|
Tiêu đề: Những đứa con thân yêu Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 09:59:45 am Tên sách: Những đứa con thân yêu
(Viết về cán bộ và chiến sĩ của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II) Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Năm xuất bản: 1993 (https://i.imgur.com/4zX72Ta.jpg) LỜI GIỚI THIỆU Trong thời kỳ kháng chiến của nhân dân ta chống đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954), Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II đã từ Thái Lan hành quân về chi viện Nam bộ kháng chiến, được phân công hoạt động, chiến đấu tại tỉnh Bạc Liêu (nay là Tỉnh Minh Hải). Ngoài hàng chục trận chiến đấu quyết liệt với quân địch do Pháp chỉ huy, khi đơn vị hành quân qua Tây Nam Campuchia, đơn vị đã cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Bạc Liêu đánh thắng nhiều trận, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, góp phần bảo vệ và củng cố vùng giải phóng, được nhân dân hết lòng thương yêu, giúp đỡ. Đến nay, đã trên 40 năm trôi qua, nhưng thần và ý chí chiến đấu kiên cường mãnh liệt, tất cả vì Độc lập - Tự do của Tổ quốc Việt Nam của những chiến sĩ Hải ngoại Cửu Long II vẫn mãi mãi ghi sâu trong lòng nhân dân tỉnh Minh Hải - Khu 9, và nhân dân cả nước. Đây là những trang viết chân thực của đồng chí Đào Mạnh Duệ, một người đã gắn bó với Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II từ những ngày đầu tiên. Với sự trân trọng của “người đang sống” đối với truyền thống chiến đấu anh hùng, bất khuất của quân và dân ta nói chung, của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II nói riêng, chúng tôi cho xuất bản tập sách “Những đứa con thân yêu” này. Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, xây dựng làm cho truyền thống của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II được phong phú và đầy đủ hơn. NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ CHÍ MINH. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:01:42 am VIỆT KIỀU THÁI LAN VÀ LÀO – NHỮNG TẤM LÒNG SON SẮT THỦY CHUNG NHỮNG NGÀY ĐẦU TIÊN Hai anh Vũ Huy Liệu và Đào Mạnh Duệ cùng học một khóa ở Phnôm-Pênh (Cao Miên). Trước cảnh các công chức người Việt Nam và Cao Miên thường bị những tên xếp Pháp hống hách quát tháo, thậm chí xé cả bản vẽ trước mặt những kỹ sư Việt Nam và Cao Miên, các anh rất căm giận. Anh Liệu trước là học sinh trường Trung Học Pavi Viettiane (Collèje - Pavi). Chú là Vũ Hữu Bỉnh - Quản Bỉnh khố xanh - (Adjudent), năm 1941, đã bí mật tổ chức đưa một trung đội khố xanh ở Viêntiane trốn sang Siam (Thái Lan) để rồi trở về đánh Pháp. Còn anh Duệ thì gia đình cha mẹ ở Sài Gòn, cùng hoàn cảnh với anh Liệu. Từ tình bạn rất thân thiết, các anh đã dần dần thổ lộ cho nhau tư tướng ghét Pháp, chống Pháp, rồi cùng nhau bỏ học, ra đi tìm đường cứu nước. Quân đội Nhật từ Sài Gòn tiến sang Phnôm-Pênh rồi qua Siam, đi tiếp đến các nước khác phối hợp hải lục không quân đánh chiếm lại các nước thuộc địa và bán thuộc địa từ tay các đế quốc Anh, Pháp ở Thái Bình Dương, với khẩu hiệu: “Đông Nam Á của người Đông Nam Á”. Hai anh đã bỏ học, cùng nhau bí mật trốn gia đình đi lên Vientiane (Lào) và sang Siam gặp anh Vũ Hữu Bỉnh để trở về Việt Nam đánh Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc. Ngài 20-11-1944, anh Duệ cùng anh Yên (bạn anh Liệu) xuống tàu đi trước. Anh Liệu ở lại tổ chức đám cưới với chị Bắc tại Cầu Lầu và đi lên Vientiane sau một tuần. Hai anh đi tàu thủy ngược dòng Mêkông, lên đến Vơn Khăm, Kỳ Nặc (Thác Khôn) thì lên đi xe ô tô hành khách tới Paksê, rồi lại xuống tàu thủy. Cuộc đi ròng rã mất 24 ngày đêm qua Vơn Khăm, Kỳ Nặc, Savanakhet. Tới Vientiane, các anh ở tại một gia đình cơ sở cách mạng (nhà bà con của anh Vũ Huy Liệu) tại xóm Thạt Luổng. Sau một tuần lễ ẩn náu các anh chị được cơ sở bí mật thuê xe ngựa chạy đến cách bến phà Thà Đừa độ 3 cây số thì xuống xuồng, gấp rút vượt sông Mêkông, sang thị xã Noỏng Khay (Thái Lan). Khoảng 10 sáng ngày 2-1-1945, các anh tới Thái Lan, ghé thăm một gia đình làm đinh. Đó chính là gia đình anh Đỉnh. Có nhiều Kiều bào sinh sống ở Noỏng Khay. Khi gặp các anh, kiều bào rất vui mừng. Hội Việt kiều cứu quốc Noỏng Khay điện ngay cho anh Vũ Hữu Bỉnh. Từ tỉnh Oudon (cách Noỏng Khay 50km) anh đi xe nhà binh tới gặp chúng tôi. Anh Bỉnh rất mừng gặp được người cháu ruột. Ngày 3-1-1945, anh Vũ Hữu Bỉnh với quân phục và quân hàm quan hai bộ binh Siam (chính phú Siam đặt tên cho anh Vũ Hữu Bỉnh là “Loi Thô Bin, phắc đi Thay” tức là quan hai Bỉnh tốt với Thái Lan). Anh nói tiếng Siam như người Siam và nói khá thành thạo tiếng Pháp. Anh Bính đưa hai anh vào một cơ quan của tỉnh Noỏng Khay, nhận với nhà chức trách Thái Lan: Anh Vũ Huy Liệu là cháu ruột, còn anh Duệ (đổi họ Vũ là em ruột anh Bính) Sáng 4-1-1945, chúng tôi lên xe đi vô tỉnh Oudon, nơi anh Bỉnh làm việc. Sau đó về nhà riêng anh chị Bỉnh. Anh chị có hai cháu. Cháu gái tên là Nú, 5 tuổi (tên Việt Nam là Vũ Thị Dao) và cháu trai tên là Oudon Vũ Hữu Hùng, 1 tuổi. Sáng hôm sau hai anh được các anh lãnh đạo Hội Việt kiều cứu quốc Siam tới thăm. Tất cả đều rất mừng vui khi thấy có hai học sinh trốn Pháp sang Siam. Các ngày tiếp theo, chúng tôi được đưa đi thăm nơi làm việc của Hội Việt kiều cứu quốc tỉnh Oudon. Còn trụ sở của Tổng hội Việt kiều cứu quốc Siam thời kỳ này đóng tại nhà anh chị Bỉnh ở Noỏng Bua. Sàn nhà bằng gỗ, có buồng và một radio có 2 tai nghe để nghe tin tức thời sự trong nước và thế giới. Anh Nguyễn Văn Long (trong Ban lãnh đạo Tổng hội Việt kiều) thường trực nghe đài hằng ngày ghi và nói lại toàn bộ tin tức cho mọi người nghe. Thời gian ấy chỉ yếu là nghe tin đánh Pháp, Nhật ở trong nước và tin Hồng quân Liên xô đánh lui quân phát xít Đức trên đất Liên Xô. Các anh Nguyễn Văn Chấn, Bí thư Tổng hội Việt Kiều Cứu quốc Thái Lan và Nguyễn Văn Long giải thích cho chúng tôi hiểu cả Pháp lẫn Nhật đều là đế quốc xâm lược và nhân dân ta cũng như nhân dân Lào, Cao Miên cần phải đánh đổ chúng để giành lại độc lập tự do cho từng nước. Chúng tôi còn được các anh cho biết: tất cả các tỉnh ở Siam, Lào, nơi nào có nhiều Việt kiều thì nơi ấy có tổ chức cách mạng, có các chi hội Việt kiều cứu quốc. Tổng hội Việt kiều cứu quốc Siam là chi nhánh của Tổng hội Việt Minh trong nước (Việt Nam Độc lập đồng minh). Thời gian ấy nhà anh chị Bỉnh chính là nơi làm việc bí mật của ban lãnh đạo Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan. (Noỏng Bua cũng là nơi Bác Hồ từng ở và hoạt động cùng các đồng chí cách mạng Việt kiều). Thấy anh Duệ mới tới, anh Nguyễn Văn Chấn, Bí thư Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan đã đọc tặng anh Duệ bài thơ “Nhớ mẹ”. Nội dung hai thơ thật phù hợp với anh Duệ trong những năm tháng xa cha mẹ và đứa em gái thân yêu của mình: NHỚ MẸ Con biết rồi đây mẹ khổ nhiều Thân con biệt tích cõi vô liêu Mẹ ngồi chờ đợi trong khuôn cửa Nước mắt dầm tuôn ướt lụa điều Con ra đi theo tiếng gọi của non sông Giữa lúc rầm tai tiếng hổ gầm Quyết lấy máu mình ra rửa nhục Cho hồn Tổ quốc sống giam cầm. Quyết chiếu cuốn phim sông Bạch Đằng Và làm sống lại trận Chi Lăng Con ôm mộng lớn noi gương sáng Nguyễn Huệ ngoài trong dẹp phẳng bằng Con dấn thân ra chốn hải hồ Mẹ đừng lầm tưởng sống bơ vơ Không bàn tay mẹ bàn tay dịu Đã có muôn tay đón sẵn chờ (ghi tại Noỏng Bua – Tỉnh Udon ngày 08/1/1945) Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:03:03 am Mười lăm ngày đầu tiên ở nhà anh chị Bính, hai anh Liệu, Duệ và một vài Việt kiều khác được hai anh Nguyễn Văn Chấn và anh Nguyễn Văn Long thay nhau giảng cho nghe những vấn đề chính trị cần thiết. Những bài chính trị đầu tiên mà hai anh được giảng giải là:
1 - Lịch sử tiến hóa nhân loại 2 - Lịch sử Cách mạng tư sản Dân quyền Pháp 1789 và cuộc Cách mạng phá nhà ngục Bastille ở Pháp. 3 - Lịch sử Việt Nam trên 4000 năm chống ngoại xâm và giữ nước. 4 - Lịch sử Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917 5 - Lịch sử Cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo từ những năm 1930 đến 1945. 6 - Phong trào cách mạng của Việt kiều Thái Lan và Lào. 7 - Chương trình Việt Minh (Việt Nam Độc lập đồng minh hội) chống đế quốc Nhật - Pháp. 8 - Chương trình, điều lệ tổ chức dân quân tự vệ, lực lượng võ trang tuyên truyền đánh Pháp - Nhật. 9 - Triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và triết học duy tâm luận của giai cấp tư sản. Những bài học đầu tiên ấy đã nâng trình độ chính trị chúng tôi lẽn một bước mới và là kim chỉ nam cho mọi công tác và chiến đấu của những năm tháng nối tiếp theo. Chúng tôi không bao giờ quên những bài học cơ bản đầu tiên ấy. Sau lớp học này, anh Vũ Huy Liệu được phân công công tác; anh Đào Mạnh Duệ cùng với anh Chanh (anh ruột chị Bỉnh) phụ trách một chiếc xe ngựa. Anh Chanh cầm cương xe ngựa, giỏi tiếng Lào và nói tiếng Thái như người Thái Lan. Anh Duệ làm phụ xe (ét) hướng dẫn hành khách lên xuống xe và thu tiền, vừa làm, vừa học tiếng Thái Lan. Xe dài ngoằng, có mui bằng gỗ, hai bánh gỗ bọc vành sắt, dùng đôi ngựa kéo. Trong xe có hai hàng ghế gỗ dài, mỗi bên ngồi được 5 người. Xe không cân bằng: khi hành khách ngồi nặng phía trên thì đít xe vổng lên. Ngược lại khi hành khách ngồi nặng phía sau thỉ hai càng xe vênh lên, ngựa hí ầm ĩ chạy qua, chạy lại, có khi chúng kéo chạy lung tung giữa sân, có lần kéo xe chạy luôn vào chợ, hành khách trên xe được một phen hết hồn vía. Hai anh em cố giữ cho ngựa đứng lại. Cũng may, chưa xảy ra tai nạn nào trong suốt 3 tháng làm xe ngựa. Không rõ ai mua mà lại mua ba con ngựa cái và một con ngựa đực. Cả 4 con đều chưa bao giờ kéo xe chở hành khách. Vậy là phải tập. Mấy ngày đầu, dùng hai cây tre cho ngựa, tập kéo trên bãi phẳng, đường vắng, Tập cho bốn con ngựa quen vai. Người cầm cương chạy theo ngựa để điều khiển. Khi thấy quen rồi mới lắp ngựa vào xe, cho chạy không tải. Sau đó mới tăng tải dần lên. Tới khi điều khiển được ngựa theo ý mình, lúc ấy mới dám đưa xe ra đón khách từ bến xe ô tô (giữa thị xã Ouđon) ra ga khoảng 4 km và đón khách đi xe lửa từ Băngkok ra Ouđon. Hai chúng tôi, một người điều khiển xe (anh Chanh), một người ét (phụ xe) bốc xếp hành lý và thu tiền. Hai anh em phải dậy từ 4 giờ sáng cho ngựa ăn uống 5 giờ sáng đánh xe ra bến ô tô. Chiều 5 giờ phải tắm rửa cho ngựa, cho chúng ăn no, rồi đóng hai con khác ra ga xe lửa đón khách từ Băngkok đến ga Oudon. Trời nắng, trời mưa, trời lạnh cũng phải đi. Hai anh em làm trong ba tháng trời, ngoài chi phí cho người và ngựa được bao nhiêu tiền đều đem nộp hết cho đoàn thể. Đến cuối tháng 3-1945, khi chiến khu Sakon thành lập, anh Vũ Huy Liệu và anh Duệ được chọn đi chiến khu. Chiếc xe ngựa chỉ còn lại anh Chanh quản. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:05:23 am CHIẾN KHU SAKON Chiến khu Sakon được thành lập trong vùng rừng núi tỉnh Sakon (cách thị xã Sakon 20 km). Bên cạnh là các chiến khu của quân du kích Thái Lan được thành lập để đánh Nhật. Chiến khu có 140 anh chị em (trong đó có 10 nữ). Đó là chị Phon, chị Huyền (vợ anh Long), chị Tuyết, chị Phượng, chị Mai, chị Kim, chị Phan Tường Vi v.v... Lực lượng vũ trang của ta lấy tên là “Việt Nam độc lập quân” với lá cờ đỏ sao vàng. Lãnh đạo chiến khu Sakon là các anh: Nguyễn Văn Chấn (Bí thư Tổng Hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan), anh Nguyễn Văn Long, Thường vụ. Hai anh Chấn và Long huấn luyện chính trị; anh Vũ Hữu Bỉnh phụ trách quân sự, giải quyết vũ khí cho chiến khu và chỉ huy huấn luyện quân sự. Ngoài ra còn có các anh Trần Hoàn (trước là đội khố xanh), anh Lê Quốc Sản (ở Savanakhét Lào), anh Nguyễn Văn Trung (ở Tha Khek Lào). Anh Trần Hoàn là đai đội trưởng, anh Lê Quốc Sản là chi ủy viên chi bộ chiến khu, trực tiếp làm trung đội trưởng, anh Vũ Huy Liệu làm trung đội phó, anh Đào Mạnh Duệ làm tiểu đội trưởng. Cuối tháng 3-1945, chiến khu Sakon được thành lập. Việt kiều trên đất Thái Lan và Lào gửi cho tiền bạc, lương thực, thực phẩm, và nhiều đồ dùng, thuốc men khác. Nhân dân Thái Lan ở vùng này còn giúp đỡ nhiều thứ: Dành cho hai ngôi trường học lớn (nhà sàn) để ở và làm hội trường. Anh em chỉ làm thêm nhà bếp, nhà ăn, phá rừng làm sân tập luyện quân sự. Chiến khu Sakon là niềm tin, là tình đoàn kết gắn bó, được sự nuôi dưỡng của Việt kiều yêu nước, của Đảng Thái tự do (Séri Thay) và của nhân dân Thái. Việt kiều gửi một số súng trường Pháp (Mousqueton). Ngoài ra, Việt kiều ở Vientiane còn đào một hầm, lấy được một số tiểu liên Sten và nhiều đạn dược (do quân Pháp chôn cất trước khi quân Nhật tới). Những vũ khí bạn cho mượn như: súng Thompson Submatchin, tiểu liên Sten, Cabine, trung liên Anh (FM), một số khẩu súng sáu (Rouleau Mỹ). Việc ngoại giao với chiến khu bạn để mượn các loại vũ khí do anh Vũ Hữu Bỉnh phụ trách. Hầu như ai cũng biết tháo lắp và sử dụng được các loại vũ khí hiện có. Mọi người được luyện tập chiến đấu. Chỉ huy quân sự vừa là huấn luyện viên quân sự là các anh Vũ Hữu Bỉnh, Trần Hoàn và một số anh em đã từng là cai, là đội lính khố xanh, khố đỏ của Pháp trước đây. Có lần, chúng tôi thấy mót số cán bộ, chỉ huy chiến khu bạn sang thăm, trong đó có ông Nai Tiêng (Tổng chỉ huy quân du kích Thái Lan) nước da ngăm ngăm, đi giày ủng da, cưỡi ngựa màu nâu. Ông xuống ngựa và bắt tay thân mật các cán bộ lãnh đạo chiến khu Sakon của ta. Việc thành lập chiến khu Sakon trước hết được các nhà lãnh đạo Đảng Thái Tự do (Séri Thay) tán thành và hết lòng giúp đỡ, ủng hộ. Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái - Lào đã kịp thời tập hợp những thanh niên ưu tú đầu tiên thành lập Chiến khu Sakon, chuẩn bị sẵn sàng khi thời cơ đến thì cùng đồng bào cả nước cướp lấy chính quyền cách mạng, trước hết là cùng với Mặt trận cứu nước Issala Lào cướp lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật, giúp phong trào cách mạng Cao Miên chống đế quốc Pháp. Về chính trị, chúng tôi được học tập những bài như đã kể ở phần trước. Năm tháng sống trong chiến khu Sakon, chúng tôi luôn vui tươi, phấn khởi, đoàn kết gắn bó thương yêu chăm sóc nhau như anh em ruột thịt. Lao động, học tập chính trị, quân sự cật lực, nhưng ai nấy đều rất vui, rất hăng say, không thấy nhớ nhà. Anh Duệ khi bị ngã nước, sốt rét, nằm vùi hai ba ngày liền, được uống thuốc ký ninh (quinine), các chị chăm sóc chu đáo, nên sức khỏe phục hồi nhanh chóng. Thật cảm động trước tình thương yêu của tập thể và lãnh đạo của chiến khu. Chiều chiều kéo nhau ra suối tắm, tối về tập các bài hát, phần lớn là do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác, như: Xếp bút nghiên; Lên dàng; Tiếng gọi thanh niên; Một đi là không trở về; Bạch Đằng Giang; Thăng Long Thành; Hội nghị Diên Hồng; Ải Nam Quan; Cùng nhau đi hùng binh v.v... Trung đội nào cũng sáng tác và tập được nhiều vở kịch ngắn (tự biên tự diễn) với nội dung đoàn kết, chống giặc ngoại xâm. Cứ vài tuần hoặc nhân một dịp kỷ niệm nào đó lại tổ chức đêm lửa trại. Các anh Vũ Hữu Bỉnh thường đóng vai xếp Pháp (chef), anh Lê Quốc Sản vai xếp Nhật, anh Nguyễn Văn Trung (Thàkhek) vai chỉ huy Việt Minh, các vai phụ thường là chúng tôi và các chị em. Một tiết mục sôi nổi, vui trẻ và lành mạnh đó là ca múa lămvông. Nhiều chị em múa lămvông rất đẹp, trẻ trung và duyên dáng với bộ đồ Thái Lan mượn ở các bản lân cận. Đêm “lửa trại” của chiến khu Sakon thường mời anh chị em chiến khu bạn Thái Lan sang dự và đã được bạn hưởng ứng nhiệt tình. Bạn cũng nhiệt tình múa hát với chúng tôi. Thật không có gi vui và hạnh phúc bằng những ngày tháng đầu tiên trong cuộc đời được sống tự do, bình đẳng, dân chủ, mọi người đều thương yêu nhau. Đó lại là những năm tháng sống và chiến đấu trên đất bạn. Cuối tháng 7-1945, khi được tin phát xít Nhật sắp đầu hàng, chiến khu Sakon bắt đầu giải tán. Ban lãnh đạo chiến khu phân công tất cả đi về các tỉnh ở Lào. Anh Lê Quốc Sản cùng một bộ phận đi Savanakhét, anh Vũ Hữu Bỉnh, Trần Hoàn, anh Liệu sang Vientiane. Anh Nguyễn Văn Trung về Thakhek. Tất cả đều tạo được thế chính trị mới ở mỗi nơi, cùng Mặt trận yêu nước Issala Lào cướp lấy chính quyền cách mạng. Anh Xợt, anh Đào Mạnh Duệ đi Bathambang (khi ấy còn thuộc về Thái Lan) cùng với Hội Việt kiều cứu quốc (có anh chị Sáu Rỗ) hoạt động. Được một thời gian, ban lãnh đạo Tổng Hội Việt kiều rút anh Xợt về Lào làm công tác Việt kiều. Đến giữa tháng 9-1945, anh Duệ được rút về làm chỉ huy phó chính trị bộ đội Việt kiều Giải phóng quân tỉnh Vientiane (Lào). Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:07:36 am VIENTIANE KHỞI NGHĨA VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG LÀO Tỉnh Vientiane có dân số lớn nhất trong các tỉnh, thành phố của nước Lào và cũng là một tỉnh có số Việt kiều nhiều nhất. Trong khoảng một vạn rưỡi Việt kiều thì thành phố Vientiane có đến gần một vạn người. Việt kiều ở Lào có đủ người Trung, Nam, Bắc. Nhưng ở Vientiane nhiều nhất là người Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Bà con sống tập trung gần nhau thành từng khu vực, từng làng. Chủ yếu sống bằng nghề may mặc, đóng giày, dép, trồng rau. Còn ở các bản, làng xa thành phố thì phần nhiều bà con làm ruộng rẫy. Ngoài ra, còn có nhiều người làm việc ở các công sở Lào và quân đội khố xanh, khố đỏ. Mối quan hệ giữa Việt kiều với nhân dân Lào rất mật thiết, gắn bó giúp đỡ và bảo vệ nhau. Con cháu Việt kiều và Lào đều học chung trường học. Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã thành công ở Hà Nội. Tin đó nhanh chóng truyền đến Vientiane và các tỉnh ở Lào. Lực lượng vũ trang Itxala Lào và bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane đã huy động gần 10.000 người Lào và Việt kiều nổi dậy giành chính quyền. Cuộc mít tinh được tổ chức tại Chợ Mới ngày 23-8-1945 với khẩu hiệu: “Nước Lào độc lập muôn năm”, “Hoan hô Việt Nam độc lập”. Tên tỉnh trưởng Vientiane phải bó tay trước sức mạnh khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Đến ngày 12-10-1945, chính phủ lâm thời Itxala được thành lập ở Vientiane. Một cuộc mít tinh lớn chưa từng có của trên 15.000 đồng bào tỉnh Vientiane với khí thế hào hùng, vô cùng phấn khởi. Sân vận động đặc người và cờ Mặt trận Lào Itxala (lá quốc kỳ của nước Lào độc lập từ đó tới nay) và cờ đỏ sao vàng của Việt Nam. Nhiều băng khẩu hiệu: “Nước Lào độc lập muôn năm”. “Hoan hô Việt Nam độc lập”, “Hoàng thân Xuphanuvông muôn năm”. Hôm ấy, Chủ tịch Xuphanuvông đọc lời tuyên bố độc lập và kêu gọi nhân dân Lào - Việt đoàn kết một lòng quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng. Tiếp theo, cuộc diễu hành của quân đội Itxala, tiểu đoàn Việt kiều giải phóng quân và lực lượng bán vũ trang của các trung đội tự vệ chiến đấu, của các phân hội Việt kiều cứu quốc tiến qua lễ đài. Cách mạng thành công. Lòng người mừng vui khôn xiết. Liên tiếp trong những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1945, phong trào khởi nghĩa của nhân dân Lào lan rộng khắp cả nước. Ngày 23-8-1945, nhân dân Savanakhet nổi dậy giành chính quyền, ngày 25-8-1945 Thakhek, sau đó là Xiêngkhoảng, Sầm Nưa, Phôngxalỳ... Ngày 6-9-1945, gần 10.000 nhân dân Lào ở Savanakhet tổ chức mít tinh nồng nhiệt đón chào Hoàng thân Chủ tịch Xuphanuvông, lãnh tụ cách mạng Lào. Kể từ ngày 12 tháng 10 năm 1945, tỉnh Vientiane được đặt là Thủ đô cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Việt kiều ở Vientiane có một Chi hội Việt kiều cứu quốc. Riêng nội thành có gần 10.000 người được tổ chức thành nhiều phân hội như: Phân hội Wạt xi mường Thạt khảo, phân hội Xăng phin, phân hội Thạt Luổng, phân hội Wạt Tày, phân hội Lò Bò, phân hội làng An Nam v.v... Mỗi phân hội đều thành lập trung đội tự vệ tập trung, hầu hết là nam nữ thanh niên. Họ được trang bị vài khẩu súng trường Pháp, súng săn, lựu đạn, kiếm, giáo, mác tự rèn v.v... Bộ tư lệnh Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane liên tiếp mở 4 khóa đào tạo cán bộ chỉ huy các cấp cho lực lượng, tự vệ các phân hội. Lực lượng quân đội Itxala Lào có một tiểu đoàn, trang bị vũ khí đầy đủ. Bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane có một tiểu đoàn với quân số 520 người, vũ khí gồm một khẩu pháo 20 ly, một khẩu đại liên 13 ly 2, và nhiều súng phóng lựu (moọc ta) của Nhật. Toàn bộ vũ khí này ta lấy từ tay của Pháp và của Nhật. Các tiểu đoàn chủ lực đều có máy vô tuyến điện. Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane lúc đầu đóng tại chiến khu Phôn Khên. Sau đó dời sang trại Mobile, gần Thạt Luổng và giữa tháng 5-1946 thì dời ra trường trung học Pavi (Collège Pavi Vientiane). Sau ngày Vientiane giành được chính quyền cho đến tháng 6 năm 1946, Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane đóng ở trại Môbin (mobile) Thạt Luổng. Tại đây có một nhà sư trẻ xin nhập ngũ để trở thành chiến sĩ. Anh Đào Mạnh Duệ đã tặng nhà sư - chiến sĩ trẻ mấy câu thơ với tựa đề: “TẶNG NHÀ SƯ - CHIẾN SĨ” “Cời áo cà sa cứu nước nhà Hận thù bao nỗi quyết xông pha Ra đi một lòng vì non nước Cho thỏa lòng trai Tổ quốc ta”. (Thạt Luổng - Vientiane - Lào, ngày 22-12-1945) Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:11:14 am Để bảo vệ chính quyền cách mạng và bảo vệ nhân dân, liên quân Lào - Việt đã phối hợp chặt chẽ và nhờ tin tức của nhân dân ở các bán, làng ở xa thành phố cung cấp tình hình hoạt động của quân Pháp (bỏ chạy khi quân Nhật tới) nên liên quân Lào - Việt đã tiến đánh địch nhiều trận, tiêu diệt nhiều tên, thu nhiều vũ khí, không cho địch đi khủng bố nhân dân, bắt thanh niên vào lính. Nhiều trận đánh đã diễn ra quyết liệt. Ta tấn công địch tại các căn cứ có hầm hào, dây thép gai, và gài mìn chung quanh. Ta chặn đánh các đại đội, trung đội địch hành quân khủng bố. Có trận diệt gần hết một trung đội địch.
Chỉ huy bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane khi ấy được thành lập. Đó là tháng 9-1945. Bộ tư lệnh có năm người: 1 - Vũ Hữu Bỉnh, Tư lệnh, 2 - Trần Hoàn, Phó tư lệnh, 3 - Đỗ Huy Rừa, Phó tư lệnh, 4 - Vũ Huy Liệu, Phó tư lệnh chính trị, 5 - Đào Mạnh Duệ, Phó tư lệnh chính trị. Đơn vị có 4 đại đội, và hai trung đội trợ chiến, quân khí do các anh Nguyễn Duy Hóa, anh Đẩu, anh Thi và anh Trương Đình Nghị đại đội trưởng. Các anh đều là đội, cai khố xanh, khố đỏ của quân đội Pháp cũ. Sau đây xin kể lại một vài trận đánh tiêu biểu: TRẬN BẢN KƠN 1 (10.1945). Tháng 8-1945, Nhật tấn công vào Vientiane. Toàn bộ quân Pháp và ngụy rút lui chạy khói thành phố Vientiane lập căn cứ Bản Kơn 1. Thời gian đầu địch có khoảng một đại đội. Hầm hào có hàng rào dây thép gai và mìn phòng thủ khá kiên cố. Đầu tháng 10-1945, ta dùng hai đại đội mạnh, bao vây vào căn cứ. Nhưng không thành công. Ta rút về. Trận đó ta hy sinh 4 chiến sĩ. Đó là trận tiến công địch đầu tiên. Tiếp theo là trận đánh địch đi ruồng bố tại Ỷ Lay, cách Vientiane 25 km. Địch có một trung đội, do Pháp chỉ huy. Một đại đội của ta tấn công bất ngờ vào ban ngày, chúng phải bỏ chạy. TRẬN NOỎNG - PẮCTỐP (tháng 12-1945). Địch cho một đại đội từ căn cứ kéo đi khủng bố nhân dân. Được tin, ta cử ngay hai đại đội, chia làm hai mũi tiến vào Noỏng-Pắctốp đánh địch, tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên (trong đó có một số tên lính Pháp). Chúng phái rút chạy. Trận đó ta hy sinh 3 người. TRẬN BẢN KƠN II (tháng 1-1946). Ở căn cứ Bản Kơn thời gian nay địch có một tiểu đoàn mạnh. Chúng bố trí hầm hào, công sự, lô cốt liên hoàn. Hàng rào dây thép gai, mìn và lựu đạn gài dày đặc. Ta chuẩn bị cho trận đánh này khá chu đáo. Ngay từ 5 giờ sáng, ta tập trung hỏa lực vào các ụ súng máy, lô cốt chủ yếu của địch, thu hút hỏa lực địch về một phía. Ta sử dụng cả đại liên 12 ly 7, đại bác 20 ly, cối 60 ly, Moọc ta 40 ly bắn dồn dập vào căn cứ Ban Kơn. Ta còn dùng thang tre cho các chiến sĩ xung kích vượt rào, thọc sâu vào tung thâm căn cứ. Sau hai giờ tấn công, ta tiêu diệt trên một đại đội địch, có nhiều lính Pháp. Bị đánh bất ngờ và thất bại nặng nề, toàn bộ quân địch còn lại phải bỏ căn cứ, chạy vào rừng. Ta thu được nhiều vũ khí, đạn dược. Ta có ba cán bộ và chiến sĩ bị thương. Sau khi các chiến sĩ rút khỏi căn cứ Ban Kơn thì có 1 máy bay địch đến oanh tạc. Đây là trận thắng lớn của liên quân Lào - Việt. CÁC TRẬN PHÔN HÙNG VÀ HỦA X1ÊNG. Cuối tháng 2-1946 và đầu tháng 3-1946, bọn địch ở các căn cứ này tiếp tục khủng bố, cướp bóc tài sản của nhân dân Lào và Việt kiều. Ta mở một số đợt tấn công vào Phôn Hùng và Hủa Xiêng, diệt khoảng một trung đội địch, thu nhiều vũ khí. Chúng phái rút chạy, bỏ căn cứ này. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:13:48 am TRẬN THÀ DỪA Đây là một bến phà lớn, cách thành phố Vientiane 17 km, Thà Dừa đối diện với thị trấn Noỏng Khay (Thái Lan), nơi giao lưu qua lại buôn bán hàng ngày giữa Lào và Thái Lan. Ngày 23-3-1946, địch cho hơn một trung đội, do Pháp chỉ huy đến chiếm đóng tại bến phà này, hòng không cho Việt kiều đi lại sang Thái Lan. Ta quyết tâm mở trận đánh, do anh Đỗ Huy Rừa chỉ huy. Sau gần một giờ chiến đấu, ta giết và làm bị thương trên 30 tên địch thu gần 30 súng các loại, chiếm lại bến phà. Số địch còn sống sót chạy tán loạn vào rừng. Ta có hai chiến sĩ hy sinh. Sau trận đánh này, quân Pháp lẫn quân ngụy không dám đến bến phà Thà Dừa nữa. TRẬN NAKHẢ (Tại chùa Nakhả) Cuối tháng 3-1946 một đại đội cùng do Pháp chỉ huy đến đóng tại chùa Nakhả, cách Vientiane 15 km. Ta bí mật hành quân trong đêm, bao vây địch. Đủng 5 giờ sáng, ta nổ súng. Sau hai giờ chiến đấu, ta tiêu diệt hơn một trung đội thu được trên 40 súng các loại và chiếm lĩnh trận địa. Số địch còn lại tháo chạy tán loạn. Những trận chủ động tiến công địch rất quyết liệt của liên quân Lào - Việt bảo vệ Vientiane trong suốt thời gian từ khi giành được chánh quyền cách mạng (23-8-1945 đến đầu tháng 6-1946), quân ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, khiến cho quân Pháp-ngụy không đến sát thành phố được, bảo vệ được bộ máy Chính phú Cách mạng Lào, nhân dân Lào và Việt kiều ở Vientiane an toàn. Trong cuộc chiến đấu thắng lợi ấy phải kể đến tài chỉ huy của anh Vũ Hữu Bỉnh, Tư lệnh Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane, các anh Trần Hoàn, Đỗ Huy Rừa, anh Vũ Huy Liệu, Phó tư lệnh và các cán bộ Đại đội trưởng Nguyễn Duy Hóa, anh Đấu, anh Thi, anh Nghị và anh Phạm Hữu Bách, Trung đội trưởng, là những chỉ huy chiến đấu rất gan dạ, mưu trí, và ngoan cường, đã được toàn đơn vị tín nhiệm và mến phục. Từ giữa tháng 3-1946, Bộ chỉ huy Liên quân Lào-Việt đã cho nhân dân Vientiane di chuyển sang Thái Lan. Đầu tháng 4-1946 thì nội thành Vientiane chỉ còn lại bộ đội Itxala Lào và bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane với một số trung đội tự vệ ở lại canh phòng, tuần tra, làm liên lạc, trinh sát v.v... Một cuộc bất hợp tác với giặc Pháp của nhân dân Lào và hàng vạn Việt kiều Vientiane sang Thái Lan, đã làm cho thành phố Vientiane chỉ còn “vườn không nhà trống”. Đầu tháng 4-1946, sau khi Việt kiều giải phóng quân và bộ đội Itsala Lào rút chỉ huy sở ra ngoại ô được khoảng 10 ngày thì máy bay địch tới ném bom. Anh Vũ Hữu Bỉnh bị thương, phải đưa sang bệnh viện ở tỉnh Oudon (Thái Lan) điều trị. Lúc ấy những người còn lại như các anh Hoàn, Rừa, Liệu, Duệ chỉ huy đơn vị. Như vậy Ban chỉ huy chỉ còn 4 người. Anh em cử anh Trần Hoàn thay anh Vũ Hữu Bỉnh làm chỉ huy trưởng. Các đại đội Việt kiều giải phóng quân vẫn giữ được bí mật những nơi đóng quân và chuẩn bị chiến đấu. Tháng 6-1946, đơn vị bắt đầu một cuộc hành quân đường rừng lên hướng bắc Vientiane. Leo đèo, lội suối, mưa rừng... Chúng tôi đi dọc theo sông Mêkông, có anh em bộ đội Lào Itxala người địa phương dẫn đường. Cuộc hành quân vất vả, nhưng đến bản, làng nào cũng được nhân dân chào đón nồng nhiệt: thăm hỏi, mời ăn xôi, với món cá nghiền trộn mắm “pà đạc”. Chúng tôi nhớ mãi, nhớ mãi! Toàn đơn vị có 520 người, hành quân đầy đủ, không ai bị ốm đau phải nghỉ lại dọc đường. Đơn vị bắt đầu rút khỏi thành phố Vientiane. Anh Vũ Huy Liệu sang Thái Lan để thăm sức khỏe anh Bỉnh và xin chỉ thị hướng hoạt động cho đơn vị. Nhưng chúng tôi không được tin tức gì của anh Bỉnh. Chúng tôi điện về Bộ chỉ huy quân khu 4, thì được trả lời: “Cần bảo toàn lực lượng, chỉ chiến đấu khi gặp địch tiến công. Đưa đơn vị lên Xiêng Khoảng và về khu 4 (Việt Nam)”. Trước tình thế khó khăn, thế nào địch ở Vientiane, Luăngprabăng và Xiêng Khoảng cũng lần theo để tấn công bộ đội ta. Chúng tôi họp lại bàn kế hoạch hành quân, chuẩn bị tinh thần cho các đại đội, sẵn sàng đánh địch trong khi hành quân và lại cử anh Đỗ Huy Rừa sang Thái Lan gặp anh Vũ Hữu Bỉnh để xin ý kiến. Nhưng sau đó một tuần lễ vẫn chưa nhận được chỉ thị nào của anh Bỉnh, hoặc của Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc Thái - Lào. Chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Sau 10 ngày anh em đã đến thị trấn PakPhảng, cách Vientiane khoảng 70 km (Pak Phảng thuộc địa phận tỉnh Luang Prabăng). Khi đến Pak Phảng thì mới nhận được chỉ thị của anh Vũ Hữu Bỉnh với nội dung: Đưa toàn bộ lực lượng qua thị trấn Xiêng khan (Thái Lan). Anh Bỉnh đã cử người đến Xiêng Khan, tại bờ sông Mêkông, đối diện với Pak Phảng. Chúng tôi bàn kế hoạch bố trí phòng thủ Pak Phảng, đánh địch từ hai hướng Vientiane lên và Luang Prabăng xuống. Sau khi bố trí các kế hoạch xong, ai nấy trở về đơn vị, chuẩn bị tinh thần chiến đấu. Trong khi ấy, chúng tôi cử anh Trần Hoàn sang Xiêng Khan thương lượng với chính quyền Xiêng Khan (Anh Trần Hoàn giỏi tiếng và chữ Lào, Thái Lan). Được nhà cầm quyền Xiêng Khan (Thái Lan) đồng ý ủng hộ, đồng thời tạo mọi điều kiện, phương tiện, xuồng, thuyền để đưa bộ đội qua sông. Công việc này được nhân dân ở Pak Phảng ủng hộ rất nhiệt tình. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:14:51 am TRẬN PAK PHẢNG (Giữa tháng 6-1946), Anh Trần Hoàn còn ở bên Xiêng Khan thì sáng sớm một ngày giữa tháng 6-1916, một đại đội địch, có nhiều tên Pháp chỉ huy, từ Luang Prabăng hành quân bằng tàu thúy đổ bộ lên rồi tiến vào Pak Phảng. Đại đội anh Trương Đình Nghị bố trí sẵn sàng đánh địch. Cuộc chạm súng bắt đầu. Những phát đạn cối 60 ly của địch bắn vào trận địa ta. Quân ta im lặng, chờ cho quân địch tiến đến thật gần mới nổ súng. Từng loạt súng trường, trung liên và súng phóng đạn 40 ly của ta tới tấp nã vào quân địch. Nhiều tên chết và bị thương tại trận địa. Chúng tiếp tục ngoan cố dàn hàng ngang tiến lên. Nhưng càng lên, chúng càng chết nhiều. Trận đánh kết thúc. Địch bỏ lại 41 xác chết, trong đó có một số tên Pháp, ta thu nhiều vũ khí. Anh Trần Hoàn từ Xiêng Khan về Pak Phảng cho biết: Bạn đồng ý chuẩn bị mọi phương tiện để đưa bộ đội sang Xiêng Khan. Vào khoảng 6 giờ chiều., từng đại đội lần lượt xuống thuyền để sang Thái Lan. Vừa chuyển quân, ta vừa bố trí sẵn sàng chiến đấu. Sau 6 tiếng đồng hồ, bộ đội đã qua sông an toàn. Toàn đơn vị tập kết tại sân một trường học rộng lớn của thị trấn Xiêng Khan. Toàn bộ vũ khí đạn dược, kể cả súng ngắn các loại đều phải đóng thùng. Sau đó, xe vận tải của nhà binh Thái Lan chở về giao cho ta tại Ouđon. AnhVũ Hữu Bỉnh trực tiếp nhận đầy đủ số vũ khí này. Hôm sau, toàn đơn vị hành quân, không vũ trang đi 20 km vào thị trấn Mường Lợi. Tại Mường Lợi, Ban chỉ huy Bộ đội cấp cho mỗi cán bộ chiến sĩ 5 bạt (5 đồng) tiền Thái Lan, lá tiền ăn đường cho anh em đi bộ trên 100 km về gia đình ở Oudon và đi về các tính khác như Noỏng Khay, Thà-bò v.v... Đó là khoảng giữa tháng 6-1946. Đến Oudon, được anh Nguyễn Văn Chấn và anh Vũ Hữu Bỉnh, cùng Việt kiều thị xã Oudon đón tiếp, mừng quân ta bảo toàn được lực lượng, không một ai hy sinh, bộ đội có kỷ luật nghiêm, được nhân dân Lào và nhân dân Thái Lan yêu mến, giúp đỡ hết lòng. Cuối năm 1946, sau khi Việt kiều và bộ đội Việt kiều giải phóng quân các tỉnh ở Lào rút sang Thái Lan, anh em về sống với gia đình. Lúc bấy giờ xuất hiện một số tổ chức chính trị phản động thân Nhật là “Thanh niên Đại Việt” ở một số địa phương như Oudon, Noỏng Khay, Thà bò v.v... đã hoạt động chống lại Hội Việt kiều cứu quốc. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc và ở từng địa phương, các Chi hội Việt kiều cứu quốc đã tập hợp Việt kiều, tuyên truyền giải thích, vạch mặt mọi luận điệu chống Đảng cộng sản, chống phá cách mạng của bọn phản động. Chi ủy Hội Việt kiều cứu quốc Oudon đã họp Việt kiều, nhất là thanh niên nam nữ, để nghe nói chuyện, nghe những bài viết vạch rõ chân tướng tổ chức “Thanh niên Đại Việt” phản động. Bị tấn công mạnh, những tên cầm đầu đều bị bắt. Chúng đã thất bại. Cũng như Việt kiều các tỉnh khác ở Lào, phong trào yêu nước, giúp bạn của một vạn rưỡi Việt kiều tỉnh Vientiane đạt được một số thành tích chính là nhờ các tổ chức cơ sở cách mạng bí mật của Đảng cộng sản Đông dương lãnh đạo mà trực tiếp là xứ ủy Ai Lao từ những năm 1930. Các hình thức hội Ái hữu yêu nước và của Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan và Ai Lao đã giúp bà con những cơ sở để phát huy lòng yêu nước của mình. Sự đoàn kết mật thiết của Việt kiều Thái - Lào lại luôn được sự giúp đỡ tận tình, quý báu của nhân dân Thái Lan, nhất là của các nhà lãnh đạo Đáng Séri Thay (Thái tự do). Đó là các ông Pridi Phnôm Yông, Nai Thông In, Nai Tiêng Siri Khăn do ông Pridi Phnôm Yông làm thủ tướng chính phủ Thái Lan. Anh Hoàng Phúc, nguyên trung đội trưởng tự vệ Phân hội Wạt xi mường thạt khảo Viêntiane hồi đó, cho biết “Cũng như các tỉnh khác ở Lào, Việt kiều ở Vientiane đã hết lòng hết sức ủng hộ cách mạng. Ngoài việc động viên con em mình gia nhập bộ đội Việt kiều giải phóng, còn tổ chức tuàn lễ vàng, đóng góp tiền bạc, mua sắm vũ khí và cung cấp lương thực, thực phẩm, quần áo, nuôi dưỡng Việt kiều giải phóng quân, nuôi dưỡng các đơn vị tự vệ tập trung của các Phân hội Việt kiều cứu quốc. Bà con còn rèn các loại vũ khí thô sơ như: gươm, giáo, mác, lưỡi lê cho bộ đội và cho tự vệ. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ở Vientiane Việt kiều đã mở nhiều trường lớp vỡ lòng, các trường cấp I, bình dân học vụ xóa nạn mù chữ, động viên những người chưa biết chữ đi học. Tuyên truyền bài trừ mê tín dị đoan, không cờ bạc, rượu chè say sưa. Thanh niên nào rượu chè say sưa đều bị tự vệ gởi vô chiến khu để giáo dục. Đám cưới đều được tổ chức theo đời sống mới. Hồi ấy làm được những điều kỳ diệu đó thật là không ngờ. Tới bây giờ chúng tôi vẫn còn nghĩ như vậy. Và tự hỏi: Tại sao trong hoàn cảnh khó khăn như thế mà chúng tôi vẫn tổ chức được cuộc sống văn minh? Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:20:34 am VIỆT KIỀU HẠ LÀO NHỮNG NGÀY THÁNG 8-1945 Anh Võ Văn Hồng (tức Phan Đồng) những năm 1945, 1945 hoạt động ở Paksé và các năm 1950, 1953 là chính trị viên một đại đội độc lập ở Tây Nam Campuchia cho biết: Hạ Lào gồm ba tỉnh Paksé, Saravan và Attopeu. Đa số Việt kiều tập trung ở Paksé nằm trên tả ngạn sông Mêkông. Việt kiều ở đây cũng như các tỉnh Trung và Thượng Lào, theo sự lãnh đạo chung của Xứ ủy Ai Lao, cũng được vận động tổ chức cùng nhân dân Lào cướp chính quyền, giành độc lập cho nước Lào anh em. Khác với Trung và Thượng Lào, thuộc vùng quân Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vào giải giới quân Nhật thất trận, Hạ Lào thuộc vùng giải giới của Liên quân Anh - Ấn. Tàn quân Pháp lẩn khuất trong rừng núi, được quân đội Anh giúp đỡ trang bị vũ khí, xe, pháo, đưa trở lại Paksé ngay từ những ngày đầu quân Nhật đầu hàng đồng minh. Tổ chức thanh niên Việt kiều ở đây đã bị quân Pháp khủng bố tàn sát hết sức dã man. Nhiều thanh niên Việt kiều bị chúng bắt, số khác bị đem ra thủ tiêu, hoặc đến tận nhà hạ sát. Một số đưa ra bờ sông Mê kông bắn chết rồi xô xuống sông. Có người bị thương nhẹ giả chết, bơi qua đất Thái Lan. Khi lên bờ, hai tay vẫn còn bị trói quặt ra sau lưng. Hầu hết thanh niên Việt kiều Paksé đã vượt sông Mê kông qua đất Thái tại Phi Mun-Oubon, rồi từ đó tham gia vào các tổ chức Việt kiều cứu quốc ở Thái Lan, vào các chiến khu Savang, Thung Phiêng (Ấm phơ Đệt), gia nhập bộ đội Việt kiều trở lại hoạt động ở Hạ Lào và sang Bắc Cao Miên. Cùng với nhân dân Lào khởi nghĩa cướp chính quyền ở Paksé, tuy thất bại, nhưng máu của Việt kiều đã đổ trên đất nước Lào anh em là cả một câu chuyện cảm động mà chúng tôi không bao giờ quên. TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG LÀO VÀ CHI VIỆN NAM BỘ KHÁNG CHIẾN Giữa năm 1946, sau những tháng rút chạy ra vùng rừng núi và nông thôn ở Lào, giặc Pháp được chi viện mạnh đã tập trung mở các cuộc tiến công lớn chiếm lại tất cả các thành phố và thị xã ở Lào. Bộ đội Lào Itxala và các đơn vị Việt kiều giải phóng quân sau những tháng chiến đấu đánh địch, bảo vệ chính quyền cách mạng Lào và bảo vệ nhân dân, được chính quyền và nhân dân Thái Lan đồng tình ủng hộ, nên Việt kiều ở Lào và lực lượng võ trang của ta đều được chuyển sang đất Thái. Anh em trở về sinh sống với gia đình một thời gian ngắn. Song, trước yêu cầu công tác, ai nấy đều tự nguyện trở lại chiến trường cũ. Được Chính phủ Thái Lan giúp đỡ, ngay từ giữa năm 1946 và năm 1947, hàng chục chiến khu lớn nhỏ của Việt kiều được hình thành dọc theo vùng rừng núi đông Bắc nước Thái và cá ở tỉnh Prachin Bouri và tỉnh Trạt (Thái Lan), tỉnh Battambăng (lúc này Thái Lan đã trả tỉnh Battambăng cho thực dân Pháp). Song song với Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan (do Ban cán sự Đảng bộ Việt kiều lãnh đạo) trụ sở ở Đông Bắc Thái Lan thì ở Băngkok, có một Ban sưu tầm vũ khí cho Nam Bộ được thành lập do anh Trần Văn Giàu làm trưởng ban, anh Dương Quang Đông làm phó ban. Anh Trần Văn Giàu ở Nam Bộ được Trung ương mời ra Hà Nội và được Chính phủ ta biệt phái sang Bangkok hoạt động. Còn anh Dương Quang Đông thì đi từ Nam Bộ sang, hai anh gặp nhau tại Băngkok. Trong các năm ấy, Ban có ra một tờ “Tin Việt Nam” lưu hành đến tất cá các nơi có Việt kiều. Một số bài chính đều do các anh Hoàng, Ngô Hà (Trần Văn Giàu) và anh Lê Hy viết. Trụ sở tờ báo ở tại số nhà 543 Silom, Băngkok. Dưới đây là tên các chiến khu của Việt kiều giải phóng quân đã được thành lập trong các năm 1946 và 1947: 1 - Chiến khu Umkè-Nọng Hỏi (thuộc tỉnh Nakhon Phanom) có trên 400 cán bộ chiến sĩ của Chi đội Trần Phú về chi viện Nam Bộ. 2 - Chiến khu Noỏng Ổn (thuộc tỉnh Oudon) có gần 200 người Noỏng Ổn cũng là một trong những nơi mà Bác Hồ đã cùng một số đồng chí ở đó hoạt động cách mạng. Chiến khu Noỏng Ổn do hai anh Trần Quang Lợi và Đào Mạnh Duệ thành lập và xây dựng. 3 - Chiến khu Viêng khúc (ở Thà Bò thuộc tính Noỏng Khay) có khoảng 100 người. 4 - Chiến khu Si Kài (ngang Paksan) có khoảng 70 người. 5 - Chiến khu Mường Lơi (có khoảng 50 người). 6 - Chiến khu Tà Om (tỉnh Battambang) cua bộ đội Hải ngoại Độc lập 1 do anh Ngô Thất Sơn chỉ huy trưởng anh Đặng Văn Duyệt Bí thư chi bộ (có khoảng 80 người) 7 - Chiến khu Phnum-TipờĐây (tỉnh Battambang) clo anh Phạm Ngọc Thuấn chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên, anh Hoàng Xuân Bình chỉ huy trưởng quân sự. Đó là Bộ đội Hải ngoại Quang Trung, có khoảng 70 người về chi viện Nam Bộ. 8 - Chiến khu Bản Mây (thuộc tỉnh Nakhon) có khoảng 150 người. 9 - Chiến khu I Prak Poông cách ga Sarakheo 3 km (tỉnh Prachin-Bouri - Thái Lan) do anh Dung Văn Phúc làm Tiểu đoàn trưởng, có trên 200 người. Đó là Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II mới tập trung đợt đầu. 10 - Chiến khu II Mai Ruột (tính Trạt - Thái Lan) do anh Dung Văn Phúc (Dương Quang Đông) Tiểu đoàn trưởng, quân số lên đến 280 người) là Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II, về chi viện khu 9 Nam Bộ kháng chiến. 11 - Chiến khu Phi Mun (tỉnh Oubon) có 100 người. 12 – Chiến khu Sa Vang (ngang Paksé - Lào) có 60 người. 13 - Chiến khu Thung Phiêng (tỉnh Oubon) ngang Paksé, có 130 cán bộ, chiến sĩ. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười, 2022, 10:22:10 am Ngoài ra còn một số chiến khu nữa chưa biết chính xác, nên không ghi trong sách này. Qua một số chiến khu trên, thấy rõ tinh thần yêu nước, yêu Tổ quốc nồng nàn của 10 vạn Việt kiều Thái - Lào. Sang đất Thái Lan làm ăn sinh sống, nhà cửa không có, với hai bàn tay, khối óc và tinh thần yêu Tổ quốc, tuy ở hải ngoại xa xôi, nhưng hàng ngày bà con vẫn một lòng hướng về quê hương thân yêu của mình. Tổ chức thành lập và lãnh đạo, chỉ huy các chiến khu cũng như toàn bộ lực lượng Việt kiều giải phóng ở Lào và vùng Bắc, Đông Bắc Campuchia là Ban cán sự Đảng Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan và Xứ ủy Ai Lao. Tư lệnh của Việt kiều giải phóng quân là anh Vũ Hữu Bỉnh.
Việt kiều ta ở Lào sang đất Thái Lan thời gian đầu đã dựa vào Việt kiều cũ sống trên đất Thái từ lâu và nhờ được chính quyền và nhân dân Thái Lan giúp đỡ cấp đất đai làm nhà cửa để làm ăn sinh sống, đồng thời chính quyền địa phương các tỉnh phía đông bắc Thái Lan lại tổ chức làm nhiều con đường đất lớn, tạo điều kiện cho Việt kiều mới ở Lào sang có công ăn việc làm. Trong gian khổ như vậy, nhưng Việt kiều vẫn tiễn đưa những con em thân yêu của mình đi vào chiến khu để đánh quân xâm lược Pháp. Tinh thần ấy thật đáng kính trọng biết nhường nào? Các chiến khu thánh lập gồm những cán bộ, chiến sĩ đã từng chiến đấu trên mật trận Lào và nhiều thanh niên Việt kiều khi ở Lào là chiến sĩ và là cán bộ chỉ huy tự vệ, nhiều thanh niên mới 17-18 tuổi. Họ đã có sự hiểu biết nhất định về chính trị, và thời cuộc. Ở mỗi chiến khu đều có chương trình học tập chính trị do Ban chỉ huy các chiến khu giảng dạy. Ở chiến khu nào cũng vậy sinh hoạt tinh thần cũng vui tươi phấn khởi đoàn kết, kỷ luật tự giác, hàng ngày đều có sinh hoạt kiểm điểm và học các bài ca cách mạng, tập kịch và đốt lửa trại nhân dịp các ngày lễ kỷ niệm cách mạng v.v... Đi ra đường phố (tuy ở trên đất Thái Lan) nhưng cấp dưới gặp cấp trên, kể cả đang ngồi trong tiệm ăn, thấy chỉ huy đi ngang hoặc đi vào nhà hàng đều đứng ngay dậy chào người cấp trên của mình. Người Thái Lan nhìn thấy đều rất khâm phục ý thức kỷ luật tự giác của bộ đội Việt Nam. Mỗi chiến khu, tùy theo quân số và thời gian học tập chính trị, quân sự mà Ban chỉ huy chiến khu bàn với chính quyền địa phương Thái Lan là làm các con đường. Làm đường có tiền để mua lương thực, thực phẩm. Công việc làm đường khá vất vả, nặng nhọc, nhiều người muốn bỏ cuộc. Nhưng nghĩ tới cái lớn lao sắp tới, mọi người lại hăng hái. Cái quý của anh em là ở chỗ đó. Vũ khí và quân dụng là những thứ đem từ các mặt trận ở Lào sang từ giữa năm 1946. Ngoài rạ, do công tác ngoại giao với Chính phủ Thái lan, với Đảng Séri Thay, bạn tạo điều kiện để ta mua được nhiều vũ khí mới. Bạn còn tặng ta một số súng đạn và đồ dùng quân sự đáng kể. Quần áo, mùng mền ai có gì dùng nấy. Chỉ đến ngày sắp sửa làm lễ xuất quân lên đường đi chiến đấu mới được cấp phát quần áo kaki Mỹ, quân dụng thống nhất và bánh lương khô. Được trang bị vũ khí không thua kém gì vũ khí của quân đội Pháp - Ngụy khi ấy, đặc biệt vũ khí của ta được trang bị nhiều loại súng liên thanh mới của Mỹ, Anh, Nhật sản xuất, vì vậy hỏa lực của các đơn vị của ta khá mạnh. Trong hàng chục chiến khu lớn nhỏ của Việt kiều Thái Lan và Lào sau thời gian 6 - 7 tháng học tập, huấn luyện chính trị - quân sự, có nhiều đơn vị trở lại chiến trường Lào hoạt động, chiến đấu; hai chiến khu Savang và Thung Phiêng và một số chiến khu khác sang các tỉnh phía Bắc Campuchia cùng lực lượng Issarak ở đó hoạt động. Số còn lại đều trở sang Lào. Có 4 đơn vị được thành lập để về nước là: Chiến khu Tà Om (Battambang) lấy tên là Bộ đội độc lập số 1, khi lên đường về nước, anh Huỳnh Văn Vàng, chỉ huy trưởng, anh Đặng Văn Duyệt, Bí thư chi bộ, anh Ngô Thất Sơn, chỉ huy phó, quân số có 80 người, hành quân từ Chok (Battambang) đi theo phía bắc biển Hồ (Tông Lê sáp) Campuchia về Tây Ninh. Đơn vị lên đường ngày 9-8-46 và về đến Tây Ninh (khu 7 - Nam Bộ) ngày 10-9-1946, mất 30 ngày đêm. Chiến khu Phnom-Tipờđây (Battambang) là bộ đội Quang Trung, quân số lên đường 60 người. Ban chỉ huy gồm Phạm Ngọc Thuận, chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên, anh Hoàng Xuân Bình chỉ huy trưởng quân sự, anh Hoàng Ngọc Cừ chính trị viên, anh Nguyễn Trọng Thường chỉ huy phó... lên đường ngày 15-11-1946 từ chiến khu Phnum Tipờđây (Battambang). Đơn vị về đến Vĩnh Gia, Khu 9 ngày 5-1-47, mất 51 ngày đêm. Trên đường hành quân về nước, đơn vị bị tập kích hai trận. CHIẾN KHU UMKÈ-NỌNG HỎI (thuộc tỉnh Nakhon-Phanom) Đó là Chi đội Hải ngoại Trần Phú, gồm 400 người, do Tổng ủy Hội Việt kiều Cứu quốc Thái - Lào điều động anh em Việt kiều giải phóng quân đã chiến đấu ở chiến trường Lào và anh em thanh niên Việt kiều từ các tỉnh, thành ở Thái Lan tập hợp về dây, trong đó có khá nhiều cán bộ, chiến sĩ ở chiến trường Lào từ Cách mạng tháng 8-1945 và 1946, Riêng anh em là cán hộ, chiến sĩ bộ đội Việt kiều giải phóng quân và là tự vệ tỉnh Vientiane có gần 40 người về chiến khu Umkè - Nọng Hỏi, học tập quân sự, chính trị và hành quân về khu 8 Nam Bộ, như các anh Đỗ Huy Rừa, nguyên Phó tư lệnh Bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane, anh Nguyễn Duy Hóa đại đội trưởng, anh Phạn Hữu Bách một trung đội trưởng đã chỉ huy chiến đấu giỏi trong các trận đánh địch ở Vientiane, anh Cao trọng Minh đội phó đội trinh sát là bộ đội Việt kiều Vientiane, anh Vũ Mạnh, anh Nguyễn Văn Bình đều là tiểu đội trưởng bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane v.v… và các anh Hoàng Phúc, nguyên là trung đội trưởng trung đội tự vệ, anh Nguyễn Duy Thiệu một cán bộ của chi hội Việt kiều cứu quốc Vientiane. Chiến khu Umkè là chi đội Hải ngoại Trần Phú, có nhiệm vụ về chi viện Nam Bộ kháng chiến. Bộ Tư lệnh chi đội Hải ngoại Trần Phú, khi ở chiến khu Umkè và trên đường hành quân về Nam Bộ, gốm có: Nguyễn Chánh, Chi đội trưởng. Lê Quốc Sản và Đỗ Huy Rừa, Chi đội phó Trần Văn Sáu, chính trị viên Dương Cự Tẩm và Hải Nam, chính trị phó. Sơn Ngọc Minh (cán bộ cách mạng Cao Miên) là cố vấn. Chi đội còn có 4 cán bộ quân sự người Nhật. Anh Lê Quốc Sản cho biết: “Chi đội Hải ngoại Trần Phú làm lễ xuất lên đường từ Ấm Phơ Đệt ngày 26-12-1946. Hôm ấy có anh Trần Văn Giàu và anh Vũ Hữu Bỉnh đến thăm. Anh Trần Văn Giàu đã trao cho chi đội lá cờ mang tên Trần Phú và chúc chi đội hành quân về nước thắng lợi. Đi theo hướng đông nam Thái Lan, vượt sông Mê kông sang Hạ Lào, qua đông nam Campuchia, về đến Tây Ninh ngày 27-2-47. Chi đội hành quân hơn hai tháng đầy gian khổ khó khăn, nhưng tất cả hầu như đều an toàn. Chỉ khi vượt lộ Kratié-Mimốt ngày 26-2-47 gặp địch phục kích bắn vào đơn vị trinh sát của ta. Ta đánh trả dũng cảm. Địch phải tháo lui bỏ lại 12 xác chết, có 2 chỉ huy. Về phía ta, anh Đặng Mạnh Thường hy sinh. Anh Thường là thanh niên Việt kiều yêu nước, sinh trưởng ở Thái Lan. Anh nói tiếng Việt chưa rành, chưa hề được biết Tổ quốc mình. Toàn chi đội nghẹn ngào tiễn biệt người đồng chí thân yêu của mình. Trong lịch sử chiến đấu của Chi đội Hải ngoại Trần Phú, anh Thường là liệt sĩ đầu tiên. Khi chi đội Trần Phú về đến Nam Bộ, anh Sơn Ngọc Minh lên đường trở về Campuchia, anh Trần Văn Sáu cùng một số anh đi làm nhiệm vụ khác. Anh Đỗ Huy Rừa về Bến Tre phụ trách trung đoàn phó Trung đoàn 99. Khi tiểu đoàn 307 thành lập, anh Đỗ Huy Rừa là Tiểu đoàn trưởng. Ban chỉ huy chi đội Hải ngoại Trần Phú lúc này còn lại ba anh: - Nguyễn Chánh: Chi đội trưởng - Lê Quốc Sản: Chi đội phó - Dương Cự Tẩm: Chính trị viên. Chi đội được Xứ ủy Nam Bộ giao nhiệm vụ hành quân từ khu 7 sang khu 8 chiến đấu, mà điểm tựa là tỉnh Sađec Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:35:48 pm TIỂU ĐOÀN HẢI NGOẠI CỬU LONG II PRAK-POỎNG - ĐIỂM HẸN ĐẦU TIÊN (16-5-1947 - 28-6-1947) Nơi chúng tôi tập trung đầu tiên là Chiến khu I Prak Poỏng huyện Sarakeo (tỉnh Prachin-bouri - Thái Lan). Tiểu đoàn hải ngoại Cửu Long II gồm những cán bộ, chiến sĩ mà tuyệt đại đa số là con em Việt kiều Thái Lan và Lào, trong đó có nhiều anh em ở Vientiane (Lào), kế đó là Thàkhek, Savanakhet, Paksé v.v... sang đất Thái từ đầu năm 1946. Tiểu đoàn có trên 20 anh em cán bộ, chiến sĩ từ chiến trường Nam Bộ đã kinh qua chiến đấu ở trong nước, sang Thái Lan làm nhiệm vụ đặc biệt, cũng tập trung về tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Anh Huỳnh Công Đồng, trung đội trưởng, là người đầu tiên cùng với một số anh em đến địa điểm Prak Poỏng. Trong tiểu đoàn còn có anh Sơn Ngọc Minh, một cán bộ cách mạng Campuchia. Ngoài ra còn có 4 cán bộ cách mạng người Malaysia. Anh Nguyễn Văn Hên thanh niên Việt kiều Campuchia, anh Nhượng (chiến sĩ của bộ đội Quang Trung về trước), hai anh cán bộ quân đội Nhật là Công và Bộ cùng hai người dân Campuchia là Tà Pin và Xàrinh, sáu người do anh Hên phụ trách tìm sang Mai Ruột (biên giới Campuchia - Thái Lan) gia nhập Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Như vậy khi đến chiến khu II Mai Ruột, quân số tăng lên 280 người. Với thành phần như trên có thể nói đơn vị phần nào còn mang tính chất quốc tế. Từ chiến khu Mai Ruột và thời gian chiến đấu ở Bạc Liêu - Rạch Giá - Sóc Trăng - Khu 9 Nam Bộ, đơn vị được sự lãnh đạo và trực tiếp của chi bộ Đảng cộng sản. Ban chỉ huy tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II gồm có: (thời gian ở Thái Lan và hành quân về nước): Anh Dung Văn Phúc (Dương Quang Đông), Tiểu đoàn trưởng. Anh Trương Văn Kỉnh, Chính trị viên Anh Bông Văn Dĩa, Tiểu đoàn phó Khi về đến Nam Hộ, tiểu đoàn Cửu Long II chiến đấu tại Bạc Liêu, Sóc Trăng, các anh Ban chỉ huy đi nhận nhiệm vụ khác. Ban Quân sự Nam Bộ, bổ nhiệm Ban chỉ huy mới thay thế. Trải qua chiến đấu, anh Trần Quang Lợi đã hy sinh, anh Từ Thiện Tài bị thương nặng. Anh Đào Mạnh Duệ chính trị viên hiện nay còn sống. Các bộ phận trực thuộc Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm có: Anh Kinh trợ lý quân khí, anh Một - Tài chính - Thủ quỹ, cụ Tiến già và anh Huỳnh Thiện Sanh (tức Hoàng Sơn) - quân lương tiểu đoàn, thư ký tiểu đoàn ỉà anh Nhơn. Tiểu đội vô tuyến có các anh: Trần Văn Xá, anh Nhận, anh Nghĩa, anh Lễ, anh Nghệ, anh Độc, anh Trần, anh Niết, anh Tú v.v... anh Tú (có vợ người Hoa lai ở Băngkok) cũng hăng hái gia nhập Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II về nước chiến đấu. Chiến khu 1 Rrak-Poỏng thuộc huyện Sarakeo, tỉnh Prachin-Bouri là địa điểm tập trung quân đầu tiên trong rừng. Sau 44 ngày ở đây, ngày 28-6-47, đơn vị bắt đầu hành quân đến Mai Ruột, cạnh bờ biển, gần biên giới Thái Lan - Campuchia. Cuộc hành quân mang nặng vũ khí, quân trang, quân dụng và lương thực. Đi được một hai ngày thì trời đổ mưa tấm tã, mỗi ngày ba, bốn trận, hồi đó chưa có nylon đi mưa. Cứ như vậy, qua một tuần hành quân đơn vị tới Mai Ruột chiều ngày 5-7-1947. Khi càng đến gần Mai Ruột, nghe tiếng sóng biển vỗ rì rào, khí hậu mát mẻ, lòng chúng tôi càng thêm phấn chấn lạ thường, hầu như quên đi tất cả mệt nhọc. Do bị dầm mưa bốn năm ngày liên tiếp nên khi tới Mai Ruột có đến 20% quân số bị cảm sốt, Những anh em ốm đau được chăm sóc thuốc men và ăn uống khá tốt nên sức khỏe hồi phục nhanh chóng. Theo chúng tôi hiểu thì ý đồ của Ban chỉ huy Tiểu đoàn đưa đơn vị đến Mai Ruột một thời gian ngắn để chuẩn bị xuất phát lên đường, nhưng vì mùa mưa lũ nên phải ở lại cho đến hết mùa mưa mới có thể lên đường hành quân về nước. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:37:24 pm BÃI BIỂN MAI RUỘT CHIẾN KHU II - MAI RUỘT (TỈNH TRAT - CHANG WẠT TRẠT - THÁI LAN) (Từ 5-7-1947 - 7-11-1947 - 4 tháng) Mai Ruột vừa ở cạnh bờ biển, vừa ở sát núi rừng. Dân cư thưa thớt. Hầu hết là người Thái Lan, sinh sống bằng nghề ruộng rẫy. Một số đánh cá biển. Một ít người Hoa làm nghề buôn bán. Sau gần một tuần ở nhờ nhà dân nghỉ ngơi, từng trung đội, tiểu đội bắt tay làm nhà ở trong rừng thưa. Hàng ngày vô rừng chặt cây, cắt cỏ tranh lợp nhà, dừng vách. Chỉ trong thời gian ngắn, các doanh trại đã được hoàn thành, chúng tôi cám ơn lòng tốt của nhân dân và tất cả về nhà mới ở. Trong thời gian ấy có khoảng mười anh em do anh Khôn phụ trách, đi bằng ghe biển từ Châu Đốc đến. 11 anh em cũng đi bằng đường biển từ Cà Mau và Phú Quốc sang. 6 ở anh em Campuchia do anh Nguyễn Văn Hên phụ trách, nghe nói có quân đội cách mạng về Việt Nam đóng ở Mai Ruột nên tìm đến xin gia nhập để đi đánh Pháp. Ngoài ra còn có một số cán bộ, chiến sĩ từ các Mặt trận Lào được tiếp tục bổ sung về Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Như vậy tổng quân số đã lên đến 280 người với đầy đủ 280 tay súng chiến đấu. Riêng Ban chỉ huy Tiểu đoàn thì mỗi anh có một khẩu súng ngắn. Căn cứ vào lực lượng cán bộ và chiến sĩ hiện có, Tiểu đoàn tổ chức thành 5 trung đội, trong đó có một tiểu đội trinh sát, anh Nguyễn Văn Hên là tiểu đội phó (nay còn sống) một đơn vị trợ chiến trực thuộc gồm có một tiểu đội đại liên 7/7 (của Anh sản xuất, anh em thuờng gọi là “xết xết”, do anh Nguyễn Anh Vinh và anh Đôn lắp ráp). Toàn tiểu đoàn có hai khẩu đội súng cốì 60 ly. Mỗi trung đội được trang bị 2 súng máy trung liên (FM) Nhật, và Browing (do Anh sản xuất), 3 khẩu moọta (súng phóng lựu) của Nhật. Mỗi tiểu đội được trang bị 4 thompson, 2 carbine, 2 Sub matchine, còn lại là 4 súng trường Nhật (đạn súng trường Nhật một cỡ với đạn FM (trung liên) Nhật). Các bộ phận trực thuộc ban chỉ huy tiểu đoàn phần nhiều giữ súng carbine (Mỹ). Toàn bộ vũ khí đạn dược đều mới, với cơ số đạn 500 viên, mỗi khẩu, trong đó được sử dụng trong chiến đấu tối đa 200 viên, còn lại 300 viên. Mỗi tiểu đội còn được cấp 4 hăng gô (xoong nhôm quân sự để nấu cơm của Nhật Bản sản xuất). Mỗi cán bô trung đội, tiểu đội đều có một la bàn (boussole) dạ quang (loại la bàn này của Nhật, giống như chiếc đồng hồ đeo tay, rất đẹp) và một bản đồ miền Tây Nam Campuchia) để biết hướng hành quân từ Mai Ruột (biên giới Thái Lan - Campuchia) đi về kênh Vĩnh Tế - Hà Tiên - Khu 9 - Nam Bộ. Đối với tất cả cá nhân từ Ban chỉ huy Tiểu đoàn, các trợ lý đến mỗi cán bộ chiến sĩ đều được phát một bộ quần áo kaki Mỹ màu vàng mới may, một mũ sắt Nhật, một biđông Nhật, một đôi giày ba ta và một băng cá nhân (Mỹ). Với trang bị như vậy, có thể nói Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II có một hỏa lực khá mạnh. Do tổ chức biên chẽ gọn nhẹ, nên tất cả cán bộ, không kể đã từng là cán bộ tiểu đoàn, đại đội hay trung đội v.v... đều được bố trí trực tiếp vào các ban chỉ huy trung đội làm trung đội trưởng, trung đội phó, chính trị viên trung đội. Chúng; tôi còn nhớ một số anh như: Trần Quang Lợi (cai khố xanh), Cao Quang Diên (đội khố đỏ), Đào Mạnh Duệ, Phạm Văn Trị, Đặng Ngữ, Đinh Văn Hải (cai khố xanh), Huỳnh Công Đồng, Lê Văn Lầu, Anh Duyên, Nguyễn Anh Thư, Phạm Công Biểu v.v... Chương trình học quân sự, chính trị được đề ra. Hai bộ phận giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự được thành lập. Về huấn luyện chính trị có các anh Nguyễn Như Đãi, anh Phạm Văn Trị và Đào Mạnh Duệ. Anh Đãi phụ trách chung cùng anh Trị lên lớp chính trị cho cán bộ trung đội và tiểu đội trưởng. Anh Đào Mạnh Duệ phụ trách huấn luyện chính trị cho toàn bộ chiến sĩ của Tiểu đoàn. Về huấn luyện quân sự, có các anh: Cao Quang Diên, Trần Quang Lợi, Đinh Văn Hải (đều là những cai, đội khố xanh, khố đỏ thời kỳ trước cách mạng tháng 8-1945 ở Lào) và hai anh Công và Bộ nguyên là thượng sĩ và trung sĩ quân đội Nhật tham gia huấn luyện cá nhân chiến đấu. Sống và học tập 4 tháng ở Mai Ruột, cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II gặp khá nhiều gian khổ. Thiếu lương thực, thực phẩm thường xuyên, nhưng do công tác tư tưởng tốt, đồng thời có các biện pháp giải quyết cụ thể, nên tinh thần anh em luôn vui tươi, phấn khởi, có ý chí chiến đấu cao, đoàn kết gắn bó, chấp hành kỷ luật nghiêm. Các buổi sáng, tại một khoanh đất khá rộng trước nhà ở và nơi làm việc của Ban chỉ huy Tiểu đoàn, có chào cờ, đọc 10 lời thề danh dự và nghe Tiểu đoàn trướng nói chuyện ngắn gọn. Tiểu đoàn có lá cờ đỏ sao vàng bằng nhung rất đẹp (dài khoảng 1m20, rộng khoảng 0m80) phía dưới ngôi sao vàng có thêu hai hàng chữ: TIỂU ĐOÀN HẢI NGOẠI CỬU LONG II. Thời gian biểu hàng ngày là: Sáng: học tập quân sự, Chiều: học chính trị. Tối có đèn dầu hoặc những đêm trăng thì tập ca hát và tập kịch để tối thứ bảy tập trung tiểu đoàn đốt lửa trại văn nghệ. Có những vở kịch ngắn do hai anh Đặng Ngữ và Đỗ Trọng Long đóng đã làm cho mọi người phái ôm bụng mà cười. Những bài hát đồng ca, đơn ca như: Chiến sĩ Việt Nam, Diệt phát xít, Tiếng súng Nam Bộ, Đoàn giải phóng quân, Bạch Đằng Giang, Không Quân Việt Nam, Công nhân Việt Nam v.v... được anh em trình bày khá hay. Anh Truyền (6 ngón) là người đờn cho anh em ca hát và múa lăm vông. Những đêm văn nghệ như vậy đều có nam nữ thanh niên địa phương đến tham dự khá đông.... Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:41:45 pm Ngày chủ nhật, anh em đi kiếm thực phẩm và thăm nhà dân. Nói về ăn uống hàng ngáy, trong 4 tháng ở Mai Ruột, mỗi người, mỗi ngày chỉ được cung cấp 200g gạo và muối hoặc mắm ruốc. Chúng tôi còn nhớ cụ Tiến già, trợ lý quân lương và anh Huỳnh Thiện Sanh (tức Hoàng Sơn, những năm qua là bác sĩ Giám đốc bệnh viện Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh), Khi Cửu Long II chiến đấu tại khu 9 - Nam Bộ anh Sanh phụ trách văn phòng và tài chánh, hậu cần. Cụ Tiến già và anh Sanh là hai người trực tiếp cấp phát gạo. Tiêu chuẩn một lon sữa bò đóng lõm đít lên là 200g gạo cho mỗi người trong ngày, kể cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn cho đến chiến sĩ. Như vậy mỗi bữa ăn chí có nửa lon sữa bò gạo. Anh em hầu hết ở lứa tuổi 19-22, cho nên ăn không bao giờ đủ no. Để bổ sung vào chỗ thiếu thốn ấy, Tiểu đoàn đã phái trích ra một số tiền mua ghe, lưới đánh cá biển. Những anh em nào biết nghề đánh cá thì thay nhau đi biển. Mỗi lần cá về, đều được chia cho từng tiểu đội, nhưng vẫn thiếu. Để cho no bụng, anh em phải vô rừng đào thêm củ mài. Phải rất vất vả mới tìm đào được khoai mài rừng. Đến bữa cơm, mỗi người chỉ được hai chén khoai mài dính cơm, cộng với nước canh cá nấu với các loại rau cỏ hái được, như đọt khoai lang, đọt choại và hẹ nước v.v... Chiều chiều ra bờ biển chơi vừa moi cát bắt nghêu về nấu canh cải thiện. Ở bãi cát bờ biển này co nhiều nghêu, chỉ cần hằng ngày siêng đi bắt là có thêm thức ăn. Trung đội 1 có anh Lầu, trung đội phó, người Phú Quốc cao lớn mỗi bữa ăn được hai chén khoai mài dính cơm không thấm vào đâu, nên anh Đào Mạnh Duệ, Trần Quang Lợi và một chiến sĩ liên lạc bảo nhau giành cho anh Lầu thêm một chén khoai mài dính cơm nữa. Do đùm bọc thương yêu nhau và có nhiều sáng kiến hay nên nói chung mọi người đều tạm được no bụng để bảo đảm công tác trong suốt thời gian ở Mai Ruột.
Một hỏm, có 3 anh đầu băng bó, mình đầy máu me, sống sót sau. vụ bị cướp ở Phum (ấp) Mọt-Praks (Campuchia). Đoàn có 6 cán bộ cùng một tiểu đội của Chi đội Trần Phú được trang bị mạnh, do anh Trần Văn Sáu, nguyên là chính trị viên Chi đội Hải ngoại Trần Phú làm trưởng đoàn, anh Sơn Ngọc Minh cố vấn. Tiểu đội trưởng tiểu đội bảo vệ đoàn là anh Hoàng Phúc, tiểu đội phó là anh Lê Tương Phụng. Đoàn đem theo 50 kg vàng và một triệu đồng bạc Đông Dương. Theo sự phân công của Xứ ủy Nam Bộ, số vàng và số tiền này mang sang Thái Lan để mua vũ khí cho chiến trường Nam Bộ và mua lương thực, thực phẩm cho Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II hành quân chiến đấu về chi viện khu 9 - Nam Bộ. Trên đường từ khu 8 đi qua Campuchia để sang Thái Lan, thì ngày 14-7-1947, đoàn gặp địch phục kích, bao vây. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa một tiểu đội của ta với cả đại đội địch do Pháp chỉ huy tại vùng Srang (thuộc tỉnh Kompong Speu - Khu Tây Nam Campuchia. Anh Hoàng Phúc bị thương gãy cánh tay phải. Đến ngày 17-7-1947 thì địch bắt được anh. Anh Lê Tương Phụng, tiểu đội phó, lên thay anh Hoàng Phúc bảo vệ đoàn đi tiếp sang Mai Ruột. Địch bắt anh Hoàng Phúc đem về giam ở Phnom Pênh, sau đó đưa về giam tại khám lớn Sài Gòn và đày ra Côn Đảo cho đến ngày 01-10-1954 (Sau Hiệp định Genève 20-7-1954) anh mới được trao trả tại Sầm Sơn - Thanh Hóa. Sau nhiều ngày đi đường và đánh địch, khi đoàn anh Trần Văn Sáu đi đến Phum Mọt Praks cách chiến khu Mai Ruột khoảng hai ngày đường núi (nơi Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II đang ở tại đây) thì tối hôm ấy bị bọn cướp ở Phum (ấp) Mọt-Praks lợi dụng lúc cả đoàn đang ngủ chúng ập tới, dùng búa chém anh em chết gần hết. Xác chết của trên 10 người bị chúng quăng xuống suối, chảy trôi đi. Chỉ còn sống sót lại 4 ngươi. Bọn cướp vơ vét hết đồ đạc về Phum. Những người bị giết hại có anh Trần Văn Sáu, Trưởng đoàn. Số vàng 50 kg đeo trong bụng mỗi ngựời và một triệu đồng cùng toàn bộ vũ khí đều bị mất sạch, chỉ còn lại hình ảnh các trận chiến thắng lớn của quân và dân Nam Bộ đem sang Thái Lan để triển lãm cho kiểu bào ta xem. Bốn người còn sống sót mà chúng tôi gặp tại chiến khu II Mai Ruột chính là anh Sơn Ngọc Minh, anh Lê Tương Phụng, anh Nguyễn Ngọc Sanh, vài ngày sau còn thêm anh Lâm là giáo viên người Hoa. Sở dĩ 4 anh còn sống, vì các anh đều giả chết, nên sau khi bọn cướp đi rồi các anh bò đi, tìm đường tới Mai Ruột. Ba anh ở đây với Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II cho đến ngày lên đường về Nam Bộ. Các anh kể lại: Trong trận đánh địch tại Srang, hai người hy sinh, trong đó có anh Hoàng Phúc tiểu đội trưởng chỉ huy tiểu đội, anh Phúc là con trai một gia đình cơ sớ cách mạng năm 1940 ở Vientiane (Lào). Sau cách mạng tháng 8-1946 - 1946 anh tốt nghiệp khóa Quân chính đầu tiên do Bộ Tư lệnh Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane mở. Anh là Trung đội trưởng trung đội tự vệ tập trung của Phân hội Việt kiều cứu quốc Wạt xí Mường Thạt Khảo Vientiane. Sau khi ta rút sang Thái Lan, anh Phúc đã trốn gia đình đi cùng với anh Trần Văn Sáu và anh Sơn Ngọc Minh về chiến khu Umkè. Chi đội Hải ngoại Trần Phú về nước ngày 26-12-1946 về đến Tây Ninh ngày 29-2-1947. Khi nghe tin anh Phúc hy sinh, anh Mạnh Hùng đã ghi lại trong nhật ký tại Chiến khu II Mai Ruột bài thơ tặng anh Hoàng Phúc như sau: Anh Phúc hỡi! từ khi xa vắng Vì giang sơn lòng chẳng quản chi Quên gia đình, quên bạn trước phân ly Theo Trần Phú(1) anh đã về đất nước Rồi ngày sang anh một lòng tiến bước Gặp giữa đường quân cướp nước bao vây Khiến thần anh sa vào lưới từ đây Hồn lìa xác, ôi xa vời cõi thế Hay tin này tôi lòng càng tê tái Nhớ hình anh tôi thề mãi không quên. Anh chết vì Tổ quốc thiêng liêng Mọi kẻ sống còn cùng anh tiến mãi. (Chiến khu II Mai Ruột ngày 19-8-1947) Sau khi 4 anh đến Mai Ruột, một mặt đơn vị lo chăm sóc sức khỏe cho các anh, một mặt anh Dung Văn Phúc báo cho Trung đội I có tăng cường, do anh Trần Quang Lợi làm trung đội trưởng, anh Đào Mạnh Duệ chính trị viên đi truy kích bọn cướp. Cùng đi còn có một tổ trinh sát. Chỉ huy chung là anh Dung Vãn Phúc, với lương thực, thực phẩm và các sợi dây thừng lớn, phương tiện đao cụ để vượt suối được đem theo đầy đủ. Anh Sơn Ngọc Minh cùng đi với chúng tôi. Có người địa phương dẫn đường Trung đội hành quân cấp tốc đến phum Mọt - Praks. Trên đường hành quân, đúng như dự đoán, gặp con mưa lũ khá lớn. Các con suối dâng nước lên mênh mông. Nước đổ từ nguồn xuống như thác, phải dùng giây thừng cột từ bờ bên này sang bờ bên kia để vượt qua, hết sức nguy hiểm nhưng không còn con đường nào khác. Chúng tôi xuyên qua rừng rậm, núi cao mất hai ngày đêm. Khi đến cách Phum Mọt-Praks khoảng 1 cây số, bỗng thấy 2 con voi có người ngồi trên, đang đi về hướng chúng tôi. Chúng liền nổ mấy phát súng trường và quay voi chạy thục mạng trở về Phum Mọt Praks. Trinh sát kịp thời nổ súng. Một tên bị trúng dạn, chết tại chỗ. Chúng tôi đuổi theo. Tới đầu phum, theo kế hoạch, trung đội chia[ làm 3 mũi, một mũi cùng đội trinh sát chạy thẳng vô giữa phum. Hai mũi kia bao vây đầu phum, chặn các ngả đường. Nhưng vì voi chạy nhanh hơn người, nên khi chúng tôi tới nơi chỉ còn thấy hai bành tượng, trong đó có hai cái mền, một ba lô của anh Trần Văn Sáu với toàn bộ hình ảnh cảc trận chiến thắng lớn ở Nam Bộ. Tất cả bị ướt hết. Còn hai con voi và 50 kg vàng thì không thấy đâu nữa. Có lẽ bọn cướp mang vàng sang Thái Lan để bán, không ngờ lại gặp quân ta. Chúng tôi bắt được 8 tên, dẫn ra tra hỏi, nhưng không có kết quả gì. Tại hiện trường, thấy có mấy cái bếp đóng cọc luộc bắp. Những vũng máu người còn đó càng làm chúng tôi đau đớn. Như vậy, đoàn anh Trần Văn Sáu có 6 cán bộ và một tiểu đội 12 người thì một hy sinh, một bị bắt, 12 người bị bọn cướp giết hại và 4 người còn sống đi tới Mai Ruột. Thời gian ở chiến khu Mai Ruột, cán bộ, chiến, sĩ được học chính trị, học lịch sử chống ngoại xâm của ông cha ta ngày xưa. về quân sự học tháo lắp toàn bộ các loại vũ khí mới hiện có, cách sử dụng, lau chùi và bảo quản; ôn luyện các động tác cá nhân chiến đấu, hàng ngày 5 giờ sáng thức dậy chào cờ, rồi hành quân 2,5 km sang bên kia núi tập chiến thuật tiểu đội chiến đấu, trung đội chiến đấu và toàn tiểu đoàn chiến đấu. Chia ra giữa địch và ta, tập các tình huống chiến đấu trên đường hành quân như: tao ngộ chiến, chống phục kích và ngược lại, chống tập kích và đánh địch bao vây, mở đường tiến quân. Một số anh em còn học môn đánh kiếm Nhật, do hai người Nhật[ (Công và Bộ) dạy. Môn này rất hấp dẫn. Cứ mỗi lát chém lại hét lên một tiếng “trát” thật lớn để uy hiếp tinh thần đối phương. Thời gian 4 tháng ở Mai Ruột do công tác dân vận tốt, đa số anh em biết tiếng Thái, một số ít biết tiếng Hoa, nên được nhân dân ở đây rất thương mến, giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt. (1) Chi đội hải ngoại Trần Phú Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:43:19 pm ĐÁNH CHIẾM ĐỒN SẰM LỐT (30-10-1947) Sau nhiều ngày điều tra đồn Sằm Lốt, ngày 29-10-1947, trước ngày xuất phát lên đường về nước một tuần, Ban chỉ huy tiểu đoàn lấy hai tiểu đội của trung đội do anh Huỳnh Công Đồng trung đội trưởng, anh Đặng Ngữ trung đội phó, anh Phạm Văn Trị chính trị viên, và tổ trinh sát do anh Nguyễn Văn Hên làm tổ trưởng, chuẩn bị bí mật hành quân bằng ghe, theo hướng Đông Bắc, đi từ sáng đến 4 giờ chiều tới Thà Rưa, lên bộ, cắt đường rừng đi 4 - 5 tiếng đồng hồ. Cách đồn Sằm Lốt 5 cây số, anh em nghỉ. 4 giờ sáng đơn vị lại tiếp tục hành quân áp sát đồn địch. 5g30 sáng 30-10-47, ta nổ súng vào đồn địch. Bị đánh bất ngờ, một số tên chết và bị thương. Chúng bỏ chạy tán loạn. Ta nhanh chóng tiến vào chiếm đồn vá bố trí một tiểu đội chặn địch tiếp viện. Ta thu toàn bộ chiến lợi phẩm và đốt đồn. Đồn này có một trung đội, là tiền đồn của cứ điểm Popailin thuộc tỉnh Battambang do Pháp chỉ huy. Tên Pháp chỉ huy đồn bỏ chạy, ta bắt được vợ y và phóng thích tại chỗ. Trận này địch chết 5 tên, một số bị thương, ta thu 7 khẩu súng các loại, bắt hai con voi, 2 con ngựa, 1 cỗ xe bò, 2 con bò, và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Bên ta một chiến sĩ hy sinh (anh Viết) người Việt kiều Thà Khek. Mừng chiến thắng này toàn tiểu đoàn lại được ăn cơm no với 700 g gạo một người/một ngày với thịt ngựa. Nhờ có hai con voi mà ta dễ dàng vận tải lương thực, thực phẩm về nước. Có một chuyện không vui là trong những ngày cuối cùng trước khi tiểu đoàn xuất phát có một chiến sĩ mất tinh thần, đành phải công khai tuyên bố kỷ luật “sa thải” anh, và cho trở về Oudon. Khác với tinh thần người chiến sĩ này, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II ai cũng có cha mẹ, anh chị em, vài ba anh đã có vợ con, có những anh em đã trốn gia đình ra đi nhập ngũ và một số anh em cũng có người yêu. Nghĩa là anh em cũng có biết bao thương nhớ. Nhưng tất cả tình cảm đều được tạm đặt sang một bên. Trên hết và trước hết vẫn là trách nhiệm đối với Tổ quốc, tất cả cho đánh giặc cứu nước, làm sao cho xứng đáng với lòng tin cậy của trên 10 vạn Việt kiều Thái - Lào và của đồng bào cả nước đã trao cho nhiệm vụ vinh quang ấy. Ban chỉ huy Tiểu đoàn mà anh Dung Văn Phúc là Tiểu đoàn trướng khi ấy đã 42 tuổi, anh Trương Văn Kỉnh chính trị viên và anh Bông Văn Dĩa đều khoảng 46-47 tuổi. Người thường trực với chúng tôi là anh Dung Văn Phúc, vóc ngươi cứng rắn, khỏe mạnh, có nét mặt kiên nghị, nhưng lại nhiều tình cảm thương yêu anh em. Cả đơn vị rất quý mến, kính trọng anh. Anh Dung Văn Phúc chính là đồng chí Dương Quang Đông, tức bác Năm Đông, hiện sống và công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:45:47 pm LÊN ĐƯỜNG VỀ NƯỚC 25 ngày đêm từ 7-11-1947 đến 01-12-1947 Sau 4 tháng ở chiến khu Mai Ruột, đơn vị được lệnh chuẩn bị lên đường. Sau trận đánh đồn Sằm Lốt một tuần trước khi xuất phát, toàn đơn vị được nghe một tin vui: Mỗi người được ăn 700 gr gạo một ngày, không phải vô rừng tìm kiếm đào khoai mài nữa. Đúng 7 giờ sáng ngày 7-11-1947 chúng tôi xuất phát lên đường về nước với tinh thần phấn khởi, khí thế hào hùng. Con đường đi từ Mai Ruột xuyên qua Tây nam Campuchia rồi xuống kênh Vĩnh Tế - Hà Tiên. Theo dự tính, về đến Nam Bộ thì tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II là đơn vị Hải ngoại IV về nước. Sở dĩ đặt tên Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II(1), vì ở Khu 9 Nam Bộ đã có Tiểu đoàn Cửu Long I do anh Trần Thắng làm tiểu đoàn trưởng; anh Hoàng Hưng chính trị viên. Các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Cửu Long I đều là anh em ở Khu 9 Nam Bộ. Cùng với Ban chỉ huy Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II hành quân về Nam Bộ, có anh Sơn Ngọc Minh phụ trách công tác vận động quần chúng Campuchia. Qua thời gian tập luyện và nhờ có 2 con voi nên khi hành quân mỗi người chỉ mang nặng khoảng 20 kg. Ngày đầu tiên, leo núi, anh Cáo bệnh tim nặng, nên bị ngất giữa dốc núi. Anh em phải dìu anh xuống và nhờ nhân dân đưa trở lại Mai Ruột. Tiểu đoàn đi tới đâu nhờ nhân dân địa phương dẫn đường đến đó, 22 ngày đêm hành quân hết ngọn núi này đến ngọn núi khác. Và lên tới đỉnh núi Choọc Siam, ngọn núi cao nhất nước Campuchia. Từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy núi rừng trùng trùng điệp điệp. Xuống núi, có nhiều ngọn núi đi hết một ngày mới tới suối. Lại đi lên núi khác và lại xuống núi, cứ như vậy mà đi. Có những đêm chúng tôi ngủ trên núi, bị mưa hai ba tiếng đồng hồ liền, mặc dù đây là mùa khô. Mọi người dựa lưng vào nhau cho đỡ lạnh. Hồi ấy không ai có vải đi mưa. Mưa gió, rét lạnh, bị vắt cắn sưng lên, lở lói. Có ngày phải ăn cơm khô, mỗi bữa chỉ ăn một hai nắm, uống nước suôi. Lúc bấy giờ địch tung ra nhiều nơi tìm bộ đội ta, nên anh em rất cảnh giác. Mỗi lần được tin địch sắp tới gần phum, ta đang chờ nhân dân giã gạo cũng phải rút. Tuy toàn đơn vị đóng ở trong rừng, nhưng cũng phải hành quân đi ngay. Chủ trương của ta là cố tránh gặp địch để bảo toàn lực lượng, về tới đất nước an toàn. Chỉ đánh địch trong trường hợp thật đặc biệt, nhưng phải hết sức tiết kiệm đạn dược. Địch cũng đã biết Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Theo tin tức của quân báo, địch cho rằng ta có khoảng 1000 quân với 4 con voi vận tải, nhưng chúng không hề biết đơn vị này sẽ đi đâu, hoạt động ở vùng nào ở Campuchia. Sau khi chi đội Trần Phú về tới Tây Ninh gần 1 năm thì chỉ còn đơn vị Cửu Long II, nên địch huy động một lực lượng khá lớn theo dõi, phục kích trên các đường mòn. Chúng tăng cường lực lượng các đồn lớn, hành quân bằng cơ giới lưu động theo các đường lộ chính để chặn đánh quân ta. Chúng tôi đã đi qua những khoảng đất trống, nhất là những chỗ gần lộ xe ôtô, nhìn thấy công sự cá nhân và rất nhiều vỏ đồ hộp của địch bỏ lại trước khi chúng rút đi. Toàn Tiểu đoàn hành quân suốt 22 ngày đêm trên núi an toàn không hề chạm trán với địch. Chiều ngày 28-11-1947, Tiểu đoàn về đến Loboeuk (Srok Chhuk) đây là vùng đồng bằng tỉnh Kampot. Từ đây về tới kênh Vĩnh Tế - Hà Tiên đều là đồng ruộng mênh mông, nhưng vẩn có nhiều cây cối và làng xóm che khuất, không trống trải như ở đồng bằng Nam Bộ. Từ Loboeuk đơn vị điện cho Bộ Tư lệnh Khu 9 hỏi về kế hoạch có một đại đội của Hà Tiên được phái đến Loboeuk đón Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II để cùng hành quân về kênh Vĩnh Tế - Hà Tiên, mà không thấy lên. Điện của Khu 9 cho biết là trong 10 ngày qua, địch bố ráp liên tiếp tại kênh Vĩnh Tế, Liên chi đội Hà Tiên phải chiến đấu liên tục với quân Pháp. Chúng huy động cả tàu chiến trên sông, tiến công vùng giải phóng, khủng bố nhân dân và chặn đường tiến về Hà Tiên của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Do đó, không thể đưa được đại đội lên Leboeuk đón chúng tôi, vì vậy Cửu long II phải tự hành quân tiếp về Hà Tiên. Không còn chờ đợi gì nữa, từ đây về tới kênh Vĩnh Tế nếu có liên lạc dẫn đường thì chỉ đi hết 2 ngày 1 đêm. (1) Hải ngoại I: Bộ đội Độc lập số 1, khi lên đường về nước anlì Dương Tân (tức Huỳnh Văn Vàng, chỉ huy trưởng, anh Đặng Văn Duyệt Bí thư chi hộ, Ngô Thất Sơn là phó chỉ huy. Về đến khu 7 Nam Bộ, hai anh Duyệt và Vàng được bố trí công tác khác. Anh Ngô Thất Sơn làm chỉ huy trường hoạt động tại biên giới Tây Ninh. Từ 1947 - 1950 hoạt động tai ở Đông Bắc Cao Miên, lấy tên là Bộ đội Sivôtha. Bộ đội Độc lập số 1 lên đường về nước ngày 9-8-46 và đến Tây Ninh 10-9-46 Hải ngoại II: Bộ đội Quang Trung do anh Phạm Ngọc Thuần làm chỉ huy kiêm chính trị viên, anh Hoàng Xuân Bình chỉ huy trưởng quân sự về khu 9 Nam Bộ cuối năm 1946; anh Nguyễn Trọng thường và Giao chỉ huy phó, Hoàng Ngọc Cừ chính trị viên, anh Võ Hoàng chính trị viên phó. Lên đường về nước ngày 15-11-46 và đến Vĩnh Gia Khu 9 ngày 5-1-1947. Hải ngoại III: Chi đội Trần Phú do các anh Nguyễn Chánh chi đội trưởng, anh Lê Quốc Sản và Đỗ Huy Rừa là 2 chi đội phó; anh Trần Văn Sáu chính trị viên; hai anh Hải Nam và Dương Cự Tẩm là chính trị viên phó; anh Sơn Ngọc Minh là cố vấn Chi đội, về đến Tây Ninh (ngày 27-2-1947, sau sáu mươi lãm ngày đêm) (xuất phát 26-12-1946 đến khu 7 ngày 27-2-1947). Anh Trần Văn Sáu đi làm nhiệm vụ khác, anh Đỗ Huy Rừa về Bến Tre phụ trách trung đoàn phó trung đoàn 99, khi thành lập tiểu đoàn 307, anh Rừa là Tiểu đoàn trưởng. Ban chỉ huy chi đội Trần Phú còn lại 3 anh: Nguyễn Chánh chi đội trưởng, Lê Quốc Sản chi đội phó, Dương Cự Tẩm chính trị viên. Hải ngoại IV: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II, Ban chỉ huy Tiểu đoàn gồm các anh: Dung Văn Phúc (Dương Quang Đông) Tiểu đoàn trường, anh Trương Văn Kỉnh chính trị viên; Bông Văn Dĩa Tiểu đoàn phó. Khi về đến khu 9, các anh trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn được bố trí công tác khác. Ban chì huy mới là các anh Đào Mạnh Duệ; Trần Quang Lợi và anh Từ Thiện Tài chỉ huy phó. (Tiểu đoàn Cửu Long II xuất phát 07-11-47), đến kênh Vĩnh Tế Hà Tiên - Khu 9 ngày 01-12-1947 - 25 ngày đêm). Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:47:30 pm TRẬN LOBOEUK CẠNII LỘ CHHUK (5 giờ 30 sáng 20-11-1047) Chiều ngày 28-11-1947, trời vừa tối, sau một tiếng đồng hồ hành quân thì đến lộ Chhuk lộ chính chạy từ Phnom-Pênh xuống thị xã Kampot). Trinh sát vượt qua lộ. Trung đội đi đầu dọn đường cho đơn vị tiếp tục hành quân trong khu rừng thưa. Đếm tối không có người dẫn đường. Đi gần 2 tiếng đồng hồ, cho anh em nghỉ lại để sáng tìm người địa phương. dẫn đường. Anh em thay phiên nhau canh gác dể đơn vị ngủ. Đến mờ sáng thức dậy, chuẩn bị hành quân thì một số anh em đã nhìn thấy lộ Chhuk vẫn ở bên cạnh. Địch đang tiến sát đơn vị. Trung đội hậu vệ liền bố trí chiến đấu ngay. Tất cả các khẩu súng đã lên đạn chờ địch. Anh Đào Mạnh Duệ đứng bên cạnh anh Đặng Ngữ Trung đội phó với khẩu trung liên Browing. Quả nhiên thấy mấy tên lính Pháp và ngụy mặc quần áo vàng, tay cầm súng lom khom tiến vô. Chúng vừa đến một bàu nước cách chúng tôi khoảng 30m thì ta ra lệnh bắn. Khẩu trung liên và các loại súng khác đều lên tiếng. Mấy tên đi trước ngã tại chỗ (kể cả tên Pháp chỉ huy). Bọn phía sau tiếp tục xông tới. Các khẩu trung liên của ta tiếp tục nổ. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch chỉ kéo dài 30 phút. Địch chết và bị thương 15 tên. Tiểu đoàn tiếp tục hành quân. Để bảo vệ cho tiểu đoàn, trung đội anh Đặng Ngữ được lệnh để lại 1 tiểu đội sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết. Đến 3 giờ chiều, chúng tôi đến một khu rừng thưa thuộc núi Pang Hang. Nơi này cách lộ Pang Hang 2 cây số, có đồn Tàni, gồm một đại đội địch do Pháp chỉ huy. Toàn đơn vị vô rừng ăn lương khô và nghỉ ngơi khoảng hai tiếng đồng hồ lại tiếp tục vượt qua lộ Pang Hang, hành quân theo hướng kênh Vĩnh Tế - tỉnh Hà Tiên. TRẬN LOBOEUK LẦN TIIỨ II (6 giờ sáng 29 tháng 11-1947) Như vậy, sau trận nổ súng đầu tiên với một đại đội địch chúng bỏ lại xác, rút khỏi trận địa củng cố, lại tiến vô. Nhưng bất ngờ chúng lại bị một đơn vị của ta đánh một trận nữa. Trận này kéo dài khoảng 20 phút, địch chết và bị thương thêm hàng chục tên. Trận đánh kết thúc. Anh em ta theo vết của Tiểu đoàn hành quân đến lộ Pang Hang. HAI TRẬN THẮNG LỚN (Pang Hang - Tàni) (17 giờ ngày 29-11-1947) Năm giờ chiều 29-11-1947, đơn vị được lệnh ra khỏi rừng chờ trinh sát về để hành quân qua lộ Pang Hang - Tàni. Bỗng được tin báo: Phía trước có địch đang tiến vô, đồng thời ít nhất cũng một đại đội địch từ phía khác đang tiến về phía quân ta. Ta bố trí chiến đấu ngay. Trung đội đi đầu do anh Huỳnh Công Đồng, làm trung đội trưởng bố trí đánh cánh quân phía trước. Trung đội I do anh Trần Quang Lợi làm trung đội trưởng và anh Đào Mạnh Duệ, chính trị viên, bố trí đánh địch cánh thứ hai. Các trung đội khác luỉ vào mé rừng sẵn sàng chiến đấu. Tất cả các chiến sĩ đều nằm sau các gò mối, gốc cây, bờ ruộng chờ lệnh. Những tiếng nổ từ phía trước - Đó là một loạt súng của trinh sát ta. Tiếp theo các loại súng của địch bắn như mưa về phía quân ta. Địch còn cách ta khoảng 100m thì trung đội phía trước nổ súng. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt. Đơn vị địch đi đầu bị diệt nhiều tên. Các toán khác cũng bị trúng đạn. Trận chiến đấu đến phút thứ 45 thì cánh quân khác của địch tràn tới. Chờ cho địch tới gần, ta đồng loạt nổ súng. Nhiều tên địch chết và bị thương. Như vậy, cả hai cánh quân địch đều bị ta đánh bật đi. Lúc ấy, anh Dung Văn Phúc đứng giữa bãi cỏ, nói lớn: “Cần một đồng chí tiểu đội trưởng dẫn một tiểu đội theo trinh sát tiến nhanh ra lộ Pang Hang, phục kích trước, ai xung phong sẽ được đề bạt lên cấp trung đội”. Tức thì anh Lưu Ngọc San, tiểu đội trưởng, giơ tay, nói: “Có tôi!”. Và anh lập tức dẫn tiểu đội mình chạy ra lộ, bố trí phục kích. Lúc bấy giờ, trung đội 3 được lệnh vượt qua lộ, chờ đánh bọn địch ở đồn Tàni. Chúng tôi đi qua lộ Pang Hang khoảng 500m thì dừng lại chờ. Lúc ấy trời đã mờ tối. Đồn Tà ni cách chúng tôi khoảng 2 cây số. Quả nhiên, sau khi chúng tôi vượt qua lộ, thì bắt đầu nghe súng nổ. Quân tiếp viện của địch đi kèm có một xe nồi đồng (thiết giáp). Chúng không ngờ ta phục kích chúng. Bị đánh bất ngờ, nhiều tên chết và bị thương. Như vậy trong gần 1 giờ 30 phút, ta đánh hai trận liền trên hai địa điểm cách nhau khoảng 1km. Địch chết và bị thương trên 30 tên thu 10 súng và nhiều đạn dược. Phía ta, một chiến sĩ hy sinh (anh Nhuận). Hai trận đánh địch tại lò Vôi Pang Hang này, đã tỏ rõ tinh thần chiến đấu dũng cảm và quyết tâm đánh địch của cán bộ và chiến sĩ tiểu đoàn. Nghỉ ngơi trên dưới một tiếng đồng hồ, chúng tôi lại hành quân tiếp. Tối 29-11-1947, chúng tôi đang đi thì nghe nhiều tiếng súng trung liên, liên thanh nổ tại lộ Pang Hang (nơi ta vừa đánh địch hai trận hồi chiều). Đó là đơn vị do anh Đặng Ngữ chỉ huy ở lại Loboeuk đánh địch tại lộ Chhuk cho Tiểu đoàn hành quân và đã đi sau hai tiếng, khi tới lộ Pang Hang - Tani bất ngờ các chiến sĩ ta nghe địch la lớn bằng tiếng Pháp: Attention Việt Minh (coi chừng Việt Minh). Lập tức, ta được lệnh nổ súng ngay. Hai bên bắn nhau đến 20 phút. Địch chết và bị thương một số. Tên chỉ huy Pháp la ầm ĩ: “Rờpli, rờpli” (Repli, repli) (rút, rút). Vậy là chúng lại rút chạy về đồn Tani. Số địch này chính là những tên trở lại trận địa cũ hồi chiều để lấy xác đồng bọn, nhưng không ngờ lai gặp quân ta cùng vừa đi tới. Đó là một trận tao ngộ chiến. Sau khi kết. thúc trận đánh, các chiến sĩ tiếp tục nhờ nhân dân dẫn đường, hành quân theo các đơn vị của ta đi trước. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:48:50 pm HÀNH QUÂN ĐÁNII ĐỊCH GIỮA BAN NGÀY TRÊN ĐỒNG RUỘNG Từ Pang Hang về tới kênh Vĩnh Tế, phải đi mất một đêm hai ngày. Hai ngày sau cùng hành quân theo đơn vị, từng trung đội là chủ yếu. Tuy là đồng ruộng, nhưng có nhiều lùm cây và bụi tre che khuất. Vừa đi lại vừa đánh địch, rất dễ bị lạc nhau, nên không thể đi tập trung toàn Tiểu đoàn được. Trung đội 1 đi khoảng 9 giờ sáng ngày 30-11-1947 thì nghe nhiều trận đánh của các đơn vị đi trước. Bỗng anh em phát hiện có địch đang ở phía sau. Bọn chúng lố nhố có đến một trung đội. Lập tức, anh Đào Mạnh Duệ ra lệnh cho trung đội sẵn sàng chiến đấu. Địch tiến đến gần. Chúng tôi cho lệnh nổ súng. Địch không dám tiến nữa. Chúng bắn xối xả về phía chúng tôi. Trận chiến đấu giữa ban ngày trên đồng ruộng như đánh trận giả, chúng tôi nghĩ thầm như vậy. Cuộc chiến đấu kéo dài khoảng 30 phút thì chúng rút chạy. Chúng tôi bắn đuổi theo. Địch rút chạy xa hơn. Hàng chục trận chiến đấu giữa ban ngày trên đồng ruộng như vậy của các đơn vị đà diễn ra liên tiếp trong hai ngày 30-11-1947 và 01-12-1947. Chúng tôi tiếp tục hành quân. Trên đường đi ngang các thửa ruộng lúa non, ai nấy đói cồn cào. Lương khô (cơm khô) còn quá ít, cần để dành. Bởi vậy biết là không phái với dân anh em đành tuốt lúa non bỏ đầy hai túi quấn, vừa đi vừa nhai cho đỡ đói. Suốt đường hành quân, chúng tôi tự xưng mình là Quân đội Việt Nam đánh Pháp, giành độc lập tự do cho Việt Nam, cho đất nước Campuchia. Chính vì vậy, đi đến dâu chúng tôi cũng được nhân dân cho hoặc bán lương thực và cho người dẫn đường. Hành quân và chiến đấu trên địa hình ruộng nước có nhiều cây cao che khuất tầm nhìn. Vì vậy từ Pang Hang về kênh Vĩnh Tế - Hà Tiên không còn giữ được đội hình như khi hành quân trên núi. Do địa hình như vậy anh em phải bám sát nhau để cùng chiến đấu nếu gặp địch. QUYẾT DIỆT ĐỊCH KHI QUA LỘ TONHON (30-11 - 1-12-1947) Biên giới Việt Nam càng đến gần. Khoảng 8 - 9 giờ sáng lại có tiếng súng nổ ba bên, bốn bên, sau này chúng tôi mới biết đó là các trận đánh địch tại lộ TonHon của những đơn vị đi trước chúng tôi. Đến lộ TonHon, có đồn địch cách chỗ chúng tôi vượt lộ khoảng 500m. Bỗng hai người dẫn đường bỏ chạy về hướng đồn TonHon. Chúng tôi buộc phải bắn mấy phát chỉ thiên và đuổi theo bắt giữ hai người này lại. Một tiểu đội vượt nhanh qua lộ, bố trí phục kích theo lộ xe. Lúc ấy khoảng 5 giờ chiều ngày 01-12-1947. Nhìn thẳng lộ không thấy có địch, chúng tôi cho đơn vị qua lộ TonHon và cùng hành quân về phía trước. Sau khi qua kênh Vĩnh Tế, chúng tôi mới biết các đơn vị đi trước đã đánh địch 3 trận tại lộ TonHon, có hai anh hy sinh, đó là anh Nhượng và Ngạn, trận chiến đấu diễn ra rất quyết liệt kéo dài đến 20 phút, địch chết và bị thương trên 10 tên, có một số Tây Marốc và ngày 1-12-1947 đồn TonHon đã tự rút chạy. Bên ta có 7 anh em, bị lạc đơn vị đã chiến đấu rất dũng cảm với một trung đội địch. Anh Trần Mạnh Thắng bị thương, và bị địch bắt đem về đồn. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:50:08 pm ĐÁNH THẮNG HAI TÀU TÂY MARỐC (1-12-1947) Qua khỏi lộ TonHon, chúng tôi thấy rặng cây xanh hai bờ kênh Vĩnh Tế ngày càng gần. Ai nấy đều mừng vui, quên hết mệt nhọc và bụng đói. Nhưng khi gần đến bờ kênh thì lại nghe súng nổ liên tiếp. Chúng tôi phải ngưng hành quân. Tất cả được lệnh bố trí lại đội hình và cho trinh sát về phía kênh Vĩnh Tế nắm tình hình địch. Anh em trinh sát trở lại cho biết, đó là trận chiến đấu giữa đạn vị đến trước đánh hai tàu địch và địch đã rút. Trung đội chúng tôi cấp tốc đi đến kênh Vĩnh Tế. Đồng bào cho ghe, xuồng sang đón. Lúc ấy khoảng 17 giờ ngày 01-12-1947. Anh em cho biết, đó là trận đánh hai tàu Tây Marốc. Anh Dung Văn Phúc trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Gần 20 tên địch chết và bị thương. Chúng đã phải rút về Hà Tiên. Bên ta, anh Quát, y tá, bị chết đuối khi qua kênh bị nước chảy xiết cuốn đi. Tất cả chúng tôi được đồng bào đưa vô Tà Teng cách kênh Vĩnh Tế 2km, nơi các đơn vị đến trước đều đã tập trung tại đây. Như vậy là chiều tối 01-12-1947, đơn vị chúng tôi về tới Hà Tiên, được bộ đội địa phương đưa bằng xuồng vô Tà Teng, nơi tập kết của toàn Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Đệm hôm ấy có một đại đội chủ lực Hà Tiên đến để chuẩn bị đánh địch vào sáng hôm sau. Anh Dung Văn Phúc đề nghị cho một trung đội của Cửu Long II cùng đại đội địa phương đánh địch. Nhưng Liên đội Hà Tiên đề nghị để anh em được nghỉ ngơi. Kiểm lại quân số thấy còn thiếu các anh Trần Mạnh Thắng tiểu đội trưởng, Đinh Văn Hải và 7 anh: Vũ Đình Ty, Lễ, Khôi, Bộ (Nhật), Tao (khố xanh), Cảm (Mã Lai) và Lưu Ngọc San tiểu đội trưởng. Bảy anh em này khi lạc đơn vị đã đi chung thành tiểu đội chiến đấu do anh Lưu Ngọc San chỉ huy đi lạc về phía núi Tà Xoong (tức là núi Kirivông) thuộc Tà Keo và mấy hôm sau anh em này về đến đơn vị tại huyện Sử. Anh Trần Mạnh Thắng lạc một mình, bị địch bắt giam. Sau một thời gian anh trốn được, trở lại hoạt động tại Srock Kokông, thuộc vùng Tây Kampot. Từ Cách mạng tháng 8-1945 và năm 1946 anh đã từng chiến đấu trong bộ đội độc lập võ trang tuyên truyền liên quân Lào - Việt ở tỉnh Paksế (Lào) do ông Sithon Kômađam chỉ huy. Cuối năm 1946 anh Thắng đến chiến khu Noỏng Ổn (tỉnh Oudon - Thái Lan) làm tiểu đội trưởng và tiếp tục sang vùng địch hậu tỉnh Vientiane (Lào) chiến đấu, phụ trách trinh sát. Về đến Tà Teng, chúng tôi được biết đại đội trong liên chi đội chủ lực Hà Tiên này được lệnh lên Lobotiuk đón Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Nhưng vì phải liên tiếp chiến đấu nên không lên đón được. Cuộc hành quân 25 ngày đêm, nhưng 3 ngày cuối cùng rất quyết liệt giữa ta và địch. Trong khi anh em luôn bị đói và khát, thì quân địch rất đông, nhưng tinh thần chiến đấu kém nên giao tiếp với ta chỉ một thời gian ngắn là rút lui. Vừa đánh vừa đi, toàn đơn vị đã về đến Tổ quốc gần như đầy đủ, mà còn thu được 10 khẩu súng của địch tại hai trận đánh ở Pang Hang (Lò Vôi). Nếu kể cả trận đánh đồn Sằm Lốt ở biên giới Thái Lan - Campuchia, hai trận Loboeuk ở lộ Chhuk, hai trận đánh lớn ở (Lò Vôi) - Pang Hang, ba trận đánh địch tại lộ TonHon, trận đánh tàu Marốc ở kênh Vĩnh Tế và nhiều trận đánh nhỏ trên đường hành quân thì có đến 15 trận lớn nhỏ. Địch chết và bị thương ít nhất cũng trên 130 tên, trong đó có một số tên Pháp và Marốc, ta thu 17 súng các loại và nhiều đạn dược. Ta hy sinh, và bị thương 6 đồng chí. Chúng tôi về tới đất nước trước sự mừng vui không kể xiết của đồng bào và bộ đội Hà Tiên. Đến nay, hồi tưởng lại cuộc hành quân 25 ngày đêm trở về với đất nước, chúng tôi thấy tập thể cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II có một sức mạnh đặc biệt, nếu không nói là phi thường. Trải qua bao gian khổ và hiểm nguy, nhưng không một ai nao núng; trên dưới một lòng, đoàn kết thống nhất, đã tạo nên sức mạnh cho toàn đơn vị, trước hết là từ Ban chỉ huy Tiểu đoàn mà anh Dung Văn Phúc là Tiểu đoàn trưởng, anh Trương Văn Kỉnh, chính trị viên, anh Bông Văn Dĩa tiểu đoàn phó. Anh Sơn Ngọc Minh, người cán bộ cách mạng Campuchia, anh Kính, cụ Tiến già đều là những bậc đàn anh mà chúng tôi rất quý mến. Cho đến nay, những đồng chí, anh em đó có người còn, người mất, nhưng hình ảnh của họ luôn sống mãi với chúng tôi, luôn lưu lại trong lòng nhân dân qua nhiều thế hệ. Rất tiếc, trong quyển sách nhỏ này, chúng tôi chỉ nhắc lại được một phần hết sức nhỏ công lao của các đồng chí đối với tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Xin những người đã khuất tha lỗi cho chúng tôi và xin biết ơn tất cả. Để ghi lại tình cảm của mình trong những ngày đầu tiên về tới đất nước, anh Đào Mạnh Duệ có ghi nhật ký bằng thơ với tựa để Về đến Đất mẹ như sau: Mùi Hải ngoại về đây đâu còn nữa Ngót tháng trời ròng rã nắng mưa sương Trải gian lao rừng núi dạ gan trường Bao đói rét chẳng sờn gan dũng sĩ Đều chân bước dạ cùng nhau quyết chí Mặc quân thù hết vi bọc, bao vây Tiếng hô vang lẫn giọng thét hàng ngày Đoàn Hải ngoại đã nhiều phen chiến thắng Hôm nay đây tưởng ngày qua văng vẳng Trước đồng bào trong im lặng thân yêu Trong say sưa thỏa chí giữa muôn chiều Đây đất nước đã bao ngày xa nước (Kênh Vĩnh Tế - Hà Tiên ngày 2-12-47). Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:52:34 pm TRÊN CHIẾN TRƯỜNG BẠC LIÊU - RẠCH GIÁ - SÓC TRĂNG Sau 4 ngày nghỉ ngơi tại căn cứ Tà Teng - Hà Tiên, sức khoẻ anh em hồi phục rất nhanh. Ngày 5-12-47, Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II tiếp tục hành quân ban đêm bằng xuồng xuyên qua vùng giải phóng và các vùng địch, vượt qua lộ Cái Sắng (vùng Hòa Hảo) Long Xuyên, về Huyện Sử, Thới Bình (Cà Mau) vào ngày 8-12-1948. Chúng tôi đóng quân dọc theo kênh xáng Huyện Sử. Sau đó hành quân vô Cái Sắng. Dẫn đường đưa chúng tôi về vùng giải phóng Khu 9 là đại đội của Liên chi đội Hà Tiên. Nghe tin bộ đội Hải ngoại về, các ba, các má chiến sĩ, các chị em cùng như các em thiếu nhi, các đoàn thể thanh niên Huyện Sử - Thới Bình, huyện Cà Mau hàng ngày liên tiếp đem quà bánh đến hỏi thăm, ủy lạo đơn vị. Xuồng ghe nườm nượp chở đến: mía, chuối, khóm, bánh tét, bánh ít v.v... Đồng bào ân cần thăm hỏi, chăm sóc chúng tôi. Các em thiếu nhi luôn bên cạnh chúng tôi để xem các loại vũ khí mới, nghe chúng tôi kể chuyện về kiều bào ở Thái Lan, dạy các em học các bài ca, bài múa lămvông. Sau vài ngày đến Huyện Sử, thì được anh Phan Trọng Tuệ đến thăm. Toàn đơn vị tập trung tại một khu đất rộng có nhiều cây vú sữa lớn, nơi này cách chợ Huyện Sử khoảng hai cây số. Đơn vị ngồi thành hàng ngang với quần áo kaki vàng, mũ sắt, vũ khí đầy đủ. Anh Dung Văn Phúc giới thiệu: Đây là anh Phan Trọng Tuệ, thay mặt Bộ tư lệnh Khu 9 và hai anh Nguyễn Thiện Thành và Trương Công Trung là hai bác sĩ ở Sài Gòn ra kháng chiến. Tiếp đó, anh Phúc giới thiệu từng đơn vị để cho khách biết. Chúng tôi rất vui mừng được gặp các anh. Anh Phan Trọng Tuệ nói chuyện thân mật với chúng tôi. Anh rất vui mừng thấy chúng tôi ai nấy đều khỏe mạnh và vui trẻ. Anh khen ngợi tinh thần khắc phục khó khăn của chúng tôi, và đã chiến đấu rất dũng cảm, đánh thắng địch liên tiếp trên đường hành quân, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ về nước cùng đồng bào Nam Bộ. kháng chiến, cứu nước. Anh còn cho biết: anh cũng là một Việt kiều ở Vientiane (Lào), hoạt động cách mạng ở đó và bị Pháp bắt đưa đi đày Côn Đảo. Sau cách mạng tháng 8-1945, anh cùng nhiều anh em trở về khu 9. Anh có người chị ruột tên là Đĩnh ở Phôn Khên(1). Anh Dung Văn Phúc cảm ơn sự quan tâm của Bộ tự lệnh Khu và thay mặt anh em, hứa sẽ cùng các đơn vị và đồng bào Khu 9 đánh địch bảo vệ dân và phát triển lực lượng. Chúng tôi múa hát lămvông và chụp ảnh kỷ niệm. Những bức ảnh quý giá ấy, hiện nay chúng tôi vẫn còn giữ. Đóng quân ở Huyện Sử được vài ngày, toàn đơn vị đến đóng tại Rạch Cái Sắng. Rạch Cái Sắng cách chợ Thới Bình khoảng 4 cây số theo dòng sông Trạm. Văn phòng Tiểu đoàn lại đóng gần cơ quan Viện Văn hóa Nam Bộ. Anh chị em cơ quan bạn có chị Hồ Thị Thiện thường qua lại thăm và xem anh em Cửu Long II múa lăm vông. Thời gian ở Rạch Cái Sắng. Tiểu đoản Hải ngoại Cửu Long II được Bộ tư lệnh Khu 9 Tổ chức liên hoan chiêu đãi rất trọng thể, có anh Phan Trọng Tuệ và các anh ở Khu đến dự. Cuốỉ năm 1987, trong một buổi gặp mặt chị Thiện vui cười nhắc lại: “Hồi đó, tôi biết Hải ngoại Cửu Long II các anh và biết anh Duệ”. Anh Duệ bất ngờ nhớ lại một thời kỷ niệm. Đây là mối quan hệ mật thiết giữa bộ đội Cửu Long II với thanh niên cơ quan và nhân dân mà anh em chiến sĩ Hải ngoại chúng tôi không bao giờ quên. Hồi ấy chị Thiện còn nhỏ tuổi. Nay gặp lại, chị đã là giám đốc trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thành phố Hồ Chí Minh. Một thời gian sau, tiểu đoàn hành quân sang kênh 30, phía trong Huyện Sử. Đây là rừng U Minh. Sau ít ngày ở kênh 30, tiểu đoàn ra đóng ở Rạch Bà Đặng, gần chợ Thới Bình. Hổi đó đơn vị nào cũng phải thường xuyên di chuyển địa điểm đóng quân, đề phòng gián điệp chỉ điểm cho máy bay Pháp đến đánh phá. Tiểu đoàn Cửu Long II là đơn vị trực thuộc Ban quân sự Nam Bộ. Khi ấy do anh Thanh Sơn phụ trách, anh Nguyễn Đăng làm Tham mưu trưởng. Nhưng về mặt quản lý thì trực thuộc Bộ Tư lệnh Khu 9 (cũng như Tiểu đoàn Cửu Long I). Về tác chiến, tiểu đoàn chịu sự lãnh đạo của Ban chỉ huy trung đoàn 125 Bạc Liêu. Đơn vị được tổ chức biên chế lại, vẫn trên cơ sở các trung đội cũ lấy tên là: Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II. Ban quân sự Nam Bộ bổ nhiệm anh Đào Mạnh Duệ làm chính trị viên, anh Trần Quang Lợi và sau đó bổ nhiệm thêm anh Từ Thiện Tài, đề bạt thêm một số cán bộ bộ đội Cửu Long II lên làm cán bộ trung đội tiểu đội và điều động một số cán bộ trung đội ở khu 9 về làm cán bộ trung đội. Cụ Tiến già quân lương và anh Nguyễn Như Đãi về khu 9 công tác, anh Huỳnh Công Động, anh Khôn, anh Nhơn, anh Huỳnh Thành Lễ, anh Phận, anh Xã, anh Duyên, anh Chên, anh Lầu. đi làm nhiệm vụ khác. Anh Phạm Văn Trị về làm chính trị viên trưởng trường quân chính Quang Trung khu 9, anh Cao Quang Diên về phụ trách công tác huấn luyện quân sự trường quân chính Quang Trung. Anh Đặng Ngữ trung đội phó được đề bạt lên trung đội trưởng. Hai anh Lưu Ngọc San, Đỗ Trọng Long tiểu đội trưởng được đề bạt lên trung đội phó và cử đi học trường Lục quân Gia Định của Nam Bộ (3 anh này đều có trình độ văn hóa khá). Anh Trịnh Xuân Việt, Nguyễn Anh Thư, anh Diệp, anh Cường Để trung đội trưởng; các anh Phạm Yên (các năm qua anh Phạm Yên là phó giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh Cửu Long), Lê Hoàng, Phạm Công Biểu, Nguyễn Thọ Huyền, chính trị viên trung đội. Các anh em trung đội phó: Nguyễn Văn Tới, Lê Tương Phụng, Tao, Sanh. Thời gian sau đề bạt anh Nguyễn Cao Hữu làm trung đội phó v.v... Bộ đội Cửu Long II biên chế thành 5 trung đội chiến đấu, nhưng luôn luôn có một trung đội luân phiên về bảo vệ Ban quân sự Nam Bộ. Như vậy Bộ đội Cửu Long II thường xuyên có 4 trung đội chiến đấu. Sau một thời gian chiến đấu, Ban quân sự Nam Bộ điều thêm anh Từ Thiện Tài về làm chỉ huy phó. Còn các anh trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn cũ như: anh Dung Văn Phúc, Tiểu đoàn trưởng, Trương Văn Kỉnh chính trị viên, Bông Văn Dĩa tiểu đoàn phó đi nhận nhiệm vụ khác. Trong thời gian chiến đấu tại Bạc Liêu - Rạch Giá, bộ đội Hải ngoại Cửu Long II có tuyển thêm khoảng 60 chiến sĩ là thanh niên thuộc các huyện Cà Mau, Trần Văn Thời, Giá Rai v.v... ở tỉnh Bạc Liêu. Khi ấy chúng tôi tuyển quân rất dễ. Ví dụ, đợt cần khoảng 30 người thì số tình nguyện xin nhập ngũ lên đến 60 người. Phụ trách khối Văn phòng Bộ đội Cửu Long II kiêm thư ký là anh Huỳnh Thiện Sanh (tức Hoàng Sơn). Y tế đơn vị là anh Mai và 5 cứu thương là các anh Tôn, Thọ, Bốn, Hiếu, Liệu. Tổng quân số lúc này vẫn là 280 người. Phương tiện hành quân là xuồng ba lá. Hàng ngày đơn vị nắm tin tức địch qua tình báo trung đoàn 125 (Bạc Liêu), bố trí trinh sát đi nghiên cứu trận địa và kế hoạch địch đi bố ráp vùng giải phóng. Đơn vị luôn luôn dời điểm đóng quân để tránh mắt địch dòm ngó. Chúng tôi luyện tập quân sự, hành quân thường xuyên. (1) Trong cách mạng tháng 8-1945 Phôn Khên là chiến khu đầu tiên của Vientiane và nhà chị Đĩnh lại chính là Văn phòng Bộ tư lệnh Bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane, sau đó vài tháng dời toàn bộ sang trại Mobile gần Thạt Luổng. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:54:36 pm Mỗi buổi chiều xuống xuồng chuẩn bị hành quân, toàn đơn vị theo cự ly hàng dọc dài theo kênh Xáng, nhìn rất vui mắt và khí thế. Trên bờ kênh, nhân dân ra đứng nhìn chúng tôi và vẫy chào với tình cảm lưu luyến. Mỗi địa phương chúng tôi đến đều đem lại không khí vui tươi trong nhân dân.
Hồi ấy mỗi chúng tôi đều được cấp một chiếc nóp, một bộ quần áo bằng vải đen, áo có hai “con đỉa” trên vai, và một bộ kaki vàng bằng Gabardine Mỹ may sẵn được trang bị từ khi còn ở chiến khu I - Prak-Poỏng, tỉnh Prachin Bouri (Thái Lan); 1 “túi nhái” đựng bàn chải và hộp thuốc đánh răng bằng nhôm hiệu Gib. Tối đi ngủ, chui vô chiếc nóp. Nóp được đặt ở chỗ trống trong nhà hoặc ngoài mái hiên đều được. Hồi ấy Tây gọi chiếc nóp là chiếc “Mùng Việt Minh”. Ngày nay chiếc nóp không còn nữa. Nếu có thấy chăng là chỉ còn trong Viện bảo tàng. Muỗi U Minh rất nhiều, có khi phải nhúng nước chiếc nóp để ngủ. Lúc đầu. chung vô nóp rất ngột ngạt và nóng. Song rồi cũng quen dần. Nơi Ban chỉ huy đơn vị đóng thường là một nhà tương đối rộng và ở trung tâm các trung đội. Khi từ Hà Tiên về tới Huyện Sử vào lúc khuya, đơn vị dừng quân để nghỉ, anh em gõ cửa xin đồng bào cho nghỉ tạm thì có một số nhà dân sợ không dám mở cửa, nói: “Nhà chật, không có chỗ ngủ”. Sau một hồi lâu, chủ nhà mới dám mở cửa. Thấy chúng tôi mặc quần áo kaki vàng, mũ sắt, nhưng thái độ từ tốn nên đồng bào chỉ cho chúng tôi những chỗ có thể lật nóp nằm ngủ. Sáng thức dậy, chúng tôi thấy đồng bào mang quà bánh tới úy lạo, thăm hỏi bộ đội. Mỗi lần đến một nơi nào đó, anh em đều làm tốt công tác dân vận, nói cho đồng bào nghe về tình hình kháng chiến chống Pháp của cả nước, cuộc sống, phong trào cách mạng và lực lượng Việt kiều giải phóng của Việt kiều Lào - Thái Lan... Anh em còn làm vệ sinh đường sá, sửa và làm lại các cây cầu khỉ, giúp dân làm rẫy, làm ruộng... Ban đêm dạy các em thiếu nhi ca hát. Mười lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật dân vận đều thi hành nghiêm chỉnh... Chúng tôi còn nhớ, hồi tháng 2-1948, khi bộ đội đóng trong ngọn Rạch Bà Đặng, ngày chủ nhật, có một số anh em xin phép ra chợ Thới Bình chơi. Nhưng tối chủ nhật có hai anh tiểu đội trưởng không thấy về. Sáng thứ hai, trong giờ tập hợp trung đội, hai anh bị phạt đứng nghiêm tại giữa sân một giờ đồng hồ vì tính vô kỷ luật, mất cảnh giác. Mọi người sống với nhau rất chan hòa, đoàn kết, vui vẻ và thoải mái trong tình thương yêu đồng đội, đồng chí, nhưng kỷ luật thì rất nghiêm không từ một ai sai phạm. Tiểu đội phó phục tùng tiểu đội trưởng một cách răm rắp, tự giác, chưa nói đến chiến sĩ với cấp tiểu đội và các cấp khác trong tiểu đoàn. Đúng là kỷ luật sắt mà tự giác của một đội quân cách mạng, tình nguyện đi chiến đấu. Vì vậy đơn vị đóng quân ở nhiều nơi, có khi chỉ đi một trung đội độc lập, đều không hề xảy ra điều gì đáng tiếc. Đóng quân ở nhà dân thường chỉ một tổ 3-4 anh em. Có những gia đình thường mời anh em ăn chung hoặc dành thức ăn để anh em ăn. Sống với nhân dân, chúng tôi thấy bà con rất thương bộ đội, coi anh em như con em trong nhà. Thời gian Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II đóng tại Huyện Sử - Thới Bình, anh Mạnh Duệ có ghi nhật ký những cảm nghĩ bằng thơ với tựa đề Lòng tôi như sau: Từ Hải ngoại vượt muôn trùng hiểm trở Xa Việt kiều nơi đầm ấm thân yêu Về đền đây miền nam yêu kiều Trong tia sáng với muôn ngàn ý sống Lòng rạo rực với bao ngày cảm động Trước đồng bào yêu quý tới viếng thăm Em thiếu nhi thân mến hỏi ân cần Thật cảm động trước tình thương thắm thiết Mong đền đáp bằng chiến công oanh liệt. Khỏi phụ lòng người dân Việt xa xăm Bao băn khoăn lo lắng vô ngần Tên Hải ngoại quyết tỏ lần đỏ thắm (Huyện Sử ngày 06-2-1948) Đơn vị có ra tờ “Báo tường” viết tay bằng mực tím, in bằng bột, mỗi tuần ra một lần, phát hành đến từng tiểu đội, và gởi về Ban chính trị Khu 9. Bài vở do Ban chỉ huy và một số cán bộ trung đội viết đều được đăng trên tờ báo này. Nội dung tờ báo nhằm giáo dục, động viên tinh thần chiến đấu của đơn vị. Một số bài của tờ báo được đăng lại trên tờ báo khu 9, như bài nói về công tác Dân vận. Bài báo có đoạn: “Công tác Dân vận rất quan trọng, như cơm ăn nước uống hằng ngày, không thể thiếu được. Không làm tốt công tác Dân vận, bộ đội sẽ không thể tồn tại, Bộ đội là của Dân, từ nhân dân mà ra và vì nhân dân mà chiến đấu...”. Do đó công tác Dân vận đã được toàn thể cán bộ, chiến sĩ làm tốt. Đúng như câu khẩu hiệu: “Đi dân nhớ, ở dân thương”. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 03:56:15 pm BAO VÂY ĐỘT NHẬP ĐỒN TẮC VÂN - TỈNH BẠC LIÊU (Giữa tháng 3-1948) Đồn Tắc Vân thuộc huyện Giá Rai, trên lộ đi thị trấn Cà Mau, có khoảng một trung đội ngụy đóng. Đây là một đồn địch có tiếng tàn ác, thường đi ruồng bố vùng giải phóng Giá Rai, đốt nhà cướp của, hãm hiếp phụ nữ, bắt trâu bò, heo gà vịt. Nhân dân rất căm phẫn mà không làm sao nhổ được cái đồn này. Phối hợp với địa phương, trinh sát ta vào chợ Tắc Vân nghiên cứu nắm tình hình địch. Đúng 1 giờ đêm, ta tiến sát bao vây đồn. Đến 2 giờ đêm, ta nổ súng vào đồn địch. Chúng bắn ra xối xả và rút vô trong các lô cốt. Du kích dùng loa cảnh cáo địch và vô chợ Tắc Vân diệt tề trừ gian. Sau đó lấy toàn bộ ghe xuồng, trâu bò đem về trả lại cho dân. Địch ở trong đồn chỉ bắn cầm chừng mà không dám tiến ra, 4 giờ 30 sáng bộ đội ta rút quân. Đây là lần đầu tiên đồn Tắc Vân bị ta tiến công hơn 2 tiếng đồng hồ. Trận này ta chỉ có nhiệm vụ công hãm đồn để du kích diệt tề, trừ gian, võ trang tuyên truyền, uy hiếp địch và bọn ‘tay sai phản động. ĐÁNH ĐỒN ÊVRAK - TỈNH BẠC LIÊU (Cuối tháng 4-1948) Đồn địch này lâu nay khét tiếng là hung hãn. Chúng có khoảng 2 trung đội. Đồn trưởng là tên Pháp Êvrak, còn toàn bộ là lính ngụy Khơ-mer đóng giữ để kiểm soát vùng ruộng muối thuộc ven biển này. Địa hình trống trải mênh mông. Địch thường xuyên đi sâu vào vùng giải phóng khủng bố, bắn giết, đốt nhà cướp của, bắt trâu bò. Chúng còn bắt thanh niên, phụ nữ về đồn hành hạ dã man. Cách đó nửa tháng, chúng đã ruồng bố một trận như vậy. Nhân dân vô cùng căm phẫn. Được xã đội và du kích địa phương cung cấp tình hình trong và ngoài đồn khoảng 4 giờ sáng ngày 25-5-1948, một cánh trên 1 trung đội do anh Trần Quang Lợi chỉ huy và một cánh một trung đội, bao vây phía đông bắc đồn. Khoảng 5 giờ 30 sáng, tổ trinh sát tiến vô cách đồn 100m, nổ súng. Địch chạy ra một tiểu đội, bắn ta. Theo kế hoạch, trinh sát rút dần theo dưới chân lộ. Nhưng chúng chỉ ra khỏi đồn khoảng 100m thì chạy trở lại. Ta cho một tiểu đội nổ súng vào bọn chạy vô đồn, chết 4 tên, bị thương 3 tên. Không thấy quân trong đồn ào ạt chạy ra như mọi lần trước. Vậy là địch không ra nữa mà chỉ ở trong đồn bắn ra. Ta không tiêu diệt được nhiều địch theo cách đánh: “điệu hổ ly sơn” nên phải nổ súng cầm chừng. Bộ đội và du kích địa phương tiến vào khu vực đồn lấy toàn bộ 50 chiếc ghe, xuồng và bắt ra 30 con trâu mà chúng cướp của dân. Chờ cho anh em đem ra hết và đi xa đón 2-3 cây số, cánh phục kích dưới ruộng nước và cánh phục kích chính diện mới rút. Trận này không thực hiện được kế hoạch tiêu diệt nhiều địch, thu vũ khí. Ta chỉ bắn chết và làm bị thương 7 tên, lấy lại tài sản chúng cướp của dân. Toàn bộ tài sản thu được ta giao lại cho ủy ban xã để trả lại cho nhân dân. Đồng bào vô cùng phấn khởi. Sau đó anh em hành quân, bọc thị trấn Cà Mau, qua sông Gành Hào, huyện Trần Văn Thời về đóng quân tại Rạch Bà Đặng, xã Thới Bình, huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 04:01:08 pm DIỆT QUÂN CAO ĐÀI PHẢN ĐỘNG TẠI TÂN LỘC - TÂN LỢI CÀ MAU - TỈNH BẠC LIÊU (Cuối tháng 5-1948) (https://i.imgur.com/H7WyjCK.jpg) Tân Lộc - Tân Lợi khi ấy là một xã thuộc huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu. Sau khi công đồn Êvrak, chúng tôi về đóng quân tại Rạch Bà Đặng, xã Thới Bình, Ban chỉ huy trung đoàn 125 (Bạc Liêu) mời chúng tôi về họp tại Rạch Bà Hội (cách chợ Thới Bình 2 cây số) để nghe trung đoàn phổ biến tình hình và tổ chức liên quân đánh quân Cao Đài phản động. Toàn bộ Ban chỉ huy Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II cùng đến họp. Tình báo trung đoàn cho biết mấy hôm nay quân Cao Đài tập trung khoảng 1000 tên tại Cà Mau và sáng sớm mai sẽ tiến vô khủng bố vùng Tân Lộc - Tân Lợi. Cuộc họp của Ban chỉ huy trung đoàn 125 do anh Nguyễn Văn Lầu, trung đoàn phó, chủ trì, dự kiến đánh địch tại ngã ba Tân Lộc - Tân Lợi. Bộ đội Cửu Long II đánh địch hướng chính diện tại lộ xe. Cánh trái cách trung tâm chỉ huy khoảng 300m là đại đội 1093. Cánh phải là đại đội 1095 bố trí cách trung tâm chỉ huy 400m đánh quân đi theo con rạch từ Cà Mau vô Tân Lộc - Tân Lợi. Hội nghị thảo luận và cuối cùng thống nhất cách bố trí đánh địch của Ban chỉ huy trung đoàn và cử Ban chỉ huy Cửu Long II làm chỉ huy chung của cả 3 đơn vị. 8 giờ sáng địch tiến vô theo lộ xe và ruộng trống. Bọn chúng mặc đồ đen. Tên chỉ huy cầm 2 lá cờ đuôi nheo đỏ phất cho quân tiến tới, theo tiếng tù và thổi thúc quân. Trận địa vẫn im lặng. Địch cứ tiến, ta cứ chờ. Khi chúng còn cách mũi súng của ta khoảng 50m thì một phát súng lệnh của ta nổ. Súng các trung đội đồng loạt nổ. Khẩu đại liên 7/7 do anh Nguyễn Anh Vinh, tiểu đội trưởng, trực tiếp bắn (anh Nguyễn Anh Vinh nay là phó giám đốc Nhà máy Điện Chợ Quán thành phố Hồ Chí Minh). Các khẩu FM khạc đạn vào đội hình địch, làm chết và bị thương rất nhiều tên. Cuộc chiến đấu kéo dài cho đến gần trưa. Trong khi đó địch cho một cánh quân tiến vô hướng đại đội 1093 (cánh trái Cửu Long II). Phía ấy súng nổ từng đứt, khoảng một tiếng đồng hồ rồi im lặng. Sau đó khoảng 30 phút, anh em quay lại phía sau thấy có bộ đội mặc đồ đen đang tiến tới. Lúc đầu anh em đều cho là đại đội 1095 chi viện, nhưng đến khi còn cách nhau khoảng 100m thì chúng nổ súng. Chắc chắn là quân địch rồi! Ta ra lệnh cho một trung đội phía trước vượt qua lộ, trở lại bố trí đánh địch bọc hậu. Trong khi ấy quân địch phía trước tiếp tục bắn dọc lộ xe. Ta qua lộ, bị hy sinh gần 10 anh em, trong đó có anh Trần Quang Lợi, chỉ huy phó bộ đội Cửu Long II. Anh Trần Quang Lợi là một cán bộ Bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane, đã từng chiến đấu nhiều trận và đã bị thương, nhưng vẫn tiếp tục làm tốt các nhiệm vụ được giao. Trận chiến đấu với quân phía trước vẫn tiếp tục. Ta tập trung đánh bọc hậu. Một chiến sĩ bắn súng máy hy sinh, anh Vũ Đình Ty liền cầm khẩu FM Browning bắn liên tiếp vào hàng ngũ địch. Đến khoảng 3 giờ chiều, ta rút ra khỏi trận địa. Địch thổi tù và gom quân, lấy xác rút về Cà Mau. Sau đó ta quyết định tiếp tục bao vây tiêu diệt địch. Nhưng trinh sát cho biết chúng đã rút tất cả về Cà Mau rồi. Ta trở lại trận địa mang tất cả 11 anh em hy sinh ra và cùng đồng bào tổ chức mai táng tại Tân Lộc - Tân Lợi. Sở dĩ bộ đội Cửu Long II bị bọc hậu là do đại đội 1093 rút lui không tìm mọi cách để báo cáo cho chỉ huy trưởng mặt trận biết. Nếu được biết kịp thời thì có thể liên lạc với đại đội 1095 tới đánh quân Cao Đài bọc hậu. Các đơn vị của Cửu Long II phía chính diện có thể bắn địch cho một bộ phận xung phong lấy vũ khí địch và vừa đánh quân phía trước, vừa rút tất cả sang con rạch cánh phải cùng với đại đội 1095 đánh địch trận thứ hai vào buổi chiều. Sáng hôm sau đồng bào ra ruộng còn thấy xác lính Cao Đài cùng vũ khí nằm rải rác trong các bụi dừa nước và ôrô. Trận Tân Lộc - Tân Lợi là một trận đánh lớn. Quân Cao Đài phản động chết và bị thương gần 190 tên. Trận đánh này có anh Nguyễn Cao Hữu, tiểu đội trưởng (các năm qua là Trưởng phòng kế hoạch Sở Thủy Sản - tỉnh Minh Hải), anh Vũ Đình Ty chiến sĩ (nay là Đại Tá quân đội Nhân dân Việt Nam). Trong số 11 anh em hy sinh, có anh Trần Quang Lợi, chỉ huy phó, và anh Tao, trung đội phó, anh Nguyễn Văn Khang, tiểu đội trưởng, một số bị thương, trong đó có anh Sâm, tiểu đội trưởng, anh Nguyễn Văn Niết, anh Nguyễn Viết Mưu bị địch bắt. Anh Nguyễn Văn Hên, tiểu đội phó, thay thế anh Nguyễn Văn Khang, tiểu đội trưởng (hy sinh), tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Anh Hên cũng là một trong số cán bộ của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II chiến đấu liên tục ở Nam Bộ và Campuchia, nay là Đại tá Quân đội tại ngũ. Qua trận đánh diệt quân Cao Đài phản động này, đồng bào ta hết lời ca ngợi bộ đội Cửu Long II vì đã chiến đấu rất dũng cảm. Đây là lần đầu tiên quân Cao Đài phản động bị tiêu diệt nhiều đến như vậy, đồng bào cũng rất tức giận đại đội 1093 rút lui mà không tìm mọi cách nào báo cho Cửu Long II biết. Vì nếu được báo kịp thời với Cửu Long II và đại đội 1095 thì vẫn có thể giành thắng lợi lớn, ít tổn thất hy sinh. Đó là một bài học lớn về kỷ luật chiến trường, về việc liên quân chiến đấu. Bộ đội Cửu Long II về đóng tại Rạch Bà Đặng - Thới Bình. Anh Nguyễn Ngọc Sanh, tiểu đội trưởng đã cạo trọc đầu để phản đối Ban chỉ huy Đại đội 1093. Ban chỉ huy Bộ đội Cửu Long II cũng rất giận Ban chỉ huy đại đội 1093, nhưng vẫn bình tĩnh động viên đơn vị tiếp tục phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm trong các trận đánh sắp tới. Sáng hôm sau Ban chỉ huy Bộ đội Cửu Long II đến ngay Ban chỉ huy trung đoàn 125 ở Rạch Bà Hội và một lát sau thì cả 2 Ban chỉ huy đại đội 1093 và 1095 đều đã được trung đoàn mời tới họp. Cuộc họp kiểm điểm rút kinh nghiệm đều nghiêm khắc phê phán Ban chỉ huy 1093. Tại cuộc họp này Ban chỉ huy trung đoàn 125 khen ngợi tinh thần chiến đấu rất anh dũng của Bộ đội Cửu Long II đã tiêu diệt một số lớn quân Cao Đài phản động và tuyên bố kỷ luật, cách chức 3 người từ đại đội trưởng đại đội phó đến chính trị viên đại đội 1093 xuống làm cán bộ trung đội. Đây là lần đầu tiên quân Cao Đài phản động bị tiêu diệt một số khá lớn. Nên khi về đến Cà Mau, tinh thần quân lính của chúng rất hoang mang, khiếp sợ, phải bổ sung quân và củng cố một thời gian. Đấu năm 1990, anh Dương Quang Đông cùng anh Phan Minh Tánh, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương đã đến thăm lại trận đánh tại Tân Lộc - Tân Lợi hồi tháng 5-1948. Nhân dân ở đây vẫn còn truyền lại về trận đánh ấy. Bà con nói: bộ đội Hải ngoại Cửu Long II thật là anh hùng trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp. Mộ tập thể của 11 anh em được xã Tân Lộc - Tân Lợi chăm sóc chu đáo, và ngày 21-4-90 đã được bốc về nghĩa trang liệt sĩ huyện Thới Bình tại Huyện Sử xã Trí Phải (Minh Hải). Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 04:04:26 pm TRẬN NGÃ BA THẦY CẨM - TỈNH SÓC TRĂNG (NGÃ NĂM) (Giữa tháng 7 - 1948) (https://i.imgur.com/vy4PGVx.jpg) Đồn Ngã Năm thuộc tỉnh Sóc Trăng do vài tên Pháp chỉ huy. Tại đây có hơn một trung đội địch, thường xuyên đi ruồng bố, càn quét bắn giết, cướp của và bắt chị em phụ nữ về đồn. Sau một thời gian trinh sát, ta cùng với du kích địa phương biết ngày hôm ấy địch đi bố ráp sâu vào vùng giải phóng. Chúng hành quân cả trên bộ và dưới nước theo kênh xáng Ngã Năm. Ta đưa 1 trung đội tăng cường bố trí phía bên này kênh Xáng, ngang Ngã Ba Thầy Cẩm, một tiểu đội đi bằng đường thủy phía bên này kênh Xáng và một trung đội có tổ trinh sát qua kênh Xáng bố trí cặp theo lộ (bờ kênh). Anh Cường Để, trung đội trưởng, và anh Phạm Yên, chính trị viên, chỉ huy tại Ngã Ba Thầy Cẩm. Đúng như dự kiến, khoảng 7 giờ sáng 1 trung đội do một tên Pháp chỉ huy số quân đi trên bộ đồng thời dưới kênh cũng có một lực lượng địch khác. Từ khi ra khỏi đồn Ngã Năm, chúng bắt đầu nổ súng để uy hiếp tinh thần nhân dân và du kích. Số đi xuồng ghe thì im lặng. Khi cánh quân trên: bộ còn cách chỗ ta phục kích khoảng 50m, ta liền nổ súng. Nhiều tên chết và bị thương tại chỗ. Tên Pháp hò hét cho quân tiến lên. Lại tiếp tục bị đánh. Bọn địch đi dưới kênh cũng bị ta đánh liên tiếp. Một số tên bị trúng đạn. Chúng vội vã quay xuồng ghe về đồn. Quân ta tiến sát lộ, dùng trung liên và các loại súng bắn mạnh vào hàng ngũ địch. Địch phải bỏ xác chết, chạy về đồn. Ta bắn theo và cho một tiểu đội phục kích lại. Anh em thu vũ khí và tìm địch lẩn trốn. Ta bắt được một tên chỉ huy là người Pháp gốc Nga đang trốn trong nhà tắm. Trận này anh Cường Để hy sinh. Anh Phạm Yên Ban chỉ huy trung đội thay thế chỉ huy chiến đấu. Trận phục kích chống càn tại Ngã Ba Thầy Cẩm, ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Đó cũng một phần là do nhân dân ủng hộ, ta bảo đảm được bí mật, bất ngờ. Kết quả trận này địch chết, bị thương và bị bắt 24 tên, thu 14 súng các loại, trong đó có FM, súng cối 60 ly và 1 súng ngắn. Sau trận đánh này bọn giặc không dám tự do đi bố ráp nhiều như trước nữa. Từ đó tạo điều kiện cho du kích địa phương hoạt động bảo vệ vùng giải phóng. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 04:06:44 pm DIỆT QUÂN CAO ĐÀI PHẢN ĐỘNG TẠI NGÃ BA CHỢ HỘI - TỈNH BẠC LIÊU (Đầu tháng 8 - 1948) (https://i.imgur.com/hqdAy4B.jpg) Chợ Hội là Ngã Ba kênh Xáng cách Tân Lộc - Tân Lợi khoảng 7 km. đi Ngã tư Chủ Chí 2km và đi về chợ Huyện Sử 4km, thuộc xã Thới Bình, huyện Cà Mau. Huyện Sử - Thới Bình là khu giải phóng từ nhiều năm. Chỉ huy chung tại đây là Ban chỉ huy Bộ đội Cửu Long II. Sau khi đánh địch tại Ngã Ba Thầy Cẩm, chúng tôi đang đóng quân gần Chắc Băng thì được tin trung đoàn 125 cho biết ngày giờ quân Cao Đài Cà Mau, sau 3 tháng củng cố lực lượng, lại tiếp tục đi càn tại vùng giải phóng Tân Lộc - Tân Lợi. Chúng sẽ đi sâu vô Ngã Ba Chợ Hội, và chủ yếu lả tiến thẳng vô khu vực Huyện Sử, cách Ngã Ba Chợ Hội 4km. Địch có khoảng 1 tiểu đoàn. Hôm ấy khoảng 8 giờ sáng, địch tiến đến Ngã Ba Chợ Hội. Theo kế hoạch, chúng chiếm Ngã Ba Chợ Hội và khủng bố nhân dân dọc theo kênh xáng, rồi tiến vô vùng Huyện Sử. Thời gian chúng hành quân ít nhất cũng 2 ngày. Bộ đội Cửu Long II phối hợp với trung đội biệt động tỉnh Bạc Liêu, vừa mới hành quân về Huyện Sử chiều tối ngày hôm trước. Đêm ấy chúng tôi họp bàn cho các đơn vị đánh tại 2 địa điểm: Ngã Ba Chợ Hội và Ngã Ba Chợ Huyện Sử. Một trung đội tăng cường của bộ đội Cửu Long II và trung đội biệt động bố trí tại khu vực Chợ Hội. Trung đội của Cửu Long II do anh Thư là trung đội trưởng, bố trí phía sau lưng Chợ Hội và chéo cánh gà cách Chợ Hội không bao xa. Còn trung đội biệt động bố trí cách Chợ Hội cũng khoảng 200m phía đi Ngã tư Chủ Chí. Lực lượng ở Ngã Ba Chợ Hội do anh Từ Thiện Tài, chỉ huy phó Cửu Long II chỉ huy. Còn 3 trung đội của Cửu Long II thì bố trí tại Ngã Ba Chợ Huyện Sử, phía bên trái lộ, 1 trung đội, phía bên phải lộ 1 trung đội và 1 trung đội nữa thì phục tại chợ Huyện Sử. Kế hoạch định để cho khoảng 1 trung đội địch đi qua Chợ Hội rồi mới nổ súng, nếu gặp bất trắc thì rút về Huyện Sử, đánh địch tại đây. Địch đi từ Cà Mau qua Tân Lộc - Tân Lợi, đến bên kia bờ kênh đều không gặp quân ta. Chúng liền cho 1 tiểu đội sang trước. Không thấy động tĩnh gi, chúng cho quân sang hơn trung đội. Địch vừa bước lên bờ liền bị ta nổ súng. Bị đánh bất ngờ, hàng chục tên địch chết. Anh em ta tiếp tục nổ súng. Quân địch bên kia kênh Xáng bắn sang. Lập tức đơn vị biệt động phía bên kia chợ bắt đầu bắn lại quân địch. Vừa diệt địch, vừa kềm chế địch, hai tiểu đội của Cửu Long II từ phía cánh phải chợ Hội bắt đầu nổ súng vào chợ. Trận chiến đấu kéo dài gần một tiếng rưỡi đồng hồ. Từ bên kia kênh Xáng địch không dám tiến qua. Bọn địch đã qua được Chợ Hội bị chết và bị thương khá nhiều. Do đó, địch phải bắn mạnh sang yểm hộ cho số quân còn ở Chợ Hội bơi rút sang bên kia kênh Xáng. Quân ta tiếp tục nổ súng sang bên kia kênh cho anh em tiến vô chợ chiếm lĩnh trận địa và tiếp tục bắn vào số quân địch đang bơi qua kênh Xáng, làm chết thêm một số nữa. Đến 11giờ30 trưa, tiếng súng im lặng. Quân Cao Đài phản động đã phải bỏ kế hoạch tiến vô vùng giải phóng Huyện Sử, bỏ lại toàn bộ xác chết tại chợ Hội, rút luôn về thị xã Cà Mau. Trận này quân Cao Đài phản động chết và bị thương 32 tên, ta thu 21 súng, trong đó có 1 FM, 3 carbine. TRẬN TÂN DUYỆT (HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH BẠC LIÊU) (Cuối tháng 8-1948) Sau trận ta đánh quân Cao Đài phản động ở ngã Ba Chợ Hội (Cà Mau), đến cuối tháng 8-1948, quân báo Trung đoàn 125 (Bạc Liêu) cho biết sẽ có khoảng 2 trung đội Cao Đài phản động vô khủng bố vùng giải phóng xã Tân Duyệt (Huyện Ngọc Hiển, Bạc Liêu), nay là huyện Đầm Dơi, cách thị xã Cà Mau 15km. Địch sẽ đi theo lộ xe vô xã Tân Duyệt. Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II liền cho một tổ trinh sát cùng với tổ quân báo trung đoàn 125 theo dõi địch từng ngày. Ta cải trang bí mật đến xã Tân Duyệt nghiên cứu địa hình, địa vật. Một ngày cuối tháng 8-1948, địch tiến vô. Hai trung đội của anh Diệp và anh Trịnh Xuân Việt sẵn sàng đánh địch. Trinh sát và trung đội đi đầu của địch tiến đến đầu xã Tân Duyệt, cách trung đội chính diện 50m thì bị trung đội cánh trái của ta nổ súng. Tiếp theo là trung đội chính diện đồng loạt nổ súng. Cuộc chiến đấu kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ. Địch bị đánh cả hai mặt, chết và bị thương nhiều tên, buộc chúng phải vừa bắn vừa rút chạy về thị xã Cà Mau, bỏ lại toàn bộ xác chết. Ta tiếp tục nổ súng và cho hai tiểu đội truy kích địch đến 500m và phục kích lại để thu vũ khí, đạn dược. Địch chết 21 tên, bị thương 8 tên, ta thu 15 súng các loại, trong đó có 1 FM Bren (đầu đen), 3 cacbin, 11 súng trường và toàn bộ đạn dược. Bên ta không một ai hy sinh. Bị thất bại nặng, từ đó quân Cao Đài phản động không dám vô khủng bố sâu trong vùng giải phóng Tản Duyệt - Ngọc Hiển nữa. Số vũ khí lấy được của địch, ta cho đơn vị du kích xã một nửa. Đánh thắng quân Cao Đài phản động trận Tân Duyệt, bộ đội và nhân dân ta vô cùng vui mừng phấn khởi, chính quyền địa phương, Hội bà mẹ chiến sĩ, Đoàn Thanh niên và Hội phụ nữ liên tiếp đến tặng quà bánh và hết sức khen ngợi bộ đội ta. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2022, 04:14:25 pm CHIẾN THẮNG QUÂN PHÁP LÊ DƯƠNG TẠI NGÃ TƯ VĨNH HƯNG (HUYỆN HỒNG VÂN) - TỈNH RẠCH GIÁ (23-9-1948) (https://i.imgur.com/RoAMOyd.jpg) Sau một thời gian đánh thắng trận Tân Duyệt, đơn vị về đóng quân ở kênh Xáng Huyện Sử, Rạch Bà Đặng, xã Thới Bình và hành quân ra đóng tử kênh 1 đến gần chợ Chắc Băng (Vĩnh Thuận). Ban chỉ huy Bộ đội Cửu Long II được Ban chỉ huy trung đoàn 125 mời về họp, do trung đoàn trưởng chủ trì. Các đơn vị về họp có: Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II, 3 đại đội chủ lực của Bạc Liêu và trung đội quốc vệ đội của anh Oong và trung đội biệt động tỉnh Bạc Liêu. Như vậy có gần hai tiểu đoàn. Ngoài ra còn huy động du kích tập trung các huyện Hồng Vân, Vĩnh Lợi, Giá Rai v.v... Theo kế hoạch tác chiến khi ấy của trung đoàn 125, lần này ta đánh chiếm thị xã Bạc Liêu vào đêm 22-9-1948. Ta bao vây khống chế doanh trại lính Pháp, Sở cảnh sát, Dinh tỉnh trưởng Bạc Liêu, đánh chiếm kho vũ khí đạn dược, làm chủ tình hình thị xã trong một đêm. Ở Cần Thơ, Sóc Trăng ta hợp đồng với liên trung đoàn 122-124, bố trí một tiểu đoàn phục kích đánh địch nếu chúng chi viện cho Bạc Liêu. Hội nghị đã thống nhất ngày giờ. Giờ nổ súng tiến công là 11 giờ đêm. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, lấy vũ khí ở kho và diệt tề trừ gian, và phải bắt cho được tên tỉnh trưởng. Ban chỉ huy trung đoàn 125 trực tiếp chỉ huy các cánh quân. Anh Ngô Hồng Giỏi, trung đoàn trưởng, và anh Nguyễn Văn Lầu, trung đoàn phó trung đoàn 125, chỉ huy chung. Mọi sự di chuyển quân địch và các diễn biến khác sẽ được Ban chỉ huy mặt trận liên lạc, thông báo kịp thời. Tám giờ tối 22-9-1948, liên lạc của Ban chỉ huy mặt trận đem một mật lệnh hỏa tốc đến xã Vĩnh Hưng báo cho chúng tôi biết là sáng sớm ngày 23-9-1948, quân Pháp và ngụy sẽ vô khủng bố xã Vĩnh Hưng. Chúng có khoảng 1 tiểu đoàn, trong đó có 2 đại đội lê dương Pháp và một đại đội lính ngụy. Ngay từ chiều 22-9-1948, địch đã tập trung quân, có một tàu chiến chạy theo kênh Xáng cặp lộ Bạc Liêu - Cà Mau đến ngã ba Vàm kênh Xáng (cách ngã tư xã Vĩnh Hưng 4 km). Trên tàu chiến có đại bác 105 ly và cối 81 ly, các khẩu đại liên 13ly2. Bọn lính bộ sẽ tiến vô theo lộ 2 bờ kênh Xáng Vĩnh Hưng. Như vậy nhiệm vụ ta đánh vào thị xã Bạc Liêu bất thành. Chúng tôi cấp tốc lệnh cho một số đơn vị nhỏ đã tiến vô thị xã Bạc Liêu rút về Ngã tư Vĩnh Hưng. Quân địch ở thị xã Bạc Liêu do Pháp chỉ huy, sáng 23-9-1948 sẽ tiến vô vùng Vĩnh Hưng. Ngay tối 22-9-1948, bộ đội Cửu Long II phối hợp với trung đội quốc vệ đội tỉnh Bạc Liêu do anh Oong làm trung đội trưởng bố trí đánh địch tại ngã tư Vĩnh Hưng (huyện Hồng Vân). Khoảng 7giờ30 sáng 23-9-1948 (ngày kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến) đã nghe tiếng súng địch nổ từ xa. Địch hành quân dọc theo hai bờ kênh Xáng. Chúng vừa vô cách ngã tư Vĩnh Hưng 50m, khẩu đại liên của Cửu Long II do anh Vinh phụ trách và một khẩu đại liên của quốc vệ đội nổ giòn giã vào đội hình địch. Chúng càng tiến lên càng bị bắn chết và bị thương nhiều tên. Địch chạy xuống chân lộ. Các trung đội ta đã phục kích mặt ấy, bắn quyết liệt. Vì chỉ cách nhau khoảng 50m đến 80m địa hình trống trải, cánh trái địch bị trung đội anh Việt và Trung đội anh Oong chận đánh (anh Duệ đi với cánh này). Cánh trái kênh Xáng có lợi thế cho ta nhiều vì là vườn cây ăn trái và xen kẽ là các giồng khoai lang. Anh Tử Thiện Tài đi với hai trung đội cánh phải. Trận chiến đấu kéo dài từ 9 giờ sáng cho đến gần 11 giờ trưa. Địch chết và bị thương rất nhiều, trong đó có nhiều tên Pháp. Chúng phải rút lui. Bên ta vừa bắn vừa xung phong. Đại bác và súng cối địch từ ngoài tàu chiến bắn dồn dập vào trận địa ta. Mỗi cánh ta cho 1 trung đội truy kích theo khoảng 500m và ngừng lại bố trí đánh địch nếu chúng tiếp tục trở lại. Trong lúc anh Trịnh Xuân Việt và anh Đào Mạnh Duệ phía cánh trái đang cùng anh em tiến lên thì bỗng một tiếng đạn nổ rất lớn ngay trước mặt. Hai người đang đứng tại hai giồng khoai cách nhau chỉ 1m. Anh Việt ngồi ôm bụng. Anh Duệ vội lấy khăn choàng tắm buộc ngay vết thương cho đồng đội. Một chiến sĩ chạy về ngã tư Vĩnh Hưng lấy xuồng chở anh Việt về trạm y tế của ta gần đó. Nhưng do vết thương quá nặng, anh Việt đã hy sinh dọc đường, chưa kịp đưa đến bệnh viện, ở cánh phải, cũng trong khi xung phong qua cánh ruộng trống trải, anh Từ Thiện Tài, chỉ huy phó bộ đội Cửu Long II cũng bị một viên đạn ở bụng, phải đưa về trạm y tế và sau đó nằm quân y viện Khu 9 ba bốn tháng mới lành. Ra viện anh được Ban quân sự Nam Bộ bố trí làm công tác khác. Kết quả trận này ta đánh địch chết và bị thương gần 180 tên, bắt sống tên tù binh Pháp giao cho hai chiến sĩ áp tải về Ban chỉ huy trung đoàn 125. Vũ khí ta thu được 1 số FM , 2 súng colt 121y, 5 tiểu liên và 19 súng trường. Đây là một trận thắng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí. Ta bẻ gãy hoàn toàn kế hoạch hành quân của địch vào khủng bố vùng giải phóng Vĩnh Hưng. Đây cùng là lần đầu tiên địch bị thất bại nặng nề. Trận đánh thắng lợi có ý nghĩa vì đây là vùng mà bọn giặc thường hành quân vào giết hại, cướp bóc đồng bào, bà con rất căm giận, nhưng chưa có cách nào diệt được chúng. Nay bộ đội giáp mặt đánh chúng, đồng bào hả lòng, hả dạ. Trước khi chôn cất 3 chiến sĩ, thay mặt toàn đơn vị, chỉ huy trưởng đã bắn chỉ thiên 3 phát súng ngắn, vĩnh biệt những người đồng chí thân yêu. Anh Trịnh Xuân Việt hy sinh trên đường đưa về Quân y viện đã được mai táng tại đầu roi ngã ba chợ Thới Bình. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 03:57:57 pm TRẬN ĐIỀN TÂY MẬP (24-9-1948) Sau trận Vĩnh Hưng, toàn đơn vị hành quân đóng ở xóm Rạch Điền Tây Mập, cách trận địa ngã tư Vĩnh Hưng khoảng 2km. Sáng 24-9-1948, địch cho một máy bay đầm già đến trinh sát. Sau đó 30 phút, có hai máy bay chiến đấu đến ném 4 quả bom và bắn phá xuống khu vực Vĩnh Hưng. Chiếc đầm già trở lại bay thấp hơn để trinh sát. Thấy máy bay địch bay thấp, ta ra lệnh cho khẩu đại liên 7/7 của anh Nguyễn Anh Vinh nổ súng vào chiếc đầm già. Sau đó, các súng trường nổ liên tiếp. Chiếc máy bay cất cánh vọt lên xịt khói đen và đảo một vòng rồi bay luôn. Mấy hôm sau chúng tôi được Ban quân báo Sóc Trăng cho biết ngày hôm ấy chiếc đầm già bị trúng đạn, 1 quan hai và một tên quan một người Pháp bị chết. Suốt thời gian chiến đấu ở khu 9, Bộ đội Cửu Long II đi đến đâu cũng được nhân dân thương mến. Ngược lại anh em chúng tôi cũng rất thương yêu và quý trọng nhân dân. Vì chúng tôi đều là con em của nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Đi tới đâu, chúng tôi cũng bàn với địa phương tổ chức canh gác, bảo vệ xóm làng, bảo vệ đồng bào, đánh địch, lấy súng địch phát triển lực lượng của ta. Mỗi khi bộ đội Hải ngoại Cửu Long II tuyển quân thì số thanh niên địa phương đến xin nhập ngũ rất đông. Những ai được nhập ngũ đều phấn khởi, lấy làm vinh dự. Đúng là: “Đi dân nhớ, ở dân thương”. Cả một thời gian dài đơn vị sống với nhân dân Bạc Liêu và một phần của tỉnh Rạch Giá, Sóc Trăng, được các ba, các má, anh chị em coi như ruột thịt. Thông thường đóng quân trong nhà dân, mỗi nhà chúng tôi chỉ ở một tổ từ 3-4 anh em. Nhiều gia đình đề nghị chúng tôi ăn cơm chung với họ, nếu không cũng dành cho chúng tôi một tô canh, một đĩa cá v.v... Có nơi chúng tôi tới ban đêm bà con rất ngại, không biết có phải ta hay địch. Sau khi biết rõ là bộ đội thì nhường hẳn bộ ván ngựa và giường cho anh em nghỉ. Có nhà nhường cả mùng (dệt bằng sợi khóm) cho anh em dùng. Thật cảm động, sáng hôm sau anh em đã được ăn đủ thứ như: Bánh cam, khoai mì luộc quết nhuyễn với hành lá và trộn nước cốt dừa, dừa, khóm, mía thì tha hồ ăn. Các em thiếu nhi luôn luôn quây quần với bộ đội để học bài hát, học múa lăm vông. Có nhiều anh em có ba, má nuôi được gia đình thương mến. Hồi ấy văn phòng bộ đội Cửu Long II Hải ngoại đóng tại nhà ba má Bảy Xuyến ở giữa Rạch Ông (cách chợ Thới Bình 1 km). Mọi người trong nhà đều coi anh em bộ đội là những người ruột thịt, có ván ngựa cũng giành cho chúng tôi nghỉ, đến bữa ăn, múc lại phần cho chúng tôi những món ăn ngon của gia đình. Má Bảy là Hội viên Mẹ chiến sĩ, chồng má bị địch bắt ở tù, bị tra tấn đánh đập dã man đã qua đời, được chánh quyền cấp bằng liệt sĩ trong thời kỳ chống Mỹ - ngụy. Trong nhà có em trai Trịnh Thanh Nhàn, 15 tuổi, rất thương anh em. Cứ mỗi lần đơn vị di chuyển đi nơi khác thì Nhàn rất buồn, khóc sướt mướt. Còn các ba má nuôi thì tặng anh em bộ đội khăn choàng tắm v.v... Những tình cảm quân dân sâu sắc ấy suốt đời tôi không bao giờ quên. (Trịnh Thanh Nhàn trong thời gian kháng chiến chống Mỹ đổi tên là Trịnh Văn Ngàn, nay vẫn làm ăn sinh sống tại chợ Thới Bình). Chiến đấu trên chiến trường Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng là chiến đấu trên kênh rạch, sông, nước, đồng ruộng trống trải, sình lầy, nên khi đánh địch đều phải đi trên đồng trống. Địch thường dùng pháo bắn theo. Cũng may là khi ấy giặc Pháp ít máy bay hợp đồng bộ binh, mà chúng chỉ dùng máy bay để trinh sát và chiến đấu, đánh phá những nơi cho là căn cứ kháng chiến, là cơ quan đầu não và nghi là có quân chủ lực của ta. Trong khi lực lượng của các đơn vị chủ lực địa phương chưa thật mạnh thì Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II là một đơn vị chủ lực mạnh, đã cùng các đơn vị chủ lực tỉnh Bạc Liêu, cùng các đơn vị địa phương tiến đánh địch khắp nơi. Và trong các trận liên quân hợp đồng chiến đấu thì Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II đều đảm nhận nhiệm vụ ở các mật trận chính. Trong thời gian hoạt động ở Bạc Liêu, bộ đội Hải ngoại Cửu Long II đã phối hợp với các đơn vị của tỉnh bao vây tấn công các đồn địch, chống càn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí đạn dược, góp phần bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ các căn cứ kháng chiến của ta ở Khu 9. Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II đã góp phần xứng đáng vào trang sử của Bạc Liêu nói riêng và Nam Bộ nói chung, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng ở Lào và ở Campuchia. Đó là một trang sử vẻ vang về tinh thần cách mạng, về sự hy sinh xương máu để bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào ta và Việt kiều ở Thái - Lào. Những đơn vị Việt kiều ở Thái - Lào về Nam Bộ là những chấm son của truyền thống ấy. Tiểu đoàn Hải Ngoại Cửu Long II trên đường hành quân về chi viện cho Nam Bộ đi qua Tây Nam Campuchia, đến Hà Tiên đã chiến đấu 15 trận lớn, nhỏ. Số địch chết và bị thương là 131 tên kể cả trận đánh chiếm đồn Sằm lốt ở Battambang (biên giới Campuchia - Thái Lan) địch chết 67 tên, bị thương 64 tên), ta thu 17 súng các loại. Bên ta 5 anh em hy sinh, 1 bị thương nhẹ, 2 bị bắt. Thời gian chiến đấu tại Bạc Liêu - Rạch Giá, Sóc Trăng (khu 9) Nam Bộ, tiểu đoàn đã đánh hàng chục trận lớn nhỏ, tổng số địch chết, bị thương, bị bắt sống là 455 tên, phần nhiều là quân Cao Đài phản động, Pháp lê dương và lính ngụy, trong đó, địch chết 272. tên, bị thương 181 tên, bắt sống 2 tên Pháp, ta thu được 76 súng các loại, trong đó có: 4 FM, 1 súng cối 60 ly, 17 Mitule, 3 súng ngắn, 3 carabine, và 48 súng trường. Phía ta hy sinh 16 người, bị thương 7, bị bắt 1, đó là anh Nguyễn. Viết Mưu, 18 tuổi (Việt kiều Thái Lan), sau trốn ra được tiếp tục lên chiến đấu ở Takeo - Nam Kông-pông Speu. Tính chung cả thời gian hành quân chiến đấu đi qua Campuchia và thời gian ở Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng, tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II đã đánh tất cả 23 trận lớn nhỏ, tổng số quân địch chết và bị thương, bị bắt là 586 tên trong đó địch chết 339 tên, bị thương 245 tên, bắt sống 2 tên (Pháp). Vũ khí ta thu được 93 súng các loại, gồm có 4 FM, 1 súng cối 60 ly, 17 Mitule, 3 súng ngắn loại Colt 12 ly và 9 ly, 3 carbine và 65 súng trường. Bên ta 21 anh em hy sinh, 8 bị thương, 3 bị bắt, thời gian sau trốn ra được 2 anh. Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II dũng cảm chiến đấu, nhưng cũng say sưa yêu đời. Những bài ca, tiếng hát trong các buổi hội họp, sinh hoạt văn nghệ khi chiến đấu ở Bạc Liêu là: Chiến sĩ Việt Nam, Cương quyết ra đi, Diệt phát xít, Cảm tử quân, Vĩnh thông cầu sắt, Đoàn vệ quốc quân, Tiếng súng Nam Bộ, Ánh trăng rằm reo vui khắp nơi, Tầm Vu, Tiểu đoàn 307 và các bài múa lăm vông... Anh Quốc Hương đã nhiều lần đến thăm đơn vị tại Huyện Sử và anh đã nhiệt tình hát cho chúng tôi nghe một số bài mà tôi vừa kể. Anh còn tặng chúng tôi tấm ảnh chụp anh mặc bộ đồ bà ba đen, đội chiếc nón vải rộng vành, đến nay vẫn còn đẹp. Cho tới nay đã trên 44 năm trôi qua, nhưng mỗi một cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II, những người còn sống vẫn nhớ mãi tấm lòng thương yêu quý mến của nhân dân tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh Rạch Giá, Sóc Trăng trong những năm tháng kháng chiến đầy hy sinh gian khổ và vô cùng anh dũng ấy. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 03:59:06 pm LÊN VIỆN TRỢ CÁCH MẠNG CAMPUCHIA (Tháng 2-1949) Sau chiến thắng trận Vĩnh Hưng, chúng tôi hành quân về đóng ở kênh Xáng Huyện Sử - Thới Bình. Tại đây, anh em bộ đội nghỉ ngoi và nghiên cứu để đánh trong mùa khô. Nhưng giữa tháng 10-1948 chúng tôi nhận được tin của Ban Quân sự Nam Bộ: Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II cùng với Bộ đội 251, phát triển thành Trung đoàn 131, trực thuộc Ban Quân sự Nam Bộ, lên viện trợ cách mạng Campuchia. Lúc đó lực lượng Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II chiếm hơn 2/3 quân số Trung đoàn, về biên chế tổ chức cơ bản vẫn giữ vững lực lượng nòng cốt là 2 đơn vị, trên điều thêm cán bộ, chiến sĩ và vũ khí, tổ chức biên chế thành 5 Bộ đội trực thuộc Ban chỉ huy trung đoàn: Trung đoàn trưởng: anh Nguyễn Tất: Chánh ủy, anh Quang Trung, nguyên ủy viên Ban cán sự Đảng của Tổng hội Việt kiều Thái Lan cũ, trung đoàn phó anh Nguyễn Văn Lầu (Capitaine Lầu), nguyên trung đoàn phó trung đoàn 125 Bạc Liêu, được điều động sang trung đoàn 131. Anh Đào Mạnh Duệ, nguyên chánh trị viên Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II làm trưởng Ban chính trị trung đoàn 131, Bí thư chi bộ cơ quan Trung đoàn 131. Trung đoàn lưu động đóng quân ở nhiều nơi, dọc theo sông Trẹm, Rạch Ông, Rạch Bà Đặng, Thới Bình, Huyện Sử. Chiến sĩ tiến hành học tập chính trị về nghĩa vụ lên Campuchia giúp bạn đánh Pháp. Đơn vị hành quân ra Chắc Băng (Vĩnh Thuận), Ngang Gừa, Gò Quao, Sốc Ven, Thúy Liễu (thuộc tỉnh Rạch Giá). Ngày 26-2-1949 chúng tôi vượt lộ Cái Sắng (Châu Đốc) lên Long Châu Hà và lên Bần Tea Méas thuộc vùng giải phóng tỉnh Kampot - Campuchia). Cán bộ lãnh đạo chỉ huy các cấp của quân tình nguyện Việt Nam ở miền Tây Nam và một số lên Tây Bắc Campuchia có khá nhiều anh em Hải ngoại Cửu Long II như: Anh Dung Văn Phúc (Dương Quang Đông), Huỳnh Công Đông, Lê Văn Một, Trần Văn Xả, Đào Mạnh Duệ. Nguyễn Thọ Huyền, Phạm Yên, Lê Hoàng, Đặng Ngữ, Đỗ Trọng Long, Lưu Ngọc San, Nguyễn Văn Hên, Trần Cao Hiên, Lê Tương Phụng, Nguyễn Ngọc Sanh, Huỳnh Thiện Sanh (Hoàng Sơn), Huỳnh Thành Lễ, Vũ Đình Ty. Trần Mạnh Thắng, Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Tâm (Nguyễn Minh Trí) v.v... BẦN TEA MÉAS (Ngày 09/3/1949) Ngày 9 tháng 3-1949, buổi lễ ra mắt quân đội Issarak và quân tình nguyện Việt Nam sang giúp Campuchia chiến đấu giành độc lập tự do cho đất nước Campuchia được tổ chức rất trọng thể tại Bần Téa Méas (thuộc tỉnh Kampot) gần các đồn, lô cốt địch ở lộ Ton-Hon. Anh Sơn Ngọc Minh, chủ tịch lâm thời Mặt trận Dân tộc giải phóng khu Tây Nam Campuchia, một số đại biểu, đại diện chính quyền cách mạng Phum, Khum, Srok và nhiều vị sư sãi, nhân dân địa phương đến dự. Anh Sơn Ngọc Minh đọc diễn văn tuyên bố lực lượng võ trang cách mạng Issark ra mắt nhân dân. Phía quân tình nguyện Việt Nam có anh Nguyễn Thanh Sơn, Tư lệnh kiêm Chánh ủy Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, đã đọc bài phát biểu ngắn. Khí thế nhân dân đến dự rất phấn khởi. Quân địch trong các đồn gần đó không dám làm gì. Buổi lễ ra mắt gần kết thúc, theo kế hoạch đã định, các đơn vị sẽ hành quân đến địa điểm trú quân thì có hai máy bay chiến đấu của địch đến bỏ bom tại địa điểm làm lễ. Một đơn vị của ta, trong đó có khẩu đại liên 7/7 của Hải ngoại Cửu Long II do anh Nguyễn Anh Vinh tiểu đội trưởng phụ trách đã nổ súng mãnh liệt. Một máy bay bị thương, chúng vội vàng bay đi ngay. Có mấy vị sư sãi Campuchia bị thương. Ngay đêm hôm ấy, các đơn vị hành quân đến các vùng đã được phân công như: Vùng Tà Keo Nam Kông Pông Speu, Nam lộ Chhuk, khu vực thị xã Kampot, huyện Chhuk, huyện Srang, huyện Phnôm Srout, Kông Pông Chnăng (Biển Hồ) v.v.. Các đơn vị trở nên độc lập, cùng với địa phương xây dựng cơ sở chính trị, phát triển dân quân du kích Phum, Khum (ấp, xã), đánh địch chống càn, củng cố và mở rộng khu giải phóng. Ngay những ngày đóng quân ở Huyện Sử, Thới Bình, ở bờ sông Trẹm, Rạch Giá, Rạch Cái Sắng (Cà Mau) chúng tôi vẫn luôn luôn quan tâm xây dựng phong trào văn nghệ trong đơn vị. Hồi ấy anh em rất thích bài “Hạnh phúc muôn đời” do anh Mạnh Hùng phỏng theo bài “Đoọc phá tê con” nhạc Thái Lan, viết ra lời Việt cho dễ nhớ, để hát múa lăm vông trong các đêm văn nghệ. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 03:59:26 pm Bài “Hạnh phúc muôn đời” lăm vông đã trở thành một bài hát múa quen thuộc với chúng tôi và thanh niên địa phương hồi ấy. Thời gian tập kết ra Bắc, có một buổi tối khi đi ngang qua một nhà hàng chuyên cho thuê tổ chức đám cưới, thấy trong đám cưới mọi thanh niên nam nữ đang sôi nổi ca múa lăm vông với bài “Hạnh phúc muôn đời”, tôi hết sức ngạc nhiên, không ngờ ngay đầu đường Bà Triệu, gần Hồ Hoàn Kiếm lại có ca múa lăm vông bài “Hạnh phúc muôn đời”. Sau chiến thắng 30-4-1975, anh Đặng Ngữ và Nguyễn Tâm (anh Nguyễn Tâm chiến đấu ở Campuchia, trước là một em bé 13 tuổi liên lạc của Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II), hai người từ thành phố Hồ Chí Minh về thăm quê ở Rạch Cái Sắng - Xã Thới Bình, vẫn thấy thanh niên ở đây múa hát bài lăm vông “Hạnh phúc muôn đời” bằng tiếng Việt. Nội dung lời Việt nói lên tình cảm của những người chiến sĩ Việt Nam xa quê hương lên cùng các bạn Campuchia chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược. Khi sang Campuchia, bộ đội Việt Nam và Campuchia thường ca múa lăm vông. Sau đây là lời bài hát ấy:
Hạnh phúc muôn đời Hạnh phúc muôn đời Trên đường tranh đấu ta cùng say sưa, chung lòng xả thân, ta nguyện cùng bạn. Hạnh phúc muôn đời ta cùng thương nhau đi, vui nhảy ca lên, hát múa mau lên ở nơi chiến trường. Chẳng thương yêu nhau chờ chi. Chiến sĩ đồng xa quê hương. Một thân liều cho hồn nước, quyết diệt xâm lăng, tiêu quân thù chung. Vui đi trong ngày huy hoàng, vui đi trong ngày huy hoàng. Vui lên đi hát vang chung vui cùng nhau Vui lên đi hát vang chung vui cùng nhau (Thới Bình tháng 12-1948). Cũng như ở miền Tây Nam Campuchia có các đơn vị khu 9 sang, các nơi như: Miền Đông, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Bắc Campuchia cũng có nhiều đơn vị của khu 7, khu 8 (Nam Bộ), quân khu 5 (Trung Bộ) và nhiều đơn vị vũ trang mạnh của Bộ đội Việt kiều Thái Lan, Lào từ những năm 1945-1946, 1947 đã và đang cùng quân và dân Lào và Campuchia liên tục chiến đấu. Các đơn vị Bộ đội Việt kiều Hải ngoại ở Lào và Thái Lan không chì là một thành viên trong lực lượng quân tình nguyện Việt Nam ở Lào, Campuchia mà còn tổ chức 4 đơn vị đi từ Thái Lan về chi viện Nam Bộ kháng chiến trong các năm 1946, 1947 gồm có: Bộ đội Độc lập số 1, Bộ đội Quang Trung, Chi đội Trần Phú và Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Các đơn vị quân đội đã trở thành liên quân Campuchia - Việt Nam. Số anh em Campuchia có đến 2/3 quân số và có nhiều cán bộ người Khơ-me trong Ban chỉ huy đơn vị. Cán bộ chiến sĩ Việt Nam sang Campuchia trong 6 - 7 tháng đã nói được chút ít tiếng Campuchia, đến 2 - 3 năm thì đã nói khá. Bộ đội Campuchia và Việt Nam vừa đánh địch chống càn, tấn công đồn bót đồng thời cùng nhân dân các Phum, Khum, Srok (ấp, xã, huyện) thành lập Mặt trận Issarak, tổ chức dân quân du kích và các đơn vị vũ trang tập trung của Khum, Srok (xã, huyện) với khẩu hiệu “đoàn kết, sản xuất, giết giặc” (samaki, boòng ko boòng kớt, Sằm Láp Kh.măng). Vì vậy các đơn vị vũ trang và các vùng giải phóng đều có nhiều căn cứ, có khu sản xuất tự túc của mình. Quân và dân Campuchia càng đánh càng thắng. Nhân dân Campuchia rất phấn khởi góp công, góp của ủng hộ mọi mặt, tự chế nhiều vũ khí. Lực lượng du kích và bộ đội ngày càng phát triển nhanh trên khắp các vùng, các miền. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng cho đến sát các tỉnh lỵ, thành phố. Địch chỉ còn kiểm soát được mấy con lộ huyết mạch. Năm 1949 - 1950 Ban lãnh đạo Quân Dân chính Đảng các Miền Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc, Đông Campuchia được thành lập để lãnh đạo toàn quốc kháng chiến. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:00:00 pm BỘ ĐỘI 651 ĐỐI ĐẦU VỚI TIỂU ĐOÀN THOMAS (26-2-1950 - 28-3-1950) Cuối năm 1949, Bộ chỉ huy liên quân Campuchia - Việt Nam bổ nhiệm anh Đào Mạnh Duệ chỉ huy trưởng, kiêm chính trị viên và Bí thư chi bộ và anh Huệ chỉ huy phó Bộ đội 651. Đơn vị có hơn 2 trung đội vũ khí khá, đến 2/3 là anh em người Campuchia, vừa làm nhiệm vụ chống càn, vừa tổ chức phát triển dân quân du kích Phum, Khum, bảo vệ chiến khu Tây Nam Campuchia, vừa giải quyết hậu cần cho chiến khu. Việc giải quyết hậu cần do anh Huệ phụ trách. Các năm 1949, 1950, đến giữa năm 1951, anh Sơn Ngọc Minh là Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng khu Tây Nam, anh Nguyễn Tất tham mưu trưởng liên quân Campuchia - Việt Nam ở khu Tây Nam. Cán bộ chỉ huy chiến đấu của Bộ đội 651 bảo vệ chiến khu Tây Nam Campuchia có đến 2/3 là cán bộ bộ đội Hải ngoại Cửu Long II, còn 1/3 là cán bộ người Campuchia. Số cán bộ Cửu Long II có: anh Huỳnh Thành Lễ, trung đội trưởng, anh Tam, trung đội phó ... và nhiều cán bộ tiểu đội trưởng như anh Bảy, anh Uy, anh Cắm, thư ký văn phòng v.v... Chiến khu Tây Nam khi ấy ở vùng Trapeng Phleng, dưới chân núi Tà Lơng, cách trạm liên lạc Loboeuk khoảng 20 km đường rừng núi. Biết chiến khu Tây Nam ở vùng này, nên trong tháng 2 và tháng 3-1950, địch cho tiểu đoàn “chim xanh” do tên quan năm Pháp Thomas chỉ huy. Đây là tiểu đoàn tinh nhuệ chuyên hành quân trên rừng núi, tiến đánh quân ta ở Tây Nam Campuchia. Đối với chúng, quân tình nguyện Việt Nam là đối thủ đáng sợ, nhất là các đại đội chủ lực các miền. Tiểu đoàn Thomas thiện chiến có 4 đại đội, lực lượng nhiều gấp bốn, năm lần Bộ đội 651. Vì vậy cách đánh của bộ đội 651 chủ yếu là đánh du kích, chim sẻ, kết hợp với những trận tập trung toàn lực tiêu diệt đơn vị đi đầu của chúng ở những nơi có địa hình thuận lợi và kiềm chế tới mức tối đa thời gian tiến quân của địch vô chiến khu. Tình báo của chiến khu luôn cung cấp tình hình quân địch, thời gian chúng tiến công chiến khu. Ban tham mưu khu cũng tăng cường thêm lực lượng và vũ khí, đạn dược, địa lôi tự động v.v... Do đó, khi chiến đấu lực lượng bộ đội 651 có 2 trung đội mạnh. NHỮNG TRẬN CHỐNG CÀN ĐẦU THÁNG 2-1950 1- Trận Đasko(Ngày thứ nhất, 6-2-1950) Bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 6-2-1950, địch mở cuộc tiến công đầu tiên vô Đaskô. Chúng đi theo đường xe bò, cách chiến khu khoảng 6 km. Chúng tôi đã bố trí sẵn ba mặt tại khoảng đất trống, rộng và đặt một trái mìn lớn tự động tại đường xe bò. Chỗ này cách nơi địch đóng quân một km, chúng chủ quan cho rằng ta không thể bố trí gần nơi chúng tập trung. Khi những toán đầu vô đến giữa khoảng trống chí còn cách ta chừng 50m thì bị đánh bất ngờ. Một số chết tại trận, một số chạy tán loạn. Chúng bắn lại dữ dội. Bọn địch phía sau tiếp tục tiến lên thì đạp trúng địa lôi, chúng chết và bị thương một số nửa, trong đó có một tên Pháp chỉ huy, đồng thời hai cánh bên phải, trái của ta ở mé rừng nổ súng tiếp vào quân địch. Từ đó địch không dám tiến. Chúng chỉ bắn yểm hộ cho đồng bọn bò lên kéo xác chết. 10 giờ địch lại tiến vô lần thứ hai. Chúng đi qua trận địa cũ thì đụng các tổ chim sẻ của ta nổ súng liên tiếp từ phía trước và từ trong rừng. Chúng chết và bị thương thêm một số tên nữa. Đến 3 giờ chiều, chúng thận trọng tiến vô trận địa, bị ta tiêu diệt thêm một số tên nữa, buộc chúng phải rút ra hết. Như vậy trong ngày thứ nhất, địch tiến vô 3 lần được khoảng 2km, bị chặn đánh 3 trận, 12 tên chết, trong đó có 1 quan một Pháp, một số bị thương, chúng bỏ lại một xác chết. Bên ta một chiến sĩ bị thương nhẹ. Sau khi đánh hai trận, anh Nguyễn Tất, tham mưu trưởng khu Tây Nam Campuchia, gởi thư, có đoạn: “Rất hoan nghênh tinh thần dũng cảm đánh địch của các đồng chí. Các đồng chí đã chiến đấu giỏi. Chúc các đồng chí tiếp tục đánh địch tốt, dành nhiều thắng lợi nữa...”. Những năm qua, anh Nguyễn Tất là Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban kinh tế tính ủy Bến Tre, nay đã nghỉ hưu. 2 - Trận Trapeang Phleang: (Ngày chống càn thứ hai). Sáng ngày hôm sau 7-2-1950, ngay từ 6giờ30 sáng, địch tiến vô. Lần này, chúng cho 1 cánh quân tiến thẳng đường xe bò và cho một đơn vị đi trong rừng cánh trái để đánh xuyên hông quân ta. Qua kinh nghiệm của 3 trận đánh địch ngày hôm qua, lần này, chúng tôi tập trung toàn bộ lực lượng, bố trí mặt chính diện và cả 2 cánh phải, trái sâu trong rừng. Trận địa này cách trận địa cũ khoảng 500m. Đúng như dự đoán, địch tiếp tục im lặng tiến vô. Chúng đi khỏi trận địa cũ tới chỗ chúng tôi đã bố trí. Lúc ấy khoảng 9 giờ sáng. Lần này, để cho địch đến thật gần ta mới nổ súng. Trận chiến đấu kéo dài cho đến 10 giờ. Địch chết thêm 10 tên và một số bị thương. Tiến vô không nổi, địch nổ súng bừa bãi để khiêng xác chết và bị thương rút lui ra. Do thông thạo địa hình và lợi dụng các gò mối, những gốc cây lớn trong rừng để bố trí chiến đấu, có lúc chia ra từng tổ vận động mau lẹ, chỗ nào có địch là có ta đánh trả, nên ngày chiến đấu thứ hai ta giành được thắng lợi lớn. Ta không một ai bị thương vong. 3 - Ngày chống càn thứ ba (8-2-1950) 7 giờ sáng, địch tiến dần vô. Chúng tôi bố trí nhiều tổ bám sát địch đánh chim sẻ, vừa đánh vừa rút theo kiểu cuốn chiếu. 7giờ30 sáng, súng nổ liên tiếp. Địch chết và bị thương một số tên. Chúng tiếp tục tiến vô được 2km thì dừng lại. Khoảng 9giờ30 lại thấy địch tiến vô. Chúng đi được 1km nữa thì đụng bộ đội ta. Tại đây ta bố trí 2 tiểu đội, quyết tâm chặn chân chúng. Khi chúng lọt vào trận địa, ta nổ súng trước. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 20 phút. Địch chết và bị thương 8 tên. Ta có 1 chiến sĩ bị thương. Như vậy trong 3 ngày chống càn, ta đánh địch 6 trận, địch chết trên 30 tên (trong đó có 1 quan một Pháp) và một số bị thương. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:07:36 pm NHỮNG TRẬN CHỐNG CÀN CUỐI THÁNG 3-1950 Sau gần 2 tháng địch do thám chiến khu và luôn tung tin đánh vào chiến khu, để một thời gian nào đó chúng bất ngờ tiến vào tiêu diệt chiến khu Tây Nam Campuchia. Thình lình, lúc 4 giờ chiều 26-3-1950, địch dùng xe quân sự chở quân theo lộ Chhuk đó quân tiến vô Stung Keo (cách chiến khu 6km) và trú quân tại đó một đêm. Được tin, ta cho một tiểu đội tiến ra theo dõi chúng. Ngày chiến đấu thứ nhất: Sáng 27-3-1950: khoảng 8giờ15, súng nổ. Địch tiến vô. Trinh sát nổ súng. Địch bắn lại. Ngay những phát súng trường đấu tiên, 1 tên giặc đã chết tại trận. Sau khoảng 15 phút, địch lại tiến vô, đi qua chỗ tên lính địch chết 500m thì bị các “tổ chim sẻ” của ta vừa nổ súng vừa rút. Địch tiến vô theo đường xe bò được vài trăm mét thì bị đánh. Anh em ta lại rút, đi qua nhiều khoảng trống. Địch cho rằng lần này ta chỉ đánh kiểu du kích cũ nến cứ tiến dần vô đến một vị trí trống trải khá rộng lớn. Đến đây địch cho quân tiến theo 2 mé rừng và 1 cánh tiến chính giữa đường xe bò. Để cho địch đi đến giữa khoảng trống, bất ngờ ta nổ súng. Tại đây ta tập trung đến 2/3 lực lượng. Những loạt trung liên, Thompson, carabine và súng trường nổ mãnh liệt vào các cánh quân địch. Cuộc giao tranh đến 30 phút, 8 tên chết và một số bị thương. Gần 10 giờ thì tiếng súng im lặng. Ta để lại 1 tổ bám sát địch và bố trí 2 tiểu đội do đồng chí Tam, Trung đội phó chỉ huy, còn toàn bộ rút về phía sau chuẩn bị cuộc chiến đấu mới. Đến 2 giờ chiều, địch lại tiến. Quân ta chận đánh: Địch chết tại trận 3 tên, một số tên bị thương. Địch bắn lại khá mạnh để lấy xác chết và bị thương. Ta tiếp tục nổ súng. Chúng rút hẳn ra chỗ đóng quân đầu tiên tại Stung Keo, cách chiến khu 6km. Vậy là ngày chiến đấu thứ nhất đã chấm dứt. Qua 2 trận đánh sáng và chiều ngày 27-3-1950, địch chết tại chỗ 11 tên và một số bị thương Ngày chiến đấu thứ hai: 28-3-1950: Ngay từ 7 giờ sáng ngày 28-3-1950, địch cho 4 máy bay chiến đấu bắn đại liên xuống khu rừng chúng tôi đóng quân và bỏ 8 trái bom loại 50kg, trong đó có 1 trái bom lửa, làm cháy một mảng rừng cách văn phòng bộ đội 651 chừng 200m. Lúc 8giờ30 địch tiến vô, nhưng chúng vừa đi qua miếng rừng bị bom cháy, thì bị ta đánh. Trận chiến đấu kéo dài khoảng 40 phút, địch, chết tại chỗ hàng chục tên và một số khác bị thương. Chúng cho một đơn vị quân Cao Đài phản động có gián điệp dẫn đường rừng, bọc phía ngoài chiến khu vô đốt 2 cái nhà nhỏ và một kho gạo của bộ đội. Một tổ của bộ đội 651 đã nổ súng vào bọn nay. Chúng nhanh chóng rút ngay. Lần này ta nhận định, địch sẽ tiến công chiến khu với lực lượng nhiều hơn các trận trước để vô tới chiến khu, nên chúng tôi đã bố trí 3 tiểu đội và chôn một quả địa lôi tự động cỡ lớn giữa sân văn phòng Bộ đội 651 để tiêu diệt địch. Đúng 10 giờ sáng, quân địch vô tới. Chúng bắn rất dữ dội. Tên chỉ huy Pháp hô “Alasô” (xung phong). Nhiều tên địch đến giữa sân thì bi địa lôi nổ tung, chúng chạy tán loạn, chết tại chỗ 12 tên, trong đó có 1 tên quan hai Pháp. Nhiều tên bị thương. Chúng liên tiếp nổ súng để lấy xác chết và bị thương. Đánh xong ta rút về phía sau. Còn 1 tổ vẫn im lặng bám sát địch. Hai tiểu đội khác cũng sẵn sàng chiến đấu khi địch tiến vô. Trận đánh diễn ra khoảng 45 phút. Trước khi rút, chúng đốt Văn phòng bộ đội 651. Trong trận chống càn cuối tháng 3 này, địch tập trung lực lượng nhiều hơn các lần trước, nhưng chúng phải đi mất hai ngày mới tiến vô được. Kết quả, chúng chết 23 tên và bị thương một số. Ta không ai bị thương vong mà còn bảo vệ được chiến khu sơ tán an toàn. Lần chống càn này địch có máy bay đánh phá trước và tăng cường thêm quân Cao Đài phản động. Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội còn có bộ phận đi các nơi nhận lương thực, thực phẩm, tổ chức vận chuyển về chiến khu. Nhiệm vu này do anh Huệ, chỉ huy phó phụ trách. Bữa cơm hàng ngày của chúng tôi là cá khô, mắm bò hóc, cho nên chúng tôi còn trồng các loại rau cải, chăn nuôi heo, gà. Anh em còn chặt vỏ cây đánh bắt cá ở suối, thỉnh thoảng bắn được thú rừng để cải thiện. Qua hai tháng chiến đấu với Tiểu đoàn Thomas, đơn vị chúng tôi đã tiêu diệt một lực lượng địch đáng kể, đánh 10 trận, địch chết trên 40 tên (trong đó có 1 quan hai và 1 quan một Pháp) và nhiều tên khác bị thương. Bên ta một chiến sĩ bị thương. Bộ đội 651, tuy chỉ bằng 1/4 lực lượng địch, nhưng cán bộ và chiến sĩ Việt Nam và Campuchia đã đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, dũng cảm mưu trí linh hoạt, chiến đấu giỏi, bảo vệ chiến khu an toàn và bảo đảm giải quyết được lương thực, thực phẩm cho chiến khu. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:09:37 pm NHỮNG NĂM THÁNG BA CÙNG (1951-1954) Trong các năm 1948, 1949, 1950, các Ban quân, dân, chính, Đảng các miền và nhiều vùng trực thuộc miền đều được thành lập. Lực lượng dân quân du kích đã được xây dựng khá nhiều. Bộ đội Campuchia, Việt Nam phát triển mạnh hơn. Các đại đội chủ lực tập trung Miền đã được thanh lập và chủ động tiến công địch nhiều nơi, diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng. Hai đại đội 160 và 180 ở miền Tây Nam Campuchia đã đánh thắng hàng chục trận lớn, thu nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm. Đại đội 180 còn tiến lên Kỏng Pông Chnăng phối hợp với các đơn vị ở Tây Bắc Campuchia đánh địch phát triển du kích chiến tranh. Các miền Tây Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Miền Đông đều có các đại đội chủ lực Miền. Nhiều cán bộ quân tình nguyện Việt Nam cùng với các bạn Campuchia lãnh đạo vùng như: Anh Sam Khăn (Nguyễn Ngọc Khanh, tức Ba Khanh là Chủ tịch tỉnh Sông Bé hiện nay), hồi đó phụ trách vùng Nam lộ Chhuk (Kampot), anh Lê Linh Giang vùng cánh B tỉnh Tà Keo, anh Oong (Méas Savông) Kg.Chnăng, anh Nguyễn Công Lý, Kg Speu, anh Trần Háo Hiếu vùng Tây Kampot (sau 1954 anh Trần Háo Hiếu là đại tá, Cục phó Cục phòng cháy chữa cháy Việt Nam), anh Hoàng Tươi, thị xã Kampot, hiện là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, anh Trần Văn Xã trong Ban cán sự Vùng Đông Kampot, sau đó anh ở trong Đảng ủy Nam lộ Chhuk, anh Huỳnh Công Đồng công tác ở KoKông - Tây Kampot, từ những năm 1946-1947 ở Thái Lan và các năm 1948-1954 ở Tây Kampot, (nay là một cán bộ hưu trí) hoạt động đắc lực giúp việc anh Dung Văn Phúc trong nhiệm vụ giải quyết vũ khí đạn dược cho chiến trường Nam Bộ và Campuchia. Có lần anh Huỳnh Công Đồng, Trần Mạnh Thắng đã cùng đồng chí Sẩy Bouthoong Chỉ huy phó Srok KôKông (Huyện KôKông) tiến đánh đồn Kôkapi ở trên núi, bắn chết tên đồn trưởng ác ôn khét tiếng vùng này. Anh Đào Mạnh Duệ sau thời gian chỉ huy bộ đội 651, từ năm 1952 đến tháng 10-1954 phụ trách Ban Tuyên huấn quân dân chánh Đảng miền Tây Nam Campuchia, là Bí thư Chi bộ liên cơ miền Tây Nam Campuchia trực thuộc Ban Cán sự Miền Tây Nam Campuchia, anh Phan Tùng Lâm, phó bí thư v.v... Có những anh em chiến đấu và công tác ở Campuchia từ năm 1947, 1948, 1949 liên tục đến tháng 10-1954 thì lên đường về nước sau Hiệp định Gènève, rồi lại lên Campuchia chiến đấu công tác liên tục qua các thời gian chống Mỹ, đánh Pôn Pốt - Đó là các anh Trần Chim (tức Trần Chính) các năm qua là đại tá, Phó Giám đốc Sở công an thành phố Hồ Chi Minh, anh Nguyễn Văn Hên, lên hoạt động chiến đấu ở Kông Pông Chnăng, là trung đội phó một trung đội, nay là Đại tá quân đội Nhân dân Việt Nam, anh Vũ Đình Ty, thời kỳ chống Pháp là đội trưởng đội võ trang tuyên truyền vùng Tà Keo (nay là Đại tá quân đội nhân dân Việt Nam), anh Trần Mạnh Thắng, trước hoạt động ở KoKông (nay là Đại tá quân đội NDVN), anh Nguyễn Tâm (quê ở Rạch Cái Sắng - xã Thới Bình, huyện Cà Mau) là chiến sĩ liên lạc mặt trận của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II, lên hoạt động, chiến đấu ở Tây Nam Campuchia và công tác ở Trung ương Cục Miền Nam. Anh Ba Khanh lại lên Kratié nhiều năm. Anh Nguyễn Thanh Nhàn chiến sĩ bắn súng máy Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II, nay là Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Campuchia ngày càng phát triển mạnh. Từ năm 1952 trở đi, các vùng giải phóng Campuchia mở rộng. Quân đội phát triển, nhiệm vụ nặng nề hơn, nhưng tài chính thì có nhiều khó khăn, nên đã yêu cầu tất cả các đơn vị cơ quan quân dân chính Đảng các cấp, cũng như quân đội đều phải tự cấp, tự túc về kinh tế, tài chính. Khắp các đơn vị nêu khẩu hiệu “ba cùng”: “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với nhân dân Campuchia. Bộ đội đánh giặc dựa vào dân mà sống, dựa vào dân để đánh giặc. Các đơn vị vừa sản xuất tự túc, vừa đánh giặc. Năm 1952, 1953, 1954, cơ quan quân dân chánh Đảng Miền Tây Nam đóng tại Phum Sréchène, Khum Srè Khnông, Srok Chhuk. Từ đây ra tới đồn Ôkrahông 10km, từ đồn Ôkrahông ra lộ Chhuk 2km. Các Ban của Miền Tây Nam đều do các đồng chí Campuchia làm trưởng ban, còn phó ban và cán bộ, nhân viên chuyên môn thì có cả Việt Nam lẫn Campuchia làm việc chung, nhưng về Đảng thì sinh hoạt riêng. Như đồng chí Achayout là chủ tịch miền kiêm trưởng Ban Tuyên huấn quân dân chính Đảng Miền. Trực tiếp điều hành Ban Tuyên huấn trong 3 năm ấy là đồng chí Đào Mạnh Duệ. Ban Tuyên huấn có 15 anh chị em, sau giảm biên chế còn 10 người. Nhà ở tự làm lấy và vài tháng di chuyển địa điểm một lần. Trong số này có vài anh em đã có vợ, con, còn đa số thì chưa. Công việc rất khẩn trương, có những lúc làm việc cả ngày lẫn đêm để kịp phát hành những tin tức tài liệu về tình hình chiến sự trong Miền, các tài liệu về đoàn kết sản xuất, giết giặc, về tổ chức, thành lập du kích, canh phòng và chống âm mưu tuyên truyền của địch, gây chia rẽ tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia v.v... Làm việc thì căng thẳng như vậy, ăn uống thì vô cùng kham khổ. Ở Campuchia có món phổ biến là mắm “prồhoóc”. Loại mắm này làm bằng cá, để cho xình, xong trộn muối, bỏ vô khạp, không đậy nắp, phơi nắng nhiều ngày, sau đó đậy nắp, trét bùn để vài tháng thì đã thành mắm. Chúng tôi phải gởi đồng bào ra chợ mua mỗi lần ba bốn hũ về đem bán đi hai hũ, để lấy lại tiền vốn, còn một, hai hũ để dùng (mỗi hũ độ 3-4kg). Mỗi tuần chỉ được hai lần ăn canh có nêm mắm Prồhoóc. Vì nếu ăn nhiều thì thâm vào tiền mua muối trong tháng. Thịt heo, gà, vịt hầu như rất ít được ăn, vì nhân dân vùng ven rừng núi này rất ít nuôi heo, mà chỉ nuôi bò kéo xe, cày ruộng, nuôi gà đê đi cúng chùa. Vào mùa mưa có nhiều măng tre, măng le, vô rừng chặt về nấu canh với mắm prồhoóc ngọt và ngon. Lâu lâu gặp nhân dân bắn được con nai hoặc bán thịt voi khô, chúng tôi mua một ít để cải thiện. Đầu mùa mưa, còn có món ăn rất quí đó là “con hinh” Tiếng Campuchia gọi là “Hinh”. Nhân dân Campuchia gọi là “gà đồng”. Trời mưa, chúng kêu inh ỏi. Mỗi người cầm một cây đèn chai cháy sáng, đến các gò mối có tiếng Hinh kêu thì bắt từng cặp một rất dễ dàng. Con Hinh gần giống như loài ễnh ương, nhưng mập mạp, thịt nó mềm và mỡ nhiều. Đem về kẹp từng kẹp 4-5 con nướng vàng, hoặc nấu canh chua ăn rất ngon, như thịt gà, có điều mềm hơn thịt gà. Hồi đó chúng tôi rất thích món Hinh này. Mấy năm ấy mỗi đầu người trong 1 tháng chỉ nhận được 1 cắc (1 hào) tiền Đông Dương, chủ yếu để mua muối, về lương thực, cấp mỗi đầu người 8 tháng lúa, 4 tháng kia còn lại thì đơn vị tự túc. Do đó đơn vị, cơ quan nào cũng xin đất của nhân dân để làm ruộng. Anh em còn phá rừng, trồng bắp, khoai mì, khoai lang, đậu v.v.... Từ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đều làm như anh em và còn gương mẫu đi đầu, nên mọi khó khăn đều vượt qua mà không hề nghe một tiếng kêu ca gì cả. Còn trái cây như chuối, thì hầu như hàng năm mới được ăn vài trái. Về quần áo: là quần xà loỏn (quần cụt), áo cổ vuông ngắn tay bằng vải tám mộc, nhuộm lá bàng (giã ra vắt lấy nước) và nhúng xình, hoặc nhuộm bằng các thỏi chì trong pin đèn. Quần áo nhuộm xong có màu xám tro. Nón chầm bằng lá thốt nốt. Chân đi đất suốt 4 mùa. Đi trong núi, rừng và đồng ruộng đều không hề có giầy dép. Chất ngọt thì vài tháng nấu chè bằng đường thốt nốt 1 lần. Cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cùng với các cán bộ, chiến sĩ Campuchia trong thời kỳ 9 năm đánh Pháp là như vậy. Nhưng ai cũng xác định được nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia, giúp bạn đánh Pháp cũng là nhiệm vụ giải phóng đất nước Việt Nam. Hàng năm, anh em vẫn được bố trí về phép để giải quyết tình cảm gia đình Cán bộ Việt Nam trong Ban tuyên huấn Miền Tây Nam Campuchia có các anh Lương Văn Thượng (chi ủy viên chi bộ liên cơ quan Miền), (hiện là đại tá cục phó cục chính trị quân khu 9), anh anh Nguyễn Duy Trinh Trung tá Công an (đã nghỉ hưu), anh Trịnh Xuân Tòng, anh Phát cán bộ biên tập và một số cán bộ Campuchia như các anh: Bunthon, Semsát, Acha... Các năm sau này có một số cán bộ đưa vợ con lên chiến trường Tây Nam, Tây Bắc, Đông Nam Campuchia, cùng công tác ở cơ quan - đơn vị, cũng sống những năm tháng gian khổ như vừa kể. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:10:58 pm LÊN ĐƯỜNG VỀ NƯỚC (13-10-1954) Sau hiệp định Génève 20-7-1954 quân tình nguyện được lệnh về nước. Đối với những chiến sĩ Hải ngoại Cửu Long II chúng tôi thì đây là lần thứ hai “lên đường về nước” trước tình cảm lưu luyến của cán bộ chiến sĩ và nhân dân Campuchia. Thực tế qua những năm tháng sang viện trợ cách mạng Campuchia nói chung tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như các chiến sĩ Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II hoạt động ở Miền Tây Nam và một số lên Tây Bắc Campuchia đều đã tỏ ra vững vàng trong chiến đấu, trong công tác có quyết tâm cao. Nhờ tình thương yêu quý mến của nhân dân Campuchia mà chúng tôi trưởng thành trong gian khổ và đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang của mình, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, lòng tin yêu quý mến của nhân dân Việt Nam, nhân dân Campuchia anh em và của Việt kiều Thái - Lào. Tiểu đoàn chúng tôi thuộc miền Tây Nam Campuchia, có nhiệm vụ đi công khai bằng phương tiện chuyên chở của đối phương. Nói là tiểu đoàn, nhưng quân số có đến 5 đại đội. Theo quyết định của Bộ tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia do anh Thanh Sơn tư lệnh kiêm Chánh ủy ký, bổ nhiệm Ban chỉ huy Tiểu đoàn này gồm: Anh Sương chỉ huy trưởng Tiểu đoàn, anh Dung Văn Phúc ủy viên Ban cán sự miền Tây Nam Campuchia, chánh trị viên, anh Đào Mạnh Duệ chỉ huy phó, anh Cao Xuân Tùng, chính trị phó tiểu đoàn. Mỗi cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn này được trang bị một bộ đồ kaki vàng, vai áo có con đỉa, giày bata, nón cối có bọc vải kaki vàng, trước nón có huy hiệu tròn nền đỏ, thêu sao vàng, viền vàng. Vũ khí đạn dược đầy đủ. Toàn bộ đạn dược đều đóng thùng đem theo xe, tàu (đó là lệnh của Bộ chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia). 7 giờ sáng 13-10-1954, xe chuyển bánh tại đồn ÔkraHông, Srok (Huyện) Chhuk, tỉnh Kampot. Đoàn xe xen kẽ có xe thiết giáp hộ tống, chạy theo quốc lộ Chhuk về đến Phnôm Pênh thì trời đã tối. Xe chạy bọc phía ngoài thành phố, chạy luôn qua cầu Mônivông (Việt kiều quen gọi là cầu Sài Gòn) đi xuống Neak Lương (Hối Lương), qua phà, trú quân tại đây đúng vào tối 13-10-1954. Sáng 14-10-1954, chúng tôi xuống tàu Vedette (tàu đổ bộ đường sông loại nhỏ) do Pháp phụ trách, đưa chúng tôi về tới Vàm Chắc Băng (Vĩnh Thuận) vào lúc 3 giờ chiều ngày 16-10-1954. Chúng tôi được chánh quyền và đồng bảo đón tiếp rất nồng nhiệt. Các đội văn nghệ thiếu nhi với trống ếch rộn rã, ca múa rất vui. Mỗi người được tặng một khăn choàng tắm và một đòn bánh tét. Có nhiều cha mẹ, anh em, vợ con của cán bộ chiến sĩ đến đây tìm gặp người thân. Chúng tôi gặp lại bà con và cán bộ địa phương với biết bao tình cảm xúc động của những đứa con xa Tổ quốc 6-7 năm nay trở về, 8 giờ sáng ngày 17-10-1954, chúng tôi xuống ghe máy đi về đóng quân theo sông Trẹm từ ngã ba Thới Bình tới Biển Bạch, thuộc vùng giải phóng tỉnh Bạc Liêu. Tại đây, thành lập Trung đoàn 664 Quân tình nguyện Việt Nam để tập kết ra miền Bắc. Ngày 16-11-1954, chúng tôi xuống ghe máy hành quân ra Vàm Chắc Băng và ngày 22-11-1954 xuống tàu Vedette (người Pháp lái) chạy ra Cần Thơ, sang tàu lớn ra ở Cấp và sang tàu Kilinski (Ba Lan), phụ nữ và thương binh đi tàu Stavrôpôn (Liên Xô) tập kết ra Bắc. Cha mẹ, vợ con, những người thân yêu tiễn đưa nước mắt ràn rụa, vẫy chào tạm biệt giơ hai ngón tay, hẹn 2 năm trở về... Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:12:27 pm NGÀY HỌP MẶT ĐẦU TIÊN (09-11-1992) Kỷ niệm 45 năm ngày xuất phát lên đường về nước của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II (7-11-1947 - 7-11-1992), ngày 9-11-92, hầu hết số anh em trong tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II hiện còn sống tại các tỉnh, thành ở Nam Bộ đã tập trung về họp mặt truyền thống đơn vị tại khách sạn Hoàng Đế (117 Nguyễn Đình Chiểu - Quận 3 - TP Hồ Chí Minh). Ban tổ chức họp mặt gồm các đồng chí: Đào Mạnh Duệ (nguyên Chính trị viên Bộ đội Hải ngoại Cửu Long II, thời gian đơn vị chiến đấu ở khu 9 - Nam Bộ), Nguyễn Văn Hên (đại tá tại ngũ) và Trần Văn Xả. Cuộc họp mặt được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của chị Nguyễn Thanh Hồng, giám đốc khách sạn Hoàng Đế, anh Hoàng Phúc, một cán bộ của Chi đội Hải ngoại Trần Phú, gia đình cơ sở cách mạng ở Vientiane (Lào) từ những năm 1940, sau này gia đình anh ở Noỏng On, tỉnh Oudon - Thái Lan. Chủ trì cuộc họp mặt là đồng chí Dương Quang Đông (Dung Văn Phúc), người Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II - 1947, Phó Ban sưu tầm vũ khí - Nam Bộ kháng chiến. Khách mời có anh Trần Văn Giàu là Trưởng Ban Sưu tầm vũ khí Nam Bộ kháng chiến các năm 1946-1947. Các anh Hồ Sỹ Tuội, đại diện bộ đội Hải ngoại Naixơn Xichăn hay còn gọi là Bộ đội Độc lập số 1, bộ đội Ngô Thất Sơn anh Hoàng Xuân Bình, nguyên chỉ huy trưởng quân sự bộ đội Hải ngoại Quang Trung, các anh Dương Cự Tẩm Chính trị viên, anh Lê Quốc Sản, chi đội phó Chi đội Hải ngoại Trần Phú và các anh Liêm, Tự, Tân, cán bộ của chi đội chị Nguyễn Thanh Hồng, giám đốc khách sạn Hoàng Đế, anh Hoàng Phúc gia đình cơ sở cách mạng ở Vientiane và ở Noỏng On tỉnh Ouđon - Thái Lan. Khi chúng tôi còn ở chiến khu Mai Ruột thì các anh Sơn Ngọc Minh, anh Phụng, anh Sanh mang đầu máu me tới cho biết anh Hoàng Phúc đã hy sinh trong trận đánh không cân sức với một Đại đội địch tại Srang (Kông Pông Speu) - Campuchia. Nhưng khi tập kết ra miền Bắc, tôi không ngờ gặp anh Hoàng Phúc tại Thanh Hóa. Hóa ra anh vẫn còn sống, từ Côn Đảo trở về. Hôm nay anh Phúc cùng đến dự họp mặt với Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II. Trong số khách mời còn có anh Đào Thiện Tường, Ban liên lạc Việt kiều Thái Lan tại thành phố Hồ Chí Minh, cô Phạm Thị Hồng Nhung, hiện là trưởng phòng y tế Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh (con gái bác Mười Trinh, nguyên chủ tịch Hội Việt kiều cứu quốc Battambang các năm 1945-1946-1947-1948), anh Bông Anh Dũng, Bí thư Đảng ủy khối Bộ Công Nghiệp nhẹ ở thành phố Hồ Chí Minh là con bác Bông Văn Dĩa, nguyên tiểu đoàn phó tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II, trong kháng chiến chống Mỹ, bác Dĩa là “anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam” đã từ trần ngày 31-5-1982 tại ấp Rạch Gốc, xã Tân An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Minh Hải. Nhiều anh em Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II lần đầu tiên về họp mặt, gặp nhau tay bắt mặt mừng, vô cùng mừng rỡ sau bao năm xa cách. Có những anh em không còn nhận ra nhau vì thời gian và tuổi tác làm thay đổi quá nhiều. Không khí vui tươi, tình cảm thương nhớ và cảm động lạ thường, vì đây là những con người thực tế sát cánh chiến đấu với kẻ thù và đã chiến thắng vẻ vang. Biết bao anh em đã hy sinh trong chiến đấu và mất mát trong quá trình cống hiến tuổi trẻ cho sự nghiệp độc lập - tự do của Tổ quốc Việt Nam và cho cả nhiệm vụ cách mạng quốc tế, chiến đấu trên các chiến trường, nước bạn Lào và Campuchia anh em. Đến nay số anh em tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II còn sống khoảng trên 30 người (có một số lập gia đình ở các địa phương chúng tôi chưa biết địa chỉ để liên lạc). Cuộc họp mặt lần đầu tiên đông đủ này phần nhiều gồm những anh em đã nghỉ hưu và một vài anh em vẫn còn đang tại ngũ. Trên bức tường cửa phòng hợp rộng rãi, khang trang có một băng vải đỏ, chữ vàng với dòng chữ đẹp: “Kỷ niệm 45 năm ngày xuất phát lên đường về nước của Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II- 7-11-1947 - 7-11-1992”. Ban Tổ chức đề nghị anh Trần Văn Giàu phát biểu ý kiến, nhưng anh lại nói: Kính lão đắc thọ, anh Năm Đông nhiều tuổi hơn, đề nghị anh phát biểu trước. Nhưng anh Năm Đông lại đề nghị anh Sáu Giàu nói trước, rồi anh sẽ nói sau. Anh Sáu Giàu lại nói: Thôi, anh Năm Đông bảo tôi nói trước thì tôi xin nói:... Tiếp theo, anh Dương Quang Đông (Dung Văn Phúc) phát biểu. Ý kiến chung của hai anh đều nói lên những tình cảm sâu sắc về tinh thần cách mạng, những tấm lòng yêu nước cao quý của 10 vạn Việt kiều Thái Lan, vì sự nghiệp Độc lập - tự do của Tổ quốc Việt Nam, bà con đã hy sinh, đóng góp rất nhiều về sức người, sức của cho công cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng đất nước. Phần phát biểu ý kiến của các anh trong các Ban chỉ huy bộ đội Hải ngoại bạn và của một số anh em Cửu Long II đều rất xúc động. Nhiều anh phát biểu nghẹn ngào những tình cảm sâu sắc khi nhớ lại quá khứ... Đó là các anh Hồ Sĩ Tuội, Hoàng Xuân Bình, Lê Quốc Sản, Đào Mạnh Duệ. Anh Hoàng Xuân Bình lấy tập hồi ký đọc bài thơ do anh Hoàng Ngọc Cừ, chính trị viên bộ đội Quang Trung làm trên đường hành quân từ Thái Lan về chi viện Khu 9 - Nam Bộ. Anh Đào Mạnh Duệ đã đọc các bài thơ ghi cảm nghĩ khi tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II về đến Hà Tiên ngày 1-12-1947, một bài trong “Vui ngày họp mặt” viết ngày 7-11-1992. Gần 40 người trong buổi họp mặt xúc động nhớ đến những kỷ niệm sâu sắc không bao giờ quên được và càng vô cùng đau thương nhớ đến bao nhiêu anh em, đồng chí, đồng đội đã hy sinh anh dũng trong chiến đấu với quân thù, đóng góp phần xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:14:13 pm Sau đây bài thơ của anh Hoàng Ngọc Cừ, chính trị viên phó bộ đội Hải ngoại Quang Trung, đã đọc trong lễ truy diệu tổ chức tại xã Vĩnh Gia (Châu Đốc) ngày 5-1-1947, do anh Hoàng Xuân Bình đọc trong ngày họp mặt tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II mà chúng tôi vừa kể.
HẬN CHROS - POK! Kính tặng hương hồn các bạn: Duệ, Thường, Hoành, Luân, Thuận tử trận ở núi Chros-Pok (Tà Keo) - Cao Miên ngày 2-1-1947. Sông, núi không ngăn tình thương Mưa, gió không lay can trường... Núi Chros-Pok ngàn xa, còn in bóng Trong tâm hồn chiến sĩ đội “Quang Trung” Vượt rừng xa, len núi thẳm mịt mùng Về cố quốc cùng đồng bào chiến đấu Đoàn dũng sĩ quyết thề đem xương máu Tự trời xa, về góp với núi sông Cùng đắp đài Độc Lập với toàn dân Tìm hạnh phúc trong lòng yêu Tổ quốc Không thối chí trước thác, ghềnh, khổ, nhọc Quyết đi về chung sức diệt thực dân Hai tháng trời ròng rã chịu gian truân Kia đất Việt! Chỉ còn trăm dặm nữa Hai ngày trọn giữa rừng không ánh lửa Đội “Quang Trung” chịu đói đã hết lương! Làm sao đây? nghìn câu hỏi dập dồn! Thôi hãy tạm đóng binh tìm phương kế Núi Chros-Pok nơi hoang vu lặng lẽ Đoàn Việt quân hải ngoại tạm trú chân Ngày hôm sau địch đột tiến công! Tiếng súng đạn qua đầu như mưa bấc! Trận kịch chiến lặng êm trong khoảnh khắc Trên chiến trường năm bạn đã bỏ thây! Quyết đi về đất Tổ chốn xa xăm Đây Việt Nam, yêu quí của muôn lòng! Quang Trung đây xin góp phần kháng chiến. Chros-pok! Chros-Pok! Đã vùi thân năm chiến sĩ Quang Trung Từ đây trong trang sử Vệ quốc quân Thêm tên tuổi năm người trên Chros-Pok Bưng biền ngày Hè Đinh Hợi Và đây là bài thơ của anh Đào Mạnh Duệ viết về ngày họp mặt 9-11-1992. VUI NGÀY HỌP MẶT Kể từ ấy 45 năm trời xa cách(1) Nay gặp nhau càng nhớ đến ngày xưa Những tháng năm chiến đấu chẳng phai mờ Đã ghi khắc trong đời người chiến sĩ Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II ta nhớ mãi Là con em Việt kiều trên đất nước Thái Lan Quyết vượt qua bao gian khổ hy sinh Đã thắng địch trên đường về quê hương giết giặc Chiến trường Bạc Liêu những chiến công oanh liệt Diệt quân thù quyết bảo vệ nhân dân Trận Tân lợi, Chợ Hội và Vĩnh Hưng Đã tiêu diệt hàng trăm quân xâm lược Hôm nay chúng ta vui ngày họp mặt Càng nhớ về truyền thống những năm xưa Vì nhân dân xứng đứng dưới ngọn cờ Dưới cờ Đảng Cộng sản Việt Nam vĩ đại (Viết tại TP Hồ Chí Minh ngày 7-11-1992) (1) Ngày 7-11-1947 xuất phát lên đường về nước từ chiến khu Mai Ruột (Thái Lan) Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:22:09 pm (https://i.imgur.com/j1oNViL.jpg)
(https://imgur.com/bSWbRpf.jpg) (https://imgur.com/7hBZ6Ap.jpg) (https://i.imgur.com/ERugEJN.jpg?1) Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:26:24 pm (https://i.imgur.com/NdiQ8UP.jpg)
(https://i.imgur.com/3GgRVgj.jpg) (https://i.imgur.com/QIDSQwP.jpg) (https://i.imgur.com/shwonxh.jpg) Tiêu đề: Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2022, 04:28:22 pm (https://i.imgur.com/Vh2mRfs.jpg)
(https://i.imgur.com/OgPIfbS.jpg) (https://i.imgur.com/bq7vQaz.jpg) (https://i.imgur.com/U7MftKG.jpg) |