" và sử dụng lực lượng vào trận đánh như sau: - Sư đoàn bộ binh 320 và Trung đoàn bộ binh 95B - Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 273 xe tăng - Trung đoàn 593 pháo cao xạ phòng không - Trung đoàn 675 pháo binh - 2 Tiểu đoàn chủ lực của địa phương và các lực lượng khác cùng phối hợp. Vào thời điểm này Sư đoàn 320 đang triển khai đội hình chiến đấu ở Chư Phao, Đạt Lý, Cẩm Ga. Phía Đông Đường số 7B đã có Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64 đang đứng chân. Từ Cẩm Ga đi Cheo Reo khoảng 50 km, cơ động nhanh cũng phải mất 1 ngày. Mọi cố gắng cao nhất, mọi nỗ lực cao nhất của chiến dịch đều tập trung giành cho kỳ được thắng lợi của trận truy kích. Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng Sư đoàn 320 được tăng cường Trung đoàn bộ binh 95B, 1 Tiểu đoàn xe tăng và một bộ phận của Trung đoàn pháo binh 675 truy kích diệt đạo quân đang tháo chạy trên Đường 7. Đồng thời đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu 5 sử dụng lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên chốt chặn địch ở khu vực Củng Sơn. Bộ Tư lệnh đã phân công đồng chí Phó tư lệnh chiến dịch và một bộ phận cơ quan trực tiếp đi cùng Sư đoàn 320. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:19:38 pm Chiều 16 tháng 3 Sư đoàn 320 và các đơn vị đã nhận nhiệm vụ truy kích địch trên Đường số 7. Vì đã được dự báo trước, tuy đường xa, tổ chức hiệp đồng phức tạp, cơ động lực lượng cũng gặp nhiều khó khăn. Nhưng ngay sau khi nhận lệnh Sù đoàn 320 đã bôn tập về hướng thị xã Cheo Reo. Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64 đang đứng chân ở phía Đông Đường 14 đã cơ động lực lượng lên phía trước để chặn địch. Chiều 17 tháng 3 phần lớn đội hình Tiểu đoàn 9 đã cơ động đến Đường số 7 tại cầu IaNu cách Đông Cheo Reo 4 km. Như một mũi dao bất ngờ và vững chắc cắt chặt xuống Đường số 7. Tiểu đoàn 9 đã cắt ngang đội hình quân địch đã rối loạn lại càng rối loạn thêm. Tiểu đoàn đã chặn đứng khối lớn quân địch lại phía sau. Đây chính là một bàn đạp, một thế trận vững chắc cho đội hình của toàn bộ Trung đoàn 64 vận động tiến công rất mãnh liệt vào đội hình bị chặn đứng đang rối loạn của địch tại khu vực Chư Mơ ri A. Thị xã Cheo Reo nhỏ hẹp lúc này trở thành tụ điểm của hàng vạn sắc lính và dân chúng. Trên dọc Đường số 7, khoảng 2000 chiếc xe ôtô xếp hàng 3 hàng 4 chen chúc xô đẩy lẫn nhau để tháo chạy, đã tắc nghẽn lại càng tắc nghẽn hoàn toàn. Đội hình địch không thể nhúc nhích cơ động chạy trốn được trước sức mạnh tiến công áp đảo của các lực lượng ta trên các hướng mũi. Từ thời điểm này, không một xe nào chạy thoát, vượt qua được trận địa chốt chặn của ta. Trung đoàn đã tranh thủ thời gian tổ chức chuẩn bị, sẵn sàng đột phá tiến công vào khu chiến địa Cheo Reo.
Cùng thời điểm này sở chỉ huy và 1 Tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 48 đã cơ động đến khu vực Chư Pa. Phát hiện thấy Liên đoàn biệt động quân 23 và lực lượng bảo an từ thị xã Cheo Reo đang nống ra khu vực Tây Nam. Tiểu đoàn đã nhanh chóng chiếm giữ núi Chư Pa chặn đánh thẳng vào đội hình của địch ngay tức khắc, quân địch phải chạy quay trở lại phía thị xã. Thừa thắng, Trung đoàn 48 cơ động đội hình vào sát sân bay và sử dụng một bộ phận cắt luôn Đường 7 cách Cheo Reo 3 km về phía Bắc, hình thành tiếp một thế trận bao vây cô lập quân địch trong khu chuẩn bị quyết chiến. Lúc 9 giờ ngày 17 tháng 3, tại khu vực Phú Nhơn trên Đường 14, Trung đoàn bộ binh 9 của ta cũng cơ động được đến khu vực Kênh Sắn thuộc chi khu Phú Nhơn. Phát hiện thấy quân địch đang tháo chạy, Trung đoàn nổ súng tiến công áp đảo luôn, diệt một số, số còn lại chạy về phía Phú Nhơn. Trước sức áp đảo rất mạnh mẽ của ta, quân địch chiếm giữ Phú Nhơn và cả bọn bại binh vừa chạy về bỏ luôn Phú Nhơn tháo chạy. Thừa thắng sốc tới, Trung đoàn tiến hành một loạt các trận đánh, giải phóng luôn Phú Quang, Mỹ Thạch và Căn cứ 433. Tiếp tục xuyên rừng theo hướng Đường số 7 đánh chiếm các chốt bảo an. Đến sáng 18 tháng 3 đội hình của Trung đoàn đến sát phía Tây và Đông Nam Phú Thiện, triển khai ngay đội hình tiến công quận lỵ Phú Thiện, thực hiện chia cắt phía sau đội hình quân địch của chiến dịch. Tạo điều kiện cho các lực lượng bạn thực hành tiến công vào thị xã Cheo Reo. 7 giờ sáng ngày 18 tháng 3, trên các hướng quân ta đã hình thành thế bao vây, chia cắt, ở tư thế sẵn sàng tiến công tiêu diệt quân địch đang ùn tắc tại thị xã Cheo Reo. Về phía địch, bọn chỉ huy Quân đoàn 2 cũng lệnh cho các lực lượng phải tìm mọi cách để chốt giữ cho bằng được Cheo Reo và Phú Thiện, bảo đảm cho đoàn quân rút chạy an toàn. 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 3 pháo binh ta pháo kích Cheo Reo. Ngay khi hoả lực pháo bắn chuẩn bị đã trúng nhiều mục tiêu. Các loại hoả lực đi cùng đồng thời chế áp mãnh liệt trên các hướng đột kích. Pháo binh xe kéo bắn cấp tập vào trung tâm cơ quan tiểu khu, nơi địch đang dồn co cụm đông nhất, hỗn loạn nhất: xe địch bốc cháy, binh lính hoảng loạn, mạnh kẻ nào kẻ ấy chạy, chúng giẫm đạp lên nhau để thoát thân. Xe tăng, xe cơ giới các loại tranh nhau vượt qua cầu Ba Nu. Cầu bị sập, xe rơi xuống sông, các xe đang ùn tắc tại đầu cầu lao tràn xuống sông định vượt bừa qua sông. Thật không may mắn cho những xe liêu lĩnh đó, nước sâu, cát lún, lại bị tiến công bằng hoả lực pháo cối, bị uy hiếp từ nhiều phía, xe hỏng ùn lại, người chết chồng chất lên nhau. Trên bãi sông ngổn ngang xác xe cháy và xác người. Cầu bắc qua sông đã bị sập hoàn toàn, biết chắc chắn không thể tháo chạy như ý muốn được nữa. Phạm Van Phú đã điện cho tên chuẩn tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc rút chạy: "Mở đường máu mà tháo thân. Mạnh đơn vị nào, đơn vị ấy chạy, xe không đi nổi thì phá xe, tìm đường, bỏ đi mọi tình huống mà luồn cho thoát, lấy Củng Sơn làm tụ điểm". Ngay sau khi nhận được điện của Phú, Tất tót lên máy bay chuồn trước, bỏ mặc lại một đội quân ô hợp đang kêu la, hoảng hốt, tranh cướp nhau giẫm đạp lên nhau để tìm đường thoát thân. Quân lính chấp hành "lệnh tháo thân" của tướng Phú đã vứt bỏ xe pháo, phương tiện, thậm chí bỏ lại cả người nhà gia đình lội bừa sang sông chạy thục mạng. Tướng Tất phải thốt lên: "Tổn thất quá nặng nề, gần như tan rã". Chẳng còn đường nào để thoát thân đối với binh lính, ngoài con đường độc nhất vô nhị là: bỏ súng - giơ tay cao khỏi đầu - kẻ nào nhát gan hơn và có điều kiện thì vẫy thêm một mảnh vải trắng để đầu hàng. Quân địch sau hồi hoảng loạn đã lũ lượt kéo nhau ra hàng, đông đến nỗi ta không đủ người để áp tải, phải chỉ đường cho chúng tự đi về hướng phía sau ta. Ngay trong đêm 18 tháng 3, lực lượng còn lại của địch không rút chạy được, một số tên chỉ huy cầm đầu, cùng xe tăng dồn về đã hội tụ với đám quân chiếm đóng tại chỗ tổ chức trong khu vực tiểu khu ngoan cố chống cự lại ta. Hành động chống cự cũng chỉ là bột phát và cùng đường, không có tổ chức. 24 giờ cùng ngày lực lượng co cụm này cũng bị tiêu diệt, bắt sống và tan rã hết. Số tàn quân chạy thoát trên Đường số 7 bị các trận địa chốt của ta đánh bật trở lại, chúng dồn cục thành 2 cụm lực lượng ở Nam Cheo Reo khoảng 2 km. 6 giờ 20 phút ngày 19 tháng 3, quân ta tiếp tục bao vây, gọi hàng và tiến công rất mãnh liệt, xoá sổ luôn cả 2 cụm quân này. Đến 9 giờ sáng ngày 19 tháng 3, quân ta đã hoàn toàn giải phóng thị xã Cheo Reo tỉnh Phú Bổn. Trong lúc trên các hướng tiến công, quân ta vừa giải phóng Cheo Reo, đang tiến công tiêu diệt bộ phận đi giữa và cuối của đội hình quân địch rút chạy trên Đường 7 thì nhận được tin quân địch ở Quảng Trị đã tháo chạy về Huế (19 tháng 3). Như vậy, không chỉ Quân Khu 2 chấp hành kế hoạch chiến lược của Thiệu rút bở Tây Nguyên mà Quân Khu 1 gần như đồng thời cũng phải chấp hành kế hoạch chiến lược của Thiệu: rút bỏ cái cửa ngoài đồng bằng, vùng giáp ranh giành đi giật lại với ta nhiều lần trong lịch sử. Sự chỉ đạo chiến lược của địch lúc này càng thêm lỡ đà và thất thế - bối rối và do dự, một điều nguy hiếm vỡ thế chiến lược đang rình rập đối với chúng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 08:20:41 pm Ngày 21 tháng 3, Trung đoàn 64 và bộ đội tăng thiết giáp của ta đã truy kích quân địch đến Phú Túc, thừa thắng xốc tới tiếp tục truy kích quân địch đến Ga Pui. Kết hợp với các lực lượng vũ trang của tỉnh Phú Yên, phá cầu Sơn Hoà, lập thành một "bức tường thép" trên Đường số 7, ở Đông Củng Sơn, diệt và bắt nhiều tên địch.
Tại thị trấn Củng Sơn trên Đường số 7, quân địch đang ùn tắc tại đây hơn 6000 tên, 40 xe tăng và xe thiết giáp, hàng trăm xe vận tải. Thực chất của "co cụm" là không còn đường nào có thể thoát thân về được Tuy Hoà, chứ tuyệt nhiên không phải co cụm để ngăn chặn, phòng ngự chống lại ta. Ngày 24 Trung đoàn 64, được giao nhiệm vụ tiến công Củng Sơn, mặc dù lực lượng của Trung đoàn lúc này ít hơn địch nhiều nhưng với khí thế toàn thắng Trung đoàn đã tổ chức tiến công ngay. Sau một thời gian ngắn Trung đoàn đã diệt và bắt sống toàn bộ quân địch đang co cụm ở đây. Chúng chỉ chạy thoát được về Tuy Hoà hơn chục chiếc xe thiết giáp và một số lính biệt động. Trong thời gian 7 ngày từ 17 đến 24 tháng 3, với một kế hoạch rất chủ động, linh hoạt, sáng tạo, táo bạo của cả cấp chiến dịch và chiến thuật, bộ đội ta trên các hướng đã lội suối, xuyên rừng, lúc cơ động bằng xe cơ giới, khi vận động bằng đôi chân thần tốc, lúc chốt chặn, khi vận động tiến công, khi thực hành đột phá, bằng những trận truy kích, tiến công trong hành tiến táo bạo quyết đoán, ta đã tiêu diệt và làm tan dã: 6 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn, 1 liên đoàn công binh, 20 tiểu đoàn bảo an, cảnh sát dã chiến và một bộ phận cơ quan quan trọng của Quân Khu 2. Bắt 8000 tù binh, thu và phá hủy 1400 xe cơ giơí các loại, trong đó có 90 xe tăng, 25 xe M113, 8 khẩu 175mm - "Vua chiến trường", 19 khẩu pháo 155mm, 5 khẩu pháo 105mm. Tập đoàn rút chạy của địch đã bị tiêu diệt, đồng nghĩa với đánh bại ý đồ rút bở Tây Nguyên để co cụm ngăn chặn ta ở đồng bằng ven biển. Thắng lợi ở Cheo Reo, nối tiếp là thắng lợi ở Củng Sơn ngày 24 tháng 3 năm 1975 đã kết thúc trận then chốt thứ 3 - tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch tháo chạy trên Đường số 7, những chiến thắng liên tiếp chiến thắng đã tạo ra thế và lực mới về chiến lược cho ta chuẩn bị phát triển chiến lược tiến quân về giải phóng vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và miền Đông Nam bộ. Như vậy, mở đầu Tổng tiến công chiến lược bằng chiến dịch Tây Nguyên từ ngày 4 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, chúng ta đã giành thắng lợi rực rỡ, sau 20 ngày tiến công liên tiếp, táo bạo, sáng tạo và chắc thắng: - Chiến dịch Tây Nguyên 1975 lịch sử lại được mở đầu bằng một trận hiệp đồng binh chủng qui mô lớn. Trận đánh đã tạo được thế bí mật bất ngờ vững chắc - lực tập trung áp đảo trên nhiều hướng táo bạo bằng sức mạnh đột phá liên tục của binh chủng hợp thành. Đặc biệt là trận then chốt mở đầu chiến dịch tiến công Buôn Ma Thuột đã tận dụng được thế bất ngờ cả ở tầm chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. - Thắng lợi của trận then chốt mở đầu đã tạo ra một thế và lực mới, chủ động chắc thắng, đánh trận then chốt thứ hai của chiến dịch, tiêu diệt quân địch phản đột kích, tiêu diệt một lực lượng chủ yếu của chiến trường Tây Nguyên. Sau hai trận then chốt này đã đẩy quân địch vào thế bất lợi và sai lầm lớn về chiến lược, khi quyết định rút bở Tây Nguyên - một trong những nguyên nhân dân tới thảm hoạ tan vỡ về thế chiến lược của địch trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hoà sau này. - Trận then chốt thứ ba, tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã phần lớn sinh lực, phương tiện của tập đoàn quân địch tháo chạy trên Đường 7. Đây cũng là thời điểm song song, đồng nghĩa với việc gần như xoá sổ Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 của địch trên địa bàn Tây Nguyên. Một địa bàn chiến lược rất quan trọng, địa bàn sẽ chia cắt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hoà thành hai mảng. Kết quả: Trận then chốt thứ 3 - Tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trên Đường số 7. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch rút chạy trên Đường số 7, lực lượng địch co cụm ở Cheo Reo, Củng Sơn. Cụ thể: tiêu diệt 4 Liên đoàn biệt động quân số 22, 23, 6, 25. Lữ đoàn kỵ binh số 2; 3 thiết đoàn 3, 19, 21; Tiểu đoàn bộ binh số 4 thuộc Trung đoàn 44; Tiểu đoàn bộ binh 89 thuộc Liên đoàn biệt động quân 21; sở chỉ huy nhẹ Trung đoàn 44; cơ quan Quân đoàn 2 và cơ quan Sư đoàn 6 không quán; 6 Tiểu đoàn pháo binh, Liên đoàn 66 truyền tin; Liên đoàn 20 công binh. Tiêu diệt và làm tan rã: 2 Liên đoàn biệt động quân số 4, 7; 2 Liên đoàn bảo an; nhiều trung đội, đại đội bảo an, cảnh sát và nhiều lực lượng ác ôn, bình định, chiêu hồi, tề điệp của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn, Phú Yên. Loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục ngàn tên địch, có 14.729 tên lính chủ lực Ngụy; diệt 1.044 tên, bắt sống 6.458 tên, có 538 sỹ quan; gọi hàng 7.225 tên, có 97 sỹ quan. Phóng thích hàng nghìn tên tại trận. Thu 5.759 súng các loại, có 22 khẩu pháo 155mm, 9 khẩu pháo 175mm, 48 khẩu pháo 105mm, 314 máy vô tuyến điện, 185 máy điện thoại. Thu và phá huỷ 2000 xe các loại, có 207 xe tăng xe bọc thép. Bắn rơi và bắn cháy 55 máy bay HU.1A và mệt máy bay A37. Tiến công như vũ bão xuống đồng bằng ven biển miền Nam Trung Bộ - Xoá sổ toàn bộ Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy - Cắt chiến trường miền Nam thành hai mảnh Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Hai, 2022, 09:22:11 pm Chiến dịch Tây Nguyên - Chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược, kết thúc thắng lợi rực rỡ. Trước thắng lợi to lớn này, tại Thủ đô Hà Nội đã chia sẻ cùng với cán bộ chiến sỹ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Ngày 25 tháng 3 Bộ Chính trị đã rất nhạy bén, nhận định: THỜI CƠ CHIẾN LƯỢC MỚI ĐÃ ĐẾN, TA CÓ ĐIỀU KIỆN HOÀN THÀNH SỚM QUYẾT TÂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM. Với nhận định sáng suốt trên. Bộ Chính trị đã đề ra đồng thời chủ trương:
- Tập trung lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Sài Sòn trước mùa mưa. - Tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, không cho chúng rút lui co cụm về xung quanh Sài Gòn. - Cơ động 3 sư đoàn chủ lực và các lực lượng, binh khí kỹ thuật đang trên Đường số 7, Đường số 21 về khu vực Buôn Ma Thuột, nhanh chóng ổn định, chấn chỉnh lại lực lượng, sẵn sàng cơ động cả 3 sư đoàn này vào Đông Nam Bộ chuẩn bị giải phóng Sài Gòn. Một kế hoạch chỉ đạo thể hiện sự sáng suốt, đồng bộ, toàn cục và tổng thể của Bộ Chính trị khi thời cơ chiến lược xuất hiện. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên thấy quân ta đang trên đà phát triển tiến công, giải phóng một vùng đất đai rất rộng lớn xuống đồng bằng thuận lợi, nên đề nghị tiếp tục phát triển xuống giải phóng Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh rồi hành quân thẳng vào Đông Nam Bộ. Đề nghị được chấp nhận và được bổ sung nhiệm vụ chính thức cho cán bộ chiến sỹ tham gia chiến dịch Tây Nguyên: Tiếp tục chiến đấu trên 3 trục Đường số 19, số 21 và số 7. Giải phóng Khánh Hoà, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt Lữ đoàn dù 3 ở đèo Phượng Hoàng, nhanh chóng tiến xuống tiến công đánh chiếm Nha Trang, Cam Ranh. Chấp hành mệnh lệnh và nhiệm vụ bổ sung của Bộ, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A sau khi giải phóng Plâyku được chuyển thuộc cho Quân khu 5 tiến quân theo hướng Đường số 19. Ngày 29 tháng 3, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A phối hợp tác chiến với Sư đoàn 3 Quân khu 5, đánh chiếm khu vực sân bay Gò Quánh. Ngày 21 tiếp tục giải phóng Đạp Đá. Ngày 01 tháng 4 diệt Trung, đoàn bộ binh 47 thuộc Sư đoàn bộ binh 22 Ngụy. Tiếp tục phát triển chiến đấu giải phóng Thủ Thiện, Lại Nghi, Phú Phong, Bình Khê, Phú Xuân, Phú Hoà 2, đánh chiếm nhà ga Diêu Trì và sở chỉ huy Sư đoàn 2 Ngụy ở An Sơn. Đến 16 giờ giải phóng thị xã Qui Nhơn. Các lực lượng quân địch đứng chân trên địa bàn tỉnh Phú Yên đang hoang mang cực độ. Trước nguy cơ bị tiêu diệt được tính từng giờ, chúng vẫn ngoan cố, ra sức tập hợp đám quân ô hợp tan tác từ Tây Nguyên dồn về cùng lực lượng tại chỗ gồm: 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội bảo an, 1 chi đội thiết giáp, ban chỉ huy tiểu khu Phú Yên, ban chỉ huy Liên đoàn biệt động quân số 21 mới khôi phục vội vã và toàn bộ bọn ác ôn, cảnh sát dã chiến ở các quận lỵ, thị xã. Bọn cầm đầu Ngụy quân tiến cử chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, tên tướng thất trận, bất lực vừa tháo chạy ở Plâyku về ra thị xã Tuy Hoà để trấn an binh lính và củng cố phòng ngự ngăn chặn ta. Ngày 01 tháng 4, Trung đoàn 64 Sư đoàn bộ binh 320 nổ súng tiến công Tuy Hoà. Sau 45 phút chiến đấu, bộ đội ta đã đánh chiếm ngã 5 trung tâm thị xã. Đến 9 giờ ta làm chủ thị xã Tuy Hoà, tiến công đánh chiếm luôn sân bay Đông Tác, Chóp Chài. Tại sân bay Đông Tác, bộ đội ta đã bắt sống chuẩn tướng Trần Văn Cẩm và đại tá Vi Văn Bình. Hướng tiến công trên Đường 21, Sư đoàn bộ binh 10 được phối thuộc Trung đoàn 25, tiểu đoàn xe tăng, được pháo binh và pháo phòng không chi viện, triển khai đội hình tiến công đèo Phượng Hoàng do Lữ đoàn dù số 3 thuộc Sư đoàn dù chốt giữ. Quân dù là lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch, được coi là con cưng của quân đội Ngụy. Quân dù đã đọ sức với Sư đoàn bộ binh 304 của ta đã bị thiệt hại nhiều và phải bỏ cuộc trong chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức tháng 10 năm 1974. Trước sự thất bại liên tiếp của địch trên khắp địa bàn Quân khu 2, tinh thần hoang mang, dao động, sức chiến đấu đã giảm sút. Lợi dụng thế của khu vực đèo Phượng Hoàng quanh co, hiểm trở, địa hình hẹp. Lữ dù 3, dưới sự chi viện của hoả lực không quân, hoả lực của 24 khẩu pháo xe kéo đã tổ chức "phòng ngự di tản”, hình thành các điểm tựa dã chiến để ngăn chặn ta. Với thủ đoạn cổ truyền là chiếm giữ đèo Mađrắc - Phượng Hoàng. Dựa vào các chốt bảo an có sẵn, kết hợp với yêu sách được hoả lực không quân, pháo binh chi viện tối đa. Quân dù ở đây đã xây dựng được các trận địa hoả lực và co cụm để ngăn chặn ta. Vận dụng chiến thuật "mạng nhện di tản" đến phân đội nhỏ, từng tiểu đội, trung đội có xe tăng nằm sâu trong công sự ở hai bên đường đèo. Thật khốn thay cho Lữ dù 3 quân Ngụy, các thủ đoạn tác chiến, thế địa hình hiểm trở, có hoả lực mạnh... cũng không mang lại cho chúng một kết quả nào. Bởi vì, tổng thể của "lá chắn" này là: Tổ chức phòng ngự trên đường độc đạo, hở sườn, tung thâm mỏng, lực lượng phản kích nhỏ, khu vực phòng ngự chốt giữ rộng, phải rải quân theo dọc hai bên Đường 21 kéo dài tới 30km, bộc lộ một thế chốt giữ kém hiệu quả, diện phòng ngự hẹp, phòng ngự chắp vá vội vã. Trong khi đối phương đang có thể của chiến thắng, với lối đánh tập trung rất cao của sức mạnh binh chủng hợp thành, xuất hiện đúng thời điểm, biết tận dụng được thời cơ có lợi nhất, luôn buộc chúng phải đánh theo cách đánh của đối phương. Sư đoàn 10 được tăng cường Trung đoàn 25 và một số đơn vị binh chủng khác, mở đầu tiến công vào Lữ dù 3, bằng một đòn hoả lực pháo binh rất mãnh liệt chính xác vào các trận địa pháo binh và một số điểm tựa phòng ngự của địch. Buộc đội hình phải co cụm chống đỡ. Bao vây chặt đội hình Lữ đoàn địch, khoá chặt phía sau, biến địa hình hiểm trở thành thế có lợi cho ta. Lợi dụng lúc điều chỉnh đội hình, các hướng mũi của ta phát huy được sức mạnh đột phá chính diện bằng sức mạnh của hoả lực pháo binh, xe tăng, bằng thủ đoạn tác chiến xẻ đường xuyên rừng thọc điển đánh hiểm, đánh tạt sườn tiêu diệt các trận địa hoả lực, đột kích thắng vào bộ phận chỉ huy của Lữ đoàn. Với lối đánh táo bạo, vỗ mặt, đánh hiểm, diệt chỉ huy trước, hiệu quả tiến công cao, trong 3 ngày từ 29 đến 1 tháng 4 Sư đoàn bộ binh 10 cùng các đơn vị tăng cường đã tiêu diệt một số lực lượng, nhổ "lá chắn" trên đèo Phượng Hoàng và làm tan rã hết Lữ dù 3, thu và phá huỷ toàn bộ vũ khí trang bị của chúng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:08:11 am Đến 10 giờ 30 ngày 1 tháng 4 tại Nha Trang, tướng Phú và tướng Dư Quốc Đống, Giám đốc Trường Hạ sỹ quan Đồng Đế nhận được tin sét đánh: Đèo Phượng Hoàng đã bị vỡ. Phú triệu tập ngay một cuộc họp với thuộc hạ bàn cách đối phó. Cuộc họp vừa tan, Phú lại nhận tin tiếp theo: Dục Mỹ, Ninh Hoà đã bị Quân giải phóng đánh chiếm. Phú và tướng Đống đối phó bằng cách nhảy lên máy bay chuồn về Phan Rang. Thành phố Nha Trang, nơi đặt đại bản doanh thứ hai của Quân đoàn 2 đang hỗn loạn của một cuộc tháo chạy dưới cánh máy bay của tướng Phú. Quân lính cướp bóc, tranh giành tất cả các phương tiện có thể trấn cướp được để chạy thục mạng về Cam Ranh. Sân bay Nha Trang đã phải đóng cửa vì binh lính tranh nhau lên máy bay chạy trốn.
Ngày 2 tháng 4 Sư đoàn 10 giải phóng Thành phố Nha Trang. Ngày 3 thạng 4, Sư đoàn 10 tiến thẳng vào Cam Ranh, 12 giờ 30 cùng ngày Sư đoàn đã giải phóng quân cảng lớn nhất và có giá trị nhất về quân sự của quân cảng này. Toàn bộ tỉnh Khánh Hoà đã được giải phóng. Kết quả: Chiến dịch Tây Nguyên từ 4 tháng 3 đến 3 tháng 4 năm 1975 Sau 30 ngày được sự phối hợp chặt chẽ của nhân dân, của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, các binh đoàn chiến dịch và bộ đội địa phương đã khắc phục vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, vượt suối xuyên rừng, tiến công liên tục; đã tiêu diệt và tan rã Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy cùng một bộ phận cơ động chiến lược quân Ngụy. Tiêu diệt Sư đoàn 22, Sư đoàn 23, Lữ dù 3, 8 liên đoàn biệt động quân, 1 liên đoàn công binh, 4 thiết đoàn xe tăng, 10 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 6 không quân. Tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn, 51 đại đội bảo an và toàn bộ lực lượng cảnh sát, dân vệ, phòng vệ dân sự trong 7 tỉnh trên địa bàn Quân Khu 2. Tổng cộng diệt và bắt sống 28.514 tên lính chủ lực, diệt 4.502 tên, có 165 sỹ quan, bắt sống 16.822 tên có 779 sỹ quan từ chuẩn uý đến chuẩn tướng, phóng thích tại chỗ 7.190 tên. Bắn rơi 44 máy bay, thu và phá huỷ 110 chiếc. Thu và phá huỷ 17.183 khẩu súng các loại, có 9 khẩu pháo 175mm, 30 khẩu 155mm, 101 khẩu 105mm, 1095 xe các loại, có 72 xe tăng 52 xe bọc thép. Thu và phá huỷ toàn bộ các cơ sở hậu cần kỹ thuật, kho tàng ở Tây Nguyên và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà. Giải phóng toàn bộ Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum - Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức cùng các tỉnh Nam Trung Bộ như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Thành phố Nha Trang, Quân cảng Cam Ranh. Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu về nghệ thuột chuẩn bị và thực hành chiến dịch Chiến dịch Tây Nguyên, với trận then chốt mở đầu quyết định tiến công Buôn Ma Thuột - Chiến dịch mở đầu - Bộ phận hợp thành trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 của toàn Đảng toàn dân và toàn quân ta. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã khẳng định thế và lực của ta đã hơn hẳn thế và lực của địch. Đồng thời cũng khẳng định sức mạnh tổng hợp, một qui luật tất yếu của chiến tranh nhân dân. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã trực tiếp bổ sung ngay nhiều kinh nghiệm, bài học quí giá, giúp chúng ta tổ chức và thực hành các hoạt động quân sự tiếp theo ở cả cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Những bài học quí giá về sự thành công rực rỡ của chiến dịch đã để lại nhiều giá trị thực tiễn, khoa học trong quá trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật quân sự cho hiện tại và tương lai. Đặc biệt, thắng lợi của chiến dịch mở đầu đã mở ra đột phá khẩu về chiến lược - đã tạo ra một bước ngoặt chiến lược - Bước ngoặt quyết định của chiến tranh cách mạng. Bài học thứ nhất: Nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu tiến công đúng. Sau hai đòn trinh sát chiến lược: trận Thượng Đức trong chiến dịch Nông Sơn, Thượng Đức từ ngày 17 tháng 7 đến 25 tháng 8 năm 1974; trận đánh chiếm Phước Long trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long từ ngày 13 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, cho thấy: sức mạnh và trình độ tác chiến của sư đoàn chủ lực ta đã hơn hẳn sư đoàn chủ lực địch. Sau khi quân Mỹ rút đi, tuy quân Ngụy bị hẫng hụt nhiều, nhưng vẫn còn hàng triệu quân, được trang bị hiện đại. Tất cả các lực lượng hiện đang được triển khai trên cả 4 Quân khu, hình thành thế bố trí chiến lược hoàn chỉnh. Vấn đề đặt ra cho cơ quan Tham mưu chiến lược của ta là chọn hướng nào để mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược chọn mục tiêu nào để mở đầu chiến dịch tiến công có ý nghĩa đặc biệt qulan trọng này? Chọn hướng tiến công và mục tiêu trận mở đầu chiến dịch phải đồng thời đạt được hai yếu tố: Một là, tiêu diệt lớn lực lượng quân địch. Hai là, làm thay đổi nhanh chóng tương quan so sánh lực lượng, chuyển biến cục diện chiến trường tạo lên tước ngoặt chiến lược. Ba là, sau khi tiến công tiêu diệt quân địch ở khu vực hướng đã chọn, đánh chiếm mục tiêu đã chọn, phải bảo đảm chắc thắng, có điều kiện thuận lợi vững chắc, làm bàn đạp tốt cho việc phát triển tiến công. Ngược dòng lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta Trần Hưng Đạo nói: "Bậc thánh võ trị đời xưa, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận. Nhẹ nhàng như mưa rơi ở trên không, dựng nên cuộc đời vô sự"1 (Binh thư yếu lược. NxbKHXH, H. 1997, tr. 10, sách Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, H.1991, tr.75, đã dẫn). Hoặc "Biết được thực hư của người rồi thì nên đánh vào chỗ mềm mà không nên đánh vào chỗ cứng. Vì đánh vào chỗ cứng thì chỗ mềm cũng sẽ cứng, đánh vào chỗ mềm thì chỗ cứng cũng phải mềm, chính là thế"2 (Binh thư yếu lược, NxbKHXH, H.1997, tr.36). "Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tránh chỗ có địch, đánh vào chỗ không có địch. Như vậy sức chỉ một nửa mà công thì gấp đôi"3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb KHXH, H.1976, tr.59). Theo qui luật, bài học của những giá trị lịch sử cho thấy: hướng mục tiêu tiến công, phải chọn vào nơi quân địch ít đề phòng, bố trí lực lượng mỏng yếu, dùng lối đánh bất ngờ, nhưng có ý nghĩa về chiến dịch, chiến lược, có nhiều khả năng giành được thắng lợi một cách chắc chắn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:10:18 am Xuất phát từ bố trí lực lượng của địch trên 4 Quân khu đã trình bày ở phần trên. Kết hợp với các điều kiện cơ sở khác, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã quyết định chọn địa bàn Tây Nguyên - địa bàn Quân khu 2, trên địa bàn Tây Nguyên lựa chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công mở màn. Trên hướng mở màn, lựa chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Sự lựa chọn nàỵ vừa thể hiện vận dụng những giá trị lịch sử của cha ông để lại, vừa thể hiện sự sáng tạo, phát triển và thực tiễn.
Chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công mở màn, chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu tiến công chủ yếu đã thoả mãn được các yêu cầu mang tính khoa học, thực tiễn và tính nghệ thuật rất cao, đó là: Thứ nhất, đã chọn vào đúng nơi địch tương đối yếu, nơi sơ hở của địch và liên quan đến hiếm yếu của địch. So sánh 3 thị xã lớn trên địa bàn Tây Nguyên thì Buôn Ma Thuột yếu hơn và sơ hở hơn. Xét về giá trị chiến lược - chiến dịch thì Buôn Ma Thuột lại là nơi hiểm yếu hơn, vì đó là hậu phương chiến dịch của địch ở Tây Nguyên, có vị trí thuận lợi nối liến với miền Đông Nam Bộ. Ta sẽ có nhiều điều kiện phát triển chiến dịch tiến công về Sài Gòn, giải quyết điểm - mục tiêu cuõi cùng của chiến tranh. Chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu tiến công mở đầu, đồng thời được xác định là trận then chốt mở đầu, là điều hết sức bất ngờ với địch, bởi vì địa hình quanh thị xã Buôn Ma Thuột phức tạp, địch cho rằng ta không thể đưa xe tăng pháo binh xe kéo vào địa bàn này được và không có binh khí kỹ thuật lớn sẽ không thể có đánh lớn. Trường hợp ta đánh chiếm được Buôn Ma Thuột, địch rất khó tiến hành phản đột kích tái chiếm lại. Đưa lực lượng đến bằng đường nào; đưa bao nhiêu để tổ chức phản đột kích? Trong khi địch đã biết trên địa bàn Tây Nguyên ta có 3 Sư đoàn chủ lực và nhiều binh chủng khác. Đối chọi với một lực lượng mạnh như vậy, quân địch phải có một lực lượng nhiều hơn đối phương, tức là phải nhiều hơn 3 Sư đoàn. Quân địch không thể rút ở Quân khu khác, hoặc dốc túi lực lượng dự bị để đưa lên phản đột kích tái chiếm lại Buôn Ma Thuột. Trong khi khả năng này khó có thể xảy ra, khi đường bộ dẫn đến Buôn Ma Thuột ta đã cắt đứt. Đổ bộ đường không để phản đột kích chỉ là hành động liều lĩnh, tự sát. Thứ hai, Trên địa bàn Nam Tây Nguyên, nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, nhiều đường lâm nghiệp. Ta có điều kiện tổ chức các binh đoàn chiến dịch thành các cụm đột kích binh chủng hợp thành cơ động và triển khai thuận lợi. Có điều kiện thực hành đột phá liên tục, áp đảo quân địch, giáng những đòn bất ngờ vào những khu vực phòng ngự then chốt, dễ phá vỡ thế trận của địch, giành thắng lợi triệt để. Mặc dù địa hình quanh Buôn Ma Thuột có phức tạp, nếu ta khắc phục được yếu tố này sẽ giành được bất ngờ lớn. Địch ở khu vực Nam Tây Nguyên và thị xã Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cách trở với Bắc Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng, khả năng ứng cứu và chi viện cho Buôn Ma Thuột sẽ bị hạn chế rất nhiều. Thứ ba, đánh chiếm được Buôn Ma Thuột ta sẽ có điều kiện mở rộng ra các hướng, phát triển vào chiều sâu phòng ngự địch. Theo Đường số 14 có khả năng bao vây, uy hiếp tiến công dứt điểm Plâyku. Phía Nam ta có thể uy hiếp tiến công Gia Nghĩa phát triển xuống miền Đông Nam Bộ rất thuận lợi. Theo trục Đường 7B có thể bao vây, chia cắt tiến công Cheo Reo, Tuy Hoà. Trên hướng Đường 21 sẽ tiến công đánh chiếm Nha Trang và Quân cảng Cam Ranh. Đánh chiếm Nha Trang, Cam Ranh đồng nghĩa với cắt đôi chiến trường miền Nam. Đây là điều mà cả Mỹ, Ngụy đều rất lo sợ sẽ sảy ra. Chọn hướng tiến công mở đầu Nam Tây Nguyên là một sáng tạo thực tế, thế hiện trình độ nghệ thuật tổng hợp rất cao cả về lịch sử, hiện tại và cả những dự đoán của sự vận động phát triển, giá trị của chiến dịch mở đầu, sự thông thạo nhiều yếu tố trên tất cả các lĩnh vực để đi đến một quyết định đúng. Chọn mục tiêu tiến công mở đầu là thị xã Buôn Ma Thuột, ta đã điểm đúng huyệt, đánh đúng vào nơi hiểm yếu. "Đánh vào nơi kẻ địch thấy đau đớn nhất", đó là điều mà nhiều nhà quân sự thường nói. Các nhà chiến lược quân sự Phương Tây hồi đó bình luận: "Chỉ riêng việc chọn đúng nơi đó (Buôn Ma Thuột) làm điểm đột phá thôi, đã là thiên tài rồi"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên, H.1991, tr.77). Vấn đề lựa chọn mục tiêu mở đầu cho một nhiệm vụ chiến lược, nhằm giải quyết một bước đi (mở đầu) của chiến lược, ta đã có nhiều kinh nghiệm. Điển hình là chọn Đông Khê trong chiến dịch Biên giới năm 1950. Khi chọn Buôn Ma Thuột làm trận then chốt mở đầu, là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của giai đoạn cuối của chiến tranh. Ta đã giải quyết và lựa chọn được đồng thời cả hai yêu cầu về chiến lược và chiến dịch đòi hỏi. Đó là chọn mục tiêu có tác động dây chuyền về chiến dịch, tạo ra được cửa mở đột phá về chiến dịch, chiến lược, về vấn đề "chọn" mục tiêu ngày 21 tháng 3 năm 1975 báo Thế giới của Pháp đã viết: "Chỉ cần một trận thôi, trận Buôn Ma Thuột mà khiến cho từng mảng lớn do chế độ Thiệu dựng lên đã bị sụp đổ. Hoá ra Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột đến nay đã kéo dài 30 năm"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên, H.1991, tr. 77). Tờ Kinh tế, báo Anh ra ngày 23 tháng 3 viết: "Mất Buôn Ma Thuột là Thiệu không tài nào giữ nổi Tây Nguyên''2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên, H.1991, tr.77). Xét cho cùng vấn đề chọn đúng hướng để mở các cuộc tác chiến chiến dịch, chiến lược mở đầu cho một giai đoạn chiến tranh nói chung, mở đầu cho một hồi kết của một cuộc chiến tranh nói riêng. Trong các chiến dịch đó, chọn đúng mục tiêu để mở đầu, giành phần chắc thắng, là một nghệ thuật chi phối toàn cục của chiến dịch cũng như chiến lược. Đây chính là nghệ thuật tạo nên sức mạnh tổng hợp, trong những điều kiện cụ thể, để giành thắng lợi. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:11:02 am Bài học thứ hai: Nghệ thuật nghi binh tạo thế, tạo bất ngờ, giữ và giành quyền chủ động của chiến dịch.
Bất ngờ là một nguyên tắc tác chiến, được các bên tham chiến từ thời cổ đại, của nhiều quốc gia trên khắp các châu lục vận dụng trong chỉ đạo hành động của nhà binh. Đồng thời cũng là một yêu cầu hàng đầu đối với nghệ thuật chiến dịch tiến công. Giữ được yếu tố bất ngờ sẽ giữ được và giành quyền chủ động, sẽ tạo ra sức mạnh mới, thế trận mới, đặc biệt là bất ngờ về không gian, thời gian, khu vực mở đầu. Chính quyền Sài Gòn cho rằng trong năm 1975 ta chưa có điều kiện, khả năng để đánh lớn ở Nam Tây Nguyên, nhất là ta sẽ chưa tiến đánh Buôn Ma Thuột. Ta đã tận dụng được sai lầm lớn, sai lầm khởi đầu này của địch. Cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và chiến dịch đã tổ chức một kế hoạch nghi binh đầy tính nghệ thuật để lừa được địch và đã thực sự thành công. Sự thành công đầu tiên là lừa địch để giam chân lực lượng chủ lực cơ động của địch ở Kon Tum và Plâyku. Bí mật bất ngờ đến khi nổ súng đánh chiếm được nhiêu mục tiêu trong ngày mở đầu (10/3) địch vẫn cho rằng ta sẽ tiến công bắc Tây Nguyên vì ta đã tiến hành nghi binh từ tháng 12 năm 1974, đến khi mở đầu chiến dịch địch lại càng tin ta chỉ tiến công nghi binh, một vài ngày rồi sẽ rút. Kinh nghiệm của lịch sử cho thấy, bị bất ngờ là con đường đi đến sự thất bại. Một nguyên nhân không nhỏ thất bại của địch ở Tây Nguyên chính là địch bị bất ngờ. Chính sự bất ngờ đối với địch đến khi ta nổ súng, buộc quân địch phải đưa Sư đoàn 23 về phản đột kích và cũng chỉ cơ động về phản kích duy nhất bằng đường không, không còn con đường nào để cơ động. Đây là tình huống ta đã dự kiến sẵn và thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Trong chiến dịch tiến công, nghệ thuật tạo yếu tố bất ngờ cho trận then chốt mở đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sự bất ngờ sẽ làm cho địch hoang mang, rối loạn, đã bị động lại càng bị động. Đây cũng chính là sự tác động đến xử trí các tình huống sai lầm tiếp theo của địch. Mặt khác nghệ thuật tạo bất ngờ trong chiến dịch thường diễn ra như hành động có qui luật. Chiến dịch đã nắm bắt được đúng qui luật này, dự kiến đúng và có công tác chuẩn bị chu đáo, hành động kiên quyết. Vì vậy, trận đánh đã đạt hiệu suất rất cao. Tuy không nhiều nhưng trong thực tế vẫn có những sự bất ngờ ngẫu nhiên. Trường hợp cụ thể trong chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975 không phải có sự ngẫu nhiên đó. Trong dự kiến kế hoạch chiến dịch, ta có dự kiến nhiều tình huống, đặc biệt là dự báo bổ sung về sự rút chạy chiến lược của địch, nhưng chưa dự báo về sự rút chạy vội vã sớm như vậy. Rút chạy sớm hơn ta dự kiến; rút theo Đường số 7, quân địch dự kiến sẽ là sự bất ngờ cho ta. Quân địch chỉ cần 1 - 2 ngày có thể đã rút toàn bộ lực lượng về đến Tuy Hoà, Nha Trang. Ngược lại ta cũng chỉ cần sớm hơn 1- 2 ngày là có thể tiêu diệt được toàn bộ quân địch. Ngay trong thời khắc lịch sử đó và cả sau này, khi ta có điều kiện ngồi lại để tổng kết đánh giá, nhiều quan điểm cho rằng: chính 1-2 ngày cực kỳ quan trọng đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi cho trận tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên. Không chỉ có ý nghĩa chiến dịch mà còn có tầm vóc chiến lược, trực tiếp đưa đến bước ngoặt của sự khởi đầu sụp đổ của địch trong mùa xuân 1975. Vì vậy, tình huống địch rút chạy diễn ra sau trận Buôn Ma Thuột vượt quá sự suy nghĩ thông thường của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch. Đây lại là sự bất ngờ mà kẻ địch gây cho ta, chính bản thân tình huống bất ngờ này lại có lợi cho ta. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định: nghệ thuật nghi binh tạo bất ngờ và hành động bất ngờ là nội dung quan trọng của nghệ thuật chiến dịch. Chúng ta giữ được bất ngờ cho nên sức mạnh của chiến dịch đã được tăng lên gấp bội lần, quyền chủ động tiến công đã hoàn toàn thuộc về ta, khả năng giành được thắng lợi trước các tình huống dự báo càng tăng lên. Trong tác chiến, nghệ thuật tạo bất ngờ thường phải đi đôi với việc không để bị đánh bất ngờ. Nội dung là thế, còn biện pháp được chỉ huy và cơ quan Tham mưu chiến dịch xác định để bảo đảm cho những nội dung đó cũng rất sát thực, rất nghệ thuật, đó là: - Các tình huống diễn biến trên các hướng luôn được nắm rất cụ thể, kịp thời, chính xác để đối phó với những khả năng cố gắng nhất của địch. Để giữ bí mật bất ngờ, Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo Sư đoàn 320 chỉ hoạt động nhỏ lẻ ở Đông và Tây Đường 14, mặc cho địch lùng sục. Đến khi ta tiến công Đức Lập mới chính thức cắt Đường 14. - Bộ đội luôn được đặt trong tư thế sẵn sàng, chủ động, đặc biệt là lực lượng dự bị. Ngay sau khi dứt điểm Đức Lập, Bộ Tư lệnh đã điều một bộ phận của Sư đoàn 10 cơ động về Đông Buôn Ma Thuột, chuẩn bị đánh địch đổ bộ đường không. - Xác định phương pháp tác chiến, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo, có hiệu suất chiến đấu cao. Khi tình huống xảy ra ta đã có ngay Trung đoàn 64 thuộc Sư 10 đánh trận phủ đầu khi quân địch vừa đổ bộ. Đồng thời chia cắt quân địch tạo điều kiện cho Sư 10 triển khai tiến công trong hành tiến. Phương pháp tác chiến này ta ít vận dụng trong các chiến dịch tiến công trước đó. - Trình độ tổ chức chỉ huy chiến dịch, tính quyết đoán và hành động kiên quyết, dám chịu trách nhiệm của Bộ Tư lệnh chiến dịch nói chung và Tư lệnh nói riêng là vấn đề bao trùm quyết định. Nghệ thuật nghi binh tạo thế, tạo bất ngờ, giành và giữ quyền chủ động của chiến dịch là một trong những nét đặc sắc nhất của chiến dịch Tây Nguyên. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:12:09 am Bài học thứ ba: Nghệ thuật tập trung lực lượng tạo ưu thế trên hướng chủ yếu và mục tiêu chủ yếu.
Vấn đề tập trung lực lượng tạo ưu thế hơn đối phương đã được các nhà chỉ huy quân sự trong lịch sử đúc rút thành lý luận, nguyên tắc sử dụng lực lượng. Tập trung ưu thế hơn địch là một nhân tố quan trọng, quyết định phần lớn đến tiến trình và kết cục của một trận đánh, một chiến dịch. Nhìn tổng thể của toàn cục cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước trên chiến trường, địch thường chiếm ưu thế hơn ta về lực lượng và phương tiện. Từng trận đánh, chiến dịch, giai đoạn của cuộc chiến tranh ta biêt tập trung đúng thời cơ để giành thắng lợi, tạo sự đột biến. Đây chính là nghệ thuật tập trung lực lượng ta hơn hẳn quân địch. Trong chiến dịch Tây Nguyên, bộ đội chủ lực tại chỗ có 28 tiểu đoàn bộ binh - 50%; Bộ tăng cường 14 tiểu đoàn bộ binh - 30%; bộ đội chủ lực của Quân khu 5 và Nam Bộ phối hợp tác chiến 10 tiểu đoàn bộ binh - 20%. Bằng biện pháp sử dụng tổng hợp các lực lượng, chiến dịch đã tạo được ưu thế hơn địch và hơn hẳn địch trên hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu. - So sánh trên địa bàn chiến dịch: về bộ binh ta 58 tiểu đoàn bộ binh - địch 42 tiểu đoàn bộ binh, tỷ lệ 1,3/1; xe tăng thiết giáp: ta 70 chiếc/địch 360 chiếc, tỷ lệ 1/5; pháo binh ta 140 khẩu/địch 230 khẩu, tỷ lệ 1/1,5. - Trận tiến công thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận: Bộ binh ta 18 tiểu đoàn bộ binh/địch 4 tiểu đoàn bộ binh, tỷ lệ 4,5/1; xe tăng thiết giáp ta 64 chiếc/địch 18 chiếc, tỷ lệ 5,5/l; pháo binh ta 78 khẩu/địch 16 khẩu, tỷ lệ 5/1. Trong chiến dịch Tây Nguyên ta đã tạo được ưu thế ở trận then chốt mở đầu tiến công Buôn Ma Thuột và còn tập trung được ưu thế cả trận then chốt thứ 2 thứ 3. Nghĩa là ta đã tập trung và duy trì được ưu thế trong cả chiến dịch. Đặc biệt là tập trung cho những trận đánh then chốt có ý nghĩa quyết định. Tập trung lực lượng không đồng nghĩa với việc sử dụng "dốc túi". Giá trị cấu thành mang tính nghệ thuật cao nhất đã thể hiện: ta đã kết hợp được hành động nghi binh, tạo thế, chia cắt đúng thời điểm, thời cơ, không gian, vị trí. Thành công của sự kết hợp đó, buộc quân địch phải dàn mỏng lực lượng đối phó trên nhiều hướng, nhiều nơi. Khi quân địch buộc phải dàn mỏng là thời cơ tốt cho ta tập trung. Đây cũng là một nguyên tắc chỉ đạo đã được tập hợp thành nghệ thuật, một qui luật trong sử dụng lực lượng. Ai tận dụng được thời cơ, nắm bắt được qui luật đó để chỉ đạo hành động, người đó sẽ giành chiến thắng là tất yếu. Bài học thứ tư: Nghệ thuật vân dụng cách đánh linh hoạt sáng tạo Vận dụng cách đánh của chiến dịch Tây Nguyên, đã thể hiện rõ mưu kế thông minh, khả năng sáng tạo của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch; đồng thời cũng thể hiện rõ tinh thần chiến đấu quả cảm, anh dũng tuyệt vời, mưu trí sáng tạo, kiên quyết của bộ đội ta. Cách đánh chung của chiến dịch Tây Nguyên là: Nghi binh tạo thế, giam chân chủ lực cơ động của địch trên hướng khác, tập trung lực lượng tạo ưu thế. Bất ngờ, đánh thẳng vào đầu não, đánh trúng huyệt của địch, thực hiện bao vây, chia cắt, cô lập từng cụm quân địch, kết hợp đột phá với luồn sâu, thọc sâu, kết hợp trong ngoài cùng đánh. Đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, tạo điều kiện đánh trận then chốt thúc đẩy chiến dịch phát triển, sử dụng các cụm lực lượng để đột kích là chính, phá vỡ từng cụm phòng ngự đi đối với đánh bại phản kích, phản đột kích. Lần lượt tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch, tiến tới tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quản địch, bằng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng ba thứ quân trên địa bàn chiến dịch. Để thực hiện được cách đánh đã xác định, chiến dịch đã chỉ đạo hàng loạt các biện pháp rất công phu, tỷ mỷ và phần lớn đều sát với các tình huống dự đoán sẽ xảy ra. Những biện pháp này vừa thể hiện nội dung cách đánh vừa mang tính nghệ thuật rất cao, thể hiện sự sáng tạo, đa dạng, thực tiễn và hoàn toàn có tính khả thi, đó là: - Đánh chiếm, chốt giữ, cắt đường giao thông, đã trực tiếp chia cắt chiến dịch. Biện pháp này phù hợp và thể hiện mưu kế thông minh của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch. Phù hợp với điều kiện địa hình rừng núi trên địa bàn Tây Nguyên. Chúng ta đã kết hợp được trí tuệ với giá trị thực tiễn của địa hình, tận dụng và biết nhân bản các giá trị đó trong các trận đánh và toàn bộ thời gian diễn ra chiến dịch. Một nội dung thể hiện tính nghệ thuật kết hợp chưa bao giờ "cũ". - Bất ngờ đột phá, đột phá liên tục có trọng điểm bằng các cụm lực lượng binh chủng hợp thành đột kích vào thắng mục tiêu chủ yếu có ý nghĩa then chốt mở đầu quyết định. Kết hợp được trong ngoài cùng đánh, tiến công trên nhiều hướng: chính diện, phía sau, bên sườn, lần lượt tiêu diệt từng cụm quân địch tiến tới tiêu diệt lực lượng địch và đánh chiếm Buôn Ma Thuột, mục tiêu chủ yếu trong thời gian chỉ có 32 giờ, tốc độ tiến công cao thể hiện sức mạnh đột biến. Cách đánh này ta đã giải quyết thành công ba vấn đề trong vận dụng cách đánh thể hiện tính nghệ thuật rất sáng tạo, chủ động, tự tin chắc thắng và cũng rất táo bạo, đó là: + Vận động, cơ động đội hình của bộ đội hợp thành từ xa đến tiếp cận địch, chuyển từ đội hình hành quân sang đội hình chiến đấu. Có thời gian tạm dừng ngắn, bổ sung hoàn chỉnh công tác chuẩn bị trực tiếp của các cụm lực lượng để chuyển sang tiến công. + Tiến công bằng đột phá trận địa địch, kết hợp đột phá nhiều hướng của bộ đội hợp thành với thọc sâu của bộ binh xe tăng, luồn sâu của đặc công, đưa nhạnh lực lượng vào tung thâm mục tiêu. Trong ngoài cùng đánh, thọc thẳng vào mục tiêu chủ yếu, chia cắt từng cụm quân địch, lần lượt tiêu diệt từng khu vực, cụm quân địch, tiến tới tiêu diệt đánh chiếm toàn bộ mục tiêu chủ yếu. + Kết hợp thành công đột phá nhiều hướng với luồn sâu, thọc sâu khi tiến công thành phố, được nhân bản. Đặc biệt, kinh nghiệm tổ chức lực lượng chiến thuật thọc sâu trong chiến dịch này, ta đã phát triển thành binh đoàn binh chủng hợp thành thọc sâu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh sau đó và thắng lợi rực rỡ. - Đánh địch phản đột kích bằng đổ bộ đường không. Một tình huống dự kiến sát, đúng, cả thời gian, không gian, địa điểm, lực lượng, phương tiện. Ta hoàn toàn chủ động "giăng bẫy", đón sẵn để đánh phủ đầu lực lượng đổ bộ. Đánh chiếm các bàn đạp làm mất chỗ dựa của quân đổ bộ, chia cắt không cho quân chiếm giữ mặt đất với quân đổ bộ liên kết được với nhau. Đột kích bằng bộ binh xe tăng vào thắng quân địch vừa đổ bộ, tập trung đánh đòn quyết định vào các loại quân ô hợp, hoang mang đến cực điểm đang đồn về Phước An, tiêu diệt, bắt sống, làm tan rã toàn bộ quân địch phản đột kích, trong khi địch chưa có bất kỳ một hành động tác chiến phản đột kích nào. So sánh lực lượng hai bên, ta chỉ có Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu Trung đoàn 66), địch có Sư đoàn 23 (thiếu). Điều này cho thấy thế và lực của ta đang được nhân lên gấp nhiều lần sau khi đánh chiếm Buôn Ma Thuột. - Đánh quân địch rút chạy ở tầm chiến dịch, chiến lược. Rút chạy trong hoảng loạn, bị động, lại rút chạy ở địa hình rừng núi sẽ dẫn tới hậu quả của sự sụp đổ và tan vỡ là tất yếu. Mặc dù ta đã dự kiến trước khi quân địch rút chạy 2 ngày (13 tháng 3), nhưng khi địch rút chạy được một bộ phận ta mới phát hiện được. Tình huống diễn ra rất khẩn trương, nắm được những biến cố thuận lợi khó khăn và sự quan trọng, giá trị của việc tiêu diệt tập đoàn quân địch đang tháo chạy này. Để tiêu diệt được chúng, trong cách đánh phải thể hiện: hạ quyết tâm nhanh, cơ động nhanh, tiến công nhanh. Ta đã kết hợp được bộ đội chủ lực, bộ đội tại chỗ, bộ đội địa phương. Đồng thời hình thành thế khoá đầu, đuổi đằng sau với tiến công vào giữa đội hình, chia cắt quân địch. Khi quân địch đã rút chạy, bị tiến công, dù có chốt giữ, trụ lại, co cụm cũng chỉ là hành động bột phát để chống lại tức thì, bản chất không mang tính phòng ngự ngăn chặn ta. Đây là thực tế, các lực lượng ta đã tận dụng được. Vì vậy, dù có chậm, thiếu, hành động chung của bộ đội là phải táo bạo, bất ngờ tiến công ngay, tiến công liên tục, không chờ đợi, đơn vị nào gặp địch là phải tổ chức tiến công ngay. Tinh thần ý chí, chủ động của bộ đội trong trường hợp này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, chúng ta đã biết phát huy yếu tố này trong quá trình đánh địch rút chạy trên Đường 7B. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Hai, 2022, 08:13:33 am Bài học thứ năm: Nghệ thuật tổ chức và điều hành các trận then chốt
Tổ chức điều hành đánh các trận then chốt là một bộ phận, nội dung chủ yếu của nghệ thuật chiến dịch. Tổ chức thực hành đánh thắng các trận then chốt là đặc trưng cốt lõi có tính kế thừa, truyền thống của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong lịch sử. Trận tiến công Buôn Ma Thuột được xác định là: Trận then chốt mở đầu quyết định, được chiến lược xác định cho chiến dịch - Là mục tiêu chủ yếu của chiến dịch - Điểm đột phá của chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Do đó, được tập trung chuẩn bị khá chu đáo. Trong thời gian 48 ngày đêm chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã để hơn 2/3 thời gian chuẩn bị cho trận Buôn Ma Thuột. Hạ quyết tâm và lập kế hoạch chiến dịch đều lấy Buôn Ma Thuột làm nội dung trung tâm. Khi thực hành chiến dịch, Bộ Tư lệnh trực tiếp chỉ huy điều hành trận đánh, từ chỉ huy cơ động triển khai, đến sử dụng hoả lực chuẩn bị, thực hành đột phá của các cụm đột kích... Thắng lợi của trận then chốt mở đầu tiến công Buôn Ma Thuột là thắng lợi của nghệ thuật tổ chức chuẩn bị chu đáo và chính xác; của nghệ thuật điều hành linh hoạt và sáng tạo của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch. Từ chủ quan cho rằng ta không đủ khả năng đánh thị xã lớn đến khi Buôn Ma Thuột thất thủ bằng sức mạnh của xe tăng và pháo hạng nặng, quân địch hoàn toàn choáng váng. Đòn tiến công bằng xe tăng pháo hạng nặng đã bay vế Sài Gòn và trở thành một tin khủng khiếp đối với Ngụy quyền. Thắng lợi của trận Buôn Ma Thuột đã gây sự bùng nổ dây chuyền, dẫn đến thắng lợi của trận then chốt thứ 2 ngay sau khi chưa cân nhắc tính toán các điều kiện Thiệu đã ra lệnh cho Phú đưa ngay Sư đoàn 23 về tái chiếm Buôn Ma Thuột. Khi chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, ta đã dự kiến 2 tình huống đánh địch phản đột kích sau khi đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Một là, đánh địch phản đột kích bằng đường bộ trên Đường 14. Hai là, đánh địch phản đột kích bằng lực lượng đổ bộ đường không. Cả hai tình huống dự kiến nhưng chưa có kế hoạch cụ thể, chi tiết của cả 2 tình huống này và chuẩn bị không được kỹ bằng trận Buôn Ma Thuột. Khi tình huống xuất hiện rõ rệt, Sư đoàn 23 bắt đầu đổ quân xuống Đường 21 thì Bộ Tư lệnh đã gạn lọc các điều kiện về ta, địch, địa hình, thế trận hai bên, rất nhạy bén và hạ quyết tâm tiêu diệt ngay, khi địch còn đang ở ngoài công sự, đứng chân chưa vững, chưa liên kết được với căn cứ của Trung đoàn 53. Quyết tâm đó được chấp hành rất triệt đế bằng trận phủ đầu vào quân địch của Trung đoàn 64 đã cơ động về ngay sau khi diệt Đức Lập. Sau đó sử dụng Sư đoàn 10 được tăng cường xe tăng, pháo binh, tác chiến trong hành tiến diệt lực lượng đổ bộ của Sư đoàn 23. Đây chính là trận đánh diệt lực lượng dự bị cơ động của Quân Khu 2, trận then chốt thứ 2. Trận đánh "bồi" này đã có tác dụng cực kỳ to lớn, thúc đẩy chiến dịch của ta phát triển thuận lợi, đồng thời dồn quân địch lâm vào tình thế hỗn loạn, mất phương hướng và khốn quẫn, dẫn tới sai lầm rút bở Tây Nguyên - thực chất là tháo chạy. Kết quả giữa hai trận đánh, đã tạo ra sự phát triển đột biến về chiến dịch và đi đến phá vỡ về chiến lược. Lực lượng quân địch ở Quân Khu 2 rút chạy chính là tình huống xuất hiện trận then chốt thứ 3 đã đến. Trận then chốt thứ 3 tiêu diệt tập đoàn rút chạy trên đường 7 hoàn toàn khác so với 2 trận đánh trước: Trận then chốt thứ nhất được chuẩn bị rất kỹ, rất chu đáo. Trận then chốt thứ hai chỉ dự kiến nhưng chưa đầy đủ và chưa kỹ. Trận then chốt thứ ba hoàn toàn chưa dự kiến trong kế hoạch chiến dịch. Chiến dịch chưa chuẩn bị bất kỳ một động thái nào để chuẩn bị cho trận đánh (tình huống) quân địch tháo chạy trên Đường 7. Mọi điều kiện chưa được sẵn sàng, chưa sẵn sang ngay trong tư duy tiến trình chiến dịch. Sự nhạy bén, chủ động được thể hiện: hạ quyết tâm tức khắc và tổ chức thực hiện quyết tâm đó ngay trong hành tiến. Chiến dịch hạ quyết tâm nhanh, chính xác; cấp chiến thuật chấp hành kiên quyết và triệt để; bộ đội quyết tâm rất cao. Đây chính là ba yếu tố cùng đến, cùng có trong một tình huống thời cơ lớn, đồng thời đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả to lớn tiêu diệt tập đoàn rút chạy của địch trên Đường 7, có nhiều giá trị ở cả tầm chiến dịch, chiến lược. Từ thực tiễn của ba trận then chốt trong chiến dịch Tây Nguyên diễn ra trong các thời điểm khác nhau, giải quyết các nhiệm vụ khác nhau, trong các điều kiện khác nhau, chúng ta khẳng định những vấn đề lý luận nghệ thuật chỉ huy và điều hành các trận then chốt chiến dịch mang tính phổ biến: - Trong một chiến dịch thường có thể tổ chức 2 -3 trận then chốt. - Trận then chốt là công cụ chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ của chiến dịch. - Trận then chốt phải tiêu diệt lớn quân địch, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, đánh chiếm mục tiêu có ý nghĩa chiến dịch, làm thay đổi cục diện chiến dịch. Là động lực thúc đẩy tiến trình chiến dịch phát triển nhanh chóng, tạo nên những bước ngoặt quyết định của quá trình chiến dịch. - Trận then chốt là mắt xích quan trọng liên kết giữa các trận đánh trong chiến dịch. Kết quả của nó tạo nên tác động dây chuyền, làm nảy sinh các thời cơ trực tiếp cho các trận đánh kế tiếp. Để tổ chức và chỉ huy điều hành các trận then chốt chiến dịch giành thắng lợi, phải: nghiên cứu kỹ về địch, ta, địa hình, liên hệ liên kết được các điều kiện, các yếu tố với nhau. Nắm chắc, chính xác các diễn biến, nắm chắc thời cơ, tận dụng thời cơ. Hạ quyết tâm đúng, nhanh, chính xác, tổ chức thực hiện quyết tâm nhanh, kiên quyết táo bạo. Nói tóm lại, nghệ thuật tổ chức và điều hành các trận then chốt chiến dịch, thực chất là một trong những nội dung quan trọng nhất của nghệ thuật vận dụng qui luật giành thắng lợi của chiến tranh. Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, một trong những thắng lợi điển hình rực rỡ nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại. Một chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm từ ngàn xưa đến nay của dân tộc ta. Chiến thắng Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Trước hết nó đã tạo ra bước ngoặt lớn trên một hướng chiến lược chủ yếu. Đồng thời, thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, đã trực tiếp tạo nên bước ngoặt có ý nghĩa quyết định cho một sự mở đầu hoàn hảo trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở "hồi kết" của chiến tranh. Chiến dịch lịch sử này đã để lại cho chúng ta nhiều tư liệu, giá trị quí giá, đó là: - Nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu chủ yếu của chiến dịch. - Nghệ thuật nghi binh, tạo thế, bất ngờ, giành quyền chủ động. - Nghệ thuật lựa chọn cách đánh chiến dịch - Nghệ thuật tổ chức và điều hành các trận then chốt chiến dịch. - Nghệ thuật tổ chức chuẩn bị chiến dịch - Nghệ thuật tổ chức cơ động lực lượng Những vấn đề nghệ thuật trên đã bao gồm tương đối đầy đủ nội dung của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chúng ta cũng đã có nhiều bài viết, nhiều tác phẩm viết về chiến dịch này dưới các thể loại khác nhau. Nhưng vẫn chưa khai thác hết giá trị đích thực của nó. Những giá trị, nội dung về nghệ thuật trên vẫn còn đang tiềm ẩn trong các sự kiện của chiến dịch, cần tiếp tục khai thác nhân bản, vận dụng và phát triển vào thực tiễn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:18:23 am III. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, nghệ thuật tận dụng thời cơ, tạo bước ngoặt vững chắc cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng
Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, được hình thành trong quá trình phát triển của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Chiến dịch đã tận dụng được thời cơ chiến lược lớn. Thắng lợi kế tiếp của chiến dịch đã góp phần tạo ra bước ngoặt vững chắc cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc ta. Theo tiến trình lịch sử, chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng được bắt đầu từ hai chiến dịch tiến công của Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5 - từ ngày 5 tháng 3 năm 1975. Như vậy, chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng không đồng nghĩa với kế tiếp hoặc gối đầu chiến dịch Tây Nguyên mà diễn ra đồng thời. Đặc điểm nổi bật của chiến dịch Huế - Đà Nẵng là từ hai chiến dịch nhỏ phát triển lên thành chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược trong thời cơ chiến lược mới. Khi mặt trận Tây Nguyên nổ súng thì quân ta cũng bắt đầu hoạt động phối hợp, tiến công địch ở cả vùng đồng bằng và vùng giáp ranh. Lực lượng vũ trang Quân khu đã bao vây trên một diện rộng các căn cứ địch, diệt và bức rút một số đồn bốt, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động đánh phá giao thông và các hoạt động khác. Lực lượng Quân đoàn 2 của ta đã tiến công địch trên tuyến Tây Nam Huế, Núi Bông, Núi Nghệ... diệt một số căn cứ, liên tục đánh phản kích tái chiếm, kìm chân lực lượng cơ động của địch không cho chúng rút khỏi Trị - Thiên. Các lực lượng vũ trang địa phương cùng với hàng trăm đội công tác đã tích cực thọc xuống các vùng sâu, kết hợp với nhân dân địa phương đồng loạt nổ súng tiến công địch. Ta đã thực hành diệt gọn 11 phân chi khu, tuyên truyền vận động nhân dân nổi dậy trên một diện 58 xã với 2 vạn dân. Sau chiến thắng Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã kịp thời chỉ đạo mặt trận Trị - Thiên và Quân đoàn 2 chớp lấy thời cơ nhanh chóng chuyển hướng tiến công. Ngay ngày 18 tháng 3, phán đoán địch có thể rút bỏ cố đô Huế, đưa Sư đoàn bộ binh 1 về tổ chức phòng thủ từ đèo Hải Vân trở vào. Bộ tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 phải táo bạo hơn nữa, đưa lực lượng thọc sâu vượt và bỏ các tuyến phòng thủ vòng ngoài, cắt đứt Đường số 1 áp sát Huế. Tổ chức hiệp đồng tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1 quân Ngụy, không cho chúng rút về Đà Nẵng cố thủ, tranh thủ thời cơ tốt nhất giải phóng cố đô Huế và toàn bộ Trị - Thiên. Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu 1 - Quân đoàn 1 Huếnh hoang trên Đài phát thanh Huế rằng: "Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô được cố đô này". Phù hoạ với lời lẽ ba hoa của Trưởng, Thiệu hò hét trên đài Sài Gòn: "Bỏ Kon Tum, Plâyku để bảo toàn lực lượng, còn Huế, Đà Nẵng, Quân khu 3, Quân khu 4 sẽ phải giữ đến cùng". Những luận điệu mỵ dân và uý lạo quân lính của các tướng tá Sài Gòn không đi đôi với hành động chồng chất tiếp những sai lầm về chiến lược của chúng. Chấp hành mệnh lệnh các lực lượng vũ trang địa phương Quảng Trị kịp thời chuyển sang tiến công liên tục, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Tuyến phòng thủ phía Bắc, nơi giáp ranh với ta đã bị vỡ một mảng lớn, quân địch đã phải rút về phòng thủ ở Nam sông Mỹ Chánh. Ngày 21 tháng 3 tiến công trên ba hướng, lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 đã vượt qua các tuyến phòng thủ vòng ngoài, hình thành nhiều mũi bao vây Huế, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn bộ binh 1, Lữ thuỷ quân lục chiến 147, cắt đứt Đường số 1 trên đoạn đường từ Mũi Né đến Bái Sơn. Hàng nghìn xe di tản từ Huế vào Đà Nẵng phải quay lại trong cảnh rối loạn. Pháo binh tầm xa của ta pháo kích căn cứ Đống Đa, Màn Cá, sân bay Phú Bài. Như vậy, đường bộ đã bị cắt, đường không đã bị triệt phá, đường tháo chạy cuối cùng là đường biển. Muốn chạy được ra biển, cửa cuối cùng là Thuận An và cửa Tư Hiền, "cửa ải" này là niềm hy vọng của sự tháo chạy nhưng trong thực tế hai cửa biển này đã trở thành cửa tử của những kẻ vừa Huếnh hoang khoác lác tử thủ trên miệng mà chưa kịp viết ra giấy. Nắm được chính xác ý đồ muốn tẩu thoát của một đạo quân đang hỗn loạn theo "quyết định sai lầm" của Thiệu. Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo pháo binh tầm xa của ta vừa bắn khống chế cửa Thuận An vừa bắn chế áp ngay vào đội hình di tản dày đặc hoảng loạn của địch đang ùn tắc ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Bộ đội đặc công đã đặt mìn phong toả cửa Thuận An. Đội hình xe tăng, pháo binh, xe ôtô các loại của binh lính và dân chúng đang kéo đi kín đường đã chen lấn xô đạp bắn giết lẫn nhau để thoát thân. Ngày 25 tháng 3 các cánh quân của ta đã hợp vây tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Đúng 10 giờ 30 phút, lá cờ cách mạng được kéo lên đỉnh cột cờ trước cửa Ngọ Môn. Tiêu diệt địch tháo chạy ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền, giải phóng cố đô Huế - toàn bộ Trị - Thiên, diệt và xoá tên Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn được Mỹ - Ngụy cho là thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng hoà. Những chiến công này đồng nghĩa với đánh sụp ý đồ co cụm chiến lược của địch, đẩy nguy cơ Quân khu 1 - Quân đoàn 1 Ngụy sẽ lại tiếp tục tan vỡ. Thực tế sự tan vỡ đang đến gần và chỉ được tính bằng ngày. Trước đó, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 rất nhạy bén với thời cơ, thế chiến lược mới do thắng lợi của ta trên các mặt trận. Quân khu đã bỏ kế hoạch phát triển về phía Nam, chỉ đạo các lực lượng vũ trang chuyển hướng tiến công, quay ngược trở lại hướng Bắc, chuẩn bị phối hợp với các cánh quân hướng Bắc giải phóng Đà Nẵng. Quân khu 5 đang chỉ đạo sự chuyển hướng này, Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh gần như đồng thời chỉ thị cho Quân khu 5, nhận rõ thời cơ mới đã và đang xuất hiện rất thuận lợi. Nhanh chóng tổ chức cắt tuyến Đường số 1 trên khu vực giữa Đà Nẵng với Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 2 quân Ngụy không cho địch co cụm về Đà Nẵng. Chuẩn bị công kích giải phóng Đà Nẵng. Ngày 21 tháng 3 một Trung đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 đã đánh chiếm Tuần Dưỡng, cắt Đường số 1 từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 2 quân Ngụy. Quán triệt các chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, kết hợp với thời cơ mới, thế chiến lược mới, Thường vụ Khu uỷ Khu 5 họp mở rộng hạ quyết tâm: "Động viên toàn Đảng bộ, toàn dân trong Quân khu phấn đấu trong thời gian ngắn nhất, giải phóng hoàn toàn Khu 5"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, NxbQĐND, H.2003, tr.110). Trong 2 ngày 24 và 25 tháng 3, Sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng các lực lượng khác, tiêu diệt và làm tan rã Trung đoàn 4, 5 thuộc Sư đoàn 2 Ngụy, giải phóng Tam Kỳ, Bắc tỉnh Quảng Ngãi. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:19:32 am Đà Nẵng bị uy hiếp ở cả phía Bắc, phía Tây và phía Nam. "Trường ca" "tử thủ Đà Nẵng" lại được Thiệu "hát" trên đài Sài Gòn, nhưng Thiệu lại ra lệnh rút Sư đoàn thuỷ quân lục chiến về Sài Gòn. Mỹ điều một số tàu chiến đến biển Đông ngoài khơi vùng biển Đà Nẵng làm lực lượng răn đe. Hò hét "tử thủ" nhưng Mỹ - Ngụy lại lập cầu hàng không chuyên chở một số gia đình tay sai Mỹ và sỹ quan cao cấp chuồn về Sài Gòn. Hoà âm với Thiệu, Bộ Tổng Tham mưu Ngụy phái ngay tên thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang, Phó Tổng Tham mưu trưởng hoả tốc ra Đà Nẵng thị sát và chuyển 20.000 khau súng ở tổng kho Long Bình ra bổ sung cho các lực lượng ở đây. Thiệu có ý định nếu không giữ được Đà Nẵng - Quảng Nam cũng phải "trì hoãn" một hai tháng để tranh thủ thời gian bố trí lại thế phòng ngự chiến lược - Một tư duy ảo tưởng đang được hình thành trong đầu chính quyền Sài Gòn. Những động thái này của địch báo hiệu cho sự sụp đổ tiếp của Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 đang đến gần.
Ngoài các lực lượng đang chiếm đóng Đà Nẵng, còn có các lực lượng khác vừa tháo chạy về, trong đó có sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1, Sư đoàn 1, tổng cộng quân địch đang dồn tại đây khoảng 16.000 tên. Ngày 25 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh nhận định: "Sau khi mất Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Chu Lai, địch dù có muốn giữ Đà Nẵng cũng không thể được". Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở trận công kích Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng". Đồng thời chỉ thị cho Quân đoàn 2, Quân khu 5 "hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay, tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực lớn của địch ở Đà Nẵng, chủ yếu là Sư đoàn thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn bộ binh 3 Ngụy, giành thắng lợi trong trận quyết chiến này, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược sau". Để chỉ huy trận đánh rất quan trọng này, ngày 25 tháng 3 Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, lấy tên là Mặt trận 475, đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân làm chính uỷ. Trong khi đó đồng chí Lê Trọng Tấn đáp máy bay từ Hà Nội vào, đồng chí Chu Huy Mân đang chỉ huy một cánh quân ở rất xa. Chỉ huy sở được lập ở Tây Đà Nẵng. Tư lệnh Lê Trọng Tấn đã sử dụng tổng trạm điện thoại giữa đường để liên lạc và chỉ đạo các cánh quân thuộc quyền. Thấy tình hình rất gấp, Tư lệnh đã dùng điện đài để trao đổi thống nhất cách tác chiến với đồng chí Chu Huy Mân. Như vậy, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà vẫn chưa gặp nhau. Ngay từ ngày đầu thành lập, chưa có cơ quan Mặt trận. Mọi hoạt động tác chiến của Quân đoàn 2 và Quân khu 5 vẫn do cơ quan tiền phương Bộ Tổng Tham mưu chỉ huy. Ngày 26, một số đồng chí được rút ra từ cơ quan Bộ lên đường vào vị trí triển khai sở chỉ huy. Đến chiều 28 tháng 3 mới chính thức có cơ quan Mặt trận 475, vị trí sở chỉ huy trên Đường 14 ở Tây Đà Nẵng. Trong khi Bộ Tư lệnh vẫn chưa gặp nhau. Trận tiến công Đà Nẵng ta đã sử dụng lực lượng như sau: - Trên hướng Bắc: Sư đoàn 325 (thiếu), đi đầu là Trung đoàn 18 được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo, tiến quân bằng xe cơ giới, theo trục Đường số 1 từ đèo Hải Vân vào thẳng Đà Nẵng. Tiếp sau là Trung đoàn 101. Hướng này do Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 trực tiếp chỉ huy. - Trên hướng Tây Bắc: Trung đoàn bộ binh 9 thuộc Sư đoàn 304 cùng với Tiểu đoàn xe tăng theo Đường 14 cũ từ Nam Yên vào thành phố. Trên hướng này có pháo nòng dài 130mm của Quân đoàn bố trí ở Mũi Trâu, sẵn sàng pháo kích Đà Nẵng và Quân cảng Sơn Trà. Hướng này do Tư lệnh Quân đoàn 2 và một bộ phận Sở chỉ huy nhẹ trực tiếp chỉ huy. - Trên hướng Tây Nam: Sư đoàn 304 (thiếu) tiến công theo 2 hướng: + Trung đoàn 66 đánh theo hướng Thượng Đức, Ái Nghĩa, Hiếu Đức. + Trung đoàn 24 đánh theo hướng Đức Lâm, Bắc núi Sơn Gà, có nhiệm vụ tiêu diệt Lữ 369 thuỷ quân lục chiến tiến vào sân bay Đà Nẵng. - Trên hướng Nam: Hướng Nam Đà Nẵng do Quân khu 5 đảm nhiệm, gồm Sư đoàn 2 được tăng cường Trung đoàn 36 một bộ phận pháo binh, xe tăng, Lữ bộ binh 52, Trung đoàn 96 và lực lượng vũ trang địa phương Quảng Đà: + Cánh chủ yếu do Trung đoàn 1, 2 thuộc Sư đoàn 2 đảm nhiệm, tiến công theo trục Đường số 1 đột kích thẳng vào sân bay Đà Nẵng, khu vực Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngụy, phát triển vào thành phố. + Cánh quân do Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 đảm nhiệm, tiến công Núi Quế, Bà Đen, mở đường cho Trung đoàn 1 thọc sâu vào sân bay Đà Nẵng, sau đó cùng Trung đoàn 96 Quảng Đà đánh chiếm Quận 3 và bán đảo Sơn Trà. Lực lượng bộ đội địa phương Quảng Đà hình thành các mũi thọc sâu, áp sát thành phố, phối hợp với cánh quân chủ lực tiến vào thành phố. + Trung đoàn 3 độc lập của Quân khu làm dự bị cho Sư 2 tiến theo trục Đường số 1; Lữ đoàn 52 làm dự bị cho Quân khu. Đến chiều 26 tháng 3 tổng quân số địch dồn về Đà Nẵng và những khu vực phụ cận lên tối 75.000 têu, nhưng đã ở trong tư thế thất bại, bị cô lập, suy sụp về tinh thần, bắt đầu tan rã về tổ chức, rối loạn về chỉ huy. Các lực lượng ta trên các hướng đều áp sát Thành phố. Kế hoạch co cụm đế "tử thủ Đà Nẵng" chưa hình thành địch đã phải từ bỏ. Đường bộ bị cắt, đường biển bị phong toả. Đường không là "cầu" duy nhất còn mong manh có cơ may chạy thoát. Binh lính, dân chúng chen chúc, tranh nhau lên máy bay gây cảnh huyên náo, ẩu đả ở sân bay. Sư đoàn thuỷ quân lục chiến trước khi rút chạy đã gây ra nhiều cảnh cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ. 3.200 tân binh đang huấn luyện ở Hoà Cầm nổi dậy đấu tranh bỏ ngũ ra với Quân giải phóng hoặc tự tan rã. Pháo binh tầm xa của ta bắt đầu pháo kích vào sân bay Đà Nẵng, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 quân Ngụy, Quân cảng Sơn Trà, căn cứ Non Nước, đang hoảng loạn lại càng hoảng loạn thêm. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:20:44 am Cuộc công kích vào Đà Nẵng và các vùng phụ cận trên các hướng bắt đầu:
Vào lúc 5 giờ 30 sáng ngày 28 tháng 3, pháo 130mm của Quân khu bố trí ở Lãnh An Thượng thực hành pháo kích vào Hòn Bàng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, chi viện cho bộ binh tiến công; Tiểu đoàn 575 ĐKB của bộ đội Quảng Đà tiếp tục bắn phá sân bay Đà Nẵng. 16 giờ cùng ngày 6 khẩu 130mm và Đ74 của Quân đoàn 2 bố trí ở Mũi Trâu, lại tiếp tục pháo kích vào sân bay Đà Nẵng. Sân bay đã bị đóng cửa. - Trên hướng Bắc: Trung đoàn bộ binh 18 ngay từ ngày 26 đã đánh chiếm ga Thừa Lưu, đồn Tổ Sơn, 9 giờ chiếm luôn đèo Phú Gia, phát triển về Lăng Cô. Ngày 28 chiếm Lăng Cô và đánh bại nhiều đợt phản kích của địch. Trong đội hình tiến công hành tiến của Trung đoàn 18 có 2 đại đội xe tăng T54 nhưng không thể phát triển được do cầu Thừa Lưu đã bị địch đánh sập. Quân đoàn tăng cường cho Trung đoàn 1 đại đội xe tăng PT85 lội nước vượt sông Thừa Lưu. Đến 8 giờ, 7 chiếc xe tăng và 1 đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 đã phát triển cách đỉnh đèo Hải Vân 600m. Quân địch bố trí trên đỉnh đèo nổ súng ngăn chặn, bộ binh ta xuống xe vận động theo hai bên sườn đội hình xe tăng, quân địch nhanh chóng bỏ lại trận địa khi xe tăng ta xuất hiện. Quân địch đã vứt bỏ cả xe tăng, pháo binh và các loại xe ôtô tháo chạy về Đà Nẵng, xe pháo ngổn ngang cả chân đèo phía Nam, quân ta không sao vượt qua được. Phải mất một thời gian mới khắc phục xong. 8 giờ lực lượng thọc sâu của ta xuống đến chân đèo, chiếm kho Liên Chiểu rồi nhanh chóng vận động đột kích thẳng vào trung tâm Thành phố Đà Nẵng. Trung đoàn Ba Gia Quân khu 5 đang chiếm giữ cầu Trịnh Minh Thế. Vì vậy, Trung đoàn 18 lại tiếp tục nhận lệnh bổ sung: nhanh chóng vượt cầu Trịnh Minh Thế đánh chiếm Quân cảng - bán đảo Sơn Trà. 100 tàu thuyền địch chưa kịp tháo chạy, khu ra đa viễn thông, bộ chỉ huy yểm trợ hành quân, khu kho liên hợp... đã nhanh chóng bị Trung đoàn 18 chiếm giữ. Ngay tại bến cảng Sơn Trà, quân địch đang đạp giẫm lên nhau để xuống tàu. Xe tăng của ta triển khai ngay đội hình bắn chìm tại chỗ một chiếc, 3 chiếc còn lại kéo cờ trắng xin quay vào bờ. Quân địch còn lại chạy tán loạn vào dãy núi Sơn Trà. 13 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 ta làm chủ bán đảo Sơn Trà. Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304, ngay tối ngày 28 đã cơ động bằng xe ôtô theo Đường 14 cũ qua đèo Mũi Trâu, chuẩn bị tiến công Đá Đen thì biết quân địch ở đây đã cao chạy xa bay. Trung đoàn chuyển sang đánh chiếm Phước Tượng, Hoà Khánh trong hành tiến, đột kích thẳng vào sở chỉ huy Sư đoàn 3 Ngụy, đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 3 lúc 12 giờ 30 phút. - Trên hướng Tây Nam: + Trung đoàn bộ binh 66 thuộc Sư đoàn 304, sáng ngày 28 tháng 3, sau khi đánh chiếm Phú Hương, đến 14 giờ đánh chiếm Tâm Hoà, Núi Đất; 17 giờ đánh chiếm Ái Nghĩa. + Trung đoàn 28 thuộc Sư đoàn 304, sau khi đánh tan sự chống cự của địch ở Đông Lâm, truy kích địch và tiến công đánh chiếm Ái Nghĩa cùng Trung đoàn 66. Ngày 29 tháng 3 Sư đoàn 304 từ Ái Nghĩa đánh chiếm Phú Sơn, Hiếu Đức, 12 giờ 30 đánh chiếm Hoà Cầm và tiến công đánh chiếm sân bay Đà Nẵng. - Trên hướng Nam và Đông Nam: 5 giờ 30 ngày 28 pháo binh tầm xa của Quân khu bắn phá sân bay Đà Nẵng, sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy. Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5, Trung đoàn 96 Quảng Đà đánh chiếm Bà Rén, quận lỵ Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước, Đường 104, chín giờ sáng máy bay địch đánh sập cầu Bà Rén, 14 giờ máy bay địch lại đánh sập cầu Lâu. Ba giờ sáng ngày 29 cơ bản đội hình bộ binh của Trung đoàn thê đội 1 mới vượt được sông bằng thuyền bè của nhân dân địa phương tại chỗ. Đội hình xe pháo không qua được. 5 giờ 55 phút ngày 29 tháng 3, Trung đoàn 38 đánh chiếm Vĩnh Điện, Miếu Bông, phát triển vào Đà Nẵng. Trung đoàn 31 vượt cầu Kỳ Lâm bám sát đội hình Trung đoàn bộ binh 1. Mười hai giờ cùng ngày đánh chiếm sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy. Đồng thời 12 giờ trên một mũi khác của trung đòan chiếm sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Không quân và sân bay Đà Nẵng. 8 giờ ngày 29, Trung đoàn 97 bộ đội địa phương chiếm xong thị xã Hội An, sân bay Nước Mặn, khu Hải quân và gặp Trung đoàn 18 thuộc Sư đoàn 325 đang chiếm giữ. Khi các lực lượng ta trên các hướng tiến vào Thành phố Đà Nẵng và các vùng phụ cận, đã được quần chúng nhân dân dẫn đường, sử dụng xe chở bộ đội truy kích quân địch. Đến 12 giờ ngày 29 tháng 3, cơ bản ta đã chiếm xong các mục tiêu chủ yếu ở Đà Nẵng. Đến 15 giờ, chiếm giữ xong toàn bộ khu căn cứ liên hợp lớn nhất miền Nam là Đà Nẵng - Sơn Trà. Sau 32 giờ bộ đội binh chủng hợp thành của Mặt trận 475, cho dù Bộ Tư lệnh mỗi người trên một hướng cách biệt và chưa gặp nhau, nhưng với tư tưởng "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng" cùng lực lượng vũ trang địa phương đã tận dụng được thời cơ lớn tiến công trong hành tiến, tiến công liên tục, giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai miền Nam. Ngày 28 tháng 3 năm 1975, tướng Uâyoen, viên tướng cách đây 3 năm đã cuốn lá cờ Mỹ để cùng đơn vị Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam lại mò đến Sài Gòn trực tiếp vạch kế hoạch phòng thủ cho bọn Ngụy. Sau khi ta đã giải phóng đến Cam Ranh, lực lượng địch cơ bản đã bị tiêu diệt hoặc tan rã. Quân Khu 1, Quân Khu 2 đã bị xoá sổ về hành chính trên bản đồ Việt Nam Cộng hoà. Trước tình hình Sài Gòn - “hòn ngọc của Viễn Đông”, đang bị uy hiếp trực tiếp. Uâyoen vội vã đốc thúc quân Ngụy xây dựng một tuyến phòng thủ mạnh, ngăn chặn tốc độ tiến công của quân ta từ xa ở Phan Rang. Uâyoen cũng điện về Mỹ xin viện trợ khẩn cấp cho chính quyền Thiệu. Đáp lời cầu xin của Thiệu và có sự “tô vẽ” của Uâyoen, Tổng thống Pho cho lập một cầu hàng không chuyên chở vũ khí từ Băng Cốc, Thái Lan đến Sài Gòn. Mỹ còn cho sử dụng máy bay vận tải cỡ lớn C-5 Galaxi từ Mỹ chuyển thẳng đến Tân Sơn Nhất hàng trăm khẩu đại bác và nhiều vũ khí khác. Sử dụng 4 tàu vận tải cỡ lớn LST cùng tàu sân bay Hencốc, 15 máy bay lên thắng cỡ lớn với 300 tên lính thủy quân lục chiến rập rình diễu võ dương oai ở biển Đông. Ngay từ khi Mỹ còn quân hùng tướng mạnh với xe tăng, đại bác, máy bay đủ các loại hiện đại, trực tiếp tác chiến với ta, Mỹ cũng chẳng làm lên “công trạng” gì giúp quân lực Việt Nam Cộng hoà. Khi ta đã giải phóng đến Cam Ranh; thử hỏi Mỹ làm được gì với mấy trăm tên lính lởn vởn ngoài khơi, trong tâm trạng đang sợ bỏ mạng ở chiến trường Việt Nam? Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:21:28 am Trước tình thế hết sai lầm này đến sai lầm khác, cả “thầy” và “tớ” lại tiếp tục sai lầm khi cho rằng ta phải để lại nhiều đơn vị chủ lực để giữ các vùng đất ta vừa giải phóng. Chúng dự đoán ít nhất mỗi tỉnh ta cũng phải để lại 1 trung đoàn để ổn định tình hình và giữ vùng giải phóng. Như vậy, ta cũng chỉ có khả năng điều lực lượng vào tăng cường cho miền Đông Nam Bộ nhiều nhất là 1 quân đoàn, cơ động một quân đoàn vào đến khu vực triển khai tác chiến cũng phải mất 2 tháng. Thiệu so sánh, quân lực Việt Nam Cộng hoà có nhiều phương tiện cơ động như: máy bay vận tải, máy bay trực thăng, ôtô, cơ động 1 quân đoàn cũng tối thiểu từ 1 tháng đến gần 2 tháng. Một phép tính cộng trừ hết sức ấu trĩ của quân Ngụy. Chính quyền Sài Gòn vẫn không đánh giá đúng thực lực và tiềm năng của ta. Chính sự đánh giá không đúng về chiến lược này đã đẩy các hành động tác chiến của quân Ngụy tiếp tục đi vào con đường sai lầm, sụp đổ và tan rã.
Kết quả: Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng Loại khỏi vòng chiến đấu 120.000 tên, bắt sống tại trận 55.000 tên, trong đó có 7000 sỹ quan có 220 sỹ quan cấp tá. Làm tan rã 125.000 phòng vệ dân sự. Cụ thể các đơn vị bị tiêu diệt: - 3 Sư đoàn bộ binh 1, 2, 3, thuộc Quân đoàn 1 - Sư đoàn thuỷ quân lục chiến thuộc lực lượng tổng dự bị - 4 Liên đoàn biệt động quân 11, 12, 14, 15. - 5 Thiết đoàn xe tăng thiết giáp, 4, 7, 11, 20, 17;499 xe tăng thiết giáp - 21 tiểu đoàn, 4 đại đội và 14 trung đội pháo binh;418 khẩu pháo các loại - Sư đoàn không quân 1 - 50 tiểu đoàn, 5 đại đội bảo an, 820 trung đội dân vệ, 6 đại đội quân cảnh Ta đã thu 129 máy bay, 179 xe tăng thiết giáp, 327 khẩu pháo, 47 tàu xuồng, 1084 xe quân sự và nhiều kho tàng xăng dầu đạn dược khác. Đập tan toàn bộ hệ thống phòng thủ kiên cố của địch, xoá sổ Quân Khu 1, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng, hệ thống chính quyền 5 tỉnh trong đó có 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Về ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Thắng lợi to lớn của chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng, có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng: - Tiêu diệt và làm tan rã nhiều sư đoàn chủ lực của địch trên địa bàn Quân Khu 1, Quân Khu 2 của địch, trong đó có cả sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị của quân lực Việt Nam Cộng hoà, trong một thời gian ngắn. - Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm thay đổi cục diện trên toàn bộ chiến trường miền Nam; thay đổi tương quan so sánh lực lượng chung về chiến lược hoàn toàn có lợi cho ta, bất lợi cho địch. - Thắng lợi chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đã tạo ra một vùng giải phóng rộng lớn, liên hoàn từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng ven biển miền Nam Trung Bộ. Hình thành vùng hậu phương chiến lược hoàn chỉnh, để bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho những cụm lực lượng tiến công với qui mô lớn, trên cả đường bộ, đường không và đường biển; tạo cho ta một thế trận mới vững chắc, một thời cơ mới không bao giờ lặp lại đối với người cầm quân trong chiến tranh, một lực lượng mới rất hùng hậu và toàn diện. - Củng cố vững chắc quyết tâm của Bộ Chính trị, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa, trong cuộc Tổng tiến công đã xác định trước đó. Đây là một chiến dịch tiến công, tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn, diễn ra trong một thời gian ngắn, công tác chuẩn bị gấp, hầu như không có ở cả cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Nhưng lại giành được thắng lợi rất to lớn, mang lại nhiều kinh nghiệm, giá trị quí báu, có nhiều phát triển mới về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch. Hiệu quả chiến đấu, chiến dịch và chiến lược rất cao. Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã trực tiếp làm phong phú thêm về mặt lý luận và thực tiễn nghệ thuật quân sự của ta. Một thành công lớn trong quá trình chỉ đạo chiến dịch: ta đã rất nhạy bén nắm bắt thời cơ chiến lược. Nhạy bén của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và nhạy bén của Quân khu 5, Quân khu Trị Thiên và của Quân đoàn 2, ngay từ khi chưa nhận được chỉ thị, chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương là đã có giải pháp phù hợp tình thế. Trên từng địa bàn tác chiến các quân khu, quân đoàn đã chủ động chuyển hướng tiến công ngay, tạo thế trận mới, đúng ý định của Bộ Chính trị và Quân uỷ. Điều này cho thấy, nhãn quan chiến lược của cán bộ cao cấp, người chỉ huy các cụm quân lớn trên chiến trường đều có những tư duy, thể hiện quan điểm tư tưởng lớn. Sau chiến dịch Tây Nguyên, nhiều vấn đề mới về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch đã phát triển ở tầm cao mới. Vì vậy, chiến dịch Huế - Đà Nẵng được hình thành ngay trong quá trình phát triển của cuộc tổng tiến công. Chiến dịch được hình thành không xuất phát từ kế tiếp, gối đầu chiến dịch Tây Nguyên mà hình thành song song, trực tiếp trên cơ sở của hai chiến dịch tiến công tổng hợp xuân hè trên địa bàn Quân khu 5 và Quân khu Trị Thiên. Trong chiến dịch có sự phối hợp rất thành công của các lực lượng vũ trang địa phương và sự nổi dậy của quần chúng. Sự kết hợp rất hiệu quả của 3 thứ quân. Với cách đánh chủ động và rất sáng tạo, hầu hết các lực lượng trên các hướng đều vận dụng cách đánh tiến công trong hành tiến, hình thành thế bao vây, chia cắt, thọc sâu, đột kích liên tục, không cho địch tháo chạy. Tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân địch, giải phóng khu vực rộng lớn liên hoàn trên địa bàn 5 tỉnh, trong đó có 2 thành phố lớn, nhưng thương vong của ta thấp, bảo toàn được tính mạng cho nhân dân. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:22:44 am Một Số bài học kinh nghiệm về nghệ thuật chiến dịch
Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng tháng 3 năm 1975, được hình thành trong quá trình của cuộc Tổng tiến công trên toàn miền. Chiến dịch đã kế thừa trực tiếp còn đang “rất nóng”, những kinh nghiệm quí giá từ chiến dịch Tây Nguyên. Mặc dù, chiến dịch không mang bóng hình của gối đầu hay kế tiếp chiến dịch Tây Nguyên, mà được phát triển từ 2 chiến dịch tiến công của Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2. Sự thành công đầu tiên được đi vào lịch sử thể hiện tính nghệ thuật cao về chỉ đạo tác chiến cho các lực lượng, của các lực lượng trên địa bàn, đó là tính nhạy bén, quyết đoán, táo bạo hàm chứa đầy đủ nhãn quan chiến lược của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 Quân khu Trị - Thiên và Quãn đoàn 2. Một quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược đúng, đã mang lại hiệu quả cực kỳ to lớn, một thắng lợi không thể ngờ tới trong hoạt động quân sự thông thường. Bài học thứ nhất: Đánh giá đúng tình hình so sánh lực lượng Trong lịch sử, vấn đề đánh giá tình hình, đặc biệt là đánh giá đúng về địch, về ta, về địa hình thời tiêt và sự chuyển hoá, phát triển trong của mối quan hệ giữa các yếu tố đó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trên cơ sở đánh giá đúng, khi đưa ra các kết luận so sánh lực lượng giữa hai bên mới chính xác. Vấn đề đánh giá đúng tình hình so sánh lực lượng đã được khái quát thành một nguyên tắc có tính qui luật trong bất kỳ một trận chiến đấu, chiến dịch, chiến lược hoặc bất kỳ một cuộc chiến tranh nào trong lịch sử. Đánh giá đối phương không đúng sẽ dẫn tới những sai lầm hết sức nghiêm trọng về chiến dịch, chiến lược. Từ những sai lầm này, sẽ đưa ra những quyết tâm hành động không phù hợp với thực trạng của tình hình. Thực tiễn qua hai chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế - Đà Nẵng cho thấy: Cơ quan chiến lược của chính quyền Sài Gòn và cơ quan chiến dịch của Quân Khu 1 - Quân đoàn 1, Quân Khu 2 - Quân đoàn 2, luôn đưa ra những nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, không có cơ sở thực tế, không đúng bản chất và không có mối quan hệ vận động phát triển, đặc biệt là đánh giá không đúng khả năng lực lượng của ta. Vì vậy, chúng liên tiêp đưa ra các quyết định sai lầm, sai lầm chồng chất kế tiếp sai lầm, sai lầm sau còn lớn hơn những sai lầm trước. Do đó, sự tan vỡ thế trận chiến lược, thất bại trong chiến tranh cũng là điều tất yếu. Ngược dòng lịch sử, ngay từ khi ta đang nỗ lực tổ chức chuẩn bị chiến dịch Tây Nguyên ngày 18 tháng 2 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng hội đồng các tướng lĩnh Sài Gòn đã đi đến nhận định đánh giá các hoạt động quân sự của ta trong năm 1975 cụ thể như sau: Ta sẽ mở những cuộc tiến công với qui mô chưa đủ lớn, có thể qui mô chỉ lớn hơn năm 1974 nhưng không thể bằng năm 1972. Với mục đích của các cuộc tác chiến chủ yếu là đánh phá bình định, giành dân, nhất là đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng vùng giải phóng miền núi, hướng tiến công chủ yếu sẽ là Tây Nguyên, mục tiêu chủ yếu là Plâyku - Kon Tum. Khả năng chủ lực của ta chưa đủ sức đánh chiếm các thị xã, thành phố lớn, có đánh cũng không có khả năng giữ được. Từ những nhận định về chiến lược chưa chính xác như vậy, mặc dù địch cũng đã có những động thái theo dõi, đề phòng ta nhưng nhìn chung: Không đầy đủ, không chính xác và không có có sở. Vì vậy, địch vẫn chủ quan, giữ thế chiến lược chung là: tập trung mọi nỗ lực cao nhất cho chiến trường Quân Khu 1 và Quân Khu 3. - Quân Khu 1 đã tập trung đến 5 Sư đoàn, trong đó có sư đoàn dù, sư đoàn thuỷ quân lục chiến là 2 sư đoàn dự bị cơ động chiến lược và nhiều quân binh chủng đơn vị trực thuộc khác. Trên hướng địa bàn Quân Khu 1, địch phán đoán chủ lực ta sẽ tiến công trên địa bàn Quảng Trị - Thừa Thiên và Quảng Nam - Quảng Ngãi. Hướng tiến công chủ yếu là Quảng Trị. Từ nhận định và thế trận chung, địch đã bố trí trên địa bàn Trị - Thiên 2 sư đoàn (Sư đoàn thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn bộ binh 1), một liên đoàn biệt động, 3 thiết đoàn thiết giáp, 2 liên đoàn bảo an, 7 tiểu đoàn pháo binh, các tiểu đoàn, đại đội bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự. Ngày 06 tháng 3, trước những động thái hoạt động quân sự bán tín, bán nghi, không thể nào phán đoán và đánh giá chính xác được các hoạt động đó của ta trên toàn chiến trường. Thiệu quyết định rút Sư đoàn dù về Sài Gòn nhưng nhùng nhằng mãi đến ngày 17 tháng 3 mới thực hiện được lệnh rút này. Đến thời điểm lịch sử này ta đã đánh chiếm Buôn Ma Thuột, diệt luôn Sư đoàn 23 đổ bộ xuống Phước An nhằm phản đột kích tái chiếm Buôn Ma Thuột. Đồng thời Thiệu điều chỉnh lại thế bố trí lực lượng trên địa bàn Quân khu 1 bằng cách: đưa Sư đoàn thuỷ quân lục chiến từ Trị - Thiên về Đà Nẵng. Khi ta thực hành tiến công lực lượng quân địch trên địa bàn Trị - Thiên chỉ còn 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 1 liên đoàn biệt động, thiết giáp, pháo binh và một số đơn vị địa phương. Việc Thiệu điều chỉnh bố trí lại lực lượng và rút Sư đoàn dù về Sài Gòn, đã làm cho thế bố trí của địch trên địa bàn Quân Khu 1 bộc lộ nhiều chỗ sơ hở và yếu. Điều chỉnh, rút Sư đoàn dù khỏi Quân Khu 1 hoàn toàn trái ngược với những lời hò hét của Thiệu trên Đài Truyền hình Sài Gòn là: rút bở Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng và phải tử thủ Huế - Đà Nẵng đến cùng. Ra lệnh tử thủ nhưng lại rút lực lượng ra khỏi địa bàn cần tử thủ! Điều sai lầm lớn của địch là đến lúc này địch vẫn chưa phát hiện được hướng tiến công chủ yếu của ta ở Trị - Thiên là phía Nam Thừa Thiên - Huế do Quân đoàn 2 đảm nhiệm đang khẩn trương chuẩn bị. Trong khi đó địch vẫn đang tập trung chuẩn bị đối phó với ta trên hướng Bắc Quảng Trị. - Quân Khu 3, 3 Sư đoàn - Quân Khu 2, 2 Sư đoàn - Quân Khu 4, 3 Sư đoàn Trong khi địch đang ráo riết điều chỉnh kế hoạch phòng thủ, phòng ngự trên địa bàn cả về thế và lực để đối phó với ta. Trên địa bàn Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên và lực lượng Quân đoàn 2 của ta. Ngay từ Xuân - Hè năm 1974 đã kết hợp với các lực lượng vũ trang địa phương mở các hoạt động nhỏ, vừa, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị của địch ở Quảng Trị, Thừa Thiên và trên địa bàn Quân khu 5. Giải phóng một số khu vực quan trọng trên vùng miền núi và giáp ranh ở Thừa Thiên, Thượng Đức, Minh Long, Nông Sơn, đẩy địch vào thế bị động lúng túng. Như vậy, dù chiến dịch có diễn ra trong điều kiện chuẩn bị gấp, diễn ra theo chiều hướng phát triển chung của toàn cục, thì thế và lực do chiến lược tạo ra, bản thân chiến dịch tạo ra hoàn toàn chủ động, vững chắc. Điều quan trọng nhất lại chính từ các hoạt động quân sự nhỏ và vừa này đã làm cơ sở để ta đánh giá đúng khả năng chiến đấu của các lực lượng chủ lực quân Ngụy sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam. Chúng ta đã sớm nhìn thấy và đánh giá chính xác những mặt mạnh của địch, những điểm mạnh đó chỉ là tạm thời và những chỗ yếu cơ bản của địch, chưa thể và không thể khắc phục được. Vấn đề đánh giá chính xác về địch, về ta cũng hoàn toàn chủ động và có cơ sở. Tuyệt nhiên không dựa vào một số cơ sở, điều kiện nhất thời hoặc hiện tượng để đánh giá bản chất. Mọi công tác chuẩn bị chiến trường, thiết bị chiến trường, đường sá, kho tàng, hệ thống thông tin, hệ thống bám nắm địch cũng được triển khai đồng bộ, chủ động. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:23:20 am So sánh lực lượng trong chiến dịch Trị - Thiên cho thấy:
- Quân chủ lực của ta: 1 quân đoàn, 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 6 trung đoàn, 12 tiểu đoàn. Trong khi chủ lực của địch chỉ có 4 sư đoàn, 4 lữ đoàn biệt động quân. Tỷ lệ so sánh: Ta 1,2/địch 1. - Quân địa phương: ta 6 trung đoàn, 2 tiểu đoàn. Địch 24 tiểu đoàn, 10 đại đội. Tỷ lệ so sánh: ta 1/địch 1,5. - Pháo binh: ta 14 tiểu đoàn với 154 khẩu; địch 21 tiểu đoàn 400 khẩu. Tỷ lệ so sánh: ta 1/địch 2,4. - Tăng, thiết giáp: ta 1 lữ đoàn, 2 tiểu đoàn với 101 xe; địch có 4 tiểu đoàn, 10 chiến đoàn. Tỷ lệ so sánh: ta 1/địch 4. Từ số liệu so sánh cho thấy: ta chỉ có ưu thế hơn địch về số các đơn vị bộ binh chủ lực. Còn lại lực lượng địa phương, pháo binh, xe tăng thiết giáp địch đều có số lượng ưu thế hơn ta. Xét về số lượng, hình thức thì bất cứ người cầm quân nào cũng không thể đưa ra một kết luận chính xác để hạ quyết tâm cho một trận đánh, một chiến dịch nào chính xác nhằm nắm phần thắng chắc chắn. So sánh tương quan lực lượng về số lượng giữa ta và địch chỉ là những chỉ số cơ bản, chưa phải là yếu tố đánh giá bản chất đích thực mạnh hay yếu giữa hai bên. Để đánh giá đúng mạnh yếu của đối phương, Bộ Tư lệnh chiến dịch và các quân khu đã có tư duy tổng thể, toàn diện, một cách nhìn thể hiện rõ về chất của đối phương trên toàn bộ chiến trường cũng như trên địa bàn Quân Khu 1 của địch. Đó là, thế trận của địch đang ở thế tan vỡ, chắp vá về chiến lược, chiến dịch. Tinh thần đang hoang mang, dao động, sau những đòn choáng váng ở Tây Nguyên. Sức mạnh chiến đấu của binh lính không cao, khả năng tác chiến giảm sút. Một nguyên nhân mâu thuẫn rất cơ bản có tính hệ thống, đã trở thành qui luật về vấn đề sử dụng lực lượng giữa chiến lược và chiến dịch của địch không khắc phục được. Mặc dù quân còn rất đông, phương tiện vũ khí trang bị không thiếu, nhưng phải bố trí phân tán. Lực lượng chủ lực phải rải ra chiếm đóng trên địa bàn 5 tỉnh, 2 thành phố, các chi khu quận lỵ để bảo vệ các căn cứ, các trục giao thông. Nếu sử dụng lực lượng tập trung sẽ không có binh lực để chiếm giữ. Nếu sử dụng phân tán sẽ không có lực lượng cơ động. Vì vậy quân nhiều nhưng vẫn ít và không mạnh. Một vấn đề chung mới xuất hiện đang bao trùm trên địa bàn Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 và cả chính quyền Sài Gòn sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ là: hành động tác chiến nửa vời, không ra phòng ngự tử thủ, không hẳn tiến công. Lúc nào tư tưởng rút bỏ, rút chạy cũng thường trực trong tư duy của những tên tướng cầm quân. Nguyên nhân này đã “đóng góp” phần lớn dẫn đến mất sức chiến đấu của binh lính và tan vỡ về thế trận trên địa bàn quân khu. Đây cũng là nguyên nhân gián tiếp tăng sức mạnh chiến đấu, tạo thế trận mới cho các lực lượng ta. Mặt khác so sánh lực lượng tuy ta không hơn địch, song ta đang có nhiều thuận lợi về thế trận. Ta tận dụng được sức mạnh của các lực lượng tại chỗ, của nhân dân trên địa bàn, tạo thành sức mạnh tổng hơp. Ta biết cách sử dụng lực lượng tập trung trên các hướng chủ yếu, địa bàn quan trọng, mục tiêu chủ yếu và vào thời điểm thích hợp có lợi nhất, nhằm được những mục đích của từng trận chiến đấu, cũng như mục đích lớn chiến dịch. Trước khi Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định mở chiến dịch, lực lượng ta đã được chuẩn bị chu đáo, chu đáo cả về vật chất và tinh thần, cả về lực và thế. Mọi công tác chuẩn bị của Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2 luôn trong tư thế thường trực, tính sẵn sàng rất cao. Đặc biệt là tinh thần chiến đấu của bộ đội trên toàn mặt trận rất hăng hái, đang có đà rất mạnh, lòng tin vào chiến thắng rất vững chắc. Do đó, số lượng ta tuy có ít hơn nhưng thế và lực tổng thể của ta vẫn mạnh. Thành hay bại của mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch, bao gồm nhiều nhân tố tạo thành, trong đó có những nhân tố quan trọng, nhân tố quyết định đến sự thành bại đó. Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng, chiến dịch mang tên Mặt trận 475, nhân tố đầu tiên có ý nghĩa quyết định là nghệ thuật đánh giá đúng tình hình, so sánh lực lượng địch, ta một cách hết sức khách quan khoa học. Không những đánh giá đúng hiện tại, phát triển mà cả yếu tố lịch sử cũng được xem xét đến để vận dụng và sáng tạo cho những quyết định tức thòi. Trên cơ sở đánh giá một cách đầy đủ toàn diện đó là căn cứ để Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đưa ra những quyết tâm chính xác. Quyết tâm, kế hoạch tác chiến chiến dịch chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng chu đáo như chuẩn bị hạ quyết tâm và kế hoạch tác chiến trong chiến dịch Tây Nguyên. Cấp chiến dịch, khi Quân khu 5 và Quân khu Trị - Thiên, cũng đồng thời rất nhạy bén trong vấn đề đánh giá tình hình và so sánh lực lượng, chuyển ngay hướng tiến công ngược lên phía Bắc, chuẩn bị lực lượng và thế trận sẵn sàng tiến công Đà Nẵng, mặc dù chưa có chỉ thị, chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Kết quả và thực tiễn cho thấy, nhận thức và đánh giá tình hình của 2 quân khu đã hoàn toàn phù hợp và chính xác với đánh giá tình hình của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Hạ quyết tâm, nhanh chóng tập trung lực lượng trên địa bàn tiến công giải phóng thành phố Huế, tiêu diệt và ngăn chặn không cho địch co cụm về Đà Nẵng đúng. Mục tiêu cuối cùng trên địa bàn là tiêu diệt, giải phóng Đà Nẵng và Khu quân sự liên hợp lớn nhất miền Nam này là hoàn toàn chính xác, tạo ra thế chiến lược cho trận quyết chiến cuối cùng. Vấn đề nội dung cơ bản của quyết tâm là chọn hướng, đối tượng, mục tiêu tiến công chủ yếu và các hướng quan trọng khác rất hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của toàn cục. Vận dụng cách đánh chiến dịch, chiến thuật hay, linh hoạt đa dạng. Bố trí và sử dụng lực lượng chung, lực lượng các binh chủng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng. Kết hợp được sức mạnh của thế và lực trên địa bàn, đặc biệt là thế và lực tại chỗ của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương. Bảo đảm các mặt toàn diện trong điều kiện chuẩn bị gấp rút là một thành công lớn của chiến dịch. Tổ chức và phân chia các bước, đợt chiến dịch hợp lý, trong đó có các trận đánh then chốt phù hợp với điều kiện địa bàn tác chiến rộng, chia cắt trong khi lực lượng quân địch gần như đang còn nguyên vẹn. Đánh giá tình hình so sánh lực lượng đã trở thành một nguyên tắc có tính qui luật trong hoạt động quân sự. Nghệ thuật đánh giá tình hình, so sánh lực lượng địch - ta trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã để lại cho chúng ta một bài học quí giá. Đó là, đánh giá đúng trên cơ sở so sánh lực lượng về chiến lược, chiến dịch cả trong chiều hướng vận động phát triển của lực lượng hai bên. Đây là một vấn đề có tầm quan trọng quyết định đến tiến trình thắng lợi chiến dịch là phải nắm vững nghệ thuật đánh giá so sánh lực lượng một cách biện chứng, khách quan khoa học. Đánh giá đúng sẽ là cơ sở đúng để hạ quyết tâm đúng, sử dụng lực lượng đúng là một nội dung của quyết tâm đúng sẽ phát huy được sức mạnh của quyết tâm sử dụng lực lượng đó. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:24:19 am Bài học thứ hai: Nghệ thuật đúng chọn hướng, đối tượng, mục tiêu tiến công chủ yếu
Một yếu tố đặc biệt quan trọng, đã góp phần không nhỏ dẫn đến thành bại trong tác chiến là yếu tố địa hình thời tiết. Một yếu tố đã tạo được sự bất ngờ lớn trong chiến dịch Tây Nguyên khi ta nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột đó là địa hình. Địch luôn nghĩ rằng quanh thị xã Buôn Ma Thuột không có đường giao thông lớn, sông suối chia cắt như vậy, ta không thể đưa xe tăng, pháo lớn và vật chất phương tiện hậu cần kỹ thuật bảo đảm được. Mà không có các yếu tố này thì không thể có tác chiến lớn. Trên hướng tiến công Trị - Thiên Địa hình cũng là yếu tố, là cơ sở không thể thiếu khi ta chọn hướng tiến công, mục tiêu tiến công chủ yếu. Tuy nhiên các yếu tố trong đó có địa hình thời tiết không bao giờ thỏa mãn các yêu cầu đặt ra để chọn hướng tiến công chủ yếu, mục tiêu chủ yếu cho từng trận đánh, từng chiến dịch. Thoả mãn yếu tố này, phải chấp nhận sự thiếu hụt hoặc phải khắc phục những yếu tố khác. Vấn đề quan trọng và đã trở thành nghệ thuật trong nhân tố này là: đạt được yếu tố bất ngờ, đạt mục đích chiến dịch. Đây chính là tư duy sáng tạo và thực tiễn cụ thể trong từng trận đánh, từng chiến dịch. Khi chuẩn bị kế hoạch dù rất gấp nhưng lúc đầu ta dự kiến chọn trục Đường 12 - Tây Huế. Trên cơ sở phân tích thuận lợi khó khăn về địa hình thời tiết cho thấy: hướng này đường sá tốt, có địa hình rừng núi kín đáo tiện cho ta giấu quân, tiếp cận địch, làm công tác chuẩn bị trực tiếp tốt. Dù mới vào đầu mùa mưa nhưng vẫn có điều kiện đê triển khai binh khí kỹ thuật. Hướng này chỉ cách Thành phố Huế 30km, khi thực hành tác chiến sẽ tiêu diệt được một số lực lượng địch, kiềm chế và thu hút được chủ lực của địch, lại là hướng uy hiếp trực tiếp cố đô Huế. Sư đoàn bộ binh 325 thuộc Quân đoàn 2 đang đứng chân trên địa bàn, quen thuộc địa hình, có kinh nghiệm tác chiến với Sư đoàn bộ binh 1 quân Ngụy. Nghiên cứu tính toán rất kỹ, đặc biệt là yếu tố về địch cho thấy: Trên hướng này, quân địch bố trí phòng ngự tương đối vững chắc, có thời gian chuẩn bị khá chu đáo. Địch chiêm địa hình có lợi, thiết bị hệ thống trận địa phòng ngự khá kiên cố, có chính diện, chiều sâu trên những trục đường độc đạo hiểm trở, địa hình cũng bất lợi cho ta khi thực hành đột phá, công kích. Địch có thể lợi dụng tuyến địa hình có lợi ngăn chặn ta từ Chúc Mao, Tài Lương, Bình Điền... Hậu phương trực tiếp của Trị - Thiên - Huế là Đà Nẵng, thực hành tiến lui, chi viện... đều thuận lợi. Thực hành đột phá từ hướng này ta khó có điều kiện phát triển vì Đường 12 chưa thông, bảo đảm hậu cần sẽ rất phức tạp tình hình ấy ắt có ảnh hưởng khi gặp thời cơ lớn, thời cơ chiến lược, thời cơ này đang đến và có nhiều khả năng chắc chắn sẽ nằm trong tầm tay của ta. Đây mới là nguyên nhân chính, nguyên nhân chủ yếu vì sao ta không chọn hướng Đường 12 - Tây Huế. Lại một sự tính toán sáng tạo, có cơ sở rất thực tiễn, luôn ở tầm phát triển chiến lược, tạo và đón thời cơ mới lớn hơn của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đề nghị chọn chếch xuống Tây Nam Huế. Tiến công theo tả ngạn và hữu ngạn sông Truồi, thọc thắng ra Đường số 1, đối tượng chủ yếu là Trung đoàn bộ binh 54 quân Ngụy đang chốt giữ trên Núi Bông, Núi Nghệ, Điểm cao 224, 273, 303, Mỏ Tầu. Phương án này được Quân uỷ Trung ương phê chuẩn. Trên thực tế về thế bố trí của địch, địa hình cho thấy, ta chọn hướng tiến công này là một hướng rất hiểm, sẽ tạo bất ngờ lớn đối với địch. Khi thời cơ lớn xuất hiện ta đã có sẵn một thế trận mới thọc thẳng xuống Đường số 1, chia cắt tức khắc giữa Huế và Đà Nẵng. Hình thành ngay thế trận bao vây cô lập quân địch ở Huế và Đà Nẵng. Vấn đề lớn nhất và khó khăn nhất khi chuẩn bị tiến công theo phương án đã được phê chuẩn là làm thế nào Quân đoàn 2 phải vận chuyển được một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật đạn dược, lương thực lên phía trước nhưng vẫn phải bảo đảm giữ được bí mật ý định và hướng tiến công của chiến dịch trên hướng này? Đó là phải sửa chữa, mở thêm một khối lượng đường vận tải rất lớn. Quân đoàn đã huy động lực lượng đến tối đa, kể cả sử dụng một số lớn tù binh. Được sự giúp đỡ và chi viện hiệp đồng của Quân khu Trị Thiên, công việc làm đường được thi công suốt ngày đêm, chạy đua với thời gian. Ngay từ cuối tháng 2 đầu tháng 3, ta đã mở đường mới nối liên với Đường 14, bảo đảm chất lượng tốt, xe cơ giới cơ động tốt trong cả mùa mưa. Các lực lượng đã làm 100km đường mới chạy qua các ngọn đồi xung quanh Đồng Truồi; mở đường cả bên hữu ngạn và tả ngạn dọc theo sông Truồi và dãy núi Kim Sắc, bảo đảm đường cho Sư đoàn 325 đưa lực lượng vào triển khai tiến công, sẵn sằng cơ động cắt Đường số 1 khi có thời cơ. Đúng như ta đã đón sẵn thời cơ chiến lược, chiến dịch chọn hướng Tây Nam Huế là chính xác, một phương án đón đầu giành thắng lợi chắc chắn. Sau chiến thắng Tây Nguyên, thời cơ chiến lược ta đón sẵn đã đến. Chấp hành quyết định của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, ngày 21 tháng 3 khi chưa chính thức kết thúc chiến dịch Tây Nguyên, Quân đoàn 2 (thiếu) đã thọc ra Đường số 1 đánh chiếm một loạt các vị trí của địch ở Kim Sắc, Điểm cao 294, 520, 560. Mười hai giờ 15 ngày 22 tháng 3 ta đã cắt và chốt giữ Đường số 1 trên một đoạn dài 3km từ Bái Sơn đên Bạch Thạch. Thế là hàng ngàn xe quân sự, xe dân sự của địch đang “di tản” về Đà Nẵng vướng trở ngại đi cũng không được, quay lại cũng không được, mà ở lại cũng không xong. Cảnh tượng tháo chạy chiến lược này gây ra trong tình trạng rất hỗn loạn. Địch hoàn toàn rơi vào tình trạng lúng túng, hoang mang, dao động. Kế hoạch tử thủ cố đô Huế của Tổng thống Thiệu được tướng Trưởng “nhai lại” vĩnh viễn nằm trên giấy. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:24:57 am Trên hướng tiến công phía Nam Đà Nẵng
Trên địa bàn tác chiến của Quân khu 5, vấn đề chọn hướng tiến công cũng không kém sự phức tạp, gay cấn như chọn hướng tiến công Tây Nam Huế của Quân đoàn 2. Đa số ý kiến tranh luận đều đề xuất chọn hướng chủ yếu tiến công vào Sơn Hà, Trà Bồng, Tây Quảng Ngãi. Bởi vì, trên hướng này lực lượng của địch bố phòng mỏng yếu, bị cô lập lại bị địa hình rừng núi bao quanh. Ta dễ tiếp cận triển khai lực lượng, bất ngờ tiến công, có thời cơ kéo Sư đoàn bộ binh 2 quân Ngụy lên để tiêu diệt và có điều kiện thuận lợi tiến công đánh chiếm, giải phóng thị xã Quảng Ngãi. Nghiên cứu toàn diện, cụ thể, phân tích kỹ các phương án. Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu vào Tiên Phước, Phước Lâm, miền Tây Quảng Nam. Tuy có nhiều ý kiến đề xuất tranh luận nhưng khi Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thì mọi tư duy đều nhất trí cao. Mặc dù đây là hướng quân địch bố phòng tương đối mạnh, nhưng rất hiểm yếu khi ta phát triển thế tiến công uy hiếp các Căn cứ địch. Hiểm yếu, bởi vì: uy hiếp trực tiếp thị xã Tam Kỳ, căn cứ Chu Lai nằm ngay trên Đường số 1. Thị xã Tam Kỳ và căn cứ Chu Lai bị uy hiếp hoặc đánh chiếm, một đoạn dài mấy chục cây số Đường số 1 sẽ bị chốt giữ. Hướng Nam Đà Nẵng bị chia cắt, Đà Nẵng hoàn toàn bị cô lập. Sư đoàn bộ binh 2 không thể không có phản ứng, một thời cơ tốt để ta kéo Sư đoàn 2 địch đang hoang mang về tinh thần ra để tiêu diệt. Khi chiến dịch diễn ra cho thấy phương án chọn hướng chủ yếu tiến công vào Nam Ngãi của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu 5 là hoàn toàn đúng, sáng tạo và táo bạo, có tầm nhìn chiến lược, một kế hay. Lại một hướng tiến công chủ yếu, hiểm yếu nhằm tạo và đón thời cơ phát triển chiến dịch thành thời cơ chiến lược. Khi toàn mặt trận thực hiện giai đoạn công kích Đà Nẵng mới thấy hết giá trị to lớn của hướng hiểm yếu này do bộ đội Quân khu 5 đảm nhiệm tiến công từ hướng Nam ra. Từ hướng Nam bộ đội Quân khu 5 đã phối hợp với các hướng khác, tạo ra một gọng kìm, xiết chặt Thành phố Đà Nẵng. Quân địch chỉ còn đường duy nhất tháo chạy ra biển Đông. Tiến công Đà Nẵng, mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Các lực lượng tham gia tiến công Thành phố Đà Nẵng, khu liên hợp quân sự lớn nhất miền Nam diễn ra trên nhiều hướng. Hướng tiến công chủ yếu được lựa chọn từ hướng Bắc, Tây Bắc, theo trục Đường số 1 và Đường số 14B do Quân đoàn 2 đảm nhiệm. Qua thực tiễn diễn biến cho thấy, các lực lượng trên địa bàn Quân Khu 1 của địch rút chạy về Đà Nẵng số quân đóng rất đông. Như trên đã đưa ra kết luận của Đảng uỷ và chỉ huy các cấp, đặc biệt là cấp chiến dịch, chiến lược: địch đông, nhưng không mạnh, nhiều nhưng không có sức chiến đấu, nhiều mà ô hợp, đang rối loạn. Trên phạm vi lý thuyết, lực lượng rút chạy về và lực lượng tại chỗ, tổ chức phòng ngự, tử thủ Đà Nẵng. Nhưng thực chất không có hành động nào phòng ngự phòng thủ. Những hành động tác chiến của quân Ngụy chỉ là tự phát bị ta tiến công thì tự vệ để chống đỡ lại ta là chính. Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khư 1 - Quân đoàn 1, bỏ lại toàn bộ thuộc hạ của y ở "chảo lửa" Đà Nẵng, nhảy lên trực thăng chuồn ra tàu đang đón ngoài khơi và dông thẳng về "tử thủ" trong bệnh viện ở Sài Gòn. Một quân khu với nhiều sư đoàn và nhiều xe tăng đại bác, vĩnh viễn chìm vào lịch sử thảm bại của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Xuất phát từ những cơ sở thực tiễn này. Khi thực hành tiến công Đà Nẵng cho thấy: Thời gian, tốc độ tiến công là lực lượng trọng điểm trong trận công kích Đà Nẵng. Để tăng tốc độ tiến công trong hành tiến, kiên quyết truy kích, tiến công liên tục, với khí thế và sức mạnh áp đảo, Quân đoàn 2 đã tăng cường cho Trung đoàn bộ binh 18 thuộc Sư đoàn 325 xe tăng và xe cơ giới để tận dụng Đường số 1. Khi xe tăng hạng nặng của ta xuất hiện trên đỉnh đèo Hải Vân cùng bộ binh thì tinh thần quân lính địch suy sụp, rối loạn hoàn toàn, Thành phố Đà Nẵng bị uy hiếp trực tiếp từ hướng Bắc. Trong lịch sử gần 20 năm, khu vực này chưa bao giờ ta có xe tăng xuất hiện tham chiến. Sự xuất hiện xe tăng hạng nặng với pháo binh tầm xa ngay ngoại ô Đà Nẵng, như là một phương tiện tác động hữu hiệu tức khắc sự sụp đổ tinh thần của binh lính địch. Từ kết cục của chiến dịch, kết quả tác chiến trên các hướng, ngay thời điểm lịch sử đó, sơ bộ “nhận định” cho thấy: Bộ Tư lệnh chiến dịch lựa chọn hướng tiến công, đối tượng tác chiến, mục tiêu tiến công chủ yếu trên cả 3 hướng: Trị Thiên, Nam Ngãi, Đà Nẵng là chính xác. - Tạo được bất ngờ trong thế tiến công có lợi hoàn toàn thuộc về ta. - Đánh trúng nơi hiểm yếu của địch. - Tạo được điều kiện và thế trận mới đê tiếp tục phát triển vào chiều sâu phòng ngự địch. - Tạo và đón đúng thời cơ chiến lược trong thế chủ động, dự đoán từ trước. - Tiêu diệt được lực lượng địch, đánh đúng đối tượng tác chiến chủ yếu, đánh chiếm được mục tiêu chủ yếu đã xác định. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:26:27 am Bài học thứ ba: chủ động nhạy bén phát hiện thời cơ, tận dụng thời cơ và tạo thời cơ mới
Sau hai đòn trirh sát chiến lược: tiến công Phước Long và Thượng Đức. Mỹ không có hành động quân sự nào quyết liệt để phản ứng. Chỗ dựa vào sức mạnh của quân đội Mỹ cơ bản đã mất. Ta đã khẳng định được sức mạnh chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng hòa nói chung, lực lượng dự bị cơ động của chúng nói riêng không những không bằng ta mà còn yếu hơn. So sánh trên chiến trường ta đã giành và giữ được quyền chủ động về chiến lược. Cơ sở thực tiễn trên đã tạo ra thời cơ cụ thể cho quyết tâm chiến lược năm 1975. Chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc nhưng quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút chạy chiến lược sai lầm đầu tiên dẫn đến liên tiếp các sai lầm tiếp theo của địch. Đây là thời cơ trực tiếp để Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương bổ sung quyết tâm giải phóng các tỉnh đồng bằng miền Trung, trước mắt là địa bàn Quân Khu 1 của địch. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp, sát đúng của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5, Quân đoàn 2 đã nhạy bén nắm vững thời cơ mới xuất hiện. Chủ động tạo thếm thời cơ mới bằng các hoạt động tác chiến cụ thể trên địa bàn. Nhanh chóng tổ chức và thực hiện quyết tâm mới của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương; kiên quyết, táo bạo tiến công quân địch trong hành tiến. Các Quân khu và Quân đoàn 2 đã tranh thủ mọi thời gian, điều kiện, phối hợp nhịp nhàng, cùng tổ chức thực hành tiến công địch giải phóng Trị Thiên và Quảng Nam, Quảng Ngãi trong cùng một thời gian. Từ những thời cơ mới đã tổ chức đồng loạt tiến công Đà Nấng từ nhiều hướng. Như vậy, ngoài yếu tố khách quan, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố chủ quan, mà trước hết khẳng định thời cơ mới xuất hiện ở Trị Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi là do sự nỗ lực, chủ động, sáng tạo của quân và dân hai Quân khu cùng với Quân đoàn 2 tạo ra; đồng thời do thắng lợi to lớn, vượt bậc, bất ngờ lớn của chiến dịch Tây Nguyên tạo ra. Đương nhiên một phần do chính những sai lầm liên tiếp về chiến dịch, chiến lược của địch cũng đã tạo cho ta những thời cơ mới, thuận lợi hơn. Trong những tình huống chiến dịch, chiến lược cụ thể. Khi phát hiện thời cơ mới xuất hiện, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu đã kịp thời chỉ đạo, chỉ huy các Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5, Quân đoàn 2 tổ chức ngay những đòn quân sự áp đảo để chia cắt Huế và Đà Nẵng, Quảng Nam và Đà Nẵng. Thực hiện được những đòn chia cắt trên ta đã thành công cô lập cố đô Huế, đồng thời cô lập Đà Nẵng. Những đòn quân sự để cô lập địch không cho chúng co cụm rút chạy về Đà Nẵng chính là tiêu diệt và chia cắt địch ở Trị Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi thành công. Khi đã cô lập được mục tiêu chiến dịch, nhất là mục tiêu chủ yếu, hành động chỉ đạo tiếp theo đối với các nhà quân sự cầm quân, đương nhiên sẽ là tập trung lực lượng để tiêu diệt quân địch, đánh chiếm mục tiêu chủ yếu đã xác định. Đây cũng là một qui luật trong nghệ thuật tạo nắm thời cơ và vận dụng các biện pháp, đẩy mạnh tốc độ tiến công trong quá trình tác chiến chiến dịch. Trên cơ sở các điều kiện về lực lượng, phương tiện ta đã chuẩn bị sẵn, tất cả đang ở tư thế sẵn sàng tham chiến khi thời cơ đến. Thời cơ đã đến và đang đến và sẽ đến lớn hơn. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 ra lệnh cho Sư đoàn 325, thọc nhanh ra Đường số 1 chia cắt Thừa Thiên - Huế với Đà Nẵng. Không cho địch có cơ hội rút chạy về Đà Nẵng. Các lực lượng của Quân đoàn 2 và Quân khu Trị Thiên đồng loạt tiến công mãnh liệt, bao vây, chia cắt quân địch cả đường bộ và ven biển. Tiêu diệt và đánh tan Sư đoàn bộ binh 1, Lữ thuỷ quân lục chiến 147 và các lực lượng binh chủng khác của địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Thừa Thiên và Thành phố Huế. Phía Nam Đà Nẵng các lực lượng Quân khu 5 hoạt động đồng thời với các lực lượng phía Bắc của Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2. Tiêu diệt đánh tan Sư đoàn bộ binh 2 của địch. Đánh chiếm thị xã Tam kỳ, căn cứ Chu Lai, giải phóng tỉnh Quảng Ngãi. Đánh chiếm Đường số 1, thực hành chia cắt ở phía Nam Đà Nẵng. Địa bàn xung quanh Đà Nẵng đã bị đánh chiếm, Sư đoàn bộ binh 1, 2 của địch phần bị tiêu diệt, phần bị đánh tan. Như vậy, phía Bắc, phía Tây, phía Nam không còn con đường nào rút chạy về hoặc chi viện được cho Đà Nẵng. Đà Nẵng khu liên hợp quân sự đang trở thành chiếc "chảo lửa" đối với Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 Ngụy. Thời cơ giải phóng Đà Nẵng đã nằm trong tay các lực lượng chiến dịch. Thời cơ chiến dịch, chiến lược này, do chính các lực lượng của Quân khu Trị-Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2, dưới sự chỉ đạo của Bộ tổng tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu tạo ra. Thực tiễn, sáng tạo, lôgic và biện chứng. Không ai, không có lý luận nào có thể chứng minh khác được. Nắm vững những qui luật vận động phát triển của thẽ và lực để tạo thời cơ mới trong hoạt động quân sự. Khi dự đoán thời cơ mới có lợi sẽ xuất hiện. Mặc dù chưa có kế hoạch cụ thể của chiến dịch nhưng Quân đoàn 2 được sự giúp đỡ, chi viện và hiệp đồng của quân dân Quân khu Trị Thiên đã chủ động cơ động đội hình áp sát Huế. Đặc biệt cơ động pháo binh tầm xa bố trí ở đèo Mũi Trâu trên trục Đường 14 cách Đà Nẵng 12km. Theo kế hoạch ngày 03 tháng 4 mới thực hành tiến công Đà Nẵng. Những nắm chắc những diễn biến một cách toàn cục, phát hiện quân địch đang rút chạy khỏi Đà Nẵng, nên ta kịp thời bổ sung, điều chỉnh kế hoạch, tiến công sớm, tiến công ngay lập tức. Tiến công trong hành tiến, tiến công khi kế hoạch, phương án và các lực lượng có nơi chưa hoàn chỉnh. Ngày 28 tháng 3, ta pháo kích dữ dội vào sân bay Đà Nẵng, làm cho sân bay, thành phố đang rối loạn càng thêm rối loạn. Chính sự chủ động, đi trước này của Quân đoàn 2, đã thực hành chi viện cho các lực lượng dồn dập tiến công trên 4 hướng vào Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Giải phóng thành phố và các tỉnh còn lại trên địa bàn Quân Khu 1 của địch. Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng để lại cho chúng ta một bài học kinh nghiệm quí giá, có giá trị nhân bản rất cao không những trong phạm vi hoạt động quân sự ở cả tầm chiến lược, chiến dịch và chiến thuật về: nghệ thuật tạo thời cơ, tận dụng thời cơ, phát huy tối đa thời cơ để tạo thành sức mạnh của thế và lực mới tăng tốc độ tiến công phù hợp với cách đánh mới đã được thay đổi theo phương châm chỉ đạo mới. Đó là, "kiên quyết, thần tốc, táo bạo, chắc thắng". Ngược dòng lịch sử cho thấy: vấn đề thời cơ và kế hoạch đón thời cơ là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa rất to lớn đến tiến trình hình thành và chỉ đạo thực hiện kế hoạch giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Chính vì nhận thức đúng tầm quan trọng và những giá trị to lớn của thời cơ. Nên ngay sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết năm 1973, Bộ Tổng Tham mưu đã thành lập ngay một Tổ Trung tâm, do Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu đảm nhiệm và trong tổng thể các kế hoạch có một kế hoạch lớn đó là: kế hoạch đón thời cơ. Sau khi thông qua Bộ Chính trị kế hoạch chiến lược tổng thể giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976. Thời gian thông qua từ 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 08 tháng 1 năm 1975, Tổ Trung tâm mới giải tán. Từ thực tiễn trên cho thấy: thời cơ - tạo ra thời cơ - đón lấy thời cơ - tận dụng được thời cơ - phát huy được thời cơ là một giá trị nghệ thuật lớn. Điều đó khẳng định: vấn đề thời cơ trong đấu tranh vũ trang đã trở thành một qui luật tất yếu, một nội dung đặc biệt quan trọng, là thành phần không thế thiếu cấu thành trong nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xét trên phạm vi thực tiễn thì thời cơ do nhiều "nguồn" tạo ra. Trong đó "nguồn" chủ quan không thể thiếu. Tổ chức chỉ huy hoạt động quân sự như thế nào để tạo được thời cơ mới có lợi nhất. Phải chủ động linh hoạt, táo bạo và sáng tạo mới tạo được thời cơ theo ý muốn. Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương mới có quyết định chính thức thành lập Bộ chỉ huy và Đảng uỷ Mặt trận Quảng Đà (chiến dịch) giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đến trưa ngày 25 tháng 3 ta đã giải phóng cố đô Huế. Trong điều kiện tình hình trên toàn mặt trận diễn biến, phát triển rất nhanh, Bộ chỉ huy chiến dịch còn chưa kịp gặp nhau giữa Tư lệnh với Chính uỷ chiến dịch, mới vạch ra một số ý định chủ yếu trên điện đài. Thực chất là Bộ chỉ huy chiến dịch chưa kịp tổ chức điều hành trực tiếp chiến dịch. Trong điều kiện đó, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu vẫn trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy Quân khu 5, Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 hoạt động, phối hợp các chỉ đạo khác với Tư lệnh và Chính uỷ chiến dịch; song song đó, với điều kiện Đảng uỷ và các cấp chỉ huy đã phát huy tính chủ động sáng tạo nên chiến dịch giành thắng lợi rất to lớn. Trong vai trò của chỉ huy về nắm bắt thời cơ, tận dụng thời cơ, ngoài những kế hoạch được chuẩn bị thường xuyên, trong chỉ đạo và chỉ huy phải có kế hoạch dự kiến trước. Dự kiến trước về phương án thời cơ, đặc biệt là chuẩn bị lực lượng, phương tiện và đường cơ động. Thời cơ xuất hiện và qua đi cũng rất nhanh, người chỉ huy cần quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để chớp thời cơ, tạo thời cơ mới. Những dự báo về thời cơ không chỉ cho hành động tác chiến trước mắt, mà cần phải cần nhắc, bám sát chính xác những động thái diễn biến mới, so sánh thế và lực giữa ta với địch để có tầm nhìn toàn cục xa hơn, giá trị lớn hơn, của mỗi hành động quyết định trong chỉ huy. Đây cũng là một trong những bài học kinh nghiệm, có nhiều giá trị to lớn trong chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đã tận dụng và phát huy được. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:27:42 am Bài học thứ tư: Nghệ thuật sáng tạo vận dụng cách đánh chiến dịch và đánh các trận then chốt
Trước khi diễn ra chiến dịch, trên địa bàn Quân Khu 1 của địch, các lực lượng chủ lực và địa phương của ta đã thực hành tác chiến tạo thế chia cắt với qui mô nhỏ, phối hợp với chiến trường Tây Nguyên. Vì vậy, cách đánh vận dụng chủ yếu là đánh nhỏ trên các trục giao thông, bao vây uy hiếp, bức rút đồn bốt, căn cứ nhỏ, nghi binh thu hút địch ở Quảng Trị, cùng với các đội vũ trang thâm nhập sâu xuống các vùng đồng bằng ven biển để phá thế kìm kẹp của địch. Phối hợp tác chiến với chiến trường Tây Nguyên để giam chân các lực lượng dự bị cơ động chiến lược của địch, không cho chúng cơ động về Tây Nguyên. Những hoạt động này ta tổ chức với qui mô lớn hơn, cỡ trung đoàn, sư đoàn. Cách đánh, phần lớn các đơn vị vận dụng tiến công bằng sức mạnh binh chủng hợp thành. Tiến công trên nhiều hướng, tập trung sức mạnh đột phá trên hướng chủ yếu. Đột phá liên tục, đánh bại phản kích trong chiều sâu phòng ngự. Kết hợp giữ chốt với vận động tiến công, truy kích, thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch trên địa bàn. Trên hướng phía Bắc, Sư đoàn bộ binh 324 thuộc Quân đoàn 2 bỏ phương án tiến công Trung đoàn 54, đánh chiếm khu vực Núi Bông, Núi Nghệ, Mỏ Tàu. Trung đoàn bộ binh 6 tiến công Chúc Mao, Bình Điền, Đồng Tranh, Động Ông Do. Điểm cao 367, bức rút nhiều đồn bốt. Phối hợp cùng với Sư đoàn 325, Sư đoàn 324 đã nhanh chóng cơ động lực lượng thọc thẳng ra Đường số 1 đánh chiếm một đoạn dài từ Bái Sơn đến Bạch Thạch làm cho con đường huyết mạch Huế - Đà Nẵng hoàn toàn bị cắt đứt. Các trung đoàn trong sư đoàn đã đánh chiếm hàng loạt các Điểm cao 294, 520, 560, 592, núi Kim Sắc ngay sát Đường số 1, áp sát uy hiếp Lương Điền, buộc hàng ngàn xe đang chạy di tản về Đà Nẵng phải quay lại Huế, tạo nên một tình thế cực kỳ hoảng loạn nghiêm trọng. Đối với trận đánh giải phóng Thành phố Huế là chia cắt, bao vây, vu hồi, tiêu diệt ở ngoại vi, đi đôi với khống chế bịt chặt các đường rút lui của địch bằng đường biển ra cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, cảng Tân Mỹ, tiến hành đồng thời hành động thọc sâu bằng sức mạnh của binh chủng hợp thành, trong đó xe tăng bộ binh làm nòng cột vào cố đô Huế. Trên hướng Nam Đà Nẵng (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Sư đoàn bộ binh 2, Lữ đoàn 52, bất ngờ nổ súng tiến công Tiên Phước, quận lỵ Phước Lâm, Suối Đá, Điểm cao 211. Trực tiếp uy hiếp sau đó tiến công thị xã Tam Kỳ và thị xã Quảng Ngãi. Đánh bại phản kích của Sư đoàn bộ binh 2 và Lữ biệt động quân Ngụy, buộc địch rút bỏ Sơn Hà, Trà Bồng. Với cách đánh kéo chủ lực địch ra vòng ngoài để tiêu diệt, kết hợp với thọc sâu rất táo bạo vào thắng thị xã, đánh chiếm các mục tiêu then chốt, làm chủ thị xã. Các trận đánh lớn, trận đánh then chốt trên các hướng tiến công của Quân đoàn 2, Quân khu 5 cho thấy: với lối đánh nhanh mạnh, thọc sâu, chia cắt trong thế trận suy sụp của địch. Ta đã nhanh chóng đánh chiếm thành phố, thị xã, nhanh, gọn, nhưng tổn thất của ta lại rất thấp, quân địch không kịp trở tay đối phó, mà cũng chẳng kịp co cụm. Từ thực tiễn diễn biến trên 2 hướng Bắc và Nam của chiến dịch trong hoạt động tác chiến tạo thế, chia cắt cho thấy: khi thời cơ thuận lợi đến, tác chiến với qui mô lớn hơn, trong thế và lực áp đảo. Phần lớn cách đánh của các đơn vị đã khác hẳn so với các trận tiến công trước đó. Sự khác biệt về cách đánh đó chính là chuyển từ bao vây, chia cắt, đột phá sang tiến công trong hành tiến. Điều đó cho thấy sự hơn hẳn về "chất", hơn hẳn về sức mạnh tác chiến của các lực lượng ta. Các lực lượng tiến công trên các hướng đã nhạy bén, quyết đoán, tận dụng, phát huy được thế và lực mới. Khi thực hành tiến công Đà Nẵng, cách đánh của các lực lượng đã có bước phát triển vượt bậc hơn nhiều so với các trận đánh ở vòng ngoài. Mặc dù quân địch rút chạy ở các nơi khác về và lực lượng chiếm đóng tại chỗ ở Đà Nẵng vẫn còn rất đông. Đầu mối đơn vị còn: 2 sư đoàn, 1 liên đoàn, 2 Thiết đoàn, 12 tiểu đoàn pháo, các lực lượng bảo an dân vệ và cảnh sát; quân số còn đông, đầu mối các đơn vị còn nhiều, lại chưa bị tổn thất, nhưng tinh thần chiến đấu đã suy sụp, không còn sức mạnh, khả năng tác chiến. Chỉ huy rối loạn, chỉ huy cấp chiến dịch chỉ lo rút chạy, chỉ huy chiến thuật không điều hành được đơn vị, thậm chí không biết chấp hành nhiệm vụ, mệnh lệnh như thế nào. Chính từ những nảy sinh mới - thực trạng quân địch, khí thế thừa thắng của ta - ta triển khai trận đánh then chốt quyết định của chiến dịch bằng thế trận đánh đồng loạt tiến công từ 4 hướng áp đảo Đà Nẵng: hướng Bắc, Tây Bắc, Tây Nam và hướng Nam, trong đó hướng Bắc, Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu. Mở đầu cuộc công kích Đà Nẵng, pháo binh tầm xa thực hành pháo kích vào sân bay Đà Nẵng, Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện. Trên các hướng bộ binh có xe tăng đi cùng, thực hành tiến công trong hành tiến, bỏ qua các chốt, mục tiêu hoặc lực lượng chống cự ở vòng ngoài, thọc sâu theo các trục đường tiến thẳng vào trung tâm thành phố. Sáng ngày 29 tháng 3, Trung đoàn bộ binh 18 cùng xe tăng vượt qua đèo Hải Vân đánh chiếm Liên Chiểu. Được sự hỗ trợ của Trung đoàn Ba Gia thuộc Quân khu 5 hỗ trợ đang chiếm giữ cầu Trịnh Minh Thế đến 13 giờ ngày 29 tháng 3 Trung đoàn đã hoàn toàn làm chủ bán đảo Sơn Trà. Mười ba giờ 30, Trung đoàn bộ binh 9 đã đánh chiếm toà Thị chính Thành phố Đà Nẵng. Mười hai giờ 30 Sư đoàn bộ binh 304 đã đánh chiếm Hoà Cầm, sân bay Đà Nẵng. Mười hai giờ Sư đoàn bộ binh 2 và các lực lượng của Quân khu 5 đánh chiếm sở chỉ huy Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 địch; chiếm sở chỉ huy không quân và sân bay Nước Mặn. Khi các lực lượng đột kích của ta, chủ yếu là bộ binh xe tăng đánh chiếm trong thành phố đều có lực lượng đặc công, biệt động và bộ đội địa phương Đà Nẵng hỗ trợ. Thực tiễn mỗi giai đoạn tác chiến, địa bàn tác chiến và sở trường tác chiến của từng đơn vị cũng khác nhau, thế và lực của hai bên có khác nhau. Thế và lực của các đơn vị ta đang trong điều kiện được nhân lên gấp nhiều lần. Thế và lực của địch đang giảm đi nhiều lần. Vì vậy, lựa chọn để vận dụng cách đánh cũng có những điểm khác nhau. Nhìn tổng thể cho thấy cách đánh chiến dịch cũng được vận dụng và diễn ra thành hai cách chủ yếu: Đợt I chiến dịch: Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5, thực hiện những trận tiến công theo kế hoạch đã được chuẩn bị trước trong hình thái quân địch bố trí ổn định, tính chất phòng thủ, phòng ngự rõ rệt, mục đích chuẩn bị đối phó với các cuộc tiến công của ta. Đợt II trên toàn mặt trận: do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy, tiến công quân địch theo kế hoạch thời cơ mới xuất hiện, quân địch đang trong trạng thái hoảng loạn về tinh thần, tan vỡ về thế trận chiến dịch, chiến lược, hành động tác chiến chủ yếu là chống đỡ, rút chạy, co cụm để đối phó với sức mạnh đột kích bằng xe tăng bộ binh của ta các hướng mũi trong hành tiến. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 16 Tháng Hai, 2022, 07:28:29 am Từ những thực tiễn, diễn biến tác chiến giữa hai bên trong từng trận đánh trên các hướng đến tổng thể toàn chiến dịch cho thấy, cách đánh chiến dịch được thể hiện rõ 2 cách chủ yếu, đó là:
Cách 1: Đợt mở đầu, ta mở màn chiến dịch bằng hoạt động quân sự của các lực lượng tại chỗ, đánh nhỏ, tác chiến tạo thế, đồng loạt tiến công của bộ đội chủ lực vào các mục tiêu vững chắc của các đơn vị chủ lực quân địch. Tác chiến bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng; thực hành một loạt các hành động đột phá, vu hồi, thọc sâu, chia cắt, đánh địch phản kích. Cách 2: Đợt thứ hai, sau khi thời cơ mới xuất hiện, ta đã vận dụng cách đánh rất linh hoạt, táo bạo; sử dụng lực lượng qui mô lớn cấp trung đoàn sư đoàn, đánh chiếm Đường số 1, chia cắt chiến dịch, chiến lược giữa Huế với Đà Nẵng; hình thành thế trận bao vây, chia cắt để tiêu diệt đánh tan các lực lượng ngoại vi các thị xã, thành phố, sử dụng bộ binh xe tăng pháo binh cấp trung đoàn tăng cường thọc sâu đánh chiếm thị xã, thành phố. Một đặc điểm nổi bật trong đợt II chiến dịch, khi đột kích vào Đà Nẵng, các lực lượng trên tất cả các hướng tiến công đều sử dụng bộ phận thọc sâu; đây là hành động, lực lượng mạnh với quan điểm táo bạo và đã trực tiếp tạo ra sự đột biến lớn có lợi cho ta trên các hướng tiến công. Từ chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng so với chiến dịch Tây Nguyên, lực lượng địch nhiều hơn, lực lượng ta cũng nhiều hơn, tổ chức chỉ huy hiệp đồng phức tạp hơn. Bộ tổng Tư lệnh phải trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy hiệp đồng cả 3 đầu mối trong một chiến dịch; đó là Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2. Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đã tận dụng được nhiều thời cơ, kinh nghiệm của chiến dịch Tây Nguyên; trong đó thời cơ chiến dịch ngoài kế hoạch diễn ra nhiều hơn. Tuy nhiên, chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng các quân khu, quân đoàn và toàn chiến dịch đã tổ chức một số trận then chốt cũng nhiều hơn so với chiến dịch Tây Nguyên: - Trận tiến công tiêu diệt quận lỵ Tiên Phước, Suối Đá, đánh bại phản kích của Sư đoàn bộ binh 2 quân Ngụy của Sư đoàn bộ binh 2 thuộc Quân khu 5. - Trận tiến công cắt Đường số 1, đánh chiếm Thành phố Huế và truy kích quân địch ở cảng Tân Mỹ, cửa Tư Hiền, cửa Thuận An tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1, Lữ thuỷ quân lục chiến Ngụy. - Trận tiến công tiêu diệt Sư đoàn 2 quân Ngụy giải phóng thị xã Tam Kỳ và thị xã Quảng Ngãi. - Trận then chốt quyết định cuối cùng tiêu diệt toàn bộ Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 địch giải phóng Thành phố Đà Nẵng - bán đảo Sơn Trà. Từ thực tiễn những trận đánh của các quân khu, quân đoàn trên toàn mặt trận và những trận đánh then chốt, then chốt cuối cùng của chiến dịch cho thấy: cách đánh của chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đều dựa vào các tình huống, thời cơ, điều kiện cơ bản đã chuẩn bị. Đồng thời, một yếu tố quyết định là phải dựa vào những tình huống, điều kiện cụ thể, thời cơ mới xuất hiện để chủ động vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và thật táo bạo. Khi quân địch phòng ngự, phòng thủ có tổ chức, phải dựa vào kế hoạch đã chuẩn bị, đánh nhỏ, đánh để tạo thế, hoặc đánh bằng sức mạnh binh chủng hợp thành có qui mô vừa, với các biện pháp bảo đảm thích hợp. Kết hợp chia cắt, bao vây, đột phá, tiến công liên tục, đánh bại các hành động phản kích của địch. Khi quân địch đang bất lợi cả về thế và lực, đang tan rã, phải luôn giành lấy quyền chủ động tiến công ngay là một nguyên tắc chỉ đạo cách đánh của chiến dịch. Kịp thời thay đổi tổ chức sử dụng lực lượng để thay đổi cách đánh. Thời cơ này diễn ra, ta đang nắm bắt mà vận dụng cách đánh đột phá trận địa, đột phá lần lượt là thiếu sự sáng tạo, máy móc, tự chúng ta bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch, đánh chiếm mục tiêu. Tiến hành tổ chức tiến công nhanh, tiến công ngay tức khắc trên nhiều hướng, kết hợp tiến công với bao vây, chia cắt, vu hồi, thọc sâu, tận dụng mọi điều kiện nhanh chóng đập tan sự kháng cự còn lại của địch với tinh thần kiên quyết, thần tốc, táo bạo, chắc thắng. Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng diễn ra từ ngày 5 đến ngày 29 tháng 3 năm 1975. Xét về thời gian thì chiến dịch diễn ra gần như song song với chiến dịch Tây Nguyên. Xét về tổng thể những đặc điểm, điều kiện, thời cơ, địa bàn, thế trận và lực lượng thì chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng có nhiều điểm khác so với chiến dịch Tây Nguyên và cũng khác với hầu hết các chiến dịch khác trong cả hai cuộc kháng chiến chống pháp, chống Mỹ. Đây là một chiến dịch tiến công có qui mô lớn, được hình thành từ 2 chiến dịch tiến công tổng hợp của 2 quân khu địa phương, trong đó có 1 binh đoàn cơ động chiến lược tham gia, phát triển thành một chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược. - Nét nổi bật và khác biệt nhất về nghệ thuật chiến dịch, nghệ thuật chỉ đạo của chiến lược với chiến dịch. - Vấn đề nổi bật thứ hai là kế hoạch đón thời cơ lớn xuất hiện, thời cơ lớn được dự báo trước, do thế và lực của các lực lượng trên địa bàn tác chiến tạo ra. Chiến dịch đã nắm được, đón đúng, tận dụng và phát huy được thời cơ lớn đó. - Các trận đánh, trận đánh then chốt, then chốt quyết định đã vận dụng nhiều cách đánh phong phú, sáng tạo, táo bạo. Trong đó nổi bật vận dụng cách đánh tiến công trong hành tiến bằng sức mạnh của binh chủng hợp thành. - Chiến dịch do cơ quan chiến lược trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy. Kết quả chiến dịch đã giành thắng lợi rực rỡ: tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân địch trên 1 quân khu "tiền đồn" của địch, tiêu diệt và đánh tan 12.000 tên, trong đó có 4 sư đoàn chủ lực, thu toàn bộ vũ khí trang bị, xoá bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền 5 tỉnh và 2 thành phố lớn trong một thời gian ngắn, riêng trận then chốt quyết định tiêu diệt lực lượng và đánh chiếm Thành phố Đà Nẵng - bán đảo Sơn Trà diễn ra trong thời gian 32 giờ. So sánh với chiến dịch Tây Nguyên cho thấy: chiến dịch Tây Nguyên đã tạo ra một bước ngoặt mở đầu có ý nghĩa chiến lược lớn. Tạo ra thế và lực mới, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Tạo ra những cơ sở, điều kiện mới cho quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ Quốc của dân tộc ta. Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng, một chiến dịch thắng lợi hết sức to lớn, thắng lợi đã làm thay đổi hẳn so sánh thế trận và lực lượng thuộc phạm vi chiến lược, thay đổi hoàn toàn có lợi cho ta. Trực tiếp đánh bại chiến lược co cụm của địch. Cùng với chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên, thắng lợi của chiến dịch đã trực tiếp tạo ra một bước ngoặt lớn nhất. Một cơ sở, điều kiện vững chắc, một thế trận mới, một lực lượng mới, một sức mạnh mới, không có một thế lực và sức mạnh nào có cơ hội để lật ngược lại. Tất cả những điều kiện, thời cơ, thế trận, lực lượng và sức mạnh đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang nắm giữ. Đây chính là cơ sở để củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa của Bộ Chính trị đã xác định. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:29:04 am IV. Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng - bước ngoặt quyết định - bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử
Sau thắng lợi ở Nam Tây Nguyên bằng chiến dịch Tây Nguyên, tháng 3 năm 1975. Kết quả chiến dịch đã tạo ra một bước ngoặt mở đầu - Trận đột phá mở đầu chiến lược - Tạo ra một thế trận và một lực lượng mới - Tạo ra một thời cơ chiến lược mới. Tất cả những điều đó đang trên đà phát triển đột biến và hoàn toàn có lợi cho ta. Đồng thời với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, tiêu diệt và đánh tan lực lượng của địch trên địa bàn Quân Khu 2; trên chiến trường Quân Khu 1 của địch, chúng ta giành thêm một thắng lợi mới to lớn hơn, có ý nghĩa và nhiều giá trị lớn hơn. Đó là kết quả của một đòn đột kích chiến lược, đánh bồi, đánh nhồi. Tiêu diệt lực lượng, đánh tan toàn bộ Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 của địch, giải phóng 5 tỉnh miền Trung, trong đó có Thành phố Huế và Thành phố Đà Nẵng - Sơn Trà, khu liên hợp quân sự lớn nhất miền Nam của địch. Hai đòn chiến lược mở đầu và đánh bồi, đánh nhồi này đã tạo ra một thế trận mới, thế trận chiến lược cực kỳ quan trọng. Thắng lợi của hai đòn chiến lược này là cơ sở vững chắc, để củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị trước mùa mưa năm 1975, trước dự kiến kế hoạch. Đòn tiến công chiến lược thứ ba - Đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh - Bước ngoặt lịch sử của chiến tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa nước ta sang một trang sử mới. Lịch sử chiến tranh trên thế giới và lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta đã để lại cho chúng ta một bài học quí giá, bài học này đã được khái quát thành một qui luật tất yếu: trước khi kết thúc chiến tranh đều phải có một trận quyết chiến cuối cùng, trận quyết chiến ở tầm chiến lược mang đậm dấu ấn của lịch sử và thời đại. Bản thân của hoạt động chiến tranh đã chứng tỏ tính chất quyết liệt, một mất một còn. Điều này bao giờ cũng đồng nghĩa với đỉnh cao của cuộc đọ sức giữa hai bên. Trận quyết chiến chiến lược này đánh dấu bước phát triển tới đỉnh cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ nói riêng, trong 30 năm chiến tranh giải phóng nói chung. Hai đòn chiến lược - Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 35% sinh lực của địch. Lần đầu tiên trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta diệt và làm tan rã 2 quân đoàn địch, hơn 40% cơ sở vật chất, hậu cần kỹ thuật củà quân Ngụy, giải phóng đồng thời 12 tỉnh, với gần 8 triệu dân. Nhân tố tiến công bằng sức mạnh quân sự, với sự kết hợp rất hiệu quả của quần chúng nổi dậy. Chúng ta đã đạt được đúng yêu cầu tên gọi của kế hoạch chiến lược 1975 - 1976 để ra. Ngay sau thắng lợi to lớn của Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, ngày 31 tháng 3 Bộ Chính trị họp nghe Quân uỷ Trung ương báo cáo tổng quát tình hình tác chiến trên chiến trường, đặc biệt là mấy ngày gần đây. Bộ Chính trị kết luận: Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khỏi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc”1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H.2003, tr.137). Đồng thời với những thắng lợi đó, lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh vượt bậc trong thực tiễn tác chiến. Số lượng hy sinh, thương vong ít so với thắng lợi mà quân dân ta đã đạt được. Kinh nghiệm về tổ chức chiến đấu và chỉ huy tác chiến phong phú thêm. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đang đứng trước "điểm nút" cuối cùng, đang phát triển với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Vì vậy, Bộ Chính trị quyết định nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất; tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm. Chiến thắng bất ngờ hiện nay chủ yếu là tốc độ tiến công, thời gian tiến công vào lúc địch đang hoang mang, suy sụp, tan rã. Tập trung lực lượng hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên hướng của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Như vậy, ý định chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, Chiến dịch Hồ Chí Minh trên thực tế đã hình thành trong suốt quá trình phát triển cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Một mâu thuẫn đặt ra trong chiến lược lớn cần phải giải quyết, đó là: Thứ nhất, khẩn trương chạy đua với thời gian, trước yêu cầu của thời cơ chiến lược mới, là phải tập trung cao độ một lực lượng mạnh về nhiều mặt cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng với một qui mô lớn, trên một địa bàn rộng, theo một cách đánh mới mẻ, độc đáo... sẽ phải giải quyết như thế nào? Thứ hai, giải quyết được vấn đề trên, tức là chạy đua với thời gian để tập trung được lực lượng thành công, nhưng lại cần có thời gian cần thiết tương đối dài mới bảo đảm đáp ứng được huy động khối lượng và chất lượng của các loại vật chất cho trận quyết chiến đó. Chúng ta chạy đua với thời gian để bảo đảm chắc thắng trận quyết chiến chiến lược tiến công vào Sài Gòn - Gia Định thì Mỹ - Ngụy cũng đang tìm mọi biện pháp, lợi dụng mọi điều kiện tình hình để ngăn cản ta, buộc ta phải kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định. Trước những mâu thuẫn và thực tiễn đòi hỏi mới, Bộ Chính trị đã quyết định tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng để giành thắng lợi trong trận quyết chiến lịch sử này. Các quân khu, các địa phương và các cấp chính quyền trong cả nước phải dành ưu tiên số một cho mọi yêu cầu của chiến trường trọng điểm. Các cơ quan của Bộ Tổng Tư lệnh ngày đêm làm việc, vừa chỉ đạo tiếp quản tốt các chiến trường vừa giành thắng lợi, vừa chỉ đạo chuấn bị cho trận quyết chiến chiến lược này. Từ đầu tháng 4 năm 1975, trên tất cả các nẻo đường đất nước: đường bộ, đường sông, đường không, đường biển, đường sắt, nhân dân ta sống những ngày hết sức sôi động, nhộn nhịp. Cả một dân tộc trẩy hội trong một mùa xuân lịch sử; cả một dân tộc đều ra quân với một khẩu hiệu duy nhất: "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng". Ngày 1 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định tăng cường sự lãnh đạo tại chỗ cho chiến dịch. Bộ Chính trị chỉ định 3 đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị đang có mặt tại chiến trường, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị. Đồng thời thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Phạm Hùng làm Chính uỷ, đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh làm phó Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hoà làm phó Chính uỷ, đồng chí Lê Ngọc Hiền quyền Tham mưu trưởng... Các cơ quan Tham mưu, chính trị, hậu cần của Bộ Tư lệnh Miền được tăng cường thêm một số đồng chí từ Bộ và các Tổng cục điều vào làm cơ quan của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:32:00 am Để chuẩn bị những điều kiện xác định kế hoạch cho trận quyết chiến chiến lược. Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định:
Về địch Lực lượng đã bị tiêu diệt và tan rã, tinh thần sụp đổ, vùng chiếm đóng bị thu hẹp, thế chiến trường bất lợi... nhưng quân số trên địa bàn tác chiến vẫn còn đông, nhiều phương tiện vũ khí trang bị. - Quân đoàn 3 địch, chưa bị ta tiến công, quân số còn 250.000 quân, chủ lực có 152.000 tên, với 6 sư đoàn, 5 lữ đoàn, 19 tiểu đoàn pháo/406 khẩu, 7 thiết đoàn thiết giáp/624 xe, 800 máy bay, có 229 chiếc máy bay chiếi đấu, 862 tầu hải quân lớn nhỏ. - Quân đoàn 4, quân số 175.000, có 66.000 chủ lưc, với 3 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 386 khẩu pháo, 493 xe tăng thiẽt giáp, 409 máy bay, có 118 chiếc máy bay chiến đấu, 679 tàu hải quân lớn nhỏ. Thêm vào số quân ấy là lực lượng thất trận của Quân đoàn 1, 2 và lực lượng tổng dự bị cơ động chiến lược rút về. Địch đã tổ chức phòng thủ Sài Gòn - Gia Định với ý đồ: tăng cường phòng thủ tuyến ngoài mạnh; trong nội đô tổ chức thành từng khu vực phòng ngự vững chắc. Tập trung phòng thủ hướng Bắc và Tây Bắc Sài Gòn. - Tuyến ngoài: có 5 sư đoàn; sư bộ binh 22 phòng thủ ở Long An, Bến Lức; Sư bộ binh 25, phòng thủ Tây Ninh, Trảng Bàng, Củ Chi, Đồng Dù, Hậu Nghĩa; Sư bộ binh 5 phụ trách Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương; Sư bộ binh 18 phòng ngự Bàu Cá, Trảng Bom, Suối Đỉa; Sư đoàn thuỷ quân lục chiến chốt giữ Long Bình; Lữ đoàn kỵ binh 3 phụ trách Biên Hoà, Long Bình và làm dự bị cho Quân đoàn 3; Lữ đoàn 1 dù chiếm đóng Bà Rịa. - Tuyến ngoại vi Sài Gòn: có 1 Sư đoàn biệt động quân mới thành lập phụ trách trên 3 khu vực: Khu Bắc gồm Hoóc Môn, Cầu Bông đến Tân Sơn Nhất; Khu Tây gồm Vĩnh Lộc, Châu Hiệp, Bà Hom đến Bình Chánh; Khu Nam gồm Nhà Bè đến Nhơn Trạch. - Tuyến nội đô: Tổ chức thành 5 liên khu, mỗi liên khu gồm 2 quận: quận 1+3; 5+8; 2+4; 6+7; 10+11, do cảnh sát, phòng vệ dân sự phụ trách, nhiệm vụ giữ an ninh, chống xâm nhập và nổi dậy. Căn cứ hình thái bố trí và ý định sử dụng lực lượng của địch trên địa bàn Quân khu 3 cho thấy: - Lực lượng vòng ngoài mạnh, bên trong sơ hở, không có lực lượng dự bị tăng viện. - Tăng cường phòng ngự một số điểm then chốt, có tăng cường các chướng ngại trên các hướng đường giao thông nhưng còn đơn giản, không có tính vững chắc, tạm thời, với tư tưởng nếu bị tiến công cố giữ vòng ngoài rồi co cụm dần về cố thủ bên trong. - So sánh lực lượng quân sự và tình thế chính trị chuyển biến đưa đến một bước ngoặt hoàn toàn bất lợi cho địch. Rốc-pheo-lơ, Phó tổng thống Mỹ, ngay từ ngày 2 tháng 4 đã phải thú nhận: “Đã quá muộn để có thể làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thể”. Ngoan cố và xảo quyệt vốn dĩ là bản chất của đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Mỹ - Ngụy vẫn còn cố sức bày mưu lập kế hòng cứu vãn tình hình, ngăn chặn “một trận Oateclô thứ hai” có thể chôn vùi uy danh của Mỹ. Về ta: Toàn quân ta đang có khí thế, quyết tâm rất cao, hoàn toàn nắm quyền chủ động. Ta có khả năng tập trung lực lượng, tạo được bất ngờ về qui mô, cách đánh. Sau khi giải phóng toàn bộ Quân Khu 1, 2 của địch ta có điều kiện tập trung sức người, sức của, phương tiện vũ khí thu được của địch. Hậu phương chiến dịch được nối liền từ miền Bắc vào, để chi viện cho chiến trường. Đây là thế rất mạnh của chiến dịch. Tuy nhiên ta cũng có một số hạn chế: chưa quen tiến công thành phố lớn, chưa thông thạo địa bàn chiến dịch, lực lượng tại chỗ và lực lượng tinh nhuệ chưa quen đánh hiệp đồng qui mô lớn. Quân số một số đơn vị chủ lực thiếu chưa kịp bổ sung, phương tiện thông tin liên lạc còn yếu, chưa bảo đảm cho tiến công hành tiến... Ngay sau khi được thành lập, căn cứ vào Nghị quyết của Bộ Chính trị, được sự hướng dẫn của Quân uỷ Trung ương, căn cứ kế hoạch đã dự báo trước của Bộ Tổng Tham mưu và kế hoạch cũ của Bộ Tư lệnh B2, cơ quan chiến dịch đã xây dựng quyết tâm, kế hoạch chiến dịch. Ngày 07 tháng 4, thông qua Bộ Tư lệnh chiến dịch. Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị họp thông qua quyết tâm chiến dịch. Cơ bản, Bộ Chính trị đã nhất trí với phương hướng, chủ trương, kế hoạch tác chiến, tổ chức chỉ đạo, chỉ huy và một số vấn đề khác của chiến dịch đề xuất. Cũng tại Hội nghị này Bộ Chính trị đã nhất trí đề nghị của Bộ Tư lệnh chiến dịch là chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Từ ngày 18 tháng 4, Bộ Tư lệnh chiến dịch lần lượt thông qua quyết tâm của các quân đoàn trên các hướng. Quyết định chọn hướng tiến công Bắc - Tây Bắc làm hướng tiến công chủ yếu. Ngày 22 tháng 4, Bộ Tư lệnh chiến dịch duyệt lại các kế hoạch tác chiến. Tiếp tục chỉ đạo các lực lượng trên các hướng và các thành phần tham gia chiến dịch tổ chức thực hiện theo quyết tâm đã được xác định: cơ động lực lượng; bảo đảm vật chất kỹ thuật; củng cố bổ sung quân số; sửa chữa, mở rộng các trục đường; chuẩn bị kế hoạch đòn nổi dậy của quần chúng Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:34:51 am - Lực lượng tham gia chiến dịch
+ Quân chủ lực gồm: Quân đoàn 1, 2, 3, 4, Đoàn 232 (tương đương Quân đoàn). Tổng cộng 15 sư đoàn, 5 trung đoàn, lữ đoàn bộ binh, 20 trung lữ đoàn, 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ trung đoàn và 6 tiểu đoàn xe tăng; 8 trung lữ đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn và 10 tiểu đoàn thông tin; 1 trung đoàn tên lửa; 2 Sư đoàn vận tải ôtô; có lực lượng hải quân và không quân tham gia. + Lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch: 2 trung đoàn, nhiêu tiểu đoàn, đại đội địa phương tỉnh, thành, huyện; 6 trung đoàn đặc công, 1 lữ đoàn biệt động với 60 tổ; dân quân trên địa bàn... - Mục đích chiến dịch: Với thế và lực mới, Bộ Tư lệnh xác định mục đích chiến dịch: "Đánh đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng, kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi triệt để". - Tư tưởng chỉ đạo: + Chuẩn bị chu đáo, đánh chắc thắng, không cho địch co cụm về Sài Gòn, tạo và thúc đẩy tan rã lớn, tan rã nhanh. + Tổ chức thọc sâu bằng sức mạnh, đột kích nhanh, đánh thẳng vào mục tiêu chủ yếu. + Tiến công quân sự, kết hợp với địch vận, tiến công và nổi dậy, tiến công quân sự đi trước một bước, giữ vai trò quyết định. + Phát huy sức mạnh tổng hợp, đột kích liên tục, dồn dập cho đến toàn thắng. + Coi trọng công tác bảo đảm toàn diện. Giữ bí mật về thời gian, lực lượng, khu vực triển khai trên các hướng. Đẩy mạnh công tác Đảng, công tác chính trị trong chiến dịch. - Cách đánh chiến dịch: + Chia cắt chiến lược bằng: cắt đường bộ. đường thuỷ, khống chế đường không, đánh chiếm Vũng Tàu và Lòng Tàu, cắt đường rút ra biển, bao vây cô lập Sài Gòn. Tạo rung chuyển toàn bộ thế trận của địch. + Bao vây, ngăn chặn và tiêu diệt quân chủ lực của địch ỏ vòng ngoài, không cho chưng co cụm về Sài Gòn, tập trung lực lượng đánh thắng các trận then chốt trên các hướng. + Tổ chức các binh đoàn binh chủng hợp thành cỡ trung đoàn, sư đoàn thọc sâu trên các hướng. Kết hợp chặt chẽ với đặc công, lực íượng vũ trang bên trong, tại chỗ, với quần chúng nổi dậy. Thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào, táo bạo đánh chiếm các mục tiêu chiến lược, đập tan đầu não chỉ huy quân sự, đầu não Ngụy quyền, tiêu diệt, làm tan ra, bắt đầu hàng vô điều kiện. - Hướng tiến công: + Hướng Đông Nam do Quân đoàn 2 đảm nhiệm + Hướng Đông do Quân đoàn 4 đảm nhiệm + Hướng Bắc do Quân đoàn 1 đảm nhiệm + Hướng Tây Bắc do Quân đoàn 3 đảm nhiệm + Hướng Tây và Tây Nam do Đoàn 232 đảm nhiệm Đến 16 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975 mọi công tác chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành, lực lượng đột kích trên các hướng đã triển khai áp sát, đang ở tư thế sẵn sàng tiến công. Trong quá trình thực hành nổ súng tiến công trên các hướng đã diễn ra một số tình huống lớn mang tính tổng quát: Tình huống thứ nhất, từ 17 giờ ngày 26 - chiều ngày 28 tháng 4. Thực hành tiến công vào tuyến phòng thủ trực tiếp Sài Gòn ở hướng Đông, Đông Nam, Tây, Tây Nam, tiêu diệt địch đánh chiếm một số mục tiêu, cắt giao thông đường bộ, đường thuỷ, chặn đường rút chạy của địch ra biển và xuống đồng bằng Cửu Long, thực hiện kế hoạch bao vây, cô lập Sài Gòn, tạo thế trận có lợi để thực hành tổng tiến công trên toàn mặt trận. Sau 2 ngày tiến công trên các hướng Đông và Tây Nam đã cơ bản thực hiện được kế hoạch: cắt giao thông trên quốc lộ 4, 15 và sông Lòng Tàu. Đánh chiếm Trảng Bom, một phần căn cứ Nước Trong, Long Thành, Biên Hoà, Đức Thạnh, Bà Rịa, Long Điền, Đất Đỏ; đặc công đánh chiếm một số cầu, ngăn chặn địch ở vòng ngoài, không cho co cụm, bao vây cô lập Sài Gòn trên hướng này theo đúng kế hoạch chiến dịch. Địch dựa vào thế trận, lực lượng phòng ngự chắp vá, nhưng chống trả rất quyết liệt. Trên hướng Đông và Tây Nam, một số mục tiêu ta chưa đánh chiếm được. Hướng Tây Nam tổ chức cho binh khí kỹ thuật vượt sông còn chậm. Tuy nhiên dưới áp lực tiến công, sức đột kích rất mạnh của ta trên các hướng tiến công, chiều 28 tháng 4, sở chỉ huy Quân đoàn 3 (Ngụy)đã rút về Gò Vấp, Tư lệnh Quân đoàn 3 (Ngụy) đã sớm chuồn thoát thân ra tầu Mỹ ngoài khơi. Tại Bộ Tổng Tham mưu Ngụy các tướng tá, quan chức đang chen chúc xô đẩy tranh nhau di tản theo Mỹ. Nhật ký chiến sự của Bộ Tổng Tham mưu Ngụy ghi đến 18 giờ ngày 28 tháng 4 rồi bỏ, không ghi tiếp. Trực thăng Mỹ đã phải hạ cánh xuống sân thượng Toà đại sứ Mỹ để chở người di tản. Tối ngày 28 tháng 4, Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các cánh, hướng tiếp tục phát triển tiến công để bảo đảm cho sáng 29 tháng 4 nhất loạt tổng công kích vào Thành phố Sài Gòn theo kế hoạch đã định. Tình huống thứ hai, ngày 29 tháng 4 Thực hành tổng tiến công trên toàn mặt trận, chặn đánh và tiêu diệt các tập đoàn phòng ngự chủ yếu của địch ở vòng ngoài, đồng thời thọc sâu bằng sức mạnh của binh chủng hợp thành, kết hợp với lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn quan trọng vùng ven đô thành, chuẩn bị sẵn sàng, đồng loạt tổng công kích vào nội đô. Sau một ngày tổng công kích trên toàn mặt trận, tình hình diễn ra đúng như ta dự kiến trong kế hoạch hiệp đồng. Ngăn chặn được địch, đánh chiếm được các địa bàn, mục tiêu qui định; tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận chủ lực ở vòng ngoài; mở cửa thọc sâu, lực lượng thọc sâu trên hướng Tây Bắc và Tây Nam đã cơ động đội hình vào địa bàn qui định. Địch đối phó rất quyết liệt trên hướng Đông và Đông Nam. Đặc biệt là cánh Hố Nai - Trảng Bom - sông Buông; Tân Uyên, Đồng Dù trên hướng Bắc, Tây Bắc; Vàm Cỏ, Tân An - Bến Lức trên hướng Tây và Tây Nam. Trước sức mạnh tiến công của ta, hàng ngũ địch bắt đầu tan rã, rút chạy, đầu hàng, chỉ huy rối loạn từ trên xuống. Lực lượng đột kích của ta vẫn rất sung sức, tinh thần rất phấn khởi. Quần chúng trên từng địa bàn đã được các cơ sở Đảng lãnh đạo, khi có lực lượng chủ lực tràn qua, có lực lượng vũ trang tại chỗ hỗ trợ đã nổi dậy cùng bộ đội lùng quét địch, phá đồn bốt, trụ sở, bắt tề điệp, ác ôn, chiếm các trụ sở, giành chính quyền cơ sở. Sau khi bổ sung kế hoạch, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tiếp tục tiến công vào nội đô theo kế hoạch đã được ấn định trong hiệp đồng. Tình huống thứ ba: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 Thống nhất hiệp đồng các cánh quân, đồng loạt tổng công kích vào nội thành, chiếm lĩnh các mục tiêu chiến lược đã qui định, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Vào lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975 ta đã đánh chiếm xong 5 mục tiêu chiến lược chủ yếu, bao gồm: - Dinh Độc Lập - mục tiêu chủ yếu - hợp điểm chiến dịch - Bộ Tổng Tham mưu Ngụy - Tổng nha cảnh sát Quốc gia - Sân bay Tân Sơn Nhất - Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô Trong ngày, đồng thời đã chiếm hết các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế, hành chính trong nội thành Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc trong thời gian hơn 3 ngày, Thời gian đột kích vào nội thành Sài Gòn trong 5 giờ. Chiến dịch diễn ra cơ bản đúng như ý định, đúng như kế hoạch, đúng như dự kiến hiệp đồng. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại chưa từng có, đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 có nhiêu ý nghĩa hết sức to lớn. Là chiến dịch vĩ đại nhất, mang lại thắng lợi to lớn nhất; kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài gian khổ chống ngoại xâm của dân tộc ta; một bước ngoặt của thời đại, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Ngược dòng lịch sử cho thấy: một quân đội non trẻ, phương tiện vũ khí thô sơ, kém hiện đại hơn địch, một dân tộc nghèo nàn lạc hậu vê kinh tế nhưng có truyền thống chống giặc ngoại xâm và giàu lòng yêu nước; thế mà, Chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta đã đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp, Chiến dịch Hồ Chí Minh, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vẫn quân đội ấy, vẫn lòng dân ấy, chúng ta lại đánh bại chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, quả là một kỳ tích, chỉ có thể có khi đại nghĩa dân tộc, chính sách của Đảng ta đã đi vào lòng người, tạo thành thế trận vững chắc, một sức mạnh tổng hợp không thể có sức mạnh nào địch nổi. Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, chúng ta đã thu được toàn bộ phương tiện vũ khí trang bị hiện đại, các căn cứ, kho tàng của địch. Nhân dân trên địa bàn hầu như không bị tổn thất, thành phố hầu như còn nguyên vẹn. Là đỉnh cao nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Những vấn đề về nghệ thuật chiến dịch, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Những bài học kinh nghiệm, qui luật có nhiều giá trị nhân bản vẫn đang tiềm ẩn trong các sự kiện lịch sử. Thế hệ chúng ta và mai sau vẫn cần tiếp tục nghiên cứu khám phá, vận dụng vào hoạt động quân sự, xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc hôm nay và ngày mai. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:38:18 am Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu về nghệ thuật chiến dịch
Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Là trận quyết chiến chiến lược lớn nhất đánh vào sào huyệt chủ yếu của địch. Là chiến dịch tác chiến hiệp đồng quân binh chủng có qui mô lớn nhất, có phương thức tác chiến phong phú nhất trong 20 năm kháng chiến chống Mỹ. Chiến dịch diễn ra trong thế trận và lực lượng đều áp đảo quân địch. Là một chiến dịch do Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương trực tiếp chỉ đạo tập trung, sâu sát, kịp thời, sáng suốt và mọi cơ quan chiến lược tập trung bảo đảm nên có nhiều thuận lợi. Từ những đặc điểm thực tiễn trên cho thấy: Chiến dịch Hồ Chí Minh có đầy đủ các yếu tố để khẳng định là một chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược lớn nhất, hoàn chỉnh nhất. Đồng thời cũng khẳng định, đây là một loại hình chiến dịch thường xuất hiện trong thời kỳ cuối của chiến tranh, với đầy đủ các yếu tố như: mục tiêu chiến lược, đối tượng tác chiến chiến lược của chiến dịch; sử dụng lực lượng chiến dịch - chiến lược lớn nhất; do cấp chiến lược trực tiếp tổ chức chỉ đạo và chỉ huy; tiêu diệt và làm tan rã lực lượng chiến lược của địch; kết thúc chiến tranh; củng cố những giá trị mang tính qui luật về trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử. Đây cũng là những yếu tố bao hàm những nội dung về bài học kinh nghiệm của chiến dịch. Bài học thứ nhất: Nắm bắt đúng, tận dụng và phát huy đươc những giá trị của thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm chiến lược kịp thời, chính xác. Ngược dòng lịch sử, trong năm 1974 các lực lượng vũ trang của ta trên khắp các chiến trường đã điểm hai đòn mang tính chất trinh sát chiến lược thành công. Đó là tiêu diệt lực lượng địch, đánh chiếm thị xã Phước Long ở miền Đông Nam Bộ, Thượng Đức thuộc vùng giáp ranh trên địa bàn Quân khu 5. Hai đòn trinh sát chiến lược này là cơ sở để ta đánh giá đúng khả năng, thực lực và sức mạnh của hai bên. Theo kế hoạch dự kiến, Tổ Trung tâm thuộc Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo, được Quân uỷ Trung ương trình Bộ Chính trị: Ta quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976. Đòn tiến công mở đầu mang ý nghĩa - cuộc mở đầu tiến công chiến lược Mùa Xuân 1975 - chiến dịch Tây Nguyên giành được thắng lợi vang dội gần như ta dự kiến. Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương tiếp tục đánh giá đúng toàn cục, trên tất cả các lĩnh vực. Thấy rõ khả năng tác chiến trên chiến trường của địch và nhận thấy thời cơ chiến lược mới đã và đang xuất hiện. Những kết luận chung về tình hình đều có lợi cho ta, bất lợi cho địch, cần phải đẩy mạnh hoạt động quân sự mạnh hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn nữa. Từ thực tiễn diễn biến trên chiến trường, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương kết luận, bổ sung quyết tâm: Tập trung lực lượng ít nhất là 12 sư đoàn, tập trung vật chất kỹ thuật, sức mạnh của cả nước quyết tâm thực hiện thắng lợi trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc chiến tranh ngay trong năm 1975. Tận dụng và phát huy thời cơ mới, đồng thời cũng nhằm thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị - Quân uỷ Trung ương- Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ đạo Quân khu 5, Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 - Quân đoàn cơ động chiến lược của Bộ, nhanh chóng tổ chức một đòn đánh bồi, đánh nhồi, tiến công chiến lược: tiêu diệt và đánh tan lực lượng quân sự của địch trên địa bàn Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 của địch, giải phóng các tỉnh miền Trung và một số vùng còn lại trên địa bàn Quân Khu 2 của địch. Không cho địch co cụm về tập trung trên địa bàn Quân Khu 3, Sài Gòn - Gia Định. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2 đã vượt qua nhiều khó khăn phức tạp, chủ động chạy đua với thời gian, thực hiện hàng loạt các biện pháp rất hiệu quả. Với phương pháp tác chiến chủ động sáng tạo, thực hành tiến công liên tục, đột lích mãnh liệt bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng. Với khí thế phấn khởi của chiến thắng Tây Nguyên dội về. Sau một tháng tiến công mãnh liệt, quân và dân trên địa bàn Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quán đoàn 2 đã tiêu diệt, đánh tan toàn bộ lực lượng của Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 của địch, giải phóng 5 tỉnh miền Trung, trong đó có 2 thành phố lớn là cố đô Huế và Thành phố Đà Nẵng. Thu toàn bộ vũ khí trang bị, kho tàng trên địa bàn. Chiến thắng giải phóng Huế - Đà Nẵng có ý nghĩa cực kỳ to lớn, kết quả của chiến thắng này đã tạo cho ta một thế trận mới, một thời cơ mới vô cùng thuận lợi. Một thế trận, một lực lượng tạo thành một sức mạnh hoàn toàn áp đảo quân địch. Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã nắm vững thời cơ có một không hai này, bổ sung quyết tâm: tiến công giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Để thực hiện quyết tâm bổ sung mới, trên địa bàn các tỉnh ven biển miền Trung, phát huy chiến quả của chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Trị Thiên - Huế - Đà Nẵng. Thực hành tiêu diệt đánh bại Lữ đoàn dù 3 quân địch phòng ngự chốt giữ đèo Phượng Hoàng, giải phóng toàn bộ các tỉnh ven biển miền Trung, đánh chiếm sân bay Thành Sơn, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm, giải phóng tỉnh Ninh Thuận. Một địa bàn rộng lớn, nối liền miền Bắc bằng cả đường bộ, đường biển, đường không với Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn, trải dài đến Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Trước thời cơ mới, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương bổ sung quyết tâm mới: tổ chức trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng miền Nam, kết thúc chiến tranh, thống nhất Tổ quốc ngay trong tháng 4 năm 1975. Với phương châm chỉ đạo: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo báo, táo bạo hơn nữa”; “Thời gian là lực lượng, thời gian là chiến thắng”. Với một đạo quân tập trung đến 12 sư đoàn trên các hướng, chúng ta hoàn toàn có cơ sở, điều kiện và sức mạnh để thần tốc hơn nữa, có đủ khả năng để chạy đua với thời gian. Chính điều “thần tốc” này đã nảy sinh ra mâu thuẫn mới, mâu thuẫn mà chúng ta phải giải quyết ngay tức khắc; đó là mâu thuẫn bảo đảm hậu cần kỹ thuật cho đạo quân thần tốc, phải mất khá nhiều thời gian. Để giải quyết mâu thuẫn này, Bộ Chính trị đã thành lập Hội đồng chi viện tiền phương do đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp làm Chủ tịch. Nhiều đồng chí Bộ trưởng, Tổng cục, Cục, Tư lệnh các quân binh chủng được lệnh vào ngay chiến trường để tăng cường bộ máy chỉ huy, đôn đốc cho chiến dịch. Với sự chỉ đạo tức thì này, cùng với chi viện từ miền Bắc vào, tận dụng chiến lợi phẩm trên địa bàn ta vừa thu được, mâu thuẫn đã tạm thời được giải quyết và rất hiệu quả. Với thế trận mới ta đang nắm bắt được, với lực lượng hùng hậu ta đang có sẵn, với sự nỗ lực vượt bậc của cả nước, chúng ta đã bảo đảm đầy đủ cho đạo quân hùng mạnh nhất đang sẵn sàng đợi lệnh. Chiến dịch Hồ Chí Minh mở đầu đúng thời gian qui định, kết thúc trong thời gian nhanh nhất. Đây là một trong những nội dung thể hiện trình độ nghệ thuật ở đỉnh cao của tầm chiến lược về nắm bắt thời cơ, tận dụng thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm chính xác, kịp thời trong quá trình chỉ đạo đấu tranh vũ trang để đi đến kết thúc chiến tranh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:39:11 am Bài học thứ hai: Tổ chức sử dụng lực lượng, tạo lập thế trận thể hiện trình độ ở đỉnh cao về nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp, áp đảo quân địch từ đầu đến kết thúc chiến dịch
Bài học thứ nhất đã cho chúng ta thấy: tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương trong quá trình chỉ đạo chiến tranh, đặc biệt là chỉ đạo giai đoạn cuối của chiến tranh. Trong thời điểm lịch sử này, thường xuất hiện những thời cơ mới, bên nào nắm bắt đúng qui luật vận động của chiến tranh, tận dụng và nắm bắt đúng, bên đó sẽ giành thắng lợi. Điều này chứng minh rằng thời cơ do nhiều yếu tố tạo thành, trong đó thế trận và lực lượng là do mỗi bên tham chiến tạo nên, do yếu tố chủ quan cấu thành. Mặt khác thế trận và lực lượng là hai vấn đề luôn có mối quan hệ biện chứng, không tách rời. Thế phải dựa trên cơ sở của lực, có thể tốt, biết phát huy được ưu thế của lực, lực sẽ được nhân lên gấp bội lần, sẽ tạo thành sức mạnh không có sức mạnh nào thắng nổi. Lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của cách mạng Việt Nam, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ta có ưu thế áp đảo về lực, lại có một thế trận vững chắc do chính chúng ta toàn quyền làm chủ tạo ra, được chuẩn bị trước; đây chính là nhân tố cơ bản cốt lõi quan trọng bậc nhất để giành thắng lợi giờn giã; đồng thời nhân tố này cũng là một bài học, kinh nghiệm quí báu về nghệ thuật tạo lực, tạo thế cho một chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, một trận quyết chiến chiến lược quyết định. So sánh về tương quan lực lượng cho thấy: - Về địch: lực lượng trên địa bàn Quân Khu 3, tàn quân của Quân Khu 1, Quân Khu 2 dồn về. Quân số có khoảng 250.000 tên, có 152.000 chủ lực, gồm: 7 sư đoàn, có 1 sư đoàn biệt động quân vừa thành lập, 5 lữ đoàn; 500.000 phòng vệ dân sự; 407 khẩu pháo; 624 xe tăng thiết giáp; 862 tầu xuồng các loại, 229 máy bay các loại... nhưng tinh thần chiến đấu đã suy sụp. - Về ta: tập trung 270.000 quân, có 250.000 chủ lực, với 15 sư đoàn, 14 trung đoàn bộ binh, lực lượng này được tổ chức thành 5 quân đoàn, một số trung đoàn và lữ đoàn độc lập. Tỷ lệ ta 1,7/địch 1 về lực lượng chủ lực; tính theo đầu mối đơn vị tập trung có tỷ lệ ta 3/địch 1. Lực lượng phòng vệ dân sự tuy vượt trội ta nhưng khả năng hiệu lực tác chiến thấp. Ta đã huy động về binh khí kỹ thuật rất lớn: 516 khẩu pháo, tên lửa các loại; 550 khẩu pháo cao xạ; 320 xe tăng thiết giáp, 1 đại đội máy bay A37; 1600 xe kỹ thuật chiến đấu; 10.000 xe vận tải; 60.000 tấn vật chất, có 15.000 tấn đạn với 190.000 đạn pháo lớn. Ta đã tăng cường vào vùng ven và nội thành 1700 cán bộ, chuẩn bị nhập thành 1300 cán bộ, có 12 Thành uỷ viên, 60 Quận uỷ viên. Nội, ngoại thành có 1200 đảng viên hơn 10.000 quần chúng nòng cốt, 400 tổ chức công khai “biến tướng” với gần 25.000 quần chúng tích cực do ta nắm. So sánh với dân số và lực lượng kìm kẹp của địch, lực lượng chính trị của ta tuy ít hơn về số lượng, nhưng ta có ưu thế hơn hẳn địch; bởi vì, ta đang có cao trào cách mạng sôi động, có lực lượng vũ trang hùng mạnh hỗ trợ, đặc biệt có Đảng lãnh đạo, sẽ phát huy được tác dụng tốt khi thời cơ đến. So sánh lực lượng trên phạm vi số lượng và chất lượng, đặc biệt trong đó chúng ta có “quả đấm” chủ lực rất mạnh. Kết luận: ta đang có ưu thế áp đảo về lực lượng hơn hẳn quân Ngụy trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Ưu thế áp đảo về lực lượng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là điều đặc biệt mà trong cả cuộc kháng chiến chống Mỹ ta chưa bao giờ từng có. Điều đó thể hiện trình độ nghệ thuật tập trung lực lượng rất cao, tinh thần chủ động, sáng tạo to lớn, sự phát triển về chất một cách toàn diện của ta. Nghệ thuật tạo lực mạnh còn thể hiện ở tầm nhìn xa của ta từ rất sớm. Đó là ý định xây dựng các binh đoàn chiến lược lớn cho các đòn chiến lược Xuân 1975, để đón thời cơ mới trong đấu tranh vũ trang. Khi ta xây dựng các quân đoàn cơ động chiến lược, xây dựng các sư đoàn của Quân khu 7, 8, 9, các trung đoàn của Quân khu 6 là nhân tố về lực cực kỳ quan trong. Đồng thời, chính tư duy này đã thể hiện những kinh nghiệm thực tiễn rất sinh động, chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, chắc chắn thời cơ chiến lược mới sế đến trong thời gian gần, khi những động thái của chiến tranh đã đến kỳ phải kết thúc. Nghệ thuật tập trung lực lượng còn thể hiện hình thức, biện pháp tổ chức cơ động lực lượng đường dài cho những liên binh đoàn cơ động chiến lược lớn. Đó là vừa cơ động, vừa tổ chức chuẩn bị, vừa thực hành tác chiến, tác chiến trong hành tiến bằng sức mạnh binh chủng hợp thành - một hình thức tác chiến ta ít có điều kiện vận dụng trong quá trình của cuộc kháng chiến. Nhưng cuối cùng, với thời gian 24 ngày đêm Quân đoàn 1 đã vượt qua chặng đường dài 1500km, Quân đoàn 2 vừa tác chiến vừa cơ động trên đoạn dường 900km, Quân đoàn 3 liên tục đột kích vượt đoạn đường 1000km; các đạo quân hùng mạnh trên cũng đã vào đến chiến trường, trên địa bàn chiến dịch đúng qui định. Vấn đề thực tiễn và sáng tạo trong tạo lực còn thể hiện về hình thức biện pháp hiệu quả để tiêu hao tiêu diệt địch từ vòng ngoài, chia cắt địch, không cho địch có thời cơ, thời gian và điều kiện để tập trung co cụm lực lượng, không cho các lực lượng trên các vùng và ngay trên địa bàn chiến dịch chi viện, ứng cứu, liên kết được với nhau. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:39:43 am So sánh về thế trận:
Thế trận toàn cục của ta, của Chiến dịch Hồ Chí Minh là thế trận của chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao: Thế trận tập hợp của tổng các lực lượng: 2 lực lượng chính trị và quân sự; 3 thứ quân, chủ lực, địa phương và dân quân du kích; của 2 đòn chiến lược tiến công, quân sự và nổi dậy của quần chúng. Tập hợp sức mạnh của từng loại thế trận, tạo thành một lực lượng có sức mạnh được tăng lên gấp bội lần. Sau 2 đòn tiến công chiến lược, ta đã thực hiện xoá sổ Quân Khu 1 - Quân đoàn 1; Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 của địch, ta đã vượt trội hơn địch về thế trận lòng tin của các lực lượng trên toàn chiến trường. Ngược lại địch đã mất hẳn thế trận ở tầm chiến lược về mặt quân sự, trong khi thế trận về niềm tin trong lòng binh sĩ Ngụy đã suy sụp, không thể bù đắp xây dựng lại được. Thực hiện thắng lợi các đòn tiến công, ta không chỉ giành thắng lợi về quân sự, mà còn thắng lợi cả đòn "tâm công"; chính đòn này cũng là nguyên nhân không nhỏ, trực tiếp và gián tiến đưa thế trận lòng người trong đội ngũ Ngụy quân, Ngụy quyền, binh lính địch sụp đổ. Về mặt thế trận quân sự của chiến dịch cho thấy: trước khi thực hành tổng công kích vào mục tiêu cuối cùng. Trên các hướng chiến trường ta đã thực hành các hoạt động quân sự, chia cắt Sài Gòn - Gia Định cả về chiến lược, chiến dịch, cả đường bộ, đường sông, đường biển và khống chế đường không rất hiệu quả. Trên hướng Đông của chiến dịch, ta thực hiện đánh chiếm Đường số 1 ở Trảng Bom, đánh chiếm xa lộ và làm tê liệt sân bay Biên Hoà; sẵn sàng lực lượng cắt quốc lộ 15 đi Bà Rịa - Vũng Tàu, sông Lòng Tàu, chặn toàn bộ đường bộ và đường sông ra biển. Trên hướng Bắc và Tây Bắc ta đã đánh chiếm núi Bà Đen, Ông Hùng, Dầu Tiếng, Chơn Thành. Những địa bàn này bị đánh chiếm đã tạo ra thế trận bao vây, cô lập Sài Gòn với Tây Ninh, Bình Dương. Hướng Tây và Tây Nam, bộ đội chủ lực đã áp sát và sẵn sàng chia cắt địch ở Cái Vồn, Trung Lương, Cai Lậy. Cắt đứt quốc lộ số 4, Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long kéo dài đến miền Tây Nam Bộ đã hoàn toàn bị cắt đứt. Bên sườn quốc lộ 4, Sư đoàn bộ binh 5 của Quân khu 8 đang án ngữ khu vực Tân An, Bến Lức, Long An, sẵn sàng cơ động chặn địch trên toàn bộ hướng này, không cho địch rút chạy. Đánh giá toàn diện về thế trận của chiến dịch cho thấy: tất cả các đường giao thông trên bộ, trên sông có thể cơ động lực lượng về ứng cứu Sài Gòn trên các hướng đã bị ta đánh chiếm và chốt giữ. Đường không bị ta khống chế rất hiệu quả. Như vậy, khi ta thực hành tổng công kích vào Sài Gòn - Gia Định, quân địch trên toàn bộ chiến trường đã đang ở trong thế trận chiến lược bị bao vây, chia tắt triệt để. Lực lượng địch từ xa đến gần, lực lượng bên ngoài và bên trong đều không thể ứng cứu cho nhau được. Trước khi hình thành thế trận này, tinh thần binh lính địch đã hoang mang, nay lại càng hoang mang đến cực điểm. Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, mệnh lệnh tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh và kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh chiến dịch. Trên các cánh quân thần tốc, mặc dù yêu cầu về thời gian, tốc độ, bảo đảm hiệp đồng rất cao, vừa cơ động vừa tác chiến trong hành tiến, nhưng trên các hướng các cánh quân đã cơ động vào thẳng khu vực xuất phát tiến công đã được chuẩn bị trước, không phải qua bước tự mình chuẩn bị về thế bố trí. Có những cánh quân vào thẳng vị trí xuất phát tiến công, cách mục tiêu chủ yếu trong nội thành Sài Gòn có 40 - 50km theo đường chim bay là điều rất lý tưởng, chưa chiến dịch chiến lược nào làm được. Vấn đề này đã chứng minh trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng bảo đảm và tính chuẩn xác của kế hoạch tác chiến ở tầm chiến lược có bước phát triển rất cao, rất hoàn chỉnh, chứng minh một sáng tạo mới, trong chỉ đạo cơ động tác chiến qui mô lớn. Một thế trận đặc biệt đã góp phần rất lớn trong thế trận chung của chiến tranh nhân dân, tạo thành thế trận vững chắc hoàn chỉnh của chiến dịch. Đó là, bộ đội địa phương, đặc công, biệt động, lực lượng nằm vùng, cơ sở cách mạng ta đã cài cắm từ trước, nay được bổ sung thêm; hình thành một lực lượng ngầm rất lợi hại, tạo thế đứng vững chắc, áp sát các mục tiêu được phân công, phát động quần chúng, nòng cột cho quần chúng nổi dậy. Đây vừa là thế trận rất hiểm hóc, vừa là bố trí lực lượng rất lợi hại, vừa là yếu tố cấu thành cách đánh của chiến dịch. Chiến dịch Hồ Chí Minh có qui mô rất lớn và trên địa bàn rộng, có những hướng cánh quân bị chia cắt. Thế trận còn thể hiện trình độ tổ chức chuẩn bị chiến trường khá chu đáo, hậu cần chiến lược, chiến dịch được chuẩn bị đầy đủ trước khi mở màn chiến dịch. Trong 2 năm 1973 - 1974 ta đã mở thêm được 3.778km đường chiến lược, 4000km đường chiến dịch; kéo dài thêm 5000km đường ống dẫn dầu. Đến cuối 1974 lượng dự trữ chiến lược đã có trên 200.000 tấn, 400.000m3 xăng dầu. Riêng Chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần chiến dịch đã tạo ra một thế trận bảo đảm rất vững chắc, 6 đoàn hậu cần được tổ chức rất chặt chẽ đã vươn sâu theo các hướng cánh quân thần tốc của chiến dịch. Hệ thống kho tàng chiến lược, chiến dịch, trạm cấp phát xăng dầu, bệnh viện dã chiến, bệnh xá trên các tuyến chiến lược, chiến dịch đã chuẩn bị xong; các cơ sở sửa chữa cứu kéo xe pháo đã triển khai, sẵn sàng bảo đảm cho các hướng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:40:20 am Nghệ thuật tạo thế trận chiến dịch
Xét tổng thể, toàn cục và khách quan khoa học, một chiến dịch có tầm chiến lược, một trận quyết chiến chiến lược lịch sử, cả nước tập trung chuẩn bị cho chiến dịch, trong một thời gian ngắn, không thể có một thế trận vững chắc như vậy; chỉ riêng về thế trận ta lập được đã là một huyền thoại còn chứa đựng, tiềm ẩn nhiều giá trị nghệ thuật quân sự rất cao, đến nay chúng ta vẫn cần khám phá khai thác cho hiện tại. Để có được thế trận đó, ngay từ khi lập kế hoạch, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã chọn, xác định đúng vị trí của từng chiến trường. Từ đây đã sớm có dự kiến trước để chỉ đạo kiến tạo thế trận, đón thời cơ chiến lược cho tương lai gần của trận quyết chiến chiến lược này. Tây Nguyên là chiến trường mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, trong đó Buôn Ma Thuột được chọn là mục tiêu chiến lược mở đầu chiến dịch. Chiến trường miền Trung - Quân Khu 1 là chiến trường phá thế chiến lược của địch. Miền Đông Nam Bộ, rừng núi được xác định là chiến trường tiêu diệt lớn quân địch. Sài Gòn - Gia Định là chiến trường quyết chiến chiến lược cuối cùng đánh bại hoàn toàn quân địch. Với ý định trên của chiến lược, các lực lượng chiến dịch trên các địa bàn, đặc biệt là chiến trường B2 quán triệt đầy đủ, kiên trì, vận dụng và chỉ đạo rất sáng tạo, rất hiệu quả. Những hoạt động đó vừa đáp ứng cho thế trận trước mắt trên địa bàn vừa sẵn sàng tạo ra thế trận cho cấp chiến lược lâu dài. Khi tổ chức thực hiện quyết tâm bổ sung cuối cùng của Bộ Chính trị: giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc ngay trong tháng 4 năm 1975. Chiến dịch bước ngay vào tạo thế trận trực tiếp. Đó là, duy trì thế trận đã tạo được, đẩy mạnh các hoạt động quân sự để tạo thế trận mới, củng cố và phát triển thế trận toàn diện trên nhiều mặt của chiến tranh nhân dân. - Thế trận cho bảo đảm sử dụng lực lượng lớn, vừa đánh địch bên ngoài, vừa đánh địch bên trong, vừa thọc sâu đánh hiểm, trong ngoài cùng đánh, phát huy đồng thời sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, làm cho ưu thế về lực tiếp tục tăng lên. - Mở đầu chiến dịch, đồng thời với hình thành thế trận bao vây, chia cắt toàn chiến dịch và từng khu vực, tạo điều kiện tiêu diệt địch. Không cho địch ứng cứu, chi viện liên kết với nhau, không cho chúng co cụm, rút lui chạy thoát. - Tạo dựng và duy trì một thế trận để phát huy được sức mạnh của cả 2 lực lượng, 3 thứ quân, trong đó sức mạnh của tác chiến hiệp đồng binh chủng của các binh đoàn chiến lược là chủ yếu, quyết định. - Thế trận đồng thời phát huy được cả 3 vùng chiến lược, rừng núi, đồng bằng, nông thôn và thành thị. Yêu cầu đặt ra khi tạo thế trận rất cao, thực tế có cao như vậy mới đáp ứng được mục đích, qui mô, tính chất của trận quyết chiến chiến lược trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chính yêu cầu cao đó đã tạo ra một tinh thần rất khẩn trương, rất kiên quyết. Thực tế ta đã đạt được các yêu cầu do chính chúng ta đề ra một cách tương đối toàn diện, tương đối hoàn thiện. Vì vậy, đã tạo được hiệu suất chiến đấu rất cao, hiệu quả tác chiến chiến dịch rất lớn; phát huy được sức mạnh ưu thế áp đảo từ mở đầu đến khi kết thúc chiến dịch. Tất cả những điều trên chứng minh rằng: tạo thế là cả một quá trình, phải có quyết tâm cao, kiên trì, liên tục, đồng bộ, luôn nắm bắt đúng thời cơ mới xuất hiện để tạo lập thế mới, thực hành tác chiến để tạo thế, tạo thế để tác chiến có qui mô lớn hơn. Mưu - Kế - Thế - Trận là một tổng hoà các mối quan hệ, chúng ta luôn được nghiên cứu, vận dụng thực hành trong quá trình tác chiến ở cả cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Vận dụng, phát huy, phát triển từng thành phần riêng lẻ và tổng hoà các thành phần đã trở thành đỉnh cao của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chuẩn bị thế trận chiến dịch tiến công có tầm chiến lược và thường chỉ đạo cho lực lượng tại chỗ chuẩn bị trực tiếp, trước khi lực lượng chiến lược tăng cường xuống địa bàn chiến trường. Thế trận của Chiến dịch Hồ Chí Minh, trên thực tế những yếu tố điều kiện về thế trận đã được hình thành trong cơ quan chiến lược, như đã trình bày ở phần trên. Tuy nhiên cũng chưa có chỉ đạo cụ thể và cũng chưa được nhận thức đầy đủ. Trong khi chuẩn bị thế đứng và tuyến xuất phát tiến công cho cả chủ lực trong chiến dịch, Mặt trận B2 đã đồng thời tạo thế trận triển khai xuất phát tiến công cho cả chủ lực tại chỗ của Miền và chủ lực cơ động của Bộ. Trên 5 hướng tiến công vào Sài Gòn thì 2 hướng Đông và Tây-Tây Nam, B2 đã bố trí Quân đoàn 4, Đoàn 232 đảm nhiệm. Những cánh quân này đã vừa chiến đấu tạo thế từ trước chiến dịch, đồng thời là một cánh quân khi mở chiến dịch, thực tiễn đã diễn ra đúng như đã bố trí. Nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn cho thấy: Chiến dịch Hồ Chí Minh là một điển hình thành công không chỉ về nghệ thuật tạo lực, tạo thế mà còn rất thành công về nghệ thuật kết hợp lực với thế, thế với lực, tạo thành một sức mạnh tổng hợp mới, có giá trị thực tiễn cao hơn rất nhiều. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:41:58 am Bài học thứ ba: Vận dụng cách đánh sáng tạo, hiệu quả
Trên địa bàn chiến dịch là vùng có các mục tiêu lớn cố thủ, sào huyệt cuối cùng của một chính quyền, một chế độ chính trị bán nước hại dân. Một địa bàn có không gian rộng, phức tạp, lực lượng các nơi dồn về đông, tuy phòng thủ vội vã nhưng được tổ chức nhiều tầng. Trong khi ta tập trung lực lượng chiến lược của cả nước tạo ưu thế, có thế trận tốt, với sự bảo đảm vật chất của cả nước, hoàn toàn giữ quyền chủ động về chiến lược. Mục đích chiến dịch đặt ra rất lớn, giải quyết nhiệm vụ chiến lược cao nhất và cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng vũ trang, lực lượng kìm kẹp của địch, đập tan hệ thống chính quyền của Ngụy, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng Sài Gòn - Gia Định và giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Yêu cầu đặt ra rất quyết liệt: thắng lợi và thắng giòn giã. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến cách đánh chiến dịch - một vấn đề trung tâm của nghệ thuật chiến dịch phải giải quyết. Trong điều kiện thời cơ chiến lược lớn xuất hiện, chiến dịch đã phát huy cao độ uy lực của quả đấm thép - quả đấm chủ lực của binh chủng hợp thành và lực lượng vũ trang địa phương tại chỗ, tạo thành sức mạnh của đòn tiến công quân sự chưa từng có trong lịch sử đấu tranh cách mạng ở nước ta, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Song song với sức mạnh quyết định của lực lượng quân sự, là lực lượng chính trị của quần chúng, trong điều kiện có lực lượng quân sự đi trước và hỗ trợ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng chính trị đã nổi dậy với sức mạnh to lớn, dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Vấn đề lãnh đạo và chỉ huy của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quyết định. Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng có tầm hết sức quan trọng, có bước phát triển cao nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Vì vậy, Tổng Tham mưu trưởng được chỉ định làm Tư lệnh chiến dịch, Bí thư Trung ương Cục làm Chính uỷ chiến dịch, Phó bí thư Trung ương cục phụ trách đòn nổi dậy của chiến dịch. Chiến dịch Hồ Chí Minh được tiến hành với 5 quân đoàn và toàn bộ lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, thực hành tiến công trên năm hướng. Đối tượng tác chiến từ 1-2 sư đoàn địch với nhiều binh khí kỹ thuật. Đột kích vào một cụm căn cứ có ý nghĩa chiến dịch của địch, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, mục tiêu cuối cùng của chiến tranh. Từ mục đích, yêu cầu, lãnh đạo chỉ huy, sử dụng lực lượng, hướng địa bàn chiến dịch, mục tiêu tiến công... Chiến dịch Hồ Chí Minh rõ ràng là một chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược lớn nhất; một chiến dịch tổng hợp cao nhất, trong đó trên mỗi hướng, từng quân đoàn đã tổ chức thành một cánh quân, nhưng đều tập trung hướng vào mục tiêu chung cao nhất của chiến dịch, mục tiêu cuối cùng của chiến tranh. Điều đó thể hiện, nghệ thuật điều hành chiến dịch hết sức chủ động và linh hoạt. Chủ động và linh hoạt thể hiện tính tập trung thống nhất tổng thể của chiến dịch, đồng thời cũng thế hiện tính sáng tạo trên từng hướng, cánh quân đột kích, hướng mũi thọc sâu cấp binh đoàn binh chủng hợp thành. Sự tổng thể của chiến dịch và độc lập của từng cánh quân trên chính là sự phát triển mới, hoàn thiện hơn, đa dạng hơn, sáng tạo hơn và phong phú hơn của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam ở trình độ cao nhất trong những điều kiện mới. Khi tiến hành chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, nghiên cứu thực tế trên chiến trường về địch và địa hình, mạnh yếu, thế bố trí trên địa bàn; đặc biệt là quá trình chuyển hoá thế và lực của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã xác định, đánh giá và đưa ra kết luận đúng, chính xác 2 đối tượng tác chiến chủ yếu của chiến dịch. Đó là, các sư đoàn chủ lực bố trí ở vòng ngoài; cơ quan đầu não chính trị, quân sự của địch trong nội đô. Từ cơ sở nhận định đánh giá chính xác tầm quan trọng, vị trí của từng đối tượng, Bộ Tư lệnh chiến dịch kết luận: - Hai đối tượng này có quan hệ mật thiết với nhau. - Đối tượng thứ nhất bị tiêu diệt sớm, sẽ làm đối tượng thứ hai mất chỗ dựa chủ yếu dẫn đến mau chóng mất ý chí đề kháng, tan rã hoặc đầu hàng. - Đối tượng thứ hai bị tan rã hoặc đầu hàng sớm, thì đối tượng thứ nhất như rắn mất đầu cũng sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt. Xét tổng thể, toàn diện các phạm vi của chiến dịch và các mối quan hệ, sự vận động phát triển của các nhân tô cho thấy: chiến dịch hoàn toàn có đầy đủ khả năng giành thắng lợi chắc chắn. Giành thắng lợi bằng trí tuệ và sức mạnh tổng hợp. Từ những cơ sở thực tiễn, khoa học trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã quyết định những vấn đề cơ bản, chủ yếu của cách đánh chiến dịch như sau: - Chọn hướng Bắc và Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu, trong đó hướng Tây Bắc là hướng chủ yếu nhất. Bởi vì, đây là hướng địch luôn chú trọng tăng cường phòng thủ từ trước đến nay. Trên hướng này có 2 sư đoàn thuộc Quân đoàn 3 đang chiếm giữ. Địa hình hướng này thuận lợi cho ta triển khai binh khí kỹ thuật và ngắn nhất để thọc thẳng vào nội đô. Đồng thời, đây cũng là hướng ngắn nhất để các lực lượng của ta đột kích, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quân sự chủ yếu của địch như: Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh các binh chủng, cơ quan chỉ huy đầu não của chúng và sân bay Tân Sơn Nhất, chỗ dựa cuối cùng để địch có thể rút chạy. Do đó, hướng này sẽ là nơi hiểm yếu của địch. - Hướng Đông và Đông Nam cũng là hướng hết sức quan trọng. Bởi vì, địa bàn trên khu vực này rộng, lực lượng đông, có khu vực phòng thủ rắn như Biên Hoà, Long Bình, sở chỉ huy Quân đoàn 3. Địa hình thiên nhiên hiểm trở, có nhiều sông suối chia cắt. Đồng thời có nhiều cầu lớn phải bảo đảm để cơ động lực lượng. Trên hướng này ta đánh chiếm và chốt giữ được một số cầu lớn cũng là hướng thọc nhanh được vào Dinh Độc Lập, cơ quan đầu não Ngụy quyền Trung ương, là một mục tiêu chủ yếu trong nội đô. Bộ Tư lệnh cũng kết luận: đây là hướng hiểm yếu quan trọng. - Hướng Tây Nam là hướng rất quan trọng, bất ngờ và nguy hiểm đối với địch. Đường quốc lộ số 4 là đường huyêt mạch nối liền giữa 2 quân khu. Nối Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long. Cánh quân của Đoàn 232 hoàn toàn có khả năng chia cắt chiếm giữ các địa bàn quan trọng án ngữ trên toàn bộ trục đường. Đây là thế trận hoàn toàn chủ động của ta, có đủ khả năng đập tan ý đồ cuối cùng điều động lực lượng ứng cứu cho Sài Gòn từ Quân Khu 4 lên, hoặc tháo chạy từ Quân Khu 3 về của địch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:42:53 am Vấn đề chọn hướng tiến công, một nội dung rất quan trọng của cách đánh chiến dịch đã được phân tích thực tiễn, kỹ lưỡng, khoa học, phát triển. Bảo đảm chắc chắn cho cơ động triển khai lực lượng, bảo đảm sự chắc thắng đã được giải quyết, giải quyết trong mối quan hệ biện chứng. Đó là, sự liên quan giữa hướng tiến công và mục tiêu cần đánh chiếm trên các hướng đột kích đó.
Bộ Tư lệnh xác định rất tỷ mỷ những trận đánh quan trọng, mục tiêu cần đánh chiếm ở vòng ngoài, đến từng chiếc cầu cần chiếm giữ và bảo đảm không cho địch đánh phá. Mục tiêu chủ yếu ở vòng trong, nội đô: Bộ Tổng Tham mưu; Tổng nha Cảnh sát; Biệt khu Thủ đô; sân bay Tân Sơn Nhất; Dinh Độc Lập. Nội dung cốt lõi bao trùm cách đánh, đó là sử dụng lực lượng tổ chức đội hình. Vấn đề sử dụng lực lượng bố trí đội hình phụ thuộc vào nhiều điều kiện, nhiều yếu tố khác nhau như: vị trí tập kết của từng cánh quân, khả năng, sở trường của từng đơn vị binh đoàn trong quân đoàn. Tổ chức lực lượng, bố trí đội hình để phát huy được sức mạnh, sở trường của các đơn vị, các lực lượng ngay từ đầu đến trong suốt quá trình chiến dịch. Từ thực tiễn đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã quyết định sử dụng trên hướng Bắc, Tây Bắc, hướng chủ yếu của chiến dịch: Quân đoàn 3, Quân đoàn vừa chiến thắng lớn ở Tây Nguyên, đang có khí thế quyết tâm rất cao, quân số đã được bổ sung đầy đủ. Quân đoàn 1 thiếu một sư đoàn nhưng được tăng cường 1 trung đoàn bộ binh, là Quân đoàn dự bị chiến lược của Bộ, vừa cơ động từ miền Bắc vào, hiện đang rất sung sức. Đây là một quyết định chính xác, phù hợp với thực tế, tạo được sức mạnh tập trung trên hướng chủ yếu. Sử dụng trên hướng Đông, Đông Nam 2 quân đoàn: Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4. Hai quân đoàn đã có nhiêu kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng qui mô lớn, cũng vừa giành thắng lợi lớn ở Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng và miền Đông Nam Bộ. Riêng Quân đoàn 2, còn có kinh nghiệm chủ động, thọc sâu và tác chiến trong hành tiến. Trên hướng Tây Nam sử dụng Đoàn 232, tương đương với quân đoàn, có nhiều kinh nghiệm tác chiến ở vùng đồng bằng, có kinh nghiệm tác chiến chia cắt và chốt giữ. Trên tất cả 5 hướng của chiến dịch, Bộ Tư lệnh không tổ chức chia thành các nhiệm vụ trước mắt, tiếp sau, mà tổ chức đội hình mỗi hướng thành một cánh quân, hướng tiến công vào từng cụm mục tiêu. Tác chiến đột kích bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng và đều có lực lượng thọc sâu mạnh, lực lượng thọc sâu có qui mô cỡ binh đoàn binh chủng hợp thành. Trên từng cánh quân, chiến dịch đều qui định nhiệm vụ cụ thể, thời gian hoàn thành từng nhiệm vụ. Mỗi cánh quân tác chiến một hướng đều được tăng cường đủ mạnh, có đủ khả năng để hoàn thành nhiệm vụ và đều tổ chức lực lượng dự bị mạnh. Mặc dù trên từng hướng chiến dịch chỉ đạo các quân đoàn phải tổ chức sử dụng lực lượng cỡ trung đoàn, Sư đoàn để đột phá, mở cửa và đều phải tổ chức lực lượng thọc sâu cấp lữ, sư đoàn được tăng cường xe tăng, pháo binh và hành động kiên quyết táo bạo. Đội hình cụ thể của từng cánh quân giao quyền cho các quân đoàn quyết định. Trong kế hoạch tác chiến của chiến dịch, chiến dịch không xác định và tổ chức lực lượng dự bị từ đầu. Nhưng qui định sau khi tiêu diệt Sư đoàn 25 Ngụy đánh chiếm căn cứ Đồng Dù trên hướng Tây Bắc, Sư đoàn 320 thuộc Quân đoàn 3 làm lực lượng dự bị cho chiến dịch. Đồng thời lực lượng dự bị của chiến lược là Sư đoàn 324 và Sư đoàn 968 cũng đã được lệnh sẵn sàng bước vào tác chiến trong đội hình chiến dịch trên các hướng. Từ những tổng thể các vấn đề trong nội dung của cách đánh, đặc biệt là tổ chức sử dụng lực lượng. Chiến dịch lựa chọn và vận dụng cách đánh như sau: Sử dụng một lực lượng thích hợp trên từng hướng, đủ sức hình thành thế bao vây, chia cắt, chặn giữ quản địch lại, không cho chùng rút chạy về Sài Gòn. Tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn bộ binh chủ lực của địch đang phòng thủ vòng ngoài. Đồng thời sử dụng đại bộ phận lực lượng của ta trên các hướng, nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven ngoại vi Sài Gòn. Thực hành mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới hoá đã được tổ chức chặt chẽ trên các hướng, tiến nhanh theo các trục đường lớn đột kích thắng vào 5 mục tiêu đã xác định trong nội thành cho từng cánh quân trên các hướng phải đánh chiếm. Các lực lượng đặc công, các đội biệt động, các lực lượng an ninh vũ trang và tự uệ thành phố, các lực lượng chính trị của quần chúng trong nội đô Sài Gòn - Gia Định cùng phối hợp với các cánh quân bằng: đánh chiếm, chốt giữ các cầu lớn bắc qua sông trên các hướng, chiếm giữ các bàn đạp cho bộ đội chủ lực có điều kiện tăng tốc độ tiến công. Thực hành dẫn đường cho các đơn vị, trừ gian và phát động, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy trên các hướng. Với cách đánh chiến dịch xác định, thực hành tác chiến của các cánh quân theo cách đánh này đã chứng minh: sự lựa chọn và vận dụng cách đánh chiến dịch là rất đúng đắn, sáng tạo, đầy mưu lược, táo bạo, giành thắng lợi trên từng hướng nhanh trong khi ta tổn thất, thương vong lại rất thấp. So sánh với các chiến dịch tiến công thông thường, kể cả các chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược, sử dụng lực lượng qui mô lớn. Xét về trật tự thời gian, lực lượng thọc sâu trong các chiến dịch khác, thường được sử dụng vào chiến đấu sau khi các lực lượng thê đội 1 thực hành đột phá xong và thường có qui mô nhỏ hơn. Chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng thọc sâu tổ chức qui mô lớn hơn, thường là cấp sư đoàn bộ binh ngồi trên xe tăng, được tăng cường pháo binh, công binh, cao xạ và các lực lượng bảo đảm khác. Lực lượng thọc sâu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là một binh đoàn cơ giới binh chủng hợp thành rất mạnh. Thời cơ sử dụng lực lượng thọc sâu sớm hơn, có hướng diễn ra đồng thời với đột phá. Kết quả, lực lượng thọc sâu của các cánh quân trên các hướng, được các đơn vị đặc công, biệt động thành phố hỗ trợ đã tiêu diệt 1 sư đoàn và 3 lữ đoàn địch; 5 mục tiêu chiến lược xác định trong chiến dịch đều do lực lượng thọc sâu đánh chiếm. Từ cách sử dụng lực lượng, yếu tố quyết định cách đánh, kết quả thực tiễn đã chứng minh: cách đánh trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã thể hiện trình độ nghệ thuật phát triển đên đỉnh cao của sự toàn diện của cách đánh. Tổ chức lực lượng thọc sâu bằng sức mạnh binh chủng hợp thành với qui mô lớn, thực hành tác chiến trong hành tiến, thời cơ sử dụng táo bạo, tạo được sự bất ngờ lớn đối với địch, tạo được đột biến lớn trong chiều sâu phát triển chiến dịch... Thể hiện sự phát triển vượt bậc đến đỉnh cao của nghệ thuật chiến dịch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Hai, 2022, 07:43:55 am Trình độ nghệ thuật vận dụng cách đánh chiến dịch còn thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn, hiệu quả giữa cách đánh chiến dịch với cách đánh cấp chiến thuật. Giải quyết thành công, thể hiện tính thực tiễn, khoa học giữa mối quan hệ của vây địch, diệt địch có tổ chức lực lượng mạnh ở vòng ngoài với tốc độ thọc sâu nhanh, thọc thẳng vào trung tâm mục tiêu, đánh gục cơ quan đầu sỏ của địch ở trong tung thâm. Hành động tác chiến đồng thời này đã tạo sự đột biến lớn, hiệu quả cao nhất, chưa chiến dịch nào có được.
Kết quả của sự kết hợp đồng thời giữa đột phá chiến dịch với thọc sâu chiến dịch trên từng hướng tuy có sự khác nhau về thời gian, chỉ đạo thời cơ sử dụng như: hướng Bắc, Tây Bắc lấy thọc sâu làm hành động tác chiến chính; hướng Đông và Tây Nam lấy hành động đột phá mở cửa trước, nhưng vẫn nắm vững thời cơ mở được cửa là thọc sâu ngay, không chờ đợi kết quả của đột phá. Điều này cho thấy, sự chủ động linh hoạt, sáng tạo, đa dạng và thực tiễn của từng hướng, nhưng vẫn nằm trong tư tưởng chỉ đạo chung của chiến dịch, không máy móc, dập khuôn và không hướng nào để lỡ thời cơ thọc sâu, hoặc không chặt chẽ giữa hành động đột phá với thọc sâu. Ngày 29 tháng 4, khi các cánh quân thực hành tổng công kích vào thành phố, tất cả các hướng đều tiến công đồng loạt, liên tục, không chia thành các bước, không thực hành đánh lần lượt. Lực lượng chủ lực đã hành động đồng thời tiến công vòng ngoài với hành động thọc sâu quyết liệt. Đặc công, biệt động đánh bên trong, thực hiện trong ngoài cùng đánh. Sự kết hợp chặt chẽ giữa đòn tiến công của lực lượng quân sự, đã thực sự là uy lực hỗ trợ cho đòn nổi dậy của quần chúng trên địa bàn chiến dịch, đặc biệt là trong nội đô Sài Gòn. Để có được cách đánh phong phú, sáng tạo và hiệu quả như trên, là sản phẩm của nhiều nhân tố. Đó là có sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã trực tiếp hướng dẫn chỉ đạo cách đánh; Bộ Tư lệnh chiến dịch nghiên cứu sâu sắc, toàn diện mọi nhân tố thực tiễn, dân chủ, bàn bạc trao đổi trong Bộ Tư lệnh, các cơ quan chiến dịch với các quân đoàn, từng bước hoàn chỉnh cách đánh chưng của chiến dịch. Trên cơ sở cách đánh chung chiến dịch, chỉ đạo vận dụng một cách linh hoạt vê cách đánh cho các quân đoàn trên các hướng. Cách đánh trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã tạo ra một bất ngờ lớn đối với địch. Mặc dù địch biết ta đang chuẩn bị tổng công kích vào Sài Gòn - Gia Định từ nhiều hướng. Tiến công từ những hướng nào địch có thể dự đoán được một cách tương đối, nhưng vẫn bị bất ngờ. Khi ta thực hành tổng công kích đã trở tay, xoay xở không kịp. Thực tiễn so sánh giữa thế và lực thì địch không có giải pháp nào có thể xoay chuyển được thế trận. Lực lượng nào, ở đâu tự chống đỡ lấy, thực tế sự chống đỡ chắp vá, tự phát, không đáng kể và cũng không thể chống đỡ được. Chỉ huy đã thực sự bị rối loạn rất sớm, tư duy tan rã, sụp đổ đang bao trùm cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Với cách đánh bất ngờ, dũng mãnh, sáng tạo, đa dạng và áp đảo, bất cứ nơi nào ta công kích địch cũng sớm đầu hàng và tan rã. Sự thành công lớn về cách đánh trong Chiến dịch Hồ Chí Minh còn thể hiện thành công về hiệp đồng. Sự thành công đó được thế hiện ngay từ kế hoạch hiệp đồng, duy trì và bổ sung hiệp đồng, thực hành các nội dung hiệp đồng trong quá trình công kích của từng cánh quân, của các cánh quân trên toàn mặt trận rất thành công, rất giỏi của Bộ Tư lệnh chiến dịch, các cơ quan và các cánh quân. Qui mô binh hoả lực, phương tiện của chiến dịch nhiều; tác chiến trên 5 hướng trong phạm vi chiến dịch rộng đến 8 tỉnh, có thành phố lớn, trên 3 triệu dân, đường phố ngang dọc chi chít, hàng trăm mục tiêu quân sự, kinh tế quan trọng; 3/5 cánh quân đều cơ động từ xa đến, chiến trường chưa quen biết; thời gian tổ chức chuẩn bị chiến đấu ngay trong một cánh quân cũng quá gấp; thời gian chuẩn bị chiến dịch lại càng gấp hơn. Lượng vật chất kỳ thuật, đạn dược bảo đảm cho từng cánh quân rất lớn và nhiều lực lượng bảo đảm... Trong những điều kiện thực tiễn diễn ra hết sức phức tạp khẩn trương như vậy, nhưng các cánh quân đều rất nhịp nhàng ăn khớp với nhau về thời gian, địa điểm trong cách đánh một cách đồng thời của 5 cánh quân. Tất cả 5 hướng đều tiến vào nội đô Sài Gòn, cùng đánh chiếm các mục tiêu chiến lược đã được xác định gần như đồng thời cùng một thời gian, từ 10 giờ 30 đến 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4. Sau đó cùng hợp điểm về Dinh Độc Lập. Những sự đồng thời lớn trên không có một sự cố nào lớn về hiệp đồng giữa các cánh quân. Có thể khẳng định, sự hiệp đồng để bảo đảm cho cách đánh chiến dịch là một thành công lớn kỳ diệu, được đánh giá như một huyền thoại về trình độ tổ chức chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch, của các cơ quan và các lực lượng trên các hướng công kích. Thực tiễn giữa kế hoạch dự kiến với diễn biến thực tế đã chứng minh, kế hoạch hiệp đồng cơ bản là đúng và chính xác. Từ khi mở đầu đến khi kết thúc chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch hầu như không phải xử trí tình huống đột xuất, bất ngờ, phức tạp nào, không phải điều chỉnh bổ sung những tình huống diễn biến mới. Chiến dịch Hồ Chí Minh, một chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược, những bài học kinh nghiệm tổng thể đã phát triển đến đỉnh cao, làm phong phú thêm nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật chiến dịch tiến công của chiến tranh nhân dân Việt Nan trong thời đại Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 07:39:57 am Bài học thứ tư: Chiến dịch Hồ Chí Minh đã tận dụng và phát huy được giá trị của ba thứ quân, lấy tác chiến hiệp đồng quân binh chủng là chủ yếu, kết hợp được đòn tiến công quân sự và đòn nổi dậy của quần chúng phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.
Hoạt động quân sự - đấu tranh vũ trang là đặc trưng chủ yếu của chiến tranh. Trong giai đoạn "vãn hồi" của cuộc chiến, những đòn quân sự luôn giữ vai trò quyết định, thành bại của chiến tranh, đây là một qui luật khách quan. Khởi nghĩa vũ trang cũng là một qui luật của chiến tranh giải phóng, chiến tranh cách mạng. Lực lượng chính trị của quần chúng cách mạng có vị trí vai trò rất to lớn trong khởi nghĩa vũ trang. Đó là quan điểm tư tưởng chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ của Đảng ta. Chuẩn bị lực lượng chính trị và đòn nổi dậy của quần chúng. Trong lịch sử các tầng lớp nhân dân Thành phố Sài Gòn - Gia Định có truyền thống kinh nghiệm đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, đấu tranh trực diện với địch. Phong trào đấu tranh ở cả vùng ven và trong nội đô, có lúc có nơi còn gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung phong trào vẫn rất sôi nổi. Mặc dù sống dưới chế độ kìm kẹp của chính quyền tay sai, nhân dân vẫn thây rõ bản chất xấu xa của kẻ thù, tầm hiểu biết về cách mạng vẫn rất sâu sắc, sẵn sàng hưởng ứng các cuộc đấu tranh khi có thời cơ. Những kinh nghiệm và truyền thống đấu tranh đó là những cơ sở rất quan trọng đê tổ chức và phát động quần chúng tiến hành nổi dậy. Vấn đề quan trọng nhất trong điều kiện này là: tập hợp được lực lượng của quần chúng và hướng dẫn họ hành động đúng thời cơ như thế nào? Nắm vững những qui luật tất yếu của chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng. Thấy rõ vai trò và sức mạnh của quần chúng, giá trị của đòn nổi dậy, sự kết hợp giữa các đòn quân sự với đòn nổi dậy của quần chúng. Công tác chuẩn bị cho đòn nổi dậy của quần chúng được triển khai từ rất sớm. Các Hội nghị của Quân uỷ Miền tháng 7 năm 1974; Hội nghị Quân chính toàn Miền (chiến trường B2); Hội nghị đánh phá “bình định” do Trung ương Cục triệu tập tháng 10 năm 1974... Tại các Hội nghị này đểu đã phê phán những tư tưởng hữu khuynh, đều xác định chủ trương phát động quần chúng, đẩy mạnh 3 mũi giáp công, mở các vùng “lõm”. Đánh giá thực trạng về công tác này, tại thời điểm tháng 10 năm 1974, ở vòng ngoài thành phố ta đã xây dựng được cơ sở ở 80 xã vùng ven và 14 cơ sở ở xã đô thị hoá, có 251 ấp/337 ấp có cơ sở của ta, trong khi vẫn còn tới 86 ấp trắng. Đặc biệt ta đã đưa được 6 trung đoàn đặc công, 2 trung đoàn và 5 tiểu đoàn địa phương vào đứng hoạt động ở vùng ven, 1 lữ đoàn biệt động đứng trong nội đô là một thắng lợi rất lớn. Để chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, ngày 29 tháng 3 năm 1975, Trung ương Cục ra Nghị quyết 15, sau đó phổ biến cho Thành uỷ. Ngày 12 tháng 4, Thành uỷ có chỉ thị và hướng dẫn cụ thể để đẩy mạnh đòn nổi dậy, nêu thời cơ và những việc cần triển khai ngay trên các địa bàn. Điều chỉnh cách chỉ đạo nổi dậy cho từng cánh. Cánh A phụ trách các huyện Nam thành phố và nội đô; cánh B phụ trách các huyện ngoại thành và Gia Định. Tăng cường một số thành uỷ viên, quận uỷ viên vào chỉ đạo trực tiếp trong nội thành và vùng ven. Trung ương Cục phân công đồng chí Nguyễn Văn Linh trực tiếp phụ trách đòn nổi dậy của quần chúng. Trước ngày mở đầu chiến dịch, trên toàn thành phố, lực lượng chính trị ta đã tổ chức được hơn 40.000, trong đó có: 400 đảng viên, hơn 700 nòng cốt đoàn viên, hơn 4500 quần chúng có vũ trang, hơn 30.0000 quần chúng tích cực, hơn 400 tổ chức quần chúng công khai hợp pháp. Để bảo đảm cho các lực lượng này hoạt động, lôi kéo cổ vũ các quần chúng khác, ta đã chuẩn bị nhà in để in tài liệu, hàng trăm xe phóng thanh, may cờ, may biểu ngữ... Như vậy, ngay từ nhận thức, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã đánh giá rất cao vai trò của đòn nổi dậy của quần chúng. Từ nhận thức đúng, đã chỉ đạo tổ chức lực lượng rất chu đáo, làm nòng cốt cho đòn nổi dậy từ trước khi mở đầu chiến dịch. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã sử dụng đòn tiến công quân sự rất mạnh, áp đảo quân địch, đi trước một bước thúc đẩy hỗ trợ, tạo đà cho đòn nổi dậy của quần chúng rất hiệu quả. Liên tiếp trong 2 ngày mở đầu chiến dịch, ngày 27 và 28 tháng 4, đòn tiến công quân sự đã đánh thiệt hại nặng Sư đoàn bộ binh 22 và cắt lộ 4 ở khu vực Tân An, Bến Lức; Sư đoàn bộ binh 18 và Thiết đoàn 3 quân Ngụy ở Trảng Bom, Biên Hoà; Sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Long Bình và Lữ đoàn dù 1 ở Bà Rịa. Sáng ngày 29 tháng 4, đòn quân sự đã liên tiếp chặn đánh, tiêu diệt và làm tan rã các Sư đoàn 22, 25, 5, 18, Thuỷ quân lục chiến, Lữ đoàn dù 1, Lữ đoàn kỵ binh ở tuyến ngoài của địch. Cũng trong ngày 29 tháng 4, các Binh đoàn cơ giới hoá thực hành thọc sâu, tiêu diệt và làm tan rã luôn Sư đoàn biệt động quân vừa thành lập. Vượt qua các mục tiêu, chốt nhỏ lẻ trên dọc đường áp sát thành phố như Vĩnh Lộc, Bà Hom, Bà Quẹo, Lái Thiêu, cầu Đồng Nai. Cùng với lực lượng chủ lực đột phá, thọc sâu từ bên ngoài vào, các lực lượng đặc công, biệt động, bộ đội địa phương đã phá huỷ các trận địa pháo, đánh chiếm các đồn bốt, chiếm giữ các cầu vùng ven đô. Tính đến ngày 29 tháng 4, các lực lượng chủ lực thực hiện đòn tiến công quân sự cơ bản đã tiêu diệt và làm tan rã các đơn vị chủ lực địa phương là xương sống của địch. Đồng thời các đòn tiến công quân sự cũng đã kéo theo sự sụp đổ hoàn toàn bộ máy kìm kẹp, hệ thống chính quyền ở vùng ngoại vi thành phố. Sự kết hợp tiến công rất kiên quyết và mạnh như vũ bão giữa đòn quân sự với sự nổi dậy của nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của các cơ sở Đảng. Với sự hỗ trợ trực tiếp của các đơn vị đặc công, đội biệt động, bộ đội địa phương tại chỗ đã nổi dậy giành chính quyền cơ sở ở nhiều khu vực nội ngoại thành, trên thực tế đòn nổi dậy đã thực sự được phát động đúng thời cơ. Ở ngoại thành, tận dụng áp lực của các binh đoàn chủ lực tác chiến lướt qua, quần chúng ở cơ sở có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tại chỗ, kết hợp nổi dậy với tiến công binh vận khôn khéo và kiên quyết, đã làm quân địch tan rã, vứt súng, cởi bỏ quân phục, bỏ chạy tháo thân hoặc trà trộn vào dân để trốn tránh tạm thời. Đông đảo quần chúng đã xông vào phá huỷ các đồn bốt, chiếm các trụ sở xã ấp ở Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức... thu nhiều giấy tờ tài liệu, hạ cờ Ngụy, kéo cờ ta; chủ động lập chính quyền cách mạng, tham gia giải phóng các huyện ngoại thành. Trong nội đô, khi đại quân trên các hướng tiến vào thành phố, quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ nổi dậy đánh chiếm đồn bốt, treo cờ, binh vận, uy hiếp tại chỗ làm tan rã bọn tề Ngụy, cảnh sát, dân vệ, chiếm trụ sở khóm phường của địch; giành quyền làm chủ ở 3 phường, khóm thuộc Quận 1; 2 phường thuộc Quận 2; 3 phường khóm và cơ quan hành chánh Quận 3; 3 phường khóm, cơ quan Quận 4; 6 phường khóm, cơ quan hành chánh Quận 5; 6 phường khóm cơ quan hành chánh Quận 6; 6 điểm toà hành chánh Quận 7; 4 điểm, toà hành chánh Quận 9; 8 điểm, toà hành chánh Quận 10; 4 điểm, toà hành chánh Quận 11; 5 điểm thuộc Quận Phú Nhuận; 4 điểm thuọc Quận Tân Bình; các cơ sở và toà hành chánh Gia Định. Các lực lượng kìm kẹp cảnh sát, dân vệ, cơ quan hành chánh chính quyền từ khóm phường, quận huyện dưới áp lực rất mạnh của đòn tiến công quân sự, trong đó có một phần do lực lượng vũ trang tại chỗ và quần chúng nổi dậy đánh chiếm hoặc tự tan rã tại chỗ. Đến chiều 30 tháng 4, về cơ bản ta đã giành quyền làm chủ, cách mạng đã kiểm soát tất cả các quận, huyện, xã phường trên toàn địa bàn thành phố Sài Gòn - Gia Định. Sau này khi có điều kiện ta đã thống kê được: có 107 điểm nổi dậy của quần chúng, gồm 31 điểm ở vùng ngoại thành, 76 điểm ở vùng nội thành; 32 điểm trong ngày đêm 29 tháng 4, 75 điểm vào sáng 30 tháng 4. Thời khắc cuối cùng được tính bằng giờ của “triều đình” bán nước hại dân khi nội các ngụy đang “bàn” giải pháp ngừng bắn ở Dinh Độc Lập thì viên tướng Pháp - Va-luy-xem xộc vào phòng tình hình, ngăn đem cuộn băng ghi âm lời tuyên bố tự nguyện hạ vũ khí của “Tổng thống” Ngụy đi phát thanh. Hắn bàn với “Tổng thống” Ngụy bày kế chặn cuộc tổng công kích của ta vào Sài Gòn. Thật nực cưòi, thô bạo và trắng trợn, nhưng cuối cùng “giải pháp” đầu hàng vô điều kiện là giải pháp tối ưu và “thông minh” nhất cho sinh mạng của bọn chúng. Cuộn băng vẫn được phát đi, đề nghị “ngừng bắn... để cùng thảo luận về bàn giao chính quyền”. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 07:41:10 am Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã chỉ thị ngay cho mặt trận như sau: “Tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí của quân địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của địch”.
Bộ chỉ huy chiến dịch, sau khi thảo luận tập thể, đã ra mệnh lệnh gửi cho các quân khu, quân đoàn và các đơn vị: “1. Các quân khu, quân đoàn, đơn vị tiếp tục phát triển tiến công thật nhanh vào các khu vực và mục tiêu đã qui định trong thành phố và địa phương. 2. Kêu gọi quân địch đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí, bắt giữ và tập trung các sỹ quan từ cấp tá trở lên. 3. Nếu chỗ nào địch chống cự thì lập tức tiến công tiêu diệt ngay”1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, NxbQĐND, H.2003, tr.251). Ngày 30 tháng 4, ngay sau khi đập tan các đơn vị còn lại của địch ở Ngã tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Thủ Đức, cổng số 1 Bộ Tổng Tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, cầu Bình Phước, cầu Bình Triệu, cầu Sài Gòn, cầu Rạch Chiếc, cũng là thời điểm bộ máy kìm kẹp, chính quyền quân Ngụy ở những vùng này cũng tan vỡ theo. Các binh đoàn thọc sâu trên 5 cánh quân đồng thời đánh chiếm ngay các mục tiêu chiến lược đã được phân công; chín giờ 30 phút Tổng thống vừa được tiến cử Dương Văn Minh, người theo phái “có thể” thương lượng được với cộng sản, tuyên bố trên đài Sài Gòn xin ngừng bắn để bàn giao chính quyền, trên thực tế, chúng không còn gì để bàn giao. Mệnh lệnh của Tổng thống Ngụy quyền truyền lệnh cho Quân đoàn 3 lúc này cũng không có người nhận. Toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát đã bị tiêu diệt hoặc đã tan rã. Hệ thống chính quyền quân Ngụy từ cơ sở quận huyện đã bị đập tan hoặc đã tan rã, hoặc đã bỏ chạy, đang bị quần chúng nhân dân nổi dậy truy lùng. Chính quyền Trung ương đã mất hết ý chí và đang tan rã, nội các Ngụy quyền Trung ương cuối cùng của chế độ do Mỹ dựng lên đang tập trung ở Dinh Độc Lập xin đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Kết quả sự phối hợp và tận dụng được hiệu quả của đòn tiến công quân sự, đòn tiến công chính trị nổi dậy của quần chúng diễn ra với rất nhiều hình thức phong phú đa dạng và hiệu quả, thực chất nổi dậy của quần chúng là một đòn chiến lược lợi hại, có tác dụng hết sức quan trọng và to lớn, góp phần giành thắng lợi chiến dịch nhanh chóng, gọn, triệt để và trọn vẹn: Quần chúng đã xuống đường phố làm binh vận, lôi kéo tuyên truyền lực lượng kìm kẹp tại chỗ, thúc đẩy chúng vứt bỏ, giao nộp vũ khí, cởi bỏ quân phục, rút khỏi trụ sở, đồn bốt, tự bỏ về nhà hoặc chạy trôn ẩn náu. Vận động quần chúng may cờ từ trước, khi lực lượng đột kích trên các cánh quân tiến quân vào đến đâu thì có cờ của Mặt trận Giải phóng mọc lên đến đó. Nhân dân tràn ra đường phố, treo cờ căng khẩu hiệu, sử dụng loa kêu gọi binh sỹ địch không được hoảng loạn bắn súng bừa bãi, phải giao nộp vũ khí đầu hàng. Sử dụng xe honđa, xe ôtô dẫn đường, chở bộ đội ta vào đánh chiếm các mục tiêu, truy lùng bọn ác ôn đang lẩn trốn trong thành phố. Trên tất cả các nơi có cơ sở Đảng, công nhân viên chức trong các nhà máy, xí nghiệp đều đứng lên chiếm giữ và bảo vệ hầu như toàn vẹn các xí nghiệp công nghiệp, các kho bãi, tổ chức canh gác, giữ gìn tài sản, hồ sơ, máy móc, chờ người của cách mạng mới đến bàn giao. Điển hình là Nhà máy điện Chợ Quán, Nhà máy điện Thủ Đức, Nhà máy nước Thủ Đức vẫn tiếp tục bảo đảm nguồn điện, nước không bị gián đoạn. Đài phát thanh, Đài truyền hình thành phố sau 12 giờ ngày 30 tháng 4 đã phát hình theo chương trình mới của cách mạng. Ngay trong ngày 30 tháng 4 mọi sinh hoạt của thành phố đông dân nhất miền Nam hầu như đã trở lại sinh hoạt bình thường, thành phố tưng bừng như ngày hội với cờ hoa khẩu hiêụ và ánh sáng. Kết quả của đòn nổi dậy thực sự là đòn chiến lược lợi hại, có nhiều tác dụng, nhiều giá trị nhân bản trong tư tưởng, phương châm chỉ đạo tập hợp lực lượng, vận dụng các phương thức đấu tranh, thời cơ sử dụng đòn nổi dậy trên địa bàn. Đòn nổi dậy của quần chúng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra trên địa bàn khá rộng lớn, nhưng chỉ giành được chính quyền ở cơ sở khóm, xã phường, quận, huyện. Không có tổng nổi dậy - tổng khởi nghĩa. Xét những nguyên nhân cụ thể cho thấy: trên thực tế phần lớn các mục tiêu chiến lược đã hoàn toàn tan rã và không còn hoạt động từ trưa ngày 28 tháng 4. Ngày 29 tháng 4 các hướng có thể rút chạy đã hoàn toàn bị ta vây chặt. Năm cơ quan đầu não cũng là 5 mục tiêu chiến lược gần như đồng thời bị các cánh quân trên các hướng đánh chiếm một lúc từ 10 giờ 30 đến 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4. “Như vậy, đến ngày 30 tháng 4, trên thực tế không có và cũng không cần thiết phải tổ chức chỉ đạo tổng nổi dậy - tổng khởi nghĩa”1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch Hồ Chí Minh, H.1991, tr.90). Những đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực, bao giờ cũng đi trước một bước, làm động lực thúc đẩy lực lượng chính trị của quần chúng vận dụng các hình thức đấu tranh đúng thời cơ. Đây là một qui luật của tập hợp và phát huy sức mạnh của các phương thức đấu tranh trong chiến tranh cách mạng. Các lực lượng tại chỗ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngoài những hoạt động tác chiến quân sự như: đánh chiếm hơn 100 mục tiêu lớn nhỏ, đánh chiếm 13 cầu, chiếm giữ 10 cầu bảo đảm cho chủ lực qua sông, khống chế sân bay Biên Hoà, pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất...; thực hành dẫn đường cho các Binh đoàn chủ lực tiến nhanh vào các mục tiêu chiến lược; phát động hàng chục vạn quần chúng nhân dân và làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền làm chủ ở cơ sở trên nhiều địa bàn trong nội đô. Có thể khẳng định rõ ràng một cách chắc chắn và khoa học rằng: nghệ thuật chỉ đạo kết hợp sức mạnh của các lực lượng, các hình thức phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng ta là hoàn toàn đúng, sáng tạo và phong phú, có nhiều giá trị nhân bản nhân văn của chiến tranh cách mạng. Đòn nổi dậy của quần chúng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã thực sự có vai trò hết sức to lớn, đã làm nổi bật vẻ hoành tráng của bức tranh chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng trên thế giới. Lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc ta, khó có thể sưu tầm được một trường hợp nào khi: thủ đô của địch lại “bão hoà” về lực lượng vũ trang và bộ máy kìm kẹp, nhưng lại luôn bất ổn về chính trị, nhiều lần rung chuyển, lung lay vì các cuộc đấu tranh bền bỉ, quyết liệt của quần chúng như trường hợp Thành phố Sài Gòn. Trong giai đoạn kết của chiến tranh cứu nước, chưa bao giờ sự kết hợp sức mạnh của đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị lại có điều kiện thuận lợi. Tập hợp thành một cao trào sâu rộng và hiệu quả như bây giờ. Sự hiệu quả đó đã góp phần thúc đẩy hơn nửa triệu quân Ngụy được trang bị mạnh nhanh chóng tan rã. Chính sự kết hợp đòn nổi dậy của quần chúng nhân dân đã góp phần kết thúc cuộc chiến “gọn gàng”, “sạch sẽ”, không rơi vào cảnh “tắm máu” như phương Tây “tiên đoán”. Mặt khác, đòn nổi dậy của quần chúng đã góp phần “trấn an” thành phố hơn 3 triệu dân, ngay trong ngày giải phóng vẫn có điện, nước sinh hoạt bình thường. Sinh mạng, tài sản của dân chúng vẫn được bảo đảm an toàn, không hề có cảnh “hỗn quân, hỗn quan” như mấy ngày “rã đám”, “tử thủ” của Ngụy quyền. Nghiên cứu lịch sử cho thấy: đây quả là một kỳ tích, một huyền thoại, khắc sâu vào lòng người. Chỉ có cuộc chiến chính nghĩa của một dân tộc đại nghĩa, một dân tộc khát khao tự do độc lập, vùng lên giành quyền làm chủ vận mệnh của mình hoà nhập và tận dụng được cùng các đòn sấm sét của các Binh đoàn chủ lực mới có sự kỳ diệu đó được. Đồng thời kết quả của đòn nổi dậy là một nét độc đáo trong thế và lực tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Thắng lợi là tất yếu của trí tuệ và ý chí của một dân tộc được tập hợp dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Một bước ngoặt lịch sử chói lọi, đưa dân tộc ta tiến lên trong giai đoạn cách mạng mới. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 07:45:01 am PHẦN THỨ BA Những cánh quân thần tốc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh I. Cánh quân từ hướng Bắc - đoàn quân thần tốc từ Tam Điệp Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng được thành lập. Lực lượng những ngày đầu thành lập gồm: ba sư đoàn bộ binh (308, 312, 320B), Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, Trung đoàn thông tin 240, các đơn vị binh chủng và cơ quan. Bộ Tư lệnh gồm: Tư lệnh - Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, nguyên Phó Tổng Tham mùu trưởng, Chính uỷ; Thiếu tướng Lê Quang Hoà nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Giữa lúc Quân đoàn 1 đang khẩn trương sôi nổi huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở miền Bắc - hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa thì trên tiền tuyến lớn miền Nam, tình hình diễn biến hết sức mau lẹ theo chiều hướng có lợi cho ta, không có lợi cho địch. Quán triệt và chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, trong năm 1974 quân và dân trên các chiến trường miền Nam đã liên tiếp tiến công địch, thu nhiều thắng lợi quan trọng. Ta đã đánh bại hầu hết các cuộc hành quân lấn chiêm của địch, lấy lại được nhiêu vùng vừa bị địch lấn chiếm; thu hẹp vùng kiểm soát của chúng, giữ vững và mở rộng vùng mới giải phóng, đẩy địch vào thế phòng ngự bị động, phải co về giữ các đô thị, các đường giao thông và các vùng có ý nghĩa chiến lược. Chúng không có khả năng lấy lại và chịu mất một số vùng bị ta đánh chiếm như: Nha Bích, Tống Lê Chân ở miền Đông Nam Bộ; Tánh Linh ở Khu 6; Đắc Pét, Ia Súp, Măng Bút, Măng Đen ở Tây Nguyên; Nông Sơn, Giá Vụt ở Khu 5. Tháng 8 năm 1974, ta tiến công và làm chủ hoàn toàn chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức, miền Tây Quảng Đà (nay thuộc Quảng Nam) - được mệnh danh là "Cánh cửa thép" phía Tây của căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng. Bị thua ở Thượng Đức, quân Ngụy Sài Gòn đưa lực lượng Sư đoàn dù dự bị chiến lược từ Trị - Thiên cùng với Sư đoàn 3 phản công mấy tháng liền nhưng không lấy lại được, phải bỏ cuộc. Trên hướng mặt trận đồng bằng sông Cửu Long (từ ngày 6 tháng 12 năm 1974 đến giữa tháng 2 năm 1975), quân và dân Khu 9 đã tiến công tiêu diệt, bức rút gần 800 căn cứ, chi khu quân sự và đồn bốt. Những thắng lợi vang dội của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam nửa cuối năm 1974, đặc biệt là chiến thắng Đắc Pét, Nông Sơn - Thượng Đức... đã khẳng định một thực tế trên chiến trường là: Quân chủ lực ta hoàn toàn áp đảo quân chủ lực Ngụy Sài Gòn. Đến cuối năm 1974, tình hình có những chuyển biến rất căn bản, những điều kiện cho việc giải phóng miền Nam đang chín muồi. Các lực lượng vũ trang nhân dân lớn mạnh không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Tiếp theo sự kiện Quân đoàn 1 thành lập trên miền Bắc, Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) ra đời trên chiến trường Trị - Thiên, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) ra đời ở Nam Bộ... đã tạo ra những "quả đấm" mạnh, tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn, làm chuyển biến cục diện chiến trường. Trên khắp chiến trường miền Nam, quân và dân ta đang giữ quyền chủ động tiến công địch, không những có thể đánh bại mọi kế hoạch "bình định” lấn chiếm của địch mà còn mở được những chiến dịch lớn, tiêu diệt lực lượng lớn của địch giải phóng được nhiều vùng đất đai rộng lớn. Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam đòi đánh đổ chế độ độc tài, phát xít hiếu chiến Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình độc lập dân chủ dân sinh ngày càng lên cao. Hệ thống đường vận tải chiến lược - tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn ngày càng hoàn thiện và đường chiến dịch với chiều dài hàng chục nghìn kilômét đã được mở. Trước tình hình đang có những chuyển biến mới mẻ, quan trọng đó, từ ngày 30 tháng 9 năm 1974, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, nhận định: "Chúng ta đã thúc đẩy thời cơ chiến lược chín muồi, đã tạo nên những yếu tố chiến lược quan trọng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”. Tại kỳ họp này, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976, chọn chiến trường Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong cuộc tiến công lớn, rộng khắp đầu xuân 1975. Bộ Chính trị cũng đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu theo dõi và có kết luận về phản ứng của Mỹ qua hoạt động tiến công của ta trong mùa khô 1974 - 1975... Trên cơ sở thế và lực tạo được, từ ngày 13 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, ta mở chiến dịch Đường 14 Phước Long. Quân đoàn 4 đã sử dụng một bộ phận lực lượng đánh chiếm chi khu quân sự Bù Đăng, tiểu khu Bù Na, chi khu quân sự Đồng Xoài, giải phóng Đường số 14 và toàn tỉnh Phước Long. Thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long - một chiến dịch có ý nghĩa thăm dò chiến lược, là một thực tế chứng minh, quân đội ta có khả năng mở chiến dịch qui mô quân đoàn, đánh chiếm chi khu, tiểu khu quân sự củđ địch, giải phóng thị xã, thành phố. "Thắng lợi của chiến dịch củng cố vững chắc quyết tâm chiến lược đã được Bộ Chính trị xác định cho thấy khả năng can thiệp đối phó rất hạn chế của Mỹ khi ta mở cuộc tiến công qui mô lớn". Thắng lợi đó chứng tỏ khả năng "Đánh cho Ngụy nhào" đang trở thành hiện thực. Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, Hội nghị Bộ Chính trị (mở rộng) được tiến hành đế bổ sung và hoàn chỉnh quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị khẳng định: "Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”. Trên cơ sở những phân tích đúng đắn, khoa học đó, Bộ Chính trị quyết định: "Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian (1975 - 1976), đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao. Làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi tiến hành tổng công kích - tổng khơi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã Ngụy quân, đánh đổ Ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị còn chủ trương: "Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản 2 năm (1975 - 1976), phải ra sức chuẩn bị mọi mặt để khi thời cơ lịch sử đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 07:46:21 am Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, cả nước sôi nổi dồn sức chuẩn bị thực hiện kế hoạch chiến lược 2 năm (1975 - 1976) với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng". Nhân dân miền Bắc vừa dồn sức chi viện sức người sức của cho miền Nam động viên hàng vạn thanh niên nhập ngũ, kịp thời bổ sung lực lượng cho các đơn vị chủ lực và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn, vừa "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng", sẵn sàng cùng các đơn vị vũ trang, con em mình bảo vệ hậu phương chiến lược của cả nước.
Trong những ngày này, các đơn vị thuộc Quân đoàn 1 được lệnh tiếp tục củng cố thế đứng chân trên các địa bàn chiến lược ở miền Bắc, đồng thời khẩn trương bổ sung lực lượng, trang bị kỹ thuật, tranh thủ huấn luyện bộ đội (đặc biệt chú trọng huấn luyện đội ngũ cán bộ và nhân viên kỹ thuật các cấp); tiếp tục rèn luyện nâng cao sức chiến cơ động, trình độ tổ chức chỉ huy; thực hành huấn luyện tác chiến chiến dịch tiến công hiệp đồng quân binh chủng và khẩn trương chuẩn bị các phương án tác chiến, phương án cơ động gấp, đường dài. Đồng thời, tăng gia sản xuất làm ra của cải vật chất, thiết thực cải thiện đời sống bộ đội góp phần xây dựng kinh tế làm giàu cho Tố Quốc. Cuối tháng 1 năm 1975, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho quân đoàn: "Về tác chiến: Đến tháng 7, sẵn sàng 2 sư đoàn bộ binh và đến tháng 11 cả Quân đoàn sẵn sàng tác chiến được. Về huấn luyện: Trừ đơn vị đi lao động đắp đê còn lại phải huấn luyện 6 tháng. Đầu tháng 2 năm 1975, trước những diễn biến ngày càng khẩn trương trên chiến trường, theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy ở cơ quan hai cấp (quân đoàn, sư đoàn) trên địa bàn Bắc Khu 4 (cũ). Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp theo dõi và chỉ đạo cuộc diễn tập. Đây là cuộc diễn tập chỉ huy, cơ quan có qui mô lớn nhất của quân đoàn kể từ khi thành lập, nhằm huấn luyện và rèn luyện cơ quan chỉ huy các cấp, trong đó có sự phối hợp của Bộ Tổng Tham mưu và các ngành có liên quan của Nhà nước, tạo thuận lợi cho quân đoàn cơ động đường dài; đồng thời rèn luyện năng lực tổ chức, tiến hành một chiến dịch tổng hợp, kết hợp tác chiến của quân đoàn chủ lực với chiến tranh du kích và nổi dậy của quần chúng; xây dựng và thống nhất cách đánh của quân đoàn, cùng một lúc giải quyết nhiều tình huống chiến dịch, trong đó có những tình huống chiến dịch liên quan đến mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược. Ngay sau cuộc diễn tập, Bộ Tư lệnh và cơ quan quân đoàn tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giúp các đơn vị chuẩn bị cơ động, chuẩn bị chiến đấu; đồng thời chủ động phối hợp với Bộ Tổng Tham mưu và các ngành có liên quan của Nhà nước, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên và các địa phương, từng bước hoàn chỉnh các phương án bảo đảm vật chất hậu cần - kỹ thuật, bảo đảm trang bị và phương tiện cho quân đoàn cơ động lực lượng. Trung tuần tháng 3, ta nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột, địch vô cùng hoảng loạn lúng túng và rơi vào thế bị động chiến lược; chúng buộc phải rút bỏ toàn bộ Tây Nguyên về co cụm, phòng thủ ở các thành phố, thị xã miền duyên hải, vùng Trung Trung Bộ. Trong khi chiến dịch Tây Nguyên còn đang phát triển, ngày 11 tháng 3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu: "...Phải sớm nghĩ đến đánh chiếm Huế - Đà Nẵng. Cần tăng cường lực lượng pháo binh đánh chiếm Đà Nẵng sớm hơn và sử dụng 2 binh đoàn ở phía Bắc khi có thời cơ”. Quân đoàn 1 là một trong "hai binh đoàn ở phía Bắc". Như vậy việc sử dụng Quân đoàn 1 trong những tình huống chiến lược đã được cấp trên cân nhắc kỹ lưỡng. Ngày 15 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn nhận được mệnh lệnh của Bộ: "Quân đoàn có nhiệm vụ đưa một lực lượng (Sư đoàn bộ binh 320B, Tiểu đoàn 66 Lữ đoàn xe tăng 202, Tiểu đoàn 3 và Lữ đoàn bộ thuộc Lữ đoàn công binh 299, Sư đoàn phòng không 367, cơ động vào Nam Khu 4 sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu. Lực lượng cơ bản của quân đoàn vào hoạt động ở chiến trường B dài..." Ngày 18 tháng 3, sau khi Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975, Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh cho Quân đoàn 1: "Di chuyển một phần hai lực lượng vào Nam Khu 4 (cũ). Như đạn đã lên nòng, chờ lệnh "phát hỏa", ngay trong đêm 18 tháng 3, Tư lệnh Quân đoàn hạ lệnh xuất phát hành quân. Khối đi trước (thê đội 1) của quân đoàn gồm: Sở chỉ huy phía trước, Sư đoàn 320B, Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45. Nhận lệnh lên đường, Sư đoàn 320B không trở về doanh trại mà từ công trường đắp đê sông Đáy, nhanh chóng củng cố đội hình và đi thẳng ra chiến trường. Bộ đội lên tàu từ các ga Ninh Bình, Cầu Yên, Gềnh, Đồng Giao vào Vinh chuyển sang cơ động bằng ô tô vào Quảng Bình. Liên tiếp 8 đoàn tàu quân sự cùng hơn 1.000 xe ô tô các loại chở bộ đội cùng binh khí kỹ thuật của Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299 và Lữ đoàn xe tăng 202... cũng lần lượt rời vị trí tập kết tiến về phía Nam. Đội hình hành quân của khối đi trước tới Thành phố Vinh (Nghệ An) được tổ chức thành 2 bộ phận: Tiểu đoàn 66 Lữ đoàn tăng thiết giáp 202 và Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn pháo binh 45 ra cảng cửa Hội, xuống tàu hải quân vượt biển vào Đông Hà, Quảng Trị. Lực lượng còn lại gồm Sư đoàn bộ binh 320B và Sư đoàn phòng không 367 cùng một số đơn vị binh chủng kỹ thuật được tăng cường Trung đoàn ô tô vận tải số 10 của Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, tiếp tục hành quân theo Đường số 1 vào vị trí tạm dừng ở khu vực Nam Quảng Bình - Bắc Quảng Trị. Tại đây, các đơn vị được lệnh tiếp tục làm công tác chuẩn bị, bổ sung vũ khí trang bị và các mặt công tác hậu cần - kỹ thuật, sẵn sàng đợi lệnh. Trong khi đó các lực lượng còn lại của quân đoàn đang ở miền Bắc cũng khẩn trương làm mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng hành quân. Nửa cuối tháng 3, trong khi phần lớn lực lượng của quân đoàn di chuyển vào Nam sẵn sàng chiến đấu thì tình hình trên chiến trường có những chuyển biến hết sức mau lẹ với tốc độ "một ngày bằng 20 năm...". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 07:47:14 am Ngày 20 tháng 3, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho Quân đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công giải phóng Huế, đồng thời lệnh cho Quân khu 5 tiến công giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quảng Tín... tiêu diệt các Sư đoàn 1 và 2 Ngụy, bao vây cô lập tiến tới tiêu diệt cụm quân địch ở Đà Nẵng, tiêu diệt Quân đoàn 1 và lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 Ngụy. Cùng ngày Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân khu 5 nghiên cứu lập kế hoạch tiến công Đà Nẵng theo hai phương án: Lợi dụng thời cơ đánh nhanh bằng lực lượng sẵn có hoặc đánh có tổ chức, chuẩn bị vững chắc, có lực lượng của Bộ tăng cường.
Ngay trong ngày 20 tháng 3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp xuống Sở chỉ huy Quân đoàn 1 tại Tam Điệp giao nhiệm vụ chiến đấu cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Nhiệm vụ của quân đoàn được Bộ trưởng giao: "Tổ chức ngay một lực lượng binh chủng hợp thành (ở khối đi trước) tiến vào đèo Hải Vân, sẵn sàng phối hợp tiến công địch ở Đà Nẵng. Đồng thời toàn bộ lực lượng của quân đoàn chuẩn bị sẵn sàng cơ động vào khu vực Thượng Đức, tham gia tiến công Đà Nẵng khi có mệnh lệnh cụ thể của Bộ Tổng Tham mưu". Trước lúc lên máy bay lên thẳng trở về Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần lượt ôm hôn các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn và xúc động nói: "Trước giờ Binh đoàn Quyết Thăng ra trận, tôi muốn được ôm hôn tất cả cán bộ, chiến sĩ của Binh đoàn. Chúc Binh đoàn ra quân giành thắng lợi lớn...''. Thực hiện sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2 khẩn trương chuẩn bị, chuyển từ 2 chiến dịch qui mô vừa (chiến dịch Thừa Thiên - Huế và chiến dịch Quảng - Đà - Bắc Khu 5) sang chiến dịch tiến công qui mô lớn giải phóng Đà Nẵng. Sau 5 ngày tiến công (từ ngày 21 đến 25 tháng 3) quân và dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên - Huế; đẩy quân Ngụy lao nhanh hơn nữa trên đà suy sụp cả về tinh thần và lực lượng, phá tan ý đồ co cụm chiến lược của địch ở đồng bằng ven biển miền Trung. Phối hợp với mặt trận Thừa Thiên - Huế, trên mặt trận Quảng - Đà ngày 23 và ngày 24 tháng 3, ta nổ súng tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam); ngày 25 giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Tuyến phòng thủ đồng bằng ven biển của địch ở phía Nam Quảng Nam bị phá vỡ. Hoảng hốt trước sự tiến công của ta, toàn bộ quân địch trong căn cứ Chu Lai buộc phải tháo chạy. Như vậy, mất Thừa Thiên - Huế, lại mất Tam Kỳ, Quảng Ngãi, căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng bị hoàn toàn cô lập cả 3 phía Bắc, Nam và Tây và bị chia cắt khỏi các vùng còn lại mà địch đang chiếm giữ. Sau 5 ngày chiến đấu, lực lượng vũ trang của ta - cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đều mạnh lên, được bổ sung nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh thu được của địch. Khí thế chiến thắng của cán bộ, chiến sĩ rất cao. Uy thế cách mạng áp đảo quân địch. Nhận định bước phát triển mới của tình hình, Quân ủy Trung ương quyết định: "... Nắm lấy thời cơ, nhanh chóng phát triển tiến công, tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực lớn của địch ở Đà Nẵng, giành thắng lợi lớn trong trận quyết chiến chiến lược này..." với phương châm: "... Đánh thẳng vào Đà Nẵng nhanh nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất với những lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất...". Trong nhưng ngày này, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, hơn một nửa lực lượng của Quân đoàn đã cơ động vào các vị trí tạm dừng ở Nam Quảng Bình - Bắc Trị - Thiên; tiếp tục bổ sung vũ khí đạn dược và các loại vật chất bảo đảm sẵn sàng bước vào chiến đấu. Ngày 25 tháng 3, Tư lệnh Quân đoàn nhận lệnh của Bộ Tổng Tham mưu: Đưa ngay lực lượng vào Thượng Đức, chuẩn bị tham gia tiến công Đà Nẵng. Sau khi Thành phố Huế được giải phóng (ngày 25 tháng 3), địch rút chạy hoàn toàn khỏi Thừa Thiên, thì rạng sáng ngày 26 tháng 3, Quân đoàn lại nhận được lệnh mới: "Không cơ động lực lượng vào Thượng Đức nữa mà dùng một bộ phận ở khối đi trước gồm: Trung đoàn bộ binh 27 Sư đoàn 320B, Tiểu đoàn xe tăng 66 Lữ đoàn xe tăng 202 và Tiểu đoàn pháo 2 Lữ đoàn pháo binh 45 tiến theo Đường số 1 vào Bắc đèo Hải Vân, chuẩn bị cùng các đơn vị bạn tiến công đánh chiếm Đà Nẵng". Tình thế rất khẩn trương. Ngay sáng ngày 26 tháng 3, các đồng chí Nguyễn Hòa - Tư lệnh và Hoàng Minh Thi - Chính ủy Quân đoàn từ sở chỉ huy tiền phương ở Đông Hà Quảng Trị trực tiếp chỉ huy tổ chức thê đội 1 của quân đoàn bước vào chiến đấu. Vì tình hình phát triển quá nhanh Quân đoàn chưa kịp tham gia tiến công thì ngày 29 tháng 3, các đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 5 và Quân đoàn 2 phối hợp tiến công đánh chiếm Đà Nẵng - một trong những căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của địch ở miền Nam, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân khu 1, Quân đoàn 1 và Sư đoàn lính thủy đánh bộ Ngụy. Tuy chưa được trực tiếp chiến đấu, song các đơn vị của Quân đoàn đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, cơ động nhanh, đến vị trí qui định kịp thời, sẵn sàng chiến đấu cùng với các đơn vị bạn. Sự có mặt kịp thời của các đơn vị của Quân đoàn đã góp phần tạo ra thế và lực cho quân và dân ta nhanh chóng giải phóng Huế, Đà Nẵng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên, các đơn vị được lệnh quay trở lại Đông Hà để cùng đội hình quân đoàn tiếp tục làm công tác chuẩn bị hành quân. Trong khi chiến dịch Trị - Thiên - Huế đang diễn ra quyết liệt, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị họp nhận định: "Quân Ngụy có khả năng suy sụp nhanh, tan rã lớn... Ta có sức mạnh áp đảo. Lực lượng ta còn sung sức, đạn dược còn nhiều, thế chiến lược của ta mạnh. Ta có điều kiện để sớm hoàn thành quyết tâm giải phóng miền Nam... Tình thế trực tiếp cách mạng đã đến; thời cơ tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng Sài Gòn đã chín Từ nhận định đó, Bộ Chính trị đề ra quyết tâm chiến lược mới: "Nắm lấy thời cơ, tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), binh khí kỹ thuật và vật chất, giải phóng xong Sài Gòn trước mùa mưa". Căn cứ vào quyết tâm chiến lược mới của Bộ Chính trị, theo ý kiến chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh cho Quân đoàn 1: "Để lại Sư đoàn 308 làm nhiệm vụ dự bị chiến lược và bảo vệ miền Bắc, khẩn trương cơ động toàn bộ lực lượng và binh khí kỹ thuật vào hướng Sài Gòn". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 07:58:45 am Trong quyết tâm chiến lược lịch sử này, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã tính toán rất kỹ đến khả năng liều lĩnh của Mỹ - Ngụy và các thế lực phản động khác trong bước đường cùng; vì thế trong khi dồn lực lượng cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn - Gia Định, ta phải chuẩn bị lực lượng dự bị mạnh, sẵn sàng ứng phó với những tình huống phức tạp nhất để bảo vệ miền Bắc, bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng thời sẵn sàng cơ động thần tốc vào chiến trường. Và Sư đoàn 308 (Quân Tiên Phong), Sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, từng lập nhiều chiến công hiển hách trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã được giao trọng trách này.
Ngày 31 tháng 3 năm 1975, chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, tại Tổng hành dinh ở Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Thế Bôn - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1: "Quân đoàn 1 (trừ Sư đoàn 308) có nhiệm vụ tổ chức hành quân gấp vào miền Đông Nam Bộ, hiệp đồng với các đơn vị bạn tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định". Trong vòng 16 ngày, Quân đoàn tổ chức các lực lượng hành quân đưa đội hình vào tập kết tại Đồng Xoài - tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước). Nhận nhiệm vụ của Bộ giao, Quân đoàn phải đối mặt với một loạt khó khăn. Một trong những khó khăn lớn là hành quân xa hàng nghìn kilômét, nhưng đường hành quân chưa được Bộ xác định, mà giao cho quân đoàn quyết định. Trong khi đó, thông tin về tình hình các tuyến mà Quân đoàn có thể chọn lại rất hạn chế. Mặt khác công tác bảo đảm cho hành quân, đặc biệt về hậu cần - kỹ thuật còn rất khó khăn. Thời gian làm công tác chuẩn bị cho hành quân chỉ vẻn vẹn 4 ngày. Lực lượng của Quân đoàn đang ở rất xa nhau: Một phần lớn đã đứng chân ở Quảng Trị, phần còn lại đang còn ở hai tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa. Vì thế mọi công việc đều phải làm với tinh thần "Thần tốc". Cơ quan Tham mưu, chính trị các cấp phổ biến, quán triệt nhanh chỉ thị của Chính ủy Quân đoàn đến từng xe, từng phân đội: "...Thời gian là sức mạnh, là lực lượng. Phải động viên anh em đi, đi nhanh hơn nữa...". Ngày 1 tháng 4 năm 1975, trong khi các đơn vị khẩn trương làm công tác chuẩn bị, bổ sung vật chất, trang bị kỹ thuật thì các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn cùng thủ trưởng các cơ quan, đơn vị họp bàn kế hoạch, biện pháp lãnh đạo, chỉ huy cuộc hành quân. Ngay sau khi nhận lệnh của Bộ, Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Hòa và Chính ủy Hoàng Minh Thi đã vượt lên trước vào nhận lệnh chiến đấu nên đồng chí Nguyễn Thế Bôn - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Hùng Phong - Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn được giao trọng trách trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân. Sáng 5 tháng 4, sở chỉ huy cơ bản Quân đoàn xuất phát từ Tam Điệp, Ninh Bình. Ngày 7 tháng 4, tại vị trí tạm dừng ở Cam Lộ (Quảng Trị), Bộ Tư lệnh Quân đoàn họp bàn kế hoạch tổ chức thực hiện giai đoạn 2 cuộc hành quân. Về đường hành quân, sau khi nghiên cứu, xem xét tình trạng đường sá một cách khách quan, khoa học, Bộ Tư lệnh Quân đoàn thống nhất khẳng định: Lúc này trên cả 3 trục đường (Đường số 1, Đường Đông Trường Sơn và Đường Tâỵ Trường Sơn) đều có những khó khăn và thuận lợi. Đường số 1 tuy ngắn nhất và tốt nhất, nhưng chắc chắn để cản bước tiến của ta, khi rút chạy từ Trị - Thiên Huế, Đà Nẵng vào Trung Trung Bộ và Nam Bộ, quân địch đã phá nhiều cầu cống. Trong khi đó Quân đoàn 2 và các đoàn binh khí, kỹ thuật của Bộ Tổng Tư lệnh cũng đang hành quân; không quân địch còn có thể đánh phá ngăn chặn, nên đội hình hành quân rất dễ bị ùn tắc. Đường số 1 từ Đà Nẵng vào Xuân Lộc dài gần 1.000 kilômét có 569 cầu và 288 công các loại (trong đó có 18 cầu bắc qua sông lớn). Nếu địch phá cầu thì vấn đề đảm bảo vượt sông cho các đơn vị, đặc biệt là đơn vị có nhiều vũ khí trang bị nặng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trong khi khả năng bảo đảm vượt sông của Tiểu đoàn công binh cầu phà thuộc Lữ đoàn công binh 299 lại có hạn. Qua trinh sát, Quân đoàn còn biết thêm: Trong quá trình rút chạy từ các tỉnh duyên hải miền Trung về "tử thủ" ở Nha Trang, địch đã cho nổ mìn đánh sập một số cầu lớn như Cao Lâu, Hương An, Bà Pén, Kê Xuyên... càng làm cho việc tổ chức hành quân trên trục đường này trở nên khó khăn hơn. Tuyến đường Đông Trường Sơn do Đoàn 559 mới mở, các đơn vị vận tải chiến lược đang tập trung vận chuyển vật chất hậu cần cho chiến dịch. Các đơn vị của Quân đoàn 3 cũng đang hành quân trên trục đường này. Tuy đang là mùa khô, nhưng do địa hình và khí hậu khu vực nên thời tiết Đông Trường Sơn đã bắt đầu có những đợt mưa, tuyến đường trở nên chật chội và lầy lội; đường dốc, trơn khó đi; nhất là đối với các loại xe một cầu, xe kéo pháo. Trong khi đó tuyến đường Tây Trường Sơn tuy có nhiều đèo dốc và là đường xa nhất (vì phải vòng qua đất bạn Lào) nhưng thời tiết đang còn khô hanh nên toàn bộ lực lượng Quân đoàn có thể cơ động tốt, vừa không bị ùn tắc, vừa giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ vào tập kết chiến đấu trên tuyến đường này là đoạn đèo Âm Pun đường hẹp, ngầm sâu, dốc đứng. Một yếu tố quan trọng khác phải tính toán kỹ là vấn đề bảo đảm hậu cần - kỹ thuật, do Quân đoàn phải tự bảo đảm toàn bộ xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men, vũ khí đạn dược... trong suốt quá trình hành quân làm sao vào đến vị trí tập kết, vẫn có lượng dự trữ (10 ngày) để sẵn sàng triển khai chiến đấu được ngay. Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình, thấy hết những thuận lợi, khó khăn của các tuyến đường, Bộ Tư lệnh đưa ra một quyết định táo bạo và chính xác Quân đoàn sẽ hành quân theo đường Tây Trường Sơn. Căn cứ vào yêu cầu hành quân cơ giới và ý định sử dụng lực lượng tác chiến (khi vào đến Đồng Xoài), Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định tổ chức đội hình và phương pháp hành quân như sau: - Khối 1: Cơ động theo đường số 9 vào đường Tây Trường Sơn qua Hạ Lào, đến Đắc Tô (tỉnh Đắc Lắc) rồi nhập vào Đường 14 qua Công Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột vào tập kết ở Đồng Xoài (riêng Tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp 66 Lữ đoàn 202 xuất phát từ Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên qua Đà Nẵng lên Khâm Đức, Tây Nguyên vào Đường số 14 và vào thẳng Đồng Xoài). - Khối 2: Xuất phát từ các vị trí đứng chân ở các huyện Hà Trung, Cẩm Thủy, Triệu Sơn, Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hóa); Nho Quan, Yên Mô (tỉnh Ninh Bình)... đi bằng xe tô của Trung đoàn 10 ô tô thuộc Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần và xe đơn vị theo Đường số 1 vào Cam Lộ; sau đó chuyển sang xe của Trung đoàn vận tải 52 Sư đoàn 571 và Sư đoàn vận tải 471 Bộ Tư lệnh Trường Sơn từ Cam Lộ đến Binh trạm rồi theo Đường 14 vào vị trí tập kết tại Đồng Xoài. Một số phân đội kỹ thuật sửa chữa, cứu kéo cơ động được phép vượt lên phía trước để sẵn sàng bảo đảm cho đội hình hành quân qua các trọng điểm, nhất là đèo Âm Pun, hai đầu lên xuống cầu phao sông Bạc và ở ngầm sâu, dốc đứng trên vùng ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 07:59:52 am Ngày 2 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Khối 1 bắt đầu xuất phát.
Trong khi các đơn vị bộ binh, pháo binh... chuẩn bị hành quân, ngày 30 tháng 3, Lữ đoàn xe tăng 202 đã cơ động bằng tàu hỏa từ ga Văn Trai vào Vinh, sau đó chuyển sang cơ động bằng tàu biển từ Bến Thủy vào Đông Hà. Riêng Tiểu đoàn 66 Lữ đoàn xe tăng 202 từ Tây Đà Nẵng (tập kết tại đây sau khi kết thúc chiến dịch Trị - Thiên và chiến dịch Đà Nẵng) cơ động theo trục Đường 14 vào thẳng Đồng Xoài. Ngày 3 tháng 4, các đơn vị thuộc Khối 2 được lệnh xuất phát. Như vậy cho đến lúc này cả Quân đoàn đã ra trận. Nhân dân các địa phương thuộc hai tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa đổ ra hai bên đường lưu luyến tiễn đưa bộ đội. Hàng nghìn xe vận tải chở quân, xe tăng thiết giáp, xe kéo pháo, xe cầu phà, xe chở đạn dược, xăng dầu... nhằm phương Nam, nhằm Sài Gòn thẳng tiến! Ngày 5 tháng 4, khi các đơn vị thuộc Khối 1 đang hối hả vượt qua vùng Hạ Lào thì ở phía sau, các đơn vị thuộc Khối 2 nhanh chóng vượt qua Quảng Bình, Vĩnh Linh cơ động vào vị trí tạm dừng tại Đông Hà, Quảng Trị. Tại đây, các đơn vị được bổ sung vật chất, xăng dầu, lương thực, vũ khí, trang bị kỹ thuật đủ cho cơ số thứ nhất trong đợt đầu chiến dịch. Từ Đông Hà, các đơn vị thuộc Khối 2 chuyển sang đi xe của Trung đoàn vận tải 52 Sư đoàn 571, đến Binh trạm 15 và từ Binh trạm 15 đến Đồng Xoài, do Sư đoàn vận tải ô tô 471 cũng thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn đảm nhiệm. Lúc này đội hình hành quân của Quân đoàn kéo dài hàng trăm cây số. Càng xuôi xuống vùng Hạ Lào, thời tiết càng khô nóng như ở vùng hoang mạc. Nắng như thiêu như đốt. Những cánh rừng khộp, rừng le trần trụi. Đường đất bụi ngập bánh xe. Hàng nghìn chiếc xe nối đuôi nhau đi như trong một dòng bụi khổng lồ đang cuộn chảy. Bụi mù trời. Xe trước nhìn xe sau không rõ, nhưng các xe vẫn cố giữ khoảng cách từ 20 đến 30 mét, bám đội hình tiếp tục hành quân. Bộ đội ăn ngủ ngay trên xe. Mỗi xe bố trí 2 người lái thay nhau đi liên tục cả ngày lẫn đêm. Mỗi xe là một phân đội nhỏ tự quản lý, giúp đỡ nhau về mọi mặt. Khi gặp địch, từng xe là một phân đội chiến đấu. Nếu bị tắc đường, nhiều xe phối hợp lại giúp nhau để giải tỏa thông nhanh chóng. Xe trước hỏng, nhường đường cho xe sau vượt lên. Đúng kế hoạch hành quân, ngày 7 tháng 4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho các khối tạm dừng để củng cố bộ đội, điều chỉnh đội hình. Từng đoàn xe pháo ghé sát bên rừng, nhường đường cho đơn vị bạn. Các chiến sĩ lái xe tranh thủ kiểm tra kỹ thuật xe, chăm sóc các thiết bị hành quân, bổ sung xăng dầu, nước làm mát máy, chuẩn bị tốt cho chặng tới. Các chiến sĩ bộ binh, pháo binh, công binh, trinh sát..., người kiểm tra súng đạn, trang bị; người chuẩn bị nấu cơm, người xách nước tiếp cho xe hoặc giúp lái xe chăm sóc kỹ thuật xe máy. Cán bộ các cấp tranh thủ rút kinh nghiệm tổ chức hành quân, uốn nắn những sai sót của bộ đội; đồng thời kiểm tra, đôn đốc công tác chuẩn bị của đơn vị. Những xe hành quân tốt, những tập thể và cá nhân thực hiện nghiêm các qui định trong hành quân được biểu dương khen thưởng kịp thời. Những tổ máy thông tin liên lạc vô tuyến điện vẫn hối hả làm việc, kịp thời giúp Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ huy cuộc hành quân. Lúc 9 giờ 30 phút ngày 7 tháng 4, trong phiên liên lạc với Bộ Tổng Tư lệnh (qua đường dây thông tin của Bộ Tư lệnh 5ẽ9), sở chỉ huy Quân đoàn nhận được bức điện khẩn của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Toàn văn bức điện như sau: "Gửi Bộ Tư lệnh 559 + Tiền phương 559. Các sư đoàn, các đoàn binh khí kỹ thuật trên đường hành quân. 559 chuyển Quân đoàn 1, Quân đoàn 2. Anh Tấn VNII. Mệnh lệnh: 1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. 2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ. Bức điện có lời văn ngắn gọn của một mệnh lệnh chiến đấu, có ngữ điệu như một bài hịch, làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ trên đường ra trận. Những tổ máy thông tin lập tức truyền đạt mệnh lệnh của Đại tướng tới từng đơn vị. Bộ Tư lệnh Quân đoàn lập tức ra lệnh đến các khối hành quân: "Hành quân liên tục với tốc độ nhanh nhất, khí thế cao nhất. Không xe nào, không đơn vị nào được làm tắc đường. Xe nào hỏng phải nhường đường cho xe sau vượt lên". Mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của Bộ Tư lệnh Quân đoàn như tiếp thêm sức mạnh cho đoàn quân cơ giới của quân đoàn, hừng hực lao về phía trước. Trên mỗi thành xe, tháp pháo, trên từng chiếc mũ, trên vách đá rừng Trường Sơn hay trên mỗi thân cây dọc đường và trên từng báng súng..., hai chữ "Thần tốc" được viết lên như một lời động viên thôi thúc đoàn quân đi nhanh hơn nữa tới mặt trận. Trong lịch sử quân đội ta chưa bao giờ có một cuộc hành quân qui mô oai hùng đến thế, thần tốc như thế. Xưa, vua Quang Trung tổ chức hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Thăng Long với chặng đường dài 700km, ngày đi đêm nghỉ. Nay Quân đoàn 1 hành quân với hàng nghìn phương tiện cơ giới vượt chặng đường dài 1.700km từ Bắc vào Nam, đi suốt ngày đêm không nghỉ. "Hành quân thần tốc" giờ đây mang nội dung mới, sức mạnh mới, ý nghĩa mới. Ngoài vai trò hỗ trợ của lực lượng vận tải cơ giới của Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh 559, cuộc hành quân vĩ đại này là kết quả của quá trình xây dựng Quân đoàn "Có sức chiến đấu cao, sức đột kích mạnh, sức cơ động lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn, quyết định chiến trường...". Đường Trường Sơn như rung chuyển dưới hàng chục nghìn bánh xe lăn của đoàn xe, pháo nối đuôi nhau vượt núi, băng đèo. Do yêu cầu hành quân "Thần tốc" toàn Quân đoàn ở trạng thái luôn cơ động - một trạng thái làm cho công tác chỉ huy và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Bám sát mọi diễn biến tình hình, Bộ Tư lệnh Quân đoàn kịp thời để ra 5 biện pháp để chỉ đạo cụ thể của từng đơn vị: - Các xe chạy liên tục trên Đường 18 - 20 giờ/ngày. - Bộ đội ăn ngủ ngay trên xe. Mỗi xe là một đơn vị tự quản giúp đỡ nhau về mọi mặt. - Mỗi xe phải có hai người lái thay nhau, ưu tiên việc ăn, ngủ đối với lái xe. - Các xe giữ tốc độ trung bình 30km/giờ; cự ly 20m/xe. Các xe, các khối hành quân nối tiếp nhau. Không xe nào được làm cản đường hoặc làm tắc đường. Khi xảy ra sự cố dọc đường, từng xe, từng khối chủ động khắc phục. - Trung đoàn là đơn vị cơ sở thực hiện các biện pháp trên. Cơ quan và phân đội kỹ thuật, quân y, các cấp chia thành nhiều tổ công tác đi cùng các khối hành quân để sửa chữa xe pháo và cứu chữa thương, bệnh binh kịp thời khi có sự cố xảy ra... Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 08:01:33 am Khi đoàn xe chuẩn bị vượt qua đèo Nứa, có một đoạn đường lầy lội; nhiều xe bị trơn trượt, sa lầy. Tốc độ hành quân chậm hơn hẳn. Tư lệnh Nguyễn Hòa quyết định nhanh chóng lệnh cho Trung đoàn 27 Sư đoàn 320B cho bộ đội xuống xe mở gấp một đoạn đường khác vòng tránh. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu, các chiến sĩ Trung đoàn 27 dùng xẻng, cuốc, dao tông... đồng loạt triển khai phát tuyến, chặt cây, bạt đồi và đã hoàn thành đoạn đường trong vòng 2 giờ. Quyết định chính xác kịp thời của người chỉ huy cộng với ý chí quyết tâm cao của bộ đội đã tạo thuận lợi cho các đơn vị và hàng nghìn xe phía sau vượt đèo Nứa được nhanh chóng và an toàn.
Quá trình hành quân, cán bộ chỉ huy cấp trưởng tiểu đoàn, trung đoàn trỏ lên luôn vượt lên trước đội hình, vừa làm nhiệm vụ trinh sát đường, vừa chuẩn bị các phương án tác chiến trước mắt và sau khi đến Đồng Xoài. Do có sự tổ chức chỉ huy chặt chẽ với nhiều biện pháp cụ thể của lãnh đạo, chỉ huy các cấp cùng với khí thế quyết tâm cao của bộ đội quyết khắc phục mọi khó khăn, nên mặc dù đội hình hành quân đông tới hàng chục nghìn người cùng hàng nghìn xe pháo các loại, nhưng tốc độ vẫn rất "Thần tốc", trung bình mỗi ngày đi được từ 180 đến 200km. Về công tác kỹ thuật, với phương châm từng xe, từng phân đội tự bảo đảm kỹ thuật, tự sửa chữa khắc phục những hỏng hóc thông thường; nhưng quân đoàn vẫn chỉ đạo thực hiện công tác kỹ thuật rất sát sao, đặc biệt tại cầu phao sông Bạc hay ở ngầm dưới chân đèo Âm Pun... đều được bố trí các tổ cứu kéo và các tốp thợ sửa chữa cơ động để kịp thời sửa chữa và giải phóng xe nhanh, kiên quyết không để ùn tắc, xe nào không vượt được ngầm là tổ chức cứu kéo ngay. Ngày 10 tháng 4, trong đội hình Sư đoàn 312 có 1 xe kéo pháo bị gãy nhíp giữa ngầm Âm Pun; chỉ sau ít phút cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã có phương án khắc phục, bảo đảm tốc độ hành quân của cả đội hình. Càng trong khó khăn càng tỏ rõ ý chí và quyết tâm của những người lính thợ; dụng cụ đồ nghề sửa chữa của 4 - 5 xe góp lại; 1 xe hỏng thì 9 - 10 lái xe khác cùng xúm nhau vào sửa chữa, người góp công, người góp "của”. Với cách làm đó, đoàn xe hàng nghìn chiếc dù có "chứng nọ tật kia", nhưng khống có chiếc nào phải nằm lại dọc đường. Ở đội hình hành quân của Lữ đoàn pháo binh 45 với những chiếc xe Kraz, Uran, Zin157 kéo những khẩu pháo 130mm, 122mm bịt nòng kín mít nặng nề, việc tổ chức hành quân càng khó khăn hơn nhiều. Khi vượt ngầm Âm Pun, 1 khẩu pháo bị gãy khung chữ A. Đây là một tình huống bất ngờ đối với cả lính thợ và lái xe kéo pháo, nếu chờ "đội sửa chữa cơ động Z7" để mang khung chữ A khác đến thay thế sẽ mất nhiều thời gian. Trong cái khó đã "ló" cái khôn! Một chiến sĩ lái xe đề nghị dùng tạm khung chữ A của khẩu pháo trước lắp vào khẩu pháo hỏng để kéo pháo lên rồi tiếp tục hành quân. Bằng cách "tăng bo khung chữ A" như vậy, anh em đã kéo được khẩu pháo cho đến vị trí tạm dừng. Đường hành quân càng đến gần ngã ba Đông Dương, thời tiết càng khô nóng. Nắng nóng đã làm một lốp tiền xa của một khẩu pháo cao xạ bị nổ, không thể khắc phục. Anh em lái xe nghĩ cách dùng lốp dự phòng của loại xe "Vọt tiến" lắp vào. Tuy không đúng chỉ số kỹ thuật nhưng cũng duy trì được tốc độ hành quân. Ngày 13 tháng 4, các đơn vị đi đầu đội hình hành quân của Quân đoàn đã tới ngã ba Đông Dương - ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Các phân đội được lệnh "tăng tốc" dồn đội hình lên. Tạm biệt đường Trường-Sơn, tạm biệt những miền đất Hạ Lào đầy nắng gió, đội hình chiến đấu của quân đoàn tiếp tục tiến qua Tây Nguyên vừa giải phóng, theo Đường 14 tiến xuống phía Bắc Sài Gòn. Đến Tây Nguyên mùa khô nắng nóng không kém trên đất Lào. Nhiều chặng hành quân cả ngày chỉ gặp toàn suối cạn. Một vấn đề mới nảy sinh: Thiếu nước cho người, cho xe. Người có thể nhịn được nhiều giờ nhưng xe không thể thiếu nước dù chỉ 1 giờ. Một số xe tăng, ô tô vì thiếu nước làm mát nên máy bị nóng quá, do đó không thể hành quân được. Bộ đội đã khắc phục đào sâu tới 2-3m vẫn không có nước. Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn công binh 299 có sáng kiến độc đáo: Dùng phần nước uống cá nhân trong hành quân của từng người để đổ vào xe. Ngay lập tức, hàng trăm chiếc bình tông nước uống được tập trung lại. Bằng cách đó, những chiếc xe tăng, xe ô tô đã có thể tiếp tục hành quân. Trong khi lực lượng cơ bản của Quân đoàn đang "Thần tốc" tiến về miền Đông Nam Bộ thì ở phía sau, Sư đoàn 308 cũng được lệnh xuất phát rời doanh trại tiến về phía Nam thực hiện cuộc nghi binh chiến lược. Các đơn vị thông tin vô tuyến của sư đoàn ở vị trí cũ vẫn đều đặn phát tín hiệu lên không trung vào các giờ đã định. Đối phương không thể ngờ được Sư đoàn 308 đã lặng lẽ hành quân bí mật vào chiếm lĩnh vị trí ở khu vực Tam Điệp - Bỉm Sơn, sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và cơ động chi viện chiến trường. Cùng thời gian này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã chỉ thị cho các đơn vị tiến hành một loạt các công tác chuẩn bị chiến đấu. Ngoài việc tổ chức cho cán bộ chỉ huy và cơ quan Tham mưu các cấp đi trước đội hình hành quân để kịp thời nhận và triển khai các mệnh lệnh, nghiên cứu các phương án chiến đấu; Bộ Tư lệnh Quân đoàn còn chỉ đạo các khối, các đơn vị tiếp tục tiến hành công tác giáo dục chính trị, động viên tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và huấn luyện bổ sung cho các đối tượng, nhất là chiến sĩ mới về sử dụng các loại vũ khí. Việc huấn luyện được tổ chức ngay trên thùng xe, trên đường hành quân. Chặng đường từ Tây Nguyên vào Đồng Xoài, Quân đoàn điều chỉnh lực lượng trong các khối đều có bộ binh, pháo binh, xe tăng tạo nên đội hình binh chủng hợp thành theo các phương án chiến đấu đã được dự kiến. Từ ngày 14 tháng 4, các Sư đoàn 320B, 367, 312; các Lữ đoàn 202, 299, 45; Trung đoàn thông tin 140 và các cơ quan, phân đội hậu cần - kỹ thuật... lần lượt vào vị trí tập kết tại Đồng Xoài. Vậy là sau 12 ngày đêm hành quân thần tốc vượt chặng đường dài 1.700km, đội hình chiến đấu của Quân đoàn đã kịp thời có mặt tại khu vực tập kết Đồng Xoài vượt thời gian qui định của Bộ 1 ngày, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu. Sau khi kiểm tra toàn bộ lực lượng cơ bản của Quân đoàn tại khu vực Đồng Xoài, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã báo cáo với Bộ Chỉ huy chiến dịch: "Quân đoàn 1 đã có mặt ở vị trí tập kết, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu!". Thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Tư lệnh chiến dịch biểu dương khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 1 đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ, vượt mọi khó khăn, hoàn thành thắng lợi cuộc hành quân thần tốc đưa lực lượng vào vị trí tập kết vượt thời gian qui định, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu được ngay khi có lệnh. Thắng lợi của cuộc hành quân "Thần tốc" của Quân đoàn có ý nghĩa lịch sử to lớn: đây là lần đầu tiên trong lịch sử quân đội ta tổ chức một cuộc hành quân "Thần tốc" xuyên Đông Dương - cuộc hành quân trên chặng đường dài nhất, qua nhiều địa hình phức tạp nhất, được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và vận chuyển lực lượng lớn nhất (về người và vũ khí trang bị) vào tham gia chiến đấu trên một hướng chiến dịch. Thắng lợi của cuộc hành quân còn có ý nghĩa rất to lớn về chiến lược, góp phần quan trọng chuyển yếu tố thời gian thành lực lượng, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương là nhanh chóng tập trung toàn bộ lực lượng, đập tan sức đề kháng cuối cùng của địch, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 08:02:32 am Ngày 14 tháng 4 năm 1975, các đơn vị của Quân đoàn 1 lần lượt vào vị trí tập kết tại Đồng Xoài và chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu. Thiếu tướng Nguyễn Hòa - Tư lệnh và Thiếu tướng Hoàng Minh Thi - Chính ủy Quân đoàn có mặt tại Sở chỉ huy chiến dịch để nhận nhiệm vụ. Thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng giao nhiệm vụ cho Quân đoàn: "Quân đoàn 1 (thiếu Sư đoàn bộ binh 308) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 95B, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo cao xạ tự hành, phối hợp với lực lượng địa phương các tỉnh: Bình Phước, Bình Dương và 1 trung đoàn đặc công vùng ven, có nhiệm vụ:
- Dùng một sư đoàn phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt hoặc bao vây quân địch ở Phú Lợi; bao vây, tiến công tiêu diệt các điểm: Bình Dương, Lai Khê, Bến Cát, Tân Uyên; ngăn chặn, tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn bộ binh 5 của địch, không cho chúng co cụm về Sài Gòn. - Tổ chức một lực lượng đột kích binh chủng hợp thành mạnh cỡ sư đoàn tăng cường, thọc sâu đánh thắng vào nội đô chiếm mục tiêu chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu Ngụý, các Bộ Tư lệnh binh chủng Ngụy ở Gò Vấp, các quận Gò Vấp, Bình Thạnh, hợp điểm ở dinh Độc Lập. - Tiếp tục tiêu diệt các cụm đề kháng, bảo vệ các mục tiêu đã chiếm, bảo vệ trật tự an ninh trong phạm vi phụ trách, nhanh chóng củng cố làm lực lượng dự bị chiến lược, sẵn sàng cơ động phát triển về đồng bằng sông Cửu Long khi có lệnh. Ngay hôm sau (15 tháng 4), tại Đồng Xoài, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn họp nghiên cứu, quán triệt và bàn biệp pháp lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Căn cứ vào nhiệm vụ mà Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho; tình hình cụ thể về địch, địa hình và khả năng tác chiến của quân đoàn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn hạ quyết tâm sơ bộ, xác định 2 mục tiêu tiến công chính của quân đoàn là: Thọc sâu vào Sài Gòn và bao vây, tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy. Quán triệt sâu sắc phương châm chỉ đạo cách đánh chiến dịch "Táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn nghiên cứu, quyết định chọn cách đánh của Quân đoàn như sau: Tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiến hành đột phá vòng ngoài và thọc sâu vào Sài Gòn. Cách đánh này phải được vận dụng một cách linh hoạt, táo bạo trong từng trận đánh, trên từng hướng, từng mũi. Ngày 16 tháng 4, tại sở chỉ huy ở Đồng Xoài. Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đơn vị. Ngoài các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn, chỉ huy các cơ quan, đơn vị có mặt gồm: Nguyễn Trung Kiên, Lương Ngọc Chi, (Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn); Lê Khay, Nguyễn Hồng Thanh (Phó Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn); Nguyễn Như Nguyên, Trần Thành (Phó Chủ nhiệm và Chính ủy Cục Hậu cần); Lưu Bá Xảo, Đỗ Mạnh Đạo (Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn 320B); Nguyễn Chuông, Nguyễn Xuyên (Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn 312); Đinh Đình Sành, Hoàng Khoát (Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn phòng không 367); Vũ Trọng Hà, Tạ Thân (Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn công binh 299); Nguyễn Văn Lãng, Lê Quang Pnước (Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 202); Lê Văn Toàn, Bùi Đăng Lục (Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn pháo binh 45); Chu Văn Mùi, Ngô Huy Bội (Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn thông tin 140); cùng các trưởng phòng, ban các cơ quan quân đoàn, các Trung đoàn trưởng và Chính ủy các trung đoàn bộ binh và binh chủng, các đơn vị phối thuộc của bộ đội địa phương tỉnh Bình Dương. Nhiệm vụ của các đơn vị được đồng chí Tư lệnh Nguyễn Hòa giao như sau: - Sư đoàn 320B được tăng cường 1 Tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Tiểu đoàn tăng - thiết giáp 66 (Lữ đoàn 202), 1 đại đội xe tăng (Lữ đoàn 206), Trung đoàn phòng không 280 (Sư đoàn 367), Tiểu đoàn công binh cầu thuyền (Lữ đoàn 299), Tiểu đoàn pháo 367, Tiểu đoàn pháo 130mm (Lữ đoàn pháo binh 45), Tiểu đoàn ô tô vận tải 51 và một số phân đội A72, súng phun lửa... có nhiệm vụ đánh thọc sâu vào Sài Gòn, chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu binh chủng Ngụy ở Gò Vấp, kết hợp với lực lượng tại chỗ và nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền làm chủ, giải phóng tiểu khu Gia Định và quận Gò Vấp. - Sư đoàn 312 được tăng cường 1 Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Bình Dương, Trung đoàn phòng không 241 (Sư đoàn 367), 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe tăng thiết giáp (Lữ đoàn 202), 1 đại đội công binh (tỉnh Bình Dương), đại đội bộ đội địa phương 61 (quận Bến Cát), 1 trung đội súng phun lửa; được hỏa lực cụm pháo binh quân đoàn trực tiếp chi viện. Có nhiệm vụ chia cắt địch, tiến công căn cứ Phú Lợi, cắt Đường 13; bao vây tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy, phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương thực hành tiến công và nổi dậy, tiêu diệt toàn bộ quân địch trên tuyến Phú Lợi - Bình Dương, giải phóng Thủ Dầu Một. - Sư đoàn phòng không 367 có nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy Quân đoàn, bảo vệ ngầm Bến Bầu và đội hình chiến đấu của Quân đoàn; đồng thời có lực lượng trực tiếp đi cùng các sư đoàn bộ binh, phối hợp chiến đấu trên cả hai hướng, đặc biệt là trên hướng thọc sâu vào Sài Gòn. - Lữ đoàn pháo binh 45 tổ chức thành cụm hỏa lực mạnh, chi viện cho cả hai hướng chiến đấu của quân đoàn. - Lữ đoàn công binh 299 có nhiệm vụ làm ngầm Bến Bầu qua Sông Bé và mở đường cho các đơn vị cơ động vào tuyến xuất phát tiến công; đồng thời bảo đảm các công trình sở chỉ huy, trận địa pháo và khắc phục chướng ngại, vật cản trên đường thọc sâu. Căn cứ vào quyết tâm sơ bộ của Quân đoàn, từ ngày 17 đến 22 tháng 4, các cơ quan đơn vị dồn sức triển khai công tác chuẩn bị chiến đấu. Mọi người đều phải chạy đua với thời gian, tranh thủ từng giờ, từng phút chuẩn bị cho chiến dịch. Trước hết là làm cho cán bộ, chiến sĩ, cơ quan và đơn vị quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ, thống nhất về nhiệm vụ, phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch; trên cơ sở đó động viên tinh thần quyết chiến quyết thắng, hăng hái thi đua ra trận giết giặc, lập công; khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ; chống mọi tư tưởng chần chừ, do dự, sợ gian khổ ác liệt, hy sinh. Tham gia chiến dịch, Quân đoàn có nhiệm vụ tác chiến trên dải tiến công nằm giữa sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, chỗ rộng nhất 20 km, chỗ hẹp nhất là 12km; nhưng chiều sâu dải tiến công lại rất lớn: Từ Phước Vĩnh đến Bộ Tổng Tham mưu Ngụy tại Sài Gòn (khoảng 80km). Trong khi đó, Quân đoàn mới cơ động từ xa đến, địa hình khu vực tác chiến hoàn toàn mới lạ, chỉ có 5 ngày chuẩn bị để hạ quyết tâm chính thức. Vì vậy mọi công tác như: Trinh sát địa hình, nắm địch, mở đường cơ động, chuẩn bị vật chất, vũ khí, đạn dược, liên hệ phối hợp tác chiến với lực lượng địa phương tỉnh Bình Dương và Thành phố Sài Gòn... đều phải được triển khai hết sức khẩn trương. Mọi cơ quan, đơn vị đều phải chạy đua với thời gian, tranh thủ từng giờ, từng phút chuẩn bị cho chiến dịch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Hai, 2022, 08:03:27 am Ngay trong ngày 17 tháng 4, Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn dẫn đầu đoàn cán bộ Tham mưu, tác chiến đi trinh sát địa hình và nắm tình hình địch trên hướng tiến công của quân đoàn. Tiểu đoàn trinh sát 701 sau khi vào tập kết tại Đồng Xoài (16 tháng 4) đã nhanh chóng triển khai mạng trinh sát bộ binh, binh chủng và trinh sát kỹ thuật để nắm địch. Cũng trong thời gian này, lực lượng trinh sát của sư đoàn, lữ đoàn cũng triển khai bám nắm địch trên các Đường 14, 15, 16 và các Căn cứ Bình Cơ, Bình Mỹ, Phú Lợi, Tân Uyên.
Ngày 18 tháng 4, sau khi các đồng chí Tư lệnh Quân đoàn đi trinh sát thực địa về, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn họp thảo luận hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến dịch. Cùng dự hội nghị có đồng chí Sáu Phát - Khu ủy viên kiêm Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương, đồng chí Một Hữu - Tỉnh đội trưởng Bình Dương. Đồng chí Sáu Phát đã cung cấp thêm một số tư liệu quí về địch, về địa hình, thời tiết và đặc biệt là tình hình nhân dân trong khu vực tác chiến của quân đoàn. Căn cứ vào nhiệm vụ Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao cho quân đoàn và tình hình địch, tình hình nhân dân và địa hình trên hướng tiến công, Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định cách đánh của quân đoàn như sau: "Bao vây chia cắt, cô lập Sư đoàn 5 Ngụy và các lực lượng phòng thủ vòng ngoài của địch, tiêu diệt không cho chúng co cụm hoặc rút chạy về Thành phố Sài Gòn. Đồng thời, tổ chức lực lượng mạnh táo bạo thọc sâu vào nội đô, nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu Ngụy và khu binh chủng Gò Vấp - Gia Định". Cách đánh trên phù hợp với quyết tâm chiến đấu (sơ bộ) đã được Quân đoàn xác định từ ngày 15 tháng 4, làm cơ sở để Quân đoàn triển khai thế trận xuất phát tiến công một cách chủ động, tạo thế và phát huy sức mạnh tổng hợp, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng trên cả hai hướng chiến dịch. Trong đó, hướng chủ yếu là hướng thọc sâu vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy trong Thành phố Sài Gòn và khu binh chủng ở Gò Vấp - Gia Định. Hướng quan trọng là hướng Phú Lợi - Bình Dương, chia cắt cô lập Sư đoàn 5 Ngụy và các đơn vị chủ lực của địch, không cho chúng co cụm hoặc rút chạy về Thành phố Sài Gòn. Đến ngày 18 tháng 4, còn lại hai vấn đề quan trọng mà Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn thảo luận, cân nhắc kỹ lưỡng để sớm đi đến kết luận. Một là, có nên đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch cho Quân đoàn đưa sớm lực lượng xuống Nam Sông Bé, áp sát Đường 15, 16 để khóa chặt địch trước khi ta tiến công? Hai là, hướng tiến công chủ yếu của Quân đoàn sẽ triển khai theo trục Đường 14 hay Đường 16. Trong khi đó, toàn bộ lực lượng của Quân đoàn (gồm hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ và các phương tiện vũ khí trang bị) đang tập kết ở phía Bắc Sông Bé, còn cách mục tiêu tiến công chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu Ngụy tại Sài Gòn gần 100km, lại bị ngăn cách bởi một dòng sông, gây rất nhiều khó khăn cho việc cơ động, triển khai lực lượng vào chiến đấu. Đứng chân ở đây tuy giữ được bí mật, nhưng nếu xảy ra tình huống chiến đấu gấp, nhất là trường hợp Sư đoàn 5 Ngụy co cụm, Quân đoàn sẽ không kịp triển khai lực lượng thực hành ngăn chặn. Nếu đưa sớm lực lượng Quân đoàn xuống Nam Sông Bé, Quân đoàn sẽ gặp khó khăn trong công tác giữ bí mật (vì lực lượng lớn, lại vào gần địch) và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cũng phức tạp hơn. Tuy nhiên, tiếp cận gần địch hơn sẽ tạo thế áp sát, sẵn sàng kìm giữ, bao vây và tiến công quân địch, cắt đứt Đường 13, giải quyết nhanh chóng các tình huống chiến đấu nhằm cô lập, tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy; đồng thời rút ngắn được thời gian và đường thọc sâu vào Sài Gòn, tạo được yếu tố táo bạo, bất ngờ đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Trên cơ sở những phân tích đánh giá khoa học đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đề nghị Bộ Chỉ huy chiến dịch cho Quân đoàn chuyển dần lực lượng xuống Nam Sông Bé. Bộ Tư lệnh chiến dịch đồng ý với đề nghị này và nhắc nhở Quân đoàn phải giữ bí mật. Để giữ bí mật việc cơ động lực lượng, Quân đoàn quyết định chuyển dần từng tiểu đoàn (chủ yếu là bộ binh) sang phía Nam Sông Bé, dựa vào các "cứ" cũ của bộ đội địa phương vùng chiến khu Đ để cùng ém quân và tổ chức một bộ phận nhỏ (của Sư đoàn 312) ở Phước Vĩnh, thu hút sự chú ý của địch, khoét sâu thêm phán đoán sai lầm của chúng về hướng tiến công của Quân đoàn. Về vấn đề thứ 2 là chọn hướng tiến công và đường thọc sâu. Có ý kiến cho rằng nên chọn Đường 13 làm hướng tiến công chủ yếu, vì đây là con đường huyết mạch nối các tỉnh miến Đông với Sài Gòn. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng phải dựa vào Đường 16 - một nhánh đường đất nhỏ hơn Đường 13, chạy tắt từ Chánh Lưu đến dốc Bà Nghĩa rồi nhập vào Đường số 8 xuống Đường 13 đi Lái Thiêu vào Sài Gòn. Sau khi phân tích, cân nhắc kỹ lưỡng, Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định chọn hướng tiến công và triển khai lực lượng thọc sâu trên trục Đường 16. Bởi vì, trên hướng Đường 13, tuy mặt đường rộng, thuận tiện cho cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật bằng xe cơ giới, nhưng lực lượng địch phòng thủ mạnh (3 trung đoàn thuộc Sư đoàn 5 Ngụy), bố trí thành nhiều lớp có chiều sâu phòng ngự từ Lai Khê, Bến Cát đến Phú Lợi, Bình Dương, Lái Thiêu. Nếu chọn hướng tiến công trên Đường 13 ta sẽ khó thực hiện được ý định thọc sâu nhanh. Vì Quân đoàn buộc phải tiến công chính diện phòng ngự của Sư đoàn 5 Ngụy. Đặc biệt, ta phải liên tục đột phá các trận địa phòng ngự của địch có chiều sâu từ Phước Vĩnh đến Sài Gòn (gần 80km). Trong quá trình đó, lực lượng ta có thể bị tiêu hao tổn thất và để mất yếu tố bí mật, bất ngờ, không thực hiện được cách đánh táo bạo, đánh nhanh và đánh hiểm thọc sâu chiến dịch vào sào huyệt của địch ở Sài Gòn. Mặt khác nếu tiến công theo kiểu "bóc vỏ" ấy sẽ là đánh địch dồn về phía Sài Gòn, chúng sẽ có điều kiện củng cố, co cụm, từng bước chống cự, gây khó khăn cho ta trên hướng thọc sâu và như vậy Quân đoàn sẽ không hoàn thành nhiệm vụ mà Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho. Nếu chọn hướng tiến công từ Đường 16 qua Búng, Lái Thiêu vào Bộ Tổng Tham mưu và khu binh chủng Ngụy thì Quân đoàn sẽ gặp nhiều khó khăn về đường cơ động triển khai đội hình xuống Nam Sông Bé, vì trên hướng này chỉ có một trục đường duy nhất từ ngã ba Trần Lệ Xuân vào Bến Bầu. Đây vốn là con đường kéo gỗ của dân khai thác rừng, rất hẹp (chỉ rộng khoảng 3m); để cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật vào vị trí triển khai xuất phát tiến công, ta buộc phải khắc phục mở rộng đường và làm ngầm vượt sông Bé. Tuy nhiên về địa hình khu vực này chủ yếu là địa hình bán sơn địa gồm các dải đồi thấp, có rừng che phủ nên rất thuận lợi cho việc triển khai cơ động lực lượng và phương tiện cơ giới. Từ Đường 16 đến Sài Gòn tuy hệ thống đường sá xấu, nhưng ít cầu công và cự ly cơ động ngắn nhất. Mặt khác, trên hướng này địch bố trí phòng thủ tương đối sơ hở, lực lượng mỏng và yếu (chủ yếu là lực lượng bảo an dân vệ). Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:36:58 pm Từ những phân tích đánh giá tình hình (địch, ta, địa hình) như trên, Bộ Tư lệnh Quân đoàn kết luận:
Sư đoàn bộ binh 5 Ngụy là lực lượng gây trở ngại nhất trên dải tiến công của Quân đoàn, khi bị đánh mạnh hoặc có nguy cơ bị tiêu diệt, chúng sẽ co về khu vực nam thị xã Bình Dương lập tuyến phòng thủ. Để giải quyết được vấn đề trên, một mặt ta phải lập thế chia cắt nhanh và vững chắc, kiên quyết không để chúng co cụm, mặt khác, phải triển khai hướng tiến công chủ yếu từ Đường 16 qua Búng, Lái Thiêu, thọc sâu đánh chiếm khu binh chủng và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Muốn chia cắt bao vây cô lập được Sư đoàn bộ binh 5 Ngụy tại Bắc thị xã Bình Dương, ta phải chốt chặn Đường 13, tiêu diệt mục tiêu chủ yếu là căn cứ Phú Lợi và thị xã Bình Dương, tổ chức nghi binh hướng Lai Khê, Phước Vĩnh để đánh lạc hướng chú ý của địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ cho hướng thọc sâu vào Sài Gòn. Muốn chiếm nhanh cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn, ta phải thực hành thọc sâu nhanh, hành động táo bạo, bất ngờ. Giữa hai nhiệm vụ: Bao vây, chia cắt Sư đoàn 5 Ngụy, không cho chúng co cụm về Băc Sài Gòn và nhiệm vụ thọc sâu nhanh vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụv có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, mật thiết với nhau. Nếu chia cắt, cô lập hoàn toàn Sư đoàn 5 Ngụy, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng thọc sâu vào đánh chiếm mục tiêu chủ yếu trong Sài Gòn. Ngược lại, ta thọc sâu nhanh, táo bạo đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu binh chủng Ngụy - cơ quan đầu não của Ngụy quân, Ngụy quyền Sài Gòn thì dù Sư đoàn 5 Ngụy có trên 8.000 quân, 4 tiểu đoàn pháo binh và gần 200 xe tăng, thiết giáp của thiết đoàn 3 cũng phải suy sụp về tinh thần, tan rã về tổ chức, không còn ý nghĩa chiến dịch. Như vậy, lấy Đường 16 làm hướng tiến công chủ yếu là một quyết định táo bạo, chính xác, phù hợp với cách đánh chiến dịch của Quân đoàn. Quyết định này có cân nhắc đầy đủ các yếu tố khách quan, khoa học về tình hình địch, ta và địa hình trong một thế trận chung của toàn chiến dịch. Thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, ngay trong đêm 18 tháng 4, Sư đoàn bộ binh 312 và Sư đoàn bộ binh 320B lặng lẽ xuyên rừng, bí mật cơ động lực lượng vào vị trí mối thuộc địa phận chiến khu Đ. Cũng trong thời gian này, để đảm bảo cho lực lượng cơ giới của quân đoàn cơ động vào phía Nam Sông Bé, Lữ đoàn công binh 299 triển khai thi công ngầm Bến Bầu qua Sông Bé, với khối lượng đào đắp hơn 2.000m3; đồng thời mở rộng, nâng cấp con đường từ ngã ba Trần Lệ Xuân vào Bến Bầu, có chiều dài 26km, rộng từ 3m lên 6m và bảo đảm đường cơ động từ Nam ngầm Bến Bầu đến Đường 16, dài khoảng 20 km. Ngoài ra Lữ đoàn còn triển khai sửa 25km đường từ sông Bé đi suối Nhung và làm ngầm Nha Bích (ngầm dự bị). Việc sửa chữa đoạn đường từ Sông Bé đến suối Nhung phải giữ hoàn toàn bí mật, bộ đội chỉ được đặt sẵn những khối thuốc nổ để san đất, cắt cây, khi có lệnh của quân đoàn mới được mở đường nhanh cho các lực lượng của quân đoàn cơ động vào vị trí xuất phát tiến công. Ngày 25 tháng 4, tại sở chỉ huy Rạch Bé, Bộ Tư lệnh Quân đoàn phổ biến quyết tâm chiến đấu của quân đoàn (đã được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh phê chuẩn) và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị. Căn cứ vào phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch: "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" và căn cứ vào tình hình nhiệm vụ được giao, Bộ Tư lệnh Quân đoàn xác định tư tưởng chỉ đạo tác chiến: - Tranh thủ thời gian chuẩn bị nhanh và chu đáo để đánh chắc thắng; không đánh ẩu nhưng phải nắm chắc thời cơ, xuất kích kịp thời, không cho địch co cụm. Sáng tạo, linh hoạt, tích cực chủ động trong mọi tình huống. - Táo bạo, mạnh dạn thọc sâu, chia cắt các mục tiêu bên trong, phá thế địch, thực hành bao vây tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch trong dải tiến công của quân đoàn. - Phát huy sức mạnh của binh chủng hợp thành, dứt điểm nhanh gọn các trận then chốt; chủ động phối hợp hiệp đồng giữa các binh chủng với các đơn vị và địa phương trong quá trình tiến công tiêu diệt địch. - Kết hợp tiến công quân sự mạnh với địch vận và nổi dậy của nhân dân đê làm tan rã địch, giải phóng toàn bộ khu vực trong phạm vi tác chiến của quân đoàn. Để thực hiện thắng lợi phương châm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Bộ lệnh Quân đoàn quyết định sử dụng Sư đoàn 320B (được tăng cường Tiểu đoàn xe tăng 66, Lữ đoàn xe tăng 202, một đại đội xe tăng (Lữ đoàn tăng 206); một trung đội súng phun lửa; một đại đội A72; một tiểu đoàn công binh cầu thuyền; một đại đội công binh công trình; một tiểu đoàn ô tô vận tải (Tiểu đoàn 51 thiếu); một tiểu đội trinh sát hỗn hợp, một tiểu đoàn pháo 130mm đi cùng, co cụm pháo của Lữ đoàn 45 chi viện) đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu của quân đoàn, tổ chức đột phá thọc sâu vào Sài Gòn, đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu, khu binh chủng Ngụy ở Gò Vấp, và chi khu Gia Định. Trên hướng tiến công thứ yếu, Quân đoàn sử dụng Sư đoàn 312 được tăng cường một đại đội xe tăng (8 chiếc) (Lữ đoàn xe tăng 206); Tiểu đoàn thiết giáp 244, (Lữ đoàn xe tăng 202); một tiểu đoàn phòng không (thiếu) (Sư đoàn phòng không 367), một tiểu đoàn bộ đội địa phương (tỉnh Bình Dương), một đại đội công binh của tỉnh, một đại đội bộ đội địa phương (huyện Bến Cát), được Cụm pháo binh quân đoàn trực tiếp chi viện đảm nhiệm tiến công chia cắt, ngăn chặn, bao vây cô lập tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy, không cho chúng co cựm hoặc rút chạy về Sài Gòn. Bộ Tư lệnh Quân đoàn nhấn mạnh: "Cả hai hướng tiến công đều hỗ trợ cho nhau, cùng thổng nhất một mục đích thực hiện nhiệm vụ chính của quân đoàn là đánh nhanh, đánh mạnh, táo bạo thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu được phân công trong Thành phố Sài Gòn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:37:46 pm Kế hoạch hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị trong quân đoàn được triển khai theo nhiệm vụ, thời gian, trên từng hướng và được phân công chia thành 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Cơ động lực lượng triển khai chiến dịch chiếm lĩnh khu vực xuất phát tiến công ở phía Nam Sông Bé. Các đơn vị bộ binh tự tìm đường, vượt Sông Bé bằng khí tài đơn giản. Lực lượng cơ giới cơ động theo đường mới mở từ ngã ba Trần Lệ Xuân vượt ngầm Bến Bầu vào khu vực triển khai ở Nam Sông Bé. Trên hướng chủ yếu: Sư đoàn bộ binh 320B và các đơn vị tăng cường vào chiếm lĩnh khu vực suối Đá Mài, Mã Đà, Bà Đá, xóm Sình, Bum Tre, có một bộ phận vào Đông Bắc dốc Bà Nghĩa 300m. Trên hướng thứ yếu: Sư đoàn bộ binh 312 và lực lượng tăng cường cơ động vào triển khai ở khu vực Cai Co, suối Con, bầu Cá Lóc, xóm Mía và xóm Ông Trọng. Cụm pháo binh quân đoàn cơ động vào triển khai trận địa ở khu vực bầu Cá Trê. + Giai đoạn 2: Thực hành mở cửa cài thế chiến dịch và chiếm lĩnh, các vị trí xuất phát tiến công. Đêm ngày N - 2 (ngày 27 tháng 4), Sư đoàn bộ binh 320B sử dụng Tiểu đoàn 4 Trung đoàn bộ binh 27 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn bảo an 316 của địch trên Đường 16, tổ chức kiểm chế pháo binh địch đánh chiếm sân bay Ông Lình và Bình Chuẩn, bảo đảm cho bộ đội mở cửa vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát thọc sâu chiến dịch. Sư đoàn 312 sử dụng Đại đội 9, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 141 và Tiểu đoàn địa phương 2 Phú Lợi tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn bảo an 306, tiến công chiếm 2 căn cứ Bình Cơ, Binh Mỹ tạo điều kiện cho bộ đội ta vượt qua Đường 16 vào vị trí xuất phát tiến công. Trung đoàn 141 có một bộ phận phối thuộc của Trung đoàn 165 bao vây căn cứ Phú Lợi. Trung đoàn 209 chốt chặn Đường 13, 14 đoạn Bến Trắc, Sở Sao, An Lợi. Trung đoàn 165 cơ động vào khu vực Hố Đá, chuẩn bị đánh chiếm Phú Lợi. + Giai đoạn 3: Quân đoàn thực hành tổng công kích trên cả hai hướng. Sư đoàn 312 đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, Bình Dương; đánh cắt Đường 13, 14, 15; bao vây cô lập Sư đoàn 5 Ngụy, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch trên tuyến phòng thủ Bắc Sài Gòn. Đồng thời, Sư đoàn 320B tiến công trong hành tiến từ Bình Chuẩn vượt Tân Uyên đến Đường 8, tiến thẳng xuống Lái Thiêu, chiếm cầu Bình Triệu, thọc sâu vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu, khu quân binh chủng Ngụy ở Gò Vấp và chi khu Gia Định. Trung đoàn 95 và một bộ phận đội xe tăng (trên tăng cường) làm lực lượng dự bị, sẵn sàng đánh địch trên cả hai hướng. Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320B) làm dự bị cho hướng thọc sâu. Quá trình chiến đấu, hỏa lực pháo binh của quân đoàn sẽ chi viện cho cả hai hướng. Kế hoạch tác chiến trên khẳng định cách đánh của quân đoàn là dùng lực lượng binh chủng hợp thành, tiến hành đồng thời giữa đột phá với thọc sâu chiến dịch, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp của đòn tiến công và nổi dậy. Trên cơ sở cách đánh chung đó, từng hướng chiến đấu vận dụng cách đánh sáng tạo, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của đơn vị. Sư đoàn 312 thực hành bao vây, chia cắt, tiến công tiêu diệt địch ở căn cứ Phú Lợi và đánh cắt Đường 13, không cho địch rút chạy về co cụm ở Sài Gòn. Sư đoàn 320B thực hành tiến công trong hành tiến, lướt qua những mục tiêu ở vòng ngoài, táo bạo thọc sâu vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Đây là lần đầu tiên ta tổ chức lực lượng sư đoàn tăng cường đánh thọc sâu vào thành phố. Nhờ được tập luyện trong cuộc diễn tập ở Sầm Sơn (tháng 1 năm 1975), Quân đoàn đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, vận dụng sát hợp với yêu cầu nhiệm vụ tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn trên hướng Bắc Sài Gòn. Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, 17 giờ ngày 26 tháng 4, cuộc tiến công của quân ta bắt đầu. Gần 20 tiểu đoàn pháo binh của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và Quân khu 7 đồng loạt bắn phá dữ dội các căn cứ Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Bà Rịa... phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở phía Đông Nam Sài Gòn. Quân đoàn 3 pháo kích Đồng Dù, uy hiếp Trảng Bàng, Gò Dầu (Củ Chi). Đoàn 232 tiến công cắt đứt Đường số 4 (đoạn từ Bến Lức đến Tân An). Trên cả 5 hướng tiến công vào Sài Gòn, quân ta gây áp lực rất mạnh, tạo thành 5 gọng kìm đang dần xiết chặt trung tâm đầu não và sào huyệt cuối cùng của Ngụy quân, Ngụy quyền tay sai bán nước. Trời Sài Gòn về đêm sáng rực ánh chớp của các loại đạn pháo. Tiếng đạn nổ, tiến gầm rú của các loại máy bay, của xe tăng không lúc nào ngớt. Trên các ngả đường tiến vào Sài Gòn, rầm rập bước chân đoàn quân giải phóng. Trên hướng Bắc Sài Gòn, lúc này Quân đoàn 1 đã chiếm lĩnh các vị trí sẵn sàng xuất phát tiến công. Một bộ phận lực lượng của Sư đoàn 312 áp sát các căn cứ Chánh Lưu, Phước Vĩnh, Phước Hòa; thực hiện nhiệm vụ nghi binh thu hút sự chú ý của địch; buộc Sư đoàn 5 Ngụy phải điều Trung đoàn 8 ra chặn Đường 14. Tuy lực lượng của địch ở đây không lớn, nhưng ta đã khôn khéo đánh lừa địch, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng của Trung đoàn 141 (Sư đoàn 312) đánh chiếm căn cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ, thực hành mở Đường 16. Trong khi đó, địch tăng cường sử dụng không quân, pháo binh đánh ngăn chặn ta từ xa và điều thêm lực lượng chốt giữ các căn cứ vòng ngoài như Bình Mỹ, dốc Bà Nghĩa, quận lỵ Tân Uyên... Đêm 26 tháng 4, sở chỉ huy Quân đoàn chuyển từ Rạch Bé xuống Ván Hương để trực tiếp chỉ huy các hướng tiến công. Sáng ngày 27 tháng 4, tại sở chỉ huy Quân đoàn, Trung tướng Lê Quang Hòa - Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch xuống phổ biến và hướng dẫn quân đoàn triển khai thực hiện công tác chính trị chiến dịch. Cùng lúc đó, qua đường dây thông tin từ sở chỉ huy mặt trận, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch kiểm tra lại các mặt chuẩn bị của Quân đoàn trước khi nổ súng và thông báo tình hình chung trên các hướng chiến dịch. Đại tướng nói: Bộ Chính trị đã chỉ thị cho toàn quân ta tiến công vào Sài Gòn với khí thế hùng mạnh nhất, nhanh chóng đập tan mọi sự kháng cự của địch, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố, buộc địch phải nộp vũ khí đầu hàng, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:38:42 pm Sau khi nghe đồng chí Nguyễn Hòa - Tư lệnh Quân đoàn báo cáo tình hình mọi mặt của Quân đoàn 1 trước giờ nổ súng, Đại tướng thông báo: Cánh quân phía Đông và Đông Nam đang phát triển nhanh. Pháo của Bộ và pháo của Quân đoàn 2 bắt đầu hoạt động mạnh, bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và kiềm chế các trận địa pháo binh địch. Hiện nay địch vẫn chưa phán đoán được ý đồ và cách đánh của ta vào Sài Gòn như thế nào, nên chúng đối phó rất bị động và lúng túng. Chiến dịch đang phát triển thuận lợi.
Đại tướng nhấn mạnh: Quân đoàn 1 chuẩn bị chiến đấu như thế là tốt, nhưng phải tăng cường theo dõi chặt chẽ tình hình sau khi ta đánh mở cửa cài thế chiến dịch. Phải nắm chắc mọi động thái của Sư đoàn 5 Ngụy, kịp thời tổ chức tiến công tiêu diệt khi chúng rút chạy, co cụm. Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho mũi thọc sâu theo kế hoạch, kịp thời xử trí các tình huống bất trắc có thể xảy ra. Thực hiện quyết tâm chiến đấu đã được cấp trên phê duyệt, đúng 16 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4 năm 1975, từ sở chỉ huy Quân đoàn, ở trên là trung tướng Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 312 nổ súng tiến công cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ. Trận chiến đấu mở màn trên hướng Bắc chiến dịch bắt đầu. Hỏa lực pháo binh của cụm pháo Lữ đoàn 45 và Trung đoàn 186 tập trung bắn phá dữ dội vào 2 căn cứ địch. Được sự chi viện đắc lực của pháo binh, Đại đội 9 (Tiểu đoàn 3 Trung đoàn bộ binh 141), dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Hoàng Long Biên cùng Tiểu đoàn bộ đội địa phương 2 Phú Lợi dũng mãnh xung phong đánh chiếm mục tiêu. Chỉ sau ít phút bị bất ngờ, địch nhanh chóng sử dụng pháo lớn từ Tân Uyên, Phú Lợi chi viện, bắn phá dữ dội hòng ngăn chặn các mũi tiến công của ta. Bộ binh địch dựa vào công sự vững chắc, ngoan cố chống cự. Được hỏa lực cối 120mm, pháo 85mm của Trung đoàn chi viện mạnh, Đại đội 9 (Tiểu đoàn 141) xung phong tiêu diệt địch ở Ấp 1; Tiểu đoàn địa phương 2 Phú Lợi, tiến công sở chỉ huy Tiểu đoàn bảo an 306 ở Ấp 2. Sau nửa giờ chiến đấu, ta đã làm chủ trận đánh, tiêu diệt 42 tên (trong đó có 1 tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng), bắt 22 tên và thu toàn bộ vũ khí trang bị. Số địch còn lại tháo chạy về hướng Phước Hòa, Cống Xanh. Đến 18 giờ, ta tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn Tiểu đoàn bảo an 306 tại Bình Mỹ, Bình Cơ, mở thông Đường 16, tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 312 đưa lực lượng vào triển khai ở phía Bắc cầu Thơ Út (trên Đường 15) thực hành bao vây cài thế chiến dịch theo kế hoạch. Cùng thời gian trên, trong khi ta tiến công tiêu diệt cứ điểm Bình Mỹ, uy hiếp Bình Cơ thì quân địch vội vã điều chiến đoàn 8 ra ngăn chặn ở khu vực An Mỹ (bắc An Lợi), đồng thời chúng điều 1 đại đội bộ binh của Sư đoàn 5 về tăng cường chốt giữ Tân Uyên; pháo binh địch từ Chánh Lưu, Tân Uyên, Phú Lợi, Phú Giáo bắn phá ác liệt dọc Đường 16 và các trận địa pháo của ta. Một số quả pháo địch rơi trúng đội hình quân ta đang vượt Đường 16, làm cho nhiều chiến sĩ bị thương. Trinh sát ta phát hiện có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 Ngụy rút khỏi căn cứ Lai Khê, tháo chạy co cụm ở Phước Hòa. Tuy nhiên, trên hướng thọc sâu của quân đoàn theo trục Đường 8 từ Tân Uyên đến Phú Lợi, địch chưa có phản ứng gì lớn. Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 4, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 27 Sư đoàn 320B) do Tiểu đoàn trưởng Hoàng Đức Ký và Phó chính ủy Hoàng Ngọc Sinh chỉ huy cơ động luồn sâu về hướng Lái Thiêu. Lực lượng phòng không của Sư đoàn cao xạ 367 nổ súng bắn rơi 1 trực thăng ở phía Nam ngầm Bến Bầu. Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 27) được lệnh tiến công một số đồn bốt địch trên Đường 16, nhưng do bộ phận trinh sát bị lạc đường (bộ phận này gồm tiểu đoàn trưởng Cư và các đại đội trưởng) về chậm nên Trung đoàn quyết định cử các đồng chí cấp phó tiếp tục trinh sát, làm công tác chuẩn bị. Đến 10 giờ ngày 28 tháng 4, cả hai bộ phận trinh sát đã về, khẩn trương tổ chức cho đơn vị chuẩn bị bước vào chiến đấu. Mười bảy giờ ngày 28, được sự chi viện của các loại hỏa lực pháo 85mm, 82mm của trung đoàn. Tiểu đoàn 4 chia làm 2 mũi dũng mãnh tiến công địch ở khu vực dốc Bà Nghĩa. Mũi thứ nhất do đại đội bộ binh 1 đảm nhiệm đánh chiếm khu vực xóm Chùa và dốc Bà Nghĩa. Mũi thứ 2 do đại đội bộ binh 2 tiến công đánh chiếm đồi Cây Sao và sân bay Ông Lình. Sau 3 giờ chiến đấu ác liệt, Tiểu đoàn 4 đã tiêu diệt và làm tan rã 2 đại đội, Tiểu đoàn bảo an 316, diệt 2 trận địa cối 81mm của địch, bắt 2 tù binh, thu 1 cối 81mm, 1 đại liên, làm chủ đoạn đường từ dốc Bà Nghĩa về Bình Cơ. Số địch còn lại chạy về xóm Chùa và quận lỵ Tân Uyên, về phía ta có 15 đồng chí hy sinh và 47 đồng chí bị thương. Đến 21 giờ cùng ngày, sau khi bàn giao trận địa vừa đánh chiếm cho Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) chốt giữ, Tiểu đoàn 4 tiếp tục cơ động luồn sâu về hướng Lái Thiêu. Sau hai ngày đêm hành quân vừa chiến đấu vừa tiến công địch, các đơn vị luồn sâu của Sư đoàn 320B vào hướng Lái Thiêu mới tiến được 30km. Nửa chặng đường còn lại phải tiến quân trong thời gian rất gấp, lại gần địch, ta phải tránh không nổ súng để giữ bí mật hướng luồn sâu. Mọi người đều hiểu rằng: Mục tiêu chính là Lái Thiêu và Bộ Tổng Tham mưu, khu binh chủng Ngụy tại Sài Gòn, Gia Định. Bởi vậy, chủ trương của Sư đoàn lúc này là: Vòng tránh, bỏ qua các mục tiêu dọc đường; nhanh chóng tiến quân vào các mục tiêu chủ yếu với tinh thần táo bạo nhất, bất ngờ nhất! Dù cho đôi chân phồng rộp, đôi vai bỏng rát bởi những nòng pháo, cối nặng nề... nhưng các chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48), Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 27) vẫn khẩn trương cơ động, bất chấp những cơn khát cháy họng, vượt qua những khoảng rừng miền Đông khô cháy bởi bom đạn địch để nhanh chóng tiến vế mục tiêu đã định trên hướng bắc Sài Gòn. Như vậy, những trận đánh địch ở khu vực Đường 16 đã diễn ra theo đúng kế hoạch, giành thắng lợi có ý nghĩa mở cửa, cài thế chiến dịch, tạo điều kiện cho Quân đoàn chiếm lĩnh khu vực Tây Đường 16. Từ đây, Sư đoàn 312 cùng các lực lượng phối thuộc phát triển nhanh chóng sang trục Đường 13 và 14, thực hiện nhiệm vụ đánh chia cắt, bao vây cô lập Sư đoàn 5 Ngụy, không cho chúng co cụm. Sư đoàn 320B cùng các lực lượng trong đội hình thọc sâu nhanh chóng triển khai lực lượng để tiến sâu vào phía trong. Thế trận của Quân đoàn trên cánh Bắc chiến dịch đã triển khai áp sát địch. Đó là thế trận hiểm hóc, tạo điều kiện cho các đơn vị trong Quân đoàn phát triển tiến công hiệp đồng binh chủng qui mô lớn trên toàn tuyến một cách kịp thời và hoàn toàn áp đảo quân địch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:39:23 pm Cho đến ngày 28 tháng 4, Quân đoàn đã cơ bản đưa lực lượng, phương tiện và vũ khí, trang bị vào chiếm lĩnh trận địa trên dải tiến công Bắc Sài Gòn, với chiều rộng 13km, chiều sâu hơn 70km sớm hơn dự kiến. Ta đã hoàn thành nhiệm vụ mở cửa đánh chiếm một số căn cứ địch án ngữ Đường 16 từ Bình Mỹ về Bắc Tân Uyên, đưa lực lượng vào triển khai cài thế chiến dịch, tạo nên thế trận tiến công rất linh hoạt. Với thế trận này, nếu được lệnh xuất kích gấp, Quân đoàn có thể sử dụng 1 trung đoàn bộ binh hoặc 1 sư đoàn bộ binh (thiếu) cùng một lúc ngăn chặn, bao vây Sư đoàn 5 Ngụy trước ngày N (ngày 29 tháng 4); đồng thời triển khai đội hình xe tăng, thiết giáp vào sát địch (7km) để sẵn sàng chi viện cho Sư đoàn 312 đánh địch co cụm và Sư đoàn 320B rút ngắn cự ly thọc sâu, tạo nên sức mạnh tổng hợp, buộc địch phải căng ra đối phó trên toàn tuyến, không chi viện hỗ trợ được cho nhau.
Sáng ngày 29 tháng 4, các cánh quân được lệnh đồng loạt tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn. Trong lúc này, lực lượng tiến công của Quân đoàn trên cả 2 hướng đã cơ động áp sát căn cứ địch, sẵn sàng nổ súng thèo kế hoạch. Trên hướng bao vây chia cắt của Sư đoàn bộ binh 312, Trung đoàn 165 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 141) đã bao vây căn cứ Phú Lợi; lực lượng ta chỉ còn cách địch khoảng 2km. Đúng 0 giờ ngày 29 tháng 4, Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 312 tiến công căn cứ Phú Lợi. Nhưng do chuẩn bị gấp, lượng thuốc nổ phá rào và mìn định hướng chưa kịp chuyển đến, nên để Sư đoàn 312 làm tốt công tác chuẩn bị và theo để nghị của chỉ huy sư đoàn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định lui giờ nổ súng tiến công vào rạng sáng ngày 30 tháng 4. Trước đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 312 đã cử đồng chí Nguyễn Kiệm - Phó Tư lệnh Sư đoàn sang bờ Bắc Sông Bé để đôn đốc đoàn xe chở thuốc nổ vào gấp cho Trung đoàn 165. Trên hướng Trung đoàn 209 làm nhiệm vụ chốt chặn, theo kế hoạch ngày 28 tháng 4, đơn vị phải cắt đứt Đường 13 và Đường 14 không cho lực lượng Sư đoàn 5 Ngụy tháo chạy về Bình Dương, Sài Gòn. Nhưng vì lực lượng chốt chặn còn cách xa mặt đường từ 200-300m nên khi ta chưa kịp tiến công thì 5 giờ đến 10 giờ ngày 29 tháng 4, một bộ phận địch thuộc Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 5 Ngụy cơ động bằng 54 xe ô tô thiết giáp của thiết đoàn 1 đã chạy thoát từ Lai Khê về Bình Dương. Nếu không kịp thời cắt đứt Đường 13 và Đường 14, địch sẽ rút về co cụm chống trả, gây trở ngại cho ta tiến công Phú Lợi và Bình Dương, ảnh hưởng đến nhiệm vụ bao vây, chia cắt, cô lập Sư đoàn 5 Ngụy và tốc độ thọc sâu vào Sài Gòn. Căn cứ vào tình hình thực tế và phán đoán khả năng địch sẽ còn tiếp tục rút chạy theo Đường 13, 14, Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 312: "Vô luận tình huống nào cũng không được để Sư đoàn bộ binh 5 Ngụy rút chạy về phía Bắc Thủ Dầu Một". Tư lệnh Quân đoàn còn chỉ rõ: Hướng bao vây chia cắt phải nhanh chóng đưa lực lượng ra chốt chặn Đường 13. Nếu trận Phú Lợi có trở ngại thì tạm dừng để tập trung lực lượng chia cắt cho bằng được Đường 13, cô lập Sư đoàn 5 Ngụy, không cho chúng co cụm về Sài Gòn. Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Quân đoàn, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 312 cử các đồng chí: Hoàng Lê - Phó Tư lệnh và đồng chí Đỗ Trường Quân - Phó Chính ủy Sư đoàn xuống trực tiếp kiểm tra, đôn đốc và chỉ đạo Trung đoàn 209 triển khai chốt chặn; đồng thời lệnh cho Trung đoàn 209 tổ chức lực lượng đánh chiếm một số ấp dọc Đường 13 để xây dựng trận địa chốt chặn ngay trên mặt đường, kiên quyết chặn đứng ý đồ của địch rút chạy về Bình Dương. Đường 13 và Đường 14 là các tuyến giao thông huyết mạch nối các tỉnh phía Bắc, Tây Bắc với Bình Dương vào Sài Gòn. Sư đoàn 5 Ngụy - một trong những Sư đoàn chủ lực vào loại mạnh nhất của quân Ngụy Sài Gòn do Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ cầm đầu "tử thủ" trên tuyến đường này. Trước sức tiến công ngày càng tăng của ta, địch tăng cường bố phòng quyêt giữ các cứ điểm và mở nhiều cuộc hành quân nhằm giải tỏa Đường 13 và Đường 14. Lúc 11 giờ ngày 29 tháng 4, địch huy động 25 chiếc xe GMC chở đầy lính của Trung đoàn 7 (Sư đoàn 5 Ngụy) theo Đường 14 về tăng cường cho cứ điểm An Lợi. Khi đoàn xe địch đến khu vực Tam Tháp, Tiểu đoàn 9 chốt giữ ở đây đã chặn đánh quyết liệt, bắn cháy 3 xe đi đầu. Buộc cả đoàn xe địch phải quay trở lại, một số bộ phận co về ấp An Lợi. Cuộc hành quân giải tỏa Đường 14 của địch bị đập tan. Quyết tâm không cho địch rút chạy theo Đường 13 và Đường 14, ngay trong đêm 29 tháng 4, Trung đoàn 209 lệnh cho các tiểu đoàn triển khai lực lượng lên chốt giữ mặt đường, đồng thời tổ chức đánh chiếm các cứ điểm địch ở An Lợi, trên Đường 14; cầu Tây, Mỹ Thạnh, xóm Xoài trên Đường 13. Trận chiến đấu tiến công địch ở An Lợi diễn ra rất quyết liệt. Tiểu đoàn 9 được hỏa lực của trung đoàn chi viện đã dũng mãnh tiến công địch. Trung đội trưởng Phạm Văn Hoan dẫn đầu mũi chủ công xông lên đánh chiếm cửa mở, bị trúng đạn anh dũng hy sinh. Cùng lúc đó chính trị viện Tích chỉ huy các phân đội đánh thắng vào trung tâm. Hai trung đội của Đại đội 11 phối hợp tiến công chia cắt cứ điểm An Lợi làm đôi. Địch dùng một lực lượng từ phía ngoài đánh vào ứng cứu, bị ta chặn đánh diệt nhiều tên. Ta và địch giành giật nhau từng ụ súng, từng lô cốt. Đên rạng sáng ngày 30 tháng 4, Tiểu đoàn 9 đã hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt nhiều tên địch, số còn lại chạy tháo thân. Cứ điểm An Lợi trở thành trận địa chốt chặn của ta trên Đường 14. Cũng trong đêm 29 rạng ngầy 30 tháng 4, phối hợp với hướng tiến công của Tiểu đoàn 9 vào An Lợi, Tiểu đoàn 7 đồng loạt đánh chiếm các cứ điểm địch trên Đường 13 tại Mỹ Thạnh, xóm Xoài và Điểm cao 40, cắt đứt hoàn toàn Đường 13 (đoạn từ Bến Cát về Thủ Dầu Một). Như vậy cho đến lúc này, Sư đoàn 5 Ngụv đã bị bao vây chia cắt, không còn khả năng hỗ trợ chi viện cho nhau. Về phía ta, Trung đoàn 165 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 141) khẩn trương làm tốt công tác chuẩn bị, kiên quyết tiến công tiêu diệt căn cứ Phú Lợi vào sáng ngày 30 tháng 4. Để tạo thuận lợi cho Sư đoàn 312 tiến công địch, Tư lệnh Quân đoàn lệnh cho Tư lệnh Sư đoàn phòng không 367 nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu trên hướng Phú Lợi - Bình Dương. Các trận địa pháo của Lữ đoàn pháo binh, sẵn sàng giội bão lửa xuống các căn cứ trên. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:40:04 pm Trong khi Sư đoàn 312 tổ chức tiến công, bao vây, chia cắt, cô lập Sư đoàn 5 Ngụy, thì trên hướng thọc sâu của quân đoàn, Sư đoàn 320B tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tiến công. 2 giờ sáng ngày 29 tháng 4, đội hình thọc sâu của quân đoàn cơ động bằng hơn 300 xe các loại bắt đầu xuất phát tiến về hướng Lái Thiêu - Sài Gòn.
Do cơ động trên địa hình mới lạ, lại vào ban đêm, cộng với việc tổ chức chốt và chỉ đường của công binh chưa chặt chẽ nên tốc độ tiến quân rất chậm. Thêm nữa vào lúc 4 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, lực lượng đi đầu của Trung đoàn bộ binh 48 đến khu vực xóm Chùa (Bắc Tân Uyên) thì gặp địch chặn đường. Lực lượng trinh sát trung đoàn phối hợp với đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 1) do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Như Hoạt chỉ huy nổ súng tiến công hất địch ra khỏi xóm Chùa, mở đường cho đội hình sư đoàn tiếp tục tiến quân. Nhưng ngay sau đó, địch trong chi khu quận lỵ Tân Uyên mới được tăng cường ngăn chặn quyết liệt nhằm cản đội hình tiến công của quân đoàn. Chúng dùng đủ các loại hỏa lực pháo, cối và tên lửa chống tăng TOW bắn rất dữ dội vào đội hình ta. Một xe tăng của ta trong lực lượng đi đầu bị trúng tên lửa địch, bốc cháy; nhiều chiến sĩ bị thương; đội hình xe tăng và ô tô chở bộ binh phải tạm thời dừng lại. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn bộ binh 320B phải nhanh chóng tiêu diệt chi khu quân sự Tân Uyên bằng lực lượng binh chủng hợp thành để nâng cao tốc độ thọc sâu. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320B do đồng chí Lưu Bá Xảo - Tư lệnh Sư đoàn và Đỗ Mạnh Đạo - Chính ủy Sư đoàn trực tiếp ra lệnh cho Trung đoàn 48 tổ chức đánh địch. Trung đoàn 48 sử dụng lực lượng đi đầu gồm: Đại đội 6 (Tiểu đoàn 2) và Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) có xe tăng, thiết giáp và pháo binh chi viện; kết hợp với 1 trung đội của Đại đội 2 (Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64) và một bộ phận Đại đội 3 của (Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 27) chia thành 3 mũi tiến công vào chi khu quận lỵ Tân Uyên. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Như Hoạt ngồi trên xe thiết giáp trực tiếp chỉ huy mũi chính diện chọc thẳng vào trung tâm căn cứ địch, một mũi do Chính trị viên Đại đội 2 Nguyễn Văn Sơn chỉ huy vòng bên phải đánh tạt sườn quân địch, một mũi khác do đại đội trưởng Hoàng Văn Dinh chỉ huy vòng bên trái đánh vào chi khu. Trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Hỏa lực pháo binh Lữ đoàn 45 và các trận địa cối của Sư đoàn triển khai ngay trên mặt đường tiến quân bắn phá dữ dội vào các căn cứ địch. Sau hỏa lực chuẩn bị, ta tổ chức xung phong đột phá vào chi khu. Nhưng bị hào chống tăng và hệ thống rào bùng nhùng của địch ngăn cản, lực lượng đột phá không tiến thêm được. Lợi dụng lúc chiếc xe thiết giáp K63 - 85 của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Như Hoạt dừng lại, một khẩu ĐKZ của địch ở lô cốt gần nhất nã đạn vào chiếc xe, làm xạ thủ 12.7mm bị thương nặng; địch tổ chức lực lượng phản kích hòng đánh bật quân ta ra khỏi căn cứ. Tiểu đoàn trưởng lệnh cho bộ đội xuống xe chiến đấu tiêu diệt địch. Thêm một chiếc xe tăng của ta bị bắn đứt xích. Ngay lập tức, một chiếc khác lao lên hạ tầm pháo bắn thắng vào các lô cốt địch tiêu diệt khẩu ĐKZ và một tốp địch đang xông vào chiếc xe đi đầu của Tiểu đoàn trưởng. Lực lượng bộ binh theo sau xe tăng xung phong mãnh liệt vào căn cứ địch. Bị đánh mạnh ở chính diện và hai bên sườn, địch vẫn ngoan cố co cụm chống trả. Khi đột phá vào trung tâm chi khu, mũi chính diện phát hiện một tốp địch đang thao tác tên lửa chống tăng TOW, chiến sĩ Hà Thanh Chương kịp thời hạ nòng pháo 12,7mm quét một loạt đạn, tiêu diệt 3 tên địch. Trong khi đó, một hỏa điểm địch bất ngờ nã đạn tới tấp vào xe của Chương làm cho đồng chí lái xe hy sinh, Chương cũng bị thương nặng. Sau gần 30 phút chiến đấu, cả 3 mũi tiến công của ta đã đột phá vào trung tâm, làm chủ hoàn toàn căn cứ địch. Toàn bộ quân địch ở chi khu gồm Tiểu đoàn bảo an 316, một trung đội cảnh sát dã chiến bị tiêu diệt và tan rã. Tên thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bảo an 316 bị bắt cùng 35 tên khác; ta thu 25 xe quân sự các loại, 2 pháo 105mm, 1 cối 81mm, 1 khẩu ĐKZ, nhiều đại liên, tiểu liên và các phương tiện chiến tranh khác của địch. Phía ta hy sinh 3 đồng chí, bị thương 14 đồng chí; bị bắn cháy 2 xe tăng và 1 xe thiết giáp. Buộc phải đánh ngoài kế hoạch, nhưng trận tiến công chi khu quân sự Tân Uyên đã giành được thắng lợi. Đường tiến quân của hướng thọc sâu theo Đường 16 từ Tân Uyên - Búng đến Lái Thiêu vào Sài Gòn đã được mở. Tuy nhiên do một mặt phải đánh Tân Uyên; mặt khác trên đoạn đường từ Tân Uyên ra Khánh Vân, địch bố trí dày đặc các loại mìn chống tăng, mìn sát thương (có bãi mìn chống xe cơ giới rộng 100m, dài hơn 200m) nên đội hĩnh hành tiến bị ùn tắc; Sư đoàn 320B phải mất khá nhiều thời gian để khắc phục vật cản, mở đường tiếp tục tiến lên phía trước. Theo sát tình hình của sư đoàn, lúc 12 giờ ngày 29 tháng 4, Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 320B: - Bằng mọi cách phải nâng cao tốc độ hành tiến theo kế hoạch, không thể để chậm. Thời gian lúc này là lực lượng. Chậm sẽ lỡ thời cơ và sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. - Cần thấu triệt cách đánh chiến dịch: Táo bạo, nhanh chóng, bất ngờ, chắc thắng. Trên cơ sở đó mà quyết đoán, linh hoạt xử trí các tình huống phức tạp xảy ra. - Nếu còn gặp địch chống cự, chỉ cần sử dụng một lực lượng vừa đủ để bao vây, tiêu diệt. Không ham đánh dọc đường. Toàn bộ đội hình thọc sâu phải nhanh chóng tìm đường phát triển tiến công, không được dừng lại. Mệnh lệnh được truyền đạt tức khắc đến mọi cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320B. Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết tâm giữ vững đội hình và triển khai lực lượng hành tiến theo 2 trục đường: Trục thứ nhất gồm Trung đoàn bộ binh 27 và các phân đội xe tăng, công binh, cao xạ... dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và Chính ủy Trịnh Văn Thư, tiến theo Đường 16 từ Tân Uyên qua Tân Ba, Bình Chuẩn, xuống quận lỵ Lái Thiêu. Trục thứ hai gồm Trung đoàn bộ binh 48 và các đơn vị binh chủng, do Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng và Lê Xuân Yến - Chính ủy Trung đoàn chỉ huy tiến theo đường tắt qua sân bay Ông Lình đi Bình Chuẩn - Búng, xuống Lái Thiêu. Quyết định trên đây là một xử trí tình huống sáng tạo, không những đỡ tốn thời gian, xương máu của bộ đội để dò gỡ khắc phục bãi mìn mà còn rút ngắn được thời gian, tăng tốc độ tiến công trong hành tiến vào Sài Gòn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:40:48 pm 15 giờ ngày 29 tháng 4, sau khi tháo gõ 8 quả mìn chống tăng, làm đường tránh bãi mìn và sử dụng tù binh dẫn đường, Trung đoàn 27 tiếp tục thọc sâu. Ta càng tiến sâu vào trong, địch càng chống trả quyết liệt. Các cỡ pháo của địch từ các cụm pháo Biên Hòa, Sóng Thần, Phú Lợi liên tục bắn chặn đường. Đến ngã ba Bình Chuẩn, một đại đội bảo an địch thuộc Tiểu đoàn 312 chặn đánh ta quyết liệt. Trung đoàn 27 sử dụng Tiểu đoàn 6, do Tiểu đoàn trưởng Lê Thế Dũng chỉ huy đánh áp đảo quân địch. Dũng lệnh cho 2 xe tăng đi đầu bắn chế áp vào đội hình địch, làm cho chúng không thể ngóc đầu lên được. Từ phía sau, 2 chiếc chở bộ đội ta nhanh chóng vượt lên. Các chiến sĩ nhảy xuống đánh vỗ mặt quân địch. Bị tiến công mạnh, địch tan rã nhanh chóng. Ta bắt thêm một số tù binh dẫn đường, số còn lại ta thu vũ khí rồi tha cho về với gia đình. Đội hình thọc sâu của Trung đoàn 27 tiếp tục hành tiến.
Lúc 16 giờ 30 ngày 29 tháng 4, cũng với cách đánh "Gạt địch ra" để tiến, Trung đoàn 48 lại gặp khó khăn trở ngại. Lúc 6 giờ ngày 29 tháng 4, địch cho nhiều tốp máy bay F4 đến oanh tạc dữ dội khu vực dốc Bà Nghĩa - nơi đội hình tiến công chủ yếu của Sư đoàn 320B đang cơ động qua, làm 20 đồng chí bị thương, hỏng 1 pháo cao xạ 37mm và 1 xe kéo pháo. Lực lượng phòng không thuộc Trung đoàn pháo cao xạ 280 (Sư đoàn 367), Tiểu đoàn phòng không 16 (Trung đoàn 54) và các Phân đội tên lửa A72 lập tức nổ súng đánh hất máy bay địch, bảo vệ đội hình tiến quân. Khi vượt qua khỏi Tân Uyên 3km, do trời tối nên đoàn xe cơ động bị lạc đường, Sư đoàn buộc phải tung lực lượng trinh sát tìm đường. 19 giờ ngày 19 tháng 4, Trung đoàn 48 tiếp tục hành quân theo trục đường ủi ra Đường 8 đến Khánh Vân vào áp sát mục tiêu qui định. Cùng thời gian này, lực lượng luồn sâu Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) tiếp tục cơ động. 20 giờ 20 phút ngày 29 tháng 4, khi đến Nam ngã tư Búng thì bất ngờ gặp địch ngăn chặn. Tiểu đoàn 3 nổ súng tiến công. Sau hơn 20 phút chiến đấu ta đã đánh tan trung đội dân vệ và lực lượng bảo an trên Đường 8 chạy về, bắt 5 tên, thu 10 súng. Ta bị thương 6 đồng chí. Qua khai thác tù binh, ta nắm được tình hình địch đã phá hỏng cầu Bình Lợi trên đường vào Sài Gòn. Vì thế, ta sử dụng 2 tù binh dẫn đường đi theo phía Đông Đường 13 để tiếp cận khu vực cầu Bình Triệu. Lúc 4 giờ sáng ngày 30 tháng 4, khi đến Bắc Lái Thiêu, Tiểu đoàn 3 bắt được liên lạc với Trung đoàn 27 đang chuẩn bị tiến công Lái Thiêu. Trong khi đó, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 27) luồn sâu theo đường Tân An - Phước Khánh vào Lái Thiêu. Lúc 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4, Tiểu đoàn đến khu vực Tân Hiệp thì gặp địch chặn đường. Bộ phận trinh sát đi đầu nổ súng, bắt 2 tên và sử dụng chúng dẫn đường đánh vào 1 đại đội bảo an địch ở Tân Hiệp, diệt 13 tên, thu một số vũ khí. 17 giờ ngày 29 tháng 4, Tiểu đoàn tiếp tục cơ động, gặp địch cản đường, liền nổ súng áp đảo để lướt qua nên đến 23 giờ đêm, Tiểu đoàn 4 đã vào vị trí qui định tại phía bắc quận lỵ Lái Thiêu. Như vậy, chỉ sau 1 ngày chiến đấu, trên hướng tiến công của quân đoàn, các đơn vị đã táo bạo, dũng mãnh tiến công, phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở phía Bắc Sài Gòn. Hướng chia cắt của Sư đoàn 312 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bao vây, cô lập Sư đoàn 5 Ngụy. Trung đoàn 209 đã cắt đứt hoàn toàn Đường 13 và 14, không cho Sư đoàn 5 Ngụy cơ động, ứng cứu được cho nhau. Trung đoàn 165 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 141 cùng lực lượng xe tăng thiết giáp đã áp sát Căn cứ Phú Lợi, chuẩn bị sẵn sàng tiến công đánh chiếm "Pháo đài tử thủ" mạnh nhất của địch trên tuyến phòng thủ Bắc Sài Gòn. Trên hướng thọc sâu chiến dịch của quân đoàn, do Sư đoàn 320B đảm nhiệm đã đột kích nhanh trong hành tiến, thọc sâu vào tuyến phòng ngự của địch hơn 60km, chuẩn bị tiến công đánh chiếm Lái Thiêu và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, khu Bộ Tư lệnh các binh chủng Ngụy ở nội đô. Lực lượng thọc sâu chiến dịch của quân đoàn chỉ còn cách địch trong sào huyệt của chúng hơn 15km. Cũng trong ngày 29 tháng 4, hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ Chính trị: "Hãy nhanh chóng đánh thắng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh nhất, đập tan mọi sức đề kháng của địch, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn Thành phố Sài Gòn - Gia Định. Cùng với Quân đoàn 1 trên hướng Bắc Sài Gòn, các Quân đoàn 2, 3, 4 và Đoàn 232 cũng đã đồng loạt tiến công, phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch xung quanh Sài Gòn. Hướng Đông, Quân đoàn 2 đánh chiếm Nhơn Trạch, khu kho thành Tuy Hạ, phát triển đến Cát Lái; lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến đến Bắc cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, chuẩn bị vượt cầu vào nội thành. Hướng Đông Nam, Quân đoàn 4 vượt Hố Nai tiến công Biên Hòa. Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 đánh chiếm Đồng Dù, Củ Chi, Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, chuẩn bị tiến công Tân Sơn Nhất. Hướng Nam và Tây Nam, Đoàn 232 đánh chiếm thị xã Hậu Nghĩa; một lực lượng thọc sâu đã tiến sát vào vùng ven Sài Gòn. Hoảng sợ trước sức mạnh tiến công không có gì ngăn cản nổi của ta, Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng Tham mưu trưởng và nhiều tướng tá Ngụy bỏ chạy. Mỹ cấp tốc điều máy bay lên thẳng chở nốt 5.000 người Mỹ trong chiến dịch di tản mang tên "Người liều mạng" khỏi miền Nam. Rạng sáng ngày 30 tháng 4, đại sứ Mỹ Matin trèo lên máy bay trực thăng chuồn khỏi Sài Gòn. Quân Ngụy Sài Gòn vô cùng hoảng loạn. Quân và dân Sài Gòn sục sôi khí thế cách mạng, phối hợp chặt chẽ giữa nổi dậy với tiến công, cùng các binh đoàn chủ lực, tiến về giải phòng thành đô. Cả nước hướng về Sài Gòn - Gia Định! Cùng với các Binh đoàn chủ lực, lực lượng tiến công Quân đoàn 1 vào Sài Gòn đã sẵn sàng. Cán bộ, chiến sĩ sục sôi khí thế quyết thắng. Ai nấy đều mong chờ giờ xuất kích vào giải phóng Sài Gòn - thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu. Trên mỗi tháp pháo xe tăng, nòng pháo, thành xe, hay trên mũ mọi người đêu ghi đặm lòi "hịch" của Bác Hồ: "Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta". Rạng sáng ngày 30 tháng 4, trên các hướng tiến công của Quân đoàn 1, các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công đánh chiếm các mục tiêu quy định. Pháo 130mm, Đ74, 122mm của Lữ đoàn pháo binh 45, Trung đoàn pháo binh 54 và 186 dồn dập bắn phá các mục tiêu trong khu vực Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, quận lỵ Lái Thiêu, căn cứ Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê. Đúng 5 giờ sáng, trên các hướng chia cắt của Sư đoàn 312, Trung đoàn 165 tiến công đánh chiếm Phú Lợi. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:41:23 pm Rạng sáng ngày 30 tháng 4, quá trình ta cơ động vào áp sát căn cứ, đã bị địch dùng pháo binh từ bến Than, Chánh Lưu, Bình Dương bắn phá ngăn chặn. Lực lượng địch ở Nam cầu Thơ Út và Phú Chánh bắn phá dữ dội vào đội hình cơ động của Trung đoàn 165, phá hỏng của ta 1 khẩu pháo 85mm; một số chiến sĩ bị thương. Càng gần đến thất bại, như con thú dữ bị thương, bọn địch càng điên cuồng chống trả. Bộ đội ta phải hứng chịu những đợt "mưa" đạn pháo địch. Mặc dù có thêm những thương vong, nhưng với truyền thống "Đoàn kết - anh dũng - chiến thắng", đã từng lập công vang dội, cắm lá cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" do Bác Hồ trao tặng lên nóc hầm tướng giặc Đờ Cátxtơri trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 312 vẫn vững vàng tay súng, tin tưởng vào thắng lợi, quyết vượt qua mọi ác liệt, hy sinh để giành toàn thắng.
Đúng 5 giờ 5 phút 9 ngày 30 tháng 4, Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Chuông lệnh cho Trung đoàn 165 nổ súng tiến công đánh chiếm căn cứ Phú Lợi. Các trận địa pháo của quân đoàn, sư đoàn bắn phá dồn dập vào căn cứ địch. Lợi dụng hỏa lực pháo binh đang kiềm chế địch, Tiểu đoàn 6 nhanh chóng khắc phục 6 lớp hàng rào và hào chống tăng, liên tiếp dùng bộc phá mở cửa, mở thông các hàng rào bùng nhùng, cũi lợn còn lại ở phía trong. Địch dùng 2 xe tăng M-48 ra ngăn chặn hướng mở cửa, nhưng chúng bị hỏa lực ĐKZ của ta bắn cháy. Đến 8 giờ, Tiểu đoàn 6 đã mở cửa xong, Trung đoàn trưởng Trần Măng ra lệnh cho lực lượng xe tăng xuất kích phối hợp cùng bộ binh xung phong vào trung tâm căn cứ, tiêu diệt địch. Nhưng do bị lạc đường, 2 chiếc xe tăng bị sa lầy (trong tổng số 6 chiếc) nên đến chậm thời gian so với quy định. Nhận thấy trận đánh phát triển chậm, Tư lệnh Sư đoàn một mặt ra lệnh cho Trung đoàn 209 kiên quyết giữ vững chốt chặn Đường 13 và Đường 14, không cho địch rút chạy; mặt khác đốc thúc các lực lượng công binh, xe tăng khẩn trương chống lầy, mở đường đưa xe tăng tiến lên phía trước. Quyết không để khó khăn trước mắt làm ảnh hưởng tói kết quả trận đánh, các chiến sĩ xe tăng chủ động vòng về hướng Đông Bắc để tìm đường. Khi vượt qua 3 lớp hàng rào đơn thì một chiếc bị sa hố chống tăng, 5 chiếc còn lại chạy dọc đường trong sân bay về phía Đông căn cứ, sau đó vòng xuống hướng Nam theo cổng chính, hiệp đồng cùng Tiểu đoàn 6 đánh từ hướng Bắc xuống. Trên hướng Tiểu đoàn 4, sau khi đưa lực lượng áp sát mục tiêu đã nhanh chóng đánh chiếm cổng ra vào căn cứ (thay cho mở cửa) và phát triển chiến đấu vào trung tâm. Các loại hỏa lực bắn thẳng của ta lần lượt phá tan các ụ súng, lô cốt, hầm ngầm của địch. Các lực lượng tiến công áp đảo trên cả 2 hướng, bọn địch trong căn cứ không tổ chức phản kích được. 10 giờ 5 phút ngày 30 tháng 4, từ ba hướng Bắc, Đông và Nam, phối hợp với bộ đội địa phương, Trung đoàn 165 đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu: Khu Bộ Tư lệnh tiểu khu Phú Lợi, khu vực đại đội cảnh sát dã chiến và khu gia binh. Trong lúc trận chiến đấu còn diễn ra quyết liệt thì chiến sĩ Lê Xuân Sanh cùng tổ cắm cờ Đại đội 9 nhanh chóng vận động về phía cột cờ ở trung tâm căn cứ. Lá cờ Giải phóng lập tức được kéo lên. Đúng 10 giờ 30 phút, Trung đoàn 165 đã hoàn toàn làm chủ căn cứ Phú Lợi; ta tiêu diệt 44 tên địch, bắt 510 tên (trong đó có tên Đại tá tiểu khu trưởng), thu 5 khẩu pháo (1 khẩu 175mm "Vua chiến trường", 2 khẩu 155mm và 3 khẩu 105mm), 2 khẩu cối 106,7 mm cùng nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh khác của địch. Thừa thắng, Đại đội 6 Tiểu đoàn 5 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thức và Chính trị viên Nguyễn Thanh Nhà dẫn đầu phối hợp với lực lượng Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 địa phương Phú Lợi, phát triển từ hướng Đông Nam tiến công đánh chiếm khu dinh Tỉnh trưởng Bình Dương. Tại đây, tên Đại tá Nguyễn Văn Của - Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương cùng thuộc hạ buộc phải ra hàng Quân giải phóng. Tiếp đó, ta tiếp tục tiến công và làm chủ khu Phú Văn, Căn cứ giang đoàn Bạch Đằng và Trường Sĩ quan Công binh Ngụy. Trong lúc trận chiến đấu tiến công các mục tiêu địch trong thị xã Bình Dương còn diễn ra quyết liệt, thì tại ấp Hòa Mỹ, xã Định Hòa huyện Châu Thành, tỉnh Bình Dương (cách thị xã gần 3km vê phía Bắc), đại diện tỉnh ủy Bình Dương gồm: đồng chí Sáu Phát - Bí thư Tỉnh ủy, Năm Thuận - Phó Bí thư, Một Hữu - Thường vụ Tỉnh ủy - Tỉnh đội trưởng, Năm Châu - Tham mưu trương tỉnh đội đã tiến hành hội nghị liên tịch, cùng các đồng chí đại diện Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 và Đảng ủy Bộ Tư lệnh Sư đoàn 312 (gồm: đồng chí Nguyễn Hùng Phong - Phó Chính ủy Quân đoàn và Đỗ Trường Quân - Phó Chính ủy Sư đoàn 312). Hội nghị thống nhất thành lập Ủy ban Quân quản tỉnh Bình Dương do đồng chí Sáu Phát làm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Chuông - Tư lệnh Sư đoàn 312 làm Chủ tịch; đồng chí Một Hữu làm Phó Chủ tịch. Hội nghị cũng quyết định một số công việc cần làm ngay để phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, giữ vững trật tự trị an vùng mới giải phóng, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân và giải quyết chính sách tù binh, hàng binh địch ra trình diện chính quyền cách mạng. Như vậy cho đến trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 312 đã hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm các căn cứ Phú Lợi, giải phóng thị xã Bình Dương; chặt đứt được một mắt xích quan trọng trong tuyến "tử thủ" của địch ở Bắc Sài Gòn. Phát triển thắng lợi, thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh quân đoàn, Sư đoàn 312 tiếp tục tổ chức các lực lượng khóa chặt, cô lập, tiến tới tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn Sư đoàn 5 Ngụy, bảo vệ hành lang hướng thọc sâu vào Sài Gòn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:42:36 pm Sau khi đánh chiếm một loạt các căn cứ trên Đường 13 và 14 như: Mỹ Thạnh, xóm Xoài, Hương Phùng, Chủ Búng, An Lợi...sáng 30 tháng 4, Trung đoàn bộ binh 209 đã ngăn chặn, bẻ gãy cuộc hành quân giải tỏa Đường 13 của Trung đoàn 9 (Sư đoàn 5) Ngụy. Bị vây hãm và chặn đánh khắp mọi nơi Sư đoàn 5 Ngụy vô cùng hoang mang, rối loạn. 12 giờ ngày 30 tháng 4, địch sử dụng 1 chi đoàn xe tăng - thiết giáp gồm 22 chiếc từ Bến Cát theo Đường 14 tiến về Bình Dương. Khi vào gần đến ấp An Lợi, chúng dùng hỏa lực trên xe bắn chế áp mạnh và thực hiện mưu đồ dùng tốc độ cao để vượt qua trận địa chốt chặn của ta. Nắm được âm mưu của địch, Tiểu đoàn 9 chốt giữ An Lợi đã dùng hỏa lực bắn thắng tiêu diệt 4 xe tăng và 1 xe thiết giáp M113 đi đầu, làm cho đội hình địch rối loạn và buộc phải dừng lại đối phó. Bộ đội ta nhanh chóng triển khai đội hình bao vây tiến công kết hợp gọi địch ra hàng. Chỉ sau 20 phút chiến đấu ác liệt, Tiểu đoàn 9 đã tiêu diệt và "bắt" gọn cả 22 xe địch. Trước sức tiến công áp đảo của ta, tại sở chỉ huy địch ở Lai Khê, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ - tư lệnh Sư đoàn 5 Ngụy buộc phải tự sát trong cơn tuyệt vọng. Trước khi tự kết liễu đời mình bằng 1 viên đạn súng ngắn vào đầu, viên tướng bại trận này viết : dòng chữ cuối cùng: "Nhục nhã, nhục nhã, nhiều tiền quá, nhục nhã..." như một lời thú nhận tội lỗi của kẻ cam tâm làm tay sai, bán nước. Như rắn mất đầu, toàn bộ Sư đoàn 5 Ngụy hoảng loạn rút chạy về Bình Dương. Nắm chắc thời cơ, một bộ phận của Trung đoàn 209 và Trung đoàn 141 tiến đánh Lai Khê, Bến Cát. Sư đoàn 5 Ngụy đã hoảng loan càng thêm rối loạn. Địch rút chạy với đội hình cả đoàn xe dài hớn 3km theo Đường 13. Khi đến ấp xóm Xoài bị Đại đội 3 (Tiểu đoàn 7) bắn cháy chiếc xe đi đầu, địch ở những chiếc xe sau ngoan cố liều chết vượt qua trận địa chốt của ta. Nhưng đến ấp Hương Phùng, chúng bị Tiểu đoàn 8 bộ binh (Trung đoàn 209) chặn đánh quyết liệt. Các lực lượng của ta bố trí hai bên đường phối hợp chặt chẽ với Đại đội 3 (Tiểu đoàn 7) đồng loạt nổ súng tiến công đoàn xe địch. Bị ta bao vây, tiến công quyết liệt, toàn bộ lực lượng địch gồm 2 Trung đoàn 7 và 9, một bộ phận của Trung đoàn 8 cùng cơ quan Tham mưu Sư đoàn 5 Ngụy buộc phải đầu hàng. Đến 17 giờ ngày 30 tháng 4, Trung đoàn 209 hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt 155 tên địch, bắt 7.205 tên (trong đó có 6 Trung tá, 33 Thiếu tá), thu 222 xe các loại, 22 xe tăng thiết giáp, 7 khẩu pháo và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch.
Như vậy, sau 2 ngày đêm chiến đấu liên tục, dũng cảm, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 312 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh bao vây, chia cắt, cô lập, tiến tới tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn Sư đoàn 5 Ngụy; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang địa phương đập tan một mắt xích quan trọng trong tuyến "tử thủ" Bắc Sài Gòn, diệt 279 tên địch, bắt 17.740 tên, gọi hàng 3.500 tên; góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Dương và góp phần làm nên chiến thắng chung của Quân đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trên hướng thọc sâu của Quân đoàn 1, ngay từ khi cuộc chiến đấu của Sư đoàn 312 tiến công bao vây, tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy đang diễn ra quyết liệt ở khu vực Phú Lợi, Lai Khê, Bình Dương và trên Đường 13, 14 thì trên hướng thọc sâu vào Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã kịp thời chỉ đạo Sư đoàn 320B đẩy nhanh nhịp độ tiến công, phối hợp với các cánh quân đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu của địch trong thành phố. Toàn bộ đội hình thọc sâu triển khai tiến công theo 2 hướng: Trung đoàn 27 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và Chính ủy Trung đoàn Trịnh Văn Thư chỉ huy, từ Tân Uyên qua Tân Ba, tiến đánh quận lỵ Lái Thiêu. Trung đoàn 48 do Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng và Chính ủy Lê Xuân Yến chỉ huy tiến theo đường Trại Hủi. Khánh Vân, Búng xuống Lái Thiêu. Đến 3 giờ ngày 30 tháng 4, toàn bộ lực lượng chiến đấu của Trung đoàn 27 đã tập kết đầy đủ ở phía Bắc Lái Thiêu, chuẩn bị tiến công đánh chiếm quận lỵ. Một bộ phận trinh sát do Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu dẫn đầu gặp được má Sáu Ngẫu là cơ sở cách mạng (trú tại ấp Thạnh Hòa, xã An Thạnh, quận Lái Thiêu) trao cho tấm bản đồ tự tay má đánh dấu các vị trí địch đóng quân chốt giữ trong quận lỵ. Được các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp và dẫn đường. Trung đoàn 27 khẩn trương tổ chức tiến công giải phóng Lái Thiêu. Quận lỵ Lái Thiêu là cửa ngõ và là một căn cứ quân sự lớn cuối cùng của địch trong tuyến "tử thủ" Bắc Sài Gòn, cách trung tâm Thành phố khoảng 14 - 15 km về phía Bắc. Lực lượng địch ở đây có 10 đại đội bộ binh chốt giữ cùng gần 2.000 sĩ quan, binh lính tại trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương (trung tâm huấn luyện hạ sĩ quan của Sư đoàn 5 Ngụy) và 3 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp, 2 chi đoàn xe tăng, thiết giáp ở Biên Hòa mới chạy về. Chúng dựa vào hệ thống công sự, lô cốt, hầm ngầm và các ụ súng bằng bao cát để cố thủ, ngán chặn ta tiến công. Những ngày cuối tháng 4, địch tăng cường thêm lực lượng phòng thủ Lái Thiêu hòng chặn đứng hướng thọc sâu của ta từ phía Bắc vào Sài Gòn. Để đánh chiếm Lái Thiêu, Trung đoàn 27 chọn cách đánh: Tập trung lực lượng, kết hợp luồn sâu, ém sẵn với thọc sâu bằng cơ giới tiến công từ hai hướng. Tiểu đoàn 5 (mũi luồn sâu) tiến công địch từ hướng Nam, đánh chiếm cầu Lái Thiêu, bao vây tiêu diệt Trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương. Tiểu đoàn 6 (mũi thọc sâu co giới) tiến công từ hướng Bắc, phối hợp chặt chẽ với mũi tiến công của Tiểu đoàn 5 từ hướng Nam đánh lên, tiêu diệt địch trên Đường 13 (đoạn từ Lái Thiêu đến cầu Vĩnh Bình, Bình Phước); đồng thời chặn các hướng khác, buộc địch phải đầu hàng; đảm bảo cho đội hình thọc sâu của sư đoàn phát triển thuận lợi. Bốn giờ 15 phút sáng ngày 30 tháng 4, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 ra lệnh nổ súng tiến công Lái Thiêu. Các trận địa pháo, cối của trung đoàn đồng loạt bắn vào chi khu. Pháo bắn thắng của xe tăng, súng máy cao xạ 12,7mm hạ thấp nòng bắn chế áp các lô cốt vòng ngoài, chi viện cho bộ binh xung phong mở cửa. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:43:09 pm Trên hướng Tiểu đoàn 6, các chiến sĩ Đại đội 11 dùng bộc phá ống quét tung các lớp hàng rào kẽm gai bùng nhùng và "cũi lợn", mở cửa đánh chiếm chi khu. Lực lượng xe tăng Đại đội 3 do Hoàng Thọ Mạc - đại đội trưởng chỉ huy từ Đường 13 tiến vào phối hợp cùng Đại đội 11 tiến công đánh chiếm trung tâm chi khu. Hỏa lực trên xe tăng và B40, B41 nhanh chóng tiêu diệt các ụ súng, lô cốt trong căn cứ. Địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp nổ súng chống trả. Nhiều tên vứt súng, lột bỏ quân phục, chạy tháo thân. Trận địa địch hoàn toàn bị chia cắt, cô lập từng mảng, không liên lạc được với nhau. Thừa thắng, Đại đội 11 phát triển nhanh vào trung tâm, cùng phối hợp với mũi tiến công của Tiểu đoàn 5, vừa đánh vừa gọi địch ra hàng. Sau gần 30 phút chiến đấu, Đại đội 11 hoàn toàn làm chủ khu vực trung tâm chi khu.
Trên hướng Tiểu đoàn 5 (đơn vị luồn sâu lót sẵn) khi nghe tiếng súng nổ trong chi khu, Tiểu đoàn trưởng Hoàng Đức Ký lệnh cho Đại đội 6 từ phía Tây đánh vào trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương và Đại đội 5 từ phía Đông chủ động nổ súng cùng Tiểu đoàn 6 đánh chiếm quận lỵ Lái Thiêu. Trong lúc Đại đội 6 bao vây, tiến công trại Huỳnh Văn Lương buộc gần 2.000 hạ sĩ quan binh lính địch ra hàng (trong đó có tên Trung tá Nguyễn Văn Hinh - Chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện) thì mũi tiến công của Đại đội 5 do đại đội trưởng Vương Văn Vinh chỉ huy xung phong đánh chiếm cầu Lái Thiêu, phối hợp cùng Đại đội 7 theo Đường 13 tiến đánh chi khu. Mũi vu hồi của Tiểu đoàn 5 phát triển đánh chiếm dinh quận trưởng. Được 2 nữ du kích Hương và Mỹ dẫn đường, các chiến sĩ Tiểu đoàn 5 có xe tăng chi viện nhanh chóng đánh chiếm các mục tiéu chủ yếu của địch. Tên Trung tá quận trưởng Nguyễn Thái Bình trốn xuống hầm ngầm, nhưng cũng bị ta tóm gọn cùng toàn bộ Ban chỉ huy quận lỵ Lái Thiêu. Binh lính địch trong căn cứ lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng. Như vậy, sau gần 2 giờ chiến đấu, Trung đoàn 27 đã hoàn toàn làm chủ Lái Thiêu, mở toang cánh cửa phía Bắc Sài Gòn. Mắt xích quan trọng cuối cùng trong tuyến "tử thủ" bắc Sài Gòn của địch đã bị đập tan, tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 48 - lực lượng thọc sâu chủ yếu của Sư đoàn 320B nhanh chóng tiến đánh Bộ Tổng Tham mưu Ngụy trong Thành phố. Ngay sau khi trận đánh Lái Thiêu kết thúc thắng lợi, Trung đoàn 27 giao cho Tiểu đoàn 5 triển khai đội hình chốt giữ khu vực đã chiếm, còn toàn bộ trung đoàn có sự phối hợp của đại đội xe tăng 3 tiếp tục phát triển chiến đấu về phía Bắc cầu Bình Phước, tiến vào đánh chiếm các mục tiêu: Khu binh chủng Ngụy, quận lỵ Gò Vấp và tiểu khu Gia Định. Vào lúc 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Tiểu đoàn 5 phải xử trí một tình huống bất ngờ: Vì không biết ta đã làm chủ Lái Thiêu, nên một đoàn xe của địch chạy từ Bình Dương về Sài Gòn đã ngang nhiên tiến vào quận lỵ Lái Thiêu. Ngay lập tức, Tiểu đoàn 5 nhanh chóng triển khai lực lượng chặn đánh. Tốp xe địch đi đầu gồm 20 xe (trong đó có 2 xe tăng) bị tiêu diệt ngay trên Đường 13 cũ vào Lái Thiêu, ta bắt và gọi hàng 250 tên địch. Tốp xe địch phía sau gồm 13 xe (có 1 xe tăng và 2 pháo tự hành 175mm) vẫn liều chết vượt qua chặng Đường 13 cũ đến Bình Hòa (Bắc Lái Thiêu) để ra Đường 13 mới về Sài Gòn. Các chiến sĩ Đại đội 5 do đại đội trưởng Vương Văn Vinh chỉ huy đã dùng B40, B41 và các loại hỏa lực bắn thẳng nhanh chóng tiêu diệt đoàn xe, diệt và bắt 90 tên địch. Xác xe tăng và xe quân sự địch nằm ngổn ngang trên đường vào Lái Thiêu. Kết quả chiến đấu tại Lái Thiêu: Trung đoàn 27 đã tiêu diệt 195 tên địch, bắt 350 tên, gọi hàng 1.740 tên, diệt và phá hủy 31 xe quân sự (có 3 xe tăng M-48, 2 pháo tự hành 175mm), thu 6 khẩu pháo 175mm và 105mm, 2 xe tăng, 5 xe thiết giáp, 23 xe ô tô các loại, 1.900 khẩu súng và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch. Trận đột phá Lái Thiêu nhanh chóng giành thắng lợi giòn giã là kết quả của sự vận dụng cách đánh táo bạo, linh hoạt xử trí các tình huống, kết hợp chặt chẽ giữa luồn sâu, bao vây chia cắt với thọc sâu bằng cơ giới, giữa tiến công và nổi dậy, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo quân địch. Thừa thắng, các chiến sĩ Trung đoàn 27 tiếp tục phát triển chiến đấu về phía cầu Bình Phước, tiến đánh khu Bộ Tư lệnh các binh chủng Ngụy. Khi tiến đến Bắc cầu Vinh Bình khoảng gần 1km thì gặp địch chặn đường, các chiến sĩ Đại đội bộ binh 10 (Tiểu đoàn 6) nhanh chóng xuống xe, vận động lên cùng xe tăng Đại đội 3 (Lữ đoàn 202) đánh mở đường, vượt qua hệ thống vật cản dày đặc của địch, thọc vào phía Bắc cầu Vĩnh Bình. Địch chốt giữ hai đầu cầu chống trả quyết liệt. Gần 30 chiếc xe tăng thiết giáp địch từ căn cứ chỉ huy Bộ Tư lệnh thiết giáp tiến ra phản kích. Các loại hỏa lực trên xe địch và pháo cối bắn rất dữ dội vào đội hình ta. Một chiếc xe tăng K63-85 của ta đi đầu bị trúng đạn bốc cháy. Mũi đột kích của ta bị chững lại. "Phải chiếm ngay được cầu!" - đại đội trưởng đại đội xe tăng 3 Hoàng Thọ Mạc vừa ra lệnh vừa động viên bộ đội xông lên đánh bật địch khỏi đầu cầu. Cùng lúc đó, Trung đoàn 27 kịp thời điều Đại đội 10 lên chi viện. Được tăng cường lực lượng, Hoàng Thọ Mạc tổ chức đơn vị thành hai mũi tiến công vào đội hình xe tăng, thiết giáp địch. Một cuộc đấu xe tăng giữa ta và địch diễn ra rất ác liệt. Mũi tiến công chính diện trên Đường 13 do Hoàng Thọ Mạc chỉ huy liên tiếp bắn cháy 3 xe tăng M-48 của địch và bắn chế áp, yểm trợ cho Đại đội 10 thọc sâu vào bên sườn địch, dùng B40, B41 bắn cháy 10 xe tăng của địch, địch tạm thời bị đẩy lùi. Càng tiến gần về phía Bắc cầu Vĩnh Bình, xe tăng và bộ binh ta càng bị địch chống trả quyết liệt. Chúng dựa vào hệ thống công sự kiên cố bằng bê tông và các ụ súng bằng thùng phuy đựng cát, cùng những bãi mìn chống tăng và mìn sát thương để ngăn chặn ta chiếm cầu. Lợi dụng khoảng thời gian ta dừng lại để khắc phục vật cản, địch cho xe tăng và pháo tự hành nống ra phản kích và thực hiện âm mưu phá sập cầu. Không chần chừ, chiếc xe tăng chỉ huy mang số hiệu 454 của Hoàng Thọ Mạc tiên lên trước đội hình, chỉ thị mục tiêu cho chiếc xe tăng số 956 ở phía sau dùng đạn xuyên bắn cháy 1 khẩu pháo tự hành 175mm "Vua chiến trường" của địch. Quân địch ở phía sau hốt hoảng dừng lại. Chớp thời cơ đại đội bộ binh 10 chia thành nhiều mũi từ các hướng đánh vào trận địa địch, diệt thêm một xe tăng và nhiều tên địch. Số còn lại chạy về đầu cầu phía Nam cố thủ hòng chặn ta qua cầu. Cùng lúc đó, một lực lượng địch chạy thoát từ phía Lái Thiêu về Sài Gòn đã tiến sát sau lưng đội hình chiến đấu của ta. Như vậy cả phía trước và phía sau đều có địch. Nếu không nhanh chóng đánh chiếm được cầu thì tình hình sẽ trở nên khó khăn, nguy hiểm hơn. Càng vào gần địch, hỏa lực bắn thẳng của xe tăng ta càng khó phát huy tác dụng diệt địch. Hoàng Thọ Mạc quyết định tháo mũ công tác nhảy xuếng xe, chỉ huy tổ mũi nhọn gồm các chiến sĩ: Khỏe, Mộc, Hạnh, Ngọ, Bằng, Mừng, Chuẩn xông lên đánh chiếm cầu. Mạc cắp ngang khẩu súng AK quét một loạt đạn dài vào đội hình địch, đồng thời chỉ thị mục tiêu cho chiến sĩ B40 Nguyễn Văn Mộc tiêu diệt hỏa điểm địch ở đầu cầu. Anh thoăn thoắt di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, vừa động viên bộ đội chiến đấu vừa chỉ thị mục tiêu cho các chiến sĩ B40, B41 tiêu diệt địch. Trong lúc chồm người lên để ném lựu đạn vê phía địch thì Hoàng Thọ Mạc bị một mảnh pháo địch găm vào ngực. Anh lảo đảo ngã xuống, nhưng vẫn gắng gượng dậy chỉ huy mũi tiến công đánh địch. Trận chiến đấu trên cầu Vĩnh Bình tiếp tục diễn ra quyết liệt. Phát hiện ở phía đầu cầu bên kia, một tốp địch đang dùng cối cá nhân và súng M79 bắn sang đội hình ta, chiến sĩ Hoàng Văn Khỏe nhổm ngươi lên ném liền 2 quả lựu đạn về phía địch. Cùng lúc đó, bỗng nghe một tiếng "xoẹt" rợn ngươi; bằng kinh nghiệm từng trải qua chiến trận, Hoàng Thọ Mạc thét lên: Khỏe nằm xuống! và ngay tức khắc, Mạc chồm lên người Khỏe, che đạn cho đồng đội. Một chớp lửa lóe lên trùm kín nơi Mạc và Khỏe nằm. Cả hai đều đã anh dũng hy sinh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2022, 10:43:46 pm Noi gương chiến đấu dũng cảm của Hoàng Thọ Mạc và Hoàng Văn Khỏe, các chiến sĩ đại đội xe tăng 3 và đại đội bộ binh 10 ào ạt xông lên đánh chiếm cầu. Địch chốt giữ ở hai bên đầu cầu bị tiến công dữ dội, phải bỏ xe và công sự, vứt súng đầu hàng. 8 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 4, sau khi đánh chiếm cầu Vĩnh Bình, Trung đoàn 27 nhanh chóng xốc lại đội hình, dùng tù binh dẫn đường khẩn trương vượt qua cầu Bình Phước, tiến đánh khu binh chủng Ngụy.
Từ 9 giờ 30 đến 10 giờ ngày 30 tháng 4, các đơn vị lần lượt phát triển tiến công đánh chiếm Bộ Tư lệnh thiết giáp, Căn cứ 60, Bộ Tư lệnh lục quân công xưởng, Căn cứ pháo binh, Tổng kho quân nhu, Căn cứ 31 và Tổng Y viện Cộng hòa. Trận đánh chiếm Bộ Tư lệnh thiết giáp - lực lượng mạnh nhất trong khu Bộ Tư lệnh các binh chủng quân Ngụy, đã diễn ra rất quyết liệt. Địch ở đây đã bố trí trận địa phòng ngự dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp bằng tất cả các loại xe tăng, thiết giáp hiện đại nhất nhằm ngăn chặn ta tiến công. Tại khu vực cổng chính Bộ Tư lệnh thiết giáp, hàng chục xe tăng địch tập trung hỏa lực bắn xối xả vào mũi đi đầu của Trung đoàn 27. Không chùn bước trước hỏa lực của địch, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 vẫn kiên quyết xông lên đánh chiếm căn cứ địch. Những chiếc xe tăng ta dẫn bộ binh tiến lên đánh thang vào đội hình xe tăng của chúng. Trong lúc cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt, phát hiện ra điểm yếu của địch là rất ít bộ binh nên chúng không dám nống ra phản kích; Chỉ huy trung đoàn quyết định thay đổi ngay cách đánh: Lệnh cho xe tăng dùng hỏa lực pháo trên xe chế áp trận địa địch; các phân đội bộ binh chia thành nhiều mũi, dùng B40, B41 áp sát tiêu diệt xe tăng địch. Nhận lệnh, đại đội xe tăng 3 dồn dập nã pháo vào trận địa địch. Các xạ thủ B40, B41 rời xe ô tô, vượt qua làn đạn địch tiến lên bắn cháy 10 xe tăng địch. Bị thiệt hại nặng nề, xe tăng địch phải lui về cố thủ trong trung tâm căn cứ. Các chiến sĩ Trung đoàn 27 tiếp tục truy kích tiêu diệt địch và triển khai bao vây chặt toàn bộ khu vực Bộ Tư lệnh thiết giáp. Không còn đường nào thoát, Trung tá Chiều - Chỉ huy căn cứ, buộc phải dẫn thuộc hạ ra hàng. Cùng lúc đó, trước sức tiến công táo bạo và dũng mãnh của ta, toàn bộ sĩ quan, binh lính địch chiếm giữ các khu binh chủng Ngụy và quận lỵ Gò Vấp buộc phải ra hàng, trong đó có tên Chuẩn tướng Phạm Bá Thanh - Tổng chỉ huy Y viện Cộng hòa và trung tâm tiếp huyết quân đội Ngụy, Đại tá Ngọc - chỉ huy khu kho quân nhu và Trung tá Chiến - chỉ huy phó căn cứ 60. Thừa thắng, lúc 10 giờ 30 phút, Trung ttoàn 27 tiếp tục phát triển tiến công đánh chiếm khu vực lục quân công xưởng và quận lỵ Gò Vấp. Toàn bộ quân địch ở đây không dám chống cự, kéo cò trắng ra hàng (trong đó có tên Chuẩn tướng Huỳnh Thu Toàn - Giám đốc điều hành lục quân công xưởng). Ta tịch thu nguyên vẹn trung tâm công nghiệp quân sự sửa chữa xe tăng, súng pháo, xe quân sự và trung tâm truyền tin điện tử lớn nhất của quân đội Ngụy ở miền Nam. Sau đó, một bộ phận của Tiểu đoàn 6 đi trên 7 xe vận tải do Tiểu đoàn trưởng Lê Thế Dũng phát triển vào đánh dinh Độc Lập, 4 xe vận tải do Tiểu đoàn phó Liên phát triển đánh sang Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Đến đây, hướng tiến công của Trung đoàn 27 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong khi Trung đoàn 27 tiến công đánh chiếm quận lỵ Lái Thiêu, cầu Vĩnh Bình, làm chủ đoạn đường từ Lái Thiêu vào cửa ngõ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho đội hình thọc sâu của quân đoàn phát triển nhanh hơn... thì Trung đoàn 48 từ Bắc Khánh Vân tăng tốc độ hành tiến, vượt qua Lái Thiêu, qua cầu Vĩnh Bình rồi tiến vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Cùng thời gian, Tư lệnh Quân đoàn quyết định bố trí thêm một cụm pháo binh thuộc Lữ đoàn 45 tại ngã tư Búng (triển khai trận địa cạnh Đường 13) bắn trực tiếp vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Trong khi pháo của ta bắn chính xác vào các mục tiêu quân sự của địch trong Thành phố (nhiều viên đạn pháo 130mm rơi trúng trung tâm hành quân, trung tâm thông tin và sân bay trực thăng trong Bộ Tổng Tham mưu Ngụy), Trung đoàn 48 nhanh chóng triển khai lực lượng đánh địch chặn đường ở ấp Gò Dừa và ngã tư Bình Phước. Trước áp lực tiến công của xe tăng, thiết giáp ta, quân Ngụy ở các vị trí nàv chống cự yếu ớt rồi hoảng hốt vứt súng chạy tháo thân. Khi cơ động đến Nam ấp Bình Phước, chuẩn bị tiến công trận địa chốt giữ tại Trường tiểu học Hiệp Bình thì Trung đoàn 48 nhận được điện của Tiểu đoàn 3 (đơn vị luồn sâu) báo cáo về "Địch đã phá hỏng cầu Bình Lợi trước khi đơn vị hành quân đến. Chúng tập trung Lữ đoàn kỵ binh 3 từ Biên Hòa rút về phối hợp cùng 2 đại đội bảo an, 2 đại đội chủ lực của Sư đoàn 18 và bọn tàn quân dù, lính thủy đánh bộ, biệt động quân... lập tuyến phòng thủ mới từ ấp Mai Liên đến cầu Bình Triệu". Trước tình hình ấy, Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng quyết định điều Tiểu đoàn 3 vận động khẩn trương về cầu Bình Triệu, phối hợp với lực lượng thọc sâu đánh chiếm cầu để mở đường tiến công. Cùng lúc đó, phân đội đi trước của hướng thọc sâu phát triển đến Nam ấp Bình Phước thì gặp địch chốt giữ tại Trường tiểu học Hiệp Bình ra ngăn chặn. Chúng dùng hỏa lực pháo cối và xe tăng bắn phá ác liệt vào đội hình ta. Trung đoàn trưởng lệnh cho Đại đội 3 xuống xe, chia làm 2 mũi bao vây, tiêu diệt địch; còn toàn bộ lực lượng thọc sâu nhanh chóng lướt qua tiến về cầu Bình Triệu. Càng tiến sâu vào phía trung tâm Thành phố, lực lượng địch phòng thủ càng dày đặc. Khi có lực lượng thọc sâu Trung đoàn 48 phát triển đến khu vực ấp Mai Liên (bắc cầu Bình Triệu) lại bị xe tăng và bộ binh địch ngăn chặn quyết liệt. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Thiều Quang Nông lệnh cho Đại đội 6 tiến công địch ở ấp Mai Liên, Đại đội 8 triển khai trận địa cối ngay trên mặt đường bắn chặn địch ở cầu Ông Đen, không cho chúng ra ứng cứu. Đại đội 5 phối hợp với lực lượng xe tăng tiến đánh cầu Bình Triệu. Nếu cầu hỏng, bộ đội sẽ vượt sông. Trận đánh của Đại đội 6 vào ấp Mai Liên gặp khó khăn. Địch chốt giữ ở đây chống trả rất quyết liệt. Chúng lợi dụng các công sự bao cát và thùng phuy đựng đất xếp thành lô cốt cố thủ, bắn ác liệt vào đội hình ta. Mũi tiến công do đại đội trưởng Bộ chỉ huy vẫn chưa phát triển được vào trong ấp. Phát hiện mấy ổ đề kháng và cụm xe tăng thiết giáp của địch, anh lệnh cho cối 60mm, 120mm tập trung tiêu diệt; cùng lúc đó hỏa lực pháo tăng và súng 12,7mm cũng bắn chế áp các lô cốt, công sự địch. Hai xe bọc thép của địch bị đạn pháo tăng của ta bắn thủng, bốc cháy dữ dội. Các mũi tiến công bộ binh Đại đội 6 ào lên đánh chiếm ấp Mai Liên. Một đại đội bộ binh Ngụy chốt giữ ở đây đã phải nhanh chóng nộp vũ khí đầu hàng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:51:02 am Trong khi Đại đội 6 đánh ấp Mai Liên, Tiểu đoàn 3 vận động tiến công trong hành tiến cắt Đường số 1 (đoạn giữa Thủ Đức - Bình Lợi), thì đội hình thọc sâu của Trung đoàn 48 nhanh chóng phát triển tiến công qua cầu Ông Đen, đánh thẳng vào trận địa địch phòng ngự ở ấp Bình Triệu. Xe tăng ta tiến công ào ạt, quân Ngụy vội vã tăng cường thêm hàng chục xe tăng - thiết giáp chốt chặn ngã tư xa lộ Đại Hàn và lập tuyến co cụm, phòng thủ dày đặc từ Nam cầu Ông Đen đến Bắc cầu Bình Triệu nhằm ngăn chặn ta qua cầu.
Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng lệnh cho các đơn vị phải kiên quyết đánh bại âm mưu co cụm của địch, đánh chiếm bằng được cầu Bình Triệu. Mũi tiến công của Tiểu đoàn 2 sau khi vượt qua ngã tư Đường số 1 và Đường 13, vòng bên phải theo Đường số 1 đánh thốc vào cụm quân địch phòng ngự ở phía Bắc cầu Bình Triệu. Trận chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Bộ binh, xe tăng địch dựa vào hệ thống lô cốt bê tông, bao cát và hỏa lực xe tăng bắn dữ dội vào đội hình ta. Đã có một số chiến sĩ ta bị thương nặng. Mũi tiến công của Tiểu đoàn 2 không phát triển được. Quyết không để bọn địch làm chậm tốc độ thọc sâu vào Sài Gòn, Trung đoàn 48 quyết định sử dụng lực lượng xe tăng thiết giáp, có bộ birh của Tiểu đoàn 2 ngồi trên xe thọc ngang qua đội hình địch, sau đó bộ binh xuống xe tổ chức thành 3 mũi tiến công. Mũi thứ nhất: đại đội bộ binh 6, do đại đội trưởng Nguyễn Trọng Bệ chỉ huy, vòng phía Tây Đường 13 đột kích thẳng vào giữa đội hình địch, mũi thứ hai, do Trung đội 3 Đại đội 6 phụ trách (Chính trị viên Trần Hạng chỉ huy) vòng sang phía Đông đánh vào sườn quân địch. Mũi thứ ba: đại đội bộ binh 5, do đại đội trưởng Lại Đức Lưu chỉ huy phối hợp cùng xe tăng từ phía Bắc theo Đường 13 đánh chính diện vào đội hình quân địch, dồn ép chúng lại. Cả ba mũi cùng đột phá nhanh, tiến công mạnh mẽ, đánh bật địch ra mà chiếm cầu, mở đường tiến công vào Thành phố. Trước giờ phút quyết định, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48 - đơn vị đã từng lập công xuất sắc, kiên cường dũng cảm vượt qua mưa bom, bão đạn của Mỹ - Ngụy, giữ vững Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm Mùa Hè năm 1972; nay lại tỏ rõ phẩm chất anh hùng, dù biết là có thể hy sinh trước cửa ngõ Sài Gòn trong ngày toàn thắng, nhưng quyết không để cho địch phá cầu. Không một ai chần chừ, do dự. Nhiều chiến sĩ xung phong vào đội cảm tử đột phá trận địa địch. Một chiến sĩ bị thương, vẫn tiếp tục chiến đấu không chịu về tuyến sau. Được hỏa lực cụm pháo binh quân đoàn trực tiếp chi viện, lực lượng xe tăng - thiết giáp của ta vừa tiến vừa bắn mãnh liệt vào đội hình xe địch. Các chiến sĩ bộ binh trên cả ba mũi tiến công dùng B40, B41 và tiểu liên bắn mãnh liệt vào xe tăng và bộ binh địch. Địch vẫn ngoan cố chống cự. Nhưng trước sức tiến công áp đảo của ta, chúng nhanh chóng bị tan rã và bỏ chạy hết từ vị trí này đến vị trí khác. Đến 8 giờ ngày 30 tháng 4, sau khi bị ta tiêu diệt thêm 2 xe tăng và 1 khẩu pháo tự hành 175mm, toàn bộ quân địch phòng ngự ở Bắc cầu Bình Triệu gồm các Thiết đoàn 18, 15, 22 của Lữ đoàn kỵ binh 3 cùng 2 tiểu đoàn lính dù, các đại đội lính biệt động và bảo an... buộc phải hạ vũ khí đầu hàng. Trận đánh kết thúc thắng lợi, ta thu được 144 xe tăng thiết giáp và chiến xa địch; 1 khẩu cao xạ 4 nòng và gọi hàng 1.500 tên địch. Điểm "tử thủ" cuối cùng của địch ở Bắc Sài Gòn đã bị đập tan. Tranh thủ thời cơ, Trung đoàn 48 sử dụng 8 chiếc xe tăng vừa thu được của địch, bắt lính Ngụy lái dẫn đường tiến vào đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Bộ Tổng Tham mưu Ngụy là một trong năm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch; là cơ quan đầu não, trung tâm điều hành chiến tranh của quân Ngụy Sài Gòn. Cấu trúc của Bộ Tổng Tham mưu Ngụy rất kiên cấ Nhà cửa được xây dựng hầu hết là 1 tầng và 2 tầng bằng vật liệu nặng. Tòa hành chính (văn phòng Tổng Tham mưu trưởng) được xây dựng 2 tầng, nền cao, trong đó có hầm trú ẩn và làm việc; trung tâm hành quân có hầm nổi bằng bê tông kiên cố, bên ngoài đắp bao cát. Phòng nhất, phòng nhì, phòng ba và các đơn vị 15, 16, 17 nhà bằng bê tông cốt thép. Tòa nhà chính và trung tâm hành quân có hầm ngầm và đường hào ngầm kiên cố. Xung quanh Bộ Tổng Tham mưu Ngụy có tường xây bằng bê tông và dây thép bao bọc; có 5 cổng ra vào nối thông với các trục đường lớn, gồm: cổng số 1, số 5 ở hướng Nam theo đường Võ Tánh chạy thẳng vào trung tâm Thành phố, cổng 2 và cổng 4 ở hướng Bắc đi ra quận lỵ Gò Vấp, cổng số 3 ra đường Võ Duy Nghi về khu binh chủng và lục quân công xưởng. Là cơ quan đẩu não của quân Ngụy Sài Gòn nên Bộ Tổng Tham mưu được chúng tổ chức canh phòng rất cẩn mật. Ở mỗi cổng ra vào đều có từ 2- 3 tổ hỗn hợp canh gác; các cổng chính đều được tăng cường lực lượng khoảng 1 đại đội quân cảnh, 1 đại đội an ninh quân đội và lính đặc nhiệm. Ngoài ra còn có lực lượng bảo vệ riêng Tổng hành dinh gồm: Tiểu đoàn biệt kích dù 81. Tiểu đoàn quân xa và một chi đoàn thiết giáp thường trực; có sân bay lên thẳng và lực lượng tuần tra cơ động được trang bị vũ khí hiện đại sẵn sàng chống trả các cuộc tiến công của đối phương. Khu vực phòng ngự chủ yếu của địch là trụ sở của Bộ Tổng Tham mưu (nơi đặt văn phòng Tổng Tham mưu trưởng) và trung tâm hành quân; trung tâm truyền tin và khu vực sân bay lên thắng. Sau khi đánh tan cụm quân địch phòng ngự khu vực cầu Bình Triệu, Trung đoàn 48 - lực lượng thọc sâu chủ yếu của Sư đoàn 320B nhanh chóng vượt cầu, qua ngã tư Phú Nhuận, tiến theo đường Võ Tánh vào đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Cùng lúc đó, cụm pháo binh Lữ đoàn 45 đặt tại Búng dồn dập bắn 47 phát đạn 130mm vào khu vực Bộ Tổng Tham mưu Ngụv. Một số viên đạn rơi trúng trung tâm hành quân, phá hủy sân bay trực thăng và khu kho đạn, kho xăng dầu làm bốc cháy dữ dội; trung tâm thông tin bị tê liệt hoàn toàn. Bọn địch trong Bộ Tổng Tham mưu Ngụy vô cùng hoảng lọan. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:51:48 am Khi tiến tới gần mục tiêu, Trung đoàn 48 cho đơn vị dừng lại trên đường Võ Tánh để điều chỉnh đội hình tiến công. Căn cứ vào tình hình bố phòng của địch, Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng quyết định triển khai đội hình thọc sâu làm 3 mũi tiến công vào Bộ Tổng Tham mưu.
Mũi 1: Gồm Tiểu đoàn 2 (thiếu 1 đại đội bộ binh), được tăng cường 8 xe tăng - thiết giáp cùng các phân đôi trinh sát, công binh, súng phun lửa và hỏa lực cối 82mm tiến công theo cổng số 1. Lúc 8 giờ 45 phút, bộ phận đi đầu đã tiếp cận mục tiêu. Địch ở trong cổng 1 lợi dụng công sự bắn chéo qua đại lộ Võ Tánh rất ác liệt, ngăn chặn ta. Tiểu đoàn 2 dùng cối 82mm và súng máy 12,7mm bắn chế áp 10 phút vào khu vực cổng 1. Lợi dụng kết quả hỏa lực, Đại đội 5 và 1 trung đội của Đại đội 7 vận động 2 bên đường Công Lý đánh ép vào cổng 1. Cùng lúc đó, từ trong cổng 1 có 2 chiếc M-48 chạy ra, vừa chạy vừa bắn mạnh vào 2 bên đường Công Lý để hòng thoát thân. Ngay lập tức, đồng chí Nguyễn Kiên - Trung đội phó và Tiểu đội trưởng Phạm Đình Văn dùng hỏa lực B41 bắn cháy 1 chiếc, chiếc còn lại tháo chạy theo đường Tân Bình về hướng trại Phi Long. Tiểu đoàn 2 dùng 4 xe, do đồng chí Tới - Chính trị viên phó Tiểu đoàn chỉ huy nhanh chóng truy kích bắn cháy chiếc xe này và sau đó chốt lại tại khu hành chính Tân Bình. Tiếp đó, ta sử dụng 2 chiếc xe tăng K-63 và 4 chiếc M-48 thu được của địch đột kích thẳng vào khu nhà 2 tầng. Địch rút nhanh về sân vận động và tổ chức chống trả. Lực lượng địch cố thủ trên tầng 2 dùng súng phun lửa xuống bắn xuống chiếc xe tăng M-48 do lính Ngụy lái; chiếc xe bốc cháy dữ dội, khói đen trùm kín khu vực cổng 1. Ta và địch giành giật nhau quyết liệt từng góc nhà. Địch tổ chức 2 đợt phản kích nhưng đều bị ta bẻ gãy; tuy nhiên mũi tiến công của Đại đội 5 cũng không qua được cổng 1. Tổ cắm cờ do Lại Đức Lưu phụ trách phải vòng sang cổng số 2. Mũi 2: Gồm Đại đội 7 (được tăng cường 4 xe tăng - thiết giáp); đại đội cối 120mm, đại đội súng cao xạ 12,7mm, một trung đội công binh hỗn hợp và xe chỉ huy tiến công vào cổng số 2. Lúc 9 giờ ngày 30 tháng 4, sau khi dùng hỏa lực cối 120mm chế áp mục tiêu địch, bộ đội ta được xe tăng yểm trợ, xung phong đánh chiếm cổng 2, sau đó tiến về khu vực tháp nước và cắm cờ chiến thắng lên vị trí cao nhất trên tháp nước trong khu vực Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Tổ cắm cờ của Lại Đức Lưu phối hợp cùng Đại đội 7 tiếp tục phát triển tiến công sang sân bay lên thẳng, tiếp về trụ sở Bộ Tổng Tham mưu Ngụy và bắt được liên lạc với mũi tiến công từ cổng 1. Mũi 3: Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 (được tăng cường 6 xe tăng và 4 khẩu pháo cao xạ 37mm 2 nòng) theo đường Võ Duy Nghi từ hướng Bắc đánh xuống cổng 3 khoảng 200m, Đại đội 6 bị địch chốt giữ trong khu tiếp liệu bắn chặn rất ác liệt. Đạn súng máy, tiểu liên cực nhanh từ các ô cửa quét ràn rạt xuống mặt đường; 5 chiến sĩ Đại đội 6 bị thương nặng, phải đưa về tuyến sau. Trước tình hình đó, chính trị viên Trần Hạng quyết định dùng hỏa lực 12,7mm trên xe tăng và pháo cao xạ 37mm bắn tiêu diệt các ổ đề kháng của địch. Sau đó Đại đội 6 chia thành 2 mũi tiến công; Hướng thứ nhất do chính trị viên Trần Hạng chỉ huy, vượt qua làn đạn địch nhằm hướng trụ sở Bộ Tổng Tham mưu Ngụy tiến vào. Mũi thứ 2 do đại đội phó Dương dẫn đầu tiến công tiêu diệt địch trong khu tiếp liệu và phát triển sang trung tâm viễn thông, bắt liên lạc được với mũi tiến công của Đại đội 7, sau đó phối hợp với Đại đội 7 đánh chiếm trận địa pháo 105mm, chiếm phòng nhất, phòng nhì và tổng cục tiếp vận trong trung tâm căn cứ. Trong khi đó, mũi tiến công do chính trị viên Mạnh chỉ huy cùng tổ cắm cờ của Lại Đức Lưu vận động tiến công đánh chiếm cụm quân huấn rồi theo đường Ngô Xuân Soạn phát triển lên. Một phân đội bộ binh của Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) từ hướng sân bay Tân Sơn Nhất phát triển sang phối hợp cùng Trung đoàn 48 đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, ba mũi tiến công từ ba cổng đã gặp nhau ở khu vực cột cờ trước sân trụ sở Bộ Tổng Tham mưu. Trước sức tiến công áp đảo của ta, binh lính sĩ quan địch thuộc Tiểu đoàn biệt kích dù, Tiểu đoàn bảo vệ Tổng hành dinh và các đơn vị đặc nhiệm khác đã phải lột bỏ quân phục, vứt súng chạy tháo thân. Ta bắt 1 Đại tá, 1 Đại úy và nhiều binh sĩ địch. Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng và Chính ủy Trung đoàn Lê Xuân Yến tiến vào phòng làm việc của Cao Văn Viên - Tổng Tham mưu trưởng quân Ngụy Sài Gòn thu hồi ấn, kiếm (có 3 con dấu của Cao Văn Viên - Tổng Tham mưu trưởng và Trưởng đoàn DAO Mỹ) cùng nhiều tài liệu quan trọng khác. Tổ cắm cờ gồm 3 đồng chí: Lại Đức Lưu, Hoàng Xuân Tiến, Nguyễn Văn Đông, do đại đội trưởng Lại Đức Lưu chỉ huy nhanh chóng vận động lên cắm lá cờ giải phóng trên nóc nhà trụ sở Bộ Tổng Tham mưu Ngụy trong tiếng reo hò của cán bộ, chiến sĩ; lúc đó khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau khi đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 320B dùng Trung đoàn 64 phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm căn cứ Gia Long và Bộ Quốc phòng Ngụy; Trung đoàn 64 tiến công đánh chiếm tiểu khu Gia Định. Một lực lượng khác do đồng chí Lê Minh - Tham mưu trưởng Sư đoàn chỉ huy phát triển sang Dinh Độc Lập; khi đến nơi thấy đơn vị bạn đã chiếm giữ ở đó liền quay sang cùng lực lượng của Trung đoàn 64 chiếm giữ các mục tiểu khu vực Bộ Quốc phòng Ngụy. Đến 16 giờ ngày 30 tháng 4 nàm 1975, các hướng chiến đấu của Quân đoàn đều đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ được giao. Một số đơn vị tiếp tục truy quét những tên địch ngoan cố chống cự, gọi hàng bọn địch còn lẩn trốn. Đồng thời, các đơn vị phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Quân quản, chính quyền địa phương triển khai phương án bảo vệ vùng mới giải phóng và các mục tiêu đã đánh chiếm, tổ chức tiếp nhận sự trình diện của sĩ quan và binh lính địch; tổ chức các tổ công tác giúp chính quyền địa phương giữ gìn trật tự trị an, ổn định đời sống nhân dân trong vùng mới giải phóng trên khu vực đứng chân của Quân đoàn. Cũng trong thời gian này, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn tiếp tục chỉ đạo, quán triệt các đơn vị thực hiện nghiêm chỉnh chính sách tù hàng binh, chính sách thương binh tử sĩ và nhiều quy định về tiếp quản vùng giải phóng; các quy định về canh gác, bảo vệ an toàn các mục tiêu trọng điểm như: Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, khu Bộ Tư lệnh các binh chủng, khu lục quân công xưởng, trung tâm tiếp huyết và tổng y viện cộng hòa... Như vậy chỉ sau 2 ngày đêm chiến đấu, Quân đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Với lối đánh "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", Quân đoàn đã tiến công dũng mãnh, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng được giao như: Bộ Tổng Tham mưu - cơ quan đầu não của quân Ngụy Sài Gòn, khu Bộ Tư lệnh các binh chủng, lục quân công xưởng, phối hợp cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nổi dậy giải phóng tiểu khu Gia Định, quận lỵ Gò Vấp, tiểu khu Bình Dương và các chi khu: Bến Cát, Châu Thành, Tân Uyên, Lái Thiêu; giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Dương, phần lớn tỉnh Gia Định và góp phần quan trọng giải phóng Thành phố Sài Gòn. Quân đoàn đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn Sư đoàn bộ binh 5 Ngụy; các Thiết đoàn 1, 18, 22 và một bộ phận Thiết đoàn 15; 2 Tiểu đoàn bảo an 306 và 316; tiêu diệt 795 tên địch (trong đó có tên Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ - Tư lệnh Sư đoàn 5 Ngụy buộc phải tự sát); bắt làm tù binh 13.580 tên (trong đó có 3 Đại tá, 26 Trung tá, 114 Thiếu tá, 925 sĩ quan cấp úy). Bắn cháy và phá hủy 60 xe tăng địch, 3 khẩu pháo 105mm, 2 cối 81mm, bắn rơi 1 máy bay trực thăng; thu 113 xe tăng, thiết giáp, 583 xe quân sự, 105 khẩu pháo cối các loại, 22 tàu, xuồng chiến đấu, 12 bộ siêu tần số, 100 máy vô tuyến điện các loại và toàn bộ trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh trong khu vực Bộ Tổng Tham mứu Ngụy, khu binh chủng và lục quân công xưởng quân đội Ngụy. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:53:35 am II. Cánh quân Duyên Hải - Vu hồi, thọc sâu từ hướng Đông Nam
Quân đoàn 2 được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Quân khu Trị - Thiên. Lực lượng những ngày đầu mới thành lập gồm 3 Sư đoàn bộ binh: 304, 324, 325; Sư đoàn phòng không 673; Lữ đoàn pháo binh 164; Lữ đoàn xe tăng 203; Lữ đoàn công binh 219; Trung đoàn thông tin 463 và một số đơn vị trực thuộc khác. Tư lệnh Quân đoàn lúc đầu là đồng chí Hoàng Văn Thái (đồng chí Thái khác, không phải đồng chí Hoàng Văn Thái nguyên Tổng Tham mưu trưởng). Khi bắt đầu mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng thì Tư lệnh Quân đoàn là đồng chí Nguyễn Hữu An. Trong lúc chiến dịch Tây Nguyên tập trung đánh địch phản kích ở Buôn Ma Thuột và tổ chức chặn đánh, tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 Ngụy rút chạy trên Đường 7, thì Quân khu Trị Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 mở hai chiến dịch quy mô vừa, đánh địch ở đầu phía bắc thuộc Quân đoàn 1, Quân khu 1 Ngụy. Đó là chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Trên hướng Trị Thiên, từ ngày 15 tháng 3, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị Thiên và một bộ phận của Quân đoàn 2 hoạt động mạnh ở vùng Phú Lộc, Phú Thứ làm chủ 13 xã, giải phóng trên 30.000 dân thuộc các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà; vây địch ở cao điểm 367, đánh địch ở Động Ông Do, An Lỗ, Lăng Cô; chiếm cứ điểm Chúc Mao, Na Sơn. Ngày 19, bộ binh và xe tăng ta vượt sông Thạch Hãn, giải phóng thị xã và phần còn lại của tỉnh Quảng Trị, uy hiếp trực tiếp Thành phố Huế. Trên hướng Tây Nam Đà Nẵng và đồng bằng Trung Bộ, Quân khu 5 đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, giải phóng các huyện Tiên Phước, Phước Lâm, Sơn Hà, Trà Bồng cùng nhiều xã ở vùng giáp ranh, uy hiếp Đà Nẵng từ phía Nam. Ngày 20 tháng 3, trước sự phát triển nhanh chóng của ta ở Tây Nguyên và các hướng khác, Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng giải phóng Huế và Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn 1 và 2 Ngụy từ hai phía Bắc và Nam, bao vây cô lập tiến tới tiêu diệt cụm quân địch ở Đà Nẵng, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 1 Ngụy, giải phóng các tỉnh Trị Thiên và bắc Khu 5. Bộ đội Tây Nguyên phát triển xuống đồng bằng, tiêu diệt nốt Quân đoàn 2 Ngụy, giải phóng các tỉnh nam Khu 5. Tiếp đó, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng1 (Trên thực tế, do tình huống biến động quá nhanh, Tư lệnh chiến dịch từ Hà Nội vào, Chính ủy từ Nam ra chưa kịp gặp nhau trong suốt quá trình chiến dịch (tuy có trao đổi ý kiến qua hệ thống thông tin), nên chiến dịch này cơ bản do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo), lấy tên là mặt trận 475, do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy và quyết định đánh Đà Nẵng theo phương án địch rút chạy. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Quân khu Trị Thiên, Quân đoàn 2, Quân khu 5 đã nhanh chóng chuyển hai chiến dịch quy mô vừa thành chiến dịch tiến công quy mô lớn giải phóng Huế - Đà Nẵng. Bước vào chiến dịch này, Quân khu Trị Thiên được tăng cường Trung đoàn bộ binh 46, Quân đoàn 2 có thểm Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) và Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304. Hướng Khu 5 có Sư đoàn 2, Sư đoàn 304 (thiếu). Trước cuộc tổng tiến công chiến lược xuân 1975 của ta, Quân khu 1 của địch bao gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngãi được coi là chiến trường trọng điểm, một hướng phòng thủ chủ yếu, ngăn chặn trực tiếp tiến công của ta từ miền Bắc vào. Chúng bố trí ở đây 5 Sư đoàn bộ binh (1, 2, 3, sư dù và sư thủy quân lục chiến), 4 Liên đoàn biệt động quân, 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng, xe thiết giáp, 21 tiểu đoàn pháo mặt đất (418 khẩu từ 105 - 175mm), 1 sư đoàn không quân (96 chiếc máy bay), 3 duyên đoàn và giang đoàn, nhiều tiểu đoàn bảo an cùng lực lượng dân vệ và phòng vệ dân sự, cảnh sát. Địa hình các tỉnh Trị Thiên - Huế, Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi dài và hẹp. Đường 1 chạy dọc từ Bắc vào Nam, chia vùng đồng bằng hẹp ra hai phần gần như bằng nhau. Trong khoảng không gian này, ngoài các căn cứ lớn của địch ở Huế, Đà Nẵng, Chu Lai, trung bình 60km có một thị xã, 8 đến 15km có một thị trấn, quận lỵ. Tuyến đường nối các thị trấn, quận lỵ hoạt động tốt. Dựa vào hệ thống các thị trấn, quận lỵ, thị xã và các Điểm cao khống chế, địch tổ chức thành các cụm cứ điểm nằm trong tầm hỏa lực chi viện của pháo binh, tạo thành một hệ thống phòng ngự liên hoàn khá chặt chẽ. Trung bình khoảng 15 đến 25km, địch tổ chức và xây dựng một căn cứ cấp trung đoàn hoặc sư đoàn, các căn cứ này vừa là điểm then chốt của hệ thống phòng ngự, vừa là bàn đạp để triển khai lực lượng phản kích1 (Vào thời điểm ta tiến hành chiến dịch, lực lượng địch bố trí như sau: Thừa Thiên có Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở Hiệp Khánh; Sư đoàn 1 (có 4 Trung đoàn 1, 3, 51, 54) bố trí ở Hòn Vượn, La Sơn, Mỏ Tàu, Hương Thủy; 2 Liên đoàn bảo an 913, 914 ở Hương Điền, An Lỗ; Liên đoàn 15 biệt động quân, 3 thiết đoàn 17, 7, 20; 7 Tiểu đoàn pháo, với tổng số là 46.500 tên, trong đó 27.500 chủ lực, 19.000 địa phương quân. Ngoài ra còn 36.000 tên phòng vệ dân sự (cố 23.000 tên được vũ trang). Lực lượng địch ở Nam Ngãi có Sư đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 5), Liên đoàn 12 biệt động quân, Trung đoàn 5 thiết giáp (thiếu), 4 Tiểu đoàn bảo an ở Tam Kỳ, Quảng Nam; 2 Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 6 Sư đoàn 2, 2 Tiểu đoàn bảo an, 1 Tiểu đoàn và ban chỉ huy Trung đoàn 2 ở căn cứ Chu Lai; ở Quảng Đà có Sư đoàn thủy quân lục chiến (thiếu Lữ 147) và Sư đoàn 3 (thiếu)). Về ta, để chuẩn bị cho đợt hoạt động trong năm 1975, cùng với lực lượng vận tải của Đoàn 559, lực lượng vận tải của 2 Quân khu Trị Thiên - Huế và Khu 5 đã chuyển vào chiến trường hàng chục vạn tấn lương thực, đạn dược, khí tài và nhiên liệu, ở Trị Thiên, đã đảm bảo được 14 tháng lương thực cho bộ đội, xăng dầu đủ hoạt động cho cả năm 1975, đạn đủ cho chiến đấu và có dự trữ cho phát triển. Ở vùng đồng bằng Khu 5, do chiến trường ở xa hậu phương nên việc đảm bảo chưa đáp ứng được yêu cầu. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:54:14 am Chiến dịch Huế - Đà Nẵng chính thức bắt đầu từ ngày 21 tháng 3 năm 1975 (vào thời điểm sau khi địch tháo chạy khỏi Quảng Trị, và Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho tiền phương Quân đoàn 1 Ngụy rút khỏi Thừa Thiên - Huế, tổ chức phòng thủ cliặn quân ta ở Bắc đèo Hải Vân) và diễn ra theo hai đợt.
Đợt 1 (từ 21 đến 26 tháng 3), ta tiến công giải phóng Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, uy hiếp Đà Nẵng từ hướng Bắc và hướng Nam. Trên hướng Thừa Thiên - Huế: ở Nam Huế, ngày 21 tháng 3, Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325 tiến công diệt gọn Tiểu đoàn 6 Ngụy trên các Điểm cao 294, 520, 560, chiếm núi Kim Sắc. Trung đoàn 1 và 2 của Sư đoàn 324 đánh chiếm núi Bông, Điểm cao 214, 303 nhưng không thành công. Tình hình hết sức khẩn trương, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 chủ trương đưa Sư đoàn 325 nhanh chóng xuống cắt Đường 1 (Huế - Đà Nẵng), sẵn sàng tiến công vào Hương Điển; Sư đoàn 324 bỏ qua tuyến phòng ngự vững chắc của địch ở núi Bông - núi Nghệ - Mỏ Tàu - Điểm cao 303, tiến về Đường 1 phối hợp với Sư đoàn 325 chia cắt địch. Thực hiện ý định trên, trưa ngày 22, Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325 tiến công địch ở Điểm cao 592, sau đó truy kích chúng đến Điểm cao 273, 44, áp sát Hương Điền; Trung đoàn 1 (Sư đoàn 324) tiến đến thôn Bao Vinh; pháo binh của Quận đoàn sử dụng 2 khẩu 130mm kiềm chế địch ở La Sơn, Hương Điền, Mũi Né. Như vậy đoạn Đường 1 Huế - Đà Nẵng bị ta cắt. Ở bắc Huế, các Tiểu đoàn 8, 812, 14 địa phương tiến công địch ở Mỹ Chánh, Lương Mai, Vân Trình. Trước sức ép của ta, địch rút về An Lỗ, Hòn Vượn. Trước áp lực tiến công của ta từ các hướng, ngay tôi 22 tháng 3, Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1 Ngụy vội vã rút về Đà Nẵng bằng máy bay trực thăng và lệnh cho các lực lượng còn lại tổ chức rút khỏi Huế. Đêm 23, địch ở Huế bắt đầu rút quân theo 3 cánh: Cánh 1 gồm Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, Liên đoàn 14 biệt động quân, Trung đoàn 5 (Sư đoàn 1), Lữ đoàn 1 ky binh thiết giáp ra cửa Thuận An theo đường thủy vào Đà Nẵng; cánh 2 gồm Trung đoàn 3 (Sư đoàn bộ binh 1), Lữ đoàn 15 biệt động quân ra Cự Lại (Nam cửa Thuận An 6km); cánh 3 gồm 2 Trung đoàn 1 và 54 của Sư đoàn bộ binh 1 ra cửa Tư Hiền theo đường thủy vào Đà Nẵng. Chấp hành chỉ thị của Bộ, Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 nhanh chóng phát triển tiến công tiêu diệt quân địch co cụm tại Huế từ 2 hướng: Bắc, Tây Nam và Nam Huế, đồng thời tổ chức lực lượng ngăn chặn không cho địch rút về Đà Nẵng. Trên hướng Nam Huế, từ đêm 22 thắng 3, Sư đoàn 324 tiến công tiêu diệt quân địch ở Phú Hải, sau đó sử dụng Trung đoàn 1 vượt qua phá Tam Giang tiến đánh quân địch ở Kẻ Sung, Cự Lại, chặn đường rút của địch ra cửa Tư Hiền; tiếp đó, đánh chiếm cảng Tân Mỹ và bờ nam cửa Thuận An: Trung đoàn 2 theo bờ tây phá Tam Giang tiến thẳng về Đông Huế cùng Trung đoàn 1 bịt chặt cửa Thuận An, tiến công cánh quân 1 của địch. Trung đoàn 3 cùng xe tăng phối hợp với Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) đánh chiếm quận lỵ Hương Điền, sau đó phát triển theo Đường 1 tiến công đánh chiếm La Sơn. quận lỵ Hương Thủy: Bị đánh cả phía trước và phía sau, địch ở Phú Bài bỏ cả xe pháo chạy vê cửa Thuận An. Trung đoàn 101 tiến vào An Cửu, Trung đoàn 3 đánh thẳng vào nội đô, đúng 13 giờ ngày 25 tháng 3, ta cắm cờ lên đỉnh Phú Văn Lâu. Trung đoàn 18 đánh chiếm Phú Lộc, đến 11 giờ 40 phút ngày 26 tháng 3, đã chiếm được ga Thừa Lưu và truy kích về Thổ Sơn. Cũng trong thời gian này, ngày 24 tháng 3, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 5 địa phương đã đến chốt ở cửa Tư Hiền, sáng ngày 26 Trung đoàn 101 tiến đánh quân địch rút chạy về cửa Tư Hiền. Trên hướng Bắc Huế, phía cánh đông, Tiểu đoàn 3 (Quảng Trị) cùng 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh tiến công đánh chiếm Thanh Hương, Đại Lộc, quận lỵ Hương Điền, sau đó vượt sông Mỹ Chánh đánh vào Phố Trạch, Lương Mai, ngày 25 tháng 3, tiến đến cửa Thuận An. Ở cánh giữa, ngày 24, các Tiểu đoàn 14, 812 Quảng Trị truy kích quân địch khi chúng rút bỏ Mỹ Chánh, tiến về Bao Vinh, ngã ba Sình. Phía cánh Tây, ngày 23, Trung đoàn 4 cùng Tiểu đoàn 8 Quảng Trị tiến đánh Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở nam sông Bồ; sang ngày 24, địch phản công quyết liệt, những bị ta đánh thiệt hại nặng phải rút. Ngày 25 tháng 3, Trung đoàn 4 tiên xuống ngã ba Sình, Tiểu đoàn 8 tiên xuống An Hòa, sau đó tiến vào đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong Thành phố Huế. Trên hướng Tây Huế - Đường 12, Trung đoàn 6 và Trưng đoàn 271 đến đêm 25 mới vượt sông vào Huế, ngày 26, tiến vào đánh chiếm các mục tiêu ở khu tam giác và Đông Thành phố Huế, phối hợp với bộ đội chủ lực bộ đội địa phương và du kích trong địa bàn tác chiến hỗ trợ cho nhán dân nổi dậy diệt ác trừ gian giành quyền làm chủ. Như vậy đến ngày 26 tháng 3, ta đã giải phóng toàn bộ Thừa Thiên - Huế, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch gồm Sư đoàn bộ binh 1, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, 2 Liên đoàn biệt động quân (14, 15), Lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp và các tiểu đoàn pháo binh, bảo an, lực lượng dân vệ và phòng vệ dân sự cùng hệ thống Ngụy quyền các cấp (chỉ có Sở chỉ huy Quân đoàn 1, Sư đoàn 1, và bộ phận tàn quân khoảng 16.000 tên chạy thoát về Đà Nẵng). Thắng lợi của trận then chốt Thừa Thiên - Huế đẩy quân Ngụy suy sụp nhanh về tinh thần và tổ chức, tạo thế cho ta thực hiện trận then chốt quyết định kết thúc chiến dịch. Ở Nam Ngãi (Quân khu 5), ngày 21 tháng 3, Lữ đoàn bộ binh 52 và Trung đoàn 36 chặn đánh quân viện của địch ở tây Tam Kỳ, diệt hai tiểu đoàn và sở chỉ huy Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 2 Ngụy, tại núi Vàng, Dương Khế, Bãi Thân, Tân Lợi, Chào Gò, Khánh Thọ. Sáng ngày 24 tháng 3, Sư đoàn bộ binh 2 bắt đầu tiến công tuyến phòng ngự vững chắc của Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 12 biệt động quân Ngụy ở thị xã Tam Kỳ. Trung đoàn 1 được tăng cường Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 31), Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 38) và 10 xe tăng tiến công trên hướng chủ yếu, đột phá vào tuyến phòng ngự của Trung đoàn 4 và 1 Tiểu đoàn Ngụy từ Suối Đá - Bắc sông Tam Kỳ. Trung đoàn 38 (thiếu) tiến công vào hai Tiểu đoàn 37 và 39 thuộc Liên đoàn 12 biệt động quân ở Tây thị xã. Tiểu đoàn 90 luồn sâu áp sát ngã ba Trường Xuân để phối hợp nhanh chóng tiến công các mục tiêu trong thị xã. Năm giờ 30, ta nổ súng, đến 10 giờ 30, ta làm chủ hoàn toàn thị xã Tam Kỳ. Ở phía Nam, Trung đoàn 36 đánh chiếm cầu Bà Bầu, sau đó phát triển xuống An Xuân giải phóng quận lỵ Lý Tín. Phía Bắc, Trung đoàn 3S đánh cắt Đường 1 ở Chiên Đàng. Phía đông, hai Tiểu đoàn 70 và 72 cùng lực lượng vũ trang huyện Tam Kỳ hỗ trợ nhân dân nổi dậy giải phóng các xã ven biển. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:54:58 am Ở Quảng Ngãi, trong ngày 24, Tiểu đoàn 6 (Lữ đoàn 52), Tiểu đoàn 405, 408 đặc công, Tiểu đoàn 7 địa phương được sự chi viện của xe tăng, pháo binh đã đánh chiếm các mục tiêu quan trọng ở ngoại vi Quảng Ngãi, bịt cửa sổng Cổ Lũy. Trung đoàn 94 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công Liên đoàn 11 biệt động quân ỏ Bắc Tà Khúc, chiếm núi Võ, cầu Ô Sông, cầu Nước Mặn, cắt Đường 1 đoạn Tư Nghĩa - Mộ Đức, chiếm núi Võng, pháo kích địch ở Gò Nội. Tiểu đoàn 20 cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh chiếm quận lỵ Nghĩa Hành. Quân và dân hai huyện Mộ Đức và Đức Phổ đánh tan hai tiểu đoàn bảo an và một bộ phận hậu cần của Trung đoàn 4 Ngụy, giải phóng quận lỵ vào sáng 25. Tiểu đoàn 81 và Đại đội 95 Bình Sơn hỗ trợ nhân dân nổi dậy làm chủ quận lỵ Bình Sơn. Địch ở Quảng Ngãi hoảng loạn rút về Chu Lai, bị Trung đoàn 94 cùng lực lượng vũ trang Quảng Ngãi chặn đánh quyết liệt, diệt và bắt hơn 4.000 tên. Sáng ngày 26 tháng 3. Trung đoàn 36 ở Lý Tín dùng pháo 85mm bắn vào căn cứ Chu Lai, địch rút khỏi đây, một bộ phận Lữ đoàn 52 vào chiếm căn cứ này.
Đến ngày 26 tháng 3, ở Nam Ngãi ta đã tiêu diệt và đánh tan Sư đoàn 2, 2 liên đoàn biệt động quân, các đơn vị thiết giáp, pháo binh, cùng lực lượng địa phương quân của địch, giải phóng tỉnh Quảng Ngãi và phần lớn tỉnh Quảng Nam. Đợt 2 (từ 27 đến 29 tháng 3), tiến công tiêu diệt lực lượng còn lại của Quân đoàn 1 Ngụy, giải phóng Đà Nẵng. Bị mất Trị Thiên - Huế, Quảng Ngãi và phần lớn tỉnh Quảng Nam, căn cứ Đà Nẵng, căn cứ quân sự liên hợp hiện đại và mạnh vào bậc nhất của địch hoàn toàn bị cô lập. Lúc này lực lượng địch ở Đà Nẵng khoảng hơn 7 vạn tên1 (Cụ thể gồm: Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến bố trí Lữ 258 ở Bắc đèo Hải Vân - Liên Chiểu; Lữ 369 ở Đại Lộc, Đông Lâm, Bộ Tư lệnh Sư đoàn và tàn quân Lữ 147 ở Nước Mặn. Sư đoàn 3 bộ binh bố trí: Trung đoàn 56 ở Vĩnh Diện, Trung đoàn 57 ở Đại Lộc, Trung đoàn 2 ở Ninh Quế. Tàn quân của Sư đoàn 1 ở trong Thành phố, tàn quân của Sư đoàn 2 ở Cù Lao Ré, tàn quân của Liên đoàn 12 biệt động quân ở cầu Bù Rén. Ngoài ra còn hai Thiết đoàn 11 và 20, 7 Tiểu đoàn pháo, Sư đoàn 1 không quân (279 chiếc trong đó có 96 máy bay chiến đấu), 15 Tiểu đoàn bảo an, 240 Trung đội dân vệ, 24.000 phòng vệ dẫn sự), vũ khí trang bị còn mạnh, nòng cốt là Sư đoàn 3 và Sư đoàn lính thủy đánh bộ, do Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngụy chỉ huy. Tinh thần của địch hết sức hoang mang nhưng vẫn hô "tử thủ Đà Nẵng" và tính toán rằng nếu ta muốn tiến công Đà Nẵng thì phải chuẩn bị ít nhất 1 tháng. Về phía ta, trước sự phát triển nhanh chóng của chiến trường, ngày 24 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công vào Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng". Do Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch chưa kịp hoàn chỉnh (hai đồng chí Tư lệnh và Chính ủy chỉ trao đổi thống nhất với nhau qua điện đài) nên Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp điều hành trận đánh lớn có tầm quan trọng chiến lược này. Quân đoàn 2 và Quân khu 5 được lệnh tập trung lực lượng tiến công Đà Nẵng theo phương án địch ở tư thế rút chạy. Sáng ngày 28 tháng 3, pháo lớn của Quân đoàn 2 ở đèo Mũi Trâu bắt đầu bắn vào sân bay Nước Mặn và bán đảo Sơn Trà. Pháo của Quân khu 5 bắn vào Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện. Bộ binh, xe tăng ta từ ba hướng Bắc, Tây Nam và Nam tiến công mạnh mẽ quân địch trên đường, thần tốc tiến về hướng Đà Nẵng. Trên hướng Bắc, ngày 28, Trung đoàn 18 chiếm ga Lăng Cô và đánh bại các đợt phản kích của địch. 5 giờ ngày 29, Trung đoàn được tăng cường 1 đại đội xe bọc thép PT85 mở đợt tiến công quân địch tại đèo Hải Vân. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra rất ác liệt. Trung đoàn dùng hỏa lực xe tăng bắn áp đảo địch và tổ chức một mũi bộ binh vu hồi vào bên sườn đánh tan quân địch tại đây. Khoảng 8 giờ, Trung đoàn lên đến đỉnh đèo, sau đó chiếm kho xăng Liên Chiểu ở chân đèo, rồi vượt cầu Trịnh Minh Thế, đánh thẳng ra bán đảo Sơn Trà. 13 giờ 30, Trung đoàn làm chủ quân cảng ngụy ở bán đảo Sơn Trà. Trên hướng Tây Bắc, tối 28, Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) cùng 1 tiểu đoàn xe tăng hành quân bằng cơ giới chuẩn bị đánh địch ở Đá Đen thì được tin chúng đã rút, Trung đoàn lập tức chuyển sang hành tiến tiến công địch và đã lần lượt đánh chiếm Phước Tượng, Hòa Khánh, sở chỉ huy Sư đoàn 3 Ngụy. Sau đó Trung đoàn đưa một bộ phận vào giữ một số mục tiêu quan trọng trong thành phố, số còn lại cùng Tiểu đoàn xe tăng đánh sang bán đảo Sơn Trà với Trung đoàn 18. Trên hướng Nam và Đông Nam, từ 9 giờ đến 10 giờ ngày 28, Trung đoàn 38 (Sư đoàn 2) cùng Trung đoàn 96 địa phương đánh chiếm các khu vực: Bà Rén, quận lỵ Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước, Đường 14. Địch dùng máy bay ném bom sập cầu Bà Rén, Câu Lâu để ngăn chặn ta. Đảng bộ và nhân dân địa phương đã huy động các phương tiện chơ bộ đội vượt sông để tiến công quân địch. Ngày 29, Trung đoàn 38 tiến công địch ở Vĩnh Điện. Trung đoàn 1 vòng qua Vĩnh Điện, đánh tan địch ở Viên Tây rồi phát triển vào Đà Nẵng. Trung đoàn 31 vượt cầu Kỳ Lâm bám sát đội hình của Trung đoàn 1. Lúc 11 giờ 45, Tiểu đoàn 40 (Trung 3oàn 1) đánh tan quân địch ở bến đò Su, rồi phát triển đánh chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy. Cùng thời gian trên hai Tiểu đoàn 60 và 90 (Trung đoàn 1) và Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 31) đánh chiếm Bộ Tư lệnh Sư đoàn không quân và sân bay Đà Nẵng. Phối hợp với Sư đoàn 2, Trung đoàn 96, Tiểu đoàn 491 và Đại đội biệt động Lê Độ đánh chiếm Tòa thị chính, Quân tiếp vụ và Đài phát thanh. Trên hướng Đông, 8 giờ ngày 29, Trung đoàn 97 địa phương đánh chiếm thị xã Hội An, Non Nước và sân bay Nước Mặn. Từ 13 giờ 30 đến 15 giờ, Trung đoàn tiến công vào quân địch ở An Đông, phối hợp với Trung đoàn 38 diệt địch ở Mỹ Khê. 15 giờ ngày 29 tháng 3, quân ta đã chiếm toàn bộ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà, kết thúc trận đánh then chốt quyết định, hoàn thành thắng lợi mục tiêu chiến dịch đặt ra. Kết quả toàn chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 120.000 tên (có 6.000 tên chạy thoát), trong đó bắt tại trận là 55.000 tên, số còn lại ra hàng. Tiêu diệt 3 Sư đoàn bộ binh (1, 2, 3); Sư đoàn thủy quân lục chiến, 4 Liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 15), 5 thiết đoàn (4, 7, 11, 17, 20); 21 tiểu đoàn, 4 đại đội, 14 trung đội pháo; Sư đoàn 1 không quân; 50 tiểu đoàn và 50 đại đội bảo an; 6 đại đội quân cảnh. Ta thu 129 máy bay, 179 xe tăng, xe thiết giáp, 327 khẩu pháo, 47 tàu xuồng, 1084 xe quân sự và nhiều đạn dược nhiên liệu, nguyên liệu; đập tan hệ thống phòng thủ của Quân đoàn 1, Quân khu 1 Ngụy, giải phóng 5 tỉnh (có hai thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng) với hơn 2 triệu dân. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng đại thắng có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, góp phần làm thay đổi so sánh thế và lực trên chiến trường, tạc ra sự nhảy vọt vê cục diện chiến tranh hoàn toàn có lợi cho ta; trực tiếp đập tan ý định co cụm chiến lược của địch, tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi để ta đẩy mạnh cuộc Tổng tiến công chiến lược, tập trung lực lượng áp đảo cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng tại sào huyệt iịch ở Sài Gòn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:56:08 am Hành quân thần tốc giải phóng các tỉnh Duyên Hải miền Trung
Theo mệnh lệnh của Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tống Tham mưu trưởng và Trung tướng Lê Quang Hoà, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, trực tiếp chỉ huy cánh quân “Duyên Hải” thì Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 324)1 (Sư đoàn 324 được giao nhiệm vụ ở lại bảo vệ Huế, Đà Nẵng và làm lực lượng dự bị) được tăng cường Sư đoàn 3 (Quân khu 5), Trung đoàn 46 (Quân khu Việt Bắc) và lực lượng công binh cầu phà, lực lượng ô tô vận tải của Đoàn 559 tổ chức hành quân cơ giới dọc miền ven biển (trục Đường 1); quá trình tiến quân, sẵn sàng bước vào tham gia chiến đấu giải phóng các tỉnh miền Nam Trung Bộ, mở thông đường vào Nam Bộ. Chậm nhất là ngày 24 tháng 4, đơn vị phải tập kết đầy đủ ở Xuân Lộc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng gửi thư viết tay vào chỉ thị cho cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn: “Các đồng chí lên đường làm nhiệm vụ rất vẻ vang. Cần hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng...". Còn gì phấn khởi hơn được cùng toàn Quân đoàn tiến vào mảnh đất tận cùng của Tổ Quốc, nơi mà trong cuộc đời cầm súng chiến đấu của người chiến sĩ ai cũng hằng ao ước. Tuy chưa được nghe phổ biến tường tận và cụ thể về quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy cảm về thời cơ giải phóng Nam Bộ, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu đã tới gần, mọi cán bộ, chiến sĩ đều nỗ lực vượt bậc, quyết tâm vươn lên cùng quân và dân cả nước nắm bắt kịp thời cơ, giành thắng lợi trọn vẹn và triệt để cho cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại. Ngày 6 tháng 4, Bộ Tư lệnh và cán bộ chủ trì cơ quan Tham mưu. chính trị, hậu cần sư đoàn về sở chỉ huy Quân đoàn nghe phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch hành quân. Do trục cơ động của đơn vị nằm dọc theo vùng duyên hải mới giải phóng, nhiều nơi còn là vùng địch kiểm soát, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân đoàn xác định phương châm của cuộc hành quân là “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến” và quyết định tổ chức các lực lượng thành năm khối hành quận theo nguyên tắc chiến đấu binh chủng hợp thành: Khối một, lực lượng dẫn đầu cuộc tiến quân là Sư đoàn 325 bộ binh được tăng cường Trung đoàn 284 cao xạ, Tiểu đoàn 4 xe tăng, thiết giáp, hai Tiểu đoàn công binh và Trung đoàn 46 bộ binh (thay thế Trung đoàn 95 cấp trên điều vào Nam Tây Nguyên từ đầu năm 1975). Chỉ huy khối là Tư lệnh Sư đoàn. Khối ba gồm Lữ đoàn 203 xe tăng (thiếu một tiểu đoàn) Lữ đoàn 164 pháo binh, một Tiểu đoàn công binh của Lữ đoàn 219, do Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 203 chỉ huy. Khối bốn gồm Sư đoàn 304 bộ binh được tăng cường Trung đoàn 245 cao xạ do Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 chỉ huy. Khối năm là Sư đoàn 3, sẽ sáp nhập vào đội hình hành quân của binh đoàn từ Phan Rang. Sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn do Tư lệnh Quân đoàn phụ trách đi tiếp ngay sau khối một. Như vậy là ngay trong hành quân, toàn bộ lực lượng của Quân đoàn đã tạo thành đội hình tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng. Mũi nhọn của toàn bộ cuộc tiến quân là Sư đoàn 325 được tăng cường xe tăng, pháo binh, cao xạ làm lực lượng đột phá mạnh, đủ sức tiến công phá vỡ các khu vực phòng ngự của địch, có lực lượng công binh phối thuộc sẵn sàng khác phục những trở ngại trên đường tiến quân, ở giữa có trung tâm chỉ huy cùng hoả lực chi viện và các lực lượng tăng cường, sẵn sàng bảo đảm cho phía trước đột phá thắng lợi. Phía sau là lực lượng dự bị hùng hậu cả bộ binh và binh chủng, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Với nhiệm vụ dẫn đầu đội hình của Quân đoàn, sẵn sàng bước vào chiến đấu, đập vỡ các tuyến phòng ngự ngăn chặn của địch, mở thông đường tiến, đội hình hành quân của Sư đoàn tổ chức như đội hình lớn của Quân đoàn thu nhỏ lại. Ngay trong buổi chiều và đêm ngày 6, các đơn vị tăng cường, phối thuộc đều có mặt ở Nam Ô, khu vực tập kết của Sư đoàn. Đoàn ô tô vận tải thuộc Sư đoàn 571 đảm nhiệm việc chuyên chở lực lượng cũng đã có mặt. Toàn Sư đoàn sẵn sàng bước vào cuộc tiến quân lịch sử. Sáng ngày 7 tháng 4 năm 1975, giữa lúc các lực lượng của Sư đoàn dàn đội hình trên mặt Đường 1 chuẩn bị xuất phát thì Tư lệnh Quân đoàn chuyển tới cán bộ chiến sĩ Sư đoàn và các lực lượng tăng cường bức điện khẩn số 157 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng. Nội dung bức điện như sau: “Mệnh lệnh: 1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa! Táo bạo, táo bạo hơn nữa! Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. 2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ. Văn" Lệnh tiến quân đã truyền, cả đoàn xe lớn gồm hơn 600 chiếc ầm ầm nổ máy nhằm thẳng hướng Sài Gòn - Nam Bộ lao tới. Tuy hầu hết cán bộ, chiến sĩ đơn vị đều chưa từng đến Thành phố được mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông” này, nhưng họ đều hiểu rằng đó là nơi kẻ thù còn tỏ ra hung hăng và còn có lực lượng mạnh. Thực dân Pháp coi Sài Gòn - Nam Bộ là đất thuộc địa. Đế quốc Mỹ chọn Sài Gòn làm hang ổ, nơi đặt cơ quan đầu não để điều khiển toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương. Đồng bào Sài Gòn - Nam Bộ đang cần sự có mặt của các binh đoàn chủ lực hùng mạnh để nhanh chóng đập nát sự kháng cự cuối cùng của đạo quân tay sai bán nước, làm cho Mỹ và các thế lực phản động khác không kịp trở tay, gây nên những tội ác mới. Đường 1 rộng thênh thang, ở nhiều tỉnh duyên hải, quân địch đã bị các đơn vị bạn và lực lượng vũ trang địa phương quét sạch. Toàn Sư đoàn tiến nhanh như một cơn gió lốc, ào ạt lướt qua Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Chu Lai, Quy Nhơn, Phú Yên, Nha Trang... Với tinh thần “Xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam”, các chiến sĩ thực hiện người bám xe, xe bám đường; cầu hỏng, bắc lại cầu; đường hỏng, khẩn trương khắc phục; xe hỏng, tổ chức sửa chữa, cứu kéo ngay. Lái chính kèm lái phụ bảo đảm xe luôn luôn lăn bánh. Trong lúc xe chạy, chiến sĩ bộ binh, binh chủng tranh thủ mọi thời gian trao đổi rút kinh nghiệm cuộc chiến đấu ở Huế - Đà Nẵng, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật. Một trong những thành công trên đường hành quân là các chiến sĩ đã tranh thủ học tập, làm chủ được số vũ khí thu của địch hiện đang chiếm một tỷ lệ khá lớn trong trang bị của đơn vị, thực hiện “lấy của địch, đánh địch”. Được sự hỗ trợ to lớn của Đảng bộ và Nhân dân các địa phương, trên đoạn đường từ Đà Nẵng vào Quy Nhơn, bộ đội ta đã nhanh chóng khắc phục tám cầu bị địch đánh hỏng, mở mới được hàng chục ki-lô-mét đường quân sự làm gấp, đưa xe pháo đi vòng, tránh một số cầu hỏng chưa thể sửa chữa được. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:56:56 am Ở Phú Yên, Khánh Hoà, mặc dù máy bay địch thường xuất kích đánh chặn, đồng bào vẫn kéo đi sửa đường trong không khí hồ hởi, khẩn trương. Có thể nói, trong suốt dọc đường hành quân ở bất cứ nơi nào, các chiến sĩ ta cũng nhận được sự chi viện tích cực của địa phương và tình thương bao la của đồng bào vùng mới giải phóng. Không đưa kịp quà bánh cho anh em, các mẹ, các chị cứ quăng lên xe. Xe nào cũng đầy bánh tét, dừa, dưa hấu... Trước tình sâu, nghĩa nặng của đồng bào, các chiến sĩ càng mong muốn tiến nhanh ra mặt trận, giải phóng nốt phần đất còn lại của Tổ quốc.
Ngày 11 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn vào tới Cam Ranh. Đơn vị được lệnh tạm dừng để thu gọn đội hình và tổ chức trinh sát thực địa, sẵn sàng tham gia đánh địch ở Phan Rang, nơi Nguyễn Văn Thiệu đang ra sức hò hét "tử thủ". Khi Sư đoàn 325 hành quân vào tới Cam Ranh thì bọn Ngụy, có sự đốc thúc trực tiếp của tướng Uây-en, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, đã dựng lên ở Phan Rang một lá chắn mạnh, mong chặn đứng cánh quân "Duyên Hải" đang ào ạt tiến về hướng Sài Gòn. Theo "giải pháp phòng thủ mới" của Uây-en thì "tuyến phòng thủ Sài Gòn sẽ neo ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn phòng thủ chính và Tây Ninh làm rìa phía Tây". Cả Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên đều nhất trí với tướng Uây-en là "quyết tâm giữ phần đất còn lại, cố thủ từ Phan Rang trở vào". Trong một cuộc họp của Bộ Tổng Tham mưu Ngụy đầu tháng 4 năm 1975, tên Đồng Văn Khuyên phổ biến: "Theo lệnh ông Thiệu, bằng bất cứ giá nào cũng phải cố thủ từ Ninh Thuận trở vào, nếu cần sẽ đem hết lực lượng đánh xả láng tại đó". Phan Rang là thị xã của tỉnh Ninh Thuận, cách Sài Gòn 351 ki-lô-mét về phía Bắc; có hai hải cảng là Tân Thành và Ninh Chữ; có Đường 1 và đường sắt chạy qua, nối liền Sài Gòn với các tỉnh miền Trung vừa được giải phóng. Sau khi bị mất toàn bộ vùng đất Quân khu 1 và phần lớn đất đai Quân khu 2, việc tổ chức Phan Rang thành tuyến phòng thủ từ xa nhằm che đỡ cho Sài Gòn và các vùng đất còn lại trở thành một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với Mỹ - Ngụy. Chúng tính toán rằng, sau khi giải phóng xong các tỉnh miền Trung, ta sẽ phải để lại nhiều đơn vị giữ các địa phương đó. Ta chỉ có khả năng điều lực lượng tăng cường cho Nam Bộ nhiều nhất là một quân đoàn, hành quân nhanh nhất cũng phải mất hai tháng. Nếu chúng cầm chân được các binh đoàn chủ lực của ta trên các mặt trận cho đến mùa mưa (tức là tới đầu tháng 6) thì vì thời tiết gây nhiều khó khăn, ta sẽ không thể tổ chức đánh lớn ở Sài Gòn và Nam Bộ ít nhất là trong sáu tháng nữa. Chúng sẽ có thời gian để củng cố lực lượng và tổ chức phản công giành lại những vùng đã mất. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, Ngụy quyền Sài Gòn quyết định sáp nhập các phần đất còn lại của Quân khu 2 vào Quân khu 3; đồng thời lập Bộ Tư lệnh tiền phương của Quân khu 3 đóng tại sân bay Thanh Sơn (Bắc thị xã Phan Rang 10 ki-lô-mét) do viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cầm đầu. Tiếp đó, ngày 3 tháng 4, Nguyễn Vĩnh Nghi họp với bọn tướng tá chỉ huy Sư đoàn 6 không quân, Lữ đoàn 2 dù, Sư đoàn 2 bộ binh, Liên đoàn 31 biệt động quân và tiểu khu Ninh Thuận nêu rõ tầm quan trọng của việc phòng thủ Sài Gòn từ xa và phổ biến kế hoạch "giữ Phan Rang". Do phán đoán ta có thể đánh vào Phan Rang từ hướng Bắc theo Đường 1 và hưởng Tây - Bắc theo Đường 11. Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 3 Ngụy cho các tiểu đoàn bộ binh và biệt động quán cùng các đơn vị bảo an của tiểu khu Ninh Thuận ra chiếm giữ các địa bàn có lợi ở Du Long, Suối Đá, Ba Râu, Hội Diên, Cà Đú, ấp Đái Sơn, ngã ba Đường 1, 11, v.v. Lữ đoàn 2 dù được giữ lại ở khu vực sân bay Thành Sơn làm dự bị. Về hoả lực chi viện, ngoài một số lượng khá lớn pháo binh mặt đất và 150 máy bay của Sư đoàn 6 không quân Ngụy mới rút ở Tây Nguyên về sân bay Thành Sơn, bọn địch ở Phan Rang còn được pháo hạm của Hải quân Ngụy "ưu tiên yểm trợ" khi bị tiến công. Với hơn một vạn quân được tổ chức phòng ngự tại một địa hình có lợi, lại được sự chi viện lớn của cả hải quân và không quân, bọn chỉ huy chóp bu Ngụy hy vọng sẽ chặn đứng được cánh quân "Duyên Hải" trước cửa ngõ Phan Rang. Chúng ra sức hò hét, động viên binh lính "tử thủ", nhưng đó chỉ là hy vọng hão huyền. Vượt qua mọi khó khăn và mọi cuộc oanh tạc đánh chặn đường của địch, các lực lượng ta nối tiếp nhau tiến vào Cam Ranh. Giờ phút quyết định số phận của Tập đoàn phòng ngự Phan Rang đã điểm. Ngày 14 tháng 4, theo kế hoạch chung, Sư đoàn 3 bộ binh thuộc Quân khu 5 được tăng cường Trung đoàn 25 bộ binh của Tây Nguyên nổ súng đánh Phan Rang. Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, Sư đoàn 3 chiếm được khu vực quận lỵ Du Long và một số Điểm cao ở khu vực ngoại vi sân bay Thành Sơn. Địch dùng phi pháo oanh tạc và tung lực lượng và phản kích dữ đội. Cuộc chiến đấu ở Phan Rang đang diễn ra hết sức ác liệt. Đã bốn ngày ém quân trong các vườn cây trái ở khu vực cảng Cam Ranh chờ đơn vị bạn mở thông đường tiến, các chiến sĩ 325 và các đơn vị tăng cường vô cùng nóng lòng sốt ruột. Kẻ thù đang lợi dụng lúc ta còn phải chuyển lực lượng và binh khí kỹ thuật từ phía Bắc vào để tranh thủ củng cố trận địa Sài Gòn - Nam Bộ. Thời gian lúc này là lực lượng. Mỗi phút, mỗi giờ đều vô cùng quý giá. Đánh vào Sài Gòn sớm được chừng nào, quân và dân ta càng đỡ tốn xương máu chừng ấy, đồng bào càng sớm thoát khỏi ách kìm kẹp dã man của kẻ thù. Bởi vậy, các chiến sĩ muốn được trên giao nhiệm vụ phối hợp cùng các chiến sĩ Sư đoàn 3 đánh Phan Rang để mở cửa, nhanh chóng đừa Quân đoàn vào tham gia tiến công mục tiêu chính là Sài Gòn - Gia Định càng sớm càng tốt. Thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn đơn vị, ngày 15 tháng 4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đề nghị lên Trung tướng Lê Trọng Tấn và Trung tướng Lê Quang Hoà cho Sư đoàn 325 bước vào chiến đấu. Đề nghị của Quân đoàn hoàn toàn phù hợp với suy nghĩ của các đồng chí chỉ huy cánh quân "Duyên Hải" và một phương án tiến công Phan Rang mới được quyết định. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:57:56 am Ninh Thuận là một tỉnh ven biển có năm huyện gồm 32 vạn dân gồm nhiều dân tộc, phần lớn là đồng bào Kinh, Chàm, Rắc Lay... đã có lịch sử gắn bó chặt chẽ lâu đời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Phía Bắc là tỉnh Khánh Hoà, phía Nam là tỉnh Bình Thuận, Bình Tuy.
Tuy là một tỉnh nằm ở ven biển nhưng do ảnh hưởng của dãy núi Trường Sơn, vùng đất này có địa mạo khá đặc biệt. Phía Bắc, phía Tây, phía Nam và một phần phía Đông của tỉnh đều bao bọc bởi nhiều dãy núi cao ôm lấy một thung lũng hẹp, kéo dài từ huyện Du Long ở phía Bắc, qua thị xã Phan Rang, đến huyện An Phước ở phía Nam. Đường 1 và tuyến đường sắt Bắc - Nam đều chạy qua thung lũng hẹp đó. Ở khoảng giữa và phía Tây đoạn Đường 1 từ quận lỵ Du Long đến thị xã Phan Rang, quân Mỹ đã xây dựng sân bay Thành Sơn. Với những máy bay hiện có do Mỹ trang bị, Sư đoàn 6 không quân Ngụy ở Phan Rang có thể hoạt động trên một bán kính 400 ki-lô-mét. Nghiên cứu phản ứng của địch qua hai ngày. Sư đoàn 325 tổ chức tiến công, các cán bộ chỉ huy sư đoàn và quân đoàn nhận thấy là bọn địch hết sức chú trọng tận dụng sức mạnh của phi pháo yểm trợ cho bộ binh giữ các trận địa phòng ngự. Do địa thế đặc biệt của thung lũng Phan Rang, các lực lượng ta từ phía Bắc tiến vào, gần như chỉ có thể triển khai lực lượng đánh Phan Rang trên một hướng nên địch đã dựa vào các Điểm cao và địa hình có lợi tổ chức thành các cụm phòng thủ nối tiếp nhau theo trục Đường 1. Khi cụm ngoài bị tan vỡ, địch lùi về giữ cụm trong làm bàn đạp đưa các lực lượng phía sau lên phản công khôi phục lại các trận địa đã mất. Trước một địa hình phức tạp chưa nắm chắc một kẻ địch có thủ đoạn phòng ngự như vậy, nếu ta chỉ dùng bộ binh có xe tăng và pháo binh chi viện thì với tốc độ tiến công 10 ki-lô-mét/ngày cũng phải mất hơn một tuần lễ mới đánh chiếm hết được chiều sâu của thung lũng. Mặt khác nếu ta đánh chậm như vậy, thì sau khi mất Ninh Thuận, địch có thể lùi về Bình Thuận, kết hợp với các lực lượng phía sau tạo thành một "lá chắn" mới, tiếp tục gây khó khăn cho cuộc tiến quân của cánh quân Duyên Hải. Ta phải chọn môt cách đánh sao cho có thể tiêu diệt được lực lượng địch ở Ninh Thuận trong một thời gian ngắn nhất, làm chúng không kịp lùi về phía sau lập tuyến ngăn chặn mới. Vì thế, chủ trương tác chiến của ta là: tổ chức một lực lượng thọc sâu mạnh dùng xe bánh hơi kết hợp với xe tăng vận chuyển lực lượng, đánh thắng theo Đường 1 vào chiếm thị xã Phan Rang rồi toả ra tiến sang phía Đông chiếm cảng Tân Thành và Ninh Chữ, vít chặt đường biển: theo Đường 11 đánh ngược lên phía Tây - Bắc đánh chiếm sân bay Thành Sơn, cắt đứt đường không; phát triển tiếp xuống phía Nam thị xã Phan Rang khoá nốt đường bộ, phối hợp cùng các mũi tiến công của Sư đoàn 3 và các lực lượng địa phương nhanh chóng bao vây, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ đạo quân đồn trú ở Ninh Thuận, giải phóng địa bàn. Chủ trương tác chiến đó thể hiện sự phát triển mới của nghệ thuật đánh địch trong hành tiến bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng mà lần đầu tiên đơn vị vận dụng thành công để đột phá đèo Hải Vân, thọc sâu vào đánh chiếm bán đảo Sơn Trà và quân cảng Ngụy ở Đà Nẵng: đồng thời nó cũng là kết quả của sự xét đoán tinh tường về những điểm yếu chí mạng của Tập đoàn phòng ngự Phan Rang: tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng, tính cơ động trong tổ chức phòng ngự của địch rất kém, lực lượng cơ động ít... Để thực hiện cách đánh này, một trong những yêu cầu hết sức quan trọng là phải hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chủ động, cơ động, linh hoạt. Bởi vậy, khi giao nhiệm vụ cho Sư đoàn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ thị: đúng 5 giờ ngày 16 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn phải bắt đầu nổ súng tiến công và chạm nhất là 10 giờ sáng cùng ngày phải chiếm gọn thị xã Phan Rang, cùng đơn vị bạn và lực lượng địa phương đánh chiếm sân bay Thành Sơn, cảng Tân Thành và cảng Ninh Chữ, giải phóng tỉnh Ninh Thuận. Ngay trong đêm 15 tháng 4, toàn bộ lực lượng của Sư đoàn triển khai lên mặt Đường 1. Quyết tâm của Bộ Tư lệnh Sư đoàn là sử dụng Trung đoàn 101 bộ binh có Tiểu đoàn 4 xe tăng, thiết giáp phối thuộc làm lực lượng đột phá chủ yếu vào tập đoàn phòng ngự của địch ở Phan Rang. Trung đoàn 18 bộ binh làm dự bị. Dẫn đầu đội hình tiến công là Tiểu đoàn 1 bộ binh ngồi trên 20 xe tăng, thiết giáp của Tiểu đoàn 4. Số còn lại của Tiểu đoàn 1 ngồi trên xe bánh hơi đi xen với xe tăng, thiết giáp. Sau đội hình của Tiểu đoàn 1 là các xe Sở chỉ huy nhẹ của Trung đoàn 101 và Sư đoàn 325. Tiếp sau là đoàn xe chở Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 bộ binh, đi cùng các Tiểu đoàn 2 và 3 bộ binh có Tiểu đoàn 120 thuộc Trung đoàn 284 Sư đoàn 673 cao xạ, sẵn sàng bắn máy bay địch bảo vệ đội hình tiến công. Phía sau đội hình của Trung đoàn 101 là đoàn xe của Trung đoàn 18 luôn ở tư thế sẵn sàng xuất kích khi có lệnh. Về tổ chức hoả lực chi viện, ngoài số pháo của đơn vị bạn đã triển khai, Sư đoàn điều một số pháo nòng dài 85 và cao xạ 37 của Trung đoàn 84 cơ động trong đội hình của Trung đoàn 101, sẵn sàng tổ chức bắn ngắm trực tiếp và bắn máy bay địch bảo vệ đội hình thọc sâu. Các lực lượng còn lại của Trung đoàn 84 pháo binh tiến lên sát quận lỵ Du Long thiết bị trận địa bắn ở hai bên Đường 1. Xe chỉ huy pháo đi cùng đội hình của Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 101), sẵn sàng gọi bắn chi viện cho phía trước. Tảng sáng ngày 16, Sư đoàn đã hoàn thành công tác tổ chức chiến đấu, đưa toàn bộ đội hình tiến công vào chiếm lĩnh bàn đạp Du Long - Suối Đá. Trong đêm trước của cuộc tiến công, quân địch liên tục cho pháo mặt đất và pháo hạm bắn chặn từ Phước Nhơn đến Gò Dền; cho máy bay thay nhau đánh phá, thăm dò và thả đèn dù để săn tìm lực lượng ta. Nhờ tổ chức ngụy trang khéo léo, Sư đoàn và các lực lượng phối thuộc hoàn toàn giữ được bí mật cho tới phút chót. Trên đầu đội hình tiến công của Sư đoàn, khi Tiểu đoàn 2 bộ binh tiến vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công có chạm súng với một bộ phận nhỏ của địch ở Ba Râu. Các chiến sĩ Trần Văn Thu và Nguyễn Văn Tam lái xe chở đạn bổ sung cho Trung đoàn 84 do đêm tối đi nhầm vào khu vực địch đã bình tĩnh đánh trả chúng, bảo vệ xe an toàn. Tuy vậy, địch vẫn cho đó chỉ là hành động điều chỉnh lực lượng bình thường của ta. Chúng không ngờ sấm sét sắp nổ trên đầu chúng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 07:59:19 am Năm giờ sáng ngày 16 tháng 4 năm 1975, lệnh tiến công được phát ra.
Pháo binh ta dìm các vị trí địch trong biển lửa. Hàng trăm xe ô tô và xe tăng, thiết giáp chở đầy chiến sĩ bộ binh, nòng súng hướng ra phía trước và hai bên tiến lên phía địch. Thung lũng Phan Rang vang dội tiếng nổ các loại đạn và tiếng gầm của động cơ xe cơ giới. Năm giờ 30 phút, binh lính Tiểu đoàn 3 Liên đoàn 31 biệt động quân phòng thủ ở Hội Diên, An Xuân còn đang lo ẩn nấp tránh đạn pháo thì đội hình thọc sâu của Trung đoàn 101, dẫn đầu là bốn xe thiết giáp PT-85 có Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) ngồi trên xe, bất thần ập tới. Địch hoảng hốt chống cự. Pháo trên xe tăng ta bắn mãnh liệt vào các cụm phòng thủ của địch hai bên đường. Xe tăng 671 bị địch dùng M.72 bắn cháy. Một xe khác của ta quay pháo, diệt ngay tốp địch đó. Được hoả lực của xe tăng chi viện, Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) rời khỏi đoàn xe, tổ chức thành hai mũi xung phong vào Hội Diên. Tiểu đoàn 3 Ngụy mất tinh thần, chống cự yếu ớt và nhanh chóng bị đánh tan. Diệt xong mục tiêu, bộ binh cùng xe tăng ta lướt qua Hội Diên đánh vỡ cụm phòng thủ của địch ở ngã ba Cà Đú, tiến về ấp Đái Sơn. Sau gần một giờ nổ súng, quân địch nhận thấy mối đe doạ khủng khiếp đang đến với chúng trên hướng Đường 1. Chúng vội vã ra lệnh cho các trận địa pháo tập trung bắn phá hướng Đường 1, cho máy bay xuất kích đánh chặn lực lượng ta đang dồn dập tiến về thị xã Phan Rang. Lúc này, Tiểu đoàn 1 ngồi trên xe tăng đã tiến cách khá xa đội hình chung nên không còn được pháo cao xạ bảo vệ. Bộ đội ta vừa vận động đuổi đánh quân địch ở mặt đất, vừa dùng súng máy, súng 12,7 trên tháp xe tăng bắn cháy và bắn rơi hai máy bay A.37, hai trực thăng vũ trang. Sáu giờ sáng ngày 16, các chiến sĩ Tiểu đoàn 1 (Trung1 đoàn 101) và Tiểu đoàn 4 (xe tăng Lữ đoàn 203) đập tan cụm phòng thủ của địch ở khu vực Trường Bắn (cách thị xã Phan Rang hai ki-lô-mét), diệt nhiều địch. Bên ta hai xe tăng bị cháy và một số cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 bị thương vong ngay trước cửa ngõ của thị xã. Cửa vào Phan Rang đã mở thông, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 bộ binh Nguyễn Ánh Dương ngồi trên xe tăng chỉ huy đơn vị xung phong đánh thẳng vào trung tâm thị xã. Đại đội 1 bộ binh, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Trịnh Đình Hạnh cùng xe tăng tiến công chiếm gọn toàn bộ khu vực Dinh tỉnh trưởng và sở chỉ huy tiểu khu Ninh Thuận. Ở Tiểu khu Ninh Thuận, thấy bộ binh và xe tăng ta đánh vào trung tâm thị xã giữa lúc trời vừa sáng, binh lính Ngụy vô cùng khiếp sợ, tháo chạy thục mạng. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 1 chiếm sáu xe bọc thép còn nguyên vẹn với đầy đủ vũ khí, trang bị ở Dinh tỉnh trưởng, sau khi quét sạch lực lượng địch, Trung đội trưởng Trung đội 3 Nguyễn Văn Trường cùng các chiến sĩ trong trung đội lập tức vứt bở cờ Ngụy, kéo lá cờ Giải phóng lên cột cờ trước sân Dinh tỉnh trưởng. Sau Đại đội 1, các Đại đội 2 và 3 (Tiểu đoàn 1) cùng xe tăng nối tiếp nhau tràn vào thị xã và toả ra truy lùng quân địch. Bảy giờ sáng, Tiểu đoàn 1 hoàn toàn làm chủ thị xã Phan Rang. Cùng thời gian đó, xe chỉ huy của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 Nguyễn Văn Giảng cũng đã vào thị xã chỉ huy đơn vị phát triển thắng lợi. Chấp hành mệnh lệnh của Trung đoàn trưởng, Tiểu đoàn 1 cho Đại đội 3 và Đại đội 2 (thiếu) cùng một xe tăng và bốn xe thiết giáp tiến đánh khu vực cảng Phan Rang. Một phân đội khác (trung đội 3 Đại đội 1) phát triển theo Đường 1 xuống lập một chốt ở phía Nam thị xã để bịt đường bộ. Các lực lượng còn lại của Tiểu đoàn làm nhiệm vụ chốt giữ thị xã. Trên đường tiến xuống phía Nam thị xã Phan Rang, Trung đội 3 gặp địch ở cầu Đạo Long. Đơn vị nổ súng chiến đấu diệt 20 tên, thu một súng cối, 8 giờ sáng, xe chở bộ đội ta chạy thẳng vào quận lỵ Phú Quý đúng lúc chợ đang đông. Các chiến sĩ Trung đội 3 lập tức xông thẳng vào trụ sở quận lỵ và chi khu Phú Quý, bắt sống bọn chỉ huy đầu sỏ ở địa phương. Đại đội 3 và Đại đội 2 (thiếu) trên đường tiến xuống khu vực cảng gặp rất nhiều sĩ quan, binh lính địch đã quẳng súng, nhiều tên cải dạng làm thường dân, lẩn trốn ra hướng biển. Để tranh thủ thời gian, các chiến sĩ không dừng lại, chỉ vẫy tay ra hiệu cho bọn chúng quay về thị xã ra hàng Quân giải phóng. Bị mất thị xã Phan Rang trong chớp nhoáng, bọn địch bảo vệ khu vực càng vô cùng khiếp hãi. Số Ngụy quân, Ngụy quyền tỉnh đổ ra đây, tranh cướp nhau xuống tàu càng làm tăng thêm sự hoảng loạn. Binh lính Tiểu đoàn 36 biệt động quân và duyên đoàn 27 mất tinh thần nên khi bộ binh Trung đoàn 101 cùng xe tăng tiến đến, chúng chống cự yếu ớt và nhanh chóng tan rã. Hơn 500 tên địch bị bắt sống. Tại cảng Ninh Chữ, pháo thủ Trần Văn Sang của xe 763 với bốn quả đạn pháo đã bắn chìm ba tàu chiến và bắn cháy một chiếc khác khi chúng vừa rời bến định tháo chạy ra biển. Cảng Tân Thành và cảng Ninh Chữ được giải phóng. Đường rút chạy ra biển của địch bị các chiến sĩ Trung đoàn 101 bộ binh cùng xe tăng bịt chặt vào hồi 8 giờ ngày 16. Lúc này các bộ phận tiếp sau của Sư đoàn đang chiến đấu quyết liệt với bộ binh và máy bay địch trên đường tiến. Khi được tin (thị xã Phan Rang bị bộ binh và xe tăng đối phương tràn ngập), tướng Ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi vẫn hy vọng có thể chặn đứng các lực lượng của ta đang tiếp tục tiến vào Phan Rang để bao vây, cô lập và tiêu diệt bộ phận của ta đã thọc sâu vào thị xã. Cùng với việc cho bắn phá đoạn Đường 1 từ Bắc Phan Rang ra đến Hội Diễn, bọn chỉ huy Ngụy đẩy lực lượng dù trong sân bay ra An Xuân phản kích hòng vít chặt Đường 1. Từ 6 giờ đến 9 giờ, địch cho xuất kích 37 lần tốp máy bay đánh vào đội hình tiến công của Sư đoàn, làm cháy sáu xe, hỏng 10 xe khác (trong đó có một xe tăng), một số cán bộ, chiến sĩ bị thương vong. Trước tình hình cuộc chiến đấu đã trở nên phức tạp, xe chỉ huy của Sư đoàn trưởng dừng lại ở Nam Hội Diên, trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 101) và các lực lượng tiếp theo của đơn vị. Tiểu đoàn 120 cao xạ lúc này còn đang ở khu vực Du Long được lệnh khẩn trương tiến vào Hội Diên. Tiểu đoàn 3 bộ binh để lại hai Đại đội 10 và 9 chặn đánh bọn lính dù đang từ sân bay tiến ra phản kích. Các lực lượng còn lại khẩn trương tiến vào thị xã tiếp sức cho Tiểu đoàn 1. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Hai, 2022, 08:00:11 am Khi nhận được lệnh, đoàn ô tô chở Tiểu đoàn 2 bộ binh đang còn cách thị xã Phan Rang sáu ki-lô-mét. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 2 và 3 bộ binh đã gan góc vượt qua bom đạn dày đặc của địch tiến vào cửa ngõ phía Bắc Phan Rang. Theo nhiệm vụ, Tiểu đoàn 2 lập tức rẽ sang Đường 11 lên hướng quận lỵ Bửu Sơn và sân bay; Tiểu đoàn 3 tiến vào thị xã.
Địch đã bị mất Phan Rang, đường bộ, đường biển đều bị vít chặt, một vấn đề cấp thiết đặt ra với lực lượng ta là phải chiếm nốt sân bay, bẻ gãy sự chống cự cuối cùng, của địch ở Phan Rang. Để hỗ trợ cho hướng Sư đoàn 3 chấp hành chỉ thị của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn trưởng cử Thiếu tá Nguyễn Văn Rinh, Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn dùng xe con phóng thẳng vào thị xã ra lệnh cho Trung đoàn 101 tổ chức thêm một mũi bộ binh, xe tăng đánh lên quận lỵ Bửu Sơn và sân bay Thành Sơn phối hợp với đơn vị bạn. Thực hiện mệnh lệnh của Sư đoàn. Đại đội 3 bộ binh cùng xe tăng vừa từ khu vực cảng trở về thị xã và hai trung đội của Đại đội 2 bộ binh (Tiểu đoàn 1) được lệnh của Trung đoàn tiến lên phía Tây - Bắc chiến đấu. Khi bộ binh và xe tăng của Tiểu đoàn 1 vận động lên đến Đông quận lỵ Bửu Sơn (quận lỵ Tháp Chàm) thì phát hiện địch. Lực lượng này lập tức tách ra làm hai mũi; mũi thứ nhất chọc thẳng vào cổng số 1 của sân bay Thành Sơn; mũi thứ hai đánh vào quận lỵ Bửu Sơn. Đến 9 giờ 20 phút, Đại đội 2 và xe tăng chiếm gọn quận lỵ Bửu Sơn, bắn cháy một xe M.113 của địch. Cùng thời gian đó, Đại đội 3 được hoả lực của xe tăng chi viện đã đập tan sự kháng cự của quân địch ở khu vực cổng số 1. Thừa thắng, bộ binh và xe tăng ta đánh thắng vào khu vực đường băng chính, bắn cháy một máy bay địch đang chuẩn bị cất cánh.. Trên hướng Bắc sân bay, lúc này các chiến sĩ Trung đoàn 25 Sư đoàn 3 dùng mìn liên kết phá tung 11 lớp rào kẽm gai địch, đánh tràn vào trong căn cứ. Một mũi khác đánh thang vào cổng số 2. Chín giờ 30 phút mũi tiến công của Trung đoàn 101 và các mũi tiến công của đơn vị bạn gặp nhau ở khu vực đài chỉ huy sân bay. Quân ta hoàn toàn làm chủ sân bay, thu gần 40 máy bay còn nguyên vẹn. Do bộ binh, xe tăng ta bất ngờ ập vào chiếm đường băng, Bộ chỉ huy tiền phương Quân khu 3 Ngụy không kịp lên máy bay rút chạy. Nguyễn Vĩnh Nghi cùng bầu đoàn của hắn đành phải vọt qua rào, cải dạng thường dân, tìm đường chạy trốn về phía nam. Nhưng mọi ngả đường đều đã bị quân ta vít chặt. Tối ngày 16, trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, đại tá cố vấn Mỹ Gia-vét Lơ-vít cùng nhiều sĩ quan của Bộ chỉ huy tiền phương Quân khu 3 Ngụy đang lủi trốn ở khu vực bãi mía thuộc thôn Mỹ Đức (nằm.giữa sân bay Thành Sơn và thị xã Phan Rang) bị các lực lượng truy quét tàn binh của Sư đoàn 3 tóm gọn. Trận tiến công Phan Rang trong hành tiến bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng thắng lợi giờn giã. Kết quả, ta đã tiêu diệt Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 3 Ngụy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 2 dù, Liên đoàn biệt động 31, một Trung đoàn của Sư đoàn 2 mới khôi phục, toàn bộ lực lượng của tiểu khu Ninh Thuận; bắt sống bọn chỉ huy đầu sỏ và hàng ngàn sĩ quan, binh lính; thu 40 máy bay, 60 khẩu pháo cùng nhiều trang bị kỹ thuật của địch; giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang và tỉnh Ninh Thuận, góp phần quan trọng đập tan âm mưu của Mỹ - Ngụy định ngăn chặn các lực lượng của ta từ xa để củng cố thế trận của chúng ở Sài Gòn - Gia Định. Trong trận Phan Rang, một lần nữa Sư đoàn 325 đã thực hiện thành công cách đánh thần tốc, táo bạo, bất ngờ bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng ngay trong hành tiến chiến đấu - một cách đánh đang còn rất mới mẻ đối với quân đội ta. Ở trận thắng này cũng thể hiện rõ nét tinh thần chấp hành nhiệm vụ kiên quyết, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thế của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn và các lực lượng tăng cường. Biểu dương thắng lợi của các lực lượng tham gia trận đánh Phan Rang, ngay trong đêm 16 tháng 4 năm 1975, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã gửi điện vào tuyên dương thành tích và nhắc nhở Binh đoàn phải nhanh chóng truy kích địch, phát triển tiến công thần tốc, táo bạo, bất ngờ, khẩn trương mở tiếp đường, kịp thời đưa toàn bộ lực lượng vào tham gia giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Sau chiến thắng Phan Rang, yêu cầu đặt ra với cánh quân "Duyên Hải" là phải nhanh chóng cùng các lực lượng tại chỗ giải phóng tiếp tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy, không cho địch kịp tổ chức những tuyến ngăn chặn mới, tiến vào phối hợp cùng Quân đoàn 4 phá vỡ tuyến ngăn chặn Xuân Lộc - Long Khánh của địch. Cùng với việc xây dựng tuyến phòng thủ Ninh Thuận, trong những ngày đầu tháng 4 năm 1975, ở thị xã Xuân Lộc, Mỹ - Ngụy đã tổ chức một tập đoàn phòng thủ mạnh bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông. Địch quyết giữ Xuân Lộc - Long Khánh để ngăn chặn đường tiến quân của quân ta về Sài Gòn theo Đường 1 và Đường 20. Giữ được Xuân Lộc - Long Khánh thì tuyến Biên Hoà - Long Thành - Bà Rịa - Vũng Tàu chưa trực tiếp bị uy hiếp, sân bay Biên Hoà và cả sân bay Tân Sơn Nhất còn hoạt động được; Đường 15 từ Sài Gòn ra Vũng Tàu để nhận hàng viện trợ Mỹ và rút chạy sẽ vẫn do chúng làm chủ. Theo lệnh của Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên, Quân đoàn 3 và Quân khu 3 Ngụy tập trung ở Xuân Lộc Sư đoàn 18 còn nguyên vẹn với nhiều lực lượng tăng cường, chi viện, hòng giữ vững Xuân Lộc. Ngay từ khi Sư đoàn và các đơn vị bạn trong Quân đoàn còn đang hành quân trên dải đất ven biển miền Trung thì Quân đoàn 4 và lực lượng Quân khu 7 theo lệnh của Bộ đã nổ súng tiến công Xuân Lộc. Trong những ngày trung tuần tháng 4 năm 1975, cuộc chiến đấu giữa ta và địch ở Xuân Lộc diễn ra giằng co, quyết liệt. Ngày 9 và 10 tháng 4 năm 1975, lực lượng của Quân đoàn 4 qua nhiều lần tiến công vào thị xã và các vùng xung quanh đã gây cho Trung đoàn 43 Ngụy những tổn thất nặng nề. Nhưng quân địch ngoan cố ném thêm lực lượng vào Xuân Lộc phản kích chiếm lại các vị trí đã mất. Chúng cố giữ Xuân Lộc bằng mọi giá. Cũng tại mặt trận Xuân Lộc, được sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ tận tình của Quân đoàn 4, hơn 10 ngày qua, Trung đoàn 95 đã cùng các đơn vị bạn đánh thắng oanh liệt ở Túc Trưng, Kiệm Tân, tiêu diệt Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 Ngụy. Tiếp đó, Trung đoàn cùng các đơn vị bạn theo Đường 20 phát triển xuống Ngã ba Dầu Dây, chốt cứng một đoạn Đường 1, cắt đứt đường giao thông từ Xuân Lộc về Biên Hoà và đay lùi nhiều cuộc phản kích của địch. Cuộc chiến đấu anh dũng, quyết liệt ở Xuân Lộc thúc giục các chiến sĩ Sư đoàn và các đơn vị tăng cường đẩy nhanh tốc độ tiến quân. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:33:10 am Ngày 17 tháng 4 năm 1975, sau khi bàn giao các mục tiêu chiếm được cho Quân khu 6 và tỉnh Ninh Thuận, Sư đoàn chuyển toàn bộ lực lượng vào Nam thị xã Phan Rang 20 ki-lô-mét tổ chức hành quân tiếp.
Từ Phan Rang vào Xuân Lộc, bộ đội ta bắt đầu tiến qua các vùng đang còn địch kiểm soát và phải đánh qua thị xã Phan Thiết. Trên đoạn đường này, nhiều nơi Đường 1 chạy sát biển. Địch có thể dùng lực lượng hải quân chặn đường tiến của ta. Do đó Sư đoàn và các đơn vị bạn chẳng những phải đập vỡ các tuyến ngăn chặn của lực lượng quân Ngụy, đánh lại không quân, mà còn phải sẵn sàng đánh trả các cuộc phản công của hải quân Ngụy, phải đề phòng khả năng quân địch từ ngoài biển ập vào đánh cắt đội hình của ta. Để nâng cao hơn nữa sức mạnh và tốc độ tiến công, Bộ Tư lệnh Quân đoàn tăng cường thêm cho Sư đoàn Tiểu đoàn 5 thiết giáp để tổ chức một chi đội phái đi trước gồm Tiểu đoàn 5 thiết giáp có các chiến sĩ Đại đội 9 (Trung đoàn 18) ngồi trong xe, Tiểu đoàn 15 (Trung đoàn 284 cao xạ), một trung đội pháo 85 (hai khẩu) của Trung đoàn 84 pháo binh và một đại đội công binh. Chi đội phái đi trước đặt dưới sự chỉ huy của phó Tham mưu trưởng Lữ đoàn 203 xe tăng Nguyễn Đức Hiền. Đội hình tiến quân của Sư đoàn cũng có sự thay đổi: Trung đoàn 18 bộ binh tiến lên đầu đội hình, sẵn sàng mở cuộc tiến công giải phóng thị xã Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận Trung đoàn 101 bộ binh lùi lại đi cuối đội hình của Sư đoàn. 18 giờ ngày 17, toàn Sư đoàn bắt đầu hành quân. Địch phát hiện quân ta đang tiến vào Sài Gòn theo Đường 1. Chúng dùng máy bay và pháo hạm đánh vào đội hình hành quân làm cháy một số xe, một số cán bộ, chiến sĩ bị thương vong. Cuộc chiến đấu trên dọc đường tiến quân diễn ra sôi sục. Đêm 17, địch dùng tàu biển đổ một đại đội biệt kích vào quận lỵ Tuy Phong bắt liên lạc với tàn quân Lữ đoàn 3 dù trên núi Gió và các lực lượng địa phương Ngụy ở quanh vùng để tổ chức đánh chặn. Vừa phát hiện địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn lập tức phái bộ binh Trung đoàn 18 và trinh sát đi lùng quét. Sau hơn một giờ chiến đấu ta tiêu diệt và bắt gọn toàn bộ bọn này. Khi tàu chiến của địch tiến vào bờ để yểm hộ cho binh lính của chúng, xe tăng của Lữ đoàn 203 bố trí ở Nam núi Gió bắn tám phát đạn pháo 100, đánh chìm một tàu và đánh bị thương một chiếc khác. Pháo 85, 122, 105 của Trung đoàn 84, pháo cao xạ của Trung đoàn 284 và Tiểu đoàn 75 cũng thiết bị trận địa bắn ngay trên mặt Đường 1 đánh tàu chiến và máy bay địch quyết liệt, giữ vững đội hình tiến quân. Trên suốt dọc đường từ Phan Rang vào Phan Thiết, mặc dù chưa tổ chức hiệp đồng trước, nhưng sự phối hợp giữa ba thứ quân, giữa lực lượng tiến công và lực lượng nổi dậy vẫn rất nhịp nhàng, ăn khớp. Tinh thần tích cực, chủ động của các lực lượng tại chỗ và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân địa phương đã tạo cho cuộc tiến quân qua các vùng địch còn kiểm soát của chủ lực ta được thực hiện thắng lợi. Ở nhiều nơi, lực lượng nổi dậy của quần chúng cách mạng kéo ra đường đón bộ đội, thông báo tình hình địch ở phía trước và hướng dẫn bộ đội đánh diệt các căn cứ địch trong vùng. Trong đêm 17 và ngày 18, phối hợp với các lực lượng địa phương, Sư đoàn và các đơn vị tăng cường, phối thuộc đã giải phóng toàn bộ các vùng đất trên đường tiến, trong đó có bốn quận lỵ là Phan Ri, Tuy Phong, Sông Mao, Hoà Đa. Chiều ngày 18, Sư đoàn tiến vào tới bắc thị xã Phan Thiết. Do trận Phan Rang quá hiểm và mạnh, Tập đoàn “phòng thủ từ xa” của tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị tiêu diệt nhanh và gọn, quân địch không kịp điều động lực lượng ra tăng cường phòng thủ Phan Thiết. Nắm vững thời cơ có lợi, Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ thị cho Trung đoàn 18 cùng bộ đội xe tăng đánh ngay vào thị xã theo Đường 1. Không thực hành pháo hoả chuẩn bị, đội hình tiến công của Sư đoàn với các xe bọc thép có bộ binh và trinh sát ngồi trên xe dẫn đầu, tiến thẳng vào Phan Thiết. Các hoả lực đi cùng sẵn sàng trong tư thế bắn, bảo vệ đội hình khi gặp địch kháng cự. Mười chín giờ, đội tiền vệ tiến đến cầu sông Cái (cách thị xã chín ki-lô-mét) thì gặp Tiểu đoàn 15 bộ đội Bình Thuận đang hoạt động ở khu vực này. Được đơn vị bạn cho biết lực lượng ở đây đang hết sức hoang mang, đội tiền vệ của ta lập tức tăng tốc độ tiến công, nhanh chóng dập tắt sự kháng cự của địch ơ khu vực cầu Sở Muối và thừa thắng xông thẳng vào đánh chiếm sở chỉ huy tiểu khu Bình Thuận. Bị đánh bất ngờ, tên Tỉnh trưởng Bình Thuận không kịp lên máy bay trực thăng, bỏ mặc quân lính, lủi theo ngõ hẻm ra bờ sông, lên một chiếc thuyền con chạy ra biển. Từ mười chín giờ 30 đến 21 giờ ngày 18, Trung đoàn 18 và bộ đội Quân khu 6 tiến vào đánh chiếm tất cả các mục tiêu quân sự trong và xung quanh thị xã, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng địch ở Phan Thiết. Sáng ngày 19 tháng 4 năm 1975, rời Phan Thiết, Sư đoàn và các lực lượng đi trước của Quân đoàn ào ạt đánh qua tỉnh Bình Tuy tiến vào Xuân Lộc. Lúc này ở Xuân Lộc, Quân đoàn 4 sau nhiều lần tổ chức đánh vào thị xã không thành công đã chuyển sang thực hiện vây hãm địch, gây cho Trung đoàn 48 và Lữ đoàn 1 dù Ngụy những thiệt hại nặng nề. Ngày 20 tháng 4 Sư đoàn tiến quân vào đến Rừng Lá, ấp Phú Minh và được lệnh dừng lại chuẩn bị tham gia giải phóng Xuân Lộc. Nhưng ngay đêm hôn đó, toàn bộ lực lượng địch ở Xuân Lộc, trước nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt đã phải tháo chạy theo Đường 2 về phía Bà Rịa. Bị Quân đoàn 4 và các lực lượng Quân khu 7 chặn đánh dọc đường, chúng bỏ lại rất nhiều xe, pháo, súng đạn. Xuân Lộc được giải phóng. Cánh cửa cuối cùng trên Đường 1 đã mở toang. Ngày 21 tháng 4, Sư đoàn và các đơn vị bạn trong Quân đoàn rầm rộ tiến qua thị xã Xuân Lộc còn nghi ngút lửa khói, vào vị trí tập kết cuối cùng ở khu vực Cam Mỹ và giáo xứ Duyên Lạc sẵn sàng bước vào trận tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Cuộc tiến quân thần tốc theo miền Duyên Hải kết thúc thắng lợi. Trong cuộc hành quân lịch sử này, cùng với các đơn vị bạn trong cánh quân “Duyên Hải”, Sư đoàn đã vượt qua chặng đường dài gần 1.000 ki-lô-mét, xuyên qua ba khu của địch gồm 11 tỉnh thuộc miền Trung và miền Nam Trung Bộ. Vinh dự được cấp trên tin cậy giao nhiệm vụ dẫn đầu đội hình tiến quân, Sư đoàn 325 và các lực lượng tăng cường “đã góp phần quyết định vào cuộc tiến công tiêu diệt, đập tan lực lượng và tổ chức phòng ngự của quân Ngụy ở Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, giải phóng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy - khu vực phòng thủ từ xa của Mỹ - Ngụy đối với Sài Gòn trên hướng đông”1 (Trung tướng Lê Trọng Tấn, Mấy vấn đề chỉ đạo và chỉ huy tác chiến, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. Hà Nội.1979, tr.369) Trung đoàn 95 chiến đấu ngoài đội hình Sư đoàn, sau những chiến công xuất sắc trong trận đánh then chốt ở Buôn Ma Thuột và cuộc truy kích địch ở Cheo Reo cũng đã cơ động vào Đông Nam Bộ, góp phần xứng đáng vào những trận đánh ở Xuân Lộc. Vượt qua mọi cuộc đánh chặn của địch và mọi khó khăn trở ngại của một cuộc hành quân đường dài, cuộc tiến quân thắng lợi của Sư đoàn và toàn Quân đoàn góp phần mở thông hành lang chiến lược dọc miền duyên hải. Sự có mặt đúng lúc và kịp thời của Sư đoàn và toàn Quân đoàn ngay trước cửa ngõ Sài Gòn, với sức mạnh được nhân lên, góp phần làm thay đổi tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch ở Nam Bộ. Tạo thế, tạo lực cho trận quyết chiến chiến lược, tiêu diệt quân địch tại hang ổ cuối cùng của chúng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:33:48 am Quân đoàn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Vào những ngày đầu của hạ tuần tháng 4 năm 1975, khi các lực lượng của Quân đoàn 2 có mặt đầy đủ ở nam Xuân Lộc (hướng Đông - Nam Sài Gòn) thì các cánh quân khác của ta đã rầm rộ tiến vào bao vây chặt sào huyệt cuối cùng của Mỹ - Ngụy ở Sài Gòn - Gia Định trên tất cả các hướng. Ở hướng Tây - Bắc có Quân đoàn 3, tăng cường lực lượng vũ trang Tây Ninh, Sài Gòn - Gia Định, hướng bắc có Quân đoàn 1 (thiếu) tăng cường Trung đoàn 95 (Sư đoàn 325) và lực lượng đặc công, xe tăng, cao xạ. Hướng Đông có Quân đoàn 4. Hướng Tây và tây - nam có Đoàn 232 và chủ lực Quân khu 8, lực lượng tương đương một Quân đoàn. Ở vùng ven và nội thành Sài Gòn đã sẵn sàng có các đơn vị đặc công, pháo binh kết hợp với lực lượng chính trị to lớn của quần chúng. Ở phía sau, ta cũng đang gấp rút tổ chức thêm các lực lượng dự bị mới, sẵn sàng đối phó có hiệu quả với mọi tình huống có thể xảy ra. Theo quyết định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn - Gia Định được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của dân tộc, Người cha muôn vàn kính yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng được cử giữ chức Tư lệnh chiến dịch; đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục giữ chức Chính uỷ chiến dịch. Đồng chí Lê Đức Thọ được Bộ Chính trị cử vào chiến trường phổ biến Nghị quyết, cùng trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch. Trong khi công cuộc chuẩn bị cho Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định của ta đang bước vào giai đoạn chót thì tình hình địch có những diễn biến quan trọng. Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, ngày 18 tháng 4 năm 1975, Nhà Trắng vội vã hạ lệnh di tản người Mỹ ra khỏi Sài Gòn và cử Đin Brao phụ trách lực lượng đặc nhiệm đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống Mỹ để điều khiển di tản. Cuộc tháo chạy này được mệnh danh là “người liều mạng”. Từ ngày 21 tháng 4 năm 1975, Mỹ huy động hàng trăm máy bay, hàng chục tàu chiến để thực hiện cuộc hành quân di tản. Cùng ngày 21 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải từ chức. Mỹ đưa Trần Văn Hương lên thay Thiệu. Nhưng chưa đầy một tuần sau, Hương phải tuyên bố nhường chức Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn cho tướng Dương Văn Minh. Dù biết không còn hy vọng nhưng với bản chất ngoan cố, Mỹ - Ngụy cho thu thập tàn quân, chấn chỉnh các lực lượng còn lại, khôi phục những đơn vị bị thiệt hại nặng mới từ miền Trung chạy về để điều chỉnh, bố trí, cải thiện thế phòng ngự của chúng ở Sài Gòn và vùng đồng bằng Nam Bộ. Tại mặt trận Sài Gòn - Gia Định, trên các hướng bắc, Tây - Bắc, Tây - Nam, mỗi hướng địch bố trí khoảng một sư đoàn tăng cường. Riêng hướng Đông, lực lượng phòng thủ của chúng tăng lên đến chín trung đoàn, lữ đoàn bộ binh, lính dù, lính thuỷ đánh bộ và bốn trung đoàn thiết giáp. Ở vùng nội đô có một số đơn vị lính dù, biệt động, thiết giáp, các lực lượng bảo vệ căn cứ, các lực lượng thuộc “Biệt khu Thủ đô phòng giữ. Lực lượng không quân ở Sài Gòn - Gia Định có ba sư đoàn, bố trí chủ yếu ở hai sân bay lớn là Biên Hoà và Tân Sơn Nhất. Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, địch có ba sư đoàn bộ binh, năm trung đoàn thiết giáp, một sư đoàn không quân. Chúng tập trung phòng giữ Tân An, Mỹ Tho đề phòng khi không giữ nổi Sài Gòn - Gia Định sẽ theo hướng đường 4 rút về đồng bằng sông Cửu Long cố thủ. Tuy nhiên, các cố gắng đó của Mỹ - Ngụy chỉ là sự giãy giụa điên cuồng trong cơn hấp hối, đúng như chúng đã thú nhận: “Sự sống chỉ có thể tính từng ngày, từng tuần, không tính tháng”. Sáng 23 tháng 4 năm 1975, tại sở chỉ huy Quân đoàn đặt tại ấp Tam Hiệp xã Xuân Hiệp, Sư đoàn 325 chính thức nhận nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2. Ngay chiều và đêm hôm đó, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Sư đoàn họp đánh giá lại toàn bộ tình hình và nghiên cứu nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch tác chiến. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn được tăng cường xe tăng, pháo binh, cao xạ, công binh, đảm nhiệm một hướng đột kích quan trọng trong hướng tiến công chủ yếu của Quân đoàn 2, đồng thời cũng là hướng vu hồi của chiến dịch. Trước mắt Sư đoàn có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch ở tả ngạn sông Đồng Nai, đánh chiếm chi khu Long Thành, chi khu Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ khoá chặt đường thuỷ, không cho địch ở Sài Gòn theo sông Lòng Tàu rút chạy ra biển và mở đường đưa pháo tầm xa vào Nhơn Trạch đánh phá sân tay Tân Sơn Nhất, khống chế đường không. Nhiệm vụ tiếp theo của Sư đoàn là tổ chức vượt sông, đánh chiếm căn cứ hải quân Cát Lái, tiêu diệt các lực lượng địch phòng ngự ở hữu ngạn sông Đồng Nai và đánh vào nội đô giải phóng quận 9. Trục tiến công của Sư đoàn vào Sài Gòn là một vùng có địa hình rất phức tạp, bị chia cắt bởi những cánh đồng lầy lội và hệ thống sông ngòi chằng chịt, trong đó có hai sông lớn (sông Đồng Nai và sông Sài Gòn) ta phải tổ chức vượt qua bằng thuyền, phà vì không có cầu qua sông. Lực lượng địch phòng thủ ở khu vực này có một bộ phận của Lữ đoàn 463 lính thuỷ đánh bộ, bảy tiểu đoàn bảo an, một số đơn vị pháo binh, xe tăng và bốn liên giang đoàn yểm trợ, một liên giang đoàn người nhái với khoảng 2.000 quân và 241 tàu, xuồng chiến đấu (các đơn vị hải quân địch tập trung chủ yếu ở khu vực Cát Lái). Khi bị tiến công, hải quân địch có thể cơ động tàu, xuồng theo sông lạch, phối hợp với các lực lượng trên bộ chặn đánh ta từng bước. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:34:29 am Để thực hiện nhiệm vụ trên, quyết tâm của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Sư đoàn là: Tập trung lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh, cao xạ tiến công tiêu diệt quân địch ở khu vực Long Thành - Bình Sơn, phá vỡ tuyến phòng thủ then chốt vòng ngoài của địch trên hướng Đông - Nam, mở đường đưa lực lượng và binh khí kỹ thuật thọc sâu vào đánh chiếm Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ bịt đường thuỷ, khống chế đường không theo đúng yêu cầu hiệp đồng, hoàn thành nhiệm vụ vu hồi chiến dịch và sẵn sàng vượt sông bằng sức mạnh đánh chiếm căn cứ hải quân Cát Lái, phát triển vào nội đô giải phóng quận 9 khi có lệnh.
Về cách đánh, trên cơ sở phương án tác chiến chung mà Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã xác định và tình hình địch ta cụ thể tại mặt trận, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chủ trương: tập trung lực lượng bộ binh có tăng cường hoả lực pháo binh, cao xạ và xe tăng tạo thành mũi đột kích mạnh, chọc thủng “tuyến phòng thủ Đông - Nam” ở nơi xung yếu nhất của địch là Long Thành. Kết hợp chặt chẽ giữa đột phá chính diện với bao vây, vu hồi, chia cắt, không cho địch rút chạy về phía sau. Khi trận tuyến phòng thủ vòng ngoài của chúng ở Long Thành đã tan vỡ thì nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu liếp theo trong hành tiến làm cho địch không kịp trở tay, loại trừ khả năng co cụm của chúng. Về sử dụng lực lượng, hai Trung đoàn 101 và 46 được tăng cường xe tăng và hoả lực mạnh đảm nhiệm nhiệm vụ đánh chiếm khư vực Long Thành: Trung đoàn 101 đột kích hướng chính diện theo trục Đường 10; Trung đoàn 46 luồn vào phía sau địch đánh chiếm ngã ba Phước Thiềng cắt đường rút, không cho địch lui về phía sau co cụm; tiếp đó thọc sâu chiếm Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, căn cứ Cát Lái và quận 9 Sài Gòn. Trung đoàn 18 bao vây tiêu diệt bọn địch ở Bình Sơn và làm lực lượng dự bị chiến dịch của Quân đoàn, sẵn sàng chuyển sang tham gia tiến công địch trên hướng đột kích chủ yếu (hướng do Sư đoàn 304 đảm nhiệm), đánh vào nội đô theo trục Đường 15 và xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là “nhanh, mạnh, chắc”. Nắm thời cơ và vận dụng cách đánh thật linh hoạt, tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị, giữa bộ binh và hoả lực giữa các mũi đột kích với lực lượng địa phương chặt chẽ, tỉ mỉ, cụ thể; hành động mạnh dạn, táo bạo, chủ động, kịp thời. Sáng 24 tháng 4, Sư đoàn tổ chức phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến cho các đơn vị. Mặc dù nhiệm vụ chiến đấu rất nặng nề, phức tạp, thời gian chuẩn bị chỉ vẻn vẹn có hai ngày, những cán bộ chỉ huy các đơn vị đều rất tin tưởng và hứa quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Như một guồng máy đang chuyển động, toàn Sư đoàn triển khai chuẩn bị chiến đấu nhịp nhàng, sôi nổi. Từ chiều 24 tới sáng 26, trong khi cơ quan Sư đoàn tiếp tục hoàn chỉnh các văn kiện chiến đấu và triển khai công tác bảo đảm chiến dịch thì các đơn vị khẩn trương tiến hành tổ chức trinh sát thực địa, tổ chức chiến đấu và hiệp đồng. Tới trưa ngày 26 tháng 4 năm 1975, mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành. Trên các hướng, bộ binh và xe tăng bắt đầu cơ động vào chiếm lĩnh tuyến xuất phát xung phong. Trong suốt quá trình chuẩn bị, các đơn vị đã nhận được sự giúp đỡ hết sức quý báu của Đảng bộ, Ủy ban Nhân dân và lực lượng vũ trang Đồng Nai và Sài Gòn - Gia Định. Sau bao năm chịu đựng hy sinh, gian khổ, kiên cường, bến bỉ chiến đấu, giờ đây ngày giải phóng quê hương, thống nhất đất nước đã tới gần, mọi người đều dạt dào xúc động. Nhân dân địa phương đã chung sức cùng bộ đội mở đường, giúp các đơn vị đào hầm hào, xây dựng trận địa, hướng dẫn trinh sát nắm địch và tổ chức iực lượng sẵn sàng phối hợp chiến đấu cùng bộ đội. Sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ tận tình của Đảng bộ và Nhân dân Đồng Nai, Sài Gòn - Gia Định là nguồn cổ vũ lớn lao, truyền thêm sức mạnh cho Sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu được giao. Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa, Sư đoàn 325 cùng với các đơn vị bạn trên cánh Đông, sẽ nổ súng mở màn chiến dịch - trận đánh cuối cùng kết thúc chặng đường 20 năm đánh Mỹ gian khổ và oanh liệt. Nhận rõ vinh dự và trách nhiệm, toàn thể cán bộ, chiến sĩ tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, không quản hy sinh, sẵn sàng tiến lên dưới lửa đạn để giành toàn thắng. Mười bảy giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, cuộc tiến công của quân ta trên hướng Đông và Đông - Nam Sài Gòn bắt đầu. Lực lượng pháo binh hùng hậu của Sư đoàn, Quân đoàn và các đơn vị bạn đồng loạt nổ súng trút bão lửa vào Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hoà, Nước Trong, Long Thành, Đức Thạnh, Bà Rịa... Bộ đội cao xạ ngoan cường đánh trả máy bay địch bảo vệ các trận địa pháo và toàn bộ đội hình chiến dịch. Theo đúng kế hoạch, pháo tầm xa của Quân đoàn và pháo 85, 105, 122 của các Sư đoàn dồn dập bắn 40 phút vào các cụm phòng thủ của địch trên chính diện tiến công. Súng cối và pháo đi cùng của các Trung đoàn bộ binh cũng phát huy hoả lực bắn 10 phút vào các mục tiêu xung phong đầu tiên. Cùng lúc đó, lợi dụng hiệu quả chế áp của pháo, bộ binh và xe tăng ta khẩn trương vận động vào chiếm lĩnh bàn đạp chuẩn bị xung phong. Đợt pháo bắn chuẩn bị vừa dứt, từ các cánh rừng cao su, các vườn cây, các sườn đồi, công sự, chiến hào... bộ đội ta ào ạt xông lên đánh chiếm các căn cứ, các trận địa phòng ngự của địch. Phía bên phải khu vực đột phá của Sư đoàn 325, các chiến sĩ Sư đoàn 304 nổ súng tiến công căn cứ Nước Trong; phía bên trái, các chiến sĩ Sư đoàn 3 đánh Đức Thạnh, Bà Rịa. Tại khu vực Bình Sơn - Long Thành, cuộc chiến đấu của Sư đoàn lúc đầu diễn ra tương đối thuận lợi. Ở hướng Trung đoàn 18, Tiểu đoàn 8 vậy chặt Bình Sơn và kêu gọi địch đầu hàng. Bọn chúng ngoan cố chống cự. Đơn vị lập tức nổ súng diệt gọn hai đại đội và Sở chỉ huy Tiểu đoàn 346 Ngụy, giải quyết gọn mục tiêu Bình Sơn. Ở hướng Trung đoàn 46, bộ đội ta nhanh chóng chiếm cầu Đông Hữu diệt gọn đơn vị địch bảo vệ cầu và vận động ra đánh chiếm Phước Thiềng. Ở hướng Trung đoàn 101, trong giờ đầu nổ súng, Tiểu đoàn 1 cùng với xe tăng nhanh chóng chiếm gọn ngã ba Đường 10 và Đường 15, tiêu diệt hai đại đội lính thuỷ đánh bộ Ngụy, tạo một bàn đạp quan trọng để phát triển đánh chiếm toàn bộ khu vực Long Thành. Tiểu đoàn 3 đánh vào trận địa pháo địch ở gần khu chợ, chiếm gọn bốn khẩu pháo 105. Nhưng khi hai Tiểu đoàn 1 và 3 tiếp tục đánh sâu vào quận lỵ, thì bọn địch ở chi khu Long Thành trấn tĩnh lại lần vào các đường phố, ngoan cố chống cự. Trong đêm tối, cuộc vật lộn giữa ta và địch trở lên quyết liệt. Bọn địch vừa đánh chặn, chia cắt mũi ximg phong của ta ở phía trước, vừa nấp trong các ngõ hẻm và trên các tầng nhà đánh lén vào các lực lượng phía sau. Hai xe tăng của ta bị đạn M.72 của địch bắn cháy trong thị trấn. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nguyễn Ánh Dương và một số cán bộ chiến sĩ hy sinh ngay trên đường phố. Sở chỉ huy Trung đoàn 101 cũng bị súng cổì và đại liên địch bắn dữ dội. Phi pháo địch đánh phá liên tục ở cả phía trước và phía sau. Tên Đại tá tiểu khu trưởng tiểu khu Biên Hoà và tên trung tướng Nguyễn Văn Toàn tư lệnh ; Quân khu 3 Ngụy trực tiếp đáp máy bay trực thăng tới khu vực Nước Trong - Long Thành thị sát chiến trường và từ trên máy bay điều khiển binh lính Ngụy chống đỡ “tử thủ”. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:35:05 am Để có thể nhanh chóng dứt điểm mục tiêu Long Thành, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 Nguyễn Văn Giảng quyết định tung Tiểu đoàn 2 (lực lượng dự bị) vào chiến đấu. Sư đoàn trưởng Phạm Minh Tâm chỉ thị cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 Cao Ánh Đăng, tổ chức lực lượng đánh ngay vào Thái Lạc, hỗ trợ cho Trung đoàn 101 đánh Long Thành; Trung đoàn 84 pháo binh tổ chức đánh kiềm chế các trận địa pháo địch; Tiểu đoàn 120 thuộc Trung đoàn 284 cao xạ, Tiểu đoàn 75 cao xạ của Sư đoàn, Đại đội 12 tên lửa A.72 áp sát thị trấn đánh máy bay địch, bảo vệ đội hình tiến công của Trung đoàn 101. Bộ đội cao xạ đánh giỏi, bắn trúng, liên tiếp bắn rơi tại chỗ ba chiếc A.37 hai AĐ.6, một trực thăng vũ trang. Bọn địch trong thị trấn vẫn ngoan cố kháng cự. Các mũi tiến công của Trung đoàn 101 vẫn bị địch ngăn chặn, và do không nắm chắc địch nên phát triển lúng túng. Liên lạc giữa cơ quan chỉ huy với một số đơn vị bị gián đoạn. Một mũi của Tiểu đoàn 3 cùng hai xe tăng đánh dọc theo Đường 15 phát triển nhầm sang khu vực Nước Trong, nổ súng bắn chá'y hai xe tăng và tiêu diệt một số địch. Bọn địch ở đây đang lo đối phó với các chiến sĩ Sư đoàn 304 ở phía trước. Khi thấy bộ binh, xe tăng ta từ phía Long Thành đánh tới chúng hoảng hốt điều lực lượng quay về phía sau chống đỡ. Mũi tiến công bất ngờ, ngoài kế hoạch này của Trung đoàn 101 đã tạo thêm thuận lợi cho các chiến sĩ Sư đoàn 304 cũng đang, vật lộn quyết liệt với địch ở khu vực Nước Trong. Phát hiện được sự nhầm lẫn của đơn vị, cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn 3 lập tức cho bộ đội cùng xe tăng quay trở về thị trấn.
Tình hình trận đánh trở nên phức tạp. Tại sở chỉ huy Sư đoàn, không khí khẩn trương, căng thẳng theo nhịp độ tiến công của bộ đội. Các chiến sĩ 325 đã mang vào trận Long Thành khí thế của trận Phan Rang, Phan Thiết và lối đánh dũng mãnh, đột phá thẳng vào giữa hệ thống phòng ngự dày đặc của địch một cách táo bạo, bất ngờ. Nhưng bảy tiếng đồng hồ đã qua, Trung đoàn 101 vẫn chưa đánh gục được quân địch ở khu vực mục tiêu then chốt. Rõ ràng bọn địch ở đây không hoàn toàn giống như bọn địch ở Phan Rang, Phan Thiết. Hệ thống phòng thủ của chúng kiên cố hơn, vững chắc hơn. Sau lưng chúng đã là Sài Gòn và chúng không còn nơi nào để rút chạy. Trong giờ phút tuyệt vọng, địch tỏ ra hết sức liều lĩnh và ngoan cố. Không chống đỡ nổi các đòn tiến công ào ạt của quân ta, bọn địch xảo quyệt áp dụng thủ đoạn “trì hoãn chiến”. Lợi dụng đêm tối, chúng tản ra ẩn nấp vào các ngôi nhà, góc phố, chờ ta lướt qua, liền cụm lại tạo thành các ổ đề kháng mới, đánh vào bên sườn, phía sau lực lượng tiến công phối hợp với đồng bọn đang chặn đánh ta từ phía trước. Đối với một kẻ địch như vậy, bộ đội ta phải có cách đánh phù hợp hơn, cần tiến công nhanh, mạnh nhưng phải chắc: đánh tới đâu, quét sạch địch ở nơi đó, tổ chức lực lượng trụ lại giữ địa bàn rồi mới phát triển tiếp sang khu vực khác. Phải tổ chức tốt hơn nữa việc đánh máy bay, bảo vệ đội hình tiến công và kiềm chế, đè bẹp các trận địa pháo của địch ở các vùng phụ cận Sớm nhận ra khuyết điểm của mình trong đánh giá địch và vận dụng phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của chiến dịch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định cho Trung đoàn 101 và 46 tạm ngừng tiến công đế nắm tình hình, xốc lại lực lượng, đợi khi trời sáng thấy rõ mục tiêu sẽ tiếp tục đánh chiếm chi khu và quận lỵ Long Thành. Ngay trong đêm tối, các cán bộ cơ quan lao đi tìm bắt liên lạc, truyền đạt mệnh lệnh cho các mũi, các hướng. Bộ Tư lệnh Sư đoàn tổ chức thêm một bộ phận chỉ huy nhẹ, trực tiếp xuống Sở chỉ huy Trung đoàn 101 đang ở Đông Cầu Gỗ (cách Dinh quận trưởng Long Thành khoảng 700 mét), cùng cán bộ chỉ huy Trung đoàn 101 tổ chức đợt tiến công mới. Ngày 27 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến đấu ở khu vực Long Thành tiếp tục diễn ra ác liệt. Bộ đội ta quyết đánh chiếm bằng được mục tiêu, địch cũng tăng cường lực lượng tối phản kích và huy động phi pháo chi viện cho binh lính Lữ đoàn 468 lính thuỷ đánh bộ cùng bọn bảo an, dân vệ giữ Long Thành. Các chiến sĩ vừa lùng diệt quân địch trong các vườn cây, các dãy nhà, góc phố vừa đánh trả máy bay địch. Đến 16 giờ 30 phút, Sư đoàn hoàn toàn làm chủ khu vực Long Thành, diệt hơn 600 tên địch, bắt tại trận 506 tên khác, trong đó có hai tên Trung tá, hai Thiếu tá, bốn Đại uý, thu và phá huỷ ba trận địa pháo (10 khẩu 105), cùng nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh khác của địch. Chiến thắng Long Thành phá vỡ một khâu quan trọng trên tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở hướng Đông - Nam Sài Gòn. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 gửi điện nhiệt liệt biểu dương, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ đã lập chiến công đầu và chỉ thị cho Sư đoàn: Nhanh chóng tiến đánh chi khu, quận lỵ Nhơn Trạch, mở đường đưa pháo tầm xa vào cấu trúc trận địa, kịp thời nổ súng đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất, khoá chặt đường không của địch trước giờ tổng công kích và khẩn trương đánh bịt đường rút của địch từ Sài Gòn qua sông Lòng Tàu ra biển, hoàn thành nhiệm vụ vu hồi chiến dịch. Như vậy là ngay sau trận đột kích phá vỡ tuyến phòng thủ then chốt vòng ngoài của địch, Sư đoàn phải thực hiện tiếp một nhiệm vụ quan trọng. Tổc độ và kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ chẳng những sẽ tác động tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của Quân đoàn, Sư đoàn mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới kế hoạch hiệp đồng của toàn chiến dịch. Lúc này, cuộc chiến đấu trên toàn mặt trận Sài Gòn - Gia Định đang diễn ra sôi sục. Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 tác chiến theo Đường 1, đang tổ chức đánh chiếm Trảng Bom, Hố Nai. Ở hướng Tây - Nam, chủ lực Quân khu 8 cắt Đường 4 thu hút lực lượng các Sư đoàn 7, 9, 22 Ngụy, tạo điều kiện cho các hướng khác hoạt động. Đoàn 232 đánh chiếm được đầu cầu ở An Ninh, Lộc Giang. Ở hướng Bắc, Quân đoàn 1 diệt được một số trận địa pháo địch, làm chủ đoạn Đường 16 và đánh vào sát Thủ Dầu Một. Ở hướng Tây - Bắc, Quân đoàn 3 diệt hàng chục trận địa pháo, đánh cắt Đường 22 và Đường 1, chặn diệt một số đơn vị địch, không cho chúng từ Tây Ninh co cụm về Đồng Dù. Ở hướng đột kích chủ yếu của Quân đoàn 2, Sư đoàn 304 đang tiếp tục đột phá Nước Trong, mở cửa cho lực lượng bộ binh cơ giới của Quân đoàn sẵn sàng đánh vào nội đô Sài Gòn theo trục Đường 15 và đường xa lộ. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:35:45 am Để nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm Nhơn Trạch, hoàn thành nhiệm vụ vu hồi chiến dịch đúng yêu cầu và thời gian quy định, Thường vụ đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đoàn 325 quyết định chuyển toàn bộ đơn vị sang trạng thái hành tiến chiến đấu. Trước khi hạ quyết tâm táo bạo này, các cán bộ chỉ huy Sư đoàn đã bàn bạc, tính toán kỹ lưỡng. Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn cũng trực tiếp xuống Sư đoàn xem xét tình hình mọi mặt và nêu những ý kiến chỉ đạo cụ thể.
Ngày 28 tháng 4, khi Sư đoàn thọc sâu vào Nhơn Trạch thì bên cánh phải của Quân đoàn, Sư đoàn 304 vẫn đang tiếp tục đánh Nước Trong. Các cánh quân khác của ta trên toàn mặt trận còn đang đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, mở cửa chiến dịch trên các hướng. Những trận đánh lớn các Binh đoàn chủ lực vẫn đang diễn ra cách vùng trung tâm Sài Gòn từ 50 tới 80 ki-lô-mét. Riêng Sư đoàn 325 nếu đánh được vào tới Nhơn Trạch, sẽ là mũi nhọn đột kích đầu tiên áp sát vùng nội đô. Bọn địch chắc chắn sẽ phản ứng dữ dội. Nhưng đây là một hướng đánh rất hiểm. Do địa hình có nhiều khó khăn, quân địch ít chú ý phòng bị trục Đường 25. Nếu ta hành động mau lẹ, chúng sẽ không kịp trở tay. Bị đòn bất ngờ, thế trận phòng ngự của chúng sẽ rơi vào tình trạng rối loạn. Bộ Tư lệnh Quân đoàn hoàn toàn tin tưởng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn sẽ vượt qua thử thách lớn này và đồng ý cho đơn vị chuyển sang tiến công địch trong hành tiến. Tình hình rất khẩn trương, Sư đoàn phải chạy đua với thời gian giành giật từng giây, từng phút. Khói lửa trận Long Thành chưa tan, bộ đội lại hối hả lo bổ sung thêm đạn, gạo để kịp lên đường. Trong đêm 27, theo sự điều chỉnh, hướng dẫn của cơ quan Tham mưu Sư đoàn, các đơn vị lần lượt tiến ra Đường 25 sẵn sàng cơ động. Trung đoàn 46 đảm nhiệm nhiệm vụ dẫn đầu đội hình của Sư đoàn. Đại đội 6 xe tăng (hiện còn bốn chiếc) được điều lên tăng cường cho Trung đoàn 46. Tiếp đó là cơ quan chỉ huy và các đơn vị binh chủng, đi cuối đội hình là Trung đoàn 101, vừa hành quân vừa tranh thủ củng cố lực lượng. Trung đoàn 18 ở lại bảo vệ phía sau và làm dự bị của Quân đoàn tiến đánh bên cánh phải. Để nắm chắc và chỉ huy các lực lượng ở phía trước, Sư đoàn trưởng Phạm Minh Tâm và chính uỷ Lê Văn Dương quyết định tổ chức một bộ phận chỉ huy nhẹ đi cùng Sở chỉ huy Trung đoàn 46 do Trung tá Nguyễn Quang Huy, phó Sư đoàn trưởng và Thiếu tá Nguyễn Văn Rinh, phó Tham mưu trưởng Sư đoàn phụ trách. Đồng chí phó Chủ nhiệm chính trị tỉnh đội Biên Hoà và một số đồng chí cán bộ huyện Nhơn Trạch cũng luôn theo sát đội hình tiến quân, giúp Sư đoàn hiệp đồng với các lực lượng tại chỗ đánh địch. Tảng sáng ngày 28 tháng 4, đội hình tiến công của Sư đoàn được tổ chức xong và các đơn vị bắt đầu xuất phát. Trên đoạn đường từ Long Thành vào Nhơn Trạch, Trung đoàn 46 bộ binh dẫn đầu đội hình tiến công của Sư đoàn, liên tiếp tiêu diệt các cụm phòng thủ của địch ở Bến Sáng. Phú Hội, Long Tân; đồng thời quét luôn hàng loạt tổ chức kìm kẹp của địch ở các thôn xã dọc Đường 25. Đúng như ta dự đoán, bị bất ngờ trước đòn đột kích táo bạo của các chiến sĩ 325, lực lượng địch ở đây chống cự không nổi và tan vỡ. Trong buổi chiều và tối hôm đó, được xe tăng và pháo binh chi viện, Trung đoàn 46 sử dụng chiến thuật bao vây tiến công liên tục, sau ba đợt xung phong quyết liệt đã chiếm gọn quận lỵ Nhơn Trạch, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch cố thủ ở đây. Ngay khi đội hình chiến đấu của Sư đoàn xuất phát, các chiến sĩ Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 164 pháo binh) dưới sự chỉ huy của chủ nhiệm chính trị Lữ đoàn Nguyễn Băng Hiến cũng được lệnh đưa pháo 130 tiến sát theo bộ binh, trên đường tiến quân, bộ đội pháo binh cùng các lực lượng hành quân phía sau của Sư đoàn liên tục đánh trả các cuộc phản kích của bộ binh và hải quân địch từ căn cứ Cát Lái theo sông lạch tiến ra bịt đường, ơ khu vực Long Tân - Phú Hội, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhất. Hàng chục tàu chiến dịch đổ quân lên rừng đước và dồn dập nã pháo, côi vào trục Đường 25. Binh lính của chúng toả ra, tốp bò, tốp chạy đầy đồng. Nhiều trận giáp chiến đã diễn ra trong các vườn cây, các vạt ruộng ngập nước. Để bảo vệ pháo, giữ vững đội hình tiến quân, cán bộ, chiến sĩ cơ quan Sư đoàn và các đơn vị binh chủng đều xông lên diệt địch. Các khẩu đội pháo 85, cao xạ 37, súng máy 12,7... của các Trung đoàn 84, 284 cũng nhanh chóng tìm vị trí thuận lợi tham gia đánh tàu chiến và bộ binh địch. Kẻ thù lầm tưởng rằng mũi thọc sau của ta chỉ rắn ở phía trước nên liều lĩnh phản kích vào phía sau, mong ngăn chặn hướng đánh nguy hiểm này. Nhưng chúng không ngờ ở đâu ta cũng mạnh, các chiến sĩ ta có đủ tài trí để đánh bại kẻ địch đông gấp hàng chục lần. Tới 15 giờ chiều khi Trung đoàn 101 vận động lên phối hợp mở cuộc truy kích thì binh lính Ngụy nhanh chóng bị quét sạch trên toàn bộ trục đường; đoàn tàu chiến địch hoảng hốt quay đầu tháo chạy về căn cứ Cát Lái. Đường đã mở thông, đêm 28 tháng 4, các khẩu đội pháo tầm xa 130 của Lữ đoàn 164 dồn dập tiến vào Nhơn Trạch - thiết bị trận địa bắn, chuẩn bị đánh sân bay Tân Sơn Nhất và các mục tiêu trong thành phố theo lệnh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn và Bộ chỉ huy chiến dịch, 36 khẩu pháo lớn của Trung đoàn 84 pháo binh, đơn vị anh hùng, 24 khẩu pháo cao xạ 37 và 57 của Tiểu đoàn 120 và Tiểu đoàn 75, đơn vị anh hùng nối tiếp nhau vào Nhơn Trạch, hướng nòng ra phía trước, sẵn sàng nhả đạn đánh phá Thành Tuy Hạ, căn cứ hải quân Cát Lái, cảng Sài Gòn, v.v săn diệt tàu địch trên sông Lòng Tàu, sông Đồng Nai, cắt đứt đường thuỷ từ Sài Gòn ra biên và sẵn sàng đánh máy bay địch bảo vệ đội hình tiến công của Sư đoàn. Bao quanh các trận địa pháo là tầng tầng, lớp lớp các tay súng bộ binh kiên cường của hai Trung đoàn 101, 46 - những con người đã góp phần không nhỏ trong chiến công đưa pháo lớn vào đặt ngay cửa ngõ Sài Gòn trước giờ tổng công kích và đang cảnh giác sẵn sàng giáng trả các cuộc phản công của hải, lục, không quân địch, giữ vững bàn đạp Nhơn Trạch. Trong lịch sử kháng chiến cứu nước, đây là lần đầu tiên ta đã đặt toàn bộ khu vực "thủ đô" của địch trong tầm khống chế của pháo binh hạng nặng, tăng thêm thế uy hiếp mạnh mẽ quân địch ở thời điểm quyết định. Việc tổ chức thành công cả một cụm pháo lớn ở ngay sát nội đô trước giờ tổng công kích thể hiện tài thao lược của Bộ chỉ huy chiến dịch; thể hiện quyết tâm và cố gắng vượt bậc của chiến sĩ bộ binh, binh chủng toàn Quân đoàn, đồng thời một lần nữa chứng tỏ ưu thế áp đảo của ta trong trận đánh giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:36:27 am Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, thời điểm toàn mặt trận chuyển sang tổng công kích đã đến. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch. Tư lệnh Quân đoàn chỉ thị cho các trận địa pháo 130 đặt ở Nhơn Trạch bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, mở đầu cuộc tổng công kích.
Bốn giờ 30 phút, khẩu đội của Nguyễn Văn Biên vinh dự bắn quả đạn đầu tiên. Tiếp đó, 303 quả đạn pháo 130 dồn dập bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất trong một thời gian ngắn. Hoà cùng tiếng pháo lệnh của Lữ đoàn 164, các trận địa pháo của Sư đoàn và các đơn vị bạn đồng loạt nổ súng, trút bão lửa vào các khu vực mục tiêu quy định. Tiếng pháo nổ rung chuyển đường phố Sài Gòn đã báo hiệu sự cáo chung của chế độ Ngụy quyền tay sai Mỹ. Đối với các chiến sĩ 325 và các đơn vị tăng cường, phối thuộc, tiếng pháo nổ rung chuyển đường phố Sài Gòn ấy là lời báo cáo trước Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Bộ chỉ huy chiến dịch và quân dân toàn mặt trận: Nhiệm vụ đánh vu hồi chiến dịch đã được thực hiện thắng lợi. Toàn đơn vị sẵn sàng nhận tiếp nhiệm vụ mới. Tiếng pháo vang rền từ trận địa Nhơn Trạch báo hiệu mở đầu cuộc tổng công kích của quân dân ta trên toàn mặt trận Sài Gòn - Gia Định. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy Chiến dịch, các Binh đoàn thọc sâu của năm cánh quân đồng loạt vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, ào ạt đánh vào nội đô, cùng các lực lượng tại chỗ giải phóng thành phố. Để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ thọc sâu, ngay từ đầu chiến dịch, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tổ chức sẵn một Binh đoàn đột kích cơ giới hoá mạnh gồm các thành phần bộ binh, xe tăng thiết giáp, pháo binh, cao xạ, công binh, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Ngày 28 tháng 4, trong khi Sư đoàn đang khẩn trương hoàn thành nhiệm vụ đánh vu hồi trên hướng Long Thành - Nhơn Trạch thì Trung đoàn 18 (lực lượng dự bị của Quân đoàn) nhận được chỉ thị đưa một tiểu đoàn sang phối hợp với Trung đoàn 9 Sư đoàn 304 đánh chiếm khu Ngã ba Đường 15 - Nước Trong, mở sẵn cửa khi Binh đoàn đột kích cơ giới hoá phát triển. Sáng 29, khi Binh đoàn đột kích cơ giới hoá bắt đầu xuất phát, Trung đoàn 18 được lệnh tiến tiếp ngay phía sau lực lượng thọc sâu, đánh vào giải phóng thành phố theo trục Nước Trong - Long Bình và xa lộ Biên Hoà - Sài Gòn. Cùng thời gian đó, Sư đoàn được lệnh tổ chức đánh chiếm Thành Tuy Hạ, căn cứ Cát Lái và phát triển vào nội đô giải phóng Quận 9. Thành Tuy Hạ nằm trên bờ sông nhánh của sông Đồng Nai, là một chướng ngại lớn án ngữ đường tiến quân của Sư đoàn vào nội đô Sài Gòn. Đây là một thành cổ khá kiên cố, Mỹ - Ngụy đã cải tạo, xây dựng thành một kho chứa bom đạn, vũ khí lớn. Trước lúc ta tiến công, địch đã kịp điều tới Tuy Hạ một tiểu đoàn chiến đấu, một đại đội sĩ quan, kết hợp với lực lượng tại chỗ bảo vệ khu vực này. Cuộc chiến đấu giữa Trung đoàn 46 và các lực lượng phòng thủ của địch diễn ra giằng co, căng thẳng suốt sáu giờ đồng hồ. Ta liên tục tổ chức ba đợt xung phong. Bằng những thang, ván mượn được của nhân dân quanh vùng, các chiến sĩ 46 táo bạo yểm hộ nhau vượt rào và tung mình nhảy lên tường thành đánh chiếm bàn đạp. Bọn địch ngoan cố bám lấy hệ thống công sự vững chắc, chống cự quyết liệt. Tình hình đang hết sức khẩn trương. Để nhanh chóng đập tan sự kháng cự của địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn sử dụng một bộ phận lực lượng Trung đoàn 101 cùng bốn xe tăng T.54 tổ chức thêm một mũi phát triển theo Đường 25, đánh thẳng vào cổng chính và điều pháo 85 nòng dài lên tổ chức trận địa bắn ngắm trực tiếp diệt địch. Mười sáu giờ chiều ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 101 và xe tăng bắt đầu tiến vào cùng Trung đoàn 46 mở đợt tiến công quyết định. Ba chiếc xe tăng T.54 tiến đến cách cổng Thành Tuy Hạ 500 mét thì dừng lại dùng pháo và súng trọng liên 12,7 kiềm chế chặt chẽ các hoả điểm địch. Các chiến sĩ Trung đoàn 46 một lần nữa ào ạt xung phong. Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 101) có xe tăng T.54 dẫn đầu dũng mãnh xông thẳng vào cổng chính và nhanh chóng toả ra đánh chiếm các điểm cố thủ của địch. Mục tiêu Thành Tuy Hạ được giải quyết xong vào hồi 18 giờ ngày 29. Lực lượng quân Ngụy phòng thủ khu vực này phần lón bị tiêu diệt và bắt sống tại trận. Một bộ phận luồn được ra cổng phía Nam, tháo chạy vế Cát Lái. Chớp thời cơ quân địch trong vùng đang hết sức hoang mang, dao động sau các đòn liên tiếp thua đậm ỏ Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, Sư đoàn lệnh cho Trung đoàn 101 truy kích đánh thẳng xuống Cát Lái. Tói 18 giờ 40 phút, bộ binh, xe tăng ta tới sát khu vực mố cầu phà phía Bắc. Bọn hải quân địch ở khu vực Cát Lái vội vã kéo tất cả tàu, thuyền sang bờ Nam sông Đồng Nai, bỏ rơi hàng trăm tên lính Ngụy đang run lên vì khiếp sợ bên bờ Bắc sông. Khi bộ đội ta tràn tới chúng nhanh chóng đầu hàng và tan rã. Sau khi Sư đoàn thực hiện thắng lợi đòn tiến công đánh chiếm Thành Tuy Hạ và khu vực mố cầu phía Bắc phà Cát Lái thì các căn cứ của địch ở Quận 4, Quận 1 Sài Gòn đã hiện ra sừng sững trong ánh hoàng hôn, dinh luỹ cuối cùng của bè lũ tay sai ngoan cố, phản động nhất của đế quốc Mỹ xâm lược, mục tiêu cần phải tiêu diệt. Nhận thức sâu sắc đây là trận chiến đấu quyết liệt nhất trong giai đoạn cuối của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, mấy ngày qua các chiến sĩ không quản gian khổ, nguy hiểm, thương vong, liên tục nâng cao tốc độ tiến công, thực hiện vượt mức yêu cầu của chiến dịch. Giờ đây trước mặt Sư đoàn là một dòng sông rộng tới bảy, tám trăm mét, nước chảy cuồn cuộn. Bên phía bờ Nam, lực lượng địch rất đông. Chưa kể tới bọn địch thất thủ ở các nơi chạy về bố trí dày đặc dọc các trục đường, riêng ở căn cứ Cát Lái đang có hơn hai nghìn lính thuỷ và hàng trăm tàu, xuồng chiến đấu. Cách đây không xa, hàng trăm tàu lớn của địch bị tắc đường rút chạy ra biển cũng đang chen nhau neo đậu ở khu vực Tân Cảng và trên sông Nhà Bè. Phải vượt qua một con sông lớn trong hoàn cảnh như vậy là một thử thách hết sức mới mẻ, nhưng toàn thể cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đều nung nấu quyết tâm vượt sông bằng mọi giá. Tối 29 tháng 4, để chuẩn bị cho cuộc vượt sông đánh vào Sài Gòn, một bộ phận trinh sát chiến đấu của Sư đoàn lập tức dùng thuyền bí mật đổ bộ sang bờ Nam sông, nắm địch. Bộ Tư lệnh Sư đoàn cùng cán bộ chỉ huy các Trung đoàn 101, 84, 46 và đơn vị xe tăng, công binh... xuống khu vực bến phà trực tiếp nghiên cứu, xây dựng phương án vượt sông tại chỗ. Giữa những chớp lửa sáng lóe của đạn pháo địch bắn cầm canh sang bờ bắc, cán bộ chỉ huy các đơn vị chăm chú lắng nghe Sư đoàn trưởng chỉ thị và phòng tham mưu Sư đoàn phổ biến kế hoạch hiệp đồng tác chiến. Quyết tâm của Sư đoàn là: tổ chức tiến công vượt sông Đồng Nai bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, đánh chiếm căn cứ Cát Lái, khu vực cảng và Quận 9, Sài Gòn, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ cấp trên giao cho. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:37:26 am Ngay trong đêm tối, các đơn vị khẩn trương triển khai lực lượng chuẩn bị vượt sông. Các tổ công tác của Trung đoàn 101 có sự phối hợp của lực lượng địa phương toả vào các làng ven sông vận động đồng bào đưa thuyền tới khu vực bến giúp bộ đội. Chiến sĩ Trung đoàn 84 pháo binh khắc phục mọi khó khăn đưa 10 khẩu pháo lớn vào cấu trúc trận địa bắn ngắm trực tiếp ngay sát mép nước, sẵn sàng chi viện cho Tiểu đoàn công binh cầu phà và nhân dân chở bộ đội qua sông. Xe tăng T54 cũng được điều lên phục sẵn ở hai bên bến vượt. Các cụm pháo ở Tuy Hạ, Nhơn Trạch chuẩn bị sẵn tọa độ các đoạn bắn chặn trên sông Nhà Bè và đánh phá căn cứ hải quân Cát Lái. Tiểu đoàn 75 và Tiểu đoàn 120 cao xạ gấp rút di chuyển vào triển khai trận địa trên cánh đồng kho sát phía sau bến phà sẵn sàng đánh máy bay, bảo đảm cho cuộc vượt sông thắng lợi. Sở chỉ huy Sư đoàn cũng được chuyển đến bờ sông, sát liền với đài quan sát để kịp thời chỉ huy các lực lượng chiến đấu.
Tảng sáng ngày 30 tháng 4, khi trận địa pháo tầm xa 130 đặt ở Nhơn Trạch được lệnh thôi bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, thì cuộc tiến công vượt sông của Sư đoàn bắt đầu. Để thăm dò phản ứng và nhử các trận địa hoả lực địch trên bờ nam sông cho pháo binh ta bắn huỷ diệt, Sư đoàn trưởng chỉ thị cho một xe lội nước (BAP) chở 10 chiến sĩ bộ binh được trang bị mạnh, vượt lên trước đội hình, tiến thẳng sang bờ Nam sông. Xe BAP của ta vừa ra tới giữa sông thì bọn địch trong căn cứ hải quân Cát Lái nổ súng đánh chặn và cho ba tàu chiến xuất kích ra bịt đường. Trận địa pháo bắn ngắm trực tiếp của Trung đoàn 84 lập tức nổ súng đánh chìm tại chỗ cả ba tàu địch. Các cụm pháo Sư đoàn đặt ở Nhơn Trạch, Tuy Hạ đồng loạt phát hoả, trút bão lửa xuống vị trí địch trên bờ Nam sông. Các khẩu đội cao xạ của ta cũng hạ nòng tham gia đánh diệt bộ binh địch. Pháo binh ta được đài quan sát luồn sâu hiệu chỉnh bắn rất chính xác. Tiếng trái pháo nổ dồn dập. Từ căn cứ Cát Lái, những đám cháy, những cột khói lớn bốc cao. Đòn tập kích hoả lực mạnh mẽ của pháo binh ta nhanh chóng đè bẹp lực lượng địch trên toàn khu vực. Tuy có chuẩn bị đối phó từ chiều ngày 29, nhưng chúng vẫn bị bất ngờ trước quy mô cuộc tiến công và cách đánh của ta. Vì bị bất ngờ nên binh lính Ngụy hoảng hốt bỏ tàu vọt lên bờ tìm nơi ẩn nấp hoặc tháo chạy thục mạng. Bọn chỉ huy các liên giang đoàn yểm trợ hết sức lúng túng và không nắm được binh lính thuộc quyền. Chúng liên tiếp đánh điện cầu cứu cấp trên cho lực lượng tới tiếp viện. 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, mong đánh thông đường tháo chạy ra biển và cứu nguy cho đồng bọn ở Cát Lái, Bộ Tư lệnh Hải quân Ngụy liều lĩnh tập trung lực lượng mở cuộc phản kích. Từ Tân Cảng, hàng đoàn tàu chiến chở đầy lính Ngụy theo sông Nhà Bè hùng hổ tiến ra vừa đi vừa bắn tới tấp vào những nơi chúng nghi ngờ có trận địa hoả lực của ta bố trí. Mặc cho địch phản pháo ác liệt, các chiến sĩ Trung đoàn 84 và Tiểu đoàn 120 cao xạ gan góc chờ địch vào gần mới nổ súng đánh trả. Chỉ trong chớp nhoáng lại thêm năm tàu địch bị nhận chìm tại chỗ. Nhiều chiếc khác trúng đạn pháo bị thương. Một tàu kéo theo ba sà lan chở đầy đạn bốc cháy, nổ dữ dội. Hàng chục tàu chiến dịch liên tiếp bị bắn chìm, bắn cháy trên sông Đồng Nai làm cho bọn hải quân Ngụy vô cùng khiếp hãi. Sợ pháo binh ta săn đuổi, các tàu địch đi ở phía sau vội vã quay đầu tháo chạy về Tân Cảng. Nhân đà thắng lợi, cán bộ chỉ huy Sư đoàn lập tức ra lệnh cho Trung đoàn 101 vượt sông. Được chính quyền cách mạng và nhân dân địa phương đưa thuyền bè tới giúp chuyên chở lực lượng, cán bộ, chiến sĩ 101 nhanh chóng đánh sang chiếm gọn căn cứ hải quân Cát Lái, bắt giữ, thu hồi hơn 100 tàu xuồng chiến đấu và một khối lượng rất lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh khác. Cùng thời gian đó, các chiến sĩ Trung đoàn 46 nhận nhiệm vụ truy kích địch mới được tàu chiến đổ lên bờ Bắc. Trung đoàn nhanh chóng tiêu diệt và đánh tan hai tiểu đoàn địch, bảo đảm an toàn cho lực lượng binh khí kỹ thuật tiếp tục chuyển sang phía Nam sông. Cuộc tiến công vượt sông Đồng Nai bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, trận đánh lớn thứ tư của Sư đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi. Vào lúc căn cứ Cát Lái - điểm cố thủ cuối cùng của địch ở phía Đông - Nam Sài Gòn bị đập vỡ tan tành, thì trên các hướng khác của chiến dịch, các Quân đoàn chủ lực của ta được lực lượng tại chỗ phối hợp mở đường cũng đang ào ạt đánh vào nội đô từ mọi phía. Trên hướng Bắc, một đơn vị của Quân đoàn 1 bao vây căn cứ Phú Lợi; một bộ phận đánh chiếm Tân Yên, Lái Thiêu, tạo điều kiện cho lực lượng thọc sâu tiến vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy và khu các binh chủng Ngụy tại quận Gò Vấp. Trên hướng Tây - Bắc, một bộ phận của Quân đoàn 3 tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, Trảng Bàng, bộ đội đặc công đánh chiếm Cầu Bông, Cầu Sáng, mở đường cho lực lượng thọc sâu đánh vào nội đô sẵn sàng tiến công sân bay Tân Sơn Nhất. Trên hướng Tây - Nam, ta đánh chiếm xong thị xã Hậu Nghĩa, diệt quận lỵ Đức Hoà, bức rút Đức Huệ, Trà Cú, mở đường hành lang trên sông Vàm Cỏ Đông. Tàn quân địch từ Hậu Nghĩa chạy về Củ Chi, ta chặn bắt trên 1.000 tên. Lực lượng thọc sâu của Đoàn 232 với các loại vũ khí nặng đã vượt sông Vàm Cỏ Đông tiến vào Sài Gòn. Trên hướng Đông, Quân đoàn 4 chiếm Trảng Bom, Hố Nai và đang tràn qua Biên Hoà, tiến về Sài Gòn theo Đường 1. Trên hướng đường xa lộ, Binh đoàn đột kích cơ giới hoá của Quân đoàn 2, sau khi đánh chiếm căn cứ Long Bình, cầu xa lộ (Đồng Nai), đã tràn qua quận Thủ Đức và đang tiếp tục đột phá qua điếm cố thủ cuối cùng của địch ở khu vực cầu xa lộ (Sài Gòn), mở đường đánh vào "Dinh Độc lập". Bộ đội ta sôi sục khí thế thần tốc, quyết thắng, khẩn trương tiến nhanh qua những ki-lô-mét cuối cùng đánh vào chiếm lĩnh các mục tiêu quy định. Trời Sài Gòn như vỡ ra bởi tiếng nổ rung chuyển của đạn pháo các cỡ và tiếng gầm của hàng vạn động cơ máy 110 đang rú ga xông tới. Bộ chỉ huy Chiến dịch chỉ thị cho các lực lượng ta trên toàn mặt trận: "Tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiên quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiêm lĩnh toàn bộ Thành phố, tước vũ khí quân địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của địch". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Ba, 2022, 07:37:57 am Chấp hành mệnh lệnh trên, ngay sau khi vừa cơ bản đập vỡ được điểm phòng thủ của địch ở Cát Lái, Bộ Tư lệnh Sư đoàn trực tiếp nắm Trung đoàn 101 cùng đơn vị xe tăng thần tốc đánh vào Quận 9 và khu vực Tân Cảng. Trung đoàn 46 và Trung đoàn 84 ở lại bảo vệ mục tiêu và khoá chặt sông Lòng Tàu không cho địch rút ra biển.
Đến giờ phút này, bọn Ngụy ở Sài Gòn đã hỗn độn đến cực độ. Đại bộ phận binh lính địch khiếp sợ trước sức tiến công vũ bão của quân ta, chúng quăng súng tìm đường tháo chạy. Bọn quan chức Ngụy quyền cũng nháo nhác tìm phương di tản theo quan thầy Mỹ. Nhưng đường thuỷ, đường không và mọi tuyến đường bộ đều đã bị khoá chặt. Con đường duy nhất mà chúng phải chọn là đầu hàng cách mạng, ở "Dinh Độc lập" tướng Dương Văn Minh đang chủ trì một cuộc họp các Tổng trưởng Ngụy để chuẩn bị cho lễ ra mắt "tân nội các" dự định sẽ tiến hành vào 10 giờ sáng. Nhưng khi nhận được tin các đơn vị nòng cốt bảo vệ vòng ngoài đều bị tiêu diệt và tan rã, các quân đoàn chủ lực của ta từ nhiều hướng đã tràn vào tới nội đô, Tổng thống Ngụy buộc phải đưa ra một bản tuyên bố muộn màng trên Đài Phát thanh Sài Gòn xin "ngừng bắn... để cùng thảo luận về bàn giao chính quyền" hòng vớt vát được chút gì trong cái thế sụp đổ không thể tránh khỏi của cả một chế độ tay sai bán nước. Không nghe bất cứ luận điệu nào của bọn tay sai bán nước, cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 325 kiên quyết chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, nêu cao quyết tâm tiến thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch, bắt chúng phải đầu hàng không điều kiện. Từ 9 giờ tới 12 giờ ngày 30 tháng 4, các chiến sĩ Trung đoàn 101 phát triển trên hướng Đông - Nam Sài Gòn dồn dập đánh vào chiếm gọn quận 9, Bộ Tư lệnh Hải quân Ngụy và khu vực Tân Cảng, thu hồi và bắt giữ hàng trăm tàu địch trên sông Sài Gòn. Trên hướng đường xa lộ: các chiến sĩ Trung đoàn 18 sau khi đập tan sự kháng cự của địch ở Trường cảnh sát Quốc gia và Trường Huấn luyện Thủ Đức đã nhanh chóng đánh thẳng vào quận 1. Quân đoàn giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 203 xe tăng, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 và các đơn vị bạn trong Quân đoàn thành lập "Liên Binh đoàn thọc sâu" đánh chiếm "Dinh Độc lập". Bộ phận Liên Binh đoàn thọc sâu này đã nhanh chóng vượt cầu Sài Gòn tiến vào Dinh Độc Lập bắt giữ Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các Ngụy Sài Gòn; chiếm Đài Phát thanh, Tổng cục Chiến tranh chính trị, khu vực thương cảng và quận 4. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ giải phóng với ngôi sao vàng rực rỡ bắt đầu tung bay trên nóc "Dinh Độc Lập" chính thức báo hiệu thời điểm kết thúc toàn thắng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cùng thời gian đó, chiến sĩ các Quân đoàn 3, 1, 4 và Đoàn 232 chiếm gọn các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát Ngụy... Sau đòn quân sự quyết định của các binh đoàn chủ lực, nhân dân Sài Gòn - Gia Định nổi dậy chiếm lĩnh các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, làm chủ các đường phố, hăng hái dẫn bộ đội đi chiếm các vị trí của địch và tham gia lùng bắt những tên còn lẩn trốn, buộc chúng phải ra đầu hàng, trình diện, nhanh chóng lập lại trật tự, ổn định tình hình trên toàn Thành phố. Kẻ thù đã bị đánh gục ngay tại sào huyệt của nó. Chế độ Ngụy Sài Gòn do Mỹ dày công xây dựng hoàn toàn sụp đổ. Hơn một triệu quân Ngụy do Mỹ trang bị đến tận răng bị tiêu diệt và tan rã. Đại sứ Ma-tin và bọn tay chân trong "Lầu Năm Góc Phương Đông" bỏ chạy ra Hạm đội 7 trên những chiếc máy bay lên thắng, Tổng thống và toàn bộ nội các Ngụy bị bắt giữ... Sài Gòn - Gia Định và miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Đất nước thân yêu đã thu về một môi. Đồng bào Bắc Nam sum họp một nhà. Mới trước đây mấy phút, toàn Thành phố còn vang rền tiếng súng trận thì nay đã rộn ràng trong không khí của một ngày hội lón. Nhân dân Sài Gòn từ ngàn vạn ngôi nhà đổ ra kín đường, tay nâng cao cờ Giải phóng và ảnh Bác Hồ đón chào đoàn quân chiến thắng. Đứng giữa rừng cờ và rừng người, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 325 ý thức sâu sắc rằng giờ phút vinh quang này là điểm cuối cùng của cả quá trình chiến đấu suốt mấy chục năm không nghỉ. Trên con đường cứu nước đầy gian nan thử thách ấy, toàn quân, toàn dân ta luôn luôn được sự dìu dắt, cổ vũ của Bác Hồ kính yêu. Hôm nay đứng giữa Thành phố Sài Gòn giải phóng, các chiến sĩ cũng như đồng bào đặc biệt xúc động nhớ tới Bác Hồ - Người đã từ mảnh đất này ra đi tìm đường cứu nước. Điều khẳng định của Bác Hồ giờ đây đã trở thành hiện thực. Sau những tháng năm chiến đấu gian khổ, các chiến sĩ vừa vượt qua những bước cuối cùng và giành được thắng lợi hết sức vẻ vang, thực hiện trọn vẹn mong muốn của Bác và cũng là của toàn dân tộc. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:46:12 am III. Cánh quân từ Cao Nguyên - hướng Tây Bắc - hướng tiến công chủ yếu Chiến dịch Hồ Chí Minh
Tại mặt trận Tây Nguyên, để chuẩn bị tham gia trận đánh cuối cùng giải phóng Sài Gòn - Nam Bộ, khi chiến dịch Tây Nguyên sắp kết thúc, Quân đoàn 3 được gấp rút tổ chức có tên gọi là Binh đoàn Tây Nguyên. Theo quyết định số 54/QP-QĐ ngày 26 tháng 3 năm 1975 của Bộ Quốc phòng, đồng chí Vũ Lăng được cử làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp là Chính ủy Quân đoàn. Lực lượng của Quân đoàn gồm các Sư đoàn 10, 320, 316 bộ binh và các Trung đoàn 40, 675 pháo binh, Trung đoàn 234, 593 cao xạ, Trung đoàn 273 xe tăng, Trung đoàn 7 công binh, Trung đoàn 29 thông tin. Ba cơ quan Mặt trận Tây Nguyên cũ được chuyển thành Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần Quân đoàn. Đó là những đơn vị có lịch sử, truyền thống vẻ vang và vừa cùng phối hợp với quân dân trên chiến trường lập công vang dội trong chiến dịch Tây Nguyên. Quân đoàn 3 được Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ tiến công trên hướng Bắc, Tây Bắc Sài Gòn Trên hướng Bắc, Sư đoàn 320A tiến công cứ điểm Đồng Dù, phá tan tuyến phòng thủ Tây Bắc Sài Gòn của địch. Sư đoàn Đồng Bằng (Sư đoàn 320A) do đồng chí Bùi Đình Hòe, nguyên phó Sư đoàn trưởng, được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng, trực tiếp chỉ huy Sư đoàn chiến đấu cùng các đồng chí Bùi Huy Bổng, Chính ủy, Đặng Văn Trượng, Phó chính ủy và Ngô Huy Phật; phó Sư đoàn trưởng. Sư đoàn 320 A được vinh dự gắn lên quân kỳ của mình Huân chương Quân công hạng nhất do Quốc hội và Chính phủ tặng. Các Trung đoàn 48, 64 và các tiểu đoàn có thành tích xuất sắc đều được khen thưởng thích đáng. Để phát triển chiến thắng của Chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 320 A trong đội hình Quân đoàn 3 tiếp tục cùng các Quân đoàn khác tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là nguồn cổ vũ hết sức to lớn đối với cán bộ và chiến sĩ toàn Sư đoàn, thôi thúc mọi người siết chặt đội ngũ, tiếp tục tiến lên giành nhvĩng chiến công mới. Sư đoàn 320A được lệnh: "Căn cứ vào tình hình chung và chủ trương của trên, nhanh chóng hành quân đi làm nhiệm vụ mới. Đường hành quân: theo trục Đường 14 đến mục tiêu quy định. Thời gian xuất phát: 18 giờ ngày 10 tháng 4 năm 1975. Vị trí tập kết: Bàu Bàng (Tây Ninh) Phương tiện cơ động: Bằng xe ô tô do Đoàn 559 đảm nhiệm...". Nhận được mệnh lệnh trên, Sư đoàn lập tức thu gọn đội hình, bàn giao địa bàn, kho tàng, chiến lợi phẩm thu được cho tỉnh đội Phú Yên và chuẩn bị hành quân đi nhận nhiệm vụ mới. Mặc dù chưa được phổ biến nhiệm vụ một cách cụ thể, nhưng với linh cảm nhạy bén của người lính, các chiến sĩ phán đoán nhất định sẽ được tham gia vào một chiến dịch lịch sử, một sự kiện trọng đại mà một đời người nhiều khi chỉ được một lần. Ai nấy đều vui mừng, phấn khởi. Vừa kết thúc một chiến dịch khá dài ngày, mặc dù mệt mỏi, nhưng gương mặt mỗi người đều rạng rỡ niềm vui. Trong những ngày sôi động ấy, câu chào cửa miệng của các chiến sĩ khi chia tay nhau là: "Hẹn gặp nhau ở Sài Gòn". Trên con đường hành quân vào chiến dịch này đã diễn ra một cuộc gặp gỡ lịch sử. Đó là cuộc gặp gỡ giữa hai sư đoàn cùng sinh ra từ một cội nguồn: Sư đoàn 320A trong đội hình Quân đoàn 3 và Sư đoàn 320B trong đội hình Quân đoàn 1. Những người lính Đồng Bằng gặp nhau tay bắt mặt mừng. Từ mấy năm nay, kể từ khi "hòn máu xẻ đôi", mỗi đoàn quân đánh giặc một phương trời, nhưng vẫn hằng dõi theo bước chân hành quân của nhau. Khi quần nhau với địch trên những Điểm cao chót vót phía Tây sông Pô Cô, khi nằm trong chiến hào vây ép Đức Cơ, các chiến sĩ 320A vẫn nghe tin chiến thắng của 320B từ chiến trường Quảng Trị vọng vào. Một lá thư thăm hỏi, một gói quà nhỏ bé đầy tình nghĩa anh em 320B gửi vào đã động viên cổ vũ các chiến sĩ tiến lên không ngừng, không nghỉ. Từ hai đầu chiến trường, người lính Đồng Bằng ở hai sứ đoàn vẫn luôn động viên nhắc nhở nhau: Hãy xứng đáng với truyền thống vẻ vang của Đại đoàn Đồng Bằng, của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 15 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn chính thức nhận nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3: Sư đoàn 320 được tăng cường Trung đoàn 593, có nhiệm vụ tập trung lực lượng đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, mở cửa, đánh chiếm đầu cầu của Quân đoàn; đánh chiếm khu vực Cầu Bông, Cầu Sáng, bảo đảm dường cơ động cho mũi đột kích cơ giới mạnh của Quản đoàn tiến vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu quân Ngụy Sài Gòn. Sau đó, sẽ trở thành đội dự bị của Quân đoàn phát triển tiến công vào nội thành Sài Gòn. Sau khi nhận nhiệm vụ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn họp đánh giá lại toàn bộ tình hình, thấy rõ những khó khăn, thuận lợi của Sư đoàn trong khi thực hiện nhiệm vụ vẻ vang trong chiến dịch lịch sử này và đi đến quyết tâm: Kiên quyết tập trung lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Sư đoàn, nỗ lực cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ mở chiến dịch cho hướng tiến công của Quân đoàn, tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, đánh chiếm Củ Chi, Tân Quy và Cầu Bông, Cầu Sáng. Sau đó nhanh chóng xốc lại đội hình, sẵn sàng phát triển vào Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân đoàn giao cho. Mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch lập tức được triển khai. Đoàn cán bộ đi trinh sát do Sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe dẫn đầu lên đường ngay ngày 16 tháng 4. Đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô toàn sư đoàn; tiến công địch trong một căn cứ kiên cố, vững chắc, có diện tích rộng tới 8km vuông. Thời gian chuẩn bị lại vô cùng khẩn trương, cấp bách, nên Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã trực tiếp chỉ đạo việc trinh sát, nắm địch và chuẩn bị phương án tác chiến. Sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe, phó Sư đoàn trưởng Ngô Huy Phát, Tham mưu trưởng Trần Ngọc Chung, ba bốn đêm liền bò vào hàng rào căn cứ Đồng Dù để trực tiếp nghiên cứu tình hình, chuẩn bị phương án. Ngày 22 tháng 4, phương án tiến công căn cứ Đồng Dù và khu vực phụ cận được Bộ Tư lệnh Quân đoàn phê chuẩn. Đó mới chỉ là một bước của công tác chuẩn bị. Một việc quan trọng nữa là phải làm sao cơ động đội hình Sư đoàn vào khu vực bàn đạp (khu vực Hố Bò, Nam Bến Súc) nhanh, gọn, bí mật, an toàn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:47:07 am Các chiến sĩ Tiểu đoàn 17 công binh được lệnh khẩn trương hoàn thành cầu phao qua sông Sài Gòn bằng những phương tiện ta thu được của công binh địch trong chiến dịch Tây Nguyên. Suốt mấy ngày đêm, các chiến sĩ Tiểu đoàn 17 vật lộn với sông nước, mặc dù còn thiếu thốn nhiều khí tài, còn gặp nhiều khó khăn về trình độ kỹ thuật, lại phải thường xuyên đối phó với pháo binh, không quân địch, nhưng đến ngày quy định, nhịp cầu qua sông Sài Gòn đã được hoàn thành. Nhịp cầu ấy đã nâng bước chân Sư đoàn tiến vào chiến dịch mang tên Bác. Nhịp cầu ấy cũng được nhiều đơn vị trong Quân đoàn sử dụng để hành quân vào chiến dịch.
Các chiến sĩ vận tải, kho tàng làm việc quên mình, bám đường, bám xe, khẩn trương tiếp nhận, phân bố hàng ngàn tấn vật chất cho Sư đoàn. Các chiến sĩ thông tin luôn bám sát chỉ huy, nhanh chóng triển khai các mạng thông tin hữu tuyến và vô tuyến, bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ huy thống nhất mọi hành động. Đêm 23 tháng 4, Sư đoàn được lệnh vượt sông Sài Gòn, hành quân xuống Nam Bến Súc. Đến ngày 25 tháng 4, toàn bộ đội hình Sư đoàn đã qua sông Sài Gòn vào vị trí tập kết an toàn. Đó là những thắng lợi bước đầu, tạo điều kiện cho Sư đoàn có sức bật mới khi chính thức bước vào tiến công. Chiều 28 tháng 4, Sư đoàn làm lễ xuất quân bên bờ sông Sài Gòn. Lá cờ quang vinh mang tám chữ vàng truyền thống "Đoàn kết - Nghiêm túc - Dũng cảm - Chiến thắng" tung bay trong nắng gió Củ Chi. Chính ủy Sư đoàn Bùi Huy Bổng cảm động khi trao lá cờ quang vinh ấy cho Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) đơn vị đảm nhiệm hướng đột kích chủ yếu của Sư đoàn trong trận Đồng Dù, đơn vị có nhiệm vụ cắm lá cờ truyền thống của Sư đoàn Đồng Bằng lên sở chỉ huy căn cứ Sư đoàn 25 quân Ngụy Sài Gòn. Nằm trên trục quốc lộ số 1 Sài Gòn đi Tây Ninh, căn cứ Đồng Dù thực sự là cánh cửa sắt án ngữ phía Tây với Bình Dương và Hậu Nghĩa. Đồng Dù là một căn cứ phòng ngự trọng yếu trong tuyến phòng thủ Sài Gòn, nên từ lâu, Mỹ - Ngụy đã ra công vun đắp, xây dựng nó trở thành một căn cứ xuất phát hành quân hỗn hợp quy mô lớn. Nó vốn là hang ổ của Sư đoàn 25 Mỹ "tia chớp nhiệt đới", nơi xuất phát các cuộc hành quân càn quét ra vùng Củ Chi, Bầu Bàng sang đến Bến Cả, Bến Súc, Tây Ninh. Sau này, khi Mỹ buộc phải cuốn cờ, Sư đoàn "tia chớp nhiệt đới" bàn giao cơ ngơi lại cho Sư đoàn 25 Ngụy, một trong những Sư đoàn chủ lực mạnh của quân lực Sài Gòn. Để bảo đảm an toàn cho Đồng Dù, Mỹ - Ngụy đã đánh phá, hủy diệt vùng Củ Chi, biến vùng này thành một vùng trắng. Đứng từ đài quan sát của căn cứ pháo binh Sư đoàn 25 trong căn cứ Đồng Dù có thể nhìn thông suốt hàng chục km. Xung quanh căn cứ, chúng bố trí một hệ thống hàng rào và vật chướng ngại phòng thủ rất kiên cố và phức tạp với gần chục lớp rào kẽm gai đủ các kiểu: bãi mạ, lò xo, bùng nhùng, mái nhà... và gài mìn bẫy dày đặc. Sau hàng rào là hai lớp tường đất kiên cố có các lô cốt, ụ súng. Tiếp đó đến hệ thống phòng thủ nội vi, bao gồm hàng trăm lô cốt, ụ súng và hàng ngàn mét hào giao thông nối liền các phân khu. Bên trong căn cứ rộng 8 km vuông, chia thành từng ô bàn cờ, có đường cơ động cho xe tăng, xe bọc thép và có cả một sân bay hạng vừa, máy bay vận tải C.130 và các loại máy bay chiến đấu có thể hạ cánh được. Hệ thống thông tin liên lạc trong căn cứ và liên lạc với mọi nơi cần thiết được, thiết kế một cách hoàn hảo. Trung tâm viễn thông của căn cứ Đồng Dù là một trong những trung tâm lớn và hiện đại ở miền Nam Việt Nam. Về lực lượng địch, trong căn cứ thường xuyên có một đến hai trung đoàn bộ binh đóng giữ. Ngoài ra còn một trung tâm huấn luyện tân binh và hạ sĩ quan, các tiểu đoàn trực thuộc của Sư đoàn như công binh, pháo binh, thiết giáp, thông tin, trinh sát. Căn cứ pháo binh trong Đồng Dù là một căn cứ lớn có đến 18 khẩu pháo các loại, trong đó có 4 khẩu 174 "vua chiến trường". Trước khi Sư đoàn nổ súng, lực lượng địch trong khu vực tác chiến được bố trí như sau: - Trong căn cứ Đồng Dù có Bộ chỉ huy Sư đoàn 25 bộ binh, ban chỉ huy Trung đoàn 50, Tiểu đoàn 2/50 trưởng huấn luyện hạ sĩ quan, binh sĩ, các tiểu đoàn trực thuộc và hậu cứ, một chi đoàn thiết giáp, hậu cứ Trung đoàn 10 thiết giáp có khoảng 20 xe, một tiểu đoàn pháo hỗn hợp. Tổng cộng khoảng 3.000 tên. - Bố trí ở khu ngoại vi: Tiểu đoàn 3/50 ở ấp Mới, Tiểu đoàn 1/50 ở Trảng Bàng, Tiểu đoàn 2/46 ở Đồng Chùa, Suối Sâu, Trung đoàn 49 ở Bến Kéo, Trà Võ (Nam Tâv Ninh); Trung đoàn 10 thiết giáp có một chi đoàn ở Trảng Bàng, một chi đoàn ở Củ Chi. - Các lực lượng bảo an, dân vệ ở khu vực Củ Chi có bốn tiểu đoàn: Tiểu đoàn 233 ở Phú Hòa Đông, Tiểu đoàn 331 ở ấp Chợ, Tiểu đoàn 305 ở Đồng Chùa - Củ Chi, Tiểu đoàn 320 ở Trung Hòa. Hệ thống phòng thủ khu vực Củ Chi và căn cứ Đồng Dù là một hệ thống phòng thủ chặt chẽ, chu đáo có hỏa lực mạnh, lực lượng đông, có các căn cứ phụ cận sẵn sàng chi viện và có đường cơ động hết sức thuận lợi. Chính vì vậy mà đã bao năm, chúng kết hợp với bọn Ngụy quyền địa phương kìm kẹp nhân dân, đàn áp phong trào cách mạng ở Củ Chi và vùng xung quanh hêt sức tàn bạo, dã man. Nhân dân Củ Chi, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng đã bao năm chiến đấu hết sức kiên cường, bám trụ vững vàng trên mảnh đất đầy thương tích ấy. Lực lượng vũ trang cách mạng địa phương đã trưởng thành từ trong máu lửa, nhân dân được giác ngộ và tôi luyện trong đấu tranh. Đó là những yếu tố hết sức thuận lợi đối với cuộc chiến đấu sắp tối của Sư đoàn. Chiến thắng dồn dập trên chiến trường toàn Miền, những chiến công chói lọi của Sư đoàn vừa lập nên là những yếu tố có sức động viên lớn đối với cán bộ, chiến sĩ. Khí thế chiến dịch, với mục đích to lớn, quang vinh có sức mạnh thôi thúc hơn bao giờ hết. Chưa bao giờ người chiến sĩ Đồng Bằng ra trận với một niềm vui lớn như vậy. Họ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách, hy sinh trong trận quyết chiến cuối cùng. Để bảo đảm cho chiến thắng, bảo đảm chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, thời gian hiệp đồng của Bộ Tư lệnh Quân đoàn giao cho, Sư đoàn đã xây dựng phương án tác chiến tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, mở cửa cho một hướng của chiến dịch tiến công vào Sài Gòn hết sức công phu, tỉ mỉ và khẩn trương. Bộ Tư lệnh Sư đoàn ngày đêm theo dõi mọi công việc chuẩn bị cho trận đánh. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:48:04 am Trong trận quyết chiến này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định sử dụng lực lượng như sau:
Trường hợp địch chưa tăng cường lực lượng về Đồng Dù, Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 48 tăng cường một đại đội xe tăng cùng với pháo binh Sư đoàn và pháo binh cấp trên tăng cường tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù. Đột phá trên hai hướng: mũi chủ yếu từ Tây - Bắc, mũi thứ yếu từ Tây - Nam đánh vào. - Trung đoàn 9 và một đại đội xe tăng làm dự bị đánh phát triển và đánh quân địch vòng ngoài. - Trung đoàn 64 đánh chiếm khu vực Cầu Bông, Cầu Sáng và phát triển lên quận lỵ Hóc Môn theo nhiệm vụ Quân đoàn giao ở giai đoạn một của chiến dịch. Trường hợp địch tăng cường lực lượng về Đồng Dù và khu vực xung quanh, Sư đoàn dùng cả hai Trung đoàn bộ binh cùng với Trung đoàn 54 pháo binh và các đơn vị tăng cường tập trung tiêu diệt bằng được căn cứ Đồng Dù, mở đường cho Sư đoàn bạn đánh vào Tân Sơn Nhất, sau đó sẽ phát triển theo kế hoạch. Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48), đơn vị có truyền thống mở cửa, lần này được giao nhiệm vụ đột phá hướng chủ yếu (hướng Tây - Bắc). Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quang Vinh và chính trị viên Nguyễn Văn Thư của Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) đều là hai cán bộ trẻ; trưởng thành trong chiến đấu, có nhiều thành tích và có kinh nghiệm chỉ huy đột phá trong những trận quan trọng của Sư đoàn như trận Làng Siêu, Thuần Mẫn, những khi được nhận nhiệm vụ đột phá hướng chủ yếu trong trận này, các anh không khỏi bàn khoăn, lo lắng. Bởi vậy đây là lần đầu tiên các anh đứng trước một căn cứ lớn, phòng thủ rất kiên cố của địch, lại chỉ được phép đánh thắng trong một thời gian ngắn. Theo phương án, đầu tiên sẽ dùng bộc phá đánh đồng loạt và liên tục để mở rào; cấp trên chưa có ý kiến gì về việc dùng mìn phá rào. Đại đội 3, có nhiệm vụ mở cửa và đánh chiếm đầu cầu, được lệnh khẩn trương gói buộc bộc phá. Mặt khác, Tiểu đoàn vẫn đề nghị cấp trên nghiên cứu phương án dùng mìn mở rào. Hôm xuống kiểm tra đơn vị, Chính ủy Sư đoàn hỏi Chính trị viên Đại đội 3 Đào Xuân Sáng: - Mọi công tác chuẩn bị của đơn vị các đồng chí như vậy là rất tốt, đại đội còn có ý kiến đề đạt gì với cấp trên nữa không? Chính trị viên Đào Xuân Sáng suy nghĩ một lát rồi nói: - Nếu có thể... cấp trên cho chúng tôi một ít mìn tăng của địch để mở cửa. Dùng mìn gọn nhẹ vừa mở rào tốt, vừa tạo được hố để có thể triển khai các ổ hỏa lực ngay trên cửa mở. Mìn còn có tác dụng dọn đường cho xe tăng xuất kích. - Mình hiểu, đây là sáng kiến của Tiểu đoàn các cậu từ hồi đánh làng Siêu, đã được tông kết và ghi vào kinh nghiệm chiến đấu của Sư đoàn. Trong trận này, Sư đoàn đã cho hậu cần chạy mìn cho các cậu rồi. Nhưng thời gian gấp quá, có thể không kịp. Các cậu vẫn cứ phải chuẩn bị cả hai phương án. Nhưng, đêm hôm đó khi Chính ủy về đền sở chỉ huy thì nghe tin phòng hậu cần Sư đoàn đã "xoay" được mìn cho anh em. Mừng quá, chính ủy trực tiếp gọi điện thoại báo tin cho Tiểu đoàn trưởng Vinh. Mọi việc chuẩn bị đã hoàn thành. Theo hiệp đồng, pháo chiến dịch đã liên tục bắn phá căn cứ Đồng Dù trong mấy ngày liền. Đơn vị bạn đã cắt đường từ Tây Ninh xuống và từ Hậu Nghĩa sang. Ngày 27 tháng 4, Sư đoàn được tin tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá đã điện cho Trung đoàn 50 đưa lực lượng từ ấp Khói về phòng thủ Đồng Dù và điện cho Trung đoàn 10 thiết giáp sẵn sàng cơ động. Sư đoàn quyết định đánh Đồng Dù theo phương án hai: địch có tăng cường phòng thủ. 17 giờ ngày 28 tháng 4, các đơn vị tham gia chiến đấu được lệnh chuẩn bị hành quân vào chiếm lĩnh. Pháo của ta vẫn tiếp tục bắn phá. Căn cứ Đồng Dù bốc cháy ngùn ngụt. Số phận Sư đoàn 25 Ngụy đã được định đoạt. 5 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975. Sở chỉ huy Sư đoàn như lắng lại, hồi hộp chờ đợi giờ nổ súng. Phó tư lệnh Quân đoàn Kim Tuấn cũng có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn, trực tiếp chỉ huy trận đánh. Sư đoàn trưởng, chính ủy Sư đoàn đã sẵn sàng ở vị trí chỉ huy. Phó Sư đoàn trưởng Ngô Huy Phát, theo phân công, trực tiếp đi với Sở chỉ huy Trung đoàn 48. Phó tư lệnh Quân đoàn liếc nhìn đồng hồ rồi một lần nữa nhắc Sư đoàn trưởng: - Đúng 10 giờ 30 phút phải xong, anh Hòe nhé! - Báo cáo, 10 giờ 30 phút. Chúng tôi nhớ! 10 giờ 30 phút là giờ hiệp đồng với Sư đoàn 10 của Quân đoàn, là giờ Sư đoàn 320 phải cơ bản làm chủ căn cứ Đồng Dù để Sư đoàn 10 vượt qua cửa mở này tiến vào tiến công Tân Sơn Nhất. Từ 5 giờ 30 đến 10 giờ 30 chỉ có năm giờ đồng hồ để dứt điểm một căn cứ rộng tám km vuông được phòng thủ kiên cố quả là một nhiệm vụ nặng nề. Nhưng, trong thời khắc lịch sử này, mỗi chiến sĩ, mỗi đơn vị không còn cách nào khác hơn là phải tự vượt lên mình đê vươn tới cái đích cuối cùng. Sài Gòn đã ở trước mặt. Kẻ thù đang trong cơn hấp hối. Không được phép do dự, chần chừ. Sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe là một cán bộ trưởng thành trong chiến đấu cùng với sự trưởng thành của Sư đoàn, tuy đã dày dạn, nhưng trong phút này, nhìn gương mặt đồng chí, ai cũng nhận ra những nét xúc động, cầm ống nói trên tay, mắt nhìn đồng hồ, đồng chí như cố nén nhịp đập khác thương của trái tim mình. Còn ba phút nữa. Đồng chí quay sang Phó tư lệnh Quân đoàn, giọng nghiêm trang: - Báo cáo đồng chí Phó tư lệnh Quân đoàn, đã đến giờ nổ súng! - Cho bắt đầu! - Phó tư lệnh Quân đoàn ra lệnh. Sư đoàn trưởng ghì chặt ống nói, tiếng đồng chí vang lên, đĩnh đạc: - Tất cả các trận địa hỏa lực, nghe lệnh tôi: Mục tiêu căn cứ Đồng Dù. Bắn! Cùng một lúc tất cả các trận địa pháo của Sư đoàn và pháo tăng cường cho Sư đoàn đồng loạt nổ súng. Tiếng đại bác gầm lên dữ dội theo phương án hiệp đồng với bộ binh. Kế hoạch hỏa lực được chia làm nhiều giai đoạn theo một phương án được tính toán rất tỉ mỉ. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:49:54 am Ra lệnh cho pháo bắn xong, Sư đoàn trưởng tiếp tục ra lệnh cho các hướng bộ binh cho điểm hỏa đồng loạt, bắt đầu thực hành phá rào, mở cửa và ra lệnh cho xe tăng, pháo cao xạ vào chiếm lĩnh trận địa và tuyến xuất phát xung phong.
6 giờ, Trung đoàn 9 báo cáo về có hiện tượng địch phản kích, Tiểu đoàn 4 đã tiêu diệt một trung đội địch từ cổng Tây - Nam tiến ra. 7 giờ, đài kỹ thuật Sư đoàn báo cáo địch cho Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 50 ở Xóm Mới và một chi đội thiết giáp lên phản kích. Có thể bọn này sẽ đánh vào phía sau đội hình Trung đoàn 9 trong khi hướng đột phá của Trung đoàn chưa mở cửa xong. Tình hình bỗng trở nên căng thẳng. Giữa lúc đó thì một người thấp béo, đội mũ cứng bước vào Sở chỉ huy. Đó là đồng chí Hồng Sơn, nguyên phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, nay là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 bộ binh. - Thế nào rồi các vị! Nghe có vẻ căng hả? - Hơi căng, anh Sơn ạ! - Sư đoàn trưởng Hòe trả lời: Chưa cửa mở nào thông, trong khi đó địch đang thúc vào đít Trung đoàn 9. - Anh muốn tính sao thì tính, quân của tôi đã ngồi sẵn trên xe cả rồi đấy! - Xin bảo đảm đúng hiệp đồng. Đúng 10 giờ 30 phút xin mời "các bậc đàn anh" vượt qua cửa mở Đồng Dù này mà tiến vào Sài Gòn! - Sư đoàn trưởng 320 một tay vẫn cầm ống nghe, một tay chìa ra siết chặt tay Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10. Trong khi ấy, trên hướng chủ yếu của trận đánh, cuộc chiến đấu đang diễn ra vô cùng quyết liệt. Đại đội 3 (Tiểu đoàn 1) do đại đội trưởng Trần Nhật Tăng và Chính trị viên Đào Xuân Sáng chỉ huy đang tổ chức lại hỏa lực chuẩn bị cho các bộc phá viên lên phá nốt những hàng rào cuối cùng. Mìn liên kết nổ tốt, một mảng rào rộng gần chục mét gồm bốn lớp đã bị phá bung. Nhưng các hỏa điểm địch đã tập trung tưới lửa lên cửa mở. Dùng máy thông tin vô tuyến liên lạc trực tiếp với Trung đoàn, đại đội trưởng Trần Nhật Tăng yêu cầu trên bắn chi viện lên khu vực đầu cầu. Đề nghị của anh được chấp thuận. Đạn pháo của ta tới tấp rót lên khu vực đầu cầu. Trong khi đó các bộc phá viên đã sẵn sàng. Trung đội trưởng trung đội bộc phá Nguyễn Hữu Dóng dẫn bộc phá viên Nguyễn Văn Chung lên cửa mở. Anh chỉ cho Chung vị trí đặt mìn rồi ra lệnh: - Bộc phá liên tục!... Đồng chí số một. Bắt đầu! Nguyễn Văn Chung lao vút lên trong làn khói của đạn pháo vừa chuyển làn. Một ánh chớp lóe lên. Nguyễn Văn Chung vừa lui về đến vị trí của mình, Trung đội trưởng Dóng lại hô lớn: - Đồng chí số hai... Tiến! Chiến sĩ Trần Văn Minh bật dậy lao lên cửa mở. Quả mìn của Minh nổ tốt. Nhưng địch đã kịp hoàn hồn, đại liên địch trong các xe tăng chôn ngầm trong bờ tường đất bắt đầu bắn chéo cánh sẻ, đạn ken dày trên cửa mở. Nhưng vẫn còn hai hàng rào nữa. - Đồng chí số ba... Tiến! Mặc đại liên, phóng lựu địch ken dày, Nguyễn Khắc Bảo không một chút do dự, ôm mìn lao lên. Từ phía sau, chính trị viên Đào Xuân Sáng bình tĩnh chỉ huy các tổ hỏa lực bắn yểm trợ cho Bảo. Bỗng một chùm M.79 nổ tóe trước mặt. Bảo ngã vật xuống. Trong giây lát, Bảo lại bật dậy, lao lên đặt mìn vào hàng rào rồi chạy trở lại. Trái mìn nổ tung. Hàng rào bị xe toang, Bảo loạng choạng, chới với rồi ngã vật ra. Quyết không để trận đánh bị gián đoạn, chiến sĩ bộc phá số bốn Nguyễn Văn Lĩnh ôm mìn lao lên cửa mở... Nhưng cũng như Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Văn Lĩnh đã ngã xuống sau khi hàng rào cuối cùng bị phá toang. - Hãy trả thù cho các đồng chí đã hy sinh! Tất cả tiến lên! Tiếng hô của chính trị viên Sáng vang lên dõng dạc. Cả Đại đội 3 ào ạt đánh lên cửa mở. Thấy tình hình vô cùng nguy ngập, bọn địch trong căn cứ lồng lên. Chúng tập trung pháo, cối, 12,8, đại liên, M.79 tưới lửa lên cửa mở, đồng thời điều xe tăng ra, chuẩn bị bịt cửa mở. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quang Vinh điện về báo cáo với Trung đoàn trưởng Lê Quang Bình: - Địch đang bịt cửa mở. Tình hình rất căng thẳng. Tôi xin phép được lên trực tiếp chỉ huy đột phá. Đồng chí Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn sẽ thay tôi nắm sở chỉ huy, giữ liên lạc với Trung đoàn. Được Trung đoàn trưởng chấp thuận, Tiểu đoàn trưởng Vinh bàn giao công việc cho Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn rồi lao lên cửa mở. Đại đội 3 bắt đầu đột phá. Trung đội trưởng trung đội thọc sâu Vũ Văn Sơn đang tổ chức lại hỏa lực. Nhưng hễ một xạ thủ nào nhỏm dậy định bắn là lập tức bị đại liên địch quật ngã, ác nhất là hai khẩu 12,8 trên hai chiếc xe tăng chôn ngầm trong bờ tường đất. Từ vị trí có lợi, chúng có thể kiềm chế toàn bộ khu vực cửa mở. Không thể để tình trạng này kéo dài. Sơn quan sát lại và nhận ra rằng vì ta ở dưới sườn dốc bắn lên nên đường đạn ăn cao, không thể găm trúng chiếc xe quái ác ấy được. Lại một vài đồng chí nữa trúng đạn. Sơn bậm môi suy nghĩ rồi bò lên nhặt một khẩu B.40 của một xạ thủ vừa bị thương. Anh nằm dán mình xuống đất, căng mắt quan sát vị trí chiếc xe tăng địch. "Phải đứng dậy mà bắn!" - Sơn tụ nhủ thần - "Nếu không đứng dậy bắn thì không thể bịt mồm nó được. Nhưng, đứng dậy trong lúc hỏa lực địch đang ken dày thế này... nguy hiểm! Nhưng... Không còn cách nào khác. Phải đứng thẳng dậy. Một khoảng khắc thôi. Miễn là đừng trúng đạn trước khi mình siết cò!". Sơn nghĩ vậy rồi kiểm tra lại súng, lựa thế nằm. Một... hai... ba! Đột ngột và bất ngờ, Vũ Văn Sơn bật dậy, đứng sừng sững phía trước cửa mở. Có lẽ chỉ trong một giây lát. Cái giây lát ấy hẳn thằng địch bên trong bờ thành đất đã nhìn thấy anh. Chúng đã bắn như vãi đạn. Nhưng... Sơn đã kịp siết cò. Trái đạn B.40 từ nòng súng của anh lao vút ra, như cắm thẳng vào bờ thành đất, nơi chiếc xe tăng địch đang ẩn núp. Một đụn khói đen bốc lên sau tiếng nổ dữ dội. Bị, đánh một cú bất ngờ, địch choáng váng trong giây lát. Chính trị viên Sáng chớp thời cơ, ra lệnh: - Xung phong! Các chiến sĩ Đại đội 3 bật dậy. Nhưng, chỉ vượt được chừng hai chục mét, họ lại bị hỏa lực địch đánh bật trở lại. Tiểu đoàn trưởng Vinh báo cáo về Trung đoàn xin pháo bắn lần thứ hai. Đại đội 3, sau ba đợt xung phong, vẫn chưa đánh chiếm được khu vực đầu cầu. Hỏa lực địch vẫn còn rất mạnh và bắn rất tập trung vào khu vực cửa mở. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:51:00 am 8 giờ. Trung đoàn lệnh cho đại đội xe tăng đi với hướng chủ yếu vào tham gia đột phá. Nhưng chiếc xe tăng đi đầu vừa chồm tới cửa mở đã bị súng chống tăng của địch từ bên trong bắn trúng. Chiếc thứ hai bị hỏng xích ngay ngoài hàng rào, đại đội trưởng xe tăng trực tiếp chỉ huy chiếc thứ ba lao vào tiếp tục cùng Đại đội 3 đột phá.
Đợt xung phong thứ tư. Đợt xung phong thứ nám. Đại đội 3 lọt được một bộ phận vào bên trong bờ tường đất. Địch từ hai phía tràn ra tiếp tục bịt chặt cửa mở. Xe tăng và các bộ phận phía sau vẫn không lọt vào được. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quang Vinh báo cáo với Trung đoàn xin đưa Đại đội 1 vào tiếp tục đột phá. Trong khi ấy Đại đội 3 do chính trị viên Sáng chỉ huy vẫn tiếp tục phát triển vào bên trong. Đại đội 1 tiếp tục đột phá đánh chiếm rộng thêm khu vực đầu cầu rồi đưa xe tăng lên. 8 giờ 30 phút, Đại đội 3 báo cáo đã phát triển đến khu vực bãi xe của tiểu đoàn công binh nhưng đạn đã sắp hết. Thương binh nhiều. Sức chiến đấu giảm sút. Chính trị viên Đào Xuân Sáng, Trung đoàn trưởng Vũ Văn Sơn đã bị thương. Tiểu đoàn trưởng Vinh liền ra lệnh cho Đại đội 3 dừng tại chỗ, củng cố vị trí đứng chân, đưa thương binh ra, cho Đại đội 1 tiếp tục thọc sâu vào căn cứ và đưa nốt Đại đội 2 vượt qua khu đầu cầu vào đánh chiếm khu vực bãi tập. Trận đánh diễn ra mỗi lúc một thêm quyết liệt. Ở hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) vẫn chưa vào được trong căn cứ. Hướng Trung đoàn 9 vẫn tiếp tục đánh phản kích. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 16 súng máy cao xạ đã hạ nòng pháo cùng với Tiểu đoàn 5 diệt hàng trăm tên địch. Nhưng địch vẫn tiếp tục đưa lực lượng phía sau lên, hy vọng có thể bẻ gãy hướng tiến công của ta, chi viện cho đồng bọn trong căn cứ. Địch trong căn cứ kháng cự quyết liệt. Tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá vẫn bám máy, chỉ huy. Các chiến sĩ trinh sát kỹ thuật của ta vẫn nghe rõ tiếng hắn hò hét trên vô tuyến điện. 9 giờ. Trinh sát kỹ thuật báo tin Lý Tòng Bá ra lệnh cho Trung đoàn 46 ở Trảng Bàng, Đồng Chùa về gấp cứu nguy cho Đồng Dù. Trước tình hình ấy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn ra lệnh: - Kiên quyết tập trung lực lượng, đưa thêm lực lượng vào hướng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 thọc sâu vào sở chỉ huy Sư đoàn 25 Ngụy và phát triển sang hướng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 và hướng Trung đoàn 9, hỗ trợ cho hai hướng này phát triển. - Đội dự bị của Sư đoàn gồm Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 48) và tám chiếc xe tăng theo hướng Tiểu đoàn 1 phát triển vào đánh bung ra, chiếm các mục tiêu bên trong, hỗ trợ cho Tiểu đoàn 1 thọc sâu vào Sở chỉ huy và hai hướng thứ yếu phát triển vào. - Trung đoàn 9 xốc lại đội hình Tiểu đoàn 5, tiếp tục đột phá; dùng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 16 súng máy cao xạ ngăn chặn và tiêu diệt địch từ ấp Mới phản kích xuống. - Pháo binh tiếp tục bắn chi viện cho bộ binh trên tất cả các hướng. Tiểu đoàn 1 tiếp tục phát triển vào tung thâm mặc dù đã bị thương vong khá nhiều. Lúc này cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn chỉ còn Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Quang chưa bị thương. Chính trị viên Nguyễn Văn Thư tuy bị thương vẫn không rời vị trí của mình. Vinh và Thư nắm lại tình hình, quyết định cho Đại đội 1 còn sung sức tiếp tục phát triển, đồng thời củng cố những khu vực Đại đội 3 và Đại đội 2 chiếm được, mở đường cho xe tăng lên. Nhưng, đứng trong một căn cứ rộng mênh mông, nhà cửa san sát như một thành phố, thật khó xác định được đâu là sở chỉ huy địch. Vinh tìm vị trí có lợi quan sát toàn khu vực một lát rồi gọi đại đội trưởng Nguyên tới, chỉ về phía trước, ra lệnh: - Cứ nhằm hướng có cái cột ăng ten lớn kia mà tiến! Nguyên nắm lại đội hình, phân chia cán bộ đại đội đi theo từng mũi rồi bắt đầu cho đại đội xung phong dọc theo con đường trục lớn vào trung tâm. Vượt qua khu vực Đại đội 3 đã đánh qua, Đại đội 1 bắt đầu gặp hỏa lực địch ngăn chặn. Để tạo sức đột phá mạnh, đại đội trưởng Nguyên chủ trương dồn các xạ thủ lên phía trước để mình trực tiếp chỉ huy. Xạ thủ B.40 Phạm Hữu Hợp luôn bám sát đại đội trưởng, liên tiếp diệt các hỏa điếm địch, tạo điều kiện cho đại đội đột phá. Qua khỏi khu vực Tiểu đoàn công binh, các hỏa điểm địch từ bên kia đường (khu Sở chỉ huy Sư 25) tập trung bắn chặn mũi thọc sâu của Nguyên. Một lần nữa Nguyên lại phát huy sức mạnh của đội xạ thủ. Một mặt anh tìm cách liên lạc với phía sau, chỉ mục tiêu cho pháo binh và xe tăng, một mặt dùng cối 60 của đại đội bắn kìm chân bọn bộ binh để cho các xạ thủ tập trung tiêu diệt các hỏa điểm. Các xạ thủ Tĩnh, Hợp, Lịch, Mãn nhanh chóng dập tắt các hỏa điểm địch. Bọn bộ binh bị cối bắn rát cũng hốt hoảng tháo chạy ra hướng sân bay. Đường vào khu vực Sở chỉ huy Sư đoàn 25 Ngụy đã mở, đại đội trưởng Nguyên bật dậy, thét lớn: - Xung phong! Chiếm sở chỉ huy địch! Các chiến sĩ xe tăng theo sát bộ binh, tiếp tục dùng pháo và đại liên trên xe bắn áp đảo địch cho bộ binh xung phong. Xạ thủ Phạm Hữu Hợp giương cao lá cờ truyền thống của Sư đoàn, lúc này đã ướt đẫm máu của các chiến sĩ Tiểu đoàn Đống Đa kiên cường, lao về phía trước. Những tên sĩ quan, tên lính ngoan cố kháng cự đều bị tiêu diệt. Nguyên dẫn đầu mũi thọc sâu của Đại đội 1 đã đứng trước cửa nhà chỉ huy của tên Chuẩn tướng Lý Tòng Bá. - Sở chỉ huy địch đây rồi! Các đồng chí!... Phát triển sâu vào bên trong, kiểm tra kỹ, tìm cho ra thằng Lý Tòng Bá! Ra lệnh cho các chiến sĩ xong, Nguyên hồi hộp cầm máy báo cáo về Sở chỉ huy Trung đoàn: - Đại đội 1 Tiểu đoàn Đống Đa đã chiếm được sở chỉ huy Sư đoàn 25 Ngụy. Tên Lý Tòng Bá và bộ Tham mưu của hắn đã bỏ chạy. Chúng tôi đang truy lùng! Xin chỉ thị. Sở chỉ huy Sư đoàn sôi nổi hẳn lên khi nhận được báo cáo Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48) đã chiếm được sở chỉ huy Sư đoàn 25 Ngụy, những tuyến đề kháng cơ bản đã bị đập tan, quân ta từ các hướng đang tràn vào căn cứ tiếp tục truy quét địch. Sư đoàn trưởng chỉ đồng họ nói với đồng chí Trưởng phòng tác chiến Quân đoàn đi cùng với Phó Tư lệnh Quân đoàn: - Đúng 10 giờ 30 phút, anh Tiến nhé! Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ mở cửa theo đúng hiệp đồng. Phó tư lệnh Quân đoàn mỉm cười: - Được. Tốt đấy! Nhưng... nếu các anh để thằng Bá chạy thoát thì chưa phải thật tốt. Phải làm sao tóm cho được thằng tướng Ngụy ngạo mạn này! - Tôi đã ra lệnh cho anh em truy quét, quyết bắt sống nó bằng được. Phó tư lệnh Quân đoàn quay sang Chính ủy Sư đoàn: - Anh Bổng còn nhớ hồi ở Công Tum thằng Bá nó khoác lác như thế nào không? Nó tuyên bố rùm beng là Sư đoàn 23 do nó chỉ huy đã đánh quỵ Sư đoàn 320. Nó tự xưng là người hùng trấn thủ Tây Nguyên. Chính ủy Sư đoàn gật đầu, cười: - Lần này thì nó hết khoác lác rồi. Thôi, có lẽ mọi việc tạm ổn, tôi xin xuống Trung đoàn 48 với anh em đây. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:53:56 am Cửa mở vào Sài Gòn đã thông, được lệnh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn 10 bộ binh bắt đầu hành tiến. Các chiến sĩ Sư đoàn 10 cùng với pháo binh, xe tăng ào ạt hành quân qua cửa mở Đồng Dù. Ngồi trên xe, các chiến sĩ Sư đoàn 10 nhìn thấy khói lửa vẫn còn bốc lên ngùn ngụt trong căn cứ Đồng Dù. Tiếng súng truy quét tàn binh địch của các chiến sĩ 320 vẫn còn rộ lên từng chặp. Khi đi ngang qua sở chỉ huy Sư đoàn 320, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 cho xe dừng lại, chạy vào chúc mừng chiến công của Sư đoàn Đồng Bằng, Sư đoàn mà đồng chí đã nhiều năm làm chiến sĩ và từ đó trở thành người cán bộ chỉ huy cấp Sư đoàn. Hai Sư đoàn trưởng chúc mừng nhau và hẹn gặp nhau tại Sài Gòn.
Sư đoàn trưởng 320 đứng nhìn theo đoàn xe của Sư đoàn bạn đang ầm ầm lao qua. Hơn lúc nào hết, đồng chí hiểu ý nghĩa của chiến công mà tập thể Sư đoàn vừa lập nên. Nó trực tiếp góp phần vào chiến công vĩ đại của toàn quân, toàn dân ta, giải phóng Thành phố Sài Gòn, đập tan toàn bộ chính quyền phản dân hại nước ở miền Nam do đế quốc Mỹ lập nên để tiến tới thống nhất Tổ quốc. Ngày hôm sau (30 tháng 4 năm 1975), các chiến sĩ Sư đoàn 320 được nhân dân Củ Chi giúp đỡ, đã bắt gọn Bộ chỉ huy Sư đoàn 25 Ngụy, gồm tên Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Sư đoàn trưởng, tên đại tá Trần Thắng Chức, Phó Sư đoàn trưởng và một số sĩ quan Tham mưu. Xuất thân từ một sĩ quan thiết giáp, Lý Tòng Bá đã được quan thầy đưa sang Mỹ đào tạo và sau đó đưa về làm sĩ quan chỉ huy. Bá đã từng làm tư lệnh Sư đoàn 23 ở Tây Nguyên, làm tỉnh trưởng Bình Dương, khét tiếng là một tên sĩ quan gian ác và tham nhũng. Khi bị bắt làm tù binh, Bá than thở: - Cuộc đời binh nghiệp của tôi hai lần đụng độ với Sư đoàn 320 các ông. Lần thứ nhất ở Công Tum, lần ấy tôi tưởng mình thắng trận và nhờ chiến tích giả tạo ấy tôi đã được đích thân Tổng thống Nguyên Văn Thiệu đặc cách gắn lên ve áo tôi quân hàm Chuẩn tướng. Còn lần này thì bại trận thật sự, có điều ông Thiệu đã chuồn rồi, không còn có thể chia sẻ với tôi nỗi nhục bại trận. Cùng với số phận của Bá, Sư đoàn 25 Ngụy cũng kết thúc số phận làm đội quân tay sai của nó. Trong "hội trường danh dự" ở Sở chỉ huy Sư đoàn 25 Ngụy vẫn còn nguyên cả cờ, biển, còn nguyên cả những kỷ vật mà chúng gọi là "chứng tích các chiến công" của nó trên chặng đường bán nước kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1962 (ngày thành lập Sư đoàn 25 Ngụy) cho tới nay. Trên tường, còn treo đủ ảnh những viên tư lệnh đã qua Sư đoàn 25 như các tên đại tá Nguyễn Văn Chuẩn, Lữ Lan, Nguyễn Viết Đạm, Phan Trọng Chính, Nguyễn Hữu Toản và các tên tướng: Nguyễn Thanh Sằng, Nguyễn Xuân Thịnh, Lê Văn Tư và cuối cùng, Lý Tòng Bá. Tất cả những tên bán nước này hoặc đã mồ yên mả đẹp, hoặc đã trở thành những tên Ngụy quân, Ngụy quyền cỡ bự của chính quyền Sài Gòn, nhưng hôm nay trong "hội trường danh dự" này, đều như cùng một lúc bị bắt làm tù binh để cùng chứng kiến ngày tận số của một Sư đoàn vào loại thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trong khi Sư đoàn thực hiện nhiệm vụ tiến công căn cứ Đồng Dù mở cửa cho một hướng chiến dịch tiến vào Sài Gòn thì Trung đoàn 64, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư lệnh Quân đoàn và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10, đã nhanh chóng đánh chiếm khu vực Cầu Bông, Cầu Sáng rồi phát triển lên quận lỵ Hóc Môn thiết lập khu vực đầu cầu cho mũi thọc sâu chiến dịch của Quân đoàn. Trên đường tiến công, các chiến sĩ Trung đoàn 64 đã thực hành đánh chiếm một loạt căn cứ chốt điểm của địch, diệt 115 tên, bắt sống 1.995 tên địch, thu 323 súng, hai pháo 105, thu và diệt 95 xe, có năm xe tăng, xe bọc thép. Đến 23 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 64 được lệnh tiếp tục phát triển, tiến thắng vào Sài Gòn cùng Sư đoàn bạn. Nhận được mệnh lệnh thiêng liêng tiến vào Sài Gòn, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 phấn khởi reo hò vang dậy. Đã bao nhiêu năm, người chiến sĩ Đồng Bằng mong chờ mệnh lệnh ấy. Như được tiếp thêm sức mạrh, Trung đoàn lập tức tiến quân. Trên đường, mặc dù những tuyến phòng thủ cơ bản đã bị đập tan, nhưng từng bộ phận quân địch vẫn ngoan cố kháng cự. Tại ngã tư Bảy Hiền, Trung đoàn 4 tổ chức chiến đấu, bắn cháy một xe tăng, diệt và bắn một số địch. Nhiều chiến sĩ sắp đến giờ phút thắng lợi huy hoàng của dân tộc vẫn anh dũng chấp nhận sự hy sinh. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, Dương Văn Minh chính thức lên Đài Phát thanh tuyên bố đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng. Khắp nơi tiếng reo hò vang dậy. Nhân dân Sài Gòn từ các ngả phố nườm nượp kéo về "Dinh Độc Lập" chúc mừng thắng lợi của Quân giải phóng, chúc mừng thắng lợi của cách mạng. Các chiến sĩ Trung đoàn 64 đã hoàn thành nhiệm vụ thay mặt cho cả Sư đoàn cùng các cánh quân tiến vào nội đô giải phóng Sài Gòn, đập tan Ngụy quyền Trung ương. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 9 thay mặt cho cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Đồng Bằng, giương cao lá cờ truyền thống của Sư đoàn ở cổng phía Tây - Nam "Dinh Độc Lập", nơi được ghi là một trong những mục tiêu mà Trung đoàn 64 phải tiến tới. Đó là cái đích chiến đấu dài dằng dặc của quân và dân ta, trong đó có Sư đoàn Đồng Bằng. Để tới được cái đích ấy, biết bao người con yêu dấu của nhân dân Việt Nam đã hy sinh. Để tới được cái đích ấy, biết bao chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó có Sư đoàn Đồng Bằng đã ngã xuống. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:54:56 am Trên hướng Sư đoàn 316 tiến công Bầu Nâu - Phước Mỹ - Trảng Bàng
Ngày 19 tháng 4, Quân đoàn 3 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 316 chuyển sang kiềm chế giữ chân và tiêu diệt số quân của Sư đoàn 25 Ngụy còn lại ở phía Tây Ninh, không cho chúng co cụm về Củ Chi, giúp đỡ nhân dân xây dựng chính quyền cách mạng trong khu vực từ Trà Võ đến Đồng Dù. Thực hiện nhiệm vụ này, Trung đoàn 148 được giao đánh chặn lực lượng Sư đoàn 25 Ngụy không cho chúng từ Tây Ninh về Đồng Dù; Trung đoàn 174 vừa chốt chặn vừa đánh vận động tiêu diệt số quân địch ở Trảng Bàng, Phước Mỹ. Trung đoàn 149 làm lực lượng cơ động chung, đồng thời sẵn sàng đánh các điểm Phước Hiệp, Suối Sâu, Trảng Bàng khi trên các hướng chính của Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng. Ngoài ra, Sư đoàn còn phải sẵn sàng đưa nhanh lực lượng vào tham gia chiến đấu trong nội đô Sài Gòn khi có lệnh. Đêm 9 tháng 4, Trung đoàn 148 bí mật vượt sông Sài Gòn qua cầu Bến Củi, tiến vào bám sát các vị trí địch. Ngày 12 tháng 4, đại bộ phận lực lượng của Sư đoàn lần lượt hành quân vào các khu vực theo kế hoạch. Từ ngày 13 đến ngày 18 tháng 4 Trung đoàn 148 bắt đầu đánh những trận nhỏ lẻ chặn giao thông địch trên đoạn đường từ Trà Võ đi Gò Dầu. Pháo binh ta cũng bắt đầu bắn phá vào các trận địa pháo của địch. Cứ sau mỗi trận đánh ta lại lặng lẽ rút, tránh không để xảy ra đụng độ lớn. Điều đó khiến cho chuẩn tướng Lý Tòng Bá, chỉ huy Sư đoàn 25 nói: "Cánh quân Việt cộng ở chiến trường chúng tôi đảm trách đã có những hành động kỳ lạ. Chúng bám chúng tôi như đỉa nhưng lại tránh chúng tôi như đỉa sợ vôi!". Địch đâu ngờ rằng, chính lúc này chúng đang nằm trong thế "Dồn cáo về hang" của Sư đoàn 316. Trung đoàn 148 đã sẵn sàng và đang chờ thời cơ để tiêu diệt chúng. Ngày 19 tháng 4, được tin địch có triệu chứng dồn các lực lượng thuộc Sư đoàn 25 về Tây Ninh tập trung xung quanh Gò Dầu, Củ Chi để tăng cường cho tuyến phòng thủ ngoại vi Tây Bắc Sài Gòn, lập tức Trung đoàn 148 được lệnh đẩy mạnh hoạt động. Ngày 20 tháng 4 đánh Bầu Nâu, Trà Võ, sau đó đập tan cuộc phản kích của 2 tiểu đoàn địch. Trong cuộc chiến đấu này Trung đoàn 148 đã diệt 485 tên. Sau đó Trung đoàn rút ra thực hiện kế hoạch kiềm chế cắt đứt đoạn Đường 22 giữa hai vị trí này. Đến đây Sư đoàn 25 Ngụy thực sự lâm vào tình trạng bị giam hãm. Ngày 22 tháng 4, Trung đoàn 148 tiếp tục vây giữ địch ở Bầu Nâu, Trà Võ, đánh bật địch khỏi Tân An, cắt giao thông tại cầu Cẩm An. Các Trung đoàn 174, 149 cũng bắt đầu vây ép trên hướng Phước Mỹ, Suối Sâu, Phước Hiệp, Trảng Bàng. Lúc này các hướng tiến công vào Sài Gòn của ta đã sẵn sàng. Chiều ngày 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Đêm ngày 27 tháng 4, Sư đoàn triển khai toàn bộ lực lượng hoạt động xung quanh các vị trí địch, hình thành thế bao vây, giam hãm và sẵn sàng tiêu diệt Sư đoàn 25 Ngụy trên dọc đường từ Trà Võ đến Trảng Bàng. Từ Trảng Bàng đi Phước Mỹ đều có lực lượng của Sư đoàn bố trí. Trung đoàn 148 được lệnh đánh tiếp Bầu Nâu, Trà Võ. Trung đoàn 174 đánh Trung Hưng, Phước Mỹ. Trung đoàn 149 đánh thị trấn Trảng Bàng. 9 giờ sáng ngày 28 tháng 4, Trung đoàn 174 đánh tan 1 tiểu đoàn địch từ Đồng Dù, Củ Chi lên giải tỏa cho Phước Mỹ, Trung Hưng, diệt 50 tên, đánh chiếm đồn bảo an Cây Chôm, sau đó lại đánh tan tiếp 1 tiểu đoàn địch từ Phước Mỹ ra phản kích. Trung đoàn 149, vây đánh Trảng Bàng chiều ngày 28 tháng 4 đã đánh lui 1 tiểu đoàn địch ra định tháo vây giải tỏa, diệt 42 tên. Cùng lúc pháo binh ta bắn mạnh vào Trảng Bàng tạo điều kiện cho bộ binh áp sát thắt chặt vòng vây. Một bộ phận địch đã ra hàng. Trong lúc ta đang tiếp cận số hàng binh, thì từ một vị trí kế cận địch xả súng bắn mạnh vào số binh lính đang ra hàng, số này bỏ chạy tán loạn. Ta vẫn chưa chiếm được đồn. Trung đoàn 149 tiếp tục chiến đấu tiêu diệt các khu kế cận đồn, các cụm bảo an, dân vận cùng các hỏa điểm lẻ của địch. Tối 16 giờ ta vây chặt Sở chỉ huy chi khu Trảng Bàng. Kết hợp tác chiến với địch vận, ta đã gọi hàng được 103 tên, diệt 23 tên. Cũng trong ngày 28 tháng 4, tại Bầu Nâu, Trà Võ, Trung đoàn 148 đánh chiếm cầu Cam, vây chặt và pháo kích Bầu Nâu, Trà Võ, Bến Kéo, Bến Mương. Trời đã tối, Sư đoàn lệnh cho các đơn vị bám giữ ém sát các đồn không cho quân địch chạy thoát, đồng thời tích cực chuẩn bị mọi mặt để tiêu diệt quân địch trong ngày hôm sau. Đêm 28, Trung đoàn 149 đánh bật địch tại cầu Tràng Chùa (Đông Trảng Bàng). 7 giờ sáng hôm sau một bộ phận thiết giáp địch gồm 7 chiếc bất ngờ thoát ra ngoài Trảng Bàng chạy về phía Lào Táo, gặp Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 174) chặn đánh diệt 2 chiếc, số còn lại chạy sang Phước Mỹ, gặp Tiểu đoàn 1 bị diệt tiếp 2 chiếc và bắt 3 chiếc còn lại. Ngày 29 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 chớp thời cơ đánh chiếm Trung Hòa, rồi Lào Táo, diệt 37 tên, bắt sống 260 tên; tiếp đó cùng với Tiểu đoàn 1 đánh sang Phước Hiệp, Đồng Chùa. Như vậy ta đã giải phóng toàn bộ khu vực Trung Hòa, Lào Táo, Phước Hiệp, Đồng Chùa. Trên hướng Trảng Bàng, sau khi để lọt một bộ phận thiết giáp địch, Trung đoàn 149 điều chỉnh đội hình tiến hành vây chặt hơn. Sau đó ta đánh sập cầu Trảng Chùa. Địch đưa quân ra thăm dò bị ta chặn đánh. Tiếp theo Tiểu đoàn 8 đánh chiếm khu trường học, Tiểu đoàn 9 chiếm khu chợ, đồn cảnh sát, khu hành chính. Sau đó cả 2 Tiểu đoàn cùng tiến công mạnh vào sở chỉ huy theo hướng đông và Đông Nam. 15 giờ 15 phút, ta hoàn toàn làm chủ khu vực sở chỉ huy chi khu Trảng Bàng rồi phát triển chiếm trận địa pháo, diệt 37 tên, bắt 248 tên, thu nhiều vũ khí các loại. Liên đoàn biệt động 32 địch bị Trung đoàn 148 đánh từ Gò Dầu rút chạy về Trảng Bàng. Thấy chi khu đã mất, chúng tìm đường chạy về Đồng Dù, gặp Tiểu đoàn 7 chặn đánh diệt 39 tên, gọi hàng 260 tên. Số còn lại bỏ chạy, cả liên chi đoàn địch bị tan rã. Tại Bầu Nâu, Trà Võ, Trung đoàn 148 tiến công mạnh vào số quân địch bị vây hãm. Chỉ sau hơn 1 giờ chiến đấu ta đã làm chủ hoàn toàn Bầu Nâu, Trà Võ. Sau đó Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 148) đánh Bến Mương. Trận đánh kéo dài suốt đêm, đến 7 giờ 30 phút ngày hôm sau địch bỏ chạy, để lại 76 xác chết. Ta truy kích về hướng Gò Dầu, địch co về Bến Đền, ta bao vây rồi tiến công vị trí này, bắt sống 477 tên. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh nhân danh Chính phủ Sài Gòn tuyên bố đầu hàng. Từ đêm ngày 30 tháng 4 và những ngày tiếp theo Sư đoàn chuyển sang làm nhiệm vụ lùng quét bọn tàn quân trong khu vực tác chiến, ổn định đời sống nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh xã hội vùng mới giải phóng. Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn 316 đã loại khỏi vùng chiến đấu 6.715 tên địch, hoàn thành nhiệm vụ giam chân và tiêu diệt hầu hết Sư đoàn 25 địch, đánh tan lực lượng cảnh vệ bảo an dân vệ, giải phóng 2 Quận Gò Dầu, Trảng Bàng và một phần Quận Củ Chi cùng nhiều ấp, xã từ Tây Ninh đến Phước Mỹ, bắn rơi 4 máy bay, thu và phá hủy rất nhiều vũ khí và trang bị chiến tranh của địch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:56:04 am Trên hướng Tây Bắc, Sư đoàn 10 đập tan tuyến phòng thủ của địch ở Ngã tư Bảy Hiền vào chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và cùng Quân đoàn 1 đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy
Đứng trong đội ngũ của Quân đoàn, khả năng chiến đấu của Sư đoàn 10 được tăng lên gấp bội. Đầu tháng 4 năm 1975, ngay sau khi Cam Ranh giải phóng, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã chỉ thị cho Sư đoàn 10 tranh thủ củng cố đơn vị và khẩn trương tổ chức cơ động vào miền Đông Nam Bộ, tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Tin vui ấy truyền nhanh tới cán bộ, chiến sĩ các đơn vị. Toàn Sư đoàn náo nức chuẩn bị hành quân. Những công việc chuẩn bị phức tạp trước đây phải giải quyết trong hàng tuần, hàng tháng, thì nay được hòan thành trong một ngày, một buổi. Dự kiến trước khó khăn trong cuộc chiến đấu tới, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ thị cho cơ quan và đơn vị tranh thủ mọi điều kiện chuẩn bị tốt mọi mặt, nhất là đạn pháo. Được Bộ Tư lệnh Quân đoàn nhất trí, Sư đoàn để lại toàn bộ số pháo 122, thay bằng pháo 105 thu được của địch, vừa đỡ công vận chuyển bổ sung đạn pháo 122, vừa có thể tận dụng được đạn pháo 105 của địch trong quá trình chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Văn Cơ, Chủ nhiệm hậu cần Sư đoàn trực tiếp đi xuống các kho để kiểm tra việc thu hồi đạn pháo và các loại chiến lợi phẩm khác để phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu tới. Khó khăn lớn nhất đối với Sư đoàn lúc này là phương tiện vận chuyển. Mặc dù Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã ưu tiên xe vận tải, nhưng tính ra Sư đoàn vẫn còn thiếu tới 60 xe. Để giải quyết khó khăn này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn cử đồng chí Lê Quang Mỹ, Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn, trực tiếp làm việc với Ủy ban quân quản thị xã Nha Trang, Cam Ranh để vận động đồng bào đưa xe tới giúp bộ đội; đồng thời tận dụng số xe thu được của địch phục vụ việc vận chuyển cơ động lực lượng. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 10 mãi mãi ghi nhớ sự giúp đỡ quý báu của chính quyền và nhân dân địa phương. Sự giúp đỡ đó đã góp phần không nhỏ để Sư đoàn làm nên chiến thắng vẻ vang trong chiến dịch cuối cùng kết thúc cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc. Sau 72 giờ chuẩn bị ở Cam Ranh, toàn Sư đoàn rầm rộ xuất phát, theo trục Đường 450, nhằm hướng Nam tiến tới. Cuộc hành quân của Sư đoàn diễn ra dưới bom đạn đánh chặn ác liệt của quân địch. Ngày 10 tháng 4, Tiểu đoàn công binh cầu phà Trung đoàn 7 bị địch đánh cháy sáu xe chở phà. Ngày 11, Trung đoàn 28 bị cháy 5 xe. Ngày 12, Sư đoàn bộ binh và Trung đoàn 4 bị cháy 7 xe. Ngày 13, Trung đoàn 24 bị cháy 9 xe... Đường 450 trở thành tọa độ lửa. Nhưng cả đoàn xe hàng trăm chiếc chở đầy bộ đội và súng đạn, lương thực vẫn hùng dũng lao lên phía trước. Chiều ngày 13 tháng 4, khối Sư đoàn bộ binh, Trung đoàn 4 pháo binh, Trung đoàn 28 bộ binh, Trung đoàn 7 công binh và Trung đoàn 273 xe tăng, vượt qua bom đạn địch, hành quân và tới Đơn Dương (Đà Lạt). Đồng bào vùng mới giải phóng vô cùng sung sướng ào ra đứng chật hai bên đường chào đón các chiến sĩ quân đội nhân dân con em của mình. Niềm vui giải phóng bừng sáng lên trong mỗi gương mặt, mỗi ánh mắt. Ngay tối ngày 13 tháng 4, Tư lệnh Quân đoàn điều bổ sung nhiệm vụ: Sư đoàn 10 không tập kết ở Định Quán trên Đường 20 nữa mà quay lại Đường 21 đi Buôn Ma Thuột, sau đó theo Đường 14 về Lộc Ninh, tập kết phía Nam quận lỵ Chơn Thành. Nhận được, chỉ thị của trên, Bộ Tư lệnh Sư đoàn thấy rằng khối đi đầu của Sư đoàn vừa vượt qua một tuyến đường địch đánh phá rất ác liệt, nếu cho đội hình quay lại đường cũ sẽ bị tổn thất thêm, qua cân nhắc, tính toán thời gian Sư đoàn có mặt ở vị trí quy định và để phù hợp với tình hình thực tế, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đề nghị Tư lệnh Quân đoàn cho Sư đoàn hành quân trên 2 đường: - Bộ phận đã tới Đơn Dương tiếp tục đi theo quốc lộ 20 đến Di Linh rẽ sang Gia Nghĩa vê Kiến Đức. - Bộ phận đang còn ở Nha Trang - Cam Ranh và các đơn vị đang đi trên Đường 450 sẽ quay lại theo Đường 21 về Buôn Ma Thuột. Toàn Sư đoàn sẽ hội quân ở Kiến Đức. Đề nghị đó của Sư đoàn được Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đồng ý. Đường vào Nam Bộ còn xa, thời gian chiến dịch mở đến gần. Trên cả hai tuyến đường, xe chạy không kể ngày đêm, bộ đội chỉ được dừng lại một thời gian rất ngắn để thổi cơm, nấu nước bổ sung, rồi lại tiếp tục lên đường. Chiều ngày 20 tháng 4, cánh quân từ Di Linh đi xuống đã gặp cánh quân từ Buôn Ma Thuột đi vào tại Kiên Đức, đúng như dự kiến. Ngày 21 tháng 4, đội hình Sư đoàn tiếp tục hành quân. Ngồi trên xe không mui, nắng, bụi làm mặt mọi người đen sạm lại. Xe tới Lộc Ninh rồi qua An Lộc và đến Chơn Thành. Xe chạy giữa các lô cao su thẳng tắp, bạt ngàn. Ở đây, đường mới mở cắt ngang đường cũ có chỗ 5, 7 đường ô tô. Những ngã ba, ngã tư có hàng chục biển T500... từng đơn vị nhận ra đường của mình qua ký hiệu riêng ấy. Ở các trạm chỉ đường, sĩ quan Tham mưu cùng chiến sĩ công binh, trinh sát, truyền đạt thức suốt đêm ngày để hướng dẫn cho các đoàn quân và các đoàn xe vào đúng tuyến của mình. Đêm ngày 22 rạng ngày 23, toàn Sư đoàn đã đến vị trí tập kết chiến dịch tại một cánh rừng cao su thuộc huyện Dầu Tiếng tỉnh Thủ Dầu Một 8 giờ sáng ngày 23 tháng 4, Sư đoàn trưởng Hồng Sơn1 (Đồng chí Hồng Sơn giữ chức Sư đoàn trưởng ngày 17 tháng 4 năm 1975 thay đồng chí Hồ Đệ về làm Tham mưu trưởng Quăn đoàn 3) và chính ủy Lã Ngọc Châu về sở chỉ huy Quân đoàn 3 nhận lệnh. Tại sở chỉ huy Quân đoàn 3, Thiếu tướng Vũ Lăng, Tư lệnh Quân đoàn chính thức giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10. Sư đoàn 10 được tăng cường Trung đoàn 64, Sư đoàn 320, Trung đoàn 198 đặc công, Trung đoàn 234 cao xạ, hai tiểu đoàn xe tăng, một đại đội xe tăng M-41, M-48, một tiểu đoàn pháo 155, một trung đội A-72 và được các cụm pháo binh số 4, số 6 chi viện. Nhiệm vụ tác chiến của Sư đoàn như sau: - Sử dụng một Trung đoàn bộ binh ngày N (29-4-1975) hiệp đồng với Trung đoàn 198 đặc công, đánh chiếm Cầu Bông, Cầu Sáng, Thành Quan Năm (nếu Trung đoàn 198 không dứt điểm); bao vây tiến tới dứt điểm địch ở Hóc Môn, tạo bàn đạp cho lực lượng chủ yếu của Sư đoàn thọc sâu vào nội đô. Nếu địch phá mất cầu phải tổ chức vượt sông đánh tạo bàn đạp, diệt Thành Quan Năm, vây Hóc Môn, chi viện cho công binh Quân đoàn vào triển khai bảo đảm vượt sông. Lực lượng còn lại của Sư đoàn và các đơn vị tăng cường tạo thành một Binh đoàn đột kích mạnh sẵn sàng dùng cơ giới thọc sâu vào nội đô đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, mà trọng điểm là Bộ Tư lệnh dù, Bộ Tư lệnh không quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 không quân Ngụy. Sau đó phát triển tích cực phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy và tùy tình hình sẽ xác định nhiệm vụ phát triển vào các mục tiêu trong thành phố. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:57:22 am Ngày 25 tháng 4, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp quán triệt nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân đoàn và bàn phương án tác chiến, Hội nghị tập trung phân tích kỹ tình hình địch, tình hình ta và giànb nhiều thời gian bàn cách khắc phục khó khăn khi phải đột phá trên một chặng đường dài 50 km, từ Bến Súc tới Sài Gòn. Trên tuyến đường này, địch đã tăng cường phòng thủ bằng tất cả sự cố gắng của chúng. Đặc biệt trên đường tiến của Sư đoàn phải qua hai chiếc cầu lớn, nếu bị phá rất khó khắc phục. Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn hạ quyết tâm: tập trung mọi trí tuệ, sức lực, nêu cao tinh thần trách nhiệm của toàn Sư đoàn và các đơn vị được tăng cường dù khó khán ác liệt thế nào cũng quyết đánh chiếm bằng được các mục tiêu trên giao.
Về cách đánh, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn xác định hai bước chiến đấu then chốt: Bước 1: Đánh chiếm Cầu Bông, Cầu Sáng, bao vây tiêu diệt Thành Quan Năm, Hóc Môn, bao vây Trại huấn luyện Quang Trung. Nếu có điều kiện thì nhanh chóng tiêu diệt các mục tiêu trên. Cách đánh cụ thể là: Lót và luồn đặc công vào tập kích; tiếp đó tung một lực lượng bộ binh mạnh vào trợ lực đánh địch, rồi phát triển bao vây trong hành tiến đánh chiếm Thành Quan Năm và Hóc Môn. Bước 2: Khi bước 1 thắng lợi, nắm vững thời cơ, nhanh chóng đưa lực lượng binh chủng hợp thành thọc sâu đánh thắng vào Tân Sơn Nhất bằng hiệp đồng binh chủng dưới sự chỉ huy thống nhất của Sư đoàn và Quân đoàn. Về sử dụng lực lượng: Trung đoàn 198 đặc công và Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) là lực lượng chủ yếu thực hiện nhiệm vụ tác chiến ở bước 1; Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28 được tăng cường xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ hình thành cụm cơ động thọc sâu dưốl sự chỉ huy thống nhất của Sư đoàn. Trung đoàn 24 tiến theo trục Đường 6 và quốc lộ, thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, trọng điểm là Bộ Tư lệnh dù, Bộ Tư lệnh Không quân và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 dù. Trung đoàn 28 tiến theo trục Đường 5 về đánh chiếm Bộ Tư lệnh không quân Ngụy, sau đó phát triển phối hợp cùng đơn vị bạn đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Trung đoàn 4 pháo binh, Trung đòan 273 xe tăng, Trung đoàn 234 cao xạ có nhiệm vụ chi viện phối hợp cùng bộ binh đánh chiếm các mục tiêu. Trung đoàn 66 là lực lượng dự bị của Sư đoàn trong chiến dịch. Chiều ngày 25 tháng 4, Bộ Tư lệnh Sư đoàn mở hội nghị quân chính nhằm quán triệt nhiệm vụ và thống nhất phương án tác chiến. Hơn 200 cán bộ chủ trì của các đơn vị trong Sư đoàn cùng các đơn vị tăng cường đã về dự. Đây là biểu hiện tập trung của tinh thần đoàn kết, ý chí quyết thắng và tinh thần trách nhiệm rất cao của cán bộ, chiến sĩ trong Sư đoàn cũng như các lực lượng tăng cường. Ai cũng biết rằng trận đánh tới sẽ quyết liệt, khó khăn. Song đơn vị nào, cá nhân nào cũng nêu cao quyết tâm sẵn sàng hy sinh trước giờ thắng lợi. Trong lúc hội nghị quân chính đang tiến hành, các phân đội trinh sát, công binh bắt đầu lên đường bám địch, mở đưởng. Việc bảo đảm đường cơ động cho Sư đoàn thọc sâu hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tiến công. Bộ Tư lệnh Sư đoàn cử đồng chí Đinh Văn Lý, Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn và đồng chí Cao Thọ Hường, Trưởng ban công binh trực tiếp chỉ huy việc bảo đảm đường cơ động. Các chiến sĩ công binh, trinh sát đóng giả dân, vượt qua đồn bót địch, bí mật phân chia từng đoạn để trinh sát, đánh dấu tuyến rồi mới nối lại thành trục đường. Càng gần đến ngày chiến dịch mở, không khí chuẩn bị của Sư đoàn càng sôi động hẳn lên. Ở các trạm trú quân, các chiến sĩ chia vải đỏ khâu băng làm tín hiệu nhận nhau; hoặc chụm đầu quanh tấm sơ đồ Thành phố Sài Gòn còn thơm mùi mực in dc Quân đoàn vừa gửi xuống để làm quen với những đường phố, những khu vực mục tiêu và thảo luận về các tình huống chiến đấu. Trưa ngày 27 tháng 4, tám chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn trong đó có chiến sĩ gái Nguyễn Thị Trung Kiên làm nhiệm vụ dẫn đường cũng đã có mặt tại sở chỉ huy Sư đoàn ở Bến Súc. Cả Sư đoàn sẵn sàng bước vào trận đánh. Trong khi cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 10 và các đơn vị tăng cường đang khẩn trương hoàn thiện công tác chuẩn bị cho trận đánh lịch sử, thì tiếng súng mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu dồn dập nổ. Ở hướng Đông Sài Gòn, Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành, vượt Đường 15 giải phóng Phước Thường, bao vây Long Tân; Sư đoàn 3 Quân khu 5 đánh chiếm chi khu Đức Thạnh, tiến về giải phóng Bà Rịa, Quân đoàn 4 đánh chiếm Trảng Bom, phát triển tiến công uy hiếp Hố Nai, Biên Hòa. Ở hướng Tây - Nam, Đoàn 232 đánh chiếm đầu cầu An Ninh, Lộc Giang. Ở hướng Bắc, Quân đoàn 1 diệt một số trận địa pháo, làm chủ đoạn Đường 13 và đánh vào sát Thủ Dầu Một. Ở hướng Tây Bắc, các Sư đoàn 316, 320 và lực lượng hỏa lực Quân đoàn 3 diệt hàng chục trận địa pháo, đánh cắt Đường 22 và Đường 1 khẩn trương đánh vào các căn cứ Trảng Bàng, Đồng Dù phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, tạo điều kiện cho Sư đoàn 10 và các đơn vị tăng cường thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch. Đêm 28 tháng 4, theo đúng kế hoạch hiệp đồng, các chiến sĩ Trung đoàn đặc công 198 và Trung đoàn 164 nhanh chóng bí mật tiến về Cầu Bông, Cầu Sáng. Cầu Bông nằm trên Đường 1, Cầu Sáng hằm trên Đường 15, cả hai con đường này đều chạy qua cánh đồng lúa Củ Chi, Hóc Môn trước khi vào Sài Gòn. So với các mục tiêu khác thì lực lượng địch ở đây không đáng kể, chỉ có Tiểu đoàn 81 biệt kích dù. Nhưng bọn này rất xảo quyệt, các trụ cầu, chúng đều đặt thuốc nổ, sẵn sàng phá cầu nếu bị ta tiến công. Quyết tâm của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 là sử dụng Trung đoàn đặc công 198 bí mật áp sát, tiến công táo bạo, kiên quyết, đánh thật nhanh, thật mạnh, áp đảo quân địch không cho chúng kịp trở tay phá cầu. Đồng thời dùng Trung đoàn 64 luồn sâu, sẵn sàng tiếp sức cùng đặc công đánh chiếm bằng được hai chiếc cầu. Nếu địch phá cầu trước khi ta tiến công, thì Trung đoàn 64 nhanh chóng cơ động vượt kênh Sáng, đánh chiếm bàn đạp phía nam để Quân đoàn đưa công binh và pháo cao xạ vào bắc phà bảo đảm đường cho Sư đoàn thọc sâu. Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định thời cơ đánh chiếm Cầu Bông, Cầu Sáng là lúc Sư đoàn 320 bắt đầu tiến công Sư đoàn 25 Ngụy trong Căn cứ Đồng Dù. Suốt đêm 28 tháng 4, các chiến sĩ Trung đoàn đặc công 198 và Trung đoàn 64 tiên vào Cầu Bông, Cầu Sáng dưới ánh sáng của pháo sáng địch từ Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng bắn lên không ngớt. Máy bay C-130 của chúng bay dọc Đường 1 và Đường 15 bắn như vãi đạn. Nhưng nhờ công tác ngụy trang được thực hiện chu đáo, bộ đội chấp hành kỷ luật hành quân nghiêm, các đơn vị của ta đều đã chiếm lĩnh trận địa bí mật, an toàn, đúng thời gian quy định. 3 giờ 30 sáng 29 tháng 4, giờ nổ súng của Sư đoàn 10 đã tới... Các chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 20 với lối đánh gần sở trường, nhanh chóng chiếm gọn Cầu Bông. Sau những phút đầu choáng váng, bọn biệt kích dù ngoan cố tổ chức phản kích mong chiếm lại Cầu Bông. Nhằm tăng sức tiến công cho Tiểu đoàn 20, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ thị cho Trung đoàn 64 đưa Đại đội 10 vào tham gia chiến đấu. Bất chấp pháo binh và máy bay địch bắn chặn, các chiến sĩ Đại đội 10 vượt lên mặt Đường 1, tiến vào tiếp sức cùng bộ đội đặc công chiến đấu. Trận đánh kéo dài 50 phút thì dứt điểm. Tiểu đoàn 81 biệt kích dù hoàn toàn bị tiêu diệt và tan rã. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Ba, 2022, 07:58:14 am Trên hướng Cầu Sáng, vì đường xa, lại phải luồn tránh địch nên khi Tiểu đoàn 2 vào tới vị trí triển khai thì trời đã sáng. Địch phát hiện được, nổ súng ngăn chặn. Cuộc chiến đấu trở nên phức tạp. Bộ Tư lệnh Sư đoàn lập tức tung một đại đội của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 vào tiếp sức. Sau 30 phút chiến đấu, đặc công và bộ binh ta làm chủ Cầu Sáng.
Cầu Bông, Cầu Sáng đã thuộc về ta. Cùng thời gian này chấp hành nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 giao cho Trung đoàn 64 (thiếu) cũng tiêu diệt và làm tan rã Tiểu đoàn 99 biệt động quân ở ấp Phố Mới. Các Sư đoàn bạn (316, 320) cũng đã hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài trên hướng Tây - Bắc Sài Gòn. Thời cơ để Sư đoàn 10 thọc sâu đánh vào nội đô đã đến. 5 giờ 30 ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28 cùng xe tăng, thiết giáp, pháo binh, cao xạ được lệnh xuất kích. Theo lộ tiêu do công binh cắm sẵn trên hai trục Đường 5 và 6, xe ủi đất đi trước húc tung các bờ rừng, mô đất mở đường cho xe tăng và ô tô chở quân đi theo. 347 xe các loại, tươi lá ngụy trang, cắm cờ giải phóng theo đội hình hàng dọc nối nhau băng qua cánh đồng Củ Chi như một cơn lốc tràn về Sài Gòn. Trải qua 30 năm đấu tranh gian khổ kể từ ngày Nam Bộ kháng chiến, đến nay nhân dân ta mới được chứng kiến cảnh tượng hùng vĩ biểu thị sức mạnh kỳ diệu của dân tộc mình. Sáng 29 tháng 4, trên cơ sở nắm vững lực lượng địch bị tan vỡ nặng ở tuyến phòng thủ vòng ngoài, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định cho Trung đoàn 24 không đi đường vòng tránh Củ Chi như kế hoạch trước mà tiến thẳng lên Đường 1, thọc qua quận lỵ này. 10 giờ 50, phân đội phái đi trước của Trung đoàn 24 tiến cách Củ Chi 4km thì gặp một lực lượng bộ binh và thiết giáp của địch ngăn chặn. Đơn vị đã kịp thời triển khai chiến đấu diệt bốn xe tăng thiếp giáp và một trung đội địch. 11 giờ sáng ngày 29, bộ binh và xe tăng ta thừa thắng nhanh chóng thọc qua Củ Chi tiến về Cầu Bông. Cùng thời gian đó, tại cánh đồng Tân Phú Trung, một đoàn xe tăng, xe bọc thép và xe ô tô của địch từ Hậu Nghĩa trên đường rút về Sài Gòn cũng tiến thắng vào Cầu Bông. Các chiến sĩ Trung đoàn 64 và Trung đoàn 198 đặc công chốt ở đây lúc đầu tưởng đó là lực lượng đột kích của Sư đoàn, nhưng thấy trên xe không cắm cờ và thấy lính địch đội mũ sắt, lập tức triển khai chiến đấu. Bị đánh bất ngờ, đoàn xe địch ùn lại. Giữa lúc đó, cánh quân của Trung đoàn 24 từ Củ Chi ập đến. Thấy các xe tăng M41, M48 chiến lợi phẩm đi trong đội hình tiến quân của Trung đoàn 24, bọn địch lầm tưởng là đồng bọn của chúng từ Tây Ninh thua trận chạy về. Nhưng khi thấy xe ngụy trang cắm cờ, chúng ngơ ngác chưa biết xử trí ra sao, thì đã bị xe tăng M41, M48 của Đại đội 9 do đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng, chỉ huy xông tới nổ súng. Trong thế bị đánh cả hai đầu, xe tăng địch hoảng loạn nhào xuống cánh đồng lúa phía Nam Cầu Bông. Từ trên Đường 1, xe tăng và bộ binh ta dùng hỏa lực nhằm từng chiếc xe địch nổ súng, 28 xe tăng, xe bọc thép và hàng chục xe GMC bốc cháy, toàn bộ quân địch bị diệt. Trung đoàn 24 tiếp tục phát triển đánh chiếm Thành Quan Năm. Trung đoàn 24 phát triển tới Thành Quan Năm, thì bị quân địch ở đây ngăn chặn quyết liệt, chỉ huy Trung đoàn 24 lệnh cho Đại đội 7 (Tiểu đoàn 5) xuống xe chia thành hai mũi đánh thọc hai bên phố, kết hợp với lực lượng xe tăng đột kích chính diện. Tiểu đoàn - (Trung đoàn 198) theo kế hoạch phải đánh Thành Quan Năm cùng lúc với đánh Cầu Bông, Cầu Sáng nhưng đơn vị gặp khó khăn chưa tổ chức đột phá được, nay thấy xe tăng và bộ binh ta tiến công, liền nổ súng phối hợp chiến đấu. Trận đánh kéo dài 30 phút, toàn bộ quân địch trong Thành Quan Năm bị tiêu diệt và tan rã. 14 giờ 30, Trung đoàn 24 tới Trại huấn luyện Quang Trung. Tại đây, địch lợi dụng lô cốt, nhà tầng bố trí hỏa lực đánh chặn. Chỉ huy Trung đoàn 24 dùng một đại đội và ba xe tăng phối hợp với Tiểu đoàn đặc công đoàn 115 đánh chiếm Trại huấn luyện Quang Trung, còn đơn vị tiếp tục phát triển. Địch cho pháo binh từ sân bay Tân Sơn Nhất bắn phá ác liệt chặn đường. Máy bay trực thăng vũ trang phóng rốc két, bắn đạn 20 mi-li-mét vào đội hình Trung đoàn 24. Các chiến sĩ cao xạ Trung đoàn 234, vừa hành tiến vừa bắn tan xác một máy bay trực thăng vũ trang. 17 giờ ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 24 vượt cầu Tham Lương, qua nhà máy dệt Vi-na-tếch-cô, vào tới ngã ba Bà Quẹo. Trong cơn hấp hối, quân Ngụy Sài Gòn ngoan cố dùng máy bay, pháo binh ném bom, bắn phá ngay trên đường phố, gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta. Tại ngã ba Bà Quẹo, Bộ Tổng Tham mưu Ngụy đã tung lực lượng lính dù cùng xe tăng, xe thiết giáp ra ngăn chặn. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra ác liệt, 20 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 đã ngã xuống, ba xe thiết giáp bị cháy. Trung đoàn cao xạ 234 kéo pháo sát theo đội hình hành tiến của bộ binh và xe tăng, bắn rơi ba máy bay địch, diệt bảy ổ đại liên trên các nha tầng. Từ 18 giờ đến 19 giờ 30, địch ba lần dùng xe tăng, xe bọc thép kết hợp bộ binh phản kích. Song cả ba lần chúng đều bị các chiến sĩ bộ binh và xe tăng ta đánhbại, buộc chúng phải lùi về tuyến trong. Chỉ huy Trung đoàn 24, kịp thời điều Đại đội 7 (Tiểu đoàn 5) cùng hai khẩu DKZ-75 áp sát ngã tư Bảy Hiền. Đến 21 giờ ngày 29 tháng 4, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 tiến cách sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy khoảng 2km. Trên hướng Đường 15, cánh quân của Trung đoàn 28 sau khi tiêu diệt quân địch ngăn chặn ở Phú Hòa Đông, đội hình Trung đoàn tiến đến Tân Quy thì trời đã về chiều và bị xe tăng, bộ binh địch ngăn chặn. Chỉ huy Trung đoàn 28 sử dụng Đại đội 10, Tiểu đoàn 3 cùng bốn xe tăng và bốn xe K-63 tiến công quân địch. Thấy lực lượng ta mạnh, địch tháo chạy về Phú Xương. Bộ binh và xe tăng ta truy kích diệt năm xe M113, 15 xe GMC và một số địch, rồi theo Đường 15 tiếp tục phát triển. Khi vượt qua Cầu Sáng, các chiến sĩ lái xe tăng mải chiến đấu, không chú ý đến sức tải của chiếc cầu sắt này đã cho xe chạy gần nhau với tốc độ cao, tạo ra lực cộng hưởng lớn, chiếc xe tăng thứ ba vượt được ba phần tư cầu thì cầu sập, chiếc xe tụt xuống sông. Trung đoàn 28 phải quay trở lại Tân Quy theo tỉnh lộ 8 qua Đồng Dù tiến sang Cầu Bông, phát triển chiếm khu Tây - Nam Trại huấn luyện Quang Trung. 18 giờ 30 phút, Trung đoàn 28 tiến đến cầu Tham Lương, thì dừng lại triển khai đội hình chiến đấu. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:38:41 am Lúc này, trên các hướng chiến dịch, cuộc tiến công của các Quân đoàn bạn đều phát triển thuận lợi không một sức mạnh nào ngăn cản nổi. Ở phía Bắc Sài Gòn, Quân đoàn 1 đang tiến công căn cứ quân sự Phú Lợi, đơn vị đi đầu của Quân đoàn đã đến Bắc Lái Thiêu, cách Sài Gòn 30km. Ở hướng Đông - Nam Sài Gòn, quân ta đánh chiếm và làm chủ Vũng Tàu, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và đang tiến vê Cát Lái, cầu xa lộ Đồng Nai, Thủ Đức. Ở phía Nam và Tâv Nam, quân ta làm chủ thị xã Hậu Nghĩa, quận lỵ Đức Hòa bức rút Đức Huệ, đánh chiếm ngã ba Vĩnh Lộc, Cầu Sáng, lộ 10, cắt lộ 4, phát triển tiến công địch ở Cần Giuộc và Hưng Long. Lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định, tích cực hoạt động diệt bọn ác ôn đầu sỏ, đánh chiếm đồn bốt địch mở bàn đạp ở vùng sâu, tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực đánh vào nội đô, đồng thời chặn đánh tàn quân địch ở bên ngoài chạy về Thành phố và làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.
Sáng ngày 29 tháng 4, Trung đoàn Gia Định, tiêu diệt và giải tán tòan bộ lực lượng phòng vệ dân sự ở hai xã Tân Thới Thượng và Tân Thới Nhất, sau đó phát động quần chúng nổi dậy, truy lùng ác ôn giành quyền làm chủ, bộ đội địa phương và du kích Củ Chi cùng nhân dân bao vây bức rút, bức hàng hầu hết các đồn bốt địch trong các xã ấp. Chiều ngày 29 tháng 4, toàn quận Củ Chi được giải phóng. Cờ cách mạng xuất hiện ở nhiều nơi như Bình Hòa, Phú Nhuận, Bàn Cờ, Vườn Chuối, đường Trần Quốc Toản, cư xá Lữ Gia, Tân Phú, Phú Lâm. Có đòn tiến công quân sự mạnh mẽ đi trước một bước, nhân dân nhiều nơi nổi dậy chiếm đồn bốt, công sở, cướp chính quyền, ở các nhà máy, xí nghiệp, công sở, công nhân viên chức được sự hướng dẫn của các cán bộ cơ sở đã đứng dậy bảo vệ không cho địch và kẻ xấu phá hoại, lấy cắp tài sản, kịp thời phối hợp với các binh đoàn chủ lực đang ào ạt đánh vào nội đô. 23 giờ ngày 29 tháng 4, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh điện giao thêm nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3; dùng lực lượng đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, coi đó là nhiệm vụ chính thức của Quân đoàn, không phải nhiệm vụ phát triển hiệp đồng. Chỉ còn sáu tiếng đồng hồ nữa là tổng tiến công vào nội thành Sài Gòn bắt đầu. Bộ Tư lệnh Sư đoàn nghiên cứu tính toán lực lượng và quyết định giao cho Trung đoàn 28 nhiệm vụ tham gia đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Toàn bộ xe ô tô chở Trung đoàn 24 cũng được lệnh quay lại nam Bến Súc để đón Trung đoàn 66, sẵn sàng tham gia tiến công. 5 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, Tư lệnh Vũ Lăng và Chính ủy Quân đoàn Đặng Vũ Hiệp đã có mặt tại sở chỉ huy Sư đoàn để trực tiếp theo dõi và chỉ đạo trong quá trình tiến công. Giờ tận số của chế độ Ngụy quyền tai say bán nước Sài Gòn đã điểm. 7 giờ 15 phút, từ Sở chỉ huy Sư đoàn 10, Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh tiến công. Toàn bộ các trận địa pháo của Quân đoàn và Sư đoàn đồng loạt bắn vào Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy làm một số máy bay địch và kho bom, đạn địch nổ súng. Giữa lúc quân địch đang hoang mang, dao động trước hỏa lực pháo binh ta, Sư đoàn ra lệnh cho Trung đoàn 24 cùng xe tăng đột phá đánh chiếm ngã tư Bảy Hiền. Tại ngã tư Bảy Hiền, từ đêm 29 tháng 4, địch đã đưa Tiểu đoàn 8 dù cùng lực lượng của Biệt khu Thủ đô và một chi đội xe tăng M41, M48 ra chốt chặn. Chúng lợi dụng sân thượng, tháp nước, những ô cửa sổ nhà cao tầng bố trí dày đặc hỏa lực để ngăn chặn ta tiến công. Đại đội 7 Trung đoàn 24 cùng tám xe tăng, xe thiết giáp Trung đoàn 273 anh dũng đột kích mở đường. Để đập tan cụm phòng thủ của địch tại ngã tư Bảy Hiền, đại đội trưởng Đại đôi 7 Trịnh Bá Tư cho Trung đội 1 có chiến sĩ biệt động thành dẫn đường mở một mũi lên hướng bệnh viện "Vì dân" thọc sâu vào sườn địch, tạo đà cho đơn vị tiến công vào chính diện. Đại đội trưởng xe tăng Nguyễn Xuân Trường chỉ huy đơn vị táo bạo mở mũi đột kích mạnh chi viện đắc lực cho bộ binh đánh thẳng vào bọn địch phản kích. Xe tăng 979 vừa vượt lên thì bị xe tăng địch phục sẵn bắn hỏng pháo. Không chần chừ, trưởng xe Mai Trọng Hoạt cho xe 985 vượt lên. Bằng một động tác mau lẹ, quyết liệt, lái xe Phùng Văn Tính cho xe của mình lao thẳng vào xe tăng địch. Chiếc xe tăng M48 của địch hoảng sợ chồm lên vỉa hè, bọn địch trong xe khiếp sợ đầu hàng. 8 giờ 45 phút, quân địch cố thủ ngã tư Bảy Hiền bị quét sạch. Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 1 xe tăng Trung đoàn 273 phát triển đánh chiếm cổng số 5, đột phá vào sân bay. Công nhân xưởng dệt Vi-na-tếch-cô nhân dân ở ngã ba Bà Quẹo, ngã tư Bảy Hiền vượt bom đạn giặc, đổ ra đường tiếp tế cơm nước cho bộ đội, băng bó thương binh. Được nhân dân trong Thành phố tận tình giúp đỡ, Trung đoàn 24 tập trung lực lượng đẩy mạnh nhịp độ tiến công, quyết tâm thực hiện đúng theo tinh thần chỉ thị của Bộ Tư lệnh Chiến dịch: "Tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch. Tiến công với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ Thành phố, đập tan mọi sự kháng cự của địch". 9 giờ 05 phút, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24) và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn xe tăng 273) tiến đến cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất. Tại đây, địch bố trí nhiều hỏa lực mạnh, có cả hỏa tiễn chống tăng X202 đặt trên xe di động và trên tháp nước. Đại đội 7 bộ binh bị hỏa lực địch chặn lại. Tiểu đoàn 5 nhiều lần đột phá nhưng vẫn không thành. Ba xe tăng T-54 dẫn đầu của ta bị cháy nằm cản giữa đường. Pháo thủ xe tăng Nguyễn Trần Đoàn bị thương dập nát cánh tay vẫn không ròi vị trí chiến đấu. Đoàn nhờ y tá cắt cánh tay cho khỏi vướng, tiếp tục chiến đấu. Hành động quả cảm của Nguyễn Trần Đoàn đã cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ ta xốc tới, đánh tan quân địch. Để đập tan ổ đề kháng của địch ở cổng số 5, cán bộ chỉ huy Trung đoàn 24 điều hai pháo 85 lên tổ chức trận địa bắn thắng, chi viện cho bộ binh mỏ đợt xung phong mới. 9 giờ 45 phút, Trung đoàn 24 cùng xe tăng chia thành hai mũi đánh vào Tân Sơn Nhất. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 5 tràn qua cổng số 5 tiến công khu truyền tin, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 không quân, bắt sống ba tên đại tá Lê Hữu Tiên, Trần Quang Thái, Nguyễn Duy Phụng chỉ huy Sư đoàn 5 không quân. Tiểu đoàn 4. Tiểu đoàn 6 theo cổng số 4 đánh chiếm Bộ Tư lệnh dù, Bộ Tư lệnh không quân và các mục tiêu xung quanh. Đại đội 9, Tiểu đoàn 6 nhanh chóng phát triển tới trại Đa-vít nơi đặt trụ sở phái đoàn quân sự của ta. Cuộc gặp gỡ giữa các chiến sĩ Trung đoàn 24 với các đồng chí trong Trung đoàn diễn ra vô cùng cảm động. Đồng chí trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn và các đồng chí trong đoàn ôm hôn thắm thiết Trung đoàn trưởng Vũ Tài và các chiến sĩ Đại đội 9, những nụ cười và cả những giọt nước mắt vui mừng lăn nhanh trên má mọi người... Đại đội 9 được lệnh ở lại bảo vệ phái đoàn. Các lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 6 tiếp tục phát triển đánh chiếm Bộ Tư lệnh Không quân Ngụy. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:39:22 am 11 giờ, Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 tiến vào Bộ Tư lệnh Không quân Ngụy. Giữa sân, trước ngôi nhà chính, một con đại bàng đúc bằng đồng sải cánh dài 2 mét, biểu tượng sức mạnh "không lực Việt Nam Cộng hòa" bị trúng đạn, đầu gục xuống, thảm hại.
11 giờ 30, Trung đoàn 24 làm chủ hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất - căn cứ không quân lớn nhất của quân Ngụy Sài Gòn. Lá cớ "quyết thắng" truyền thống của quân đội ta được các chiến sĩ Đại đội 11 kéo lên đỉnh cột cờ cao vút, lồng lộng tung bay trong nắng. Trong khi Trung đoàn 24 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất Bộ Tư lệnh Sư đoàn ra lệnh cho Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 273 xe tăng) lợi dụng bàn đạp của Trung đoàn 24 nhanh chóng đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. 9 giờ 30, lực lượng đi đầu của Trung đoàn 24 tiến qua Lăng Cha cả, giữa lúc cuộc chiến đấu của Trung đoàn 24 diễn ra quyết liệt ở cổng số 5. Nhận rõ thời cơ lúc này là vô cùng quý giá, phó Sư đoàn trưởng Võ Khắc Phụng và phó Trung đoàn trưởng Đỗ Mũi ra lệnh cho bộ binh và xe tăng vừa đi vừa đánh địch mở đưởng. Khi đơn vị tiến đến cổng chính vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy thì bọn địch bảo vệ khu vực này đóng kín cổng tổ chức cố thủ ở bên trong. 10 giờ sáng 30 tháng 4, Tiểu đoàn 3 với Tiểu đoàn 2 xe tăng và các đơn vị công binh, trinh sát, cao xạ cùng tổ chức đột phá vào cổng chính. Từ trong Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, xe tăng và bộ binh địch bò ra bịt cổng chính kết hợp với mũi phản kích từ phía Nam tới. Một xe tăng địch vừa xuất hiện đã bị xe tăng 815 do đại đội phó Đỗ Hồng Kỳ chỉ huy bắn cháy. Chiếc xe M113 đi sau hốt hoảng quay đầu tháo chạy nhưng nó đã bị xe tăng 815 đuổi theo kết liễu bằng một đường đạn chính xác. Bộ binh địch hoảng sợ bỏ chạy tán loạn; một đại đội địch hạ vũ khí đầu hàng. Thừa thắng, Trung đoàn 28 chia thành hai mũi, một mũi đánh tràn vào cổng chính, một mũi khác đánh vòng sang phía Đông - Nam, ba xe tăng M-41 cuối cùng của địch tiến ra phản kích cũng lập tức bị bắn cháy tại chỗ. Vượt qua cổng chính, xe tăng 982 do Nguyễn Hữu Thìn và xe tăng 815 do đại đội phó Đỗ Hồng Kỳ chỉ huy dẫn đầu tiến thẳng đến thềm cao ngôi nhà chính của Tổng hành dinh quân Ngụy. Lúc này các chiến sĩ Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320B Quân đoàn 1) cũng đã áp sát ngôi nhà. Được sự yểm trợ của xe tăng, tổ cắm cờ Đại đội 10 anh hùng do Nguyễn Duy Tân, Trần Lựu chỉ huy và tiếp đó tổ cắm cờ của Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320B) nhanh chóng leo lên tầng cao nhất của ngôi nhà chính Bộ Tổng Tham mưu Ngụy cắm cờ. Lá cờ chiến thắng, lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng năm cánh rực rỡ bắt đầu tung bay trên Tổng hành dinh quân Ngụy, báo tin toàn thắng đã về ta. Lúc này đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4. Dưới sự chỉ huy của Chính ủy Trung đoàn Nguyễn Ngọc Xuân và Chính trị viên Tiểu đoàn 3 Nguyễn Văn Quý, chiến sĩ ta tiến vào kiểm soát các phòng làm việc của tòa nhà Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Cao Văn Viên đã chạy trốn ra nước ngoài, nhưng căn phòng làm việc của y vẫn còn nguyên những hiện vật của tội ác bán nước. Chiến sĩ Trung đoàn 28 phát triển chiếm nhà ở của Nguyễn Văn Thiệu. Thiệu đã chạy trốn ra nước ngoài, nhưng giấy thông hành, gậy chỉ huy, lon vai Trung tướng Ngụy, con dấu "Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu" vẫn còn nằm trong tủ. Trung đoàn 28 đã thu toàn bộ những hiện vật đó. Cùng trong thời gian này, các chiến sĩ Sư đoàn 320B (Quân đoàn 1) đã đánh vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy từ một hướng khác. Đơn vị bạn liên tiếp đánh chiếm khu nhà tầng, trận địa pháo và sân bay lên thẳng của địch ở gần cổng số 2, chiếm Khu thông tin, Phòng nhất, Phòng nhì, Tổng cục tiếp vận và tiến vào khu trung tâm phối hợp với các chiến sĩ Trung đoàn 28 chiếm lĩnh và bảo vệ ngôi nhà chính của Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Trên các hướng khác, các chiến sĩ Quân đoàn 2, Quân đoàn 4, Đoàn 232 đã chiếm gọn "Dinh Độc Lập”, bắt sống Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các Ngụy Sài Gòn, chiếm đài phát thanh, Bộ Quốc phòng, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát Ngụy... Sau đòn quân sự quyết định của các binh đoàn chủ lực, nhân dân Sài Gòn - Gia Định nổi dậy kịp thời chiếm lĩnh các công trình kinh tế, văn hóa, làm chủ đường phố và tham gia lùng bắt những tên ác ôn còn lẩn trốn, buộc chúng phải ra đầu hàng, trình diện, nhanh chóng lập lại trật tự, ổn định tình hình trong toàn Thành phố. Thành phố Sài Gòn - Gia Định hoàn toàn giải phóng! Cả miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Trong giờ phút lịch sử thiêng liêng này, mỗi chiến sĩ trong đội ngũ hôm nay của Quân đoàn đều tưởng nhớ tới những người đã khuất, nhất là những người vừa mới hôm qua, vừa mới trước đó vài giờ đã anh dũng hy sinh vì thắng lợi huy hoàng này. Là người chiến sĩ đứng dưới cờ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, ngay trong giờ phút chiến thắng huy hoàng ấy, người chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hiểu rằng trách nhiệm của mình vẫn còn hết sức nặng nề. Hơn bao giờ hết, Binh đòan siết chặt đội ngũ, sẵn sàng đón nhận những nhiệm vụ mới trong một kỷ nguyên mới mà chiến thắng 30 tháng 4 đã mở ra. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:40:51 am IV. Cánh quân hướng Đông - mở toang cánh cửa thép Xuân Lộc tiến vào nội đô
Quân đoàn 4 được ra đời và lớn lên trên chiến trường B2, nơi tất yếu sẽ diễn ra trận quyết chiến chiến lược cuối cùng kết thúc chiến tranh. Quân đoàn 4 không chỉ là một trong những binh đoàn cơ động chiến lược, quả đấm chủ lực của Bộ mà với vị trí là lực lượng tại chỗ, Quân đoàn 4 còn có nhiệm vụ cùng quân và dân Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ chuẩn bị địa bàn, tạo thế trận cho các đơn vị chủ lực khác cùng tiến công đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định. Thực hiện nhiệm vụ này còn có ý nghĩa quan trọng trước mắt là phối hợp với các chiến trường khác, duy trì thế căng kéo chiến trường, kìm chân một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động của địch, chia cắt Quân đoàn 3 với Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 Ngụy, bao vây, uy hiếp Sài Gòn và các địa bàn trên chiến lược ở miền Đông Nam Bộ. Theo sự phân công nhiệm vụ của Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Miền, Quân đoàn 4 sẽ chuẩn bị địa bàn hướng Đông Bắc và Tây Bắc Sài Gòn. Từ tháng 1 năm 1975, Quân đoàn 4 phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đã tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, tiêu diệt địch và giải phóng tỉnh Phước Long - tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Cùng với chiến thắng Phước Long, hàng chục xã, ấp ở Quân khu 9 cũng đứng lên giành quyền làm chủ. Cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam đã có những chuyển biến lớn lao sau khi có Nghị quyết 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quán triệt và chấp hành Nghị quyết lần thứ 21 của Trung ương Đảng và các Nghị quyết Quân ủy Trung ương, tháng 3 năm 1974, các chiến trường ở miền Nam liên tiếp tiến công địch, thu nhiều thắng lợi. Quân Ngụy phải lui từng bước về giữ các đô thị, các đường giao thông và các vùng có ý nghĩa chiến lược. Chúng không có khả năng lấy lại được, phải chịu bỏ một số vùng bị ta đánh chiếm như Nha Bích, Tống Lê Chân ở miền Đông Nam Bộ; Tánh Linh ở Khu 6; Đắc Péc, Ia Xúp, Măng Đen, Măng Bút ở Tây Nguyên; Nông Sơn, Giá Vụt ở Khu 5. Do bị quốc hội Mỹ cắt bỏ viện trợ bổ sung và gặp khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, tháng 6 năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu phải đề ra chủ trương "Đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo”, điều không thể làm được đối với một quân đội tay sai phản động. Tháng 8 năm 1974, ta đám chiếm và làm chủ chi khu quận lỵ Thượng Đức (Quảng Nam); quân Ngụy đưa hết Sư đoàn dù dự bị chiến lược đến phản công mấy tháng liền, nhưng không lấy lại được, phải bỏ cuộc. Kế hoạch "bình định", lấn chiếm của chúng cũng bị thất bại về căn bản. Về ta, ở miền Nam sự ra đời của các quân đoàn và Binh đoàn tương đương quân đoàn, đứng chân trên các chiến trường quan trọng, đã tạo nên một sự chuyển biến lớn về so sánh lực lượng; mạng đường chiến lược ở cả hai tuyến Đông và Tây Trường Sơn đã nối liền đến Lộc Ninh; đường ống đã chạy thông qua Tây Nguyên và Khu 5 và miền Đông Nam Bộ. Trên miền Bắc, sau gần hai năm phấn đấu gian khổ nhiều mặt về kinh tế, đến cuối năm 1974 đã đạt xấp xỉ mức năm 1965. Ta cũng đã tăng cường vào miền Nam một số lượng lớn quân số và hàng hóa, vượt xa kế hoạch các năm trước đó. Vụ bê bối Oa-tơ-ghết đã đẩy nước Mỹ đến một tình trạng chính trị xấu chưa từng có. Níchxơn bị lật đổ, Pho lên thay. Là một Tổng thống lên nắm quyền không do bầu cử Pho phải tiếp tục thực hiện việc cắt giảm viện trợ cho Ngụy quyền Sài Gòn và không thể đưa ra được một điều gì có hiệu lực để cứu nó trong cơn nguy khốn. Chiến tranh đã bước vào giai đoạn cuối cùng, so sánh lực lượng đã thay đổi, ta mạnh lên, địch yếu đi; tình hình trên cho phép ta tính toán và chuẩn bị cho một "kế hoạch giải phóng miền Nam". Ngày 25 tháng 1 năm 1975, Quân đoàn 4 xây dựng xong các phương án tác chiến bảo vệ vùng giải phóng, kế hoạch chuẩn bị chiến trường và chương trình huấn luyện nâng cao sức chiến đấu của bộ ỉội trong ba tháng đầu năm 1975. Theo phương ấn tác chiến, Quân đoàn sẽ cùng lực lượng vũ tranị các địa phương đánh bại các cuộc phản kích của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, trọng điểm là năm khu vực: Đường số 14 từ bắc Phước Vĩnh đến Bù Đăng: thị xã Phước Long; Đường 13 - Bàu Bàng - Chơn Thành: Đường 7 ngang, Rạch Bắp, Bến Cát: Đường số 4, Cà Tum và Đường 22. Về chuẩn bị chiến trường, tháng 2 năm 1975, hai Sư đoàn 9 và 7 bắt đầu tổ chức các tổ trinh sát chiến dịch, chiến thuật và trinh sát chỉ huy trên hai hướng Dầu Tiếng và Định Quán, Đường 20. Để nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo, chỉ huy đối với một Quân đoàn chủ lực ở chiến trường trọng điểm, Quân ủy Trung ương, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã điều động tăng cường cho Quân đoàn 4 một số cán bộ có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ kỹ thuật và hậu cần. Tháng 2 năm 1975, Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, Chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn (Đoàn 559) chuyển về giữ chức vụ Chính ủy Quân đoàn 4: Đại tá Vương Thế Hiệp, Chính ủy Sư đoàn 7 được bổ nhiệm chức vụ Phó Chính ủy Quân đoàn. Từ ngày 13 đến ngày 20 tháng 2 năm 1975, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của các sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng, Quân đoàn mở hội nghị tổng kết chiến dịch Đường số 14 - Phước Long. Những kinh nghiệm về chiến dịch, chiến thuật, về tổ chức chỉ huy, về kỹ thuật và các mặt bảo đảm được tổng kết. Nhiều vấn đề của tổng kết đã được kịp thời bổ sung cho các giáo trình và chương trình huấn luyện, đặc biệt là huấn luyện cán bộ. Để tranh thủ thời gian, nhiều đơn vị huấn luyện cả ban ngày và ban đêm. Nội dung và phương pháp huấn luyện thực sự thực tế, nghiêm túc, nhằm đại yêu cầu tác chiến tập trung qui mô lớn, liên tục, dài ngày, tiêu diệt được địch mà ta ít thương vong, ở Sư đoàn 9 và Sư đoàn bộ binh 7, sau khi cán bộ đi nghiên cứu chiến trường về, từng phân đội tổ chức thao trường, huấn luyện bộ đội theo nhiệm vụ, phương án tác chiến và kết quả trinh sát thực địa, chú trọng huấn luyện chiến thuật tiến công địch trong công sự vững chắc cỡ chi khu, tiểu đoàn và tiến công địch trong hành tiến. Về kỹ thuật, ôn luyện các động tác tiềm nhập của đặc công, cách dò, gỡ, mìn, luồn rào, cắt rào, cách liên kết bộc phá và ĐH10 của bộ binh, kỹ thuật bắn súng B40, B41, ĐKZ, cối 60 và bắn ứng dụng ban đêm. Về chiến thuật, huấn luyện tổ, đại đội, tiểu đoàn đánh địch trong công sự vững chắc, đặc biệt là giai đoạn khắc phục vật cản, mở cửa, đánh chiếm đầu cầu. Các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ tranh thủ huấn luyện ngay tại trận địa, ôn luyện kỹ thuật thao tác pháo, hiệp đồng các số trong một khẩu đội và hợp luyện từ khẩu đến đại đội. Trung đoàn công binh tổ chức huấn luyện ngay trong quá trình thi công và bảo đảm cơ động... Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:42:14 am Về tổ chức, để nâng cao quân số chiến đấu cho các đơn vị, bổ sung số tiêu hao trong chiến dịch Đường số 14 - Phước Long, Bộ Tư lệnh Quân đoàn và các sư đoàn, trung đoàn đã có nhiều biện pháp bồi dưỡng sức khỏe cho bộ đội, đưa số thương binh nhẹ và bệnh binh đã được hồi phục sức khỏe từ phía sau ra phía trước... Trong tháng 2 năm 1975, Quân đoàn được bổ sung 1954 chiến sĩ mới. Trước khi biên chế số chiến sĩ mới này về các đại đội bộ binh, Quân đoàn đã tổ chức huấn luyện trong 15 ngày. Nhờ những biện pháp đó, đến cuối tháng 2 năm 1975, số quân mỗi tiểu đoàn bộ binh ở hai Sư đoàn 7 và 9 có khoảng từ 220 đến 250, trong đó số quân chiến đấu 190 đến 220. Súng, đạn, đặc biệt là đạn hỏa lực của các đơn vị được bổ sung theo yêu cầu chiến đấu. Mỗi đại đội bộ binh có một khẩu cối 60mm, hai súng B41, mỗi sư đoàn bộ binh có ba khẩu cối 120, 10 khẩu pháo 85, 105 và 122mm, 10 khẩu pháo cao xạ 37 và 12 khẩu súng máy phòng không 12,8. Ở các đơn vị binh chủng trực thuộc Quân đoàn, vũ khí và phương tiện chiến đấu được bổ sung về số lượng và tăng cường chất lượng. Mỗi tiểu đoàn pháo có chín khẩu pháo xe kéo 155 và 130mm; tiểu đoàn pháo cao xạ có 12 khẩu 37 và 57mm.
Ngày 2 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 341, biên chế đủ quân, được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh điều động vào chiến trường đứng trong đội hình Quân đoàn 4, Bộ Chỉ huy Sư đoàn gồm các đồng chí: Trần Văn Trân - Sư đoàn trưởng, Trần Nguyên Độ - Chính ủy, Vũ Cao - Sư đoàn phó. Ngoài các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Sư đoàn, các đồng chí Phạm Thành Minh - Phó chính ủy, Vũ Thang - Tham mưu trưởng, Hồ Đình Quí - Tham mưu phó, Nguyễn Văn Quê - Chủ nhiệm Chính trị, Nguyễn Văn Kháng - Chủ nhiệm Hậu cần đều có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trên các chiến trường Khu 4, Khu 5 và chiến trường Lào. Tiếp nhận Sư đoàn 341, một sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ có trình độ và kinh nghiệm chiến đấu, Quân đoàn 4 đã có đủ ba sư đoàn bộ binh theo biên chế và tăng cường đáng kể sức mạnh chiến đấu. Sư đoàn 341, đứng trong đội hình Quân đoàn 4, bên cạnh những đơn vị đã dày dạn chiến đấu như Sư đoàn 9, Sư đoàn 7, đã nhanh chóng làm quen với chiến trường mới trong điều kiện hết sức khẩn trương, gấp gáp. Về lực lượng binh chủng, Bộ Tư lệnh Miền tiếp tục tăng cường cho Quân đoàn 4 hai Tiểu đoàn xe tăng 21 và 22, đồng thời bổ sung một tiểu đoàn mới hành quân từ hậu phương lớn vào. Ba tiểu đoàn này hợp thành Đoàn thiết giáp 26 đứng trong đội hình Quân đoàn 4. Các đoàn hậu cần khẩn trương mở đường, bắc cầu, làm ngầm, vận tải vật chất từ các căn cứ xuống vùng trung tuyến, chuẩn bị cho bộ đội tác chiến các hướng. Sau khi Đồng Xoài được giải phóng, tuyến hậu cần chiến lược của Đoàn 559 đã vận tải bằng cơ giới theo Đường 14 vào đến Đồng Xoài. Các khu vực Bù Gia Mập, Phước Vĩnh, Đồng Xoài (do đoàn 770 phụ trách), Lộc Ninh (do Đoàn 340 phụ trách) và Hớn Quản, Cà Tum (do Đoàn 220 phụ trách) trở thành căn cứ hậu cần phía sau của khối chủ lực Miền, nơi tiếp nhận vật chất từ hậu phương lớn miền Bắc chuyển vào. Từ những căn cứ này, Cục Hậu cần Miền tổ chức các tuyến hậu cần bảo đảm cho bộ đội hoạt động trên các hướng xung quanh Sài Gòn; hướng Đông Nam (Đoàn 814), Đông Bắc (Đoàn 210), Tây Bắc (đoàn 235), Tây Nam (Đoàn 230). Các Quân khu 6, 7, 8, 9, và Sài Gòn - Gia Định cũng có những căn cứ hậu cần của mình. Các căn cứ hậu cần của Quân khu, Quân đoàn nối liền với các tuyến hậu cẩn của Miền và tuyến vận tải chiến lược, hình thành một thế trận hậu cần liên hoàn và vững chắc, tạo dự trữ vật chất tương đổi lớn, bảo đảm đủ đạn cho bộ đội tác chiến trong một năm, xăng dầu, thuốc quân y trong 6 tháng. Ngày 4 tháng 3 năm 1975, quân và dân ta trên các chiến trường đồng loạt nổ súng tiến công địch, ở Tây Nguyên, bộ đội ta cắt Đường số 19. Đánh Cẩm Ga, Thuần Mẫn, chuẩn bị đánh chiếm Đức Lập và thị xã Buôn Ma Thuột. ơ Khu 5 và Trị Thiên, lực lượng vũ trang hai quân khu mở màn chiến dịch Xuân - Hè của địa phương, ở B2, Quân đoàn 4 và lực lượng vũ trang các quân khu bước vào đợt 2, đẩy mạnh các hoạt động tạo thế, tạo lực và phối hợp chiến trường. Ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn bất ngờ trước qui mô, thời điểm, hướng và lực lượng tiến công của ta. Trong cuộc họp với các tướng lĩnh tại "Dinh Độc Lập" ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974, Tổng thống Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu phán đoán rằng trong năm 1975 ta có thể đánh lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng năm 1972. Ta chưa có khả năng đánh vào các thị xã lớn hoặc thành phố mà chỉ có thể đánh các thị xã nhỏ và cô lập như Phước Long, Gia Nghĩa. Về thời gian, địch cho rằng ta sẽ đánh vào trước hoặc sau Tết Nguyên Đán, khi mùa mưa đến sẽ dừng lại củng cố lực lượng. Xuất phát từ những nhận định như vậy, địch cấp tốc điều chỉnh thế bố trí lực lượng theo kiểu "nặng hai đầu", tăng cường phòng thủ Quân khu 1 và Quân khu 3. Đồng thời, chủ trương đánh trước nhằm phá kế hoạch chuẩn bị của ta, "ngăn chặn chiến dịch Đông Xuân của Việt cộng", ở Quân khu 3 (miền Đông Nam Bộ) địch bố trí bốn sư đoàn bộ binh, bảy liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo binh (376 khẩu), bảy thiết đoàn và 15 chi đội xe tăng, xe bọc thép (655 xe), hai sư đoàn không quân (250 máy bay chiến đấu). Tuyến phòng thủ cơ bản của địch bố trí theo hình vòng cung từ Tây Bắc đến Đông Bắc, cách Sài Gòn khoảng trên dưới 50km. Nhiều nơi chúng đã đào tuyến hào chống tăng. Theo phương án tác chiến đã được Bộ Tư lệnh Miền thông qua, Quân đoàn 4 bước vào tiến công địch trên hai hướng: - Sư đoàn 9 được tăng cường Trung đoàn bộ binh 16, hai Tiểu đoàn pháo cao xạ, một tiểu đoàn xe tăng đánh chiếm chi khu quân sự Trị Tâm (quận lỵ Dầu Tiếng), phá vỡ một đoạn trên tuyến phòng thủ của địch, tạo bàn đạp tiến công Sài Gòn từ hướng Bắc, đồng thời mở rộng vùng giải phóng về phía Tây sông Sài Gòn từ Bến Củi đến Đường 26, hỗ trợ và phối hợp với Sư đoàn 5 ở hướng Bến cầu, Đức Huệ (Long An). Trung đoàn 273 (Sư đoàn 341) chốt chặn khu vực Bàu Bàng, Đường số 13, sẵn sàng thay thế và làm dự bị cho Sư đoàn 9. - Sư đoàn 7 cùng một bộ phận lực lượng Sư đoàn 341 phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu 7 và Quân khu 6 đánh chiếm chi khu quân sự Định Quán, giải phóng Đường 20, tỉnh Lâm Đồng, mở bành lang và bàn đạp tiến công trên hướng Đông Bắc Sài Gòn. Hoàn thành nhiệm vụ này, Quân đoàn sẽ mở được bàn đạp tiến công Sài Gòn trên hai hướng quan trọng nhất: đồng thời, kìm chân lực lượng chủ lực của Quân đoàn 3 Ngụy, thu hút lực lượng dự bị chiến lược của chúng, tạo điều kiện cho mặt trận Tây Nguyên và các chiến trường khác hoạt động. Nhưng khác với chiến dịch Đường số 14 - Phước Long nơi địch yếu và bố phòng sơ hở, lần này, Quân đoàn sẽ phải đánh vào tuyến phòng thủ cơ bản, nơi địch mạnh, phòng thủ kiên cố. Vì hai hướng tiến công của Quân đoàn cách xa nhau nên Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định phân Sở chỉ huy làm hai hướng. Hướng Dầu Tiếng do Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Cầm, Chính ủy Hoàng Thế Thiện và sở chỉ huy cơ bản chỉ huy. Hướng Đường 20 do phó Tư lệnh Quân đoàn Bùi Cát Vũ cùng một bộ phận sở chỉ huy nhẹ chỉ huy. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:43:10 am Trên hướng Dầu Tiếng - Chơn Thành (Đường 13)
Trung tuần tháng 3 năm 1975, theo mệnh lệnh của Quân đoàn. Sư đoàn 9 chuyển về Đường 13 tiến công chi khu quân sự Chơn Thành, mở thêm một hướng tiến công mới. Lúc này, sau khi thống nhất ý kiến ở Sở chỉ huy cơ bản, đồng chí Tư lệnh Quân đoàn Hoàng cầm chuyển trực tiếp chỉ huy hướng tiến công Định Quán - Lâm Đồng, đồng chí Chính ủy Quân đoàn Hoàng Thế Thiện ở lại chỉ huy hướng tiến công Dầu Tiếng - Chơn Thành. Trước thời cơ chiến lược mới, phát triển tiến công, Sư đoàn 9 được cấp ủy Đảng, nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp và giúp đỡ diệt một loạt đồn bốt địch, giải phóng đoạn Đường 26 từ ngã ba Đất Sét đến xóm Phan và một số đoạn trên Đường số 22; đồng thời nhanh chóng ổn định tình hình khu vực mới giải phóng, chuẩn bị địa bàn tập kết lực lượng cho các đơn vị tiến đánh Sài Gòn từ phía Bắc và Tây Bắc. Chi khu quân sự, quận lỵ Chơn Thành (tỉnh Bình Long), nằm trên trục Đường chiến lược số 13, cách Sài Gòn 80 ki-lô-mét về phía Bắc. Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Chơn Thành đã bị ta bao vây, cô lập. Quân đoàn 3 Ngụy buộc phải tăng thêm lực lượng cố giữ địa bàn quan trọng này nhằm kiểm soát Đường số 13, tạo bàn đạp để khi có điều kiện sẽ nối lại Đường số 13, đoạn từ Bàu Bàng lên An Lộc. Giữa tháng 3 năm 1975, trước sức tiến công và uy hiếp ngày càng tăng của ta, Quân đoàn 3 Ngụy phải bỏ thị xã An Lộc, rút hai liên đoàn biệt động quân và lực lượng của tiểu khu An Lộc về Chơn Thành, xây dựng thành một cụm phòng thủ mạnh trên hướng Bắc Sài Gòn. Chấp hành lệnh của Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4, Trung đoàn 273 (Sư 431) đang chốt chặn trên Đường 13 cùng bộ đội địa phương tỉnh Bình Phước và huyện Nhơn Thành lập tức chuyển sang đánh đuổi quân địch rút chạy. Từ ngày 22 đến ngày 30 tháng 3, bộ đội ta đã gây cho địch nhiều thiệt hại trên đoạn Đường 13 từ An Lộc về Chơn Thành. Nhưng do chưa tập trung lực lượng đủ mạnh, nhất là hỏa lực chưa được chuẩn bị đầy đủ cho phương án đánh địch trong công sự vững chắc nên khi địch co cụm trong chi khu Chơn Thành, dựa vào hệ thống công sự chống trả, cuộc tiến công vào Chơn Thành từ ngày 24 đến ngày 30 tháng 3 của hai Trung đoàn 1 và 2 (Sư đoàn 9) và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Bình Phước đã không dứt điểm được. Ngày 31 tháng 3, sau khi tập trung đủ ba trung đoàn bộ binh và được tăng cường Trung đoàn 273 (Sư đoàn 341), 15 khẩu pháo, trong đó có bốn khẩu pháo 130, Sư đoàn 9 mở đợt tiến công mới. Các Trung đoàn 273 đảm nhận các hướng tiến công chính ở các hướng Tây, Nam và Đông chiếm được một số mục tiêu trong chi khu. Trong khi đó, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 273) sẵn sàng đánh quân chi viện của địch từ Bàu Bàng lên Chơn Thành, Đại đội 11 (Trung đoàn 273) gặp rất nhiều khó khăn trong khi vào thay một đại đội thuộc Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) chốt chặn đánh chiếm vị trí ở xóm Rớt (Nam Chơn Thành 3 ki-lô-mét). Ngày 1 tháng 4, địch cho Lữ đoàn kỵ binh thiết giáp 3 từ Bàu Bàng lên cứu ngụy cho đồng bọn ở Chơn Thành. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 Võ Văn Dần lệnh cho các đơn vị tiếp tục bao vây địch ở Chơn Thành, sử dụng hai tiểu đoàn của Trung đoàn 1 và 2 cơ động về Bàu Lồng, chặn đánh quân viện của địch. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, chiều ngày 1 tháng 4, quân địch ở Chơn Thành rục rịch tháo chạy. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Nguyễn Văn Chia và Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 Lê Tấn Cẩm thống nhất nhận định quân địch nghi binh ở hướng Nam để rút chạy theo Đường liên tỉnh số 14. Do phát hiện đúng, hai trung đoàn đã tập trung lực lượng trity diệt quân địch rút chạy và phối hợp với các đơn vị bạn đánh chiếm các mục tiêu còn lại trong chi khu. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, toàn bộ quân địch ở Chơn Thành bị diệt, tan rã và bị ta bắt. Lực lượng của Sư đoàn 5 và Lữ đoàn 4 kỵ binh thiết giáp địch lên phản kích bị loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên. Tỉnh Bình Long được giải phóng. Đến đây, đợt chiến đấu liên tục gần 30 ngày đêm (từ 4 tháng 3) mở đầu đợt hai của toàn Miền trên hướng Bắc, Tây Bắc Sài Gòn đã giành thắng lợi lớn. Cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương, Sư đoàn 9 và một bộ phận của Sư đoàn 341 vừa vào đến chiến trường đã đánh chiếm một tiểu khu, hai chi khu, giải phóng Dầu Tiếng, Chơn Thành và toàn tỉnh Bình Long. Vùng giải phóng phía Tây, Tây Bắc Sài Gòn được mở rộng và hoàn chỉnh từ biên giới đến vùng trung tuyến tạo nên một địa bàn đứng chân rộng lớn và rất thuận lợi cho các Binh đoàn chủ lực. Với bàn đạp quan trọng này, ta có thể đưa những Binh đoàn lớn từ phía Bắc theo hai con đường chiến lược số 14, 13 vào áp sát tuyến phòng thủ cơ bản của địch, tiến đánh Sài Gòn từ hướng Bắc và Tây Bắc. Cũng trong đợt hoạt động này, cùng với lực lượng tại chỗ, Quân đoàn 4 đã tiêu diệt, thu hút và giam chân một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phối hợp tốt với chiến dịch tiến công giải phóng Tây Nguyên và các hướng khác ở Tây Nam, Đông và Đông Bắc Sài Gòn, thúc đẩy thêm quá trình suy yếu và tan rã của địch, chuẩn bị một bước quan trọng cho trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, sau khi nhận chỉ thị trực tiếp từ đồng chí Trung tướng Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền, Chính ủy Quân đoàn Hoàng Thế Thiện chỉ huy các đơn vị chiến đấu của Quân đoàn trên hướng Dầu Tiếng - Chơn Thành (trừ Sư đoàn 9) hành quân sang hướng Đông chuẩn bị tiến công hệ thống phòng ngự của địch tại Xuân Lộc. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:43:58 am Trên hướng Định Quán Lâm Đồng (Đường số 20)
Theo kế hoạch chiến lược và kế hoạch chiến dịch Tây Nguyên, trong bước tiến công chiến lược, ở khu vực Tây Nguyên, quân và dân ta sẽ cắt các con Đường bộ số 19, 20, 11 từ đồng bằng Trung Bộ lên, đồng thời khống chế đường không, bao vây, cô lập quân địch. Hướng Đông Nam, từ miền Đông Nam Bộ lên Tây Nguyên chỉ có một đường bộ là Đường số 20. Con đường này bắt đầu từ ngã ba Dầu Giây, điểm nối với Đường số 1, ngược lên phía Bắc nối với Đường số 21 ở số 21 ở quận lỵ Đức Trọng. Trên Đường số 20, chi khu quân sự Định Quán là cứ điểm phòng thủ quan trọng của địch ở địa đầu Quân khu 3 và cuối Quân khu 2. Đánh chiếm Định Quán ta sẽ mở được đầu mối của một con đường chiến lược, không cho địch sử dụng Đường 20. Tiếp đó nếu ta làm chủ được vùng giải phóng Nam Tây Nguyên, mở thông hành lang từ phía Bắc vào và bàn đạp tiến công Sài Gòn trên hướng Đông Bắc. Thực hiện nhiệm vụ này còn có ý nghĩa trực tiếp phối hợp với Chiến dịch Tây Nguyên, cùng bộ đội Tây Nguyên và Quân khu 5 chia cắt chiến lược đối với toàn chiến trường miền Nam. Ở khu vực chiến trường hoạt động của ta trên hướng này sẽ góp phần căng kéo địch, phối hợp với hướng Dầu Tiếng, hướng Tây Nam của Đoàn 232 và các hoạt động của Quân khu 7, Quân khu 6 (ở Tánh Linh, Võ Đắc, Hoài Đức). Ngày 5 tháng 3 năm 1975, tại căn cứ Đồng Xoài, đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền trực tiếp giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 7 (Quân khu 4 cùng lực lượng vũ trang Quân khu 6 và 7 mở mặt trận mới ở Đông Bắc Sài Gòn, đánh chiếm Định Quán, giải phóng Đường số 20 và tỉnh Lâm Đồng. Đồng chí Bùi Cát Vũ, Phó Tư lệnh Quân đoàn đi cùng Sư đoàn 7, trực tiếp chỉ huy hướng quan trọng này. Ngày 6 tháng 3, Sư đoàn 7 bắt đầu hành quân. Tiểu đoàn công binh 25 đi trước chuẩn bị bến vượt sông Đồng Nai ở khu vực Tà Lài. Trong ba đêm (14, 15 và 16 tháng 3), Sư đoàn đưa toàn bộ đội hình, gồm cả xe pháo qua sông Đồng Nai bí mật, an toàn và nhanh chóng tiến về phía mục tiêu. Chi khu quân sự Định Quán (thuộc tỉnh Long Khánh nằm ở địa đầu lãnh thổ Quân khu 3 Ngụy, một cứ điểm kiên cố trên tuyến phòng thủ Đông Bắc Sài Gòn. Địa hình ở đây rất đặc biệt, có lợi cho lực lượng phòng thủ. Phía trước chi khu là một bãi rộng gồm nhiều núi đá chồng. Những tảng đá rất lớn, mòn nhẵn, hình bầu dục, xếp chồng lên nhau thành tầng, tầng cao nhất tới 50 mét. Bằng tay không khó có thể trèo lên những tảng đá này. Giữa các tảng đá là những hang, hóc, những “gộp đá”. Quân địch dựa vào những "gộp đá" này làm dải chướng ngại thiên nhiên để bảo vệ chi khu. Dưới chân các chồng đá chúng giăng dây thép gai, gài mìn. Trên các chồng đá xây lô cốt, hỏa điểm. Bao quanh Định Quán còn có các Điểm cao 112, 258... thuận lợi cho việc quan sát và phòiig thủ. Tên Chỉ huy trưởng chi khu Huếnh hoang nói với đồng bọn rằng, dựa vào các "gộp đá" này, chúng có thể chống lại một sư đoàn của ta. Sau khi thị xã Buôn Ma Thuột bị ta đánh chiếm, cuộc phản kích của Sư đoàn 23 thất bị, địch đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên, đưa quân về co cụm ở dải đồng bằng ven biển để bảo toàn lực lượng. Tây Nguyên mất, Lâm Đồng và Đường 20 bị uy hiếp, địch buộc phải tăng cường lực lượng cố thủ các vị trí còn lại giữ Đường 20 và tạo thế ngăn chặn ta từ xa. Tư lệnh Quân đoàn 3 Ngụy Nguyễn Văn Toàn lệnh cho Lê Minh Đức, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 18 chuyển Bộ Tư lệnh Sư đoàn từ Long Bình lên thị xã Long Khánh, đồng thời đưa Chiến đoàn 43 và một chi đoàn M113 lên tăng cường phòng thủ Định Quán. Chiến đoàn 52 và Chi đoàn thiết giáp số 2 giữ khu vực từ Túc Trưng đến Kiệm Tân. Đặc điểm địa hình khu vực Định Quán và việc địch tăng thêm lực lượng phòng thủ gây thêm nhiều khó khăn cho ta. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7 Lê Nam Phong cùng cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 141 đã thảo luận dân chủ bàn cách diệt địch trong các "gộp đá". Đại đội trưởng Đại đội 7 Phạm Văn Thiệu đề xuất phương án sử dụng một đại đội bí mật thọc sâu vào các chồng đá, bịt hang không cho địch chui vào cố thủ. Cách đánh này đòi hỏi tinh thần quả cảm cao và người chỉ huy phải rất linh hoạt khi xử trí tình huống. Đại đội 7 anh hùng được Sư đoàn trưởng giao nhiệm vụ khó khăn này. Để cán bộ chiến sĩ làm quen với địa hình và tập cách đánh vào Định Quán, trước khi vào trận, Trung đoàn 141 đã sử dụng căn cứ cũ của địch ở cầu sông Nha Bích, cấu trúc lại gần với cách bố phòng của địch trong chi khu để huấn luyện bộ đội. Đồng thời, Trung đoàn tổ chức hiệp đồng trên sa bàn lần cuối cùng tại Vĩnh An, căn cứ của Khu ủy Khu 7. Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 3, Tiểu đoàn 2 và 3 (Trung đoàn 141), đơn vị đảm nhận mũi chủ yếu của trận đánh đến vị trí xuất phát xung phong. Các chiến sĩ bắt đầu liên kết bộc phá chuẩn bị mở cửa. Các trận địa của sư đoàn cũng sẵn sàng nhả đạn. Hướng Đại đội 7, đại đội trưởng Phạm Văn Thiệu và Chính trị viên quyết định động viên các chiến sĩ chuẩn bị thật tốt, khi pháo nổ sẽ vọt tiến qua quãng trống khoảng 100 mét, chiếm "gộp đá" đầu tiên. 5 giờ sáng ngày 17 tháng 3, Sư đoàn 7 nổ súng tiến công Định Quán (sau Dầu Tiếng 6 ngày). Pháo ta bắn vào các mục tiêu quân sự trong chi khu và các vị trí địch ở Phương Lâm, La Ngà, Núi Tràn, đồi Đăng Ca, Điểm cao 112. Trung đoàn 209 do Trung đoàn trưởng Trần Đức Nhạn và Chính ủy Phạm Ngọc Nghinh chỉ huy tiêu diệt cụm phòng thủ của địch ở Núi Tràn, chia cắt Định Quán với lực lượng Quân đoàn 3 Ngụy ở Túc Trưng. Quân địch trong chi khu rối loạn, tìm nơi ẩn nấp. Các mũi tiến công của Trung đoàn 141 nhanh chóng vượt qua cửa mở, đánh chiếm các vị trí đầu cầu. Đại đội 7 thọc sâu chiếm được "gộp đá" đầu tiên. Sau mấy phút hoảng loạn, quân địch bắt đầu phát hiện được các hướng tiến công của ta. Chúng dựa vào các chồng đá chống trả quyết liện, nhất là hướng Đại đội 7. Máy bay A37, F5, AD6 bay cao trên tầm pháo cao xạ ném bom xuống các trận địa pháo, các đường tiến quân và các khu vực ta vừa chiếm được. Phó Trung đoàn trưởng Bế Ích Quân phải cho bộ đội dừng lại đào công sự, bổ sung thêm đạn, chuẩn bị đợt tiến công mới. Trời về trưa nắng gắt. Khói bom, đạn và cát bụi ngột ngạt, bộ đội đói, mệt và không tìm được nước uống. Ở hướng Đại đội 7, có chiến sĩ phải tiểu tiện để uống. Đại đội phải tổ chức cho một số chiến sĩ bò ra bìa rẫy chặt cây chuối về cho anh em ăn đỡ khát. Chính ủy Sư đoàn Phan Liêm đã xuống Sở chỉ huy Trung đoàn 141, cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn giải quyết các khó khăn, động viên bộ đội "đánh chắc, tiến chắc". Chiều ngày 17 tháng 3, Trung đoàn 141 tổ chức đợt tiến công thứ hai. Trước sức tiến công của ta, quân địch phải bỏ khu quân sự và trận địa pháo, chạy vào các "gộp đá". Đại đội 7 chiếm thêm hai "gộp đá" nữa, tiến sát núi đá Ba Chồng và núi đá Ông Phật. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:44:35 am Sáng ngày 18 tháng 3, sau một đêm củng cố lực lượng, nghiên cứu thêm cách đánh, Sư đoàn trưởng lệnh cho các đơn vị tiếp tục tiến công. Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 165) được tăng cường ba xe tăng đánh chiếm Điểm cao 258. Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 141) được pháo 85, 37, ĐKZ bắn thẳng chi viện hỏa lực diệt từng ổ đề kháng địch trong các "gộp đá". Trung đội trưởng Vũ Văn Bộ (Đại đội 7) bị thương vào tay vẫn cùng đồng đội anh dũng đánh thẳng vào núi đá Ba Chồng. Trung đội phó Nguyễn Văn Hoan (Đại đội 7), người đã cắm cờ Quyết chiến Quyết thắng lên Sở chỉ huy tiểu khu Phước Long 77 ngày trước dẫn đầu Trung đội đánh chiếm núi đá Ông Phật, đã hy sinh anh dũng trong trận đánh này. Phó Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1) Nguyễn Trọng Tấn vừa chỉ huy đơn vị, vừa bắn bảy quả đạn B40 diệt các hỏa điểm địch và cắm lá cờ Quyết chiến Quyết thắng lên nóc nhà Chỉ huy chi khu. Tên Thiếu tá quận trưởng Chánh và bốn sĩ quan cấp đại úy chỉ huy chi khu Định Quán ra hàng.
Sau khi giải phóng Định Quán chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, Sư đoàn 7 chỉ để lại một tiểu đoàn của Trung đoàn 209, đơn vị có kinh nghiệm chốt chặn Đường 13 năm 1972 ở lại phía Bắc Túc Trưng, ngăn chặn Chiến đoàn 52 (Sư đoàn 18 Ngụy). Ngày 24 tháng 3, toàn bộ lực lượng của Sư đoàn chia thành hai mũi tiến lên thị xã Lâm Đồng. Mũi vu hồi, Trung đoàn 141 được tăng cường pháo mang vác của Sư đoàn và một Tiểu đoàn pháo 130 của Quân đoàn do Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong, Chính ủy Phan Liêm, Tham mưu trưởng Đỗ Mạnh Thứ trực tiếp chỉ huy. Được Khu ủy Khu 6, Tỉnh ủy Lâm Đồng và nhân dân các dân tộc giúp đỡ, Trung đoàn bắt đầu hành quân bằng cơ giới theo đường xe ben (đường cho xe chở gỗ), sau đó hành quân bộ, vượt qua nhiều đèo dốc cạo, sông suổi, ngày 27 tháng 3 chiếm lĩnh bàn đạp tiến công phía Tây Bắc thị xã (tiểu khu Bảo Lộc). Mũi đột phá theo Đường 20 chia thành hai khối. Khối thứ nhất có Trung đoàn 209 (thiếu) và Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 165) được phối thuộc xe tăng, pháo 85, pháo cao xạ 37 hành quân cơ giới vừa đi vừa đánh địch trên đoạn đường từ cầu Đa Gùi đến thị xã Bảo Lộc. Khối thứ hai Tiểu đoàn của Trung đoàn 165 các đơn vị lựu pháo, làm lực lượng dự bị và lực lượng sẽ phát triển lên Di Linh khi thị xã Lâm Đồng được giải phóng. Đồng chí Lê Ngọc Bì, Tham mưu phó Quân đoàn và các đồng chí Nguyễn Văn Thái, Phó chính ủy, Bùi Tài Tuệ Tham mưu phó Sư đoàn 7 đi cùng hai khối này. Sở chỉ huy Quân đoàn gồm Chủ nhiệm các binh chủng và cán bộ các cơ quan đi cùng khối thứ hai. 14 giờ ngày 27 tháng 3, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 165) có ba xe tăng dẫn đầu diệt đồn bảo an Đa Gùi (Nam Đắc Oai 7 ki-lô-mét), sau đó phát triển diệt các đồn dân vệ từ Đa Gùi đến Đắc Oai làm rung chuyển hệ thống đồn bốt địch trên Đường 20, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 5 tiêu diệt địch ở tiểu khu Đắc Oai. Đêm 27 rạng ngày 28 tháng 3, đội hình tiến công bằng cơ giới của Sư đoàn 7 nhanh chóng phát triển lên hướng Lâm Đồng. Đi đầu là các đội trinh sát, xe tăng, bộ binh và công binh. Tiếp theo là lựu pháo và cối 160mm. Xe tăng sử dụng chín chiếc chia làm ba đội, ba chiếc làm dự bị và hoạt động ở phía sau để nghi binh. Pháo đi cùng các Trung đoàn bộ binh có bốn khẩu 85; bổn khẩu 120, ba khẩu 105 và hai khẩu cối 160 do Sư đoàn nắm. Pháo 130 bố trí Tây - Tây Bắc tiểu khu do Quân đoàn nắm. Một tiểu đoàn cao xạ bảo vệ các cầu lớn, một tiểu đoàn đi cùng bộ binh và xe tăng. Đội hình tiến công của trung đoàn bộ binh chia thành hai thê đội. Thê đội một có một tiểu đoàn bộ binh, xe tăng, công binh, pháo binh đi cùng, pháo cao xạ và sở chỉ huy nhẹ của Trung đoàn. Thê đội hai gồm lực lượng còn lại và Sở chỉ huy cơ bản. 0 giờ ngày 28 tháng 3, pháo 130 bắt đầu bắn vào sân bay và các mục tiêu quân sự ở phía Bắc thị xã, chi viện hỏa lực cho Sư đoàn 7 tiến công trong hành tiến. Trước sức tiến công nhanh bằng cơ giới và hỏa lực mạnh của ta, quân địch ở các chốt dọc đường bỏ chạy về đèo Ba Cô rồi chạy về thị xã. Tỉnh trưởng Lâm Đồng điều một đại đội pháo ra cầu Đại Lào, nhưng mới nghe tiếng gầm của xe tăng và tiếng nổ của trọng pháo ta, bọn này bỏ cả súng chạy vào rừng, 4 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 3, cánh quân đột phá trên Đường 20 bắt được liên lạc với Trung đoàn 141 ở mũi vu hồi. Phát hiện quân địch đang hoảng loạn và lực lượng tiến công đã đến đủ, chỉ huy Sư đoàn 7 lệnh cho các đơn vị nổ súng sớm hơn một giờ so với kế hoạch ban đầu. Trời hửng sáng. Pháo ta bắn cấp tập vào các mục tiêu quân sự trong thị xã. Bộ binh có xe tăng dẫn đầu chia thành hai mũi đột phá và thọc sâu đánh chiếm từng mục tiêu. Lực lượng địch giữ thị xã có gần 4.000 tên được trang bị đầy đủ, có hệ thống công sự kiên cố nhưng không còn tinh thần chiến đấu, đã bị ta tiêu diệt một số, phần lớn tan rã, bỏ chạy về Di Linh và tản mát vào rừng. Thị xã Lâm Đồng được giải phóng lúc 9 giờ ngày 28 tháng 3. Ngày 31 tháng 3, Trung đoàn 165 được tăng cường ba xe tăng, hai khẩu pháo 105, một khẩu pháo 85 hành quân bằng cơ giới đánh chiếm khu Di Linh, diệt và làm tan rã ba tiểu đoàn địch. Sau đó, Trung đoàn được lệnh dừng lại để quay về Long Khánh. Toàn tỉnh Lâm Đồng đã được giải phóng. Ý đồ của địch lập tuyến phòng thủ Sài Gòn từ xa, bắt đầu từ Tây Ninh qua Lâm Đồng đến Nha Trang bị đập tan. Đường số 20 từ Lâm Đồng đến Túc Trưng hoàn toàn do ta làm chủ. Một trong những điểm phòng thủ mạnh của địch trên hướng này là chi khu quân sự Định Quán bị ta đánh chiếm. Quân đoàn 4 cùng lực lượng vũ trang các địa phương đã mở thêm một hành lang chiến lược để cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật vào chiến trường trọng điểm, tạo thêm một bàn đạp tiến công Sài Gòn trên hướng Đông Bắc. Đến cuối tháng 3 năm 1975, những hoạt động theo kế hoạch chiến lược của Bộ Tông Tư lệnh trên toàn miền Nam đã thu được những thắng lợi quan trọng, ở chiến trường, theo kế hoạch và sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, được tiến hành khẩn trương và với một quyết tâm rất cao, nhân dân và các lực lượng vũ trang Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã thực hiện một bước quan trọng các công tác chuẩn bị chiến trường, tạo nên những yếu tố thiết yếu bảo đảm thắng lợi nhanh chóng, triệt để cho trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Đó là các hoạt động tác chiến tạo thế; mở đường, làm ngầm, bắc cầu trên các hướng chiến dịch; vận tải súng, đạn, gạo, thực phẩm... đến các vị trí tập kết. Đặc biệt là hoạt động của Quân đoàn 4 và lực lượng vũ trang các Quân khu trên hai hướng Bắc, Tây Bắc (đánh chiếm Dầu Tiếng, Chơn Thành, mỏ thông Đường 13, 14) và hướng Đông Bắc (đánh chiếm Định Quán, giải phóng Đường 20 và tỉnh Lâm Đồng) đã trực tiếp góp phần mở ra các hành lang cơ động lực lượng và vận chuyển vật chất quy mô lớn vào chiến trường trọng điểm, tạo bàn đạp trên những hướng quan trọng nhất và chuẩn bị trước địa bàn tập kết lực lượng của mình và của các quân đoàn bạn trước khi đánh vào Sài Gòn: diễn ra vào lúc ở phía Bắc, quân và dân ta mở Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, Chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ, các hoạt động của Quân đoàn còn có ý nghĩa phối hợp chiến trường, căng kéo và kìm chân một bộ phận quan trọng quân chủ lực Ngụy. Qua các trận Dầu Tiếng, Chơn Thành, Định Quán, cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 4 đã trưởng thành lên, có thêm nhiều kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng Binh chủng tiêu diệt quân địch trong công sự vững chắc, đánh chiếm chi khu, tiểu khu quân sự giải phóng thị xã, thị trấn. Trong trận tiến công giải phóng Đường 20 và tỉnh Lâm Đồng, Quân đoàn bắt đầu có kinh nghiệm tổ chức đội hình tiến công bằng cơ giới, cơ động nhanh, vừa đi vừa đánh địch... Những kinh nghiệm sát thực và nóng hổi này cùng với kết quả của các hoạt động chuẩn bị chiến trường đã tạo thếm thế và lực, bảo đảm cho Quân đoàn 4 cùng các đơn vị bạn giành thắng lợi to lớn và nhanh chóng trong trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:45:51 am Trên hướng Xuân Lộc - Biên Hoà
Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 341 trên hai hướng Đường 20 từ cầu La Ngà đến ngã ba Dầu Giây và thị xã Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh) chuẩn bị mọi mặt để khi có lệnh sẽ đánh tập trung tiêu diệt lớn. Khu vực Sư đoàn 341 đảm nhiệm là tiến công vào phòng tuyến bảo vệ Sài Gòn từ xa của địch. Lực lượng của chúng gồm ba Sư đoàn bộ binh 18, 25, 5 và các đơn vị biệt động quân, lính thủy đánh bộ, các chi đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh. Các lực lượng này chưa bị đánh đau, còn sung sức và ngạo mạn; chúng lại được lực lượng không quân các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ chi viện tối đa. Trong lúc đó Sư đoàn chưa qua chiến đấu, một số hình thức chiến thuật chưa học, còn gần một nửa số quân chưa được huấn luyện cơ bản, chiến trường mới lạ. Liệu có hoàn thành nhiệm vụ được không? - Nhiều cán bộ tỏ ra băn khoăn, lo lắng. Tuy nhiên, được chiến đấu trong đội hình Quân đoàn 4 - một quân đoàn chủ lực bao gồm các đơn vị đã dạn dày trong khói lửa của cuộc chiến tranh, đã từng lập chiến công vang dội ở Bàu Bàng, Đồng Xoài, Bình Giã..., "với tính chất là một quân đoàn chủ lực cơ động, bố trí hoạt động trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, chủ yếu là tiêu diệt địch, giải phóng dân, đồng thời làm nòng cốt trong ba thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vũ trang và chính trị của quần chúng ở nông thôn và đô thị; tạo ra và thúc đẩy cao trào đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị tại chiến trường, sẵn sàng đảm nhận một hướng chiến lược, phối hợp chiến trường toàn Miền, tiến lên giành thắng lợi quyết định"1 (Trích Nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn 4 ngày 25 tháng 7 năm 1974). Tính chất, chức năng và nhiệm vụ của Quân đoàn đã nói lên đầy đủ cả thời gian và không gian, cả đặc điểm và nhiệm vụ, cả sở trường hoạt động, tác chiến và xây dựng, càng chứng minh sự gắn bó với địa bàn, với dân, với Đảng, với chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong cán bộ quân đoàn có nhiều đồng chí đã từng đi từ buổi cây tầm vông, lựu đạn đốt ngòi, đã từng lặn lộn chiến đấu gian khổ, bám trụ kiên cường, đã đánh những trận oanh liệt, lập công vẻ vang từ những nám 1947 - 1948 ở La Ngà, Phương Lâm, Định Quán... đã từng trải qua những năm tháng thiếu thốn, gian khổ. Các anh đã sống và chiến đấu ở chiến trường này từ những năm "Nam tiến" và bây giờ là những người chỉ huy cả một quân đoàn hùng mạnh, ở các anh là cả một kho tàng kinh nghiệm vô giá về chiến đấu và xây dựng, về bám dân, bám đất ngay tại chiến trường. Những điều đó rất quý đối với một đơn vị mới vào chiến trường. Đó là cả một kho tàng kinh nghiệm để Sư đoàn học tập. Vì vậy mà những suy nghĩ, lo âu, băn khoăn của cán bộ đã dần dần vợi đi. Chiến trường mới lạ đã nhanh chóng trở nên thân quen. Sư đoàn rất tự tin khi bước vào tham gia Chiến dịch mùa Xuân năm 1975 lịch sử. Ngày 2 tháng 3 năm 1975, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp nghiên cứu nhiệm vụ trên giao, đánh giá toàn diện về địch, về ta, khả năng chiến đấu của Sư đoàn. Tại cuộc họp này, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn đã nhất trí nêu quyết tâm: "Phát huy vai trò, vị trí của toàn Đảng bộ, với tinh thần quyết chiến quyết thắng, kiên quyết chấp hành và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu. Tranh thủ mọi thời gian để tổ chức huấn luyện, hết sức coi trọng những kinh nghiệm của các đơn vị bạn, đưa đơn vị nhanh chóng thích nghi với chiến trường, khẩn trương bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ". Căn cứ nhiệm vụ trên giao, Sư đoàn tổ chức thành ba bộ phận: - Một bộ phận do Tham mưu trưởng Vũ Thang, phó Chính ủy Phạm Thành Minh trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 273 thay thế Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9), hoạt động tại khu vực Dầu Tiếng - Chơn Thành - Đường 13 (tỉnh Tây Ninh). Một bộ phận do Sư đoàn trưởng Trần Văn Trân, phó Tham mưu trưởng Hồ Đình Quý cùng Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 270, 266, 55 và các cơ quan đi chuẩn bị chiến trường ở hướng Đường 20 - Bà Rịa - Long Khánh. Một bộ phận do Chính ủy Trần Nguyên Độ, phó Tư lệnh Vũ Cao cùng Chủ nhiệm chính trị, Chủ nhiệm hậu cần và một số cán bộ cơ quan chỉ huy bộ đội vào vị trí tập kết và tổ chức huấn luyện cho chiến sĩ mới. Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ, ngày 4 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 273 thay Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 bảo vệ thị trấn Dầu Tiếng vừa được giải phóng, đồng thời chốt chặn, đánh địch, bảo vệ đoạn đường từ Bàu Bàng đến Chơn Thành (trên Đường 13). Con Đường 13 được rải nhựa dày, đường rộng tám đến mười mét, chạy qua An Lộc, Chơn Thành, Xóm Rốt xuống phía Nam qua Bàu Bàng, Lai Khê, Thủ Dầu Một và đi vào Sài Gòn. Từ những năm 1968 - 1972, Đường 13 đã nổi tiếng là "con đường đẫm máu và nước mắt" đối với Mỹ - Ngụy. Các đơn vị sừng sỏ "Anh cả đỏ", "Kỵ binh bay" của Mỹ, Sư đoàn 5, Sư đoàn 25 chủ lực Ngụy đã từng bị no đòn ở đây. Những tên làng Minh Hòa, Bến Cát, Bàu Bàng, Tàu Ô, Xóm Ruộng... còn ghi đậm chiến công của Quân giải phóng miền Đông Nam Bộ. Vào những tháng đầu năm 1975, khi mà thế tiến công chiến lược của ta đang áp sát hơn nữa vào Sài Gòn, thì con Đường 13 càng trở nên quan trọng. Nó là hành lang vận chuyển lực lượng và phương tiện cho miền Tây Nam Bộ, là một hướng cơ động lực lượng rất mạnh của ta từ phía Bắc khi có thời cơ tiến công giải phóng Sài Gòn. Vì vậy mà địch tăng cường phòng thủ, tăng cường phản kích, hòng chiếm lại các vị trí đã mất, đồng thời củng cố thành "lá chắn" ngăn chặn tuyến giao liên từ Đông sang Tây Nam Bộ của ta và bảo vệ Sài Gòn từ phía Bắc. Lực lượng địch tại đây gồm Liên đoàn 32 biệt động quân ở An Lộc, Liên đoàn 31 biệt động quân ở Chơn Thành, Tiểu đoàn 366 bảo an ở Xóm Rớt, Tiểu đoàn 36 biệt động ở nam Xóm Rớt, Chiến đoàn 7 và 8 của Sư đoàn 5 cùng với Chi đoàn xe tăng 182 ở Bàu Bàng. Sở chỉ huy Sư đoàn 5 đóng ở Lai Khê - Bên Cát. Với lực lượng đông đặc và thế đứng chân như vậy, địch hy vọng có đủ khả năng "phong tỏa" kiểm soát con đường, bảo vệ Sài Gòn từ phía Bắc. Sau khi được Sư đoàn 9 cung cấp tình hình và qua báo cáo của bộ phận cán bộ chuẩn bị chiến trường, Trung đoàn 273 thống nhất sử dụng lực lượng như sau: Tiểu đoàn 2 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phú, Chính trị viên Đặng Tố chỉ huy, vào tiếp quản và bảo vệ quận lỵ Dầu Tiếng. Lực lượng còn lại có nhiệm vụ chốt chặn, giữ vững con Đường 13 từ Xóm Rớt về Bàu Bàng, bảo vệ con đường cơ động của ta từ miền Đông sang miền Tây Nam Bộ. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:47:12 am Đêm 5 tháng 3, các đơn vị hành quân tới vị trí và suốt đêm ấy khẩn trương xây dựng trận địa chốt.
Sáng hôm sau, trời vừa hừng đông, sương sớm còn phủ kín cánh rừng thưa, một đại đội thuộc Tiểu đoàn 36 biệt động quân đã bất ngờ tiến công lấn chốt ở phía Đông Đường 13 chếch về phía nam Xóm Rớt gần 1 km. Đại đội 9 cảnh giác cao, nổ súng kịp thời, diệt tại chỗ 10 tên, bọn sống sót vội tháo chạy. Ngày 7, địch dùng pháo đánh vào chốt Đại đội 9, dọn đường cho một đại đội khác của Tiểu đoàn 31 biệt động quân tiến công lên chốt. Lúc này Đại đội 9 chỉ để Trung đội 1 do Trung đội trưởng Nguyễn Văn Va chỉ huy ở lại giữ chốt. Với tinh thần tiến công, mỗi viên đạn phải diệt một quân thù, Trung đội 1 đã chiến đấu kiên cường giữ vững trận địa. Chiến sĩ Phạm Tiệp với 18 quả lựu đạn, liên tiếp tung vào đội hình địch, diệt hàng chục tên, đánh lui một hướng tiến công của địch. Chiến sĩ bắn tỉa Lê Hồng Thái cứ mỗi viên đạn diệt một tên. Suốt ngày 7 tháng 3, Trung đội 1 đã đánh bật tám đợt phản kích của bộ binh địch. Trận địa chốt vẫn đứng vững, án ngữ một quãng dài phía nam Xóm Rớt, sát phía Đông Đường 13. Đêm 7 tháng 3, Trung dội 1 họp rút kinh nghiệm, bổ sung tình huống vào phương án chiến đấu và chuẩn bị sẵn sàng cho những trận đánh ngày hôm sau. Cuộc họp thống nhất: Phải chủ động tiến công địch từ xa, không ngồi trong chốt chờ địch đến mới đánh. Sáng ngày 8 tháng 3, các đồng chí Dương Mạnh Dằn, Nguyễn Minh Thắng, Trần Văn Tơ, Phạm Tiệp rời khỏi vị trí chốt, lợi dụng địa hình, tiếp cận vào vị trí đứng chân của địch và bất ngờ tiến công, đánh sập ba lô cốt một ụ súng đại liên, diệt tại chỗ 25 tên, số địch còn lại chạy vào Xóm Rớt. Cùng ngày, từ phía Dầu Tiếng, địch dùng một liên đội xe tăng, yểm trợ cho bộ binh nống ra vùng giải phóng của ta. Tiểu đoàn 2 nổ súng kịp thời, đánh bại cuộc phản kích của địch, bắn cháy bốn xe tăng, bắt sống hơn 20 tên. Khẩu đội trưởng Phương Văn Dày dùng ĐKZ bắn cháy chiếc xe tăng địch đầu tiên. Tiếp theo Phương Văn Dày lại xuất hiện dũng sĩ bắn xe tăng Đinh Quốc Sắc. Hai năm về trước, khi còn huấn luyện ở miền Bắc, Đinh Quốc Sắc chỉ có một suy nghĩ "muốn rèn luyện tốt, phải lao mình vào trong gian khổ, ác liệt vì nơi đó sẽ tạo ra mọi vẻ đẹp". Những ngày trên thao trường nóng như lửa, những đêm lần mò trong mưa hành quân diễn tập, Đinh Quốc Sắc đã chăm chỉ, miệt mài hăng say rèn luyện. Được giao giữ súng B.41, Sắc vô cùng sung sướng: "Tổ chức đã tin cậy giao cho mình thứ hỏa lực lợi hại này, mình phải làm chủ nó như người công nhân sử dụng thành thạo chiếc búa, chiếc kìm. Mỗi trái đạn phải diệt một xe tăng, một lô cốt địch!". Tới chiến trường, Sắc xung phong lên chốt. Vừa chuẩn bị xong công sự, nhá tạm nắm cơm, đã nghe ì ầm tiếng xe tăng vọng lại. Sắc phán đoán hướng đi và bàn với Trung đội trưởng Trần Thanh Đạo: "Muốn giữ được chốt phải đánh chúng từ xa. Trung đội trưởng cho tôi ra chặn đầu xe tăng lại". Trung đội trưởng đồng ý, Sắc xách B.41 vận động tới vị trí có lợi nằm chờ. Nhưng tiếng rú của xe tăng xa dần. - Quái! Chúng chạy đường khác à? Định lấn chốt Đại đội 7 chắc? Sắc cùng đồng đội chạy tắt đón đầu. Đúng như dự đoán, chiếc xe tăng đi đầu bò ra cảnh giới cho gần chục chiếc đi sau cắt đường định càn bừa lên chốt Đại đội 7. Bí mật luồn lách, lợi dụng địa hình có lợi, Đinh Quốc Sắc kê súng ngắm chiếc xe tăng cảnh giới. Viên đạn đỏ lừ lao vút đi, chiếc xe tăng bốc cháy dữ dội. Bọn địch tập trung hỏa lực bắn xối xả về phía Sắc. Được đồng đội yểm hộ, anh ôm súng lăn mấy vòng ra khỏi mục tiêu lộ, nâng súng bắn phát thứ hai. Viên đạn vun vút lao vào cụm xe tăng: lại một chiếc nữa bốc cháy, cả bầy xe tăng tháo chạy. Cuộc càn của gần chục xe tăng địch bị bẻ gãy. Sáng 9 tháng 3, địch lại dùng xe tăng tiến công lấn chốt Đại đội 5. Đinh Quốc Sắc cắt rừng non đón đầu cũng là lúc bầy xe tăng địch lọt vào trận địa Trung đội 1. Chiếc thứ nhất vừa mò đến đã dính đạn B.41 của Sắc, bốc cháy. Đội hình xe tăng địch rối loạn, Sắc bắn cháy thêm chiếc nữa. Bầy xe tăng tháo chạy, bọn bộ binh cũng nháo nhác tháo lui. Trung đội 1 truy kích; diệt gần 30 tên ngay trước chốt của mình. Chốt chặn được 20 ngày thì nhiệm vụ của Trung đoàn phát triển. Ngày 25 tháng 3, phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 Lê Ngọc Bì giao cho Trung đoàn 273: "Ngoài nhiệm vụ chốt giữ, không cho địch từ Bàu Bàng lên và từ Chơn Thành chạy về, Trung đoàn sử dụng một lực lượng cùng với Sư đoàn 9 tham gia đánh vào chi khu quân sự quận lỵ Chơn Thành". Nhận được lệnh, Trung đoàn 273 sử dụng Tiểu đoàn 1 do Tiểu đoàn trưởng Chu Đức Hùng và Chính trị viên Đặng Xuân Lợi chỉ huy, làm nhiệm vụ chốt giữ, đánh địch từ Bàu Bàng lên ứng cứu cho quận lỵ Chơn Thành. Đại đội 11 do đại đội trưởng Hoàng Văn Anh và Chính trị viên Nguyễn Trọng Phủ chỉ huy, tiến công tiêu diệt địch tại Xóm Rớt (nam Chơn Thành 3 km). Tiểu đoàn 2, Đại đội 9 và Đại đội 10 (Tiểu đoàn 3) đánh vào Chơn Thành dưới sự chỉ huy của Tham mưu trưởng Sư đoàn Vũ Thang và phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 273 Nguyễn Văn Giáp. Đúng 5 giờ ngày 30 ngày 31 tháng 3, tiếng súng tiến công vào Chi khu quân sự quận lỵ Chơn Thành bắt đầu. Đại đội 7 được chọn làm đơn vị mở cửa. Sau quả bộc phá đầu tiên, địch tập trung bắn xối xả vào cửa mở, đại đội trưởng Hoàng Sĩ Hối bị thương nặng, Chính trị viên Bùi Công Bình hy sinh, bảy chiến sĩ ngã xuống ngay hàng rào ngoài cùng. Phó đại đội trưởng Phạm Văn Tiến hô lớn: - Các bộc phá viên theo tôi, quyết mở bằng được cửa mở! Quả bộc phá của Tiến xé tung hai lớp rào, và Tiến cũng hy sinh. Thêm một số chiến sĩ thương vong, cửa mở đã khai thông, nhưng Đại đội 7 hầu như mất sức chiến đấu. Trong lúc đó, Đại đội 5 bị lộ ngay từ đần, địch tập trung hỏa lực đánh vào trận địa. Đại đội 5 phải chuyển sang đột kích. Vượt qua cửa mở, dập tắt được hai hỏa điểm đầu cầu, đánh sập thêm được ba lô cốt, nhưng lực lượng của Đại đội 5 không đủ sức phát triển vào tung thâm. Địch lại tập trung phản kích dữ dội, hướng chính gặp khó khăn lớn. Mờ tối ngày 31 tháng 3, Quân đoàn ra lệnh cho các lực lượng chuyển sang vây ép; dùng pháo binh bắn phá liên tục vào các mục tiêu trong chi khu, gây cho chúng nhiều tổn thất. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Ba, 2022, 07:48:13 am 7 giờ sáng ngày 1 tháng 4, hai tiểu đoàn thuộc Chiến đoàn 8 vào 20 xe tăng của Sư đoàn 5 địch từ Bàu Bàng lên ứng cứu cho đồng bọn đang bị vây ép tại quận lỵ Chơn Thành. Chúng vừa lò dò tới ấp Xà Mách đã lọt vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 1, bị diệt gọn hai đại đội, bắt sống 103 tên, bắn cháy năm xe tăng. Số còn lại tháo chạy về Bàu Bàng. Âm mưu chi viện cho Chơn Thành của địch bị bẻ gãy.
Đúng 22 giờ 40 phút ngày 1 tháng 4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thông báo: "Địch ở Chơn Thành bỏ chạy, Sư đoàn 9 đang truy kích trên hướng ra Sông Bé". Quân đoàn lệnh cho Trung đoàn 273 chuẩn bị đón đánh địch từ Chơn Thành chạy về Bàu Bàng; đồng thời không cho cánh quân địch từ Bàu Bàng lên đón đám tàn quân ở Chơn Thành chạy về. Trung đoàn 273 bố trí lại lực lượng theo phương án chiến đấu mới. Toàn Trung đoàn bí mật chuẩn bị trận địa với tư tưởng chỉ đạo: Nắm vững thời cơ, vận động nhanh, hiệp đồng chặt chẽ, nhanh chóng bao vây chia cắt, tiêu diệt gọn từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch, làm chủ chiến trường. 2 giờ sáng ngày 2 tháng 4, các đơn vị đã chuẩn bị xong và sẵn sàng xuất kích. 4 giờ 30, một tốp địch lọt vào trận địa cối 82 của Đại đội 14. Anh em nổ súng, diệt một tên đại úy, bắt sống hai tên, có một thiếu úy. Tù binh khai: Tiểu đoàn 366 bảo an và một số tàn binh của Tiểu đoàn 31 biệt động quân được lệnh bỏ Xóm Rớt rút chạy về Bàu Bàng lúc 20 giờ ngày 1 tháng 4. Hiện đang hành quân phía sau. Trung đoàn trưởng Hoàng Trung Trực lệnh cho các đơn vị chuẩn bị chiến đấu. Đúng 5 giờ 15 phút ngày 2 tháng 4, đại đội đi đầu của địch lọt vào trận địa phục kích của Đại đội 14. Lập tức Đại đội 14 nổ súng tiến công. Bị đòn phủ đầu, bọn địch hốt hoảng chạy sang hướng Tây, bị Đại đội 16 hạ nòng 12,7 bắn quét, diệt một số lớn. Lúc này Tiểu đoàn 3 và Đại đội 20 cũng bắt đầu nổ súng. Từ phía Tây - Tây - Nam Đường 13, các Đại đội 9, 14, 16, 20 đánh sang. Phía Đông Đường 13, các Đại đội 10, 11 đánh tới. Bọn địch bị đòn bất ngờ, rồi loạn đội hình, tìm đường tháo lui. Các chiến sĩ ta cắt địch ra mà đánh; xác địch ngổn ngang trên trận địa. Một số tên sống sót kéo nhau chạy trở lại hướng Chơn Thành, bị ngay Tiểu đoàn 2 từ Chơn Thành chặn lại. Tiểu đoàn 366 bảo an và số tàn quân Tiểu đoàn 31 biệt động quân bị tiêu diệt hoàn toàn. Cũng trong ngày 2 tháng 4, bọn địch điều Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 8) từ Bàu Bàng lên đón đám tàn quân trên. Chúng vừa tối ấp Xà Mách, bị Tiểu đoàn 1 chặn đánh, diệt tại chỗ 81 tên, bắt sống 23 tên. Tiểu đoàn 2 địch bị xóa sổ. Sang ngày 3 tháng 4, Tiểu đoàn 1 diệt thêm 120 tên. Tiểu đoàn 3 diệt 254 tên, Đại đội 2 Sông Lam diệt 86 tên. Toàn bộ quân địch từ Chơn Thành chạy về Bàu Bàng và từ Bàu Bàng lên Chơn Thành ứng cứu hoàn toàn bị tiêu diệt và bắt sống. Gần một tháng làm nhiệm vụ chốt chặn, trong điều kiện ăn, ngủ dưới hầm, vật lộn với những cơn khát cháy cổ, với muỗi rừng, với biết bao nhiêu đợt phản kích pháo kích ác liệt của địch, các chiến sĩ Trung đoàn 273 đã kiên cường trụ vững, liên tục đánh địch, giữ vững chốt, cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn bị chọc thủng một mảng lớn, tạo điều kiện cho lực lượng ta áp sát hơn nữa vào Sài Gòn. Hành lang vận chuyến từ miền Đông sang miền Tây Nam Bộ được thông suốt, bảo đảm cho đồng bằng sông Cửu Long có đầy đủ tiềm lực và khả năng để bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong chiến dịch Mùa Xuân 1975 lịch sử. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở hướng Đường 13, Trung đoàn 273 lật cánh về tỉnh Long Khánh trong đội hình chiến đấu của Sư đoàn ở mặt trận phía Đông Sài Gòn - Gia Định. Ngày 26 tháng 3, Trung đoàn 270 hành quân tới Đồng Xoài thì được lệnh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 tiếp tục xuyên rừng đi tiếp về hướng đông 20 làm lực lượng dự bị cho Sư đoàn 7 và sẵn sàng đánh địch lấn chiếm các chi khu Định Quán, La Ngà, Phương Lâm do Sư đoàn 7 vừa giải phóng. Từ Đồng Xoài, qua Bù Đốp, xuyên rừng Mã Đà, đến sáng 18 tháng 3, toàn Trung đoàn đã tới bờ sông Đồng Nai. Tại đây, đồng chí Bùi Cát Vũ, Phó tư lệnh Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ cụ thể: "Trung đoàn 270 (thiếu Tiểu đoàn 6) chốt giữ Đường 20 từ cua chữ C đến Phương Lâm, đồng thời cùng với trinh sát Sư đoàn nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị cho Trung đoàn 270 đánh vào Túc Trưng và Trung đoàn 266 đánh vào Gia Tân - Gia Kiệm". Sau khi Định Quán, La Ngà thất thủ, bọn địch ở Túc Trưng, Kiệm Tân phải co lại. Trước tình hình đó, viên tướng Nguyễn Văn Toàn. Tư lệnh Quân đoàn 3 và Quân khu 3 họp Bộ tham mưu của y ở Biên Hòa, nhận định: "Chi khu Định Quán kiên cố như vậy vẫn bị san bằng, La Ngà cũng rơi vào tay Cộng sản, Đường 20 coi như đã thuộc về họ. Rồi sẽ đến lượt Túc Trưng, Kiệm Tân. Đối phương mà cắt được ngã ba Dầu Giây thì Xuân Lộc đi đời và Biên Hòa cũng bị uy hiếp nghiêm trọng". Y chỉ thị cho Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn 18 phải nhanh chóng củng cố căn cứ Gia Tân, Gia Kiệm, Túc Trưng, Núi Đốt, lập một phòng tuyến ngăn chặn tại La Ngà, cố giữ cho bằng được, đến mùa mưa sẽ phản công chiếm lại. Lê Minh Đảo tung toàn bộ Chiến đoàn 52, ba tiểu đoàn bảo an, 12 khẩu pháo 105, hai khẩu pháo 155, một chi đoàn xe tăng, xe bọc thép 20 chiếc để củng cố và bảo vệ Túc Trưng và Núi Đốt. Hàng ngày, chúng dùng pháo bắn phá liên tục lên La Ngà, Định Quán. Từng tốp máy bay A37 và F5 thay nhau ném bom vào các khu rừng xung quanh, thường xuyên tung biệt kích, thám báo lùng sục thăm dò, gài mìn. Chúng còn sử dụng bộ binh từng bước lấn đất, nống ra hai bên Đường 20 từ 500 đến 1.000 mét. Đêm 20 tháng 3, chúng cho Tiểu đoàn 2 và đại đội trinh sát của Chiến đoàn 52 nống ra lấn chiếm Núi Tràn - một Điểm cao quan trọng án ngữ phía Tây cầu La Ngà, phía Bắc Túc Trưng 4km, nằm sát Đường 20. Bộ Tư lệnh Sư đoàn lệnh ngay cho Trung đoàn 270 khẩn trương cơ động lực lượng ra tiêu diệt địch khi chúng chưa kịp đào công sự. Thực hiện nhiệm vụ trên, 4 giờ sáng ngày 31 tháng 3, Tiểu đoàn 5 vượt sông Đồng Nai, áp sát chân Núi Tràn về phía Tây - Bắc. Hai đại đội của Tiểu đoàn 4 vượt sông La Ngà, áp sát Đường 20 Đông - Nam Núi Tràn. Ở Sở chỉ huy Trung đoàn, Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Vân và Chính ủy Lê Nguyễn theo dõi và chỉ đạo chặt chẽ các mũi. Đây là trận đầu Trung đoàn 270 chiến đấu đánh địch ở dã ngoại. Khi bàn về cách đánh, sở chỉ huy và phân đội tác chiến đã dự kiến hai phương án: - Bao vây chặt và đánh lấn từ ngoài vào. - Thọc sâu, chia cắt địch ra để tiêu diệt. Mọi người thống nhất theo phương án 2, kết hợp với bao vây chặt. Yêu cầu của trận đánh là phải táo bạo, bất ngờ, đánh đau, đánh hiếm, đánh cho địch từ bỏ ý đồ lấn chiếm vùng giải phóng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:09:50 am 5 giờ sáng ngày 31 tháng 3, hai mũi đột kích của Tiểu đoàn 5 chọc thẳng vào trung tâm Điểm cao. Mũi của đại đội trưởng Đại đội 6 Nguyễn Văn Tý đánh vào khu chỉ huy. Mũi của đại đội trưởng Đại đội 7 Vi Văn Bê đánh hất từ phía Tây - Tây - Bắc Điểm cao. Địch, lớp chết, lớp nhốn nháo bỏ chạy xuống chân đồi, bị Đại đội 1 và Đại đội 2 chặn đánh. Kết quả hai đại đội địch bị diệt gọn, hai đại đội bị thiệt hại nặng. Cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của Tiểu đoàn 2 Ngụy bị đập tan và cũng từ đó bọn địch co cụm về Túc Trưng, không dám mở các cuộc hành quân giải tỏa.
Theo Đường 20 (Đà Lạt về Sài Gòn), quân ta đã áp sát đến Túc Trưng. Thời gian này, trên Mặt trận Tây Nguyên, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, đứng đầu là Đại tướng Văn Tiến Dũng và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, với tinh thần nỗ lực vượt bậc, quân ta đã hoàn thành việc đánh chiếm Buôn Ma Thuột một cách nhanh chóng, dồn dập, gây niềm tin tưởng, phấn khởi rất lớn cho tất cả các đơn vị, các chiến trường. Trận Buôn Ma Thuột hiểm và mạnh quá, tiếp đến trận đánh diệt quân viện ở phía Đông Buôn Ma Thuột nhanh và gọn quá làm cho địch hốt hoảng, rôi loạn, phải rút chạy khỏi Tây Nguyên đưa quân về đồng bằng hòng giữ lực lượng và giữ đất. Nhưng nào có đưa được lực lượng về giữ được đất. Chúng đã bị tiêu diệt gần như hòan toàn trên đường rút chạy. Trên mặt trận Trị - Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, cho đến cuối tháng 3 năm 1975, với sự chỉ đạo tài tình của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, quân và dân ta đã tiêu diệt, làm tan rã và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng hoàn toàn các tỉnh trong khu vực này. Cùng với chiến trường Tây Nguyên, chiến thắng Huế - Đà Nẵng làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng về mặt chiến lược hoàn toàn có lợi cho ta, trực tiếp đánh bại âm mưu co cụm chiến lược của địch, làm cho Ngụy Sài Gòn suy yếu, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng áp đảo trong trận quyết chiến cuối cùng. Sau đòn đánh trúng huyệt vào thị xã Buôn Ma Thuột, ta đã bắt đầu khai tử cho quân Ngụy Sài Gòn... Sau Quân khu 2, đến Quân khu 1 địch bị xóa sổ. Một loạt các tỉnh từ Phan Rang trở ra đã được giải phóng. Trước thời cơ nghìn năm có một, chấp hành chủ trương sáng suốt của Bộ Chính trị, các binh đoàn chủ lực hùng mạnh của ta được lệnh tiến thẳng về phía Nam, áp sát Sài Gòn. Đường hành lang từ các cánh, các hướng nối liền các con đường vận chuyển chiến dịch và chiến lược.Từng đoàn xe vận tải từ Tây Nguyên, từ Nam Trung Bộ đi suốt miền Đông, qua miền Tây Nam Bộ. Sau khi giải phóng các chi khu Dầu Tiếng, Chơn Thành, An Lộc phía Bắc Sài Gòn, ta đã áp sát Bàu Bàng. Phía Tây Sài Gòn, ta đã đến bờ sông Vàm Cỏ Đông, phía Đông - Bắc quân ta đã bao vây Gia Kiệm. So sánh lực lượng quân sự và tình thế chính trị chuyển biến mạnh mẽ, đựa đến một bước ngoặt hoàn toàn bất lợi cho địch. Thế bố trí chiến lược "mạnh ở hai đầu" của chúng bị ta phá vỡ từng mảng... Nhưng ngoan cố và xảo quyệt vốn là bản chất của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Bọn cuồng chiến Mỹ còn cố sức bày mưu, tính kế hòng cứu vãn tình hình. Chúng phái Đại tướng Uây-en, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, người đã cuốn lá cờ Mỹ cùng đơn vị Mỹ cuối cùng cút khỏi miền Nam hai năm về trước, đến Sài Gòn trực tiếp vạch kế hoạch cho bọn Ngụy xây dựng một phòng tuyến mạnh bảo vệ Sài Gòn, ngăn chặn quân ta từ xa ở Phan Rang. Vâng lệnh quan thầy, bọn Ngụy Sài Gòn vội vàng củng cố khẩn cấp tuyên phòng thủ Phan Rang, đồng thời hình thành từ ngoài vào trong nhiều tuyến ngăn chặn, bao gồm nhiều sư đoàn bộ binh và các đơn vị thiết giáp, pháo binh. Các khu vực phòng thủ then chốt được tăng cường thêm mìn, dây thép gai, vật chướng ngại chống tăng, kết hợp với hệ thống đồn bốt bảo an, dân vệ thành một màng lưới dày đặc, nhằm buộc quân ta dũi dần từng bước, tốc độ tiến công bị chậm lại. Trong một loạt hệ thống phòng thủ dày đặc ấy, bọn Mỹ - Ngụy đã chọn thị xã Xuân Lộc làm tuyến phòng ngự trọng yếu để bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông - Bắc, một phòng tuyến ngăn chặn hai đường tiến của quân ta về Sài Gòn: Đường số 1 và Đường số 20. Nhà trắng bảo Thiệu phải: "Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ cho được Xuân Lộc, nếu để mất Xuân Lộc thì Hoa Kỳ sẽ cắt viện trợ", "Nếu để mất Xuân Lộc thì yếu tố quân sự sẽ tuyệt vọng"... Đại sứ Mỹ Ma-tin cũng khuyên Thiệu: "Quân lực Việt Nam cộng hòa phải lấy tiểu khu Xuân Lộc làm bằng chứng của sự cố thủ đổi với Cộng sản". Nguyễn Văn Thiệu hứa hẹn với quan thầy: "Dù có chết, tôi cũng giữ cho được Xuân Lộc". Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn 18 Ngụy cũng huênh hoang: "Sẽ đánh một trận oai hùng cho thế giới biết...". Thiệu đã tập trung vào đây toàn bộ Sư đoàn 18 gồm ba Chiến đoàn 43, 48, 52; bốn Tiểu đoàn bảo an 340, 342, 343, 367; hai Tiểu đoàn pháo binh 181, 192; hai chi đoàn xe tăng, thiết giáp của Thiết đoàn 5; trên 3.000 dân vệ, quân cảnh và phòng vệ dân sự. Sau này chúng đã ném vào thị xã này lúc cao nhất đến 9 chiến đoàn bộ binh, lính dù, lính thủy đánh bộ và Sư đoàn 3 không quân trực tiếp chi viện. Về phía ta, thắng lợi to lớn vừa qua có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu một bước ngoặt mới trong cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam, đánh dấu sự phát triển mới trong cục diện chung, một bước suy sụp mới của Mỹ - Ngụy. Địch đang có ý đồ thực hiện co cụm chiến lược quy mô lớn nhằm tập trung lực lượng lớn trên những phòng tuyến quan trọng, hòng tạo một thế tương đối vững, hòng ghìm sức tiến công của ta, hy vọng kéo dài được đến mùa mưa. Vì vậy, chúng ta cần tranh thủ thời gian hành động khẩn trương, táo bạo tiến công, thừa thắng xốc tới, liên tục tiến công, làm cho địch không kịp ứng phó, không kịp co cụm, củng cố. Bộ Chính trị chủ trương "Tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa". Muốn giải phóng Sài Gòn, chúng ta phải đập nát những phòng tuyến vòng ngoài kiên cố của chúng. Phòng tuyến thị xã Xuân Lộc của địch đã được Bộ chỉ huy chiến dịch ta khoanh tròn đậm nét chì đỏ trên tấm bản đồ tác chiến. Ngày 4 tháng 4, Thiếu tướng Hoàng cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ: "Sư đoàn 341 (thiếu Trung đoàn 273) cùng với Sư đoàn 7 tiến công tiêu diệt Sư đoàn 18 và toàn bộ lực lượng địa phương của địch tại thị xã Xuân Lộc, hỗ trợ đồng bào địa phương, cùng với địa phương tiến công và nội dậy, giải phóng tỉnh Long Khánh". Hướng tiến công: Bắc - Tây - Bắc. Mục tiêu: Dinh tỉnh trưởng, các khu vực cố vấn Mỹ, Trung tâm thông tin, cảnh sát, Tình báo CIA, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 43 và bốn Tiểu đoàn bảo an 340, 342, 243, 367, sẵn sàng đánh địch từ Núi Thị, Gia Tân lên chi viện cho Xuân Lộc. Thời gian nổ súng: Đêm 8 rạng 9 tháng 4". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:10:38 am Nhận nhiệm vụ xong, Sư đoàn trưởng Trần Văn Trân cùng các đồng chí phó Tham mưu trưởng Hồ Đình Quý, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 270 Nguyễn Thế Vân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 266 Nguyễn Quang Thuật, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 55 Lê Văn Cúc và các cán bộ cơ quan sư đoàn, trung đoàn khẩn trương đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường.
Vượt qua ngầm La Ngà, đoàn cán bộ trinh sát vào thắng hậu cứ Tỉnh ủy Long Khánh và Thị ủy thị xã Xuân Lộc để cùng với địa phương trao đổi chuẩn bị kế hoạch phối hợp hành động. Đồng chí Tư Lạc Tỉnh đội trưởng Long Khánh và đồng chí Nam Thắng, Bí thư Thị ủy Xuân Lộc đã báo cáo toàn bộ tình hình địch, tình hình dân và địa hình trong khu vực tác chiến. Hội nghị đã bàn bạc kỹ về những tình huống có thể xảy ra và thống nhất phương án tác chiến. Riêng về sử dụng lực lượng địa phương, Hội nghị nhất trí: đại đội địa phương do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh trực tiếp nắm, có nhiệm vụ hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Chọn một số du kích làm nhiệm vụ dẫn đường cho trinh sát Sư đoàn và giúp đơn vị chuẩn bị vị trí giấu quân. Toàn bộ tù binh, hàng binh sẽ giao cho địa phương quản lý. Sau Hội nghị, đoàn cán bộ được các tổ trinh sát dẫn vào tận hàng rào sát thị xã. Lực lượng vũ trang địa phương cử các tổ đưa các mũi trinh sát của Sư đoàn, trung đoàn luồn qua các cứ điểm trong thị xã. Ba tổ trinh sát Sư đoàn do Trưởng ban trinh sát Lê Anh Thiện chỉ huy. Ba tổ trinh sát của Trung đoàn 2 56 do Trưởng tiểu ban trinh sát Trung đoàn Nguyễn Bá Núc chỉ huy đã vào bám suốt mấy đêm liền trong thị xã. Thưởng ban trinh sát Lê Anh Thiệu đã vào tận nhà tên Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Phúc. Các mục tiêu tiến công, vị trí cửa mở, cấu trúc các hàng rào, các vật chướng ngại đã được trinh sát xác định. Cùng với lực lượng trinh sát tiền nhập, điều tra địch ban đêm, sáu Đài quan sát của sư đoàn, bốn Đài của hai trung đoàn bộ binh cùng các bộ phận trinh sát kỹ thuật, kết hợp với khai thác tù binh, đã cơ bản nắm chắc các quy luật hoạt động của địch và những lực lượng của chúng tại thị xã. Các đầu mối cơ sở hoạt động trong lòng địch cũng đã cử người về căn cứ báo cáo và nhận kế hoạch mới. Đêm 5 tháng 4, đoàn cán bộ trinh sát luồn vào trong các hàng rào để xem lại lần cuối. Mọi sự đi lại của địch trong thị xã vẫn bình thường, chứng tỏ chúng chưa biết gì về những hoạt động của ta. Chúng có ngờ đâu đã gần một tuần nay những chiến sĩ trinh sát của ta đang dán mình xuống đất để quan sát, đánh dấu các mục tiêu nơi chúng ở. Và cũng trớ trêu thay, đêm 24 tháng 3, Đài BBC đưa tin: "Sư đoàn 341 đã vượt sông Mỹ Chánh, đang áp sát Thành phố Huế". Không phải áp sát Thành phố Huế, mà đang áp sát cửa ngõ đông - bắc Sài Gòn. Sáng ngày 6 tháng 4, Đảng ủy Sư đoàn họp thông qua quyết tâm chiến đấu. Đảng ủy xác định: Nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị trong kế hoạch tác chiến của Sư đoàn, Quân đoàn có quan hệ mật thiết đến việc thực hiện nhiệm vụ trọng đại của toàn chiến dịch. Vì vậv, tiêu diệt được Sư đoàn 18, giải phóng được tỉnh Long Khánh thì sẽ phá vỡ được hệ thống phòng ngự của địch ở Đông - Bắc Sải Gòn, tạo điều kiện áp sát Sài Gòn, tác động rất lớn đến phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn - Gia Định, đẩy tốc độ suy sụp của quân Ngụy vốn đã dao động mạnh càng sa sút hơn. Thị xã Xuân Lộc là mục tiêu phòng ngự rất trọng yếu của địch ở Quân khu 3 Ngụy, bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông, một trọng điểm phòng ngự từ xa của Mỹ - Ngụy. Nếu giữ được Xuân Lộc, Long Khánh thì tuyến Biên Hòa - Nhơn Trạch - Bà Rịa - Vũng Tàu chưa trực tiếp bị uy hiếp. Sân bay Biên Hòa và cả sân bay Tân Sơn Nhất còn hoạt động được. Vì vậy, bằng mọi giá, địch cố giữ cho được Xuân Lộc - Long Khánh. Đây là trận đầu tiên Sư đoàn đánh tập trung hiệp đồng binh chủng, có trang bị kỹ thuật lớn vào một thị xã lớn. Trong lúc đó, các đơn vị đang trên đường hành quân vào vị trí tập kết, có đơn vị chưa đến, thời gian lại khẩn trương. Nhưng trong tình hình suy sụp không thể gượng nổi của Mỹ - Ngụy, trong sự lớn mạnh vượt bật của ta, Sư đoàn đang có những thời cơ mới, những điều kiện và nhân tố mới để hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, đây là một trận đánh có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng truyền thống chiến đấu và chiến thắng của Sư đoàn. Các cấp ủy đảng, chi bộ và các đơn vị phải quán triệt các yêu cầu sau: - Tranh thủ thời cơ, mạnh dạn, táo bạo thọc sâu, bao vây chia cắt, thực hiện đánh tiêu diệt và làm tan rã địch. - Đề cao tinh thần chủ động hiệp đồng chiến đấu, phát huy tinh thần độc lập chiến đấu, nhất là các trường hợp thọc sâu, bị địch chia cắt, hiệp đồng theo tiếng súng, tiến công kiên quyết, liên tục, tiêu diệt từng đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn địch, tiên tới tiêu diệt toàn bộ quân địch trên địa bàn tác chiến và sẵn sàng nhận nhiệm vụ tiếp theo. - Phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. - Triệt đê chấp hành mọi mệnh lệnh chiến đấu, chấp hành nghiêm kỷ luật chiến trường và các chính sách. Phương án tác chiến của Sư đoàn được Bộ Tư lệnh Quân đoàn phê chuẩn. Chiều ngày 6 tháng 4, Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị: - Trung đoàn 266, được bổ sung Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 270 thay Tiểu đoàn 8 (Quân đoàn đã sử dụng nghi binh ở hướng TÚc Trừng), được tăng cường bốn khẩu cối 120, hai khẩu 85, hai khẩu 37 của Trung đoàn 55, trực tiếp tiến công vào các mục tiêu do Sư đoàn đảm nhiệm trong thị xã. - Trung đoàn 270 (thiếu Tiểu đoàn 5) đánh địch vòng ngoài, ngăn chặn địch từ Gia Tân, Núi Thị, không cho chúng ứng cứu, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu nếu Trung đoàn 266 gặp khó khăn. - Trung đoàn 55 (thiếu đại đội lựu pháo 122) bố trí một cụm pháo bắn trực tiếp, chi viện cho Trung đoàn 266 và kiềm chế các trận địa pháo của địch. Tiểu đoàn 12 pháo cao xạ 37 làm nhiệm vụ canh giữ bầu trời, sẵn sàng bắn máy bay, bảo vệ đội hình chiến đấu của Sư đoàn, đồng thời chuẩn bị đầy đủ các phần tử để có thể bắn tất cả các mục tiêu trên địa bàn tác chiến. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:12:53 am Sau khi nhận nhiệm vụ ở Sư đoàn, các đơn vị tiến hành họp Đảng ủy và triển khai công tác tổ chức chiến đấu.
18 giờ ngày 8 tháng 4, các đơn vị được giao nhiệm vụ đánh vào Xuân Lộc xuất phát. 0 giờ 30 phút ngày 9 tháng 4, Sợ chỉ huy Sư đoàn đă nhận được báo cáo từ các hướng: - Tiểu đoàn 5 đã áp sát bìa rừng cao su, đang to chức vượt trảng trống. - Tiểu đoàn 7 đã tới Bình Lộc Sở, đang vượt Đường 1 về lô cao su phía Đông. - Tiểu đoàn 9 đã vượt qua Suối Tre. - Các khẩu đội cối, cao xạ 37, pháo 85 đang cấu trúc trận địa. 4 giờ sáng, các hướng báo về: Bộ đội đã áp sát hàng rào, các trận địa pháo đã chuẩn bị xong phần tử. 5 giờ, ở hướng Tây - Bắc xảy ra tình huống nhân dân trong thị xã mở cổng ấp chiến lược đi làm nương, thấy bộ đội ta đào công sự ngay sát hàng rào, bà con đứng lưỡng lự ở cổng ấp. Để giữ bí mật đến giờ "G", Chính trị viên Đại đội 9 Tạ Quang Trung tới gặp nhân dân, đề nghị bà con đi làm và không một ai quay về nhà. Hai chiến sĩ được lệnh đứng chặn ngang cổng ấp đề phòng tình huống bất trắc. Đồng bào vui vẻ kéo nhau ra rẫy, không một ai quay trở lại. Trời vẫn còn tối và dày đặc sương mù. Cùng thời gian ấy, trên các trận địa pháo, các pháo thủ đang chỉnh tầm, hướng và sẵn sàng lao đạn. Trên đài quan sát, Tiểu đoàn trưởng Tạ Duy Bảo và đại đội trưởng Nguyễn Hữu Đa cũng đã đánh dấu xong cự ly các mục tiêu. Giờ "G" chỉ còn 10 phút nữa, nhưng sương mù vẫn còn dày. Sư đoàn điện lên Quân đoàn xin kéo dài thêm 10 phút nữa cho sương tan bót, nhìn mục tiêu rõ hơn. Quân đoàn chuẩn y. Trực ban tác chiến Lê Hải Anh điện phổ biên lại giờ "G" cho khai tử tiểu khu Xuân Lộc. Pháo chiến dịch và các trận địa pháo của Trung đoàn 55 đồng loạt nhả đạn. Từng đụn khói trùm lên các mục tiêu. Quả đạn 85 đầu tiên bắn trực tiếp, phá tung cụm ăn-ten của khu trung tâm thông tin. Quả lựu đạn 122 đầu tiên cũng bẻ gãy nốt cột ăng-ten trên đỉnh Núi Thị. Sau mỗi loạt đạn nổ, tiếng các chiến sĩ thông tin ở các đài quan sát pháo binh và các mũi tiến quân của bộ binh lại báo cáo về Sở chỉ huy Sư đoàn. Pháo bắn chính xác ngay loạt đầu đạn. Trúng khu trung tám thông tin... Bọn địch trong tiểu khu Xuân Lộc gào bọn pháo binh chi viện. Các trận địa pháo địch ở Núi Thị, Suối Tre, ngã ba Tân Phong bắn như vãi đạn dọc Đường số 1 về phía Bắc - Tây - Bắc. Chúng định dùng hàng rào lửa ngăn chặn bộ binh và phản pháo các trận địa của ta. Máy bay trinh sát vè vè trên bầu trời. Máy bay AD6, A37, F5 điên loạn, lồng lộn chúc đầu xuống trút bom. Các trận địa cao xạ 37 kịp thời nhả đạn, hất ngược chúng lên. Mặc cho bom đạn địch nổ đinh tai, nhức óc, mặc cho máy bay địch gầm rú xé rách bầu trời, các khẩu đội pháo vẫn giữ đúng phần tử rót vào các mục tiêu trong thị xã. Sau một trận mưa pháo khủng khiếp, phần lớn các hỏa điểm địch đã bị pháo ta phá hoại hoặc làm tê liệt. Đúng 6 giờ 40 phút, hai phát pháo hiệu đỏ rực bay vụt lên bầu trời. Các chiến sĩ bộ binh vọt dậy lao qua cửa mở, đánh thẳng vào các căn cứ. Tiểu đoàn 7 tiến công trên hướng Tây - Bắc - hướng tiến công chủ yếu vào mục tiêu. Tiểu đoàn 5, hướng Đông - Bắc, Tiểu đoàn 9 kẹp sườn bên phải Tiểu đoàn 7. Ở hướng Tiểu đoàn 5, Đại đội 5 được chọn làm đơn vị mở cửa. 4 giờ sáng, Đại đội 5 đã tới vị trí sát hàng rào và dùng kéo bí mật cắt được vài lớp. Đến giờ nổ sung, pháo binh cấp tập vào các mục tiêu thì tổ mở cửa của Nguyễn Xuân Loan, Nguyễn Văn Đấu, Trần Văn Ngọc đã đút bộc phá ống vào dưới lớp rào. Bộc phá nổ, xé tung đến hàng rào thứ năm. Địch phát hiện ra hướng cửa mở, tập trung hỏa lực bắn ra như mưa. Máy bay C.130 xổ từng tràng liên thanh vào con đường dẫn tới cửa mở. Một số chiến sĩ thương vong. Bộ phận hỏa lực của Đại đội 8 lên khẩu nào cũng bị thương, cửa mở gặp khó khăn, đội hình ùn lại. Khẩu đội trưởng Nguyễn Đăng Trinh vác khẩu ĐKZ lao lên sát hàng rào, lợi dụng mô đất cao, nhằm thắng khẩu đại liên đầu cầu của địch, néo cò. Hỏa điểm đầu tiên của địch bị dập tắt. Trinh diệt luôn hai khẩu đại liên của địch ở phía Trường Trung học Hòa Bình đẳng bắn ra cửa mở. Lợi dụng thời cơ, Nguyễn Văn Lái ôm bộc phá lao lên, giật nụ xòe phá tung thêm hai lớp rào nữa. Địch ở gác hai của Trường Trung học xả đại liên vào cửa mở. Lái hy sinh. Thêm một số đồng chí bị thương. Đại đội trưởng Nguyễn Quốc Hoàn vừa ôm bộc phá lao lên vừa nói: "Dù thương vong cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ. Hãy trả thù cho những đồng chí đã hy sinh!". Một viên đạn tiểu liên cực nhanh của địch dính vào tay trái Hoàn, ống bộc phá văng sang bên. Tiểu đội phó Nguyễn Xuân Hải nhào đến, ôm ống bộc phá đút vào hàng rào, giật tung lớp hàng rào thứ bảy thì gặp ngay lớp rào vướng chân là là mặt đất. Đại đội 5 quyết định mở thêm cửa thứ hai. Các xạ thủ súng ĐKZ Đinh Quang Tạo, Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Đăng Trinh ở Đại đội 8 tập trung bắn sập những hỏa điểm lợi hại của địch từ Trường Trung học Hòa Bình, từ trong các căn nhà, cũng là lúc Nguyễn Khắc Sơn mở xong cửa thứ nhất. Trung đội 2 do Nguyễn Xuân Loan chỉ huy cũng mở gần xong cửa thứ hai. Còn một lớp rào thì hết bộc phá ống, trợ lý tác chiến Tiểu đoàn 5 Lê Hồng Sơn lấy ván bắc qua hàng rào. Tiểu đoàn 5 ào ạt tiến qua hai cửa mở như những cơn lốc, tiêu diệt hàng loạt vị trí của hai Tiểu đoàn bảo an 340, 342 bảo vệ mé ngoài và thọc sâu vào các cứ điểm, các mục tiêu ở khu vực xung quanh Dinh tỉnh trưởng. Cùng lúc đó, ở hướng chủ yếu, Đại đội 1 Tiểu đoàn 7 đã mở gần xong cửa mở thì địch điều hỏa lực bắn vào cửa mở. Một số chiến sĩ thương vong. Chính trị viên Tiểu đoàn 7 Nguyễn Hữu Điệt bị thương vào tay phải. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Huyên điều khiển ĐKZ của Đại đội 4 lên diệt ngay cụm hỏa lực mới kéo tới của địch. Các đồng chí Trần Văn Quang, Nguyễn Viết Xuân chớp thời cơ mở xong cả hai cửa, cũng là lúc phát pháo hiệu đỏ rực vút lên. Tiểu đoàn 7 thành hình chữ A ào ạt công kích vào hướng Bắc - Đông - Bắc của thị xã. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:14:03 am Đến 7 giờ 05 phút, Tiểu đoàn 7 đã đánh chiếm xong khu vực Bắc nhà thờ, Tây - Bắc Dinh tỉnh trưởng, Tây - Bắc bến xe Văn Thành.
Ở hướng Tiểu đoàn 5, Đại đội 5 hình thành ba mũi, tiến công thần tốc, phát triển về phía Dinh tỉnh trưởng. Tiểu đoàn 9 cũng đã đánh chiếm và làm chủ khu gia bỉnh và nhà máy điện. 7 giờ 40 phút, cả ba tiểu đoàn đã thanh toán xong các mục tiểu khu thông tin, Khu cố vấn, Khu cảnh sát và đang hợp điểm tại khu vực Dinh tỉnh trưởng. Địch bị dồn cả vào khu vực này, lợi dụng các dãy nhà nhiều tầng kiên cố đặt đại liên, trung liên, M.79... bắn chặn các mũi tiến công của ta. Khẩu đội trưởng Nguyễn Đăng Trinh ôm khẩu ĐKZ đặt lên thùng phuy đất, bắn hỏng khẩu đại liên địch ở gác cao mé trái nhà thờ. Từ cánh phải Trường trung học, một toán địch co cụm bắn M.79, tiêu liên cực nhanh ra phía Trinh, một mảnh đạn cắm vào đùi Trinh. Đang băng bó, nghe anh em gọi phát hiện địch co cụm bắn vào đội hình bộ binh, nép sát người vào tường, Trinh vận động tới, vác khẩu ĐKZ lên vai bắn. Bọn địch giạt sang phòng cuối. Trinh quay nòng chuyển hướng bắn tiếp một phát. Cả mảng tường đố sập, bọn địch bị tiêu diệt. Thấy vết thương ở đùi Trinh ra nhiều máu, Chính trị viên Phạm Văn Bình bảo anh lùi về phía sau. Trinh nói: "Tôi còn chiến đấu được. Đề nghị xin thêm đạn". Tiểu đội chuyển thêm hai quả. Trinh vận động lên 200 mét, bắn hỏng khẩu đại liên của địch ở góc phải Nhà thờ. Lúc này, Trinh đã bị thương lần thứ hai. Anh giấu đồng đội, ngồi dựa vào tường định nghỉ một lát để lấy sức. Bỗng nghe chính trị viên Bình gọi: - Địch dùng xe tăng phản kích, đang tập trung ở ngã tư đường Quang Trung và Đường 1. - Chính trị viên, để tôi! Còn viên đạn cuối cùng, Trinh lẻn vào một căn nhà dân, nhìn thấy ba xe tăng địch đang bắn mạnh về phía Dinh tỉnh trưởng. Anh kê khẩu ĐKZ vào bục cửa sổ, ngắm chiếc đi đầu. Chiếc xe tăng rùng mình đứng sững lại. Hai chiếc còn lại quay vòng bỏ chạy. Anh tiếc rẻ vì đạn đã hết. Qua ba giờ chiến đấu, Nguyễn Đăng Trinh đã bắn 14 phát ĐKZ, phá sập nhiều lô cốt, bắn cháy một xe tăng địch, nêu tấm gương bị thương không rời trận địa chiến đấu kiên cường, táo bạo, lập công xuất sắc. Sau khi đưa xe tăng ra chi viện, bị bắn cháy, nhiều hỏa điểm lợi hại bị tiêu diệt, bọn địch đành rút lui dần về phía sân bay Cáp Rang. Đến 9 giờ 30 phút, khu vực nhà tên Tỉnh trưởng đã bị chiếm. Các chiến sĩ Phạm Lê Canh, Nguyễn Văn Trọng của Tiểu đoàn 5 và Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Minh Đức của Tiểu đoàn 7 cùng lên cắm cờ trên nóc nhà tên Tỉnh trưởng. Hai lá cờ chiến thắng phần phật trong nắng sớm vẫy gọi các chiến sĩ tiếp tục tiến lên. 10 giờ, các đơn vị đã cơ bản làm chủ các mục tiêu được phân công. Đến 11 giờ, địch điều Tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 48) từ ngã tư Tân Phong đến phản kích ở hướng Tây - Bắc và điều Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 52) từ Gia Tân đánh vào bên sườn Trung đoàn 266, nhằm bịt cửa của ta. Chúng còn điều một chi đội xe tầng từ ấp Tân Xuân, men theo đường Quang Trung, chọc một mũi qua ngã tư dường Hoàng Diệu, kết hợp với Tiểu đoàn 1, (Chiến đoàn 48) phản kích, nhằm chiếm lại các mục tiêu tại khu vực Dinh tỉnh trưởng. Mặc khác, địch dùng máy bay, pháo binh bắn bừa bãi và dọn đường cho bộ binh tiến công, đồng thời ngăn chặn ta phát triển xuống sân bay. Trước tình hình đó, phó Trung đoàn trưởng Lê Tiến Hạt hội ý chớp nhoáng với các cán bộ tiểu đoàn và thống nhất: Kiên quyết tập trung binh lực, hỏa lực để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững các mục tiêu đã chiếm. Trước mắt, phải diệt bằng được bọn địch đang co cụm trên tháp chuông Nhà thờ, trên gác ba nhà Ngân hàng Đồng Tiến và tại ngã ba đường sắt. Tổ chức hỏa lực ngăn chặn xe tăng, đồng thời lùng sục, truy quét và củng cố các vị trí đã chiếm, chuẩn bị đánh địch phản kích. Lúc này, Sư đoàn trưởng lệnh cho Trung đoàn 270 tung Tiểu đoàn 4 từ Bình Lộc Sở hiệp đồng với Tiểu đoàn 9 đánh tạt sườn quân địch đến phản kích. Tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 48 Ngụy) từ ngã ba Tân Phong vừa mon men đến lô cao su sát Đường số 1 ở hướng Tây - Bắc, bị Tiểu đoàn 9 đánh hất trở lại, lại bị Tiểu đoàn 4 đánh tạt sườn bị tiêu diệt một số, phải lùi về vị trí cũ. Trong thị xã, Tiểu đoàn 7 tổ chức lực lửợng gọn nhẹ, lợi dụng các dãỵ phố, các căn nhà nhiều tầng, tiến sát ngã tư đường Hoàng Diệu - Quang Trung bắn cháy bốn xe tăng, tiêu diệt một số bộ binh. Tiểu đoàn 5 bắn cháy hai chiếc khác ở đoạn ngã tư đường sắt. Âm mưu phản kích của địch tạm thời bị bẻ gãy. Qua một ngày chiến đấu, ta tiêu diệt và làm tan rã một số lớn quân địch, bắt sống 235 tên, bắn cháy bảy xe tăng, làm chủ các mục tiêu được Quân đoàn phân công. Bộ Tư lệnh Sư đoàn nhận định: Địch bị đánh bất ngờ, đối phó lúng túng. Nhưng ở hướng chủ yếu của Quân đoàn gặp khó khăn và không đánh trúng các mục tiêu, nên Chiến đoàn 43 địch còn tăng cường lực lượng để phản kích, giành lại các vị trí đã mất. Về phía ta, Trung đoàn 266 phát triển thuận lợi, tinh thần chiến đấu tốt, nhất là Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 7. Nhưng do chuẩn bị vật chất chưa tốt, đạn hết, nên tốc độ tiến công và phát triển có chậm. Tiểu đoàn 4 đánh vận động tương đối tốt, đã bẻ gãy đợt phản kích của Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 52), bảo vệ tốt cạnh sườn cho Trung đoàn 266. Bộ Tư lệnh Sư đoàn chủ trương: - Kiên quyết giữ vững những mục tiêu đã chiếm. - Nhanh chóng giải quyết thương binh, tử sĩ. - Bổ sung đạn, gạo, xốc lại lực lượng để ngày mai tiếp tục tiến công, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu của Quân đoàn đột phá. Suốt đêm 9 tháng 4, các đơn vị triển khai thực hiện các chủ trương trên. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:15:21 am Đêm xuống, không khí căng thẳng của một ngày chiến đấu ác liệt chìm vào bóng tối, thỉnh thoảng dăm ba ngọn pháo sáng vút lên rơi rớt xuống đất, tắt ngấm.
Trong đêm tối, các chiến sĩ tranh thủ củng cố các công sự ở các hẻm phố, các góc nhà. Các đơn vị công binh, vận tải, chuyển đạn, cơm nắm, lương khô cung cấp cho các đơn vị bộ binh trong thị xã và giải quyết thương binh, tử sĩ đưa về tuyến sau. Các chiến sĩ thông tin chắp nối, tu sửa, củng cố lại các hệ thống đường dây đi các hướng. Các cấp ủy, cán bộ chỉ huy tranh thủ hội ý, rút kinh nghiệm, bổ sung các phương án, xốc lại lực lượng, biên chế sắp xếp lại tổ chức ở các mũi, các phân đội. Tất cả đang chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ngày mai. Trong lúc đó, ở một ngách chiến hào, chiến sĩ mới Nguyễn Đăng Ngô một mình với sáu khẩu súng thu được của địch, ngồi giữ trận địa. Chiều nay, mải truy kích, Ngô bị lạc đơn vị, do đó chỉ còn mình anh trụ lại ở trận địa này. Bỗng một tiếng rên khe khẽ của ai đó cất lên cách chỗ Ngô không xa. Anh bò đến. Từ dưới công, một tiếng rên nấc lên. Ngô lao xuống cống. - Ối! Trung đội trưởng Thành! Cả người Thành đầy máu, đang cựa quậy: - Khát... Khát! Gặp Trung đội trưởng chưa kịp mừng, cơn khát của Thành càng làm Ngô đau lòng. "Tìm nước ở đâu đây?" - Chợt Ngô nhớ tới mấy cây chuối non bị pháo tiện đứt lúc chiều. Anh trườn đi và kéo thân cây chuối non còn khét mùi thuốc súng về. Nửa bát nước đọt chuối mà Ngô nhai nhả ra đã làm Thành tỉnh lại: - Đơn vị đâu cả? Anh em ai còn, ai mất? - Còn quanh đây cả thôi! Ngô quyết định đưa trung đội trưởng về tuyến sau. Anh đặt Thành lên lừng và đưa Thành ra khỏi hàng rào, giao Thành cho bộ phận tải thương xong, Nguyễn Đăng Ngô trở lại vị trí chiến đấu. Sau ngày chiến tranh kết thúc, Phạm Văn Thành gặp lại Nguyễn Đăng Ngô tại Sài Gòn. Thành ôm Ngô, khóc: "Tôi được trở về đội ngũ, được thấy đất nước giải phóng, tôi nhớ ơn Ngô rất nhiều". Ngô khiêm tốn: "Anh trở về đội ngũ là nhờ bệnh viện nhờ đồng đội và chính là ở tinh thần chiến đấu kiên cường của anh". Cũng đêm 9 tháng 4, ở Đại đội 2 (Tiểu đoàn 17 công binh) vừa đào xong công sự cho sở chỉ huy Sư đoàn thì được lệnh cử một trung đội đi làm nhiệm vụ góp phần giải phóng Xuân Lộc. Cả đại đội vùng dậy, quên cả đói, mệt, cơn buồn ngủ tan đâu mất. Những cánh tay rắn chắc giơ cao xin đi làm nhiệm vụ. Không ai biết nhiệm vụ gì, sống được góp phần vào giải phóng Xuân Lộc là niềm vui lớn nhất đối với chiến sĩ công binh. Tiểu đoàn phải chỉ định ai đi, ai ở mới dàn xếp được. Trung đội 3 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Lý và Trung đội trưởng Phạm Xuân Toại chỉ huy được lệnh lên đường. Tại Sở chỉ huy Sư đoàn, Trung đội 3 được giao nhiệm vụ áp tải hai xe đạn các loại vào Xuân Lộc, khi trở ra sẽ áp giải tù binh. Trời tối như bưng, lái xe căng mắt vẫn không đi đúng con đường làm tạm. Chiếc xe tải bò từng bước. Các trận địa pháo của địch vẫn bắn chặn đường. Máy bay địch thỉnh thoảng quẳng vài quả pháo sáng chao đảo trên không. Pháo sáng tắt, màn đêm càng dày đặc. Luồn lách qua các hẻm phố, vừa đánh địch vừa sục sạo tìm kiếm, Trung đội 3 đã tìm được Tiểu đoàn 5. Đúng lúc thiếu đạn, bụng đói, được công binh tiếp đạn, cơm nắm, lương khô, các chiến sĩ Tiểu đoàn 5 xúc động rơi nước mắt. Ai cũng hứa quyết tâm tiêu diệt địch để khỏi phụ lòng quan tâm của cả Sư đoàn đối với lực lượng xung kích đang trực tiếp chiến đấu. 5 giờ 27 phút ngày 10 tháng 4, pháo binh ta bắn vào một số mục tiêu còn lại trong thị xã. 5 giờ 47 phút, pháo binh ngừng bắn. Tiểu đoàn 9 hình thành hai mũi tiến công vào Tòa hành chính. Tiểu đoàn 5 phát triển xuống sân bay Cáp Rang. Tiểu đoàn 7 đánh vào Căn cứ Lê Lợi, nơi đồn trú của hai Tiểu đoàn 343 và 367 bảo an. Đêm 9 tháng 4, địch đã củng cố lại các khu vực trong thị xã. Do đó yếu tố bất ngờ không còn nữa. Địch đã chủ động đối phó ngay khi lực lượng xung kích của ta áp sát hàng rào. Tiểu đoàn 7 đã năm lần tổ chức đột phá vẫn không thủng. Số thương vong ngày một cao. Chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Hữu Điệt hy sinh. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Huyên tạm cho bộ đội lùi xuống dưới chân đồi và xin Sư đoàn cho pháo binh bắn cấp tập theo hiệu chỉnh của các chiến sĩ bộ binh. Được chiến sĩ bộ binh chỉnh tầm, chỉnh hướng, các trận địa pháo của ta đã phá tung một loạt công sự vòng ngoài, ghìm cứng bọn địch trong các công sự. Căn cứ Lê Lợi chìm trong lửa và khói. Lực lượng xung kích Tiểu đoàn 7 lợi dụng thời cơ phá tung hàng rào. Pháo vừa ngừng, các mũi đột kích đã thọc sâu vào căn cứ. Một trận đánh bằng lựu đạn, lưỡi lê diễn ra ác liệt. Đến 18 giờ, Tiểu đoàn 7 làm chủ chiến trường, đánh thiệt hại nặng hai Tiểu đoàn bảo an 343 và 367. Ở hướng Tiểu đoàn 9 cũng diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt giữa chiến sĩ ta với Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 43). Mờ sáng ngày 10 tháng 4, được chiến đoàn xe tăng 181 chi viện, Tiểu đoàn 2 địch mở đợt phản kích hòng đánh chiếm lại khu vực Nhà thờ và Tòa hành chính. Tiểu đoàn 9 đã giành giật với địch từng ngách phố, căn nhà, từng đoạn hào giao thông nhỏ. Cuộc chiến đấu ở đây không còn là đội hình chiến đấu của đại đội, tiểu đoàn, mà phần lớn là tổ chiến đấu, thậm chí là cá nhân chiến đấu. Mỗi tổ, mỗi ngươi đều tự ghép mình thành từng bộ phận, tự hiệp đồng với nhau, hỗ trợ nhau chiến đấu. Chiến sĩ liên lạc Đại đội 9 Phạm Văn Lái cùng phó đại đội trưởng Đặng Xuân Dần và ba chiến sĩ Trúc, Toại, Hà hình thành một mũi đánh vào một đoạn chiến hào của địch. Để tránh đánh vỗ mặt, Lái xin phép phó đại đội trưởng Dần, dẫn Toại và Hà vòng phía trái, bí mật thọc một mũi vào sau lưng địch. Bị đánh bất ngờ, bọn địch bỏ chạy. Lái đuổi theo. Mải đuổi giặc, Lái thọc quá sâu vào tung thâm, trong lúc đơn vị được lệnh chuyển hướng tiến công, Phạm Văn Lái chỉ có một mình với khẩu AK hết đạn. Lái xác định: Còn một mình cũng đánh, tìm súng địch mà đánh! Lái vớ được khẩu AR15 với băng đạn đầy và hai quả lựu đạn Mỹ. Anh củng cố công sự để chuẩn bị chiến đấu. Từ gốc cao su bên cạnh, ba tên địch mặc áo rằn ri mò lại. Lái im lặng chờ chúng đến thật gần mới tung lựu đạn. Một tên chết tại chỗ, một tên bị thương và tên kia bỏ chạy. Lái cầm khẩu AK đã lắp lê, đuổi theo lao một đường lê. Tên lính bị lưỡi lê xuyên qua lưng, bổ sấp về phía trước. Trời tối dần. Qua một ngày chiến đấu, đói khát, mệt mỏi, Lái định tìm về đơn vị. Nhưng anh lại nghĩ nhiệm vụ là bảo vệ mục tiêu, không thể bỏ ra được. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:16:42 am Đang củng cố vị trí chiến đấu thì có ba bóng người xuất hiện sau một mô đất. Quan sát kỹ, nhận ra ba du kích, Lái cùng với ba du kích lập một tổ chiến đấu.
Sáng hôm sau (11 tháng 4), một đại đội địch mở đợt tiến công, định chiếm lại đoạn hào đã mất. Lái nâng khẩu B.40 của chiến sĩ du kích, lao quả đạn vào đội hình địch, thiêu cháy 14 tên. Bọn sống sót xô nhau chạy. Phạm Văn Lái lại nhảy lên công sự đuổi đánh. Một mảnh đạn M.79 cắm phập vào tay trái của anh, Lái trở về vị trí cũ. Đang băng vêt thương thì gần chục tên địch lại lò dò tới gần. Lái phân công mục tiêu cho ba chiến sĩ du kích, còn anh dùng quả lựu đạn còn lại, tung vào cụm địch. Mấy tên địch ngã nhào. Đợt phản kích của địch bị tổ của Lái đánh bật ra. Đến 11 giờ, đơn vị vận động đến, cũng là lúc Phạm Vản Lái ngất đi và được đồng đội đưa về trạm phẫu Trung đoàn. Hơn một ngày chiến đấu trong hòan cảnh một mình một hướng tiến công, độc lập chiến đấu, lấy súng địch tiêu diệt địch, bị thương không rời vị trí, Phạm Văn Lái đã diệt 31 tên địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu, nêu tấm gương chiến đấu kiên cường, mưu trí, sáng tạo, táo bạo tiến công. Đêm 10 tháng 4 là một đêm đấu pháo quyết liệt. Địch dùng hàng chục trận địa pháo với 86 khẩu đủ loại 105, 155 cùng hàng chục lần máy bay ném bom phá hoại các khu vực đã bị ta đánh chiếm trong hai ngày qua. Chúng phản pháo vào các trận địa pháo của ta, đồng thời bắn chặn các con đường từ hậu cứ dẫn vào thị xã. Máy bay C.130 xổ từng tràng đạn 20 milimét. Chúng định làm thành một hàng rào lửa ngăn chặn, không cho ta tiếp đạn và giải quyết thương binh. Chúng định hủy diệt toàn bộ lực lượng ta còn bám trong thị xã. Nhưng các Tiểu đoàn 5, 7, 9 vẫn kiên cường bám trụ, vừa củng cố công sự, vừa chuẩn bị tư thế đánh địch phản kích trong ngày mai. Bốn giờ sáng ngày 11 tháng 4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 lệnh cho Sư đoàn 341 tổ chức một lực lượng đánh vào sở chỉ huy Chiến đoàn 43 và một lực lượng đánh xuống sân bay Cáp Rang, bắt liên lạc với Sư đoàn 7. Chiều hôm trước, địch đã dùng trực thăng đổ Lữ dù 1 xuống ấp Tân Phong và lực lượng này đã bao vây Tiểu đoàn 18 (Sư đoàn 7). Địch còn điều Tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 48), Tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 43) và Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 52), tăng cường giải tỏa vòng ngoài. Mờ sáng ngay 11 tháng 4, lực lượng này đã tổ chức phản kích vào Khu hành chính, Dinh tỉnh trưởng và dọc theo Đường số 1 về phía Tây - Bắc. Như vậy, nhiệm vụ của Sư đoàn càng nặng nề hơn. Phải vừa đánh địch phản kích, giữ vững các mục tiêu đã đánh chiếm trong hai ngày qua, vừa tổ chức lực lượng hỗ trợ, giải vây, giải quyết khó khăn cho đơn vị bạn. Sư đoàn trưởng chỉ thị cho Trung đoàn 270 tung Tiểu đoàn 6 kết hợp với Tiểu đoàn 7 đánh xuống sân bay Cáp Rang; Tiểu đoàn 5 đánh vào Sở chỉ huy Chiến đoàn 43; Tiểu đoàn 9 giữ vững các mục tiêu đã chiếm; Tiểu đoàn 4 chuẩn bị đánh giải vây cho Tiểu đoàn 18 (Sư đoàn 7). Năm giờ 30 phút ngày 11 tháng 4, pháo binh bắn 30 phút vào Sở chỉ huy Sư đoàn 18 và Chiến đoàn 43. 6 giờ, pháo binh chuyển làn, kiềm chế các trận địa pháo địch ở Núi Thị, ngã ba Tân Phong. Tiểu đoàn 5 lợi dụng các hè phố, các ngôi nhà nhiều tầng bị bom pháo phá sập, áp sát và tiêu diệt được một số mục tiêu vòng ngoài của Chiến đoàn 43. Địch chống cự quyết liệt, một vài phân đội của Tiểu đoàn 5 lùi lại. Trong lúc đó, Đại đội 5 vẫn tiếp tục đột kích theo hướng phân công. Trung đội trưởng Nguyễn Phi Nhân dân trung đội luồn qua các bức tường đổ, áp sát sở chỉ huy Chiến đoàn 43 về hướng Đông, tiêu diệt một số hỏa điểm bên ngoài. Địch rút sâu vào trong căn cứ. Nguyễn Phi Nhân đuổi theo, tiêu diệt một số tên. Nhưng vì các mũi khác gặp khó khăn, không đột phá được vào mục tiêu nên mũi đột kích của Nguyễn Phi Nhân bị lẻ loi. Anh đã hy sinh anh dũng trước Sở chỉ huy của Chiến đoàn 43. Mãi đến 11 giờ, Đại đội 6 Tiểu đoàn 5 mới bắt liên lạc được với Sư đoàn 7 và cùng với bạn tiếp tục đột phá vào sở chỉ huy Chiến đoàn 43. Ở hướng các Tiểu đoàn 6 và 7 cũng diễn ra những trận đánh giằng co với địch. Địch mới được tăng viện, chi ng sử dụng xe tăng, xe bọc thép cùng bộ binh chống phá điên cuồng. Các đơn vị của ta đã bốn lần đột phá vào sân bay Cáp Rang đều bị chúng đánh hất trở lại. Tình hình diễn biến không thuận lợi. Hai Tiểu đoàn đều gặp khó khăn, Phó Sư đoàn trưởng Vũ Cao và Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Quế xuống ngay Sở chỉ huy Trung đoàn 266 đốc chiến. Đại đội 9 (Tiểu đoàn 14) được lệnh đưa pháo 85 bắn trực tiếp vào các hầm chứa máy bay lúc bấy giờ là sở chỉ huy lữ dù 1. Thực hiện quyết tâm "Mỗi viên đạn một lô cốt địch", phó đại đội trưởng Nguyễn Văn Sửu sau khi chỉ huy khẩu đội bắn thủng hai hầm để máy bay, vừa quay về mô đất cao đê quan sát và chỉ huy bắn tiếp, thì một chớp lửa léo lên nơi anh đứng. Tiếp theo là tiếng nổ đinh tai của quả đạn 105 của địch. Đất đá, cát bụi tràn khắp trận địa. Các pháo thủ Trần Xuân Trường, Trần Viết Long đều bị thương. Phó đại đội trưởng Sửu bị giập nát hai đùi. Anh em đến băng cho Nguyễn Văn Sửu, anh khoát tay, nói: "Đường nào tôi cũng không sống được, các đồng chí băng ngay cho hai đồng chí kia". Anh bảo vậy, nhưng đồng đội không ai bỏ anh. Trong tiếng ầm ào, hỗn độn của máy bay và tiếng nổ của pháo ta, pháo địch, mọi người vẫn nghe rõ tiếng nói dõng dạc của Nguyễn Văn Sửu: "Bình tĩnh mà bắn, còn một người cũng đánh! Bắn thật chính xác để chi viện cho bộ binh". Bị thương nặng, máu chảy nhiều, Nguyễn Văn Sửu vẫn bám chặt mô đất, nhoài người về phía trước, động viên bộ đội chiến đấu. Đến khi đã kiệt sức, anh thều thào: "Hãy chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, xứng đáng với lòng tin của các chiến sĩ bộ binh...". Trên khuôn mặt Sửu thoáng nở một nụ cười... Anh đã trút hơi thở cuối cùng. Lâm Văn Học ôm chặt lấy Sửu: "Anh Sửu! Anh Sửu!". Thấy pháo bắn thẳng ngừng bắn, bọn địch lại kéo đại liên ra bắn chặn bộ binh ta. Học nhìn trừng trừng vào cái khoảng không có nhiều tia lửa điên cuồng ấy. Đôi mắt anh ánh lên một cách dữ dội: "Chúng mày phải chết!". Lâm Văn Học lao tới bệ súng. Những viên đạn 85 thẳng căng lại vun vút lao vào căn cứ địch, phá tan các hầm ngầm của địch trong sân bay, tạo điều kiện thuận lợi cho hai Tiểu đoàn 6 và 7 đánh chiếm sân bay Cáp Rang vào lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 4. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:19:37 am Mười một giờ ngày 11 tháng 4, địch dùng 48 lần chiếc trực thăng đổ quân tăng viện xuống ngã ba Tân Phong. Thế là địch đã ném xuống cái thị xã này toàn bộ Sư đoàn 18, Lữ kỵ binh 3, Chiến đoàn 8 Sư đoàn 5, các liên đoàn biệt động quân của Quân khu 3, các liên đoàn biệt động què quặt của Quân khu 1 và 2, Thiết đoàn 5 xe tăng (60 chiếc) các tiểu đoàn pháo binh lãnh thổ và Lữ dù 1. Chúng ném vào đây đến chín chiến đoàn bộ binh; chúng đã huy động đến mức cao nhất lực lượng không quân còn lại của Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ - một cuộc thí quân, thí tướng của Mỹ - Ngụy để kéo dài ngày tận số.
Chúng dùng cả bom hơi ngạt ném xuống các khu vực xung quanh thị xã. Chúng còn huy động cả một bộ máy tuyên truyền chiến tranh tâm lý ở Sài Gòn đến Xuân Lộc để lên dây cót tinh thần cho binh lính và chỉ huy. Với tính chất giằng co ác liệt, Xuân Lộc không còn nằm trong phạm vi của Xuân Lộc và Long Khánh, nó liên quan đến việc mất hay còn của Ngụy quyền Sài Gòn, liên quan đến việc kéo dài ngày giãy chết của chế độ Thiệu. Trong chiến tranh không phải mọi việc đều diễn ra theo kế hoạch mà đôi khi lại khác hẳn những điều dự kiến trên các bản đồ tác chiến. Và khi đó, mưu trí sáng suốt, bình tĩnh và lòng dũng cảm, sáng tạo của người chỉ huy có vai trò quyết định. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4: "Khi địch đã dồn quân vào để cố cứu thị xã Xuân Lộc thì ta không cần tập trung lực lượng tiếp tục đánh thẳng vào đấy nữa, mà chuyển lực lượng đánh các đơn vị địch đến phản kích đứng chân chưa vững ở vòng ngoài đang thiếu công sự và thiếu sự hợp đồng chặt chẽ với nhau; dùng pháo tầm xa bắn phá và khống chế liên tục ngày đêm sân bay Biên Hòa, không cho máy bay chiến đấu của địch cất cánh"1 (Văn Tiến Dung, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, Hà Nội, 1976, tr.205). Thực hiện ý đồ trên, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 lệnh cho Sư đoàn đưa các Tiểu đoàn 5, 6, 9 ra ngoài, Tiểu đoàn 7 tiếp tục chốt các mục tiêu trong thị xã. Đến 21 giờ ngày 12 tháng 4, Quân đoàn chỉ thị cho Tiểu đoàn 7 lùi ra ngoài và dùng Trung đoàn 270 vận động bao vây đánh địch xung quanh khu vực Núi Thị. Trung đoàn 266 khẩn trương củng cố và chuẩn bị nhận nhiệm vụ. Sau khi quân ta ra khỏi thị xã, địch liền đưa hai Chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18, Lữ dù 1, Thiết đoàn 5 xe tăng tràn vào chiếm lại; dùng Chiến đoàn 52 giải tỏa ngã ba Dầu Giây do Sư đoàn 6 của ta đánh chiếm hôm 10 tháng 4. Chúng dùng các Chiến đoàn 315 và 322 từ Trảng Bom dọc theo Đường số 1 đánh ra Dầu Giây để nối lại đoạn đường Long Khánh đi Biên Hòa. Chúng tập trung trên 60 khẩu pháo các loại để chi viện. Lúc này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã điều Trung đoàn 270 đánh địch xung quanh Núi Thị; Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 đã đánh chiếm được các Điểm cao 46, 52 ở phía Bắc và đang khép chặt vòng vây quanh Núi Thị. Bộ chỉ huy nhẹ Sư đoàn 18 Ngụy đã chuyển đến đây sau khi ta tiến công vào thị xã. Lúc này Bộ chỉ huy Chiến dịch tăng cường thêm Trung đoàn 95B và Sư đoàn 6 mở đợt tiến công đánh chiếm Túc Trưng, tiêu diệt Chiến đoàn 52 rồi theo trục Đường 20 tiến xuống ngã ba Dầu Giây và chốt cứng đoạn Đường số 1 từ ấp Trần Hưng Đạo đến Ngã ba Dầu Giây. Sau đó, Trung đoàn 95B lại đánh lui Lữ đoàn 3 kỵ binh từ Biên Hòa ra ứng cứu giải tỏa đoạn Đường số 1 do Sư đoàn 6 chiếm giữ. Sáng ngày 15, Trung đoàn 266 được Sư đoàn giao nhiệm vụ thay Trung đoàn 95B và Sư đoàn 6, cơ động đánh địch từ ấp Hưng Nghĩa, Bàu Cá ra ngã ba Dầu Giây và chốt cứng ở khu vực đèo Mẹ Bồng Con. Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 270) đánh chiếm Gia Kiệm và làm chủ đoạn Đường 20 từ ngã ba Dầu Giây lên Túc Trưng. Cùng ngày, Tiểu đoàn 4 tiêu diệt Sở chỉ huy chiến đoàn 43 trên Điểm cao 245 và 292. Thị xã Xuân Lộc hoàn toàn bị cắt lìa khỏi Sài Gòn, Biên Hòa. Lúc này các Chiến đoàn 48, 43 và tiểu khu Xuân Lộc bị ta bắn phá liên tục. Lữ dù 1 bị pháo binh ta bắn chặn không nhích lên được. Các trận địa pháo của địch bị triệt dần. Viên Chuẩn tướng Lê Minh Đảo đặt hy vọng vào các lực lượng tăng viện, nhưng quân ta với ưu thế áp đảo đã cắt đứt nguồn hy vọng ấy của hắn. Lữ đoàn dù 1 tăng viện bị sa lầy trong đồn điền Trần Thiện Khiêm. Các lực lượng Quân đoàn 3 của tướng ngụy Nguyễn Văn Toàn rõ ràng không có hy vọng chọc thủng vòng vây theo Đường số 1. Sau mấy ngày đêm chịu đựng những trận pháo bắn nặng nề nhất chưa từng có trên cái tỉnh lỵ tan nát này, Lê Minh Đảo nhận thấy cuộc chiến trở nên tuyệt vọng. Hắn nhận thấy hỏa lực tiến công của đối phương thật dữ dội. Y tưởng chừng nó hơn bất kỳ đơn vị quân Mỹ nào mà y đã mục kích. Các tiền đồn xung quanh Xuân Lộc bắt đầu đổ sập từng cái một. Vòng vây của đối phương thu hẹp dần. Rạng sáng ngày 19 tháng 4, Đảo nói chuyện với sở chỉ huy Quân đoàn 3 Ngụy ở Biên Hòa bằng điện đài. Y được báo cho biết tướng Toàn không có ở đây, nhưng Sở chỉ huy đã chỉ thị cho Đảo là "phải giữ Xuân Lộc càng lâu càng tốt", không còn cái kiểu "ra lệnh phải giữ vững bằng mọi giá". Đến nửa buổi sáng ngày 19 thì tình hình rõ ràng là tuyệt vọng. Xuân Lộc - biểu tượng duy nhất nói lên sự chống cự của quân Ngụy Sài Gòn trước cuộc tiến công mãnh liệt của quân ta đã sắp sửa sụp đổ. Xế trưa, Thiệu đang ở dưới hầm trú bom trong "Dinh Độc Lập" thì một trực thăng đáp xuống sân cỏ trước dinh. Trên chiếc trực thăng có Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa và Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 và Quân khu 3 Ngụy. Thiệu hốt hoảng: "Ông Viên! Tôi đối xử với các ông có đến nỗi nào!". Thiệu tưởng Viên đảo chính. Nhưng Toàn đã lên tiếng: "Thưa Tổng thống! Cuộc chiến kể như đã xong. Phan Rang tiêu tan rồi. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã bị bắt. Căn cứ không quân rơi vào tay Cộng sản. Sự sụp đổ của Phan Thiêt và sự khó đứng vững của Xuân Lộc cho thấy là Cộng sản tràn vào Sài Gòn bằng Đường số 1 chứ không theo bờ biển. Tôi đã dốc toàn bộ lực lượng cố giữ Xuân Lộc, nhưng hy vọng rất mong manh, tinh thần binh lính đã bạc nhược quá rồi!"1 (Theo A-len Đao xơn, phóng viên Mỹ UPI trong 55 ngày đêm sụp đổ của Nam Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân, 15-7-1981). Thiệu im lặng trầm ngâm. Toàn và Viên ngao ngán ra về. Cần "phải cố thủ Xuân Lộc bằng mọi giá" nữa hay không đã được các quan tướng chóp bu của chế độ Sài Gòn trả lời bằng sự im lặng. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:20:49 am Mười hai giờ trưa ngày 20 tháng 4, các Đài quan sát liên tục báo về Sở chỉ huy Sư đoàn những hiện tượng lạ: Trong thị xã xuất hiện nhiều đám cháy và tiếng nổ lớn. Có những chiếc GMC tự dưng bốc cháy. Trong lúc đó, bộ binh địch bắn hỗn loạn ra xung quanh thị xã.
Trưởng ban pháo binh Sư đoàn báo cáo: pháo địch từ các hướng quanh thị xã bắn rất mạnh về phía Sở cao su Gia Kiệm. Theo dõi và đếm kỹ, có tới ba trận địa pháo khác nhau, trên 10 khẩu. Từ Sở chỉ huy Trung đoàn 55, Tham mưu trưởng Trần Thìn điện về một chi tiết: Các trận địa pháo của địch bắn lung tung, không có bài bản gì cả, ngay một khẩu pháo cũng bắn không đồng lô, đồng liều. Cán bộ trong sở chỉ huy Sư đoàn quây xung quanh tấm bản đồ Xuân Lộc; Chính ủy Trần Nguyên Độ đặt một câu hỏi: - Địch bắn yểm hộ cho chi khu Kiệm Tân hay ngã ba Dầu Giây? Và đồng chí tự trả lời - Không phải! Hai nơi này ta đã chiếm từ hai hôm nay! Phó Sư đoàn trưởng Vũ Cao lại nghĩ khác: - Bắn để phá vòng vây, tiếp tục mở thế phòng ngự đang bị ta uy hiếp mạnh. Sư đoàn trưởng tiếp lời: - Nhưng tại sao lại bắn về phía Sở cao su Gia Kiệm trong lúc đang bị ta uy hiếp mạnh ở phía Bắc và phía Đông? Qua phân tích, sở chỉ huy đi đến kết luận: Có khả năng địch nghi binh, bắn cho hết đạn pháo để tháo chạy khỏi Xuân Lộc. Sư đoàn trưởng điện báo cáo lên Quân đoàn về tình hình địch và những nhận định sơ bộ của Sư đoàn. Quân đoàn ra lệnh: "Sư đoàn 341 khẩn trương triển khai truy kích theo Đường số 22 về hướng Bà Rịa - Long Thành". Lập tức các đơn vị từ bao vây được lệnh chuyển sang truy kích tiêu diệt địch. Trung đoàn 55 pháo binh bắn chặn mãnh liệt vào ngã ba Tân Phong. Tiểu đoàn 9 vận động về hướng Núi Sóc làm nhiệm vụ đón lõng. Các Tiểu đoàn 4, 6, 7 theo Đường 22 truy kích về hướng Bà Rịa. Tiểu đoàn 5 tiến công vào thị xã, bắt liên lạc với Sư đoàn 7. Sau khi điện về Sở chỉ huy Quân đoàn 3 Ngụy ở Biên Hòa, Lê Minh Đảo ra lệnh cho Tiểu khu trưởng Xuân Lộc Nguyễn Văn PhÚc lập một vòng phòng thủ nhỏ hơn để bảo vệ Xuân Lộc. Còn Sư đoàn 18, Đảo cho phép "bí mật rút chạy". Đảo còn nói với Ban Tham mưu của y: "Cứ để cho chúng giữ, khi chủ lực rút xong, ai biết thì biết". Mười bảy giờ ngày 20 tháng 4, Đảo ra lệnh: "Tùy nghi di tản". Sư đoàn 18 và các lực lượng chủ lực Quân đoàn 3 Ngụy rút chạy tán loạn theo Đường 22 về Tân Phong và theo Đường số 1 về Trảng Bom. Trung đoàn 55 pháo binh nhanh chóng chuyển trận địa, kịp thời cấu trúc công sự và cấp tập nã đạn pháo vào ngã ba Tân Phong. Bọn địch đành bỏ xe, pháo, chạy vào rừng cao su vê phía Bà Rịa. Tiểu đoàn 9 chốt cứng tại ngã ba Núi Sóc và kiểm soát vùng ấp Trần Hưng Đạo. Tiểu đoàn 7 tiêu diệt tiểu đoàn dù ở ngã ba Suối Tre. Tiểu đoàn 4 vận động phục kích một số tàn quân, diệt 81 tên, bắt sống 125 tên ở Điểm cao 22 và ấp Suối Vạc. Các Tiểu đoàn 6 và 8 truy kích địch trong các lô cao su dọc Đường 1, bắt sống trên 700 tên. Các lực lượng chủ lực của Quân đoàn 3 Ngụy ở Mặt trận Xuân Lộc rút chạy đã bị ta chặn đánh kịch liệt. Chúng bị tiêu hao một số lớn, một số chạy thoát về Long Bình, trong đó có cả Lê Minh Đảo và Ban Tham mưu của y. Lực lượng "phòng thủ nhỏ" của Nguyễn Văn Phúc ở Xuân Lộc cũng chịu chung số phận. Phúc vét toàn bộ lực lượng của hắn được khoảng 600 tên đã mất tinh thần để nống ra phía Đông - Bắc. Vừa mon men ròi căn cứ đã bị Sư đoàn 7 và Tiểu đoàn 5 (Sư đoàn 341) tiêu diệt và bắt sống gọn. Riêng Tiểu đoàn 5 đã bắt sống 257 tên. Tên đại tá Nguyễn Văn Phúc khi bị bắt mới biết Sư đoàn 18 đã rút hết từ đêm hôm trước. Y cúi đầu, lẩm bẩm: "Tưởng đánh một trận oai hùng cho thế giới biết, ai ngờ nó đã cao chạy xa bay. Quân chó đểu!". Cả một đạo quân hùng hậu có đủ mặt các sắc lính thiện chiến của Quân đoàn 3 và Quân khu 3 Ngụy đã bị đánh tơi tả. Bức "tường thép" Xuân Lộc - phòng tuyến "bất khả xâm phạm" vòng ngoài của chế độ Sài Gòn do tướng Mỹ Uây-en lập ra và được quân Ngụy cất công xây đắp với sự cố gắng đến mức cao nhất, đã bị phá tung. Niềm hy vọng mỏng manh để bảo đảm cho sự tồn tại của Ngụy quyền Sài Gòn đã bị đập vỡ. Thị xã Xuân Lộc, một vùng đất bình dị ít người biết đến, nay bỗng trở thành một cái tên được cả nước biết đến, và đối với Sư đoàn 341. Xuân Lộc đã trở thành một địa danh lịch sử, ghi nhận chiến công của các chiến sĩ Sông Lam. Cánh cửa phía Đông Sài Gòn đã mở để đón các lực lượng hùng mạnh của ta vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng - Tổng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định. Sau khi quân và dân ta giải phóng 16 tỉnh và thành phố miền Trung, nhất là sau khi tuyến phòng thủ Xuân Lộc bị ta đập tan, cục diện chiến tranh đã phát triển nhảy vọt, lực lượng quân sự chính trị và thế chiến lược của ta đã hoàn toàn áp đảo quân địch. Ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Mỹ bất lực, và dù có can thiệp thê nào cũng không thể cứu nổi sự sụp đổ của quân Ngụy. Thời cơ đã chín muồi để quân và dân ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, thực hành trận quyết chiến chiến lược lịch sử, đánh thắng vào hang ổ cuối cùng của Ngụy quyền Sài Gòn, tiêu diệt toàn bộ quân Ngụy, đánh đổ toàn bộ Ngụy quyền, giành thắng lợi hoàn toàn. Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta quyết định mở Chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại. Bộ chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Đại tướng Văn Tiến Dũng được Bộ Chính trị cử làm Tư lệnh Chiến dịch, đồng chí Phạm Hùng làm Chính uỷ. Trận quyết chiến chiến lược mang tên Bác nhằm giải phóng Thành phố Sài Gòn, cũng là để thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Bác: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào". Được tham gia trận quyết chiến chiến lược lịch sử này, lòng mỗi người bồi hồi xúc động; bởi lẽ người là niềm tin, là lẽ sống của mỗi chiến sĩ Quân đội nhân dân. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:22:31 am Tưởng nhớ đến công lao trời biển của Bác Hồ vĩ đại, Người đã từ bến Nhà Rồng ra đi, tìm đường cứu nước, khát khao suốt đòi với sự nghiệp giải phóng dân tộc, Người nói "dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"1 (Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr.212).
Khi đất nước còn tạm thời bị chia cắt, Người nói "miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"2 (Hồ Chí Minh, Vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội, NXB Sự Thật, Hà Nội 1970, tr.65). Những chân lý giản dị mà sâu sắc đó đã thâm nhập vào trái tim và khối óc của hàng triệu con người Việt Nam, trở thành sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam. Và hôm nay sức mạnh vô địch ấy lại tiếp tục nâng bước chân thần tốc của mỗi ngươi chiến sĩ Quân đội nhân dân, tạo nên sức bật phi thường, vươn tới mục đích giải phóng Sài Gòn - giải phóng miền Nam. Đó là mệnh lệnh thiêng liêng của Tổ quốc và của Đảng truyền đến mỗi người chiến sĩ. Chấp hành mệnh lệnh thiêng liêng đó của Người, hôm nay, các cánh quân hùng mạnh của ta đã từ các ngả áp sát Sài Gòn, hùng dũng, tự tin và quyết thắng. Những ngày này, bọn Ngụy quân, Ngụy quyền Sài Gòn đang dốc hết sức lực cố giữ Sài Gòn để mặc cả với ta nhằm đi đến một giải pháp chính trị khả dĩ cứu cho chúng khỏi hoàn toàn sụp đổ. Trên các hướng chính vào Sài Gòn, chúng hối hả thiết lập các tuyến phòng thủ dày đặc. Riêng hướng Đông - Bắc, từ Trảng Bom vào Hố Nai - Biên Hoà - Long Bình... địch gồm đủ loại dồn vào cái túi này. Nhưng mọi cố gắng của chúng đang trở nên tuyệt vọng. Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trước ngày 19 tháng 5 năm 1975. Quyết tâm đó được cả nước hưởng ứng và đang được các Binh đoàn chủ lực hùng mạnh của ta thực hiện. Các cánh quân lớn của ta đang từ năm hướng tiến về phía Sài Gòn. Ở một cánh trên hướng Đông - Bắc, mọi công tác chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược đang được Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 tổ chức triển khai. Ngày 25 tháng 4, Thiếu tướng Hoàng cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ: Sư đoàn 341 được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng (13 chiếc), một tiểu đoàn cao xạ hỗn hợp, một đại đội pháo 105, tiến công tiêu diệt địch từ ngã ba Sông Thao đến Suối Đỉa. Nếu không tiêu diệt gọn thì phải bao vây chặt, không cho địch chạy thoát về Biên Hoà, bảo đảm đường tiến quân của Quân đoàn vào giải phóng Biên Hoà. Thời gian nổ súng là đêm 26 rạng ngày 27 tháng 4. Trước đó, ngày 22 tháng 4, sau khi Quân đoàn giao nhiệm vụ sơ bộ; đồng chí Vũ Cao đã dẫn đầu đoàn cán bộ lên đường đi chuẩn bị chiến trường. Trước khi đi, Sư đoàn trưởng đã giao cho đoàn những yêu cầu chủ yếu phải đạt được để giúp cho Sư đoàn hạ quyết tâm chính xác. Trong lúc chờ đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường, Sư đoàn chỉ đạo các đơn vị tổ chức sinh hoạt bình xét khen thưởng, xây dựng khí thế củng cố quyết tâm cho bộ đội, tiến hành xốc lại lực lượng, kiện toàn các tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng. Ở mặt Xuân Lộc, gần 180 đảng viên đã hy sinh anh dũng, đồng thời lại có thêm 225 đoàn viên ưu tú được bổ sung vào hàng ngũ của Đảng. Vì vậy, trước khi bước vào trận tiến công mới, ở tất cả các đơn vị đã có những tổ chức Đảng mạnh. Tỷ lệ lãnh đạo của Đảng ở các đơn vị bộ binh vẫn giữ vững 18 phần trăm. Số cán bộ được đề bạt bảo đảm yêu cầu của nhiệm vụ. Cơ quan hậu cần sư đoàn vận chuyển gần 1.300 tấn hàng. Riêng đạn pháo các loại được chuẩn bị với một số lượng cao (3.570 viên), đủ để bắn nát yếu khu Trảng Bom của địch. Công tác củng cố, xây dựng đơn vị đã xong về cơ bản; khí thế được nhân lên gấp bội. Các đơn vị đã sẵn sàng, cũng là lúc đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường trở về. Chiều 25 tháng 4, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn họp nghe đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường báo cáo toàn bộ tình hình yếu khu Trảng Bom và ra nghị quyết lãnh đạo trận đánh then chốt này. Yếu khu Trảng Bom nằm trên Đường số 1, cách Biên Hoà 30 ki-lô-mét về phía Đông - Đông - Bắc. Sau khi bị thất chủ ở Xuân Lộc, Quân đoàn 3 Ngụy lệnh cho Sư đoàn 18 (chưa kịp củng cố) ra xây dựng tuyến phòng thủ Trảng Bom. Chúng bố trí: - Chiến đoàn 48 ngăn chặn phía Đông Trảng Bom, bao gồm các ấp Hưng Nghĩa. Dương Ngô, Bàu Cá và sân bay. - Chiến đoàn 43 phía Tây - Nam và ga Sông Mây. - Chiến đoàn 3 (Lữ đoàn 3 kỵ binh) bố trí từ Trảng Bom đến Suối Đỉa. - Thiết đoàn 5 ở Tây - Bắc sân bay. - Lực lượng pháo binh có 20 khẩu 155 và 105 của Tiểu đoàn 183 (Sư đoàn 18) và pháo lãnh thổ bố trí thành bảy trận địa từ Bàu Cá đến ngã ba Sông Thao. - Tiểu đoàn 368 bảo an, một đại đội bảo an biệt lập, bảy trung đội dân vệ trực tiếp bảo vệ yếu khu Trảng Bom. Sau khi nghiên cứu cụ thể tình hình địch, địa hình và căn cứ vào nhiệm vụ cấp trên giao, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn nêu quyết tâm: Tập trung toàn bộ binh lực, hoả lực, kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch trong một thời gian ngắn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhanh chóng xốc lại lực lượng, sẵn sàng cùng với bạn phát triển vào giải phóng Biên Hoà, Sài Gòn khi có thời cơ và có lệnh của Quân đoàn. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Ba, 2022, 07:23:33 am Lãnh đạo thực hiện tư tưởng chỉ đạo:
- Tập trung lực lượng có trọng điểm trên hướng tiến công chủ yếu vào mục tiêu chủ yếu. - Thọc sâu bao vây, chia cắt nhanh, đánh trúng, chính xác vào mục tiêu chủ yếu nhằm diệt lớn và làm tan rã lớn quân địch. - Tiến công liên tục, thần tốc, táo bạo, đánh cả ngày lẫn đêm đến khi dứt điểm hoàn toàn. 16 giờ ngày 25 tháng 4, Bộ Tư lệnh sư đoàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị: - Trung đoàn 270 được tăng cường tám xe tăng, hai pháo 85, một cối 120, tiến công trên hướng chủ yếu bố trí phía Bắc yếu khu Trảng Bom, có nhiệm vụ tiêu diệt địch trọng yếu khu, bao vây chặt địch ở Suối Đỉa, ngăn chặn không cho địch từ Trảng Bom rút chạy qua Hố Nai - Biên Hoà, sau đó phát triển tiêu diệt địch ở Suối Đỉa. - Trung đoàn 273 được tăng cường hai pháo 85, hai cối 120, tiến công trên hướng thứ yếu bố trí ở phía Đông Trung đoàn 270, có nhiệm vụ tiêu diệt địch phòng ngự trên Đường số 1 và rừng cao su ven đường từ yếu khu đi Bàu Cá. Sau đó phát triển tiêu diệt địch ở Bàu Cá và ngã ba Sông Thao. Phối hợp diệt địch trong yếu khu, nếu Trung đoàn 270 gặp khó khăn. - Tiểu đoàn 8 được tăng cường bốn xe tăng, bố trí phía Đông ấp Hưng Nghĩa, làm nhiệm vụ hướng bao vây vu hồi. Sử dụng một đại đội tiến công từ phía Đông - Nam vào yếu khu Trảng Bom. Còn lại theo trục Đường số 1 từ hướng Đông đánh vào, phối hợp với Trung đoàn 273 diệt địch trong khu vực Bàu Cá và ngã ba Sông Thao. - Trung đoàn 266 (thiếu Tiểu đoàn 8) bố trí phía sau Trung đoàn 270, làm dự bị cho Sư đoàn, sẵn sàng bước vào chiến đấu trong khu vực Trảng Bom, nếu tình hình khó khăn, sẵn sàng phát triển chiến đấu vào Biên Hoà trong tình huống thuận lợi. Sau khi pháo bắn chuẩn bị, Trung đoàn 273 và 270 cử một bộ phận tiêu diệt cụm xe tăng và bộ binh địch bố trí ở ga Sông Mây. Sau đó chốt chặn cầu số 3 trên đoạn đường sắt Trảng Bom đi Cây Gáo. Riêng Trung đoàn 270 đưa Tiểu đoàn 4 vào bao vây Suối Đỉa, kiềm chế trận địa pháo và tạo thời cơ tiêu diệt Suối Đỉa. - Trung đoàn 55 bố trí phía Bắc khu vực tác chiến, tập trung hoả lực vào yếu khu, khu vực nhà cố vấn Mỹ, đồn điền Ông Quế. Sau đó chuyển hoả lực tập trung vào Bàu Cá - Suối Đỉa. - Lực lượng cao xạ ngắm bắn trực tiếp các mục tiêu trên mặt đất; đưa súng 12,7 mi-li-mét đi sát bộ binh. - Tiểu đoàn 17 công binh tăng cường cho mỗi trung đoàn bộ binh một trung đội. Số còn lại bảo đảm cho cơ giới cơ động trên đường sắt từ Cây Gáo vào Trảng Bom và bảo đảm cho Sở chỉ huy. - Tiểu đoàn 18 thông tin chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, bảo đảm chỉ huy thông suốt trong quá trình chiến đấu. Trận tiến công yếu khu Trảng Bom là trận mở đầu của cánh Đông - Bắc cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn theo Đường số 1 và đường xa lộ Biên Hoà. Hội nghị giao nhiệm vụ của Sư đoàn kết thúc trong không khí khẩn trương, sôi sục. Các cán bộ chỉ huy toả về các nẻo đường rừng đất đỏ. Mãi sáng ngày 25 tháng 4, Sư đoàn mới được Quân đoàn thông báo cho biết Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh nên không kịp tổ chức họp cán bộ quân chính để quán triệt. Vì vậy, ngay chiều hôm đó, khi Bộ Tư lệnh Sư đoàn đang giao nhiệm vụ cho các đơn vị thì hầu như tất cả cán bộ cơ quan chính trị đã xuống các đơn vị cơ sở để phổ biến quyết định của Bộ Chính trị mở chiến dịch lịch sử này. Sau khi được nghe phổ biến ý nghĩa, mục đích, yêu cầu của chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ phấn chấn hơn bao giờ hết. Đúng 7 giờ ngày 26 tháng 4, trong cánh rừng rậm ven Đường 20, các đơn vị làm lễ xuất quân. Chiến sĩ Tiểu đoàn 5, hàng ngũ chỉnh tề, trang nghiêm lắng nghe huấn thị và mệnh lệnh chiến đấu của Đảng do đồng chí Bí thư Đảng uỷ sư đoàn giao cho. Mọi người mặc quần áo mới gọn gàng, chững chạc, ánh mắt ngời sáng niềm tin, cánh tay đeo băng đỏ... Họ hiểu rất rõ vinh dự và trách nhiệm của mình, họ sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, dù biết rằng có thể ngày mai, chiến tranh sẽ kết thúc... Lá cờ truyền thống của Sư đoàn phấp phối giương cao trong nắng chiều lồng lộng như vẫy gọi toàn Sư đoàn dũng cảm tiến lên phía trước, tiến lên trong khí thế "thần tốc, thần tốc tiến công". Mười bảy giờ ngày 26 tháng 4, khi tiếng súng đầu tiên của Chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ở hướng Đông thì Sư đoàn 341 đã ém gọn vào vị trí tập kết an toàn. Đường hành quân của ta rất bí mật, nhưng địch vẫn tăng cường pháo kích ngăn chặn. Ở hướng Bắc, chúng bắn tới 1.200 - 1.500 quả ngày vào các trục đường lớn và dọc bò Suối Rết. Hàng ngày, 20 đến 25 lần tốp máy bay A.37, F.5 ném bom vào những nơi chúng nghi ngờ có lực lượng ta trú quân. Chúng còn tung thám báo, biệt kích lùng sục xung quanh yếu khu Trảng Bom để phát hiện lực lượng ta. Song mọi cố gắng của chúng đều không mang lại kết quả. Các trung đoàn bộ binh ta vẫn bí mật áp sát mục tiêu. Các khẩu pháo vẫn được chiến sĩ ta kéo vào chiếm lĩnh trận địa. Mười tám giờ, các đơn vị đã chuẩn bị xong mọi mặt và đợi lệnh nổ súng. Sở chỉ huy sư đoàn nằm gọn trong khu rừng tre sát bờ Suối Rết. Tre Đồng Nai khỏi phải nói về độ cứng, độ bền, đứng san sát nhau như thành, như luỹ. Hầm sở chỉ huy đặt dưới các khóm tre mà lớp lớp rễ tre suốt mấy đời bám đất, khó có loại bom đạn nào khoan nổi. Dù bom pháo địch vẫn bắn phá như điên, ngọn đèn dầu trong sở chỉ huy vẫn soi rõ từng nét chì, từng bình độ, từng mục tiêu trên tấm bản đồ tác chiến. 19 giờ 30 phút, phó ban thông tin Bùi Ngọc Hướng kiểm tra 10 đầu dây đều thông suốt. Chính uỷ Trần Nguyên Độ cầm máy động viên các đơn vị. Đồng chí nhắc các cán bộ chính trị: - Vào trận, người cán bộ chính trị phải là người tập hợp được quần chúng quanh mình, có mặt ở bên họ, sát cánh với họ, cùng chiến đấu với họ, lúc khó khăn, kêu gọi họ giữ vững ý chí chiến đấu. Tình huống chiến đấu càng ác liệt, gay go thì sự sâu sát của cán bộ, đảng viên lại càng quan trọng. Chính uỷ vừa đặt tổ hợp xuống thì từ các đài quan sát dồn dập báo cáo về Sở chỉ huy: - Có rất nhiều tiếng xe đi lại dọc đường từ Trảng Bom vào Suối Đỉa và ngược lại. Xe có hạn chế ánh sáng. Cùng lúc Bộ Tham mưu Quân đoàn chỉ thị: "Địch ở Trảng Bom có khả năng rút chạy, Sư đoàn 341 nhanh chóng tổ chức tiến công". Lúc này là 20 giờ ngày 26 tháng 4. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:31:59 am 30 phút sau, Bộ Tham mưu lại hối thúc: "Sư đoàn 341 báo cáo ngay kế hoạch chiến đấu".
Trong lúc đó sở chỉ huy sư đoàn đang tranh luận sôi nổi. Có ý kiến cho rằng địch đang rút chạy, nếu ta, không nhanh chóng tiến công thì mất thời cơ và không hoàn thành nhiệm vụ. Một ý kiến khác cho là địch không rút chạy, chỉ có khả năng điều chỉnh lực lượng cho phù hợp. Nếu ta tiến công sớm sẽ mất thời cơ. Căn cứ vào các ý kiến trên, Bộ Tư lệnh kết luận: Địch sẽ không bỏ Trảng Bom vì cự ly từ Trảng Bom vào Biên Hoà không xa, nếu chúng bỏ Trảng Bom thì Biên Hoà sẽ bị ta uy hiếp mạnh. Hơn nữa, chỉ còn bảy, tám giờ nữa thì trời sáng, với một lực lượng đông như vậy địch sẽ không rút hết được. Cũng có thể chúng điều chỉnh lực lượng cho phù hợp với tuyến phòng thủ. Sư đoàn trưởng báo cáo lên Quân đoàn, đồng thời chỉ thị cho pháo binh bắn chặn Suối Đỉa và các mục tiêu trọng yếu khu Trảng Bom; sử dụng Tiểu đoàn 4 cắt rừng cao su, vận động bao vây chặt bọn địch ở Suối Đỉa. 24 giờ, pháo binh ta bắn trúng đội hình hành quân của địch ở Suối Đỉa, gây cho chúng thiệt hại nặng; một số lớn chạy tán loạn vào rừng. Tiểu đoàn 4 đang vận động tới Suối Đỉa đã tóm được hai tên (có một đại uý hậu cần Chiến đoàn 48). Qua khai thác, tên tù binh cho biết: sau khi giải phóng Bà Rịa, trục Đường 15 ta đã hoạt động, Quân đoàn 3 địch đã điều Lữ đoàn 3 kỵ binh và Lữ đoàn 468 lính thuỷ đánh bộ đang án ngữ Trảng Bom về giải toả Đường 15 và đưa Lữ 258 lính thuỷ đánh bộ từ Long Bình cùng với Sư đoàn 18 chưa kịp vá víu ra phòng thủ từ ngã ba Sông Thao đến Hố Nai. Như vậy là địch đang điều chỉnh lực lượng. Vậy yếu tố bất ngờ và thời cơ để tiến công vẫn còn. Địch điều chỉnh lực lượng lúc này càng bộc lộ thêm những chỗ yếu và sự lúng túng của chúng trong thế bố trí phòng ngự bị động. Sư đoàn chỉ thị cho các đài quan sát tiếp tục theo dõi hoạt động của địch, đồng thời lệnh cho các đơn vị nâng đội hình áp sát mục tiêu. Bốn giờ sáng ngày 27 tháng 4, phó Trung đoàn trưởng pháo binh Đàm Quang Vinh báo cáo về sở chỉ huy: Cụm pháo 122 và 85 bố trí ở Bắc Suối Rết chiếm lĩnh xong trận địa, đã chỉnh đúng tầm, hướng, sẵn sàng lao đạn, Cụm cao xạ bố trí ở Nam Suối Rết cũng đã sẵn sàng. Từ phía Trung đoàn 273, Trung đoàn trưởng Hoàng Trung Trực báo cáo: Bộ đội đã đào công sự xong. Bộ phận mở cửa đã cắt được một - hai lớp rào. Qua tình hình các hướng đang báo cáo về, Sư đoàn trưởng nhận định: Do bị pháo ta tập kích, đội hình hành quân của địch rối loạn, tinh thần binh lính hoang mang. Chúng đang tập trung giải quyết hậu quả. Mặt khác, bị Tiểu đoàn 4 chốt chặn Suối Đỉa, Lữ đoàn 468 đi giải toả Đường 15 không thoát hết. Lữ đoàn 258 bị cầm chân ở Hố Nai. Các chiến đoàn của Sư đoàn 18 bị pháo kích, đang củng cố. Về phía ta, bộ đội chuẩn bị tốt, thời cơ đã cho phép ta bắt đầu phát hoả. Các chiến sĩ thông tin mở máy bắt liên lạc với các trung đoàn. 4 giờ 05 phút ngày 27, lệnh nổ súng tiến công yếu khu Trảng Bom được phát đi các đơn vị. Các pháo thủ lập tức lao đạn. Những cầu vồng lửa vút lên, tới tấp giáng xuống bảy trận địa pháo của địch. Cùng lúc, pháo tăng cường cho các trung đoàn bộ binh cũng tới tấp giội xuống các mục tiêu. Yếu khu Trảng Bom chìm ngập trong khói lửa của trận mưa pháo khủng khiếp. Bảy trận địa pháo của địch câm ngay từ loạt đạn đầu. Các hoả khí của chúng trong yếu khu cũng bị pháo ta phá hoại. Trong tiếng nổ ầm ầm như bão cuốn của các trận địa pháo, 4 giờ 07 phút, xe tăng được lệnh xuất kích, bộ binh tiếp tục nhấc đội hình sát mục tiêu. Nnưng đến 4 giờ 22 phút, Trung đoàn 270 không bắt được liên lạc với xe tăng. Sư đoàn trưởng chỉ thị cho Trung đoàn sẵn sàng tiến công tiêu diệt địch không có xe tăng tăng cường. Từ hướng Bắc, Tiểu đoàn 6 nhanh chóng dùng bộc phá, phá tung hàng rào và đánh chiếm các công sự phía trước. Đến lúc pháo chuyển làn, Tiểu đoàn 6 phát triển theo chiến hào vành khăn, dồn địch vào trung tâm yếu khu. Tiểu đoàn 5 từ phía bắc bám theo bìa rừng cao su đánh thẳng vào trung tâm. Địch lợi dụng nhiều nhà tầng và công sự để đánh trả. Tám xe tăng địch từ khu nhà cố vấn men dọc theo sân bay đánh vào sườn hai Tiểu đoàn 5 và 6. Được xe tăng chi viện, bộ binh địch từ trên các khu nhà mái bằng, từ các hào giao thông men theo các hàng rào trong từng khu vườn phản kích trở lại. Bị xe tăng đánh tạt sườn, bộ binh dũi chính diện, hai Tiểu đoàn 5 và 6 lùi dần vào bìa rừng cao su. Trong lúc đó, hai Tiểu đoàn 1 và 3 đã đánh chiếm xong bảy trận địa pháo và tiêu diệt các cụm bộ binh địch ở phía đông Đường số 1. Sư đoàn trưởng chỉ thị cho Trung đoàn 273 sử dụng Tiểu đoàn 3 tổ chức phát triển vào trung tâm yếu khu, hỗ trợ cho bạn, đồng thời lệnh cho hai Tiểu đoàn 5 và 6 chỉnh đốn lại lực lượng phản kích trở lại; cụm cao xạ Nam Suối Rết hạ nòng bắn thẳng vào bọn địch co cụm; các khẩu đội 12,7 hạ nòng bắn quét bộ binh địch trong yếu khu. Bọn địch bị đánh hất trở lại khu trung tâm. Chiến sĩ B.41 Trần Quang Tạo lợi dụng địa hình có lợi, áp sát mục tiêu, bắn cháy hai xe tăng địch. Cùng lúc, chiến sĩ B.41 Lê Duy Long bắn cháy thêm hai chiếc nữa. Lúc này mũi tiến công rất hiểm của Tiểu đoàn 3 đã chọc vào sườn bọn địch đang co cụm. Trung tâm yếu khu Trảng Bom như một cái chảo rang, rung chuyển trước những mũi đột kích mạnh của ta. Các ổ đề kháng, lô cốt của địch lần lượt bị san bằng. Trong khi các mũi đang phát triển thuận lợi, thì tổ thọc sâu của Trần Thế Vững (Tiểu đoàn 5) lao thẳng vào khu trung tâm. Tiếng nổ của quả bộc phá năm ki-lô-gam trùm lên sở chỉ huy yêu khu. Tên trung tá chỉ huy trưởng yếu khu và tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bảo an 368 bị đền tội. Mất chỉ huy, những tên lính sống sót bỏ chạy thục mạng. Nhưng, chúng chạy đâu cho thoát. Những hàng rào ô vuông quanh từng khu vườn, những cọc sắt ken dày, những hầm hố chằng chịt, những tấm lưới chống đạn B.40 của chúng đã ngăn chặn lại. Nhiều tên nằm vắt ngang hầng rào dây thép gai, vắt xác qua càng pháo, bên bờ công sự. Gần 500 tên bị ta bắt làm tù binh. Tám giờ 30 phút, toàn bộ quân địch tại yếu khu Trảng Bom bị ta tiêu diệt. Ta làm chủ một đoạn đường dài 14 ki-lô-mét từ ngã ba Sông Thao đến Tây Trảng Bom. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:34:48 am Trong lúc các đơn vị bạn đánh tập trung hiệp đồng binh chủng vào yếu khu Trảng Bom thì Tiểu đoàn 8 do Tiểu đoàn trưởng Hồ Sĩ Chinh và Chính trị viên Nguyễn Phương Nhân chỉ huy được giao nhiệm vụ độc lập chiến đấu trên một hướng, tiêu diệt địch ở ấp Bàu Cá.
Bàu Cá là vị trí quan trọng án ngữ bảy ki-lô-mét Đường số 1 từ ấp Hưng Nghĩa đến ấp Bàu Cá. Chúng bố trí ở đây Tiểu đoàn 2 Chiến đoàn 48, Chi đoàn 1 xe tăng thiết giáp và một trận địa pháo 105. Khi Bàu Cá bị tiến công thì các trận địa pháo ở Trảng Bom, Suối Đỉa, Sông Thao, dốc Ông Hoàng và một Chi đội xe tăng của Thiết đoàn 5 trực tiếp chi viện. Khi tiếng súng tiến công ở Trảng Bom bắt đầu thì Tiểu đoàn 8 cũng hiệp đồng phát hoả. 39 quả đạn cối 82 của Đại đội 8 bắn vào các mục tiêu trong Bàu Cá vừa dứt, lập tức các đại đội bộ binh tổ chức xung phong. Từ hướng Đông - Nam, Đại đội 7 với ba xe tăng chia thành ba mũi tiến công trên hướng chính, đánh thắng vào Bàu Cá, dồn địch từ trung tâm giạt ra bìa rừng chuối. Bọn địch lợi dụng các khóm chuối san sát nhau, ngoan cố chống cự. Chúng gọi các trận địa pháo bắn chặn dọc bìa rừng cao su hai bên Đường số 1, ngăn không cho ta đánh tràn qua rừng chuối. Pháo ta được lệnh kèm cứng các trận địa pháo địch ở Hố Nai, Đồng Lách, dốc Ông Hoàng. Trong lúc đó, sân bay Biên Hoà bị Đoàn 113 đặc công dùng súng cối kết hợp với pháo tầm xa của ta đánh liên tục. Địch phải đưa dần số máy bay về Tân Sơn Nhất. Sân bay Biên Hoà tê liệt dần. Cùng đường, địch điều xe tăng đến phản kích; gần chục chiếc hùng hổ lao đến vãi đạn ngăn chặn sức tiến công của Đại đội 7. Nhưng ba chiếc xe tăng của ta được bộ binh bảo vệ đã xuất hiện kịp thời, bắn tung xích bốn chiếc của chúng. Trong lúc đó, Đại đội 6 sau khi diệt gọn bọn địch ở ấp Hưng Nghĩa, để lại Trung đội 3 chốt giữ, còn hai trung đội thành hai mũi phát triển dọc hai bên Đường số 1 vào Bàu Cá. Trung đội 1 của Đại đội 6 do Nguyễn Văn Thành chỉ huy đã mưu trí luồn qua rừng chuối đánh một đòn hiểm vào phía sau đội hình xe tăng địch. Lê Trọng Núi bắn cháy một chiếc, phó đại đội trưởng Nguyễn Bá Tạo bắn cháy chiếc thứ hai, Quản trị trưởng Phùng Bá Minh bắn cháy chiếc thứ ba. Số còn lại theo Đường số 1 chạy về Trảng Bom. Chiến sĩ Nguyễn Văn Quang vòng tắt đón đầu, quỳ ngay trên Đường số 1, nâng khẩu B.40. Chiếc tăng đi đầu của địch định chồm lên nghiền nát Nguyễn Văn Quang, nhưng đã muộn. Một luồng lửa trùm kín chiếc xe tăng. Đại đội 6 lướt tới. Hai chiếc tăng còn lại của địch đứng nổ máy trên Đường số 1. Trong xe không còn tên địch nào. Chúng đã bỏ xe, chạy thoát thân. Bọn bộ binh địch sống sót tại Bàu Cá vội xé quần áo trắng, nhặt những tờ giấy trắng làm cờ kéo nhau ra hàng. Tiểu đoàn 8 tung Đại đội 5 vào truy quét, 393 tên còn sống sót bị Đại đội 5 bắt làm tù binh. Bên khẩu pháo 105, hai xe tăng còn mới nguyên, gần chục xe GMC được các chiến sĩ bộ binh giao cho các binh chủng bạn tiếp quản. Bàu Cá được giải phóng. Ta đã làm chủ đoạn đường từ ngã ba Dầu Giây vào đến Bắc Trảng Bom. Trưa hôm đó, 27 tháng 4, trên đường tiến công vào Long Bình, các chiến sĩ Tiểu đoàn 8 đã có mặt trong đội hình tiến công hành tiến của Trung đoàn 266. Khi thảo luận phương án tác chiến, một tình huống được nêu ra và được nghiên cứu kỹ: Nếu Trảng Bom bị tiến công thì địch ở Biên Hoà sẽ ra phản kích vì bọn địch ở Trảng Bom thất thủ sẽ chạy về Biên Hoà. Cả hai Lực lượng này đều phải qua Suối Đỉa vì không còn đường nào khác. Ta dùng một lực lượng nhỏ chốt chặn ở Suối Đỉa vừa giăng bẫy đón lõng vừa chặn đứng đường rút của bọn địch từ Trảng Bom chạy về, đồng thời cũng chặn đứng địch từ Hố Nai ra ứng cứu. Vì vậy phải đánh chiếm Suối Đỉa cùng một lúc khi ta tiến công Trảng Bom và biến căn cứ này thành trận địa phòng ngự của ta. Đó là một quyết định đúng đắn và táo bạo của Sư đoàn. Nhiệm vụ này được giao cho Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 270) do phó Tham mưu trưởng Nguyễn Ngọc Năng cùng với Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Anh Đậu và Chính trị viên Trần Xuân Vũ chỉ huy. 24 giờ ngày 26 tháng 4, Tiểu đoàn 4 xuất phát. Phương án tác chiến được phổ biến cho bộ đội ngay trên đường vận động tới Suối Đỉa. Để đi tới Suối Đỉa, Tiểu đoàn 4 phải bí mật vượt qua tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn bảo an 368 và một trận địa pháo 105. Do đó, khi tới Suối Đỉa, Đại đội 2 bị lạc sang hướng khác. Cách Suối Đỉa 500 mét, Tiểu đoàn nhận được mệnh lệnh từ Sở chỉ huy đoàn điện tới: "Phải ghìm chân bọn địch lại và tìm cách tiêu hao chúng. Độc lập tác chiến". Cán bộ chỉ huy tiểu đoàn tranh thủ hội ý, có cả cán bộ các đại đội. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Anh Đậu phác hoạ phương án tác chiến và giao nhiệm vụ cho các đơn vị: - Đại đội 1 phát triển dọc theo phía Tây Đường số 1. - Đại đội 3 bí mật vượt Đường số 1 sang phía Đông và phát triển dọc Đường số 1. Công việc này phải hoàn thành trước 4 giờ sáng để đến khi sư đoàn nổ súng tiến công Trảng Bom, ta cùng lúc đánh chiếm và khoá chặt Suối Đỉa. Các đại đội nhanh chóng triển khai nhiệm vụ. Lúc này trên Đường số 1, địch đã bớt đi lại vì bị pháo ta tập kích. Đại đội 3 vượt Đường 1 không khó khăn lắm và đang bí mật vận động tới mục tiêu. Ba giờ 30 phút, Tiểu đoàn 4 đã áp sát hàng rào. Đội hình hai đơn vị cách nhau 800 mét ở hai phía Đường số 1. Ba giờ 45 phút, các đại đội đã bí mật cắt xong hàng rào. Đại đội trưởng Nguyễn Quang Nếp đưa hai khẩu ĐKZ, hai khẩu 12,7 lên sát hàng rào cách lô cốt đầu cầu khoảng 60 mét, chỉ từng mục tiêu cho các pháo thủ. Mọi người đã ở tư thế sẵn sàng xuất kích. Bốn giờ 10 phút, Tiểu đoàn 4 bắt đầu nổ súng. Lúc này ở hướng Trảng Bom đã nổ súng được 5 phút. Thoạt đầu, hai khẩu ĐKZ của Đinh Xuân Sơn và Võ Đình Thân bắn sập hai lô cốt. Bọn bộ binh địch nhốn nháo rời khỏi công sự, chạy về phía các dãy đồi. Hai khẩu 12,7 hạ nòng bắn quét. Cùng lúc, đại đội trưởng Nếp dẫn xung kích đuổi đánh. Hàng chục tên địch ngã gục ngay ở chân đồi. Một số tên chạy qua Đường số 1 về phía Tây - Bắc. Đại đội 1 do đại đội trưởng Lương Văn Tạ chỉ huy đã kịp thời nổ súng, tiêu diệt một số tên, số còn lại đầu hàng. Tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 52) cơ bản bị loại khỏi vòng chiến đấu. Sau khi làm chủ mục tiêu, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Anh Đậu cho các đơn vị đưa ĐKZ, 12,7, cối 60 lên chiếm các Điểm cao, cho bộ đội củng cố các lô cốt và công sự của địch để chuẩn bị đánh địch. Trận địa chốt chặn của Tiểu đoàn 4 đã được hoàn thiện trên cơ sở những căn cứ, lô cốt và công sự của địch. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:36:02 am Mất căn cứ Suối Đỉa có nghĩa là địch ở Trảng Bom đã bị khoá chặt. Tên Chuẩn tướng Lê Minh Đảo thúc tên đại tá Dung, Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 52 tổ chức đánh chiếm lại Suối Đỉa bằng mọi giá. Tên Dung vội điều Tiểu đoàn 2 Ngụy đến phản kích vào bên sườn Tiểu đoàn 4 của ta.
Đứng ở vị trí của Đại đội 4, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Anh Đậu thấy phía nào cũng có khói bốc lên. Bọn địch rải ra gần kín khoảng đất từ chân đồi phía Đông. Chúng lợi dụng những bờ đất, những gốc cây, bò lên, tiếp cận dần tới tuyến công sự vòng ngoài căn cứ. Tiểu đoàn trưởng Đậu hỏi một câu trống không: - Đánh vỗ mặt chăng? Được. Cứ vào nữa đi! Từ những gốc cây, mô đất, đạn chúng vãi như gieo mạ. Đạn M.79 nổ chan chát trên các thân cây cao, mảnh chụp xuống đất như hình nón úp. Trận địa vẫn im lặng. Những nòng súng rê theo bọn địch. Những đôi mắt không chớp. Bọn địch vẫn tiến như không hề có những mũi súng đang chờ chúng ở phía trước. Gần 20 tên nấp sau một mô đất đứng bật dậy vừa bắn vừa lao lên phía Tây Đường 1. Các chiến sĩ B.41 và M.79 không kịp bắn, những khẩu trung liên của Lê Khắc Tụ và các tay súng AK của Đại đội 1 đã rung lên, quật ngã trên 10 tên. Phía bên phải, địch chia làm nhiều tốp chạy nhanh định chiếm phía đông Đường số 1. Nguyễn Quang Nếp chưa kịp ra lệnh thì khẩu 12,7 của Trần Thanh Sơn và hơn 10 tay súng AK của Trung đội 1 (Đại đội 3) đã nổ, Đường đạn toả ra theo hình phễu. Cả đại đội địch chạy ngược trở lại tìm các mô đất ẩn nấp. Mấy chục xác chết nằm phơi ra trước trận địa. Nguyễn Anh Phong nâng khẩu M.79 lên nhằm một ụ đất có lấp ló mấy cái mũ sắt, nổ liền mấy phát. Những cái mũ sắt gục xuống bất động. Sau khi làm chủ Suối Đỉa, Tiểu đoàn 4 lập tức chuẩn bị trận địa phục kích tiêu diệt địch từ Trảng Bom chạy về. Đại đội 2, Trung đội 2 (Đại đội 1) và Trung đội 3 (Đại đội 3) do phó Tiểu đoàn trưởng Dương Cao chỉ huy, tổ chức trận địa phục kích ở bãi nghĩa địa cách Suối Đỉa gần hai ki-lô-mét. Lúc đó, bọn địch ở Trảng Bom đang kéo nhau chạy vế Suối Đỉa. Đi đầu là Chi đoàn 3 (Lữ 3 kỵ binh) mở đường cho các loại tàn quân của Sư đoàn 18, biệt động quân, bảo an, dân vệ. Cả cái mớ hổ lốn, vô tổ chức ấy xô nhau chạy về Suối Đỉa. Chín giờ 10 phút ngày 27 tháng 4, chúng lọt vào trận địa của Tiểu đoàn 4. Nguyễn Anh Phong bắn cháy hai xe thiết giáp, chặn đầu. Lâm Anh Dũng bắn cháy hai xe GMC chở đầy lính, khoá đuôi. Gần 100 xe đủ loại của địch bị nhốt chặt vào trong rọ. Như những cơn lốc, các chiến sĩ Tiểu đoàn 4 lao vào trận đánh. Thoạt đầu, hàng loạt những quả đạn B.40, B.41 lao vun vút vào cụm xe địch; tiếp đến là hàng tràng 12,7, đại liên, trung liên quét dọc quét ngang vào bọn bộ binh; sau cùng là những quả lựu đạn tới tấp ném vào thùng xe, nòng pháo và những tràng AK đanh gọn, chính xác. Lửa khói mịt mù, xe pháo chỏng trơ, cong queo; tiếng kim khí va chạm nhau, hơi nóng bốc lên ngột ngạt. Xác địch ngổn ngang đủ hình, đủ kiểu. Trận phục kích tài tình của chiến sĩ Tiểu đoàn 4 thắng lợi rực rỡ. Toàn bộ bọn địch ở Trảng Bom chạy vào Hố Nai bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Riêng Đại đội 2 đã tóm gọn 400 tên tù binh đủ các sắc lính của Quân khu 3 Ngụy Sài Gòn. Sư đoàn 18 Ngụy bị xoá sổ. Tên Chuẩn tướng Lê Minh Đảo chạy thoát về Long Bình, để rồi hai ngày sau vất bỏ quần áo, cải trang thành thường dân lén lút chạy về Sài Gòn. "Người hùng" của thị xã Xuân Lộc không kịp theo quan thầy di tản ra nước ngoài, mà được ở lại chứng kiến từ đầu đến cuối sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Ngụy Sài Gòn. Mất Suối Đỉa thì Hố Nai - Biên Hoà sẽ bị uy hiếp mạnh. Quân đoàn 3 Ngụy liền đưa Chiến đoàn 22 xe tăng, thiết giáp từ Tam Hiệp ra phản kích, đồng thời, vét lực lượng còn lại của Lữ 258 lính thuỷ đánh bộ kết hợp với bọn ác ôn phản động khét tiêng ở khu vực Hố Nai ra ngăn chặn. Chúng định chặn đứng cuộc tiến công của ta trên hướng Đường số 1 ngay tại Suối Đỉa. Các trận địa pháo tầm gần, tầm xa còn lại của địch, kết hợp với pháo tăng, dồn dập trút đạn vào đây. Các loại đạn pháo chụp, pháo khoan, nổ chát chúa, văng mảnh rào rào. Cả trận địa mịt mù cát bụi. Hình như còn bao nhiêu đạn pháo của Quân đoàn 3 Ngụy, chúng đều tập trung trút tất cả vào cái thẻo dốc Suối Đỉa chưa đầy ba ki-lô-mét vuông này. Tiểu đoàn 4 bị thương vong một số, đường dây thông tin từ tiểu đoàn xuống các đại đội bị đứt. Số chiến sĩ liên lạc chạy chân đều bị thương. Nhưng trận địa chốt chặn Suối Đỉa vẫn được Tiểu đoàn 4 bảo vệ vững chắc. Xe tăng và bộ binh địch vẫn bị cầm chân tại rìa ngoài thị trấn Hố Nai. Tuy nhiên, sự ngăn chặn quyết liệt của địch cũng phần nào làm chậm bước tiến của quân ta vào Biên Hoà. "Nhất định phải đục phăng tuyến phòng thủ ngoan cố này càng sớm càng tốt" - Sư đoàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị: - Trung đoàn 55, để lại Đại đội 2 pháo 122 và Đại đội 9 pháo 85 kiềm chế các trận địa pháo của địch, bảo đảm cho đội hình tiến công hành tiến của Sư đoàn vào Biên Hoà. - Tiểu đoàn 7 được tăng cường bốn xe tăng chi viện cho Tiểu đoàn 4 đột phá vào tuyến phòng thủ Hố Nai, mở đường cho Sư đoàn tiến công. - Trung đoàn 266 (thiếu Tiểu đoàn 7) qua ga Hố Nai đột nhập vào tổng kho Long Bình. - Trung đoàn 270 và 273 cơ động ra Trảng Bom, xốc lại lực lượng, chuẩn bị đánh vào Hố Nai - Biên Hoà sau khi tuyến rìa ngoài Hố Nai bị các Tiểu đoàn 7 và 4 chọc thủng. Sư đoàn thành lập sở chỉ huy tiền phương do phó Sư đoàn trưởng Vũ Cao và cán bộ cơ quan, đi sát chỉ huy hai Tiểu đoàn 7 và 4. Cán bộ cơ quan xuống các đơn vị đốc chiến. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Ba, 2022, 07:36:53 am Trong lúc pháo ta cấp tập vào phòng tuyến 1 Hố Nai, thì xe tăng và Tiểu đoàn 7 đã cơ động đến bờ Tây Suối Đỉa. Tiểu đoàn 4 đã triển khai đội hình sát ấp Hố Nai 1. Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 270 Đàm Quang Phấn và phó Chính uỷ Trung đoàn Hà Xuân Diệu cũng có mặt, trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 4.
Phó Trung đoàn trưởng Đàm Quang Phấn đề nghị cho nổ súng. Phó Sư đoàn trưởng nhìn đồng hồ, nói: - Thời cơ này là điểm nút cuối cùng để xung phong. Phải dứt điểm trong bất kỳ tình huống nào. Cho phát hoả! Pháo binh lập tức chuyển làn vào trung tâm Hố Nai. Các loại cối 60, 82, DKZ82 của hai tiểu đoàn đánh vào những mục tiêu lộ ở sát ấp Hố Nai 1, đại đội trưởng Lương Văn Tạ dẫn lực lượng đột kích vượt bãi trống ở lưng chừng dốc, đánh chiếm ngay các công sự tiền duyên. Bọn địch lùi dần vào sâu trong phố, lợi dụng nhà cửa, ngõ ngách bắn trả. Một khẩu trọng liên địch xuất hiện ở mép trái sau góc nhà của một cửa hiệu bán thuốc tây bắn tạt sườn mũi đột kích của Lương Văn Tạ. Các xạ thủ B.40, B41 của Tiểu đoàn 7 xuất hiện kịp thời dập tắt ngay khẩu trọng liên của địch. Bộ binh chớp thời cơ, đánh thốc vào Hố Nai 1. Địch đưa xe tăng ra cản phá. (Những chiếc xe tăng này đã được Chiến đoàn 22 điều đến từ đêm 27 tháng 4 và chúng đã bí mật cho0 xe tăng xuống hầm, chỉ để tháp pháo là là sát mặt đất, nòng pháo quay về phía sườn dốc Suối Đỉa). Xe tăng và bộ binh ta vừa tới đỉnh dốc thì một vệt lửa màu da cam từ sau góc nhà bốn tầng lướt đên. Rồi một quả nữa không rõ từ đâu chớp đánh nhằng trên đội hình xe tăng hai chiếc đi đầu của ta. Cùng lúc, pháo tăng, rồi đại liên từ sáu, bảy xe tăng địch bắn như vãi đạn. Đợt đột phá của ta bị chững lại. Bộ binh địch lợi dụng thời cơ này để phản kích. Chiến sĩ B.41 Đặng Ngọc Quyên ôm súng lăn mấy vòng qua Đường số 1, xuống rãnh đường. Lợi dụng một gò đất che khuất, Quyên tiếp cận mấy chiếc tăng, kê súng, néo cò. Chiếc xe tăng địch bốc cháy. Khẩu đội ĐKZ của Trần Đình Ngọ bắn cháy thêm chiếc nữa. Khẩu 12,7 của Nguyễn Văn Lưu cũng hạ nòng quét vào cụm bộ binh địch. Ba khẩu trung liên, hàng chục khẩu M.79 của các chiến sĩ đã đồng loạt bắn vào căn nhà bốn tầng và cửa hiệu thuốc tây. Bọn địch giạt cả về phía sau. Nắm thời cơ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Nguyễn Văn Huyên hạ lệnh xung phong. Các mũi đột kích ào lên, đánh thẳng vào trung tâm ấp Hố Nai 1. Số xe tăng địch còn lại chạy về phía cầu Săn Máu. Ta đang tổ chức đột phá tiếp vào trung tâm thị trấn Hố Nai thì bọn tàn quân Lữ đoàn 258 lính thuỷ đánh bộ, nhất là bọn cảnh sát ác ôn, bảo an, dân vệ ở thị trấn Hố Nai chặn đánh tiêu hao lực lượng ta. Chúng đã biến các Nhà thờ thành các pháo đài để "tử thủ". Các cửa hiệu, các cửa sổ nhà tầng, các tháp chuông Nhà thờ đều có những họng súng đen ngòm tới tấp xả đạn chặn đường. Cũng vì vậy mà sức tiến công của ta chậm lại. Khi các mũi xung kích của ta vào tới trung tâm Hố Nai thì trên dọc đường phố, đạn tiểu liên cực nhanh từ các ô cửa sổ quét rèn rẹt xuống mặt đường. Lựu đạn nổ sáng xanh, mảnh văng tung toé. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 7) đang dàn đội hình theo dãy phố, đại đội trưởng Nguyễn Xuân Toan đứng dưới gốc xoài đang chỉ hướng đê tiến công thì Bùi Đình Khiêm, chiến sĩ trung liên hét to: - Đại đội trưởng, nằm xuống! Ổ đại liên dãy trãi, gác ba lóe lửa Chính trị viên Hoàng Văn Xiu nhướn đôi lông mày: - Sơn! "Cốc" cho nó mấy quả M.79! Rất nhanh, Vũ Xuân Sơn nhặt khẩu M.79 bên gốc xoài "cốc" liên tiếp ba quả. Ổ đại liên câm họng. Đại đội trưởng Toan bật đứng dậy chỉ huy. Nhìn thấy khung cửa sổ nào cũng lóe lửa vàng nhoè, anh điều 12,7 lên, ra lệnh chỗ nào lóe lửa, cho nó một điểm xạ để đưa đội hình lên. Trong lúc đó, ở các sở chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn, ai cũng nóng ruột, cả một tuyến phòng thủ như Trảng Bom, Suối Đỉa chỉ đột phá trong bốn giờ, ta đã làm chủ, nay chỉ tuyến Hố Nai gần chục ki-lô-mét mà không chọc thủng được. Các mũi, các hướng khác đang áp sát Sài Gòn. Đài Tiếng nói Việt Nam lại đưa tin: "Biên Hoà đã giải phóng". Rõ ràng địch ở Biên Hoà đã bỏ chạy, thế mà ở đây, còn cách Biên Hoà gần hai chục ki-lô-mét, địch vẫn đánh chặn ác liệt. Bộ đội dồn ứ cả lại trên đoạn đường Trảng Bom, Suối Đỉa. Sở chỉ huy sư đoàn sôi lên. Bức điện khẩn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng vẫn để trên bàn. Lời trong bức điện: "Thời gian là sức mạnh, là thời cơ, cần suy nghĩ táo bạo, hành động táo bạo, thần tốc hơn nữa. Dùng sức mạnh hoả lực, đánh diệt lớn, vỡ lớn, tan lớn" như thúc giục. Bộ Tư lệnh sư đoàn nhận định: Do phán đoán tình hình địch không sát, nên tổ chức tiến công chậm. Địch chỉ dùng một lực lượng nhỏ, kết hợp với bọn cảnh sát ác ôn ở Hố Nai để ngăn chặn, làm chậm bước tiến công của ta để tạo cho Quân đoàn 3 và các lực lượng khác chuyển sang Tây sông Đồng Nai lập phòng tuyến mới. Sư đoàn quyết định cử phó Sư đoàn trưởng Vũ Cao và cán bộ cơ quan lên phía trước nắm chắc tình hình và trực tiếp chỉ huy. Kiên quyết dùng hoả lực mạnh áp đảo để dập nát bọn địch ở Hố Nai. Sáng 29 tháng 4, với đội hình năm xe tăng đi trước, tiếp đến là cao xạ 37, súng máy 12,7 rồi đến bộ binh, toàn Sư đoàn tiến công hành tiến vào Hố Nai. Trong lúc pháo tăng và cao xạ dập tắt các ổ đề kháng của địch trên các tháp chuông Nhà thờ, trên các ô cửa sổ thì các chiến sĩ bộ binh dùng lựu đạn, AK đánh chiếm từng tầng trêt, từng hầm ngầm của dãy phố. Đến 10 giờ, đội hình hành tiến của Sư đoàn đến ngã ba Hố Nai đi Biên Hoà. Tới đây xe tăng của ta chưa qua được vì gặp ngay bốn tuyến hào chống tăng. Địch lại gom góp tàn quân có cả xe tăng để chống cự. (Sau này mới biết địch còn 60 xe tăng, lợi dụng tuyến hào chống tăng và hậu cứ Chiến đoàn 22 để chống cự. Bọn này không nhận được lệnh của Quân đoàn 3 Ngụy "Trưa 29 tháng 4 rút về tây sông Đồng Nai để phòng ngự từ Thủ Đức"). Địch mất liên lạc lúc này trở thành khó khăn đối với ta. Sư đoàn quyết định để một bộ phận cầm chân địch, còn các đơn vị cứ phát triển, đánh chiếm các mục tiêu đã phân công. Trung đoàn 273 sau khi diệt một Tiểu đoàn địch trên đường vận động ở ga Long Lạc đã nhanh chóng tiến công vào sân bay Biên Hoà. Trung đoàn 270 vòng lên phía Bắc Đường số 1 đánh chiếm Hốc Bà Thức và phát triển qua sân bay. Trung đoàn 266 đánh chiếm sở chỉ huy Quân đoàn 3 Ngụy, một bộ phận vòng qua Hố Nai, đánh vào Long Bình. Đêm 29 tháng 4, số xe tăng địch ở ngã ba Hố Nai bị Sư đoàn 6 tiêu diệt. Sáng 30 tháng 4, Trung đoàn 266, Tiểu đoàn 5, rồi Tiểu đoàn 3 vượt qua sông Đồng Nai. Pháo địch từ Trường sĩ quan Thủ Đức, từ Trường cảnh sát Quốc gia và sau Nhà máy xi măng bắn dữ dội vào đoạn Long Bình - Thủ Đức. Pháo binh ta bắn chế áp các trận địa pháo binh địch để bảo vệ cho đội hình tiến công hành tiến của quân ta. Khoảng 6 giờ sáng, pháo binh mặt đất, pháo cao xạ của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 bắn giập đầu bọn pháo binh địch. Các trận địa pháo của chúng tê liệt dần. Cũng là lúc từng đoàn xe đủ các loại của quân ta đã vượt qua cầu Rạch Chiếc. Đến 10 giờ, Quân đoàn 2 đánh tan tuyến phòng thủ cuối cùng của địch, bắn cháy hơn 10 xe tăng, thiết giáp và đang vượt qua cầu Thị Nghè. Tuyến phòng thủ Sài Gòn đã bị đập vỡ. Các binh đoàn chủ lực hùng mạnh của quân ta tiến vào Sài Gòn như thác đổ, triều dâng. Sau đội hình Quân đoàn 2 là các đơn vị của Quân đoàn 4, trong đó có Trung đoàn 266, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 14 của Sư đoàn 341. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:29:38 am V. Cánh quân hướng Tây Nam - hướng đánh hiểm yếu Đoàn 232
Đoàn 232 được thành lập tháng 2 năm 1975 gồm hai Sư đoàn bộ binh: - Sư đoàn 3 do đồng chí Đỗ Quang Hưng làm Sư đoàn trưởng. - Sư đoàn 5 do đồng chí Vũ Văn Thược làm Sư trưởng; đồng chí Nguyễn Xuân Ôn làm Chính ủy. Và một số đơn vị binh chủng khác hợp thành. Trước đó, Đoàn 232 do đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) làm Tư lệnh; đồng chí Trần Văn Phác (Tám Trần) Chính ủy; đồng chí Trần Văn Nghiêm, Phó Tư lệnh. Khi triển khai Chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Năm Ngà và một bộ phận chỉ huy của Đoàn 232 được rút về sở chỉ huy cơ bản Miền cùng với anh Đồng Văn Cống phụ trách các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần của Miền để phục vụ cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đoàn 232 giao lại cho anh Lê Đức Anh chỉ huy thuộc hướng Tây Nam. Lúc nghe đồng chí Lê Đức Thọ phổ biến quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, từ trong lòng, mong muốn được tham gia chiến đấu từ mặt trận phía Nam vì đây không những là chiến trường quen thuộc mà còn là quê hương của chúng nữa. Do vậy khi được phân công làm Chính ủy cánh quân hướng Tây Nam đúng ước vọng của mình. Trong khi anh Sáu Nam ở lại nhận tiếp chỉ thị từ Bộ Chỉ huy chiến dịch thì tôi về Đoàn 232 trước để làm công tác tổ chức với anh Năm Ngà. Lực lượng vòng trong gồm: đặc công, biệt động Sài Gòn do đồng chí Trần Văn Danh chỉ huy. - Đồng chí Nguyễn Văn Linh phụ trách công tác nổi dậy của quần chúng. - Đồng chí Võ Văn Kiệt chỉ đạo công tác tiếp quản sau giải phóng. Bộ Chỉ huy chiến dịch cũng điều động Sư đoàn 9 tăng cường sang cánh quân Tây Nam. Ngoài ba Sư đoàn 3, 5, 9, cánh quân Tây Nam còn có các Trung đoàn của Miền và của Quân khu 8 do đồng chí Võ Thắng và Huỳnh Công Thân chỉ huy phối hợp. Theo sự phân công của Bộ chỉ huy Đoàn 232, Sư đoàn 9 là lực lượng đột kích chủ yếu vào hướng Tây Sài Gòn, đánh vào tuyến phòng thủ cầu Xáng Đường 10, Trầm Lạc, Xuân Thới Thượng, Tân Tạo, Bà Hom đến ngã năm Vĩnh Lộc, thọc sâu vào ngã tư Bảy Hiền, Trường đua Phú Thọ, đánh chiếm Biệt khu Thủ đô Ngụy. Sư đoàn 3 đánh chiếm tiểu khu Hậu Nghĩa, chi khu Đức Huệ, Đức Hòa - bảo đảm hành lang Đường 10 và tuyến sông Vàm Cỏ Đông phối hợp Trung đoàn 25 công binh làm cầu phà để xe cơ giới và binh khí kỹ thuật vượt sông Vàm Cỏ Đông và Kinh Xáng; Trung đoàn đặc công 27 diệt yếu khu Bà Hom, An Lạc, Bình Điền, khống chế và cắt Đường 4, giữ cầu, đảm bảo sườn và mặt sau cho Sư đoàn 9; sư đoàn 5 không đánh Mộc Hóa mà áp sát thị xã Tân An, cắt Đường 4 từ thị xã Tân An đến Bến Lức và phía Nam Tân An, đoạn Tân An - Tân Hiệp, giữ cầu Bến Lức, cầu Tân An. Trung đoàn pháo binh 75 yểm trợ hỏa lực cho Sư đoàn 3 đánh chiếm tiểu khu Hậu Nghĩa, sau đó di chuyển sang Mỹ Hạnh chi viện cho Sư đoàn 9 tiến về Sài Gòn. Anh Sáu Nam (Lê Đức Anh) nhận nhiệm vụ tại Bộ Chỉ huy chiến dịch ngày 17 tháng 4. Từ căn cứ Miền ở Tà Thiết (Lộc Ninh) chúng tôi vượt sông Sài Gòn về hướng Tây Ninh xuống mé Nam Ba Thu về căn cứ Tỉnh đội Long An, đoạn nào đi xe gắn máy được thì anh em bảo vệ chở chúng tôi bằng xe Honda 90. Người chở tôi là Lưu Hùng, một Việt kiều sống tại Phnôm Pênh tham gia Quân giải phóng. Một chiến sĩ trẻ khác chở anh Sáu Nam. Nhiều đoạn phải vượt qua rừng tràm, rừng bàng để đi, vùng này gần như vùng trắng vì dân tản cư về gần thị trấn để tránh bom, pháo địch. Bộ phận Tham mưu, Chính trị, Hậu cần gồm mấy chục người do anh Trần Văn Nghiêm - Tham mưu trưởng điều động đi liền phía sau. Làm việc căng thẳng, hành quân liên tục, anh Sáu Nam thấm mệt, những đoạn đường phải đi bộ ban đêm, anh đi rất khó khăn vì mắt yếu. Lúc này quyết chiến điếm ở phía Đông đang hồi ác liệt, địch tăng cường tối đa quân dự bị biệt động và thủy quân lục chiến, huy động phần lớn máy bay chiến thuật ở Biên Hòa đê yếm trợ bộ binh, chúng cũng đã sử dụng đến bom C.B.U có tầm sát thương lớn để cố giữ phòng tuyến quan trọng này. Bộ Chỉ huy hướng Đông có anh Trần Văn Trà và anh Hoàng Cầm quyết định chuyển hướng tấn công về ngã ba Dầu Giây, Núi Thị và Trảng Bom tức là bất ngờ đánh vào chỗ yếu và trực tiếp uy hiếp Biên Hòa, cô lập Xuân Lộc với Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 Ngụy làm cho Xuân Lộc mất tác dụng vì nằm ngoài tuyến tấn công của ta. Mặc dù phản kích quyết liệt nhưng Quân đoàn 3 Ngụy không tái chiếm được Dầu Giây mà Đường 20 bị quân giải phóng khống chế hoàn toàn - Biên Hòa trở thành tuyến tiền tiêu bị uy hiếp. Ngày 18 tháng 4, Quân đoàn 3 Ngụy dùng trực thăng bốc một lực lượng từ Xuân Lộc về Biên Hòa. Ngày 21 tháng 4, Xuân Lộc sụp đổ, tướng Ngụy Lê Minh Đảo được trực thăng bốc chạy khỏi trận địa đổ nát, Sư đoàn 18 của y chỉ còn bốn tiểu đoàn chạy thoát. Phòng tuyến phía Đông đã vỡ, buổi chiều cùng ngày (21/4) Nguyễn Văn Thiệu từ chức, bàn giao quyền Tổng thống Việt Nam Cộng hòa lại cho phó Tổng thống Trần Văn Hương, tình hình chính trị diễn biến hàng ngày, thậm chí từng giờ vào giai đoạn cuối. Trên đường hành quân về Mộc Hóa, anh Sáu Nam nhận được những tin tức đáng phấn khởi này. Trong khi Sư đoàn 5 được lệnh không đánh Mộc Hóa mà hành quân hỏa tốc về hướng Thủ Thừa áp sát thị xã Tân An, sẵn sàng cắt Đường 4 không cho địch rút chạy về đồng bằng sông Cửu Long thì ở hướng Nam Tân An, đồng chí Võ Thắng và Huỳnh Công Thân chỉ huy các Trung đoàn của Khu 8 và Tân An, theo tỉnh lộ 50 tiến về Quận 7, Quận 8 để tiếp cận mục tiêu Tổng nha cảnh sát Ngụy và kho xăng Nhà Bè. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư điện chỉ đạo tiếp cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch: "... Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày kịp thời phát động tấn công địch trên các hướng không đê chậm. Nếu để chậm thì không có lợi cả về chính trị và quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chăn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Các anh ra chỉ thị cho các hướng hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tấn công quăn sự và quần chúng nổi dậy, sự hợp đồng giữa các hướng củng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định giành toàn thắng". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:30:45 am Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 5 tấn công Sư đoàn 22 Ngụy lần lượt tiêu diệt từng đơn vị mới được bổ sung tăng cường co cụm từ cầu Voi đến cầu Bến Lức, Sư đoàn 5 khống chế và làm chủ Đường 4 từ Tân An lên Cầu Voi; Trung đoàn 16 thì đánh chiếm khu vực cầu Bình Điền và An Lạc; hai Trung đoàn đặc công 115 và 117 phối thuộc cánh Tây Nam đánh chiếm vùng Phú Lâm.
Cùng thời điểm này, anh Sáu Nhẫn (Bùi Văn Trữ) Phó phòng công binh Miền đang chỉ huy cán bộ chiến sĩ công binh kết hợp với đồng bào địa phương huy động phương tiện tại chỗ để tạo đường dẫn vượt sình lầy và làm cầu phà ứng dụng (cầu phà dã chiến) để phương tiện cơ giới, xe tăng và pháo của Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông thuộc địa phận xã An Ninh, rồi tập kết về địa bàn xuất phát tấn công thuộc vùng Mỹ Hạnh, Đức Hòa, theo Đường 10 tiến về Sài Gòn. Ngày 27 tháng 4, mũi tiến công phía Nam theo tỉnh lộ 50 từ Cần Giuộc lên đã lập bộ phận tiền trạm tại xã Bình Đăng quận 8 dự kiến 28 tháng 4 sẽ chiếm cầu Chữ Y và ngày 29 tháng 4 chiếm lĩnh trận địa, đợi lệnh tấn công vào mục tiêu. Đến ngày 28 tháng 4, một sự kiện gây chấn động lớn trong hàng ngũ Ngụy quân, Ngụy quyền: Một phi đoàn (năm chiếc máy bay A37) do phi công Nguyễn Thành Trung hướng dẫn táo bạo, bất ngờ oanh kích sân bay Tân Sơn Nhất. Sau đó được biêt máy bay này do ta thu được khi giải phóng Đà Nẵng và được Trung ương lập kế hoạch sử dụng tiến công sân bay Tân Sơn Nhất vào những ngày cuối để phá đường băng và số máy bay chiến đấu của địch, hạn chế tối đa sức mạnh không quân của Ngụy khi ta đồng loạt tiến công vào Sài Gòn. Cùng ngày 28 tháng 4, Trần Văn Hương sau một tuần nhậm chức đã đành phải bàn giao chiếc ghế Tổng thống cho tướng Dương Văn Minh theo mưu đồ của các thế lực chính trị thực dân, đế quốc. Ngày 29 tháng 4, anh Sáu Nam đến căn cứ Tỉnh đội Tân An, giăng võng trong hội trường có sẵn hầm tránh bom pháo. Hội trường nằm trong địa hình có nhiều tàn cây che khuất. Có chút việc muốn tranh thủ bàn với anh Sáu nên đề nghị anh có giăng võng nằm cùng để vừa bàn công việc, vừa nghỉ lưng. Hai anh em vừa lên võng nằm nghỉ thì bất thình lình nghe tiếng máy bay và rồi hàng loạt bom tọa độ nổ liên hồi, khói lửa mịt mù - anh lăn xuống hầm theo phản xạ ở chiến trường. Khi báo yên chúng tôi nhìn thấy căn nhà Tỉnh đội bị trúng bom cháy rụi chỉ còn trơ lại cây cột đang cháy lem nhem, chiếc xe u-oát cháy, đồng chí lái xe hy sinh, bốn chiến sĩ bảo vệ bị thương, trong đó có đồng chí Hồng mất hai chân thật thương tâm! Chiến tranh là đau thương, là hy sinh mất mát, biết làm sao được! Sau này, năm 1998 khi đến thăm anh Sáu tại nhà riêng, anh còn nhắc lại lần chết hụt này. Theo mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, đúng 00 giờ 00 ngày 29 tháng 4 năm 1975, đồng loạt cả năm cánh quân nổ súng tiến công vào nội đô Sài Gòn, dũng mãnh, táo bạo tiến đến mục tiêu đã được phân công. Ở hướng Tây, Sư đoàn 9, mũi chủ lực của cánh quân Tây Nam, theo kế hoạch, sau khi cơ giới, tăng và pháo vượt qua sông Vàm Cỏ Đông đêm ngày 28 tháng 4, ngày 29 tháng 4 Sư đoàn 9 hành quân về Sài Gòn. Điều lo nhất lúc bấy giờ là các phương tiện cơ giới, tăng pháo có vượt được sông Vàm Cỏ Đông không? Vùng dự kiến vượt sông, phía Mỹ Quí thuộc bờ Tây sông Vàm Cỏ Đông thì địa hình rất lầy, ngược lại bên bờ phía Đông thuộc xã An Ninh, Lộc Giang thì bờ sông rất dốc. Điện gặp anh Bùi Văn Trữ, Phó phòng Công binh Miền để nắm tình hình. Anh Trữ báo: - Báo cáo để anh Hai yên tâm: dân công và bộ đội địa phương đã có phương án khắc phục. Tăng và phương tiện cơ giới khác chắc chắn vượt được sông Vàm Cỏ Đông đúng theo kế hoạch. Nghe anh Trữ báo cáo đầy tự tin, lúc này mới yên tâm. Sau khi qua sông, ngày 29 tháng 4, Sư đoàn 9 hành quân về Sài Gòn theo ba trục đường. - Trục thứ 1: Trung đoàn 1 bộ binh được tăng cường sáu xe tăng PT85, hai khẩu pháo 85, một Tiểu đoàn pháo cao xạ đánh chiếm cầu Bà Lác, cầu Lớn, qua ngã năm Vĩnh Lộc tiến vào ngã tư Bảy Hiền, rồi theo đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng tháng Tám) đánh chiếm Biệt khu Thủ đô từ hướng Bắc, Đông Bắc; - Trục thứ 2: Trung đoàn 3 được tăng cường ba xe tăng T54, sáu xe bọc thép PTR.60, hai khẩu pháo 85, một Tiểu đoàn cao xạ tiến song song với lộ qua cầu An Hạ, Bà Lác, Bà Hom đánh chiếm Trường đua Phú Thọ rồi theo đường Trần Quốc Toản (nay là Đường 3-2) đánh chiếm Biệt khu Thủ đô từ hướng Nam, Đông Nam; - Trục thứ 3: Trung đoàn 2 được tăng cường bảy xe tăng T54, 16 xe bọc thép PTR60, 2 xe M113, bốn khẩu pháo 85, hai tiểu đoàn cao xạ mở đường từ An Ninh đến Mỹ Hạnh, bảo đảm cho binh khí kỹ thuật của Sư đoàn hành quân. Sau đó tiến vào theo trục của Trung đoàn 1 hướng về Biệt khu Thủ đô và phát triển về "Dinh Độc Lập". Năm giờ sáng ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 1 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Chia và Chính ủy Lê Văn Dũng chỉ huy cùng Bộ chỉ huy nhẹ của Sư đoàn 9 về đến bìa rừng Vĩnh Lộc. Trung đoàn 2 do Trung đoàn trưởng Lê Tấn Cẩm và Chính ủy Lê Giao chỉ huy cùng sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn hành quân sang Bàu Công. Trung đoàn 3 do Trung đoàn trưởng Hoàng Chuẩn và Chính ủy Hồ Giáo chỉ huy diệt một số chốt dã ngoại của địch, đánh tan một Tiểu đoàn biệt động quân Ngụy, làm chủ đoạn đường (lộ 10) từ ngã ba Bà Lác đến cầu Kinh Xáng. 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi các binh đoàn thọc sâu các hướng Tây Bắc, Bắc, Đông và Đông Nam hùng dũng tiến vào nội thành đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong thành phố thì ở hướng Tây Nam các mũi tiến công của Sư đoàn 9 đã vượt qua tuyến phòng thủ cơ bản của địch vào ngã tư Bảy Hiền. 9 giờ 20 phút, trinh sát kỹ thuật của Sư đoàn bắt được tin Ngụy quyền Trung ương ra lệnh "ngừng bắn để thương lượng với phía bên kia". Thời điểm này, Bộ chỉ huy cánh quân Tây Nam đang hành quân từ căn cứ Tỉnh đội Tân An về Đức Hòa. Ở đây là vùng thị trấn nên dân không tản cư, tại xã Bình Tả có một số bà con biết tôi nên tìm đến thăm. Cũng ở chặng đường này, Tham mưu trưởng Trần Văn Nghiêm nhận được tin Ngụy quyền ra lệnh ngừng bắn, anh báo lại đồng chí Tư lệnh Lê Đức Anh. Sau đó, Bộ chỉ huy cánh quân Tây Nam nhận được nội dung điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương do Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh chuyển đến: "Tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ Thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng". Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:31:36 am 10 giờ 20 phút, Đại đội 2 của Trung đoàn 1 tiến qua cổng trại Lê Văn Duyệt (Biệt khu Thủ đô) bắt tướng Lâm Văn Phát, Tư lệnh Thủ đô và nhiều sĩ quan thuộc quyền. Cờ giải phóng được kéo lên cột cờ Biệt khu Thủ đô đúng 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4. Mũi tiến công phía Nam Sài Gòn, Bộ chỉ huy gồm các đồng chí Võ Thắng, Huỳnh Văn Mến, (Tư Thân), Tư Chiều, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Long An. 10 giờ ngày 30 tháng 4, đồn Đa Phước đầu hàng. "Từ Đa Phước quần chúng dùng xe đò, xe hàng chở toàn bộ cơ quan chỉ huy đến cầu Chữ Y - lúc bấy giờ là 11 giờ 30 phút. 12 giờ, Sở chỉ huy cánh Nam đến Tổng nha Cảnh sát, sau lực lượng tiến công (Trung đoàn 4) một tiếng rưỡi". (Tức lúc 10 giờ 30 phút, Trung đoàn 24 đã đánh chiếm xong Tổng nha cảnh sát Ngụy).
Những dòng trên là điện của sở chỉ huy cánh Nam gửi đồng chí Lê Đức Anh (tức Sáu Nam) Tư lệnh cánh quân Tây Nam báo cáo cánh quân phía Nam đã chiếm mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ. Đoàn 10 đặc công đã đánh chiếm căn cứ Phước Kháng, cảng Hải quân và Kho xăng dầu Nhà Bè. Như vậy đến 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, cánh quân Tây Nam đã chiếm giữ các mục tiêu được phân công tại nội đô Sài Gòn (Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát, riêng Kho xăng Nhà Bè thì do Đoàn 10 đặc công đánh chiếm). Cùng thời điểm này, Quân đoàn 1 (hướng Bắc) chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, Quân đoàn 3 (hướng Tây Bắc) chiếm sân bay Tân Sơn Nhất... Quân đoàn 4 (hướng Đông) chiêm Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng, v.v... Quân đoàn 2 (hướng Đông Nam) đánh chiếm Dinh Độc Lập, nơi tượng trưng cho uy quyền cao nhất của chế độ Sài Gòn. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 2 đã kéo cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng lên cột cờ tòa nhà chính Dinh Độc Lập bắt Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các địch. Theo hiệp đồng tác chiến, sau khi chiếm Biệt khu Thủ đô, một bộ phận của Sư đoàn 9 chốt giữ mục tiêu đã chiếm, bộ phận còn lại phát triển phối hợp với Quân đoàn 2 tiến chiếm Dinh Độc Lập. Do vậy, vào lúc 11 giờ 30 phút các Tiểu đoàn 1, 2 (Trung đoàn 1), Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 9) cũng có mặt tại Dinh Tổng thống Ngụy, lúc cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 2 bắt toàn bộ nội các Dương Văn Minh. Ngoài mục tiêu nội thành, cánh quân Tây Nam còn một nhiệm vụ chiến lược khác là khống chế, chiếm giữ quốc lộ 4, theo dõi chặt chẽ âm mưu co cụm của địch về đồng bằng sông Cửu Long để kịp thời báo cáo với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng thời phối hợp với Quân khu 8, Quân khu 9 phá tan âm mưu này của địch. Vì vậy Bộ chỉ huy cánh quân Tây Nam đã chỉ đạo cho Sư đoàn 5 giữ vững trận địa, tiếp tục chiếm giữ quốc lộ 4, cầu Bến Lức, cầu Tân An. Riêng lực lượng vũ trang Mỹ Tho và Quân khu 8 chịu trách nhiệm từ Trung Lương đến Bắc Mỹ Thuận, khống chế và đánh chiếm khu Đồng Tâm thuộc xã Bình Đức huyện Châu Thành Mỹ Tho là căn cứ cũ của Sư đoàn 9 Mỹ và lúc bấy giờ là căn cứ của Sư đoàn 7 Ngụy. Khu 8 phối hợp cùng Đoàn 232 tiến công trên hướng Tây Nam chiếm Tổng nha cảnh sát Ngụy. Cuối tháng 2 năm 1975, ở Khu 8: Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đã kiểm điểm đánh giá kết quả đợt 1, đã phân tích những nguyên nhân hạn chế và đề ra quyết tâm nhiệm vụ đợt 2 một cách sát hợp hơn được Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền nhất trí thông qua. Đồng chí Thiếu tướng Lê Quốc Sản sau thời gian trị bệnh ở miền Bắc đã trở lại Quân khu làm Tư lệnh thay đồng chí Đồng Văn Cống về làm Phó tư lệnh Miền. Đồng chí Trần Văn Nghiêm - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu về làm Tham mưu trưởng Miền. Đồng chí Lê Minh Đào làm Tham mưu trưởng Quân khu 8. Phương án tiến công đợt 2 cũng đã được Quân khu thông qua. Ngày "N" của đợt 2 thống nhất với ngày "N" của chiến dịch Tây Nguyên. Ngày 1 tháng 3 năm 1975 Sư đoàn 8 triệu tập các Trung đoàn trưởng, Chính ủy lên sở chỉ huy Quân khu nhận nhiệm vụ. Sau khi nghe Bộ tư lệnh Quân khu thông báo tình hình chung, nói rõ nhiệm vụ tủa Quân khu trong đợt 2, đã nhấn mạnh nhiệm vụ Trung đoàn 24 trong trận then chốt mở màn. Đây là một trận đánh khó khăn và phức tạp nhất, mục tiêu lớn, công sự kiên cố, sông ngòi bao bọc, Sư đoàn 7 đang đứng trong khu vực. Dứt điểm được Ngã Sáu lại tiêu diệt được 1-2 tiểu đoàn chủ lực địch thì ý nghĩa thắng lợi sẽ vô cùng to lớn. Trung đoàn 24 là trung đoàn đánh công sự vững chắc, Quân khu rất tin tưởng nên giao cho các đồng chí trọng trách này. Các trung đoàn của Sư đoàn 320 phải diệt được quân viện không cho chúng vào giải tỏa bảo đảm cho Trung đoàn 24 yên tâm hoàn thành nhiệm vụ. Đây là trận đánh cấp Sư đoàn của Quân khu diệt cả địch trong công sự và ngoài công sự ở một địa hình sông nước, yêu cầu phát huy hết khả năng để hoàn thành tốt trận then chốt. Sư đoàn cho biết: Trung đoàn 24 được tăng cường 1 khẩu cối 120 ly, 3 dàn tên lửa H12, 2 bệ phóng bom tự tạo... cộng với hỏa lực của Trung đoàn. Tối mồng 1 tháng 3 năm 1975 đội hình Trung đoàn đã di chuyển về tuyến kênh 28 đóng cách căn cứ Ngã Sáu khoảng 2 ki-lô-mét về phía Đông Nam. Đây là vùng mới giải phóng chỉ còn lại sô ít dân trông nom vườn tược, đại đa số đã tạm cù trú ở ven thị trấn... Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn đã nghiên cứu quán triệt nhiệm vụ trên giao, xác định sơ bộ phương án tác chiến đế cán bộ đi chuẩn bị chiến trường và chuẩn bị tư tưởng, vật chất kỹ thuật cho bộ đội. Đồng chí Trung đoàn trưởng cùng các Tiểu đoàn trưởng, Tham mưu trưởng và cấp phó đêm 2 tháng 3 đã vào trinh sát nghiên cứu căn cứ Ngã Sáu, nắm được vị trí của địch nằm ở góc hẹp phía Đông Ngã Sáu, phía Tây Bắc giáp kênh Cái, phía Đông Nam giáp kênh 28 theo hình chữ nhật lệnh giống hình thang, diện tích khoảng 2.000 mét vuông. Địch xây dựng căn cứ ở vị trí này là rất hiểm hóc ba mặt là sông nước kênh rạch, còn phía Đông là đồng lầy bỏ hoang, quân cơ động có thể từ hướng này phản kích lại. Lực lượng địch khoảng 300 tên do Tiểu đoàn bảo an 453 và 1 trung đội pháo 105 ly 2 khẩu đóng giữ từ khi Mỹ vào miền Nam. Đây là căn cứ do công binh Mỹ xây dụng (theo địa phương cho biết). Điểm mạnh của địch là quân đông, hỏa lực mạnh, công sự vật cản kiên cố, địa hình xung quanh bất lợi cho đối phương tiến công. Ngoài ra địch còn được 6 trận địa pháo, cùng không quân và lực lượng Sư đoàn 7 đứng cách vài ki-lô-mét về phía Bắc chi viện. Từ đó địch có phần chủ quan cho đây là căn cứ bất khả xâm phạm vì từ trước đến nay chưa bị tấn công lần nào. Hàng ngày địch tung lực lượng ra phục kích, trinh sát thăm dò, cấm dân buôn bán, gia đình binh sĩ đến gần đồn, đặc biệt không ai được vào trong đồn, do đó lực lượng ta (địa phương) tổ chức vào không được. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:33:54 am Sau khi điều tra nghiên cứu, tìm hướng đột phá chủ yếu, thứ yếu, xác định cách đánh, Trung đoàn giao nhiệm vụ cho các tiểu đoàn, bộ phận hỏa lực. Mọi kế hoạch hiệp đồng bảo đảm được thảo luận kỹ trên sa bàn. Công binh bắc 3 dây cáp cho bộ đội tập, các kỹ thuật cắt rào, giá đặt bộc phá, động tác xung phong đánh chiếm đầu cầu,... đã được bộ đội chuẩn bị tốt, tư tưởng quyết tâm của cán bộ chiến sĩ rất cao, xác định quán triệt sâu sắc ý nghĩa trận đánh - trận then chốt mở màn đối với toàn Quân khu.
Về chỉ huy: đồng chí Trung đoàn phó Út Thu đi trực tiếp với Tiểu đoàn 5, đồng chí Phó Chính ủy Bùi Văn Thương đi trực tiếp với Tiểu đoàn 4, sở chỉ huy Trung đoàn đóng gần Tiểu đoàn 4. Quyết tâm chiến đấu của Trung đoàn được Quân khu hoàn toàn nhất trí. Đồng chí Tám Vỵ - Sư đoàn phó cùng cơ quan luôn xuống Trung đoàn kiểm tra xem xem có gì cần thì giải quyết liền. Đồng chí Ba Trọng - Chính trị viên Huyện đội Cái Bè, thương binh phải chống nạng cũng đến thăm và động viên Trung đoàn, đồng chí nói: "Các anh mà dứt điểm Ngã Sáu này thì huyện Cái Bè coi như được giải phóng 80 - 90 phần trảm - Ngã Sáu mà đi đứt thì số đồn bót kềm kẹp còn lại vắt chân lên cổ mà chạy". Đồng chí Ba Bá - Tỉnh đội phó Mỹ Tho cũng đến động viên Trung đoàn và nói rõ kế hoạch hợp đồng tiến công gỡ đồn của tỉnh với đánh căn cứ Ngã Sáu của Trung đoàn 24. Tới 10 tháng 3 năm 1975 toàn Trung đoàn chia thành nhiều hướng mũi tiến về căn cứ Ngã Sáu, trời sáng sao lờ mờ, không gian hoàn toàn yên tĩnh. Tất cả mọi người ai cũng chờ đợi và hy vọng. Suốt đêm 10 tháng 3 địch không bắn một phát súng, một quả pháo sáng nào. Liên lạc giữa Trung đoàn với các Tiểu đoàn 4, 5, 6, trận địa hỏa lực đều thông suốt, bộ đội bí mật thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật một cách thận trọng chính xác... Trung đoàn trưởng yêu cầu kiểm tra lại giá đặt bộc phá hỏa lực kiểm tra lại các phần tử bắn chờ 4 giờ (sáng 11 tháng 3) sẽ có lệnh. Đồng chí Phan Lương Trực - Tham mưu phó Quân khu đi với Sở chỉ huy Trung đoàn đã báo cáo tình hình trên với Bộ tư lệnh Quân khu ở sở chỉ huy tiền phương (có đồng chí Ba Thắng - Chính ủy, Trần Văn Nghiêm - Phó tư lệnh, Huỳnh Văn Mến - Phó tư lệnh, Mười Thi - Chính ủy Sư đoàn 8 cùng đồng chí Tám tỵ - Phó tư lệnh Sư đoàn 8 trực chiến theo dõi chặt Trung đoàn). Đúng 4 giờ 11 tháng 3 năm 1975 Trung đoàn ra lệnh phát hỏa, lập tức 2 quả bộc phá nổ tung rung chuyển cả khu vực, các loại hỏa lực dồn dập nã vào căn cứ Ngã Sáu. Sau 3 phút Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 đều báo cáo đã chiếm được đầu cầu rồi đang nhanh chóng phát triển, 2 lô cốt bị phá hủy tan tành, mỗi nơi chết gần chục tên. Tiểu đoàn 4 báo cáo đã vượt sông an toàn tuyệt đối. Cối 120, 81 ly, 12,8 ly, đại liên, ĐKZ tiếp tục bắn phá những mục tiêu cản trở bộ binh ở trung tâm. Các Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 đều báo cáo trong đồn, địch bố trí dây kẽm ngăn cách từng khu nhỏ một, địch toàn ở nhà nửa chìm nửa nổi, nối với các giao thông hào ra tường hộp và lô cốt không thể đánh phát triển nhanh như Tam Bình, Sa Mát được... Các tiểu đoàn yêu cầu tăng cường bộc phá và đạn hỏa lực vào, ĐKZ 75 của Tiểu đoàn 5 đã được điều vào trong đồn. Đồng chí Út Thu và đồng chí Thương - Phó chính ủy và các Tiểu đoàn trưởng đều đang ở trong đồn. Địch phản kích từ hướng Tây Bắc và đã bị B41 và ĐKZ 75 tiêu diệt, chúng co lại... Tiểu đoàn 4 và 5 đều trông thấy nhau trong giao thông hào, bộ đội đã dùng xẻng đào đất vòng qua rào kẽm nhét lựu đạn thủ pháo vào hầm địch... địch đã ném lựu đạn ra, ta ném trả làm chúng sợ không dám ném nữa. Đến 8 giờ 30 ta chiếm được trận địa pháo, 2 khẩu nguyên vẹn, pháo thủ địch bỏ chạy hêt nên không hạ nòng bắn được. Khu trung tâm ta làm chủ, địch dồn hết về Khu chỉ huy phản kích lại. Tiểu đoàn 4 đánh chiếm được bờ tường thành phía Nam, Tiểu đoàn 5 chiếm được bờ tường thành phía Bắc đang hướng về Khu chỉ huy địch ở hướng Nam Tây Nam. Số thương vong của chúng đã lên tới trên 100 tên, nhiều hầm, hào đầy xác chết. Tiểu đoàn 453 yêu cầu chi viện gấp ngay từ lúc 6 giờ sáng. Đến 12 giờ trưa ta làm chủ một phần hai đồn, địch dựa vào các hầm hào được lệnh tử thủ. Các Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 phải chấn chỉnh lại đội hĩnh, điều động hỏa lực, tổ chức hiệp đồng từng Tiểu đoàn để chuẩn bị đánh dứt điểm. Lúc 6 giờ sáng, hướng Tiểu đoàn 6, đồng chí Hoàn - Tiểu đoàn trưởng báo cáo cách 700mét ở hướng Đông Bắc có khoảng 1 đại đội địch đang bò vào. Các loại súng đại liên, cối 82 ly đang sẵn sàng nhả đạn. Đây là đại đội do trực thăng địch đổ xuống lúc 5 giờ 30 phút sáng. Tiểu đoàn 6 đã nổ súng diệt nhiều tên buộc chúng phải lùi lại hàng trăm mét, khẩu cối 82 ly của đồng chí Phan Khắc Long bắn rất trúng làm đại đội địch vừa chạy lùi vừa kêu pháo chi viện. Phi pháo đã giội bom bắn phá dữ dội từ lúc 5 giờ sáng quanh căn cứ Ngã Sáu. Khẩu cối 82 của đồng chí Long đã bị bom nổ gần, làm đồng chí Long - Trung đội phó bị thương, khẩu đội đã di chuyển sang chỗ khác. Đến 8 giờ, Trung đoàn 320 đã chạm súng ở cánh đồng Bằng Lăng với 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7. Ở Ngã Sáu, địch dựa vào công sự, dây kẽm, hầm hào phản kích rất quyết liệt, chúng tập trung hết hỏa lực để đối phó. Ta phải diệt từng ổ đề kháng cho từng tổ đánh chiếm, không thể xung phong vào được vì vật cản nên tốc độ chậm. Đến 15 giờ ta đánh chiếm được gần hết tường thành phía Tây. Hỏa lực của 2 tiểu đoàn dập vào khu cố thủ ở góc phía Tây Nam. Đến 16 giờ 30 phút ta làm chủ hoàn toàn căn cứ. Địch đã chạy thoát một số bằng xuồng khoảng vài chục tên (xuồng này chúng đã ém sẵn ở bờ Tây sông để hàng ngày đi lại), ta dùng đại liên bắn chặn, ĐKZ chế áp không kết quả. Kết quả trong 1 ngày chiến đấu ta đã diệt và bắt 280 tên, địch chạy thoát khoảng 20 - 30 tên, diệt gọn Tiểu đoàn bảo an 453, 1 trung đội pháo binh, 1 trung đội thám báo, diệt 30 tên của Sư đoàn 7 phản kích. Thu 250 súng các loại, 2 pháo 105 ly, 2 cối 81, 4 đại liên, 2 khẩu 12,7 ly, 6 khẩu ĐKZ 57, 10 khẩu M79 còn lại M16, 1 kho đạn pháo, cối ĐKZ... Thương vong của ta 35 đồng chí (hy sinh 11, có đồng chí Hào - Chính trị viên phó Tiểu đoàn, 4 cán bộ đại đội bị thương). Theo lệnh Quân Khu: Trung đoàn 24 để lại 1 đại đội chốt giữ, đêm có lực lượng Trung đoàn 207 vào thay thế Trung đoàn rút ra vị trí quy định. Về đánh viện: Trung đoàn 320 đã diệt 1 tiểu đoàn (Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy) lúc 15 giờ ngày 11 tháng 3. Sư đoàn 7 đưa Tiểu đoàn thứ 1 của Trung đoàn 10 đi tăng viện tiếp lại đúng vào hướng Trung đoàn 207 đã bố trí, tiểu đoàn này bị đánh thiệt hại nặng phải quay trở lại. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:35:01 am Ngày 11 tháng 3 ở hướng chủ yếu của đợt 2, Sư đoàn 8, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diệt được căn cứ Ngã Sáu, 1 tiểu đoàn chủ lực và đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác của Sư đoàn 7.
Nhưng rạng sáng ngày 12 tháng 3 lực lượng Sư đoàn 7 vào định chiếm lại căn cứ Ngã Sáu kết hợp giải quyêt hậu quả đã bị Trung đoàn 207 đánh bật. Ta làm chủ khu vực Ngã Sáu làm cho nhiều đồn bốt còn lại ở khu vực Cái Bè chưa đánh đã chạy. Lực lượng địa phương giải phóng hàng loạt ấp xã. Mục tiêu của Quân khu lúc này cụ thể là Sư đoàn 8 bao vây tiến công thẳng vào các chi khu, căn cứ cấp sư đoàn, trung đoàn địch nhằm tiêu diệt quân chủ lực Ngụy, còn các tỉnh đẩy mạnh tiến công cùng với huyện. Hàng loạt đồn bốt khắp nơi bị ta đánh chiếm. Sư đoàn 7 vào giải tỏa Cai Lậy nhưng chúng hành quân ngoài phương án tác chiến của Trung đoàn 24 nên không bị diệt. Chủ lực và bảo an co về phòng thủ các mục tiêu quan trọng không dám giải tỏa. Lực lượng các tỉnh đã tiến công và nổi dậy khá mạnh. Địch đã bị đánh bật khỏi vùng 4 Kiến Tường, tỉnh Kiến Phong. Kiến Tường cơ bản đã không còn địch trừ thị xã và một số thị trấn. Các huyện của tỉnh Mỹ Tho ta cũng kiểm soát tới 85 %, trong đó có huyện Chợ Gạo là chủ yếu của Mỹ Tho, địch chỉ còn ở chi khu và mấy đồn ven lộ. Tỉnh Bến Tre cũng giải phóng tới 65% số xã, huyện... Vùng giải phóng đã liên hoàn tỉnh với tỉnh, huyện với huyện, xã với xã. Trung đoàn 1 đã được lệnh rời khỏi Bến Tre về Mỹ Tho. Đường hành lang từ biên giới vào nội địa thông suốt, đi ban ngày được, quân số vũ khí đạn dược được bổ sung kịp thời cho cả chủ lực và địa phương. Thanh niên tòng quân ngày càng nhiều, lực lượng ta (của chủ lực và địa phương) đều được bổ sung quân dồi dào. Lực lượng các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, dân quân và các phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh ở khắp nơi. Lực lượng phòng vệ dân sự của địch tự tan hết. Nhiều tên làm việc cho Ngụy quân Ngụy quyền bỏ trốn hoặc tìm cách liên lạc với địa phương để thanh minh tội lỗi. Tỉnh Gò Công là khu vực địch kìm kẹp nặng nhất, lực lượng ta cũng gỡ được nhiều đồn bốt, giải phóng nhiều xã ấp, tề Ngụy tan rã từng mảng. Cùng với các quân khu, Quân khu 8 đã được Trung ương Cục, Quân ủy Miền phổ biến tình hình và giao nhiệm vụ chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đồng chí Huỳnh Phú Sổ, Bí thư Khu ủy, Chính ủy Quân khu 8 nhận nhiệm vụ: ngoài nhiệm vụ tự giải phóng toàn Khu 8, Quân khu còn phải mở một mũi tiến công vào phía Nam Thành phố Sài Gòn cấp tương đương Sư đoàn đánh chiếm Tổng nha cảnh sát Ngụy, một trong năm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch. Bộ Tư lệnh Quân khu 8 đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị. Cánh quân đánh vào Sài Gòn, chiếm Tổng nha cảnh sát được Quân khu sử dụng gồm Trung đoàn 24, Trung đoàn 88, (Miền sẽ bổ sung thêm Trung đoàn 271), có sự phối hợp của 2 Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của tỉnh Long An. Bộ chỉ huy cánh quân này gồm các đồng chí: Võ Văn Thanh - Thiếu tướng - Khu ủy viên - Phó chính ủy Quân khu làm Chính ủy. Huỳnh Văn Mến - Đại tá - Khu ủy viên - Phó tư lệnh Quân khu làm Tư lệnh. Lê Văn Phẩm - Khu ủy viên, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho làm Phó tư lệnh phụ trách công tác dân vận. Nguyễn Văn Chiểu - Tỉnh đội trưởng - Thường vụ Tỉnh ủy Long An làm Phó tư lệnh, phụ trách quân sự địa phương và một số trợ lý chủ chốt Tham mưu tác chiến, chính trị, hậu cần, thông tin liên lạc... Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu coi đây là vinh dự, trách nhiệm lớn của các đơn vị, nhưng cũng thấy có rất nhiều khó khăn do bộ đội từ Mỹ Tho phải thọc sâu vào vùng địch ở Long An mở đường mà đi, địa hình sông nước phức tạp, phải nổ súng đúng thời gian qui định... Quân Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu cũng tin tưởng các đơn vị được giao nhiệm vụ thọc sâu vào Sài Gòn, đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tình hình địch đang xáo động mạnh. Một số nơi, hệ thống đồn bốt, lực lượng phòng vệ dân sự, bộ máy kiềm kẹp của địch ở xã ấp đã tự tan rã. Thế và lực của cách mạng đang áp đảo địch ở khắp nơi. Nhân dân náo nức chờ lệnh tổng tiến công. Trung đoàn 24 đang triển khai đánh chiếm căn cứ Đồng Tâm của Sư đoàn 7, cán bộ từ trung đoàn đến tiểu đoàn đang chuẩn bị trận địa tiến công thì được lệnh hành quân về Nam Long An nhận nhiệm vụ mới. Đêm 14 tháng 4, toàn Trung đoàn vượt qua quốc lộ 4 về đứng chân ở huyện Chợ Gạo sát ranh giới Long An - nơi đây mới được giải phóng nửa tháng, bộ đội đóng quân trong nhà dân thoải mái, khí thế đơn vị sôi nổi hơn bao giờ hết. Mỗi tiểu đoàn trung bình gần 300 quân, súng đạn trang bị đầy đủ, các đơn vị và cơ quan đóng quân gần nhau, đi lại, có dịp thăm hỏi nhau vui như tết. Nhân dân vui mừng hớn hở, đặc biệt các nam nữ dân quân tuần tra, bảo vệ bộ đội, theo dõi người lạ qua lại một cách cẩn mật, khí thế phấn khởi tự tin. 16 giờ ngày 15 tháng 4 năm 1975, có điện triệu tập Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn 24 đến gặp Bộ tư lệnh tiền phương nhận nhiệm vụ ở xã Thạnh Phú Long thuộc huyện Tân Trụ tỉnh Long An. Đồng chí Thắng, Chính ủy Bộ tư lệnh Tĩền phương sau khi thông báo vắn tắt tình hình đang diễn ra rất khẩn trương, nêu rõ yêu cầu nhiệm vụ: Quân khu 8 có vinh dự tổ chức cánh quân đánh từ Long An vào thẳng vùng ven Sài Gòn ở Quận 8 để nhận nhiệm vụ tiếp theo. Lực lượng gồm Trung đoàn 24, Trung đoàn 88, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 Long An và Trung đoàn 271 đang đến sau. Nhiệm vụ chung tiến công thần tốc mở đường theo trục Đường 5B (lúc đó) đến rạch Cần Giuộc vào ngày "X" (ngày 27 tháng 4 năm 1975). Trung đoàn 24 đảm nhiệm chủ công đi đầu, tiếp sau là Trung đoàn 88 dự bị, sau cùng là các Tiểu đoàn của tỉnh Long An. Tiến công trong hành tiến là chủ yếu: tiêu diệt, bức rút, bức hàng toàn bộ hệ thống đồn bót trên trục tiến công kể cả các lực lượng giải tỏa, bảo đảm hành lang an toàn từ phía sau ra phía trước. Mục tiêu chủ yếu của Trung đoàn 24 trước mắt là tiêu diệt đánh chiếm Chi khu Cần Giuộc. Trung đoàn 88 tiêu diệt Chi khu Tân Trụ ở phía sau (đã nổ súng 2 ngày đêm chưa dứt điểm). Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:36:33 am Do thời gian chỉ có 10 ngày lại phải đánh quét hàng chục đồn bót trên địa hình sông nước phức tạp trên một trục tiến công dài hàng 30-40 ki-lô-mét, cách đánh là: vừa chuẩn bị vừa đánh, chưa chuẩn bị đầy đủ cũng đánh, khi có thời cơ thì không chuẩn bị cũng đánh mới kịp thời gian qui định.
Đồng chí Ba Thắng cũng yêu cầu: những trận đầu phải chiến thắng giòn giã, tạo đà phát triển nhanh; phải thực hiện tốt công tác dân vận... Đồng chí Đàm Hữu Vấn - Chính ủy Trung đoàn hứa chấp hành triệt để chỉ thị mệnh lệnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao. Tối 15 tháng 4 toàn Trung đoàn sang đứng chân ở Nam sông Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An, đây là vùng mới giải phóng được ít ngày nhưng nhân dân rất tốt, cung cấp cho bộ đội nước ngọt, rau xanh... Trong ngày Đảng ủy họp mở rộng quán triệt nhiệm vụ và đề ra những biện pháp lãnh đạo, tổ chức thực hiện, động viên cán bộ chiến sĩ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đêm 16 tháng 4 toàn Trung đoàn vượt sông Vàm Cỏ Tây bằng tàu chở hành của dân, mỗi tàu 40-50 đồng chí sang ém quân ở vùng địch kiểm soát và triển khai đánh ngay trận mở đầu diệt 3 đồn ở xã Tân Chánh. Ba giờ sáng ngày 17 tháng 4, Tiểu đoàn 4 được lệnh nổ súng, sau 3 tiếng bộc phá nổ là hỏa lực các loại nổ dồn dập trong 1 phúit - nhiều đám cháy và tiếng nổ của đạn, lựu đạn, sau 8 phút tất cả im tiếng súng, Tiểu đoàn 4 đã báo cáo diệt xong 3 đồn, ta bị thương nhẹ 1 đồng chí. Kết quả ta loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội, 2 trung đôi bảo an, diệt 20 tên, số còn lại chạy hết. Thu 5 súng AR15, M79... Tám giờ sáng ngày 18 tháng 5: 1 giang đoàn chạy từ Long An đến nhưng đều ở phía bờ Nam sông bắn 12,7 ly sang. Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 đều sẵn sàng nổ súng nhưng địch không dám đổ bộ. Đến 11 giờ, giang đoàn này lui ra hướng biển. Thực hiện lệnh của sở chỉ huy tiền phương Quân khu đẩy mạnh tiến công địch để tiến đến Chi khu Cần Đước, Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 5 diệt 1 phân chi khu, 2 đồn và bức rút 1 đồn. Đánh xong cả Trung đoàn trong đêm lại di chuyển lên phía trước. Đêm 19 tháng 4, Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 diệt tiếp phân chi khu và bức rút thêm 4 đồn, địch hoảng sợ bỏ chạy. Hơn 10 đồn phân chi khu đã tự đốt phá đồn rút chạy trước khi trời tối. Phân Chi khu An Thuận (đồn cấp đại đội) ta chỉ dùng 1 trung đội tăng cường 1 ĐKZ 75, 1 đại liên cũng dứt điểm trong 10 phút. Trung đoàn tập trung chuẩn bị đánh Chi khu Cần Đước. Lực lượng địch có 1 tiểu đoàn bảo an được tăng thêm số quân các nơi chạy về tạo thành một cứ điểm lớn, có nhiều chốt ở vòng ngoài. Quân thì đông nhưng tinh thần địch đang dao động mạnh nên cách đánh của Trung đoàn phải giải quyết bằng 2 giai đoạn: giai đoạn đánh bóc vỏ và giai đoạn tiến công dứt điểm. Đêm 22 tháng 4, Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 vào chiếm lĩnh trận địa, Tiểu đoàn 6 làm dự bị. Kết quả trong 20 phút nổ súng, Tiểu đoàn 4 đã đánh tan 6 chốt cấp trung đội làm chủ trận địa lúc 24 giờ ngày 22 tháng 4. Tiểu đoàn 5 vào chiếm lĩnh xây dựng trận địa vây ép không khó khăn lắm, vì địa hình kín đáo, địch không phát hiện được. Năm giờ sáng ngày 23 tháng 4, Tiểu đoàn 5 nổ súng đánh vào Chi khu Cần Đước gây nhiều tổn thất cho địch. Địch chui hết vào công sự giao thông hào và một số hầm, kêu phi pháo và viện binh đến giải vây. Phi pháo địch đánh liên tục từ 6 giờ sáng đến 18 giờ chiều, máy bay có 12 phi vụ, mỗi phi vụ 2-3 chiến A37, F5. Tuy vậy, bom pháo địch đều không dám đánh gần trận địa. Tiểu đoàn 5 báo cáo bộ đội vẫn an toàn do địch và ta cách nhau vài chục mét. Trung đoàn quyết định đưa thêm Tiểu đoàn 6 vào đánh dứt điểm trong đêm 23 tháng 4 năm 1975. Mười bảy giờ, Tiểu đoàn 5 báo cáo địch có dấu hiệu rút chạy, cho Tiểu đoàn bám chặn để có thể đánh chiếm ngay mục tiêu không chờ Tiểu đoàn 6 vào thay thế. Vừa chập tối Tiểu đoàn 5 nổ súng dồn dập đánh vào chi khu Cần Đước trong lúc địch đang rút chạy. Tiểu đoàn 6 vòng về phía Tây Bắc thì địch đã chạy thoát hết về hướng Bắc. Mười tám giờ 30 phút ngày 23 tháng 4 ta làm chủ chiến trường, Bộ tư lệnh tiền phương đã cho các Tiểu đoàn 1, 2 Long An vào tiếp quản thị trấn Cần Đước, giải quyêt việc thu dọn chiến trường hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy diệt ác phá kềm. Trung đoàn đứng lại sẵn sàng đánh địch vào tái chiếm. Suốt ngày 24 tháng 4 không có địch giải tỏa, tái chiếm. Khi Chi khu Cần Đước bị diệt, các đồn bót trong khu vực bỏ chạy khá nhiều. Ngày 25, 26 tháng 4 Trung đoàn tiếp tục phát triển về hướng Bắc không gặp sự kháng cự nào, đồn bót đã bỏ chạy từ huyện Cần Đước sang Cần Giuộc, chỉ còn một số đồn ở dọc Đường 5A và Chi khu Cần Giuộc. Tối ngày 27 tháng 4 toàn Trung đoàn đã ở Nam sông Cần Giuộc - đoàn cán bộ đi trước chuẩn bị làm nhiệm vụ tiếp theo, có đồng chí Huỳnh Văn Mến - Tư lệnh Tiền phương Quân khu cùng đi, được tổ tự vệ thành đưa vào vị trí giấu quân rất mạo hiểm ở bờ sông Cần Giuộc có dừa nước che kín. Tổ tự vệ thành có 3 nữ, 2 nam trẻ, nhanh nhẹn cho biết: khu này có 1 liên đoàn biệt động quân phục kích ở đây mấy ngày đêm mới rút đi chiều nay (ngày 27 tháng 4), nhưng sông này có 1 giang đoàn thủy quân lục chiến từ Cần Giuộc sáng nào cũng đến chốt từ sớm đến 4 giờ chiều mới rút. Hàng chục tàu đậu rải ra cứ 30-40 mét 1 tàu, chỉ cách chỗ này không xa, các chú không được ho, không được phát ra tiếng động, địch nghi ngà là đạn bắn ra như mưa vào đây. Tất cả 30 cán bộ từ Tư lệnh Quân khu tiền phương, Trung đoàn trưởng, cán bộ đại đội cùng 1 tiểu đội trinh sát và 5 tự vệ thành phải ăn cơm trước sáng, nằm im trên mặt đất không công sự, chỉ nhờ lá dừa nước che kín, chịu đựng, mặc cho tàu địch gầm rú, tiếng thả neo, tiếng kêu của xích sắt chạm vào tàu nghe rợn tai. Đến 4 giờ 30 phút chiều, giang đoàn này bắt đầu rút về Cần Giuộc. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, đồng chí Tư Nhân (Huỳnh Văn Mến) triệu tập cán bộ tiểu đoàn và Trung đoàn trưởng đến phổ biến nhiệm vụ. Đồng chí chỉ tay lên tấm bản đồ đã cũ của Thành phố Sài Gòn nói: nhiệm vụ của các đồng chí đêm nay phải hoàn thành trinh sát các mục tiêu ở cầu Nhị Thiên Đường và cầu Chữ Y, từ đây đến đó còn trên dưới 10 ki-lô-mét. Chậm nhất 6 giờ sáng mai (ngày 29 tháng 4) phải có mặt ở đây, sẽ có xuồng đón về Sở chỉ huy để báo cáo sơ bộ quyết tâm đánh 2 mục tiêu này. Đoàn cán bộ được tăng cường 2 tự vệ thành (nam giới). Ăn cơm xong, tự vệ thành đã đưa lên khỏi mặt nước một xuồng giấu kỹ, chở đoàn cán bộ qua sông Cần Giuộc lên phía Bắc qua Đường 5B. Đối chiếu với bản đồ đoàn phải đi qua 1 cánh đồng lầy lội bùn, ngang đầu gối, nước mặn, hướng về Sài Gòn rực sáng ánh điện. Một đồng chí trinh sát đạp phải mìn bị thương vào bàn chân phải ở lại. Ra đến cánh đồng nước trời chưa tối hắn, thấy hướng sân bay Tân Sơn Nhất có nhiều tiếng bom nổ, cao xạ 37 ly bắn lên, đạn nổ trên không thành từng cụm khói, thấy cả máy bay A37 vọt qua, đoàn cán bộ đoán ngay là không quân ta tập kích sân bay Tân Sơn Nhất rồi, càng thôi thúc đoàn băng nhanh qua các sông rạch lớn và cánh đồng lầy đề đến các mục tiêu trinh sát. Trung đoàn trưởng vừa lội bùn cùng anh em vừa dự kiến phương án tác chiến: Tiểu đoàn 4 đánh cầu Chữ Y, Tiểu đoàn 5 đánh cầu Nhị Thiên Đường. Đến ngang cầu Nhị Thiên Đường, Trung đoàn trưởng cho cán bộ dừng lại xác định phương án đi trinh sát: Tiểu đoàn 4 do Tham mưu trưởng đi cùng vào điều tra cầu Chữ Y, còn Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 cùng Trung đoàn trưởng điều tra cầu Nhị Thiên Đường xem đích bố trí lực lượng như thế nao ở đâu? Tiến công như thế nào? Trinh sát xong về đến vị trí quy định để báo cáo, nhớ về trước sáng để khỏi ló đuôi ở đồng lầy. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:37:35 am Kết quả đã xác định được 2 đồn quân cảnh cấp đại đội bảo vệ 2 mục tiêu cầu Chữ Y và cầu Nhị Thiên Đường đồn cấu trúc lô cốt bê tông cốt thép 4 góc, hàng rào kẽm gai bao bọc quần lính đều ở trong nhà tường, xung quanh là đường phố nhà dân dày đặc. Ngoài ra có một số vọng gác từ bên ngoài. Tiểu đoàn 4 phải đi xa hơn Tiểu đoàn 5 đến 6 ki-lô- mét đồng lầy vẫn về kịp nơi qui định trước sáng.
Xuồng đã có chuẩn bị sáng đưa cán bộ về sở chỉ huy tiền phương để báo cáo theo đúng qui định. Đồng chí nào cũng hốc hác vì quá vất vả sau 10 đêm liền không ngủ, đêm 28 tháng 4 là căng thẳng nhất. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân khu gồm: đồng chí Ba Thắng, Tư Thân và Năm Chiều (còn đồng chí Chín Hải đã về chỉ đạo Mỹ Tho). Tất cả đang chờ nghe báo cáo của Trung đoàn 24. Đồng chí Đàm Hữu Vấn - Chính ủy Trung đoàn cũng đến dự. Sau khi nghe Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 báo cáo tình hình, địa hình và sơ bộ quyết tâm đánh 2 mục tiêu cầu Chữ Y và cầu Nhị Thiên Đường bằng 2 mũi, cách sử dụng lực lượng, các đồng chí chỉ huy Quân khu trao đổi và đều nhất trí với Trung đoàn. Đồng chí Ba Thắng đã khen ngợi Trung đoàn hoàn thành bước 1 chiến dịch. Sau khi giao nhiệm vụ đánh chiếm cầu Chữ Y, cầu Nhị Thiên Đường, Tổng nha cảnh sát (Trung đoàn 88 làm dự bị) đồng chí xác định: giờ "G" ngày 30 tháng 4 và đối với Trung đoàn 24 là 5 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đồng chí Tư Thân cũng nhấn mạnh, căn dặn thêm Trung đoàn cách đánh, chốt giữ, mục tiêu là tiến thẳng vào chiếm Tổng nha cảnh sát, sẵn sàng nhận lệnh tiếp theo. Đảng ủy Trung đoàn họp mở rộng quán triệt nhiệm vụ lịch sử trên giao và cụ thể hóa nhiệm vụ của Trung đoàn và từng tiểu đoàn. Bộ đội được chuẩn bị mọi mặt rất chu đáo, đồng chí nào cũng dành một bộ quần áo đen lành nhất để mặc khi giờ "G" sắp bắt đầu. Cán bộ, chiến sĩ đã bất chấp máy bay trinh sát bay lượn trên đầu cùng những máy bay phản lực quần lượn để yểm trợ cho trực thăng bốc người di tản khỏi Thành phố suốt ngày và đêm 29 tháng 4 năm 1975, công khai làm mọi công tác chuẩn bị ở ven địa hình. Trên đường 5B xe cộ đủ loại vẫn tấp nập ra vào Thành phố từ Cần Giuộc lên, từ Thành phố ra. Trước giờ bộ đội xuất kích, Bộ tư lệnh Tiền phương triệu tập Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn nghe báo cáo công việc triển khai, có gì cần giải quyết. Đồng chí Ba Thắng nói: đây là vinh dự đặc biệt đối với Trung đoàn 24 được đại diện cho lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam - niềm ước mơ của Bác Hồ và toàn dân tộc. Bộ tư lệnh Quân khu tin tưởng Trung đoàn 24 sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ lịch sử vẻ vang này. Vào 17 giờ ngày 29 tháng 4, bộ đội đã ngụy trang kín ba lô súng đạn lần lượt ra khỏi ven địa hình thành 2 cánh quân tiến về phía Bắc nhằm hướng cầu Chữ Y và cầu Nhị Thiên Đường. Ba giờ sáng, Tiểu đoàn 5 đã báo cáo chuẩn bị xong Tiểu đoàn 4 do phải đi xa hơn nên 4 giờ 30 phút mới báo cáo chờ lệnh nổ súng, sở chỉ huy Trung đoàn đi sau Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 6 đi sau cùng trên trục đường 5B mặc cho xe cộ ngược xuôi chạy tấp nập. Đúng 5 giờ 00 sáng ngày 30 tháng 4, Tiểu đoàn 4 và 5 bắt đầu nổ súng tiến công. Tiểu đoàn 5 đã diệt được 1 chốt, phát triển vào đánh đồn ở cầu Nhị Thiên Đường, bị địch chống trả mạnh phải vòng tránh qua một số nhà chiếm tầng cao đánh xuống bằng mọi cách, đến 8 giờ chiếm được cầu Nhị Thiên Đường. Tiểu đoàn 4 phải đánh chiếm từng mục tiêu từ ngoài vào trong, cũng phải vòng tránh chiếm tầng cao đánh xuống đến 8 giờ 30 phút mới chiếm được cầu Chữ Y. Địch ở các nhà tầng dùng đại liên bắn vào cầu Chữ Y và cầu Nhị Thiên Đường. Tiểu đoàn 6 được lệnh đánh thẳng lên cầu Chữ Y theo đại lộ Phạm Thế Hiển để hợp đồng với Tiểu đoàn 4 chuẩn bị phát triển vào Quận 1. Địch chiếm các tầng cao 2 bên đại lộ Phạm Thế Hiển bắn như đổ đạn xuống đường để ngăn chặn Tiểu đoàn 6, bộ đội vẫn dựa vào các nhà tiến lên cầu Chữ Y. Tiểu đoàn 5 cũng được lệnh để lại 1 đại đội chốt giữ cầu Nhị Thiên Đường còn lại cùng Tiểu đoàn 6 lên cầu Chữ Y. Đến 9 giờ 30 phút thì cả Tiểu đoàn 4, 5 và 6 đều có mặt ở cầu Chữ Y, địch ở phía bên kia cầu và nhà tầng bắn ngăn chặn. B40, B41 cùng đại liên của ta đã diệt một số hỏa điểm, chiếm được hai bên cầu Chữ Y. Các đơn vị tiếp tục vận động qua cầu Chữ Y bất chấp hỏa lực ngăn chặn, đến 10 giờ 45 phút thì Tiểu đoàn 4 và 6 cùng Tiểu đoàn 5 đã đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát và khu quân cảnh. Đến 11 giờ ta đã chốt chặt các cổng ra vào, kiểm soát toàn bộ tình hình. Khoảng 1.000 tên địch đã vứt bỏ sắc phục giơ tay xin hàng, tất cả đều vâng, dạ, rốt rít cảm ơn... Phóng viên nhiếp ảnh các nước kéo đến quay phim, chụp ảnh cảnh ta chiếm Tông nha cảnh sát, lúc này là 11 giờ trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ta hoàn toàn kiểm soát Tổng nha cảnh sát Quốc gia, Khu quân cảnh, thiết lập các trạm gác ngăn chặn đẩy lùi bọn tàn quân, bọn xấu cải trang vào hôi của. Tất cả tài liệu, kho tàng được niêm phòng canh gác chu đáo. Trung đoàn tổ chức xe có vệ binh hộ tống ra cầu Chữ Y đón Bộ Tư lệnh tiền phương. Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh đã đi kiểm tra một loạt các khu vực và khen Trung đoàn 24 kỷ luật nghiêm. Các đồng chí cũng căn dặn đây là một kho tài liệu hết sức quan trọng phục vụ cho các cơ quan nghiên cứu phải bảo vệ nghiêm ngặt. 11 giờ 30 phút được tin ta đã chiếm Dinh Độc Lập, Trung đoàn trưởng và 1 phân đội đi bằng xe cảnh sát (Ngụy) cắm cờ giải phóng chạy thẳng tới Dinh Độc Lập bắt liên lạc và báo cáo ta đã làm chủ được Tổng nha Cảnh sát. Cấp trên điều 1 đại đội xe tăng T54 (7 xe) của Quân đoàn 2 cùng Trung đoàn 24 bảo vệ mục tiêu vừa đánh chiếm là Tổng nha Cảnh sát. Nhân dân Thành phố reo mừng đón chào quân giải phóng, cờ cách mạng xuất hiện ở khắp Thành phố mừng thành phố, mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng. Theo lệnh cấp trên Trung đoàn 24 rút ra đứng chân ở Quận 8 vào đêm 1 tháng 5, bàn giao toàn bộ vũ khí, phương tiện xe cộ, kho tàng, tài liệu đã niêm phong cho Ban bảo vệ Miền và Sư đoàn 9 tiếp quản. Trung đoàn được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Quân khu biểu dương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thực hiện triệt để mệnh lệnh cấp trên, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật chiến trường, kỷ luật dân vận. Trung đoàn 24 đã được thưởng Huân chương Quân công hạng nhất và được Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (ngày 12 tháng 9 năm 1975). Sơ kết hoạt động mùa xuân 1975, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã được đề nghị khen thưởng. Đợt 2 Tổng tiến công mùa xuân 1975 của Quân khu 8 giành thắng lợi rất to lớn. Nhiều đơn vị được khen thưởng kịp thời, trong đó có Trung đoàn 24 được thưởng Huân chương Quân công hạng ba và được Bộ tư lệnh Sư đoàn 8 tặng cờ "Trung đoàn dũng mãnh vượt sông tiến công dứt điểm". Trung đoàn 24 tự hào đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Ba, 2022, 07:39:38 am TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dẫn Pháp thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội. 2. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội. 3. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945- 1975, thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội. 4. Bộ Quốc phòng (1994) , Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I, Nxb QĐND, Hà Nội. 5. Bộ Quốc phòng (1994) , Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập II, Nxb QĐND, Hà Nội. 6. Bộ Tổng Tham mưu, Cục nhà trường (1997), Giáo trình Lịch sử quân sự, Tập III, Nxb QĐND, Hà Nội. 7. Bộ Tổng Tham mưu, Cục nhà trường (1997), Giáo trình Lịch sử quân sự, tập IV, Nxb QĐND, Hà Nội. 8. Bộ Tổng Tham mưu (2003), Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tập I, Nxb QĐND, Hà Nội. 9. Bộ Tổng Tham mưu (2003), Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tập II, Nxb QĐND, Hà Nội. 10. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 (1990), Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tập I - tập II, Nxb QĐND Hà Nội. 11. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 (1994), Lịch sử Quân đoàn 2, Nxb QĐND Hà Nội. 12. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 (1980). Lịch sử lực lượng vũ trang Tây Nguyên, Nxb QĐND. 13. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 (1994). Lịch sử Quân đoàn 4, Nxb QĐND Hà Nội. 14. Bộ Tư lệnh Quân khu 1 (1990), Những trận đánh trên chiến trường Việt Bắc, Nxb QĐND Hà Nội. 15. Bộ Tư lệnh Quân khu 3 (1990), Quân khu 3 trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Nxb QĐND Hà Nội. 16. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1986), Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Nxb QĐND Hà Nội. 17. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1989), Những bài học thắng lợi trong cuộc kháng chiến chôhg Mỹ, tập II, tập III 18. Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (1993), Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, tập II, Nxb QĐND Hà Nội. 19. Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (1994), Lịch sử Sư đoàn 5, Nxb QĐND Hà Nọi. 20. Bộ Tư lệnh Quân khu 9 (1996). Quân khu 9 - 30 năm kháng chiến (1945-1975), Nxb QĐND. 21. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 (1989), Sư đoàn 2, Nxb QĐND Hà Nội. 22. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 (1986), Sư đoàn 7, Nxb QĐND Hà Nội. 23. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 (1990), Sư đoàn 9, Nxb QĐND. 24. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 (19S7), Sư đoàn 10, Nxb QĐND Hà Nội. 25. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 (1980), Sư đoàn 304, tập I, tập II. 26. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 312 (199S), Lịch sử Sư đoàn 312, Nxb QĐND Hà Nội. 27. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 316 (1981), Sư đoàn 316, tập I, Nxb QĐND Hà Nội. 28. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 (1987), Sư đoàn 320, Nxb QĐND Hà Nội. 29. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324 (1992), Lịch sử Sư đoàn 324, Nxb QĐND Hà Nội. 30. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 325 (1981J, Sư đoàn 325, tập I, tập II, Nxb QĐND Hà Nội. 31. Văn Tiến Dũng (1978), Chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, tập I, Nxb QĐND Hà Nội. 32. Võ Nguyên Giáp (1979), Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc, Nxb TS Hà Nội. 33. Lê Trọng Tấn (1984), Chiến cuộc Đông Xuân 1953- 1954 - một bước phát triển sáng tạo của Nghệ thuật quân sự Việt Nam, Nxb QĐND Hà Nội. 34. Hoàng Minh Thảo (1977), Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, Nxb QĐND Hà Nội. 35. Tổng cục Chính trị (1995), Trận đáng ba mươi năm, tập I, Nxb QĐND Hà Nội. 36. Tổng cục Chính trị (1995), Trận đáng ba mươi năm, tập II, Nxb QĐND Hà Nội. 37. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1979), Chiến dịch tiến công Biên Giới -1950, Hà Nội. 38. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1987), Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội. 39. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1987), Chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh Xuân Hè 1968, Hà Nội. 40. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1988), Chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ, Hà Nội. 41. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1990), Trận quyết chiến lịch sử Xuân 1975, Nxb QĐND, Hà Nội. 42. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1990), Chiến dịch tiến công Tây Nguyên Xuân 1975, Hà Nội. 43. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1991), Chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ, Nxb QĐND. Hà Nội. 44. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1991), Chiến dịch tiến công Huế- Đà Nẵng Xuân 1975, Nxb QĐND, Hà Nội. 45. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1991), Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975, Nxb QĐND, Hà Nội. 46. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1992), Chiến dịch tiến công Tây Bắc, Hà Nội. 47. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1992-1994), Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp - kháng chiến chống Mỹ, tập 1-4, Nxb QĐND, Hà Nội. 48. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), tập I, Nxb QĐND, Hà Nội. 49. Viện Lịch sử Quân sự Việt Narn (1994), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), tập II, Nxb QĐND, Hà Nội. 50. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), tập III, Nxb QĐND, Hà Nội. 51. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Mấy vấn đề chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Nxb QĐND, Hà Nội. 52. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Tổng kết chiến thuật trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb QĐND, Hà Nội. 53. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2000), Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb QĐND, Hà Nội. 54. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2001), Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb QĐND, Hà Nội. 55. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2001), Lịch sử mặt trận Đường 9 Bắc Quảng Trị (1966-1973), Nxb QĐND, Hà Nội. 56. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2002), Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, Hà Nội. 57. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), tập I, Nxb QĐND, Hà Nội. 58. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2003), Tổng kết chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb QĐND, Hà Nội. 59. Học viện Quốc phòng - Viện lịch sử Quân sự, Đại thắng mùa xuân 1975 - nguyên nhân và bài học, Nxb QĐND, H.2003 60. Nguyễn Quang Ngọc, Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, H. 1981. 61. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954-1975, tập III, IV, V, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2003. |