|
Tiêu đề: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 09:54:18 pm Tên sách: Trung tướng Khuất Duy Tiến – Hành trình của người Anh hùng
Tác giả: Phùng Văn Khai Nhà xuất bản: Lao động Năm xuất bản: Số hoá: giangtvx, ptlinh, chuongxedap PHÙNG VĂN KHAI TRUNG TƯỚNG KHUẤT DUY TIẾN HÀNH TRÌNH CỦA NGƯỜI ANH HÙNG NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG LỜI GIỚI THIỆU Khi tham gia thực hiện cuốn sách Những vị tướng Thạch Thất thời đại Hồ Chí Minh, tôi được phân công viết về Trung tướng Khuất Duy Tiến, một vị tướng đã từ lâu tôi mến mộ và kính trọng. Gặp gỡ và tiếp xúc, trò chuyện, trao đổi; khi là trực tiếp hai bác cháu với nhau; lúc qua điện thoại về các chi tiết và tiến độ chung của cuốn sách; có lúc bác viết ra giấy gửi cho tôi... thì ở đấy đều là sự chân thành, cởi mở, gần gũi và đặc biệt là tôn trọng các sự thật lịch sử để khi đưa vào sách khách quan và khoa học. Tiếp xúc với Trung tướng Khuất Duy Tiến càng lâu càng thấy vị tướng trận cả đời luôn toàn tâm toàn ý cống hiến cho cách mạng, từ những ngày theo Việt Minh đánh Pháp, trở thành bộ đội, tham gia các chiến dịch lớn nhỏ trong kháng chiến chống Pháp và đánh đế quốc Mỹ; ở cương vị nào, Khuất Duy Tiến đều khiêm nhường học hỏi, kiên cường thể hiện khả năng tố chất của mình để trở thành một vị tướng có nhiều đóng góp cho cách mạng. Tôi luôn băn khoăn, khi viết về thế hệ đi trước như Trung tướng Khuất Duy Tiến sẽ gặp phải khó khăn. Khó khăn về hình dung tâm tư, ngôn ngữ, cách nhìn, sự biểu đạt ở độ tuổi của ông... sẽ dễ dẫn đến sự thể hiện chủ quan áp đặt. Bây giờ mình nghĩ thế viết thế chứ các cụ có suy nghĩ và hành động như thế không? Các sự kiện lịch sử đã qua. Thành tích chiến công đã đi vào sử sách, trên giấy trắng mực đen hoàn toàn có thể bê nguyên si vào sách cũng được. Băn khoăn là thế, nhưng khi cầm bút, tôi đã mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ văn học theo cá tính của tôi thể hiện khái quát và căn bản nhất cuộc đời của ông với tâm thế chân thành và xúc cảm nhất. Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người anh hùng được viết trên tinh thần đó. Nhưng đó chỉ là chủ quan cá nhân. Sức bút của mình, mong muốn của người viết không phải lúc nào cũng đạt được như ý, nhất là đối với các nhân vật ở thế hệ khác, với những điểm nhìn khác. Nhưng tôi cũng có sự thôi thúc riêng, thầm thì nhưng mãnh liệt rằng: Với thế hệ đi trước đã cống hiến máu xương, trí tuệ cho chúng tôi có buổi hòa bình hôm nay, thì việc ghi nhận, phác họa, thậm chí là sáng tác về họ đều là rất cần và nhất thiết phải được thực hiện. Hãy để những người lính, vị tướng trận thế hệ trước đi vào tâm trí, hiện ra trên từng trang sách với tất cả những gì mình hiểu, mình thuộc nhất. Còn những thứ khác đừng nên quá bận tâm. Từ thôi thúc ấy, từ những tư liệu tươi ròng do chính Trung tướng Khuất Duy Tiến kể lại và tập Hồi ký Ký ức đời binh nghiệp của ông đã truyền lửa cho tôi thực hiện tập sách nhỏ này. Với tôi, Trung tướng Khuất Duy Tiến luôn thật gần, giản dị, bao dung và tin tưởng. Đây cũng là tấm lòng chân thành của người viết đối với các thế hệ cha anh. TÁC GIẢ Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:15:26 pm Trung tướng Khuất Duy Tiến Hành trình của người anh hùng Tôi được tiếp xúc và trò chuyện với Trung tướng Khuất Duy Tiến không nhiều nhưng từng được nhiều người thuộc mọi thế hệ kể về ông. Đặc biệt qua cuốn Hồi ký Ký ức đời binh nghiệp do Đại tá Lê Hải Triều thể hiện chân thực, sinh động, giàu cảm xúc đã cho tôi hình dung khá trọn vẹn về ông - một vị tướng trưởng thành trong khói lửa hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Sau dấu mốc 1975, với các cương vị và trọng trách được giao, Khuất Duy Tiến luôn thể hiện là người cán bộ chỉ huy dày dặn kinh nghiệm, vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong mọi tình huống để lãnh đạo chỉ huy thắng lợi mọi nhiệm vụ. Luôn đồng nhất ở ông, từ khi là cậu thiếu niên tham gia cách mạng từ năm 13 tuổi, từng bị địch bắt đưa vào nhà tù Hỏa Lò, tiếp đến sớm vượt tù ngục có mặt trong đội hình Đại đoàn Đồng Bằng chiến đấu ở Sơn Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Thái Bình dưới quyền chỉ huy của Đại đoàn trưởng tài danh Văn Tiến Dũng. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Khuất Duy Tiến được cử đi học Trường Sĩ quan Lục quân 1. Khi ra trường, ông được điều về công tác tại Quân khu 3. Khi quân Mỹ trực tiếp tham chiến ở miền Nam, ông lại cùng Sư đoàn 320 hành quân vào đánh Mỹ ở chiến trường Quảng Trị, Tây Nguyên, tham gia giải phóng Sài Gòn. Những tháng năm kháng chiến chống Mỹ gian khổ, ác liệt cũng là những năm tháng rèn đúc nên ý chí và bản lĩnh thép của một Khuất Duy Tiến kiên cường, cẩn trọng, tỉ mỉ, sâu sát, hiểu biết rõ đến từng người chiến sĩ, từng đơn vị thuộc quyền, luôn nắm bắt đầy đủ ý định, tư tưởng chỉ đạo của cấp trên, bằng trí tuệ và bản lĩnh, tầm nhìn của mình đã thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao. Sau khi đất nước thống nhất, hai đầu biên giới lại rộ lên tiếng súng, Khuất Duy Tiến trên cương vị mới Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 (1976 - 1979); Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 3 (1980 - 1984); Tư lệnh Quân đoàn 3 (1984 - 1989) đã ngày càng trưởng thành trong sự trưởng thành, lớn mạnh không ngừng của quân đội ta. Khuất Duy Tiến cùng bộ đội tham gia đánh Pôn Pốt cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Năm 1989, ông được điều giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu; năm 1994, ông được bổ nhiệm giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục Quân 1 và nghỉ hưu năm 1997 khi tròn 66 tuổi. Cuộc đời của Trung tướng Khuất Duy Tiến là điển hình của người chiến sĩ cách mạng chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng, dưới sự dẫn dắt của Hồ chủ tịch - người cha kính yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân; Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh cả của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Ngẫm ngợi về thế hệ các ông, chúng tôi, thế hệ cầm bút vinh dự được khoác trên mình bộ quân phục càng thấy thật rõ những gì có được hôm nay đã phải đối bằng rất nhiều máu xương của các thế hệ đi trước trong đó có ông, vị Trung tướng khả kính của quê hương Đại Đồng - Thạch Thất. Tiếp xúc với ông, nghe ông trò chuyện với Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tôi càng cảm phục sự mẫn tiệp và đức tính giản dị của người con quê hương Đại Đồng. Các vị tướng trao đổi ngắn gọn, kết luận thấu đáo những vấn đề khi tổ chức cuốn sách về các vị tướng quê hương Thạch Thất. Nhìn vẻ mặt tươi nhuần, nụ cười rạng rỡ của lão tướng quân năm nay đã bước sang tuổi 86, tôi càng thấy rõ một điều, thế hệ cha anh đã đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỳ, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam thiêng liêng là một lẽ đương nhiên. Những vị tướng sinh ra từ nhân dân, chiến đấu máu thịt trong lòng nhân dân chắc chắn sẽ đi đến ngày toàn thắng. Đoàn quân chính nghĩa trong đó có Khuất Duy Tiến dưới sự dẫn dắt của Đảng, của Bác Hồ đã làm nên những điều thần kỳ từ chính lầm than, cơ cực, để đất nước chúng ta, nhân dân chúng ta có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc như hôm nay. Từ trong sâu thẳm, bằng những trực cảm của mình, tôi đã thấy được vị lão tướng trong hành trình trưởng thành của mình như những suối nguồn đi ra sông dài biển lớn. Vị tướng trận rung rung mái đầu bạc trắng, nheo cặp mắt hồn hậu nhìn ra khoảng trời phía trước đang mở ra an bình, thơ thới. Phía trước, lá cờ đỏ sao vàng tung bay cuồn cuộn trên nóc cột cờ Hà Nội. Xa kia, dòng sông Hồng đang mùa phù sa dâng đẫm mật cho đôi bờ ngô lúa tốt tươi. Và nơi xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, ngôi làng cổ từng có tên “Kẻ Đòng”, “Cự Đồng”, “Ấp Đồng” từ thời vua Lê Thế Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông đến nay vẫn còn đó ngôi đình cổ với những phiến đá xanh vuông đế tròn thấm đẫm nước thời gian. Đó cũng là nơi sinh ra người con, người chiến sĩ, vị tướng Khuất Duy Tiến. Cây có cội nước có nguồn, chính quê hương - nguồn cội lớn đã tạo nên sức mạnh cho người chiến sĩ. Ngẫm về ông - vị tướng của vùng đất Đại Đồng - xưa kia là tổng Đại Đồng với các địa danh: Đại Đồng, Cẩm Bào, Yên Lỗ, Thanh Câu, Lại Khánh, Hạnh Đàn, Hoàng Xá, chúng ta càng thấy rõ một điều, chính các mạch nguồn đất đai, tổ tông nguồn cội đã sinh thành và nuôi dưỡng những người con đủ sức lớn mạnh, trưởng thành, đi đánh giặc và đánh thắng giặc, để những người con ấy, buổi thanh bình về hiếu kính tiên tổ, quê hương. Trung tướng Khuất Duy Tiến là một người con trung - dũng - hiếu - thuận, một niềm tự hào của vùng đất Đại Đồng giàu truyền thống cách mạng. Cuộc đời ông đã thể hiện sự phong phú, sinh động, sự trưởng thành của người chiến sĩ cách mạng giàu nghị lực, luôn khiêm tốn, sẵn sàng hi sinh trên mỗi chặng đường. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:16:38 pm * * * Hành trình của vị Trung tướng quê hương Đại Đồng khởi đầu từ những ngày thiếu đói, cơ cực, nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm chỉ mơ ước bữa ăn no, manh áo vải nâu, giấc ngủ không chập chờn ốm đau, bệnh tật, giặc giã đến những buổi sớm theo Việt Minh, tham gia công tác đoàn thể nơi quê hương những ngày đánh Pháp. Nhưng cũng chính tuổi thơ lầm than đã cho Khuất Duy Tiến sớm có ý chí, sớm có bản lĩnh kiên cường, dứt khoát, chỉ có thế tiến theo cách mạng, theo Đảng, theo Bác Hồ đến ngày toàn thắng mà không màng gì đến tính mạng của mình. Tuổi thơ Khuất Duy Tiến cũng như tuổi thơ hàng vạn, hàng triệu người con đất Việt buổi mất nước, buổi bị tước đi cái quyền sơ đẳng nhất - quyền làm một con người. Ông cũng được hưởng đức tính kiên cường, sự tiết tháo của người cha Khuất Duy Đản vốn mang trọng trách trưởng tộc dòng họ Khuất ở Đại Đồng. Người cha Khuất Duy Đản được ông bà nội ngoại quý mến, sớm cho đi học chữ Nho từ năm 6 tuối. Khi bố mất, Khuất Duy Đản tròn 7 tuổi. Cái tuổi còn quá non nớt để phải chịu đựng đau thương, mất mát không dễ bề gượng dậy được. Người mẹ Vũ Thị Tốt sau buổi chết đi sống lại đã gắng gượng cùng họ hàng nội ngoại cắn chặt răng làm lụng nuôi nấng các con thành người. Người con Khuất Duy Đản 9 tuổi đã phải ngày ngày đi mót lúa mót khoai, bắt cua bắt ốc, kiếm củi cắt rạ giúp đỡ mẹ nuôi các em. 9 tuổi đầu, Khuất Duy Đản đã nói với mẹ: - Mẹ ơi! Con lớn rồi, con có thể chăn trâu, cắt cỏ, quét dọn nhà cửa, phơi rơm phơi thóc được. Mẹ cho con đi ở để kiếm bát cơm của người đỡ mẹ phải nuôi con. Người mẹ góa chồng khóc mắng con trong nước mắt: - Con phải đi học, khi nào viết được văn tế tổ đi làm gì hãy đi. Mẹ còn lê được chân, con còn phải đi học. Những năm tháng ấy cả nước đói. Người chết la liệt. Ruột thịt còn không cứu được nhau. Khi không còn gì để ăn, người mẹ đành dứt ruột cho Khuất Duy Đản đi ở tại làng Thụy Phiếu khi Đản mới hơn 9 tuổi. Cũng may giời không đóng cửa nhà ai. Cậu bé Đản lam làm, hiếu thuận, nhẫn nhịn đã gặp được gia đình người chủ rất tốt bụng và quý mến, đến năm Đản 23 tuổi còn định gả con gái cho nhưng chàng trai họ Khuất theo lời họ mạc và mẹ đã trở về cưới vợ. Gia đình người chủ tiếc lắm, luôn coi Đản như con cái ruột. Tiếp đó là chiến tranh giặc giã, mỗi người mỗi nơi ly tán phương trời. Bố mẹ Khuất Duy Tiến sinh 10 người con chỉ nuôi được 5 người. Tiến là anh cả sinh năm 1931; tiếp đó Khuất Thị Đạt sinh năm 1933, người em thứ 8 Khuất Thị Lan sinh năm 1948, em thứ 9 Khuất Thị Liên sinh năm 1950, em thứ 10 Khuất Duy Viễn sinh năm 1952. Còn các em từ thứ 3 đến thứ 7 mất khi còn rất nhỏ vì đói kém, bệnh tật. Xã hội phong kiến hủ lậu với những thối nát cùng cực đã cướp đi sinh mạng của biết bao người. Là con trưởng, lại là trưởng họ Khuất, người cha Khuất Duy Đản trong khó khăn cùng cực vẫn mong muốn lo cho cậu con cả - trưởng họ tương lai Khuất Duy Tiến được ăn học. Khuất Duy Tiến sớm được học cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ vừa làm việc giúp mẹ. Thấy con còn mải đi mót lúa mót khoai, bắt cua bắt cá phụ giúp gia đình người cha giận quá đã đánh con và mắng: - Bố đã thất học chịu cảnh hèn hạ, con cũng theo bố ư hở con? Người có học người đời mới không khinh rẻ bắt nạt được. Tại sao con không nghe lời bố? Khuất Duy Tiến khóc thương bố càng cắn răng học hành. Các thầy chữ Nho và chữ Quốc ngữ rất thương quý chàng trai hiếu học. Đặc biệt là thầy giáo Hào, người nổi tiếng hay chữ và nghiêm khắc từng được nhà nước bảo hộ Pháp và vua triều Nguyễn phong tặng hàm Cửu phẩm Văn giai. Thầy còn cho Tiến ngủ ở nhà thầy để tiện học hành. Thật kỳ diệu, vượt qua mọi khó khăn, đói kém, năm 1944, Khuất Duy Tiến đã thi đậu bằng Sơ học yếu lược, vốn chỉ dành cho con cái của chức sắc và quan lại lớn bấy giờ mới có đủ sức theo học. Nhưng chàng thiếu niên Khuất Duy Tiến không chỉ sáng dạ trong đường học hành mà còn sớm nhận ra những sự khác biệt khi tuổi còn rất nhỏ. Khi quá túng thiếu, mấy người em ruột của Tiến chết vì không có thuốc men, đến ăn còn không có khiến người cha uất ức thì khi ấy người cậu ruột là Đinh Quang Hoàn đến thăm an ủi, nói lời hơn lẽ thiệt và phụ giúp gia đình một khoản tiền. Người cậu còn nói: “Tất cả chỉ tại thằng Tây, thằng Nhật, bọn vua quan, bọn chánh tổng lý trưởng, bọn nhà giàu chúng nó dìm anh em nghèo khó chúng ta vào kiếp tối tăm, cơ cực đói khổ, dốt nát chứ mình có tội tình gì”. Trong lúc người cha ngẫm ngợi thấy cần phải đứng dậy nuôi vợ nuôi con thì chàng thiếu niên Khuất Duy Tiến đã nghĩ khác. Tiến sớm nghĩ chắc chắn người cậu ruột Đinh Quang Hoàn phải là người hiểu biết lắm, cậu đi nhiều từng trải và theo lý lẽ dám mắng Tây, Nhật thì lẽ nào ở trong “hội kín Việt Minh” chăng? Những suy nghĩ của Tiến không qua mắt được người cậu tinh tường. Cậu tâm sự thẳng với Tiến. Cậu phân công nhiệm vụ gác cổng khi nhóm họp cho Tiến. Chính các cậu Đinh Quang Hoàn, Đinh Quang Chiến, Nguyễn Vũ Văn là những người giác ngộ bước đầu cho chàng thiếu niên Khuất Duy Tiến. Khuất Duy Tiến đến với cách mạng tự nhiên như lẽ sống ở đời. Cách mạng là ngọn lửa tất yếu cháy bùng lên, quét sạch ách đô hộ của ngoại bang, sự thối nát của chế độ cũ thì những chàng trai sớm được học hành, có tố chất thông minh, từ lầm than đói khổ như Khuất Duy Tiến tất yếu sẽ tìm đến. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:18:26 pm * * * Sau trận đói kinh hoàng năm Ât Dậu mà gia đình Khuất Duy Tiến đã phải gạt nước mắt cho người con gái Khuất Thị Đạt mới 13 tuổi đi ở đợ cho người. Hôm dẫn em đi đến nhà bà Tư Triệu ở thôn Hương Lam, Khuất Duy Tiến - người được học chữ đã phải tự tay viết văn tự bán em mình. Người cha không dám nhìn đứa con gái hơn chục tuổi đầu đã phải lìa nhà đi ở. Người con gái mím chặt môi mặc hai dòng nước mắt chảy tràn. Những ấn tượng đó còn mãi với Khuất Duy Tiến đến tận hôm nay. Cách mạng Tháng Tám như một ngọn gió mạnh quét sạch những tàn dư, thổi một luồng sinh khí mới vào mỗi con người Việt Nam mới hôm qua thôi còn bần cùng, sợ sệt, không dám ngẩng đầu lên trước đòn vọt kẻ xâm lăng. Tại Thạch Thất, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Văn Lộc - Xứ ủy viên đã quyết định huy động lực lượng quần chúng biểu tình vũ trang giành chính quyền ở Thạch Thất. Khuất Duy Tiến hăm hở phát con dao phát bờ cùng các cậu ruột nhập vào đoàn người tham gia cướp chính quyền. Tại xã Đại Đồng, khi nhận được mệnh lệnh huy động đội tự vệ chiến đấu gấp rút lên đường tham gia cuộc khởi nghĩa, những thanh niên mau chóng cùng nhân dân tiến vào huyện sở Thạch Thất và vận động trung đội lính và đám công chức ở đây bàn giao huyện sở cho Việt Minh. Lá cờ đỏ sao vàng đã được cắm lên tại huyện Thạch Thất. Sau khi giành chính quyền ở huyện, được sự chỉ đạo của cấp trên, tổ Việt Minh và tự vệ chiến đấu xã Đại Đồng trở về tiến hành giành chính quyền ở xã. Từng loạt trống ở đại đình nổi lên ầm ầm. Dân làng đổ ra chật sân, chật bãi, chật đường. Cờ đỏ sao vàng được kéo lên giữa nắng chiều thu rực rỡ. Chàng thiếu niên Khuất Duy Tiến nhìn lá cờ đỏ sao vàng bay náo nức mà còn như không tin ở mắt mình. Những ngày chính quyền mới Cách mạng non trẻ đầu tiên bộn bề công việc. Với sự gian giảo, xảo quyệt, giặc Pháp đã bội ước nổ súng vào đồng bào ta. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Toàn dân nghe theo lời Hồ Chủ tịch vùng lên đánh giặc. Chúng ta không thể một lần nữa lại trở về làm nô lệ cho lũ ngoại bang. Chính quyền Việt Minh xã Đại Đồng mau chóng tổ chức cùng nhân dân đánh giặc. Khi thực dân Pháp nống ra các vùng ven, bọn tề ngụy lập tức nổi dậy thiết lập chính quyền. Khuất Duy Tiến được giao nhiệm vụ thâm nhập vào nhân viên bảo an xã của địch để hoạt động. Tháng 10 năm 1949, Khuất Duy Tiến bắt liên lạc được với Đại đội 354 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48 để đón đồng chí Ngữ về diệt tên lý trưởng xã Đại Đồng. Sau hai lần bố trí tiêu diệt chưa thành công, để trả thù Cách mạng, tên lý trưởng huy động lực lượng và bắt được Khuất Duy Tiến cùng các anh Kiều Bá Trung, Kiều Văn Chỉ, Vũ Văn Hữu, Khuất Bá Lạo, Khuất Duy Luyện, Khuất Văn Học, Khuất Văn Bồi, Khuất Văn Hiều xuống huyện giam. Khuất Duy Tiến bị tra tấn dã man. Hết Tây đen đến tề ngụy đánh đập Tiến ngất đi sống lại đổ nước lạnh vào tra tấn tiếp. Tiếp đó, Khuất Duy Tiến cùng những người tù bị chuyển giam ở thị xã Sơn Tây và sau đó đưa về nhà tù Hỏa Lò để biệt giam. Tại Hỏa Lò, thật không ngờ đây chính là trường học của Khuất Duy Tiến. Chàng thanh niên thông minh, nhanh nhẹn rất tích cực hoạt động trong tù. Nhiều tài liệu về chủ nghĩa cộng sản được tuyên truyền ở nơi đây. Ngày 19 tháng 5 năm 1950, quân Pháp tiến công Hà Nam, giặc huy động tù binh đi phục vụ chiến đấu vận tải đạn cho binh lính Pháp. Tối hôm đó, lợi dụng lúc quân Pháp ngủ, Khuất Duy Tiến cùng một số đồng chí bí mật trốn thoát được. Sau nhiều đêm ngày được nhân dân giúp đỡ, Khuất Duy Tiến và các đồng chí trở về được xã Đại Đồng mong muốn tiếp tục được hoạt động. Khuất Duy Tiến gặp lại người cha và nói rõ ý định của mình muốn đi bộ đội vào quân chủ lực để trực tiếp đánh giặc. Người cha và các anh ở chính quyền xã Đại Đồng - Thạch Thất đều nhất trí, đồng chí Tiêu - Chủ tịch xã viết giấy giới thiệu để Khuất Duy Tiến nhập ngũ vào Trung đoàn 48. Người con xã Đại Đồng trở thành người lính của Trung đoàn 48 từ ngày 4 tháng 9 năm 1950. Năm đó Khuất Duy Tiến tròn 19 tuổi. Những tháng ngày chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 48 đã sớm để người chiến sĩ Khuất Duy Tiến ý thức được cuộc chiến đấu sẽ vô cùng gian khổ, ác liệt. Ông bị thương trong trận đánh đầu tiên khi chống địch càn vào làng Hạ Băng, huyện Thạch Thất ngày 19 tháng 10 năm 1950. Đại đội khẩn trương triển khai đội hình, tiểu đội phó Thức bình tĩnh quan sát và hỏi Tiến: Đã thấy địch chưa? Tiến báo cáo đã nhìn thấy địch và khi nhận lệnh bắn vào đội hình địch thì một bên đùi trái mát lạnh, ống quần rách toang, máu chảy đầm đìa. Tiến lập tức được lệnh giao súng và lui về phía sau điều trị vết thương. Nóng ruột mong muốn trở lại đơn vị đánh giặc, khi vết thương còn chưa lành, Khuất Duy Tiến nằng nặc xin trở lại trung đoàn khi chiến dịch Sơn Tây vừa kết thúc thắng lợi. Trở lại đội hình chiến đấu của Tiểu đoàn 884 làm liên lạc Đại đội 737 do đồng chí Ngô Huy Biên - Đại đội trưởng; đồng chí Nguyễn Kim Tuấn - Tiểu đoàn phó trực tiếp đi theo đại đội đánh địch ở Tam Dương, Thanh Lỗi, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Những ngày đánh địch vùng tạm chiếm cùng những người lính chiến thực sự đã mở rộng tầm mắt và kiến thức quân sự, kinh nghiệm chiến đấu trực tiếp trên chiến trường cho người chiến sĩ trẻ Khuất Duy Tiến để anh có những nền tảng đầu tiên trong cuộc chiến đấu dằng dặc sau này. Theo bước trưởng thành của đơn vị, qua thực tiễn chiến đấu, Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm làm Trung đội trưởng Trung đội 19 xung kích đầu năm 1954, khi trên toàn chiến trường, ta đang chuẩn bị mọi mặt để đánh Điện Biên Phủ. Đại đoàn 320 khẩn trương hoạt động đánh địch trên khắp đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là các khu vực Thái Bình, Phủ Lý, Ninh Bình, Phát Diệm, các trục đường quốc lộ, đường sông để phân tán, xé nhỏ tiềm lực của địch. Các Trung đoàn 48, 52, 64 liên tiếp nổ súng đánh địch khắp nơi và lập được nhiều chiến công. Trong trận chiến đấu tiêu diệt cử điểm Chùa Ông, Khuất Duy Tiến bị thương vào cổ tay phải vẫn tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu rất dũng cảm. Đúng là bom đạn tránh người, Khuất Duy Tiến nhiều lần bị thương nhưng dường như bom đạn chưa thể sát thương được người con anh dũng Đại Đồng. Kết thúc chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Đại đoàn 320 trong đó có Trung đoàn 48 cùng các đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được cấp trên khen thưởng hừng hực khí thế bước vào nhận nhiệm vụ mới. Sau năm 1954, đất nước bộn bề công việc, ai cũng khẩn trương, quyết liệt. Nhân dân ta, người chiến sĩ ta đã có bước trưởng thành mới, sẵn sàng đảm đương những trọng trách mới. Tết năm 1955, Khuất Duy Tiến được đơn vị cho về quê ăn tết. Khi đến chào họ hàng, bà con cô bác trong làng, người lính Đại đoàn Đồng Bằng gặp cô thôn nữ Vũ Thị Hồng Vân. Như một mối duyên tiền định, họ đến với nhau trong sự mừng vui của gia đình, làng xóm và cơ quan đoàn thể. Nhưng cũng phải đến ngày 6 tháng 1 năm 1958, đám cưới của đôi trai tài gái sắc mới được tổ chức. Khi ấy, Khuất Duy Tiến đang chuẩn bị thi tốt nghiệp khóa 10 Trường Sĩ quan Lục quân 1. Chàng trai họ Khuất chỉ có được vẻn vẹn ba ngày cho hạnh phúc riêng. Thời chiến là như vậy, tất cả, ai cũng biết hi sinh cái riêng vì cái chung lớn lao phía trước. Tháng 5 năm 1958, Khuất Duy Tiến tốt nghiệp ra trường, là một trong năm người đạt điểm cao nhất khóa. Ông được điều về làm Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 17 thuộc Đại đoàn 320. Tháng 12 năm 1958, Khuất Duy Tiến được phong quân hàm Thượng úy. Làm công tác ở Tiểu đoàn huấn luyện được gần một năm, tháng 11 năm 1959, ông được điều về làm giáo viên chiến thuật trường Quân chính Quân khu 3 đến tháng 7 năm 1962 được cử đi học khóa 1 trường Trung cao Quân sự. Hiệu trưởng là đồng chí Trần Văn Trà, Hiệu phó là đồng chí Hoàng Minh Thảo. Thời gian ở trường, được tiếp xúc với những bậc thầy lớn về quân sự đã cho học viên có được tầm nhìn, sự trưởng thành, sự bao quát toàn diện để sẵn sàng cho một chiến trường lớn. Khi ra trường, Khuất Duy Tiến được điều về làm Trợ lý Quân huấn Bộ Tham mưu Quân khu 3. Lúc này, miền Nam đang rục rịch đánh Mỹ, mọi công tác huấn luyện của hậu phương lớn miền Bắc đều là sự chuẩn bị cho chiến trường lớn miền Nam. Đánh Mỹ vô cùng khó khăn nên vấn đề huấn luyện kỹ năng chiến đấu cho bộ đội luôn được đặt ra hết sức quyết liệt. Là trợ lý quân huấn, từng kinh qua chiến đấu, từng được học tập bài bản ở nhà trường, Khuất Duy Tiến đã cùng với các đồng chí khác nghiên cứu và tổ chức thực hiện những phương pháp huấn luyện, rèn luyện thiết thực cho bộ đội. Tháng 9 năm 1967, thấy được nguyện vọng muốn ra chiến trường trực tiếp chiến đấu của Khuất Duy Tiến, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 trực tiếp gặp Tư lệnh quân khu Hoàng Sâm xin ông về làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 64. Kể từ đây, Khuất Duy Tiến luôn có mặt trên những điểm nóng nhất, mũi nhọn nhất của Trung đoàn 64. Ngày 5 tháng 11 năm 1967, đoàn cán bộ Sư đoàn từ tiểu đoàn trưởng trở lên do Sư đoàn trưởng Sùng Lãm và Chính ủy Lương Tuấn Khang dẫn đầu đi trước vào gặp Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 để nhận nhiệm vụ. Đồng chí Đàm Quang Trung thay mặt Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 chính thức giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 320 như sau: “Độc lập tác chiến trên hướng thứ yếu của chiến dịch. Tiêu diệt sinh lực địch, chủ yếu là Mỹ; Thường xuyên cắt đứt sự vận chuyển của địch trên đường số 9; Giam chân, thu hút lực lượng địch, kết họp chặt chẽ với toàn miền và hướng chủ yếu của Mặt trận Khe Sanh. Đẩy địch ở Khe Sanh vào tình trạng bị cô lập; Xây dựng, giúp đỡ chính quyền địa phương, rèn luyện đơn vị càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành”. Sư đoàn 320 trong đó có Trung đoàn 64 mà Khuất Duy Tiến trên cương vị Tham mưu trưởng, tiếp đó là Trung đoàn trưởng đã đánh giặc và lập công xuất sắc ở tuyến lửa Quảng Trị trong những năm tháng khốc liệt nhất. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:21:45 pm * * * Năm tháng trôi qua, những trận đánh ác liệt trong các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống Mỹ đặc biệt là chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã đi vào sử sách vẫn luôn hằn rõ trong tâm trí vị tướng trận. Không một ai sinh ra để mong muốn được làm anh hùng, ai cũng chỉ muốn sẵn sàng hi sinh máu xương của mình vì nhân dân, vì Tổ quốc. Chiến tranh càng lùi xa, những vị tướng như Khuất Duy Tiến càng day dứt nhớ tiếc đồng đội đã khuất mà trong đó nhiều người còn chưa tìm thấy mộ. Tháng 10 năm 2013, Khuất Duy Tiến được Chủ tịch nước ký phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong sâu thẳm trái tim ông, danh hiệu đó là danh hiệu chung của toàn thể đồng đội đã cùng ông chiến đấu, nhất là những người đã hi sinh. Ông chia sẻ những suy nghĩ chân thành đến thắt lòng: ”Ngày tôi được phong Anh hùng, hơn 800 anh em Sư đoàn 320 từ 26 tỉnh miền Bắc đã về để chúc mừng. Tôi nói với anh em, khi đeo chiếc Huân chương này, tôi vừa tự hào, vừa cảm thấy nặng nề. 14.000 người lính của Sư đoàn 320 đã hi sinh trong chiến tranh. Trong đó có hơn 3.000 người lính hi sinh ở chiến trường Campuchia. Huân chương này không phải của riêng tôi, mà của tất cả anh em ngồi đây và những anh em đã nằm xuống". Tôi đã lặng đi rất lâu trước suy nghĩ của ông. Cũng trong dịp đó, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Đại tướng Phùng Quang Thanh đã đến nhà riêng tặng hoa chúc mừng ông - vị tướng trận đồng thời là thủ trưởng cũ của Bộ trưởng, người Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 trực tiếp chỉ huy các trận đánh vô cùng ác liệt trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào mà bản thân Phùng Quang Thanh khi ấy là Trung đội trưởng thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 9. Đơn vị của Phùng Quang Thanh đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Bản thân Trung đội trưởng Phùng Quang Thanh khi bị thương vẫn chỉ huy bộ đội chiến đấu rất anh dũng. Ông được phong anh hùng năm 1971 do có thành tích xuất sắc trong chiến đấu. Người Trung đoàn trưởng của ông sau 42 năm vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng. Trong thâm tâm của Đại tướng Bộ trưởng cũng như biết bao cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 64 anh hùng luôn coi Trung đoàn trưởng của mình thực sự xứng đáng là anh hùng ngay từ những ngày còn trong lửa đạn. Nắm bàn tay dày dặn, ấm áp của người Trung đoàn trưởng từng vào sinh ra tử, vị Bộ trưởng như thấy cay cay ở mắt mình, ông như thấy những đồng đội đã khuất cũng đã mỉm cười khi thấy máu xương của họ đã không uổng phí, đã góp phần làm tươi xanh hơn, bền vững hơn vị thế của đất nước Việt Nam hôm nay. Nhớ lại những tháng ngày chiến đấu đặc biệt gian khổ, hi sinh trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 của Trung đoàn 64 khi ông với cương vị Trung đoàn trưởng chỉ huy các tiểu đoàn đánh vào Điểm cao 543 - Căn cứ 31 của Lữ đoàn dù số 3 - Lực lượng thiện chiến nhất của ngụy quân Sài Gòn, vị tướng trận cho biết: “Đây là chiến dịch có vị trí quan trọng đặc biệt, bởi Đường 9 - Nam Lào là đường vận chuyển chiến lược bảo đảm hậu cần cho chiến trường miền Nam. Nếu địch chiếm được sẽ cắt đứt tuyến vận tải của ta. Đồng thời, tạo điều kiện cho chúng tiếp tục thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh. Để giữ chắc Điểm cao 543, địch đưa quân tới chiếm Điểm cao 535 (điểm cao Không tên - cách Điểm cao 543 hai km) để chặn đứng quân ta tiến đánh căn cứ 31”. “Sáng ngày 13 tháng 2 năm 1971, địch bất ngờ cho quân nhảy dù xuống Điểm cao 535. Chúng cho máy bay rải bom, bắn pháo, ào ạt đổ quân xuống trận địa của ta. Trận đánh diễn ra ác liệt giữa ta và địch, khói lửa mù mịt. Đánh được 15 phút, quân ta đã bắt được 9 tên lính công binh của Tiểu đoàn 6 - Lữ đoàn dù 3. Cuộc chiến diễn ra từ 11 giờ trưa đến 16 giờ 30 phút, quân ta đã tiêu diệt được phần lớn sinh lực địch. Sau trận đánh ở Điểm cao 535, Trung đoàn tập trung lực lượng cho trận đánh vào Điểm cao 543. Trận chiến diễn ra ác liệt với quân địch trong 4 ngày nhưng thế trận vẫn giằng co, không phân thắng bại”. “Nắm bắt tình hình, ngày 25 tháng 2 năm 1971, Đảng ủy chỉ huy Trung đoàn quyết định thay đổi kế hoạch tác chiến, chuyển từ hướng đánh bắc - tây bắc sang hướng đông - đông nam tạo đòn tấn công bất ngờ. Đến 18 giờ cùng ngày, quân ta đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn dù số 3, tiếu đoàn binh hỗn hợp, sở chỉ huy của địch; bắt sống toàn bộ sĩ quan chỉ huy, trong đó có Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ trưởng Lữ đoàn quân dù 3 của quân ngụy Sài Gòn”. “Chiến thắng ở Căn cứ 31 đã góp phần cùng các đơn vị bạn quét sạch quân địch ở Bản Đông đồng thời bẻ gãy xương sống của kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ”. Trong mỗi chiến công, người chiến sĩ luôn bằng máu xương của mình tô thắm lá cờ Tổ quốc. Trên chiến trường, người chiến sĩ luôn hướng về nhân dân mình, Tổ quốc mình để chiến đấu và chiến thắng. Chúng ta hãy cúi đầu tưởng nhớ và biết ơn những người đã hi sinh. Trong trái tim vị tướng trận, những góc sâu đậm nhất chắc chắn luôn dành cho đồng đội. Khi kể lại những trận chiến đấu, kể lại sự hi sinh, ông luôn khóc rất nhiều. Nước mắt của vị tướng trận như có cả sắc máu của đồng đội ông, hàng ngàn, hàng vạn người đã không trở về nữa sau chiến tranh. Chính họ mới xứng đáng được ngợi ca nhất, được tôn vinh nhất, không chỉ riêng ở những ngày lễ kỷ niệm, mà là trong tất cả mọi ngày thanh bình của cuộc sống chúng ta hôm nay. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:26:56 pm * * * Trong toàn bộ tư liệu, hồi ký, nhất là những câu chuyện của đồng đội các thế hệ kể về vị tướng trận, tôi luôn thấy đồng nhất một điều, Khuất Duy Tiến là một người cương trực, thẳng thắn, giản dị, sâu sắc và đặc biệt là luôn biết nhìn thấy những điều mới mẻ, những việc lớn cần phải làm và tạo sức hút đồng thuận để mọi người đều nhìn chung về một hướng. Trong chiến đấu, những trái tim luôn chung một con đường là lẽ tất thắng của người chiến sĩ ta. Khuất Duy Tiến luôn là con người như vậy. Sự sắc sảo, trí tuệ của ông ẩn tàng dưới sự bình dị, luôn biết lắng nghe, luôn biết chấp hành mệnh lệnh. Đó dường như là tố chất của con người luôn tự biết mình, biết hy sinh ngay cả cái tôi của mình để phục vụ lợi ích lớn lao hơn. Sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn 320 nhận nhiệm vụ vào chiến trường thực hiện hướng tiến công chiến lược. Đó là Tây Nguyên. Ngày 7 tháng 12 năm 1971, Trung đoàn 64 mở đầu cuộc hành quân vào chiến trường mới. Hết Đông Trường Sơn với những cơn mưa rừng kéo dài dai dẳng đến Tây Trường Sơn nắng cháy da người. Dau gian khổ đến mấy người chiến sĩ vẫn hướng về phía trước, hướng về ngày toàn thắng. Khuất Duy Tiến đã có những phút cảm xúc đặc biệt để bật ra những câu thơ: Vượt Trường Sơn Vạn dặm Trường Sơn, vạn dặm đèo Chân đi từng bước, bước cheo leo Chênh vênh đường vắt ngang lưng núi Chót vót non cao dốc ngược đèo Sương phủ rừng xanh, rừng chắn lối Mưa dồn nước đổ, thác gầm reo Đường dài sá kể chi gian khó Tiếp bước anh hùng ta tiến theo. Càng vào sâu chiến trường, địch đánh phá càng ác liệt. Bầu trời, mặt đất không lúc nào ngớt tiếng bom đạn. Có những trận bom B52 dải thảm cháy sém những vạt rừng dài. Thiếu thốn trăm bề, bộ đội ta phải kiếm rau rừng, cá suối, củ chuối, củ mài để tăng sức khỏe hành quân. Vượt qua mọi khó khăn, Sư đoàn 320 vào vị trí tập kết ở Tây Nguyên đầu tháng 2 năm 1972 sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng kể cả của ta và của địch. Bộ đội chủ lực của ta vào Tây Nguyên đã cho thấy rõ chiến lược của Đảng ta, quân đội ta là đẩy nhanh thế và lực lên tầm cao mới, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiến hành tổng tiến công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ chiến lược đúng đắn đó, các lực lượng của ta trên toàn chiến trường đã xác định rõ từng nhiệm vụ của mình, sẵn sàng đánh và đánh thắng giặc ở những trận chiến đấu lớn. Trong bối cảnh đó, Sư đoàn 320 (trong đó điển hình là Trung đoàn 64) đã cùng các đơn vị bạn hiệp đồng tác chiến có hiệu quả, đánh thắng nhiều trận quan trọng trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên mà tiêu biểu là trận tiêu diệt tiểu đoàn dù số 11 trên điểm cao 1015 án ngữ bờ tây sông Pô Cô để chủ lực của chiến dịch tiến vào Đắc Tô - Tân Cảnh, Võ Định... tiến vào đánh thị xã Kon Tum... tạo tiến triển trong năm 1972 trên chiến trường Tây Nguyên. Sau mỗi trận đánh lớn, nhỏ, Trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến càng có thêm nhiều kinh nghiệm chiến trường, tầm nhìn toàn diện hơn, tư duy sắc bén hơn sẵn sàng nhận các nhiệm vụ khó khăn hơn. Sau trận giải phóng Đức Cơ mở rộng vùng giải phóng đường 19, ông nhận quyết định Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn 320 một thời gian. Tiếp đó, Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định điều Khuất Duy Tiến về làm trưởng phòng tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Tháng 10 năm 1973, Khuất Duy Tiến được ra Bắc dự tổng kết và tập huấn về nghệ thuật chiến dịch, sẵn sàng phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược mới. Sau đợt tập huấn, Khuất Duy Tiến nhanh chóng trở lại chiến trường Tây Nguyên. Tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình và hạ quyết tâm chiến lược: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền trong thời gian hai năm 1975 - 1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên toàn miền Nam theo hướng có lợi cho ta, nhất trí thông qua phương án chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược trong năm 1975. Lựa chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chiến lược là một lựa chọn lịch sử. Tháng 6 năm 1974, đồng chí Vũ Lăng - Cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu vào giữ chức Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Tháng 9 năm 1974, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch Nam Tây Nguyên. Phòng tác chiến lập tức lập kế hoạch chuẩn bị chiến trường hướng Đức Lập. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:28:00 pm Để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến dịch, Đảng ủy Mặt trận họp dưới sự chủ trì của đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy; đồng chí Vũ Lăng - Tư lệnh đã diễn ra sôi nổi và kết luận: Vấn đề có ý nghĩa quyết định đầu tiên là công tác chuẩn bị chiến trường phải thực sự chính xác và tỉ mỉ. Xác định rõ điều đó, là người chủ trì cơ quan tác chiến, Khuất Duy Tiến cùng đội ngũ cán bộ cơ quan tác chiến lập tức tổ chức việc đi chuẩn bị chiến trường, xây dựng kế hoạch chiến dịch bao gồm: Kế hoạch triển khai đường cơ động trên các hướng, các mũi chiến dịch; kế hoạch cơ động lực lượng; kế hoạch nghi binh chiến dịch; kế hoạch tập kết bộ đội; kế hoạch đảm bảo hậu cần kỹ thuật... Đồng thời lập kế hoạch tiếp nhận cơ sở vật chất, gạo, đạn, thuốc men, tiếp nhận các đơn vị mới đến tăng cường các đơn vị binh chủng kỹ thuật của Bộ phải được tổ chức chu đáo, bí mật, an toàn. Công tác bảo quản, sửa chữa vũ khí, phương tiện xe máy phải bảo đảm tối đa hệ số kỹ thuật các phương tiện hiện có. Công tác Đảng, công tác chính trị tư tưởng phải nhằm nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu, sức mạnh chiến đấu tổng hợp của mọi đơn vị, mọi binh chủng, phát động thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử, với khẩu hiệu hành động: “Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên". Trên cương vị mới, nhiệm vụ nặng nề, khó khăn chồng chất nhưng cũng là cơ hội để Trưởng phòng Tác chiến Khuất Duy Tiến có điều kiện trưởng thành hơn. Cũng từ vị trí đó, Khuất Duy Tiến được gần hơn với những vị tướng tài năng nhưng hết sức sâu sát. Khi chuẩn bị đánh căn cứ Đức Lập, Tư lệnh Vũ Lăng vốn cùng sinh hoạt với Chi bộ tác chiến do Khuất Duy Tiến làm bí thư quyết định trực tiếp vào tận hàng rào quan sát. Khuất Duy Tiến lo lắng báo cáo: - Báo cáo anh, việc trinh sát cứ điểm anh để tôi, anh Hồ Đệ (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10), anh Kiệp (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66) và các tiểu đoàn trưởng đi là được. Anh đi, xảy ra điều gì ảnh hưởng tới nhiệm vụ chung. Tư lệnh Vũ Lăng: - Vấn đề đánh Đức Lập, cho phép Trung đoàn 66 trong một ngày và một đêm là phải dứt điểm. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đánh thắng nhưng thương vong ít để Trung đoàn về làm lực lượng dự bị chiến dịch. Mình không đi thì không an tâm. Nói rồi, Tư lệnh Vũ Lăng đưa khẩu súng ngắn cho đồng chí công vụ và bò vào hàng rào quan sát. Chúng ta đã đánh thắng địch và đánh thắng mà địch luôn tâm phục khẩu phục vì đã có những vị tướng chiến trường như thế. Ngày 12 tháng 1 năm 1975, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên nhận được điện của Bộ Tổng Tham mưu do đồng chí Lê Ngọc Hiền - Phó Tổng Tham mưu trưởng ký phải chuẩn bị thêm mục tiêu Buôn Ma Thuột. Ngày 21 tháng 1 năm 1975, đồng chí Lê Ngọc Hiền trực tiếp vào Tây Nguyên phổ biến chỉ thị của Thường vụ quân ủy Trung ương điều chỉnh phạm vi chiến dịch gồm 3 tỉnh Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức, trọng điểm là Đắk Lắk, mục tiêu chủ yếu là Buôn Ma Thuột. Hướng phát triển chủ yếu là Phú Yên (theo đường 7). Hướng phối hợp là đường 19 và đường 21. Hướng kiềm chế và nghi binh là Pleiku và Kon Tum. Điều đó, đã cho thấy tình hình đã phát triển rất mau lẹ, Bộ liên tục thay đổi nhiệm vụ chiến lược đối với Tây Nguyên. Những ngày chuẩn bị phương án tác chiến đột phá vào Buôn Ma Thuột là những ngày sôi nổi, quyết liệt của cơ quan tác chiến. Khuất Duy Tiến được giao làm tổ trưởng Trung tâm nghiên cứu chiến thuật đề xuất phương án đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Hàng loạt kế hoạch được xây dựng để thực hiện phương án này. Đòn điểm huyệt Buôn Mê Thuột rung chuyển Tây Nguyên, rung chuyển Sài Gòn, rung chuyển Lầu Năm Góc, điển hình của nghệ thuật quân sự Việt Nam đã được tiến hành táo bạo, bất ngờ, chắc thắng; thể hiện đẳng cấp vượt trội của chính nghĩa, báo hiệu trước sự sụp đổ không thể cứu vãn của ngụy quân, ngụy quyền đồng thời khẳng định bước trưởng thành mới của người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Mất Buôn Ma Thuột, lực lượng phản kích sư đoàn 23 bị tiêu diệt, địch rơi vào hoảng loạn, tan vỡ từng mảng. Qua 23 ngày đêm liên tục chiến đấu (từ 3 - 3 đến 25 - 3 - 1975) với ba trận then chốt quyết định: Mở đầu là trận đánh chiếm Buôn Ma Thuột; tiếp đến là tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn phản kích (Sư đoàn 23 cùng Liên đoàn biệt động ngụy quân số 21); trận đại truy kích Cheo Reo - Củng Sơn (từ 16 đến 24 - 3 - 1975) tiêu diệt hoàn toàn khối chủ lực Quân khu 2 - Quân đoàn 2 ngụy trên đường số 7, đập tan ý đồ co cụm lớn giữ vùng đồng bằng Khu 5 của quân ngụy Sài Gòn. Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng; hơn 28 nghìn quân địch bị loại khỏi vòng chiến. Tây Nguyên sạch bóng quân thù. Trên 60 vạn nhân dân các dân tộc giành lại quyền làm chủ. Người chiến sĩ đã thực hiện lời thề sắt son: Giải phóng nhân dân các dân tộc Tây Nguyên khỏi ách nô lệ, thực hiện “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” ở Tây Nguyên như lời Bác Hồ đã dạy. Trong suốt chặng đường đó có biết bao kỷ niệm trong cuộc đời. Trong mùa Xuân năm 1975, giây phút xúc động nhất đối với Khuất Duy Tiến là giây phút ông cùng đơn vị từ Tây Nguyên tiến về đồng bằng, tới được bờ biển miền Trung dạt dào nắng gió. Không mấy ai trong số hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đã nhiều năm chiến đấu ở núi rừng Tây Nguyên khi tới được bờ biển lại không trào nước mắt. Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng, bước ngoặt lớn cũng là thời cơ lớn đến với chúng ta. Khối chủ lực Tây Nguyên tiến về giải phóng các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ trong sự đón tiếp vui mừng của nhân dân. Ngày 27 tháng 3 năm 1975, Phó Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái điện thông báo quyết định của Bộ Chính trị thành lập Quân đoàn 3. Bộ Tư lệnh do đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh; Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy và các Phó Tư lệnh, Phó Chính ủy, các cơ quan được mau chóng kiện toàn. Người chiến sĩ Tây Nguyên liên tiếp có những bước lớn mạnh, trưởng thành mới. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:29:08 pm Sau chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã giáng cho ngụy quyền Sài Gòn đòn chiến lược thứ hai, đẩy chúng vào tình thế cực kỳ bi đát (2 trong số 4 quân khu của địch bị xóa sổ, 12 tỉnh với trên 8 triệu dân được giải phóng), về phía ta, khí thế giải phóng miền Nam dâng lên mạnh mẽ. Lực lượng quân sự, chính trị của ta dồi dào, sung sức, sẵn sàng tiến vào giải phóng miền Nam. Ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình đã kết luận: “...Trận quyết chiến chiến lược của quân và dân ta bắt đầu, nhằm hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc... Nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược với tư tưởng Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn, thực hiện tổng công kích”. Cả nước tập trung sức người, sức của cho trận đánh cuối cùng. Trên khắp chiến trường, thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, bộ đội ta dũng mãnh tiến về hướng Sài Gòn. Quân đoàn 3 ngay sau khi giải phóng Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh, đã nhận mệnh lệnh thần tốc tiến về Sài Gòn. Cả Quân đoàn náo nức hành quân, ai cũng hăng hái muốn tranh thủ từng giờ từng phút tiến về Sài Gòn. Nhân dân cũng nô nức như người chiến sĩ, dùng tất cả năng lực để giúp bộ đội hành quân. Hàng trăm xe ca, xe tải lớn tại thị xã Buôn Ma Thuột được huy động, nhiều người dân tình nguyện làm lái xe chuyên chở bộ đội. Quân đoàn hành quân thần tốc không kể ngày đêm. Ngày 12 tháng 4 năm 1975, Tư lệnh Vũ Lăng và Chính ủy Đặng Vũ Hiệp đã có mặt tại Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh ở phía tây thị trấn Lộc Ninh để nhận nhiệm vụ. Ngày 14 và 15 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 giao nhiệm vụ cho các Sư đoàn 316, 320 và các đơn vị của Quân đoàn sẵn sàng xuất kích. Tất cả đã sẵn sàng cho trận đánh cuối cùng. Trong đội hình dũng mãnh với khí thế triều dâng thác đổ của 5 cánh quân tiến về Sài Gòn, người chiến sĩ Quân đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu được giao, lập nên những chiến công góp phần vào mùa xuân toàn thắng. Trong Hồi ký Ký ức đời binh nghiệp, Trung tướng Khuất Duy Tiến đã mô tả chân thực những giây phút khẩn trương, quyết liệt, hào hùng, thời khắc lịch sử đánh dấu cột mốc thống nhất đất nước, thời khắc chờ đợi của hàng triệu người con Việt Nam mến yêu trong mùa xuân đại thắng: “5 giờ 25 phút ngày 30 tháng 4, anh Vũ Lăng và anh Đặng Vũ Hiệp cùng một bộ phận cán bộ chủ chốt cơ quan quân đoàn trong đó có tôi (Trưởng phòng Tác chiến, tất cả gồm hơn mười người) đã có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn 10 ở phía nam Hóc Môn để tiện theo dõi và chỉ đạo sư đoàn này đột kích. 7 giờ 15 phút, từ Sở chỉ huy Sư đoàn 10, anh Vũ Lăng ra lệnh tiến công. Toàn bộ các trận địa pháo của Quân đoàn và Sư đoàn 10 đồng loạt nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu ngụy, làm một số máy bay, kho bom, đạn địch nổ tung, bốc cháy. Các mục tiêu: bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân, bộ tư lệnh thiết giáp ngụy ở sân bay chìm trong khói lửa. Giữa lúc quân địch đang hoang mang dao động trước hỏa lực pháo binh ta, Trung đoàn 24 và xe tăng đột phá đánh chiếm ngã tư Bảy Hiền. Tại đây, ngay trong đêm 29 tháng 4, địch đã đưa tiểu đoàn dù 8 cùng lực lượng của biệt khu thủ đô và một chi đội xe tăng M.41, M.48 ra chốt chặn. Địch lợi dụng sân thượng, tháp nước, những ô cửa sổ nhà cao tầng bố trí hỏa lực dày đặc để ngăn chặn ta tiến công. Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 cùng 11 xe tăng, xe thiết giáp (Tiếu đoàn 1 Lữ đoàn 273) dũng cảm đột phá mở đường. Đại đội trưởng Đại đội 7 Trịnh Bá Tư cho Trung đội 1 có chiến sĩ biệt động thành Nguyễn Thị Trung Kiên dẫn đường mở một mũi tên hướng bệnh viện “Vì dân” thọc sâu vào sườn địch. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, cán bộ, chiến sĩ ta giành giật với địch từng căn nhà, ngõ phố. Trong một lần chỉ huy đột phá, Trịnh Bá Tư anh dũng hy sinh. Tấm gương chiến đấu hy sinh của Đại đội trưởng Trịnh Bá Tư đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 vượt qua ác liệt để giành thắng lợi cuối cùng. Chiến sĩ B.40 Vũ Văn Chung vọt lên, dùng B.40 bắn cháy chiếc xe tăng M.41 của địch. Nguyễn Xuân Trường, Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn xe tăng 273 chỉ huy đơn vị táo bạo mở mũi đột kích mạnh chi viện cho bộ binh đánh thẳng vào quân địch phản kích. Xe tăng 985 vừa vượt lên thì bị xe tăng địch phục sẵn bắn hỏng pháo. Không chần chừ, trưởng xe Mai Trọng Hoạt ra lệnh tiếp tục tiến lên. Bằng một động tác thuần thục và quyết liệt, chiến sĩ lái xe trẻ Phùng Văn Tính (21 tuổi) cho xe của mình lao thẳng vào xe tăng địch. Chiếc xe tăng M.48 của địch hoảng sợ chồm lên vỉa hè, bọn địch trong xe khiếp sợ đầu hàng. 8 giờ 5 phút, 1 chiếc L19 vừa hạ độ cao để xuống sân bay Tân Sơn Nhất, các chiến sĩ Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 234 bắn chính xác, chiếc máy bay địch bùng cháy và lao xuống hè phố Lê Thánh Tông. Đây là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị Quân đoàn 3 bắn rơi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 8 giờ 45 phút, Trung đoàn 24 và Trung đoàn xe tăng 273 làm chủ ngã tư Bảy Hiền. Thừa thắng, quân ta phát triển về cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất. Cũng vào thời điểm này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 nhận được bức điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gửi tới mặt trận, bức điện có đoạn như sau: “Nhiệt liệt khen ngợi toàn thể các đơn vị đã lập được chiến công lớn trong những ngày qua, đập tan tập đoàn phòng ngự và các cứ điểm phòng ngự phía đông bắc và tây bắc, cắt đứt lộ 4, tiến công các sân bay lớn của địch, hoạt động tốt ở vùng ven đô và nội đô. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên với quyết tâm lớn nhất, hãy nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh nhất, của đội quân trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sự đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định. Phải giữ kỷ luật thật nghiêm, triệt để chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, nêu cao truyền thống và bản chất cách mạng của quân đội ta, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại”. Tinh thần bức điện trên, cơ quan chính trị quân đoàn đã kịp thời phổ biến đến từng đơn vị, từng chiến sĩ. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:30:11 pm 9 giờ 5 phút, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn xe tăng 273 tiến đến cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất. Tại đây, địch bố trí hỏa lực mạnh, có cả hỏa tiễn chống tăng X202 đặt trên xe di động và trên tháp nước. Đại đội 7, mũi đột phá đầu tiên của Tiểu đoàn 5 bị chặn lại. Tiểu đoàn 5 nhiều lần đột phá nhưng vẫn không thành. Hai chiếc xe tăng T54 và một chiếc K63 của ta bị cháy nằm cản giữa đường. Trước tình hình đó, Trung đoàn phó Tô Quốc Trịnh, Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chuyển và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn xe tăng 1 Chu Khánh Tồn lên nắm lại tình hình và tổ chức đột phá tiếp. Chỉ huy trung đoàn điều thêm 4 xe tăng của Đại đội 2 và 2 khẩu pháo 85 ly lên chi viện cho Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 đột phá. Khi xe kéo pháo 85 ly của ta vừa tiến vào vị trí triển khai thì bị địch bắn trúng làm cháy xe, đạn nổ, súng hỏng, pháo thủ thương vong. Lê Xuân Chuyển và Chu Khánh Tồn chỉ huy cụm hỏa lựa ĐKZ 75, cối 82 ly, 12,7 ly và hỏa lực xe tăng chi viện có hiệu quả cho Tiểu đoàn 5 đột phá đánh chiếm khu vực đầu cầu. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra hết sức quyết liệt, nhiều gương chiến đấu vô cùng quả cảm. Ba chiếc xe tăng của ta bị địch bắn hỏng, nhưng các chiến sĩ lái xe và pháo thủ vẫn bám xe, sử dụng súng 12,7 ly và đại liên trên xe đánh địch chi viện cho bộ binh. Pháo thủ xe tăng Nguyễn Trần Đoàn bị thương dập nát cánh tay vẫn không rời vị trí. Đoàn nhờ anh em cắt cánh tay bị thương cho khỏi vướng để tiếp tục chiến đấu. Chính trị viên Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 Đỗ Trọng Lợi, khi đại đội trưởng bị thương đã trực tiếp chỉ huy đơn vị đột phá đánh chiếm khu truyền tin, Bộ tư lệnh Sư đoàn 5 không quân, chia cắt địch ở sân bay Tân Sơn Nhất với Bộ tổng tham mưu ngụy. Đến 10 giờ 30 phút, Đại đội 5 bắt được 57 tù binh trong đó có 3 đại tá: Lê Hữu Tiền, chỉ huy trưởng khu truyền tin; Trần Quang Thái, sĩ quan tâm lý chiến và Nguyễn Duy Phụng, sư phó Sư đoàn 5 không quân. Đại đội 6 lợi dụng kết quả của đơn vị bạn đánh chiếm khu cố vấn, khu ra-đa và sư đoàn bộ Sư đoàn 5 không quân. Cùng lúc, Tiểu đoàn 5 đánh địch từ ngã tư Bảy Hiền vào cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất thì chỉ huy Trung đoàn 24 cũng ra lệnh cho Tiểu đoàn 4 theo cổng số 4 sân bay đánh vào. 9 giờ, Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 đột phá đánh chiếm Bộ tư lệnh dù. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 Vũ Văn Tài có mặt kịp thời, thấy thời cơ thuận lợi đã lệnh cho Tiểu đoàn 6 theo cửa mở Tiểu đoàn 4 đánh chiếm Bộ tư lệnh không quân và bắt liên lạc với phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít. Đại đội 9 chia làm ba mũi phát triển tới trại Đa-vít, nơi đặt trụ sở phái đoàn quân sự của ta. Anh em kể lại: Cuộc gặp gỡ giữa các chiến sĩ Đại đội 9 với các đồng chí trong phái đoàn quân sự diễn ra hết sức cảm động. Anh Hoàng Anh Tuấn và các anh trong đoàn siết chặt tay và ôm hôn từng chiến sĩ Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24. Những nụ cười và cả những giọt nước mắt vui mừng lăn nhanh trên má mọi người... Đại đội 9 được lệnh ở lại bảo vệ phái đoàn quân sự của ta. Các lực lượng còn lại tiếp tục phát triển đánh chiếm Bộ tư lệnh không quân ngụy. 10 giờ 35 phút, Đại đội 10 và Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 tiến vào Bộ tư lệnh không quân ngụy. Giữa sân, trước ngôi nhà chính, một con đại bàng đúc bằng đồng sải cánh dài 2 mét, biểu tượng sức mạnh “không lực Việt Nam cộng hòa” bị trúng đạn pháo của ta, đầu gãy gục, thảm hại. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 kéo lá cờ Quyết thắng truyền thống của quân đội ta lên đỉnh cột cờ Bộ tư lệnh không quân ngụy. Tuy vậy, cuộc chiến đấu ở trong sân bay Tân Sơn Nhất của Trung đoàn 24 còn kéo dài đến 14 giờ mới hoàn toàn im tiếng súng. Trên hướng Trung đoàn 28, vào lúc 3 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 và 4 xe tăng T54 của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 273 đi vòng lên phía bắc trại Quang Trung nhưng đến đây gặp địch. Ta và địch chạm súng, địch sử dụng súng chống tăng B90 bắn cháy 2 chiếc T54 của ta. Do vậy, cánh quân này phải quay lại theo đường Trung đoàn 24 đánh vào nội đô. 9 giờ 30 phút, Trung đoàn 28 đến Lăng Cha Cả, dự kiến sẽ theo đường Võ Tánh đánh vào Bộ tổng tham mưu ngụy. Nhưng đường Võ Tánh nhiều xe bị cháy làm tắc nghẽn. Sư đoàn phó Võ Khắc Phụng và Trung đoàn phó Đỗ Công Mùi cho đội hình vừa tiến vừa đánh địch theo đường Trương Vĩnh Ký qua nhà thờ Tần Sa Châu rẽ sang đường Thoại Ngọc Hầu rồi sang đường Võ Tánh. 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, Tiểu đoàn 3 cùng lực lượng xe tăng của Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 273 và các đơn vị công binh, trinh sát, cao xạ do Tham mưu phó trung đoàn Lê Ngọc Tùng chỉ huy đột phá vào cổng chính Bộ tổng tham mưu ngụy. Địch dùng xe tăng và bộ binh chặn giữ cổng chính đồng thời cho một mũi từ phía nam đánh lên. Một chiếc xe bọc thép M.113 liều mạng xông ra đã bị xe tăng 815 do Đại đội phó Đỗ Hồng Kỳ chỉ huy bắn cháy. Một chiếc xe GMC gắn đại liên 4 nòng đi sau chưa kịp nổ súng đã hốt hoảng quay đầu tháo chạy bị xe tăng 815 đuổi theo bắn 1 quả đạn pháo 100 ly. Chiếc xe tăng địch bốc cháy. Một đại đội địch khiếp sợ hạ vũ khí đầu hàng. Thừa thắng, Trung đoàn 28 chia làm 2 mũi. Mũi thứ nhất gồm 1 xe tăng, 1 xe K63 và 1 trung đội thuộc Đại đội 10 Tiểu đoàn 3 đánh vào phía đông nam Bộ tổng tham mưu ngụy. Mũi thứ hai gồm có 3 xe tăng T54, 5 xe K63 và lực lượng của Tiểu đoàn 3 còn lại từ cổng chính đánh thẳng vào trung tâm. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:31:02 pm Vượt qua cổng chính, xe tăng 982 do Chính trị viên Nguyễn Hữu Thìn chỉ huy tiến thắng đến thềm cao tòa nhà chính của tổng hành dinh quân ngụy. Trung đội phó Trần Lựu dùng AK yểm hộ cho Tiểu đội trưởng Nguyễn Duy Tân nhanh chóng chạy lên sân thượng tổng hành dinh giật lá cờ “ba que”, thay vào đó là lá cờ nửa đỏ nửa xanh giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay nơi cao nhất chính giữa tòa nhà tổng hành dinh quân ngụy Sài Gòn. Một lúc sau, các chiến sĩ Trung đoàn 48 có mặt cũng kéo một lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở phía bên phải lá cờ Trung đoàn 28 đã kéo lên. Lúc đó là 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Dưới sự chỉ huy của Chính ủy Trung đoàn Nguyễn Ngọc Xuân và Chính trị viên Tiểu đoàn 3 Nguyễn Văn Quý, chiến sĩ ta tiến vào kiểm soát các phòng làm việc của tòa nhà Bộ tổng tham mưu ngụy, thu dọn toàn bộ con dấu, cờ hiệu và nhiều tài liệu quan trọng khác. Cùng thời gian này, các chiến sĩ Sư đoàn 320B đánh chiếm trận địa pháo và sân bay lên thẳng của địch gần cổng số 2, chiếm khu thông tin, phòng nhất, phòng nhì, tổng cục tiếp vận và tiến vào trung tâm phối hợp với Trung đoàn 28 chiếm lĩnh, bảo vệ tòa nhà chính Bộ tổng tham mưu quân ngụy. Trong lúc Trung đoàn 28 đang đánh địch ở cổng chính Bộ tổng tham mưu ngụy thì Sư đoàn 10 lệnh cho Trung đoàn 66 do anh Nguyễn Đình Kiệp - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Chí Nguyện - Chính ủy chỉ huy theo hướng phát triển của Trung đoàn 28 tiến vào Bộ tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn. Các chiến sĩ Tiếu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 đã có mặt kịp thời cùng đơn vị bạn tỏa ra chiếm lĩnh những nơi làm việc của bộ máy điều hành chiến tranh do Mỹ nặn ra. Trung đoàn 64 (anh Trần Văn Thân - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Đác - Chính ủy) do anh Phí Triệu Hàm - Phó Chính ủy quân đoàn chỉ huy cơ động theo đường Lê Văn Duyệt đến dinh Độc Lập. Nhưng trung đoàn đến nơi, đơn vị bạn đã chiếm xong dinh tổng thống ngụy quyền. Dương Văn Minh và nội các của ông ta đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Một sự trùng hợp thú vị là gần như vào một thời điểm (trưa ngày 30 tháng 4) lá cờ chiến thắng của đại quân ta đã đồng thời được kéo lên ở ba mục tiêu then chốt trong thành phố Sài Gòn là dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu ngụy và sân bay Tân Sơn Nhất. Ban chỉ huy Trung đoàn 64 cho 1 đại đội đánh chiếm khu cư xá sĩ quan Mỹ. Quá trình phát triển chiến đấu ở đây Trung đoàn 64 có 4 chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống, 12 chiến sĩ khác bị thương. Vào những giây phút cuối cùng của trận chiến, những giọt máu đào của cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 vẫn đổ xuống Sài Gòn, góp phần cho chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng. Chiến dịch Hồ Chí Minh - trận quyết chiến cuối cùng đại thắng. Thành phố Sài Gòn - thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu hoàn toàn giải phóng. Nhân dân Sài Gòn xuống đường hò reo đón chào bộ đội giải phóng. Cờ đỏ sao vàng, cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bay rợp các đường phố. Bà con cô bác, nam nữ thanh niên, các cháu thiếu nhi vây quanh các anh bộ đội, vây quanh những chiếc xe tăng, những khẩu pháo còn vương bụi khói chiến trường. Trên khuôn mặt ai nấy đều hân hoan rạng rỡ. Cả Sài Gòn, cả Việt Nam lúc ấy sống trong niềm vui vô tận. Đó là niềm vui giải phóng của cả dân tộc Việt Nam mong đợi suốt 21 năm. Trong giờ phút hào hùng của lịch sử, mọi người chúng tôi đều xúc động nhớ tới Bác Hồ. Bác Hồ ơi! Vâng theo Di chúc của Người, chúng con đã thực hiện trọn vẹn điều Bác hằng mong “Đánh cho Mỹ cút” và hôm nay chúng con đã “Đánh cho ngụy nhào”, non sông thu về một mối, Nam - Bắc sum họp một nhà!” Lúc này đây, Khuất Duy Tiến trong giây phút vinh quang tột cùng đã lặng đi nhớ về những đồng đội đã khuất, những người lính biết chắc sẽ có ngày chiến thắng mà không đến được đã nằm lại nơi rừng sâu suối vắng, đã nằm lại trong lòng nhân dân và đất đai Tổ quốc trong cuộc trường chinh binh lửa. Khuất Duy Tiến nhớ về người cha, người mẹ kính yêu cả một đời lam lũ hi sinh vất vả nhường nhịn cho con, cho đất nước. Ông nhớ người vợ nhỏ hiền thục, nết na biền biệt xa chồng và những đứa con thơ chỉ loáng thoáng nhìn thấy bố trong những năm dằng dặc. Ông nhớ về ngôi đình cổ Đại Đồng có những cột gỗ rêu phong trên phiển đá mấy trăm năm. Ngày toàn thắng cũng là ngày hội non sông, cũng là ngày cho mỗi người lính thấy sự quý giá vô cùng của hòa bình. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:32:34 pm * * * Sau giải phóng miền Nam, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 điều chỉnh thế bố trí chiến lược. Các đơn vị chủ lực lui dần ra khỏi thành phố. Cơ quan Bộ Tư lệnh Quân đoàn chuyển về thị xã Thủ Dầu Một. Sư đoàn 10 đứng chân ở Phú Lợi, Sư đoàn 320 đóng quân ở căn cứ Đồng Dù. Tư lệnh Vũ Lăng một buổi cho gọi Khuất Duy Tiến lên và nói: - Bộ Tư lệnh quyết định đưa cậu lên làm Chánh văn phòng. Ý cậu thế nào? Khuất Duy Tiến điềm tĩnh trả lời: - Nhiệm vụ nào cấp trên giao tôi quyết hoàn thành. Khuất Duy Tiến trên cương vị mới nhanh chóng nắm bắt và triển khai mọi công việc ở văn phòng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3. Tháng 10 năm 1977, bọn phản động Pôn Pốt tiến hành chống phá Việt Nam điên cuồng. Chúng hô hào: “Đánh Việt Nam đến người Khơ Me cuối cùng” và xua quân vượt biên giới tấn công lấn chiếm lãnh thổ nước ta. Những người lính lại nắm chắc tay súng lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Toàn bộ Quân đoàn 3 có mặt ở biên giới Tây Ninh. Tư lệnh Kim Tuấn (thay Vũ Lăng làm Tư lệnh) lập tức đưa Khuất Duy Tiến trở lại trưởng phòng tác chiến để xây dựng các phương án đánh địch. Tháng 3 năm 1978, thấy cuộc chiến đấu còn có thể kéo dài, Khuất Duy Tiến được cử đi học bổ túc ở Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) khi ông vừa nhận cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 320. Chấp hành mệnh lệnh, Khuất Duy Tiến lên đường đi học mặc dù trái tim và khối óc của ông dường như vẫn còn ở lại với đồng chí đồng đội nơi biên giới Tây Nam. Mới nhập học được ba tháng, một hôm Tư lệnh Kim Tuấn ra Hà Nội tìm xuống Học viện gặp Khuất Duy Tiến nói: - Tiến ơi! Sư đoàn 320 sau khi cậu đi mới gần hai tháng trời mà thương vong gần 2.000 người. Tôi đã báo cáo Quân ủy, điều cậu về làm Sư đoàn trưởng, ý cậu thế nào? - Báo cáo anh, lúc này việc chiến đấu là cần kíp. Tôi xin chấp hành mệnh lệnh. Trở lại chiến trường Tây Nam, Khuất Duy Tiến lập tức xuống với bộ đội, tìm hiểu, nắm bắt ngọn ngành mọi diễn biến, lắng nghe cấp dưới, bằng vào những kinh nghiệm kinh qua hai cuộc chiến tranh ông cùng với lãnh đạo Sư đoàn đã từng bước đề ra những phương án tác chiến để giảm thiếu thương vong và chủ động trên chiến trường đánh quân Pôn Pốt. Với phương châm tác chiến hiệu quả, với sự chiến đấu anh dũng kiên cường, với tinh thần giúp bạn thoát khỏi sự diệt chủng của bè lũ Pôn Pốt, những người lính quân tình nguyện Việt Nam đã bằng máu xương của mình, cứu nhân dân bạn, cứu đất nước bạn, góp phần tạo nên những trang vàng cho hai dân tộc Việt Nam-Campuchia. Đất nước Campuchia còn nóng mùi thuốc súng thì phía Bắc quân Trung Quốc đã tràn sang nước ta. Theo mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, toàn bộ Quân đoàn 3 lập tức hành quân với đầy đủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện vận tải và thông tin liên lạc ra Bắc sẵn sàng chiến đấu. Mỗi người chiến sĩ quân đoàn lại sẵn sàng lên tuyến đầu đánh giặc. Cuộc hành quân thần tốc bằng đủ các loại phương tiện: máy bay, ô tô, tàu hỏa, đường thủy ra tập kết ở Thái Nguyên. Đây cũng là một cuộc hành quân lịch sử của quân đoàn. Sư đoàn trưởng Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm giữ chức Tham mưu trưởng quân đoàn. Với kinh nghiệm làm công tác tham mưu nhiều năm, nhất là kinh nghiệm cơ động lực lượng trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh, cơ quan quân đoàn đã làm kế hoạch một cách hết sức khoa học, sát thực tế để mọi lực lượng vận hành nhịp nhàng, không chồng chéo, không đứt quãng với lực lượng ba sư đoàn bộ binh, một lữ đoàn pháo binh, một lữ đoàn cao xạ, một lữ đoàn xe tăng với gần 100 chiếc, các cơ quan quân đoàn bộ, các phân đội hậu cần trực thuộc với cự li cuộc hành quân dài 3.000km. Đặt chân lên mảnh đất Thái Nguyên, hàng vạn bộ đội với khối lượng trang bị kỹ thuật khổng lồ lập tức chặt tre, đốn gỗ xây dựng doanh trại, ổn định nơi ăn chốn ở, sẵn sàng nhận nhiệm vụ lên biên giới đánh giặc. Năm 1980, quân đoàn tổ chức trọng thể Lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng và Huân chương Hồ Chí Minh. Cùng thời gian này, Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn Xe tăng 273, Trung đoàn 7 Công binh lần lượt vinh dự được đón nhận danh hiệu Anh hùng. Những năm 1981, 1982, để chuẩn bị chiến trường theo hướng A1, A2, quân đoàn đã huy động lực lượng nhân lực, vật lực mở mới và sửa chữa nâng cấp 7 tuyến đường với tổng chiều dài 285km. Tiêu biểu là tuyến đường CĐ30 từ phố chợ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang kéo đến Thiềng, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn dài 47km. Những tuyến đường người chiến sĩ Quân đoàn 3 mở vươn dài trên các triền núi, vượt qua sông sâu, vực thẳm phục vụ kịp thời các hoạt động quốc phòng và đời sống nhân dân. Tháng 12 năm 1983, Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 3. Trên cương vị mới, xác định rõ trọng trách của mình, Khuất Duy Tiến đã cùng với tập thể Đảng ủy chấp hành nghiêm chủ trương chiến lược của cấp trên, lãnh đạo các đơn vị toàn quân đoàn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Đầu năm 1985, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên tuyến biên giới phía Bắc diễn ra quyết liệt trong đó địa bàn Quân khu 2 là một trọng điểm. Tháng 9 năm 1985, Quân đoàn 3 được lệnh cơ động toàn bộ Sư đoàn 31 đi phối thuộc cho Quân khu 2 chiến đấu bảo vệ biên giới thay phiên phòng ngự cho Sư đoàn 313 và Sư đoàn 356 trên tuyến Vị Xuyên - Hà Giang. Sau lễ xuất quân, các khối hành quân của Sư đoàn tiến thẳng lên biên giới dưới sự chỉ huy của Sư đoàn trưởng Trần Tất Thành. Sư đoàn 31 nhanh chóng vào vị trí chiến đấu và thực hiện xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao. Cũng trong thời gian này, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, Quân đoàn 3 đã điều động một tiểu đoàn xe tăng của Lữ 273 vào chiến đấu trong đội hình Bộ Tư lệnh 479 - Quân khu 7 ở Campuchia và tổ chức điều động đoàn công tác sang nước bạn Lào giúp tổ chức xây dựng Trường đào tạo hạ sĩ quan. Trên các hướng chiến trường, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, người chiến sĩ Quân đoàn 3 luôn có mặt nơi tuyến đầu đánh giặc và thực hiện các nhiệm vụ Quốc tế. Tháng 4 năm 1987, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng quyết định di chuyển Quân đoàn 3 vào Tây Nguyên. Tháng 10 năm 1987, Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ chính thức bằng văn bản cho Quân đoàn 3 di chuyển toàn bộ đội hình vào Khu 5, thời gian hoàn thành trong năm 1988. Đứng trước bước ngoặt lớn, khối lượng công việc khổng lồ, nhiệm vụ nặng nề, hàng vạn bộ đội, hàng nghìn xe, thiết bị kỹ thuật, súng pháo lớn phải vượt qua chặng đường trên 1,500km với các loại phương tiện, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy qua 16 tỉnh thành trong điều kiện cả nước khó khăn là một thách thức lớn của cán bộ chiến sĩ Quân đoàn. Phát huy truyền thống anh hùng, luôn biết dựa vào nhân dân, cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 3 trong cuộc hành quân lịch sử trở lại vào Tây Nguyên đã được nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hết lòng giúp đỡ. Trên dưới một lòng, Đảng bộ và chính quyền các tỉnh, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên mở rộng vòng tay đón người chiến sĩ. Những tiếng nói thân tình, ấm áp luôn vang lên: “Tây Nguyên là căn cứ vững chắc của cả nước, nên phải xây dựng Tây Nguyên vững chắc cả về kinh tế, chính trị, quân sự. Quân đoàn 3 ở Tây Nguyên để cùng nhân dân các dân tộc xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng”. Cuộc hành quân trở lại Tây Nguyên đã nâng cao thêm kinh nghiệm và bản lĩnh cho mỗi cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 3, viết tiếp truyền thống sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ khó khăn nào, thực hiện thắng lợi bất cứ mệnh lệnh nào mà cấp trên giao phó. Cuộc hành quân của toàn bộ Quân đoàn 3 từ miền Bắc vào Tây Nguyên là cuộc chuyển quân lớn đầu tiên của quân đội ta trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Sau khi ổn định vị trí đóng quân cho các đơn vị trong các quân đoàn, Tư lệnh Quân đoàn Khuất Duy Tiến được điều về giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:34:33 pm * * * Vị tướng trận chia tay Quân đoàn 3 - cái nôi nuôi dưỡng, rèn luyện ông từ một chiến sĩ Đại đội 9 - Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 48 trở thành Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320; Tư lệnh Quân đoàn 3 với bao tình cảm, nghĩa nặng tình sâu đặc biệt là với hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh trên chiến trường. Vị tướng trận như cảm thấy ý nghĩa hơn, thiêng liêng hơn trên cương vị mới. Khi đọc những dòng Hồi ký của vị tướng trận, chúng tôi đã quá xúc động trước mẩu đối thoại ngắn của ông với Tổng Tham mưu trưởng Đoàn Khuê: - Đồng chí về nhận công tác mới đã về qua nhà chưa? Con cái, mức sống gia đình ra sao? Vị tướng bao nhiêu năm trận mạc trả lời: - Thưa anh, tôi được bốn con, hai trai, hai gái, còn phải nuôi hai cháu: một cháu đại học năm thứ 2, một cháu học lớp 10. Tiền lương eo hẹp, vợ tôi phải nuôi thêm lợn, phải nấu xôi bán thêm buổi sáng, các cháu phải tranh thủ vào cơ quan xin nước vo gạo, cơm thừa, lấy cây chuối và rau nuôi lợn. Vất vả nhưng vui, các cháu ngoan, học hành tốt, gia đình êm ấm. Gia đình người lính bao gồm cả gia đình những vị tướng lừng danh trên chiến trường của chúng ta luôn giản đị đến thắt lòng. Tôi vẫn luôn thấy ở vị tướng trận Khuất Duy Tiến một phong thái giản dị, khiêm nhường ấy. Cấp trên của ông, đồng đội của ông cũng đều như vậy. Chính điều này đã giải thích tại sao những người lính của nhân dân Việt Nam anh hùng luôn chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược. Họ luôn biết thu xếp thật bình dị, nhẹ nhàng, đơn sơ nhất gia đình mình, cá nhân mình, để dành toàn bộ trí tuệ, kể cả máu xương của mình cho nghĩa lớn, cho Tổ quốc non sông. Trên cương vị Cục trưởng Cục Quân lực khi đất nước ta vẫn ở trong tình trạng “vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh”, Khuất Duy Tiến đã nhanh chóng nhập cuộc. Bằng nhũng điều đã tích lũy được trong hai cuộc kháng chiến, bằng trái tim nhiệt huyết, tầm nhìn chiến lược mới, vị tướng trận mau chóng thấy rõ một điều phải tham mưu cho Bộ Quốc phòng quyết định điều chỉnh tổ chức lực lượng quân đội một cách khoa học hơn, phù hợp hơn với nhiệm vụ quân sự - quốc phòng họp với khả năng đảm bảo các mặt của đất nước, trên nền tảng điều chỉnh thế bố trí chiến lược, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân. Vị tướng trận càng hiểu hơn quân đội ta phải xây dựng theo hướng chính quy hiện đại, kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao, tiếp tục phát triển dân quân, tự vệ về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường xây dựng lực lượng dự bị, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nền khoa học, quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Thực hiện đầy đủ chính sách hậu phương quân đội. Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực của đất nước. Đây cũng là quan điểm và phương hướng lâu dài của quân đội ta. Những đề án lớn được tiến hành khoa học, cụ thể, sát với từng nhiệm vụ. Trước mỗi đề án quan trọng mang tính chiến lược - chiến dịch, dài hạn, ngắn hạn đều được thảo luận thống nhất trong Cục và thâm nhập lấy ý kiến cơ quan Bộ, Ngành, Quân khu, Quân đoàn, Quân Binh chủng để chắt lọc và làm thí điểm trước khi báo cáo Bộ thực hiện. Những chuyển biến lớn, phù hợp với xu thế phát triển chung trên nguyên tắc nâng cao sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội trong việc xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đã ngày càng ổn định vững chắc. Kết quả, qua hai năm (1990 - 1991) vận hành cơ chế mới, Cục đã lần lượt hoàn thành các nội dung của kế hoạch giảm quân số điều chỉnh biên chế, tổ chức lực lượng vũ trang thời kì đổi mới. Tiếp tục thực hiện phương hướng giảm quân số, chấn chỉnh tổ chức theo Quyết định của Bộ quốc phòng, trong năm 1989 đã giải thể 12 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn, 3 trung đoàn, 1 tiểu đoàn thuộc các quân khu, quân đoàn, tổng cục. Tổ chức mới và giao thêm nhiệm vụ cho các trung tâm, nhà máy sản xuất quốc phòng gắn với kinh tế; thành lập các công ty, tổng công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Thực hiện kế hoạch bảo đảm trang bị của Bộ Quốc phòng theo phương hướng: Phát huy tinh thần tự lực, tận dụng mọi tiềm năng trang bị kĩ thuật hiện có và khả năng bảo đảm của Nhà nước; từng bước cân đối đồng bộ đơn vị chủ yếu và trang bị kĩ thuật chủ yếu. Căn cứ chủ trương trên, đã tập trung ưu tiên kiện toàn biên chế, trang bị cho các đơn vị đang làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo, bảo đảm một bước cho các đơn vị dự bị động viên, kết hợp chỉ đạo tập trung các loại vũ khí, trang bị thu hồi của các đơn vị giải thể đưa vào kho những loại còn sử dụng tốt, tổ chức niêm cất, thanh lý các loại không còn sử dụng được. Đồng thời chỉ đạo sửa chữa và sản xuất quốc phòng, tập trung mũi nhọn vào những chủng loại vũ khí trang bị quân đội đang cần mà ta có thể đảm đương được. Do đó công tác trang bị từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng động viên trong tình huống cần thiết. Thông qua thực hiện giảm quân số, chấn chỉnh biên chế tổ chức, bộ phận chính sách kết hợp với nhóm thông tin tư liệu bước đầu đã khai thác tập hợp từ năm 1945 - 1991 được 660.000 liệt sĩ đăng ký qua máy tính điện tử, phân cấp quản lý qua các địa phương, tạo điều kiện cho khâu giải quyết chính sách. Từng bước vượt qua trở ngại, bỡ ngỡ ban đầu (việc nhiều người ít, rối bận, sót việc...) thông qua buổi giao ban, chấn chỉnh, họp rút kinh nghiệm đã chuyển Cục thành bộ máy thuần nhất, vận hành nhịp nhàng ăn khớp, năng động, hiệu quả, nội bộ đoàn kết, nhất trí cao, phấn khởi, tin tưởng; tạo đà tiến vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VII. Thực hiện nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về tiếp tục điều chỉnh lực lượng và thế bố trí chiến lược - kế hoạch tổ chức lực lượng từ năm 1991 - 1995. Từ đó, xác định phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang là: “Tiếp tục giảm quân số thường trực, tăng cường xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân lự vệ, thực hiện một sự cân đối mới giữa ba thứ quân, kết hợp xây dựng quân đội về chính trị, quân sự và chính quy; sắp xếp lại hệ thống nhà trường theo hướng đại học hóa đội ngũ sĩ quan và nhân viên kỹ thuật, nâng cao một bước chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Bảo đảm trang bị kỹ thuật theo hướng bảo quản và sử dụng những cái đã có; đồng thời cải tiến, mua sắm, hiện đại hóa một số phương tiện vũ khí thật cần thiết. Đổi mới một số chính sách đối với quân đội cho phù hợp với thời bình và kinh tế thị trường, nâng cao một bước đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội”. Căn cứ vào phương hướng và đặc điểm tình hình cụ thể, Cục Quân lực triển khai có hiệu quả từng mặt công tác lớn. Trong thời gian từ 1991-1994, trên cơ sở chuẩn bị của Cục Quân lực và các Cơ quan liên quan, bước đầu soạn thảo ban hành chức danh các khối chiến đấu. Đây là một cố gắng lớn tuy còn một số chi tiết, nội dung đã ban hành chưa thật chuẩn xác, cần phải hoàn chỉnh thêm. Do tổng quân số đã giảm tới mức tương đối ổn định, Nhà nước ban hành chính sách mới đối với quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng; đồng thời cải cách chế độ tiền lương, nên số lượng, chất lượng hạ sĩ quan chỉ huy và nhân viên chuyên môn kỹ thuật ngày một tốt hơn. Để đảm bảo chất lượng đào tạo, Bộ Quốc phòng đã bổ sung một số tiêu chuẩn về chiêu sinh, thực hiện chế độ tuyển sinh, xác định bậc học, cấp học theo quy chế đào tạo của Nhà nước; cải tiến nội dung chương trình và thời gian đào tạo trên từng cấp học, ngành học (đòi hỏi phải soạn thảo thống nhất, đồng bộ chức danh trần quân hàm hơn chức vụ trong toàn quân). Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1991, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Cục Quân lực chủ trì cùng với Cục Quân huấn tổ chức nghiên cứu thực nghiệm sư đoàn bộ binh mang vác các loại vũ khí, trang bị, vật chất trong biên chế của từng loại phân đội, từng cá nhân hành quân từ vị trí tập kết đến tuyến triển khai chiến đấu; điều chỉnh hợp lý số quân theo biên chế, bảo đảm đủ sức mang vác hết cơ số đạn dược và lượng vật chất quy định. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:35:26 pm Qua thời gian thực nghiệm tại Sư đoàn 325 Ọuân đoàn 2 đạt kết quả tốt. Trong hội nghị tổng kết, đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Văn Đức kết luận: “Cuộc thực nghiệm đạt kết quả rất tốt, dựa vào thực nghiệm đã xác định được quân số trang bị cho từng loại phân đội của sư đoàn bộ binh mang vác phù hợp với các loại trang bị hiện có với tầm vóc người Việt Nam”. Cục Quân lực hoàn thiện biểu biên chế “Sư đoàn bộ binh mang vác” trình bộ Tổng Tham mưu ban hành gồm: sư đoàn bộ binh mang vác thời bình, sư đoàn bộ binh mang vác thời chiến. Ngày 3 tháng 12 năm 1991, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 495/QĐ-QP ban hành “Chế độ quản lý trang bị kỹ thuật”. Đây là văn bản do Cục Quân lực cùng các cơ quan chức năng của Tổng cục Kỹ thuật soạn thảo gồm 11 Chương 63 Điều; bổ sung hoàn thiện nhiều nội dung từ việc nghiên cứu cải tiến, thiết kế chế tạo, mua sắm, sản xuất chuyển ra khỏi biên chế và dự trữ, là văn bản thiết yếu giúp người chỉ huy, cơ quan và đơn vị thực hiện quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày một chặt chẽ hơn. Lập kế hoạch động viên là một trong những nội dung thiểt yếu của công tác động viên quân đội. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hành kế hoạch động viên, năm 1990, được sự chỉ đạo của Bộ chuyển đổi phương thức từ “các địa phương giao nguồn cho đơn vị thường trực tiếp nhận tự xếp sắp biên chế (tròn khâu), chuyển giao cho đơn vị thường trực khi có lệnh”. Phương thức này được áp dụng từ năm 1992, qua thực tế cho thấy đã rút ngắn được thời gian bàn giao và hoàn thiện biên chế đơn vị nhanh, sát với thực tế, giúp cho đơn vị thường trực nhận quân và điều chỉnh đơn vị nhanh, thuận lợi (làm cơ sở để xây dựng Pháp lệnh về Lực lượng dự bị động viên năm 1993). Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Cục Quân lực tập trung những cán bộ có năng lực và hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan chức năng các tổng cục và ban ngành Nhà nước thực hiện thành công: “Dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi bổ sung và Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên”. Được Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua là một công trình thiết yếu, là căn cứ cơ bản thực hiện nhiệm vụ, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Từ cuối năm 1991 đến cuối năm 1993, Cục Quân lực chủ trì cùng các cơ quan chức năng như: Cục Cán bộ, Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị, Cục Tài chính và cơ quan, các đơn vị liên quan xây dựng thống nhất ban hành chức danh, trần quân hàm, nhóm chức vụ trong toàn quân từ khối cơ quan Bộ, quân khu, quân đoàn, binh chủng đến các khối nghiên cứu khoa học, học viện, nhà trường, xí nghiệp, kho, trạm; làm căn cứ cho công tác lãnh đạo quản lý sắp xếp, bố trí, khai thác sử dụng cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật vào nền nếp chặt chẽ. Căn cứ vào quyết định của Bộ, Cục Quân lực đã tiến hành chấn chỉnh tổ chức, sáp nhập điều chuyển, kiện toàn 62 đầu mối đơn vị, giải thể các tổ chức đơn vị dư thừa do nhu cầu nhiệm vụ; chuyển đổi cơ cấu tổ chức 34 đầu mối từ cấp tiểu đoàn, trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn và tương dương, thành lập 100 đầu mối đơn vị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình chuyển đổi chung của Nhà nước. Sau ba năm thực hiện kế hoạch điều chỉnh tổ chức lực lượng dần hình thành rõ nét trong thực tế cơ cấu về quy mô lực lượng, cơ cấu tổ chức biên chế trang bị kỹ thuật giữa các khối (chiến đấu, bảo đảm, phục vụ, cơ quan và nhà trường) giữa lực lượng chủ lực và địa phương, giữa bộ đội thường trực và dự bị động viên... đáp ứng 5 tình huống chiến lược, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân. Bảo đảm cho nhiệm vụ huấn luyện theo hướng xây dựng quân đội thường trực cách mạng - chính quy - tinh nhuệ - từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp có chất lượng chính trị cao, có tổ chức phù hợp và chặt chẽ. Đầu tháng 3 năm 1994, các bộ phận chuyên trách, các sĩ quan đảm nhiệm các hướng, các đầu mối đơn vị đang theo dõi tổng hợp kết quả công tác thời kỳ 1990-1995, dự thảo nội dung kế hoạch 5 năm 1996-2000 và thực hành biên soạn nội dung tổng kết 4 năm Cục Quân lực vận hành theo cơ chế mới. Không khí làm việc trong toàn Cục hăng say, đoàn kết, phấn khởi. “Vào đầu giờ làm việc buổi chiều, Tổng Tham mưu trưởng Đào Đình Luyện gặp thông báo quyết định cử tôi về đảm nhiệm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. Sau mấy giây ban đầu tiếp nhận thông tin, tôi lập tức định hướng được đoạn đường đi tới là đoạn đường bằng phẳng sáng đẹp: về Trường Lục quân là mang khối kiến thức đã tích lũy mấy chục năm quân ngũ từ Binh nhì đến Tư lệnh quân đoàn trao lại một cách có chọn lọc cho thế hệ thanh niên kế tiếp khai thác, thu lượm đưa vào nội dung chương trình đào tạo sĩ quan tương lai cho đất nước. Trước cử chỉ thân tình và lời nói chậm rãi mạch lạc ấm áp, trong không khí đồng cảm anh em anh Đào Đình Luyện nói: - Từ lâu tôi với anh đã hiểu nhau, coi nhau như anh em, anh về Trường Sĩ quan Lục quân có vướng mắc gì không? Tôi thản nhiên thưa: - Không! Tôi được về đảm nhiệm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân là được trở lại cái nôi cách đây 40 năm đã đào luyện tôi trở thành một sĩ quan cao cấp của quân đội. Đó là đoạn đường đi tốt lành - là sự tri ân nơi đã đào luyện giáo dục tư chất người sĩ quan ban đầu cho tôi và là nơi tôi phải cống hiến hết mình, cùng những kinh nghiệm, kiến thức đã đúc kết được trên chiến trường qua 40 năm trải nghiệm cống hiến cho nhà trường - Đó cũng là đạo lý, là nghĩa cử của một quân nhân. Anh nhìn tôi trìu mến qua đôi mắt đồng cảm thân thương và nói tiếp như đả thông: - Đề án quy hoạch hệ thống nhà trường trong đó có Trường Sĩ quan Lục quân được cậu về vận đụng, tôi cho là hợp lý. Cần làm ngay, làm mạnh dạn; nhớ luôn điện trao đổi kết quả với mình. Tôi bàn giao chức trách Cục trưởng cho đồng chí Thiếu tướng Dương Đàm, đang là Phó Cục trưởng đảm nhiệm khối tổ chức lại là Bí thư Đảng ủy Cục nên rất nhanh gọn, phấn chấn. Buổi liên hoan chia tay - đó là cuộc sinh hoạt đặc biệt của tất cả cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên. Cũng là một bữa tiệc thịnh soạn của Cục trưởng mới Dương Đàm và toàn thể anh em dành cho tôi như để biểu lộ sự chia tay đầy ý nghĩa, thân thiết và những dấu ấn đọng mãi trong tim tôi cho đến hôm nay tôi xin ghi lại. Đó là những cái bắt tay run run rồi lỏng dần qua nét mặt quyến luyến xúc động, những ánh nhìn với đôi mắt sáng đầy sức sống cùng vòng tay dang rộng ôm chặt đến nghẹn thở, những nụ cười thật tươi, thật thân thiện cùng lời tạm biệt ngọt ngào, lời chúc khỏe mạnh làm thật tốt chức vụ mới, nhớ về thăm Cục, thăm anh em; giữ mối quan hệ Nhà trường và Cục thật tốt đẹp. Qua 4 năm (3/1989-3/1994): 1.480 ngày cùng nhau góp sức, góp trí tuệ cải tiến lề lối, tác phong công tác, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Cục vận hành theo cơ chế mới, chúng ta đã vượt qua mọi trở ngại lần lượt hoàn thành các nhiệm vụ đạt chất lượng hiệu quả; trên chặng đường sát kề vai, gừng cay, muối mặn, ngọt bùi ấm lạnh có nhau. Đã kết thành mối tình thủy chung trong sáng đẹp đẽ - tình đồng chí anh em. Xin giữ lấy những kỷ niệm đẹp về tình đồng chí, đồng đội.” Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:38:09 pm * * * Tháng 3 năm 1994, Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. Vị tướng trận trở về với ngôi nhà từng đào luyện ông từ người chiến sĩ trở thành sĩ quan cao cấp của quân đội. Trở về mái trường mà từ đó, đồng chí đồng đội ông lớp lớp nối nhau vào chiến trường đánh giặc khắp các miền Nam - Trung - Bắc, nhiều người đã mãi mãi không trở về nơi họ từng học tập, rèn luyện. Trở về mái trường, cũng là nơi quê hương ông từng một thời đói rét, từng những buổi đầu theo cách mạng, theo Đảng, theo Bác Hồ. Trở về mái trường là nơi vị tướng trận từng ở đó khi tóc còn xanh nay đã dần bạc trắng. Những cảm xúc thật khó nói hết nên lời. Về đảm trách Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 là đoạn đường cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của vị tướng trận - là đoạn đường sáng đẹp được mang những kiến thức, kỹ năng quân sự đã trải qua 50 năm quân ngũ từ một chiến binh trở thành một Tư lệnh quân đoàn, đúc kết, sàng lọc kỹ càng, đóng góp với nhà trường đào tạo đội ngũ sĩ quan tương lai cho Tổ quốc ngàn lần yêu quý là một vinh dự, một đặc ân của quân đội dành cho vị tướng trận và cũng là đền ơn trả nghĩa nhà trường lục quân đã đào tạo ông trở thành một sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức chỉ huy, quản lý, lãnh đạo các quân nhân dưới quyền, nhất là các thế hệ học viên, sĩ quan trẻ hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trong tình hình mới. Vị tướng trận - vị hiệu trưởng khả kính giàu thực tiễn chiến trường luôn vô cùng bình dị, bằng trí tuệ và niềm tin lớn đã có những cống hiến đáng ghi nhận trên cương vị mới. Trong hồi ký Ký ức đời binh nghiệp, vị tướng trận nhớ lại: “Tôi từ Cục Quân lực về Trường Sĩ quan Lục quân 1 vào cuối tháng 3 năm 1994. Người tiếp tôi đầu tiên là anh Trần Tất Thanh - Thiếu tướng - Phó Hiệu trưởng về quân sự (nguyên là Tư lệnh Quân đoàn 3) và anh Lương Văn Cửu - Đại tá - Bí thư Đảng ủy - Phó Hiệu trưởng về chính trị (nguyên là Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2). Tôi và anh Thanh đã từng gắn bó với nhau từ chiến trường Tây Nguyên những năm chiến tranh và thời kỳ xây dựng Quân đoàn 3 đến đầu năm 1989 mới tạm chia tay nay lại cùng nhau về xây dựng Trường Sĩ quan Lục quân - mối duyên thiên định đẹp thay. Riêng với anh Cửu từ cái bắt tay thật chặt, nét mặt hồ hởi cùng lời nói đầu tiên: “Bọn tôi được thông báo trước gần một tháng, nay anh về rất kịp thời đón Nghị quyết 93 Đảng ủy Quân sự Trung ương. Còn anh Ân đang bị tai biến nhẹ phải điều trị ở Viện Quân y 108 có lẽ còn một thời gian nữa mới ra viện được”. Tiếp đến, anh giới thiệu tóm lược về tình hình nhiệm vụ; tổ chức biên chế, kết quả thực hiện Nghị quyết số 115 của Thường vụ Đảng ủy Ọuân sự Trung ương và một số nội dung chính chuẩn bị cho năm học 1994-1995 và đưa cho tôi tập tài liệu về các nghị quyết của Đảng, kế hoạch công tác huấn luyện đào tạo của Trường Sĩ quan Lục quân. Qua nét mặt cương nghị, giọng nói ấm áp, thái độ bình tĩnh, thuyết trình gọn rõ, đôi mắt sáng, thân thiện, anh nhấn mạnh những nội dung chính, những việc phải làm ngay chứng tỏ anh nắm rất chắc nhiệm vụ và kế hoạch xây dựng nhà trường. Cuộc gặp đầu tiên gây cho tôi ấn tượng đẹp đó là tôi sẽ có một chính ủy tin cậy. Nhân hội nghị bàn giao, anh Cửu, anh Thanh giới thiệu tôi làm quen với các cán bộ đầu ngành toàn trường và thông báo lịch tiếp xúc của hiệu trưởng mới với các đơn vị. Xếp sắp thời gian, tôi làm việc với các phòng chức năng, các khoa giáo viên, các tiểu đoàn quản lý học viên, tiểu đoàn phục vụ huấn luyện tìm hiếu chức trách nhiệm vụ, nội dung công tác, đội ngũ cán bộ, nhân viên được biên chế... Tôi tham dự các buổi hội thảo khoa học, các buổi giảng thử của giáo viên trên giảng đường, đến các bãi tập, thao trường xe dự giờ giảng của giáo viên và tiếp thu của học viên về chiến thuật, kỹ thuật bộ binh, binh chủng, điều lệnh thể dục, thể thao cũng như một số bài về chính trị... Đồng thời tôi tranh thủ đọc các loại văn kiện của Đảng và chính quyền nói về nhiệm vụ công tác của nhà trường; cùng Ban quản lý công trình và Phòng Hậu cần kiểm tra kế hoạch, tiến độ thi công và chất lượng các loại công trình đã và đang xây dựng trên năm hạng mục được Bộ Quốc phòng đầu tư trong hai giai đoạn (1991-1996 và 1997-2000) gồm: khu nhà ở cho cán bộ, giáo viên, học viên; giảng đường, phòng học; kho tàng; trạm xá quân y; công trình văn hóa và hệ thống thao trường bãi tập theo yêu cầu mới; công tác bảo đảm đời sống của cơ quan hậu cần nhà trường. Do có thời gian tiếp xúc với các đối tượng sâu, kỹ, lại được anh Thanh, anh Cửu hướng dẫn, thuyết trình rõ ràng nên những nội dung chính tôi hiểu sâu, nắm tương đối chắc. Do vậy khi anh Nguyễn Ân đi chữa bệnh về, công tác bàn giao được tiến hành rất nhanh gọn. Sau hội nghị bàn giao nhiệm vụ giữa đồng chí Trung tướng Nguyễn Ân và tôi, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Chúng tôi tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương với nội dung cơ bản đó là: Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà trường chính quy nhằm mục tiêu đại học hóa trình độ học vấn của đội ngũ sĩ quan và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ nhân viên chuyên môn kỹ thuật làm cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thực hiện sự chuyển tiếp với thế hệ cán bộ, đáp ứng vững chắc nhu cầu về chất lượng và số lượng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật các cấp, các ngành... làm nòng cốt xây dựng quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống. Để thực hiện theo phương hướng trên, Đảng ủy Quân sự Trung ương đã xác định những chủ trương lớn về hoàn thiện chương trình đào tạo, tiếp tục chấn chỉnh hệ thống nhà trường, đẩy mạnh xây dựng nhà trường chính quy, từng bước hiện đại; tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo; kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tạo nguồn, mở rộng liên kết với các trường quân đội, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất đào tạo. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:39:25 pm Đối với nhà trường từ năm học 1994-1995 trở đi, thực hiện chuyển đổi bậc đào tạo từ đào tạo sĩ quan 3 năm sang đào tạo hệ cao đẳng quân sự thời gian 4 năm và chuấn bị mọi mặt để từ năm 1996 (theo kế hoạch) chuyển sang đào tạo đại học. Theo sự chỉ đạo của Bộ, từ khóa 59-60-61, Nhà trường đào tạo chương trình cao đẳng quân sự thời gian 4 năm. Các khóa đào tạo thống nhất được đào tạo theo chương trình đại học đại cương thời gian một năm rưỡi. Đồng thời nhà trường tiến hành tổ chức học tại chức để có mặt bằng kiến thức đại học cho đội ngũ cán bộ, giảng viên toàn trường. Về tổ chức biên chế nhà trường gồm: - Ban giám hiệu gồm tôi (Khuất Duy Tiến) - Hiệu trưởng. - Bí thư Đảng ủy - Phó Hiệu trưởng chính trị: anh Lương Văn Cửu. - Phó Hiệu trưởng quân sự: các anh Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Hữu Mão. - Sáu phòng chức năng: Huấn luyện, Chính trị, Khoa học công nghệ và môi trường, Kỹ thuật, Hậu cần, Hành chính. Hai ban: Ban quản lý công trình và Ban tài chính. Tám khoa giáo viên: Chiến thuật, Khoa học xã hội, Trinh sát, Bắn súng, Binh chủng, Quân sự chung, Thể thao, Cơ bản, Ngoại ngữ và hai khoa biệt phái (Giáo dục quốc phòng - Đại học Sư phạm ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). - 11 tiểu đoàn gồm: 1, 4, 5, 6, 7 đào tạo dài hạn, các tiểu đoàn 3, 8, 11, 12 quản lý học viên đào tạo những vấn đề cơ bản của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội của 10 trường sĩ quan, học viện phía Bắc. Tiểu đoàn 9 quản lý học viên quốc tế. Tiểu đoàn 10 quản lý hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ công tác huấn luyện của nhà trường. Quản lý chặt chẽ, tiếp tục hoàn thành xây dựng cơ bản và các mặt bảo đảm phương tiện dạy và cần thiết nhằm đưa Trường Sĩ quan Lục quân 1 có cơ sở vật chất tương đối khang trang, môi trường chính quy lành mạnh với vị trí trung tâm đào tạo sĩ quan binh chủng hợp thành cấp phân đội ở khu vực phía Bắc. Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình, nội dung giáo dục - đào tạo chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn một đào tạo kiến thức đại học đại cương; giai đoạn hai đào tạo học chuyên ngành. Các nội dung kiến thức đại học đại cương một mặt phải thể hiện sự hòa nhập với hệ thống giáo dục đại học quốc gia, đồng thời phải phù hợp với mục tiêu đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội của nhà trường. Phần kiến thức các môn khoa học xã hội - nhân văn nhất thiết phải do Tổng cục Chính trị chỉ đạo nội dung và do giảng viên chính trị nhà trường đảm nhiệm. Các bộ môn kiến thức cơ bản trong chương trình kiến thức đại học đại cương, nhà trường thực hiện liên kết đào tạo với Viện Đại học Mở, Đại học Quốc gia Hà Nội; do Viện Đại học Mở cấp chứng chỉ. Chương trình nội dung chuyên ngành với thời gian 2 năm rưỡi sẽ được nghiên cứu và cụ thể hóa do nhà trường tổ chức đào tạo. Đầu năm học 1994-1995 nhà trường xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, chuẩn bị đầy đủ các yếu tố và có kế hoạch bồi dưỡng tại chức để nâng cao trình độ đại học cho đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường kết hợp với việc gửi đi học ở các trường, phấn đấu trong hai năm đạt tỷ lệ 60% cán bộ giảng viên có trình độ đại học. Phát huy kết quả đạt được của năm học, toàn trường tập trung vào lãnh đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng nền nếp chính quy trong giai đoạn mới với mục tiêu từ thấp đến cao, quy định trách nhiệm, chỉ đạo xây dựng điển hình và nhân điển hình; kết hợp xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật với xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện... toàn trường đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tháng 6-1995, nhà trường quyết định tái thành lập Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 9. Tháng 7 năm 1996 nhà trường ra quyết định tách khoa Khoa học xã hội thành khoa Lý luận Mác-Lênin và khoa Công tác đảng, công tác chính trị. Nâng cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ là vấn đề có ý nghĩa then chốt để nhà trường đảm đương được nhiệm vụ đào tạo bậc đại học. Nhà trường đã thực hiện liên kết với Viện Đại học Mở, Đại học Quốc gia Hà Nội mở các lớp đào tạo đại học đại cương. Ngày 20 tháng 10 năm 1994, khai giảng khóa 1 gồm 175 học viên; ngày 25 tháng 10 năm 1995 khai giảng khóa 2 gồm 170 học viên. Cùng với việc mở lớp đào tạo chứng chỉ đại học đại cương, nhà trường còn cử hàng chục cán bộ đi hoàn thiện đại học ở các học viện, các cơ sở của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Học viện Chính trị quân sự và Học viện Quốc phòng, nhà trường đã mở các lớp bồi dưỡng kiến thức các môn triểt học, phương pháp luận nghiên cứu khoa học và phương pháp giảng dạy đại học, các lớp học ngoại ngữ để cấp chứng chỉ cho đội ngũ giáo viên (để giúp nhà trường quản lý, chỉ đạo học tại chức của cán bộ - Ban quản lý cán bộ học tại chức được thành lập trực thuộc Phòng Đào tạo). Sau hai năm tích cực chuẩn bị, từ năm 1996 trở đi, nhà trường đã cử hàng chục cán bộ, giảng viên đi đào tạo cao học, nghiên cứu sinh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:40:38 pm Từ năm học 1995-1996, theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, để thực hiện một bước hòa nhập với hệ thống giáo dục quốc gia, chương trình, nội dung các môn khoa học xã hội và nhân văn được xây dựng trong đó có nhiều bộ môn mới chưa được nghiên cứu giảng dạy trong các nhà trường quân đội như: Chính trị học, xã hội học, các nguyên lý kinh tế, tâm lý giáo dục đại cương, lịch sử triết học, lịch sử tư tưởng kinh tế... Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh được Tổng cục Chính trị chỉ đạo đưa vào giảng dạy. Chương trình nội dung trên là khó khăn không nhỏ đối với đội ngũ giảng viên của nhà trường. Mặt khác do cùng một thời gian triển khai nhiều lớp đại học đại cương cho học viên có lúc trên 3.000 người. Vì vậy, đội ngũ giảng viên nhất là giáo viên chính trị không đủ lực lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Để khắc phục khó khăn đó, Ban giám hiệu, cơ quan chính trị, Đảng ủy và các chi bộ khoa học xã hội đã kịp thời huy động mọi người nêu cao ý thức trách nhiệm, nỗ lực cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Về mặt tổ chức, Ban giám hiệu nhà trường cử giảng viên đi dự lớp tập huấn ngắn hạn về các môn học do Tổng cục Chính trị mở; mặt khác liên hệ với các trường đại học ngoài quân đội để nghiên cứu chương trình, nội dung, tài liệu giảng dạy. Đảng ủy và chỉ huy các khoa chủ động sắp xếp hợp lý khâu tự nghiên cứu, tự học, tổ chức lại lực lượng giảng viên các môn. Thực hiện chủ trương của Bộ, khoa Khoa học xã hội đã chủ động liên hệ hiệp đồng với các học viện, trường sĩ quan khu vực phía Bắc cử giáo viên đi đến Trường Sĩ quan Lục quân 1 tham gia giảng dạy và phối hợp chặt chẽ với cơ quan giáo vụ triển khai chương trình giảng dạy hợp lý... Có thể nói trong lịch sử giảng dạy các môn khoa học xã hội - nhân văn của nhà trường chưa bao giờ phải triển khai các nội dung và thời gian dạy nhiều như vậy. Song nhờ làm tốt công tác tư tưởng và tổ chức thực hiện khoa học nên nhà trường đã từng bước giải quyết sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên, giữ vững định hướng chính trị và bảo đảm chất lượng dạy học. Đối với các môn toán, lý, hóa, tin học, ngoại ngữ, thời gian đầu nhà trường liên kết với Viện Đại học Mở bảo đảm đủ giáo viên giảng dạy. Đồng thời nhà trường chủ trương củng cố tổ chức khoa cơ bản ngoại ngữ; xin trên bổ sung đội ngũ giảng viên; cử người đi đào tạo sau đại học, lấy bằng tiếng Anh... tổ chức chỉ đạo bám lớp, rút kinh nghiệm tại chỗ. Nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Ban giám hiệu nhà trường, sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ giảng viên, từng bước nhà trường chúng tôi đã đáp ứng được nhiệm vụ dạy và học. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục - huấn luyện trong giai đoạn đào tạo chuyên ngành, Thường vụ Đảng ủy - Ban giám hiệu chỉ đạo chặt chẽ về xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về chuyên ngành, bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn cao; trên cơ sở bám sát mục tiêu yêu cầu đào tạo, các khối kiến thức cơ sở và chuyên ngành bước đầu bố trí tương đối hợp lý. Đối với chương trình, nội dung đào tạo chuyên ngành tuy không hoàn toàn mới nhưng đây là lần đầu tiên được thiết kế theo chương trình, nội dung đào tạo đại học. Vì vậy, nhà trường chủ trương trong quá trình tổ chức giảng dạy, có thể và cần phải tiếp tục bổ sung, điều chỉnh cho phù họp với mục tiêu yêu cầu - đào tạo bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu. Quán triệt Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương; xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trường Sĩ quan Lục quân 1; nhận thức vị trí tầm quan trọng về phương hướng mục tiêu đào tạo sĩ quan thế kỷ XXI phải có học vấn đại học, trên đại học và khả năng về kiến thức quân sự, hiểu biết tinh thông nghệ thuật quân sự trong điều kiện chiến tranh mới; khai thác, quản lý sử dụng các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại có hiệu quả; có trình độ tổ chức, chỉ huy, quản lý lãnh đạo những quân nhân thuộc quyền có giác ngộ chính trị cao, có trình độ văn hóa, kiến thức quân sự tiên tiến; nhằm xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại; bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đảng ủy - Ban giám hiệu quyết định thành lập Ban biên tập do tôi (Khuất Duy Tiến) làm trưởng ban, đồng chí Trưởng (phó) phòng các phòng: Đào tạo, Khoa học, Chính trị, Kỹ thuật, Hậu cần, Hành chính và Trưởng (phó) khoa Chiến thuật, Bắn súng, Binh chủng, Quân sự chung, Khoa học xã hội, Trinh sát, Cơ bản ngoại ngữ; cùng các ban: Kế hoạch huấn luyện, Tuyển sinh, Cán bộ, Quân lực. Ban biên tập thực hiện nhiệm vụ biên soạn đề tài cấp Bộ về: “Tạo nguồn, tuyển chọn, tổ chức quá trình đào tạo đại học quân sự sĩ quan lục quân cấp phân đội”. Đề tài đề cập những vấn đề có tính nguyên tắc về phương pháp tổ chức, quản lý, điều hành theo quy trình hình thành nhân cách sĩ quan nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan lục quân. Từ đó xác định những giải pháp cơ bản trong thực hiện tạo nguồn nâng cao chất lượng đào tạo. Đề tài đã được Hội đồng khoa học Bộ Ọuốc phòng đánh giá nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc. Đồng thời khâu bảo đảm vật chất huấn luyện có bước phát triển; hệ thống giảng đường được xây dựng mới và trang bị tương đối hiện đại, từng bước đáp ứng yêu cầu dạy học các môn ngoại ngữ, tin học. Thư viện nhà trường được củng cố nâng cấp về tổ chức biên chế, và đầu tư cơ sở vật chất các loại tài liệu, đầu sách nghiên cứu, hệ thống tài liệu các bộ môn khoa học cơ bản bảo đảm 2 học viên/1 bộ tài liệu. Nhờ quản lý lãnh đạo chặt chẽ và đầu tư kinh phí đúng hướng, tiết kiệm hợp lý, hiệu quả, từ năm 1995 được sự tăng cường đầu tư của trên, cơ sở vật chất, vũ khí trang bị kỹ thuật của nhà trường từng bước được nâng cấp và trang bị mới phục vụ huấn luyện và sinh hoạt của nhà trường; cùng với một số sáng kiến cải tiến kỹ thuật được ứng dụng trực tiếp cho huấn luyện như máy ép thuốc nổ, hệ thống đèn chiếu sáng... góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện. Do chuẩn bị đầy đủ mọi mặt của nhà trường từ khâu tạo nguồn, tuyển chọn đến sắp xếp nội dung, chương trình đến đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất dạy và học, ngày 11 tháng 7 năm 1995, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định công nhận trình độ đào tạo cao đẳng cho Trường Sĩ quan Lục quân 1. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:41:20 pm Ngày 11 tháng 9 năm 1995, đại biểu cơ quan Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo về dự khai giảng khóa 62 - khóa cử nhân quân sự đầu tiên của Trường Sĩ quan Lục quân 1. Mục tiêu đào tạo khóa 62 được xác định: “Đào tạo những hạ sĩ quan đã tốt nghiệp tiểu đội trưởng và tương đương có đủ tiêu chuẩn trở thành sĩ quan chỉ huy phân đội bộ binh, bộ binh cơ giới, trinh sát và hỏa khí; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất, đạo đức trong sáng, có kiến thức đại học quân sự, có năng lực toàn diện trong lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện, quản lý bộ đội, sức khỏe tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Học viên tốt nghiệp đảm nhiệm chức vụ ban đầu là trung đội trưởng, phát triển lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó và các chức vụ tương đương, có tiềm năng phát triển lâu dài”. Nhà trường lãnh đạo chặt chẽ nhiệm vụ giáo dục - huấn luyện; đồng thời đẩy mạnh công tác tư tưởng, văn hóa - xã hội, môi trường văn hóa, môi trường giáo dục lành mạnh, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người học. Động viên kịp thời cán bộ, giảng viên, học viên phát huy trách nhiệm, vượt qua khó khăn nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện. Tăng cường công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, năm 1995, Đảng ủy nhà trường ra nghị quyết về “Quy trình phát triển Đảng ở Trường Sĩ quan Lục quân 1” với đề tài cấp Bộ: “Phát triển và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đảng viên trong quá trình đào tạo cán bộ ở các trường sĩ quan quân đội” được Hội đồng khoa học Tổng cục Chính trị đánh giá nghiệm thu đạt kết quả khá. Qua tổng kết phát triển đảng viên của Trường Sĩ quan Lục quân 1 từ 1986-1997 đã kết nạp được 3.916 đảng viên. Tháng 4 năm 1996, Đại hội Đảng bộ nhà trường nhiệm kỳ XII (1996-2000) đã xác định 5 nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường: 1. Đào tạo sĩ quan phân đội có trình độ học vấn đại học từ năm 1997, đào tạo hoàn thiện tiểu đoàn trưởng, đồng thời hoàn thành tốt các khóa đào tạo cao đẳng, đào tạo giáo viên quân sự, đào tạo cán bộ cho bạn Lào. 2. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên đủ về số lượng, có chất lượng đáp ứng nhiệm vụ phát triển mới, trọng tâm là nâng cao trình độ học vấn đại học và trên đại học. 3. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ và xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện. 4. Hoàn thành tốt công tác xây dựng cơ bản theo kế hoạch là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm. 5. Xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện, trở thành trận địa vững chắc để phòng, chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng nhà trường chính quy, phấn đấu nhà trường đi trước đơn vị một bước và làm mẫu cho đơn vị xây dựng chính quy, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đột xuất trên giao. Mục tiêu phấn đấu là: - Khẩn trương hoàn thành quy trình đào tạo sĩ quan cấp phân đội có trình độ học vấn đại học, chuẩn bị mọi mặt để năm 1997 triển khai: hoàn thiện khóa tiểu đoàn trưởng. Kết thúc thắng lợi các khóa học 59, 60, 61, 62, sĩ quan ra trường có phẩm chất, năng lực toàn diện, làm tốt chức vụ ban đầu. Phấn đấu 60% tốt nghiệp loại khá; 1-2% tốt nghiệp loại giỏi. - Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên đủ số lượng theo biên chế, có dự trữ; phấn đấu đến năm 1998 có từ 70% trở lên cán bộ, giảng viên có trình độ đại học; 10-12% đạt trình độ trên đại học. - Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng trong huấn luyện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cán bộ. Đưa hoạt động thi giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi thành nền nếp thống nhất. - Hàng năm có 65% trở lên Đảng bộ, chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, 70-80% đảng viên đủ tư cách mức 1, không có Đảng bộ yếu, chi bộ kém; 65% trở lên đơn vị đạt mức an toàn tuyệt đối, không có đơn vị mất an toàn, giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật. - Thường xuyên ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. - Hoàn thành xây dựng cơ bản theo đúng kế hoạch, đạt chất lượng, hiệu quả cao. Trong những năm trước mắt phải kiện toàn đội ngũ giảng viên, trọng tâm là giáo viên quân sự, tiếp đến là đội ngũ cán bộ Phòng Huấn luyện, Phòng Khoa học công nghệ và môi trường, Phòng Chính trị có đủ trình độ học vấn theo yêu cầu nhiệm vụ; số còn lại của đội ngũ cán bộ từng bước giải quyết theo kế hoạch hàng năm. Kết quả đào tạo: Từ năm 1994 đến 1997, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã đào tạo được 279 sĩ quan chỉ huy cấp phân đội (khóa 58) và 1.101 sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành bậc cao đẳng (khóa 59 và khóa 60), 1.759 học viên đào tạo thống nhất, 16 sĩ quan trinh sát, 12 giáo viên chiến thuật, 63 học viên Quân đội nhân dân Lào anh em. Tháng 10 năm 1997, tôi nhận quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đoàn Khuê nghỉ hưu, bàn giao vị trí Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 cho Thiếu tướng Nguyễn Khắc Viện. Lễ bàn giao diễn ra nhanh gọn, đầy đủ các thủ tục và nội dung. Song cuộc chia tay với tập thể Trường Sĩ quan Lục quân 1 thân yêu còn kéo dài hơn một tuần và cho tới ngày hôm nay khi tôi viết dòng hồi ức này vẫn ẩn chứa trong lòng tôi những nét sáng - đẹp không thể phai mờ của đại gia đình Trường Sĩ quan Lục quân đã dang rộng vòng tay ôm chặt tôi; tiếp sức cho tôi, chia sẻ niềm vui cùng tôi, cổ vũ tôi vượt qua thử thách, hoàn thành nhiệm vụ mà quân đội giao cho. 1.305 ngày đêm phấn đấu hăng say để đưa đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường lên 100% bậc đại học và từng bước nâng tỷ lệ từ 5-7% đến 10-15% trên đại học, xây dựng đội ngũ giáo viên của Nhà trường có đủ trình độ tổng kết những thành tựu của các khóa đào tạo qua 50 năm phấn đấu xây dựng nhà trường Sĩ quan Lục quân 1. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Giêng, 2022, 01:43:39 pm * * * Trung tướng Khuất Duy Tiến, người con của quê hương Đại Đồng từ những buổi đầu theo cách mạng, trải qua các cuộc chiến tranh, trải qua các cương vị công tác, tôi luyện, đều luôn sáng rõ một phẩm chất trung trinh với Đảng, với Bác Hồ, với nhân dân và Tổ quốc. Ở ông luôn phảng phất phong thái của kẻ sĩ buổi đất nước liên miên giặc giã đã cùng với nhân dân mình, đồng chí đồng đội đi một mạch cùng đất nước trên những chặng đường vô cùng gian khổ, hi sinh. Trung tướng Khuất Duy Tiến, người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam đã trưởng thành cùng với sự trưởng thành của quân đội ta, góp phần tô thắm lá cờ quyết chiến quyết thắng của người chiến sĩ. Nói về nguyên nhân làm nên những chiến thắng của quân đội ta trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung tướng Khuất Duy Tiến cho rằng, điều căn bản nhất là tinh thần chiến đấu dũng cảm, không ngại gian khổ, khó khăn, ý chí quyết chiến quyết thắng của các chiến sĩ bộ đội. Bên cạnh đó còn là nghệ thuật quân sự sáng tạo, linh hoạt của các cấp chỉ huy với cách bày trận sáng tạo, biết phân tích thế trận giữa ta và địch... Đó là sự kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta, là sự sáng tạo của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới ánh sáng soi đường của Đảng, Bác Hồ, giúp quân đội làm nên những chiến thắng vẻ vang, tô thắm thêm lịch sử hào hùng của dân tộc và mãi là niềm tự hào của các thế hệ đời sau. Xin trích những dòng tâm sự trong Lời kết cuốn hồi ký Ký ức đời binh nghiệp trước khi khép lại bài viết về chân dung vị tướng trận mà tôi luôn yêu kính. “Trong suốt chặng đường hơn nửa thế kỷ làm cách mạng, với tôi có biết bao ký ức vui buồn cuộc đời binh nghiệp. Tôi không thể nào quên cuộc sống cơ cực lầm than của người dân xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất quê tôi, phải sống dưới gót giày thực dân, phong kiến. Tôi tận mắt chứng kiến cảnh hơn 400 người dân của xã Đại Đồng chết đói năm 1945. Trong số ấy, có hai người chú ruột của tôi cũng chết tất tưởi vì đói. Ông nội tôi mất đang độ tuổi 30 cùng với bảy người em ruột của tôi cũng chết vì ốm đau và thiếu đói, nhà quá nghèo không có tiền mua thuốc, từng người cứ tuột khỏi tay người thân... Những ký ức đau thương ấy còn đeo đẳng tôi suốt cuộc đời. Khi tôi trưởng thành, mỗi lần nhìn lại cuộc đời, tôi thấy mình mang ơn nhiều người. Nhưng ơn cao nhất là bố mẹ đã sinh thành ra tôi. Suốt đời bố mẹ tôi vất vả, ảo rách không kịp vá, chạy bữa sáng lo bữa tối, quanh năm nợ, nợ chất chồng. Tôi chịu ơn bố vì ông là người luôn động viên tôi phải học từ chữ nho đến chữ quốc ngữ. Ông đã vạch đường, chỉ hướng, luyện rèn chí khí cho tôi từ thuở ấu thơ. Người thứ hai tôi mang ơn là ông đồ Dậu (ông Định Quang Tạo) đã dạy tôi 7 năm liên tục chữ nho. Rồi đến thầy giáo Hào (ông Khuất Hữu Hào) dạy chữ quốc ngữ. Tôi đã đỗ bằng “Sơ học yếu lược”. Các ông đã coi tôi như con đẻ, dạy tôi biết chữ, và điều trọng yếu là cho tôi kiến thức và biết lẽ sống làm người. Rồi những ngày tôi tham gia cách mạng ở địa phương, bị địch bắt tù đày trong nhà tù đế quốc, chịu bao cực hình tra tấn dã man. Tôi cùng mấy người bạn tù vượt ngục để trở về cùng các đồng chí tiếp tục hoạt động. Tháng 9 năm 1950 tôi vào bộ đội ở Trung đoàn 48 Đại đoàn 320, chiến đấu liên tục ở Sơn Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định và Thái Bình. Trong cuộc đời binh nghiệp, tôi may mắn được sống và chiến đấu dưới quyền của Đại tướng Văn Tiến Dũng - Đại đoàn trưởng những năm đầu đại đoàn thành lập. Tôi học được ở ông tác phong chỉ huy đã nổ súng là thọc sâu đánh chiếm sở chỉ huy địch làm cho chúng nhanh chóng tan rã. Tôi học được ở Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Kim Tuấn - người chỉ huy quả cảm, sáng tạo, bản lĩnh chỉ huy kiên quyết cả khi đơn vị gặp tình huống khó khăn hiểm nghèo. Trong chống Mỹ cứu nước, tôi may mắn được làm việc dưới quyền tướng Vũ Lăng. Tôi học được ở ông sự quyết đoán, tác phong sâu sát và sự mưu lược trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975. Tôi cũng học được ở tướng Đặng Vũ Hiệp về nghệ thuật tiến hành công tác đảng, công tác chính trị nhất là công tác tư tưởng, công tác tổ chức và xây dựng quyết tâm chiến đấu... Tẩt cả những phẩm chất, kinh nghiệm và bản lĩnh của các bậc thầy đi trước giúp tôi khi ở cương vị Tư lệnh Quân đoàn 3, nhất là khi làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, tôi đã vận dụng vào việc lãnh đạo, chỉ huy và truyền thụ cho những sĩ quan tương lai. Tôi và Vân lấy nhau sinh được 6 người con, mất hai - một trai Khuất Sơn Hải (cháu mất lúc 5 tuổi) và gái Khuất Hải Yến (cháu mất khi 17 tuổi). Còn lại bốn người con, các cháu học hành đến nơi, đến chốn, trưởng thành trên các cương vị công tác của mình: con trai trưởng Khuất Việt Dũng - Trung tướng, Tiến sĩ, Chính ủy Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng; cháu gái Khuất Thu Hồng - Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội; cháu gái Khuất Hải Oanh - Thạc sĩ, Bác sĩ, Giám đốc Trung tâm Phát triển xã hội và con trai út Khuất Việt Hùng - Tiến sĩ, Phó Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông quốc gia. Suốt những năm thảng chiến tranh: một mình - một bóng một đèn, thắt lưng buộc bụng nuôi dạy con khôn lớn nên người; chăm lo cha mẹ khuôn xếp gia đình nội ngoại trong ấm ngoài êm, để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Cuộc đời và sự nghiệp của tôi; hạnh phúc gia đình tôi, bà là người vun trồng xây đắp ân nghĩa vợ chồng thật là to lớn nói sao cho hết. Trong cuộc trường chinh gian khổ hơn 50 năm đã qua, nhớ làm sao hết, ghi làm sao đầy đủ được vì vậy có sự kiện nào chưa đúng, tên ai đó còn nhầm tôi mong được lượng thứ! Cuốn sách nhỏ này, trước hết xin được dâng lên cha mẹ kính yêu đã sinh thành, dưỡng dục tôi nên người. Tôi cũng gửi tới những bậc thầy, và các anh hùng, liệt sĩ đã dâng hiến cả cuộc đời vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tôi gửi tới đồng đội, những người đã từng sát cánh chiến đấu cùng tôi trên các chiến trường trong nước và nước bạn. Giờ đây, tôi thấy mình thực sự thanh thản và tự hào, vì đã sống, chiến đấu, vì cả cuộc đời đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ” Hành trình của vị tướng anh hùng quê hương Đại Đồng - Thạch Thất luôn đúng như lời một bài thơ của Hồ Chủ tịch: “Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công”. Viết về hành trình của vị tướng trận - Trung tướng Khuất Duy Tiến, về thế hệ của các vị tướng từng trải qua các cuộc chiến tranh, luôn cho chúng tôi, thế hệ trẻ niềm tin và lẽ sống ở đời, niềm tin và lẽ sống để bước tiếp chặng đường mà cha anh mình đã và đang bước. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2022, 12:53:17 pm PHẦN PHỤ LỤC ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG - VỊ TƯỚNG TỔ CHỨC THỰC HÀNH CHIẾN LƯỢC XUẤT SẮC Trong câu chuyện với Trung tướng Khuất Duy Tiến, ông nhiều lần nhắc tới Đại tướng Văn Tiến Dũng, một trong những tướng lĩnh xuất sắc nhất của quân đội ta, vị tướng được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương phân công làm Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nói đến Đại tướng Văn Tiến Dũng, Trung tướng Khuất Duy Tiến sôi nổi hẳn. Ông như ngược trở về cái thời còn là Trưởng phòng Tác chiến mặt trận Tây Nguyên cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh xây dựng phương án báo cáo Đại tướng kế hoạch đánh đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột. Đại tướng với tầm nhìn chiến lược sâu sắc nhưng luôn thận trọng, tỉ mỉ, chắc thắng chính là người đã phê duyệt kế hoạch tiến công Buôn Ma Thuột làm rung chuyển Tây Nguyên. Những vị tướng trận xuất sắc đã nhanh chóng gặp nhau trong từng suy nghĩ, hành động để đất nước sớm có ngày toàn thắng. Trung tướng Khuất Duy Tiến nói nhiều tới tầm vóc và công lao của Đại tướng Văn Tiến Dũng khi ông làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 chiến đấu ở 12 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp, cầm chân, thọc sâu, vu hồi, đánh liên hoàn khắp các tỉnh thành Bắc Bộ để đại quân của ta có đủ thời gian và lực lượng đánh thắng địch ở Điện Biên Phủ. Đại tướng Văn Tiến Dũng không những có vai trò trong những chiến lược lớn, tầm nhìn sâu sắc mà còn là người tổ chức thực hành xuất sắc các chiến lược mà Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đề ra. Chiến đấu với giặc Pháp ở 12 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trong điều kiện vô cùng khó khăn là cuộc chiến đấu trong vòng vây, cuộc đấu trí với các tướng lĩnh hàng đầu của Pháp. Đại đoàn 320 dưới sự chỉ huy của Tư lệnh kiêm Chính ủy Văn Tiến Dũng đã đảm đương hướng chiến lược ở đồng bằng, thực hiện thắng lợi chỉ thị của Hồ Chủ tịch về đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị luôn phải được tiến hành đồng thời mới dẫn đến thắng lợi. Đại đoàn 320 đã cùng với nhân dân 12 tỉnh đồng bằng Bắc bộ đánh bại chiến lược “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp, khiến chúng lâm vào thế bí, mở rộng không gian chiến trường, căng địch ra trên chiến tuyến rộng lớn để chúng không thể tiếp vận tốt nhất cho Điện Biên Phủ dẫn đến bại vong. Chính các tướng thất trận của Pháp sau này luôn đánh giá cao sự hoạt động hiệu quả của Đại đoàn 320 nơi đồng bằng, một trong những nguyên nhân làm sụp đổ sự thống trị của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Trung tướng Khuất Duy Tiến thời gian đó là lính chiến đấu trong đội hình Đại đội 737 - Tiểu đoàn 884 thuộc Trung đoàn 48 - Đại đoàn 320 đánh địch ở các vùng Thái Bình, Phủ Lý, Ninh Bình, Phát Diệm... phá hủy các trục lộ, phong tỏa giao thông đường bộ, đường sông để phân tán, xé nhỏ tiềm lực của địch. Trong trận chiến đấu tiêu diệt cứ điểm Chùa Ông, Khuất Duy Tiến bị thương vẫn tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu rất dũng cảm. Chính tấm gương người Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng luôn khích lệ tinh thần quả cảm của người chiến sĩ trong mỗi trận đánh. Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng là nỗi khiếp sợ của địch nhưng lại là niềm tin sâu sắc với mỗi người chiến sĩ của ta. Sau này, Khuất Duy Tiến gắn bó mật thiết với Đại đoàn 320 - sau là Sư đoàn 320. Ông làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 64, tiếp đó được bổ nhiệm cương vị Trung đoàn trưởng tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với những trận đánh then chốt nổi tiếng. Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm Tham mưu trưởng, tiếp đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320. Là thế hệ kế tiếp đội ngũ lãnh đạo chỉ huy Sư đoàn 320 - Đại đoàn Đồng Bằng nổi danh từ thời Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh là một vinh dự đặc biệt với Khuất Duy Tiến. Biết bao xương máu của những người con đồng bằng đã đổ xuống khắp các chiến trường Bắc - Trung - Nam và nước bạn Campuchia. Là người trực tiếp chỉ huy bộ đội ở chiến trường, ngay trong từng chiến hào, từng trận đánh, hơn ai hết Khuất Duy Tiến càng thấm thía và hiểu sâu sắc rằng, việc giảm thiểu hi sinh, giảm thiểu máu xương cho bộ đội là điều đầu tiên mà người chỉ huy, vị tướng trận phải tính toán kỹ lưỡng. Chính ông học được điều này từ Đại tướng Văn Tiến Dũng. Khi Đại tướng Văn Tiến Dũng vào Tây Nguyên thông qua kế hoạch chiến dịch Tây Nguyên trong đó có trận đánh then chốt Buôn Ma Thuột, vị tướng vốn xuất thân là một nhà sư đã luôn cân nhắc rất kỹ lưỡng đánh thắng làm sao để tiết kiệm máu xương bộ đội nhất. Đại tướng Văn Tiến Dũng là bậc thầy về bắt mạch chiến trường. Ông là người tổ chức thực hành chiến lược xuất sắc của quân đội ta. Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và chiến dịch Quảng Trị 1972, Văn Tiến Dũng đã cùng với các tướng lĩnh đấu trí, đấu lực với binh tướng nhà nghề Mỹ, những đơn vị thiện chiến nhất của ngụy quyền Sài Gòn và đã giành chiến thắng xuất sắc. Nắm bắt địch không chỉ đơn thuần ở quân số, trang bị kỹ thuật, bom đạn vật chất mà còn nắm chắc, biết trước tư tưởng địch, suy nghĩ của địch và điều động chúng theo chiến lược của ta. Đại tướng Văn Tiến Dũng là một trong những vị tướng chiến lược xuất sắc đã tham gia tổ chức chỉ đạo đánh thắng đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn trong một trận chiến kéo dài 30 năm. 30 năm ấy, biết bao người ra trận đã không trở về. Nếu Đảng ta, quân đội ta không có những vị tướng xuất sắc như Văn Tiến Dũng thì máu xương của bộ đội và nhân dân còn đổ xuống nhiều hơn nữa và cục diện cuộc chiến chắc chắn sẽ kéo dài. Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong khoảng thời gian đất nước gặp vô cùng nhiều khó khăn gian khổ. Biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc hai đầu thọ địch. Nhân dân ta, những người dân vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh tưởng được yên hàn lại phải gồng mình đối diện với chiến tranh một lần nữa. Là vị tướng dày dạn chiến trường, Văn Tiến Dũng hiểu được tình thế hiểm nghèo của đất nước, hiểu nỗi lòng của những người lính vừa bước ra đã lập tức phải bước vào bom đạn. Khi đó, tháng 3 năm 1978, Khuất Duy Tiến vừa mới nhập học được ba tháng, Tư lệnh Quân đoàn 3 Kim Tuấn từ biên giới Campuchia tìm thẳng xuống Học viện Quốc phòng rưng rưng nói với Khuất Duy Tiến: - Tiến ơi! Sư đoàn 320 chưa bao giờ trong gần hai tháng trời chiến đấu mà thương vong gần 2000 người. Tôi đã báo cáo Quân ủy, điều cậu về làm Sư trưởng, ý cậu thế nào? Khuất Duy Tiến sững người trước thương vong của đồng đội lập tức chấp hành mệnh lệnh ngược vào biên giới Campuchia đảm đương cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 cùng đồng đội đánh giặc. Mỗi người chiến sĩ thường luôn coi mệnh lệnh của cấp trên, máu xương đồng đội là ý nghĩa sống còn của chính mình. Sau thời điểm đó, theo mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, toàn bộ Quân đoàn 3 thần tốc di chuyển ra Bắc lên tuyến biên giới đánh giặc. Khuất Duy Tiến thời điểm này giữ cương vị Tham mưu trưởng Quân đoàn và tiếp đó, năm 1983 được bổ nhiệm Tư lệnh Quân đoàn 3 đánh địch trên tuyến đầu biên giới phía Bắc. Dù ở thời điểm nào và cương vị gì, Khuất Duy Tiến luôn tìm thấy sự chia sẻ, động viên, chỉ đạo hết sức sâu sắc của Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đời các vị tướng trận chưa một phút được thảnh thơi. Gia đình người lính vốn luôn phải chịu hi sinh, chia cắt, có gia đình mười người con có đến bảy, tám người là liệt sĩ. Lá cờ đỏ sao vàng luôn in sắc máu bộ đội, nhân dân. Đối với Trung tướng Khuất Duy Tiến, Đại tướng Văn Tiến Dũng như một người thầy, người anh lớn. Văn Tiến Dũng chính là một trong những học trò xuất sắc nhất của Hồ Chủ tịch. Kiên cường nhưng dung dị. Sâu sắc mà điềm đạm lạ thường. Hẳn không có chiến tranh, chắc chắn những người như ông sẽ là những bậc trí giả, nhà khoa học nổi tiếng. Năm tháng trôi qua, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã trở về thế giới của người hiền thì vẫn vẹn nguyên trong đó tấm lòng son với dân, với nước. Được chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng, được chiến đấu trong đoàn quân Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng có những vị chỉ huy xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Khuất Duy Tiến cảm nhận thật rõ niềm tự hào, sự hữu ích của một đời làm trai thời chiến. Đại tướng Văn Tiến Dũng mãi mãi ở vị trí trang trọng nhất trong trái tim ông. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2022, 12:55:25 pm THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG - NGƯỜI ANH LỚN Trong cuộc đời tham gia cách mạng, chiến đấu trưởng thành qua các cuộc chiến tranh của Trung tướng Khuất Duy Tiến, không thể không nhắc đến những người thầy, người anh, những đồng đội trong đó nhiều người đã khuất. Chính họ đã góp phần hun đúc ý chí và niềm tin, kiến thức và đạo đức để ông trưởng thành và cống hiến trong suốt cuộc đời mình. Trò chuyện với ông, khi nhắc về Thượng tướng Vũ Lăng, vị tướng trận Khuất Duy Tiến vô cùng xúc động. Những kỷ niệm về người anh lớn - Thượng tướng Vũ Lăng ùa về sâu lắng và sôi nổi, dào dạt chảy như chỉ mới hôm qua thôi, trên cương vị Trưởng phòng Tác chiến Khuất Duy Tiến báo cáo Tư lệnh Vũ Lăng những kế hoạch tác chiến ở Mặt trận Tây Nguyên, chuẩn bị cho trận then chốt Buôn Ma Thuột, những cuộc đánh lớn truy kích tiêu diệt những đoàn quân khổng lồ của địch ở Tây Nguyên đang tan rã. Nhắc về người anh lớn Vũ Lăng, có những lúc, tôi thấy đôi mắt của vị tướng họ Khuất như lấp lánh những giọt nước. Vũ Lăng là một tài năng quân sự hiếm thấy. Những cống hiến của vị Thượng tướng quê xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thật đúng lúc khi cuộc cách mạng của chúng ta rất cần những tài năng quân sự đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc và đánh thắng đế quốc Mỹ thống nhất đất nước. Năm tháng, tuổi tác như không thể làm khó được vị tướng trận khi nhắc về người anh lớn - Thượng tướng Vũ Lăng. Vũ Lăng hơn Khuất Duy Tiến 10 tuổi, ông sinh năm 1921, sớm tham gia cách mạng và cũng là một trong những người đầu tiên được cử đi học ở Trường Quân chính Việt Nam. Tháng 11 năm 1945, Vũ Lăng tham gia đoàn quân Nam tiến khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn, rồi lần lượt mở rộng chiến tranh ra toàn miền Nam và Nam Trung Bộ. Đơn vị do ông chỉ huy đã chiến đấu tại chiến trường Khu 6, thuộc tỉnh Bình Thuận ngày nay. Trong chiến đấu, ông đã có nhiều thành tích, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 2 năm 1947. Sau đó, Vũ Lăng được điều động ra Bắc, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ huy quan trọng: Trung đoàn phó Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98. Tháng 5 năm 1954, ông là Tham mưu trưởng Sư đoàn 316. Hòa bình lập lại, năm 1956, Vũ Lăng được cử sang Liên Xô học ở Học viện Vô-rô-xi-lốp. Kháng chiến chống Mỹ, ông được Đảng và Chính phủ lần lượt giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng và đã góp phần to lớn vào các công tác chỉ huy chiến đấu trên nhiều mặt trận, tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ chiến đấu, đào tạo cán bộ quân sự. Trên cơ sở những đóng góp to lớn đó, ông đã được Quốc hội và Chính phủ lần lượt phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986), và được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý. Đối với Trung tướng Khuất Duy Tiến, thời gian ông gắn bó và được rèn luyện nhiều nhất dưới quyền chỉ huy của Thượng tướng Vũ Lăng chính là thời kỳ Vũ Lăng làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (1974); Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, Tư lệnh Quân đoàn 3 (1975-1977). Đây cũng là thời điểm then chốt ta mở chiến dịch Tây Nguyên với đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột rung chuyển và làm thay đổi cục diện toàn bộ chiến trường tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Khi ấy, Khuất Duy Tiến là Trưởng phòng Tác chiến Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Phòng tác chiến của mặt trận thường xuyên phải làm việc với Bộ Tư lệnh. Tư lệnh Vũ Lăng là người vô cùng sắc sảo, có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, đặc biệt là khả năng tác chiến lớn rất thành thạo. Vũ Lăng từng đảm nhiệm cương vị Cục trưởng Cục Tác chiến tham gia xây dựng các kế hoạch tác chiến các chiến dịch lớn nên rất có kinh nghiệm và cả sự cảm thông sâu sắc với những cán bộ làm công tác tác chiến. Từng trưởng thành từ người chiến sĩ, người chỉ huy trực tiếp cầm súng trong kháng chiến chống Pháp, sớm Nam tiến và sau này trực tiếp vào chiến trường đánh Mỹ, Vũ Lăng hơn ai hết hiểu rất rõ kẻ thù, hiểu rất rõ những yếu tố then chốt để giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Nguyên. Khi trình bày các phương án tác chiến với Bộ Tư lệnh, Khuất Duy Tiến đã được lắng nghe, chỉ dạy của các bậc đàn anh dày dạn kinh nghiệm - những bộ óc ưu việt nhất của Mặt trận Tây Nguyên, đó là Vũ Lăng - Tư lệnh; Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy; Nguyễn Năng - Phó Tư lệnh; Nguyễn Quốc Thước - quyền Tham mưu trưởng... và sự chỉ đạo sâu sát của Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền vừa được biệt phái vào Tây Nguyên. Mặt trận Tây Nguyên khi ấy được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hết sức quan tâm. Các phương án tác chiến liên tiếp được kiện toàn, bổ sung, điều chỉnh, thay đổi, thậm chí là hàng ngày nhưng việc điều chuyển hàng vạn quân, hàng nghìn xe pháo, phương tiện kỹ thuật hậu cần để lừa địch, vây địch, đánh thắng địch không phải là điều dễ dàng. Tây Nguyên, đại ngàn mênh mông hùng vĩ chở che bộ đội, nuôi dưỡng nhân dân đang khao khát chờ mong chiến thắng. Tư lệnh Vũ Lăng hơn ai hết hiểu thấu tấm lòng chiến sĩ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Phải đánh như thế nào đây để chắc thắng và tổn thất ít máu xương nhất luôn là bài toán hóc búa với các vị tướng trong Bộ Tư lệnh mặt trận. Những thế trận đan cài, những kinh nghiệm chiến đấu cũ - mới được nâng cao, được tăng cường, được xoay chuyển để lừa địch ở Tây Nguyên. Phương án đánh Buôn Mê Thuột được bàn bạc và cân nhắc vô cùng kỹ lưỡng. Đây là trận mở đầu cũng là trận then chốt quyết định thành bại của chiến dịch. Phòng tác chiến đỏ đèn đêm đêm trên tấm bản đồ thị xã Buôn Ma Thuột. Tư lệnh Vũ Lăng nói với Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước và Trưởng phòng Tác chiến Khuất Duy Tiến: - Ta phải tìm mọi cách nhử địch về Kon Tum và Pleiku rồi hãm chúng ở đó, tại cơ sở Buôn Ma Thuột để ta đột phá thật nhanh vào đây tiêu diệt địch và làm chủ thị xã này trong thời gian ngắn nhất. Sau đó sẽ phát triển đánh chiếm Gia Nghĩa, Phú Bổn để mở rộng khu vực, làm bàn đạp phát triển tiến công các hướng khác. Để thực hiện được ý định này, vấn đề có tính quyết định là lập thế trận chiến dịch. Thế trận đó phải thể hiện chia cắt, vây hãm, vừa hãm vừa tiến công, đột phá, vừa bí mật, vừa nghi binh. Tôi giao cho đồng chí Tiến - Trưởng phòng Tác chiến làm Tổ trưởng Trung tâm nghiên cứu chiến thuật đề xuất phương án đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Các anh nghiên cứu phương án một là đánh địch không có phòng ngự dự phòng và một phương án nữa là đánh địch có phòng ngự dự phòng. Đánh địch không có phòng ngự dự phòng là số một, ta phải làm mọi cách điều địch theo ý ta để đánh địch không có phòng ngự dự phòng. Khi kết thúc cuộc trao đổi đồng hồ đã chỉ 1 giờ 15 phút sáng. Khuất Duy Tiến trở lại hầm tác chiến, những căn dặn của Tư lệnh Vũ Lăng luôn văng vẳng trong đầu. Làm thế nào để đánh Buôn Ma Thuột mà địch không có phòng ngự dự phòng? Đây là việc vô cùng khó vì phải điều địch, lừa địch. Vấn đề nghi binh, hút địch về Kon Tum và Pleiku là then chốt quyết định. Những vấn đề khó khăn nhất luôn được Bộ Tư lệnh, đặc biệt là Tư lệnh Vũ Lăng, với trí tuệ và tầm nhìn chiến lược, đã từng bước chỉ đạo thực hiện một cách xuất sắc. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2022, 12:56:20 pm Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi vang dội mà đặc biệt xuất sắc là đòn điểm huyệt quyết định Buôn Ma Thuột đã khiến toàn bộ địch ở Tây Nguyên bị tiêu diệt và rút chạy dẫn đến tan rã hoàn toàn. Thời cơ chiến lược đã tới, Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng chỉ đạo thành lập Quân đoàn 3 bao gồm các lực lượng bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên. Thiếu tướng Vũ Lăng đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Quân đoàn đã lập tức chấp hành mệnh lệnh tổ chức Quân đoàn 3 là mũi nhọn đột kích chủ yếu theo hướng Tây Bắc, đường 22 trong đội hình 5 cánh quân hợp vây tiến đánh Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong những tháng ngày gần gũi vị Tư lệnh chiến trường Vũ Lăng, Khuất Duy Tiến càng hiểu sâu sắc một điều rằng đánh địch không chỉ ở lòng quả cảm, tinh thần tiến công đến cùng mà trước tiên phải bằng vào sự mưu trí, tầm nhìn sâu rộng để đánh những đòn điểm huyệt quyết định, tạo thế chiến lược làm thay đổi cục diện cuộc chiến tranh để ít tốn máu xương đồng bào, chiến sĩ nhất. Ông cũng học được ở người anh lớn Vũ Lăng sự sâu sát, tỉ mỉ, tính quả đoán, táo bạo trên nền kiến thức quân sự vững chắc trong điều tiết chiến trường, trong đánh địch phản kích và trong hành tiến thọc sâu vào sào huyệt địch. Thượng tướng Vũ Lăng, tiếp đó ở những cương vị mới đều luôn là tấm gương sáng, là người anh lớn của Trung tướng Khuất Duy Tiến. Khuất Duy Tiến luôn tìm thấy ở Vũ Lăng sự bao dung độ lượng, tính cương trực, tinh thần khoa học của một vị tướng được đào tạo bài bản và đặc biệt là giàu kinh nghiệm thực tiễn từ các cuộc chiến tranh. Vũ Lăng mất sớm (năm 1988) để lại sự tiếc thương vô hạn với đồng chí, đồng đội. Trong lời phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong phim tài liệu về Thượng tướng Vũ Lăng đã thể hiện sâu sắc những phẩm chất về tài năng và đức độ của ông: “Hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã sản sinh ra những vị tướng vừa có phẩm chất vừa có tài năng trưởng thành từ cơ sở. Vũ Lăng từng đảm nhiệm cấp tiểu đoàn ngay từ những ngày Thủ đô Hà Nội đứng lên kháng chiến. Tiếp theo đó đã từng qua cấp trung đoàn rồi sư đoàn - trung đoàn ở Điện Biên Phủ sau là sư đoàn, tiếp đến là Phó Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh B3 (Tây Nguyên), Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, rồi Quân đoàn trưởng, cuối cùng là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là Quân đoàn trưởng Quân đoàn 3 - quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy. Vũ Lăng không những là một vị tướng quân sự giỏi mà còn là một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã từng đảm nhận trách nhiệm Phó Cục trưởng Cục Khoa học quân sự, Phó Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, và đã có thời gian là Cục trưởng Cục Tác chiến - cục quan trọng nhất trong Bộ Tổng Tham mưu và cuối cùng là Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt trong một thời gian dài. Như vậy là đã lập được chiến công trên mặt trận trong hầu hết các chiến dịch từ Biên Giới đến Điện Biên Phủ, cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh và trong nghiên cứu khoa học quân sự; làm tác chiến đã có những đề xuất, những ý kiến sắc sảo, tỏ ra có trí tuệ sáng tạo tốt. Vũ Lăng lúc làm việc có quyết tâm cao, bất cứ trong hoàn cảnh nào, thuận lợi hay khó khăn đều hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cho nên được các bạn đồng đội các bạn chỉ huy rất là mến phục, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân rất tốt. Tôi nhớ mãi những năm tháng làm việc với Vũ Lăng, tôi làm việc gần như thường xuyên. Vũ Lăng là một trong những cán bộ mà khi giao việc thì tin là nhiệm vụ được hoàn thành. Vũ Lăng là con người như thế. Vũ Lăng mất đi nhưng đã để lại một tấm gương sáng cho cán bộ trong toàn quân ta, cán bộ lực lượng vũ trang. Chị và các cháu tự hào về chồng về cha của mình, càng phải sống cho thật là xứng đáng. Riêng tôi, tôi cứ nhớ mãi: Vũ Lăng trên cương vị là Trung đoàn trưởng đánh đồi C1 ở Điện Biên Phủ. Đương nhiên trước đó Vũ Lăng đã có kinh nghiệm lúc là Trung đoàn phó Trung đoàn Thủ đô chiến đấu ở Liên khu 1. Vũ Lăng, Vũ Yên tất cả tôi còn nhớ, nhớ cả lúc tác chiến ở Tây Nguyên. Lúc đầu Tư lệnh là ông Thảo, Vũ Lăng phó, lập Quân đoàn 3, Vũ Lăng là Quân đoàn trưởng Quân đoàn 3 thì Quân đoàn này nhất định là sẽ thắng. Trong lúc Lê Trọng Tấn là cánh quân phía Đông đánh vào chỗ Dương Văn Minh thì cánh quân này đánh vào Bộ tổng tham mưu ngụy. Hôm gặp Vũ Lăng ở Liên Xô, có cả chị nữa (xúc động khóc), tôi cho rằng có lẽ bệnh chữa như thế là tốt, tôi mừng, tôi nói: - Cậu chữa bệnh rồi về làm việc. Không ngờ sau đó bệnh lại rồi mất. Tôi rất thương Vũ Lăng, rẩt quý và rất thương.” Khi Thượng tướng Vũ Lăng mất, Khuất Duy Tiến đã cảm nhận sự mất mát lớn lao đến từ sâu thẳm trái tim mình. Trong chiến trường, ông cùng đồng đội đã chứng kiến biết bao sự hi sinh nhưng khi người anh lớn Vũ Lăng mất dường như là một điều quá sức chịu đựng với ông. Vũ Lăng - một vị tướng xuất sắc của quân đội, người anh lớn từng chỉ dạy nhiều điều cho Khuất Duy Tiến không chỉ tri thức quân sự mà cả lẽ sống ở đời sao đã sớm vội về với thế giới của người hiền. Khuất Duy Tiến ao ước giá như người anh sống thêm mươi tuổi nữa chắc chắn những tổng kết sâu sắc về nghệ thuật quân sự sẽ được đúc kết tường minh hơn để phục vụ nhân dân và Tổ quốc. Vũ Lăng - người anh lớn luôn mãi mãi có vị trí trang trọng trong trái tim ông. Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2022, 12:58:57 pm BỘ TRƯỞNG PHÙNG QUANG THANH VÀ NGƯỜI THỦ TRƯỞNG CŨ Nhân dịp Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 được phong Anh hùng năm 2013 - người chỉ huy trực tiếp Phùng Quang Thanh trận đánh ác liệt trên Đồi Không Tên (điểm cao 535), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Đại tướng Phùng Quang Thanh đã đến nhà riêng tặng hoa chúc mừng ông - vị tướng trận đồng thời là thủ trưởng cũ của Bộ trưởng, người Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 trực tiếp chỉ huy các trận đánh vô cùng ác liệt trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào mà bản thân Phùng Quang Thanh khi ấy là Trung đội trưởng thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 9. Đơn vị của Phùng Quang Thanh đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Bản thân Trung đội trưởng Phùng Quang Thanh khi bị thương vẫn chỉ huy bộ đội chiến đấu rất anh dũng. Người Trung đoàn trưởng của ông sau 42 năm mới vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng. Trong thâm tâm của Đại tướng Bộ trưởng cũng như biết bao cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 64 anh hùng luôn coi Trung đoàn trưởng của mình thực sự xứng đáng là anh hùng ngay từ những ngày còn trong lửa đạn. Nắm bàn tay dày dặn, ấm áp của người Trung đoàn trưởng từng vào sinh ra tử, vị Bộ trưởng như thấy cay cay ở mắt mình. Ông như thấy những đồng đội đã khuất cũng đã mỉm cười khi thấy máu xương của họ đã không uổng phí, đã góp phần làm tươi xanh hơn, bền vững hơn vị thế của đất nước Việt Nam hôm nay. Nhưng cũng không có nhiều người biết, Trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến chính là người đề xuất làm thành tích phong tặng anh hùng cho Phùng Quang Thanh. Trong cuộc trò chuyện với tôi, Trung tướng Khuất Duy Tiến sôi nổi nói về người Trung đội trưởng trẻ dũng cảm Phùng Quang Thanh. Ông khẳng định ngay nếu không có Trung đội của Phùng Quang Thanh chiến đấu bảo vệ khu vực chỉ huy Trung đoàn thì hoàn toàn có thể bị địch tập kích tiêu diệt và chính ông đã hi sinh. Những người lính ở chiến trường luôn coi tính mạng của đồng đội, của chỉ huy cao hơn sinh mạng của mình. Những tấm gương hi sinh vì đồng đội, vì Tổ quốc diễn ra hết sức tự nhiên và Phùng Quang Thanh chính là một trong những tấm gương tiêu biểu đó. Khi được tuyên dương anh hùng, Phùng Quang Thanh là Thượng sĩ Trung đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. Năm 1968, Phùng Quang Thanh tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, làm nhiệm vụ trinh sát, nhiều lần cùng tổ vào căn cứ địch điều tra tình hình, giúp cấp trên chỉ huy chiến đấu thắng lợi. Tháng 2 và tháng 3 năm 1971, Phùng Quang Thanh tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chỉ huy trung đội đánh hai trận đều đạt hiệu quả cao, góp phần cùng tiểu đoàn diệt gọn 1 tiểu đoàn và 1 đại đội địch, riêng Phùng Quang Thanh diệt 12 tên, bắt 1 tên, thu 1 súng. Ngày 10 tháng 2 năm 1971, Phùng Quang Thanh trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đội chốt giữ đồi Không Tên. Địch dùng một đại đội có máy bay yểm trợ, chia làm 2 mũi tiến công chốt. Phùng Quang Thanh bình tĩnh chỉ huy tổ chờ địch vào gần mới nổ súng, diệt 38 tên, đẩy lùi địch ra xa, riêng Phùng Quang Thanh diệt 8 tên. Hai ngày sau, ngày 13-2-1971 địch tổ chức đổ tiểu đoàn dù số 6 bằng trực thăng xuống khu vực điểm cao 535 (Đồi Không Tên) trùm lên chốt, Phùng Quang Thanh bị thương, cấp trên cho lui về tuyến sau nhưng đồng chí xin ở lại chiến đấu. Phùng Quang Thanh nhờ đồng đội tháo lắp 17 quả lựu đạn cho vào túi đeo quanh người, nhờ y tá băng treo cánh tay trái cho đỡ vướng rồi dẫn đầu đơn vị xung phong đánh tạt sườn quân địch, phối hợp với đơn vị bạn diệt gọn 1 đại đội địch. Riêng trung đội do Phùng Quang Thanh chỉ huy diệt 37 tên, bắt 1 tên, thu 2 súng. Không ai sinh ra chỉ để muốn sau này trở thành anh hùng. Những người mẹ nào ai muốn con mình hi sinh, dẫu là hi sinh vì Tổ quốc. Những điều ấy mọi người lính đều biết, nhất là những người lính ở chiến trường đêm ngày giáp mặt với đạn bom, kề cận với cái chết càng thấu hiểu. Nhưng có những điều thiêng liêng hơn mạng sống của mỗi cá nhân, điều đó thuộc về nhân dân và Tổ quốc, thuộc về sự độc lập tự do thống nhất đất nước mà lớp lớp tổ tiên, cha anh ta đã đổ biết bao máu xương để có được. Điều đó những người lính trận luôn ghi nhớ sâu sắc ở trong tim. Vị tướng trận khi nhắc về những tháng ngày chỉ huy Trung đoàn 64 đánh địch trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào nhiều lúc nước mắt như chực rơi ra. Chiến tranh vô cùng khốc liệt. Những người lính Trung đoàn 64 anh hùng thay nhau ngã xuống khi tuổi đời mới mười tám đôi mươi để lại niềm tin và hi vọng cho người còn sống. Khuất Duy Tiến từng nói trong buổi ông được phong tặng anh hùng rằng danh hiệu đó trước hết thuộc về những liệt sĩ đã hi sinh. Dù cương nghị và vững vàng đến mấy, trước máu xương đồng đội, vị tướng trận cũng không khỏi buốt lòng tiếc xót những đồng đội đã không thấy được ngày toàn thắng. Ông càng tuyệt đối tin tưởng vào những người lính sẵn sàng lấy thân mình vì nước hi sinh. Khi Phùng Quang Thanh bị thương, băng quấn khắp người vẫn cầm súng dẫn đồng đội lao lên đánh địch đã gây xúc động mạnh với người Trung đoàn trưởng. Ngay sau trận đánh, chính ông cùng với Chính ủy Đặng Văn Trượng đã đề xuất phong tặng danh hiệu anh hùng cho người lính quả cảm Phùng Quang Thanh. Mới đó mà đã gần 50 năm, gần một nửa thế kỷ trôi qua mà người Trung đoàn trưởng hôm nay mái đầu phơ trắng vẫn còn nhớ như in về người lính của mình: “Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào mà Phùng Quang Thanh tham gia với cương vị Trung đội trưởng trong đội hình của Tiểu đoàn 9 là chiến dịch có vị trí quan trọng đặc biệt, bởi Đường 9 - Nam Lào là đường vận chuyển chiến lược bảo đảm hậu cần cho chiến trường miền Nam. Nếu địch chiếm được sẽ cắt đứt tuyến vận tải của ta. Đồng thời, tạo điều kiện cho chúng tiếp tục thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh. Trung đội do Phùng Quang Thanh chỉ huy đã chiến đấu hết sức dũng cảm và tiêu diệt được phần lớn sinh lực địch. Quân ta đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn dù số 3, tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp và sở chỉ huy của địch; bắt sống toàn bộ sỹ quan chỉ huy, trong đó có Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ trưởng Lữ đoàn dù 3 của quân ngụy Sài Gòn. Chiến thắng đã góp phần quyết định bẻ gãy xương sống của kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm mà tiêu biểu là Trung đội trưởng Phùng Quang Thanh đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng ngay sau khi kết thúc chiến dịch. Sau này, phát huy phẩm chất của người anh hùng, Phùng Quang Thanh tiếp tục trưởng thành trong chiến đấu, trong thời bình, hoàn thành xuất sắc mọi cương vị công tác mà tiêu biểu nhất là trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ người chiến sĩ trên chiến trường trưởng thành đảm đương cương vị Bộ trưởng Quốc phòng càng cho thấy sự trưởng thành, lớn mạnh không ngừng của quân đội ta”. Sau này, khi đảm đương các cương vị công tác khác nhau Phùng Quang Thanh vẫn luôn giữ được phẩm chất và bản lĩnh của người lính từng vào sinh ra tử. Ở cương vị nào, vẫn nguyên vẹn một Phùng Quang Thanh kiên cường, luôn sẵn sàng hi sinh vì đồng đội, luôn hướng tới cái đích lớn Tổ quốc và nhân dân. Công việc bộn bề, nhất là khi ông đảm đương cương vị Bộ trưởng thì vẫn luôn ở đó một tấm lòng trước sau như một với đồng chí đồng đội, với nhân dân. Với người thủ trưởng cũ Khuất Duy Tiến, Phùng Quang Thanh luôn như một người em gắn bó với thế hệ cha anh. Vị Bộ trưởng học được ở đó đức tính khiêm nhường nhưng hết sức kiên cường của thế hệ đi trước đã từng trải qua mấy cuộc chiến tranh. Khuất Duy Tiến cùng thế hệ ông cũng tìm thấy ở lứa kế cận mình những phẩm chất tốt đẹp nhất mà người lính Cụ Hồ có được. Những người lính, không kể là Binh nhất Binh nhì hay Trung tướng, Đại tướng đều luôn là tường đồng vách sắt của nhân dân, Tổ quốc Việt Nam. Vị Bộ trưởng với người thủ trưởng cũ Khuất Duy Tiến dường như luôn có sự đồng cảm sâu sắc. Những việc đã làm được, những việc đang làm và cả những dự định lớn truyền lại cho thế hệ kế cận thì cũng luôn ở đó một tấm lòng với dân với nước, một tấm lòng chân thành với những người đã hi sinh và cả với những người đang sống hôm nay. Hết! |