|
Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:36:39 am Tên sách: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2
Tác giả: Dương Xuân Đống Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân Năm xuất bản: 2001 Số hoá: ptlinh, ktqsvn CÙNG BẠN ĐỌC Sau khi "TỪ CÂY GIÁO ĐẾN KHẨU SÚNG" TẬP I đến tay bạn đọc (5-1998), tác giả đã nhận được khá nhiều ý kiến động viên. Ai nấy đều cho rằng từ một góc nhìn mới lạ, cuốn sách đã phần nào phát hiện được những thông tin hấp dẫn, thiết thực và bổ ích; đồng thời khuyến khích người viết phát huy hơn nữa khả năng ngòi bút của mình theo hướng công việc đang làm. Đáp lại sự cổ vũ nhiệt tình đó, "TỪ CÂY GIÁO ĐẾN KHẨU SÚNG" TẬP II được ra đời. Tiếp tục những nội dung của tập trước, tập này hình thành theo hai định hướng: Thứ nhất, những bài viết về chiến tranh, về quân đội - vũ khí và về nghệ thuật quân sự đều được đặt dưới góc độ văn hóa nói chung, văn hóa quân sự nói riêng. Điều đó nghĩa là đặt chúng trong mối quan hệ hữu cơ với nhau, xem chiến tranh là một quá trình hoạt động của xã hội loài người, giống như quá trình sản xuất, quá trình sinh hoạt, mà đặc thù là đấu tranh vũ trang. Bởi thế, để đi tới mục đích đánh thắng, các bên tham chiến buộc phải tìm tòi, lựa chọn ra những phương pháp tiến hành chiến tranh, phương pháp tác chiến thích hợp và hiệu quả, thực chất là phương pháp sử dụng phương tiện - lực lượng vũ trang (con người và binh khí - kỹ thuật) - nhằm đạt kết quả cao nhất nhưng tổn thất lại ở mức thấp nhất. Thứ hai, đặt các hoạt động quân sự dưới góc độ văn hóa đồng nghĩa là xem xét chiến tranh, quân đội - vũ khí và nghệ thuật quân sự trong nguyên lí phát triển của văn hóa với hai mặt: kế thừa và giao lưu. Kế thừa là gốc rễ, giao lưu là lá cành. Một nền văn hóa, nếu chỉ biết kế thừa, sẽ xơ xác, nghèo nàn, không theo kịp thời đại. Ngược lại nếu chỉ nặng về giao lưu, nền văn hóa đó sẽ mất gốc, không còn bản sắc riêng của mình. Là một bộ phận cấu thành của văn hóa, văn hóa quân sự được phản ánh qua các trang sách cũng không đi ra ngoài qui luật đó. Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, của các báo chí và của các bè bạn gần xa. Đồng thời, tác giả cũng hết sức thiết tha mong mỏi nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình để chất lượng các tập sau được tốt hơn. Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2000 DƯƠNG XUÂN ĐỐNG Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:41:54 am NGỜI SÁNG VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM Lâu nay, đã có nhiều công trình, bài viết bàn về sự thất bại của quân Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XVIII như: do tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh, do tính kiêu ngạo của viên chủ tướng đạo quân viễn chinh... Bài viết này muốn đề cập đến một khía cạnh khác: sự thảm bại về một kiểu chiến lược quân sự của quân xâm lược Mãn Thanh: Chiến lược cơ động. Chiến lược cơ động là gi? Đó là một hình thức chiến lược quân sự có nguồn gốc từ châu Âu. Ở châu lục này, từ thế kỷ XVII đã diễn ra quá trình thành lập các quân đội đánh thuê. Đối với loại quân đội như thế, cơ quan chỉ huy chiến lược thường không thể đặt ra những nhiệm vụ tác chiến kiên quyết. Bởi vậy, mục đích, mục tiêu của tác chiến chiến lược không chỉ là lực lượng quân đội mà còn là đất đai đối phương. Người ta coi thắng lợi cao nhất của chiến lược quân sự là chiếm lĩnh được lãnh thổ mà không cần phải tiến hành các hội chiến lớn, bắt buộc quân đội địch phải rút lui bằng cách chiếm đóng các đường giao thông vận chuyển, uy hiếp các căn cứ, kho tàng của đối phương1 (Bách khoa toàn thư quân sự Liên Xô, Nxb Quân đội nhân dân, H.1985, tuyển dịch, t.1, tr.120). Giữa nguồn gốc chiến lược cơ động của phương Tây và sự hình thành chiến lược này của Trung Quốc lúc bấy giờ chưa rõ có mối quan hệ nào không? Thế nhưng, trong điều kiện lịch sử của chế độ phong kiến đương thời trên phạm vi toàn thế giới, một nhà nước thống trị ngoại bang, như triều đình Mãn Thanh, khi tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, mà công cụ tiến hành là một đạo quân gồm hầu hết những binh sĩ được tuyển mộ từ những công dân người Hán đang bị chính người Mãn Thanh nô dịch - ở đây, mâu thuẫn giai cấp đang chồng lên mâu thuẫn dân tộc - thì làm sao có thể đi tới kết quả, với nhiệm vụ tác chiến kiên quyết, nếu không sử dụng đến kiểu chiến lược cơ động. Để tìm hiểu về kiểu chiến lược này, chúng ta hãy đi sâu vào nội dung của sự chỉ đạo chiến tranh và thực hiện bằng những hoạt động tác chiến trên chiến trường. Về sự chỉ đạo chiến tranh, khi giao nhiệm vụ cho đạo quân xâm lược, chỉ dụ của Càn Long - hoàng đế nhà Thanh - nhấn mạnh: "... Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hết hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Nguyễn Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, mà đại quân của ta thì đi tiếp sau. Như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách. Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân thì phải chờ thủy quân Mân, Quảng1 (Mân là Phúc Kiến; Quảng là Quảng Đông) vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng2 (Thuận là Thuận Hóa; Quảng là Quảng nam) trước, sau đó lục quân của Tôn Sĩ Nghị mới tiến công. Cả hai mặt, đằng trước đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải qui phục. Ta nhân đó giữ cả hai. Từ Thuận, Quảng vào Nam thì cắt chia cho Nguyễn Huệ. Từ Hoan, Ái1 (Hoan là Nghệ An; Ái là Thanh Hóa), trở ra thì phong cho họ Lê. Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác"2 (Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 35). Nếu sự chỉ đạo của Càn Long được triển khai thì sẽ dẫn tới hai trường hợp. Nếu quân Cần Vương nhà Lê tổ chức đánh quân Tây Sơn nhưng không thắng nổi quân Tây Sơn thì nhà Thanh buộc phải từ bỏ giấc mộng xâm lăng. Còn nếu chúng cứ liều lĩnh cho quân thủy, bộ từ hai mặt tiến đánh, thì dù không thắng được và bị tổn thất nhiều, cũng không đến nỗi bị tiêu diệt gọn và nhanh, như đã diễn ra trong lịch sử. Ở đây, chúng ta thấy Càn Long rất chủ quan, không biết người, biết ta, luôn luôn hợm hĩnh, cứ ngỡ là mình mạnh, có thể dùng quân đội đứng đằng sau gây thanh thế nhằm răn đe, kiềm chế, nhưng lại thường xuyên né tránh tác chiến, né tránh đổ máu, mà mưu dùng người Việt đánh người Việt, dùng quân Cần Vương nhà Lê chống lại quân Tây Sơn, để rồi từ đó giành lấy thành quả. Đó chính là đặc điểm trong chiến lược cơ động của Càn Long. Nhằm đảm bảo chắc thắng cho cuộc chiến tranh xâm lược, hai trong tám "kỳ" - đơn vị kỵ binh chủ lực, chừng một vạn kỵ thủ người Mãn - tức 25% lực lượng vũ trang quốc gia, được điều động. Bên cạnh đó còn có bộ binh chủ lực và bộ binh địa phương thuộc bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và lính "nghĩa dũng" thuộc các dân tộc ít người ở Điền Châu, Triều Châu. Trong dự kiến của Càn Long còn có cả lực lượng thủy quân hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông. Tôn Sĩ Nghị, Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông - Quảng Tây) được cử làm Chinh Man đại tướng quân, thống lĩnh toàn khối lục quân 29 vạn người. Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu về sự chỉ đạo chiến tranh, còn việc thực hiện bằng những hành động tác chiến trên chiến trường của Tôn Sĩ Nghị như thế nào? Sau khi nhận được ấn kiếm chỉ huy, viên chủ tướng họ Tôn nghiên cứu tình hình và biết rõ quân đội Tây Sơn rất tinh nhuệ, quân Cần Vương ô hợp của nhà Lê không đủ sức thắng nổi. Nhưng ông ta lại đinh ninh rằng sẽ đánh bại Nguyễn Huệ một cách dễ dàng nên đã dâng sớ tâu trình lên hoàng đế, nêu ra những điều kiện thuận lợi và cần thiết phải tiến quân ngay vào Thăng Long: "Vâng lời thượng dụ: chỉ nên làm thanh viện cho họ, để họ tự lo lấy, không cần phải dấy quân, làm to chuyện. Kính tuân theo thánh chỉ ấy, thần đã tra xét kỹ càng các nơi đường sá qua lại, từ đài Chiêu Đức đến đô thành nước họ, quân đi chẳng qua chỉ mất sáu ngày, ở Lạng Sơn hơi có lam chướng. Qua khỏi đó, thủy thổ đều tốt lành. Đại quân tiến lên đóng ở La Thành1 (La Thành tức Thăng Long) vừa không nóng nực lại không có lam chướng, vả lại cũng cần diễu võ dương oai, phô trương thanh thế của quân ta ở đấy, để cho giặc biết là không thể địch nổi. Rồi sau đó mới sai phái các quân ứng nghĩa của nước họ tự đi đánh dẹp lấy. Quân ta sẽ không đến nỗi phải vấy máu mũi gươm, mà quân giặc đều bị bắt giết. Như vậy công trạng hẳn chóng thành"1 (Ngô Gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, H. 1970, tr.330-331). Nếu như nói rằng chiến lược quân sự của Càn Long rất chủ quan thì cấp dưới của ông ta còn chủ quan hơn nhiều. Do nóng lòng muốn chiếm đóng Việt Nam ngay, hoàng đế Mãn Thanh đã chuẩn y và hạ lệnh cho Tôn Sĩ Nghị đưa quân vượt qua biên giới. Những hành động quân sự trên chiến trường được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, 22 ngày, từ ngày 25 tháng 11 năm 1788, khi binh lính Mãn Thanh rời Quảng Tây, đến ngày 17 tháng 12 năm 1788, khi tiến đến Thăng Long. Giai đoạn thứ hai, 46 ngày, từ ngày 17 tháng 12 năm 1788 đến ngày 31 tháng 1 năm 1789, khi chúng bị đánh tan ở Ngọc Hồi và Thăng Long. Hai giai đoạn này cũng tương ứng với hai giai đoạn tác chiến của quân Tây Sơn: giai đoạn rút lui, tạo thế và giai đoạn phản công, giáng đòn quyết định. Giai đoạn thứ nhất nổi lên hai đặc điểm. Thứ nhất là quân Mãn Thanh đã chiếm được một vùng đất ở Bắc Hà và kinh thành Thăng Long trong một thời gian rất ngắn mà không phải tiến hành một trận đánh lớn nào. Những trận đánh của Phan Văn Lân ở vùng Thị Cầu chỉ có tác dụng ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch để quân ta đủ thời gian rút khỏi Bắc Hà. Khi đến Thăng Long, hầu như 29 vạn quân xâm lược vẫn còn nguyên vẹn. Từ thành tích đó, được Càn Long khen thưởng và bị Nguyễn Huệ dùng thư trá hàng khích động, Tôn Sĩ Nghị càng kiêu ngạo hơn. Ông ta cho rằng hành động của mình là duy nhất đúng vì đã được kiểm chứng. Bây giờ hãy cứ phô trương thanh thế để răn đe và "cứ từ từ, không gấp vội", nghỉ ngơi đã, muốn tiến công lúc nào cũng được. Điều đó hoàn toàn do mình. Suy nghĩ đó đã dẫn đến đặc điểm thứ hai: dừng tác chiến, tiến hành phòng ngự tạm thời. Gọi là "tạm thời" vì quân xâm lược đang ở đội hình tiến công. Đội hình phòng ngự được bố trí thành bốn khối quân lớn: một khối ở Bắc sông Hồng, một khối ở Nam sông Hồng, một khối ở Hải Dương và một khối ở Sơn Tây. Khối chủ yếu là ở phía Nam sông Hồng, khoảng 20 vạn quân, bao gồm hai tập đoàn lớn. Tập đoàn thứ nhất là chủ lực làm mũi nhọn, đóng tại Ngọc Hồi, quân số khoảng 11 vạn, là những đơn vị tinh nhuệ nhất. Tập đoàn thứ hai là lực lượng cơ bản, đóng tại Thăng Long cùng với Tổng hành dinh. Bên cạnh là các đơn vị "nghĩa dũng" đóng tại Khương Thượng. Tuy rằng cách bố trí như trên chứng tỏ Tôn Sĩ Nghị đã có tính toán, nhưng nhìn chung vẫn là thế trận của một quân đội nghỉ ngơi. Nhưng điều sai lầm nghiêm trọng nhất chính là sau khi chuyển từ thế tiến công sang thế dừng tác chiến, tiến hành phòng ngự tạm thời, Tôn Sĩ Nghị đã đánh giá quá thấp đối phương, nên đã tự để mất quyền chủ động chiến lược và sa vào thế bị động. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:42:29 am Những đặc điểm của giai đoạn thứ nhất đã dẫn đến những đặc điểm của giai đoạn thứ hai: bị động và bất ngờ. Một quân đội không giành được quyền chủ động và luôn bị bất ngờ trong tác chiến thì chỉ là một cơ thể sống nhưng không có linh hồn. Như trên đã nói, dừng tác chiến, tổ chức phòng ngự tạm thời là rơi vào thế bị động. Thể hiện rõ nhất điều đó là bị động về phương an tác chiến. Nghiêm túc mà nói, khi bố trí đội hình, Tôn Sĩ Nghị cũng đã suy nghĩ kĩ đến việc tiến quân xuống phía Nam. Lúc đó, đội hình sẽ chia thành ba hướng. Lực lượng Lưỡng - Quảng sẽ theo triền sông Hồng xuống Vị Hoàng. Lực lượng "nghĩa dũng" Điền Châu, Triền Châu sẽ theo đường chính, qua Văn Điển xuống Gián Thủy. Lực lượng Vân - Quí sẽ từ Sơn Tây theo đường Chương Đức tiến xuống. Tam Điệp sẽ là nơi hội quân để rồi tất cả cùng công kích đối phương. Thế nhưng, cách tính toán của Tôn Sĩ Nghị hoàn toàn thiên về việc hành quân tác chiến ở xa mà không mảy may nghĩ đến phương án tác chiến ngay trên địa bàn đang trú quân. Với tư tưởng chủ quan, khinh địch, xem đối phương "như hạng trâu, dê", ông ta chỉ nghĩ đến việc đánh người, muốn đánh lúc nào cũng được, mà không nghĩ đến nơi đến chốn trường hợp bị đối phương đánh trả. Chính vì vậy, quân Mãn Thanh đã bị động cả về thời gian lẫn không gian tác chiến. Ông ta dự định xuất quân vào mồng 6 tháng giêng âm lịch, nhưng chiến sự lại diễn ra trước đó, đúng ngay vào dịp Tết, khi quân lính dưới quyền đang thỏa thích chơi bời. Ông ta dự kiến chiến địa sẽ là vùng Thuận - Quảng như đã từng lớn tiếng với Nguyễn Huệ: "Về Thuận Hóa chờ phân xử". Nhưng thực tế chiến sự lại diễn ra ngay, tại Thăng Long, thậm chí còn len lỏi đến tận phòng ngủ của viên chủ tướng. Ở đây có điều đáng nói là việc dừng tác chiến để quân lính nghỉ ngơi, phè phỡn quá lâu, tới 46 ngày, khiến cho tinh thần chiến đấu giảm sút, quân đội không còn sức mạnh, phương án tác chiến lại không rõ ràng, thì làm sao có thể chống đỡ nổi một khi bị tiến công. Chính vì không có phương án tác chiến cụ thể nên trước đòi hỏi của tình hình thực tế, Tôn Sĩ Nghị buộc phải "vá víu" lại để đối phó. Ví như ông ta phải đồng ý để vua tôi nhà Lê đưa một số lính bản bộ từ Sơn Tây xuống Gián Thủy, lập một đồn tiền tiêu, làm nhiệm vụ "che chân phía trước" cho quân đội Thiên triều. Và khi được tin đối phương chuẩn bị tiến ra Bắc Hà, Tôn Sĩ Nghị mới vội vã tăng cường lực lượng, củng cố lại các vị trí xung yếu, cử phó tướng Hứa Thế Hanh xuống trực tiếp chỉ huy đồn Ngọc Hồi. Nhưng mọi việc làm của ông ta ở thời điểm này đã tỏ ra quá muộn. Đó chỉ là sự phòng thủ thụ động, sự chờ đợi để đỡ đòn khi đối phương mang quân tới tiến công.
Như đã trình bày, Tôn Sĩ Nghị luôn tin rằng có thể dễ dàng đánh bại đối phương, rằng đối phương sợ hãi, không dám đánh lại vì sự "diễu võ dương oai, phô trương thanh thế". Nhưng trên thực tế thì hoàn toàn không như thế. Ông ta không biết rằng bản thân đang ở thế bị động, thế bị đối phương điều khiển. Ngay cả chiến thắng lớn của ông ta ở giai đoạn đầu cũng là cách "nhử địch vào sâu" của quân Tây Sơn để chuẩn bị giáng đòn vào giai đoạn sau. Bởi thế, khi nhận được tín hiệu sắp sửa bị tiến công thì ông ta hoàn toàn bị bất ngờ. Sự bất ngờ ngày càng tăng. Lần thứ nhất (18-1-1789) được tin Nguyễn Huệ đang tuyển quân ở Thanh Hóa - Nghệ An và chuẩn bị tiến ra Bắc Hà, tuy có ngỡ ngàng nhưng Tôn Sĩ Nghị vẫn bình tĩnh tìm cách đối phó. Lần thứ hai (29-1-1789), tin quân Tây Sơn đã chiếm Hạ Hồi và chuẩn bị công kích Ngọc Hồi khiến ông ta bắt đầu hoảng hốt và lập tức cho quân tăng viện mặt trận phía Nam và chờ tin Ngọc Hồi. Lần thứ ba (đêm 29 rạng sáng 30-1-1789), mọi sự chú ý của Tôn Sĩ Nghị đang hướng về phía có chiến sự thì đột nhiên tiếng súng nổ ngay tại cung Tây Long. Sự bất ngờ quá đỗi này khiến viên tướng họ Tôn hoang mang đến cực độ và không có con đường nào khác là phủ định chức vụ "Chinh Man đại tướng quân" bằng cách lên ngựa tháo chạy, mặc cho quân lính tan tác và mặc cho số phận bi đát của cuộc chiến tranh xâm lược do chính ông ta chỉ huy và chịu trách nhiệm. Về phía Nguyễn Huệ, lúc này đang ở Phú Xuân, ông nhận được tin cấp báo sau bốn ngày kể từ khi quân Mãn Thanh vào Thăng Long (tức ngày 21-12-1788). Ngay ngày hôrn sau, Nguyễn Huệ ra lệnh tiến đánh quân xâm lược. Cuộc hành quân chiến đấu bắt đầu. Thật ra, từ bốn tháng trước đó, ông đã nghe báo cáo về tình hình quân Mãn Thanh chuẩn bị binh mã. Thế nhưng vào lúc ấy, tình hình Gia Định cũng chưa yên ổn. Vùng đất này có nguy cơ rơi vào tay Nguyễn Ánh. Nguyễn Huệ chưa thể tiến quân ngay vào đấy được mà phải chờ cho tình hình thật chín muồi mới quyết định phương hướng tiến quân vào Nam hay ra Bắc. Nếu quân Thanh xâm phạm bờ cõi, thì trước nguy cơ mất nước, ưu tiên cao nhất là phải đưa gấp lực lượng ra Bác, nhanh chóng đánh tan quân xâm lược rồi mới tính đến việc đối phó với quân của Nguyễn Ánh. Chính từ mục đích chính trị và tính chất của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà quân đội Tây Sơn, với tư cách quân đội dân tộc, phải thực hiện một chiến lược tiến công kiên quyết về tính chất và được biểu hiện thành chiến lược "thần tốc" về thời gian. Yêu cầu đặt ra là phải đánh nhanh, giải quyết nhanh, đánh cho quân xâm lược không kịp trở tay. Vấn đề đặt ra cho cuộc tiến quân ra Bắc là phải tiến hành một tổng hội chiến tiêu diệt lớn, chứ không chỉ dừng lại ở hành động răn đe hay vây hãm để làm kẻ thù dần dần mỏi mệt. Nhờ chủ trương chiến lược tiến công kiên quyết như vậy, mà những năm trước đó, Nguyễn Huệ đã liên tiếp giành thắng lợi suốt từ trong Nam ra đến ngoài Bắc. Bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1789, quân đội Tây Sơn dưới sự chỉ huy linh hoạt của Nguyễn Huệ, trải qua 18 năm chinh chiến gian lao, đã trưởng thành vượt bậc, không chỉ điêu luyện về đánh vận động mà còn thành thục cả đánh công kiên. Đó là điều mà quân xâm lược không nhận thức được. Đối với chúng, Ngọc Hồi là niềm kiêu hãnh so với toàn bộ các cứ điểm đóng quân khác và được xem như một vị trí "thách thức" đối phương. Nhưng chính điểm "rắn" đó lại được Nguyễn Huệ chọn làm nơi đột phá quyết định thắng lợi cho toàn cuộc chiến bằng kiểu công kích độc đáo chưa từng có trong lịch sử quân sự thế giới đương thời. Nó nằm ngoài bốn kiểu công kích ở châu Âu - cũng là ở trên phạm vi toàn thế giới - tính đến cuối thế kỉ XIX như Ph.Ăng-ghen từng nhận xét. Nó cũng không bố trí theo kiểu "trận đồ bát quái" quen thuộc của người Hán. Nội dung kiểu công kích này là: Tiến công phía trước kết hợp vu hồi phía sau. Đó là một kiểu công kích khác biệt, sáng tạo. Nó vừa mang theo phương pháp tác chiến kết hợp chính - kì phương Đông cổ xưa của vũ khí lạnh, lại vừa mang theo phương pháp tác chiến của đội hình giãn thưa kết hợp khối dọc của những người lính bộ binh sử dọng hỏa khí nòng trơn lúc bấy giờ. Nó còn là một kiểu công kích vừa thắm đượm bản sắc tư tưởng tiến công theo truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, lại vừa thể hiện rõ rệt tư tưởng đánh tiêu diệt ở đỉnh cao của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ. Không những thế, các cánh quân vu hồi - ngôn ngữ của Tôn Tử gọi là "kì" - lại được cài lồng vào nhau, tạo thành thế trận "vây đơn, vây kép, vây ngoài, vây trong", phía cạnh sườn kết hợp phía sau lưng, phía bên phải kết hợp phía bên trái. Ví như công kích Ngọc Hồi, có vu hồi gần ở Đầm Mực, vu hồi xa ở Thăng Long; công kích khối quân địch ở phía bờ Nam sông Hồng, có vu hồi gần ở Hải Dương, vu hồi xa ở Phượng Nhãn; các cánh vu hồi lại có phía trái vào Đầm Mực, ra Thăng Long, có phía phải đến Hải Dương, lên Phượng Nhãn. Tất cả mọi cánh quân đã tạo ra cho thế trận một chiều sâu lớn, một vòng vây chặt, khiến 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh - nhất là khối 20 vạn quân phía bờ Nam sông Hồng - bị đập tan trong một thời gian kỉ lục, chỉ vẻn vẹn có năm ngày đêm. Giá như không bị đợt gió mùa đông - bắc tràn về, làm chậm tốc độ cơ động của cánh thủy quân vu hồi của đại đô đốc Lộc thì Tôn Tổng đốc Lưỡng Quảng khó mà toàn thân về nước. Tóm lại, chiến lược cơ động của quân Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1789, dù có mĩ miều "tô son, trát phấn", có khuếch trương thanh thế, qui mô thì thực chất cũng chỉ là sản phẩm của giai cấp phong kiến thống trị đang suy tàn mà phương tiện thực hiện là một đạo quân, bao gồm những người lính kém phẩm chất, thiếu tinh thần chiến đấu. Bởi vậy, khi chiến lược đó đụng độ với chiến lược quân sự tiến công kiên quyết của một dân tộc có truyền thống đánh giặc giữ nước lâu đời, với một quân đội thiện chiến, bao gồm những chiến sĩ hết lòng vì Tổ quốc, lại vừa được giải phóng thì sự thất bại của quân xâm lược cũng là điều hiển nhiên. Đến nay, hơn 210 năm đã trôi qua, nhìn lại lịch sử chiến tranh yêu nước hào hùng của dân tộc, giới sử học quân sự cho rằng chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa nói riêng, chiến thắng quân Mãn Thanh năm 1789 nói chung, vẫn được xem là một ngôi sao ngời sáng của văn hóa quân sự Việt Nam. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:43:16 am CHỮ TÍN VÀ CHỮ TRÁ TRONG CHIẾN TRANH Trong chiến tranh, người ta hay nói đến chữ tín (tin cậy) và chữ trá (lừa dối). Vậy thử xem chúng được sử dụng ở đâu và sử dụng như thế nào? Trước hết là nói về chữ tín. Phải khẳng định rằng, chữ tín chỉ xuất hiện trong chiến tranh chính nghĩa - chiến tranh giải phóng người nô lệ, giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Điều này có thể tìm thấy trong các cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc ta. Suốt cả chiều dài mấy ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm, nếu như thiếu một niềm tin tất thắng, chắc chắn tổ tiên ta đã không đủ sức đánh bại mọi kẻ thù. Đó là tin vào cơ quan lãnh đạo chiến tranh tối cao của đất nước. Điều này ngay ở thời cổ đại, trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta đã biết trốn "vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư"1 (Đồ Thư là chủ tướng quân xâm lược Tần), ở thời Trần (thế kỷ XIII), mặc dù quân xâm lược Mông - Nguyên bao vây bốn phía, trăm bề khó khăn nhưng nhân dân ta vẫn vững lòng tin tuyệt đối vào triều đình suốt cả quá trình giết giặc giữ nước, ở thời hiện đại, niềm tin sắt son đó càng được thể hiện rõ vào sự lãnh đạo của Đảng suốt ba mươi năm, qua hai cuộc chiến tranh giải phóng. Không những thế, niềm tin của nhân dân ta còn được tỏa sáng từ khối đại đoàn kết toàn dân mỗi khi "sơn hà nguy biến", ví như trong cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỉ XV: "Giơ gậy làm cờ, bốn phương dân cày tập hợp; rượu hòa nước lã, một lòng tướng sĩ cha con"1 (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo). Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường nhắc nhở: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công". Nhưng bên cạnh sự đoàn kết nhất trí đó, dù rằng là cơ bản, mà thiếu một phương pháp tác chiến thật ưu việt thì cũng không thể nào chiến thắng nổi binh hùng, tướng mạnh của quân xâm lược, ở đây, chính vì niềm tin mãnh liệt vào truyền thống nghệ thuật quân sự tất thắng của dân tộc - hình thành từ bao thế hệ - đã tạo ra những cách đánh giặc linh hoạt, uyển chuyển, phù hợp với từng thời đại, từng kẻ thù cụ thể. Tuy vậy, trong lịch trình chống ngoại xâm, người Việt Nam cũng hiểu rất rõ rằng càng tin vào đồng đội, đồng bào bao nhiêu thì lại càng phải cảnh giác với âm mưu địch bấy nhiêu. Trước bất cứ một hành động nào của kẻ thủ, tổ tiên ta đều không hề bỏ qua mà luôn luôn nghi hoặc, tìm mọi cách xét đoán thực hư. Với kẻ địch, tuyệt đối không được thật thà. Người cầm vũ khí chỉ có thể "tin" vào quân địch sau khi đã biết chính xác số quân, vũ khí và thủ đoạn của chứng, dù chúng muốn phô trương thanh thế hay muốn che giấu lực lượng. Việc làm này đâu phải dễ dàng. Bởi vì, trong đấu tranh vũ trang, hai bên đối địch bao giờ cũng tìm đủ cách "ngụy trang" ý đồ thực của mình và luôn luôn tung các thứ "hỏa mù" để dẫn đối phương tới sai lầm. Đó chính là nội dung chữ trá trong chiến tranh. Thế nhưng ở chỗ này có điều cần nói là trong các quân đội xâm lược - khác hẳn trong các quân đội tiến hành chiến tranh chính nghĩa - sự dối trá không chỉ là cách thức đối phó với những người bên kia chiến tuyến mà nó còn là biện pháp che giấu mọi hành động ngay cả đối với những người trong hàng ngũ của mình. Tôn Tử cho rằng: "Việc binh là nghệ thuật dối trá". Đầu tiên, sự biểu hiện dối trá trong các đạo quân xâm lược là binh sĩ không bao giờ được biết rõ mục đích thực của cuộc chiến tranh. Những mục đích đó, cổ kim, đông tây, bao giờ cũng được núp dưới các chiêu bài mĩ miều, nào là "thảo phạt", nào là "khai hóa", nào là "bảo vệ thế giới tự do". Thậm chí trong các quân đội phong kiến xâm lược phương Bắc thời xưa, quân sĩ không được phép đọc các binh thư (sách lý luận quân sự), xem như là sách cấm. Thứ đến là việc lập thế trận trong các quân đội xâm lược. Hành động này cũng khác xa kiểu "nhân trận" của dân tộc ta - như Trần Quốc Tuấn đã từng nêu rõ. Đây là thế trận của lòng dân, được xây dựng nên từ tình yêu xóm làng, quê hương, Tổ quốc. Ngược lại, thế trận, theo quan niệm Tôn Tử: "Phàm quân lính bị vây hãm vào bước nguy hiểm thì sau đó mới có thể làm nên thắng bại". Quan niệm đó được thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế như ném quân lính" vào nơi không có đường chạy, họ sẽ chiến đấu dũng mãnh như Chuyên Chư, Tào Quệ"1 (Tôn Tử, Binh pháp thập tam thiên, Thiên Thủy kế, Thiên Cửu địa. Chuyên Chư, Tào Quê là những danh tướng thời Xuân Thu) hay "che đậy tai mắt của binh lính, khiến họ không hay biết gì”2 (Tôn Tử, Binh pháp thập tam thiên, Thiên Thủy kế, Thiên Cửu địa. Chuyên Chư, Tào Quê là những danh tướng thời Xuân Thu). Từ những kiểu cách lừa dối đó, chúng ta có thể thấy rõ những chuyện "hòa rượu", "hút máu"3 (Ngày xưa có một vị tướng giỏi, gặp người biếu một vò rượu, ông đem đổ xuống sông rồi bảo binh sĩ đón dòng nước mà uống. Ba quân do đó mà chiến đấu quên mình. Ngô Khởi rất giỏi dùng binh. Một người lính có nhọt, ông ta ghé mồm hút hết mủ, khiến người lính cảm kích mà ra sức xông pha) chỉ là những trò mị dân, phỉnh phờ binh sĩ, nhằm đưa họ vào chỗ chết vô ích cho quyền lợi của giai cấp cầm quyền. Như vậy, rõ ràng là trong các đội quân xâm lược, nơi nơi đầy rẫy những chữ trá. Trái lại chữ tín chỉ có thể mọc lên trên mối quan hệ chân thật với nhau, quan hệ trên dưới một lòng giữa những con người cùng chung một lí tưởng chiến đấu cao cả. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:45:14 am VŨ LỰC Vũ lực, một cặ từ gốc Hán, được "Từ điển tiếng Việt" định nghĩa là "sức mạnh của quân đội". "Hán - Việt từ điển" của Đào Duy Anh định nghĩa là "sức mạnh về binh khí và quân đội "đồng thời ghi thêm tiếng Pháp "Force militaire". Lực là sức thì đã rõ. Thế còn vũ? Tiếng Việt có năm từ đồng âm: vũ là lông chim; vũ là mưa, như vũ thủy, phong vũ biểu; vũ là múa, như khiêu vũ, vũ nữ; vũ là không gian, như vũ trụ và vũ là sức mạnh. Trong các từ vũ trên, chỉ đặc biệt có từ cuối cùng - chỉ sức mạnh - được đọc thành võ: vũ lực/võ lực, vũ trang/võ trang. Chính vì thế mà trong "Từ điển Hán - Việt", do Hầu Hàn Giang - Mạch Vĩ Lương (chủ biên), có năm từ vũ thì chỉ có riêng vũ là sức mạnh mới ghi là chuyển thành võ. Trong cuốn "Tìm về cội nguồn chữ Hán" (Hán tự tố nguyên) của Lí Lạc Nghị cũng ghi vũ/võ khi định nghĩa khái niệm sức mạnh. Ngược lại, trong tiếng Việt, hầu như không ai dùng: lông võ; võ thủy, phong võ biểu, khiêu võ, vỡ nữ; võ trụ. Có thể trong mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải dành nhiều thời gian để tiến hành chiến tranh chống xâm lược nên vì thế mà từ tố vũ đã được chuyển thành võ cho phù hợp với cách phát âm của từng vùng. Từ Nghệ An trở vào, nhân dân đọc là võ, từ Thanh Hóa trở ra, nhân dân đọc theo cả hai cách: vũ/võ khí, vũ/võ sĩ... nhưng phần lớn thiên về vũ. Đó là trường hợp chỉ danh từ chung. Còn đối với danh từ riêng - họ Vũ, ghi theo dạng tự với nghĩa là sức mạnh - thì cách phát âm cũng vậy nhưng hơi khác một chút. Những người sinh trưởng từ Thanh Hóa trở ra, mang dòng họ này, chỉ ghi là Vũ. Trong khi đó, những người sinh trưởng từ Nghệ An trở vào lại chỉ ghi là Võ. Thậm chí, cùng một ông tổ nhưng con cháu thuộc các chi họ từ Thanh Hóa trở ra, chỉ ghi là Vũ (không ghi là Võ). Trái lại con cháu thuộc các chi họ từ Nghệ An trở vào lại chỉ ghi là Võ (không ghi là Vũ). Về hiện tượng này, có người đã giải thích: Họ Vũ - Võ là một trong những dòng họ lớn nhất của Tổ quốc Việt Nam và lại là một trong số rất ít các dòng họ có chung một Thủy tổ, Thủy tổ Vũ Hồn, vừa là Thần tổ "Thành hoàng làng" vừa là Hương thủy tổ, thờ ở đình làng Mộ Trạch, xưa có tên là thôn Khả Mộ, huyện Đường An, nay thuộc xả Tân Hồng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông vốn là một danh nhân nhà Đường sang Việt Nam dựng nghiệp từ năm 825, cho đến nay đã được 1175 năm. Chi họ Vũ trên đất Bắc di chuyển vào phương Nam đã đổi sang họ Võ do phải kiêng tên chúa Nguyễn: Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765). Dòng họ Võ đầu tiên đặt chân vào lục tỉnh Nam Kỳ chính là phò mã Hoài Quốc công Võ Tánh, danh tướng của vua Gia Long. Vì trong chữ Hán, Vũ - Võ đều có chung một dạng tự nên người trong họ có câu rằng: "Vũ - Võ hai âm, từ chỉ một Bắc - Nam một dải, Tổ không hai"1 (Việt Thường: Dòng họ Vũ phương Bắc - Võ phương Nam; Hiếu nghĩa truyền gia, khoa danh Báo gia đình và xã hội, số 64, 4-2000). Đến đầy cũng có hai cặp từ nữa mà chúng ta cần quan tâm là vũ đoán và vũ đài. Vũ đoán cũng được chuyển thành võ đoán. Từ này được "Từ điển tiếng Việt" của Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa là: "(phán đoán) chỉ dựa vào ý riêng chủ quan, không có căn cứ nào cả". "Hán - Việt từ điển" của Đào Duy Anh định nghĩa là: "Không đoái đến tình lí, tự mình quyết đoán". "Từ điển Hán - Việt” của Hầu Hàn Giang - Mạch Vĩ Lương (chủ biên) định nghĩa: "Vũ đoán là độc đoán". Ở cả hai cuốn tứ điển Hán - Việt, vũ đều ghi theo dạng tự với nghĩa là sức mạnh. Phải chăng người suy nghĩ theo lối võ đoán là ỷ vào sức mạnh trí tuệ của riêng mình, bất chấp lí tình người khác? Còn từ vũ đài thì có hai cách định nghĩa khác nhau. Hai cuốn từ điển Hán - Việt, như đã nêu ở trên, định nghĩa: "Vũ đài là sân khấu, chỗ diễn kịch". Và ghi thêm vào phần nghĩa bóng: "Vũ đài chính trị", "Trường chính trị - Trường văn hóa". Trái lại, "Từ điển tiếng Việt" của Hoàng Phê (chủ biên) viết: "Võ đài là đài đấu võ. Võ đài chính trị". Nếu như vậy, các tác giả trên đã mâu thuẫn với nhau qua dạng tự vũ, một bên là múa và một bên là sức mạnh. Bên thứ nhất cho rằng vũ là một từ gốc Hán nên đã tìm về từ nguyên của nó trong tiếng Hán. Nhưng nếu như vậy sẽ không giải thích được sự chuyển hóa giữa vũ và võ trong tiếng Việt. Bên thứ hai lại dựa trên sự sử dụng thực tế của tiếng Việt và lấy ngay chính bản thân nó làm đối tượng để giải thích. Vũ chuyển hóa thành võ, nghĩa của nó phải là sức mạnh. Cách giải quyết này hợp lý hơn vì "đối với từ, giá trị thông dụng quyết định tất cả"1 (Hoàng Tuệ, Ngôn ngữ và đời sống xã hội - văn hóa, Nxb Giáo dục, H.1996, tr.165). Bây giờ, chúng ta trở lại tìm hiểu tiếp về mặt ý nghĩa xã hội của từ vũ là sức mạnh. Xét về dạng tự, nó bao gồm hai từ xếp theo phép hội ý: qua là một loại vũ khí lạnh thời cổ đại và chỉ là dừng lại. Phân tích về dạng tự này cũng có hai cách. Cách thứ nhất cho rằng: "Phần trên của chữ là qua (một loại vũ khí thời cổ), phần dưới là chỉ (bàn chân), biểu thị cầm vũ khí ra đi đánh trận"2 (Lý Tạc Nghị, Tìm về cội nguồn chữ Hán, Nxb Thế giới, H.1997, tr.875). Cách giải thích này không hợp lí. Nếu cho rằng phần dưới "biểu thị cầm vũ khí" thì phải dùng thủ (bàn tay) thay vì dùng chỉ mới đúng. Cách thứ hai cho rằng: "Chỉ là dừng lại, thôi; qua là một thứ binh khí đời xưa. Dùng vũ ngăn cấm điều bạo ngược, chỉnh đốn sự rối loạn, thôi việc can qua"3 (Nguyễn Khuê, Tự học Hán văn, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1995, tr.20). Xét về cách ứng xử truyền thống trong xã hội loài người từ xưa đến nay, suốt từ Đông qua Tây thì "dùng vũ ngăn cấm điều bạo ngược" vốn là hành động diễn ra thường xuyên nên cách phân tích này phù hợp hơn. Ở Việt Nam, người Thái miền núi Tây Bắc vẫn nói: "Rượu đến thì rượu mời, gươm đến thì gươm đưa”. Nhân dân ở đồng bằng lại nói: "Vỏ quít dày có móng tay nhọn". Trong tiếng Hán cũng có thành ngữ: "Dĩ độc chế độc" (lấy thuốc độc để trị thứ thuốc độc khác). Khi phân tích về hành động chống lại chiến tranh xâm lược ở châu Âu trong thế kỉ XIX, C.Mác cũng từng nói đại ý là vũ khí phê bình không thể thay thế việc phê bình bằng vũ khí. Ai cũng thấy rằng từ những năm 70 của thế kỉ trước chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc. Các nước đế quốc phương Tây đã đưa quân đội với tàu to, súng lớn đi xâm chiếm thuộc địa. Để chống lại, nước nào cũng tìm cách xây dựng quân đội làm nhiệm vụ quốc phòng, ở nước ta, từ sau Cách mạng tháng Tám, - nếu như thiếu một quân đội nhân dân hết lòng "trung với nước, hiếu với dân", làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, chắc chắn rằng dân tộc ta không thể chiến thắng được hai đế quốc to trong ba mươi năm chiến tranh giải phóng vừa qua. Trên đây là những minh chứng cụ thể, ít nhiều cũng giúp chúng ta hiểu thêm được phần nào ý nghĩa xã hội và cách sử dụng từ vũ lực. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:46:55 am TƯ MÃ, MARÉCHAL VÀ CON NGỰA Tư mã là một từ tiếng Hán ở phương Đông, Maréchal là một từ tiếng Pháp ở phương Tấy. Thế nhưng trong cả hai từ đều có hình bóng con ngựa. Về nghĩa đen, tư mã là người quản lí ngựa. Tư hay ti - là quản lí, như ti giáo dục, ti y tế, ti văn hóa thuộc cấp tỉnh ở nước ta trước đây. Mã là ngựa. Bắt đầu từ thời Tây Chu (thế kỉ XI - 771 trước công nguyên), tư mã thành tên một quan chức cao cấp, phụ trách công việc quân sự của triều đình, đứng thứ tư trong hàng Lục khanh - sáu chức quan to - mà sau này là sáu quan thượng thư lục bộ. Là hàng quan chức cao cấp, Lục khanh xếp sau hàng Tam công - còn gọi là Tam thái - gồm thái sư, thái phó, thái bảo và hàng Tam cô - còn gọi là Tam thiếu, gồm thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo. Vì vậy cũng có khi người ta xếp tư mã ở vị trí thứ bảy trong hàng cửu khanh - chín chức quan to - gộp cả Tam thiếu và Lục khanh. Cuối thời Xuân Thu (771 - 476 trước công nguyên), thuật ngữ tư mã đã đi vào lí luận quân sự với tên một cuốn binh thư nổi tiếng, được xem là một trong bảy cuốn sách quân sự kinh điển - Võ kinh thất thư - của Trung Hoa nói riêng và của loài người nói chung khi vũ khí lạnh đang sử dụng phổ biến trên chiến trường. Đó là cuốn Tư mã pháp - phép dùng binh của quan Tư mã - mà Điền Nhương Thư - giữ chức Đại tư mã nước Tề người có cùng một ông tổ - là Điền Hoàn - với Tôn Tử - là tác giả. Về tư mã, chúng ta cũng nên hiểu nó chỉ là một thuật ngữ, một danh từ chung, chỉ chức danh quân sự, không phải là một danh từ riêng chỉ tên một dòng họ như trong Tư Mã Thiên, nhà sử học tài năng thời Tây Hán (206 trước công nguyên - 24), trong Tư Mã ý, một danh tướng thời Tam Quốc (220 - 280). Ở Việt Nam cũng có tư mã. Vào cuối thế kỷ XIV, nhà Trần bắt đầu định ra chức danh này và phong cho Trần Khiên Ngô. Đầu thế kỉ XV, sau khi chiến tranh giải phóng thắng lợi, nhà Lê thành lập, chức danh quân sự đó cũng được phong cho Lê Sát1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội, H.1992, t.1, tr.463). Bây giờ, chúng ta chuyển sang từ maréchal. Về từ này, từ điển Pháp - Latinh định nghĩa: maréchal là "gia nhân chăm sóc ngựa như palefrenier" - người giữ ngựa - trong tiếng Pháp. Và giải thích thêm "theo nghĩa đen, maréchal là faber ferrarius". Faber là sản xuất, là chế tạo các sản phẩm cứng, nhất là thợ rèn" - như fabriquer trong tiếng Pháp. Ferrius là sắt - như fer trong tiếng Pháp. Bắt đầu từ thế kỉ XI, người Pháp viết maréchal - theo nghĩa dân gian - thành maréchal - ferrant. Và cho đến nay, người ta vẫn viết như thế mặc dù maréchal hay maréchal - ferrant, về nghĩa của cả hai, đều là thợ bịt móng ngựa. Từ nghĩa ban đầu của maréchal, người ta đã có những từ phái sinh: maréchalerie là nghề bịt móng ngựa, là xưởng bịt móng ngựa; maréchale là một thứ than đốt lò của thợ bịt móng ngựa. Đến thế kỉ XII, maréchal trở thành thuật ngữ quân sự. Nghĩa đầu tiên của từ này là sĩ quan phụ trách việc bảo dưỡng ngựa, sĩ quan của chuồng ngựa rồi sĩ quan kị binh. Sang thế kỉ XIII, maréchal được nâng lên một nghĩa mới: người chỉ huy quân sự nói chung. Từ thế kỉ XVI, ở nước Pháp đã xuất hiện cấp quân hàm quanh thuật ngữ maréchal với cấp cao nhất quân đội - thường gọi là vinh hàm: Maréchal de France - thống chế nước Pháp - và cấp thấp nhất, chỉ huy phiên chế nhỏ nhất là tiểu đội: maréchal des logis - trung sĩ (kị binh hoặc pháo binh). Quanh thuật ngữ maréchal, người ta cũng có những từ phái sinh: maréchai de camps - thiếu tướng, maréchale - thống chế phu nhân; maréchalat - hàm, chức thống chế, nguyên soái, tương đương với thuật ngữ généralissime. Đến đây, một câu hỏi được đặt ra là tại sao phương Đông và phương Tây, xa cách nhau hàng vạn dặm mà chức danh của những người đứng đầu quân đội đều liên quan đến con ngựa? Nó có sức sống tới hơn ba ngàn năm, kể từ tư mã xuất hiện đầu tiên vào thế kỉ XI trước công nguyên ở Trung Hoa đến tư mã xuất hiện vào cuối thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV ở Việt Nam và maréchal xuất hiện vào thế kỉ XVI ở nước Pháp nhưng vấn đang còn thông dụng trong ngôn ngữ hiện đại vào năm cuối cùng của thế kỉ này. Để trả lời chúng ta tìm về mục đích của việc quân nói chung và việc của lực lượng vũ trang nói riêng. Như lịch sử quân sự đã ghi, chiến tranh ra đời khi của cải xã hội ngày một tăng. Nó nhằm tiến công tước đoạt. Chống trả lại, đã có chiến tranh phòng thủ, bảo vệ. Từ mục đích của chiến tranh, dù chính nghĩa hay phi nghĩa, nhiệm vụ của quân đội nào tham chiến cũng phải đánh vào đối phương. Muốn đánh, quân đội nhất thiết phải đi. Không hề có một quân đội chỉ có đi mà lại không đánh. Khái niệm "hành quân" hiện chúng ta đang dùng, bao hàm đủ cả hai nghĩa đánh và đì. Bởi vì hành vừa có nghĩa là làm, là tác chiến lại vừa có nghĩa là đi, là di chuyển. Khi xã hội loài người mới có chiến tranh thì tất cả mọi người lính đều là bộ binh. Nghĩa đen, bộ binh là "lính đi bộ", là di chuyển bằng chính đôi bàn chân của mình. Nhưng rồi chiến tranh ngày càng phát triển với nhịp độ khẩn trương hơn. Con đường ra chiến địa ngày càng dài, việc di chuyển phải có tốc độ cao mới kịp xử lí các tình huống trong tác chiến. Đôi chân trần của người lính, đến lúc ấy, không còn đủ sức để vận động, di chuyển được nữa. Tình hình trên đòi hỏi một phương tiện chuyển quân cùng với vũ khí, lương thảo thích hợp hơn. Từ đó, cỗ xe chiến, với sức kéo của con ngựa, ra đời. Trên chiến địa, xe chiến ngựa kéo được sử dụng khá lâu trong thời cổ đại. Nhưng rồi xe chiến cũng ngày càng lộ ra những nhược điểm, buộc phải có một "phương tiện đi" mới cho chiến trận. Xoay quanh con ngựa, các nhà quân sự đã phủ định "sức kéo" của nó để khai thác một tính năng mới là "sức cưỡi". Kị binh đã hình thành trên cơ sở đó và tồn tại hàng ngàn năm. Nếu tính cả sức ngựa kéo xe chiến trước đó nữa thì con ngựa đã có mặt ở chiến địa, trên qui mô toàn cầu, khoảng ba ngàn năm. Những điều vừa nêu lên không chỉ là lí luận mà thực tế lịch sử quân sự đã cho ta những minh chứng sinh động, kể từ phương Đông đến phương Tây. Ở đất nước Trung Hoa, dưới thời Hoàng đế, vào cuối thời đại đá mới, khoảng 4000 năm trước công nguyên, người Hoa Hạ đã có những phát minh quan trọng như nuôi tằm, dệt lụa, đặt ra chữ viết, đóng xe, thuyền. Từ xa là xe, một chữ tượng hình, gồm có thùng xe, hai bánh và trục xe. Xe di chuyển được, nhất thiết phải có sức kéo là trâu, bò và nhất là ngựa. Vì thế mà trong xã hội đã xuất hiện những chức danh xoay quanh con ngựa. Bên cạnh tư mã, còn có giám mã, mã phu... Đến thời Tây Chu, khi xe chiến trở thành công cụ chiến tranh thì xã hội Trung Hoa cổ đại cũng đã sử dụng loại công cụ này trong lao động tới 3000 năm. Và khi kị binh xuất hiện vào cuối thế kỉ IV trước công nguyên1 (Quách Mạt Nhược, Thanh Đồng thời đại, Tân văn nghệ xuất bản xã, 1951, tr.214) thì xe chiến ngựa kéo hoạt động trên chiến địa cũng đã tới 700 năm. Từ chiến xa sang kị binh là một bước phát triển mới hết sức quan trọng về sức cơ động trong chiến trận ở phương Đông song suy cho cùng đấy cũng chỉ là sự chuyển đổi từ "sức kéo" đến "sức cưỡi" của con ngựa. Điều này từ ngữ đã phản ánh một cách rất trung thực. Tiếng Hán, điều khiển xe gọi là ngự và cưỡi trên lưng thú vật gọi là kị. Trong các thành phần của hai từ đó đều có mã. Ở phương Tây, cụ thể là ở châu Âu, lấy nước Pháp làm một ví dụ, sự việc diễn ra không hoàn toàn như vậy tuy rằng việc cơ động trong chiến trận, trước khi xuất hiện máy hơi nước, cũng hình thành hai giai đoạn: giai đoạn sức người và giai đoạn sức ngựa. Từ Trung Cận Đông, xe chiến đi vào các quân đội Hi Lạp - La Mã cổ đại và phát triển bình thường như ở quê hương của chúng nhưng khi quân đội Hi Lạp xây dựng kị binh - vào thời kì chiến tranh Pê-lô-pô-ne-dơ, chiến tranh giữa các thành bang Hi Lạp (431-404 trước công nguyên) - thì thoạt đầu, đội kị binh A-ten có 300 quân, sau đấy là 600 và thậm chí 1.000, gồm toàn những công dân giàu có nhất. Điều này ảnh hưởng tới việc xây dựng lực lượng kị binh cho toàn châu Âu sau này. Thật ra ở Hi Lạp - La Mã cổ đại, kị binh không có vai trò gì to lớn lắm trừ kị binh của A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan trong quá trình hành quân sang phía đông. Sau khi ông qua đời, không còn ai nhắc đến kị binh Hi Lạp nữa. Sang thời trung đại, nhất là ở thế kỉ X, mối quan tâm đến kị binh -đã rời vùng Địa Trung Hải đi vào trung tâm châu Âu. Thế nhưng phương châm xây dựng kị binh vẫn hoàn toàn giống như của quân đội Hi Lạp cổ đại, nghĩa là thành phần đội kị binh vẫn phải là những người giàu có nhất và chắc chắn không thể ngoài những nhà quí tộc phong kiến. Chính vì thế mà mối quan hệ giữa những thuật ngữ quân sự chung quanh con ngựa thời này với những từ ngữ dân sự cùng thời và cả những thế kỉ sau đều đượm một màu sắc sang trọng của những bậc quyền quí nhưng lại pha thêm vẻ hào hiệp, kẻ cả của giai tầng thống trị thượng lưu. Trong tiếng Pháp, cheval là con ngựa có gốc la-tinh là caballus. Thí dụ như ngựa nói chung là cheval nhưng ngựa cái lại là cavale. Hay như cưỡi ngựa có từ là chevaucher lại cũng có từ là cavaler. Theo ngôn từ thông dụng của tiếng Pháp thì hai từ chevalier và cavalier đều có nghĩa là người cưỡi ngựa nhưng xét theo ngôn ngữ học lịch sử, các từ đó đều mang theo những sắc thái riêng của xã hội trung đại châu Âu. Từ thứ nhất hình thành từ thế kỉ XI - khi kị binh giữ vai trò quyết định trên chiến trường - theo nghĩa dân gian là chiến sĩ quí tộc chiến đấu trên lưng ngựa. Còn từ thứ hai, ở thế kỉ XV nghĩa là nhà quí tộc, bậc hào hiệp, đấng quân tử, sang thế kỉ XVII là người hào hiệp đi theo bảo vệ một quí bà và đến thế kỉ XX là bạn trai khiêu vũ. Bây giờ chúng ta tìm hiểu thêm hai từ nữa: chevalerie và cavalerie. Từ thứ nhất, ra đời từ thế kỉ XI - khi kị binh chiếm vị trí độc tôn của chiến trận - có nghĩa là tinh thần kị sĩ, đẳng cấp kị sĩ, tước hiệu kị sĩ, huân chương kị sĩ. Từ thứ hai ra đời từ thế kỉ XVI, có nghĩa là kị binh. Trong từ cavalerie chứa đựng hai thành phần: cheval và cavalier, về từ cheval thì đã rõ. Còn từ cavalier không chỉ đơn thuần có nghĩa là người cưỡi ngựa - kị sĩ - mà còn có nghĩa là, người hiệp sĩ quý tộc. Đây cũng là phương châm xây dựng đội kị binh ở Hi Lạp cổ đại xưa kia, khi binh chủng này bắt đầu hình thành ở phương Tây nói chung và ở châu Âu nói riêng. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:47:42 am ÚY, TÁ, TƯỚNG, XƯA VÀ NAY Ngày nay, quân đội nhân dân Việt Nam xác định sĩ quan cao cấp là tướng, trung cấp nói chung là tá (thực tế thì thượng tá, đại tá đã là cao cấp) và sơ cấp nói chung là úy (thực tế thì thượng úy, đại úy đã là trung cấp). Thế nhưng từ xưa đến nay, chung quanh những từ này đã có bao nhiêu biến đổi. Trước hết nói về úy. Úy (cũng đọc là uất), từ thời cổ đại ở Trung Quốc, vốn chỉ các viên quan coi ngục và diệt trừ trộm cướp, giữ an ninh cho nhân dân như đình úy, huyện úy. Bắt đầu từ thời Tần, đầu thế kỷ III trước công nguyên, úy được dùng gọi tên những người chỉ huy quân sự cấp cao - úy quan - như thái úy, thiếu úy, hiệu úy... Thái, nghĩa đen là "tối cao, vô cùng", nghĩa bóng để chỉ nhà vua. Từ này vốn là chức danh ba viên quan đầu triều thời Tây Chu, gọi chung là "tam công" hoặc "tam thái": thái sư (thầy vua), thái phó (giúp vua) và thái bảo (nuôi vua). Đến thời Tần, do nhu cầu đánh dẹp, cần phải có một người lo liệu việc quân sự, ngang quyền với "tam công" nhà vua định thêm một chức danh mới là thái úy. Người đầu tiên nhận chức danh này là Mông Ngao, một viên tướng có công lớn với triều đình, và người kế nhiệm là cháu nội ông ta, Mông Điềm, người chăm lo việc xây dựng Vạn lý trường thành. Như vậy, thái úy là gười chỉ huy quân sự tối cao, bên cạnh nhà vua. Thiếu úy là người chỉ huy quân cấm vệ. Hiệu úy là người chỉ huy phiên chế "hiệu", một loại đơn vị chiến đấu cơ bản của quân đội thời cổ. Chủ tướng đạo quân Tần xâm lược Việt Nam ở thế kỷ III trước công nguyên là Hiệu úy Đồ Thư. Lí Ông Trọng, người Việt Nam, quê ở làng Chèm, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, từng làm quan dưới thời Tần Thủy Hoàng, cũng được phong là Tư lệ Hiệu úy. Như vừa trình bày, "hiệu" là một loại đơn vị chiến đấu cơ bản nên có từ "hiệu trường" - thao trường luyện tập của binh sĩ. Và từ đó, những người chỉ huy từ một đến nhiều "hiệu", gọi chung là "hiệu quan". Theo thời gian, lực lượng sản xuất phát triển, quy mô chiến tranh mở rộng. Để giải quyết chiến tranh không chỉ là một trận mà phải nhiều trận lớn nhỏ khác nhau. Số lượng quân lính cũng tăng theo. Bên cạnh những phiên chế hành chính cơ bản như "kì", "hiệu", "quân" đã xuất hiện "tướng" - một loại phiên chế tác chiến mới. Và "tướng", quân hàm chỉ huy cao cấp ra đời. Từ đó, để gọi chung những người chỉ huy quân sự, trong thuật ngữ quân sự xuất hiện cặp từ "tướng - hiệu". Những người chỉ huy ’’hiệu" - cấp dưới - phải giúp những người chỉ huy "tướng" - cấp trên - trong tác chiến. Dần dần, từ "hiệu" được thay bằng từ "tá" - phò tá, giúp đỡ. Cách gọi đó được dùng tới ngày nay. Bây giờ, trong tiếng Hán hiện đại, sĩ quan cấp tá vẫn được gọi chung là hiệu quan: thiếu hiệu đến đại hiệu đồng nghĩa với thiếu tá đến đại tá. Còn về tướng, tạp chí "Ngôn ngữ và Đời sống" cũng đã đăng một số bài. Lần này, chúng tôi muốn đề cập thêm một số khía cạnh nửa. Trong số từ Việt gốc Hán hiện nay có hai từ "tướng", nghĩa khác nhau với những dạng tự riêng. Từ thứ nhất, nghĩa gốc là "nhìn kĩ", "quan sát" và đọc là "tướng". "Tướng thử hữu bì" - Kinh Thi (Nhìn kĩ con chuột thấy nó có da). "Tướng thời nhi động" - Tả truyện (Quan sát thời cuộc mà hành động). Dạng tự của nó bao gồm từ "mục" là "mắt" và từ "mộc" là "cây". Từ "tướng" này chỉ những quan chức thời xưa, đứng đầu triều đình, giúp vua trị nước: tướng quốc, tể tướng, thừa tướng và quan chức đứng đầu chính phủ ở một số nước thời nay: thủ tướng. Những chức danh này, tiếng Pháp ghi là premier ministre và tiếng Anh ghi là prime minister, đều có nghĩa đen là "bộ trưởng thứ nhất". Từ thứ hai cũng đọc là "tướng", vốn là chức danh người chỉ huy phiên chế "tướng'' ở Việt Nam và Trung Quốc dưới thời trung đại. Riêng ở Việt Nam, chức danh này tồn tại mãi đến thế kỷ XVIII. Lúc đầu, "tướng" chỉ dùng để gọi những người chỉ huy phiên chế "tướng" nhưng dần dần nó đồng nghĩa với "người chỉ huy" nói chung. Từ đó, trong ngồn ngữ quân sự xuất hiện các từ: tiểu tướng, tì tướng, tùy tướng, bộ tướng... tên gọi những người chỉ huy đơn vị có số quân ít hơn phiên chế "tướng" rất nhiều mà ngày nay chúng chỉ tương đương với tiểu đội trưởng, đại đội trưởng... những sĩ quan sơ cấp. Vì vậy Trần Quốc Tuấn đã viết: "Tướng mà che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến quần chúng oán ghét, tướng ấy chỉ huy được mười người. Tướng mà sớm dậy, khuya nằm, lời lẽ kín đáo, tướng ấy chỉ huy được trăm người''. Nếu như ở phương Đông, quân hàm cấp tướng ra đời vào đầu thời trung đại thì ở phương Tây đến cuối thời trung đại - đầu thời cận đại, loại quân hàm này mới xuất hiện. Nó xuất hiện ở Pháp vào thế kỷ XVI. Ở Nga, năm 1657, vua Pi-ốt I cũng mới đặt ra loại quân hàm này. Nhưng dù ở Pháp, ở Nga rồi sau này ở Anh, "tướng" cũng đều được ghi chung một từ - Général (Pháp), ΓehepaЛ (Nga), General (Anh) - có nghĩa đen là "tổng thể". Đây là một vấn đề khá thú vị, mong được trình bày vào một dịp khác. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:48:33 am SEN ĐẦM Sen đầm là một thuật ngữ quân sự, chỉ "Lực lượng vũ trang đặc biệt, chuyên giữ gìn an ninh chính trị ở các nước đế quốc, thuộc địa". Có ý kiến cho rằng nó còn một từ đồng nghĩa là hiến binh, một từ Việt gốc Hán. Trong tiếng Hán không có từ sen đầm. Do đó, nó không phải là từ gốc Hán. Nó cũng không phải là từ thuần Việt. Nếu tách cặp từ này làm đôi để tra cứu thì thấy nghĩa của nó không hề dính dáng gì đến quân sự. Vậy sen đầm là một từ Việt gốc Pháp, được hình thành bằng phương pháp phiên âm qua từ gendarme. Muốn hiểu rõ nội dung từ sen đầm, một từ phiên âm trong tiếng Việt, tốt nhất là tìm hiểu trực tiếp ngay chính từ gendarme trong tiếng Pháp. Thật ra về chức năng, gendarme và hiến binh không giống nhau. Gendarme vốn bắt nguồn từ gens - là "người" - một từ gốc Hy Lạp genos - nghĩa là "dòng dõi, gia đình, nòi giống", ở thế kỷ XIV, từ này được viết dưới hình thức gens d’armes với nghĩa là "lính cưỡi ngựa". Không rõ gendarme viết liền xuất hiện từ khi nào nhưng chỉ biết rằng đến giữa thế kỷ XIX, dạng tự gens d’armes viết rời vẫn còn tồn tại. Trong bài "Kị binh" viết vào đầu năm 1858, Ph. Ăng-ghen đã viết từ này theo hình thức đó. Ở đây, ông còn cho biết sen đầm ra đời gắn chặt với một thời đại mới của kị binh, khi chế độ phong kiến mới hình thành ở châu Âu, giai đoan sơ kì của thời trung đại. Đó là vào khoảng đầu thế kỷ XVIII. "Sự thiết lập chế độ quí tộc Tép-tôn ở tất cả các nước Tây Âu đã mở đầu cho một thời đại mới của kị binh. Ở mọi nơi, các tầng lớp quí tộc đều phục vụ trong kị binh với cái tên gens d’armes được tổ chức thành đội kị binh và trang bị đến mức nặng nhất, ở đây không những chỉ người mà cả ngựa nữa đều được che chở bằng những tấm áo giáp kim loại. Trận đánh đầu tiên mà kiểu kị binh này xuất hiện là trận Poa-chi-ê. Tại chiến địa này, năm 732, Các Mác-ten đã đánh bật cuộc tiến công như nước chảy của quân Ả-rập"1 (Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1978, t.2, tr.154) trên đường chúng đi chinh phục châu Âu. Như đã trình bày, khi ra đời, cụm từ gens d'armes có nghĩa là "lính cưỡi ngựa" nhưng xét theo nghĩa đen thì nó là "người của" (gens de) "vũ khí" (armes). Với kết cấu ’’gens de....", đến thế kỷ XVIII, trong tiếng Pháp xuất hiện cụm từ gens de lettres - người của văn chương, nhà văn. Vì vậy, về sau, "gens de..." được dịch là "người làm nghề"... Ví như gens d'église - người làm nghề nhà thờ, thầy tu, giáo sĩ, gens de loi - người làm nghề luật pháp, luật gia, trạng sư; gens d’ épée - người làm nghề gươm đao, nhà quý tộc, quân nhân. Trở lại từ sen đầm, chúng ta thấy, ngày nay từ khi ra đời, loại hình lực lượng vũ trang này đã có chức năng đàn áp, khủng bố mỗi khi nền an ninh, chính trị của đế quốc đó bị vi phạm như quân đội đế quốc Nga thời cận đại, quân đội đế quốc Mĩ thời hiện đại. Bởi thế cho nên sen đầm nổi bật lên hai đặc điểm: một là được trang bị đầy đủ nhất bằng những vũ khí ưu việt nhất đương thời, hai là có tính cơ động rất cao nên nó thường được gắn chặt với một binh, quân chủng tinh nhuệ nhất, ví dụ như kị binh nặng, kị binh có áo giáp kim loại trong quân đội Pháp ở giai đoạn sơ kì thời trung đại hay như hải quân với tàu to, súng lớn trong quân đội Nga Sa hoàng ở giai đoạn hậu kì thời cận đại. Đặc biệt ở thời hiện đại, đế quốc Mĩ - với vai trò "sen đầm quốc tế" - đã sử dụng quân chủng lính thủy đánh bộ, quân chủng không quân với các loại máy bay phản lực siêu âm tối tân nhất, đã nhiều lần phản ứng điên cuồng trước tình hình chính trị ở một số nước và đã can thiệp thô bạo và trắng trợn vào bán đảo Triều Tiên, vào Đô-mi-ních-ca-na, vào Grê-na-đa... Với tính chất hung hăng, điên khùng, phản ứng mạnh mẽ của lính sen đầm mà tiếng Pháp gọi chung các tính chất đó là gendarmer (se). Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám, dưới chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp, hầu như không thấy có lính sen đầm. Làm nhiệm vụ cơ động đi đàn áp, khủng bố các phong trào đấu tranh của quần chúng chỉ có lính khố đỏ. Thế nhưng đây lại là lực lượng ngụy quân người bản xứ, thiếu độ tin cậy với cấp thống trị ngoại bang, việc trang bị do đó không được đầy đủ nên không đủ sức thực hiện chức năng của lính sen đầm. Chỉ từ sau năm 1940, khi phát xít Nhật kéo vào Việt Nam, nhân dân ta mới thấy trong quân đội chúng có hiến binh. Ở trên đã nói, hiến binh và sen đầm hoàn toàn khác nhau về trang bị, biên chế; về nhiệm vụ, chức năng. Nếu như sen đầm được tổ chức thành một "lực lượng vũ trang đặc biệt" thì hiến binh chỉ đơn giản là những "cảnh sát vũ trang". Chức năng của sen đầm là "chuyên giữ gìn an ninh chính trị ở các nước đế quốc, thuộc địa", nghĩa là hoạt động trên một phạm vi rất rộng. Trái lại, chức năng của hiến binh chỉ là "tra xét những điều phạm tội hoặc bất pháp trong quân đội". So sánh như vậy để thấy ràng chức năng của hiến binh thấp hơn rất nhiều so với chức năng của sen đầm mà "trùng khít" với chức năng của quân cảnh (military police- tiếng Anh, police milỉtaire - tiếng Pháp). Bởi vì điều rõ ràng, hiến binh và quản cảnh đều có chung một định nghĩa là: "Cảnh sát vũ trang trong quân đội một số nước”. Tóm lại về hình thức từ ngữ, sen đầm là một từ Việt gốc Pháp, được hình thành qua phương pháp phiên âm từ gendarme. Về nội dung khái niệm, mặc dù có ý kiến cho rằng sen đầm có một từ đồng nghĩa là hiến binh nhưng xét về tổ chức trang bị, về chức năng, nhiệm vụ, hai từ này hoàn toàn khác hẳn nhau. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:49:45 am HÀNH TRANG NGƯỜI LÍNH RA TRẬN Hành trang còn gọi là hành lí, được từ điển tiếng Việt định nghĩa "đồ dùng mang theo khi đi xa". Đây là một từ Việt gốc Hán. Hành là đi, trang là quần áo và lí là đồ dùng. Hành trang hay hành lí, tiếng Pháp đều gọi chung là bagage. Như vậy, những thứ con người mang theo, có thể nhìn thấy là hành trang hữu hình. Nhưng trong thực tế, khi đi xa, ngoài quần áo và đồ dùng sinh hoạt, lữ khách còn luôn luôn có trong tim và trên đầu những tình cảm, những tư tưởng và những kiến thức. Đó là thứ hành trang vô hình. Bởi vậy mà trong tiếng Pháp, kiến thức khoa học có tên là bagage scientifique. Định nghĩa là như thế. Bây giờ để hiểu rõ nội dung đó, chúng ta hãy so sánh hành trang của người lính chúng ta với hành trang của người lính xâm lược trong ba mươi năm chiến tranh giải phóng vừa qua. Về hành trang hữu hình, lúc nào phía họ cũng "giàu có" hơn phía chúng ta, từ áo quần, giầy mũ đến vũ khí, từ đồ dùng sinh hoạt đến thuốc men. Ngược lại, người lính của chiến tranh chính nghĩa lại luôn có một thứ hành trang vô hình mà bất cứ một người lính xâm lược nào - từ trong quân đội thực dân Pháp đến quân đội đế quốc Mĩ - đều không thể có được. Đó là tình cảm với gia đình, làng xóm và Tổ quốc, trong đó lòng yêu nước báo trùm lên tất cả. Đó là lí tưởng chiến đấu vì tự do của nhân dân, vì độc lập của đất nước. Nghiêm túc mà nói người lính xâm lược cũng có thứ hành trang vô hình của họ. Đó là họ chiến đấu vì tiền. Từ lợi ích kinh tế, họ sẵn sàng chống lại hết thảy, không loại trừ cả đồng bào, Tổ quốc mình. Là người lính đánh thuê, làm sao họ có được tình cảm với gia đình, quê hương, đất nước trong chiến tranh phi nghĩa. Để thay vào đó, giới lãnh đạo chiến tranh đã mê hoặc, lừa bịp bằng cách trao cho họ sứ mạng "nhân danh văn hóa" đi "khai hóa”, đi "lập lại trật tự", đi "bảo vệ thế giới tự do" khi đặt chân lên vùng đất định lấn chiếm. Trở lên trên, là sự so sánh về hành trang của hai người lính ở hai bờ chiến lũy. Còn phía chúng ta, hành trang của người lính cũng có những bước phát triển từ thấp đến cao, từ đơn sơ đến phong phú qua hai cuộc chiến tranh giải phóng cực kì gian khổ và đầy đủ tự hào. Như lịch sử quân sự ghi lại. Cách mạng tháng Tám mới thành công, dân tộc ta đã phải nhanh chóng đối phó với một cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Người lính ra trận lúc ấy với một hành trang hết sức khiêm tốn, thiếu thốn mọi thứ, tính từ áo quần đến giày mũ, "áo vải chân không đi lùng giặc đánh"1 (Hồng Nguyên, Nhớ, Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, Nxb Văn học, H. 1960, tr. 175, 176). Rời làng xóm ruộng đồng, rời bản mường nương rẫy ra đi, đồ dùng sinh hoạt của họ chẳng có gì. Chiếc bát ăn cơm gọt bằng vỏ dừa, chiếc bi đông đựng nước cưa ra từ ống bương. Còn vũ khí? Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, người lính Nam Bộ chiến đấu chủ yếu bằng những cây gậy tầm vông vót nhọn. Có khá hơn thì người lính Trung Bộ và Bắc Bộ cũng chỉ dùng đến gươm dao, giáo mác. Đã thế nhưng vẫn thiếu, phải "chặt sắt đường tàu, rèn thêm dao kiếm"1 (Hồng Nguyên, Nhớ, Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, Nxb Văn học, H. 1960, tr. 175, 176). Còn việc trang bị súng đạn thì người lính hành động theo phương châm "lấy súng giặc, diệt giặc". Gian khổ, vất vả trăm bề nhưng trên đường hành quân chiến đấu, trong trái tim người lính bao giờ cũng da diết một tình cảm đối với gia đình, với làng xóm, nhất là đối với Tổ quốc. Họ hiểu rõ mục đích của cuộc chiến tranh yêu nước: "Đàng nớ vợ chưa? Đàng nớ? Tớ còn chờ độc lập"2 (Hồng Nguyên, Nhớ, Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, Nxb Văn học, H. 1960, tr. 175, 176). Và phải chống đến cùng kẻ thù xâm lược. "Người ta hỏi chuyện chồng con, lắc đầu nguây nguẩy, em còn đánh Tây”3 (Ca dao kháng chiến). "Đánh Tây, giành độc lập", một chân lí thật đơn giản mà cũng thật cao cả. Chính nhờ chân lí đó trong hành trang, người lính của chúng ta đã đi đến tận cùng của chín năm trường kì kháng chiến mặc dù khi mới tòng quân là "những người tứ xứ, gặp nhau từ hồi chưa biết chữ"4 (Hồng Nguyên, Nhớ, Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, Nxb Văn học, H. 1960, tr. 175, 176). Thật vậy. Theo lịch sử của quân đội ta thì đến cuối năm 1947, toàn quân mới thanh toán xong nạn mù chữ"5 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (Dự thảo tóm tắt), Nxb Quân đội nhân dân, H.1977, t.1, tr.311). Không chỉ mù chữ mà ngay hiểu biết quân sự của những người "thợ cày đánh giặc" đó cũng còn ở trình độ "súng bắn chưa quen, quân sự mười bài"6 (Hồng Nguyên, Nhớ, Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, Nxb Văn học, H. 1960, tr. 175, 176) nhưng "lòng vẫn cười vui kháng chiến"7 (Hồng Nguyên, Nhớ, Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, Nxb Văn học, H. 1960, tr. 175, 176). Bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ, nội dung hành trang của người lính đã có bước phát triển mới, nhất là phần hữu hình. Trong hành trang người lính đã có những bộ quân phục cùng một kiểu, đủ áo quần, giầy mũ. Bên cạnh đó, trong đồ dùng sinh hoạt của người lính không chỉ có gạo ăn mà còn có thêm lương khô thuốc men, chăn màn, bi-đông nước, ba lô... Tất cả đều được cấp phát thống nhất dù là người lính công tác ở miền Bắc hay đi chiến đấu ở miền Nam, loại trừ trường hợp ở những chiến trường quá xa hoặc ở những nơi quá sâu trong lòng địch, khiến công tác hậu cần không đủ khả năng với tới. Về vũ khí thì súng trường, súng tiểu liên được trang bị đến từng người lính với đầy đủ đạn dược. Với hỏa lực cá nhân đó, nếu không bị phi - pháo (máy bay và đại bác) chi phối thì sức chiến đấu riêng từng người lính xâm lược - kể từ trong quân đội Pháp đến quân đội Mĩ - đã dễ gì ăn đứt được riêng từng người lính của chúng ta. Thế nhưng dù có sự phối hợp của các loại vũ khí hiện đại đó, chung cục, phần thắng vẫn không ở phía quân xâm lược. Bởi lẽ hành trang hữu hình có nhiều lên về số lượng, cao lên về chất lượng thì cũng không làm thay đổi được hành trang vô hình của mọi chiến sĩ. Vì đó không chỉ là hành trang của người lính mà nó còn là bản sắc văn hóa dân tộc, người công dân yêu nước đưa vào cuộc đọ sức sống mái với kẻ thù xâm lược. Gia đình, làng xóm, Tổ quốc vốn là ba hằng số của văn hóa Việt Nam. Liệu có người lính đích thực nào của chúng ta khi ra chiến trường mà lại thiếu tình cảm với các hằng số văn hóa đó. Những hằng số văn hóa này đã là nền tảng tinh thần cho người lính trong ba mươi năm chinh chiến, đã là động lực thúc đẩy người lính chiến đấu đi tới mục đích độc lập, tự do và trên thực tế, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đưa dân tộc ta đi tới mục đích đó trên nửa phần lãnh thổ. Vào cuộc kháng chiến chống Mĩ, mục đích độc lập, tự đo vẫn không thay đổi nhưng ở thời điểm này, người lính cũng hiểu rằng để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng đó, mọi nỗ lực phấn đấu của sự nghiệp "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" là phải tập trung vào mục tiêu "giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước". Bàn về nội dung hành trang người lính, trước khi kết thúc, có một điều đáng nói là trong hai cuộc kháng chiến trường kì, người lính của chúng ta đã phải hành quân đánh giặc ngót một phần ba thế kỷ, có mặt trên khắp các chiến trường Trung, Nam, Bắc. Nhưng bên cạnh đó, ngay chính trong hành trang của mình, người lính cũng đã làm một cuộc "trường chinh" không kém phần gian nan, vất vả là phấn đấu để từ một người chưa biết đọc, biết viết, từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, cho đến cuối cuộc kháng chiến chống Mĩ, vào đầu những năm 70, trở thành người có học lực bậc trung học phổ thông, chí ít cũng là bậc trung học cơ sở. Không những thế, trong hàng ngũ quân đội ta lúc bấy giờ còn có không ít những sinh viên, những người tốt nghiệp đại học và thậm chí còn có cả những nghiên cứu sinh, những tiến sĩ khoa học. Câu chuyện hành trang của người lính ra trận là như vậy, phải đâu chỉ có khẩu súng khoác trên vai, chiếc ba lô cõng sau lưng và bộ quân phục mặc trên mình. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 27 Tháng Giêng, 2022, 07:50:44 am TRANG BỊ, NẶNG RỒI NHẸ DẦN Trước thế kỷ XVII, khi vũ khí nóng chưa được trang bị rộng rãi cho từng người lính thì thành phần chiến thuật chỉ mới có đột kích và cơ động, đánh và đi. Đột kích chiếm vị trí chủ yếu. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, trang bị của người lính phải "rắn chắc", "nặng nề" với đủ sức đè bẹp được đối phương. Ví như ở thời cổ đại, tất cả mọi công dân tự do của nhà nước Hi Lạp - tức giai cấp chủ nô - đều phải thực hiện chế độ binh dịch. Vào quân ngũ, họ được tổ chức thành bộ binh nặng. Ban đầu, toàn bộ lực lượng vũ trang đều chỉ là loại bộ binh này và giữ vai trò quyết định kết cục trận đánh. Chính thế mà trang bị của nó cũng nặng nề nhất. Bên cạnh vũ khí - gồm giáo dài đánh xa và kiếm ngắn đánh gần - là phương tiện phòng hộ - gồm mũ sắt đội đầu, giáp sát che ngực, che chân và tấm mộc lớn bằng gỗ bọc da - đủ che cả người. Trong đội hình chiến đấu pha-lăng, bộ binh nặng đứng trên những hàng đầu. Phía sau họ là những công dân lệ thuộc và nô lệ. Những người này được tổ chức thành bộ binh nhẹ. Đúng như tên gọi, ngoài giáo và lao làm vũ khí, phương tiện phòng hộ của họ không có gì ngoài tấm mộc. Vào trận đánh, bộ binh nặng dùng giáo tiến công và khi đã lọt vào hàng ngũ địch thì dùng kiếm ngắn đánh giáp lá cà để mở đường tiến lên. Trong khi ấy, bộ binh nhẹ phối hợp tiêu diệt thương binh và những tên lính khác đang chống cự. Chiến thuật lúc bấy giờ chỉ đơn giản như vậy. Đột kích là chính còn cơ động hầu như chưa có. Trong hội chiến Ma-ra-tông (- 490), bộ binh nặng phát huy được vai trò của mình trước sức tiến công mạnh mẽ của kị binh không chính qui của quân xâm lược Ba Tư. Thế nhưng ở đây, vì quá nặng nề nên khi kẻ thù rút chạy, bộ binh nặng Hi Lạp không đủ sức cơ động để truy kích. Trong cuộc chiến tranh giữa các thành bang, chiến thuật giản đơn của quân đội Hi Lạp đã có những bước thay đổi. Trước đó, bộ binh vẫn chiến đấu theo đội hình song song, binh sĩ ở tuyến đầu được phân bố đồng đều trên toàn chính diện. Với đội hình này, một quân đội có ưu thế hơn về số lượng thì hoặc là sẽ tổ chức đội hình chiến đấu sâu hơn, hoặc là sẽ bao vây đối phương từ hai bên sườn. Trong hội chiến Lớt (- 371), với số quân khổng lớn, Ê-pa-mi-nông-đát, người chỉ huy quân đội Phíp, phải đương đầu với quân đội Xpác-tơ đông hơn mình. Đáng lẽ phải tiến công với đội hình có chính diện rộng thì ông lại tổ chức quân đội theo một khối dọc có chiều sâu rồi vận dộng tiến công vào một bên cánh của đối phương và đã thắng lợi. Từ đó, yếu tố cơ động trong chiến thuật được hình thành. Thêm vào đấy, trước mối đe dọa về cuộc xâm lăng của quân Ba Tư đã đòi hỏi phải tăng thêm số người thực hiện chế độ binh dịch. Trong danh sách những người được động viên vào quân đội bấy giờ đã phải ghi thêm giai cấp nghèo khổ nhất trong dân cư. Những người này được tổ chức thành bộ binh nhẹ. Loại bộ binh này của Hi Lạp đã được đánh giá cao về tính tháo vát và sự mau lẹ trong chiến đấu chính là vì trang bị gọn nhẹ. Bên cạnh đó, khi quân dội Hi Lạp, dưới sự chỉ huy của A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan, mở rộng chiến tranh sang phía Đông thì bô binh nặng đã mất dần tác dụng, không còn đóng vai trò quyết định của trận đánh nữa bởi vì yếu tố cơ động đã không chấp nhận sự chậm chạp, nặng nề của loại binh chủng này. Chúng chỉ còn được dùng chủ yếu để canh giữ những thành phố đã chiếm được. Như vậy, rõ ràng việc trang bị của quân đội, do yêu cầu của tác chiến, nhất là khi yếu tố cơ động xuất hiện, đặc biệt là trong quân đội La Mã, trang bị nặng đã không còn thích hợp nữa mà xu thế chung là phải "nhẹ hóa" dần. Trên cơ sở những thành phần mới của chiến thuật, cơ động và đột kích, sang thời trung đại, cho đến thế kỷ X, kị binh chiếm vai trò quyết định trên chiến địa, thay thế bộ binh nặng chính vì đã đáp ứng được yêu cầu của tác chiến đương thời: di chuyển nhanh và dẫm đạp mạnh. Thế nhưng rồi cách trang bị của kị binh cũng lại đi theo "vết xe đổ" của bộ binh thời cổ đại. Đội hình chiến đấu của kị binh cũng chẳng khác gì đội hình của bộ binh cổ đại. Ở phía trước vẫn là kị binh nặng - thời kỳ đó được mệnh danh là "kị binh hiệp sĩ". Toàn thân họ là bộ áo giáp nặng nề, cưỡi trên mình con ngựa cũng được che bẳng giáp sắt. Cả người lẫn ngựa nặng tới 300kg. Theo sau họ là những lính hầu cầm vũ khí và những lính cưỡi ngựa mang cung tên nhưng không có giáp che. Và cũng tương tự như bộ binh cổ đại, kị binh nặng giữ vai trò quyết định chiến tranh. Thế nhưng loại binh chủng này chỉ có khả năng đột kích còn như phải hành quân xa lại dài ngày thì chắc chắn những con ngựa, với những bộ giáp sát nặng nề sẽ nhanh chóng kiệt sức. Trái lại, do tính chất trang bị của mình, những người cưỡi ngựa bắn cung đã nhanh chóng được sử dụng làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu cùng bộ binh. Và chính như vậy mà đến thế kỷ XVI, để lực lượng kị binh cơ động được dễ dàng, đáp ứng được yêu cầu của tác chiến, kị binh nhẹ đã ra đời. Nó bao gồm những người lính bắn cung và không trang bị giáp sắt, như đã từng đứng phía sau kị binh nặng. Đến đây, chúng ta thấy rõ một điều khi mà chiến thuật chỉ mới có thành phần đột kích, việc trang bị cho người lính, chưa ai nghĩ đến chuyện nặng và nhẹ. Nhưng khi chiến thuật có thêm thành phần cơ động và giữ vai trò quyết định thì tình hình đã có những thay đổi. Để tạo ra lực lượng, kịp thời ứng phó với mọi đột biến trong chiến trận, quân lính phải nhanh chóng cơ động từ chỗ này đến chỗ kia. Muốn thế, trang bị của người lính buộc phải nhẹ. Ở thời cổ đại, đó là việc cơ động trên đôi chân đi bộ. Sang thời trung đại, việc cơ động đã chuyển sang bốn chân con ngựa chiến. Dựa vào thể lực con ngựa, các nhà quân sự nghĩ rằng nó có thể chịu đựng nổi một trọng lượng trên lưng tới mấy trăm ki-lô-gam để rong ruổi trên đường chinh chiến. Nhưng người ta đã nhầm. Vì nếu như khi mà việc cơ động chỉ mới dựa trên đôi chân người thì bộ binh nặng không thể theo kịp bộ binh nhẹ, còn khi việc cơ động đã chuyển sang bốn vó ngựa thì rõ ràng kị binh nặng làm sao có thể chạy nhanh hơn kị binh nhẹ? Bởi thế, dù là bộ binh hay kị binh, muốn cơ động hiệu quả, trang bị của người lính nhất thiết phải gọn nhẹ trong khuôn khổ cho phép mới đáp ứng được yêu cầu tác chiến đương thời. Vấn đề trang bị cho người lính đặt ra như vậy không chỉ là riêng cho thời đại vũ khí lạnh mà còn cho cả thời đại vũ khí nóng. Thật vậy, ở thời cận đại, khi mới ra đời, khẩu đại bác rất nặng nề. Việc di chuyển ít khi được đặt ra. Nhưng rồi do nhu cầu cơ động tác chiến và nhất là ở thời điểm mà người ta đã đưa "sức lửa" vào đột kích thay cho sức người và sức ngựa như từng được diễn ra ở những thời đại trước thì buộc người ta phải tính đến việc cải tiến khẩu pháo nhằm làm giảm dần trọng lượng trang bị của người lính. Từ đó, một mặt, khẩu pháo cồng kềnh được tái tạo thành những hỏa khí gọn nhẹ, có thể cơ động trên thuyền chiến, trên xe ngựa cùng các phân đội, binh đội, binh đoàn có đủ hỏa lực trong đột kích. Mặt khác, hỏa khí được thu nhỏ dần cho đến thế kỷ XVIII thì trở thành loại vũ khí cá nhân dưới hình thức khẩu súng trường khoác trên vai và khẩu súng ngắn đeo ngang sườn. Tóm lại, dù là bộ binh thời cổ đại, kị binh thời trung dại và vũ khí nóng thời cận - hiện đại, việc trang bị cho người lính, lúc đầu có thể nặng - do hoàn cảnh cụ thể chi phối - nhưng rồi do nhu cầu tác chiến, nhất là do nhu cầu cơ động để tạo ra lực lượng trên chiến địa thì xu thế chung đều là thu gọn và nhẹ dần. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:42:11 am NGHE - NHÌN Đà CÓ TỪ LÂU TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ Ngày nay, nói đến Nghe - Nhìn, người ta nghĩ đến Trung tâm nghe - nhìn (trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng và phương tiện thông tin đại chúng (Mass media) nói chung. Có biết đâu rằng, từ rất lâu, nó đã có mặt trong nhiều lĩnh vực. Bởi lẽ có hoạt động nào lại thiếu quan sát, việc làm gì lại không phải mắt thấy, tai nghe, nhất là trong chỉ huy chiến đấu trên chiến địa, một công việc luôn luôn phải trực tiếp với thế giới hiện thực vì nó liên quan đến sự tồn vong của đất nước, sự sống còn của nhân dân. Trong nghe - nhìn thì nghe có thể là gián tiếp, không cần tận tai mà chỉ cần qua mắt người khác, chứ nhìn thì phải trực tiếp, phải tận mắt của chính người chỉ huy; nghe có khi được cảm nhận từ một vật phát ra âm thanh dù có bị che khuất, còn nhìn phải thấy trực tiếp một vật hiện rõ dưới ánh sáng tự nhiên hay ánh sáng tự tạo. Do đó, nhìn đòi hỏi điều kiện cao hơn nghe. Chính vì thế mà nó giúp cho việc nhận thức về sự vật đạt chất lượng cao hơn, tạo điều kiện cho người chỉ huy xử trí tình huống được tốt hơn, sát hơn và kịp thời hơn. Từ đó, người xưa cho rằng: "Nhĩ văn bất như nhất kiến" (Tai nghe không bằng mắt thấy). Tục ngữ nhân dân ta cũng chấp nhận là "giàu hai con mẳt" chứ chưa bao giờ chấp nhận "giàu hai lỗ tai". Ngày nay, người ta thường nói đến việc nghe - nhìn trên phương tiện truyền thông. Tuy vậy, nhìn mới là chính, còn nghe chỉ nhằm làm rõ cho nhìn. Và như trên đã nói, nghe - nhìn là một nhu cầu bức thiết trong đấu tranh vũ trang, trong chỉ huy tác chiến. Nhưng thật ra, công việc đó không đơn giản chút nào. Thời cổ đại, ở phương Đông, người Hán chiến đấu trong đội hình "bát quái"; ở phương Tây, người Hi Lạp chiến đấu trong đội hình pha-lăng, người La Mã chiến đấu trong đội hình ma-níp. Các trận đánh diễn ra trên một không gian hẹp và một thời gian ngắn. Việc nghe - nhìn của người chỉ huy hoàn toàn trực tiếp bằng thính giác và thị giác. Các hiệu lệnh được phát ra bằng lời nói, bằng trống, cồng, chiêng (và sau này để âm thanh vang xa, người ta dùng kèn đồng) hoặc dùng màu sắc của cờ, của khói lúc ban ngày và ánh sáng của đèn, của lửa lúc ban đêm. Nhưng rồi lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, việc giải quyết chiến tranh không chỉ bằng một vài trận đánh bởi vì chiến địa ngày càng mở rộng, số quân tham chiến ngày một dồi dào. Ví như vào cuối thời Chiến Quốc (475 đến 221 trước công nguyên), tại hội chiến Trường Bình (- 260), hai bên đã huy động tới mấy trăm ngàn người. Khi chiến tranh chấm dứt, riêng số quân Triệu bị quân Tần chôn sống đã tới hơn 400 ngàn. Còn dưới thời La Mã (từ 753 trước công nguyên đến 476), tại hội chiến Can (- 216), lực lượng tham chiến hai bên cũng bao gồm 136 ngàn. Do số quân tăng lên, chiến địa mở rộng, thời gian tác chiến kéo dài trong khi người ta bắt đầu xem "việc binh là nghệ thuật dối trá"1 (Tôn Tử, Binh pháp thập tam thiên, Thiên Thủy kế) nên đã luôn luôn tìm cách "bưng tai, bịt mắt" nhau. Các bên tham chiến đánh lừa nhau bằng cách ngụy trang từ bộ quân phục đến toàn trận địa, làm động tác giả, dựng mưu lập kế, đưa đối phương vào bẫy để tiêu diệt. Những việc làm đó không chỉ ở qui mô chiến thuật mà còn ở qui mô chiến lược, qui mô cả cuộc chiến tranh nếu như các vị chỉ huy quân sự không tỉnh táo để nghe - nhìn. Trước đây, khi hai bên dàn quân, đối trận, tất cả mọi điểm mạnh, yếu của địch, ta đã được bày ra, những người chỉ huy cứ tai nghe, mắt thấy thế nào thì hạ quyết tâm thế ấy. Bây giờ không gian giao tranh đã không còn như cũ, muốn nghe, muốn nhìn cho rõ cũng rất khó mà nhịp độ chiến đấu lại khẩn trương. Mặt khác, chiến tranh lại bắt buộc phải nghe, phải nhìn sự thật đúng như nó có. Muốn vậy, việc đưa người đến gần đối phương để nghe, để nhìn, để tìm hiểu cụ thể tình hình là điều phải làm. Đó chính là nguyên nhân hình thành công việc của người lính trinh sát, của công tác quân báo. Nhưng đó chỉ là nội dung nghe - nhìn ở ngay chiến địa. Để hiểu rõ tình hình, việc nghe - nhìn của chiến trận phải đâu chịu dừng lại. Giới lãnh đạo chiến tranh nói chung, những người chỉ huy quân sự nói riêng còn muốn đi sâu vào "bếp núc" của nó nữa. Cho nên "cài người" vào hàng ngủ đối phương là cần thiết. Lịch sử các cơ quan tình báo thế giới như CIA của Mỹ, KGB của Liên Xô, 2e bureau của Pháp... đã cho ta những ví dụ sinh động. Nhiệm vụ của điệp viên không đơn giản là phục vụ cho từng trận đánh, từng chiến dịch mà là nghe - nhìn thấu suốt cả cuộc chiến tranh. Trong hàng ngũ địch, họ là những người giả điếc, giả mù nhưng trong hàng ngũ ta, họ là những người cực kì "thính tai", "tinh mắt". Ngày nay, trên thế giới có cuộc chiến tranh nào mà sự thắng lợi của nó lại thiếu phần nghe - nhìn của các điệp viên. Vũ Ngọc Nhạ ở Việt Nam trong cuộc Kháng chiến chống Mĩ (1955 - 1975), Ri-hác Gioóc-giơ ở Liên Xô trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941 - 1945) - người từng được tặng danh hiệu ''Người tình báo vĩ đại" - đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ muôn vàn khó khăn đó. Cùng với việc "nối dài giác quan" cho người chỉ huy quân sự bằng sức người, ở đây vai trò của khoa học - kỹ thuật cũng mỗi ngày một lớn. Ví như khi chiến trường bắt đầu mở rộng, để phục vụ cho việc nhìn được xa, người ta đã đặt những vọng lâu, những tháp canh trên tường thành trong phòng ngự hay trên chiến thuyền trong tiến công. Tiến lên một bước nữa, chiếc ống nhòm, chiếc pháo đối kính, chiếc kính đo xa được đưa vào chiến trận. Để phục vụ đắc lực cho việc nghe - nhìn của người chỉ huy qua thời gian, không gian, đến cuối thế kỷ XIX, người ta đã sử dụng điện báo - điện thoại. Sang thế kỉ XX, việc nghe - nhìn trong quân sự lại có thêm bước phát triển mới. Ban đêm, để nhìn cho rõ, người ta chiếu đèn pha, bắn pháo sáng. Và để giữ bí mật, thời gian gần đây, người ta nhìn đêm bằng kính hồng ngoại. Trong những năm đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), chiến tranh phát triển mạnh ở trên không, việc nghe - nhìn không thuận lợi một chút nào. Để nhanh chóng phát hiện sự xâm nhập của không quân, người ta đã sử dụng sóng điện từ. Từ đấy ra-đa ra đời. Ở dưới nước, để chống lại tàu ngầm, người ta dùng ra-đa thủy âm (xô-na). Mấy thập kỉ gần đây, việc nghe - nhìn còn được sử dụng đến máy bay không người lái, vệ tinh nhân tạo có lắp camêra. Trên không trung, chúng có thể truyền hình về mặt đất những kết quả đã thu lượm được. Qua màn ảnh nhỏ, người chỉ huy có thể trực tiếp nghe - nhìn mà truyền mệnh lệnh tác chiến. Tóm lại, nghe - nhìn đã có từ lâu trong hoạt động quân sự. Để phục vụ công việc tác chiến, lúc đầu người chỉ huy nghe - nhìn trực tiếp bằng tai, bằng mắt. Chiến địa mở rộng, thời gian tác chiến kéo dài, việc nghe - nhìn của người chỉ huy buộc phải gián tiếp qua người khác như trinh sát, quân báo và xa hơn nữa là qua điệp viên, tình báo. Trong việc nghe - nhìn trên chiến địa còn có sự đóng góp của khoa học - kỹ thuật như ra-đa trên không, trên đất liền, như xô-na trong lòng nước, như kính hồng ngoại để nhìn đêm, như camêra để truyền hình đi xa... và cao hơn, xa hơn nửa là máy bay trinh sát, là vệ tinh nhân tạo thám không... Quả là nghe - nhìn trong hoạt động quân sự không đơn giản. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:43:36 am MÂU THUẪN VÀ CAN QUA Trong sách "Cổ học tinh hoa " có truyện "bán mộc, bán giáo" (mộc dịch từ thuẫn, giáo dịch từ mâu): "Có người nước Sở làm nghề vừa bán mộc, vừa bán giáo. Ai hỏi mua mộc, anh ta khoe rằng: "Mộc này thật chắc chắn, không gì đâm thủng". Ai hỏi mua giáo, anh ta khoe rằng: "Giáo này thật sắc, gì đâm cũng thủng". Nghe nói, có người hỏi rẳng: "Thế bây giờ lấy giáo của bác đâm vào mộc của bác thì thế nào?". Anh ta không trả lời ra làm sao được"1 (Ôn Như Nguyễn Vân Ngọc - Từ An Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, Nxb Trẻ, Long An 1992, tr.28-29). Từ điển tích này, cặp từ gốc Hán mâu thuẫn, trong tiếng Việt hiện đại, được dùng với nghĩa là "trái ngược nhau, phủ định nhau"2 (Hoàng Phê (chủ biên), Sđd, Hà Nội - Đà Nẵng, 2000, tr.624). Xét về thuật ngữ quân sự cổ, mâu là một loại vũ khí để đâm, để tiến công; thuẫn là một loại phương tiện để đỡ, để phòng ngự nhưng trong giao tiếp ngày nay, cặp từ đó đã đi vào đời sống dân sự theo nghĩa như đã nói. Trong khi đó, cặp từ gốc Hán khác như can qua - can cũng là một loại phương tiện phòng hộ và qua cũng là một loại vũ khí tiến công - lại có nghĩa là "chiến tranh, giết chóc, loạn lạc" . Tại sao như vậy? Để giải thích hiện tượng này, chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử vũ khí lạnh thời cổ đại ở Trung Quốc. Mâu và qua là những vũ khí tiến công, đều được dịch ra tiếng Việt là giáo (hay móc). Bên cạnh đó, giáo trong tiếng Hán còn có bác, kích và thương. Thuẫn và can đều là loại phương tiện phòng hộ, cùng được dịch là mộc (hay khiên), gọi chung là tấm lá chắn. Cây giáo - loại vũ khí cơ bản này của người lính chiến - có một lịch sử rất dài. Chính vì vậy, trong tiếng Hán, nó được biểu hiện ra nhiều dạng tự với những tên gọi khác nhau ở từng giai đoạn cụ thể, tương ứng với từng loại vật liệu chế tạo ra nó. Tiền thân cây giáo là chiếc gậy bằng gỗ, loại vũ khí thông dụng đương thời và cả cho đến tận bây giờ. Dần dần, để nâng cao hiệu qủa sát thương, người ta cắm vào đầu gậy những mẩu đá nhọn, những mảnh xương thú và đến khi kim loại ra đời, người ta đã thay vào đấy những mũi nhọn bằng đồng rồi bằng sắt. Đó chính là chiếc mâu. Đến lúc ấy, chiếc giáo mới hoàn chỉnh, chính thức trở thành vũ khí cơ bản của người lính chiến trong giai đoạn đầu thời đại bạch khí với nét đặc trưng là chỉ dùng mũi nhọn để sát thương qua động tác đâm bằng sức mạnh của hai cánh tay, đẩy nhanh đầu vũ khí về phía trước. Bởi vậy, trong "Hán - Việt từ điển", Đào Duy Anh định nghĩa: mâu là "một thứ binh khí cổ, có cán dài, mũi nhọn". "Từ điển tiếng Việt" của Hoàng Phê (chủ biên) thêm "dùng để đâm". Và khi đầu nhọn chiếc mâu được tạo theo hình con rắn thì người ta gọi là xà mâu. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, người Pháp gọi cây giáo là lance, là pique - nghĩa đen là vật để lao, để phóng, để đâm. Thuẫn thì ai cũng rõ, còn can ? Đây cũng là loại vũ khí cổ, lúc đầu làm bằng chạc cây. Nó có thể dùng đè cổ người hoặc dã thú. Cách sử dụng can rất linh hoạt, phần thân cây có thể làm vũ khí để đánh, để tiến công như một chiếc gậy nhưng phần chạc cây lại có thể ngăn chặn đòn tiến công của đối phương, nghĩa là để đỡ, để phòng ngự như một tấm mộc. Bởi thế, trong thư tịch cổ, can cũng chỉ thuẫn. Bây giờ chúng ta tìm hiểu đến từ qua. Theo lịch sử, cuối thời Xuân Thu, khoảng thế kỷ V trước công nguyên, Trung Quốc bắt đầu có sắt. Sang đầu thời Chiến Quốc, khoảng thế kỷ IV trước công nguyên, cày sắt, rìu sắt xuất hiện. Rừng rú được khai phá. Sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh. Dân số tăng nhanh. Sau đó, khoảng một trăm năm nữa, vào thế kỷ III trước công nguyên, vũ khí sắt ra đời. Trên cơ sở chất liệu của sắt, người ta có thể sản xuất được loại vũ khí mỏng, sắc, đủ khả năng chém đứt cơ thể đối phương. Từ chiếc mâu, chiếc qua, lâu nay vẫn được chế tạo bằng chất liệu đồng và có tên gọi chung là bác đồng, "Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân" thì giờ đây được chế tạo bằng chất liệu sắt. Chiếc mâu vốn là một loại vũ khí chỉ dùng để đâm thẳng. Để nâng cao hiệu quả sát thương của loại vũ khí này, người ta chuyển phần mũi nhọn kim loại, lâu nay vẫn lắp theo chiều dọc, vào vị trí vuông góc với cán gỗ ngõ hầu có thể đánh ngang và móc. Thế là chiếc qua ra đời. Do cách cấu tạo, loại vũ khí này còn có tên gọi "chiếc kích bằng đầu”. Cũng như mâu, về dạng tự, qua được viết theo phép tượng hình: phía trên là chiếc mũi nhọn để ngang (-), tạo thành cái móc, phía dưới là cán có buộc dây, thắt vào tay người lính khi lâm trận, không sợ mất vũ khí. So với mâu, loại vũ khí mới này hơn hẳn về tính năng tác dụng. Thế nhưng người ta đâu có chịu dừng mà còn cải tiến chiếc qua thành chiếc kích. Trên đại thể, kích cũng được cấu tạo tương tự như qua. Bởi thế, về dạng tự, kích vẫn thuộc bộ qua. Chỉ có điều là nó không "bằng đầu" như qua mà ở đây có một mũi nhọn. Thêm vào đấy, kích còn có hai mũi nhọn chĩa ra hai phía, vì vậy, hiệu quả chiến đấu của nó lớn hơn qua. Nó vừa đánh ngang như lưỡi dao, vừa bổ xuống như lưỡi rìu lại vừa móc, lôi đối phương lại gần để sát thương như chiếc lưỡi câu lớn... Có lẽ vì vậy mà thư tịch cổ Trung Hoa đã miêu tả nhiều về nó. Sách "Ngọc Thiên" viết: "Kích là vũ khí có ba lưỡi mác". Sách "Tả Truyện" cũng viết: "Dùng kích câu nó lại, cắt tay và giết đi". Đến đây có điều đáng nói là dạng tự của kích. Khi bàn về từ nguyên của nó, Lý Lạc Nghị cho rằng kích "có sức sát thương mạnh nên thêm nhục" - nghĩa là thịt - vào bên trái chữ qua. Thế nhưng ngay sau đó, sang dạng tự khải thư, kích vẫn được ghi như dạng tự truyền thống trên sách báo chữ Hán. Như vậy, bộ phận bên trái hiện nay của từ kích được dùng thay cho bộ phận nhục, như đã nói, của từ đó trong dạng tự kim văn không thể hiện rõ hết tính chất của cây kích, một thứ vũ khí được cải tiến, phát triển trên cơ sở cây qua. Trong trường hợp này, dạng tự của Gustave Hue - một nhà Hán học người Pháp - có lẽ thỏa đáng hơn. Theo tác giả, chữ kích được hình thành theo phép hội ý, bên trái là chứ trác, nghĩa là tuyệt vời, rất xuất sắc, không gì bằng, quá sức tưởng tượng - và bên phải là chữ qua. Cách viết theo dạng tự kiểu này, kích, có nghĩa là trác qua, "chiếc giáo tuyệt vời". Thế là với tư cách một loại vũ khí mới, đến thế kỉ III trước công nguyên, kích được trang bị rộng rãi và trở thành vũ khí cơ bản nhưng rất lợi hại của người lính lúc bấy giờ. Điều đó đã làm cho sức chiến đấu của bộ binh mạnh thêm. Đồng thời ở Trung Quốc, kị binh cũng ra đời, dựa theo cách cưỡi ngựa của dân du mục phía Bắc. Từ đó, người Hán chuyển chiến thuật bộ binh - chiến xa (dùng ngựa kéo) sang chiến thuật bộ binh - kị binh (dùng ngựa cưỡi). Cũng chính từ thế kỉ này, ở Trung Quốc mới có vài ba nước như Tề, Sở, Tần đủ sức mạnh vũ lực để nghĩ tới việc thâu tóm toàn bộ đất nước vào tay bằng can qua. Và thế là, chiến tranh được đẩy mạnh, được mở rộng với cường độ lớn nhất trong lịch sử của vùng lục địa bao la này, tính đến thời điểm ấy. Tóm lại, mâu chỉ là một loại vũ khí đâm thẳng, dù chế tạo bằng chất liệu gì nên sức sát thương không cao. Thuẫn chỉ thuần túy là phương tiện phòng hộ. Còn can thì không những là phương tiện phòng hộ mà lại còn có thể dùng làm vũ khí tiến công. Khi qua ra đời, nhất là khi được chế tạo từ chất liệu sắt và được cải tiến thành kích thì hiệu quả sát thương được nâng lên rõ rệt khiến cho sự giết chóc, tàn sát diễn ra một cách ghê rợn. Vì vậy mà từ đấy, can qua được xem như đồng nghĩa với loạn lạc, với chiến tranh. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:44:26 am MŨI NHỌN Hiện nay trên sách báo người ta thường viết: "Tin học, dầu khí, điện lực, giao thông vận tải... là những ngành kinh tế mũi nhọn." Vậy mũi nhọn là gì mà người ta lại dùng từ này để xác định tính chất của các ngành kinh tế trên? Theo Từ điển tiếng Việt, mũi nhọn là: "Bộ phận lực lượng đi đầu, chiến đấu, đấu tranh mạnh mẽ theo một hướng nhất định. Mũi nhọn tiến công. Chĩa mũi nhọn đấu tranh. Tổ mũi nhọn. Ngành sản xuất mũi nhọn". Thật ra, sự giải thích này chỉ mới nói được nghĩa phái sinh của mũi nhọn. Phải tách đôi cặp từ, chúng ta mới có thể làm rõ được nghĩa thực của nó. Mũi: bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số vật. Mũi tên. Mũi kéo. Nhọn: có phần đầu nhỏ dần lại như hình mũi kim để đâm thủng vật khác. Gai nhọn. Vót chông cho nhọn. Qua các đoạn văn vừa nêu, chúng ta thấy mũi nhọn đã đi sát được nghĩa ban đầu qua ba ý chính, về hình dáng: bộ phận có phần đầu nhỏ dần lại như hình mũi kim; về vị trí: nhô ra phía trước của một số vật; về công dụng: đâm thủng vật khác. Như vậy, nghĩa ban đầu đã giúp ta hiểu được mũi nhọn là bộ phận chính của công cụ bạo lực, thường là vũ khí lạnh, như gươm, giáo, lao... để sát thương địch thủ khi giao chiến bằng động tác đâm. Sách báo Trung Quốc cũng ghi: "Vũ khí lạnh đối lập với vũ khí nóng (vũ khí dùng thuốc nổ) chủ yếu dựa vào mũi nhọn của bản thân mình để sát thương quân địch". Mũi nhọn, tiếng Hán gọi là phong trong từ giao phong, nghĩa là đối chọi nhau, như giao tranh, giao chiến... Nghĩa đen của từ này là: qua lại với nhau bằng mũi nhọn. Phong bao gồm kim, chỉ kim loại và phong chỉ thanh. Bắt đầu từ phong là mũi nhọn, tiếng Hán có phong đích là mũi dao (vũ khí đánh gần) và mũi tên (vũ khí đánh xa), cũng có nghĩa khái quát là chiến tranh; phong lợi, là vũ khí sắc bén; xung phong, là xông tới bằng mũi nhọn, xung phong thương, là súng tiểu liên: phong mang, là mũi dao, cũng có nghĩa là mũi nhọn đấu tranh. Như vậy, mũi nhọn, tiếng Hán còn gọi là mang như vừa nêu. Từ này gồm hai phần: mang là đọt nhọn của cỏ cây, là đòng đòng của cây lúa và kim là kim loại. Với nghĩa trên, trong lịch nông nghiệp có từ mang chủng với nghĩa chủng là hạt giống. Mang chủng nghĩa là giống lúa đã có đòng rồi nảy hạt. Người làm ruộng gọi là phơi đòng hay chắc hạt. Từ này thường được ghi vào các ngày 5, 6 hoặc 7 tháng 6 trên tờ lịch mặt trời. Mũi nhọn, tiếng Hán còn thêm tên gọi nữa là tiêm trong tiêm đao, là dao nhọn, tiêm binh, là đội mũi nhọn. Nó khác với tiêm là tiêu diệt trong tiêm kích cơ, là máy bay tiêm kích, tiêm diệt chiến là đánh tiêu diệt. Đến đây, một vấn đề được đặt ra là tại sao mũi nhọn lại là bộ phận chủ yếu của vũ khí lạnh? Như lịch sử quân sự đã ghi lại, kim loại ra đời, xã hội loài người mới có của thừa. Hiện tượng này đã khêu gợi lòng tham, làm nảy sinh ý định chiếm đoạt của những kẻ xấu. Từ đó, xung đột vũ trang rồi chiến tranh ra đời. Để tiến hành chiến tranh, loại công cụ được sử dụng đầu tiên là vũ khí lạnh bằng đông từ dưới thời Tây Chu (độ thế kỷ XI - 771 trước công nguyên) trở đi. Loại chất liệu chế tạo vũ khí lúc ấy tuy cứng, nhất là khi được pha thêm thiếc, nhưng không sắc, chỉ có thể đâm thủng mà không thể chém đứt cơ thể đối phương như kim loại sắt sau đó. Do điều kiện vật chất như vậy, vũ khí lạnh thường được tạo dáng với mũi nhọn ở phía trước để hạ sát đối phương bằng động tác đâm như cây giáo - loại vũ khí cơ bản của người lính bộ binh - được sử dụng tới 2.800 năm trên phạm vi toàn thế giới. Ngay cả đến nửa cuối thế kỷ XVII, khi vũ khí nóng cầm tay được trang bị rộng rãi cho quân đội nhiều nước châu Âu, chiếc lưỡi lê cắm trên đầu súng vẫn góp phần không nhỏ vào việc kết thúc trận đánh bằng mũi nhọn của mình. Thậm chí khi kim loại sắt ra đời, lưỡi kiếm sắc có thể chém đứt cơ thể đối phương nhưng phía trước loại vũ khí này cũng vẫn cứ là một mũi nhọn. Vì có một vị trí to lớn trong thời đại vũ khí lạnh mà người Pháp cho rằng: "Mũi nhọn rất quí giá nên được bảo vệ chu đáo. Khi tuốt kiếm, nó ra sau cùng và khi tra kiếm, nó vào trước nhất". Sở dĩ mũi nhọn được trở thành bộ phận chủ yếu của vũ khí lạnh để sát thương vì hai nhân tố: Thứ nhất là do áp suất dồn lên trên diện tích đầu mũi nhọn. Là đại lượng vật lý, áp suất có trị số bằng áp lực trên một đơn vị diện tích. Cùng một áp lực, diện tích càng nhỏ thì áp suất càng lớn. Mũi nhọn là diện tích tiếp xúc thu nhỏ lại thành cực tiểu, chỉ còn một điểm, khiến áp suất trở thành cực đại. Đầu mũi nhọn càng nhỏ bao nhiêu, động tác đâm của người lính khi giao chiến càng thuận lợi bấy nhiêu. Cho nên mài sắc, khiến cho đầu mũi nhọn của vũ khí thu nhỏ lại là việc làm thường xuyên của người lính bộ binh dưới thời đại vũ khí lạnh. Thứ hai là do sức đẩy, đưa mũi nhọn lao tới đích. Đầu mũi nhọn càng nhỏ, hiệu quả sát thương của vũ khí càng lớn nhưng lại phải có sức người tác động. Thiếu sức người, vũ khí không thể phát huy được tác dụng. Sử dụng vũ khí có mũi nhọn, nhất thiết phải thực hiện động tác đâm. Để thao tác, người lính khom lưng, dùng sức đẩy, dồn hết sức mạnh của toàn thân vào mũi nhọn nên có thể duy trì được quá trình đó trong một thời gian dài, trên một không gian rộng. Trái lại, khi sử dụng các loại vũ khí có trọng lượng lớn như rìu, chùy... thì người lính lại phải thực hiện động tác bổ từ trên xuống hoặc khi sử dụng các loại vũ khí có lưỡi sắc như gươm, dao... thì người lính phải dùng động tác chém, có thể từ trên xuống dưới, có thể phạt ngang... Do tư thế thao tác khó khăn, khổng thuận lợi như ở động tác đâm, nên những động tác này của người lính chỉ diễn ra trong chốc lát, trên một không gian hết sức hạn hẹp với sức lực chỉ riêng của đôi tay và có chăng một phần nào của toàn cơ thể. Như đã trình bày, chúng ta, ít nhiều cũng đã thấy được mũi nhọn là bộ phận chủ yếu của vũ khí lạnh - tồn tại ở chiến địa ngót 2.800 nám trên phạm vi toàn thế giới. Cho đến khi hỏa khí cầm tay ra đời, lưỡi lê, với mũi nhọn cắm trên đầu khẩu súng trường - còn tồn tại thêm 300 năm nữa. Chỉ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), khẩu tiểu liên mới phủ định hoàn toàn khẩu súng trường với chiếc lưỡi lê, cũng là phủ định thế hệ thứ hai của vũ khí lạnh. Nhưng với vai trò thích đáng của mình trong chiến tranh hơn ba thiên niên kỉ, "mũi nhọn” đã đi vào đời sống dân sự một cách nhẹ nhàng và có mặt trên sách, báo cho đến ngày nay với cách hiểu "những ngành kinh tế mũi nhọn" là những ngành kinh tế chủ yếu, ở vị trí hàng đầu. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:45:22 am TẤM LÁ CHẮN THỜI CỔ ĐẠI Tiến công và phòng ngự vốn là hai hình thức tác chiến cơ bản trong toàn bộ lịch sử quân sự loài người. Muốn tiến công, phải dùng vũ khí nhưng để phòng ngự thì phải dùng phương tiện phòng hộ, mà loại hình đầu tiên chính là tấm lá chắn. Đây là một thứ phương tiện phòng hộ cá nhân thô sơ, giản dị nhất nhưng lại có một lịch sử rất lâu dài và muôn hình muôn vẻ. Bởi thế, đến tận bây giờ, trên đường phố hiện đại ở các nước tư bản, người ta vẫn còn thấy những tấm lá chắn - làm bằng chất liệu com-pô-dít, trong suốt - che chắn cho bộ mặt hung dữ của những tên lính cảnh sát vũ trang, lăm lăm cầm dùi cui, đứng trước các đoàn biểu tình chống đối giới cầm quyền vi phạm lợi ích của nhân dân lao động. Ngay từ khi các quân đội đầu tiên trên thế giới ra đời, tấm lá chắn đã có mặt trong thành phần trang bị của người lính chiến, ở phương Đông có thể kể đến loại phương tiện này trong quân đội các nhà nước "Ngũ bá” thời Xuân Thu và các nhà nước "Thất hùng" thời Chiến Quốc. Tiếc rằng những tư liệu ghi chép về chúng ở vùng này còn lại không nhiều. Phải chăng sách vở bị thất truyền hay các nhà sử học quân sự đương thời cho rằng vũ khí mới là quan trọng còn phương tiện phòng hộ chỉ là thứ yếu? Trái lại, tấm lá chắn ở trong các quân đội vùng Lưỡng Hà, vùng lưu vực sông Nin và vùng Bắc Địa Trung Hải, được mô tả đầy đủ hơn. Thực ra, trong hành động chiến đấu cá nhân người lính, tiến công cũng như phòng ngự đều phải được "đối xử bình đẳng" như nhau. Nếu sát thương địch mà không biết tích cực bảo vệ mình, "ngộ nhỡ ra" thì làm sao người lính có thể tiếp tục hoàn thành được nhiệm vụ. Hãy cứ cho rằng thành lũy là phương tiện phòng ngự cho một cộng đồng người, một tập đoàn tác chiến thì tấm lá chắn chính là phương tiện phòng hộ cá nhân cho từng người cầm vũ khí, kể từ khi chiến tranh bắt đầu xuất hiện trên hành tinh của chúng ta. Dưới thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc, tấm lá chắn được trang bị cho những người lính chiến đấu trên xe chiến - phần lớn thuộc giai cấp chủ nô - dù phía trước xe đã có hẳn một tấm lá chắn lớn. Còn những binh lính đi bộ phía sau, yểm hộ cho xe chiến, là những đồ binh (nghĩa đen là lính đi bộ, không mang vũ khí) - được bổ sung từ nô lệ - thì trang bị rất sơ sài, thiếu phương tiện phòng hộ, thậm chí tấm lá chắn che thân cũng không có. Những tấm lá chắn trên xe chiến có hình dạng tựa như chiếc mu rùa, làm bằng gỗ, có khi là cả một tấm ván dày, lại có khi được ghép từ nhiều thanh gỗ cứng. Nếu như ở phương Đông, tấm lá chắn chỉ là một chiến cụ sơ sài đơn giản thì trái lại, ở phương Tây nó lại được thiết kế khá kĩ càng, và được sử dụng một cách "bài bản" hơn. Trước hết là về hình dáng và chất liệu. Trong quân đội Ai Cập cổ đại, tấm lá chắn chỉ làm bằng gỗ nhưng trong quân đội Át-xi-ri, tấm lá chắn có hình dáng gọn ghẽ hơn - thường là hình mu rùa hoặc hình lá nho - và được chế tạo tốt hơn. Không những làm bằng gỗ mà bên ngoài, tấm lá chắn còn được bọc da thuộc hoặc dạ thô. Trong quân đội Ba Tư, tấm lá chắn không còn bằng chất liệu gỗ nữa mà phần lớn được đan kết bằng những vòng sắt. Trong quân đội Hi Lạp - một quân đội dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ - tất cả những người đàn ông tự do làm nghĩa vụ quân sự được tổ chức thành bộ binh nặng. Ban đầu, toàn bộ các lực lượng vũ trang đều chỉ là loại bộ binh này. Về sau, khi bộ binh được bổ sung thêm bộ binh nhẹ và kị binh thì bộ binh nặng trở thành nòng cốt, một binh chủng quyết định kết cục của trận đánh. Bên cạnh tấm lá chắn lớn, bằng gỗ bọc da, đủ che kín người, bộ binh nặng còn được trang bị giáp che ngực - phương Đông gọi là hộ tâm phiến và chỉ những người chỉ huy mới có. Thế nhưng rồi do mối đe dọa khủng khiếp về cuộc xâm lăng của quân Ba Tư, tình hình đã đòi hỏi phải tăng thêm một số người làm nghĩa vụ quân sự. Trong danh sách những người đàn ông tự do, bây giờ đã phải ghi thêm cả những người đàn ông thuộc giai cấp nghèo khổ nhất trong dân cư. Những người này được tổ chức thành bộ binh nhẹ. Loại bộ binh này hoàn toàn không có phương tiện phòng hộ và có chăng thì cũng chỉ độc một tấm lá chắn nhỏ. Còn trong quân đội Xpác-tơ, tấm lá chắn của người lính lại có dây quàng vào cổ hoặc buộc chặt vào cánh tay trái để hai bàn tay có thể sử dụng vũ khí được dễ dàng. Người dân ở đây rất xem trọng tấm lá chắn trong chiến trận. Họ coi người lính sau khi bị thất bại mà đánh mất tấm lá chắn là một điều hết sức sỉ nhục. Việc giữ gìn được loại phương tiện phòng hộ này là một bằng chứng để nói lên rằng cuộc rút lui đã diễn ra hoàn toàn có trật tự. Toàn chấp kích đội đã trở thành một khối. Còn như những tên lính chạy lẻ, mong trốn thoát lấy thân thì tất nhiên phải tìm cách vứt tấm lá chắn nặng nề đi cho nhẹ mình, vì thế, bằng mọi giá, người lính phải giữ cho được thứ phương tiện phòng hộ này. Trong quân đội La Mã, tấm lá chắn bằng gỗ lại được tạo dáng theo hình cong cong, dài khoảng 4 phút (1, 2m), rộng khoảng 2 phút rưỡi (0,75m), bọc da, có đóng đinh sắt. Ở chính giữa có gờ nổi lên để gạt những mũi nhọn của vũ khí lạnh từ phía đối phương xốc tới. Đến đây, có điều cần nói là khi sự chiếm đóng của A-ten được mở rộng, những đơn vị bộ binh nhẹ đã có thêm lực lượng bổ sung, thậm chí còn có cả lính đánh thuê. Từ đó - nhất là từ khi mà tính cơ động hầu như bắt đầu được xem là một thành phần đáng kể trong chiến thuật - người ta đã xây dựng thêm một loại binh chủng trung gian giữa bộ binh nhẹ và bộ binh nặng, vì thế, cách sử dụng tấm lá chắn đã không còn đơn giản như trước nữa. Cho đến thời điểm ấy, trong đội hình chiến đấu của quân đội Hi Lạp, bộ binh nhẹ thường đứng sau bộ binh nặng. Và như trên đã nói, phương tiện phòng hộ của họ hầu như không có gì ngoài tấm lá chắn nhỏ - tiếng Hi Lạp gọi là pen-ta - nên họ có tên gọi là những pen-tát. Thế nhưng thực tế chiến trận của hội chiến Ma-ra-tông (-490) và đặc biệt là hội chiến Lớt (-371), vai trò chủ đạo của bộ binh nặng hầu như đã bị giảm sút - vì khó cơ động - nên các thủ lĩnh quân sự Hi Lạp đã "nâng cấp" trình độ tác chiến của bộ binh nhẹ lên một bước mới bằng cách trang bị cho họ những chiến cụ nhẹ như thay thế tấm lá chắn nhỏ kiểu cũ bằng tấm lá chắn lớn cùng thanh kiếm sắc nhọn và huấn luyện cho họ về sự vận động của đội hình với những nhịp bước nhanh mà trước đó ngay cả bộ binh nặng cũng không thể nào làm nổi. Điều đó khiến cho loại binh chủng này phát huy được hết tính tích cực của mình. Bởi thế, bộ binh nhẹ của A-ten đã được dư luận đánh giá cao về tinh thần tháo vát và sự mau lẹ trong khi hạ quyết tâm chiến đấu cũng như khi thực hiện những quyết tâm ấy. Với những trang bị mới, bộ binh nhẹ đã đủ khả năng chiến đấu theo đội hình tuyến dài và khi cần thiết có thể tiến công hoặc phòng thủ các vị trí đã đánh chiếm được. Thậm chí, bộ binh nhẹ còn có thể lợi dụng địa hình mấp mô, lồi lõm để đánh bại ngay cả các chấp kích đội của Xpác-tơ cũng như các cỗ xe chiến, loại chiến cụ giữ vị trí then chốt trên chiến địa ở thời điểm ấy. Đặc biệt khi xung phong, đội hình chiến đấu khối dọc của bộ binh nhẹ còn được tổ chức thành những hàng phía ngoài, giơ tấm lá chắn ra phía trước và những hàng phía trong thì nâng cao tấm lá chắn lên che kín đầu. Tất cả tạo nên một mái che ngăn cản những mũi tên hay những viên đạn đá của quân địch. Sự cải tiến bộ binh nhẹ lại được phát triển thêm sau khi A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan trở thành thống soái quân sự Hi Lạp. Loại binh chủng này được xuất hiện dưới một hình thức mới, hoàn thiện hơn. Tuy chỉ là những đội quân vác tấm lá chắn trên dọc trận tuyến đối phương, bộ binh nhẹ vẫn có đủ khả năng thực hành những sự vận động theo qui tắc trong đội hình của chấp kích đội và đóng vai trò một loại bộ binh trung gian, có thể ít nhiều thích ứng với những hoạt động trong đội hình dày đặc cũng như trong đội hình phân tán để khuếch trương chiến quả đã giành được trong quá trình tác chiến. Ở thời điểm ấy, trong trường hợp giao chiến với một đội quân mạnh, người ta không tổ chức bộ binh cơ động vì bộ binh nặng không đủ khả năng đảm nhiệm. Và để làm công việc đó, A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan đã tổ chức ra đội kị binh của mình. Bởi vậy, cánh quân làm nhiệm vụ tiến công là kị binh nặng. Cùng phối hợp chiến đấu với kị binh là các đội quân vác tấm lá chắn. Những đội quân này tiến sau kị binh và lao vào những lỗ hổng mà kị binh đã đột phá, củng cố thắng lợi đã đạt được ở các vị trí mà quân địch vừa rút chạy. Do đó, sau khi đã đánh chiếm được phần trung tâm của vương quốc Ba Tư, A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan đã sử dụng bộ binh nặng chủ yếu để làm nhiệm vụ đóng giữ những thành phố đã chiếm được. Nhưng rồi loại bộ binh chậm chạp này cũng đá nhanh chóng biến khỏi đạo quân đầy những cuộc hành quân dũng cảm và thần tốc của vị thống soái quân sự Hi Lạp kiệt xuất dưới thời cổ đại. Để rồi khi tiến sang phía đông, đạo quân viễn chinh của A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan chỉ bao gồm các binh chủng chủ yếu: kị binh, bộ binh nhẹ, những người lính vác tấm lá chắn. Cùng với vũ khí, dưới thời Hùng Vương, người Việt Nam cũng đã biết sử dụng tấm lá chắn trong chiến đấu. Ngày nay, chúng ta biết đến sự tồn tại của loại phương tiện phòng hộ này chủ yếu là nhờ những hình khắc trên trống, thạp đồng Đông Sơn. Trên hầu hết những chiếc trống đồng có niên đại sớm được trang trí hoa văn tả thực như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà, Miếu Môn... đều tìm thấy những chiến binh cầm lá chắn trong tay. Họ được khắc họa đông đảo nhất ở phần lưng trống. Lưng trống Ngọc Lũ chia thành sáu ô chữ nhật, trong mỗi ô có hai người đều tay cầm rìu chiến, tay cầm lá chắn. Lưng trống Hoàng Hạ cũng chia sáu ô, mỗi ô có hai người cầm rìu chiến và lá chắn tương tự lưng trống Ngọc Lũ. Trống Miếu Môn II, ở lưng có tám ô, trong đó có năm ô, mỗi ô có một người cầm rìu chiến và lá chắn, một ô có người một tay cầm lá chắn, một tay xòe múa. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:46:00 am Trên những thuyền chiến khác trên tang trống, cũng có một số người cầm lá chắn, ở trống Hoàng Hạ, người ngồi ở mũi thuyền cầm lá chắn, tay kia cầm rìu chiến hoặc cầm giáo. Trên thuyền ở tang trống bản Thôm cũng có người cầm lá chắn. Nhưng có lẽ chiến binh được trang bị lá chắn đứng trên thuyền được khắc họa rõ ràng hơn cả là trên thạp Đào Thịnh.
Những tấm lá chắn trong tay các chiến binh đứng trong các ô chữ nhật ở phần lưng các trống đồng, cơ bản có hình dáng giống nhau. Chúng được thể hiện thành những hình chữ nhật đứng và cạnh ngoài có hai vạch thẳng song song, trên mặt là những đoạn vạch ngang song song, phủ gần hết chiều dài. Đầu trên có tua kéo dài, có chiếc có cả mào nhô lên, đầu dưới hơi vát xiên, khắc hình hồi văn. Những tấm lá chắn này bao giờ cũng có chiều dài hơn hẳn chiều cao thân người. Vị trí tay cầm ở thấp, gần phía đầu dưới. Những tấm lá chắn trên tay chiến binh ở thuyền chiến trên thạp Đào Thịnh được thể hiện khác hẳn như trên các trống đồng. Chúng gồm hai phần: phần dưới - thân lá chắn - hình chữ nhật dài, nửa đầu thu nhỏ, chiều dài bằng khoảng chiều cao thân người; phần trên có hình giống như chiếc lông chim hay bông lau cắm vào phần thân dưới, kéo dài vút lên cao, chiều dài gấp rưỡi, gấp đôi chiều dài phần dưới. Đây là bộ phận trang trí của tấm lá chắn, tương tự như vật trang trí trên đầu người chiến binh. Điều dễ nhận biết là tính ổn định, nhất quán trong cách sử dụng lá chắn. Tấm lá chắn gần như lúc nào cũng đi kèm với rìu chiến. Trường hợp sử dụng cùng với giáo, lao là rất hiếm và cũng không thật phổ biến. Tấm lá chắn bao giờ cũng được cầm trong tay trái người chiến binh và bao giờ cũng ở vị trí trước mặt. Cách cầm như vậy là hoàn toàn thích hợp với chức năng của phương tiện phòng hộ này. Trong một vài trường hợp, như trên lưng trống Sông Đà, không thấy chiến binh cầm rìu chiến hay cầm một thứ vũ khí nào khác nhưng tay trái thì vẫn giơ tấm lá chắn ra phía trước và tay phải vẫn ở vị trí phía sau, xòe ra như múa hay cầm một vật hình đầu chim. Ngược lại ở một số trường hợp khác lại chỉ thấy chiến binh cầm rìu chiến mà lại không thấy lá chắn đi cùng. Dù sao những sự thiếu đồng bộ này cũng không phổ biến, chỉ là những ngoại lệ. Quan sát kĩ những hoa văn trên tang và lưng trống đồng, chúng ta thấy không khí chiến đấu rất rõ rệt. Những tấm lá chắn xuất hiện chính trong khung cảnh sẵn sàng chiến đấu này khẳng định rõ vai trò của chúng là một loại chiến cụ phổ biến và quan trọng trong tay các chiến binh Đông Sơn. Loại lá chắn này được chế tạo từ chất liệu gì, hầu như đến bây giờ chưa có một câu trả lời nào chính xác. Một bằng chứng duy nhất tuy còn đầy hoài nghi là tấm lá chân được tìm thấy trong ngôi mộ thuyền của một thủ lĩnh người Lạc Việt ở Việt Khê (Hải Phòng). Đây là một mảnh da hình chữ nhật không còn nguyên vẹn. Kích thước khoảng 90 X 40 cm. Bề mặt tấm da được sơn hai lớp màu đen, trang trí bốn cặp hoa văn vòng tròn đồng tâm, vẽ bằng sơn màu đỏ gạch và xám. Đường kính vòng ngoài cùng là 19cm. Mảnh da có hình hơi cong, khum theo hình mu rùa, kích thước tương đối lớn, khá thích hợp trong việc dùng làm lá chắn. Các nhà nghiên cứu còn chú ý đến hiện tượng khá trùng hợp giữa tấm lá chắn bằng da ở Việt Khê và hình khắc trên thạp Đào Thịnh. Trên thạp, người ta thấy hình một tấm lá chắn chữ nhật, trên mặt trang trí ba vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến, phần nào gần gũi với hoa văn trên tấm lá chắn Việt Khê, như vừa nêu. Sự trùng hợp này cho chúng ta khẳng định rõ chức năng của tấm da Việt Khê. Cũng như phần lớn tấm lá chắn thời cổ đại trên phạm vi toàn thế giới, lá chắn thời Hùng Vương thường bằng gỗ - nên sau này có tên gọi là mộc. Đây là những vật liệu sẵn có và dễ chế tạo. Tấm lá chắn còn được người Việt Nam gọi là khiên. Trong khi đó, người Pháp gọi chung tấm lá chắn là bouclier. Loại phương tiện này - như vừa nêu - đan bàng mây! Giống như mộc, khiên có thể là một từ Hán, có nghĩa là vai - như khiên chương, cấp hiệu trên vai (épaulette) và đã được Việt hóa. Ai cũng hiểu, tấm lá chắn nhất thiết phải làm bằng chất liệu rắn chắc, nặng trĩu mới có thể chống đỡ được những cú đòn mạnh mẽ của địch thủ, nên dù sức vóc cao lớn của người lính Hi Lạp, họ vẫn phải dùng dây quàng lên cổ hoặc phải buộc chặt vào cánh tay. Ở người lính La Mã cũng vậy. Tấm giáp che ngực, to chừng 3 dm2 được buộc vào áo giáp bằng dây quàng qua vai khi xung trận. Bởi vậy, với sức vóc nhỏ bé như người lính của chúng ta thì việc "khoác lên vai” để chiến đấu cũng là lẽ đương nhiên. Như thế đó, "mộc" xuất phát từ "gỗ" còn "khiên" xuất phát từ "vai", một đàng gọi tên theo chất liệu chế tạo và một đàng gọi tên theo phương pháp sử dụng. Từ "khiên" (vai), tiếng Việt (chữ Nôm) có một biến âm sang từ "khiêng" - nghĩa là dùng vai của hai hoặc nhiều người qua những chiếc đòn để di chuyển đồ vật nặng - trong thành phần cấu tạo từ này có từ "khiên". Chuyện về tấm lá chắn còn khá dài, đây mới chỉ là "khúc nhạc dạo đầu" về những phương tiện phòng hộ cá nhân của người lính chiến. Tiếp theo tấm lá chắn còn có các phương tiện phòng hộ che ngực (hộ tâm phiến), che đầu (trụ), che toàn thân (giáp)... giúp bạn đọc hiểu thêm nhiều điều thú vị. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:47:20 am TỪ HỘ TÂM PHIẾN ĐẾN GIÁP TRỤ Nếu như tấm lá chắn là loại phương tiện phòng hộ cá nhân một cách tự phát của người lính ở thời đại vũ khí lạnh thì hộ tâm phiến và giáp trụ lại là loại phương tiện có tính toán khá kĩ lưỡng. Đúng như tên gọi, những tấm mộc, tấm khiên bằng gỗ, dưới sự điều khiển của vai và cánh tay người lính thường chỉ đủ sức che chắn được đòn tiến công của đối phương ở từng phía trên chiến địa. Qua thực tế chiến đấu, loại phương tiện này ngày càng lộ rõ những nhược điểm, không thể nào khắc phục được. Ví như khi những mũi giáo, mũi tên lao tới, người lính chỉ có thể vươn mình ra, chống đỡ về một phía nhất định mà trên chiến địa, đòn tiến công lại luôn luôn đến từ nhiều phía. Không những thế, từ tấm lá chắn đến mình người lính - dù chỉ là gang tấc - vẫn có một khoảng cách. Đó chính là chỗ rất sơ hở, vũ khí đối phương có thể lách vào để gây hại. Ai cũng biết rằng cơ thể con người chia làm ba phần thì trong giao tranh, đầu và chân tay là những mục tiêu sát thương có diện tích nhỏ, lại luôn cử động. Trái lại, mình là mục tiêu có diện tích lớn hơn và "chậm chạp” hơn. Do đó, khi ”mặt đối mặt" mình - nhất là ngực - thường xuyên có nguy cơ "ăn đòn”. Bởi vì ngực vốn là nơi hiểm yếu nhất của cơ thể. Với lí do đó, hộ tâm phiến - tấm lá chắn bảo vệ lồng ngực - đã ra đời. So với tấm lá chắn - phương tiện phòng hộ từ xa - thì hộ tâm phiến là một bước phát triển mới, đưa phương tiện phòng hộ đến gần, sát mình người lính - triệt tiêu khoảng cách sát thương - dù đó cũng mới chỉ là tấm lá chắn đơn giản, đủ sức che riêng cho một bộ phận phía trước trên mình. Tuy vậy, so với các phương tiện phòng hộ khác, hộ tâm phiến cũng đã tồn tại tới mấy ngàn năm. Trong các di chỉ thời đại Hùng Vương, bên cạnh giáo, lao, dao găm, rìu chiến, mũi tên đồng, người ta đã thấy xuất hiện loại phương tiện phòng hộ này. Đó là những hộ tâm phiến được phát hiện lần đầu tiên trong bộ vũ khí giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương vào thời kì văn hóa Đông Sơn. Tuy không phổ biến bằng các loại vũ khí như giáo, lao, tên, rìu chiến nhưng cũng không đến nỗi quá hiếm. Theo số liệu chưa đầy đủ, hiện nay đã tìm thấy ba mươi chiếc, phân bố ở lưu vực sông Hồng và sông Mã. Còn ở lựu vực sông Lam, chưa tìm thấy tiêu bản nào. Căn cứ vào hình dáng, các hộ tâm phiến Đông Sơn, phần lớn được chia thành hai loại: loại hình chữ nhật và loại hình vuông. Số còn lại không rõ hình dáng. Hộ tâm phiến hình chữ nhật, gồm năm chiếc, có hình dáng và hoa văn trang trí về cơ bản giống nhau, đều là những tấm đồng hình chữ nhật, dày khoảng 0,1cm, phần lớn phẳng, chỉ thấy một chiếc cong. Bốn quai được gắn đối xứng với nhau ở bốn vị trí tương tự: cách rìa cạnh ngang và rìa cạnh dọc gần nhất, khoảng một phần tư chiều dài và chiều rộng tấm đồng. Quai có hình bán nguyệt, nổi khum hình mũi thuyền. Kích thước trung bình của hộ tâm phiến hình chữ nhật có chiều dài là 31,1cm, rộng 13,3cm, dày 0,1cm. Mặt hộ tâm phiến phía trong để trơn, phẳng, mặt phía ngoài thường trang trí hoa văn mang phong cách Đông Sơn. Trong một số địa điểm Đông Sơn như xóm Gấm, Kim Đường (Hà Tây) còn tìm thấy loại hộ tâm phiến bằng gỗ, chiều dài 30cm, rộng 15 - 20cm, dày 0,9 - 1,5cm. Hộ tâm phiến hình vuông, gồm 22 chiếc, không những khác loại trên về hình dáng mà còn khác ở bộ phận buộc dây, không có quai đeo, chỉ đơn giản là xuyên lỗ để buộc dây. Hoa văn trang trí trên các hộ tâm phiến loại này cũng khác mặc dù vẫn là những hoa văn Đông Sơn. Đặc điểm chung của loại hộ tâm phiến này là hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 13-15cm, dày 0,1cm. Bốn góc có bốn lỗ hay bốn cặp lỗ buộc dây. Lỗ hình tròn, nhỏ, đường kính 0,3cm. Mặt phía trong để trơn, mặt phía ngoài trang trí hoa văn. Hoa văn chủ đạo trên chiếc nào cũng là hoa văn hình chữ X bố trí ở chính giữa mặt phía ngoài. Những hoa văn chung quanh có thể khác nhau, có khi là những vành hoa văn hình học hay động vật lần lượt bao quanh chữ X, có khi là những nhóm bố trí rời thành từng mảnh đối xứng nhau. Những hộ tâm phiến hình vuông còn gần nguyên vẹn đã sưu tầm được ở Ninh Bình, phát hiện được trong mộ Đông Sơn ở Đại Trạch (Bắc Ninh), Mả Mè (Thanh Hóa)... Trên các hộ tâm phiến này, đề tài được trang trí khá nhất quán. Đó là những hoa văn thể hiện những cặp cá sấu - những con vật sống dưới nước, có sức mạnh đặc biệt. Đó còn là những hình người chèo thuyền - thể hiện lối sống gắn bó với sông nước của chủ nhân những hộ tâm phiến này. Phải chăng những con cá sấu được các chiến binh Đông Sơn lấy làm biểu tượng cho sức mạnh và là con vật hộ mệnh thiêng liêng của mình! Trước kia từng có những ý kiến cho rằng những tấm đồng mỏng này được dùng để đính trên váy áo phụ nữ với ý nghĩa thuần túy là trang trí. Nhưng dần dần, với những tài liệu mới phát hiện, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rõ vai trò của phương tiện phòng hộ này. Đó là những hộ tâm phiến. Những hộ tâm phiến được tìm thấy trong các ngôi mộ Đông Sơn ở Thiệu Dương, Lật Phương... có kích thước lớn, có chiếc hơi cong khum, chứng tỏ chúng là những tấm che ngực thì phù hợp hơn là đồ trang sức trên quần áo. Ví như với kích thước 30 x 13cm, hộ tâm phiến Thiệu Dương rõ ràng là một vật chắn bảo vệ hữu hiệu cho cả phần ngực của người chiến binh trước sức tiến công của những mũi giáo, lao và mũi tên của đối phương. Đương nhiên, không phải là tất cả mọi chiến binh đều được trang bị phương tiện phòng hộ này. Với số lượng ít lại được chế tạo cùng hoa văn trang trí đẹp đẽ, hộ tâm phiến hẳn được dành riêng cho những người chỉ huy, những thủ lĩnh quân sự. Đó cũng là tình trạng phổ biến về trang bị vũ khí của các lực lượng vũ trang dưới thời cổ đại. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:48:12 am Lịch sử đi lên, sức sản xuất phát triển, qui mô tiến hành chiến tranh ngày càng mở rộng. Hành động tác chiến tiến công không chỉ ở phía chính diện mà còn thêm cả ở phía cạnh sườn và phía sau lưng, vì vậy, phương tiện phòng hộ cũng không phải chỉ là che chân trước ngực nữa mà còn phải là cho cả bốn phía thân mình người lính chiến. Từ đó, tấm áo giáp hình thành, thay thế cho hộ tâm phiến. Cùng với chiếc áo giáp che mình là chiếc mũ che đầu - tiếng Hán gọi là "trụ" - tạo thành bộ giáp trụ hoàn chỉnh. Giữa áo giáp che mình và mũ trụ che đầu còn có thêm loại áo giáp vai dùng để che gáy, cổ và bả vai. Nó có hình dạng như một tấm mạng nối liền phía sau mũ trụ và rủ xuống hai vai. Như vậy là bên cạnh gươm giáo, cung tên, phương tiện phòng hộ cá nhân người lính dưới thời bạch khí là tấm lá chắn và bộ giáp trụ. Với tư cách là phương tiện phòng hộ, giáp trụ được sử dụng suốt các thời cổ đại và trung đại, khoảng hai ngàn năm. Mãi cho tới khi hỏa khí cầm tay được dùng phổ biến trong chiến tranh thì áo giáp mới giảm dần tác dụng. Vì ngày nay, đó đây trên thế giới, trong các cuộc xung đột nhỏ như giữa nghĩa quân sử dụng vũ khí thô sơ với quân đội tới đàn áp, giữa quần chúng biểu tình sử dụng gạch đá, gậy gộc với cảnh sát vũ trang, áo giáp vẫn đóng vai trò nhất định. Thường thường, trên chiến địa, tấm lá chắn được trang bị cho người lính còn giáp trụ được trang bị cho người chỉ huy. Thế nhưng những người lính làm nhiệm vụ đặc biệt như thân binh, vệ sĩ (bảo vệ các chủ soái, các thủ lĩnh, các hoàng đế...), cấm binh (bảo vệ hoàng thành, cung điện nhà vua...) cũng có khi được trang bị giáp trụ.
Là phương tiện phòng hộ, lúc đầu chất liệu chế tạo áo giáp thường là gỗ, như tấm lá chắn trước đó. Khi kim loại - đồng, sắt - xuất hiện, áo giáp lại được chế tạo theo chất liệu mới bằng hai phương pháp khác nhau: một là dùng vòng tròn kết nối thành mạng, hai là dùng từng mảnh lắp ghép thành tấm. Nhược điểm chung của các loại áo giáp trên là nặng, cho nên - theo Lễ kí - khi người tướng đã mặc giáp trụ, chuẩn bị ra trận thì không phải quì lạy, cáo biệt nhà vua. Sử dụng chất liệu làm áo giáp, dù có hay không có ý thức, các nhà quân sự đều quan tâm thích đáng đến mối quan hệ của nó với hai thành phần chiến thuật dưới thời vũ khí lạnh là cơ động và đột kích. Hai thành phần này luôn luôn là sự tương khác và tương hợp trong tính năng, tác dụng của giáp trụ. Nếu tính đến độ bền, khi mà khoa học - kỹ thuật chưa phát triển thì chất liệu trong thiên nhiên không gì bền bằng gỗ và kim loại, bởi vì nó cứng, đủ sức chống lại mũi nhọn của gươm giáo đánh gần và của cung tên đánh xa. Tính chất đó giúp cho người lính có thể bảo vệ được mình khi đột kích thế nhưng lại nặng. Sức mang vác của người lính chiến không kham nổi, nhất là khi cơ động. Sức chở trên ngựa chiến kị binh tuy có lớn hơn thì cũng chỉ có hạn. Đó là tính tương khắc giữa đột kích và cơ động trong chiếc áo giáp bằng chất liệu gỗ và kim loại. Vấn đề này được đặt ra, buộc các nhà quân sự phải giải quyết, nghĩa là phải tìm đến một chất liệu mới, chế tạo áo giáp, vừa bảo đảm đủ độ bền để đột kích lại vừa đủ độ nhẹ để cơ động. Đây là việc làm rất khó. Chất liệu áo giáp nếu muốn bền, phòng hộ được tốt thì phải cứng, mà đã cứng thì lại nặng. Còn như muốn nhẹ thì thường là mềm trong điều kiện chất liệu đương thời. Mà đã mềm lại không bền, không đủ khả năng phòng hộ. Chất liệu áo giáp muốn bền mà lại nhẹ, có thể chế tạo được áo giáp, đủ sức chống đỡ các đòn đánh của vũ khí lạnh thì phải có độ dai nhất định. Đây là một vấn đề nan giải đối với điều kiện khoa học - kĩ thuật đương thời. Trong lĩnh vực này, các nhà quân sự phương Đông đã đi trước các nhà quân sự phương Tây. Thật vậy. Theo lịch sử quân sự thế giới, người Tác-ta, vốn là dân du mục, sinh sống ở vùng đông - bắc châu Âu - thường được gọi là "Tác-ta trắng", tổ tiên người Nga - và vùng tây - bắc châu Á - thường được gọi là "Tác-ta đen", tổ tiên người Mông Cổ - đã biết lấy da thú thuộc, quét sơn, tạo nên độ cứng, độ bền nhưng lại nhẹ hơn hẳn gỗ và kim loại để làm áo giáp. Không những biết dùng da thuộc mà người Mông Cổ còn biết tìm tòi ra một chất liệu mới nữa là tơ nhện. Theo người dân nước này kể lại, từ thế kỉ XIII, các chiến binh kị sĩ của Thành-cát-tư Hãn, khi lâm trận thường xuyên mang ở phía trước ngực chiếc áo giáp bằng da có bọc một loại tơ nhện, cản được những mũi tên nhọn từ xa bắn tới. Trong khi đó, trừ kị binh Nga, còn tất cả mọi kị binh châu Âu đều mang giáp trụ kim loại. Mỗi giáp trụ, cả người lẫn ngựa, nặng tới 300 kg. Cách trang bị này đã khiến cho kị binh phương Tây nặng nề, chậm chạp hơn kị binh phương Đông. Sự so sánh này giúp chúng ta hiểu được rằng ở kị binh phương Đông - nhất là kị binh Mông Cổ - giữa cơ động và đột kích đã có tính tương hợp cao trong chiếc áo giáp nên thường xuyên tạo được ưu thế so với kị binh phương Tây khi lâm trận. Vì thế, ngày 9-4-1241, tại hội chiến Van-stát, gần thành phố Lích-nít, thuộc vùng Xi-lê-di (Ba Lan), kị binh Mông Cổ đã nhanh chóng đánh tan 3 vạn kị binh tinh nhuệ của liên quân Ba Lan - Đức. Dùng da thú làm áo giáp vốn là truyền thống xa xưa của dân du mục phương Đông. Cách làm đó du nhập vào Trung Nguyên rồi lan dần đến Việt Nam. Lấy da thú làm áo giáp ở nước ta chắc cũng hình thành đã lâu nên từ trong lĩnh vực quân sự, hiện tượng này mới đi vào văn thơ một cách thật nhuần nhuyễn. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết "Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương". Binh cách là từ Việt gốc Hán với nghĩa: binh là vũ khí và cách là da thuộc, dùng làm áo giáp, làm lá chắn. Ngày nay, tác dụng của áo giáp không còn mạnh mẽ như dưới thời vũ khí lạnh. Thế nhưng có một số trường hợp trong đấu tranh vũ trang, người ta vẫn sử dụng đến nó nhưng quan tâm nhiều hơn về chất liệu chế tác là dai và nhẹ. Như đã trình bày, từ thế kỉ XIII, người Mông Cổ đã biết sử dụng tơ nhện, một loại chất liệu sẵn có trong thiên nhiên, đáp ứng được hai tính chất vừa nêu trên. Nghiên cứu theo hướng này qua nhiều năm, nhà sinh vật học Mark Lacey cùng các bạn đồng nghiệp tại công ty Agricola, đã cho biết: "Tơ nhện có tính đàn hồi rất đặc biệt, nếu được tổng hợp, chế biến, có thể thay cho sợi kevlar, dùng vào công nghệ chế tạo áo giáp chống đạn". Sợi kevlar là loai sợi hóa học bền chắc nhất hiện nay. Với đường kính 1mm, nó có thể treo được một vật nặng tới 200 kg. Tháng 6 năm 1997, các nhà khoa học của công ti trên phối hợp với một số chuyên gia thuộc Cục Nghiên cứu khoa học quân đội Mĩ đã thành công trong việc can thiệp vào "gien" của giống nhện vàng có tên là Nephila Clavipes, khiến chúng nhả ra một loại tơ rất chắc. Người ta xe những sợi tơ này thành một sợi dây dù và đem so với loại dây dù hóa học hiện đang dùng thì thấy rằng sợi dây tơ nhện chắc hơn nhiều. Được đan lại, chúng có thể đỡ được cả tầm đạn súng lục bắn gần và thậm chí còn có thể làm lưới chắn trên các tàu sân bay để chặn đà máy bay khi hạ cánh, vừa chắc chắn, vừa mềm mại, không làm hỏng máy bay nếu bị va chạm mạnh. Loại lưới thép đang dùng hiện nay so ra thi không bằng tơ nhện. Một nhóm chuyên gia quân sự Mĩ còn cho rằng áo chống đạn dệt bằng tơ nhện sẽ nhẹ và mềm mại hơn loại áo giáp đang dùng hiện nay trong quân đội Mĩ. Một quan chức thuộc Bộ Quốc phòng Mĩ cũng cho biết thêm là năm 1997, tại nước này đã có kế hoạch trộn tơ nhện với sợi kevlar để chế tạo áo giáp chống đạn dùng đại trà cho bộ binh Mĩ trong thời gian tới1 (Theo Washington Post, 8-1997). Bên cạnh đó, người ta còn nghĩ đến một loại chất liệu tương tự là tơ tằm. Đầu năm 1999, cánh sát Thái Lan vừa sản xuất thử nghiệm một loại áo giáp chống đạn bằng tơ tằm. Áo may bằng mười sáu lớp lụa mỏng, có thể chống được đạn 16mm, đủ sức bảo vệ an toàn cho nhân viên cảnh sát trước các loại đạn súng ngắn nòng 22, súng trường hay đạn chì đầu tròn cỡ 38. Giá một áo giáp lụa khoảng 150 đô-la Mỹ, chỉ bằng nửa giá một áo giáp sợi kevlar đang tiêu thụ trên thị trường1 (Theo Tạp chí Thế giới mới, số 344). Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:50:12 am ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÃ "Đơn thương độc mã" là một thành ngữ ngữ bao gồm các từ gốc Hán và có một thành ngữ tương tự: "đơn sang thất mã". Ở thành ngữ sau, từ "độc" được thay bằng từ "thất" (đơn chiếc). Về nghĩa bóng, các cách giải thích đều thống nhất là "đấu tranh đơn độc, không ai giúp". Nhưng về nghĩa đen lại không giống nhau. "Từ điển tiếng Việt" Hoàng Phê (chủ biên) viết: "Chỉ có một ngọn giáo, một con ngựa”. "Hán - Việt từ điển "của Đào Duy Anh viết: "Một súng với một ngựa", sở dĩ có sự khác nhau đó (giáo và súng) tựu trung là xuất phát từ chữ "thương". Tuy đều là vũ khí cá nhân nhưng chúng được viết dưới ba dạng tự khác nhau. "Thương" là giáo, "thương" là súng cấm tay và "thương" là rìu chiến. Xét về góc độ văn hóa quân sự, trong thành ngữ này "thương" không thể là súng cầm tay mà chỉ có thể là giáo hoặc rìu chiến. Tại sao vậy? Vì lịch sử quân sự thời trung đại ghi rằng ở châu Âu nói chung, nhất là Tây Âu, điều quyết định đối với nội dung chiến thuật là vai trò bộ binh đã bị suy giảm nhiều, kị binh hiệp sĩ chiếm địa vị thống trị trên chiến địa. Trận giao tranh về cơ bản chỉ còn là các cuộc đọ sức giữa các hiệp sĩ. Kị binh hiệp sĩ xếp thành một hàng ngang, người này cách người kia chừng năm, sáu bước chân. Đó là cách dàn trận theo kiểu "hàng rào chắn". Phía sau từng hiệp sĩ là các kị sĩ, các người cầm vũ khí và các người hầu. Trận đấu diễn ra quyết liệt giữa từng cặp hiệp sĩ hai bên, một chọi một theo đúng nghĩa "một giáo, một ngựa". Người hiệp sĩ lâm trận phải đạt được mục đích là đánh bật đối phương khỏi yên ngựa rồi bắt sống. Ph.Ăng-ghen đã từng nhận xét về phương pháp tác chiến này: "Đội kị binh hiệp sĩ khi gặp đối phương thì lập tức triển khai để chiến đấu cá nhân và kết thúc trận đánh bằng gươm ngắn, về sau, khi súng bắt đầu được sử dụng, người ta tổ chức đội hình có chiều sâu - thường là đội hình vuông - nhưng khi ấy cũng chính lại là những ngày cuối cùng của đội quân hiệp sĩ"1 (Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H.1978, t.2, tr.157). Sách "Bách khoa toàn thư quân sự Liên Xô" cũng viết: thời trung đại "trận chiến đấu về cơ bản chỉ còn là tập hợp các trận quyết đấu sống mái giữa các hiệp sĩ"2 (Bách khoa toàn thư quân sự Liên Xô, Tuyển dịch, Nxb Quân đội nhân dân, H.1985, t.1, tr.164). Các sách lịch sử quân sự còn viết thêm: "Quân đội phong kiến hồi thế kỉ VI-VIII được vũ trang bằng gươm giáo, rìu chiến, câu liêm, dùi có ngạnh, dao găm, kiếm, cung nỏ..."3 (lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Sách giáo khoa dùng cho các học viên - sĩ quan các trường cao đẳng quân sự Liên Xô... Bản dịch của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, H.1986, t.1, tr.39). Như vậy điều rõ ràng "đơn thương độc mã" là cách đánh phổ biến ở thời trung đại mà phương tiện chiến đấu chỉ gồm toàn vũ khí lạnh, không hề có súng. Và khi thời đại vũ khí nóng ra đời thì lại là bắt đầu giai đoạn cáo chung của kị binh hiệp sĩ. Khách quan mà nói thì cách đánh này trong chiều dài lịch sử tuy cũng lác đác dăm ba trường hợp thắng lợi như dưới thời Tam Quốc (220-280) ở Trung Quốc, Triệu Tử Long đã tả xung hữu đột qua bao vòng gươm đao để đưa A Đẩu về với Lưu Bị; như dưới thời Trần ở Việt Nam, Trần Nhật Duật không những "đơn kị" mà thậm chí còn "vô thương" nhưng vẫn gan dạ đi vào doanh trại đối phương khiến cho Trịnh Giác Mật cảm phục, qui thuận triều đình; như dưới thời hiện đại, sau Cách mạng tháng Tám, vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 ở vùng biên giới Tây Bắc, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Mùa A Páo, người H’mông, trong thời gian tiễu phỉ đã dùng tiếng hát của mình kêu gọi được hàng trăm kẻ lầm đường mang vũ khí về với nhân dân. Mặc dù sự thật là như vậy, song nói chung, cách đánh "đơn thương độc mã" dưới thời trung đại hầu như không đem lại một chiến thắng khả quan nào kể cả trong hai cuộc viễn chinh lớn nhất ở châu Âu là cuộc hành quân của các hoàng đế Đức tiến vào nước I-ta-li-a, suốt từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI, và cuộc "chiến tranh chữ Thập", kéo dài từ thế kỉ XI đến thế kỷ XIII, tìm về đất thánh ở vùng Trung Cận Đông ngày nay. Chính vì thế mà người Mông Cổ, dưới sự chỉ huy tài giỏi của thống soái quân sự Thành-cát-tư Hãn, đã kiên quyết đoạn tuyệt với kiểu tác chiến lỗi thời này. Họ mạnh dạn tổ chức kị binh thành những tập đoàn chiến lược, tới hàng vạn người - ngựa. Kiểu phiên chế mới này đã tạo nên những quả đấm thép, đưa tới những chiến thắng hiếm có trong lịch sử quân sự thế giới trung đại trên một không gian bao la, suốt từ châu Á đến châu Âu. Trở lên trên là bàn về góc độ chiến thuật của câu thành ngữ. Bây giờ chúng ta bàn đến góc độ kĩ thuật - cụ thể là vũ khí. Trong từ Hán, cây giáo có bảy tên gọi khác nhau: mâu, sóc, qua, việt, mậu, kích, thương. Thế nhưng trong câu thành ngữ này, người ta không nói đến sáu tên gọi kia mà chỉ nói đến thương. Điều này không phải là không có lí do. Thương là từ đồng âm của ba từ gốc Hán để chỉ vũ khí, có thể có mặt trong câu thành ngữ trên nhưng chúng ta đã loại trừ thương là súng. Nghĩa là khi giao chiến giữa hai hiệp sĩ, mỗi bên chỉ là một người, một ngựa và một thứ vũ khí lạnh, thường là giáo hoặc rìu chiến như đã nói. Còn trong số sáu từ chỉ những tên gọi khác nhau của giáo thì việt là tên gọi của cây giáo có móc, mậu là tên gọi của cây giáo có lưỡi nhưng thực chất, chúng đều là những chiếc rìu. Việt là rìu cán dài còn mậu là rìu có lưỡi hình trăng khuyết. Những hiện tượng đó nói lên rằng dưới thời đại bạch khí, vũ khí chiến đấu cơ bản của người lính không chỉ là cây giáo mà còn là chiếc rìu. Điều này, Ph. Ăng-ghen cũng đã có những nhận xét tương tự về vũ khí lạnh của bộ binh châu Âu dưới thời cổ - trung đại: "Giống như chiếc giáo nặng của bộ binh La Mã, quân Pháp lại có chiếc rìu ngắn hai lưỡi, dùng để chém quân địch ngay trước khi chiến đấu với chúng bằng kiếm1 (Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H.1978, t.2, tr.110). Rìu chiến cũng được người Việt sử dụng khá phổ biến dưới thời Văn Lang - Âu Lạc, chiếm tới 30% số vũ khí của các chiến binh. Nó được phát triển từ những công cụ lao động thông dụng, gần gũi với nhân dân. Sự độc đáo về kiểu dáng của loại vũ khí - công cụ này - nhất là kiểu rìu cán dài - khiến người Trung Quốc thời cổ đại dùng ngay tên gọi của chúng để chỉ tộc người sử dụng, vì như đã nói, theo tiếng Hán, Việt vốn là tên gọi của rìu cán dài. Tộc danh "Việt" xuất hiện vào thời kì này. Rìu chiến được giới sử học quân sự đánh giá là "cây giáo" của người Lạc Việt. Đó là một thứ vũ khí lợi hại khi giáp chiến, vì có thể vừa bổ, vừa chém nhờ rìa bản lưỡi cong (hoặc thẳng) và nhờ cách tra cán vào tay cầm song song với rìa lưỡi, vừa gọn nhẹ, thích hợp với thể lực người sử dụng, vừa thuận lợi với cách đánh giáp lá cà và cơ động trong tác chiến. Qua quá trình sử dụng, một số rìu chiến đã được cải tiến về kiểu dáng như hình bàn chân, mũi thẳng kéo dài, hình ê-ke với lưỡi rìu nằm ở phía cạnh dài... Với những chiếc rìu chiến có mũi nhọn và dài, các chiến binh có thể sử dụng để đâm như giáo, lao. Trong các loại rìu chiến của người Việt cổ, cần phải kể đến loại rìu hình khánh, rìu xòe cân, rìa lưỡi cong, hai đầu mũi nhọn, được sử dụng hiệu quả khi đánh gần trong động tác chém, bổ quân địch1 (Theo Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, t.1, tr.472). Như vậy, xét về mặt vũ khí lạnh, thương dù là giáo hay rìu chiến, mỗi thứ đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Nắm vững tính năng, tác dụng của chúng để đưa vào chiến trận giành thắng lợi là vấn đề của người sử dụng. Từ đó có thể kết luận: "Đơn thương độc mã” là phương pháp tác chiến một người, một giáo, một ngựa kém hiệu quả dưới thời trung đại. Đưa vào xã hội, đấu tranh theo kiểu đó cũng không hứa hẹn một kết cục sáng sủa nào. Nó được xem là một hành động tiêu cực, bị phê phán kịch liệt và trong cuộc sống thường ngày, không ai muốn noi theo. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:51:49 am DƯƠNG ĐÔNG KÍCH TÂY Dương đông kích tây là một cụm thuật ngữ quân sự. Theo Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên,nghĩa là nhử bên đông để đánh bên tây nhằm làm lạc hướng đối phương. Tương tự với nó còn có tả xung hữu đột. Nghĩa đen của cụm thuật ngữ này là xông bên trái, đánh bên phải và nghĩa bóng là mạnh mẽ chống đỡ khắp nơi. Hai cụm thuật ngữ trên nhằm thể hiện một nội dung hành động tác chiến của bên tiến công. Ai cũng biết, suốt cổ kim, đông tây, đội hình chiến đấu bao giờ cũng mạnh ở phía trước - phía chính diện - và yếu ở hai bên sườn - phía bên trái và phía bên phải. Xuất phát từ thực tế chiến đấu đó, các nhà chỉ huy quân sự ở mọi thời đại, khi lâm trận, luôn luôn ra sức giữ vững các cạnh sườn đội hình của quân đội mình, đồng thời tìm đủ mọi cách tiến công vào các cạnh sườn của đối phương theo một nguyên tác bất di bất dịch là "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu". Như thế, rõ ràng trục trái - phải là những điểm yếu, bên phòng ngự cần phải giữ vững và bên tiến công cần phải đánh chiếm. Nói một cách khác, một đội hình chiến đấu, mạnh hay yếu là do hai cạnh sườn chi phối. Bên cạnh đó, bất ngờ cũng lại là một trong những nguyên tác của tác chiến. Càng gây được bất ngờ bao nhiêu, càng nhanh chóng đẩy đối phương lún sâu vào thế bị động, lúng túng bấy nhiêu. Cho nên, đột kích vào hai cạnh sườn chính là một hành động bất ngờ mà bên tiến công luôn tính đến để giành thắng lợi. Còn trục trước - sau của đội hình chiến đấu thuộc phía đối phương chỉ có thể là đối tượng đột kích khi bên tiến công có ưa thế tuyệt đối. Bằng cách đánh vào hai cạnh sườn, đúng thực chất là dương đông kích tây, ở Việt Nam, vào thời trung đại, năni 1077, Lý Thường Kiệt đã chiến thắng quân xâm lược Tống trên bờ sông Như Nguyệt. Và cũng bằng cách công kích này, vào thời cận đại, năm 1805, quân Pháp, dưới sự chỉ huy của Na-pô-lê-ông (Napoléon), đá đập tan liên quân Nga - Ao tại Au-xtéc-lít (Áo). Như trên đã nói, dương đông kích tây và tả xung hữu đột là hai cụm thuật ngữ đồng nghĩa, vì vậy, xét về góc độ quân sự, trục tả - hữu - tức trục trái - phải - cũng là trục đông - tây của đội hình. Nhưng tại sao người ta không gọi trục "tả - hữu" là trục "bắc - nam", trục "thượng - hạ" mà lại là trục "đông - tây". Không những thế, trong các cụm thuật ngữ đó, người ta luôn để "tả", để "đông" lên trước. Chúng ta có thể nêu thêm những thí dụ khác nữa mong làm sáng tỏ vấn đề như: "tả phù, hữu trợ" (giúp bên trái, đỡ bên phảỉ); "tả tư, hữu tưởng" (ngẫm bên trái, nghĩ bên phải); "đông bôn, tây tẩu" (chạy bên đông, phóng bên tây); "móng đông, vòng tây, không mưa dây, cũng gió giật...". Để hiểu rõ, chúng ta hãy tìm về phương pháp tư duy của người phương Đông, theo triết lí "âm dương, ngũ hành" của cư dân nông nghiệp bản địa. Theo quan niệm của triết lí này, bên tả bao giờ cũng được xem trọng hơn bên hữu. Ngay tổng thể những người thân cận, những chân tay giúp việc đắc lực cho vua, chúa, cho các thủ lĩnh, các chủ soái ở phương Đông, được gọi chung là "tả hữu" thì "tả" vẫn để trước "hữu". Theo sự ứng dụng của triết lí "âm dương, ngũ hành" thì "ngũ hành'' gồm năm hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ thứ tự tương ứng với năm phương hướng: tây, đông, bắc, nam và trung tâm; với năm bộ phận của cơ thể người, theo góc độ y học phương Đông: bên phải, bên trái, dưới chân, trên đầu và thân mình; với năm màu sắc: trắng, xanh, đen, đỏ và vàng. Trong "ngũ hành", hành Mộc và hành Hỏa được người phương Đông coi trọng. Riêng về hành Mộc thì đó là hành tương ứng với phương Đông, phương mặt trời mọc, cây cối tốt tươi, làm cho thiên nhiên có một màu xanh dịu ngọt, đầy sức sống. Đó là điều tâm đắc đối với người dân nông nghiệp định cư đồng thời cũng là hành tương ứng với phía tả, phía có nhịp đập của trái tim con người, phía đáng được trân trọng. Từ cách hiểu đó, người Việt Nam cho rằng đi về phía đông là đi tìm sự nghiệp lớn, chỗ trống phía bên trái đấng chí tôn là chỗ ngồi dành riêng cho bậc hiền giả: "Lòng cứu lê dân, chí háo hức mà miền đông muốn ruổi, Xe chờ hiền giả, lòng thiết tha mà bên tả để không"1 (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo). Chính vì vậy, theo thói quen suy nghĩ của người phương Đông, bên tả, phía trái cũng đồng nghĩa với hướng đông: sơn tả - phía đông của quả núi. Như cách suy nghĩ đã nêu ở trên, theo thời gian, phía đông dần dần đồng nghĩa với người chủ, với vị trí chính yếu. Đông gia: ông chủ; đông sàng: chàng rể, ông chủ đám cưới; đông cung: nơi ở của thái tử, ông chủ tương lai của vương quốc; đông đạo quốc: nước đăng cai nước chủ nhà. Tiên - rồng, vật tổ của người Việt vốn là sản phẩm trong trí tưởng tượng của cư dân nông nghiệp - lấy từ hình mẫu con chim, con cá sấu và con rắn - cũng là những con vật vốn sinh sống ở vùng sông nước Đông - Nam Á. Tìm hiểu thêm về phong tục, tập quán của nhân dân, chúng ta cũng thấy rõ điều đó. Nếu như phương đông là phương của sự sống thì trái lại, ở nông thôn, nghĩa địa chôn người chết bao giờ cũng đặt ở phía tây xóm làng, ở vùng người Chăm, nhân dân thường xem phương Đông là phương của thánh thần và phương Tây là phương của ma quỉ. Còn màu tang tóc được người phương Đông thể hiện bằng màu trắng cũng là màu tương ứng với phương Tây theo triết lí "ngũ hành". Ngày nay, trên các bức trướng đưa tang, người ta thường đọc thấy các dòng chữ vĩnh biệt người quá cố: "Tây phương cực lạc". Ứng dụng vào chiến trận, chúng ta lại càng thấy rõ hơn vị trí thích đáng của triết lí "ngũ hành" - nhất là vị trí của hành Mộc và hành Hỏa, tương ứng với phía đông và phía nam - trong tư duy các nhà quân sự phương Đông. Ví như trong cuốn "Lục Thao" của Khương Thượng (tức Khương Tử Nha, Lã Vọng, Thái Công Vọng) - một trong bảy tác phẩm lí luận quân sự kinh điển và cổ xưa nhất của Trung Quốc - có ghi: "Phàm đánh thành, vây ấp mà trông thấy khí sắc... trong thành bốc về hướng bắc thì thành ấy có thể lấy được; bốc về hướng tây thì thành ấy phải đầu hàng; bốc về hướng nam thì thành ấy không thể chiếm được; bốc về hướng đông thì thành ấy không thể đánh được". Tóm lại, phương Đông, phương mặt trời mọc - cũng đồng nghĩa với phía tả, phía bên trái - luôn được người dân phương Đông coi trọng. Cho nên dù rằng trong chiến trận, cả hai bên cạnh sườn của đội hình chiến đấu luôn luôn là những điểm yếu, cần phải giữ vững cũng như cần phải tiến đánh nhưng trong suy nghĩ, các nhà quân sự vẫn cứ "thiên vị" về một bên - bên phía đông, bên trái - theo một thói quen đã hình thành từ rất lâu đời, từ những khi mà loài người chưa hề biết đến chiến tranh. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:53:04 am TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI, TRẬN ĐỒ TÁM QUẺ VÀ BÁT TRẬN ĐỒ Trận đồ bát quái, trận đồ tám quẻ và bát trận đồ là những cụm từ mà một số người thường hay nhầm lẫn, từ chỗ nhầm lẫn khái niệm đến nhầm lẫn phạm trù. Để chống nhầm lẫn, trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm "trận đồ bát quái". Trận đồ là "hình vẽ cách bố trí thế trận chiến đấu". Còn bát quái? Bát là tám, ai nấy đều rõ. Vậy quái là gì? Chữ Hán có năm từ quái với những ngữ nghĩa khác nhau. Quái là lạ lùng, quái là quẻ, quái là áo choàng, quái là treo lơ lửng và quái là trở ngại. Hai từ quái sau còn đọc là quải. "Cách bố trí thế trận chiến đấu" không liên quan gì đến lạ lùng, áo choàng và treo lơ lửng. Có chăng chỉ còn quái là quẻ và quái (hay quải) là trở ngại. Quái là quẻ, bao gồm tám kí hiệu, gọi là bát quái. Nó có thể ra đời vào cuối thời Ân - Thương (1200 năm trước công nguyên), nguồn gốc của Kinh dịch sau này1 (Nguyễn Hiến Lê, Kinh dịch, Đạo của người quân tử, Nxb Văn học, H.1994, tr.11, 12). Chúng bắt đầu từ thuyết âm - dương, một vạch đứt (- -) tượng trưng cho âm, một vạch liền (-) tượng trưng cho dương. Hai vạch đó chồng lên nhau, đối lẫn cho nhau nhiều lần thành ra bát quái, rồi bát quái (đơn quái) lại chồng lên nhau thành lục thập tứ quái (trùng quái). Cũng có tài liệu dựa theo truyền thuyết mà cho rằng bát quái do vua Phục Hi đặt ra nhưng giả thuyết này không đủ cứ liệu thuyết phục. Bát quái lúc đầu chỉ dùng để bói toán. Tới cuối thời Tây Chu, chúng trở thành một thứ triết lí tổng hợp những tư tưởng về, vũ trụ quan, nhân sinh quan của người Trung Hoa; thời Tiên Tần qua thời Hán, chúng bắt đầu có màu sắc tướng số học nhằm giải thích vũ trụ; tới thời Ngũ Đại, chúng được dùng trong môn lí số; thời Tống, chúng trở thành lí học. Ngày nay, một số nhà khoa học châu Âu lại muốn dùng chúng để phân tích tiềm thức con người, xem đấy là một phương pháp phân tâm học1 (Nguyễn Hiến Lê, Kinh dịch, Đạo của người quân tử, Nxb Văn học, H.1994, tr.11, 12). Nói như thế để thấy rằng tám quẻ không liên quan gì đến chiến trận cả. Chúng ta tìm hiểu sang quái (hay quải) là trở ngại. Để rõ hơn quái là trở ngại, chúng ta có thể tham khảo thêm hai từ tiếng Việt. Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), từ thứ nhất: gàn quải, nghĩa là ngăn cản. Ví dụ câu Kiều thứ 549 viết: "Ông tơ gàn quải chi nhau"; từ thứ hai: quấy, một biến âm của quải, nghĩa là "gây điều rầy rà, cản trở, không để cho yên ổn" như quấy nhiễu, quấy phá, quấy rầy... Qua những điểm vừa trình bày, chúng ta hiểu được trận đồ bát quái không phải là trận đổ tám quẻ mà chính là trận đồ tám trở ngại. Sự thể đã rõ ràng nhưng người ta vẫn cứ ngộ nhận tám trở ngại là tám quẻ. Tại sao? Bởi lẽ, dưới thời cổ đại ở Trung Quốc, tám trở ngại và tám quẻ đều lấy số 8 làm cơ sở để xây dựng hệ thống số đếm cho mình, cũng như người ta đã từng dùng hệ âm dương khi gặp cơ số 2, hệ ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) khi gặp cơ số 5, hệ thiên can (giáp, ất, bính, đinh...) khi gặp cơ số 10 và hệ địa chi (tí, sửu, dần, mão...) khi gặp cơ số 12 trong thời điểm trên phạm vi toàn thế giới - nhất là ở phương Đông - loài người chưa biết dùng dãy số tự nhiên (chữ số La Mã I, II, III... và chữ số Ả-rập 1, 2, 3...), tức hệ thống số thập phân - vào việc này. Nhưng đấy cũng chỉ thuần túy là về hình thức, không quan hệ gì tới nội dung. Theo thời gian, chiến tranh tiến lên qui mô lớn, kiểu trận đồ này cũng phát triển, biến hóa theo. Tình hình đó không cho phép các nhà quân sự dừng lại ở hệ thống số đếm mang tên tám quẻ: càn (trời), khôn (đất), li (lửa), khảm (nước), tốn (gió), chấn (sấm), cấn (núi), đoài (đầm) nhằm chỉ các lực lượng tự nhiên mà phải đưa thêm vào đây những hệ thống số đếm mới mang theo những tên khác, cũng nhằm chỉ những hiện tượng, những hành động trong tự nhiên và trong xã hội. Có thể kể đến hệ thống thứ nhất: thiên (trời), địa (đất), vân (mây), phong (gió), hổ (cọp), long (rồng), xà (rắn), điểu (chim), hay như hệ thống thứ hai: hưu (thờ ơ), cảnh (đề phòng), sinh (sống), tử (chết), kinh (quấy phá), thương (cản trở), khai (mở ra), đỗ (chặn lại) hay còn như hệ thống thứ ba: cang (cứng rắn), dác (sác nhọn), cơ (vững chắc), chi (cầm giữ), đẩu (bất ngờ), phòng (ngăn chặn), tâm (chính giữa), vĩ (cuối cùng)1 (Binh thư yếu lược - Phụ Hổ trướng khu cơ, Nxb Khoa học xã hội, H.1977, tr.453), v.v... Như vậy là đến đây, chúng ta có thể nhất trí được với nhau rằng tám quẻ và tám trở ngại là hai khái niệm không mảy may giống nhau, một bên nằm trong Kinh dịch, thuộc phạm trù triết học còn một bên nằm trong thế trận chiến đấu, lại thuộc một phạm trù hoàn toàn khác hẳn. Chỉ có trận đồ bát quái - với nghĩa là trận đồ tám trở ngại và bát trận đồ mới có chung một phạm trù. Đó là phạm trù quân sự. Tuy cũng là "một thứ trận đồ bát quái" nhưng bát trận đồ lại mang theo một tên gọi đã được rút gọn. Vì thế mà một số ý kiến cho rằng đây là "thế trận của Gia Cát Lượng", nghĩa là do nhà quân sự tài giỏi này tạo ra. Liệu thực tế lịch sử có chấp nhận không? Chỉ bằng sự tìm tòi, khai thác về quá trình phát sinh và phát triển của nó thì mới đi đến đáp số khả quan. Về thời điểm xuất hiện của "trận đồ bát quái", cho đến nay đã có không ít những tranh cãi. Để tiếp cận vấn đề, chúng ta hãy viện dẫn đến một số tác phẩm đáng tin cậy. Trước hết là cuốn "Đông Chu liệt quốc" của Phùng Mộng Long, bao gồm một thời kì lịch sử dài tới 559 năm (771 - 221 trước công nguyên) - tính từ khi vua Chu Bình Vương dời đô sang phía đông đến khi vua Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Trung Hoa. Trong tác phẩm có đoạn ghi: "... Huệ Vương muốn thử tài Tôn Tẫn, bày cuộc duyệt võ ở giáo đường, bảo Tôn, Bàng cùng diễn binh pháp. Những trận của Bàng Quyên bày ra, Tôn xem qua, nói ngay được là trận ấy, trận nọ trận nào nên phá bằng cách nào. Đến khi Tôn bày trận thì Bàng mờ mịt không biết, hỏi thăm Tôn là trận gì, Tôn nói đó là trận "Điên đảo bát môn" (tức "trận đồ bát quái” - DXĐ). Sách "Đại Việt sử kí toàn thư", do Ngô Sĩ Liên chủ biên, đã ghi lại bài tựa mà Trần Khánh Dư viết cho cuốn "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của Trần Quốc Tuấn, lưu truyền ở thế kỉ XIII. Đoạn văn trong sách chép: "Ngày xưa Hiên Hoàng đế lập phép tỉnh điền để đặt binh chế...”. Sách "Hổ trướng khu cơ" của Đào Duy Từ ở thế kỷ XVII còn ghi rõ: "Phép bày trận bắt đầu từ Hoàng đế đánh Xi Vưu...". "Hiên Viên xem trên, xét dưới, thấy trời có các sao Vũ Khúc, Phá Quân, đất có các tượng Ngũ Nhạc, Cửu Châu thì biết khoảng trời đất đã có trận thế tự nhiên rồi, huống chi là người! Bởi thế mới đặt ra các trận pháp Thái Cực, Thái Tổ, Thái Thủy và Hà Đồ, Bát Quái, Tiên Thiên..." "Về sau có sách Lục thao của Thái Công, sách Tam lược của Hoàng Thạch Công, sách Binh pháp của Tôn Tử, sách Yếu chỉ của Tử Phòng, phát thiên căn ở dĩ vãng, dò nguyệt quật ở tương lai mà làm thành 72 phép..." "Đến đời Hậu Hán có bảy người hiền ở Long Trung, ngẫm nghĩ dung hội, đem truyền bảo nhau chế ra các trận Bát môn kim tỏa, Chu thiên hồn nguyên...". "Bảy người hiền ở Long Trung là Thủy Kinh Tư Má Huy, Bàng Đức Công, Gia Cát Khổng Minh, Thôi Châu Bình, Thạch Quảng Tuyền, Từ Thứ, Mạnh Công Uy". "Trận Bát môn kim tỏa của Nam Dương tiên sinh đời Hậu Hán là: bắt chước số bát môn, bát quái mà đặt ra. Đó là phép Khổng Minh vẫn thường dùng, hình như cái khóa, phép rất khít khao, cho nên gọi là kim tỏa". Qua những dẫn chứng trên, chúng ta thấy: 1. Đến thời Chiến Quốc (475 - 221 trước công nguyên), trước Gia Cát Lượng tám thế kỉ, "trận đồ bát quái" đã được các nhà quân sự sử dụng trong binh pháp. 2. Không những thế, kiểu trận đồ này có thể đã xuất hiện từ thời Hiên Viên Hoàng đế (2000 năm trước công nguyên), trước Gia Cát Lượng hai mươi ba thế kỉ. 3. Sau Hiên Viên Hoàng đế, trận đồ bát quái đã được các nhà quân sự hậu thế bổ sung. Cho đến thời Tam Quốc, các "người hiền", trong đó có Gia Cát Lượng, kế thừa và nâng cao chất lượng lên tới một trình độ mới đầy quái dị, bí hiểm. Trước những biến hóa khôn lường trong "trận đồ bát quái" của Gia Cát Lượng, người đời sau lầm tưởng rằng loại đội hình chiến đấu này là của ông, do ông sáng tạo. Ý kiến đó là thiếu căn cứ. Đúng ra, phải nói rằng Bát trận đồ là một bước phát triển mới, là thành tựu về một sự kế thừa và nâng cao chất lượng của Gia Cát Lượng trên cơ sở một đội hình chiến đấu phòng ngự đã có sẵn trong nghệ thuật quân sự Trung Hoa. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:07:47 am THÀNH CỔ LOA MỘT KIỂU TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI Sau khi thành lập nước Âu Lạc, Thục Phán đã chọn Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) làm kinh đô và xây dựng ở đó một tòa thành lớn. Thời điểm ấy, thành Cổ Loa là trung tâm của đất nước. Ở vùng đồng bằng, giáp trung du của lưu vực sông Hồng, Cổ Loa nằm trên bờ bắc sông Hoàng Giang. Ngày nay Hoàng Giang chỉ còn là một đoạn sông đã bị bồi lấp và đã được cải tạo thành một kênh thủy nông. Nhưng theo các tài liệu địa - lịch sử thì xưa kia, Hoàng Giang là một con sông lớn, nối liền sông Hồng với sông Cầu ở Quả Cảm - Thổ Hà. Trên bản đồ và thực địa, dấu vết của dòng sông cũ còn rõ nét với những đoạn gọi là sông Thiếp hay Ngũ Huyện Khê (chảy qua năm huyện: Yên Lãng, Võ Giàng, Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du). Từ Cổ Loa, theo Hoàng Giang, người dân thời ấy có thể ngược lên sông Hồng, rồi đến sông Đà, sông Lô để lên tận miền núi rừng phía bắc và tây bắc hay theo sông Hồng, sông Đáy để xuống đồng bằng và ra biển. Từ Cổ Loa, theo Hoàng Giang cũng có thể xuôi xuống sông Cầu để qua sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam lên miền núi rừng đông bắc hay theo Lục Đầu Giang xuống sông Thái Bình, sông Kinh Thày tỏa rộng khắp vùng đồng bằng ven biển. Nhưng không chỉ là một kinh thành mà Cổ Loa còn là một quân thành. Bởi vậy, Thục Phán đã nhiều phen đánh bại âm mưu xâm lược của Triệu Đà. Bí quyết đó là gì? Về tên gọi, Cổ Loa hay Loa Thành - thành Ốc - là một từ Việt gốc Hán, mới xuất hiện từ thế kỷ XV. Trước đó trong An Nam chí lược, tác giả Lê Trắc (thế kỷ XIV) chép tên thành của An Dương Vương là Khả Lũ. Theo ngữ âm học lịch sử tiếng Việt, K'lủ hay Kh'lủ là cách đọc trước kia của Chủ, tên Nôm vùng đất xây thành. Khả Lũ và Cổ Loa có thể là cách phiên âm khi Chủ còn đọc như vừa nêu. Về cấu trúc, theo một vài tư liệu xưa thì thành Cổ Loa gồm "9 lớp, chu vi 9 dặm". Thật ra, con số 9 chỉ có ý nghĩa biểu trưng. Theo di tích còn lại hiện nay, không kể những đoạn lũy và ụ đất đắp bên ngoài, giữ vai trò như những công trình phòng vệ ngoại vi, thành Cổ Loa gồm ba vòng khép kín. Nhân dân quen gọi ba vòng thành đó theo thứ tự từ trong ra ngoài là thành Nội, thành Trung và thành Ngoại. Thành Nội, hình chữ nhật, chu vi 1.650m. Thành không cao lắm, so với mặt đất hiện hay, khoảng 5m, mặt thành rộng 6 đến 12m, chân rộng 20 đến 30m. Thành Nội chỉ có một cửa thành mở về phía nam. Ở bốn góc và rải rác trên bốn mặt thành, có mười tám ụ đất được đắp cao lên và nhô ra phía ngoài khoảng 10 đến 50m. Nhân dân quen gọi là "hỏa hồi". Thành Trung là một vòng thành khép kín, không có hình dáng cân xứng, bao bọc phía ngoài thành Nội, dài 6.500m. Khoảng cách giữa thành Trung và thành Nội cũng không đồng đều, phía đông và phía nam gần nhau, phía tây và phía bắc cách xa nhau hơn. Mặt thành rộng trung bình 10m, chân thành choãi rộng đến 20m, đoạn cao nhất là góc đông bắc, đến 10m. Thành Trung mở năm cửa: cửa Nam, cửa Đông, cửa Bắc, cửa Tây Bắc và cửa Tây Nam. Điều đáng lưu ý là cửa Nam được bố trí thành cửa chung cho cả thành Trung và thành Ngoại do hai vòng thành nối liền nhau tạo thành, còn cửa Đông là một cửa đường thủy (nhân dân gọi là cửa Cống Song) mở lối cho một nhánh sông Hoàng chảy vào sát thành Nội. Thành Ngoại cũng là một đường cong khép kín, không có hình dáng rõ rệt, dài khoảng 8.000m. Thành Ngoại bị phá hoại rất nặng nề. Những đoạn thành còn lại cao trung bình 3 đến 4m, chỗ cao nhất, ở phía nam, khoảng 8m. Chân thành rộng khoảng 12 đến 20m. Ngoài cửa Nam chung với thành Trung, thành Ngoại còn có ba cửa: cửa Bắc (nhân dân gọi là cửa Khâu), cửa Đông và cửa Tây Nam, trong đó, cửa Đông nối liền với sông Hoàng Giang. Cả ba vòng thành, phía ngoài đều có hào. Ba lớp hào của thành được nối liền nhau và thông với sông Hoàng. Nước Hoàng Giang bảo đảm cho hệ thống hào quanh năm có nước. Hào - sông kết hợp, tạo thành một mạng lưới giao thông đường thủy rất tiện lợi. Ngoài ba vòng thành và hào khép kín, khoảng giữa các vòng thành và phía ngoài thành Ngoại, còn có nhiều đoạn lũy và ụ đất được bố trí và sử dụng như những "công sự" phòng vệ nằm trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa. Trên thành Trung và thành Ngoại còn có bảy mươi hai ụ đất đắp cao và nhô vào phía trong. Nhân dân cũng gọi là "hỏa hồi". Tất cả những chiến lũy, những ụ đất đó cùng với ba vòng thành khép kín đã kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành một công trinh phòng vệ quân sự thống nhất và hoàn chỉnh. Ở đây có một điều đáng chú ý là thành Cổ Loa xây dựng trên một địa hình tự nhiên đã được nghiên cứu tường tận và được lợi dụng một cách thông minh và sáng tạo. Thành xây sát bờ bắc sông Hoàng Giang là để sử dụng nó như một đầu mối giao thông đường thủy và như một đoạn hào tự nhiên lợi hại. Đầm Cả, một vùng đầm rộng mênh mông, nối với Hoàng Giang qua một nhánh sông cũng được lợi dụng như một bến cảng, một "quân cảng" có sức chứa tới vài trăm chiến thuyền. Nhiều dải đất, gò đất cao tự nhiên được đắp thêm và nối liền nhau khi xây dựng các vòng thành để giảm bớt công sức lao động của con người. Chính thế mà thành Trung và thành Ngoại được uốn lượn tự do, thiếu một hình dáng rõ rệt và cân xứng. Yêu cầu hàng đầu của việc thiết kế thành Cổ Loa không phải là vẻ đẹp của sự cân xứng mà là sự kiên cố, lợi hại của tòa thành và sự tiết kiệm sức lao động của con người, là sự kết hợp giữa việc tận dụng điều kiện tự nhiên với những công trình nhân tạo. Điều chú ý nữa là toàn bộ cấu trúc của thành Cổ Loa đã tạo thành một kiến trúc quân sự vững châc, có sự kết hợp chặt chẽ giữa quân bộ và quân thủy. Dòng sông Hoàng cùng với Đầm Cả, các lạch sông và ba vòng hào kết hợp với nhau thành một hệ thống đường thủy. Thời bình, đó là một mạng lưới giao thông, chuyên chở rất thuận rợi, có thể vào tận thành Nội. Thời chiến, khi phòng vệ, quân thủy xuất phát từ Đầm Cả có thể nhanh chóng triển khai khắp ba vòng thành, cùng phối hợp chiến đấu với quân bộ. Khi tiến công, từ thành Cổ Loa, quân thủy có thể theo sông Hoàng xuống sông Cầu hay ngược lên sông Hồng mà tiến lên miền núi hay tiến xuống vùng đồng bằng và ra biển cả. Thành Cổ Loa là một căn cứ quân sự phối hợp bộ binh với thủy binh. Người Âu Việt ở miền núi vốn quen trèo núi, giỏi cung nỏ. Người Lạc Việt ở đồng bằng lại quen sông nước, thạo dùng thuyền. Kinh thành nước Âu Lạc của hai bộ phận người Việt đã thâu nhập và phát huy được hai truyền thống cực kì quí báu đó. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:08:36 am Qua những phần đã trình bày, đến đây, chúng ta có thể kết luận được rằng: Cấu trúc của thành Cổ Loa đã đạt đến một trình độ kiến trúc quân sự khá cao và cũng khá phức tạp. Điều đó thể hiện rõ ở ba vòng thành.
Thành Nội là trung tâm phòng vệ, được cấu trúc đặc biệt. Mười tám ụ đất đắp cao và nhô ra khỏi thành chính là những chòi canh rất tốt, mở rộng tầm quan sát cho người lính gác. Khi bị tiến công, những ụ đất đó sẽ chia cắt quân địch và từ trên mặt thành, từ các ụ đất, quân sĩ dùng cung nỏ, mũi lao tiêu diệt quân địch đã bị dồn vào các góc thành và bị tiến công từ ba phía (trên mặt thành đánh xuống và từ hai ụ đất nhô ra đánh tạt ngang hai bên). Mỗi góc thành Cổ Loa đã trở thành một "tử giác" đối với quân thù. Thành Trung, thành Ngoại và hệ thống phòng vệ ngoại vi tạo thành những lớp phòng vệ có chiều sâu gồm nhiều tầng, nhiều lớp. Tường thành phía ngoài dựng đứng để quân thù khó vượt qua, phía trong lại thoai thoải để binh lính có thể lên xuống được dễ dàng. Thành Nội chỉ mở một cửa Nam nhẳm bảo vệ chặt chẽ sự ra vào. Trong khi đó, các cửa thành Trung và thành Ngoại, trừ cửa Nam chung cho cả hai vòng thành và cửa Đông là cửa sông, đều bố trí chéo nhau để từ cửa ngoài vào cửa trong phải đi theo những con đường quanh co, hai bên có những ụ đất cảnh giới. Tất cả sự bố trí đều thể hiện rõ một ý đồ nhất quán là nhằm gây nhiều khó khăn, trở ngại cho kẻ thù khi đột nhập vào thành và tăng cường đến mức tối đa sức mạnh phòng vệ và đề kháng của các chiến binh. Trong lịch sử quân sự cổ đại phương Đông, trận đồ bát quái vốn được xem là một kiểu phòng ngự rất vững chắc. Bây giờ bằng cách so sánh với nó, chúng ta thử tìm hiểu về giá trị quân sự của thành Cổ Loa. Xây dựng theo hình bầu dục - lại bố trí theo tám hướng tự nhiên với chín cửa: hai cửa Đông (một cửa của thành Ngoại và một là cửa Cống Song - cửa đường thủy - của thành Trung), hai cửa Bắc (một cửa của thành Trung và một là cửa Khâu của thành Ngoại), hai cửa Nam (một là cửa của thành Nội và một là cửa chung cho cả thành Trung, thành Ngoại), hai cửa Tây Nam (một của thành Trung và một của thành Ngoại) và cửa Tây Bắc - thành Cổ Loa của Thục Phán ở Việt Nam và trận đồ bát quái của người Hán ở Trung Quốc đều có cùng một kiểu trận địa phòng ngự vòng tròn, có chiều sâu. Thật vậy, vì xây dựng nhiều lớp - thuật ngữ quân sự gọi là thành quách - nên mới có tên là thành Ốc - thành Cổ Loa ưu việt hơn thành trì của nhiều nước ở thời trung đại sau này, kể cả các thành trì của nhà Nguyễn vào thời cận - hiện đại ở Việt Nam, xây theo hình vuông - hoặc hình chữ nhật - và chỉ có một lớp bao quanh. Loại thành hình vuông chỉ sử dụng được một phần tư lực lượng, trái lại thành hình tròn có thể phát huy gần một nửa lực lượng để đánh địch trên một hướng. Thành xây một lớp, sau khi chọc thủng, địch có thể nhanh chóng phát triển binh lực vào phía trong. Trái lại, thành nhiều lớp đủ sức tạo được điều kiện liên tục ngăn chặn địch khi chúng đột nhập, đồng thời là chỗ dựa vững chắc để đưa lực lượng ra phản kích. Còn trận đồ bát quái, căn cứ vào các di tích trận đánh còn lại tới ngày nay và qua các tài liệu nghiên cứu khác thì đây thực chất là cách bố trí lực lượng chiến đấu theo một thế trận nhất định, khi chiến đấu phòng ngự và khi đóng quân để chống đối phương tập kích. Trận nhỏ nhất, cơ sở của Trận đồ bát quái, được bố trí thành tám phân đội trên tám hướng (thực chất đã thành hình vòng tròn). Ngoài tám phân đội ra còn có một phân đội cơ động, đặt ở giữa, bảo vệ cơ quan chỉ huy, đồng thời làm đội dự bị, tăng cường cho các hướng bị uy hiếp. Các trận nhỏ xoay quanh cùng với lực lượng cơ động, hình thành một trận lớn. Cứ thế, số quân càng nhiều, trận địa càng lớn. Cách bố trí như vậy, trận địa đã có chiều sâu lại có lực lượng dự bị bên trong khiến bên tiến công rất khó khăn trong hành động. Kiểu cấu trúc trận địa phòng ngự và vòng tròn như vậy hiện được nhiều nước áp dụng và đánh giá là tiên tiến. Tuy thế nhưng giữa Trận đồ bát quái và Cổ Loa cũng có những đặc điểm khác biệt. Thứ nhất, Trận đồ bát quái là một đội hình dã chiến tạm thời, chỉ liên quan đến phạm vi từng trận đánh, ở qui mô chiến thuật. Cổ Loa là một tòa thành kiên cố, chiến đấu lâu dài, liên quan đến toàn bộ cuộc chiến tranh, ở qui mô chiến lược. Thứ hai, Trận đồ bát quái vốn là kiểu đội hình chiến đấu của bộ binh người Hán trên đất hoàng thổ, khô ráo và bằng phẳng, chống lại người - ngựa của dân du mục phương Bắc nên thuần túy là kiểu phòng ngự của bộ binh, Cổ Loa được xây dựng trên bờ tả ngạn, bờ phía Bắc sông Hoàng Giang, thời điểm đó là con sông lớn, nối liền sông Hồng với sông Cầu. Theo con sông này, thuyền bè có thể đi khắp vùng đồng bằng và ra biển. Là một đầu mối giao thông đường thủy, con sông còn được xem như một đoạn hào thiên nhiên lợi hại. Việc lựa chọn xây dựng địa điểm phòng ngự bên một con sông như thế buộc bên tiến công, khi ra quân phải chia sẻ lực lượng trước một chướng ngại nước. Đầm Cả, một khu đầm mênh mông nối với sông Hoàng cũng được lợi dụng như một quân cảng. Dòng sông Hoàng Giang cùng với Đầm Cả, các rạch sông và ba vòng hào kết hợp với nhau thành một hệ thống đường thủy. Điểm khác biệt của Cổ Loa với các thành trì trên thế giới chính là ở chỗ này, chỗ tính chất của nước trong hào, một bên là nước chảy và một bên là nước lặng. Thành trì nói chung mà người ta vẫn gọi, chỉ có nghĩa là "tường và ao". Chính địa hình quân sự sông nước vùng xây thành đã tạo cho Cổ Loa thành một căn cứ thủy - bộ liên hoàn. Thứ ba, Trận đồ bát quái thực chất là cách bày quân theo một thế trận nhất định nên rất xơ cứng vì mục đích của nó không có gì hơn là chống đối phương tập kích khi đóng quân và đánh lui đối phương khi phòng ngự. Trái lại, quá trình tác chiến lâu dài ở Cổ Loa linh hoạt hơn nhiều, ở đó có sự kết hợp giữa tiến công và phòng ngự. Khi phòng ngự, từ trên các ụ đất nhô ra, bộ binh, nhất là bộ binh tên nỏ ngăn chặn quân địch đồng thời từ Đầm Cả, thủy binh triển khai ra các vòng thành để chiến đấu phối hợp. Khi tiến công, từ căn cứ Cổ Loa, theo sông Hoàng Giang, thủy binh cơ động tỏa đi khắp nơi, lên tận chiến trường chính ở vùng đồi núi Tiên Du và núi Vũ Ninh. Hai truyền thống ưu việt: giỏi cung nỏ, thạo thủy chiến của người Âu Lạc được phát huy mạnh mẽ tại tòa thành này. Chỉ tiếc rằng các truyền thống quân sự đó không được kết hợp chặt chẽ với các phương thức đấu tranh khác nên đã dẫn tới một thảm họa lớn mà qua mấy ngàn năm đến nay vẫn còn nhức nhối. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:25:02 am UY HIẾP LÀM NÊN CHIẾN THẮNG LÃNH CÂU - ĐAN XÁ Cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc ta ở thế kỷ XV vào cuối năm 1427 đã thu được thắng lợi cực kỳ to lớn. Để đối phó, triều đình nhà Minh đã vội vàng cử ngay hai đạo viện binh, gồm mười lăm vạn người, chia thành hai ngả, tiến vào đất Giao Chỉ. Trước tình hình đó, quân ta chủ trương dồn sức vào, tiêu diệt đạo quân mười vạn người, dưới sự chỉ huy của Liễu Thăng, còn đạo quân năm vạn người, dưới sự chỉ huy của Mộc Thạnh, thì chỉ sử dụng một lực lượng vừa đủ để kiềm chế. Sau khi giết chết Liễu Thăng ở Chi Lăng, dồn được bảy vạn tên tàn binh chạy vào thành Xương Giang, quân ta bắt đầu tính đến việc tiêu diệt đạo quân thứ hai. Lúc đó, Mộc Thạnh từ Vân Nam đã kéo quân đến vùng biên giới Tây - Bác nước ta. Tuy thế, y vẫn tỏ ra dè dặt, không giám tiến sâu vào nữa mà cho dừng quân lại để nghe ngóng tình hình. Hiểu rõ tâm lí Mộc Thạnh là tiến quân từng bước để thăm dò, nếu ở hướng chủ yếu, công việc trót lọt thì mới từ biên giới tiến xuống phối hợp, quân ta phục binh để chờ mà chưa vội hành động. Mặt khác, Nguyễn Trãi viết thư nói rõ: "Kể ra đồ binh khí là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm. Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến. Còn việc dùng binh đến cùng, cậy vào vũ lực là điều mà xưa nay vẫn răn dạy"1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150). Sau khi phân tích những thất bại, tổn hại lớn của quân Minh trong hai chục năm qua, Nguyễn Trãi mong muốn Mộc Thạnh tâu về triều đình xin bãi binh. "Các đại nhân đều là nhân nhân quân tử, há lại không biết rõ nghĩa giao thiệp với nước láng giềng cùng đạo vui trời, sợ trời. May ra được đại nhân đem ý trong thư trước của tôi chuyển tâu về triều đình rồi truyền bảo cho tôi biết ý định của triều đình để cho dân vô tội ở cõi Giao Chỉ tôi được thoát mình khỏi nước sôi lửa bỏng mà quân đi đánh dẹp của Trung Quốc được về quê hương; thế là làm một việc mà được hai điều tiện lợi”2 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150). Cuối cùng, Nguyễn Trãi cũng không quên lời cảnh cáo: "Nếu không thế, chỉ chăm đòi bắt quân lính lại sang lần nữa, các ông đã biết rõ lời răn từ xưa tới nay về việc cùng binh độc vũ, há chẳng thấy thế mà sờn lòng ư?"3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150). Tiếp đến lúc đạo viện binh của Liễu Thăng thất trận rồi bị giam chân ở Xương Giang, Lê Lợi - Nguyễn Trãi liền sai một số tù binh mang bằng sắc, ấn tín của tên tướng kiêu ngạo đã tử vong này và một bức thư đến tận doanh trại quân Mộc Thạnh, báo cho chúng biết tin bại trận. Bên cạnh việc đề cao viên tướng họ Mộc, "đại nhân là họ thân của nhà vua, được ủy nhiệm cho công việc nặng nề"4 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150), "không phải người thường tài có thể sánh kịp"5 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150), là việc kể lại cái chết của Liễu Thăng chỉ vì "không biết đạo trời ưa sống, lòng người ghét loạn. Thành hay bại, phúc hay họa, chỉ trong khoảng trở bàn tay..."6 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150) nên đã "bị chết tại trận, không biết lẫn lộn vào đâu"7 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150). Với lời lẽ nhún nhường, bức thư đề nghị: "Nay chúng tôi nhờ ơn của đại nhân như trời đất, cha mẹ, nên mới thổ lộ tình thực, mong đại nhân thương cho. Đại nhân đem lòng người quân tử nhân đức, tất sẽ làm việc nhân nghĩa, để cho người đời nay đều tiến lên cõi thái hòa, há lại chịu lấy đất chỗ An Nam bé như nốt ruồi mà làm cho thiên hạ mệt nhọc ư?"1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151). "Nay vua nước tôi một lòng, quân lính cùng một chí hướng. Về cái nghĩa kính trời, thờ nước lớn, không dám bỏ thiếu"2 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151) và yêu câu Mộc Thạnh: "Xin chuyển tâu về triều đình cái việc nói rõ trong lá thư này"3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151). Tuy thế, bức thư cũng tỏ rõ một thái độ cứng rắn: "Nếu triều nghị không nghe thì chúng tôi dẫu chết cũng không ân hận gì?"4 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151). Nhận được thư, lại trông thấy ấn tín, bàng sắc của Liễu Thăng và nghe tin Lương Minh, Lí Khánh tử trận, Mộc Thạnh vô cùng hoảng sợ. Chiến quả của các trận Chi Lăng, Cần Trạm, phố Cát được phát huy cao độ và đã tác động không nhỏ đến tinh thần chiến đấu của đạo viện binh này. Cả đạo quân, từ chủ tướng đến binh sĩ "kinh sợ mà trước đã vỡ mật"5 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.3, tr.45). Đang đêm, Mộc Thạnh vội vàng đem quân rút chạy về nước. Do chuẩn bị từ trước, các tướng chỉ huy lập tức tung quân đuổi theo. Tại Lãnh Câu và Đan Xá, quân ta đã thắng lớn, diệt hơn một vạn địch, bắt sống một ngàn tên và một ngàn ngựa, thu được rất nhiều chiến lợi phẩm. "Chỉ một mình, một ngựa"6 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.3, tr.45), viên bại tướng chạy thoát về Vân Nam. Trái lại, quân ta không hề mất một mũi tên. Cả một đạo viện binh lớn, năm vạn người và một vạn ngựa, vừa mới đến vùng biên giới đã bị đánh tan nát chỉ do một nguyên nhân hết sức đơn giản là quá sợ vì bị đối phương uy hiếp. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:26:13 am "LỄ NGHI DÀN TRƯỚC, BÁC ĐỒNG PHỤC SAU" Người Việt Nam chúng ta, khi đọc truyện Kiều của Nguyễn Du đều hiểu rằng Hồ Tôn Hiến là một vị quan võ của triều đình, được cử đi tiễu trừ viên "tướng giặc" Từ Hải. Thế nhưng trên chiến địa khi thấy rõ tương quan lực lượng đang nghiêng về phía đối phương thì ông ta liền thay đổi phương pháp hành động, không dùng gươm giáo để thực hiện mục đích của mình nữa. Vậy đó là phương pháp gì? Là quan "Tổng đốc trọng thần" dưới triều vua Thế Tông nhà Minh (với niên hiệu là Gia Tĩnh, từ năm 1522 đến năm 1571, đúng như câu thứ chín của Truyện Kiều), chắc Hồ Tôn Hiến hiểu rõ cách tiến hành chiến tranh mà không cần dùng vũ lực như Quản Trọng (685 - 645 trước công nguyên), Tể tướng dưới triều vua Hoàn Công nước Tề - thời Xuân Thu ở Trung Quốc - đã từng nói: "Nghệ thuật dùng binh trăm đánh, trăm thắng đã giỏi nhưng không đánh mà thắng mới thật là giỏi tuyệt vời". Ở cương vị người chỉ huy quân sự, nhất định ông ta phải nghiên cứu "Binh pháp thập tam thiên" của Tôn Tử và không thể bỏ qua thiên Mưu công (tiến công bằng mưu kế) với đoạn văn: "Thượng sách của việc dùng binh là dùng mưu lược, sau mới đến việc dùng ngoại giao, sau nữa mới đến việc dùng lực lượng quân sự để giành thắng lợi...". Trên cơ sở nhận thức lí luận người xưa, ông ta thực hiện ngay "chước chiêu an”, sai người mang lễ vật đi thuyết hàng. Sau đó, đánh giá tình hình và thấy rõ lực lượng đối phương có hai thành phần chủ yếu là Từ Hải và Thúy Kiều, với phương châm "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu" của con nhà võ, ông ta khẳng định phải né tránh Từ, một người anh hùng - một chỗ rắn - nhưng chỗ mềm lại là Kiều, cần phải khoét sâu. Thứ nhất, nàng là vợ Từ, thứ hai nàng lại còn "dự quân trung luận bàn". Từ ý định đó, quá trình hành động của Hồ hình thành hai giai đoạn: giai đoạn Từ còn sống và giai đoạn Từ đã chết. Trong giai đoạn đầu, Hồ tìm mọi cách để tiếp cận, đề cao Kiều, xem nàng như một khách quí, một phu nhân. Cùng với "ngọc vàng, gấm vóc" biếu chung với Từ, Kiều còn được biếu "riêng một lễ", "hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân". Trước hành động chiêu an của Hồ, Kiều và Từ có hai phản ứng khác nhau. Từ hoàn toàn nghi ngờ và chống đối kịch liệt sự đầu hàng: "Bó thân về với triều đình, hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu” với một thái độ rất tự tin: "Sao bằng riêng một biên thùy, sức này đã dễ làm gì được nhau". Kiều thì trái lại. Vốn "thật dạ, tin người", lại là một người con gái bị đầy vào cảnh "mặt nước, cánh bèo", "đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân", may mắn gặp được Từ Hải, giờ đây nàng muốn nhân dịp tìm "về cố hương” - với "ngôi mệnh phụ" trong tay - vừa "nở nang mày mặt" lại vừa "rỡ ràng mẹ cha". Làm được như thế thì "vẹn cả hai bề" "một là đắc hiếu, hai là đắc trung", "chẳng hơn chiếc bách giữa dòng" mà lại "nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào". Qua những lời lẽ mặn mà của vợ, bùi tai, Từ đã dần dần chuyển từ "thế công" sang "thế hàng". Từ đó "việc binh bỏ chẳng giữ giàng", khiến trong doanh trại "ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng". Hồ chỉ chờ có thế. Kế hoạch tiêu hao lực lượng đối phương bằng cách "mài mòn ý chí chiến đấu” qua lễ nghi, mua chuộc, biếu xén, từ người trong cơ quan chỉ đạo đến người lính, như vậy là hoàn thành. Đã đến lúc ra tay, Hồ quyết định số phận Từ bằng một đòn tiêu diệt. Vì thế, lợi dụng lúc Từ ra cửa doanh trại đón chào quân đội triều đình, Hồ tổ chức tập kích. Thấy rõ tại chỗ bộ mặt thật của quan "Tổng đốc trọng thần", ghê tởm vì những "động tác giả" lâu nay vẫn diễn ra, Từ đứng chết lặng người vì uất ức. Và cũng cho đến lúc ấy, Kiều mới thấy rõ tâm địa lá mặt, lá trái của Hồ đồng thời nhận thức ra sự sai lầm của mình khi tỉ tê khuyên nhủ chồng đầu hàng: "Khóc rằng trí dũng có thừa, bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này". Sau khi giết được Từ, Hồ chuyển quá trình hành động sang giai đoạn hai. Biết rằng sở dĩ "công thành, danh toại" chính nhờ "có lời nàng mới nên”, Hồ hỏi Kiều hai ý kiến. Thứ nhất, thưởng công cho nàng theo hình thức nào: "Mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào?”. Thứ hai, nàng muốn kết duyên cùng ai: "Dây loan xin nối cầm lành cho ai?". Ngoài hình thức tuy có hỏi ý kiến Kiều thật nhưng trong nội dung, Hồ vẫn làm theo cách riêng của mình. Nếu như trước đó, ông ta trọng vọng, kính nể Kiều bao nhiêu thì giờ đây rẻ rúng, khinh miệt nàng bấy nhiêu. Suy cho cùng thì kiểu thái độ nào, Hồ cũng chỉ nhằm vụ lợi cho mình. Trước câu hỏi thứ nhất, Kiều chỉ xin được một ban thưởng khiêm tốn là "mồ yên, mả đẹp" cho Từ; "Xin cho tiện thổ một doi, gọi là đắp điếm lấy người tử sinh". Tất cả công lao to lớn của Kiều được đền đáp chỉ bằng mỗi một việc là mai táng Từ một cách qua quít, ngoài ra không có gì hơn: "Truyền cho cảo táng di hình bên sông", về câu hỏi thứ hai, thật ra Hồ chỉ nêu lên một cách chiếu lệ chứ trước mặt ông ta, Kiều đâu còn là một vị phu nhân nữa mà chỉ là một cô gái làng chơi. Sự thật diễn ra đúng như vậy. Vì sau khi chôn cất Từ, trong buổi tiệc khao quân, Hồ đã ép nàng "thị yến dưới màn" rồi "lại ép cung đàn nhặt tâu". Hành động đó thể hiện rõ cách ứng xử của một kẻ "được chim bẻ ná, được cá bẻ câu". Không những thế, Hồ còn đi quá mức sau khi "chén đã quá say". Đến bước này, ông ta đã hiện nguyên hình một tên ác quỉ "sát phu, hiếp phụ". Để cứu vãn tình thế "quan trên nhìn xuống, người ta trông vào", Hồ đã ép duyên, gán nàng cho viên thổ quan, mặc dù chỉ trong khoảng vài ngày trước đó, khi được hỏi, nàng đã bày tỏ nguyện vọng của mình: "Còn chi nữa, cánh hoa tàn, tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân". Bị làm nhục, bị ép duyên, ê chề, đau đớn, cùng đường, Kiều đã gieo mình xuống sông Tiền Đường mang theo đi cả những ảo tưởng về "vương thần", "mệnh phụ", về "lộc trọng, quyền cao" từng được xây dựng trên miệng lưỡi nham hiểm của kẻ thù. Nàng tự tử hay nàng bị bức tử? Trách nhiệm đó nhất thiết Hồ phải chịu. Chuyện Hồ Tôn Hiến giết chết Từ Hải qua tay nàng Kiều thì gần hai trăm năm nay, mọi thế hệ người Việt đều biết rất rõ. Có điều, ở đây đã ghi nhận lại một bài học khá đau xót. Đó là vì quá thật lòng, nhẹ dạ, Kiều đã phó thác cả niềm tin vào kẻ thù mà vô hiệu hóa sức mạnh "trí dũng có thừa" của chồng. Nàng có biết đâu rằng Hồ không đủ khả năng binh đao để đánh gục Từ Hải mà phải dựa vào lời khuyên nhủ nhẹ nhàng của nàng để tiêu hao dần ý chí và lực lượng của ông, rồi cuối cùng khi thời cơ xuất hiện thì dùng vũ lực tiêu diệt. Ngày nay, trong hàng ngũ kẻ thù của dân tộc ta chắc không thiếu những tên xảo quyệt, hiện đại, có khi còn hơn cả Tổng đốc họ Hồ tuy vẫn "ngọt ngào" với bài bản cũ là "lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau” và trong các tầng lớp nhân dân ta cũng không thiếu những ai đó "thật dạ, tin người" như Vương Thúy Kiều1 (Những câu Kiều trong bài đều được trích dẫn từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, do Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.1976, tr.302-312). Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:27:40 am NƯỚC LỤT THÌ LÚT CẢ LÀNG Thường thường, các câu tục ngũ, ngạn ngữ trong tiếng Việt có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Từ nghĩa đen, người ta tìm về nghĩa bóng. Nhưng cũng có trường hợp, chúng được dùng cả hai nghĩa. Có thể "nước lụt thì lút cả làng" là một trong những ví dụ đó. Ai cũng biết Việt Nam là một vùng lãnh thổ chỉ rộng 329.600m2 nhưng có tới 2.360 con sông chảy qua, có tới 3.260km bờ biển và một năm trung bình có tới 100 ngày mưa. Vì vậy "nước” được xem là "một hằng số địa lí quan trọng"1 (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản chất văn hóa Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1996, tr.68) của người Việt. Môi trường tự nhiên đó đã chi phối mọi mặt trong cuộc sống cư dân như ăn, mặc, ở và đi lại. Chẳng hạn như việc đi lại. Từ ngàn xưa, việc đi lại của người Việt phần lớn là trên sông nước và thuyền bè. Dòng sông và con thuyền là hai hình ảnh đã tạo nên những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí mọi người. Nào là "vững tay chèo lái", "chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo”; nào là "cây đa bến cũ, con đò khác đưa", "thuyền về có nhớ bến chăng”; nào là "cá chuối đẫm đuối vì con", "có phúc đẻ con hay lội...”. Tuy nhiên bên cạnh những điều mang đến từ "thủy lợi", "nước" cũng mang đến cho người Việt Nam những mối "thủy hại” ghê gớm mà lụt là một loại tai vạ đứng ở vị trí hàng đầu (thủy, hỏa, đạo, tặc). Chính vì vậy, câu tục ngữ trên còn có vế thứ hai là "đắp đê phòng lụt, thiếp chàng lo chung". Nghĩa là thủy họa không trừ một ai. Nước lụt tràn đến, tất cả đều bị nhấn chìm. Do đó, mọi người dân, dù trai hay gái, đều có chung một nghĩa vụ là ngăn nước, phòng lụt để bảo vệ cuộc sống yên lành. Nhận thức rõ điều đó mà dân tộc ta ngay từ thời Lí, thế kỉ XI, nhiều đoạn đê quan trọng, dọc theo những sông ngòi lớn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã được xây đắp, trong đó quan trọng nhất là đê Cơ Xá (đê sông Hồng ở vùng Thăng Long). Sang thời Trần, thế kỷ XIII, việc đáp đê phòng lụt được tiến hành hàng năm với một qui mô lớn. Năm 1248, triều đình ra lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu nguồn đến bờ biển, gọi là đê Quai vặc. Có thể nói là đến thời điểm đó, hệ thống đê điều dọc theo sông Hồng và các sông lớn ở đồng bằng Bâc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, về cơ bản đã được xây dựng và năm nào cũng được bồi đắp, tu bổ cho vững chắc thêm. Bên cạnh đó, triều đình còn đặt ra chức Hà đê chánh, phó sứ chuyên lo việc chăm sóc, bảo vệ đê điều. Ngay cả đến nhà vua, cũng có khi tự mình trông nom việc đắp đê, phòng lụt. Chả thế mà Hành khiển (tương đương chức Bộ trưởng thời nay) Trần Khắc Chung đã từng nói: "Lúc dân gặp nạn lụt, người làm vua phải cứu giúp ngay, sửa sang đức chính không còn gì trọng đại hơn công việc ấy”1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.2, tr.116). Sang thời Lê, triều đình không những vẫn duy trì chức Hà đê sứ mà năm 1492 còn qui định ở mỗi xã, xã trưởng phải có trách nhiệm trông nom đê điều và nông nghiệp. Từ một chất lỏng, chi phối mọi mặt đời sống người Việt, "nước" đã dẫn tới nghĩa là Tổ quốc, lãnh thổ. Do đó, theo nghĩa bóng, ta có thể hiểu "nước lụt” không còn là hiện tượng nước dâng cao, mưa lũ gây ra làm ngập nhà cửa, ruộng đồng mà là Tổ quốc bị nạn ngoại xâm nhấn chìm trong máu lửa. Tổ quốc đã lâm nguy thì làm sao tất cả mọi xóm làng trong đó thoát được cảnh lầm than. Ở Việt Nam, từ ngàn đời nay, làng là đơn vị quần cư. Cho nên nhân dân ta vẫn thường nói "sống ở làng, sang ở nước". Và cũng từ đó, người Việt biết nhiều đến hai đơn vị hành chính là "làng" và "nước". Còn các đơn vị trung gian như xã, huyện, phủ, đạo, lộ, tỉnh... mới ra đời sau này theo sự phát triển của xã hội thì hầu như chúng ít gây được những ấn tượng sâu sắc. Bởi vậy, đã hình thành một thói quen, mỗi khi bị đánh đập, đàn áp... người Việt thường kêu to: "Ới làng nước ơi! Cứu! Cứu!". Về hình thức, làng là một cộng đồng người bao gồm nhiều gia đình sống chung, có cả quan hệ láng giềng lẫn quan hệ huyết tộc. Đặc biệt có những làng chỉ có một dòng họ như Dương Xá - làng họ Dương (Thanh Hóa), Nguyên Xá - làng họ Nguyễn (Thái Bình), Đặng Xá - làng họ Đặng (Nam Định). Theo ý kiến các nhà khoa học, làng ở Việt Nam được hình thành ngay từ dưới thời các vua Hùng. Điều này đã diễn ra rất sớm trong lịch sử so với các nước châu Âu như ở Đức và ở Pháp, ở đấy, làng hình thành trong quá trình tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ và quá trình xuất hiện chế độ phong kiến, từ thời cổ đại bước sang thời trung đại. Như lịch sử thế giới đã ghi chép, do sự phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số, một bộ phận người Giéc-manh, tổ tiên người Đức hiện nay, có yêu cầu mở rộng đất đai sinh sống. Cho nên vào khoảng cuối thế kỷ II sang thế kỷ III, những người này đã di cư vào lãnh thổ đế quốc La Mã, như người Vi-xi-gốt, Ô-xtơ-rô-gốt..., nhận làm "đồng minh" của đế quốc La Mã. Giữa thế kỷ IV, các bộ lạc du mục Hung Nô ào ạt xông vào cướp phá, tàn sát nhân dân khu vực Đông và Nam Âu, gây ra sự rối loạn lớn ở khắp trong và ngoài đế quốc La Mã. Các bộ lạc thuộc bộ tộc Giéc-manh cũng như các bộ tộc khác còn ở bên ngoài lãnh thổ đế quốc La Mã, vội vã di cư vào bên trong lãnh thổ đế quốc để thực hiện nghĩa vụ đồng minh của mình. Cuộc di cư lớn này kéo dài trong thế kỷ IV và thế kỷ V. Trong quá trình di cư và tiến hành chiến tranh, các thành viên của các thị tộc người Giéc-manh thường bị xáo trộn và sống lẫn lộn với nhau theo quan hệ láng giềng mà không theo quan hệ huyết tộc nữa. Một bộ phận những người La Mã tự do, những người nô lệ và lệ nông đã được giải phóng cũng tham gia vào các cộng đồng người này. Từ mối quan hệ đó, họ xây dựng nên các làng mạc mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác gọi là công xã nông thôn mác-cơ. Như vậy là, không giống với sự hình thành làng của người Việt, sự hình thành làng của tổ tiên người Đức "không phải là do sở thích hoặc do ngẫu nhiên" mà là "do quan hệ thân thuộc, gần gũi của các thầnh viên trong bộ lạc”1 (C. Mác - Ph. Ăng-ghen, Quốc hữu hóa ruộng đất - Mác-cơ, Nxb Sự thật, H.1976, tr.114) dựa trên quan hệ huyết tộc đã bị tan rã. Sự hình thành làng ở Pháp lại có phần hơi khác. Vào khoảng đầu thế kỷ III, bộ tộc Phrăng, tổ tiên người Pháp hiện nay - một bộ tộc đông đúc và hùng mạnh nhất trong các bộ tộc Giéc-manh - đã đến sinh sống ở vùng biên giới đông bắc đế quốc La Má, tức vùng hạ lưu hữu ngạn sông Ranh, xâm nhập vào vùng đông bắc xứ Gôn và cũng nhận làm "đồng minh" của đế quốc La Mã. Ở đây, họ đã từng liên kết với các bộ tộc khác, đánh bại quân đội Hung Nô. Tiếp đó, đến cuối thế kỷ V, khi hoàng đế La Mã bị phế truất, chính quyền La Mã ở xứ Gôn tuy vẫn còn tồn tại nhưng đã bị suy yếu nhiều. Lợi dụng tình hình đó, giới quí tộc thuộc bộ tộc Phrăng đã liên kết với nhau, bầu lên một thủ lĩnh quân sự, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược xứ Gôn và năm 486 đã đánh bại chính quyền sở tại, chiếm lĩnh vùng đất đai của đế quốc La Mã ở miền bắc xứ Gôn. Đi theo sau quân đội, những người bình dân Phrăng đã di cư vào xứ Gôn giành lấy đất đai của người La Mã và thành lập ra các làng mạc của mình. Làm sự so sánh trên để qua đó, chúng ta thấy rõ được sự hình thành công xã nông thôn nguyên thủy của người Đức và người Pháp không giống của người Việt. Có thể là do sự hình thành đó đã ra đời sau người Việt hàng mấy ngàn năm lại hoàn toàn dựa trên quan hệ láng giềng, không dựa trên quan hệ huyết tộc nên mối liên kết giữa gia đình, dòng họ với làng mạc không được chặt chẽ, khăng khít. Không những thế, trong nền kinh tế nông nghiệp lúa nước của người Việt, gia đình là một bộ phận hữu cơ của làng mà làng lại gắn liền với nước. Bởi lẽ đã trồng lúa nước thì suốt đời người nông dân phải vật lộn với nước, đắp đê phòng lụt, đào kênh dẫn nước, chống úng chống hạn... Những công việc đó chỉ một gia đình không thể nào đảm nhiệm được, phải là chuyện của cả làng đến cả nước. Như vậy, bên cạnh các quan hệ trên, về nội dung, làng cũng là một tổ chức xã hội thu nhỏ, có vai trò to lớn trong việc chống thiên tai và địch họa. Từ những thực tế khách quan trong cuộc sống hàng ngày, người Việt đã tạo cho mình một quan niệm làng xóm tựa như một gia đình mở rộng và nước như một làng lớn. Nhà - họ - làng - nước có phân biệt mà cũng có hòa hợp, y như quang phổ, khi phân tích ra thì có bảy màu song chúng lại nơi ánh sáng trắng1 (Trần Quốc Vượng (chủ biên), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.1997, tr.34). Do sống hợp thành làng xóm có tính cộng đồng cao lại có tục lệ thờ cúng tổ tiên nên tâm lí gia đình, họ hàng, làng xóm ăn sâu trong ý thức, khiến người Việt rất gắn bó với chúng. Quan hệ nhà - họ - làng - nước luôn luôn tồn tại bền vững, gắn bó mật thiết với nhau, tạo thành sức mạnh của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc này không bị mất đi trước họa xâm lăng và không bị đồng hóa trước các thế lực ngoại bang. Từ đó, "nước mất, nhà tan" đã trở thành một suy nghĩ của bao thế hệ người Việt khi đất nước bị vong nô kể từ một, hai thế kỉ trước công nguyên cho đến những năm 80 của thế kỉ trước tới những năm 70 của thế kỉ này. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:28:45 am BA ĐIỀU ĐÁNG TRÁCH Ở LÍ PHẬT TỬ Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta, không có nhân vật nào mà bị các nhà sử học chê là "người ngu"1 (Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Đại Nam dật sử - Sử ta so với sử Tàu, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, 1997, tr.502), thậm chí còn là "phẩm hạnh không bằng chó lợn"2 (Ngô Sĩ Liên Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.1, tr.124) như Lí Phật Tử. Vậy Lí Phật Tử là ai? Đó là một viên tướng cùng họ với Lí Bí. Theo thư tịch Trung Quốc, ông ta còn có tên là Lí Thiên Long (Trần Thư), là Lí Xuân (Tùy Thư), gần đây sử sách còn ghi tên là Lí Thiệu Long3 (Lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.1, tr.115). Số là vào tháng 2 năm 546, thành Gia Ninh (Vĩnh Phúc) bị vỡ, cuộc kháng chiến gặp khó khăn, Lí Bí phải rút về vùng Khuất Lão (Phú Thọ), sau khi đã trao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục và qua đời vào năm 548. Trong tình hình không thuận lợi ấy, Lí Phật Tử đã vội vã theo người anh ruột của Lí Bí, là Lí Thiên Bảo, đưa ba vạn quân chạy vào Đức Châu (Hà Tĩnh) nhưng rồi bị quân xâm lược đánh bại, phải lui lên vùng biên giới Việt - Lào. Năm 555, Lí Thiên Bảo chết, Lí Phật Tử lên thay. Nhưng từ năm năm trước đó, năm 550, Triệu Quang Phục đã đánh tan quân Lương, giành lại đất nước từ đầm lầy Dạ Trạch (Hưng Yên). Năm 557, Lí Phật Tử tìm về quê cũ, lôi kéo họ hàng, phe cánh và gây chiến với Triệu Quang Phục. Tuy vậy nhưng thấy không thắng nổi, Lí Phật Tử xin nghị hòa. Nể tình người họ Lí, Triệu Quang Phục chấp thuận và chia đôi đất nước, lấy bãi Quần Thần (vùng Thượng Cát, Hạ Cát, Từ Liêm, Hà Nội) làm ranh giới. Năm 571, Lí Phật Tử bất ngờ đem quân tiến đánh Triệu Quang Phục, chiếm lấy cả nước. Năm 602, biết rõ nhà Tùy có ý định xâm lược nước ta, Lí Phật Tử cử các tướng, chia quân tổ chức phòng ngự tại ba thành lớn. Lí Đại Quyền (con người anh Lí Phật Tử) trấn giữ thành Long Biên (Bắc Ninh), Lí Phổ Đỉnh trấn giữ thành Ô Diên (Sơn Tây) còn Lí Phật Tử thống lĩnh đại quân đóng tại thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Tháng 1 năm 603, nhà Tùy cử Lưu Phương đem 27 quân doanh (khoảng mười vạn người) tiến vào bờ cõi nước ta. Để chặn đánh, Lí Phật Tử cử 2.000 quân lên tổ chức một trận địa mai phục tại biên giới nhưng tương quan lực lượng quá chênh lệch nên đã bị đè bẹp. Thừa thắng, quân xâm lược tiến nhanh xuống, vây chặt thành Cổ Loa, buộc Lí Phật Tử phải đầu hàng. Thế là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta bị thất bại. Qua những việc làm sai trái của Lí Phật Tử, chúng ta thấy rõ con người này có ba điều đáng chê trách: Thứ nhất, đang khi quân xâm lược kéo vào, Lí Bí gặp rất nhiều khó khăn, phải bôn tẩu về vùng Khuất Lão, là người trong họ lại là võ tướng, đáng lẽ Lí Phật Tử phải cùng Triệu Quang Phục điều binh về vùng Dạ Trạch. Trái lại, ông ta theo Lí Thiên Bảo đưa quân về phía nam, cốt bảo mạng, không nghĩ đến sự mất còn của họ hàng, đất nước. Thứ hai, đến khi lên thay Lí Thiên Bảo cầm quân, chính là lúc Triệu Quang Phục đang bộn bề công việc của một nhà nước mới hình thành thì Lí Phật Tử lại ngang ngạnh đòi lấy bãi Quần Thần làm địa giới để rạch đôi sơn hà. "Môi hở răng lạnh" chính là từ đây. Giá như ông ta biết cùng lòng, chung sức với Triệu Quang Phục giữ vững bờ cõi, đã chắc gì quân xâm lược giám bén mảng tới. Đã vậy, việc cắt đất vừa xong, Lí Phật Tử đã bội ước, trở mặt, bất ngờ đem quân đánh lại người vừa cam kết với mình, mong giành trọn quyền làm chủ. Thứ ba là sai lầm trong chỉ đạo chiến tranh giữ nước. Trước hết, ông ta không biết phát động chiến tranh nhân dân như Triệu Quang Phục - người cùng thời - đã từng thắng lợi mà chỉ thuần túy dùng quân chủ lực tiến hành phòng ngự ở một số thành lũy lớn còn thì "để trống trận địa" trên phạm vi cả nước. Tiếp đó, khi quân xâm lược tiến vào, ông ta lại đưa một lực lượng nhỏ nhoi với 2.000 quân để chống lại một đạo quân gần mười vạn người, chưa bị đối phương làm tiêu hao, sứt mẻ, khi ý chí xâm lăng của chúng còn nguyên vẹn lúc ban đầu. Không những thế, khi quân giặc thừa thắng, hùng hổ kéo đến vây chặt cổng thành, Lí Phật Tử không đủ can đảm, quyết một phen sống mái mà mới nghe lời đe dọa đã vội vàng buông gươm, cởi giáp, cam chịu làm một tên hàng binh hèn hạ ngay trước cửa doanh trại của kẻ thù. Thật muôn phần nhục nhã. Bởi vậy cho nên lời phán xét đối với Lí Phật Tử quả thật là xứng đáng. Lịch sử bao giờ cũng khách quan và công bằng. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:30:55 am CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN, GIÀNH LẠI VÀ GIỮ LẤY Thời đại mới trên đất nước ta được mở ra từ Cách mạng tháng Tám. Để đi tới cuộc cách mạng kì vĩ này của lịch sử hiện đại, dân tộc ta phải vượt qua một chặng đường dài tới 90 năm, 60 năm trước, đấu tranh "giành lấy nó" - tính từ Hiệp ước bán nước Pa-tơ-nốt, năm 1884, đến ngày 19 tháng 8 năm 1945 và 30 năm sau, đấu tranh "giữ lấy nó" - tính từ ngày kháng chiến Nam Bộ (23-9-1945), đến ngày "toàn thắng" (30-4-1975). Những nội dung đấu tranh đó - đặc biệt là từ khi Đảng quang vinh ra đời - thuộc phạm trù văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa. Ai cũng thấy rõ trong lịch sử, lần đầu tiên dân tộc ta bị một kẻ xâm lược đế quốc chủ nghĩa từ phương Tây đến nô dịch. Từ trong cảnh "cá chậu, chim lồng", những người Việt Nam tâm huyết đều nhận thức rõ rằng để đưa dân tộc ta khỏi cảnh bị áp bức, tư tưởng Nho giáo đã không còn thích hợp nữa. Bởi vậy, văn hóa giữ nước thời điểm này ngày đêm trăn trở, lựa chọn mọi phương pháp, cố tìm ra cho được một con đường đấu tranh ưu việt nhất. Rõ ràng là mọi hoạt động văn hóa giữ nước trước khi Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Cộng sản Pháp - tại Đại hội Tua, năm 1920 - để đưa Tổ quốc ra khỏi cảnh "máu chảy, đầu rơi" đều thất bại. Từ giải pháp "đổi mới đất nước" của Nguyễn Trường Tộ; giải pháp "bạo lực vũ trang” của phong trào Cần Vương như Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng,...; giải pháp "chiến tranh du kích", kéo dài tới hai mươi tám năm trời, của thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám... đến giải pháp dựa vào Nhật Bản, tiến hành khởi nghĩa, có đổi mới chính trị, theo chế độ quân chủ lập hiến như Phan Bội Châu; giải pháp dựa vào chính mình, nâng cao dân trí, có tiếp thu tư tưởng dân chủ và những quan điểm tiến bộ của văn hóa Pháp như Phan Chu Trinh... đã không đi tới kết quả. Trong khi đó thì chính quyền thực dân đã mở những trường học, đào tạo được một số người làm việc, đổi mới cơ sở chính trị, xã hội và kinh tế có lợi cho chúng. Căn cứ vào tình hình cụ thể lúc ấy, văn hóa giữ nước Việt Nam cũng đã tìm ra cách chuyển mình, lấy văn hóa công nghiệp thay dần cho văn hóa nông nghiệp, lấy phong trào Âu hóa về văn hóa để đưa phong trào cách mạng chuyển từng bước, đưa dần cái cũ sang cái mới. Vả lại, những chiến sĩ văn hóa giữ nước thuộc thế hệ này, phần lớn xuất thân từ nhà trường "bảo hộ", am hiểu tiếng Pháp, ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ Pháp. Và đến khi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời thì văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa giữ nước nói riêng, đã hình thành một hướng đi. Nội dung của nó tập trung vào ba vấn đề lớn: thứ nhất, lấy nhân dân lao động - mà nòng cốt là công nhân và nông dân - làm cơ sở để đấu tranh; thứ hai, gắn chặt phong trào đấu tranh của nhân dân trong nước với phong trào của giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới; thứ ba, phê phán chủ nghĩa đế quốc bằng chính học thuyết Mác -Lênin một thành tựu tư tưởng - lí luận cao nhất của nền văn hóa công nghiệp châu Âu. Thực ra, các thành tố này chưa hề có trong nền văn hóa nông nghiệp cũ bởi tính cách mạng triệt để của nó. Song ở đây, người ta vẫn tìm thấy những nét tương đồng, hòa quyện vào nhau giữa tính truyền thống và tính hiện đại cũng như sự giao thoa giữa chúng với nhau. Ví như nội dung cơ bản của nền văn hóa mới là lấy sự hi sinh cho dân tộc, cho đất nước làm hạnh phúc của con người, đào tạo ra những bậc hiền nhân, quân tử của thời đại mới thì điều đó lại không hề trái ngược với nội dung của nền văn hóa dân tộc tự ngàn xưa. Nền văn hóa ấy đã từng có những con người lo trước, sướng sau thiên hạ, chí công vô tư, uy vũ không thể khuất phục, nghèo hèn không chịu chuyển lay, giàu sang không làm thay đổi. Bởi thế cho nên, ngay lập tức, nó đã làm đổi mới nội dung văn hóa dân tộc và trở thành xu hướng chủ yếu của văn hóa Việt Nam, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho văn hóa giữ nước có một con đường đấu tranh đúng đắn, đặng gặt hái những mùa bội thu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mà Cách mạng tháng Tám là một thành tựu ngời sáng, chói lòa. Như trên đã nói, Cách mạng tháng Tám đã mở ra thời đại mới ngày nay. Tuy nó thắng lợi trong một khoảng thời gian chưa đến ba mươi ngày nhưng để bảo vệ thành quả của nó, dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã phải chiến đấu trên một chặng đường ba mươi năm chẵn. Chưa đến một tháng, sau ngày đất nước giải phóng, chính quyền nhân dân còn đang "trứng nước", ngày 23-9-1945, đồng bào Nam Bộ đã buộc phải đứng lên, cầm vũ khí chiến đấu. Và không có con đường nào khác, vì "cây muốn lặng, gió chẳng đừng", hơn một năm sau, ngày 19-12-1946, toàn dân ta, triệu người như một, lại kề vai, sát cánh, liên tiếp bước vào những cuộc chiến tranh giải phóng trường kì và gian khổ. Vốn yêu chuộng hòa bình, để bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám, không phải lúc đầu, dân tộc Việt Nam đã dùng ngay giải pháp bạo lực. Bởi thế cho nên, sau ngày Nam Bộ kháng chiến, phía chúng ta đã tìm đủ mọi cách để né tránh đổ máu nhưng vẫn không kết quả. Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, rồi Tạm ước ngày 14 tháng 9 bị xóa bỏ... cũng như gần hai mươi năm sau, "sự kiện vịnh Bắc Bộ" được dựng lên vu cáo để rồi chính quyền Giôn-xơn đẩy nhân dân ta vào đối tượng trả đũa. Tất cả, tất cả mọi nguyên cớ đều sinh ra từ phía kẻ xâm lược, đã buộc chúng ta phải cầm vũ khí tiến hành chiến tranh. Bạo lực âu cũng là một phương pháp không thể không dùng tới. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:31:37 am Nhưng tiến hành chiến tranh theo phương pháp nào? Truyền thống hay hiện đại trong khi cán cân lực lượng luôn luôn nghiêng về phía quân xâm lược? Đắn đo, cân nhắc, suy tính thiệt hơn trên cơ sở "biết người, biết mình", dân tộc ta xác định phải tiến hành chiến tranh theo truyền thống của tổ tiên - truyền thống chiến tranh nhân dân - và xem đó là hành động duy nhất đúng. Đây vốn là một kho kinh nghiệm vô giá của người xưa để lại qua hàng ngàn năm giữ nước. Biết bao kẻ xâm lược trong lịch sử đã gục ngã khi đụng chạm đến bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Những bài học bất hủ đó được đưa vào thực tiễn chiến đấu của văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa để bảo vệ Cách mạng tháng Tám, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành một sức mạnh vô địch và đã liên tiếp chiến thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Thế nhưng ở Việt Nam chỉ gọi là chiến tranh nhân dân thì vẫn đúng, song chưa đủ. Thực sự nó là chiến tranh toàn dân. Nếu như chiến tranh nhân dân chỉ mới bàn đến phương pháp tiến hành chiến tranh của loại hình chiến tranh chính nghĩa - loại chiến tranh đã từng diễn ra ở Tây Ban Nha, ở các nước châu Âu chống phát-xít Đức, ở Cu-ba... - thì nội dung chiến tranh toàn dân ở Việt Nam còn bao gồm cả phương pháp và phương tiện - con người và vũ khí. Đây là một loại hình chiến tranh đã xuất hiện từ rất sớm trên lãnh thổ này. Ngay sử sách Trung Quốc, khi ghi chép về cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống quân Tần, vào thế kỉ III trước công nguyên, đã mô tả: "... Người Việt vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau cử người tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được chủ tướng Đồ Thư". Đến thế kỉ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên, cũng chính nhờ chiến tranh toàn dân mà liên tiếp ba lần, dân tộc ta đã chiến thắng. Mô tả về những sự kiện vĩ đại này, nhà bác học Phan Huy Chú ghi rõ: "Thời Trần nhân dân ta ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh". Tiếp thu truyền thống quân sự cực kì quí báu đó, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước". Sang thăm đất nước ta trong những năm chống Mĩ, một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Hà Lan đã nhận xét: "Tôi đã thấy khá nhiều cuộc chiến tranh và chiến tranh du kích. Nhưng tôi chưa từng thấy cả một dân tộc đánh giặc như ở Việt Nam".
Nói đến chiến tranh toàn dân ở Việt Nam là muốn nói đến hai lực lượng tham chiến lớn: một là quân đội, lực lượng vũ trang chủ chốt, và hai là lực lượng dân chúng vũ trang rộng rãi, có mặt ở kháp mọi nơi. Nếu như quân đội, lực lượng vũ trang chủ chốt, có nhiệm vụ cơ động trên phạm vi cả nước và chỉ xuất hiện ở những bước ngoặt của chiến tranh, tiến hành những trận đánh lớn, những chiến địch, để tiêu diệt quân xâm lược thì trái lại, chiến tranh của dân chúng vũ trang lại diễn ra không lúc nào ngừng, kể từ giây phút đầu tiên, khi quân cướp nước đặt bàn chân bẩn thỉu lên Đất Mẹ thân yêu cho đến giây phút cuối cùng, khi quân thù vắng bóng trên vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Chiến tranh của dân chúng vũ trang tiến công quân xâm lược từ trước mặt đến sau lưng. Nó được diễn ra ở tất cả mọi xóm, mọi làng khi quân thù tới. Những người thợ cày đã cầm vũ khí đánh giặc ngay tại quê hương mình, đánh giặc ngay tại chỗ, đánh giặc trên khắp bề mặt của đất nước. Đây cũng là một nét đậm đà bản sắc dân tộc của văn hóa quân sự Việt Nam. Chiến tranh của dân chúng vũ trang, vì vậy là nội dung thực chất của chiến tranh chống ngoại xâm ở Việt Nam. Mặc dù chiến tranh của dân chúng vũ trang không đủ khả năng thực hành những đòn tiến công lớn để tiêu diệt địch nhưng lại có khả năng thực hành những đòn tiến công nhỏ để tiêu hao chúng. Số địch bị loại khỏi vòng chiến ở mỗi trận như vậy không nhiều, có chăng chỉ là một vài tên nhưng cái nguy hại là trên đất nước này, ngày nào cũng có, nơi nào cũng diễn ra. Cứ thế, cứ thế, "Kiến tha lâu cũng đầy tổ", những đòn tiêu hao đó đã "mài mòn" lực lượng địch, buộc chúng phải dàn mỏng lực lượng ra để đối phó. Mà đã dàn mỏng thì làm sao có thể mạnh được, tựa như quả đấm nắm lại so với bàn tay xòe ra. Trong cuộc chiến tranh toàn dân chống xâm lược ở Việt Nam, đây là phương pháp chủ yếu nhằm chuyển hóa lực lượng địch từ mạnh đến yếu một cách tiệm tiến để vào thời cơ thuận lợi, quân chủ lực giáng những đòn quyết định, đẩy nhanh quá trình suy yếu của chúng, giành thắng lợi hoàn toàn. Một nước nhỏ - như trường hợp nước ta - chống lại đội quân xâm lược của những nước lớn, theo phương châm lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh, nếu không dùng phương pháp trên thử hỏi làm sao có thể chuyển hóa được một lực lượng tới 50 - 60 vạn người như quân Mông - Nguyên ở thế kỉ XIII, quân Mĩ ở thế kỉ XX này. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:32:21 am Cũng vì phải lấy ít thắng nhiều mà các lực lượng vũ trang của dân tộc ta trong mọi cuộc chiến tranh yêu nước đều không đủ khả năng tiêu diệt hết tất cả mọi tên xâm lược ngay trong biên giới lãnh thổ. Cho nên, việc tiêu diệt một phần quan trọng lực lượng của chúng như ở chiến dịch Biên Giới năm 1950, ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ở Đông - Xuân 1966 - 1967, nhất là ở Tết Mậu Thân năm 1968 và đặc biệt là ở trận "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972,.. là những chiến thắng đủ sức "làm nản lòng" đối phương, đặng tiến lên đè bẹp ý chí xâm lược của chúng. Lịch sử đã ghi lại khi đội quân bại trận của Pháp rút ra khỏi nước ta, lực lượng của chúng đang còn tới 444.900 người. Và khi buộc phải "cuốn cờ", quân số Mĩ còn tới 549.500 tên. Đè bẹp ý chí xâm lược là mục tiêu đề ra cho cuộc chiến tranh, song chỉ riêng hành động quân sự thì không đủ sức. Phương thức đấu tranh vũ trang phải được sự phối hợp hành động của các phương thức đấu tranh khác. Trong số đó phải kể đến phương thức "đánh vào lòng người" dưới các hình thức binh, địch vận. Riêng trong chín năm kháng chiến chống Pháp, ngành binh - địch vận của quân đội ta đã kêu gọi được 25 vạn ngụy binh đào ngủ, vận động 10 vạn ngụy binh ở lại miền Bắc sau năm 1954. Thấy rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, hơn 1000 lính Âu - Phi đã chạy sang hàng ngũ kháng chiến. Cũng là phương thức "đánh vào lòng người" chúng ta còn có những cuộc vận động các tầng lớp nhân dân chính quốc cũng như các tâng lớp nhân dân thế giới tiến hành phản đối chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp đã nổi lên hai tấm gương tiêu biểu như anh Hăng-ri Mác-tanh và chị Ray-mông Điêng từ phong trào phản chiến ở nước Pháp. Trong cuộc chiến tranh chống Mĩ, cứu nước đã có tới 16 trường hợp tự thiêu từ phong trào phản chiến ở nước Mĩ như cụ bà Hen-ga Héc-dơ, anh Nô-man Mô-ri-xơn... chưa kể đến 32 người tự thiêu ở ba nước khác nữa. Để ủng hộ nhân dân ta, phản đối đế quốc Mĩ xâm lược, trên thế giới đã có trên 10 Ủy ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam của các tổ chức dân chủ, đoàn thể tôn giáo và tổ chức xã hội; có trên 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết, ủng hộ Việt Nam ở hầu hết các nước; trên 50 nước có phong trào quyên góp, ủng hộ Việt Nam như ở Pháp có các phong trào quyên góp "100 triệu Phrăng ủng hộ Việt Nam”, "một chiếc tàu cho Việt Nam"; ở Nhật Bản có chiến dịch quyên góp "100 triệu yên cho Việt Nam"; ở Thụy Điển có phong trào quyên góp "một triệu cua-ron ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam"; 16 nước có phong trào hiến máu ủng hộ Việt Nam. Đặc biệt là ở nước Anh, theo sáng kiến của Huân tước Béc-tơ-răng Rút-xen, nhà toán học và triết học, "Tòa án quốc tế xét xử những tội ác chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam", được thành lập và đã nhóm họp nhiều phiên để lên án, kết luận về tội ác xâm lược và tội ác diệt chủng, diệt sinh, diệt môi trường sống của đế quốc Mĩ ở ba nước Đông Dương. "Đánh vào lòng người" còn có phương thức đấu tranh ngoại giao. Phương thức này thường xuyên xuất hiện vào cuối cuộc chiến tranh, khi mà kẻ xâm lược đã thấy nao núng tinh thần sau những thất bại lớn về quân sự, buộc phải ngồi vào bàn thương lượng. Trong lịch sử quân sự Việt Nam, phương thức này xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XI, khi mà đạo quân xâm lược Tống đã bị tiêu diệt tới 40%. Không có con đường nào khác, chủ tướng Quách Quì đã phải tuyên bố một câu giữ sĩ diện để "rút quân trong danh dự' như cách nói của chúng ta ngày nay: "Ta không thể đạp đổ được sào huyệt giặc (chỉ Đại Việt), bắt được Càn Đức (vua Lý Nhân Tông) để bảo mệnh triều đình. Tại trời vậy! Thôi đành liều một thân ta để cứu hơn mười vạn nhân mạng (số quân xâm lược). Nhưng thực ra tâm trạng hắn lúc đó đã được bộc lộ qua lời bình luận của các học giả nhà Tống: "May được lời giặc (lời đề nghị giảng hòa của Đại Việt) nói nhũn, liền nhân đó giảng hòa". Hiệp nghị Giơ-ne-vơ được kí kết năm 1954, buộc thực dân Pháp phải rút quân ra khỏi miền Bắc cũng là kết quả của phương thức đấu tranh ngoại giao từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Tương tự như vậy nên sau đòn tiến công chiến lược vào Tết Mậu Thân, năm 1968, phía Mĩ buộc phải ngồi vào bàn thương lượng và kí Hiệp định Paris để "lủi thủi ra đi" cũng là chịu một đòn tiến công ngoại giao quyết liệt và bền bỉ của nhân dân ta kéo dài tới 4 năm 8 tháng 14 ngày với 202 phiên họp. Nhưng cùng với phương thức đấu tranh vũ trang thì phương thức đấu tranh chính trị trong chiến tranh chống Mĩ là đã thu hút nhiều tầng lớp quần chúng tham gia nhất và cũng là một kiểu đấu tranh của những gan vàng, dạ sắt mà lực lượng tham gia lại là những bậc quân thoa. Thật vậy, lợi dụng thế đấu tranh hợp pháp trong vùng tạm chiếm, những "đội quân tóc dài" từ mọi ngả đường, ùn ùn kéo đến thường để chặn những cuộc hành quân càn quét. Trong những "đội quân tóc dài" đó có những bà cụ già chống gậy, có những người mẹ trẻ bế con thơ. Ngoài chiếc nón lá đội đầu và tấm khăn rằn vắt vai, những người đàn bà chân yếu, tay mềm đó không có gì mang theo trừ lòng yêu nước và chí căm thù. Phương thức đấu tranh chính trị còn thu hút cả giới học sinh, sinh viên, giới phật tử. Ví như cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn ngày 9 tháng 1 năm 1950 dẫn đến cái chết vẻ vang của anh học sinh yêu nước Trần Văn Ơn hay cuộc biểu tình phản kháng nhà cầm quyền của giới phật tử bằng hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức.
Thế nhưng muốn nói gì thì nói, trong chiến tranh bao giờ cũng vậy, hai bên tham chiến nhất thiết phải tìm đủ mọi phương pháp để tiêu diệt lẫn nhau. Làm được hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào phương pháp tác chiến, vào nghệ thuật quân sự. Tuy trên chiến trường phải lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh nhưng chúng ta có chiến tranh chính nghĩa của một dân tộc bảo vệ độc lập, tự do; có sức mạnh đoàn kết của toàn dân đứng lên chống giặc, cứu nước. Các yếu tố đó đã giúp chúng ta biến ít thành nhiều, biến yếu thành mạnh. Và lại "ít" và "yếu" đó chỉ là hình thức bên ngoài, theo cách nhìn của kẻ đi xâm lược, còn thực chất về nội dung là sự chiến thắng của chất lượng cao đối với số lượng đông. Không những thế, xét về góc độ quân sự, điều quyết định chiến thắng của trận đánh, cũng như toàn cuộc chiến tranh, không phải là lực lượng, là phương tiện mà chính là phương pháp tác chiến, phương pháp sử dụng lực lượng và phương tiện, là nghệ thuật quân sự. Nếu để chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong quá trình bảo vệ Cách mạng tháng Tám bằng phương tiện, bàng lực lượng vũ trang chuyên nghiệp thuần túy thì chúng ta làm sao có ưu thế được trước đối phương. Đấu tranh vũ trang, một cuộc đọ sức quyết liệt bằng sắt thép, máu lửa nếu chỉ có quân nhiều, súng lắm và thậm chí có thêm cả lòng dũng cảm vẫn chưa đủ mà phải có trí thông minh, óc sáng tạo. Đối với chúng ta, đó là phương pháp tác chiến được thể hiện qua các hình thức đánh phục kích, đánh bất ngờ, đánh vận động, đánh ban đêm, đánh vào tuyến hậu cần chiến lược.“.. Thắng lợi của ít thắng nhiều, yếu chống mạnh còn được thể hiện ở chỗ buộc địch phải tác chiến theo kiểu của ta, không cho chúng phát huy được sở trường vốn có. Địch muốn đánh nhanh thắng nhanh, ta thực hiện "kháng chiến trường kỳ". Ngay trong chiến dịch Điện Biên Phủ, địch cũng muốn "đánh nhanh, giải quyết nhanh" như phương châm lúc đầu của chiến dịch nhưng thấy không thể bảo đảm được thắng lợi, ta đã nhanh chóng chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Địch muốn tập trung đánh lớn nhằm thu hút chủ lực để tiêu diệt với ý đồ đập nát sức đề kháng ngay từ đầu cuộc chiến, ta căng mỏng chúng ra và dùng dân chúng vũ trang đánh nhỏ, đánh lẻ để tiêu hao dần. Địch muốn đánh ở đồng bằng, ở đô thị, đánh trong công sự kiên cố, đánh bằng vũ khí tối tân... ta kéo chúng lên rừng núi, về các làng xã chiến đấu, đánh địch bằng tác chiến vận động, đánh địch trên các địa hình hiểm trở nên đã hạn chế được tính năng, tác dụng của mọi loại binh khí - kĩ thuật... Tất cả những nội dung vừa nêu ở trên, người viết muốn trình bày về phương pháp đấu tranh để bảo vệ thắng lợi thành quả của Cách mạng tháng Tám. Ở thời điểm đó, dùng bạo lực là phương pháp duy nhất đúng vì ngoài ra, không có một phương pháp nào ưu việt hơn. Hành động bạo lực được biểu hiện ra bằng hai cuộc chiến tranh mà phương pháp tiến hành là chiến tranh toàn dân và phương pháp tác chiến trên chiến trường là lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh. Mà đã nói đến phương pháp - nhất là phương pháp bạo lực phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do - là muốn nói đến trí tuệ con người, một sản phẩm được sinh ra từ nền văn hóa dân tộc nói chung, nền văn hóa giữ nước nói riêng cũng như nền văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn lịch sử hiện đại. Giai đoạn văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức bạo lực vũ trang để bảo vệ Cách mạng tháng Tám đã kết thúc thắng lợi sau 30 năm đấu tranh nhưng sự nghiệp văn hóa đó còn đang tiếp tục vì nguy cơ xoá bỏ thành quả của cuộc cách mạng dưới những hình thức đấu tranh "không có khói súng" vẫn cứ tồn tại. Vì kẻ thù đã nhận thức rõ rằng cầm vũ khí chống lại chúng trong những cuộc chiến tranh vừa qua là những người có văn hóa, mà cốt lõi là có lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, trọng nhân nghĩa, quí tình người, biết để quyền lợi cộng đồng trên quyền lợi cá nhân. Người Việt Nam chúng ta cũng hiểu, dù bất cứ lúc nào, nhất là trong giai đoạn này, để mất văn hóa là "để mất chính mình" trước khi để mất Tổ quốc - một thành quả do Cách mạng tháng Tám giành lại - dù cho binh khí - kĩ thuật có được trang bị "đến tận răng" cũng bất lực. Bởi vậy, cho nên khó khăn đến chừng nào cũng phải phấn đấu giữ vững nền văn hóa dân tộc. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:34:08 am DI CHÚC CỦA TRẦN QUỐC TUẤN, BẢN TỔNG KẾT CHIẾN TRANH CHUẨN MỰC Ở thế kỷ XIII, trong bốn trước tác lớn của Trần Quốc Tuấn, trừ Hịch tướng sĩ - cũng có tên gọi Dụ chư tì tướng hịch vãn - là lời kêu gọi các cấp chỉ huy quân sự thuộc quyền trước khi bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1285, còn tất cả ba trước tác khác đều bàn về lí luận quân sự. Tuy thế nhưng cơ sở để hình thành giữa chúng cũng không giống nhau. Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Binh thư yếu lược được xem là hai cuốn binh thư đầu tiên ở Việt Nam. Dĩ nhiên có sự lựa chọn, kế thừa và phân tích cho phù hợp với thực tế đất nước, song khi soạn thảo, tác giả đã phải dựa vào lí luận quân sự của các binh gia Trung Quốc. Chính Trần Quốc Tuấn cũng nói rõ: "Nay ta soạn chép binh pháp các nhà, làm thành một quyển, tên là Binh thư yếu lược"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.93). Hay như lời giới thiệu của Ngô Sĩ Liên: "Hưng Đạo Vương chép nhặt binh pháp các nhà làm "đồ bát quái cửu cung" gọi là Vạn Kiếp tông bí truyền thư"2 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.94). Chỉ có Di chúc là hoàn toàn mang theo bản sắc văn hóa quân sự dân tộc. Đó là một văn kiện lí luận được đúc kết từ thực tế chiến tranh ở Việt Nam. Thật vậy, Di chúc ra đời ngày 24 tháng 6, trước khi Trần Quốc Tuấn qua đời - ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300) - 56 ngày. Nội dung thực chất của nó là lời dặn dò vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước. Tuy chỉ vẻn vẹn có 212 từ Hán nhưng văn kiện đã nêu rõ được hai vấn đề lớn: một là, xác định nguồn gốc tạo nên sức mạnh; hai là, lựa chọn phương pháp sử dụng sức mạnh. Trong chiến tranh, qui luật muôn đời là mạnh được, yếu thua. Song khái niệm sức mạnh trong chiến tranh lại có nhiều cách hiểu khác nhau. Phương Tây quan niệm đó là nhà nước, quân đội và vũ khí. Phương Đông quan niệm sức mạnh không chỉ là như vậy mà còn có cả nhân dân. Trong Binh pháp Ngô Khởi, tác giả cũng đã viết: "Ngày xưa, các bậc vua chúa mưu đồ việc nước, trước hết là do dạy dỗ trăm họ và yêu thương muôn dân". Duy có điều, nhân dân ở đây chỉ là phương tiện để các bậc vua chúa đi đến quyền lợi ích kỉ của mình chứ không phải vì mục đích đem lại độc lập, tự do cho mọi tầng lớp như trong chiến tranh yêu nước của dân tộc ta. Xuất phát từ nền văn hóa quân sự phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, tác giả Di chúc đã xác định rõ hai yếu tố tạo nên sức mạnh của chiến tranh là khối đại đoàn kết và năng lực bất tận của nhân dân. Khối đại đoàn kết bao gồm: đoàn kết trong nhân dân (dân tâm bất li), đoàn kết trên dưới (thượng hạ đồng dục, quân thần đồng tâm), đoàn kết trong nhà, trong họ (huynh đệ hòa mục), đoàn kết trong quân đội (phụ tử chi binh). Còn năng lực bất tận của nhân dân bao gồm sự góp sức của từng gia đình đến sức mạnh của cả nước (quốc gia tính lực). Chính Trần Quốc Tuấn cũng từng nói "ý chí dân chúng là một bức tường thành" (chúng chí thành thành). Bởi vậy, "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách để giữ nước". Với cương vị là người tổng kết chiến tranh yêu nước, lần đầu tiên, Trần Quốc Tuấn phát hiện ra một trong hai qui luật của lịch sử Việt Nam: độc lập của dân tộc gắn liền với dân chủ của nhân dân. Điều đó, hơn một trăm năm sau, Nguyễn Trãi đã kế thừa một cách sáng tạo dưới lá cờ nhân nghĩa trong cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỉ XV. Trong vấn đề sử dụng sức mạnh, Di chúc đã giúp cho các thế hệ sau tiếp cận được sự lựa chọn những phương pháp đấu tranh vũ trang thích hợp và hiệu quả. Về chiến tranh và lực lượng vũ trang, Di chúc khái quát: muốn chiến thắng quân xâm lược trong chiến tranh yêu nước - đặc biệt là ở thế kỉ XIII - nhất thiết phải tiến hành chiến tranh toàn dân với điều kiện toàn dân tham gia chiến tranh, toàn dân là chiến sĩ, "đại quân tiến đánh... nhân dân làm kế thanh dã". Hơn năm thế kỉ sau nhìn lại, Phan Huy Chú đã nhận xét: "Thế là đời Trần, nhân dân ai cũng là lính nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội, H.1992, t.3, tr.9). Như trên đã nói, cùng với quân đội chiến đấu, nhân dân còn tham gia chiến tranh qua hình thức "vườn không nhà trống (nhân dân thanh dã)". Hành động này đã khiến cho bao nhiêu chủ tướng của những đạo quân xâm lược phương Bắc phải khốn đốn vì thiếu lương thực trên chiến trường Việt Nam dù có thuộc lòng lời dạy của binh gia Tôn Tử: "Lương thực cướp từ nước địch, nhờ vậy mà binh lính đủ ăn". Vào thời trung đại, trên phạm vi toàn thế giới, kị binh đã giữ vai trò quyết định trong trận đánh nhưng Trần Quốc Tuấn lại cho rằng trên chiến trường Việt Nam, bộ binh (chỉ đoản binh - binh chủng sử dụng vũ khí ngắn: giáo gươm, gậy gộc) vẫn là lực lượng nòng cốt của toàn dân đánh giặc và cho đó là "việc thường trong binh pháp". Cách lập luận này không phải là không có lí do. Bởi vì, ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, tất cả mọi người dân tham gia chiến tranh, dĩ nhiên họ đều là những bộ binh - nông dân mà vũ khí được sử dụng không có gì hơn là gậy gộc và gươm giáo. Để xây dựng một quân đội hùng mạnh, người ta thường nghĩ đến các khâu: tuyển mộ, tổ chức phiên chế, trang bị huấn luyện, đào tạo người chỉ huy... nhưng tác giả Di chúc lại chủ trương "có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được". Đây cũng là một phát hiện mới mẻ và độc đáo từ nền văn hóa quân sự Việt Nam về xây dựng một quân đội trăm trận trăm thắng trong chiến tranh yêu nước. Bàn về nghệ thuật quân sự, Di chúc nêu lên hai nội dung: một là, điều kiện, hoàn cảnh mà dân tộc ta phải luôn luôn đứng trước nạn ngoại xâm, hai là, sự đối phó với hai kiểu chiến lược quân sự của các đạo quân xâm lược. Về điều kiện, hoàn cảnh, sau khi đưa ra bốn giai đoạn lịch sử mà dân tộc ta đã chiến thắng quân xâm lược phương Bắc, Di chúc kết luận: "Tóm lại, giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chế trường là việc thường trong binh pháp". Đoản ở đây không chỉ là đoản binh, là bộ binh để chống lại trường trận như đã nêu mà ngoài nghĩa là ngắn, còn là ít, là yếu, đặt trong mối tương quan lực lượng đối với những đạo quân xâm lược là dài, là nhiều, là mạnh... hơn hẳn ta về tiềm lực trên các mặt địa lí, dân số, kinh tế, quân lực... Đây là khái niệm đầu tiên được trình bày về tương quan lực lượng địch - ta để sau này các nhà quân sự phát triển thành "lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh"... Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Hai, 2022, 07:35:49 am Tìm hiểu lịch sử của gần mười bốn thế kỉ tiến hành chiến tranh yêu nước của dân tộc, Trần Quốc Tuấn hiểu rằng trong hai kiểu chiến lược về thời gian "nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy, gió thổi thì dễ chế ngự'. Nhận định đó, về thực tế là xuất phát từ chiến trường Việt Nam, về lí luận là xuất phát từ cuốn "Binh pháp thập tam thiên" của Tôn Tử: "Tiến hành chiến tranh lâu dài mà được lợi cho quốc gia là điều không hề có". Như vậy, "đánh nhanh, thắng nhanh" là phương thức bắt buộc đối với mọi đạo quân xâm lược. Vả lại, dân tộc ta cũng đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm trong việc đánh thắng những phương thức đó. Trái lại, "nếu nó đi chậm như cách tằm ăn, không lấy của dân, không cầu được chóng thì phải chọn dùng - tướng giỏi, xem xét quyền biến như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm". Đây là hiện tượng hiếm có, mới lạ với vẻ bên ngoài, đi ngược lại bản chất bên trong của mọi đạo quân xâm lược. Mục đích tuy vẫn y nguyên nhưng phương pháp thực hiện của chúng đã không còn như cũ. Hãy dè chừng! Để chiến thắng âm mưu xảo quyệt đó, phải cần người chỉ huy quân sự giỏi, có tài quyền biến, biết tùy thời mà hành động.
Qua những phần vừa trình bày, chúng ta thấy rõ trước mỗi kiểu chiến lược, Trần Quốc Tuấn đều có sự lựa chọn phương pháp đối phó thích hợp. Với chiến lược "ồ ạt như lửa cháy, gió thổi" ông cho rằng "dễ chế ngự". Trái lại, ông rất quan tâm đến phương pháp đối phó với kiểu chiến lược "đi chậm". Là người uyên bác, với tầm nhìn xa trông rộng, ông hiểu rằng, loại chiến lược này đã xuất hiện từ thời Xuân Thu (771 - 476 trước công nguyên) mà người đề ra đầu tiên là Quản Di Ngô (685 - 645 trước công nguyên) - tức Quản Trọng. Người đã góp nhiều công sức giúp Tề Hoàn Công làm nên nghiệp bá, trong đó có một biện pháp đáng kể là: "Nghệ thuật dùng binh trăm đánh, trăm thắng đã giỏi nhưng không đánh mà thắng mới thật là giỏi tuyệt vời”. Tư tưởng này được Tôn Tử phát triển lên thành một luận điểm hoàn chỉnh: "Thượng sách của việc dùng binh là dùng mưu lược, sau mới đến việc dùng ngoại giao, sau nữa mới đến việc dùng lực lượng quân sự để giành thắng lợi..." Vấn đề đặt ra trước chiến lược "đi chậm" là phải dùng tướng giỏi. Thật ra, theo binh thư cổ, tướng giỏi có nhiều kiểu loại khác nhau, trong đó có nho tướng (mưu kế), dũng tướng (chiến đấu), cảm tướng (dũng cảm), xảo tướng (năng động), nghệ tướng (tài năng). Mỗi kiểu loại thiên về một mặt. Để đảm nhiệm công việc hết sức khó khăn này, phải cần đến người chỉ huy quân sự toàn diện. Trong nguyên bản Di chúc, tác giả dùng từ "lương tướng". Đó phải là người tướng mà "dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lí, giữa biết việc người, coi bốn biển như một nhà. Đó là tướng chỉ huy được cả thiên hạ, không ai địch được"1 (Trần Quốc Tuấn, Binh thư yếu lược (Phụ Hổ trướng khu cơ), Nxb Khoa học xã hội, H.1977, tr.39). Cùng đề ra với việc chọn lương tướng, ông còn nhấn mạnh đến hai năng lực đặc biệt của người tướng đó là "tài quyền biến" và biết "tùy thời". Người tướng có tài quyền biến là có tài ứng phó kịp thời, linh hoạt khi có biến, khi có việc bất thường. Trong lịch sử quân sự Việt Nam có thể kể ra hai trường hợp. Đó là vào năm 1285, trước sức tiến công mạnh mẽ, ào ạt của 50 vạn quân xâm lược Mông - Nguyên, Trần Quốc Tuấn, với cương vị Tổng tư lệnh, đã kịp thời cho quân chủ lực rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng, mặc dù cách đó ba năm, năm 1282, tại hội nghị Bình Than, vua Trần cùng bá quan văn võ triều đình đã nhất trí tổ chức một hội chiến lớn nhầm ngăn chặn và tiêu diệt địch tại Nội Bàng. Hay như cuối năm 1788, với một lực lượng nhỏ, biết không đủ khả năng đánh thắng 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh, Ngô Thì Nhậm đã nhanh chóng cho quân đội rút khỏi Thăng Long về bố trí tuyến phòng ngự tại Tam Điệp - Biện Sơn, chờ vua Quang Trung cùng đại quân ra phản công chiến lược. Dưới chế độ phong kiến, người tướng cầm quân có thể không tuân lệnh vua, có quyền "tiền trảm hậu tấu". Lí thuyết là thế nhưng nếu không đủ tài quyền biến, không biết đánh giá chính xác tương quan lực lượng địch - ta thì chắc chắn Trần Quốc Tuấn và Ngô Thì Nhậm không giám chịu trách nhiệm để hành động một cách quyết đoán như vậy. Trong lí luận quân sự Việt Nam, lần đầu tiên Di chúc đề cập đến khái niệm thời trong chiến tranh. Trước hết, Trần Quốc Tuấn bàn về tính chất nhanh và chậm của chiến lược quân sự của các đạo quân xâm lược và hai phương pháp giải quyết như đã trình bày. Theo trục thời gian, ông đã tổng kết một cách tài tình những cuộc chiến tranh giữ nước diễn ra trong quá khứ và cho rằng, mỗi giai đoạn lịch sử, sở dĩ đạt kết quả mĩ mãn là dân tộc ta biết hành động phù hợp với hoàn cảnh đương thời. Và trong tương lai cũng vậy, muốn thành công cũng lại phải biết ứng biến theo thời. Ở đây, điều đáng chú ý là lần đầu tiên ở Việt Nam, trong Di chúc đã xuất hiện những khái niệm quân sự mới mà theo ngôn ngữ hiện đại là: chiến tranh toàn dân, trăm họ đều là lính, sức mạnh nhân dân, đại đoàn kết, lấy ngắn trị dài (cơ sở của khái niệm "lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh"), người chỉ huy quân sự và binh lính xem nhau như cha con... Dần dần theo thời gian, sự thắng lợi của mọi cuộc chiến tranh chống ngoại xâm đã trở thành truyền thống, các khái niệm đó dường như bất biến và được xem là những hằng số văn hóa quân sự Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, không có một cuộc chiến tranh yêu nước nào đi đến thắng lợi mà lại không sử dụng đến các hằng số đó, nhưng đều phải biết sử dụng và phát triển chúng trong những hoàn cảnh cụ thể như lời khuyên của Trần Quốc Tuấn là phải biết tùy thời. Tròn 700 năm đã trôi qua, những lời dặn dò của Trần Quốc Tuấn đâu đã mất đi tính thời sự ở năm cuối cùng của thế kỉ này? Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 07:56:17 am NGUYỄN TRÃI VÀ CHỪ THỜI TRONG CHIẾN TRANH Ở thế kỷ XV, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của sự nghiệp cứu nước vĩ đại và được xem là linh hồn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Hoàn thành được sứ mạng cao cả đó, chính là vì ông đã biết suy nghĩ và hành động đúng đắn trước chữ thời. Hành động đúng đắn trước chữ thời tức là hành động tùy thời, hành động đúng thời cơ, hành động kịp thời. Ông hiểu rõ, để lập nghiệp, người thức giả phải luôn luôn hành động kịp thời mới khỏi sai lầm, vấp váp. Bỏ mất chữ thời thì dù có tài giỏi đến đâu rồi cũng thất bại, thậm chí có khi còn nguy hiểm cho sự nghiệp lớn và cho chính cả bản thân mình. Kịp thời có nghĩa là đã đến lúc hành động mà không hành động hoặc hành động chậm trễ là bất cập, chưa đến lúc hành động mà đã vội vã hành động lại là thái quá. Hành động tùy thời không phải là xu thời, phụ thế - "nịnh bợ" thời cuộc, bị động trước thế sự - mà là sự tỉnh táo, đánh giá tình hình, nhận rõ đúng sai để theo hoặc để chống. Đó cũng là cách hành động theo hai chiều thuận, nghịch đối lập nhau. Thế nhưng theo hay ngược lại là chống, người thức giả phải ngẫm nghĩ, suy xét để giữ vững thế cân bằng, tránh sự lệch lạc trong hành động - ngôn ngữ hiện đại gọi là khuynh hữu hay khuynh tả. Thời nên nghỉ thì chưa nên làm, thời đáng làm thì không được nghỉ. Có thể nêu lên hai việc làm của Nguyễn Trãi trước khi gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn. Một là, quan niệm về chữ hiếu. Ông sẵn sàng hi sinh tiểu hiếu với cha, kịp thời quay về, phấn đấu làm tròn đại hiếu đối với Tổ quốc của một sĩ phu yêu nước. Hai là, mai danh ẩn tính (chôn tên, giấu họ) hơn mười năm. Đây cũng là sự sáng suốt của ông. Sau khi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của nhà Hồ, thất bại, đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa bùng nổ nhưng ông không hề "xuất đầu lộ diện" vì thấy rằng: phong trào đấu tranh tuy lan rộng và mãnh liệt nhưng nặng tính tự phát, riêng lẻ, không phải là một phong trào có tổ chức và lãnh đạo thống nhất. Không những thế, phong trào lại thiếu hẳn một bộ tham mưu kiên quyết và có uy tín, đủ khả năng huy động và tập hợp lực lượng đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân yêu nước. Với cách suy nghĩ đó, ông thận trọng chờ cho đến năm 1420, hai năm sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, năm 1418, mới tìm đến Lỗi Giang (Thanh Hóa), gặp Lê Lợi để dâng "Bình Ngô sách". Là người am tường triết học phương Đông, Nguyễn Trãi hiểu chữ thời thường có hai vế: thời bên ngoài và thời bên trong. Trong đạo xử thế, đặc biệt là trong đấu tranh vũ trang, trước hết phải rõ cái thời bên trong. Có làm được như vậy thì mới bàn đến cái thời bên ngoài. Nếu cái thời bên trong chưa được chuẩn bị kĩ và được thực hiện đến nơi, đến chốn thì cái thời bên ngoài dù có tốt đẹp, thuận lợi bao nhiêu, cũng không nên tính đến làm gì, chỉ mất công vô ích. Trong Binh pháp thập tam thiên, Tôn Tử nêu rõ: "Tri bỉ, tri kỉ, bách chiến bất đãi" (biết địch, biết ta, trăm trận không nguy". Nguyễn Trãi cũng từng viết trong Chí Linh sơn phú" "Tri bỉ, tri kỉ, năng nhược năng cường" (biết địch, biết ta, hay yếu, hay mạnh")1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.72, 116). Biết địch - là biết thời bên ngoài - nhưng lại phải biết ta - là biết thời bên trong thì mới chuẩn bị được lực lượng để đánh thắng chúng. Hai vế đó phải cân xứng với nhau như người xưa thường nói "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" (cùng tiếng mới giúp được nhau, cùng khí chất mới tìm đến nhau). Chuẩn bị được kĩ lưỡng cái thời bên trong từ chính bản thân mình, Nguyễn Trãi mới bàn đến thời bên trong của đất nước vào cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV. Sau khi phân tích những mặt yếu kém của các triều đại phong kiến thời cuối Trần và thời Hồ, đưa tới thảm họa mất nước, ông đã thấy rõ một điều: thời kỳ dân tộc ta tiến hành những cuộc chiến tranh giữ nước như trong năm thế kỷ độc lập, tự chủ vừa qua đã không còn nữa. Bản Di chúc của Trần Quốc Tuấn để lại, được giới sử học quân sự xem là một bản tổng kết hàm súc về chiến tranh yêu nước, có giá trị lớn về nhiều mặt nhưng tất cả đều chỉ bàn đến những phương pháp đi tới chiến thắng của loại hình chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà không hề có một câu, một chữ nào đề cập đến loại hình chiến tranh giải phóng dân tộc. Điều đó cũng thật dễ hiểu. Bởi lẽ, cho đến thời điểm ấy, trong thực tế lịch sử quân sự Việt Nam, chưa từng có một cuộc chiến tranh cứu nước nào mang tầm vóc lớn. Nói chính xác ra cũng có một vài lần xảy ra dưới thời Bắc thuộc như cuộc chiến tranh cứu nước của Bà Triệu ở thế kỷ III, cuộc chiến tranh cứa nước của Phùng Hưng ở thế kỷ VIII nhưng tất cả đều bị nhấn chìm trong biển máu. Từ đó, vấn đề đặt ra cho Nguyễn Trãi trước thời cuộc là nhất thiết phải tiến hành thắng lợi một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, song lại không thể không tìm tòi, lựa chọn ra những phương pháp hành động thích hợp và hiệu quả. Nếu như trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở những thế kỉ trước đó, nhà nước phong kiến dân tộc là cơ quan chỉ đạo, quân đội là phương tiện thực hiện, dựa trên nền tảng nhân dân yêu nước thì trong cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỷ XV, tất cả chỉ còn lại là sức mạnh tuyệt đối của cả một dân tộc bị áp bức đang vươn dậy. Với một tầm nhìn lịch sử sắc sảo, Nguyễn Trãi nhận thức được rằng sức mạnh của thời đại mới chính là sức mạnh của "manh lệ bốn phương". Lấy những người dân phiêu bạt, li tán, những người làm ruộng nghèo khổ làm động lực chủ yếu cho cuộc chiến tranh giải phóng, Nguyễn Trãi xác định cho mình một phương châm hành động, một đường lối đánh giặc cứu nước, mệnh danh là "nhân nghĩa" và được nêu rõ trong Bài cáo bình Ngô: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo". Câu thứ nhất chỉ rõ đem lòng yêu nước nồng nàn, đem tinh thần độc lập dân tộc để đánh thắng quân xâm lược. Câu thứ hai xác định việc lấy lòng yêu nước, yêu thương nhân dân rất mực, lấy tinh thần dân chủ để chống lại sự áp bức, bóc lột của chính quyền thống trị ngoại bang. Trên cơ sở gắn bó chặt chẽ lòng yêu nước thiết tha với lòng yêu dân vô hạn, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã khái quát cao độ sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh thần độc lập của dân tộc với ý thức dân chủ của nhân dân trong mọi hoạt động xã hội và trong đạo đức con người. Phương châm hành động của ông sở dĩ đã đưa cuộc chiến tranh giải phóng đến thắng lợi huy hoàng vì nó đã thực sự tuân theo một trong hai qui luật khách quan của lịch sử dân tộc: dựng nước gắn liền với giữ nước và độc lập dân tộc gắn liền với dân chủ của nhân dân. Tiếp nối sự chuẩn bị mọi mặt cái thời bên trong, Nguyễn Trãi tìm hiểu đến cái thời bên ngoài của cuộc chiến tranh giải phóng, cụ thể là thời của triều đình và xã hội nhà Minh, nhất là từ năm 1424 trở đi. Trên cơ sở tình hình địch, từ chính quốc đến chiến trường, ông xác định phương hướng sẵn sàng hành động khi thấy xuất hiện thời cơ thuận lợi "thời cơ, thời cơ, chớ nên để lỡ" vốn là suy nghĩ của ông. Trong cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ một tài năng điêu luyện trong việc nắm bắt chính xác thời cơ. Mùa thu năm 1424, nhân lúc vua Minh Thành Tổ chết, vua Minh Nhân Tông lên kế vị, quân xâm lược đang hoang mang trước cái chết của vua cũ, chúc tụng, đón mừng sự đăng quang của vua mới, nghĩa quân mở đường chuyển hướng chiến lược vào Nam theo sự đề xướng của tướng Nguyễn Chích. Tháng 6 năm 1425, nhân lúc đại bộ phận lực lượng địch bị giam chân ở Nghệ An, lúng túng ở Đông Quan, hoang mang lo sợ ở khắp nơi, còn địch ở Tây Đô, Thanh Hóa lại suy yếu, từ vùng "đất đứng chân", nghĩa quân đánh ra Diễn Châu, Thanh Hóa và sau đó thừa thắng đánh vào Tân Bình, Thuận Hóa, thực hiện việc mở rộng đất đai vùng giải phóng. Mùa thu năm 1426, tương quan lực lượng đã nghiêng hẳn về phía ta, quân Minh hoàn toàn bất lực, chỉ còn đủ khả năng cố thủ trong thành Đông Quan và một số thành bảo khác, chờ viện binh, không thể kiểm soát được một vùng đất đai rộng lớn trên đất nước ta. Đó là thời cơ thuận lợi để một vạn nghĩa quân tiến ra Băc hoạt động mạnh ở vùng châu thổ sông Hồng, chuẩn bị cho chiến trường tiêu diệt địch sau này. Tháng 11 năm 1426, thấy quân Minh đã rút gần hết về Đông Quan, thành Nghệ An không còn là một mục tiêu quan trọng mà địch ở Đông Quan lại được sự tăng viện từ các nơi, tất sẽ tổ chức những cuộc phản công lớn, châu thổ sông Hồng sẽ trở thành chiến trường chính, nghĩa quân quyết định chuyển hướng chiến lược ra Bâc. Từ quyết định táo bạo nhưng rất sáng suốt này mà chỉ một năm sau đó, tháng 10-11 năm 1427, quân và dân ta đã thành công lớn trong việc vây thành, diệt viện, tạo nên những chiến thắng vang dội ở Chi Lăng - Xương Giang, ở Lãnh Câu - Đan Xá, tiến lên, đưa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV đi tới thắng lợi cuối cùng. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 07:57:47 am LẤY CÁI VÔ CÙNG THẮNG CÁI HỮU HẠN Bị thất bại tại trận "Chung kết " đẫm máu trên sông Bạch Đằng ngày 9-4-1288, triều đình nhà Nguyên không dám liều lĩnh tổ chức tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ tư nữa, vì biết chắc rằng phần thắng không bao giờ thuộc về phía chúng. Công lao cực kì to lớn từ các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đó đời đời thuộc về lớp người Việt ở thế kỉ XIII mà linh hồn của nó là Trần Quốc Tuấn, vị thống soái kiệt xuất, người anh hùng dân tộc vĩ đại, một thiên tài quân sự thời trung đại trên phạm vi toàn thế giới. Để chiến thắng được quân "Hung nô thời đại", chính vì ông đã biết khoét sâu những điểm yếu của quân xâm lược và phát huy những điểm mạnh của chiến tranh toàn dân. Thật vậy, về phía quân Mông - Nguyên, mục đích chiến tranh của chúng là xâm lược, phi nghĩa thì phía nhân dân ta lại là chính nghĩa, là bảo vệ độc lập, tự do. Vì lí tưởng vô cùng cao đẹp đó mà hàng triệu công dân thời đó đã sẵn sàng quên mình cho Tổ quốc. Đỗ Khắc Chung, một mình giữa doanh trại giặc, dám dũng cảm vén cánh tay áo để cho tên tướng Ô Mã Nhi thấy rõ hai chữ "Sát Thát". Trần Bình Trọng, trước lời đường mật của quân xâm lược đã dõng dạc thét lên: "Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc". Phải nói rằng ở thế kỷ XIII, trên hành tinh này, xét riêng về quân đội thì kị binh Mông - Nguyên là một lực lượng có sức tiến công mạnh. Nếu không, làm sao chúng có thể thắng được quân đội của bốn mươi quốc gia Âu - Á. Ngay cả khi kéo vào Đại Việt đầu năm 1285 và cuối năm 1287, số quân của chúng cũng từ 50 đến 60 vạn. Nhưng theo luận điểm của Trần Quốc Tuấn "quân cần tinh, không cần nhiều"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.64) thì những đạo quân ấy, tuy đông nhưng chưa hẳn đã mạnh. Lịch sử đã ghi rõ trong các đạo quân Mông - Nguyên, khi tiến vào nước ta, không chỉ có người Mông Cổ mà còn pha trộn thêm rất nhiều tộc người khác. Ví như trong 50 vạn quân tiến hành cuộc chiến tranh năm 1288, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, bên cạnh binh sĩ người Mông còn tới sáu vạn quân thuộc các vùng Hồ Quảng, Giang Chiết, Giang Tây; có 4.000 quân miền Bắc Trung Quốc; có 3.000 quân thuộc tộc người ở Ô Man2 (Nguyên sử, quyển 14, Bản kỉ, tập 2a)... Đã thế, ở đấy, mối quan hệ giữa người Mông Cổ, thường giữ cương vị chỉ huy, với các tộc người trên đất Trung Quốc, là quân lính, còn là quan hệ giữa giai tầng thống trị nước ngoài với các giai tầng bị đô hộ người bản xứ. Rõ ràng quyền lợi của các thành phần quân đội đó hoàn toàn trái ngược với nhau. Nó vừa là mâu thuẫn dân tộc, lại vừa là mâu thuẫn giai cấp. Nói đến quân đội còn là nói đến lực lượng tham chiến. Theo thông lệ trên thế giới, lực lượng này bao giờ cũng là quân đội - đặt dưới sự chỉ đạo của nhà nước. Nhân dân đứng ngoài cuộc. Vì vậy, quân đội thuộc các quốc gia Âu - Á, khi đã bị quân đội Mông - Nguyên đánh bại thì sức đề kháng bị thủ tiêu. Chúng ta hãy hình dung ba yếu tố quân đội, nhà nước và nhân dân với một hình tam giác. Quân đội và nhà nước là "hai cạnh" còn nhân dân là "đáy". "Đáy" nuôi nấng và bảo vệ "hai cạnh", trong thời chiến cũng như trong thời bình. Đó cũng chính là tình hình nước Đại Việt trong chiến tranh chống Mông - Nguyên. Lực lượng tham chiến đâu chỉ có quân đội và Nhà nước mà còn có toàn dân, có quần chúng vũ trang, có lực lượng tại chỗ. Nếu tính quân chủ lực dưới thời Trần, thường chỉ là 10 vạn nhưng cuộc chiến tranh năm 1285 vừa mới nổ ra, chỉ huy động riêng các lộ phía đông châu thổ sông Hồng, Trần Quốc Tuấn đã có ngay 20 vạn quân, ở tư thế sẵn sàng chiến đấu tại Vạn Kiếp. Trong khi đó "Hoan Diễn đang còn mười vạn quân” dự trữ. Có thể khẳng định rằng nếu ở thời kì đầu chiến tranh, khi quân xâm lược chưa bị suy yếu, quân chủ lực buộc phải rút lui chiến lược, đợi thời cơ mà thiếu đi sức mạnh của chiến tranh toàn dân, chắc chắn cuộc chiến tranh yêu nước của chúng ta đã bị đè bẹp. Chính nhờ có tinh thần "tận dân vi binh", "bách tính giai binh” mà tổ tiên ta đã liên tục giữ vững được sức đề kháng cho tới khi quân chủ lực phản công chiến lược, giành chiến thắng quyết định. Như trên đã nêu, cuộc chiến tranh năm 1285, quân Mông - Nguyên đưa vào nước ta ngót 60 vạn người, với hai tập đoàn chiến lược từ hai đầu đất nước. Đến khi chủ lực ta tiến hành phản công, tập đoàn phía Bắc bị đánh thiệt hại nặng, số tàn quân rút chạy theo Thoát Hoan về đến biên giới, chỉ còn lại năm vạn. Tập đoàn phía Nam ra đến Tây Kết thì bị tiêu diệt gọn. Chủ tướng Toa Đô tử trận, năm vạn tên bị bắt sống. Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, ngót 50 vạn xác giặc trên chiến trường Đại Việt là thành quả của chiến tranh tại chỗ. Trong quân đội Mông - Nguyên, ai cũng đều biết, kị binh đóng vai trò chủ chốt. Dùng kị binh tiến hành cuộc chiến tranh năm 1258 bị thất bại, trong cuộc chiến tranh năm 1285, quân Mông - Nguyên đưa thêm bộ binh làm nhiệm vụ chiếm đóng, canh giữ. Thất bại tiếp một lần nữa, trong cuộc chiến tranh năm 1288, chúng đưa thêm thủy quân. Nhưng tất cả các binh chủng đó, về cơ bản, cũng chỉ là những tên lính kém phẩm chất, nếu thiếu phương tiện tác chiến thì rất dễ bị loại bộ binh tinh nhuệ, như bộ binh Đại Việt, đánh thắng. Đối với những loại binh chủng này, phương pháp tối ưa mà Trần Quốc Tuấn đề ra là "bộ binh hóa" để tiêu diệt. Điều hữu hiệu nhất để quật ngã kị binh là tách rời kị thủ ra khỏi con ngựa đúng như Ph.Ăng-ghen từng nhận xét: "Các hiệp sĩ khi đã mất ngựa, phải đi bộ thì không chiến đấu được nửa và thường bị bắt làm tù binh"1 (Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H.1978, t.2, tr.49). Trong hội chiến Đông Bộ Đầu năm 1258, do Trần Quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy, quân ta tập kích doanh trại giặc vào ban đêm và đã chiến thắng, vì lúc đó, các kị thủ đang ngủ, nghĩa là đang thoát khỏi mình ngựa. Còn trong hội chiến Chương Dương - Thăng Long năm 1285, quân ta lại dùng cung tên, nhằm thẳng vào ngựa chiến đang rong ruổi mà hạ sát khiến kị thủ bị hất ngã và bị giết chết. Cách làm này đã đạt hiệu suất rất cao. Chính thế mà từ những năm trước cuộc chiến tranh năm 1285, trong "Dụ chư tì tướng hịch văn" (thường gọi là "Hịch tướng sĩ"), Trần Quốc Tuấn đã nhắc nhở các tướng sĩ thuộc quyền: "Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxn Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.93). Trên qui mô toàn thế giới, thắng lợi của bộ binh đối với kỵ binh lần đầu tiên đã diễn ra ở châu Âu. Đó là vào năm 1302, tại xứ Flandre (miền Tây nước Bỉ) - nơi xem là vùng trung tâm công nghiệp của thế giới đương thời - bộ binh thành thị đã đánh thắng kị binh hiệp sĩ người Pháp. Nếu so với trận bộ binh thắng kị binh đầu tiên ở châu Á, cụ thể là ở Việt Nam, tại hội chiến Đông Bộ Đầu năm 1258, thì hai trận đánh đó cũng cách nhau tới 44 năm. Bộ binh của chúng ta đã giành được chiến thắng lẫy lừng trước loài người ngót nửa thế kỷ. Để cho có được chiến thắng lịch sử này, những người bộ binh châu Âu phải là những thị dân, tức là phải ở một phương thức sản xuất cao hơn. Trái lại ở Việt Nam, không phải bộ binh thị dân mà chính là bộ binh nông dân của chế độ phong kiến nông nghiệp đã đánh bại kị binh Mông Cổ. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 07:58:58 am So với tiêu diệt kị binh thì tiêu diệt thủy quân có khó hơn nhưng vấn đề đặt ra cũng là làm đắm thuyền, đẩy thủy binh lên bờ, lọt vào lõng, như ở trận Bạch Đằng năm 1288. Vì thế ở vùng này, hiện vẫn lưu truyền câu ca dao:
Bạch Đằng giang là sông cửa ải Tổng Hà Nam là bãi chiến trường. "Bạch Đằng giang" chỉ bãi cọc đâm thủng thuyền. "Tổng Hà Nam" chỉ nơi tiêu diệt thủy binh tháo chạy lên bờ. Trong chiến tranh xâm lược nói chung ở mọi thời đại còn có một vấn đề luôn luôn nan giải là lương thực. Vì thế từ thời Xuân Thu (771 - 476 trước công nguyên), binh thư cổ đã dạy: "Những tướng soái thông minh bao giờ cũng nhằm lấy lương từ nước địch, vì dùng một chung lương của địch tương đương với vận chuyển hai mươi chung lương từ nước nhà tới"1 (Tôn Tử, Binh pháp thập tam thiên, Thiên Tác chiến). Cái khó khăn về lương thực của quân Mông - Nguyên cũng là như vậy. Thấy trước sự khó khăn này, trong cuộc chiến tranh năm 1285, Toa Đô đã đề nghị lấy lương ở ba nơi: Việt Lí (Quảng Trị ngày nay), Triều Châu (bắc Quảng Đông, Trung Quốc) và Tì Lan (tây bắc đảo Hải Nam, Trung Quốc) để tránh mệt nhọc nguy hiểm vì phải vận chuyển đường biển. Thế nhưng việc lấy lương ở các nơi này cũng không dễ dàng gì. Chính vì thế khi tiến vào nước ta, chúng đã tăng cường việc tìm kiếm lương thực song gặp trở ngại lớn vì khắp nơi, nhân dân ta đã triệt để thực hiện "vườn không nhà trống". Bên cạnh việc tìm lương cho người, quân Mông - Nguyên lại còn phải lo cỏ cho ngựa - tới hàng vạn con - mà chiến tranh đang diễn ra trên một đất nước chằng chịt sông ngòi, ao hồ, ruộng lầy... Để khắc phục, trong cuộc chiến tranh năm 1288, quân Mông - Nguyên đã phải tổ chức đoàn thuyền lương đi theo. Kết quả đoàn thuyền bị đánh đắm. Sự thất bại này đã gây nên một cú sốc lớn, đến nỗi khi nghe tin khủng khiếp này, lập tức "quân Nguyên phải rút chạy"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxn Khoa học xã hội, H.1971, tr.66). Cuối cùng là vấn đề nghệ thuật quân sự. Đặc điểm chung, lớn nhất của nghệ thuật quân sự Trần Quốc Tuấn là buộc quân Mông - Nguyên phải đánh theo cách của ta. Thật vậy, cũng như mọi quân đội xâm lược, tác chiến của quân Mông - Nguyên là dùng các binh đoàn chủ lực cơ động, tìm diệt chủ lực đối phương, giành thắng lợi để kết thúc chiến tranh, ở thời kỳ đầu chiến tranh, gặp khó khăn lớn, tương kế, tựu kế, chủ lực ta rút lui chiến lược nhằm biến nguy thành yên để buộc địch phải vào sâu săn đuổi. Trong cuộc chiến tranh năm 1285, đợt đầu cuộc rút lui, chúng đuổi theo đến cửa Hải Thị (Hưng Yên), đợt thứ hai, chúng đuổi theo đến Tam Trĩ (Ba Chẽ, Quảng Ninh) rồi lại đuổi tiếp vào tận Thanh Hóa. Trong cuộc chiến tranh năm 1288, chúng cũng đuổi theo quân ta đến cửa Hải Thị như lần trước. Để phối hợp với hành động rút lui chiến lược của quân chủ lực, quần chúng vũ trang đã tiến công địch ở khắp nơi, thúc đẩy chiến tranh xóm làng, chiến tranh tại chỗ phát triển, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó và tìm kiếm lương thực nuôi quân. Trong cuộc chiến tranh năm 1285, từ Lạng Sơn đến Thăng Long, quân Mông - Nguyên "cứ 30 dặm thì lập một trại, 60 dặm thì đặt một trạm, mỗi trại, mỗi trạm đóng 300 quân trấn giữ"1 (Nguyên sử, quyển 209, An Nam truyện, tập 7b) và có cả một chiến tuyến dài theo trục sông Hồng, từ Thăng Long ra đến biển. Theo dọc con sông này, chúng bố trí thành hai cụm cứ điểm lớn và một đồn tiền tiêu. Cụm cứ điểm thứ nhất là Thăng Long với một bộ phận lớn đóng trong thành và đại bản doanh của Thoát Hoan đóng bên bờ bắc (ở giữa có cầu phao nối liền). Lực lượng ở đây rất mạnh, là tập đoàn chiến lược, chiếm vị trí hàng đầu, tiêu biểu cho cả đạo quân xâm lược. Cụm cứ điểm thứ hai, tuy ở vị trí thấp hơn nhưng lại liên quan chặt chẽ đến toàn bộ tuyến sông Hồng, là Thiên Mạc (Hưng Yên). Để đối phó với Long Hưng (Thái Bình) và Thiên Trường (Nam Định), cụm cứ điểm này có chính diện hướng ra phía biển, vì vậy quân Mông - Nguyên đã bố trí trận địa ở cửa Hàm Tử (Châu Giang, Hưng Yên) và gần đấy là các đồn Chương Dương (Thường Tín, Hà Tây), Tây Kết (Châu Giang, Hưng Yên). Và cuối cùng, về phía hạ lưu, ở khúc sông Lỗ, là đồn tiền tiêu A Lỗ. Trong cuộc chiến tranh năm 1288, tình hình có khác. Lần này, quân xâm lược muốn biến Vạn Kiếp, một vị trí địa - quân sự thành một căn cứ vững chắc để tính kế lâu dài trên đất nước ta. Có thể Thoát Hoan đã rút kinh nghiệm từ cuộc chiến tranh trước. Lần ấy, sau khi tên chủ tướng này đưa quân tiến vào Thăng Long thì Trần Quốc Tuấn lại đem binh thuyền quay về Vạn Kiếp. Bị uy hiếp, hắn đã hoảng sợ, phải vội vã xin Hốt Tất Liệt tăng viện. Vì vậy, ngày 2 tháng 1 năm 1288, khi tiến đến vùng này, hắn đã cử ngay hai vạn quân thủy bộ đánh chiếm sông Lục Đầu, chiếm thành Linh Sơn - trên núi Chí Linh - và thành chữ "nhất" - nằm dọc theo sông Lục Đầu. Ngày 7 tháng 1 năm 1288, Thoát Hoan tiến đến Tứ Thập Nguyên (có thể ở gần Vạn Kiếp) đồng thời sai Trình Bằng Phi, A-li và Lưu Giang chỉ huy hai vạn quân đóng giữ Vạn Kiếp và làm thành trại bằng gỗ ở núi Phả Lại, núi Chí Linh để chứa lương thực. Ngày 21 tháng 1 năm 1288, Thoát Hoan đem quân đến và giao chiến với quân ta ở cảng Mao La (có thể là một ngách sông nào đó ở gần vùng Lục Đầu). Sau đó, tên tướng giặc này lại tiến đánh trại Phù Sơn (có thể là tên một ngọn núi phía hữu ngạn sông Lục Đầu). Đấy là những trận đánh nhằm mở rộng và củng cố khu căn cứ Vạn Kiếp. Như vậy là Thoát Hoan đã biết dựa vào địa hình thuận lợi của sông Lục Đầu, tập trung sức lực, xây dựng các cứ điểm trên các ngọn núi hai bên bờ sông, quyết biến vùng này thành một khu căn cứ thủy - bộ liên hoàn để thực hiện chiến lược "chiến tranh bình định". Trong âm mưu đó, hẳn là tên chủ tướng này đã tính đến khả năng nếu như không thắng nổi đối phương thì Vạn Kiếp ít nhất cũng là một vị trí co cụm để bảo toàn lực lượng trước khi tháo chạy về nước như sau này lịch sử đã diễn ra. Có thể với lí do đó mà trong cuộc chiến tranh năm 1288, việc rải quân chiếm đóng của chúng cũng không nhiều như trong cuộc chiến tranh năm 1285. Hai cụm cứ điểm tiêu biểu chỉ là Vạn Kiếp và Thăng Long. Những hành động trên của quân Mông - Nguyên đã dẫn đến tình trạng: - Lực lượng bị dàn mỏng, bị chiến tranh tại chỗ tiêu hao, tiêu diệt nhỏ nên sức tiến công suy yếu dần. - Lương thực bị thiếu thốn nghiêm trọng. - Nguy cơ bị chủ lực đối phương phản công, tiêu diệt lớn ngày một tới gần. Tình trạng đó buộc địch phải rút chạy và rồi sau đó bị tiêu diệt. Đây cũng là một đặc điểm khác nữa của nghệ thuật quân sự Trần Quốc Tuấn: buộc địch phải rút chạy và tiêu diệt lớn trên đường chúng rút chạy. Những đòn tiêu diệt đó từng diễn ra ở Chương Dương - Thăng Long, Vạn Kiếp, Tây Kết, Bạch Đẳng, Nội Bàng... đã đưa các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đi tới toàn thắng. Tóm lại, nghệ thuật quân sự Trần Quốc Tuấn nổi lên là dùng cái vô cùng để thắng cái hữu hạn; mà vô cùng thắng hữu hạn vốn dĩ là một chân lí trong mọi thời đại. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 07:59:50 am TỪ CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẮNG MỞ NƯỚC Trên đất nước ta, ít có vùng đất nào mà địa hình lại hiểm trở như vùng cửa Bạch Đằng giang đổ ra biển cả. Một vùng sông nước mà các lực lượng vũ trang dân tộc ta đã ba lần lập nên những chiến công hiển hách, năm 938, năm 981 và năm 1288. Tuy thế nhưng trong đó, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 vẫn được xếp lên vị trí hàng đầu. Chúng ta hãy đặt chiến thắng này vào trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống quân Nam Hán lần thứ hai. Như sử sách đã viết, năm 937 ở nước ta có một cuộc chính biến lớn. Dương Đình Nghệ đã bị nha tướng là Kiều Công Tiễn - một tên tay sai của Nam Hán - giết chết, cướp chính quyền. Lúc đó Nam Hán đã thành lập một đạo thủy quân lớn. Kế hoạch của Lưu Cung - vua Nam Hán - là dùng thủy quân làm lực lượng tiên phong, tiến quân vào Giao Châu, dưới sự yểm trợ của đạo quân Kiều Công Tiễn, chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho lực lượng của ông ta tự chỉ huy, đóng tại trấn Hải Môn (Bác Bạch, Quảng Đông), sẵn sàng tiếp ứng. Cuối năm 938, đạo thủy quân của thái tử Lưu Hoàng Thao bắt đầu xuất phát. Trước tình hình đất nước có "thù trong, giặc ngoài” như vậy, Ngô Quyền thấy rõ trước mắt phải đối phó với ba lực lượng: một là Kiều Công Tiễn, hai là Lưu Hoàng Thao và ba là Lưu Cung. Nhằm đi tới thắng lợi trong một thời gian ngắn, quyết không để quân xâm lược vào sâu trong lãnh thổ, ông xác định hành động quân sự lần lượt theo ba bước. Thứ nhất là phải nhanh chóng tiêu diệt Kiều Công Tiễn, làm quân xâm lược mất chỗ dựa. Thứ hai là tập trung hướng nỗ lực vào đạo thủy quân, bẻ gãy ngay chủ lực mũi nhọn đột kích của địch. Kết quả của hai bước trước nhất định sẽ dẫn tới bước thứ ba: Lưu Cung phải bãi binh. Sau khi diệt Kiều Công Tiễn, chuẩn bị đón đánh đạo thủy quân địch, Ngô Quyền nhận định: "Hoàng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt lại được tin Công Tiễn bị giết chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, đánh quân mỏi mệt, tất phá được. Song chúng có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền địch nhân khi nước triều lên, tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hơn kế ấy cả"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.1, tr.146). Quả nhiên, thực tế chiến địa diễn ra đúng như lời dự đoán hết sức tự tin của Ngô Quyền. Bằng hai đòn quyết định, mà trận Bạch Đằng là đòn quyết định nhất, tương quan lực lượng hai bên đã thay đổi một cách cơ bản trong một thời gian cực ngắn. Trước thảm họa đó, nếu tung thêm lực lượng ra nữa cũng sẽ dễ dàng bị tiêu diệt gọn, Lưu Cung đành xót xa chấp nhận sự thất bại và rút quân về Phiên Ngung. Nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có những đặc điểm: về chiến lược, đòn tiến công của Ngô Quyền nổi bật lên ở chỗ xác định đúng đắn mục tiêu chủ yếu, quyết định trong cuộc tiến công chiến lược đầu tiên là thủy quân Nam Hán, đồng thời tiêu diệt lực lượng Kiều Công Tiễn. Hai đạo quân này là chỗ dựa không thể nào thiếu được của đạo quân phía sau. Sau khi địch bị diệt, thế và lực của ta đã mạnh lên rất nhiều, quyết định sự thất bại hoàn toàn của quân xâm lược, biểu hiện rõ là Lưu Cung không giám tiến quân nữa vì biết rằng con đường phía trước chắc chắn sế dẫn đến đất chết. Bởi vậy, trận Bạch Đằng là một thủy chiến thể hiện một ưu thế: không những thủy quân non trẻ của chúng ta lúc bấy giờ có khả năng quyết chiến mà còn có đầy đủ sức mạnh tiêu diệt gọn một binh chủng mới của địch. Về chiến thuật, cái mới trong cuộc chiến tranh này là thủy chiến. Điều độc đáo là trên sông Bạch Đằng, đội hình chiến đấu của thủy quân ta đã tạo được một thế chiến thuật chặn đứng phía sau lưng địch không phải bằng bộ binh, thủy binh mà lại bằng những hàng cọc gỗ cứng. Ngô Quyền đã tính toán kĩ lưỡng về thời cơ và địa điểm để tiêu diệt địch. Đó là lúc thủy quân chúng vượt qua hàng cọc, cũng là lúc thủy triều dâng và lúc thủy triều bắt đầu rút thì mở cuộc tiến công quyết định. Trên chiến địa, thủy quân ta đã dàn thành các tuyến hàng ngang, dùng toàn lực, lợi dụng dòng nước chảy, lao tới, áp mạn xông lên, dùng gươm giáo đánh chiếm các thuyền địch. Tiếp sau đó, kết hợp chặt chẽ thế trận hàng rào phía sau và tiến công phía trước, thủy quân ta đã lợi dụng sức cơ động nhanh của thuyền nhỏ, truy kích và đánh chìm thuyền địch bằng cách dùng mũi nhọn đầu thuyền đâm vào đội hình đang rối loạn của chúng. Từ một chiến thắng quyết định trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cùng với nghệ thuật sử dụng nỏ liễu của quân đội nhà nước Âu Lạc, lần đầu tiên, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã khắc họa một nét độc đáo của văn hóa quân sự Việt Nam đúng như người phương Bắc từng nhận xét về tổ tiên người phương Nam chúng ta "giỏi cung nỏ, thạo thủy chiến". Với sự thông minh về chiến thuật trong nghệ thuật tận dụng môi trường tự nhiên vào đấu tranh vũ trang, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 còn bao gồm cả sự bất ngờ về kĩ thuật qua nghệ thuật tạo dựng thêm những hàng cọc gỗ liên kết chặt chẽ với nhịp độ lên xuống của thủy triều để tiêu diệt thủy quân địch. Tư chất thạo thủy chiến cộng thêm sự tìm tòi, khám phá ra một cách đánh giặc khác lạ của nhân dân ta từ chiến thắng Bạch Đằng năm 938, theo thời gian, hầu như đã trở thành một trong những yếu tố chi phối mạnh mẽ đến sự phát triển văn hóa quân sự nói chung và văn hóa thủy chiến nói riêng trong kỉ nguyên Đại Việt. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến Bạch Đằng trong cuộc chiến tranh chống Tống lần thứ nhất, Bạch Đằng trong cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên lần thứ ba. Và còn chưa kể đến những cơ động chiến lược trên sông nước của quân đội nhà Tiền Lê, quân đội nhà Lí, quân đội nhà Trần, quân đội Tây Sơn và chiến thẳng Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785. Thế nhưng chiến thắng Bạch Đẳng năm 938 không chỉ là một chiến thắng quân sự dù rằng riêng phương diện ấy cũng đã có một ý nghĩa to lớn. Chiến thắng này đã vượt lên trên phạm vi một trận đánh, một thành quả quân sự đơn thuần mà nó còn là một kết cục tất yếu của cuộc đấu tranh lâu dài, dai dẳng, đầy gian lao, khổ hạnh của nhân dân ta, hết lớp người trước đến lớp người sau nhằm chống lại sự áp bức, bóc lột về kinh tế, sự đồng hóa về ngôn ngữ, nòi giống, về tập quán, phong tục của các triều đại phong kiến Trung Hoa để mở ra một kỉ nguyên độc lập, tự chủ cho thiên niên kỉ thứ hai. Nếu như nhà sử học Lê Văn Hưu cho rằng những người làm nên chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là "quân mới họp của đất Việt" mà "phá được trăm vạn quân của Lưu Hoàng Thao"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.1, tr.147) thì chúng ta phải hiểu rằng "quân mới họp" là hiện thân của thế hệ người Việt Nam thời ấy, chính là hậu duệ của dân tộc Văn Lang, là sự tiếp nối dòng máu Lạc Hồng. Lớp người đó biết kế thừa, nâng niu, trân trọng, bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt mà cốt lõi là lòng yêu nước đã nẩy mầm từ nghìn xưa và được thử thách qua mười thế kỉ đấu tranh dưới các hình thức khởi nghĩa và chiến tranh yêu nước để chờ khi thời cơ đến thì cùng nhau chung sức, chung lòng làm nên sự tích anh hùng. Bước vào thế kỉ XXI, là lớp con cháu của thế hệ người Việt làm nên chiến thắng Bạch Đẳng mở nước, chúng ta quyết tâm phấn đấu làm hết sức mình cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vững bước tiến vào thiên niên kỉ thứ ba. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 08:01:05 am NHỮNG CHI LĂNG, BẠCH ĐẰNG, TÂY KẾT Tương tự như môi trường văn hóa nói chung, môi trường văn hóa quân sự Việt Nam là sự tương tác trong đấu tranh giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Mà môi trường tự nhiên - núi rừng, đèo dốc, sông ngòi, đồng ruộng... - trong văn hóa quân sự chính là địa hình. Thử hỏi, cổ kim đông tây, có trận đánh lớn nhỏ nào thoát ra khỏi địa hình? Nắm vững qui luật ấy, các thống soái quân sự ta đã dự báo chính xác những con đường tiến quân của lũ xâm lược để bố trí lực lượng chặn đánh và tiêu diệt chúng trên các nẻo đường đó. Đất nước ta, từ ngày giành được chủ quyền cho đến thế kỉ XI, bờ cõi phía nam chỉ mới đến đèo Ngang. Đã thế, phần đất từ Thanh Hóa trở vào lại có dãy núi Tam Điệp che chắn nên khó có kẻ thù xâm lược phong kiến phương Bắc nào vượt qua nổi trong điều kiện khoa học - kĩ thuật đương thời. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân Nam Hán, nhờ có dãy núi Tam Điệp mà Dương Đình Nghệ có thể ung dung chuẩn bị lực lượng, chớp thời cơ khi cánh quân xâm lược thứ nhất chưa kịp củng cố, cánh quân thứ hai chưa sang đến nơi, đã mở ngay cuộc tiến công chiến lược vào thành Tống Bình, đồng thời đưa quân lên mai phục trên vùng đông - bắc và diệt tan lực lượng của chúng, giành thắng lợi quyết định vào tháng 3 năm 931. Đến năm 937, Kiều Công Tiễn đã phản bội giết Dương Đình Nghệ, cướp chính quyền hòng gây ngòi nổ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa lần thứ hai của quân Nam Hán nhưng vẫn không giám liều lĩnh vượt qua dãy núi Tam Điệp tiến vào châu Ái, vùng căn cứ của đất nước. Kết quả là một năm sau, từ phía nam dãy núi này, Ngô Quyền đã đưa quân ra, định đoạt số phận tên phản dân hại nước cùng đạo thủy quân xâm lược đến tiếp ứng như lịch sử từng ghi lại. Đánh giá về Tam Điệp, khi nghe tin quân Tây Sơn chuẩn bị tiến ra Bắc Hà lần thứ hai, các tướng lĩnh nhà Trịnh đã cho rằng: "Giữa Thanh Hóa nội và Thanh Hóa ngoại có núi Tam Điệp ngăn cách, ấy là chỗ trời đất xây dựng, rất là hiểm yếu. Ta nên tiến quân gấp để giữ lấy, chớ để quân giặc chiếm trước. Được như vậy thì từ Trường Yên về bắc còn là của mình. Nếu núi Tam Điệp mà mất thì lộ Sơn Nam thênh thang với những cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, e khó tranh nhau với giặc, việc nước sẽ không thể làm thế nào được nữa"1 (Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, H.1970, tr.268). Thậm chí đến tận cuối thế kỉ XVIII, quân đội Tây Sơn vẫn còn sử dụng "tấm lá chắn thiên nhiên" này, phục vụ cho thời kì đầu cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1789, khi mà cán cân lực lượng đang nghiêng hẳn về phía quân xâm lược, khi mà quân ta - như lời Ngô Thì Nhậm: "Đánh đã chẳng được, giữ cũng không vững. Vậy thì cả hai chước đánh và giữ đều không phải là kế hay. Nghĩ cho cùng thì chỉ còn một cách này: sớm truyền cho thủy quân chở đầy các thuyền lương, thuận gió giương buồm ra thẳng cửa biển, đến vùng Biện Sơn mà đóng. Quân bộ thì sửa soạn khí giới, gióng trống lên đường, lui về giữ núi Tam Điệp. Hai mặt thủy bộ liên lạc với nhau, giữ lấy chỗ hiểm yếu rồi cho người chạy giấy về bẩm với chúa công. Thử xem quân Thanh đến thành, khu xử việc nhà Lê ra sao? Vua Chiêu Thống sau khi phục quốc, xếp đặt việc quân, việc nước thế nào? Chờ chúa công ra, bấy giờ sẽ quyết chiến một phen cũng chưa muộn gì"?1 (Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, H.1970, tr.341). Do những điều kiện địa hình như vậy, quân xâm lược thường chỉ tập trung sức lực toan tính đến việc tiến công - đại thể trên bốn hướng chủ yếu - vào vùng châu thổ sông Hồng: chính bắc, đông - bắc, tây - nam và tây - bắc. Tương ứng với đường quốc lộ 1A, chính bắc là hướng tiến công đường bộ chủ yếu của bọn cướp nước hàng mấy ngàn năm, kể từ cuộc chiến tranh xâm lược đầu tiên trong lịch sử dân tộc - cuộc chiến tranh của quân Tần cuối thế kỉ III trước công nguyên đến tận cuộc chiến tranh của quân Mãn Thanh năm 1789. Trong hướng tiến công này, các thống soái quân sự dân tộc ta đã biết lấy ải Chi Lăng làm một trận địa mai phục nhằm tiêu diệt địch. Là một thung lũng nhỏ, hình, bầu dục, hai đầu nam bắc thu hẹp, gần như khép kín, ải Chi Lăng có chiều dài khoảng 4km, chỗ rộng nhất hơn 1km. Phía tây là dãy núi đá lởm chởm, vách núi dựng đứng. Phía đông là núi đá Quỉ Môn, núi đá Phượng Hoàng liền với dãy núi đất thuộc hệ núi Thái Hòa và Chi Lăng. Dòng sông Thương bắt nguồn từ núi Kháo, chảy qua các huyện Chi Lăng, Hữu Lũng (Lạng Sơn), Lạng Giang (Bắc Giang) rồi xuôi về ngã ba Nhãn xuống sông Lục Đầu. Dãy núi Chi Lăng dốc dứng và dãy núi Thái Hòa trùng điệp là những bức thành cao, chắn hai ngả đông tây, khép lấy thung lũng Chi Lăng cùng với các ngọn núi đá nhỏ bên trong làm cho cửa ải này thêm hiểm trở. Lại nằm trên đường độc đạo nên ải Chi Lăng càng chiếm giữ một vị trí địa - quân sự vô cùng quan trọng như sử sách Trung Quốc từng đánh giá là "cổ họng của Giao Chỉ", "nơi hiểm yếu đại quân ra vào". Đầu năm 981, bằng kế hoạch dụ địch vào "đất chết”, quân ta đã chém đầu Hầu Nhân Bảo, chủ tướng quân Tống, trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất. Trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai, năm 1076, đạo quân người Tày, dưới sự chỉ huy của phò mã Thân Cảnh Phúc, trấn giữ vị trí hiểm yếu này, đã buộc quân Tống phải vòng về phía tây mới tiến được xuống đồng bằng. Đến cuối thế kỉ XIII, trong hai cuộc chiến tranh chống quân Mông - Nguyên, vua tôi nhà Trần cũng đã lấy Chi Lăng làm căn cứ ngăn chặn địch. Nhưng chiến công "oai hùng, vang dội" nhất ở vùng này phải kể đến trận đánh ngày 10 tháng 10 năm 1427 trong cuộc chiến tranh giải phóng chống quân Minh ở thế kỉ XV. Bằng phương pháp nghi binh, đánh lừa địch, quân ta đã dụ được Tổng binh Liễu Thăng - chủ tướng của mười vạn quân viện binh - đích thân dẫn hơn một trăm quân kị hộ vệ hung hăng, kiêu ngạo, mở đường tiến vào cửa ải. Tiền quân của chúng tiến theo sau. Chờ khi quân địch hoàn toàn lọt vào trận địa mai phục quanh một vùng đầm lầy, phục binh ta từ bốn mặt nhất tề xông ra. Thấy nguy, Liễu Thăng cố phóng ngựa hòng thoát ra khỏi tử địa nhưng đã bị quân ta phóng lao đâm chết tươi bên sườn núi Mã Yên. Bị đánh bất ngờ, lại mất ngay chủ tướng, quân địch vô cùng hoang mang, rối loạn. Kết quả là một vạn quân tiên phong bị tiêu diệt gọn. Sau thất bại lớn ở Chi Lăng, số chín vạn quân còn lại vẫn tìm cách tiến về phía Đông Quan. Theo kế hoạch tác chiến, quân ta "mở đường" cho đối phương tiến xuống, vào các trận địa bố trí sẵn và cuối cùng đã tiêu diệt gọn chúng ở Xương Giang vào ngày 3 tháng 11 năm 1427. Sang đầu thế kỉ X, môi trường thiên nhiên đã đóng góp cho văn hóa quân sự Việt Nam một phương pháp tác chiển mới từ chiến trường sông Bạch Đằng dậy sóng, ở phía đông - bắc châu thổ sông Hồng. Thật ra thì con đường biển từ Trung Quốc vào Việt Nam thời xưa, thuận tiện và quen thuộc nhất vẫn là đến cửa sông Bạch Đằng (hiện nay là cửa Nam Triệu) rồi đi qua sông Kinh Thầy để vào sông Lục Đầu. Ví như đoàn thuyền chiến của Đoàn Chí theo Mã Viện vào đánh Hai Bà Trưng năm 42, của Trần Bá Tiên vào đánh Lí Bí năm 545. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 08:01:43 am Năm 938, Hoàng Thao, chủ tướng quân Nam Hán, cũng định tiến quân qua cửa Bạch Đằng vào nước ta hòng cứu nguy cho Kiều Công Tiễn. Trước tình hình đó, Ngô Quyền đã họp bàn với các tướng sĩ: "Hoàng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại được tin Kiều Công Tiễn bị giết chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, đánh quân mỏi mệt, tất phá được. Song chúng có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngâm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sát, thuyền địch nhân khi nước triều lên, tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hơn kế ấy cả"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.1, tr.146). Kết quả, chiến sự diễn ra đúng như lời dự báo. Thái tử Hoàng Thao cùng với đạo thủy quân đã bị tiêu diệt gọn trước sóng thủy triều và trận địa cọc gỗ lim - một thông minh về chiến thuật và một sáng tạo về kĩ thuật của văn hóa quân sự Việt Nam - mà người khởi xướng là Thống soái quân sự Ngô Quyền.
350 năm sau, năm 1288, bị thất bại nặng nề sau ba tháng chiến trận đầy gian lao, nguy hiểm trên đất Đại Việt, Thoát Hoan, chủ tướng quân xâm lược Mông - Nguyên, buộc phải cho lực lượng thủy quân, dưới sự chỉ huy của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp, rút lui theo đường sông Bạch Đằng, ra biển về nước. Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai lại diễn ra. Phải nói rằng, hội chiến Bạch Đằng năm 1288 là một trận "chung kết" vô cùng ngoạn mục của quân và dân ta, sau ba cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân Mông - Nguyên, ở thế kỉ XIII. Theo cách tính toán của văn hóa quân sự Việt Nam, kết cục trận đánh tiêu diệt gọn nhất thiết phải diễn ra trên bãi cọc ở vùng sông nước này thì trận Bạch Đằng năm 938 là một đòn đánh chặn chóng vánh và thành công lớn trước quân Nam Hán từ ngoài biển tiến vào, còn trận Bạch Đằng năm 1288 lại là thành quả của những tính toán ki lưỡng và những nỗ lực hết mình của thế hệ người Việt đương thời. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Thống soái quân sự Trần Quốc Tuấn, quân và dân ta đã tổ chức những trận đánh ngăn chặn suốt mười một ngày đêm, buộc hơn 600 chiếc thuyền chiến địch phải rút chạy theo "đúng luồng lạch" và những trận đánh kiềm chế tốc độ hành quân, không cho chúng đi quá tốc độ 3km/ngày để đến trận địa mai phục "đúng giờ giấc" đặng nhận đòn giáng trả sấm sét của những hàng cọc gỗ rắn chắc của những lớp sóng thủy triều giận dữ và của cả ngọn lửa đỏ rực căm thù từ những chiếc bè nứa, chất đầy rơm rạ trên thượng lưu dồn về. Từ trong cuộc chiến tranh xâm lược của quân Tống lần thứ hai, năm 981, một hướng tiến công mới được hình thành ở phía tây - nam đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. Đó là con đường mà Trần Khâm Tộ đi từ biển, theo sông Thiên Mạc (đoạn sông Hồng, từ Thăng Long ra biển) vào đất liền, lấy Tây Kết (Mạn Trù, Khoái Châu, Hưng Yên) làm vị trí đầu cầu để bất ngờ tiến công quân ta khị mọi sự chú ý đang hướng về cánh chính binh của Hầu Nhân Bảo phía Chi Lăng. Thế nhưng lần đó, quỉ kế của cánh kì binh địch đã không thành công trước sự cảnh giác cao độ của quân và dân Đại Việt. Tất cả các chiến thuyền ở hướng này đã bị tiêu diệt gọn, chỉ riêng chủ tướng Trần Khâm Tộ may mắn thoát chết nhờ chiếc thuyền con trốn được ra biển. Từ vị trí địa - quân sự này, trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân Mông Cổ năm 1258 vua tôi nhà Trần đã lấy nó (lúc bấy giờ gọi chung là "sông Thiên Mạc") làm căn cứ xuất phát tiến công, giáng đòn quyết định vào Đông Bộ Đầu. Nhưng nổi bật nhất là trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1285, trên hướng chiến lược chủ yếu - theo trục sông Hồng, tính từ Thăng Long, qua cửa Hàm Tử, Tây Kết đến cửa Hải Thị - đã từng là nơi tranh chấp quyết liệt giữa quân ta và quân xâm lược trong vòng hơn bốn tháng (từ 18-2, triều đình rút khỏi kinh thành, đến 24-6-1285, trận Tây Kết lần thứ hai, Toa Đô tử trận). Trong thời kì đầu chiến tranh (từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 5-1285) - khi cán cân lực lượng hai bên đang còn nghiêng hẳn về phía địch - quân ta phải rút lui chiến lược, trận đánh chặn địch đầu tiên trên hướng chiến lược này là do Trần Bình Trọng chỉ huy và đã anh dũng hi sinh. Đến thời kỳ phản công chiến lược (từ đầu tháng 5 đến ngày 24-6-1285), trục sông Hồng cũng là hướng tiến công chủ yếu của quân ta. Mở đầu là trận đánh chia cắt hai tập đoàn địch tại đồn tiền tiêu A Lỗ và quét sạch địch là hội chiến Chương Dương - Thăng Long, Thoát Hoan buộc phải rút chạy, quân ta giành lại quốc đô. Nhưng chưa hết, trên đường tháo lui, tập đoàn Toa Đô ở phía nam vẫn tìm cách ngược dòng sông Hồng, đuổi theo, hội quân với tập đoàn Thoát Hoan ở phía bắc mong hỗ trợ nhau để bảo toàn lực lượng nhưng có ngờ đâu rằng chiến sự đã diễn ra quá nhanh trước đòn tiến công dồn dập của quân ta. Mãi cho đến khi đám tàn quân năm vạn tên của tập đoàn Thoát Hoan về được đến châu Tư Minh, phía bên kia biên giới, thì tập đoàn Toa Đô mới lò dò kéo quân đến Tây Kết. Kết quả là tại địa danh lịch sử này, toàn bộ năm vạn quân của tập đoàn này đã bị tiêu diệt và bị bầt sống. Chủ tướng phải đền tội. Và từ thế kỉ XIII - một thế kỉ dân tộc ta phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhất trong lịch sử để chống đế quốc Mông - Nguyên - quân xâm lược đã thực hiện một hướng tiến công mới từ phía tây - bắc của châu thổ sông Hồng. Trên hướng này, trong cuộc chiến tranh năm 1258, ba vạn kị binh Mông Cổ đã chia thành hai cánh, một theo hữu ngạn sông Thao và một theo thung lũng sông Chảy về hội quân ở ngã ba sông Thao, sông Đà và sông Lô để tiến xuống đồng bằng. Trong cuộc chiến tranh năm 1285, một cánh quân Mông - Nguyên từ Vân Nam cũng theo thung lũng sông Chảy tiến xuống, phối hợp với ba cánh quân khác cùng đánh vào nước ta. Thế nhưng, ở cả hai cuộc chiến tranh xâm lược trên hướng này, quân địch đã bị chặn đánh quyết liệt. Chiến công trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất thuộc về Hà Bổng, người chỉ huy dân binh vùng Qui Hóa (thuộc Yên Bái, Lao Cai). Trong cuộc chiến tranh lần thứ hai, khi tiến vào, chúng đã bị quân chủ lực, dưới sự chỉ huy của Trần Nhật Duật, chặn đánh ở Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái) và khi rút chạy lại bị đội dân binh của hai anh em Hà Đặc, Hà Chương tập kích ở Phù Ninh (Phú Thọ). Trong cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỉ XV, tại hướng chiến lược này, quân ta đã phục kích đánh tan 5 vạn quân tiếp viện, dưới sự chỉ huy của Mộc Thạnh, tại Lãnh Câu - Đan Xá (phía thượng nguồn sông Lô). Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1789, cũng trên hướng này, một cánh quân xâm lược Mãn Thanh, dưới sự chỉ huy của Đề đốc Ô Đại Kinh, đã đi vào trót lọt đến Sơn Tây nhưng khi nghe tin thất trận lớn ở Ngọc Hồi - Đống Đa, chúng đã theo đường cũ, tháo chạy và bị đội dân binh người Tày, dưới sự chỉ huy của Ma Doãn Dảo, đánh tan trên vùng đất Tuyên Quang. Tóm lại, môi trường tự nhiên vốn là một thực tại khách quan nhưng dưới sự tương tác của tài năng quân sự Việt Nam, chúng đã đi vào lịch sử bằng những địa danh chói lọi, được lặp đi, lặp lại nhiều lần những chiến công hiển hách với "những Chi Lăng", "những Bạch Đằng", "những Tây Kết"... Mỗi chiến công lại mang theo một phương pháp tác chiến riêng biệt. Tất cả đã làm cho văn hóa quân sự Việt Nam ngày càng đậm đà thêm bản sắc dân tộc. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 08:02:59 am NGUYỄN HUỆ VỚI TƯ TƯỞNG ĐÁNH TIÊU DIỆT Trong sự nghiệp đấu tranh vũ trang bảo vệ Tổ quốc, sở dĩ Nguyễn Huệ đạt được thành tựu to lớn trong những thời gian ngắn như vậy chính là ông đã biết lấy tư tưởng đánh tiêu diệt làm tư tưởng chỉ đạo tác chiến cơ bản trong toàn bộ các cuộc chiến tranh, từ cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Xiêm năm 1785 và nhất là đến cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mãn Thanh năm 1789. Trước hết, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện ở chỗ lấy việc bảo tồn mình, tiêu diệt địch làm nguyên tắc chỉ đạo tác chiến và lấy việc tiêu diệt địch làm mục tiêu chủ yếu của chiến tranh. Điểm nổi bật của tư tưởng đó được thể hiện rõ trong lời dụ tướng sĩ đanh thép của ông tại Thanh Hóa trên đường hành quân ra Bắc Hà trong cuộc chiến tranh chống quân Mãn Thanh: ”Đánh cho để dài tóc, Đánh cho đề đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản, Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" Hai câu đầu nói lên quyết tâm đánh giặc để bảo vệ độc lập dân tộc, giữ gìn nền văn hóa và những phong tục tập quán lâu đời của nhân dân. Hai câu giữa nói lên quyết tâm đánh tiêu diệt khiến cho quân giặc không một chiếc xe nào trở về, không một phiến giáp nào nguyên vẹn. Câu cuối nghĩa là đánh cho chúng biết rằng nước Nam anh hùng là có chủ. Trước khi vào cuộc chiến năm Kỉ Dậu (1789), Nguyễn Huệ đã huấn thị cho quân sĩ: "Ai... bằng lòng chiến đấu thì hãy vì ta giết sạch quân giặc. Nếu ai không muốn thì hãy xem xét ta giết vài vạn người trong một trận, đó không phải là chuyện hiếm lạ đâu?" Thứ hai, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện ở việc xác định những hình thức chủ yếu của trận đánh. Tuy quân Tây Sơn đến lúc ấy đã thông thạo cả đánh vận động lẫn đánh công kiên nhưng xuất phát từ tư tưởng đánh tiêu diệt, nhất là dựa vào tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấu rất cao của những chiến binh nông dân vừa mới được giải phóng, đánh vận động vẫn được chọn làm hình thức tác chiến chủ yếu. Chính vì vậy mà dụ quân Xiêm đến chiến trường sông nước Rạch Gầm - Xoài Mút để tiêu diệt gọn là phương pháp tác chiến thích hợp nhất. Ngay cả trong trường hợp phải công thành như sau khi tiến công đồn Ngọc Hồi, một "điểm rắn" trong cuộc chiến tranh năm 1789, quân ta cũng đã có những hành động tích cực, linh hoạt như xua địch phải rút chạy vào trận địa mai phục ở Đầm Mực để tiêu diệt gọn. Thứ ba, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện ở chỗ "biết người, biết mình", tranh thủ chủ động. Từ đó, những phương pháp, thủ đoạn, cách thức thích hợp nhất đã được đề ra nhằm đi tới đánh chắc tháng. Đó là việc nghị hòa với Chiêu Tăng trong cuộc chiến tranh chống quân Xiêm và hai lần trá hàng nhằm "khích tướng" đối với Tôn Sĩ Nghị trong cuộc chiến tranh chống quân Mãn Thanh. Ngay cả trong những trường hợp có nguy cơ mất quyền chủ động, Nguyễn Huệ cũng đã nhanh chóng, năng động xử trí tình hình, tìm mọi cách giành lại. Ví như việc chủ động rút lui khỏi Gia Định cuối năm 1784 cũng như việc rút lui khỏi Thăng Long cuối năm 1788 chính là nhằm né tránh sức mạnh của quân xâm lược lúc ban đầu để tạo thế chiến thắng cho những đòn phản công chiến lược trong những thời gian sau đó. Thứ tư, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện trong các phương pháp tác chiến, ở đây, điều chủ yếu và nổi bật là phương pháp tập trung gân như toàn bộ lực lượng đánh vào chính diện và một hoặc hai cạnh sườn của đối phương nhằm đặt tới mục đích trước hết là tiêu diệt một bộ phận đồng thời đánh tan một bộ phận khác. Việc làm đó đã tạo điều kiện thuận lợi để quân ta nhanh chóng di chuyển binh lực, tập trung sức mạnh, tiêu diệt một bộ phận khác cho đến lúc tiêu diệt hoàn toàn. Hội chiến Ngọc Hồi - Đống Đa là một trường hợp điển hình. Sau khi ở Ngọc Hồi, chính diện phía nam và sườn phía đông bị toàn bộ lực lượng quân ta chọc thủng, địch phải rút chạy về phía bác thì các đội phục binh của ta, gồm mấy trăm voi chiến, di chuyển từ Đại Áng đến, đẩy chúng xuống tử địa Đầm Mực, như đã nêu. Thứ năm, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện trong việc dàn thế trận. Đó là cách bố trí, có điểm chính (khối quân địch ở bờ nam sông Hồng) có điểm phụ (các khối quân địch ở Hải Dương, Sơn Tây) và luôn luôn có sẵn một đội dự bị quan trọng (mấy trăm voi chiến). Cách bố trí đó thể hiện tư tưởng tập trung tiến công trên một điểm (Ngọc Hồi) cùng với tiến công trên nhiều mặt (cung Tây Long, Hải Dương) đồng thời có sự nổi dậy của nhân dân các xã ngoại thành, tạo thành "con rồng lửa" lịch sử khi đại quân tiến vào giải phóng Thăng Long. Mọi hành động trên các mặt đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thắng lợi quyết định tại một điểm. Thứ sáu, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện ở sự vận dụng chiến thuật một cách cơ động, linh hoạt và đánh địch một cách thật bất ngờ. Bất kì trong điều kiện nào, quân xâm lược cũng bị động nên luôn luôn bị dồn vào thế yếu. Chính vì vậy cho nên dù địch có chuẩn bị kĩ lưỡng đến đâu cũng vẫn bị lừa. Chúng chuẩn bị nơi này, bị đánh nơi kia, chuẩn bị chu đáo thời gian này, bị đánh vào thời gian khác. Ngọc Hồi - Đống Đa là một hội chiến đã gây cho địch nhiều bất ngờ nhất, từ chiến lược đến chiến thuật, từ cách đánh đến vũ khí, từ địa điểm đến thời gian... Địch đinh ninh chiến sự sẽ diễn ra ở Phú Xuân nhưng không ngờ lại diễn ra ở Thăng Long mà ngay ở cung Tây Long, thậm chí vào cả đến phòng ngủ của chủ tướng Tôn Sĩ Nghị. Địch định sẽ mở cuộc tiến công sau Tết Nguyên đán nhưng lại bị tiến công ngay trong những ngày Tết, đến nỗi khi quân ta đã tiến đến Ngọc Hồi nhưng vì giỏi biết che giấu hành động thực dưới những hành động giả nên ngay cả Tôn Sĩ Nghị cũng cho rằng: "... Đối với giặc, không có gì đáng lo ngại”... Chính vì vậy, khi quân ta ào ạt tiến vào Thăng Long, quá hốt hoảng, Tôn Sĩ Nghị chỉ kịp rút gươm chém vào không khí và thảng thốt kêu lên: "Sao mà thần tốc thế" rồi người không kịp mặc giáp, nhảy vội lên con ngựa không kịp đóng yên, cùng mấy tên thân binh, nhanh chóng lao nhanh qua cầu phao sông Hồng; chạy tháo thân về hướng bắc, mặc cho mấy chục vạn quân ngơ ngác, rối loạn vì không có sự chỉ huy nơi chiến địa và đang chịu đòn sấm sét giáng xuống đầu. Thứ bảy, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện ở việc khéo sử dụng các quân, binh chủng và giỏi tổ chức hiệp đồng chặt chẽ động tác của chúng trong tác chiến. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1785, chỉ bằng một hội chiến quyết định là thủy quân ta đã "xóa sổ" ngay đạo quân xâm lược tới năm vạn người. Còn trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1789 thì sự hiệp đồng giữa thủy quân với bộ binh, giữa bộ binh với pháo binh, tượng binh lại được diễn ra rất khăng khít dưới một hình thức mới quanh hai trục xoay là qui mô đông đảo và tính cơ động. Chỉ tính riêng việc thống nhất về giờ nổ súng giữa mặt trận cung Tây Long và mặt trận Ngọc Hồi cũng thể hiện rõ tính kỉ luật rất nghiêm về thời gian hiệp đồng tác chiến. Thứ tám, tư tưởng đánh tiêu diệt biểu hiện ở sự chuẩn bị hết sức chu đáo về mọi mặt trước khi mở chiến dịch. Ví như ngày 21-12-1788, ở Phú Xuân, sau khi nhận được tin quân Mãn Thanh vào Thăng Long thì chỉ một ngày sau, ngày 22-12-1788, đại quân, hàng mấy vạn người, đã lập tức lên đường hành quân ra Bâc. Nếu không ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao độ làm sao quân đội Tây Sơn có thể hành động được kịp thời như vậy. Hay như, cũng trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1789, khi tiến quân ra đến Tam Điệp, sau khi nghiên cứu kĩ tình hình địch, Nguyễn Huệ tuyên bố với các tướng lĩnh ở Bâc Hà: "Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh". Cùng với sự khẳng định quyết tâm chiến lược, câu nói trên còn thể hiện cả sự chuẩn bị hết sức kĩ lưỡng cho một cuộc đọ sức sắp tới. Hiểu được ý định của Nguyễn Huệ, ngay trong lần tiếp kiến với ông, Nguyễn Thiếp - một danh sĩ nổi tiếng ở Nghệ An - cũng đã nói: "Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, giặc Thanh sẽ bị dẹp tan. "Cụ thể hơn nữa là ngay trước khi xuất kích, ngày 30 tháng chạp (25-1-1789), Nguyễn Huệ cho mở tiệc khao quân và hứa trước các tướng sĩ: "Nay hãy làm lễ ăn Tết Nguyên đán trước, đợi đến mồng 7 tháng giêng vào thành Thăng Long, sẽ mở tiệc lớn. Các người hãy ghi lấy lời ta nói xem có đúng thế không?". Sự thật lịch sử đã diễn ra đúng như vậy, thậm chí còn sớm hơn ý định của Nguyễn Huệ tới hai ngày. Ngay từ trưa ngày mồng 5 tháng Giêng (30-1-1789) quân ta đã vào đến kinh thành. Thử hỏi nếu không có sự chuẩn bị trong từng chi tiết thì làm sao lại có thể đi tới chiến thắng một cách nhanh gọn và chính xác đến thế? Còn như bốn năm về trước, năm 1785, với một sự chuẩn bị công phu, tỉ mỉ, quân Tây Sơn đã dễ dàng nhấn chìm năm vạn quân Xiêm xuống đáy sông nước Rạch Gầm - Xoài Mút chỉ trong vòng một buổi sáng mùa xuân. Những chiến thắng vĩ đại đó trong các cuộc chiến tranh yêu nước vào cuối thế kỉ XVIII được xem là đã đạt tới đỉnh cao của văn hóa quân sự Việt Nam tính đến thời điểm ấy. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 08:04:36 am TÀI TRÍ TRẦN QUỐC TUẤN TRÊN CHIẾN ĐỊA THĂNG LONG (Hà Nội), có hai cụ già ngồi nói chuyện với nhau bên ghế đá. Với giọng chậm rãi, một cụ giơ tay chỉ lên tháp nước cao ngất ở phía đông: - Giá như chỗ ấy mà dựng được bức tượng Hưng Đạo Vương thì hay biết mấy. Vì nơi đây từng là vùng chiến địa Đông Bộ Đầu dưới sự chỉ huy trực tiếp của Người. Sự thật đã diễn ra đúng như lời vị cao niên nọ. Song phải nói thêm rằng tài trí quân sự Trần Quốc Tuấn còn gắn chặt với hai lần giải phóng Thăng Long sau đó vào những năm 80 của thế kỉ XIII. Duy có điều là sử sách ghi chép lại rất sơ sài. Chúng ta chỉ có thể dựa vào những tư liệu quá ít ỏi này để hình dung ra những trận đánh với những phương pháp tác chiến thích hợp. Trận đánh giải phóng Thăng Long lần thứ nhất vào năm 1258 qua hội chiến Đông Bộ Đầu trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân Mông - Nguyên lần thứ nhất. Cuộc đụng độ diễn ra khi quân xâm lược đã cùng quẫn, phải liên tiếp hai lần đến cầu hòa, xin được an toàn về nước sau chín ngày (từ 20 đến 29-1-1258) chiếm đóng. Chính căn cứ vào tình hình đó, vua Trần Thái Tông quyết định tiến hành phản công chiến lược, giành lại quốc đô và giao cho Trần Quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy trận đánh. Lúc bấy giờ vấn đề đặt ra cho vị tướng trẻ tuổi1 (Sách Tuệ trung thượng sĩ hành trang ghi Hưng Ninh vương Trần Tung, anh cả Trần Quốc Tuấn, mất năm Tân Mão, Trùng Hưng thứ bảy, tức năm 1291, thọ 62 tuổi, theo dương lịch là 61 tuổi, sinh năm 1230. Như vậy, là em Trần Quốc Tuấn chỉ có thể sinh từ năm Tân Mão (1231) về sau. Nguyễn Lương Bích Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Nxb Quân đội nhân dân, H.1981) này là ở trên đất Thăng Long, đòn tiến công nên giáng vào đâu, giữa thành nội và vị trí Đông Bộ Đầu? Tiến đánh vào thành nội thì khó chiến thắng. Bởi lẽ cho đến lúc ấy, khả năng công thành của quân đội ta còn rất hạn chế nhưng lại rất thành thạo về đánh vận động, cả tập kích lẫn phục kích. Vì vậy, ông chọn Đông Bộ Đầu làm mục tiêu công kích và lấy tập kích2 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.52) làm phương pháp tác chiến. Đây là một phương pháp thích hợp nhất vì sự bố phòng của quân địch rất sơ sài, có nhiều sơ hở. Vị trí trú quân của chúng chỉ là những lều trại dã chiến nằm trên một địa bàn trống trải cạnh bến sông. Trận đánh đã diễn ra trong đêm 24 tháng chạp (29-1-1258) một đêm lạnh, cuối tháng, không trăng, tối trời, quân ta có thể phát huy cao độ yếu tố bí mật, bất ngờ. Nhưng điều khó tưởng tượng nổi đối với địch là trong ngày 23, sứ giả của chúng còn tới gặp vua Trần xin cầu hòa thì ngay ngày hôm sau, quân ta mở trận phản công, sở dĩ việc tập kích phải thực hiện vào ban đêm vì lúc đó địch bị bất ngờ nhất, lúc mà các kị thủ tách rời khỏi lưng ngựa chiến. Sức mạnh của kị binh là khi người - ngựa ở trong tư thế tiến công. Biết rõ điều đó, Trần Quốc Tuấn công kích vào doanh trại địch đúng lúc kị binh chúng đang bị "bộ binh hóa". Để giành thắng lợi quyết định, giành thắng lợi cuối cùng cho toàn cuộc chiến, "vua và thái tử ngự thuyền lầu tiến quân tới Đông Bộ Đầu đón đánh, phá được quân giặc"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.29). Điều ghi chép đó, tuy ngắn nhưng cũng cho chúng ta thấy được đánh vào Đồng Bộ Đầu là khối quân chủ lực thủy bộ của triều đình từ sông Thiên Mạc tiến lên. Cùng với quân chủ lực, chắc chắn là các cánh quân khác bố trí vây hãm kinh thành cũng được lệnh nhất loạt đánh tới để phối hợp. Tham gia hội chiến lớn này, ngoài Trần Khánh Dư, nhất định phải có mặt nhiều vương hầu, danh tướng như Trần Thủ Độ, Lê Phụ Trần, Trần Quang Khải... Thực ra, đến trước khi xảy ra hội chiến này, lực lượng quân đội hai bên hầu như đang còn nguyên vẹn. Thế nhưng tinh thần chiến đấu của quân xâm lược đã sa sút nghiêm trọng. Ngược lại, tinh thần chiến đấu của quân ta lại phấn chấn lạ thường. Chính vì thế mà trong trận đánh, quân xâm lược không chống đỡ nổi, đã bị thiệt hại quá nặng. Chúng không đủ sức vượt sông chạy sang bờ bắc vì không có quân thủy, lại chẳng có thuyền bè mà nếu có thì cũng không chống lại được với quân thủy thiện chiến của quân ta trên khắp dải sông Hồng bao quanh trận địa. Thất thế, chúng buộc phải dốc toàn lực, mở một đường máu, hướng theo phía tây kinh thành, dọc đường bộ bên phải sông Hồng tháo chạy về nước. Chiến tranh kết thúc thắng lợi ở phía dân tộc ta. Trận đánh giải phóng Thăng Long lần thứ hai trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân Mông - Nguyên nám 1285 thông qua hội chiến Chương Dương - Thăng Long. So với Đông Bộ Đầu, việc tiến hành hội chiến này khó khăn hơn rất nhiều. Do quân số địch đông hơn, thời gian chiếm đóng lại dài hơn - 110 ngày (từ 19-2 đến 8-6-1285) - nên việc phòng thủ Thăng Long của chúng cũng vững chắc hơn. Về hội chiến này, sử sách chỉ ghi vẻn vẹn có mấy dòng, Toàn thư viết: "Ngày mồng 10, có người từ chỗ giặc trốn đến quân ngự dinh tâu báo rằng: Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp với em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh được giặc ở các xứ kinh thành, Chương Dương, quân giặc tan vỡ. Bọn thái tử Thoát Hoan và Bình chương sự A-lạt chạy qua sông Lô". Kinh thế đại điển tự lục viết: "Hưng Đạo vương đánh vạn hộ Lưu Thế Anh ở đồn A Lỗ. Trung Thành vương đánh thiên hộ Mã Vinh ở Giang Khẩu"1 (Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên văn loại, quyển 41, t.564), ở chỗ khác, Kinh thế đại điển tự lục lại viết tiếp: "... Thủy lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông, quan quân sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới đều hết..."2 (Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên văn loại, quyển 41, t.564). Dựa vào các sử liệu trên, chúng ta thấy được Trần Quốc Tuấn đã dùng phương pháp tác chiến vận động, theo lối đánh chính - kì, tiến công vào Thăng Long từ hai phía, phía nam là Chương Dương và phía đông là Giang Khẩu. Theo lô-gích quân sự, đòn giáng vào Chương Dương phải diễn ra trước đòn giáng vào Đại bản doanh quân xâm lược, với điểm đột phá là Giang Khẩu. Sở dĩ như vậy là vì khi bắt đầu phản công chiến lược, quân ta tiêu diệt A Lỗ rồi cứ hướng bắc ép dần lên Tây Kết, Hàm Tử, khiến ở Tổng hành dinh Thoát Hoan cũng thấy rõ mối đe dọa lớn từ phía nam đang ngày một tới gần. Bởi thế, khi quân ta tiến đánh Chương Dương - một căn cứ chỉ cách Thăng Long chừng 20km - lại đặt dưới sự chỉ huy của một danh tướng như Trần Quang Khải, đạo quân mà ngay ngày mồng 3 tháng 5 (7-6-1285) vừa tham gia chiến đấu cùng lực lượng của hai vua Trần và thắng lớn ở Trường Yên, thì Thoát Hoan buộc phải tỏ rõ thái độ bằng cách tung đội kị binh tinh nhuệ ra chống đỡ. Ở đây cũng cần nói thêm rằng, hội chiến Chương Dương - Thăng Long chỉ có thể diễn ra trong ngày 4 tháng 5 (8-6-1285). Vì trước đó một ngày, Trần Quang Khải đang chiến đấu ở Trường Yên. Còn sau đó một ngày - ngày 5 tháng 5 (9-6-1285), bọn Giảo Kì và Tang-gu-tai đã về Thăng Long hội quân với Thoát Hoan thì tên chủ tướng này đã chạy sang bờ bắc sông Hồng và rồi ngày hôm sau, 6 tháng 5 (10-6-1285), tất cả bọn chúng đều rút quân về nước. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 08:05:36 am Như trên đã nói, trước đòn sấm sét đang giáng xuống, Thoát Hoan đã tung đội dự bị chiến lược ra đối phó. Hắn có ngờ đâu rằng việc làm đó đã rơi trúng vào ý định tác chiến của quân ta. Chính khi tiến đánh Thăng Long, Trần Quốc Tuấn cũng hiểu rằng, công kích vào thành lũy là một khó khăn không nhỏ. Điều tối ưu đó là nhử địch ra xa để tiêu diệt. Một lực lượng kị binh cơ động tinh nhuệ như vậy đối với quân ta, muốn đánh thắng không gì thích hợp hơn là dùng trận địa bày sẵn. Mục tiêu thực chất cần phải đập nát chính là lực lượng then chốt này. Kị binh tinh nhuệ đã bị hút xuống phía nam rồi bị tiêu diệt, Tổng hành dinh mất hẳn lực lượng cơ động. Cho nên khi thủy, lục quân ta từ phía đông ào ạt tập kích vào, không có con đường nào khác, Thoát Hoan đành phải bỏ kinh thành rút chạy.
Trận đánh giải phóng Thăng Long lần thứ ba trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân Mông - Nguyên năm 1288 trong hoàn cảnh không diễn ra hội chiến, nghĩa là chủ lực ta không hề xuất kích nhưng quân địch vẫn phải bỏ kinh thành rút chạỵ. Để giải thích hiện tượng trên, chúng ta phải đặt nó vào những điều kiện chung của toàn cuộc chiến tranh. So với hai cuộc chiến tranh trước thì trong cuộc chiến tranh năm 1288, thế và lực ta đều vững mạnh hơn. Chính Trần Quốc Tuấn cũng đã nhận định: "Năm nay giặc đến dễ đánh" dù số lượng quân xâm lược cũng vẫn cứ là nửa triệu người vì "quân ta đã quen việc đánh dẹp” còn quân địch thì "ngại đi xa", lại "cạch về sự thất bại của Hằng và Quán, không có lòng chiến đấu nữa". Trong mối tương quan lực lượng hai bên như vậy nên vào thời kì đầu chiến tranh, chủ lực ta có tiến hành rút lui chiến lược nhưng cũng chỉ tỏa ra các lộ ven biển, không phải lùi sâu vào hậu phương xa như trong cuộc chiến tranh lần thứ hai. Còn các lực lượng vũ trang địa phương thì tiến công địch liên tục, từ đầu đến cuối cuộc chiến tranh, trên khắp mọi vùng địch đi qua. Ngay tại châu thổ sông Hồng, quân ta cũng đã làm chủ nhiều vùng rộng lớn thuộc các tỉnh Hải Dương và Hải Phòng hiện nay. Cùng với việc tiến công địch của phong quân và dân binh, nhân dân còn tiến hành triệt để việc cất giấu lương thực. Từ chỗ mất thế chủ động vì không tìm được chủ lực ta, bây giờ quân xâm lược lại lún sâu vào thế bị động trước sức tiến công mạnh mẽ của chiến tranh nhân dân. Bởi vậy, Thăng Long đã biến thành một hòn đảo chơi vơi, thậm chí còn có nguy cơ bị cắt đường tiếp tế lương thực. Trước tình hình đó, ngày 2 tháng 2 (5-3-1288), Thoát Hoan quyết định rút quân về Vạn Kiếp sau 33 ngày (từ 6-2 đến 5-3-1288) chiếm đóng Thăng Long1 (Nguyên sử, quyển 15, Thế tổ bản kỉ, t.26). Bây giờ, từ các chiến thắng của ba lần giải phóng Thăng Long, chúng ta tìm hiểu về tài trí quân sự Trần Quốc Tuấn trong việc lựa chọn các phương pháp tác chiến thích hợp và hiệu quả cho mỗi đòn tiến công. Cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất qui mô nhỏ, số quân chiếm đóng không nhiều, quân ta chỉ cần dồn sức giáng một đòn tập kích áp đảo trong phản công chiến lược vào Thăng Long là giành được toàn thắng. Cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai qui mô rất lớn, số quân địch quá đông, tới hơn nửa triệu người. Tập đoàn chiến lược mạnh nhất cùng với đại bản doanh của chủ tướng lại đóng ngay tại Thăng Long. Với đối tượng tác chiến này, quân chủ lực ta không đủ khả năng tiến công để giành ngay được "một bàn thắng vàng" như trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất mà kế hoạch tiến đánh phải hình thành hai bước. Bước thứ nhất là cô lập tập đoàn Thoát Hoan bằng cách diệt vị trí A Lỗ, chia cắt tập đoàn này với tập đoàn Toa Đô, đồng thời ép dần lên phía bắc, buộc địch phải tung lực lượng kị binh tinh nhuệ ra cứu vãn; bước thứ hai dùng lối chính - kì kết hợp tiến đánh từ hai phía: từ phía nam, cánh chính binh thu hút địch, tiêu diệt chúng bằng một trận phục kích, thực hiện hành động "moi ruột" Đại bản doanh để từ phía đông, cánh kì binh, gồm lực lượng lớn quân thủy, lục tạo nên thế áp đảo, tập kích vào kinh thành, buộc Thoát Hoan phải rút chạy để bảo toàn lực lượng. Quân xâm lược rút khỏi Thăng Long là kết quả công kích của quân chủ lực ta ở chiến địa này và cũng tạo nên bước ngoặt cơ bản cho toàn cuộc chiến tranh. Số là do tương quan lực lượng hai bên, quân ta không thể đánh thắng quân Mông - Nguyên ở đồng bằng. Buộc quân xâm lược rút khỏi Thăng Long cũng là buộc chúng rút khỏi trục sông Hồng, chạy lên rừng núi để quân ta dễ dàng tiêu diệt trên tuyến Thăng Long - Tư Minh. Nếu như hai lần trước, giải phóng kinh thành là kết quả tác chiến của quân chủ lực thì ở lần thứ ba lại là kết quả ngày đêm quần nhau với địch của các lực lượng vũ trang địa phương. Chỉ với sức tiến công của phong quân và dân binh cộng với kế sách "vườn không, nhà trống” của nhân dân mà cả một tập đoàn chiến lược, hàng chục vạn quân, bị cô lập, buộc phải bỏ Thăng Long rút chạy. Phải nói rằng, đây cũng là sự chỉ đạo chiến tranh nhân dân tài tình của Thống soái quân sự Trần Quốc Tuấn. Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2 Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Hai, 2022, 08:06:23 am ĐÔI BỜ SÔNG HỒNG VÀ QUỐC ĐÔ NGƯỜI VIỆT Vào cuối thế kỉ III trước công nguyên, do sự phát triển lớn mạnh của đất nước, người Việt Nam bắt đầu dời đô xuống đồng bằng Bắc Bộ. Quá trình này kéo dài tới hàng mấy thiên niên kỉ nhưng phần lớn đều diễn ra trên phạm vi đất đai của tam giác châu sông Hồng. Và hai vị trí lừng danh nhất đều nằm ngay trên hai bên bờ Bắc, Nam dòng sông này. Đó là Cổ Loa và Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Như lịch sử đã ghi lại, khi Thục Phán dời Phong Châu xuống đồng bằng thì nơi định đô được nghĩ đến đầu tiên là vùng Hà Nội ngày nay. Thế nhưng do điều kiện thiên nhiên đương thời của nước ta ông chỉ có thể dừng lại ở Cổ Loa, một địa điểm nằm trên bờ Bắc sông Hồng. Vì đây là cái gờ miệng của trung du, cái cổ họng của đồng bằng trong khi ở phía trước nó là cả miền đồng trũng mênh mông ngập nước, mùa mưa phải đi lại bằng thuyền. Đó là miền đồng bằng Bắc Bộ sau này, nơi mà phù sa sông Hồng chưa đủ tháng năm bồi tích. Thật vậy, vào những năm đầu công nguyên, khi tiến quân vào đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, từ miền biển Quảng Ninh đi tới hồ Lãng Bạc (Bắc Ninh), viên tướng xâm lược Mã Viện đã trông thấy cả một vùng "dưới thì nước, trên thì mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt" (Hậu Hán thư). Tài liệu khảo cổ học còn cho hay: khi Cổ Loa được dùng làm nơi định đô thì cũng là lúc dân tộc ta bước vào thời đại sắt chừng hơn hai thế kỉ. Với những nông cụ kim loại mới, Cổ Loa được xem là nơi thử nghiệm thành công bước quá độ từ mô hình nông nghiệp lúa nước miền chân núi, vốn của người Tày - Thái cổ, đến mô hình nông nghiệp lúa nước miền đồng bằng. Vào đời Đông Hán, Cổ Loa thuộc huyện Tây Vu, có 32.000 hộ (Hậu Hán thư), chiếm khoảng một phần ba số hộ của quận Giao Chỉ (92.440 hộ) và gần bằng số hộ của quận Cửu Chân (35.743 hộ). Có thể nói Cổ Loa lúc ấy là một vùng trù phú, dân cư đông đúc. Nhưng ở đây có một điều đáng quan tâm là sau mười năm chiến thắng quân Tần xâm lược, việc định đô ở một vùng đất đồng bằng, dân tộc ta đã tỏ rõ ý chí mạnh mẽ, tự tin, lòng quyết tâm bảo vệ đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc. Vì Cổ Loa không chỉ là một kinh thành mà còn là một quân thành. Tòa thành được xây dựng trên bờ bắc sông Hoàng Giang. Ngày nay, con sông chỉ còn những đoạn đã bị bồi lấp nhưng xưa kia nó là một con sông lớn, nối liền sông Hồng với sông Cầu. Dấu vết của dòng sông cũ còn rõ nét với những đoạn gọi là sông Thiếp hay Ngũ Huyện Khê (chảy qua năm huyện: Yên Lãng, Võ Giàng, Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du). Từ Cổ Loa, theo Hoàng Giang, thuyền bè có thể ngược lên tận miền núi rừng phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc hay xuôi xuống khắp các vùng đồng bằng và ra biển. Không những thế, bên trong thành Cổ Loa còn có cả một mạng lưới giao thông thủy liên hoàn, thuyền bè có thể vào ra một cách thuận tiện. Ưu việt về quân sự của Cổ Loa đã khiến cho hơn hai trăm năm sau, Mã Viện - mặc dù gần đấy đã có thành Luy Lâu - vẫn chọn nơi này làm chỗ giấu quân. Năm 571, sau khi lên ngôi vua và nhất là những năm chuẩn bị đất nước chống quân Tùy xâm lược, Lí Phật Tử cũng lấy Cổ Loa làm quốc đô và làm căn cứ quân sự. Ngay cả Ngô Quyền, năm 939, sau khi mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc vẫn quay về định đô ở Cổ Loa. Nhìn chung lại, thế mạnh của Cổ Loa là tính chất địa - quân sự mà sông Hoàng Giang có một vị trí đáng kể. Do đó, đến thế kỉ X, khi con sông này bị cạn dòng và thu hẹp thì Cổ Loa cũng mất luôn vai trò lịch sử của một quốc đô trên bờ Bắc sông Hồng. Phải chờ tới khi quốc đô dời về bờ Nam sông Hồng thì nơi mới này mới được xem là "thắng địa". Người đầu tiên thực hiện định đô trên phía bờ Nam sông Hồng vào năm 544 là Lí Bí. Tiếp đó, 63 năm, sau khi diệt Lí Phật Tử, chiếm lại đất nước ta, năm 607, chính quyền đô hộ nhà Tùy đã dời nhiệm sở từ Long Biên (Bắc Ninh) về Hà Nội ngày nay, lúc ấy mang tên Tống Bình. Từ vùng đất đã trở thành trung tâm của cả miền Bắc Việt Nam, các viên thái thú kế tiếp nhau củng cố và mở rộng dinh lũy của chúng bằng cách xây dựng "Tử thành" (thành con), "La thành" (thành bao quanh) rồi "Đại La" (thành lớn). Mấy trăm năm, tính từ khi Lí Bí nhận ra vị trí quan trọng của Hà Nội cổ đến khi nó mang tên Đại La rồi Thăng Long, vùng đất lịch sử này càng dày gian nan nhưng cũng càng cao danh vọng. Sở dĩ Đinh, Lê phải rút về Hoa Lư vì lúc ấy đất nước mới giành quyền độc lập, quốc gia phong kiến tập quyền chưa đủ thời gian củng cố, dân tình chưa ổn định, các thế lực cát cứ chưa hẳn đã suy yếu. Cho nên quốc đô tuy nhỏ hẹp, ẩm thấp, giao thông không tiện nhưng lại là "quê nhà", là nơi núi non hiểm trở, thích hợp cho việc phòng ngự về quân sự. Đến đầu thế kỷ XI, tình hình đất nước đã đặt ra những yêu cầu mới cho sự phát triển về mọi mặt. Các thế lực chống đối đã bị đè bẹp. Chính quyền Trung ương đã được củng cố và ngày càng gia tăng. Sức mạnh và lòng tin của nhân dân cả nước trong việc bảo vệ nền độc lập đã được thử thách. Những tiền đề cần thiết cho bước nhảy vọt về kinh tế, cho bước phát triển huy hoàng về văn hóa đã từng phần được chuẩn bị dưới các triều đại Ngô, Đinh, Lê. Vả lại, đất nước ta lại luôn luôn đứng trước hiểm họa xâm lược từ phương Bắc, vì thế việc định đô ở phía bờ Nam sông Hồng là điều hết sức hợp lí. Nếu như thế núi non hiểm trở của Hoa Lư chỉ thuận lợi cho phòng ngự, khó khăn cho tiến công, còn Cổ Loa có thể dựa vào thế sông ngòi như sông Cầu ở phía trước, sông Hồng ở phía sau để triển khai lực lượng, nhưng giờ đây, khúc sông nối liền hai con sông đó đã trở thành bãi bồi thì Thăng Long lại có đủ mọi điều kiện để phát huy thế "tiến có thể đánh, lui có thể giữ" bằng cách dựa vào chính hai con hào thiên nhiên là sông Cầu ở xa là sông Hồng ở gần. Lịch sử đã chứng minh tuyến phòng ngự công Cầu (Như Nguyệt) đã góp phần không nhỏ làm thất bại cuộc chiến tranh của quân xâm lược Tống ở thế kỷ XI. Các nhà địa lí thường cho rằng các dòng sông từ Tây Bắc và Việt Bắc hội tụ về vùng Thăng Long - Hà Nội rồi lan tỏa xuống phía Đông ra biển đã làm cho Hà Nội trở thành quốc đô thiên nhiên của người Việt. Chính nhờ hệ thống sông ngòi đó với trục chính là sông Hồng mà trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân xâm lược Mông - Nguyên, nhất là trong cuộc chiến tranh năm 1285, Thống soái Trần Quốc Tuấn đã dễ dàng, nhanh chóng cho quân chủ lực rút ra biển rồi theo sông Mã vào tập kết ở Châu Ái. Và cũng bằng hệ thống đường thủy này, quân ta đã phản công giành lại đất nước. Đến thế kỷ XV, Đông Quan không còn là quốc đô nhưng với tinh thần Thăng Long, nhân dân ta đã đấu tranh liên tục hai mươi năm, lật đổ ách thống trị ngoại bang để rồi lại trở về định đô trên vùng đất lịch sử ấy với tên Đông Đô dưới triều Lê. Nhưng chưa hết, những trang cuối cùng của lịch sử quân sự trung đại Việt Nam còn ghi rõ: vào đầu năm 1789, chỉ trong vòng năm ngày đêm, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Đông Đô đã đánh tan 29 vạn tên xâm lược Mãn Thanh mà phần lớn bị dìm xác xuống đáy sông Hồng khi chủ tướng chúng định mở một đường máu tháo chạy sang bờ Bắc. Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Cộng hòa dân chủ vẫn xem Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự của cả nước mặc dù Huế đã trở thành quốc đô trước đó 157 năm (nhà Tây Sơn: 1788 - 1802; nhà Nguyễn: 1802-1945). Dưới chính quyền cách mạng, tuy hơn nửa thế kỉ, thực ra chỉ trong thời gian chưa đến ba mươi năm (1945-1972) mà Hà Nội đã cùng nhân dân cả nước đánh thắng hai đế quốc to ngay trên bờ Nam sông Hồng. Tóm lại, không một thời nào, không một nhà lãnh đạo tối cao nào có thể theo ý riêng mình để định đô ở nơi này hoặc dời đô đi nơi khác mà phải tùy thuộc vào điều kiện khách quan và chủ quan của đất nước. Thời điểm cuối thiên niên kỉ I trước công nguyên quốc đô của người Việt chỉ có thể dừng lại trên bờ Bắc sông Hồng. Nhưng rồi trước những biến động của lịch sử, ba lần định đô (Thục Phán: 208 đến 179 trước công nguyên, Lí Phật Tử: 571-603, Ngô Quyền: 939-944), cộng lại, Cổ Loa cũng chỉ tồn tại 66 năm cho đến thế kỉ X. Trái lại, sang đầu thiên niên kỉ II, khi Lí Công Uẩn đưa quốc đô về bờ Nam sông Hồng thì quả nhiên vùng đất lịch sử này đã hội tụ được mọi tinh hoa của dân tộc, xác định được độ bền vững muôn đời cho một vị trí theo đúng tinh thần của "Chiếu dời đô" là "Đồ đại" (mưu toan việc lớn) và "Chính trung" (ở nơi chính giữa). Nếu không như vậy thì tại sao, từ đấy trở đi, gần một ngàn năm, ba lần thay đổi, người Việt Nam vẫn cứ quay về Hà Nội: Thăng Long thời Lí - Trần: 387 năm (1010-1397), Đông Đô thời Lê: 360 năm (1428-1788) và thời đại chúng ta, thủ đô Hà Nội - với trung tâm ở phía bờ Nam sông Hồng - đã có 55 năm và nhất định sẽ là mãi mãi. |