Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:08:36 am



Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:08:36 am
Tên sách: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Tác giả: Dương Xuân Đống
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2006
Số hoá: ptlinh, ktqsvn


Cùng bạn đọc


"Đúng hẹn lại lên", Từ cây giáo đến khẩu súng - tập IV lại vinh dự được ra mắt bạn đọc.

Suốt trong ba tập trước và ngay đến tập này, nội dung các bài viết thường bao gồm những hiện tượng, những hành động cụ thể trong đấu tranh vũ trang và cả trong đấu tranh phi vũ trang. Bên cạnh đó, nội dung các bài viết còn gồm những thành ngữ, những thuật ngữ quân sự. Về thực chất, đấy là những biểu tượng văn hóa quân sự, hoặc là những hiện tượng, những thành ngữ đang trong quá trình văn hóa hóa, biểu tượng hóa. Mà biểu tượng là từng bộ phận cấu thành của văn hóa, đúng như định nghĩa của UNESCO: "Văn hóa là hệ thống các biểu tượng".


Để tìm hiểu các biểu tượng văn hóa quân sự, qua từng bài viết, tác giả đã đi sâu nghiên cứu nội dung khái niệm, nguyên nhân và quá trình phát sinh, phát triển của những vấn đề đã được đặt ra và tự trả lời trực tiếp vào ba câu hỏi mang tính tổng hợp: "Là gì? Tai sao? Thế nào?". Điều đó có nghĩa là tác giả đã tìm phương pháp giải mã các biểu tượng - một hình thức tiếp cận văn hóa quân sự.


Trên cơ sở những kết quả thu lượm được, tác giả tiến đến việc tìm hiểu tính giá trị của các biểu tượng theo quy trình văn hóa hóa.

Việc nâng cao nhận thức một cách thiết thực như vậy, là góp phần thúc đẩy quá trình tìm hiểu những bài học vô cùng quý báu của văn hóa quân sự, đối với sự nghiệp đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm trong lịch sử của dân tộc ta từ xưa đến nay.


Nhân dịp tập sách ra đời, tác giả xin chân thành cám ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các cơ quan báo chí và tất cả bè bạn gần xa đã tạo điều kiện giúp đỡ, đồng thời, tác giả cũng nhiệt thành mong đợi những ý kiến đóng góp, phê bình nhằm nâng cao chất lượng cho nhiều tập tiếp theo để đáp ứng yêu cầu bạn đọc.


DƯƠNG XUÂN ĐỐNG


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:10:22 am
SỨC MẠNH VĂN HOÁ LÀNG VÀ TÀI TRÍ KHÚC HẠO


Giành được quyền tự chủ cho đất nước sau hai năm (905 - 907) thì ngày 23 tháng 7 năm 907. Khúc Thừa Dụ qua đời, con trai là Khúc Hạo lên thay, tiếp tục giữ chức Tiết độ sứ. Nối nghiệp và nối chí cha, Khúc Hạo đã sáng suốt đề ra nhiều cải cách quan trọng trên các mặt: đối ngoại và đặc biệt là đối nội. Chính vì thế mà sau này, các nhà khoa học đã đánh giá ông là Nhà cải cách nền hành chính quốc gia đầu tiên ở Việt Nam. Lại cũng có ý kiến mệnh danh ông là Nhà lãnh đạo khoan, giản, an, lạc.


Về đối ngoại, ông vẫn duy trì một chính sách mềm dẻo của người tiền nhiệm nên sau đó, khi lên thay thế nhà Đường, nhà Lương cũng buộc phải tiếp tục công nhận ông làm An Nam đô hộ sung tiết độ sứ.

Về đối nội, ông tập trung cải cách và tăng cường những công tác nóng bỏng, cấp thiết để đáp ứng kịp thời những yêu cầu về quốc kế, dân sinh.

Thứ nhất, ông thực hiện cải cách hành chính quốc gia, ra sức chăm lo xây dựng một chính quyền thống nhất theo quy mô một nhà nước độc lập, tự chủ, từ cấp trung ương xuống tận cấp cơ sở là xã, trong đó, xã là nền tảng cơ bản nhất. Khúc Hạo chia hệ thống hành chính cả nước thành năm cấp: lộ, phủ, châu, giáp, xã. Mỗi xã có một chánh, nhân dân thường gọi là ông cai giáp và một tá lệnh trưởng cùng một số người giúp việc là các ông lềnh (từ chữ lệnh mà ra) bao gồm lềnh nhất, lềnh nhì, lềnh ba. Một số xã gần nhau, trước là hương, nay đổi thành giáp, có một quản giáp và một phó tri giáp trông nom việc quản lý hộ khẩu và thu thuế. Có thể xem đây là lần đầu tiên các làng xã chấp nhận sự quản lý của những xã quan do chính quyền trung ương cắt cử, điều mà suốt cả một ngàn năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ không bao giờ làm được.


Theo Cao Hùng Trưng, tác giả An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộng với những giáp có trước thành cả thảy là 314 giáp. Ngay từ khi mới thành lập, chính quyền dân tộc tự chủ đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức bộ máy cơ sở giáp và xã. Đó là những đơn vị hành chính xây dựng trên nền tảng kinh tế - xã hội vốn có của công xã nông thôn và nhằm quản lý công xã đó. Nếu đối chiếu với 159 hương thời Đường thì con số 314 giáp của chính quyền tự chủ mới giành được của họ Khúc đã có một bước phát triển mới.


Xét về mặt lý luận, tổ chức đời sống cộng đồng của một đất nước quan trọng nhất là trên ba lĩnh vực: tổ chức quốc gia, tổ chức nông thôn và tổ chức đô thị. Trong một quốc gia có cả nông thôn và đô thị, nhưng với một nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn lại là lĩnh vực quan trọng nhất. Điều đó chi phối cả truyền thống quốc gia lẫn tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người. Nắm vững những đặc thù của tổ chức nông thôn tức là nắm được chìa khoá trong việc tổ chức đời sống cộng đồng của người Việt Nam. Khi giải quyết công việc này. Khúc Hạo đã tỏ rõ là người có bản lĩnh.


Đánh giá về cải cách hành chính của ông. Phan Huy Chú, tác giả Lịch triều hiến chương loại chí đã viết: “Tổ chức hành chính của họ Khúc một phần nào sẽ là cơ sở cho tổ chức hành chính của các triều đại tự chủ sau này”.


Thứ hai là cải cách kinh tế - xã hội. Phần cải cách này bao gồm: việc xoá bỏ lực dịch, tức xoá bỏ chế độ bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ và việc đánh đồng thuế ruộng theo hộ khẩu mà không theo diện tích ruộng đất và xem đây là nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước.


Lực dịch là chế độ bóc lột dưới thời thuộc Đường, suốt ba trăm năm, tính từ đầu thế kỷ VII đến đầu thế kỷ X. Chế độ này gồm hai phần: phần cống nạp và phần thuế. Hằng năm, các châu, huyện thuộc An Nam phải cống nạp cho triểu đình Trường An nhiều lâm, thổ sản quý, nhiều sản phẩm thủ công... Bên cạnh đó, dân bản xứ còn phải nộp cho bọn quan lại đô hộ rất nhiều loại thuế như thuế nông sản, thuế hải sản...


Bước vào thời tự chủ, thể theo nguyện vọng nhân dân, Khúc Hạo xoá bỏ hoàn toàn lực dịch và chủ trương “bình quân thuế ruộng... lập sổ hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho Giáp trưởng trông coi”. Việc làm này vừa có ý nghĩa xác lập quyền sở hữu tối cao của chính quyền đối với đất đai cả nước, vừa có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sản xuất và đề cao tính ưu việt của nhà nước tự chủ. Bởi vì lúc bấy giờ, toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu chung của công xã, chưa có sở hữu tư nhân. Cùng với việc xoá bỏ lực dịch, chính sách bình quân thuế ruộng của Khúc Hạo đã làm giảm nhẹ mức độ bóc lột đối với nhân dân đồng thời xoá bỏ được mâu thuẫn phi lý do chính quyền đô hộ gây ra trước đó. Bằng cách này, chính quyền tự chủ đã khôi phục lại được vai trò và truyền thống công xã, thực hiện một phương thức đóng góp thích hợp và hiệu quả từ phía nhân dân đối với kết cấu kinh tế - xã hội của nhà nước dân tộc lúc bấy giờ, tạo nên sự hòa hợp thoả đáng trong một thể thống nhất giữa nhà nước với công xã, tức giữa - nước với làng, giữa làng với nước.


Chính sách tô thuê của Khúc Hạo lúc đương thời sở dĩ trở thành một chính sách nổi tiếng về mặt đối nội vì đã thu phục được lòng người. Chỉ có thể nhận thức và giải thích được điều ấy nếu hiểu rõ tổ chức giáp - xã được xây dựng trên nền tảng công xã nông thôn, một hình thức tổ chức xã hội và kinh tế cuối cùng của thời cổ đại. Tuy ra đời từ trong quá trình tan rã của chế độ công xã thị tộc nhưng cho đến thế kỷ X, công xã nông thôn vẫn còn chiếm ưu thế, còn ở giai đoạn thịnh trị và giữ vai trò hạ tầng cơ sở bền vững của xã hội Việt Nam mà đặc điểm quan trọng nhất là toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu công cộng. Chính vì vậy mà công xã nông thôn lúc ấy còn có một tên gọi khác là công xã ruộng đất.


Kế thừa từ người cha, đường lối chính trị của Khúc Hạo có thể tóm gọn trong một câu như Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Từ nhận định đó, có thể nói rằng khoan, giản, an, lạc là nội dung chủ yếu của chiến lược chính trị ở buổi đầu thời tự chủ.


Khoan dung là không thắt buộc, khắt khe quá quắt đối với nhân dân như bọn tham quan ô lại đã từng gây thành một tệ nạn lớn dưới thời Bắc thuộc.

Giản dị là không phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu.

An, lạc (yên vui) “an cư, lạc nghiệp”, là lý tưởng của nếp sống nông dân nơi xóm làng.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:11:00 am
Có thể nói rằng, đường lối chính trị của Khúc Hạo đã phản ánh mối quan hệ bình đẳng bên trong công xã và còn mang ít nhiều tính chất dân chủ giữa Nhà nước với công xã. Đó là một đường lối chính trị thân dân và nó đã làm rõ một điều là bất cứ ở một phong trào dân tộc chân chính nào cũng đều mang theo một nội dung dân chủ nhất định, đúng như một trong hai quy luật phổ biến của lịch sử Việt Nam “độc lập dân tộc phải đi đôi với dân chủ cho nhân dân". Chính vì có một đường lối đúng đắn như vậy, Khúc Hạo đã tập hợp được mọi lực lượng yêu nước để hoàn thành nhiệm vụ chống ngoại xâm, giành lại quyền tự chủ lâu dài. Vì nhu cầu cấp thiết đó, tuy trong nước lúc ấy vẫn còn những xu hướng cát cứ nhưng các hào trưởng địa phương cũng đã phải chịu phục tùng chính quyền trung ương. Ngược lại, triều đại họ Khúc cũng như các triều đại tự chủ tiếp theo, vẫn phải dựa vào họ để củng cố chính quyền ở cấp cơ sở. Xu hướng chủ yếu của lịch sử Việt Nam luôn luôn là gắn liền độc lập dân tộc với thống nhất đất nước mà công cụộc cải cách của Khúc Hạo được xem là bước mở đầu.


Thế nhưng để thấy được trọn vẹn giá trị của công cụộc cải cách đó, phải đặt nó vào trong tình hình đất nước ta cùng với những biến động của Nhà nước Nam Hán ở sát biên giới phía bắc vào ba mươi năm đầu thế kỷ X. Trong ba thập kỷ đó, mặc dù triều đình Nam Hán có sự thay đổi, kế tiếp nhau, kể từ Lưu Ấn, Lưu An, đến Lưu Cung, nhưng ý đồ đen tối của họ vẫn cứ nhất quán cả trong tư tưởng lẫn trong hành động là muốn bành trướng, xâm lược xuống phía nam mà mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là miền đất Giao Châu. Là người lãnh đạo tài năng, Khúc Hạo hiểu rất rõ điều đó. Chính thế mà ngay khi còn sống, ông đã cho Khúc Thừa Mỹ - con trai và là người kế nghiệp - sang Nam Hán “kết mối hoà hảo” nhưng thực chất là để “dò xét tình hình”.


Khi Khúc Hạo qua đời, Khúc Thừa Mỹ lên thay nhưng vì phạm sai lầm lớn trong đối sách với triều đình Nam Hán nên cuối cùng đã đưa đất nước đi tới một thất bại lớn vào năm 930. Điều may mắn cho dân tộc ta lúc bấy giờ là sức mạnh từ những cải cách tiến bộ của Khúc Hạo, về chiều sâu của cấu trúc xã hội đã đi xuống tận xóm làng, về chiều rộng đã đi vào tận những vùng căn cứ xa xôi ở châu Hoan, châu Ái, cho nên Khúc Thừa Mỹ tuy có bị bắt về nước, nhưng quân xâm lược vẫn không đè bẹp được ý chí đấu tranh của nhân dân ta.


Trên đây là những tư liệu quý, giúp cho việc nghiên cứu về sự nghiệp cải cách của Khúc Hạo, mặc dù không được nhiều nhưng những phần có được cũng đã nổi lên một điều rất đáng chú ý là mục tiêu nỗ lực cải cách của ông luôn hướng về cấp cơ sở, lấy cơ sở làm đối tượng hành động. Việc cải cách đơn vị hành chính là nhằm tập trung vào giáp và xã. Còn việc cải cách kinh tế như bỏ lực dịch, sửa lại chế độ điền tô, thuế má... cũng nhằm khôi phục lại vai trò và truyền thống công xã nông thôn - một kiểu tổ hợp dân cư giữa liên minh huyết thống với liên minh láng giềng - mà người Việt vẫn gọi nôm na, thân thuộc là xóm làng.


Mặc dù trải qua hơn mười thế kỷ, dưới chế độ thống trị hà khắc và chính sách “đồng hoá” cực kỳ thâm độc - của các đế chế Hán, Đường, tuy nền văn hoá Việt Nam có bị phá huỷ, bị loại trừ những nội dung nhất định, nhưng bè lũ xâm lược phải chịu bó tay, không sao tiêu diệt được nền văn hoá đó vì trên thực tế, các "mảnh vụn" của nó đã tìm về khu trú tại các xóm làng để trở thành văn hoá truyền miệng, văn hoá dân gian với cái tên gọi là "văn hoá xóm làng". Quân thù có thể chiếm được nước nhưng chưa bao giờ chiếm được làng. Chính vì thế mà văn hoá xóm làng vẫn tồn tại mặc dù văn hoá dân tộc đã bị giải thể về cấu trúc.


Một dân tộc bị tiêu vong trước hết là sự tiêu vong từ nền văn hóa. Lịch sử đã chứng minh nền văn hóa Việt Nam không những không bị tiêu vong mà từ xóm làng, văn hóa Việt Nam còn thể hiện rõ tính kiên cường, mãnh liệt trong đấu tranh để bảo tồn và phát triển.


Sau khi xâm chiếm nước ta, bè lũ thống trị ngoại bang đã thủ tiêu và xoá bỏ thể chế Nhà nước của các vua Hùng, vua Thục nhưng suốt thời Bắc thuộc, chúng không thể nào với tay can thiệp và làm biến đổi được cơ cấu xóm làng cổ truyền, tức là làm thay đổi nếp sống được hình thành từ rất lâu đời của người Việt.


Từ Hán đến Đường, chính quyền đô hộ có được củng cố, tăng cường thêm, nhưng trước sau, không một triều đại phong kiến Trung Quốc nào nắm được xóm làng và đặt nổi hệ thống xã quan trên đất nước ta mà chính những đơn vị quần cư mang đặc trưng của loại hình công xã nông thôn kiểu châu Á lại là nền tảng xã hội, là cơ sở của nền văn hoá Việt Nam, là nơi nuôi dưỡng, vun trồng những tinh hoa của văn hoá cổ truyền. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống Bắc thuộc, những xóm làng yên lành, kín đáo sau lũy tre xanh của tuyệt đại đa số nhân dân ta đã giữ vai trò như những pháo đài xanh chống lại một cách có hiệu quả âm mưu “đồng hoá” của kẻ thù.


Đứng trên phương diện thể chế chính trị và cơ cấu xã hội hạ tầng, có thể nói, trong thời Bắc thuộc, người Việt mất nước chứ không mất làng. Bởi vậy, mà một tác giả người Pháp đã nhận xét: qua Bắc thuộc, nước Việt như một toà nhà, chỉ bị thay đổi “mặt tiền” mà không bị thay đổi cấu trúc bên trong.


Khi bắt tay vào sự nghiệp cải cách độc đáo của mình, Khúc Hạo đã nhận thức đầy đủ vai trò to lớn của văn hoá dân tộc mà đặc biệt là văn hóa xóm làng. Trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, mặc dù bị đàn áp bị huỷ hoại nhưng văn hóa xóm làng vẫn giữ vững được cấu trúc xã hội, giữ vững được nếp sống tự ngàn xưa của người Việt. Như vậy, dưới thời Bắc thuộc, văn hoá xóm làng đã làm cơ sở cho nền văn hoá dân tộc tồn tại và phát triển thành một dòng chảy liên tục, nối dài từ thời Hùng Vương cho đến tận thời tự chủ.


Trước những thử thách lớn lao của lịch sử, nhờ xóm làng giữ vững được nền văn hoá mà dân tộc Việt Nam đã tồn tại và phát triển. Những cuộc nổi dậy của nhân dân ta đứng lên đấu tranh bảo vệ xóm làng là những minh chứng hùng hồn.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:11:46 am
Trên cơ sở của một quá khứ đáng trân trọng và đầy tự hào của văn hóa xóm làng đồng thời nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển của dân tộc lên một bước mới khi tình hình đất nước còn đầy chông gai, Khúc Hạo lấy xóm làng làm điểm tựa, dùng nó làm hạt nhân cho động lực phát triển của đất nước. Nhìn từ góc độ văn hoá đây là một hành động rất thức thời và vô cùng chính xác. Thế nhưng, nhìn từ góc độ chính trị - xã hội khi Nhà nước muốn làm tròn trách nhiệm chung thì phải luôn luôn được củng cố vững chắc bằng việc đặt tất cả các công xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở của mình. Nói một cách khác, Nhà nước cần phải can thiệp sâu và kiểm soát mọi mặt các công xã. Đây là một việc làm hết sức khó khăn. Chẳng hạn như thuỷ lợi và chống ngoại xâm, tuy là những nhiệm vụ thường xuyên song không phải lúc nào cũng diễn ra, cho nên các công xã vẫn có điều kiện và khuynh hướng bảo thủ, cứ giữ lấy quyền tự trị của mình. Nhà nước muốn xoá bỏ sự cách biệt, trái lại, công xã muốn duy trì sự đối lập, nhất là khi Nhà nước đó lại là chính quyền đô hộ ngoại bang, cần phải lật đổ. Thế nhưng cho đến đầu thế kỷ X, khi Việt Nam giành được độc lập, bắt đầu đi vào thời tự chủ, ý thức dân tộc của mọi người được nâng cao, nhất là trong hoàn cảnh đất nước bị nguy cơ ngoại xâm đe doạ. Mâu thuẫn giữa Nhà nước với công xã mới giảm đi để hoà chung vào một mối. Khúc Hạo được xem là người đi tiên phong trong quá trình này, quá trình xây dựng một chính quyền thống nhất, tập trung quân chủ để Nhà nước độc lập, tự chủ của dân tộc ta đủ khả năng chống lại những cuộc chiến tranh xâm lược của các tập đoàn phong kiến phương Bắc được mở ra từ thời Tần, tức là sau khi quốc gia Trung Hoa đã trỏ thành một nhà nước phong kiến tập quyền.


Nội dung công việc của Khúc Hạo chúng ta đã rõ. Ở đây chỉ biết rằng kết quả to lớn của ông là đã đem lại cho dân tộc một sức mạnh hùng hậu để trong vòng hơn ba mươi năm (907 - 938), tập trung vào bảy năm cuối (931 - 938), chúng ta đủ sức mạnh đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nam Hán. Để đạt được mục đích cao cả trên, Khúc Hạo đã thực hiện những biện pháp thích hợp và hiệu quả như sau:


Thứ nhất là đổi hương dưới thời Đường thành giáp. Đây là một loại đơn vị hành chính xuất hiện muộn nhưng lại xây dựng trên nguyên tắc trong tuổi già, một truyền thống rất lâu đời của người Việt, nghĩa là quyền quản lý xóm làng nằm trong tay các bô lão. Người già nhất là người đứng đầu trong làng, có quyển quyết định mọi việc lớn nhỏ. Sở dĩ như vậy là vì, khác với người phương Bắc - gốc du mục vốn trọng sức mạnh - còn cư dân nông nghiệp phương Nam, cùng với truyền thống trọng phụ nữ (do nếp sống thiên về tình cảm) là truyền thống trọng tuổi tác, bởi lẽ nghề nông thường phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vào kinh nghiệm của những người sống lâu.


Giáp mang theo hai đặc điểm: một là chỉ riêng nam giới tham gia và hai là mang tính chất “cha truyền con nối".

Đặc điểm thứ nhất giải thích sự ra đời muộn của tổ chức này là vì ở thời điểm đó, vai trò người đàn ông đã lấn át vai trò truyền thống của người đàn bà trong xã hội.

Đặc điểm thứ hai chỉ rõ, cha ở giáp nào thì con tiếp tục ở giáp ấy. Trong nội bộ giáp, hình thành ba lớp tuổi chủ yếu: vi thành niên: từ 17 tuổi trở xuống, bô lão: từ 56 tuổi trở lên và đinh tráng (đinh là đứa, tráng là khỏe mạnh): từ 18 đến 55 tuổi. Lớp tuổi này giữ vị trí then chốt. Nó vừa có nghĩa vụ với làng, với nước, lại vừa có quyền lợi về tinh thần và vật chất. Với làng là phục vụ trong các dịp lễ lạt, đình đám, còn với nước là đóng sưu thuế và đi phu, đi lính, về tinh thần là có chỗ ngồi trên một chiếu nhất định khi ăn uống, họp hành, về vật chất là được nhận một phần ruộng công đế cấy cày, sinh sống. Loại ruộng này, khi thu hoạch sản phẩm, ngoài phần hoa màu phải nộp cho giáp, phần được giữ lại là một nguồn lợi rất lớn đối với người canh tác.


Do đặc điểm từ tính chất “cha truyền con nối” của giáp - một thể chế tổ chức truyền thống hoàn toàn tự nguyện và rất ổn định nên bộ máy hành chính của làng xã Việt Nam đầu thời tự chủ rất gọn nhẹ.

Từ hai đặc điểm trên, khái quát lại ta thấy chúng đều nhằm vào một mục đích là phục vụ cho giáp cung cấp sức người đối với đất nước trên hai mặt sản xuất và chiến đấu.

Thật vậy, đặc điểm thứ nhất nêu rõ giáp chỉ nhận nam giới làm thành viên mà không nhận nữ giới, đặc điểm thứ hai lại nêu rõ trong ba loại thành viên của giáp thì đinh tráng giữ vị trí then chốt. Rõ ràng, về mặt quân sự; đây là một lực lượng hùng hậu, một sức mạnh to lớn, sẵn sàng lên đường phục vụ cho sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bình luận về thời điểm lịch sử này, trong cuốn Văn hoá chính trị Việt Nam, truyền thống và hiện đại, tác giả Nguyễn Hồng Phong viết: “Từ Khúc Thừa Dụ đến Ngô Quyền, nhà nước về cơ bản dựa vào bộ máy quân sự.”


Thứ hai là, xây dựng được một vùng căn cứ địa.

Kế thừa một cách sáng tạo về nội dung xây dựng căn cứ địa của Triệu Quang Phục hình thành từ giữa thế kỷ VI, Khúc Hạo đã lấy xóm làng làm cơ sở để phát triển từ căn cứ địa ở một điểm nhỏ bé (Màn Trù, Khoái Châu, Hưng Yên) lên thành căn cứ địa trên một vùng rộng lớn, từ dãy núi Tam Điệp (thị xã Tam Điệp, Ninh Bình) đến Đèo Ngang (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), bao gồm châu Hoan, châu Ái lúc bấy giờ.


Thành tựu này mang một ý nghĩa rất lớn, bởi vì vùng đất được ông phát hiện và sử dụng làm căn cứ địa đầu tiên trong lịch sử không chỉ có tác dụng cho những cuộc chiến tranh yêu nước ở thế kỷ X mà còn trở thành vùng căn cứ địa (với dãy núi Tam Điệp làm “tấm lả chắn thiên nhiên”) cho nhiều cuộc chiến tranh yêu nước của mười thế kỷ tiếp sau.


Đó là vị trí tập kết của quân triều đình nhà Trần tại Vĩnh Lộc, Thanh Hoá trong cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên năm 1285. Đó là “đất đứng chân” tại Nghệ An, trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV, để nghĩa quân Lam Sơn đưa sự nghiệp đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm lên quy mô cả nước. Đó còn là nơi tuyển quân (Nghệ An), nơi “thệ sư” (Thanh Hoá) và là tuyến xuất phát tiến công chiến lược (Tam Điệp) của quân Tây Sơn trong cuộc chiến tranh chống quân Mãn Thanh năm 1789. Đó cũng là vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh của chín năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).


Đi ngược thời gian về thế kỷ X, giá trị của vùng căn cứ địa này lại càng nổi rõ. Nhờ có nó, Dương Đình Nghệ - một bộ tướng của họ Khúc đã từ châu Ái kéo quân ra, đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất của quân Nam Hán năm 931, giành quyền tự chủ trong vòng bảy năm (931 - 938). Sau khi Dương Đình Nghệ bị sát hại, Ngô Quyền lại từ châu Ái kéo quân ra, đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của quân Nam Hán vào năm 938, chấm dứt “đêm trường Bắc thuộc”, chính thức đưa dân tộc ta đi vào thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:13:13 am
VUA TRẦN NHÂN TÔNG, VÕ CÔNG VÀ VĂN TRỊ


Trần Nhân Tông - ông vua thứ ba của triều Trần, tên là Trần Khâm (1258 - 1308) - thật xứng đáng một bậc quân vương trẻ tuổi nhưng rất mực anh hùng. Hầu như trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, hiếm thấy một người đứng đầu Nhà nước nào lại có được những cống hiến to lớn cho đất nước trên cả hai mặt - từ võ công đến văn trị - như thế.


Về võ công.

Ông lên làm vua năm 1279, khi mới 21 tuổi, cũng là sau 21 năm dân tộc ta trải qua một cuộc đấu tranh ngoại giao cực kỳ gian khổ nhưng cũng hết sức khôn khéo với triều đình nhà Nguyên để tránh một cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng rồi 6 năm sau đó, (năm 1285), nạn can qụa vẫn không chặn được. Trước tình thế đất nước "ngàn cân treo sợi tóc", là vua của một nước, ông đã biết lựa chọn những phương pháp hành động thích hợp và hiệu quả để đánh thắng quân thù mà “liều thuốc nhiệm mầu” nhất là chính sách đại đoàn kết toàn dân.


Hai chi họ Tôn Thất nhà Trần được ông lấy làm hạt nhân cho sự “chung lòng”, từ trong nội bộ hoàng tộc ra đến văn võ bá quan. Hội nghị Bình Than được nhóm họp vào tháng 11 năm 1282 là một việc làm cụ thể. Sự có mặt của hầu khắp các vương hầu, quý tộc đã đưa hội nghị đến thành công lớn. Từ đó, đoàn kết được siết chặt, quyết tâm giết giặc, cứu nước được quy tụ về một đích chiến thắng cao cả.


Vào cuối năm 1284, khi cuộc kháng chiến sắp bùng nổ, để hỏi kế sách đánh giặc, ông lại triệu tập các bô lão trong nước về dự Hội nghị Diên Hồng. Trước câu hỏi của nhà vua, như từ một cửa miệng, các bô lão đều nhất tề hô: "Đánh!". Tinh thần quyết chiến của cả nước được hình thành từ chủ nghĩa yêu nước của toàn dân đã được biểu lộ qua tiếng hô đanh thép của các già làng. Trong lịch sử chống ngoại xâm ở Việt Nam, chưa từng có một cuộc họp mặt nào lạ lùng mà lại thu hút được rộng rãi đại biểu từ khắp mọi miền như thế. Nếu như các bậc cao niên đã mang tới sân rồng câu trả lời quyết chiến chắc nịch của các tầng lớp nhân dân thì cũng từ Thăng Long, không khí sục sôi, háo hức của những người thay mặt cho trăm họ, của quần thần ở triều đình đã được các cụ tiếp nhận, đem về truyền lại cho con cháu, cho đồng bào tại chốn quê nhà.


Lấy thành quả đoàn kết từ hai hội nghị “chính trị đặc biệt” làm cơ sở cho ý chí và quyết tâm chiến đấu, Trần Nhân Tông chuẩn bị cho những hành động quân sự tiếp theo. Từ Bình Than, một đội ngũ những người chỉ huy kiệt xuất như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng... được chuẩn bị ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh năm 1285, cùng với những đạo quân chủ lực tinh nhuệ, đủ sức mạnh, chỉ trong tháng 6 năm đó, đã đánh thiệt hại nặng tập đoàn Thoát Hoan ở Chương Dương - Thăng Long, đập tan tành tập đoàn Toa Đô ở Hàm Tử - Tây Kết và trong cuộc chiến tranh ba năm sau, tiêu diệt gọn tập đoàn thuỷ quân Phàn Tiếp - Ô Mã Nhi tại cửa sông Bạch Đằng vào tháng 4 năm 1288. Không chỉ riêng trong tầng lớp vương hầu, quý tộc mà trong đội ngũ tướng lĩnh còn có những người xuất thân từ dân thường như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái..., có những người là nô tì như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô..., có những người thuộc các dân tộc thiểu số như Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương..., cũng có cả người nước ngoài như Triệu Trung..., thậm chí còn có người từ trong hàng ngũ quân xâm lược chạy sang hàng ngũ quân ta như Trương Hiến... Từ "hào khí Diên Hồng", toàn dân ở mọi miền đã tham gia đánh giặc. Trong chiến tranh, những vùng quân xâm lược tràn qua - chỉ trừ hai làng - còn tất cả đều cầm vũ khí chống trả quyết liệt. Những xóm làng chiến đấu đó đã tạo nên một kiểu chiến tranh rất độc đáo: chiến tranh tại chỗ. Chính kiểu chiến tranh khác lạ này đã làm cho Việt Nam trở thành dân tộc “có một, không hai” của thế giới trung đại, từng ba lần liên tiếp đánh thắng kỵ binh Mông - Nguyên. Thắng lợi hào hùng đó thuộc về tinh thần quật khởi, về ý chí kiên cường của tổ tiên người Việt ở thế kỷ XIII nhưng không thể không ghi nhận công lao to lớn cho Trần Nhân Tông, người tổ chức, lãnh đạo tối cao sự nghiệp bảo vệ đất nước lúc bấy giờ và đã được Lê Quý Đôn đánh giá trong tác phẩm Toàn Việt thi lục, là người “tài trí, đảm lược, uy vọng, quyết đoán công nghiệp chống giặc Nguyên sáng chói đến đời xưa".


Thế nhưng ông không phải là vị thống soái chỉ điều khiển công việc sau “hổ trướng” mà còn là người chỉ huy quân sự trực tiếp trên chiến địa. Trong cuộc chiến tranh năm 1285, ông đã cùng vua cha "đánh thắng giặc ở phủ Trường Yên, chém đầu cắt tai không xiết kể" và chỉ mươi ngày sau đó lại "đánh bại giặc ở Tây Kết", “chém được đầu nguyên soái Toa Đô” và “bắt được quân địch hơn 5 vạn người”. Trong cuộc chiến tranh năm 1288, trên sông nước Bạch Đằng, phối hợp với cánh quân chủ lực của Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông lại cùng vua cha “đem quân tiếp đến, tung lực lượng đánh rất hăng, quân Nguyên chết đuối đầy sông, đến nỗi máu đỏ ngầu cả dòng nước”.



Về văn trị:

Nói đến sự nghiệp này của Trần Nhân Tông, người ta liên tưởng ngay đến sự xuất hiện hai sự kiện có ý nghĩa rất trọng đại của nền văn hoá Việt Nam vào hai mươi năm cuối của thế kỷ XIII và mười năm đầu của thế kỷ XIV. Đó là bên cạnh tiếng Hán, tiếng Việt đã được dùng như một ngôn ngữ hành chính chính thức của triều đình và phái Thiền Trúc Lâm được thành lập với chủ trương “ở đời mà vui đạo”.


Thời gian diễn ra sự kiện thứ nhất, trong 30 năm (1279 - 1308) dưới triều Trần Nhân Tông, kể cả lúc ông thoái vị và lên ngôi Thái Thượng Hoàng. Căn cứ vào thư tịch, đến giữa thế kỷ XIII, tiếng Việt đã được dùng như một văn tự trong việc thực hiện những chức năng của nó. Tiếc rằng, những văn kiện thời đó đã bị thiên tai, địch hoạ xoá hết mọi dấu vết. Chỉ có dưới triều vua thứ ba thời Trần, điều này mới được sử sách xác minh qua sự cố giữa quan Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên và quan Hành khiển Lê Tông Giáo vào năm 1288. Số là theo lệ cũ, có thể là ngay từ đầu thời Trần, chiếu chỉ của nhà vua, mỗi khi công bố (bao gồm viết và đọc) phải sử dụng bằng cả hai thứ tiếng: tiếng Việt và tiếng Hán. Bên cạnh đó. Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rõ năm 1282, chữ Nôm bắt đầu xuất hiện qua bài văn tế cá sấu của Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên) đồng thời cho biết ông là người hay làm thơ phú bằng chữ quốc ngữ và cũng bình luận thêm: ở nước ta, chữ Nôm được dùng làm thơ phú bắt đầu từ đấy. Phải nói rằng, tiếng Việt được sử dụng chính thức như vậy đã tạo điều kiện cho sự ra đời một loạt tác phàm văn học chữ Nôm, từ Tiểu ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An đến bản dịch Kinh Thi của Hồ Quý Ly cùng các bài thơ nôm của Nguyễn Biểu, Trần Trùng Quang và đặc biệt là tác phẩm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.


Nhưng đó là chuyện từ giữa thế kỷ XIV trở về sau còn trước đó, ở cuối thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV thì lại là chuyện về những tác phẩm chữ Nôm của chính bản thân Trần Nhân Tông qua hai bài phú Cư trần lạc đạo (ở đời mà vui đạo) và Đắc thú lâm tuyền thành đạo (được hưởng thú ở suối rừng mà nên đạo). Đây cũng là những văn kiện chữ Nôm được xem là xưa nhất mà chúng ta còn giữ được.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:14:21 am
Xét về nội dung, hai bài phú trên đều nhằm ca ngợi phái Thiền Trúc Lâm nhưng xét về hình thức, chúng đã cung cấp cho người đời sau những tư liệu rất bổ ích về tình hình tiếng Việt vào lúc sinh thời của tác giả.

Về thể loại, cả hai bài đều thuộc thể phú, một thể văn biền ngẫu có vần. Cách kết cấu của chúng đã xa thể phú Hán mà gần với thể phú Đường. Bởi vì ở đây, cả ba yếu tố của thể phú Đường đã thấy xuất hiện đủ như phép câu gối hạc, niêm luật chặt chẽ, đối ngẫu chỉnh thể. Thế nhưng so với tất cả những bài phú Nôm theo Đường luật từ thời Lê sơ trở về sau thì thấy rằng phép đối ngẫu ở đây còn lỏng lẻo, nhiều chỗ chỉ mới là sự đối ý chứ chưa có sự đối sát tới từng chữ, từng lời. Còn âm luật, có chỗ chưa được êm tai lắm. Như thế chứng tỏ rằng ở các tác phẩm này chưa có sự đi sâu vào chủ nghĩa hình thức như các bài phú Đường luật bắt đầu từ thế kỷ XV trở đi.


Về cách đọc và cách viết chữ Nôm, nói chung ở trong hai bài phú, đều là theo quy cách thông thường, nghĩa là bao gồm ba phép cấu tạo từ mà chữ Nôm vẫn dựa theo sáu phép cấu tạo từ của chữ Hán, thường gọi là lục thư. Đó là giả tá, hài thanh và hội ý. Số chữ giả tá nhiều nhất, đến hài thanh rồi đến hội ý. Nhưng xét riêng về cách đọc theo phép giả tá thì thấy ở đây, chữ Hán được dùng khá nhiều nhưng không đọc theo âm Hán - Việt mà lại đọc theo nghĩa. Thực ra, đây vốn không phải là nghĩa của chữ Hán mà là âm xưa của nó (tiếng nói của người Trung Quốc) chúng ta mượn vào tiếng nói của mình, trước khi có âm Hán - Việt, dần dần, theo thời gian, người ta quên cái nguồn gốc ấy mà xem những âm xưa là nghĩa của chữ Hán. Còn về cách viết thì những chữ trong các bài phú trên đã cung cấp cho người đọc về các dạng tự của chữ Nôm thời ấy. Về sau có một số chữ trong đó vẫn còn giữ nguyên như cũ song lại có một số khác đã chuyển từ phép giả tá sang phép hài thanh với những dạng tự mới.


Về cách dùng từ thì trong các bài phú đã có những từ xưa, chúng đều là những từ Việt cổ (kể cả từ đơn và từ kép) mà hiện nay không còn dùng nữa. Những từ này tuy vẫn còn dùng trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập (tuyển tập thơ chữ Nôm của nhà thơ và nhà vua Lê Thánh Tông cùng sáng tác với triều thần) nhưng sang đến thời Lê mạt và thời Nguyễn thì chỉ còn lại một vài từ. Thứ hai là những từ đơn, mượn của chữ Hán (âm Hán - Việt) để thể hiện những khái niệm mà đời sau đã được thay thế bằng những từ thuần Việt. Nếu như tỉ lệ về loại từ này dùng trong bài Cư trần lạc đạo là 43% thì trong 10 bài thơ đầu của Quốc âm thi tập chỉ còn 34%. Điều đó nói lên rằng chữ Nôm càng xưa, càng vướng vít nhiều với chữ Hán. Nhưng về phía khác, các nhà khoa học cũng nhận thấy rằng trong hai tác phẩm chữ Nôm của Trần Nhân Tông, từ thuần Việt đã xuất hiện khá nhiều. Từ đấy, chúng đã tạo ra được một bộ từ vựng gần 2000 từ. Số lượng từ ngữ này chưa phải là nhiều nhưng dù sao cũng giúp chúng ta có được một nhận thức nhất định về sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, nhất là về chữ Nôm dưới triều Trần Nhân Tông, tức là ở cuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIV.


Sự kiện thứ hai về văn trị đã diễn ra vào 15 năm (1293-1308) cuối đời Trần Nhân Tông. Đây cũng là chuyện hiếm thấy trong chế độ phong kiến Việt Nam. Một ông vua quyết định nhường ngôi cho con, rời bỏ nơi quyền quý, đến tu hành khổ hạnh tại chốn sơn môn Yên Tử, đắc đạo, được tôn vinh là Điều Ngự giác hoàng (vị hoàng đế giác ngộ đạo Phật) và trở thành vị tổ thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm (Pháp Loa là vị tổ thứ hai, Huyền Quang là vị tổ thứ ba), một dòng Phật giáo độc đáo ở Việt Nam.


Mọi người đều biết, trên đất nước ta, ngay từ thế kỷ VI, vùng Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) đã hình thành một trung tâm Phật giáo lớn. Thế nhưng khi rời ngôi báu, khoác áo cà sa, Trần Nhân Tông không tới đây mà lại lên hành đạo tại núi Yên Tử cho tới khi viên tịch. Động cơ nào đã thúc đẩy ông đến tu hành ngót 10 năm (1299-1308) tại chốn này? Điều bí ẩn đó, mãi 500 năm sau mới được Hải Lượng đại thiền sư Ngô Thì Nhậm - người được tôn vinh làm vị tổ thứ tư của phái Thiền Trúc Lâm cho biết: “Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo là Ngài xuất gia, ta (tức Ngô Thì Nhậm) biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công, trong nước vô sự, nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được yên tâm. Cái ý ấy là không tiện nói rõ, sợ người ta dao động. Cho nên nhằm được ngọn núi Yên Tử, phía đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, dựng lên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa mối lo nước ngoài xâm phạm, thật là một vị Vô Lượng Đại Thế Chí Bồ Tát”.


Như vậy là rõ, nhưng Trần Nhân Tông còn muốn đi xa hơn là đưa giáo lý của phái Thiền Trúc Lâm vào cuộc sống với nguyên tắc “sống hoà với đời một cách thoải mái”. Thậm chí còn thực sự lăn vào cuộc đời như “một đoá hoa sen trong lò lửa rực hồng” (Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung - Phật tâm ca). Đó cũng là nhu cầu của thời đại mà bản thân Trần Nhân Tông đã sớm nhận thức ra. Ông hiểu rằng các tôn giáo ngoại lai nói chung, Phật giáo nói riêng, thông thường muốn tồn tại được ở Việt Nam, nhất thiết phải dung hợp với tín ngưỡng dân gian cổ truyền. Vì vậy, muốn truyền đạo Phật vào nhân dân, điều rõ ràng là không thể để nguyên xi giáo lý cũ mà nhất thiết phải thông qua việc truyền giáo lý để hướng tín ngưỡng của mọi người vào chủ nghĩa yêu nước truyền thống dân tộc, lấy đó làm vũ khí để chống lại quân xâm lược. Nói khác đi, ông muốn lấy chuyện Phật để phục vụ chuyện đời, chuyện đánh giặc, giữ nước, chuyện bảo vệ Tổ quốc. Để làm được điều đó, ông thấy phái Thiền Trúc Lâm phải phấn đấu đạt được hai tiêu chí. Một là nó không chỉ bó hẹp trong một giai tầng xã hội, cụ thể là cho những người có chức, có quyền. Nếu như vậy, nó sẽ mất đi tính hấp dẫn đối với quảng đại quần chúng và chắc chắn là không thể tồn tại lâu dài. Hai là nó kiên quyết chống đối mọi biểu hiện của việc đi ngược lại con đường “nhập thế”, phải lấy việc đời làm mục đích của việc đạo, lấy việc tôi luyện của đạo bằng cách thông qua việc thử thách của đời. Trong bài phú Cư trần lạc đạo (xem như bản tuyên ngôn của phái Thiền Trúc Lâm) Trần Nhân Tông đã viết: “Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết sức”. Muốn ‘‘tu thành chính quả” đâu cứ phải là “lên chùa”, phải “tìm cửa Phật” vì:

"Bụt ở cuông nhà, chẳng phải tìm xa.
Nhân khuy bản nên ta tìm Bụt, đến cốc hay chỉn Bụt là ta”.
(Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa.
Vì mất gốc nên ta tìm Bụt, giác ngộ mới biết Bụt vốn là ta).

Với một nhận thức đúng đắn như thế mà khi quân Mông - Nguyên xâm phạm bờ cỡi, những tín đồ của phái Thiền này đã lên ngựa, vung gươm cho “non sông ngàn thuở vững âu vàng". Bởi vì trừ ác, độ dân thông qua con đường giết giặc, cứu đồng bào như vậy phải đâu là trái đạo, dù cho đạo Phật cấm sát sinh, không cho ăn thịt.


Tuy cũng xuất phát từ quan điểm “sắc sắc, không không” như mọi môn phái khác của đạo Phật nhưng nét đặc thù của phái Thiền Trúc Lâm (được mệnh danh là một phái Thiền độc lập của Việt Nam) là không quá hư vô, không dẫn tới một thái độ yếm thế, xa lánh cuộc sống mà trái lại là hoà nhập với đời. Tại sao phái Thiền này có được một nhân sinh quan thắm đượm tình người như vậy, mặc dù nó hình thành trên cơ sở tư tưởng của một thế giới quan duy tâm (coi ý thức có trước vật chất) và hư vô (phủ định tất cả)?


Giải đáp câu hỏi này quả không đơn giản; nguyên nhân có thể có nhiều, rất khó xác định. Thế nhưng nói rằng tinh thần dân tộc phát triển trong thế kỷ XIII đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành tư tưởng Thiền Trúc Lâm thì đó là điều thoả đáng, dễ dàng được chấp nhận. Hay nói một cách khác, phái Thiền Trúc Lâm sở dĩ phát sinh và phát triển là nhờ sự tác động mạnh mẽ của tinh thần quật khởi và ý chí tự cường, của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong kỷ nguyên văn minh Thăng Long - Đại Việt. 


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:15:54 am
CÔNG KÍCH PHỦ ĐẦU, ĐẠI PHÁ QUÂN THANH


Hơn hai trăm năm nay, khi bàn đến sự thắng lợi về mặt nghệ thuật quân sự của cuộc Chiến tranh chống quân Mãn Thanh năm 1789, người ta thường nhắc tới hai nhân tố là thần tốc và bất ngờ, điều đó không sai nhưng chưa thật thoả đáng. Tìm hiểu kỹ cuộc chiến tranh này, chúng ta thấy trong công kích, ngay từ đầu, quân ta đã giáng đòn áp đảo để giành quyền chủ động chiến lược. Vấn đề ở đây nổi lên hai điểm: một là quân ta ra đòn trước, hai là sức mạnh quân ta chiếm ưu thế tuyệt đối. Hành động quân sự này chính là công kích phủ đầu.


Công kích phủ đầu là sự ra đòn trước, áp đảo ngay từ những giây phút đầu tiên và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn nhất để chiếm quyền chủ động nhằm ngăn chặn, trước khi đối phương chưa kịp chuẩn bị. Trong cuộc chiến tranh này, Nguyễn Huệ đã sử dụng đòn công kích phủ đầu vì những lý do.


Thứ nhất là trong một tương lai gần, chừng dăm ba ngày tới, nếu không hành động kịp thời, trước khi đối phương kịp chuẩn bị và “dứt điểm” trong một thời gian ngắn, cụ thể là vào ngày mồng 5 tết thì ngày mồng 6, chắc chắn là Tôn Sĩ Nghị sẽ ra quân theo ý đồ đã tính sẵn. Chính thế mà vào lúc rạng sáng ngày mồng 5, khi quân ta bắt đầu công kích Ngọc Hồi, tên phó tướng Hứa Thế Hanh là người chỉ huy trực tiếp cứ điểm này, đã mạnh mẽ tuyên bố: "Đến sáng mai, hợp quân lại đánh, xem ta quét sạch người Nam". Do đó, thời gian giao tranh dứt khoát sẽ căng thẳng và kéo dài.


Thứ hai là trong một tương lai xa, tình hình chính trị sẽ có những biến đổi. Chúng ta hãy nghe vua Càn Long chỉ thị cho viên chủ tướng của đạo quân xâm lược: "Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hết hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Nguyễn Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, mà đại quân của ta thì đi tiếp sau. Như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách.


Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân thì phải chờ thuỷ quân Mân, Quảng vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng trước, sau đó lục quân của Tôn Sĩ Nghị mới tiến công. Cả hai mặt, đàng trước đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải quy phục. Ta nhân đó, giữ cả hai, từ Hoan Ái trở ra thì phong cho họ Lê. Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác". Rõ ràng trước khi vào trận, tương quan lực lượng hai bên đang ở tỷ lệ 1 - 3, ta 10 vạn, địch 29 vạn. Còn khi thuỷ quân Mân, Quảng kéo sang, tỷ lệ sẽ nghiêng nhiều hơn nữa về phía đối phương. Không những thế, quân cần vương nhà Lê ở phía bắc sẽ nổi dậy hưởng ứng. Ở phía nam, quân Nguyễn Ánh lại đang rập rình quay trở về đất Gia Định. Đến lúc ấy, chắc chắn quân ta sẽ không đủ sức, cùng một lúc, phải đối phó với nhiều đối tượng tác chiến từ các phía khác nhau. Vì vậy, bây giờ, tốt nhất là phải đi nhanh trước thời gian.


Thứ ba là về nghệ thuật quân sự. Đây cũng là phương châm “biết địch, biết ta” trước khi bước vào cuộc chiến tranh chống quân xâm lược do triều đình Mãn Thanh tiến hành. Đó là một nhà nước của chế độ phong kiến đang trên đường suy vong, một chính quyền thống trị ngoại bang trên đất Trung Hoa mà công cụ thực hiện chiến tranh lại là những binh lính người Hán bị ách đô hộ của họ điều khiển. Tình hình này khiến chúng ta liên tưởng đến xã hội châu Âu đương thời. Vào thế kỷ XVII trở đi, tại các nhà nước phong kiến suy tàn ở châu lục này - những nhà nước quân chủ chuyên chế - đã diễn ra quá trình thành lập các quân đội đánh thuê. Đối với loại quân đội như thế, cơ quan chỉ huy chiến lược thường không thể đặt ra những nhiệm vụ tác chiến kiên quyết. Bởi vậy, mục đích, mục tiêu của tác chiến chiến lược không chỉ là lực lượng quân đội mà còn là đất đai đối phương. Người ta coi thắng lợi cao nhất của chiến lược quân sự là chiếm lĩnh được lãnh thổ nhưng không cần phải tiến hành các hội chiến lớn để tiêu diệt sinh lực mà thay vào đấy là việc chiếm đóng các đường giao thông vận chuyển, uy hiếp các căn cứ, kho tàng, ép buộc quân đội địch phải rút lui. Nội dung chính sách quân sự đó được mệnh danh là chiến lược cơ động. Loại chiến lược này của phương Tây có mối quan hệ nào với chiến lược quân sự của Trung Quốc lúc bấy giờ hay không, hiện nay chưa rõ. Thế nhưng trong hoàn cảnh chính trị - xã hội khi triều đình Mãn Thanh tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thì sao có thể đạt được kết quả nếu không sử dụng đến kiểu chiến lược cơ động!


Nội dung chiến lược này được thể hiện rõ khi quân Mãn Thanh, chỉ trong vòng 22 ngày (từ ngày 25 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12 năm 1788) đã chiếm được một vùng đất hết sức quan trọng là kinh thành Thăng Long và buộc quân Tây Sơn phải “rút chạy” về vùng Tam Điệp - Biện Sơn. Theo chỉ dụ của Càn Long, Tôn Sĩ Nghị đã cho chuyển ngay đội hình tiến công chiến lược sang đội hình phòng ngự tạm thời vì cho rằng mục tiêu chiến lược ít nhiều cũng đã đạt được mục đích cuộc chiến. Đó là sự sai lầm lớn của một nhiệm vụ tác chiến chần chừ, do dự khi phải đối mặt với chiến lược tiến công kiên quyết, dứt khoát của một quân đội trưởng thành từ một nền văn hoá quân sự rực rỡ, được thử thách qua mấy ngàn năm chiến đấu chống giặc ngoại xâm.


Tất cả những lý do trên đủ cơ sở để Nguyễn Huệ nhận thức được rằng không có phương pháp hành động nào thích hợp và hiệu quả nhưng lại chóng vánh và chắc thắng hơn là công kích bằng một đòn phủ đầu, đủ sức nặng tới mức chỉ một lần giáng xuống, đối phương đã gục ngay tại chỗ, không sao gượng dậy được.


Để thực hiện thành công đòn công kích phủ đầu, nhất thiết phải có được một sức mạnh trội hơn hẳn địch, nghĩa là phải có ưu thế tuyệt đối. Thông thường từ trước đến cuối thế kỷ XVIII, trong các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta, tương quan lực lượng địch - ta luôn luôn ở trong hoàn cảnh “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”. Muốn thắng lợi, quân ta cần phải có thời gian dài để chuyển hoá lực lượng, nghĩa là phải biến địch đang mạnh thành yếu và ngược lại, phải biến ta đang yếu thành mạnh thì mới có thể đánh thắng được. Tuy thế nhưng trong các cuộc chiến tranh đó, việc chuyển hoá lực lượng cũng chỉ đạt tới một sức mạnh nhất định, tức là chỉ nhỉnh hơn địch ở một mức độ vừa phải rồi quân chủ lực tổ chức từng trận đánh, giành lấy thắng lợi từng bước, phấn đấu đi tới thắng lợi cuối cùng. Nhưng trong cuộc chiến tranh này, tình hình chính trị - quân sự không cho phép dân tộc ta “phấn đấu từng bước” mà tình thế đòi hỏi phải giành thắng lợi cuối cùng trong một thời gian gấp gáp. Đó là một sự khác biệt và trong hoàn cảnh cụ thể ở đây quả là một khó khăn không nhỏ.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:16:17 am
Nếu tính từ khi quân Mãn Thanh vào chiếm đóng Thăng Long cho đến khi chúng bị đánh tan, tất cả chỉ có 46 ngày đêm (từ ngày 17 tháng 12 năm 1788 đến ngày 31 tháng 1 năm 1789), một thời gian thật quá ngắn ngủi cho giai đoạn làm chuyển hoá lực lượng địch - ta trong cuộc chiến tranh giữ nước mà hai bên tham chiến lại chưa một lần đụng độ. Sau một tháng rưỡi ở trên đất nước ta, quân xâm lược không hề ra khỏi đất kinh kỳ. Việc dàn mỏng lực lượng chúng để “chiến tranh xóm làng”, “chiến tranh tại chỗ” tiêu hao, tiêu diệt nhỏ hòng làm suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực ta tiến hành các hội chiến nhằm tiêu diệt lớn như thông lệ là điều không thực hiện được. Nói một cách khác, trước khi vào cuộc đọ sức, lực lượng địch hầu như đang còn nguyên vẹn. Cho nên lúc này, phương pháp “làm mềm hoá” đối phương, không có con đường nào khác, là “tâm chiến”, là đánh vào tinh thần chiến dấu của quân cướp nước.


Nội dung phương pháp này của Nguyễn Huệ rất nhiều nhưng chỉ xin đơn cử hai thí dụ. Thứ nhất là viêc rút lui chiến lược. Về phía ta, hành động quân sự này chỉ là nhằm né tránh, "bảo toàn lấy quân lực", "chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu" nhưng về phía ngược lại, đã rơi trúng vào ý đồ chiến lược của địch, khiến chúng càng ngộ nhận là quân ta "sợ hãi đã ôm đầu chạy trốn” nên phải rút quân và bỏ lại đất đai. Từ đó, chúng càng tỏ ra kiêu căng, hung hăng, tự mãn, sinh ra khinh thường, thiếu cảnh giác, không đề phòng. Thứ hai là bức thư trá hàng gửi tới Tôn Sĩ Nghị. Nguyễn Huệ biết rõ viên tướng này thực sự là người có tài năng về nhiều mặt, từ khoa học đến chính trị, quân sự, thêm vào đó, y còn được Càn Long khen là “một đại thần toàn tài”, “không đầy một tháng mà đã thành công, thật xứng đáng với sự uỷ nhiệm của trẫm”. Tất cả những yếu tố thuận lợi về chủ quan và khách quan đó đã làm cho viên Tổng chỉ huy của đạo quân Thiên triều tự cao, tự đại cũng là điểu dễ hiểu. Bằng phương pháp khích tướng - đánh vào tính cách đó, để gây tác động tinh thần. Bức thư trá hàng của Nguyễn Huệ đã có giá trị như một liều thuốc cực mạnh, ru viên tướng họ Tôn “ngủ kỹ trên thành tích của mình”, mê man, không đủ sức tỉnh táo nhận rõ đúng, sai của chân lý, yếu, mạnh của đối phương trên chiến trường: “Nay đại nhân vâng lệnh của Thiên hoàng đế, hỏi tội thần về việc đuổi chúa, cướp nước. Thần xiết bao run rẩy, sợ hãi. Chuyến này đến đây, thần sẽ tới tại chỗ gần gũi để chờ lệnh đại nhân phân xử". Nhận thư, thấy lời lẽ khiêm nhường, người viết xác định đúng tội danh như vua Lê gán ghép là “đuổi chúa, cướp nước” với một thái độ “run rẩy, sợ hãi” nên người được nịnh bợ tỏ ra hưng phấn, càng yên trí rằng “tên tù trưởng mọi rợ, sợ oai phải đầu hàng” và không một chút do dự, đã lớn tiếng ra lệnh: “Hãy rút quân về Thuận Hoá để chờ phân xử". Với một giá trị tâm lý chiến, bằng lời lẽ phỉnh phờ, tâng bốc, bức thư đã góp phần không nhỏ, tạo thành một lớp vỏ bọc giả tạo cực kỳ khéo léo, khiến cho Tôn Sĩ Nghị vốn sẵn kiêu căng, nay lại càng yên trí vì có thêm bằng chứng mới nên càng lún sâu xuống vũng bùn sai lầm và tiếp tục duy trì sự suy nghĩ đó về ý đồ chiến lược của quân ta cho tới khi hoàn toàn bị đánh bại.


Bên cạnh “đòn cân não” hướng về phía địch là sự tăng cường sức mạnh về phía ta, chẳng hạn như việc tuyển thêm quân ở Nghệ An, việc tổ chức lễ “thệ sư” ở Thanh Hoá. Để quân ta có thêm khả năng chiến đấu, Nguyễn Huệ đã đưa vào trận những vũ khí mới như những con voi - pháo, những tấm ván quấn rơm, trát bùn, và đặc biệt là lần đầu tiên trong lịch sử, ông đã thực hiện một kiểu công kích mới, nó nằm ngoài bốn kiểu công kích ở châu Âu nói riêng, cũng là ở quy mô toàn thế giới nói chung, tính đến cuối thế kỷ XIX như Ph. Ăng-ghen đã từng tổng kết. Nó lại cũng không bố trí theo kiểu “trận đồ bát quái” quen thuộc của người Hán. Nội dung kiểu công kích này là: tiến công phía chính diện kết hợp bao vây, vu hồi phía canh sườn và sau lưng đội hình đối phương. Đó là một kiểu công kích khác biệt, độc đáo, sáng tạo. Nó vừa mang theo phương pháp tác chiến kết hợp chính - kỳ phương Đông cổ xưa của vũ khí lạnh, lại vừa mang theo phương pháp tác chiến của đội hình dãn thưa, kết hợp khối dọc của những người lính bộ binh sử dụng hoả khí cá nhân nòng trơn ở phương Tây lúc bấy giờ. Nó còn là một kiểu công kích vừa thắm đượm bản sắc tư tưởng tiến công theo truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, lại vừa thể hiện rõ rệt tư tưởng đánh tiêu diệt ở đỉnh cao của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ. Không những thế, các cánh quân bao vây, vu hồi (ngôn ngữ của Tôn Tử gọi là “kỳ”) lại được cài lồng vào nhau, tạo thành thế trận “vây đơn, vây kép, vòng ngoài, vòng trong”, phía cạnh sườn kết hợp phía sau lưng, phía bên phải kết hợp phía bên trái. Ví dụ như công kích Ngọc Hồi, có vu hồi gần ở Đầm Mực, vu hồi xa ở Thăng Long; công kích khối quân địch ở phía bờ nam sông Hồng, có vu hồi gần ở Hải Dương, vu hồi xa ở Phượng Nhãn; các cánh vu hồi lại có phía trái vào Đầm Mực, ra Thăng Long, có phía phải đến Hải Dương, lên Phượng Nhãn. Các cánh quân xa, gần đó đã tạo cho thế trận một chiều sâu lớn, một vòng vây chặt. Tất cả những phương pháp hành động đầy tính sáng tạo nhưng lại rất cụ thể, tỉ mỉ như thế đã giúp quân ta đủ sức đánh thắng địch bằng một tổng hội chiến trên một chiến địa thống nhất, từ Ngọc Hồi đến cung Tây Long, dài chừng 20 km, theo đường chim bay, chứ không phải bằng nhiều hội chiến trên các chiến địa khác nhau như ở trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước kia.


Qua phần vừa trình bày, đến đây chúng ta có thể kết luận được rằng bất ngờ và thần tốc chưa hẳn đã là những nhân tố đưa tới chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789 mà thêm vào đấy còn có nghi binh, có tâm lý chiến, có sự nổi dây của nhân dân 9 xã ngoại thành và đặc biệt là có sự xuất hiện một kiểu công kích độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Huệ. Mọi nỗ lực của nhân dân ta đã tạo thành một sức áp đảo mạnh mẽ, khủng khiếp, một ưu thế trội hơn hẳn đối phương trong khi chúng không còn thấy được rằng tính kiêu căng, thói hợm hĩnh, thiếu cảnh giác đã tự làm mục ruỗng hết tinh thần chiến đấu của mình, nếu không thì làm sao mà cả một đạo quân đông đảo, khổng lồ lại có thể tan vỡ một cách nhanh chóng, kỳ lạ đến như thế. Hai mươi chín vạn tên xâm lược đã bị thương, bị giết, bị bắt chỉ trong vòng một buổi sáng. Trận công kích phủ đầu này thật là một sự kiện nổi bật trong văn hoá quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:18:12 am
NGÔ THÌ NHẬM, DANH NHÂN VĂN HOÁ QUÂN SỰ
Ở THẾ KỶ XVIII CỦA HÀ TÂY


Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, vùng đất Hà Tây đã sinh ra nhiều danh nhân văn hoá nói chung và danh nhân văn hóa quân sự nói riêng. Các danh nhân văn hoá quân sự đó có thể kể đến Phùng Hưng ở thế kỷ VIII, Ngô Quyền ở thế kỷ X; những người mà trước những bước ngoặt lớn trong lịch sử đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm của dân tộc đã biết lựa chon ra được những phương pháp hành động thích hợp và hiệu quả để đánh thắng quân thù. Tại Hà Tây còn có một danh nhân văn hoá quân sự ở thế kỷ XVIII. Đó là Ngô Thì Nhậm, người mà về tài năng quân sự, trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã xếp vào hàng với Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, năm nhà lãnh đạo chiến tranh kỳ tài của dân tộc ta trong hơn 900 năm dưới thời tự chủ.


Ông sinh ra từ một dòng họ vốn được xem là văn võ toàn tài tại làng Tó - Tả Thanh Oai. Năm 1778, khi Ngô Thì Nhậm giữ chức Đốc đồng trấn Kinh Bắc, kiêm chức Đốc đồng trấn Thái Nguyên thì cha ông là Ngô Thì Sĩ cũng giữ chức Đốc đồng trấn Lạng Sơn, một trọng trấn biên giới, như thế là “một nhà; hai cha con thống lĩnh ba trấn và khống chế hai biên thuỳ”. Không những thế, cha còn là Đình Nguyên (đỗ hội nguyên hoàng giáp, tức đỗ đầu thi hội và thi đình), con lại là Tiến sĩ. Thật là “cha con đồng triều, phụ tử thế khoa”, ngay chú ruột Ngô Thì Nhậm là Ngô Tưởng Đạo cũng là một người chỉ huy quân sự có tài.


Riêng bản thân Ngô Thì Nhậm cũng đã trải qua nhiều năm chịu trách nhiệm chỉ đạo chính trị và quân sự ở các tỉnh. Dưới thời chúa Trịnh Sâm, những tờ khải về tình hình biên giới, biên phòng của ông được chúa đặc biệt chú ý và thường khen là “tài học không ở dưới người”. Trong việc đánh dẹp Hoàng Văn Đồng ở Tuyên Quang, ông cũng được chúa tuyên dương là người “đánh giặc giỏi”. Ở đây, ông không chỉ là người biết nắm chắc phương pháp “điều binh, khiển tướng” mà còn rất nhạy bén, biết nhận định chính xác điều kiện thực tế chiến trường để đề ra những quyết sách đúng đắn làm nên chiến thắng.


Bằng cách lừa phỉnh, cưỡng bức nhân dân làm lực lượng, Hoàng Văn Đồng đã đưa phỉ nước ngoài về tàn sát nhân dân địa phương và chống lại triều đình. Trước tình hình đó, Ngô Thì Nhậm đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu để phân biệt rõ đâu là giặc, đâu là dân bị cưỡng bức, lừa bịp. Chúa Trịnh từng ra lệnh cho ông tiến quân đến đâu, được phép “làm cỏ” sạch, san phẳng xóm làng, đốt phá nhà cửa ngay đến đó, nhưng ông không làm theo mà dùng lý lẽ phải trái, giảng giải cho nhân dân ở vùng căn cứ giặc hiểu rõ âm mưu của chúng. Đưa giáo dục thuyết phục lên vị trí hàng đầu nhằm tiễu phỉ là một tư tưởng rất hiện đại trong đấu tranh vũ trang. Chính với tài năng quân sự hơn người như vậy mà sau này Ngô Thì Nhậm từng được vua Quang Trung phong làm Binh bộ Thượng thư.


Từ một tầm nhìn sâu xa về quân sự nên việc đánh giá các vị trí địa hình của ông cũng rất tinh tế. Căn cứ Tam Điệp là nơi có địa hình hiểm yếu. Nhận thấy điều đó ông để nghị với Ngô Văn Sở tạm rút về thủ hiểm để tuỳ cơ ứng phó với quân Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh năm 1789. Ninh Tốn, một viên tướng của triều đình Lê - Trịnh, khi chuẩn bị đem quân đi chống Vũ Văn Nhậm vào cuối năm 1788, cũng từng nói:

"Giữa Thanh Hoa nội với Thanh Hoa ngoại có núi Tam Điệp ngăn cách, ấy là chỗ trời đất xây dựng, rất là hiểm yếu. Ta nên tiến quân để giữ vững lấy, chớ để quân giặc chiếm trước. Được như vậy thì từ Trường Yên về bắc còn là của mình. Nếu núi Tam Điệp mà mất, thì lộ Sơn Nam thênh thang, với những cánh đồng bằng phẳng rộng rãi, e khó tranh nhau với giặc, việc nước sẽ không thể làm thế nào được nữa".


Quả nhiên, đúng như dự đoán, Ninh Tốn đã thua trận vì chậm chân hơn Vũ Văn Nhậm.

Vào những năm lánh nạn ở Sơn Nam, Ngô Thì Nhậm thường đặc biệt lưu tâm đến vị trí chiến lược này. Trong bài thơ cảm hứng, ông đã viết :

   "Thu nhập Ngủ Hồ tri ngã cộng,
   Tâm quan Tam Điệp hữu thuỳ tri?"
   (Thu đến Ngũ Hồ ta có đấy,
   Lòng lo Tam Điệp khách hay chi?)


Hồi ấy, Ngô Thì Nhậm trăn trở về Tam Điệp là lo giúp nhà Trịnh chống quân Tây Sơn, ngờ đâu, chỉ mấy năm sau, điều suy nghĩ đó lại là để giúp vua Quang Trung đánh thắng quân xâm lược. Những nhà chỉ huy quân sự đều nhận thức rõ tầm quan trọng của vị trí Tam Điệp, nhưng trong tình huống chiến lược của đạo quân Tây Sơn ít ỏi ở Bắc Hà lúc đó đã kịp thời ra quyết định tạm lui về địa điểm này để vừa bảo toàn lực lượng, vừa sớm liên hệ được với đại quân của thống soái Quang Trung từ Phú Xuân ra, lại vừa có thêm điều kiện thời gian, chủ động đối phó với địch thì rõ ràng, công sức của Ngô Thì Nhậm, quả là không nhỏ.


Qua lời nói và việc làm của Ngô Thì Nhậm, chúng ta thấy rõ ở ông một tài năng hiếm có, nghĩa là dám táo bạo thực hiện một mưu kỳ chước lạ, mới nghe tưởng như trái đạo nhưng trên thực tế khách quan là phải lẽ để ứng phó thành công với một sự việc hết sức phi thường: đánh giặc, giữ nước. Vì nếu không lựa chọn tới một phương pháp hành động đúng đắn như vậy, đã không đưa dân tộc ta tới chiến thắng lớn. Bởi thế, phần đóng góp của ông đã được vua Quang Trung đánh giá rất cao về giá trị quân sự.


"Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng".

Sự kiện quân Tây Sơn rút khỏi Thăng Long về phòng ngự tại Tam Điệp - Biện Sơn là một hành động chưa từng có trong lịch sử đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm ở Việt Nam. Về thực chất, hành động của giai đoạn này là nhằm kiềm chế, làm suy giảm sức tiến công của địch hoặc ít nhất cũng là làm cho tốc độ tiến quân của chúng chậm dần lại để chờ đại quân ta kịp triển khai kế hoạch phản công chiến lược, giành thắng lợi quyết định. Đó chính là cống hiến to lớn của Ngô Thì Nhậm về mặt quân sự trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mãn Thanh năm 1789.


Để đi tới mục đích trên, trước khi rút quân, Ngô Thì Nhậm còn thu hút sự chú ý của đối phương bằng hai việc làm cụ thể mà nội dung thực chất về quân sự là nghi binh, kịp cho quân ta có thêm thời gian chuẩn bị.

Thứ nhất là khi quân xâm lược chuẩn bị tiến vào nước ta, một phái đoàn, gồm một số quan lại cũ nhà Lê là Nguyễn Quý Nha, Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn cùng Nguyễn Đình Khoan, Lê Duy Chử, Nguyễn Đăng Đàn được cử đến Nam Quan, trao cho quân Mãn Thanh một bức thư đứng tên Sùng nhượng công Giám quốc Lê Duy Cận và một tờ bẩm văn ký tên các hào mục Bắc Hà, xin nghị hoà làm kế hoãn binh. Dĩ nhiên ý kiến đó không được chấp nhận, phái đoàn này bị chặn lại, phải quay về.


Thứ hai là khi quân xâm lược tiến đến vùng trung du, một bộ phận lực lượng chiến đấu của ta làm giả việc đào hào, đắp luỹ, phao tin là sẽ quyết chiến tại phòng tuyến sông Như Nguyệt như Lý Thường Kiệt đã làm ngày trước.


Mặt khác, một đội quân khoảng một ngàn người, dưới sự chỉ huy của Phan Văn Lân, lên nằm chờ sẵn ở phía bắc Thị Cầu và ban đêm đã tập kích vào đại bản doanh của chủ tướng Tôn Sĩ Nghị đóng ở núi Tam Tằng. Tiếp đó là một cuộc duyệt binh lớn được tổ chức ở bãi sông Hồng, cạnh Thăng Long, nhằm đánh lạc hướng địch, để đến nửa đêm, quân ta bất ngờ rút về phía Nam.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 24 Tháng Hai, 2022, 07:18:55 am
Đến đây, một vấn đề cần được làm rõ, việc rút quân về bố phòng ở Tam Điệp - Biện Sơn có liên quan tới ba nhân vật là vua Quang Trung, Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm. Vậy ai là “tác giả đích thực”?

Nếu xét về tầm vĩ mô của cuộc chiến tranh giữ nước năm 1789, vua Quang Trung là người chịu trách nhiệm chính. Nhưng trước đó, từ tháng 5 năm Mậu Thân (khoảng tháng 6 năm 1788), “việc quân quốc mười một trấn Bắc Hà” đã được giao cho Đại tư mã Ngô Văn Sở cùng một số người giúp việc, trong đó có Ngô Thì Nhậm. Đến khi triều đình Mãn Thanh phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, đặc biệt là thời gian tính từ ngày 28 tháng 11 năm 1788 - khi quân đội chúng rời Quảng Tây tiến về phía biên thuỳ hai nước - đến ngày 15 tháng 1 năm 1789 - khi vua Quang Trung đưa đại quân ra đến Tam Điệp - thì những hoạt động quân sự của quân Tây Sơn, tuy đặt dưới sự chỉ huy của Ngô Văn Sở nhưng linh hồn của những hoạt động quân sự ấy lại thuộc về Ngô Thì Nhậm.


Thật vậy, sau khi nghe Ngô Thì Nhậm phân tích hết điều hơn lẽ thiệt về việc rút quân thì:

"Sở bèn nghe theo... Tới huyện Yên Mô, Sở sai chia quân đóng đồn dọc ven núi Tam Điệp, thẳng đến bờ biển, hai mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau để cố thủ".

Và khi đưa đại quân ra đến Tam Điệp, chuẩn bị cho giai đoạn phản công chiến lược, vua Quang Trung cũng xác định rõ “quyền tác giả” của việc rút quân khỏi Thăng Long, bảo toàn lực lượng là Ngô Thì Nhậm: "Kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy".


Bên cạnh sự cống hiến của Ngô Thì Nhậm về quân sự từ những công việc góp phần chỉ đạo cuộc chiến tranh năm 1789, ông còn có sự cống hiến khác nữa về quân sự nhưng lại bằng phương thức đấu tranh ngoại giao, một sự lựa chọn phương pháp hết sức tài tình để đạt mục đích.


Theo sử sách thì trước khi ra Thăng Long, tiêu diệt quân Mãn Thanh, với tầm nhìn xa, trông rộng, vua Quang Trung đã tính trước: "Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được quân Thanh, nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải là Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được".


Với ý định đó, trong những năm sau đại thắng 1789, Ngô Thì Nhậm được cử làm người đứng đầu công tác ngoại giao của triều Tây Sơn. Về mặt này, một trong những nội dung cống hiến không nhỏ của ông là đã làm triệt tiêu một cuộc chiến tranh xâm lược của địch sắp sửa xảy ra với đất nước ta. Đây là một chiến công mà ý nghĩa lớn lao của nó là “không đánh mà thắng”.


Ai cũng biết, sau thất bại lớn từ chiến địa Ngọc Hồi - Đống Đa, triều đình Mãn Thanh toan tính huy động quân lính 9 tỉnh hòng tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược nữa để trả thù, nhưng vì đã bị tác động bởi đòn giáng trả sấm sét của dân tộc ta làm cho một bộ phận lớn quan lại, nhất là số quan lại ở biên giới, đang muốn cầu hoà. Nắm được tâm trạng này qua bức thư của Thang Hùng Nghiệp, vốn là phó tướng của Tôn Sĩ Nghị, lại vừa thoát chết trong cuộc chiến tranh xâm lược vừa qua chưa đầy nửa tháng, Ngô Thì Nhậm đã viết một bức thư phúc đáp với lời lẽ rất kiên quyết, kèm theo thư còn có một đạo biểu văn, nhờ Thang Hùng Nghiệp chuyển lên Hoàng đế Càn Long. Xem xong thư, biểu, “lạ lùng và sợ hãi” trước thái độ cứng rắn của vua Quang Trung, Thang Hùng Nghiệp bèn viết thư "mách nước" cho Ngô Thì Nhậm trần tình về lý do vua Quang Trung đánh tan đạo quân của Tôn Sĩ Nghị.


Tiếp đó, vào tháng 5 năm 1789, đã diễn ra một cuộc gặp mặt tại biên giới giữa sứ thần nước ta vói Thang Hùng Nghiệp. Tại đây, Thang đề ra việc nộp công phẩm và đòi vua Quang Trung phải lên Nam Quan gặp Phúc Khang An (viên tống đốc mới của Lưỡng Quảng, thay cho Tôn Sĩ Nghị) bàn việc cầu phong, Ngô Thì Nhậm thẳng thắn bác bỏ hết thảy.


Mặc dù thế, các cuộc đàm phán ngoại giao, trao đổi công văn, thư từ giữa hai bên vẫn cứ tiếp tục và cuối cùng, Càn Long buộc phải huỷ bỏ việc phát động một cuộc chiến tranh xâm lược để trả thù vì biết chắc rằng sẽ không bao giờ giành được phần thắng.


Như vậy là cả hai cuộc chiến tranh xâm lược của triều đình Mãn Thanh - một đã diễn ra trên chiến địa và một còn đang nằm trong ý định của giới cầm quyền - đều bị đập tan.

Thật ra, so với các đế chế đàn anh ở đất Trung Nguyên như Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh thì Đại Thanh không phải là một đế chế mạnh vì “sinh sau, đẻ muộn” và đã ở vào giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến Trung Hoa nhưng cũng còn là vì một đế chế được xây dựng trên nền thống trị của một nhà nước ngoại bang, phi Hán tộc. Vì thế mà trong đạo quân sang xâm lược Việt Nam năm 1789, ông cha ta đã phát hiện ra rằng, bên cạnh mối quan hệ giữa người Mãn với các tộc ngươi khác trên đất Trung Hoa còn có mối quan hệ giữa giai tầng thống trị nước ngoài với các giai tầng bị đô hộ người bản xứ. Rõ ràng quyền lợi của các thành phần quân đội này hoàn toàn trái ngược với nhau, vừa là mâu thuẫn giai cấp, vừa là mâu thuẫn dân tộc. Đó là một trong những điểm yếu chí tử, không có bất cứ một biện pháp nào có thể khắc phục nhằm tạo nên sức mạnh cho đạo quân xâm lược Mãn Thanh.


Tuy thế nhưng đế chế Mãn Thanh, dù đã ở trong tình trạng “mãn chiều, xế bóng”, vẫn chưa cam chịu để mất đi cái vẻ bóng bẩy, hào nhoáng mà vẫn ngạo nghễ, kiêu căng. Chẳng hạn như:

"Ta, Hoàng đế, nhờ ơn trời, lệnh cho vua nước Anh ghi lấy lời huấn thị sau: Thiên tử, cai quản cả bốn biển... xem thường các đồ quý hiếm của nước ông..., vì thế, ta đã ra lệnh cho các sứ thần mang đồ tế lễ của ông về nước an toàn. Còn ông, Hoàng thượng, ông chỉ cần hành động cho hợp ý muốn của ta là nâng cao lòng trung thành và thề nguyện vầng lời mãi mãi”.


Đó là lời lẽ trong một bức thư của Hoàng đế Càn Long trả lời vua Gióoc-giơ III của nước Anh khi các sứ thần nước này dâng lên một số sản phẩm công nghiệp làm quà nhằm xây dựng mối quan hệ thương mại.

Nhưng đối với dân tộc ta, bóc trần lớp vỏ bọc giả tạo bên ngoài và chuyển hoá những điểm yếu của địch thành những điểm mạnh của ta để chiến thắng kẻ thù vốn là một phương pháp sở trường trong quá trình đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm ở mọi thời đại. Văn hoá quân sự Việt Nam ở thế kỷ XVIII cũng không đi ra ngoài quỹ đạo này. Trong chiến thắng hào hùng đó, công lao cực kỳ to lớn đời đòi thuộc về thế hệ người Việt đương thời mà linh hồn, của nó là vua Quang Trung - vị thống soái kiệt xuất, người anh hùng dân tộc vĩ đại, một thiên tài quân sự ở cuối thời trung đại. Bên cạnh đó, chúng ta không thể không nhắc tới sự đóng góp hết mình của Ngô Thì Nhậm, một danh nhân văn hoá quân sự Việt Nam, một người con thân yêu của vùng đất Hà Tây.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:26:58 am
TƯƠNG KẾ, TỰU KẾ


Tương kế, tưu kế là một cụm từ gốc Hán. Về nghĩa quân sự, đó là “lợi dụng ngay mưu đồ của địch để đánh thắng chúng” như ngôn ngữ người Việt “gậy ông, đập lưng ông” hoặc như ngôn ngữ người Hán “dĩ độc chế độc” (lấy độc trị độc).


Nhìn từ góc độ văn hoá quân sự, tương kế tựu kế tức là: kế của địch tạo ra nhằm chống lại ta, ta giả vờ hiểu nhầm nhưng từ đó, bí mật tạo ra một kế khác để giành thắng lợi. Về thực chất, nói một cách hình tượng, “tương kế, tựu kế" là ta thuận theo ý địch, để rồi hình thành một thòng lọng to, dài hơn thòng long nhỏ hoặc như đào một cái hố lớn, rộng hơn cái hố bé của đối phương, khiến cuối cùng, chúng bị thít cổ vào tròng, bị sa chân xuống hố. Giả vờ hiểu nhầm chỉ là hiện tượng, là hình thức bề ngoài, là động tác giả, còn bí mật tạo ra một kế khác mới là bản chất, là nội dung bên trong của vấn đề.


Người chỉ huy quân sự sáng suốt, không những có thể thực hiện mưu kế kỳ diệu một cách chủ động trong chiến đấu mà còn là khi đối phương sử dụng quỷ kế nào đó, có thể kịp thời phát hiện ngay để lấy “gậy ông đập lưng ông”. Vì vậy, tương kế tựu kế tức là kế lạ trong kế lạ.


Để hành động tương kế, tựu kế đạt kết quả tốt, cần lưu ý hai điểm. Trước hết là phải lợi dụng cho được mưu kế của địch để chống lại chúng. Đó chính là lấy ngay cái địch đang lừa ta, làm cho chúng đinh ninh là ta đã bị lừa để rồi lừa lại chúng mà giành thắng lợi. Muốn vậy, phải có bản lĩnh, phải cao tay hơn đối phương, nghĩa là phải nắm chắc nội dung thực chất của mưu kế đó. Nếu làm ngược lại, không bao giờ đánh thắng được địch. Sau nữa là lợi dụng mưu kế địch để đánh thắng chúng mới chỉ là việc đề ra phương hướng hành động còn mục tiêu của hành động lại phải được nhận thức rõ hơn. Vì đây là khâu then chốt của hành động. Chung quanh vấn đề này, binh thư cổ từng chỉ rõ: “Địch không thắng được ta là do ta chuẩn bị. Ta thắng được địch là do địch sai lầm". Lợi dụng mưu kế của địch chính là phát hiện và khoét sâu sai lầm trong mưu kế của địch để đánh thắng chúng.


Về tương kế, tựu kế có rất nhiều, chỉ xin đưa ra một số dẫn chứng.

Thứ nhất là người lái trâu nước Trịnh tay không đánh lui quân Tần. Thời Xuân Thu (771 - 476 trước công nguyên), thừa dịp nước Trịnh không phòng bị, nước Tần liền cử tướng Mạnh Minh đem quân áp sát biên giới.

Nước Trịnh có một người lái trâu tên là Huyền Cao, trên đường đem trâu đi bán thì được một người bạn, từ nước Tần về, báo tin: quân Tần đã được lệnh đánh nước Trịnh, ngày Bính Tuất tháng 12 sẽ xuất phát. Thấy thế Huyền Cao rất lo lắng, liền nghĩ ngay ra một kế nhằm đảo ngược thế cờ. Đó là một mặt sai người về cấp báo cho vua nước Trịnh, một mặt chuẩn bị hai chục con trâu thật béo và giả đóng vai sứ thần, đem quà đến “úy lạo quân xâm lược”.

Gặp chủ tướng quân Tần, Huyền Cao giành ngay thế chủ động:

- Vua Trịnh biết tướng quân đem quân Tần tới đã cử sứ thần Huyền Cao này đến đón tiếp và úy lạo.

- Đến úy lạo sao không có giấy tờ?

- Tướng quân cất quân ngày Bính Tuất tháng 12, thời gian gấp quá, làm sao chuẩn bị kịp giấy tờ. Nhà vua chỉ nhắn miệng lời chào đến tướng quân.

Bị dồn vào thế bí, Mạnh Minh càng lúng túng suy nghĩ: đến ngày giờ cất quân của ta, sứ thần cũng nắm được, liền hiền lành đấu dịu:

- Quân ta không có ý định đánh nước Trịnh. Mục đích là đánh một nước khác, xin nhờ sứ thần chuyển lời cám ơn tới Trịnh Hầu.


Thứ hai là dưới thời Tam Quốc (220 - 280), Gia Cát Lượng dùng mưu bắt sống Hạ Hầu Mâu. Như chúng ta đã biết, trước khi xuất quân ở Kỳ Sơn, Gia Cát Lượng đã giao chiến với Thôi Lạng, Thái thú An Định ở quận Thiên Thuỷ. Thôi Lạng đã đầu hàng.

Đối với viên hàng tướng này, Gia Cát Lượng đối xử như thượng khách, mong ông ta lập công chuộc tội bằng cách giúp một tay trong việc bắt sống Hạ Hầu Mâu, viên tướng đang cố thủ thành Nam An. Ông nói với Thôi Lạng: "Nay túc hạ còn có hơn một trăm hàng binh. Một số tướng sĩ quân Thục sẽ cài vào đó, đóng giả quân An Định lọt vào thành, mai phục sẵn quanh tướng phủ của Hạ Hầu Mâu. Túc hạ bí mật bàn với Dương Lăng, Thái thú Nam An, chờ đến nửa đêm mở cửa thành sẽ trong, ngoài phối hợp".


Nào ngờ Thôi Lạng gian trá, không thực lòng, đã chạy đến bàn bạc trước với Dương Lăng và Hạ Hầu Mâu, tìm cách chống lại: "Cứ mở cửa thành, chờ cho quân Thục và Khổng Minh vào rồi sẽ chẹt cổ giết gọn".

Nhưng quỷ kế của Thôi Lạng đã bị Gia Cát Lượng nhanh chóng phát hiện. Ông liền lấy ngay kế của địch làm kế của mình.

Tối hôm đó, Gia Cát Lượng dặn trước công việc cho Quan Hưng và Trương Bào. Cứ thế, hai tướng dẫn quân lẫn lộn trong đám quân của Thôi Lạng cùng tiến đến chân thành Nam An. Chờ khi Dương Lăng vừa mở cổng thành ra đón, Quan Hưng vung dao giết ngay tại chỗ. Cùng lúc ấy, Trương Bào quay giáo đâm chết luôn Thôi Lạng. Thừa thắng, ba bề bốn bên, quân Thục ào ạt tiến vào thành, Hạ Hầu Mâu trở tay không kịp.


Như vậy, Thôi Lạng thực hiện quỷ kế, tưởng rằng có thể dùng ngay kế của Gia Cát Lượng, dụ được quân Thục vào thành, sẽ đóng cửa để ra tay. Ai hay, Giá Cát Lượng nhân kế đó, lại chưa vào thành vội, không đợi đến nửa đêm mà ngay từ đầu, đã phá kế của Thôi Lạng. Trong hành động, Gia Cát Lượng mưu cao hơn hắn kẻ địch một đầu. Kế mình đưa ra bị đối phương lợi dụng, Gia Cát Lượng lại dùng chính kế đó để đánh thắng. Rõ ràng đây là một kiểu tương kế, tựu kế “kép”.


Thứ ba là hành động của quân ta trong ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 19 tháng 12 năm 1946. Theo lịch sử quân sự, cho đến đầu tháng 12 năm 1946, tình hình đấu tranh theo phương châm “hòa để tiến” của dân tộc ta ngày càng bế tắc, mặc dù Việt Nam và Pháp đã thoả thuận được với nhau qua hai văn kiện: Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 và Tạm ước ngày 14 tháng 9. Đến đầu tháng 12, dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đã bộc lộ rõ. Ngày 7 tháng 12 năm 1946, Xanh-tơ-ni, đại diện nước Pháp tuyên bố với các nhà báo: "Đã đến lúc giải quyết thời cuộc bằng quân sự. Quân đội Pháp sẵn sàng hành động". Chín ngày sau, ngày 16 tháng 12 năm 1946, Đô đốc Đác-giăng-li-ơ, Thượng sứ Pháp tại Việt Nam đòi khôi phục các điều ước bán nước mà triều đình nhà Nguyễn đã ký năm 1884 và coi Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là lãnh thổ của nước Pháp. Thực hiện ý đồ đó, quân Pháp đóng ở Hà Nội ra phố khiêu khích, cố tình gây ra những xung đột vũ trang. Biết rằng không thể giải quyết vấn đề bằng con đường thương lượng, chúng ta đành phải chấp nhận con đường đấu tranh vũ trang mới có điều kiện giành lại độc lập, tự do. Theo hướng trên, quân dân ta bí mật, khẩn trương chuẩn bị để giành quyền chủ động chiến lược. Đúng 20 giờ 3 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, quân ta đã nhất tề nổ súng tại Hà Nội và sau đó là tại các thành phố lớn. Cuộc kháng chiến 9 năm (1945 - 1954) chống thực dân Pháp bắt đầu.


Thứ tư là trận Plây-me. Vào cuối năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ chuyển sang giai đoạn chiến tranh cục bộ, để triển khai lực lượng tham chiến trên toàn miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ đã đưa vào chiến trường Tây Nguyên những đơn vị chiến đấu tinh nhuệ nhất mà nòng cốt là sư đoàn kỵ binh bay số 1. Cũng trong thời điểm đó, cụm cứ điểm Plây-me (do một tiểu đoàn bộ binh ngụy phòng ngự) bị quân ta bao vây, áp sát và gây nhiều thiệt hại nặng. Thậm chí chiến đoàn 3 thiết giáp ngụy đến cứu nguy cũng chịu chung số phận. Biết chắc là khi quân ngụy bị đòn đau, quân Mỹ thế nào cũng đến chi viện, quân ta chuyển toàn bộ lực lượng về vị trí chuẩn bị đón đánh và chọn thung lũng Ia Đrăng, phía tây của Plây-me làm điểm quyết chiến. Quả nhiên, để giải vây cho quân ngụy, đồng thời để “tìm diệt” Quân giải phóng, trên “thế mạnh”, lữ đoàn 3, thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1 dùng máy bay lên thẳng liên tiếp đổ quân xuống trận địa mai phục của quân ta. Qua bốn ngày giao tranh, 1 tiểu đoàn của địch bị ta tiêu diệt, lữ đoàn 3 bị loại khỏi vòng chiến đấu.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:28:01 am
VIỄN GIAO CẬN CÔNG


Thư tịch cổ đại Trung Quốc vẫn hay nói đến cụm từ Viễn giao cận công. Đó là một thuật ngữ quân sự - chính trị - ngoại giao, có nghĩa là “giao hảo với nước ở xa để tiến công nước ở gần”.

Viễn giao cận công, một loại mưu lược nhằm mục đích đối phó với các quốc gia đối địch. Trong chiến tranh cát cứ và thôn tính, các quốc gia cổ đại Trung Quốc vẫn thường dùng mưu lược này. Nhưng không chỉ dưới thời cổ đại ở Trung Quốc mà ngay trong thế kỷ XX, mưu lược này vẫn được nhiều nước tận dụng.


Theo sử sách ghi lại, mưu lược viễn giao cận công được hình thành dưới thời Chiến Quốc (475 - 221 trước Công nguyên), trong điều kiện nước Tần đang trên quá trình thôn tính sáu nước Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy, thống nhất Trung Quốc. Để thực hiện ý đồ, Tần Chiêu Tương Vương đã dùng Phạm Thư làm thừa tướng nhằm mở mang thế lực nước mình. Nội dung công việc của Phạm Thư chính là mưu lược viễn giao cận công. Ngay trong buổi đầu hội kiến, khi biết quân Tần đang trên đường đi đánh nước Tề, ông đã trình bày rõ quan điểm của mình: "Nước Tề cách nước Tần rất xa, ở giữa còn có nước Hàn và nước Ngụy. Đại vương đem quân đi đánh Tề, giả sử đánh bại được Tề một cách thuận lợi thì cũng không có cách gì nối liền Tề với Tần.


Tôi trộm nghĩ thay cho Đại vương, biện pháp tốt nhất là viễn giao cận công. Đối với nước Tề ở xa nên tạm thời giao thiệp bình thường và trước hết nên đánh chiếm những nước lân cận, như vậy thì có thể mở rộng được đất đai của Tần, chiếm được một tấc là của ta một tấc, chiếm được một thước là của ta một thước. Cứ dần dần như thế, mà thôn tính hai nước Hàn, Ngụy. Đến lúc đó thì nước Tề cũng không thể giữ được nữa".


Dẫn chứng về viễn giao cận công có rất nhiều, ở đây chỉ xin nêu lên hai trường hợp: một thuộc về thời cổ đại ở phương Đông và một thuộc về thời hiện đại ở phương Tây.

Thật ra, mưu lược này mãi đến những năm 70 của thế kỷ III trước công nguyên, Phạm Thư mới nâng lên thành một kế sách thế nhưng trước đó, vào cuối thế kỷ IV trước công nguyên, khi tiến hành chủ trương “liên hoành” Trương Nghi cũng đã sử dụng thành công phương pháp “giao hảo với các nước ở xa, tiến công các nước ở gần” để chống lại chủ trương “hợp tung” của sáu nước.


Đầu tiên, Trương Nghi hội kiến với các tướng quốc của hai nước Tề, Sở ở xa. Ông nêu lên những điều hơn lẽ thiệt, khiến hai nước này bỏ điều ước hợp tung, kết giao với Tần, cô lập hai nước Hàn, Ngụy. Mấy năm sau, bốn nước Yên, Hàn, Triệu, Ngụy ở kề bên, định liên minh với Tề, Sở tiến đánh nước Tần nhưng hai nước này từ chối, cho nên liên quân bốn nước đã bị đánh bại.


Thừa thắng, một năm sau, nước Tần tiến đánh nước Hàn và đã chiến thắng lớn khiến các nước khác rất kinh sợ. Tiếp đó, Trương Nghi đến nước Ngụy, khuyên nên giao hảo với nước Tần. Còn nước Triệu, trước thất bại của liên quân bốn nước và nước Hàn bị tiêu diệt, vì không chịu nổi những lời đe dọa, cũng bỏ thế hợp tung, kết thân với nước Tần. Sau khi khuất phục ba nước Hàn, Triệu, Ngụy, Trương Nghi đến nước sở đề nghị tuyệt giao với nước Tề, nếu được, nước Tần sẽ nhường cho 600 dặm đất. Vua Sở đồng ý làm theo rồi cho người sang Tần nhận đất nhưng đấy chỉ là lời hứa hão. Nhẹ dạ, vua Sở ngỡ là nước Tần chưa thật tin mình, bèn cho người đến biên giới chửi rủa vua Tề. Tức giận, vua Tề tuyên bố cắt đứt quan hệ với Sở. Nhưng cuối cùng nước Tần vẫn không chịu giao đất. Biết mình bị lừa, vua Sở tuyên bố tuyệt giao với Tần nhưng lại bị quân Tần đánh bại, đành phải cắt đất cầu hoà. Thắng được nước Sở, Trương Nghi lại đến nước Tề hăm dọa: “Ba nước Hàn, Triệu, Ngụy vốn là bình phong của Tề, nước Tần khó mà tiến đánh được. Nhưng hiện nay, cả ba nước đó đã kết thân với Tần. Nếu không giao hảo với Tần, sẽ là điều bất lợi cho Tề". Trước tình hình đó, vua Tề buộc phải đồng ý. Cuối cùng, Trương Nghi lại đến răn đe khiến nước Yên phải kết thân với Tần. Như vậy là bằng kế viễn giao cận công, Trương Nghi đã thành công lớn trong chủ trương “liên hoành”.


Còn trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hít-le mưu toan thôn tính châu Âu nhưng lại sợ các nước ở châu lục này liên minh chống lại nên cũng đã thực hiện mưu lược viễn giao cận công.

Trước hết, hắn ký kết với Anh, Pháp hiệp định Muy-ních, lôi kéo hai nước này vào mục đích cùng chống cộng, chống Liên Xô. Trước đó, về phía mình, Liên Xô đã muốn liên hiệp với Anh, Pháp để chống Đức nhưng bị cự tuyệt. Để bảo vệ lợi ích quốc gia, Liên Xô phải ký điều ước không xâm phạm với Đức.


Biết chắc các nước Đồng minh phương Tây và Liên Xô sẽ không viện trợ cho Ba Lan, đầu tiên Hít-le tiến đánh Ba Lan, Tiệp Khắc rồi Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Bỉ, Luých-xăm-bua và tiến quân đến eo biển Măng-sơ của nước Pháp. Như vậy, đến năm 1941, Hít-le đã lần lượt đánh bại từng nước và hình thành một vòng cung bao vây Liên Xô.


Để làm tê liệt Liên Xô, Hít-le đã thông qua nhiều hoạt động ngoại giao nhằm che đậy mưu đồ chiến lược thâm độc của mình rồi bất ngờ, rạng sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941, tung 117 sư đoàn tiến công toàn diện vào Liên Xô. Trong buổi đầu chiến tranh, vô số quân lính Liên Xô bị tiêu diệt, nhiều thành phố, nông trang, xí nghiệp, trường học bị triệt hạ.


Mưu lược viễn giao cận cộng của Hít-le đã đem lại cho nhân dân thế giới một tai họa vô cùng bi thảm.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:28:50 am
LẤY NHÀN ĐỢI NHỌC


Trong sự nghiệp đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm, tổ tiên ta thường thực hiện phương pháp tác chiến lấy nhàn đợi nhọc. Đó là một tư tưởng được rút ra từ thiên Hư thực trong Binh pháp thập tam thiên của Tôn Tử. "Phàm tiên xử chiến địa nhi đãi địch giả dật, hậu xử chiến địa nhi xu chiến giả lao. Cố thiện chiến giả, chí nhân nhi bất chí vu nhân" (Phàm người đến chiến trường trước rồi đợi địch đến giao chiến thì nhàn hạ, kẻ đến chiến trường sau và vội vã giao chiến thì mệt nhọc. Cho nên, người chỉ huy tác chiến giỏi, bao giờ cũng tìm cách điều động địch, chứ không để địch điều động mình).


Những ý tứ của đoạn văn trên là sự biểu hiện sắc thái cụ thể của một quy luật muôn thuở trong chiến tranh: mạnh đươc yếu thua. Mạnh ở đây là nhàn hạ, nghĩa là không phải hành quân, cơ động, không phải giao chiến trước khi xuất trận mà nếu cần thì công sức bỏ ra chỉ "một nửa" để thắng lợi thu về được "gấp đôi". Nếu trong khi vận dụng, phàm việc gì cũng chuẩn bị trước cho thật đầy đủ, bình tĩnh, điềm đạm thì vẫn đủ sức đối phó với sự quấy rối nảy sinh từ bên ngoài. Bất kể việc gì cũng đều có thể lấy nhàn hạ mà ứng xử với mệt nhọc.


Theo thông lệ, khi giải quyết công việc, người ta vẫn thường cho rằng việc hôm nay không nên để tới ngày mai, hiệu suất càng nhanh càng tốt. Điều đó rất chính xác. Thế nhưng khi phải xử lý một vấn đề rắc rối, khó khăn có khi lần lữa lại là một biện pháp tốt nhất. Làm như vậy không có nghĩa là nhút nhát, yếu hèn, cũng không có nghĩa là tắc trách, sở dĩ phải như thế vì đây là một thủ đoạn quyền biến. Nó làm cho ý chí của mình không bị lôi cuốn bởi những sự kiện đột nhiên xảy ra khiến mình dễ bị động.


Về mặt tiêu cực mà nói, đây là ngồi im, quan sát sự vật thay đổi để rồi tìm ra quyết sách cuối cùng. Còn về mặt tích cực, lại là tìm phương pháp làm cho đối phương mệt mỏi, mất nhuệ khí, sau đó thừa cơ xuất kích đánh cho ngã gục không gượng dậy được, đúng như lời Tôn Tử "vùi nó xuống chín tấc đất, tung nó lên chín tầng trời".


Khi dùng phương pháp này, điều cốt yếu là phải điềm tĩnh ứng biến, phải cân nhắc tính toán, phải so sánh, đối chiếu cụ thể rõ ràng hoàn cảnh và ý đồ, cả về thực lực giữa hai bên tham chiến, bám sát tình hình từng lúc, từng nơi, khôn khéo chú ý sự thay đổi của thực tế khách quan trên chiến trường. Thời cơ chưa đến phải "án binh bất động", thời cơ đến, phải nhanh chóng, mạnh mẽ, đủ sức nghiêng sông, lấp biển. Phương pháp này nếu thực hiện tốt, có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh làm xoay chuyển tình hình.


Từng được các nhà chỉ huy quân sự lừng danh trên thế giới nhận thức ra, cho nên phương pháp này đã được thực hiện ngay từ thời cổ đại. Chẳng hạn như ở Hy Lạp (thế kỷ VIII - năm 30 trước công nguyên), trong quá trình tiến quân vào Ba Tư, biết rõ mình thiếu sức mạnh trên biển Địa Trung Hải, trước hết A-lếch-xăng - xứ Ma-xê-đoan tổ chức đánh chiếm ngay vùng ven biển Trung Đông, lấy đó làm bàn đạp, ông đưa lực lượng thuần túy mặt đất tiến lên đánh chiếm các căn cứ hải quân đối phương rồi men theo bờ biển Xi-ri và Phê-ni-xi, mở cuộc tiến công thắng lợi vào hạm đội Ba Tư. Hay trận Can, năm 216 trước công nguyên, trên đất La Mã tuy chỉ có 50.000 người nhưng quân Các-ta-giơ (một nhà nước cổ đại ở Bắc Phi), dưới sự chỉ huy của Han-ni-ban, do được huấn luyện và nghỉ ngơi tại chỗ nên đã bao vây và tiêu diệt gọn 86.000 quân La Mã dưới sự chỉ huy của Va-rông, do còn mệt nhọc vì vừa hành quân từ xa tới. Dưới thời Tây Hán (năm 206 trước công nguyên - 24), trong trận Tỉnh Hình, năm 204 trước công nguyên, Hàn Tín chỉ có 5 vạn quân nhưng đã khôn khéo đánh lừa, dụ 10 vạn quân Triệu vào trận địa bày sẵn để tiêu diệt. Còn dưới thời Đông Tấn, mặc dù với số quân chỉ 8 vạn nhưng dưới sự chỉ huy của Tạ Huyền vẫn dàn quân tại bờ sông Phì Thủy để chống lại 90 vạn quân Tần xâm lược vào năm 283. Với một tương quan lực lượng quá ư chênh lệch, Tạ Huyền đã nhử cho đối phương chịu lui về phía sau trước khi giao chiến. Lợi dụng lúc quân địch đang rút lui, hàng ngũ còn lộn xộn, ông chớp thời cơ, tổ chức công kích và đã làm tan rã toàn bộ khối quân đông, ngót một triệu người.


Ở Việt Nam, phương pháp tác chiến trên hầu như được dùng thường xuyên trong các cuộc chiến tranh yêu nước, đúng như kết luận nổi tiếng của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô đai cáo ở đầu thế kỷ XV:

''Lấy yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ,
Lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục".

Tại sao như vậy? Vì theo một nguyên tắc bất di bất dịch, nghệ thuật quân sự bao giờ cũng hình thành trên cơ sở tương quan lực lượng địch - ta. Địch mạnh vì nhiều, ta yếu vì ít. Yếu chống mạnh mà muốn chiến thắng phải tiến hành theo hai phương pháp. Thứ nhất là đánh địch trong điều kiện chúng bị bất ngờ, không dè trước. Thứ hai là đánh địch khi ta có ưu thế hơn. Ưu thế đó được thể hiện dưới hai hình thức. Hoặc là đánh địch ngay tại chỗ. Hoặc là chờ địch mệt mỏi mới xuất kích.


Xét về nghệ thuật quân sự, lấy nhàn đợi nhọc được thực hiện ở hai quy mô khác nhau.

Ở quy mô chiến lược, trước hết là từ đầu đến cuối các cuộc chiến tranh, lấy lực lượng tại chỗ, bao gồm quân chủ lực đồn trú tại các địa phương và dân binh, thổ binh xóm làng - tức lực lượng chưa bị hao phí sức lực vì không phải di chuyển và chưa phải giao chiến để chống quân địch khi lực lượng của chúng đã bị mệt mỏi, tổn thất ít nhiều trong vận động, trong giao chiến trên đường hành quân. Cứ thế trên phạm vi cả nước, các lực lượng tại chỗ đã góp phần tiêu hao địch, dẫn tới sự chuyển hóa lực lượng hai bên, tạo thuận lợi cho chủ lực ra quân, giáng đòn quyết định. Tiếp đến là đại quân án binh bất động, giấu kín, "nuôi sức, chờ thời" ở giai đoạn đầu cuộc chiến, khi quân xâm lược chưa bị chiến tranh tại chỗ tiêu hao, mài mòn để rồi giáng đòn tiêu diệt chiến lược, giành thắng lợi quyết định vào đối phương khi chúng đã bị sứt mẻ, hao hụt ở giai đoạn cuối, giai đoạn phản công chiến lược. Điều này thường được thực hiện trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Ở thế kỷ XIII là sự rút lui chiến lược, chờ cho chiến tranh tại chỗ "mài mòn" lực lượng địch, chủ lực mới ra quân, tổ chức phản công chiến lược, tiêu diệt chúng trên đường tháo chạy bằng các trận phục kích lớn. Ở thế kỷ XVIII cũng vậy. Các cuộc chiến tranh năm 1785 và 1789 được diễn ra bằng cách rút lui của các lực lượng đồn trú phía trước, né tránh đụng độ để đại quân kịp chuẩn bị, tiến lên giáng đòn quyết định.


Ở quy mô chiến thuật là dựa vào địa hình, vào thế hiểm, tổ chức những trận phục kích để chặn đánh, tiêu diệt địch. Đây là một phương pháp tác chiến chiến thuật phổ biến hầu như ở mọi cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Những trận đánh lớn trong hơn một ngàn năm giữ nước trở lại đây phần lớn đều thực hiện theo phương pháp tác chiến này. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đó là hai trận Bạch Đằng, năm 938 và năm 1288, các trận Chương Dương, Vạn Kiếp năm 1285, trận Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785, trận Đầm Mực năm 1789. Trong chiến tranh giải phóng ở thế kỷ XV, đó là các trận Tốt Động - Chúc Động năm 1426, Chi Lăng 1427; ở thế kỷ XX, dưới thời kháng chiến chống Pháp, đó là các trận Bông Lau năm 1950, đèo An Khê năm 1954, dưới thời kháng chiến chống Mỹ, đó là trận Phú Bổn năm 1975.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:30:53 am
TANG BỒNG HỒ THỈ


Tang bồng hồ thỉ là một cụm từ gốc Hán. Về nghĩa đen, tang là gỗ dâu, bồng là cỏ bồng, hồ là cây cung, thỉ là mũi tên. Cụ thể hơn là gỗ dâu dùng làm cung, cỏ bồng dùng làm tên. Nói gọn lại, tang bồng hồ thỉ là cung tên. Từ đó, về nghĩa bóng, tang bồng hồ thỉ hoặc đảo ngược lại là hồ thỉ tang bồng, là tang hồ bồng thỉ hoặc rút gọn là tang bồng, là hồ thỉ đều nhằm biểu thị chí làm trai, tức là công danh sự nghiêp. Và đã là kẻ trượng phu, sống trên đời, nhất thiết phải phấn đấu để trả cho được món nợ đó.
Chính vì vậy, Nguyễn Công Trứ viết:

   "Tang bồng hồ thỉ, nam nhi trái,
   Cái công danh là cái nợ đời".

Tại sao cung tên lại có mối quan hệ đến chí làm trai, đến công danh sự nghiệp? Để giải đáp câu hỏi này, chúng ta hãy trở về với xã hội phong kiến Trung Quốc xưa. Theo phong tục lúc bấy giờ, khi nhà vua sinh hạ hoàng tử, người ta lấy cung bằng gỗ dâu và sáu mũi tên bằng cỏ bồng, bắn ra sáu phía là: lên trời, xuống đất và bốn phương đông, tây, nam, bắc, để cầu chúc cho cậu bé sau này lớn lên có chí làm trai, làm nên công danh sự nghiệp, như mũi tên bay đi khắp mọi nơi. Còn người dân thường, khi sinh, con trai cũng lấy một cây cung và một mũi tên treo ở bên trái, phía trên cửa ra vào. Bởi vậy mà có từ huyền hồ nghĩa đen là treo cung, nghĩa bóng là sinh con trai.


Sở dĩ thời ấy, từ nhà vua đến người dân thường, đều cầu mong cho con trai mình sau này làm nên công danh sự nghiệp và thể hiện điều ước mong đó qua vật tượng trưng là cây cung và mũi tên bởi vì cung tên là vũ khí, là công cụ để tiến hành chiến tranh. Mà chiến tranh vốn dĩ là một nơi rèn luyện, thử thách ác liệt, gay go nhất và cũng là nơi thể hiện rõ nhất ý chí, tài năng của đấng nam nhi.


Nhưng do đâu lại chỉ lấy cung tên mà không lấy giáo mác để biểu thị cho chí làm trai? Đó là vì bước sang thời trung đại - cũng là thời đại tương ứng với chế độ phong kiến - nhất là từ thế kỷ X trở đi, kỵ binh cùng với vũ khí cung tên giữ vai trò quyết định trên chiến địa còn bộ binh với vũ khí giáo mác đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Và đến khi bộ binh được tái sinh thì vũ khí cầm tay của họ đã là khẩu súng trường.


Từ khía cạnh khác, cũng phải thấy là dưới thời phong kiến, bắn cung và cưỡi ngựa là hình mẫu của người chỉ huy quân sự. Chí làm trai là muốn lập công danh, là phấn đấu vươn tới hình mẫu đó (hình mẫu đã được biểu tượng hóa thành cung tên) mà không muốn dừng lại ở giáo mác của người lính bình thường.


Ở đây có một điều đáng chú ý là cho đến cuối thế kỷ XIX, khi súng đạn đã có khoảng 600 năm lịch sử, người ta vẫn còn hay nhắc đến tang bồng hồ thỉ, tức là nhắc đến cung tên. Bởi lẽ súng đạn và cung tên tuy thuộc hai loại vũ khí hoàn toàn khác nhau (từ chất liệu chế tác đến năng lượng sử dụng) nhưng lại đồng nhất với nhau về tính năng, tác dụng là ở chỗ chúng đều dùng để đánh xa, khác với giáo gươm chỉ dùng để đánh gần. Muốn hiểu rõ hơn, chúng ta hãy bắt đầu từ thời nguyên thủy.


Dưới thời này, nếu như lao giáo là những công cụ xuất hiện đầu tiên trong săn bắn để rồi trở thành vũ khí đánh gần trong chiến tranh thì cung tên xuất hiện sau đó đã mở ra thời đại vũ khí đánh xa của loài người. Thật vậy, lúc bấy giờ, khi thịt làm thực phẩm đã trở nên khó khăn vì lao giáo bất lực trước những thú rừng to lớn, đặc biệt là có sức chạy nhanh, chạy xa thì cung tên bắt đầu hình thành. Từ đó, việc săn bắn đã trở thành một trong những ngành lao động thường ngày. Cung, dây cung và tên là những công cụ rất phức tạp. Loại vũ khí này tuy xuất hiện muộn hơn dưới thời nguyên thủy và có nhiều loại, song vẫn có thể quy vào hai loại chính: một loại cung thuần gỗ, làm bằng cả một khúc gỗ, một loại cung ghép bao gồm gỗ, xương và sừng, nhưng về công hiệu, cung thuần gỗ thường tốt hơn cung ghép. Bởi thế, chỉ những nơi không tìm được gỗ thích hợp, để làm loại cung thứ nhất, người ta mới làm loại cung thứ hai. Mũi tên thường làm bằng gỗ, bằng tre, có khi bằng sậy. Chính vì thế, trong tiếng Hán, từ tiễn còn đọc là tiến - là mũi tên, cũng có nghĩa là que tre nhỏ. Đầu mũi tên thường vót nhọn hoặc cắm thêm đá, xương hoặc răng thú để dễ bay tới đích. Vì là vũ khí đánh xa, mũi tên giữ vai trò cầu nối giữa cây cung với đích qua động tác bắn. Từ đó, người Hán có thành ngữ "hữu đích phóng thỉ" (bắn tên có mục đích). Nguyên liệu làm dây cung là da thuộc, gân thú hoặc là tước nhỏ vỏ cây thành sợi rồi se lại. Việc chế tạo mũi tên tẩm thuốc độc cũng đã được thực hiện rộng rãi trong nhiều bộ lạc. Sau cùng là việc chế tạo ra loại mũi tên mang theo lửa, đủ sức đốt cháy trụi nhà cửa của cả một làng thù địch. Có thể vào thời điểm ấy, cung tên đã bắt đầu chuyển từ vai trò của công cụ săn bắn sang vai trò của vũ khí chiến đấu. Như vậy, muốn phát minh ra cung tên, rõ ràng là phải có kinh nghiệm tích lũy lâu ngày và phải có trí lực phát triển hơn và vì thế cũng đồng thời phải biết thêm nhiều phát minh khác nhau như nghề làm đồ gốm, nghề mài công cụ đá, nghề dệt bằng tay (không có khung cửi)... và đã bắt đầu xuất hiện những mầm mống của một cuộc sống định cư thành xóm làng. Cứ thế cho đến mãi tận cuối thời nguyên thủy, trước sau cung tên vẫn được xem là thứ vũ khí chủ yếu trong xã hội loài người, đúng như nhận định của Ph. Ăng-ghen: "Cung tên đối với thời đại mông muội thì cũng giống như thanh kiếm sắt đối với thời đại dã man và khẩu súng đối với thời đại văn minh: đó là thứ vũ khí có tính chất quyết định".


Như vậy là từ xa xưa, trước khi có sử sách, cung tên đã có một vai trò rất to lớn. Rồi kim loại ra đời, đưa tới xã hội có giai cấp cùng với chiến tranh, gươm giáo (bằng chất liệu đồng rồi sắt, thép) có làm lu mờ cung tên khoảng hơn một ngàn năm nhưng khi kỵ binh chiếm vai trò quyết định trên chiến trường, loại vũ khí đánh xa này lại trở về vị trí của nó như xưa kia, có khác hơn là chất liệu chế tác đã bằng kim loại, thậm chí khi súng đạn ra đời thì tính năng đánh xa lại được kế thừa và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.


Có thể nói rằng, từ săn bắn dưới thời nguyên thủy đến chiến đấu dưới thời trung đại, cung tên đã có một cuộc sống qua nhiều ngàn năm và đã đạt nhiều thành tựu rực rỡ. Vĩ vậy, nó đã trở thành một biểu tượng cho chí làm trai, cho công danh sự nghiệp dưới cụm từ tang bồng hồ thỉ hay hồ thỉ tang bồng.


Các nhà khoa học đoán định rằng, việc phát minh ra cung tên chỉ là một hiện tượng "xôi đỗ", nghĩa là không phải của chung ở tất cả các bộ lạc thời nguyên thủy. Một số bộ lạc này biết sử dụng cung tên chỉ là làm theo cái kết quả của một số bộ lạc khác. Người Ô-xtơ-ra-li-a và một số bộ lạc lạc hậu cá biệt ở lưu vực sông A-ma-dôn (Nam Mỹ) đều không biết sử dụng cung tên. Ở Thái Bình Dương cũng vậy, một số bộ lạc trên quần đảo Mê-la-nê-di-a không hề biết cung tên là gì. Còn người Pô-lê-nê-di-a và người Mi-crô-nê-di-a, khi mới được "phát hiện" đều chưa biết dùng cung tên làm vũ khí săn bắn hoặc chiến đấu. Ở những bộ lạc đã phát triển tới trình độ cao rồi mà vẫn chưa có được một thứ vũ khí nguyên thủy trọng yếu như vậy. Đó chính là một sự thật mà cho đến nay chưa có một sự giải thích nào thỏa đáng.


Sự xuất hiện cây nỏ cũng là một trường hợp tương tự. Hiện nay người ta chưa thu thập được sử liệu đầy đủ về cây nỏ trên phạm vi toàn thế giới nhưng rõ ràng ở phương Đông, nỏ là một sáng tạo riêng của cư dân Đông - Nam Á. Nỏ hoặc ná (hiện là phương ngữ vùng Nghệ - Tĩnh) là một ngôn ngữ phương Nam. Tiếng La-ha (Mường La, Sơn La) gọi là nả, tiếng Chăm-pa gọi là nư, tiếng Ê-đê (Tây Nguyên) gọi là hna. Từ thời nguyên thủy, người Trung Hoa chỉ có cây cung mặc dù trong tiếng Hán, từ nỗ là cây nỏ đã có từ lâu nhưng phải là sau khi từ Đông Nam Á, nỏ du nhập vào Trung Quốc.


Bước sang thế kỷ XX, vũ khí đánh xa đã có bước phát triển vượt bậc. Đạn nói chung đã tách rời súng cho nên ở phương Đông, cụ thể là Trung Quốc và Việt Nam, biểu tượng hoàn chỉnh về cung tên không còn được sử dụng để nói về chí làm trai như từ thế kỷ XIX trở về trước. Người ta đã tách rời mũi tên ra khỏi cây cung để xây dựng một biểu tượng văn hóa quân sự mới là tên lửa. Biểu tượng này được bắt nguồn từ mũi tên mang lửa (do cây cung bắn đi) cách đây nhiều ngàn năm nhưng lại để chỉ một loại vũ khí có vai trò quan trọng hàng đầu trong tiến công và phòng thủ quân sự, đặc biệt là loại có điều khiển với độ xác suất trúng đích cao, với tính hiệu quả chiến đấu lớn. Nó đã, đang và sẽ là loại vũ khí cơ bản trong chiến tranh tương lai. Đó là tên lửa. Mặc dù trong cùng một tên gọi nhưng giữa "tên lửa, tên tre" (như cách so sánh thú vị của nhà thơ Tố Hữu trong thi phẩm của mình) thời gian ra đời và hiệu quả công phá, đã cách xa nhau như một trời, một vực.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:31:45 am
DA NGỰA BỌC THÂY


Da ngựa bọc thây là một cụm từ thuần Việt. Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa là: "Chết ở giữa chiến trường, dùng da ngựa bọc xác (nói về chí khí của người con trai thời xưa, có chết thì chết oanh liệt ở mặt trận).


Nhưng thật ra, cụm từ trên được dịch từ một cụm từ tiếng Hán: mã cách quả thi. Mã cách: da ngựa; quả thi: bọc thây. Quả còn đọc là quá, là lõa, là khỏa. Nguyên văn cụm từ trên vốn là ở trong câu nói nổi tiếng của Mã Viện (14 trước công nguyên - năm 49), một danh tướng thời Đông Hán: "Kẻ đại trượng phu nên chết ở nơi chiến trường, lấy da ngựa bọc thây".


Thời cổ đại Trung Quốc, ở chiến trường, do đi lại khó khăn, quan tài không đem theo được, khi người chỉ huy quân sự tử trận, binh lính dưới quyền, giết ngay con ngựa chiến của người ấy, lấy da bọc thi hài đem về quê chôn cất.


Lấy da ngựa bọc thây về sau đã trở thành một nghi thức tang lễ quân sự. Cũng tương tự như vậy, thời cổ đại Hy Lạp, ngươi chỉ huy quân sự tử trận, binh lính lại lấy ngay tấm lá chắn và cây giáo của người ấy làm cáng khiêng đi mai táng. Ngày nay, nghi thức tang lễ đối với các tướng lĩnh quân đội và cả những nhà lãnh đạo tối cao quốc gia ở nhiều nước là đặt thi hài trên xe thiết giáp hoặc trên bệ pháo.


Dần dần theo thời gian, nghi thức da ngựa bọc thây đã trở thành một biểu tượng văn hoá quân sự để nói lên chí khí của người con trai đối với đất nước. Chẳng hạn như trong Chinh phụ ngâm ở cuối thế kỷ XVIII, Đặng Trần Côn viết: "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa". Hoặc như trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ở cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu tỏ lòng thương tiếc: "Một chắc sa trường rằng chữ “hạnh”, nào hay da ngựa bọc thây”.


Nhưng ngày nay, da ngựa bọc thây đã trở thành từ cổ - cả hình thức ngôn ngữ lẫn nội dung khái niệm - và từ lâu lắm, không còn ai dùng tới nữa. Ở đây cũng xin nói rõ, tác giả của cụm từ này, đối với dân tộc ta, chẳng phải là người có lai lịch tốt đẹp gì. Mã Viện với tên thật là Mã Văn Uyên, vốn là một tướng của nghĩa quân nông dân, sau đã phản bội, bỏ chạy sang đầu hàng triều đình Đông Hán và quay lại, thẳng tay đàn áp những người anh em đã từng cùng chí hướng với mình để đạt tới danh hiệu Phục Ba tướng quân. (Phục là chinh phục, đàn áp; Ba, nghĩa đen là sóng, nghĩa bóng là những phong trào khởi nghĩa của nhân dân). Danh hiệu đó có nghĩa là người chỉ huy quân sự có công lao đánh dẹp những cuộc nổi dậy của quần chúng. Hơn thế nữa, ông ta còn là một hình mẫu sau này của những tên chủ tướng các đạo quân xâm lược vào nước ta giống như Quách Quỳ ở thế kỷ XI, Thoát Hoan ở thế kỷ XIII, Trương Phụ, Vương Thông ở thế kỷ XV, Tôn Sĩ Nghị ở thế kỷ XVIII. Chính ông ta là "tên đồ tể" trong việc đàn áp khốc liệt cuộc khỏi nghĩa của Hai Bà Trưng vào các năm 43 - 44. Nếu quá trình “đồng hóa” đối với dân tộc ta của chính quyền thống trị ngoại bang đã liên tục kéo dài suốt hơn một ngàn năm Bắc thuộc và đã thất bại thì ông ta là kẻ mở đầu qua lời tâu với vua Hán Quang Vũ: "... Luật Việt và luật Hán khác nhau tới hơn mười việc. Xin làm sáng tỏ cựu chế đối với người Việt". Tàn ác hơn, ông ta còn vơ vét hết các trống đồng Đông Sơn, đem đúc lại thành hai con ngựa, mang về đặt tại cổng thành Lạc Dương - kinh đô đương thời của nhà Đông Hán. Về sự việc này, sách Hậu Hán Thư ghi rõ: "Mã Viện thích cưỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa tốt. Ông ta lấy được trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ bèn đúc thành ngựa mẫu... Ngựa cao 3 thước 5 tấc (khoảng hơn 1m), vòng thân ngựa 4 thước 4 tấc khoảng 1,5m), vua xuống chiếu đặt ngựa mẫu ở dưới điện Tuyên Đức để làm ngựa mẫu tốt".


Không những thế, sử sách còn ghi lại, sau khi đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cùng với việc đem theo một số trống đồng về nước, đúc thành ngựa mẫu, Mã Viện còn muốn nhổ tận gốc rễ các thế lực chống đối nên đã bắt 300 cừ suý của nước ta đày sang Linh Lăng và thiêu huỷ đi rất nhiều trống đồng. Gần đây, một số nhà khoa học đã chứng minh được rằng từ xa xưa, trống đồng là biểu tượng cho linh hồn và quyền uy của đất nước Văn Lang, là vật linh hiệu triệu dân tộc chống ngoại xâm chứ không phải là một loại nhạc cụ. Lần đầu tiên gặp loại vật linh này, có thể là nhầm hoặc đúng hơn là Mã Viện đã cố ý làm cho người Lạc Việt dùng nó như “cổ” (trống) - một nhạc cụ của người Hán để quên đi nguồn gốc của dân tộc mình. Đồng thời nhận thấy nó làm bằng đồng, khác với trống làm bằng gỗ và da ở Trung Quốc, nên người thời Mã Viện đã ghép từ chỉ chức năng là "cổ" với từ chỉ chất liệu là “đồng” thành thuật ngữ "đồng cổ" và xem là một thứ nhạc cụ. Từ thuật ngữ tiếng Hán đó, ngày nay người Việt dịch ngược lại thành “trống đồng” còn tên gọi nguyên sơ của loại vật linh này của tổ tiên chúng ta thì đã không còn nữa. Việc làm đó của Mã Viện không ngoài mục đích nhằm giáng một đòn nhục mạ vào nền văn hoá của người Việt lúc bấy giờ. Cũng chính ông ta la người đã dựng cột đồng và ghi lên đó dòng chữ "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng gẫy, Giao Chỉ mất). Sự thật đau thương trong lịch sử dân tộc ta là như thế nhưng trái lại, Mã Viện là “người hùng”, là danh tướng của Nhà nước phong kiến Đông Hán. Bởi vì từ việc làm đến lời nói của ông ta đã biếu lộ sự “hết mình” với triều đình ấy và dĩ nhiên được trân trọng đưa vào sử sách Trung Quốc.


Đấy là xét về ý nghĩa chính trị - xã hội của cụm từ da ngựa bọc thây còn trong việc làm cụ thể thì ngay cả lúc đương thời, cũng rất khó thực hiện vì không phải chiến trường nào cũng sẵn ngựa chiến như vùng thảo nguyên ở phía bắc sông Hoàng Hà. Đối với Việt Nam, một đất nước nhiều sông ngòi và ruộng lầy, hình thức mai táng theo kiểu đó lại càng khó khăn, không những thế, đấy lại là một nghi thức tang lễ quân sự, chỉ dành cho người chỉ huy. Thời xưa, binh lính tử trận - nhất là trong chiến tranh chinh phạt, xâm lược - không hề có một hình thức chôn cất nào được quy định rõ. Trong văn học cổ, người ta thường nhắc đến hình tượng "thây phơi ngoài chiến địa" hoặc thân phận hẩm hiu của người lính chiến "Chinh phu, tử sĩ mấy người, nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn"... không phải là thiếu căn cứ. Nó đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Vì thi thể binh lính tử trận không ai quản lý nên thường bị phía đối phương tùy tiện “chặt đầu, cắt tai” làm vật chứng cho chiến công. Danh từ “thủ cấp” dưới thời Tần Thuỷ Hoàng nghĩa là người lập chiến công phải có đầu giặc kèm theo thì mới được thăng cấp. “Bêu đầu” chẳng qua chỉ là sự biến tướng man rợ của hình thức “phơi thây” nhưng có sự giám sát nghiêm mật của nhà chức trách chuyên quyền.


Nhưng rồi người ta ngày càng nhận thức rõ vai trò quyết định của những người trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu trên chiến trường, như nhận định của V.I. Lênin: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng trên chiến trường". Mọi người tham chiến, từ binh nhì đến nguyên soái, khi ngã xuống, tuy công trạng cao thấp có khác nhau nhưng đều có chung một niềm vinh quang như nhau, khi tử trận đều có những nghi thức mai táng tương đồng. Từ đó, người Pháp xem tử trận là "chết trên trường danh dự". Đặc biệt là đối với những chiến sĩ đã ngã xuống trong những cuộc chiến tranh giữ nước chống ngoại xâm như ở Việt Nam suốt 10 thế kỷ trước kia cũng như 30 năm gần đây thì muôn đời được “tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân”, mãi mãi được nhân dân cả nước tôn thờ, sùng kính, với lòng cầu mong được ơn đáp, nghĩa đền.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:32:33 am
TUNG HOÀNH


Ngày nay, tung hoành là một thuật ngữ quân sự, nhưng xưa kia, nó không phải như vậy. Tung hoành vốn là một cặp từ gốc Hán. Theo nghĩa đen, tung là dọc, hoành là ngang; theo nghĩa bóng, tung hoành là có chí khí dọc ngang, không gì ngăn cản nổi.


Với nghĩa đó, để chỉ người chiến sĩ Giải phóng quân miền Nam, Tố Hữu viết: "Anh đi xuôi ngược tung hoành, bước dài như gió, lay thành chuyển non”. Hay là trong truyện Kiều, Nguyễn Du cũng miêu tả Từ Hải: "Chọc trời, quấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai".


Như đã nói, xưa kia, tung hoành không phải là một thuật ngữ quân sự. Dưới thời Chiến Quốc, cách đây hơn 2.200 năm, thuật ngữ tung hoành có nghĩa là thủ đoạn ngoại giao và thuật ngữ tung hoành hoc chỉ một học phái ngoại giao mà hai tung hoành gia tiêu biểu là Tô Tần và Trương Nghi. Họ Tô chủ trương hợp sức các nước ở phía nam và phía bắc, theo chiều dọc, gọi là hợp tung, để chống nước Tần. Trái lại, họ Trương chủ trương liên kết các nước ở phía đông và phía tầy, theo chiều ngang, gọi là liên hoành, để giúp nước Tần. Kết quả là liên hoành chiến thắng, Tần Thuỷ Hoàng đã thống nhât được lãnh thổ Trung Quốc vào năm 221 trước công nguyên.


Trong thời hiện đại, trên trường quổc tế, người ta hay dùng cụm từ “ngoại giao con thoi”. Phải chăng đấy cũng là một kiểu “tung hoành” của sứ giả giữa các nước.

Tung là dọc, hoành là ngang, đem điều đó đối chiếu với tư thế con người, sẽ có dọc là chiều đi lên phía trước mặt và lùi về phía sau lưng, còn gọi là chiều dài, ngang là chiều rẽ sang bên trái và rẽ sang bên phải, còn gọi là chiều rộng.


Tuy thế nhưng khi đưa vào đời sống, dài và rộng vẫn được dùng theo nghĩa toán học, còn dọc và ngang lại được dùng theo nghĩa xã hội nhiều hơn. Từ dọc thường được dùng với nghĩa tích cực, nghĩa là người ta thích nói đến tiến, tức là chỉ muốn nói đến hướng đi lên phía trước mặt mà không muốn nói đến lùi, tức là không muốn nói đến hướng tụt về phía sau. Còn trái lại, từ ngang, tuy không phải là tất cả, hay được dùng với nghĩa tiêu cực, nhằm chỉ những người có hành vi, tính cách không bình thương mà khẩu ngữ nói gọn là ngang. Nội dung của ngữ nghĩa này được thể hiện ở trong mấy trường hợp. Thứ nhất là làm gián đoạn, nửa chừng như: phá ngang, cắt ngang câu chuyện..., thứ hai là không thuận theo lẽ thường trong nói năng, trong hành động như: nói ngang, bàn ngang, ngang phè phè, ngang như cua..., thứ ba là không bình thường, là lạ, gây cảm giác khó chịu, khó nghe như: mùi ngang ngang, ngang tai, trái mắt.


Đóng góp vào từ ngang còn có những từ dịch từ hoành của tiếng Hán: hoành bao (bao là hung ác): ngang tàng, hung ác; hoành nghịch (nghịch là trái): ngang trái; hoành mục (mục là mắt): con mắt nhìn ngang, tỏ thái độ giận dữ.


Khi nói về từ ngang trong tiếng Việt, xin đừng nhầm lẫn với từ ngang trong tiếng Hán với hai nghĩa: một là ngẩng cao đầu, không chịu thua ai và hai là đắt đỏ, giá cao. Về nghĩa thứ nhất, có thể tìm thấy những cặp từ: ngang tàng (tàng là chứa đựng): nghệnh ngang, ngất ngưởng, tỏ vẻ không sợ gì; hiên ngang (hiên là tự tin): vững vàng, không chịu khuất phục trước mọi đe dọa.


Như thế, nhưng tại sao từ một thuật ngữ ngoại giao, tung hoành lại trở thành một thuật ngữ quân sự? Để giải đáp câu hỏi này, chúng ta hãy tìm hiểu những hành động chiến đấu của người lính trên chiến trường.

Nếu cho rằng tung hoành chỉ dừng lại ở những động tác cá nhân của người chiến binh cầm vũ khí tiến dọc, rẽ ngang trong giao chiến thì vấn đề thật quá đơn giản. Đúng ra, đó là một biểu tượng chỉ chung về mọi hoạt động quân sự.


Như đã thấy trong đời sống xã hội, người ta thiên về chiều dọc thì trái lại trong chiến đấu, người lính phải quán xuyến đầy đủ cả hai chiều của tung, hoành. Mỗi chiều có một giá trị riêng.

Nhìn một cách tổng quát, quá trình phát triến đội hình chiến đấu qua các thời đại vũ khí hoàn toàn phụ thuộc vào việc cải tiến và tạo ra những phương tiện sát thương mới cùng với việc trang bị các phương tiện đó cho người lính. Nhưng nhìn từ góc độ văn hoá quân sự thì hình thức của sự phát triển này lại không bao giờ thoát ra khỏi hai chiều không gian của tung hoành.


Thật vậy, từ xưa tới nay sâu và rộng luôn luôn đấu tranh với nhau trong sự phát triển của đội hình chiến đấu. Sâu là tính về số lượng các lớp chiến binh xếp theo chiều dọc, rộng là tính về số lượng các lớp chiến binh xếp theo chiều ngang. Dưới thời đại vũ khí lạnh nói chung, người ta chú ý nhiều đến chiều ngang của đội hình chiến đấu. Chẳng hạn như đội hình của người Hi Lạp, có chiều ngang tới hơn 1000m (trong hội chiến Ma-ra-tông, năm 490 trước công nguyên), mà chiều dọc chỉ có 2,5m. Vì ở thời điểm ấy, sức tiến công của gươm giáo khó mà chọc thủng được 8 lớp chiến binh xếp theo chiều dọc. Lúc bấy giờ, hoành giữ vị trí chủ đạo.


Sang thời đại vũ khí nóng, do thuật quân sự phát triển, nội dung chiến thuật cũng thay đổi theo. Vì vậy, lúc đầu chiều ngang của đội hình buộc phải thu hẹp dần và các lớp chiến binh xếp theo chiều dọc được tăng cường nhằm hạn chế thương vong. Vào thời điểm ấy, tung giữ vị trí chính yếu. Đội hình chiến đấu của quân Tây Sơn trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1789, hầu hết là những khối dọc kết hợp với đội hình dãn thưa, nhưng rồi tính năng, tác dụng của súng, cối, pháo, ngày càng được nâng cao dần làm cho không gian tác chiến tiếp tục dài ra và rộng hơn. Từ đó, chiến tranh không thể giải quyết bằng một, vài mà phải bằng nhiều trận chiến đấu liên tiếp diễn ra trong mối quan hệ khăng khít với nhau. Một hình thức tác chiến mới ra đời, đó là chiến dịch. Cũng từ đó mà những đội quân đông người, có khi tới hàng triệu, được đưa vào chiến trận. Lực lượng tham chiến không chỉ là những sư đoàn, những quân đoàn mà còn là những tập đoàn quân, những phương diện quân, những dã chiến quân. Điều này làm cho tuyến chiến đấu ngày càng được phát triển theo chiều ngang. Như vậy, bên cạnh chiều dọc, chiều sâu - tức là tung, chiến địa còn có thêm chiều rộng, chiều ngang - tức là hoành.


Thế nhưng, tung hoành trong quân sự, về nội dung thực chất cũng chỉ là một biểu tượng chỉ rõ các hành động chiến đấu của người lính nói chung, diễn ra trên mặt phẳng, tức là trên hai chiều dọc - ngang của không gian trước khi không quân ra đời. Ngày, nay, hành động chiến đấu đã diễn ra trên cả chiều cao, chiều thứ ba vô cùng, vô tận của không gian. Biểu tượng trên, không còn bao quát được nữa. Mặc dù vậy, cặp từ tung hoành cho đến ngày nay vẫn còn được sử dụng với ý nghĩa là mang theo một dấu ấn lịch sử chiến đấu của loài người qua mấy ngàn năm.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:33:25 am
VÀO SINH RA TỬ


Vào sinh ra tử, qua Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên, thì theo nghĩa đen là vào sống ra chết và theo nghĩa bóng là xông pha nơi trận mạc nguy nan, qua những hoàn cảnh hiểm nghèo, giữa cái sống và cái chết. Còn theo Từ điển Hán - Việt của hai tác giả Trung Quốc là Hầu Hàn Giang và Mạch Vĩ Lương, xuất bản ở Bắc Kinh năm 1994, thì cụm từ này được dịch từ cụm từ Hán xuất sinh nhập tử. Tiếp theo nghĩa vào sinh ra tử còn có thêm một nghĩa nữa là ra sống vào chết. Như vậy, đến đây chúng ta thấy có hai cách nói khác nhau giữa người Việt và người Hán. Một bên là vào sống ra chết và ngược lại, một bên là ra sống vào chết. Tình hình này khiến chúng ta phải suy nghĩ về cơ sở hình thành của các cụm từ đó.


Xuất sinh nhập tử là một thuật ngữ quân sự. Chúng ta giả định rằng cơ sở hình thành cụm từ này là Bát trận đồ, tức Bát môn kim toả (thế trận 8 cửa có khoá bằng vàng), một thế trận được phát triển từ Trận đồ bát quái (một kiểu bố trí lực lượng trong đội hình chiến đấu, với “tám trở ngại”, của bộ binh người Hán ở Hoa Hạ chống lại người - ngựa của dân du mục phương Bắc). Đây là một thế trận truyền thống lâu đời ở Trung Nguyên mà cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận trên hai điểm: một là thời điểm ra đời và hai là phương pháp công phá.


Về điểm thứ nhất, chúng ta có thể tìm hiểu qua một số tác phẩm đáng tin cậy. Chẳng hạn như sách Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên chủ biên ở thế kỷ XV, và sách Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ ở thế kỷ XVII. Cả hai cuốn đều nói rõ Hiên Viên Hoàng đế lập phép tỉnh điền để đặt binh thế nhằm đánh Xi Vưu. Điều đó có nghĩa là Trận đồ bát quái có thể ra đời khoảng hơn 2.200 năm trước công nguyên. Rồi qua các tác phẩm khác như Lục Thao của Khương Tử Nha, Binh pháp thập tam thiên của Tôn Tử, Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long, chúng ta lại biết thêm Trận đồ bát quái phát triến dần qua các thời Tam đại (Hạ-Thương-Chu), Xuân Thu, Chiến Quốc đến thời Tam Quốc (Hậu Hán) thì được bảy nhà quân sự nôi tiếng ở Long Trung, trong đó có Khổng Minh, chỉnh đốn và cải biến thành Bát trận đồ, tức Bát môn kim toả. Trong Hổ trưởng khu cơ, Đào Duy Từ nói rõ: "Bảy người hiền... là Thuỷ Kinh Tư Mã Huy, Bàng Đức Công, Gia Cát Khổng Minh, Thôi Châu Bình, Thạch Quảng Tuyền, Từ Thứ, Mạnh Công Uy". "Trận Bát môn kim toả của Nam Dương tiên sinh đời Hậu Hán là bắt chước số bát môn, bát quái mà đặt ra. Đó là phép Khổng Minh vẫn thường dùng, hình như cái khoá, phép rất khít khao, cho nên gọi là kim toả". Thế nhưng về điểm thứ hai, phương pháp công phá, cụ thể là vào, ra trận đồ thì từ xưa đến nay, tuyệt nhiên chưa thấy một cuốn sách nào trình bày được thoả đáng, có đầy đủ luận cứ. Cho nên xác định rõ là “vào sống” hay “ra sống” cũng không phải đơn giản.


Nếu để tìm ra phương pháp công phá thế trận Bát môn kim toả rõ ràng là điều khó khăn, chắc chắn rằng chúng ta không làm nổi. Nhưng để xác minh tính đúng đắn của một trong hai cụm từ trên, thì có thể căn cứ vào hai lần dàn thế trận của Khổng Minh qua tác phẩm Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Vì đây là tiểu thuyết lịch sử cho nên tác giả không thể không tái hiện đúng đắn những hành vi quan trọng, như nó có, về một nhân vật lịch sử đặc biệt là Khổng Minh. Hai lần dàn thế trận đó là: lần đấu trận pháp giữa Khổng Minh và tướng của Tào Ngụy là Tư Mã Ý trên một chiến địa cạnh bờ sông Vị và lần tướng của Tôn Ngô là Lục Tốn lạc vào thạch trận của Khổng Minh bày sẵn ở bến Ngư Phúc.


Như chúng ta đã biết, Bát môn kim toả có 8 cửa với những tên gọi khác nhau là Hưu (thờ ơ), Sinh (sống), Thương (cản trở), Đỗ (chặn lại), Cảnh (đề phòng), Tử (chết), Kinh (quấy phá), Khai (mở ra). Vấn đề liên quan đến hai cụm từ chỉ xoay quanh hai cửa: cửa tử và nhất là cửa sinh. Trước thế trận của Khổng Minh bày ra, có thể Tư Mã Ý quan niệm cửa sinh là cửa sống, nên ông ta hướng dẫn các bộ tướng đưa quân lính theo đó mà vào, chắc chắn là sẽ công phá được. Nào ngờ, tất cả đều bị bắt, không sót một ai. Trái lại, vì không biết, Lục Tốn theo cửa tử đi vào nên không sao thoát ra được, may mắn nhờ Hoàng Thừa Ngạn, bố vợ Khổng Minh, chỉ cho lối ra bằng con đường qua cửa sinh.


Như vậy là những viên tướng đối địch với Khổng Minh đều hoạt động qua cửa sinh của Bát môn kim toả. Một người từ cửa sinh đi ra thì sống còn những người khác từ cửa sinh đi vào thì bị bắt.

Nghĩa là chỉ có thể xuất sinh chứ không thể nhập sinh. Từ đó, suy rộng ra, chúng ta thấy rõ Trận đồ bát quái là một thế trận bí hiếm, quái dị, nếu không may sa vào đấy sẽ thất bại, sẽ chết, chỉ có thoát ra thì mới sống. Bởi thế, cụm từ xuất sinh nhập tử (tức ra sống vào chết) là đúng vì đã vận động, biến hoá theo cùng với cơ sở hình thành ra nó là trận đồ Bát môn kim toả.


Căn cứ vào ý kiến trên, có người cho rằng nên chỉnh cụm từ vào sinh ra tử thành ra sinh vào tử thì mới đúng với nguyên văn của cụm từ tiếng Hán. Về lý thuyết có thể là như thế nhưng về thực hành thì không nên vì mấy lý do:

Thứ nhất, xuất sinh nhập tử là cụm từ Hán, được hình thành trên cơ sở trận đồ Bát môn kim toả. Khi dịch sang tiếng Việt, cụm từ vào sinh ra tử đã thoát khỏi cơ sở hình thành lúc ban đầu và mang theo nghĩa mới, nghĩa khái quát, nên không nhất thiết phải trở về với nghĩa củ.


Thứ hai, thông thường, từ xưa đến nay, những từ Hán du nhập vào tiếng Việt hầu như đều mang theo một nghĩa phái sinh và có một cuộc sống độc lập. Chẳng hạn như: lịch sự trong tiếng Hán là “từng trải sự việc” nhưng trong tiếng Việt lại có nghĩa là “có cách giao thiệp, cư xử khiến người ta vui lòng”. Hay như trong tiếng Hán hương hoả là “hương và lửa”, hương để thắp, lửa để đốt đèn, “chỉ việc thờ cúng tổ tiên”. Còn khi hỏa đã dịch thành lửa trong cặp từ hương lửa của tiếng Việt thì lại có nghĩa là “tình yêu thương thắm thiết giữa vợ chồng”. Vào sinh ra tử là một trong nhừng trường hợp tương tự.


Thứ ba, ngôn ngữ là sản phẩm xã hội, nó hình thành và phát triển theo quy ước xã hội. Đối với từ, giá trị thông dụng quyết định tất cả.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:34:03 am
MỘC VÀ KHIÊN


Mộc và khiên là những thuật ngữ quân sự gốc Hán, chỉ các kiểu lá chắn, loại phương tiện phòng hộ cá nhân của người lính, khác với vũ khí là phương tiện tiến công.

Trong quá trình phát triển các phương tiện chiến đấu nói chung, lá chắn là loại phương tiện phòng hộ đơn giản nhất, ra đời sớm nhất. Giáp trụ xuất hiện sau cùng và là loại phương tiện phòng hộ hoàn chỉnh nhất vì bao gồm cả áo che thân và mũ đội đầu. Thế nhưng tấm lá chắn cũng chỉ được sử dụng trong chiến trận dưới thời đại vũ khí lạnh. Khi vũ khí nóng, nhất là súng liên thanh, ra đời thì nó không còn tác dụng nữa. Tuy ngày nay trên đường phố ở các nước tư bản hiện đại, người ta vẫn còn thấy những tên cảnh sát vũ trang lăm lăm trong tay những chiếc dùi cui cùng với những tấm lá chắn trong suốt bằng chất liệu compôdit, đứng trước những đoàn người biểu tình. Thật ra, đó chỉ là hành động nhằm ngăn chặn sự phẫn nộ quá khích của quần chúng, chứ không phải là công việc chuẩn bị tham gia chiến trận theo đúng nghĩa của nó.


Trong tiếng Hán, tấm lá chắn có tên là thuẫn, là can. Theo sách cổ thì can cũng đồng nghĩa tuyệt đối với thuẫn. Ngày nay, những tên gọi đó đã không còn nguyên nghĩa như xưa nữa, có thể vì thời đại vũ khí lạnh đã lùi quá sâu vào dĩ vãng. Chúng đã mang theo những nghĩa phái sinh khác như thuẫn trong mâu thuẫn để chỉ một phạm trù triết học hay như can trong can qua để chỉ chung về chiến tranh. Không những thế, nghĩa của từ can còn đi xa hơn nữa khi dạng tự của nó chỉ từ càn trong càn khôn và từ cán trong cán bộ khi sử dụng loại chữ giản thể.


Mộc là tên gọi tấm lá chắn trong tiếng Việt với chất liệu tạo thành bằng gỗ. Nói một cách khác, dưới thời đại vũ khí lạnh, để chống lại gươm giáo, cung tên với sức công phá chưa cao như súng đạn sau này nên người ta dùng gỗ cứng để làm tấm lá chắn trong giao tranh. Cũng có khi lá chắn gỗ còn được bọc thêm một lớp da thuộc. Vì vậy đã sinh ra từ binh cách. Binh là vũ khí. Cách là da thuộc, chất liệu làm phương tiện phòng hộ như bọc lá chắn, may áo giáp. Ở Việt Nam, mộc thường làm bằng gỗ sung. Khi khô, loại gỗ này trở nên xốp và nhẹ, có thể nổi trên mặt nước. Như vậy đã rõ, mộc là loại lá chắn bằng gỗ. Từ đó, mộc biến thành tên gọi vì trong tiếng Hán, gỗ có nghĩa đen là mộc.


Khiên cũng là tên gọi tấm lá chắn trong tiếng Việt nhưng lại không làm bằng gỗ mà "đan bằng mây" như "Từ điển tiếng Việt" của Hoàng Phê, "Từ điển tiếng Việt" của Văn Tân, "Đại từ điển tiếng Việt" của Nguyễn Như Ý và "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" của Nguyễn Lân đã định nghĩa. Có thể là do thiếu gỗ cứng, phải dùng mây hoặc là vì một lý do nào đấy, chưa ai phát hiện ra. Trong tiếng Hán, mây được gọi là đằng, như đằng tiên (roi mây), đằng kỷ (ghế mây).


Ngay từ khi các quân đội đầu tiên trên thế giới ra đời, tấm lắ chắn đã có mặt trong thành phần trang bị của người lính. Dưới thời Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc cũng đã xuất hiện tấm lá chắn của các chiến binh trên xe chiến để bảo vệ những người chỉ huy quân sự mặc dù phía trước xe đã có những tấm lá chắn lớn, ghép bằng gỗ dày và cứng.


Nếu như ở Đông Á, tấm lá chắn chỉ là một chiến cụ sơ sài, đơn giản thì trái lại ở Trung Cận Đông và Bắc Địa Trung Hải, nó lại được thiết kế kỹ càng và được sử dụng “bài bản” hơn. Trước hết là về hình dáng và chất liệu. Nếu trong quân đội Ai Cập cổ đại, tấm lá chắn chỉ làm bằng gỗ thì trong quân đội Át-xi-ri, tấm lá chắn có hình dáng gọn ghẽ hơn và được chế tạo tốt hơn. Không những làm bằng gỗ mà bên ngoài tấm lá chắn còn được bọc da thuộc hoặc dạ thô. Trong quân đội Ba Tư, tấm lá chắn không còn là chất liệu gỗ nữa mà phần lớn được đan kết bằng những vòng sắt nhỏ. Trong quân đội Hy Lạp - một quân đội dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ - tất cả những người đàn ông tự do, làm nghĩa vụ quân sự, được tổ chức thành bộ binh nặng và giữ vai trò quyết định trong chiến trận khi bộ binh được bổ sung thêm kỵ binh và bộ binh nhẹ. Ngoài hộ tâm phiến che kín ngực, bộ binh nặng còn được trang bị một tấm lá chắn lớn, bằng gỗ bọc da, đủ che kín cả người, làm phương tiện phòng hộ. Riêng trong quân đội Xpáctơ, tấm lá chắn của người lính lại có dây quàng vào cô hoặc buộc chặt vào cánh tay trái để hai bàn tay có thể sử dụng vũ khí được dễ dàng. Ở đây, người dân rất xem trọng tấm lá chắn trong chiến đấu. Họ coi người lính thất trận mà đánh mất tấm lá chắn là điều hết sức nhục nhã. Vì thế, bằng mọi giá, người lính phải giữ cho được thứ phương tiện phòng hộ này. Trong quân đội La Mã, tấm lá chắn bằng gỗ lại được tạo dáng hình mu rùa, dài khoảng 1,20m, rộng 0,75m, bọc da, có đóng đinh sắt. Ở chính giữa mặt tấm lá chắn có gò nổi lên để gạt những mũi nhọn của vũ khí lạnh từ phía trước đâm tới.


Dưới thời Hùng Vương, người Việt Nam cũng đã biết sử dụng tấm lá chắn trong giao tranh. Ngày nay, chúng ta biết đến loại phương tiện phòng hộ này chủ yếu là nhờ những hình khắc trên trống, trên thạp đồng Đông Sơn. Trên trống đồng Hoàng Hạ, trên trống đồng Bản Thôm và trên thạp đồng Đào Thịnh đều có hình vẽ những chiến binh cầm lá chắn cùng với cây giáo hoặc rìu chiến. Điều dễ nhận thấy là tính ổn định và nhất quán trong cách sử dụng phương tiện phòng hộ này, nghía là tấm lá chắn luôn luôn được cầm ở cánh tay trái và giơ ra phía trước mặt. Đó cũng là cách sử dụng thống nhất chung một kiểu cách của mọi chiến binh trong giao tranh ở thời điểm ấy.


Qua tìm hiểu về tấm lá chắn của các chiến binh dưới thời đại vũ khí lạnh, từ phương Đông đến phương Tây, chúng ta thấy rõ vào lúc bấy giờ, phương tiện chiến đấu cơ bản của người lính là cây giáo và tấm lá chắn. Tấm lá chắn thường có chiều dài che kín cả chiều cao của thân người và phải làm bằng chất liệu rắn chắc, nặng trĩu mới đủ khả năng chống đỡ được những cú đòn mạnh mẽ của địch thủ. Vì vậy, dù sức vóc cao lớn như những người lính Hy Lạp, La Mã, Ba Tư... họ vẫn phải dùng dây nối liền tấm lá chắn quàng lên cổ hoặc buộc chặt vào cánh tay trái. Còn sức vóc nhỏ bé như người lính Việt Nam thì tấm lá chắn phải khoác lên vai khi cơ động là việc cần thiết. Đó là chưa nói đến quá trình giao tranh. Để tiến công, người lính phải dồn hết sức mạnh của toàn thân vào ngọn giáo và để chống đỡ khi bị tiến công, người lính cũng phải dồn hết sức mạnh của toàn thân vào tấm lá chắn. Cụ thể là người lính phải dồn sức mạnh của cả cánh tay trái kết hợp với đầu vai trái - vì cánh tay phải bận cầm cây giáo làm điểm tựa cho tấm khiên - đồng thời phải nghiêng người, thu hẹp mục tiêu nhằm chống đỡ khi mũi giáo của đối phương lao tới. Để giữ chắc, mặt sau tấm khiên có quai cho cánh tay trái luồn vào và để bảo hiểm, tấm khiên còn có sợi dây quàng qua vai trái như chiến binh Xpáctơ đã từng làm. Như vậy, nhiệm vụ cánh tay trái là giữ tấm khiên - chứ không phải chỉ riêng bàn tay trái - còn nhiệm vụ đầu vai trái là tạo điểm tựa, làm trụ vững cho tấm khiên chống đỡ mỗi khi bị tiến công. Cánh tay trái tuy thường xuyên ở bên cạnh tấm khiên nhưng những giây phút hiểm nguy của giao tranh nếu không có sức lực hiệp đồng của đầu vai trái, chắc chắn là việc chống đỡ không đạt kết quả. Rõ ràng, tấm khiên chỉ là sự hiện hữu ở phía trước còn điều khiển, tạo nên sức mạnh cho nó, nhất thiết phải là cánh tay và đầu vai trái ở phía sau. Trong đó, đầu vai giữ nhiệm vụ chủ chốt. Ngoài đời sống xã hội, vai của con người vẫn được xem là biểu tượng của sức lực. Vì thế mà đã hình thành những câu thành ngữ: chung vai gánh vác, kề vai sát cánh, sức dài vai rộng, bằng vai phải lứa... Đấy còn chưa kể những nghĩa phái sinh của vai như vai trò, chỉ tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó...; vai vế, chỉ thứ bậc trên dưới trong phạm vi gia đình hoặc vị trí cao sang, quan trọng trong xã hội. Trong chữ Nôm còn có một từ, vừa liên quan đến từ vai của tiếng Việt lại vừa liên quan đến từ khiên của tiếng Hán. Đó là từ khiêng, nghĩa là “nâng và chuyển vật nặng hoặc cồng kềnh bằng sức của hai hay nhiều người hợp lại” - được hình thành theo phép hội ý, gồm hai từ Hán: tài là “làm việc giỏi” và khiên là "vai". Cho nên, với những nội dung đã trình bày, khiên - nghĩa đen là vai - đã được biểu tượng hoá thành tên gọi của tấm lá chắn.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 03 Tháng Ba, 2022, 07:34:58 am
NHÂN HÒA LÀ QUAN TRỌNG HƠN HẾT


Vào thời kỳ đầu của ba mươi năm chiến tranh giải phóng vừa qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy quân đội ta: "Muốn thành công, phải có ba điều kiện là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả, nhưng... nhân hòa là quan trọng hơn hết".


Trong triết lý của người phương Đông, thiên thời, địa lợi, nhân hòa là một khái niệm bộ ba hoàn chỉnh. Đây cũng là sự nhận thức từ cổ xưa đến ngày nay của văn hoá Việt Nam nói chung và văn hoá quân sự Việt Nam nói riêng về cấu trúc không gian vũ trụ dưới dạng mô hình ba yếu tố.


Theo đó, thiên thời là sự nhận thức được quy luật phát triển xã hội, đặc điểm biến đổi của thời đại và nhất là giành được thời cơ trong hành động. Địa lợi là sự nhận thức rõ và lợi dụng được hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh tự nhiên. Còn nhân hòa là sự nhận thức được con người và có phương pháp thích hợp, hiệu quả trong việc dùng người.


Trên cơ sở của lĩnh vực văn hoá nhận thức - mà những điều hiểu biết đầu tiên của con người là về vũ trụ và chính bản thân con người, một lĩnh vực giữ vai trò chủ đạo so với lĩnh vực văn hoá ứng xử và văn hoá tổ chức cộng đồng trong một nền văn hoá - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát rằng: nhân hoà giữ vị trí hàng đầu trước thiên nhiên, bởi lẽ đối với bất cứ một nền văn hóa nào, con người vẫn là chủ thể. Đã thế, trong quá trình đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, một sự nghiệp mang tính nhân văn cao cả vì nó mang lại quyền độc lập, tự do cho mọi người dân và cũng chính là góp phần không nhỏ vào việc dựng xây một nền văn hoá thì đề cao vai trò con người, xem con người - một động lực chủ yếu là điều vô cùng chính xác.


Xét về nội dung thực chất, nhân hoà là sự thu phục lòng người trên cơ sở của tình yêu thương, của sự đồng cảm. Còn xét về mục đích, nhân hoà là nhằm hướng quần chúng vào một sự nghiệp lớn như tiến hành một cuộc cách mạng, tham gia một cuộc chiến tranh. Cơ sở xã hội của nhân hoà là làm thoả mãn nhu cầu của con người. Hai cái đó có quan hệ hữu cơ với nhau, tức là mức độ tăng, giảm của nhân hoà hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ làm thoả mãn nhu cầu của con người. Vì vậy, muốn đạt tới nhân hòa, trước hết hãy tìm hiểu kỹ về nội dung của việc làm thoả mãn nhu cầu, cụ thể là xem quần chúng đang cần gì? Điều đáng lưu ý nhất để tạo nên nhân hoà chính là đem đến kịp thời, đúng lúc nhất cái mà quần chúng đang khao khát để sau khi được thoả mãn, họ sẽ sẵn sàng đền đáp, báo trả. Nói một cách khác, phương pháp đạt tới nhân hoà nên hiểu là sự điều tiết một cách hoà bình, êm thấm về nhu cầu giữa các tầng lớp nhân dân, khắc phục những nhân tố không có lợi, giảm bớt những trở ngại không cần thiết để tranh thủ được nhiều hơn sự đồng tình của mọi người. Không những thế, trong phương pháp đạt tới nhân hoà lại còn phải xem xét đầy đủ các nhân tố cần sử dụng để có biện pháp cụ thể. Điều đó có nghĩa là phải tuỳ theo thời gian, theo không gian và tuỳ theo con người mà định ra đối sách. Ngày nay, ai cũng biết rõ, nhân dân đồng nghĩa với vô cùng, có sức mạnh vô địch. Chống lại nhân dân là tự tìm lấy cái rủi ro, cái thất bại. Cho nên, muốn giành được sự nghiệp lớn, nhất thiết phải tìm tới nhân dân, tới nhân hoà.


Căn cứ vào thư tịch, vào tư liệu lịch sử, các nhà khoa học đoán định rằng, có thể từ thời Tây Chu (khoảng thế kỷ XI - 771 trước công nguyên), khái niệm “nhân hoà” đã được hình thành. Vào thời điểm ấy, các bậc thủ lĩnh, các nhà chỉ huy quân sự khi tiến hành chiến tranh thôn tính, chiến tranh thảo phạt đã biết hình thành hai con đương, một là "bá đạo" và hai là "vương đạo". "Bá đạo" là dùng bạo lực để đàn áp còn "vương đạo" là dùng nhân nghĩa để thu phục lòng người. Về thực chất, “vương đạo” là sự nhân hoà. Trong tiếng Hán từ Vương () bao gồm ba vạch ngang () thể hiện ba yếu tố thiên, địa, nhân và một vạch đứng (|) thể hiện sự thông suốt cả ba yếu tố đó của người cầm đầu. Chính vì vậy, "vương nghiệp" thống nhất lâu dài được cả thiên hạ còn "bá nghiệp" chỉ dừng lại ở vị trí lãnh tụ ngắn ngủi của các chư hầu. Thí dụ như Thiên tử nhà Chu so với Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, sở Trang Công... Vào thời Chiến Quốc, trong cuốn Ngô Khởi binh pháp, tác giả cũng đã viết: "Ngày xưa, các bậc vua chúa mưu đồ việc nước, trước hết là lo dạy dỗ trăm họ và yêu thương muôn dân. Không nên hành động trong bốn tình huống có điều bất hoà: trong nước không thống nhất ý chí, không thể xuất quân; nội bộ quân đội không đoàn kết, không thể ra trận; khi lâm chiến, trận thế không chỉnh tề, không thế tiến đánh; hành động chiến đấu không phối hợp, không thể giành thắng lợi. Do đó, bậc vua anh minh, khi chuẩn bị đưa dân chúng vào chiến tranh, trước hết phải đoàn kết họ lại. Tuy vậy, (các vị đó) vẫn chưa dám tin vào mưu lược của mình mà còn cần phải tế cáo tổ miếu, bói xem lành dữ, xem xét thiên thời, thấy có điềm tốt mới hành động. Dân chúng khi biết rõ rằng nhà vua yêu quý tính mạng, thương xót cái chết của mình, đã chuân bị chu đáo như thế thì khi dẫn họ đi chiến đấu, họ sẽ hành động hết sức mình, lấy cái chết làm vinh hạnh, coi việc hèn nhát, lùi bước là điều sỉ nhục". Ngay từ ba thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX trở đi, giới cầm quyển của các nhà nước đế quốc ở phương Tây cũng đã biết dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt để ép buộc nhân dân tham gia vào những cuộc chiến tranh xâm lược của họ. Điều đó khiến V. I. Lênin, trong tác phẩm Cảng Lữ Thuận thất thủ, đã viết rằng: "Chiến tranh ngày nay do nhân dân tiến hành". Đó là một sự thật nhưng đầy man trá, phũ phàng và thiếu sự tự nguyện của quần chúng. Giới cầm quyền phản động có thể xô đẩy được những con người vào chiến tranh nhưng không tìm thấy ở đấy những tấm lòng. Tại những nơi xảy ra sự tàn sát đẫm máu, phi chính nghĩa này chỉ có riêng chữ “nhân” là người nhưng là những người dửng dưng, vô cảm và không hề có chữ “hoà” là đồng tình, nhất trí. Đấy chính là cơ sở, là mầm mống cho những phong trào chống bắt lính, những phong trào phản đối chiến tranh.


Ở Việt Nam, giữa những năm 40 của thế kỷ trước, sau khi chính quyền nhân dân mới thành lập, dân tộc ta buộc phải cầm vũ khí tiến hành một cuộc chiến tranh mà ngay từ đầu, chính nghĩa đã là một thuộc tính thì hướng nhân dân đi theo nó, nghĩa là tạo nên sự nhân hoà là điều hết sức hợp đạo lý, nhất là khi tương quan lực lượng địch - ta đang là phải “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”.


Nói như thế, không có nghĩa là xem nhẹ hai yếu tố thiên thời và địa lợi. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và chiến thắng mùa Xuân 1975, đưa tới việc thống nhất đất nước, không thể không nhắc tới nhân tố thời cơ. Hoặc như không biết lấy Hà Nội làm vị trí trung tâm cho cuộc Tổng khởi nghĩa vào ngày 19 tháng 8 năm 1945, sự thành công của Cách mạng tháng Tám sẽ có những diễn biến, những sắc thái theo một chiều hướng khác. Cũng như thế, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nếu như không biết lựa chọn vùng biên giới Việt - Trung và vùng Điện Biên Phủ để mở các chiến dịch tiến công thì dân tộc ta đã không thu được những thắng lợi đột biến, quyết định.


Nhưng như trên đã nói, trong ba yếu tố thiên, địa, nhân thì nhân hoà vẫn giữ vị trí chủ đạo. Những sự việc diễn ra trong ba mươi năm chiến tranh giải phóng vừa qua là một minh chứng sinh động.

Thứ nhất, về chính trị, là trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước của một dân tộc luôn khát vọng tới độc lập tự do và trước một tình hình là chính quyền mà Cách mạng tháng Tám đem lại - một nhu cầu được thoả mãn cho nhân dân trong một thời gian quá ngắn ngủi - nhưng đứng trước mối đe doạ của một cuộc chiến tranh xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách đại đoàn kết làm cho mọi tầng lớp hoà quyện với nhau thành một khối thống nhất.


Thứ hai, về chiến tranh, là từ khối đoàn kết đó, mọi người Việt Nam đều đã nhất trí, đồng lòng tham gia vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Từ “toàn dân kháng chiến” dẫn đến “toàn diện kháng chiến” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được".


Thứ ba, về nghệ thuật quân sự, là từ toàn dân tham gia chiến tranh với 80 đến 90% cư dân là nông dân xóm làng thì những lực lượng nửa vũ trang đó đã tạo thành một cuộc “chiến tranh bề mặt”, “chiến tranh tại chỗ”, góp phần đánh tiêu hao, tiêu diệt nhỏ cùng quân chủ lực tiêu diệt lớn trên các chiến trường chính. Đó là một hình thức làm chuyển hoá tương quan lực lượng địch - ta để đưa đất nước đi tới đích cuối cùng của cuộc chiến tranh yêu nước.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 07:51:38 am
ĐÁNH VÀ ĐÀM, NGUYÊN LÝ VỀ KẾT THÚC
CHIẾN TRANH GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC TA


Đã có một số người cho rằng trong chiến tranh, hai bên tham chiến thường “gặp nhau” bằng vũ khí mà không bao giờ “gặp nhau” bằng lời nói (nghĩa là chỉ có đánh mà không có đàm) bởi lẽ, đặc thù của chiến tranh là đấu tranh vũ trang.


Trên thực tế, sự việc diễn ra không hoàn toàn như thế. Trong chiến tranh, bên cạnh hành động vũ trang, là chủ yếu, vẫn có xen kẽ các hành động phi vũ trang. Vì vậy, vào cuối thời Xuân Thu (771 - 476 trước công nguyên) trong Binh pháp thập tam thiên Tôn Tử đã viết: "Cho nên trong việc dùng binh, để giành thắng lợi, biện pháp tốt nhất là dùng mưu lược, sau mới dùng đến ngoại giao, sau nữa mới dùng đến vũ trang, biện pháp cuối cùng mới đánh thành. Đánh thành là biện pháp phải làm trong cái thế không thể đừng được...". (Cố thượng binh phạt mưu, kỳ thứ phạt giao, kỳ thứ phạt binh, kỳ hạ công thành, công thành chi pháp, vi bất đắc dĩ...). Ở chỗ khác, Tôn Tử lại viết: “Vì vậy, người đánh trăm trận trăm thắng, chưa phải là người giỏi nhất, không đánh mà buộc địch phải đầu hàng mới là người giỏi nhất” (Thị cố bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện dã; bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiên giả dã).


Với tinh thần đó, vào thế kỷ III trước công nguyên, các nhà ngoại giao thời Chiến Quốc (475 -221 trước công nguyên) như Tô Tần, chủ trương hợp sức các nước Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy theo chiều dọc (hợp tung) để phá cuộc chiến tranh thôn tính của Tần Thuỷ Hoàng. Trái lại, Trương Nghi chủ trương liên kết các nước theo chiều ngang (liên hoành) nhằm chống trả. nghĩa là để hàng phục Tần. Cuối cùng “liên hoành” đã thắng. Tần Thuỷ Hoàng diệt được sáu nước và thống nhất Trung Quốc.


Qua những phần vừa trình bày, từ lý luận của Tôn Tử đến các hành động ngoại giao của Tô Tần, Trương Nghi, trong việc tiến hành chiến tranh, chúng ta thấy nổi lên hai điều. Thứ nhất là người ta tìm cách hạn chế xương máu, tránh đụng độ, mà thiên về hành động phi vũ trang như biện pháp mưu lược, biện pháp ngoại giao. Thứ hai là để các hành động phi vũ trang có hiệu quả, nhất thiết phải có một tiềm lực quân sự đủ mạnh làm hậu thuẫn. Thật vậy, Tôn Tử không phủ nhận đòn bạo lực nhưng ông cho rằng trước đó, tốt nhất vẫn là dùng đòn mưu lược rồi đến đòn ngoại giao, cực chẳng đã mới dùng đến vũ khí. Như thế là đằng sau các đòn phi vũ trang vẫn phải tính đến đòn quyết định là vũ trang. Còn sở dĩ chính sách “hợp tung” sáu nước để chống lại một nước của Tô Tần mà vẫn thất bại trước chính sách "liên hoành" vì đằng sau lời đe dọa của Trương Nghi là cả một sức mạnh vũ trang hùng hậu của nước Tần. Rõ ràng là trong chiến tranh, hành động vũ trang và hành động phi vũ trang (cụ thể ở đây là đánh và đàm) có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nói một cách khác, trong chiến tranh, đàm chỉ có hiệu lực, chỉ “có gang, có thép” trên cơ sở kết quả của đánh, của thực lực về sức mạnh, nếu không chỉ là lời nói suông, vô nghĩa.


Là một hiện tượng văn hóa quân sự, đánh và đàm ở Việt Nam ra đời từ cuối thế kỷ XI, trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Tống lần thứ hai (1075 - 1077). Và từ thời điểm đó trở đi, trong sự nghiệp đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm, hầu như nó đã trỏ thành môt nguyên lý, một luận điểm cơ bản của Học thuyết quân sự Việt Nam về việc kết thúc chiến tranh. Hiện tượng này hình thành trên cơ sở của hai yếu tố. Một là trong hoàn cảnh luôn luôn phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh và hai là đức tính trọng nhân nghĩa của người Việt Nam.


Yếu tố thứ nhất chỉ rõ trong tương quan lực lượng của mọi cuộc chiến tranh giữ nước, dân tộc ta không bao giờ đủ khả năng tiêu diệt đến tên xâm lược cuối cùng. Khả năng đó chỉ có thể cho phép quân dân ta tiêu diệt được một bộ phận sinh lực quan trọng nào đấy của quân thù, đẩy chúng vào thế bị động để thấy rằng không thể tiến hành chiến tranh được nữa, cần phải dùng biện pháp thương lượng cho việc an toàn rút quân. Đó chính là tình trạng quân xâm lược Tống trong cuộc chiến tranh giữ nước năm 1075 - 1077. Sau khi bị tiêu diệt một số lớn sinh lực, chủ tướng Quách Quỳ rất lúng túng, tiến đánh nữa thì không đủ sức còn quay về lại sợ bị truy đuổi. Thấy thế, nhằm làm giảm xương máu cho quân sĩ lại bớt được nhọc nhằn cho trăm họ mà vẫn bảo toàn được lãnh thổ. Lý Thường Kiệt cử người sang cầu hoà: "Xin hạ chiếu rút đại quân về thì sẽ lập tức sai sứ sang tạ tội và tu cống". Như “chết đuối vớ được cọc", Quách Quỳ buộc phải chấp nhận việc thương lượng theo điều kiện của đối phương tuy còn huênh hoang tuyên bố để vớt vát sĩ diện: "Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức (vua Lý Nhân Tông), để báo mệnh triều đình. Đó là bởi trời! Thôi ta đành liều một thân ta, chịu tội với triều đình, để mong cứu 10 vạn nhân mạng (số quân xâm lược)". Nhưng sự kiện đó, về sau trong triều đình nhà Tống vẫn có người nhận thức ra: "May có lời giặc (phía Đại Việt) xin quy thuận, không thì làm thế nào?”.


Như đã biết, trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, từ tương quan lực lượng không cân sức, dân tộc ta đã cực kỳ khó khăn trong quá trình tiến hành đấu tranh vũ trang nhưng bù lại đã có sức mạnh của chính nghĩa và lòng nhân từ. Đó là con đường dẫn tới những đòn “mưu phạt tâm công”, góp phần không nhỏ làm nhụt ý chí chiến đấu của kẻ thù, và đó cũng chính là yếu tố thứ hai, yếu tố nhân nghĩa, làm cơ sở cho những cuộc thương thuyết khi mà nhân dân ta đã thu được những chiến thắng lớn về quân sự. Điều này đã thể hiện rõ trong cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỷ XV, đặc biệt là sau những đòn sấm sét ở Chi Lăng - Xương Giang và ở Lãnh Câu - Đan Xá. Những chiến công rực rỡ này cộng với chính sách nhân đạo của nhân dân ta đã buộc 10 vạn quân Minh cùng chủ tướng Vương Thông đang bị vây hãm trong thành Đông Quan phải chấp nhận những điều kiện của nghĩa quân Lam Sơn và tuyên bố hưu chiến bằng lời thề rất độc địa, xem như ngôn ngữ của một kẻ đầu hàng: "... Nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề... thì trời, đất cùng là danh sơn, đại xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn Tổng binh quan Thành sơn hầu Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân củng không người nào về được đến nhà...".


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 07:52:29 am
Cuộc chiến tranh xâm lược nãm 1789 thất bại với 29 vạn quân bị đánh tan, chưa đầy nửa tháng sau, triều đình Mãn Thanh đã mưu toan huy động quân lính 9 tỉnh, hòng tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược nữa để trả thù. Với tư thế chiến thắng (mà người đại diện xuất sắc cho dân tộc ta lúc bấy giờ là Ngô Thì Nhậm) đã dùng lý luận đanh thép trong nhiều lần thương lượng, cuối cùng đã thành công trong một cuộc chiến tranh “không đánh mà thắng”. Như vậy, rõ ràng là chỉ bằng những lượt gặp gỡ thương lượng, trao đổi công văn, thư từ qua lại giữa hai nước, một cuộc chiến tranh xâm lược đã nhanh chóng bị đập tan. Hay nói một cách khác, nó đã không đủ khả năng để “cháy thành ngọn lửa” vì rằng chiến thắng lẫy lừng Ngọc Hồi - Đông Đa từ trong cuộc chiến tranh trước đã tạo nên sức mạnh chiến thắng cho cuộc chiến tranh sau.


Đến thế kỷ XX, đánh và đàm vẫn giữ nguyên mối quan hệ biện chứng như đã diễn ra trong lịch sử. Những kẻ xâm lược cũng từng dùng đàm trên cơ sở của đánh và không phải không đe dọa được một số quốc gia nào đấy trên thế giới, nhưng trong thế kỷ này, mưu mô đó đã hai lần thất bại lớn ở Việt Nam. Lần thứ nhất là trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), và lần thứ hai là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975). Cả hai lần thất bại đó cũng chính là hai lần thắng lợi lớn trong quá trình đấu tranh cách mạng, tính từ năm 1945 đến nay của dân tộc ta và đã được hai hội nghị quốc tế: Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (1954) và Hội nghị Paris về Việt Nam (1968 - 1973) xác nhận. Kết quả của hội nghị thứ nhất là bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam”, ký kết ngày 20 tháng 7 nảm 1954; kết quả của hội nghị thứ hai là bản “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam”, ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973. Đây là hai hiệp định mang tính quốc tế, quyết định con đường đi tới của nước Việt Nam thời hiện đại.


Ai cũng biết, trước tình hình gấp rút, khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp, từ kinh nghiệm lịch sử, dân tộc ta đã biết rõ là nếu để chiến tranh xảy ra, sẽ gây nên những hậu quả khôn lường: nền kinh tế bị tàn phá, nền văn hoá bị huỷ hoại. Nhằm cứu vãn tình hình, đẩy lùi nạn “can qua”, ngay từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 cho đến cuối năm 1946, Đảng ta chủ trương "hoà đế tiến”, thực chất là muốn thông qua gặp gỡ, trao đổi, thương lượng với Chính phủ Pháp mong giữ lấy hoà bình như đã ký Hiệp định sơ bộ 6-3, Tạm ước 14-9... Thế nhưng, phía sau những lời nói tuy đầy đủ chính nghĩa, hết mực chân thành đó, song vẫn chưa đủ điều kiện để đi tới mục đích vì ở vào thời điểm ấy chúng ta còn thiếu thực lực: ngôn ngữ ngoại giao còn “nhẹ cân'’, vì chưa được những chiến thắng quân sự làm tăng thêm sức nặng. Bởi vậy, nhân dân ta buộc phải cầm vũ khí. Biết được sự “thiếu cân đối” giữa sức mạnh chính nghĩa và sức mạnh bạo lực cần thiết của đối phương, từ Đông - Xuân 1953-1954, thực dân Pháp (cụ thể là kế hoạch Nava) định lấy Điện Biên Phủ để hù doạ dân tộc ta song thế cờ đã bị lật ngược. Chỉ một ngày sau chiến thắng “chấn động địa cầu”, ngày 8 tháng 5 năm 1954, kẻ xâm lược đã buộc phải mời đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngồi vào bàn thương lượng cùng với tám đoàn đại biểu chính thức: Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia và chính quyền bù nhìn Bảo Đại. Đây là lần thứ hai, đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hoà chính thức gặp đoàn đại biểu Pháp trên bàn hội nghị. Lần đàm phán đầu tiên diễn ra tại Hà Nội năm 1946, đi đến việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3. Hai lần gặp cách nhau hơn 8 năm với bao thay đổi mà thay đổi lớn nhất là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vang dội mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng phải mất 75 ngày đấu tranh quyết liệt, qua 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên họp toàn thể và 24 phiên họp hẹp cấp trưởng đoàn, cuối cùng Hiệp định Giơnevơ mới được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, chấp nhận quyền độc lập tự do của dân tộc ta, dù chỉ là trên nửa nước, sở dĩ có tình trạng giằng co như vậy là vì tuy đã giành được thắng lợi lớn ở Điện Biên Phủ song tương quan lực lượng quân sự hai bên vào lúc đó, phía ta chưa đủ mạnh. Lợi dụng tình hình này, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tìm mọi cách trì hoãn, gây sức ép hòng kiếm có gây chiến tranh thôn tính nước ta. Bởi lẽ trên thực tế họ vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam và Đông Dương. Nhưng khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trước hết cũng đã tạo thành một cam kết quốc tế đầu tiên có liên quan đến Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Với tinh thần ấy, cuộc đàm phán lần này không chỉ tiến hành giữa hai “đối thủ” trực tiếp là Việt Nam và Pháp như hồi năm 1946, vì tình hình thế giới lúc ấy đã có nhiều chuyển biến, mà còn có sự tham gia của cả 5 nước lớn như đã nói. Việt Nam dân chủ cộng hoà là một bên chủ yếu trong chiến tranh đã được mời đến dự Hội nghị Giơnevơ để bàn về việc chấm dứt cuộc chiến. Cuối cùng, điều khác biệt quan trọng nhất chính là những thành tựu chúng ta đã giành được trong các văn kiện của Hiệp định Giơnevơ.


Bây giờ, bằng phương pháp đối chiếu, so sánh, chúng ta sẽ thấy rõ được bước phát triển về kết quả thương lượng từ Hiệp định sơ bộ 1946 đến Hiệp định Giơnevơ 1954. Nếu như trong Hiệp định sơ bộ đoàn đại biểu Pháp cố né tránh từ “độc lập” mà chỉ công nhận Việt Nam là một “quốc gia tự do”, một khái niệm mơ hồ, không rõ ràng, thì sau 9 năm kháng chiến, Hội nghị Giơnevơ đã khẳng định: "Hội nghị tuyên bố đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị, thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ" và ''Hội nghị chứng nhận tuyên bố của chính phủ Pháp sẽ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Cao Miên, Lào và Việt Nam”. Cũng trong Hiệp định sơ bộ, chúng ta phải nhân nhượng, chấp nhận cho 15 ngàn quân Pháp vào phía bắc vĩ tuyến 16, thay thế 20 vạn quấn Tưởng rút về nước thì Hiệp định Giơnevơ đã quy định quân Pháp phải tập kết ở phía nam vĩ tuyến 17 để sau đó rút ra khỏi Đông Dương. “Hội nghị chứng nhận tuyên bố của chính phủ Pháp nói rằng sẵn sàng rút quân đội ra khỏi Cao Miên, Lào và Việt Nam”.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 07:53:30 am
Như vậy, chính phủ Pháp đã chính thức tuyên bố với sự chứng nhận quốc tế về hai điều cơ bản là, công nhận nền độc lập của Việt Nam và rút quân khỏi Việt Nam, điều mà trong Hiệp định sơ bộ từ 8 năm trước, chúng ta phải nhân nhượng. Đó chính là kết quả chủ yếu của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, của những chiến thắng vang dội trên chiến trường. Bên cạnh đó, dân tộc ta còn nhờ vào sự đóng góp, sự đồng tình ủng hộ của bè bạn quốc tế, trong đó có công sức không nhỏ của các nước xã hội chủ nghĩa và các phong trào đấu tranh của các nước thuộc địa. Riêng về ý nghĩa đối với các phong trào hoà bình trên thế giới, cần nhấn mạnh hai vấn đề. Một là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng tỏ thực dân Pháp to lớn đến như thế nhưng vẫn bị một nước nhỏ bé đánh bại. Hai là thành công của Hiệp định Giơnevơ buộc Pháp phải cam kết rút quân khỏi ba nước Đông Dương. Bởi lẽ Pháp đã mất uy thế về chính trị, nghĩa là phải chấp nhận những điều kiện về đàm của đối phương, sau khi đã mất uy thế lớn về quân sự, nghĩa là đã thua to về đánh trên chiến trường. Xét thêm về mặt ý nghĩa, Hiệp định Giơnevơ còn là vũ khí chủ yếu để Việt Nam đấu tranh pháp lý trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ và chính những nội dung của Hiệp định này đã tạo thành cốt lõi của Hiệp định Paris năm 1973, đưa nước ta tới thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.


Tuy vậy, trong nội dung Hiệp định Giơnevơ cũng còn có những vấn đề chưa được giải quyết: đất nước chưa hoàn toàn thống nhất, hai miền Nam - Bắc tạm thời bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17 với thời hạn 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử. Trong tương quan lực lượng giữa ta và địch cũng như trong bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ thì đây là một điểm dừng cần thiết, một quyết định sáng suốt để tiếp tục cuộc hành trình cứu nước dù phải mất một thời gian dài, tới hơn 20 năm.


Ở giai đoạn kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp, dân tộc ta đã dự báo được nguy cơ về một cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhưng do tương quan lực lượng địch - ta lúc bấy giờ quá ư chênh lệch nên đàm chưa có thể phát huy được hết khả năng vì chưa có đánh làm hậu thuẫn. Phải mất 14 năm (1954 - 1968) đấu tranh vũ trang cực kỳ gian khổ, đầy hy sinh và lâu dài, đến "chiến lược chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, những chiến thắng dồn dập, liên tiếp từ Đông - Xuân 1965 - 1966, Đông - Xuân 1966 - 1967 và đặc biệt là chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968 mới buộc được kẻ thù xâm lược ngồi vào bàn thương lượng tay đôi với chúng ta. Đây cũng là lần đàm quan trọng thứ ba sau lần đàm Việt - Pháp lần thứ nhất năm 1946 và lần đàm thứ hai tại Hội nghị quốc tế về Đông Dương năm 1954. Phiên họp đầu tiên của Hội nghị Paris bắt đầu vào ngày 13 tháng 5 năm 1968. Thời điểm bắt đầu đàm phán vào trung tuần tháng 5 năm 1968 này mà Việt Nam lựa chọn cũng là nhằm phối hợp với hoạt động quân sự trên chiến trường. Từ ngày 5 tháng 5 năm 1968 - nghĩa là 8 ngày trước khi hội nghị khai mạc, quân dân miền Nam đã mở đợt II cuộc Tổng tiến công vào 31 thành phố, thị xã, 58 thị trấn, 30 sân bay. Với Việt Nam đây là hành động tạo cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Trong suốt thời gian kéo dài tới 4 năm 8 tháng 14 ngày, qua 202 phiên họp, cùng với bao chiến thắng của quân và dân ta làm hậu thuẫn trên chiến trường, hội nghị mới đi đến việc ký kết vào tháng 1 năm 1973. Chính thế mà gần đây, có một công trình khoa học viết về cuộc chiến tranh Việt Nam đã phê phán chính sách của các Tổng thống Mỹ can dự vào cuộc chiến tranh thảm khốc này, đặc biệt là với Tổng thống Nichxơn và cố vấn an ninh Kitxingiơ khi tiến hành cuộc hoà đàm ở Paris đã vì lợi ích duy trì quyền bính của mình mà kéo dài thời gian hội nghị suốt từ 1969 đến 1973, khước từ mọi đề nghị hợp lý của phía Việt Nam dân chủ cộng hoà, khiến cuộc chiến kéo dài khốc liệt thêm 4 năm để có thểm 15.000 lính Mỹ tử trận và cả trăm nghìn lính Mỹ bị thương, đốt cháy hàng trăm tỉ đô la mà thực chất nội dung Hiệp định Paris ký vào đầu năm 1973 chẳng thay đổi bao nhiêu so với nội dung phía Việt Nam đưa ra vào năm 1969. Đúng ra phải nói là “Chẳng thay đổi bao nhiêu so với nội dung ký kết năm 1954 đã được cộng đồng quốc tế xác nhận”. Thật vậy, nếu như 19 năm trước, đế quốc Mỹ đã tránh né, không ký vào văn bản cuối cùng của Hiệp định Giơnevơ thì lần này phải ký vào Hiệp định Paris, trong đó có điều khoản: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận". 
Quân Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, điều mà 19 năm trước, Mỹ đã tự cho mình cái quyền xâm lược Việt Nam với sự thành lập Tổ chức Hiệp ước các nước Đông Nam Á (SEATO). Thế nhưng, cay cú trước thất bại quá đậm cho nên dù là ngày 13 tháng 10 năm 1972, văn bản Hiệp định đã cơ bản hoàn thành và việc ký kết sẽ tiến hành vào ngày 31 tháng 10 năm 1972 thì phía Mỹ đã tráo trở, lật lọng. Ngày 18 tháng 12 năm 1972 phía Mỹ gửi công hàm cho phái đoàn Việt Nam đề nghị nối lại đàm phán bất cứ lúc nào sau ngày 26 tháng 12 năm 1972. Cũng đúng vào thời điểm đó, máy bay B52 của Mỹ bắt đầu cuộc tập kích chiến lược hùng hổ và man rợ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác ở miền Bắc Việt Nam hòng dùng sức mạnh quân sự gây tổn thất lớn, mong ép Việt Nam phải chấp nhận điều kiện của Mỹ tại bàn thương lượng. Nhưng họ đã nhầm. Một ’'Điện Biên Phủ trên không” đã rực sáng. Cuối cùng, Chính phủ Hoa Kỳ phải miễn cưỡng ký vào Hiệp định Paris theo những điều khoản đúng với mục đích phấn đấu của dân tộc ta sau 30 năm chiến tranh giải phóng.


Đến đây, chúng ta có thể nói rằng đánh và đàm đã được hình thành từ trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở thế kỷ XI với phương châm “biết phát động chiến tranh giữ nước thì cũng biết chấm dứt chiến tranh một cách có lợi nhất”. Kế thừa truyền thống quý báu đó, đến thời hiện đại, tuy vẫn phải lấy đánh làm cơ sở nhưng dân tộc ta đã vận dụng đàm một cách sáng tạo trong tình hình có những biến chuyển mới trên thế giới. Nếu như trong lịch sử, việc đàm chỉ diễn ra trong mối quan hệ hai bên tham chiến giữa Việt Nam với các tập đoàn phong kiến phương Bắc thì ở thế kỷ XX, kết quả của đàm đã được những cam kết quốc tế xác nhận, lần lượt từ Hiệp định Giơnevơ 1954 đến Hiệp định Paris 1973. Thành tựu đó được xem như những nấc thang phản ánh về những lần buộc kẻ xâm lược phải chấp nhận việc thương lượng để dân tộc ta từng bước đi tới đỉnh vinh quang năm 1975: độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Từng bước đi lên của đàm trên bàn hội nghị chính là phiên bản sinh động, đậm nét và đầy đủ, từng bước đi lên của đánh trên chiến trường. Đó là hai mặt, tạo thành mối quan hệ biện chứng về nguyên lý kết thúc chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đại nghiệp chống ngoại xâm ngót 1000 năm nay.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 07:55:12 am
TỪ BINH PHÁP, BINH THƯ ĐẾN KHOA HỌC QUÂN SỰ


Binh pháp, là một từ gốc Hán, thường dùng trong quân sự, về nghĩa đen, binh pháp là phép đánh trận. Về nghĩa bóng, nghĩa thông dụng bây giờ, binh pháp là nghệ thuật quân sự vì nội dung thực chất của từ này là phương pháp tác chiến, là phép đánh trận, nói gọn lại là cách đánh.


Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, binh pháp ra đời cùng với chiến tranh bởi lẽ đặc trưng của chiến tranh là đấu tranh vũ trang. Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng, dưới chế độ công xã nguyên thuỷ, khi chưa có chế độ tư hữu và chưa có sự phân chia xã hội thành giai cấp thì cũng chưa có chiến tranh như cách hiểu hiện nay. Mà sự phân chia đó được bắt đầu từ chế độ chiêm hữu nô lệ cũng là bắt đầu từ các nền văn minh tối cổ, như nền văn minh Lưỡng Hà (Iran, Irắc và Thổ Nhĩ Kỳ), nền văn minh vùng châu thổ sông Nin (Ai Cập), nền văn minh vùng châu thổ hai con sông Găng và Anh-đuýtx (Ấn Độ), nền văn minh vùng châu thổ hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử (Trung Hoa) và muộn hơn là hai nền văn minh cổ đại: Hy Lạp và La Mã.


Binh pháp phát sinh, về thực chất là sự hình thành phương pháp đưa các phương tiện chiến tranh vào trận mạc. Nói một cách khác, binh pháp là việc tiến hành chiến tranh bằng con người và vũ khí, tuỳ thuộc vào trình độ của sản xuất và kinh tế cũng như tính chất của chế độ xã hội tương ứng. Bên cạnh đó, binh pháp phát triển còn chịu ảnh hưởng của các đặc điểm về lịch sử đất nước, về điều kiện địa lý, về truyền thống dân tộc và của một số nhân tố khác.


Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, do trình độ sản xuất còn hạn chế, người ta chỉ tổ chức được những quân đội không đông người với việc trang bị vũ khí lạnh. Ở nhiều nước, bộ binh là binh chủng chủ yếu. Riêng ở một số nước phương Đông cổ đại đã xuất hiện chiến xa rồi kỵ binh. Biên chế và trang bị của quân đội quyết định rất lớn đối với binh pháp. Với điều kiện biên chế và trang bị đương thời, ở các nước phương Đông, lúc đầu chỉ có thể tiến hành được những cuộc hành binh ngắn ngày. Dần dần do việc cung cấp cho quân đội được cải tiến từ các nguồn dự trữ tại các nước bị chinh phục nên khả năng chiến đấu và thời gian hành binh được tăng lên, đặc biệt là ở Hy Lạp và La Mã. Chiến lược lúc bấy giờ bao gồm: việc chuẩn bị chiến tranh, chọn không gian và thời gian hội chiến, xác định các địa điểm chủ yếu để đột phá cũng như việc chỉ đạo quân đội. Chiến thuật phát triển từ những cách sắp xếp lực lượng rất đơn giản và xung đột chính diện đến các đội hình chiến đấu phức tạp và việc cơ động đội hình chiến đấu trên chiến địa. Trong số đó, có thể kể đến đội hình “bát quái” của người Hán, đội hình pha-lăng rồi đội hình “chếch” của người Hi Lạp, đội hình cô-hoóc của người La Mã. Vào thời điểm này, A-lếch-xăng xứ Ma-xê-đoan đã biết dùng kỵ binh làm phương tiện đột kích còn ở La Mã, dưới sự chỉ huy của Giu-li-út Xê-da, lực lượng dự bị đã xuất hiện trong tác chiến.


Vào thế kỷ V, nhiều nơi trên thế giới đã bắt đầu hình thành chế độ phong kiến sơ kỳ. Lực lượng chủ yếu của quân đội lúc này là dân binh mà hạt nhân là các đội thân binh phong kiến (binh lính thân thuộc giai tầng lãnh đạo). Đến thế kỷ IX-X, lực lượng quân sự cơ bản đã chuyển sang kỵ binh trang bị nặng (kỵ binh hiệp sĩ). Bộ binh trở thành lực lượng bổ trợ.


Khi các nhà nước phong kiến tập quyền lớn ra đời, thủ công nghiệp và các công trường thủ công phát triển. Tổ chức và trang bị của quân đội đã có nhiều biến đổi cơ bản. Quân đội bắt đầu được bổ sung bằng cách tuyển mộ lính đánh thuê, chủ yếu là trong thời chiến. Nhưng từ nửa cuối thế kỷ XVI, các nhà nước quân chủ chuyên chế đã bắt đầu tổ chức các quân đội đánh thuê thường trực. Bước sang thế kỷ XVII, việc trang bị rộng rãi hoả khí cho từng người lính đã có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển binh pháp. Và cũng từ đó, thành phần chiến thuật bắt đầu có thêm hoả lực bên cạnh cơ động và đột kích. Đây cũng là một trong những nguyên nhân ra đời và phát triển chiến, thuật tuyến, nghĩa là lực lượng được bố trí dàn đều trên chính diện và chiến đấu trong các tuyến tác chiến. Cũng thế kỷ XVII, trên cơ sở của việc tổ chức các quân đội đánh thuê thường trực thay thế cho kỵ binh hiệp sĩ cộng với sự ra đời của pháo binh, chiến lược cơ động đã hình thành. Theo chiến lược này. chủ lực các bên tham chiến tìm mọi cách né tránh đụng độ và phương pháp giành thắng lợi chỉ là khôn khéo cơ động trên các đường giao thông cũng như phong toả và đánh chiếm các pháo đài của đối phương. Mặc dù vậy, chiến lược này cũng đã tồn tại 200 năm, mãi cho tới cuối thế kỷ XVIII.


Tuy thế, đến thế kỷ XVII, trừ những dân tộc phải thường xuyên tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm như người Nga và nhất là người Việt, binh pháp mang theo nhiều nét độc đáo - còn nội dung binh pháp nói chung do điều kiện sản xuất và kinh tế nên chưa có được những nhân tố mới để đưa tới sự đột biến, sự chuyển mình thành nghệ thuật quân sự đúng theo nghĩa của nó như khoảng 300 năm trở lại đây. Những nhân tố đó có thể kể tới là:

Thứ nhất, ở thế kỷ XVII, thay cho gươm giáo, việc trang bị rộng rãi súng cầm tay cho người lính, tiếp nối sự xuất hiện thuốc nổ trong chiến tranh "đã làm đảo lộn toàn bộ công việc quân sự". Sự đảo lộn ấy, đầu tiên là từ trong nội dung của chiến thuật.

Thứ hai, cho đến cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX,   việc bổ sung quân đội trên cơ sở chế độ quân dịch được bắt đầu từ trong cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789, sau đó là ở các nước Tây Âu, đã làm thay đổi sâu sắc các phương thức tác chiến.

Thứ ba, giữa thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã xây dựng nên học thuyết duy vật về chiến tranh và quân đội. Từ đó, nguyên nhân và bản chất của chiến tranh, vai trò quần chúng và tướng lĩnh trong chiến tranh, sự phụ thuộc vào kinh tế của các phương thức tiến hành chiến tranh, tính chất giai cấp của quân đội cũng như quy luật phát triển cơ bản của nghệ thuật quân sự... đã được luận giải một cách khoa học.


Thứ tư, cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, một hình thức tác chiến mới là chiến dịch ra đời (từ trong những cuộc chiến tranh tìm kiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc) trên cơ sở đường giao thông, nhất là đường xe lửa, và các phương tiện kỹ thuật thông tin liên lạc được phát triển, đã mở rộng khả năng cơ động của những quân đội đông người (có trang bị thêm nhiều vũ khí bắn nhanh) cũng như đã mở rộng quy mô tác chiến, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa các trận chiến đấu và các hội chiến riêng lẻ. Từ hình thức tác chiến này, một thành tố mới - nghệ thuật chiến dịch - đã được bổ sung vào nội dung của nghệ thuật quân sự hiện đại như ngày nay: chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Trong khi đó, ở các nước tư bản, nghệ thuật chiến dịch không được phân ra thành một bộ phận độc lập của nghệ thuật quân sự.


Thứ năm, đến thế kỷ XX, chiến tranh đã phát triển lên chiều cao, chiều thứ ba của không gian, cùng với sự ra đời của không quân từ trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945).


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 07:55:43 am
Binh thư là một từ gốc Hán. Theo nghĩa đen, binh thư là sách đánh trận, theo nghĩa bóng, đó là sách lý luận về phương pháp tác chiến.

Thông thường, trong hành động thực tiễn nói chung cũng như trong đấu tranh vũ trang nói riêng sẽ nảy sinh kinh nghiệm. Từ những kinh nghiệm cụ thể, con người khái quát và đúc kết thành lý luận. Lý luận đó quay trở lại chỉ đạo thực tiễn. Tương tự như vậy, binh pháp là cơ sở hành động hình thành ra binh thư. Nói một cách khác, binh pháp là phạm trù thực tiễn còn binh thư là phạm trù lý luận. Lấy binh pháp đúc kết thành lý luận quân sự và lấy binh thư chỉ đạo thực tiễn quân sự. Hai bên có mối quan hệ biện chứng với nhau và tạo tiền đề cho nhau cùng phát triển trong quá trình đấu tranh vũ trang.


Dưới thời cổ đại, những cuốn binh thư đầu tiên đã ra đời. Ở Trung Quốc, trong 7 cuốn sách lý luận quân sự kinh điển, được xếp vào hạng cổ xưa nhất, thường gọi là Võ kinh thất thư thì cuốn Binh pháp thập tam thiên của Tôn Tử, ra đời vào cuối thời Xuân Thu (771- 476 trước công nguyên), là cuốn binh thư điển hình nhất lúc đương thời. Cuốn sách đã xác định “chiến tranh là việc lớn của quốc gia”, đã xem "binh thế" phụ thuộc vào sự vững chắc của nhà nước, tác động của ba nhân tổ "thiên", "địa", "nhân" đối với tác chiến, vai trò của tướng soái, tầm quan trọng của hậu cần... Bên cạnh cuốn binh thư trên còn có một số cuốn binh thư khác như Binh pháp của Ngô Khởi, Lục Thao của Khương Tử Nha và Tam Lược của Hoàng Thạch Công. Có ý nghĩa lớn nhất là các cuốn binh thư của Hy Lạp cổ đại như Lịch sử cuộc chiến tranh Hi Lạp - Ba Tư của Hêrôđôt, đã mô tả và đúc kết kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Ba Tư (550 - 449 trước công nguyên). Cuốn binh thư Anabaxe của Cxênôphôn đã mô tả cuộc chiến tranh Pêlôpônedơ (431 - 404 trước công nguyên). Việc tổng kết kinh nghiệm các cuộc chiến tranh ở La Mã cổ đại đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển tri thức quân sự của con người. Trong các cuốn binh thư bình luận về cuộc chiến tranh ở xứ Gôn (nước Pháp ngày nay), cuộc nội chiến (chiến tranh với Pômpêi), tác giả Giuliút Xêda đã trình bày các quan điểm cùng cách tiến hành chiến tranh và chiến đấu. Binh pháp La Mã cổ đại được tổng kết đầy đủ nhất là trong cuốn binh thư Tóm lược những nguyên tắc quân sự của Vêgiexơ, ra đời vào cuối thế kỷ IV - đầu thế kỷ V. Các lĩnh vực quân sự của nhà nước La Mã được trình bày một cách hệ thống. Nội dung bao gồm việc tổ chức và bổ sung quân đội, huấn luyện binh sĩ, thực hành chiến đấu và tiến hành chiến tranh, nghiên cứu lịch sử quân sự, nghệ thuật quân sự và sư phạm quân sự, tác dụng của nhân tố tinh thần và yêu tố bất ngờ trong chiến tranh.


Dưới thời trung đại, các cuộc chiến tranh tiêu biểu đều có mục đích và quy mô hạn chế do các quân đội không đông người lắm tiến hành. Từ đó, tư tưởng - lý luận quân sự không được phát triển mạnh nên ít có binh thư. Phải chờ đến cuối thời trung đại, khi các nhà nước quân chủ chuyên chế hình thành (thế kỷ XV-XVI), binh thư mới dần dần xuất hiện trở lại. Đầu tiên là cuốn Nghệ thuật chiến tranh của Makiaveli, người Ý, ra đời vào đầu thế kỷ XVI. Trong cuốn binh thư này, được xem là tiêu biểu nhất của thời kỳ tiền tư bản, tác giả đã đề ra những nguyên tắc mang tính chất lịch sử về sự phát triển nghệ thuật quân sự, đề ra những hình thức tổ chức quân đội có tính chất quần chúng đông đảo, thay thế cho quân đội đánh thuê của nhà nước. Bên cạnh đó, tác giả còn nói đến vai trò và những nguyên tắc xây dựng kỵ binh và pháo binh, nêu ra một số yêu cầu chung đối với người chỉ huy quân sự mà trong đó, điều bắt buộc là phải tinh thông địa hình chiến trường và nghệ thuật quân sự.


Đến đây có một vấn đề cần chú ý là nếu như dưới thời trung đại trên phạm vi toàn thế giới, tư tưởng - lý luận quân sự không được phát triển mạnh nên binh thư ít xuất hiện thì trái lại, điều đó không thấy có ở Việt Nam. Thời kỳ này, sự hình thành và phát triển tư tưởng - lý luận quân sự lại diễn ra một cách độc đáo trong điều kiện người Việt Nam phải liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh giữ nước, bảo vệ nền độc lập tự chủ dân tộc suốt mười mấy thế kỷ. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của những đặc điểm về lịch sử đấu tranh, về địa - chính trị - quân sự và nhất là về văn hoá quân sự, tư tưởng - lý luận quân sự Việt Nam đã phát trien mạnh mẽ từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Hành quân pháp của Lý Thường Kiệt, ở thế kỷ XI, được xem là cuốn binh thư đầu tiên. Cuốn sách gồm hai phần chủ yếu: phần cơ cấu tổ chức sử dụng lực lượng và phần chiến pháp (tức phương pháp tác chiến), ở thế kỷ XIII, tiêu biểu cho tư tưởng - lý luận quân sự Việt Nam là tư tưởng - lý luận quân sự Trần Quốc Tuấn. Ông là tác giả của hai cuốn binh thư Vạn kiếp tông bí truyền thư và Binh thư yếu lược cùng với hai văn kiện nổi tiếng về lý luận quân sự là Dụ chư tỳ tướng hịch văn (thường vẫn gọi là Hịch tướng sĩ) và bản Di chúc. Trong các tác phẩm trên, những quan điểm chính trị nổi lên là quyền lợi dân tộc được đặt ở vị trí cao nhất, trong đó có lợi ích của mọi tầng lớp xã hội và vấn đề “bồi dưỡng sức dân” được nhấn mạnh. Bàn về tính chất chiến tranh yêu nước, một loại hình chiến tranh của dân, của nước, tác giả cho rằng khi tiến hành chiến tranh, phải đắn đo làm sao để “lợi cho nước, giúp được dân”. Trị nước cũng như tiến hành chiến tranh, phải dựa vào sức mạnh của đoàn kết. Nguyên tắc hàng đầu trong chiến tranh là phải động viên chính trị, bồi dưỡng ý chí chiến đấu cho nhân dân và quân đội. Nguyên tắc tiếp sau là dàn thế trận cả nước đánh giặc mà tác giả gọi là “nhân trận" - thế trận hình người: “Hình trận dáng như chữ nhân", gọi là nhân trận, Thuận cũng là chữ nhân, nghịch cũng là chữ nhân, tiến cũng là chữ nhân, thoái cũng là chữ nhân, hợp lại cộng làm một người, tan ra cũng là một người. Một người làm một trận, nghìn muôn người sống làm một trận, nghìn muôn người hợp làm một trận, nghìn muôn người động làm một người”. Ở thế kỷ XV, những lý luận quân sự vô giá, đóng góp vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc hầu hết đều nằm trong các tác phẩm lý luận quần sự: Bình Ngô sách, Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo của nhà tư tưởng và lý luận quân sự nổi tiếng Nguyễn Trãi. Trong các tác phẩm của mình, ông đã xác định rõ tính chất xã hội - chính trị của cuộc chiến tranh giải phóng là dân tộc ta không có chính quyền là cứu nước yên dân. Muốn tiến hành một cuộc chiến tranh như vậy, phải biết dựa vào lực lượng chính trị cơ bản là “manh lệ”, tức nông nô và nô tì. Thấm nhuần tinh thần nhân đạo của nhân dân ta, trong việc kiên quyết đạt tới mục đích chiến đấu của mình, tư tưởng - lý luận quân sự đã có sự sáng tạo mới, “công tâm” kết hợp với tiến công quân sự “mưu đánh vào lòng, không chiến mà thắng”. Cùng với những chiến thắng quân sự ngày càng lớn, kết quả “công tâm” cũng giành được những thắng lợi ngày càng nhiều. Thành quả đó đã làm giảm bớt được xương máu không những cho nhân dân ta mà còn cho cả nhân dân Trung Quốc, đem lại “Hoà hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh”. Sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao cũng đạt tới trình độ cao. Trên cơ sở “học thuyết nhân nghĩa”, Nguyễn Trãi đã biết mở cuộc đấu tranh ngoại giao đúng lúc, đúng thời cơ mà thành quả nổi bật là việc kết thúc chiến tranh, một sự biểu hiện “tưởng cũng xưa nay, chưa từng được thấy”. Điểm đặc sắc về tư tưởng lý luận quân sự Việt Nam thời này là sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Nguyễn Trãi đã tư duy trên cơ sở thực tiễn và từ thực tiễn đó mà hình thành lý luận. Lý luận đó lại được đem ra chỉ đạo thành công mười năm tiến hành chiến tranh giải phóng, chứng tỏ lý luận đó là duy nhất đúng. Vào thế kỷ XVII, do quyền lợi chính trị đối lập giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, đất nước đã rơi vào tình trạng Nam - Bắc phân tranh. Trong cuộc nội chiến kéo dài tới 200 năm, quân đội nhà Nguyễn đã áp dụng một chiến lược ngăn phòng - một hình thức biểu hiện của chiến lược cơ động - như điều kiện chung của thế giới đương thời. Tiêu biểu cho tư tửởng - lý luận quân sự này là Đào Duy Từ với tác phẩm Hổ trướng khu cơ. Đây cũng là một cuốn binh thư được truyền lại còn tương đối nguyên vẹn tới ngày nay.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 07:56:38 am
Từ giữa thế kỷ XVII và nhất là từ thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tư bản đã hình thành một cách ổn định ở nhiều nước Tây Ảu. Thời cận đại bắt đầu. Dưới thời này ở nhiều nước Tây Au, các bộ điều lệnh quân sự phản ánh những quan điểm, những khả năng chuẩn bị và phương pháp tác chiến của quân đội chính quy và hải quân chính quy đã ra đời, nhằm phục vụ cho những nguyên tắc của chiến lược cơ động và chiến thuật tuyến. Thời kỳ này cũng đã xuất hiện nhiều cuốn binh thư nhưng mang tính cơ bản là hai cuốn Lịch sử cuộc chiến tranh bảy năm (1756-1763) của H. Lôi và Tinh thần của nghệ thuật chiến tranh hiện đại của G. Buylốp. Trong cuốn sách của mình, H. Lôi đã thừa nhận là có cả khoa học quân sự lẫn nghệ thuật quân sự. Tác giả cho rằng khoa học quân sự chủ yếu là các ngành xây dựng, tổ chức, trang bị, huấn luyện cho quân đội và trù hoạch, trù bị chiến tranh còn nghệ thuật quân sự chủ yếu là phần chỉ huy của các tướng lĩnh, điều động lực lượng và xử trí tình huống. Các cuốn binh thư trên lúc bấy giờ được đánh giá là nền móng của lý luận chiến lược quân sự của giai cấp tư sản.


Nhìn chung, các binh thư của thời kỳ này chủ yếu là miêu tả kinh nghiệm đấu tranh vũ trang trong quá khứ. Nhưng những tổng kết và kết luận được rút ra trong các cuốn sách đó cũng có giá trị nhất định đối với sự phát triển tiếp tục của lý luận quân sự và sự hình thành các cơ sở của khoa học quân sự, sẽ xuất hiện vào thế kỷ XVIII, mà đầu tiên là khoa học quân sự tư sản.


Khoa học quân sự nói chung, khoa học quân sự tư sản nói riêng ra đời là một bước nhảy vọt lớn về tri thức đấu tranh vũ trang trong chiến tranh của loài người, mà cơ sở của nó bắt đầu hình thành chủ yếu là trong quá trình Đại cách mạng tư sản Pháp (1789-1794). Ở đầu thế kỷ XIX, trong số các tác giả binh thư ở châu Âu, K. Claudơvit, người Phổ, được xem là nhà tư tưởng - lý luận quân sự nổi tiếng với cuốn binh thư Bàn về chiến tranh. Chúng ta biết rằng cuốn sách này ra đời vào thời đại cách mạng tư sản bắt đầu, giai cấp tư sản châu Âu đang giữ sứ mệnh lịch sử của nó. Bởi thế cuốn sách đã có được những yếu tố tích cực, tiến bộ nhất định. Trong khi tìm hiểu nền nghệ thuật quân sự tư sản mới xuất hiện và phê phán những học thuyết quân sự phong kiến lỗi thời, do áp dụng phép biện chứng của Hêghen, tác giả đã vươn tới được những vấn đề cơ bản, gốc rễ của chiến tranh. Ông đã phát hiện ra một số quy luật về mối quan hệ giũa chiến tranh và chính trị, giữa thực tế xã hội với nghệ thuật quân sự, giữa các hình thức khác nhau trong chiến đấu... Những phát hiện ấy chẳng những được thế giới phương Tây lấy làm nền tảng của hệ thống tư tưởng - lý luận quân sự tư sản mà ngay các đại biểu của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đánh giá cao. Nhưng mặt khác, lý thuyết quân sự của K. Claudơvit cũng chứa đựng không ít những sai lầm mang tính chất tiêu cực. Chẳng hạn như khi xây dựng luận điểm nổi tiếng vể mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, ông viết: "Chiến tranh chỉ là một công cụ của chính trị". Một luận điểm mà Lênin cho rằng ngày nay đã trở thành của riêng của bất cứ một người nào biết suy nghĩ". Nhưng do thiếu hiểu biết về bản chất của chính trị nên tác giả đã luận giải chính trị trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm. Bởi vậy, không lấy gì làm lạ khi thấy các tướng lĩnh của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít đều hết sức tán dương những yếu tố tiêu cực nói trên. Mặt khác, chúng cũng không quên phản đổi, gạt bỏ, xuyên tạc những yếu tố tích cực, tiến bộ trong cuốn sách. Tìm hiểu cuốn binh thư Bàn về chiến tranh của K. Claudơvit ít nhiều chúng ta cũng thấy được sự phát triển của khoa học quân sự tư sản là kết quả của các quá trình khách quan, diễn ra trong xã hội và trong quân sự. Nhưng chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình đã khiến cho khoa học quân sự tư sản không thể xây dựng được những quan điểm và những chỉ dẫn thực sự khoa học về các vấn đề chuẩn bị và tiến hành chiến tranh.


Đến nửa sau thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. Ăngghen là những người đầu tiên áp dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc phân tích sự phát triển của quân sự. Ngươi có công đóng góp đặc biệt to lớn vào việc nghiên cứu, xây dựng các quan điểm lý luận quân sự đó là Ph. Ăngghen qua hơn 300 công trình về lý luận và lịch sử quân sự. Hai ông đã chứng minh rõ kết cục của chiến tranh phụ thuộc chủ yếu vào sức mạnh kinh tế của nhà nước tham chiến và vào tình trạng tinh thần của nhân dân và quân đội đồng thời tiên đoán rằng các cuộc chiến tranh tương lai sẽ căng thẳng hơn, kéo dài hơn và ác liệt hơn. Những biến đổi tính chất của cuộc chiến tranh và phương thức tiến hành chiến tranh sẽ đề ra những đòi hỏi mới đối với việc chỉ huy bộ đội và chỉ đạo chiến tranh.


Ở Việt Nam, khoa học quân sự hiện đại hình thành nhưng ngay từ đầu đã không nằm trong quỹ đạo của khoa học quân sự tư sản. Nó phát triển theo một kiểu cách riêng nên đã tạo được sức mạnh kỳ diệu để chiến thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ trong 30 năm chiến tranh giải phóng ở thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nội dung phong phú của nền khoa học quân sự này trước hết là sự kế thừa một cách sáng tạo truyền thống -văn hoá quân sự dân tộc được xây dựng qua mấy ngàn năm và sự tiếp thu một cách chọn lọc khoa học quân sự hiện đại, phù hợp với điều kiện chiến tranh của đất nước. Tiêu biểu cho tư tưởng - lý luận quân sự tiên tiến ở thời đại này trong việc chỉ đạo chiến tranh là những văn kiện quân sự của Đảng Cộng sản, những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quán triệt sâu sắc và vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đồng thời căn cứ vào thực tiễn chiến tranh cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh vũ trang, giải phóng dân tộc với hoàn cảnh phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh của thời đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xây dựng và từng bước hoàn chỉnh học thuyết quân sự Việt Nam hiện đại, góp phần vào việc hướng dẫn toàn dân và toàn quân ta phấn đấu đi tới đích toàn thắng. Nội dung của học thuyết quân sự đó được trình bày qua các bài giảng về đường lối quân sự của Đảng, qua cuốn sách Điện Biên Phủ, qua 5 cuốn hồi ức Từ nhân dân mà ra; Những năm tháng không thể nào quên; Chiến đấu trong vòng vây; Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử và qua 2 tuyển tập Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước.


Như vậy, khoa học quân sự ra đời là một tất yếu lịch sử trong quá trình phát triển của chiến tranh, qua mối quan hệ biện chứng giữa binh pháp và binh thư. Chiến tranh xuất hiện, theo đó, binh pháp ra đời. Từ trong thực tiễn đấu tranh vũ trang, kinh nghiệm dần dần nảy sinh. Các tướng lĩnh, các nhà tư tưởng quân sự đã khái quát, đúc kết những kinh nghiệm riêng biệt, cụ thể và tích luỹ thành tư tưởng lý luận chung trong các binh thư ngay từ thời cổ đại, khi kim loại, nhất là khi sắt trở thành chất liệu của vũ khí thông dụng, làm cho chiến tranh phát triển mạnh. Từ các binh thư, các nhà chỉ huy quân sự lấy tư tưởng lý luận chỉ đạo tác chiến trên chiến trưòng, ngày một hoàn thiện binh pháp, làm cho nó điêu luyện và nâng dần lên thành nghệ thuật quâh sự, đặc biệt là sau khi vũ khí nóng xuất hiện vào cuối thời trung đại - đầu thời cận đại. Nghệ thuật quân sự phát triển đã làm cơ sở vững chắc cho lý luận trong từng cuốn binh thư riêng lẻ rồi hội tụ dần vào đích cuối cùng là khoa học quân sự. Nếu như công việc nghiên cứu của các tác giả binh thư còn tản mạn, phân tán theo kiểu cách tư duy cá thể thì đến khoa học quân sự, các nhà nghiên cứu buộc phải thống nhất với nhau vể đối tượng tiếp cận cơ bản là đấu tranh vũ trang trong chiến tranh. Trong cơ cấu và nội dung khoa học quân sự ở mỗi nhà nước, mỗi dân tộc tuy có sự khác biệt nhưng ba thành phần của đối tượng nghiên cứu, không ai có thể bỏ qua là chiến tranh (một hiện tượng xã hội - chính trị, một quá trình hoạt động về đấu tranh vũ trang, có mở đầu. có kết thúc, của con người), quân đội (bao gồm con người và vũ khí, với tư cách là phương tiện tiến hành đấu tranh vũ trang) và nghệ thuật quân sự (với tư cách là phương pháp tác chiến mà nội dung thực chất là sự lựa chọn phương pháp sử dụng phương tiện một cách thích hợp và hiệu quả để đánh thắng). Dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của các cuộc chiến tranh, khoa học quân sự ngày nay bao gồm những bộ phận quan trọng nhất là: lý luận nghệ thuật quân sự, lý luận xây dựng quân sự, lý luận huấn luyện và giáo dục bộ đội, lý luận kinh tế quân sự và hậu phương quân đội. Bên cạnh đó, khoa học quân sự còn sử dụng rộng rãi các kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật để tạo ra những phương tiện đấu tranh mới và để bảo đảm tác chiến cho các lực lượng giành thắng lợi.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 08:00:00 am
CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ,
MỘT BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM


Quần chúng nhân dân làm nên lịch sử thì quần chúng nhân dân cũng làm nên văn hóa, nhưng không phải tất cả mà chỉ những sản phẩm đã trở thành biểu tượng mới được gọi là văn hóa. Bởi lẽ như UNESCO định nghĩa: "Văn hóa là một hệ thống biểu tượng". Cũng tương tự, quần chúng nhân dân làm nên những chiến thắng trong chiến tranh yêu nước nhưng cũng chỉ có những chiến thắng lịch sử lẫy lừng như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đông Đa mới làm rạng rỡ, giàu có cho nền văn hóa quân sự Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những biểu tượng văn hóa quân sự Việt Nam. Trong tạp chí Xưa và Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng có một bài viết tên là "Điện Biên Phủ, biểu tượng của sức mạnh Việt Nam". Vậy biểu tượng là gì?


Trước hết, phải nói rõ, biểu tượng ở đây không phải là một thuật ngữ chỉ hình thức, chỉ nấc thang của nhận thức, sau cảm giác, tri giác của tâm lý học mà là một thuật ngữ của bộ môn khoa học về văn hóa.

Về nghĩa đen, nghĩa cụ thể, biểu là phô bày, thể hiện ra bên ngoài; tượng là vật, là hình ảnh. Biểu tượng là "hình ảnh thể hiện ra bên ngoài".

Còn nghĩa bóng, nghĩa khái quát, tức là ngoài nghĩa của từ ngữ được hiều một cách thông thường, coi là cái có trước, cái vốn có từ ban đầu, lại có nghĩa sáng tạo, suy từ nghĩa đen mà ra, là nghĩa của từ ngữ để chỉ cái trừu tượng trên cơ sở phát triển từ nghĩa cụ thể, để rồi dắt dẫn con người trở về với hiện thực. Điều đó nói lên rằng, biểu tượng là một cái gì, ngoài ý nghĩa vốn có của nó còn hàm chứa một ý nghĩa khác mà nếu thiếu nó, không bao giờ sự vật đó trở thành biểu tượng.


Tựu trung lại, ngoài ý nghĩa đích thực, biểu tượng còn muốn khái quát lên một cái gì to lớn hơn, hay nói khác đi, biểu tượng mang hai tính chất: tính chất phản ánh và tính chất khái quát.

Ví dụ trong câu thơ của Tố Hữu: "Gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn", gậy tầm vông đã phản ánh nghĩa đích thực là một loại vũ khí thô sơ bằng thân cây nhưng lại còn muốn khái quát lên một cái gì khác nữa, rộng lớn hơn, đó là sức mạnh của chiến tranh toàn dân. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước đều có thể dùng loại vũ khí này để giết giặc cứu nước.


Hay như biểu tượng "đất nước", tính chất phản ánh của nó là sự kết hợp giữa đất và nước, một quan niệm nảy sinh từ điều kiện đặc thù của canh tác lúa nước. Muốn trồng lúa, điều kiện tiên quyết là phải có đất trồng và nước tưới. Bên cạnh đó, tính chất khái quát của nó lại muốn nói lên hai điều. Điều thứ nhất là xét về bình diện vũ trụ, thì đó là sự kết hợp giữa âm và dương: đất chỉ dương, nước chỉ âm. Nếu âm dương kết hợp hài hòa, muôn vật sẽ sinh sôi nảy nở, một ước vọng muôn đời của người nông dản. Còn điều thứ hai là xét về bình diện xã hội, thì đó là sự cố kết các làng (một đơn vị xã hội cơ bản của cư dân trồng lúa nước, từng vùng đất nhỏ) thành "nước", một ngôi làng lớn, một thực thể cộng đồng lớn hơn làng, một đơn vị hành chính cấp trên của làng. Khi tiếp thu mô hình quôc gia của văn hóa Trung Hoa. chúng ta đã bản địa hóa nó trên cơ sở biểu tượng "đất nước".


Ai cũng biết, đời sống tự nhiên và đời sống xã hội được tạo thành bởi muôn vàn những yếu tố tri giác được và không tri giác được. Những yếu tố tri giác được là cả một thế giới vật chất do tự nhiên và xã hội sinh ra. Còn những yếu tố không tri giác được là thuộc thế giới phi vât chất như: tâm linh, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức (hạnh kiểm, thói quen, cảm quan...), các thực thể vô hình như các khái niệm (cộng đồng, quyền lực, quy luật, niềm tin..,).


Các yếu tố tri giác được, con người nhận thức bằng con đường tư duy lý trí một cách trực tiếp. Còn các yếu tố không tri giác được, con người không thể nhận thức bằng con đường tư duy lý trí trực tiếp mà phải bằng con đường tư duy gián tiếp.


Tuy gọi là các yếu tố không tri giác được, không có nghĩa là chúng huyền bí, muôn đời bất biến và không thế tiếp cận được. Trên thực tế, chúng cũng là những sản phẩm của các điều kiện, các phương thức sinh sống trong tự nhiên và trong xã hội. Sự không tri giác được đó chỉ là sự không lĩnh hội, không nhận thức được bằng thị giác và thính giác.


Thế là, bên cạnh việc nhận thức các yếu tố tri giác được, trong cuộc sống, con người còn có nhiệm vụ phải nhận thức cả các yếu tố không tri giác được do xu thế phát triển không ngừng của con đường nhận thức trước thế giới khách quan. Và để nhận thức cho được những cái không tri giác được ấy, con người đã dùng một loại môi vật (vật môi giới làm trung gian) gọi là biểu tượng. Theo đó, biểu tượng là cái thay thế, là "ngôn ngữ" của cái không tri giác được, cái làm cho sự không tri giác được biến thành sự có thể tri giác được.


Trong quá trình nhận thức hiện thực, nhằm thích ứng với tính đa dạng của thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, con người đã sáng tạo ra nhiều dạng thức biểu tượng, khác nhau. Trên đại thể, đó là biểu tượng, biểu trưng, biểu hiệu, dấu hiệu, huy hiệu, ký hiệu, nhãn hiệu, phù hiệu, quân hiệu, thương hiệu.... Các khuôn mẫu ứng xử trong đời sống, nghi thức hàng ngày như bắt tay, ôm hôn - thể hiện sự vui mừng khi gặp gỡ ở châu Ảu; cúi đầu, vái chào - thể hiện sự cung kính ở phương Đông... hoặc như trong các dịp phân kỳ tiết tấu đời sống xã hội như lễ tết, hội hè... cũng được xem là những biểu tượng.


Cơ sở để xây dựng nên biểu tượng là các giá trị xã hội. Nghĩa cụ thể, giá trị là cái làm cho một vật có ích lợi, có ý nghĩa, là cái đáng quý về một mặt nào đó: giá trị là cái kết tinh và làm nên cốt lõi của biểu tượng. Nói cách khác, trong mỗi biểu tượng, người ta đều tìm thấy các giá trị hay hệ thống các giá trị. Một biểu tượng được xem là có tính giá trị lớn chính là tính nhân văn của nó đạt tới mức độ cao. Và rồi chính biểu tượng đó sẽ giữ vai trò trung gian, gây ấn tượng để các giá trị đi vào tâm thức con người.


Các biểu tượng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa đã có giá trị lớn về văn hóa quân sự chính là đã góp phần quyết định thắng lợi trong những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do cho đất nước đồng thời gây cho những người dân yêu nước một niêm tự hào về lịch sử dân tộc. Biểu tượng "bán đảo hình chữ S" gợi lên tính giá trị xã hội của nó là sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, từ biên giới Lạng Sơn đến mũi Cà Mau.


Như vậy biểu tượng hóa là năng lực tìm hiểu thế giới khách quan và đó cũng là năng lực văn hóa hóa của con người. Một sự vật đã trở thành biểu tượng cũng có nghĩa là đã trở thành văn hóa. Trong lịch sử tiến hóa nhân loại, khi khả năng biểu tượng hóa xuất hiện cũng là thời điểm đột biến của hoạt động ý thức, đưa con người ra khỏi thế giới động vật, bước sang thế giới ánh sáng của trí tuệ, ánh sáng của văn hóa.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 08:01:05 am
Chiến thắng Điện Biên Phủ sở dĩ đã trở thành một biểu tượng ngời sáng của văn hóa quân sự Việt Nam hiện đại, có tầm vóc, mang theo một giá trị lớn vì nó là kết quả của một nghệ thuật quân sự sáng tạo, độc đáo. Trong văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa quân sự nói riêng, nghệ thuật cho đến nghệ thuật quân sự bao giờ cũng là những gương mặt rực rỡ. Chúng đã từng góp phần không nhỏ, xây dựng cho người Việt Nam có được một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Bên cạnh đó, thực tế cũng cho hay, bất cứ một bộ môn nghệ thuật nào, để phấn đấu trở thành một gương mật tươi đẹp, đủ tư cách làm vẻ vang cho nền văn hóa đã sinh ra nó, đều phải trải qua một thời kỳ thai nghén lâu dài, vượt qua bao chặng đường gian lao thử thách như múa rối nước của nghệ thuật sân khấu, ca trù cua nghệ thuật âm nhạc, sơn mài của nghệ thuật hội họa; nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ chắc không phải là một ngoại lệ. Nó cũng phải đi suốt một chặng đường 9 năm kháng chiến lâu dài, gian khô: cũng phải lần lượt trải qua nhiêu mật trận, nhiều chiến dịch, từ những chiến dịch tiêu biểu như Việt Bắc (Thu - Đông 1947), Biên Giới (Thu - Đông 1950), đến các chiến dịch khác như Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào... mới làm nên.


Ở đây có điều cần lưu ý, nếu như các bộ môn nghệ thuật nói chung được hình thành qua những cảm xúc trong cảnh thanh bình êm ả, không tính đến thời gian thì nghệ thuật quân sự nói riêng lại được hình thành qua những suy nghĩ nhạy bén, kịp thời, có khi còn mạnh dạn, táo bạo trong cảnh máu lửa sôi động đầy những biến cố hiểm nguy, khẩn trương, gấp gáp của hành động đấu tranh vũ trang. Nhưng dù bất cứ một hình thức nghệ thuật nào cũng đều phải vượt qua tính riêng biệt, cụ thể để vươn tới tính khái quát, trừu tượng, thậm chí còn mang theo cả tính bay bổng, lãng mạn đúng theo cách hiểu chân chính của ngôn từ. Không những thế, nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ được tạo thành để đi tới một biểu tượng văn hóa quân sự đâu chỉ là mồ hôi, nước mắt của những người dân trên mọi miền mà còn là xương máu, thịt da của bao chiến sĩ đã ngã xuống trên chiến trường vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Bàn đến nghệ thuật quân sự, trước hết là bàn đến chủ trương chiến lược. Nghiên cứu chủ trương chiến lược Điện Biên Phủ, không thế không bàn rộng đến kế hoạch chiến lược của địch và chủ trương chiến lược của ta trong Đông - Xuân 1953 - 1954. Vấn đề này nổi bật lên hai điểm:


Một là ta đã buộc địch phải phân tán lưc lượng cơ động chiến lược. Kế hoạch của địch nguyên là tập trung binh lực, tăng cường lực lượng cơ động chiến lược, nhằm giành lại quyền chủ động, thực hiện một loạt kế hoạch tiến công, chuẩn bị một trận quyết chiến chiến lược trên một chiến trường do chúng lựa chọn.

Biết rõ âm mưu đó, ta đã sử dụng một bộ phận quân chủ lực, mở cuộc tiến công vào những hưống hiểm yếu mà địch tương đối sơ hở, làm thất bại ý đồ chiến lược, chủ yếu, tiêu diệt từng bộ phận lực lượng của chúng, tiến tới làm phá sản kế hoạch H. Navarre.


Hai là ta đã tao nên tình thế buộc địch phải ném chủ lực xuống cánh đồng Điện Biên Phủ. Đưa quân chủ lực lên chiến trường rừng núi Tây Bắc vốn không nằm trong ý định của địch, cũng như trận Điện Biên Phủ trước đó không nằm trong kế hoạch của H. Navarre. Nhưng khi địch đã bị động đổ quân xuống Điện Biên Phủ thì ta lập tức nắm lấy thời cơ, hạ quvết tâm tiêu diệt chúng và biến cứ điểm này thành một trận quyết chiến chiến lược lớn nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi cuối cùng.

Thật vậy, sau nửa thế kỷ nhìn lại, chúng ta càng thấy rõ: sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là một trong những sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử Việt Nam hiện đại mà còn là một trong những sự kiện rất quan trọng trong lịch sử thế kỷ XX của cả nhân loại.


Xét riêng về mặt chiến trận, Điện Biên Phủ là một hội chiến tiêu diệt lớn nhất và điển hình nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam từ trước tới nay, một chiến thắng vĩ đại nhất của quân dân ta trong gần 100 năm đấu tranh chống thực dân Pháp. Nó cũng được coi là một trong những hội chiến tiêu diệt lớn nhất trong lịch sử đấu tranh vũ trang của các dân tộc nhỏ chống quân đội xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thực dân.


Không những thế, khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại, các nhà khoa học đều phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên: Điện Biên Phủ là một sự kiện lịch sử có tính chất bước ngoặt. Trước hết là về quân sự. Sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, Dorin Mitdonton, một bình luận viên tờ "Thời báo Nữu-ước" đưa ra một nhận định: "Đây là một trong 16 trận tạo ra bước ngoặt trong chiến tranh hiện đại ở thế kỷ XX". Còn ở góc độ chính trị thì có thể khẳng định rằng, khi lá cờ "Quyết chiến, quyêt thắng" của anh Rộ đội Cụ Hồ phấp phới tung bay trên nóc hầm chỉ huy của thiếu tướng De Castries vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 nảm 1954, thì cũng là thời điểm cáo chung chế độ thống trị của người Pháp trên bán đảo Đông Dương, đồng thời cũng là thời điểm báo hiệu sự chấm dứt chính sách thực dân cũ trên phạm vi toàn thé giới. Chí trong sáu năm, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trên thế giới đã có thêm 36 nước giành độc lập, riêng châu Phi (phần lớn là thuộc địa của Pháp) đã có tới 20 nước. Ngày 7 tháng 5 năm 1954 đánh dấu sự thất bại về quân sự của Pháp ở Đông Dương thì ngày 1 tháng 11 năm 1954. Mặt trận dân tộc giải phóng Algéne đã phát động ngay cuộc đấu tranh vũ trang chống lại sự có mặt của người Pháp trên đất nước họ. Như vậy, một mặt, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã hỗ trợ tích cực cuộc kháng chiến của ta, mặt khác, cuộc kháng chiến của ta - đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ - đã tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa. Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, chủ nghĩa thực dân cũ đã bước vào giai đoạn sụp đổ hoàn toàn. Đây chính là điều kiện cơ bản để năm 1960. Đại hội đồng Liên hiệp quốc khóa XV thông qua một nghị quyết về chống thực dân hóa, buộc các nước phương Tây phải trao trả độc lập cho các nước thuộc địa và phải thừa nhận quyền độc lập của các dân tộc này. Rõ ràng, cuộc chiến đấu oanh liệt của chúng ta không chỉ vì độc lập cho Tổ quốc, vì tự do cho nhân dân mà còn vì cả sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa trên thế giới. Bởi những lẽ đó, chiến thắng Điện Biên Phủ đã mang một ý nghĩa thời đại, một tầm vóc lớn lao. Đây là một trong những chiến thắng vì đại nhất của loài người tiến bộ ở thế kỷ XX. Chiến thắng Điện Biên Phủ còn là một thành quả trên thế mạnh của người chiến thắng, dẫn đến giải pháp ngoại giao tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, dù chưa đưa lại những kết quả thỏa đáng nhưng cũng đã mơ ra một giai đoạn mới, một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 08:02:09 am
Bây giờ quay trở lại điểm nóng nhất của chiến sự ở Việt Nam vào đầu tháng 12 năm 1953 chúng ta thấy khi chủ trương chiến lược đã hạ quyêt tâm mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì vấn đề đặt ra là phải đánh như thế nào để bảo đảm toàn thắng. Đó là vấn đề nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật cực kỳ quan trọng.


Ai cũng hiểu các vấn đề chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật chính là nội dung chủ yếu của nghệ thuật quân sự. Đi sâu hơn vào mặt triết học quân sự, có thể nói rằng nội dung thực chất của nghệ thuật quân sự là một cặp phạm trù mục đích và phương pháp. Nếu như chủ trương chiến lược là mục đích thì nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật là phương pháp đánh thắng.


Về mặt nghệ thuật chiến dich, trên mặt trận Điện Biên Phủ, lúc đầu chúng ta vận dụng phương án đánh nhanh, thắng nhanh, nhưng trong suốt thời gian chuẩn bị theo dõi từng động tĩnh của địch, ta phát hiện ra hệ thống phòng ngự của chúng ngày càng được xây dựng vững chắc hơn. Tiếp đó, khi kiểm tra lại tình hình hai bên về mọi mặt, chúng ta đã rút ra kết luận: Tập đoàn cứ điểm của địch đã được củng cố rất nhiều so với trước, như ngôn ngữ của đối phương: Điện Biên Phủ là "Nà Sản lũy thừa mười". Trong tình hình đó, kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh không thể bảo đảm chắc thắng. Vì vậy, lúc 11 giờ trưa ngày 26 tháng 1 năm 1954, ta đã quyết định bỏ phương án cũ mà dùng phương án đánh chắc, tiến chắc đúng như dự kiến ban đầu của Tổng Quân ủy đệ trình lên Bộ Chính trị ngày 6 tháng 12 nãm 1953. Đây là sự chuyển lại thế trận duy nhất đúng. Quyết định này được giới quân sự đánh giá là những "đỉnh cao trí tuệ" của văn hóa quân sự Việt Nam thời hiện đại, bởi lẽ:

Thứ nhất, giữ bí mật được ý đồ, từ đó dẫn tới sự nhận định sai lầm của địch. Chẳng hạn như ngày 26 tháng 1 năm 1954, De Castries đánh điện báo cáo lên Tổng hành dinh: Việt Minh có vẻ từ bỏ tiến công. Một tuần lễ sau, ngày 2 tháng 2 năm 1954, trung tướng Mỹ O Daniel "tới thăm" Điện Biên Phủ giữa lúc có tin Đại đoàn 308 của Việt Minh đang tiến đánh các tiền đồn của Pháp ở Thượng Lào. Căn cứ vào đó, ông ta khắng định: "Việt Minh sẽ từ bỏ ý định đánh Điện Biên Phủ".


Hơn thế nữa, đối phương còn cho rằng hoạt động của ta trong Đông Xuân 1953 - 1954 đã lên tới đỉnh cao nhất, cuộc lui quân của ta chắc sẽ bắt đầu. Ta nhất định không đủ sức để tiếp tục tiến công vào Điện Biên Phủ được nữa. Để giành lại thế chủ động, ngày 12 tháng 3 năm 1954, địch cho quân đổ bộ lên Quy Nhơn. Chúng có ngờ đâu, ngay hôm sau, ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta mở cuộc tiến công lớn vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Thứ hai, thể hiện rõ quan điểm thực tiễn.

Chuyển sang vận dụng phương châm đánh chắc, tiến chắc hoàn toàn không có nghĩa là khi các thắng lợi liên tiếp của quân ta đã từng bước tạo nên thời cơ mới thì ta không chuyển sang phương châm đánh nhanh, thắng nhanh. Thực tế, chiều ngày 7 tháng 5 nám 1954, khi tình hình địch đã có dấu hiệu rối loạn, tinh thần suy sụp thì lập tức quân ta được lệnh nắm lấy thời cơ và hồi 15 giờ đã mở cuộc tông công kích vào tập đoàn cứ điểm, đến 17 giờ 30 phút thì tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Như vậy là trên cơ sở thực tế khách quan chiến địa, quân ta đã có sự vận dụng linh hoạt, liên hoàn các phương án tác chiến, từ chậm đến nhanh rồi lại về chậm và cuối cùng là sang nhanh, nên đã toàn thắng.


Không phải ngẫu nhiên mà bài học thực tiễn từ Điện Biên Phủ đã được lặp lại 21 năm sau. Trong cuộc Tổng tiến cộng và nổi dậy mùa Xuân 1975, khi cuộc chiến phát triển, tình hình chuyên biến rất nhanh, Bộ Thống soái tối cao cũng đã nhạy bén thay đổi kế hoạch, thay đổi cách đánh, chuyển từ kế hoạch cơ bản sang kế hoạch thời cơ. Kết hợp tiến công và nổi dậy, quân và dân ta anh dũng xốc tối theo mệnh lệnh "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", giành toàn thắng trong thời gian hai tháng, không phải mất từ 2 đến 3 năm như dự kiến trong kế hoạch tác chiến ban đầu. Phải chăng quan điểm thực tiễn trên là sự "di truyền" văn hóa quân sự Việt Nam?


Lịch sử đã ghi lại năm 542, cuộc khởi nghĩa Lý Bí thắng lợi. Năm 545 nhà Lương cho quân sang đánh dẹp, đàn áp khiến cho chính quyền non trẻ của dân tộc ta phải rời bỏ miền đồng bằng, rút lên miền rừng núi tỉnh Phú Thọ ngày nay. Sau khi Lý Bí từ trần (năm 547), Triệu Quang Phục lên thay. Ông đã mạnh dạn đưa số quân ít ỏi còn lại về đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên), chuyển sang cách đánh nhỏ lẻ, đánh tại chỗ, từng bước xây dựng lực lượng. 3 năm sau (năm 550), nhân khi chính quốc có biến cố, ông đã chớp thời cơ, đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi. Hay như ở thế kỷ XIII, biết chắc thế nào quân Mông - Nguyên cũng sẽ sang xâm lược, tháng 11 năm 1282, tại Bình Than, các vương hầu, quý tộc cùng với các tướng lĩnh đã nhất trí với nhau, nếu quân giặc kéo sang thì quân ta sẽ lấy Nội Bàng (xã Trú Hữu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) làm điểm quyết chiến chiến lược. Nhưng vào đầu năm 1285, hơn 50 vạn quân xâm lược vượt qua biên giới, biết chủ lực ta tập trung ở Nội Bàng, đã chia thành 6 mũi ồ ạt bao vây. Thấy tình thế không thể thực hiện được kế hoạch như đã dự kiến, Trần Quốc Tuấn cho tiến hành ngay việc rút lui chiến lược, lùi quân sâu vào tận Thanh Hóa, lập lại thế trận để 5 tháng sau, chuyển hóa được lực lượng mới phản công, giành lại đất nước.


Tìm hiếu qua những lần chuyển thế trận, chúng ta thấy ở thời hiện đại là trong tư thế tiến công, còn trong lịch sử là trong tư thế bị tiến công. Nhưng dù ở tư thế nào, việc chuyến biến thế trận cũng đều xuất phát từ thực tế khách quan chiến trường và tài quyền biến, năng động, linh hoạt tuyệt vời của chủ quan người chỉ huy quân sự, không như thế, không thể nào đủ sức đánh thắng được đổi phương.


Nhìn từ góc độ nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật có thể nói rằng, ở Điện Biên Phủ, quân đội ta đã có một bước nhảy vọt lớn, nhất là về chiến thuật. Bí quyết đó là sự vận dụng linh hoạt những phương pháp chiến thuật mới, những phương pháp chiến thuật có ý nghĩa chiến dịch, nhằm giải quyết một yêu cầu mới rất cao của tác chiến là tiêu diệt bằng được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Phương pháp chiến thuật mang theo ý nghĩa chiến dịch ở Điện Biên Phủ có những nội dung rất phong phú, được thể hiện bằng nhiều kiểu loại khác nhau, kể từ phương pháp quan trọng nhất là lần lượt tiêu diệt từng tiểu đoàn hoặc một số tiểu đoàn địch nằm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm, đến phương pháp dùng mọi cách triệt đường tiếp tế hậu cần của địch và phương pháp dùng mọi cách bảo vệ các tuyến tiếp tế hậu cần của ta.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 08:03:28 am
Ở đây chỉ xin nêu lên một phương pháp chiến thuật có ý nghĩa chiến dịch là công tác xây dựng hệ thống trận địa tiến công và bao vây quân địch - thường vẫn gọi là chiến thuật vây lấn, bằng một hệ thống chiến hào ngang dọc. Thực tế đó chứng tỏ là trên chiến trường này, lần đầu tiên trong lịch sử quân sự hiện đại. Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực sự tiến hành chiến tranh kiểu chiến hào. Phương pháp chiến thuật này khiến cho đối phương, một quân đội dù đã có một truyền thống vững vàng và có nhiều kinh nghiệm về chiến tranh chiến hào như quân đội Pháp mà cuối cùng cũng phải cúi đầu chấp nhận một thất bại cay đắng. Điều đó đã khiến cho Bernard Fall - một người Mỹ gốc Pháp - từng viết nhiều công trình khoa học về Việt Nam và Đông Dưởng, phải xác nhận: ”... Những người cộng sản đã tỏ ra rất mưu trí khi đưa nghệ thuật đào các chiến hào tiếp cận đến mức cao nhất".


Về phương pháp chiến thuật này, sau khi phân tích kỹ những khó khăn trên chiến trường Điện Biên Phủ là các chiến sĩ ta phải thường xuyên chiến đấu trong điều kiện đối phương có hỏa lực, pháo binh và không quân mạnh, dù cho từng trung đội đến từng tiểu đoàn đều đã có công sự cho các trận địa xuất phát tiến công nhưng rồi kết quả cũng chỉ đạt tới mức tiêu diệt được từng tiểu đoàn độc lập của địch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết tiếp; "Trong một thời gian khá dài, vấn đề đặt ra mà chưa được giải quyết là phải làm thế nào để tiến hành được cuộc chiến đấu cả ngày lẫn đêm và trên mọi địa hình, có như vậy mới mở ra khả năng tiêu diệt sinh lực lớn của địch. Sự phát triển công sự thành một hệ thống trận địa tiến công và bao vây đã giải quyết thành công một vấn đề quan trọng, mở ra khả năng nói trên".


Nghệ thuật, như đã nói, là bộ mặt rực rỡ tươi đẹp của văn hóa và ngược lại văn hóa là nền tảng, là cơ sở để nghệ thuật nảy nở, hình thành. Nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ cũng vậy. Nó cũng được phát sinh, phát triển trên cơ sở của văn hóa quân sự Việt Nam hiện đại.


Với tư cách là một nền văn hóa, nền văn hóa quân sự Việt Nam cũng có một hệ thống câu trúc gồm ba thành tố: văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức cộng đồng. Trong đó, văn hóa nhận thức giũ vai trò chủ đạo.


Về văn hóa nhân thức, văn hóa quân sự Việt Nam quan tâm nhiều đến phương pháp tư duy tổng hợp - biện chứng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố còn biện chứng là chú trọng đến mối quan hệ giữa chúng. Cái mà văn hóa quân sự Việt Xam quan tâm không chỉ là sự tập hợp các yếu tố riêng rẽ mà là mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó.


Kế thừa truyền thống tư duy của dân tộc lại được giao lưu với phương pháp luận Mác - Lênin, cách nhìn nhận, xem xét vấn đề lại càng thêm sắc bén.

Với phương pháp tư duy trên. Bộ Thống soái tối cao đã đặt vấn đề Điện Biên Phủ trong mối quan hệ với toàn bộ tình hình chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954, dưới ánh sáng của quy luật chiến tranh yêu nước, đã được văn hóa quân sự Việt Nam đúc kết qua mấy ngàn năm chống giặc ngoại xâm, một quy luật mà đối phương không bao giờ nhận thức được và chọn chiến trường này để tạo ra một thắng lợi quân sự đột biến cho Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tuy thế nhưng Bộ tư lệnh chiến dịch còn nhấn mạnh: có chiến lược đúng mới có thể có nghệ thuật chiến dịch và phương pháp chiến thuật đúng, nhưng chỉ có chiến lược đúng vẫn chưa đủ mà còn phải có nghệ thuật chiến dịch đúng mới bảo đảm đi tới chiến thắng. Thậm chí có chiến lược đúng, có nghệ thuật chiến dịch đúng mà phương pháp chiến thuật sai cũng có thể dẫn đến thất bại cho chiến dịch, gây ra ảnh hưởng xấu về chiến lược, có khi còn ảnh hưởng tai hại. Đây là cả một hệ thống hữu cơ của tư tưởng tác chiến trong nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ nói riêng cũng như trong văn hóa quân sự Việt Nam hiện đại. Với cách thức tổng hợp - biện chứng như vậy mà trong thực tế, nghệ thuật quân sự đã đưa chiến thắng Điện Biên Phủ trở thành "cái mốc chói lọi bằng vàng" trong lịch sứ dân tộc.


Nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ còn là sự thể hiện của văn hóa ứng xử. Theo truyền thống của văn hóa dân tộc, trong ứng xử người Việt thiên về thái độ dung hợp trong tiếp nhận và mềm dẻo, hòa hiếu trong đối phó. Trước hết là thái độ ứng xử yêu thương, chân tình trong nội bộ quân dân ta. Từ một chính sách hậu phương quân đội ưu ái đối với những người đi chiến đấu, đã động viên được mọi tầng lớp nhân dân làm theo khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến", cho chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại. Ngay tại chiến địa, nhân danh Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Võ Xguvên Giáp đã bốn lần viết thư cho bộ đội trước khi bắt tay vào nhiệm vụ mới, không kể những bức thư mừng thắng lợi và thăm hỏi thương binh, khiến cho quan hệ giữa người chỉ huy và các chiến sĩ vô cùng gắn bó. Việc làm trên đã mang theo dáng dấp tinh thần "phụ tử chi binh" của Phạm Ngũ Lão ở thế kỷ XIII. Nhưng không phải chỉ ở phía ta mà văn hóa ứng xử còn được thể hiện rõ trong quan hệ với những kẻ đang cầm vũ khí chống lại nhân dân ta. Bên cạnh đòn bạo lực, tuy hết sức cần thiết, nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ còn có cả đòn tinh thần, đòn "đánh vào lòng người", một thứ vũ khí lâu đời của văn hóa quân sự Việt Nam, đã hình thành từ 500 năm trước. Phương pháp này đã được vận dụng thành công trong trận đánh kết hợp với gọi hàng tiểu đoàn ngụy binh người Thái địa phương ở cụm cứ điểm Bản Kéo ngày 17 tháng 3 năm 1954. Trước đó bốn ngày, sau khi tiêu diệt gọn trung tâm đề kháng Him Lam vào đêm 13 tháng 3 năm 1954 thì ngay sáng hôm sau. Bộ tư lệnh mặt trận Điện Biên Phủ đã cho phép đối phương ra lấy thương binh về phân khu trung tâm. Trong cuốn hồi ký "Khép lại quá khứ đau thương", tác giả Kỳ Thu, nguyên là trại trướng trại tù binh sĩ quan Pháp số 1 đã viết: "Chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lòng nhân đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam đã biểu hiện sáng ngời ngay tại trận địa Điện Biên Phủ sau khi quân ta làm chủ chiến trường. Chúng ta đã cứu sống gần 1.000 thương binh nặng của địch sống ngoi ngóp trong các hầm hào bùn lầy nước đọng, hôi thối, sức khỏe của chúng hoàn toàn suy sụp”. Về phía địch, viên quan tư thầy thuốc được tham gia cứu chữa thương binh Pháp ở Điện Biên Phủ cũng phát biếu: "Ngay từ những phút đầu tiên ở cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng, chúng tôi đã ghi nhận thái độ hết sức đúng đắn của các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đối với binh lính nói chung, những thương binh và nhân viên y tế nói riêng... Lòng biết ơn của thương binh và của chúng tôi đối với Quân đội nhân dân ở Điện Biên Phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thật là sâu nặng, chúng tôi sẽ không bao giờ quên điều đó".


Trước thái độ nhân đạo của những người chiến thắng đối với tù binh và thương binh nặng của đối phương ở Điện Biên Phủ, một nhà triết học phương Tây, hiểu biết rất kỹ về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta, trong một hội nghị quốc tế về Việt Nam đã đánh giá rất cao về hành động văn hóa ứng xử nàv: "Ngày mai cũng như ngày hôm qua, đại nghĩa của Việt Nam là đại nghĩa của loài người".


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 10 Tháng Ba, 2022, 08:04:01 am
Nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ lại còn chịu sự chi phối của văn hóa tổ chức công đong. Xưa nay, trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp lúa nước Việt Nam ưa tổ chức đời sống theo nguyên tắc trong tình, nghĩa là sống hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đẩu: tình làng nghĩa xóm, bên ngoài là lý, bên trong là tình... Tư cách tư duy tổng hợp - biện chứng cùng với nguyên tắc sống trọng tình đã dẫn tới cách thức tổ chức cộng đồng theo lối linh hoạt. Đó là một cách thức được vận dụng thường xuyên trong văn hóa quân sự Việt Nam qua cách sinh hoạt khẩn trương, gọn nhẹ... cách hành động nhanh nhẹn, kịp thời... cách tư duy quyền biến, nhạy bén... Nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ là một trường hợp cụ thể. Chẳng hạn như chủ trương chiến lược lúc đầu của ta là buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động chiến lược. Trong khi lúng túng, bị động đối phó, địch phải ném chủ lực xuống Điện Biên Phủ mặc dù điều đó không nằm trong kế hoạch của chứng. Tương kế tựu kế, ta lập tức nắm lấy thời cơ, hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở chiến trường này. Cách thức linh hoạt cũng thể hiện rõ trong nghệ thuật chiến dịch. Từ cách thức này mà tuy đã có 12 ngày chuẩn bị theo phương châm đánh nhanh thắng nhanh nhưng thây không bảo đảm kết quả, ta đã kịp thời chuyển sang phương châm đánh chắc, tiến chắc dù cho phải "kéo pháo vào, kéo pháo ra", phải tiếp tục chuẩn bị thêm 46 ngày nữa. Nhưng trong 56 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954), đến ngày cuối cùng, khi phát hiện thấy tình hình địch rối loạn, tinh thần chúng suy sụp thì quân ta lập tức nắm lấy thời cơ, tiến hành tổng công kích và chỉ hơn hai tiếng đồng hồ sau đã buộc địch phải đầu hàng, giành thắng lợi cuối cùng.


Trong phương pháp chiến thuật, ta cũng có hành động tương tự. Ai cũng biết chiến hào là "vật tĩnh", là phương tiện phòng hộ. Trên chiến địa, chiến binh thường đào hào xong xuôi mới vào trận, mà đào chiến hào - giao thông hào để phòng ngự là chính, ở Điện Biên Phủ lại không như thế, bộ đội ta đã rất sáng tạo, biến chiến hào thành "vật động", thành vũ khí tiến công. Dĩ nhiên, trước khi vào trận, bộ đội ta cũng đào công sự chiến dấu nhưng những công sự đó đã biến thành chiến hào và cứ dài dần theo bước tiến quân. Bộ đội đánh tới đâu, chiến hào từng bước theo tới đó. Địch phát hiện ra phản kích, tìm cách lấp kín chiến hào, bộ đội ta dùng vũ khí đánh trả. Khi địch rút, ta lại đào chiến hào để tiến công tiếp. Đây là một công việc được tiến hành rất tỉ mỉ, chu đáo. Bộ đội ta đã xây dựng hai loại giao thông hào: một là loại giao thông hào trục dùng cho việc cơ động bộ binh, cơ động pháo binh, vận chuyển thương binh, hình thành một đường vòng rộng vây quanh trận địa ở phân khu trung tâm của địch; hai là loại giao thông hào tiếp cận của bộ binh, xuất phát từ vị trí trú quân cúa các đơn vị trong rừng đổ ra cánh đồng, cắt ngang giao thông hào trục, tiến vào những vị trí địch mà ta định tiêu diệt. Dọc giao thông hào bộ binh, có đầy đủ hố phòng pháo, hầm trú ẩn, hào chiến đấu và ụ súng để đối phó với những cuộc phản kích của đối phương.


Các loại giao thông hào phải có độ sâu 1.7m (lút đầu người) đáy hào trục rộng 1,2m, đáy hào bộ binh rộng 0,5m. Về chiều dài, lúc đầu ước tính trên bản đồ khoảng 100km, nhưng trong suốt quá trình chiến dịch, bộ đội ta đã phải đào lên gấp đôi, đến hơn 200km (có tài liệu ghi là 400km) với điều kiện lao động cật lực, vượt qua vô vàn trở ngại, khoảng từ 14 đến 18 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Nhiều chiến sĩ ta hai bàn tay cứ phồng rát, mọng nước rồi dần dần biến thành chai sần. Lưỡi xẻng ngày đầu mới được phát sáng loáng, tròn trĩnh, to như chiếc quạt nan mà đến ngày đào xong chiến hào tiếp cận địch, đã mòn vẹt, chỉ còn trơ lại một mảnh sắt nhỏ, cong như một vầng trăng khuyết.


Việc xây dựng hệ thống chiến hào phải tiến hành chủ yếu vào ban đêm, đào đến đâu, phải ngụy trang đến đấy và phải đồng thời triển khai trên toàn mặt trận để phân tán sự chống phá của địch. Nhưng khi các giao thông hào của ta đã vươn dài đến hàng chục ki-lô-mét trên cánh đồng thì không còn cách nào che mắt được kẻ thù. Chúng đã dùng pháo binh và không quân bắn phá suốt ngày đêm, đưa quân ra những trận địa ở gần để san lấp và gài mìn ngăn chặn việc đào tiếp. Mỗi mét đường hào ở đây không chỉ hình thành bằng mồ hôi mà còn bằng cả xương máu của các chiến sĩ ta. Với khả năng phi thường ấy khiến cho nhiều binh lính lê dương đóng quân ở Điện Biên Phủ lúc bấy giờ, sau này kê lại rằng: ban ngày nghe tiếng súng nổ, họ không sợ bằng ban đêm, nằm dưới lô cốt nghe âm vang từ tiếng xẻng đào đất của "quân đội Việt Minh" đang đưa chiến hào tiến lại gần, quây chặt lấy vị trí của họ, cứ tưởng chừng như có cả một gọng kìm khổng lồ đang bóp lại. Cách làm của ta như thế đã biến hệ thống chiến hào ở chiến trường Điện Biên Phủ trở thành những con dũi khổng lồ đi tới, bao vây, thít chặt lấy cổ họng quân địch cho tới khi chúng phải hạ vũ khí, giơ cao cờ trắng đầu hàng.


Trước nguy cơ "tử thần đang giơ cao lưỡi hái" trên chiến trường Điện Biên Phủ, không phải Bộ chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương không có biện pháp xử lý. Tại Sở chỉ huy của R. Cogny tại Hà Nội, một số sĩ quan từng trải chiến trận, sau khi nghiên cứu những bức ảnh do máy bay chụp hàng ngày về sự phát triển hệ thống chiến hào của quân ta, đã liên tưởng tới thời gian tham chiến trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), nên họ đã lưu ý cấp trên phải chuẩn bị ngay việc đối phó. Mệnh lệnh đó lập tức được chuyển ngay tới Điện Biên Phủ nhưng thiếu tướng De Castries đã thẳng thắn trả lời là ông ta không có chuyên gia, không có thiết bị nên không đủ khả năng làm điều đó. Có thể trong suy nghĩ của viên tư lệnh chiến trường này, ưu thế đã hoàn toàn thuộc về phía Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là điều bất khả kháng. Chắc chắn rồi đây đối phương sẽ chiến thắng, và sự thật đã diễn ra đúng như vậy vào buổi chiều ảm đạm ngày 7 tháng 5 năm 1954.


Văn hóa tổ chức cộng đồng - cụ thể là công tác hậu cần - còn tạo nhiều điều kiện linh hoạt, thuận lợi cho chiến thắng Điện Biên Phủ. Trên thực tế, đọ sức với kẻ thù ở chiến trường này, tức là ta phải chấp nhận những trở lực vô cùng to lớn trong công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật cho đạo quân gồm 43 ngàn người đang triển khai tác chiến hiệp đồng ở địa bàn xa các căn cứ gần ngàn ki-lô-mét. Tình hình trên đòi hỏi việc tổ chức cung cấp phải trải rộng ra trên một không gian gồm 10 tỉnh. Yếu tố then chốt nhất trong công tác bảo đảm hậu cần là khâu vận tải. Vướng mắc nổi cộm lên lúc này là mạng lưới giao thông quá eo hẹp, đường đi của xe cơ giới từ hậu phương ra tiền tuyến chí vẻn vẹn có đường 13 và đường 41, nhưng rất nhỏ lại nhiêu đèo dốc. Máy bay địch luôn luôn oanh tạc dữ dội vào những đoạn hiểm yếu như Đèo Khế, Pha Đin, Cò Nòi... nhằm ngăn chặn việc tiếp tế của ta. Để khác phục những khó khăn về đường sá, các tỉnh đã huy động 20 vạn dân công, thanh niên xung phong đi phục vụ chiến dịch. Riêng đối với việc chống phá bom đạn địch phá hoại, cải tạo, mở thêm đường đã thu hút 89.895 người (bằng 3.254.120 ngày công). Với tinh thần dũng cảm tuyệt vời, "tất cả để chiến thắng", các đội quân vận tải đã chuyển lên mặt trận 25.056 tấn gạo, 965 tấn thịt, 859 tấn thực phẩm khô và 1.450 tấn vũ khí đạn dược. Như vậy, tổng khối lượng phải chuyển lên chiến hào là gần 30.000 tấn. Làm được khối lượng công việc đồ sộ đó phải huy động tới 64.451 thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến, 628 ô tô vận tải, 140 ca nô - xuồng máy, 20.991 thuyền, 500 ngựa và 21.000 xe đạp thồ. Tất cả lực lượng vận tải đều đã vượt qua mọi gian nguy, nỗ lực phục vụ, bảo đảm tốt ba yêu cầu nghiêm ngặt là "đủ, đúng và liên tục". Mặc dù máy bay địch có điên cuồng bắn phá ác liệt để ngăn chặn nhưng nguồn tiếp tế của ta cũng không để thiếu hoặc đứt đoạn được.


Sau thất bại Điện Biên Phủ, nhận xét về công tác bảo đảm hậu cần của ta, H. Navarre đã chua xót than vãn: "Quân viễn chinh Pháp không những phải chống chọi với đội quân chính quy mà còn đương đầu với cả một dân tộc... Họ đã thu được tài nguyên ngay trong vùng của ta để tiêu diệt binh sĩ ta... ".


Tóm lại, qua những phần vừa trình bày, chúng ta đã thấy được chiến thắng Điện Biên Phủ là một biểu tượng văn hóa ngời sáng, có tầm vóc thời đại, mang theo một giá trị lớn. Giá trị càng lớn thì tính nhân văn càng cao. Nó là kết quả của một nghệ thuật quân sự sáng tạo, độc đáo nhằm giải phóng con người thoát khỏi áp bức, không chỉ riêng ở nước ta mà còn ở các nước thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới. Và rồi từ đó, chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành vật chuẩn mực để đánh giá những sự kiện chiến tranh quan trọng thời nay. Loại thí dụ này không ít nhưng thiết nghĩ còn có cụm từ nào hay hơn Điện Biên Phủ trên không. Đó là một sự so sánh của giới báo chí về sự thất bại của không lực Hoa Kỹ trên bầu trời Hà Nội vào tháng 12 năm 1972, vừa dí dỏm, vừa ngắn gọn nhưng lại quá ư đầy đủ. Không những thế, nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ còn là sự thể hiện rõ những nét bản sắc của nền văn hóa Việt Nam. Đó là chủ nghĩa yêu nước, là khả năng ứng biến, là tính cộng đồng.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Ba, 2022, 07:10:26 am
MƯỜI LỜI THỀ DANH DỰ - KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG
CỦA "ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ"


Cách đây hơn 60 năm, vào ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc châu Nguyên Bình (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), “mười lời thề danh dự’ của quân đội ta do Đại tướng Võ Nguyên Giáp thảo ra, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã ra đời trong buổi lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.


“Chúng tôi, đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, xin lấy danh dự của một người chiến sĩ cứu quốc mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh:

Xin thề:

1. Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật, Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới.

2. Tuyệt đôi phục tùng mệnh lệnh của cấp chỉ huy, khi nhận được mệnh lệnh gì, sẽ tận tâm, tận lực thi hành cho nhanh chóng và chính xác.

3. Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết, cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu cháy cũng không lùi bước.

4. Lúc nào củng khẩn trương, hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một chiến sĩ tiên phong giết giặc cứu nước.

5. Tuyệt đối giữ bí mật cho bộ đội về nội dung tổ chức, về các cấp chỉ huy, tuyệt đối giữ bí mật cho tất cả các đoàn thể cứu quốc.

6. Khi ra trận nếu bị quân địch bắt được, thì dù bị cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội.

7. Hết sức ái hộ bạn chiến đấu cũng như bản thân, hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận.

8. Hết sức giữ gìn vũ khí, không bao giờ để vũ khí hư hỏng hay rơi vào tay quân thù.

9. Khi tiếp xúc với dân chúng sẽ làm đúng ba điều răn: không lấy của dân - không doạ nạt dân - không quấy nhiễu dân, và ba điều nên: kính trọng dân - giúp đỡ dân - bảo vệ dân, để gây lòng tin cậy ái đới đối với dân chúng, thực hiện quân dân nhất trí, giết giặc cứu nước.

10. Bao giờ cũng nêu cao tinh thần tự phê bình, giữ tư cách cá nhân mô phạm, không làm điều gì hại đến thanh danh Giải phóng quân và quốc thể của Việt Nam".


Tất cả, tuy chỉ là mười câu văn ngắn gọn, súc tích, giản dị, dễ hiểu, với 397 từ, nhưng nó đã khái quát được những nội dung lớn về nhiệm vụ của Đội lúc bấy giờ mà cũng sẽ là nhiệm vụ lâu dài và trọng đại của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này:

Thứ nhất là thề hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam.

Thứ hai là lời thề đó nhất thiết được thực hiện bằng những phương pháp thích hợp và hiệu quả như:

- Đối với bản thân người đội viên là chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

- Đối với quân cướp nước là kiên quyết tiêu diệt.

- Đối với nhân dân là hết dạ, hết lòng phục vụ.


Thứ ba là để thực hiện kết quả “mười lời thề”, phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện bằng cách:

- Tăng cường đoàn kết nội bô.

- Nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật.

So với “năm lời thề" gồm 29 từ:

   "Không phản Đảng,
   Tuyệt đối trung thành với Đảng.
   Kiên quyết chiến đầu và trả thù cho các đồng chí bị hy sinh.
   Không hàng giặc.
   Không hại dân".

của Bộ đội du kích Bắc Sơn (một tổ chức vũ trang cách mạng, được chính thức thành lập ngày 14 tháng 2 năm 1941, tiền thân của Trung đội Cứu quốc quân, còn gọi là Trung đội Cứu quốc quân I) thì nội dung mười lời thề danh dự” của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã có sự phát triển mới, sâu sắc, phong phú và hoàn chỉnh hơn.


Xét về ý nghĩa, lời thề, lời nguyền... nói chung là một hành vi nghiêm túc của con người mà nội dung thực chất là lời hứa một cách trịnh trọng, với ý thức tự ràng buộc mình đồng thời viện ra một vật thiêng liêng nào đó hay cái quý báu nhất trong đời sống (như danh dự, tính mạng - dưới hình thức “cắt máu”) để đảm bảo, để tạo thêm sức nặng cho lời nói, nhằm tỏ rõ một quyết tâm lớn trước khi bắt tay vào hành động vì một sự nghiệp cao cả.


Trong nội dung lời thề được tuyên đọc tại buổi lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, cái quý báu nhất được nêu lên là “danh dự của một người chiến sĩ cứu quốc” và cái vật thiêng liêng được viện ra là "lá cờ đỏ sao vàng năm cánh" biểu tượng cho Tổ quốc Việt Nam - xuất hiện từ trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (ngày 23 tháng 11 nàm 1940), bốn năm trước đó, và gần hai năm sau, đầu năm 1946, trở thành quốc kỳ, do Quốc hội khoá I nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định.


Thề nguyền nhằm thể hiện ý chí thực hiện mục tiêu cho một hành động nào đó vốn là một nghi lễ trọng thể trong truyền thống của xã hội loài người và thường được tiến hành vào những hoàn cảnh đặc biệt, trước những bước ngoặt của lịch sử... mà cổ kim đông tây đều có. Ngay như hiện nay, ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới, họ vẫn còn giữ tập quán là một quan chức được dân cử, một nội các mới được bầu, một viên quan toà hay một bị cáo đều phải tuyên thệ trước khi nhậm chức hay trước khi bị hành xử. Chỉ có khác là khi tuyên thệ, bàn tav họ có thể nắm lại giơ ngang vai hoặc đặt trên ngực, trên kinh thánh, trên hiến pháp cũng như trên lá quốc kỳ. Việt Nam cũng không thể có ngoại lệ. Vào tháng 3 năm 1946, trong ngày nhậm chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ liên hiệp kháng chiến cũng có một việc làm tương tự là trịnh trọng đọc lời tuyên thệ trước bàn thờ Tổ quốc.


"Chúng tôi, Chính phủ kháng chiến nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Tối cao Cố vấn đoàn và Ủy viên kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do hạnh phúc cho dân tộc. Trong còng việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ".


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Ba, 2022, 07:10:51 am
Sơ dĩ có hiện tượng trên là vì từ xa xưa, con người đã biết lấy danh dự làm trọng, tuy đôi khi còn đượm chút màu sắc tín ngưỡng. Hành vi ấy luôn mang theo ý nghĩa là gây được ý chí tự tin cho bản thân mình và gây được niềm tin cho người khác. Do vậy, nó đã tạo nên những sức mạnh tinh thần, giúp con người vượt qua mọi khó khăn trở ngại.


Nhìn từ góc độ văn hoá nói chung, văn hoá quân sự nói riêng “mười lời thề danh dự” được xem là một biểu tượng. Bởi vì nói như Chu Hy (1130-1200), nhà triết học nổi tiếng thời Tống ở Trung Quốc: “Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia". Lời thề ở đây là một hình thức, được ghi lại bằng ngôn từ cụ thể, là một lời hứa hẹn, song ý nghĩa của nó lại là nhằm thể hiện quyết tâm của quân đội ta trước khi đi vào sự nghiệp đấu tranh vũ trang để giải phóng dân tộc. Trên thực tế, lời nói đó đã trở thành hành động cụ thể suốt ba mươi năm chiến đấu gian khổ, ngoan cường mà tiêu biểu là ba Huân chương Sao vàng cho ba lần tuyên dương công trạng, là 888 cá nhân được, tặng phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (có 87 người là nữ, 249 người là liệt sĩ).


Đâu chỉ có riêng quân đội ta ngày nay, trong dòng chảy của lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm ở Việt Nam suốt mấy ngàn năm, đã diễn ra bao lần tuyên thệ trước khi nhân dân ta cầm vũ khí đứng lên chống giặc. Được nhắc đến sớm nhất là lời thề khởi nghĩa của Hai Bà Trưng: “Một xin rửa sạch quốc thù, hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng”. Bước vào kỷ nguyên Đại Việt tự chủ, từ thời vua Lý Thái Tông, hàng năm triều đình có một ngày lễ lớn. Hôm ấy, vua cùng các quan đều đến đền Đồng Cổ (hiện nay ở phố Thuỵ Khuê, Hà Nội), nơi thờ một chiếc trống đồng cổ để cùng nhau tuyên thệ: "Kẻ nào làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần linh sẽ giết chết". Thời Trần, năm 1288, khi đem quân đi đánh thủy quân Mông - Nguyên, Trần Quôc Tuấn đã hướng tướng sĩ nhìn xuống lòng sông Bạch Đằng mà nói: "Trận này không phá xong giặc thì không về bến sông này nữa". Quả nhiên, lời thề đanh thép đó đã trở thành hiện thực. Đến thời Lê Lợi có hội thề Lủng Nhai, những người yêu nước nguyện cùng nhau tụ nghĩa đánh giặc. Khi thắng giặc, nghĩa quân đã buộc chủ tướng chúng phải đến Hội thề Đông Quan cam kết: "... Nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thể... thì trời, đất cũng là danh sơn, đại xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn Tống binh quan thành sơn hầu Vương Thông, tự bản thản cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà...". Đến thời Quang Trung - Nguyễn Huệ, trước khi xuất quân “thần tốc” ra Bắc, tại làng Thọ Hạc (nay thuộc thành phố Thanh Hoá) đã có buổi “thệ sư”, quyết “đánh cho sử tri Nam quốc anh hừng chi hữu chủ". Trận ấy, quân ta thắng giòn giã, quét sạch 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh khỏi bờ cõi.


Vào đầu những năm đế quốc Mỹ kéo quân vào miền Nam và đưa chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, được tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” soi sáng, “mười lời thề” lại như được tiếp thêm sức mạnh, nâng quyết tâm chiến đấu lên một tầm cao mới. Cho nên tuy phải chiến đấu trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ gấp bội nhưng âm vang của những câu thề vẫn luôn luôn văng vẳng bên tai như thôi thúc, động viên khiến quân đội ta nỗ lực vượt qua tất cả để cùng toàn dân vững bước đi tới thắng lợi cuối cùng.


Tiếp bước người xưa, “mười lời thề danh dự" theo thông lệ, cũng nhằm mục đích thể hiện một quvết tâm và đã mang lại những kết quả cực kỳ to lớn như lịch sử đã chứng minh. Chỉ có điều, lời thề đó, không vang lên chỉ một lần vào ngày 22 tháng 12 nàm 1944 mà suốt những năm tiến hành chiến tranh giải phóng và trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, lời văn của nó, khi có điều kiện, lại được thường xuyên nhắc lại dưới “lá cờ đỏ sao vàng năm cánh".


Ngày nay, khi các thanh niên làm nghĩa vụ quân sự, vào những ngày đầu mới nhập ngũ, “mười lời thề danh dự” được xem là bài học vỡ lòng trong đạo lý của việc làm người quân nhân cách mạng. Nội dung của nó có giá trị như kim chỉ nam cho hành động nhằm đưa người chiến sĩ quân đội ta thực sự trở thành “Anh bộ đội Cụ Hồ".


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Ba, 2022, 07:11:31 am
TỪ 60 NGÀY ĐÊM MỞ ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
ĐẾN 12 NGÀY ĐÊM KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ


Hà Nội là một tiểu vùng văn hoá quân sự đặc biệt, có giá trị lớn đối với cả nước. Với tư cách một thành phần chủ thể của văn hoá Việt Nam, trong 30 năm chiến tranh giải phóng vừa qua, quân và dân Hà Nội đã nêu cao tinh thần "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của “người mở đầu” với 60 ngày đêm cuộc kháng chiến chống Pháp và của “người kết thúc” qua 12 ngày đêm cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Thật vậy, trong lịch sử chiến tranh giữ nước của dân tộc ta, chưa hề có cuộc chiến tranh nào lại nổ ra cùng một lúc ở thủ đô và các thành phố khác. Nếu chiến tranh xảy ra ở vùng đất này thì quân ta thường rút về rồi chọn những nơi hiểm yếu khác để giáng trả quân xâm lược nhằm giải phóng đất nước như trường hợp thời Trần ở thế kỷ XIII. Còn nếu buộc phải chiến đấu ngay tại thủ đô mà thiếu phương pháp tác chiến thích hợp và hiệu quả thì đành phải chấp nhận sự thất bại như trường hợp thời Nguyễn ở thế kỷ XIX. Lịch sử chiến tranh cách mạng châu Âu ở thế kỷ XIX, chưa hề có một trường hợp nào mà lực lượng vũ trang yếu kém lại đương đầu thắng lợi với một đội quân chính quy ở thành phố. Nhưng trái lại, ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân Hà Nội đã làm được điều đó bằng chính khả năng của mình dù phải đối mặt với kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần và đã tiêu diệt gần 2000 tên địch trong 60 ngày đêm chiến đấu rồi mới rút quân theo kế hoạch đã định.


Tại sao người Hà Nội lại có thể làm được như vậy? Trước hết, chúng ta đã sớm nghĩ đến việc chuẩn bị bảo vệ Hà Nội và các thành phố khác. Bởi thế, chúng ta đã chủ động giành được lợi thế trong những giây phút đầu tiên. Do hoàn cảnh đặc biệt, với sự thỏa thuận giữa Đồng minh và Chính phủ ta, quân Pháp được phép vào miền Bắc làm nhiệm vụ tiếp phòng, thay cho quân Tưởng rút về nước. Trước thềm cuộc kháng chiến chống Pháp, những đơn vị viễn chinh đã có mặt tại thủ đô và hầu hết những đô thị lớn. Cuộc tổng giao chiến đầu tiên giữa bộ đội ta với quân xâm lược đương nhiên sẽ cùng một lúc bắt đầu từ Hà Nội và nhiều thành phố khác, trong số đó, Hà Nội rõ ràng là trọng điểm.


Tiếp đó, lấy so sánh tương quan lực lượng địch - ta làm cơ sở, quân và dân Hà Nội tiến hành chuẩn bị chiến đấu. Trước quân xâm lược lúc bấy giờ, lực lượng vũ trang ta còn rất nhỏ bé, nếu dàn toàn lực lượng trong một trận thì chỉ vài ba giờ giao tranh là có thể bị thất bại. Cho nên nội dung của phương pháp tác chiến mới là sự kết hợp đánh trận địa với đánh du kích. Đánh trận địa là xây dựng những chiến lũy tương đối vững chắc, tạo nhiều chướng ngại vật, hầm hào nhằm hạn chế sức cơ động của xe tăng, thiết giáp cũng như sức phá hoại của bom đạn. Nhưng ở đây, điều khác biệt là quân ta không tập trung ngăn chặn địch ở những nơi cố định. Từ đó, hình thức của phương pháp tác chiến mới là trên cơ sở huy động đông đảo toàn dân tham chiến - lấy bộ đội và tự vệ chiến đấu làm nòng cốt với thanh niên và học sinh yêu nước thủ đô làm thành phần chủ yếu - nhưng tiếp cận địch lại là những phân đội nhỏ, thậm chí rất nhỏ, để tích cực cơ động, nhanh chóng bí mật trong giao chiến. Với những lực lượng “khiêm tốn” ấy, chúng ta kiên quyết từ chối những đụng độ lớn mà chỉ tiến hành những giao chiến nhỏ có chuẩn bị kỹ lưỡng. Chính vì vậy mà trong hai tháng trời, địch chỉ mở được 30 trận, còn ta đã tiến công, chặn đánh tới hơn 100 trận. Cứ thế cho đến khi thấy đã tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận địch, bảo tồn được lực lượng ta, giam chân quân xâm lược một thời gian trong các thành phố, tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị. Chính phủ, các cơ quan, một số cơ sở công nghiệp đã thực hiện tản cư an toàn, thế là bộ đội ta rời khỏi Hà Nội, đi vào cuộc trường chinh gian khổ cho đến ngày chiến thắng, lại quay về giải phóng thủ đô.


Hơn 25 năm sau, cuối tháng 12 năm 1972, chiến sự lại nổ ra tại vùng đất cứ ngỡ là “Thăng Long phi chiến địa”. Đây là một cuộc đụng đầu lịch sử lớn giữa hai bên tham chiến, một bên là dân tộc Việt Nam, mà người đại diện là quân và dân Hà Nội, và một bên là quân xâm lược Mỹ, mà mũi nhọn xung kích là không lực Hoa Kỳ.


Mục đích của đế quốc Mỹ (ai cũng rõ) là muốn đem máy bay chiến lược B.52 đánh vào Hà Nội nhằm thúc ép Chính phủ ta tới mức tối đa trong cuộc đàm phán, giải quyết vấn đề chiến tranh ở Paris theo ý muốn của chúng. Dĩ nhiên, mục đích chiến đấu của quân và dân Hà Nội là phải chặn đứng âm mứu đen tối này bằng mọi giá. Nếu như mục đích của Hà Nội trong 60 ngày đêm chiến đấu vào giai đoạn bắt đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn mang tính chất "mở" vì trong nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Hà Nội, nội dung đề ra rất linh hoạt là "đi đôi với tiêu diệt địch, cần thấu triêt chủ trương gìn giữ lực lượng của ta,, theo dõi sát tình hình mặt trận để lúc cần thì chủ động rút lực lượng ra ngoài cùng toàn quân và toàn dân tiến hành cuôc kháng chiến lâu dài". Trái lại, mục đích của Hà Nội trong 12 ngày đêm chiến đấu vào giai đoạn kết thúc của cuộc kháng chiến chống Mỹ lại hoàn toàn mang tính chất "đóng" vì thời gian khắc nghiệt không cho phép chúng ta có "độ lùi" mà nhất thiết phải “trụ vững”. Trong suốt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nói chung và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nói riêng, những cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ vào Hà Nội đều diễn ra vào những thời điểm quan trọng. Không những thế, trận tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52 này lại diễn ra ở thời điểm quyết định của cuộc chiến tranh. Nếu chúng ta thắng trên bầu trời Hà Nội, có nghĩa là buộc đế quốc Mỹ phải ký vào Hiệp định Paris theo lập trường của chúng ta đồng thời phải chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước, tạo tiền đề cho quân và dân Việt Nam tiến lên, đánh đổ nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quả nhiên, chúng ta đã thắng, đã tạo nên một “Điện Biên Phủ trên không” và đưa tới bước ngoặt quyết định đổi với cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Sở dĩ làm được như vậy vì người Hà Nội đã thực hiện đúng lời tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Biến lời nói trên thành hành động cụ thế, quân và dân Hà Nội đã chuẩn bị mọi mặt nhằm chống lại những cuộc tập kích đường không của Mỹ, đặc biệt là trong 12 ngàv đêm cuối tháng 12 năm 1972. Nhờ tổ chức chu đáo, đồng bộ hệ thống các lưới lửa bắn máy bay, công tác sơ tán, công tác phòng không nhân dân và công tác khắc phục hậu quả nên đã hạn chế tổn thất về người tới mức thấp nhất. Không những thế, Hà Nội còn bắn rơi một số lượng đáng kể máy bay chiến thuật và chiến lược của Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái, làm suy giảm nghiêm trọng uy danh không lực Hoa Kỳ. Trong số đó có 25 máy bay B52, chiếm 73,5% tổng số máy bay B52 bị hạ trong đợt tập kích đường không chiến lược này.


Chính Tổng thống Nichxơn đã phải thú nhận trong hồi ký của mình: "Điều lo ngại chính của tôi trong tuần lễ ném bom đầu tiên không phải là những đợt phản đối gay gắt ở trong nước và trên thế giới, điều này đã được dự tính mà chính là thiệt hại nặng nề về B52".


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Ba, 2022, 07:12:53 am
NHÂN DÂN - THUỘC TÍNH VĨNH HẰNG CỦA QUÂN ĐỘI TA


Ai cũng biết, quân đội ta sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Nội dung cội nguồn này đã được bàn đến nhiều lần, ở những góc độ khác nhau. Bài viết này xin được tiếp cận phạm trù nhân dân từ góc độ thuộc tính.


1. TỪ TỰ VỆ ĐỎ ĐẾN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

Tính từ ngày 22 tháng 12 năm 1944, ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành quân đội ta đã lần lượt mang theo các tên gọi: Giải phóng quân, Vệ quốc đoàn, Quân đội quốc gia và Quân đội nhân dân.


Giải phóng quân là tên gọi theo nhiệm vụ đánh đuổi quân xâm lược ra ngoài lãnh thổ trong những thời kỳ đặc biệt của đấu tranh vũ trang cách mạng ở nước ta. Để đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị Tổng khỏi nghĩa. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, họp vào tháng 4 năm 1945, tại Bắc Giang, đã quyết định thống nhất Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cùng các tổ chức vũ trang khác, thành lập Việt Nam giải phóng quân vào ngày 15 tháng 5 năm 1945, tại làng Quặng (xã Định Biên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên). Hay để tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời hợp pháp hóa một bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chiến đấu từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tháng 1 năm 1961, Tổng Quân uỷ ra chỉ thị thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.


Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thành lập, đến giữa tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng Việt Nam giải phóng quân và đổi tên thành Vệ quốc đoàn - nghĩa đen là "đoàn thể bảo vệ Tổ quốc" - một tên gọi "ngụy trang" nhằm thực hiện chính sách mềm dẻo, khôn khéo né tránh sự khiêu khích, xung đột với quân Đồng minh, cụ thể là quân Tưởng đang có mặt ỏ nước ta lúc bấy giờ.


Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh đổi tên Vệ quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam. Đây là bản sắc lệnh đầu tiên cho việc xây dựng quân đội chính quy của một quốc gia độc lập. Khi chưa giành được chính quyền, quân đội là công cụ của Đảng, một tổ chức quần chúng vũ trang đặc biệt, cùng với toàn dân đấu tranh giành chính quyền. Khi đã giành được chính quyền, quân đội trở thành một bộ phận cấu thành của nhà nước. Vì vậy tên gọi tất yếu phải thay đổi cho phù hợp với tình hình nhằm xác định rõ quân đội là một công cụ chuyên chính bạo lực của nhà nước, làm nhiệm vụ bảo vệ Tố quốc.


Khi quân đội ta được Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng, họp tại Tuyên Quang, tháng 2 năm 1951, quyết định đổi tên thành Quân đội nhân dân thì từ đó bên cạnh chức năng giữ nước, danh xưng này mới phản ánh đúng thuộc tính nhân dân của một quân đội cách mạng.


Để hiểu rõ bản chất, một phạm trù gắn chặt với thuộc tính của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta hãy ngược dòng thời gian tìm về những đội "tự vệ công nông" xuất hiện từ trong phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930 - 1931.


Sở dĩ những đội tự vệ này ra đời là do yêu cầu chống khủng bố, bảo vệ sự nghiệp đấu tranh của quần chúng. Vì vậy, chúng còn được mang tên là "tư vệ đỏ” - bảo vệ màu cờ của Đảng. Ngay trong mục đích tổ chức đội tự vệ. Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng, họp tại Ma Cao, Trung Quốc, tháng 3 năm 1935 đã nêu rõ: "1 - Ủng hộ quần chúng hàng ngày. 2 - Ủng hộ quần chúng trong các cuộc tranh đấu. 3 - Ủng hộ các cơ quan cách mạng và chiến sĩ cách mạng của công nông. 4 - Quân sự huấn luyện cho lao động cách mạng. Chống quân thù giai cấp tấn công và làm cho vận động cách mạng phát triển thắng lợi".


Thực tiễn hoạt động của các đội tự vệ đỏ cho thấy, khi chính quyền Xô-viết chưa thành lập, lúc có đấu tranh, đội tự vệ bảo vệ các cuộc mít-tinh, biểu tình của quần chúng, lúc thường thì tổ chức luyện tập, bàn kế hoạch bảo vệ các cuộc đấu tranh. Khi chính quyền Xô-viết được thành lập, Ban chấp hành Nông hội đỏ đã sử dụng đội tự vệ làm công cụ trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trật tự an ninh ở nông thôn và chống địch khủng bố. Khi cách mạng đi vào thoái trào, cơ quan và cán bộ rút vào rừng núi, tự vệ đỏ vẫn tiếp tục hoạt động như canh gác báo vệ cơ quan và cán bộ, rải truyền đơn, cảnh cáo bọn hào lý. Có thể xem những đội tự vệ này là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng đặt dưới sư lãnh đạo của Đảng và gợi ý cho chúng ta liên tưởng đên hình thức các đội "dân cảnh", những tổ chức quân sự "tự động" của toàn dân như Ph. Ăngghen đã nói.


Chính từ những kinh nghiệm thực tiễn sau hai năm đấu tranh (1930 - 1931), các đội tự vệ đã tạo điều kiện giúp Đảng ta đề ra được những nguyên tắc, làm cơ sở đầu tiên đê xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân sau này.


Trong những nguyên tắc xây dựng đội tự vệ, một nội dung rất được nhấn mạnh là phải giữ quan hệ mật thiết với quần chúng: "Đội tự vệ tổ chức và phát triển mật thiết liên lạc với quẩn chúng. Hàng ngày, tự vệ phải chăm lo tranh đấu, ngăn cản bọn thù giai cấp, nhũng nhiễu công nhân, nông dân. Đội tự vệ phải hết sức ủng hộ quần chúng lao động trong các cuộc bãi công, mít-tinh, thị uy, kháng sưu, kháng thuế, bãi thị...".


Tuy thế, cũng cần thấy rõ, đội tự vệ chưa phải là đội du kích. Về điểm này, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ nhất giải thích: "Công nông tự vệ đội phân biệt với du kích đội. Nó cũng không phải là Hồng quân. Hồng quân, du kích đội không phải bao giờ muốn tổ chức thì tổ chức được ngay, còn đội tự vệ, hễ có cách mạng vận động, dù yếu mấy cũng có thể và cần phải tổ chức ngay. Tự vệ đội càng mạnh thì tức là có điều kiện thuận tiện để sau này tổ chức du kích chiến tranh, vũ trang bạo động, Hồng quân". Bởi một lẽ đơn giản là tình hình chính trị - xã hội của chín năm (1930 - 1939) lúc bấy giờ chưa đủ điều kiện để đội du kích xuất hiện, cách mạng Việt Nam chỉ mới đạt tới thời kỳ hình thành các lưc lượng vũ trang của Đảng.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Ba, 2022, 07:13:24 am
Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thời kỳ chiến tranh và cách mạng bắt đầu (1939 - 1945). Khi phát-xít Nhật lợi dụng cơ hội Pháp thua Đức, tháng 9 năm 1940, Nhật xâm lấn vào Đông Dương, đã dẫn tình thế cách mạng Việt Nam đi vào thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang (1941 - 1945). Đây cũng là thời kỳ hình thành những đội du kích, những đội vũ trang cách mạng trên đất nước ta. Chẳng hạn như Đội du kích Bắc Sơn, hình thành trên cơ sở cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (ngày 27 tháng 9 năm 1940); Quân du kích Nam Kỳ, hình thành trên cơ sở cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (ngày 23 tháng 11 năm 1940); Đội vũ trang Cao Bằng ra đời tháng 11 năm 1941; Đội du kích Ba Tơ ra đời tháng 3 nám 1945, ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp một ngày.


Đội du kích Bắc Sơn, đứa con đầu lòng của lực lượng vũ trang cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, được chính thức thành lập ngày 14 tháng 2 năm 1941 tại rừng Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn). Toàn đội gồm 37 chiến sĩ với số vũ khí là 15 súng trường, 10 súng kíp và gươm giáo. Thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã đến giao nhiệm vụ và trao lá cờ đỏ sao vàng.


Sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, ngày 19 tháng 5 năm 1941. Mặt trận Việt Minh ra đời, các tổ chức trong mặt trận đêu có tên gọi là hội cứu quốc. Do đó. vào cuối tháng 5 năm 1941, đội du kích Bắc Sơn được đổi tên thành đội Cứu quốc quân (thường gọi là Cứu quốc quân I) cho phù hợp với nhiệm vụ mới, do đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Tri làm chính trị viên. Ngay sau khi thành lập, đội Cứu quốc quân I đã phải chiến đấu liên tục từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7 năm 1941, chống lại cuộc càn quét lớn của thực dân Pháp vào cản cứ và bị tổn thất nặng.


Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 15 tháng 9 năm 1941, tại rừng Khuôn Mánh (xã Tràng Xá, châu Vũ Nhai, tỉnh Thái Nguyên), đội Cứu quốc quân II được thành lập, gồm 47 chiến sĩ (3 nữ), do đồng chí Chu Văn Tấn làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Cao Đàm làm chính trị viên. Hơn một tháng sau, vào cuối tháng 10 năm 1941, quân số của đội tăng lên 70 người, đồng chí Đào Văn Trường, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Cao Đàm làm chính trị viên. Vũ khí trang bị gồm 4 súng ngắn, 32 súng trường và một số súng khai hậu, súng kíp. Tuy phải chiến đấu vất vả giữa vòng vây của quân thù nhưng đội Cứu quốc quân II cũng đã gây cho địch nhiều thiệt hại. Tuy vậy, đến tháng 2 năm 1942. thực dân Pháp tập trung lực lượng mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ Võ Nhai. Để bảo toàn lực lượng, tránh tổn thất cho nhân dân, đại bộ phận Cứu quốc quân II đã rút khỏi vòng vây của địch, lên vùng rừng núi biên giới Việt - Trung lập căn cứ, tạo bàn đạp, chờ thời cơ trở về xây dựng lực lượng: còn một bộ phận nhỏ ở lại, phân tán vào trong mường bản, tích cực làm công tác tuyên truyền, tiếp tục gây dựng cơ sở.


Cho đến cuối năm 1943, con đường "quần chúng cách mạng" nối liên từ khu căn cứ Cao Bằng đến khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai đã hình thành, tạo được điều kiện thuận lợi cho Cứu quốc quân II mở rộng địa bàn chiến đấu sang vùng Tuyên Quang. Vì vậy tháng 2 năm 1944, đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung ương Đảng, đã đến Tuyên Quang chỉ đạo Cứu quốc quân II hoạt động. Đến ngày 25 tháng 2 năm 1944, tại rừng Khuổi Kịch (châu Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), trước sự chứng kiến của đồng chí Hoàng Quốc Việt, đội Cứu quốc quân III được thành lập gồm 30 chiến sĩ, do đồng chí Triệu Khánh Phương làm chỉ huy trưởng, đồng chí Phương Cương làm chính trị viên. Vừa mới ra đời, đội Cứu quốc quân III đã tích cực hoạt động. Địa bàn giành giật với địch được tỏa rộng từ vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) đến Bắc Cạn và các huyện Định Hóa, Chợ Chu, Đại Từ (Thái Nguyên) rồi lan nhanh tới nhiều vùng thuộc tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn, đã tạo nên một khí thế cách mạng sôi nổi trong cao trào kháng Nhật cứu nước cho đến tận cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.


Vào những năm 1941 - 1945, cán bộ, chiến sĩ các đội Cứu quốc quân I, II, III đã nêu gương sáng về tinh thần khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, ngoan cường chiến đấu, không ngừng lớn mạnh, cùng với đà phát triển chung của cách mạng, xứng đáng là những đội quân tiên thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến tháng 4 nàm 1945, để đẩy mạnh việc chuẩn bị tổng khỏi nghĩa, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đã quyết định hợp nhất Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cùng với các tổ chức vũ trang khác thành Việt Nam giải phóng quân.


Trong 21 năm (1930 - 1951), kể từ khi hình thành đội Tự vệ đỏ đến khi xuất hiện tên gọi Quân đội nhân dân, quá trình ra đời và phát triến của các lực lượng vũ trang cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng được chia làm ba thời kỳ nhỏ:


Thứ nhất là thời kỳ hình thành các lực lượng vũ trang (tháng 9 năm 1930 đến tháng 9 năm 1939). Đó là thời kỳ xuất hiện các đội tự vệ công nông, tự vệ đỏ.


Thứ hai là thời kỳ chiến tranh và cách mạng nói chung (tháng 9 năm 1939 đến tháng 8 năm 1945) và cũng là thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang nói riêng. Đó là thời kỳ ra đời của các đội du kích, đội vũ trang, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội Việt Nam giải phóng quân.


Thứ ba là thời kỳ xác lập quân đội của Nhà nước, của dân tộc và của nhân dân (tháng 8 năm 1945 đến tháng 2 năm 1951) với những tên gọi khác nhau: Vệ quốc đoàn, Quân đội quốc gia, Quân đội nhân dân trong cái tên gọi chung là "Bộ đội Cụ Hồ".


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Ba, 2022, 07:14:08 am
2. NHÂN DÂN - THUỘC TÍNH VĨNH HẰNG CỦA QUÂN ĐỘI TA

Như trên đã trình bày, cho đến khi quân đội ta có tên gọi là Quân đội nhân dân Việt Nam thì danh xưng này, về phương diện ngôn ngữ mới chỉ ra đúng thuộc tính nhấn dân của nó.

Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, thuộc tính là "đặc tính vốn có của sự vật, nhờ đó, sự vật tồn tại và qua đó, người ta nhận thức được sự vật, phân biệt nó với sự vật khác".

Màu sắc là thuộc tính của hoa. Nhờ màu sắc mà hoa tồn tại và cũng từ đó, người ta có thể phân biệt, so sánh các loài hoa với nhau. Thuộc tính của nước nói chung là thể lỏng, trong suốt, không màu sắc, không mùi vị. Nếu ở thể hơi đó là hơi nước, ở thể rắn đó là băng, tuyết, là nước đá. Nếu không trong suổt hoặc có màu sắc, có mùi vị, có thể là giấm, là dầu, là rượu... sở dĩ nước tồn tại được chính là do những thuộc tính trên.


Trong quá trình hình thành và phát triển của quân đội ta, thuộc tính nhân dân đã có một vai trò cực kỳ to lớn.

Trước hết, nhờ thuộc tính nhân dân (về phía chủ quan) mà quân đội ta đã tồn tại và trưởng thành trong chiến đấu. Thật vậy, lấy nhân dân làm điểm xuất phát cho mục đích tổ chức quân đội, đầu năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ việc “tổ chức quân đội công nông”. Ở đây, cần chú ý một điểm là công cụ bạo lực để tiến hành cách mạng vô sản lẽ ra phải là một quân đội vô sản. Phạm trù quân đội bao giờ cũng gắn liển với phạm trù giai cấp, chỉ phụ thuộc vào một giai cấp nhất định. Bản chất quân đội thể hiện rõ bản chất của chính giai cấp đã tổ chức, xây dựng và lãnh đạo quân đội đó. Song vấn đề đặt ra là cần phải tổ chức một quân đội công nông, một quân đội mà tuyệt đại đa số thành phần đều xuất thân từ giai cấp công nhân và nông dân lao động - những người luôn bị áp bức, bóc lột trong chế độ cũ. Vì vậy, quân đội đó phải là một quân đội công nông, mang bản chất của giai cấp công nhân và mang tính nhân dân sâu sắc. Điều này, trong bản tham luận tại Đại hội I Quốc tế nông dân, vào cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: "Cách mạng vô sản không thể thắng lợi được ở những nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu giai cấp vô sản không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực”. Tiếp đó, trong tác phẩm "Công tác quân sự của Đảng trong nông dân", Người phân tích sâu hơn: "Một phong trào cách mạng quan trọng trong nông dân, nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang (tức là những hoạt động quân sự có thực của các đội du kích nông dân) chôống lại chính quyền của bọn địa chủ, quân đội Chính phủ...". Sự chỉ đạo đúng đắn đó đã tạo cho quân đội ta một tính cách: vừa mang bản chất giai cấp công nhân rõ rệt, vừa phản ánh trung thành những nét riêng về sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam, một cộng đồng người mà cư dân nông nghiệp chiếm tới 80 - 90%.


Để thực hiện tư tưởng này, Nguyễn Ái Quốc đề ra chủ trương đoàn kết hết thảy mọi tầng lớp người yêu nước trên khắp mọi miền của đất nước và xem đó là lực lượng cách mạng vô cùng hùng hậu. Từ chủ trương trên, tháng 10 năm 1930. Hội nghị Trung ương Đảng đã quyết nghị vể nhiệm vụ trước mắt trong công tác xây dựng lực lượng vũ trang là "phải thu phục được quảng đại quần chúng để làm cho cuộc bạo động tương lai được thắng lợi”. Như vậy là ngay từ đầu, kể cả phía chủ trương tuyển mộ, xây dựng cũng như phía tình nguyện góp sức tham gia, cả hai đều ra sức tô đậm thuộc tính nhân dân của quân đội ta. Có thể nói, dòng chảy hình thành quân đội ta được tuôn trào mạnh mẽ từ cội nguồn vô tận là nhân dân.


Thế nhưng "thu phục quảng đại quần chúng" không giản đơn là một việc làm ồ ạt theo kiểu "đánh trống ghi tên", mà những chiến sĩ cầm vũ khí chiến đấu dưới lá cờ giải phóng dân tộc nhất thiết phải là những người có giác ngộ chính trị cao, phải thấm sâu chủ nghĩa yêu nước, sẵn sàng quên mình, xả thân cho độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội ta: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng mà có hại". Thực chất, lời căn dặn đó là việc tổ chức lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang không thể không dựa han vào sự giác ngộ sâu sắc về chính trị - cụ thể là giác ngộ về chủ nghĩa yêu nước - một nét đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa quân sự nói riêng của quần chúng cách mạng.


Trong cao trào 1930 - 1931, từ sự giác ngộ cao về chính trị mà các đội tự vệ công nông mới ra đời, đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Chỉ riêng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, vào thời điểm đó đã có khoảng 3.000 người xin gia nhập các đội tự vệ đỏ. Sau này khi quyết định thành lập đội vũ trang đầu tiên ở Cao Bằng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ thị: "Muốn có đội vũ trang mạnh, trước hết phải có đội tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững. Vì vậy, phải ra sức tuyên truyền, vận động quần chúng làm cách mạng". Khi thành lập Đội quân chủ lực đầu tiên, Người đặt tên là "Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân", đề ra phương châm xây dựng và hoạt động là "chính trị trọng hơn quân sự", "tuyên truyền trọng hơn tác chiến". Sau này, khi quân đội ta đã trương thành, Người vẫn xác định bên cạnh chức năng chiến đấu cơ bản là vẫn song song hai chức năng khác là công tác và sản xuất, sở dĩ như vậy, vì quân đội ta là một tổ chức vũ trang, vốn sinh ra từ nhân dân để chống lại kẻ thù xâm lược và bảo vệ nhân dân. Cho nên muốn tồn tại, quân đội ta phải tự tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trong nhân dân. Đấy thực sự là một quân đội kiểu mới của Đảng, được xây dựng, phát triển và chiến đấu theo nguyên lý xây dựng quân đội mang bản chất giai cấp công nhân, đậm đà tính dân tộc và sâu sắc tính nhân dân.


Thế nhưng, quá trình hình thành và phát triển quân đội ta vốn không phải là một quá trình xây dựng trong điều kiện hòa bình như hầu hết các quân đội trên thế giới, mà đó là một quá trình liên tục tham gia các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lâu dài và gian khổ trong hoàn cảnh chung của đất nước là luôn luôn phải "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu chống mạnh". Như Ph.Ăngghen đã từng nói: "Một quân đội nhỏ yếu có thể đương đầu thắng lợi với một quân đội mạnh để giành độc lập, nhất thiết không được giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường mà phải là khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích mọc lên khắp nơi". Trong 30 năm chiến tranh giải phóng vừa qua, sở dĩ quân đội ta đã lập nên những chiến công hiển hách "chấn động địa cầu", đã đưa dân tộc Việt Nam trở thành "lương tri của thời đại", chính là đã biết tiến hành du kích chiến kết hợp với vận động chiến, chiến tranh tại chỗ kết hợp với chiến tranh cơ động mà sự thể hiện là hai phương thức tiến hành chiến tranh: chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh của các binh đoàn chủ lực. Trong nội dung của hai phương thức này, phương thức thứ nhất làm nhiệm vụ tiêu hao, mài mòn quân xâm lược, làm cơ sở để phương thức thứ hai tiến lên, giáng đòn tiêu diệt lớn, giành chiến tháng quyết định.


Tiêu đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Gửi bởi: ktqsvn trong 17 Tháng Ba, 2022, 07:14:36 am
Nguyên lý về hai phương thức tiến hành chiến tranh đã quy định nguyên lý về ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Tác chiến như thế nào, tổ chức, sử dụng lực lượng như thế ấy. Điều mà chỉ riêng ở Việt Nam, chưa hề một nước nào trên thế giới có hệ thống lực lượng vũ trang khác lạ như vậy.


Khái niệm "ba thứ quân" lần đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (tháng 5 năm 1941): đội quân chủ lực trực tiếp vũ trang chiến đấu với quân thù là đội du kích chính thức, dưới nó là tiểu đội du kích cứu quốc và đội tự vệ cứu quốc. Ngày 21 tháng 12 năm 1941, Trung ương Đảng lại nhắc nhở các địa phương phải ra sức mở rộng và củng cố các đội tư vê, qua đó, lựa chọn ra những đội viên ưu tú để phát triển thành các tiểu đội du kích. Bởi vì lúc này, tiểu đội du kích là hình thức mấu chốt để tiến lên đội du kích chính thức. Trong Chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa (ngày 7 tháng 5 năm 1941), Tổng bộ Việt Minh cũng nêu rõ hình thức ba thứ quân là Bộ đội du kích, Tiểu tổ du kích và Đội tự vệ cứu quốc. Đến tháng 12 năm 1944, tư tưởng "ba thứ quân" lại được nêu lên một cách đậm nét trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân: "Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, cần phải động viên toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực, trái lại có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên". Và như đã biết, 5 năm sau, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hệ thống "ba thứ quân" được tổ chức một cách hoàn chỉnh. Tư tương quân sự về hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang này đã phản ánh rõ một truyền thống văn hóa quân sự Việt Nam là muốn chiến thắng quân xâm lược, việc tiến hành chiến tranh không chỉ riêng quân đội mà còn phải có cả sự tham gia phối hợp rộng rãi của quần chúng vũ trang ở khắp mọi miền.


Khái quát lại, chúng ta có thể tự hào rằng 60 năm qua, thuộc tính nhân dân đã làm cho quân đội ta không những tồn tại mà còn trưởng thành và chiến thắng oanh liệt mọi đạo quân xâm lược trên cơ sở đoàn kết, gắn bó, hòa quyện với dân tộc, với nhân dân. Mối quan hệ keo sơn đó đã được người Việt Nam hóa thành biểu tượng "tình cá nước" - một biểu tượng văn hóa quân sự vừa đúng đắn, chính xác về mặt chính trị - xã hội, khoa học lại vừa đẹp tươi, rạng rỡ về mặt văn học, nghệ thuật.


Bên cạnh đó, về phía khách quan, thuộc tính nhân dân còn giúp mọi người dễ dàng nhận thức được quân đội ta và phân biệt nó với các kiểu loại quân đội khác. Nếu như quân đội "do Nhà nước xây dựng nên để dùng vào cuộc chiến tranh tiến công (tức chiến tranh xâm lược) hoặc chiến tranh phòng ngự (tức chiến tranh giữ nước)" như Ph. Ăngghen định nghĩa thì rõ ràng, quân đội ta được xếp vào kiểu loại quân đội thứ hai.


Nhưng đâu phải khi được dùng vào chiến tranh xâm lược, các quân đội đó mới trở thành kẻ thù của nhân dân các nước mà ngay từ khi ra đời, các quân đội này cũng đã là sự đối lập ghê gớm với nhân dân trong nước. Ph. Ăngghen từng nhận xét quân đội tư sản là "công cụ áp bức khủng khiếp đối với nhân dân". V.I. Lênin cũng cho rằng: "Quân đội của Nga hoàng... là những tên đao phủ đối với tự do của nhân dân".


Ngày nay, trong quân đội viễn chinh Mỹ, lao động chiến đấu đang là một thứ hàng hóa được mua bán sòng phẳng đối với những người lính lê dương. Vì họ không hề có mục tiêu chiến đấu nên một trong những yếu tố cơ bản nhằm khích lệ, hấp dẫn thanh niên gia nhập quân đội là ban thương vật chất, là hậu hĩ lương bổng để hướng những người lính đánh thuê đó vào những cuộc chiến tranh đàn áp đẫm máu. Quân đội đó tuy cũng từ nhân dân nhưng đâu có tính nhân dân.


Hãy làm một sự so sánh sơ bộ trong lịch sử quân sự dân tộc cũng thấy ngay rằng thuộc tính nhân dân đã làm cho quân đội ta khác hẳn mọi quân đội ra đời từ trước đó. Bởi lẽ, bản chất quân đội nào cũng mang theo trọn vẹn những đặc điểm của giai cấp đã sản sinh ra nó. Dù mang đậm tính dân tộc trong sự nghiệp chống ngoại xâm lâu dài nhưng quân đội các triều đại phong kiến chân chính tiến bộ ở nước ta không bao giờ bỏ qua tính giai cấp trong việc bảo vệ quyền lợi riêng của giới cầm quyền. Quân đội nhà Trần tuy hầu hết là nông nô, nô tì nhưng trước sự xâm lược của quân Mông - Nguyên cùng với sự thành công lớn trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, họ vẫn còn có chức năng là bảo vệ ruộng đất cho giai cấp quý tộc. Trong bài Dụ chư tì tướng hịch văn (thường gọi là Hịch tướng sĩ), Trần Quốc Tuấn - người anh hùng dân tộc ở thế kỷ XIII - đã nói rõ với những người chỉ huy quân sự cấp dưới: "Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng về tay kẻ khác". Hay như một quân đội được hình thành từ nghĩa quân Lam Sơn trên cơ sở "manh lệ" như quân đội nhà Lê nhưng về sau rồi cũng đi tới chỗ chống lại sự phản kháng của quần chúng nông dân bị áp bức.


Đến thời cận đại, để chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp, các đội nghĩa quân của Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Hoàng Hoa Thám cho đến nghĩa quân Việt Nam quốc dân đảng của Nguvễn Thái Học... đều tìm cách kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của các bậc tiền bối nhưng cuối cùng vẫn thất bại vì đã chiến đấu trong sự cách biệt với nhân dân.


Gần đây nhất, trong 30 năm chiến tranh giải phóng vừa qua đã ra đời những loại ngụy quân của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, được mệnh danh là "quân đội quốc gia". Về thực chất, các quân đội đó là công cụ tay sai, mang đầy đủ tính chất của giai cấp tư sản xâm lược, chống lại độc lập dân tộc thì làm sao có được tính nhân dân?


Chỉ có một quân đội suốt 60 năm chiến đấu trưởng thành, được xây dựng dưới sư lãnh đạo củạ Đảng vô sản và có quan hệ máu thịt với quần chúng, đã hành động hêt mình cho chủ nghĩa yêu nước, cho nền văn hóa dân tộc như Quân đội nhân dân Việt Nam thì tính nhân dân mới thăng hoa và trở thành một thuộc tính. Và cũng chỉ có "Bộ đội Cụ Hồ" - một biểu tượng văn hóa quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam - mới thể hiện thuộc tính này một cách trung thành rõ rệt, chính xác, hoàn mỹ và đi tới độ vĩnh hằng.