Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:03:47 pm



Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:03:47 pm
- Tên sách: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2006
- Người số hóa: vnmilitaryhistory
 

Chỉ đạo thực hiện:

   Đại tá PHẠM QUANG ĐỊNH

   Đại tá PHẠM BÁ TOÀN

   Thượng tá NGUYỄN ĐỨC HÙNG


Tổ chức thực hiện:

   Đại tá HOÀNG ĐỨC NHUẬN

   Đại tá NGUYỄN TRUNG KIÊN

   Thiếu tá NGUYỄN MINH TUẤN

   Họa sĩ PHẠM VŨ QUỲNH


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:05:32 pm
HOÀNG MINH THẢO VỊ TƯỚNG CỦA NHÂN DÂN
(Lời giới thiệu của Họa sĩ Phạm Vũ Quỳnh)


Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo (tức Tạ Thái An) nguyên Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, chỉ huy trưởng trận đánh Buôn Ma Thuột, một đòn then chốt chiến lược mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Ông sinh ngày 25 tháng 10 năm 1921, tại thôn Cao, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Cha ông làm nghề thợ may nổi tiếng ở quê nhà, vì nhiệt tình ủng hộ cách mạng, nên bị địch truy bức phải rời ra Quảng Ninh rồi chuyển lên Thất Khê - Lạng Sơn để sinh sống.


Năm 13 tuổi, ông được cha gửi về Hà Nội học ở trường tư thục Thăng Long, nơi đã đào tạo ra nhiều người con ưu tú cho đất nước. Ông thuộc thế hệ học sinh của các thầy dạy lúc đó là Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám... Sau thắng lợi của Mặt trận bình dân ở Pháp, phong trào cách mạng ở Việt Nam cũng phát triển rất mạnh mẽ. Là học sinh, ông tham gia và tìm hiểu về cách mạng nên đã bị nhà cầm quyền thực dân Pháp bắt tháng 4 năm 1938. Sau một tuần bị tra khảo, vì không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ông. Lần bị giặc Pháp bắt trở thành bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Về Lạng Sơn, ông tích cực tham gia hoạt động ở đảng bộ huyện Tràng Định.


Năm 1941 khi Bác Hồ trở về nước chỉ đạo cách mạng, Người đã chọn ông cùng một số thanh niên yêu nước như: Hoàng Văn Thái, Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Nam Long, Thanh Phong,... sang Trung Quốc đào tạo về quân sự để chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Khoá học thuộc phân hiệu của Trường quân sự Hoàng Phố, được tổ chức ở Liễu Châu và huấn luyện ở Nam Ninh (Trung Quốc). Cuối năm 1944, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động. Lúc đó Bác Hồ được nhà cầm quyền của Tưởng Giới Thạch trả tự do. Vừa ra tù, Người đi giao thiệp ngay để xin cho những thanh niên đang được đào tạo này về nước và chính họ là lớp người đầu tiên xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Khi đó ông được phân công về Lạng Sơn để xây dựng cơ sở du kích, làm chính trị viên trung đội. Mới một tuổi quân, ông đã chỉ huy đội du kích tiêu diệt đồn Pò Mã nổi tiếng (5-1945) và tham gia cách mạng tháng Tám cùng nhân dân cướp chính quyền ở huyện Tràng Định - Lạng Sơn.


Cách mạng tháng Tám thành công, ông được gọi về Hà Nội. Bác Hồ giao nhiệm vụ cho ông thay tướng Nguyễn Bình, để tướng Nguyễn Bình vào miền Nam công tác. Với cương vị Khu trưởng Chiến khu 3, ông bắt tay ngay vào việc tiễu phỉ ở Móng Cái - Quảng Ninh. Lúc này phong trào cách mạng của ta trên cả nước đang ở thế mạnh, riêng vùng Móng Cái - Hà Cối còn nằm dưới sự kiểm soát của bọn thổ phỉ. Là người chỉ huy sâu sát và gan dạ, ông cùng một cán bộ đã tìm cách vào tận hang ổ của bọn thổ phỉ để trinh sát. Sau khi điều tra nắm tình hình trở về, ông tổ chức bộ đội chiến đấu, đồng thời kết hợp với địch vận, đưa chính quyền mới về tay nhân dân. Tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, chúng đã vấp phải thế trận chiến tranh nhân dân đang dâng lên ngày càng mạnh mẽ. Nơi đây thường xuyên diễn ra những trận đánh phối hợp của bộ đội chủ lực và dân quân du kích do ông chỉ huy nhằm vào hậu phương địch ở Hải Phòng, Kiến An, trên đường 5... khiến cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên và bị tổn thất rất nặng nề.


Năm 1949, ông về làm Tư lệnh Liên khu 4 thay cho tướng Nguyễn Sơn và đến năm 1950, ông được bổ nhiệm làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, đại đoàn chủ lực thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới sự chỉ huy của ông, đại đoàn đã lập được nhiều chiến công vang dội trên các chiến trường Trung Lào, Cánh Đồng Chum, trận đánh ở Chùa Cao - Ninh Bình và những trận đánh ngăn chặn quân địch, bảo vệ vững chắc hậu phương Khu 4 để ta tập trung nhân tài vật lực cho chiến dịch Điện Biên Phủ.


Năm 1954, ông được giao làm Hiệu trưởng Trường bổ túc quân chính Bắc Sơn đầu tiên của quân đội ta, đến năm 1956 trường chuyển thành Trường quân sự trung cao và sau là Học viện quân sự. Năm 1962 có một thời gian ông lại tham gia học tập tại Trung Quốc. 12 năm sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, vừa nghiên cứu khoa học, vừa giảng dạy, ông cùng với các đồng đội và những học viên vừa từ trong chiến trường ra học tập đã đúc kết được nhiều bài học quý báu cho nền nghệ thuật quân sự cách mạng.


Năm 1966, ông nhận nhiệm vụ làm Phó tư lệnh mặt trận B3 Tây Nguyên. Trên mặt trận nóng bỏng và ác liệt này, tài thao lược và mưu trí sáng tạo trong nghệ thuật chỉ huy quân sự của ông ngày càng được bộc lộ.


Năm 1967, với cương vị Tư lệnh mặt trận B3 Tây Nguyên, ông đã chỉ huy chiến dịch Đắc Tô 1 giành được thắng lợi xuất sắc. Kế thừa những kinh nghiệm từ chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến dịch Sa Thầy năm 1966, lần này ông cũng vận dụng cách dụ địch vào thế trận của ta. Ông phán đoán, khi ta cho đơn vị pháo binh đánh khêu ngòi vào căn cứ của địch, thì thế nào địch cũng cho quân ra đánh đuổi bộ phận khêu ngòi của ta, kết hợp dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau đội hình đơn vị khêu ngòi của ta để bao vây tiêu diệt. Nếu đơn vị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng này bị ta đánh, thì chúng lại đổ quân tiếp vào sâu hậu phương để cắt đứt môi liên hệ giữa bộ đội đang chiến đấu và đánh phá hậu phương của ta. Dựa vào kinh nghiệm và phán đoán quy luật, thủ đoạn hành động của địch, với một lực lượng hơn 3 trung đoàn của ta, ông đã bày ra một thế trận nhiều tầng, nhiều lớp và sẵn sàng đón đánh địch bằng "chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt", đây là một chiến thuật mới được sáng tạo nhằm hạn chế sức mạnh cơ động của quân Mỹ.


Mưu kế dụ địch từng bước vào sâu trong thế trận của ta đã thành công. Mặc dù Mỹ - ngụy tăng cường mọi sức mạnh sẵn có, sử dụng trung bình mỗi ngày 700 lần chiếc máy bay, có cả máy bay B52 tham gia ném bom yểm trợ, nhưng vẫn không cản phá được các trận tiến công rộng lớn của ta đánh bại từng tiểu đoàn quân Mỹ. Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, ta dùng mưu lừa được 2 lữ đoàn Mỹ và 1 lữ đoàn (thiếu) quân ngụy ra nơi chọn sẵn, nhằm đánh bại chiến lược "tìm diệt" của Mỹ - ngụy và đánh thiệt hại nặng 1 lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ, làm cho quân Mỹ từ đó rất e ngại tiến sâu vào khu căn cứ của ta.


Đầu năm 1970, ông cùng với Đảng ủy và Bộ tư lệnh mặt trận B3 Tây Nguyên chủ trương mở chiến dịch Đắc Xiêng. Trong chiến dịch này, mưu kế của ta là đánh Đắc Xiêng để dụ địch ở Tân Cảnh ra cứu, rồi tiêu diệt quân cứu viện bằng đường bộ và đường không. Trong trận Đắc Xiêng quân ta đã vây tròn, vây chặt cả bốn mặt bằng chiến thuật "vận động bao vây liên tục". Đây cũng là một chiến thuật mới sáng tạo, nhằm hạn chế hoả lực sát thương của địch, bao vây chặt quân địch, sau đó liên tục công kích cho đến khi dứt điểm làm chủ trận địa.


Năm 1972, ông chỉ huy chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh (Đắc Tô 2) giành thắng lợi to lớn. Không gian chiến dịch gần trùng hợp với chiến dịch Đắc Tô 1 - năm 1967, nhưng lần này đối tượng tác chiến là quân ngụy có sự chi viện tối đa của hoả lực Mỹ. Mưu kế chiến dịch là nghi binh lừa địch, bằng cách mở hai con đường cơ giới phía tây thị xã Kon Tum. Đây là con đường làm giả nhằm thu hút địch về phía đó, làm cho địch tập trung lực lượng vào thị xã Kon Tum mà để sơ hở Đắc Tô - Tân Cảnh. Lợi dụng sơ hở này ta mở một con đường quân sự làm gấp nối vào đường 14 để đưa lực lượng chủ chốt và xe tăng vòng về phía đông Đắc Tô - Tân Cảnh, là hướng địch không hề ngờ tới. Khi đã tạo được thế trận và thời cơ, quân ta siết chặt vòng vây ngăn chặn cụm thị xã Kon Tum và tập trung lực lượng đột phá cụm Đắc Tô - Tân Cảnh. Địch bị trói chân ở Kon Tum không thể đi phản kích, trong khi toàn bộ quân ở Đắc Tô - Tân Cảnh bị tiêu diệt, cụm phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum sụp đổ nhanh chóng. Chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh cùng với các chiến thắng của chiến dịch Quảng Trị, chiến dịch Đông Nam Bộ và ''chiến dịch Điện Biên Phủ trên không" trong năm 1972 có ý nghĩa chiến lược quan trọng, đưa chiến tranh bước sang một giai đoạn mới, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri và rút quân về nước, còn quân ngụy phải chuyển vào thế phòng ngự chiến lược.


Năm 1973, ông ra Hà Nội họp. Trong một buổi làm việc, ông nêu ý kiến với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng dễ hơn Kon Tum. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Đại tướng rất đồng tình. Trải qua 6 năm lăn lộn trực tiếp chỉ huy trên chiến trường Tây Nguyên, với nhãn quan quân sự nhạy bén, ông nhận ra rằng, đánh Kon Tum thì không phát triển được, đánh Plây Cu thì địch còn mạnh, chỉ có đánh Buôn Ma Thuột là nơi địch yếu, sơ hở ít phòng bị và có hướng phát triển chiến dịch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:07:39 pm
Năm 1974, ông làm Phó tư lệnh Khu 5, cuối năm ra Hà Nội dự họp bàn về kế hoạch giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Trong lúc này thế của ta đang lên và đang mạnh, địch ngày càng suy yếu. Đó là thời cơ để Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976 và nếu có thời cơ thì giải phóng miền Nam trong năm 1975. Ngay sau đó ông được dự họp hội nghị mở rộng của Quân ủy Trung ương để quán triệt và triển khai quyết định chiến lược của Bộ Chính trị "Chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Nam Tây Nguyên" và là nơi mở đầu cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Ông được giao nhiệm vụ là Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, đồng thời là Chỉ huy trưởng trận đánh Buôn Ma Thuột.


Đây là điều ông rất tâm đắc, chọn Tây Nguyên là nơi có dung lượng chiến trường lớn, vừa có rừng núi, vừa có cao nguyên, lại là nơi có đường chiến lược Hồ Chí Minh đi qua. Ở Tây Nguyên lại chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đột phá là chính xác vì là nơi hiểm yếu. Điểm trúng cái huyệt đó thì toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ sẽ rung chuyển. Mỗi khi nói về điều này, ông luôn nhắc tới sự sáng suốt của Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương và đặc biệt là sự chỉ đạo tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tạo thế cho Tây Nguyên mọi thuận lợi để giành chiến thắng một cách chắc chắn.


Đó là mưu kế chiến lược tạo ra một hình thế dàn trận chiến lược - bày binh bố trận, nhằm ghìm địch ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để tạo thế phá vỡ Tây Nguyên, sau đó tạo lực bất ngờ bằng cách tăng thêm cho Tây Nguyên 2 sư đoàn. Theo ông nói: Đưa bí mật đột ngột 2 sư đoàn lên Tây Nguyên là cái nút của cuộc chiến tranh, là mưu hay của ta, của Bộ thống soái mà trực tiếp là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người đã có kinh nghiệm tác chiến lớn, người có trình độ chỉ huy các chiến dịch lớn, người có tri thức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành.


Lực lượng được tăng cường và bố trí hợp lý, mưu kế của ông và Bộ tư lệnh chiến dịch nhằm chuyển hoá thế trận: ta yếu thành mạnh, còn địch mặc dù về tổng thể thì mạnh hơn ta. Bằng cách nghi binh lừa địch, ta đánh thật nhưng mà là "thật giả" ở Plây Cu, đã điều được địch trở về Plây Cu. Sau đó lập tức chia cắt đường tạo thế cô lập Buôn Ma Thuật. Khi địch mắc vào mưu kế đó, thì ta liền tập trung lực lượng nhanh chóng phá vỡ Buôn Ma Thuột và đón đánh quân phản kích thắng lợi, tạo ra đột biến về chiến dịch. Đòn điểm huyệt thắng lợi buộc địch phải rút chạy khỏi Plây Cu, Kon Tum. Quân ta liền truy kích và tiêu diệt hoàn toàn quân địch tháo chạy, tạo ra đột biến về chiến lược. Chiến dịch đang thắng lợi trở nên thắng lợi rất lớn, thắng lợi một cách đột ngột, rất nhanh. Địch hoang mang dao động mất tinh thần, không còn khả năng chống đỡ, suy sụp về chiến lược, phản ứng dây chuyền đó đã tạo ra đột biến về chiến tranh.


Nói về sự kiện này, ông kể: Trước khi rời Hà Nội vào chiến trường, lúc chia tay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có căn dặn: "Nếu địch bị thua đau, bị mất Buôn Ma Thuột thì có khả năng chúng sẽ co cụm về các tỉnh ven biển miền Trung". Quả nhiên, thế trận diễn ra đúng như vậy. Vì thế ông thường nói: Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên là sự thắng lợi của mưu kế, của sự đấu mưu đấu trí với địch, tất nhiên phải có công cụ chiến đấu, có tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ trên chiến hào và phải dựa vào thế trận lòng dân. Nếu không có thế trận lòng dân thi làm sao ta lập được thế trận ghìm địch ở hai đầu Nam Bắc chiến tuyến, rồi nghi binh lừa địch, chia cắt địch... Từ thực tiễn chiến đấu, đến lý luận quân sự được ông khái quát :

   Mưu cao nhất là mưu lừa địch,
   Kế hay nhất là kế điều địch,
   Thế tốt nhất là thế chia cắt địch,
   Thời đẹp nhất là lúc địch ít phòng bị.
   Mưu sinh ra kế - thế đẻ ra thời,
   Đánh bằng mưu kế - thắng bằng thế thời.


Theo ông, kế hoạch tác chiến càng công phu kỹ lưỡng bao nhiêu thì thắng lợi càng dễ bấy nhiêu, thế trận càng phức tạp thì tình huống diễn ra càng giản đơn và ông coi đó là biện chứng pháp trong nghệ thuật chỉ huy cũng như nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh.


Suốt trên chặng đường trường chinh góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, hành trang ông mang theo là những trang sách mà trong đó chứa đựng hồn non nước, những điều mà ông tâm đắc:

Trần Hưng Đạo
- Đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa bay trên không.

- Bở chỗ thực đánh vào chỗ hư, đó là cái diệu của việc binh.

Nguyễn Trãi
- Thời thời thực không nên lỡ.

- Bốn phương dân cày tập hợp. Rượu hoà nước, dưới trên cùng một bụng cha con.

- Bở chỗ thực đánh chỗ hư, bở chỗ mạnh đánh chỗ yếu, thì sức dùng một nửa mà công được gấp đôi.

- Lấy yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ;
   Lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục.

- Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn;
   Mất thời không thế thì mạnh hoá ra yếu, an lại thành nguy.
   Hồ Chí Minh
   Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
   Kiên quyết không ngừng thế tiến công.
   Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
   Gặp thời một tốt củng thành công.

- Quả cân chỉ một ki-lô-gam ở vào thế có lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực.

- Nước lấy dân làm gốc, quần chúng là gốc của cách mạng. Cách mạng cũng như chiến tranh cách mạng, là sự nghiệp của quần chúng.


Chiến thắng Tây Nguyên đã được ông vận dụng từ những triết lý đó. Từ chiến thắng Tây Nguyên đã tạo thế cho chiến dịch gối đầu Huế - Đà Nẵng đến Chiến dịch Hồ Chí Minh kế tiếp được mở ra nhanh chóng. Trong một thời gian ngắn, bằng ba đòn chiến lược Tây Nguyên - Huế, Đà Nẵng - Sài Gòn, cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Năm 1976, ông lại trở về công việc nghiên cứu và giảng dạy với cương vị Viện trưởng Học viện Lục quân và có một thời gian ông học tập ở Liên Xô. Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 1977, ông làm Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nay là Học viện Quốc phòng.

Năm 1990, ông làm Viện trưởng Viện chiến lược Bộ Quốc phòng. Đến năm 1995, nghỉ làm công tác quản lý, nhưng ông vẫn tham gia rất nhiều công việc như: giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, hội thảo khoa học, viết sách viết báo, các công trình nghiên cứu về khoa học và nghệ thuật quân sự, v.v...; ngoài ra còn giữ các chức danh như: Ủy viên Hội đồng xét duyệt học hàm, học vị; Hội đồng chỉ đạo Bách khoa thư. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử và nghệ thuật quân sự được xuất bản từ năm 1958. Có những cuốn sách ông viết và xuất bản ngay trên chiến trường đã trở thành cẩm nang cho cán bộ chiến sĩ trước khi ra trận như cuốn: Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc (1969, 1971), Sự thất bại của sức mạnh phi nghĩa (1974), Cách dùng binh (1975),... Trong số đó có 8 cuốn sách là một Cụm công trình được Hội đồng xét giải thướng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đánh giá là: "Đặc biệt xuất sắc, có giá trị cao về khoa học công nghệ đã được công bố, sử dụng từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, khoa học công nghệ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc". Cụm công trình này đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 2005 theo Quyết định số 971/2005/QĐ-CTN ngày 30 tháng 8 năm 2005 do Chủ tịch nước ký. Đến nay số đầu sách của ông đã có hơn 15 cuốn, ông vẫn còn muốn viết nhiều hơn nữa, để đóng góp vào nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam, cũng như những vấn đề mà ông cho rằng dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân chương cao quý khác và được phong hàm Giáo sư, danh hiệu Nhà giáo nhân dân. 60 tuổi Đảng, dù ở bất kỳ cương vị nào ông đều luôn giữ vững danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ", sống một cuộc đời trong sạch, giản dị, sâu nặng nghĩa tình đồng chí đồng đội, tình quê hương làng xóm của người đảng viên gương mẫu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Ông thực sự là vị tướng của nhân dân.


Tháng 12 năm 2005
P.V.Q


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:09:38 pm
HỌC TẬP KHOA HỌC QUÂN SỰ XÔ-VIẾT1
(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1958)


Lời giới thiệu


Quân đội Xô-viết xứng đáng là quân đội đàn anh của các lực lượng vũ trang trong phe xã hội chủ nghĩa. Khoa học quân sự Xô-viết xứng đáng là nền khoa học quân sự tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay.

Sinh cùng với Đại Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười, Quân đội Xô-viết đã trải qua 40 năm lịch sử đầy chiến thắng vẻ vang và ngày nay đã trở thành một quân đội hiện đại vào bậc nhất mà không một quân đội một nước tư bản nào có thể so sánh nổi. Cũng trải qua 40 năm ấy, khoa học quân sự Xô-viết - nền khoa học quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành, đã được thử thách và được những kinh nghiệm của các cuộc đấu tranh vũ trang làm cho ngày thêm phong phú.


Quân đội ta cũng như quân đội các nước anh em đều hướng về Quân đội Xô-viết và khoa học quân sự Xô-viết mà ra sức học tập. Đó là một nhu cầu bức thiết trên con đường xây dựng quân đội ta tiến lên chính quy và hiện đại.


Với tập sách nhỏ "Học tập khoa học quân sự Xô-viết", đồng chí Hoàng Minh Thảo đã sơ bộ đáp ứng được nhu cầu đó của cán bộ chúng ta.

Trong quyển này, đồng chí Hoàng Minh Thảo đã giới thiệu sơ lược quá trình xây dựng, chiến đấu và phát triển của Quân đội Xô-viết cùng những nguyên tắc căn bản mà Lênin và Đảng Cộng sản Liên Xô đã đề ra để xây dựng lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô-viết. Đồng chí đã cố gắng trình bày một cách khái quát một số vấn đề của khoa học quân sự Xô-viết và những nguyên tắc chung của chiến tranh hiện đại với những quy luật phát triển và quan điểm đúng đắn của nó.


Như trên đã nói, những điều mà đồng chí Hoàng Minh Thảo trình bày trong quyển này chỉ mới là sơ bộ, khái quát, còn nhiều thiếu sót, nó mới đặt vấn đề và khêu gợi vấn đề để cho cán bộ chúng ta tiếp tục nghiên cứu học tập. Cho nên, chúng ta sẽ còn phải bổ sung, sửa chữa và góp thêm nhiều ý kiến quý báu. Nhưng dù sao, bước đầu đó củng rất đáng quý, đáng khuyến khích, đáng học tập.


Kho tàng khoa học quân sự Xô-viết rất quý báu, dồi dào, phong phú, sâu sắc. Tiến quân vào khoa học quân sự Xô-viết, quân đội chúng ta phải kiên quyết, anh dũng, bền bỉ như trong các cuộc chiến đấu trước kia. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, cán bộ chúng ta nhất định không hề biết mệt mỏi trên con đường đó.


Mong rằng quyển sách nhỏ này sẽ là một trong những người bạn đường của chúng ta, xin trân trọng giới thiệu với các đồng chí.


Tháng 4 năm 1958
Thiếu tướng HOÀNG VĂN THÁI


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:10:20 pm
I
SỰ THẮNG LỢI CỦA VŨ TRANG KHỞI NGHĨA
TRONG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI


Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười thành công đã thay đổi tận gốc rễ mọi quan hệ và sinh hoạt xã hội. Dựa trên sự thay đổi căn bản của hạ tầng cơ sở, nền khoa học quân sự mới, nền khoa học quân sự của giai cấp vô sản - thuộc phạm trù của thượng tầng kiến trúc - cũng được dựng lên.


Giai cấp vô sản dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin biết dùng lý luận và thực tiễn quân sự để tự võ trang đánh đổ giai cấp tư sản và địa chủ giành thắng lợi cho cách mạng.

Bạo lực là tiền đề của cách mạng ngay khi mà giai cấp cách mạng chưa bước lên vũ đài chính trị, khi mà giai cấp thống trị còn nắm được trong tay bộ máy quan liêu, quân phiệt mạnh mẽ để đàn áp cách mạng.

Trong lịch sử đã diễn ra những sự kiện như thế từ các cuộc khởi nghĩa của nông nô cho đến các cuộc cách mạng của giai cấp tư sản. Hiểu rõ điều đó, Đảng Bôn-sê-vích rất chú ý đến việc vận động binh lính. Đảng đã phái nhiều cán bộ vào hoạt động trong đội ngũ của quân đội Nga hoàng. Do Đảng đã chú ý tổ chức những đội tự vệ đỏ và lôi kéo được binh lính nên cuộc khởi nghĩa vũ trang bắt đầu từ thành Pê-trô-grát đã thắng lợi được dễ dàng trong cả nước.


Sau cách mạng tháng Hai, Lênin, người kế tục sự nghiệp vĩ đại của Mác và Ăng-ghen đã áp dụng lý luận mác-xít đề ra khả năng phát triển hòa bình từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Song vì giai cấp tư sản thống trị hồi đó thẳng tay dùng võ lực đàn áp quần chúng cách mạng, không dùng bạo lực với chúng không xong. Khởi nghĩa vũ trang đã nổ ra và đưa đến thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười. Đội Cận vệ đỏ đã là nòng cốt của lực lượng vũ trang cách mạng để đánh đổ chính phủ lâm thời tư sản Kê-răng-ski và chống với bọn phản cách mạng Coóc-ni-lốp.


Khả năng phát triển hòa bình của cách mạng thời đó không thành hiện thực, nhưng đã soi sáng cho con đường phát triển hòa bình cách mạng nhiều nước sau này trên thế giới. Đối với Cách mạng tháng Mười, vũ trang khởi nghĩa thật là quan trọng và cần thiết. Kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc và Việt Nam càng cho ta thấy vai trò của vũ trang khởi nghĩa. Đối với quân thù hung bạo và ngoan cố, sức mạnh thực tế, vật chất rõ ràng là không thể thiếu được trong khi làm cách mạng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:12:14 pm
II
HỒNG QUÂN TRONG THỜI KỲ NỘI CHIẾN


Sau khi Cách mạng tháng Mười thành công, Nhà nước Xô-viết nhận thấy rằng các đội Cận vệ đỏ chiến đấu rất anh dũng, nhưng với nhiệm vụ mới bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đội cận vệ số lượng ít, phân tán, thiếu huấn luyện, không thích hợp với hoàn cảnh mới. Do đó, Nhà nước Xô-viết và Lênin chú trọng đến việc cần thiết phải xây dựng một quân đội có tổ chức huấn luyện và được trang bị hơn. Lênin đã đề ra vấn đề giảm bỏ tính lưu động, tính du kích của quân đội; ngày 28 tháng 1 năm 1918 Lênin ký sắc lệnh thành lập Hồng quân công nông và đến ngày 14 tháng 2 thì ký sắc lệnh thành lập Hải quân công nông đỏ.


Trong sắc lệnh có nói: "Quân đội cũ là một công cụ của giai cấp tư sản dùng để áp bức giai cấp công nhân. Theo với sự chuyển biến chính quyền từ trong tay giai cấp bóc lột sang tay nhân dân lao động và giai cấp bị bóc lột, cần thiết đề ra việc xây dựng một quân đội mới làm cốt cán cho chính quyền Xô-viết" (Con đường chiến đấu của quân đội Liên Xô, trang 13).


Bắt tay vào xây dựng Hồng quân, một quân đội hoàn toàn mới mẻ về nhiều mặt, Nhà nước Xô-viết gặp phải rất nhiều khó khăn. Điều khó khăn trước tiên và khó giải quyết nhất là cán bộ. Tình hình cán bộ rất thiếu thốn, về vũ khí, trang bị có thể lấy được của quân đội Nga hoàng mà dùng và có thể phát huy được tác dụng lớn hơn, nhưng về cán bộ không thể lấy hoàn toàn, lấy hết của quân đội Nga hoàng, không thể phát huy tác dụng lớn hơn được nếu không cải tạo. Hồng quân cần có những cán bộ trung thành với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và học hỏi được từ thực tế kỹ thuật quân sự. Trong khi đó các phần tử Men-sê-vích, xã hội cách mạng và các phần tử gian trá của giai cấp tư sản lọt vào trong hàng ngũ Hồng quân tìm mọi cách ngăn trở, phá rối công cuộc xây dựng của Hồng quân.


Bọn chúng đã chống lại chính sách quân sự của Đảng, không muốn thành lập một đội Hồng quân chính quy có tổ chức, có kỷ luật. Chúng âm mưu sát hại các đồng chí Bôn-sê-vích lãnh đạo trong quân đội. Việc xây dựng Hồng quân còn gặp khó khăn trong hoàn cảnh cách mạng vừa thành công thì cuộc nội chiến chống vũ trang can thiệp của các nước đế quốc bên ngoài lại tới liền.


Đảng đã kiên trì chống mọi khuynh hướng sai lầm và tập trung lực lượng xây dựng Hồng quân. Lênin đưa ra khẩu hiệu: "Cả nước là trại lính", "Tất cả cho tiền tuyến", "Tất cả cho thắng lợi". Nguyên tắc tình nguyện tòng quân đổi thành nghĩa vụ quân sự. Gần một nửa tổng số đảng viên, đoàn viên thanh niên cộng sản có mặt ở ngoài mặt trận, số khác thì làm công tác xây dựng và tiếp tế ở hậu phương.


Để đảm bảo cho các phần tử phản động khỏi lọt vào trong quân đội, để giữ vững vai trò của Hồng quân là một công cụ vững chắc nhất của chuyên chính vô sản, mọi người nhập ngũ đều cần có hai người giới thiệu đứng trong các cơ quan chính quyền hoặc đoàn thể cách mạng. Để bồi dưỡng nhân tài và đào tạo cán bộ, Đảng quy định mọi đảng viên đều phải nghiên cứu quân sự và theo chỉ thị của Lênin mở ra trường đào tạo cán bộ Hồng quân. Để giữ vững đường lối chính trị của Đảng trong quân đội, các đơn vị đều lập chế độ chính ủy. Nhờ đó quân đội càng chấp hành có hiệu quả mọi chủ trương, chính sách của Đảng trong quân đội, sinh hoạt chính trị của quân đội càng được chú ý và như thế là bản chất của quân đội cách mạng càng được bồi dưỡng. Muốn củng cố chính quyền Xô-viết và chuẩn bị lực lượng, Đảng đưa ra chủ trương một mặt đàm phán hòa bình, một mặt gấp rút xây dựng lực lượng.


Bọn đế quốc chủ nghĩa tưởng có thể bóp chết ngay trong buổi sơ sinh chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng hăm hở tấn công. Nhưng sau một số thất bại đau đớn ở Pơ-scốp và Nác-va xem chừng khó nuốt được chính quyền Xô-viết, đế quốc Đức nhận đàm phán. Hòa ước Brét-li-tốp được ký. Để kỷ niệm thắng lợi đầu tiên vẻ vang đó, Nhà nước Xô-viết lấy ngày 23 tháng 2 năm 1918, ngày đánh bại quân đội Đức, làm ngày sinh nhật của Hồng quân.


Miếng đòn đầu tiên giáng vào đầu con rắn Đức như thế chưa có thể làm chùn được các con rắn đế quốc khác. Ngay sau khi chiến tranh giữa các nước đế quốc kết thúc, chúng đầy căm thù tiến công tứ phía vào chính quyền Xô-viết.


Trước sự bao vây tấn công của các nước đế quốc và sự phản kháng của bọn Bạch vệ trong nước, nhân dân và Nhà nước Xô-viết đã hết sức chiến đấu để giữ vững chế độ tốt đẹp của mình. Điều khó khăn nhất lúc đó là thiếu lương thực và vũ khí.


Đảng nhận định một cách biện chứng rằng: muốn thắng lợi trong cuộc chiến tranh, ngoài sức mạnh tinh thần, phải có cả sức mạnh vật chất nữa, sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất không chống đối nhau, trái lại cùng kết hợp khăng khít với nhau mà phát triển.


Đảng còn nhận định rằng: không phải chỉ có bộ đội vũ trang tiến hành chiến tranh mà phải là toàn dân. Vì thế Lênin mới đưa ra khẩu hiệu: "Cả nước là một trại lính". Vì thế mà chính sách "cộng sản thời chiến" của Lênin mới ra đời. Tất cả những điều đó đều cần thiết để bảo đảm cho Hồng quân chiến đấu thắng lợi. Các công xưởng làm việc ngày đêm cung cấp vũ khí cho quân đội. Lương thực của nông dân tập trung vào cho mặt trận và công xưởng.


Tinh thần chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân và quân đội dưới sự động viên và lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích cùng các biện pháp bảo đảm của Đảng và Nhà nước đã chiến thắng. Hồng quân đã bảo vệ được Xa-rít-xin, một trung tâm chiến lược quan trọng ở miền Nam. Giữ được vùng Xa-rít-xin thì khống chế được các vùng Cô-ca-dơ U-cơ-ren và Trung Á. Đồng chí Sta-lin đã được cử xuống chỉ huy mặt trận này. Tập đoàn quân thứ 10 của Hồng quân cùng các đội Tự vệ công nhân đã đánh tan 6 vạn quân phản cách mạng do tên tướng Bạch vệ Cơ-sát-nốp chỉ huy. Trong khi đó thì ở vùng Vôn-ga vào khoảng từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1918 Tập đoàn quân thứ nhất của Chính ủy Qui-bi-sép có Hạm đội Vôn-ga tham gia cũng đánh tan quân Tiệp, đuổi chúng tới U-ran, giải phóng Nam U-ran cùng với bộ đội Tuyếc-két-tăng hội sư1 (Hội sư là 2 cánh quân cùng tiến đánh tiêu diệt được quân địch rồi gặp nhau).


Bọn đế quốc can thiệp vẫn không từ bỏ âm mưu đen tối của chúng. Một mặt chúng đem quân vào Hắc Hải, vào biên thùy nam Si-bê-ri, vào biên thùy phía bắc vùng Pê-trô-grát, một mặt chúng phát động bọn Bạch vệ nổi dậy. Ở miền Đông, có bọn Kôn-tơ-sắc, ở miền Nam có bọn Đê-ni-kin và bọn Krát-snốp, ở miền Bắc có bọn I-u-đê-ních.


Trước tình hình đó, Lênin nhận định mặt trận phía Đông quan trọng hơn hết và kêu gọi toàn Đảng, toàn dân tập trung lực lượng bảo đảm cung cấp cho quân đội để chiến thắng ở phía Đông.

Được các nơi trong nước chi viện, Hồng quân đánh tan được quân địch ở phía Đông. Phơ-run-giê đặt kế hoạch tấn công tập trung chủ lực thành một binh đoàn đột kích chủ yếu đánh ở bên phải từ phía nam lên, còn các bộ phận khác đánh vào U-ran phối hợp với du kích ở Si-bê-ri. Kế hoạch đó đã thực hiện thành công. Sư đoàn 25 của Sa-pa-ép đã tạo được nhiều thành tích vẻ vang trong chiến dịch này. Du kích hoạt động cũng rất mạnh góp phần công lao chiến thắng. Thế là bọn Kôn-tơ-sắc ở miền Đông bị đánh tan.


Sau đó trung tâm chiến trường chuyển lên phía bắc. Vì Hồng quân ở đây mắc sai lầm trong kế hoạch tác chiến và có nội phản nên quân địch lúc đầu thu được ít thắng lợi, đánh sát tới cửa ngõ Pê-trô-grát.

Trước tình thế nguy cấp đó, Đảng tập trung lực lượng và phái một số cán bộ chỉ huy có kinh nghiệm tới. Cuối cùng Hồng quân vẫn giữ vững Pê-trô-grát và chuyển sang phản công. Ngày 21 tháng 6 năm 1919, Hồng quân đánh tan quân Phần-Lan và bọn I-u-đê-ních. Cuộc tấn công thứ nhất của bọn đế quốc can thiệp và bọn Bạch vệ bị thất bại.


Đông thua, bắc thua, bọn đế quốc liền xoay chiều. Chỉ còn phía nam và tây. Nhưng cả hai cuộc tiến công thứ 2 (ở phía nam), thứ 3 (ở phía tây) đều bị thất bại. Trong trận tấn công thứ 3, Hồng quân có cả binh đoàn kỵ binh tham gia chiến đấu, lập được nhiều thành tích, ở Viễn Đông, Hồng quân cũng đánh bại các cuộc tấn công của đế quốc Nhật.


Thế là trước tinh thần chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân và quân đội cách mạng, chủ nghĩa đế quốc buộc phải lùi bước.

Thắng lợi giành được trong cuộc chiến tranh chống cả một tập đoàn đế quốc chủ nghĩa cấu kết với thế lực phản động trong nước thật không phải là một chuyện thường. Ít người tưởng tượng được điều đó. Bọn đế quốc mù quáng tưởng rằng chúng có tiền của, vũ khí, quân đội nhà nghề là chúng làm trời, chúng thắng được tất cả. Chúng không hiểu được sức mạnh của quần chúng cách mạng là thế nào. Chỉ có những người cộng sản mới tin được điều này. Dựa trên quan điểm quần chúng Lênin đã phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh chính nghĩa (cách mạng).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:13:11 pm
Cuộc chiến tranh chính nghĩa (cách mạng) là một cuộc chiến tranh của toàn dân, vì lợi ích của nhân dân, Lênin đã thấy trước có thể phát động được toàn dân tham gia chiến đấu, những người được chia ruộng đất, được sống tự do sẽ nhất định đứng lên để bảo vệ lấy những quyền lợi đã giành được của mình. Khi họ đã giác ngộ, có tổ chức, có lãnh đạo, đoàn kết thành một khối thì không có một sức mạnh nào có thể phá nổi. Ngoài ra vì chủ nghĩa xã hội là điều mong mỏi của nhân dân lao động thế giới, nhất định nó sẽ được ủng hộ rộng rãi trên toàn thế giới, ở điểm này chúng ta thấy được nguyên lý của Lênin về chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân.


Nhưng tiến hành chiến tranh nhân dân không phải chỉ tổ chức nhân dân đánh du kích, chiến đấu tại chỗ từng địa phương, rời rạc lẻ tẻ với các vũ khí thô sơ, mà phải tiến tới có những bộ phận cốt cán, tập trung có tổ chức, có trình độ kỹ thuật và trang bị cao hơn. Không thế không thể giành được những thắng lợi quyết định. Vì thế Đảng và Lênin đã chú ý ngay từ đầu đến việc tổ chức Hồng quân. Phải có hai lực lượng du kích và chính quy đó kết hợp được chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau chiến đấu mới có thể chiến thắng quân thù. Giai cấp tư sản không thể nhận thức đầy đủ được vấn đề này. Không có một thế giới quan và một nhân sinh quan đúng đắn, chúng không bao giờ tin ở lực lượng quần chúng nhân dân, chúng không biết gì đến sức mạnh của chính nghĩa. Chúng chỉ tin ở vũ khí, ở tài và thủ đoạn mưu lược của một số người chỉ huy. Đến khi thất bại chúng không thể cắt nghĩa được nên lại đâm ra hoang mang, hoài nghi rồi đâm ra mê tín, tin ở may rủi, số phận. Đó là quan điểm duy tâm của giai cấp tư sản về chiến tranh.


Tư tưởng chỉ đạo chiến thuật của Đảng và Lênin là lấy tấn công làm hình thức chủ yếu nhất, hình thức quyết định. Lênin cũng như Mác coi vũ trang khởi nghĩa như một nghệ thuật với một tinh thần tấn công kiên quyết nhất.


Tư tưởng tích cực tấn công kiên quyết của Lênin đã trở thành tư tưởng quân sự và thấm nhuần bản chất chiến đấu của Hồng quân.

Dặn dò về kế hoạch chuẩn bị võ trang khởi nghĩa ở Pê-trô-grát Lênin đã dẫn chứng một câu của Mác như sau: "Khi cuộc khởi nghĩa đã bắt đầu thì phải hành động kiên quyết nhất, hơn nữa phải nhất định và tuyệt đối thực hành tấn công. Phòng ngự là con đường chết của võ trang khởi nghĩa"1 (Thư của một người vắng mặt. Tuyển tập Lênin bản chữ Pháp, tập 2, phần 1, trang 177, 179, Nxb Ngoại văn. M. 1954).


Nhưng điều khôn khéo và tài tình của Lênin là đã biết vận dụng các hình thức chiến thuật một cách hợp thời, hợp với thực tế.

Lênin đã nói đến phòng ngự, nhận thức đúng mức vai trò của phòng ngự và đề ra nhiệm vụ phòng ngự khi cần thiết.

Lênin nói rằng: "Một quân đội thường thắng lợi, đã chiếm được một nửa hoặc hai phần ba đất đai của quân địch, lúc đó quân đội ấy không thể không đình chỉ tấn công, để tập hợp lực lượng, tăng thêm dự trữ về vũ khí, đạn dược, sửa chữa và củng cố đường giao thông, xây dựng kho quân nhu mới, điều động tập trung hậu bị quân, v.v... Trong điều kiện đó, đình chỉ tấn công chính là để cho quân đội thường thắng chiếm được hết đất đai còn lại của địch, tức là điều cần thiết để thu được thắng lợi hoàn toàn (Giai đoạn đấu tranh mới với giai cấp tư sản, nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô-viết). Chính lúc đầu cuộc chiến tranh nội chiến và chống can thiệp, Lênin đã đề ra phòng ngự và sau một thời gian thì chuyển sang tấn công.


Nguyên lý này đã được nhắc lại lúc đầu cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô sau này. Hiện nay Nhà nước và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa cũng đang theo nguyên lý ấy. Nguyên lý ấy khác hẳn với tư tưởng quân sự của giai cấp tư sản, nhận thức một cách phiến diện về tấn công và phòng ngự. (Thí dụ: tư tưởng quân sự của quân đội Đức thì nặng nề về tấn công rất coi nhẹ phòng ngự mà tư tưởng quân sự của quân đội Pháp thì lại nghiêng về phòng ngự, coi nhẹ tấn công). Lênin nhận định vấn đề này một cách toàn diện không những trong phạm vi chiến thuật mà còn nhận định một cách toàn diện, trong phạm vi cả cuộc chiến tranh.


Chiến tranh là một hình thức đấu tranh gay gắt nhất, cao nhất về các mặt. Nó không phải chỉ là một cuộc giao chiến giữa hai quân đội ngoài mặt trận, mà còn là một cuộc thử thách của chế độ chính trị, là một cuộc ganh đua của tài tổ chức, là một cuộc động viên ở hậu phương. Lênin rất chú ý đến việc động viên ở hậu phương, phát động tinh thần lao động sản xuất ở hậu phương để lấy lương thực, vũ khí cung cấp cho tiền tuyến. Một quân đội không có một hậu phương chắc chắn thì không thể sinh tồn và chiến thắng được. Nói lực lượng hậu phương không phải chỉ kể những thứ của cải đã có, những người đã có, mà còn phải kể đến lực lượng tiềm tàng sức người, sức của do phát huy tinh thần chiến đấu và lao động sản xuất đến cao độ mà có. Đó là những điều quan trọng để duy trì một cuộc chiến tranh lâu dài, giành lấy thắng lợi cuối cùng.


Lênin đã nói: "Ai có nhiều nguồn dự trữ, nhiều nguền lực lượng hơn thì người đó sẽ thắng trong chiến tranh".

Cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân Liên Xô chống thù trong giặc ngoài đã thắng lợi vẻ vang. Giành được thắng lợi đó phải thật là anh dũng, thật là gian khổ. Không có chính sách đúng đắn của Đảng, tập trung tất cả vào việc chiến đấu đánh bại kẻ thù của chế độ Xô-viết, tìm mọi biện pháp để bảo đảm chiến đấu, phát động được quần chúng cả nước tham gia chiến đấu, không có tinh thần cách mạng của nhân dân chiu đựng moi hy sinh gian khổ, tinh thần anh dũng phi thường của quân đội, không có tay chèo vững chắc của Đảng cộng sản, không có những cái đó thì không thể thắng lợi, chế độ Xô-viết không thể sống còn được.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:15:13 pm
III
HỒNG QUÂN LIÊN XÔ TRONG
THỜI KỲ HÒA BÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Chiến tranh chống can thiệp và nội chiến kết thúc, Nhà nước Xô-viết chuyển sang thời kỳ xây dựng hòa bình, Hồng quân cũng được cải tổ để bảo vệ Nhà nước Xô-viết, cùng nhân dân Liên Xô tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa.


Trong vòng vây của tư bản chủ nghĩa, lực lượng quân sự của Nhà nước Xô-viết phải được củng cố.

Lênin chỉ thị rằng: "Chúng ta đem toàn bộ lực lượng ra tiến hành xây dựng hòa bình, quyết không để cho giữa đường bỏ dở. Đồng thời các đồng chí không được sơ khoáng trong việc bảo vệ Nhà nước chúng ta, cũng như giữ gìn sức chiến đấu của Hồng quân, xem như con ngươi trong mắt của chúng ta vậy" (Ngày 23-12-1922 - Con đường chiến đấu của Hồng quân, trang 67).


Củng cố lực lượng quân sự tức là củng cố quốc phòng, cải tổ phát triển Hồng quân, xây dựng Hồng quân tiến lên một quân đội chính quy, hiện đại hóa, đạt mục tiêu tiên tiến trên thế giới. Củng cố quốc phòng là một trong những nhiệm vụ bức thiết nhất của Nhà nước Xô-viết hồi bấy giờ. Muốn củng cố quốc phòng không thể không nói đến một nền kỹ nghệ quốc phòng. Muốn có kỹ nghệ quốc phòng phải có một nền công nghiệp nặng. Đi theo đúng đường lối của Lênin, của Đảng và Nhà nước Xô-viết, toàn dân Liên Xô đem hết sức mình ra phấn đấu để xây dựng một nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa lấy công nghiệp nặng làm cơ sở. Không có công nghiệp nặng thì không thể thoát khỏi tình trạng kinh tế lạc hậu, không thể tiến lên xã hội chủ nghĩa được, không có độc lập về kinh tế, cũng như không có quốc phòng vững chắc được.


Đối với bọn đế quốc chủ nghĩa, chúng ta không được mảy may sơ khoáng. Tư tưởng chiến tranh xâm lược đã đời đời thống trị đầu óc bọn đầu sỏ, bọn tướng tá các nước tư bản chủ nghĩa. Các nhà quân sự và các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản rất sùng bái dẫn chứng những câu châm ngôn như:

- "Chiến tranh là người cha của tất cả mọi vật" (Héraclite).

- "Được hay thua, đó cũng là cái gốc của sinh tồn" (Goethe).

Chúng công nhiên đưa ra chân lý của chúng:

- "Chiếm đất mới phải bằng con đường xâm lược và xâm lược đã trở thành một cái luật tất yếu" (Bernhardi).

- "Cũng cần công nhận một cách phổ biến quyền đô hộ, vì những đất đai có các dân tộc kém văn minh cần phải được đặt dưới sự cai trị của các dân tộc văn minh hơn" (Bernhardi)1 (Những câu này trích trong cuốn "Nước Đức với cuộc chiến tranh sau này" của Bernhardi, bản chữ Pháp. Nhà xuất bản Payot và công ty ở Pa-ri - Héraclite: nhà triết học cổ Hy Lạp - Goethe: nhà triết học tư sản Đức - Bernhard]: nhà quân sự tư sản Đức).


Đó là những lý luận tối phản động, những tư tưởng rất độc ác. Chúng đã xuyên tạc một cách vô liêm sỉ quy luật phát triển của xã hội và lừa bịp mọi người bằng thuyết cạnh tranh sinh tồn.

Nhân dân Liên Xô đã trải qua bao nhiêu gian khổ, thắt lưng buộc bụng để xây dựng nền công nghiệp nặng, để cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân, cũng như để cung cấp vũ khí, khí tài mới mẻ hợp thời đại cho Hồng quân.


Thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản, Nhà nước và Đảng cộng sản Liên Xô đã xây dựng Hồng quân trên cơ sở chính trị như sau:

1. Hồng quân là một đội quân của nhân dân lao động, chiến đấu để bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động, công cụ của chính quyền vô sản chuyên chính. Hồng quân được xây dựng trên một quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.


2. Hồng quân là một đội quân của các dân tộc anh em trong Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết. Mọi dân tộc đều được góp sức lực, tài năng để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, không có phân biệt, đều bình đẳng trong tổ chức và chỉ huy quân đội.


3. Hồng quân là một quân đội có tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Hồng quân không phải là một đội quân xâm lược mà là một đội quân giải phóng, một đội quân anh em của giai cấp vô sản và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới.


Đó là một đội quân kiểu mới. Lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một đội quân giải phóng kiểu mới, một đội quân của những người bị áp bức không giống tí nào với đội quân của giai cấp bóc lột. Được xây dựng trên những nguyên tắc đó, Hồng quân đã trở thành thân thiết với tất cả nhân dân lao động trên thế giới, Hồng quân đã trở thành mẫu mực của quân đội các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa hiện nay.


Xây dựng Hồng quân trở thành một đội quân cách mạng chính quy, hiện đại hóa, không thể tách rời được việc xây dựng đất nước. Hòa bình trở lại, một đội quân mấy triệu người không cần thiết nữa. Hồng quân bắt đầu giản chính tiến hành phục viên và tham gia lao động sản xuất xây dựng xã hội chủ nghĩa. Năm 1923 tổng quân số chỉ còn 56 vạn người. Tính theo tỷ lệ dân số thì đó là một đội quân nhỏ nhất so với các nước tư bản đế quốc. Tuy nhiên như thế không có nghĩa là Đảng và Nhà nước Xô-viết có ý coi nhẹ lực lượng phòng thủ đất nước, coi nhẹ việc tăng cường sức chiến đấu của Hồng quân mà chính là trái lại.


Thi hành chỉ thị của Đảng, đồng chí Phơ-run-giê đã lãnh đạo chấp hành tốt chính sách của Đảng về chế độ nghĩa vụ quân sự và xây dựng bộ đội địa phương, dân quân. Ngoài ra, Đảng còn động viên các đoàn thể quần chúng tham gia các hoạt động có tính chất quân sự để làm lực lượng hậu bị, làm nguồn bổ sung nhân tài chuyên môn kỹ thuật cho quân đội. Thí dụ như "Hội những người bạn Không quân", "Hội những người bạn phòng hóa học", "Hội khoa học quân sự", v.v... Những đoàn thể này ra đời khoảng từ năm 1923-1925, đoàn kết và rèn luyện được hàng triệu nhân dân lao động sẵn sàng gia nhập quân đội phục vụ Tổ quốc.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:16:59 pm
Việc xây dựng lực lượng vũ trang của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp vô cùng mới mẻ và khó khăn, nhưng Đảng cộng sản và Nhà nước Xô-viết cũng đã đề ra được những nguyên tắc đúng đắn căn bản như sau:

1. Sự lãnh đạo của Đảng là một nguyên tắc không thể lay chuyển được.

Đảng cộng sản đã vạch ra đường lối và đặt ra nhiệm vụ có cơ sở khoa học cho lục quân và hải quân trong mỗi một giai đoạn phát triển. Tất cả các nghị quyết của Đảng đều mang tính chất sáng tạo và nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo chiến tranh thắng lợi trong những điều kiện cụ thể của từng thời kỳ. Bộ máy của Đảng, chính quyền thành một hệ thống lưới dày đặc gắn liền với cơ cấu tổ chức của quân đội. Đảng lại không ngừng củng cố và cải tiến các tổ chức đảng và cơ quan chính trị trong quân đội, coi công tác đảng và chính trị là một bộ phận quan trọng trong nền móng xây dựng và hoạt động của quân đội. Công tác đảng và công tác chính trị nhằm nâng cao sự giác ngộ nhiệm vụ, lòng trung thành vô hạn đối với Đảng và Nhà nước Xô-viết, bảo đảm sự đoàn kết, tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, tinh thần cảnh giác trong quân đội. Đảng đã vạch cho chiến sĩ tính chất chính nghĩa và mục đích cao quý của cuộc chiến tranh giữ gìn Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Lênin nói: "Nền móng vững chắc của Quân đội Liên Xô xây dựng được là nhờ có công tác tổ chức và giáo dục chính trị của Đảng".


Trong những năm chiến tranh, Đảng đã gửi ra mặt trận nửa số đảng viên. Gương hy sinh, dũng cảm chiến đấu của các đảng viên đã củng cố hàng ngũ Hồng quân, động viên các chiến sĩ hăng hái lập công. Đảng luôn luôn kêu gọi công nhân, nông dân và đặc biệt các đảng viên, các đoàn viên công đoàn, đoàn viên thanh niên cộng sản phải ra sức học tập kỹ thuật quân sự và nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu.


Chế độ chính ủy do Đảng đề ra đã đóng một vai trò đặc biệt trong việc xây dựng Hồng quân. Với công tác của mình chính ủy đã đoàn kết hàng ngũ Hồng quân, giáo dục Hồng quân lập trường tư tưởng vô sản, kỷ luật cách mạng, tinh thần dũng cảm chiến đấu, ngăn ngừa tư tưởng chủ quan, tự mãn, kiêu ngạo, trái lại đàn áp không thương tiếc những hoạt động phản bội của các phần tở chỉ huy cũ và đề cao, bảo đảm uy tín cho các người chỉ huy ưu tú.


Đảng là người đã động viên và tổ chức Quân đội Xô-viết đánh tan bọn can thiệp vũ trang và bọn phản cách mạng. Trung ương đã trực tiếp lãnh đạo các hoạt động của quân đội trên các mặt trận và Bộ chỉ huy tối cao. Đảng luôn luôn chú ý củng cố hậu phương, động viên nhân dân ủng hộ Hồng quân đặc biệt là nhân dân vùng gần mặt trận và các vùng mới giải phóng. Lênin, lãnh tụ vĩ đại của Đảng với danh nghĩa Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, trực tiếp lãnh đạo các cơ quan quân sự, lãnh đạo nhiệm vụ bảo vệ quân đội, lãnh đạo động viên cung cấp người, vũ khí lương thực, trang bị cho quân đội.


Trong thời kỳ hòa bình xây dựng xã hội chủ nghĩa Đảng đã đấu tranh chống nhóm muốn thủ tiêu quân đội thường trực, Lênin và những bạn chiến đấu trung thành của Người đã nêu rõ sự cần thiết phải giữ vững quân đội thường trực và củng cố tinh thần sẵn sàng chiến đấu đề phòng sự đe dọa xâm lăng của đế quốc. Đảng lại chú trọng nhấn mạnh tính chất giai cấp của quân đội và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong quân đội. Đại hội Đảng lần thứ X yêu cầu không đưa công nhân ở trong quân đội ra ngoài và yêu cầu chuyển những công nhân trẻ tuổi ở các đội quân lao động vào quân đội thường trực. Đại hội yêu cầu củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội và đề nghị ngừng gọi những đảng viên cộng sản ra khỏi quân đội và trả lại những đảng viên cũ trong quân đội. Đại hội đã giao cho Trung ương nhiệm vụ tăng cường các cơ quan chính trị và phải đổi mới và củng cố thành phần các chính ủy; vì lúc đó Đảng đã khám phá được sự hoạt động của những nhóm muốn thủ tiêu quân đội thường trực và tách rời quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.


Đại hội Đảng lần thứ XIV đề thêm một mục trong điều lệ Đảng quy định việc xây dựng đảng, tổ chức đảng và cơ quan chính trị trong quân đội. Điều lệ đó yêu cầu các tổ chức đảng và công tác chính trị trong quân đội phải liên hệ chặt chẽ với cơ quan Đảng và chính quyền địa phương.


Đại hội lần thứ XVI nêu rõ ý nghĩa lớn lao của việc phát triển nhanh chóng nền công nghiệp đối với việc củng cố quốc phòng. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, để bảo đảm thắng lợi, nhiều cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng đã được điều vào giữ những chức trách quan trọng trong quân đội. Ngoài ra còn điều thêm 4.700 cán bộ và đảng viên vào lục quân và hải quân.


Căn cứ vào quan điểm của Đảng là thắng lợi của cuộc chiến tranh trước hết và chủ yếu do tinh thần của quần chúng đổ máu trên chiến trường quyết định, Đảng hết sức giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấu bất khuất cho quân đội.


Đảng không ngừng củng cố bộ máy Đảng và chính trị trong quân đội, cải tiến phương pháp công tác.

Sắc lệnh ngày 16 tháng 7 năm 1941 của Xô-viết tối cao quy định thành lập lại chế độ chính ủy bãi bỏ từ năm 1940. Việc thành lập lại chế độ chính ủy lúc đó rất thích hợp. Hoàn cảnh gian khổ của những tháng đầu của cuộc chiến tranh, việc rút lui bắt buộc của Quân đội Liên Xô đòi hỏi phải đấu tranh quyết liệt chống bọn phản bội, chống những phần tử hoảng hốt, khiếp nhược, chống tác phong dễ dãi lỏng lẻo trong quân đội. Tình hình non yếu, thiếu kinh nghiệm của những cán bộ chỉ huy từ trong hàng ngũ hạ sĩ và binh lính lên, từ trong công dân chưa phục vụ trong Hồng quân ra, làm cản trở việc chấp hành kỷ luật một cách nghiêm minh, đòi hỏi phải củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng. Chế độ chính ủy được thành lập lại đã giúp giải quyết những khó khăn đó.


Tháng 10 năm 1942 chế độ chính ủy lại được thay thế bằng chế độ một người chỉ huy, vì lúc đó Hồng quân đã có kinh nghiệm, các sĩ quan chỉ huy và chính trị đã trưởng thành.

Trong những năm chiến tranh Đảng luôn luôn giữ quan hệ chặt chẽ với nhân dân và quần chúng lao động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Liên Xô đã biến thành một mặt trận chiến đấu thống nhất. Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, của các kỹ sư, nhân viên kỹ thuật đã bảo đảm sản xuất vũ khí, phương tiện đầy đủ và thỏa mãn cho quân đội Liên Xô chiến thắng quân phát xít Đức.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:17:44 pm
2. Trong công cuộc xây dựng Quân đội Liên Xô, nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân Xô-viết trong việc bảo vệ Tổ quốc và tính chất giai cấp của quân đội được đề lên hàng đầu.

Khi Nhà nước Xô-viết mới ra đời, bọn đế quốc lợi dụng những phần tử phản cách mạng định dập tắt cách mạng và khôi phục lại chính quyền tư sản, địa chủ trên toàn nước Nga. Để bảo vệ thắng lợi cách mạng, Đảng cộng sản đề ra thành lập Hồng quân công nông, Hồng quân công nông là vũ khí của chuyên chính vô sản nên phải có tính chất giai cấp. Thành phần chủ yếu bao gồm những người đại diện cho hai giai cấp công nhân và nông dân. Việc tuyển mộ lúc đầu dựa trên nguyên tắc tự nguyện. Vì hồi ấy chỉ có những công nhân và nông dân được giác ngộ sớm mới có thể tỏ ra kiên cường và có kỷ luật cách mạng.


Đến tháng 4 năm 1918 thì được chuyển từ chế độ tình nguyện sang nghĩa vụ tòng quân, quy định tất cả nam công dân từ 18 đến 40 tuổi đều có nghĩa vụ quân sự. Nhưng để giữ vững tính chất giai cấp của quân đội, Đảng quy định chỉ có những người lao động mới được cầm vũ khí, còn những người không lao động thì không được cầm vũ khí, họ làm nghĩa vụ quân sự bằng cách tham gia các công tác khắc phục vụ quân đội, phục vụ tiền tuyến. Sau khi Liên Xô đã thanh toán xong giai cấp bóc lột, Hiến pháp lại đề ra: "Nghĩa vụ tòng quân đối với mọi người là một pháp lệnh, chế độ binh dịch trong lực lượng võ trang Liên Xô là một nghĩa vụ vinh dự của người công dân Xô-viết".


Trai tráng công dân Xô-viết không phân biệt nguồn gốc giai cấp, vị trí xã hội, chủng tộc, tôn giáo, văn hoá đều phải làm nghĩa vụ quân sự. Công tác tuyên truyền giáo dục nghĩa vụ quân sự rộng rãi đã đóng một vai trò lớn trong việc chuẩn bị cho đông đảo công dân tham gia quân đội. Trong đại chiến thứ 2, Chính phủ lại quy định tất cả nam công dân từ 16 đến 50 tuổi đều phải làm nghĩa vụ quân sự. Các cơ quan Đảng, Xô-viết, các công đoàn và cơ quan tuyển mộ mở rộng việc tuyên truyền và giáo dục khắp trong nước làm cho đại đa số công dân khi được gọi vào Hồng quân đều đã biết một số tri thức quân sự tối thiểu. Một "Hội tự nguyện giúp đỡ Hải - Lục - Không quân" được thành lập. Hội đó có hàng triệu người chuẩn bị để thay thế các chiến sĩ trong các đơn vị của lực lượng võ trang Liên Xô, 5 năm gần đây lực lượng hội đó tăng gấp đôi. Hội đã đạt được nhiều thành tích trong việc phổ biến các tri thức quân sự chuẩn bị cho nhân dân chống những vũ khí mới của địch và tạo thành một lực lượng dự bị đầy đủ về trí lực và thể lực cho quân đội.


3. Trong việc đào tạo cán bộ và chiến sĩ phái nắm vững yêu cầu trên cơ sở giáo dục chính trị mà huấn luyện quân sự nhằm đáp ứng yêu cầu chiến thắng một kẻ dịch mạnh và trang bị kỹ thuật cao.

Đảng luôn luôn giáo dục cho Quân đội Liên Xô đường lối, chính sách của Đảng làm cho quân đội thừa nhận và thực hiện một cách kiên quyết những đường lối, chính sách đó.

Đảng luôn luôn chú trọng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và trình độ lý luận Mác - Lênin cho cán bộ, đồng thời nhấn mạnh việc giáo dục cán bộ nắm vững những đặc điểm và kinh nghiệm của chiến tranh cũng như các phương tiện và phương pháp đấu tranh càng ngày càng phát triển. Lênin còn yêu cầu cán bộ quân đội phải nghiên cứu những phương tiện chiến đấu, những thủ đoạn và phương pháp tiến hành chiến tranh của kẻ địch.


Mọi công tác tuyên truyền vận động của Đảng đều nhằm nâng cao lòng giác ngộ cách mạng, ý thức xã hội chủ nghĩa, tính kỷ luật, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, làm cho mọi chiến sĩ và cán bộ phải tự rèn luyện thói quen, khả năng vượt mọi khó khăn và thử thách của chiến tranh. Lênin thường dạy: "Kỷ luật nghiêm minh là điều không thể thiếu được của quân đội thường trực". Người phân biệt sự khác nhau giữa kỷ luật quân sự Xô-viết và kỷ luật roi vọt của nhà nước bóc lột. Kỷ luật Quân đội Xô-viết dựa trên cơ sở tự giác và quan hệ giữa các quân nhân trong Quân đội Xô-viết. Người quân nhân Xô-viết hiểu rằng phục vụ trong quân đội là một nghĩa vụ cao quý, là bảo vệ lợi ích công nông, bảo vệ thành quả của cách mạng, của chủ nghĩa xã hội vĩ đại.


Sự phục tùng cán bộ chỉ huy, việc chấp hành nghiêm minh điều lệnh là điều kiện không thể thiếu được trong việc chuẩn bị chiến đấu cho quân đội. Đại hội Xô-viết toàn Nga lần thứ V có đề ra: "Hồng quân công nông phải xây dựng trên một cơ sở kỷ luật cao, mỗi một công dân đã được chính quyền trao cho vũ khí để bảo vệ lợi ích lao động, có trách nhiệm phải phụ thuộc vào yêu cầu mệnh lệnh của sĩ quan chỉ huy của chính quyền Xô-viết".


Lênin yêu cầu chấp hành điều lệnh không phải vì sợ mà vì ý thức tự giác. Người yêu cầu kiên quyết đấu tranh chống lại những hiện tượng vô kỷ luật và tác phong du kích trong quân đội. "Phải đấu tranh chống tác phong du kích như đấu tranh chống với lửa" (Lênin toàn tập, tập 29, trang 512).


Dựa trên cơ sở của yêu cầu chiến tranh hiện đại, quân đội phải hết sức để cao kỷ luật. Không có kỷ luật nghiêm minh thì khi tác chiến các binh chủng quân chủng không đạt được hợp đồng và bổ trợ chặt chẽ cho nhau được. Chỉ có thống nhất ý chí hành động mới bảo đảm được thắng lợi. Sự vi phạm kỷ luật trong chiến tranh hiện đại sẽ dẫn đến những tai họa, những thiệt hại cho nên Đảng yêu cầu phải hết sức giữ gìn kỷ luật quân sự.


Cuối năm 1939 để đáp ứng với nhu cầu thực tế, theo chỉ thị của Đảng, quân đội lại cải tổ phương pháp giáo dục. Phải giáo dục bộ đội trong điều kiện sát thực tế chiến đấụ. Dạy cho chiến sĩ có khả năng và thói quen vượt bất kỳ khó khăn nào và không mong những thắng lợi dễ dàng. Đảng yêu cầu chú ý đến những kinh nghiệm mới và hết sức nghiên cứu những phương tiện chiến đấu mới, yêu cầu củng cố chế độ một thủ trưởng, đề cao tính kỷ luật, tổ chức và trật tự trong quân đội.


Từ sau chiến tranh, những phương pháp rèn luyện cán bộ đã được thay đổi cho phù hợp. Một hệ thống các trường, các lớp đã được thành lập.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 Quân đội Liên Xô đã tỏ ra hơn hẳn quân đội Đức về mọi mặt, vượt xa chúng về vũ khí, về tổ chức, về tinh thần chiến đấu và nghệ thuật chỉ huy chiến đấu, chiến dịch, chiến lược. Ngày nay kẻ địch âm mưu gây chiến đang ra sức phát triển trang bị, kỹ thuật mới. Tình hình đó đòi hỏi Quân đội Liên Xô phải luôn luôn tiếp tục cải tiến việc huấn luyện, việc trang bị, kỹ thuật chiến đấu mới phức tạp hơn, yêu cầu người chỉ huy phải có một trình độ cao hơn trước, phải phát huy cao độ tinh thần sáng tạo, vì mỗi một trận đánh, một chiến dịch không có cái nào giống cái nào. Chỉ có tài khéo léo, tính tự động, óc sáng tạo mới tạo điều kiện cho người cán bộ chỉ huy chiến đấu thắng lợi. Khoa học quân sự Liên Xô không nêu ra một mẫu mực nào cứng nhắc. Cho nên việc rèn luyện cán bộ phải là một công tác sinh động và thực tiễn. Chỉ có đưa những kiến thức thu được trong học tập lý thuyết vận dụng vào thực tế mới làm cho những kiến thức đó trở nên có tác dụng và ngày một phát triển phong phú thêm.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:18:37 pm
4. Không ngừng cải tiến các hình thức tổ chức và phương pháp công tác cho phù hợp với tình hình thay đổi và sự phát triển của các phương tiện và phương pháp đấu tranh vũ trang.

Sau khi cuộc nội chiến kết thúc, những công tác lớn lao về cải tiến tổ chức quân đội đã tiến hành dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng.

Nội dung cơ bản của việc cải tiến đó gồm có:

- Chuyển lực lượng võ trang Liên Xô thành một hệ thống thường trực và địa phương kết hợp với nhau nhằm giảm bớt chi phí, giảm bớt số người tách khỏi sản xuất, nhưng đồng thời vẫn giữ được hạt nhân cơ bản của lực lượng võ trang đó.

- Các công dân làm nghĩa vụ quân sự đăng ký vào quân đội địa phương, học tập quân sự theo chế độ ngắn kỳ và kết hợp diễn tập với quân đội thường trực.

- Tăng cường cán bộ đảng trong cơ quan Trung ương của quân đội. Tập trung công tác đảng vào quân đội và tăng cường ảnh hưởng Đảng trong các đơn vị địa phương. Bộ máy quân sự Trung ương được giản chính và củng cố trở thành hệ thống lãnh đạo và chỉ huy duy nhất của lục quân, điều chỉnh công tác của các cơ quan phụ trách việc đăng ký và tuyên mộ.

- Những biện pháp của Ban Chấp hành Trung ương về vấn đề thanh trừ tên phản bội Trốt-sky và bè lũ của nó ra khỏi quân đội có ý nghĩa lớn lao trong việc củng cố quân đội. Đảng đã đưa vào bộ máy trung ương các sĩ quan chỉ huy và chính trị có kinh nghiệm lãnh đạo trong thời kỳ nội chiến và đã được học tập trong Viện hàn lâm quân sự.


Trong thời kỳ chiến tranh cơ cấu tổ chức quân đội được luôn luôn cải tiến. Nhờ có thay đổi tổ chức, có trang bị mới, kỹ thuật, chiến thuật mới, hỏa lực mạnh mẽ nên tính cơ động của các sư đoàn được tăng lên. Nhiều binh chủng được thành lập như đơn vị cơ giới, vùng núi, trượt tuyết, cao xạ pháo... Các đơn vị pháo binh lớn lên về chất lượng và số lượng. Các đơn vị chống tăng phát triển rất nhanh. Bộ đội lại được trang bị hỏa tiễn. Bộ đội xe tăng trở thành một sức mạnh làm cho kẻ thù khiếp sợ. Những đơn vị xe tăng được tổ chức ngay trong lục quân hoặc thành những đơn vị độc lập. Bộ đội không quân phát triển mạnh và toàn diện. Các binh chủng khác như: công binh, thông tin đều được phát triển rộng rãi.


Sự cải tiến không ngừng đó đã làm cho sức mạnh của quân đội ngày càng tăng tiến, làm cho Quân đội Liên Xô vượt hẳn quân đội các nước tư bản trên thế giới.


5. Phát triển nhịp nhàng và cân đối tất cả các binh chủng và quân chủng là một nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng Quân đội Liên Xô.

Đảng cộng sản Liên Xô biết rằng những phương pháp tiến hành chiến tranh, những hoạt động quân sự đều phụ thuộc vào nền kinh tế và chế độ chính trị. Khi hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh thay đổi thì kéo theo cả sự thay đổi về tổ chức và trang bị của quân đội và sự thay đổi trong tương quan giữa các binh chủng và quân chủng. Dựa trên yêu cầu phải đáp ứng đòi hỏi của chiến tranh hiện đại, đáp ứng tình hình phát triển nhanh chóng của các phương tiện đấu tranh vũ trang và đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã đề ra một cách toàn diện và sâu sắc nguyên tắc phát triển nhịp nhàng, cân đối, đồng thời quy định nhiệm vụ và sự phối hợp khéo léo giữa tất cả các binh chủng.


Trong thời gian tiến hành chiến tranh Đảng không ngừng chú ý cải tiến trang bị và phát triển tất cả các binh chủng và quân chủng làm cho Quân đội Liên Xô nâng cao được sức chiến đấu, bảo đảm đánh tan quân phát xít Đức. Thắng lợi đó đạt được là nhờ ở việc coi trọng và hiểu biết ý nghĩa, vai trò của các binh chủng.


Khoa học quân sự Xô-viết lại chỉ rằng cuộc chiến tranh sau này nếu xảy ra, sẽ mang tính chất vận động rất lớn và diễn ra khắp nơi trên bộ, trên không, ngoài biển. Nếu không có không quân chiến thuật, chiến lược, hải quân hiện đại và không có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng thì không thể giành được thắng lợi.


Những đơn vị trang bị hỏa lực lớn, trong có nhiều xe tăng, pháo binh, có khả năng cơ động rất lớn, những đơn vị cơ giới xe tăng có đủ khả năng để hoạt động độc lập; nhiều loại phi cơ được phát triển; hải quân sẽ đóng một vai trò lớn lao trên chiến trường mặt biển, kết hợp với không quân và lục quân, hải quân sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ vững chắc bờ biển.


Cho nên trong chiến tranh sau này chỉ có tăng cường hiệp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng và quân chủng mới thu được thắng lợi.

Nắm vững chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức sức sản xuất là nguồn gốc để phát triển xã hội, nắm vững nguyên lý của Ăng-ghen cho rằng: "Quân sự phụ thuộc vào kinh tế, kỹ thuật phụ thuộc vào sản xuất, kỹ thuật là cơ sở cho chiến thuật", Đảng và Nhà nước Xô-viết đặt kế hoạch trang bị Hồng quân một cách ăn khớp, nhịp nhàng với kế hoạch phát triển kinh tế của Nhà nước. Sức chiến đấu của Hồng quân phản ảnh sức sản xuất của Nhà nước Xô-viết. Công cụ sản xuất mới đã làm thay đổi được tình hình sản xuất thì công cụ chiến tranh mới cũng có thể thay đổi được tình hình chiến đấu. Do đó Hồng quân được chú trọng trang bị các công cụ chiến tranh mới, vũ khí mái. Các nhà khoa học Xô-viết cũng luôn luôn nghiên cứu, chú ý tìm tòi phát minh để cải tiến trang bị cho Hồng quân.


Đảng và Nhà nước Xô-viết luôn luôn chú trọng nguyên tắc xây dựng kỹ thuật cho Hồng quân trên cơ sở xây dựng tư tưởng và chính trị để làm cho các chiến sĩ Hồng quân trở thành những người trung thành vô hạn với chính quyền Xô-viết, với vô sản chuyên chính và có một chí khí chiến đấu kiên cường, không khuất phục, đồng thời ngày càng có một trình độ kỹ thuật cao, một trình độ kỹ thuật vượt cả quân đội các nước tư bản tiên tiến nhất.


Chính phủ Xô-viết và nhân dân rất chú ý chăm sóc và yêu mến Hồng quân. Đời sống vật chất và văn hóa được chú ý đầy đủ và không ngừng được nâng cao; các trường lớp, câu lạc bộ, nhà an dưỡng được thành lập ở các nơi. Nhà hát trung ương của Hồng quân là một trong những nhà hát to nhất ở Liên Xô.


Trong khi nhân dân Liên Xô xây dựng thắng lợi xã hội chủ nghĩa thì bọn đế quốc chủ nghĩa luôn luôn nhòm ngó, tất nhiên chúng không yên lòng, vui vẻ mà trái lại nhìn bằng một cặp mắt đầy căm hờn. Nhất là bọn phát xít sau khi cấu kết với nhau thành đồng minh Đức - Ý - Nhật đã tự nguyện đi đầu chống Liên Xô và phong trào cộng sản quốc tế. Ở trời Tây bọn phát xít Hít-le quấy rối cuộc sống yên lành của nhân dân châu Âu. Bên phương Đông thì phát xít Nhật hoành hành ở Trung Quốc và biên thùy Si-bê-ri của Liên Xô. Bọn phát xít hiếu chiến chủ quan, mù quáng tưởng rằng với lực lượng quân sự to lớn của chúng sẽ nuốt tươi được đất nước Liên Xô. Năm 1938-1939, phát xít đem quân húc thử vào biên thùy Liên Xô vùng Hải-sâm-uy và Mông Cổ. Chúng đã nhận được một bài học sâu cay.


Thế là suốt trong thời kỳ nhân dân Liên Xô xây dựng hòa bình xã hội chủ nghĩa, Hồng quân anh dũng đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình là bảo vệ công cuộc hòa bình lao động của nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Xô-viết xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa. Để bảo vệ đất nước Hồng quân đã hoàn thành nhiệm vụ nặng nề là xây dựng thành một đội quân cách mạng chính quy, hiện đại, có một nền lý luận quân sự tiên tiến nhất và có những trang bị vũ khí, khí tài, kỹ thuật tối tân. Trước khi nổ ra cuộc chiến tranh thế giới thứ 2, Hồng quân đã trở thành một quân đội hùng cường trên thế giới.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:23:36 pm
IV
HỒNG QUÂN LIÊN XÔ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH GIỮ NƯỚC VĨ ĐẠI VÀ SỰ CHIẾN THẮNG CỦA NỀN KHOA HỌC QUÂN SỰ VÔ SẢN


Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Được ít lâu sau khi đánh bại nước Pháp và các nước tư bản khác ở châu Âu, phát xít Hít-le thu thập lực lượng và tài nguyên ở cả châu Âu chuyển sang tiến công thành trì cách mạng vô sản thế giới. Trung tâm chiến tranh thế giới chuyển sang đất nước Liên Xô. Có được ưu thế lúc đầu và lợi dụng được yếu tố bất ngờ, lại có được kinh nghiệm của hơn một năm chiến tranh, phát xít Hít-le tạm thời thu được thắng lợi lúc đầu. Chúng tập trung tuyệt đại bộ phận binh lực, binh khí vào chiến trường Liên Xô. Với từ 170 đến 240 sư đoàn gồm khoảng 3 triệu quân lính với các vũ khí, khí tài hiện đại, tối tân nhất, phát xít Hít-le tiến mau sát tới Mát-xcơ-va và Lê-nin-grát. Kế hoạch phiêu lưu của chúng là trong 3 tháng sẽ làm cỏ xong nước Nga cộng sản và tên tướng giặc ngông cuồng điên dại Hít-le sẽ vào duyệt binh ở Mát-xcơ-va. Chúng đã chiến thắng dễ dàng các nước tư bản Tây Âu. Chúng chủ quan nặng, coi mình như là anh hùng của thế giới tư bản, tự tôn là bách chiến bách thắng.


Lúc đầu, vì lực lượng quân sự chưa chuẩn bị đầy đủ nên Hồng quân đã phải rút lui. Nhiệm vụ của Hồng quân trong thời kỳ này nhằm một mặt tiêu hao sinh lực, khí tài của địch, một mặt tổ chức động viên lực lượng ra tiền tuyến, đồng thời phải kiên quyết giữ vững những khu chiến lược then chốt.


Trong 4 tháng đầu chiến tranh, Hồng quân đã bị thương vong gần 2 triệu, đồng thời cũng tiêu hao quân địch hơn 4 triệu và giữ vững được Mát-xcơ-va và Lê-nin-grát. Trong thời kỳ này, Hồng quân đã rút được thêm nhiều kinh nghiệm chiến đấu phong phú. Các cuộc chiến đấu phòng ngự giữ vững Mát-xcơ-va và Lê-nin-grát đã làm ngạc nhiên các nước tư bản phương Tây. Sau này lý luận và nghệ thuật phòng ngự càng được hoàn thiện và đã tạo những điều kiện tốt để chuyển sang tiến công từ Sta-lin-grát trở đi.


Thật là một cuộc thử thách lớn lao giữa hai chế độ. Ba tháng trời qua, duyệt binh ở Hồng trường không phải là quân đội phát xít mà lại vẫn chính là Hồng quân. Trong khi đó thì quân đội phát xít trước mặt trận Mát-xcơ-va đang rút chạy một cách thảm hại về phía tây. Giặc Đức bắt đầu tỉnh giấc mê. Để bào chữa cho sự thất bại, chúng đổ lỗi tại trời: khí hậu mùa đông ở Nga quá rét lạnh. Trong khi đó giai cấp tư sản thế giới cũng tức tối, muốn làm giảm bớt giá trị thắng lợi của Liên Xô hòa chung một điệu với phát xít Hít-le. Nhưng luận điệu đó không giải thích được tại sao ở nước Đức sau này không bị ảnh hưởng gì về khí hậu mà phát xít Hít-le vẫn không giữ nổi Béc-lanh.


Bị thất bại thảm hại ở mặt trước Mát-xcơ-va, chúng bèn định ra một kế hoạch vu hồi thủ đô Xô-viết. Thu đông năm 1942 chúng tập trung lực lượng đánh xuống miền Nam định vượt qua sông Vôn-ga tiến sang phía đông rồi quanh lên bao vây Mát-xcơ-va. Nhưng Bộ Thống soái quân đội Xô-viết đã tỉnh táo khôn khéo hơn. Ba phương diện quân1 (Phương diện quân: là 1 đơn vị chiến lược cao nhất của Quân đội Xô-viết, gồm mấy chục vạn người, thường phụ trách từng mặt trận) tinh nhuệ và một Đội dự bị mạnh đã chăng một cái lưới chụp tươi 33 vạn quân tự phụ là "bách chiến bách thắng" của phát xít Đức ở Sta-lin-grát. Thật là một trong những chiến dịch bao vây danh tiếng nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới. Mộng tưởng của Hít-le bị tan vỡ.


Để hòng cứu vãn tình hình, mùa hè năm 1943 chúng tập trung lực lượng còn lại đánh vào Cuốc. Qua một số ngày tiến công, chúng lại bị kẹp vào một gọng kìm kinh khủng. Trận thất bại này dồn thêm chúng đến chỗ tuyệt vọng.


Đồng chí Sta-lin nói: "Nêu chiến dịch Sta-lin-grát báo hiệu sự suy tàn của quân đội phát xít Đức thì chiến dịch Cuốc đặt chúng trước một thảm họa". Nhiều binh đoàn tinh nhuệ của chúng bị tiêu diệt ở đó, vốn liếng của chúng càng rỗng, không còn cách nào xoay xở. Từ sau mùa hè năm 1943, thế chủ động chiến lược hoàn toàn chuyển sang tay Quân đội Xô-viết. Chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, bắt đầu từ mùa xuân năm 1944, Hồng quân chuyển sang tổng phản công. Khởi đầu từ mặt trận Lê-nin-grát rồi tiếp đến các trận ở vùng U-cơ-ren - Cơ-ri-mê rồi đến các vùng Bi-ê-lô-ruýt-si và sau đó từ Bắc tới Nam, trên toàn tuyến các đòn tiến công liên tiếp, không ngừng diễn ra làm cho quân đội Đức túi bụi không biết đâu đối phó. Lúc đó quân Đức chỉ còn có một chiến thuật là "rút chạy". Chắc trước đây không bao giờ chúng ngờ trên con đường của chúng đi, vết giày chiến thắng chưa mờ thì vết giày thất bại đã in lên.


Sức tiến công của Quân đội Liên Xô như vũ bão. Có tháng đánh đuổi quân Đức giải phóng một bề sâu hàng trăm cây số. Đến cuối năm 1944, đất nước Liên Xô hoàn toàn được giải phóng và cuộc tiến công phát triển sang tới lãnh thổ các nước chư hầu của Đức.


Ngày nay chính Quân đội Xô-viết lại dùng những đòn chớp nhoáng, khốc liệt, đánh cho quân Đức không kịp thở. Những trận đánh đó đã biểu hiện nghệ thuật chiến dịch tiến công tuyệt vời của Quân đội Xô-viết. Các trận đánh nối tiếp nhau không ngừng thành những chiến dịch liên hoàn làm cho Quân đội Xô-viết giữ chắc thế chủ động từ đầu tới cuối. Nếu tổ chức của Nhà nước Xô-viết không tinh vi chặt chẽ, nếu nghệ thuật chỉ huy của tướng lĩnh Xô-viết không tài giỏi, nếu hậu phương nước Xô-viết không vững mạnh thì không tài nào động viên, điều động được hàng mấy triệu quân, hàng mấy trăm sư đoàn tiến công dồn dập, khi ở mũi này, khi ở mũi khác, làm cho quân Đức hoang mang không biết đâu là hướng chính, hướng phụ, đâu đánh, đâu không.


Có những trận Quân đội Xô-viết đã dùng tới hàng triệu quân, như trận tiến công thứ 2 từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1944 ở vùng nam U-cơ-ren, trận này Quân đội Xô-viết đã dùng ba phương diện quân và tiêu diệt tập đoàn quân miền Nam của Đức.


Trận tiến công thứ 5 cũng là một trận rất lớn, diễn ra vào khoảng tháng 6, tháng 7 năm 1944 ở vùng Bạch Nga. Trong trận này Quân đội Xô-viết đã tập trung phương diện quân tiêu diệt Tập đoàn quân trung ương của Đức mạnh hàng triệu quân. Trận này giải phóng toàn bộ đất đai Bạch Nga, một phần đất Ba Lan và một phần các nước Ban-tíc. Chiều sâu trận này thật là lớn. Trong có 2 tháng Quân đội Xô-viết tiến sâu mấy trăm cây số.


Trận tiến công thứ 7 cũng là một đòn ác liệt. Trận này diễn ra vào tháng 8 năm 1944 ở Mon-đa-vi, giáp với biên giới Ru-ma-ni. Ở đây Quân đội Xô-viết đã sử dụng phương diện quân tiêu diệt 22 sư đoàn Đức và nhanh chóng tiến vào đất Ru-ma-ni giải phóng thủ đô Buy-ca-rét. Trận này tuy nhỏ nhưng sức tiến thật là nhanh, thật là mạnh, và thời cơ tranh thủ thật hết sức đẹp đẽ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:24:32 pm
Đến khi Quân đội Xô-viết đã chuyển sang tổng phản công và mặc dù một mình, rõ ràng sắp chiến thắng phát xít Đức đến nơi, thì Mặt trận thứ 2 ở Tây Âu mà bọn tư sản phương Tây nói giáo mãi từ bao nhiêu lâu nay mới ra đời (tháng 6-1944). Tuy thế mà lực lượng chủ yếu của quân đội phát xít Đức vẫn tập trung ở chiến trường phía đông đối phó với Liên Xô. Do đó quân đội Đồng minh chỉ phải đánh với lực lượng nhỏ yếu của quân đội Đức, mặc dù vậy sức tiến quân vẫn chậm như rùa. Có ngày chỉ tiến được 2 cây số, có tuần lễ chỉ tiến được 6 đến 7 cây số, gặp một cuộc phản kích của quân Đức nào là lại mất hết. Chính Ai-xen-hao phải biện bạch rằng quân Anh - Mỹ sở dĩ tiến chậm là vì bị quân Đức đối phó mạnh và vi phải khắc phục địa hình và thời tiết.


Đầu năm 1945, với nhiệm vụ thiêng liêng là trừ diệt cho nhân dân thế giới cái họa phát xít, giúp các dân tộc giải phóng khỏi ách áp bức đế quốc, trên lãnh thổ các nước Đông Âu một chiến tuyến dài 1.200 cây số chạy từ bờ bể Ban-tíc đến dãy núi Các-pa-tơ, 7 phương diện quân của Hồng quân Liên Xô nhằm phía tây xuất phát.


Thật là một cuộc tiến quân vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay. Trải qua mấy tháng chiến đấu kịch liệt Hồng quân đã đánh vào đất Đức, chiếm cứ Béc-lanh. Nhân dân các nước Đông Âu dưới sự lãnh đạo của các Đảng cộng sản và công nhân cũng nổi dậy phối hợp hành động với Quân đội Xô-viết tiêu diệt phát xít Đức, giải phóng đất nước mình.


Ngày 2 tháng 5 năm 1945, quân Đức ở Béc-lanh xin đầu hàng và đến ngày 8 tháng 5 năm 1945 Bộ Thống soái Đức xin đầu hàng.

Lực lượng gây chiến trụ cột trên thế giới bị đánh đổ. Luận điệu khoác lác của bọn chủ nghĩa dân tộc sô-vanh Đức cho rằng quân đội Đức "bách chiến bách thắng" ở đất nước người và "nước Đức của bọn chúng bất khả xâm phạm" đã bị xoá bỏ.


Dập tắt xong cái lò lửa chiến tranh lớn nhất thế giới, Hồng quân Liên Xô chuyển sang Viễn Đông góp phần quyết định tiêu diệt nốt quân đội phát xít Nhật. Thế là chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc.

Chiến thắng một quân đội mạnh nhất, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu nhất trong phe tư bản chủ nghĩa, Quân đội Liên Xô đã tỏ ra hơn hẳn bất cứ quân đội nào của giai cấp tư sản. Được xây dựng trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nền sản xuất luôn luôn phát triển mạnh mẽ, và được tu dưỡng bằng lý luận và tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Quân đội Xô-viết qua những cơn thử thách gay go càng lớn mạnh thêm. Không còn nghi ngờ gì nữa, Quân đội Xô-viết đã trở thành một đội quân tiên tiến nhất thế giới.


Trở thành một quân đội tiên tiến là do Quân đội Xô-viết có được một nền khoa học quân sự hết sức nghiêm cách, chính xác, toàn diện. Nó nhận thức được đầy đủ, đúng đắn vai trò và tác dụng của con người và vũ khí, của hậu phương và tiền tuyến, của các binh chủng, quân chủng, không quá đề cao một thứ nào và cũng không coi thường một thứ nào, khác hẳn nền khoa học quân sự của giai cấp tư sản chủ quan, phiến diện, một chiều.


Xuất phát từ quan điểm quần chúng, tập thể và quan điểm chỉnh thể, khoa học quân sự Xô-viết nhận định rằng chiến tranh là một cuộc đấu tranh toàn diện không riêng gì về quân sự mà cả về kinh tế, chính trị. không riêng gì của quân đội mà của cả nhân dân toàn quốc. Quân sự là một biểu hiện lực lượng kinh tế và chính trị của đất nước. Quân sự không thể độc lập tồn tại, nó phải dựa vào chính trị và kinh tế mà phát triển.


Do thấm nhuần quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nền khoa học quân sự Xô-viết mới có nhận thức đúng đắn như trên. Vì thế cho nên lý luận quân sự Xô-viết mới đề ra 5 nhân tố thường xuyên có tác dụng quyết định thắng lợi của chiến tranh, vấn đề lực lượng tiềm tàng của đất nước đã được coi là một thành phần chủ yếu của khoa học quân sự Xô-viết và yếu tố tinh thần được coi là điều cơ bản quyết định của thắng lợi. Lực lượng tiềm tàng của đất nước không phải chỉ gồm riêng của cải vật chất mà gồm cả sức người, sức của. Nhưng tư tưởng cách mạng không coi các thứ đó như những vật chết. Người cách mạng rất coi trọng yếu tố động viên. Sức người, sức của đó phải biết động viên, phải biết tổ chức lại thì mới phất huy được tác dụng, và khi được động viên đầy đủ, có tổ chức chặt chẽ thì tác dụng sẽ phát huy được lớn nhất.


Sự diễn biến của các cuộc chiến tranh từ trước đến nay trong lịch sử đã chứng minh lý luận này. Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 1 đế quốc Đức rất hùng mạnh và hung hăng nhưng cuối cùng bị thất bại vì không dai sức bằng các nước tư bản đồng minh Anh, Pháp, Mỹ.


Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, phát xít Đức lúc đầu hoành hành rất ghê gớm nhưng sau bị quân dân Liên Xô đánh thua vì lực lượng chiến tranh của Liên Xô ngày càng hùng hậu mà của Đức thì kiệt quệ dần. Phát xít Nhật lúc đầu cũng tung hoành ở Thái Bình Dương và Đông Nam A, nhưng rồi dần dần cũng sút kém và dần dần thua đế quốc Mỹ ở Thái Bình Dương, vì lực lượng của Mỹ còn dồi dào mà của Nhật thì đã không kịp và không đủ đối phó với mặt trận quá xa, rộng, trong khi đó lại bị nhân dân các nước nổi dậy chống lại ngay từ trong lòng chúng.


Các cuộc chiến tranh xảy ra xa hơn nữa trong lịch sử cũng chứng minh luận điểm này. Như cuộc chiến tranh chống quân Nguyên ở đời nhà Trần nước ta (khoảng những năm 1250 cho đến 1280). Sở dĩ quân đội của Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên 3 lần, mỗi lần hàng chục vạn quân, là do nhân dân cả nước đều đứng dậy kháng chiến. Các chúa phong kiến tập hợp vào quân chủ lực nhà Trần bỏ lại ruộng đất ở địa phương gây sự tan rã của chế độ đại điền trang. Nhân dân cả nước - tuyệt đại đa số là nông dân - có ruộng đất trong tay, phải sống chết giữ lấy ruộng đất đó mà sống nên sức kháng chiến mạnh vô cùng. Còn quân nhà Nguyên đi xâm lược không thể kéo cả nước sang, hơn nữa nhân dân Trung Quốc bị cưỡng ép, không tự nguyện hăng hái được, do đó sức lực ngày một kiệt quệ, tinh thần ngày một sút kém nhất định không tránh khỏi thất bại nhục nhã.


Cuộc kháng chiến trường kỳ vừa qua của nhân dân Việt Nam ta càng chứng minh luận điểm trên. Chủ nghĩa đế quốc Pháp đi xâm lược tất nhiên không thể kéo quân và của cải cả nước của chúng sang nước ta được, sau khi bị thất bại trong chiến lược "đánh mau, thắng mau" chúng phải chuyển sang chiến lược lợi dụng lực lượng tại chỗ, "dùng người Việt đánh người Việt". Nhưng về việc giành lấy nhân dân thì Đảng và Chính phủ ta đã chiếm ưu thế rõ rệt, nên cuộc kháng chiến của nhân dân ta kéo dài được và đi tới thắng lợi ngày nay.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:25:36 pm
Lý luận của khoa học quân sự Xô-viết về lực lượng tiềm tàng của đất nước cũng tức là yếu tố hậu phương trong chiến tranh đã được thực hiện, chứng minh và ngày càng trở nên phong phú thêm.

Về điểm này khoa học quân sự tư sản nhận thức không đầy đủ, lại vì bị mục đích và động cơ chiến tranh phi nghĩa hạn chế sự nhìn nhận của chúng, chúng thường nhấn mạnh yếu tố bất ngờ, quá chú trọng lực lượng quân sự một cách đơn thuần. Phát xít Đức tưởng vài tháng chiếm được Liên Xô, phát xít Nhật cũng tưởng vài tháng là chinh phục được Trung Quốc, đế quốc Pháp tưởng mấy tuần là giải quyết được Việt Nam, đế quốc Mỹ tưởng đánh Bắc Triều Tiên như "một cuộc du lịch bằng xe gíp". Khoa học quân sự Xô-viết không phủ nhận yếu tố bất ngờ, nhưng yếu tố bất ngờ không đơn độc phát sinh tác dụng, nó không tách rời các điều kiện và hoàn cảnh khác.


Nhân tố thắng lợi của bọn đế quốc là cái gì? Chúng thường nhìn một vật tách rời các điều kiện và hoàn cảnh chung quanh. Cho nên bí quyết hoặc bảo bối thắng lợi của chúng là xe tăng, tàu bay, chiến hạm và gần đây là vũ khí nguyên tử, khinh khí hoặc tên lửa. Cách nhận thức của chúng là như thế, là phương pháp tư tưởng chủ quan, phiến diện, một chiều.


Tất nhiên khoa học quân sự Xô-viết không phải không chú ý tới các thứ binh chủng, quân chủng, tới các thứ vũ khí. Nhưng khoa học quân sự Xô-viết vẫn nhận định từ trước đến sau vai trò chủ chốt của con người. Con người vẫn là trung tâm của mọi vật. Chính con người đã làm ra tất cả của cải vật chất. Con người đã làm ra các thứ vũ khí, khí tài và sử dụng nó. Con người giác ngộ, có tinh thần tích cực, kiên quyết, có thể làm được mọi việc khó khăn gian khổ nhất. Cho nên đối với những người cộng sản tinh thần của con người có thể làm nên sức mạnh vật chất vô biên.


Cũng vẫn xuất phát từ quan điểm duy vật, khoa học quân sự Xô-viết nhận thức rằng hình thái chiến tranh ngày càng diễn biến theo sự phát triển của sức sản xuất. Công cụ sản xuất thế nào thì công cụ chiến tranh, tức vũ khí cũng theo như thế. Sức sản xuất phát triển thì công cụ chiến tranh cũng phát triển, ở thời đại cổ sơ thì người ta có cung tên; ở thời đại đồ đá thì người ta có búa đá, chuông đá; ở thời đại đồ sắt thì người ta có dao, kiếm. Đến thời kỳ thuốc súng thì người ta có súng hỏa mai. Đến thời đại máy móc, điện khí thì người ta có súng máy, đại bác, tàu bay, xe tăng. Và đến bây giờ, thời đại nguyên tử thì người ta có vũ khí khinh khí, tên lửa.


Ngoài ra, phương thức, phương pháp sản xuất thay đổi cũng làm cho phương thức, phương pháp chiến tranh thay đổi. Ở thời đại phong kiến, quân đội tiến thành hàng dày đặc, luôn luôn đánh sát lá cà. Ở thời đại tư bản chủ nghĩa mới ra đời đội hình đã sơ tán. Đến trận thế giới chiến tranh thứ 1 đôi bên dùng trận địa chiến đánh nhau đã hơi cách xa nhau, mặt trận đã có chiều sâu. Đến chiến tranh thế giới thứ 2 chiến tranh vận động chiến đã phát triển, mặt trận đôi bên đã khá xa, chiều sâu đã khá lớn. Tương lai tính chất vận động của chiến tranh càng lớn hơn, chiến trường càng sâu rộng hơn, không những hàng trăm, hàng ngàn cây số mà bao gồm cả trái đất nữa.


Ở điểm này Ăng-ghen đã chỉ rõ ràng: "Ở đầu thế kỷ thứ 14 thuốc súng đã chuyển từ người Á-rập sang người Âu châu ở phương Tây và đã đảo lộn, như mọi người học sinh đều biết, tất cả những phương thức của chiến tranh"1 (Quyển "Vai trò bạo lực trong lịch sử", bản tiếng Pháp, Nxb xã hội Pháp, năm 1947).


Khoa học quân sự Xô-viết nhận thức được đó là một quy luật phát triển khách quan của chiến tranh. Nắm được quy luật đó và tích cực vận dụng nó hợp tình hình phát triển. Quân đội Xô-viết đã ngày càng xây dựng, hoàn thiện các binh chủng, quân chủng của mình. Binh chủng, quân chủng của Quân đội Xô-viết không những không thua kém quân đội giai cấp tư sản, mà còn có nhiều điểm trội hơn. Về bộ binh Quân đội Xô-viết hơn hẳn quân đội của giai cấp tư sản, không nói làm gì. Về mặt binh chủng kỹ thuật, ngay từ lúc đầu cuộc chiến tranh thứ 2 Quân đội Liên Xô cũng đã hơn quân đội phát xít Đức về pháo binh rất rõ ràng, chính quân thù cũng phải công nhận, về xe tăng và tàu bay cũng có điểm hơn về chất lượng, nhưng kém về số lượng. Cũng như hiện nay về hỏa tiễn, khinh khí Quân đội Xô-viết đã vượt rõ rệt quân đội của các nước đế quốc phát triển nhất.


Quân đội Xô-viết là người đầu tiên sáng lập và xây dựng một quân chủng mới, đó là quân đổ bộ đường không.

Dựa trên cơ sở cũ và với sự phát triển mới, khoa học quân sự Xô-viết xác định thêm một vài quân chủng. Trước kia có 3 quân chủng là lục quân, hải quân, không quân. Bây giờ có thêm 2 quân chủng nữa là đổ bộ đường không và quân phòng không.


Khái niệm của người ta luôn luôn phát triển theo sự phát triển của vật chất. Khoa học quân sự Xô-viết đã nhận thấy điều đó. Không những thế, khoa học quân sự Xô-viết đã nhận thức được những khái niệm cơ bản về khoa học, đưa ra thành phạm trù của môn khoa học đó để nâng cao nhận thức lên. Do đó mà từ các phát triển mới của quân đội, của vũ khí, Quân đội Xô-viết đã sáng lập ra quân chủng mới và những phạm trù mới của nghệ thuật quân sự, làm giàu thêm cho nền khoa học quân sự thế giới.


Chỗ chính xác, tính chất khoa học của khoa học quân sự Xô-viết là đánh giá đúng được vai trò, tác dụng của các binh chủng quân chủng. Nó hiểu rằng mỗi binh chủng, quân chủng đều có tác dụng riêng của mình, mà không thể thứ nào thay thế được thứ nào. Thắng lợi của chiến tranh là do sự cố gắng chung của các binh chủng và quân chủng mà giành được. Khi phát triển tới hỏa tiễn, khinh khí, các tưởng soái của Quân đội Xô-viết vẫn công nhận rằng vai trò của lục quân không giảm sút.


Chỗ này cũng chứng tở hai quan điểm, hai lập trường của hai giai cấp khác nhau. Vì sợ quần chúng, sợ con người, vì chủ nghĩa cá nhân duy tâm, giai cấp tư sản chỉ tin vào một vài cá nhân thần thánh, một vài thứ vũ khí, một vài bảo bối. Trái lại giai cấp vô sản lấy con người, lấy quần chúng làm cơ sở, nên mọi việc đều do con người, do quần chúng quyết định. Cá nhân, một vài thứ vũ khí có phát sinh tác dụng, nhưng phải dựa trên và không thoát ly được cơ sở con người, cơ sở quần chúng. Các cuộc chiến tranh xảy ra trên thế giới vừa qua đã vạch rõ được quan điểm nào là chính xác.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:27:33 pm
Trong trận chiến tranh thế giới lần thứ 2, quân đội phát xít Đức quá nhấn mạnh vai trò của xe tăng, chúng cho xe tăng quyết định tất cả. Do đó chúng đã sử dụng xe tăng một cách ngông cuồng. Xe tăng thoát ly các binh chủng khác dễ dàng bị tiêu diệt, nhất là khi chiến đấu ở địa hình phức tạp. Chúng đã tổ chức xe tăng thành các binh đoàn đột phá ở thê đội một. Chiến thuật này đưa tới nước bí là quân Đức không giải quyết được vấn đề tăng cường không ngừng lực lượng đột kích trong tung thâm chiến dịch, vì các binh đoàn xe tăng đã sớm bị tiêu hao. Trên chiến trường Tây Âu xe tăng của phát xít Đức làm chúa được là vì một thằng tư sản khỏe ăn hiếp một thằng tư sản hèn yếu hơn. Trên chiến trường phía đông, sự tình lại diễn ra khác hẳn. Trước mặt quân phát xít Đức, Liên Xô không phải là thằng tư sản yếu mà là anh vô sản càng đánh càng khỏe, nhưng chúng đã chủ quan nên không trông thấy điều đó.


Quan điểm quân chủng của quân đội đế quốc Mỹ lại khác. Là một tên tư sản béo phị, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu như Đức, nên quân đội đế quốc Mỹ chủ trương lấy không quân làm chủ yếu. Mưu gian của chúng còn lộ rõ ở chỗ bắt người nước khác làm lục quân để đánh thay cho chúng. Trong trận đổ bộ vào Bắc nước Pháp ở Noóc-măng-đi và cuộc phản công vào Tây Âu, đội dự bị chiến lược của quân đội Đồng minh phần lớn là các binh đoàn hàng không và nhảy dù. Do đó trong chiến dịch phản công quân Đức ở Tây Âu, quân đội Đồng minh ít tạo được những thắng lợi quyết định trong một thời gian ngắn, vì lý do ít có lực lượng cơ động lớn có sức đột kích mạnh và dẻo dai tung vào các tình huống có tính chất quyết định. Chiến tranh Triều Tiên xảy ra và kéo dài, một số người Mỹ đã thất vọng với cái thuyết "Không quân". Trong quốc hội Mỹ, cũng có người không sùng bái thuyết đó nữa. Họ cuống trí kêu gọi "nước Mỹ phải tổ chức 12 triệu lục quân".


Ở chiến trường Việt Nam, nếu chỉ một xe tăng hoặc một tàu bay mà giải quyết được chiến tranh thì đế quốc Pháp đã sung sướng lắm rồi, không còn phải lận đận trong 8, 9 năm trường và cuối cùng phải chịu đình chiến, rút khỏi miền Bắc và nhận thời hạn triệt thoái toàn thể quân đội trên đất nước ta.


Do nhận thức đúng mức được vai trò và tác dụng của các binh chủng, quân chủng nên khoa học quân sự Xô-viết lại đề ra được nguyên tắc hợp đồng các binh chủng, quân chủng. Ngày nay, người ta đã công nhận nguyên tắc này là một nguyên tắc cơ bản trong chiến tranh hiện đại. Chiến tranh ngày nay không thể tiến hành với một binh chủng. Rất chú ý phát huy tác dụng tập thể của các binh chủng. Quân đội Xô-viết đã vận dụng hiệp đồng các binh chủng một cách khéo léo, hoàn thiện mà không một quân đội nào của giai cấp tư sản có thể bì kịp.


Trong các chiến dịch tấn công, Quân đội Xô-viết đã tổ chức hiệp đồng giữa các binh chủng một cách rất hợp lý và chặt chẽ. Bộ binh và pháo binh hợp tác rất mật thiết. Pháo binh luôn luôn dọn đường cho bộ binh tiến lên. Hàng không binh thì giúp đỡ thêm cho pháo binh làm nhiệm vụ xa hơn để hiệp đồng với bộ binh. Còn xe tăng là người bạn rất thân cận của bộ binh. Không phải chỉ có xe tăng mới đối phó được với xe tăng địch, Quân đội Xô-viết còn phát huy tác dụng của mọi binh chủng như bộ binh, công binh, hàng không binh, pháo binh, nhất là pháo binh. Nhưng tất cả các binh chủng đó đều kết hợp hữu cơ với nhau thành hệ thống chống xe tăng rất nghiêm mật. Trong chiến dịch Cuốc mùa hè năm 1943, quân Đức tập trung chủ lực lớn nhất để định cứu vãn tình thế, gỡ lại canh bạc cuối cùng. Trên chiến trường Liên Xô, chúng có 21 sư đoàn xe tăng thì chúng tập trung vào Cuốc 17 sư đoàn. Không phải chỉ xe tăng mới có thành tích trong trận đấu tranh xe tăng này mà pháo binh Liên Xô cũng góp nhiều công sức, đặc biệt là cụm pháo binh chống tăng và các đội pháo binh chống tăng.


Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, không phải không có tàu bay và xe tăng chúng ta không chiến đấu được. Chúng ta phát huy tác dụng của các binh chủng khác để chiến đấu với xe tăng và tàu bay. Chúng ta đã biết vận dụng các điều kiện của quân đội ta và hoàn cảnh chiến trường nước ta mà chiến đấu với xe tăng. Chúng ta đã phát huy nhiều tác dụng của bộ binh, công binh. Lợi dụng và phát huy tất cả tác dụng của địa hình và hoàn cảnh địa lý, của vũ khí và khí tài. Do đó chúng ta đã hạn chế được tác dụng của xe tăng địch và nhiều trận đã thắng được xe tăng của địch.


Vì nhận rõ được tác dụng của các binh chủng như thế, nên khoa học quân sự Xô-viết đã định ra được nhiệm vụ, vai trò của các binh chủng một cách chính xác và tổ chức các binh chủng hiệp đồng chiến đấu được thích đáng.


Trong các chiến dịch tấn công đột phá phòng ngự địch có chiều sâu rộng lớn, Quân đội Xô-viết đã đề ra được đầy đủ toàn bộ nhiệm vụ của chiến dịch, dự tính được suốt cả quá trình chiến đấu từ đầu đến cuối, lực lượng bố trí và nhiệm vụ các đơn vị có liên quan với nhau không những trong khi đột phá mà còn cả trong khi phát triển. Nhờ đó đã bố trí lực lượng phân công nhiệm vụ cho các binh chủng, các binh đoàn theo được nguyên tắc trên một cách chính xác. Đầu tiên các binh đoàn liên hợp có pháo binh, hàng không binh và bộ đội xe tăng, đột phá phòng ngự địch, mở cửa đột phá. Khi cửa đột phá đã mở rồi thì các binh đoàn cơ giới tiến vào, chiến đấu khuếch trương chiến quả mà các binh đoàn liên hợp đã đạt được.


Từng cấp đơn vị chiến thuật hoặc chiến dịch đều có binh đoàn cơ giới của mình tung vào chiến đấu để khuếch trương chiến quả, nhanh chóng phát triển tung thâm để bao vây vu hồi tiêu diệt các tập đoàn chủ yếu của địch, tạo thắng lợi chiến thuật nhanh chóng thành thắng lợi chiến dịch. Trận đánh Ki-rô-vô-grát của Phương diện quân U-cơ-ren thứ nhất, thứ hai và chiến dịch Đông Phổ của Phương diện quân Bi-ê-lô-ruýt-si thứ nhất, thứ hai đã chứng tỏ điểm này được rõ rệt.


Việc vận dụng khôn khéo các lực lượng như thế làm cho lực lượng phát triển tung thâm là lực lượng cơ giới không sớm bị tiêu hao, lúc phát triển trong tung thâm chiến dịch vẫn giữ được sức lực. Mặt khác dùng lực lượng cơ giới đó để phát triển trong tung thâm là rất thích hợp, vì nó cơ động nhanh chóng. Vì thế trong biên chế quân đội, ở đơn vị quân đoàn đều có tổ chức sư đoàn thê đội hai là sư đoàn cơ giới, ở tập đoàn quân, phương diện quân thì có các binh đoàn cơ giới (binh đoàn lưu động). Trong phạm vi chiến dịch thì có các đội dự bị chiến dịch, chiến lược.


Đối với các binh chủng, khoa học quân sự Xô-viết đã có một nhận thức toàn diện, nên đã đưa tới những thắng lợi rực rỡ.

Về mặt nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự Xô-viết đã có được một quan niệm đầy đủ về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Đó cũng là điều khác với nghệ thuật quân sự của giai cấp tư sản, nó chỉ đơn thuần đặt vấn đề chiến lược và chiến thuật. Do có một quan niệm đúng đắn như thế nên khoa học quân sự Xô-viết mới đặt được quan hệ rõ ràng giữa chiến thuật với chiến dịch và giữa chiến dịch với chiến lược. Có một quan hệ rõ ràng như thế mới có thể đặt kế hoạch tác chiến, phân phối, bố trí lực lượng được thích đáng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:28:42 pm
Nghệ thuật quân sự Xô-viết còn xác định được các nguyên tắc chiến đấu có tính chất quy luật và ngày càng xây dựng hoàn thiện các quy luật đó. Nguyên tắc rất quan trọng là nguyên tắc đột phá phòng ngự địch. Nguyên tắc này đẻ ra quy luật bên tấn công phải có ưu thế gấp mấy lần bên phòng ngự và phải giữ vững ưu thế đó suốt từ đầu đến cuối, tập trung vào hướng có tính chất quyết định, hướng chủ yếu nhằm diệt tan tập đoàn chủ yếu của địch. Quy luật này thể hiện 1 nguyên tắc rất quan trọng là vấn đề giành chủ động trong chiến tranh. Có ưu thế thì mới có thể giành được chủ động mà có chủ động thì mới có thể thắng lợi. Quy luật này còn sinh ra vấn đề khác là phải chú ý luôn luôn tăng cường không ngừng lực lượng đột kích trong tung thâm. Có tăng cường không ngừng lực lượng đột kích trong tung thâm thì mới giành được ưu thế trong suốt quá trình phát triển của chiến đấu. Thế mà muốn luôn tăng cường lực lượng đột kích thì phải bố trí đội hình có chiều sâu, tức là có thê đội hai hoặc đội dự bị trong đội hình chiến đấu. Muốn thực hiện được quy luật trên lại còn phải nghĩ tới một vấn đề khác nữa là tốc độ tiến công. Tốc độ tiến công nhanh chậm có ảnh hưởng đến việc giành ưu thế.


Vận dụng quy luật này, Quân đội Xô-viết đã tập trung ưu thế gấp mấy lần quân địch phòng ngự. Có khi về pháo binh xe tăng gấp 10 lần. Trong chiến dịch Khát-tô-luân1 (Dịch theo âm Trung Quốc, vì chưa tìm được chữ Liên Xô) năm 1943, ở hướng chủ yếu Quân đội Liên Xô tập trung hơn địch: bộ binh gấp 5 lần, pháo binh gấp 8,5 lần, xe tăng gấp 2,6 lần; có lúc xe tăng gấp 13 lần (chiến dịch Ki-rô-vô-grát năm 1944).


Tăng cường không ngừng lực lượng đột kích trong tung thâm cũng là điều được nhấn mạnh. Điều này đã được tỏ rõ trong nghệ thuật tổ chức và vận dụng thê đội hai và đội dự bị. Tăng cường lực lượng đột kích chưa phải đã hoàn toàn giành được ưu thế, điểm này còn có phần nào phụ thuộc vào tốc độ. Nếu sức đột kích không nhanh, địch kịp cơ động điều lực lượng ứng phó trong tung thâm thì cũng khó giành được ưu thế. Vì thế Quân đội Xô-viết rất chú ý đến việc nâng cao tốc độ tiến công. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, tốc độ tiến công một ngày là từ 20 đến 25 cây số (trận Ki-rô-vô-grát 2 ngày 50 cây số) và hiện nay là từ 30 đến 40 cây số. Thật là một tốc độ mà quân đội của bất cứ một nước tư bản nào cũng không thể có được.


Trở lại lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc ta, tốc độ tiến công cũng đã nêu được tác dụng quan trọng của nó. Trong cuộc chiến tranh tốc quyết chống quân xâm lược nhà Thanh và tên phản bội Lê Chiêu Thống năm 1789 vua Quang Trung đã mở một cuộc tiến công chớp nhoáng chiếm lại thủ đô Thăng Long và giải phóng đất nước.


Ngày mồng 4 tháng Giêng đánh Ngọc Hồi (vùng Văn Điển) đến sáng ngày 5 đã chiếm được một phần thành Thăng Long.

Tốc độ tiến công cao khoảng 10 cây số 1 ngày đêm với cuộc hành binh thần tốc khoảng 50 - 60 cây số một ngày đêm đã là yếu tố rất bất ngờ làm cho Tôn Sĩ Nghị không kịp trở tay đối phó. Quân tướng nhà Thanh không thể tưởng tượng được rằng cuối tháng Chạp còn yên lặng như tờ mà đến những ngày đầu của tháng Giêng, đoàn quân xuất quỷ nhập thần ở Phú Xuân (Huẽ) đã hiện ra ở ngoại ô thành Thăng Long.


Cuộc tiến quân của chúng vào thành Thăng Long để phè phỡn đón xuân đã nhanh nhưng cuộc tháo chạy thảm hại của chúng lại vô cùng chóng. Tốc độ tiến công cao của quân Tây Sơn đã là một sở trường đặc sắc của vua Quang Trung và đã tạo nên thắng lợi quyết định nhanh chóng.


Quân đội Xô-viết coi hướng chủ yếu là rất quan trọng, nên rất cẩn thận trong việc chọn hướng chủ yếu. Đồng chí Sta-lin nói: "Hướng chủ yếu dự kiến 9 phần 10 của thắng lợi". Vì thế trong các chiến dịch tiến công, Quân đội Xô-viết đã tập trung lực lượng cơ bản vào hướng đột kích chủ yếu để đột phá giành lấy thắng lợi quyết định.


Trong khi phát biểu ý kiến về chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa ở Pê-trô-grát, Lênin đã dẫn chứng một câu của Mác. Câu này làm kim chỉ nam cho toàn bộ hệ thống tư tưởng quân sự Xô-viết, là cơ sở lý luận của nghệ thuật quân sự Xô-viết. Câu đó nhu sau: "Phải tập trung ở một địa điểm quyết định, trong một thời cơ quyết định, lực lượng thật nhiều hơn địch, nếu không thì địch được chuẩn bị và có tổ chức hơn sẽ tiêu diệt những người khởi nghĩa"... và ở một đoạn khác: "Cần phải thắng một trận đầu tiên và không ngừng tiến công quân địch, lợi dụng sự hoang mang của chúng để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác...".


Về một số vấn đề này, nghệ thuật quân sự Xô-viết cũng tỏ ra hơn hẳn nghệ thuật quân sự tư sản. Vì không nhận thức được đầy đủ các quy luật chiến đấu, nên quân đội của giai cấp tư sản ít đạt được những cuộc đột phá hoàn thiện. Đột phá chiến dịch của chúng thường bị đình trệ, vì khi bên phòng ngự cơ động lực lượng thì lực lượng đột kích của chúng không luôn luôn được tăng cường mạnh mẽ và thiếu một tốc độ cao.


Chúng ta thường thấy ở cấp tập đoàn quân, phương diện quân của quân đội Mỹ ít cớ những đội dự bị lớn mạnh.

Những nguyên tắc lý luận đó, những quy luật chiến đấu đó được thể hiện trong các chiến dịch tiến công, trong các trận hội chiến1 (Chiến dịch lớn, lực lượng chủ yếu 2 bên giáp chiến với nhau, chiến dịch có tính chất chiến lược). Ở chỗ này, nghệ thuật chiến dịch của Quân đội Xô-viết lại tỏ rõ tính chất ưu việt của nó. Thật là tinh xảo, từ tổ chức cho đến thực hành chiến dịch, về việc hiểu địch thì ta phải nắm được đầy đủ: lực lượng, địa điểm, thời cơ và các điều kiện chủ chốt, sống còn của chúng. Trong trận Sta-lin-grát, Bộ Thống soái Liên Xô nắm đúng được tổ chức và bố trí lực lượng tiến công của quân Đức, hướng tiến công chủ yếu của chúng, hiểu rõ được chỗ mạnh chỗ yếu của chúng, đoán được hướng, lực lượng và thời cơ chúng sẽ tiếp viện. Vì thế mọi hành động của quân Đức đều lọt vào kế hoạch của Quân đội Liên Xô.


Trong đột phá chiến dịch, vấn đề đầu tiên là việc sử dụng lực lượng, tức là tổ chức bố trí lực lượng tiến công như thế nào? Vấn đề này cũng xuất phát từ một quan điểm, từ một tư tưởng về chiến dịch như thế nào. Đột phá chiến dịch là một cuộc tiến công liên tiếp không dừng lại. Đột phá và phát triển là thống nhất. Cho nên phải giải quyết mâu thuẫn giữa đột phá và phát triển. Phải khéo bố trí lực lượng không chỉ quá nặng về đột phá mà bỏ quên mất phát triển. Giải quyết vấn đề này là bố trí lực lượng có bề sâu, đầu mạnh mà đuôi phải cứng. Muốn giải quyết vấn đề đó nữa thì phải tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, không được phân tán mành mành. Trong quá trình chiến dịch vẫn phải tập trung binh lực ưu thế. Đó cũng là một điều kiện quan trọng để giữ thế tiến công không ngừng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:29:48 pm
Về sử dụng lực lượng tung vào chiến dịch, không phải ỷ có đầu mạnh đuôi cứng mà đâm ra húc bừa. Phải nhằm vào chỗ nào yếu nhất của địch, nhằm vào chỗ dễ đánh thắng nhất. Bám được vào trận địa của địch rồi, mở được cửa rồi là tung lực lượng không ngừng vào khoét sâu rộng ra và phát triển không ngừng, lại tìm cho được lực lượng chủ yếu của địch mà tiêu diệt. Như thế mới có thể biến những thắng lợi chiến thuật thành thắng lợi chiến dịch một cách mau chóng.


Muốn hoàn thành đột phá chiến dịch liên tục lại phải khéo biết vận dụng các binh đoàn, binh chủng. Trong từng binh chủng phải biết kết hợp nhiệm vụ giữa đột phá và phát triển; giữa các binh chủng với nhau cũng phải biết giúp đỡ nhau trong đột phá và phát triển.


Thành công của đột phá chiến dịch lại còn do ở một vấn đề là có khéo biết bao vây, vu hồi để đi đến hợp vây tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch. Đột phá liên tục trong trận địa phòng ngự có nhiều tầng của địch để làm gì? Điều quan trọng nhất là tiêu diệt tập đoàn chiến dịch chủ yếu của địch. Muốn thế thì phải cô lập tập đoàn chủ yếu đó ra, không cho liên lạc với hậu phương và bên cạnh, phá thế cứu ứng lẫn nhau của chúng, chặt đường rút lui của chúng. Yêu cầu này đặt ra cái thế hợp vây. Vì chỉ có hợp vây mới đạt được mục đích trên. Nghệ thuật hợp vây của Quân đội Xô-viết đã nổi bật lên trong nhiều chiến dịch tiến công lớn. Trận Sta-lin-grát là một thí dụ. Trong trận này, tập đoàn chiến dịch chủ yếu của quân Đức bị 2 mũi hợp vây khép chặt lại, đội dự bị chiến lược của chúng đến cơ động nhưng không kịp, không tiếp xúc được và bị đánh tan.


Một điều nữa không kém phần quan trọng trong việc tiến hành chiến dịch là tổ chức và sử dụng đội dự bị, lực lượng dự trữ cơ động của chiến dịch. Người chỉ huy chiến dịch phải nắm được cái vốn lưu động đó để mà sử dụng vào các tình huống quyết định và để phòng khi tình thế biến đổi bất trắc xảy ra. Sử dụng đội dự bị cũng là một nghệ thuật. Phải sử dụng đúng thời cơ, đúng địa điểm; phải giữ chặt đội dự bị trong tay, không hoang mang mà phân tán hoặc sử dụng quá sớm. Lại phải dùng vào tình huống có chất quyết định không được dùng bừa.


Về điểm này Quân đội Xô-viết cũng tỏ ra rất khôn ngoan. Chiến dịch Ki-rô-vô-grát và Đông Phổ đã chứng minh điều đó. Trong các chiến dịch này, binh đoàn lưu động có tính chất đội dự bị cứ đi theo sau các binh đoàn đột phá; khi có thời cơ là tiến vào cơ động khuếch trương chiến quả.


Còn quân Đức thì hoang mang nên đã mắc sai lầm phân tán và sử dụng quá sớm đội dự bị nên đã đi đến thất bại thảm hại như trong chiến dịch ở sông Đơ-ni-ép và ở nam U-cơ-ren.

Trong chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự Xô-viết cũng rất chú trọng đến việc giành chủ động và giũ vững chủ động đó. Vấn đề này cũng là một nguyên tắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch.

Về chiến lược dù có bị động, nhưng phải tranh thủ chủ động về chiến thuật, chủ động cục bộ. Trong chiến dịch cũng thế, lúc đầu dù có bị động, nhưng trong quá trình chiến dịch phải giành lấy chủ động. Khi đã giành được chủ động trong tay rồi thì phát huy lên và giữ cho vững từ đầu đến cuối. Có lúc biến bị động thành chủ động mà giành được thắng lợi lớn hoặc quyết định. Trận Sta-lin-grát và Cuốc là hai thí dụ. Ở nước ta thì có trận Hòa Bình và trận Điện Biên Phủ. Những thí dụ sống rất có giá trị này có thể bác bở một cách hùng hồn luận điểm không chính xác cho rằng như thế là ta bị địch lôi kéo, ta bị động. Địch lôi kéo chúng ta vào hang mà ta đi thì mới là khờ dại, còn nếu địch dẫn thân đến miệng hùm mà ta chê mồi thì không phải là khôn ngoan gì.


Từ đầu năm 1944 trở đi, thế chủ động chiến lược đã hoàn toàn chuyển sang tay Quân đội Xô-viết. Các chiến dịch tiến công liên tiếp diễn ra từ miền Bắc đến miền Nam, miền Trung rồi sang các nước Đông Âu và cuối cùng tới đất Đức. Trong khoảng một năm rưỡi Quân đội Xô-viết đã mỏ hơn 10 chiến dịch lớn, địch không có cách gì giành lại quyền chủ động, mà đến hạn chế quyền chủ động đó cũng không thể làm được.


Muốn giành chủ động thì phải có tinh thần tích cực tiến công, chỉ có tiến công mới có chủ động.

Chủ động là vấn đề sống chết của hai bên giao chiến. Có chủ động là có thể thắng lợi. Nhưng phải có điều kiện và biết tạo điều kiện để giành chủ động. Đồng chí Mao Trạch Đông đã nói: "Tự do hành động là mạch sống của quân đội, mất tự do nghĩa là quân đội gần đi đến chỗ bị đánh thua hoặc bị tiêu diệt"1 (Trong "Bàn về chiến tranh lâu dài" của Mao Trạch Đông).


Không những trong nghệ thuật chiến dịch tiến công Quân đội Xô-viết đã xây dựng được những nguyên tắc bất hủ mà trong phòng ngự, nguyên tắc chiến dịch của Quân đội Xô-viết cũng rất nổi tiếng. Chiến dịch phòng ngự Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát và Sta-lin-grát là những sự thực, không thể chối cãi. Tư tưởng chiến thuật phòng ngự của Quân đội Xô-viết là tư tưởng phòng ngự tích cực và ngoan cường phòng ngự không phải là thủ tiêu mọi hành động tiến công. Vì có kết hợp với hành động tiến công, phòng ngự mới được vững chắc. Phòng ngự không phải chỉ là phòng ngự rồi dẫn tới thất bại. Phòng ngự là để tạo điều kiện chuyển sang tiến công kiên quyết.


Phòng ngự muốn đứng vững được phải theo các nguyên tắc chính sau đây:

1. Phòng ngự phải có hệ thống trận địa dày đặc có chiều sâu hình bậc thang, phòng ngự kiểu này làm cho địch không thể dễ dàng phá tan được toàn bộ hệ thống phòng ngự mà còn tạo ra điều kiện để phản xung phong tiêu diệt địch.

2. Phòng ngự có trung tâm vững chắc, thành thế hình tròn để chống với bao vây vu hồi của địch, cắm một cái đinh trong lòng địch, chia cắt đội hình tiến công của chúng tạo điều kiện thuận lợi cho phản xung phong tiêu diệt chúng.

3. Phòng ngự chống các binh khí hiện đại như xe tăng, pháo binh, phi cơ, hoá học, nguyên tử bảo đảm cho sinh lực không bị tiêu hao nặng đi đến mất sức chiến đấu.

4. Phòng ngự phải dựa vào địa hình có lợi, có hệ thống chướng ngại thiên nhiên và nhân tạo chu mật làm cho địch không dễ dàng xâm phạm.

Các nguyên tắc trên đây thể hiện tính tích cực và ngoan cường không thể phá vỡ của phòng ngự hiện đại của Quân đội Xô-viết. Phòng ngự đó đã là phòng ngự thắng lợi.

Cùng một tư tưởng chiến thuật phòng ngự đó, quân đội ta đã đánh thắng trong các trận phòng ngự ở đèo Cla-vô, ở Điện Biên Phủ và ở các trận chống càn ở đồng bằng chống quân đội xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp.


Quân đội nhân dân Triều Tiên và Chí nguyện quân Trung Quốc anh em cũng đã tỏ rõ được tư tưởng và nguyên tắc chiến thuật phòng ngự này ở vĩ tuyến 38 trong cuộc chiến tranh anh dũng chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ.


Nghệ thuật quân sự Xô-viết là một hệ thống hoàn chỉnh về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, là một hệ thống tư tưởng quân sự Mác-xít trong thời đại chúng ta. Nó đã phát triển huy hoàng trong trận thế giới chiến tranh lần thứ 2. Hiện nay nó là cơ sở giàu có để phát triển nền nghệ thuật quân sự tương lai của quân đội các nước phe xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:30:43 pm
Đi đôi với việc xây dựng thành công một nền nghệ thuật quân sự hoàn thiện và khoa học, Quân đội Xô-viết chú ý xây dựng các chế độ chính quy, xây dựng một nền nếp giáo dục và quản lý bộ đội một cách nghiêm ngặt để đảm bảo thực hành thắng lợi nghệ thuật quân sự đó. Mọi sinh hoạt và hành động của quân đội đều theo chức trách, theo chế độ biến thành điều lệnh, quy tắc. Nhiệm vụ càng được rõ ràng cụ thể, tinh thần trách nhiệm càng cao.


Trong việc xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, Quân đội Xô-viết rất chú ý đến việc xây dựng tinh thần và kỷ luật. Tinh thần và kỷ luật là mạch máu của quân đội. Không có nó thì quân đội sẽ tan rã; ý thức kỷ luật của quân đội Xô-viết rất cao. Nó chứng tỏ tính tổ chức cao và có tu dưỡng về chính trị. Người quân nhân Xô-viết coi phục tùng kỷ luật, phục tùng mệnh lệnh như là một chức trách. Họ coi tính kỷ luật là một đạo đức cách mạng. Nhưng đặc điểm của kỷ luật của quân đội Xô-viết là có ý thức tự giác cao, việc phục tùng kỷ luật không bóp chết bản chất dân chủ và quan điếm quần chúng của quân đội. Trong khi nói về nhiệm vụ trực tiếp của chính quyền Xô-viết, Lênin dạy rằng: "Giai đoạn thứ ba đã bắt đầu, chúng ta phải củng cố những cái mà tự chúng ta đã đạt được, những cái mà chúng ta phải hợp pháp hóa, nghị định, sắc lệnh hoá, và có trách nhiệm làm chủ. Chúng ta phải củng cố những cái đó dưới những hình thức bền vững của một kỷ luật công tác hàng ngày". Kỷ luật làm cho quân đội thành một khối thống nhất chặt chẽ, và phát huy được sức mạnh lớn. Chỉ có một đội quân ô hợp thì kỷ luật mới lỏng lẻo và dễ tan rã. Luôn sẵn sàng một tinh thần chiến đấu cao, Quân đội Xô-viết nắm chắc phương châm "thời bình vì thời chiến". Trong sinh hoạt cũng như học tập, tinh thần không lúc nào lơ là, lỏng lẻo, dễ dãi, trái lại luôn luôn phải khẩn trương, cảnh giác. Sinh hoạt khẩn trương, cảnh giác là để nuôi thành một thói quen, làm cho người bộ đội, nếu chiến tranh xảy ra, không phải bắt buộc bước vào một trạng thái bỡ ngỡ và lúc nào cũng có thể hành động nhanh chóng. Vì không có tinh thần tập thể và thói quen tổ chức, những người nặng ý thức tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, sinh hoạt tản mạn trong một nền sản xuất lạc hậu, phân tán, mới khó chịu đối với sinh hoạt chính quy, tập trung, có tổ chức, có kỷ luật.   .


Mọi sinh hoạt, hành động của Quân đội Xô-viết đều đặt thành chế độ, quy tắc. Các bộ phận, các công tác hoạt động nhịp nhàng ăn khớp với nhau và tiến hành một cách nhanh chóng, hiệp đồng chặt chẽ, rõ ràng như một bộ máy tinh vi.


Quân đội là một tổ chức phải được rèn luyện luôn luôn, rèn luyện một cách gian khổ, công phu. Không trải qua rèn giũa, tôi mài lâu dài, quân đội không thể trở thành cứng rắn được. Quân đội Xô-viết chính nhờ trải qua những quá trình rèn rũa gay go mà trưởng thành và trở nên một quân đội hùng cường nhất thế giới. Xem qua truyện "Trên đường Vô-lô-kô-lam-skơ"1 (Những cuộc chiến đấu trên đường Vô-lô-kô-lam-skơ của A-lếch-xăng-đrơ Bếch; Trần Cư dịch, Nxb Quân đội nhân dân), chúng ta thấy được phần nào việc rèn luyện bộ đội của các người cán bộ chỉ huy Quân đội Xô-viết. Xuất phát từ lý luận liên hệ thực tế, dựa trên những kinh nghiệm cũ và dự kiến tính chất của cuộc chiến tranh tương lai, khoa học quân sự Xô-viết đã đề ra những nguyên tắc cơ bản cho việc huấn luyện và giáo dục bộ đội. Những nguyên tắc đó đã trở nên những yêu cầu cần thiết không thể thiếu được trong việc chỉ đạo công tác huấn luyện:


1. Sự thống nhất giữa giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự: yêu cầu này nhằm làm cho việc giáo dục và huấn luyện phục tùng một mục đích duy nhất: hoàn bị sức chiến đấu và tinh thần sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô-viết. Do đó cán bộ phải luôn luôn hướng việc giáo dục và huấn luyện theo đường lối của Đảng và của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm cho khoa học quân sự tiến lên hơn nữa phù hợp với chế độ xã hội tiến bộ nhất của loài người.

2. Huấn luyện và giáo dục tinh thần hoạt động tích cực và tinh thần bền bỉ, kiên quyết: yêu cầu này thể hiện một trong những điểm chủ yếu của tư tưởng khoa học quân sự Xô-viết. Nó xuất phát từ tính chất kiên quyết của những mục đích của cuộc chiến tranh hiện đại. Hồng quân Liên Xô nhờ có tinh thần bền bỉ, kiên quyết nên đã luôn luôn phát triển những đòn tiến công mãnh liệt và giành được thắng lợi trong những cuộc chiến tranh vừa qua.

3. Dạy bộ đội những điều cần thiết trong chiến tranh: nguyên tắc này biểu hiện rõ rệt tính chất hiện thực, làm cho việc giáo dục và huấn luyện hướng vào mục tiêu chiến đấu và tẩy bỏ những cái gì không giúp ích cho việc nâng cao sức chiến đấu của bộ đội trong cuộc chiến tranh hiện đại.

4. Chuẩn bị cho bộ đội bước vào một cuộc chiến tranh chống một kẻ địch mạnh, được trang bị đầy đủ về kỹ thuật và vũ khí: yêu cầu này thể hiện tính chất đúng đắn của khoa học quân sự trong việc đánh giá đối tượng tác chiến, làm cho quân đội luôn luôn theo dõi và nghiên cứu trình độ kỹ thuật, chiến thuật của địch để định ra những phương thức chiến đấu thích hợp.

5. Không những không lạc hậu mà còn vượt các quân đội khác về trình độ huấn luyện và tinh thần thường xuyên sẵn sàng chiến đấu: yêu cầu này nói lên tinh thần cảnh giác cao độ và tính chất tích cực chủ động trong công tác quân sự, tinh thần khắc phục khó khăn của bộ đội tiến lên hơn kẻ địch để đảm bảo giữ gìn hòa bình và an ninh cho Tổ quốc.

6. Tiến hành huấn luyện và giáo dục bộ đội trên tinh thần phát triển sáng kiến, tính chủ động và óc sáng tạo của binh lính và sĩ quan: nguyên tắc này nhấn mạnh việc lý luận liên hệ thực tế. Trong việc huấn luyện phải chú ý đến tình hình khách quan luôn luôn phát triển. Không thể giữ mãi những hình thức cũ và phương pháp cũ được. Do đó phải rèn luyện cho cán bộ và chiến sĩ tinh thần độc lập, tính chủ động, óc sáng tạo. Chỉ có rèn luyện tinh thần đó mới thức tỉnh ý muốn của mỗi người tìm tòi những phương pháp mới về sử dụng vũ khí kỹ thuật và vận dụng chiến thuật, làm cho cán bộ trở nên linh hoạt và quyết đoán được trước những tình hình gay go phức tạp cần phải xử trí kịp thời không phải đợi mệnh lệnh của cấp trên, về điểm này Quân đội Xô-viết khác hẳn các quân đội đế quốc. Bọn đế quốc biến người lính thành những cái máy chỉ biết hành động cứng đờ theo những điều quy định và phục tùng cấp trên một cách bị động, mù quáng.
   

Những nguyên tắc trên là hạt nhân tinh túy trong phương châm huấn luyện của Quân đội Liên Xô. Khoa học quân sự Xô-viết đã tìm ra và đúc kết lại qua nhiều kinh nghiệm đấu tranh võ trang lâu dài và qua những hoạt động huấn luyện thời bình của quân đội. Quân đội ta muốn không phạm phải những lệch lạc trong công tác huấn luỵện thì phảị chú ý nghiên cứu và nắm vững các nguyên tắc đó đồng thời vận dụng một cách linh hoạt vào tình hình cụ thể của quân đội ta.


Đối với quân đội Việt Nam, những người cán bộ chúng ta còn ít chú ý tới việc rèn luyện bộ đội, thiếu ý thức về vấn đề này. Một thí dụ nhỏ: người cán bộ trung đội trưởng hoặc đại đội trưởng của chúng ta không mạnh dạn, tự động quản lý giáo dục rèn luyện đơn vị mình, chỉ máy móc áp dụng kế hoạch, học được cái gì dạy cái ấy, mà lại nặng về phần kỹ thuật, chiến thuật, rất ít có ý thức rèn luyện công phu về kỷ luật và tác phong. Việc rèn luyện lại thoát ly sinh hoạt, chỉ chú ý giảng dạy khi ra thao trường hay ở trong lớp, ngoài ra còn có các mặt sinh hoạt khác thì không chú ý, xuề xòa cùng nhau ăn ở như một cơ quan hành chính.


Cần phải rèn luyện công phu, gian khổ; bộ đội chạy chưa được dai sức phải tập cho chạy được dai sức, nhảy chưa qua được hào, tường phải tập cho nhảy qua được, bắn chưa trúng phải tập bắn cho trúng, cho nhanh. Phải sửa chữa mọi cử chỉ động tác dù nhở trong sinh hoạt hàng ngày ở đội ngũ, ở nội vụ v.v... Người chỉ huy ngày thường có chỉ huy đơn vị mình chặt chẽ như thế, đến lúc chiến đấu cũng mới có thể chỉ huy chặt chẽ được.


Trên thế giới, mâu thuẫn là phổ biến, đấu tranh là phổ biến mọi sự vật chỉ có trong mâu thuẫn và đấu tranh mà vận động phát triển lên. Sinh hoạt trong quân đội cũng biểu hiện quy luật này. Đó là cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu diễn ra hàng ngày.


Quân đội là một tổ chức có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ nhất, nghiêm minh nhất. Đó cũng là một điều kiện sinh tồn và phát triển của quân đội.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:32:01 pm
V
MỘT VÀI VẤN ĐỀ TRÊN CON ĐƯỜNG
PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUÂN SỰ


Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, nền khoa học quân sự Xô-viết đã tỏ ra hơn hẳn nền khoa học quân sự của giai cấp tư sản. Nó đã thắng lợi huy hoàng.

Hiện nay, trong hòa bình xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, trong thời đại phát triển của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới và bên cạnh đó, chủ nghĩa đế quốc già cỗi vẫn tồn tại, khoa học quân sự vẫn còn phát sinh tác dụng và ngày càng phát triển cao độ và càng hoàn thiện. Quân đội Xô-viết vẫn đứng hàng đầu trên thế giới và là một bảo đảm vững chắc cho công cuộc hòa bình lao động của nhân dân toàn thế giới.


Nhận thức được quy luật phát triển của xã hội, của chiến tranh, khoa học quân sự Xô-viết đã tìm được con đường đi chính xác cho Quân đội Liên Xô và quân đội các nước anh em. Với sự phát triển mới của sức sản xuất, dưới điều kiện điện tử và sức nguyên tử được phát triển, chiến tranh ngày nay càng có tính chất rộng khắp, mãnh liệt, tính chất cơ giới và vận động càng cao. Nắm được tính chất mới đó của chiến tranh, Quân đội Xô-viết đã chú trọng nâng cao trình độ cơ giới hóa của lục quân. Quân đội Xô-viết đã mô-tơ hóa và cơ giới hóa. Trong việc cơ giới hóa quân đội, nâng cao sức vận động của quân đội, các binh chủng trên không được đặc biệt chú ý. Tàu bay lên thẳng ra đời giải quyết được một vấn đề rất lớn mâu thuẫn giữa vận động với địa hình, đồng thời nó cũng giải quyết được một số vấn đề về chiến thuật. Việc phát triển các binh chủng trên không và nhất là tàu bay lên thẳng làm cho sức vận động của bộ đội được nâng lên rất cao. Quân đội cơ động được rất nhanh chóng và trên cả các địa hình rất phức tạp. Do đó mà tốc độ tiến công tăng lên rất cao, tung thâm chiến đấu cũng rất lớn và chiến thuật bao vây vu hồi cũng rất lợi hại.


Quá trình phát triển của chiến tranh là quá trình giải quyết mâu thuẫn. Bản thân chiến tranh, chiến đấu có rất nhiều mẫu thuẫn. Cho nên chiến tranh cũng phát triển qua những quá trình cách mạng. Binh khí xe tăng ra đời là một phát triển cách mạng. Vì nó giải quyết mâu thuẫn giữa vận động với hỏa lực. Trước kia, một khẩu pháo có hỏa lực mạnh thì lại rất nặng nề, vận động khó khăn, nay vấn đề đó đã bắt đầu giải quyết. Khi tàu bay ra đời thì lại là một bước phát triển mới. Tàu bay giải quyết một vấn đề lớn là vấn đề mâu thuẫn giữa vận động với địa hình. Đến tàu bay lên thẳng thì việc giải quyết đó được tiến bộ hơn. Bây giờ quân đội có thể vận động rộng rãi hơn. Đến nay nguyên tử, khinh khí, tên lửa, ra-đa ra đời thì việc giải quyết đó càng hoàn thiện hơn. Hiện nay tên lửa giải quyết được hoàn thiện nhất về mâu thuẫn giữa vận động với địa hình, mâu thuẫn giữa vận động với hỏa lực và mâu thuẫn giữa vận động với đột kích.


Nhưng tên lửa chưa phải là tuyệt đối, nó vẫn còn nhược điểm. Nó vẫn chưa giải quyết được tất cả các mâu thuẫn trên với vấn đề đánh chiếm. Vấn đề này cũng là một vấn đề rất cơ bản. Vì thế tên lửa không thể một mình hoạt động được, nó vẫn phải hiệp đồng với các binh chủng khác. Đó là một điều mà các nhà quân sự của giai cấp tư sản ít nghĩ tới, cho nên họ thường quá chú trọng, đánh giá quá cao một thứ binh khí đó thôi.


Tất nhiên trên con đường phát triển của khoa học kỹ thuật người ta có thể phát minh một thứ vũ khí, binh khí nào một mình nó giải quyết tập trung được một số mâu thuẫn, có được một số tính năng, tác dụng và ngày càng tiến bộ. Nhưng cũng rất khó một mình nó giải quyết được hết, có được mọi tính năng, tác dụng, mà dù có đi chăng nũa, tất cả tính năng, tác dụng đó tập trung vào một thứ vũ khí thì cũng không có khả năng lớn được. Vì thế việc hiệp đồng các binh chủng vẫn là cần thiết và lục quân vẫn là cơ sở.


Trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa hỏa lực với vận động Quân đội Liên Xô cũng hơn hẳn quân đội của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Một xe tăng Liên Xô nặng 46 tấn mang đại bác 122 ly, một xe tăng Mỹ cũng nặng 46 tấn mà chỉ mang đại bác 90 ly. Hai xe tăng sức nặng bằng nhau, sức cơ động cũng xấp xỉ nhau, thế nhưng hỏa lực của xe tăng Mỹ thì thua kém xe tăng Liên Xô. Quân đội Xô-viết nhận thức đúng được vấn đề đó, đã dùng kỹ thuật mà giải quyết được mâu thuẫn đó.


Sau này, khoa học phát triển cao hơn nữa, người ta sẽ có thể đẩy mạnh kỹ thuật để tiếp tục giải quyết mâu thuẫn được hoàn thiện hơn.

Như trên đã nói, còn vấn đề khó khăn nữa là vấn đề đánh chiếm (chiếm giữ). Hỏa tiễn tuy có hỏa lực mạnh, có sức cơ động cao, có sức đột kích lớn nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề chiếm giữ; mà vấn đề chiếm giữ là vấn đề mấu chốt, vấn đề cuối cùng của chiến đấu. Vấn đề này chỉ có lục quân (bộ binh) là đảm nhiệm được. Thế nhưng lục quân (bộ binh) thì lại kém các mặt khác. Muốn giải quyết vấn đề đó, và để khắc phục một số địa hình khác, có lẽ rồi đây người ta sẽ có thể nghĩ ra xe tăng bay. Xe tăng có hỏa lực mạnh, có sức đột kích và sức cơ động cao ở mặt đất và có sức đánh chiếm. Nhưng nó cũng không khắc phục được hết các địa hình ở mặt đất. Pháo binh, hàng không binh đem đạn, bom của mình mà đánh vào các trận địa quan trọng, các trung tâm công nghiệp, kinh tế; cả hỏa tiễn cũng thế, uy lực của nó còn lớn hơn bom đạn. Nhưng cả 3 thứ đều không có năng lực chiếm giữ; chỉ có một thứ ngoài bộ binh ra là có năng lực ấy. Đó là xe tăng. Xe tăng có nhiều đức tính tốt. Nó có hỏa lực mạnh, có sức cơ động cao ở mặt đất (tuy vậy có một số địa hình không hoạt động được hoặc hoạt động khó khăn), có sức đột kích lớn và cũng có năng lực đánh chiếm. Sau này nếu giải quyết được cho xe tăng cơ động được ở trên không thì vừa giải quyết được vấn đề cơ động ở đồng nước như ở Việt Nam, đồng thời cũng giải quyết được vấn đề đánh chiếm một cách nhanh chóng ở cự ly xa. Cơ động xe tăng ở trên không có 2 cách: một là dùng hàng không binh, hai là xe tăng tự cơ động lấy tức là xe tăng phải bay được ở trên không rồi đỗ xuống đất chiến đấu.


Nếu một khi xe tăng đã bay được thì giải quyết xe ô tô thiết giáp bay cũng không có vấn đề gì. Như thế là cũng có bộ đội bộ binh cơ giới theo sát, hiệp đồng chiến đấu với xe tăng, xe tăng sẽ không bị cô lập. Mâu thuẫn trong chiến đấu dần dần sẽ được giải quyết. Khi người ta đã nhận thức được vấn đề đó, khi sức sản xuất, khoa học đã phát triển cao độ thì người ta sẽ dùng kỹ thuật để giải quyết. Đó cũng là một quy luật như quy luật chung trong sự phát triển của sức sản xuất.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:33:27 pm
VI
KHOA HỌC QUÂN SỰ XÔ-VIẾT VỚI CUỘC
CHIẾN TRANH GlẢl PHÓNG VIỆT NAM


Khoa học quân sự Xô-viết là một hệ thống tư tưởng quân sự, là cơ sở lý luận về chiến tranh của chủ nghĩa Mác - Lênin, của giai cấp vô sản. Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tiến theo ngọn cờ của nền khoa học quân sự Xô-viết tiên tiến để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng cũng như việc xây dựng quân đội. Quân đội ta cùng một bản chất và mục đích chiến đấu như Quân đội Xô-viết, cùng một quan điểm về khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự như Quân đội Xô-viết. Quân đội ta còn tiếp thụ được tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông, tư tưởng vận dụng khoa học quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh một nước thuộc địa và nửa phong kiến.


Đó là quy luật hoạt động vũ trang phổ biến, đó là điều cơ sở giống nhau của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên mỗi quân đội đều có những chỗ khác nhau về đặc điểm dân tộc, chính trị, kinh tế, xã hội, địa lý, thời tiết, kinh nghiệm, truyền thống, tác phong v.v...


Thấm nhuần vai trò của vũ trang khởi nghĩa trong việc cướp chính quyền cách mạng, hiểu rõ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là chiến tranh chính nghĩa, có khả năng thành công trong thời đại đế quốc chủ nghĩa nhất là sau Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa đế quốc càng lâm vào thời kỳ tổng khủng hoảng, phong trào giải phóng dân tộc lên cao, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Nga càng làm cho giai cấp công nhân thế giới thêm giác ngộ, Đảng cộng sản Đông Dương đã từ cuộc vận động chính trị trong quần chúng đi đến đề ra việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng để cướp chính quyền, từ đội Cứu quốc quân đến đội Tuyên truyền Giải phóng quân, đội Du kích Ba Tơ và các đội du kích vũ trang thoát ly hoạt động khắp nơi trong nước, nhất là trong thời kỳ kháng Nhật. Cuộc vận động binh lính địch được tích cực tiến hành, nhất là vào thời kỳ tiền khởi nghĩa đã lôi kéo được một số khá đông ngả theo cách mạng. Từ khi còn là các đội du kích, quân đội ta đã gắn chặt với nhân dân là người sinh đẻ ra mình; trong phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân, quân đội ta đã dần dần khôn lớn lên và luôn luôn chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Do bản chất cách mạng và bản chất nhân dân, các đội du kích do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo đã cùng nhân dân làm cách mạng thành công vào tháng 8 năm 1945. Do thế mà chính quyền nằm trong tay cách mạng, không bị san sẻ. Đến khi cuộc kháng chiến bùng nổ, Đảng chủ trương kháng chiến lâu dài giành thắng lợi cuối cùng.


Lênin dạy rằng: "Lịch sử của thế kỷ thứ XX, thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc tan rã là đầy những cuộc chiến tranh thuộc địa".

Suốt trong thời kỳ kháng chiến cũng như trong hòa bình Đảng ta luôn luôn lấy đường lối xây dựng và đường lối chiến đấu của quân đội của giai cấp vô sản mà Quân đội Xô-viết là gương mẫu, làm nền tảng lý luận để xây dựng quân đội cách mạng. Quân đội đó lấy công nông làm nòng cốt, nó thực sự là một quân đội nhân dân.


Trong kháng chiến, Đảng ta đã tổ chức và lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân. Lực lượng vô tận của chúng ta là tinh thần chiến đấu của nhân dân vì mục đích giải phóng dân tộc kết hợp với giải phóng giai cấp. Vì thế, Đảng đã động viên được toàn dân đem hết sức người sức của ra trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn để chiến đấu giữ lấy tự do, độc lập của mình. Toàn quốc là chiến trường, tiền tuyến và hậu phương là rộng khắp cả nước. Nắm được quy luật của chiến tranh, đánh giá đúng được quân ta yếu chống đánh với một kẻ địch mạnh hơn, do đó lúc đầu ta phải tiêu hao, làm mệt mỏi quân địch và áp dụng chiến lược phòng ngự, nhưng với tinh thần tích cực cách mạng, phòng ngự không phải là ngồi đợi địch, mà phải tìm cách đánh tiêu hao chúng. Phòng ngự của ta là phòng ngự tích cực, giống như Quân đội Liên Xô hồi đầu đánh Đức. Phòng ngự của chúng ta còn là phòng ngự vận động cũng giống như Triều Tiên hồi đầu chống Mỹ.


Lúc đầu cuộc kháng chiến, thành phần du kích chiến của ta rất rộng lớn và là chủ yếu, sau dần dần mới phát triển vận động chiến. Yếu tố du kích chiến và yếu tố vận động chiến kết hợp rất chặt chẽ. Chúng ta biết rằng một mình du kích chiến thì không thể giải quyết được chiến tranh, phải có vận động chiến và tiến tới có cả trận địa chiến. Vận động chiến sẽ trở nên rất quan trọng; nhưng du kích chiến không thể thiếu, nó yểm hộ và giúp đỡ rất đắc lực cho vận động chiến. Còn trận địa chiến thì khi chiến tranh phát triển lên cũng rất cần thiết.


Trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, Quân đội Liên Xô tiến hành một cuộc chiến tranh vận động, nhưng ở hậu phương của địch, nhân dân Liên Xô vẫn tiến hành một cuộc chiến tranh du kích rộng lớn. Trình độ tác chiến chính quy của Quân đội Liên Xô như thế mà tác dụng của du kích chiến vẫn không mất, nó đã gây được tác dụng quan trọng góp phần vào việc chiến thắng quân Đức. Đối với ta thì thành phần này lại càng quan trọng. Quân đội Liên Xô vì có đủ binh chủng, quân chủng hùng mạnh, nên trong chiến tranh vận động vẫn có khả năng tổ chức các trận địa kiên cố trực tiếp tiếp xúc với địch trong thực hành chiến đấu, dù tấn công hay phòng ngự.


Nghệ thuật quân sự của ta cũng được vận dụng theo tinh thần và tư tưởng của nghệ thuật quân sự Xô-viết. Thời kỳ đầu cuộc kháng chiến quân đội ta áp dụng chiến lược tích cực phòng ngự nên đã tiêu hao được quân địch mà dần dần giành lấy thế chủ động cục bộ. Khi đã giành được thế chủ động cục bộ thì ta tích cực giữ vững lấy và phát huy lên. Ta vận dụng lực lượng một cách rất khéo léo, tập trung mở chiến dịch tiến công khi ở nơi này, khi ở nơi khác, một cách tương đối liên tục, làm cho địch không biết hướng nào mà đối phó và đối phó không kịp. Sau chiến dịch Biên Giới thắng lợi thì tiếp theo đó là chiến dịch Trung du, xong đến chiến dịch Đường số 18, lại đến luôn chiến dịch Hà Nam Ninh, rồi Tây Bắc, v.v...


Quân địch thì từ sai lầm trong chiến dịch Hòa Bình đến ngu xuẩn ở chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng phạm sai lầm nghiêm trọng trong việc mở chiến dịch tiến công. Một chiến dịch tiến công phải có hậu phương vững chắc, vì trong quá trình chiến dịch vẫn là một quá trình tập trung và điều động lực lượng, một quá trình vận động và tăng thêm lực lượng. Chúng tự đem mình giam vào một vòng vây của rừng núi, cộng thêm với cái vòng vây ghê gớm của lực lượng đối phương.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:34:21 pm
Áp dụng những chiến thuật trên, quân đội ta đã vận dụng kinh nghiệm của Quân đội Xô-viết một cách linh hoạt. Tình hình thực tế khách quan trong cuộc chiến tranh ở nước ta đề ra cho quân đội ta phải có những phương pháp chiến đấu phù hợp với hoàn cảnh đó. Quân đội ta có những chỗ giống Quân đội Liên Xô như tinh thần và bản chất chiến đấu, tư tưởng chiến thuật. Nhưng quân đội ta cũng lại có chỗ không giống như về chỉ đạo cụ thể và phương pháp cụ thể.


Học tập khoa học quân sự Xô-viết không có nghĩa là làm một cuộc áp dụng nguyên tắc giản đơn và máy móc. Học tập phải có phê phán, có vận dụng vào thực tế, đồng thời phải biết kết hợp, phát huy những kinh nghiệm chiến đấu phong phú của quân đội ta, kết hợp kinh nghiệm, tác phong và truyền thống chiến đấu tốt đẹp của dân tộc ta.


Tiến hành một cuộc chiến tranh chống một đế quốc mạnh, Đảng ta đã nắm được các yếu tố và khả năng thắng lợi. Dựa theo các nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh, cuộc kháng chiến của ta càng làm rõ hơn tinh thần của nhân dân và quân đội, vai trò của hậu phương. Ngoài ra, yếu tố ủng hộ của quốc tế cũng rất quan trọng.


Quân đội ta là công cụ vũ trang của chính quyền cách mạng. Nó phải chấp hành mọi chính sách của Đảng và hoàn thành trìệt để các đường lối chính sách quân sự của Đảng. Muốn bảo đảm chắc chắn sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm nguyên tắc dân chủ tập trung, chế độ Đảng ủy được thành lập. Có chế độ Đảng ủy quân đội được chú trọng nhiều về mặt tư tưởng và chính trị và ngày càng được xây dựng vững chắc. Nguyên tắc lãnh đạo tập thể cũng được xây dựng. Quân đội ta là một quân đội cách mạng. Nó phải được quán triệt tinh thần dân chủ và tác phong quần chúng trong các quan hệ sinh hoạt, công tác cũng như trong chiến đấu.


Nước ta tuy nghèo, nhưng Đảng ta đã động viên được nhân lực, vật lực toàn quốc dốc vào cuộc kháng chiến. Ở đâu có nhân dân ta là ở đó có sức kháng chiến. Đó là điều kiện căn bản nhất của cuộc chiến tranh. Tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng như việc động viên của cải của nước ta đã nêu ra những nét điển hình rất đặc biệt. Quân địch không thể tưởng tượng được rằng trong vùng chúng chiếm đóng đầy rẫy những pháo đài, lô cốt, thế mà nhân dân ta vẫn gom góp lương thực, tiền nong vượt qua cả phòng tuyến của chúng vận chuyển cung cấp cho kháng chiến: Cuộc chiến tranh của nhân dân ta, cũng như lịch sử của các cuộc chiến tranh chính nghĩa trên thế giới đã chứng tỏ tinh thần của nhân dân và quân đội là yếu tố quyết định sự thắng lợi của chiến tranh:


Cuộc kháng chiến lâu dài chống chủ nghĩa đế quốc Pháp kết thúc. Nhân dân ta đạt được thắng lợi giải phóng miền Bắc, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn tiếp tục thống trị ở miền Nam và chuẩn bị chiến tranh xâm lược, nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn còn tiếp tục, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội vẫn rất quan trọng.


Với tình hình mới, muốn hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp, quân đội ta nhất định phải tiến lên. Ở thời đại khoa học, kỹ thuật đã phát triển tới cao độ, người ta đã đem tất cả những thành tựu mới nhất của khoa học áp dụng vào trong cuộc đấu tranh xã hội bằng hình thức vũ trang.


Đến nay khoa học quân sự Xô-viết càng tỏ ra tiên tiến nhất. Chúng ta lại càng phải ra công học tập nền khoa học quân sự ưu việt đó. Hiện nay quân đội ta bắt đầu bước lên xây dựng theo con đường chính quy hóa, hiện đại hóa, chính cũng là lấy nền khoa học quân sự Xô-viết làm mục tiêu phấn đấu, làm bó đuốc soi đường.


Bản chất quân đội cũng như tư tưởng chiến lược, chiến thuật của quân đội ta cũng là quán triệt, thấm nhuần tư tưởng khoa học quân sự Xô-viết. Hiện nay, trên thế giới chỉ có hai nền khoa học quân sự: nền khoa học quân sự của giai cấp vô sản mà tiêu biểu là Quân đội Xô-viết và nền khoa học quân sự của giai cấp tư sản mà quân đội của chủ nghĩa đế quốc Mỹ là tiêu biểu.


Quân đội Liên Xô đã vạch cho Quân đội nhân dân Việt Nam con đường tiến lên xây dựng một quân đội cách mạng chính quy và hiện đại hóa.

Trong kháng chiến quân đội ta đã dần dần xây dựng bước đầu được các binh chủng kỹ thuật. Đầu tiên là xây dựng các binh chủng có mật thiết quan hệ với bộ binh. Đó là một con đường tất yếu và chính xác.

Do sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng và Chính phủ với sự giúp đỡ vô bờ bến của nhân dân, quân đội ta đã hoàn thành một cách vẻ vang nhiệm vụ lịch sử của mình.

Hiện nay miền Nam vẫn còn kẻ thù của đất nước. Nhiệm vụ cách mạng của toàn dân ta vẫn là tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà bằng phương pháp hòa bình, đồng thời xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Quân đội ta kiên trì chấp hành đường lối hòa bình trong đấu tranh thống nhất, nhưng vẫn phải luôn luôn rèn luyện mình để tiến lên con đường chính quy và hiện đại hoá để kiên quyết bảo vệ và tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miến Bắc. Quân đội ta phải làm tròn sứ mệnh là công cụ của chính quyền nhân dân dân chủ chuyên chính đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đổì của Đảng, giữ vững tính chất con em của nhân dân lao động, kiên quyết phản đối mọi tư tưởng và hành động có hại tối lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động. Đó chính là noi theo tinh thần của Hồng quân trong cuộc nội chiến sau Cách mạng tháng Mười.


Trên con đường tiến lên chính quy hóa, hiện đại hóa, việc học tập khoa học quân sự Xô-viết lại càng là vấn đề thiết thân của chúng ta. Phải mở rộng và đi sâu học tập nghiên cứu những lý luận quân sự đã tổng kết trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 của Quân đội Xô-viết, đồng thời theo dõi được các phát hiện mới gần đây của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng đến hành động chiến đấu của quân đội.


Tuy trình độ còn non kém, lý luận còn nghèo nàn và còn có những sai lầm, thiếu sót nhưng bước đầu chúng ta đã vận dụng khoa học quân sự Xô-viết vào việc xây dựng quân đội ta.

Học tập khoa học quân sự Xô-viết không có nghĩa là thủ tiêu mọi kinh nghiệm quý báu của quân đội ta. Trái lại chính nhờ học tập khoa học quân sự tiên tiên ta mới đúc kết, phát huy được kinh nghiệm và truyền thống chiến đấu của ta một cách tốt đẹp. Coi nhẹ và không tiếp thu khoa học quân sự Xô-viết là không đúng. Không đi theo nền khoa học quân sự của giai cấp vô sản thì vô tình hay hữu ý sẽ đi vào con đường khoa học của giai cấp tư sản mà đi theo con đường của giai cấp tư sản là đi vào con đường phản nhân dân, phản tiến bộ, con đường diệt vong. Không còn con đường nào khác nữa. Khoa học quân sự của giai cấp vô sản ở đâu? Chính là ở nền khoa học quân sự Xô-viết, vì nó là tiên tiến nhất, đầy đủ nhất.


Về điểm này, các sĩ quan Liên Xô tỏ ra được đào luyện rất có hệ thống và cơ bản. Họ nắm vững những động tác kỹ thuật cho đến chiến thuật. Trên nhiều mặt, người cán bộ chỉ huy Quân đội Liên Xô tỏ ra rất thành thạo, rất có tài năng. Không thể phủ nhận được, quân địch đã phải công nhận điều này về mặt pháo binh và nhiều mặt khác. Hiện nay quân đội ta cũng theo gương đó mà học tập và cũng đã thu được những kết quả bước đầu và đã bắt đầu bước vào con đường chính quy hóa, hiện đại hóa. Nhưng trình độ quân đội ta vẫn còn rất non kém, còn phải cố gắng thường xuyên và rất nhiều nữa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Mười Hai, 2022, 08:35:00 pm
Khi học tập khoa học quân sự Xô-viết cần phải khẳng định khoa học quân sự Xô-viết là tri thức quân sự tiên tiến của giai cấp vô sản và của cả nhân loại. Không học thì một là đứng yên ở trong tình trạng du kích, hai là đi vào con đường khoa học quân sự của giai cấp tư sản. Những người theo chủ nghĩa xét lại muốn tìm con đường nào hơn cũng không có.


Nhưng trong học tập cũng lại phải chú ý chống bệnh giáo điều máy móc. Chúng ta đã có phương pháp tư tưởng mác-xít, nhưng vì trình độ còn non nên chưa tránh khỏi mắc bệnh giáo điều máy móc, chúng ta còn phải nâng cao trình độ để phấn đấu chống bệnh giáo điều, nhưng không phải lo ngại bệnh giáo điều mà không mạnh dạn học tập lý luận tiên tiến của Quân đội Xô-viết.


Xây dựng một quân đội hiện đại không yêu cầu phải có một lúc đủ ngay hết cả và cũng không phải có đủ mọi thứ trang bị rồi mới có thể chiến đấu được. Tất nhiên chúng ta phải cố gắng, tiến bước cho thích hợp, không nên ỳ ạch. Còn nếu không có đủ mọi thứ thì chúng ta đã có phương pháp chiến đấu thích hợp với những thứ ta có, cũng như trong kháng chiến trước kia phương pháp chiến đấu, chiến thuật của chúng ta cứ ngày ngày biến đổi dần dần theo với sự phát triển kỹ thuật của quân đội ta.


Cần nhận rõ rằng: về trang bị tuy chúng ta vẫn còn lạc hậu hơn địch nhiều, nhưng nhất định không đến nỗi lạc hậu quá xa. Địch có súng máy, đại bác, tàu bay, xe tăng, hỏa tiễn, v.v... Chúng ta cũng có súng máy, đại bác và các thứ chống với tàu bay, xe tăng, chứ không đến nỗi chỉ có súng hỏa mai cách xa hẳn một thời đại.


Nguyên lý: "Kỹ thuật tiến bộ thì chiến thuật tiến bộ, kỹ thuật lạc hậu thì chiến thuật lạc hậu" vẫn có giá trị. Nhưng thắng lợi của chiến tranh là phải do nhiều yếu tố; vì chiến tranh là một cuộc đấu tranh toàn diện. Kỹ thuật của chúng ta có kém hơn địch, nhưng cũng đã ở một trình độ kỹ thuật cùng thời đại nên có nhận thức được về kỹ thuật của thời đại - lại cộng với các yếu tố khác của chiến tranh, nên tuy về kỹ thuật có lạc hậu hơn địch nhưng vẫn có chiến thuật hay hơn địch để thắng địch. Cho nên tuy kém địch, ít binh chủng và quân chủng hơn địch, nhưng vẫn có thể tin tưởng có các phương pháp chiến đấu để giành thắng lợi. Quân, đội Liên Xô có kỹ thuật ngang địch hoặc hơn địch thì lại có phương pháp chiến đấu và điều kiện thắng lợi nhanh chóng hơn và đỡ thiệt hại hơn.


Vấn đề trước mắt hiện nay của quân đội ta là vấn đề cán bộ và kỹ thuật. Cần mở rộng việc đào tạo cán bộ, nhìn vào trong quần chúng công nông, cần trau dồi tri thức và kỹ thuật cho cán bộ. Tìm mọi cơ hội nâng cao tri thức, kỹ thuật cho cán bộ, bồi dưỡng nhân tài, khuyến khích nhân tài phát triển nảy nở. Nên đoạn tuyệt với những tư tưởng bảo thủ, tư tưởng chủ quan, tự mãn. Hiện nay có 3 vấn đề cần phải học: một là học tập lý luận quân sự đã tổng kết được trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Đó là những lý luận cơ bản, lý luận kinh điển; hai là học tập vận dụng những lý luận cơ bản kinh điển đó vào Việt Nam, kết hợp với đặc điểm địa hình, điều kiện quân đội ta, cũng như với truyền thống, tác phong chiến đấu của quân đội ta, nhân dân ta; ba là học tập những phát triển mới của kỹ thuật ảnh hưởng đến chiến thuật như thế nào để nếu không áp dụng được hết thì cũng biết cách đối phó.


Nhờ học tập Quân đội Liên Xô mà bộ mặt quân đội ta đã thay đổi. Bước đầu tình trạng lạc hậu của quân đội ta đã được cải biến. Ngày nay, nhờ học tập Quân đội Liên Xô mà chúng ta càng củng cố và thấm nhuần tư tưởng quân sự Mác - Lênin. Bước đầu chúng ta đã nhận thức được khái quát khoa học quân sự Xô-viết và hiểu biết được một phần nào nghệ thuật quân sự Xô-viết. Quân đội ta đã bắt đầu tiến vào con đường chính quy hóa và hiện đại hóa. Hiện nay chúng ta đã có một trình độ tiếp thu nền khoa học quân sự Xô-viết, nhất định chúng ta đã có cơ sở để nghiên cứu vận dụng khoa học đó vào hoàn cảnh Việt Nam. Điều này không những rất cần thiết cho việc xây dựng nghệ thuật quân sự của quân đội ta, mà còn có ý nghĩa để chứng minh rằng khoa học quân sự Xô-viết, đại biểu cho hệ thống tư tưởng quân sự của giai cấp vô sản là thực tiễn chứ không phải là giáo lý. Học tập Quân đội Liên Xô một cách sáng tạo như thế khác hẳn với những người theo chủ nghĩa xét lại và cũng tránh được bệnh giáo điều.


Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại đã mở ra một kỷ nguyên mới cho loài người. Nhân dân trên toàn thế giới hiện nay đang tiếp tục sự nghiệp Cách mạng tháng Mười. Trong lĩnh vực quân sự, Cách mạng tháng Mười cũng đã mở đường cho một nền khoa học quân sự mới, nền khoa học quân sự của giai cấp vô sản. Nền khoa học quân sự đó đang trên bước đường phát triển huy hoàng. Dưới ngọn cờ của nền khoa học quân sự đó, quân đội của giai cấp vô sản các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đang phát triển nhanh chóng. Trong hàng ngũ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng đang mạnh mẽ tiến lên sát cánh cùng Quân đội Xô-viết anh em đi tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 06:29:10 pm
VỀ CÁCH DÙNG BINH1
(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1997)


Lời nhà xuất bản


Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự thao lược mà còn là một nhà nghiên cứu khoa học quân sự uyên thâm, một nhà giáo tâm huyết và có năng lực.


Trong những năm tháng cầm quân trực tiếp chỉ huy các trận đánh và các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã giúp ông nhiều kinh nghiệm thực tiễn quý báu cho giai đoạn sau của cuộc đời hoạt động cách mạng của ông, khi ông làm một nhà nghiên cứu khoa học quân sự và trực tiếp giảng dạy tri thức quân sự cho nhiều thế hệ chỉ huy kế tiếp ông.


Ông tham gia nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, song nghệ thuật quân sự là điều được ông chú tâm nghiên cứu và đạt nhiều thành tựu hơn cả.

Vào tuổi tám mươi, cái tuổi đã vượt ngưỡng "xưa nay hiếm" nhưng ông vẫn tiếp tục làm việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và miệt mài để góp phần làm giàu thêm tri thức quân sự Việt Nam cho thế hệ mai sau. Cuốn sách về cách dùng binh là kết quả của công việc nghiên cứu biên soạn gần đây của ông. Theo lời giáo sư, về cách dùng binh là những điều tâm đắc nhất của ông trong những năm làm công tác chỉ huy tác chiến, nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Do vậy cuốn sách nhỏ này - như lời ông nói - có thể coi như một bản tự thu hoạch của ông trong quá trình nghiên cứu khoa học quân sự. Vì là những điều tăm đắc nhất mới được viết ra, phân tích cặn kẽ cho nên người đọc cũng dễ cảm thông thấy nhiều vấn đề tác giả của cuốn sách về cách dùng binh chỉ nêu khái quát cho có tính hoàn chỉnh mà thôi. Đó là những vấn đề, những điểm đã được khắng định, đã được bàn nhiều hoặc tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu sâu.


Tác giả đã trình bày những vấn đề được nêu một cách ngắn gọn, vừa khái quát lý luận vừa có thực tế lịch sử minh chứng. Theo chúng tôi, đây là một cuốn sách tốt cho cán bộ chỉ huy các cấp trong quân đội, đặc biệt với các đồng chí sĩ quan chỉ huy trẻ.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 06:30:37 pm
Chương một
CHIẾN TRANH


1. Chiến tranh chống xâm lược giải phóng dân tộc hoặc bảo vệ Tổ quốc là chiến tranh chính nghĩa.


2. Chiến tranh là sự mất còn của dân tộc, toàn dân đều tham gia. Do đó chiến tranh chính nghĩa mang tính chất nhân dân. Toàn dân tham gia chiến tranh thì không có lực lượng nào có thể đánh bại được.


3. Tính nhân dân cao hay thấp là do cơ quan lãnh đạo chiến tranh có cùng mục đích, quyền lợi, nguyện vọng với nhân dân nhiều, hay ít, do dân vì dân nhiều hay ít.


4. Chiến tranh nhân dân chính nghĩa, nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều có thể thắng chiến tranh xâm lược hung bạo, lớn mạnh về vật chất.

Chiến tranh nhân dân chính nghĩa có thể thắng chiến tranh xâm lược. Rất ít khi chiến tranh chính nghĩa thất bại, thất bại chỉ là tạm thời. Cuộc chiến tranh nhân dân chính nghĩa thắng lợi như Việt Nam chống phong kiến phương Bắc và thắng quân Pháp, thắng quân Mỹ trong thời đại Hồ Chí Minh là thực tiễn điển hình sinh động.


5. Sức mạnh của chiến tranh chống xâm lược là sức mạnh chính nghĩa, nên có thể khai thác, huy động triệt để sức mạnh tiềm năng của nhân dân, tinh thần quật cường bất khuất của dân tộc, là sự đoàn kết của toàn dân và tài thao lược.


6. Chiến tranh giải phóng có khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích và kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Chiến tranh chính quy kết hợp với chiến tranh du kích là phương thức của chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược. Nó huy động được toàn dân tham gia chiến tranh và có sức mạnh vô địch.


7. Thắng lợi của chiến tranh có thể bằng cách đánh tiêu diệt địch, đuổi địch ra khỏi bờ cõi; có thể bằng đánh cho địch bị sa lầy, rồi tiến hành đàm phán hòa bình để địch rút quân về nước và có thể bằng đánh sang đất địch, tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của địch, diệt trừ mầm mống chiến tranh.

Trong lịch sử, nghệ thuật kết thúc chiến tranh đã có các loại:

Nghệ thuật thắng địch trong chống chiến tranh xâm lược: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung đánh đuổi địch ra khỏi bờ cõi. Lê Lợi, Nguyễn Trãi tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng đi cứu viện, Vương Thông mất cứu tinh đành phải tiến hành hội thề Đông Quan và rút quân về nước. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1954, Hồ Chí Minh sau khi tiêu hao tiêu diệt địch, hãm địch vào thế bị sa lầy nặng nề, thì tiến hành hòa đàm để địch rút quân về nước. Năm 1945, Hồng quân Liên Xô đánh sang Béc-lin, thủ đô nước Đức, tiêu diệt tên trùm phát xít Hít-le và bộ máy chiến tranh của nó, diệt trừ hẳn mầm mống chiến tranh.


8. Quân xâm lược đã từng thua đối phương bằng chiến tranh quân sự thông thường nhưng lại có thể thắng đối phương bằng chiến tranh tư tưởng, hay kiểu dạng chiến tranh khác.

Đế quốc không thắng một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh về quân sự bằng chiến tranh thông thường nhưng chúng đã thắng bằng chiến tranh tư tưởng.

Đế quốc cũng không thể thắng bằng chiến tranh vũ trang và chiến tranh tư tưởng đối với một số nước xã hội chủ nghĩa khác nếu các nước đó người lãnh đạo và nhân dân biết cách phòng và chống dạng chiến tranh này.

So sánh cuộc sống giữa hai chế độ thì chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn, không có thất nghiệp, tệ nạn xã hội, bạo lực... lại thường xuyên được giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc, giáo dục lòng tự tôn dân tộc nền chiến tranh tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc khó giành được thắng lợi.

Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin phải gắn liền với giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức, văn hóa Việt Nam, tình thương yêu đồng loại, lòng nhân nghĩa; sự công bằng xã hội, chống chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, chủ nghĩa thực dụng; theo đạo đức Hồ Chí Minh là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; thật thà, không lừa dối nhau, không ham thích đồng tiền một cách mê muội, một cách vô lương tâm. Phải giáo dục lòng kiên trì đạo đức xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa kiên cường thì mới chống được sự xâm nhập tự nhiên từ từ hoặc đột biến của chủ nghĩa tư bản.


9. Chiến tranh nhân dân chính nghĩa thì tinh thần xả thân vì Tổ quốc, không sợ hy sinh, gian khổ, ác liệt, đoàn kết quân dân trên dưới một lòng, mới có thể lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn.


10. Chiến tranh là cuộc đấu tranh giữa các chủ thể, các lực lượng sống, nên đối chọi nhau vô cùng gay gắt, quyết liệt, có rất nhiều hình, nhiều vẻ, có rất nhiều mâu thuẫn.


11. Chiến tranh nhân dân là cuộc đấu tranh của quần chúng. Trong thực tiễn đấu tranh, quần chúng sẽ sáng tạo ra những cái mới, cần phát hiện ra những mầm mống sáng tạo của quần chúng mà khái quát lên thành những hình thức, phương pháp đấu tranh mới, thành lý luận mới.


12. Nêu cao tính chính nghĩa của chiến tranh thì sẽ thêm bạn, bớt thù, đoàn kết nội bộ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 06:32:09 pm
Chương hai
NẮM ĐỊCH


13. Nắm được quy luật thủ đoạn của địch thì các kế dễ hợp.

Nắm được quy luật thủ đoạn tác chiến của địch giúp ta đặt kế hoạch tác chiến phù hợp và có nhiều khả năng giành thắng lợi.

Nắm được quy luật thủ đoạn của địch muốn giải tỏa, ứng cứu cho mục tiêu bị tiến công thì ta dùng chiến thuật vây điểm diệt viện hoặc đánh điểm diệt viện. Nắm được quy luật thủ đoạn của địch là dùng máy bay lên thẳng phản kích vào hậu phương của ta thì ta bố trí đội hình có chiều sâu, sẵn sàng đánh quân hạ cánh trực thăng vào đằng sau đội hình của ta.


14. Quân xâm lược có thể mạnh về vật chất, nhưng yếu về chính trị, tinh thần.


15. Quân xâm lược bao giờ cũng muốn đánh nhanh thắng nhanh. Do tương quan lực lượng địch - ta, có thể thắng địch trong thời gian ngắn và cũng có thể thắng địch trong thời gian dài.

Quân xâm lược bao giờ cũng muốn đánh nhanh thắng nhanh. Nó rất sợ bị sa lầy. Ta yếu hơn địch thì phải đánh lâu dài để thay đổi tương quan, so sánh lực lượng, như Lê Lợi đánh quân Minh, Hồ Chí Minh đánh quân Pháp, quân Mỹ.

Nhưng cũng có trường hợp ta không yếu hơn địch mấy thì cũng có thể thắng địch trong thời gian ngắn, tương đối ngắn như Ngô Quyền đánh Hoằng Thao chỉ có mấy ngày cả giai đoạn tạo thế; Trần Hưng Đạo thắng địch trong mấy tháng. Trái lại khi địch mạnh hơn ta thì phải đánh lâu dài mới thắng, như Hồng quân Liên Xô thắng phát xít Hít-le sau 4 năm.


16. Địch quân đông thì ta phải phân tán chia cắt địch. Địch mạnh hơn ta nhiều thì phải đánh tiêu hao trước.


17. Địch muốn đánh phân tuyến thì ta phải đánh cài xen kẽ. Đánh cài xen kẽ là phương pháp có hiệu lực lớn để đánh bại quân xâm lược lớn mạnh.


18. Địch kiêu căng thì dễ dử ra ngoài căn cứ để tiêu diệt.


19. Địch có những phương tiện cơ động tốt như cơ động bằng máy bay lên thẳng thì ta phải tăng sức mạnh tại chỗ.

Sức mạnh tại chỗ của du kích và lực lượng vũ trang địa phương là cơ sở để ta kịp thời đối phó với sức cơ động cao và linh hoạt của máy bay lên thẳng đổ quân vào hậu phương ta. Máy bay lên thẳng giải quyết được nhiều mâu thuẫn nhất trong chiến đấu. Nó giải quyết mâu thuẫn giữa cơ động và địa hình, mâu thuẫn giữa cơ động và hỏa lực. Nếu máy bay lên thẳng chở được xe tăng nhẹ, xe bọc thép thì sức đột kích càng mạnh.


20. Chiến tranh hiện đại, không quân và tên lửa có sức mạnh hỏa lực lớn, sức cơ động cao, tầm bắn không hạn chế, hành động rất bất ngờ. Địch có thể tiến công hỏa lực đường không trước vào cả hậu phương ta, làm mềm chiến trường rồi mới tiến công bằng lục quân sau.
(Liên minh Mỹ và Tây Âu đánh I-rắc)


21. Phải nắm được bản chất, quy luật của chiến tranh, sự vận động của chiến tranh và xu hướng phát triển của nó.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 06:34:31 pm
Chương ba
MƯU KẾ


22. Mưu kế là điều đầu tiên của quyết tâm.

Mưu kế là một nội dung quan trọng của quyết tâm.

Quyết tâm là để thực hiện nhiệm vụ, chủ trương tác chiến. Muốn có quyết tâm, đầu tiên phải có mưu kế.

Có mưu kế hay mới định ra được quyết tâm hay.


23. Mưu cao nhất là mưu lừa địch.

Kế hay nhất là kế điều địch.


24. Lừa địch là tạo ra bất ngờ.

Điều địch là giành được chủ động.


25. Bất ngờ và chủ động là mạch sống của tác chiến.

Trong tác chiến vấn đề bất ngờ và chủ động rất quan trọng. Địch bị bất ngờ, không đề phòng; đối phương mạnh cho là đối phương yếu, đối phương đánh hướng này cho là đối phương đánh hướng khác, v.v... Như thế dù có đông quân cũng dễ bị thất bại. Trong tác chiến điều đầu tiên là làm cho địch bị bất ngờ. Muốn tạo được bất ngờ phải biết nghi binh. Trình độ cao nhất của nghi binh là đánh giả như đánh thật.

Điều thứ hai trong tác chiến là làm cho địch bị động, theo điều khiển của ta. Mùa Xuân 1975 ta đã lừa được địch, chúng tưởng là ta đánh Plây Cu và tập trung về Plây Cu. Sau sự bất ngờ bị động này của địch ta tập trung đánh Buôn Ma Thuột một cách nhanh gọn. Trong tác chiến hai bên đối địch đều muốn điều khiển nhau. Ai cũng muốn giành chủ động, tránh bị động. Bị động dễ đi vào chỗ chết.

Do đó có thể ví bất ngờ và chủ động là mạch sống của tác chiến.

Trận Lớt (371 trước Công nguyên) quân của Ê-pa-mi-nông-đa đã chuyển đội hình hàng ngang của mình thành đội hình nghiêng về phía sau bên phải, làm cho đội hình của quân Te-bò phải dàn rộng theo, không tập trung được. Sau đó Ê-pa-mi-nông-đa tập trung lực lượng ở cánh trái để tiêu diệt. Ê-pa-mi-nông-đa có 11.000 quân tiêu diệt quân Te-bờ 70.000. Ê-pa-mi-nông-đa đã lừa và điều động được quân Te-bò để tiêu diệt.

Trận Can (216 trước Công nguyên), Ha-ni-ban đã lùi trung quân đội hình về phía sau, dử cho quân La Mã vào rồi bao vây tiêu diệt. Ha-ni-ban đã lừa quân La Mã và điều quân La Mã vào sâu trong đội hình của mình để 5 vạn quân Bắc Phi tiêu diệt 8 vạn quân La Mã.

Trận Bối Thủy (204 trước Công nguyên), Hàn Tín đã lừa và điều động quân Triệu của Trần Dư ra đánh cánh quân ở bờ sông mà tập trung đội chủ lực để tiêu diệt. Lừa được địch và điều được địch như thế, 5 vạn quân của Hàn Tín đã tiêu diệt 10 vạn quân của Trần Dư.

Hai trận Bạch Đằng ở Việt Nam, Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đã lừa và điều địch vào bãi cọc trên sông theo thủy triều lên xuống mà tiêu diệt.


26. Lừa địch là phải nghi binh. Cái thần diệu của nghi binh là thật giả lẫn lộn.

Xuân 1975, quân ta đánh giả (đánh thật mà giả) ở Plây Cu để đánh thật (thật mà thực) ở Buôn Ma Thuột. Năm 1077, ở trên tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt, từ cánh phải cho một bộ phận lực lượng vượt sông đánh vào cánh trái của Quách Quỳ. Quách Quỳ phải điều một bộ phận lực lượng đến đối phó, làm cho trận địa chính sơ hở, bị yếu đi. Nhân cơ hội đó, Lý Thường Kiệt liền cho đại quân vượt sông đánh vào trận địa chính của Quách Quỳ và giành được thắng lợi. Đó là nghệ thuật tác chiến vừa giả vừa thật.


27. Mưu kế là định diệt địch ở đâu? Chia cắt địch ở đâu? Vây hãm địch ở đâu? Nghi binh, lừa địch như thế nào và ở đâu? Điều động địch ra chỗ nào? Phân tán chia cắt địch như thế nào? Ai đánh trước, ai đánh sau, v.v...


28. Mưu hay kế hiểm là một nghệ thuật cao trong nghệ thuật quân sự.


29. Mưu kế hay có thê lấy nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh.


30. Chiến tranh là một cuộc đấu mưu và đấu trí rất gay gắt.


31. Đấu mưu đấu trí là giải quyết mâu thuẫn trong chiến tranh.

Chiến tranh là cuộc đấu tranh vô cùng gay gắt, quyết liệt của thắng bại, sống chết giữa hai chủ thể sống cùng muốn diệt một bên để giành thắng lợi. Hai bên đều thực hành các âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt. Do đó trong quá trình chiến tranh nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều là một mâu thuẫn vô cùng gay gắt. Muốn giải quyết mâu thuẫn đó phải có nhân sinh quan vững vàng, đúng đắn và có quan điểm biện chứng.

Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh giải quyết mâu thuẫn bằng phát huy sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của nhân dân, của sự đoàn kết toàn dân, khơi dậy tinh thần quật cường bất khuất của dân tộc và dùng tài thao lược, dùng mưu kế thế trận và thời cơ để làm cho địch mạnh hóa yếu, địch đông hoá ít và ta ít hoá nhiều, yếu hoá mạnh để cuối cùng thắng địch.

Đó là cách giải quyết mâu thuẫn rất tài tình của dân tộc ta, của truyền thống Việt Nam và của phép duy vật biện chứng Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 06:42:05 pm
Chương bốn
THẾ TRẬN


32. Có mưu kế đánh địch rồi thì phải bày thế trận. Thế trận là một yếu tố cấu thành nên nghệ thuật quân sự, là một nét độc đáo làm nên trường phái của học thuyết quân sự Việt Nam.


33. Có thế trận tốt thì ít có thể địch nhiều, nhỏ có thể đánh lớn.


34. Thế có thể làm tăng thêm lực hoặc làm giảm lực.


35. Thế trận gồm thế nổi (thế bộc lộ), thế chìm (thế ẩn giấu). Thế chìm là vô cùng quan trọng, làm cho địch bị bất ngờ và khó đối phó.

Năm 1972, bộ đội Tây Nguyên để Sư đoàn 320 và một số đơn vị khác đánh ngoại vi thị xã Kon Tum rồi bí mật ngả cờ im trống đưa Sư đoàn 2 Quân khu 5 và trung đoàn 66, tiểu đoàn đặc công cùng xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ bí mật triển khai ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Địch tập trung đối phó ở ngoại vi thị xã Kon Tum, không chú ý tới Đắc Tô - Tân Cảnh. Tập đoàn chiến dịch của ta bất ngờ đánh Đắc Tô - Tân Cảnh; địch không có phản kích, ứng cứu. Không đầy một ngày ta giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh.

Xuân 1975, Sư đoàn 968 của ta đánh tuyến phòng thủ vòng ngoài thị xã Plây Cu. Địch tập trung đối phó ở Plây Cu. Tập đoàn chiến dịch của ta bí mật im lặng triển khai ở Buôn Ma Thuột làm thành thế chìm rồi tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột. Địch hoàn toàn bị bất ngờ. Địch đã bị ta lừa bằng nghi binh. Nghi binh có đánh thật mà thành ra đánh giả. Thật giả là kỳ diệu, lẫn lộn.

Đó là sự kết hợp giữa thế nổi và thế chìm thật hay, đẹp.


36. Thế trận sâu hiểm thì tác dụng của lực càng mạnh.


37. Thế trận càng phức tạp thì tình huống diễn ra càng giản đơn.

Xuân 1975, thế trận tiến công địch ở chiến trường Tây Nguyên của ta rất là phức tạp. Ta tiến công địch ở cả trước mặt địch và sau lưng địch. Ta đánh Plây Cu, cắt đường 19, đường 14, đường 21. Bộ đội địa phương và du kích đánh các quận lỵ, các ấp. Chủ lực thì bí mật dàn ra xung quanh Buôn Ma Thuật. Thế trận của ta tạo ra rất phức tạp.

Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột địch chỉ còn một cách là hạ cánh trực thăng để sư đoàn 23 xuống đông Buôn Ma Thuột, trên đường 21 để cứu Buôn Ma Thuột. Địch không thể cứu Buôn Ma Thuột bằng đường bộ trên đường 14 được, vì Sư đoàn 320 của ta đã đánh chiếm, cắt đường.

Đi cứu Buôn Ma Thuột là chữa cháy, nên phải rất nhanh chóng. Chỉ còn một kế có thể khả thi là hạ cánh trực thăng xuống đông Buôn Ma Thuật trên đường 21.

Như thế là tình huống địch đi cứu Buôn Ma Thuột diễn ra rất giản đơn. Chỉ còn một tình huống diễn ra. Để đối phó với tình huống này ta đã bố trí sẵn Sư đoàn 10 và trung đoàn 25 để đánh địch. Rõ ràng trên thực tế ta có thể tổ chức bày đặt thế trận, điều động địch hành động trúng kế và rơi vào thế trận của ta để ta tiêu diệt nhanh gọn.


38. Thế trận cài xen kẽ là một thế trận hiểm hóc của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Chiến cục mùa Xuân 1975, thế trận của ta không phải đánh từ phía bắc vào, từ Quảng Trị vào Huế, Đà Nẵng rồi cuối cùng đến Sài Gòn. Mà lực lượng ta được bố trí ở phía tây Huế, tây Đà Nẵng qua Tây Nguyên và cả ở tây - bắc Sài Gòn. Thế trận của chiến tranh nhân dân rất độc đáo, kỳ lạ.

Trong khi ta đánh Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng thì ở Sài Gòn ta cũng có quân, thậm chí cả một quân đoàn đứng sẵn ở phía bắc, tây - bắc Sài Gòn chỉ cách thành phố khoảng 50 - 70km. Do đó mà đội tổng dự bị của địch không dám đi cứu Tây Nguyên và Đà Nẵng. Sau khi ta giải phóng Đà Nẵng, Quân đoàn 4 của ta lập tức đánh ngay Xuân Lộc, làm cho Sài Gòn tuy còn xa Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh cũng phải rung động, cũng phải rối loạn, tạo điều kiện cho đại quân của ta vào giải phóng Sài Gòn nhanh chóng, gọn gàng.


39. Chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt.

40. Thế trận sinh ra hình trận

Trong lịch sử quân sự truyền thống:

Hình trận dài, mỏng thì dễ đánh.

Hình trận vuông thì khó đánh

Hình trận vuông rỗng thì dễ đánh hơn hình trận vuông đặc.

Chiến dịch Biên Giới 1950, căn cứ vào hình thế của địch đóng quân theo dọc đường 4 từ Thất Khê qua Đông Khê đến Cao Bằng, thành một hệ thống cứ điểm, căn cứ theo trục đường.

Chủ trương của ta là đánh điểm diệt viện trên tuyến đường đó. Thế trận của ta bố trí dọc hai bên đường. Thế trận của ta đã tạo ra một hình trận dài và mỏng.

Lơ Pa-giơ, Sác-tông đi trên đường đó thành một sợi chỉ dài, đội hình rất mỏng, không có chiều sâu; đánh một cái là tan.

Chiến cục mùa Xuân 1975, thế trận của ta đánh địch không phải từ phía bắc Quảng Trị vào Huế, Đà Nẵng mà là từ phía tây Huế, Đà Nẵng. Tuyến phòng thủ cơ bản của địch nằm trên dọc đường số 1 từ Quảng Trị qua Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn... Nếu ta đánh từ phía bắc vào, từ Quảng Trị vào thì phải đột phá Quảng Trị, chiếm được Quảng Trị rồi lại phải tiếp tục đột phá Huế; chiếm được Huê rồi lại phải đột phá tiếp Đà Nẵng. Nếu đột phá từ phía bắc vào thì phải đột phá liên tục dài ngày, và phải đột phá liên tục theo chiều sâu rất lớn. Đột phá như thế thì các tuyến sau ở trong tung thâm của địch có thời gian củng cố và có điều kiện để cơ động phản kích.

Ta đột phá từ phía tây vào Huế, bỏ qua Quảng Trị, từ phía tây vào Đà Nẵng thì phòng ngự của địch rất mỏng, không có chiều sâu chiến dịch, mà chỉ có chiều sâu chiến thuật. Ta chỉ cần một lần đột phá chiến dịch là đã đạt tới chiều sâu chiến lược, là đánh được vào sân bay Đà Nẵng, thị xã Đà Nẵng, một căn cứ chiến lược của địch ở chiến trường phía bắc miền Nam.

Chiến tranh nhân dân của ta trải qua bao nhiêu năm mới tạo ra được một thế trận hiểm hóc như thế. Thế trận không phân tuyến bắc, nam với địch.

Dựa theo hình thế bố trí của địch do chiến tranh nhân dân của ta tạo ra, buộc địch phải bố trí lực lượng có lợi cho ta. Thế trận của ta tạo ra cho địch là một hình trận dài, mỏng, không có chiều sâu. Như thế ta chỉ cần đột phá một cách dễ dàng vài điểm trên hình trận đó của địch là địch tan vỡ, bị chia cắt thành nhiều mảng.

Sau khi giải phóng Tây Nguyên, ta phát triển đánh xuống Nha Trang, Cam Ranh nhằm chia cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi, phá vỡ thế liên hoàn của địch; các chiến trường của địch bị cô lập, không ứng cứu được nhau.

Trong tác chiến tạo được hình trận dài, mỏng thì dễ đánh.

Trong kháng chiến chống Pháp ta đánh vào chiến trường Tây Bắc tức là đánh vào hình trận vuông, không giống như đánh vào một tuyến đường dài như trên đường số 4 Thất Khê - Cao Bằng như chiến dịch Biên Giới.

Ta đánh địch ở chiến trường Tây Bắc không phải đánh vào tuyến mà đánh vào diện, vào các cứ điểm của địch đóng trên địa bàn Tây Bắc. Nhưng hình trận vuông này của địch là hình trận vuông rỗng, vì địch không bố trí dày đặc các cứ điểm trên địa bàn. Do đó ta luồn quân, ém quân, chọc sâu vào đội hình của địch cũng dễ. Ta tiến vào bao vây tiến công các cứ điểm của địch cũng dễ, còn địch cơ động ứng cứu lẫn nhau lại khó. Do đó hình trận vuông ở đây là hình trận vuông rỗng, có khó đánh hơn hình trận dài của địch, nhưng cũng còn dễ hơn hình trận vuông đặc của địch. Hình trận vuông đặc la trên một diện địch bố trí mật độ cứ điểm nhiều, dày đặc có chiều sâu dễ cơ động, dễ chi viện ứng cứu lẫn nhau.

Chiến dịch Quang Trung - Hà Nam Ninh mùa hè 1951, quân ta đánh vào địa bàn đồng bằng, địch bố trí trên một diện đày đặc các cứ điểm. Ta lọt vào vòng trong của địch khó; địch lại dễ cơ động ứng cứu lẫn nhau, cả đường bộ, đường sống và phát huy được mạnh các quân chủng. Do đó mà hiệu quả của chiến dịch thấp.

Hình trận vuông đặc là khó đánh nhất. Nhưng nếu chiến tranh nhân dân phát triển cao, chiến tranh du kích phát triển mạnh và phối hợp tuyến trong, tuyến ngoài chặt chẽ thì cũng không khó lắm.

Tư duy về thế trận của Nguyễn Trãi là "Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn. Không thời mất thế thì to hóa ra nhỏ, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy". Tư duy về thế trận của Hồ Chí Minh là:

   "Lạc nước hai xe đành bỏ phí
   Gặp thời một tốt cũng thành công"

Và:
   "Một quả cân
   Có thể nhấc được một tạ
   Như thế là thế thắng lực".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 06:57:17 pm
Chương năm
TÌNH HUỐNG


41. Tình huống là vấn đề sôi động nhất của chỉ huy tác chiến. Thực hành tác chiến cũng là vấn đề chỉ huy tình huống.


42. Chỉ huy thực hành tác chiến là vấn đề xây dựng tình huống, dẫn dắt tình huống, tạo tình huống, xử trí tình huống, đối chọi tình huống.


43. Trong đối chọi tình huống thì vấn đề hay nhất là gạn lọc tình huống.

Trong thực hành tác chiến, đấu tranh tình huống có rất nhiều tình huống phải đối phó; rất nhiều tình huống phức tạp, rối rắm. Tình huống như một mớ bòng bong làm thế nào loại được bớt các tình huống phức tạp. Gạn lọc tình huống là hạn chế hoặc loại trừ các tình huống nguy hại đối với ta, chỉ còn để diễn ra các tình huống dễ đối phó. Tình huống nguy hại đối với ta là tình huống đội dự bị các cấp của địch đến ứng cứu, giải tỏa, phản kích; hoặc địch co cụm lớn và tổ chức thành nhiều tuyến phòng ngự, ngăn chặn ta tiến công.

Trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954, để loại bỏ tình huống địch tập trung, các lực lượng cơ động ta đã phân tán địch trên toàn chiến trường Đông Dương. Sau đó ta tiến công Điện Biên Phủ. Lực lượng cơ động của địch đã bị phân tán ra các chiến trường, không tập trung lớn để đối phó ở Điện Biên Phủ được. Tướng Na-va đã thú nhận là lực lượng cơ động của quân Pháp đã phải phân tán từ 80 đến hơn 80% ra các chiến trường. Như thế là ta đã hạn chế được tình huống địch tập trung các lực lượng cơ động để đối phó với ta. Đó là vấn đề gạn lọc tình huống theo mưu kế của ta.

Chiến cục mùa Xuân 1975, thế trận chiến lược của ta đã bố trí được 3 tập đoàn chiến lược trên cả 3 chiến trường, ở cả trước mặt địch và sau lưng địch. Ta đã bố trí một quân đoàn và một số sư đoàn, trung đoàn ở mặt trận Huế - Đà Nẵng; một cụm sư đoàn và trung đoàn ở mặt trận Tây Nguyên, và đặc biệt đã bố trí một quân đoàn và một số sư đoàn, trung đoàn ở xung quanh thủ đô Sài Gòn của địch.

Thế trận chiến lược sâu, hiểm như thế đã hạn chế được các đội dự bị của địch đi ứng cứu, phản kích ra các chiến trường bị tiến công trước. Vì các đội dự bị của địch đã bị Quân đoàn 4 của ta kìm quân tại chiến trường Sài Gòn. Như thế là ta đã loại bỏ được tình huống khó khăn nhất, nguy hiểm cho ta là hạn chế hoặc loại trừ được đội dự bị của địch đi ứng cứu cho chiến trường Tây Nguyên và chiến trường Huế - Đà Nẵng.

Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, ta đánh chiếm đường 19, đường 14 và đường 21. Như thế là ta đã loại trừ được địch đi tăng viện Plây Cu bằng đường bộ từ Quy Nhơn lên. Khi ta đánh Buôn Ma Thuột thì ta cũng loại trừ được tình huống địch đi đường bộ theo đường 14 từ Plây Cu xuống ứng cứu cho Buôn Ma Thuột; chỉ còn một tình huống là địch từ Plây Cu hạ cánh trực thăng xuống phía đông Buôn Ma Thuột, trên đường 21 để ứng cứu cho Buôn Ma Thuột.

Tình hình ở đây là có hai tình huống địch từ Plây Cu đi ứng cứu cho Buôn Ma Thuột: một là, đi đường bộ theo đường 14 và hai là, đi máy bay trực thăng. Địch đi đường bộ thì lực lượng đông hơn và mạnh hơn. Ta gạn lọc tình huống này với ý định là loại trừ tình huống nguy hại ấy. Loại trừ tình huống này bằng cách dùng Sư đoàn 320 đánh chiếm đường 14. Sư đoàn 23 thiếu và các liên đoàn của địch không thể đi đường 14 và phá vỡ được thế ngăn chặn của Sư đoàn 320 để xuống ứng cứu Buôn Ma Thuật. Vì từ Plây Cu đi Buôn Ma Thuột dài 80km phải qua ba cái đèo hiểm trở, địch chỉ còn một cách là hạ cánh trực thăng.

Theo nguyên tắc và quy luật tác chiến, địch còn lực lượng dự bị thì phải đi ứng cứu.

Trong các tình huống đi ứng cứu Buôn Ma Thuột của địch, ta phân tích gạn lọc các tình huống xem còn tình huống nào diễn ra. Trong gạn lọc tình huống, ta hạn chế và loại trừ các tình huống nguy hại nhất, chỉ còn để diễn ra tình huống ít nguy hại hơn, ta dễ đối phó hơn - trong hai tình huống đi ứng cứu Buôn Ma Thuột là đường bộ và đường không. Ta đã loại trừ tình huống nguy hại nhất là đường bộ và chỉ còn đường không. Thực tế thì ta cũng không có khả năng hạn chế và loại trừ địch cơ động bằng đường không. Do đó mà tương kê tựu kế. Để đối phó với phản kích, ứng cứu Buôn Ma Thuột bằng đường không của địch ta đã sử dụng Sư đoàn 10 vừa đánh Đức Lập xong chuyển về làm đội dự bị, bố trí ở phía đông bắc Buôn Ma Thuột, sẵn sàng đánh địch hạ cánh trực thăng xuống đông Buôn Ma Thuột; và bố trí trung đoàn bộ binh độc lập số 25 đánh chiếm đường 21 ở phía đông Buôn Ma Thuột.

Đúng như dự kiến, phán đoán của ta theo quy luật tác chiến, sư đoàn 23 thiếu của địch hạ cánh trực thăng xuống đông Buôn Ma Thuột, trên đường 21. Địch rơi đúng vào bẫy của ta, đi đúng vào kế và sa vào thế của ta. Buôn Ma Thuột thất thủ, sư đoàn 23 bị tiêu diệt. Tình huống này đã tạo ra sự đột biến về chiến dịch. Đoàn quân địch Plây Cu rút chạy về Phú Yên lại bị tiêu diệt. Tình huống này lại tạo ra đột biến về chiến lược, tạo điều kiện cho chiến dịch Huế - Đà Nẵng thắng lợi giòn giã.

Trận Huế - Đà Nẵng thắng lợi giòn giã, sau Tây Nguyên lại tạo ra đột biến về chiến tranh.

Còn về tình huống chiến lược địch dùng đội tổng dự bị đi ứng cứu cho Tây Nguyên thì gạn lọc như thế nào?

Hình thế chiến lược của ta, địch đã tự nó hạn chế đội tổng dự bị của địch ở Sài Gòn khó cơ động đi ứng cứu cho các chiến trường khác được. Chỉ còn tình huống lữ đoàn dù ở Đà Nẵng có thể đi ứng cứu cho Tây Nguyên, khi Đà Nẵng chưa xảy ra chiến sự.

Thực hiện việc gạn lọc tình huống này, ta cho Sư đoàn 304 bám riết lữ dù 3 của địch ở địa bàn Đại Lộc, tây Đà Nẵng. Sư đoàn 304 của ta phải kìm giữ lữ dù 3 của địch ở đó, không cho nó cơ động đi ứng cứu cho Buôn Ma Thuột, cho Tây Nguyên.

Hành động gạn lọc tình huống này làm cho lữ dù 3 của địch không cơ động lên Tây Nguyên trước và sau Buôn Ma Thuột được. Chỉ đến khi Buôn Ma Thuột thất thủ, sư đoàn 23 bị tiêu diệt, và đoàn quân Plây Cu rút chạy địch mới phải nín thở cho lữ đoàn dù 3 từ Đà Nẵng về chiếm đèo Phượng Hoàng trên đường 21 để ngăn chặn quân ta tiến về chiếm Nha Trang.

Còn ở Tây Nguyên để hạn chế quân dù khi xuống Buôn Ma Thuật không thể hành động tự do, ta cho một bộ phận đặc công và bộ binh đánh chiếm một phần sân bay Hòa Bình ở Buôn Ma Thuật; và cho pháo binh sẵn sàng pháo kích sân bay Hòa Bình khi quân dù địch đổ quân xuống đó.

Nghệ thuật gạn lọc tình huống là hạn chế, thậm chí loại trừ không cho tình huống nguy hại diễn ra. Trận then chốt Buôn Ma Thuột, ta đã thực hiện được, nhờ đó mà trận đánh Buôn Ma Thuột đã thành công tốt đẹp.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 06:59:52 pm
44. Gạn lọc tình huống là nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn trong đối chọi tình huống.

Năm 1427, Lê Lợi gặp ba tình huống chiến lược, ba mâu thuẫn phải giải quyết: Vương Thông ở Đông Quan, Liễu Thăng ở Chi Lăng và Mộc Thạnh ở Lê Hoa. Liễu Thăng và Vương Thông là hai mâu thuẫn trọng yếu đối với Lê Lợi. Trình độ đánh thành kém và Vương Thông đã bị vây hãm thì Liễu Thăng lúc đó là nguy hiểm nhất; Liễu Thăng là đoàn quân mạnh nhất, còn sung sức, vì nó là đoàn quân đi cứu viện. Nó là cứu tinh của Vương Thông. Cho nên đạo quân Liễu Thăng lúc đó đối với Lê Lợi là mâu thuẫn chủ yếu. Lê Lợi tập trung vào giải quyết Liễu Thăng. Đánh phục kích quân mới ở xa đến lạ lẫm, mệt nhọc là sở trường và hợp với quan điểm, trình độ tác chiến của quân đội Lê Lợi. Mâu thuẫn đó được giải quyết thì Vương Thông đầu hàng. Đó cũng là hợp với nguyên tắc tác chiến vây điểm diệt viện. Mâu thuẫn chủ yếu đã chuyển hóa từ Vương Thông sang Liễu Thăng.

Mùa Xuân 1975, ta đánh Buôn Ma Thuột. Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, mâu thuẫn chủ yếu trong đấu tranh tình huống là sư đoàn 23 quân ngụy Sài Gòn đến phản kích cứu viện. Ta giải quyết được sư đoàn 23 thì mâu thuẫn trong đấu tranh tình huống trong giai đoạn đầu của chiến dịch Tây Nguyên được giải quyết.

Sau Buôn Ma Thuột và sư đoàn 23, thì tình huống mới lại phát sinh, đánh Plây Cu là chủ yếu hay phát triển xuống Nha Trang - Cam Ranh là chủ yếu. Đường 21 đã mở thì phát triển xuống Nha Trang, Cam Ranh là chủ yếu hơn; còn Plây Cu thì vây lại. Quân ta chiếm được Nha Trang, Cam Ranh thì giá trị chiến lược lớn hơn Plây Cu. Dù Plây Cu có còn đấy và còn quân đông cũng không còn tác dụng về chiến lược. Tình thế đó sẽ dẫn tới phải đầu hàng. Mâu thuẫn chiến lược chủ yếu lúc đó là Nha Trang.

Giải quyết thành công các mâu thuẫn trên tạo điều kiện thuận lợi để diễn biến chiến tranh, chiến cuộc phát triển theo dự kiến và mong muốn của ta. Đó cũng là nghệ thuật giành thắng lợi trong đấu tranh.


45. Tình huống sinh ra thời cơ

Thời cơ là mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm trong đấu tranh tình huống cần được chuyển hoá. Hai bên đấu tranh diễn ra tình huống một bên sắp thắng, một bên sắp thua; thắng nhỏ có thể phát triển thành thắng lớn, thua nhỏ có thể thành thua to hoặc thắng có thể biến thành thua, và thua có thể biến thành không thua hoặc thành thắng, v.v...

Đó là sự vận động mâu thuẫn của đấu tranh, là sự vận động của tình huống trong đấu tranh. Đấu tranh tình huống phát triển đến cao trào, đến giai đoạn sự vật phát triển tới độ chín muồi để có thể chuyển hóa sang một trạng thái mới. Đó là quy luật của sự vận động của sự vật trong đấu tranh. Một bên sắp thua, nhưng có đội dự bị đến cứu thì có thể không thua. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 ta đang thắng, địch đang thua, nhưng đội dự bị của địch đến, ta không đánh được, nên địch không thua to. Tình hình địch sắp thua to ta bỏ mất thời cơ đó, ta không đẩy được sự chuyển hóa tình huống đó phát triển, không chớp được thời cơ đó, địch đã đưa đội dự bị đến, làm cho lực lượng hai bên chuyển hóa sang một trạng thái khác. Địch yếu trở thành mạnh, ta đứng yên, không có chuyển hóa gì nên bỏ mất thời cơ. Địch đứng được và phát triển được, còn ta thì không phát triển được.

Cũng năm 1972 khi ta giải phóng được Đắc Tô - Tân Cảnh, ở thị xã Kon Tum địch rất hoang mang, đó là thời cơ ta đánh vào Kon Tum. Nhưng ta lại đánh chậm, không đánh ngay nên địch củng cố được. Ta bỏ lỡ mất thời cơ và không giành được thắng lợi lớn.

Mùa Xuân 1975, khi địch tập trung vào đối phó ở Plây Cu, để sơ hở Buôn Ma Thuột, sự chuyển hóa lực lượng hai bên là khâu Plây Cu chưa có sự chuyển hóa gì đến độ chín muồi để chuyển sang trạng thái khác, nhưng Buôn Ma Thuột đã có sự chín muồi để chuyển hóa sang một trạng thái khác, vì một bên rất yếu, một bên rất mạnh và bên rất yếu lại bị cô lập. Đó là thời điểm để hai bên đấu tranh chuyển hóa trạng thái. Buôn Ma Thuột không còn là như cũ, mà đã chuyển sang tay đối phương. Ta hành động đúng thời điểm đó là đã chớp được thời cơ.

Đến khi sư đoàn 23 đổ quân xuống ứng cứu Buôn Ma Thuột thì đấu tranh lại có hai hướng chuyển hóa. Một là cứu được Buôn Ma Thuột, biến bại thành thắng. Đó là một thời điểm để chuyển hóa, cũng như ở Mỹ Chánh trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972, và đây cũng là thời điểm để chuyển hóa sang một hướng khác, một trạng thái khác. Từ thắng lợi Buôn Ma Thuột, nếu tiêu diệt sư đoàn 23 đến ứng cứu Buôn Ma Thuột thì thắng lợi của trận Buôn Ma Thuột càng lớn, có thể làm chuyển hóa mạnh cục diện chiến dịch, tác động đến chuyển hóa cục diện chiến lược, đội dự bị đến ứng cứu sinh ra thời điểm chuyển hóa của hai trạng thái. Hoặc là biến bại thành thắng; hoặc là biến thắng nhở thành thắng lớn; biến thắng lớn càng lớn hơn. Tình huống địch hoang mang cực độ sau thất bại, nếu hành động đúng trong tình huống này thì có thể biến thắng nhở thành thắng lớn. Hoặc sau khi hoang mang hồi phục lại được thì hạn chế được thất bại nhỏ không thành thất bại lớn. Sự chuyển hóa giữa hai trạng thái đó là do nghệ thuật nắm bắt thời cơ của hai bên đối địch. Trận Buôn Ma Thuột và trận tiêu diệt sư đoàn 23 là một đòn then chốt quyết định của chiến dịch tạo ra đột biến về chiến dịch, tạo ra phản ứng dây chuyền, đẩy đoàn quân Plây Cu rút chạy. Đoàn quân Plây Cu rút chạy bị tiêu diệt lại tạo ra một đột biến về chiến lược, làm cho cục diện chiến lược chuyển biến rất nhanh chóng, xoay chuyển một cách đột ngột, đẩy địch rối loạn về mặt chiến lược, tạo ra bước ngoặt về chiến lược.

Trong lịch sử ta cũng thấy khi đoàn thuyền của Hoằng Thao và đoàn thuyền của Ô Mã Nhi gặp phải cọc Bạch Đằng là thời điểm mà mâu thuẫn trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch đã phát triển đến đỉnh điểm, phát triển đến độ, đến giai đoạn cần được chuyển hóa, phát triển đến độ chín muồi để chuyển hóa. Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đã hành động đúng vào thời điểm đó. Các ông đã hành động đúng thời cơ, đã nắm bắt được thời cơ, chớp được thời cơ để hành động, nên đã giành được thắng lợi rất vang dội.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 07:03:16 pm
Chương sáu
TỔ CHỨC QUÂN


46. Tổ chức quân của chiến tranh nhân dân Việt Nam có ba thứ quân. Đó là quy luật và truyền thống của chiến tranh nhân dân Việt Nam để đánh thắng quân xâm lược lớn mạnh. Ba thứ quân thể hiện chiến tranh toàn dân; mà có chiến tranh toàn dân mới đánh bại được quân xâm lược.


47. Tổ chức quân thời bình và thời chiến thế nào thì hợp lý?

Thời bình tổ chức ít đơn vị lớn.

Thời chiến tổ chức các đơn vị lớn nhiều hơn.

Giai đoạn tổng tiến công tổ chức các đơn vị lớn càng nhiều hơn.

Thời bình nơi nào có nguy cơ bạo loạn lật đổ thi tổ chức các đơn vị địa phương phải mạnh hơn.

Giai đoạn tổng tiến công là giai đoạn đánh lớn, đánh tiêu diệt lớn để giải phóng đất đai; đánh vào các đô thị, các căn củ quân sự lớn, các trận địa kiên cố vững chắc của địch hoặc các đội quân lớn của địch cơ động hoặc phòng ngự dã chiến trên chiến truòng, các đội dự bị lớn của địch đi tiếp viện, ứng cứu, phản kích. Về không gian thì tác chiến trên một chiến trường rộng lớn, trên nhiều chiến trường hoặc trên toàn chiến tuyến. Muốn tiêu diệt lớn nhiều đoàn quân địch, trên nhiều chiến trường để giành thắng lợi của tổng tiến công thì phải tổ chức nhiều đơn vị tác chiến lớn. Phải tổ chức nhiều cụm sư đoàn, nhiều đoàn quân, tập đoàn quân có đơn vị tác chiến ở tuyến một và có các đội dự bị, v.v... Có thế mới tiến công liên tục trên nhiều chiến trường và cơ động một cách chủ động, và địch không thể hồi phục để đối phó có hiệu quả được. Được như thế thì thắng lợi chiến lược của ta ngày càng được mở rộng, chủ động đối phó với các tình huống bất ngờ và địch thất bại về chiến lược càng nặng nề, dẫn đến sự thất bại hoàn toàn của địch.

Chiến cục mùa Xuân 1975 ta có 2 quân đoàn và 1 cụm sư đoàn đứng chân trên toàn chiến tuyến và 1 quân đoàn làm đội tổng dự bị. Lần này đội tổng dự bị của ta hay hơn của quân đội Sài Gòn. Ta có một quân đoàn. Địch chỉ có 2 sư đoàn tổng dự bị, lại bị phân tán, không được sử dụng tập trung. Sư đoàn dù ra chiến đấu ở tuyến một coi như làm thê đội một chiến dịch.

Trong cuộc chống Nguyên - Mông lần thứ 2 năm 1285, nhà Trần tổ chức 2 đạo quân. Đạo quân bắc sông Hồng do Trần Hưng Đạo chỉ huy đánh chủ tướng Thoát Hoan và đạo quân nam sông Hồng do 2 vua Trần chỉ huy, đánh phó tướng Toa Đô.

Năm 1427, Lê Lợi tổ chức 2 đạo quân. Một đạo vây hãm Vương Thông ở Đông Quan; một đạo quân đánh Liễu Thăng ở Chi Lăng - Xương Giang một đạo quân nhỏ chặn Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa - ngoài ra còn 1 đạo quân nhỏ làm đội tổng dự bị. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, năm 1941, quân phát xít Hít-le khi đánh Liên Xô, tổ chức ra 3 cụm tập đoàn quân, đánh trên 3 hướng chiến lược trọng yếu.

Năm 1945, sau khi giải phóng tổ quốc đánh đuổi quân đội phát xít ra khỏi đất nước, Liên Xô thực hành tổng tiến công sang nước Đức phát xít và các nước Đông Âu. Hồng quân Liên Xô tổ chức ra 6 phương diện quân đánh sang Béc-lin, diệt trừ mầm mống của lò lửa chiến tranh xâm lược.

Mỗi cụm tập đoàn quân lớn cũng như mỗi phương diện quân lớn có số đông tới khoảng triệu người, hàng ngàn máy bay, hàng ngàn xe tăng, xe bọc thép và hàng vạn khẩu pháo.

Năm 1941, khi tổng tiến công sang Liên Xô, phát xít Hít-le tổ chức ra 3 cụm tập đoàn quân. Cụm tập đoàn quân trung tâm đánh về hướng Mát-xcơ-va có 50 sư đoàn, trong đó có 9 sư đoàn xe tăng, 6 sư đoàn và 2 lữ đoàn cơ giới (có tài liệu nói sau này tổ chức thành tập đoàn quân xe tăng), 2 tập đoàn quân binh chủng hợp thành số 2 và số 4; và được một tập đoàn quân không quân số 2 có 1.600 máy bay yểm trợ.

Về phía Hồng quân Liên Xô năm 1945, khi đánh sang Béc-lin và các nước Đông Âu, Hồng quân cũng tổ chức ra 6 phương diện quân. Phương diện quân Bê-lô-rút-si-a số 1 do Nguyên soái Giu-cốp chỉ huy đánh vào Béc-lin có 5 tập đoàn quân binh chủng hợp thành, 2 tập đoàn quân xe tăng, 1 tập đoàn quân không quân yểm trợ. Phương diện quân Bê-lô-rút-si-a số 1 và phương diện quân U-cờ-rai-na số 1 do Nguyên soái Kô-ni-ep chỉ huy, trực tiếp đánh vào Béc-lin có số quân là 2,5 triệu người.


48. Trong tác chiến hiện đại, phải coi trọng tổ chức lực lượng không quân, tên lửa, và lực lượng chống không quân, tên lửa.

Máy bay và tên lửa là những thứ vũ khí lợi hại nhất, có tính ưu việt nhất. Máy bay, tên lửa có hỏa lực mạnh nhất, tầm bắn, tầm tác chiến xa nhất, sức cơ động cao nhất, linh hoạt nhất, bất ngờ nhất. Nó giải quyết được nhiều mâu thuẫn trong bản thân chiến đấu, như mâu thuẫn giữa địa hình và cơ động; giữa hỏa lực và cơ động; giữa không gian và thời gian, v.v... xu hướng tác chiến hiện đại là máy bay, tên lửa và các loại vũ khí không có người ngày càng phát triển. Bất cứ quân binh chủng nào cũng cần có máy bay yểm hộ, chi viện và hiệp đồng tác chiến; và quân, binh chủng nào cũng cần có trang bị tên lửa làm thứ hỏa lực cốt cán và có biên chế, trang bị máy bay.

Do đó các quân, binh chủng đều phải có vũ khí chống máy bay, tên lửa tốt và phải tăng cường các loại vũ khí đó.


49. Các đơn vị dân quân, du kích ngoài trang bị thô sơ, thô sơ cải tiến ra, cũng phải được trang bị tương đối hiện đại để đánh ở đằng sau lưng địch, đánh máy bay lên thẳng và đánh tên lửa hành trình, đánh xe tăng, xe bọc thép. Dân quân tự vệ là lực lượng chiến lược, có tác dụng chiến lược. Nó có thể hạn chế sức mạnh chiến lược của đối phương.


50. Phù hợp với phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam nên trang bị các dạng vũ khí khí tài như sau:

- Thô sơ và thô sơ cải tiến.

- Mang vác và mang vác hiện đại.

- Cơ giới hóa và cơ giới hóa có trình độ cao.

- Vũ khí, khí tài chống tác chiến điện tử và tác chiến điện tử.

Căn cứ vào địch, vào ta, vào địa hình, thời tiết.

Địch: mạnh hơn ta rất nhiều về vũ khí, kỹ thuật. Trình độ hiện đại hớa, cơ giới hoá của địch rất cao.

Về ta: quan điểm, đường lối chiến tranh của ta nhất quán từ trước đến nay là chiến tranh nhân dân; tổ chức lực lượng thành 3 thứ quân - phương thức chiến tranh là chính quy kết hợp với du kích - phương pháp là tác chiến cài xen kẽ với địch - có 4 dạng vũ khí và 3 thứ quân mới chiến đấu được; trong điều kiện tương quan lực lượng trên mới thực hiện được phương thức chiến tranh và phương pháp tác chiến và tiến lên hiện đại hóa, cơ giới hoá ngày càng cao.


51. Tùy theo nhiệm vụ quân sự và địa hình, tổ chức quân có cái chung giống nhau và cũng có cái riêng khác nhau tùy từng địa bàn tác chiến.

52. Quân đội đi xâm lược có nhu cầu tổ chức hạm đội đại dương, có tàu sân bay. Quân đội bảo vệ Tổ quốc, không đi xâm lược, trong điều kiện còn hạn chế về thực lực kinh tế chưa tổ chức được hạm đội đại dương, thì cần tổ chức hạm đội biển gần hoặc cận đại dương, nhưng cần có thêm máy bay ném bom chiến lược hạng nhẹ có tốc độ lớn và có tên lửa bờ đối biển.

Quân đội ta không đi xâm lược ai, chỉ bảo vệ Tổ quốc nhưng cũng cần có hạm đội hải quân mạnh để chống lại hải quân hiện đại, hùng mạnh đến xâm lược của địch. Mặt khác, điều kiện kinh tế chưa cho phép, do đó chưa thể tổ chức hạm đội đại dương, chưa thể có tàu sân bay, nhưng rất cần có hạm đội biển gần hoặc cận đại dương, tên lửa bờ đối biển và có không quân mạnh để đánh lại hải quân địch. Sau này nếu giàu có, đủ sức, đủ tiền của bảo đảm xây dựng, phát triển mạnh kinh tế, có tiền đề xây dựng, phát triển quốc phòng, thì cũng có thể tổ chức hạm đội đại dương, để hạn chế sự khống chế lũng đoạn của các nước lớn. Ở thập kỷ 70 - Liên Xô có đóng tàu sân bay cỡ vừa chưa có tàu sân bay loại cỡ lớn như Mỹ, nhưng có máy bay ném bom chiến lược hạng nhẹ có tốc độ lớn, tầm bay xa TU22M. Đó là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nhẹ tốt nhất thế giới ở thập kỷ 70. Về tên lửa phòng không S300 (C300) của Liên Xô (Nga) cũng là loại tốt nhất hiện nay; tốt hơn tên lửa Pa-tơ-ri-ốt của Mỹ (Patriot).

"TU22M của Liên Xô có tốc độ bay gấp hơn 2 lần tiếng động; (Mach 2,25 - 2,5) bán kính chiến đấu: 4.000km - 5.000km, mang tên lửa không đối đất AS4 (Kitchen) có tầm bắn từ 300km đến 800km. Máy bay FB111 của Mỹ cũng có tốc độ bay như TU22M nhưng bán kính chiến đấu chỉ đạt 2.500km, bằng một nửa máy bay TU22M"1 (Janés Aircraft 1979-1980, Janés Weapon Systems 1979-1980).

Có máy bay ném bom chiến lược hạng nhẹ, có tốc độ cao, tầm bay lớn thì có thể uy hiếp, khống chế hạm đội đại dương của đối phương ở đại dương gần. Có hạm đội đại dương mới có chiến lược toàn cầu một cách hoàn chỉnh; mới tham gia bảo vệ hòa bình thế giới một cách tích cực. Đó là phương hướng chiến lược cần đạt tới của quân đội ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Mười Hai, 2022, 07:04:03 pm
Chương bảy
ĐÓNG QUÂN


53. Đóng quân nên đóng ở nơi dễ cơ động.

Đóng quân ở nơi thuận lợi cho việc cơ động. Đóng ở nơi dễ cơ động thì sức một thành hai, vì làm được nhiều nhiệm vụ, trên nhiều hướng.

Xuân 1975, Sư đoàn 320 đóng quân trên đường 14 từ Plây Cu đi Buôn Ma Thuột nên đánh chiếm đường 14 cũng được; tăng cường cho Sư đoàn 316 đánh Buôn Ma Thuột cũng được; chi viện, tăng cường cho trung đoàn độc lập số 25 chiến đấu trên đường 21 cũng được. Ngày 12 tháng 3 nàm 1975, khi Sư đoàn 10 ở Đức Lập chưa cơ động về hướng đông bắc Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 phái 1 trung đoàn, từ đường 14 sang đường 21 để chi viện cho trung đoàn 25, đề phòng địch vượt qua trung đoàn 25 tiến về Buôn Ma Thuột.

Sư đoàn 316 đánh Buôn Ma Thuột nhanh chóng giành thắng lợi, không phải sử dụng đến lực lượng của Sư đoàn 320.

Đến khi đoàn quân ở Plây Cu rút chạy theo đường số 7 về Phú Yên, Sư đoàn 320 đã từ đường 14 kịp thời tiến sang đường số 7 truy kích tiêu diệt địch.


54. Nơi nào địch khó chia cắt thì nên đóng quân.

Địch định chiếm các yết hầu để chia cắt ta. Ta có quân đánh địch thì địch không thể tự do chiếm các yết hầu được; hoặc có chiếm thì cũng không thể chiếm hết được.

Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" ở Đường 9 - Nam Lào, ta đã phá tan âm mưu chia cắt của địch, giành thắng lợi lớn, đường vận tải chiến lược vẫn thông suốt.


55. Đóng quân để bảo vệ mục tiêu thì nên đóng ở trong mục tiêu và ngoài mục tiêu; đóng ở cả vòng trong và vòng ngoài. Có thế mới có sức chiến đấu dẻo dai và hạn chế được đột kích bao vây của địch, đặc biệt bằng máy bay lên thẳng.


56. Đóng quân trong chiến tranh hiện đại cần chú ý chống tập kích của không quân, tên lửa và máy bay lên thẳng.


57. Đóng quân phải dựa vào thế ứng cứu chi viện lẫn nhau, không để cho địch bao vây chia cắt.


58. Đóng quân ở nơi nào để khi tiến công có thể đánh địch được ở nhiều hướng nhiều phía, cả đằng trước mặt địch và đằng sau lưng địch; khi phòng ngự có thể chống được quân địch bao vây, vu hồi và máy bay lên thẳng tập kích vào hậu phương ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:37:02 am
Chương tám
LUYỆN TƯỚNG VÀ LUYỆN QUÂN


59. Quân, tướng phải được luyện cả tinh thần, ý chí, và kỹ năng, tài thao lược.

Quyết định thắng lợi ở chiến trường là tinh thần, kỹ năng của người chiến binh trên chiến hào.

Mọi mưu lược quyết tâm, kế hoạch được thực hiện trong cuộc đấu tranh giữa 2 bên trên trận địa, chiến hào. Tướng và quân trực tiếp chiến đấu có tinh thần chiến đấu và kỹ năng chiến đấu cao hay thấp quyết định đến thắng bại, thắng to hay thắng nhỏ.


60. Đạo lý người tướng là chiến đấu cho dân, vì dân, cùng sướng khổ, sống chết với quân và dân, có đức độ tài năng mới thu hút được lòng người, chỉ huy được ba quân. Nói hay trên diễn đàn và phải làm tốt trong đời thường.


61. Tướng là phải luyện cả đức và tài. Có tài thì mới chỉ huy được. Nhưng không có đức thì khó đoàn kết, tập họp được toàn quân, toàn dân để phát huy sức mạnh và khó giành được thắng lợi.


62. Biết đấu tranh thì mới có sáng tạo, và mới biết giành thắng lợi.

Sự vật luôn vận động và đấu tranh. Sự vật đứng yên sẽ không tồn tại. Sự vật muốn phát triển phải thông qua vận động. Đã vận động là có mâu thuẫn, có đấu tranh giữa các mâu thuẫn để phát triển. Nếu không dám tiến hành chiến tranh chống xâm lược có nghĩa là thủ tiêu đấu tranh, đành chịu làm nô lệ; dám đấu tranh, dám tiến hành chiến tranh chống xâm lược thì mới tìm ra cách tiến hành chiến tranh. Đấu tranh luôn nảy sinh sáng tạo. Qua thực tiễn đấu tranh mà tìm ra cách đấu tranh, để sáng tạo. Sáng tạo chỉ có được qua thực tiễn hoạt động, thực tiễn đấu tranh. Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh cho sự vật là có vận động, có biến hóa, có đấu tranh để biến hóa.

Trần Hưng Đạo:
   "Thế chiến thắng qua chính và kỳ;
   Chính, kỳ biến hóa không thể cùng vậy"


Và:
   "Đua chọi thì biết được có thừa hay không đủ".

Nguyễn Trãi:
   "Vả lại vận trời tuần hoàn đi rồi lại lại.
   Từ xưa đến nay bao giờ cũng thế".


Và:
   "Từ xưa đến nay, trăm đời đổi thay"

Hồ Chí Minh:

"Bất kỳ giới tự nhiên hay trong xã hội, mâu thuẫn và đấu tranh nội bộ cứ tiến mãi. Sự hiểu biết cũng phải tiến tới mãi, phát triển mãi.

Cho nên người lãnh đạo cách mạng phải khéo sửa đổi khi có sự sai lầm trong tư tưởng lý luận, kế hoạch và nghị quyết của mình. Đồng thời khi giai đoạn này phát triển sang giai đoạn khác, thì sự hiểu biết của người lãnh đạo và chiến sĩ cách mạng cũng phải tiến theo. Nghĩa là phải đề ra nhiệm vụ mới và phương pháp mới hợp với tình huống mới của cách mạng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995 tr. 254, 265).


63. Phải luyện cách biết thắng trong chiến tranh bằng vũ trang và biết thắng trong chiến tranh bằng tư tưởng.

Đế quốc không dùng chiến tranh bằng vũ trang để chiến thắng nổi một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh về quân sự. Nhưng chúng đã dùng chiến tranh bằng tư tưởng để chiến thắng. Nếu nước xã hội chủ nghĩa nào đó có nền công nghiệp tiên tiến, đã làm ra được các loại vũ khí ngang với nước tư bản phát triển nhất; cũng làm ra được đủ các đồ dùng sinh hoạt cho cuộc sống con người như các nước tư bản, tuy kém về chất lượng nhưng lại có sức mạnh quân sự đủ để bảo vệ hòa bình thì có thể không cần tập trung quá lớn tiền của vào chạy đua vũ trang một cách quá mức, mà nên đầu tư thích đáng cho công nghiệp dân sinh mua sắm phát triển công nghệ mới, để sản xuất các đồ đùng sinh hoạt nâng cao đời sống của nhân dân. Ngoài ra phải giáo dục tốt hơn về đạo đức xã hội chủ nghĩa, về cái hay cái đẹp của chủ nghĩa xã hội, ưu việt hơn lối sống của xã hội tư bản; giáo dục tinh thần tự tôn dân tộc. Một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh là rất đáng tự hào. Tuy có kém xã hội tư bản một tí về vật chất, nhưng rất đẹp về tinh thần, rất đáng kính về một dân tộc vĩ đại có lịch sử hào hùng; có xã hội văn minh, công bằng.

Ngày nay kẻ thù đang dùng cái bóng của chiến tranh bằng vũ trang để hù dọa, uy hiếp, khống chế các nước và cũng đang dùng chiến tranh bằng tư tưởng, dùng diễn biến hòa bình để xoá nốt các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.


64. Trong thời bình phải tập trung luyện quân thông qua hình thức diễn tập, tập trận sát với thực tiễn chiến tranh tương lai.


65. Tự học tập, tự rèn luyện là con đường dẫn đến tài năng.


66. Tướng vì danh vọng, địa vị tiền tài thì dễ cám dỗ. Tướng vì đại nghĩa, đại nhân, đại thiện thì bền lòng, vững chí, tấm lòng trong sáng, đầu óc minh mẫn, khó khuất phục được.

Lẽ thường của con người là thích ăn ngon, mặc đẹp, ở tốt; thỏa mãn được dục vọng cá nhân; lối sống của xã hội tư bản dễ quyến rũ người ta. Do đó mà tham ô, hủ hóa, lừa đảo, kèn cựa, danh vọng, tiền tài, địa vị đã xuất hiện và tồn tại.

Việc kiên quyết chống tham ô, ăn cắp, ăn chơi xa hoa phải thông qua giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và nền văn hóa, đạo đức của dân tộc.

Tha hóa, biến chất, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến tranh bằng tư tưởng của kẻ thù. Xây đựng con người xã hội chủ nghĩa - con người xã hội chủ nghĩa kiên cường, thì mới chống được sự xâm nhập tự nhiên từ từ hoặc đột biến của chủ nghĩa tư bản.

Các cụ ta đã dạy những vấn đề luyện người:

Trần Hưng Đạo: "Người tướng giỏi đứng đắn mà hay biến hóa; cứng cáp mà hay thương người; nhân từ mà hay quyết đoán; dũng cảm mà hay tường tận; lấy sách lược mà chế ngự quan quân. Chưa thấy ai như thế mà không dựng được cơ nghiệp để dẹp yên họa loạn bao giờ.

Tranh lấy nghĩa mà không tranh lấy lợi, đó là để bày tỏ điều nghĩa. Lại hay tha người quy phục, đó là để bày tỏ điều dũng. Biết sau biết trước, đó là để bày tỏ điều trí.

Giết một người mà vạn người mừng thì cứ giết. Đáng giết thì dẫu người quý trọng cũng giết. Đó là hình thì xét ngược cả lên trên.

Thưởng thì thưởng cho cả những kẻ chăn trâu, người giữ ngựa. Đó là thưởng thì trôi xuống cả dưới vậy.

Thận trọng từ cái nhỏ; mứu trí ở việc lớn. Không tường tận vì ghét nghe lỗi mình; không sáng suốt vì nghe lời dèm pha. Không chắc chắn vì hay nhẹ dạ; không tiết độ vì hao phí của dân; mắc vạ vì ham lợi lộc; quê mùa vì bỏ người hiền".

(Binh thư yếu lược, trang 43 và 45)


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:38:33 am
Nguyễn Trãi nói: "Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc. Nên công to ta phải lấy nhân nghĩa làm đầu". "Đạo làm tướng phải lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của". "Đẹp cung thất, cao đài tạ, tất gây thói tục xa hoa, ức lòng người, theo ý mình, tất đến trăm năm oán giận"1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H. 1976, tr. 196, 197, 119).

"Yêu người gần vì tình riêng. Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểu nhân mà người nịnh cũng tin dùng. Nhân mừng mà thưởng khen; nhân giận mà phạt giết. Người trung thực phải khoá miệng; kẻ lương thiện thì ngậm oán. Thế mà còn cứ kiêu ngạo, tự tôn; không sợ mệnh trời gieo họa"2 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H. 1976, tr. 196, 197, 119).

"Phàm người có chức vụ coi quân, trị dân, đều phải theo phép công bằng, làm việc cần mẫn, thờ vua thì hết trung, đối dân thì hết hòa, đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng. Bè đảng riêng tây phải dứt; thái độ cố phạm phải chừa. Coi công việc của quốc gia là công việc của mình; lấy điều lo của dân sinh làm điều lo của thiết kỷ..."3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H. 1976, tr. 196, 197, 119).

Hồ Chí Minh:

"Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư"
"Cán bộ vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".


Trong bài "Sửa đổi lối làm việc", về đạo đức cách mạng, Hồ Chủ tịch nói:

"Nói tóm tắt, tính tốt ấy có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

a) Nhân là thật thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân.

Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải họ đều làm được.

b) Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải làm thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

c) Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, để phòng nguời gian.

d) Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ, khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

đ) Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước.

Không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, tr. 251, 253. Nói chuyện ở buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp, Bác Hồ nói 5 điều: "Trí, tín, nhân, dũng, liêm" (tập 5, tr. 223) và bài nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ 5, tháng 8-1947, Bác lại nói 6 chữ: "Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung", (tập 5, tr. 479)).

Có tiếp thu thấm nhuần, tu dưỡng được những lời dạy của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh thì mới chống được cuộc chiến tranh tư tưởng mà kẻ thù đang tiến công hiện nay.


67. Tướng lãnh đạo chiến tranh phải giỏi cả chính trị quân sự, kinh tế Tướng quốc phải là người văn võ song toàn.


68. Tướng của dân là phải trọng đức độ, tài năng hơn là tiền tài, danh vọng; trọng trí tuệ hơn là giàu sang.


69. Tướng thương yêu quân thi có sức mạnh của kỷ luật tự giác. Có lúc phải tạm hoãn những nhu cầu thông thường của mình để bảo đảm cho nhu cầu thiết yếu của người dưới. Tướng khinh rẻ quân thì có lúc bị cô lập và nguy nan.


70. Tướng có nhân từ, đức độ thì mới thu hút được hiền tài và sống mãi trong lòng dân, lòng quân.


71. Tướng không được đem mưu mẹo gian dối, xảo trá đối với địch để đối với ta. Lừa lọc đối với địch, không được lừa lọc đối với ta.


72. Chơi với các loại bạn mà vẫn là mình mới là có bản lĩnh. Luyện vỏ mềm, nhân cứng, theo thuyết "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Hồ Chí Minh.


73. Chỉ huy ba quân phải lấy thân mình làm gương sáng cho quân sĩ soi chung.


74. Tướng của dân là chiến đấu cho dân. Tổ quốc là nhân dân. Mọi suy nghĩ hành động là vì hạnh phúc của nhân dân vì sự tiến bộ của nhân dân. Cái đẹp nhất của con người là tình cảm hòa vào dân. Cái cao nhất của xã hội là dân làm chủ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:41:55 am
Chương chín
CẦM QUÂN


75. Yếu, ít hơn địch về vũ khí, vật chât, kỹ thuật mà dám đánh địch và dám giành thắng lợi là có nhân sinh quan và phương pháp luận rất cao.

Nhân sinh quan và phương pháp luận trong chiến tranh. Lý Thường Kiệt: "Nam Quốc sơn hà nam đế cư".

Trần Hưng Đạo: "Xin bệ hạ hãy chém đầu thần trước rồi sẽ hàng". Và trong "Hịch tướng sĩ", Trần Hưng Đạo kêu gọi:

"... Chẳng những thân ta kiếp này bị nhục, mà đến trăm năm sau tiếng dơ không rửa"1 (Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H. 1971, tr. 201).

Nguyễn Trãi:
   "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
   Quân điếu phạt trước lo trừ bạo".
   "Sống nhục thà chết vinh".


Và: "Rút cuộc lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,
   Đem chí nhân mà thay cường bạo".


Hồ Chí Minh:
   "Không có gì quý hơn độc lập tự do"

Đó là nhân sinh quan về chiến tranh. Chiến đấu để cho dân tộc được độc lập, tự do, không chịu làm nô lệ cho nước ngoài đến xâm lược, cai trị.

Về phương pháp luận là nhận thức được chiến tranh và biết chỉ đạo chiến tranh theo đường hướng phát triển của nó; nhận thức được quy luật chiến tranh một cách tự phát, một cách thô sơ hay tự giác, khoa học. Từ nhận thức được chiến tranh mà biết cách chỉ đạo chiến tranh.

Trần Hưng Đạo: "Biết xem thế đất, biết lập thế quân, khéo dùng kỹ thuật, đánh đầu là không có lợi".

"Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa bay trên không, lập nên cuộc đời vô sự"1 (Đạo làm tướng - Binh thư yếu lược).

Và: "Tóm lại giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chế trường là việc thường của binh pháp. Nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy, gió thổi thì dễ chế ngự.

Nếu chúng đi chậm như cách tằm ăn, không cần của dân, không cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm, có thu được quân lính một lòng như cha con một nhà thì mới dùng được. Vả lại khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước"2 (Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H. 1971, tr. 215).

Nguyễn Trãi:
   "Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ.
   Ít địch nhiều thường dùng mai phục".
(Bình Ngô đại cáo)

Và "Tướng giỏi đời xưa, bở chỗ vững đánh chỗ hở, tránh chỗ chắc, đánh chỗ hư; như thế thì sức dùng có một nửa, mà thành công gấp đôi"3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H. 1976, tr. 59).

Hồ Chí Minh:

   "1. Tránh nơi địch kiên cố.
   2. Không đánh những trận gay gắt khó khăn.
   3. Không rõ địch tình, không đánh.
   4. Liên hiệp dân chúng để phong tỏa và đánh úp quân địch.
   5. Cách đánh úp của đội du kích.
   6. Tránh chỗ rắn, nắn chỗ mềm.
   7. Chí phương đông, đánh phương tây.
   8. Cách đánh mai phục.
   9. Cách đánh lén ngang đường"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia. H. 1995, tr. 250, 257).

   "1. Địch tiến ta thoái.
   2. Địch thoái ta tiến.
   3. Địch nghỉ, ta quấy.
   4. Đoạn tuyệt giao thông"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia. H. 1995, tr. 250, 257).

   "1. Đánh lén.
   2. Đánh mai phục.
   3. Đánh úp ban đêm"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia. H. 1995, tr. 250, 257).

Phương pháp luận về chiến tranh của ta xuất phát từ quân nhỏ đánh quân lớn, ít đánh nhiều, rồi từ đó phát triển lên trở thành yếu hơn, nhỏ hơn một ít đánh quân đông hơn, mạnh hơn về vật chất, kỹ thuật để giành thắng lợi.


76. Chiến tranh là đấu trí, đấu lực. Thể hiện của đấu trí, đấu lực là đấu mưu kế, thế trận, tình huống, thời cơ và tinh thần. Ai mưu cao, thế trận đẹp, tình huống hay, tinh thần quyết chiến có thể thắng.


77. Người cầm quân phải có quan điểm biện chứng mới nhận thức được chiến tranh và chỉ đạo được chiến tranh.

Muốn tiến hành chiến tranh phải nhận thức được chiến tranh và chỉ đạo được chiến tranh. Muốn thế phải có quan điểm biện chứng.

Có quan điểm biện chứng mới nhận rõ được bản chất và quy luật của chiến tranh; nguyên nhân phát sinh, phát triển của chiến tranh, sự vận động, phát triển của chiến tranh và các điều kiện khác nhau trong sự vận động muôn hình muôn vẻ của nó; nhiều hình thức phức tạp của nó; các điều kiện chủ quan, khách quan trong sự vận động đa dạng của nó. Sự vật vận động là có quy luật, nhưng có các điều kiện, hoàn cảnh cho quy luật đó phát sinh và vận động. Không thể nhận thức quy luật một cách cứng đờ, máy móc. Do đó mà sự vật diễn ra không có hình có khối nhất định.

Chiến tranh là sự đấu tranh vô cùng quyết liệt, nên nó chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn. Sự vật luôn vận động và vận động trong đấu tranh. Có mâu thuẫn có đấu tranh. Đấu tranh trong chiến tranh nhằm giải quyết mâu thuẫn. Chiến tranh ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn mâu thuẫn rất nhiều, rất gay gắt và có giải quyết được mâu thuẫn đó mới giành được thắng lợi. Trong lịch sử dân tộc ta đã giải quyết vấn đề này như thế nào? Đó là một điều rất lý thú, rất lạ, rất độc đáo - Việt Nam, rất kỳ tài; một truyền thống Việt Nam; một nghệ thuật Việt Nam.

Trần Hưng Đạo: "Dĩ đoản chế trường" là biết cách giải quyết mâu thuẫn của nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều. Cách giải quyết mâu thuẫn của Trần Hưng Đạo là phát huy sức mạnh chính trị, tinh thần và dùng nghệ thuật tác chiến quân yếu đánh quân mạnh. Sức mạnh chính trị, tinh thần là: "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức". "Có thu được quân lính một lòng như cha con một nhà thì mới dùng được". Và: "Vả lại khoan thư sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước"1 (Lịch sử Việt Nam, tậpl, Nxb Khoa học xã hội, H. 1971, tr. 215).

Giải quyết mâu thuẫn thứ nhất bằng cách xây dựng sức mạnh chính trị tinh thần, động viên, cổ vũ tinh thần quật cường bất khuất của dân tộc, động viên, cổ vũ tinh thần dám đánh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:44:47 am
Chỉ dùng chính trị, tinh thần để giải quyết mâu thuẫn trong chiến tranh cũng chưa đủ. Phải dùng cả phương pháp tiến hành chiến tranh nữa mới được. Dám rồi thì phải đánh và biết thắng.

Trần Hưng Đạo đã tìm ra cách đánh phù hợp với quân nhỏ đánh quân lớn, quân ít đánh quân nhiều. Ông nói: "Dĩ đoản chế trường", "Đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận", và "Nếu địch mạnh ta yếu mà không có viện ở ngoài thì nên ràng buộc, giữ lại để chờ nó chết"1 (Binh thư yếu lược, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H. 1970, tr. 170).

Tư duy đó nặng về đánh vận động chiến.

Nguyễn Trãi:
   "Như nước Đại Việt ta từ trước,
   Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
   Cõi bờ sông núi đã riêng,
   Phong tục Bắc Nam cũng khác.
   Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt không bao giờ thiếu".


   "Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương dân chúng, thết quân, rượu hòa nước, dưới trên đểu một bụng cha con.
   Lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục.
   Lấy yếu chống mạnh hay đánh bất ngờ.
   Rút cuộc lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
   Đem chí nhân mà thay cường bạo".

(Bình Ngô đại cáo)

   "Giặc cùng đường kiệt sức, bó tay chờ chết đến nơi. Ta mưu phạt tâm công, không đánh mà người phải khuất".

Và: "Ta đã phục binh giữ hiểm, đập gãy tiên phong. Sau lại sai tướng chen ngang, tuyệt đường lương thực".
(Bình Ngô đại cáo)

Nguyễn Trãi thấy hai mặt đối lập của sự vật, thấy mâu thuẫn và biết tìm cách giải quyết mâu thuẫn.

Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập tự do".
        "Chiến tranh nhân dân chính nghĩa toàn dân, toàn diện".
   "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi".
   "Chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy".


Và: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

Quan điểm biện chứng của Hồ Chí Minh là khoa học. Người nhận thức được quy luật vận động của sự vật, quy luật phát triển của sự vật. Sự vật vận động phát triển trong đấu tranh mâu thuẫn. Trong kháng chiến chống Pháp, Người nói: "Có người nói ta kháng chiến chống Pháp như châu chấu đá voi".


Chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn về hiện trạng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem, thì như thế thật - Vì để chống máy bay và đại bác của địch, lúc đó ta phải dùng gậy tầm vông. Nhưng Đảng ta theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta không những nhìn vào hiện tại, mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc. Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:

   "Nay tuy châu chấu đấu voi,
   Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra".


Sự thật đã chứng tỏ rằng "voi" thực dân đã bắt đầu lòi ruột, mà bộ đội ta đã trưởng thành như con hổ oai hùng. Dù lúc đầu sức địch mạnh như vậy, sức ta yếu như vậy, mà ta vẫn gan góc kháng chiến, vẫn tranh được nhiều thắng lợi, và tin chắc ta sẽ tranh được thắng lợi cuối cùng. Đó là vì ta có chính nghĩa, vì quân ta dũng cảm, dân ta đoàn kết và quật cường; vì ta được nhân dân Pháp và phe dân chủ thế giới ủng hộ. Mà cũng chính vì Chiến lược ta đúng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, tr. 163, 164).


Đây là sự phân tích về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp rất cách mạng và khoa học. Cái khó khăn lớn nhất của cuộc kháng chiến lúc bấy giờ là lực lượng ta quá nhỏ bé so với thực dân Pháp, cái chính là thua kém về vật chất kỹ thuật vậy là phải có thời gian và tìm cách để chuyển hoá lực lượng, giải quyết mâu thuẫn ấy. Nhưng ta hơn địch ở ý chí tinh thần của dân tộc đang tiến hành kháng chiến trường kỳ, chính nghĩa, chống xâm lược, phát động được cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Sự phân tích đó thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự vật luôn vận động biến hóa, phát triển; và vận động phát triển trong đấu tranh. Trong đấu tranh thì có rất nhiều mâu thuẫn; và mâu thuẫn luôn luôn được giải quyết để sự vật phát triển tiến lên. Có đấu tranh thì có phát triển. Sự vật tiến bộ sẽ phủ định cái lạc hậu, lỗi thời để phát triển lên, để trở thành sự vật mới, càng mổ xẻ sự vật thì càng tiếp cận được cái tinh túy của sự vật, càng tiếp cận đỉnh cao của chân lý.


Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi cũng có một số quan điểm sơ khai gần giống như thế.

Trần Hưng Đạo thấy được quân địch cũng có thay đổi biến hóa - Ông nói: "Nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy gió thổi thì dễ chế ngự. Nếu chúng đi chậm như cách tằm ăn, không cần của dân, không cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm...".


Việc quân là việc luôn biến hóa, muôn hình, vạn trạng; tuy là có quy luật nhưng không cái nào giống cái nào. Quy luật cũng là có điều kiện ra đời của nó, có điều kiện vận động của nó.

Trần Hưng Đạo: "Phải nghĩ là có thể yên, có thể nguy, có thể tạm, có thể lâu. Tĩnh thì mưu, động thì có lợi. Cách chống đánh có mấy trăm mối, khi nhiều, khi ít, khi hợp khi phân, khi tiến khi gặp..."1 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1970, tr. 174, 51).

"Người tướng giỏi đứng đắn mà hay biến hóa"2 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1970, tr. 174, 51).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:47:15 am
Trần Hưng Đạo cũng thấy 2 mặt đối lập của sự vật: "Dĩ đoản chế trường". Ông thấy 2 mặt đối lập của sự vật là có mâu thuẫn và ông biết cách giải quyết mâu thuẫn. Địch mạnh, ta yếu: muốn thắng địch thì phải vua quan đoàn kết và đoàn kết toàn dân để tạo ra sức mạnh chính trị, tinh thần và vận dụng cách đánh của quân yếu đánh quân mạnh.

Ông nói: "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức". "Khoan thư sức dân...".
   "Quân đội có như cha con một lòng thì mới dùng được".
   "Phải dùng cách đánh vận động chiến; phải dùng mưu mẹo, thế trận".
   "Đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy".


Và:
   "Phải dùng chính binh và kỳ binh"
   "Phải tránh chỗ thực đánh chỗ hư".


Nguyễn Trãi thấy sự biến hóa của sự vật, và qua đấu tranh mà làm cho sự vật biến hóa theo ý định của ta.

Ông nói:
   "Vả lại vận trời tuần hoàn đi rồi lại lại
   Từ xưa đến nay bao giờ cũng thế".
   "Từ xưa đến nay trăm đời đổi thay".

   Muốn cho sự vật biến hóa phải có đấu tranh.

Ông nói:
   "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
   Nhưng hào kiệt đời đời không thiếu".
   "Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần,
   Lúc Khôi Huyện quân không một lữ.
   Ấy trời muốn thử ta để trao nhiệm vụ,
   Nên ta càng quyết chí để vượt gian nan".


Và:
   "Sống nhục thà chết vinh
   Biết quân ta dùng được"


Ông còn biết mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan và thấy tính năng động chủ quan, thấy tính quyết định là ở chủ quan.

Ông nói:
   "Đã do trời mà biết thời
   Lại có chí để công thành".

(Phú núi Chí Linh)

Vấn đề này cũng giống như các cụ ta nói: "Nhân định thắng thiên".

Nguyễn Trãi còn hiểu sự thích ứng với các điều kiện khác nhau một cách linh hoạt, sáng tạo.

Ông nói:
   "Lấy xưa nghiệm nay.
   Xét cùng mọi lẽ hưng vong
   Trải biến nhiều thì suy nghĩ sâu
   Tính việc xa thi thành công kỳ".


Và:
   "Biết địch, biết ta, có thể cứng, có thể mềm".
(Phú núi Chí Linh)

Do có quan điểm biện chứng như thế nên Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh mới lãnh đạo chiến tranh một cách tự giác rất kiên định, tài tình và rất linh hoạt, sáng tạo, không cầu may, dao động, giáo điều, máy móc, cứng đờ.


78. Người cầm quân có lúc không sợ ít về lực lượng mà sợ yếu về tinh thần và tài trí.


79. Tướng phải có quyết sách đúng.

Phải có quyết đoán, dám táo bạo thay đổi quyết tâm khi chủ trương cũ không còn phù hợp.

Trong kháng chiến chống Pháp, ở chiến dịch Biên Giới năm 1950, tư lệnh chiến dịch đã quả cảm, quyết đoán thay đổi quyết tâm đánh Cao Bằng sang đánh Đông Khê và đã được Hồ Chủ tịch trực tiếp chỉ đạo chiến dịch phê chuẩn và đã giành được thắng lợi vang dội.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, tư lệnh chiến dịch cũng đã quyết đoán, thay đối phương châm đánh nhanh tiến nhanh bằng phương châm đánh chắc tiến chắc và đã được Thường vụ Trung ương Đảng phê chuẩn, nên cũng giành được thắng lợi kết thúc chiến tranh.    80. Tướng thông binh pháp cổ, kim, đông, tây là tướng có thể cầm quân lớn.


81. Quần chúng là người luôn sáng tạo, nhờ họ mà quyết tâm của người chỉ huy mới thành hiện thực. Người chỉ huy phải biết khái quát những sáng tạo của quần chúng.

Trong đấu tranh thực tiễn, quần chúng sáng tạo ra những phương pháp, hình thức đấu tranh mới, có khi mới là manh nha, mầm mống. Lãnh đạo phải biết nắm bắt kịp thời, tổng kết kinh nghiệm kịp thời, rồi nâng lên thành phương pháp, hình thức đấu tranh mới và xây dựng lý luận mới. Có thế chiến tranh mới có sáng tạo và phát triển nhanh.

Trong kháng chiến chống Mỹ, địa đạo Củ Chi, từ hầm bí mật của quần chúng mà lãnh đạo nâng lên thành địa đạo chiến đấu thần kỳ, nổi tiếng. Địa đạo Vĩnh Mốc ở Vĩnh Linh cũng gần giống như thế.

Vành đai chống Mỹ ở Đà Nẵng cũng do quần chúng sáng tạo ra, rồi lãnh đạo nâng nó lên thành một biện pháp tác chiến hoàn chỉnh.

Ở chiến trường Tây Nguyên, trong kháng chiến chống Mỹ quần chúng sáng tạo ra những mầm mống của chiến thuật chốt kết hợp vận động. Lãnh đạo nắm bắt kịp thời, tổng kết, nâng lên thành chiến thuật "Chốt kết hợp vận động". Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam lại nâng lên một bước hoàn chỉnh hơn là chiến thuật "Vận động tiến công kết hợp chốt". Chiến thuật này rất có hiệu quả trong đánh Mỹ. Năm 1967, Sư đoàn 1 Tây Nguyên đã đánh bại lữ dù 173 của Mỹ ở cao điểm 875 (Sư đoàn 1 gồm 3 trung đoàn: 320, 66 và 174). Về chiến thuật "Bao vây công kích" cũng thế. Quần chúng sáng tạo ra mầm mống. Lãnh đạo nắm lấy đó, xây dựng qua mấy bước rồi hoàn chỉnh thành chiến thuật "Bao vây công kích". Bộ Tổng tham mưu lại nâng lên thành chiến thuật "Vận động bao vây tiến công liên tục". Chiến thuật này đã nâng khả năng đánh tiêu diệt lên một trình độ cao.

Về cách dùng pháo binh đánh gần, quần chúng cũng phát triển thành cách khiêng, kéo pháo 105, 85 vào gần đồn địch để bắn ngắm trực tiếp. Cách đánh này cũng đã thành công tốt đẹp. Với chiến thuật này hầu như các đơn vị cỡ tiểu đoàn, cụm tiểu đoàn của địch ở Tây Nguyên đóng trong công sự vững chắc đều bị tiêu diệt trong một thời gian ngắn khoảng từ 4 - 8 tiếng đồng hồ.

Hai chiến thuật "Vận động tiến công kết hợp chốt" và "Vận động bao vây tiến công liên tục" do trung đoàn 66 (đoàn Plây Me hai lần anh hùng) sáng tạo ra và vận dụng rất thành công. Chiến thuật khiêng, kéo pháo vào đánh gần do trung đoàn pháo binh 40 phát triển ra và cũng do trung đoàn 66 vận dụng đánh công sự vững chắc rất thành công.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:50:25 am
Chương mười
TÁC CHIẾN


82. Tác chiến của chiến tranh nhân dân là tổng hợp các chiến dịch và các hoạt động tác chiến; có sức kết hợp hoạt động chính trị trực diện - đấu tranh chính trị trực diện.

Đặc trưng sự khác nhau giữa hoạt động tác chiến và chiến dịch là ở chỗ thống nhất tình huống.

Hoạt động tác chiến cũng có thể có chỗ giống như chiến dịch trong sự thống nhất về mục đích, kế hoạch, thời gian, địa điểm, nhưng khó có sự thống nhất về tình huống như chiến dịch. Vấn đề quan trọng của chiến dịch là sự thống nhất về tình huống.

Trong chiến dịch, các tình huống có mối quan hệ chặt chẽ, quan hệ nội tại, hữu cơ với nhau. Các tình huống tạo tiền đề, điều kiện cho nhau, cùng phát triển, để dẫn dắt đến tình huống quyết định tạo ra trận đánh then chốt quyết định của chiến dịch. Trong hoạt động tác chiến, các tình huống thường diễn ra một cách rời rạc, tiến hành một cách độc lập, ít có mối quan hệ hệ thống. Các tình huống hoạt động khó tạo ra tiền đề điều kiện, dẫn dắt một cách hữu cơ đến các trận then chốt, theo sự chỉ đạo của chiến dịch, theo ý định của chiến dịch. Hoạt động tác chiến cũng có lúc có ý nghĩa chiến dịch, hoặc chiến lược, nhưng không thể thành chiến dịch được.

Trong kháng chiến chống Pháp các hoạt động tác chiến ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Nha Trang, v.v... đều có ý nghĩa chiến dịch, các hoạt động tác chiến ở Hà Nội lại có cả ý nghĩa chiến lược, nhưng không nên coi cuộc chiến đấu ở Hà Nội là chiến dịch...

Chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam là tác chiến của 3 thứ quân, theo đường lối quân sự Việt Nam nên có kết hợp với tác chiến của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Chiến dịch nào cũng có sự kết hợp đó.

Trong kháng chiến chống Mỹ nhân dân miền Nam phát triển những kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp, lại sáng tạo ra một hình thức đấu tranh mới trong chiến tranh là đấu tranh chính trị trực diện với địch. Đội quân tóc dài đã cản ngăn được pháo binh, xe tăng của địch khi chúng bắn phá các làng ấp.

Do đó chiến dịch Việt Nam lại có lúc kết hợp được với cả đấu tranh chính trị trực diện. Lực lượng 3 thứ quân chiến đấu với địch về quân sự. Lực lượng chính trị lại phá tề, trừ gian, phá chính quyền ấp, xã của địch, phá ấp, giành dân, giải phóng các ấp xã khỏi sự thống trị kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ.


83. Tác chiến truyền thống của quân nhỏ đánh quân lớn, yếu đánh mạnh thường vận dụng cách đánh vận động chiến trước, đánh thành sau và tích cực đánh vào đằng sau lưng địch.


84. Tác chiến chiến lược thể hiện ra ở chiến cục.

Chiến cục tổ chức ra nhiều chiến dịch và các hoạt động tác chiến và có thể có hoạt động chính trị. Cũng có khi tổ chức một chiến dịch. Nếu nhiều mục tiêu chiến lược thì nên tổ chức nhiều chiến dịch. Nếu chỉ có một mục tiêu chiến lược thì tổ chức một chiến dịch.

Nếu có nhiều mục tiêu chiến lược thì trong chiến cục nên tổ chức ra nhiều chiến dịch. Nhiều hướng, nhiều chiến trường địch đều bị đánh thì khó tập trung đối phó với một hướng một chiến trường, như thế ta mới thắng lợi to, thắng lợi nhanh.

Năm 1285, Trần Hưng Đạo cũng đánh ở cả 2 hướng. Hướng bắc sông Hồng đánh Thoát Hoan ở Thăng Long. Hướng nam sông Hồng đánh Toa Đô ở Tây Kết. Như thế cuộc Tổng phản công chỉ giải quyết trong hai tháng (tháng 5-1285 đến tháng 6-1285) và cả cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai chỉ khoảng 6 tháng là giành được thắng lợi (1-1285 - 6-1285).

Trong cuộc tổng phản công năm 1427, Lê Lợi, Nguyễn Trãi cũng tổ chức ra 3 chiến dịch trên 3 hướng chiến lược.

Hướng thứ nhất vây hãm Vương Thông ở Đông Quan. Hướng thứ 2 đánh tiêu diệt Liễu Thăng ở Chi Lăng và hướng thứ 3 ngăn chặn Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa. Như thế địch không thể liên hoàn được với nhau, hỗ trợ được nhau, nên bị thất bại nhanh chóng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, năm 1972, trong cuộc tiến công chiến lược, ta cũng đánh trên 3 chiến trường. Địch tập trung đối phó ở hướng này thì hở ở hướng khác. Do đó ta cũng giành được thắng lợi trên cả 3 hướng, tuy thắng lợi còn bị hạn chế.

Trong chiến tranh thế giới thứ 2, năm 1941, trong cuộc tổng tiến công xâm lược Liên Xô, phát xít Hít-le cũng mở 3 hướng tiến công. Do đó mà có tiến được tới bao vây Lê-nin-gờ-rát và tiến gần tới Mát-xcơ-va.

Năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô tổng tiến công sang các nước Đông Âu và sang nước Đức, cũng mở ra rất nhiều hướng, Do đó mà Hồng quân đã giải phóng rất nhanh các nước Đông Âu và phần lớn nước Đức.

Nhưng nếu chỉ có một mục tiêu chiến lược thì cũng chỉ cần mở một chiến dịch. Năm 938, Ngô Quyền chỉ mở một chiến dịch ở sông Bạch Đằng và đã đánh bại Hoằng Thao.

Năm 1077, Lý Thường Kiệt cũng chỉ mở một chiến dịch ở sông Như Nguyệt (sông Cầu) và cũng đánh bại Quách Quỳ.

Sự vật, quy luật hình thành và vận động luôn có điều kiện, hoàn cảnh phát sinh, phát triển nên phải rất linh hoạt không máy móc, cứng nhắc; như thế mới là biện chứng.


85. Hướng tiến công chiến lược nên chọn hướng địch yếu, nhưng hiểm yếu; và đạt được 3 yêu cầu:

   1) Dễ phá vỡ chiến lược.
   2) Dễ phát triển chiến lược.
   3) Địch phản kích, ứng cứu khó.

Mùa Xuân 1975, ta chọn Tây Nguyên mở đầu cho chiến cục mùa Xuân, cho cuộc Tổng tiến công là phù hợp với nguyên tắc và yêu cầu trên. Thực tế đã trả lời. Địch ở đây yêu hơn Huế, Đà Nẵng nên dễ phá vỡ.

Sau khi địch bị phá vỡ, ta dễ phát triển xuống các tỉnh ven biển đồng bằng Khu 5 và dễ phát triển về hướng Sài Gòn hơn là Huế - Đà Nẵng. Đội dự bị của địch khó đến ứng cứu vì còn bị ràng buộc ở Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn. Và nêu có đến cứu, ta cũng dễ đối phó.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:51:11 am
86. Chọn mục tiêu tiến công là giải quyết mâu thuẫn trong các tình huống chiến lược.

Tình huống chiến lược thì có nhiều và có rất nhiều mâu thuẫn trong đấu tranh giữa 2 bên. Tình huống nào là quan trọng, là quyết định cho sự vận động và phát triển của chiến tranh. Giải quyết được tình huống đó thì chiến dịch, chiến cục, chiến tranh phát triển được; nếu không thì không phát triển được.

Năm 1427, ba mục tiêu chiến lược xuất hiện trước Lê Lợi và Nguyễn Trãi: Vương Thông ở Đông Quan, Liễu Thăng ở Chi Lăng và Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa. Mục tiêu nào, tình huống chiến lược nào là quan trọng? Mâu thuẫn chiến lược nào là quyết định?

Vương Thông ở Đông Quan là mâu thuẫn quyết định khi Liễu Thăng, Mộc Thạnh chưa vào tới biên giới. Nếu giải quyết được Vương Thông thì giải quyết được chiến tranh. Nếu giải quyết được Vương Thông rồi, Liễu Thăng, Mộc Thạnh vẫn tiến vào thì mâu thuẫn chủ yếu lại chuyển hóa sang Liễu Thăng.

Trong chiến tranh hiện đại phải đặc biệt chú ý đánh quân phản kích đổ bộ đường không bằng máy bay lên thẳng. Ví như năm 1972, trong kháng chiến chống Mỹ, ta đã không đánh bại được quân dù hạ cánh bằng máy bay lên thẳng đi cứu An Lộc, nên đã không giải quyết được An Lộc. Năm 1975, ở Buôn Ma Thuột, ta đánh bại được hoàn toàn sư đoàn 23 Sài Gòn đi cứu Buôn Ma Thuột và còn tạo đà cho phát triển.

Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô, mùa xuân 1943 ở chiến dịch Xít-ta-lin-grát, Hồng quân đã đánh bại đội quân phản kích của thống chế Manh-xi-tanh, nên đội quân bị bao vây của thống chế Vôn Pao-lút phải đầu hàng.

Mùa đông 1427, đoàn quân cứu viện của Liễu Thăng bị tiêu diệt ở Chi Lăng, nên Vương Thông ở Đông Quan phải đầu hàng.

Trong phòng ngự, cuối năm 1972 và đầu 1973 ta đánh bại được lực lượng mới của địch tiến công chiếm Cửa Việt ở Quảng Trị, nên đã giành được thắng lợi, giữ vững được trận địa. Nhưng trong chiến cục 1972 ta không kiềm chế và đánh bại được phản kích của sư dù Sài Gòn.

Trong tiến công phải cố gắng hạn chế đội dự bị của địch đến cứu viện, nhất là đội dự bị cơ động bằng máy bay lên thẳng. Muốn thế phải đánh trên nhiều hướng; hướng nào có đội dự bị của địch có thể cơ động thì cần phải kìm chế nó.

Mùa Xuân 1975, ta cho Sư đoàn 304 ở hướng Đại Lộc đánh vào lữ dù của địch ở phía tây Đà Nẵng, kiềm giữ nó ở đó, không cho cơ động lên Tây Nguyên. Còn lực lượng dự bị của địch ở Sài Gòn thì có Quân đoàn 4 đóng ở gần đó, nên địch chỉ có thể cơ động nhỏ giọt một liên đoàn biệt động quân lên Tây Nguyên.

Đối phó với một chiến dịch tương đối lớn gồm 4 đến 5 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, mà chỉ tăng thêm một liên đoàn thì ít có ý nghĩa.

Tiến công địch, không phải chỉ nhìn quân địch trực tiếp ở tuyến tác chiến, không phải chỉ nhìn thê đội một của địch, phải xem cả thê đội hai của địch, phải xem cả các đội dự bị của địch; nhất là đội tổng dự bị cơ động của địch.

Trong kháng chiến chống Mỹ, sư đoàn kỵ binh bay số 1, lữ đoàn dù 173, 101 của Mỹ là lực lượng dự bị cơ động toàn chiến trường, là những đơn vị chữa cháy của toàn chiến trường. Các đơn vị đó đã cứu được một số nơi trên chiến trường khi bị tiến công.


87. Tiêu diệt được mục tiêu, nhưng không tiêu diệt được quân phản kích, ứng cứu thì thắng lợi không được đầy đủ, hoàn toàn; mà có khi còn bị thất bại. Phải hạn chế hành động phản kích của địch, hạn chế được đội dự bị của địch. Phải đối phó với phản kích, ứng cứu và đội dự bị của địch bằng cả đường bộ, đường không và đặc biệt bằng đường không.


88. Tiêu diệt được mục tiêu và tiêu diệt được quân phản kích, ứng cứu đồng thời vây hãm, cô lập các tập đoàn khác của địch thỉ có thể gây ra phản ứng dây chuyền tạo ra đột biến chiến dịch, dẫn đến đột biến chiến lược, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh một cách mau lẹ đột ngột, tạo ra bước ngoặt về chiến tranh, tạo ra rối loạn về chiến lược cho địch và có thể dẫn địch đến bên bờ của sụp đổ.

Các tình huống chiến dịch có liên quan với nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Một trận thắng lớn, quan trọng có thể làm rung chuyển cả chiến dịch. Sau khi bị thất bại nặng nề; các nơi khác đánh nhỏ, hoặc không đánh địch cũng bỏ chạy. Đó là phản ứng dây chuyền và tạo ra đột biến chiến dịch.

Mùa đông 1950, trong kháng chiến chống Pháp, trong chiến dịch Biên giới, ta tiêu diệt cứ điểm Đông Khê, cắt đường tiếp tế cho Cao Bằng thì Sác-tông ở Cao Bằng rút chạy khỏi Cao Bằng, khi ta tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ lên cứu viện thì quân địch ở thị xã Lạng Sơn rút chạy, kéo theo cả sự rút chạy của địch khỏi Đình Lập, An Châu.

Đòn Đông Khê gây ra phản ứng dây chuyền tới Cao Bằng. Sau khi ta tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông lại tiếp tục gây ra phản ứng dây chuyền dẫn đến địch ở Lạng Sơn rút chạy. Lạng Sơn rút chạy đã tạo ra bước phát triển, bước thắng lợi đột biến về chiến dịch; Lạng Sơn không đánh mà chạy. Đó là đột biến của chiến dịch đồng thời cũng tạo ra bước phát triển đột biến về chiến lược tạo chất mới về chiến lược, buộc địch từ tiến công chiến lược phải chuyển sang phòng ngự chiến lược.


Mùa Xuân 1975, sau khi Buôn Ma Thuột bị thất thủ và sư đoàn 23 địch bị tiêu diệt cũng gây ra phản ứng dây chuyên và tạo ra đột biến chiến dịch. Ta đã dùng bốn biện pháp chiến dịch để tạo ra phản ứng dây chuyển và đột biến về chiến dịch:

   1- Đánh cắt đường, cô lập các cụm quân của địch.
   2- Nghi binh đánh Plây Cu.
   3- Đột phá Buôn Ma Thuật.
   4- Đánh bại phản kích. Và thêm 2 biện pháp thứ 5 và thứ 6, lại tạo ra đột biến về chiến lược.


Đó là tiêu diệt đoàn quân rút chạy của địch từ Plây Cu về Phú Yên; và ba mũi tiến quân xuống chiếm đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, Nha Trang, Quy Nhơn, Tuy Hòa, chia cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi và trực tiếp uy hiếp Sài Gòn. Trạng thái mới về chiến lược xuất hiện. Chất mới về chiến lược xuất hiện biến thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược. Chất mới về chiến lược không phải xuất hiện một cách từ từ, tiệm tiến mà xuất hiện một cách đột biến. Sự vật mới ra đời một cách mau lẹ. Sau khi ta tiêu diệt đoàn quân rút chạy khỏi Plây Cu và tiến xuống chiếm các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ thì lại diễn ra đột biến về chiến lược, làm xoay chuyển hẳn cục diện chiến lược. Khi Huế - Đà Nẵng thất thủ thì lại diễn ra đột biến về chiến tranh. Cục diện chiến tranh thay đổi đột ngột, tạo ra bước ngoặt chiến tranh dẫn quân địch đến bên bờ của sự sụp đổ.


Trong vận động của chiến tranh cũng như các sự vật, có phát triển tiệm tiến và phát triển đột biến. Phải có nghệ thuật lãnh đạo giỏi để tìm ra cách tạo cho sự vật (chiến dịch, chiến tranh) phát triển đột biến. Như thế sự vật mới phát triển nhanh và có hiệu quả lớn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:52:35 am
89. Để tiến hành nhiều chiến dịch trong chiến cục, nên tổ chức nhiều tập đoàn chiến lược - đạo quân, và các tập đoán chiến dịch, các đơn vị địa phương.

Chiến cục nên tổ chức nhiều chiến dịch và các hoạt động tác chiến. Chiến dịch thì có chiến dịch lớn, chiến dịch nhỏ.

Do đó mà nên tổ chức nhiều tập đoàn chiến lược - đạo quân và các tập đoàn chiến dịch.

Mùa Xuân 1975 ta tổ chức hai tập đoàn chiến lược ở tuyến một là Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và một tập đoàn chiến lược làm đội tổng dự bị. Tập đoàn chiến lược phía bắc đứng ở Huế - Đà Nẵng gồm Quân đoàn 2 và các sư đoàn cùng lực lượng vũ trang của Quân khu Trị - Thiên và bắc Quân khu 5. Tập đoàn chiến lược phía nam đứng chân ở phía bắc, tây bắc Sài Gòn, gồm Quân đoàn 4 và các đơn vị của lực lượng vũ trang Quân khu 7.

Đội tổng dự bị là Quân đoàn 1 đứng ở phía sau. Ngoài ra còn tổ chức một tập đoàn chiến dịch mạnh ở Tây Nguyên gồm một cụm sư đoàn gồm có 4 sư đoàn. Như thế ta mới mở được nhiều chiến dịch trên các hướng chiến trường. Địch ở chiến trường nào cũng phải đối phó tại chỗ, không cơ động ứng cứu nhau được. Như thế ta đã thành công trong phân tán địch, không cho địch cơ động, tập trung.

Về vấn đề tổ chức đội tổng dự bị. Trong chiến cục này ta hơn hẳn địch. Ta có cả 1 quân đoàn làm đội tổng dự bị, chưa tham chiến ở đợt một, sẵn sàng làm các nhiệm vụ chiến lược mới phát sinh. Còn địch chỉ tổ chức đến cấp sư đoàn, mà lại phải tham chiến ngay ở đợt đầu, làm ngay nhiệm vụ của thê đội một chiến lược - chiến dịch và sử dụng phân tán. Năm 1972 thì địch sử dụng đội tổng dự bị chiến lược khá hơn ta.

Năm 1945, Hồng quân Liên Xô cũng tổ chức ra 6 tập đoàn chiến lược - 6 đạo quân là 6 phương diện quân tác chiến ở tuyến một, đánh sang các nước Đông Âu và nước Đức phát xít. Đặc biệt, đánh vào Béc-lin đã tổ chức ra một tập đoàn chiến lược khổng lồ hiếm có trong lịch sử chiến tranh gồm 2 phương diện quân chủ lực của Nguyên soái Giu-côp và Nguyên soái Kô-ni-ép có số quân là 2,5 triệu người; 34,5 ngàn khẩu pháo, cối; gần 6,5 ngàn xe tăng và pháo tự hành; gần 4,8 ngàn máy bay chiến đấu1 (Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự, tập 2, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản, H. 1996, tr. 97).


90. Phương pháp tiến công chiến lược là đồng thời trên toàn tuyến hoặc gối đầu, hoặc kế tiếp. Phải bảo đảm an toàn cho hướng tiến công chủ yếu. Nên tổ chức nhiều chiến dịch, có từ 2 chiến dịch chiến lược trở lên và các chiến dịch khác.

Trong chiến cục, có nhiều mục tiêu chiến lược và tổ chức nhiều chiến dịch thì nên đồng thời tiến công là phương pháp tốt nhất, có hiệu quả nhất. Như thế thì ở đâu địch cùng một lúc cũng phải đối phó ở khắp nơi, không cơ động ứng cứu nhau được.

Kháng chiến chống Mỹ, năm 1972 ta tiến công địch đồng thời trên cả 3 chiến trường trọng điểm: Quảng Trị, Lộc Ninh, Đắc Tô - Tân Cảnh và các hoạt động tác chiến khác, các chiến dịch nhỏ khác trên toàn bộ chiến trường. Địch ở đâu cũng phải đối phó. Chúng có cái mạnh hơn ta là cơ động đội tổng dự bị là sư đoàn dù bằng máy bay lên thẳng đi ứng cứu được cho các chiến trường, nên thắng lợi của ta có bị hạn chế. Tuy vậy cả 3 chiến trường lần đầu tiên ta đều tiêu diệt được các đơn vị cỡ trung đoàn và sư đoàn thiếu và giải phóng được đất đai cỡ quận huyện.

Năm 1975, ta cũng bố trí lực lượng tiến công trên 3 chiến trường trọng yếu Huế - Đà Nẵng, Tây Nguyên, Sài Gòn. Lần này là cuộc tổng tiến công, lực lượng lớn, nhiều binh chủng, nên khó tiến công đồng thời trên cả 3 hướng, mà dùng phương pháp gối đầu và lần lượt kế tiếp. Có cái hay là ta bố trí các cụm lực lượng trên cả 3 hướng. Do đó không đồng thời được, nhưng có thể gối đầu hoặc kế tiếp được. Chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc thì chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã phát động và kế tiếp là chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1285, Trần Hưng Đạo cũng vận dụng phương pháp đồng thời. Đạo quân bắc sông Hồng đánh Thoát Hoan ở Thăng Long thì đạo quân nam sông Hồng cũng đánh Toa Đô. Do đó mà 2 đạo quân Thoát Hoan và Toa Đô cùng bị tiêu diệt chỉ cách nhau có mấy ngày.

Năm 1427, Lê Lợi cũng đồng thời vây hãm Vương Thông và đánh Liễu Thăng và Mộc Thạnh.

Năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô đánh sang các nước Đông Âu và nước Đức phát xít cũng đồng thời tiến công trên toàn tuyến từ bờ biển Ban-tích đến bờ biển Đen.

Cuộc tổng tiến công lớn lao như thế, nên Hồng quân đã giải phóng Béc-lin trước quân Đồng minh và giải phóng được các nước Đông Âu và cả nước Áo ở Trung Âu. Hồng quân đã làm cho ước vọng của Sớc-sin không thực hiện được: "Tôi muốn rằng chúng ta sẽ đến trước người Nga ở một số khu vực trung tâm châu Âu"1 (Sách dẫn trên, tr. 220).

Phương pháp tiến công đồng thời là tốt nhất. Nhưng phải có lực lượng mạnh và có ưu thế hơn địch.

Thứ hai là phương pháp gối đầu. Phải xem kết quả của cuộc tiến công thứ nhất, cuộc tiến công trước như thế nào mà hành động.

Phương pháp thứ 3 là tiến công lần lượt kế tiếp. Phương pháp này thắng lợi phải kéo dài hơn.

Không dùng được phương pháp tiến công đồng thời nhưng phải phối hợp với hướng tiến công trước mà đồng thời phải kìm giữ địch ở các hướng để hỗ trợ cho hướng tiến công trước.

Lê Lợi đã vây hãm Vương Thông và ngăn chặn Mộc Thạnh đồng thời với đòn tiến công tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng.

Nếu không tiến công được đồng thời trên các hướng thì phải bảo đảm an toàn cho chiến dịch tiến công đầu tiên giành thắng lợi.

Mùa Xuân 1975, Quân đoàn 2 và các lực lượng vũ trang cả Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5 kìm giữ địch ở chiến trường Huế - Đà Nẵng và Quân đoàn 4 cùng lực lượng vũ trang Quân khu 7 kìm giữ địch ở Sài Gòn bảo đảm cho chiến trường Tây Nguyên mở đột phá khẩu chiến lược ở Buôn Ma Thuột.

Trong chiến dịch hoặc chiến cục, cần bảo đảm an toàn cho hướng chủ yếu của chiến dịch hoặc bảo đảm an toàn cho chiến dịch chủ yếu của chiến cục. Như thế thì chiến dịch và chiến lược mới phát triển thuận lợi được.

Trong trận đánh Buôn Ma Thuột năm 1975, để bảo đảm cho Sư đoàn 316 được thuận lợi an toàn trong tiến công, ta đã dùng Sư đoàn 320 đứng chân ở phía bắc Buôn Ma Thuột bảo đảm cho cánh bắc của sư đoàn, và dùng Sư đoàn 10 đánh Đức Lập để bảo đảm cho hướng tây nam của sư đoàn.

Năm 1945, khi tiến công vào Béc-lin, hướng tiến công chủ yếu của phương diện quân Bê-lô-rút-si-a số 1 của Nguyên soái Giu-cốp được phương diện quân Bê-lô-rút-si-a số 2 của Nguyên soái Rốt-cô-xốp-ski bảo đảm cánh phải và được phương diện quân U-cơ-rai-na số 1 của Nguyên soái Kô-ni-ép bảo đảm cánh trái. Do đó mà các cánh quân đều phát triển thuận lợi và tốc độ tiến công cao, nhịp độ phát triển nhịp nhàng.

Về phía quân Đồng minh đánh vào Tây Âu, vì thiếu sự bảo đảm an toàn, nên có đơn vị tiến công đã bị đẩy lùi, hoặc bị đánh tan.

Tháng 9 năm 1944, trong 1 chiến dịch được tiến hành trên đất Hà Lan, quân Đồng minh đã không bảo đảm cạnh sườn cho mũi tiến công, nên đã bị quân Đức đẩy lùi; còn về bộ đội đổ bộ đường không, quân Đồng minh đã sử dụng tập đoàn quân đổ bộ đường không số 1 gồm 3 sư đoàn đổ bộ đường không và một lữ đoàn dù. Đây là một cuộc tác chiến đổ bộ đường không lớn nhất, có một không hai trong thế chiến thứ 2.

Quân đổ bộ đường không đã nhảy rất sâu vào hậu phương của quân Đức từ 30km, 60km đến 90km. Bộ phận nhảy rất sâu vào hậu phương đối phương 90km không được bảo đảm an toàn tốt, nên đã bị quân Đức đánh tan1 (Sách dẫn trên, tr. 220, 221).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:54:01 am
91. Cần xác định nhiệm vụ, tính chất các chiến dịch, thứ tự phát động các chiến dịch và phối hợp các chiến dịch phối hợp chiến cục trên toàn chiến trường.


92. Cần có tạo thế chiến cục trước khi mở chiến dịch đầu tiên. Tạo thế chiến cục bằng thể trận chiến lược và các hoạt động tác chiến.


93. Chia cắt chiến lược và chiến dịch không những gây cho địch khó khăn về tác chiến mà còn gây ra hoang mang về tinh thần, tâm lý cho cả quân và dân của địch, suy yếu về tinh thần tâm lý cũng có giá trị ngang như hoặc hơn sự suy yếu về quân sự.

Trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, ta đánh chiếm đường 19, chia cắt chiến lược giữa Quy Nhơn ở đồng bằng ven biển với Plây Cu ở vùng núi, làm cho địch không những bị ảnh hưởng về tiếp tế hậu cần cho quân đội mà tiếp tế hậu cần khó khăn không chỉ ảnh hưởng đến tác chiến, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tinh thần của binh lính. Đối với nhân dân và vợ con binh lính hàng hóa mua bán hiếm hoi, giá cả tăng, đi lại thăm hỏi người nhà giữa các tỉnh không được, quân lính hoang mang. Nhân dân, vợ con binh lính hoang mang hơn. Điều đó tác động vào binh lính, làm cho quân lính lại thêm hoang mang. Đòn đánh vào tinh thần, tâm lý như thế có giá trị không kém gì một đòn đánh về quân sự.


94. Bị bao vây chia cắt và tinh thần hoang mang thì có thể giảm đi khoảng một nửa sức chiến đấu. Tránh chỗ mạnh, tránh đánh vỗ mặt mà đánh vào chỗ sơ hở, hiểm yếu vào sườn hoặc sau lưng địch.


95. Phản công có thể có phòng ngự trước và không có phòng ngự trước. Phản công không có phòng ngự trước, nhưng có thê có tác chiến của lực lượng vũ trang tại chỗ hỗ trợ.

Phản công có phòng ngự trước như Cánh Đồng Chum năm 1972, Mát-xcơ-va, Cuốc-cơ, trong chiến tranh thế giới thứ 2 và Lý Thường Kiệt ở sông Như Nguyệt.

Phản công không có phòng ngự trước như cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và Ngô Quyền ở sông Bạch Đằng năm 938. Không có phòng ngự trước, nhưng có lực lượng tại chỗ hỗ trợ thì phản công sẽ thuận lợi hơn, nhất là khi địch tiến công bằng đổ bộ đường không và đổ bộ đường không bằng máy bay lên thẳng (phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971).


96. Phòng ngự tích cực, ngoài hành động phản kích ra, cần có tiến công địch ở ngoài trận địa phòng ngự, đánh vào đằng sau đội hình tiến công của địch.

Phòng ngự tích cực, ngoài hành động phản kích ra, tiến công địch ở ngoài trận địa phòng ngự, đánh vào đằng sau đội hình tiến công của địch thì hiệu quả phòng ngự càng lớn. Đánh vào đằng sau đội hình tiến công của địch gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Phòng ngự Cánh Đồng Chum năm 1972 đã có mầm mống tiến công địch ở ngoài trận địa phòng ngự. Trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) phòng ngự trên cao điểm 601 ở Võ Định, phía bắc thị xã Kon Tum năm 1973 đánh địch ở trong trận địa phòng ngự và trước trận địa phòng ngự. Đòn đánh địch ở trước trận địa phòng ngự có tính tích cực lớn và có hiệu quả lớn.


97. Chiến đấu nhất thiết phải có tiến công và phòng ngự. Phòng ngự chiến dịch và phòng ngự chiến lược có hay không thì tùy theo so sánh lực lượng hai bên và nghệ thuật quân sự, trong từng giai đoạn chiến tranh. Phải rất linh hoạt sinh động căn cứ vào thực tiễn, không máy móc cứng đờ.

Có phòng ngự chiến dịch và phòng ngự chiến lược. Năm 1077, Lý Thường Kiệt có phòng ngự chiến lược ở sông Như Nguyệt (sông Cầu) để bảo vệ kinh đô Thăng Long.

Năm 1941, Liên Xô có phòng ngự chiến lược để bảo vệ đất nước. Chiều rộng của trận tuyến phòng ngự chiến lược trên những hướng chủ yếu và trọng yếu có tới hàng ngàn ki-lô-mét1 (Pavel Jiline - Viện sĩ thông tấn, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô - "Chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Xô-viết trong thời đại ngày nay", tr. 70. "Biên tập khoa học xã hội ngày nay", Viện Hàn lảm khoa học Liên Xô Mốt-xcơ-va 1985, bản tiếng Pháp).

Trần Hưng Đạo và Hồ Chí Minh đều không có phòng ngự chiến lược để bảo vệ thủ đô Thăng Long - Hà Nội. Như thế mới là biện chứng. Tình hình các cuộc chiến tranh có khác nhau. Không cuộc nào giống cuộc nào và tình hình các giai đoạn chiến tranh cũng khác nhau.


98. Nếu yếu hơn địch thì càng phải lợi dụng địa hình dử địch vào nơi hiểm trở để tiêu diệt.


99. Cơ động tạo ra lực lượng.

Cơ động bằng máy bay lên thắng vừa tạo ra lực lượng, vừa tạo ra thời gian và không gian. Năm 1972, sư dù ngụy Sài Gòn ở Kon Tum cơ động về cứu An Lộc. Chúng đã tăng thêm lực lượng cho An Lộc; và trong một thời gian rất ngắn chúng đã tới An Lộc và chúng đã rút hẹp được không gian từ Kon Tum đến An Lộc, và sau đó, cũng trong chiến cục Xuân Hè 1972, chúng lại cơ động ra Quảng Trị và cũng lại cứu được Quảng Trị. Nhưng do ta tổ chức 3 chiến dịch trên 3 hướng chiến trường nên địch phải phân tán đối phó, do đó ta vẫn giành được thắng lợi, tuy có bị hạn chế.

Mùa Xuân năm 1975, sư đoàn 23 (Quân khu 2 Sài Gòn) từ Plây Cu cơ động xuống cứu Buôn Ma Thuột thì lại bị đánh tan. Năm 1427, Lê Lợi cũng có nghệ thuật tết nên đã đánh bại Liễu Thăng.

Mùa xuân năm 1943, Hồng quân Liên Xô cũng giỏi nên đã đánh tan cơ động phản kích của Vôn Manh-xi-tanh ở Xít-ta-lin-grát.

Nắm được quy luật thủ đoạn của địch và có kế hoạch đối phó tốt thì vẫn phá được sự cơ động và cơ động bằng máy bay lên thẳng của địch.


100. Sức mạnh lớn của chiến tranh hiện đại là không quân và tên lửa. Phải có sức mạnh đánh không quân và tên lửa, đánh máy bay lên thẳng bằng 3 thứ quân.


101. Đánh giao thông đường bộ là một trong các cách đánh dễ nhất. Tuyến là nơi lực dàn mỏng. Điểm là nơi lực tập trung hội tụ.


102. Điều kỳ tài của vận động thế trận là nghệ thuật chính kỳ. Chính kỳ biến hóa vô cùng. Chính đánh, kỳ thắng; kỳ đánh chính thắng; chính kỳ cùng thắng.

Thế trận và các đòn đánh là có sự quan hệ với nhau, và hỗ trợ, tác động lẫn nhau, về mặt nghệ thuật, ít khi đánh một mũi một hướng. Như thế địch sẽ tập trung đối phó và ta không lừa, không điều được địch. Cho nên phải có mũi chính mũi phụ, mũi nghi binh; mũi tiến công chính diện, mũi bao vây, vu hồi; mũi đánh công khai, mũi đánh bí mật, bất ngờ.

Mũi đánh chính diện đánh công khai; mũi đánh bí mật, bất ngờ, đánh bên sườn; người xưa gọi là chính và kỳ. Có khi mũi chính đánh, mũi kỳ thắng. Có khi mũi kỳ đánh, mũi chính thắng. Điều đó tùy theo sự vận dụng, căn cứ vào tình hình địch ta.

Trần Hưng Đạo cho là chính kỳ biến hóa.

Hồ Chí Minh nói "dương đông, kích tây" cũng có ý nghĩa như thế.

Trong trận đánh Thoát Hoan ở Thăng Long năm 1285, Trần Hưng Đạo cũng vận dụng nghệ thuật này.

Trần Hưng Đạo cho vây đánh thủy trại Chương Dương để kéo đại quân của Thoát Hoan ra cứu, rồi dùng đội chủ lực đánh Thoát Hoan. Khi Thoát Hoan thống lĩnh đại quân ra cứu Chương Dương bị đánh tan tác thì đội đặc nhiệm của Trần Hưng Đạo phục sẵn ở phía tây thành Thăng Long liền đánh chiếm tổng hành dinh bỏ ngỏ của Thoát Hoan. Tổng chỉ huy quân Nguyên - Mông phải tháo chạy qua sông Hồng về nước.

Đó là kỳ đánh, chính thắng, rồi chính thắng và kỳ đánh và cuối cùng thì chính kỳ cùng thắng.

Đó là chính kỳ biến hóa vô cùng.

Trong trận đánh Thăng Long năm 1789, mũi chính binh của Quang Trung đánh ở Hạ Hồi, Ngọc Hồi thì mũi kỳ binh của đô đôc Đặng Tiến Đông đánh vu hồi qua Đống Đa tiến vào đánh chiếm tổng hành dinh của Tôn Sĩ Nghị ở tây Long Cung. Đó là chính đánh, kỳ thắng.

Xuân năm 1975, ở chiến dịch Tây Nguyên, mũi kỳ binh của ta đánh Plây Cu, và cắt đường 19, rồi mũi chính binh của ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Đó lại là kỳ đánh, chính thắng.

Chính, kỳ biến hóa vô cùng, vận động kỳ diệu.


103. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế thời.

Đánh nhau, đầu tiên phải có mưu kế. Định dùng lực lượng nào, biện pháp, thủ đoạn gì để nghi binh lừa địch. Dùng lực lượng nào để chia cắt địch. Dùng lực lượng nào để bao vây, cô lập địch. Dùng lực lượng, biện pháp, thủ đoạn gì để kìm chế, hạn chế những cái mạnh của địch. Mưu kế đó sinh ra thế trận. Thế trận vận động, chuyển hóa sinh ra tình huống. Đối chọi tình huống sinh ra thời cơ.

Đánh nhau phải dùng mưu, không đơn thuần dùng lực; không chỉ lực chọi lực. Phải đấu trí và đấu lực.

Phải dùng mưu để đánh địch, và rồi phải dùng thế trận hiểm hóc vận động đối chọi với địch, tạo ra tình huống tốt và thời cơ để thắng địch.

Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo dùng mưu dụ địch vào bãi cọc Bạch Đằng, rồi dùng thế trận xung quanh bãi cọc và thời điểm địch đi vào bãi cọc để đánh thắng địch.

Chiến dịch Biên Giới năm 1950, ta bày mưu đánh Đông Khê để gọi địch lên cứu viện và bày thế trận trên đường số 4. Khi địch đi vào thế trận đã bố trí của ta, đúng vào thời điểm thế trận ta vận động đưa địch vào chỗ hiểm của thế trận mà tiêu diệt địch, thắng địch.


104. Chiến dịch nào gây ra được phản ứng dây chuyền và tạo ra đột biến là một chiến dịch hay.


105. Chiến cục có từ hai chiến dịch chiến lược trở lên là một chiến cục lớn.


106. Chiến cục có từ hai chiến dịch chiến lược trở lên cùng các hoạt động tác chiến du kích rộng khắp trong toàn bộ đội hình của đối phương là một chiến cục mạnh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Giêng, 2023, 07:54:49 am
KẾT LUẬN


Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược. Sức mạnh của nó là đường lối kháng chiến đúng đắn: là sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết trên, dưới, đoàn kết quân dân; là tinh thần quyết chiến, quyết thắng, dám đấu tranh, dám giành thắng lợi; là truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc; là tài thao lược; là sự sáng tạo trong kháng chiến.


Với sức mạnh đó, nên nước ta trong đấu tranh chống xâm lược nhỏ có thể thắng quân lớn, ít có thể địch nhiều.

Do nhận thức được chiến tranh và có phương pháp lãnh đạo chiến tranh một cách biện chứng nên trong lịch sử giữ nước của dân tộc từ xa xưa đến thời đại Hồ Chí Minh đã giải quyết mâu thuẫn vô cùng gay gắt là nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều một cách thành công.


Các nhà lãnh đạo chiến tranh của ta đã nắm được quy luật của chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược; thấy được sự vận động biện chứng của nó để đi đến thắng lợi. Qua đấu tranh thực tiễn lâu đời và khái quát lý luận của đặc điểm chiến tranh nhân dân ta đã tạo ra một trường phái quân sự Việt Nam.


Trường phái quân sự Việt Nam là tinh thần kháng chiến kiên cường của sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy đấu trí, đấu lực để đánh địch, nặng về dùng mưu kế, thế trận để đánh địch; lấy tinh thần, trí thông minh và tài thao lược để đánh địch, thắng địch.


Từ đó mà xây dựng thành một học thuyết quân sự Việt Nam; xây dựng một hệ thống lý luận, một hệ thống quy luật tư tưởng quan điểm và nguyên tắc về chiến tranh cách mạng của quẫn chúng; một hệ thống lý luận về chiến tranh chính nghĩa của nhân dân; học thuyết về sự kết hợp giữa chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích; về tác chiến cài xen kẽ; về sự kết hợp giữa chính trị, tinh thần với quân sự trong chiến tranh; về quan điểm đường lối, phương châm, phương thức. Có thể khái quát mấy ý chính:


Một đường lối: chiến tranh nhân dân.

Hai dạng chiến tranh: chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích.

Ba thứ quân: quân chủ lực, quân địa phương và dân quân du kích.

Bốn dạng vũ khí:

a) Thô sơ và thô sơ cải tiến.

b) Mang vác và mang vác hiện đại.

c) Cơ giới hóa và cơ giới hóa trình độ cao.

d) Vũ khí tác chiến điện tử và chống tác chiến điện tử.

Năm kế sách: lực, thần, thế, thời, mưu.

Được 5 điều này thì có sức mạnh lớn.

Học thuyết quân sự của ta là học thuyết quân sự cách mạng, tiên tiến, có tính khoa học và thực tiễn cao, có sự sáng tạo lớn. Có thế nhân dân ta mới đánh thắng được các đội quân xâm lược mạnh, hung bạo nhất của thời đại, và sẵn sàng đánh thắng cả chiến tranh bằng vũ trang và chiến tranh bằng tư tưởng.


Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã phát triển lên tầm cao mới. Chúng ta luôn luôn trau dồi để có đủ sức mạnh bảo vệ, xây dựng Tổ quốc và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2023, 10:13:54 am
THẤT BẠI CỦA MỘT SỨC MẠNH PHI NGHĨA1
(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1975)

Lời nhà xuất bản


Sau hơn hai mươi năm chiến đấu kiên trì và kết thúc oanh liệt bằng trận quyết chiến chiến lược thần tốc mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã toàn thắng.

Kháng chiến chống Mỹ là cuộc chiến tranh yêu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và cũng vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Muốn tìm hiểu và đánh giá được đầy đủ tầm vóc của nó thì phải có nhiều công trình tổng kết, nhiều tác phẩm nghiên cứu về các mặt, các khía cạnh khác nhau của nhiều cơ quan và nhiều nhà nghiên cứu trong những năm tới.


Để bước đầu góp phần vào công việc nghiên cứu rộng lớn nói trên, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân giới thiệu với bạn đọc cuốn "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa" do đồng chí Hoàng Minh viết. Đây là cuốn sách được viết trong hoàn cảnh vừa khẩn trương, bận rộn lại vừa thiếu thốn tài liệu, ở chiến trường xa. Nhưng do nhiệt tình đóng góp của tác giả, bản thảo đã được hoàn thành trong một thời gian tương đối ngắn.


Như nhan đề sách đã nêu, tác giả muốn trình bày những ý kiến của mình về thất bại cay đắng của cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới do đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ, hung bạo và giàu mạnh nhất trong phe đế quốc, tiến hành trên đất nước ta trong hàng chục năm qua. Nội dung sách gồm các vấn đề sau:

- Diễn biến và thất bại liên tục của hàng loạt chiến lược chiến tranh mà đế quốc Mỹ đã từng đem ra dùng trên đất nước ta.

- Những nguyên nhân dẫn đến thât bại của các chiến lược nói trên.

- Hậu quả tai hại của cuộc chiến tranh xâm lược mà đế quốc Mỹ đã phải trả giá đắt và sẽ còn phải trả giá đắt trong nhiều năm nữa.

Nhìn tổng quát, với những tư liệu được tập hợp lại một cách tương đối có hệ thống và những ý kiến nhận xét đánh giá, hoặc chỉ có tính chất nêu vấn đề hoặc đã có tính chất khẳng định, tác giả muốn cố gắng vạch rõ thất bại nặng nề, sâu cay về mọi mặt - nhất là về mặt quân sự - của kẻ thù xâm lược, và mặc nhiên là qua đó còn làm cho người đọc thấy được thắng lợi vĩ đại, vẻ vang của cuộc kháng chiến thần thánh do quân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng.


Bản thảo sách được hoàn thành trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, do đó về diễn biến của cuộc chiến, tác giả mới chỉ viết từ khi đế quốc Mỹ bắt đầu xâm lược cho đến khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, chúng buộc phải rút quân ra khỏi đất nước ta sau những thất bại liên tiếp của nhiều chiến lược chiến tranh, kể cả những chiến lược xâm lược bằng các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến. Dừng lại ở thời điểm này, tất nhiên nội dung sách không khỏi có những chỗ hạn chế Song cũng như nhiều tài liệu khác nghiên cứu về từng mặt hoặc từng giai đoạn chiến tranh, cuốn sách của đồng chí Hoàng Minh vẫn có giá trị đóng góp tích cực vào công việc nghiên cứu chung. Chúng tôi rất mong sẽ được xuất bản các công trình nghiên cứu toàn diện và hoàn chỉnh nay mai.


Nhân dịp cuốn sách ra mắt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhiệt tình cộng tác của đồng chí Hoàng Minh và trân trọng giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài quân đội.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2023, 10:14:52 am
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành tên đế quốc giàu mạnh nhất thế giới tư bản, là kẻ gây chiến và xâm lược quốc tế lớn nhất, là dinh lũy của chủ nghĩa thực dân mới trên thế giới. Đồng thời nhiều nước đế quốc, tư bản lớn mạnh trước chiến tranh thế giới thứ hai hoặc bị thua trận, hoặc thắng trận nhưng đã kiệt quệ vì những tổn thất về người, về của trong chiến tranh, ngày càng lâm vào hàng loạt khó khăn nan giải về kinh tế, tài chính, chính trị, xã hội. Hệ thống thuộc địa tan rã làm mất đi của chúng những nguồn bóc lột béo bỏ. Chủ nghĩa tư bản bước vào một thời kỳ tổng khủng hoảng mới, suy vong mới.


Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội đã thu được những thắng lợi trên nhiều nơi, hình thành một hệ thống thế giới và trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người. Nhiều nước thuộc địa cũ đã thoát khỏi ách thống trị thực dân của các nước đế quốc. Phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức, phong trào công nhân và phong trào dân chủ tiến bộ trong các nước tư bản chủ nghĩa cùng phong trào đấu tranh bảo vệ hòa bình, chống đế quốc, dâng cao chưa từng thấy.


Rõ ràng lực lượng cách mạng thế giới mạnh hơn lực lượng phản cách mạng và ở trên thế tiến công. Chủ nghĩa đế quốc thế giới đứng đầu là Mỹ bị đẩy vào thê ngày càng suy yếu và chống đỡ bị động.

Những đặc điểm trên đây nói lên sự lớn mạnh của lực lượng tiến bộ, lực lượng cách mạng, lực lượng chống đế quốc xâm lược. Những đặc điểm đó cũng nói lên sự suy yếu mới của chủ nghĩa tư bản, đế quốc, chứng tỏ rằng tuy đế quốc Mỹ lợi dụng cuộc chiến tranh thế giới thứ hai để trở nên giàu mạnh, nhưng bản thân chúng đang chứa chất nhiều mâu thuẫn nan giải, đồng thời chúng chỉ là kẻ cầm đầu một thế giới tư bản đang ngày càng ruỗng nát, suy sụp.


Chính trong bôi cảnh lịch sử đó, đế quốc Mỹ đã trương lá cờ "sen đầm quốc tế" của chúng.

Để thực hành chính sách bành trướng, đế quốc Mỹ lợi dụng tình cảnh các nước tư bản đế quốc "đàn em" bị suy yếu trong chiến tranh chưa kịp hồi phục, đã thông qua các thủ đoạn "viện trợ kinh tế, quân sự", khống chế các nước đàn em đó, đẩy các nước này xuống vai trò phụ thuộc Mỹ, thậm chí làm tay sai thực hiện một số chủ trương, chính sách của Mỹ.


Trước làn sóng tiến công của trào lưu cách mạng thế giới, đế quốc Mỹ ra sức ngăn chặn phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, đồng thời tìm cách phản công bằng nhiều hình thức khác nhau, kể cả hình thức can thiệp vũ trang và tiến hành chiến tranh xâm lược.


Nhằm thiết lập sự thống trị độc tôn của tư bản độc quyền Mỹ trên phạm vi thế giới, đế quốc Mỹ đã tiến hành một chiến lược toàn diện bao gồm các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.   

Xét về mặt quân sự, người ta thấy sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã ra sức chạy đua vũ trang, xây dựng một bộ máy chiến tranh đồ sộ, thiết lập một hệ thống căn cứ quân sự rộng khắp thế giới, thành lập hàng loạt khôi liên minh quân sự xâm lược như NATO (châu Âu), SEATO (châu Á), ANZUS (châu Đại Dương), CENTO (Trung tâm), ký kết hàng loạt hiệp ước quân sự tay đối với trên 43 nước. Mỹ đã ra sức chuẩn bị cho chiến tranh toàn diện, chiến tranh hạt nhân, đồng thời đề xuất và chuẩn bị tiến hành những cuộc chiến tranh hạn chế dưới các hình thức "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ" để đàn áp các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Chúng lại áp dụng những thủ đoạn khuynh đảo bí mật, tiến hành những hoạt động lật đổ, đảo chính ở nhiều nơi trên thế giới. Có thể nói, bàn tay tội ác can thiệp và xâm lược của Mỹ đã từ Oa-sinh-tơn tìm cách vươn đến bất cứ nơi nào mà chúng có thể vươn đến được trên thế giới.


Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ đã đề xuất và tiến hành nhiều kiểu "chiến lược toàn cầu" nhằm thực hiện mục tiêu "bá chủ toàn cầu" mà chúng mơ tưởng, thích ứng với tình hình so sánh lực lượng trên thế giới ngày càng bất lợi cho chúng.


Từ năm 1945 đến năm 1950, Mỹ thi hành "chiến lược Tơ-ru-man", được mệnh danh là chiến lược "bao vây ngăn chận". Dựa vào độc quyền về vũ khí hạt nhân, Mỹ âm mưu bao vây Liên Xô, ngăn chặn phong trào cách mạng ở Đông Âu, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Trung Quốc, đồng thời cũng để khống chế các nước tư bản đàn em. Nhưng Mỹ đã thất bại.


Trong những năm 1950, Mỹ thi hành chiến lược "trả đũa ồ ạt" của Ai-xen-hao. Với chiến lược này, Mỹ dùng vũ khí hạt nhân làm "mũi kiếm", vũ khí thông thường làm "lá chắn", chuẩn bị chiến tranh tổng lực thế giới, đe dọa các nước xã hội chủ nghĩa. Cũng trong thời kỳ này, Mỹ đã dần dần can thiệp vào Việt Nam. Tuy nhiên, đến đầu những năm 1950 thì Mỹ mất độc quyền về vũ khí hạt nhân. Thế tiến công của cách mạng thế giới, nhất là của phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh. Chiến lược "trả đũa ồ ạt" của Ai-xen-hao vì thế bị phá sản.


Từ năm 1961 đến 1968, Mỹ thi hành "chiến lược phản ứng linh hoạt" của Ken-nơ-đi. Trong thời kỳ này, Mỹ chú trọng phát triển vũ khí thông thường, lấy đó làm "mũi kiếm", và vẫn ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân, lấy đó làm "lá chắn". Giới cầm quyền Oa-sinh-tơn vừa uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa vừa đặc biệt chú trọng đến việc ngăn chặn và đàn áp các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Trong thời kỳ này, giới cầm quyền Mỹ đề cao cái gọi là học thuyết "chiến tranh chống nổi dậy" và đã gây chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ ở Việt Nam, tiến hành những hoạt động can thiệp vũ trang, gây căng thẳng ở nhiều nơi khác trên thế giới. Cũng trong thời kỳ này, Mỹ ngày càng bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và những thất bại đó đã ảnh hưởng, tác động nghiêm trọng đến bộ máy chiến tranh, đến toàn bộ đời sống chính trị, xã hội, kinh tế của nước Mỹ, đẩy nước Mỹ ngày càng lún sâu vào một cuộc khủng hoảng toàn diện gay gắt. Thất bại nặng nề ở Việt Nam với những hậu quả trước mắt và lâu dài của nó không những đã buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược ở Việt Nam mà còn làm đảo lộn và buộc Mỹ phải thay đổi cả chiến lược toàn cầu của chúng.


Từ năm 1969 đến nay, trên cơ sở "học thuyết Ních-Xơn", Mỹ đã thi hành chiến lược "ngăn đe thực tế". Vận dụng "học thuyết Ních-xơn" và chiến lược "ngăn đe thực tế" vào Việt Nam, Mỹ đã đề ra chính sách "Việt Nam hóa". Thực chất của chính sách này là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam với vũ khí Mỹ, với đô la Mỹ, với hàng vạn cố vấn quân sự Mỹ trá hình dân sự, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ mọi mặt của Oa-sinh-tơn, thông qua tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, một "phủ toàn quyền" trá hình với những tên "thái thú" thực dân kiểu mới Mỹ. Ních-xơn đã bị hất đổ. Chính quyền Pho thay thế chính quyền Ních-Xơn lại theo đuổi việc thi hành "học thuyết Ních-xơn" không có Ních-Xơn. Chẳng khác nào tiếp tục ở trong một tòa nhà mà nền móng đã sụt lở, việc làm trái khoáy đó tất không thể tồn tại lâu dài được. Nhưng, với bản chất phản động, hiếu chiến của đế quốc Mỹ, giới cầm quyền Oa-sinh-tơn vẫn ngoan cố "thua keo này bày keo khác". Chúng tìm cách điều chỉnh lại chiến lược "ngăn đe thực tế" cho thích hợp với tình hình so sánh lực lượng hiện nay trên thế giới. Trong bước suy yếu trầm trọng mới của chúng, đế quốc Mỹ tìm cách điều chỉnh phương pháp, phương tiện nhưng vẫn bám lấy mục tiêu "bá chủ toàn cầu", "chủ nhân ông thực dân mới" của chúng trên thế giới.


Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, trải qua sáu đời tổng thống Mỹ từ Tơ-ru-man đến Pho, các "học thuyết", các "chiến lược toàn cầu" của Mỹ đều chĩa vào mục tiêu: ngăn chặn, đàn áp ba trào lưu cách mạng của thời đại. Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa đế quốc Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai là sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân mới. Đế quốc Mỹ tự coi mình là kẻ có quyền "đi lấp những khoảng trống", thay chân các nước đế quốc, tư bản cũ suy yếu đã và đang bị phong trào giải phóng dân tộc quét hất ra khỏi các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, phụ thuộc cũ của chúng. Khi đưa ra thuyết "Đô-mi-nô" (những cây bài sụp đổ dây chuyền) ngày 7 tháng 4 năm 1954, Ai-xen-hao, tổng thống Mỹ lúc đó, đã coi việc đàn áp và phá hoại phong trào độc lập dân tộc là một mục tiêu quan trọng bậc nhất của chiến lược toàn cầu Mỹ. Ai-xen-hao đã xem xét tình hình Đông Dương lúc đó không những trên cơ sở các tài nguyên của Đông Dương mà cả những tài nguyên của Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a về cao su, thiếc, dầu hỏa... Thi hành chủ nghĩa thực dân mới, đế quốc Mỹ nhằm cố kìm giữ các nước vừa được giải phóng khỏi ách thuộc địa cũ trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, thực hiện chính sách lũng đoạn của bọn tư bản độc quyền Mỹ, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, đồng thời tranh giành vị trí và ảnh hưởng với các đế quốc khác.


Ngay từ đầu những năm 1950, đế quốc Mỹ đã giương đôi mắt cú vọ của chúng hướng vào Việt Nam và Đông Dương. Lúc đó, từ Ai-xen-hao đến Đa-lét đều nhiều lần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á đối với chiến lược toàn cầu của Mỹ. Chúng xem Đông Nam Á là một khu vực đông dân, nhiều của, dồi dào nhiều loại nguyên liệu chiến lược, là một miếng mồi béo bở để bọn tư bản độc quyền Mỹ trục lợi, là một vùng địa lý chíến lược quan trọng. Nhưng đồng thời, đây cũng là một khu vực mà phong trào giải phóng dân tộc đang bùng nổ sôi sục, đặc biệt là tại Việt Nam và Đông Dương. Đông Nam Á và Việt Nam trở thành một trong những nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại. Cách mạng Việt Nam là sự kết hợp của ba trào lưu cách mạng của thời đại, là mũi nhọn của phong trào giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh lịch sử đó, đế quốc Mỹ coi Việt Nam là mục tiêu của chủ nghĩa thực dân mới của chúng, là một vị trí quan trọng đổi với chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng. Ai-xen-hao đã có lần tuyên bố: "Chúng ta hãy tưởng tượng rằng chúng ta mất Đông Dương... Thiếc, vôn-phram là những thứ quý giá sẽ không từ vùng này đến (Mỹ) nữa... Do đó, khi nước Mỹ bỏ phiếu thông qua món tiền 400 triệu đô la để giúp đỡ cuộc chiến tranh này, chúng ta không bỏ phiếu cho một chương trình không có giá trị gì. Chúng ta bỏ phiếu cho con đường ngăn chặn các sự kiện có thể gây ra những hậu quả khủng khiếp đối với nước Mỹ" (Lời phát biểu của Ai-xen-hao trong đại hội thống đốc các bang ở Xi-ét-tơn ngày 4-8-1953).


Rõ ràng giới cầm quyền Oa-sinh-tơn cho rằng nếu đẩy lùi và ngăn chặn được cách mạng Việt Nam và Đông Dương, áp đặt được chính sách thực dân mới của Mỹ ở đấy, thì chúng sẽ có thể thẳng tay bóc lột tài nguyên của Việt Nam và Đông Dương, đẩy lùi và ngăn chặn được cả ba dòng thác cách mạng ỏ Đông Nam Á và nhiều nơi khác trên thế giới.


Với những âm mưu thâm hiểm đó, đế quốc Mỹ đã dấn thân vào con đường chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc đọ sức lịch sử quyết liệt giữa hai mũi nhọn cách mạng và phản cách mạng bắt đầu.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2023, 10:16:22 am
I
ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC MIỀN NAM VIỆT NAM BẢNG CHỦ NGHĨA THỰC DÂN KIỂU MỚI, "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT"


Thay thế đế quốc Pháp bị thất bại và rút lui, phá hoại Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, không thi hành điều khoản tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước Việt Nam, đế quốc Mỹ thực hành xâm lược thực dân kiểu mới đối với miền Nam Việt Nam. Chúng dựng lên ở miền Nam Việt Nam chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự để mưu đồ xâm lược nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và các nước xã hội chủ nghĩa khác.


Tiến hành xâm lược bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam đối với đế quốc Mỹ thật không phải là dễ dàng. Tại đây chúng đã vấp phải nhân dân Việt Nam anh hùng.

Nhân dân miền Nam Việt Nam đã có lịch sử oanh liệt trong cuộc kháng chiến lâu dài chống đế quốc Pháp. Nhân dân miền Nam Việt Nam đã đánh bại những đội quân xâm lược thiện chiến của đế quốc Pháp và giành được những thắng lợi vẻ vang, đã giữ vững và mở rộng được những vùng giải phóng rộng lớn.


Đứng trước một nhân dân cách mạng như thế, đế quốc Mỹ không thể chỉ dùng kinh tế để khống chế chính quyền lệ thuộc hoặc tay sai. Chúng cũng không thể dùng hình thức chính trị thông thường để thống trị nhân dân. Chúng đã phải thi hành một chủ nghĩa thực dân kiểu mới quân phiệt.


Biện pháp chủ yếu của chúng là áp dụng chính sách độc tài, cảnh sát, tù đày, chém giết. Chúng chủ trương khống chế chặt chẽ nhân dân, diệt trừ, thanh lọc cơ sở cách mạng trong nhân dân, đi đến thủ tiêu mọi hành động chống đối trong nhân dân. Hình thức chủ yếu là tập trung dân vào các khu tập trung, gọi là "ấp chiến lược" và cai trị bằng biện pháp quân sự. Chúng dùng những thủ đoạn cực kỳ dã man, tàn bạo như: "tố cộng", lê máy chém đi khắp nơi, tra tấn, đánh đập, chém giết và bắt đi tù đày hàng chục vạn người, từ trẻ em đến người già cả.


Đi đôi với biện pháp quân sự, dựa vào tiền bạc, đế quốc Mỹ còn dùng biện pháp kinh tế để nuôi một bộ máy đàn áp khổng lồ và để mua chuộc nhân dân. Kết hợp với các biện pháp quân sự và kinh tế, đế quốc Mỹ còn dùng những thủ đoạn chính trị, những biện pháp văn hóa tư tưởng rất thâm độc và xảo quyệt để lừa dối và lung lạc nhân dân.


Bao trùm lên bộ máy chính quyền tay sai là tòa đại sứ Mỹ, với hàng ngàn nhân viên các loại, tổ chức thành nhiều cơ quan cai trị, bôi quét bên ngoài bằng những nước sơn bóng bẩy. Những người yêu nước, tiến bộ ở Sài Gòn đã gọi tòa đại sứ Mỹ là "phủ toàn quyền" và tên đại sứ Mỹ là "toàn quyền", "thái thú".


Đó là điển hình, là đặc trưng của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Đó là hình thức thực dân mới quân phiệt, hình thức cao nhất của chủ nghĩa thực dân mới.

Để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới quân phiệt, đế quốc Mỹ phải xây dựng công cụ bạo lực chủ yếu. Đó là quân đội tay sai.

Đế quốc Mỹ đã ồ ạt đưa các loại vũ khí vào miền Nam, mở các trường đào tạo sĩ quan để tổ chức, xây dựng một đội quân tay sai mạnh, có trang bị vũ khí hiện đại và huấn luyện chính quy.

Nói tóm lại, đế quốc Mỹ đã tiến hành xâm lược miền Nam Việt Nam bằng những công cụ lợi hại của chúng, bằng những thủ đoạn vô cùng xảo quyệt, tàn bạo được rút ra từ những kinh nghiệm đàn áp cách mạng trên thế giới.


Thế nhưng, có áp bức thì có đấu tranh, áp bức càng nhiều thì đấu tranh càng mạnh!

Có dốc suôi đứng thì có thác dữ!

Có vỏ quýt dày thì cũng có móng tay nhọn!

Nhân dân miền Nam Việt Nam là một bộ phận của dân tộc Việt Nam anh hùng, quật cường bất khuất, đã có kinh nghiệm và truyền thống mấy nghìn năm đấu tranh vũ trang chống xâm lược, lại được tôi luyện dày dạn và có kinh nghiệm phong phú trong cuộc đấu tranh cách mạng và cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp, quyết không để cho đế quốc Mỹ tiến hành xâm lược bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên đất nước của mình.


Trong thời kỳ đầu, nhân dân miền Nam chủ yếu chỉ dùng những hình thức thông thường của đấu tranh chính trị để chống lại chế độ độc tài của đế quốc Mỹ và tay sai như: đòi tự do dân chủ và dân sinh, chống đàn áp khủng bố, v.v... Đi đôi với việc đấu tranh chính trị chống địch, các cơ sở cách mạng còn mở rộng hoạt động, mở rộng việc xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng, chuẩn bị và tích trữ lực lượng, tạo điều kiện và thời cơ để từng bước đưa cuộc đấu tranh cách mạng tiến lên các cao trào mới. Do đó, mặc cho quân thù tung ra đủ trăm phương ngàn kế, thực lực cách mạng vẫn được mở rộng, cuộc đấu tranh của nhân dân quần chúng vẫn phát triển mạnh mẽ. Các tổ chức cách mạng của quần chúng được xây dựng và dần dần lớn mạnh. Các hạt nhân lãnh đạo được củng cố và phát triển. Kinh nghiệm lãnh đạo và kinh nghiệm đấu tranh của quần chúng cũng ngày càng phong phú. Và đến năm 1959 thì cơ sở vũ trang cách mạng cũng bước đầu được xây dựng. Tuy còn rất nhỏ bé nhưng nó cũng là mầm mống của một nhân tố mới, một thành phần quan trọng để đưa cuộc đấu tranh cách mạng tiến lên những cao trào mới.


Trên cơ sở của phong trào chính trị rộng lớn, đã phát triển một thực lực cách mạng tương đối mạnh, được rèn luyện và thử thách trong cuộc đấu tranh chính trị của các năm trước. Với một lực lượng vũ trang nhỏ bé hỗ trợ, cùng với những điều kiện và thời cơ nổi dậy đã xuất hiện, năm 1959-1960, nhân dân miền Nam Việt Nam đã nhằm vào chỗ yếu của địch là nông thôn để mở một cuộc tiến công quyết liệt. Đó là cuộc nổi dậy rộng lớn của nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, bắt đầu từ tỉnh Bến Tre. Ở miền Trung Trung Bộ, cuộc nổi dậy của nhân dân các dân tộc cũng nổ ra ở một số nơi thuộc vùng núi. Cuộc nổi dậy đã giành được thắng lợi rất oanh liệt. Thắng lợi đó đã chứng tở sự tài tình của cơ quan lãnh đạo và chí khí ngút trời của nhân dân miền Nam. Đó là sự nắm vững so sánh lực lượng giữa ta với địch và sự tính toán đúng thời cơ.


Địch tuy còn mạnh nhưng vẫn bộc lộ những chỗ sơ hở, những chỗ yếu. Lực lượng cách mạng đã mạnh và sẵn sàng hành động. Hướng tiến công chủ yếu nhằm vào chỗ dễ phá vỡ nhất trong trận địả của quân địch.


Cuộc nổi dậy này, nhân dân miền Nam gọi là "đồng khởi", là một cuộc khởi nghĩa từng phần tương đối rộng lớn, đánh vào cơ sở hạ tầng của địch, tức là đánh đổ chính quyền xã thôn của địch, lập nên chính quyền cách mạng ở cơ sở, mở rộng quyền làm chủ, xây dựng một lực lượng cách mạng hùng hậu, chuẩn bị đưa cuộc đấu tranh cách mạng phát triển lên một bước mới.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2023, 10:17:10 am
Cuộc đồng khởi là một thắng lợi chiến lược quan trọng, đã tạo ra một bước phát triển mới, một cục diện mới, một bước ngoặt trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân đân Việt Nam.

Cuộc đồng khởi đã mở ra một vùng giải phóng rộng lớn, có một thực lực cách mạng hùng hậu, tạo ra được một địa bàn, một căn cứ rộng lớn và vững chắc.

Cuộc đồng khởi đã làm rung chuyển bộ máy thống trị của địch, làm lung lay tận gốc rễ chính quyền thống trị của địch. Chúng bị mất đi từng vùng dân, từng mảng đất. Tổ chức thống trị của chúng bị rách nát từng mảng. Địa bàn của chúng bị thu hẹp lại. Lực lượng của chúng bị suy yếu. Lực lượng so sánh giữa hai bên đã có sự thay đổi quan trọng. Một cục diện mỏi có lợi cho cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam Việt Nam đã mở ra.


Đồng khởi là đỉnh cao nhất của thời kỳ lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, có kết hợp một phần vũ trang. Trước kẻ thù vô cùng tàn bạo, có lực lượng vũ trang và cảnh sát mạnh, cai trị theo lối phát xít, nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam đã sáng tạo ra được phương pháp đấu tranh chính trị vô cùng độc đáo, có rất nhiều hình thức phong phú và linh hoạt, từ những khẩu hiệu thấp đòi dân sinh, dân chủ đến các khẩu hiệu chính trị cao. Sự kết hợp giữa hợp pháp, nửa hợp pháp và bất hợp pháp đều được vận dụng một cách tổng hợp và linh hoạt, từ đấu tranh không bạo lực đến bạo lực của quần chúng. Phong trào diễn ra ở cả nông thôn và thành thị.


Lịch sử thế giới trước nay đã xuất hiện nhiều hình thức đấu tranh chính trị. Hình thức cao - hình thức bạo lực của quần chúng, là tổng bãi công, tổng bãi học, tổng bãi chợ, tuần hành thị uy, chiếm công xưởng, chiếm trường học ở thành phố và chiếm ruộng, chiếm kho lúa gạo ở nông thôn, v.v... đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới.


Ở miền Nam Việt Nam, những hiện tượng trên đã xuất hiện và diễn ra một cách liên tục, phát triển từ thấp đến cao, trên một khu vực rộng lớn, liên hoàn, ở phần lớn vùng nông thôn miền Nam cũng như ở nhiều thành phố. Đặc biệt, nó đã phát triển lên hình thức cao hơn là khởi nghĩa đánh đổ chính quyền của địch, lập ra chính quyền cách mạng ở một vùng nông thôn rộng lớn. Trong khi đó, cuộc đấu tranh chính trị cũng phát triển lên một bước mới: đấu tranh trực diện. Các đội quân chính trị của quần chúng đã ngăn chặn được những đội quân vũ trang của địch, ngăn chặn được các đoàn xe tăng, các đội pháo của địch bắn phá hoặc cày ủi xóm làng ruộng nương, ngăn chặn được một số hành động quân sự riêng lẻ của địch.


Nhân dân miền Nam Việt Nam đã kết hợp đấu tranh chính trị với công tác binh vận, địch vận và một phần hoạt động vũ trang để vây đồn, chiếm bốt. Cao hơn nữa là kết hợp đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận với một phần hoạt động vũ trang để tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn. Có thể nói, đây là sự phát triển rất sáng tạo của hình thức bạo lực quần chúng ở miền Nam Việt Nam. Với sức mạnh tổng hợp của hình thức bạo lực quần chúng, cuộc đồng khởi của nhân dân miền Nam Việt Nam đã giành được thắng lợi chiến lược quan trọng.


Tuy nhiên, dù sao đồng khởi cũng chỉ là khởi nghĩa từng phần, mới chỉ đánh đổ chính quyền của địch ở cơ sở xã thôn. Chính quyền cấp tỉnh và chính quyền trung ương của địch vẫn còn tồn tại. Lực lượng vũ trang của địch chưa bị tiêu diệt. Chúng còn giữ được địa bàn quan trọng và còn có khả năng, có sức để phản công. Chúng sẽ dốc lực lượng để đàn áp cách mạng. Vì thế, sau khởi nghĩa từng phần, lực lượng cách mạng phải chuẩn bị ngay chiến tranh, bắt đầu từ chiến tranh du kích và từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy.


Đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần chưa thể tiêu diệt triệt để được quân địch, nhưng nó đã tạo ra lực lượng, điều kiện, thời cơ và thế trận để đưa cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam lên những bước phát triển mới. Đó là bước đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang và đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị để đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt triệt để quân địch.


Thủ đoạn tiến hành chủ nghĩa thực dân mới bằng phương tiện kinh tế và chính trị của đế quốc Mỹ đã bị cuộc đồng khởi của nhân dân miền Nam Việt Nam làm cho phá sản. Trước nguy cơ thất bại đó, đế quốc Mỹ phải sử dụng thêm biện pháp quân sự để bổ sung cho các biện pháp kinh tế, chính trị. Và càng ngày biện pháp quân sự lại càng nổi lên là biện pháp chủ yếu, sẽ phát triển thành một cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.


Xâm lược Việt Nam là một âm mưu lâu dài, một khâu trong chiến lược toàn cầu xâm lược thế giới của đế quốc Mỹ. Dùng các biện pháp thông thường của chủ nghĩa thực dân mới để xâm chiếm miền Nam Việt Nam không thành công và có nguy cơ thất bại, đế quốc Mỹ đã đưa cuộc xâm lược bằng đô la lên thành một cuộc xâm lược bằng vũ khí. Chủ nghĩa thực dân mới bóng bẩy hấp dẫn bề ngoài của đế quốc Mỹ bịp bợm người ta bằng những chiếc xe hơi du lịch bóng lộn giờ đây đã hiện nguyên hình của nó là chủ nghĩa thực dân xâm lược, với những chiếc xe tăng giương lên họng pháo đen ngòm.


Sau cuộc đồng khởi năm 1959-1960, bộ máy chính quyền bù nhìn tay sai của đế quốc Mỹ bị đánh tơi tả ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Nhiều thành phố của địch cũng không được ổn định. Làn sóng cách mạng đang xô đẩy con thuyền thống trị của đế quốc Mỹ vào cơn nghiêng ngả. Nguy cơ thất bại đang ngày càng đè nặng lên chính quyền tay sai. Trước nguy cơ đó, đế quốc Mỹ đã ngoan cố và liều lĩnh đem chiến tranh vào để cứu vãn tình thế.


Trong tình hình miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, giới cầm quyền Oa-sinh-tơn cho rằng hình thức chiến tranh thích hợp nhất đối với chúng là "chiến tranh đặc biệt".

Theo các chiến lược gia Mỹ, chiến tranh đặc biệt là một loại chiến tranh trong chiến lược quân sự toàn cầu mới "phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ. Chiến tranh đặc biệt là loại chiến tranh dưới mức hạn chế, với quy mô thấp nhất trong ba loại chiến tranh trong chiến lược "phản ứng linh hoạt". Nó thuộc loại chiến tranh chống lật đổ, tức là chiến tranh đàn áp phong trào cách mạng.


Trong chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ chỉ sử dụng vũ khí, cố vấn, nhân viên kỹ thuật hoặc cao hơn nữa là có chi viện bằng hỏa lực - chủ yếu là hỏa lực tầm xa, hỏa lực của không quân và hải quân. Lục quân Mỹ không tham gia trực tiếp trong cuộc chiến tranh này. Bộ đội chiến đấu mặt đất là lục quân của chính quyền tay sai được trang bị bằng vũ khí của Mỹ. Nhưng khi thật cần thiết thì cũng có thể sử dụng một số rát ít lục quân Mỹ làm lực lượng cứu hỏa. Với hình thức chiến tranh này, đế quốc Mỹ chỉ tốn đô la và vũ khí chứ không tốn xương máu. Xương máu là của dân bản xứ. vả lại, đối với đế quốc Mỹ, nuôi một người dân "bản xứ" mặc quân phục cũng rẻ tiền hơn nuôi một người dân Mỹ mặc quân phục. Như vậy chúng có thể tha hồ phí phạm xương máu của dân "bản xứ".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2023, 10:17:59 am
Để tiến hành chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ gấp rút xây dựng một đội quân tay sai. Chúng đưa nhiều vũ khí, khí tài vào trang bị cho đội quân đó và gấp rút huấn luyện, đào tạo sĩ quan. Chúng mở các trường huấn luyện "bản xứ" và đưa một số sang đào tạo ở các trường quân sự bên chính quốc. Để nắm chắc đội quân này, đế quốc Mỹ còn cắm nhiều cố vấn các loại trong các cấp, các tổ chức của quân đội để trực tiếp huấn luyện và trực tiếp chỉ huy, đồng thời kiểm soát mọi hành động của đội quân tay sai. Ngoài ra, đế quốc Mỹ còn tổ chức một hệ thống quân đội riêng, không thuộc hệ thống quân đội của chính quyền tay sai. Hệ thống quân đội này do đế quốc Mỹ trực tiếp cung cấp trang bị vật chất, trả tiền và do sĩ quan Mỹ trực tiếp làm chỉ huy trưởng. Đó là những đơn vị quân biệt kích, phần lớn đóng ở vùng rừng núi, vùng biên giới và những đơn vị trinh sát vũ trang tầm xa (chiến lược) do các sĩ quan tình báo CIA "mũ nồi xanh" chỉ huy.


Có một quân đội tay sai được trang bị tương đối mạnh với sự chi viện hóa lực của không quân Mỹ, đế quốc Mỹ cho rằng chúng có thể đè bẹp được phong trào cách mạng, quét sạch được những hậu quả tai hại của cuộc đồng khởi.


Để tiến hành cuộc chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ cần phải cải tổ lại tòa đại sứ Mỹ và các cơ quan viện trợ để các cơ quan này có đủ chức năng chỉ huy cuộc chiến tranh.

Dầu bọc bằng những cái vỏ gì, sơn màu gì, thực chất cái cốt chính của những cơ quan này vẫn là những bộ chỉ huy quân sự. Các tướng tá Mỹ có kinh nghiệm, có tài ba đều được đưa vào phụ trách các cơ quan nói trên.


Tướng Tay-lơ, bố đẻ của chiến lược "phản ửng linh hoạt", được đưa sang Việt Nam để thực hiện chiến lược đó, để thí nghiệm việc nuôi dạy trưởng thành cho đứa con mà hắn đã sinh ra.

Mục đích của chiến tranh đặc biệt là tiêu diệt phong trào cách mạng của quần chúng.

Lúc này, lực lượng cách mạng mới chỉ là phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn của quần chúng phát triển tới trình độ cao, tiến sang một thời kỳ có hành động bạo lực và khởi nghĩa từng phần. Cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng đã có kết hợp một phần với đấu tranh vũ trang ở mức thấp. Lực lượng cách mạng chưa có quân đội, mà chỉ là quần chúng vũ trang và có một số đội du kích nhỏ.


Với một đối tượng như thế, đế quốc Mỹ cho rằng chúng không cần dùng đến chiến tranh hạn chế, chiến tranh cục bộ, đưa vài ba sư đoàn lục quân vào cuộc chiến, mà chỉ cần dùng một cuộc chiến tranh đặc biệt, một cuộc chiến tranh dưới mức hạn chế, là có thể tiêu diệt được phong trào cách mạng.


Chủ trương chiến lược của chiến tranh đặc biệt là dùng quân đội tay sai với sự chi viện hỏa lực của không quân Mỹ đặt dưới sự chỉ huy của cố vấn quân sự Mỹ làm nòng cốt để thực hiện biện pháp quân sự, kết hợp với các biện pháp chính trị và kinh tế, văn hóa để tiêu diệt lực lượng cách mạng, đàn áp phong trào cách mạng, khôi phục lại hệ thống chính quyền tay sai ở cơ sở đã bị phá vỡ. Biện pháp chủ yếu là "bình định". Kế hoạch là chia ra các khu vực để tiến hành bình định, tập trung lực lượng vào các khu vực chủ yếu và hoàn thành trong một khoảng thời gian là mười mấy tháng, chia ra thành nhiều đợt để thực hiện. Thủ đoạn chủ yếu là đánh phá bằng quân sự kết hợp với các thủ đoạn chính trị và kinh tế. Cách đánh phá của địch rất dã man, tàn bạo. Chúng dùng các thủ đoạn bắn giết, đốt phá, cày ủi làng xóm, dùng bom đạn triệt phá từng thôn xóm, xúc tát dân vào các khu tập trung, các ấp chiến lược. Ở các ấp chiến lược, các khu dồn, nhân dân bị kìm kẹp như trong một trại giam. Địch dùng lực lượng cảnh sát, mật vụ và đội bình định để thanh lọc và triệt phá cơ sở cách mạng.


Khu vực trọng điểm bình định là các tỉnh xung quanh Sài Gòn và các tỉnh thuộc miền Trung Nam Bộ.

Tung một lực lượng vũ trang lớn mạnh với những biện pháp và thủ đoạn cực kỳ tàn bạo, hết kế hoạch này đến kế hoạch khác, các bộ chỉ huy quân sự Mỹ và những tướng tá kỳ cựu, những quan chức chính trị thực dân cáo già đều tràn đầy niềm hy vọng là trong một thời gian ngắn chúng sẽ giành được thắng lợi. Thế nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh rằng chúng đã hoàn toàn tính toán sai và mọi hy vọng của chúng đều là không tưởng.


Nhân dân miền Nam Việt Nam hiểu rõ bản chất của Mỹ - ngụy, đã dự kiến trước các hành động phiêu lưu, điên cuồng của chúng nhằm đối phó với thắng lợi của phong trào đồng khởi. Ngay sau khi cuộc đồng khởi thắng lợi, nhân dân miền Nam liền gấp rút xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng tổ chức quân đội cách mạng để đưa cuộc đấu tranh cách mạng đang trên đà thắng lợi thành một cuộc chiến tranh cách mạng, một cuộc chiến tranh có sự nổi dậy của quần chúng kết hợp với tiến công quân sự.


Nếu như từ trước đồng khởi đến đồng khởi, phương pháp đấu tranh được vận dụng là lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu kết hợp một phần với đấu tranh vũ trang thì đến thời kỳ đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt, phương pháp đấu tranh là phải kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Thành phần đấu tranh vũ trang sẽ lên ngang với đấu tranh chính trị và ngày càng trở nên quan trọng.


Chiến tranh là sự đối chọi quyết liệt giữa hai lực lượng vũ trang, giữa hai quân đội. Đó là nguyên lý chung và là quy luật chung.

Nhân dân miền Nam với sự giác ngộ chính trị cao, không những đã tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh vũ trang mà còn sáng tạo ra nhiều hình thức đấu tranh chính trị rất phong phú với nhiều quy mô, trình độ và kiểu cách khác nhau. Do đó sức mạnh của cuộc chiến tranh cách mạng đã tăng lên gấp bội.


Đó là một sáng tạo lớn trong đấu tranh cách mạng, trong chiến tranh cách mạng ở Việt Nam.

Lực lượng chính trị của nhân dân, quần chúng tiếp tục được phát triển và lớn mạnh. Cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân quần chúng ngày càng dâng lên cao và rộng khắp. Đi đôi với cao trào đấu tranh chính trị đó, cuộc đấu tranh vũ trang cũng ngày càng phát triển. Quân địch đã dùng chiến tranh đê định tiêu diệt lực lượng cách mạng thì đương nhiên cách mạng cũng phải dùng chiến tranh để tiêu diệt lại chúng.


Đấu tranh chính trị rộng lớn có kết hợp một phần với đấu tranh vũ trang tất yếu phải phát triển thành chiến tranh du kích và chiến tranh du kích phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị.

Bên cạnh các tổ chức chính trị của quần chúng - các đội quân chính trị, các đội du kích cũng được tổ chức rộng khắp. Các đội du kích nhỏ dần dần phát triển lên thành các đội du kích vừa và lớn. Khi chiến tranh du kích đã phát triển cao thì ở một số chiến trường quan trọng tất yếu phải hình thành một số đơn vị chủ lực, tác chiến tập trung, đánh tiêu diệt được các đơn vị chủ lực của địch. Có các đơn vị chủ lực làm nòng cốt cho chiến tranh cách mạng thì mới có khả năng đánh bại được những âm mưu, ý đồ chiến lược của địch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2023, 10:19:29 am
Trong giai đoạn địch thi hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt", các đơn vị chủ lực của lực lượng vũ trang cách mạng còn ít ỏi. Sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng là sức mạnh của lực lượng chính trị của nhân dân, quần chúng cách mạng, các đội du kích và một số đơn vị vũ trang chủ lực.


Đó là quy luật của chiến tranh cách mạng, chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều đặc biệt ở miền Nam nước ta là các đơn vị chủ lực được xây dựng tổ chức tương đối nhanh và phát triển, lớn lên tương đối nhanh mạnh. Trên cơ sở đó mà chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy cũng rất mạnh. Đó là một thế rất lợi của chiến tranh cách mạng ở miền Nam nước ta. Do nhanh chóng xây dựng và tổ chức được lực lượng vũ trang cách mạng nên từng bước quân dân miền Nam đã đánh bại từng âm mưu, kế hoạch chiến lược của địch và đi đến đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt, phá tan âm mưu chiến lược của đế quốc Mỹ định dùng chiến tranh đặc biệt để tìm diệt cách mạng miền Nam.


Chiến tranh du kích được phát động trên toàn miền Nam nước ta không những đã giữ vững mà còn phát triển được thành quả của cuộc đồng khởi. Lực lượng vũ trang gồm các đội du kích và một số đơn vị chủ lực cùng với lực lượng chính trị của nhân dân đã đánh bại các kế hoạch chiến lược của Mỹ - ngụy như bình định, gom xúc dân, triệt phá cơ sở cách mạng và càn quét đánh phá vùng giải phóng, khu căn cứ địa cách mạng.


Cuộc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai được triển khai từ năm 1961. Chủ trương chiến lược của chúng là đánh chiếm lại những vùng mà chúng đã bị mất, đồng thời đánh phá có chọn lọc một số vùng giải phóng, căn cứ địa cách mạng. Chúng đặt ra nhiều kế hoạch bình định nhằm làm suy yếu lực lượng cách mạng và đi đến tiêu diệt cách mạng.


Đi đôi với việc tiến hành bình định, địch cũng đã tiến hành một vài cuộc càn quét, đánh phá khu giải phóng, căn cứ địa của lực lượng cách mạng như ở vùng núi Khu 5. Những cuộc càn quét quy mô lớn này cũng bị đánh bại.


Chiến tranh cách mạng ở Việt Nam có thế lợi rất mạnh. Đó là sự giác ngộ cao, là quyết tầm đấu tranh cách mạng của nhân dân quần chúng. Đó là sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng biết phát huy sức mạnh vô địch của nhân dân quần chúng, biết đề ra phương châm cơ bản cho cuộc chiến tranh cách mạng là đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị cùng tiến hành song song với nhau.


Lực lượng cách mạng miền Nam đã phát huy được sức mạnh quân sự và chính trị, đánh bại mọi kế hoạch bình định và càn quét của địch. Đánh bại được chủ trương, âm mưu và kế hoạch của địch là do đánh bại được các thủ đoạn, biện pháp của địch, tiêu diệt được địch. Lực lượng cách mạng miền Nam đã đánh bại các biện pháp chiến thuật "tân kỳ" của địch như "trực thăng vận", "thiết xa vận", v.v... và các thủ đoạn chiến thuật kêu rỗng như "phượng hoàng vồ mồi", "bủa lưới phóng lao", v.v...


Cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam giành được thắng lợi ngày càng lớn. Vùng giải phóng, địa bàn cách mạng ngày càng được mở rộng. Chính quyền tay sai ngày càng suy yếu, quân đội ngụy cũng ngày càng tỏ ra bất lực.


Trước sự thất bại ngày càng nặng về sự bất lực của ngụy quân, ngụy quyền, đế quốc Mỹ đã bắt buộc phải "thay ngựa giữa dòng".

"Con ngựa" bị thay đó là Ngô Đình Diệm, tên tay sai đầu sỏ cáo già số 1, tên độc tài phát xít cỡ "bự" đã từng được đế quốc Mỹ nuôi nấng, quảng cáo và vỗ béo một thời trong cái "chuồng ngựa" thực dân kiểu mới, bằng biết bao thủ thuật của cơ quan tình báo Mỹ CIA. Nếu như trước đây, khi đưa Ngô Đình Diệm lên ngôi tổng thống, đế quốc Mỹ đã đặt biết bao hy vọng vào hắn và ra sức tô son trát phấn cho hắn thì đến năm 1963, khi thấy 'hắn và bè lũ tỏ ra thối nát, bất lực trước phong trào cách mạng đang lên, chính đế quốc Mỹ lại cũng chẳng ngần ngại gì mà không "thí" hắn đi một cách lạnh lùng, tàn nhẫn. Quả là một bài học khá thấm thía cho mọi thứ tay sai đế quốc trên trái đất này!


Những trận thắng vang dội của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam như Ấp Bắc cùng với sự sụp đổ của tên tay sai đầu sỏ Ngô Đình Diệm đã bước đầu đánh dấu sự thất bại và bất lực của cuộc chiến tranh đặc biệt do Mỹ tiến hành.


Đế quốc Mỹ không thể ngờ được rằng cả một hệ thống chính quyền tay sai vững chắc như thế, được vũ trang đến tận răng và nhan nhản những mật thám như thế, bỗng chốc lại bị lung lay nghiêng ngả cùng với sự sụp đổ của các lô cốt và hàng rào kẽm gai, với sự rơi rụng lả tả của đoàn máy bay lên thẳng ở Ấp Bắc.


Sau khi Ngô Đình Diệm bị gạt bỏ, tình hình có nhiều chuyển biến có lợi cho cách mạng. Ngụy quyền khủng hoảng nghiêm trọng, cơ sở thống trị cũ của chính quyền Ngô Đình Diệm bị phá vỡ tan tành từ cơ sở. Nội bộ chính quyền mới do các tướng lĩnh ngụy cầm đầu có mâu thuẫn nội bộ rất sâu sắc. Chúng chia rẽ thành năm bè bảy phái. Các tướng lĩnh ngụy lại thiếu kinh nghiệm nắm giữ chính quyền. Những điều đó có ảnh hưởng không ít đến việc thực hiện các chủ trương, kế hoạch đàn áp phong trào cách mạng do viên "toàn quyền" Ca-bốt Lốt đưa ra. Do đó Ca-bốt Lốt buộc phải thay hết tên tướng ngụy này đến tên tướng ngụy khác. Toàn bộ hệ thống chính quyền ngụy từ trung ương đến cơ sở bị suy yếu nặng nề.


Đó là thời cơ và điều kiện rất thuận lợi khiến cho cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam đang trên đà phát triển được đẩy lên những bước tiến mới mạnh mẽ. Trước sự suy yếu và lục đục trong chính quyền ngụy, lực lượng cách mạng đã đẩy mạnh đà tiến công trên nhiều địa bàn và giành được thắng lợi ngày càng lớn.


Năm 1964, lực lượng vũ trang cách mạng đã tổ chức thành các đơn vị cỡ tiểu đoàn và trung đoàn. Đó là một bước phát triển quan trọng để tiến lên tác chiến tập trung tiêu diệt các đơn vị chiến thuật của địch. Có thế mới đánh bại được các thủ đoạn, biện pháp chiến thuật của địch và đi đến đánh bại các âm mưu, kế hoạch chiến lược của địch trong chiến tranh đặc biệt.


Có tiêu diệt được địch, đánh bại được các thủ đoạn chiến thuật của địch thì mới cùng lực lượng chính trị của nhân dân đánh bại được các cuộc càn quét bình định của quân đội địch, giữ vững và mở rộng được địa bàn, giành và giữ được dân.


Chiến tranh du kích rộng rãi có kết hợp được với các đòn tác chiến tập trung mới tiêu diệt được lực lượng vũ trang của địch, mới đánh gãy, đánh rạn được cái xương sống, cái cột trụ của chính quyền địch, do đó mới đánh đổ được chính quyền địch.


Nắm được thời cơ nội bộ chính quyền của địch lục đục, chia rẽ, hệ thống lãnh đạo rời rạc, sự thống trị của địch lỏng lẻo, rệu rã, lực lượng vũ trang của địch yếu kém, ta chủ trương đẩy mạnh thành phần tác chiến tập trung trong chiến tranh du kích và kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị của quần chúng.


Phương hướng này được thực hiện thì đến năm 1964-1965 một tình thế mới đã mở ra.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Giêng, 2023, 10:20:18 am
Đi song song với một số đòn đánh tiêu diệt với quy mô lớn hơn, tiêu diệt được các đơn vị chiến thuật của địch, tiêu diệt các đồn bốt, cứ điểm tương đối lớn của địch, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân, phong trào nổi dậy của quần chúng đánh đổ chính quyền cơ sở của địch ở nông thôn, giành quyền làm chủ của nhân dân, lập nên chính quyền cách mạng cũng phát triển rộng rãi và mạnh mẽ trên toàn miền, ở phần lớn vùng đồng bằng Khu 5 và phần lớn vùng rừng núi Tây Nguyên, nhân dân ta đã nổi dậy từng mảng, từng vùng một cách liên tục nối tiếp giành quyền làm chủ trên những khu vực rộng lớn ở nông thôn và một số thị trấn nhỏ. Phong trào cách mạng được phát triển một cách đồng đều trên toàn miền Nam.


Thắng lợi của sức tiến công quân sự của lực lượng vũ trang và của sức nổi dậy của nhân dân đã làm cho thế và lực của cách mạng phát triển mạnh, còn thế và lực của địch thì bị suy yếu nghiêm trọng. Địch trở nên hoàn toàn bị động, chống đỡ lúng túng, lực lượng giảm sút, địa bàn bị thu hẹp. Sự thay đổi so sánh lực lượng đó đã tạo ra điều kiện và thời cơ đưa cuộc chiến tranh cách mạng tiến lên những bước mới mạnh mẽ hơn.


Không bỏ lỡ thời cơ và thế lợi, đến đầu năm 1965, Quân giải phóng miền Nam mở những đòn tiến công mới lớn hơn, với lực lượng tập trung hơn.

Trận Bình Giã ở miền Đông Nam Bộ, lần đầu tiên mở chiến dịch đánh vận động lớn dài ngày, quân ta đã tiêu diệt hơn 2.000 địch, bắn rơi và phá hủy 38 máy bay, phá 27 xe bọc thép. Sau đó đến thắng lợi vang dội của trận Đồng Xoài. Trận Ba Gia ở miền Trung Trung Bộ, Quân giải phóng đã tiêu diệt một chiến đoàn quân ngụy gồm 4 tiểu đoàn. Và các trận Đắc Sút, Đắc Tô, Lệ Thanh, quân ta đã tiêu diệt một loạt các quận lỵ của địch. Đi đôi với đòn tiến công quân sự tương đối lớn của các đơn vị vũ trang tập trung, chiến tranh du kích cũng phát triển mạnh, tiêu hao và tiêu diệt nhiều lực lượng vũ trang ở cơ sở của địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.


Đấu tranh chính trị của quần chúng kết hợp với chiến tranh du kích trở thành làn sóng nổi dậy mạnh mẽ đánh đổ chính quyền tay sai ở cơ sở, lập nên chính quyền cách mạng, mở thêm những vùng làm chủ, vùng giải phóng rộng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Khu 5 và vùng núi Tây Nguyên.


Thắng lợi của quân dân miền Nam hồi giữa năm 1965 là một thắng lợi chiến lược quan trọng, đánh dấu sự lớn mạnh vượt bậc của lực lượng cách mạng miền Nam, có thể đánh đổ chính quyền ngụy tay sai của đế quốc Mỹ. Nó cũng đánh dấu sự bất lực, sự thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ.


Trải qua bốn năm liên tục chiến đấu chống "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ (1961-1965), quân dân miền Nam đã tiêu diệt trên 50 vạn quân địch, trong đó có 30.000 tên Mỹ và chư hầu, bắn rơi và phá hủy, phá hỏng gần 1.500 máy bay, phá hủy và phá hỏng 1.700 xe quân sự trong đó có 300 xe tăng và xe bọc thép. Cả hai kế hoạch chiến lược của Mỹ - ngụy (kế hoạch Xta-lây - Tay-lơ và kế hoạch Giôn-xơn - Mắc Na-ma-ra) đều bị phá sản thảm hại. Chỗ dựa chủ yếu của Mỹ để tiến hành chiến tranh đặc biệt là ngụy quân, ngụy quyền đã bị giáng những đòn chí mạng và có nguy cơ sụp đổ.


Điểm nổi bật thứ nhất là, các đơn vị chủ lực trong lực lượng vũ trang giải phóng đã giáng cho các đơn vị chủ lực của địch những đòn nặng nề. Quân giải phóng đã tiêu diệt được những đơn vị lớn của địch cỡ trung đoàn, chiến đoàn và đã tiêu diệt và giải phóng được hàng loạt quận lỵ, thị trấn. Lực lượng vũ trang của địch không còn đảm đương được chức năng ngăn chặn và tiêu diệt lực lượng vũ trang của đối phương, không thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ và giữ vững được các địa bàn quan trọng. Trước các đòn tiến công lớn và dồn dập của Quân giải phóng, lực lượng vũ trang của địch có nguy cơ bị sụp đổ, tan rã.


Điểm nổi bật thứ hai là, vùng giải phóng được mở rộng ở phần lớn vùng nông thôn, bao gồm cả một số quận lỵ, thị trấn, tạo ra một vùng giải phóng liên hoàn rộng lớn, có một số dân đông đảo. Địa bàn, trận địa của địch bị thu hẹp một cách nhanh chóng.


Điểm nổi bật thứ ba là, phong trào cách mạng của quần chúng ở các đô thị lớn cũng phát triển mạnh mẽ. Các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ chống lại các chính sách phản động của chính quyền địch lôi cuốn hàng vạn, hàng chục vạn quần chúng nổi lên một cách rầm rộ và liên tục. Các cuộc đấu tranh đó đã làm cho chính quyền của địch ở các đô thị, kể cà chính quyền trung ương của địch ở Sài Gòn cũng có lúc tỏ ra bất lực.


Tình thế này đã đưa ngụy quyền Sài Gòn đến chỗ cực kỳ nguy hiểm. Số mệnh của chính quyền Sài Gòn như treo trên sợi tóc. Nó có nguy cơ bị sụp đổ. Trước tình thế hiểm nghèo đó, đế quốc Mỹ thấy rằng dùng chiến tranh đặc biệt cũng không thể cứu vãn được ngụy quyền khỏi sự sụp đổ, không thể đánh bại được cách mạng miền Nam, không thể xâm lược được miền Nam Việt Nam.


Dùng biện pháp cũ bị thất bại, đế quốc Mỹ phải tìm biện pháp mới. Ngoan cố bám lấy miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ không còn con đường nào khác là phải đưa quân đội viễn chinh Mỹ vào để cứu vãn tình thế, để tiếp tục duy trì cuộc chiến tranh xâm lược.


Dùng chiến tranh đặc biệt cũng không cứu vãn được nguy cơ suy sụp của ngụy quyền Sài Gòn, đế quốc Mỹ điên cuồng dựng nên sự kiện vịnh Bắc Bộ, dùng hải quân và không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ đánh phá nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bắt đầu từ tháng 8 năm 1964. Dùng chiến tranh phá hoại đánh phá miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ cũng bị thất bại, không mảy may làm lung lay được ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam anh hùng.


Chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ tiếp tục bị thất bại nặng nề. Hình thức xâm lược giấu mặt không thành công, hình thức xâm lược tương đối lộ liễu cũng thất bại. Đã đâm lao lại ngoan cố theo lao, để thực hiện dã tâm xâm lược, đế quốc Mỹ buộc phải dùng hình thức chiến tranh xâm lược trắng trợn hao người, tốn của. Đó là "chiến tranh cục bộ".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:23:06 am
II
"CHIẾN TRANH CỤC BỘ"


Cuộc chiến tranh đặc biệt thất bại. Đế quốc Mỹ chủ trương mở rộng chiến tranh để hòng cứu vãn ngụy quyền Sài Gòn đang có nguy cơ bị sụp đổ. Các tướng, tá, cố vấn Mỹ cùng với vũ khí của đế quốc Mỹ không phải là những phép màu làm cho đội quân ngụy đánh thuê tinh thần kém cỏi có thể chiến thắng được. Quân đội Mỹ phải trực tiếp tham chiến, chiến tranh đặc biệt được thay thế bằng "chiến tranh cục bộ".


Trước tình hình vô cùng rối ren và nguy hiểm của ngụy quyền Sài Gòn, đoàn quân viễn chinh Mỹ liền vội vã tiến vào miền Nam Việt Nam. Đội tiền phong của nó, do binh chủng lính thủy đánh bộ trong tập đoàn chiến lược thê đội một trên tuyến chiến lược tiền duyên ở Thái Bình Dương dẫn đầu, bắt đầu đổ bộ vào cửa biển Đà Nẵng hồi tháng 3 năm 1965. Tiếp đó, các binh, quân chủng của quân đội Mỹ đủ các loại lục tục kéo vào miền Nam nước ta.


Cuộc chiến tranh cục bộ xâm lược miền Nam Việt Nam bắt đầu.

Loại chiến tranh kiểu thứ hai trong lý luận "chiến lược phản ứng linh hoạt" trong chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ được đem ra thực nghiệm.

Đế quốc Mỹ là một nước có tiềm lực kinh tế và tiềm lực chiến tranh mạnh. Một âm mưu chiến lược nào của chúng không thực hiện được và chưa bị đánh bại hoàn toàn thì chúng sẽ xoay sang một âm mưu chiến lược mới. Âm mưu chiến lược mới có thể cao hơn âm mưu chiến lược cũ hoặc thấp hơn âm mưu chiến lược cũ, điều đó còn tùy thuộc vào sức đánh trả của đối phương.


Thực hiện chiến tranh cục bộ, đế quốc Mỹ hy vọng với sức mạnh quân sự to lớn, chúng có thể đánh bại được đối phương, đè bẹp được cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam nước ta.

Đồng thời, để ngăn chặn sự chi viện của nhân dân miền Bắc đối với cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, để phá hoại tiềm lực chiến tranh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, để uy hiếp tinh thần của nhân dân hai miền Nam Bắc nước ta, đế quốc Mỹ điên cuồng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta.


Tiến hành chiến tranh cùng một lúc trên cả hai miền nước ta, đế quốc Mỹ cho rằng với lực lượng quân sự khổng lồ, với các loại vũ khí hiện đại có sức tàn phá lớn, với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, với hàng kho đô la, chúng sẽ đè bẹp cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta trong khoảnh khắc.


Nhìn hình thức bề ngoài một cách siêu hình thì suy nghĩ đó, lý luận đó của các nhà chiến lược Mỹ có vẻ có cơ sở. Nhưng đi sâu vào bên trong của hai bên đối địch, giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ, mà nhìn nhận một cách biện chứng thì suy nghĩ đó, lý luận đó là sai lệch.


Đế quốc Mỹ mạnh thật, giàu thật. Nhân dân ta không thể coi thường đế quốc Mỹ. Nhưng bên cạnh chỗ mạnh đó, đế quốc Mỹ cũng có nhiều chỗ yếu. Nếu ta biết tránh chỗ mạnh, làm giảm chỗ mạnh và biết khoét sâu chỗ yếu của đế quốc Mỹ thì sức mạnh của đế quốc Mỹ sẽ bị giảm sút và chúng sẽ trở thành yếu, không còn mạnh nữa.


Quân viễn chinh Mỹ ào ạt kéo vào miền Nam nước ta, không quân và hải quân Mỹ ngày đêm đánh phá miền Bắc nước ta, đã tạo nên sự thay đổi lớn về so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng. Đó là một cuộc đối chọi không cân sức về mặt lực lượng vật chất. Đó là một thử thách lớn đối với cả dân tộc Việt Nam chúng ta.


Tình thế thật là gay go. Cuộc đọ sức sẽ vô cùng quyết liệt.

Tiến hay lui? Một sự lựa chọn khó khăn.

Liệu dân tộc ta có đứng vững được trước sức mạnh vật chất to lớn, những thứ vũ khí hiện đại, những đoàn máy bay và xe tăng hùng hậu của đế quốc Mỹ không?

Lịch sử trả lời: dân tộc ta đã đứng vững và đã chiến thắng!

Đế quốc Mỹ muốn thách thức nhân dân ta thì nhân dân ta sẵn sàng trả lời sự thách thức đó.

Vì, để đối chọi với sức mạnh vật chất của đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta không phải chỉ đơn thuần có sức mạnh vật chất. Chúng ta có quyết tâm cách mạng không gì lay chuyển nổi, đồng thời lại có cả khoa học cách mạng vô cùng chính xác. Chúng ta có truyền thống bốn nghìn năm quật cường bất khuất đồng thời lại có khí thế long trời lở đất của thời đại xã hội chủ nghĩa. Chúng ta có ý chí cách mạng sắt đá, có tinh thần vững vàng kiên định, đồng thời lại có đầu óc tỉnh táo, sáng suốt, khách quan. Chúng ta quyết đánh và biết đánh!


Nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Hồ Chủ tịch, toàn thể nhân dân Việt Nam đã bước vào cuộc đọ sức lịch sử với khí thế tiến công, quyết đánh và quyết thắng.

Cuộc đọ sức quyết liệt bắt đầu.

Đội quân viễn chinh Mỹ lớn mạnh triển khai vào miền Nam nước ta liền thực hành phản công một cách nhanh chóng. Chúng mở cuộc phản công chiến lược trên nhiều hướng, nhằm tiêu diệt các đơn vị chủ lực của các lực lượng vũ trang ta và chiếm đóng các địa bàn chiến lược quan trọng. Để chuẩn bị tác chiến cho một đội quân chính quy hiện đại đông đảo, quân Mỹ cấp tốc xây dựng, tổ chức thiết bị chiến trường ở miền Nam và ở các nước chư hầu kế cận. Các căn cứ quân sự, căn cứ hậu cần quân cảng, sân bay, đường sá, v.v... nhan nhản mọc lên ở khắp miền Nam, Thái Lan và Phi-líp-pin.


Vừa đặt chân lên đất nước ta, quân viễn chinh Mỹ đã được nếm đòn ngay và sơ bộ hiểu thế nào là tinh thần và tài trí Việt Nam qua các trận Núi Thành, Vạn Tường ở ven biển miền Trung và các trận đánh máy bay Mỹ ở Quảng Bình và Quảng Ninh.


Thu đông năm 1965-1966 quân Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lớn đầu tiên ở miền Nam nước ta. Kế hoạch phản công chiến lược được đặt tên là "5 mũi tên", nhằm ba hướng lớn:

- Hướng thứ nhất: miền Đông Nam Bộ.

- Hướng thứ hai: Tây Nguyên.

- Hướng thứ ba: vùng đồng bằng miền Trung Trung Bộ.

Các đơn vị lục, hải, không quân của Mỹ sang xâm lược

Việt Nam đều là những đơn vị thiện chiến của quân đội Mỹ.

Sư đoàn bộ binh số 1 được mang tên là sư đoàn "Anh cả đỏ" của lục quân Mỹ. Một sư đoàn lục quân được tổ chức sớm nhất và đã tham gia hai cuộc đại chiến thế giới.

Sư đoàn kỵ binh bay số 1 là sư đoàn cơ động đường không có chức năng ứng viện cấp tốc, với 350 - 400 máy bay lên thẳng là một phát minh của "bộ óc điện tử" Mắc Na-ma-ra.

Sư đoàn bộ binh số 25 được mang tên là "Tia chớp nhiệt đới" đã đánh bại quân Nhật ở Phi-líp-pin trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:24:07 am
Với một lực lượng chiến đấu trên bộ lên đến trên 20 vạn tên, gồm những đơn vị danh tiếng của quân đội Mỹ, cộng với 5 vạn quân chư hầu và 50 vạn quân ngụy, được sự chi viện của một lực lượng không quân và hải quân mạnh, đế quốc Mỹ hy vọng có thể quét sạch lực lượng vũ trang cách mạng trong một chiến cuộc, rồi đè bẹp cuộc cách mạng của nhân dân ta.


Cuộc phản công chiến lược mùa khô năm 1965-1966 bằng chiến cuộc "5 mũi tên", mở màn từ thu - đông 1965 trên các hướng chiến lược quan trọng đều bị thất bại.

Trên ba hướng chiến lược - miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng miền Trung - thì ở hướng miền Đông Nam Bộ và hướng Tây Nguyên, quân viễn chinh Mỹ bị nếm những đòn đau nhất.

Miền Đông Nam Bộ là một khu căn cứ chiến lược lớn của cách mạng miền Nam. Địa bàn chiến lược này lại là nơi trực tiếp uy hiếp Sài Gòn và sườn đông của đồng bằng sông Cửu Long. Do vị trí quan trọng của nó như thế nên đế quốc Mỹ nhằm địa bàn này là hướng tiến công chủ yếu.


Tây Nguyên cũng là một căn cứ chiến lược quan trọng của Quân giải phóng. Nó nối liền Trị - Thiên với miền Đông Nam Bộ, là cái cửa đi vào vùng đồng bằng và ven biển miền Trung, đồng thời cũng là chỗ dựa của đồng bằng miền Trung. Tây Nguyên cũng là nơi nối liền với các nước bạn: Nam Lào và đông bắc Cam-pu-chia.


Vùng đồng bằng miền Trung là khúc giữa của miền Nam Việt Nam, là nơi đông dân, nhiều của, lại có những căn cứ quân sự quan trọng như Cam Ranh, Đà Nẵng, v.v... Nó nối liền và khống chế cả một dải địa bàn quan trọng vùng đồng bằng ven biển từ phía bắc Sài Gòn cho đến Trị - Thiên. Đồng bằng ven biển miền Trung là một đầu cầu rất quan trọng cho việc tiếp tế hậu cần từ hậu phương lớn nước Mỹ tới chiến trường miền Nam. Nó cũng là nơi tiện cho việc tổ chức các căn cứ quân sự, căn cứ hậu cần lớn, các quân cảng, sân bay lớn, v.v...


Theo bộ chỉ huy Mỹ, hướng miền Đông Nam Bộ là hướng chiến lược quan trọng nhất. Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ đã tung vào đó đơn vị tinh nhuệ nhất là sư đoàn bộ binh số 1 "Anh cả đỏ".

Hướng Tây Nguyên địch cũng coi trọng nên chúng đã tung vào đó một sư đoàn mạnh, sư đoàn "Kỵ binh bay" số 1, có sức cơ động cao, khắc phục được các địa hình rừng núi hiểm trở.

Ở hướng đồng bằng miền Trung, địch đã tung vào đó một số đơn vị "Kỵ binh bay" lính thủy đánh bộ và lính dù.

Với sức mạnh quân sự, với những đơn vị quân đội thiện chiến, đế quốc Mỹ mong giành được thắng lợi chiến lược quan trọng, làm chuyển biến căn bản được cục diện chiến tranh, tạo ra được bước ngoặt chiến lược.


Phương châm của chiến tranh xâm lược là đánh nhanh, thắng nhanh. Đánh lâu dài thì hao người tốn của, bị suy yếu về chính trị và kinh tế, bị sa lầy và sẽ dẫn đến không thắng hoặc bị thất bại. Vì vậy, đối với các cuộc chiến tranh xâm lược, các nhà lý luận quân sự danh tiếng của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản đều chủ trương thuyết "đánh nhanh, thắng nhanh". Tên trùm phát xít Hít-le cũng từng chủ trương và thực hành thuyết "đánh nhanh, thắng nhanh", đã thành công trong việc chinh phục một số nước châu Âu. Nhưng hắn đã bị thất bại thảm hại và đã phải tự tay kết liễu cuộc đời mình trong cuộc chiến tranh xâm lược nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết.


Ở Việt Nam, đế quốc Mỹ có thể thực hiện được cuộc chiến tranh xâm lược đánh nhanh, thắng nhanh không? Với quan điểm quân sự tư sản, giới quân sự Mỹ căn cứ vào số lượng quân đội, số lượng vật chất, trình độ kỹ thuật... đã cho rằng đế quốc Mỹ có thể thực hiện được thuyết "đánh nhanh, thắng nhanh". Nhưng với quan điểm quân sự của giai cấp vô sản được trang bị bằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin thì sự đánh giá lại cố khác.


Lý luận quân sự vô sản cho rằng chiến tranh là tổng hợp của sự hình thành và vận động của hai nhân tố cơ bản: lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần. Chiến tranh không thể hình thành và vận động thoát ra ngoài hai nhân tố cơ bản đó. Chiến tranh không phải chỉ là sự đối chọi đơn thuần giữa các loại vũ khí, giữa các trình độ kỹ thuật. Chiến tranh trước hết là sự đối chọi giữa con người với con người, giữa chế độ xã hội với chế độ xã hội. Ngoài ra còn có một số nhân tố khác nữa như đặc điểm truyền thống dân tộc, địa lý, thời tiết, v.v...


Những điều trên đây cho thấy đế quốc Mỹ không thể đánh nhanh, thắng nhanh được ở Việt Nam. Nhận thức đầy đủ những yếu tố tất thắng của mình, nhân dân Việt Nam quyết tâm đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ.


Lý luận khoa học chính xác đã được chứng minh bằng thực tiễn chiến đấu trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, vào mùa khô 1965-1966 của quân viễn chinh Mỹ. Một tình hình trái khoáy về lý luận, đảo ngược về nhận thức của quan điểm quân sự tư sản đã diễn ra.


Quân viễn chinh Mỹ hung bạo như những hung thần với những lưỡi kiếm sắc "thần sấm sét", "con ma", "chim ưng nhà trời"... tưởng chừng có thể tàn phá khắp nơi, đi đến đâu thì cỏ phải rạp đến đó. Thế mà chúng đã không thể tiêu diệt nổi một đại đội, một tiểu đoàn của quân ta.


Ngược lại, chúng đã bị quân ta tiêu diệt từng tiểu đoàn ở Bàu Bàng, trên đường số 13 (miền Đông Nam Bộ), sư đoàn bộ binh số 1 thiện chiến "Anh cả đỏ" đã bị tiêu diệt từng tiểu đoàn, ở Plây Me trong thung lũng I-a-đrăng (Tây Nguyên), sư đoàn kỵ binh bay số 1 cũng đã bị tiêu diệt từng đại đội, tiểu đoàn.


Hai thủ đoạn chiến thuật của quân Mỹ đều không phát huy được tác dụng như chúng mong muốn. Chiến thuật thông thường của các quân đội chính quy hiện đại là sự chiến đấu liên hiệp giữa bộ binh và xe tăng, được sự chi viện của hỏa lực pháo binh và không quân hình thành sự chiến đấu hiệp đồng các binh chủng, quân chủng và thực hành tiến công theo trận tuyến. Sức đột kích ở trên bộ chủ yếu là sức đột kích của các binh đoàn, bộ đội bọc thép.


Sư đoàn bộ binh số 1 đã vận dụng chiến thuật này. Nhưng sư đoàn bộ binh số 1 không biết rõ rệt trận địa của đối phương ở đâu mà đột phá. Trong khi đó trận địa của sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ lại hiện rõ ở Bàu Bàng dưới con mắt của đối phương. Thế là ở trước mặt, sau lưng và cạnh sườn trận địa của sư đoàn bộ binh số 1, Quân giải phóng miền Nam ào ào xông ra tiêu diệt chúng.


Thủ đoạn chiến thuật thứ hai, một thủ đoạn mới xuất hiện sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là chiến thuật đổ bộ hạ cánh đường không bằng máy bay lên thẳng. Đây là một chiến thuật tiên tiến. Nó khắc phục được các địa hình hiểm trở mà sức cơ động đường bộ không giải quyết nổi. Sư đoàn kỵ binh bay của Mỹ sinh ra chính là để áp dụng chiến thuật này. Chiến thuật đổ bộ đường không có chỗ ưu việt, nhưng cũng có nhược điểm là không có xe tăng hoặc chỉ có xe tăng hạng nhẹ chiến đấu trong đội hình của bộ binh. Xe tăng là chỗ dựa cho bộ binh của quân đội các nước đế quốc.


Sư đoàn kỵ binh bay số 1 tiến vào vùng rừng núi hiểm trở ở Plây Me, Tây Nguyên rất nhanh, rất sâu và rất xa bằng đổ bộ hạ cánh. Nhưng nó chiến đấu đơn độc bằng bộ binh, cả sư đoàn phụ trách một hướng tiến công bằng một thủ đoạn chiến thuật độc lập, không có sự phối hợp, hiệp đồng và hỗ trợ của bộ đội lục quân có bộ binh và xe tăng tiến công ở trên bộ. Vấp phải một đối phương kiên cường và tài trí, nó bị thất bại trong thung lũng I-a-đrăng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:25:41 am
Quân viễn chinh Mỹ không thể "làm cỏ" được ở khắp mọi nơi trên đất nước ta. Trái lại, tinh thần của binh lính Mỹ thì lại thấp như ngọn cỏ. Đó là nhận xét của các nhà báo tư sản phương Tây thốt ra sau các trận Bàu Bàng, Plây Me...


Đứng trước một đội quân xâm lược cớ sức mạnh vật chất khổng lồ, đứng trước từng đoàn xe tăng hiện đại, từng đàn máy bay đủ các loại hiện đại nhất, trước những máy móc điện tử tinh vi của thế hệ kỹ thuật vũ trụ, trước những cơn mưa bom bão đạn, quân dân miền Nam sẽ đánh như thế nào? Không một máy bay, không một chiếc xe tăng, không một khẩu đại bác thì đánh bằng cách nào?


Quân dân miền Nam biết rằng, đứng trước một kẻ thù như thế, chúng ta sẽ có rất nhiều khó khăn gian khổ và phải hy sinh.

Trước tiên là phải động viên toàn thể nhân dân và quân đội có một quyết tâm rất cao, có một ý chí gang thép, với một tinh thần quyết chiến quyết thắng. Lời hiệu triệu nổi tiếng, bất hủ của Hồ Chủ tịch "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", "thà chết chứ không chịu làm nô lệ" chính là nguồn sức mạnh vô biên, là chân lý cuộc sống của nhân dân ta, đã cổ vũ, thôi thúc toàn dân ta đứng thẳng lên và tiến mạnh về phía quân địch. Trên cơ sở quyết tâm và ý chí như thế, quân dân miền Nam tìm ra những cách đánh phù hợp với thực tế.


Trần Hưng Đạo, nhà chiến lược đại tài của dân tộc ta đã từng nói: "Dùng đoản binh để thắng trường trận".

Với quan điểm quân sự của giai cấp vô sản, với đường lối quân sự của Đảng, với nhân dân anh hùng, với ý chí quật cường bất khuất của dân tộc ta trong bốn nghìn năm lịch sử, với truyền thống thao lược của các nhà quân sự đại tài Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... chúng ta có sức mạnh tinh thần, có sức mạnh về nghệ thuật quân sự và có tài trí rất lớn, có thể bù vào chỗ yếu về mặt vật chất và trình độ kỹ thuật.


Chiến tranh đã phát triển đến giai đoạn cao, giai đoạn của các binh đoàn chủ lực chọi nhau trên chiến trường. Cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam phát triển từ khởi nghĩa từng phần đến chiến tranh du kích, rồi từ chiến tranh du kích phát triển đến chiến tranh chính quy. Đó là một quy luật.


Chiến tranh chính quy của ta phát triển trên cơ sở của chiến tranh du kích và trên cơ sở của phong trào đấu tranh chính trị rộng rãi của nhân dân quần chúng. Cuộc chiến tranh nhân dân ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh cách mạng của quần chúng. Cuộc chiến tranh được tiến hành đồng thời bằng hai lực lượng: lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị. Phương pháp tiến hành chiến tranh là có hành động tiến công của lực lượng vũ trang và có hành động nổi dậy của lực lượng quần chúng.


Cách mạng là tiến công, chiến tranh cách mạng cũng là tiến công. Tư tưởng chiến lược và chiến lược của quân dân miền Nam là tiến công. Phòng ngự chỉ là bộ phận và tạm thời, là sự chuẩn bị, tích trữ lực lượng, để tạo điều kiện và thời cơ cho tiến công. Tiến công thể hiện tinh thần tích cực chủ động, tính kiên quyết triệt để của giai cấp vô sản.


Với tư tưởng quân sự của học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng, với đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam, quân dân miền Nam đã xử trí với quân viễn chinh Mỹ như thế nào, đối phó với cuộc tiến công chiến lược lần thứ nhất vào mùa khô 1965-1966 như thế nào? Tiến công hay phòng ngự? Đánh tập trung, đánh tiêu diệt hay đánh phân tán du kích, đánh tiêu hao? Lấy cứng chọi cứng hay lấy mềm chọi cứng? Việc lựa chọn quả không phải là dễ.


Quân Mỹ vào miền Nam giữa lúc đội quân ngụy Sài Gòn sắp sửa bị đánh bại, phong trào cách mạng đang lên cao, vùng giải phóng đã mở ra rất rộng, chính quyền ngụy đã tan rã từng mảng. Quân Mỹ vào vội vã, bị động lại phải phân tán ra đối phó với phong trào cách mạng đang rầm rộ ở khắp mọi nơi.


Quân Mỹ mạnh về vật chất và kỹ thuật nhưng lại kém về mặt tinh thần và tài thao lược.

Quân Mỹ không có điều kiện thuận lợi về mặt chính trị và nhân dân, không có điều kiện thuận lợi về địa hình. Quân Mỹ lại gặp một đối thủ rất khó hiểu, một đối thủ kỳ lạ ở trên đời. Quân Mỹ không hiểu hết mình, lại càng không rõ về người. Quá sùng bái vật chất, kỹ thuật, quân Mỹ đâm ra chủ quan, kiêu căng, thiếu tỉnh táo về suy nghĩ và hành động.


Tóm lại, quân Mỹ vừa có chỗ mạnh lại vừa có chỗ yếu, chỗ mạnh là không thể coi thường, song chỗ yếu là cơ bản và lâu dài.

Đối với kẻ địch như thế, chủ trương hợp lý nhất là tiến công. Nhưng tiến công cũng có nhiều cách. Quân dân miền Nam phải vận dụng tất cả mọi cách, tổng hợp mọi sức mạnh và mọi phương pháp, một cách thật phong phú và linh hoạt.


Cách tiến công của quân dân miền Nam là có cả nhỏ, vừa, lớn..., đánh chính quy và đánh du kích; đánh bằng quân sự và đánh bằng chính trị; đánh ở cả rừng núi và đồng bằng, ở cả nông thôn và thành thị; đánh ở cả trước mặt và sau lưng địch.


Về cách dùng sức thì quân dân miền Nam có cả lấy cứng chọi cứng và lấy mềm chọi cứng, lấy ít đánh nhiều và lấy nhiều đánh ít.

Bộ đội ta đã biết vận dụng cách đánh của một quân đội cách mạng hiện đại trong điều kiện Việt Nam chống với một kẻ địch rất mạnh về trang bị, kỹ thuật. Bộ đội ta lại biết vận dụng cách đánh truyền thống của dân tộc là cách đánh bại những đạo quân xâm lược thường lớn mạnh hơn mình gãp bội.


Cách đánh của một cuộc chiến tranh chống xâm lược thường có tính chất nhân dân. Nhân dân ta ở khắp mọi nơi đều một lòng đứng lên đánh giặc. Cuộc chiến đấu diễn ra ở khắp nơi, không phân rõ trận tuyến. Đó là một cuộc chiến tranh cài răng lược, một cuộc chiến tranh xen kẽ giữa ta và địch rất chặt chẽ. Quân địch tuy có số lượng đông, nhưng lại bị phân tán ra khắp nơi; có nhiều mà thành ít, vốn dày mà hóa mỏng và bị sa vào những vòng vây trùng điệp.


Trong lịch sử chống xâm lược ở nước ta, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi đã từng kêu gọi nhân dân đứng lên đánh du kích và làm vườn không nhà trông ở mọi nơi mà quân thù tiến đến. Theo Trần Hưng Đạo, "nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy gió thổi thì thế dễ chế ngự. Nếu nó đi chậm như cách tằm ăn, không cần của dân, không cầu được chóng thì phải chọn tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thì mà làm..."1 (Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, H. 1971, tr. 88).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:26:45 am
Quân xâm lược Mỹ rất hung hăng và chủ quan. Chúng tưởng có thể "ăn sống nuốt tươi" ngay được quân đội cách mạng. Nhưng quân dân miền Nam lại biết vận dụng cách đánh rất khôn ngoan.

Hãy làm cho quân Mỹ bị phí sức. Hãy làm cho chúng không thể phát huy được sở trường của chúng. Phải biết tránh chỗ mạnh của địch, làm hao mòn sức mạnh của chúng rồi nhằm vào chỗ yếu của chúng mà quật lại. Phải biết gia sức ta và tiêu hao sức địch. Ta không đánh theo ý muốn và cách đánh của địch mà trái lại buộc địch phải đánh theo ý muốn và cách đánh của ta. Như thế là làm cho sức mạnh của địch không phát huy được và làm cho cách đánh của địch bị "tréo giò".


Mục đích của cuộc tiến công chiến lược của địch là đánh một đòn chiến lược thứ nhất, giành bằng được thắng lợi chiến lược để làm chuyển biến cục diện chiến tranh. Nếu đòn chiến lược thứ nhất chưa giải quyết được chiến tranh, hoặc về cơ bản chưa giải quyết được chiến tranh thì nó cũng phải tạo ra được điều kiện và thời cơ có lợi để tiến lên đánh một đòn thứ hai để giải quyết chiến tranh.


Mục tiêu và đối tượng tác chiến của đội quân xâm lược chính quy, hiện đại là tiêu diệt quân chủ lực của đối phương. Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ xác định rõ chủ trương đó bằng khẩu hiệu "tìm diệt", có nghĩa là đánh vào vùng căn cứ của cách mạng để tiêu diệt chủ lực của quân ta.


Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, đạo quân chủ lực của hai bên tham chiến cũng là mục tiêu và đối tượng chủ yếu của chiến tranh. Quân chủ lực là nòng cốt của các lực lượng vũ trang, là tổ chức vũ trang tinh nhuệ và mạnh nhất, là lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến tranh và giành thắng lợi trong chiến tranh. Đạo quân chủ lực bị tiêu diệt thì chiến tranh cơ hồ như bị thất bại, hoặc sẽ phải kéo dài ra.


Đi đôi với ý đồ tiêu diệt chủ lực của Quân giải phóng, quân Mỹ còn có ý đồ đánh phá căn cứ, đánh phá tiềm lực chiến tranh của Quân giải phóng. Chúng đã dùng lục quân và không quân để đánh phá căn cứ, đánh phá các cơ sở hậu cần, tiếp tế vật chất, các cơ quan chỉ huy của Quân giải phóng. Dã man và tàn bạo hơn nữa, chúng còn dùng máy bay thả các chất độc hóa học để phá hoại mùa màng, phá hoại môi sinh trong các khu căn cứ, hòng làm cho nhân dân và quân đội ở đó bị đói kém, làm cho tiềm lực của đối phương bị tàn lụi dần.


Một quân đội chính quy đông đảo thường sử dụng vật chất, vũ khí khí tài, trang bị rất lớn và tiêu hao cũng rất lớn.

Nếu không có một hậu phương rộng lớn, vững chắc và hùng hậu thì nó rất khó tồn tại và chiến đấu. Đế quốc Mỹ rất thông hiểu điều đó. Một trong những vấn đề chủ yếu của quan điểm chiến lược Mỹ là đánh phá hậu phương, phá hủy tiềm lực kinh tế và tiềm lực chiến tranh của đối phương. Chúng có sở trường và có khả năng. Phương tiện thực hiện biện pháp chiến lược này là không quân chiến lược và hải quân chiến lược, chủ bài của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ trong một cuộc chiến tranh thông thường.


Đế quốc Mỹ cho rằng muốn "bóp nghẹt" cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam thì phải đánh phá miền Bắc Việt Nam. Chúng đã dùng một hình thức chiến tranh đặc biệt để tiến hành phá hoại miền Bắc. Đó là cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân. Các nhà chiến lược Mỹ cho rằng cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo đó sẽ làm cho nhân dân miền Bắc bị mất tinh thần, đi đến nản lòng, không dám hăng hái chi viện cho đồng bào mình ở miền Nam. Ngoài tác dụng đánh vào tinh thần, ý chí của nhân dân miền Bắc, chiến tranh phá hoại còn có mục đích phá hủy tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự ở miền Bắc, làm cho miền Bắc bị kiệt quệ, không có đủ lực lượng vật chất để chi viện cho miền Nam.


Đường hành lang vận chuyển cũng là mục tiêu chiến lược của quân đội Mỹ, vì nó nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam. Đế quốc Mỹ đã dùng một lực lượng không quân lớn và có lúc cũng sử dụng cả lục quân để đánh phá đường hành lang chiến lược đó.


Tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta. Từ tháng 2 năm 1965 trở đi, cuộc chiến tranh phá hoại diễn ra liên tục, kéo dài với mức độ rất ác liệt, với quy mô rộng lớn trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc và các đường hành lang chiến lược nối liền hậu phương với tiền tuyến.


Để đối phó với đạo quân viễn chinh Mỹ lớn mạnh và hung bạo, để đánh trả các cuộc tiến công ào ạt của nó ở cả miền Nam và miền Bắc, nhân dân ta đã có sự chuẩn bị tích cực và sẵn sàng.

Quân dân miền Bắc đã triển khai các lực lượng phòng không toàn quân và toàn dân, các lực lượng phòng thủ bờ biển để đánh trả lại cuộc chiến tranh phá hoại của địch ở miền Bắc. Một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không được triển khai một cách toàn diện và mạnh mẽ. Cuộc tập kích bằng không quân và hải quân của địch đã bị giáng trả một đòn đích đáng. Quân dân Quảng Bình và Quảng Ninh đã lập công đầu trong việc bắn rơi máy bay địch và bắt sống giặc lái.


Quân dân miền Nam cũng đã nhanh chóng xây dựng và tổ chức thêm các lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam, coi trọng xây dựng và tổ chức các đơn vị chủ lực. Nhiều sư đoàn đã được tổ chức và triển khai trên các hướng chiến lược quan trọng. Để đối chọi với đội quân viễn chinh chính quy hiện đại của đế quốc Mỹ, Quân giải phóng cần có các đơn vị lớn, các binh đoàn chiến dịch mới có thể đánh tiêu diệt lớn. Đánh tiêu diệt lớn là một yêu cầu tất yếu, là sự vận động có tính quy luật của giai đoạn phát triển cao của chiến tranh.


Do nhận thức được quy luật vận động khách quan và tất yếu của chiến tranh, nên quân dân miền Nam đã chuẩn bị và triển khai được các lực lượng lớn trên các hướng chiến lược quan trọng và đánh trả ngay được cuộc tiến công đầu tiên vào mùa khô năm 1965-1966 của Mỹ.


Cuộc đối chọi thật là quyết liệt. Hai đối thủ đều có quyết tâm nhưng lại đều chưa hiểu rõ nhau lắm. Quân Mỹ thì quá tin vào sức mạnh vật chất kỹ thuật của chúng. Quân và dân Việt Nam thì tin vào tinh thần và quyết tâm, đường lối chiến tranh, tài thao lược và khả năng tiềm lực các mặt của mình.


Kết quả là quân Mỹ đã thất bại. Trong cuộc tiến công lần thứ nhất, chúng không tiêu diệt được chủ lực cũng như không phá tan được căn cứ của lực lượng cách mạng miền Nam. Trái lại chúng đã bị quân dân miền Nam đánh cho một đòn đau. Bị đòn phủ đầu khá nặng, chỉ trong một thời gian ngắn các sư đoàn quân Mỹ đã phải rút về trận địa của chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:27:38 am
Trong 6 tháng phản công thực hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" Mỹ - ngụy đã bị tổn thất nặng nề. Chúng đã bị giết, bị thương, bị bắt hơn 112.500 tên, trong đó có 48.500 lính Mỹ và chư hầu. Như vậy, số Mỹ - ngụy bị diệt trong 6 tháng đã bằng 1/3 tổng số Mỹ - ngụy bị diệt trong cả 4 năm chúng tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt", riêng số Mỹ bị diệt gấp 15 lần.


Quân Mỹ đã bị diệt từng đại đội, tiểu đoàn và bị đánh thiệt hại nặng từng chiến đoàn hỗn hợp bộ binh và xe tăng. Còn Quân giải phóng thì không bị tiêu diệt một đại đội nào.

Đó là cái giá đắt mà quân Mỹ phải trả cho cuộc phản công lần thứ nhất của chúng. Tình hình có vẻ kỳ lạ, có khó hiểu nhưng cũng lại dễ hiểu. Quân Mỹ tiến công vào một đối phương không có trận địa, trận tuyến rõ ràng. Quân Mỹ đánh vào những nơi rừng rậm cây dày. Quân Mỹ chỉ thấy rừng cây mà không thấy địch thủ. Sức mạnh vật chất kỹ thuật, bom đạn của Mỹ ào ào ạt ạt vung vãi ra, nhưng chẳng khác gì nghìn cân rơi vào biển nước. Khối lượng lớn bom đạn của Mỹ có thể phá hoại từng mảng rừng, khoét sâu hàng ngàn hố đất, nhưng không thể ngăn chặn được quân ta dũng mãnh xông lên tiêu diệt chúng. Vì muốn thắng nhanh và chủ quan, quân Mỹ tung cả lực lượng ra các hướng, và thực hành tiến công một cách ào ạt, lại đánh vào một đối phương không có mục tiêu trận địa rõ ràng, chọi với một địch thủ biến hóa như thần, không biết đâu mà lường trước được. Do đó mà lực lượng của địch tuy nhiều nhưng lại sử dụng phân tán thành ra có nhiều mà hóa ít. Sức mạnh vật chất của địch tuy có hùng hậu nhưng lại đâm ra hoang phí, hiệu suất thấp. Rốt cuộc quân Mỹ đã đưa mình vào lưới.


Quân dân miền Nam biết rằng Mỹ có ưu thế về vật chất kỹ thuật. Vì vậy, trên cơ sở của đường lối chiến tranh nhân dân, quân dân miền Nam phải có đường lối, phương châm chiến lược đúng đắn và sáng tạo, có nghệ thuật chiến dịch tài giỏi và có các chiến thuật, các cách đánh thích hợp, phong phú và linh hoạt. Có thể mới đối chọi được, đánh thắng được một địch thủ mạnh hơn mình gấp bội về mặt vật chất, kỹ thuật. Quân dân miền Nam chủ trương phải đánh lâu dài về mặt chiến lược. Đánh lâu dài sẽ làm cho sức mạnh của địch bị suy yếu dần, làm cho mũi nhọn của địch bị cùn dần, làm cho ý chí xâm lược của địch bị mềm nhão dần, đi đến đánh bại chiến lược thắng nhanh của chúng. Đánh được lâu dài, duy trì được cuộc kháng chiến lâu dài là đã thắng được một nửa cuộc chiến tranh, là đã thấy rõ thất bại của địch và thắng lợi của ta.


Đánh lâu dài có rất nhiều vấn đề phức tạp, khớ khăn và gian khổ. Đầu tiên là phải đứng vững được trước sức mạnh tiến công hùng hổ của quân địch. Sau đó sẽ lớn mạnh lên từng bước, giành thắng lợi từng phần.


Quy luật vận động, phát triển của chiến tranh lâu dài là tiến dần và có xen kẽ những bước nhảy vọt. Tiến dần và nhảy vọt là một thể thống nhất, là một quá trình tổng hợp trong sự vận động của chiến tranh lâu dài.


Nắm được quy luật đó của chiến tranh lâu dài, chủ trương chiến lược trong giai đoạn đầu của ta là đánh tiêu diệt sinh lực địch. Quân dân miền Nam không chủ trương phòng ngự giữ đất trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Phòng ngự giữ đất theo hình thức trận địa sẽ bị động, bị tiêu hao và gặp nhiều khó khăn trong việc đối chọi lại với sức mạnh hỏa lực ào ạt của địch. Do đó, quân dân miền Nam phải tạm bỏ một số đất đai ở một số khu vực nhất định.


Muốn tiêu diệt sinh lực địch thì phải tiến công. Chỉ có tiến công mới tiêu diệt được quân địch và mới có chủ động, linh hoạt, mới có tự do hành động. Tiến công tiêu diệt sinh lực địch, không phòng ngự giữ đất, không có nghĩa là không bảo vệ những khu căn cứ địa của ta. Tiến công tiêu diệt sinh lực địch bằng cách đánh vận động kết hợp với chiến tranh du kích rộng rãi cùng với các hình thức tác chiến khác ở đằng sau lưng địch, chính là để đánh bại các cuộc càn quét của địch vào khu căn cứ của ta, nhằm tìm diệt chủ lực ta. Đó là kế dụ địch vào sâu để phân tán địch, làm cho quân địch mệt mỏi và đưa địch vào thế trận của ta để tiêu diệt chúng.


Tiêu diệt được quân địch, đánh bại được các cuộc càn quét của chúng là bảo vệ được khu căn cứ. Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, quân dân miền Nam chủ trương tiêu diệt sinh lực địch là chủ yếu, nhưng cũng chỉ mới là tiêu diệt về mặt chiến thuật. Quân giải phóng mới tiêu diệt được từng tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng từng chiến đoàn, trung đoàn, lữ đoàn của địch. Đó là do so sánh lực lượng. Chiến tranh càng phát triển ta ngày càng mạnh lên, địch càng suy yếu dần đi thì mới xuất hiện khả năng đánh tiêu diệt về mặt chiến dịch và chiến lược.


Cuộc chạm trán, đọ sức đầu tiên giữa Quân giải phóng và quân Mỹ trong chiến cuộc mùa khô 1965-1966 đã chứng minh hai chủ trương chiến lược của hai bên. Thắng lợi của quân dân miền Nam, thất bại của quân Mỹ đã chứng tỏ chủ trương của ta là đúng, cách làm của ta là hay. Ta đã giữ vững và phát triển được lực lượng, giữ vững được các khu căn cứ. Đối với địch thì chúng đã bị một đòn phủ đầu choáng váng. Một bất ngờ lớn, một sự khó hiểu không thể giải thích nổi đã đến với các nhà chiến lược Mỹ.


Sau khi cuộc phản công lần thứ nhất vào mùa khô năm 1965-1966 bị thất bại, quân đội Mỹ chưa bỏ ý định phản công. Chúng ráo riết chuẩn bị, chấn chỉnh, điều chỉnh lại lực lượng, bố trí lại chiến trường, tăng thêm lực lượng và sắp xếp lại kế hoạch nhằm đánh một đòn thứ hai mạnh mẽ hơn. Để chuẩn bị cơ sở vật chất, chuẩn bị thiết bị và tổ chức chiến trường, chuẩn bị các bàn đạp tiến công, quân Mỹ vừa củng cố, mở rộng các căn cứ quân sự cũ, vừa lập thêm các căn cứ quân sự mới. Quân địch lập các căn cứ quân sự, các sở chỉ huy sư đoàn, lữ đoàn trên các hướng tiến công của chúng. Phía trước các căn cứ quân sự, các sở chỉ huy sư đoàn là các cứ điểm quân sự hình thành một tuyến trận địa tiếp giáp với rìa ngoài các khu căn cứ của quân ta. Tuyến cứ điểm quân sự này có tác dụng là một bàn đạp xuất phát tiến công để đánh vào các khu căn cứ của ta. Ở miền Đông Nam Bộ, sở chỉ huy sư đoàn bộ binh 1 Mỹ đóng ở Bàu Bàng, sở chỉ huy sư đoàn bộ binh 25 đống ở Củ Chi, sở chỉ huy lữ đoàn độc lập 196 đóng ở Suối Đá (Tây Ninh), lữ đoàn dù 173 ở Biên Hòa, trung đoàn 11 thiết giáp đóng ở Xuân Lộc. Ở Tây Nguyên, sở chỉ huy sư đoàn kỵ binh bay đóng ở An Khê, sư đoàn bộ binh số 4 ở La Sơn.


Quân viễn chinh Mỹ từ 20 vạn trong mùa khô trước được tăng lên tới hơn 44 vạn trong mùa khô này. Cộng cả quân Mỹ, quân ngụy và quân chư hầu, lực lượng địch có tới hơn 1 triệu quân.

Cuộc phản công chiến lược lần thứ hai cũng được thực hiện vào mùa khô - mùa khô 1966-1967. Với lực lượng được tăng thêm, với sức mạnh vật chất hùng hậu, bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ hy vọng đánh đòn thứ hai có thể đè bẹp quân ta và làm chuyển biến cục diện chiến tranh.


Trong cuộc phản công chiến lược mới, quân Mỹ vẫn chọn miền Đông Nam Bộ là hướng tiến công chủ yếu. Hướng Trị - Thiên là hướng quan trọng, đồng thời là hướng phòng ngự chủ yếu. Hướng đồng bằng miền Trung Trung Bộ và hướng Tây Nguyên là những hướng phối hợp.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:29:10 am
Để bảo vệ vững chắc Sài Gòn và để yểm hộ sườn trái cho mũi tiến công chủ yếu ở phía bắc Sài Gòn, địch mở thêm một tuyến phòng ngự rộng ra rìa phía tây Sài Gòn là vùng Mỹ Tho.

Thời kỳ này bộ tư lệnh quân viễn chinh Mỹ đã có trong tay 9 sư đoàn và 3 lữ đoàn quân Mỹ, 2 sư đoàn lính Pắc Chung Hy và 11 sư đoàn quân ngụy. Ngoài số quân lớn này, Mỹ còn huy động thêm các lực lượng yểm trợ chiến đấu gồm 2 tập đoàn không quân, 1/3 lực lượng không quân chiến thuật và 1/3 lực lượng hải quân của cả nước Mỹ. Đối với một cuộc chiến tranh cục bộ thì số quân đó đã đạt tới mức cao, vượt ra ngoài lý luận về "hai cuộc chiến tranh rưỡi"1 (Lý luận về "hai cuộc chiến tranh rưỡi": chiến lược phản ứng linh hoạt xác định với lực lượng hiện có, đế quốc Mỹ có thể tiến hành cùng một lúc hai cuộc chiến tranh cục bộ, một cuộc ờ châu Âu, một cuộc ở châu Á và đồng thời vẫn còn lực lượng để tiến hành một cuộc chiến tranh nhỏ hơn nữa, được coi như nửa cuộc. Cộng tất cả thành "hai cuộc chiến tranh rưỡi") trong chiến lược toàn cầu "phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ.


Bị thất bại trong cuộc phản công lần thứ nhất, dù vẫn tin vào sức mạnh vật chất kỹ thuật, quân Mỹ cũng buộc phải suy nghĩ bước đầu, phải rút ra một số kinh nghiệm. Thế trận phản công chiến lược lần này tuy về cơ bản vẫn giống như lần trước nhưng cũng có vài điều khác trước. Quân Mỹ vẫn tiến công toàn diện trên các hướng cũ và có mở rộng thêm ra một số hướng. Với tinh thần thận trọng hơn lẫn trước, thế trận lần này vừa có tiến công vừa có phòng ngự. Thế tiến công nhằm vào miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng Trung Trung Bộ. Thế phòng ngự tiến hành ở Quảng Trị và miền Tây Sài Gòn. Thế tiến công lần này tuy vẫn ào ạt, nhưng có tính vững chắc hơn. Để tiến công vào các khu căn cứ của Quân giải phớng, quân Mỹ tổ chức các tuyến xuất phát tiếp cận khu căn cứ, củng cố tuyến bàn đạp đó, rồi mới thực hành tiến công.


Ở Tây Nguyên, để tiến công vào một khu căn cứ của ta trên lưu vực sông Sa Thầy, ở phía tây thị xã Plây Cu, quân Mỹ tổ chức tuyến xuất phát ở khu vực Sùng Thiện, Sùng Lễ. Ở tuyến xuất phát, quân Mỹ có thể dùng pháo binh tầm xa để chi viện cho các đơn vị chiến đấu ở phía trước tiếp giáp với đối phương. Ở tuyến xuất phát, quân Mỹ cũng có thể sử dụng máy bay lên thẳng để cơ động, điều động lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất tới tuyến tác chiến tiền duyên trong khoảng 10 - 15 phút, ở giữa tuyến xuất phát và tuyến tác chiến phía trước, nếu cần, lại có thể tổ chức thêm tuyến trung gian để chi viện hỏa lực, yểm hộ và làm chỗ dựa cho tuyến tác chiến phía trước.


Ở địa hình nào có thể sử dụng được xe tăng, xe bọc thép thì quân Mỹ cố gắng sử dụng liên hợp với bộ binh để tăng thêm sức đột kích trong tiến công và làm dày thêm vỏ cứng trong phòng ngự.

Trong cuộc tiến công lần này, tuy vẫn ào ạt về mặt chiến đấu, nhưng địch đã phải thận trọng, tiến từng bước về mặt chiến dịch. Phương pháp tiến công là tổ chức thành các tuyến tiến công, tiến dần về phía trước tới mục tiêu tác chiến ở phía đối phương. Các điểm trên tuyến tiến công đều được tổ chức bảo vệ để đề phòng đối phương phản công bằng cách cấu trúc các công sự trú ẩn cho chiến binh và các sở chỉ huy, bố trí các vật cản trở bằng hàng rào dây thép gai và mìn. Địa hình nào cho phép thì có cả xe tăng, xe bọc thép làm vỏ cứng, hợp thành cùng pháo binh để tăng cường hỏa lực tại chỗ.


Thế trận phản công chiến lược của địch nhìn chung tuy có vững chắc hơn trước song vẫn quá tham. Vì muốn thắng nhanh, thắng lớn, hợm hĩnh và thiếu kiên nhẫn nên phần lớn lực lượng, phần lớn các đơn vị tinh nhuệ của địch đều được tung ra phía trước đóng vai trò thê đội một, còn lực lượng dự bị, thê đội hai thường rất ít. Hướng tiến công chủ yếu cũng không được tập trung đúng mức.


Quân Mỹ có ưu thế về sức cơ động cao và cơ động được trên mọi địa hình nên chuyển hướng, lật cánh tương đối nhanh, tập trung và phân tán lực lượng cũng nhanh và linh hoạt. Chỗ mạnh đó có thể phần nào bù đắp được cho nhược điểm về thiếu và ít lực lượng dự bị. Song dù sao việc điều động, cơ động chiến trường như thế cũng vẫn có tính chất chắp vá và có lúc không được kịp thời cơ.


Do cơ động được trên mọi địa hình bằng máy bay lên thẳng, nên quân Mỹ có thể đánh sâu được vào các vùng rừng núi hiểm trở với một lực lượng tương đối lớn có cả pháo binh đi cùng và lập được các căn cứ hỏa lực rộng rãi thành các mạng hỏa lực, các tuyến hỏa lực pháo binh để chi viện cho bộ binh tác chiến.


Với lực lượng, khả năng và các điều kiện như trên, quân Mỹ mở cuộc tiến công rộng lớn trên toàn chiến trường. Mũi tiến công mạnh nhất đánh vào miền Đông Nam Bộ. Ở đây quân Mỹ sử dụng các sư đoàn bộ binh số 1 và số 25, lữ đoàn 196, lữ đoàn dù 173 và trung đoàn thiết giáp số 11, được pháo binh và máy bay các loại kể cả máy bay B.52 yểm trợ mạnh mẽ.


Để chuẩn bị cho cuộc phản công mùa khô lần thứ hai, từ 14 tháng 9 đến 15 tháng 10 năm 1966, quân Mỹ đã liên tiếp mở các cuộc hành quân cấp lữ đoàn hoặc lữ đoàn tăng cường gồm:

- Cuộc hành quân Brơ-mót-tơn của lữ đoàn 3 (sư đoàn bộ binh 4) ra khu vực Nhơn Trạch, lộ 15.

- Cuộc hành quân của lữ đoàn 173 và trung đoàn thiết giáp 11 đánh ra vùng Võ Đát - Tánh Linh.

- Cuộc hành quân Si-nan-đích của lữ đoàn 1 (sư đoàn bộ binh 1) đánh ra vùng Long Nguyên - Căm Xe.

- Cuộc hành quân Át-tơn Bo-rơ của lữ đoàn 196 và tiểu đoàn 2 (lữ đoàn 2, sư đoàn 25) đánh ra khu vực tây sông Sài Gòn - từ Bà Nhã đến Bàu Gòn.

Ngay từ đầu, địch đã bị ta đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 196 (thiếu) và một tiểu đoàn của sư đoàn 25 ở Bàu Gòn. Do đó, chúng đã phải kết thúc các cuộc hành quân Brơ-mớt-tơn, Si-nan-đích và điều động toàn bộ lực lượng trên chiến trường miền Đông vào cuộc hành quân Át-tơn Bo-rơ. Như vậy cuộc hành quân Át-tơn Bo-rơ trở thành cuộc hành quân lớn thứ nhất mang tính chất đối phó bị động với ta trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, chính thức bắt đầu ngày 15 tháng 10 năm 1966.


Trong cuộc hành quân này, địch đã huy động tới 3 vạn quân, gồm 24 tiểu đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 1 và 25, các lữ đoàn 173 và 196, trung đoàn thiết giáp 11 và quân ngụy; được chi viện 75 lần chiếc máy bay thuộc không quân chiến thuật và 30 lần chiếc B.52 trong mỗi ngày. Mục tiêu của cuộc hành quân nhằm đánh vào các khu vực: Cà Tum, Bổ Túc, Đồng Pan, Suối Đá, Bàu Gòn, Tây Ninh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:30:26 am
Đội hình chiến dịch của địch triển khai như sau:

- Mũi tiến công chủ yếu gồm lữ đoàn 2 (sư đoàn 25), 1 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 173, 1 lữ đoàn 196, 1 tiểu đoàn thiết giáp đánh lên Đồng Pan, Cà Tum.

- Mũi phối hợp gồm các lữ đoàn 2 và 3 (sư đoàn 1), lữ đoàn 3 (sư đoàn 25) đánh vào khu vực Bàu Gòn, Suối Đá, Trại Đèn. Còn lữ đoàn 173 (thiếu) đánh vào khu vực bắc Dầu Tiếng.

Thực hiện hành quân, địch đã sử dụng 12 đại đội biệt kích Mỹ đổ bộ trực thăng đánh chiếm dọn bãi và đổ quân vào bên sườn và sau lưng đội hình quân ta.

Nhìn chung, cuộc hành quân này được mở ra nhằm tiêu diệt chủ lực quân ta và đánh phá các cơ quan chỉ huy, các căn cứ hậu cần của quân ta. Nếu đạt được mục đích trên, quân Mỹ sẽ làm cho chủ lực của Quân giải phóng bị suy yếu nặng nề, tiềm lực chiến tranh của cách mạng bị kiệt quệ và căn cứ địa bị thu hẹp lại. Ý đồ chiến lược của địch rất thâm độc và có tính kiên quyết.


Quân dân miền Nam đã biết rõ điều đó, và cũng đã chuân bị sẵn sàng. Quân giải phóng đã phán đoán cơ bản đúng ý đồ, việc sử dụng lực lượng cùng đội hình tiến công của địch. Quân giải phóng cũng đã nghiên cứu và năm được tương đối chính xác đặc điểm, thủ đoạn và quy luật tác chiến của địch. Trên cơ sở đó, Quân giải phóng đã định ra được kế hoạch phản công, bày được thế trận tương đối kín chắc, vững mạnh và dẻo dai của cả ba thứ quân và các binh chủng để đánh bại cuộc tiến công của địch. Các sư đoàn, trung đoàn cùng các bộ đội binh chủng của Quân giải phóng đã kiên quyết và khéo léo cơ động dưới các làn bom đạn dày đặc của địch để cài thế ở trước mặt quân địch, bên sườn và cả đằng sau lưng địch.


Thế trận của Quân giải phóng nhằm chia cắt đội hình tiến công của địch, rồi tập trung lực lượng đánh vào hướng tiến công chủ yếu và bao vây tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch, đánh bại cuộc tiến công của chúng.


Quân giải phóng đã chia cắt và ngăn chặn địch ở sát ngay tuyến xuất phát tiến công của chúng, đồng thời đánh diệt các đơn vị thê đội một của địch đánh sâu vào trận địa của ta. Quân giải phóng đã thực hành một số trận đánh vào cánh quân thuộc sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ ở bắc Bàu Gòn, nam tỉnh lộ số 13 và Chà Do ở bắc tỉnh lộ số 13. Ở hướng tỉnh lộ số 4, Quân giải phóng đã chặn đánh sư đoàn bộ binh số 25 Mỹ, đồng thời đánh mạnh vào sườn sau của sư đoàn này ở phía tây tỉnh lộ số 4 khiến sư đoàn này phải lúng túng chống đỡ, không dám tiến mạnh về phía đông tỉnh lộ số 4 và không tiến công hợp điểm với sư đoàn bộ binh số 1 ở Chà Do được. Vì thế quân ta đã phá vỡ thế hợp vây của địch, đánh bại đòn tiến công quyết định của chúng.


Phối hợp với chủ lực, bộ đội địa phương, du kích cùng các đơn vị đặc biệt của quân ta đã đánh địch rộng rãi ở trên khắp mặt trận, tiêu hao, phân tán và làm rối loạn đội hình của địch, đánh phá các căn cứ, sở chỉ huy của địch, tạo thành sức mạnh lớn cùng chủ lực đánh bại cuộc tiến công của chúng.


Ngày 11 tháng 11, ta pháo kích vào sở chỉ huy sư đoàn 1 ở Dầu Tiếng, diệt 200 tên, phá 17 trực thăng và 2 pháo. Ngày 25 tháng 11, ta lại pháo kích lần thứ hai vào đây, diệt 300 tên, phá hủy 4 trực thăng và 1 kho xăng.


Thế là quân địch đi tiến công nhưng chúng không tiêu diệt được của Quân giải phóng một đại đội nào, chẳng những thế chúng lại bị Quân giải phóng tiêu diệt từng tiểu đoàn. Chỉ trong vòng 4 ngày tiến công, lữ đoàn 196 đã bị loại ngay khỏi vòng chiến. Các đơn vị của hai sư đoàn bộ binh số 1 và số 25 của lục quân Mỹ bị đánh què quặt; 4.552 tên, trong đó có 3.719 tên Mỹ bị diệt. Đơ-xốt-xuya, tướng chỉ huy cuộc hành quân bị cách chức.


Cuộc hành quân Át-tơn Bo-rơ không thành và thất bại. Tiếp sau đó, từ 8 đến 28 tháng 1 năm 1967, địch lại tiếp tục mở cuộc hành quân Xê-đa Phôn với 1 vạn 5 nghìn quân vào khu vực Bến Súc. Ta đã dùng một bộ phận chủ lực và bộ đội địa phương diệt 2.565 tên (2.500 tên Mỹ), phá hủy 132 xe bọc thép. Bị thất bại, địch đã phải rút về vị trí cũ.


Như vậy là các cuộc hành quân hiệp đầu của địch đã thất bại khá đau. Tuy nhiên, nhìn chung ta vẫn chưa tiêu diệt được tập đoàn chiến dịch của địch, mà chỉ tiêu diệt được một số đơn vị chiến thuật, một số bộ phận trong thành phần chiến dịch của địch. Vì thế nên tuy bị thất bại trong hiệp thứ nhất, quân địch vẫn chưa bỏ ý định tiến công. Chúng nhanh chóng củng cố lại những đơn vị bị tiêu diệt và tiêu hao, tăng thêm quân và điều động thêm các đơn vị khác tới.


Rút kinh nghiệm của hiệp thứ nhất, cuộc phản công trong hiệp thứ hai này sẽ lớn hơn và quyết liệt hơn. Hướng tiến công và mục tiêu tiến công cơ bản như trong hiệp một, có mở rộng thêm phạm vi một ít. Đội hình tiến công chiến dịch của địch có to rộng hơn, phức tạp hơn và có một số thế, số mũi chặt chẽ hơn, hiểm hơn, sâu hơn.


Cuộc hành quân này được bộ chỉ huy quân sự Mỹ đặt tên là "Gian-xơn Xi-ti", bắt đầu từ ngày 22 tháng 2 năm 1967, tướng Mỹ Oét-mo-len đã tung ra một lực lượng lớn gồm các sư đoàn bộ binh số 1, số 25, lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn bộ binh số 4, lữ đoàn dù số 173, lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn bộ binh số 9, tổng cộng 9 lữ đoàn gồm 27 tiểu đoàn bộ binh Mỹ và chiến đoàn A lính thủy đánh bộ ngụy, về lực lượng thiêt giáp, có 4 trung đoàn gồm 11 tiểu đoàn, có 1.200 - 1.300 xe tăng và xe bọc thép. Về pháo binh, có 14 tiểu đoàn, tổ chức thành hai cụm pháo số 23 và số 4, tổng cộng 256 khẩu, về máy bay có 9 phi đoàn: 162 phản lực, 300 máy bay lên thẳng, 18 CH.47, có từ hai đến ba phi đoàn vận tải gồm 30 - 40 chiếc C.123 và C.130, 20 - 30 máy bay trinh sát thuộc các đơn vị liên đội số 12 của lữ đoàn hàng không vận tải số 1 và các đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7. Mật độ chi viện không quân là 100 - 120 lần chiếc một ngày, về công binh có 5 - 6 tiểu đoàn. Tổng số đơn vị tham gia hành quân, cả Mỹ và ngụy, là 30 tiểu đoàn và 12 đại đội biệt kích, khoảng gần 5 vạn tên. Như vậy là chúng đã sử dụng gần hết các lực lượng cơ động có thể huy động được ở miền Nam. Và cuộc hành quân do tướng Mỹ ba sao Xi- man, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy dã chiến 2 của Mỹ, trực tiếp điều khiển.


Mục đích cuộc hành quân của địch là đánh sâu hơn vào khu căn cứ của ta, tiếp tục làm nhiệm vụ mà các cuộc hành quân trước chưa hoàn thành. Quyết tâm của địch là tập trung lực lượng, cố gắng tiến hành một đòn lớn thứ hai để tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng, diệt đạo quân chủ lực, phá hủy khu căn cứ trung ương, phá hủy hậu phương, kho tàng, tiềm lực kháng chiến, hòng giành được một thắng lợi có tính chất quyết định để đi đến tiêu diệt cách mạng miền Nam, kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:32:11 am
Cuộc hành quân của địch được triển khai trên một khu vực rộng lớn về phía bắc và đông - bắc tỉnh Tây Ninh khoảng 40km, rộng khoảng 1.500km2. Bắc và tây khu vực tiến công giáp biên giới Cam-pu-chia, nam giáp tỉnh lộ số 13 và đông giáp sông Sài Gòn. Đội hình chiến dịch của địch trải rộng ra một tuyến dài, thành một hình vòng cung hơn 140km, chạy từ Long Nguyên qua Dầu Tiếng, Suối Đá, Tây Ninh đến Lò Gò. Ngày 21 tháng 2 năm 1967 thì đội hình chiến dịch của địch đã triển khai xong. Đây là tuyến bàn đạp xuất phát tiến công để đánh vào khu căn cứ của ta.


Cuộc tiến công thật là quyết liệt. Trên một phạm vi 1.500km2, nhiều sư đoàn bộ binh và nhiều trung đoàn xe tăng, xe bọc thép được nhiều tiểu đoàn pháo binh cùng hàng trăm lần chiếc máy bay chi viện trong một ngày, hàng mấy trăm máy bay lên thẳng làm phương tiện cơ động đường không nhanh chóng. Hằng ngày, địch sử dụng hàng nghìn quả bom các cỡ, các loại, hàng vạn quả đạn pháo từ 105 đến 175 - 203 ly. Máy bay B.52 tiến hành ném bom rải thảm có tính chất hủy diệt khu vực từ hậu phương chiến dịch của đối phương cho đến tuyến chiến thuật của đối phương. Ngoài ra địch còn rải chất độc hóa học để phát quang rừng cây hòng làm cho đối phương không có những nơi tập kết, có tuyến xuất phát tiến công, có hành lang cơ động được kín đáo, dễ làm mồi cho máy bay và pháo binh của quân Mỹ oanh tạc hủy diệt.


Với hỏa lực không quân và pháo binh mạnh mẽ, đánh phá thật nặng nề và ác liệt vào trận địa của Quân giải phóng, các cánh quân Mỹ liên hợp bộ binh và xe tăng được máy bay và pháo binh thường xuyên liên tục chi viện yểm hộ và dọn đường cho từng lữ đoàn đổ bộ bao vây bốh mặt, đồng thời dùng một lực lượng bộ binh cơ giới mạnh đánh từ phía nam lên phía bắc chia cắt khu vực càn ra làm nhiều mảnh, bao vây nhở trong bao vây lớn bằng các hình thức chiến thuật: bao vây hợp điểm, bủa lưới phóng lao, trực thăng vận, nhảy dù, v.v... Ào ạt tiến quân như vậy, quân Mỹ có thể tiến vào đánh chiếm một số mục tiêu, nhưng không tài nào tiêu diệt được Quân giải phóng, một đối phương kỳ lạ mà chúng đã từng chạm trán trong những cuộc phản công trước đây. Lần này đối phương của quân Mỹ lại còn có vẻ kỳ lạ và thần tình hơn các lần trước nữa. Qua mấy lần đọ sức, Quân giải phóng đã phán đoán được âm mưu, ý đồ của địch cũng như nắm được đặc điểm, thủ đoạn và quy luật tác chiến của chúng.


Ở các khu vực, Quân giải phóng đã sẵn sàng bày thế trận kín chắc và sâu hiểm rồi tổ chức các điều kiện để tạo ra thời cơ tiêu diệt địch.

Để tạo thế trận và thời cơ cho các đòn phản công tiêu diệt các cụm chiến dịch của địch, Quân giải phóng tổ chức các đơn vị nhỏ cùng với bộ đội địa phương và các đội du kích triển khai đánh nhỏ rộng khắp trên toàn bộ mặt trận, mục đích là để tiêu hao địch một bước, làm rối loạn thế trận của địch, làm cho địch bị mê muội, bị lừa dối, không nhận rõ được mục tiêu chính phụ, không nhận rõ thế trận thực hư. Sau đó, đến khi đã tạo ra được thế trận và thời cơ tốt, chủ lực Quân giải phóng mới xuất đầu lộ diện, nhanh chóng, cơ động và linh hoạt, giáng những đòn sấm sét vào các mục tiêu quan trọng và chủ yếu của quân địch, đạt được những đòn đánh tiêu diệt có ý nghĩa, đi đến đánh bại cuộc tiến công của địch, giành lấy thắng lợi.


Cuộc hành quân của quân Mỹ không thành công là do cách đánh của chúng và Quân giải phóng có sự đối lập, khác biệt rõ rệt. Vì thế nên quân Mỹ tuy đông, hỏa lực tuy mạnh, sức cơ động tuy nhanh song vẫn không thể tiêu diệt được Quân giải phóng, trái lại còn bị Quân giải phóng đánh cho những đòn nặng nề. Các mũi tiến công của địch đều bị đánh bại. Các thủ đoạn chiến thuật đều không thành công, sinh lực địch bị tiêu diệt nhiều, lực lượng cơ bản của chiến dịch bị thất bại nặng.


Quân Mỹ có sức tiến công nhanh, mạnh thật nhưng chúng không biết sử dụng hợp lý, đúng chỗ và đúng lúc nên toàn đánh hụt, đâm ra phí sức và mất sức. Chúng triển khai nhanh, tốc chiến hiệp đồng binh chủng khá, bao vây chiến dịch có quy mô rộng và nhanh. Nhưng cũng chính do muốn nhanh, hành động ào ạt nên không chắc và dễ bộc lộ sơ hở.


Về chiến thuật thì quân Mỹ lại kém hơn là chiến dịch. Đứng trước đối phương là các lực lượng vũ trang giải phóng "thiên biến vạn hóa", chúng rất khó xác định được mục tiêu chiến thuật, do đó hành động bao vây và tiến công chiến thuật của chúng đã không thành công. Bộ binh chúng đã kém, tinh thần chúng lại bạc nhược, thường chỉ dựa vào hỏa lực mạnh nên rất ít khi đột kích thành công và hễ cứ bị Quân giải phóng đánh là chùn lại.


Quân Mỹ đi tiến công nhưng lại bị đối phương tiến công lại trên toàn bộ đội hình chiến dịch nên đội hình chiến địch của chúng đâm ra rối loạn, phải phân tán, vừa tiến công lại vừa phải phòng ngự, bị mệt mỏi và bị tiêu hao tiêu diệt, khó tập trung lớn và khó đánh kéo dài được. Điều quan trọng là chúng không tiêu diệt được đối phương, mà ngược lại còn bị đối phương tiêu diệt.


Đó là một số nguyên nhân thất bại của quân đội Mỹ trong cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti.

Tính từ ngày 22 tháng 2 đến ngày 15 tháng 4 năm 1967, quân và dân Tây Ninh đã diệt 14.233 tên, hầu hết là Mỹ, trong đó đã: tiêu diệt 2 tiểu đoàn và 11 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo binh, 9 chi đoàn thiết giáp; đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo. Tổng cộng đã phá hủy 992 xe (có 775 xe tăng và xe bọc thép), 112 khẩu pháo và cỗi từ 105 ly trở lên, bắn rơi và phá hủy 160 máy bay.


Nhờ đạt được thắng lợi nên về cơ bản Quân giải phóng vẫn giữ vững được địa bàn, giữ vững được khu căn cứ, đánh đuổi được quân địch ra khỏi khu chiến. Đây là thất bại nặng nhất của đế quốc Mỹ và là thắng lợi lớn nhất của quân và dân miền Nam trong mùa khô 1966-1967.


Đối với các lực lượng vũ trang giải phóng, ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch này rất lớn.

Về mặt chiến lược, thắng lợi đó chứng tỏ Quân giẫi phóng vẫn giữ vững và phát triển được thế chủ động tiến công, bảo toàn được lực lượng và cơ quan chỉ huy, đánh bại được âm mưu, ý đồ chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của địch, xây dựng được lực lượng của mình ngày càng trưởng thành và đặc biệt là xây dựng được lòng tin ở khả năng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.


Về mặt chiến dịch và chiến thuật thì Quân giải phóng đã tìm được cách đánh phù hợp, đối chọi có hiệu quả với cách đánh của quân đội Mỹ chính quy và hiện đại.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:33:21 am
Đối với quân đội Mỹ thì chúng đã thất bại, không thực hiện được mục đích cơ bản của cuộc hành quân. Chúng không có cách đánh phù hợp để tiêu diệt nổi các lực lượng vũ trang giải phóng. Có thể nói đây là một thử thách lớn, dẫn đến việc chúng phải thay đổi chủ trương chiến lược - một sự thay đổi cay đắng từ chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" lúc đầu sang chiến lược "đánh lâu dài" ngoài ý muốn của chúng.


Thất bại đó rõ ràng đến nỗi viên chỉ huy trưởng cuộc hành quân là Xi-man cũng phải thừa nhận rằng chúng "không đến được Lầu năm góc và không tìm thấy được Mắc Na-ma-ra của Việt cộng" (tin AFP ngày 26-2-1967). Còn tướng tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ là Oét-mo-len thì "cho thấy tình hình Việt Nam đã xấu đến mức ông ta không biết làm cách nào để thắng, ngoài việc tiếp tục làm cho đối phương phải đổ máu", còn "Giôn-xơn thì đang cưỡi trên lưng hổ và ông ta thấy khó mà tụt xuống được" (báo "Luận đàn Niu Oóc" ngày 19-4-1967).


Phối hợp với quân và dân Tây Ninh, trên khắp chiến trường miền Nam, từ Trị - Thiên cho tới Cà Mau, quân và dân miền Nam đều đánh mạnh, đánh đều, giành thắng lợi lớn.

Ở Tây Nguyên, quân địch cũng thực hiện ý đồ mở cuộc tiến công vào khu căn cứ giải phóng, ở đây ngoài sư đoàn kỵ binh bay số 1 đã chiếm đóng An Khê, địch còn đưa thêm một sư đoàn mới sang Việt Nam là sư đoàn bộ binh số 4, cùng với một bộ phận của sư đoàn bộ binh số 25 "Tia chớp nhiệt đới". Có thêm bộ binh thì tất nhiên phải có thêm xe tăng, pháo binh và máy bay, máy bay lên thẳng. Lực lượng ngụy ở đây có quân biệt động thuộc lực lượng cơ động của quân khu 2, các đơn vị thuộc sư đoàn 22 và sư đoàn 23, các đơn vị biệt kích "Mũ nồi xanh" của Mỹ và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang địa phương của ngụy. Nhìn chung, lực lượng quân địch, cả Mỹ và ngụy, tương đối đông và mạnh.


Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ được giao nhiệm vụ thường trực tác chiến trên chiến trường Tây Nguyên, còn sư đoàn kỵ binh bay số 1 thì được sử dụng làm lực lượng cơ động chiến lược, có nhiệm vụ ứng chiến trên toàn chiến trường miền Nam, đóng quân ở một địa bàn cơ động là An Khê, một vùng cao nguyên núi đồi rộng lớn, giáp ranh giữa đồng bằng và rừng núi, một vị trí trung tâm của chiến trường miền Nam. Đảm nhiệm vai trò tác chiến chính ở Tây Nguyên, sư đoàn bộ binh số 4 vượt lên trước sư đoàn kỵ binh bay số 1, tiến ra phía trước, tiếp cận với khu căn cứ của Quân giải phóng Tây Nguyên. Sư đoàn bộ binh số 4 đóng ở Plây Cu, một thị xã trung tâm của Tây Nguyên. Các lữ đoàn của nó tiến ra phía tây đường 14, chiếm các địa điểm tiếp giáp với khu căn cứ của Quân giải phóng, hình thành tuyến tiếp xúc với địa bàn tác chiến của Quân giải phóng ở phía trung và phía bắc Tây Nguyên.


Vì quá tin ở sức mạnh của quân Mỹ và coi thường quân ngụy, bộ tư lệnh dã chiến số 1 của Mỹ không sử dụng tập trung sư đoàn 4 Mỹ, mà lại phân tán sư đoàn này ra trên các hướng chiến dịch, và sử dụng nó làm thê đội một chiến dịch. Các lữ đoàn của sư đoàn 4 Mỹ đóng quân trên phạm vi hai tỉnh từ Plây Cu đến Kon Tum. Mỗi lữ đoàn của nó phụ trách một hướng tác chiến có tính chất chiến dịch. Quân Mỹ coi quân ngụy là "đàn bà giữ nhà" (câu nói của các nhà báo phương Tây). Vì thế mà các sư đoàn quân ngụy chỉ được giao nhiệm vụ giữ các hậu cứ, các thị trấn, thị xã và các tuyến hậu phương của quân đội Mỹ. Do không sử dụng quân ngụy ra tác chiến ở phía trước nên quân Mỹ phải phân tán và không tăng thêm được sức mạnh.


Khi sư đoàn 4 Mỹ đến Tây Nguyên và đang triển khai chiến đấu, thì Quân giải phóng cũng đã sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức thứ hai với quân Mỹ. Qua cuộc đọ sức lần thứ nhất với quân Mỹ, bước đầu Quân giải phóng đã nắm được một số đặc điểm, thủ đoạn và quy luật tác chiến của chúng, biết được chỗ mạnh, chỗ yếu, biết được sở trường và tính nết của chúng.


Ỷ vào sức mạnh hỏa lực và sức cơ động cao bằng máy bay lên thẳng, quân Mỹ rất chủ quan và hung hăng, thường hay nhảy cóc sâu và xa vào tuyến sau của đôl phương, ít tính toán đến địa hình hiểm trở. Đó là đặc điểm nổi rõ về hành động tác chiến của quân đội Mỹ.


Khi một vị trí, một đơn vị nào của quân Mỹ bị đánh thì một mặt quân Mỹ cho lực lượng đến giải tỏa, ứng cứu cho vị trí đó, đơn vị đó, mặt khác chúng còn cho một lực lượng khác thực hành bao vây thẳng đứng bằng phương pháp hạ cánh, đổ bộ vào tuyến sau của đối phương để hòng cắt tuyến vận chuyển và cơ động của đối phương làm cho thê đội một của đối phương bị cô lập, bị cắt mất hết mọi sự chi viện của tuyến sau, đi đến bị tiêu diệt hoặc bị đánh bật ra khỏi tuyến chiến đấu. Đó là thủ đoạn và quy luật tác chiến của quân đội Mỹ.


Do tính nết của quân đội Mỹ như thế nên chúng khó tránh khỏi bị lừa, bị nhử mồi. Biết được sự chuẩn bị của chúng, phán đoán được âm mưu và ý đồ của chúng, nắm được đặc điểm, thủ đoạn và quy luật tác chiến của chúng, Quân giải phóng đã triển khai sẵn thế trận và thực hành tiến công trước để nhử địch vào thế trận của mình. Chủ lực Quân giải phóng bố trí thành thế trận cớ bậc thang, thành nhiều thê đội có chiều sâu, có các khu quyết chiến nhỏ và lớn.


Khi đã bày xong thế trận và xác định được các khu vực, các tuyến tiêu diệt địch, một bộ phận nhỏ Quân giải phóng liền thực hành đánh nhử mồi, tiến công trước. Quân Mỹ đang triển khai để chuẩn bị tiến công thì gặp mồi và bắt ngay. Quân giải phóng tiến công nhử mồi vào một vị trí quân biệt kích của Mỹ trên bờ đông sông Pô Cô ở phía tây thị xã Plây Cu: đồn Plây Gi-răng. Quân giải phóng biết rằng khi tiến công đồn Plây Gi-răng thì thế nào sư đoàn 4 Mỹ cũng triển khai ra phía đông sông Pô Cô để chiếm tuyến bàn đạp, tổ chức thành tuyến xuất phát phản kích, đồng thời cho quân nhảy qua sông Pô Cô sang phía tây bằng đổ bộ hạ cánh để bao vây và chia cắt thê đội một của Quân giải phóng.


Đúng như phương án tác chiến đã định, khi sử dụng một bộ phận nhỏ để tiến công đồn Plây Gi-răng thì Quân giải phóng đã bố trí sẵn một bộ phận chủ lực ở phía tây sông Pô Cô thẳng hướng với đồn Plây Gi-răng về phía tây. Các đội đổ bộ của địch vượt sông hạ cánh xuống đây liền sa ngay vào thế trận của Quân giải phóng. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Địch tăng viện thêm quân. Ta tiêu diệt được một số sinh lực địch nhưng chưa tiêu diệt được các đơn vị chiến thuật, chưa tiêu diệt được nhiều sinh lực địch. Đây chưa phải là khu quyết chiến chủ yếu của Quân giải phóng mà mới chỉ là một khu quyết chiến nhỏ, là tuyến một trong thế trận, là bậc thang thứ nhất trong đội hình chiến dịch có chiều sâu của Quân giải phóng. Khu quyết chiến của Quân giải phóng là ở bậc thang thứ hai, ở tuyến thứ hai, lùi sâu về phía tây hơn nữa, tức là ở khu vực phía tây sông Sa Thầy. Ở đây bộ phận chính của chủ lực quân ta đã sẵn sàng thế trận. Các điểm chốt trong khu quyết chiến chủ yếu đã được xác định. Thế trận đánh tiêu diệt đã được căng bẫy. Tình huống chiến đấu diễn ra theo đúng như quy luật. Muốn đánh bại thê đội một của Quân giải phóng ở khu vực giữa bờ tây sông Pô Cô và bờ đông sông Sa Thầy, quân Mỹ tất phải vượt qua đội hình thê đội một của quân ta, đổ bộ hạ cánh xuống bờ tây sông Sa Thầy.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Giêng, 2023, 10:34:09 am
Quân Mỹ sẽ lập một tuyến chia cắt, một thế bao vây ở dọc bờ phía tây sông Sa Thầy bằng cách chiếm giữ một số điểm cao, khống chế trên địa hình có ý nghĩa của các điểm chiến thuật quan trọng.

Cuộc phản kích vòng ngoài này vừa có ý nghĩa bao vây, chia cắt thê đội một của quân ta, lại còn có ý nghĩa quan trọng hơn nữa là đánh phá ngay vào hậu phương của Quân giải phóng, tiêu diệt, đánh bật, đánh tan các lực lượng dự bị, thê đội hai, sở chỉ huy, kho tàng, bệnh viện, xưởng, trạm hòng phá tan tiềm lực chiến tranh và cơ cấu tổ chức, chỉ huy của Quân giải phóng.


Đây là một đòn có tính chất quyết định. Để thực hiện đòn này, chúng đã điều thêm một bộ phận lực lượng thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1 ở An Khê và một bộ phận lực lượng thuộc sư đoàn dù số 101 ở đồng bằng miền Trung lên tăng cường cho sư đoàn 4. Bộ chỉ huy sư đoàn 4 Mỹ đã tổ chức tuyến tác chiến ở bờ tây sông Sa Thầy trải rộng trên một chính diện dài khoảng 30 - 40km, nối liền các điểm chiến thuật then chốt, trên những dải địa hình quan trong, bằng các điểm cao khống chế.


Trong khi cuộc chiến đấu giữa Quân giải phóng và quân Mỹ đang tăng cường độ ở bờ phía đông sông Sa Thầy, thì quân Mỹ cũng tích cực chuẩn bị để đánh sang bờ phía tây. Sau khi cho B.52 và các loại máy bay khác ngày đêm dọn bãi và sát thương lực lượng Quân giải phóng, đồng thời cho máy bay thả chất độc hóa học, thê đội hai chiến dịch của địch ào ạt đổ bộ hạ cánh xuống bờ tây sông Sa Thầy. Có điều rất lý thú là quân Mỹ hạ cánh xuống đúng các điểm cao mà Quân giải phóng đang giương bẫy để sẵn sàng tiêu diệt chúng. Các lực lượng, các phương tiện trinh sát tinh vi và rất đắt tiền của quân Mỹ ở trên không và dưới đất đều trở thành mù hết cả. Hai tiểu đoàn quân Mỹ hạ cánh xuống chiếm hai điểm cao khống chế đều bị đánh, bị diệt ngay một tiểu đoàn. Những quả bom nổ ngay trên mặt đất, ở dưới chân binh lính của chúng, đồng thời các loại pháo, cối của Quân giải phóng ào ào ập tới, giáng những đòn bão lửa vào ngay trên đầu của chúng, rồi bộ binh Quân giải phóng dũng mãnh xông lên tiêu diệt chúng. Số địch còn sống sót liền hốt hoảng chạy về căn cứ.


Trong vài ba ngày đầu, khi quân Mỹ lập tuyến tác chiến chiến dịch mới tiến xa về phía trước trên bờ tây sông Sa Thầy thì các đội xung kích của nó đã bị đánh tiêu diệt. Tuyến tác chiến đó thế là bị rách nát. Quân Mỹ chỉ còn lại vài cứ điểm, không thành ra hình một tuyến nữa.


Sau khi đánh bại các mũi xung kích của địch, phá vỡ một mảng tuyến tác chiến của địch, Quân giải phóng tranh thủ thời cơ, phát huy tính chủ động và tích cực, tiếp tục tiến công các cứ điểm còn lại. Chỉ một thời gian ngắn, Quân giải phóng tiêu diệt được thêm một đơn vị cỡ tiểu đoàn của địch và đánh bật địch ra khỏi bờ phía tây sông Sa Thầy, khôi phục lại được trận địa.


Cuộc tiến công đi xa chớp nhoáng của địch bằng chiến thuật cơ động đã bị thất bại. Đánh vào khu căn cứ giải phóng, quân Mỹ định tìm diệt chủ lực, tiêu diệt sở chỉ huy và phá hủy tiềm lực chiến tranh của Quân giải phóng. Nhưng quân Mỹ tìm được gì? Cái khó nhất của quân Mỹ là tuy có biết quân ta ở khu vực đó, nhưng không thể biết thật cụ thể quân ta ở đâu. Chỗ nào cũng có Quân giải phóng và chỗ nào cũng lại không có. Một điểm thất sách cơ bản, một điểm kém cơ bản về mặt nghệ thuật chiến dịch, về mặt chỉ huy chiến dịch của quân Mỹ là không chuẩn bị được những nhân tố thắng lợi cho cuộc tiến công. Không biết đối phương ở đâu, không biết sở trường, thủ đoạn, quy luật tác chiến của đối phương như thế nào, mà đã thực hành tiến công, là một điểm tồi kém của nghệ thuật chỉ huy tác chiến.


Sau khi khôi phục được trận địa, địa bàn bờ tây sông Sa Thầy trở lại hình thái cũ, Quân giải phóng tranh thủ chấn chỉnh, củng cố và chuẩn bị tiếp tục chiến đấu. Quân giải phóng chủ trương, sau khi phản công thắng lợi thì phải nhanh chóng chuyển sang tiến công. Địch đã bị đánh bại một đòn, đã bị suy yếu. Chủ trương này là phù hợp vì nó đúng với tình hình và có điều kiện thắng lợi, có nhân tố thành công, về quân Mỹ thì tuyến thứ nhất phía trước đã bị phá vỡ. Ở tuyến thứ hai trên bờ sông Sa Thầy, chúng cũng đang bị sa lầy và đang bị suy yếu. Về Quân giải phóng thì qua một thời gian tác chiến, đã giành được thắng lợi quan trọng, Quân giải phóng càng thêm khí thế, có thêm kinh nghiệm và vẫn còn sung sức. Sau một thời gian chuẩn bị, những đơn vị đã đánh thắng trận ở bờ phía tây, liền tiến công sang bờ đông sông Sa Thầy hợp sức cùng các đơn vị quân ta đang tác chiến ở đó, thực hành tiến công tiêu điệt quân địch ở tuyến thứ hai của chúng. Quân Mỹ ở đây đã bị tiêu hao và mệt mỏi, nay lại bị tiến công dồn dập, bị áp lực mạnh, bị tiêu diệt và tiêu hao thêm nên đến tháng 3 năm 1967 chúng phải rút về tuyến thứ ba cuối cùng, tuyến xuất phát chiến dịch ở bờ đông sông Pô Cô. Như thế là về cơ bản Quân giải phóng đã đánh bại được cuộc tiến công của địch. Trận địa, địa bàn của ta đã trở lại hình thái cũ. Khu căn cứ giải phóng vẫn được giữ vững.


Không bỏ lỡ thời cơ, phát huy thắng lợi, với tinh thần tích cực và chủ động, Quân giải phóng lại tiến sang bờ phía đông sông Pô Cô, đánh vào tuyến cơ bản của chúng là tuyến xuất phát chiến dịch ở bờ đông sông Pô Cô trên một dải từ Sùng Thiện - Sùng Lễ đến Lệ Thanh trên trục đường 15 chạy tữ Chư Nghé đi Đức Cơ. Trên một tuyến dài khoảng từ 20 - 30km đó, Quân giải phóng thực hành tiến công toàn tuyến, nhưng có trọng điểm, nhằm vào các khu vực chủ yếu là Chư Nghé, Lệ Thanh và Đức Cơ. Tuy nhiên các đòn đột kích của Quản giải phóng cũng chỉ mới đánh vào vòng ngoài phía tây của các căn cứ đó. Quân ta tiêu diệt và tiêu hao thêm một số quân địch nữa, đồng thời bắn phá gây thiệt hại cho các căn cứ trên. Sở chỉ huy một lữ đoàn thuộc sư đoàn 4 Mỹ ở Lệ Thanh bị đánh phá nặng nề. Bị tiêu hao và thiệt hại, cuối cùng đến tháng 8 năm 1967 quân Mỹ lại phải rút bở tuyến xuất phát chiến dịch ở khu vực phía đông sông Pô Cô, lui về hậu cứ của chúng ở phía tây nam thị xã Plây Cu. Cuộc phản công lần thử hai của địch ở Tây Nguyên mang tên Pôn-ri-vơ đã bị thất bại. Hướng tiến công thứ hai của địch cũng bị thất bại.


Hướng tiến công thứ ba của địch ở đồng bằng miền Trung Trung Bộ nhằm cứu nguy cho hệ thống chiếm đóng của Mỹ - ngụy ở Bình Định, Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng bị các lực lượng vũ trang giải phóng đánh gãy.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:14:15 am
Trong khi đó, quân và dân Trị - Thiên đã phát huy tác dụng của chiến trường mới mở, đánh liên tục trong suốt mùa khô, phối hợp đắc lực với quân và dân trên toàn miền Nam. Các trận An Lễ (10-12-1966), Quảng Điền (2-1967), trường bắn Nam Giao (6-2-1967), căn cứ hậu cần ngụy ở Huế (26-12-1966), các trận đánh liên tiếp trên tuyến đường số 9 (bắc Quảng Trị) từ 26 tháng 2 đến 10 tháng 3 năm 1967 và tiếp theo đó là các trận thắng lớn ở các căn cứ 241, ở Từ Hạ, La Vang đã tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của quân Mỹ - ngụy, đã giam chân một lực lượng quan trọng quân Mỹ, buộc chúng phải co vào thế phòng ngự hết sức bị động trên chiến trường này.


Sau khi chiếm đóng tuyến nam sông Bến Hải, vùng giáp ranh đồng bằng và rừng núi phía tây Quảng Trị - Thừa Thiên, bộ chỉ huy quân Mỹ có ý định lập một phòng tuyến vững chắc với kế hoạch xây dựng rất lớn, mang tên "phòng tuyến điện tử Mắc Na-ma-ra" - người sáng tác ra nó, lúc bấy giờ còn làm bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Mục đích của việc xây dựng phòng tuyến này là để ngăn chặn con đường vận chuyển chiến lược từ hậu phương lớn đến tiền tuyến lớn, ngăn chặn những cuộc tiến công của Quân giải phóng. Chúng huênh hoang rằng khi phòng tuyến này được thiết lập thì một con chuột cũng không chui lọt. Thế nhưng còn chưa hoàn thành thì nó đã bị Quân giải phóng đánh phá tơi bời. Các cứ điểm của địch ở trên phòng tuyến và cả ở phía sau phòng tuyến đều bị bộ đội chủ lực và du kích ta liên tục tiến công, một số cứ điểm đã bị tiêu diệt. Rốt cuộc cái kế hoạch thiết lập "phòng tuyến điện tử Mắc Na-ma-ra" ấy đã bị hoàn toàn phá sản.


Trong khi ở các hướng chủ yếu, bộ đội chủ lực ta đánh bại cuộc phản công lớn của địch, thì ở đằng sau lưng địch, các phân đội chủ lực nhỏ, các đơn vị chuyên trách, cùng với bộ đội địa phương và du kích giải phóng cũng tiến công tiêu diệt nhỏ và tiêu hao quân địch một cách rộng rãi, phối hợp với phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân nổi dậy phá tan chính quyền cơ sở của địch lập nên chính quyền cách mạng của ta ở những vùng nông thôn rộng lớn. Phong trào sôi nổi nhất là ở vùng đồng bằng sông cửu Long và vùng đồng bằng Trung Trung Bộ. Thắng lợỉ của chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch và thắng lợi của phong trào nổi dậy của quần chúng làm cho thắng lợi chung càng to lớn, làm cho thế và lực của cách mạng càng mạnh lên. Chiến tranh du kích phát triển rộng rãi nên nhiều vùng giải phóng vẫn được giữ vững, lực lượng cách mạng vẫn làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Vùng giải phóng đã tiến sát các đô thị. Đó là một thuận lợi đối với phong trào đô thị, đối với các hoạt động quân sự của lực lượng cách mạng ở các đô thị, đối với hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang giải phóng đánh phá các hậu cứ, sân bay, kho tàng của địch.


Để phối hợp với các đòn tiến công khác, để phát huy hết sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng độc đáo Việt Nam, các lực lượng vũ trang giải phóng còn mở các hoạt động quân sự ở các đô thị và mở các đòn đánh phá vào các căn cứ quân sự, căn cứ hậu cần của địch. Quân Mỹ tưởng rằng chỉ có rừng núi là đáng sợ, đáng chán ngán, còn đô thị miền Nam là chốn bồng lai của chúng. Chúng không thể ngờ được rằng Sài Gòn, Đà Nẵng, Cam Ranh, Biên Hòa, v.v... đều không phải là những nơi yên ổn đối với chúng.


Quân Mỹ là một đội quân chính quy hiện đại tiêu dùng vật chất rất lớn. Các căn cứ của chúng đều rộng lớn, bừa bộn vũ khí, đạn dược, máy bay, xe cộ, nhiên liệu, khí tài... Tư tưởng và hành động tác chiến của chúng là tác chiến theo trận tuyến. Theo chúng, đối phương chỉ có thể tập kích hậu phương của chúng bằng đường không, trong khi đó quân ta ở miền Nam lại không hề có một chiếc máy bay. Với kế hoạch bố phòng cẩn mật cho từng căn cứ, bằng đủ loại máy móc điện tử tinh vi, quân Mỹ cho rằng hậu phương của chúng phải có tính chất an toàn tuyệt đối.


Thế nhưng, các tướng tá Mỹ vẫn không sao lường hết được sức mạnh trí tuệ thần kỳ của đối phương; chúng cũng không sao thấy hết được những hiện tượng thiếu trách nhiệm, lỏng lẻo kỷ luật của binh lính chúng, những kẻ coi chiến tranh xâm lược như một chuyên đi buôn hoặc một chuyện bị bắt buộc. Do đó những căn cứ quân sự, căn cứ hậu cần to rộng bừa bộn, những cư xá sĩ quan, những câu lạc bộ sĩ quan, những quán ăn ở các đô thị dù được tổ chức canh gác cẩn mật bằng đử loại máy móc trinh sát điện tử tinh vi cũng vẫn bị quân dân ta phát hiện ra những chỗ hở. Bám chắc vào nhân dân, các đơn vị bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, các đội du kích tài giỏi, thần kỳ đã tiến vào giữa hang ổ của địch đê tiêu diệt chúng. Những tiếng bom nổ trong các căn cứ, kho tàng, trong các trại quân, các sân bay Mỹ ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Cam Ranh, Long Bình, Liên Chiểu, Chu Lai, Sóc Trăng, Biên Hòa, Phú Bài, Plây Cu, v.v... đã làm cho chúng bị thiệt hại nặng nề về người cũng như về phương tiện chiến tranh và khiến chúng hết sức kinh hoàng.


Trong chiến cục mùa khô 1966-1967, quân Mỹ đã bị thất bại nặng nề, toàn diện trên cả hướng tiến công chủ yếu ở phía trước cũng như ở đằng sau lưng; bị đánh bại ở các vùng nông thôn rộng lớn, đồng thời cũng bị đánh đau ở trong các hậu cứ, các đô thị. Cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của đế quốc Mỹ đã hoàn toàn thất bại. Cả hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" của chúng đều bị bẻ gãy. Trong bảy tháng đông xuân 1966-1967, quân và dân miền Nam đã tiêu diệt gần 19 vạn quân địch, trong đó có hơn 9 vạn quân Mỹ, hơn 5 nghìn quân chư hầu Nam Triều Tiên, Úc, Tân Tây Lan, Phi-líp-pin và hơn 9 vạn quân ngụy. Quân dân miền Nam Việt Nam đã diêt gọn 49 tiểu đoàn địch, nhiều đại đội và 352 trung đội, phá hủy và hạ 2.180 máy bay, 340 khẩu pháo, bắn cháy và đánh chìm 100 tàu chiến, san bằng 200 đồn bốt, diệt 6 chi khu.


Như thế là cả hai cuộc phản công của đế quốc Mỹ đểu bị thất bại. Cuộc phản công sau còn bị thất bại nặng hơn là cuộc phản công trước. Nhiệm vụ và mục đích chiến lược đều không đạt được, Oa-sinh-tơn buộc phải xét lại chiến lược của mình.


Hai cuộc phản công thất bại thảm hại đã khiến cho giới quân sự Mỹ hiểu mình, hiểu người hơn. Mối quan hệ giữa tác dụng của vũ khí và vai trò của con người trong một chừng mực nào đó đã làm cho họ phải suy nghĩ. Điều đặc biệt ở đây là con người trên mảnh đất này, con người Việt Nam thật là không thể hiểu nổi. Vũ khí của đế quốc Mỹ và con người của đất nước Việt Nam có sự đối chọi, có sự "kỵ" nhau rất lạ lùng. Con người Việt Nam, thân hình không có gì to lớn lắm, thế mà vẫn đứng vững và vẫn đánh thắng một kẻ địch khổng lồ, được trang bị hiện đại từ đầu đến chân là đế quốc Mỹ. Như trên đã nói, thực tế nghiêm khắc đó đã buộc chúng phải thay đổi chủ trương chiến lược.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:25:26 am
Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh đã bị phá sản. Chiến lược phản công ào ạt, toàn diện, con đẻ của chiến lược đánh nhanh thắng nhanh đã không thành công. Để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược, quân Mỹ phải thay đổi chiến lược. Do bị sa lầy, chúng phải bị động chấp nhận chiến lược đánh lâu dài. Muốn đánh lâu dài thì phải củng cố lại lực lượng, củng cố lại trận địa và thực hành phản công có mức độ. Đó là một bước thụt lùi về chiến lược của đế quốc Mỹ. Đánh lâu dài của quân Mỹ là có tính chất tiêu cực. Thực chất chiến lược đánh lâu dài của quân Mỹ là từ phản công chuyển sang phòng ngự, dĩ nhiên quân Mỹ còn có khả năng phòng ngự cơ động. Chiến lược đánh lâu dài của quân đội Mỹ xâm lược khác hẳn về chất với chiến lược đánh lâu dài của chiến tranh cách mạng, chiến tranh chống xâm lược. Loại chiến lược đánh lâu dài này mang tính chất tích cực, luôn luôn thể hiện chiến lược tiến công: tiến công từ nhỏ đến lớn, vừa có tiến công vừa có phòng ngự, và cuối cùng chuyển lên tổng tiến công để giành thắng lợi chiến tranh.


Quân Mỹ xâm lược phải áp dụng chiến lược đánh lâu dài là vì chiến lược đánh nhanh thắng nhanh bằng những cuộc phản công ào ạt đã bị thất bại. Chúng buộc phải thay đổi chiến lược, phải chuyển từ phản công sang phòng ngự. Cái tên chiến lược "tìm diệt" được thay bằng một cái tên mới là chiến lược "quét giữ", nghĩa là vừa có phòng ngự vừa có phản công đồng thời lại có tiến công có mức độ, có chọn lọc. Mục đích chủ yếu của chiến lược này là nhằm ngăn chặn không cho quân ta tiến công tiêu diệt chúng. Thực hiện chiến lược "quét giữ" là một thay đổi căn bản trong chiến lược của quân Mỹ, là một chuyển biến có tính bản chất của chiến lược trong chiến tranh.


Trước đây, quân Mỹ đề ra chiến lược "tìm diệt" nhằm thực hiện mục đích cơ bản và chủ yếu của chiến tranh là tiêu diệt đối phương và chiếm lĩnh lãnh thổ của đối phương. Chiến lược này đã bị thất bại, do đó quân Mỹ phải đi giật lùi một bước về chiến lược, chuyển sang chiến lược "quét giữ". Mục đích của chiến lược "quét giữ" là một mặt ngăn chặn đối phương tiến công đồng thời mặt khác tiến công đối phương với mức độ hạn chế, tiến công với mục đích hạn chế. Đã phòng ngự và tiến công hạn chế thì không thể tiêu diệt được đối phương và chiếm lĩnh được lãnh thổ của đối phương. Chiến lược này không nhằm mục đích cơ bản và chủ yếu, không thể hiện mục đích kiên quyết và triệt để của chiến tranh.


Sự thay đổi chiến lược đó là một thất bại quan trọng về chiến lược của quân Mỹ. Nó chứng tỏ ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ đã bước đầu bị chùn lại. Con hổ dữ khét tiếng rừng già đã bị đánh cho cùn móng vuốt.


Để thực hiện chiến lược "quét giữ", quân Mỹ một mặt tăng cường củng cố trận địa phòng ngự, một mặt lấn thêm ra một vài hướng, chiếm đóng một số cứ điểm để mở rộng trận địa phòng ngự, bảo đảm cho thế phòng ngự vững chắc của chúng.


Ở miền Đông Nam Bộ, lợi dụng hướng có thuận lợi về mặt địa hình, quân Mỹ tiến sâu vào khu căn cứ của ta, chiếm đóng một số điểm địa hình có lợi, thiết lập các cứ điểm phòng ngự vòng ngoài để tổ chức thế trận phòng ngự có chiều sâu.


Ở vùng đồng bằng miền Trung Trung Bộ, chúng cũng tiến vào một số vùng giáp ranh, lập các cứ điểm phòng ngự vòng ngoài ở đó.

Ở các hướng khác có địa hình hiểm trở như vùng núi miền Đông Nam Bộ, vùng núi miền Trung Trung Bộ, khu căn cứ rộng lớn của Tây Nguyên, vùng núi Trị - Thiên, thì quân Mỹ không có đủ khả năng để lấn rộng ra và thiết lập những điểm chiếm đóng phòng ngự ở sâu trong căn cứ của Quân giải phóng.


Chiến lược "quét giữ" là vừa có phòng ngự, vừa cớ tiến công. Quân Mỹ còn có khả năng thực hiện chiến lược đó trong giai đoạn này, vì chúng còn mạnh và quân ta thì vẫn chưa có những đòn tiêu diệt lớn, chưa đủ sức "phá vỡ trận địa, phá vỡ tuyến phòng ngự và chiếm lĩnh địa bàn, đất đai chúng tạm kiểm soát.


Những điều kiện về so sánh lực lượng trên đây đã quyết định những thay đổi có mức độ về chiến lược của địch tạo ra tính chất và phương pháp phòng ngự, và cũng tạo ra mục đích, tính chất và phương pháp tiến công của chúng. Phòng ngự của quân Mỹ là phòng ngự cơ động, ngăn chặn từ xa, phòng ngự có chiều sâu và có tính chất tích cực về mặt chiến dịch. Tiến công của quân Mỹ là tiến công để phòng ngự. Mục đích của tiến công là để phá hủy cơ sở hậu cần của đối phương. Phạm vi và hướng tiến công có hạn chế, có chọn lọc.


Quân Mỹ thực hiện chiến lược "quét giữ" sớm nhất vào cuối năm 1967 ở chiến trường Tây Nguyên.

Qua hai chiến cục mùa khô năm 1965-1966 và mùa khô năm 1966-1967, quân dân miền Nam đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của quân Mỹ. Trên cơ sở đó, ta cho rằng sức tiến công của chúng đã bị chùn lại. Đó là một thời cơ tốt cho quân ta phát triển mạnh mẽ thế phản công và tiến công.


Tranh thủ thời cơ đó, mùa khô năm 1967-1968 quân ta liền mở cuộc tiến công, phối hợp trên hai hướng ở hai chiến trường quan trọng là miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Thời gian mở vào tháng 11 năm 1967.


Ở miền Đông Nam Bộ, từ 25 tháng 10 đến 10 tháng 12 năm 1967 quân ta mở cuộc tiến công vào hướng Bình Long, Phước Long tiêu diệt 5.400 tên, trong đó có 2.956 tên Mỹ, phá hủy 100 xe thiết giáp, san phẳng chi khu Phước Long.


Ở miền Trung Trung Bộ, ta mở cuộc tiến công vào khu vực Cấm Dơi - Hướng Là - Liệt Kiếm (Quảng Nam), từ 27 tháng 12 năm 1967 đến 15 tháng 1 năm 1968, tiêu diệt 2.450 tên Mỹ, bắn rơi 57 máy bay, phá hủy 39 xe.


Ở Tây Nguyên, Quân giải phóng mở cuộc tiến công vào hướng Đắc Tô. Ở hướng này, để đối phó với cuộc tiến công của Quân giải phóng, quân Mỹ đã sử dụng 2 lữ đoàn của sư đoàn bộ binh số 4 trong đợt đầu. Sau đó trong đợt hai của chiến dịch bộ tư lệnh dã chiến số 1 của quân Mỹ còn phải sử dụng thêm lữ đoàn dù số 173, đội dự bị chiến trường, và cuối cùng quân Mỹ lại phải tung thêm một bộ phận của sư đoàn kỵ binh bay số 1 - lực lượng cơ động chiến lược.


Ở trên mỗi chiến trường, quân Mỹ có tới 2 - 3 sư đoàn bộ binh và các trung đoàn, tiểu đoàn thiết giáp và pháo binh. Ngoài ra ở đó còn có các sư đoàn, trung đoàn quân ngụy và quân chư hầu. Quân tuy đông, nhưng chúng phải sử dụng phân tán, vì một thành phần lực lượng khá lớn phải làm nhiệm vụ bảo vệ các tuyến phòng ngự, các căn cứ quân sự, các trục đường giao thông và tiến hành công tác bình định cũng như đối phó với các hoạt động chiến đấu của du kích trên toàn bộ lãnh thổ chúng tạm thời kiểm soát.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:30:04 am
Ở Tây Nguyên, quân Mỹ có sư đoàn bộ binh số 4 phụ trách chiến trường. Ngoài ra chúng còn có lực lượng dự bị của các cấp trên. Khi phải đối phó với cuộc tiến công của ta thì lực lượng phụ trách chiến trường - sư đoàn bộ binh số 4 - phải ứng phó đầu tiên. Sau đó mới lần lượt có sự tham gia của lực lượng dự bị của các cấp trên. Để đối phó với cuộc tiến công của quân ta ở Đắc Tô, sư đoàn 4 Mỹ chỉ có thể sử dụng tối đa hai lữ đoàn. Còn một lữ đoàn thì phải đảm nhiệm nhiệm vụ phòng ngự và làm lực lượng dự bị, luân phiên. Khi hai lữ đoàn thê đội một không đủ sức đối phó thì phải sử dụng lực lượng dự bị của các cấp trên.


Trên toàn chiến trường miền Nam, cuộc tiến công của Quân giải phóng vẫn còn nằm trong giai đoạn đánh vận động, có đánh một phần vào tuyến phòng ngự vành ngoài của địch. Ở Đắc Tô, Quân giải phóng cũng áp dụng chủ trương đánh vận động, tiến công quân địch ở vành ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng.


Đúng như quy luật và thủ đoạn của phòng ngự cơ động, khi bị tiến công, quân Mỹ đối phó tương đối kịp thời và cơ động lực lượng tới hướng có chiến sự một cách khá nhanh. Để đối phó với cuộc tiến công của Quân giải phóng, một mặt quân Mỹ tăng cường phòng ngự trên tuyến phòng ngự cơ bản, một mặt chúng sử dụng một lực lượng lớn hơn để tiến hành phản kích, ngăn chặn Quân giải phóng tiến công hoặc đánh bật Quân giải phóng ra khỏi trận địa tiến công, giải tỏa cho các cứ điểm phòng ngự của chúng.


Để chủ động loại trừ sự tiến công của Quân giải phóng, khi phán đoán và phát hiện những cứ điểm nào bị uy hiếp, có nguy cơ bị tiến công thì quân Mỹ tiến hành phòng ngự ngăn chặn trước ở vòng ngoài các cứ điểm đó, mà ta thường gọi là phòng ngự dự phòng.


Ở Đắc Tô, do hành động khôn khéo của Quân giải phóng, lại được địa hình rừng núi thuận lợi, nên các lực lượng và phương tiện tình báo tốn tiền của địch cũng không giúp gì được cho bộ chỉ huy quân Mỹ phát hiện và phán đoán ra cuộc tiến công của Quân giải phóng. Các máy móc trinh sát điện tử tinh vi của quân Mỹ có thể với tới các hành tinh trong vũ trụ, nhưng lại không sao dò la được bước chân, con mắt của người chiến sĩ Việt Nam đầy quyết tâm và tài trí.


Khi bị tiến công ở Đắc Tô, quân Mỹ sử dụng 2 lữ đoàn của sư đoàn 4 làm thê đội một chiến dịch ra tiến hành phản kích ngăn chặn, đánh vào tuyến tiến công thứ nhất, đối chọi với thê đội một tiến công của Quân giải phóng. Thê đội một chiến dịch của địch bị thê đội một chiến dịch của ta đánh cho bị thiệt hại nặng. Các tiểu đoàn của hai lữ đoàn sư đoàn 4 bị yếu sức. Hai tiểu đoàn quân Mỹ không thể đánh bật được một tiểu đoàn của Quân giải phóng ra khỏi trận địa tiến công của Quân giải phóng ở dãy cao điểm Ngọc Rinh Rua và Ngọc Bơ Biêng. Trái lại, căn cứ hành quân chiến dịch của chúng ở Đắc Tô - Tân Cảnh, gồm sở chỉ huy, sân bay, kho tàng và các lực lượng dự bị lại bị pháo binh của Quân giải phóng đánh phá bằng những trận bão lửa, gây ra cho chúng những thiệt hại nặng nề.


Phản kích trực tiếp, chính diện không thành công, quân Mỹ liền sử dụng một bộ phận của thê đội một mở một mũi đánh vào sườn sau trận địa tuyến một của Quân giải phóng ở vùng núi Ngọc Dơ Lang, phía sau Ngọc Rinh Rua và Ngọc Bơ Biêng. Bộ chỉ huy Quân giải phóng đánh giá được khả năng cơ động và nắm được "sở trường" này của quân Mỹ. Do đó mũi vu hồi gần của chúng được tung ra lại sa ngay vào thế trận trong một trận đồ hiểm hóc đã được bày sẵn của Quân giải phóng. Mũi vu hồi đó liền bị đánh cho tơi tả. Kết quả là nó cũng không hoàn thành được nhiệm vụ phản kích, buộc phải co lại thành từng điểm và chuyển vào thế phòng ngự.


Thê đội một chiến dịch không hoàn thành được nhiệm vụ phản kích, quân Mỹ phải sử dụng lực lượng cơ động dã chiến, tức là lực lượng dự bị của quân khu (quân đoàn) tiến vào làm thê đội hai chiến dịch. Lực lượng này là lữ đoàn dù độc lập số 173, một trong những đơn vị sừng sỏ của quân viễn chinh Mỹ. Nó vào Việt Nam tương đối sớm nên đã có nhiều kinh nghiệm tác chiến trên chiến trường Việt Nam. Thê đội hai chiến dịch là một đơn vị quân dù có máu mặt, nên bộ chỉ huy chiến dịch của địch sử dụng nó tương đối tích cực và táo bạo. Lữ dù 173 không được sử dụng vào tuyến thứ hai mà được sử dụng vào tuyến thứ ba của chiến dịch phản công này. Đây là một hành động chiến dịch rất lợi hại, là một thủ đoạn chiến dịch hiểm hóc. Đánh vào hậu phương của đối phương, đánh sâu, đánh xa vào phía sau tuyến tác chiến của đối phương là một cách đánh rất chủ động và tích cực, vì nó làm rối loạn đội hình của đối phương, làm đảo lộn thế trận của đối phương. Quân đội các nước công nghiệp tiên tiến, có đủ điều kiện và khả năng về binh lực, hỏa lực và cơ động, mới tạo ra được sức đột kích mạnh và tốc độ tiến công cao, có chiều sâu đê áp dụng cách đánh trên. Đảm nhiệm nhiệm vụ chiến dịch quan trọng và hóc hiểm đó, lữ đoàn 173 tiến vào cánh phải của đội hình chiến dịch và chiếm lĩnh vị trí xuất phát ở Plây Cần - Bến Hét, nhằm đánh vào sườn trái và vào tuyến sau cùng của đội hình chiến dịch của Quân giải phóng. Đây tuy là nơi hiểm yếu, nhưng cũng chưa phải là nơi hiểm nhất.


Với một lữ đoàn, tuyến xuất phát lại ở Plây cần - Bến Hét, quân địch không thể đánh vào toàn bộ tuyến sau cùng hoặc đánh lan rộng sang tới sườn phải của tuyến sau cùng trong đội hình chiến dịch của Quân giải phóng. Hoặc có thể: bước thứ nhất, lữ dù 173 đánh chiếm sườn trái trước và sau khi đã chiếm được sườn trái rồi thì chúng mới đánh sang sườn phải vào toàn bộ tuyến sau cùng trong đội hình chiến dịch của Quân giải phóng.


Về mặt chiến dịch, tuyến tác chiến thứ ba phía sau có ý nghĩa là chỗ dựa cho tuyến thứ hai và thứ nhất.

Về mặt địa hình, ở đây là một dải địa hình rất quan trọng, có nhiều điểm cao lợi hại, khống chế tuyến thứ hai và chia cắt, án ngữ hậu phương chiến dịch với tuyến thứ hai của Quân giải phóng. Nếu quân địch chiếm được tuyến này thì các đơn vị Quân giải phóng tác chiến ở tuyến thứ hai sẽ bị chia cắt và bị cô lập. Nếu giữ được tuyến này thì các đơn vị giải phóng tác chiến ở tuyến thứ hai mới có chỗ dựa vững chắc và mới có được sự chi viện từ hậu phương chiến dịch.


Quân giải phóng cho rằng ở trên tuyến này có thể sẽ diễn ra các trận chiến đấu quyết liệt giữa hai bên và dự kiến khu quyết chiến có thể sẽ hình thành ở trên tuyến thứ ba hoặc ở giữa tuyến thứ hai và tuyến thứ ba, nơi có dải địa hình có nhiều điểm cao khống chế quan trọng, trong đó có điểm cao 875, nằm ở giữa trung tâm, là một trong những điểm khống chế quan trọng nhất. Xác định được tính chất quan trọng của tuyến thứ ba với dải địa hình hiểm yếu đó, Quân giải phóng đã không tung lực lượng chủ yếu ra tác chiến ở trên tuyến thứ hai. Phần lớn lực lượng Quân giải phóng được bố trí ở trên tuyến thứ ba, vừa để giữ tuyến đó, vừa làm lực lượng dự bị.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:31:23 am
Trong bước một của chiến dịch, Quân giải phóng chỉ sử dụng một phần lực lượng để tác chiến ở tuyến một và tuyến hai. Bước này vừa có mục đích tiêu diệt vừa có mục đích thăm dò, tạo ra thế trận và thời cơ. Khi đã tạo ra được thế trận có lợi và thời cơ có lợi, Quân giải phóng mới tung chủ lực ra đánh những trận then chốt để đạt được trận đánh tiêu diệt quyết định.


Khi bố trí cụm quân chủ yếu ở trên tuyến thứ ba, Quân giải phóng đã xác định điểm cao 875 là một cái nút then chốt, đã bố trí một lực lượng tương đối mạnh chiếm lĩnh và tổ chức xây đắp trận địa, công sự tương đối vững chắc.


Trong khi đó, các trận đánh giữa quân ta và quân Mỹ vẫn tiếp diễn ở tuyến thứ nhất và tuyến thứ hai. Lữ đoàn dù 173 sau khi chiếm lĩnh tuyến xuất phát ở Plây Cần - Bến Hét, liền tung một cánh quân gồm 2 tiểu đoàn, mở một mũi tiến công xuống phía tây nam Plây Cần, vào điểm cao 823, Ngọc Kan Liệt, đánh vào sườn trái tuyến thứ ba và đánh chiếm điểm cao 875. Cánh quân này tiến vào tới sườn trái tuyến thứ ba thì liền bị đánh ngay và bị thiệt hại nặng nề. Một tiểu đoàn bị tiêu diệt và một tiểu đoàn bị đánh thiệt hại nặng.


Chúng không hoàn toàn chiếm lĩnh được sườn trái, nhưng còn bám giữ được một số đoạn.

Để cứu nguy cho cánh quân này, đồng thời để thực hiện ý đồ chủ quan và tham lam đã sẵn có, lữ dù 173 liền tung hết đội dự bị của chúng ra để đánh chiếm điểm cao 875. Thật không may mắn chút nào, chúng đã nhảy ngay vào cái lưới được giăng sẵn, vào ngay thế trận quyết chiến của Quân giải phóng. Một tiểu đoàn dù bị tiêu diệt. Để cứu nguy cho một số ít tàn quân còn sống sót chạy thoát, để lấy thương binh và lấy xác, bộ tư lệnh dã chiến 1 quân Mỹ phải cấp tốc điều động thêm lực lượng cơ động chiến lược là sư đoàn ngựa bay số 1 tới chiến trường. Một tiểu đoàn lính ngựa bay được máy bay lên thẳng đưa tới trận địa nóng bỏng này. Chịu thiệt hại nặng nề, bọn lính ngựa bay cùng với một bộ phận lính dù 173 mới tạm đặt chân được lên điểm cao 875. Nhưng sau đó Quân giải phóng liền mở trận đánh giành giật với địch và cuối cùng đã chiếm lại được điểm cao này. Trong khi đó, ở phía sau lưng trận địa địch, một bộ phận chủ lực cùng bộ đội địa phương và du kích của ta cũng mở các mũi tiến công vào sườn đông và đông bắc Đắc Tô - Tân Cảnh. Quân Mỹ phải rải một số đơn vị ngụy và một đơn vị của sư đoàn kỵ binh bay để đối phó. Lực lượng địch trở thành phân tán không tập trung được vào khu quyết chiến ở phía tây Đắc Tô - Tân Cảnh.


Cuộc phản kích của địch bằng các lực lượng tinh nhuệ của chiến trường đã bị đánh bại. Lữ đoàn dù 173 đã bị đánh thiệt hại nặng. Các lữ đoàn của sư đoàn 4 cũng bị đánh tiêu hao nặng. Quân địch buộc phải rút lui về tuyến phòng ngự cũ. Sau trận này, viên tư lệnh sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ đã phải rầu rĩ thốt ra những câu tuyên bố là sau này hắn sẽ không cho quân đánh sâu vào hậu phương của đối phương nữa. Qua ba lần thất bại viên chỉ huy sư đoàn 4 Mỹ cũng như đồng bọn hắn không thể không rút ra những bài học cho mình. Chiến thuật phòng ngự cơ động, có chiều sâu, thủ đoạn phản kích ngăn chặn từ xa có nhiều bậc thang của quân Mỹ đã bị giáng một đòn nặng nề.


Sau các chiến dịch cuối năm 1967, trên toàn chiến trường miền Nam, quân Mỹ đã giảm sút nhiều sức tiến công và ngày càng chuyển dần vào phòng ngự. Qua ba năm tiến hành chiến tranh trực tiếp bằng quân viễn chinh và 5 năm tiến hành chiến tranh bằng cố vấn và vũ khí, đô la không thành công, quân Mỹ đã bị tiêu hao về người và của, đã mệt mỏi về tinh thần ý chí. Thế và lực của quân Mỹ đã bắt đầu giảm sút.


Còn về phía Quân giải phóng thì trải qua mấy năm chiến tranh, lực lượng đã ngày càng phát triển, kinh nghiệm chiến đấu ngày càng phong phú, trình độ tác chiến ngày càng được nâng cao, sức tiến công ngày càng mạnh. Ta thì ngày càng mạnh lên còn địch thì ngày càng yếu đi, ta thì tiến công ngày càng mạnh còn địch thì ngày càng phải co về phòng ngự, đó là một thời cơ tốt cho quân dân miền Nam khai thác nhằm tạo ra những biến chuyển mới trong chiến tranh.


Tìm và tạo ra thời cơ chiến lược, tạo ra thời cơ lớn để mở những đòn tiến công lớn, giành thắng lợi lớn làm chuyển biến cục diện chiến tranh là một nghệ thuật rất quan trọng trong chỉ đạo chiến tranh. Thời cơ đẻ ra thời cơ. Giành thắng lợi được trong thời cơ này thì sẽ sinh ra thời cơ mới khác. Quân ta đã tiếp tục giành được thắng lợi trong năm 1967.


Thế thì sang năm 1968, quân dân miền Nam Việt Nam phải làm gì? Phải giành thắng lợi lớn hơn, oanh liệt hơn.

Còn về phía quân Mỹ thì sẽ làm gì? Chúng có giữ được trận địa phòng ngự của chúng không? Và sức tiến công có hạn chế của chúng sẽ được đưa ra sử dụng như thế nào?

Sau chiến cục năm 1967, quân Mỹ có củng cố và mở rộng được một phần thế trận phòng ngự của chúng nhưng vẫn bị đánh những đòn đau, vẫn bị tiêu diệt nặng. Thế và lực của chúng tiếp tục bị suy yếu, chúng càng chuyển sâu vào thế phòng ngự hơn. Ngoài những đòn đau của các đơn vị chủ lực của Quân giải phóng, quân Mỹ còn bị chiến tranh du kích của nhân dân miền Nam tiêu hao rộng rãi trên những vùng nông thôn rộng lớn. Cùng với các đòn tiến công trên, nhân dân trong các đô thị miền Nam cũng tiến hành các đòn tiến công Mỹ - ngụy bằng các cuộc đấu tranh chính trị rầm rộ và các hoạt động du kích tiêu diệt sinh lực địch, trong đó có nhiều sĩ quan các cấp, và phá hủy các kho tàng, máy bay của chúng ở trong các hậu cứ.


Trong khi ấy thì các lực lượng vũ trang giải phóng vẫn ngày càng lớn mạnh. Thế trận của ta đã trải ra rộng khắp và giăng kín trên toàn bộ chiến trường, cài ém vào mọi địa bàn vây hãm quân địch ở khắp mọi nơi. Đó là những điều kiện và thời cơ thuận lợi cả về chủ quan lẫn khách quan cho cuộc tiến công đồng loạt và nổi dậy sôi nổi của quân dân ta trên toàn chiến trường miền Nam.


Sau những đòn đau vào cuối năm 1967, quân Mỹ vẫn còn choáng váng và đang chuẩn bị đón những đòn tiến công mới của đối phương, thì đối phương của chúng bỗng nhiên im bặt, không có hành động gì lớn. Sau trận bão, trời trở lại yên lặng. Trời sẽ tiếp tục quang đẹp hay là một trận bão mới sẽ tới? Đối phương đã mệt mỏi sau các trận tiến công, hay họ tạm nghỉ dưỡng sức để lấy hơi cho một trận tiến công mới? Đối phương đang chuẩn bị cho một trận tiến công mới bình thường hay một cuộc tiến công ở vòng ngoài tuyến phòng ngự của quân Mỹ với một quy mô lớn hơn?


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:32:17 am
Mặc dầu đã được quân dân miền Nam cho nhiều bài học đích đáng, cách xem xét của các tướng tá Mỹ vẫn chưa vượt được ra khỏi quan điểm chiến lược thông thường, cổ điển, máy móc của các nhà chiến lược tư sản. Đó là quan điểm đánh giá so sánh lực lượng nặng về số lượng, về vật chất mà nhẹ về ý chí quyết tâm và tài trí của con người. Khi tính toán lực lượng của mình, các tướng tá Mỹ chỉ thấy chúng vẫn còn số quân đông, vũ khí trang bị, phương tiện khí tài nhiều mà không thấy hết những chỗ suy yếu về nhiều mặt, nhất là về mặt tinh thần và ý chí xâm lược. Khi tính toán lực lượng của đối phương, chúng chỉ thấy họ còn thua kém chúng về số lượng quân chủ lực cơ động, về vũ khí trang bị, phương tiện hiện đại mà không thấy hết được sức mạnh của cuộc chiến tranh toàn dân, không lường hết được sức mạnh tinh thần vô địch và tài trí tuyệt vời của các lực lượng vũ trang giải phóng và đông đảo nhân dân cách mạng miền Nam, không hiểu hết được hình thái và thế trận của chiến tranh nhân dân. Chúng không sao tính toán và thấy được các điều kiện về so sánh lực lượng, về thế và lực trên chiến trường của hai bên đối địch cũng như tình hình thế giới đã tạo ra một thời cơ chiến lược có lợi cho quân dân miền Nam. Dựa vào quân số đông, vũ khí trang bị nhiều vừa được tăng viện thêm cộng với hàng mấy chục vạn quân chư hầu và quân ngụy, đế quốc Mỹ cho rằng đối phương chỉ có thể có khả năng tiến công với quy mô và mức độ hạn chế ở ngoài tuyến phòng ngự của chúng. Chính vì thế nên chúng đã hoàn toàn bị bất ngờ trước cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân dân miền Nam, đánh vào tận hang ổ của chúng mùa xuân năm 1968.


Mùa xuân năm 1968 là một thời điểm tốt cho thời cơ chiến lược mới của quân dân miền Nam. Cuộc tiến công đồng loạt vào các đô thị nổ ra cùng với sự nổi dậy của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị miền Nam là một cuộc tiến công lớn, một cuộc tập kích đồng loạt có ý nghĩa chiến lược vào hầu hết các sào huyệt của quân thù. Trong số 50 thành phố, thị xã của toàn miền Nam thì có 43 thành phố, thị xã đã bị tiến công vào cùng một ngày, là 30 tháng 1 năm 1968. Quân Mỹ không thể tưởng tượng nổi cuộc tiến công táo bạo và thần tình này của quân dân miền Nam. Các tuyến phòng ngự dày đặc và vững chắc của Mỹ - ngụy và chư hầu hình như là bị bỏ ngỏ, còn Quân giải phóng thì như từ dưới đất đánh lên và từ trên trời đánh xuống. Một lần nữa cơ quan tình báo của Mỹ và mạng lưới trinh sát cảnh giới điện tử của chúng tuy rất đắt tiền nhưng lại tỏ ra vô tích sự như một thứ xa xỉ phẩm trước những bước chân của người chiến sĩ Việt Nam.


Quân Mỹ đã bị bất ngờ hoàn toàn trước cuộc tiến công lớn này. Hai thành phố lớn nhất là Sài Gòn và Huế đều bị tiến công mạnh nhất và Mỹ - ngụy ở đây cũng bị thiệt hại nặng nhất. Sài Gòn bị tiến công hai lần vào tháng 2 và tháng 5 năm 1968. Huế bị tiến công và đánh chiếm trong một thời gian lâu nhất là 25 ngày, từ 31 tháng 1 đến ngày 24 tháng 2 năm 1968. Còn các thành phố, thị xã khác thì bị tiến công đánh chiếm từ 1 - 2 ngày đến 5 - 7 ngày. Nhân dân ở các vùng nông thôn cũng nổi dậy mạnh mẽ, phá tan từng mảng ấp xã ở hầu khắp các tỉnh. Nhiều nơi, nhân dân vùng nông thôn đã sôi nổi kéo vào các đô thị phối hợp với mũi tiến công quân sự để đánh địch và tiêu diệt địch.


Để hiệp đồng với đòn tiến công đồng loạt vào các thành thị và nổi dậy ở nông thôn, chủ lực Quân giải phóng còn mở một cuộc tiến công lớn đánh vào quân Mỹ ở đường số 9 thuộc tỉnh Quảng Trị. Ở đây, các binh chủng sừng sỏ của quân Mỹ là lính thủy đánh bộ và kỵ binh bay đã bị đánh thiệt hại nặng nề. Một trại quân kiên cố ở làng Vây của một tiểu đoàn lính biệt kích "mũ nồi xanh" bị tiêu diệt. Một trung đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ bị tiến công và bị vây hãm ở Khe Sanh. Không dám chịu đựng một trận Điện Biên Phủ đối với quân Mỹ, tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải ra lệnh cho trung đoàn lính thủy đánh bộ bị đánh nhừ tử đó tháo chạy khỏi Khe Sanh.


Trước cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt hết sức bất ngờ của quân dân miền Nam, quân Mỹ - ngụy đã đối phó lại một cách rất bị động. Với bản chất vô cùng tàn ác dã man, quân Mỹ đã dùng máy bay ném bom giết hại hàng loạt dân thường, phá hủy hàng dãy phố, giết hại cả nhân viên ngụy quyền, ngụy quân và gia đình họ.


Cuộc tiến công đồng loạt vào cốc thành thị của quản dân miền Nam buộc các tướng tá Mỹ phải tính toán lại trình độ tổ chức và khả năng tinh thần lớn lao của đối phương, phải "xét duyệt" lại cách đánh giá đối phương của chúng. Thái độ kiêu căng, chủ quan trước đây của chúng đã phải chừng nào giảm bớt. Với gần nửa triệu quân Mỹ, hơn 5 vạn quân chư hầu và hơn nửa triệu quân ngụy, bố trí thành nhiều tuyến phòng ngự trùng trùng điệp điệp từ xa, thế mà đối phương - một quân đội với trình độ chính quy hiện đại chưa cao - vẫn lọt qua được để "đưa chiến tranh vào các thành phố. Hơn nữa họ lại có thể tiến công thống nhất vào hàng loạt thành thị trong cùng một ngày hoặc từ một đến hai ngày. Đó là một điều có phần khó hiểu và trái ngược với cách suy nghĩ quen thuộc của các giỏi quân sự Mỹ. Như vậy thì bây giờ đế quốc Mỹ cần có bao nhiêu quân và bố trí phòng ngự như thế nào mới ngăn chặn được đối phương, không cho họ tiến công vào các sào huyệt của chúng?


Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc Việt Nam và trên con đường vận chuyển chiến lược đã phơi bày khá rõ sự bất lực của nó trước cuộc tiến công mùa xuân Mậu Thân 1968 của quân dân miền Nam. Năm 1967 là năm cuộc chiến tranh phá hoại trở nên hết sức ác liệt. Đế quốc Mỹ đã cho xuất kích mỗi ngày trung bình 380 - 400 lần chiếc máy bay rải hàng vạn tấn bom xuống lãnh thổ miền Bắc Việt Nam và con đường vận chuyển chiến lược trong năm 1967. Thế mà mùa xuân 1968, đối phương vẫn có khả năng mở một cuộc tiến công rộng lớn, mạnh mẽ trên khắp miền Nam. Thực tế đó khiến người ta không khỏi nghi ngờ hiệu quả của chiến tranh phá hoại, không khỏi đánh giá lại tác dụng và cách sử dụng một khối lượng bom đạn kinh người của không quân và hải quân Mỹ.


Nói cho đúng thì người ta cũng không cần phải đánh giá lại tính năng tác dụng của bom đạn Mỹ cũng như trình độ sử dụng vũ khí, khí tài của quân đội Mỹ, vì điều đó đã khá rõ. Điều cần đánh giá lại chính là tinh thần và tài trí của đối phương. Đó mới quả là một điều kỳ lạ. Dưới bom đạn khủng khiếp của giặc Mỹ, đồng lúa của nhân dân ta vẫn xanh rờn, đường giao thông vẫn thông suốt. Những cánh đồng 5 tấn nặng trĩu bông vẫn vươn lên trong bom đạn Mỹ. Quân dân miền Nam vẫn chiến đấu ngày càng mạnh. Sự chi viện của hậu phương ra tiền tuyến vẫn ngày càng lớn. Lơ-may, cựu tư lệnh không quân chiến lược Mỹ (SAC), với cái giọng đầy kiêu căng và ngông cuồng, đã nói sẽ đánh cho miền Băc Việt Nam quay trở lại thời kỳ đồ đá. Nhân dân Quảng Bình đã trả lời mộng tưởng mù quáng đó của Lơ-may bằng câu nói đầy ý nghĩa là "đất nước miền Bắc Việt Nam sẽ đầy rẫy những đồ nhôm làm bằng xác máy bay Mỹ".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:35:15 am
Thất bại trong mùa xuân 1968 của quân Mỹ là một thất bại có ý nghĩa chiến lược. Đây là đòn thất bại thứ hai của quân Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đòn thất bại thứ nhất là thất bại về chiến lược phản công, trong hai cuộc phản công vào mùa khô năm 1965-1966 và mùa khô năm 1966-1967. Sau hai cuộc phản công không thành công, quân Mỹ phải chuyển dần vào phòng ngự. Đây là thất bại của chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh". Không những thế, nó còn là một tiếng chuông báo hiệu sự thất bại của chiến tranh, một triệu chứng của cơn nguy kịch của con bệnh chiến tranh xâm lược.


Thất bại trong mùa xuân 1968 lại là đòn thất bại nặng nề hơn đòn thất bại thứ nhất. Phản công không được thì chẳng còn hy vọng giành được thắng lợi. Phòng ngự cũng lại không xong thì làm sao có thể đứng vững được mãi!


Đòn thất bại thứ hai này đã đẩy quân Mỹ tụt xuống bậc dốc sâu hơn. Đà xuống dốc của quân Mỹ thật là thăm thảm. Trong chiến cục mùa xuân 1968, quân dân miền Nam đã tiêu diệt 20 vạn tên địch, trong đó có 7 vạn quân Mỹ, làm tan rã 21 vạn quân ngụy; phá hủy và bắn rơi 3.000 mấy bay: bắn hỏng và phá hủy 2.000 xe tăng, xe bọc thép; 490 khẩu pháo và 3.000 xe vận tải quân sự. Số quân và số phương tiện chiến tranh để bù vào sự hao hụt này cùng tương đối lớn. Nhưng nếu được bổ sung cho đủ số lượng cũ thì có giữ vững được thế phòng ngự không? Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ không tin tưởng vào điều đó. Tướng Oét-mo-len vội vã xin cấp cứu tăng quân. Không còn cách nào khác, Nhà trắng và Lầu năm góc đành kinh hoàng gửi thêm viện binh sang Việt Nam. Số quân Mỹ được tăng thêm là 5 vạn rưỡi, cộng với số cũ thì tổng số quân Mỹ vào cuối năm 1968 đã lên đến hơn 53 vạn. Số quân và phương tiện chiến tranh được bổ sung cộng với số quân được tăng thêm đã trở thành một gánh nặng tốn phí mà đế quốc Mỹ dù giàu có cũng không thể nào kham mãi được. Nó càng như những giọt nước rót thêm vào cốc nước đã đầy của bầu không khí chống chiến tranh đang lan tràn sôi sục trong nhân dân Mỹ.


Tăng thêm quân sang Việt Nam chẳng những không xây dựng được niềm tin thắng lợi ở những người lính Mỹ vốn đã không có từ lâu, mà cũng chẳng hồi phục được quyết tâm thắng lợi của ngay bộ chỉ huy quân Mỹ đã bắt đầu dao động sau mấy đòn thất bại nặng nề. Nói cho đúng với thực tế thì bây giờ chúng chỉ mong sao cho khỏi thua nặng, thua đau mà thôi. Như thế là ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ đã bị đẩy lùi một bước. Đây là một điều rất quan trọng, đã tạo ra một chuyển biến quan trọng trong chiến tranh. Đó là chuyển biến về bước xuống thang chiến tranh của đế quốc Mỹ.


Do thất bại trong chiến cục mùa xuân năm 1968, đế quốc Mỹ đã phải đặt ra vấn đề thương lượng với đối phương. Cuộc hội nghị Pa-ri đã được mở ra để bàn về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, giữa bốn bên là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nước Mỹ, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn. Đi đôi với cuộc hội nghị Pa-ri, đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ vĩ tuyến 19 trở về phía Bắc.


Giấc mộng vàng đế quốc đã trở thành cơn ác mộng. Tiếng nói hét ra lửa của tên kẻ cướp công khai hợp pháp, xưng hùng xưng bá trên thế giới đã không đốt cháy được chân lý. Lịch sử đã mở ra một trang sáng ngời về sức mạnh của chính nghĩa Việt Nam. Trước những thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tổng thống Giôn-xơn đã phải đắng cay ly dị với cuộc đời chính trị của mình. Ông ta đành ngoảnh mặt đưa chân, trao lại tay lái cho người thủy thủ khác chèo chống con thuyền xâm lược của chú Sam đang nghiêng ngửa trong sóng gió cách mạng.


Chuyển biến quan trọng sau thất bại nặng nề trong chiến cục mùa xuân năm 1968 của quân Mỹ là ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ đã bị lung lay. Tổng thống Giôn-xơn cũng như các nhà chiến lược Mỹ cho rằng dù có tăng thêm quân Mỹ sang Việt Nam cũng không thể giành được thắng lợi. Nước Mỹ sẽ chìm đắm trong sự sa lầy của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Sau bốn năm tiến hành chiến tranh xâm lược, sự thất bại đã rõ ràng. Giờ đây đã đến lúc phải cứu nước Mỹ ra khỏi "con đường hầm không có lối thoát". Cái ánh sáng lờ mờ mà các mưu sĩ Mỹ cho rằng đã tìm thấy ở cuối đường hầm để gỡ cho nước Mỹ ra khỏi Việt Nam một cách danh dự là chủ trương "phi Mỹ hóa chiến tranh". Không thể lún sâu mãi trong cái hầm chông Việt Nam, nước Mỹ phải rút dần sự dính líu trực tiếp vào Việt Nam. Chủ trương chiến lược mới "phi Mỹ hóa chiến tranh" là con đẻ của sự thất bại của chiến tranh cục bộ. Nó nói lên rất rõ một điều là, tuy bị thất bại nhưng đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ chiến tranh xâm lược, không từ bỏ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.


"Phi Mỹ hóa chiến tranh" là một sự thay đổi về chiến lược của chiến tranh xâm lược, chứ không phải là từ bỏ chiến tranh xâm lược. Tuy bị thất bại, nhưng đế quốc Mỹ vẫn còn rất ngoan cố. Âm mưu cơ bản của chúng vẫn không thav đổi. Chúng chỉ thay đổi chiến lược, thay đổi cách tiến hành chiến tranh. "Phi Mỹ hóa chiến tranh" là vẫn tiến hành chiến tranh, nhưng với sự rút dần vai trò của quân đội Mỹ trong chiến tranh, rút dần sự dính líu trực tiếp của quân đội Mỹ trong chiến tranh, mà trao dần trách nhiệm chiến tranh cho quân đội ngụy. Thật là: "Voi già còn chẳng ăn ai, nữa là trâu trẻ có tài cán chi?". Đúng là một cách làm liều, lấy gỗ mọt thay cho thép gỉ. "Phi Mỹ hóa chiến tranh" là không chịu thua đau, thua nặng, mà vẫn thực hiện được chủ nghĩa thực dân mới với yêu cầu, mức độ thấp hơn, hạn chế hơn.


Nội dung của chiến lược mới trong giai đoạn "phi Mỹ hóa chiến tranh" có những thay đổi quan trọng. Để bổ sung vào những chỗ thiếu sót trong thế trận phòng ngự, quân địch một mặt tăng cường củng cố phòng ngự trong các thành thị, mặt khác mở rộng địa bàn kiểm soát ở vùng nông thôn nhằm đánh bật cơ sở, đánh bật chỗ đứng chân của Quân giải phóng ra xa để bảo vệ cho các thành thị, đồng thời tiếp tục đánh phá hậu phương của đối phương bằng không quân.


Chiến lược mới này được tiến hành vào cuối năm 1968 đầu năm 1969. Thi hành một chiến lược mới không phải là một điều dễ dàng. Cái mới trong thế thắng tuy cũng có khó nhưng còn dễ hơn là cái mới trong thế thua. Quân Mỹ trực tiếp xông vào cái rừng gươm giáo Việt Nam đã khó nay lại định để cho quân ngụy tiếp tục một mình thì lại càng khó khăn trăm bề. Tất nhiên những buổi đầu, quân Mỹ chưa thể buông tay để cho quân ngụy đi đứng một mình mà phải có sự dìu dắt, tập dượt dần dần.


Trước kia, tiến công vào địa bàn của ta, hoặc đối phó với các cuộc tiến công của quân ta là trách nhiệm của quân Mỹ. Đến nay, quân Mỹ thường gánh trách nhiệm đó cùng với quân ngụy. Cuối năm 1968, quân Mỹ lấy chiến trường Tây Nguyên làm nơi thí điểm chiến lược này. Tất nhiên, chúng phải tập từng bước ngắn chập chùng. Nơi nào địa hình thuận lợi, gần tuyến phòng ngự cơ bản của chúng và cuộc tiến công của ta không lớn thì quân Mỹ giao cho quân ngụy tự gánh lấy nhiệm vụ đối phó với cuộc tiến công của Quân giải phóng. Nơi nào địa hình khó khăn, phải tiến hành ngăn chặn từ xa, phải tiến sâu vào địa bàn của Quân giải phóng để tổ chức tuyên phòng ngự có chiều sâu và phải đối phó với cuộc tiến công lớn của chủ lực Quân giải phóng thì quân Mỹ vẫn phải tự đảm nhiệm. Cuối năm 1968, đầu năm 1969, khi Quân giải phóng mở cuộc tiến công nhỏ ở vùng núi Chư Pa ở phía tây thị xã Plây Cu, gần tuyến phòng ngự cơ bản của địch, thì quân Mỹ sử dụng liên đoàn biệt động quân số 2 và trung đoàn 42 của quân ngụy. Khi hai đơn vị này bị tiêu diệt từng bộ phận và bị đánh thiệt hại nặng thì một bộ phận quân Mỹ thuộc sư đoàn bộ binh số 4 phải nhảy vào ứng cứu. Để một mình quân ngụy đỡ đòn thì thất bại sẽ nặng nề, song vừa mới buông tay mà lại phải đỡ ngay thì chính quân Mỹ lại tự dùng tay mình để xóa sạch những vết phấn son trên bộ mặt "phi Mỹ hóa" vừa mới tung ra đê quảng cáo. Thật là một điều rất khó xử cho quân Mỹ. Cuối cùng buộc lòng chúng phải nhảy vào để cứu quân ngụy. Một bộ phận quân Mỹ nhảy vào trong khi hai đơn vị quân ngụy đã bị thất bại. Thời cơ thật là không hợp. Bộ chỉ huy quân Mỹ đã sử dụng lực lượng một cách nhỏ giọt và bị động, mà cái sức mạnh được tăng thêm đó lại bị đưa vào một chỗ đã không còn lực, lỡ mất thế, thiếu mất đà, nên tất nhiên trở thành đơn độc. Nó không hóa thành mạnh mà lại trở thành yếu đuối. Cuối cùng quân Mỹ cũng lại thất bại nốt và rồi số tàn quân của cả tớ lẫn thầy đều phải tháo chạy về trận địa của chúng. Còn Quân giải phóng thì chiếm lĩnh được vùng núi Chư Pa và dùng đó làm bàn đạp xuất phát để tiến ra đánh vào đường số 14 ở phía bắc thị xã Plây Cu.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:35:50 am
Cuộc thí nghiệm bước đầu chưa thành công, quân Mỹ còn phải tiếp tục cuộc thí nghiệm nữa. Đầu năm 1969, Quân giải phóng mở cuộc tiến công ở vùng Kleng, phía tây thị xã Kon Tum. Đây là một vùng địa hình hiểm trở, nối liền với khu căn cứ giải phóng và ở xa tuyến phòng ngự cơ bản của địch. Để đối phó với cuộc tiến công này của Quân giải phóng, quân Mỹ không dám đem quân ngụy ra thí nghiệm mà phải tự cáng đáng lấy. Hai lữ đoàn thuộc sư đoàn 4 Mỹ tiến vào chiến đấu. Với khả năng và lực lượng, về hỏa lực và về cơ động, những thủ đoạn, quy luật cũ về phòng ngự cơ động vẫn được chúng đem ra áp dụng.


Dựa vào khả năng về cơ động và khả năng về phương tiện chỉ huy, quân Mỹ ra quân tương đối nhanh. Chúng đồng thời triển khai căn cứ hành quân chiến dịch cùng một lúc với việc triển khai và thực hành các tuyến ngăn chặn từ xa có chiều sâu lớn. Quân giải phóng đã nhẵn mặt sư đoàn 4 Mỹ, các thủ thuật của chúng không qua được mắt Quân giải phóng. Quân Mỹ muốn trải sâu tuyến ngăn chặn của chúng thì Quân giải phóng cũng vươn dài tuyến tiến công của mình. Cuộc chiến đấu diễn ra trong suốt chiều sâu toàn bộ đội hình chiến dịch của cả hai bên. Chiều sâu chiến dịch khoảng 30km, tổ chức thành ba tuyến ngăn chặn, từ cứ điểm Kleng ở phía tây sông Pô Cô đến dãy núi Chư Rơ Bang ở phía đông sông Sa Thầy và một mũi thọc sâu của quân Mỹ đánh vượt qua phía tây sông Sa Thầy. Chính diện chiến dịch cũng rộng khoảng 30km từ sườn nam Chư Rơ Bang đến Ngọc Tơ Ba. Tốc độ chiến đấu diễn ra rất nhanh, nhịp độ chiến đấu rất khẩn trương. Các tuyến ngăn chặn của địch đểu bị đánh dồn dập. Căn cứ hành quân chiến dịch của địch ở Kleng cũng bị đánh liên tục. Qua hơn một tháng chiến đấu, hai lữ đoàn quân Mỹ đã bị tiêu diệt một số đại đội và có hai tiểu đoàn bị đánh thiệt hại nặng. Các mũi xung kích của địch đều bị bẻ gãy. Đội tiền phong bị vây hãm và thiệt hại nặng, đồng thời hậu tuyến vẫn liên tục bị đánh phá. Cuộc hành quân của địch không hoàn thành được nhiệm vụ. Thủ đoạn chiến dịch phòng ngự ngăn chặn từ xa của địch có lợi hại nhưng vẫn không tạo ra được những cái mộc che chở cho trận địa của chúng. Những hàng rào người và hàng rào lửa của máy bay và pháo binh có thể phá đổ cây rừng, đào xói những hố đất đỏ làm hoen ố rừng xanh, nhưng vẫn không thể ngăn chặn được những mũi lao của Quân giải phóng chọc vào tim gan của chúng. Bị đánh thiệt hại nặng và bị thất bại về thủ đoạn chiến dịch, hai lữ đoàn thuộc sư đoàn 4 Mỹ phải rút khỏi chiến đấu, lui về tuyến phòng ngự cơ bản của chúng ở thị xã Kon Tum và trên đường số 14.


Sau chiến dịch Kleng, nắm thời cơ giành chủ động và phát huy thắng lợi, đến mùa hè năm 1969 Quân giải phóng mở cuộc tiến công ở phía tây căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh ở bờ phía tây sông Pô Cô trên vùng núi Ngọc Dơ Lang. Môn võ cũ của quân Mỹ đã mất hiệu nghiệm. Để tránh bị thiệt hại, quân Mỹ đành giữ thái độ "trùm chăn" làm một pháo đài hiu quạnh cố thủ trên tuyến phòng ngự cơ bản. Chúng chỉ cho quân ngụy ra chống đỡ với cuộc tiến công của quân ta. Nhưng khi hai tiểu đoàn của liên đoàn 2 quân biệt động ngụy bị vây hãm ở vùng núi Ngọc Dơ Lang thì quân Mỹ cũng phải nhổm mình đưa ra một tiểu đoàn pháo binh, lập vài trận địa trên dãy cao điểm Ngọc Tơ Sung sát bờ tây sông Pô Cô ở phía nam điểm cao Ngọc Bơ Biêng để chi viện cho quân ngụy. Pháo Mỹ có tăng thêm sức mạnh cho quân ngụy nhưng không cứu được quân ngụy. Cuối cùng hai tiểu đoàn quân ngụy thuộc liên đoàn 2 quân biệt động ngụy vẫn không thoát khỏi vòng vây của quân ta và bị tiêu diệt gọn, một số tiểu đoàn của trung đoàn 42 bị đánh thiệt hại nặng.


Đi đôi với việc tập đi cho quân ngụy, nội dung cơ bản thứ hai của chiến lược "phi Mỹ hóa" là bình định nông thôn.

Trong giai đoạn đầu của chiến tranh, đế quốc Mỹ cho rằng tiêu diệt được quân chủ lực của đối phương thì chiến tranh sẽ được giải quyết. Trong bốn năm chiến tranh, một thời gian dài bằng cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, mộng tưởng đó đã bị tan vỡ. Quân Mỹ phải co về phòng ngự. Các tuyến phòng ngự của quân Mỹ, tưởng rằng rất kín chặt và vững chắc, nhưng vẫn còn sơ hở, lỏng lẻo, đối phương muốn đánh vào đâu cũng vẫn được. Sau cuộc tiến công đồng loạt vào các thành thị của quân dân miền Nam vào mùa xuân 1968, quân Mỹ mới giật mình thấy rằng đằng sau lưng chúng lại là trận địa của Quân giải phóng. Những nguyên tắc tác chiến tiến công cũng như phòng ngự của một đội quân hiện đại phải vận dụng như thế nào ở cái đất nước Việt Nam, mà ngủ giữa ban ngày ở những nơi đô thị, hậu cứ sâu và xa như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng cũng vẫn nằm mê thấy lựu đạn nổ ngay ở bên giường? Thế rồi một "khám phá" mới của sự việc cũ, quân Mỹ lại phải quay về con đường cũ là tiếp tục thi hành chính sách bình định nông thôn. Công tác bình định nông thôn lúc này không phải chỉ giao cho quân ngụy và cố vấn Mỹ làm, mà cả quân Mỹ cũng trực tiếp tham gia. Như thế là quân địch phải quay về làm công việc ổn định lại trận địa và hậu phương của chúng. Bọn thực dân Mỹ đã tiến hành công tác bình định một cách toàn diện bằng mọi thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa một cách rất dã man và thâm độc. Chúng giết người già, trẻ em, phụ nữ... như những con thú dữ, không còn một chút tính người. Vụ Sơn Mỹ mà loài người nguyền rủa càng ghi đậm hơn vào trang sử tội ác của quân đội xâm lược Mỹ và càng làm hổ thẹn cho lương tâm của những người Mỹ lương thiện.


Để xúc tiến công tác bình định, đế quốc Mỹ đã chi hàng tỷ đô la cho kế hoạch này. Ở những khu vực trọng điểm của kế hoạch bình định, "phủ toàn quyền" Mỹ ở Sài Gòn còn cho người Mỹ xuống làm cố vấn ở các ấp xã, thậm chí có nơi chúng còn cho người Mỹ xuống trực tiếp làm ấp trưởng như ở một vài khu dồn dân bên cạnh sở chỉ huy của sư đoàn 4 Mỹ ở La Sơn thuộc tỉnh Gia Lai. Cuộc đấu tranh giữa địch và quân dân miền Nam diễn ra vô cùng quyết liệt trên hai mặt trận tác chiến giữa quân chủ lực của hai bên và mặt trận bình định và chống phá bình định.


Đế quốc Mỹ phải chi một số tiền lớn, phải dùng một số lượng lớn quân đội với một số lượng bom đạn rất lớn, cùng với các thủ đoạn rất tàn bạo như hủy diệt làng mạc bằng bom đạn, dùng máy húc để cày ủi xóm làng, dùng máy bay lên thẳng để hốt dân vào trong các trại tập trung. Với tất cả những biện pháp, thủ đoạn và lực lượng như thế, đế quốc Mỹ cũng đã tiến hành bình định được một số khu vực ở vùng ven các thành phố, thị xã. Quân Mỹ tập trung lực lượng để làm công việc ổn định hậu phương của chúng thì chúng phải bỏ hở những nơi khác, phải "nhường" cho lực lượng giải phóng ở những nơi khác. Quân Mỹ có thể tạm thời bình định được một số xã, ấp nhưng nhất định chúng không thể bình định được lòng dân. Cuộc chiến đấu còn tiếp tục diễn ra quyết liệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:38:11 am
III
CHIẾN LƯỢC "VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH"


Bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tổng thống Giôn-xơn đã phải rầu rĩ rút lui khỏi trường đua chính trị, và bộ đôi Ních-Xơn - Ác-niu đã thắng cuộc.

Thừa hưởng cái gia tài xâm lược ọp ẹp của Giôn-xơn, Ních-Xơn phải đi tiếp những nước cờ rối bời, tướng xa chệch choạc mà Giôn-xơn đã để lại. Với bộ tham mưu mới, Ních-Xơn định bơm một sinh khí mới cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhưng Ních-xơn cũng không thể bơi ngược được dòng nước xiết.


Ních-xơn phải thừa nhận một tình thế là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam đang đi vào con đường thất bại. Ních-Xơn không thể cưỡng được sự thật này và cũng phải đi theo con đường mà Giôn-xơn đã đi.


Ních-xơn không thể không đi theo con đường của Giôn-xơn, vì không thể cưỡng được thực tế khách quan của chiến tranh. Nhưng chẳng lẽ Ních-Xơn lại hoàn toàn đi theo cung cách của Giôn-xơn. Bộ mặt mới cần phải cớ một vài dáng điệu mới. Võ sĩ mới lên đài chưa bị những cú nốc ao nên thường dễ có thói ngông nghênh.


Con đường mà Ních-Xơn đi tiếp theo con đường của Giôn-xơn là rút dần sự dính líu trực tiếp của quân Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Chiến lược cuối cùng của Giôn-xơn là "phi Mỹ hóa chiến tranh". Chiến lược mới của Ních-Xơn là "Việt Nam hóa chiến tranh", thực chất là "thay màu da của xác chết" như đại sứ Mỹ Bân-cơ đã từng trâng tráo giới thiệu, với đầy đủ tư cách của một tên lái buôn máu người man rợ.


"Việt Nam hóa chiến tranh" là một thí điểm của "học thuyết" Ních-xơn - một chiến lược toàn cầu mới xâm lược thế giới của đế quốc Mỹ. Nó là kết quả sinh ra từ sự thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. "Học thuyết Ních-xơn" là chiến lược toàn cầu thứ ba của đế quốc Mỹ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.


Chiến lược toàn cầu thứ nhất trong thời Ai-xen-hao là "trả đũa ồ ạt", một thứ chiến lược của sức mạnh. Chiến lược toàn cầu thứ hai trong thời Ken-nơ-đi là "phản ứng linh hoạt", một thứ chiến lược của sức mạnh giảm sút. Còn chiến lược toàn cầu thứ ba là "học thuyết Ních-Xơn", một thứ chiến lược của sức mạnh đã suy yếu.


Quá trình phát triển chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ trải qua ba thời kỳ diễn biến như trên đã chứng tỏ con đường đi xuống của chính sách xâm lược toàn cầu của chúng. Vai trò sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ không thay đổi về mục tiêu, nhưng đã phải giảm bớt mức độ và phải thay đổi về hình thức. Tháng 7 năm 1969, ở đảo Gu-am trên Thái Bình Dương, Ních-xơn chính thức tuyên bố chiến lược mới này của đế quốc Mỹ.


Một tờ báo Mỹ đã viết như sau:

"Những cuộc, xáo trộn ở Mỹ từ 1963 đã ảnh hưởng sâu xa đến các nơi khác trên thế giới, nơi Mỹ nay đang đóng một vai trò khác hẳn với chiến lược sau chiến tranh thế giới thứ hai mà Mỹ vẫn còn cố gắng thi hành trong 10 năm qua. Ngay cả sau cái chết của Giôn Ken-nơ-đi (tổng thống Mỹ bị ám sát ở Dallos ngày 22 tháng 11 năm 1963), thế giới vẫn còn tin vào lời hứa của ông trong bài diễn văn nhậm chức. - Rằng Mỹ sẽ "trả bất cứ giá nào, chịu đựng bất cứ một gánh nặng nào, đương đầu với bất cứ khó khăn nào, yểm trợ bất cứ người bọn nào, chống lại bất cứ một kẻ thù nào để bảo đảm sự sống còn và sự thành công của tự do". "Thời gian đã đi qua". Mười năm sau, lời lẽ của tổng thống Ních-Xơn mang một giọng điệu khác nhiều. Ông Ních-Xơn nói: "Cái thời mà nước Mỹ làm cho cuộc xung đột của mọi nước khác thành của mình, hay khiến tương lai của mọi nước khác trở thành trách nhiệm của mình, hay chỉ bảo nhân dân các nước khác phải làm sao giải quyết các vấn đề riêng của họ đã qua đi rồi".

Các lý do của sự thay đổi này không phải là khó tìm kiếm lắm.

Sức mạnh quân sự của người Mỹ và sự quyết tâm sử dụng sức mạnh ấy thì không ai nghi ngờ gì lắm trong 10 năm qua. Ngày nay, guồng máy chiến tranh của Mỹ vẫn còn khủng khiếp. Nhưng ít nhà lãnh đạo ngoại quốc tin rằng nó còn có thể hay sẽ được sử dụng trở lại như là một lực lượng cảnh sát trên toàn cầu... Câu chuyện "phòng thủ thế giới" đã lên cao độ vào năm 1965 khi tổng thống Giôn-xơn đưa quân đội Mỹ vào miền Nam Việt Nam để tham dự một trận chiến vì một nước khác, trong đó hầu hết người Mỹ cùng chia sẻ sự tin tưởng rằng khả năng quân sự của Mỹ có thể đè bẹp cộng sản Việt Nam.


"Đằng sau sự giảm sút của Mỹ, 8 năm chiến tranh không thành công đã đưa người Mỹ đến chỗ thực tế. Rõ ràng lực lượng cộng sản ở Việt Nam đã bị đánh giá dưới mức của nó. Tuy vậy sự giảm sút trong các tham vọng toàn cầu của Mỹ phần nhiều không là kết quả của sự không thành công ở Việt Nam mà là do những đổi thay về kinh tế, xã hội và chính trị xảy ra ở Mỹ và trên thế giới"1 (Trích từ tạp chí Mỹ "Tin Mỹ và thế giới", do báo "Hòa bình'' xuất bản ở Sài Gòn số 1593 ngày 4-12-1973 đăng lại).


Tác giả bài báo chỉ nói đúng một phần. Vì sao nước Mỹ có sự xáo trộn về kinh tế, xã hội và chính trị? Có phải nguyên nhân chính là do sự thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam không? Cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam hao người tốn của, mất lòng dân đã làm cho nước Mỹ bị suy yếu về kinh tế, suy đồi về xã hội và rối ren về chính trị. Chính cái đó đã làm cho nhân dân Mỹ suy nghĩ và làm cho nước Mỹ bị chia rẽ về chính trị và bị suy yếu trên thế giới. Các giới cầm quyền Mỹ đã phải nhìn vào thực tế và phải xét duyệt lại đường lối, chính sách xâm lược toàn cầu của họ. Sự thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam mới là nguyên nhân chính trong sự thay đổi chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ trong mười năm qua. Học thuyết Ních-Xơn - chiến lược toàn cầu mới của đế quốc Mỹ - sinh ra trong sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam. Nó là một bước thụt lùi mới về chiến lược toàn cầu xâm lược thế giới của đế quốc Mỹ.


Trong khi đế quốc Mỹ bị sa lầy và bị suy yếu trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì các nước xã hội chủ nghĩa vẫn ngày càng lớn mạnh, các nước dân tộc cũng lớn mạnh lên và củng cố được nền độc lập của mình, các nước Tây Âu và Nhật Bản cũng phát triển và dần dần tách khỏi sự khống chế của Mỹ rồi tiến lên cạnh tranh với đế quốc Mỹ. Thế lực của đế quốc Mỹ bị suy yếu nặng nề trên thế giới. Đế quốc Mỹ không còn đủ sức để đóng vai trò sen đầm quốc tế như những năm 50 và 60 của thế kỷ này. Chiến lược toàn cầu mới xâm lược thế giới của đế quốc Mỹ - "học thuyết Ních-Xơn" - chính là được sinh đẻ ra trong những điều kiện và hoàn cảnh như thế. "Học thuyết Ních-Xơn" là chủ trương chiến lược về việc đế quốc Mỹ cùng chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ gánh nặng với các nước "đồng minh" của Mỹ để bảo vệ "thế giới tự do", một danh từ mỹ miều che đậy cho âm mưu xâm lược thế giới và đàn áp phong trào cách mạng thế giới của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:38:46 am
Chiến lược "chia sẻ trách nhiệm" để xâm lược thế giới và đàn áp phong trào cách mạng thế giới, tuy có làm giảm bớt vai trò của đế quốc Mỹ, nhưng vẫn phải dựa vào sức mạnh của Mỹ. Sức mạnh là cái xương sống trong chiến lược của đế quốc Mỹ. Chiến lược "chia sẻ trách nhiệm" phải dựa trên sức mạnh. Sức mạnh của đế quốc Mỹ trong thời Ai-xen-hao là ở vào cái thế "trà đũa ồ ạt". Sức mạnh của đế quốc Mỹ trong thời Ních-xơn phải chuyển sang thế "ngăn đe". "Học thuyết Ních-xơn" gồm nhiều nội dung do nhiều chủ trương chiến lược, nhiều thành phần chiến lược hợp thành, song nội dung cơ bản của nó là "ngăn đe thực tế" và "chia sẻ trách nhiệm", ngoài ra nó còn một số nội dung phụ để bổ sung cho hai nội dung cơ bản trên. Đó là các nội dung như "liên minh khu vực", "cân bằng lực lượng" và "thương lượng, hòa hoãn trên thế mạnh". Giới cầm quyền Mỹ tung ra một không khí hòa bình hòng ru ngủ thế giới. Chúng âm mưu chia rẽ các nước đối địch, làm suy yếu lực lượng cách mạng. Chúng tìm cách tranh thủ nước này, ve vãn nước khác, cô lập nước kia, uy hiếp nước nọ để tập trung sức đánh từng nước một, đánh kẻ thù nguy hiểm trước mắt của chúng và khi cần thì không ngần ngại thí bỏ cả bạn bè, tôi tớ.


Thế nhưng "học thuyết Ních-Xơn" lại là sự thể hiện bước suy yếu của đế quốc Mỹ. Nước Mỹ ngày nay bị sa lầy và suy yếu trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam không thể một mình cáng đáng tất cả mọi mặt trong các cuộc chiến tranh xâm lược cục bộ, địa phương. Để giải quyết khó khăn đó, giới cầm quyền Mỹ đề xuất việc sử dụng viện trợ vật chất, chi viện hỏa lực không quân, hải quân và tham gia chỉ huy bằng các cố vấn đề tiếp sức cho những chính quyền tay sai đang lung lay trước sức tiến công của các lực lượng cách mạng. Trong khuôn khổ "học thuyết Ních-Xơn", một công thức được đưa ra: "hỏa lực Mỹ + lục quân bản xứ". "Việt Nam hóa chiến tranh" là "học thuyết Ních-Xơn" được tiến hành ở Việt Nam. Việt Nam là nơi thí điểm đầu tiên của "học thuyết Ních-Xơn".


Tập đoàn Ních-xơn lên thay tập đoàn Giôn-xdn. Một tập đoàn thống trị mới lên cầm quyền với một bộ tham mưu mới, thường có nhiều tham vọng mới, nhiều tham vọng lớn. "Việt Nam hóa chiến tranh" tuy là một bước thụt lùi về chiến lược, song nó mang tính chất gian xảo, nguy hiểm không thể coi thường. Nội dung của "Việt Nam hóa chiến tranh" là xây dựng cho quân ngụy Sài Gòn lớn mạnh lên để dần dần thay thế quân Mỹ, củng cố trận địa của quân ngụy bằng bình định nông thôn, đánh bật cơ sở, lực lượng cách mạng ra khỏi những khu vực tranh chấp hoặc do chúng đang kiểm soát và cuối cùng là đánh phá ác liệt căn cứ địa cách mạng cùng đường vận chuyển tiếp tế chiến lược làm cho lực lượng cách mạng bị kiệt quệ không còn sức tiến công, để cho chiến tranh cách mạng tàn lụi dần.


Đây là một âm mưu rất thâm độc. Bước đầu tiên của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" là tiến hành công tác bình định nông thôn đe chiếm dân và đánh bật cơ sở cách mạng ra khỏi nông thôn. Trên cơ sở chiếm được dân và củng cố được trận địa, chúng sẽ có điều kiện để xây dựng lực lượng vũ trang rộng lớn. Chúng tổ chức một cơ quan chỉ đạo công tác bình định rất lớn với các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm và chi hàng tỷ đô la trong một năm. Chúng huy động toàn diện các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, lấy biện pháp quân sự và kinh tế làm chủ yếu. Chúng dùng biện pháp quân sự đàn áp, giết chóc nhân dân, đốt phá nhà cửa, cày ủi xóm làng để gom xúc dân vào các trại tập trung, sống dưới sự kiểm soát của một chính quyền cảnh sát và mật thám, ở các trại tập trung, chúng bắt buộc nhân dân phải cầm súng cho chúng, phải tham gia các tổ chức vũ trang phản động. Lực lượng vũ trang và nửa vũ trang được tổ chức một cách rộng rãi. Ở các ấp chiến lược, trại tập trung có tổ chức lực lượng nửa vũ trang là phòng vệ dân sự và lực lượng vũ trang ở câp xã là dân vệ. Có xã, ấp có cả lực lượng bảo an. Ngoài lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ra, địch còn tổ chức thêm cả lực lượng cảnh sát, mật vụ, cảnh sát vũ trang.


Chính quyền của địch là một chính quyền quân phiệt, không có một lực lượng vủ trang mạnh, không dựa vào sự đàn áp quân sự thì chính quyền phản động đó không thể tồn tại được. Lực lượng vũ trang là cột trụ của chính quvền địch. Đàn áp, bắn giết là biện pháp chủ yếu của trật tự, là lối sống của địch.


Nhưng đàn áp cũng chưa đủ bảo đảm, địch còn dùng thêm biện pháp kinh tế. Chúng đốt phá nhà cửa, càn phá mùa màng ruộng rẫy rồi gom xúc dân, bắt ép họ phải vào sống trong các khu tập trung và phát cho họ số gạo chết đói để sống trong vòng rào dây thép gai. Ở một số khu vực nằm sâu trong vùng kiểm soát của chúng, địch dùng kinh tế tạo ra một sự phồn vinh giả tạo. Những hàng công nghiệp thuộc loại tiêu dùng thừa ế của Nhật Bản, Tây Đức, Mỹ tràn vào miền Nam. Lương của nhân viên chính quyền ngụy, quân đội ngụy và bà con của chúng là do tiền Mỹ, cũng như những người làm công cho các sở Mỹ và buôn bán với quân đội Mỹ và quân đội ngụy dùng số tiền của Mỹ để mua sắm các thứ hàng tiêu dùng đó.


Trong những vùng Mỹ - ngụy chiếm đóng, bên cạnh những hàng rào dây thép gai, đế quốc Mỹ còn dùng biện pháp kinh tế, vừa bần cùng hóa nhân dân, vừa tạo ra một thói quen tiêu dùng giả tạo để trói buộc một số người dân vào trong vòng kiểm soát của chúng.


Về chính trị, đế quốc Mỹ dùng mọi biện pháp để cột chặt người dân vào sợi dây thống trị của chúng. Chúng buộc phần lớn các gia đình phải có con em, người thân tham gia vào chính quyền và quân đội ngụy. Chúng tạo ra một quan hệ xã hội hỗn loạn, phức tạp, gây ra một đảo lộn mới trong xã hội. Chúng bôi đen, bôi nhọ mọi người, với ý đồ cạo hết màu mỡ, làm cho miếng đất bị khô cằn đi và cách mạng không thể bén rễ được.


Đi đôi với chủ trương "nhuộm đen" nhân dân, quân địch còn ráo riết tiến hành thanh lọc, triệt phá cơ sở cách mạng. Chúng lập ra rất nhiều tổ chức để tiến hành công tác này. Ngoài các công cụ chủ yếu là chính quyền, quân đội, cảnh sát, mật vụ, chúng còn tổ chức ra các đội "bình định", "phượng hoàng", "thiên nga". Để bổ trợ cho các biện pháp trên, quân địch còn có một âm mưu lâu dài rất thâm độc, đi vào bề sâu để quyến rũ, lung lạc tư tưởng, ý thức và tình cảm của con người. Chúng tuyên truyền và cho thi hành một thứ văn hóa suy đồi, hòng làm mê muội con người, làm trụy lạc thanh niên. Chúng âm mưu dùng phim ảnh, ca nhạc, sách báo khiêu dâm, cao bồi làm món ăn tình cảm của thanh niên. Chúng định biến tiền tài, ăn chơi, gái đĩ, giết chóc thành lẽ sống của thanh niên. Chúng mong biến thanh niên thành những tên trộm cắp, giết người, thành lính đánh thuê, không còn biết gì là nhân dân, là Tổ quốc. Chúng mong phá sạch hết phẩm chất con người, thuần phong mỹ tục Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Hai, 2023, 08:39:26 am
Với các biện pháp quân sự, kinh tế, chính trị và văn hóa như trên, chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ được thể hiện một cách rất điển hình ở miền Nam Việt Nam. Chủ nghĩa thực dân mới ở đây khác với chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở các nơi khác trên thế giới vì nó gắn liền với chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ đã huy động toàn bộ lực lượng quân sự, chính trị, kinh tế và văn hoá của chúng, nhằm đạt bằng được mục đích. Không một nơi nào trên thế giới mà đế quốc Mỹ phải dùng tới hàng triệu quân Mỹ, ngụy, chư hầu với hàng trăm tỷ đô la để tiến hành chủ nghĩa thực dân kiểu mới như ở đây.


Chủ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam là một thứ chủ nghĩa thực dân mới quân phiệt.

Xây dựng lực lượng quân ngụy và bình định là mặt thứ nhất của "Việt Nam hóa", đánh phá hậu phương của đối phương là mặt thứ hai của "Việt Nam hóa".

Đánh phá hậu phương của đối phương là một nhiệm vụ chiến lược cơ bản của quân Mỹ. Đến giai đoạn "Việt Nam hóa chiến tranh", nhiệm vụ này vẫn được tiếp tục. Ních-Xơn với bộ tham mưu của y mới lên đài nên có vẻ hùng hổ lắm. Nhưng sự hùng hổ này cũng chỉ có hạn. Sự hùng hổ trong thời kỳ Giôn-xơn là ở trong cao trào của cuộc chiến tranh xâm lược. Sự hùng hổ của Ních-Xơn là ở trong thoái trào của chiến tranh xâm lược.


Ních-xơn muốn làm cho "Việt Nam hóa" có tiếng vang hơn "phi Mỹ hóa" của Giôn-xơn. Trong việc đánh phá hậu phương, căn cứ của đối phương, Ních-Xơn đã áp dụng thủ đoạn dùng không quân một cách mạnh mẽ hơn. Ngoài ra Ních-xơn còn cố ý đồ lớn hơn, chủ trương sử dụng cả lục quân một cách có trọng điểm, có chọn lọc. Ních-Xơn rất coi trọng việc triệt phá cơ sở vật chất, tiềm lực chiến tranh của đối phương. Muốn đánh phá hậu phương căn cứ địa của cách mạng miền Nam, Ních-Xơn định dựa vào nước Lào và nước Cam-pu-chia, lấy đó làm hai mũi dùi thọc vào sau lưng căn cứ địa của cách mạng miền Nam. Để thực hiện kế hoạch này, Ních-Xơn sử dụng tập trung lực lượng biệt kích đánh thuê Vàng Pao ở Lào, có máy bay Mỹ yểm trợ, đánh ra chiếm Cánh Đồng Chum. Nhưng mặc dầu đã 2 - 3 lần đem ra thực hiện, kế hoạch này vẫn đều bị thất bại thảm hại. Chẳng những bọn biệt kích Vàng Pao, lính đánh thuê của Mỹ, không mảy may chiếm được Cánh Đồng Chum, mà ngược lại các sào huyệt lớn nhất của chúng ở Sảm Thông, Long Chẹng lại bị Quân giải phóng Lào tiến công mãnh liệt. Cuối cùng quân Vàng Pao phải co rúm lại chống đỡ ở ngay trong sào huyệt của chúng ngày càng bị thu hẹp lại. Thừa thắng, Quân giải phóng Lào còn mở rộng thế tiến công của mình ra tới ngã ba Sa-la Phu-khun, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, ngoài phạm vi Cánh Đồng Chum, ở Hạ Lào, bọn lính Lào đánh thuê của Mỹ cũng bị thua đau không kém. Quân giải phóng Lào đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn và phì nhiêu, một địa bàn chiến lược quan trọng - từ cao nguyên Bô-lô-ven đến Sa-ra-van và ra sát đường số 13.


Lực lượng quân sự của Mỹ tuy to lớn, nhưng rõ ràng lục quân Mỹ không thể mở ra cùng một lúc nhiều chiến trường lục địa ở nhiều quốc gia châu Á được. Ngay ở trên lục địa Đông Dương, lục quân Mỹ đã thấy bị hạn chế, nhất là ở những nơi địa hình hiểm trở như nước Lào. Đế quốc Mỹ chỉ dùng không quân, mà không quân thì không thể một mình quyết định được chiến tranh.


Đòn đánh vào Cam-pu-chia là một đòn hiểm ác của Ních-xơn. Đây là một mũi dùi lợi hại chọc thẳng vào đằng sau căn cứ địa quan trọng của cách mạng miền Nam. Ních-Xơn cho đấy là thế cờ rất hiểm, rất hay.


Tháng 3 năm 1970, nhân lúc Quốc trưởng Xi-ha-núc ra nước ngoài, bọn Lon Non, tay sai của Mỹ đã làm đảo chính ở Cam-pu-chia. Lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia đã nổi lên tiến công mãnh liệt bè lũ Lon Non, tiêu diệt và đánh đổ chính quyền phản động ở những vùng nông thôn rộng lớn và ở một số thị xã, thị trấn. Sau một đòn tiến công bất ngờ mạnh nhu vũ bão, cả Mỹ và tay sai đều trở tay không kịp, quân địch đã bị tiêu diệt và quét sạch khỏi 5 tỉnh ở miền Đông Bắc Cam-pu-chia là Ra-ta-na Ki-ri, Stung Treng, Prê-ha-via, Môn-đôn Ki-ri và Kra-chi-ê. Ở vùng nông thôn rộng lớn miền Tây Nam Cam-pu-chia, quân địch cũng bị tiêu diệt và quét sạch. Chỉ trong vòng hai tháng, tháng 4 và tháng 5 năm 1970, lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia đã giải phóng những đất đai rộng lớn và phì nhiêu gồm 5 thị xã, 5 tỉnh hoàn chỉnh và những vùng nông thôn rộng lớn khác, với một số dân chiếm 70 - 80% tổng số dân của nước Cam-pu-chia. Chính quyền cách mạng được thành lập ở khắp vùng giải phóng từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Gây ra gió phải gặp bão. Để cứu nguy cho tên tay sai Lon Non đang trong cơn hoạn nạn, đế quốc Mỹ phải dùng không quân và lục quân Mỹ cùng lục quân ngụy Sài Gòn đánh sang vùng biên giới miền Đông Cam-pu-chia, giáp với biên giới miền Nam Việt Nam. Nhưng quân Mỹ cũng chỉ dám tiến sâu vào nội địa Cam-pu-chia khoảng 20 - 30km. Chúng muốn tránh một cuộc sa lầy mới, vì chúng đang bị bán thân bất toại trong cuộc sa lầy lớn ở miền Nam Việt Nam. Đánh vào một vùng biên giới giữa hai nước Việt Nam và Cam-pu-chia, đế quốc Mỹ nhằm hai mục đích; vừa cứu Lon Non, lại vừa đánh phá cách mạng miền Nam Việt Nam.


Vào cuối tháng 4 năm 1970, quân Mỹ mở một cuộc tiến công lớn. Chúng tập trung một lực lượng lớn gồm các sư đoàn 9, sư đoàn kỵ binh bay, sư đoàn 4 cùng các sư đoàn ngụy Sài Gòn, gồm 75 tiểu đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn thiết giáp, 22 tiểu đoàn pháo binh, tổng cộng 65.000 tên (20.000 Mỹ), có sự chi viện của máy bay chiến thuật và chiến lược, mở một cuộc tiến công năm mũi đánh sang các vùng đường số 2, số 4 Cam-pu-chia, vùng Mỏ Vẹt, vùng Lưỡi Câu, vùng Môn-đôn Ki-ri và vùng Ra-ta-na- kin, trên trục đường 19 kéo dài và hai ven bờ Nam Bắc sông Pô Cô. Để đối phó với âm mưu này và để phá tan cuộc tiến công của địch, lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đã đánh bại những mũi thọc sâu của địch vào nội địa Cam-pu-chia. Sau vài chục ngày chiến đấu, quân Mỹ bị đánh thiệt hại nặng. Ở trên một số hướng, việc tiếp tế của quân Mỹ trở nên rất khó khăn và tốn phí vì không có đường sá vận chuyển. Nếu kéo dài cuộc chiến đấu thì quân Mỹ sẽ bị sa lầy hơn, sẽ bị thiệt hại nặng hơn và sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Với cuộc tiến quân của quân Mỹ sang vùng biên giới Cam-pu-chia, nước Mỹ rơi vào một sự sợ hãi mới. Nhân dân Mỹ, thanh niên Mỹ đã bị một sự sợ hãi lớn ở Việt Nam, nay lại chồng thêm một sự sợ hãi nữa ở Cam-pu-chia, làm cho Ních-Xơn cũng phải sợ hãi nốt. Cuối cùng, đến giữa và cuối tháng 6 năm 1970, quân Mỹ phải rút hết khỏi Cam-pu-chia. Ních-Xơn chỉ còn để lại quân ngụy Sài Gòn chiến đấu trên đất Cam-pu-chia. Kết quả là quân Mỹ cũng không cứu được Lon Non. Các vùng giải phóng Cam-pu-chia vẫn được hoàn toàn giữ vững. Quân Mỹ đã bị thất bại, không chiếm đóng được vùng biên giới giữa hai nước Cam-pu-chia và Việt Nam. Chúng không phá vỡ được vùng căn cứ địa cách mạng, không giúp Lon Non sống sót lại được ở các tỉnh Đông Bắc Cam-pu-chia. Trái lại quân Mỹ đã bị đánh thiệt hại nặng và cuối cùng phải rút khỏi vùng biên giới này. Một lần nữa lại chứng minh là lục quân Mỹ không thể cùng một lúc mở ra được nhiều chiến trường quốc gia trên lục địa Đông Dương. Khu vực Đông Dương - lục địa châu Á không phải là miếng đất ngon lành cho lục quân Mỹ. Nhiều nhà chiến lược Mỹ cũng đã nêu ra kinh nghiệm đó.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:34:01 am
Đánh vào Cam-pu-chia, quân Mỹ như chim chích lạc vào rừng. Xa căn cứ chính, thiếu các tiện nghi sinh hoạt theo kiểu "lính cậu", - quân Mỹ thấy bơ vơ, chán ngán. Tinh thần của chúng rất kém. Tại một khu vực ở miền Nam Việt Nam, tiếp giáp với biên giới Cam-pu-chia, quân Mỹ biết có một cơ quan cách mạng không có người nhưng chúng cũng không dám tiến vào mà chỉ dùng máy bay và pháo binh bắn phá. Chúng gặp một tổ liên lạc của quân đội cách mạng cũng phải dừng lại, không dám tiến đánh. Một quân y viện cách mạng cũng đánh lui hàng đại đội Mỹ. Một xưởng dược quân y có vài chục nam nữ dược sĩ, dược tá cũng đánh lui hàng đại đội địch, bảo vệ được cơ sở.


Một quân đội tinh thần kém như thế tất nhiên không thể đánh chiếm vùng căn cứ địa cách mạng được.

Để đỡ đòn cho quân Mỹ và để nâng đỡ một phần cho Lon Non khỏi cơn nguy khốn, Ních-Xơn phải để lại quân ngụy Sài Gòn chiến đấu ở vùng biên giới. Bọn này có chiếm được một vùng đất đai nhỏ, gồm vài đoạn đường giao thông và một vài thị trấn nhỏ.


Tung một số lượng lớn quân Mỹ đánh vào vùng biên giới Việt Nam và Cam-pu-chia, Ních-Xơn muốn mở một cuộc phản công lớn vào cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Cam-pu-chia. Song tình hình đã đảo ngược lại mọi đự toán của Ních-xơn. Không những quân Mỹ không phá vã được, không chiếm lĩnh được khu căn cứ địa cách mạng mà vùng giải phóng của cách mạng lại được mở rộng, khu căn cứ địa lại được củng cố hơn.


Gây ra cuộc đảo chính ở Cam-pu-chia, Ních-Xơn gặp một sự bất ngờ lớn. Ních-xơn tường mình có thể đánh một đòn hiểm vào cách mạng Việt Nam. Ních-Xơn định biến nước Cam-pu-chia trung lập thành một nước tay sai của Mỹ, làm một mũi dùi thúc vào sau lưng cách mạng Việt Nam. Không ngờ chính Mỹ lại dấn thân sa lầy tại Cam-pu-chia, mang thêm một gánh nặng nữa trong việc phải tiếp tay cho bè lũ Lon Non chống đỡ lại sức tiến công ngày càng mạnh mẽ của nhân dân cách mạng Cam-pu-chia.


Đấu tranh chống bè lũ Mỹ - Lon Non, lực lượng cách mạng Cam-pu-chia phát triển như vũ bão và đã giành được thắng lợi trong hơn một nửa nước. Chính quyền cách mạng đã được thành lập ở các tỉnh, các thị xã, thị trấn, quận lỵ và đã giải phóng được một vùng đất đai rộng lớn gồm 5 tỉnh hoàn chỉnh liên hoàn với nhau thành một căn cứ địa rộng lớn và vững chắc. Ở đó chính quyền cách mạng trung ương đã được thành lập.


Sau thất bại đau đớn trong cuộc phản công vào Cam-pu-chia, Ních-xơn đã ngấm nhưng chưa thật thấm. Tuy bị thất bại ngày càng nặng, nhưng vì chưa bị tiêu diệt lớn và trận địa chưa bị phá vỡ, nên quân Mỹ vẫn còn có sức. Bộ chỉ huy Mỹ vẫn còn tham vọng lớn.


Sau cuộc phản công của quân Mỹ vào Cam-pu-chia, ta càng thấy rõ âm mưu và thủ đoạn chiến lược của địch. Trong giai đoạn phòng ngự, quân Mỹ không thể tiêu diệt được Quân giải phóng. Quân Mỹ chỉ có thể hy vọng đánh phá hậu phương giải phóng hòng phá hủy, làm tổn thất cơ sở vật chất và tiềm lực chiến tranh của lực lượng cách mạng. Chúng còn hòng gây ra sự rối loạn không ổn định trong hậu phương của quân ta và gây tác động tinh thần, tâm lý trong quân đội và nhân dân miền Nam.


Với bản chất hiếu chiến và tàn bạo, lại vừa mới nhảy lên vũ đài chính trị, Ních-Xơn có tham vọng lớn hơn Giôn-xơn. Ngoài việc dùng không quân đánh phá hậu phương của quân ta, Ních-xơn còn dùng cả lục quân để đánh phá từng đòn, từng lúc, đánh phá có trọng điểm, có chọn lọc vào hậu phương giải phóng. Cuộc phản công lớn vào vùng biên giới Cam-pu-chia trong năm 1970 đã chứng minh điều đó. Sau cuộc phản công này, Quân giải phóng phán đoán địch có thể tung ra một đòn phản công mới vào năm 1971. Là một nước đế quốc đầu sỏ, giàu mạnh, đế quốc Mỹ thường có những tham vọng lớn. Bản chất của chúng lại rất phản động, ngoan cố và xảo quyệt. Dù có bị lùi một bước nhưng chúng vẫn lại cố tiến lên. Tất nhiên khả năng và mức độ tiến của chúng được đến đâu thì lại còn do tác động của đối phương. Năm 1970, địch đánh vào vùng biên giới Cam-pu-chia không thành công và đã bị thất bại trong âm mưu chiến lược dùng Cam-pu-chia làm một mũi dùi thúc vào sau lưng căn cứ địa của cách mạng miền Nam. Hỏng keo này bày keo khác, chúng cho rằng khu vực Đường 9 - Nam Lào là một mũi dùi mới rất lợi hại có thể đánh xuyên cái dạ dày của cách mạng miền Nam. Đòn này cũng là một đòn lợi hại không kém gì đòn đánh vào vùng biên giới Cam-pu-chia. Tuy nhiên do bị thất bại quá đau tại Cam-pu-chia nên lần này Ních-xơn đã đắn đo hơn. Ních-Xơn không sử dụng lục quân Mỹ mà chỉ sai lục quân ngụy Sài Gòn đánh vào Đường 9 - Nam Lào.


Những đơn vị sừng sỏ của quân ngụy Sài Gòn được tung vào đây gồm ba sư đoàn và một số trung đoàn như sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, sư đoàn 1 bộ binh, v.v... cùng với một số đơn vị thiết giáp. Lục quân Mỹ không tham gia mũi xung kích mà chỉ đứng đằng sau bảo vệ tuyến xuất phát chiến dịch và làm chỗ dựa cho quân ngụy Sài Gòn.


Tháng 2 năm 1971, quân ngụy Sài Gòn bắt đầu hành động dưới sự chi viện của không quân Mỹ và được sự bảo đảm cơ động bằng máy bay lên thẳng của Mỹ. Mũi đột kích chủ yếu của quân ngụy Sài Gòn là đột phá dọc theo đường số 9. Mục tiêu chiến dịch là Sê-pôn. Các mũi đột kích thứ yếu là đột phá dọc hai bên sườn nam và bắc đường số 9 để yểm hộ cho mũi đột kích chủ yếu. Ngoài ra, chúng còn tổ chức các mũi yểm hộ nhỏ ở vòng ngoài, mở rộng diện tiến công ra xa ở hai bên sườn nam và bắc đường số 9. Đây là một chiến dịch tiến công với quy mô lớn nhất của quân ngụy Sài Gòn từ trước tới nay, dưới sự chi viện, yểm trợ hỏa lực và cơ động của quân Mỹ. Đây là một đòn có tính chất quyết định về mặt chiến lược của đế quốc Mỹ.


Đoán biết được âm mưu, ý đồ và hướng hành động của chúng. Quân giải phóng nhân dân Lào và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã cùng hiệp đồng triển khai mọi việc chuẩn bị bày thế trận để sẵn sàng diệt địch. Quân địch mở cuộc tiến công lớn nhưng thực tế là chúng đang lao đầu vào bẫy.


Ngày 8 tháng 2 năm 1971, các mũi tiến công của địch cùng tiến hành đột phá trên bộ và trên không. Mũi đột phá chủ yếu của địch đánh dọc theo đường số 9 từ Hương Hoá tới Sê-pôn bằng các binh đoàn, binh chủng hợp thành bị đánh chặn quyết liệt.


Đến mãi ngày 13 tháng 2 năm 1971, mũi đột phá chủ yếu của địch mới tiến dược tới Bản Đông. Các mũi tiến công yểm hộ ở hai bên sườn nam và bắc đường số 9 bằng đột phá đường không cũng bị ngăn chặn và bị đánh phá quyết liệt. Mũi nhọn của cánh bắc bị bẻ gãy ngay ở điểm cao 650, 543, 456. Trên điểm cao 543, tiểu đoàn dù 3 và ban chỉ huy lữ dù 3 đã bị tiêu diệt gọn và tên đại tá lữ trưởng lữ đoàn dù 3 thuộc sư đoàn dù bị bắt sống cùng với cả cơ quan tham mưu của hắn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:34:56 am
Trên sườn bắc, cánh quân biệt động tiến công yểm hộ sườn ở tuyến thứ hai của đội hình chiến dịch của địch cũng bị tiêu diệt một tiểu đoàn và chúng phải chùn lại. Mũi yểm hộ sườn trái của đội hình chiến dịch do hai trung đoàn của sư đoàn bộ binh 1 đánh chiếm khu vực điểm cao 550 và Cô Bốc làm bàn đạp thục ra Khe Gió và điểm cao 619. Chúng bị ta đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn và 1 trung đoàn bị bao vây khiến địch phải điều 2 lữ đoàn 147, 258 (sư đoàn lính thủy đánh bộ) từ phía sau ra thay sư đoàn bộ binh 1. Số phận của 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ cũng như 2 trung đoàn của sư đoàn bộ binh 1, đã bị bao vây và đánh thiệt hại nặng trên các điểm cao 550, 544, 542. Tình hình đó đã buộc mũi tiến công chủ yếu của địch trên trục đường 9, sau khi tới Bản Đông phải tạm thời chuyển sang phòng ngự. Đây là một nguy cơ cho cuộc tiến công của quân địch. Mũi tiến công chính, sức mạnh nhất của cuộc tiến công, động lực chính của toàn cuộc tiến công đã mất thế và mất sức. Cuộc tiến công có thể bị đánh bại vì cái xương sống của nó đã bị đánh mềm nhũn. Toàn bộ chính diện tiến công của địch đều bị đánh chặn và tốc độ tiến công phải chậm lại. Chiều sâu tiến công không đạt được như ý đồ, còn nằm trong một đoạn nông cạn.


Quân địch từ tiến công phải chuyển sang phòng ngự. Mục tiêu chiến dịch của địch chưa đạt được. Để lòe bịp thiên hạ và gỡ thể diện chính trị, địch cho đổ bộ hạ cánh đường không một bộ phận lực lượng xuống gần Sê-pôn rồi vội vã rút chạy ngay và tuyên bố ầm ĩ rằng chúng đã đánh chiếm được Sê-pôn.


Qua giai đoạn đầu của chiến dịch, quân địch đã mất sức tiến công và phải chuyển sang phòng ngự. Chúng đã bị tiêu diệt gọn 4 tiểu đoàn và bị đánh thiệt hại nặng 3 lữ đoàn bộ binh, 2 trung đoàn thiết giáp và trên 200 máy bay lên thẳng bị bắn rơi. Không bỏ lỡ thời cơ này, Quân giải phóng từ phòng ngự, phản công liền chuyển nhanh sang tiến công.


Do chính diện tiến công của địch không được phát triển ngang đều, chiều sâu tiến công bị so le, nên mũi tiến công chủ yếu của địch ở Bản Đông trở thành đột xuất, bị hở sườn, nhất là sườn trái ở phía nam đường số 9. Phát hiện được thời cơ và chỗ sơ hở đó của địch, Quân giải phóng liền tiến vào bao vây cụm chủ yếu của địch ở Bản Đông.


Trước nguy cơ cụm quân chủ yếu ở Bản Đông bị tiêu diệt quân địch liền tung đội dự bị chiến dịch là sư đoàn bộ binh số 1 ra đánh chiếm điểm cao 273 Phu-ta-păng ở phía nam Bản Đông để yểm hộ sườn trái cho cụm quân chủ yếu này. Địch đã sử dụng hết đội dự bị, lực lượng chiến dịch đã bị ném vào hết tuyến tác chiến và đang bị nguy khốn. Trên tuyến chiến dịch, chúng không còn lực lượng để tổ chức đội dự bị mới. Sức tiến công của chúng không còn nữa. Trong phạm vi quân khu, địch chỉ còn hai sư đoàn đang phải chiến đấu ở các hướng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Ở các quân khu khác, chúng cũng đang bị tiến công. Trong phạm vi toàn miền Nam, địch có hai sư đoàn cơ động chiến lược - sư dù và lính thủy đánh bộ thì đã phải dốc vào chiến dịch này. Do đó chúng có cố gắng cũng không còn khả năng cơ động chiến lược nữa.


Nắm được tình hình trên, Quân giải phóng liền tung phần lớn lực lượng phòng ngự ở Sê-pôn cùng lực lượng dự bị chiến dịch mở đòn tiến công đánh vào trung đoàn số 1 thuộc sư đoàn bộ binh số 1 của quân ngụy Sài Gòn ở điểm cao 723. Trải qua mấy ngày chiến đấu, Quân giải phóng đã tiêu diệt gọn trung đoàn này, chiếm lĩnh hoàn toàn trận địa của địch trên điểm cao 723 và phát triển tiến công sang điểm cao 660, diệt gọn trung đoàn 2 (thiếu) thuộc sư đoàn bộ binh 1 và phá vỡ vòng yểm hộ sườn nam của cụm Bản Đông. Đồng thời Quân giải phóng cũng tiêu diệt lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ trên điểm cao 550 và đánh thiệt hại lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ trên dãy núi Cô Bốc, uy hiếp trực tiếp đoạn đường 9 từ Hương Hóa đến Lao Bảo. Thắng lợi này đã củng cố thêm thế trận bao vây Bản Đông và làm cho quân địch ở đây càng tăng thêm nguy cơ bị tiêu diệt. Trước sự uy hiếp nặng nề đó, quân địch đã giảm sút ý chí rất nhanh. Chúng buộc phải đi quá nhanh vào con đường ba mươi sáu chước. Khi mới hùng hổ ra quân, chắc hẳn chúng không bao giờ nghĩ đến tình huống một lực lượng đông như thế, lại được hỏa lực Mỹ yểm trợ đến mức thừa mứa như thế lại phải đánh bài chuồn nhanh như thế. Chẳng biết Ních-Xơn có ra lệnh rút chạy cho tướng Mỹ A-bram và Thiệu không hay là A-bram và Thiệu không vâng lời quan thầy?


Đêm 19 tháng 3 năm 1971, cụm quân Bàn Đông mở đường máu tháo chạy về Hương Hóa. Các cánh quân khác cũng tháo chạy theo.


Quân giải phóng nhân dân Lào hiệp đồng với Quân giải phóng miền Nam Việt Nam lập tức truy kích và diệt thêm một số quân địch. Riêng 4 trung đoàn xe tăng, xe bọc thép của địch thì bị tiêu diệt hết, không chạy thoát được chiếc nào. Các cánh tàn quân rút về tới Hương Hóa được ít hôm thì rút hết cả về tuyến phòng ngự cơ bản trên đường số 1 từ Đông Hà tới Huế. Cuộc tháo chạy bán sống bán chết này đã được các báo Mỹ và vô tuyến truyền hình Mỹ phản ánh rõ nét qua những hình ảnh quân ngụy Sài Gòn bám càng máy bay lên thẳng Mỹ từ Nam Lào chạy về Hương Hoá, Đông Hà.


Thế là trong một thời gian ngắn, từ ngày 8 tháng 2 năm 1971 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, cuộc tiến công của quân địch đã bị thất bại hoàn toàn. Thất bại thảm hại của địch được thể hiện ở số lượng quân địch và số lượng đơn vị lớn của địch bị tiêu diệt. Tổng số quân địch bị tiêu diệt là 19.960 tên cùng 556 máy bay (có 505 máy bay lên thẳng), 528 xe tăng và xe bọc thép, 112 khẩu pháo. Các đơn vị của địch bị tiêu diệt là lữ đoàn số 3 dù, số 147 lính thủy đánh bộ, trung đoàn số 1 cùng các trung đoàn bọc thép số 4, 7, 11, 17. Ngoài ra, các trung đoàn, lữ đoàn khác đều bị đánh thiệt hại nặng.


Cay cú và khát nước dẫn tới liều lĩnh, Ních-Xơn đánh canh bạc mới lại bị thua đau hơn trước. Đây là một đòn nặng giáng vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của chúng.

Cuộc tiến công lớn của địch sử dụng một binh lực lớn và hỏa lực mạnh bị thất bại nhanh chóng là vì các cánh quân, các mũi tiến công của chúng đều bị đánh thiệt hại nặng và bị tiêu diệt, các thủ đoạn chiến dịch và chiến thuật của chúng đều bị đánh bại và tinh thần chiến đấu của chúng tỏ ra bạc nhược.


Đó là nói về hướng tiến công chính của địch. Còn ở Tây Nguyên chúng cũng mở cuộc tiến công phối hợp vào vùng ba biên giới. Đội tiên phong của cuộc tiến công này là các đơn vị của trung đoàn 42 thuộc sư đoàn 22 và một số bộ phận của liên đoàn 2 quân biệt động - lực lượng cơ động của quân khu 2. Chúng vừa mới mon men tới vùng núi Ngọc Tơ Ba ở phía tây - nam căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh thì bị chặn đánh ngay. Một tiểu đoàn của trung đoàn 42 bị tiêu diệt ở điểm cao 935, sườn tây dãy núi Ngọc Tơ Ba. Một tiểu đoàn khác cũng thuộc trung đoàn này bị đánh thiệt hại nặng ở sườn đông dãy Ngọc Tơ Ba. Một tiểu đoàn quân biệt động cũng bị đánh thiệt hại ở sườn tây điểm cao 935. Quân địch phải cho một đơn vị ra cứ điểm Plây Cần - Bên Hét để để phòng quân ta tiến công và đón số tàn quân chạy về tới đó. Cuộc tiến công phối hợp chiến trường của địch ra vùng ba biên giới còn đang trong giai đoạn triển khai thì đã bị đánh tan. Âm mưu của địch đã bị phá ngay từ trong thời kỳ còn trứng nước.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:35:48 am
Quân địch từ tiến công phải chuyển sang phòng ngự. Không bỏ lỡ thời cơ, quân ta từ phản công liền nhanh chóng chuyển sang tiến công. Đòn đột kích của quân ta nhằm vào cứ điểm Ngọc Rinh Rua, một cái chốt quan trọng nằm trên tuyến tiền duyên án ngữ vòng ngoài, bảo vệ cho tuyến phòng ngự cơ bản Đắc Tô - Tân Cảnh. Cứ điểm Ngọc Rinh Rua là một căn cứ hỏa lực và cũng là một căn cứ trinh sát điện tử, do một tiểu đoàn quân địch đóng giữ. Quân giải phóng đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở cứ điểm này, tiêu diệt và đánh thiệt hại thêm một số tiểu đoàn thuộc sư đoàn 23 đến cứu viện. Thế là cuộc tiến công của quân đoàn 2 vào vùng ba biên giới để phối hợp với Đường 9 - Nam Lào của địch cũng bị thất bại thảm hại.


Ở miền Đông Nam Bộ và vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, trên các khu vực Tây Ninh - Kréc và Lộc Ninh - Xnun, quân địch không còn sức tiến công. Chúng hoàn toàn nằm ở thế phòng ngự. Nắm được chỗ yếu này của địch, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân giải phóng Cam-pu-chia liền mở cuộc tiến công để phối hợp cùng với hướng Đường 9 - Nam Lào.


Quân địch ở vùng biên giới này bị tiến công toàn diện trên tất cả các hướng từ Tây Ninh, Lộc Ninh đến đồn điền cao su Suông, Chúp, Kréc và Xnun. Đây là một tuyến vòng ngoài, mỏng yếu và dễ bị cô lập. Lực lượng dự bị tại chiến trường cũng yếu và không có lực lượng dự bị chiến lược. Do đó, sau một thời gian bị tiến công mạnh và liên tục chúng không có lực lượng ứng cứu nên bị thiệt hại nặng, phải rút khỏi Xnun và một số khu vực. Thế là quân ngụy Sài Gòn ở vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia này cũng bị một đòn đau, một thất bại nặng nề, gần giống như đòn thất bại thảm hại ở Đường 9 - Nam Lào. Ở đây chúng không còn đủ sức giữ được trận địa và phải co hẹp địa bàn của chúng lại. Điều đó chứng tỏ một sự thay đổi so sánh lực lượng, một sự chuyển biến về cục diện đã diễn ra ở khu vực này.


Để phối hợp với các đòn tác chiến tập trung của chủ lực Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Quân giải phóng nhân dân Lào và Quân giải phóng Cam-pu-chia, ở vùng đồng bằng miền Trung Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đơn vị quân ta cũng mở các đợt tác chiến mạnh, diệt được nhiều địch, mở được nhiều mảng giải phóng, giam chân thu hút được một số lớn quân địch tại đó, khiến chúng không thể tập trung được lực lượng để cơ động đi ứng cứu cho Đường 9 - Nam Lào và Xnun, Lộc Ninh. Thất bại của quân ngụy Sài Gòn ở Đường 9 - Nam Lào và ở vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, Lộc Ninh - Xnun là rất nghiêm trọng. Nó chứng tở sự kém cỏi về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của quân địch.


Ở Đường 9 - Nam Lào, quân địch bị thất bại trong tiến công. Ở Lộc Ninh - Xnun, chúng bị thất bại trong phòng ngự. Thất bại của địch không phải xảy ra trong một cuộc tiến công nhỏ, tiến công thường mà là một cuộc phản công lớn có ý nghĩa chiến lược, với mục đích kiên quyết chiếm lĩnh lãnh thổ của đôĩ phương, phá hủy cơ sở vật chất, hậu cần của đối phương, cắt đứt đường vận chuyển chiến lược của đối phương làm cho đối phương bị kiệt quệ rồi chết dần chết mòn. Muc đích lớn và hiểm ác đó hoàn toàn bị thất bại.

Vậy nguyên nhân gì đã đưa quân địch đến sự thất bại?

Trước hết, về mặt chiến lược, quân địch chọn mục tiêu tiến công vào tuyến tiếp tế chiến lược của đối phương là một đòn đánh hiểm, nhưng tham vọng của chúng quá lớn. Quân địch chọn hướng phản công chiến lược vào một nơi mà đối phương rất mạnh. Đó là một sai lầm về chiến lược.


Về mặt chiến dịch, chúng đã thiếu phần thận trọng và phạm phải tính chủ quan. Ỷ vào số quân đông, vào hỏa lực mạnh, khả năng cơ động cao và sức đột kích của xe tăng, chúng đã tiến công một cách ào ạt, với tốc độ cao, chiều sâu lớn, chính diện rộng, trong một thời gian ngắn, vào một nơi địa hình hiểm trở. Hành động chiến dịch này làm cho đội hình chiến dịch của chúng bị rời rạc, lỏng lẻo, không dựa được vào nhau một cách chặt chẽ; các mũi, các cánh dễ bị cô lập. Khi bị đối phương quật lại mạnh mẽ thì đội hình chiến dịch của địch đâm ra rối loạn. Gặp địa hình hiểm trở, lại gặp một đối thủ mạnh nên chỗ mạnh của địch không phát huy được và tỏ ra kém hiệu lực. Các binh đoàn bọc thép của địch chỉ hành động được một cách khó khăn theo dọc đường và hai bên ven gần trên trục đường 9. Máy bay lên thẳng của địch được huy động tới mức rất cao, nhưng lại vấp phải một lưới lửa dày đặc và chính xác của hàng trăm khẩu súng cao xạ các loại của đối phương, pháo binh của địch tuy mạnh, nhưng lại không đối chọi được với pháo binh của đối phương. Tình hình trên đây đã chứng tở sự kém cỏi của địch về mặt chiến dịch.


Về mặt chiến thuật và chiến đấu thì quân địch lại càng kém cỏi hơn. Chiến đấu là cơ sở của chiến thuật, chiến dịch và chiến lược. Chiến lược và chiến dịch chỉ đạo chiến thuật và chiến đấu nhưng chiến thuật và chiến đấu lại thực hiện nhiệm vụ chiến dịch và chiến lược. Quân địch có nhiều vật chất, phương tiện và cũng có một ít kỹ năng nhưng tinh thần chiến đấu của chúng rất kém, do đó trình độ chiến đấu của chúng cũng kém. Chiến đấu kém tất phải dẫn đến chiến thuật kém, mà chiến thuật kém thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ chiến dịch. Những chiến thuật cơ bản của địch đều đã không thành công. Chiến thuật đóng chốt trên điểm cao, cấp tiểu đoàn, với công sự dã chiến tương đối vững chắc, dưới sự yểm hộ của hỏa lực không quân và pháo binh bị thất bại. Chiến thuật đóng chốt trên điểm cao, cấp trung đoàn, cũng bị thất bại nốt. Đây là chiến thuật chủ yếu của địch. Chiến thuật chủ yếu bị thất bại sẽ kéo theo thất bại của tất cả các thứ chiến thuật khác, chứng tỏ thất bại của toàn bộ sự hợp thành chiến thuật của địch. Chiến thuật đột kích bằng vỏ thép cũng bị bẹp dúm trước bức tường đồng và trước những mũi dùi kim cương của đối phương. Chiến thuật hạ cánh đường không - một điều kiện quan trọng cho sự hình thành chiến thuật "nhảy cóc", đóng chốt sâu vào phía sau của đối phương, nhất là ở địa hình rừng núi, cũng bị thất bại. Chiến thuật căn cứ hỏa lực, một nhân tố không thể thiếu được của tác chiến hợp đồng binh chủng cũng bị thất bại nặng. Chiến thuật chi viện bằng không quân "quả chùy thép" cũng kém tác dụng, vì sự kém cỏi của các chiến thuật khác. Trong thất bại của sức mạnh chiến đấu, thì sức mạnh của hạ cánh đường không, của mũi dùi thép và của hỏa lực pháo binh là bị thất bại nặng nề nhất. Thất bại về từng thứ chiến thuật của địch đã phơi bày thất bại của toàn bộ chiến thuật hợp thành của chúng và thất bại về chiến thuật tất phải dẫn đến thất bại về chiến dịch. Đó là những nguyên nhân vì sao cuộc phản công chiến lược quy mô lớn của địch vào Đường 9 - Nam Lào đã bị thất bại.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:37:33 am
Còn thất bại của địch ở Xnun - Lộc Ninh thì có tính chất như thế nào?

Về quy mô, phạm vi và tầm chiến lược thì thất bại của địch ở Xnun - Lộc Ninh không lớn bằng thất bại ở Đường 9 - Nam Lào. Nhưng nói về tính chất của sự vận động của chiến tranh, về hình thái chiến tranh và thế trận chiến lược thì nó cũng có ý nghĩa lớn. Vì ở đây thế trận của địch đã bị phá vỡ và chúng đã phải co hẹp địa bàn lãnh thổ lại; ở đây lần đầu tiên một tuyến phòng ngự của địch đã bị phá vỡ và bị đánh chiếm, tuy nó là một tuyến tiền duyên. Điều này chứng tỏ quân địch không còn khả năng giữ được lãnh thổ của chúng ở vòng ngoài xa xôi và cũng không còn khả năng phản kích để chiếm lại, do đó phải nhường cho đối phương.


Tiến công không thắng lợi hoặc bị thất bại nặng phải co về phòng ngự thì hình thái cơ bản không có gì thay đổi lớn.

Song nếu như phòng ngự không giữ được trận địa, lãnh thổ bị mất, bị chiếm thì hình thái bắt đầu có sự thay đổi. Đây là đứng về mặt lý luận mà nói. Về thực tế thì còn phải nghiên cứu cụ thể hơn. Phải nghiên cứu một bước về mặt sinh lực xem lực lượng bị tiêu diệt nhiều hay ít, lực lượng đó quan trọng hay không quan trọng? Ở Đường 9 - Nam Lào, quân địch bị tiêu diệt một sinh lực địch rất quan trọng, có thể làm nghiêng cán cân về so sánh lực lượng. Sinh lực là một vấn đề cơ bản và chủ yếu của chiến tranh. Giá trị thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào là ở chỗ đó. Giá trị về tiêu diệt sinh lực ở Đường 9 - Nam Lào còn là tiêu diệt được những tập đoàn lớn của địch bao gồm những đơn vị cơ động chiến lược, những đơn vị tinh nhuệ nhất của địch. Nó chứng tỏ trình độ đánh tiêu diệt của các lực lượng vũ trang cách mạng đã có một chất lượng mới, một bước phát triển mới. Ở Xnun - Lộc Ninh, sinh lực của địch bị tiêu diệt không quan trọng bằng Đường 9 - Nam Lào. Vấn đề Xnun - Lộc Ninh là vấn đề trận địa, lãnh thổ, vấn đề một tuyến phòng ngự. Giá trị của nó lại ở một mặt khác. Dĩ nhiên, như trên đã nói, tuyến phòng ngự của địch ở đây không phải là một tuyến quan trọng, cơ bản, chủ yếu. Tuyến này bị phá vỡ, bị mất, bị chiếm lĩnh cũng chưa tác động nhiều và gây ra đảo lộn trong thế trận chung, hình thái chung của địch. Ở đây thế trận của địch mới bị phá vỡ một khâu nhỏ, vẫn còn giữ được tính vững chắc của thế trận chung, hình thái chung. Phía ta cũng chỉ mới phá vỡ được một thế trận nhỏ của địch, một tuyến phòng ngự tiền duyên xa ngoài cùng của địch. Do đó ý nghĩa thực tiễn về phá vỡ phòng ngự của địch cũng có hạn. Tuy nhiên thắng lợi đó cũng mở ra một vấn đề mới, gây được một mầm mống mới trong sự vận động và phát triển của chiến tranh, đưa cuộc chiến tranh phát triển lên một bước mới, bước phát triển theo đúng phương hướng của giai đoạn tiến công chiến lược, giai đoạn đánh vào tuyến phòng ngự của địch, phá vỡ phòng ngự của địch, giải phóng đất đai, một bước phát triển cao của chiến tranh.


Qua chiến cục năm 1971, quân địch đã bị suy yếu một bước nghiêm trọng. Các âm mưu, ý đồ chiến lược của địch đã bị thất bại hoàn toàn. Những thủ đoạn, phương pháp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của địch cũng đã không đứng vững, không phát huy được hết tác dụng của nó và đã bị một bước thất bại. Đây là một điều rất quan trọng, rất cơ bản. Âm mưu, ý đồ chiến lược có thực hiện được hay không là do các thủ đoạn, phương pháp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật có thành công hay không? Các thứ này không thành công thì âm mưu, ý đồ cùng không thực hiện được. Các thủ đoạn cơ bản về tiến công và phòng ngự đều thất bại sẽ đặt ra một tiền đề cho sự chuyển biến chiến tranh sau này.


Thất bại trong năm 1971 của địch đánh dấu thất bại nghiêm trọng của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Ních-xơn. Thắng lợi của quân dân ba nước Đông Dương trong năm 1971 đã tạo ra so sánh lực lượng mới có lợi cho phía cách mạng. Thắng lợi đó đã tạo ra một thời cơ chiến lược mới cho quân dân ba nước Đông Dương tiếp tục tiến lên đánh đòn chiến lược mới to lớn hơn, giành thắng lợi to lớn hơn, đưa cuộc chiến tranh cách mạng phát triển lên một bước mới có ý nghĩa chiến lược quyết định hơn.


Thất bại nặng nề của địch trong năm 1971 đã tạo ra một sự chuyển biến về chiến lược trong chiến tranh, nhưng cũng chưa phải là lớn lắm. Địch đã bị suy yếu về thế, song quân của chúng còn đông, lực của chúng còn tương đối mạnh. Nước Mỹ có bị suy yếu, nhưng tiềm lực chiến tranh của nó vẫn còn dồi dào.


Sau thất bại năm 1971, quân địch đã thực sự đi vào thế phòng ngự. Thất bại của địch trong năm 1971 có hai điều có ý nghĩa về mặt chiến lược.

Thứ nhất là quân địch đã bị tiêu diệt những đơn vị tương đối lớn cỡ trung đoàn, lữ đoàn. Những đơn vị trung đoàn, lữ đoàn đó lại thuộc các binh đoàn cơ động chiến lược tinh nhuệ nhất.

Ở chiến trường Việt Nam, trung đoàn, lữ đoàn thông thường là đơn vị chiến thuật cấp cao, là thành phần cơ bản của chiến dịch. Trung đoàn và lữ đoàn thường đảm nhiệm một cánh hoặc một mũi của chiến dịch. Một trung đoàn hoặc vài trung đoàn bị tiêu diệt thì chiến dịch có thể bị đánh bại. Các chiến dịch nhỏ và vừa thông thường do cấp sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường đảm nhiệm gồm hai hoặc ba trung đoàn, lữ đoàn; cũng có khi bốn hoặc năm trung đoàn, lữ đoàn. Trong trường hợp này, cấp trung đoàn, lữ đoàn là đơn vị chiến thuật cấp cao và là thành phần cơ bản để tổ chức chiến dịch. Trong một số trường hợp khác, các chiến dịch lớn hơn do cấp quân đoàn đảm nhiệm, gồm vài ba sư đoàn thì lúc này sư đoàn lại là đơn vị chiến thuật cấp cao và là thành phần cơ bản của chiến dịch. Năm 1971, các đơn vị cấp trung đoàn, lữ đoàn của địch bị tiêu diệt đã đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự suy sụp trong khả năng tiến công của địch, đã đặt ra một tiền đề về xu hướng chuyển vào phòng ngự chiến lược trong chiến tranh.


Ý nghĩa thứ hai về thất bại của địch trong năm 1971 là sự báo hiệu về khả năng đổ vỡ trong phòng ngự. Tuyến phòng ngự vành ngoài xa của địch đã bị phá vỡ. Khả năng và thủ đoạn phòng ngự chung của địch đã bị lung lay. Quân địch tiến công xa không được và phòng ngự xa cũng không xong.


Đó là hai chuyển biến mới và lớn trong chiến tranh. Những chuyển biến này sẽ dẫn tới sự thay đổi quan trọng về thế và lực trong chiến tranh, sẽ có thể dẫn tới khả năng thay đổi một hình thái mới trong chiến tranh.


Thất bại trong năm 1971 của địch là một thất bại bước đầu của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "học thuyết Ních-xơn" ờ Đông Dương. Thất bại đó đã đưa cuộc chiến tranh xâm lược đi vào đúng quy luật của nó.


Sau mùa xuân năm 1971, quân ngụy phải chuyển vào thế phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường. Còn Quân giải phóng thì lớn mạnh lên về mọi mặt. Trình độ tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và trình độ đánh công sự vững chắc đã có tiến bộ. Thế chiến lược đã phát triển có lợi cho Quân giải phóng. Sự so sánh về thế và lực đã tạo ra thời cơ thuận lợi cho Quân giải phóng tiến lên đánh những đòn tiêu diệt lớn hơn, giành thắng lợi to lớn hơn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:45:48 am
Sau thất bại mùa xuân năm 1971, quân địch phải dành cả thời gian năm 1971 để củng cố, hồi phục lại lực lượng. Sau thắng lợi mùa xuân năm 1971, Quân giải phóng tích cực tiến hành công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn trong năm 1972.


Nắm được tình hình quân địch không còn khả năng tiến công và đã phải chuyển vào phòng ngự trên toàn chiến trường. Quân giải phóng chuyển sang mở một cuộc tiến công chiến lược lớn vào mùa xuân hè 1972. Cuộc tiến công này nhằm tiêu diệt một số đơn vị lớn của địch, phá vỡ một số tuyến phòng ngự cơ bản của chúng, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, giành lấy thế tiến công chiến lược về tay Quân giải phóng, đẩy quân địch lún sâu hơn nữa vào thế phòng ngự bị động.


Đạt được mục đích đó, ta sẽ đẩy quân địch đi xuống một bước thất bại nghiêm trọng hơn, làm cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" bị thất bại một bước nặng nề hơn, tạo ra một cục diện mới, một bước ngoặt trong chiến tranh, đưa cuộc cách mạng tiến lên những bước phát triển mới.


Năm 1972, quân ngụy Sài Gòn bị suy yếu một bước tương đối nặng nề. Cũng trong năm này, ở Mỹ có cuộc bầu cử tổng thống mới. Vấn đề giải quyết chiến tranh ở Việt Nam vẫn là nước cờ chính trong cuộc chạy đua vào Nhà trắng giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. Tiếp tục rút quân Mỹ, giảm nhẹ gánh nặng chiến tranh của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam để lừa bịp dân Mỹ là một thế cờ mạnh của Ních-Xơn. Song, lục quân Mỹ tiếp tục rút khỏi Việt Nam và hạn chế tới mức tối thiểu trong việc dính líu trực tiếp vào cuộc chiến tranh tất làm cho quân ngụy đã yếu lại càng thêm yếu, tuy không quân và hải quân Mỹ còn tham gia ở mức độ quan trọng. Tình hình trên đây làm cho quân ngụy không những không còn khả năng tiến công, mà khả năng phòng ngự cũng khó có thể vững chắc. Đó là điều kiện thuận lợi, là thời cơ chiến lược cho quân và dân miền Nam trong năm 1972.


Đứng trước thời cơ chiến lược đó, cuộc tiến công chiến lược lớn của quân dân miền Nam được mở ra trên toàn chiến trường.

Trong thế phòng ngự trên toàn chiến trường, quân địch rất coi trọng hướng Trị - Thiên, nhưng chúng lại phán đoán đối phương có thể mở hướng tiến công chủ yếu ở chiến trường Tây Nguyên.

Ở Trị - Thiên, chúng sử dụng 2 sư đoàn bộ binh số 1, số 3 và sư đoàn lính thủy đánh bộ, 14 tiểu đoàn pháo binh và 3 trung đoàn thiết giáp để tiến hành phòng ngự. Ngoài ra, địch còn có trung đoàn bộ binh độc lập số 51 và 1 liên đoàn biệt động quân.


Ở Tây Nguyên, quân địch có sư đoàn 23 và sư đoàn 22 thiếu cùng 3 trung đoàn thiết giáp và liên đoàn biệt động quân số 2.

Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân địch có 3 sư đoàn bộ binh số 5, số 25, số 18 cùng 21 chi đoàn thiết giáp và 4 liên đoàn biệt động quân.

Ở các chiến trường khác, quân địch không có gì thay đổi quan trọng.

Vào khoảng tháng 1 và tháng 2 năm 1972, thấy Quân giải phóng tiến hành chuẩn bị chiến trường và cơ động lực lượng, quân địch càng tin rằng hướng tiến công chủ yếu của đối phương là ở Tây Nguyên. Để đối phó với tình huống đó, quân địch đã điều 1 lữ đoàn của sư đoàn dù lên Tây Nguyên để tăng cường cho quân đoàn 2. Đó là một xử trí tương đối hợp lý về mặt chiến lược.


Vì sao quân địch chỉ mới điều động có một lữ đoàn cơ động lên Tây Nguyên, mặc dầu chúng đã xác định bước đầu hướng phòng ngự chủ yếu và đã có quyết tâm đầu tiên về việc phải tăng cường tổ chức phòng ngự trên hướng phòng ngự ấy?


Vì đó mới chỉ là quyết tâm bước đầu. Chiến sự chưa thật sự xảy ra. Ý đồ của đối phương chưa được xác định một cách thật rõ ràng. Lực lượng dự bị chiến lược nắm trong tay bộ chỉ huy quân ngụy Sài Gòn chỉ có một sư đoàn và một lữ đoàn, nếu tung ra hết cả thì chúng chỉ còn tay không. Hơn nữa quân ngụy Sài Gòn lại có ưu thế về cơ động. Chúng có thể điều động lực lượng dự bị một cách nhanh chóng, dễ dàng.


Quân giải phóng và quân ngụy Sài Gòn đều ráo riết chuẩn bị để bước vào cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt. Quân địch ráo riết chuẩn bị phòng ngự. Quân giải phóng khẩn trương và tích cực chuẩn bị tiến công.


Để củng cố phòng ngự và để tăng cường tính vững chắc của phòng ngụ, quân địch đã sử dụng lực lượng dự bị chiến lược ra tuyến trước đảm nhiệm thê đội một phòng ngự. Lữ đoàn dù tăng cường cho chiến trường Tây Nguyên được đưa ra tổ chức một tuyến phòng ngự lâm thời, ngăn chặn từ xa, vượt qua tuyến phòng ngự của sư đoàn 23, tiến ra chiếm lĩnh dãy cao điểm ở phía tây sông Pô Cô từ phía nam điểm cao Ngọc Bơ Biêng đến điểm cao Chư Cô Tông và tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn từ xa ở khu vực đó.


Ở chiến trường Trị - Thiên, lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ ngụy cũng đảm nhiệm phòng ngự trên tuyến tiền duyên, phía nam tuyến phòng ngự của trung đoàn 56.

Sử dụng lực lượng dự bị chiến lược làm thê đội một phòng ngự là một điều dở của quân địch. Điều này chứng tỏ bộ chỉ huy quân ngụy không tin ở sức chiến đấu của các sư đoàn chủ lực của các quân đoàn. Lực lượng dự bị chiến lược được đưa ra phía trước một khi đã bị tiêu diệt hoặc bị đánh tan thì trong tay bộ tư lệnh chiến dịch không còn một quả đấm mạnh để đối phó với các tình huống hiểm nghèo. Lực lượng dự bị ở tuyến trước bị tiêu diệt hoặc bị đánh tan thì các tuyến ở phía sau và toàn bộ đội hình, toàn bộ thế trận có thể bị sụp đổ. Đó vừa là cái dở của địch và cũng lại vừa là cái yếu của địch. Chúng tưởng rằng đưa lực lượng hùng hậu, tinh nhuệ ra phòng ngự ngăn chặn ở phía trước từ xa thì có thể bảo đảm được tính vững chắc của phòng ngự, bảo vệ được trận địa, bảo vệ được đất đai của chúng.


Còn Quân giải phóng thì lại cho rằng đó là một dịp tốt để ta có điều kiện tiêu diệt lực lượng mạnh nhất của địch một cách dễ dàng hơn, rồi nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng khác của địch và nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng ngự của địch.


Vào tháng 2 và tháng 3 năm 1972, hai bên đều ráo riết tiến hành các công tác chuẩn bị và cơ động lực lượng. Quân giải phóng chuẩn bị tiến công. Quân địch chuẩn bị phòng ngự.

Quân giải phóng tiến hành chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn hiệp đồng binh chủng một cách rầm rộ, thế mà quân địch vẫn không dám tiến hành phản chuẩn bị, dù rằng các lực lượng dự bị chiến lược của chúng đã tiến ra phía trước. Rõ ràng quân địch đã ở vào tư thế phòng ngự. Do đó, Quân giải phóng đã tiến hành công tác chuẩn bị được thuận lợi, theo như kế hoạch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:50:47 am
Ngày 30 tháng 3 năm 1972, cuộc tiến công chiến lược lớn của Quân giải phóng bắt đầu.

Những viên đạn đại bác các cỡ đã bay vút ra khỏi nòng pháo, trút vào đầu quân thù, mở đầu cho cuộc tiến công lớn này trên khắp mọi chiến trường.

Các hướng tiến công lớn cỏa Quân giải phóng diễn ra ở chiến trường Trị - Thiên, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Các chiến trường khác là hướng phối hợp, đều cùng tiến hành đồng loạt tiến công.

Ở chiến trường Trị - Thiên, cuộc tiến công của Quân giải phóng nổ ra mạnh mẽ nhất, ở đây, chỉ trong năm, sáu ngày (từ 30-3-1972 đến 3-4-1972), toàn bộ tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch chạy dọc theo sườn bắc đường 9, ở phía bắc Đông Hà, đến phía tây Cam Lộ gồm 15 cứ điểm công sự vững chắc từ điểm cao 554 đến Gio Linh, Cam Lộ đã bị đập nát. Đây là tuyến phòng ngự vững chắc nhất của địch ở chiến trường Trị - Thiên và cũng là tuyến phòng ngự vững chắc nhất của toàn miền Nam. Nó là tuyến phòng ngự Mắc Na-ma-ra cũ của quân Mỹ. Trên tuyến phòng ngự này, trung đoàn số 56, 57, lữ đoàn số 147 và 2 trung đoàn thiết giáp về cơ bản đã bị tiêu diệt. Toàn bộ tuyến phòng ngự tiền duyên của địch bị phá vỡ, cánh cửa đi vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch ở Đông Hà, Quảng Trị đã mở toang trên các hướng. Hai khu trung tâm phòng ngự của địch ở Đông Hà và Quảng Trị bị uy hiếp nặng nề.


Không bỏ 15 thời cơ và không cho quân địch có thời gian củng cố phòng ngự, Quân giải phóng liền mở ngay cuộc tiến công tiếp sau vào tuyến phòng ngự cơ bản của chúng. Mục tiêu chủ yếu nhằm đánh vào hai cụm phòng ngự mạnh của địch ở Đông Hà và Quảng Trị trong tập đoàn phía bắc của địch ở chiến trường Trị - Thiên mà cơ quan chỉ huy của nó là sở chỉ huy sư đoàn 3 bộ binh quân ngụy ở Ái Tử.


Quân giải phóng chia làm 4 cánh tiến công đánh vào Đông Hà và Quảng Trị. Cánh thứ nhất đánh vào phía đông Đông Hà và Quảng Trị. Cánh thứ hai đánh vào phía bắc Đông Hà. Cánh thứ ba đánh vào phía tây Đông Hà và Quảng Trị. Cánh thứ tư đánh vào phía nam Quảng Trị. Trong bốn cánh này thì cánh đánh vào phía tây Đông Hà và Quảng Trị là cánh chủ yếu và mũi đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 3 là mũi đột kích chủ yếu. Cánh đánh vào phía nam Quảng Trị là cánh bao vây, chia cắt tập đoàn Quảng Trị với hậu tuyến của địch ở Thừa Thiên. Cánh phía đông Đông Hà - Quảng Trị là cánh vu hồi chiến dịch.


Sau khi bị tiêu diệt và bị mất tuyến phòng ngự tiền duyên, tập đoàn Quảng Trị (tập đoàn bắc Trị - Thiên) của địch đã bị suy yếu nghiêm trọng. Chúng co đội hình lại và đưa lực lượng phía trong ra, tổ chức thành ba cụm phòng ngự Đông Hà, Ái Tử và La Vang, Quảng Trị. Các đơn vị còn lại của tập đoàn này gồm sư đoàn bộ binh số 3 thiếu, 3 liên đoàn biệt động quân lữ 147 lính thủy đánh bộ và các trung đoàn bọc thép số 20, 17, 11, 18 cùng 7 tiểu đoàn pháo binh. Để chi viện hỏa lực cho tập đoàn này chiến đấu, quân địch đã sử dụng sư đoàn không quân của quân đoàn 1 ngụy và các đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7 Mỹ, các đơn vị máy bay ném bom chiến lược B.52 cùng các pháo hạm của hạm đội 7 Mỹ.


Sau một thời gian chuẩn bị ngắn, Quân giải phóng đã nhanh chóng cơ động lực lượng hình thành thế trận bao vây tập đoàn Quảng Trị. Các binh đoàn binh chủng hợp thành của Quân giải phóng gồm các đơn vị bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ và tên lửa phòng không, mở những đòn đột kích mạnh mẽ tiến công vào các cụm Đông Hà và Ái Tử, đồng thời chia cắt quân địch giữa Quảng Trị và Thừa Thiên, ngăn chặn không cho thê đội hai chiến dịch và chiến lược của địch từ Thừa Thiên phản công ra Quảng Trị.


Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Quân giải phóng đã phát triển vào chiều sâu chiến dịch để tiến hành một trận quyết chiến chiến dịch của chiến dịch đầu trong chiến cục tiến công Xuân Hè trên hướng chiến lược chủ yếu này.


Khi đã phát hiện ra hướng tiến công chủ yếu của Quân giải phóng, bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Đông Dương và bộ chỉ huy quân Mỹ ở Thái Bình Dương liên tập trung phần lớn không quân và hải quân Mỹ để chi viện hỏa lực cho quân ngụy. Với hỏa lực của không quân và hải quân, bộ chỉ huy quân Mỹ hy vọng sẽ chặn đứng được cuộc tiến công của Quân giải phóng, hòng cứu cho quân ngụy khỏi bị tiêu diệt và tan vỡ.


Với khí thế dời non lấp biển, với lòng dũng cảm vô song, với trí thông minh tuyệt vời và nghệ thuật tài giỏi, Quân giải phóng đã vượt qua những làn bom đạn dày đặc của máy bay B.52 và lưới lửa pháo binh dày đặc của các chiến hạm Mỹ, mạnh mẽ tiến tới trận địa của địch. Lưới lửa phòng không có hiệu lực của Quân giải phóng đã yểm hộ cho đội hình chiến đấu rất có hiệu quả. Hỏa lực pháo binh của Quân giải phóng đã chế áp được các trận địa pháo binh và xe tăng, phá hủy công sự, sát thương nặng nề sinh lực, làm rối loạn chỉ huy của địch và chi viện đắc lực cho các binh đoàn bộ binh và xe tăng của quân ta đột phá vào tuyến phòng ngự của địch. Bộ đội công binh và bộ đội vận tải đã mở đường và tiếp tế cho các binh đoàn binh chủng hợp thành của Quân giải phóng chiến đấu và phát triển tiến công được thuận lợi, kịp thời. Bộ đội địa phương và dân quân du kích, phối hợp với các binh đoàn chủ lực, đã tác chiến ở đằng sau lưng địch, tiêu diệt nhỏ và tiêu hao rộng rãi quân địch gây cho chúng một số khó khăn.


Với sức mạnh tổng hợp trên, ngày 27 tháng 4 năm 1972 và ngày 30 tháng 4 năm 1972, Quân giải phóng đã đột phá vào trận địa phòng ngự của địch, tiêu diệt và chiếm lĩnh được các cụm Đông Hà và Ái Tử. Một đội tiên phong nhỏ của Quân giải phóng đã dũng cảm, nhanh chóng tiến đánh cầu Quảng Trị. Tập đoàn bắc Trị - Thiên của địch đã cơ bản bị tiêu diệt. Thế trận bắc Trị - Thiên của địch cơ bản đã bị phá vỡ. Sức chống cự của địch cơ bản đã bị đập tan. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân địch ở Quảng Trị đã bỏ vị trí chiến đấu của mình, vội vã tháo chạy về phía nam theo hướng Mỹ Chánh thuộc tỉnh Thừa Thiên. Quân giải phóng liền nhanh chóng đánh chiếm thị xã Quảng Trị và truy kích quân địch.


Tỉnh Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng. Quân giải phóng tiến tới giáp giới phía bắc tỉnh Thừa Thiên. Ngụy quân và ngụy quyền trong thành phố Huế sống trong những giờ phút hãi hùng và trở nên vô cùng hỗn loạn.


Trong chiến dịch này, Quân giải phóng đã tiêu diệt tập đoàn bắc Trị - Thiên của địch gồm sư đoàn 3 bộ binh cùng với 2 liên đoàn biệt động, 3 trung đoàn số 2, 56, 57, các trung đoàn thiết giáp số 20, 17, 11 và 5 chi đoàn khác, 14 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 147 và liên đoàn 1 biệt động; tiêu diệt và làm tan rã 5 liên đội, 56 đại đội và 162 trung đội bảo an, dân vệ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:51:42 am
Tình thế thật nguy kịch. Bộ chỉ huy của tướng Mỹ A-bram phải vội vã điều các lữ đoàn của sư đoàn dù ngụy từ chiến trường Tây Nguyên và chiến trường miền Đông Nam Bộ về cứu nguy cho tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.


Thế là chỉ trong một thời gian ngắn từ 30 tháng 3 năm 1972 đến 2 tháng 5 năm 1972, một tập đoàn binh lực lớn của địch chiếm giữ một phòng tuyến mạnh nhất Đông Dương đã bị tiêu diệt và đập tan.

Quân địch có số quân đông, có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao và lại có công sự vững chắc. Nhưng tại sao chúng lại thua nhanh, thua nặng như thế. Nguyên nhân cũng dễ hiểu. Đó là vì tinh thần chiến đấu của chúng rất kém và chỉ huy của chúng tồi. Nhưng thế cũng chưa đủ. Ta phải tìm thêm nguyên nhân ở đối phương của địch.


Với nghệ thuật quân sự tài giỏi, bộ chỉ huy Quân giải phóng đã làm cho quân địch phải phân tán đối phó ở khắp các chiến trường miền Nam. Ở ngay chiến trường Trị - Thiên, quân địch cũng phải phân tán đối phó vì cuộc tiến công đồng loạt trên các hướng của đối phương. Sức cơ động cao của địch đã bị hạn chế vào lúc ban đầu trên toàn chiến trường cũng như ở ngay tại chiến trường này.


Địch có hỏa lực mạnh, nhưng hỏa lực của Quân giải phóng cũng không phải là kém. Quân giải phóng lại biết tập trung hỏa lực vào trọng điểm và vào các mục tiêu định tiến công để đánh tiêu diệt, đồng thời lại biết giành ưu thế về lực lượng, ưu thế về chủ động và ưu thế về bất ngờ lúc ban đầu để đánh đòn đột nhiên, mãnh liệt cả về binh lực và hỏa lực trên một chính diện rộng ở toàn tuyến phòng ngự của địch kết hợp với những mũi tiến công hiểm, thọc sâu đánh vào cạnh sườn và sau lưng trận địa phòng ngự địch, làm cho địch hoang mang rối loạn ngay từ đầu, không có cách gì xoay xở, đối phó được. Địch có công sự vững chắc, nhưng Quân giải phóng lại tiến công bằng bộ đội binh chủng hợp thành có sức đột kích tổng hợp mạnh của bộ binh, pháo binh và xe tăng.


Điều quan trọng hơn nữa là Quân giải phóng có tinh thần cao và có nghệ thuật chỉ huy giỏi. Quân giải phóng đã tập trung lực lượng đánh vào hai bên sườn của địch, đánh vào chỗ yếu của địch. Trên chỗ yếu đó lại tập trung lực lượng đánh thật mạnh, đánh đòn quyết định vào nơi hiểm. Các điểm phòng ngự hiểm yếu của địch ở hướng bên sườn bị đánh đòn khủng khiếp thì toàn bộ đội hình, thế trận phòng ngự của địch sẽ bị tan vỡ một cách nhanh chóng. Các mũi dao sắc chọc sườn vô cùng lợi hại.


Để phối hợp với chiến trường Trị - Thiên, ở các mặt trận khác Quân giải phóng cũng đồng loạt mở các đòn tiến công mạnh mẽ, nhịp nhàng.

Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, các binh đoàn chủ lực của Quân giải phóng mở một chính diện tiến công rộng lớn từ tỉnh Tây Ninh đến tỉnh Bình Long và Phước Long. Chiều sâu tiến công từ Lộc Ninh đến Chơn Thành, Lai Khê.


Quân địch phòng giữ trên địa bàn này gồm các sư đoàn số 5, 18, 25, các liên đoàn biệt động quân số 4, 5, 6, 333, các trung đoàn thiết giáp số 1, 10, 15, 18, 6 và 8 tiểu đoàn biên phòng, được tăng cường 2 lữ đoàn dù và 1 lữ đoàn lính thủy đánh bộ thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược.


Thế trận phòng ngự của chúng được tổ chức thành các tuyến ngang và các tuyến dọc như sau:

Tuyến tiền duyên chạy dọc theo biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia từ Xa Mát qua Cà Tum, Tống Lê Chân đến Bù Đốp.

Tuyến cơ bản chạy từ thị xã Tây Ninh qua thị xã An Lộc đến thị xã Sông Bé.

Giữa tuyến tiền duyên đến tuyến cơ bản có tuyến trung gian. Sau tuyến cơ bản là các tuyến hậu phương.

Trận địa phòng ngự của địch không hình thành trận tuyến kiểu phòng tuyến, kiểu chiến hào liên tục hoặc chiến hào đứt đoạn. Nó do các cứ điểm phòng ngự liên kết với nhau hình thành tuyến phòng ngự đứt đoạn.


Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã phân tích một cách khoa học và biện chứng thế trận của địch, tìm ra hệ thống tổ chức thế trận và thành phần cấu tạo thế trận của chúng, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng và vận dụng cách đánh một cách rất lợi hại.


Thông thường thế trận phòng ngự là ở thế chiều ngang. Nhưng do thế trận phòng ngự của địch là tuyến đứt đoạn, nên nó cũng lại có thế chiều dọc. Và như thế là do cả hai chiều ngang và dọc hình thành. Ở đây thế chiều dọc lại là cốt cán của thế chiều ngang. Hai thế chiều dọc có tác dụng như hai đường gân chính của toàn bộ thế trận là tuyến phòng ngự chạy dọc theo đường số 13 từ Lộc Ninh qua An Lộc, Chơn Thành đến Lai Khê, và tuyến đường 22 chạy từ Thiện Ngôn qua Trại Bí đến thị xã Tây Ninh.


Phá vỡ được hai tuyến phòng ngự chính chạy dọc theo hai con đường này thì toàn bộ thế trận của địch ở trên địa bàn hai tỉnh Bình Long và Tây Ninh sẽ bị phá vỡ.

Phân tích được các đầu mối quan trọng của thế trận địch, Quân giải phóng đã tập trung lực lượng phá vỡ các đầu mối quan trọng đó.

Thế trận tiến công của Quân giải phóng là thế trận kết hợp đánh cả vào chiều ngang phòng ngự và chiều dọc phòng ngự của địch, nhưng tập trung lực lượng đánh vào một thế trận phòng ngự cốt cán là tuyến đường 11, từ Lộc Ninh đến Chơn Thành. Do có cách đánh độc đáo nên Quân giải phóng mới vượt qua tuyến phòng ngự chiều ngang để thọc vào chiều sâu phòng ngự và đánh vào chiều dọc tuyến phòng ngự cốt cán của địch. Đánh ngay được vào chiều sâu phòng ngự, đập nát và đập gãy được tuyến phòng ngự dọc cốt cán của thế trận phòng ngự của địch thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị tan vỡ. Điểm đúng cái huyệt chính thì toàn bộ quân địch sẽ bị tê liệt. Đó là một nghệ thuật chỉ huy.


Quân giải phóng đã thực hành đột phá trên một chính diện rộng từ Thiện Ngôn đến Bù Đốp, mở một số cửa chiến dịch mà cửa chính là Lộc Ninh để đưa đội hình tiến công vào chiều sâu phòng ngự của địch.


Ở hướng tiến công chính, Quân giải phóng vận dụng cách đánh kết hợp đột phá chính diện với bao vây chia cắt, cô lập, vây hãm thê đội một chiến dịch của địch từ Lộc Ninh đến An Lộc để tiêu diệt chúng. Quân giải phóng đã thực hành tác chiến theo đúng thế trận và cách đánh, đã đột phá thành công, mở được cửa chiến dịch ở Lộc Ninh, tiêu diệt nhanh chóng cụm quân địch phòng ngự ở đây và giải phóng thị trấn Lộc Ninh.


Ở hai bên sườn hướng Lộc Ninh, Quân giải phóng cũng tiến công vào tuyến phòng ngự tiền duyên của địch, tiêu diệt và chiếm lĩnh các cứ điểm Thiện Ngôn, Bù Đốp..., giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, bảo đảm vững chắc và yểm hộ cho hướng tiến công chủ yếu của ta ở Lộc Ninh phát triển tiến công đánh sâu vào trận địa của địch. Sau khi đã nhanh chóng tiêu diệt cụm phòng ngự tiền duyên mạnh của địch ở Lộc Ninh, Quân giải phóng liền phát triển tiến công vào An Lộc.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:52:23 am
Để hiệp đồng với mũi tiến công từ Lộc Ninh vào An Lộc, Quân giải phóng đã cài sẵn một thế trận chia cắt, bao vây An Lộc. Thế trận này được triển khai từ phía nam An Lộc đến Chơn Thành trên đường số 13. Quân giải phóng đã tiêu diệt quân địch cùng các cứ điểm phòng ngự của chúng trên dọc đường, chiếm lĩnh và hoàn toàn làm chủ đoạn đường đó, thực hiện vây hãm hoàn toàn thị xã An Lộc.


Để cứu nguy, giải tỏa cho An Lộc bấy giờ đã bị vây hãm, bộ chỉ huy quân đoàn 3 của địch tung thê đội hai ra phản kích rất quyết liệt. Nhưng chúng không đột phá được trận địa của đối phương, không mở thông được đường, không giải tỏa được cho An Lộc.


Vây hãm được quân địch ở An Lộc rồi, Quân giải phóng liền từ Lộc Ninh tiến đánh An Lộc. Quân địch ở đây đã bị tiêu diệt gần hết, số còn lại cố gắng giữ được khu cố thủ. Trước nguy cơ mất An Lộc, bộ tổng chỉ huy quân địch liền sử dụng một bộ phận quân dù, lực lượng dự bị chiến lược, đổ bộ hạ cánh xuống gần An Lộc để yểm hộ cho cuộc chiến đấu phòng ngự ở đó, đồng thời có một mũi tiến ra đường số 13 để yểm hộ cho cuộc phản kích giải tỏa ở đây. Dựa vào ưu thế không quân, vào máy bay lên thẳng, địch đã tăng được thêm quân, tăng được tiếp tế vật chất, nên chúng đã cứu nguy được cho An Lộc. Mặc dù thế, quân địch ở An Lộc vẫn bị vây hãm, vẫn bị tiêu hao và vẫn ở trong thế phòng ngự bị động chống đỡ. Cuộc phản kích với cố gắng rất lớn mở thông đường 13, giải tỏa cho An Lộc vẫn không thành công. Quân địch đã gặp khó khăn và tổn phí rất nhiều để duy trì cuộc sống cho cụm quân ở An Lộc bằng tiếp tế đường không.


Thế trận vây hãm, cắt đường của Quân giải phóng thật là kỳ diệu. Quân giải phóng đã dựng lên cả một bức tường thép bằng tinh thần, ý chí và tài nghệ chiến đấu trên đường số 13. Cho nên dù đã dùng cả một lực lượng hùng hậu gồm sư đoàn dù, sư đoàn 21, 25 cùng 2 trung đoàn thiết giáp, được sự chi viện của hàng trảm máy bay chiến đấu ném bom và máy bay B.52, trút xuống đoạn đường này hàng vạn tấn bom đạn, quân địch cũng đành phải chịu bó tay. Với một lực lượng lớn như thế, với một số bom đạn nhiều như thế, ròng rã trong 10 tháng trời chiến đấu, mọi cố gắng và mọi mưu kế của địch đều trở nên vô ích. Quân ta vẫn vây hãm An Lộc, cắt đường số 13 cho tới khi Hiệp định Pa-ri được ký kết.


Trên hướng này, Quân giải phóng đã tiêu diệt 76.570 tên địch, gồm 5 chiến đoàn, 16 tiểu đoàn cùng hàng chục đại đội bộ binh khác, 3 thiết đoàn, 15 pháo đội; đánh thiệt hại nặng 8 sở chỉ huy cấp sư đoàn, lữ đoàn, tiểu khu, 6 chiến đoàn, trung đoàn, lữ đoàn, 23 tiểu đoàn bộ binh, 4 chi đoàn thiết giáp, phá hủy hàng chục kho quân sự.


Trên cơ sở tiêu diệt một số lớn quân địch, tiêu diệt các đơn vị cốt cán của địch trong phòng ngự, Quân giải phóng đã giải phóng một vùng đất đai thuộc 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long và một phần tỉnh Thủ Dầu Một, với chiều dài khoảng 260km từ Ô Răng đến Tà Pang Rơ Bon chiều sâu khoảng 100km từ Thiện Ngôn, Xa Mát, Lộc Ninh, Bù Đốp đến phía bắc Sài Gòn.


Ở chiến trường Tây Nguyên, cuộc tiến công của Quân giải phóng cũng diễn ra mạnh mẽ.

Như trên đã nói, địch cho rằng đòn tiến công chiến lược chủ yếu, hướng tiến công chủ yếu của Quân giải phóng đã diễn ra ở đây. Chúng vội vã điều một lữ đoàn dù, rồi đến hai lữ đoàn dù lên tăng cường cho quân đoàn 2 ở chiến trường Tầy Nguyên. Để kịp thời đối phó, hòng chặn đứng cuộc tiến công của Quân giải phóng, lữ đoàn dù đã cập rập tiến ra phía trước để tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn từ xa.


Ở chiến trường Tây Nguyên, quân đoàn 2 có sư đoàn bộ binh số 23 và sư đoàn bộ binh số 22 thiếu, cùng liên đoàn 2 quân biệt động - lực lượng cơ động của quân đoàn. Ngoài ra chúng còn một chục tiểu đoàn biệt động biên phòng - lực lượng biệt kích "mũ nồi xanh" cũ của quân Mỹ, cùng một số lượng đại đội, tiểu đoàn, liên đội quân bảo an tương đối đông. Về binh chủng, chúng có hơn 3 trung đoàn bọc thép, 10 tiểu đoàn pháo binh và 1 trung đoàn không quân.


Binh lực của chúng được bố trí như sau: sư đoàn 23 và liên đoàn 2 quân biệt động phụ trách phòng ngự từ thị xã Plây Cu, đường số 19, đường số 14 cho đến thị xã Kon Tum. Sư đoàn 22 thiếu phụ trách phòng ngự ở khu vực thị trấn Tân Cảnh và sân bay Đắc Tô. Lữ đoàn dù số 2 phụ trách phòng ngự trên dãy điểm cao phía tây sông Pô Cô, từ điểm cao 1015 đến điểm cao 966, đoạn giữa điểm cao Ngọc Bơ Biêng và cứ điểm Kleng.


Quân địch cho rằng hướng tiến công chủ yếu của Quân giải phóng sẽ từ phía tây đánh vào Đắc Tô - Tân Cảnh, đường 14 và thị xã Kon Tum. Do đó địch đã tổ chức một tuyến phòng ngự vòng ngoài ở phía tây đường 14, tây Đắc Tô - Tân Cảnh, tây thị xã Kon Tum từ Plây Cần - Bến Hét đến điểm cao Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bơ Biêng, điểm cao 1015, điểm cao 1049, 966 đến cứ điểm Kleng.


Quân địch triển khai thế trận phòng ngự về cơ bản đúng như phán đoán của Quân giải phóng. Nắm được thủ đoạn và quy luật tác chiến của địch, biết được tính nết của chúng là chủ quan, hám ăn, rất dễ bắt mồi và dễ bị sai khiến, nên Quân giải phóng đã nhử được chúng ra vòng ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng để tiêu diệt. Đồng thời ta còn tiến hành chia cắt, vây hãm các cụm phòng ngự trong tập đoàn phòng ngự của địch, rồi tiến công đột phá vào các cụm phòng ngự đó để tiêu diệt và phá vỡ thế trận phòng ngự của địch.


Từ thị xã Plây Cu qua thị xã Kon Tum đến thị trấn Tân Cảnh, thế trận của địch là một thế trận chiều dọc có một chiều sâu mỏng hoặc không có chiếu sâu. Ở từng khu vực trọng điểm như trung tâm phòng ngự Kon Tum, địch tổ chức một vài tuyến phòng ngự vòng ngoài, có chiều ngang và chiều sâu mỏng. Riêng ở thị trấn Tân Cảnh, một trung tâm phòng ngự mạnh thì tổ chức phòng ngự của địch có sâu, dày và vững chắc hơn. Từ phía nam thị xã Kon Tum đến phía bắc thị xã Plây Cu, tuyến phòng ngự cơ bản của địch không được che chở.


Quân địch chỉ tổ chức tuyến phòng ngự vòng ngoài ở phía tây đường 14 từ thị trấn Tân Cảnh đến thị xã Plây Cu, bảo đảm cho trận địa phòng ngự của địch có chiều sâu ở trên khu vực đó. Như thế là hợp với lô-gích quân sự tư sản. Cũng với quan điểm quân sự tư sản, chúng không thể phân tích được cách đánh cách mạng độc đáo của Quân giải phóng, do đó tuyến phòng ngự cơ bản của chúng bị bỏ hở, không được che chở ở phía đông.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:56:59 am
Trong khi nghiên cứu, phân tích thế trận và cách đánh của địch, Quân giải phóng đã phát hiện ra chỗ sơ hở, chỗ yếu nguy hiểm đó của địch, về hình thái thế trận của địch, ta đã đứng ở góc độ các chiều của thế trận mà nghiên cứu, phân tích tìm ra các đường tuyến cấu thành thế trận của địch và đường tuyến nào là đường tuyến cơ bản của thế trận. Ta đánh vào đường tuyến nào, đảo lộn dược góc cạnh nào, cắt được cái nút nào thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị xiêu vẹo, lung lay và đổ vỡ. Ta đã tìm ra chiều ngang và chiều dọc trong thế trận của địch và thấy rằng chiều dọc thế trận của địch là cái rường cột cho toàn bộ thế trận của địch. Đây là một nhược điểm lớn trong toàn bộ thế trận của địch, cũng là một sự bắt buộc đối với địch vì chúng phải chịu sự tác động của quy luật chiến tranh nhân dân của ta. Thế trận chiều dọc bị đánh nhão, bị đập nát thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị lung lay hoặc bị phá vỡ. Do nhận thức như vậy, Quân giải phóng đã đánh vào toàn bộ chiều dọc của tuyến đường 14, ở cả phía tây và phía đông con đường, từ thị trấn Tân Cảnh đến yếu khu Võ Định, chạy qua thị xã Kon Tum đến phía bắc thị xã Plây Cu, trừ một đoạn ngắn phía tây sông Pô Cô, ở tây - bắc thị xã Kon Tum, Quân giải phóng phải đột phá một tuyến phòng ngự chiều ngang rồi mới liên tục đột phá chiều sâu vào đường 14. Quân địch không ngờ được rằng đối phương lại có thể đưa hàng trung đoàn, sư đoàn, có cả xe tăng sang phía đông đường 14, đông Tân Cảnh và Võ Định.


Kế hoạch tiến công của Quân giải phóng đã sẵn sàng, Quân địch phải bị động rải sư đoàn 23 ra đối phó với Quân giải phóng trong giai đoạn đánh nhỏ, giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch ở trên đường 14 và đường 19. Chúng ném lữ đoàn dù 2 ra tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở dãy điểm cao từ 1015 đến 1049 và 966 vào đúng thế trận của Quân giải phóng. Thế là thời cơ tiêu diệt lữ đoàn này đã tới.


Tiếp đó, địch điều thêm lữ đoàn dù số 3 từ Sài Gòn ra Võ Định làm lực lượng dự bị, điều liên đoàn 6 quân biệt động từ Nam Bộ ra tăng cường phòng giữ thị xã Kon Tum.

Hai bên ta, địch đều đã triển khai lực lượng bố trí thế trận và sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt.

Cùng ngày giờ với cuộc tiến công đồng loạt trên toàn chiến trường, Quân giải phóng ở mặt trận Tây Nguyên cũng mở đầu cuộc tiến công đánh vào tiểu đoàn dù số 7 chiếm giữ điểm cao 1049. Tiểu đoàn này bị đánh thiệt hại nặng. Kế tiếp sau đó, mũi tiến công của Quân giải phóng chuyển sang đánh vào tiểu đoàn dù số 11 chiếm giữ điểm cao 1015. Tiểu đoàn này bị tiêu diệt gọn. Bộ chỉ huy quân địch liền tung lực lượng dự bị và lữ đoàn dù 3 ra phản kích. Một tiểu đoàn của lữ đoàn dù này bị đánh thiệt hại nặng và sở chỉ huy lữ đoàn ở Võ Định cũng bị đánh những đòn đau. Số tàn quân của hai lữ đoàn dù phải rút bỏ một số điểm cao còn lại, tháo chạy khỏi bờ phía tây sông Pô Cô, lui về giữ tuyến phòng ngự cơ bản trên đường số 14, từ Võ Định về đến thị xã Kon Tum.


Quân giải phóng Tây Nguyên đã hoàn thành trận then chốt thứ nhất của chiến dịch.

Tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở phía tây bắc thị xã Kon Tum của địch đã bị phá vỡ. Cánh cửa chiến địch phía tây đường 14 đã được mở toang. Quân dù, lực lượng tinh nhuệ nhát, mạnh nhất của địch đã bị đánh sụn xương sông. Thế trận của địch đã bị lung lay mạnh và đã có phần bị rối loạn. Thời cơ tiến đánh vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, tiến công các khu trung tâm phòng ngự của địch, tiêu diệt các cụm phòng ngự trong tập đoàn phòng ngự của địch, thời cơ của những trận quyết chiến, chiến dịch đã đến.


Quân giải phóng nhằm vào cụm phía bắc của tập đoàn Kon Tum để mở đòn tiến công thứ nhất. Cụm này do sư đoàn 22 thiếu được tăng cường 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp và 3 tiểu đoàn pháo binh tổ chức thành, phòng ngự ở thị trấn Tân Cảnh và sân bay Đắc Tô 2. Đây là một cụm đột xuất, bị cô lập, dễ bị bao vây, chia cắt, dễ bị vây hãm.


Để vây hãm chặt sư đoàn 22 ở Đắc Tô - Tân Cảnh, bảo đảm cho quân ta tự do hành động, bảo đảm cho cuộc tiến công được thuận lợi, Quân giải phóng đã tiến hành hai tầng chia cắt. Tầng thứ nhất cắt đứt đường 14 từ Võ Định đến Tân Cảnh. Tầng thứ hai cắt đứt đường 14 từ bắc thị xã Plây Cu đến nam thị xã Kon Tum. Ngoài ra, bộ đội địa phương và dân quân du kích còn tổ chức một tuyến đánh ngăn chặn, tiêu hao trên đường số 19 từ phía tây thị xã Quy Nhơn đến phía đông thị xã Plây Cu.


Bộ chỉ huy quân địch đã mất sáng suốt. Chúng không phán đoán được mũi tiến công chủ yếu của đối phương sẽ nhằm vào mục tiêu nào? Thị trấn Tân Cảnh hay thị xã Kon Tum? Mà dù có biết thì đến giờ phút này chúng cũng chẳng nhúc nhích gì được nữa. Vì thế trận của Quân giải phóng đã mở ra và cài chặt vào thế trận của chúng rồi. Chúng đành phải ở đâu nằm đó, bị động chờ đợi các đòn tiến công của quân ta sẽ ập lên đầu chúng.


Trong nghệ thuật chỉ huy, lâm vào cảnh bị động và do dự không điều động, cơ động được lực lượng là một điều vô cùng thất sách. Tuy quân địch có máy bay lên thẳng, có thể cơ động bằng hạ cánh đường không, nhưng vì hai mục tiêu đều phải giữ, đều bị vây hãm, hơn nữa máy bay lên thẳng cũng không phải là vạn năng, chỉ một mình nó cũng không thể giải quyết được toàn bộ vấn đề về chiến dịch và chiến thuật.


Đã tạo ra được thế trận và thời cơ, Quân giải phóng liền tập trung lực lượng đột phá cụm Tân Cảnh và siết chặt vòng vây hãm cụm thị xã Kon Tum.

Quân giải phóng thực hành đột phá cụm Tân Cảnh từ phía đông và phía bắc, mũi đột kích chủ yếu là từ phía đông. Bộ đội xe tăng từ tuyến xuất phát ở phía tây Tân Cảnh đã cơ động theo đường quân sự làm gấp, vu hồi sang phía đông tham gia đột phá trong đội hình binh chủng hợp thành ở hướng đột kích chủ yếu. Một bộ phận nhỏ xe tăng cũng tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành ở hướng bắc Tân Cảnh.


Hướng đột kích chủ yếu của Quân giải phóng ở hướng đông, cùng với hành động vu hồi của bộ đội xe tăng của Quân giải phóng sang phía đông là một sự bất ngờ hoàn toàn, làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch và thế trận phòng ngự của quân địch.


Hướng phòng ngự chủ yếu của địch là ở phía tây và tây - bắc Tân Cảnh. Các đơn vị xe tăng chủ yếu của chúng đều chiếm lĩnh trận địa chiến đấu ở phía tây căn cứ Tân Cảnh và hướng phản kích chủ yếu của cụm xe tăng này là hướng tây và tây - bắc căn cứ Tân Cảnh. Vì thế, khi bộ đội xe tăng của ta xuất hiện ở phía đông căn cứ Tân Cảnh thì cụm xe tăng này - lực lượng phản kích chủ yếu của địch - đã trở thành vô đụng. Cho nên, khi bộ binh của Quân giải phóng đã bao vây căn cứ Tân Cảnh và khi bộ đội xe tăng giải phớng đã tiến tới quận lỵ Đắc Tô thì tên sư trưởng sư đoàn 22 Lê Đức Đạt chỉ còn cách báo cáo lên tên tư lệnh quân đoàn 2 Ngô Du, xin rút chạy. Trước tình cảnh hiểm nghèo đó, Ngô Du cũng chẳng còn phép gì lạ để cứu cho sư đoàn 22, nên đã phải chấp nhận. Nhưng khốn thay, quyết định cuối cùng không phải là do các sĩ quan và tướng lĩnh ngụy Sài Gòn. Chúng do Mỹ nuôi và Mỹ dắt cho đi đứng, nên quyết định cuối cùng vẫn phải do người Mỹ. Giôn Pôn Van, cố vấn trưởng quân đoàn 2, đã bác bỏ quyết định của Ngô Du và Lê Đức Đạt. Vậy tên cố vấn Mỹ hợm hĩnh đó có phép mầu nhiệm gì để cứu sống sư đoàn 22? B.52 và F.4 đã chẳng bất lực đó rồi sao? B.52 và F.4 đã không thể nào ngăn được Quân giải phóng, nào bộ binh, nào pháo binh, nào xe tăng, từ phía tây cơ động sang phía đông và đã tiến sát tới hàng rào của căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh đó sao? Rốt cuộc, với những "bảo bối" quen thuộc đó, Giôn Pôn Van đã chẳng cứu nổi được sư đoàn 22 mà ngay chính bản thân hắn cũng toi mạng trong một chiếc máy bay lên thẳng bị Quân giải phóng bắn rơi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Hai, 2023, 09:57:54 am
Trước cuộc đột kích hai ngày, pháo binh Quân giải phóng thực hành pháo kích vào căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh theo đúng kế hoạch. Căn cứ bị phá hủy từng phần, sinh lực địch bị tiêu hao một số, hệ thống chỉ huy của địch bị xộc xệch và tinh thần quân lính địch bị sa sút nghiêm trọng.


Dưới sự chi viện và yểm hộ đắc lực của pháo binh, sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, bộ binh và xe tăng Quân giải phóng nhanh chóng đột phá thắng lợi vào sở chỉ huy sư đoàn 22 ở căn cứ Tân Cảnh. Tiếp đó, một cánh mai phục của Quân giải phóng cũng đột phá thành công vào căn cứ trung đoàn 47 ở sân bay Đắc Tô 2. Một phân đội xe tăng Quân giải phóng từ căn cứ Tân Cảnh phát triển tiến công sang sân bay Đắc Tô 2, hiệp đồng chặt chẽ với cánh quân đang tiến công ở đó, cùng bộ binh đánh bại các đợt phản kích của xe tăng địch. Trung đoàn 47 địch đã bị cánh quân này tiêu diệt. Một chiếc xe tăng anh hùng của Quân giải phóng đã đánh gục bảy xe tăng của địch ngay trên đường băng sân bay.


Trải qua hơn mười tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt, Quân giải phóng đã hoàn toàn tiêu diệt sư đoàn 22 thiếu, gồm sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn 42, trung đoàn 47, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 41, tiểu đoàn dù số 9 thuộc lữ đoàn dù số 3, 1 trung đoàn thiết giáp và hơn 2 tiểu đoàn pháo binh, cùng các đại đội bảo an và cơ quan hành chính quận Đắc Tô, quận Đắc Sút lưu vong. Quân giải phóng bắt sống hàng nghìn tên, trong đó có tên sư phó Vi Văn Bình cùng với cơ quan tham mưu của sư đoàn. Tên sư trưởng Lê Đức Đạt bị bắn chết.


Đắc Tô - Tân Cảnh là một cụm phòng ngự lớn của địch, có tính chất một tập đoàn phòng ngự trên tuyến phòng ngự cơ bản, do một sư đoàn chiếm giữ. Diệt được nó một cách nhanh chóng là do Quân giải phóng đã có thế trận hay, có cách đánh chiến dịch hiểm và có sự tiến bộ về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng. Quân giải phóng đã làm cho địch bị động, kéo địch ra ngoài trận địa của chúng để tiêu diệt, khiến lực lượng của chúng bị tiêu hao một bước, lực lượng dự bị của chúng bị suy yếu. Trong khi đó, Quân giải phóng tiến hành bao vây chia cắt quân địch ra làm nhiều mảnh trên tuyến phòng ngự cơ bản của chúng và vây hãm, tiêu hao các cụm phòng ngự chủ yếu. Thừa lúc quân địch đã bị tiêu hao, mệt mỏi, rối loạn, mê muội và bị bất ngờ, Quân giải phóng liền tập trung lực lượng tiêu diệt, giải quyết từng cụm một. Thế trận ở đây là sự kết hợp giữa thế chính và thế kỳ, thế nổi và thế chìm cũng như giữa vây hãm và đột phá, giữa chính diện và vu hồi. Thế trận đó lại vận động uyển chuyển và biến hoá linh hoạt.


Sau khi tiêu diệt sư đoàn 22 và giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, Quân giải phóng liền tiến xuống phía Kon Tum, hiệp đồng với cánh quân đang bao vây địch ở đây, cùng tiến công vào thị xã Kon Tum, do sư đoàn quân ngụy số 23 phòng giữ. Ở đây, tuy đã bị vây hãm nhưng địch vẫn còn dự trữ về vật chất, hơn nữa chúng lại có ưu thế về máy bay lên thẳng, do đó sức chống cự của chúng còn mạnh.


Quân giải phóng tiến công tiêu diệt được một bộ phận địch ờ các tuyến phòng ngự vòng ngoài, sau đó đánh vào tiêu diệt một bộ phận quân địch và chiếm được một số khu vực trong thị xã.

Nhưng, sau một thời gian đánh kéo dài, do những điều kiện chủ quan và khách quan không thuận lợi, cuộc tiến công đã kết thúc vào ngày 5 tháng 6 năm 1972.

Tổng cộng, trong chiến dịch tiến công, Quân giải phóng Tây Nguyên đã tiêu diệt 17.820 tên, bắt sống hàng nghìn tên (trong đó có 114 sĩ quan, 1 đại tá sư đoàn phó, 3 trung tá). Số đơn vị địch bị tiêu diệt có sư đoàn 22 (thiếu) gồm các trung đoàn 42, 47, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 41, 1 tiểu đoàn dù cùng bộ chỉ huy sư đoàn, 1 trung đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo và một số đại đội pháo lẻ, nhiều đại đội bảo an. Ta đã bắn rơi và phá hủy 49 máy bay, phá 39 khẩu pháo, 56 xe tăng và xe bọc thép, 140 ô tô và hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, xăng dầu... trong các thị xã Plây Cu và Kon Tum. Quân giải phóng còn thu được hàng trăm xe cơ giới, hàng vạn viên đạn lớn, hàng ngàn khẩu súng các loại và hàng chục khẩu pháo lớn.


Trên các hướng phối hợp khác, ở chiến trường đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng miền Trung Trung Bộ, cũng như vùng sau lưng địch và vùng đô thị, bộ đội chủ lực cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích giải phóng đều đồng loạt mở cuộc tiến công phối hợp một cách mạnh mẽ.


Lực lượng vũ trang giải phóng đã kết hợp cùng với cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân quần chúng tiêu diệt và tiêu hao rộng rãi quân địch, phân tán quân địch, buộc chúng phải đối phó trên khắp chiến trường. Quân giải phóng đã tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn địch, đánh chiếm các cứ điểm quân sự cấp tiểu đoàn, trung đoàn, các quận lỵ, thị trấn, giải phóng từng vùng đất đai, mở ra từng mảng dân trong phạm vi từng xã, từng huyện. Các đơn vị bộ đội đặc biệt đã dũng cảm mưu trí, luồn sâu vào các căn cứ quân sự lớn của địch, vào các vùng đô thị để đánh phá các kho tàng, tiêu hủy cơ sở vật chất cùng các thiết bị quân sự, phương tiện chiến tranh của chúng, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề.


Ở chiến trường miền Trung Trung Bộ, Quân giải phóng đã tiêu diệt các trung đoàn 40 và đánh thiệt hại nặng trung đoàn 41 thuộc sư đoàn 22 ở bắc Bình Định.

Quân giải phóng đã đánh chiếm và giải phóng hàng loạt quận lỵ, thị trấn, các căn cứ quân sự như Hoài An, Hiệp Đức, Quế Sơn, Ba Tơ... gồm hàng chục vạn dân, mở ra các vùng căn cứ rộng lớn. Quân giải phóng đã tiêu diệt trung đoàn 40 ở quận lỵ Hoài Ân. Một trung đoàn chủ lực bị tiêu diệt và một quận lỵ bị mất là một đòn choáng váng đối với toàn bộ quân địch ở vùng này. Trước tình hình khách quan thuận lợi đó, tuy điều kiện chủ quan còn có chỗ bị hạn chế, nhưng Bộ chỉ huy chiến trường có sự phối hợp của đòn tiến công chính trị đã táo bạo nắm thời cơ, mạnh dạn và nhanh chóng phát triển cuộc tiến công đánh xuống các quận lỵ Bồng Sơn, Tam Quan, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 41 thuộc sư đoàn 22, và giải phóng các quận lỵ này. Cuộc tiến công mạnh mẽ và liên tục của Quân giải phóng tiêu diệt nhanh chóng hai trung đoàn chủ lực ngụy đã làm cho toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền ở vùng này rung chuyển, rệu rã và hoang mang cao độ.


Đòn tiến công quân sự mạnh mẽ của các lực lượng vũ trang ở bắc Bình Định và Quảng Nam, Quảng Ngãi đã hỗ trợ đắc lực và tạo điều kiện, thời cơ vô cùng thuận lợi cho quần chúng nổi dậy. Nhân dân ở các vùng này (gồm cả một số gia đình binh sĩ ngụy) vốn có kinh nghiệm, có trình độ đấu tranh chính trị và quyết tâm cao, đã cùng với các lực lượng vũ trang cơ sở, tại chỗ, đồng loạt và rầm rộ nổi dậy. Nhân dân đã diệt, làm tan rã, bức hàng, bức rút các đơn vị bảo an dân vệ, các đồn bốt nhỏ, diệt và làm tan rã các cơ quan, hệ thống kìm kẹp thống trị của địch ở các xã, ấp. Nhân dân cũng đã thúc đẩy các cuộc binh biến, khởi nghĩa, phản chiến và phối hợp cùng với bộ đội truy lùng quân địch, thu dọn chiến trường.


Kết quả ở chiến trường đồng bằng miền Trung Trung Bộ, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 11 vạn tên địch, tiêu diệt 2 trung đoàn, 26 tiểu đoàn và 198 đại đội bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo, đánh thiệt hại nặng 1 sư đoàn và 2 trung đoàn bộ binh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 02:59:09 pm
Giai đoạn đầu của cuộc tiến công chiến lược của Quân giải phóng đã giành được thắng lợi to lớn trên toàn chiến trường miền Nam. Nhiều vùng đất đai rộng lớn, gồm cả một số quận lỵ, thị trấn, thị xã đã được giải phóng.


Sau khi bị những đòn tiến công bất ngờ, choáng váng và bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ liến vội vã tăng cường chi viện hỏa lực không quân và hải quân cho quân ngụy, và giao cho lục quân Mỹ nhiệm vụ phòng giữ các thành phố lớn, để quân ngụy tập trung vào chiến đấu ở vòng ngoài. Được quân Mỹ tăng cường chi viện hỏa lực và giữ cho đằng sau lưng, quân ngụy liền tập trung lực lượng tiến hành phản kích hòng chiếm lại các vùng đã mất. Với sự cố gắng lớn và đành chịu tiêu hao nặng nề về sinh lực, quân ngụy đã chiếm lại được thị xã Quảng Trị, quận lỵ Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Quan, Bồng Sơn. Ở các hướng khác, cuộc phản kích của địch đã bị đánh bại.


Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, thị xã An Lộc vẫn bị vây hãm, đường số 13 vẫn bị cắt đứt hoàn toàn.

Ở chiến trường Tây Nguyên, quân địch bị mất thêm một số vị trí và một số địa bàn. Chúng bị mất thêm một đoạn đường 19 kéo dài từ cứ điểm Đức Cơ đến làng Dịt, gần quận lỵ Thanh An.

Sau chiến cục xuân hè, cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn diễn ra liên tục và quyết liệt, song đến cuối năm 1972, hình thái hai bên vẫn như cũ. Quân địch đành chịu mất một số vùng đất đai, do đó ta đã mở rộng được nhiều vùng căn cứ, vùng giải phóng. Nhiều vùng giải phóng đã được nối liền, hình thành những vùng căn cứ rộng lớn, vững chắc và liên hoàn.


Để cứu vãn tình hình nguy ngập của quân ngụy ở miền Nam, tháng 3 năm 1972, đế quốc Mỹ đã liều lĩnh mở lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vào miền Bắc nước ta.

Khác với cuộc chiến tranh phá hoại thời Giôn-xơn, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này, Ních-Xơn đã tăng cường độ phá hoại lên một mức rất cao. Ngoài các loại máy bay được sử dụng trong lần trước đã được cải tiến, các loại bom đạn có sức công phá và độ chính xác cao hơn, đế quốc Mỹ còn dùng thêm một số loại máy bay mới như loại F.111 "cánh xòe, cánh cụp", đặc biệt dã man là đã dùng máy bay chiến lược B.52 để ném bom "rải thảm" xuống thủ đô Hà Nội và một số thành phố đông dân khác. Đi đôi với thủ đoạn dùng không quân ném bom ào ạt, liên tục, đế quốc Mỹ còn dùng hạm đội 7 thả mìn ở bờ biển và phong tỏa miền Bắc nước ta. Chúng đã không từ một hành động tàn ác dã man nào, miễn là đạt được mục đích phá hoại các cơ sở kinh tế trong nước cũng như cắt đứt mọi sự vận chuyển từ nước ngoài vào, khiến cho miền Bắc nước ta bị bóp nghẹt, không đủ sức và không đủ ý chí tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu ác liệt, cuối cùng buộc phải khuất phục trước sức mạnh cuồng bạo của chúng.


Rõ ràng, đây là một cuộc đọ sức, đọ hỏa lực, đặc biệt là đọ thần kinh và đọ tài trí quyết liệt nhất, điển hình nhất. Ai thắng ai sẽ được giải quyết ở cuộc đọ sức nảy lửa này. Một nước chưa có nền công nghiệp tiên tiến liệu có thể chịu đựng được một cuộc đọ sức về hỏa lực và kỹ thuật với một nước công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, một "siêu cường quốc" không?


Thực tế đã trả lời: người thắng oanh liệt trong cuộc đọ sức lịch sử này là chúng ta chứ không phải là đế quốc Mỹ.

Với truyền thống anh hùng của Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung..., với khí thế ngút trời của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, với sức sống mãnh liệt của chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo sáng suốt của một đảng mác-xít - lê-nin-nít chân chính, với sự giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình của phe xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ thế giới, nhân dân Việt Nam đã đứng vững và đã thắng.


Trong 9 tháng, từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ đã dùng 2.575 lần chiếc máy bay gồm 2.100 lần chiếc máy bay chiến thuật, 31 lần chiếc F.111 và 444 lần chiếc B.52, để đánh phá miền Bắc nước ta. Thế nhưng, tổng cộng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai này, chúng đã bị bắn rụng đến 753 chiếc, trong đó có 62 máy bay B.52, 10 máy bay F.111, số khác là các loại máy bay F.4, F.105, A.7, A.6, v.v...


Đặc biệt suốt trong 12 ngày đêm từ ngày 18 tháng 12 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ đã dùng tới 444 lần chiếc máy bay B.52, 31 lần chiếc máy bay F.111 và 1.004 lần chiếc máy bay chiến đấu phản lực khác để đánh vào Hà Nội và một số thành phố khác. Có ngày chúng đã đùng 87 máy bay B.52, 17 máy bay F. 111 và 100 máy bay chiến đấu phản lực khác để đánh vào thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngoài những máy bay trực tiếp đánh mục tiêu, chúng còn đùng một số lượng máy bay tương đối lớn để bảo vệ, yểm hộ, trinh sát, gây nhiễu, tiếp dầu và đánh chặn máy bay ta. Để bảo đảm cho một số lượng lớn máy bay tham chiến, chúng đã phải sử dụng hàng chục căn cứ không quân trên các quốc gia khác nhau (Thái Lan, đảo Gu-am, Ô-ki-na-oa. Nam Việt Nam) và các tàu sân bay ở hạm đội 7.


Cuộc chiến đấu giữa máy bay Mỹ với quân dân ta ở thủ đô Hà Nội là một trận quyết chiến có ý nghía chiến lược về không đối đất và đất đối không. Trong trận quyết chiến này, đế quốc Mỹ đã dùng máy bay B.52 làm con chủ bài, làm lực lượng tác chiến chủ yếu, giữ vai trò quyết định, về phía quân dân Việt Nam, chúng ta cũng tập trung lực lượng, phương tiện để đánh quỵ con chủ bài đó của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã thực hiện được đánh tiêu diệt chiến dịch về các mặt: lực lượng chủ yếu, thủ đoạn chủ yếu; do đó đã đánh bại được âm mưu, ý đồ cũng như toàn bộ chiến dịch tập kích đường không bằng không quân chiến lược của chúng.


Chỉ trong 12 ngày (từ 18-12 đến 29-12), quân dân thủ đô Hà Nội đã bắn rơi 81 máy bay gồm 34 B.52, 5 F.111, 21 F.4, 12 A.7, 4 A.6, 1 F.105, 2 R5C, 1 lên thẳng, 1 không người lái và bắt sống nhiều giặc lái.


Số máy bay B.52 bị bắn rơi nhanh và nhiều như thế đã làm cho một ký giả Mỹ phải thốt lên rằng: cứ tốc độ này thì chỉ trong vài ba tháng nữa, tức là đến tháng 2 hoặc tháng 3 năm 1973, thì lực lượng máy bay B.52 của Mỹ ở chiến trường Thái Bình Dương sẽ hết sạch. Và số đại tá, trung tá, thiếu tá... phi công Mỹ vào trại tù binh cứ mỗi ngày một tăng như thế thì ngay nước Mỹ cũng không thể chịu đựng nổi. Cuối cùng, đế quốc Mỹ không còn cách nào khác hơn là đành chịu thua trong "trận Điện Biên Phủ trên không" vĩ đại này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:00:35 pm
Cuộc chiến đấu ở trên cả hai miền Nam Bắc nước ta trong năm 1972 là một cuộc chiến đấu lớn nhất, quyết liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Nó là sự kế tục và phát triển của các giai đoạn trước, của cuộc tổng tập kích chiến lược năm 1968, cuộc chiến đấu lớn trong năm 1971.


Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam phát triển theo đúng quy luật của chiến tranh cách mạng, chiến tranh chống xâm lược là phát triển từ đánh nhỏ đến đánh lớn, từ giải phóng vùng rừng núi, nông thôn trước, rồi đến giải phóng thị trấn, thị xã sau, từ kết hợp đánh du kích với đánh vận động, rồi tiến lên kết hợp đánh du kích, đánh vận động với đánh trận địa; có phản công, có phòng ngự và có tiến công.


Ngoài quy luật chung đó ra thì cũng còn có một số quy luật đặc thù.

Cuộc tiến công năm 1972 là giai đoạn phát triển cao của chiến tranh, giai đoạn đánh tiêu diệt lớn, giai đoạn giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, giải phóng thị trấn, thị xã. Muốn làm được nhiệm vụ đó thì phải tập trung lực lượng lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng với các binh khí kỹ thuật hiện đại và tác chiến có thành phần trận địa chiến. Bước đi cuối của chiến tranh là đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt về chiến dịch và chiến lược, tiêu diệt các tập đoàn lớn, các tập đoàn chủ yếu của địch ở ngay trên tuyến phòng ngự cơ bản của chúng, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, giải phóng các thị trấn, thị xã. Có như thế mới giải quyết được chiến tranh.


Cuộc tiến công năm 1972 của Quân giải phóng đã đi vào giai đoạn này. Điều quan trọng là trình độ tác chiến của bộ đội đã được nâng cao. Quân giải phóng đã có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng với quy mô lớn, tác chiến có thành phần chiến đấu trận địa, có thể tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch trong công sự vững chắc, phá vỡ từng cụm phòng ngự, từng tập đoàn phòng ngự của địch. Một điều rất đáng nghiên cứu là Quân giải phóng đã tác chiến theo phương thức này trong điều kiện không có một chiếc máy bay, mà quân địch thì lại có một lực lượng máy bay rất lớn mạnh. Địch đã dùng đến cả không quân chiến lược B.52 - con chủ bài chúng chưa từng đem dùng ở một nơi nào khác. Thế nhưng rốt cuộc, con chủ bài đó của quân Mỹ cũng chỉ gây thêm cho ta một số khó khăn chứ không thể nào ngăn chận được những đòn tiến công mãnh liệt của quân ta.


Đánh lớn hiệp đồng binh chủng là một tất yếu khách quan của chiến tranh, là một quy luật vận động và phát triển của chiến tranh. Đánh lớn hiệp đồng binh chủng kết hợp giữa đánh vận động với đánh trận địa là phương thức tác chiến cao nhất, là giai đoạn phát triển cao nhất của chiến tranh. Muốn quy luật và phương thức đó phát huy được tác dụng thì phải có nghệ thuật. Đánh một quân địch có cơ sở vật chất, có binh khí kỹ thuật, có hỏa lực mạnh hơn mình gấp bội thì nghệ thuật lại càng phải cao. Quân giải phóng đã có nghệ thuật chiến tranh cao, giỏi hơn quân địch nên mới chiến thắng được quân địch. Nghệ thuật của ta là nghệ thuật của chiến tranh cách mạng, nghệ thuật của sự kết hợp giữa chiến tranh và khởi nghĩa, nghệ thuật của sự kết hợp giữa quân sự và chính trị, giữa ba thứ quân, giữa ba vùng chiến lược, giữa tác chiến du kích và tác chiến chính quy, giữa đánh lớn và đánh nhỏ, giữa đánh ở trước mặt và đánh ở sau lưng địch. Nghệ thuật chiến dịch của ta là nghệ thuật về cách đánh, về thế trận, nghệ thuật về đột phá và bao vây, vu hồi nghệ thuật về thời cơ; và nghệ thuật về các trận then chốt, tạo thành một nghệ thuật tổng hợp là nghệ thuật quyết chiến. Nghệ thuật chiến dịch của ta là sự tổng hợp trong vận động biện chứng của các thành phần cơ bản hình thành chiến dịch. Đó là sự tổng hợp và vận động của lực và hình, của pháp và kế, cũng như của thế và thời1 (Lực: lực lượng; hình: hình thế, địa hình; pháp: phương pháp; kế: mưu kế; thế: thế trận; thời: thời cơ. H.M).


Nghệ thuật chiến tranh của ta còn có điểm hay nữa là lấy ngay súng đạn, xe, pháo, máy vô tuyến điện... của địch để đánh lại địch. Trong năm 1972, Quân giải phóng đã lấy pháo 105, 155, 175, xe tăng M.41, xe bọc thép M.113 của Mỹ để diệt quân ngụy, lấy mìn chống tăng của Mỹ để diệt xe tăng M.41, M.48 của Mỹ trang bị cho quân ngụy, và sử dụng hàng trăm xe ô tô của Mỹ để vận chuyển tiếp tế. Các chiến sĩ du kích phụ nữ ở vùng đồng bằng và miền núi đã sử dụng những loại súng trường tối tân nhất thế giới. Họ đã được trang bị bằng loại súng AK. Họ cũng lại cướp được súng M.16 của Mỹ để bắn vào đầu Mỹ - ngụy. Có thể nói, quân Mỹ không những chỉ cung cấp vũ khí, khí tài, phương tiện cho quân ngụy, mà còn cung cấp cho cả Quân giải phóng, thông qua một đội "lính vận tải mẫn cán" là quân ngụy.


Năm 1972 là năm quân Mỹ bị thất bại nặng nhất, lớn nhất kể từ lúc chúng bắt đầu gây chiến cho đến bây giờ. Đây là lần đầu tiên, các tuyến phòng ngự cơ bản, các tập đoàn phòng ngự lớn của địch bị tiêu diệt và bị đánh chiếm.


Tổng cộng, trong năm 1972, trên toàn miền Nam quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 48 vạn tên, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 10 sư đoàn, 35 trung đoàn bộ binh và chiến đoàn, 17 trung đoàn thiết giáp, 14 tiểu đoàn pháo binh; bắn rơi và phá hủy 3.340 máy bay, 3.047 xe tăng và xe bọc thép, 11.652 xe ô tô, 1.822 khẩu pháo, 686 tàu chiến; phá hủy 354 cầu cống, 1.070 kho lớn nhỏ với 110 vạn tấn bom đạn, nhiên liệu, vật chất của địch. Ta đã tiêu diệt và bức rút 37 quận lỵ chi khu, 2.428 đồn bốt, 10 căn cứ cấp trung đoàn và sư đoàn địch, giải phóng 7.800 ấp trong số 15.000 "ấp chiến lược" khỏi ách kìm kẹp của địch.


Do bị tiến công trên khắp chiến trường nên lực lượng của địch bị phần tán, căng mỏng ra khắp nơi: lực lượng dự bị chiến lược bị điều động như đèn cù, chạy ngược chạy xuôi. Cũng bởi lẽ đó nên trên mọi mặt trận chúng đều bị thất bại nặng nề.


Tóm lại, thất bại của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam Bắc năm 1972 là một thất bại chiến lược. Đối với đế quốc Mỹ, đó là dấu hiệu của thất vọng, là tiếng chuông báo hiệu sự cuốn gói của chúng.

Do thắng lợi của quân đân Việt Nam trên cà hai miền trong cuộc kháng chiến lâu dài, nhất là do thắng lợi to lớn trong năm 1972, mà Hiệp định Pa-ri đã được ký kết, chấm dứt sự dính líu trực tiếp của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở Việt Nam. Đội quân viễn chinh Mỹ đã phải rút ra khỏi đất nước ta.


Quân dân Việt Nam đã "đánh cho Mỹ cút" vào đầu năm 1973! Đó chính là bước thắng lợi thứ nhất, đồng thời cũng là điều kiện tất yếu để hai năm sau (mùa Xuân 1975), tiếp tục "đánh cho ngụy nhào", giành thắng lợi hoàn toàn cho dân tộc sau hơn 30 năm liên tục tiến hành cuộc chiến tranh chống xâm lược, vĩnh viễn xóa bỏ mọi thứ chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:05:21 pm
IV
THẤT BẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THẤT BẠI ĐÓ


Sau tám năm (từ đầu năm 1965 đến đầu năm 1973) sử dụng quân đội Mỹ trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, đồng thời sử dụng không quân và hải quân tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ đã phải rút ra khỏi sự dính líu trực tiếp vào Việt Nam. Đó là một thất bại nặng nề của chúng.


Kể từ năm 1954 đến 1972, suốt mười tám năm trời, đế quốc Mỹ đã áp dụng bốn chiến lược chiến tranh trong bốn đời tổng thống để xâm lược Việt Nam, nhưng vẫn không thực hiện được toàn bộ chính sách xâm lược của chúng ở Việt Nam cũng như ở Đông Dương.


Đế quốc Mỹ đã tỏ ra hết sức ngoan cố, đã sử dụng một lực lượng rất lớn quân đội và vũ khí, đã giở mọi thứ chiến lược, xoay mọi thủ đoạn, ném ra một số tiền khổng lồ, áp dụng mọi thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến để xâm lược Việt Nam.


Khi mới lên nhậm chức trong năm 1953, Ai-xen-hao đã tuyên bố: "Nếu để mất Việt Nam, mất Đông Dương thì khó có thể phòng thủ được bán đảo Ma-lai-xi-a", "phải ngăn chặn lại việc này ngay từ bây giờ" (Diễn văn đọc trước hội nghị hàng năm các thống đốc bang toàn nước Mỹ).


Năm 1961, sau khi nhậm chức, Ken-nơ-đi đã tuyên bố: "Mỹ không loại trừ việc đưa các lực lượng quân sự tới đồng bằng sông Cửu Long", "để đáp ứng yêu cầu của tình hình, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ Cộng hòa Việt Nam (ngụy) để bảo vệ chế độ. Chúng tôi sẽ nhanh chóng tăng thêm sự chi viện nhiều mặt vào cố gắng phòng thủ Nam Việt Nam" (Tuyên bố của Ken-nơ-đi và thư của Ken-nơ-đi gửi Ngô Đình Diệm).


Khi mới lên làm tổng thống, Giôn-xơn cũng từng tuyên bố: "Nước Mỹ chúng ta sẽ thực hiện những điều cam kết mà chúng ta đã đưa ra ở Việt Nam. Tôi sẽ làm những việc gì cần phải làm để bảo vệ những lợi ích của chúng ta ở Việt Nam, vừa giữ đúng lời hứa của chúng ta" (Hồi ký của Giôn-xơn).


Khi lên làm tổng thống, Ních-Xơn cũng tuyên bố: "Chúng ta đã chịu đựng một đêm dài của tinh thần Mỹ, chúng ta đang bị mắc kẹt trong chiến tranh" nhưng "chúng ta giũ vững các mục tiêu cam kết" và sẽ "dốc sinh lực, sự khôn ngoan để phục vụ cho sự nghiệp đó". "Chúng ta hãy làm cho không còn chút nghi ngờ nào rằng: chúng ta sẽ dùng sức mạnh tới mức độ cần thiết trong thời gian cần thiết" (Diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ 1 của Ních-Xơn).


Qua bốn đời tổng thống, kế tiếp nhau lên cầm quyền, âm mưu và quyết tâm xâm lược miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ đều đã được biểu lộ một cách rõ ràng.

Để thực hiện âm mưu và quyết tâm xâm lược đó, đế quốc Mỹ đã vận dụng nhiều hình thức xâm lược, nhiều chiến lược xâm lược. Các hình thức và chiến lược xâm lược đó đều được vận dụng và phát triển từ mức thấp đến mức cao nhất.


Thời kỳ Ai-xen-hao làm tổng thống từ năm 1954 đến năm 1960, đế quốc Mỹ đã dùng hình thức xâm lược bằng kinh tế và chính trị ở miền Nam Việt Nam. Đó là hình thức xâm lược thực dân mới kiểu thông thường, phổ biến trên thế giới. Thực hiện kiểu xâm lược này, đế quốc Mỹ chỉ cần một số đô la, một số vũ khí cùng các hãng buôn, các đội văn hóa, với một tòa đại sứ đặc biệt gồm những nhân viên quân sự và nhân viên tình báo chuyên nghề lật đổ và chống lật đổ. Áp dụng không thành công, đế quốc Mỹ đã phải nâng lên một mức độ cao hơn. Đô la và vũ khí của Mỹ phải nhiều hơn. Ngoài tòa đại sứ, cơ quan viện trợ kinh tế, hãng buôn và đội văn hóa, đế quốc Mỹ còn tung vào miền Nam Việt Nam hàng mớ chuyên gia cố vấn quân sự, tình báo, và chuyên gia cố vấn chính trị, kinh tế để làm quan thầy trực tiếp cho chính quyền bản xứ. Mối quan hệ giữa đế quốc Mỹ và ngụy quyền rõ ràng là mối quan hệ giữa chủ và tớ.


Với hình thức xâm lược thực dân mới kiểu thông thường cao như thế, tốn kém như thế, mà vẫn không thành công, đế quốc Mỹ phải dùng hình thức xâm lược cao hơn là "chiến tranh đặc biệt", một trong ba loại chiến tranh của chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ. Và, tướng Tay-lo, "bố đẻ" ra chiến lược này đã được tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi phái sang miền Nam Việt Nam để làm người vú cho đứa con mới ra đời đó.


"Chiến tranh đặc biệt" được thực hiện ở miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến tranh đặc biệt lớn nhất, tốn kém nhất. Đế quốc Mỹ đã chi phí hàng tỷ đô la, sử dụng hàng trăm máy bay, hàng trăm xe tăng, xe bọc thép cùng hàng vạn nhân viên quân sự cho cuộc chiến tranh đó. Các sĩ quan Mỹ đã trực tiếp chỉ huy đội quân ngụy Sài Gòn, từ bộ quốc phòng, bộ tổng tham mưu cho đến đơn vị cấp tiểu đoàn. Các phi công Mỹ và các đội quân tình báo Mỹ đã trực tiếp tham gia chiến đấu. Ngoài ra, lúc cuộc "chiến tranh đặc biệt" phát triển tới đỉnh cao vào giữa năm 1965 thì có hai đơn vị quân đội Mỹ cũng tham gia là sư đoàn lính thủv đánh bộ số 3 và lữ đoàn dù số 173.


"Chiến tranh đặc biệt" không thành công, chính quyền bù nhìn, tay sai có nguy cơ bị sụp đổ. Đế quốc Mỹ lại bị động, buộc lòng phải tiến hành "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam, loại chiến tranh thứ hai trong chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ. Đây là một cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất, phối hợp cùng với một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân cũng lớn nhất đối với miền Bắc Việt Nam.


Cuộc chiến tranh cục bộ này đã vượt ra ngoài lý luận về chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Theo lý luận này, đế quốc Mỹ có thể tiến hành đồng thời hai cuộc chiến tranh rưỡi trong cùng một lúc mà vẫn còn một lực lượng dự bị hùng hậu để sẵn sàng ứng phó với cuộc chiến tranh thế giới hạt nhân toàn diện. Thế nhưng đế quốc Mỹ đã phải đưa cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam lên một đỉnh cao nhất, với số quân là 543.482 tên vào tháng 4 năm 1969. Ngoài ra, Mỹ còn có hàng chục vạn quân thuộc hạm đội 7 ở Thái Bình Dương và các lực lượng không quân ở Thái Lan, Phi-líp-pin, Ô-ki-na-oa để chi viện cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Với số quân lớn như thế, lực lượng dự bị chiến lược của đế quốc Mỹ đã bị khánh kiệt. Nước Mỹ không còn quân để có thể mở một cuộc chiến tranh xâm lược cục bộ khác. Vì vậy mà lý luận về "hai cuộc chiến tranh rưỡi" đã bị phá sản và đế quốc Mỹ đã phải sửa lại bằng lý luận "một cuộc chiến tranh rưỡi". Thực tế, chỉ một cuộc ở Việt Nam cũng đã quá đủ rồi, cái "rưõi" kia cũng khó thực hiện được.


Số quân Mỹ tác chiến trên hướng Việt Nam đã vượt cả số quân Mỹ trên hướng chiến lược chủ yếu của Mỹ ở châu Âu. Để duy trì lực lượng chiến đấu ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã phải thường xuyên huy động một số quân (150 vạn người) để bổ sung và thay phiên (gần bằng một nửa tổng số quân đội thường trực Mỹ trong lúc đó). Và, để bảo đảm cho số quân trên chiến đấu trong mấy năm chiến tranh, nước Mỹ phải huy động đến 4 triệu rưỡi lượt thanh niên Mỹ sang Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:06:37 pm
Làm một cuộc chiến tranh cục bộ phát triển cao như thế, cuối cùng đế quốc Mỹ cũng vẫn bị thất bại. Con đường chiến tranh đã cụt. Chúng phải tìm một lối rẽ: "Chiến tranh cục bộ" được thay thế bằng "Việt Nam hóa chiến tranh", lối rẽ đi xuống của chiến lược quân sự xâm lược Việt Nam.


Cuối cùng đế quốc Mỹ đã bắt buộc phải kết thúc sự dính líu trực tiếp vào cuộc chiến tranh xâm lược và quay lại con đường mòn luẩn quẩn mà chúng đã đi.

Một đế quốc giàu tiền của nhất, có nền khoa học kỹ thuật phát triển nhất, có lực lượng vũ trang mạnh nhất trong phe đế quốc, đã đổ ra hàng trăm tỉ đô la chi phí cho cuộc chiến tranh kéo dài suốt tám năm ròng rã, mà vẫn thua Việt Nam - một nước đất không rộng, người không đông và kinh tế còn chưa phát triển. Thất bại đó quả thật hết sức nặng nề và cay đắng đối với đế quốc Mỹ.


Vì sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy? Nguyên nhân nào đã đưa đế quốc Mỹ xuõng vực thẳm của thất bại?

Trước hết phải thấy: đế quốc Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược trong những điều kiện lịch sử bất lợi đối với chúng, trong thời đại mà giai cấp công nhân trở thành nhân vật trung tâm, thời đại thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, thời đại mà chủ nghĩa tư bản thế giới đang ngày càng suy sụp và chủ nghĩa đế quốc thực dân đang ở trong cơn hấp hối. Đó là thời đại mà ba dòng thác cách mạng đang tiến công dồn dập vào chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc thực dân, làm cho thành trì của chúng đang sụp đổ từng mảng. Đó là thời đại mà chủ nghĩa tư bản Mỹ và chủ nghĩa tư bản thế giới đã lao sâu vào cuộc tổng khủng hoảng, nền kinh tế của nó đang ở trong một trạng thái hết sức không ổn định. Nhìn chung, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trong những điều kiện lịch sử bất lợi đối với chúng.


Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới xuất hiện là chỗ dựa, là ngọn cờ động viên các lực lượng cách mạng đang mạnh bước tiến lên. Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra đời đã làm thay đổi một bước quan trọng so sánh lực lượng trên thế giới, đã đẩy cuộc tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản bước sang thời kỳ thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng cách mạng tiến công mạnh mẽ vào chủ nghĩa tư bản, đế quốc.


Mâu thuẫn đã bùng nổ và đang bùng nổ mạnh mẽ là mâu thuẫn giữa phong trào giải phóng dân tộc, độc lập quốc gia với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Mâu thuẫn này có điều kiện bùng nổ vì nó đang rất gay gắt và vì ở khâu mâu thuẫn này, lực lượng cách mạng có sức mạnh, còn lực lượng phản động thì yếu hơn so với các nơi khác.


Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự suy yếu của chủ nghĩa tư bản thế giới và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới đã vạch ra con đường cáo chung của chủ nghĩa thực dân cũ. Những ngọn cờ thực dân của các nước đế quốc lớn Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, v.v... trước đây còn nghênh ngáo trên khắp thế giới nay đã rách nát tả tơi. Đế quốc Anh thường khoe khoang với giọng kẻ cướp là một "đế quốc không có mặt trời lặn" - đã bị chìm sâu trong bóng tối. Bọn thực dân Bồ Đào Nha ngu xuẩn, ngoan cố đến giữa năm 1974 củng đã bị bánh xe lịch sử nghiến nát. Phong trào giải phóng dân tộc đang là ngọn đòn xung kích tiến công mạnh mẽ vào chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đây là một trào lưu đang có sức sống mãnh liệt và có sự hấp dẫn rộng rãi. Bản thân nó đã có sức mạnh, lại được tăng thêm sức mạnh vì có chỗ dựa vững chắc là hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, có sự đoàn kết rộng rãi trong nội bộ phong trào và có sự hỗ trợ, phối hợp đấu tranh của phong trào công nhân và dân chủ, tiến bộ trong các nước tư bản đế quốc. Ngày nay các cuộc chiến tranh xâm lược thực dân đều bị các lực lượng cách mạng và các lực lượng tiến bộ chống lại. Thế giới tiến bộ và chính nghĩa đã có đủ sức mạnh về tinh thần và vật chất để có những khả năng thực tế đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa đó.


Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân ở Việt Nam là đi ngược lại trào lưu của thời đại. Nó không những bị nhân dân Việt Nam kịch liệt chống lại, mà còn bị các nước xã hội chủ nghĩa kiên quyết chống lại, và cả loài người tiến bộ cũng như nhân dân tiến bộ Mỹ đều tích cực chống lại. Đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam không phải chỉ đụng chạm đến một nước Việt Nam riêng lẻ, mà còn uy hiếp, đe dọa hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và các nước tiến bộ, các phong trào tiến bộ trên thế giới. Đế quốc Mỹ xâm lược được Việt Nam thì sẽ xâm lược và áp bức bóc lột được các nước khác. Đế quốc Mỹ đi xâm lược áp bức các nước khác, các dân tộc khác thì ở ngay trong nước Mỹ bản thân nhân dân Mỹ cũng bị giai cấp tư sản thống trị Mỹ áp bức bóc lột.


Những người tiến bộ trên thế giới và ở trong nước Mỹ hiểu rõ được điều đó, nên họ đều chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, đều chống lại moi cuộc chiến tranh xâm lược.

Một số nước chư hầu, đồng minh xa của đế quốc Mỹ, ít nhiều có tư thế độc lập, ít nhiều thức thời, đã từ chối không tham gia "chạy cờ" cho đế quốc Mỹ. Mặt khác họ cũng muốn để mặc cho đế quốc Mỹ bị ngụp lặn, chìm sâu trong vũng bùn chiến tranh để họ có thể nhanh chân tiến bước đi lên trên con đường thênh thang, không đối thủ.


Do đó mà đế quốc Mỹ bị cả loài người tiến bộ nguyền rủa, phỉ nhổ, lên án. Dư luận chính nghĩa của thế giới liên tục tiến công và bao vây đế quốc Mỹ. Trong lịch sử các cuộc chiến tranh xâm lược, không có cuộc chiến tranh xâm lược nào lại bị lên án, nguyền rùa như cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới mà đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam và các nước Đông Dương.


Nhân dân tiến bộ trên thế giới một mặt kiên quyết phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, mặt khác tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam về tinh thần cũng như về vật chất. Tình hình này làm cho sức mạnh vật chất của đế quốc Mỹ bị giảm sút, đồng thời sự yêu kém về chính trị và tinh thần lại càng thêm yếu kém, làm cho thế và lực tổng hợp của chiến tranh xâm lược trở thành bất lợi và suy yếu. Ngược lại, nó cũng làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam càng thêm sức mạnh, tăng thêm khả năng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.


Đối với nhân dân Việt Nam, nhân tố quốc tế là hết sức quan trọng, không thể thiếu được để đối chọi với một đế quốc giàu mạnh nhất trong phe đế quốc. Nhưng nhân tố bên trong của bản thân nhân dân Việt Nam vẫn là quyết định. Nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất, dũng cảm, tài giỏi, biết tổ chức, huy động và phát huy cao độ mọi sức mạnh tinh thần và vật chất của chính mình, đồng thời có đường lối quốc tế đúng đắn và biết sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế thì mới đánh bại được cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử chiến tranh thực dân xâm lược.


Đó là những điều kiện lịch sử thế giới không có lợi cho bọn đế quốc gây chiến, một trong những nguyên nhân thất bại của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:07:49 pm
Còn ở ngay trong nước Mỹ, thì những khó khăn ngày càng tăng, ngày càng trầm trọng về mọi mặt cũng là một nguyên nhân khác đẩy đế quốc Mỹ đến chỗ thất bại.

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là một cuộc chiến tranh không có liên quan trực tiếp đến nền an ninh của nước Mỹ, một cuộc chiến tranh chẳng có gì khêu gợi, cổ vũ được tình cảm yêu nước và ý thức về nghĩa vụ đối với Tổ quốc của người dân Mỹ. Mặt khác, đó cũng là một cuộc chiến tranh hao người tốn của một cách kinh khủng, vượt xa mọi cuộc chiến tranh xâm lược trong lịch sử nước Mỹ. Đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, hoàn toàn đi ngược lại quyền lợi của đông đảo nhân dân Mỹ. Chẳng những thế, nó còn làm thiệt hại đến quyền lợi nhiều mặt của những tập đoàn tư bản không "làm ăn" được gì nhiều trong cuộc chiến tranh.


Bản chất cuộc chiến tranh đó là phi nghĩa nên những kẻ cầm quyền nước Mỹ - đại biểu cho những tập đoàn tư bản tài phiệt, hiếu chiến - đã phải cố công tô vẽ, đã dùng mọi lời lẽ mỹ miều nhất để nói về "ý nghĩa cao cả'' cũng như biết bao hứa hẹn về thắng lợi của nó. Thế nhưng, dù Nhà trắng và Lầu năm góc đã giở mọi thủ đoạn xảo trá và luận điệu bịp bợm, chúng vẫn không tài nào thuyết phục nổi các tầng lớp nhân dân Mỹ. Vì, đông đảo người Mỹ đã ngày càng hiểu rằng số tiền thuế mà họ phải đóng cho chính phủ hiếu chiến Mỹ cũng như sinh mệnh của biết bao người Mỹ bình thường bị ném vào cái lò lửa chiến tranh Việt Nam, không phải là để mang lại quyền lợi và vinh dự cho họ mà là để nuôi béo và phục vụ cho tham vọng của các tổ hợp quân sự - công nghiệp, cho bọn lái súng Mỹ, cho bọn tay sai bù nhìn bản xứ cũng như bọn tư bản công nghiệp Nhật Bản. Ngay trước mắt họ, tiền tài cũng như vật tư chiến tranh - mồ hôi nước mắt của người dân lao động Mỹ - đưa sang Việt Nam đã bị những tên Mỹ đi xâm lược và bọn tay sai bù nhìn ăn cắp tới 30 - 40%, nhờ đó chúng đã trở thành những triệu phú, tỷ phú giàu có hơn nhiều người Mỹ ở chính quốc. Đông đảo người Mỹ ngày càng nhận thấy họ đã bị phung phí quá nhiều xương máu, tinh thần, trí tuệ và của cải vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa chẳng có lợi gì mà chỉ có hại cho nước Mỹ, cho bản thân mỗi người dân Mỹ. "... Người Mỹ không chịu để bị đưa đi chết trong một cuộc chiến tranh mà họ không hiểu và không tin tưởng. Họ không còn dễ mắc lừa mà ủng hộ cuộc chiến tranh đó nữa. Các nhóm ở khắp mọi nơi trong nước - các nhóm sinh viên, các nhóm giải phóng phụ nữ, các nhóm trong ngành giáo dục, các nhóm tôn giáo, các nhóm người da đen, một bộ phận lớn của nước Mỹ - mọi người theo cách của mình đều đang nói lên rằng họ đã mệt mỏi vì cuộc chiến tranh rồi. Tất cả đều đang nói rằng cuộc chiến tranh phải được chấm dứt ngay lập tức"1 (Lời phát biểu của nữ nghệ sĩ Mỹ Si-som tại Hạ viện Mỹ, Biên bản Quốc hội Mỹ ngày 14-10-1969 (theo bản dịch của VNTTX)).


Tất cả những hoạt động chống đối chiến tranh mạnh mẽ ở khắp nước Mỹ đã đẩy bọn gây chiến vào tình thế ngày càng khó khăn, khốn quẫn. Sự phản kháng của nhân dân Mỹ đã không cho phép bọn cầm quyền phản động hiếu chiến mặc sức vét người, vét của ở nước Mỹ để ném vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Vì vậy, bọn chúng đã phải dùng bạo lực, đàn áp, dùng quyền hành độc đoán để thực hiện mọi ý đồ vét người, vét của tiếp tục phục vụ chiến tranh.


Mặc nhiên là càng dùng bạo lực và quyền hành thì chúng lại càng vấp phải sức phản kháng quyết liệt hơn của đông đảo nhân dân Mỹ, kể cả nhiều người trong chính giới Mỹ.

Mặt khác, cũng phải thấy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài hàng chục năm quả là một "cái thùng không đáy" đối với đế quốc Mỹ. Càng lao sâu vào cuộc chiến tranh ấy thì nước Mỹ càng suy yếu về kinh tế, càng chia rẽ về chính trị, dẫn tới sự mất dần quyền khống chế của nước Mỹ đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới và các nước phụ thuộc của Mỹ, gây ra nguy cơ uy quyền bá chủ của đế quốc Mỹ bị sụp đổ. Rõ ràng cuộc chiến tranh cứ tiếp diễn mà vẫn chẳng thấy đôi chút ánh sáng le lói nào của "con đường hầm không có lối thoát" thì dù nước Mỹ có đông dân, có nền kinh tế giàu có bậc nhất thế giới cũng khó lòng mà chịu đựng mãi được.


Bản chất hoàn toàn phi nghĩa cùng với những nhân tố khác đã làm cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trở thành "một cuộc chiến tranh khó khăn nhất trong lịch sử nước Mỹ". Những khó khăn ngày càng chồng chất ở bên trong nước Mỹ là một trong những nguyên nhân đưa đế quốc Mỹ đến chỗ thất bại.


Những khó khăn ấy có liên quan đến một nguyên nhân thất bại nữa là tình trạng tinh thần thấp kém, của quân đội viễn chinh Mỹ, công cụ chủ yếu và trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam.


Theo quan điểm chúng ta, hoạt động của con người luôn luôn có sự kết hợp thống nhất giữa vật chất và tinh thần. Vật chất là điều kiện, là cơ sở khách quan cho tinh thần hoạt động. Ngược lại, trên cơ sở vật chất nhất định, có sự tác động tích cực trở lại của tinh thần thì sẽ sinh ra một sức mạnh tổng hợp rất lớn, làm cho hoạt động của con người trở nên kỳ diệu, phi thường. Đó là một trong những lý do cơ bản giải thích vì sao khẩu súng trường lại có thể bắn rơi được máy bay phản lực siêu âm hiện đại, trong trường hợp người chiến sĩ bộ binh dám nhằm thắng máy bay thù đang lao xuống trước mặt mà bắn. Vì vậy, Lênin đã nói: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường... Việc quần chúng nhận thức được mục đích và nguyên nhân của chiến tranh có một tầm quan trọng to lớn: đó là sự bảo đảm cho thắng lợi"1 (V.I. Lenin, Toàn tập, tập 31, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 166).


Các tướng lĩnh Mỹ không phải là không nhắc tới tầm quan trọng của nhân tố tinh thần, song xét về thực chất thì quan điểm cơ bản của họ vẫn là quan điểm vũ khí luận. Đối với họ, vũ khí vẫn là quyết định trong chiến tranh còn người lính chẳng qua chỉ là một thứ công cụ, một cái máy bắn, không có ý thức tự giác. Họ cho thắng lợi của chiến tranh phụ thuộc vào ưu thế về số lượng vật chất, về trang bị máy móc, kỹ thuật nên coi nhẹ việc xây dựng, bồi dưỡng tinh thần chiến đấu cho người lính. Như vậy, người lính Mỹ khó mà có tinh thần dũng cảm. Vì họ chiến đấu không có mục đích, bản thân họ và gia đình họ cũng lại bị áp bức, bóc lột, chèn ép, đánh mắng. Không có lý do thuyết phục nào kích thích được tinh thần tự giác chiến đấu dũng cảm, hy sinh của họ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:09:11 pm
Tinh thần quân đội Mỹ vốn đã thấp kém lại càng thấp kém trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trước hết, vì chúng đã vấp phải một đối thủ vô cùng lợi hại, một đối thủ có sức chiến đấu vượt hẳn ra ngoài mọi dự kiến của chúng. Đó là quân dân Việt Nam tài giỏi, anh hùng. Chúng đã liên tục đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác trên chiến trường Việt Nam. Mặt khác, cũng còn vì những ảnh hưởng về mọi mặt từ hậu phương của chúng tác động tới. Quân viễn chinh Mỹ làm sao có thể giữ vững được tinh thần chiến đấu khi mà phong trào chống chiến tranh xâm lược của các tầng lớp nhân dân Mỹ cứ mỗi ngày một quyết liệt, mỗi ngày một lan rộng hơn? Không ít binh lính Mỹ đã dần dần hiểu ra rằng họ chỉ là một thứ công cụ đánh thuê cho bọn tư bản cá mập hiếu chiến. Xương máu của họ đổ ra ở Việt Nam không phải là để bảo vệ nước Mỹ mà chỉ có tác dụng làm cho cái túi tiền của những tên lái súng vốn đã nặng lại càng nặng thêm. Điều nhục nhã hơn nữa là họ còn bị nhân dân Mỹ khinh rẻ. Chính tướng Mỹ Tay-lơ cũng đã phải thú nhận: "Dân chúng Mỹ ngày nay không còn trọng vọng quân đội nữa và một bộ phận lớn trong công chúng Mỹ đang rơi vào thiên kiến chống quân sự... hình như trong công chúng Mỹ đang diễn ra một chiến dịch có tổ chức nhằm lăng nhục những quân nhân và những người đang mặc quân phục"1 (Báo Quân đội nhân dân, ngày 22-8-1973). Tâm trạng chán ngán, mệt mỏi trước một cuộc chiến tranh phi đạo lý "không có lối thoát" đã đưa người Mỹ bế tắc đến chỗ làm quen với làn khói ma túy. Và rồi nạn nghiện ngập ma túy lan tràn lại làm cho tinh thần binh lính Mỹ càng thêm suy sụp. Tuy nhiên, điều cần chú ý hơn là hiện tượng chống chiến tranh của binh lính Mỹ đã phát triển nhanh chưa từng thấy trong lịch sử quân đội Mỹ. Hàng chục tổ chức binh lính, hàng trăm tờ báo của binh lính chống chiến tranh xâm lược Việt Nam đã ra đời. Ngay ở Việt Nam cũng có những binh lính Mỹ tham gia và đi đầu trong các cuộc biểu tình đòi chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh, đòi về nước. Ngoài những hành động chống lệnh, đào ngũ... có nơi lính Mỹ còn dùng cả bạo lực để chống lại các sĩ quan bắt họ đi chiến đấu.


Tình trạng tinh thần chiến đấu thấp kém của quân đội Mỹ đã được chứng minh qua những cuộc đụng độ giữa chúng và các chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Bình luận về chiến dịch Plây Me ở Tây Nguyên tháng 10 năm 1965, các nhà báo phương Tây đã coi "tinh thần của quân đội Mỹ thấp như ngọn cỏ, còn đối thủ của nó thì tinh thần cao đến tận mây xanh". Người ta đã từng thấy xe tăng Mỹ tháo chạy trước người chiến sĩ bộ binh Quân giải phóng miền Nam với khẩu B.40 trong tay. Người ta cũng từng thấy những tấm ảnh giặc lái Mỹ bi quan, bàng hoàng, run sợ sau khi bị tiến công bởi lưới lửa của súng bộ binh đối phương. Và một khẩu súng cối 60 ly của Quân giải phóng cũng có thể làm câm họng một trận địa pháo 4 khẩu 105 ly của quân Mỹ.


Tinh thần binh lính có liên quan trực tiếp đến chiến thuật và chiến đấu. Trong những hoàn cảnh phức tạp khó khăn, trong những tình huống khẩn trương, chuyển biến đột ngột... thì tinh thần lại càng có ý nghĩa quyết định. Tinh thần đã thấp kém thì không thể tích cực, chủ động linh hoạt, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, do đó không thể phát huy được tính năng, tác dụng và hiệu quà của vật chất kỹ thuật và cũng không thể vận dụng được chiến thuật. Đó chính là một trong những lý do làm cho chiến thuật của quân đội Mỹ yếu kém. Như ta đã biết, chiến thuật kém, chiến đấu không thắng lợi thì chiến dịch cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ và rõ ràng có ảnh hưởng tiêu cực đến chiến lược và toàn cuộc chiến.


Quân đội Mỹ có chỗ mạnh về vật chất kỹ thuật nhưng lại có chỗ yếu cơ bản là tinh thần chiến đấu. Có phát hiện và phân tích được chỗ yếu cơ bản đó cùng với những chỗ yếu khác nữa thì mới dám đánh và đánh thắng chúng.


Đi đôi với tình trạng thấp kém về một tinh thần chiến đấu, quân đội Mỹ còn một chỗ yếu cơ bản nữa về mặt vận dụng quy luật tiến hành chiến tranh. Quy luật tiến hành chiến tranh xâm lược mà quân Mỹ vận dụng đó tỏ ra không thích hợp và không phát huy được tác dụng trước đối tượng chiến tranh là quân dân Việt Nam, trong điều kiện chiến trường Việt Nam. Đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đế quốc Mỹ đến chỗ thất bại.


Các lực lượng viễn chinh Mỹ có số quân đông, được trang bị rất hiện đại, có hỏa lực rất mạnh và có sức cơ động rất cao. Với sự giàu có, với trình độ công nghiệp và khoa học kỹ thuật hiện đại của nước Mỹ, cơ quan tham mưu và hậu cần của quân đội Mỹ có thể tiến hành việc tổ chức thiết bị chiến trường và chuẩn bị cơ sở vật chất để triển khai đội quân khổng lồ của chúng một cách nhanh chóng, trên một phạm vi rộng lớn ở nhiều địa hình khác nhau. Với khả năng và trình độ như thế, quân đội Mỹ đã có một cơ sở rất tốt để vận dụng quy luật tiến hành chiến tranh của quân đội chính quy hiện đại ở một trình độ cao, tác chiến theo kiểu trận địa kết hợp với cơ động cao và linh hoạt.


Chiến lược, chiến thuật của quân đội Mỹ biểu hiện trình độ kinh tế và khoa học, kỹ thuật của nước Mỹ. Nhìn chung, tư tưởng quân sự của quân đội Mỹ có điểm phát triển hơn so với các quân đội tư sản khác không có nền công nghiệp phát triển bằng. Nó đã vận dụng được thành quả của nền công nghiệp hiện đại và nền kỹ thuật tiên tiến của nước Mỹ vào chiến tranh.


Phương pháp tiến hành chiến tranh tức là phương pháp sử dụng các công cụ chiến tranh do con người có tổ chức tiến hành. Đặc điểm của chiến tranh hiện đại là có hỏa lực mạnh với tầm xa lớn; có khả năng cơ động cao và có sức đột kích mạnh kết hợp giữa mặt đất, mặt nước và trên không. Với trang bị kỹ thuật hiện đại vào bậc nhất trong các quân đội của thế giới tư bản chiến lược, chiến thuật của quân đội Mỹ nói chung có phần phong phú, linh hoạt hơn các quân đội tư sản khác, đặc biệt là khả năng cơ động nhanh chóng và khả năng tập kích vào sau lưng đối phương, về tổ chức lực lượng vũ trang, quân đội Mỹ cũng không phải chỉ có một quân đội chính quy mà còn có các lực lượng nửa chính quy và các đội quân đặc biệt.


Để cứu vãn tình thế nguy ngập của quân ngụy Sài Gòn, quân đội Mỹ đã thực hành phản công chiến lược một cách ồ ạt với quy mô lớn trên toàn bộ chiến trường, ở những hướng chiến lược quan trọng. Đế quốc Mỹ đã sử dụng cả đội quân viễn chinh Mỹ và chư hầu cùng với đội quân ngụy, tổ chức chúng thành hai lực lượng gồm: lực lượng chủ lực cơ động và lực lượng địa phương tại chỗ. Chúng đã thực hiện chiến thuật trận địa kết hợp với cơ động để thực hành tác chiến. Nói chung, quân đội Mỹ đã vận dụng quy luật chiến tranh chính quy hiện đại của nghệ thuật quân sự tư sản vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chiến lược - chiến thuật của quân đội Mỹ là chiến lược - chiến thuật trong chiến tranh thông thường của một quân đội tư sản chính quy hiện đại nhát kết hợp với chiến lược - chiến thuật chống chiến tranh cách mạng của giai cấp tư sản trên thế giới để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chiến lược - chiến thuật ấy đã có những điểm cải tiến nhất định để đối phó với một cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:10:17 pm
Thế nhưng đối với cuộc chiến tranh nhân dân ở Việt Nam phát triển tới trình độ cao trong thời đại ngày nay thì chiến lược - chiến thuật Mỹ rõ ràng đã bất lực, không phát huy được tác dụng. Chiến lược - chiến thuật của chiến tranh cách mạng Việt Nam có đủ điều kiện tồn tại vững chắc, phát triển mạnh mẽ và đánh bại chiến lược - chiến thuật của chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành. Nhìn chung phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng Việt Nam có những điểm phát triển độc đáo, có sức mạnh rất lớn. Vì vậy, dù có những điểm mới hơn so với phương thức tiến hành chiến tranh của các quân đội tư sản khác, dù đã được cải tiến thì phương thức tiến hành chiến tranh của quân đội Mỹ cũng vẫn không sao thích ứng được với chiến trường Việt Nam, chiến lược - chiến thuật của chúng vẫn không thể đối chọi được vài chiến lược - chiến thuật của chiến tranh cách mạng.


Đánh nhanh, thắng nhanh là quy luật của chiến tranh xâm lược. Vì các đế quốc tiến hành chiến tranh xâm lược, dù rất giàu có hoặc giàu có nhất cũng không thể chịu đựng nổi một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, bị tiêu hao liên tục và nặng nề mà không nhìn thấy triển vọng thắng lợi. Chiến tranh xâm lược phải chuyển từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài thì có nghĩa là không còn khả năng thắng lợi nữa. Lịch sử đã từng nhiều lần chứng minh rằng đó là một quy luật khách quan và quy luật ấy chẳng kiêng nể gì những kẻ không biết tôn trọng nó, kể cả đế quốc giàu có nhất là đế quốc Mỹ.


Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, với chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, đế quốc Mỹ hy vọng có thể tiêu diệt được các lực lượng vũ trang, phá hủy nền kinh tế và đánh bại quyết tâm kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Nhưng chúng đã không thực hiện được điều đó, ngược lại quân đội Mỹ đã bắt buộc phải đánh kéo dài, đã bị tiêu diệt từng bộ phận và bị tiêu hao rất nặng nề, dẫn đến suy yếu nghiêm trọng về kinh tế và chính trị. Cuối cùng chúng đã bị thất bại một cách cay đắng.


Về mặt quân sự, thất bại trong chiến tranh là thất bại cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

Về chiến lược và chiến dịch, quân đội Mỹ có số quân đông và vật chất nhiều. Chúng có khả năng triển khai chiến lược, chiến dịch nhanh và hành động chiến lược, chiến dịch đồng thời ở nhiều hướng chiến lược, chiến dịch trên một chiến trường rộng lớn. Chúng có khả năng cơ động cao và tập trung lực lượng lớn, để tổ chức lại ưu thế và lực lượng, có thể đồng thời tiến công ở trước mặt và cả ở hậu phương sâu xa của đối phương. Sức mạnh hỏa lực của quân Mỹ rất lớn trong đó phải kể đến không quân, một lực lượng làm được nhiều nhiệm vụ nặng nề và phát huy được nhiều tác dụng phức tạp khác nhau về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Song phương thức tác chiến của quân đội Mỹ đã tỏ ra không phù hợp và không có hiệu lực trước một cuộc chiến tranh nhân dân phát triển tới trình độ cao ở Việt Nam. Sức mạnh của quân đội Mỹ cũng bị nhiều hạn chế, không phát huy được hết tác dụng trên chiến trường Việt Nam.


Mặc dầu có số quân đông và cơ sở vật chất dồi dào song các tướng tá Mỹ vẫn luôn luôn thấy thiếu, luôn luôn đòi chính phủ Mỹ tăng viện. Đó là vì quân Mỹ đã bị phân tán ở khắp nơi, trên khắp chiến trường: cả ở trước mặt lẫn sau lưng, cả ở rừng núi, nông thôn lẫn đô thị, đâu đâu chúng cũng đều vướng phải thế trận "thiên la địa võng" của quân dân ta. Chúng luôn luôn bị bao vây và bị tiến công liên tục hàng ngày hàng giờ ở khắp nơi, kể cả ở những khách sạn sang trọng ngay giữa Sài Gòn. Lúng túng trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, quân Mỹ - ngụy và chư hầu tuy nhiều mà hóa ra ít, muốn tập trung nhưng lại bị xé lẻ phân tán, muốn tiến công nhưng lại lâm vào phòng ngự, muốn đánh nhanh giải quyết nhanh nhưng lại phải đánh kéo dài và bị sa lầy trong một cuộc chiến tranh không lối thoát.


Quân Mỹ có sức mạnh vật chất. Nhưng đối chọi với cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam thì sức mạnh ấy không tạo ra được thế mạnh về chiến lược, chiến dịch, ở Việt Nam, quân Mỹ không thể thực hiện được kiểu chiến tranh chiến tuyến kết hợp trận địa với cơ động vì không thể phân tuyến được với cuộc kháng chiến toàn dân, không tìm ra được mục tiêu rõ rệt trong toàn thể nhân dân Việt Nam, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Chúng không biết tiến hành quyết chiến như thế nào cho phù hợp để tiêu diệt chủ lực của đối phương.


Đó là nói về sự yếu kém về chiến lược và chiến dịch của quân đội Mỹ. Còn về chiến thuật thì nó lại càng tỏ ra yếu kém hơn cả.

Là một trong các thành phần cơ bản của nghệ thuật quân sự, chiến thuật cũng có vị trí quan trọng không kém so với chiến dịch và chiến lược. Vì xét cho cùng thì chiến tranh rốt cuộc phải giải quyết bằng chiến thuật và chiến đấu.


Tư tưởng quân sự thống trị trong quân đội Mỹ là: lấy hỏa lực để quyết định chiến đấu; vũ khí và kỹ thuật là chủ yếu, con người và tinh thần là phụ thuộc. Đó chính là chỗ yếu kém của quân đội Mỹ trong chiến thuật, chiến đấu. Vì hỏa lực chỉ là một thành phần chiến đấu, riêng mình hỏa lực không thể tạo thành sức đột kích quyết định, không thể tiêu diệt triệt để được địch thủ. Hỏa lực chỉ có thể sát thương, thậm chí sát thương tối đa đối phương, chứ không thể tiêu diệt triệt để cũng như không thể chiếm lĩnh được trận địa của đối phương. Hỏa lực phải cùng với xung lực trải qua vận động mới tạo thành sức đột kích quyết định, và chỉ có xung lực mới tiêu diệt triệt để được địch thủ và chiếm lĩnh hoàn toàn được trận địa của địch thủ. Cuối cùng không phải là quả đạn mà chính là người chiến binh phải phóng lưỡi lê vào tim quân thù, giẫm chân lén xác quân thù ở ngay trong trận địa, chiến hào, sở chỉ huy của chúng mới kết thúc hoàn toàn được chiến đấu.


Tìm ra và phát hiện được chỗ yếu kém về chiến thuật của quân đội Mỹ là một điều rất quan trọng. Nếu chỉ nhìn một cách tổng quát, chung chung, bề ngoài thì thấy quân Mỹ rất mạnh. Song có đi sâu vào cái thành phần cơ sở này của chiến đấu và chiến tranh mới thấy hết chỗ yếu của quân đội Mỹ, mới có lòng tin và dũng khí chiến đấu, mới có quyết tâm và mưu kế đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Có thế mới hiểu được tại sao quân Mỹ không tiêu diệt được một đại đội nào của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; trái lại trong khi đó thì ngay trong những cuộc đụng độ đầu tiên, Quân giải phóng lại tiêu diệt được từng đại đội, từng tiểu đoàn của quân Mỹ.


Sự yếu kém về chiến thuật, chiến đấu làm cho sức mạnh tổng hợp của chiến tranh bị hạn chế và cũng trở thành yếu kém. Ở Việt Nam, quân Mỹ chẳng những yếu kém về chiến thuật, chiến đấu mà ngay cả về chiến lược, chiến dịch chúng cũng không phát huy được thế mạnh. Đó là một trong những nguyên nhân thất bại của chúng.


Điểm qua các nguyên nhân trên, chúng ta lại càng thấy nổi bật lên nguyên nhân có tính chất quyết định nhất, đẩy đế quốc Mỹ đến chỗ thất bại. Đó chính là đối phương của chúng, là nhân dân Việt Nam anh hùng. Đế quốc Mỹ thất bại vì chúng đã vấp phải một đối thủ lợi hại là nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:11:31 pm
Khi bàn về thất bại của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, không ít chính khách Mỹ đều cho rằng "chính phù Mỹ đã phạm phải một sai lầm thê thảm, một sai lầm lớn". Theo họ, đó là sai lầm về chọn đối tượng chiến tranh.


Đúng thế! Trong thời đại ngày nay, đế quốc Mỹ khó có thể tự do tung hoành được như các nước đế quốc xưa kia. Tuy nhiên, đối với một đối thủ nào đó thì đế quốc Mỹ cũng có thể lừa bịp, mua chuộc, chèn ép, lấn áp và thực hiện được âm mưu xâm lược với các mức độ khác nhau. Vì vậy ở Mỹ đã từng "thịnh hành cái ảo tưởng về sức mạnh toàn năng của Mỹ, thịnh hành một quan niệm kỳ quái cho rằng một nước có thể hành động như một tên sen đầm đối với toàn cầu" (Oan-tơ Líp-man, báo Mỹ "Tuần tin tức", ngày 14-12-1970).


Thế nhưng, cũng với ảo tưởng ấy, đế quốc Mỹ đã không buộc được nhân dân Việt Nam phải khuất phục. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, mọi âm mưu thủ đoạn của đế quốc Mỹ đều bị vạch trần và đánh bại.


Việt Nam có chính nghĩa, được các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ và được nhân dân tiến bộ trên thế giới đồng tình. Nhưng nếu nhân dân Việt Nam không quyết tâm và tài giỏi, không quyết đánh và biết đánh, không biết duy trì và phát huy chính nghĩa, không biết đoàn kết, tiếp thụ và phát huy sự giúp đỡ của bè bạn trên thế giới thì Việt Nam cũng không thể nào đứng vững được.


Đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam là xâm lược một nước xã hội chủ nghĩa, là tiến công vào một phong trào giải phóng dân tộc. Đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam là đánh vào một dân tộc anh hùng đã có truyền thống hàng mấy ngàn năm chống ngoại xâm, lại có một Đảng Mác - Lênin kiên cường, sáng suốt cùng với vị lãnh tụ thiên tài là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đụng vào một dân tộc như thế, trong điều kiện quốc tế như thế, sự thất bại của đế quốc Mỹ là điều không sao tránh khỏi.


Nhân tố thời đại, nhân tố truyền thống dân tộc cùng với nhân tố Đảng lãnh đạo đã nâng cao đến tột độ sức mạnh của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đương nhiên, trong các nhân tố đó thì nhân tố Đảng lãnh đạo vẫn là nhân tố quyết định nhất. Có nhân tố thời đại, có truyền thống vẻ vang, nhưng không có sự lãnh đạo tài tình đúng đắn của Đảng Mác - Lênin thì không thể khai thác, kết hợp, thống nhất và phát huy được đầy đủ các nhân tố tích cực kể trên.


Điểm đầu tiên nói lên sự lãnh đạo tài tình đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam là sự đánh giá đúng kẻ thù. Đế quốc Mỹ là kẻ giàu mạnh nhất trong phe đế quốc, lại có nhiều âm mưu, thủ đoạn vô cùng xảo quyệt, gian trá và tàn bạo. Đánh giá đúng đế quốc Mỹ quả không phải là việc dễ dàng. Nhưng Đảng Lao động Việt Nam đã đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã có cách xem xét khách quan, khoa học nên đã đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu cũng như chỗ thật, chỗ giả của đế quốc Mỹ, nhờ đó mới có đầy đủ quyết tâm và biện pháp đánh thắng nó.


Đi đôi với sự phân tích và đánh giá đúng kẻ thù, Đảng Lao động Việt Nam lại rất tin tưởng ở nhân dân mình, dân tộc mình - một dân tộc vốn có truyền thống chống ngoại xâm hết sức vẻ vang, có kinh nghiệm đấu tranh vũ trang, có tài thao lược, lại có trình độ giác ngộ chính trị cao, trên cơ sở sức sản xuất và quan hệ sản xuất mới đang phát triển, trong điều kiện quốc tế thuận lợi của thời đại mới.


Trên cơ sở đánh giá ta, địch một cách khoa học, đúng đắn, Đảng Lao động Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam kiên quyết đánh Mỹ với sức mạnh vĩ đại của toàn dân kháng chiến, của lòng căm thù cao độ quân xâm lược và quyết tâm kháng chiến đến cùng.


Sức mạnh đó đã biểu hiện ra hàng ngày ở mọi hoạt động bình thường trong chiến đấu và sản xuất, ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương cả nước.


Sức mạnh đó đã biểu hiện ra ở tinh thần chiến đấu rất cao, ý thức tổ chức và kỷ luật rất nghiêm, đoàn kết nội bộ và đoàn kết quân dân như keo sơn, nghệ thuật chiến đấu tài giỏi, sẵn sàng hy sinh chiến đấu để đánh thắng kẻ thù của các lực lượng vũ trang. Cụ thể hơn nữa, sức mạnh đó đã biểu hiện ra ở hàng nghìn hàng vạn tấm gương chiến đấu dũng cảm tuyệt vời, thông minh rất mực cũng như biết bao chiến công lừng lẫy của các chiến sĩ chủ lực, địa phương, dân quân du kích, trên cả hai miền Nam Bắc.


Đương nhiên, sức mạnh đó không phải chỉ được chứng minh bằng các chiến công ngoài tiền tuyến của các lực lượng vũ trang mà còn biểu hiện rất rõ nét ở biết bao hành động anh hùng của toàn dân. Không có những công nhân cần cù dũng cảm trong xưởng máy, ngày đêm sản xuất bên cạnh các chiến hào và trận địa đánh địch, không có những xã viên cần cù dũng cảm sản xuất trên những cánh đồng 5 tấn - 7 tấn, không có những người lao động trí óc miệt mài nghiên cứu trong các phòng nghiên cứu, các cơ sở khoa học... thì rõ ràng không thể nào có chiến thắng oanh liệt được.


Trải qua hàng chục năm chiến đấu đầy ác liệt và gian khổ, toàn dân Việt Nam - từ cụ già cho đến em nhỏ, từ anh thanh niên cho đến chị phụ nữ - tất cả đều đứng vững trong mọi hoàn cảnh để lao động sản xuất và chiến đấu một cách dẻo dai, kiên cường và thông minh nhất. Đó là sức mạnh của tinh thần và tài trí của dân tộc ta.


Sức mạnh đó còn biểu hiện ra ở phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự sáng tạo của cuộc chiến tranh nhân dân do Đảng ta lãnh đạo. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, nắm vững những quy luật chung của chiến tranh, Đảng ta đã từng bước phát hiện và nắm vững những quy luật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam. Từ đó, Đảng ta đã xây dựng nên phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, đề ra được các chủ trương đúng đắn đối với toàn bộ quá trình, cũng như đối với từng giai đoạn của chiến tranh chống ngoại xâm ở nước ta. Nhờ đó chúng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp rất to lớn của cả đất nước để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược có quân đội đông hơn, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn mình gấp nhiều lần.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:12:51 pm
Dĩ nhiên, ngoài sức mạnh của bản thân mình là chính, chúng ta lại phải có sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới thì mới có thể đánh thắng được một kẻ thù nguy hiểm như đế quốc Mỹ.


Như trên đã nói, cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với một đội quân xâm lược khổng lồ trang bị dồi dào và hiện đại bậc nhất mặc dầu phi nghĩa vẫn có thể giành được thắng lợi trước một đối tượng bị xâm lược nào đó, với một mức độ nào đó, ngay cả trong trường hợp chúng không dùng tới lực lượng to lớn như ở miền Nam. Song, ở Việt Nam chúng đã phải dùng tới cả một lực lượng chiến tranh vượt ra ngoài mọi dự tính ban đầu (chỉ trừ có vũ khí hạt nhân) mà thất bại vẫn hoàn thất bại. Vì, "... Đối diện với quân đội Pháp trước đây và quân đội Mỹ hiện nay là cả một dân tộc kiên quyết như một quả núi đá, có một tâm hồn cao thượng, một sự dũng cảm không sợ bất kể một khó khăn nào... Họ luôn luôn ở trong chiếc nôi đó, nó phản ánh những đức tính thần thoại của họ: cứng rắn, khôn ngoan, kiên nhẫn, sáng tạo. Một lần nữa, ở Việt Nam người ta lại thấy xuất hiện một trong những hiện tượng tâm lý của quần chúng nhân dân mà trong suốt lịch sử của mình, đã từng làm đảo lộn những lý thuyết, những quy tắc và những tính toán đã dự định trước..." (Ý kiến bác sĩ E. Xcốp-phi-ê Lam-bi-ốt viết trong báo Pháp Thế giới tháng 11-1967).


Rõ ràng, ngoài những nguyên nhân đã nêu, nguyên nhân chủ yếu đẩy đế quốc Mỹ xuống vực thẳm của thất bại là do chúng đã vấp phải một đối thủ vô cùng lợi hại: nhân dân Việt Nam tài giỏi, anh hùng.


Chiến tranh cũng như các sự vật khác vận động là có quy luật. Nhận thức chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh là vấn đề nắm quy luật.

Mỗi quy luật đều hình thành và vận động trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định. Dựa vào các quy luật của chiến tranh xâm lược, bọn đế quốc có thể giành được thắng lợi trong thời đại mà chủ nghĩa đế quốc còn làm mưa làm gió trên thế giới, hoặc ngay trong thời đại hiện nay chúng cũng có thể giành được thắng lợi trước một đối tượng nào đó. Thế nhưng, cũng dựa vào những quy luật đó, đế quốc Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đó là vì đế quốc Mỹ đã bỏ qua những điều kiện vận động và phát huy tác dụng của quy luật. Chúng không tính đến nhân tố thời đại cũng như không hiểu gì về đất nước mà chúng mang quân đến xâm lược. Cho nên thất bại của chúng là tất yếu.


Chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ có thể thắng lợi được ở một chỗ nào đó, nhưng lại thất bại ở Triều Tiên, Việt Nam và sẽ thất bại ở nhiều nơi khác. Đó là quy luật. Thắng lợi có quy luật của thắng lợi, thất bại có quy luật của thất bại.


Cuộc chiến tranh ở Việt Nam giữa đế quốc Mỹ xâm lược với nhân dân Việt Nam có nhiều điểm phức tạp. Phải nghiên cứu sâu xa, kỹ lưỡng và tìm hiểu mọi nhân tố, phân tích trên nhiều mặt và nhiều khía cạnh, mới nhận thức đầy đủ, chính xác được những quy luật của cuộc chiến tranh này.


Lực lượng vật chất trong chiến tranh là một trong những nhân tố cơ bản, một nhân tố cần phải xem xét đến trước tiên. Quy luật về lực là một trong những quy luật cơ bản và cũng cần phải xem xét đến trước tiên trong chiến tranh.


Đế quốc Mỹ chủ yếu đã dựa vào quy luật về lực để tiến hành chiến tranh. Dĩ nhiên, theo quan điểm của chúng, lực đây có nghĩa là lực lượng vật chất đơn thuần.

Trong chiến tranh, dựa vào quy luật về lực là một điều đúng nhưng chưa đầy đủ. Vì trong chiến tranh còn có quy luật về tinh thần, về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, v.v... Phải nghiên cứu toàn bộ và phải đặt mối quan hệ chính xác giữa các quy luật đó. Ngoài ra lại phải nghiên cứu về mối quan hệ của những quy luật này với những quy luật bên phía đối phương nữa.


Nghiên cứu quy luật về lực thì cần thấy cái hình và cái thế của lực. Lực to, lực nhỏ, hình tròn, hình vuông, hình dài, hình ngắn, hình cao, hình thấp, v.v... Mỗi cái lực đó, mỗi cái hình của lực đó lại phải có cái thế của nó thì cái lực đó mới phát huy được hết tác dụng. Cho nên lực ít hóa nhiều, lực lớn thành nhỏ là như vậy.


Hồ Chủ tịch đã nói một cách chí lý về lực, thế và thời như sau:

"Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời một tốt cũng thành công".

Sách "Binh thư yếu lược" cũng đã nói một cách rất hay về lực, về hình cũng như về thế như sau: "Đại quân của địch bỗng đến, mà quân ta có ít khó bề đối phó, thì không nên đương đầu đón cản, quân ít không địch nổi. Nên đến nơi yếu hại, đợi nó qua nửa chừng, khi đại binh đã đi rồi, đón ở giữa đường, hoặc triệt lương cỏ, giặc muốn hợp vây thì quân ta chống lui chiếm lấy nơi cao, thuận thế đi lại, đánh thì hẳn được""1 (Binh thư yếu lược, quyển III, phần "Liệu thế giặc", Nxb Khoa học xã hội, H. 1970, tr. 164).


Đế quốc Mỹ tuy có lực nhiều, có khả năng cơ động cao, vận động nhanh nhưng lại rải ra một cái hình quá dài, quá rộng. Do đó nên lực nhiều mà hóa ít, hình dày mà thành mỏng. Cái lực trên cái hình đó lại không có cái thế lợi để vận động nên không phát sinh được sức mạnh.


Điều bất lợi rất lớn cho đế quốc Mỹ là lực lượng đông đảo của chúng bị mắc vào thế trận thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân. Cái lực của chúng lâm vào một cái hình xấu, lại đứng trên một cái thế không tốt, nên không thể hành động được hoàn toàn tự do với hết sức của nó. Do đó sức mạnh của chúng không thể phát huy được hết mà còn bị hạn chế và dần dần suy yếu.


Sách "Binh thư yếu lược" đã nói về cách dùng thế mà thắng lực như sau:

"Địch mạnh mà có thế, thì giằng co cả đầu và đuôi, khiến nó chạy vạy, mỏi mệt; địch giỏi mà tiến trước, thì ta phải gieo vào đoạn giữa, khiến cho đầu đuôi không thể ứng nhau, thế lớn mà rộng, quân nhiều mà tản, lúc ở chỗ này, lúc ở chỗ kia, làm cho nó hợp thì khó mà tụ được, chia thì khó mà giữ được. Ta bèn gom quân lại, nhắm thẳng một hướng mà có thể thắng vậy"1 (Binh thư yếu lược, Sđđ, tr. 147).


Lực của quân đội Mỹ đã thế, tinh thần của chúng lại kém, nên sức mạnh của chúng lại càng giảm, làm cho nghệ thuật chỉ huy lại càng thiếu tinh vi, chính xác.

Rô-bớt Thôm-xơn (Robert Thompson) viên cố vấn người Anh về chống nổi dậy của quân đội Mỹ ở Việt Nam có thấy tình hình này: "Vì quá nôn nóng và vung phí sức lực một cách không cần thiết...", "Do có nhiều căn cứ hậu cần lớn, căn cứ quân sự lớn, nên quân đội Mỹ phải rải ra quá nhiều quân để bảo vệ", "và phải bảo vệ các vùng dân cư để đối phó với cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng"2 (Sách "Không có lối ra ở Việt Nam", xuất bản 1969 ở Luân Đôn).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:14:18 pm
Quy luật chung của chiến tranh xâm lược là đánh nhanh thắng nhanh, là nhằm mục tiêu vừa tiêu diệt lực lượng vũ trang của đối phương, vừa bình định nhân dân, vừa chiếm giữ đất đai, trận địa của đối phương.


Quy luật tác chiến của chiến tranh xâm lược là vừa có tiến công, phản công và phòng ngự, vừa có đánh tập trung, đánh lớn với đánh phân tán, đánh nhỏ; vừa dùng quân sự để diệt đối phương, thống trị nhân dân, vừa dùng chính trị để mua chuộc, lừa phỉnh nhân dân, v.v...


Những quy luật nói trên bản thân nó vốn đã có mâu thuẫn. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, những mâu thuẫn đó lại càng bộc lộ ra một cách gay gắt và không sao giải quyết được. Đó là những mâu thuẫn giữa tìm diệt và bình định, giữa cơ động và chiếm đóng, giữa phân tấn và tập trung, giữa tiến công và phòng ngự, giữa tiêu diệt và tiêu hao, giữa quân sự và chính trị, giữa nhanh chóng và lâu dài, giữa mục đích và biện pháp...


Do những mâu thuẫn ngày càng gay gắt và không thể giải quyết nổi nên các quy luật của chiến tranh xâm lược đã bị hạn chế và không phát huy được tác dụng ở Việt Nam. Ở đây, đối lập với chúng là các quy luật tiến hành chiến tranh nhân dân, vừa có tiến công lại vừa có nổi dậy, vừa có chiến tranh lại vừa có khởi nghĩa. Trong thực tiễn, các quy luật của chiến tranh nhân dân, thông qua sự vận dụng nhuần nhuyễn của quân dân Việt Nam, đã làm cho các quy luật của chiến tranh xâm lược trở thành không thích hợp, do đó không phát huy được tác dụng.


Quy luật tiến công của một quân đội chính quy hiện đại trong chiến tranh xâm lược là tập trung lực lượng tiến công một cách ào ạt trên một tuyến rộng, có nhiều hướng, vừa tiêu diệt lực lượng vũ trang vừa chiếm lĩnh trận địa của đối phương, vừa chiếm đất đai và thống trị nhân dân lại vừa đánh phá hậu phương của đối phương để phá hủy tiềm lực chiến tranh của đối phương. Mặc dầu đã được quân đội Mỹ vận dụng một cách tương đối thành thạo, quy luật này vẫn bị hạn chế rất nhiều và không đem lại được kết quả mà đế quốc Mỹ mong muốn.


Qua thử thách trong thực tiễn, quy luật tiến hành chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ cũng có sự phát triển. Quân đội Mỹ không phải chỉ áp dụng chiến lược tiến công mà phải chuyển sang chiến lược vừa có tiến công vừa có phòng ngự. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, đánh tiêu diệt phải chuyên sang chiến lược đánh lâu dài, đánh tiêu hao. Chiến lược đánh lớn, đánh tập trung phải chuyển sang chiến lược vừa có đánh lớn, đánh tập trung vừa có đánh nhỏ, đánh phân tán. Chiến lược tìm diệt phải chuyển sang chiến lược vừa tìm diệt vừa bình định, v.v... Như vậy, chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ là một chiến lược bất định, một chiến lược rối bòng bong. Quân đội Mỹ phải chuyển từ tiến công sang phòng ngự, từ tìm diệt sang bình định, từ tiêu diệt sang tiêu hao, từ "Mỹ hóa" sang "phi Mỹ hóa" và Việt Nam hóa. Đó là một bước thụt lùi rõ ràng về chiến lược.


Rô-bớt Thôm-xơn có giúp đế quốc Mỹ một số ý kiến để làm chậm bước thụt lùi đó. Nhưng những ý kiến của Rô-bớt Thôm-xơn lại làm tăng thêm tính tiêu cực của chiến lược. Thôm-xơn không thấy rằng Mã Lai khác với Việt Nam. Ở Mã Lai, quân đội cách mạng chưa có một đội quân chính quy hùng mạnh, lại không có một hậu phương rộng lớn và vững chắc. Ở Việt Nam, quân đội Mỹ mà phân tán ra từng trung đội, tác chiến cơ động để bảo vệ các vùng dân cư thì chỉ làm mồi ngon cho quân dân Việt Nam. Ở Việt Nam, quân đội Mỹ đã tập trung từng tiểu đoàn, lữ đoàn mà còn bị tiêu diệt, thì đơn vị trung đội hỏi làm được cái gì? Thôm-xơn định gỡ mối rối này thì lại tạo ra những mối khác còn rối rắm hơn.


Quy luật cơ bản của chiến tranh là đánh tiêu diệt chiến lược. Trong đánh tiêu diệt chiến lược có nghệ thuật quyết chiến chiến lược. Có tiêu diệt chiến lược, có tiêu diệt được các tập đoàn lớn quân đội mới giải quyết triệt để được chiến tranh. Muốn đánh tiêu diệt chiến lược thì cần tổ chức các binh đoàn chiến lược để tiến hành các đòn tiến công chiến lược quyết định. Các binh đoàn chiến lược muốn thực hành tiến công chiến lược để tiêu diệt chiến lược, quyết chiến chiến lược thì phải có một hậu phương rộng lớn, vững chắc và có tổ chức. Đây là quy luật chung và cơ bản của chiến tranh.


Trước cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, hiện tượng dùng chiến tranh du kích để giải quyết chiến tranh xâm lược xuất hiện rất hiếm trong lịch sử. Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, trong điều kiện lịch sử mới của ba dòng thác cách mạng, cùng với sự suy tàn của hệ thống đế quốc thế giới, hiện tượng này có lác đác xuất hiện. Đó là trường hợp của An-giê-ri, Ghi-nê Bít-xao, Mô-dăm-bích, Ăng-gô-la. Trong những trường hợp này, chiến tranh thường phải kéo dài và thắng lợi thường không được triệt để. Còn trong các cuộc nội chiến thì hầu như chưa thấy chiến tranh du kích giải quyết được chiến tranh. Chiến tranh du kích có kết hợp với tổng khởi nghĩa vũ trang thì lại giải quyết được chiến tranh một cách tương đối nhanh, thí dụ như Cu-ba.


Chiến tranh là cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhất bằng hình thức vũ trang. Khi tiến hành chiến tranh thì phải dùng mọi hình thức, mọi phương pháp chiến tranh để giành thắng lợi. Muốn kết hợp những hình thức, phương pháp chiến tranh, vận dụng liều lượng của từng hình thức, phương pháp và xác định vị trí, vai trò của từng hình thức, phương pháp chiến tranh thì phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể và hoàn cảnh lịch sử của mỗi cuộc chiến tranh mà quyết định. Dù sao khi đã tiến hành chiến tranh thì việc nắm vững quy luật chung, quy luật cơ bản của chiến tranh vẫn là rất quan trọng.


Trong đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản trong chiến tranh là quyết liệt nhất và triệt để nhất. Tính chất quyết liệt và triệt để trong chiến tranh giữa giai cấp vô sản kiên định với giai cấp tư sản phản động nhất lại càng cao.


Đế quốc Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược bằng hình thức chiến tranh cục bộ lớn nhất, với phương pháp chiến tranh thông thường cao nhất ở Việt Nam. Nhân dân Việt Nam cũng đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân rất kiên quyết, với những hình thức và phương pháp rất cao để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược đó.


Ở Việt Nam, cuộc chiến tranh giữa đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam là một cuộc chiến tranh diễn ra rất quyết liệt, rất triệt để. Các hình thức và phương pháp chiến tranh cách mạng được phát triển toàn diện và ở trình độ rất cao. Những quy luật cơ bản của chiến tranh cách mạng Việt Nam là chiến tranh toàn dân và toàn diện, đấu tranh vũ trang toàn dân kết hợp với đấu tranh chính trị toàn dân trên cả ba vùng chiến lược. Những quy luật đó đã biểu hiện ở sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, sự kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, sự phát triển từ đấu tranh chính trị tiến lên khởi nghĩa từng phần, rồi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên chiến tranh du kích, và rồi từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy. Sự phát triển cao nhất là sự kết hợp toàn diện của các thành phần đó, tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn. Những quy luật này được vận dụng vào trong những điều kiện cụ thể của chiến tranh là tiêu diệt lực lượng quân sự của địch kết hợp với việc giữ và giành quyền làm chủ của nhân dân và tiến lên giải phóng hoàn toàn; kết hợp đánh tiêu hao rộng rãi với đánh tiêu diệt; đánh tiêu diệt nhỏ tiến lên đánh tiêu diệt vừa và lớn. Về đánh tiêu hao thì có thể đánh địch ở khắp mọi nơi và mọi lúc, cả ở chỗ địch yếu và ở chỗ địch mạnh, về đánh tiêu diệt và đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược để giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân thì đánh tiêu diệt ở chỗ địch yếu trước, tiến lên đánh tiêu diệt quân địch ở chỗ mạnh sau.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Hai, 2023, 03:15:12 pm
Từ những quy luật chiến tranh trên đây đã sinh ra quy luật về tác chiến chiến dịch là sự kết hợp giữa đòn tác chiến của các binh đoàn chủ lực với các bộ đội du kích cùng với đấu tranh chính trị và nổi dậy của nhân dân. Đó là sức mạnh tổng hợp về tác chiến của cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, của cả quân đội và nhân dân. Đó là một trong những hình thức chiến dịch của chiến tranh nhân dân cách mạng - chiến dịch tiến công tổng hợp.


Trong chiến tranh, quy luật của tiến công chiến lược rất phong phú. Có thể thực hành đòn tiến công chiến lược đánh vào chỗ quân địch mạnh trước, rồi tiếp tục thực hành các đòn tiếp sau một cách kế tiếp liên tục để giành thắng lợi nhanh chóng.


Trong lịch sử chiến tranh ở nước ta, Nguyễn Huệ đã thực hành chiến lược tiến công này. Khi chuyển sang phản công, Trần Hưng Đạo cũng đã thực hành các đòn tiến công tương tự như thế.

Trái lại, trong chiến tranh cũng có quy luật tiến công chiến lược là đánh quân địch yếu trước, đánh quân địch mạnh sau và giành thắng lợi lâu hơn. Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã vận dụng quy luật này. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp của nhân dân Việt Nam ở giữa thế kỷ XX, cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân các nước châu Phi chống đế quốc Pháp và đế quốc Bồ Đào Nha ở giữa thế kỷ XX cũng vận dụng quy luật này. Thậm chí đế quốc Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai, sau khi chuyển sang phản công quân đội phát xít Nhật ở Thái Bình Dương, cũng vận dụng quy luật tương tự như quy luật này. Sự khác nhau đó là do điều kiện của các cuộc chiến tranh khác nhau quyết định.


Quy luật có tính thực tiễn và khách quan. Quy luật tồn tại và vận động được là do có điều kiện cho nó tồn tại và vận động.

Quy luật của chiến tranh cách mạng Việt Nam rất phong phú, có phát triển và có sáng tạo. Quy luật cơ bản có tính vững chắc là tiến công, tiến công chiến lược, là đánh tiêu diệt, đánh tiêu diệt lớn. Quy luật cơ bản này vận động mạnh hơn các quy luật khác và đã làm cho chiến tranh có những bước chuyển biến lớn. Tác dụng của quy luật này đã thể hiện được vai trò, vị trí quan trọng của nó.


Quy luật chiến tranh xâm lược của quân đội chính quy hiện đại phát triển cao của đế quốc Mỹ đã đối lập một cách rất quyết liệt với quy luật của cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng cũng phát triển cao của nhân dân Việt Nam. Vì không phù hợp với những điều kiện lịch sử mới, quy luật chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ phải vận động một cách phụ thuộc vào sự vận động của quy luật chiến tranh nhân dân cách mạng Việt Nam. Quy luật đánh nhanh thắng nhanh, tác chiến quy mô lớn, lực lượng tập trung với hỏa lực mạnh, cơ động cao, tiến công ào ạt trên các tuyến, hướng và khu vực, nhất định phải chuyển sang quy luật đánh kéo dài, đánh phân tán trên diện rộng. Quy luật đánh lớn, tập trung phải bổ sung thêm phần đánh nhỏ. Quy luật tiến công ào ạt phải bổ sung thêm phần phòng ngự dàn mỏng. Quy luật tìm diệt phải chuyển sang nặng về bình định và ngăn chặn.


Tóm lại, quy luật của chiến tranh xâm lược dùng quân đội chính quy hiện đại lớn mạnh đánh tập trung tiêu diệt để thắng nhanh đã không phát huy dược tác dụng và phải chuyển sang đánh kéo dài, đánh tiêu hao, chiến tranh bình định mà rốt cuộc vẫn không thành công được.


Quy luật chung của chiến tranh xâm lược và quy luật được bổ sung của chiến tranh xâm lược đều không phát huy được tác dụng là do nó vấp phải quy luật chiến tranh nhân dân cách mạng rất phong phú.


Quy luật chiến tranh nhân dân cách mạng có một sức mạnh tổng hợp rất lớn. Có chiến tranh du kích rộng rãi và mạnh mệ, có đấu tranh chính trị và nổi dậy rộng khắp, sôi sục của nhân dân ở cả ba vùng chiến lược, mới tiêu hao rộng rãi được quân địch, mới làm cho quân địch phải phân tán, dàn mỏng, phải phòng ngự, lâm vào thế bị động, khốn quẫn. Có như thế, đòn tác chiến tập trung của quân ta mới có điều kiện để đánh tiêu diệt lớn, giành được thắng lợi lớn và làm chuyển biến cục diện chiến tranh.


Quy luật đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, quy luật tác chiến tập trung với tác chiến du kích, quy luật tiến công kết hợp với nổi dậy, đã tạo ra một sức mạnh tổng hợp rất lớn. Có như vậy mới làm đảo lộn được quy luật chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và làm cho nó không phát huy được tác dụng.


Các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh chống xâm lược chính nghĩa và tiến bộ thường có tính chất nhân dân. Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh toàn dân và toàn diện, chiến đấu bằng mọi hình thức, bằng mọi thứ vũ khí của mỗi người dân yêu Tổ quốc, yêu tự do, độc lập trên khắp đất nước.


Hình thái chiến tranh này tạo nên một thế trận thiên la địa võng của toàn dân, của mọi hình thức đấu tranh, trùng trùng điệp điệp vây hãm quân xâm lược và tiến công liên tục, mạnh mẽ quân thù ờ mọi phía, mọi nơi. Thế trận này tạo thành thế trận cài răng lược, xen kẽ chặt vào quân thù, không phân rõ chiến tuyến. Mỗi người dân là một mũi tiến công, mỗi bà già, mỗi em bé là một lực lượng chiến đấu, mỗi làng bản là một trận địa, pháo đài.


Thế trận từng người và thế trận từng làng tạo thành thế trận của triệu người, thế trận của cả nước đánh địch. Thế trận này là sức mạnh và là cơ sở vững chắc cho thế trận của các binh đoàn, các đạo quân diệt địch trên những địa bàn chiến lược rộng lớn.


Chiến tranh toàn dân, toàn diện, xen kẽ, cài răng lược là quy luật và cũng là truyền thống, là bí quyết thắng lợi của dân tộc ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước từ trước đến nay.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:02:20 pm
CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG NĂM 1972
BÀI HỌC XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ HIỆN NAY


Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT
Ủy viên Trung ương Đúng
Ủy viên Quân ủy Trung ương
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam


Cách đây tròn 50 năm, Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào đã phối hợp thực hiện thắng lợi chiến dịch phòng ngự trên địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đập tan kế hoạch lấn chiếm mùa mưa của quân phái hữu Lào và quân đánh thuê Thái Lan, bảo vệ vùng mới giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào, tạo thế trận vững chắc cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở chiến trường Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên. Đây là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào phối hợp thực hiện và đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự Việt Nam; tổ chức xây dựng, bố trí lực lượng và triển khai các phương án tác chiến hiệp đồng để đánh địch; sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương; hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch phòng ngự.


1. Khái quát thắng lợi của Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972

Sau thất bại nặng nề trong các Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào; Chiến dịch Đông Bắc Campuchia và Chiến dịch Đường 6 ở Campuchịa, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn vẫn âm mưu đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Đông Dương hóa chiến tranh theo “Học thuyết Níchxơn” hòng biến Đông Dương thành chiến trường do quân ngụy Sài gòn, ngụy Lon Non và ngụy Lào đảm nhiệm. Đây là lực lượng tác chiến chủ yếu để chống lại phong trào cách mạng của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, nhằm duy trì chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ đối với Đông Dương. Trên chiến trường miền Nam Việt Nam, Mỹ - ngụy tăng cường các hoạt động bình định nông thôn, sử dụng nhiều biện pháp đàn áp tàn bạo, đẩy mạnh các hoạt động bắt lính đôn quân, tăng cường lực lượng bảo an, dân vệ, trang bị vũ trang cho lực lượng ngụy quân, ngụy quyền nhằm kìm kẹp nhân dân, đánh phá cơ sở cách mạng hòng đẩy Quân giải phóng ra xa các vùng chiến lược quan trọng, làm cho lực lượng của ta mất chỗ đứng chân, không thể tạo bàn đạp để tiến công chúng trên chiến trường miền Nam.


Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, khu vực tác chiến trọng yếu để bảo vệ tuyến vận tải từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường ba nước Đông Dương. Đây là một vùng rừng núi nằm trên địa bàn của Lào, thời tiết ở khu vực này có hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô). Yếu tố địa hình phức tạp tác động lớn đến hoạt động tác chiến của ta và địch, nhất là việc di chuyển quân, bảo đảm chỉ huy, tác chiến hiệp đồng, hậu cần, kỹ thuật... Lực lượng của địch đến trước ngày 20 tháng 5 năm 1972 ờ Quân khu 2 (Lào) gồm 76 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo binh (trong đó có lực lượng của Quân khu 2 (Lào), lực lượng lính đánh thuê Thái Lan, lực lượng từ các nơi khác điều đến với quân số khoảng 18.400 tên được bố trí trên 4 khu vực bao quanh Cánh Đồng Chum, dưới sự hỗ trợ của hỏa lực không quân Mỹ1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 16), về phía liên quân Việt Nam - Lào, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã quán triệt sâu sắc chủ trương, quyết tâm của trên, chủ động chuẩn bị thế trận phòng ngự ngay sau Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, nhằm ngăn chặn ý đồ của địch chiếm lại địa bàn này trong mùa mưa. Lực lượng của ta và bạn được bố trí phòng ngự tại 5 khu vực: Khu trung tâm (Cánh Đồng Chum); khu trung gian (Hin Tặng), khu thứ yếu (Noọng Pẹt) và 2 khu tác chiến phối hợp (Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng). Lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam tham gia phòng ngự gồm: 5 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh; lực lượng Quân giải phóng nhân dân Lào gồm: 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 17-19). Các lực lượng tham gia chiến dịch được tổ chức thành các chốt và các cụm chốt, bao gồm 2 thành phân: Lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động.


Do chủ động phòng ngự nên ngay từ những ngày đầu, liên quân Việt - Lào đã quán triệt kỹ chủ trương của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, chủ động tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, chiến sĩ nắm vững mục tiêu chiến dịch, âm mưu, ý đồ lấn chiếm của địch, nhiệm vụ cụ thể của từng lực lượng. Vì vậy bộ đội ta đã nhận thức tốt nhiệm vụ, thấy rõ những thuận lợi khó khăn, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao trước khi bước vào chiến dịch, về mặt tổ chức, chúng ta đã chủ động kiện toàn lực lượng, bố trí cán bộ. Liên quân có đầy đủ thời gian để xây dựng thế trận, xây dựng trận địa phòng ngự, xây dựng cách đánh, chủ động huấn luyện, củng cố hệ thống công sự phòng ngự, chuẩn bị vật chất, vũ khí, phương tiện và phối hợp với bạn Lào để huy động sức người, sức của cho chiến dịch phòng ngự.


Kết quả trong toàn chiến dịch, ta và bạn đánh 244 trận (ta thực hiện 170 trận; bạn thực hiện 74 trận), loại khỏi vòng chiến đấu 5.607 tên địch (bắt 179 tên), đánh thiệt hại nặng 3 binh đoàn cơ động và 3 tiểu đoàn lính đánh thuê Thái Lan, đánh thiệt hại 5 binh đoàn cơ động khác; ta và bạn đã bắn rơi 38 máy bay và bắn cháy 2 chiếc khác, thu 859 khẩu súng các loại (trong đó có 4 khẩu pháo 105mm và 4 khẩu cối 106,7mm), đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân lấn chiếm quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 62-63). Sau gần 6 tháng chiến đấu kiên cường, giữ vững trận địa phòng ngự, địch đã hoàn toàn thất bại trước chiến dịch phòng ngự của liên quân Việt Nam - Lào, buộc phải rút khỏi các bàn đạp ở Cánh Đồng Chum. Liên quân đã chủ động kết thúc chiến dịch vào ngày 15 tháng 11 năm 1972.


hắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng khẳng định bộ đội ta và bạn Lào đã trưởng thành về nhiều mặt, cả lý luận và thực tiễn tổ chức chiến dịch phòng ngự; kỹ thuật và chiến thuật trong tác chiến phòng ngự. Điểm nổi bật của chiến dịch phòng ngự khu vực là lấy điểm tựa và cụm điểm tựa làm nòng cốt, có lực lượng cơ động mạnh để thực hiện phản kích và phán đột kích. Nghệ thuật sử dụng lực lượng và vận dụng cách đánh sáng tạo trong phòng ngự của ta đã có bước phát triển mới; kết hợp khéo léo giữa phòng ngự trận địa với cơ động phản kích, đột kích liên tục, chủ động tiến công địch để phòng ngự vững chắc; nắm chắc thời cơ và từng thời điểm quan trọng tổ chức những trận đánh then chốt có ý nghĩa quyết định để giành thắng lợi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:06:19 pm
2. Một số bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị rút ra từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng

Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giành thắng lợi có sự đóng góp to lớn của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, qua đó để lại nhiều bài học quý:

Một là, công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch luôn chú trọng và tăng cường yếu tố chính trị của từng đơn vị và mỗi cá nhân, đó là việc giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương và các cấp ủy Đảng thông qua việc quán triệt sâu sắc quan điểm, các nghị quyết của Trung ương Đảng, nghị quyết của Quân ủy đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho chiến dịch thắng lợi.


Hai là các cấp ủy Đảng trong chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, làm cho mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ của chiến dịch, âm mưu, thủ đoạn và ý đồ của địch, thấy được thuận lợi, khó khăn trong tổ chức phòng ngự; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào anh em cùng chiến đấu chống kẻ thù chung; trên cơ sở đó xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu kiên cường, tinh thần đoàn kết hiệp đồng chiến đấu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa ta và bạn.


Ba là, công tác đảng, công tác chính trị trong tác chiến chiến dịch đã chú trọng thực hiện dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng và tìm ra cách đánh hiệu quả để giành thắng lợi. Thực tiễn chiến dịch, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào chưa có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến phòng ngự. Vì vậy, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị các cấp đã chú trọng lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ việc quán triệt cách đánh địch trong chiến dịch phòng ngự, từ đó mọi cán bộ, chiến sĩ hiểu, nắm chắc, tự giác thực hiện và vận dụng linh hoạt, sáng tạo.


Bốn là, kịp thời động viên, khích lệ, biểu dương những đơn vị, cá nhân có sáng kiến và thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, bố trí lực lượng cũng như trong chiến đấu. Công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách trước, trong và sau chiến dịch đà xác định đúng nội dung, hình thức, biện pháp phù hợp với nhiệm vụ, đặc điểm, điều kiện tác chiến phòng ngự. Đã tiến hành tốt công tác dân vận đối với nhân dân nước bạn Lào và công tác địch vận; giáo dục, động viên bộ đội chấp hành chính sách và kỷ luật chiến trường; đề cao cảnh giác giữ gìn bí mật, phòng gian, đảm bảo an toàn cho bộ đội trong chiến dịch. Xây dựng tình đoàn kết chiến đấu giữa ta và bạn, mọi người, mọi đơn vị thuộc quân đội hai nước đều đồng tâm hiệp lực động viên, giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.


3. Vận dụng bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị hiện nay

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó dự báo; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quồc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 158). Quân ủy Trung ương xác định: “Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao cho”2 (Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW “về phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới ”, Hà Nội, 2021, tr. 1), trong đó, xác định tập trung xây dựng chất lượng tổng hợp của Quân đội, đặc biệt chú trọng xây dựng chất lượng chính trị. Đó vừa là yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, vừa là yêu cầu khách quan đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và của Quân đội ta. Những bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị được rút ra trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cho thấy: Để có sức mạnh chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, trước hết từng đơn vị tham gia chiến dịch phải thực sự vững mạnh về chính trị; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; sự tin tường, kiên định của bộ đội, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, cách đánh, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu kiên cường, phòng ngự tích cực, chủ động cho bộ đội; phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ; giữ vững mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, tăng cường đoàn kết hiệp đồng chiến đấu với quân đội và nhân dân Lào. Trong thời kỳ mới, vận dụng những bài học đó vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn điện của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện của các cấp ủy và tổ chức đảng là vấn đề cơ bản hàng đầu, quyết định đến chất lượng và hiệu quả xây dựng Quân đội về chính trị hiện nay. Toàn bộ hoạt động của bộ đội diễn ra ở các đơn vị trong toàn quân, vào mọi thời điểm, phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất của cấp ủy và tổ chức đảng các cấp.


Từ bài học rút ra của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã khẳng định rõ, các cấp ủy và tổ chức đảng phải luôn là hạt nhân lãnh đạo mọi hoạt động ở đơn vị, huy động được mọi tổ chức, mọi lực lượng tham gia xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị. Muốn vậy, cấp ủy và tổ chức đảng ở mỗi đơn vị phải thường xuyên chăm lo xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp, tính chiến đấu, tính tiền phong gương mẫu và năng lực lãnh đạo đối với đơn vị, bảo đảm ở đâu có hoạt động của bộ đội thì ở đó có sự lãnh đạo của tổ chức đảng, khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hay khoán trắng các nhiệm vụ quân sự cho người chỉ huy. Đặc biệt, khi có những tình huống phức tạp, cấp ủy và tổ chức đảng phải thực sự tỉnh táo, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để bộ đội đặt niềm tin vào tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cấp ủy và tổ chức đảng ở các đơn vị cần chủ động xác định chủ trương, xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung, phân công, phân cấp rõ ràng cho từng cấp ủy viên, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp ủy và tổ chức đảng đối với từng nhiệm vụ, từng đối tượng, từng thời gian. Nắm vững và đánh giá đúng tình hình của đơn vị mình, thấy rõ chỗ mạnh, chỗ yếu và chiều hướng phát triển tư tưởng trong đơn vị; nắm vững tâm tư, nguyện vọng, thái độ chính trị, trách nhiệm của mỗi người đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, từ đó có nội dung, biện pháp tích cực, chủ động, nhạy bén để lãnh đạo. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt Kết luận số 21-KL/TW ngày 25 tháng 10 năm 2021 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện ‘‘tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thực hiện tốt Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Quân ủy Trang ương “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.


Thứ hai, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phù hợp với tình hình cách mạng, nhiệm vụ của Quân đội, đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ chủ trì, nhất là chính ủy, chính trị viên


Trong Quân đội, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng là một bộ phận hợp thành công tác đảng, công tác chính trị, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đường lối quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ của Quân đội; trang bị cho cán bộ, chiến sĩ thế giới quan, phương pháp tư duy biện chứng và những kiến thức cần thiết, xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa, tinh thần, phát huy phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”.


Thực tiễn Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cho thấy: Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị - tư tưởng mà bộ đội luôn quán triệt tốt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương, xác định rõ nhiệm vụ, nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn lấn chiếm của địch, thấy được khó khăn, thuận lợi, xây dựng quyết tâm chiến đấu để giành thắng lợi. Sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới đất nước, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu xây dựng Quân đội hiện nay đã và đang có những bước phát triển mới, do đó, nội dung, hình thức công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong Quân đội ta phải thường xuyên được đổi mới theo hướng: Mở rộng nội dung một cách toàn diện, gắn với thực tiễn, tăng chiều sâu, đa dạng, phong phú về hình thức. Nội dung công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phải xuất phát từ mục đích của công tác giáo dục, luôn bảo đảm tính khoa học, thiết thực và khách quan. Nội dung công tác giáo dục chính trị - tư tưởng ở các đơn vị trong Quân đội phải trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, bám sát nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ Quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, phải hết sức coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh cho cán bộ, chiến sĩ, tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở mọi lúc, mọi nơi.


Người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên là cán bộ chủ trì của đơn vị. Bản lĩnh, ý chí, quyết tâm chiến đấu của đội ngũ cán bộ chủ trì có tác động lớn đến bản lĩnh, ý chí, trình độ và phẩm chất của bộ đội. Do đó, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay phải luôn đề cao và phát huy tốt vai trò của cán bộ chủ trì. Cán bộ chủ trì ở từng đơn vị phải thực sự là người năng động, sáng tạo, nắm vững tình hình, nắm vững đơn vị, tổ chức tốt công tác giáo dục chính trị, quản lý và giải quyết tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ. Chính ủy, chính trị viên phải luôn thấm nhuần và thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”; “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công binh như một người anh, hiểu biết như một người bạn”1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5 (1947 - 1948), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 484); tích cực tu dưỡng, rèn luyện, thực sự là tấm gương sáng để bộ đội noi theo.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:07:16 pm
Thứ ba, tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống dân tộc, truyền thống Quân đội, đơn vị, truyền thống quê hương, truyền thống đoàn kết keo sơn giữa Quân đội ta với Quân đội Lào

Đây là một nội dung rất quan trọng, góp phần xây dựng niềm tin, niềm tự hào, động lực tinh thần của mỗi quân nhân trong thời bình cũng như khi chiến tranh xảy ra. Trong công cuộc giữ nước, truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết... đã được hun đúc qua bao thế hệ, trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính truyền thống đó đã nuôi dưỡng, vun đắp và khơi dậy cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta viết tiếp truyền thống kiên cường, anh dũng, vượt mọi khó khăn, bách chiến bách thắng, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân. Vì vậy, cần đẩy mạnh giáo dục các giá trị truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là giáo dục truyền thống của dân tộc, quân đội, đơn vị và địa phương để xây dựng trong mỗi quân nhân niềm tự hào về dân tộc, tự hào về Quân đội, đơn vị và quê hương mình, ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện góp phần xây dựng đơn vị, quc hương, đất nước, quyết tâm bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, càng phải luôn giữ gìn và xây đắp ngày càng bền chặt mối quan hệ đoàn kết đăt biệt Việt Nam - Lào. Cần làm cho mọi quân nhân luôn nhận thức đúng và phát huy truyền thống tốt đẹp quan hệ gắn bó, keo sơn giữa Đảng, Nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam với Đảng Nhân dân và Quân đội nhân dân Lào trong những năm tháng chiến đấu bên nhau chống kẻ thù chung và trong công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước của mỗi quốc gia hiện nay, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lào và Việt là hai nước anh em. Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là mật thiết... Đoàn kết chặt thì lực lượng to. Lực lượng to thì quyết thắng lợi”1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4 (1945 - 1946), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 161); “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8 (1953 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 105).


Thứ tư, tổ chức thực hiện tốt vấn đề dân chủ, kỷ luật, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch

Dân chủ rộng rãi, kỷ luật nghiêm minh là một truyền thống thuộc về bản chất của Quân đội ta. Bài học sâu sắc rút ra từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cho chúng ta thấy, một trong những tiền đề quan trọng để liên quân Việt Nam - Lào có nhiều cách đánh hay, sáng tạo, bất ngờ đối với quân địch là do chúng ta đã mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ của mọi quân nhân trong xác định cách đánh địch và giữ nghiêm kỷ luật chiến trường. Từng đơn vị, mỗi quân nhân luôn là chủ thể của mọi hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa... có ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, đoàn kết nhất trí, thương yêu nhau, cùng nhau bàn bạc, góp mưu hiến kế, tìm mọi cách thực hiện triệt để chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; thực hiện dân chủ rộng rãi, kỷ luật nghiêm minh trong Quân đội là nhân tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, tiếp tục phát huy bản chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay phải phát huy hơn nữa quyền làm chủ của cán bộ và chiến sĩ, chăm lo xây dựng và phát huy nhân tố con người để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đồng thời, tăng cường và giữ nghiêm kỳ luật quân sự, tạo ra ý thức tự giác chấp hành kỷ luật của mọi quân nhân. Đề cao vai trò của tổ chức quần chúng và Hội đồng Quân nhân trong thực hiện dân chủ, tham gia giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, biện pháp lãnh đạo của tổ chức đảng, mệnh lệnh của người chỉ huy. Tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, kiên quyết đập tan âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội; đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết Việt Nam - Lào, đẩy mạnh phòng chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội.


Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là thắng lợi của tinh thần, ý chí và nghệ thuật quân sự đặc sắc của Việt Nam; của tình đoàn kết, gắn bó, cùng chung một chiến hào chống kẻ thù chung của quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Thắng lợi của chiến dịch đã để lại nhiều bài học quý, còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Từ những bài học đó, cho thấy: Bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản cần được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Đây là cơ sở, tiền đề để Đảng và Nha nước hoạch định chủ trương, đường lối xây dựng Quân đội, bảo đảm cho Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng Nhà nước và nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:09:20 pm
CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG NĂM 1972 THÀNH CÔNG VỀ CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN CỦA BỘ TỔNG THAM MƯU


Trung tướng PHÙNG SĨ TẤN
Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam


Cách đây 50 năm, liên quân Việt - Lào chủ động tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nhằm đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của địch trong mùa mưa năm 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải cho hai chiến dịch tiến công Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam Việt Nam. Sau gần 6 tháng chiến đấu liên tạc, liên quân Việt - Lào thực hiện đánh 244 trận, trong đó có nhiều trận phản đột kích quan trọng; loại khỏi vòng chiến đấu hơn 5.759 tên địch, đánh thiệt hại và thiệt hại nặng các binh đoàn cơ động chiến lược của chúng, giữ vũng địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum và sự liên kết giữa các vùng căn cứ của bạn Lào; đồng thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta. Thành công của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là thành quả của nhiều nhân tố hợp thành, trong đó công tác tham mưu, chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu giữ vai trò rất quan trọng.


1. Nghiên cứu, đánh giá đúng về địch, vị trị chiến lược của Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chủ động xây dựng kế hoạch, kịp thời tham mưu cho Quân ủy Trung ương mở chiến dịch phòng ngự, giành thế chủ động trên chiến trường

Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, nhất là sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ và quân đội Sài Gòn ờ Đường 9 - Nam Lào năm 1971, quân Mỹ và tay sai lâm vào thế bị động chiến lược, buộc phải chuyển vào phòng ngự nhằm duy trì cho cục diện chiến trường khỏi bị đảo lộn, đồng thời xúc tiến tìm một giải pháp chính trị có lợi trên bàn Hội nghị Pari. Trong lúc quân đội Sài Gòn phải co lại phòng ngự thì Mỹ thúc quân ngụy Lào và Campuchia đẩy mạnh các hoạt động quân sự nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho các chiến trường, hòng chặn đứng các cuộc tiến công quy mô lớn của ta trong năm 1972.


Trong khi Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971 - 1972 của liên quân Việt Nam - Lào còn đang tiếp diễn, ngày 26 tháng 1 năm 1972, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó, người trực tiếp theo dõi và chỉ huy chiến dịch về Hà Nội, báo cáo kết quả, ưu điểm, thiếu sót của đợt đầu chiến dịch với Thường vụ Quân ủy Trung ương, về phương hướng nhiệm vụ sắp tới ở khu vực Cánh Đồng Chum, đồng chí đề nghị: “Tiếp tục tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng hoàn toàn vùng Loong Chẹng đến Nậm Ngừm. Trước mắt, cần tập trung giữ vững tuyến trung gian, những điểm cao có lợi gần Loong Chẹng, đánh bại các cuộc phản kích của địch, đồng thời tích cực chuẩn bị chu đáo về mọi mặt để giải quyết nhanh, gọn việc giải phóng Loong Chẹng. Sau đó, giữ vững vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, để các vùng này trở thành căn cứ địa vững chắc của bạn”1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 411,412).


Cánh Đồng Chum là một cao nguyên rộng lớn thuộc tỉnh Xiêng Khoảng, có địa hình phức tạp: Rừng rậm, núi cao hiểm trở xen kẽ những thung lũng rộng, bằng phẳng. Đây là địa bàn có giá trị chiến lược cả về quân sự, chính trị và kinh tế của nước bạn Lào. Về quân sự, khu vực này vừa có thế tiến công, phòng thủ vững chắc, vừa bảo đảm cho cách mạng Lào phát triển; đồng thời, ảnh hưởng đến tuyến chi viện chiến lược từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường ba nước Đông Dương. Vì thế, ngay sau khi ta và bạn tổ chức chiến dịch tiến công và làm chủ toàn bộ khu vực này, địch đã tăng cường lực lượng, do Mỹ trực tiếp chỉ huy và chi viện không quân hòng bao vây, chiếm lại địa bàn đã mất.


Phân tích về vị trí chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Bộ Tổng Tham mưu nhận thấy có hiện tượng đã thành quy luật là: Mùa khô ta giành quyền làm chủ, đến mùa mưa, do khó khăn về đường giao thông và tiếp tế, ta buộc phải rút bớt lực lượng thì địch lấn chiếm trở lại. Do đó, ngay sau khi liên quân Việt Nam - Lào giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và phát triển sâu vào Sảm Thông - Loong Chẹng, ta và bạn thống nhất chủ trương tổ chức phòng ngự một cách chủ động, quyết không để địch tái chiếm lại địa bàn chiến lược quan trọng này trong mùa mưa năm 1972.


Quán triệt quyết tâm chiến lược của Trang ương Đảng Lao động Việt Nam và Trang ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tháng 2 năm 1972, Hội nghị Quân ủy Trung ương Việt Nam xác định: Phải giành thắng lợi lớn, tạo nên so sánh lực lượng và cục diện mới có lợi cho ta, buộc địch phải chấm dứt chiến tranh trong năm 1972 theo điều kiện của ta, đồng thời có sự chuẩn bị mọi mặt để tiếp tục đánh mạnh hơn nữa vào mùa khô 1972 - 1973 nếu địch còn ngoan cố kéo dài chiến tranh1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 21). Chấp hành chủ trương đó và trên cơ sở thực tiễn của chiến trường Lào, ngày 13 tháng 2 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu hoàn thành soạn thảo Mệnh lệnh về tổ chức chiến dịch phòng ngự khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và Sảm Thông - Loong Chẹng. Mệnh lệnh nêu rõ:

Căn cứ vào tình hình trên, nhiệm vụ quân sự của Bộ Tư lệnh 959 là cùng với bạn xây dựng vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thành một khu vực phòng thủ vững chắc lâu dài, toàn diện, tạo thế bất khả xâm phạm cho vùng căn cứ địa cách mạng của bạn, đồng thời là bàn đạp xuất phát tiến công của ta về hướng Tây và Tây Nam. Về phương châm chỉ đạo tác chiến: Kết hợp chặt chẽ cơ động tiến công với chốt giữ khu vực, lực lượng cơ động là thành phần chủ yếu, chốt là thành phần quan trọng. Lấy tác chiến hiệp đồng binh chủng là phương án tác chiến chủ yếu, đồng thời tổ chức phòng thủ tác chiến có trọng điểm. Vận dụng tổng hợp nhiều hình thức chiến thuật, nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975, Tập VIII (1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 57, 58). Chủ trương tổ chức chiến dịch phòng ngự khu vực chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được Quân ủy Trung ương ta và bạn nhanh chóng thống nhất. Tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi đã nhận được chỉ thị sơ bộ: Sau chiến dịch tiến công, liên quân Lào - Việt sẽ chuyển sang phòng ngự chiến dịch2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Sđd, tr.415).


Đến đầu tháng 4 năm 1972, địch liên tục điều động lực lượng, đưa tổng số quân ở Quân khu 2 lên tới 18.400 tên, gồm 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh (có 18 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh quân Thái Lan) và nhiều phương tiện chiến tranh nhằm chuẩn bị mở cuộc tiến công giành lại địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào mùa mưa. Trước tình hình trên, ngày 1 tháng 4 năm 1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương ta chỉ đạo Đảng ủy - Bộ Tư lệnh 959 và các lực lượng tác chiến ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng sử dụng bộ phận lực lượng tiếp tục hoàn thành đánh chiếm những địa hình có lợi, ra sức củng cố chỗ đứng chân, đồng thời đẩy mạnh việc triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu. Đồng thời, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ rõ: Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào khẩn trương triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi bao gồm cả khu trung gian; kiên quyết đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm quy mô lớn của địch trong mùa mưa 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng của ta, trên cơ sở đó xây dựng địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum thành căn cứ địa cách mạng vững mạnh. Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng chiến lược của địch, làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng của bạn khi co giải pháp chính trị, đồng thời thu hút lực lượng và sự chi viện của không quân Mỹ, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoạt động thuận lợi; tích cực đánh địch bằng nhiều hình thức, khống chế khu tung thâm Loong Chẹng, Buôm Loọng, buộc địch phải đối phó trong suốt mùa mưa1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cảnh Đông Chum mùa mưa năm 1972, 1977 tr. 29).


Trong ngày 1 tháng 4 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Cánh Đồng Chum - Mường Sủi nêu rõ: Trong khi chờ phái viên sang trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của Bộ, cần tập trung lực lượng Sư đoàn 312 và Sư đoàn 316 (các đơn vị đang chiến đấu ở khu vực Phu Mộc, Nậm Chà, Ta Can) kiên quyết tiêu diệt quân địch phản kích vào các chốt của ta. Đây là nhiệm vụ chính, vì thế, cần có kế hoạch và hướng dẫn đầy đủ cho các đơn vị trên thực hiện tốt nhiệm vụ. Cần tăng cường cán bộ xuống trực tiếp kiểm tra, đôn đốc và giúp đỡ cấp dưới về các mặt tổ chức, chỉ huy và cách đánh. Ngay lập tức cần tổ chức một số phân đội có nhiệm vụ đánh nhỏ quân địch ở trong tung thâm và phía sau Loong Chẹng, các phân đội này luân phiên hoạt động trong suốt mùa mưa. Lực lượng mỗi phân đội từ 1 đến 2 trung đội bộ binh, từ 1 đến 2 đội đặc công, cán bộ và chiến sĩ đều được chọn lọc, giáo dục nhận thức rõ nhiệm vụ, bồi dưỡng kỹ thuật, chiến thuật tốt, trang bị gọn nhẹ nhưng mạnh (B40, Ẹ41, cối 60mm, cối 82mm, súng bộ binh, mìn...), thông tin bảo đảm1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Sđd, tr.417). Đầu tháng 4 năm 1972, Quân ủy Trang ương hai nước ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đồng chí Vũ Lập được chỉ định làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh làm Chính ủy; phía bạn Lào có đồng chí Xiphon Phalikhăn - Tư lệnh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh về quân sự2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 766, 866 quân tình nguyên và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 203).


Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng khẩn trương tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng ngự chiến dịch. Khu vực phòng ngự được xây dựng trong phạm vi tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng (khoảng 300km2), bố trí thành 5 khu vực: Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu, đánh địch trên hướng Nam và Tây Nam; Hin Tặng là khu vực phòng ngự cơ bản; Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu; Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng là những khu vực tác chiến phối hợp đánh địch từ xa nhằm bảo vệ sườn Tây Bắc và sườn Đông của Cánh Đồng Chum.


Để phát huy sức mạnh lực lượng vũ trang hai nước, hai bên đã thống nhất: Các đơn vị Việt Nam phụ trách khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian, khu Noọng Pẹt; các đơn vị Lào phụ trách khu vực Xiêng Khoảng và khu vực Mường Sủi1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, Sđd, tr. 38). Về tổ chức phòng ngự, tại các khu vực trọng yếu xây dựng trận địa liên hoàn, hình thành hệ thống các khu vực vững chắc, nhiều tuyến, có chiều sâu. Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức 2 thành phần chiến đấu2 (Sau chiến dịch tiến công khôi phục lại Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, Sư đoàn 312 và một số đơn vị chủ lực ta rút về làm nhiệm vụ ở chiến trường miền Nam. Đến đầu tháng 5 năm 1972, lực lượng ta tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng còn các trung đoàn 148 và 174 thuộc Sư đoàn 316; 2 trung đoàn độc lập 866 và 335, 2 tiểu đoàn đặc công (27 và 41), Tiểu đoàn Pháo binh 42, 2 tiểu đoàn cao xạ 37mm, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 và 14,5mm, 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp, 2 tiểu đoàn công binh. Lực lượng bạn tham gia chiến dịch có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh, 4 đại đội bộ đội địa phương và du kích): Lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động. Lực lượng phòng ngự gồm: Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) và Trung đoàn 866, được tăng cường 1/3 xe tăng - thiết giáp và 1/4 số pháo chiến dịch, mỗi trung đoàn cũng tổ chức lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động; lực lượng cơ động chiến dịch gồm: Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) và Trung đoàn 335 (đến tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường thêm Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C). Quyết tâm của Bộ Tư lệnh Chiến dịch về thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị: Khu trung gian và khu Mường Sủi, xong trước ngày 20 tháng 5; khu trung tâm Cánh Đồng Chum, Noọng Pẹt, Xiêng Khoảng, xong trước ngày 15 tháng 7.


Cùng với tổ chức phân công lực lượng chốt giữ trên từng khu vực, ta và bạn thống nhất xác định khu vực tiếp giáp giữa hai bên để làm cơ sở xây dựng kế hoạch hiệp đồng. Đây là một trong những nét sáng tạo nổi bật trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Với cách tổ chức này, các lực lượng chiến dịch vừa có thể chủ động đánh địch trên các hướng, vừa có thể chi viện, hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình tác chiến; đồng thời, thuận tiện cho việc chỉ huy, phát huy sở trường của từng lực lượng mỗi bên.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:11:43 pm
2. Khẩn trương chỉ đạo xây dựng hệ thống công sự, trận địa liên hoàn, vững chắc, tạo sức mạnh đánh bại các đợt tiến công quy mô lớn của địch

Do thời điểm chuẩn bị chiến dịch đúng vào mùa mưa (5.1972) nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng trận địa và vận chuyển vật chất hậu cần, kỹ thuật. Hơn nữa, việc phải tổ chức nhiều khu vực phòng ngự khiến khối lượng đào đắp công sự, hầm hào, đường cơ động,... tăng cao. Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với bạn, tích cực xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự và vận chuyển vật chất hậu cần, kỹ thuật phục vụ chiến dịch. Trong đó nhấn mạnh: “Ngay từ lúc này, phải chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị bộ đội, làm cho các cấp quán triệt quyết tâm, tổ chức huấn luyện theo phương án tác chiến nhưng phải bảo đảm giữ bí mật...”1 (Bộ Tổng Tham mưu kết luận nhiệm vụ tác chiến và xây dựng lực lượng của Bộ Tư lệnh Mặt trận 316 tại Lào, số 179/VP-TM (Dẫn theo: Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975, Tập VIII (1972), Sđd, tr. 269)). Thực hiện chỉ đạo, chỉ trong thời gian ngắn, các lực lượng chiến dịch đã củng cố, làm mới được khoảng 300km đường, bảo đảm vận chuyển và cơ động lực lượng chiến đấu được thông suốt. Riêng Trung đoàn 148 làm mới 2 tuyến đường dài 40km với 80 chiếc cầu nhỏ. Trung đoàn 866 làm được nhiều đường cơ động và bắc cầu dây cáp qua suối Nậm Khô2 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, Sđd, tr. 51-52). Hệ thống thông tin liên lạc được tổ chức hoàn chỉnh bằng cả 3 phương tiện: Hữu tuyến điện, vô tuyến điện và thông tin vận động. Riêng về hữu tuyến điện, đã tăng cường tuyến đường dây cáp ngầm từ Bộ Tư lệnh Chiến dịch qua Phu Tâng, Phu Seo vào đến khu vực trung gian và phát triển trên 197km dây điện thoại, bảo đảm cho cấp chiến dịch nắm trực tiếp các trung đoàn cơ động, các phân đội hỏa lực, các trận địa phòng ngự then chốt. Lực lượng công binh đã giải quyết xong đường cơ động cho xe tăng, pháo binh, thậm chí còn làm ngầm qua suối, phòng khi mưa lũ.


Trước khi chiến dịch chuyển vào phòng ngự, một lượng lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm và các loại nhu yếu phâm cần thiết đã được đưa vào địa bàn chiến địch, bảo đảm đủ đánh địch từ 3 đến 4 tháng. Hệ thống công sự, trận địa chiến dịch được xây dựng vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp, giao thông hào nối liền giữa các cứ điểm, tạo thế liên hoàn, vững chắc, hiểm hóc. Đặc biệt, ta và bạn đã làm 658m đường hầm xuyên núi ở Phu Tâng, Phu Keng, Phu Học và nhiều công sự kiên cố ở các chốt và cụm chốt trọng yếu ở khu trung gian, trong các cứ điểm quan trọng, bảo đảm vừa hạn chế sát thương, vừa cơ động chiến đấu kịp thời1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 37)... Do chuẩn bị tốt công sự, đường sá, hệ thống thông tin nên lực lượng tham gia chiến dịch nhanh chóng cơ động, triển khai đón đánh địch kịp thời, hiệu quả. Trong hai ngày 21 và 22 tháng 8, khi các hướng đang triển khai đánh địch tiến công từ ngoài vào, địch bất ngờ sử dụng máy bay trực thăng đổ 2 binh đoàn cơ động (21, 26) xuống khu vực Đông Bắc Phu Keng, định đánh bất ngờ vào trung tâm Cánh Đồng Chum. Song, nhờ vận dụng phương thức phòng ngự linh hoạt, Trung đoàn 335 đã phối hợp với 1 tiểu đoàn (có xe tăng đi cùng) của Quân giải phóng nhân dân Lào tổ chức trận phản đột kích, tiêu diệt hơn 650 tên, bẻ gãy hoàn toàn mũi tiến công bằng đổ bộ đường không của địch vào khu vực phòng ngự.


3. Chỉ đạo hiệp đồng chặt chẽ giữa ta với bạn, đánh địch rộng khắp, thực hiện thắng lợi các trận then chốt, tiêu diệt lớn sinh lực địch, giữ vững địa bàn chiến lược

Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng lực lượng thông thuộc địa bàn, nhất là lực lượng vũ trang tại chỗ của bạn để tổ chức luồn sâu nắm tình hình ngay từ khi địch chuẩn bị tiến công; từ đó, tổ chức lực lượng cơ động đánh địch trên các hướng, phá vỡ thể tiến công, làm giảm áp lực tiến công của chúng vào các trận địa phía trước. Dưới sự chỉ huy, điều hành thống nhất của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, các đơn vị bộ đội Việt Nam và Lào đều chủ động đánh địch theo phạm vi đảm nhiệm, kiên quyết đẩy lùi mọi đợt tiến công, tạo thế trận đánh địch rộng khắp, nhất là trên hướng phòng ngự chủ yếu của chiến dịch. Đồng thời, tạo thời cơ để chiến dịch tập trung cả binh lực và hỏa lực đánh trận then chốt, then chốt quyết định tiêu diệt lớn sinh lực địch. Khi đánh địch ở khu vực tiếp giáp giữa ta và bạn, hai bên đã hiệp đồng chặt chẽ trong từng tình huống tác chiến, bảo đảm bọc lót, chi viện cho nhau trong suốt quá trình chiến đấu, tạo hiệu ứng lớn về tiêu diệt địch, giữ vững trận địa.


Theo dõi sát diễn biến chiến trường, Bộ Tổng Tham mưu luôn có những chỉ đạo kịp thời, ngày 31 tháng 8, Tổng Tham mưu trường gửi điện yêu cầu cùng với chủ động, tích cực đánh địch, phải đánh với tinh thần hét sức tiết kiệm, ít tổn thất nhất. Phải hết sức coi trọng việc giữ gìn lực lượng bộ đội và vật chất của ta để đủ sức đánh địch từ nay đến mùa khô và đánh bại cuộc hành quân lấn ra của địch, cần phát huy sức mạnh lực lượng tại chỗ, chủ động đánh địch ngay khi chúng mới đến, diệt cho được quân luồn lách, trực thăng và chỉ huy các cấp của địch. Đồng thời, phải nắm thật chắc lực lượng cơ động, tránh xé lẻ phân tán ra đối phó hoặc sử dụng sớm đánh vào những mục tiêu không phải quyết định làm sức ta mệt mỏi, tiêu hao trong lúc lực lượng cơ động và thê đội 2 của địch còn nhiều và chưa xuất hiện1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Thạm mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975, Tập VIII (1972), Sđd, tr. 363).


Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, ta và bạn đã đẩy lùi mọi đợt tiến công của địch. Trong đó, bạn tập trung lực lượng đánh địch tiến công, bảo vệ phía bên phải và phía bên trái của khu vực chiến dịch, còn ta đánh địch phía chính diện, bảo vệ phía sau, đồng thời chi viện cho bạn đánh địch ở khu vực tiếp giáp. Sự phối hợp này đã liên tiếp đánh bại 4 đợt tiến công của địch, thực hiện thắng lợi ba trận then chốt trong các đợt 2, 3 và 4. Đặc biệt, trong trận phản đột kích thứ 3, địch sử dụng các binh đoàn cơ động (23, 30 và 31),... đồng loạt mở cuộc tiến công từ hướng Nam lên Phu Huột, Bản Xưa, Điểm cao 1172 (phía bên trái đội hình) và vào Cha Ho, Phu Tây (phía bên phải đội hình), hòng đánh vào trung tâm phòng ngự của ta. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã kịp thời điều chỉnh kế hoạch tác chiến, tổ chức sử dụng lực lượng một cách linh hoạt, đón đánh địch trên các hướng. Trong đó, việc phối hợp của liên quân Việt Nam - Lào, nhất là sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động đã tạo sức mạnh tổng hợp, đánh thiệt hại nặng lực lượng chủ yếu của địch (GM 23) tại khu vực trung gian phía Nam Cánh Đồng Chum, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi trận then chốt quyết định và của cả chiến dịch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:12:28 pm
Như vậy, với vai trò cơ quan tham mun chiến lược, Bộ Tổng Tham mưu đã hoàn thành nhiệm vụ giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo liên quân Việt Nam - Lào tiến hành thắng lợi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, góp phần vào thắng lợi cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Thắng lợi này củng cố thêm một bước quan hệ gắn bó giữa hai Đảng, hai dân tộc, hai quân đội trong nhiệm vụ chung là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ kết quả này, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng về chỉ đạo tác chiến chiến lược hiện nay, đó là:

Thứ nhất, cần quán triệt và thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng về công tác quân sự, quốc phòng

Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu phải quán triệt và triển khai thực hiện thắng lợi đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhất là Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, các nghị quyết của Quân ủy Trung ương, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Tiếp tục quán triệt thực hiện hiệu quả Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia... Nắm chắc tinh thần cốt lõi của Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 155-157). Cụ thể hóa các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị đó, Bộ Tổng Tham mưu phải chủ động nghiên cứu, nâng cao chất lượng, phân tích, đánh giá và dự báo chính xác tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới, kịp thời tham mưu, đề xuất các chủ trương, đối sách đúng đắn những vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng.


Thứ hai, nắm vững âm mưu, hành động của địch và khả năng tác chiến của Quân đội, thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa


Trong tác chiến nói chung, tác chiến chiến lược nói riêng, thế trận luôn là nhân tố quan trọng, cùng với các yếu tố khác làm thay đổi cục diện chiến trường, chiến tranh. Đây là hoạt động đầu tiên, cần thiết trong lập thế trận nhằm tạo ra các điều kiện, hoàn cảnh có lợi cho tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bởi, thông qua hoạt động tạo thế, chúng ta mới có thể phá được thế trận tiến công của địch, tạo cơ sở cho việc bày thế để hoàn chỉnh thế trận ban đầu có lợi cho tác chiến.


Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực luôn chứa đựng nhiều diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, Bộ Tổng Tham mưu phải nắm vững âm mưu, hành động của địch và khả năng tác chiến của Quân đội, nắm bắt kịp thời những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nghệ thuật quân sự mới; tiếp tục thực hiện tốt chức năng là cơ quan tham mưu chiến lược trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, nhất là kịp thời tham mưu, đề xuất “đúng, trúng” các kế hoạch, phương án tác chiến chiến lược. Để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, Bộ Tổng Tham mưu cần chủ động tham mưu, đề xuất thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, đề án, chương trình, kế hoạch về quân sự, quốc phòng; xây dựng và hoàn thiện phương thức đấu tranh quốc phòng, lý luận về tác chiến chiến lược, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục thực hiện nghiêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; chủ động xây dựng, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn kiện tác chiến cũng như điều chỉnh bố trí lực lượng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ; tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển, nội địa, địa bàn trọng điểm và không gian mạng, sẵn sàng chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.


Thứ ba, tiếp tục tham mưu và chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng tinh, gọn, mạnh; tăng cường tiềm lực quốc phòng, tích cực xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.


Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hòi Bộ Tổng Tham mưu phải tập trung rà soát, hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu tổ chức Quân đội theo Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17 tháng 1 năm 2022 của Bộ Chính trị về “Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 2 tháng 4 năm 2022 của Quân ủy Trung ương lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Kế hoạch của Bộ Quốc phòng thực hiện Nghị quyết số 230; xây dựng và ban hành biểu biên chế tổ chức mới; thông tư, quyết định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong toàn quân. Tham mưu đẩy mạnh hiện đại hóa các lực lượng, quân, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại, đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức; cùng với đó, đưa ra các giải pháp chiến lược trước mắt và lâu dài phát triển công nghiệp quốc phòng; sản xuất, mua sắm vũ khí trang bị hiện đại, phù hợp với tổ chức biên chế, khả năng tác chiến và phương án tác chiến mới của Quân đội trong tình hình mới. Đồng thời, tiếp tục triển khai và thực hiện tốt Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X “Vc tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 21/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”; nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 157). Đây là sự kế thừa, phát triển tư tưởng “lo giữ nước từ sớm từ xa, từ lúc nước chưa nguy” của dân tộc trong tình hình mới nhằm phòng ngừa, xử lý có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh. Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Tổng Tham mưu phải chủ động nghiên cứu kịp thời điều chỉnh lực lượng, thế trận, hình thành thế bố trí chiến lược, liên hoàn vững chắc; chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân duy trì nghiêm chế độ, nền nếp trực sẵn sàng chiến đấu; làm tốt công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý chặt chẽ vùng biển, vùng trời, biên giới, hải đảo; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quyết tâm kế hoạch, phương án tác chiến, chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng khác, xử lý kịp thời hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bất ngờ về chiến lược.


Thứ tư, nắm chắc tình hình, kịp thời chỉ đạo toàn quân, nhất là những đơn vị đóng quân trên địa bàn trọng yếu, chiến lược xử trí linh hoạt, kịp thời các tình huống

Trước yêu cầu đòi hỏi cao của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia cả trên bộ, trên không, trên biển và không gian mạng, Bộ Tổng Tham mưu phải làm tốt công tác tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải các nguy cơ chiến tranh, xung đột, không để bị động, bất ngờ, nắm chắc tình hình, tích cực chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân, nhất là địa bàn trọng yếu, chiến lược nắm chắc diễn biến tình hình, những vấn đề phức tạp mới nảy sinh; từ đó đánh giá, dự báo đúng, kịp thời xử trí linh hoạt, đúng đắn các tình huống; kiên quyết không để bị động, bất ngờ; đồng thời, phát huy tốt năng lực lãnh đạo của cấp ủy Đảng, trình độ tổ chức chỉ huy, điều hành, khả năng phối hợp, hiệp đồng làm tham mưu cho chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các chiến lược, đề án quốc phòng, an ninh, trọng tâm là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng,... phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng lực lượng, từng địa bàn trọng yếu, chiến lược.


Như vậy, sau gần 6 tháng chiến đấu liên tục, ta và bạn đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ từ chủ trương đến công tác chuẩn bị và thực hành chiến dịch, giành thắng lợi lớn trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Thắng lợi đó càng củng cố mối quan hệ đặc biệt, gắn bó keo sơn giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước Việt - Lào. Lần đầu tiên bộ đội ta tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh, giành thắng lợi lớn về nhiều mặt, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, góp phần làm phong phú thêm lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Những thành công và bài học kinh nghiệm trong tham mưu chỉ đạo, điều hành, chỉ huy tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong công tác tham mưu chỉ đạo tác chiến chiến lược, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:14:16 pm
TÌNH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU ĐẶC BIỆT GIỮA HAI TỈNH NGHỆ AN VÀ XIÊNG KHOẢNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


TS THÁI THANH QUÝ
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An


Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng núi liền núi, sông liền sông, có quan hệ truyền thống lâu đời, được hình thành và tôi luyện trong những năm tháng khó khăn gian khổ, kề vai sát cánh bên nhau chống ách đô hộ của thực dân vì độc lập, tự do của mỗi dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển của mỗi nước hiện nay. Cùng với sự phát triển của quan hệ giữa hai nước, các tỉnh có chung đường biên giới Lào - Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt.


Hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng gần gũi về địa lý, có vị trí địa - chiến lược, nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi đê đầy mạnh sự hợp tác. Trong từng giai đoạn lịch sử, quan hệ giữa hai tỉnh luôn giữ vị trí quan trọng và có tác động to lớn đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của hai tỉnh, cũng như quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước. Từ quan hệ “láng giềng thân thiện” trong buổi đầu lịch sử và “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung, Nghệ An - Xiêng Khoảng đã xác lập “quan hệ hữu nghị đặc biệt” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước. Phát huy thành quả hợp tác trong các thời kỳ kháng chiến, Nghệ An và Xiêng Khoảng tiếp tục phối hợp chẽ trong các lĩnh vực chính trị - quân sự, bước đầu hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, nhất là giúp đỡ vùng giải phóng của Lào khôi phục kinh tế, văn hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh để ổn định sản xuất và đời sống cho nhân dân. Tình đoàn kết đó thể hiện ở các nội dung sau:

Một là, phối hợp trong xây dựng, bảo vệ căn cứ địa, phát triển lực lượng cách mạng Lào

Thực hiện Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào (1954), sau khi Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Lào, lực lượng kháng chiến Lào tập kết về các tỉnh do Vương quốc Lào quản lý, phái hữu ra sức khủng bố, mua chuộc, lôi kéo nhân dân... khiến cho tình hình Lào trở nên nghiêm trọng. Tình thế cách mạng Lào rất khó khăn. Công tác xây dựng căn cứ địa và lực lượng cách mạng ở 10 tỉnh do Vương quốc Lào quản lý đặt ra một cách cấp bách. Trước yêu cầu đó, ngày 29 tháng 6 năm 1954, Bộ Tư lệnh Thượng Lào (Việt Nam) ra chỉ thị về việc đem hết khả năng giúp Lào xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang1 (Chỉ thị của Bộ Tư lệnh Thượng Lào ngày 29 tháng 6 nom 1954 về việc đem hết khả năng giúp Lào xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang, in trong sách: Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007, Văn kiện, Tập II, 1946 - 1955, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 481). Theo đó, Nghệ An đã cử cán bộ sang Xiêng Khoảng trực tiếp giúp bạn phát động phong trào quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, mở rộng căn cứ địa và sẵn sàng phối hợp hành động khi cần thiết. Nắm vững quan điểm “có dân là có tất cả”, các đội công tác của Nghệ An đã phối hợp với cán bộ nòng cốt cách mạng Lào đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang cách mạng Lào, tăng cường công tác tuyên truyền, dân vận trong nhân dân các bộ tộc Lào. Nhờ đó, lực lượng trung lập ở khu vực Trung Lào có nhiều chuyển biến tích cực về lập trường chống Mỹ và tay sai, nhân dân Lào có quan hệ tốt với vũ trang cách mạng và Quân tình nguyện Việt Nam. Mặt khác, Xiêng Khoảng là địa bàn có căn cứ quân sự đầu não Loong Chẹng của tướng phỉ Vàng Pao, cũng là trung tâm chỉ huy chiến lược của CIA tại Lào. Xác định đây là địa bàn hét sức quan trọng, tháng 8 năm 1960, Nghệ An đã phối hợp với lực lượng Quân khu 4 đưa các đội công tác vũ trang (đội vận động quân chúng, đội trinh sát bí mật, đội vũ trang chiến đấu) phát động phong trào đấu tranh. Từ sự giúp đỡ của Nghệ An, căn cứ địa kháng chiến ở Xiêng Khoảng ngày càng được mở rộng, cơ sở cách mạng ngày càng vững chắc, nhiều tiểu đoàn được thành lập, vận động được nhiều binh lính trở về với nhân dân. Nhiều thanh niên các bản, làng hăng hái gia nhập du kích. Cuối năm 1962, hầu hết các địa bàn ở đây đã có cơ sở cách mạng.


Trong bảo vệ, mở rộng các tuyến giao thông huyết mạch, trước yêu cầu chi viện cho chiến trường Lào và miền Nam Việt Nam việc bảo vệ và mở thêm các tuyến đường là hết sức cần thiết. Với địa bàn Nghệ An - Xiêng Khoảng, Đường số 7 đóng vai trò chủ yếu để đưa người và vật chất từ miền Bắc qua Nghệ An sang Xiêng Khoảng, nối thông lên căn cứ Sầm Nưa. Năm 1968, 1.000 dân công Nghệ An cùng với Trung đoàn 271, Tiểu đoàn 42, Tiểu đoàn 43, các đại đội 21, 18, 19, 52, 212 của Quân khu 4, quân và dân Xiêng Khoảng ngày đêm bám sát trận địa bảo vệ tuyến đường này, bảo vệ kho, trạm để đảm bảo chi viện cho Chiến dịch 139 (còn gọi là Chiến dịch Toàn Thắng hay Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng), bảo vệ cửa ngõ vào Xiêng Khoảng. Tháng 9 năm 1974, Nghệ An huy động hàng nghìn dân công và các đơn vị vũ trang phối hợp với quân dân Xiêng Khoảng tu sửa Đường số 7, xây dựng các kho hàng ở Bản Ban Nậm Căn để vận chuyển hàng hóa giúp vùng giải phóng Lào.


Hai là, phối hợp chiến đấu chống lực lượng Vàng Pao chống chiến tranh phá hoại của Mỹ

Tỉnh Xiêng Khoảng có vị trí địa chiến lược đối với cách mạng Lào. Đường số 7 (quốc lộ) từ Nghệ An sang Xiêng Khoảng được coi là “cửa ngõ” đi vào căn cứ địa Sầm Nưa từ phía Nam. Nếu địch kiểm soát được Xiêng Khoảng, sẽ tạo hướng bao vây, chia cắt Sầm Nưa từ hướng Nam. Nếu cách mạng Lào kiểm soát được Xiêng Khoảng sẽ nối thông căn cứ địa Sầm Nưa với Việt Nam qua địa bàn Nghệ An. Nhận thức vị trí quan trọng của Nghệ An và Xiêng Khoảng đối với cục diện chiến trường Đông Dương, Mỹ đã chỉ đạo chính quyền Sài Gòn và chính quyền Viêng Chăn tổ chức các hoạt động quấy phá vùng giáp biên giữa hai tỉnh. Cuối năm 1954, phái hữu mở chiến dịch khủng bố, cấu kết với quân đội Sài Gòn tổ chức các hoạt động gián điệp xâm nhập vào phía Tây Nghệ An kích động, lôi kéo đồng bào các dân tộc ít người nhằm chia rẽ đoàn kết Lào - Việt, phá hoại công cuộc xây dựng của miền Bắc Việt Nam. Tháng 8 năm 1955, địch lôi kéo 32 gia đình với 236 người ở Na Ngoi, Mường Lống (Nghệ An) chạy sang Lào. Ngày 19 tháng 10 năm 1955, 160 tên phỉ tiến công cướp phá vùng Keng Đu, hỗ trợ nhóm phỉ Lê Văn Giáo, Lò Văn Thi hoạt động phá hoại... Tình hình trên đặt ra cho Nghệ An yêu cầu bảo đảm an toàn biên giới phía Tây, giúp Lào xây dựng các căn cứ địa dọc biên giới hai nước để tiếp nhận viện trợ từ Việt Nam. Tỉnh ủy Nghệ An đã phối hợp với Quân khu 4 triển khai lực lượng chốt giữ các cửa khẩu sang Lào và tiến công tiêu diệt thổ phỉ.


Sau khi chính quyền Viêng Chăn bị thất bại trong bầu cử, ngày 4 tháng 5 năm 1958, Mỹ và tay sai điên cuồng đẩy mạnh các hoạt động quân sự, quyết tâm tiêu diệt lực lượng chủ lực của cách mạng Lào. Tháng 5 năm 1959, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, quân đội Viêng Chăn đã huy động lực lượng bao vây Tiểu đoàn 2 của quân chủ lưc Pathét Lào ở Cánh Đồng Chum. Trước tình thế hiểm nguy của bạn, tháng 6 năm 1959, lực lượng vũ trang Nghệ An phối hợp với các lực lượng của Quân khu 4 khẩn trương tiến công địch, giúp Tiểu đoàn 2 phá vây, về tập kết an toàn tại Tương Dương (Nghệ An). Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp vào Nghệ An chỉ đạo Quân khu 4 và nhân dân Nghệ An xây dựng kế hoạch giúp đỡ Tiểu đoàn 2. Thực hiện chủ trương, Trung tâm Đào tạo cán bộ Xuân Thành (Phủ Quỳ - Nghệ An) đã giúp bạn huấn luyện và bô sung quân số, phát triển thành 3 tiểu đoàn (1, 2 và 4), trang bị đầy đủ. Đây là những đơn vị chủ lực đầu tiên của cách mạng Lào trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ được xây dựng và phát triển trên địa bàn Nghệ An. Việc giải cứu Tiểu đoàn 2 và thành lập trung tâm huấn luyện bộ đội Pathét Lào đã đập tan âm mưu tiêu diệt lực lượng Pathét Lào của địch. Đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã đến tận Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và Tỉnh ủy Nghệ An cảm ơn cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 và nhân dân Nghệ An.


Tháng 12 năm 1960, trong kế hoạch giải phóng Cánh Đồng Chum, Quân khu 4 phối hợp với Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Pathét Lào mở cuộc tiến công giải phóng Noọng Hét (Xiêng Khoảng). Trong cuộc tiến công này, Nghệ An được giao nhiệm vụ huy động lực lượng dân công hỏa tuyến làm công tác hậu cần và lực lượng vũ trang địa phương làm nhiệm vụ bảo vệ cho quân chủ lực hành quân. Sau 3 ngày chiến đấu, toàn bộ khu vực Noọng Hét đã được giải phóng, mở đầu cho thắng lợi của liên quân Lào - Việt tại Cánh Đồng Chum. Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1962, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An phối hợp với Lữ đoàn 324 và quân dân Xiêng Khoảng giải phóng đồn Noọng Hét và Bản Ban, diệt và bắt 230 tên địch, giam chân và tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, tạo điều kiện cho Chiến dịch Nậm Thà giành thắng lợi, bảo vệ vững chắc Đường số 7, cửa ngõ từ Nghệ An vào Xiêng Khoảng. Tháng 7 năm 1964, khi các toán phỉ tiến công xã Bảo Nam, Kỳ Sơn (Nghệ An), lực lượng vũ trang Nghệ An và Quân khu 4 phối hợp với quân dân Xiêng Khoảng loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, giữ vững vùng giải phóng, bảo vệ nhân dân. Năm 1968, trong khi quân và dân miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc tổng tấn công và nổi dậy, thì trên chiến trường Lào, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương của Tỉnh đội Nghệ An phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Xiêng Khoảng giải phóng các xã Tài Xiêng, Tham Tác, Khu Khẹ, Tổng Khư (Mường Pẹc).


Từ năm 1969, thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào, Mỹ tăng cường viện trợ cho Vàng Pao vũ khí, tiền bạc xây dựng căn cứ kiên cố ở Mường Mộc (Xiêng Khoảng) hòng cắt đứt thế liên hoàn của vùng giải phóng Bắc và Trung Lào, uy hiếp miền Tây Nghệ An. Quân ủy Trung ương giao cho Quân khu 4 và Tỉnh đội Nghệ An phối hợp tiêu diệt căn cứ này. Nghệ An đã huy động Tiểu đoàn 42, Đại đội Đặc công 18, Đại đội 211 của huyện Tương Dương và 170 dân công hỏa tuyến tham gia chiến đấu. Ngày 16 tháng 2 năm 1969, hai căn cứ quan trọng của Vàng Pao ở Mường Ngát và Tham Tạt đã bị xóa sổ. Sau thắng lợi này, lực lượng vũ trang Nghệ An tiếp tục tiến công vào Nâm Mộ, cửa ngõ vào trung tâm Mường Mộc. Để giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào, tháng 8 năm 1969, Mỹ và lực lượng thân Mỹ tập trung binh lực mở cuộc hành quân Cù Kiệt đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiểm soát Đường số 7 để bịt cửa ngõ vào Xiêng Khoảng từ hướng Nghệ An sang. Trước âm mưu của địch, ta và bạn phối hợp mở chiến dịch phản công ở Cánh Đồng Chum với mật danh là “Chiến dịch 139” do Quân khu Tây Bắc (Việt Nam) tổ chức. Phối hợp với Chiến dịch 139, lực lượng vũ trang Nghệ An và Quân khu 4 cùng với lực lượng của bạn tác chiến hướng Đường số 7 gồm: Tiểu đoàn 42, Tiểu đoàn 43, Đại đội 211, Đại đội Đặc công 18, Đại đội Trinh sát 19, Đại đội Cao xạ 52, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 271, Đại đội 212, lực lượng đặc công của Quân khu 4 và 1.800 dân công Nghệ An phục vụ chiến đấu. Qua 3 tháng (10 - 12.1969) phối hợp tác chiến, một loạt cứ điểm quan trọng như Xa Nọi, Keo Hom, Mường Mộc được giải phóng; ta và bạn tiêu diệt 253 tên phỉ, giải phóng 1.600 dân, phối hợp hiệu quả với Chiến dịch 139, góp phần đưa cách mạng Lào phát triển.


Năm 1971, phối hợp với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, quân và dân Nghệ An đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ hậu cần cho chiến dịch, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch.

Mùa mưa năm 1972, theo kế hoạch phối hợp cùng Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, trong khuôn khổ Chiến dịch 972 do Quân khu 4 tiến hành tại chiến trường Trung Lào, Nghệ An đã điều động 2 tiểu đoàn bộ binh 40 và 43, 1 đại đội súng côi 81mm, 1 trung đội súng máy phòng không 12,7mm, Đại đội Đặc công 18 và Đại đội 211 của huyện Tương Dương cùng 1.000 dân công hỏa tuyến trực thuộc Mặt trận 772. Hoạt động này của các lực lượng tỉnh Nghệ An đã phối hợp hiệu quả, thực sự “chia lửa”, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cùng với những thắng lợi của các chiến dịch khác trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đã tạo điều kiện quan trọng để cách mạng hai nước Việt Nam, Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vào năm 1975. Thắng lợi của cách mạng Lào trước hết là nhờ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Mặt trận Lào ycu nước, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của quân và dân các bộ tộc Lào. Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân hai nước Việt - Lào, trong đó có đóng góp không nhỏ cả về sức người, sức của của quân và dân Nghệ An.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:15:33 pm
Ba là, hợp tác xây dụng chính quyển, phát triển sản xuất, ổn định kinh tế - xã hội

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cùng với phối hợp chiến đấu trên các chiến trường, Xiêng Khoảng và Nghệ An còn hợp tác trong các lĩnh vực khác, nhất là hỗ trợ, giúp đỡ vùng giài phóng ở Xiêng Khoảng khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế. Hội nghị công tác miền Tây Thanh - Nghệ - Tĩnh (6.1958) tổ chức ở Nghệ An không chỉ tập trung bàn biện pháp xây dựng Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, phát triển kinh tế, văn hóa..., nhằm xây dựng ba tỉnh thành căn cứ địa trực tiếp của miền Nam và Lào, mà còn “đề ra phương hướng, kế hoạch cụ thể đề triển khai công tác viện trợ và giúp vùng giải phóng Lào khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá”1 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Nxb Nghệ An, 2007, tr. 112). Theo đó, Nghệ An viện trợ lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm và cử chuyên gia sang vùng giải phóng của Xiêng Khoảng giúp bạn ổn định đời sông, phát triển sản xuất.


Trước âm mưu chia rẽ, triệt phá các vùng giải phóng, Hội nghị lần thứ 6 Trung ương Đảng Nhân dân Lào (4.1961) đề ra nhiệm vụ cần kíp động viên quân dân Lào ra sức xây dựng các khu giải phóng thành căn cứ địa cách mạng phát triển về mọi mặt2 (Bộ Quốc phòng Lào - Cục Khoa học - Lịch sử quân sự, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân và lực lượng vũ trang các tỉnh Trung Lào (1945 - 1975), Viêng Chăn, 2012). Để giúp bạn thực hiện chủ trương này, hàng nghìn dân công hỏa tuyến của tỉnh Nghệ An đã sang tu sửa đường sá, cầu cống, vận chuyển vũ khí, hàng hóa, dụng cụ sản xuất giúp nhân dân Xiêng Khoảng xây dựng và phát triển quê hương. Những năm 1961 - 1965, dù đang ra sức phấn đấu thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và chi viện chiến trường miền Nam nhưng Nghệ An vẫn ưu tiên chi viện và giúp đỡ vùng giải phóng của Xiêng Khoảng. Sau năm 1965, cùng với việc giúp đỡ xây dựng vùng giải phóng Lào, Nghệ An còn phối hợp đón nhân dân Lào sang sơ tán và là tỉnh tổ chức đón sớm nhất và nhiều nhất. Trong 4 năm (1969 - 1972), tỉnh đã đón gần 20.000 đồng bào Lào sơ tán3 (Nguyễn Thế Trung, Quan hệ đặc biệt giữa tỉnh Nghệ An (Việt Nam) với tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), in trong sách: Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007, Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 379-398). Sau khi Chính phủ kháng chiến Lào chuyển về Sầm Nưa, vùng giải phóng Lào ngày càng được mở rộng, Đảng Nhân dân Lào quyết định xây dựng khu giải phóng theo mô hình của một quốc gia thu nhỏ. Nghệ An cử chuyên gia nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, văn hóa, giáo dục và y tế sang giúp nhân dân vùng giải phóng ở Xiêng Khoảng giải quyết khó khăn về lương thực, y tế và giáo dục. Tháng 3 năm 1967, Tỉnh ủy Nghệ An quyết định thành lập Ban C (Ban miền Tây) với nhiệm vụ “tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh các chủ trương, biện pháp vun đắp tình hữu nghị và hợp tác giữa Nghệ An với các tỉnh của Lào, trước hết là tỉnh Xiêng Khoảng”1 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 119, 120, 120-121). Dưới sự chỉ đạo của Ban C, tháng 12 năm 1967, Nghệ An cử đoàn chuyên gia gồm 37 người, chia làm 8 tổ sang giúp đỡ các địa phương của Xiêng Khoảng: 2 tổ ở Mường Pẹc; 4 tổ ở Mường Khăm; 2 tổ ở huyện Noọng Hét2 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 119, 120, 120-121). Sang năm 1968, có 49 chuyên gia Nghệ An, chia làm 20 tổ tiếp tục sang công tác ở 4 huyện (Mường Pẹc, Mường Khăm, Noọng Hét và Mường Mộc). Trong 20 tổ có 13 tổ nông nghiệp, 1 tổ lâm nghiệp, 2 tổ công nghiệp, 1 tổ thủy văn, 1 tổ giáo dục, 2 tổ y tế3 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 119, 120, 120-121). Thời gian này, các tỉnh Trung Lào bị mất mùa cộng thêm sự đánh phá ác liệt của địch trên các tuyến đường, hàng từ Việt Nam sang gặp khó khăn nên xảy ra nạn đói trong nhân dân Lào. Nghệ An đã hỗ trợ, vận chuyển gạo, muối, vải, nông cụ, hạt giống, giúp nhân dân Xiêng Khoảng vượt qua nạn đói, tạo niềm tin vào sự nghiệp kháng chiến của Đảng Nhân dân Lào, Trung ương Neo Lào Hắc Xạt và niềm tin vào Bộ đội Việt Nam.


Tháng 12 năm 1968, đoàn đại biểu tỉnh Xiêng Khoảng sang thăm và làm việc với Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh Nghệ An. Hai bên đã ký kết nghĩa và thống nhất phương án hợp tác, giúp đỡ nhau trong thời gian tới: “Nghệ An sẽ giúp Xiêng Khoảng các mặt nông nghiệp, thủy lợi, giao thông vận tải, thương nghiệp, y tế, văn hóa giáo dục, bằng hình thức cử cán bộ chuyên gia và một khối lượng giống, vật tư, thiết bị, kỹ thuật... tạo điều kiện cho Xiêng Khoảng phát triển”1 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữii nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 121, 126). Những năm 1969- 1975, công tác viện trợ và quan hệ kinh tế, văn hóa, giáo dục giữa hai tỉnh ngày càng được tăng cường. Nghệ An đã cử 12 đợt chuyên gia, viện trợ hơn 40 triệu đồng bằng hiện vật (lương thực, xăng dầu, nông cụ...) giúp nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng ổn định sản xuất và đời sống2 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữii nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 121, 126).


Nghệ An đã bồi dưỡng cấp tốc cán bộ quản lý vùng giải phóng, nhận hàng trăm học sinh Lào sang học tập tại các trường dân tộc nội trú của tỉnh. Sau khi học xong tiếng Việt và văn hóa cơ bản, học sinh Lào được cử tiếp đi đào tạo tại các trường chuyên nghiệp của tỉnh hoặc các trường đại học khác. Hầu hết các trường chuyên nghiệp ở Nghệ An như Trung cấp Y tế, Trung cấp Sư phạm miền núi, Trung cấp Kinh tế, Cao đẳng Sư phạm và Đại học Sư phạm Vinh đều có lưu học sinh Lào theo học. Dù chưa thể đáp ứng đủ yêu cầu về giáo dục - đào tạo của bạn nhưng Nghệ An đã góp phần quan trọng giúp Xiêng Khoảng kịp thời giải quyết tình trạng thiếu cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn cho các vùng giải phóng.


Sự phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên chiến trường cũng như sự giúp đỡ về kinh tế, văn hóa - giáo dục của Nghệ An dành cho Xiêng Khoảng trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời giữa hai tỉnh. Đó là những biểu hiện cụ thể của “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, là cơ sở quan trọng cho quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai tỉnh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Bước ra khỏi chiến tranh, hai tỉnh tiếp tục củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện trong thời kỳ mới - thời kỳ hợp tác đặc biệt trên tất cả các lĩnh vực theo tinh thần Nghị quyết số 251-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 1976 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam “về tăng cường đoàn kết, giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới”. Nghệ An đã tăng cường trao đổi ý kiến, kinh nghiệm về chủ trương, đường lối cách mạng, đào tạo bôi dựỡng đội ngũ cán bộ giúp Xiêng Khoảng; giúp tỉnh này về vốn, về chuyên gia, kỹ thuật, về quốc phòng - an ninh, giao thông - vận tải... Thành công lớn nhất của quan hệ hợp tác hai tỉnh giai đoạn này là tập trung giải quyết thành công những vấn đề biên giới liên quan đến hai tỉnh.


Sang thời kỳ đổi mới, quan hệ giữa Nghệ An và Xiêng Khoảng có điều kiện phát triển và được triển khai toàn diện giữa các tổ chức các ngành và các cấp tương đương, thông qua các hình thức kết nghĩa, ký kết hợp tác hằng năm, hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực an ninh, quốc phòng, “đối ngoại nhân dân”. Đầu năm 2022, Nghệ An đã phối hợp với Xiêng Khoảng tổ chức kết nghĩa 18 cặp xã đồn biên giới. Hợp tác kinh tế ngày càng được chú trọng, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai tỉnh qua cửa khẩu Nậm Cắn trong năm 2021 và quý I năm 2022 đạt gần 38,6 tỷ đồng. Các chương trình phối hợp giữa các ngành quân sự, công an, tư pháp, các tổ chức, Đoàn Thanh niên... hai tỉnh được ký kết thường niên, góp phần thể hiện sinh động chủ trương “đối ngoại nhân dân” và đường lối đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.


Hiện nay, trong bối cảnh mới, sự hợp tác trên lĩnh vực kinh tế hai bên cùng có lợi ngày càng trở thành xu thế chủ đạo, là hướng hợp tác cơ bản, lâu dài. Vì vậy, để nâng mối quan hệ lên một tầm cao mới, hai tỉnh cần đưa ra những bổ sung điều chỉnh nội dung, phương thức, cơ chế hợp tác thích hợp. Trong đó ưu tiên sự hợp tác toàn diện trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý thức độc lập, tự cường, phát huy thế mạnh của mỗi nước trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, đồng thời dành sự ưu tiên, ưu đãi hợp lý cho nhau. Không ngừng gắn bó, thắt chặt mối quan hệ để cùng nhau vun đắp, giữ vững tình đoàn kết đặc biệt, tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách đối ngoại nhân dân, bảo vệ an ninh an toàn khu vực biên giới; cùng hợp tác tương trợ bảo vệ trật tự, an ninh, kịp thời đập tan các âm mưu của các thế lực chống phá, các hoạt động buôn lậu, vượt biên trái phép. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu bổ sung thế mạnh cho nhau giữa hai tỉnh càng lớn, đòi hỏi cơ chế, chính sách ưu tiên cho nhau giữa hai bên càng cao. Là hai địa phương liền kề, nhiều tiềm năng phát triển của hai tỉnh được khơi dậy, trở thành yếu tố thúc đẩy nhau cùng phát triển, là cửa ngõ thông thương, bổ sung thể mạnh giúp nhau cùng phát triển và giữ mối quan hệ truyền thống, nâng quan hệ hai tinh lên tầm cao mới.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:17:57 pm
NHÂN TỐ CHÍNH TRỊ - TINH THẦN GÓP PHẦN QUAN TRỌNG LÀM NÊN CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG NĂM 1972


Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO
Giám đốc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng


Cách đây nửa thế kỷ, từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của liên quân Việt - Lào nhằm chống lại quân ngụy Lào và quân đánh thuê Thái Lan diễn ra trên một địa bàn chiến lược quan trọng, rộng 3.000km2. Đây là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào với cách đánh sáng tạo, hiệu quả cao. Sau 4 đợt chiến đấu tiến công, phản kích, phản đột kích, với ý chí quyết tâm cao độ và tinh thần chiến đấu kiên cường, liên quân Việt - Lào đã thực hiện 244 trận đánh (Quân tình nguyện Việt Nam đánh 170 trận, quân và dân Lào đánh 74 trận), diệt và làm bị thương hơn 5.600 tên địch, bắt và buộc ra hàng 1.137 tên; bắn rơi và phá hùy 130 máy bay, thu 136 khẩu pháo và cối. Riêng quân và dân Lào diệt gần 400 tên địch, bắt 139 tên, gọi hàng 230 tên, đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn, giải phóng 3 huyện, thu nhiều vũ khí, trang bị và quân trang, quân dụng của địch... Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giành thắng lợi đã giữ được thế liên hoàn vững chắc giữa các vùng căn cứ địa cách mạng của bạn và kịp thời phối hợp với các hoạt động khác trên chiến trường ba nước Đông Dương, trực tiếp là cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam Việt Nam năm 1972. Có được chiến thắng vang dội trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 chính là nhờ sức mạnh tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố chính trị - tinh thần được phát huy cao độ, góp phần quan trọng quyết định thắng lợi của chiến dịch.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất trên chiến trường Đông Dương. Từ đây có thể theo Đường số 6 đi tới căn cứ cách mạng Lào ở Hủa Phăn, theo Đường số 7 về phía Đông sang Việt Nam. Phía Tây có Đường số 13 nối Luông Phabăng với Viêng Chăn. Đây là khu vực tác chiến trọng yếu bảo vệ tuyến vận tải chiến lược từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường miền Nam, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Đối với cách mạng Lào, lãnh đạo Neo Lào Hắc Xạt từng đánh giá nước Lào như một con voi trắng, khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là đầu voi, ai cưỡi được trên đầu voi thì người đó làm chủ nước Lào1 (Vi Say Chăn Tha Mạt, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - vị trí chiến lược quân sự quan trọng, liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 93). Mỹ coi Cánh Đồng Chum “là chìa khóa của nước Lào” và chọn đây làm nơi thí điểm học thuyết Níchxơn với công thức chiến tranh: “Quân ngụy Lào + quân Thái Lan + không quân, hậu cần, cố vấn Mỹ”.


Để giành thắng lợi trong chiến tranh, bên nào cũng phải chiếm giữ những vị trí chiến lược quan trọng. Cách mạng phải giữ đất, giữ dân, đối phương cũng phải giành dân, giành đất. Do vị trí địa quân sự rất quan trọng của Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nên trong những năm Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1960 - 1968) và chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” (1969 - 1973) ở Lào, Mỹ chỉ đạo phái hữu Lào luôn chú trọng bố trí ở đây một lực lượng quân sự mạnh quyết chiếm giữ địa bàn. Do vậy, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trở thành trung tâm của những trận giao tranh ác liệt, nơi diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực vô cùng quyết liệt giữa các lực lượng kháng chiến Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam chống lại quân ngụy Lào và quân Thái Lan. Đây là khu vực ta và địch giành giật quyết liệt. Ta chưa đủ sức giữ, còn địch thì quyết chiếm lại, nhất là trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 12 năm 1971 đã diễn ra tình trạng có tính quy luật: Mùa khô ta đánh địch, giành quyền làm chủ, nhưng mùa mưa địch lại nống ra chiếm lại vùng mới giải phóng.


Bước vào năm 1972, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam Việt Nam và tạo ra bước chuyển căn bản về chiến lược trên chiến trường Đông Dương. Vì thế, cùng với tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam, ngày 1 tháng 4 năm 1972, Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đoàn 959 chủ động chuyển vào tác chiến phòng ngự sau khi chiến dịch tiến công mùa khô kết thúc. Theo đó, Liên quân Việt - Lào tập trung mọi nguồn lực, xây dựng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thành khu vực phòng ngự, đánh bại các cuộc hành binh lấn chiếm của địch, bảo vệ khu vục Cánh Đồng Chum, củng cố vùng căn cứ giải phóng của bạn, phục vụ cho yêu cầu đấu tranh chính trị trong tình hình mới và chia lửa với chiến trường khác. Tháng 4 năm 1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch do Đại tá Vũ Lập làm Tư lệnh, Đại tá Lê Linh làm Chính ủy. Phía bạn Lào, đồng chí Xiphon Phalikhăn, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh Chiến dịch. Sở Chỉ huy Chiến dịch đặt tại Phu Nhu.


Nhiệm vụ chiến dịch là hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào, khẩn trương triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum - Mường Sủi - Xiêng Khoảng, trong bất kỳ tình huống nào cũng phải kiên quyết bảo vệ vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum, bao gồm cả tuyến trung gian; kiên quyết đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của địch trong mùa mưa 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, trên cơ sở đó xây dựng Cánh Đồng Chum thành một địa bàn chiến lược, căn cứ địa vững chắc.


Căn cứ vào nhiệm vụ và trên cơ sở nghiên cứu địa bàn, tình hình địch Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ động, khẩn trương tổ chức xây dựng khu vực phòng ngự trong phạm vi tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng (chiều dài 60km, chiếu rộng 50km), bố trí thành 5 khu vực: Cánh Đồng Chum (khu trung tâm) là khu vực phòng ngự chủ yếu, đánh địch trên hướng Nam và Tây Nam; Hin Tặng (khu trung gian) là khu vực phòng ngự cơ bản; Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu; Mường Sủi va thị xã Xiêng Khoảng là những khu vực tác chiến phối hợp đánh địch từ xa nhằm bảo vệ sườn Tây Bắc và sườn Đông của Cánh Đồng Chum.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch được tổ chức thành 2 bộ phận: Bộ phận chốt giữ trận địa1 (Gồm 2 trung đoàn bộ binh (174 và 148) của Sư đoàn 316 được tăng cường 1/3 lực lượng xe tăng và 1/4 lực lượng pháo binh chiến địch) và bộ phận cơ động đánh địch trong và ngoài khu vực phòng ngự2 (Lúc đầu gồm 2 trung đoàn bộ binh tình nguyện độc lập (866 và 335) của Quân khu Tây Bắc, 2/3 xe tăng, 3/4 pháo binh chiến dịch; đến tháng 10 năm 1972, Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường thêm Trung đoàn Bộ binh 88 thuộc Sư đoàn Bộ binh 308C). Lực lượng địch ở khu vực Quân khu 2 (Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng) vào thời điểm bắt đầu chiến dịch (5.1972) có 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh. Trong đó lính đánh thuê có 18 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh. Lực lượng tăng cường từ Quân khu 1, Quân khu 3 có GM 10B9, GM 30; đồng thời tại khu vực Sa La Phu Khun có 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, 2 tiểu đoàn quân trung lập; 1 tiểu đoàn đặc biệt; 1 đại đội pháo binh. Tại sân bay ở Loong Chẹng có 2 phi đội T-28 với 9 máy bay, riêng không quân Mỹ chi viện từ 50 - 70 lần chiếc/ngày, trong đó có cả máy bay chiến lược B-521 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 16-17).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Hai, 2023, 02:19:21 pm
Trước khi bước vào chiến dịch, trên cơ sở phân tích các hoạt động của địch, ta nhận thấy một quy luật là chúng thường mở cuộc tiến công lấn chiếm vào lúc ta kết thúc hoạt động mùa khô, gặp khó khăn về vận chuyển, tiếp tế, cơ động. Mặt khác, vào thời điểm 1972, quân đội Mỹ và tay sai muốn giành thắng lợi quân sự trên chiến trường Đông Dương để tạo “thế mạnh” trên bàn đàm phán và giành ưu thế cho đảng cầm quyền trong năm bầu cử tổng thống Mỹ. Vì thể, địch sẽ mở cuộc hành binh quy mô lớn, đánh chiếm lại khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Trong cuộc tiến công này, địch có nhiều lợi thế: Lực lượng đông vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại (cả máy bay B-52), chủ động về thời gian và mục tiêu tiến công. Ngoài ra, địch cũng đã đánh chiếm được một số địa bàn, vị trí quan trọng. Tuy nhiên, lực lượng Hoàng gia Lào và quân Thái Lan có những điểm yếu cốt tử. Đó là trình độ tác chiến hạn chế, tinh thần chiến đấu giảm sút, khả năng hỗ trợ của không quân Mỹ cũng có hạn và rất sợ phải tác chiến trong thời gian dài, địa bàn rộng... Về phía ta, có những thuận lợi cơ bản: Tinh thần đoàn kết và trình độ tác chiến cao nhất là kinh nghiệm vận động tiến công ở khu vực này. Đồng thời ta cũng gặp một số khó khăn: Đây là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên, thời gian kéo dài, trên phạm vị rộng lớn lại diễn ra trong mùa mưa nên kinh nghiệm trong tổ chức phòng ngự còn hạn chế, bảo đảm tiếp tế hậu cần, kỹ thuật khó khăn; một số ít cán bộ chiến sĩ có tâm lý lo ngại tác chiến kéo dài, ác liệt, gian khổ hy sinh... Nhận rõ tình hình này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch đặc biệt chú trọng công tác xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp thời chỉ đạo các đơn vị tổ chức làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ, làm cho bộ đội nhận thức rõ những điểm mạnh tạm thời, những điểm yếu không thể khắc phục của địch và điểm mạnh cơ bản, khó khăn nhất thời của ta. Nhờ đó, lực lượng tham gia chiến địch không những chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư tưởng, nêu cao ý chí, tinh thần quyết chiến quyết thắng, mà còn khắc phục được những biểu hiện chủ quan, thỏa mãn, đánh giá thấp về địch (cho rằng chúng vừa bị thua đau trong mùa khô 1971 - 1972 không còn khả năng tiến công lớn). Các lực lượng nhanh chóng chấp hành mệnh lệnh, chuyển vào phòng ngự, chủ động xây dựng phương án tác chiến, tiến công địch.


Với ý chí quyết tâm cao độ, ngay sau khi kết thúc chiến dịch tiến công mùa khô 1971 - 1972, liên quân Việt - Lào đã gấp rút chuẩn bị mọi mặt, thiết lập các cụm điểm tựa có hệ thống công sự, hầm hào; bố trí vật chất dự trữ chiến đấu ở từng khu vực; hình thành thế trận phòng ngự liên hoàn, vững chắc, có chiều sâu, đảm bảo tác chiến dài ngày. Trong gần 2 tháng (5.4 - 21.5.1972) khẩn trương chuẩn bị, ta và bạn tổ chức đào 500 hầm trú ẩn ven các đường cơ động, 50km hào giao thông, làm hơn 600km đường cơ động cho xe cơ giới, bắc 100 cầu vượt suối để vận chuyển trong mùa mưa. Nhân dân Xiêng Khoảng ủng hộ hàng nghìn cây tre, gỗ, hàng trăm tấm tôn để bộ đội làm công sự và làm cầu...


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra hết sức ác liệt, kéo dài gần 6 tháng với 4 đợt. Trong quá trình thực hành phòng ngự, để Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giành thắng lợi, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã vận dụng sáng tạo tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng, không để bị động, phụ thuộc vào hành động của địch. Đồng thời, kiên quyết chấp hành triệt để nhiệm vụ chiến lược là giữ vững khu vực, mục tiêu chủ yếu. Cho nên, mặc dù là chiến dịch phòng ngự, nhưng cấp ủy và chỉ huy các cấp luôn luôn quán triệt cho bộ đội nắm vững tư tưởng phòng ngự tích cực, nêu cao tinh thần chủ động, tích cực tiến công, lấy tiến công tiêu diệt địch, kiên quyết chiến đấu giữ vững trận địa làm mục tiêu phấn đấu và phương châm hành động.


Trước những diễn biến phức tạp diễn ra trong các đợt của chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp nhận thấy một số khó khăn nảy sinh. Đó là, mật độ bom pháo của địch dày đặc (có ngày địch sử dụng lực lượng không quân chiến thuật từ 80 đến 100 lần chiếc và từ 20 đến 25 lần chiếc B-52 tập trung đánh phá), bộ đội ta chưa có kinh nghiệm trong tác chiến phòng ngự, thời tiết khắc nghiệt (mùa mưa) và nhất là do tính chất vô cùng ác liệt, gian khổ, hy sinh tổn thất diễn ra hằng ngày, hằng giờ dẫn tới ý chí quyết tâm, niềm tin của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ vào thắng lợi của chiến dịch chưa cao. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã kịp thời, chủ động trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, kết hợp với nhiều biện pháp đồng bộ như bảo đảm ăn, nghi, sinh hoạt hằng ngày, điều cán bộ có năng lực, trình độ xuống trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị chiến đấu..., ta đã dần khắc phục được những hạn chế về chính trị tư tưởng, xây dựng được tinh thần quyết chiến, quyết thắng, yếu tố then chốt, quan trọng nhất, quyết định thắng lợi của chiến dịch. Chính nhờ đó, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với quân và dân Lào, làn lượt đánh bại các cuộc tiến công của địch, kết hợp giữa tiến công với phản kích, phản đột kích, đánh những trận then chốt hiệu quả cao. Nổi bật là những trận chiến đấu ác liệt ở Phu Kụt1 (Phu Kụt là vị trí tiền tiêu của Cánh Đồng Chum), xứng đáng với danh hiệu “Phu Kụt anh hùng” và tên gọi “Điểm tựa thép”. Đây cũng chính là một điển hình về tình đoàn kết và sự liên minh chiến đấu đặc biệt, kề vai sát cánh cùng chung chiến hào của hai quân đội Việt Nam và Lào đã kiên cường thực hiện các đợt chiến đấu đầy mưu trí và hết sức oanh liệt để ngăn chặn có hiệu quả các đợt tiến công ác liệt của địch, bảo vệ vững chắc trận địa Phu Kụt. Hay như Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 174, do Đại úy, Tiểu đoàn trưởng Đào Trọng Lịch chỉ huy đã phát huy truyền thống của tiểu đoàn “đã ra quân là đánh thắng”, khắc phục khó khăn, kiên quyết, sáng tạo, cơ động linh hoạt, thực hiện nhiều trận phản kích hiệu quả cao, góp phần đánh bại các đợt tiến công của địch...


Để nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần, củng cố và tăng cường niềm tin vững chắc cho bộ đội vào khả năng và sức mạnh thực tế trong tác chiến phòng ngự, Bộ Tư lệnh Chiến dịch còn chỉ đạo các đơn vị tổ chức huấn luyện, diễn tập các phương án tác chiến ngay trong khu vực phòng ngự. Qua đó, rút kinh nghiệm, tìm ra những bài học hay, bổ sung, hoàn thiện từng phương án tác chiến, nhằm xử lý có hiệu quả với mọi tình huống có thể xảy ra. Ngoài ra, ta thường xuyên tổ chức thay phiên, đổi và bổ sung quân ở những chốt, những khu vực phải bám trụ, chốt giữ dài ngày, tạo cho bộ đội tâm lý thoải mái, được nghỉ ngơi dưỡng sức, giảm bớt căng thẳng, sẵn sàng bước vào trận đánh mới.


Cùng với những vấn đề quan trọng trên, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khàng là chiến địch có thời gian tương đối dài đã đặt ra cho công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật phải luôn chủ động, chu đáo, hiệu quả. Đây là một trong những yếu tố tác động rất lớn đến ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu của bộ đội. Nếu chuẩn bị tốt sẽ bảo đảm đời sống, vũ khí trang bị cần thiết cho tác chiến và tạo sự yên tâm, lòng tin cho bộ đội, theo đó ý chí quyết tâm chiến đấu được nâng cao. Ngược lại, nếu không chuẩn bị tốt, dẫn tới trong chiến đấu phòng ngự dài ngày, nhất là diễn ra trong mùa mưa, bộ đội sẽ gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ, tổn thất, hy sinh... ảnh hưởng lớn tới tinh thần chiến đấu và niềm tin vào thắng lợi. Nhận thức đúng vấn đề này, trong quá trình diễn ra chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ đạo lực lượng hậu cần bảo đảm 3.918 tấn vật chất: 2.876 tấn lương thực thực phẩm (73,4%), 442 tấn đạn (11,3%), 400 tấn nhiên liệu (10,2%), 200 tấn vật chất khác (5,1%)1 (Dẫn theo: Công tác bảo đảm hậu cần trong chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng 1972 của Đại tá Trần Đình Quang (Phòng Khoa học quân sự Tổng cục Hậu cần)). Quân y chiến dịch đã tăng cường lực lượng cho các đơn vị phòng ngự, nâng cao khả năng cứu chữa tại chỗ, do đó, đã tổ chức thu dung, điều trị thương binh, bệnh binh chu đáo, làm tốt công tác vệ sinh phòng dịch góp phần bảo đảm sức khỏe và sức chiến đấu của bộ đội trong suốt mùa mưa.


Bằng những hoạt động thường xuyên, toàn diện, tích cực, kịp thời, phù hợp của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch và cấp ủy, chỉ huy các cấp trực thuộc, cùng sự phối hợp, giúp đỡ hiệu quả của quân, dàn Lào trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện 4 đợt của chiến dịch đã làm cho sức mạnh chính trị - tinh thần của bộ đội không ngừng củng cố, tăng cường. Đây là nhân tố hàng đầu góp phần quan trọng làm nên chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, loại hình chiến dịch phòng ngự chi chiếm một tỷ lệ nhỏ, nhưng đều là những chiến dịch có tính ác liệt, quy mô lớn, dài ngày và thương vong tương đối lớn. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972 đã vượt qua được những khó khăn, thử thách đó và giành thắng lợi, trong đó có yếu tố chính trị - tinh thần. 50 năm đã trôi qua, thắng lợi đó tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của V.I. Lênin và nhắc nhở chúng ta cần thực hiện tốt điều dạy bảo của Người về tăng cường sức mạnh chính trị - tinh thần trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, rằng: “Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”1 (V.I. Lênin toàn tập, Tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr. 147).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:04:26 am
V
HẬU QUẢ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH
XÂM LƯỢC VIỆT NAM ĐỐI VỚI ĐẾ QUỐC MỸ


Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã để lại cho đế quốc Mỹ biết bao hậu quả tai hại. Nó đã trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự suy yếu về mọi mặt của đế quốc Mỹ. Hậu quả của nó không chỉ biểu hiện ở sự suy yếu trước mắt mà còn tiếp tục "ngấm" sâu vào lục phủ ngũ tạng của nước Mỹ.

1. Suy yếu về kinh tế.

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đánh một đòn nặng nề vào nền kinh tế Mỹ. Sự suy yếu về kinh tế đó là một hậu quả tai hại nhất cho nước Mỹ. Riêng cái giá về tiền của mà nước Mỹ đã phải trả cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là bao nhiêu? Cho đến nay, chưa ai tính tổng quát hết được. Theo con số chính thức do giới cầm quyền Mỹ công bố, Mỹ đã mất cho cuộc chiến tranh này 240 tỷ đô la, khoảng 36 vạn binh lính, sĩ quan chết và bị thương, hơn 8.600 máy bay các loại, v.v... Nhiều chính khách Mỹ đưa ra con số 350 tỷ đô la, trong lúc đó có nhà kinh tế học Mỹ đã tính toán là: nếu cộng cả những chi tiêu gián tiếp khác, cuộc chiến tranh Việt Nam đã ngốn mất của nước Mỹ trên 600 tỷ đô la. Nếu so với giá trị khối lượng vàng dự trữ của nước Mỹ chỉ trên 10 tỷ đô la, đây thật là những con số khổng lồ. Nếu so sánh với con số ngân sách quốc phòng Mỹ năm 1956 là 40,7 tỷ đô la, hoặc ngay cà ngân sách quốc phòng Mỹ năm 1974 là 82,6 tỷ đô la (với giá đồng đô la sụt giá hiện nay), thì càng thấy rõ ý nghĩa của số tiền 600 tỷ đô la nói trên.


Trong lịch sử nước Mỹ, xét về mặt tốn kém về tiền của và tổn thất về sinh mạng, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam chỉ đứng sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt hậu quả về kinh tế tài chính mà nói cuộc chiến tranh thế giới thứ hai là một dịp để cho bọn tư bản độc quyền Mỹ tha hồ trục lợi. Bước ra khởi cuộc chiến tranh này, chủ nghĩa đế quốc Mỹ trở thành tên trùm của chủ nghĩa đế quốc thế giới, nước Mỹ trở thành một nước giàu mạnh nhất trong thế giới tư bản, đóng vai trò kẻ cho vay, đỡ đầu cho hàng loạt nước tư bản đàn em và tự cho mình đóng vai trò "sen đầm quốc tế" với thế lực quân sự và kinh tế trong tay. Trong những năm cuối của những năm 40, trong những năm 50 cho đến ngày đế quốc Mỹ dấn thân vào cuộc phiêu lưu quân sự ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đang ở trên đỉnh cao của sức mạnh của chúng về quân sự và về kinh tế. Gần mười năm qua, từ 1965 đến 1973, đến khi quân đội Mỹ phải cuốn cờ rút ra khỏi Việt Nam trong tư thế nhục nhã của một đội quân chiến bại, thì cũng là lúc mà những từ ngữ lạm phát, suy thoái của nền kinh tế Mỹ ngày càng đậm nét trên các bản tin tức hàng ngày trong nước Mỹ cũng như trên thế giới.


Với cuộc chiến tranh Việt Nam, một cuộc khủng hoảng tài chính sâu sắc đang làm rung chuyển nước Mỹ, trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra những xáo động về xã hội và chính trị trong xã hội Mỹ. Cuộc khủng hoảng này được thể hiện qua một số nét như: ngân sách liên bang bị thiếu hụt nặng nề và kéo dài, nạn lạm phát giấy bạc liên tục và ngày càng trầm trọng, các món nợ mà chính phủ liên bang nợ của "công chúng" dưới nhiều dạng, trong đó có dạng phát hành công trái mà nhiều giới tư bản tài chính mua để lấy lãi, ngày càng chồng chất. Dưới đây là một vài ví dụ:


Về công trái, cuối năm 1964 số công trái của chính quyền liên bang phát hành trị giá 318,7 tỷ đô la. Tháng 11 năm 1972 trị giá này tăng lên đến 444,7 tỳ, tức là trong gần 8 năm đã tăng 136 tỷ, gấp hơn 3 lần mức tăng trong suốt 19 năm trước đó. Gánh nặng về công trái này đáng lẽ phải giảm bớt, trái lại đã ngày càng tăng thêm theo năm tháng, gây ra tình trạng lãi mẹ đẻ lãi con hết sức nguy hiểm đối với sự cân bằng thu chi của những ngân sách liên bang Mỹ hiện nay và trong tương lai.


Về ngân sách, có năm Mỹ đã phải chi cho cuộc chiến tranh Việt Nam đến 30 tỷ đô la nếu chỉ tính theo các khoản chi mà bộ quốc phòng Mỹ phải gánh chịu và lên đến 50 tỷ đô la, nếu tính cả các khoản chi "bổ sung" mà ngân sách liên bang phải gánh chịu. Các khoản chi lớn đó đã khiến cho ngân sách liên bang Mỹ suốt từ năm 1965 cho đến nay luôn luôn lâm vào tình trạng thiếu hụt. Riêng từ năm 1965 đến 1972, ngân sách liên bang Mỹ đã hụt đến 85 tỷ đô la. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho chính phủ Mỹ phải vay nợ. Mặt khác, các khoản chi lớn về chiến tranh đã ảnh hưởng lớn đến mức độ cân đối cần thiết nhất định của sự phát triển các ngành kinh tế trong nước. Trong khi nhiều ngành công nghiệp sản xuất vũ khí bành trướng quá mức, thì nhiều ngành công nghiệp phục vụ cho đời sống xã hội lại ngày càng suy sụp. Những ảnh hưởng qua lại không thể tránh khỏi giữa các ngành sản xuất khác nhau trong một cơ cấu kinh tế chung đã đẩy nển kinh tế Mỹ vào một tình trạng suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Chính vì thế, do mâu thuẫn về quyền lợi suốt từ năm 1965 đến nay, ngày càng có nhiều nhân vật có tên tuổi trong giới chính trị, quân sự, học đường, tôn giáo Mỹ đã lên tiếng phản đối đường lối đẩy mạnh, cuộc chạy đua vũ trang, tiếp tục mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam và Đông Dương.


Nếu trong những năm 50 và đầu 60, đồng đô la được xem là đồng tiền chúa tể của thế giới tư bản thì từ đầu những năm 70, đồng đô la lại là nguồn lo âu hàng giờ, hàng ngày của những ai cầm nó trong tay vì trị giá của nó ngày càng sút theo đà đi xuống liên tục. Đây là một hậu quả của nạn lạm phát, một cơn ác mộng đang bao trùm nước Mỹ ngày nay. Câu nói đầu lưỡi của Giôn-xơn, Ních-Xơn trước kia và của Pho ngày nay đều là: "Sẽ chiến thắng nạn lạm phát", nhưng ngày này qua ngày khác, nạn lạm phát cứ bành trướng lên mãi và đang trở thành bóng đen của một tai họa bao trùm lên Nhà trắng, Lầu năm góc, cũng như tất cả các mái nhà lớn, nhà của mọi người công dân Mỹ. Chỉ tính từ cuối năm 1964 đến tháng 11 năm 1972, số giấy bạc lưu hành ở Mỹ đã tăng thêm 25 tỷ đô la (từ 39,6 tỷ cuối năm 1964 lên 65,1 tỷ cuối tháng 11 năm 1972, gấp 2 lần mức tăng 11,1 tỷ trong thời gian từ 1947 đến năm 1964). Đến năm 1974, con số này đã lên đến 70 tỷ. Tỷ lệ lạm phát hiện đang ở mức hàng năm 12,2%. Đây thật là một cái giá phải trả cho cuộc chiến tranh Việt Nam mà giới cầm quyền Oa-sinh-tơn ỷ vào sự "giàu có" của nước Mỹ, đã không ngờ đến được. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đập nát cái khẩu hiệu "thừa súng lại thừa bơ" mà giới cầm quyền hiếu chiến Mỹ đã từng có thời kỳ huênh hoang nêu ra. Nạn lạm phát bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân sâu xa về tài chính và kinh tế trong chính chế độ tư bản Mỹ. Những số tiền khổng lồ mà Mỹ đã vung phí trong cuộc chiến tranh Việt Nam - nếu tính cả những chi phí gián tiếp lên đến trên 600 tỷ đô la, là một trong những yếu tố quyết định đưa đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng hiện nay trong nước Mỹ. Một trong những hậu quả tất nhiên của nạn lạm phát là giá sinh hoạt tăng. Từ năm 1966 đến năm 1972, giá sinh hoạt ở Mỹ đã tăng lên đến 32% tức là 22% cao hơn mức tăng trong 6 năm trước đó. Năm 1974, giá hàng tiêu dùng tăng 12,2%. Riêng giá lương thực tăng 21%. Một số mặt hàng như đường và dầu tăng 400%. Giá sinh hoạt tăng đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của những người dân Mỹ, nhất là của nhân dân lao động Mỹ. Cũng vì thế, từ năm 1966 cho đến nay, liên tục xảy ra nhiều cuộc đình công rất rộng lớn của hàng triệu công nhân Mỹ đấu tranh đòi tăng lương, giảm giá hàng và các quyền lợi sống còn hàng ngày khác. Phong trào đấu tranh đòi quyền lợi sống còn đó ngày càng mang theo một nội dung chính trị sâu sắc và tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị của nước Mỹ. Giữa cuộc chiến tranh Việt Nam, nạn lạm phát, nạn suy thoái kinh tế và cuộc khủng hoảng "thể chế" chính trị của nước Mỹ hiện nay, có những quan hệ tác động qua lại chặt chẽ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:07:54 am
Là bạn đường của nạn lạm phát, nạn suy thoái sẽ dẫn nền kinh tế nước Mỹ đi đến đâu? Hiện nay, nhiều nhà kinh tế học tư bản đã phải thú nhận ràng: tai họa tương tự như cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm rung chuyển thế giới tư bản trong những năm đầu của những năm 30 là một đe dọa thực tế. Số thu nhập của nhân dân lao động Mỹ ngày càng giảm sút và số thuế đóng cho chính phủ ngày càng tăng cao. Báo chí Mỹ ngày nay ngày càng nói nhiều đến sự nghèo khổ của nhân dân Mỹ. Các nhà kinh tế học Mỹ đã thú nhận: "Giá hàng ở Mỹ đã tăng lên gấp 2 lần trong 25 năm qua và hiện nay ở Mỹ có tới 25 triệu người lâm vào cảnh sinh hoạt dưới cả mức nghèo khổ". Số người thất nghiệp cũng ngày càng tăng. Dưới đây là vài con số chứng dẫn:


(https://i.imgur.com/gR7o4nV.jpg)


Tốc độ phát triển công nghiệp ở Mỹ rất chậm. Riêng về ngành công nghiệp chế tạo thiết bị lại càng chạm hơn. Nếu lấy chỉ số phát triển năm 1967 là 100 thì đến giữa năm 1972 chỉ số này chỉ tăng lên đến 106,2 (theo Tạp chí Survey of Current business, tháng 11-1972).


Theo thống kê tháng 3 năm 1974, sản xuất công nghiệp của Mỹ giảm nhiều nhất là sắt thép và hàng tiêu dùng.

Trong quý I năm 1974, khối lượng hàng bán lẻ giảm 8%. Nhiều công ty kỹ nghệ lớn của Mỹ đã phải đóng cửa vì thiếu hắn nguyên liệu và nhiên liệu. Các công ty sản xuất xe hơi lớn của Mỹ cũng đã phải đóng cửa hàng loạt các công xưởng. Theo tin tức của tuần báo Mỹ "Tin Mỹ và thế giới", công ty "Giê-nê-rôn Mô-to" đã ra lệnh đóng cửa suốt một tuần lễ 16 công xưởng sản xuất xe hơi. Công ty sản xuất xe hơi Crai-xlơ có 6 xưởng lắp ráp thì đóng cửa 5 xưởng, làm cho 6 vạn công nhân mất việc. Tình hình này nói chung làm cho hàng trăm ngàn công nhân sản xuất xe hơi phải lâm vào cảnh thát nghiệp, lôi kéo theo một cuộc sống bi đát cho hàng chục ngàn gia đình Mỹ.


Các hãng hàng không Mỹ cũng thải hàng ngàn phi công và nhân viên. Công ty hàng không lớn nhất của Mỹ, hãng U.A.L đã thải một lúc hơn 1.000 phi công và nữ chiêu đãi viên. Nhiều công ty hàng không khác như các hãng A.A.L, E.A.L và P.A.L cũng cùng lâm vào một cảnh như thế.


Đến lượt các công ty sản xuất máy bay cũng đang đóng cửa các công xưởng của họ, khiến cho hàng vạn công nhân sản xuãt máy bay mất việc làm. Công ty sản xuất máy bay Xe-xna thuộc bang Kan-xát, trong tháng 12 năm 1973 đã phải cho nghỉ việc 3.000 công nhân trong số 11.000 công nhân của công ty này. Nghiệp đoàn công nhân sản xuất máy bay Mỹ ước lượng rằng trên toàn nước Mỹ sẽ có đến khoảng 40.000 đoàn viên của họ lâm vào cảnh thất nghiệp trong thời gian gần đây.


Ngành xây dựng là một ngành cũng khá phát triển ở Mỹ, hiện nay đang lâm vào cảnh trì trệ. Hàng chục ngàn công nhân xây dựng đang không có việc làm vì ngành này đã giảm số công việc xuống đến hơn 20%. Ngành kỹ nghệ dệt đang lo ngại về thiếu hơi thiên nhiên; và như vậy thì việc chế hấp các loại tơ sợi hóa học sẽ gặp khủng hoảng.


Tại miền Nam nước Mỹ, các đoàn tàu đánh cá không nhổ neo được vì thiếu nhiên liệu chạy máy. Dọc theo bờ biển phía đông nước Mỹ, nhiều hãng lọc dầu đã phải cho máy nghỉ hoạt động vì thiếu dầu thô để lọc.


Các nông dân ở miền Tây - Nam nước Mỹ không mua được dầu để chạy máy cày của họ. Họ đã phải gửi một đơn thỉnh cầu có tính chất như một tối hậu thư cho chính phủ Mỹ đòi cung cấp dầu. Họ nêu lên rằng: "Nếu không thì mức sản xuất nông phẩm của Mỹ sẽ suy sụp thêm nữa".


Chính Rôc-phen-lơ, phó tổng thống Mỹ hiện nay đã phải nhìn nhận một phần sự thật: "Chúng ta đang tiến đến một giai đoạn của nhiều sự khan hiếm, thiếu hụt, và chúng ta đành phải chấp nhận sống trong một tình trạng như vậy vì không có một giải pháp nào khác hơn nữa cả!".


Cuộc chiến tranh Việt Nam đã giáng một đòn nặng nế vào nền kinh tế Mỹ. Sự suy yếu về kinh tế là một hậu quả tai hại tác động mạnh mẽ đến địa vị của nước Mỹ trên thế giới nói chung và ngay cả trên thế giới tư bản nói riêng. Đế quốc Mỹ dựa vào sức mạnh quân sự và kinh tế để khống chế các nước khác. Đế quốc Mỹ không hề có ai là bạn bè chân tình cả. Mối quan hệ của Mỹ với các nước khác là quan hệ dựa trên cơ sở kinh tế. Quan hệ của họ với các nước khác là quan hệ giữa khống chế và bị khống chế, quan hệ giữa buôn bán và cạnh tranh. Tất cả mọi quan hệ, mọi lẽ sống của họ đều xuất phát từ đồng tiển. Họ không có sức mạnh về chính trị, vì chính trị của họ là chính trị phi nghĩa.


Sự suy yếu về kinh tế là một điều nghiêm trọng cho nước Mỹ. Vì sức mạnh chủ yếu của nước Mỹ là sức mạnh về kinh tế, sức mạnh cơ bản của một quốc gia. Dĩ nhiên bất cứ nước nào cũng cần có sức mạnh về kinh tế, cơ sở cho các sức mạnh khác. Song, các quốc gia tiến bộ, ngoài sức mạnh về kinh tế còn có sức mạnh về chính trị và tinh thần, dựa trên cơ sở một nền chính trị tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử xã hội. Các quốc gia đó có sự đoàn kết nhất trí trong nhân dân về chính trị và tinh thần, đồng thời lại có sự đoàn kết, nhất trí với nhân dân tiến bộ trên thế giới. Do đó mà họ có một sức mạnh tổng hợp lớn.


Đế quốc Mỹ chỉ có một sức mạnh về kinh tế, song sức mạnh kinh tế đó lại bị đơn độc chẳng những không được sự hỗ trợ của các nước đồng minh mà còn bị đồng minh chèn ép. Vì vậy sức mạnh của đế quốc Mỹ là một sức mạnh bị hạn chế.


Cuộc chiến tranh Việt Nam đã chứng minh điều đó. Cuộc chiến tranh Trung Đông tháng 10 năm 1973 lại chứng minh thêm khi các nước Ả-rập sử dụng "vũ khí dầu lửa" của họ và buộc đế quốc Mỹ phải tạm thời lùi bước.


Suy yếu về kinh tế là một điều nghiêm trọng cho nước Mỹ vì nó gây ra các mặt suy yếu, rối loạn khác về chính trị, quân sự, xã hội, tâm lý ở ngay trong nước Mỹ và làm suy yếu địa vị các mặt của Mỹ ở trên thế giới. Điều còn nghiêm trọng hơn cho Mỹ là các nước tư bản đàn em của Mỹ thường bị Mỹ khống chế lại mạnh lên và đang đuổi sát Mỹ về kinh tế. Trong khi vết thương kinh tế của Mỹ chưa lành thì các ông bạn cạnh tranh của Mỹ vẫn đang cố vươn lên.


Thế lực kinh tế của Mỹ trước kia đứng ở thế bao vây các thế lực kinh tế thế giới. Ngày nay thế lực kinh tế của Mỹ lại ở vào thế bị thế lực kinh tế thế giới bao vây lại. Ba thế lực kinh tế đang đấu tranh và đánh mạnh vào thế lực kinh tế của Mỹ là: kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa, kinh tế các nước tư bản Tây Âu và Nhật Bản, và kinh tế các nước đang phát triển.


Lực lượng kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế toàn dân. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có sức động viên sự tự giác và tích cực sản xuất của nhân dân. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế có chỉ đạo, có kế hoạch và cân đối. Nền kinh tế đó không có suy thoái.


Liên Xô đã đuổi kịp Mỹ về sản xuất sắt thép và cũng đuổi kịp Mỹ về trình độ khoa học kỹ thuật. Các nước xã hội chủ nghĩa có những nguồn tài nguyên phong phú.

Trong 10 năm, từ 1958 đến 1967, sản lượng công nghiệp của Liên Xô tăng 121% trong khi đó Mỹ chỉ tăng có 69%.

Hiện nay Liên Xô đã đuổi kịp và vượt Mỹ về sản xuất thép: Liên Xô đã sản xuất 136 triệu tấn/năm còn Mỹ là 113 triệu tấn/năm.

Tốc độ tăng hàng năm của nền công nghiệp Liên Xô là 6% đến 8% còn Mỹ chỉ tăng hàng năm từ 5% đến 6%. Trong 4 tháng đầu năm 1974, từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1974, sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã tăng 8,7% so với cùng thời kỳ này trong năm 1973.


Sức mạnh kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa cũng đang phát triển sang châu Mỹ la-tinh. Tháng 5 năm 1974, Bộ trưởng thương mại Ác-hen-ti-na đã sang thăm và ký một số hợp đồng kinh tế với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Bá quyền kinh tế của Mỹ đã bị phá một lỗ hổng. Bên cạnh Liên Xô đã đứng ngang hàng với Mỹ về nền công nghiệp và nền khoa học kỹ thuật hiện đại, Trung Quốc cũng đang đuổi sát các nước công nghiệp tiên tiến. Sự tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc đã được chúng minh ở kết quả của sự thành công bước đầu về kỹ thuật tên lửa, hạt nhân vả vệ tinh nhân tạo.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:11:03 am
Trong khi đế quốc Mỹ bị sa lầy và suy yếu về kinh tế vì cuộc chiến tranh Việt Nam, các nước xã hội chủ nghĩa đã có điều kiện thuận lợi để đuổi sát Mỹ về sự phát triển kinh tế và tốc độ tiến bộ về khoa học kỹ thuật.


Sức mạnh kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa là một lực lượng chủ yếu để hạn chế, đánh lui, đánh bại sự lũng đoạn, khống chế và xâm lược kinh tế của đế quốc Mỹ trên thế giới. Sức mạnh kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần đánh lui sự lũng đoạn và xâm lược kinh tế của đế quốc Mỹ ở nhiều nước dân tộc chủ nghĩa, nhất là một số nước ở châu Phi và Trung Đông. Sức mạnh kinh tế này cũng đang bắt đầu có tác dụng hạn chế một phần sự lũng đoạn kinh tế của Mỹ ở các nước tư bản Tây Âu. Xe ô tô của Liên Xô, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan đã bán sang thị trường các nước Tây Âu.


Sức mạnh kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa tiến sát và tiến ngang sức mạnh kinh tế của Mỹ và một số nước tư bản chủ yếu khác là một điều kiện rất quan trọng để đánh lùi, đánh bại mưu đồ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ, là một điều kiện vô cùng quan trọng để giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc, độc lập quốc gia của các nước mới phát triển và đang phát triển và cũng là một điều kiện rất quan trọng để giúp đỡ cho phong trào công nhân và phong trào dân chủ tiến bộ trong các nước tư bản chủ nghĩa.


Điểm thứ hai nói lên sự suy yếu về kinh tế của đế quốc Mỹ sau chiến tranh Việt Nam là sự lớn mạnh về kinh tế của các nước tư bản đàn em của Mỹ. Các nước này lớn mạnh lên về kinh tế thì có điều kiện và khả năng để đấu tranh thoát khỏi sự lệ thuộc, khống chế của Mỹ. Các nước tư bản đàn em của Mỹ muốn được độc lập về chính trị thì điều đầu tiên là phải lớn mạnh lên về kinh tế, phải giành được địa vị độc lập về kinh tế. Trong mối quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa thì điều đầu tiên là quan hệ về kinh tế, quan hệ về đồng tiền. Sức mạnh kinh tế là sức mạnh chúa tể, quan hệ kinh tế là quan hệ hàng đầu.


Các nước tư bản Tây Âu và Nhật Bản đang đấu tranh với Mỹ, cạnh tranh với Mỹ về kinh tế, nhất định không chịu để cho Mỹ khống chế mãi về kinh tế và chính trị. Đó là quy luật của cạnh tranh, quy luật của mạnh yếu.


Trong khi nước Mỹ suy yếu đi vì bị sa lầy trong cuộc chiến tranh lâu dài không có lôi thoát ở Việt Nam thì các nước tư bản khác được rảnh chân và lớn mạnh lên về kinh tế. Trong khi Mỹ bị mắc kẹt ở Việt Nam thì sản xuất ở các nước tư bản khác tăng gấp 2 - 3 lần. Do đó mà đến cuối những năm 60, họ đã có điều kiện và khả năng để cạnh tranh về kinh tế với Mỹ. Hàng hóa công nghiệp của Nhật Bản đã xâm chiếm thị trường nước ngoài béo bở của Mỹ ở Đông Nam Á, ở châu Mỹ la-tinh và dần dần ở cả Tây Âu. Hơn thế nữa, hàng công nghiệp của Nhật còn xâm chiếm cả thị trường nội địa nước Mỹ. Lính Mỹ chiến đấu ở Đông Dương và Đông Nam Á đã dùng hàng công nghiệp của Nhật nhiều hơn của Mỹ. Nhiều hàng công nghiệp chiến tranh của Mỹ củng sản xuất, gia công và sửa chữa ở Nhật. Triển khai quân đội ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á để xâm lược Đông Dương, nước Mỹ không được cái gì mà trước mắt và trực tiếp lại mất quyền làm chủ một khu vực thị trường béo bở ở Đông Nam Á.


Các nước tư bản Tây Âu trong khối thị trường chung châu Âu cũng đã thừa cơ hội này mà giành lại thế đứng của mình ở trong nước và dần dần phát triển thế đứng đó, len chân vào các thị trường của Mỹ ở châu Mỹ la-tinh, châu Phi và Trung Cận Đông.


Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã thi hành chương trình Mác-san ở Tây Âu. Số vốn đầu tư của tư bản Mỹ sang Tây Âu lên tới 17 tỷ đô la. Tình hình ngày nay lại diễn ra khác trước. Các nước tư bản Tây Âu đã giàu có lên và ngày nay họ đã có trong tay số đô la lên tới 85 tỷ, vượt gấp mấy lần số tiền đầu tư của Mỹ. Trước tình hình này, một số ký giả Tây Âu đã nói một câu tương đối ngộ nghĩnh là các nước Tây Âu có thể sẽ làm một chương trình Mác-san đảo ngược.


Tuy nước Mỹ giàu có như thế, tổng sản lượng công nghiệp của Mỹ chiếm 40% trong tổng sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản, nhưng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ lại thấp hơn so với các nước tư bản khác. Kim ngạch xuất khẩu của Mỹ chỉ chiếm trung bình 5% tổng sản lượng quốc dân. Trong khi đó thì Tây Đức là 22%, Pháp là 15%, Nhật 12%. Kim ngạch xuất khẩu của Mỹ chỉ chiếm 17% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới tư bản.


Sau cuộc chiến tranh Trung Đông tháng 10 năm 1973 và đến đầu năm 1974, các nước Tây Âu trong khối thị trường chung và Nhật Bản càng có cơ hội để cạnh tranh với Mỹ. Pháp là nước đi đầu trong việc bành trướng mậu dich, hợp tác kinh tế, đầu tư sang các nước Trung Cận Đông, Bắc Phi và châu Mỹ la-tinh. Nước Pháp đang tiến hành các kế hoạch xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Ba Tư, nhà máy đúc thép ở I-rắc và các kế hoạch hợp tác kinh tế, mậu dịch, đầu tư khác ở các nước Ả-rập Xê-u-đích, Cô-oét, Bra-xin, v.v... Tây Đức và Nhật Bản cũng đang mạnh dạn đi theo con đường này của Pháp.


Các nước Bắc Âu và Úc thì đang tìm con đường tự chọn, rồi đến các nước phụ thuộc và chư hầu của Mỹ cũng phải tìm lấy con đường sống cho bản thân mình. Thụy Điển là một nước công nghiệp quyết đi con đường phát triển của mình, không chịu ảnh hưởng của Mỹ, đang có kế hoạch hợp tác kinh tế và kỹ thuật với các nước có chế độ xã hội tiến bộ và các nước xã hội chủ nghĩa. Nước Úc cũng đang có chủ trương buôn bán với các nước khác, ngoài ý muốn và sự khống chế của Mỹ.


Trong một cuộc phỏng vấn của tuần báo kinh tế Pháp "Kinh doanh", P. Rinh-prết, một cố vấn kinh tế thân cận của Ních-xơn đã nới: "Hoa Kỳ nhận thấy khó hợp tác với các nước kỹ nghệ để áp dụng một chiến lược chung nhằm đương đầu với tình hình kinh tế khó khăn hiện nay. Tất cả những cố gắng của Hoa Kỳ để tăng cường sự hợp tác kinh tế với các đồng minh cố hữu của mình đều chuốc lấy những thất bại".


Dưới đây là các số liệu nêu lên sự so sánh về sự phát triển kinh tế giữa các nước tư bản công nghiệp phát triển với Mỹ.

(https://i.imgur.com/HlXfGsl.jpg)


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:12:08 am
Lực lượng kinh tế thứ ba đánh lùi sự khống chế và lũng đoạn về kinh tế của đế quốc Mỹ là các nước dân tộc chủ nghĩa, các nước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba.

Các nước thuộc thế giới thứ ba trước kia vẫn là nguồn dự trữ về nguyên liệu và nhiên liệu của Mỹ và các nước tư bàn khác, là kho nguyên liệu của các nước tư bản phát triển. Đế quốc Mỹ và các nước tư bản phát triển làm giàu một cách nhanh chóng là do cướp đoạt tài nguyên và sử dụng nhân công rẻ mạt của các nước đang phát triển.


Ngày nay, các nước này, lợi dụng được hoàn cảnh suy yếu của đế quốc Mỹ sau Việt Nam, được các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ, biết cùng nhau đoàn kết lại, đã có sức đánh lùi từng bước sự khống chế, lũng đoạn và cướp đoạt của đế quốc Mỹ. Họ đã giành được độc lập về chính trị và đó là điều kiện thuận lợi để tiến lên giành độc lập về kinh tế. Các nước này đang tiến hành quốc hữu hóa các công ty tư bản nước ngoài. Họ đang tiến lên làm chủ tài nguyên, làm chủ đất nước của mình về cả chính trị và kinh tế. Họ sẽ từng bước tiến lên con đường công nghiệp hóa, con đường đánh lùi và đánh tan sự xâm lược về kinh tế của các nước tư bản.


Đây là một đòn nghiêm trọng đối với đế quốc Mỹ và các nước tư bản phát triển. Mỹ và các nước tư bản sẽ mất những điều kiện cơ bản, rất quan trọng để phát triển kinh tế. Họ vừa mất những kho tài nguyên quý giá, lại vừa mất những thị trường béo bở, những công trường có sức lao động rẻ mạt. Mất quyền lũng đoạn những nguồn nguyên liệu quý và hiếm, đế quốc Mỹ và các nước đế quốc tư bản khác, không những sẽ bị suy yếu về kinh tế mà còn sẽ bị suy yếu về quân sự. Đó là một điều rất có ý nghĩa. Lực lượng kinh tế mới trỗi dậy này càng được phát triển, càng có sức mạnh và ngày càng quan trọng.


Tình hình lạm phát tiền tệ, suy thoái kinh tế của nước Mỹ hiện nay đang làm suy yếu địa vị cường quốc thương mại số một mà nước Mỹ đã chiếm trong nhiều chục năm nay. Trong suốt gần một thế kỷ, Mỹ là một nước xuất siêu. Thế mà, với gánh nặng của cuộc chiến tranh Việt Nam đè nặng lên nền kinh tế Mỹ, nước Mỹ đã nhập siêu nặng nề trong vài năm gần đây. Điều đó đã dẫn đến việc cán cân thanh toán quốc tế của Mỹ ngày càng thiếu hụt nặng. Trong 8 năm, từ 1965 đến 1972, tổng số thiếu hụt đã lên đến trên 50 tỷ đô la.


Cán cân thanh toán bị hụt nặng khiến kho vàng dự trữ của Mỹ ngày càng giảm. Cuối năm 1964, nước Mỹ có 15,4 tỷ đô la vàng dự trữ. Đến tháng 10 năm 1972, con số này tụt xuống còn 10,4 tỷ. Trong khi đó số đô la giấy ở nước ngoài lại lên đến trên 80 tỷ. Tóm lại, Mỹ không có đủ số vàng bảo đảm cho đồng tiền của mình đã chạy ra nước ngoài. Mỹ đã trở thành một con nợ không còn khả năng trang trải. Từ đấy, đồng đô la ngày càng mất giá trên thị trường quốc tế, đánh dấu bước suy sụp không tài nào gượng dậy nổi của thế lực kinh tế, tài chính của nước Mỹ, trong lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại.


Trong năm 1975 và chỉ nói riêng trước mắt, trong những năm còn lại của những năm 70, nền kinh tế Mỹ đang và sẽ phải đương đầu với những vấn đề trầm trọng sau đây:

- Ngân sách tiếp tục bị thâm hụt to. Khó khăn tài chính ngày càng chồng chất.

- Nền sản xuất không phát triển được, nạn suy thoái ngày càng đe dọa nghiêm trọng.

- Nạn lạm phát tiếp tục bành trướng.

- Nạn thất nghiệp ngày càng tăng.

- Cán cân buôn bán không có lợi.

- Cán cân thanh toán quốc tế ngày càng thâm hụt nặng.

- Đồng đô la sau hai lần phá giá ngày càng suy yếu.

Nếu trong những năm trước cuộc chiến tranh Việt Nam, những vấn đề trên đây chỉ là những mầm non đang nhú thì trong quá trình cuộc chiến tranh Việt Nam, các vấn đề đó đã được đà phát triển rất nhanh và ngày nay đang đe dọa không những nền kinh tế Mỹ mà cả cái gọi là "thể chế chính trị" Mỹ. Vì thế, có chính khách Mỹ đã nói: "Cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn chưa rút ra khỏi nền kinh tế tài chính của nước Mỹ".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:13:49 am
2. Suy yếu về chính trị

Như phần nguyên nhân thất bại đã nói, đế quốc Mỹ đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam trong những điều kiện lịch sử không có lợi cho bọn đế quốc gây chiến.

Ngay từ năm 1968, thống chế Anh Môn-gô-mê-ri đã từng nhận xét rằng: "Toàn thế giới đã chống lại Mỹ" và coi đó "là một tấn thảm kịch đối với Mỹ". Nhận xét này gần như đã trở thành phổ biến trong dư luận phương Tây.


Nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam và chống đế quốc Mỹ đã nói lên tính chất và đặc điểm của thời đại ngày nay - thời đại suy tàn của chủ nghĩa tư bản, thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và thời đại của phong trào giải phóng và độc lập dân tộc, thời đại dân chủ và tiến bộ xã hội.


Cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược của Việt Nam là tiêu điểm của hai trào lưu cách mạng trên. Nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cũng còn là vì bản thân mình. Đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ Việt Nam tức là đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ đối với toàn thế giới. Đế quốc Mỹ bị thất bại, bị suy yếu vì cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì nền độc lập của các nước trên thế giới càng được củng cố. Nhân dân Việt Nam càng giương cao ngọn cờ chính nghĩa, càng làm cho chân lý sáng ngời thì nhân dân thế giới càng củng cố được lòng tin của mình. Tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất, hy sinh gian khổ, khí phách hiên ngang, anh dũng tuyệt vời của nhân dân Việt Nam đã động viên khích lệ nhân dân thế giới, làm xúc động lòng người. Những sự tích anh hùng của nhân dân Việt Nam đã tỏa ra ánh sáng chói lọi của lương tri và đạo lý đối với loài người tiến bộ.


Các nước xã hội chủ nghĩa đã tích cực ủng hộ Việt Nam cả về tinh thần lẫn vật chất, kiên quyết lên án hành động xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đông đảo các nước dân tộc chủ nghĩa, các phong trào giải phóng dân tộc cũng đứng về phía Việt Nam, tích cực cổ vũ ủng hộ về chính trị và tinh thần đối nhân dân Việt Nam, đồng thời kiên quyết phản đối hành động xâm lược của đế quốc Mỹ. Hơn 30 tổ chức quốc tế ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ đã được thành lập ở các nước dân tộc chủ nghĩa. Đi đôi với phong trào chống đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, phần lớn các nước dân tộc chủ nghĩa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ la-tinh còn hành động chống chủ nghĩa thực dân mới hoặc ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở chính ngay tại nước mình.


Nhiều tổ chức ủng hộ Việt Nam, phản đối hành động xâm lược của đế quốc Mỹ đã được thành lập ở cả những nước tư bản chủ nghĩa như Thụy Điển, Pháp, Ý, Nhật, Anh, Tây Đức, Na Uy, v.v...

Làn sóng chống đế quốc Mỹ xâm lược, ủng hộ Việt Nam đã dâng lên mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới và trở thành phong trào có tổ chức của toàn thế giới. Trên thực tế, một mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược, ủng hộ Việt Nam đã hình thành.


Đó là một đòn nặng giáng vào đầu bọn xâm lược Mỹ, tên sen đầm quốc tế hung hãn, giáng vào dinh lũy của chủ nghĩa thực dân mới và đánh vào âm mưu làm bá chủ thế giới của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới, của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, của phong trào giải phóng dân tộc và độc lập quốc gia của các nước.

Trên thế giới, thắng lợi của nhân dân Việt Nam là thắng lợi của phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa. Thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng còn là thắng lợi của phong trào dân chủ tiến bộ và hòa bình trên toàn thế giới. Sự đoàn kết và giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với nhân dân Việt Nam để đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã tạo ra một sức mạnh lớn của phong trào cách mạng trên thế giới để đánh bại sự xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam và ở trên thế giới.


Thắng lợi của nhân dân Việt Nam và thất bại của đế quốc Mỹ đã làm cho đế quốc Mỹ, kẻ bóc lột và đàn áp lớn nhất trên thế giới bị suy yếu đi về chính trị, kinh tế, quân sự, làm cho lực lượng so sánh phát triển có lợi cho lực lượng cách mạng, cho lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới.


Thắng lợi của nhân dân Việt Nam và thất bại của đế quốc Mỹ đã đánh dấu và cũng là bước mở đầu cho sự suy sụp của chủ nghĩa thực dân mới và chiến tranh xâm lược thực dân mới của chủ nghĩa đế quốc Mỹ trong vai trò sen đầm quốc tế. Vì vậy, trên tờ Ri-đơ Đi-giót (2-1969), Giôn-xơn đã phải chua xót thú nhận: "Sự thật là sức mạnh hoặc sự kiện trên thế giới không đi theo ý muốn của chúng ta"1 (Chiến tranh Việt Nam và bước đường suy sụp của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Nxb Quân đội nhân dân. H. 1973, tr. 54). Đúng thế! Sự thật hùng hồn trên thế giới đã, đang và sẽ chứng minh một cách rõ rệt cho điều đó.


Triều Tiên bắt tàu do thám Pu-e-blô của Mỹ. Pê-ru một nước nhỏ ở "sân sau của Mỹ" cũng bắt tàu đánh cá hoặc tàu do thám của Mỹ, cũng quốc hữu hóa các công ty dầu lửa của Mỹ, trục xuất phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ. Pa-na-ma đang đấu tranh với Mỹ đòi chủ quyền trên sông đào Pa-na-ma. Nước Vê-nê-du-ê-la cũng đang tiến hành quốc hữu hóa các công ty tư bản Mỹ. Các nước châu Mỹ la-tinh đang theo nhau đứng lên đấu tranh để thoát khỏi sự khống chế về kinh tế và chính trị của đế quốc Mỹ, và giành được thắng lợi từng bước, từng phần. Châu Mỹ la-tinh đã cựa mình ngày càng mạnh mẽ. Sợi dây khống chế của đế quốc Mỹ đã bị chùng lỏng và rạn từng quãng.


Có một sự kiện mới rất đáng chú ý: cuối tháng 2 năm 1974, trong cuộc hội nghị cấp bộ trưởng ngoại giao giữa các nước châu Mỹ la-tinh với Mỹ ở Mê-hi-cô, ngoại trưởng Mỹ Kít-xinh-giơ đã phải dùng những từ ngữ mỹ miều về mối "quan hệ bình đẳng" giữa các nước. Bình đẳng!!! Viên bộ trưởng ngoại giao kiêu căng và hợm hĩnh của chính phủ Mỹ mà phải uốn ba tấc lưỡi nói đến tiếng "bình đẳng", dù cho đó chỉ là giả dối và lừa bịp, thì có nghĩa là đế quốc Mỹ đã "xuống thế" lắm rồi!


Ở châu Phi, sự khống chế của đế quốc Mỹ đang bị phá lỏng một cách mạnh mẽ. Các nước dân tộc chủ nghĩa ở châu Phi, các nước Ả-rập đang đoàn kết đứng lên dần dần quốc hữu hóa các công ty tư bản độc quyền Mỹ và nước ngoài, đồng thời các nước đó cũng bắt đầu tách dần ra những ảnh hưởng văn hóa, chính trị của đế quốc Mỹ ở trong nước họ.


Các nước Ả-rập và Ba Tư đã quốc hữu hóa 25% - 50% số công ty dầu của các nước tư bản phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Hà Lan. Li-bi, An-giê-ri, I-rắc là những nước đang đi đầu trong việc quốc hữu hóa các công ty dầu. Tháng 7 năm 1962, I-rắc đã quốc hữu hóa phần lớn các cổ phần của công ty "Irak Petroleum" - một công ty hỗn hợp gồm các hãng BP, Shell, Mobiloil, v.v... Năm 1971, An-giê-ri đã quốc hữu hóa 51% số công ty dầu Anh, Mỹ, Hà Lan; Li-bi đã quốc hữu hóa công ty dầu Anh "British Petroleum" và công ty dầu Ý "Emi".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:14:29 am
Cuộc phong tỏa dầu của các nước Ả-rập sau cuộc chiến tranh Trung Đông tháng 10 năm 1973 chứng tỏ các nước dân tộc chủ nghĩa đã biết đoàn kết lại và dám đứng lên đấu tranh chống sự khống chế, đàn áp, bóc lột của đế quốc Mỹ. Họ đã biết sử dụng dầu hỏa như một thứ vũ khí lợi hại để đấu tranh làm điêu đứng đế quốc Mỹ và các nước tư bản khác, gây ra sự lục đục, chia rẽ trong nội bộ các nước đó. Cuộc phong tỏa này đã có tác dụng làm suy yếu các nước tư bản đế quốc về kinh tế, dẫn đến chỗ đánh lùi âm mưu xâm lược, khống chế của chúng.


Cuộc kháng chiến thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã mở ra một bước tiến mới trong giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân mới. Với tác động mạnh mẽ của cuộc kháng chiến ở Việt Nam, cuộc chiến tranh ở Trung Đông giữa I-xra-en và các nước Ả-rập tháng 10 năm 1973 đã mở ra một hình thức đấu tranh mới của các nước dân tộc và các nước đang phát triển. Các nước Ả-rập đã biết tập hợp lại thành những tổ chức chính trị và kinh tế để đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Về kinh tế, các nước Ả-rập sản xuất dầu đã tổ chức tổ hợp dầu mỏ "OPEC", có chủ trương chung nhằm phong tỏa việc bán dầu cho Mỹ và Hà Lan, đồng thời khai thác và buôn bán dầu với thế giới, thoát khỏi sự khống chế của các nước đế quốc. Việc phong tỏa này đã làm cho nước Mỹ gặp rất nhiều khó khăn.


Theo kinh nghiệm các nước Ả-rập sản xuất dầu, cảc nước sản xuất nguyên liệu cũng đang chuẩn bị thành lập các tổ hợp nguyên liệu để đấu tranh với các nước đế quốc. Các nước sản xuất đồng hình thành một tổ hợp lấy tên là "CIPEC" gồm phần lớn các nước châu Phi, Pê-ru, v.v... Tổ chức này đã chỉ đạo được giá đồng, và giá đồng đã tăng cao. Các nước sản xuất nguyên liệu khác có thể cũng đi theo con đường này. Họ phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giàu có của họ, không để cho các nước đế quốc thực dân mới, nhất là đế quốc Mỹ cướp đoạt. Các nước đó đã thấy họ phải làm chủ những nguyên liệu, tài nguyên có giá trị của họ như bô-xít, nhôm, cao su, gỗ, cà phê, đậu nành, v.v... Vì vậy, ký giả tờ "Thời báo Niu Oóc" Phrêt Bếc-xten đã phải thốt ra rằng: "Các tổ hợp sản xuất giờ đây đã thành hình tại nhiều nơi, và chính sự đoàn kết mới của họ sau một thời gian bị các đại cường quốc, thực dân tận lực khai thác, khiến họ có thể tăng cao giá bán một cách "yên ổn" mà không hề sợ bị các nước lớn trên trả đũa chút nào cả". Sự vùng lên của các quốc gia sản xuất trên còn tạo nên cả một sự thăng bằng về cán cân chính trị và kinh tế, lấy bớt các nguồn tài chính quá dồi dào của các nước lớn, giảm bớt các quyền uy lãnh đạo của các nước lớn này, đã chia đều hoặc nâng cao địa vị cho các nước đang phát triển".


Điều đó chứng tỏ, các nước dân tộc chủ nghĩa, các nước đang phát triển đã ý thức được rằng họ muốn nước nhà được thực sự độc lập, muốn dân tộc mình phát triển thì phải chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới. Muốn có sức mạnh thì phải đoàn kết lại, đoàn kết với phe xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Họ phải dùng cả vũ khí chính trị và kinh tế, đồng thời sẵn sàng dùng cả vũ khí quân sự. Thực tế cho ta thấy họ đã tập hợp lại thành những tổ chức chính trị và kinh tế, và khi cần thì cũng tập hợp lại thành những tổ chức quân sự.


Rõ ràng, đế quốc Mỹ bị thất bại và suy yếu đi trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam cùng sự lục đục, mâu thuẫn, chia rẽ vì quyền lợi trong nội bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới, đã tạo điều kiện và thời cơ cho các nước đang phát triển mạnh mẽ tiến lên chống chủ nghĩa đế quốc thực dân mới, củng cố nền độc lập của mình.


Cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược đã được nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa tích cực ủng hộ. Giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các đoàn thể dân chủ, các nhân sĩ, trí thức tiến bộ đều tham gia phong trào ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Nhiều tổ chức chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam đã được thành lập. Các tổ chức này đã ủng hộ nhân dân Việt Nam về tinh thần chính trị và cả về vật chất như quyên góp thuốc men, quần áo, tiền mua sắm các thứ cần thiết cho chiến đấu và sinh hoạt. Ngoài tác dụng ủng hộ nhân dân Việt Nam, cuộc đấu tranh này còn có tác dụng chống những ảnh hưởng của đế quốc Mỹ ở trong nước mình và động viên tập hợp nhân dân để đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Từ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa càng thấy rõ tính chất thiêng liêng và cao cả của cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, cho giá trị con người! Tấm gương của nhân dân Việt Nam đã cổ vũ nhân dân các nước tư bản tăng thêm dũng khí đấu tranh chống mọi áp bức, bóc lột, đàn áp và mọi thế lực phản động, đen tối.


Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam càng mạnh thì cuộc đấu tranh của nhân dân các nước tư bản cũng càng phát triển, cùng nhau tạo thành một trào lưu mạnh mẽ của cuộc đấu tranh sôi nổi cho tự do, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội.


Cuộc đấu tranh lớn của giai cấp công nhân Nhật, Pháp, Ý, Anh... đã giành được những thắng lợi lớn về quyền dân sinh dân chủ và cao hơn nữa là có nơi đã làm lung lay đến tận gốc rễ, đã đánh bại những đường lối, chính sách phản dân chù, phản động của các chính phủ cầm quyền, thậm chí đánh đổ ngay cả chính phủ đó. Dưới sự lãnh đạo của các đàng cộng sản, giai cấp công nhân đã liên hiệp hành động với các tầng lớp nhân dân tiến bộ khác từng bước đánh lui thế lực phàn động của các tập đoàn tư bản lũng đoạn cầm quyền, từng bước đưa phong trào dân chủ tiến bộ tiến lên.


Sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hao người, tốn của mà vẫn bị thất bại, đế quốc Mỹ đã bị suy yếu khá nặng nề về kinh tế, chính trị và quân sự. Vì phải tập trung vào Việt Nam, đế quốc Mỹ buộc phải bỏ trống các nơi khác, đồng thời cũng không tập trung được thời gian để xây dựng kinh tế; của cải, tiền bạc bị tiêu hao rất lớn mà không có cái để bù đắp. Giữa lúc đế quốc Mỹ mắc kẹt trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì các nước tư bản khác đã lợi dụng thời cơ có một không hai đó để rảnh rang và cố gắng xây dựng để đuổi sát nước Mỹ đồng thời hết sức tìm những chỗ hở của Mỹ mà "đệm" từng miếng đòn ngầm. Đã đuổi sát Mỹ về kinh tế thì các nước tư bản này cũng dần dần có thêm khả năng, điều kiện và ý chí để thoát dần ra khỏi ảnh hưởng và sự khống chế của Mỹ. Chẳng những thế, họ còn tranh giành quyền lợi, thế lực với Mỹ ở các nước trên thế giới là len lỏi chiếm đoạt cả thị trường ở ngay trong nội địa nước Mỹ.


Cuộc chiến tranh Việt Nam đã tạo điều kiện cho những mâu thuẫn sẵn có trong nội bộ thế giới tư bản vận động và phát triển. Đế quốc Mỹ bị suy yếu đi vì cuộc chiến tranh Việt Nam đã đưa đến một thời kỳ mới của mối quan hệ trong nội bộ thế giới tư bản sau chiến tranh thế giới thứ hai: thời kỳ tranh giành thị trường. Các nước tư bản khác đang tranh giành thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và mua bán nguyên liệu, nhiên liệu với Mỹ trên tất cả các lục địa châu Á, châu Phi, châu Mỹ la-tinh. Điều nguy hại cho Mỹ là tư bản Nhật, Tây Đức, Pháp... đã mở được cửa đột phá để tiến vào sân sau của Mỹ là châu Mỹ la-tinh. Điều còn nguy hại hơn là tư bản Nhật và một số nước Tây Âu còn xâm chiếm cả thị trường nội địa nước Mỹ. Mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước tư bản khác đã gay gắt lại ngày càng gay gắt thêm.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:15:13 am
Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ không những bị cả loài người tiến bộ lên án mà còn bị nhân dân tiến bộ Mỹ, những người Mỹ lương thiện kịch liệt lên án vì nó là một cuộc chiến tranh mất đạo đức nhất, lâu dài nhất, hao người tốn của nhất đối với nước Mỹ. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hao người tốn của không có lối thoát đã gây ra hàng loạt rối ren về kinh tế, chính trị, xã hội, làm cho những mâu thuẫn cơ bản sâu xa ở bên trong nước Mỹ càng thêm trầm trọng. Chưa bao giờ ở nước Mỹ có những xáo động chính trị mạnh mẽ, chưa bao giờ nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc như trong thời kỳ đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Do phải đóng góp ngày càng nhiều cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhân dân lao động Mỹ ngày càng bị áp bức bóc lột nặng nề, ngày càng bị nghèo đi. Họ hiểu ràng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam càng kéo dài thì họ càng bị đau khổ. Nhân dân lao động Mỹ hiểu rằng muốn cải thiện đời sống, muốn có một đời sống tốt đẹp hơn thì phải đấu tranh chống chiến tranh xâm lược. Cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của nhân dân Mỹ có sự gắn bó khăng khít với cuộc đấu tranh chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Những hành động đàn áp trắng trợn của chính phủ Mỹ đối với các cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ và phong trào chống chiến tranh của nhân dân Mỹ, nhất là sự ngoan cố kéo dài chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính phủ Mỹ đã làm cho nhân dân lao động Mỹ dần dần thấy rõ tính chất phản động, thối nát của chế độ chính trị, xã hội ở Mỹ. Được rèn luyện trong cuộc đấu tranh này, ý thức chính trị của nhân dân lao động Mỹ đã có một bước phát triển mới, mạnh mẽ trong phong trào đấu tranh chống chính quyền phản động, xâm lược và hiếu chiến ở Mỹ hiện nay.


Cuộc đấu tranh của nhân dân da đen trong tập thể nhân dân Mỹ cũng phát triển mạnh mẽ. Trong lịch sử 400 nâm đấu tranh của mình, chưa bao giờ cuộc đấu tranh của người da đen ở Mỹ lại bùng nổ dữ dội và lan rộng nhanh chóng như mấy năm vừa qua. Vốn là nạn nhân của chính sách phân biệt chủng tộc độc ác nhất của bọn cầm quyền Mỹ, là những người nghèo khổ và bị áp bức bóc lột nhiều nhất, những người da đen ở Mỹ đã phải chịu đựng những hậu quả nặng nề nhất do cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam gây ra, như nạn lạm phát, giá sinh hoạt đắt đỏ và không ngừng tăng cao, đời sống khó khăn và ngày càng cơ cực. Chính những người da đen ở Mỹ đã bị đẩy đi làm bia đỡ đạn ở Việt Nam nhiều nhất so với tỷ lệ số dân da đen ở Mỹ. Trong khi số dân da đen chỉ bằng 11% tổng số dân Mỹ thì số lính người da đen Mỹ bị thương vong ở Việt Nam chiếm 25% so với tổng số thương vong của lính Mỹ ở Việt Nam. Thất bại của Mỹ ở Việt Nam, những chết chóc, thương tật của người da đen trong cuộc chiến tranh xâm lược phi đạo lý này, cùng với sự đàn áp, khủng bố dã man của chính phủ phân biệt chủng tộc ở Mỹ đối với người da đen trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh và đòi dân sinh, dân chủ, đòi quyền bình đẳng dân tộc đã thức tỉnh người da đen và làm tăng thêm dũng khí đấu tranh của họ. Nhiều người da đen đã nêu khẩu hiệu "Cuộc chiến tranh cho tự do của chúng ta là ở ngay trong lòng nước Mỹ chứ không phải ở Việt Nam". Báo chí Mỹ đưa tin: nhiều binh lính da đen Mỹ ở Việt Nam đã bí mật giấu vũ khí mang về nước để chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của người da đen.


Cuộc đấu tranh chống chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và đòi dân sinh, dân chủ đã phát triển rộng rãi trong các giới nhân dân Mỹ, nhất là trong thanh niên, sinh viên. Cuộc đấu tranh này lan ra khắp các trường đại học ở Mỹ và cũng lan sang cả các trường trung học, đã trở thành hạt nhân của phong trào thanh niên Mỹ đấu tranh quyết liệt chống cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, với khẩu hiệu "Thà ngồi tù còn hơn đi lính sang Việt Nam". Sinh viên Mỹ là nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa đầy tội ác do chính phủ Mỹ tiến hành ở Việt Nam. Số sinh viên bị gọi vào quân địch chiếm tới 35% tổng số sinh viên trong năm 1969 (trước đây tỷ lệ chỉ là 5%). Bè lũ Ních-Xơn phải hoảng hốt đối phó với hành động bãi khóa của sinh viên hơn 600 trường đại học trong toàn nước Mỹ vào những ngày giữa tháng 10 năm 1969. Phong trào sinh viên đã trở thành một trong những lực lượng chống chiến tranh xâm lược mạnh nhất ở Mỹ. Kể từ năm 1965 đến năm 1969, số thanh niên Mỹ từ chối không đi lính sang Việt Nam đã tăng gấp 10 lần. Phong trào đó phát triển mạnh từ năm 1967- năm đế quốc Mỹ bắt đầu bị thất bại nặng nề ở Việt Nam. Nó có sức lôi cuốn rộng rãi và có tác động mạnh mẽ tới phong trào chống chiến tranh trong nhân dân Mỹ.


Cuộc chiến tranh phi đạo lý ở Việt Nam đã làm cho lương tâm của những người lương thiện bị cắn dứt. Vì quá dã man, tàn bạo, vì quá phi đạo lý nên tự nó đã làm thức tỉnh những người, những giới rất khó thức tỉnh, kể cả giới văn nghệ sĩ Mỹ. Và chính nghĩa sáng ngời cũng như tinh thần chiến đấu hy sinh, dũng cảm phi thường của nhân dân Việt Nam đã đi vào chỗ tận cùng sâu thẳm của lòng người. Trong xã hội tư bản đen tối ở Mỹ đã sáng rực ngọn lửa chân lý của Mo-ri-xơn và ngày càng vang lên nhiều tiếng nói của những người Mỹ chân chính như Giên Phôn-đa, Pi-tơ Xi-go, Tôm Hay-đơn, No-am Chôm-xki, En-xbớc, v.v...


Như trên phần nguyên nhân thất bại đã nói, phong trào đấu tranh rộng lớn của đông đảo quần chúng nhân dân Mỹ đã tác động mạnh tới hàng ngũ binh lính Mỹ là những người đem xương máu ra chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ, chết chóc ở Việt Nam để phục vụ cho quyền lợi ích kỳ của các tập đoàn tư bản lũng đoạn Mỹ. Điều rất đáng chú ý là hành động chống chiến tranh trong binh lính Mỹ đã phát triển nhanh và mạnh chưa từng thấy trong lịch sử quân đội Mỹ.


Sự phát triển của phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ chống bọn cầm quyền là một bước phát triển mới trên bước đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Mỳ. Nó chứng tỏ đông đảo nhân dân Mỹ quyết không để cho bọn hiếu chiến trong giới cầm quyền Mỹ có tiếng nói quyết định cuối cùng. Phong trào đấu tranh đó càng phát triển thì càng làm cho những mâu thuẫn vốn có trong xã hội Mỹ, đặc biệt là mâu thuẫn giữa bọn tư bản lũng đoạn thống trị với nhân dân Mỹ càng ngày lại càng sâu sắc. Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam đã tác động trực tiếp tới đời sống mọi mặt của nước Mỹ làm cho mâu thuẫn đó càng trở nên sâu sắc, không thể nào hòa hoãn được.


Phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ không những chỉ phát triển mạnh mẽ trong nhân dân Mỹ, mà còn tác động mạnh tới các giới chính trị, tới quốc hội Mỹ.

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hao người, tốn của mà không giành được thắng lợi đã làm suy yếu nước Mỹ về kinh tế và chính trị, gây ra mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi giữa các tập đoàn tư bản và làm suy yếu địa vị bá chủ của đế quốc Mỹ trong thế giới tư bản. Trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày, Tay-lơ phải tự thú: "Cái giá đắt khác nữa mà chúng ta phải trả cho cuộc chiến tranh này là sự chia rẽ nội bộ nước Mỹ, là việc để lộ những nhược điểm nội tại của chúng ta trước thế giới và là tình trạng mất quyền chủ động hành động để đối phó với các vấn đề đối nội và đối ngoại khẩn cấp khác của chúng ta".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:16:01 am
"... Do thất bại này, chúng ta đã phải trả một cái giá nặng nề là sự tan vỡ của nền đoàn kết quốc gia". Tờ "Thời Vận", cơ quan của giới công thương, vốn không có cảm tình với giới cấp tiến, cũng viết: "Nước Mỹ đã là một nước bị chia rẽ, thất vọng và lo âu, một loạt sự kiện đã đẩy nước ta vào một tình trạng hoang mang, lo sợ còn hơn cả khi có cuộc khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn trầm trọng... Sự chia rẽ ở trong nước Mỹ đã lên tới mức không thể chịu đựng được nữa rồi".


Sự chia rẽ trong nội bộ giai cấp tư sản Mỹ tuy diễn ra trên nhiều mặt và trong nhiều vấn đề, giữa nhiều phe phái khác nhau với động cơ và mục đích cụ thể khác nhau trong việc tranh giành quyền lợi, song trước hết nó đã phản ánh sự bế tắc và phá sản toàn diện của cả một chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ, đồng thời cũng phản ánh sự suy yếu nghiêm trọng về chính trị trong giai cấp thống trị ở Mỹ. Nó làm cho giới cầm quyền Mỹ không thể tập trung được sức lực và trí tuệ vào chính sách xâm lược.


Do sự chia rẽ về chính trị trong nội bộ nước Mỹ, do mất tín nhiệm với dân chúng Mỹ, Ních-Xơn đã phải bày ra "trò Oa-tơ-ghết" để được bầu lại tổng thống một lần nữa. Vụ Oa- tơ-ghết tai tiếng đã phơi bày cái thân hình ghẻ lờ ốm yếu của một chính quyền hiếu chiến ngày càng suy đồi vì thất bại của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Trên thế giới, có lẽ người ta khó thấy một chính phủ mà cả tổng thống lẫn phó tổng thống đều bị gọi ra tòa rồi phải từ chức, hàng loạt cố vấn cao cấp bị đưa ra xét xử trước vành móng ngựa. Quả là một tấn bi hài kịch của chính phủ Mỹ, bắt nguồn trực tiếp từ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Rõ ràng, giới cầm quyền Mỹ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì đồng thời cũng gây ra một cuộc khủng hoảng sâu sắc về tư tưởng, chính trị trầm trọng ở ngay trong nước Mỹ.

Một số nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ đã gọi cuộc chiến tranh Việt Nam là một chất xúc tác đã đưa đến một sự chuyển biến sâu sắc trong ý thức tư tưởng của nhân dân Mỹ. Một số chiều hướng ý thức tư tưởng mới của nhân dân Mỹ có liên quan chặt chẽ đến việc vạch ra những chiến lược quân sự mới của giới cầm quyền Oa-sinh-tơn đã được nêu lên:

- Chiều hướng ý thức tư tưởng "biệt lập chủ nghĩa"

Giôn-xơn, Ních-Xơn, rồi Pho đều đã nhiều lần lên tiếng chống lại chiều hướng ý thức tư tưởng "biệt lập chủ nghĩa" ngày càng phát triển trong nhân dân Mỹ và xem đấy là một trong những "hậu quả tai hại" của cuộc chiến tranh Việt Nam đối với "cách suy nghĩ" của người Mỹ. Giới cầm quyền Oa-sinh-tơn cho rằng: qua những thất bại và thiệt hại nặng nề của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đa số người Mỹ đang muốn "co về lại nước Mỹ, với châu Mỹ", "sống biệt lập trong khuôn khổ ranh giới nước Mỹ, châu Mỹ", "không quan tâm đến những sự việc xảy ra ở các nơi khác, các châu khác trên thế giới". Giôn-xơn, Ních-Xơn và Pho nhiều lần "đả kích" chiều hướng ý thức tư tưởng này và hô hào "phải tiếp tục đảm nhiệm vai trò, trách nhiệm và những cam kết của nước Mỹ trên thế giới". Thực ra, đây chính là chiều hướng tư tưởng của nhân dân Mỹ chống lại chính sách can thiệp, xâm lược, bành trướng, chính sách "sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ, đòi giới cầm quyền Oa-sinh-tơn phải quay về giải quyết những vấn đề đối nội cấp bách của chính bản thân nước Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Những khẩu hiệu chống chiến tranh quen thuộc "Không thêm Việt Nam nữa!", "Một Việt Nam là đã quá đủ rồi!", "Hãy quay ngay trở về nước Mỹ!" đã thể hiện "dấu ấn" sâu sắc của cuộc chiến tranh Việt Nam đối với chiều hướng ý thức tư tưởng này của nhân dân Mỹ. Chiến lược quân sự toàn cầu của giới cầm quyền Oa-sinh-tơn nhằm phục vụ cho âm mưu, ý đồ can thiệp, xâm lược của chúng trên thế giới để đóng vai trò "bá chủ toàn cầu", "sen đầm quốc tế". Những âm mưu, ý đồ đó của chúng đang vấp phải sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Mỹ. Bọn vạch ra chiến lược quân sự toàn cầu Mỹ không thể bỏ qua chiều hướng ý thức tư tưởng nói trên ngày càng lan rộng và thấm sâu trong nhiều tầng lớp nhân dân Mỹ và đây là một khó khăn lớn đối với chúng.


- Chiều hướng ý thức tư tưởng "chống quân sự", "chống quân phiệt".

Từ các tướng Tay-lơ, Oét-mo-len, A-bram đến các đô đốc Xác-pơ, Mu-rơ, Dum-oan và nhiều người khác trong giới quân sự chóp bu Mỹ đã nhiều lần đề cập đến vấn đề trên đây với những lời lẽ cay đắng. Ngày nay, nhân dân Mỹ nhìn tất cả những gì mang nhãn hiệu quân sự Mỹ với những đôi mắt hằn học, nghi ngờ, ghét bỏ, từ đường lối chiến lược quân sự, ngân sách quân sự đến các chương trình sản xuất các loại vũ khí, đến việc tuyển mộ một đạo quân gọi là "tình nguyện" nhưng thực chất là đánh thuê. Mặt khác, chính bản thân những sĩ quan các cấp và binh lính Mỹ ngày nay cũng mang theo trong tâm tư mặc cảm một quân đội xâm lược chiến bại đã gây ra những tội ác tày trời và đã bị đánh thua phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Báo chí Mỹ đã nói đến một hiện tượng tâm lý phổ biến của sĩ quan, binh lính Mỹ ngày nay: họ ngần ngại không dám mặc quân phục mỗi khi đi ra ngoài doanh trại, vì bộ quân phục Mỹ chỉ tượng trưng cho sự nhục nhã. Đã có một thời, ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhiều viên tướng Mỹ được công chúng Mỹ xem như là những anh hùng dân tộc như Ai-xen-hao, Brát-lây, Mắc Ác-tơ, v.v... Một viên tướng Mỹ Ai-xen-hao đã ngồi trên ghế tổng thống Mỹ trong suốt hai nhiệm kỳ. Đã có lúc, đảng Cộng hòa Mỹ dự kiến có thể đưa tướng Oét-mo-len làm ứng cử viên của đảng này ra giành ghế tổng thống Mỹ. Tóm lại, từ 1945 đến 1965, trong suốt 20 năm đó, thế lực, uy quyền của giới quân sự Mỹ đã đạt đến đỉnh cao nhất. Cũng trong thời kỳ này, "chủ nghĩa quân phiệt" Mỹ ngày càng phát triển và bao trùm lên đời sống chính trị kinh tế, xã hội của nước Mỹ. Nhưng từ 1965 trở đi, cuộc chiến tranh Việt Nam đã đập gãy nát đôi cánh của con "diêu hâu" quân phiệt Mỹ đang định xòe đôi cánh khổng lồ của nó che phủ cả nước Mỹ lẫn toàn thế giới. Với cuộc chiến tranh Việt Nam, trước đôi mắt của nhân dân Mỹ, những viên tướng và đô đốc Mỹ kiêu căng trước đây đã trở thành những tên "tội phạm chiến tranh" từng gây ra những tội ác tày trời tại Việt Nam và đưa lại những tai họa cho chính nước Mỹ.


Trong "Tập san quân sự" Mỹ (số tháng 7-1972), trung tá lục quân Mỹ Uy-liêm Hao-xơ (William Hauser) viết: "Lục quân Mỹ đang trải qua một thời kỳ thử thách gay go nhất trong lịch sử lâu đời của mình. Những bệnh hoạn của lục quân Mỹ đang là đề tài ưa thích của giới thông tin báo chí Mỹ, từ những tờ báo lá cải đến những tạp chí lớn như tập san "Đối ngoại" từ những cuộc nói chuyện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình đến những bộ phim tài liệu giáo dục. Báo "Bưu điện Oa-sinh-tơn" viết một loạt bài về "lục quân Mỹ trong cơn quằn quại". Trong một buổi điều trần trước quốc hội Mỹ, phó tham mưu trưởng lục quân Mỹ phải buồn rầu thú nhận rằng những bài báo đó đã nói đúng sự thật. Tuy các nhà quan sát chưa nhất trí với nhau về những nguyên nhân gây ra những bệnh hoạn của lục quân Mỹ, nhưng mọi người đều nhất trí rằng đây là một cuộc khủng hoảng nhiều mặt. Đây là một cuộc khủng hoảng lòng tin nảy sinh ra từ một cuộc chiến tranh "không thắng được", từ những sự bất tài, bất lực liên quan đến cuộc chiến tranh (Việt Nam) này".


Đồng thời Han-pơ-rin (Halperin), cựu thứ trưởng quốc phòng Mỹ (1967 - 1969), một thành viên của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (1969) cũng đã viết trên tạp chí "Đối ngoại" (số tháng 1-1972) như sau:

"Trong những năm gần đây, uy tín của giới quân sự Mỹ đã xuống dốc..., ảnh hưởng chính trị của giới quân sự Mỹ đã giảm sút rất lớn. Việc các tham mưu trưởng các quân chủng Mỹ ủng hộ một đề nghị nhất định nào đó không còn là một đảm bảo cho sự chuẩn y của quốc hội và trong một số trường hợp, lại có thể có kết quả ngược lại".


Chiều hướng ý thức tư tưởng "chống quân sự", "chống chủ nghĩa quân phiệt" Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại thảm hại của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nay đang là trở ngại đáng kể đối với Nhà trắng và Lầu năm góc trong việc vạch ra và thực hiện các kế hoạch chiến lược quân sự của chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:17:26 am
- Chiều hướng tan rã của "sự nhất tri về ý thức tư tưởng".

Đây chỉ là cách gọi của giới cầm quyền Oa-sinh-tơn và giới báo chí Mỹ. Trong xã hội Mỹ đang nằm dưới sự thống trị của chủ nghĩa tư bản, không hề bao giờ có "sự nhất trí về ý thức tư tưởng" giữa những kẻ thống trị, bóc lột và những người bị thống trị, bị bóc lột. Cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa Mỹ ngày càng quyết liệt. Thực ra, đây chính là chiều hướng tư tưởng trong nhân dân Mỹ bác bỏ chính sách "chiến tranh lạnh" với chiêu bài "chống chủ nghĩa cộng sản" mà giới cầm quyền Oa-sinh-tơn đã giương lên trong suốt mấy chục năm nay nhằm che đậy những âm mưu và hành động can thiệp xâm lược của đế quốc Mỹ trên thế giới. Cái được gọi là "ý thức tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản" mà giới cầm quyền Oa-sinh-tơn đã từng dùng bộ máy tuyên truyền đồ sộ của chúng nhằm lung lạc tư tưởng của nhân dân Mỹ, ngày nay đã trở thành "một món hàng ế ẩm" theo đúng cách gọi mà báo chí Mỹ đang dùng. So sánh thời kỳ chủ nghĩa chống cộng điên cuồng "Mắc Các-ti" hoành hành trên đất nước Mỹ trong những năm 1950 và đầu 1960 với thời kỳ từ 1965 đến nay, khi hàng triệu nhân dân Mỹ biểu tình chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tại Việt Nam ngay trước tòa nhà quốc hội Mỹ, mọi người đều thấy rõ sự biến chuyển lớn lao, tầm quan trọng vô ngần và tác động của sự kiện này đối với đời sống của nước Mỹ ngày nay. Nhân dân Mỹ đang bác bỏ chính sách chiến tranh lạnh, chính sách "sen đầm quốc tế" nấp dưới chiêu bài "chống chủ nghĩa cộng sản" của giới cầm quyền Oa-sinh-tơn. Ngay trong nội bộ bọn này cũng đang có sự chia rẽ sâu sắc về các phương thức, biện pháp "chống cộng sản" do những mâu thuẫn rất phức tạp về quyền lợi giữa các tập đoàn tư bản Mỹ tạo nên, những mâu thuẫn này ngày càng trở nên sâu sắc trầm trọng cùng với thế lực ngày càng suy yếu của đế quốc Mỹ.


Bàn về sự tan rã của cái gọi là "sự nhất trí về ý thức tư tưởng" mà giới cầm quyền Oa-sinh-tơn đã từng nặn ra một cách giả tạo nhằm làm chỗ dựa cho các chính sách, chiến lược can thiệp, xâm lược của chúng, nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ Mai-cơn Cle (Michael Klare) đã viết trên báo "Thế giới ngoại giao" (tháng 3-1974) như sau:

"Nay Mỹ đang tiến dần từng bước vào thời kỷ "sau Việt Nam", người ta thấy rõ ràng các nhà chiến lược ở bộ quõc, phòng (Mỹ) sẽ phải thích ứng với một số yêu cầu có tính chất bắt buộc sau đây:

- Dư luận Mỹ từ nay sẽ không cho phép đưa lực lượng bộ binh Mỹ tham gia một cuộc chiến tranh dài hơi khác để chống lật đổ ở một vùng xa xôi trong thế giới thứ ba.

- Tình hình ngày càng rối ren do kết quả của những vấn đề ở trong nước (thất nghiệp, khủng hoảng năng lượng, đời sống đắt đỏ,v.v...) cộng thêm với tình trạng nạn lạm phát ngày càng tăng, cán cân thanh toán ngày càng bị thiếu hụt, làm cho người ta trông thấy trước là ngân sách liên bang sẽ dành một phần ngày càng bị giảm bớt cho các chi tiêu quốc phòng trong những năm tới.

- Tư tưởng chống chiến tranh lan rộng trong hàng ngũ quân đội và sự phát triển của phong trào lính Mỹ chống chủ nghĩa chủng tộc và chống sự đàn áp đã làm giảm khả năng chiến đấu của nhiều đơn vị tới mức Lầu năm góc đã phải từ bỏ một số kế hoạch chiến lược trong đó có vấn đề tham gia của những số quân rất lớn.


Nhưng nghiêm trọng hơn nữa là sự tan rã của sự nhất trí về ý thức tư tưởng, một sự nhất trí nhờ đó đã tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân đối với tất cả mọi biện pháp thuộc loại chiến tranh lạnh trước kia dựa trên sự chống lại một cách không khoan nhượng đối với sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Ngày nay, không còn như thời hoàng kim của những ngày ở Bá Linh và Triều Tiên; khi chỉ cần nêu cao cái gọi là "hiểm họa cộng sản" là đủ có thể tranh thủ được dư luận (và đồng thời làm cho quốc hội thông qua ngân sách cần thiết). Như hồi 1972, tiểu ban Hạ nghị viện về chính sách an ninh quốc gia đã có thể đi đến chỗ kết luận rằng: "Nền an ninh quốc gia của Mỹ không phải mặc nhiên bị đe dọa mỗi khi có một nước nào đó đi theo ý thức tư tưởng cộng sản". Chỉ cách đây 10 năm, người nào dám đưa ra lời tuyên bố" như trên chắc có lẽ đã bị coi là theo tà thuyết hay thậm chí bị gọi là phản bội nữa".


Như Mai-cơn Cle đã thú nhận, 10 năm của cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra một sự chuyển biến tư tưởng vô cùng lớn lao trong nhân dân Mỹ. Ngày nay, đế quốc Mỹ vẫn đeo đuổi mục tiêu bá chủ toàn cầu, sen đầm quốc tế của chúng, nhưng lại không còn đủ phương tiện vật chất để thực hiện được âm mưu đó do sự suy yếu toàn diện của nước Mỹ ngày nay và do sức mạnh tiến công của ba dòng thác cách mạng trên thế giới ngày càng phát triển. Điều trên đây càng làm cho Nhà trắng, Lầu năm góc đã lúng túng lại càng thêm lúng túng trong việc vạch ra "chiến lược quân sự sau Việt Nam" của chúng.


Song song với nạn suy thoái, lạm phát trên lĩnh vực kinh tế, tài chính, với cuộc khủng hoảng "ý thức tư tưởng", nước Mỹ đang trải qua một cuộc "khủng hoảng chính trị" nghiêm trọng chưa từng thây suốt trong vòng gần 200 năm lịch sử của Hợp chủng quốc.


Cuộc khủng hoảng này diễn ra trên nhiều mặt. Giới chính trị, báo chí Mỹ đã đề cập đến nó, như là cuộc khủng hoảng của những mối quan hệ giữa ngành lập pháp và ngành hành pháp, trong nội bộ mỗi ngành lập pháp và hành pháp, giữa ngành lập pháp, hành pháp (tức bộ máy cầm quyền của nước Mỹ) với nhân dân Mỹ. Những biểu hiện cụ thể của tình hình nói trên là sự xung đột gay gắt giữa tổng thống Mỹ và quốc hội Mỹ, trong nội bộ chính phủ Mỹ: giữa tổng thống và các bộ trưởng, giữa các bộ trưởng với những khuynh hướng khác nhau, giữa đảng Cộng hòa Mỹ và đảng Dân chủ Mỹ, trong nội bộ mỗi đảng này, giữa hạ nghị viện Mỹ và thượng nghị viện Mỹ, trong nội bộ các nghị sĩ thuộc hai đảng Cộng hòa và Dân chủ Mỹ ở mỗi viện, giữa tất cả những người trong bộ máy cầm quyền Mỹ và các tầng lớp nhân dân Mỹ, v.v... Trong "Thời kỳ Việt Nam" và "Thời kỳ sau Việt Nam" đã trôi vào quá khứ - điều mà giới cầm quyền Mỹ xưa kia từng rêu rao một cách tự hào "chính sách đối nội và đối ngoại lưỡng đảng", "sự nhất trí chính trị của quốc gia Mỹ sau lưng tổng thống Mỹ trong những thời kỳ khủng hoảng".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Ba, 2023, 09:18:10 am
Cuộc khủng hoảng chính trị đang rung chuyển chế độ xã hội của nước Mỹ có nguồn gốc sâu xa từ những mâu thuẫn nội tại của chính chế độ tư bản chủ nghĩa Mỹ. Nhưng, với cuộc chiến tranh Việt Nam, những mâu thuẫn đó đã nổ bùng, ngày càng trở nên trầm trọng. Giới báo chí Mỹ đã đề cập đến cuộc khủng hoảng này qua nhiều giai đoạn:

- Cuộc khủng hoảng về tư cách cá nhân mỗi tổng thống Mỹ.

Với sự can thiệp ngày càng trắng trợn của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam dẫn đến sự tham chiến trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến tranh này đã đưa lại bao nhiêu tai họa nhiều mặt cho nước Mỹ. Từ năm 1965 trở đi, một vấn đề đã được đặt ra trong sinh hoạt chính trị của nước Mỹ: phải chăng nguyên nhân của những sai lầm của giới cầm quyền Oa-sinh-tơn trong các vấn đề đối nội, đối ngoại của nước Mỹ là sự bất tài, kém sáng suốt của cá nhân một tổng thống Mỹ như cá nhân Giôn-xơn, cá nhân Ních-Xơn, v.v... Nếu thế, chỉ cần thay đổi một cá nhân này bằng một cá nhân khác trên ghế tổng thống Mỹ là có thể thay đổi được tình hình. Nhưng, thực tế đã chứng minh rằng chính sách can thiệp, xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam vẫn không hề thay đổi dù rằng bốn người đã thay nhau ngồi trên cái ghế tổng thống Mỹ, từ Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi, Giôn-xơn đến Ních-Xơn.


- Cuộc khủng hoảng của "chức vụ tổng thống".

Từ đấy, một vấn đề khác được dư luận công chúng Mỹ nêu lên: phải chăng nguyên nhân của các tai họa đang chồng chất lên nước Mỹ là ở chỗ "quyền hạn của chức vụ tổng thống" Mỹ quá rộng rãi, khiến cho mỗi cá nhân tổng thống Mỹ có thể quá rộng tay làm bừa, bất chấp dư luận công chúng trong nước và ngoài nước, bất chấp cả ngành lập pháp (tức là hai viện trong quốc hội Mỹ). Nhưng, thực tế cũng đã chứng minh rằng trong quá trình Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tuy có vài nghị sĩ Mỹ chống đối, nhưng chính quốc hội Mỹ cũng là kẻ đồng lõa tích cực tiếp tay cho các tổng thống Mỹ gây ra những tội ác tày trời trên các nước ở bán đảo Đông Dương này. Chính hai viện ở quốc hội Mỹ đã thông qua những ngân sách chiến tranh lên đến hàng trăm tỷ đô la, khiến cho đội quân viễn chinh Mỹ có thể tiến hành chiến tranh suốt từ 1965 đến đầu 1973 tại Việt Nam và các nước Đông Dương khác. Chính quốc hội Mỹ đã thông qua những món tiền lớn về những cái được gọi là "viện trợ quân sự, kinh tế, nhân đạo" để nuôi dưỡng bè lũ bù nhìn tay sai Mỹ như tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn, tập đoàn Lon Non ở Nông Pênh... Cũng chính quốc hội Mỹ đã thông qua, chỉ với 2 phiếu chống, cái gọi là "Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ" được xem như cấp "ngân phiếu trắng" cho Giôn-xơn rộng tay leo thang chiến tranh tại Việt Nam.


- Cuộc "khủng hoảng hiến pháp" Mỹ.

Thế thì phải chăng có những gì không ổn ở hiến pháp của nước Mỹ, cái hiến pháp đã quy định những quyền hạn của chức vụ tổng thống, của hai viện ở quốc hội Mỹ, cái "hiến pháp" làm nền tảng cho chế độ chính trị "hai đảng tư bản" của nước Mỹ ngày nay. Hiến pháp nước Mỹ đã nói nhiều đến những quyền tự do và chính cái hiến pháp đó đã cho bốn đời tổng thống Mỹ cái quyền "tự do can thiệp, xâm lược" vào Việt Nam và Đông Dương, "tự do" tiến hành chính sách "sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ trên thế giới. Với những quyền "tự do" nói trên ban cho giới cầm quyền Oa-sinh-tơn, từ Nhà trắng, Lầu năm góc đến thượng nghị viện, hạ nghị viện trong quốc hội Mỹ, đã đưa lại cho nhân dân Mỹ những "tự do thất nghiệp", "tự do cùng khổ", "tự do phần biệt chủng tộc", "tự do tệ nạn xã hội", v.v... Một trong những tác động bất ngờ nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam đối với tình hình nội bộ nước Mỹ là nhân dân Mỹ, qua cuộc chiến tranh này đã bắt đầu chăm chú xét duyệt chính bản hiến pháp của nước Mỹ, những điều khoản cụ thể của bản hiến pháp này. Một điều không mới mẻ gì, thực ra đã cũ kỹ đến gần 200 năm nay, kể từ ngày "lập quốc" của nước Mỹ, đã được cuộc chiến tranh Việt Nam tô đậm nét lại trước đôi mắt của đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ: cái hiến pháp Mỹ đó chẳng qua chỉ là cơ sở pháp lý phục vụ cho quyền lợi của giai cấp tư bản độc quyền Mỹ, hay các "tổ hợp quân sự - công nghiệp" Mỹ theo lối nói ngày nay của nhiều người trong chính giới cầm quyền Mỹ, kể cả tướng Ai-xen-hao, cựu tổng thống Mỹ đã từng có lần thú nhận. Cuộc "khủng hoảng hiến pháp" đó, trong những năm gần đây đã vượt qua khuôn khổ của nó và trở thành điều mà giới báo chí Mỹ nói đến trong thời gian gần đây, trong và sau vụ bê bối "Oa-tơ-ghết" đã đưa Ních-Xơn đến chỗ phải rời bỏ ghế tổng thống Mỹ: "Cuộc khủng hoảng thể chế" của nước Mỹ.


- Cuộc "khủng hoảng thể chế" của nước Mỹ.

Chế độ xã hội của nước Mỹ ngày nay là chế độ tư bản chủ nghĩa với tất cả những mâu thuẫn, xấu xa và bế tắc tất yếu của nó. Thế nhưng, giới cầm quyền Mỹ từ trước đến nay lại sơn phết nó dưới lớp sơn màu mè hào nhoáng "tự do". Giới cầm quyền Mỹ còn tự gán cho nước Mỹ cái vai trò "duy trì nền tự do" trên toàn thế giới, thực chất là vai trò "sen đầm quốc tế. Cuộc chiến tranh Việt Nam với tất cả những hậu quả tai hại nghiêm trọng về các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội đối với nước Mỹ đã làm cho nhiều người Mỹ như bừng mắt tỉnh giấc mơ tự hỏi: nếu chế độ nước Mỹ là một "chế độ tự do" thì tại sao nước Mỹ lại xua quân xâm lược nước khác, can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, làm mất tự do của những dân tộc khác, trong khi đó, ngay trên đất nước Mỹ, chính quyền Giôn-xơn, Ních-Xơn lại đàn áp dã man các cuộc biểu tình chống chiến tranh của hàng triệu người Mỹ. Thế thì tự do ở đâu? Tại sao trên đất nước Mỹ, trong một thời gian không lâu, chỉ trong vòng 10 năm, lại xảy ra biết bao nhiêu tai ương dồn dập: cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc suy thoái, lạm phát về kinh tế, các cuộc xung đột chủng tộc lan rộng và dữ dội, làn sóng tệ nạn xã hội từ can phạm đủ loại tội ác đến nạn nghiện ngập ma túy, sự chia rẽ chính trị nội bộ sâu sắc, v.v... Phải trải qua những cơn giãy giụa quằn quại với cái giá hàng chục vạn người Mỹ chết và bị thương, hàng trăm tỷ đô la phung phí; Một câu trả lời chính xác rất đơn giản mới vượt qua được tất cả những chướng ngại vật của bộ máy tuyên truyền đồ sộ để hiện ra trước mặt hàng chục triệu người Mỹ: tất cả bắt nguồn từ "thể chế" của nước Mỹ ngày nay - thể chế tư bản chủ nghĩa. Cũng từ đây, một câu hỏi khác được đề ra: "Nếu thế, cần phải thực hiện những thay đổi gì đối với thể chế hiện nay của nước Mỹ".


Trong tạp chí "Niu Oóc Ma-ga-din", số tháng 10 năm 1974, giáo sư sử học Mỹ Pôn Xta (Paul Staar) đã viết về tác động của cuộc chiến tranh Việt Nam đối với vấn đề "thể chế" của nước Mỹ như sau: "Trước đây, đại bộ phận các tầng lớp trung gian của nhân dân chấp nhận chế độ xã hội Mỹ hiện nay như một thể thống nhất, và chỉ chỉ trích một vài bộ phận cụ thể. Ngày nay, họ bác bỏ cái chế độ xã hội này như một thể thống nhất và chỉ còn chấp nhận một vài bộ phận nào đó". Bản thân thượng nghị sĩ Mỹ Ét-uất Ken-nơ-đi, trong một cuốn sách viết về thế hệ thanh niên Mỹ ngày nay cũng đã phải than thở: "Ngọn lửa cuộc kháng chiến của người Việt Nam đang châm ngòi cho ngọn lửa nổi loạn trên chính đất nước Mỹ". Khi dùng từ "nổi loạn" này, Ét-uất Ken-nơ-đi đã liên tưởng chừng nào đến làn sóng cách mạng sau này trên nước Mỹ. Cuộc đấu tranh giai cấp trong tình hình nước Mỹ ngày nay vừa quyết liệt, vừa gay go phức tạp. Cuộc "khủng hoàng thể chế" nói trên tuy mới chỉ là những đốm lửa mới nhen, nhưng lại là những đốm lửa có thể thiêu rừng nếu gặp những điều kiện thuận lợi. Chính vì thế, giai cấp tư sản thống trị Mỹ, giới cầm quyền Oa-sinh-tơn ngày nay đã tỏ ra rất lo lắng trước cuộc khủng hoàng này.


Hiện nay, cùng với sự suy yếu về kinh tế và quân sự, sự suy yếu về chính trị đã gây ra rất nhiều hạn chế đối với việc xác định một chiến lược quân sự mới của đế quốc Mỹ. Bất cứ đề án chiến lược quân sự nào của đế quốc Mỹ cũng đều bị đột trong khuôn khổ của "những hạn chế mới", hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2023, 07:42:46 pm
3. Suy yếu về quân sự
 
Tiếp theo sau sự suy yếu về kinh tế và chính trị, đế quốc Mỹ còn lâm vào cảnh suy yếu về quân sự.

Có sức mạnh về kinh tế nên đế quốc Mỹ có sức mạnh về quân sự và đã đóng vai sen đầm quốc tế, bành trướng thế lực ra ngoài, can thiệp vào nội bộ và xâm lược các nước khác.

Sức mạnh quân sự của đế quốc Mỹ như thế nào, thế giới đã rõ. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, sức mạnh đó đã được giới cầm quyền Mỹ tận dụng.

Bảng so sánh dưới đây có thể chứng minh được điêu đó một phần.

Bảng 1:

(https://i.imgur.com/WrJOQW6.jpg)


Bảng 2:

(https://i.imgur.com/rle4LJe.jpg)


Một lực lượng quân sự lớn như thế lại được sử dụng vào một đất nước nhỏ hẹp, dân không đông, nên sức mạnh của nó càng lớn. Song rõ ràng một lực lượng lớn như thế mà vẫn không thắng được đối phương thì đó là yếu chứ không phải là mạnh.


Thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã làm cho nền lý luận quân sự của Mỹ, đường lối chiến tranh của Mỹ và khả năng quốc phòng của Mỹ đều bị suy yếu.

Nền lý luận quân sự của Mỹ bị suy yếu là sự bế tắc về quan điểm chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Quan điểm quân sự của giai cấp tư sản là quan điểm vũ khí luận, là quan điểm về tài năng cá nhân của các tướng tá, là quan điểm quân sự đơn thuần. Họ không coi trọng và không thể phát huy được sức mạnh to lớn của nhân dân quần chúng và sức mạnh tập thể của quần chúng binh sĩ. Với những thứ vũ khí ghê gớm như thế mà vẫn không thắng được thì giải quyết như thế nào đây? Thật là bế tắc!


Chiến lược, chiến thuật của quân đội Mỹ dựa trên quan điểm vũ khí luận nên không thể thắng nổi chiến lược, chiến thuật của quân dân Việt Nam với quan điểm quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trong, các cuộc chiến tranh trên thế giới từ giữa thế kỷ thứ XX trở lại đây, nền khoa học quân sự vô sản đã tỏ rõ tính hơn hẳn đối với nền khoa học quân sự tư sản. Sự thực chứng minh là cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô chống phát xít Đức, cuộc chiến tranh giải phóng của Trung Quốc chống Tưởng Giới Thạch và đế quốc Nhật, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của Triều Tiên, cuộc chiến tranh chống đế quốc Pháp của Việt Nam, cuộc tổng vũ trang khởi nghĩa của Cu-ba đánh đổ chế độ độc tài Ba-ti-xta. Các cuộc chiến tranh đó đều giành được thắng lợi vẻ vang. Đến cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia vào những năm 60 và những năm đầu của thời kỳ thập niên 70 thì sự chứng minh này lại càng nổi bật.


Sự suy yếu về quân sự của đế quốc Mỹ biểu hiện trước hết ở sự suy yếu về lý luận quân sự, nghệ thuật quân sự.

Các giới quân sự của Mỹ cho rằng ưu thế về tiềm lực chiến tranh, sự ưu việt về kỹ thuật chiến tranh và sự trội hơn về số lượng binh khí và quân đội so với đối phương sẽ đem lại thắng lợi cho quân Mỹ. Trong đó, họ coi sự ưu việt và ưu thế về binh khí kỹ thuật chiến đấu trên không là điều quan trọng nhất. Họ cho hỏa lực là quyết định. Người chiến binh xung kích, tuy không thể thiếu được, nhưng chỉ đóng vai trò phụ thuộc.


Quan điểm đó chưa phải đã hoàn toàn đúng ngay cả với một cuộc chiến tranh mà hai bên đối địch đều có cùng một quan điểm quân sự, thí dụ một cuộc chiến tranh giữa giai cấp phong kiến với phong kiến hoặc tư sản với tư sản. Vì trong những cuộc chiến tranh này còn có một số nhân tố khác là nhân tố chính nghĩa và nhân tố tài trí. Nhân tố chính nghĩa là nhân tố chính trị và tinh thần. Nhân tố tài trí là nghệ thuật chỉ huy của các sĩ quan và tướng lĩnh. Nhân tố chính trị, tinh thần là một nhân tố cơ bản trong chiến tranh. Lý luận quân sự tư sản cho nhân tố này là một nhân tố phụ. Lý luận quân sự tư sản Mỹ lại càng coi nhẹ nó.


Những cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta trong thời đại phong kiến và nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược ở trên thế giới đã chứng minh điều này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2023, 07:43:49 pm
Trong cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam, quan điểm quân sự này của đế quốc Mỹ có đúng không? Sự thật đã trả lời ràng nó đã bị thực tiễn bác bỏ.

Với một số lượng quân đội đông đảo, lại được trang bị một số binh khí kỹ thuật lớn hiện đại, cùng một số lượng bom đạn, chất độc hóa học chưa từng thấy, đế quốc Mỹ vẩn không thể thắng được trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Sự thật đó chứng tỏ sự thiếu chính xác, sự phiến diện của quan điểm quân sự trên. Nó còn chứng tỏ sự không hoàn chỉnh về lý luận quân sự và sự yếu kém về chiến lược, chiến thuật của quân đội Mỹ.


Xuất phát từ quan điểm quân sự tư sản nên nghệ thuật quân sự (chiến lược, chiến thuật) của quân đội Mỹ đã không phát triển được trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Chiến lược của một quân đội đi xâm lược là đánh nhanh thắng nhanh, sử dụng binh khí, kỹ thuật, sử dụng quân đội một cách ào ạt, kết hợp giữa cơ động và trận địa, tiến công theo trận tuyến. Quân đội Mỹ đã không thành công trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh nên đã phải chuyển sang chiến lược đánh lâu dài. Đó là một thất bại về chiến lược của quân đội Mỹ. Chính Kít-xinh-giơ, trong lúc chưa làm cố vấn trưởng cho Ních-Xơn đã phát biểu một luận điểm, đại ý: không thắng được du kích tức là thua.


Rốt cuộc, đánh lâu dài đế quốc Mỹ cũng không thể thắng được. Quân Mỹ bị tiêu hao nặng nề và cuối cùng phải rút về nước.

Chiến lược phải dựa vào chiến thuật. Chiến thuật có hoàn thành được nhiệm vụ của nó thì mới thực hiện được nhiệm vụ cửa chiến lược. Chiến lược của Mỹ không thành công một phần quan trọng là do chiến thuật của quân đội Mỹ còn những chỗ yếu, không hoàn thành được nhiệm vụ của nó. Sự thất bại của Na-pô-lê-ông trong chiến dịch Oa-téc-lô trước Oen-linh-tơn năm 1815 đã chứng minh một phần. Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam thì điều đó lại càng rõ. Trong lịch sử chiến tranh của nước ta, chiến thuật đánh công thành tài giỏi của Quang Trung đã làm cho các chiến dịch quyết chiến chiến lược giành thắng lợi rất nhanh.


Một điều tóm lại là chiến lược, chiến thuật của quân đội Mỹ đã không tiêu diệt được địch thủ của nó. Trái lại quân đội Mỹ đã bị tiêu hao nặng nề và tổn thất rất lớn về phương tiện chiến tranh, làm cho nền kinh tế của Mỹ và nhân dân Mỹ không thể chịu đựng được nữa.


Chiến lược, chiến thuật của quân đội Mỹ là nghệ thuật quân sự của một quân đội tư sản chính quy, hiện đại, tác chiến theo phương thức trận địa kiểu trận tuyến đối chọi với cuộc chiến tranh nhân dân của một quân đội cách mạng, tác chiến cơ động không có trận tuyến cố định. Tác chiến chính quy hiện đại là một điều cần thiết. Đó là quy luật chung tất yếu của các quân đội trong chiến tranh. Phương thức tác chiến của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam cũng vận động theo quy luật chung này. Nhưng phương thửc tác chiến chính quy hiện đại của quân đội cách mạng Việt Nam được tiến hành trong một cuộc chiến tranh nhân dân phát triển cao. Sức mạnh lớn lao của cuộc chiến tranh là sức mạnh của đông đảo nhân dân quần chúng cùng tham gia chiến đấu với lực lượng vũ trang ở tất cả mọi nơi, mọi lúc, ở cả trước mặt và sau lưng địch, không có chiến tuyến cố định. Với một địch thủ như thế, có cách đánh khác như thế, quân Mỹ bị dàn mỏng lực lượng, phản tán khắp nơi, không tìm ra được mục tiêu rõ rệt, không biết tập trung lực lượng, tập trung sức mạnh đánh vào đâu? Có lúc sức mạnh của quân đội Mỹ đánh không trúng chỗ, đâm ra phí hoài. Đến khi bị đối phương tiến công thì quân đội Mỹ đâm ra bị bất ngờ, đối phó không kịp và bị động. Cách tác chiến chính quy hiện đại của quân đội cách mạng Việt Nam vừa có những nét chung lại vừa có những nét riêng của nó. Những nét riêng đó là cái sáng tạo, độc đáo mà quân đội Mỹ không có cách nào đối phó có hiệu lực được. Vì vậy, quân Mỹ đã không thể tác chiến theo cách đánh quen thuộc của chúng mà bị đối phương buộc phải đánh theo cách đánh của đối phương.


Những sự thực trên đây đã cho một kết luận là lý luận quân sự và nghệ thuật quân sự của quân đội Mỹ đang gặp những bế tắc và khủng hoảng. Chính Tao-xơn-húp, nguyên thứ trường bộ không quân Mỹ, trong cuốn "Những giới hạn của sự can thiệp" cũng phải thú nhận: "Những thất bại, những thử thách nặng trĩu đau thương mà chúng ta gặp phải ở Việt Nam đã làm khô cạn cái vốn tri thức của những nhà lãnh đạo quân sự của nước Mỹ, đã khiến cho nền lý luận quân sự của nước Mỹ bị đẩy vào ngõ cụt bế tắc về nguyên tắc chiến lược, chiến thuật". Không phải chỉ có một vài người Mỹ buồn bã nhìn nhận sự thật này, mà cà các cơ quan lý luận quân sự Mỹ cũng không thể che đậy được nó. Tạp chí Mỹ "Không quân"' (4-1968) cay đắng viết: "Việc nước Mỹ mắc bẫy ở Việt Nam quả là một trong những vụ áp dụng chiến lược sai lầm nổi bật nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ". Rõ ràng khoa học quân sự tư sản không nhận thức được đầy đủ và đánh giá được đúng đắn các nhân tố cơ bản của chiến tranh. Nó không phân tích được một cách chính xác mối quan hệ, tác động qua lại của các nhân tố và không tổng hợp thống nhất được các nhân tố cơ bản trong chiến tranh. Do đó mà khoa học quân sự tư sản Mỹ mang tính siêu hình phiến diện.


Đi đôi với sự suy yếu về lý luận quân sự, nghệ thuật quân sự là sự suy yếu về đường lối tiến hành chiến tranh.

Sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã làm rung chuyển chiến lược toàn cầu phản cách mạng và cũng đã làm rạn nứt chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ.

Thất bại ở Việt Nam là thất bại về chiến lược thực dần mới và chiến lược bao vây phe xã hội chủ nghhĩa của đế quốc Mỹ. Lần đầu tiên kể từ khi nó ra đời, chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ đã bị một đòn nặng nề nhất ở Việt Nam và bắt đầu bị đánh lùi. Thất bại này báo hiệu con đường suy vong của chủ nghĩa thực dân mới bắt đầu. Trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân thì chủ nghĩa thực dân mới sẽ bị chết non, chết yểu hơn chủ nghĩa thực dân cũ, vì nó sinh ra trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa.


Thất bại của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đã làm cho đế quốc Mỹ bị suy yếu về kinh tế, quân sự và chính trị, tinh thần. Sự suy yếu đó đã làm cho đế quốc Mỹ không còn đủ sức tiến hành xâm lược kiểu thực dân mới trên nhiều nước và đang bị đẩy lùi ở nhiều nước. Sự thất bại và suy yếu đó của đế quốc Mỹ càng cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đấu tranh quyết liệt chống đế quốc Mỹ can thiệp, xâm lược và bọn tay sai của chúng, đồng thời cũng thúc đẩy phong trào dân chủ, tiến bộ ở các nước tư bản.


Ở châu Phi và Trung Cận Đông, chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ bị đẩy lùi một bước mạnh nhất sau Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Cuộc chiến tranh giữa các nước Ả-rập với I-xra-en tháng 10 năm 1973, đế quốc Mỹ và I-xra-en đă bị đẩy lùi một bước so với năm 1967. Trước thất bại này, đế quốc Mỹ xoay một trò mới, trò mua chuộc, lôi kéo, chia rẽ các nước Ả-rập. Đế quốc Mỹ vừa tàn bạo, vừa gian ngoan, xảo quyệt nhưng dù sao thì chúng cũng đã bị đẩy lùi một bước.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2023, 07:44:25 pm
Chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở châu Phi và Trung Cận Đống Đang bị đánh những đòn nặng nề. Nó đang bị những ngọn sóng giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc xô đẩy mạnh mẽ và đang ở vào cảnh ngoi ngóp.


Ở châu Mỹ la-tinh, chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ cũng đã bắt đầu bị suy yếu. Đế quốc Mỹ có phản công được ở Chi-lê và giữ vững được vị trí ở một số nước. Nhưng ở một số nước khác thì nó lại bị đẩy lùi, như ở Pê-ru, Pa-na-ma, Vê-nê-duy-ê-la, v.v... Vị trí chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở châu Mỹ la-tinh đang bị lung lay.


Ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á cũng đã bắt đầu có sự rung chuyển. Thanh niên và sinh viên Thái Lan không chịu để cho những tên lính Mỹ ngạo nghễ giày xéo lên đất nước yêu quý của mình, dùng đồng đô la tanh hôi ra mua cả tấm thân, mua cả tâm hồn, mua cả sự tự do của người dân Thái. Họ đã cùng nhân dân nổi dậy đập tan chế độ độc tài phát xít tay sai của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ còn rất ngoan cố, còn nhiều mưu mô xảo quyệt, chúng đang tìm cách phản kích lại. Ma-lai-xi-a, một khâu trong khối ảnh hưởng của đế quốc Mỹ, đã đặt quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Một cái nút thứ hai trên các mắt lưới thực dân mới của đế quốc Mỹ ở trong vùng Đông Nam Á đã bị lỏng.


Đế quốc Mỹ định dùng nước Nhật làm đội xung kích ở khu vực Thái Bình Dương, một đội xung kích có sức mạnh về kinh tế và kỹ thuật. Nhưng nó cũng không chịu sự chỉ huy hoàn toàn của Mỹ. Nó đang có xu hướng cạnh tranh với Mỹ. Mâu thuẫn Mỹ - Nhật trên nhiều lĩnh vực ngày càng gay gắt. Đồng thời trong tình hình thế giới và tình hình khu vực Thái Bình Dương ngày nay, đội xung kích Nhật Bản cũng không dễ gì đống được vai trò tích cực của nó. Hơn nữa sức mạnh kinh tế của Nhật không phải lúc nào cũng phát triển với một tốc độ cao. Trong năm 1973 và đầu năm 1974, nền kinh tế của Nhật đã bắt đầu bị suy yếu. Đến đầu năm 1974, khi các nước Ả-rập thực hành chính sách phong tỏa dầu thì nền kinh tế của Nhật càng trở nên nghiêm trọng. Mấy tháng đầu 1974, giá sinh hoạt ở thành phố Tô-ki-ô đã tăng 20% so với cùng thời kỳ này năm 1973. Tình hình lạm phát ở Nhật đã diễn ra từ năm 1973. Sau cuộc phong tỏa dầu của các nước Ả-rập, tốc độ suy thoái và lạm phát càng tăng lên, làm ảnh hưởng lớn đến nền sản xuất công nghiệp của Nhật. Ngành công nghiệp bị ảnh hưởng nhiều là ngành công nghiệp sản xuất xe hơi. Nước Nhật phải nhập hơn 99% dầu. Với giá dầu tăng gấp 3 - 4 lần, nền sản xuất xe hơi của Nhật đã phải giảm sút rất nhiều. Trong ba tháng đầu năm 1974, hãng sản xuất xe hơi lớn nhất của Nhật Tô-yô-ta chỉ sản xuất được 503.119 chiếc, nghĩa là giảm khoảng 11,9% so với cùng thời kỳ này năm 1973. Viên giám đốc công ty Ây-gi Tô-yô-ta đã tuyên bố một cách bi quan là: "Nếu tình trạng này còn kéo dài thì chắc chắn chúng tôi phải giải nghệ mất". Bộ trưởng ngoại giao Nhật Ô-hi-ra, trong một cuộc nói chuyện với Nhật kiều ở thành phố Niu Oóc khi sang thăm nước Mỹ vào tháng 5 năm 1974, đã phải than thở, đại ý: "Nước Nhật đang phải trải qua một thời kỳ nghiêm trọng về kinh tế. Nước Nhật và nhiều nước khác có thể sẽ gặp phải một cuộc khủng hoảng kinh tế ví như cuộc khủng hoảng trong những năm 1929-1930".


Trước tình hình chính trị thế giới và khu vực Thái Bình Dương, cùng với sự khó khăn hiện nay của nền kinh tế của bản thân mình, nước Nhật đã phải đặt quan hệ ngoại giao và quan hệ kinh tế với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đành phải ngậm ngùi rời bỏ quan hệ từng phần với người bạn thân cũ của mình là chế độ Tưởng Giới Thạch ở tỉnh Đài Loan.


Trong tình hình chính trị và kinh tế của thế giới và ở khu vực Thái Bình Dương ngày nay, đội xung kích của đế quốc Mỹ và người thay thế đế quốc Mỹ không thể tự do và dễ dàng áp đặt "chủ nghĩa Đại Đông Á mới" lai Mỹ trên khu vực Thái Bình Dương được.


Lực lượng cách mạng và lực lượng dân chủ tiến bộ ở khu vực Thái Bình Dương và Đông Nam Á ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tình hình này đang đẩy mạnh đà tan rã của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương và Đông Nam Á. Các sự kiện Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Ẻ-ti-ô-pi càng làm cho phong trào dân chủ, tiến bộ phát triển và càng làm cho chủ nghĩa tư bàn, đế quốc thực dân thêm suy yếu. Cuộc chạm trán nảy lửa giữa hai lực lượng xung kích cách mạng và phản cách mạng ở Việt Nam đã chứng minh điều đó.


Tình hình trên đây đã cho thấy sự suy sụp của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ đang diễn biến trên phạm vi toàn thế giới.

Về mặt chiến lược quân sự toàn cầu, đế quốc Mỹ cùng bị suy yếu. Thất bại ở Việt Nam đã làm cùn mòn một bộ phận trong chiến lược quân sự "phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ. Đó là "chiến tranh đặc biệt" và "chiến tranh cục bộ". Thất bại ở Việt Nam đã đẻ ra một chiến lược mới: "Học thuyết Ních-xơn". Đó là một sự thụt lùi về chiến lược quân sự của đế quốc Mỹ, dẫn lý luận chiến lược của chúng tới chỗ khủng hoảng. Chính Ních-Xơn, một tổng thống hiếu chiến nhất của Mỹ củng phải đau lòng thú nhận sự suy yếu của Mỹ qua những dòng sau đây: "Một trong những di sản của Việt Nam hầu như chắc chắn là việc Hoa Kỳ sẽ hết sức ngần ngại trong việc phải một lần nữa tiến hành can thiệp trên một căn bản tương tự"... "Vai trò cảnh sát thế giới của Mỹ trong tương lai sẽ bị hạn chế đi rất nhiều" (Ních-Xơn. "Châu Á sau Việt Nam").


Lý luận chiến lược về "chiến tranh đặc biệt" và "chiến tranh cục bộ" của Mỹ vận dụng vào Việt Nam tỏ ra là không chính xác và bị phá sản.

Đế quốc Mỹ đã gặp bất ngờ ở Việt Nam. Lực lượng tiến hành chiến tranh trong cuộc chiến tranh cục bộ mà đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam đã vượt quá xa lực lượng tiến hành chiến tranh mà lý luận chiến lược về chiến tranh cục bộ đã quy định. 10 sư đoàn ở Việt Nam so với 5 sư đoàn ở Tây Âu, lực lượng quân Mỹ ở Việt Nam đã nhiều hơn gấp hai lần lực lượng quân Mỹ ở hướng chiến lược chủ yếu của chúng.


Đứng về lý luận sử dụng lực lượng trong chiến tranh cục bộ, 10 sư đoàn là một điều không thể chấp nhận được. Đứng về mặt bố cục chiến lược thì 10 sư đoàn ở Việt Nam - một hướng chiến lược quan trọng, là một sự vô lý so với 5 sư đoàn ở tây Âu - một hướng chiến lược chủ yếu.


Cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm đảo lộn một phần lý luận chiến lược và đường lối chiến lược của đế quốc Mỹ. Về tổ chức chiến lược quân sự toàn cầu và bố cục chiến lược toàn cầu, đế quốc Mỹ cũng gặp những suy yếu mới. Tổ chức quân sự Tây Âu gọi là "Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương" (NATO) đã bị lỏng lẻo vì có sự rạn nứt từ nước Pháp. Tổ chức quân sự Đông Nam Á gọi là khối SEATO lại bị lỏng lẻo hơn vì có sự thờ ơ của Pháp và Pa-ki-xtan. Đến năm 1974, khối quân sự xâm lược này lâm vào cảnh gần như tê liệt. Còn tổ chức quân sự Trung tâm CENTO thì rất ít tác dụng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2023, 07:45:03 pm
Chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ và chư hầu ngày càng bị vạch trần và bị phản đối, nên các tổ chức quân sự xâm lược do đế quốc Mỹ cầm đầu ngày càng bị suy yếu, vì thế bố cục chiến lược của Mỹ cũng đâm ra xộc xệch. Bị sa lầy quá mức vào cuộc chiến tranh Việt Nam, thế trận chiến lược của đế quốc Mỹ đã có phần bị đảo lộn, đâm ra mỏng manh và thiếu vững chắc. Các hướng chiến lược và tuyến chiến lược bị điều chỉnh ngoài ý định chiến lược. Hướng chiến lược chủ yếu ở châu Au bị mỏng yếu vì phải điều bớt một bộ phận lực lượng sang Việt Nam. Lực lượng tổng dự bị chiến lược chủ yếu để sử dụng vào hướng chiến lược chủ yếu thì lại khô cạn vì phải sử dụng vào chiến trường Việt Nam. Lực lượng dự bị chiến lược của Mỹ có 8 sư đoàn đã phải giảm xuống còn 4 sư đoàn.


Về tuyến chiến lược thì sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tuyến chiến lược tiền duyên ở Đông Nam Á đã bị phá vỡ một khâu. Tiếp sau đó, đến cuộc chiến tranh Trung Đông thống 10 năm 1973, tuyến chiến lược tiền duyên ở Trung Đông mà I-xra-en là thê đội một xung kích cũng đã bị yếu đi hơn trước. Tuyến chiến lược tiền duyên ở Nam Á, trên đoạn Pa-ki-xtan vẫn chưa hình thành được, vì Pa-ki-xtan đã bỏ lửng khối xâm lược quân sự Đông Nam Á. Tuyến chiến lược ở rìa lục địa phía Nam Địa Trung Hải là tuyến tiền duyên đối với Bắc Phi, đồng thời cũng là tuyến trung gian đối với miền Nam châu Âu, cũng chưa hình thành được mà lại còn bị đứt một đoạn ở Li-bi.


Như thế là sau khi bị thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam, thế trận chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ đã có phần bị đảo lộn, lỏng lẻo và thiếu liên hoàn. Tuyến chiến lược tiền duyên ở rìa các lục địa châu Á, châu Phi không những không hình thành được một thế có tính chất liên tục mà còn bị phá vỡ, phá lỏng ở từng đoạn. Tuyến chiến lược đầu cầu không được vững chắc, bị hở làm cho toàn bộ tuyến chiến lược thiếu chiều sâu.


Thế trận chiến lược bao gồm hướng chiến lược và tuyến chiến lược tạo thành địa bàn quyết chiến chiến lược. Thế trận chiến lược là điều rất quan trọng, là một bộ phận quan trọng của sức mạnh quân sự. Nhưng nó mới chỉ là cái hình của sức mạnh quân sự. Bộ phận quan trọng hơn là lực lượng quân sự: đây mới là cái cốt của sức mạnh quân sự.


Nghệ thuật quân sự thể hiện sự thống nhất về lực lượng và thế trận, là sự bồi dưỡng và sử dụng các thành phần, các nhân tố thống nhất đó của sức mạnh quân sự. Sức mạnh quân sự thực sự có được là phải trải qua một quá trình vận động phù hợp với thực tế của cuộc chiến đấu. Đế quốc Mỹ có lực lượng quân sự lớn, nhất là về không quân và hải quân. Nhưng nó vẫn có chỗ yếu, vẫn có nhược điểm, không có đầy đủ sức mạnh. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã phơi bày những chỗ yếu, những nhược điểm đó của sức mạnh quân sự của đế quốc Mỹ.


Tất cả những chỗ yếu, những nhược điểm đó đã làm cho chiến lược quân sự toàn cầu xâm lược thế giới của đế quốc Mỹ bị suy yếu.

Tuy nhiên sau thất bại ở Việt Nam, sự suy yếu nghiêm trọng nhất về quân sự của đế quốc Mỹ vẫn là sự suy yếu về mặt lực lượng quân sự.

Lực lượng quân sự là cơ sở vật chất, là một nhân tố cơ bản của sức mạnh quân sự. Đặc biệt đối với đế quốc Mỹ, sức mạnh quân sự thể hiện một cách tập trung nhất, điển hình nhất ở lực lượng quân sự. Sức mạnh của lực lượng quân sự của đế quốc Mỹ lại thể hiện nổi bật nhất ở lực lượng tiến công chiến lược, chủ yếu là vũ khí hạt nhân và tên lửa vượt đại châu, cùng các phương tiện phóng khác ở trên không, trên biển và ở dưới mặt biển.


Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ đã ra sức xây dựng một bộ máy quân sự đồ sộ, vạch ra những học thuyết quân sự, chiến lược quân sự nhằm phục vụ cho chính sách can thiệp xâm lược của đế quốc Mỹ trên phạm vi toàn cầu. Thế nhưng, trong suốt quáng thời gian hơn 10 năm, cụ thể là từ 1961 đến 1973, Nhà trắng và Lầu năm góc lại đã dấn thân và sa lầy vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc "chiến tranh chống nổi dậy", "chiến tranh hạn chế", "chiến tranh khu vực" đó lại cuốn mất phần lớn tài nguyên, nhân lực và cả trí tuệ của bộ máy cầm quyền nói chung và bộ máy quân sự nói riêng của nước Mỹ. Trong suốt hơn 10 năm ròng đó, vấn đề đặt ra cho Nhà trắng và Lầu năm góc là "phải đánh thắng", rồi "không để thua", rồi "cố gỡ ra khỏi" cuộc "chiến tranh chống nổi dậy" này. Trong suốt hơn 10 năm ròng đó, "binh thuyết", "chiến thuyết", "kỹ thuật quân sự" các mặt của quân đội Mỹ nói chung, của các quân binh chủng Mỹ nói riêng đều hướng về phục vụ cho cuộc chiến tranh Việt Nam và bị phá sản. Nhiều danh từ đang được nhiều người trong các giới chính trị, quân sự, báo chí Mỹ nhắc đến: "Cuộc khủng hoảng học thuyết quân sự Mỹ", "cuộc khủng hoảng chiến lược toàn cầu Mỹ", "cuộc khủng hoảng binh khí, kỹ thuật quân sự Mỹ". Hiện nay, chưa có một tia sáng le lói nào ở cuối cái đường hầm không lôíì thoát này đối với Nhà trắng và Lầu năm góc.


Cô-lin Gơ-ray, một tiến sĩ Mỹ, ủy viên của ủy ban nghiên cứu chiến lược thuộc Viện nghiên cứu những vấn đề quốc tế của Ca-na-đa đã viết trong "Tập san quân sự" Mỹ số tháng 5 năm 1972 như sau:

"Những năm 1950, tư tưởng chiến lược Mỹ đả bước vào một thời kỳ phồn thịnh. Trong mười năm này, những nhà chiến lược như Hen-ri Rô-ươn, Bóc-na Brô-đi, Hớc-man Kan, Hen-ri Kít-xinh-giơ, Uy-liêm Cô-phơ-man,v.v... đã xây dựng được một tòa lâu đài lý thuyết chiến lược có ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả những phương diện quan trọng của chính sách quốc phòng Mỹ. Năm 1961 là một năm đầy hứa hẹn. Những nhà chiến lược Mỹ đã đến Oa-sinh-tơn để đóng một vai trò có ảnh hưởng lớn trong chính quyền mới của nước Mỹ. Thế rồi mười năm sau, năm 1971, có thể nói một cách đúng đắn rằng thành tựu của họ đã không đi đôi với lời hứa hẹn của họ, và đây là dùng những đanh từ nhẹ nhàng nhất đối với họ.


Cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc chạy đua vũ khí chiến lược và những khó khăn mâu thuẫn trong nội bộ các nước đồng minh phương Tây là những thất bại của những học thuyết do họ đề xuất được các chính quyền Oa-sinh-tơn chấp nhận chính thức.


Trên hầu hết tất cả tiêu chuẩn, rõ ràng cuộc chiến tranh Việt Nam là một thất bại nặng nề đối với Mỹ".

Trong hơn hai mươi năm, từ 1950 cho đến 1973, nhiều chủ trương, đường lối, kế hoạch hành động, chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật quân sự, thậm chí ngay cả việc chế tạo và sử dụng vũ khí, trang bị của Mỹ đều đặt trên cơ sở những học thuyết "nổi tiếng một thời" như: học thuyết "chiến tranh hạn chế", học thuyết "leo thang" hoặc "phản ứng tuần tự", học thuyết "chiến tranh chống nổi dậy". Việc quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Pa-ri đã đánh dấu sự phá sản của các học thuyết quân sự Mỹ này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2023, 07:46:07 pm
Mỉa mai thay, đã có lần chính tác giả của một trong những học thuyết đó lại là người ném những hòn đất cuối cùng chôn vùi học thuyết tội ác mà anh ta đã nặn ra. Trong quyển sách "Chính sách quốc phòng Mỹ" (1973), Ô-xgút, hiện là giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính sách đối ngoại Mỹ tại Oa-sinh-tơn, người được giới quân sự Mỹ xem là "nhà lý luận chiến lược quân sự hàng đầu" của nước Mỹ, "cha đẻ của học thuyết chiến tranh hạn chế", đã viết: "Dưới thời chính quyền Ken-nơ-đi, chiến tranh hạn chế trở thành một học thuyết chính thống và đã được truyền bá rộng rãi... Nhưng cuộc chiến tranh Việt Nam đã buộc phải xét lại hàng loạt vấn đề, đã gây nên sự hoài nghi đối với một số nguyên tắc và lý luận làm cơ sở cho học thuyết chiến tranh hạn chế". Về học thuyết "leo thang", cũng trong sách "Chính sách quốc phòng Mỹ" Ét-uốt Oác-nơ, một nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ, đã viết: "Cuộc chiến tranh không quân trên miền Bắc Việt Nam khởi đầu từ tháng 2 năm 1965 cho đến khi kết thúc đã được tiến hành đúng như lý thuyết leo thang với các loại máy bay sử dụng, số lượng và tính chất mục tiêu, cường độ, nhịp độ các cuộc tiến công, khu vực địa lý, v.v... Các chiến dịch đánh phá bằng máy bay đó đã bất lực, không buộc được nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chấm dứt ủng hộ và chi viện cho miền Nam Việt Nam... Nhiều nhà bình luận đã xem đó là thất bại của học thuyết leo thang".


Trong tập hồi ký "Điểm lợi thế", chính Giôn-xơn đã thú nhận rằng: trong suốt 6 năm ngồi trên ghế tổng thống Mỹ, Giôn-xơn đã phải dành phần lớn thì giờ làm việc của mình để "điều hành'' cuộc chiến tranh Việt Nam. Ních-Xơn, kẻ kế tục sự nghiệp can thiệp và xâm lược của Giôn-xơn tại Việt Nam cũng đã lâm vào tình cảnh tương tự. Tổng thống Mỹ đã thế, thì các bộ trưởng trong chính quyền Mỹ, chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, các tham mưu trưởng các quân chủng, cho đến các kỹ sư nghiên cứu thiết kế các loại vũ khí lớn nhỏ, cũng đều bị sa vào điều mà giới quân sự Mỹ gọi là "cái cạm bẫy" Việt Nam. Do đấy, đô đốc Dum-oan, tham mưu trưởng hải quân Mỹ (về hưu tháng 7 năm 1974) đã có lần than thở: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm mất đi của hải quân Mỹ một thế hệ tàu chiến". Tướng Giôn Rai-an, cựu tham mưu trưởng không quân Mỹ cũng phát biểu những ỷ kiến tương tự đối với không quân Mỹ. Cụ thể là, cho đến những năm đầu của thời kỳ mười năm 1980, Mỹ mới cỏ thể đưa ra sử dụng loại máy bay ném bom chiến lược B1 thay thế cho loại B.52 đến nay đã có tuổi đời gần 1/4 thế kỷ, trong một thời đại mà nền kỹ thuật quân sự phát triển nhanh chóng hàng tháng, hàng năm. Đối với lục quân Mỹ, cuộc chiến tranh đã tác động hết sức nghiêm trọng. Lục quân Mỹ như một con thú đã bị thương nặng, những vết thương đó vẫn còn đang mưng mủ và phải đến hàng chục năm nữa, lục quân Mỹ mới mong có thể hồi phục lại được. Riêng về mặt tinh thần, cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ để lại những vết sẹo đời đòi trong lịch sử quân đội Mỹ.


Đầu óc bị chi phối bởi quan điểm "vũ khí luận", giới quân sự Mỹ luôn luôn xem vũ khí là cơ sở của sức mạnh quân sự của quân đội Mỹ. Thế nhưng, trong cuộc chiến tranh Việt Nam, trừ vũ khí hạt nhân, Mỹ đã đem ra sử dụng hầu như toàn bộ tất cả các loại vũ khí mà chúng có trong tay. từ khẩu súng trường bộ binh M.16 đến máy bay ném bom chiến lược B.52. Kết quả là tất cả những vũ khí đó, khối hỏa lực khổng lồ đó đã không cứu vãn được sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh này.


Mặt khác, chính trong thời gian 10 năm hì hụp trong cuộc chiến tranh Việt Nam, so sánh với Liên Xô thì Mỹ đã mất dần rồi đi đến mất hẳn và thậm chí thua kém trên lĩnh vực một số vũ khí chiến lược mà chúng đã từng chiếm ưu thế trong những năm cuối 1940 đầu 1950. Trên lĩnh vực một số vũ khí khác, nhất là các vũ khí thông thường, mà chúng trước đây đã từng thua kém, khoảng cách thua kém đó lại càng ngày càng rộng thêm mãi. Đối với giới cầm quyền Mỹ ỏ Nhà trắng và Lầu năm góc, những kẻ mang nặng đầu óc "vũ khí luận", sự suy yếu và thua kém nói trên là những đòn mạnh mẽ giáng vào đầu chúng, vào những học thuyết chiến lược, kế hoạch can thiệp xâm lược của chúng trên toàn cầu, và đấy cũng là điều mà nhiều người trong giới quân sự Mỹ đang xót xa nói đến như là "những bài học về cuộc chiến tranh Việt Nam".


Chính vì vậy nên khi lên làm bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Slơ-sinh-giơ đã phải cay đắng đề ra hai mục tiêu là:

1. Thoát ra khỏi sự sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

2. Cải tiến lực lượng quân sự Mỹ, nhất là về vũ khí, để đối phó được với Liên Xô.

Trong sự so sánh lực lượng chiến lược trên thế giới, đế quốc Mỹ thường đặt đối tượng là Liên Xô và Trung Quốc. Trước mắt, đế quốc Mỹ rất gờm Liên Xô. Các nhà chiến lược Mỹ thường xuyên đặt sự so sánh giữa Mỹ và Liên Xô, nhất là trong thời gian gần đây. Sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam, các nhà chiến lược Mỹ đã có thời gian nhìn lại bản thân mình và tỏ ra giật mình khi nhìn vào Liên Xô.


Các giới cầm quyền quân sự Mỹ, một mặt nhằm làm áp lực với quốc hội Mỹ để đòi tăng chi phí quốc phòng, mặt khác cũng phải thừa nhận phần nào sự lớn mạnh về sức mạnh quân sự của Liên Xô. Các giới cầm quyền quân sự Mỹ rất lo ngại về sự lớn mạnh của các loại vũ khí tiến công chiến lược của Liên Xô, chủ yếu là các loại vũ khí hạt nhân, tên lửa vượt đại châu và các phương tiện phóng khác.


Sức mạnh đe đọa thế giới - lực lượng ngăn đe - chủ yếu của đế quốc Mỹ đối với thế giới là sức mạnh hạt nhân chiến lược. Nhưng con chủ bài này của Mỹ đã không vượt được Liên Xô. Quyền độc tôn này của Mỹ đã bị tước bỏ. Vì không những Liên Xô đã ngang bằng với Mỹ, mà Trung Quốc, Pháp, rồi đến Ấn Độ và rồi sẽ còn một số các nước khác cũng sẽ tham gia vào cái thế giới hạt nhân này. Cảnh tượng lo âu của đế quốc Mỹ ngày càng bộc lộ. Các giới cầm quyền Mỹ, các nhà chiến lược Mỹ đang gào thét tăng cường vũ khí hạt nhân, đồng thời cũng tiếp tục tăng cường các vũ khí thông thường.


Trong cuộc chiến tranh Việt Nam và Trung Đông, các nhà chiến lược Mỹ đã thấy rõ là các loại vũ khí cơ bản như đại bác, xe tăng, máy bay, v.v... trong chiến tranh hiện đại của họ không trội hơn gì so với các loại vũ khí của Liên Xô. Về một thứ vũ khí cơ bản của bộ binh như súng tiểu liên thì súng M.16 của Mỹ lại có phần thua kém súng AK của các nước xã hội chủ nghĩa.


Hiện nay về cả hai lĩnh vực, vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, đế quốc Mỹ không thể vượt được Liên Xô, mà có thứ lại còn thua kém Liên Xô.

Chính các nhà chiến lược Mỹ cũng phải thừa nhận là lực lượng hạt nhân của Mỹ chỉ ngang bằng lực lượng Hạt nhân của Liên Xô. Những lời tuyên bố công khai của giới cầm quyền quân sự Mỹ và các con số đảng trên báo chí phương Tây có những hạn chế nhất định và tính chính xác cũng chỉ là tương đối. Tất nhiên giới cầm quyền quân sự Mỹ tìm cách khuếch đại lực lượng của họ, nhưng họ cũng phải thú nhận những sự thật đã quá hiển nhiên.


Về sức mạnh hạt nhân thì vũ khí tiến công chiến lược là lực lượng chủ yếu. Vũ khí hạt nhân chiến lược bao gồm sức nổ của đầu đạn, phương tiện phóng, tầm xa, tốc độ, độ chính xác và phương pháp đột kích.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2023, 07:47:13 pm
Các nhà chiến lược Mỹ cho rằng về số lượng đầu đạn thì Mỹ có nhiều hơn Liên Xô, còn về phương tiện phóng trên mặt đất tức là tên lửa vượt đại châu phóng từ mặt đất thì Mỹ ít hơn Liên Xô. Năm 1974, Mỹ có 1.054 tên lửa vượt đại châu phóng từ mặt đất, Liên Xô có 1.527. Về tên lửa phóng đi từ tàu ngầm thì năm 1974 Mỹ có 656, Liên Xô có 720; đến 1977, dự kiến Mỹ sẽ có 710 và Liên Xô sẽ có 950. Về tàu ngầm nguyên tử tiến công, năm 1974 Mỹ có 41, Liên Xô có 50. Đến năm 1977, Mỹ sẽ có 44 và Liên Xô sẽ có 62. Về máy bay ném bom chiến lược tầm xa thì năm 1974 Mỹ có 440, Liên Xô có 140 (theo "Thời báo" Mỹ).


Về số lượng các loại vũ khí hạt nhân chiến lược, hai bên có thể xấp xỉ nhau, về mặt kỹ thuật như sức nổ của đầu đạn tầm xa, tốc độ, thì cũng có thể hai bên tương đương nhau.

Có đầu đạn hạt nhân rồi, điều quan trọng nữa là có phương tiện phóng các đầu đạn đó tới mục tiêu. Phương tiện phóng trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai là máy bay tầm xa. Mỹ đã dùng máy bay ném bom tầm xa B.29 ném bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật là Hi-rô-si-ma và Na-ga-da-ki. Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, các phương tiện phóng đã được phát triển, tiến bộ và phong phú hơn.


Hiện nay, ngoài máy bay tầm xa thì phương tiện phóng chủ yếu là tên lửa vượt đại châu. Về phương tiện phóng chủ yếu này thì Liên Xô đã hơn Mỹ về số lượng (1.527 so với 1.054).

Phương tiện phóng thứ ba là tàu ngầm, một thứ bệ phóng lưu động ở dưới mặt biển. Phương tiện phóng này rất lợi hại, vì nó khó bị phát hiện và phá hủy. Tên lửa vượt đại châu đặt trên mặt đất hoặc xây ngầm dưới mặt đất có ưu điểm là bố trí ở ngay trên căn cứ cơ bản, trên hậu phương lớn của quốc gia, nên việc tổ chức, tiếp tế, điều khiển có nhiều thuận lợi, đễ dàng. Nhưng nó cũng có nhược điểm là bố trí tương đối cố định, nên tương đối dễ bị phát hiện và dễ bị phá hủy. Còn tàu ngầm là bệ phóng lưu động ngầm dưới mặt biển, nên tương đối khó phát hiện và phá hủy hơn. Theo sự đánh giá của các nhà chiến lược phương Tây, thì Liên Xô đã vượt Mỹ rõ rệt về cả số lượng và chất lượng tàu ngầm.


Trước kia giới hải quân Mỹ cho rằng Liên Xô chỉ có tên lửa tàu ngầm Y, có tầm hoạt động 4.800km, tương đương với tên lửa tàu ngầm Pô-la-rít của Mỹ. Muốn vượt tên lửa Y, hải quân Mỹ đã chế tạo tên lửa tàu ngầm Tờ-ri-đen có tầm hoạt động 6.400km. Nhưng theo Tô-mát Mo-rơ, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân Mỹ, thì Liên Xô đã có loại tên lửa tàu ngầm SSN-8. Hiện nay các loại tên lửa tàu ngầm của Mỹ như Pô-la-rít, Pô-dê-đông, Tờ-ri-đen đều thua kém tên lửa tàu ngầm SSN-8 của Liên Xô. Tên lửa tàu ngầm Tờ-ri-đen tối tán của Mỹ cũng chưa phải đã thật hoàn hảo, ổn định. Trong cuộc thử tháng 5 năm 1974, tên lửa tàu ngầm Tờ-ri-đen đã nổ tan tầng thứ hai khi vừa mới phóng ra. Mo-rơ cũng dự đoán rằng Liên Xô sẽ có loại tàu ngầm mới Đen-ta (Delta) mang được nhiều tên lửa.


Ngoài các bệ phóng tên lửa hạt nhân lưu động ngầm ở dưới mặt biển, các phương tiện phóng lưu động nổi ờ trên mặt biển tức là các tàu chiến hải quân như tàu tuần dương, tàu khu trục của Liên Xô cũng có phần nhích hơn Mỹ. Các giới quân sự phương Tây cho rằng: Liên Xô có 25 tàu tuần dương và Mỹ chỉ có 9 tàu. Có tài liệu nói Liên Xô có 29 tàu và Mỹ chỉ có 7 tàu. Phần lớn các tàu tuần dương của Liên Xô đều trang bị tên lửa Sa-dốc (Shaddock), có tầm bắn xa 640km. Liên Xô có loại tên lửa phóng đi từ tàu tuần dương có tốc độ gấp 4 lần tiếng động (4.800km/giờ). Hải quân Mỹ cho rằng chiến hạm USS Springfield thuộc hạm đội thứ 6 đã vượt tàu tuần dương Xvéc-lốp của Liên Xô và tương đương với chiến hạm Kin-đa (Kynda) của Liên Xô. Nhưng vào năm 1964, khi xuất hiện tàu tuần dương Cre-xta của Liên Xô thì họ phải đánh giá lại. Tàu tuần dương Cre-xta (Kresta) được coi là một điển hình về trình độ tối tân của loại tàu chiến nổi của hải quân Liên Xô.


Hải quân Mỹ đã gọi nó là "loại chiến hạm đẹp, tối tân và đáng sợ nhất".

Những tư liệu trên đây cho thấy, về lực lượng hạt nhân nổi trên mặt biển, Liên Xô cũng có sức mạnh hùng hậu hơn Mỹ.

Các bệ phóng trên không, tức là máy bay ném bom tầm xa và tầm trung bình thì Liên Xô và Mỹ có thể tương đương nhau. Có tài liệu của báo chí phương Tây cho rằng Liên Xô có 800 chiếc và Mỹ chỉ có hơn 500 chiếc máy bay cả hai loại này.


Ngoài các phương tiện phóng như đã trình bày ở trên, có thể còn một loại phương tiện phóng rất lợi hại. Đó là tên lửa vũ trụ, bom vũ trụ, bệ phóng trên vệ tinh bay quanh trái đất, trên các con tàu vũ trụ.


Có tên lửa thì phải có cách chống tên lửa, có phương tiện chống lại nó, tiêu diệt và phá hủy nó. Hiện nay Liên Xô và Mỹ đều đã chế tạo loại tên lửa chống tên lửa.

Sức mạnh hạt nhân là một sức mạnh tổng hợp của một quốc gia về kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị và quân sự. Một thành phần của sức mạnh này là nhân tài về hạt nhân. Nhân tài là một lực lượng rất cơ bản của một quốc gia. Nó được coi như là một lực lượng sản xuất và là một sức mạnh. Có nhiều nhân tài là có sức mạnh rất lớn lao. Về mặt này hiện nay Liên Xô cũng đã có phần nhích hơn Mỹ. Các giới phương Tây ước tính rằng về số chuyên gia khoa học nguyên tử thì Liên Xô có 625.000 người, còn Mỹ thì chỉ có 550.000 mà thôi.


Sức mạnh hạt nhân là một trong những sức mạnh quân sự. Loại sức mạnh này của Mỹ đã bị suy yếu và không thể vượt Liên Xô được.

Sức mạnh của các loại vũ khí thông thường cũng là một trong những sức mạnh quân sự. Sức mạnh này, Mỹ cũng không thể vượt Liên Xô được, và ở một vài mặt nào đó, Liên Xô có thể còn nhích hơn Mỹ.


Quân Mỹ rất coi trọng không quân. Quan điểm đó có phần đúng. Máy bay là loại vũ khí sinh sau đẻ muộn, nó chỉ ra đời trước tên lửa. Máy bay xuất hiện ở đầu thế kỷ thứ XX và tên lửa xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ XX. Máy bay (cũng như tên lửa) xuất hiện là một kết quả tất yếu khách quan của nền công nghiệp hiện đại. Máy bay (cũng như tên lửa) còn là kết quả tất yếu của sự giải quyết mâu thuẫn trong sự vận động của chiến thuật, chiến đấu trong chiến tranh.


Trong chiến đấu cũng như trong chiến tranh, người ta không ngừng giải quyết mâu thuẫn giữa hỏa lực và cơ động, hai nhân tố cơ bản trong những nhân tố hình thành chiến đấu.

Hỏa lực là một nhân tố rất cơ bản, rất lớn của chiến đấu. Khi một viên đạn bằng thuốc súng ra đời thì nó làm đảo lộn tính chất chiến đấu trước kia bằng cung tên, giáo mác. Một cuộc cách mạng về chiến đấu diễn ra. Khi pháo binh ra đời thì chiến đấu lại phát triển lên một giai đoạn mới.


Pháo binh là nhân tố hỏa lực trong chiến đấu. Hỏa lực và cơ động là hai nhân tố có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ, thống nhất với nhau trong chiến đấu và hình thành chiến đấu. Chỉ có thống nhất hai nhân tố đó lại (hỏa lực và cơ động) thì mới tạo thành đột kích, nhân tố cuối cùng của chiến đấu. Chiến đấu chỉ kết thúc khi hỏa lực và cơ động tạo thành đột kích. Ba nhân tố đó luôn luôn kết hợp với nhau và thúc đẩy lẫn nhau phát triển, đồng thời cũng thúc đẩy chiến đấu phát triển.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Năm, 2023, 08:00:58 pm
Xe tăng và sau đó pháo tự hành ra đời, thể hiện mối mâu thuẫn giữa hỏa lực và cơ động đã được giải quyết một bước rất quan trọng. Sự thống nhất giữa ba nhân tố của chiến đấu là hỏa lực, cơ động và đột kích được tập trung vào một phương tiện chiến đấu: xe tăng. Đây là một cách giải quyết mâu thuẫn hợp lô-gích và tốt nhất của chiến đấu mà trước đó chưa thể làm được. Chiến đấu lại có bộ mặt mới, có một chất mới. Phương pháp chiến đấu, chiến thuật lại có một bước phát triển mới.


Mâu thuẫn giữa hỏa lực và cơ động được xe tăng giải quyết thì mâu thuẫn mới lại xuất hiện, yêu cầu chiến đấu, chiến thuật mới lại xuất hiện. Đó là mâu thuẫn giữa cơ động và địa hình, là yêu cầu về sức hủy diệt lớn của hỏa lực.


Xe tăng vừa có hỏa lực mạnh, vừa có sức cơ động cao, lại có vỏ cứng và có sức đột kích mạnh. Nhưng loại pháo bọc thép cơ động này (xe tăng và pháo tự hành) chỉ có thể cơ động được ở trên đường dùng cho xe cơ giới và trên một số địa hình ít hiểm trở, khô ráo và mấp mô nhỏ. Mâu thuẫn mới này được giải quyết bằng máy bay. Máy bay cũng như xe tăng là một phương tiện chiến đấu thống nhất giữa hỏa lực và cơ động. Nhưng máy bay là một loại phương tiện chiến đấu hỏa lực cơ động không bị hạn chế bởi bất cứ một loại địa hình nào. Nó ưu việt hơn xe tăng ở điểm này nhưng nó lại kém xe tăng về sức đột kích, trừ máy bay lên thẳng có giải quyết được một phần. Máy bay lại ưu việt hơn pháo binh là sức mạnh hỏa lực của nó rất lớn.


Máy bay là một phương tiện hỏa lực mạnh hơn bất cứ một loại pháo nào phóng đầu đạn đi bằng nòng thép trơn hoặc nòng thép có rãnh xoắn. Máy bay lại cũng là một phương tiện cơ động tốt hơn bất cứ một loại xe tăng nào hoạt động trên mặt đất. Máy bay lại còn là một phương tiện cơ động nhanh nhất và có tầm xa nhất, hơn bất cứ một loại phương tiện cơ giới nào cơ động trên mặt đất và mặt nước.


Máy bay ra đời làm cho chiến đấu có một bước tiến nhảy vọt, làm cho chiến đấu có một chất mới. Một cuộc cách mạng mới về chiến đấu lại xảy ra.

Nhưng mâu thuẫn là không ngừng, yêu cầu chiến đấu không bao giờ là đủ. Khi máy bay lên thẳng ra đời thì mâu thuẫn lại được giải quyết một bước cao hơn.

Đến giữa thế kỷ thứ XX, vào những năm đầu của thời kỳ những năm 1950, khi tên lửa ra đời thì một cuộc cách mạng mới trong chiến đấu lại diễn ra. Mâu thuẫn giữa hỏa lực và cơ động, giữa cơ động và địa hình, lại được giải quyết một cách hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay. Nhưng yêu cầu của chiến đấu, yêu cầu của phương pháp tác chiến vẫn tiếp tục đòi hỏi cao hơn nữa.


Xu thế của thời kỳ ngày nay là các phương tiện chiến đấu trên không - máy bay, tên lửa, vệ tinh và con tàu vũ trụ, ngày càng dần dần chiếm địa vị lớn lao trong các phương tiện chiến đấu. Nhưng mục tiêu đột kích vẫn là ở trên mặt đất. Sự liên hệ giữa mặt đất và trên không ngày càng chặt chẽ. Dù sao thì cuối cùng chiến đấu vẫn phải giải quyết ở trên mặt đất. Các phương tiện chiến đấu trên không dù phát triển đến đâu cũng chỉ làm cho sự thống nhất giữa mặt đất và trên không càng thêm chặt chẽ, chứ không thể tách rời nhau, không thể thoát ly được mặt đất.


Căn cứ vào các điều trình bày ở trên, các nhà quân sự Mỹ coi trọng không quân là có sự hợp lý. Về lực lượng không quân, các nhà nghiên cứu quân sự phương Tây cho rằng Mỹ không thể hơn được Liên Xô, có thứ Liên Xô lại hơn Mỹ.

"Thời báo" Mỹ trình bày một tư liệu sau đây:

So sánh lực lượng

(https://i.imgur.com/wqvVlMJ.jpg)


Về chất lượng máy bay thì thế giới đã phải công nhận máy bay MiG.25 của Liên Xô là máy bay tốt nhất thế giới. Tính năng của các máv bay chiến đấu Mỹ F.14 và F.15 mới được sản xuất với số lượng rất ít, vẫn kém loại MiG.23 đã trở thành loại máy bay chiến đấu thông dụng hiện nay của Liên Xô, thuộc về thế hệ máy bay chiến đấu hiện đại nhất. Tất nhiên, các tính năng của MiG.25 còn ưu việt hon MiG.23.


Về máy bay ném bom chiến lược tầm xa, thì máy bay B.52 của Mỷ đã cũ kỹ. Chiếc B.52 chế tạo cuối cùng cũng đã cách đây khoảng 10 năm hoặc hơn 10 năm rồi. Trong khi đó thì máy bay dân dụng tầm xa TU. 144 của Liên Xô đã có tốc độ bằng hai lần tiếng động. Hiện nay, Mỹ đang chế tạo máy bay ném bom chiến lược B.1 để thay thế B.52. Nhưng cũng còn có một số khó khăn về ngân sách trong sự đấu tranh và cạnh tranh giữa chính phủ Mỹ với quốc hội Mỹ và giữa các công ty tư bản, giữa các giới cầm quyền quân sự Mỹ có cổ phần riêng rẽ trong các tổ hợp công nghiệp quân sự khác nhau.


Sức mạnh chiến đấu không phải chỉ quyết định ở số lượng và chất lượng của các loại vũ khí. Nó còn phải có sự quyết định ở con người sử dụng thứ vũ khí đó. Những người lái máy bay của Quân đội nhân dân Việt Nam với số lượng máy bay ít ỏi và chất lượng một số loại máy bay có phần kém hơn máy bay của Mỹ, nhưng vẫn bắn rơi máy bay F. 105, F.4 và B.52 của Mỹ.


Với số lượng đông đảo và với chất lượng cao, lực lượng không quân và lực lượng phòng không của Quân đội Xô-viết, Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc và các quân đội các nước xã hội chủ nghĩa khác nhất định sẽ chiến thắng lực lượng không quân xâm lược của Mỹ. Sự chứng minh hùng hồn nhất gần đây là trận quyết chiến phòng không của quân dân miền Bắc Việt Nam đánh bại cuộc tập kích chiến lược không quân bằng máy bay B.52, F.111, F.4 của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, nhất là ở Thủ đô Hà Nội hồi tháng 12 năm 1972.


Trên đây là so sánh về lực lượng không quân. Còn về hải quân thì phần trên đã trình bày về hải quân, tên lửa và nguyên tử giữa Liên Xô và Mỹ. Nhìn chung, hải quân Mỹ được phát triển sớm hơn Liên Xô. Lực lượng quân sự của Mỹ chủ yếu được dùng để đi xâm lược, nên hải quân Mỹ là một lực lượng hải quân tiến công. Để xâm lược thế giới, hải quân Mỹ phải làm chủ được các đại dương. Do đó, hải quân Mỹ được tổ chức và xây dựng một cách hoàn chỉnh và có lực lượng lớn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:10:42 am
Lý luận tác chiến trên mặt biển của Mỹ phù hợp với quy luật của chiến tranh hiện đại là phát triển quyền ưu thế trên không. Ngày nay các tàu chiến nổi chiến đấu trên mặt biển không thể phát huy được sức mạnh nếu không có sự bảo vệ, yểm hộ và chi viện ở trên không của hải phận tác chiến.


Căn cứ vào nguyên lý này, hải quân của Mỹ đă phát triển mạnh mẽ các tàu sân bay, phát triển không quân của hải quân. Lực lượng không quân của hải quân Mỹ có thể là mạnh nhất trên thế giới. Để bảo vệ trên không cho các hạm đội của mình, hải quân Mỹ đã có hàng chục tàu sân bay.


Theo tin UPI ngày 28 tháng 4 năm 1974, đô đốc Dum-oan, tư lệnh hải quân Mỹ cho biết là hải quân Mỹ đã giảm từ 24 tàu sân bay xuống còn 14 tàu trong vòng 5 hay 6 năm và còn dự định sẽ giảm xuống 12 tàu.


Đối với Liên Xô thì hải quân là lực lượng phòng thủ ở ven bờ biển. Nhưng muốn phòng thủ được vững chắc thì phải có sức mạnh tiến công và cần có khả năng tiến công xa ở ngoài đại dương. Vì thế mà hải quân Liên Xô ngày càng được phát triển, ngày càng mạnh và có tầm hoạt động xa ở những vùng đại dương rộng lớn. Hải quân Liên Xô cùng với các quân binh chủng khác của quân Đội Xô-viết có khả năng phá tan quyền làm chủ đại dương của hải quân Mỹ.


Muốn làm chủ đại dương thì phải có hạm đội nổi mạnh, phải có lực lượng tàu sân bay mạnh và có lực lượng tàu ngầm mạnh, về tàu nổi và tàu ngầm thì hải quân Mỹ đã có phần thua Liên Xô. Mỹ chỉ hơn Liên Xô về tàu sân bay.


Quyền ưu thế trên không là một thành phần của quyền làm chủ đại dương. Quyền ưu thế ở dưới mặt biển cũng là một thành phần nữa của quyền làm chủ dại dương. Quyền ưu thế ở dưới mặt biển thì Liên Xô lại hơn Mỹ. Ngày nay quyền làm chủ đại dương lại dễ bị phá tan bởi lực lượng tên lửa. Theo tin UPI ngày 28 tháng 4 năm 1974, đô đốc Dum-oan cho biết Liên Xô hiện có 2.000 chiến hạm các loại, hơn gấp 4 lần so với Mỹ.


Theo báo "Cơ khí đại chúng" (Popular Mechanic), người ta cho rằng sự hãnh diện của Liên Xô về mặt vũ khí hiện đại một phần được chứng tỏ bằng lực lượng hải quân. Tình thế bây giờ đã khác trước, không phải Liên Xô đuổi theo Mỹ về hải quân, mà lại là Mỹ chạy đằng sau Liên Xô.


Thế là về ba quân chủng kỹ thuật cao nhất và đắt tiền nhất là tên lửa, không quân và hải quân, Mỹ đã không còn chiếm được ưu thế và đã thua kém về một số mặt so với Liên Xô.

Còn về lực lượng chiến đấu ở mặt đất tức là lục quân thì Mỹ lại càng thua kém hẳn Liên Xô về quân số, về số lượng, chất lượng nhiều loại vũ khí, trang bị, khí tài lục quân chủ yếu.

Về bộ đội bọc thép, cuộc chiến tranh Trung Đông tháng 10 năm 1973 đã cho thấy xe tăng M.60 của Mỹ khó có thể chọi được với T.62 của Liên Xô. Mỹ đã thấy những chỗ yếu của M.60 và đang có kế hoạch cải tiến, đồng thời Mỹ cũng phải đặt một kế hoạch nghiên cứu chế tạo loại xe tăng mới là XMI. Nhưng T.62 của Liên Xô cũng không phải chỉ dừng lại ở ký hiệu đó.


Về pháo binh, nguyên tắc chế tạo, tổ chức và sử dụng pháo binh của Mỹ thể hiện con đường phát triển của quy luật tác chiến của pháo binh trong chiến đấu hiện đại, thể hiện được đúng đắn vai trò của hỏa lực pháo binh hiện đại. Ngoài các loại pháo xe kéo và các hình thức của pháo tự hành các loại nhỏ và vừa trong cơ cấu tổ chức của các binh đoàn cơ giới hóa, thì có hai loại pháo tự hành mà ta đáng chú ý. Đó là pháo tự hành 175 ly và pháo tự hành 203 ly. Hai loại pháo tự hành này thể hiện trình độ hiện đại và phát triển của pháo binh quân đội Mỹ. Chúng có tính năng và tác dụng khác nhau. Pháo tự hành 203 ly nòng ngắn là loại pháo tự hành xung kích, đi trong đội hình của binh đoàn cơ giới hóa và chiến đấu trực tiếp trong đội hình của binh chủng hợp thành. Vị trí của nó là chiến đấu ở đằng sau đội hình tiến công của các binh đoàn xe tăng hoặc xen kẽ giữa đội hình của xe tăng, yểm hộ cho các binh đoàn xe tăng đột phá phòng ngự của địch trong đội hình tiến công chung của các binh đoàn cơ giới hóa. Trong trường hợp sức tiến công của các binh đoàn cơ giới hóa vấp phải công sự phòng ngự thật vững chắc của địch thì pháo tự hành 203 ly phải dùng hỏa lực mạnh của mình trực tiếp phá vỡ, chi viện trực tiếp cho xe tăng trong đội hình của binh đoàn cơ giới hóa dưới sự chi viện mạnh mẽ của hỏa lực không quân đột phá phòng ngự của địch, đưa toàn bộ đội hình tiến công nhanh chóng xung phong đánh chiếm trận địa của địch.


Ngày nay các quân đội hiện đại trên thế giới đều trang bị loại pháo tự hành xung kích. Cỡ pháo to nhỏ khác nhau do điều kiện kinh tế và kỹ thuật của từng quốc gia. Các loại pháo tự hành hạng nặng cỡ lớn thì thường thấy trang bị trong quân đội Mỹ và quân đội Xô-viết.


Ngoài loại pháo tự hành xung kích hạng nặng cỡ lớn 203 ly, pháo binh Mỹ còn có loại pháo tự hành 175 ly dã chiến tầm xa. Nó không đi trong đội hình tiến công của xe tăng như pháo tự hành xung kích 203 ly mà thường đứng ở đằng sau thê đội một của binh đoàn cơ giới hóa, dùng hỏa lực tầm xa của mình đột kích các mục tiêu trong chiều sâu phòng ngự của địch, từ trận địa 2 trở vào trong, chi viện hỏa lực gián tiếp cho binh đoàn cơ giới hóa đột phá trận địa của địch.


Pháo tự hành hạng nặng, cỡ lớn, tầm xa 175 ly là một phát triển mới của pháo binh quân đội Mỹ. Do yêu cầu của việc cơ giới hóa quân đội và trình độ cơ giới hớa phát triển ngày càng cao, nên các quân binh chủng đều phải nâng cao không ngừng trình độ cơ giới hóa của mình. Pháo binh nếu không phát triển từ trình độ xe kéo lên trình độ tự hành thì không thể chiến đấu nhịp nhàng và hiệp đồng chặt chẽ trong đội hình của các binh đoàn cơ giới hâa tiến công với tốc độ cao, cơ động, di chuyển hết sức linh hoạt, trong đó xe tăng là lực lượng đột kích chủ yếu. Bởi vậy, ngày nay các quân, binh chủng không phải chỉ phát triển tới trình độ tự hành, mà còn phát triển tới trình độ cao hơn là không vận hóa.


Hiện nay trên thế giới, nhiều quân đội hiện đại cũng chưa có điều kiện để tổ chức ra hai loại pháo tự hành và phân định nhiệm vụ, tính chất của hai loại pháo đó như của quân đội Mỹ, vì khả năng kinh tế của quốc gia và trình độ cơ giới hóa của quân đội họ chưa phát triển cao.


Ở Liên Xô, pháo binh của quân đội Xô-viết đã phát triển rất cao. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tiêu diệt quân phát xít Hít-le đã chứng minh điều đó. Ngoài pháo binh xe kéo ra, pháo tự hành của quân đội Xô-viết cũng tương đương như pháo tự hành của quân đội Mỹ. Người ta còn thấy quân đội Xô-viết có pháo phản lực và pháo hạng nặng chạy trên đường sắt. Gần đây các giới quân sự phương Tây nói rằng họ đã thấy xuất hiện những loại pháo hạng nặng cơ động rất nhanh của quân đội Liên Xô, trong khối quân sự Vác-xô-vi. Pháo binh Liên Xô có nhiều kinh nghiệm và có truyền thống vẻ vang, nhất định là một bộ đội pháo binh tinh nhuệ hơn và mạnh hơn pháo binh của quân đội Mỹ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:14:20 am
Quân đội nhân dân Việt Nam đã có kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang về pháo binh trong cuộc kháng chiến thắng lợi chống thực dân Pháp, nay đang kế thừa, phát huy những kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang đó và có những kiểu cách khác để phát huy tác dụng của pháo tự hành chi viện cho bộ binh và xe tăng trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng, đột phá phòng ngự công sự vững chắc của địch. Pháo ta đã thành công trong các trận thắng giòn giã ở Plây Cần, Đắc Xiêng, Đức Cơ, Chư Thoi (1972), Chư Nghé tức Lệ Minh (1973), Com Bray, Con Rốc, Lệ Ngọc, Đắc Pét, Ya Súp (1974) trên chiến trường Tây Nguyên; và các trận thắng giòn giã ở Nông Sơn, Minh Long, Đèo Nhông, Thượng Đức, Gia Vụt trên chiến trường đồng bằng Khu 5 vào mùa thu 1974.


Về binh chủng phòng không thì Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũng đã vượt Mỹ.

Ngoài các loại súng, pháo phòng không cổ điển, các nước xã hội chủ nghĩa còn có các loại súng, pháo phòng không hiện đại và các loại tên lửa phòng không. Quan điểm của các nước xã hội chủ nghĩa cho rằng chỉ dùng máy bay để chống máy bay, diệt máy bay thì chưa đủ, mà còn phải dùng thêm cả các loại súng, pháo phòng không và tên lửa để chống máy bay và diệt máy bay. Sử dụng súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không thì có thể phát huy được rộng rãi sức mạnh lớn lao của mọi quân, binh chủng và của quần chúng nhân dân đông đảo.


Quan điểm của Mỹ là quan điểm kỹ thuật, nên họ coi nhẹ các loại súng, pháo phòng không. Trong quân đội Mỹ có loại pháo phòng không tự hành hai nòng 40 ly, có loại tên lửa phòng không "Hawk", "Nike Hercule". Quân đội các nước xã hội chủ nghĩa được trang bị các loại súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không phong phú hơn, vừa có trình độ hiện đại lại có tính chất quần chúng rộng rãi.


Ngoài các loại súng, pháo phòng không cổ điển, các nước xã hội chủ nghĩa còn có các loại súng, pháo phòng không hiện đại như pháo phòng không tự hành 57 ly hai nòng và pháo phòng không tự hành 23 ly bốn nòng rất hiện đại.


Các nhà quân sự phương Tầy đã đánh giá cao các loại tên lửa phòng không SAM 2, SAM 3 và rất khâm phục các loại tên lửa phòng không SAM 6, SAM 7 của Liên Xô. SAM 6 là một loại tên lửa phòng không tự hành, rất tối tân, trên bệ xích tự hành có gian phóng 3 quả đạn. Đây là loại tên lừa phòng không rất cơ động. SAM 7 là loại tên lửa phòng không vác vai của bộ binh.


Cuộc chiến tranh ở Việt Nam và ở Trung Đông đã xác minh về giá trị của cả súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không các loại. Máy bay và tên lửa dù có phát triển đến đâu thì người ta cũng không thể loại bỏ được súng, pháo phòng không vì trong chiến đấu còn phải tiêu diệt máy bay bay thấp cường kích bổ nhào và máy bay lên thẳng. Nhưng với điều kiện kỹ thuật hiện đại, tên lửa phòng không các loại ngày càng phát triển và bổ sung cho phòng không ngày càng hùng mạnh.


Về các binh chủng kỹ thuật lục quân, Mỹ có phần thua kém Liên Xô và không hơn gì nhiều các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Còn về bộ binh thì bộ binh quân đội các nước xã hội chủ nghĩa đã được trang bị những loại vũ khí rất tối tân, có công dụng chiến đấu lớn. Bộ binh hiện đại là binh chủng có hỏa lực mạnh, có sức cơ động cao và sức đột kích lớn. Các loại tên lửa bộ binh đã bổ sung cho các loại pháo bộ binh và đã làm thay đổi bộ mật của bộ binh, làm cho nhân tố xung lực và hỏa lực quyện chặt vào nhau, tạo thành một thể thống nhất hợp thành đột kích, đua sức đột kích lên thành một sức mạnh rất lớn. Sự thống nhất chặt chẽ thành một thể giữa xung lực và hỏa lực trong sức chiến đấu của bộ binh là điều rất có ý nghĩa. Nó làm cho sức đột kích của bộ binh phát triển lên một trình độ mới, càng làm cho bộ binh hoàn thành rõ rệt vai trò quyết định của mình trong chiến đấu. Do đó sức mạnh chiến đấu của bộ binh được tăng lên rất nhiều. Các loại tên lửa bộ binh sẽ được trang bị trong các đơn vị cơ sở, các phân đội bộ binh, đua sức mạnh hỏa lực của bộ binh phát triển lên không kém gì pháo binh làm cho phân đội bộ binh có thể chiến đấu ở trên mọi địa hình, thời tiết, trong mọi tình huống và ở sâu xa trong chiều sâu trận địa của địch.


Trong các cuộc chiến tranh gần đây ở Việt Nam và Trung Đông, người ta thấy các loại tên lửa bộ binh diệt xe tăng điều khiển bằng dây điện, bằng tia hồng ngoại, và các loại tên lửa bộ binh diệt máy bay điều khiển bằng tia hồng ngoại. Hàng ngàn xe tăng Mỹ, hàng trăm máy bay Mỹ đã bị các loại tên lửa này tiêu diệt ở Việt Nam và Trung Đông.


Quân đội Mỹ cũng bắt chước lục quân Pháp chẽ tạo loại tên lửa diệt xe tăng điêu khiển bằng dây điện mà Mỹ gọi là Tao (Tow). Sau tổn thất nặng nề về máy bay và xe tăng ở Trung Đông, Mỹ cũng đã rút kinh nghiệm và đang học Liên Xô để chế tạo thêm các loại tên lửa bộ binh diệt xe tăng như "Con rồng" nặng 15kg, v.v... và tên lửa phòng không vác vai Stin-giơ (Stinger). Tên lửa bộ binh còn có thể đảm nhiệm nhiều tính năng và tác dụng khác như tiêu diệt sinh lực, tiêu diệt lô côt và phá hủy công sự.


Tên lửa ra đời đã làm phong phú thêm cho vai trò hỏa lực của bộ binh và của mọi quân binh chủng khác. Nó bổ sung cho các loại súng pháo cổ điển, làm cho hỏa lực càng có thêm sức mạnh và phát triển càng cao. Tên lửa là một loại pháo điều khiển hoặc không có điều khiển có tầm từ 100m, 1.000m đến hàng 100km và đến hàng 10.000km. Nhưng mỗi thứ vũ khí đều có tác dụng của nó. Không một thứ nào có thể thay thế được thứ khác và thay thế được tất cả.


Với những loại tên lửa điều khiển bằng các cơ cấu máy móc, do môt cá nhân hay một nhóm ít người sử dụng là một thứ vũ khí hỏa lực rất tốt của bộ binh. Một quân đội nghèo, các binh chủng còn ít, trình độ cơ giới hóa còn thấp mà được trang bị bằng các loại tên lửa này cho bộ binh thì có thể đối chọi được với các quân đội giàu có, có nhiều quân binh chủng và có trình độ cơ giới hóa cao. Tên lửa bộ binh là con đường phát triển tốt và phù hợp của hỏa lực bộ binh trong chiến đấu ngày nay. Nó có tính chất quần chúng rộng rãi, có khả năng phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân quần chúng trong chiến tranh.


Về mặt này Mỹ cũng đi ở đằng sau Liên Xô và đang cố gắng đuổi Liên Xô. Nhưng do tinh thần chiến đấu của quân đội Mỹ thấp kém nên không thể sử dụng và phát huy tốt tính năng của các loại vũ khí đánh gần, đánh trực tiếp này được.


Hỏa lực, cơ động, quân binh chủng dù phát triển đến đâu thì cuối cùng cũng phải do bộ binh giải quyết chiến đấu. Chỉ có bộ binh thống nhất được hỏa lực và cơ động để tạo thành đột kích quyết định, mới giải quyết triệt để được chiến đấu, mới hoàn toàn tiêu diệt được quân địch và mới chiếm lĩnh được trận địa của quân địch. Vũ khí, kỹ thuật, hỏa lực cơ động càng phát triển thì vai trò bộ binh, vai trò con người chiến binh cũng càng được nâng cao chứ không thể giảm sút.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:17:58 am
Sức mạnh chiến đấu của bộ binh yếu kém là một điều rất nghiêm trọng đối với lực lượng vũ trang của một quốc gia. Điều này đã được chứng minh một cách hùng hồn trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam giữa đế quốc Pháp cũng như đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam. Cuộc chiến tranh ở Triều Tiên giữa đế quốc Mỹ và các nước chư hầu của Mỹ với nhân dân Triều Tiên và quân chí nguyện Trung Quốc cũng chứng minh điều đó.


Tất cả tình hình trên đây đã cho thấy rằng, sự sa lầy, mắc bẫy và suy yếu ở Việt Nam đã làm cho đế quốc Mỹ giàu có nhất thế giới đã nghèo túng đi và suy yếu về các mặt. Sự suy yếu này là rất nghiêm trọng đối với nước Mỹ - nhất là sự suy yếu về kinh tế và quân sự. Vì Mỹ chỉ có dựa vào hai sức mạnh này mới có thể thực hiện được cuồng vọng xâm lược thế giới và làm bá chủ thế giới của chúng.


Sự suy yếu toàn diện của nước Mỹ do thấm đòn Việt Nam đã thể hiện rõ nét trong thời gian 55 ngày Tổng tiến công và nổi dậy dồn dập của quân và dân ta ở miền Nam Việt Nam dẫn đến 30 tháng 4 năm 1975, ngày ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, đưa cuộc chiến đấu của nhân dân ta đến toàn thắng.


Ngày lịch sử đó đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh", một sản phẩm của "học thuyết Ních-xơn" được đem ra "thể nghiệm" tại Việt Nam. Nguyên bộ trưởng quốc phòng Mỹ Le-đơ đã diễn đạt "Việt Nam hóa chiến tranh" là "học thuyết Ních-Xơn trong hành động", là "sự áp dụng lớn đầu tiên của học thuyết Ních-Xơn", là "trường hợp thí nghiệm và là bước quyết định đầu tiên trong việc thực hiện học thuyết Ních-Xơn và quan điểm vạch kế hoạch mới ở châu Á" là "biện pháp kết thúc sự tham gia của Mỹ và là bước đầu tăng cường lực lượng đồng minh ở châu Á" (Báo cáo của Le-đơ trước quốc hội Mỹ ngày 15-2-1972).


Cũng trong báo cáo trên đây, Le-đơ đã vạch ra những mục tiêu của chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" như sau:

- Từng bước chuyển giao trách nhiệm chiến tranh cho nguy quyền, ngụy quân bằng cách viện trợ quân sự, kinh tế khiến cho chúng có khả năng tự phòng thủ, Mỹ không phải dính líu lâu dài vô hạn.

- Mở đường cho liên minh khu vực giữa các nước tay sai ở Đông Dương.

- Rút lực lượng quân sự Mỹ nhưng vẫn "duy trì được quyền lợi và cam kết" của Mỹ.

- Nếu giải pháp thương lượng không đạt kết quả như Mỹ muốn, thì chiến tranh cũng sẽ tiếp tục ở mức độ thấp và ngụy quân đủ sức đối phó.

- Từ đấy, tạo điều kiện cho Mỹ tiếp tục triển khai học thuyết Ních-xơn trên thế giới.


Về nội dung của "Việt Nam hóa chiến tranh" trong báo cáo về đường lối đối ngoại ngày 18 tháng 2 năm 1970, Ních-Xơn đã nhấn mạnh 2 điểm:

- Tăng cường lực lượng quân ngụy về số lượng, trang bị, khả năng chỉ huy, nghệ thuật tác chiến, năng lực toàn diện.

- Mở rộng "chương trình bình định".

Ních-xơn và Le-đơ đã vạch kế hoạch thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh" trong 3 giai đoạn, bắt đầu từ đầu năm 1970 và kết thúc vào cuối năm 1975, đã chủ trương sẽ sử dụng hải quân và không quân Mỹ làm chiếc "lá chắn bảo đảm" lâu dài cho quân ngụy. Thế nhưng, bão táp tiến công và nổi dậy trong 55 ngày đêm tháng 3 và tháng 4 năm 1975 đã quét sạch sành sanh những âm mưu, ý đồ, kế hoạch "Việt Nam hóa" thâm độc của đế quốc Mỹ. Điều đáng chú ý là trước sức mạnh long trời lở đất của cơn bão táp đó, giới cầm quyền Oa-sinh-tơn đã không thể giương chiếc "ô quân sự" hải - không quân Mỹ của "học thuyết Ních-xơn" để che chở "bảo đảm" cho ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn nữa.


Trong những ngày giãy chết cuối cùng của ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn, một "hạm đội đặc nhiệm" Mỹ với 5 tàu sân bay, hàng chục tàu chiến hộ tống các loại và 6.000 lính thủy đánh bộ nằm sẵn trên các tàu chỉ làm được có mỗi một việc là "di tản" bọn cố vấn quân sự Mỹ và một số tay sai, cưỡng ép di cư một số đồng bào ta. Sự biểu dương sức mạnh quân sự cuối cùng của Mỹ trên đất miền Nam Việt Nam là cuộc "di tản" tháo chạy hỗn độn, thảm hại của hàng vạn cố vấn quân sự Mỹ và viên đại sứ Mỹ Ma-tin.


Sự sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn và việc chính quyền Oa-sinh-tơn đành bó tay nuốt nhục không phương cứu đỡ cho bè lũ tay sai của chúng đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" và cũng là sự thất bại hoàn toàn của "học thuyết Ních-Xơn" được Mỹ đem "thể nghiệm" tại Việt Nam. Chiến lược quân sự toàn cầu Mỹ "ngăn đe thực tế", một sản phẩm của "chủ nghĩa Ních-xơn", được chính quyền Pho tiếp tục áp dụng và vẫn được xem là chiến lược quân sự chính thức của nước Mỹ, tuy rằng chính bản thân Ních-Xơn, cha đẻ của nó, đã bị gạt hất ra khỏi sân khấu chính trị, đã lún sâu thêm một bước trên con đường bế tắc và phá sản. Ngay sau khi ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn đầu hàng các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, nhiều nhân vật trong giới quân sự Mỹ tuyên bố: "đã đến lúc phải xét duyệt lại chiến lược quân sự "ngăn đe thực tế", phải thay thế nó bằng một chiến lược quân sự khác". Sau khi quân đội Mỹ bị bắt buộc phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam, theo Hiệp định Pa-ri, giới quân sự Mỹ đã tranh luận sôi nổi về một chiến lược quân sự toàn cầu mới của Mỹ trong "thời kỳ sau Việt Nam". Cuộc tranh luận đó vẫn còn đang tiếp diễn. Chưa có một chiến lược quân sự toàn cầu mới nào được giới cầm quyền Oa-sinh-tơn chính thức đưa ra. Chiến lược "ngăn đe thực tế" không có Ních-Xơn cũng được trình bày với đôi nét sơn chấm phá mới. Mai-Cơn Cle, một nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ đã viết trong bài "Chiến lược quân sự Mỹ sau Việt Nam", đăng trên báo "thế giới ngoại giao" số tháng 3 năm 1974 như sau: "Bộ tư lệnh quân sự tối cao Mỹ đã nghĩ ra một học thuyết mới về chiến lược từ nay sẽ được dùng làm kim chỉ nam trong việc triển khai lực lượng quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Chiến lược mới này chỉ dành cho số quân chiến đấu Mỹ một vai trò hết sức nhỏ bé trong các cuộc chiến đấu vũ trang thực sự, nhưng lại dự kiến tăng cường việc sử dụng những lực lượng đó theo một phương thức chính trị và tâm lý vào những mục đích đe đọa uy hiếp và lòe bịp. Như trong cuộc khủng hoảng Trung Đông hồi tháng 10 năm 1973 chẳng hạn, các lực lượng Mỹ đã được đặt vào tình trạng báo động trên toàn thế giới. Ở phần lớn các khu vực trong thế giới thứ ba, các trách nhiệm phòng thủ chung toàn cầu được trao lại cho các lực lượng quân sự và nửa quân sự địa phương sờ tại và cho các lực lượng can thiệp của một số "nước lớn trong khu vực" đã được lựa chọn. Sự can thiệp quân sự của Mỹ, nếu được phép, sẽ chỉ bao gồm những hoạt động của không quân và hải quân nhằm yểm hộ về mặt tiếp tế và hậu cần cho các lực lượng bộ binh của các nước đồng minh hay những cuộc "tiến công chớp nhoáng" của những đội quân xung kích được thả dù bằng những máy bay phản lực khổng lồ và được không quân yểm hộ một cách ồ ạt".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:18:35 am
Thực ra, đây chẳng qua chỉ là một số điều chỉnh về biện pháp hành động quân sự, chính trị cho hợp với thế lực suy yếu toàn diện của Mỹ ngày nay. Còn những mục tiêu "sen đầm quốc tế, "thực dân mới" của "chiến lược ngăn đe thực tế" Mỹ thì vẫn không hề mảy may thay đổi.


Ba nguyên tắc cơ bản của "học thuyết Ních-Xơn": cùng chia sẻ - sức mạnh - ý muốn thương lượng, vẫn là nền tảng của cái "chiến lược ngăn đe thực tế cải tiến" trong "thời kỳ Pho", và cả ba nguyên tắc này cũng đã bị đòn Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân Việt Nam đập gãy vụn.


Nói đến nguyên tắc "sức mạnh" trong chiến lược "ngăn đe thực tế", giới cầm quyền Oa-sinh-tơn chủ yếu đề cập đến sức mạnh quân sự Mỹ. Dựa vào sức mạnh quân sự là một nguyên tắc chỉ đạo mọi đường lối đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Thế nhưng, Hiệp định Pa-ri đã đánh dấu mốc thất bại quân sự của Mỹ tại Việt Nam. Trong những ngày giãy chết của ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn, chính quyền Pho đã buộc phải gạt ra một bên cái phương án "đưa lực lượng quân sự Mỹ" trở lại Việt Nam để cứu vớt bè lũ tay sai Mỹ. Chính viên bại tướng Mỹ Oét-mo-len được Pho vời đến hỏi kế, cũng phải cay đắng thú nhận: Trong những điều kiện hiện tại, chính quyền Pho không thể làm được việc trên. Có thể nói, còn phải trải qua nhiều năm nữa, những vết thương hiện vẫn đang mưng mủ mà quân đội Mỹ đã phải chịu đựng trong cuộc chiến tranh Việt Nam mới có thể trở thành những vết sẹo để đời. Mỉa mai thay cái "sức mạnh quân sự" Mỹ, cột sống của "chiến lược ngăn đe thực tế" trên thực tế đã chỉ phát huy được tác dụng trong việc "di tản" hoảng loạn những tên cố vấn Mỹ, những tên đại sứ, lãnh sự, những tên gián điệp CIA đội lốt nhân viên sứ quán Mỹ tại Nông Pênh và Sài Gòn!


Nguyên tắc "cùng chia sẻ" là nguyên tắc chỉ đạo mối quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh và tay sai, đề cập đến việc "cùng chia sẻ nghĩa vụ và quyền lợi" giữa Mỹ với các đồng minh và tay sai. Nguyên tắc này được xem là nguyên tắc hạt nhân của học thuyết Ních-Xơn, là nội dung chủ yếu phân biệt học thuyết Ních-xơn với đường lối đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Thế nhưng, trong những ngày cuối cùng của "sự dính líu của Mỹ tại Việt Nam" cho đến khi đại sứ Mỹ Ma-tin trèo lên sân thượng của tòa nhà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn để vĩnh viễn cút khỏi Việt Nam, Mỹ đã ở vào thế bị cô lập hoàn toàn. Không một nước đồng minh, thậm chí một chính phủ tay sai nào của Mỹ trên thế giới lên tiếng phụ họa với đường lối ngoan cố bám lấy Việt Nam đến phút cuối cùng của Mỹ, còn nói gì đến chuyện "ủng hộ", "tham chiến", "cùng chia sẻ trách nhiệm". Còn ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn thì trong những ngày, giờ tan rã, đã chửi rủa lại Mỹ, thậm chí bắn cả vào xe, trực thăng, máy bay, giang thuyền chở bọn cố vấn Mỹ "di tản".


Nguyên tắc "ý muốn thương lượng" phản ánh bản chất xảo quyệt thâm hiểm của đế quốc Mỹ. "Thương lượng" kiểu Mỹ là thương lượng dựa trên sức mạnh, là chia rẽ đối phương, là mua chuộc ru ngủ những người mềm yếu, nhẹ dạ, khờ dại, là lừa bịp dư luận trong nước, ngoài nước. Mặt khác, đây cũng là nét thể hiện khá điển hình về thế lực suy yếu của đế quốc Mỹ ngày nay. Theo đuổi mục tiêu can thiệp, xâm lược, sen đầm quốc tế, thực dân mới mà lại nói đến "ý muốn thương lượng" thật là điều vừa mỉa mai, vừa cay đắng đối với Mỹ. Tại Việt Nam, thực hiện nguyên tắc "ý muốn thương lượng", Mỹ theo đuổi mục đích tranh thủ một thời kỳ hòa hoãn nhằm vá víu lại lực lượng của ngụy quyền, tiến hành những thủ đoạn lấn chiếm, bình định để làm suy yếu dần, rồi đi đến tiêu diệt lực lượng cách mạng. Thế nhưng, Mỹ - ngụy đã thất bại thảm hại. Khi giờ cáo chung của ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn sắp điểm, Mỹ - ngụy lại cố đưa ra lá bài "thương lượng", thậm chí cả đến việc "thương lượng đầu hàng" nhằm tranh thù trì hoãn sự sụp đổ của chúng. Nhưng, lá bài đó đã quá trơ trẽn, cho nên ngay cả những chính phủ các nước đồng minh và các chính phủ tay sai khác của Mỹ trên thế giới cũng không ai thốt ra một lời phụ họa. Rốt cuộc ngụy quyền, ngụy quân đã phải đầu hàng không điều kiện.


Nguyên bộ trưởng quốc phòng Mỹ Le-đơ đã có lần tuyên bố về mục đích và mục tiêu của chiến lược quân sự toàn cầu Mỹ "ngăn đe thực tế" như sau:

- "Mục đích cơ bản là thông qua sức mạnh và cùng chia sẻ bảo đảm an ninh của nước Mỹ và các đồng minh trong thế giới tự do.

Mục tiêu tối hậu là làm nản lòng và thực tế loại trừ việc một nước sử dụng lực lượng quân sự như là biện pháp để áp đặt ý muốn đối với nước khác, sử dụng sức mạnh và quyết tâm của Mỹ để làm cho kẻ thù thay đổi quyết tâm.


Ngăn đe chiến tranh, nhưng bảo đảm khả năng bảo vệ có hiệu quả nước Mỹ và quyền lợi của nước Mỹ nếu ngăn đe thất bại" (Báo cáo hàng năm của bộ trưởng quốc phòng Mỹ trước quốc hội Mỹ, ngày 15-2-1972 và 28-3-1973).


Thứ trưởng quốc phòng Mỹ Cli-men-tơ (Clements) đã giải thích về "chiến lược ngăn đe thực tế" ngày 6 tháng 3 năm 1973 như sau:

- "Ngăn đe là một nghệ thuật khó khăn và tế nhị. Nó dựa trên khả năng:

a) Hiểu một kẻ xâm lược có thể đang làm gì hoặc có khả năng làm gì.

b) Sau đó, chứng minh Mỹ có đủ lực lượng và quyết tâm để phủ định ý chí xâm lược của nó. Nếu ngăn đe thất bại, Mỹ phải sẵn sàng nhanh chóng tung ra một lực lượng chiến đấu đủ sức và tiến hành một chiến dịch quân sự với tổn thất ít nhất về người cũng như đất đai, và không hy sinh các mục tiêu quốc gia Mỹ. Nếu một kẻ địch hiểu rằng Mỹ có thể làm tốt các việc trên thì họ sẽ bị ngăn đe chiến tranh và quay sang thương lượng".


"Ngăn đe" của Mỹ có nghĩa là buộc các dân tộc khác phải bó tay để mặc cho Mỹ xâm lược đất nước của họ, can thiệp vào công việc nội bộ của họ. "Ngăn đe" của Mỹ là buộc các dân tộc khác phải chấp nhận vai trò "sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ, phải chịu nằm dưới ách "chủ nghĩa thực dân mới" của Mỹ. Sức mạnh - cùng chia sẻ - ý muốn thương lượng là ba bảo bối của cái "chiến lược ngăn đe" Mỹ này. Mỹ đã tung cả ba bảo bối đó ra sử dụng trong nhiều năm nay tại Việt Nam và nhất là trong suốt quá trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 55 ngày đêm trong tháng 3 và 4 năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Cả ba bảo bối đó đã tỏ ra hoàn toàn vô hiệu, vô dụng và điều đó chứng minh rằng "chiến lược ngăn đe thực tế" Mỹ đã hoàn toàn phá sản tại Việt Nam, và tất nhiên sự kiện đó đang đẩy mạnh cái chiến lược quân sự can thiệp, xâm lược này của đế quốc Mỹ nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn trên phạm vi thế giới.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:19:27 am
KẾT LUẬN


"Thời kỳ sau Việt Nam" là thời kỳ suy yếu toàn diện trầm trọng của đế quốc Mỹ. Gieo gió tại Việt Nam, đế quốc Mỹ đã gặt bão không chỉ ở ngay trên chiến trường Việt Nam, Đông Dương mà cả trên toàn thế giới và ngay trên đất nước Mỹ.


Theo tháng năm, đòn Việt Nam cứ mỗi ngày một ngấm sâu vào "xương tủy" của "cơ thể nước Mỹ". Chính sách tiếp tục xâm lược, can thiệp và mở rộng chiến tranh tại Việt Nam của Ních-xơn đã hất Ních-Xơn ra khỏi cái ghế tổng thống Mỹ. Pho, người kế vị của Ních-Xơn vẫn lao theo vết xe đã đổ, nên ngày nay lại đang rơi vào một đường hầm không lối thoát trên khắp mọi lĩnh vực, tại tất cả mọi khu vực trên thế giới. "Thời kỳ sau Ních-Xơn" hay "Thời kỳ Pho" lại càng là một thời kỳ đen kịt hơn nữa trong lịch sử nước Mỹ.    Mặc dầu chính quyền Pho đã cố bám lấy chính sách can thiệp của chúng tại Cam-pu-chia đến phút cuối cùng, tập đoàn Lon Non cũng đã sụp đổ và bọn cố vấn Mỹ cùng những tên tay sai ngoan cố nhất của chúng cũng đã phải ngậm hờn, nuốt hận, cúi đầu, gạt nước mắt ra đi, trong một tình trạng hỗn loạn vô cùng nhục nhã. Quân dân Cam-pu-chia đã giành được thắng lợi lịch sử vĩ đại giải phóng hoàn toàn thủ đô Nông Pênh, giải phóng cả nước.


Tại miền Nam Việt Nam, ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn cũng đã sụp đổ hoàn toàn. Đến phút cuối cùng, chính quyền Pho vẫn tiến hành đủ mọi thủ đoạn thâm độc, tàn ác của chúng từ việc đưa thêm vũ khí đạn dược, tiền bạc để hà hơi tiếp sức cho ngụy quyền, ngụy quân đang giãy chết, cướp đi hàng vạn dân thường Việt Nam dưới nhãn hiệu "di tản nhân đạo" v.v... Nhưng, chung cuộc, hàng nghìn tên cố vấn quân sự Mỹ núp dưới áo dân sự đã phải cùng tên đại sứ Mỹ Ma tin, hối hả, luống cuống, hấp tấp trèo lên trực thăng rút chạy khỏi Sài Gòn một cách thảm hại, nhục nhã, dắt theo sau một lũ tay sai ác ôn xác xơ, kinh hồn khiếp đảm ngơ ngác, bơ vơ. Đúng 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân ta đã cắm lá cờ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam lên phủ tổng thống ngụy quyền. Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã toàn thắng.


Từ nay nước Việt Nam ta, non sông một dải, hoàn toàn độc lập, hoàn toàn tự do, 45 triệu người Việt Nam đã trở thành người chủ vĩnh viễn trên đất nước anh hùng và giàu đẹp của mình. Cái nhục mất nước hơn một trăm năm nay đã được rửa sạch. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam đã chôn vùi chủ nghĩa thực dân cũ Pháp trên đất nước Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cũng đã chôn vùi chủ nghĩa thực dân mới Mỹ trên đất miền Nam anh hùng.


Thắng lợi vĩ đại của nhân đân Việt Nam đang đẩy đế quốc Mỹ xuống thêm một bước suy sụp mới và buộc chúng phải xét duyệt lại các âm mưu, chính sách, kế hoạch can thiệp xâm lược của chúng trên toàn cầu, vì ngày nay dù đế quốc Mỹ có ngoan cố duy trì các mục tiêu, ý đồ cũ thì chúng cũng không còn đủ phương tiện để thực hiện các mục tiêu, ý đồ đó.


Về vấn đề này, tạp chí Mỹ "Tuần tin tức" số ra ngày 7 tháng 4 năm 1975 đã viết: "Dưới chính quyền Ken-nơ-đi, Mỹ tự cam kết sẽ "trả bất cứ giá nào, gánh bất cứ gánh nặng nào" để giúp đỡ các đồng minh của Mỹ. Dưới chính quyền Ních-xơn, theo chủ nghĩa Ních-Xơn, Mỹ sẽ cung cấp tiền nếu các đồng minh của Mỹ cung cấp nhân lực. Ngày nay, quan điểm này cũng đã trở thành một nghi vấn đối với quốc hội Mỹ và công chúng Mỹ, đã quả mệt mỏi chán ngán vì phải chịu đựng nhiều hy sinh trên những đất nước xa lạ. Kết quả là, theo như chính Kít-xinh-giơ vừa rồi đã thú nhận, nhiều nước sẽ xét duyệt, thay đổi chính sách đối ngoại của họ đối với nước Mỹ".


Rõ ràng, bị đánh bại trong cuộc chiến tranh xâm lược của chúng tại Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thua đơn, thiệt kép. Bị đập tan tại Việt Nam, chủ nghĩa thực dân mới Mỹ sẽ càng tụt dốc nhanh trên con đường phá sản ở các khu vực khác trên thế giới. Đây là một công hiến quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam vào làn sóng tiến công của ba dòng thác cách mạng thế giới chống chủ nghĩa đế quốc.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:20:32 am
CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN ĐẠI THẮNG1
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1977

Lời nhà xuất bản


Mùa Xuân năm 1975, quân dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với quy mô chưa từng có, giải phóng miền Nam thân yêu, giành lại nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc ta. Trong trận quyết chiến chiến lược thần tốc và thắng lợi vẻ vang ấy, quân và dân ta đã liên tiếp đánh ba đòn tiêu diệt chiến lược lớn ở Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn. Chiến dịch Tây Nguyên là đòn đánh tiêu diệt lớn mở đầu, được quân dân ta hoàn thành xuất sắc: tiêu diệt lực lượng chủ yếu của một quân đoàn địch, nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng ngự của địch, tạo điều kiện cho các đòn tiếp sau đánh tiêu diệt lớn hơn, làm thất bại hoàn toàn chiến lược phòng ngự của địch ở miền Nam, giành thắng lợi vẻ vang cho dân tộc. Chiến thắng Tây Nguyên là thắng lợi có tầm quan trọng về chiến lược, mở ra điều kiện thuận lợi cho cục diện chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Nhận lời đề nghị của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Trung tướng Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên - đã viết cuốn Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, nhằm giúp bạn đọc trong và ngoài quân đội tìm hiểu thêm về chiến thắng có ý nghĩa chiến lược quan trọng này. Qua các trang sách, tác giả muốn giới thiệu với chúng ta:

- Vị trí chiến lược quan trọng của địa bàn Tây Nguyên.

- Những sự kiện diễn biến chủ yếu của chiến dịch Tây Nguyên, kể từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc.

- Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, nằm trong thắng lợi vĩ đại chung của toàn bộ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Thông qua các sự kiện lịch sử cụ thể, tác giả muốn nêu bật lên sự chỉ đạo chiến lược - chiến dịch hết sức tài tình, sáng suốt, kiên quyết và nhạy bén của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quán ủy Trung ương. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên một số suy nghĩ của mình về những kinh nghiệm của chiến dịch Tây Nguyên, nhằm góp phần vào việc tổng kết những nguyên tắc và quy luật chung của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.


Theo tác giả, đây mới chỉ là những ý kiến bước đầu của một người, nên khó có thể phản ánh được đầy đủ các sự kiện và các vấn đề vô cùng phong phú của một chiến dịch lớn như chiến dịch Tây Nguyên. Vì vậy, đồng chí mong được sự đóng góp bổ sung của nhiều bạn đọc gần xa, hơn nữa lại hy vọng trong thời gian tới sẽ tiếp tục xuất hiện thêm nhiều tác phẩm, với nhiều thể loại khác nhau, viết về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vĩ đại mùa Xuân 1975.


Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng với bạn đọc.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:23:09 am
Đầu năm 1975, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta có một nhận định vô cùng sáng suốt là: "Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn thuận lợi như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc giữa lúc phong trào ba nước Đông Dương đang trên đà tiến công mạnh, giành thắng lợi ngày càng to lớn"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1976, tr. 34, 35).


Trên cơ sở nhận định trên, Bộ Chính trị đã nêu quyết tâm: "Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi tiến hành Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam"2 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1976, tr. 34, 35).


Quyết tâm chiến lược đó được thể hiện trong kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976. Nhưng, ngoài kế hoạch cơ bản hai năm đó, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là: "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975"3 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1976, tr. 34, 35).


Căn cứ vào quyết tâm và phương hướng trên, Bộ Chính trị đã phân tích kỹ tình hình ta, địch, địa hình... và nhất trí chọn Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975, đồng thời chỉ rõ là phải đánh mở ra ở Buôn Ma Thuật và Tuy Hòa. Sau đó, trong cuộc họp để quán triệt và thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Thường trực Quán ủy Trung ương lại kết luận xác định rõ khu vực và mục tiêu tiến công ở Tây Nguyên, nhiệm vụ chiến dịch, hướng phát triển, sử dụng lực lượng, cách đánh..., đồng thời nhấn mạnh phương châm mạnh bạo, bí mật, bất ngờ, thực hiện nghi binh khiến địch không phán đoán được hướng tiến công chủ yếu cũng như hành động của quân ta.


Chấp hành nghị quyết mở chiến dịch của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Thường trực Quân ủy, quân dân Tây Nguyên đã ra sức chuẩn bị mọi mặt và đã đánh thắng oanh liệt. Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng đã mở ra điều kiện thuận lợi cho các chiến dịch lớn hơn tiếp sau, giành thắng lợi to lớn và toàn vẹn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:25:35 am
Chương một
TÂY NGUYÊN
ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ QUAN TRỌNG


Tây Nguyên là danh từ rộng để chỉ các vùng miền núi và cao nguyên lớn ở Trung Bộ, chạy dài từ vĩ tuyến 15 xuống đến vĩ tuyến 11: bắc giáp tỉnh Quảng Nam, nam giáp tỉnh Phước Long, Long Khánh miền Đông Nam Bộ, đông giáp các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ, tây giáp nước Lào và Cam-pu-chia với một biên giới chung dài khoảng 700km.


Tây Nguyên rộng 67.000km2 (phần Tây Nguyên thuộc Khu 5 có khoảng 35.962km2) gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Quảng Đức (hiện nay là Gia Lai - Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng).


Số dân ở Tây Nguyên có khoảng gần 1 triệu người gồm hơn 30 dân tộc anh em, đông nhất là các dân tộc Xê Đăng, Dẻ, Cơ Giông (Kon Tum), Gia Rai, Ba Na (Gia Lai), Ê Đê, Mơ Nông (Đắc Lắc), Cờ Ho (Lâm Đồng). Các dân tộc ở Tây Nguyên có tiếng nói theo các hệ ngôn ngữ Môn Khơ-me, Ma-lai-a, In-đô-nê-diên.


Tây Nguyên được hình thành bởi nhiều dạng địa hình không đều nhau; có hai loại phổ biến là núi và cao nguyên, ngoài ra cũng có thung lũng đất bằng giữa các núi hay là những hố sụt. Từ đồng bằng Trung Trung Bộ nhìn lên Tây Nguyên ta thấy một dãy núi non xanh liên tục, đó là Trường Sơn.


Núi ở Tây Nguyên thực ra không phải là một dải liên tục mà tạo thành những khối phân cắt. Phần bắc thuộc tỉnh Kon Tum có nhiều núi cao, rừng rậm, các dãy có đỉnh cao là Ngọc Lĩnh 2.598m, Ngọc Ni-ay 2.259m, Ngọc Krinh 2.025m và thấp dần về phía nam cho tới phần bắc của tỉnh Gia Lai chỉ còn một số dãy cao trung bình trên dưới 1.500m, như các dãy Chư Pan 1.571m, Chư Ta Kom 1.485m. Khoảng giữa thuộc phần nam của tỉnh Gia Lai, Phú Bổn và phần bắc tỉnh Đắc Lắc không có ngọn núi nào cao đáng kể; nhưng xuống phía nam Tây Nguyên, từ phần nam của tỉnh Đắc Lắc trở đi lại có các dãy Chư Yang Sin 2.442m, Chư Năng Ộp 1.821m, Chư Yên Du 2.075m, Ri Đúp 2.287m, Lang Blan 2.167m, Be Nom Đan Se Na 1.931m, thấp dần chạy tới cao nguyên Lâm Viên và cao nguyên Lâm Đồng.


Các cao nguyên lớn là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Vong Bi Ong và Di Linh chiếm phần lớn diện tích của Tây Nguyên, có mặt đất bằng và xiên dốc xuống dần về phía tây, độ cao trung bình 500 - 600m, đột xuất nổi lên một số núi đồi trên cao nguyên có giá trị khống chế các khu vực xung quanh như điểm cao 890m, Chư He Peng 1.045m ở Kon Tum; điểm cao 1.028m ở tây La Sơn phía nam Plây Cu; Chư Điếc 803m ở Buôn Hồ, dãy Chư Pao, Chư Minh ở Bản Đôn. Trên các cao nguyên thường có rừng thưa, phần lớn là rừng khoọc, xen lẫn rừng le, có các bãi trống, có bãi rộng tới 1km2. Càng về phía nam, mặt đất càng tương đối bằng, song lại có nhiều hồ nước rộng và sâu như ở khu vực Phước An, Lạc Thiện (đặc biệt hồ Lạc Thiện sâu, rộng và đẹp nhất ở miền Nam).


Đất đai Tây Nguyên rất màu mỡ, nhìn chung có hai loại đất được phong hóa chính là phong hóa ba-dan và phong hóa gra-nít, những nơi có núi lửa phun ra như vùng Đức Lập thì màu đất đỏ và nham vi-ô-lét chiếm khoảng 46% tổng số diện tích trong vùng, rất thích hợp với việc phát triển trồng cây công nghiệp như cao su, bông, mía, lạc, hồ tiêu,...


Tây Nguyên có nhiều sông và suối lớn phát nguyên từ các dãy núi cao, nhưng đáng kể là ba sông chính: Sê San, Sê Rê Pôc và sông Ba.

Sông Sê San bắt nguồn từ các dòng suối trong các dãy núi phía bắc thuộc tỉnh Kon Tum, chảy từ phía tây thị xã Kon Tum sang tới nước bạn Cam-pu-chia, đổ vào sông Mê Công đoạn thuộc địa phận thị xã Stung Treng.


Sông Sê Rê Pôc bắt nguồn từ các dòng suối của cao nguyên Plây Cu và các hồ lầy nam cao nguyên Đắc Lắc, chảy về phía bắc qua Bản Đôn sang thị xã Lom Phát tỉnh Ra-ta-na-ki-ri thuộc Cam-pu-chia, gặp sông Sê San và cùng chảy ra sông Mê Công.


Sông Ba bắt nguồn từ phía đông tỉnh Plây Cu chảy qua thị xã Phú Bổn, đổ ra biển Đông, qua địa phận Tuy Hòa (Phú Yên).

Tây Nguyên sớm có mạng lưới giao thông: quốc lộ số 14 chạy suốt từ Huế qua Kon Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột nối liền với đường số 13, ở ngã ba Chơn Thành ra quốc lộ số 1 vào đến Sài Gòn. Quốc lộ số 19 chạy từ Quy Nhơn đến biên giới Cam-pu-chia. Quốc lộ số 7 từ Plây Cu đi Tuy Hòa. Quốc lộ số 21 từ Buôn Ma Thuột về Ninh Hòa. Đường số 20 từ Sài Gòn đi Đà Lạt. Đường số 11 từ Đa Lạt đi Phan Rang. Các tỉnh ở Tây Nguyên cũng có mạng đường hàng tỉnh nối liền giữa các huyện về thị xã: đường 7B từ An Khê đi Cheo Reo đến Thuần Mẫn; đường 6B nối liền Phú Mỹ - Plây Me - Phú Nhơn; đường 509 từ Plây Cu đi Plây Gi-răng; đường số 5 từ Kon Tum đi Mộ Đức; đường số 18 từ thị trấn Tân Cảnh đi A-tô-pơ. Ngoài ra, trong những năm chống Mỹ, Tây Nguyên đã hình thành thêm một số tuyến đường gọi là đường hành lang: trục đường 1B nối liền từ bắc chạy dọc theo phía tây của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Quảng Đức vào phía nam tới Lộc Ninh (Nam Bộ); đường 220 nối liền với đường số 14 từ khu vực Võ Định, bắc Kon Tum, chạy sang đông - bắc Gia Lai và nhiều nhánh đường xuyên rừng khác nằm trên phản phía tây các tỉnh Tây Nguyên.


Trong điều kiện địa hình của Tây Nguyên, mạng đường sá trên có tác dụng rất tốt đối với các hoạt động quân sự, đặc biệt là về mùa khô. Lúc Mỹ - ngụy chiếm giữ Tây Nguyên, chúng còn tổ chức một số đường vận chuyên hàng không từ các nơi khác ở miền Nam tới các sân bay Kon Tura, A-rê-a và Cù Hanh (Plây Cu), Hòa Bình (Buôn Ma Thuột).


Núi rừng, cao nguyên với đất đai, sông suối và đường sá ở Tây Nguyên còn bị chi phối bởi thời tiết, khí hậu. Hàng năm, ở Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 360 đến 500mm; tháng 7, 8, 9 là những tháng mưa to và mưa liên tục; có nơi lượng mưa lên tới 1.200 đến 1.500mm như ở bắc Kon Tum. Mưa nhiều, đất xốp lên, cây rừng đâm chồi nảy lộc nhưng sông suối nước lũ ngập tràn chảy xiết, núi lở và xói mòn, nói chung rất trở ngại đến mọi mặt sinh hoạt, canh tác và đi lại. Mùa khô từ tháng 11 đến giữa tháng 5, gió thổi từ đông sang đông - bắc, nhiệt độ trung bình 30°C, đất se cứng lại nhưng trời trong xanh, thời tiết đưa lại nhiều thuận lợi cho việc lưu thông, đồng thời cũng có nhiều điều kiện tốt cho các hoạt động quân sự.


Từ vùng xung quanh, muốn đến Tây Nguyên phải vượt qua những đỉnh núi cao có những rừng cây rậm, thường xuyên mây mù che phủ, càng đi càng gặp nhiều suối sâu, vách đứng và đường đèo phức tạp. Song càng đi cũng càng gặp nhiều rừng có gỗ quý, nhiều loại cây có quả ăn được, nhiều loại thú vật nguyên thủy như chồn bay, sóc bay, thằn lằn bay,...


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:26:15 am
Dân Tây Nguyên sống thưa thớt, nhưng các buôn làng thường ở tập trung, với những tập quán cổ truyền mang nhiều màu sắc tươi đẹp của nhiều dân tộc.

Thiên nhiên ở đây không chỉ đưa đến cho Tây Nguyên những tiềm năng kinh tế rất dồi dào, mà còn tạo nên những đặc điểm hình thành một khu vực quân sự có tầm chiến lược rất quan trọng đối với Tổ quốc Việt Nam.


Tây Nguyên có thế rất cao so với các khu vực tiếp giáp với nó. Từ trên thế cao này, Tây Nguyên có thể khống chế hầu như toàn bộ các khu vực xung quanh: đây là một thế đứng vô cùng lợi hại. Thêm vào đó, Tây Nguyên còn có thế rộng lớn cả về phạm vi, cả về chiều sâu và sự kín đáo, lại có thế dài liên tục, từng khu vực địa hình có giá trị được núi rừng bao quanh, nhưng lại nối liên tiếp với nhau, khu vực nọ có thể hỗ trợ cho khu vực kia, tạo nên một thế hiểm trở, vững chắc.


Song song với các mặt lợi hại trên, Tây Nguyên còn là một địa bàn nằm ở ngã ba đường, có liên quan trực tiếp tới các địa bàn quan trọng khác như:

- Về phía bắc, Tây Nguyên nối liền với miền Bắc xã hội chủ nghĩa bằng đường số 14, nối với đường số 1B từ bắc Kon Tum chạy qua tây Trị - Thiên và ra Quảng Bình,... Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nhất là vào giai đoạn cuối, đường số 1B được ta sử dụng để vận chuyển lương thực, súng đạn,... và cơ động lực lượng chiến lược qua Tây Nguyên, chi viện cho các chiến trường miền Nam với một mặt độ rất lớn.

- Về phía nam, Tây Nguyên nối liền với miền Đông Nam Bộ bằng đường số 14; con đường này chạy đọc suốt từ bắc đến nam Tây Nguyên vào đến Hớn Quản (Nam Bộ), có nhiều thuận lợi cho việc vận chuyển vật chất và cơ động lực lượng giữa hai chiến trường. Ngoài ra, còn con đường số 20 từ Đà Lạt đi Sài Gòn và đường số 11 Đà Lạt đi Phan Rang cũng rất thuận lợi cho việc vận chuyển và cơ động.

- Về phía đông, Tây Nguyên nối liền với các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ bằng đường số 19, 7 và 21. Địch đã từng dùng đường số 19 và 21 để vận chuyển chiến lược, nuôi sống đại bộ phận lực lượng quân đoàn 2 ngụy gồm: sở chỉ huy quân đoàn, các lực lượng chiếm đóng và nhân viên hành chính ngụy quyền khoảng 70.000 tên; ngoài ra còn khoảng  600.000 dân của 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn, Đắc Lắc và Quảng Đức.

- Về phía tây, Tây Nguyên có đường số 18 từ thị trấn Tân Cảnh qua Bến Hét nối liền với A-tô-pơ, cao nguyên Bô-lô-ven và Pác Xế ở Nam Lào. Đường số 19 kéo dài từ thị xã Plây Cu chạy qua Đức Cơ sang thị xã Stung Treng gặp đường số 13 của nước bạn Cam-pu-chia.

Với những đặc điểm về địa lý và các mối liên quan chiến trường, Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược quân sự hết sức quan trọng, có dung lượng chiến trường lớn. Ở đây các binh đoàn binh chủng hợp thành, các bộ đội cơ giới hóa đều có thể hoạt động và hoạt động được tốt trên nhiều khu vực.


Về mặt phòng ngự, địch có thể lợi dụng địa hình để tổ chức phòng ngự khu vực các cụm điểm tựa, phòng ngự các khu căn cứ thị trấn, thị xã và phòng ngự án ngữ, khống chế trên các trục giao thông. Các khu vực phòng ngự trên có thể liên kết với nhau hình thành tuyến phòng ngự chiến lược trên toàn địa bàn chiến lược quân sự Tây Nguyên.


Nếu địch bố trí lực lượng hình thành được thế trận phòng ngự vững chắc thì không những có thể giữ vững địa bàn Tây Nguyên mà còn che chở được cho các chiến trường phía đông và phía nam Tây Nguyên. Như vậy, nếu địch giữ được Tây Nguyên thì đồng thời chúng cũng có thể ngăn chặn hoặc hạn chế được lực lượng tiến công lớn của ta phát triển xuống các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ và phát triển vào miền Đông Nam Bộ.


Về mặt tiến công, ta có thể thực hành đánh chia cắt, bao vây cô lập được địch ở từng khu vực và toàn Tây Nguyên; đồng thời có thể sử dụng các lực lượng binh chúng hợp thành lớn và bộ đội cơ giới hóa tiến công địch; có thể đánh những đòn tiêu diệt lớn mang tính chất quyết định để giải phóng từng khu vực lớn bao gồm các thị trấn, thị xã. Và, tùy tình hình sử dụng quy mô lực lượng tập trung và cơ động khác nhau, nếu ta nhanh chóng tiêu diệt được lực lượng địch đến tăng viện phản kích hoặc làm mất khả năng tăng viện phản kích của chúng thì ta có thể tiến tới tiêu diệt được toàn bộ quân địch và giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Trong quá trình tiến công, nếu mở được khu vực là ta có thể phát triển được lực lượng tiến công sang các địa bàn xung quanh. Còn nếu ta tiêu diệt được toàn bộ quân địch, giải phóng hoàn toàn địa bàn Tây Nguyên thì lại có rất nhiều thuận lợi để đưa lực lượng lớn phát triển tiến công xuống đánh chiếm các tỉnh ven biển miền Trung và phát triển tiến công vào miền Đông Nam Bộ, trực tiếp uy hiếp quân khu 3 của địch. Làm chủ được Tây Nguyên, ta sẽ có một chỗ đứng chiến lược lớn, vững và rất cơ động. Từ chỗ đứng đó, ta sẽ có thể cắt đứt quân địch ở miền Nam Việt Nam ra làm đôi và có một lực lượng lớn đánh xuống phía Sài Gòn.


Do địa bàn Tây Nguyên có tầm quan trọng về mặt chiến lược quân sự như vậy nên trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, quân và dân Tây Nguyên đã từng trải qua muôn vàn gian khổ, quyết liệt, hy sinh, nhưng cũng đã từng bao phen làm nên những sự tích anh hùng.


Bọn thực dân Pháp xâm lược đến chiếm Tây Nguyên vào khoảng năm 1890, với tham vọng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy và vơ vét sao cho được thật nhiều tài nguyên. Đi đôi với việc áp bức nhân dân các dân tộc ở Tây Nguyên và xô nhau vào khai thác nguyên liệu trên những vùng đất đai màu mỡ, chúng còn nhận ra ngay giá trị về mặt quân sự của miền cao nguyên rừng núi này. Do đó, đến nơi là chúng lập ngay các đồn binh để cai trị, đồn đầu tiên do tên Buốic-gioa (Bourgeois) cầm đầu, tiếp đó chúng đặt vấn đề "ra sức phòng thủ Tây Nguyên để bảo vệ Đông Dương". Năm 1928, chúng thành lập các tiểu đoàn bộ binh miền núi. Đến cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai, vào khoảng tháng 5 năm 1946, chúng tổ chức các lực lượng vũ trang cao nguyên (Forces armées des hauts plateaux), có bộ phận tập trung công khai hoạt động, có bộ phận còn ngấm ngầm trong nhân dân để bám giữ Tây Nguyên, làm chỗ dựa cho ý đồ xâm lược đen tối lâu dài của chúng.    Đế quốc Mỹ thay thế đế quốc Pháp càng chú trọng đến địa bàn Tây Nguyên hơn. Nhận thức được ngay là Tây Nguyên rất có giá trị về mặt chiến lược quân sự, chúng cho rằng: "Muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải kiểm soát bằng được vùng cao nguyên Trung phần có tính chất chiến lược này". Chúng dùng chính sách thực dân kiểu mới, thông qua bọn tư sản mại bản và phong kiến phản động để nắm Tây Nguyên.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Năm, 2023, 08:27:02 am
Về quân sự, đế quốc Mỹ và tay sai muốn biến Tây Nguyên thành một căn cứ chiến lược lớn hòng đè bẹp phong trào cách mạng của ba dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.

Mỹ - ngụy lập các lực lượng đặc biệt, biệt kích, đưa hàng chục tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn thiết lập các hệ thống chiếm đóng kiên cố, nhiều tuyến, nhiều vòng từ biên giới Lào, Cam-pu-chia đến các trung tâm thị xã, thị trấn để kìm kẹp quần chúng và ngăn chặn phong trào cách mạng của các dân tộc.


Trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta, Mỹ đã từng sử dụng các binh đoàn cơ động như sư đoàn kỵ binh bay số 1, sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới, sư đoàn 4 bộ binh cùng các lữ đoàn dù 173 và 101, liên tiếp mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét kết hợp với hàng ngàn trận ném bom, kể cả ném bom rải thảm B.52, thả chất độc hóa học hòng biến Tây Nguyên thành những vùng trắng hoang vu. Khi quân đội viễn chinh Mỹ thua nhục nhã buộc phải ký kết Hiệp định Pa-ri và rút về nước, bọn tay sai Nguyễn Văn Thiệu vẫn tiếp tục thi hành âm mưu thâm độc của chủ Mỹ, liên tiếp ném hàng chục trung đoàn thuộc các sư đoàn 22, 23, lính dù, các trung đoàn thiết giáp thuộc lữ đoàn 2, các liên đoàn quân biệt động số 21, 22, 23, 24, 25, số 4 và số 6, mở hàng ngàn cuộc hành quân lấn chiếm, bình định vào các vùng tranh chấp và vùng giải phóng của ta. Chỉ riêng ở Đắc Lắc, trong hai năm 1973-1974, sư đoàn bộ binh 23 ngụy đã mở hơn 1.000 cuộc hành quân lấn chiếm, đốt cháy trên 40 làng và san bằng hàng chục buôn làng khác. Chúng đã bắt hơn 50.000 đồng bào ta phải rời bỏ buôn rẫy vào sống lầm than trong các trại tập trung và các khu đồn.


Nhưng với truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất chống giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai, một lòng một dạ sắt son với cách mạng, quân và dân các dân tộc Tây Nguyên đã đoàn kết anh dũng chiến đấu giữ vững thành quả cách mạng, bảo vệ quyền sống thiêng liêng của mình, liên tục phát triển phong trào đấu tranh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác ngày càng to lớn.


Năm 1955-1956, nhân dân Tây Nguyên đã sôi nổi đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Trong những năm 1959-1960, kiên quyết chống chính sách phân biệt đối xử, đồng hóa dân tộc của Mỹ - Diệm, nhân dân nhiều vùng ở Tây Nguyên đã nổi dậy phá "khu trù mật", "khu dinh điền" trở về với buôn rẫy, núi rừng.


Từ năm 1960, dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, quân dân các dân tộc Tây Nguyên bền bỉ phát huy tinh thần anh dũng chiến đấu chống giặc giữ làng vốn có trong nhân dân, khéo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đã cùng quân dân toàn miền Nam liên tiếp đánh bại cuộc chiến tranh đặc biệt rồi đến cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, lập nên những chiến công oanh liệt.


Năm 1963-1964: chiến thắng Plây Mơ-rông, Plây Cơ-rông.

Năm 1965: chiến thắng Đắc Tô, Đắc Sút, Tu-mơ-rông, Lệ Thanh, Đức Cơ; tháng 10, chiến thắng oanh liệt ở Plây Me, Chư Pông, tiêu diệt 3.000 tên địch (có 1.700 tên Mỹ), đập tan cuộc hành quân ồ ạt đầu tiên của sư đoàn kỵ binh bay số 1 của đế quốc Mỹ.

Năm 1968: tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, đều khắp ở cả ba thị xã Kon Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột, diệt nhiều sinh lực Mỹ - ngụy, phả rã từng mảng lớn hệ thống kìm kẹp của ngụy quyền tay sai.

Năm 1969-1971: liên tiếp chiến thắng giòn giã ở quận lỵ Phú Nhơn, sân bay Hòa Bình, sân bay A Rê A, khu hậu cần Cơ Ti Pơ Rông, cầu Gia Tô Ve, đèo Măng Giang, cứ điểm Plây Cần, Đắc Xiêng, Đắc Mót, Pu Pơ Răng, Đức Lập, Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Dơ Lang, Ngọc Rinh Rua.

Năm 1972: giải phóng quận lỵ Đắc Tô - Tân Cảnh, phá tan hệ thống phòng ngự kiên cố của địch ở phía bắc Kon Tum.

Năm 1973-1974: liên tục đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của địch ở vùng Trung Nghĩa, Võ Định, Lệ Minh, Làng Dịt....

Trước mọi âm mưu nham hiểm, mọi hành động tàn bạo điên cuồng của Mỹ - ngụy, quân dân Tây Nguyên vẫn hiên ngang đứng vững và giáng cho địch những đòn trừng trị đích đáng.

Hiệp định Pa-ri vừa ký chưa ráo mực, Mỹ - ngụy đã xảo quyệt lật lọng thực hiện ngay âm mưu cũ bằng một chiến lược mới rất nham hiểm: dùng ngụy quân, ngụy quyền tiếp tục tiến hành chiến tranh, lấy "bình định" và "lấn chiếm" làm thủ đoạn chủ yếu hòng thủ tiêu từng bước thành quả cách mạng mà nhân dân ta mới giành được, đồng thời ra sức tăng cường củng cố, trang bị hiện đại hóa quân ngụy và hình thành thế phòng ngự chiến lược kiên cố vững chắc toàn diện ở miền Nam để duy trì chủ nghĩa thực dân mới, chia cắt lâu dài đất nước ta.


Về phía ta thì việc ký kết Hiệp định Pa-ri là thắng lợi to lớn trên các mặt chính trị, quân sự và ngoại giao, nhưng sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam còn chưa hoàn thành, con đường tất yếu là phải tiếp tục chiến đấu đưa cách mạng tiến lên. Quân dân ta ở miền Nam đã triệt để thực hiện các nội dung của Hiệp định Pa-ri, tạo điều kiện cho thế trận chiến tranh nhân dân của ta ngày càng mạnh hơn, do đó các lực lượng vũ trang ta ở khắp mọi nơi cũng hình thành tại chỗ rõ nét. Trước kia, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã tạo ra hình thái chiến lược xen kẽ giữa ta và địch, không phân tuyến rõ rệt như những cuộc chiến tranh khác. Nay đặc điểm đó lại càng thể hiện rõ là một thế trận cài răng lược rất sinh động mà địch gọi là hình thái "da báo". Cùng với thế trận cài răng lược, ta lại vốn có một nghệ thuật quân sự luôn luôn chủ động sáng tạo ra các cách đánh hay. Chính xuất phát từ đó mà trên địa bàn của thế trận cài răng lược, ta có thể chủ động tiến công địch bất cứ lúc nào, vào trước mặt, bên sườn và phía sau chúng.


Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, địch càng ra sức tăng cường các cuộc hành quân phá hoại Hiệp định Pa-ri thì ta càng nghiêm trị chúng kịp thời, đích đáng.

Bị phụ thuộc vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta và bị cách đánh của ta chi phối, Mỹ - ngụy thực hiện âm mưu chiến lược phòng ngự toàn diện trên các địa bàn chúng còn kiểm soát. Hơn một triệu quân ngụy, gồm các sắc lính, rải ra phòng ngự khắp miền Nam, hình thành một thế trận chiến lược dài và mỏng, chạy dọc theo đường số 1 từ Quảng Trị đến Nam Bộ khoảng trên 1.000km; trên đường số 14 qua các thị xã Kon Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột, Gia Nghĩa; đường số 20 qua Đà Lạt, Lâm Đồng; khu vực Biên Hòa - Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 07:53:08 am
So với các tuyến phòng ngự chiến lược khác, thì có tuyến phòng ngự chiến lược do quân khu 2 ngụy đảm nhiệm là có thế đứng tương đối vững chắc và có chiều sâu vừa phải. Tuyến này gồm vùng Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung, từ Bình Định vào tới Hàm Tân. Cách tổ chức chiến trường của địch ở đây đã tạo ra thế trận phòng ngự chiến lược có hai dải, hai tuyến. Tây Nguyên là tuyến phòng ngự thứ nhất, các tỉnh ven biển là tuyến phòng ngự thứ hai và cũng là tuyến cuối cùng.


Tuy chỉ là một tuyến nằm trong phạm vi quân khu 2 ngụy, song do thế đứng của nó, Tây Nguyên lại là chiến trường có vị trí quan trọng đặc biệt. Mỹ - ngụy tiến hành phòng ngự chiến lược ở Tây Nguyên, ngoài mục đích chiếm đóng lâu dài, còn dùng Tây Nguyên làm khu vực án ngữ để ngăn chặn ta ở phía tây và tây - bắc, làm cánh cửa phía tây để bảo đảm an toàn cho các tỉnh ven biển miền Trung, đồng thời còn làm bức bình phong phía tây - bắc để che chở cho miền Đông Nam Bộ. Tuyến Tây Nguyên bị phá vỡ thì các tỉnh ven biển sẽ bị trực tiếp uy hiếp và có thể bị mất theo ngay, nếu không có lực lượng dự bị chiến lược hùng hậu đến chiếm giữ hoặc phản kích. Mất Tây Nguyên thì không những thế trận phòng ngự của địch ở quân khu 1 bị rung động mà quân địch ở miền Đông Nam Bộ cũng bị đe dọa. Chính vì thế nên trong khi tích cực thực hiện chiến lược chung là "quét và giữ", đi đôi với biện pháp lấy bình định và lấn chiếm làm chủ yếu, địch còn ra sức tăng cường củng cố phòng ngự ở Tây Nguyên: tổ chức phòng ngự khu vực gồm các cụm điểm tựa, các khu căn cứ, thị trấn, thị xã và các tuyến đường giao thông... liên kết với nhau. Toàn quân khu 2 ngụy có 2 sư đoàn bộ binh chủ lực, 7 liên đoàn biệt động quân, 5 thiết đoàn xe tăng - xe bọc thép, thì riêng ở Tây Nguyên chúng đã bố trí tới 1 sư đoàn bộ binh chủ lực, cả 7 liên đoàn biệt động quân và 4 thiết đoàn xe tăng - xe bọc thép. Sở chỉ huy quân đoàn 2 cũng đặt ở Tây Nguyên (Plây Cu).


Như vậy, Tây Nguyên rõ ràng là một địa bàn chiến lược hiểm yếu trong thế trận phòng ngự chiến lược chung của Mỹ - ngụy ở miền Nam. Thế nhưng, nếu xét về lực lượng phòng giữ thì Tây Nguyên lại là một chiến trường yếu so với các tuyến phòng ngự chiến lược khác, mặc dầu chúng đã rải phần lớn quân chủ lực của quân khu 2 ra bố trí ở đây.


Đầu năm 1975, tổng số quân đội ngụy có 1.351.000 tên, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân "phòng vệ dân sự" có vũ trang, gồm 13 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn biệt động quân và hàng vạn cảnh sát vũ trang. Chúng bố trí lực lượng như sau:

- Quân khu 1 có 5 sư đoàn chủ lực (3 sư đoàn bộ binh và 2 sư đoàn tổng dự bị là sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ), 4 liên đoàn biệt động quân; 21 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 418 khẩu; 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng - xe bọc thép gồm 449 xe; 1 sư đoàn không quân gồm 96 máy bay chiến đấu.

- Quân khu 2 có 2 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 382 khẩu; 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng - xe bọc thép gồm 477 xe; 2 sư đoàn không quân gồm 138 máy bay chiến đấu.

- Quân khu 3 có 3 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 376 khẩu; 7 thiết đoàn và 15 chi đội xe tăng - xe bọc thép gồm 655 xe; 2 sư đoàn không quân gồm hơn 250 máy bay chiến đấu. Toàn bộ chủ lực địch đều triển khai để bảo vệ thành phố Sài Gòn.

- Quân khu 4 có 3 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn bảo an; 15 tiểu đoàn và 55 đại đội pháo gồm 380 khẩu; 5 thiết đoàn và 17 chi đội xe tăng - xe bọc thép gồm 493 xe; 1 sư đoàn không quân gồm 72 máy bay chiến đấu; 580 tàu, xuồng các loại. Quân chủ lực dịch rải ra giữ các khu vực Cần Thơ, Chương Thiện, đường số 4 và tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia.


Xem cách bố trí lực lượng của Mỹ - ngụy, ta thấy rõ ý đồ chiến lược của chúng là bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu, tức là mạnh ở quân khu 1 và quân khu 3, còn ở các chiến trường khác thì bố trí ít hơn. Ít lực lượng hơn cả là quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên.

Vì sao Mỹ - ngụy lại bố trí như vậy? Vì sao Tây Nguyên là địa bàn chiến lược hiểm yếu mà chúng lại bố trí ít lực lượng, trong khi chúng có tới hơn một triệu quân?


Hiện tượng này có nguyên nhân sâu xa của nó. Mỹ - ngụy tuy có số quân đông song vẫn luôn luôn thiếu khi sử dụng, vì chúng phải rải ra đối phó với thế trận chiến tranh nhân dân của ta trên khắp các chiến trường. Thế trận phòng ngự chiến lược của chúng luôn luôn bị đối phương bố trí xen kẽ, không có hậu phương rõ rệt. Ngay khi quân Mỹ và chư hầu còn tham chiến, nghĩa là khi có lực lượng hùng hậu nhất, bọn chỉ huy Mỹ ở miền Nam Việt Nam năm nào cũng vẫn phải lớn tiếng kêu gào Nhà trắng tăng viện. Sau Hiệp định Pa-ri, quân Mỹ và chư hầu buộc phải cuốn gói ra đi, còn lại một mình quân ngụy gánh vác cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, tất nhiên càng không lấy đâu đủ lực lượng để bố trí chỗ nào cùng mạnh như nhau, dù đã được Mỹ tăng cường và trang bị đến mức tối đa so với trước. Cho nên, lúc này dù muốn hay không, chúng cũng phải co về giữ những vùng tập trung đông người, nhiều của ở thành phố, thị xã và đồng bằng, nghĩa là những vùng sinh tử đối với chúng. Tuy nhiên, chúng vẫn không hề từ bỏ âm mưu chiến lược lâu dài ở miền Nam Việt Nam, vẫn khẩn trương củng cố ngụy quân, ngụy quyền, cấp tốc thi hành "quốc sách" bình định vùng chúng kiểm soát và lấn chiếm ra vùng đối phương, hòng tạo ra một thế có lợi cho chúng sau này. Đồng thời, trong lúc không ngừng tăng cường mọi thủ đoạn, mọi biện pháp để thực hiện âm mưu trên thì chúng còn phải lo đối phó với đối phương có thể từ bên ngoài bất ngờ tiến công chúng vào bất cứ lúc nào.


Âm mưu trên đã chi phối ý đồ bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu của Mỹ - ngụy:

Một đầu mạnh là quân khu 1 (5 sư đoàn, trong đó có 2 sư đoàn tổng dự bị) nhằm đối phó với quân ta từ phía bắc tiến công vào. Theo chúng, phải bố trí nhiều lực lượng ở đây vì đối tượng tác chiến trên hướng này mạnh, có hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa trực tiếp chi viện.


Một đầu mạnh nữa là khu vực Sài Gòn - Biên Hòa (quân khu 3) nhằm bảo vệ trung tâm chính trị, thành phố đông dân nhiều của, bộ máy đầu sỏ và cũng là sào huyệt cuối cùng của chúng.

Tập trung lực lượng mạnh ở hai đầu trong điều kiện lực lượng có hạn, tất chúng phải dành ít lực lượng hơn cho Tây Nguyên và các chiến trường khác. Thế nhưng Mỹ - ngụy vẫn có những lý do hết sức chủ quan (căn cứ vào cách đánh giá so sánh lực lượng hai bên của chúng) để tin tưởng rằng chúng vẫn có khả năng giữ vững những địa bàn chiến lược này trước các đòn tiến công của đối phương.


Một mặt, chúng cho rằng: trong năm 1975, ta chỉ có thể đánh chiếm loại thị xã nhỏ và cô lập như Phước Long, Gia Nghĩa... chứ chưa có đủ khả năng đánh chiếm các mục tiêu lớn, các thị xã và thành phố; mà dù cớ đánh chiếm được thì ta cũng không giữ nổi.


Mặt khác, chúng lại cho rằng: với số quân còn đông, hỏa lực của pháo binh, không quân còn mạnh, trang bị kỹ thuật hiện đại, phương tiện vận chuyển nhiều, khi cần thiết chúng vẫn có thể cơ động lực lượng từ chiến trương này sang chiến trường khác một cách nhanh chóng. Thêm nữa, với những địa hình lợi thế chúng đang chiếm giữ cộng với khả năng vật chất dồi dào để thiết bị phòng ngự kiên cố, vững chắc, chúng vẫn có thể trụ lại được và hiệp đồng với quân cơ động từ các nơi khác đến ứng cứu và đẩy lùi cuộc tiến công của đối phương.


Bộ Tổng tư lệnh quân ta đã phát hiện được ngay những sai lầm và nhược điểm nói trên của Mỹ - ngụy. Không những ta chỉ phát hiện ra những sai lầm về ý đồ chiến lược, về bố trí lực lượng chiến lược mà còn phát hiện được cả những sai lầm cụ thể trong thế trận phòng ngự chiến lược của chúng, đồng thời cũng có đủ cơ sở để tin rằng các sai lầm trên của chúng sẽ liên tiếp dẫn tới những sai lầm mới, cả về chủ trương lẫn hành động, theo phương hướng chiến lược của chúng.


Chẳng hạn, theo tin tình báo của ta, trong hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974, trong "dinh Độc Lập", Thiệu họp với bọn tư lệnh các quân đoàn, quân khu ngụy để phán đoán hoạt động của ta trong năm 1975. Bọn chúng nhận định: "Trong năm 1975, ta có thể đánh với quy mô lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng năm 1972. Ta chưa có khả năng đánh thị xã lớn hoặc thành phố, dù có đánh cũng không giữ được. Ta chỉ có thể đánh loại thị xã nhỏ và cô lập như Phước Long, Gia Nghĩa. Yêu cầu chủ yếu của ta năm 1975 là giành hai triệu dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng vùng giải phóng miền núi. Mục đích của ta là giành thắng lợi để thúc ép chúng thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Chúng cho rằng đầu năm 1975, phương hướng tiến công của ta là đánh quân khu 3, chủ yếu là Tây Ninh, nhằm lấy Tây Ninh làm thủ đô của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Về thời gian tiến công, địch phán đoán ta sẽ đánh trước hoặc sau tết cho đến tháng 6 năm 1975, tới lúc đó là mùa mưa thì dừng lại nghỉ". Do nhận định về ta như vậy, "Thiệu ra lệnh cho bọn tướng ngụy ráo riết đánh ta trước để phá vỡ kế hoạch chuẩn bị của ta... Do nhận định như vậy, chúng không có thay đổi gì về thế bố trí chiến lược mạnh hai đầu (quân khu 1 và quân khu 3) và cũng chưa có sự tăng cường lực lượng gì lớn ở quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1976, tr. 47, 48).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 07:54:00 am
Ý đồ chiến lược chung cho toàn miền Nam của Mỹ - ngụy là như vậy. Riêng đối với Tây Nguyên, tuy chúng kém khôn ngoan, song vẫn tỏ ra hết sức tích cực nuôi tham vọng giữ bằng được địa bàn chiến lược này.


Lực lượng địch ở quân khu 2 không nhiều nhưng chúng đã rải ra trên Tây Nguyên một sư đoàn chủ lực cùng sở chỉ huy quân đoàn 2, 7 liên đoàn quân biệt động, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn, 230 khẩu pháo, 1 sư đoàn không quân.


Với số quân đó, địch ra sức củng cố thế trận phòng ngự, đưa quân chủ lực và quân biệt động chiếm các điểm cao khống chế xung quanh các thị xã, thị trấn, trên các trục giao thông, xây đắp công sự trận địa, đặt vật cản đi đôi với các hoạt động hành quân lùng sục, càn quét và lấn chiếm, kết hợp với các hoạt động gián điệp, biệt kích, thám báo, trinh sát trên không. Khi phát hiện ta hoặc phán đoán nghi ngờ ta có thể tiến công, chúng lập tức đưa lực lượng đến phòng ngự đự phòng, kết hợp với các thủ đoạn tập kích hỏa lực của máy bay và của pháo binh.


Khoảng trung tuần tháng 1 năm 1975, địch phán đoán ta mở chiến dịch ở bắc Tây Nguyên, đánh vào Kon Tum là chủ yếu, chúng liền sử dụng các liên đoàn biệt động quân số 22, 6, 23, 24, 21 lên phòng giữ Kon Tum. Sau khi triển khai dự phòng, nghe ngóng điều tra thấy ta không hoạt động gì lớn, đến tháng 2 năm 1975 phán đoán ta đánh Plây Cu là chủ yếu, chúng lại sử dụng liên đoàn biệt động quân, trung đoàn 44 và trung đoàn 45 thuộc sư đoàn 23 lên tăng cường giữ Plây Cu. Khi được tin đồn ta sẽ đánh lớn ở Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột, chúng vội vàng đưa trung đoàn 53 thiếu ra lùng sục khu vực Buôn Hồ, tiếp đó ra phía nam Đức Lập và đưa trung đoàn 45 xuống Cẩm Ga.


Qua hoạt động của chúng, ta thấy chúng tích cực lợi dụng những lợi thế của địa hình ở Tây Nguyên, khu vực phòng ngự được xây dựng thiết bị vững chắc, khu vực phòng ngự dự phòng được tổ chức sẵn hoặc có kế hoạch sẵn cho việc thực hiện các biện pháp phòng ngự dự phòng trên từng khu vực cụ thể để giữ Tây Nguyên.


Các hoạt động đó nằm trong âm mưu lâu dài, đồng thời cũng nhằm để thực hiện tham vọng của chúng: "Muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải kiểm soát được vùng cao nguyên có tính chất chiến lược này".


Về phía chúng ta, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng hoàn toàn miền Nam, chúng ta coi Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược quân sự quan trọng. Do đó những năm về trước, khi so sánh lực lượng còn nghiêng về phía địch, quân và dân Tây Nguyên đã phải chiến đấu trong những điều kiện vô cùng gian khổ, quyết liệt để củng cố và giữ vững cơ sở cách mạng trong quần chúng, giữ vững và xây dựng căn cứ địa đứng vững ở một chiến trường có lợi. Ngọn lửa đấu tranh trên Tây Nguyên không ngừng sôi động. Tính chất ác liệt do bom đạn và mọi phương tiện kỹ thuật hiện đại của Mỹ - ngụy gây ra đã đưa cuộc chiến tranh ở khu vực núi rừng cao nguyên này tới đỉnh cao chưa từng có trong lịch sử. Nhưng quân và dân Tây Nguyên vẫn kiên trì chiến lược tiến công của mình, thực hiện khẩu hiệu "một tấc không đi, một ly không rời", không ngừng vận dụng nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, lập thế, tạo thời, sáng tạo ra nhiều hình thức tác chiến, nhiều chiến thuật phù hợp và buộc kẻ địch cũng phải tuân theo các cách đánh ấy. Nhờ đó, cuộc chiến đấu của quân dân Tây Nguyên đã có những chuyển biến mau lẹ. Đến đầu mùa Xuân năm 1975, ta đã tiêu diệt được nhiều quận lỵ, chi khu. Khu vực giải phóng được mở rộng vào sát các thị trấn, thị xã và đường giao thông chiến lược ở hầu hết các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Gia Nghĩa. Lực lượng cách mạng ở Tây Nguyên trưởng thành nhanh chóng, các lực lượng vũ trang nhân dân đã hình thành các binh đoàn binh chủng hợp thành tập trung lớn cùng các bộ đội cơ giới, vận tải, phòng không, được triển khai ở hầu hết các địa bàn quan trọng, đối diện và xen kẽ với địch. Song song với các khu giải phóng mở rộng và các lực lượng vũ trang của Tây Nguyên trưởng thành, mạng đường sá chiến lược vận chuyển quân sự cũng được xây dựng trên toàn Tây Nguyên. Đặc biệt tuyến đường nối liền Bắc - Nam chạy qua Tây Nguyên thông suốt, mở ra triển vọng bảo đảm cho đánh lớn, đánh tiêu diệt chiến lược trên các địa bàn chiến lược nói chung ở toàn miền Nam và địa bàn chiến lược nói riêng ở Tây Nguyên.


Bước vào chiến cục Xuân - Hè năm 1975, quân ta triển khai tiến công trên nhiều hướng chiến lược. Do vị trí chiến lược quân sự quan trọng của Tây Nguyên nên chiến trường này đã được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chọn làm hướng tiến công chủ yếu trong giai đoạn đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam Việt Nam. Tây Nguyên là chiến trường có dung lượng lớn, có điều kiện để tiến hành tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Quân địch ở đây lại yếu. Ta có thể thắng lớn và thắng nhanh. Giải phóng Tây Nguyên nhanh sẽ có điều kiện thuận lợi để tiến xuống đồng bằng ven biển miền Trung, chia cắt quân địch ở miền Nam Việt Nam ra làm đôi, tạo thời cơ chiến lược lớn để giành thắng lợi chiến lược lớn hơn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 07:59:11 am
Chương hai
CHUẨN BỊ CHIẾN DỊCH


Mùa Xuân 1975, chiến trường Tây Nguyên có thể tiếp nhận được một lực lượng lớn các binh đoàn, bộ đội binh chủng hợp thành là do nó đã chuẩn bị được điều kiện tốt từ trước. Chiến trường Tây Nguyên có dung lượng lớn không phải chỉ vì điều kiện địa lý của nó. Nếu không có sự phát triển mạnh của chiến tranh nhân dân, không chuẩn bị sẵn về các mặt vật chất và thiết bị chiến trường thì dù có điều kiện địa lý thuận lợi, khu cao nguyên rộng lớn này cũng không có được dung lượng lớn như thế.


Về mặt chuẩn bị vật chất và thiết bị chiến trường, mặt trận Tây Nguyên đã có sự chuẩn bị từ nhiều năm. Trải qua tác chiến và chuẩn bị, công tác xây dựng chiến trường mới được hoàn chỉnh từng bước.

Lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã cùng với nhân dân Tây Nguyên bám chặt, bám chắc mảnh đất chiến lược miền Tây này của Tổ quốc để chiến đấu giữ vững nó và xây dựng nó. Mồ hôi và xương máu đã vun xới, làm tăng thêm màu mỡ và tô thắm mảnh đất Tây Nguyên.


Lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã trải qua nhiều năm chiến đấu gian khổ với cách đánh độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, có nhiều cách đánh sáng tạo và phong phú. Quân dân Tây Nguyên ngày càng giành được thắng lợi, từng bước phát triển và củng cố địa bàn. Căn cứ ngày càng được mở rộng, có tính chất liên hoàn và vững chắc. Thế trận ngày càng vững mạnh và sâu hiểm.


Để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược lớn vào những năm 1974, 1975 và những năm sau đó, ngay sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri (1973), bộ đội Tây Nguyên đã cùng với binh đoàn vận tải chiến lược Quang Trung bắt tay vào việc tổ chức, thiết bị chiến trường bảo đảm cho hoạt động tác chiến của các binh đoàn lớn binh chủng hợp thành. Vấn đề đầu tiên mà tác chiến hiệp đồng binh chủng đặt ra là vấn đề đường sá cơ động của các bộ đội cơ giới, là việc chuyển quân bằng xe cơ giới và việc tiếp tế, vận chuyển vật chất, nhiên liệu bằng xe cơ giới và bằng đường ống.


Đến đầu năm 1975, đường trục chiến lược và đường ống đã xuyên qua khu căn cứ Tây Nguyên. Các khu kho, các trạm cấp phát, các trạm xe, các trạm xăng dầu, các đường dây thông tin và các trạm thông tin hữu tuyến, vô tuyến cũng đang mọc lên ở hai bên đường trục.


Việc tổ chức thiết bị chiến trường ở hậu phương, trong khu căn cứ của ta, tuy có cái dễ ở một mức độ nào đấy song vẫn có những cái khó của nó. Việc tổ chức thiết bị chiến trường ở bên sườn và sau lưng địch lại có nhiều cái khó hơn.


Ta thường dùng cách đánh hiểm để đánh địch. Ta đánh địch bằng cả lực và cả thế. Trên cái lực nhất định và trên một địa hình nào đó, quân ta lại hay đánh thắng địch bằng thế. Thắng bằng thế là một cách thắng hay.


Để tạo ra một thế trận hay, có lợi và hiểm, quân ta thường dùng cách đánh địch ở cả trước mặt, bên sườn và sau lưng chúng. Thế đánh ở bên sườn và sau lưng địch là thế đánh hiểm rất lợi hại. Muốn thế đánh đó mạnh, có tác dụng lớn thì phải đưa từng trung đoàn, sư đoàn vào chiến đấu, và chiến đấu có hiệp đồng binh chủng, có pháo binh cơ giới, pháo cao xạ cơ giới và có thể có cả xe tăng và xe bọc thép.


Thế đánh vào sườn và sau lưng địch ở chiến trường Tây Nguyên lại có ý nghĩa chia cắt về chiến lược Tây Nguyên với vùng đồng bằng ven biển miền Trung. Ý nghĩa đó thật lớn và quan trọng.

Hiểu được ý nghĩa đó, nhìn được trước, được xa các bước đi của chiến lược, năm 1974 Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên đã điều trung đoàn 95 sang chiến đấu trên đường số 19 ở đoạn từ phía đông thị xã Plây Cu đến phía tây thị trấn An Khê. Muốn trung đoàn có sức chiến đấu mạnh, cần tăng cường biên chế cho trung đoàn, có cả pháo binh cơ giới. Việc đưa một trung đoàn tăng cường sang chiến đấu ở đường số 19 đã đẻ ra nhiều vấn đề về công tác hậu cần; đưa thêm pháo binh cơ giới sang nữa thì lại đẻ ra nhiều vấn đề phức tạp hơn.


Vấn đề đầu tiên là phải làm một con đường cho xe cơ giới từ hậu phương của ta ở Kon Tum đến phía bắc đường số 19. Đường này đi qua phía đông thị xã Kon Tum, cách thị xã khoảng 20km, nên quân địch quyết tâm đánh phá, ngăn chặn. Trung đoàn 7 công binh anh hùng được giao làm con đường mang tên 220 này, và Sư đoàn 10 được giao nhiệm vụ bảo vệ đường.


Các trung đoàn thuộc Sư đoàn 10, trung đoàn 95 và trung đoàn 7 công binh phải đánh mấy đòn trừng trị nặng, bắt sống một số tên thiếu tá ngụy chỉ huy các liên đoàn biệt động quân, mới chặn đứng được quân ngụy ở trong thị xã Kon Tum, không cho chúng bén mảng đến con đường này.


Con đường 220 là nguồn sống hùng hậu, là chất tăng lực cho sức chiến đấu của trung đoàn 95, các đội pháo binh cơ giới, các đội pháo hỏa tiễn, các đội đặc công và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai ở phía bắc đường 19. Dòng xe ô tô chảy đều trên đường 220 đã giải quyết những vấn đề cơ bản về tiếp tế hậu cần. Nhưng để giữ chủ động và đề phòng bất trắc, trung đoàn 95 còn đưa sang trước một số lực lượng trồng sắn, khoai... tự tạo ra cho mình một nguồn hậu cần tại chỗ. Nếu nguồn gạo trên đường 220 bị trắc trở thì rẫy sắn, nương khoai sẽ là nguồn thay thế. Đây là một chủ trương hay, nhìn xa thấy trước. Cách nhìn này đã được xây dựng và rèn luyện từ mấy năm trước đây cho mọi chiến sĩ Tây Nguyên, ở Tây Nguyên, đánh giặc và sản xuất luôn luôn có sự gắn bó chặt chẽ. Các chiến sĩ Tây Nguyên đã tạo ra những nương, rẫy lúa, ngô, khoai, sắn... xanh rờn, rồi đứng vững ở đó mà đánh giặc. Nương rẫy mọc lên ở trong khu căn cứ, rồi nương rẫy đi cùng bước chân anh bộ đội, tiến ra ven các đường 14, 19, 21 và cả ven các thị trấn, thị xã.


Ven đường 14, bên cạnh đồn bốt địch 10km, đã mọc lên nương rẫy của bộ đội công binh đánh đường giao thông thuộc tỉnh đội Kon Tum. Những củ sắn, bắp ngô tại chỗ đã cùng với những trái mìn, quả đạn B.40 góp phần lập nên những chiến công diệt xe cơ giới của địch trên đường 14.


Ở phía tây thị xã Plây Cu, cách sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy khoảng 25 - 30km, nương rẫy của tiểu đoàn 631 đã vươn lên xanh tốt trước mắt quân thù. Các chiến sĩ tiểu đoàn 631 đã dựa vào đó, đồng thời bén rễ chắc trong nhân dân để mở những đòn tập kích táo bạo vào các mục tiêu quân sự trong thị xã Plây Cu.


Kinh nghiệm về sự gắn bó giữa tác chiến và sản xuất đã gợi cho các chiến sĩ Tây Nguyên một ý niệm quân sự về sản xuất. Người chiến sĩ Tây Nguyên coi sản xuất như một thành phần của tác chiến, như một thế tác chiến, ở đâu có sản xuất thì có điều kiện tốt hơn, thuận lợi hơn để tác chiến, nhất là những đơn vị bộ đội chiến đấu ở sâu trong trận địa của địch. Thế trận sản xuất phát triển nhịp nhàng với thế trận tác chiến. Muốn phát triển thế trận quân sự cho sâu hiểm, cần có sự phát triển của thế trận sản xuất, có khi thế trận sản xuất phải đi trước một bước. Thế trận sản xuất cũng phải có tư tưởng tiến công như thế trận tác chiến.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 08:00:09 am
Xây dựng chiến trường là một công trình. Tạo ra dung lượng, tạo ra thế trận là do công tác tổ chức và xây dựng của con người quyết định. Trải qua tác chiến và xây dựng trong điều kiện chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ, quân dân Tây Nguyên đã tạo điều kiện thắng lợi cho đòn tiến công đầu tiên của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Do ý nghĩa quan trọng của chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu của cuộc tiến công chiến lược, do hoàn cảnh chiến trường rộng và có nhiều binh đoàn, các đơn vị bộ đội pháo binh, cao xạ, tên lửa, xe tăng, công binh, thông tin, vận tải cơ giới... của Bộ Tổng tư lệnh tham chiến nên Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định cử một đồng chí đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, và tổ chửc Sở chỉ huy tiền phương của Bộ để trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Có sự chỉ đạo trực tiếp của trên, với những ý kiến chỉ đạo kịp thời, sâu sắc và mạnh bạo, các đồng chí trong Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên càng thêm vững tâm trong công tác chỉ huy bộ đội giành thắng lợi lớn cho chiến dịch.


Bộ tư lệnh chiến dịch và cơ quan Bộ tư lệnh chiến dịch cũng hình thành nhanh chóng, trên cơ sở lấy Bộ tư lệnh và cơ quan Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên làm nòng cốt. Bộ tư lệnh chiến dịch gồm nhiều cán bộ có kinh nghiệm trong các mặt công tác quân sự khác nhau, nên có sức mạnh và khả năng giải quyết tốt các vấn đề tác chiến cũng như các vấn đề hậu cần, vận tải, v.v...


Bên canh Bộ tư lệnh chiến dịch có đồng chí ủy viên thường vụ khu ủy đại diện khu ủy Khu 5, cùng một bộ phận cơ quan giúp việc. Đi sát với các hướng chiến dịch lại có các ban chỉ đạo tác chiến của các tỉnh ủy Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum. Từ lúc chuẩn bị, mở đầu đến lúc kết thúc chiến dịch, các đồng chí đã thường xuyên cung cấp tình hình, đóng góp ý kiến và cùng Bộ tư lệnh chiến dịch kịp thời giải quyết được những vấn đề cấp bách nảy sinh trong quá trình phát triển của chiến dịch.


Để tăng cường cho cơ quan Bộ tư lệnh chiến dịch, Bộ Tổng tư lệnh cũng điều đến nhiều cán bộ cao cấp, trung cấp của các binh chủng pháo binh, cao xạ, thông tin, công binh, xe tăng và cán bộ ở cơ quan Bộ, các học viện và nhà trường.


Sau khi Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh có ý định rõ ràng về hướng tác chiến chiến lược và mục tiêu cụ thể của chiến dịch, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã tập trung mọi cố gắng, nhanh chóng hoàn thành tốt mọi công tác chuẩn bị tác chiến.


Tuy phải trực tiếp chỉ đạo mọi mặt công tác hết sức phức tạp - từ điều quân, cơ động lực lượng, làm đường đến vận chuyển vật chất, bố trí kho tàng... - Bộ tư lệnh chiến dịch vẫn nắm chắc công tác trung tâm số một là xây dựng quyết tâm chiến dịch, phương án tác chiến chiến dịch và các trận đánh then chốt, quyết định của chiến dịch.


Trên cơ sở quyết tâm chính thức của Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dỊch, trong ba ngày 17, 18, 19 tháng 2 năm 1975, một hội nghị mở rộng đã họp bàn để xác định phương án tác chiến chiến dịch chính thức.


Hội nghị đã dành nhiều thời gian thảo luận, phân tích và đi đến những kết luận chính xác về so sánh lực lượng hai bên, về sử dụng lực lượng bố trí thế trận và vận dụng cách đánh hiệp đồng binh chủng như thế nào cho thích hợp.


Về địch: Chỉ tính quân chủ lực và bảo an, số lượng địch trên chiến trường Tây Nguyên đến lúc bấy giờ vẫn có: quân đoàn bộ quân đoàn 2; sư đoàn 23 gồm ba trung đoàn (44, 45, 53); 7 liên đoàn quân biệt động (21, 22, 23, 24, 25, 4, 6) - mỗi liên đoàn tương đương với một trung đoàn; 36 tiểu đoàn bảo an; 4 thiết đoàn xe tăng - xe bọc thép, có 12 chi đoàn khoảng 380 - 400 xe; 8 tiểu đoàn, 7 đại đội, 25 trung đội pháo binh khoảng 230 khẩu pháo; 1 sư đoàn không quân (không đoàn 702), có 4 phi đoàn khoảng 150 chiếc máy bay (có 24 máy bay chiến đấu). Khi tác chiến, địch có thể tăng viện từ 1 sư đoàn thiếu đến 1 sư đoàn của quân khu 2, và có thể có 1 lữ đến 1 sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị.


Với số đơn vị trên, địch rải ra phòng ngự các khu vực trên toàn địa bàn Tây Nguyên, lấy khu vực thị xã Plây Cu và Kon Tum làm hướng phòng ngự chủ yếu do lực lượng chủ yếu của quân đoàn 2 phòng ngự.


Về ta: Quân ta đã tập trung một lực lượng quân chủ lực đông hơn chủ lực địch. Tuy còn những nhược điểm nhất định về trình độ tổ chức, chỉ huy và tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhưng bộ đội ta có nhiều đơn vị thiện chiến, có kinh nghiệm hoạt động ở Tây Nguyên, đồng thời lại được sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh cũng như được sự chi viện rất đắc lực của các binh đoàn vận tải chiến lược. Các đơn vị bộ đội, cả chủ lực và địa phương đều rất tin tưởng vào thắng lợi và có quyết tâm chiến đấu rất cao.


Cuộc đối chọi sẽ diễn ra ở đây giữa ta và địch chủ yếu là cuộc đối chọi giữa các binh đoàn chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng của hai. bên. Vì vậy, để tiêu diệt bằng được tập đoàn chủ yếu của quân đoàn 2 ngụy, cuộc chiến đấu của ta nhất định sẽ gay go quyết liệt; ít nhất ta cũng phải thực hiện vài ba trận đánh lớn then chốt.


Căn cứ vào nhiệm vụ chiến dịch trên giao, quân ta phải tiêu diệt địch, giải phóng Tây Nguyên rồi tiến xuống đồng bằng ven biển - hướng chính trong giai đoạn đầu của cuộc Tổng tiến công. Để giải phóng Tây Nguyên, một vấn đề đật ra là: phải đánh vào thị xã và thành phố. Mặc dầu địch chủ quan đánh giá sai lầm, cho rằng ta chưa đủ khả năng đánh thị xã và thành phố, song ta vẫn phải có sự cân nhắc, tính toán kế hoạch cho chật chẽ, chu đáo để bảo đảm đánh chăc thắng. Tuy ta đã giải phóng thị xã Phước Long và đã rút ra được những kinh nghiệm cần thiết, song đó mới chỉ là thị xã loại nhỏ. Ở Tây Nguyên, ta sẽ phải đánh vào những thị xã lớn hơn.


Như trên đã nói, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm điểm đánh trận mở đầu và cũng là một trận then chốt quyết định của chiến dịch Tây Nguyên.

Trước đó, do những điều kiện cụ thể của chiến trường nên trong cán bộ đã có sự cân nhắc lợi hại giữa Buôn Ma Thuột và Kon Tum, xem nên chọn thị xã nào làm điểm tiến công. Có ý kiến cho rằng nên chọn điểm tiến công vào thị xã Kon Tum vì ta đã từng đánh thị xã này năm 1972, tuy chưa thành công nhưng qua đó ta cũng hiểu địch, nắm được địa hình và có kinh nghiệm nhất định; hơn nữa, hiện nay quân ta lại đang áp sát thị xã, trực tiếp đối diện với địch, đường sá cơ động từ hậu phương tối thuận tiện, nói chung ở đây ta có điều kiện chuẩn bị dễ dàng và giữ được bí mật. Còn thị xã Buôn Ma Thuột thì nằm sâu trong vùng địch kiểm soát, ta chưa hiểu biết được mấy về địch và địa hình, đường cơ động lại xa, bảo đảm hậu cần gặp nhiều khó khăn, kéo quân và chuyển quân từ Kon Tum xuống Buôn Ma Thuột sẽ gặp trở ngại, do đó dễ bị lộ bí mật...


Tuy nhiên, căn cứ vào những hoạt động của ta và địch trên chiến trường, với những ý kiến phân tích khách quan khoa học, hội nghị cán bộ đã hoàn toàn nhất trí với quyết định của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm điểm tiến công.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 08:01:02 am
Xét về hình thái chiến trường, thị xã Kon Tum là một khu vực phòng ngự của địch nằm nhô ra trên đoạn đầu của tuyến phòng ngự chiến lược Tây Nguyên. Sau Hiệp định Pa-ri, đối diện với thị xã này là vùng giải phóng của ta, có bộ đội chủ lực mạnh bố trí bám sát. Địch cho rằng nếu đánh Tây Nguyên ta sẽ đánh phía bắc, nên chúng tập trung lực lượng để giữ Kon Tum và Plây Cu. Quân địch phòng ngự khu vực thị xã Kon Tum không những luôn luôn được tăng cường về mặt bố phòng mà còn được bố trí lực lượng mạnh hơn so với thị xã Buôn Ma Thuột. Vì vậy, nếu chọn thị xã Kon Tum làm trận then chốt và trận mở đầu chiến cục mùa Xuân 1975 thì có nghĩa là sẽ đánh vào một kẻ địch luôn luôn có bố phòng cẩn mật, đánh váo một khu vực phòng ngự nhô ra, không phải là một điểm cơ động để từ đấy có thể phát triển tiến công đi các hướng, nói chung rất ít có liên quan về chiến dịch và chiến lược với toàn bộ chiến trường. Mặc dầu tại khu vực này ta có một số thuận lợi cho việc chuẩn bị tiến công, nhưng nếu chọn đây là điểm của chiến dịch thì không thích hợp, còn làm trận mở đầu thì không giành được thế bất ngờ vì địch đã có đề phòng, chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn cho ta. Mà nếu ta có quyết tâm khắc phục khó khăn để đánh chiếm được Kon Tum thì cũng không có hướng phát triển rộng và hiểm; muốn phát triển ta lại phải tổ chức tiến công tiếp vào tuyến phòng ngự chính, tức là vào thị xã Plây Cu, mới có điều kiện. Như vậy thì khó làm rung chuyển được chiến trường Tây Nguyên và các chiến trường lân cận.


Đặt vấn đề tiến công tiếp ngay một thị xã lớn hơn để lấy đà phát triển chiến dịch là vấn đề không đơn giản. Muốn hay không muốn thì khi mất Kon Tum, địch ở Plây Cu cũng phản ứng quyết liệt. Ta chưa đánh chiếm được Plây Cu thì địch vẫn còn khả năng tăng cường cố thủ Plây Cu, kết hợp với quân tăng viện đường không phản kích lại, không phải chỉ phản kích một lần mà có khả năng phản kích nhiều lần, tình huống sẽ diễn ra rất phức tạp. Như vậy, chiến dịch dễ lâm vào tình trạng bế tắc, không phát triển được. Cho nên chọn thị xã Kon Tum làm điểm đánh trận đầu là không hay.


So sánh với thị xã Kon Tum thì thị xã Buôn Ma Thuột nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch. Buôn Ma Thuột có 120.000 dân, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Tây Nguyên và cũng là nơi tập trung bọn đầu sỏ phản động ở vùng này. Về quân sự, thị xã Buôn Ma Thuột có vị trí rất cơ động, đứng ngay ở ngã ba đường chiến lược số 21 nối liền với Nha Trang và đường số 14, phía bắc đi Cheo Reo và Plây Cu, phía nam đi Gia Nghĩa và miền Đông Nam Bộ. Do nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch nên quân chiếm đóng ở đây không bị đối mặt trực tiếp với quân ta như ở Kon Tum. Tuy chúng có đặt hậu cứ của sư đoàn 23 ở đây, nhưng so sánh tổng số lực lượng chiến đấu thì ít hơn Kon Tum, về mặt bố phòng cũng không chặt chẽ bằng.


Đánh Buôn Ma Thuột, ta sẽ có khó khăn trong công tác trinh sát nắm địch, nắm địa hình, vận chuyển vật chất hậu cần và cơ động tập kết, triển khai lực lượng. Mọi hoạt động chuẩn bị cho các công tác trên phải làm rất công phu và phải tuyệt đối giữ bí mật, kết hợp với hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý và đối phó của địch về hướng khác thì mới loại bỏ được khả năng địch tăng cường dự phòng. Tuy nhiên, dù công tác chuẩn bị có khó khăn và công phu thật song ta vẫn có khả năng khắc phục, vì điều kiện khắc phục hoàn toàn do nỗ lực chủ quan của ta quyết định.


Quyết tâm chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm trận đánh then chốt, trận đánh mở đầu là rất chính xác, làm một đòn đánh hiểm, nhằm vào chỗ sơ hở, điểm yếu của địch. Đánh chiếm được Buôn Ma Thuột, ta sẽ tạo được đà để nhanh chóng phát triển lực lượng xuống các tỉnh ven biển miền Trung, và tùy tình hình lúc đó sẽ phát triển được lực lượng xuống miền Đông Nam Bộ, hay phát triển tiến công thị xã Plây Cu. Một khi đã tạo ra được đà phát triển thì cũng tức là đã làm chuyển biến tình thế chiến lược, mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược toàn miền Nam của địch, cô lập quân địch còn lại ở quân khu 2 và trực tiếp uy hiếp quân khu 3 của chúng. Ý nghĩa quan trọng của việc đánh Buôn Ma Thuột là tạo thế phát triển tiến công ra các hướng hiểm yếu và quan trọng khác.


Với thế trận đánh chia cắt, ta đã cài sẵn được lực lượng, thì khi đánh thị xã Buôn Ma Thuột, địch khó có thể cơ động được lực lượng đến phản kích bằng đường bộ như ở Kon Tum. Địch có thể cơ động được lực lượng đến phản kích bằng đường không, song khó đưa lực lượng lớn đến ngay được. Và khi đã mất Buôn Ma Thuột thì dù địch ra phản kích bằng đường không lớn hay nhỏ, nhanh hay chậm hoặc có thể gây cho ta những khó khăn nhất định, chúng vẫn không cản được đà phát triển của quân ta ra các hướng. Nếu dự kiến được kế hoạch chu đáo, nắm chắc lực lượng dự bị và sẵn sàng cơ động, ta có khả năng tiêu diệt quân phản kích nhanh gọn.


Như vậy là mọi người đã nhanh chóng nhất trí về nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của chiến dịch.

Để thực hiện các đòn chiến dịch, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch đề ra ý định tác chiến như sau:

Trước hết nhử địch, kéo địch về Plây Cu - Kon Tum rồi hãm địch ở đó, làm cho Buôn Ma Thuột bị sơ hở để ta tiêu diệt một cách dễ dàng và ít bị tổn thất. Tiếp đó, ta tiến công Cheo Reo (Phú Bổn) rồi đến Gia Nghĩa (Quảng Đức) giải phóng ba tỉnh ở phía nam để mở ra khu vực rộng lớn có lợi, tạo điều kiện và thời cơ phát triển tiến công đi các hướng khác. Trong quá trình này, ta vừa trói chặt vừa tiến công tập đoàn chủ yếu của địch ở Plây Cu - Kon Tum làm cho chúng bị suy yếu mòn mỏi, rồi bất ngờ tiêu diệt chúng một cách nhanh chóng.


Theo phương án tác chiến của chiến dịch, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch đã kết luận là phải bố trí lực lượng hình thành một thế trận "trói địch lại mà đánh", nghĩa là thế trận hoàn toàn chủ động tiến công địch, buộc địch phải bị động đối phó theo cách đánh của ta và loại trừ tình huống địch tăng viện lớn theo đường bộ đến trong lúc ta đang giải quyết các mục tiêu chính của chiến dịch. Thế trận "trói địch lại mà đánh" ta lập ở Tây Nguyên hoàn toàn có cơ sở khách quan, vì nó căn cứ vào tình hình bố trí lực lượng và thế trận phòng ngự của địch ở vùng này.


Như ta đã biết, trên địa bàn Mỹ - ngụy còn kiểm soát được ở miền Nam, thế trận phòng ngự chiến lược của địch cho đến lúc ta chuẩn bị chiến dịch Tây Nguyên vẫn chưa có gì thay đổi: chúng vẫn bố trí lực lượng, giữ thế mạnh ở hai đầu. Ở địa bàn chiến lược quân khu 2, chúng vẫn bố trí lực lượng ít hơn các quân khu khác. Trong phạm vi quân khu 2, chúng lại tăng cường đại bộ phận chủ lực của quân khu cho Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành tuyến chiến lược thứ nhất, các tỉnh ven biển miền Trung từ Bình Định đến Bình Thuận là tuyến chiến lược thứ hai. Ý đồ phòng ngự chiến lược của địch bộc lộ khá rõ ràng:

- Một là dùng Tây Nguyên làm tuyến cơ bản để thực hành tác chiến phòng ngự từ vòng ngoài, án ngữ và ngăn chặn không cho ta phát triển tiến công xuống các tỉnh miền Trung.

- Hai là lợi dụng tính chất phân cắt của địa hình Tây Nguyên để tổ chức phòng ngự khu vực trên toàn tuyến phòng ngự chiến lược này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 08:01:50 am
Với cách tổ chức trên, địch định lợi dụng dung lượng chiến trường lớn của Tây Nguyên để triển khai tại chỗ binh lực lớn và vũ khí kỹ thuật. Nếu như Tây Nguyên là tuyến thứ nhất đồng thời là tuyến cơ bản để chống cự với ta thì các tỉnh ven biển miền Trung là tuyến thứ hai đồng thời là tuyến hậu phương. Tuyến hậu phương ven biển có hai con đường chiến lược số 19 và số 21 nối liền với Tây Nguyên và được tuyến Tây Nguyên nằm án ngũ trên hai con đường đó che chở an toàn. Vì lẽ đó nên địch có thể bớt lực lượng ở tuyến hậu phương để tăng cường bố trí cho tuyến thứ nhất, thường xuyên tiếp tế vận chuyển hậu cần, khi cần thiết và có điều kiện thì tăng viện cho nó.


Thế nhưng, dù địch có khôn ngoan mấy đi nữa cũng không tránh khỏi những nhược điểm của một thế trận phòng ngự bị động và chắp vá, mạnh tuyến ngoài, yếu tuyến trong, có tung thâm sâu nhưng trống rỗng. Đành rằng địch có thể ỷ lại vào phương tiện chuyên chở nên có khả năng cơ động tăng viện, song yếu tố bên ngoài không thể thay thế cho yếu tố bên trong, thế trận của chúng là thế trận đảo ngược. Trước thế trận đó, nếu ta đánh chia cắt hai con đường chiến lược 19 và 21 thì quân khu 2 của địch sẽ trở thành hai khu riêng biệt, không liên hệ được với nhau. Và nếu ta áp sát, bao vây chặt Tây Nguyên thì khu vực này sẽ bị cô lập hoàn toàn. Trường hợp đó, địch có thể lập một cầu hàng không để vận chuyển tiếp tế và cơ động lực lượng tổng dự bị đến tăng viện, nhưng chúng khó mà thực hiện được khả năng vô cùng tốn kém này giữa lúc quân dân ta đang vừa tiến công vừa nổi dậy trên khắp các chiến trường với khí thế ngút trời. Thảng hoặc, chúng cũng có thể dốc hết sức ra để thực hiện được phần nào song lại rất dễ bị quân ta chặn đánh hoặc tiêu diệt.


Đối với hệ thống phòng ngự khu vực của địch trên chiến trường Tây Nguyên, ta cần nghiên cứu kỹ từng khu vực cụ thể để sử dụng lực lượng và vận đụng cách đánh cho thích hợp. Tuy nhiên, nếu xét toàn tuyến Tây Nguyên, được hình thành bởi các khu vực phòng ngự, thì rõ ràng kẻ địch ở đây đã bộc lộ những chỗ trống hoặc những kẽ hở của nơi tiếp giáp giữa hai khu vực. Ta có thể lợi dụng những chỗ trống và những kẽ hở đó để thực hành chia cắt quân địch ở Tây Nguyên ra làm nhiều mảng và bao vây chặt chúng ở từng khu vực để tiêu diệt.


Thế trận "trói địch lại mà đánh" ta lập ở Tây Nguyên đã hình thành trên cơ sở phân tích tình hình địch nói trên. Với tư tưởng triệt để lợi dụng những chỗ yếu và sơ hở của địch, đó là thế trận "chia cắt, vây hãm, vừa hãm vừa tiến công đột phá, vừa bí mật vừa nghi binh".


- Thế chia cắt: trong chiến dịch có hai thứ chia cắt - chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch.

Chia cắt chiến lược là chia cắt giữa tuyến Tây Nguyên với tuyến hậu phương các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, nhằm cô lập Tây Nguyên với các chiến trường khác ở miền Nam. Mục tiêu chia cắt là đường chiến lược số 19 và đường chiến lược số 21.


Chia cắt chiến dịch là chia cắt giữa các khu vực phòng ngự với nhau trên chiến trường Tây Nguyên, chia cắt nam và bắc Tây Nguyên, làm cho các khu vực không liên hệ và chi viện được cho nhau, nhằm cắt và giữ tập đoàn chủ yếu của địch ở Plây Cu - Kon Tum, làm cho Buôn Ma Thuột sơ hở và cô lập để ta dễ tiêu diệt.


Ta đã từng có kinh nghiệm thực tiễn về chia cắt địch. Năm 1972, ta dùng 2 trung đoàn đánh chia cắt, giữ đường số 14 suốt 68 ngày rồi tự động rút, địch không làm gì được. Trên đường số 13, ta dùng một sư đoàn đánh chia cắt, chốt giữ Tàu Ô - Chơn Thành từ tháng 3 năm 1972 đến tháng 1 nâm 1973, vừa đúng 10 tháng, đến lúc ký Hiệp định Pa-ri địch cũng không chọc thủng được.


Trong chiến dịch này, ý định chia cắt địch có tầm quan trọng đặc biệt mà ta phải đạt bằng được. Để chia cắt đường số 19, Bộ Tổng tư lệnh cho 1 sư đoàn của Quân khu 5 đảm nhiệm chia cắt đoạn từ Phú Phong đến An Khê (Bình Định), 1 trung đoàn của lực lượng chiến dịch đảm nhiệm đoạn từ Côn Tầng đến A Dun (Gia Lai). Để chia cắt đường số 21, 1 trung đoàn khác của lực lượng chiến dịch đảm nhiệm đoạn đông - tây Chư Cúc thuộc địa phận huyện Khánh Dương. Đặc biệt trên đường số 14, 1 sư đoàn mạnh của lực lượng chiến dịch vừa đảm nhiệm đánh chia cắt đoạn Cẩm Ga - Thuần Mẫn nhằm cắt đứt sự liên hệ của địch giữa Plây Cu với Buôn Ma Thuột, cô lập Buôn Ma Thuột, đồng thời lại đảm nhiệm tiêu diệt quân tăng viện từ Plây Cu xuống Buôn Ma Thuột và sẵn sàng làm lực lượng cơ động cho chiến dịch.


Để đối phó với lực lượng quân ta đánh chia cắt, không tính thời gian chỉ tính lực lượng, thì trên đường số 19 muốn giải tỏa được giao thông, ít nhất quân địch cũng phải đưa ra khoảng 2 sư đoàn; trên đường số 21 ít nhất cũng phải đưa ra 1 sư đoàn. Còn trên đường số 14, nếu chỉ có lực lượng của địch ở Tây Nguyên thôi thì chúng không có cách gì qua nổi. Ta có thể khẳng định rằng đây là đòn hiểm, xuyên cắt sống lưng địch ra làm hai phần.


Thực hiện được thế trận đánh chia cắt trên, ta có khả năng loại trừ được tình huống quân địch từ chiến trường ven biển lên tăng viện cho Tây Nguyên bằng đường bộ, hoặc cơ động lực lượng từ khu vực này sang khu vực khác trên chiến trường Tây Nguyên. Nhưng chúng vẫn có thể có khả năng tăng viện bằng đường không, tuy lực lượng tăng viện không lớn. Vì vậy, các lực lượng đánh chia cắt phải dự kiến được trước khu vực địch đổ bộ, có kế hoạch tác chiến trên hướng đánh chia cắt và sẵn sàng có lực lượng cơ động phối hợp với binh đoàn dự bị của chiến dịch để nhanh chóng tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 08:03:46 am
- Thế vây hãm, vừa vây hãm vừa tiến công, đột phá: trong chiến dịch có cả vây hãm về chiến dịch, có cả vây hãm về chiến thuật.

Vây hãm về chiến dịch là vây hãm cô lập chiến trường Tây Nguyên, vây hãm về chiến thuật là vây hãm mục tiêu định tiến công tiêu diệt. Giữa vây hãm chiến dịch và vây hãm chiến thuật thì vây hãm về chiến dịch phải được thực hiện trước một bước. Trong vây hãm chiến thuật có thể có mục tiêu phải hình thành vây hãm trước rồi mới tiến công, đột phá và cũng có thể có mục tiêu phải thực hiện vây hãm trong quá trình tiến công, đột phá.


Do đó vây hãm phải kết hợp chặt chẽ với tiến công, đột phá; thực hành vây hãm phải tạo cho được bàn đạp tiến công và thời cơ tiến công, đột phá. Phải vây hãm được địch rồi mới tiến công, đột phá và ngược lại phải tiến công, đột phá mãnh liệt để tạo điều kiện phát triển vây hãm trong trường hợp mục tiêu định vây hãm tiếp phải hình thành trong quá trình tiến công, đột phá.


Thực hiện được vây hãm tức là ta đã trói địch lại mà đánh. Một kẻ địch đã bị trói như vậy thì chỉ còn con đường đầu hàng hay tháo chạy, hoặc để ta tiêu diệt đến tên cuối cùng mà thôi.

So sánh chung lực lượng ta với địch trên toàn chiến trường thì có mặt ta hơn địch không nhiều, có những mặt ta lại kém địch. Thế nhưng, thực tiễn chiến đấu đã chứng minh: khi địch sa vào thế vây hãm, chia cắt của ta thì ngay từ giai đoạn đầu của chiến dịch, ta đã tập trung được ưu thế lực lượng so với địch ở khu vực chủ yếu. Trận Buôn Ma Thuột, so sánh lực lượng đôi bên, ta thấy: về bộ binh, ta 5,5 - địch chỉ có 1; về xe tăng, xe bọc thép, ta 1,2 - địch 1; về pháo lớn, ta 2,1 - địch 1. Nếu trong quá trình phát triển chiến dịch, thế trận bao vây chia cắt vẫn vững vàng, ta tiến công quân địch ở chỗ nào diệt gọn chúng ở chỗ đó, thì ta còn có thể cơ động tập trung lực lượng lớn hơn để thực hiện tiến công hợp điểm vào mục tiêu lớn hơn nữa, và cứ như thế tăng dần sự tập trung lực lượng, lần lượt tiêu diệt đến tên địch cuối cùng một cách thuận lợi mà chúng không có cách gì cứu vãn nổi.


- Bí mật, nghi binh: nghi binh phải tiến hành song song với giữ bí mật.

Trong chiến dịch, ta dùng 1 sư đoàn (thiếu) làm nhiệm vụ nghi binh thu hút địch ở hướng Kon Tum và Plây Cu. Hoạt động nghi binh phải phối hợp chặt chẽ với hoạt động đánh chia cắt địch làm chúng hoang mang, phán đoán sai lầm, phân tán sự đối phó và khi đã biết được đích xác hướng tiến công của ta thì chúng cũng không còn cách gì chống đỡ được nữa.


Thế trận của chiến dịch là một thế trận hoàn chỉnh. Ta phải bí mật triển khai lực lượng để hình thành thế trận đó. Giữa chia cắt, vây hãm, tiến công và nghi binh phải có sự kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ trực tiếp cho nhau để tạo ra thời cơ cho chiến dịch. Đương nhiên, chiến dịch phát triển được thuận lợi hay không còn tùy thuộc vào nghệ thuật chỉ huy và hành động của các binh đoàn, bộ đội binh chủng hiệp đồng chiến đấu. Song bày được một thế trận hay là cơ sở cho người chỉ huy chủ động điều khiển chiến dịch biến hóa nhịp nhàng, trong quá trình diễn biến của chiến dịch có thể nhanh chóng khắc phục được những khó khăn do địch chống cự gây ra và luôn luôn tạo ra được tình thế mới, thời cơ mới thuận lợi hơn.


Bày được thế trận đó ở Tây Nguyên tức là ta đã thực hiện mưu kế của ta nhằm đạt được ý đồ dùng vài ba đòn chiến dịch để tiêu diệt quân đoàn 2 địch và giải phóng Tây Nguyên.

Về phương án đánh Buôn Ma Thuột - trận mở đầu then chốt của chiến dịch Tây Nguyên, chúng ta đã chuẩn bị rất kỹ.

Xuất phát từ nhiệm vụ chiến dịch, đặc điểm tình hình ta - địch, điều kiện chiến trường... đặc biệt là căn cứ vào sự phân tích thủ đoạn phòng ngự và biện pháp tăng cường dự phòng của địch, ta đã đề ra hai phương án tác chiến để bảo đảm đánh chắc thắng.


Phương án 1: Đánh quân địch chưa có phòng ngự dự phòng.

Như ta đã biết, lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột cơ bản gồm có các đơn vị chủ lực: 1 trung đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh; các căn cứ: hậu cứ sư đoàn 23 và các đơn vị trực thuộc, hậu cứ trung đoàn 45 bộ binh, hậu cứ trung đoàn 8 thiết giáp, hậu cứ trung đoàn 232 pháo binh; sân bay thị xã; các đơn vị địa phương: 2 đại đội bảo an, 9 trung đội dân vệ, 800 cảnh sát các loại, các lực lượng bảo an, dân vệ quận lỵ chi khu, ấp chiến lược và trung đoàn 23 (thiếu) cùng lính bảo vệ ở sân bay Hòa Bình. Tổng cộng khoảng 8.410 tên.


Trong quá trình ta tiến công vào Buôn Ma Thuột, địch có thể cơ động đến thêm 2 - 3 trung đoàn hoặc liên đoàn quân biệt động. Nhưng trong điều kiện ta khóa được đường bộ, địch phải cơ động bằng đường không, thì sau khi ta nổ súng từ 2 đến 3 ngày, địch mới có thể cơ động đến 1 trung đoàn và sau 3 đến 5 ngày mới có thể cơ động đến trung đoàn thứ hai.


Nếu đến ngày N (ngày quy định nổ súng của cấp trên) tình hình địch vẫn không có gì thay đổi thì các lực lượng của ta tham gia trận đánh gồm có:

- 1 sư đoàn tăng cường (Sư đoàn 316 tăng cường trung đoàn 95A và tiểu đoàn 5 của Sư đoàn 10),

- 1 trung đoàn đặc công (trung đoàn 198),

- 2 trung đoàn cao xạ (trung đoàn 232 và trung đoàn 234),

- 2 cụm pháo binh (trung đoàn 40 và trung đoàn 675),

- 2 trung đoàn công binh (trung đoàn 7 và trung đoàn 575),
   
- 1 trung đoàn xe tăng - xe bọc thép (trung đoàn 273),

- 1 trung đoàn thông tin (trung đoàn 29).

Ta dùng cách đánh như sau: đánh bên ngoài thị xã kết hợp với đánh trực tiếp vào thị xã, lấy đánh trực tiếp vào thị xã làm chủ yếu; kết hợp đột phá với đặc công luồn sâu, bộ binh và xe tăng - xe bọc thép thọc sâu, chia cắt và cô lập địch ra từng khu vực, dùng đột phá kết hợp với thọc sâu làm chủ yếu để tiêu diệt địch.


Trong thị xã có 5 khu vực mục tiêu: sân bay thị xã, trận địa pháo binh - thiết giáp, tiểu khu Đắc Lắc, sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy với các phân đội trực thuộc, khu kho Mai Hắc Đế. Sở chỉ huy sư đoàn 23 được xác định là mục tiêu chủ yếu, tiểu khu Đắc Lắc và trận địa pháo binh - thiết giáp là mục tiêu quan trọng.


Ngoài thị xã có các khu vực mục tiêu liên quan, trực tiếp bảo vệ thị xã gồm: hậu cứ trung đoàn 45 thuộc sữ đoàn 23 ờ dọc hai bên đường 21 cách thị xã 2km về phía đông; sân bay Hòa Bình và hậu cứ trung đoàn 53 thuộc sư đoàn 23 ở cách thị xã 5km vẽ phía đông, đông - nam và các điểm cao Chư Duê, Chư E Bua, 596, 491,... cùng các ấp chiến lược ở sát xung quanh thị xã.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 08:04:55 am
Căn cứ vào hình thái bố trí phòng ngự, tính chất các mục tiêu của địch và tình hình địa hình, ta xác định ba hướng tiến công: hướng bắc, hướng tây - nam và hướng nam, lấy hướng bắc làm hướng chủ yếu.


Về đội hình chiến đấu, ta tổ chức thành bốn mũi tiến công và một đội dự bị mạnh. Khi thông qua, Bộ chỉ huy tiền phương, Bộ Tổng tư lệnh có bổ sung thêm một mũi thọc sâu nữa là năm mũi. Các mũi tiến công đều tổ chức lực lượng đột kích bằng binh chủng hợp thành cỡ tiểu đoàn, trung đoàn, trang bị tương đối mạnh. Trong năm mũi tiến công thì bốn mũi có xe tăng - xe bọc thép (đông - bắc, tây, tây - bắc và tây - nam). Còn mũi vào hướng đông - nam do phải cơ động xa, qua nhiều địa hình phức tạp, nên không tổ chức xe tăng cùng đi được. Để thực hiện cách đánh và giữ bí mật, các mũi đột kích không bố trí sẵn ở vị trí xuất phát tiến công mà tập kết ở một đia điểm cách mục tiêu tiến công từ 15 - 20 - 25km. Trong khi đó, ta tổ chức các đơn vị đặc công, bộ binh luồn sâu, ém sẵn, đánh chiếm một số mục tiêu xung yếu tạo thời cơ, đồng thời tổ chức một số trận địa pháo ĐKB, H12, dùng hỏa lực tập kích gây thiệt hại cho địch và tổ chức các đơn vị công binh, bí mật làm đường cơ động tới gần các khu vực mục tiêu tiến công địch.


Ta tổ chức phản chia nhiệm vụ và hành động hiệp đồng cho các đơn vị như sau:

- Các đơn vị đặc công, có bộ binh theo sau, luồn áp sát mục tiêu và được ưu tiên nổ súng trước, bất ngờ đánh chiếm sân bay thị xã phát triển vào chiếm và chốt Ngã Sáu trong thị xã; đánh chiếm khu kho Mai Hắc Đế và sân bay Hòa Bình, nhằm cắt ngay nguồn cung cấp vật chất và khả năng cơ động tăng viện hoặc tháo chạy bằng đường không của địch, đồng thời tạo điều kiện cho các lực lượng đột kích vận động vào chiếm lĩnh trận địa tiến công.

- Một số đơn vị bộ binh do các hướng phái ra, bí mật chiếm lĩnh trận địa, sau khi đặc công nổ súng thì tập kích đánh chiếm Chư E Bua, Chư Duê, điểm cao 491, 596 để làm bàn đạp hình thành thế bao vây tiến công địch.

Khi các đơn vị đặc công, bộ binh đánh chiếm các mục tiêu theo nhiệm vụ được phân công thì các đơn vị pháo binh dùng hỏa lực tập kích vào sở chỉ huy sư đoàn 23, khu trung tâm thông tin, tiểu khu Đắc Lắc gây cho địch thiệt hại, rối loạn chỉ huy và phải đối phó lúng túng.


Lợi dụng thời cơ địch đang phải đối phó với các hoạt động đặc công, tập kích, pháo kích của ta, các đơn vị công binh nâng cao hiệu suất bảo đảm đường sá vào sát thị xã, các mũi đột kích binh chủng hợp thành và các binh chủng kỹ thuật, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, nhanh chóng cơ động, công binh làm đường đến đâu cơ động ngay đến đó, bỏ qua các mục tiêu bên ngoài, áp sát ngay vào thị xã hình thành thế bao vây chặt, chuẩn bị chiến đấu khẩn trương rồi kết hợp chặt chẽ với thọc sâu bất ngờ tiến công, đột phá trận địa địch liên tục.


Do tình hình địch và địa hình có nhiều khó khăn phức tạp, cự ly vận động của các hưỏng xa gần khác nhau, nên thời gian xuất phát tiến công của các hướng không thống nhất. Hướng đông - bắc, tây - bắc có điều kiện thuận lợi, ở cự ly gần hơn thì vận động vào chiếm lĩnh trận địa, tổ chức tiến công đánh chiếm ngay trận địa pháo binh, thiết giáp và tiểu khu Đắc Lắc, phát triển áp sát vào phía bắc và đông - bắc sở chỉ huy sư đoàn 23. Đồng thời mũi thọc sâu phía tây cũng áp sát và đánh ngay vào sở chỉ huy sư đoàn địch. Trong khi đó, các mũi trên hướng nam phải nhanh chóng vận động chiếm lĩnh bằng được trận địa tiến công của mình, hiệp đồng với các hướng đông - bắc, tây - bắc và mũi thọc sâu để tiêu diệt toàn bộ quân địch ở phía tây - nam và đông - nam sở chỉ huy sư đoàn 23. Sau khi tiêu diệt xong quân địch trong thị xã sẽ quay ra diệt nốt các mục tiêu quân địch ở xung quanh thị xã để giải phóng thị xã một cách triệt để.


Về việc cơ động của hướng nam, ta dự kiến hành động một cách táo bạo: theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, ta đánh Đức Lập ngày 9 tháng 3, thì ngay từ chiều 9 tháng 3 lực lượng đánh Buôn Ma Thuột sẽ được phép sử dụng một số đơn vị pháo bản chế áp các mục tiêu địch cản trở đường cơ động của ta, bắt chúng phải co vào trong vị trí, không dám ra sục sạo, bảo đảm cho công binh ta làm đường và chuẩn bị bến vượt sớm hơn. Có đường đi sớm rồi, các mũi đột kích hướng nam phải tính toán thời gian vận động cho chính xác để kịp vào chiếm lĩnh trận địa tiến công và cùng các hướng thực hiện giờ G thống nhất. Đánh hiệp đồng binh chủng phải tập trung sức mạnh vào cùng một thời điểm, trong một không gian nhất định, theo một kế hoạch thống nhất thì mới phát huy được sức mạnh chiến đấu của các binh chủng, mau chóng đánh ngã được kẻ địch để giành thắng lợi.


Phương án 2: Đánh quân địch đã có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng.

Đây là trường hợp địch đã phát hiện được hành động chuẩn bị tiến công của ta hoặc phán đoán ta sẽ tiến công thị xã Buôn Ma Thuột nên đưa lực lượng đến tăng cường phòng ngự dự phòng. Ngoài số lực lượng địch đã có sẵn như phương án 1, chúng có thể tăng cường thêm 1 - 2 trung đoàn, 1 thiết đoàn, 1 - 2 tiểu đoàn pháo binh, đưa tổng số quân chủ lực ở Buôn Ma Thuột lên 2 - 3 trung đoàn, 2 thiết đoàn thiếu, 3 - 4 tiểu đoàn pháo binh, về bố trí lực lượng, chúng có thể dùng từng trung đoàn thiếu hoặc trung đoàn bố trí trên một hướng, lấy đơn vị là tiểu đoàn kết hợp với xe tăng - xe bọc thép để tổ chức phòng ngự. Chúng có thể chiếm lĩnh các điểm cao khống chế, các công sự chuẩn bị sẵn và các kiến trúc để hình thành tuyến phòng ngự vòng ngoài thị xã. Về hình thức phòng ngự dự phòng, chúng có thể có bộ phận ở trong chốt cố định, có thể có bộ phận lưu động và có thể có lực lượng bộ binh - xe bọc thép dự bị sẵn sàng cơ động đối phó với ta. Hướng địch chú ý phòng ngự dự phòng là hướng tây, tây - bắc và bắc.


Căn cứ vào dự kiến trên, ta sẽ sử dụng từ 2 đến 3 sư đoàn và toàn bộ bộ đội binh chủng kỹ thuật của chiến dịch. Ta phải thực hiện "đánh chắc, tiến chắc và đột phá liên tục". Trước hết, một bộ phận lực lượng bất ngờ đánh chiếm một số mục tiêu làm bàn đạp và cửa mở, đưa lực lượng vào triển khai hình thành thế trận bao vây, kéo quân địch ra phản kích để tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của chúng và tạo thời cơ đánh chiếm thị xã. Tiếp đó, lực lượng đột kích binh chủng hợp thành thực hành tiến công vào thị xã trên ba hướng: đông - bắc, tây - bắc và nam, lấy hướng nam làm chủ yếu và hướng vào ba mục tiêu quan trọng nhất là: sở chỉ huy sư đoàn 23, khu xe tăng - xe bọc thép, trận địa pháo và tiểu khu Đắc Lắc, trong đó sở chỉ huy sư đoàn 23 vẫn là mục tiêu chủ yếu. Trong quá trình tiến công, bộ phận lực lượng dự bị của chiến dịch phải sẵn sàng đánh quân địch đến tăng viện, chủ yếu là quân cơ động bằng máy bay lên thẳng hạ cánh xuống các khu vực cách thị xã 1 - 3km về phía đông, đông - bắc và đông - nam. Các hướng tiến công cũng phải sẵn sàng có lực lượng phối hợp với bộ phận dự bị của chiến dịch đánh quân tăng viện đổ quân xuống phạm vi hướng mình phụ trách.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 08:05:39 am
Đánh quân địch theo dự kiến của phương án 2 là một trận đánh gay go, quyết liệt và còn có thể có những khó khăn, phức tạp ta chưa lường hết vì chưa có quân địch cụ thể. Do đó công tác chuẩn bị cho trận đánh phải tiến hành thật chu đáo khẩn trương, đặc biệt là việc bám nắm địch phải được tổ chức chặt chẽ để nhanh chóng phát hiện địch. Khi chúng xuất hiện, phải tổ chức điều tra cụ thể, kịp thời bổ sung cho phương án tác chiến đầy đủ, chính xác. Nếu quân địch xuất hiện không giống như dự kiến thì phải căn cứ vào tình hình thực tế để chấn chỉnh tổ chức phân chia nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng chiến đấu cho phù hợp.


Hai phương án có hai cách sử dụng lực lượng và vận dụng cách đánh cụ thể khác nhau, mỗi phương án đêu có những khó khăn riêng. Nhưng phương án 2 đòi hỏi công tác chuẩn bị phải làm công phu hơn, số lượng đơn vị, vật chất khí tài nhiều hơn và kế hoạch hiệp đồng chiến đấu cũng phức tạp hơn phương án 1. Do đó, trong công tác chuẩn bị chiến đấu phải chuẩn bị cho cả hai phương án thật tốt, và lấy phương án 2 - phương án khó nhất - để triển khai mọi công tác chuẩn bị cho đầy đủ, mặt khác vẫn phải ra sức giữ bí mật và tích cực hoạt động nghi binh để tranh thủ thực hiện được phương án 1.


Đến ngày quy định, cài thế chiến dịch xong, địch vẫn không biết hướng ta tiến công, không có lực lượng đến tăng cường phòng ngự dự phòng, ta đánh theo phương án 1 trong điều kiện chuẩn bị theo phương án 2 thì rõ ràng có nhiều thuận lợi hơn. Chuẩn bị như trên là cách làm một công được đôi ba việc mà việc nào cũng đạt được ý định.


Việc xây dựng phương án tác chiến chiến dịch và trận đánh vào Buôn Ma Thuột được tiến hành tỉ mỉ và chặt chẽ. Ngày 25 tháng 2 năm 1975, Bộ chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh đã soát lại cụ thể các phương án và bổ sung những ý kiến đầy đủ hơn. Bộ chỉ huy tiền phương nhấn mạnh các sư đoàn, các đơn vị binh chủng tham gia chiến dịch, đánh trận then chốt quyết định, phải chú ý ba mục tiêu là: tiểu khu Đắc Lắc, sở chỉ huy sư đoàn 23, sân bay Hòa Bình; phải nghiên cứu bước 1, hiệp đồng các hướng đánh ngay vào đầu não, do đó cần có một mũi thọc sâu bằng binh chủng hợp thành có cả xe tăng - xe bọc thép vào phía tây, mũi đông - bắc và phía nam cũng cho thọc vào sở chỉ huy sư đoàn 23. Các mũi tiến công phải tận dụng hỏa lực đi cùng để giải quyết mục tiêu, không ỷ lại hỏa lực của pháo chiến dịch. Phải bảo đảm cho lực lượng dự bị nhanh chóng cơ động từ Đức Lập sang sẵn sàng đánh địch phản kích từ hướng đông tới.


Để thực hiện phương án tốc chiến, mọi công tác tiếp tục chuẩn bị chiến đấu gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đòi hỏi các cơ quan, các ngành, các sư đoàn, các đơn vị binh chủng phải làm rất công phu và kiên trì dũng cảm.


Ngay từ khi làm kế hoạch hiệp đồng động tác và hiệp đồng tác chiến, ta đã phải bảo đảm chính xác đến từng phân đội chiến đấu, từng khẩu pháo kéo vào trận địa, từng xe đạn, từng chiếc xe tăng vượt qua rừng rậm sông sâu, xuyên qua đồn bốt tiền duyên địch, từng dây điện thoại bắc qua một con đường,... để hiệp đồng cùng bộ binh thực hành đột kích. Việc hiệp đồng không phải chỉ tiến hành trên một hướng mà trên nhiều hướng của chiến dịch, nhiều trận đánh trên toàn chiến trường. Kế hoạch hiệp đồng cũng phải làm rất công phu để bảo đảm nguyên tắc bí mật, bất ngờ, chính xác về nhiệm vụ, thời gian, mục tiêu, địa điểm và hành động của tất cả các sư đoàn, các đơn vị binh chủng, hiệp đồng giữa hướng chủ yếu với hướng thứ yếu, giữa hỏa lực và đột kích, giữa bộ binh với xe tăng, giữa phía trước và phía sau, giữa cấp trên với cấp dưới một cách chính xác và chặt chẽ.


Để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chiến đấu nhưng lại phải chuẩn bị trong điều kiện hạn chế, cán bộ các sư đoàn, các binh chủng phải quy định ngày và từng giờ trong đêm để thay nhau mò vào sát trận địa địch, thống nhất với nhau về mục tiêu, về địa điểm bố trí, về cách đánh và về hướng phát triển. Các đơn vị đặc công phải tiến hành chuẩn bị công phu và thật táo bạo mới kịp thời gian quy định. Đơn vị tiến công nghi binh nhủ địch, thu hút sự chú ý, phân tán sự đối phó của chúng cũng phải nghiên cứu thời gian, lực lượng, mục tiêu, hướng nghi binh sao cho phù hợp để đạt được mục đích dành bí mật bất ngờ cho chiến dịch. Các trung đoàn pháo binh, cao xạ, xe tăng - xe bọc thép tiến hành mọi mặt chuẩn bị cũng gặp không ít khó khăn: trên chặng đường dài 200 - 300km phải ngày nghỉ, đêm đi, vượt đèo lội suối, phải bảo đảm xăng dầu, kỹ thuật và giữ bí mật trên dọc đường, trong điều kiện đường trơn, xe cộ hỏng hóc và ùn lại ngổn ngang,...


Các đơn vị bảo đảm và phục vụ chiến đấu đã tiến hành công tác chuẩn bị với tinh thần nỗ lực vượt bậc để khắc phục khó khăn.

Các trung đoàn công binh phải đêm ngày hoạt động trên nhiều tuyến đường: có đoạn phải san rừng, xẻ núi, bắc cầu, làm đường mới hoàn toàn; có chỗ tận dụng được các đường có sẵn hoặc theo vết xe chở gỗ xuyên rừng; có những nơi phải làm qua nương rẫy gần các ấp chiến lược, các đồn bốt tiền duyên. Anh em phải bí mật triển khai, cưa cây sẵn nhưng chưa cho đổ, khi cần vượt qua mới phá đổ hẳn cho nhanh. Đặc biệt những chỗ phải vượt sông trong vùng địch, không những phải tính toán khối lượng phương tiện, nhân công mà còn phải tính toán cả những khả năng vừa chiến đấu vừa vận chuyển ghép phà và giữ các loại bến phà nặng, bến phà nhẹ, bảo đảm cho từng đoàn xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo, xe vận tải dưới bom đạn vẫn an toàn vượt qua đúng thứ tự đội hình, vào tới vị trí kịp giờ G. Chỉ tính con đường phục vụ cho trận đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột cũng phải làm tới 367km (có 226km khôi phục đường cũ, 141km đường mới), 3 bến phà (1 bến 50 tấn, 2 bến 35 tấn), 18 ngầm,...


Trung đoàn thông tin phải bảo đảm liên lạc với nhiều đối tượng, đồng thời còn phải bảo đảm vững chắc trong nhiều tình huống trên một địa bàn rộng. Có đơn vị ở xa hàng trăm ki-lô-mét không được phép dùng vô tuyến điện để giữ bí mật, cán bộ thông tin phải trèo đèo lội suối luồn vào lòng địch, bắt liên lạc với đơn vị đó để chuyển đạt nhiệm vụ. Có những đường dây rải kín đến nỗi sau quay trở lại cũng khó tìm. Có trường hợp quá xa, phải từ hai đầu đối tượng vượt rừng rậm sông sâu sẵn sàng bí mật chờ đợi ở hai bên bờ sông khi điều kiện cho phép mới được bơi qua sông tìm gặp nhau để nối mạch điện.


Song song với sự nỗ lực chuẩn bị của các sư đoàn và bộ đội binh chủng, công tác hậu cần cũng được xúc tiến với một nhịp độ mạnh mẽ. Các đơn vị vận chuyển chiến lược, chiến dịch hoạt động tích cực không kể ngày đêm trên các hướng của chiến dịch. Các kho trạm vật chất, bãi xe, bãi xăng dầu, đường ống, các trạm cấp cứu, các bệnh viện dã chiến,... đều có những cố gắng vươn lên chuẩn bị đi trước một bước (thực hiện bí mật đến gần) để bảo đảm cho chiến dịch không những không thiếu lương thực, đạn dược, khí tài,... mà còn có lượng dự trữ chiến đấu lâu đài.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2023, 08:06:30 am
Trong lúc bộ đội chủ lực tích cực khẩn trương chuẩn bị chiến dịch thì các cơ quan Dân Chính Đảng, bộ đội địa phương, dân quân và đồng bào vùng giải phóng (những địa phương ta huy động) cũng tích cực phối hợp chuẩn bị chiến đấu và đấu tranh trực diện với địch. Theo kế hoạch của ta phổ biến, có địa phương rất nhiệt tình cử người đi dân công làm đường và đi tìm người thân ở vùng địch kiểm soát phao tin nghi binh đánh lừa địch, làm cho chúng hoang mang lo sợ và đối phó lúng túng.


Trong quá trình tiến hành những hoạt động chuẩn bị cho chiến dịch, quân dân ta tuy gặp nhiều khó khăn trở ngại và làm rất khẩn trương táo bạo nhưng vẫn kiên trì vượt qua và triệt để giữ bí mật.

Ngay sau khi ta giải phóng Phước Long, địch phán đoán ta có thể đánh Đức Lập, Gia Nghĩa nên chúng điều một bộ phận lực lượng của trung đoàn 53 lên tăng cường dự phòng cho Đức Lập (sau này tên chuẩn tướng Lê Trung Tường, tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh ngụy, bị bắt khai là: khoảng trước Tết âm lịch, hắn đến thăm Thiệu được Thiệu phổ biến "Sau Tết âm lịch, Việt cộng sẽ đánh Đức Lập, Bản Đôn, Kon Tum để thông đường hành lang, nối liền tuyến vận chuyển từ Bắc vào Nam").


Đi đôi với thủ đoạn tăng cường lực lượng dự phòng, địch còn dùng mọi biện pháp trinh sát, biệt kích, gián điệp để phát hiện ý định và lực lượng của ta. Tháng 1 năm 1975, địch cho nhau biết là ta "có hai sư đoàn ăn Tết trước và đang cơ động đi đâu chưa rõ".


Cũng trong tháng 1 năm 1975, quân ta cơ động chuyển quân và vận chuyển vật chất hậu cần với mật độ rất lớn, rất khẩn trương. Đồng thời ta còn tích cực hoạt động nghi binh: bộ binh liên tiếp mở các trận đánh nhở trên đường 19 đông, 19 tây và từ bắc thị xã Kon Tum đến bắc Gia Lai; đặc công đánh kho xăng Plây Cu, pháo cối đánh La Sơn và Thanh An, cao xạ đánh cầu Diên Bình; bộ đội đẩy mạnh các hoạt động làm đường 220, làm trận địa pháo, cơ động lực lượng nghi binh. Ta còn đưa tin và phao tin trong nhân dân rằng bộ đội cách mạng sẽ tiến công Kon Tum.


Địch bị thu hút vào các hoạt động nghi binh của ta, phán đoán ta sắp mở chiến dịch Tây Nguyên, lấy Kon Tum làm mục tiêu chủ yếu. Chúng điều các liên đoàn quân biệt động 6, 21, 22, 24 đến tăng cường dự phòng ở Kon Tum để đối phó với ta. Vì thế địch không phát hiện được cụ thể các sư đoàn của ta cơ động đi đâu.


Trong tháng 2 năm 1975, ta vẫn tiếp tục hoạt động nghi binh. Theo tin địch, chúng đã phát hiện được các lực lượng của ta ở Plây Cu, ngoài một sư đoàn và một trung đoàn đến từ cuối tháng 1 năm 1975, nay lại có thêm một sư đoàn nữa tới. Chúng phán đoán ta đánh Plây Cu là chủ yếu nên vội vàng lệnh cho liên đoàn biệt động 23 và các trung đoàn 44, 45 thuộc sư đoàn 23 để tảng cường phòng ngự dự phòng.


Nhưng tiếp đó địch lại được tin của địa phương Đắc Lắc cho biết năm nay ta sẽ đánh lớn ở Tây Nguyên, đánh Buôn Ma Thuột. Chúng lại hốt hoảng điều ngay trung đoàn 53 thiếu lên lùng sục để phát hiện ta ở khu vực Quảng Nhiêu, Buôn Hồ cách thị xã Buôn Ma Thuột trên 10km về phía bắc.


Khoảng giữa tháng 2 năm 1975, tại phía nam Plây Cu, một đơn vị của ta sơ hở để một hạ sĩ bị địch bắt, khai báo với địch là: ta đang cơ động lực lượng xuống phía nam; một sư đoàn chuẩn bị đánh Đức Lập; một sư đoàn chuẩn bị đánh Cẩm Ga, có bộ phận chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột. Ngày 19 tháng 2 năm 1975, địch vội vã điều ngay trung đoàn 45 xuống khu vực Cẩm Ga, Thuần Mẫn, để phối hợp với trung đoàn 53 thiếu lùng sục phát hiện quân ta trên dọc phía tây đường số 14.


Ta nhận định: trước một số sự việc, địch có thể nghi ta chuẩn bị đánh Đức Lập, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột và cắt đường số 14 ở đoạn Cẩm Ga. Chưa có triệu chứng địch phát hiện được ý định và lực lượng chiến dịch của ta. Những hoạt động lùng sục của địch có tính chất bị động, rời rạc. Tuy nhiên ta vẫn cần phải đề phòng tình hình phức tạp xảy ra. Nếu địch sục sạo từ một tuần đến mười ngày không phát hiện thấy gì thì chúng có thể chuyển hướng sang nơi khác.


Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh chiến dịch vẫn chủ trương kiên trì giữ bí mật ý định và lực lượng ở khu vực tác chiến chủ yếu, tích cực khôn khéo hoạt động nghi binh hơn nữa để nhử địch về hướng bắc, tạo điều kiện cho quân ta tiếp tục chuẩn bị tốt ở hướng nam.


Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 hoạt động ở khu vực đường số 14, một mặt phải hết sức tránh đụng độ với địch, một mặt phải bám sát chúng. Đến gần ngày N, cũng tức là khoảng sau một tuần đến mười ngày, nếu địch lùng sục không phát hiện được ta, có thể có triệu chứng chúng tập trung để cơ động về hướng Buôn Ma Thuột, thì Sư đoàn 320 phải lập tức đánh giữ chân chúng lại. Đồng thời Bộ tư lệnh cũng lệnh cho Sư đoàn 968 hoạt động nghi binh theo kế hoạch, tích cực hoạt động để thu hút địch về hướng Kon Tum - Plây Cu.


Những ngày ấy, trung đoàn 45 ngụy ráo riết lùng sục vào các khu vực phía tây đường số 14, có chỗ sâu gần 10km, nhưng không tìm thấy dấu vết gì của quân ta mặc dầu Sư đoàn 320 vẫn bố trí trên hướng đó. Các hoạt động tung trinh sát, biệt kích, gián điệp để điều tra hướng cơ động của 2 sư đoàn quần ta cũng không đưa lại kết quả gì.


Cuối tháng 2 năm 1975, quân ta hoạt động mạnh ở Plây Cu, Kon Tum. Từ ngày 1 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 968 đánh nghi binh đã sử dụng lực lượng với những quy mô thích hợp cho từng mục tiêu và vận dụng các cách đánh có bài bản để tiến công địch ở phía tây - nam thị xã Plây Cu. Sư đoàn đã cùng một thời gian đánh các cứ điểm địch ở ngoại vi quận lỵ Thanh An, bức rút đồn Tầm, đánh chiếm dãy cao điểm Chư Ca Ra, Chư Gôi, 605, uy hiếp mạnh Thanh Bình, Thanh An ở tây - nam Plây Cu, đồng thời kết hợp đánh nhở ở hướng tây Plây Cu, bắc Kon Tum, làm trận địa pháo và huy động nhân dân rầm rộ làm đường. Trước khí thế tiến công nghi binh của quân ta, ngày 3 tháng 3 năm 1975, địch phải vội vã rút trung đoàn 45 đang lùng sục ở Cẩm Ga, Thuần Mẫn trở về Thanh An để đối phó. Trung đoàn 44 cùng một số liên đoàn quân biệt động ngụy cũng bị tiêu hao nặng và buộc phải nằm chết gí ở khu vực Plây Cu.


Do quân ta giữ được bí mật ý đồ và hành động, lại cũng do ta nghi binh có kết quả nên địch trở nên rất lúng túng. Chúng vẫn phán đoán ta đánh Plây Cu hoặc Kon Tum là chủ yếu. Có lúc ta được tin chúng định điều cả bộ chỉ huy sư đoàn 23 về Buôn Ma Thuột để sẵn sàng đối phó với quân ta nếu ta đánh Gia Nghĩa, Đức Lập. Nhưng sau không thấy chúng thực hiện. Theo lời khai của Vũ Thế Quang, sư đoàn phó sư đoàn 23 ngụy, sau khi hắn bị bắt: lúc đó địch cho những tin ghi nhận được là không có cơ sở, chúng vẫn nhận định ta ít có khả năng sử dụng lực lượng lớn để giải phóng Buôn Ma Thuột và nếu ta có đánh Đắc Lắc thì cũng chỉ có thể đánh các chi khu vòng ngoài, còn hướng hoạt động lớn của ta vẫn là bắc Tây Nguyên.


Thế là cùng với việc hoàn thành tốt mọi công tác chuẩn bị chiến dịch, kế hoạch nghi binh nhử địch, điều động và giam giữ chúng cũng thành công. Ở tỉnh Đắc Lắc và khu vực thị xã Buôn Ma Thuột, chủ lực địch vẫn chỉ có trung đoàn 53 thuộc sư đoàn 23, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh và quân bảo an, cảnh sát như bình thường mà thôi.


Thời cơ và điều kiện tiến hành kế hoạch bố trí lực lượng hình thành thế trận của chiến dịch và thực hiện kế hoạch tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột đã mở.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:10:19 am
Chương ba
DIỄN BIẾN CHIẾN SỰ


Từ ngày 1 tháng 3 năm 1975, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên trực tiếp điều khiển các hoạt động của mọi lực lượng tham chiến trên toàn chiến trường, mở đầu chiến dịch.

Theo kế hoạch hiệp đồng, ta lấy ngày 4 tháng 3 năm 1975 là ngày nổ súng đánh chia cắt để cài thế chiến dịch, ngày 10 tháng 3 năm 1975 là ngày N của toàn chiến dịch tức là ngày đánh trận then chốt quyết định ở thị xã Buôn Ma Thuột. Thế nhưng, đến ngày 3 tháng 3 năm 1975 ta vẫn chưa thấy hiện tượng gì chứng tỏ rằng địch có sự đối phó với quân ta trên hướng Buôn Ma Thuột, không những thế chúng còn ra lệnh rút trung đoàn 45 về Thanh An.


Thời cơ là ở chỗ này đây... Song tính đến ngày N thì vẫn còn năm ngày đêm. Trong việc tranh chấp thời gian với địch, có được năm ngày đêm để triển khai hoàn chỉnh thế trận chiến dịch là ít, nhưng để đạt được yếu tố bất ngờ thì lại quá dài. Điều mà mọi người lo lắng là năm ngày đêm nữa, ta có loại trừ được tình huống quân địch đưa thêm lực lượng đến Buôn Ma Thuột để tăng cường phòng ngự dự phòng không? Nếu năm ngày đêm nữa, ta vẫn giữ được tình trạng như hiện nay thì thật là lý tưởng: ta có thể đánh chúng bằng cách bất ngờ nhất và sẽ làm cho chúng vô cùng nguy khôn. Do đó ta phải suy nghĩ tìm mọi biện pháp, mọi hình thức để tiếp tục giữ bí mật, để thực hiện đánh địch theo phương án chúng chưa có phòng ngự dự phòng.


Cơ quan tham mưu chiến dịch tấp nập làm việc với nhịp độ rất khẩn trương và liên tục, đã chuyển lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch cho các sư đoàn, trung đoàn thực hiện kế hoạch đánh chia cắt và bố trí đội hình và thế trận chiến dịch. Trong lúc đang tổ chức chuyển tiếp điện chỉ thị của Bộ tư lệnh chiến dịch và nhác các đơn vị kiểm tra đôn đốc bộ đội chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về giữ bí mật thì cơ quan tác chiến nhận được tin điện khẩn cấp báo cáo về. Nội dung bức điện như sau:

"Lâm Đồng điện gửi Z,

Bộ phận đi chuẩn bị trận địa pháo phía bắc A (Buôn Ma Thuột) gặp bộ binh, xe tăng địch (của trung đoàn 53) nông ra sục sạo. Do ta thiếu, cảnh giác, bị chúng sát thương một số đồng chí và bất mang đi một đồng chí bị thương nặng, nhưng đồng chí này đang hôn mê, địch chưa khai thác được gì".

Điện báo cáo của đơn vị Lâm Đồng là một tin quan trọng. Nắm được tin này, nếu địch phán đoán ra ý định, lực lượng và phương hướng tác chiến của ta thì chúng có thể tìm cách đối phó, gây trở ngại lớn cho chiến dịch và cho trận chiến đấu then chốt ta sắp mở.

Nhận được tin trên, Bộ tư lệnh chiến dịch đã kịp thời nhận định:

Sơ hở để xảy ra hiện tượng bị thương vong, mất người có thể dẫn tới tình huống xấu. Ta đã chuẩn bị phương án 2 để đánh địch có phòng ngự dự phòng, song về mặt chỉ đạo thực hiện, ta phải tích cực tạo ra thời cơ để đánh chúng trong những điều kiện thuận lợi nhất. Xét hiện tượng sơ hở trên, ta thấy chưa có đủ yếu tố để kết luận địch đã nắm được ý định, lực lượng và phương hướng tiến công của ta vì địch mới chỉ phát hiện được quân ta chuẩn bị trận địa pháo, có thể chúng chỉ phán đoán là ta sẽ pháo kích. Mặt khác, ta tin chiến sĩ của ta bị chúng bắt, với tinh thần dũng cảm hy sinh, quân thù không dễ gì khuất phục được. Tuy nhiên, ta cần theo dõi chặt việc địch khai thác, hỏi cung chiến sĩ của ta, nếu để lộ tin vì bị chúng dùng cực hỉnh tra tấn thì ta cũng còn thời gian để suy nghĩ cách đối phó với địch. Trước mắt, cơ quan tham mưu chiến dịch phải tiếp tục kiểm tra việc chuyển lệnh và đôn đốc các đơn vị thực hiện kế hoạch bố trí lực lượng cài thế và tiến công chia cắt để tạo thế chiến dịch.


Trong lúc quân địch hoang mang, xử trí chắp vá như kẻ mù lòa không tìm thấy lối đi thì quân ta tỉnh táo chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, từ khu vực tập kết tiến ra các hướng tiến công với khí thế vô cùng mạnh mẽ.


Kế hoạch tác chiến của ta là: chia cắt, vây hãm trước rồi sau đó mới tiến công tiêu diệt lực lượng phòng giữ của địch, giải phóng các thị xã. Thời cơ thực hiện quyết tâm và ý đồ đã được ta tạo ra rồi. Thời điểm tác chiến đã tới.


Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3, trung đoàn 95A được lệnh đánh cắt đường số 19, nhanh chóng tiêu diệt ngay một số chốt giao thông (trong đó có căn cứ A Dun) và làm chủ hoàn toàn đoạn đường dài 20km, từ ngã ba Plây Bôn đến gần ấp Phú Yên. Cùng đêm hôm đó, Sư đoàn 320 ở khu vực đường số 14 cũng được lệnh cho một bộ phận ra cắt đường ở bắc Cẩm Ga.


Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 Quân khu 5, dù có nhiều khó khăn về số quân và bảo đảm hậu cần, cũng đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, tích cực phổỉ hợp đánh cắt đường số 19 từ đèo Thượng An đến cầu số 13, chiếm 9 chốt giao thông, diệt 2 đại đội và tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 1 trung đoàn 47, bắt sống 20 tên, thu nhiều vũ khí, làm chủ hoàn toàn đoạn đường trên.


Tiếp đó, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 3, trung đoàn 25 hoạt động trên đường số 21 ở khu vực Chư Cúc cũng đánh chiếm và giữ một đoạn đường về phía đông Chư Cúc.

Thế là quân ta cơ bản đã cài xong thế trận chiến dịch. Thế trận được hình thành đúng như mưu kế, đạt được cả ba thế chia cắt:

- Một là chia cắt đường số 19, tạo ra cảnh hiểm nghèo nhất đối với địch, vì nó là tuyến mạch máu chính, địch vẫn dùng để vận chuyển vật chất từ thị xã Quy Nhơn lên thị xã Plây Cu, nuôi sống tập đoàn chủ yếu của Tây Nguyên ở Plây Cu và Kon Tum.

- Hai là chia cắt đường số 21, cũng là tuyến mạch máu vận chuyển từ thị trấn Ninh Hòa lên thị xã Buôn Ma Thuột để nuôi sống các lực lượng địch ở tình Đắc Lắc và tỉnh Quảng Đức, đồng thời còn là đường dự bị vận chuyển bổ sung cho hướng Plây Cu - Kon Tum.

- Ba là chia cắt đường số 14, đã thực hiện được ý đồ cắt chiến trường Tây Nguyên ra làm đôi, khiến bản thân tập đoàn Tây Nguyên của địch cũng bị xé làm hai cụm bắc - nam cô lập, không chi viện ứng cứu được cho nhau.

Các thế chia cắt trên thực sự đã đưa lại một hiểm họa cho địch. Việc giao lưu giữa thị xã Quy Nhơn với thị xã Plây Cu - Kon Tum, giữa thị xã Nha Trang với thị xã Buôn Ma Thuột, Gia Nghĩa và giữa thị xã Plây Cu, Cheo Reo với thị xã Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cắt đứt. Từ đó, không một chiếc ô tô nào của địch chạy được trên đường số 19, 21 và 14.


Thế chia cắt thật hiểm hóc đối với quân địch và ngược lại thật có lợi đối với quân ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:11:12 am
Tác dụng trước tiên của thế chia cắt là đánh một đòn tâm lý vào binh lính địch và gây tác động mạnh đối với nhân dân trong vùng chúng kiểm soát, nhất là nhân dân ở các đô thị. Đòn tâm lý đó làm cho binh lính địch sợ hãi, hoang mang, đao động đi đến xáo trộn và rối loạn.


Tác dụng chủ yếu của thế chia cắt là cùng với thế vây hãm chia xẻ quân địch phòng ngự ra làm nhiều mảnh, thành từng khu vực bị cô lập, không tiếp tế vận chuyển được và không chi viện ứng cứu được cho nhau bằng đường bộ. Tình hình này sẽ dẫn đến chỗ làm cho địch không những suy sụp khốn quẫn về tinh thần, suy yếu mòn mỏi về vặt chất mà còn mất hẳn sức chiến đấu và đi đến chỗ bị tiêu diệt một cách nhanh chóng, hoặc dễ dàng tan rã tháo chạy, đầu hàng.


Sau khi thực hành chia cắt Tây Nguyên và vây hãm các cụm chiến dịch của địch, quân ta đã dàn được thế trận tiến công vững vàng, mạnh mẽ. Trên thế trận đó, ta lại nắm chắc quyền chủ động trong tay và có thời cơ thuận lợi, do đó ta có thể điều khiển nhịp nhàng các lực lượng thực hành tiến công theo kế hoạch đã định.


Về hành động của địch, thì quả như ta đã dự kiến: chúng tập trung đối phó ở hướng Plây Cu và trên đường số 19 thuộc tỉnh Gia Lai, hướng chống cự mạnh nhất của địch là phía tây thị xã; đồng thời chúng kết hợp với phản kích để giải tỏa giao thông ở hướng đèo Măng Giang. Trên đường số 19 thuộc phạm vi tỉnh Bình Định, địch điều 2 trung đoàn của sư đoàn bộ binh số 22, từ phía bắc tỉnh Bình Định cơ động đến phản kích giải tỏa đoạn đèo Thượng An, phía đông thị trấn An Khê và khu vực thung lũng Vĩnh Thạnh.


Tất cả những cố gắng của địch đều bị quân ta ở các hướng đó đánh bại. Đặc biệt, quân ta còn tiến thêm một bước nữa là tiến công phá vỡ một số đoạn trận địa phòng ngự của địch ở tây - nam thị xã Plây Cu, làm cho tuyến phòng ngự của địch bị co hẹp lại.


Đồng thời, để tăng thêm liều lượng cho thế vây cắt chung, làm giảm tác dụng, đi đến triệt phá, vây cắt vận chuyển, cơ động bằng đường không của địch, tiếp theo sau các hoạt động vây cắt đường bộ, ta đã sử dụng bộ đội đặc công, tên lửa phòng không vác vai và pháo phản lực (rốc-két ĐKB) bắn phá và khống chế sân bay Cù Hanh ở Plây Cu và sân bay Hòa Bình ở Buôn Ma Thuột.


Tình thế đã đưa quân địch đến chỗ bị cô lập trong thê bị trói chặt thành từng cụm, nằm chết cúng một chỗ để chịu đòn.

Điều kiện và thời cơ mở cửa đột phá của chiến dịch Tây Nguyên đã tới.

Thường vụ Đàng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm đánh địch theo phương án địch không có phòng ngự dự phòng ở thị xã Buôn Ma Thuột; đồng thời xác định mấy biện pháp tiếp sau để bảo đảm cho quân ta thực hiện kế hoạch triển khai đội hình tiến công vào Buôn Ma Thuột:

- Kiểm tra và chỉ huy Sư đoàn 320 đánh chia cắt ở khu vực đường số 14 chặt chẽ.

- Thúc đẩy Sư đoàn 968 hoạt động nghi binh hành động tích cực, từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 3 được phép sử dụng thêm đạn pháo bắn vào Kon Tum, Plây Cu, kết hợp với bao vây giữ chặt khối chủ lực địch ở Kon Tum, Plây Cu; đối tượng chủ yếu phải tiêu hao, vây giữ là sư đoàn 23.

- Lệnh cho Sư đoàn 316 - đơn vị đánh vào hướng nam thị xã Buôn Ma Thuột - vượt đường số 14, sẵn sàng chuyển sang thế bố trí tiến công.

- Theo dõi chặt chẽ hành động của địch và của ta trên toàn chiến trường Tây Nguyên.

Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh đã nhất trí với quyết tâm trên của Bộ tư lệnh chiến dịch, có nhắc nhở thêm về các biện pháp giữ bí mật bất ngờ, nắm chặt Sư đoàn 320 ở khu vực đường số 14. Bộ tư lệnh tiền phương cũng chỉ thị cho Sư đoàn 3 thuộc Quân khu 5, có nhiệm vụ đánh đường số 19 tích cực hoạt động ở khu vực Phú Phong - An Khê để phối hợp.


Nói chung, đến lúc bấy giờ ta vẫn phải kiên trì, khôn khéo giữ bí mật đến cùng cho trận tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 5 tháng 3, sau khi ta cắt đường số 21 thì địch đã thấy rõ Buôn Ma Thuột bị cô lập và đang bị uy hiếp (theo lời khai của Vũ Thế Quang, sư đoàn phó sư đoàn 23). Ngoài sự việc địch bắt được một pháo thủ của đơn vị Lâm Đồng, ta còn được tin thêm bọn chúng thông báo cho nhau: sáng 5 tháng 3, các toán quân đi lùng sục của địch phát hiện có dấu vết quân ta trú quân chừng một tiểu đoàn ở nam đường số 14, cách Đức Lập khoảng 10km về phía đông - nam.


Cũng thời gian ấy, ta lại nhận được điện của đơn vị dưới báo cáo lên: bon dân vệ ở phía nam Buôn Ma Thuột bắt mất của ta một chiến sĩ thông tin đang rải dây điện thoại, ở đấy không có điện đài, chúng đang giải chiến sĩ đó xuống quận Đức Lập (bọn dân vệ ở sát thị xã Buôn Ma Thuột nhưng lại giải người bị bắt xuống quận Đức Lập theo tổ chức hành chính từ xã lên quận của địch).


Ta còn biết địch đã lệnh cho cứ điểm Chư Nga (một cứ điểm cách Buôn Ma Thuột khoảng 7 - 8km về phía bắc) đề phòng ta pháo kích, lệnh cho trung đoàn 53 (thiếu) cùng 1 chi đội thiết giáp và 1 tiểu đoàn bảo an tiếp tục lùng sục khu vực phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Cùng với tin trên, ta còn thấy đại đội trinh sát của trung đoàn 45 xuất hiện ở Bản Đôn và liên đoàn quân biệt động số 21 ở Kon Tum có triệu chứng di chuyển về hướng Buôn Ma Thuột.


Chiều ngày 5 tháng 3, một đoàn 15 xe địch chở quân và kéo 4 khẩu pháo từ Plây Cu định theo đường số 14 xuống Buôn Ma Thuột. Hồi 16 giờ, một bộ phận quân ta ở khu vực bắc Cẩm Ga đã chặn đánh đoàn xe đó, diệt 8 xe, còn 7 xe phía sau chạy thoát về hướng Plây Cu, trong đó có tên sư đoàn phó sư đoàn 23.


Do hoạt động lùng sục của địch, công tác chuẩn bị đường vào chiếm lĩnh, chuẩn bị trận địa pháo và các vị trí tập kết cuối cùng của các đơn vị trên hướng bắc thị xã Buôn Ma Thuột có thể gặp nhiều trở ngại và có khả năng không thực hiện được đúng yêu cầu của kế hoạch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:12:22 am
Sau khi nghiên cứu tổng hợp tình hình địch - ta, sáng ngày 6 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương kiên trì khôn khéo giữ bí mật đến cùng để đánh thị xã Buôn Ma Thuột theo phương án đã xác định và đề ra các biện pháp xử trí sau đây:

- Đôn đốc các tổ trinh sát bám địch, các tổ trinh sát kỹ thuật theo dõi nắm thêm địch.

- Lệnh cho các đơn vị ở hướng bắc thị xã Buôn Ma Thuật tạm ngừng công tác chuẩn bị ở sát bắc thị xã, nhưng vẫn phải sẵn sàng đánh địch vào đúng ngày N. Dù phải từ cự ly xa tiếp cận địch, dù pháo không làm sẵn được công sự vẫn có lợi hơn là lộ bí mật. Nếu để địch tăng cường lực lượng dự phòng cho thị xã thì ta phải đánh chúng trong điều kiện khó khăn và phức tạp hơn nhiều.

- Đến nay ta đã cài xong thế trận chiến dịch, nhưng khả năng mới chỉ khóa được đường bộ, địch còn có thể cơ động được bằng đường không. Để ngăn chặn và hạn chế chúng, đơn vị pháo nòng dài phải chuẩn bị sẵn sàng hỏa lực bắn vào sân bay Hòa Bình trong những ngày 8 và 9 tháng 3, nếu địch đổ quân xuống thì bắn chế áp ngay không cho chúng đổ tiếp. Đơn vị ĐKB chuẩn bị sẵn sàng hỏa lực bắn vào sân bay Cù Hanh (bắc Plây Cu); nếu địch tập trung quân để lên máy bay phải lặp tức bắn sát thương, tiêu diệt không cho chúng kịp cơ động.


Chiều ngày 6 tháng 3, sở chỉ huy tiền phương thông báo:

"Trên chiến trường toàn miền, hướng phòng thủ chính của địch vẫn là hướng quân đoàn 1 ngụy, sư đoàn dù hiện còn đứng ở vùng I. Quân đoàn 3 ngụy đang đề phòng ta ép xuống đồng bằng và chúng đang lên triển khai ở khu vực núi Bà Đen. Ở Tây Nguyên, địch vẫn khẳng định hướng chính chúng phải đối phó là Kon Tum, Plây Cu. Ta chia cắt đường số 19, 14 và 21, chúng cho chỉ là những hành động phối hợp (Bộ tổng tham mưu ngụy và CIA đều thống nhất nhận định như vậy)".

"Ở đường 14, đường 21 tuy ta đã xuất lộ lực lượng nhưng chưa có gì buộc địch phải xử trí lớn, ta vẫn giữ được bí mật ý định tiến công thị xã Buôn Ma Thuột. Tuy có một số chi tiết bị lộ, địch vẫn chưa chú ý. Trong mấy ngày tới, nếu địch có phản ứng, cũng chưa có thể có phản ứng lớn ngay được".


Với nhận định trên, Sở chỉ huy tiền phương và Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt địch, chiếm điểm cao Chư Xê, một cứ điểm bảo an nằm án ngữ trên đường số 14 cách Cẩm Ga 15km về phía nam, để kéo trung đoàn 53 (thiếu) lên đối phó, tạo điều kiện cho hướng bắc thị xã tiến hành công tác chuẩn bị thêm.


Từ khi ra bám đường số 14, quân ta đã bám sát tất cả các mục tiêu địch và chuẩn bị sẵn sàng phương án tiêu diệt chúng trong khu vực tác chiến này. 6 giờ 15 phút ngày 7 tháng 3, một bộ phận lực lượng quân ta bao vây tiến công cứ điểm Chư Xê. Sau 40 phút chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt gọn một trung đội địch.


Cũng trong ngày 7 tháng 3, qua khai thác tin tức, địch biết và phán đoán ta chuẩn bị pháo kích vào Buôn Ma Thuột. Căn cứ vào đó, cùng với những tin tức và dấu vết chuẩn bị đánh Đức Lập của quân ta, địch ra lệnh báo động Đức Lập và Buôn Ma Thuột, đồng thời rút trung đoàn 53 (thiếu) về thị xã để sẵn sàng đối phó. Trưa ngày 8 tháng 3, trung đoàn này về tới căn cứ ở cạnh sân bay Hòa Bình.


Như vậy, tính đến ngày N thì có thể địch biết được ý định tiến công của ta trước 2 ngày. Tuy nhiên với tri thức quân sự tư sản, chúng chưa hẳn đã phán đoán được quy mô lực lượng và hình thức tác chiến của quân ta, hơn nữa chúng lại biết quá muộn. Thế trận của quân ta đã trói chặt chúng lại rồi, dù chúng có trăm mưu, nghìn kế cũng không sao thoát được tình cảnh hiểm nghèo này.


Thế trận đã bày, các cửa ra vào đã cài then chặt, quân ta trong tư thế chủ động, đàng hoàng, có khả năng đánh ngăn chặn bất kỳ lực lượng nào của địch định cơ động trên các đường số 19, 21 và 14. Do đó Sư đoàn 320 phụ trách đường số 14, trước mắt chưa có thời cơ đánh quân địch tăng viện lớn. Để mở rộng khu vực, tạo thêm thời cơ thuận lợi và rảnh tay khi đánh Buôn Ma Thuột, ta chủ trương tiến công tiêu diệt cứ điểm Cẩm Ga (tức quận lỵ Thuần Mẫn).


Sau khi nhận mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, một đơn vị thuộc sư đoàn hoạt động ở khu vực đường số 14 và một bộ phận pháo cơ giới, gồm 3 khẩu pháo 85 ly, 2 khẩu pháo 105 ly, ngay trong đêm 7 tháng 3 vào chiếm lĩnh trận địa, hình thành thế bao vây cứ điểm. Đúng 6 giờ ngày 8 tháng 3, quân ta nổ súng tiến công, đến 7 giờ 20 phút thì làm chủ hoàn toàn cứ điểm, tiêu diệt 1 tiểu đoàn bảo an, 2 trung đội cảnh sát và cơ quan chi khu, thu 200 súng các loại (2 khẩu pháo 105 ly, 1 khẩu cối 106,7 ly) và 18 xe cơ giới.


Trận Cẩm Ga tiêu diệt địch nhanh gọn cùng với trận Chư Xê ngày 7 tháng 3 là hai trận không nằm trong kế hoạch đánh trong thời gian này. Nhưng chúng đã phát huy tác dụng rất tốt, làm cho quân địch càng hoang mang, lúng túng và tạo cho quân ta thêm thời cơ thuận lợi. Chủ trương đánh Cẩm Ga và Chư Xê trong quá trình chỉ đạo mở đầu chiến dịch đã chứng minh việc vận dụng nghệ thuật quân sự của quân ta là rất sinh động.


Sau khi ta tiêu diệt Cẩm Ga, đường số 14 bị cắt đứt, Buôn Ma Thuột bị uy hiếp mạnh nhưng trên hướng Kon Tum - Plây Cu, hoạt động có giảm xuống, địch liền lợi dụng tình hình đó để rút ngay liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu) ở hướng này đi. Chiều ngày 8 tháng 3, liên đoàn này đã từ Kon Tum cơ động bằng máy bay lên thẳng đến sân bay Hòa Bình. Sáng ngày 9 tháng 3, chúng cơ động tiếp bằng cơ giới lên hướng Buôn Hồ. Ý đồ của địch là dùng liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu) để phòng giữ Buôn Hồ và lấy đây làm bàn đạp để đánh chiếm lại Cẩm Ga, mở thông đường số 14.


Có thể coi việc điều quân của địch như một cách đối phó, có liên quan trực tiếp tới ý định tác chiến chiến dịch của ta. Song đó chỉ là một cách đối phó bị động, chắp vá, không gây ra được khó khăn gì lớn để ngăn cản bước tiến của quân ta.


Sau các trận Cẩm Ga, Chư Xê và các hoạt động quân sự khác của ta, quân địch ở thị xã Buôn Ma Thuột và thị trấn Đức Lập đã báo động. Trưa ngày 8 tháng 3, trung đoàn 53 (thiếu) về thị xã Buôn Ma Thuột, liên đoàn quân biệt động số 21 xuất hiện ở Buôn Hồ, có bộ phận lực lượng của liên đoàn và quân bảo an đã ra khu vực Mê Van, cách bắc, tây - bắc Buôn Ma Thuột 10km.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:13:42 am
Xem xét những hoạt động của địch đối phó với quân ta. Bộ tư lệnh chiến dịch nhắc các đơn vị đang chuẩn bị đường đi và vị trí chiếm lĩnh ở hướng bắc thị xã Buôn Ma Thuột cần đề phòng địch ở Mê Van ra lùng sục phát hiện thày dấu vết của ta. Còn ở các hướng khác, hoạt động của địch về cơ bản chưa có ảnh hưởng gì đến ý định tiến công của ta. Đặc biệt trong thị xã Buôn Ma Thuột, ngoài trung đoàn 53 (thiếu) trở về ở hình thái cũ, địch cũng không có lực lượng đến thêm để tăng cường phòng ngự dự phòng.


Ta vẫn giữ được bí mật. Ngày 7 và 8 tháng 3, các lực lượng trên hướng tiến công vào bắc thị xã Buôn Ma Thuột đã cơ bản hoàn thành xong công tác chuẩn bị. Đêm ngày 7 tháng 3, trên hướng tiến công vào nam thị xã Buôn Ma Thuột, quân ta đã vào được vị trí tập kết cuối cùng. Đơn vị đặc công đánh sân bay Hòa Bình cũng làm xong công tác chuẩn bị. Trên hướng Đức Lập, quân ta hoàn thành công tác chuẩn bị tương đối tốt, các lực lượng đã sẵn sàng chờ lệnh triển khai tiến công địch.


Nhìn chung quá trình điều khiển chiến dịch, thế trận của ta đã hình thành: ta đánh chia cắt tốt, cài thế bao vây chắc, hoạt động nghi binh khôn khéo, thu hút được địch về hướng Kon Tum - Plây Cu, giữ được chân chúng ở đó, lại có sáng kiến đánh hai trận ngoài kế hoạch thành công nhanh gọn. Kết quả trên đã tạo ra thời cơ rất thuận lợi cho chiến dịch. Điều kiện thực hiện tiến công, đánh các trận then chốt đã chín muồi, nhờ đó ta có thể thực hiện theo đúng kế hoạch.


Xuất phát từ các cơ sở trên, Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tiến công quận lỵ Đức Lập vào rạng sáng ngày 9 tháng 3 và sẵn sàng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột vào ngày 10 tháng 3 (ngày N) theo phương án 1 (phương án địch không có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng).


Ngoài ý nghĩa dứt điểm để có thể cơ động lực lượng tăng cường sớm cho Buôn Ma Thuột, trận đánh Đức Lập còn có ý nghĩa bảo đảm hành lang cho các lực lượng tiến công vào hướng nam Buôn Ma Thuột, thu hút thêm sự chú ý của địch về hướng Đức Lập và bảo đảm bất ngờ cao nhất cho trận đánh then chốt quyết định này.


Theo đúng kế hoạch, quân ta sử dụng Sư đoàn 10 (thiếu), tăng cường một đơn vị đặc công, một bộ phận pháo của chiến dịch để tiến công Đức Lập, lấy căn cứ 23 và căn cứ Núi Lửa trong quận lỵ làm trọng điểm tiến công ban đầu.


5 giờ 35 phút ngày 9 tháng 3, pháo binh ta bắt đầu bắn. Đến 8 giờ 30 phút, quân ta chiếm được căn cứ 23 và căn cứ Núi Lửa, hình thành ngay hai mũi phát triển tiến công vào khu thị trấn. Trước sức tiến công uy hiếp của quân ta, địch trong thị trấn tung ra một tin điện, báo cáo với bọn chỉ huy cấp trên là chúng "không giữ được thị trấn, đã di tản đến khu vực Y... và đề nghị cho máy bay oanh tạc chặn quân ta không cho vào khu vực đó, chi viện cho chúng rút chạy" (thực ra đây chỉ là thủ đoạn nghi binh của chúng).


Quân ta, vì nắm địch không chắc, tổ chức binh hỏa lực hiệp đồng không chặt, có bộ phận đã phát triển truy kích theo tin nắm được của địch nên bị chúng chặn lại. Ngày 10 tháng 3, sau khi tổ chức nắm địch cụ thể, điều chỉnh thế bố trí tiến công và tăng cường thêm lực lượng, quân ta phải tổ chức đợt tiến công thứ hai vào thị trấn mới dứt điểm được. Cùng ngày 10 tháng 3, một đơn vị bộ binh ta phối hợp với đơn vị đặc công thực hành bao vây bức hàng vị trí tiền tiêu ở ngã ba Đắc Sắc (do tiểu đoàn thuộc trung đoàn 53 ngụy phòng giữ). Địch không chịu hàng. 16 giờ ngày 10 tháng 3, ta tổ chức tiến công tiêu diệt, chúng tháo chạy được một số tên. Khuếch trương thắng lợi, pháo ta bắn tiếp vào một căn cứ ấp chiến lược ở Đắc Sắc, địch bỏ chạy. Ta giải phóng toàn bộ khu vực quận lỵ Đức Lập, tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch, bắt sống trên 100 tên trong đó có tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 trung đoàn 53, thu 14 khẩu pháo, 20 xe tăng - thiết giáp, 6 xe ô tô.


Theo tin ta nắm được, địch có kế hoạch ngày 10 tháng 3 điều trung đoàn 53 (thiếu) và 1 chi đội xe bọc thép từ Buôn Ma Thuột lên tăng viện cho Đức Lập. Nhưng do ta dứt điểm căn cứ 23, Núi Lửa nhanh, và còn vì trong ngày 10 tháng 3, chúng chưa kịp ra quân thì quân ta đã tiến công Buôn Ma Thuật nên chúng đã bị ta tiến công giữ lại, tiếp sau đó chúng đã bị quân ta tiêu diệt ở ngay tại căn cứ xuất phát của chúng.

Đánh Buôn Ma Thuột: đòn mở đầu đúng huyệt

Trong khi quân địch đang bối rối, bị động đối phó ở khắp mọi nơi, trên hướng Kon Tum - Plây Cu, hướng đường số 19, số 21 và số 14, đặc biệt Đức Lập đang sắp bị tiêu diệt hoàn toàn, thì quân ta lập tức giáng xuống đầu chúng đòn tiến công chính vào thị xã Buôn Ma Thuột, đòn đánh mở cửa đột phá của chiến dịch Tây Nguyên, với sức mạnh vũ bão và thế đánh hoàn toàn áp đảo.


Quân địch ở bên trong và ngoại vi thị xã Buôn Ma Thuột trước lúc ta nổ súng có: sở chỉ huy tiển phương của sư đoàn 23, bộ chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, trung đoàn 53 (thiếu), 1 tiểu đoàn xe bọc thép, 1 tiểu đoàn pháo binh, bộ phận các phân đội trực thuộc của sư đoàn, các hậu cứ của các trung đoàn 45 và 44, 2 tiểu đoàn bảo an cùng một số đại đội bảo an, cảnh sát và dân vệ, phòng vệ dân sự. Quân số của địch tổng cộng có khoảng trên 8.000 tên.


Địa hình chung quanh thị xã Buôn Ma Thuột là cao nguyên, mấp mô trung bình thấp, tương đối bằng phẳng, rải rác có một số điểm cao độc lập cách thị xã 2 - 5km và 10 - 15km. Ở vùng này sông suối ít, nhỏ, lại giữa mùa khô nên ít gây trở ngại cho hành động của bộ đội (trừ sông Sê Rê Pốc ở phía tây thị xã). Địa hình này tiện cho việc sử dụng các binh chủng cơ giới.


Tổ chức bố trí phòng ngự của địch: ở tuyến ngoài, cách thị xã 10 - 15km có một số cứ điểm của các đại đội và tiểu đoàn bảo an, có căn cứ hỏa lực pháo binh, ở phía trong tuyến này là tuyến phòng ngự ngoại vi sát gần thị xã, có cứ điểm của các đại đội bảo an và các hậu cứ của các trung đoàn thuộc sư đoàn 23, bãi tập và các kho tàng, ở bên trong thị xã là hạt nhân phòng ngự gồm các doanh trại của các cơ quan quân sự, đều tổ chức chiến đấu phòng ngự.


Nhìn chung tổ chức phòng ngự của địch yếu, không phức tạp mà lại có nhiều quãng hở. Quân ta có thể luồn lách, vượt qua tuyến phòng ngự bên ngoài để đánh thẳng ngay vào thị xã được, vì các cứ điểm đại đội bảo an, tiểu đoàn bảo an sẽ co rúm lại trước đạo quân chủ lực binh chủng hợp thành hùng mạnh của ta rầm rập tiến quân. Tất nhiên, chúng ta cũng cần có một ít đội pháo, cối để đánh kèm, diệt hỏa lực pháo binh của địch ở một số cứ điểm có căn cứ hỏa lực.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:14:46 am
Kế hoạch tiến công Buôn Ma Thuột của ta là bỏ qua tuyến phòng ngự vành ngoài của các cứ điểm bảo an, đánh thắng ngay vào thị xã. Theo đúng kế hoạch, quân ta tiến công bằng năm mũi, đánh trên ba hướng: bắc, nam và tây. Hướng bắc tiến công bằng hai mũi. Hướng nam tiến công bằng hai mũi và hướng tây tiến công bằng một mũi. Mũi hướng tây là mũi thọc sâu, đánh thẳng ngay vào sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23. Trong năm mũi tiến công, có bốn mũi có xe tăng chiến đấu trong đội hình của bộ binh.


Việc giữ bí mật để tiến công Buôn Ma Thuột một cách nhịp nhàng theo đúng kế hoạch, đúng thời gian, địa điểm, đúng hướng, đúng mũi, đúng mục tiêu của một lực lượng lớn các binh đoàn binh chủng hợp thành gồm bộ binh, đặc công, công binh, thông tin, pháo binh, xe tăng, pháo cao xạ, vận tải và các đơn vị hậu cần, v.v... là một việc rất phức tạp. Muốn vậy, yêu cầu về tổ chức và chỉ huy phải rất chặt chẽ, yêu cầu về tinh thần trách nhiệm và kỷ luật của từng đơn vị và cá nhân phải rất cao. Nếu không thì bộ đội không thể hiệp đồng ăn khớp, nhịp nhàng được, kẻ địch sẽ phát hiện sớm và xử trí, đối phó, làm cho ta giảm mất chủ động, bất ngờ.


Quân ta tập kết cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng từ 15 - 20km. Xe tăng ở cách xa 25 - 35km, có bộ phận ở xa tới 40km. Ở cự ly này, bắt đầu từ buổi chiều và trong đêm, cuộc tiến quân của ta cơ bản được thực hiện theo đúng kế hoạch đã định. Các mũi tiến quân của bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ và đơn vị hậu cần vượt sông Sê Rê Pôc ở phía tây và tây - nam thị xã Buôn Ma Thuột có nhiều khó khăn, phức tạp. Đặc biệt, mũi tiến quân của bộ binh, pháo binh, pháo cao xạ và đơn vị hậu cần vượt sông Sê Rê Pốc ở phía tây - nam thị xã để đánh vào phía nam và đông - nam thị xã phải đi xa nhất, gặp nhiều khó khăn và phức tạp nhất. Nhưng mũi này cũng thực hiện đúng kế hoạch.


Nhìn chung, đây là một cuộc tiến quân đẹp. Các binh chủng đều tích cực và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bộ đội công binh đã làm tròn nhiệm vụ bảo đảm cho các binh đoàn, binh chủng hợp thành tiến quân và chiến đấu bằng các phương tiện cơ giới.


Theo đúng kế hoạch tác chiến, bắt đầu từ 2 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1975, trung đoàn 198 đặc công và một bộ phận pháo cối, chủ yếu là pháo phản lực (rốc-két, ĐKB, H12) của quân ta thực hành tiến công. Trung đoàn 198 đặc công đánh 3 vị trí là: sân bay Hòa Bình, sân bay thị xã và khu kho Mai Hắc Đế. Pháo binh đánh các cơ quan chỉ huy và một vài khu doanh trại như sư đoàn 23, sở chỉ huy tiểu khu, khu doanh trại pháo binh, thiết giáp của địch, v.v...


Trước hành động tiến công của quân ta, bọn chỉ huy địch vẫn nhận định và phán đoán theo quy luật thông thường trước đây. Chúng đinh ninh rằng ta chi dùng đặc công đánh và bắn pháo vào thị xã Buôn Ma Thuột mà thôi.


Cũng đúng vào lúc 2 giờ ngày 10 tháng 3, khi đặc công và pháo binh của ta bắt đầu tiến công thì Sư đoàn 316, trung đoàn 95B, tiểu đoàn 5 (trung đoàn 24, Sư đoàn 10) và các trung đoàn pháo binh, cao xạ, xe tăng - xe bọc thép của quân ta ở vị trí tập kết cũng bắt đầu tiến quân vào triển khai ở vị trí chiến đấu tiến công.


Đúng 2 giờ (có thể chênh lệch từ 5 - 10 phút), xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ,... của ta bắt đầu vượt sông Sê Rê Pốc, cùng các đơn vị, các binh chủng trên các hướng, các mũi theo thứ tự tiến vào vị trí triển khai chiến đấu.


Khi đặc công và pháo binh của quân ta nổ súng đè đầu quân địch xuống và bắt chúng phải đối phó một cách bối rối, thì xe tăng và các binh chủng cơ giới của quân ta bật đèn sáng trong đêm, mở hết tốc lực chạy trên đường quân sự làm gấp và dũng mãnh tiến thẳng, tiến mạnh về các mục tiêu chiến đấu đã được xác định. Đặc công và pháo binh đã chiến đấu có kết quả, hoàn thành được nhiệm vụ yểm hộ và tạo điều kiện tốt cho đội chủ lực quân ta chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công.


5 giờ đến 5 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta đã chiếm lĩnh xong vị trí xuất phát tiến công.

Bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ của quân ta trên các hướng, các mũi tiến công đã vây quanh thị xã.

Mục tiêu tiến công chủ yếu của quân ta ở thị xã Buôn Ma Thuột là: sư đoàn bộ 23, bộ chỉ huy tiểu khu, doanh trại liên hợp của trung đoàn bọc thép số 8, tiểu đoàn pháo binh độc lập và 1 tiểu đoàn bộ binh của trung đoàn 45 bộ binh. Giải quyết được ba mục tiêu quan trọng này là chúng ta hoàn thành được nhiệm vụ tiến công đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột.


Đánh vào sư đoàn bộ 23 có ba đơn vị tổ chức thành ba mũi. Đánh vào bộ chỉ huy tiểu khu có hai đơn vị tổ chức thành hai mũi. Đánh vào khu doanh trại liên hợp bộ binh, xe tăng, pháo binh có một đơn vị tổ chức thành hai mũi.


Mục tiêu sư đoàn bộ 23 là mục tiêu chủ yếu, then chốt của trận đánh. Trong ba mũi đánh vào sư bộ 23, có một mũi thọc sâu tổ chức lực lượng mạnh, gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội xe bọc thép tham chiến. Nhiệm vụ của mũi thọc sâu này là hiệp đồng cùng hai mũi tiến công khác đánh thẳng ngay vào sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23, nhanh chóng tiêu diệt và đánh chiếm cơ quan chỉ huy hành quân của sở chỉ huy tiền phương này.


5 giờ 30 phút, pháo binh của ta bắt đầu bắn thử và bắn yểm hộ cho quân ta hoàn thành công tác chiếm lĩnh.

6 giờ 30 phút, pháo binh quân ta bắt đầu trút bão lửa, bắn phá các mục tiêu quy định, làm tê liệt nhiều hành động chiến đấu của địch, yểm hộ, chi viện và mở đường cho bộ binh và xe tăng xung phong đánh chiếm các vị trí phòng ngự của địch.


Pháo cao xạ, có những đơn vị đi sát đội hình chiến đấu của bộ binh và xe tăng, đã yểm hộ đắc lực cho đội hình chiến đấu thê đội một của mũi đột phá, bảo đảm không phận an toàn cho các mũi đột kích, cơ bản loại trừ được cách đánh bổ nhào của máy bay địch ở hướng cửa mở, làm cho không quân của địch không thực hiện được nhiệm vụ bịt cửa mở của các mũi đột kích của quân ta. Do đó bộ binh và xe tăng của ta được bảo đảm an toàn phát triển tiến công thuận lợi vào bên trong chiều sâu các vị trí phòng ngự của địch.


Được sự chi viện có hiệu quả của pháo binh và pháo cao xạ, 9 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1975, bộ binh và xe tăng của ta trên các hướng, các mũi gần như đồng loạt hiệp đồng chặt chẽ, dũng mãnh, nhịp nhàng, tiến lên xung phong đánh chiếm các mục tiêu rìa ngoài, các vị trí phòng ngự tiền duyên của địch ở thị xã.


Động tác hiệp đồng binh chủng chính xác, ăn ý trong lúc xung phong vào vị trí của địch, hùng dũng như bài ca tiến quân và nhịp nhàng như dàn đại hợp xướng.

Trải qua một ngày đầu chiến đấu quyết liệt (10-3), quân ta đã đánh chiếm được khu doanh trại liên hợp bộ binh, pháo binh, xe tăng, bộ chỉ huy tiểu khu, một phần quan trọng của sư đoàn bộ 23 và đã tiến sát vào sở chỉ huy hành quân của sư đoàn bộ 23.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:15:29 am
Quân địch chống cự mạnh ở tất cả các hướng. Một vài hướng, chúng có phản kích như ở Ngã Sáu, sư đoàn bộ 23 và ở bộ chỉ huy tiểu khu. Liên đoàn 21 quân biệt động ở Buôn Hồ cũng tiến về phản kích ở vòng ngoài. Nhưng tất cả các mũi, các đợt phản kích ở trong thị xã của quân địch đều bị bộ binh và xe tăng của ta đập tan. Quân địch nằm trong công sự, chống cự tại chỗ thì mạnh, còn thoát ly công sự ra phản kích thì yếu. Tuy chúng có hành động phản kích nhưng yếu, không tích cực và kiên quyết. Trong ngày 10 tháng 3, phối hợp với hành động phản kích ở mặt đất, địch đã dùng 79 lần chiếc máy bay để đánh phá ngăn chặn ta, chủ yếu oanh tạc vào phía nam khu hành chính, khu bưu điện và dọc đường Thống Nhảt. Các cụm cao xạ của ta đã đánh trả kịp thời, bắn rơi và bắn cháy 6 chiếc AD.6.


Máy bay oanh tạc có gây trở ngại cho hướng tiến công của ta ở phía nam thị xã. Đặc biệt ở chung quanh thị xã như sân bay Hòa Bình và hậu cứ trung đoàn 53, địch đã hành động phản kích quyết liệt, song đơn vị đặc công của ta vẫn kiên trì bám giữ và khống chế được sân bay. Trong thị xã, sau khi đánh chiếm xong các mục tiêu quy định, hoàn thành nhiệm vụ của bước một, quân ta đã nhanh chóng, tích cực tiến lên để hoàn thành nhiệm vụ bước hai tiếp theo.


Như vậy, mới chỉ chiến đấu trong ngày thứ nhất, quân ta đã hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh với xe tăng và các binh chủng khác, chiến đấu rất anh dũng trên các đường phố và trong các khu doanh trại của địch, đánh bại mọi hành động chống cự và phản kích của địch, hoàn thành nhiệm vụ bước một và chuẩn bị cho nhiệm vụ bước hai. Các mũi tiến công trên các hướng đểu nhằm thẳng vào cơ quan chỉ huy hành quân ở sư đoàn bộ 23, mục tiêu cuối cùng của trận đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Đó là một cuộc hội quân của các mũi tiến quân hợp điểm, hình thành thế bao vây, cất vó.


Để cuộc tiến công quyết định này giành được thắng lợi nhanh gọn, bộ chỉ huy trận đánh của quân ta đã tiến hành động tác tổ chức hiệp đồng giữa các mũi và các binh chủng ngay trong đêm 10 tháng 3, để đến sáng 11 tháng 3 thực hành cuộc công kích mới mạnh mẽ vào mục tiêu quyết định cuối cùng.


Tình hình đã báo hiệu giờ tận số của địch ở Buôn Ma Thuột, thế nhưng bọn còn lại vẫn cho rằng ta chỉ tiến công như mùa xuân năm 1968, nếu chúng chống cự được từ 3 đến 4 ngày, chúng có khả năng khôi phục lại tình thế cũ. Theo lời khai của Vũ Thế Quang, chúng vẫn hy vọng vào quân đoàn 2 của chúng, vì quân đoàn báo tin là đã ra lệnh cho liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu) từ hướng Buôn Hồ tiến về thị xã, sẽ phản kích chiếm lại Ngã Sáu và khu kho Mai Hắc Đế. Thực ra thì bọn liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu) đã không sao chấp hành nổi cái lệnh ấy vào giữa ban ngày được. Mãi tới đêm 10 tháng 3, chúng định mon men luồn vào hướng sở chỉ huy sư đoàn 23, nhưng vừa tới khu vực tiểu khu thì đã đụng phải lực lượng quân ta. Chúng liền chuồn ra rừng cà phê ở phía đông thị xã và nấp ở đó, không dám hoạt động gì.


6 giờ sáng 11 tháng 3, quân ta bắt đầu mở đợt công kích. Dưới sự chi viện mạnh mẽ của các loại hỏa lực, của cụm pháo binh chiến dịch, của pháo đi cùng bộ binh và xe tăng, quân ta nhanh chóng phá vỡ vành đai lô cốt và xe tăng địch, đè bẹp sức chống cự của chúng, đột phá vào trận địa kết hợp với thọc sâu vào bên trong chiều sâu trận địa địch.


9 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975, xe tăng ta phá vỡ hầm chỉ huy của cơ quan hành quân sư đoàn 23. Đầu não của quân địch ở Buôn Ma Thuột, hang ổ cuối cùng của chúng đã bị đập tan. Giờ quyết định số phận quân địch ở Buôn Ma Thuột đã điểm. Trước mũi lê và họng súng của bộ binh, trước những tiếng vang động của xích sắt xe tăng ta, nhiều tên địch sợ hãi chạy trôn hoặc bỏ vị trí ra hàng. Tên đại tá Vũ Thế Quang, sư đoàn phó sư đoàn 23, chỉ huy trưởng các lực lượng vũ trang của địch ở Đắc Lắc - Quảng Đức và tên đại tá Nguyễn Trọng Luật, tiểu khu trưởng Đắc Lắc, phải bở sở chỉ huy tháo chạy. Chúng làm sao thoát được cái lưới mà quân ta đã chăng kín khắp nơi. Đến trưa và chiều 11 tháng 3 năm 1975, hai tên này đều bị quân ta bắt sống ngay ở rìa ngoài sư đoàn bộ 23.


Những tên chỉ huy địch ở thị xã đã bị bắt nhưng bọn Mỹ - ngụy ở Sài Gòn vẫn điên cuồng dùng tới 47 lần tốp máy bay trong ngày đến oanh tạc, ném bom bừa bãi cả vào khu phố đông dân gãy nhiều thiệt hại về nhà cửa và sinh mạng của đồng bào vừa mới được giải phóng. Lực lượng phòng không của ta đã bắn rơi tại chỗ 5 chiếc, bảo vệ đội hình chiến đấu của quân ta và bảo vệ nhân dân trong thị xã.


Sau khi các mũi hợp điểm tiến công tiến đánh được vào khu chỉ huy hành quân, bắn sập hầm chỉ huy, quân ta tiếp tục tiến đánh vào khu trung tâm chỉ huy diệt nốt các ổ chống cự lẻ tẻ và truy quét tàn quân. Đúng 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975, ngọn cờ chiến thắng của quân ta phấp phới bay trên nóc hầm chỉ huy của sư đoàn 23 ngụy.


Đến đây, trận Buôn Ma Thuột kết thúc. Quân ta đã giành được thắng lợi giòn giã. Một thị xã vào loại lớn với 12 vạn dân, một trung tâm chính trị ở Tây Nguyên, có tổ chức phòng ngự, có lực lượng chiến đấu của quân chủ lực đã bị đánh chiếm một cách nhanh chóng trong một ngày rưỡi (33 tiếng đồng hồ: từ 2 giờ ngày 10 tháng 3 đến 11 giờ ngày 11 tháng 3).


Bị mất Buôn Ma Thuột, bọn tàn quân địch chạy về căn cứ 45, trường huấn luyện, căn cứ 53, một số tên chạy về ấp Châu Sơn, nhằm co cụm, cố giữ những căn cứ còn lại làm bàn đạp, chờ quân ở Bản Đôn, Chư Nga kéo về và quân tăng viện tới, cùng nhau phối hợp thực hành phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.


Quân ta một mặt tổ chức ngay lực lượng nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm các mục tiêu còn lại ở ngoài thị xã, mặt khác nhanh chóng truy lùng tàn quân địch lẩn trôn để ổn định tình hình trong thị xã và rảnh tay đánh địch đổ bộ bằng đường không xuống phản kích.


Trong những ngày 12, 13, 14 tháng 3 năm 1975 và vài ngày sau đó, quân ta đã liên tiếp tiêu diệt địch ở các mục tiêu co cụm ở ngoài thị xã, bao gồm căn cứ 45, trường huấn luyện 23, Chư Nga, Bản Đôn, quận Hòa Bình và các ấp chiến lược "Tình thương", Chi Lăng, Châu Sơn,... Quân ta phát triển đến đâu thì quân địch bị tiêu diệt, đầu hàng và tan rã ngay đến đó. Song cũng có bộ phận ngoan cố chống cự một cách tuyệt vọng, ở căn cứ 53, lúc đầu ta nắm địch không chắc, đánh không trúng, Mỹ - ngụy ở Sài Gòn lợi dụng ngay thời cơ đó, khích lệ bọn địch cố thủ trong căn cứ 53 bằng thủ đoạn phong cho tên trung tá trung đoàn trưởng lên đại tá và đưa cái mồi vật chất ra cổ vũ binh lính để bọn này ngoan cố chống giữ. Nhưng chẳng mấy chốc, số phận của chúng đều được định đoạt. Riêng có bọn dân vệ và tàn quân chủ lực chạy về ấp Châu Sơn, bị bọn phản động và bọn CIA đội lốt tôn giáo khống chế nên ngoan cố một cách ngu muội. Quân ta đến bao vây gọi hàng và giải thích chính sách nhiều lần, chúng vẫn không chịu nghe. Bất đắc dĩ quân ta phải dùng súng bắn thị uy thì lập tức quần chúng binh lính hưởng ứng xin đầu hàng ngay, đồng thời còn chỉ cho quần ta bắt gần chục tên tu sĩ, cha cố phản động ở quanh vùng và trong thị xã. Có những tên bị ta bắt quả tang đang dùng các phương tiện, điện đài để liên lạc với bọn bên ngoài.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:16:51 am
Ngay sau khi giải phóng, trật tự đã được thiết lập ở thị xã Buôn Ma Thuột. Quần chúng cơ sở của cách mạng nhanh chóng tổ chức các đội tự vệ cùng bộ đội truy lùng tàn binh và bọn ác ôn có nợ máu với cách mạng. Được bộ đội hướng dẫn, nhân dân thị xã khẩn trương đào hầm hố để phòng tránh máy bay địch oanh tạc. Một số đồng bào bị địch ép đi "di tản" theo tàn binh địch lên hướng Chư Cúc, gặp quần ta ở đó, được phổ biến và giải thích chính xác, đã chỉ tàn binh địch cho quân ta bắt và yên tâm trở về thị xã làm ăn. Hai ba ngày sau, các cửa hiệu buôn đã mở cửa bán hàng, các chợ đã họp.


Bọn Mỹ - ngụy dã man đem bom đến giội xuống đường phố ném cả vào một số trường học và chỗ dân đang họp chợ ở thị xã. Nhưng khi khói lửa còn chưa tan, đông đảo nhân dân, kể cà các cụ già, đã đề nghị với ủy ban quân quản cho đi lao động thu dọn, làm vệ sinh đường phố và xây lại nhà trường cho các cháu học sinh tiếp tục năm học. Một số kho gạo, muối, đồ hộp, thuốc men,... thu được của địch trong thị xã được phát ngay cho nhân dân. Các cán bộ địa phương đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội để nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân trong thị xã.


Trong những ngày ta đánh địch ở Buôn Ma Thuột, quân ta trên các hướng tiến công, nghi binh phối hợp cũng tích cực hoạt động. Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã tạo thời cơ vô cùng thuận lợi cho bộ đội địa phương và dán quân du kích đẩy mạnh tiến công, giải phóng một số quận lỵ, thị trấn. Bộ đội địa phương Đắc Lắc đã giải phóng quận Lạc Thiện.


Ngày 9 tháng 3, một bộ phận quán ta đánh chiếm ấp Nhân Cơ, Nhân Hải, áp sát sân bay Nhân Cơ thuộc tỉnh Quảng Đức.

Ngày 10 tháng 3, sau khi giải phóng hoàn toàn khu vực Đức Lập, đại bộ phận lực lưởng của Sư đoàn 10 trên hướng Đức Lập đã cơ động về hướng Buôn Ma Thuật để đón đánh quân địch tăng viện, phản kích.

Ngày 11 tháng 3, trung đoàn 25 đánh chia cắt trên đường 21, diệt một số xe cơ giới và một bộ phận địch từ Khánh Dương lên giải tòa đường.

Ngày 12 tháng 3, ở hướng tây - nam Plây Cu, ta diệt 2 chốt và áp sát vào Thanh Bình (2), uy hiếp Thanh An. Ở đường số 14, ta đánh cắt giao thông, đoạn từ Kon Tum xuống Plây Cu và pháo kích Plây Cu, sân bay Cù Hanh và Kon Tum. Bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai đã đẩy mạnh tiến công vào hướng đông - nam thị xã Plây Cu.


Ngày 13 tháng 3, trên hướng tây đường số 19, quân ta đánh tiêu diệt cụm địch ở ngã ba Plây Bôn, đánh lui quân địch phản kích, diệt 2 chi đoàn thiết giáp và phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang. Trên hướng đông đường số 19, quân ta phát triển tiến công về hướng Vườn Xoài ở thung lũng Vĩnh Thạnh.


Như vậy là nhiệm vụ bước đầu của chiến dịch Tây Nguyên đã hoàn thành. Chiến thắng mở đầu Buôn Ma Thuột nhanh gọn, giòn giã là một đòn rất hiểm và rất đau, một đòn chí mạng khiến địch không sao gượng dậy được. Đó là một trận then chốt và cũng là một thắng lợi then chốt của chiến dịch.


Chiến thắng Buôn Ma Thuột có sức cổ vũ quân ta rất lớn và cũng cung cấp cho ta nhiều kinh nghiệm chiến đấu phong phú. Nó tạo cho ta những điều kiện thuận lợi để phát triển chiến đấu một cách mạnh mẽ.


Cái cửa lớn của chiến dịch đã mở. Quân ta đã giành được một chỗ đứng chân ở vùng nam Tây Nguyên rộng lớn. Con đường dẫn tới các hướng thật là rộng rãi, mở ra một thế phát triển về chiến dịch và chiến lược ở Tây Nguyên và cả một vùng rộng lớn thuộc địa bàn quân khu 2 của địch, một quãng giữa của miền Nam Việt Nam.


Đối với Mỹ - ngụy thì sự kiện mất Buôn Ma Thuột là một đòn choáng váng. Từ chỗ chủ quan khinh địch, chúng đâm ra hoang mang, mất tin tưởng và đi đến đột biến về nhận thức, tinh thần, tâm lý. Một thị xã vào loại lớn ở Tây Nguyên, có phòng bị và tổ chức phòng ngự như thế mà đã không đứng vững nổi hai ngày trước cuộc tiến công vũ bão của đối phương. Sự kiện Buôn Ma Thuột quả là một tiếng còi báo động sự sụp đổ của địch ở vùng rừng núi.


Đúng thế! Tiếp sau sự kiện mất Buôn Ma Thuột một sự kiện mới chẳng tốt lành gì lại đến với cái "quân đội cộng hòa" của Mỹ - ngụy: đó là sự kết thúc của toàn bộ sư đoàn 23 ngụy khi chúng phải đi phản kích cứu nguy cho Buôn Ma Thuột.


Đòn thứ hai: đập tan cuộc phản kích, kết thúc số phận sư đoàn 23 ngụy.

Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, bọn chỉ huy địch đề ra một số tình huống xử trí như sau:

- Ngăn chận bước tiến của quân ta từ Buôn Ma Thuột theo đường số 21 về Ninh Hòa và Nha Trang.

- Đối phó với cuộc tiến công của quân ta vào Plây Cu.

- Có điều kiện thì phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Thế nhưng, trong thế trận lúc bấy giờ, đối với tình huống nào chúng cũng khó xử trí.

Bản thân lực lượng quân đoàn 2 ở Tây Nguyên chỉ có sư đoàn 23 là đáng kể, còn các liên đoàn biệt động quản thì sức chiến đấu kém. Lực lượng tổng dự bị chiến lược thì bị phân tán ở nhiều nơi và cũng đang bị tiến công. Bọn chỉ huy quân đoàn 2 ngụy giờ đây sống chết phải tự mình lo liệu, không nhờ cậy được gì ở sự chi viện của bọn cầm đầu Mỹ - ngụy. Vô cùng bối rối và cay đắng, bọn chúng chỉ có cách tung đứa con cưng là sư đoàn 23 (thiếu) gồm trung đoàn 44 và trung đoàn 45 xuống phía đông Buôn Ma Thuột, trên đường số 21. Mọi đường bộ đều bị quân ta chiếm giữ và cắt đứt. Chúng không có cách nào hơn là đổ quân xuống bằng máy bay lên thẳng. Như vậy, số quân phản kích không thể mang theo xe tăng mà chỉ có một số khẩu pháo, rất ít đạn dược, xăng dầu và các thứ cơ sở vật chất khác. Rõ ràng, hai trung đoàn bộ binh đổ bộ bằng máy bay lên thẳng dù có liều lĩnh cũng không thể đối địch được với một đối phương hùng mạnh, có đủ các binh chủng đang tràn đầy khí thế chiến thắng và đang ở trong cao trào của cuộc tiến công mãnh liệt. Mặc dầu có một số máy bay chi viện, song không có xe tăng và pháo binh thì bọn quân phản kích của địch khó có sức chiến đấu mạnh.


Từ chiều ngày 12 tháng 3 đến hết ngày 13 tháng 3 năm 1975, với tổng số 145 lần chiếc máy bay lên thẳng và 81 lần chiếc các loại máy bay chiến đấu cường kích hoạt động yểm hộ, địch đã đổ trung đoàn 45 và pháo đội 232 xuống đông Buôn Ma Thuột, từ điểm cao 581 và dọc theo đường số 21 đến Phước An.


Trong ngày 12 tháng 3, ta được tin tên sư đoàn trưởng sư đoàn 23 ngụy báo cho căn cứ 53 ở sân bay Phụng Dực (Hòa Bình) đang bị quân ta bao vây là: chúng sẽ có lực lượng xuống tăng viện, ứng cứu và sẽ thực hiện phản kích lấy lại thị xã Buôn Ma Thuột. Theo kế hoạch phản kích, chúng lấy khu vực từ căn cứ 45 đến căn cứ 53 và điểm cao 581 làm tuyến bàn đạp, các lực lượng tàn quân phải tập trung về đó, phối hợp với quân đến tăng viện để thực hành phản kích vào đông và đông - nam Buôn Ma Thuột.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:17:30 am
Thật rủi ro cho quân địch tăng viện. Hồi 9 giờ 30 phút ngày 12 tháng 3, quân ta đã chiếm mất căn cứ 45 rồi. Thế là trung đoàn 45 và pháo đội 232 của địch không còn chỗ đứng chân ở căn cứ 45 nữa và chúng cũng chẳng liên lạc được với căn cứ 53. Cuối cùng chúng buộc phải đổ xuống các tọa độ không được xác định trước ở khu vực Nông Trại - Phước An. Bọn tàn quân của liên đoàn biệt động quân số 21 đang tháo chạy tan tác vội xô nhau tới nhờ bọn mới đổ bộ tăng viện che chở.


Nhưng, như ta biết: trong phương án tác chiến chiến dịch, quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng đánh quân địch tăng viện bằng đường không. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ta đã di chuyển các trận địa pháo binh và pháo cao xạ ra phía đông thị xã này. Sau khi tiêu diệt địch và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Đức Lập, Sư đoàn bộ binh 10 dự bị của chiến dịch đã tổ chức lực lượng, khẩn trương chuyển đến khu vực tác chiến dự kiến. Từ ngày 10 tháng 3, các lực lượng của sư đoàn đã lần lượt hành quân bằng cơ giới qua hơn 100km đường quân sự làm gấp tới đông Buôn Ma Thuột. Trung đoàn 24 là đơn vị đầu tiên triển khai lực lượng sẵn ngay tại chỗ. Trung đoàn 45 địch vừa đổ quân xuống, liền bị trung đoàn 24 của ta đánh luôn một trận phủ đầu và lập tức bị ngăn chặn, không liên hệ được với trung đoàn 53 đang bị quân ta bao vây tiến công uy hiêp ở sân bay Phụng Dực. Quân ta liên tục bám đánh và bao vây cô lập quản viện, tạo thế cho các lực lượng của sư đoàn đến tiếp sau triển khai đội hình tiến công.


Quân địch từ chỗ tăng viện để phản kích quân ta, giờ đã trở thành kẻ bị bao vây. Chừng hiểu được nguy cơ đó nên chúng rất tích cực đào công sự, rất tích cực "gào" máy bay, pháo binh bắn phá oanh tạc ngăn chặn quán ta. Song địch ngăn sao nổi dòng thác tiến công của quân ta ập tới. Ngay trong đêm 13 tháng 3, trung đoàn 24 và các đơn vị tăng cường của quân ta đã vượt mọi địa hình sình lầy, gai góc, đường khúc khuỷu, quanh co dưới làn pháo đạn địch để tiến vào vị trí xuất phát tiến công. Vì gặp khó khăn nên các hướng quân ta không thực hiện được kế hoạch hiệp đồng theo giờ "G" nổ súng vào lúc trời mờ sáng. Tối 7 giờ ngày 14 tháng 3, pháo binh ta mới bắt đầu bắn được và phải mất gần hai giờ chiến đấu với địch, bộ binh và xe tăng ta mới làm chủ hoàn toàn được trận địa. Kết thúc trận chiến đấu, quân ta mới chỉ tiêu diệt, làm tan rã tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 trung đoàn 45 và tiểu đoàn bảo an địch đóng tại khu vực, chiếm điểm cao 581, giải phóng đoạn đường số 21 dài 12km, diệt 210 tên địch, bắt sống 180 tên, thu 260 súng bộ binh, 4 khẩu pháo 105. Quân địch còn lại tháo chạy, chiều 14 tháng 3 chúng co vào được khu Nông Trại. Quân ta lập tức tung ngay trinh sát bám sát chúng, đồng thời tổ chức các lực lượng phát triển tiếp theo.


Tình thế chiến trường ở khu vực đường số 21 lúc này chuyển biến rất nhanh, một hình thái mới đã xuất hiện:

Quân địch tuy vẫn còn khả năng đưa thêm quân đến tăng viện, nhưng bàn đạp để chúng triển khai thực hành phản kích vào Buôn Ma Thuột đã bị đẩy ra xa... Xét các yếu tố tinh thần, vật chất của địch, trước mắt chúng không đủ sức phản kích và thời cơ phản kích trực tiếp vào Buôn Ma Thuột cũng không còn nữa. Qua ngày 15 tháng 3, theo các tin tức trinh sát, kỹ thuật và các phân đội bám sát địch báo cáo về thì quân địch đến tăng viện bị đánh phủ đầu thua chạy đang thực sự co vào phòng ngự ngăn chặn quân ta phát triển tiến công. Quân tăng viện của địch cũng đã đến thêm, có trung đoàn 44 (sư đoàn 23) đang đổ quân xuống phía bên trong tuyến co cụm, riêng sở chỉ huy nhẹ sư đoàn 23 di chuyên xuống ở luôn khu vực Nông Trại với tàn quân của trung đoàn 45. Kể cả số quân ở các nơi bị đánh tan tác chạy về, từ khu vực Nông Trại đến Phước An tổng cộng có khoảng 5.600 tên và từ đông Phước An đến Chư Cúc có 3 tiểu đoàn bảo an chiếm giữ.


Quân ta đang từ thế trận đánh quân địch phản kích đã nhanh chóng hình thành thế trận tiến công trong hành tiến và phát triển sâu vào hướng Phước An - Chư Cúc. Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên lập tức chỉ thị cho Sư đoàn bộ binh 10 điều trung đoàn 28 dùng xe cơ giới hành quân ngay trong đêm 15 tháng 3 để tăng cường nhanh sức chiến đấu, cùng trung đoàn 24 đánh tiếp các lực lượng của sư đoàn 23 địch, trước mắt tiêu diệt nốt lực lượng còn lại của trung đoàn 45 ngụy, đánh chiếm bằng được Ngã Ba, Nông Trại và quận lỵ Phước An càng sớm càng tốt, tạo điều kiện cho quân ta phát triển tiến công tiêu diệt toàn bộ sư đoàn 23 ngụy và các đơn vị ngụy khác ở trong khu vực, giải phóng Phước An, Chư Cúc. Đồng thời, trong đêm 15 tháng 3, trung đoàn 66 (thiếu 1 tiểu đoàn) cùng 1 đại đội xe tăng và 2 khẩu pháo 85 ly phối hợp chiến đấu với trung đoàn 149 thuộc Sư đoàn 316 đánh dứt điểm căn cứ 53 làm cho quân địch không còn chỗ dựa để phản kích vào Buôn Ma Thuột.


Chấp hành ý định của Bộ tư lệnh chiến dịch, Sư đoàn bộ binh 10 đã nhạy bén phát hiện ra chỗ yếu của địch là ít pháo, lại không có xe tăng và đối phó lúng túng. Căn cứ vào phát hiện đó, quân ta đã vận dụng nhiều hình thức đánh địch rất phong phú. Ít hơn địch về số lượng, quân ta đã khẩn trương tổ chức trận đánh theo một kế hoạch tập trung, thống nhất hành động và có chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ. Đặc biệt đánh quân địch ở trạng thái thua chạy, co vào tuyến phòng thủ ngăn chặn cùng với quân bảo an và tàn quân ô hợp các nơi kéo về, quân ta đã dùng hình thức vận động bao vây tiến công liên tục, tiến công địch trong hành tiến, vây rồi mới đánh, vừa đánh vừa vây, địch chạy thì truy kích sát gót, làm cho chúng không kịp trở tay đối phó, và từ đó đẩy chúng vào thế bị động hoàn toàn.


7 giờ 15 phút ngày 16 tháng 3, pháo binh ta bắt đầu bắn vào Nông Trại, trúng ngay sở chỉ huy trung đoàn 45 ngụy. Sau đó 25 phút, xe tăng - xe bọc thép chở bộ binh ta từ tuyến xuất phát tiến công cách tiền duyên địch 300m tiến lên đột phá vào trận địa địch. Dọc đường, bộ đội ta gặp một bộ phận địch xảo quyệt phục kích hai bên đường, dùng súng chống tăng và trung liên ngăn chặn, kết hợp với pháo binh trong Nông Trại bắn ra và máy bay A.37 lao tới phóng hỏa tiễn vào xe tăng ta. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn, quân ta táo bạo triển khai ngay xe tăng, dùng hỏa lực yểm hộ cho bộ binh xông tới đánh trả quyết liệt và dùng toàn bộ hỏa lực cao xạ trong đội hình tập trung bắn máy bay. Cùng lúc, pháo binh ta cũng tập trung bắn dồn dập vào quân địch ở tuyến một. Quân phục kích của địch bị phản phục kích một trận đau: một số bị diệt, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Quân ta thừa thắng cho xe tăng - xe bọc thép chở bộ binh tiếp tục xông thẳng vào trận địa địch. Một mũi xe tăng - xe bọc thép đánh vào sở chỉ huy địch, một mũi bộ binh đột phá từ hướng bắc xuống và một mũi bộ binh khác được xe tăng yểm hộ từ phía tây - nam đánh vào. Từng bước phát triển, quân ta tận dụng mọi thứ trang bị, phát huy uy lực của súng B.40, B.41 để tiêu diệt các hỏa điểm, công sự và sinh lực địch. Mỗi mũi tiến công của quân ta như một mũi dao nhọn, tiến đến đâu quân địch gục ngã đến đó. Đúng 8 giờ 15 phút ngày 16 tháng 3, quân ta làm chủ Nông Trại, tiêu diệt hoàn toàn các lực lượng còn lại của trung đoàn 45 ngụy, sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy trốn chạy bằng máy bay lên thẳng. Ta chiếm được một chiếc máy bay lên thẳng còn đang nổ máy và 4 khẩu pháo 105 ly. Số tàn quân địch chạy về hướng ngã ba Phước An lại bị bộ phận khóa sẵn phía sau của ta tóm gọn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:18:48 am
Quân ta tiếp tục truy kích địch, phát triển tiến công, đánh chiếm ngã ba Phước An, quận Phước An mới thành lập ở cách ngã ba Phước An 1.800m về phía đông - nam. Tên sư đoàn trưởng sư đoàn 23 đi máy bay lên thẳng quan sát bị cao xạ ta bắn bị thương nặng.


Trong khi trung đoàn 24 truy kích quân địch chạy về hướng quận lỵ Phước An, trung đoàn 28 đã cử trinh sát bám địch để chuẩn bị đón trung đoàn cơ động sang đánh Phước An, theo kế hoạch. Nhưng quân địch phòng giữ quận lỵ Phước An đã rút chạy và trên hướng đông - bắc quận lỵ chỉ còn 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 44 ngụy đổ bộ xuống từ chiều ngày 16 tháng 3. Tiểu đoàn này đứng ở đây đón bọn tàn binh của trung đoàn 53 ngụy ở sân bay Phụng Dực bị các trung đoàn 66 và 149 tiến công quyết liệt vào căn cứ, đang tan tác chạy tới.


Trung đoàn 24 quân ta liền triển khai lực lượng chiếm ngay khu vực Phước An, truy lùng bọn địch lẩn trốn, đón đánh bọn tàn binh trung đoàn 53 ngụy, đồng thời chấn chỉnh lực lượng để sẵn sàng cơ động. Còn trung đoàn 28 thì cơ động lực lượng, phối hợp với xe tăng - xe bọc thép, pháo binh và cao - xạ đánh theo trục đường số 21, diệt các lực lượng của trung đoàn 44 ngụy, tiến công Chư Cúc và phát triển về hướng đông.


Tác chiến và truy lùng địch ở khu vực Phước An đêm 17 và ngày 18 tháng 3, ta đã diệt gần 500 tên, bắt sống hơn 1.600 tên, thu hơn 1.800 súng và trang bị (trong đó có 6 khẩu pháo 105 ly và 1 máy bay lên thẳng). Như vậy là trung đoàn 45 ngụy đến phản kích, đã bị ta xóa sổ và bọn tàn quân ở Buôn Ma Thuột cũng bị ta diệt hết. Địch không còn dựa vào địa bàn Nông Trại - Phước An để phản kích từ xa vào Buôn Ma Thuột được nữa. Dù địch vẫn tiếp tục đổ thêm trung đoàn 44 đến tăng viện, song khả năng thực hiện mưu đồ phản kích của chúng dă bị tiêu tan, không còn mảy may hy vọng.


Giữa lúc bọn quân phản kích đang bị đánh tơi bời thì những tên cầm đầu ngụy quân, vì quá hốt hoảng trước sức uy hiếp của quân ta về hướng đồng bằng ven biển, vội vàng ra lệnh cho bọn chỉ huy quân khu 2 rút bở tây Nguyên (sẽ nói rõ ở những trang dưới). Sư đoàn 10 quân ta được lệnh tiếp tục tiến công mạnh ở Phước An, tiêu diệt nốt sở chỉ huy sư đoàn 23 và trung đoàn 44 ngụy, đồng thời tích cực phát triển về hướng Khánh Dương.


Ngày 17 tháng 3, quân ta phát hiện thấy trung đoàn 44 ngụy đang giấu quân lẩn tránh ở khu vực từ bản Ea Phê đến tây - nam đường vòng bản Croong Búc, có một bộ phận ở Chư Cúc bảo vệ cơ quan sở chỉ huy nhẹ sư đoàn 23 ngụy còn lại. Ngoài ra, còn 3 tiểu đoàn bảo an địa phương và các nơi chạy về cũng tụ lại ở khu vực này.


Sáng 18 tháng 3, mặc dầu kém địch nhiều về số lượng, song nắm thời cơ địch đang nao núng, trung đoàn 28 đã hạ quyết tâm nhanh chóng tập trung lực lượng đột phá theo trục đường số 21 trong hành tiến, dùng các lực lượng nhỏ nhanh chóng vượt qua đội hình địch lên chặn ở các đoạn phía tây và phía đông Chư Cúc, hình thành thế bao vây chặt để hiệp đồng với lực lượng đột phá trước mặt tiêu diệt gọn quân địch. Khí thế tiến công và cách đánh linh hoạt đó đã tạo cho lực lượng đột kích của ta một sức mạnh hơn hẳn địch, giáng đòn bất ngờ vào trung đoàn 44 ngụy. Chúng bị diệt một số, còn một số chạy tán loạn. Trước tình thế nguy ngập, địch dùng pháo bắn ngăn chặn và dùng máy bay oanh tạc sập cầu số 13 để cản bước tiến quân ta. Lợi dụng lúc quân ta tạm dừng chờ công binh lên bắc cầu, địch co lại tập trung thành một cụm lớn trên đoạn đường số 21 từ cầu số 15 đến cầu số 20. Nhưng đến 11 giờ 30 phút, vừa bắc cầu xong là quân ta lập tức tiến lên xung phong như vũ bão, đập tan cụm quân địch ở đoạn đường nói trên và phát triển ngay về phía Chư Cúc. Đúng 12 giờ, quân ta hoàn toàn làm chủ thị trấn này và tổ chức ngay các lực lượng truy lùng tàn quân địch lẩn trốn. Số địch tan chạy về phía đông cũng không thoát, vì vấp phải trung đoàn 25 quân ta đang chuẩn bị đánh Khánh Dương thấy chúng chạy đến đã chủ động đón đánh. Kết quả, chúng bị diệt và bắt sống 500 tên, chỉ còn một số lọt lưới chạy vào rừng.


Trận đánh quân tăng viện phản kích ở khu vực Phước An - Chư Cúc đến đây là kết thúc. Quân ta đã đập tan ý đồ phản kích của địch định chiếm lại Buôn Ma Thuột và ngăn chặn tốc độ tiến công của quân ta về hướng đồng bằng, không những xóa sổ sư đoàn 23, "những thiên thần lịch sử" của quân ngụy, mà còn quét sạch luôn cả các lực lượng bảo an dân vệ địa phương và tàn quân các nơi chạy về, giải phóng thêm hai quận Phước An và Chư Cúc.


Thắng lợi đập tan cuộc phản kích, xóa sổ sư đoàn 23 ngụy - đòn then chốt thứ hai của chiến dịch, cùng với thắng lợi Buôn Ma Thuật - đòn then chốt mở màn chiến dịch, là những thắng lợi rực rỡ và hoàn chỉnh trong một thế trận, đã tạo ra đà phát triển tiến công nhanh chóng của quân ta xuống các tỉnh ven biển miền Trung, đồng thời thúc đẩy thêm sự suy sụp, tan rã ngày càng nhanh của đoàn quân địch đang tháo chạy trên đường số 7.


Đòn thứ ba: truy kích diệt toàn bộ quân địch tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Nói trở lại tình hình địch vào những ngày 14 và 15 tháng 3 về trước. Lúc bấy giờ, tuy các đơn vị phản kích của địch chưa bị ta tiêu diệt hết, song tình thế chung của quân địch ở Tây Nguyên và quân khu 2 đã lâm vào chỗ hết sức hiểm nghèo:


Buôn Ma Thuột bị ta chiếm. Sư đoàn 23 bộ binh không còn sức chiến đấu vì có 3 trung đoàn thì 2 trung đoàn đã bị diệt (trung đoàn 53 và trung đoàn 45), trung đoàn 44 và bộ chỉ huy sư đoàn đang bị vây và có nguy cơ bị tiêu diệt nốt. Sư đoàn 22 bộ binh đi giải tỏa đường số 19 ở đèo Thượng An, tây Bình Khê, đông An Khê cũng đã bị tiêu diệt một bộ phận và dang bị bao vây. Một nửa số biệt động quân bị tiêu diệt, bị đánh thiệt hại nặng hoặc bị giam chân (liên đoàn 21 bị diệt, liên đoàn 6 và liên đoàn 25 bị đánh thiệt hại nặng, liên đoàn 23 bị mắc kẹt ở Quảng Đức). Một trung đoàn xe tăng - xe bọc thép, một số tiểu đoàn và đại đội pháo binh bị tiêu diệt. Các đường chiến lược bị ta chiếm lĩnh và cắt đứt hoàn toàn. Sân bay duy nhất là Cù Hanh thì đang bị khống chế. Tóm lại, ở chiến trường này, chúng đã bị tiêu diệt và tiêu hao một lực lượng chủ lực quan trọng, số còn lại đang bị vây hãm và bị tiến công ở Plây Cu - Kon Tum và đường số 19. Đội quân bị trói chặt ở địa bàn này không phát huy được tác dụng gì đối với toàn chiến trường quân khu 2 mà còn đang suy yếu và có nguy cơ bị tiêu diệt. Vùng đất quân khu 2 từ nam đường 19 trở vào tới Ninh Thuận, Bình Thuận, Đà Lạt, Lâm Đồng chỉ có lực lượng bảo an phòng giữ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:19:23 am
Trong khi đó, quân ta một mặt đang chuẩn bị tiến công vào tập đoàn địch ở Plây Cu - Kon Tum, mặt khác lại sắp đánh vỡ trận địa cuối cùng của sư đoàn 23 ngụy ở Phước An và từ đó tiến công về hướng Nha Trang - Cam Ranh đang bị bỏ ngỏ. Mũi tiến công về hướng Nha Trang - Cam Ranh quả rất đáng sợ, vì mất địa bàn này thì coi như mất quân khu 2 về cơ bản, dù địch còn giữ được Plây Cu. Mất quân khu 2, mất vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ tức là miền Nam Việt Nam bị cắt làm đôi ở một khúc rất quan trọng. Quân khu 3 và Sài Gòn sẽ bị uy hiếp từ phía đông, nơi có khu căn cứ hậu cần trung ương, vùng yết hầu liên lạc với thế giới bên ngoài bằng đường biển. Quân khu 1 sẽ bị cô lập không liên lạc được với Sài Gòn bằng đường bộ và rồi cũng sẽ mất theo cả vùng đồng bằng ven biển của nó.


Ở các chiến trường khác, bấy giờ quân ta đều hoạt động mạnh để phối hợp với Tây Nguyên một cách hết sức nhịp nhàng. Từ Trị - Thiên đến Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Biên Hòa, Bình Dương, Dầu Tiếng, Tây Ninh, đồng bằng sông Cửu Long,... nhiều cứ điểm địch bị ta đánh chiếm, nhiều quận lỵ và thị trấn được giải phóng. Quân địch phải đối phó với ta ở khắp nơi và nơi nào cũng lâm vào tình trạng khó khăn nguy ngập. Vì thế, bọn cầm đầu Mỹ - ngụy không thể điều quân từ chiến trường này đi cứu chiến trường khác được.


Hậu phương là một nhân tố thường xuyên có tác dụng quyết định thắng lợi của chiến tranh. Đối với quân đội Mỹ - ngụy thì điều đó lại càng vô cùng quan trọng, càng có ý nghĩa sinh tử. Vì chúng không thể chiến đấu trong điều kiện gian khổ kéo dài, không đủ sức chịu đựng những vất vả thiếu thốn liên tục. Trong tình thế thất bại và so sánh lực lượng đã thay đổi đến mức nghiêm trọng, nguy cơ hậu phương bị mất đã hiện ra trước mắt, bọn cầm đầu Mỹ - ngụy không thể không buộc phải thay đổi chủ trương chiến lược: rút hẹp phòng tuyến lại, co về giữ hậu phương; bở vùng rừng núi, co về giữ vùng đồng bằng ven biển, các đô thị lớn, các đầu mối giao thông quan trọng.


Ngày 14 tháng 3 năm 1975, bọn đầu sỏ ngụy quyền ngụy quân gồm Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên hốt hoảng kéo nhau ra Nha Trang gặp Phạm Văn Phú, tư lệnh quân khu 2 để bàn bạc và đi tới một quyết định cay đắng và gấp gáp: Rút bở tây Nguyên! Cụ thể là rút toàn bộ lực lượng quân đoàn 2 còn lại ở Kon Tum - Plây Cu nhằm tránh bị quân ta tiêu diệt, co về giữ đồng bằng, củng cố một thời gian rồi tập trung lực lượng chờ thời cơ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên.


Ngày 15 tháng 3, Phạm Văn Phú vội vàng cho sở chỉ huy quân đoàn 2 ở Plây Cu chuồn trước bằng máy bay lên thẳng về Nha Trang. Tiếp đó đến cuộc tháo chạy lớn bằng đường bộ. Đường số 19 và đường số 14 đã bị quân ta cắt đứt. Chúng chỉ còn cách đánh liều chạy theo con đường số 7 từ Plây Cu qua thị trấn Phú Thiện, thị xã Cheo Reo (Phú Bổn) về Củng Sơn - Tuy Hòa. Đây là một con đường cũ, hẹp đã bỏ hoang lâu ngày vì du kích của ta hoạt động mạnh.


Lực lượng rút chạy của địch gồm có: 6 liên đoàn biệt động quân; lữ kỵ binh 2 có 3 thiết đoàn 19, 21 và 3; 6 tiểu đoàn pháo binh (có 1 tiểu đoàn pháo 175 ly); 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 44; tiểu đoàn 89 thuộc liên đoàn 21; liên đoàn 20 công binh; liên đoàn 66 truyền tin, cơ quan quân đoàn 2; bộ phận sĩ quan của sư đoàn 6 không quân; 2 liên đoàn bảo an của tỉnh Kon Tum - Gia Lai và tàn quân ở các nơi chạy về, tổng cộng 27 đầu mối đơn vị. Ngoài ra, trên đường rút chạy còn có các lực lượng bảo an, biệt kích, dân vệ đồn trú trong các căn cứ thị trấn, thị xã từ Phú Thiện đến Củng Sơn.


Theo lệnh của Thiệu, bọn chỉ huy quân khu 2 không thông báo cho các lực lượng địa phương biết, "cứ để cho chúng chống giữ, khi chủ lực rút xong ai biết thì biết". Còn "địa phương quân là người Thượng thì trả chúng về với Tây Nguyên". Theo kế hoạch, chúng định rút từ Plây Cu về Cheo Reo trong ba ngày: ngày 15 tháng 3, rải quân chốt bảo vệ và sửa đường; ngày 16 tháng 3, rút Kon Tum và ngày 17 tháng 3, rút Plây Cu, đến lượt bộ phận nào rút thì bộ phận ấy biết. Sau đấy sẽ vừa sửa đường vừa rút, sửa xong đường đến đâu rút đến đó. Để chống lại du kích ta và sửa 5 đoạn đường từ phía nam Củng Sơn đến Tuy Hòa, chúng phải điều lực lượng ở đồng bằng lên hỗ trợ.


Thế nhưng, bắt nguồn từ sự choáng váng và rối loạn về chiến lược dẫn đến sai lầm về chiến lược sau đòn hiểm Buôn Ma Thuột, cuộc rút bở tây Nguyên đã diễn ra hoàn toàn ngược với mong muốn của bọn chỉ huy địch. Đó không phải là một cuộc rút lui "có tổ chức, có chỉ huy và tuyệt đối bí mật" như kế hoạch chúng đã đề ra, mà chỉ là một cuộc tháo chạy hỗn loạn của một đoàn quân bại trận thảm hại. Khó khăn rất lớn chúng không sao khắc phục được là: lực lượng đông, binh khí kỹ thuật nhiều, thời gian rất gấp, bảo đảm đường cơ động và hậu cần rất phức tạp. Dù có cố gắng dựa vào các căn cứ thị trấn, thị xã trên dọc đường rút chạy mà thiết lập các khu chỉ huy, các bàn đạp để vừa chuẩn bị vừa rút, chúng cũng không thể tránh được tình trạng rối loạn đội hình, rối loạn tổ chức chỉ huy và bảo đảm. Hơn nữa, bên cạnh đoàn quân vốn đã ô hợp do tinh thần dao động lại còn kèm thêm cả một đoàn người "di tản". Vì, sau khi thấy Phạm Văn Phú chuồn trước cùng sở chỉ huy của hắn về Nha Trang, tiếp đến những đơn vị chuyên môn rút về Cheo Reo mang theo cả gia đình, thì bọn sĩ quan, binh lính cũng khiếp sợ, gia đình chúng ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay, gây nên sự hỗn loạn. Kẻ nào không vào được sân bay thì dùng đủ các loại xe để chạy về Cheo Reo. Đường sá tắc nghẽn vì chật ních xe tăng, xe kéo pháo, xe vận tải, xe buýt, xe lam,... chật ních binh lính và vợ con chúng. Quân đè dân, kẻ khỏe đè kẻ yếu, xe to đè xe con, chúng chửi bái, đánh nhau ầm ĩ, tranh nhau mà đi. Cuộc tháo chạy dẫn đến một bước ngoặt, một đột biến về tinh thần tư tưởng. Mất hết lòng tin ở cuộc chiến, chúng chỉ còn lo giữ lấy cái mạng của bản thân và gia đình chúng mà thôi. Tóm lại, đó là một cuộc tháo chạy vô định và tuyệt vọng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Sáu, 2023, 07:20:15 am
Về phía ta, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã sớm dự kiến một cuộc rút lui chiến lược của địch ở Tây Nguyên. Vì vậy, khi cài thế chiến dịch trước ngày nổ súng đánh Buôn Ma Thuật, chúng ta đã tính đến việc không cho địch tăng cường lên cứu Tây Nguyên cũng như không cho địch rút chạy khỏi Tây Nguyên một cách dễ dàng. Qua những tin tức thu được trong những ngày 13, 14 và 15 tháng 3 năm 1975, Bộ Tổng tư lệnh, Sở chỉ huy tiền phương và Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã phát hiện ra nhiều dấu hiệu rút chạy của địch. Qua những dấu hiệu đó, chúng ta ngày càng đi đến nhận định dứt khoát rằng, đây không phải một cuộc rút chạy trong phạm vi chiến dịch nữa mà đã lên tái tầm chiến lược rồi. Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, trong phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch được trang bị hiện đại đã phải bỏ địa bàn chiến lược quan trọng rút chạy. Sự kiện này chứng tò ràng, đòn đánh trúng huyệt Buôn Ma Thuột đã bắt đầu ngấm và làm cho địch choáng váng, đi tới phạm phải sai lầm rất làn về chiến lược. Nó sẽ dẫn đến nhiều sự kiện quan trọng khác, có thể dẫn đến việc ta kết thúc thắng lợi nhanh chóng cuộc chiến tranh.


Rõ ràng thời cơ lớn đã đến với chúng ta! Vậy thì, muốn nắm chắc thời cơ, trước mắt phải tiêu diệt bằng được quân địch rút chạy, phải diệt chúng ngay trên chiến trường Tây Nguyên, không cho chúng thoát về đồng bằng. Phải diệt cho nhanh, cho gọn để thúc đẩy sớm quá trình chuyển biến cục diện chiến tranh.


Chấp hành lệnh của sở chỉ huy tiền phương, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên cho rằng, sai lầm lớn về chiến lược của địch nhất định sẽ dẫn chúng đến hàng loạt sai lầm về hành động tác chiến và chiến thuật. Đây là thời cơ rất thuận lợi để tiêu diệt toàn bộ đoàn quân tháo chạy, vì chúng đã ra ngoài công sự, tinh thần đang hoang mang rối loạn, hàng ngũ lộn xộn, tổ chức chỉ huy không chặt chẽ. Mất đoàn quân này thì quân đoàn 2 ngụy coi như sạch túi, vì sư đoàn 23 chỉ còn 1 trung đoàn 44 sắp bị tiêu diệt ở Phước An, sư đoàn 22 đã bị loại 1 trung đoàn ra khỏi vòng chiến, rồi đây cũng sẽ bị tiêu diệt nốt. Quyết tâm tiêu diệt đoàn quân tháo chạy của địch từ Plây Cu - Kon Tum về Cheo Reo, Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng vào trận đánh:

- 1 sư đoàn (Sư đoàn 320) và 1 trung đoàn bộ binh (trung đoàn 95B).

- 1 tiểu đoàn xe tăng (tiểu đoàn 1, trung đoàn 273).

- 1 trung đoàn pháo cao xạ (trung đoàn 593).

- 1 trung đoàn pháo binh (trung đoàn 675).

Ngoài ra, khi chiến đấu còn có 2 tiểu đoàn địa phương tỉnh Phú Yên và các lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc, huyện Phú Túc, huyện Củng Sơn phối hợp tác chiến.

Để hiệp đồng với đòn tiêu diệt đoàn quân tháo chạy của địch về Cheo Reo, các hướng cũng tiếp tục đẩy mạnh đà tiến công của mình.

Ở hướng Plây Cu - Kon Tum, các đơn vị chủ lực và địa phương gồm bộ binh, pháo binh, đặc công dùng một bộ phận lực lượng tiến nhanh vào Plây Cu, vượt qua các vị trí dọc đường để bám sát đội hình rút chạy của địch, từ phía sau đánh tới. Các đơn vị bộ đội địa phương và du kích hai tỉnh Đắc Lắc, Phú Yên đánh chặn và chốt ở dọc đường không cho địch chạy thoát về Tuy Hòa.


Ở hướng đường số 21, Sư đoàn 10 tiến công mạnh vào Phước An, diệt nốt trung đoàn 44 và sở chỉ huy sư đoàn 23, đồng thời tiến công về hướng Khánh Dương (đã nói ở những trang trên, đoạn đánh quân phản kích).


Ở hướng đường số 19, quân ta tiếp tục bao vây tiến công tiêu diệt sư đoàn 22 ngụy, không cho chúng rút về Quy Nhơn, Nha Trang hoặc Tuy Hòa.

Chiều ngày 16 tháng 3, Sư đoàn 320 và các đơn vị nhận lệnh truy kích địch trên đường số 7 lúc đại bộ phận còn đang làm nhiệm vụ trên đường số 14, đoạn giữa Buôn Ma Thuột và Plây Cu, trên ngã ba đường từ Thuần Màn đi Cheo Reo. Về số lượng, bọn địch rút chạy đông hơn ta đến hai - ba lần, hỏa lực pháo binh, xe tăng và các phương tiện chiến đấu khác cũng nhiều hơn, đồng thời cố không quân yểm hộ trực tiếp. Chúng lại rút bằng cơ giới và chạy trước ta một - hai ngày đường. Thế nhưng nắm chắc thời cơ lớn và thế thua chạy hỗn độn của địch, các đơn vị vẫn tràn đầy khí thế quyết thắng, khẩn trương chuẩn bị và nhanh chóng chạy đua thời gian với địch để bắt kịp và chặn chúng lại mà tiêu diệt.


Kế hoạch tác chiến được định ra như sau:

- Tiểu đoàn 9 (trung đoàn 64, Sư đoàn 320) đang làm nhiệm vụ ở tây - nam Cheo Reo lập tức cơ động ra chặn đứng quân địch ở cầu I-a Nu, tiếp đó toàn trung đoàn 64 ra bố trí thế trận vận động tiến công kết hợp với chốt đã có sẵn của tiểu đoàn 9 tiêu diệt địch trong khu vực Chư Mơ-ri A. Nếu quân địch co cụm ở thị xã Cheo Reo thì dùng một mũi đánh từ phía nam lên, phối hợp với các hướng tiến công khác đánh địch trong thị xã.

- Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) đánh ép và chia cắt địch ở phía tây, tây - bắc Cheo Reo. Các đơn vị vừa diệt địch, vừa ngăn chặn, bám chắc không cho chúng rút chạy. Sư đoàn khẩn trương điều động các lực lượng đến tiếp, tổ chức bao vây tiến công tiêu diệt địch.

- Trong khi các trung đoàn bạn truy kích, tiến công, ngăn chặn địch ở khu chiến Cheo Reo thì trung đoàn 9 (Sư đoàn 320) nhanh chóng hiệp đồng đánh chiếm Phú Nhơn - Mỹ Thạch và bao vây cô lập quận lỵ Phú Thiện ở tây - bắc Cheo Reo để chia cắt đội hình rút chạy của địch.

- Trung đoàn 95B làm nhiệm vụ dự bị.

Thực hiện kế hoạch tác chiến, đêm 16 tháng 3, quân ta bắt đầu triển khai lực lượng tiến công địch.

Tiểu đoàn 9 (trung đoàn 64) xuất phát từ 22 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3, hành quân gấp băng qua rừng rậm, vượt núi cao đến 11 giờ ngày 17 tháng 3 ra tới mặt đường số 7 thì bộ phận địch đi đầu đã lọt qua từ sáng. Tiểu đoàn lập tức tổ chức chốt ở đó và đến 16 giờ 31 phút đã chặn đứng rồi tiêu diệt cả một đoàn 8 xe chở bộ binh địch chạy tới. Tiếp sau, các đơn vị khác của trung đoàn 64 lần lượt đến đầy đủ, đã liên tục vận động tiến công kết hợp với chốt của tiểu đoàn 9 đánh tan nhiều toán quân địch rút chạy ở khu vực đèo Mơ-ri A. Từ đấy, không một tên địch nào chạy lọt qua được trận địa chốt của quân ta. Trung đoàn đã tranh thủ chuẩn bị sẵn sàng hiệp đồng tiến công vào khu chiến Cheo Reo.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:45:08 am
Cùng thời gian trên, sở chỉ huy và tiểu đoàn đi đầu trung đoàn 48 đã đến khu vực Chư Pa. Phát hiện thấy liên đoàn 23 biệt động quân ngụy và lực lượng bảo an từ thị xã Cheo Reo nống ra hướng tây - nam, quân ta liền nhanh chóng chiếm dãy Chư Pa đánh ngăn chặn và buộc chúng phải quay về thị xã. Thừa thắng, trung đoàn đưa đội hình vào sát sân bay và phái một bộ phận ra cắt đoạn đường số 7 cách Cheo Reo 3km về phía bắc hình thành thế bao vây cô lập địch trong khu chiến, đồng thời chuẩn bị bàn đạp cho các lực lượng đến tiếp sau tiến công vào thị xã trên hướng chủ yếu.


9 giờ ngày 17 tháng 3, ở hướng Phú Nhơn, trung đoàn 9 cũng đến khu vực Kênh Sắn thuộc chi khu Phú Nhơn. Phát hiện thấy địch ở Kênh Sắn sắp chạy, quân ta liền đánh ngay, diệt một số lớn, còn lại một số tháo chạy về Phú Nhơn. Trước khí thế áp đảo của quân ta, cả bọn chiếm đóng lẫn bọn tàn quân mới đến vội vàng tháo chạy. Một bộ phận của trung đoàn 9 tiếp tục truy kích và phát triển thế tiến công, giải phóng một loạt "ấp chiến lược" từ Phú Quang đến Mỹ Thạch, diệt luôn cả đồn Mỹ Thạch và căn cứ 433. Bộ phận còn lại cơ động xuyên rừng sang đường số 7 đánh chiếm các chốt bảo an, đến sáng 18 tháng 3 thì đưa được đội hình vào sát phía tây và đông - nam Phú Thiện, chuẩn bị tiến công quận lỵ này, thực hiện kế hoạch chia cắt phía sau đội hình quân địch rút chạy, tạo điều kiện thuận lợi cho các trung đoàn bạn tiến công địch ở Cheo Reo.


Trong lúc các đơn vị bộ binh đi trước ngăn chặn và bao vây cô lập địch ở Cheo Reo, các đơn vị pháo binh, cao xạ được công binh tích cực mở đường, tiến vào chiếm lĩnh trận địa. Đúng 7 giờ sáng 18 tháng 3, về cơ bản quân ta đã hình thành thế trận tiến công vào hướng nam, hướng bắc và trong thị xã Cheo Reo.


Về phía địch, bấy giờ bọn chỉ huy quân đoàn 2 cũng lệnh cho các lực lượng của chúng phải chốt giữ bằng được hai cụm Cheo Reo và Phú Thiện, bảo đảm cho đoàn quân rút chạy được an toàn.

Trước tình hình địch co cụm như vậy, quân ta liền thay đổi thủ đoạn tiến công, dùng hỏa lực tập trung của pháo binh tập kích các cụm quân địch, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận địch làm cho chúng hoang mang, đội hình rối loạn rồi bộ binh bất ngờ xung phong tiêu diệt toàn bộ.


Đúng 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 3, pháo binh ta bắt đầu bắn dã trúng mục tiêu: nhiều xe địch bốc cháy, quân địch hoảng sợ, có bộ phận đè cà lên nhau tháo chạy lung tung. Đồng thời, các cả súng cối ta cũng bắn vào các mục tiêu trên hướng đột phá. Địch bị thiệt hại nặng, tinh thần vốn đã hoang mang lại càng hoang mang, đội hình võ cùng hỗn loạn. Lợi dụng thời cơ, pháo binh bắn dồn dập mãnh liệt vào khu sân bay và cơ quan tiểu khu, nơi địch co cụm đông.


17 giờ, phát hiện thấy quân địch ở khu sân bay định tháo chạy, bộ binh ta lập tức tiến lên xung phong đánh chiếm vị trí này. Mặc cho địch dựa vào các công sự, vật cản có sẵn ở bắc sân bay chống trả, quân ta vẫn lợi dụng nhà cửa che đỡ, vận động áp sát bao vây và dùng các loại hỏa lực chi viện cho bộ binh liên tục đột phá, liên tục công kích các mục tiêu. Đến 18 giờ 30 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ sân bay, tiêu diệt và đánh tan toàn bộ liên đoàn 23 biệt động quân ngụy.


Ở hướng tây - bắc Cheo Reo, quân ta cũng nắm thời cơ đột phá vào cụm địch ở trại Ngô Quyền. Địch co lại, dựa vào hỏa lực xe tăng chống trả mạnh. Quân ta tổ chức lại đội hình, dùng hỏa lực đi cùng diệt xe tăng, đến 18 giờ thì đánh chiếm được trại Ngô Quyến, đài phát thanh. Và đến 21 giờ 30 phút, hiệp đồng với hướng tây - nam đánh lên, quân ta đã đánh chiếm được hết các mục tiêu ở tây - bắc tiểu khu.


Đêm hôm đó, quân địch trong thị xã Cheo Reo bị ta tiêu diệt phần lớn, bộ phận chỉ huy và xe tăng cùng lực lượng chiếm đóng cụm lại trong tiểu khu ngoan cố chống cự. Nhưng rốt cuộc đến 24 giờ, chúng cũng bị pháo binh và bộ binh ta hiệp đồng chặt chẽ, tiến công tiêu diệt nốt. Số tàn quân địch và bọn địch rút chạy trên đường số 7 bị các trận địa chốt của ta đánh bật trở lại, dồn cục thành hai cụm ở cách thị xã Cheo Reo 2km về phía nam. 6 giờ 30 phút ngày 19 tháng 3, quân ta tiếp tục bao vây và tiến công. Bị ta đánh bất ngờ, cả hai cụm quân địch này đều không chống đỡ nổi, một số lớn bị tiêu diệt và số còn lại phải kéo cờ trắng xin hàng. Đến 9 giờ ngày 19 tháng 3, quân ta hoàn toàn giải phóng thị xã Cheo Reo (Phú Bổn).


Cùng thời gian đó, ở phía tây - bắc thị xã, trung đoàn 9 quân ta cũng đánh chiếm được Phú Thiện. Một số xe tăng, cơ giới địch chở bộ binh địch chạy về Cheo Reo. Song thị xã đã bị ta chiếm, chúng hốt hoảng tháo chạy theo đường 2e. Quân ta trong thị xã phát hiện thấy, liền dùng pháo 155 ly mới chiếm được của địch bắn chặn và cho một bộ phận cơ động ra hiệp đồng cùng trung đoàn 9 diệt hết đoàn xe này.


Ở phía đông - nam thị xã, một bộ phận lớn quân địch và xe pháo rút chạy trên đường 7 đến chốt I-a Nu bị quân ta đánh bật trở lại, phải co cụm ở tây đèo Mơ-ri A. Từ 10 giờ đến 13 giờ ngày 19 tháng 3, trung đoàn 64 đã vận động tới tiêu diệt và bắt sống toàn bộ.


Tổng cộng trong ba ngày liên tục chiến đấu (17, 18, 19-3), Sư đoàn 320 và các đơn vị tăng cường đã diệt, bắt sống và gọi hàng hơn 13.000 tên địch, thu và phá hủy hàng nghìn xe các loại, thu gần 4.000 súng, pháo các loại và rất nhiều phương tiện, khí tài. Đồng thời ta cũng chiếm được quận lỵ Phú Nhơn, Mỹ Thạch, Phú Thiện và thị xã Cheo Reo, giải phóng hàng chục vạn dân.


Trong lúc quân ta giải phóng thị xã Cheo Reo, tiêu diệt bộ phận đi đoạn giữa và đoạn cuối của đoàn quân địch tháo chạy trên đường số 7 thì nhận được tin quân địch ở thị xã Quảng Trị tháo chạy về Huế (19-3). Như vậy quân địch không phải chỉ bỏ cái cửa Tây Nguyên mà còn bỏ cái cửa ngoài đồng bằng. Sự chỉ đạo chiến lược của kẻ địch lúc này càng thêm lõ đà và thất thế, càng thêm bối rối và do dự - một điều vô cùng nguy hiểm đối với chúng.


Cờ đến nước bí, bọn cầm đầu quân ngụy buộc phải điều sư đoàn dù thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược từ Đà Nẵng về giữ Sài Gòn. Chiến trường quân khu 1 của địch mất hẳn một lực lượng nòng cốt. Song thực ra sư đoàn dù này cũng đã bị sa sút nghiêm trọng vì bị đánh nhừ tử trong trận phản kích ở khu vực Thượng Đức (Quảng Đà) từ mùa thu 1974, tiếp đó lại phải chiến đấu liên miên cả mùa đông cho đến mùa Xuân 1975. Trên đường chuyển vào Sài Gòn, chúng phải bớt lữ đoàn dù số 3 để ném vào khu vực Nha Trang bấy giờ hầu như đang bị bỏ ngỏ. Lữ đoàn này sau được phái ra tổ chức một tuyến phòng ngự mới từ xa để bảo vệ Nha Trang, ở đèo Phượng Hoàng trên đường số 21, quãng giữa Ninh Hòa đi Khánh Dương. Biết rằng một lữ đoàn dù đã mệt mỏi, tiêu hao cả về vật chất và tinh thần khó có thể ngăn nổi cuộc tiến công vũ bão của ta, bọn cầm đầu ngụy quân đành phải bỏ chiến trường Bình Định, rút trung đoàn 40 (thiếu) của sư đoàn 22 đưa ra chiếm lĩnh thêm một tuyến phòng ngự mới ở Khánh Dương phía trước tuyến phòng ngự của quân dù trên đường số 21. Mặt khác, chúng cố tìm mọi cách đưa bộ phận còn lại của đoàn quân tháo chạy trên đường số 7 về Tuy Hòa rồi về Nha Trang để cùng với các lực lượng được tăng cường ngăn chặn cuộc tiến công của quân ta từ Tây Nguyên xuống hướng này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:45:59 am
Về phía ta, sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, Plây Cu, Kon Tum, Cheo Reo và Gia Nghĩa, quân ta đã có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển xuống vùng đồng bằng. Mục tiêu của ta là tiêu diệt gọn đoàn quân tháo chạy trên đường số 7 và tiêu diệt trung đoàn 40 (thiếu) cùng lữ đoàn dù 3 trên đường số 21. Sau đó, quân ta sẽ chia làm ba mũi, tiến trên ba hướng xuống giải phóng các thị xã ở vùng đồng bằng ven biển.


Trước mắt, mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Tây Nguyên là phải tiêu diệt nốt bộ phận cộn lại của đoàn quân địch tháo chạy trên đường số 7.

Như ta biết, bộ phận đi đầu đoàn quân rút chạy của địch đã vượt thoát qua khu chiến Cheo Reo trước khi tiểu đoàn 9 (trung đoàn 64) ra chốt ở đường số 7. Chúng định chạy về Tuy Hòa, nhưng đoạn đường số 7 Củng Sơn - Tuy Hòa bị phá hoại nhiều chỗ và có quân du kích ta hoạt động mạnh, đoạn đường qua sông Ba sang đường hàng tỉnh số 5 cũng bị tiểu đoàn 9 bộ đội địa phương Phú Yên phá sập cầu, nên chúng buộc phải dừng lại ở Củng Sơn. Kết hợp với bọn địch chiếm đóng tại chỗ, chúng tổ chức phòng giữ ở đây và sửa cầu để tiếp tục rút chạy. Số quân địch tại Củng Sơn gồm: bộ phận rút chạy có liên đoàn 6 biệt động quân (thiếu), thiết đoàn 19, tiểu đoàn pháo binh và một bộ phận công binh; lực lượng chiếm đóng tại chỗ có 1 tiểu đoàn bảo an và lính biệt kích, dân vệ của quận Sơn Hòa. Chúng không chiếm lĩnh vị trí cố định mà khi ở chỗ này, khi di chuyển sang chỗ khác. Hướng phòng thủ chính của địch là phía tây quận lỵ. Hằng ngày chúng tích cực tung thám báo, biệt kích ra hoạt động để phát hiện quân ta từ xa và dùng máy bay, pháo binh oanh tạc ngăn chặn.


Sau khi giải phóng Cheo Reo, quân ta liền phát triển ngay về hướng Củng Sơn. Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, Sư đoàn 320 cho trung đoàn 64, đại đội xe bọc thép và một bộ phận pháo binh đi trước, vượt lên chận giữ địch lại, tổ chức nắm tình hình địch, địa hình và các lực lượng địa phương để cùng phối hợp tác chiến. Lực lượng công binh và trung đoàn 675 tập trung mọi phương tiện để sửa chữa những đoạn đường bị địch phá hoại còn ngổn ngang xe cộ địch bỏ lại, bảo đảm đưa các loại binh khí kỹ thuật lên và cơ động bộ đội kịp thời.


Ngày 22 tháng 3, phân đội phái đi trước gồm bộ binh và xe bọc thép của trung đoàn 64 gặp địch ở phía tây quận lỵ Phú Túc, đã nhanh chóng tiêu diệt ngay số địch này rồi tổ chức đánh chiếm luôn quận lỵ Phú Túc. Máy bay địch đánh sập cầu I-a Nu, các đơn vị bộ binh tiến sau của trung đoàn 64 liền nhanh chóng bơi vũ trang vượt sông Ba. Cùng ngày hôm đó, toàn bộ Sư đoàn 320 cũng gấp rút truy kích về phía Củng Sơn. Phân đội phái đi trước đến tây Củng Sơn, gặp chốt của địch liền nổ súng diệt địch và chiếm chốt. Ngày hôm sau (23-3), phân đội này liên lạc được với tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương Phú Yên đang phục kích đánh địch rút chạy. Được sự hướng dẫn của tiểu đoàn 96, toàn Sư đoàn 320 vào chiếm lĩnh trận địa và hình thành thế trận bao vây quân địch ở Củng Sơn.


Trưa ngày 24 tháng 3, phát hiện thấy xe tăng và bộ binh địch cơ động, tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 96 địa phương nhanh chóng vận động ra đánh chặn địch. Bị diệt một số, chúng vội co lại đúng như ta dự kiến. Thừa thắng, quân ta liền tiến lên chiếm lĩnh trận địa, bám sát chúng để hiệp đồng với các mũi đến tiếp, chuẩn bị tiến công.


Đúng 13 giờ ngày 24 tháng 3, trên các hướng quân ta bắt đầu nổ súng. Địch chống trả điên cuồng, tập trung hỏa lực pháo binh và máy bay lên thẳng bắn ngăn chặn, đồng thời dùng xe tăng - xe bọc thép phản kích quyết liệt.


Ở hướng tây, bộ binh và xe bọc thép quân ta dũng mãnh vượt qua hỏa lực dày đặc của địch, theo đường số 7 mở một mũi tiến công vào Tịnh Sơn. Các chiến sĩ cao xạ của tiểu đoàn 16 dùng cảm bắn rơi một số máy bay địch, hai chiếc rơi ngay tại trận. Được sự yểm hộ đắc lực của cao xạ, hồi 15 giờ 47 phút các chiến sĩ tiểu đoàn 7 bộ binh đâ chiếm được Tịnh Sơn và phát triển thẳng vào quận lỵ.


Trong khi đó, trên hướng bắc, quân ta cũng hiệp đồng tiến công vào cụm quân địch ở Hòn Một. Các chiến sĩ ta, dù bị thương vong một số, đã đánh bật các đợt phản kích bằng xe tăng - xe bọc thép của địch, buộc chúng phải bỏ chạy. Và đúng 15 giờ 50 phút, Hòn Một rơi vào tay quân ta.


16 giờ, nắm được tình hình quân địch đang hoang mang, Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 cho tất cả các hướng đồng loạt tiến công vào các mục tiêu đã phân công. Nửa giờ sau, quân ta đã đánh chiếm được Hòn Ngang và một giờ sau nữa thì đánh chiếm được quận lỵ, đồng thời làm chủ trận địa của liên đoàn 6 (thiếu) biệt động quân địch ở phía bắc quận lỵ rồi phát triển sang hướng sân bay. Lúc này, tiểu đoàn 96 địa phương cũng đã đánh chiếm được phần đông - nam, hai đơn vị chủ lực - địa phương liên lạc với nhau và hội quân làm chủ sân bay. Đại bộ phận quân địch bị tiêu diệt và bị bắt sống, số còn lại tháo chạy sang nhập vào cụm phía nam sông Ba.


Ngày 25 tháng 3, quân ta giải phóng hoàn toàn khu vực Củng Sơn, tổ chức truy lùng tàn binh địch và vượt sông Ba. Một bộ phận bộ đội của Sư đoàn 320 hiệp đồng với tiểu đoàn 9 địa phương diệt nốt cụm quân địch ở phía nam sông Ba, tiếp đó cùng các lực lượng địa phương giải phóng toàn quận Sơn Hòa. Tổng cộng trong trận đánh Củng Sơn, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 3.000 tên địch, thu hàng nghìn súng pháo, thu và phá hủy hàng nghìn xe, bắn rơi 2 máy bay ngay tại trận.


Thắng lợi ở Củng Sơn cùng với thắng lợi ở Cheo Reo đã làm nên chiến thắng trọn vẹn tiêu diệt hoàn toàn đoàn quân rút chạy của địch trên đường số 7, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến công của quân ta xuống vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và miền Đông Nahi Bộ vào những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:46:52 am
Tiến xuống đồng bằng.

Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng. Quân ta thừa thắng chia làm ba mũi tiến xuống đồng bằng miền Trung và một mũi tiến vào miền Đông Nam Bộ.

Mũi thứ nhất trên đường 19 tiến xuống tỉnh Bình Định, ở đây, Sư đoàn 3 thuộc Quân khu 5 của ta đang hoạt động trên đường số 19 và lực lượng địa phương tỉnh Bình Định phối hợp với chiến trường Tây Nguyên đã nhanh chóng tiêu diệt căn cứ An Khê ngày 23 tháng 3. Tiếp đớ, Sư đoàn 968 và trung đoàn 95A cũng từ Tây Nguyên tiến xuống, ngày 31 tháng 3 đánh một trận lớn từ Phú Phong đến sân bay Gò Quánh thuộc tỉnh Bình Định góp phần tiêu diệt sư đoàn bộ binh số 22, lúc chúng đang hoảng loạn rã rời, không còn sức chiến đấu.


Nhân đà thắng lợi, ngày 1 tháng 4 trung đoàn địa phương tỉnh Bình Định cũng kết hợp với quần chúng nổi dậy và tiến công giải phóng thị xã Quy Nhơn. Các sư đoàn kịp thời chấn chỉnh lực lượng, được các đơn vị địa phương và nhân dân thị xã giúp đỡ vật chất và phương tiện vận chuyển, tiếp tục phát triển theo dọc quốc lộ số 1, tiến về thị xã Nha Trang, Cam Ranh và Phan Rang.


Mũi thứ hai trên đường số 7 tiến xuống Tuy Hòa. Sau khi để lại một bộ phận cùng lực lượng địa phương tỉnh Phú Yên diệt nốt cụm địch ở phía nam sông Ba và lùng quét tàn binh, đại bộ phận lực lượng của Sư đoàn 320 nhanh chóng phát triển xuống đồng bằng tỉnh Phú Yên. Ngày 1 tháng 4, sư đoàn nổ súng tiến công thị xã Tuy Hòa.


Quân địch trên toàn tỉnh Phú Yên lúc này đã hoang mang cao độ. Nhưng trước nguy cơ bị tiêu diệt, chúng vẫn ra sức tập hợp số tàn quân ở Tây Nguyên chạy thoát về và lực lượng tại chỗ, gồm 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội bảo an lẻ, 1 chi đội thiết giáp, ban chỉ huy tiểu khu Phú Yên, ban chỉ huy liên đoàn 21 mới khôi phục và toàn bộ lực lượng ác ôn, cảnh sát ở các quận lỵ, thị xã. Bọn cầm đầu quân ngụy phái Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng phó tư lệnh quân đoàn 2, ra thị xã Tuy Hòa để động viên trấn an binh lính và củng cố phòng ngự. Chúng tổ chức thành các cụm lớn trên nhiều tuyến ở các quận lỵ, cặc điểm cao xung quanh thị xã, có hải thuyền, tàu chiến ngoài biển trực tiếp chi viện. Thế nhưng vì thua lớn quá, tinh thần của cả binh lính lẫn sĩ quan địch đều suy sụp, không sao gượng dậy nổi.


Quán triệt tư tưởng tích cực tiến công nhân đà quân địch hoang mang, quân ta dùng cách đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng tiến công địch trong hành tiến, phát triển nhanh là chính, song vẫn chuẩn bị tốt mọi mặt để kiên quyết đánh thắng địch nếu chúng co cụm chống lại ta.


Trận đánh diễn ra từ 6 giờ 30 đến 15 giờ ngày 1 tháng 4. Sư đoàn 320 phối hợp chặt chẽ với các lực lượng địa phương của tỉnh và quần chúng nổi dậy làm chủ hoàn toàn thị xã Tuy Hòa, quận Tuy Hòa I, quận Tuy An và từ quận Hiếu Xương đến Đèo Cả.


Trong trận đánh thị xã Tuy Hòa, máy bay địch lồng lộn bắn phá, pháo binh địch cũng bắn không tiếc đạn để yểm hộ cho các lực lượng cơ động ra ngăn chặn ta từ xa. Nhưng mũi tiến công bằng hiệp đồng binh chủng của sư đoàn vẫn tiến như vũ bão, chọc thẳng vào mục tiêu then chốt và cơ quan chỉ huy đầu não của địch, đồng thời kết hợp nhịp nhàng các hành động thọc sâu vu hồi đánh vào sườn và phía sau quân địch, làm cho chúng trở tay không kịp. Những tên sống sót phải tự phá vỡ đội hình xô nhau chạy tán loạn, có tên kịp leo được lên tàu xuồng, nhưng cũng có không ít tên chìm sâu dưới đáy biển. Những tên không chạy được đều bị quân và dân ta tóm gọn, trong đó có Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng phó tư lệnh quân đoàn 2.


Trong khi mũi thứ nhất tiến công kết hợp với nổi dậy, mũi thứ hai tiến công trong hành tiến, thế như chẻ tre thì ở mũi thứ ba trên hướng đường 21, Sư đoàn 10 quân ta còn sung sức đã tiến xuống tiêu diệt lữ đoàn dù 3 và trung đoàn 40 dịch, giải phóng tỉnh Khánh Hòa, thị xã Nha Trang và quân cảng Cam Ranh.


Khi lữ đoàn dù 3 ngụy lên đường số 21 thì quân ta đã uy hiếp Khánh Dương và truy sát gót bọn tàn quân của sư đoàn 23 chạy lên đèo Ma-đrắc - Phượng Hoàng. Thế là vừa ra quân, chúng đã sa vào thế cô lập, không còn một lực lượng nào của quân đoàn 2 ngụy hỗ trợ. Tâm lý thất bại làm cho lữ đoàn dù 3 vốn tinh thần đã nao núng nay lại càng sa sút nghiêm trong. Song, vốn là con cưng của quân đội ngụy, lúc ra quần chúng thường được bọn chỉ huy động viên và chi viện cho hỏa lực tối đa, mặt khác quân số còn đông nên chúng vẫn có chỗ dựa để ngoan cố hơn bọn ngụy khác. Lên đường số 21, chúng dùng ngay thủ đoạn cổ truyền là lập tức chiếm đèo Ma-đrắc - Phượng Hoàng, dựa vào các chốt bảo an có sẵn, tích cực đào công sự, xây dựng các trận địa hỏa lực và co cụm để ngăn chặn quân ta, đồng thời dùng chiến thuật mạng nhện di tản đến phản đội nhỏ, từng tiểu đội, trung đội có xe tăng nằm sâu sang hai bên đường đèo. Phát hiện hoặc nghi ngờ quân ta tiến công trên hướng nào đó là chúng lập tức dùng hỏa lực mạnh của máy bay, pháo binh bắn sát thương rồi cơ động quân di tản đến ngăn chặn. Thế nhưng khốn thay, các thủ đoạn đó chẳng đưa lại cho chúng một kết quả nào. Bởi lẽ địa hình ở đây hiểm trở, đường đèo độc đạo, đối phương lại có kinh nghiệm của thế thắng, với lối đánh tập trung sức mạnh các binh chủng hiệp đồng, đặc biệt là nghệ thuật tập trung rất cao vào lúc có thời cơ xuất hiện. Tình hình trên buộc chúng phải tuân theo cách đánh của đối phương, phải rải quân rất rộng, bố trí đã phân tán lại kéo dài khoảng 30km trên hai bên trục đường số 21, lộ ra thế ngăn chặn với chính diện hẹp, sườn hở, tung thâm mỏng, lực lượng phản kích nhỏ.


Sau khi ta giải phóng Khánh Dương, Su đoàn 10 được lệnh tiếp tục tiến công ngay vào tuyến lữ đoàn dù số 3 để mở đường phát triển xuống giải phóng Khánh Hòa, Nha Trang. Sư đoàn tổ chức tiến công với quyết tâm: tập trung lực lượng toàn sư đoàn, được tăng cường trung đoàn 25 cùng các binh chủng phối thuộc, kiên quyết tiêu diệt gọn quân địch (gồm lữ đoàn dù, chi đoàn 2 thiết giáp, 32 khẩu pháo 105 và 155 ly, trung bình được 70 - 80 lần chiếc máy bay chi viện) trong thời gian từ 3 - 7 ngày, bằng cách bao vây chặt toàn bộ đội hình lữ đoàn địch, khóa chặt phía sau, biến địa hình hiểm trở thành thế lợi cho ta để tiêu diệt chúng. Trên cơ sở thế trận đã bao vây chặt, hướng chính diện tập trung sức mạnh của các binh chủng kỹ thuật như xe tăng, pháo binh, cao xạ cùng bộ binh đột phá tiêu diệt từng tiểu đoàn địch, đồng thời hai bên sườn và sau lưng dùng lực lượng trang bị tinh và nhẹ, xẻ đường xuyên rừng thọc sườn đánh hiểm, tiêu diệt và khống chế các trận địa pháo binh rồi tiến công ngay vào các bộ phận chỉ huy, cơ quan đầu não của chúng. Trong quá trình tiến công, thế trận của sư đoàn được bổ sung hoàn chỉnh bằng các lực lượng dự bị theo sát đội hình. Do đó trận đánh được tiến hành với hiệu suất cao: chỉ trong ba ngày (từ 29-3 đến 1-4), quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lữ đoàn dù 3 cùng các đơn vị tăng cường, thu và phá hủy toàn bộ vũ khí trang bị của chúng.


Thừa thắng, ngay trong ngày 2 tháng 4, quân ta lập tức tiến thẳng xuống giải phóng thị xã Nha Trang. Sau đó, đến 12 giờ 30 ngày 3 tháng 4, quân ta lại giải phóng quân cảng Cam Ranh. Vùng giải phóng trên địa bàn của mũi thứ ba được nối liền ngay với địa bàn của hai mũi phía bắc, hình thành một khu vực đồng bằng ven biển hoàn chỉnh. Tại đây, Sư đoàn 10 cũng được sự giúp đỡ nhiệt tình của các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân vùng giải phóng, nên ngày 10 tháng 4 đã kịp thời cơ động sang hướng Sài Gòn và bàn giao lại trung đoàn 25 cho Sư đoàn 3 Quân khu 5 hiệp đồng cùng Quân đoàn 2 giải phóng thị xã Phan Rang. Sau một tháng liên tục tiến công (từ 4-3 đến 3-4-1975), chiến dịch Tây Nguyên đến đây là kết thúc.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:48:25 am
Chương bốn
Ý NGHĨA THẮNG LỢI VÀ MẤY VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ


Chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đã tạo ra một bước ngoặt chiến lược.

Ta tiêu diệt một quân đoàn địch trong chiến dịch, đó là một đòn rất nặng làm cho chúng bị suy yếu nhanh chóng và nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tai hại tức thì đến toàn bộ lực lượng vũ trang của chúng.


Quân đoàn là đơn vị chiến lược của địch. Mất một quân đoàn là một thất bại chiến lược; mất một quân đoàn trong giai đoạn đầu của cuộc Tổng tiến công thì thất bại chiến lược đó lại càng có ảnh hưởng rộng lớn. Trước khi bước vào cuộc Tổng tiến công và trong thời kỳ mở đầu cuộc Tổng tiến công, lực lượng địch còn nguyên, trận địa địch còn có tổ chức, còn tương đối vững vàng, chưa bị xiêu vẹo và chưa bị phá vỡ, tinh thần địch còn ổn định và ngoan cố. Nhưng đến khi bị tiêu diệt lớn thì chúng bắt đầu có sự xáo động mạnh, đi đến chuyển biến xấu về nhiều mặt.


Ta tiêu diệt địch nhanh (tiêu diệt một quân đoàn trong khoảng 20 ngày, từ 4-3 đến 24-3-1975) làm cho sự chuyển biến diễn ra càng nhanh và càng mạnh, gây ra những tác động đột biến về phía địch.

Ta tiêu diệt địch ở ngay trong trận địa kiên cố, trên tuyến phòng ngự cơ bản và ở ngay trong các sào huyệt, các thành phố, thị xã,... làm cho trận địa phòng ngự chung và thế phòng ngự chung của chúng bị rung động dữ dội. Một sở chỉ huy cấp quân đoàn phải tháo chạy, một căn cứ quân sự liên hợp cấp quân đoàn buộc phải bỏ ngỏ càng làm cho hệ thống phòng ngự của địch bị rã rời và sụp đổ với một tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy.


Một lực lượng lớn bị tiêu diệt tất sẽ mất theo một vùng đất đai rộng lớn, có số dân đông; địa bàn địch kiểm soát tất bị thu hẹp và trận địa còn lại của chúng cũng bị uy hiếp mạnh. Đương nhiên, ý nghĩa quan trọng của vấn đề không phải chỉ có như vậy mà còn biểu lộ ở sự suy sụp về tinh thần và ý chí chiến đấu của địch cũng như sự thay đổi về so sánh lực lượng và thế trận chiến lược hai bên.


Thất bại của địch ở Tây Nguyên - một quân đoàn bị tiêu diệt, một vùng đất đai rộng lớn, một địa bàn chiến lược cơ động, có lợi thế về địa hình bị mất - là khởi điểm dẫn đến sự tan rã về chiến lược của chúng.


Tây Nguyên được giải phóng đã mở một cửa đột phá chiến lược về thế trận, đồng thời cũng mở một cửa đột phá chiến lược về tinh thần trên chiến trường. Sau thất bại Tây Nguyên, quân địch bắt đầu phải thực hiện rút lui chiến lược và co cụm chiến lược. Từ chiến lược phòng ngự toàn diện, có phản công bộ phận (phần lớn không thành công), chúng buộc phải chuyển sang chiến lược phòng ngự toàn diện, không còn phản công bộ phận nữa mà đã sa vào trạng thái phòng ngự rút lui - một hình thức phòng ngự yếu kém nhất, với xu thế tiêu cực một chiều, hoàn toàn bị động. Chiến lược phòng ngự đó của địch tất không thể không rơi xuống vực thẳm thất bại. Lần đầu tiên, một hiện tượng mới rất quan trọng về chiến lược, một chuyển biến về chất trong chiến lược đã xuất hiện trong cuộc chiến tranh này.


Từ chỗ quá chủ quan, tham lam và ngoan cố, bỗng đột ngột bị một đòn quá nặng, quân địch đã đi tới chỗ đột biến về tinh thần và chính trị, hoang mang mất phương hướng, bi quan chán nản, không còn tin tưởng ở mình nữa. Sự đột biến đó làm cho sức chiến đấu của chúng bị sa sút hẳn. Tâm lý thất bại bao trùm lên quân địch. Vì vậy, hễ thấy bóng dáng quân ta là chúng rơi ngay vào tâm trạng kinh hoàng, khiếp sợ.


Bị một đòn điểm huvệt choáng váng ở Buôn Ma Thuột, quân địch buộc phải rút bở Tây Nguyên, nhưng rồi đến lượt toàn bộ đoàn quân tháo chạy cũng lại bị tiêu diệt gọn. Rõ ràng, chúng đã bị thất bại, đã phạm sai lầm và mất đà về chiến lược - một nguy cơ mà lịch sử chiến tranh trước nay đều chứng minh ràng, đã sa vào đó thì khó lòng cứu vãn và gượng dậy nổi.


Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã tạo cho ta sức mạnh toàn diện mới, rất lớn. Nó giúp ta những kinh nghiệm quý giá và mở ra những tiền đề vô cùng thuận lợi để tiếp tục đẩy cuộc tiến công phát tnển mạnh mẽ. Điều quan trọng là nó đã tạo ra sự thay đổi cơ bản về tinh thần - tư tưởng, về so sánh lực lượng, về thế chiến lược giữa ta và địch.


Về so sánh lực lượng đôi bên, thì sự mạnh yếu, hơn kém đã quá rõ ràng. Địch mất một quân đoàn, mất cả vùng Tây Nguyên rộng lớn, nghĩa là mất gần một phần tư lực lượng và đất đai. Song về tinh thần và thế chiến lược thì có thể chúng đã mất gấp mấy lần và đấy mới là cái mất lớn. Còn ta, nếu như trước chiến thắng Tây Nguyên, ta chỉ mạnh hơn địch một lần thì sau chiến thắng Tây Nguyên, có thể ta mạnh hơn chúng nhiều lần, mạnh hơn gấp bội.


Về thế chiến lược, thì sau chiến thắng Tây Nguyên quân ta có một bàn đạp rất vững chắc và cơ động, chiếm ưu thế về địa hình và thế trận hiểm sắc để đánh xuống đồng bằng, cắt toàn bộ trận địa địch ra làm đôi, và mở ra một hành lang chiến lược rất thuận lợi để tiến xuống Sài Gòn, đánh vào sào huyệt của địch. Thế chiến lược mới đó của ta đã đưa quân địch đến tình cảnh hết sức nguy hiểm, gây rối loạn và làm đảo lộn sự chỉ huy cũng như thế trận chiến lược của chúng. Trận địa địch bị cát làm đôi, trận địa chính bị uy hiếp, làm cho toàn bộ thế trận chiến lược của chúng trở nên không vững chắc, dễ bị sụp đổ.


Mất Tây Nguyên, địch phải nghĩ ngay đến việc phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn, từ bờ biển đến giáp biên giới phía tây; đồng thời cũng phải phòng thủ ngay tại Sài Gòn. Nhưng muốn làm được công việc đó thì phải có lực lượng và thời gian. Vì chiến tranh nhân dân của ta phát triển cao, quân ta đã xen kẽ sâu và chặt vào trong thế trận của địch, đã chia cắt chúng thành nhiều mảnh, nhiều cụm và đồng loạt tiến công mạnh mẽ nên chúng không thể hoàn thành công việc đó một cách cơ bản được.


Tiếp sau chiến thắng Tây Nguyên ít ngày là chiến thắng Huế - Đà Nẵng, chiến thắng Phan Rang và Xuân Lộc. Rồi chỉ sau ít ngày nữa lại đến chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, giải phóng Sài Gòn.

Chiến thắng Tây Nguyên giúp ta thấy rõ khả năng của ta và của địch, giúp ta đánh giá được chính xác hơn lực lượng tinh thần cũng như nghệ thuật quân sự của địch. Qua chiến thắng Tây Nguyên, ta càng thấy rõ hơn sự suy yếu trầm trọng của địch về các mặt, thấy sự sụp đổ của địch trong một thời gian ngắn là không thể tránh khỏi.


Chiến thắng Tây Nguyên đã cổ vũ, động viên rất mạnh mẽ khí thế quân dân ta ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương, càng củng cố quyết tâm chiến đấu và lòng tin vào thắng lợi cuối cùng của quân dân ta.

Chiến thắng Tây Nguyên cũng bồi bổ cho quân ta nhiều kinh nghiệm tốt về chiến dịch và chiến đấu. Chúng ta có thêm kinh nghiệm về đánh lớn, đánh tiêu diệt lớn, tác chiến tặp trung, sử dụng các binh đoàn lớn tác chiến hiệp đồng binh chủng. Đánh thành phố trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh là yêu cầu cần thiết. Qua kinh nghiệm Phước Long, đầu năm 1975 đến Buôn Ma Thuột, chúng ta đã có một số kinh nghiệm đánh thành phố. Tốc độ tiến công cao, hành quân cơ động bằng cơ giới, chuyển lật cánh một cách nhanh nhẹn, hành động chiến đấu đúng thời cơ, cũng là những kinh nghiệm rất quan trọng và rất quý. Hành động chiến đấu tiếp theo sau đó của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, trong các trận đánh hoặc các chiến dịch, đều phát triển theo phương hướng này ở một trình độ cao hơn. Chiến thắng Tây Nguyên đã tạo ra một bước ngoặt, một cục diện mới trong chiến tranh.


Chiến thắng Tây Nguyên là khỏi điểm dẫn đến sự tan rã và suy sụp về chiến lược của địch. Chiến thắng Tây Nguyên đã tạo cho quân dân ta những điều kiện thuận lợi để chuyển sang cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ngày càng phát triển mạnh mẽ trên khắp các chiến trường và giành thắng lợi ngày càng lớn. Chiến thắng Tây Nguyên là đòn chiến lược mở đầu, là trận then chốt về chiến lược tạo ra điều kiện và thời cơ cho các trận then chốt và quyết định tiếp theo giành thắng lợi lớn hơn và đi đến toàn thắng.


Chiến thắng Tây Nguyên là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, là thắng lợi của nền khoa học và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam. Hàng loạt vấn đề về chỉ đạo chiến lược liên quan đến chiến dịch Tây Nguyên cần được nghiên cứu sâu sắc, đòi hỏi nhiều thời gian và công phu. Dưới đây là một số trong những vấn đề nổi bật.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:48:55 am
1. Đánh tiêu diệt chiến lược.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết vào tháng 1 năm 1973, so sánh lực lượng giữa ta và dịch tại miền Nam Việt Nam đã thay đổi về cơ bản. Quân đội ngụy Nguyễn Văn Thiệu càng bị lún sâu vào thế phòng ngự bị động. Tuy nhiên, lực lượng chúng còn đông, đất đai chúng kiểm soát còn rộng, do đấy chúng vẫn ra sức mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm, phả hoại Hiệp định Pa-ri, với tham vọng giành lại quyền chủ động chiến lược. Giữa năm 1973 đến tháng 1 năm 1975, ta liên tiếp mở nhiều đòn trừng phạt nghiêm khắc để cảnh cáo quân đội ngụy và đập tan các mưu mô "hồi sức" của chúng. Tại Tây Nguyên, ta đã tiêu diệt nhanh gọn vị trí Chư Nghé (Lệ Minh) vào ngày 23 tháng 9 năm 1973, đánh thắng nhiều trận khác trên chiến trường Tây Nguyên và đồng bằng quân khu 5 vào mùa xuân và mùa thu năm 1974. Đến tháng 1 năm 1975, ta thắng lớn tại Phước Long, giải phóng thị xã Phưỡc Long. Khả năng tiêu diệt các đơn vị lớn quân địch, giải phóng các thị xã và thành phố lớn đi đến tiêu diệt toàn bộ lực lượng vũ trang địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc đã xuất hiện. Vấn đề đánh những trận tiêu diệt chiến lược, tiến hành quyết chiến chiến lược bằng các chiến dịch lớn, bằng các lực lượng tập trung lớn để tiêu diệt từng mảng lớn lực lượng vũ trang địch, giải phóng từng mảng lớn đất đai nhằm đạt đến mục tiêu thắng lợi cuối cùng đã được Bộ Chính trị đặt ra.


Trong những năm 1973-1974, ta chỉ đánh tiêu diệt các cứ điểm, cụm cứ điểm cấp tiểu đoàn, tiểu đoàn tăng cường, giải phóng một số quận lỵ, chi khu và vào đầu năm 1975, giải phóng một thị xã nhỏ. Năm 1975, ta phải đánh tiêu diệt lớn hơn, giải phóng những thị xã, thành phố vừa và lớn ở những vùng dân cư đông đúc hơn, có địa bàn chiến lược quan trọng hơn. Muốn đánh tiêu diệt chiến lược và thực hành quyết chiến chiến lược, cần phải tổ chức những binh đoàn lớn và tiến hành tác chiến bằng những binh đoàn lớn. Có thế mới tiêu diệt được các sư đoàn, quân đoàn địch, giải phóng được các thị xã lớn, thành phố, thậm chí cả thủ đô của địch.


Chiến trường Tây Nguyên được chọn làm nơi đầu tiên thực hiện chủ trương trên. Ta đã tập trung cho chiến dịch Tây Nguyên nhiều binh đoàn và binh chủng thiện chiến, với số lượng đông hơn địch để có đủ khả năng hoàn thành thắng lợi một đòn chiến lược quan trọng, mở đầu thuận lợi và làm đà, tạo thế thôi động cho các đòn chiến lược then chốt, quyết định tiếp theo của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đã tiêu diệt bảy vạn quân địch, cơ bản loại khòi vòng chiến đấu một quân đoàn chủ lực địch trong hai mươi ngày đêm. Sự kiện này có ý nghĩa và tác dụng của một trận tiêu diệt chiến lược, giành dược thắng lợi nhanh, gọn, lớn và rất quan trọng. Đó cũng là trận mở đầu có giá trị chiến lược, tạo ra được tác dụng then chốt thúc đẩy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy phát triển.


Quy luật đánh tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược được vận dụng thắng lợi ở Tây Nguyên đã tiếp tục phát huy tác dụng mạnh mẽ trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Và cuối cùng, quy luật đó đã được vận dụng và phát huy đến mức cao nhất trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc hội quân lớn nhất của các binh đoàn chiến lược trong lịch sử chiến tranh chống Mỹ và tay sai, giải phóng Sài Gòn và giành được thắng lợi huy hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:50:36 am
2. Tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, trên chiến trường Tây Nguyên, các trận đánh quan trọng đều diễn ra bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Xây dựng được những binh đoàn chiến lược và đưa được các binh đoàn đó ra tác chiến hiệp đồng binh chủng trên quy mô lớn, nhất là trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt của chiến trường miền Nam Việt Nam nói chung và trên chiến trường có địa hình rừng núi như Tây Nguyên nói riêng, đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt vấn đề khó khăn, phức tạp. Dưới sự chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, những binh đoàn chiến lược lớn của ta được tổ chức kịp thời, được biên chế, trang bị, huấn luyện khá hoàn chỉnh để có khả năng tiến hành chiến đấu hiệp đồng binh chủng thắng lợi trên chiến trường. Bước vào chiến dịch, chúng ta đã nắm chắc được trong tay một trong những yếu tố chủ yếu quyết định thắng lợi, kết quả của công phu nhiều năm xây dựng quân đội chính quy hiện đại. Tiến hành tổ chức, xây dựng những binh đoàn chiến lược tác chiến hiệp đồng binh chủng vào lúc nào, tung các binh đoàn này ra quyết chiến chiến lược vào lúc nào, ở đâu, đều là những vấn đề quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến kết quả của cuộc chiến tranh. Trong chỉ đạo chiến lược, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã giải quyết những vấn đề đó đúng lúc, đúng nơi, rất chính xác, chuẩn bị sẵn mọi điều kiện cần thiết để đạt được thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Trận đánh lớn quan trọng, trận mở đầu then chót đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột, quân ta đã tác chiến hiệp đồng binh chủng có bộ binh, xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, pháo cao xạ, tên lửa phòng không, công binh, thông tin và vận tải cơ giới tham chiến. Sau đó đến trận tiêu diệt sư đoàn 23 đổ bộ hạ cánh đường không trên đường số 21, trận tiêu diệt tập đoàn địch rút chạy từ Plây Cu đến Cheo Reo, Củng Sơn trên đường số 7 và trận tiêu diệt trung đoàn 40 (thiếu) cùng lữ đoàn dù 3 ở Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng trên đường 21 về Ninh Hòa, quân ta đều tác chiến hiệp đồng binh chủng với đầy đủ các binh chủng tham chiến. Từ trận Buôn Ma Thuột trở đi, phần lớn các trận diễn ra đều là những trận tác chiến hiệp đồng binh chủng.


Tác chiến hiệp đồng binh chủng có các binh chủng chiến đấu, các binh chủng bảo đảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu tham gia đã tạo ra một sức mạnh chiến đấu lớn, làm cho việc tiêu diệt các lực lượng lớn của địch được nhanh, gọn và kịp thời, trong mọi điều kiện và tình huống chiến đấu, dù đóng quân phòng ngự ở trong công sự, trong thị xã, thành phố hay tiến quân vận động ở dã ngoại, hoặc rút chạy về chiến lược.


Mỗi khi có một thứ vũ khí mới, một thứ công cụ chiến tranh hoặc một binh chủng, quân chủng nào đó mới ra đời và tham chiến thì chiến đấu đều có phát triển, có nhảy vọt và thay đổi về tính chất, hoặc nhiều hoặc ít.


Trước kia, khi chưa dụng độ với pháo binh của ta, tinh thần và chiến thuật của quân ngụy Sài Gòn có khác. Đến khi pháo binh ta xuất hiện thì tinh thần của chúng rõ ràng có biến đổi theo chiều tiêu cực, đồng thời chiến thuật của chúng cũng phải thay đổi. Ở chiến trường Tây Nguyên, vào giữa năm 1972, khi ta vận dụng một chiến thuật mới, một cách đánh mới của pháo binh thì tinh thần của quân ngụy đã thay đổi theo chiều tiêu cực hơn. Về phía ta, chiến thuật cũng phát triển mạnh mẽ và có chất cao hơn. Cùng một công cụ, một binh khí nhưng có phương pháp sử dụng mới thì có thể thúc đẩy chiến thuật, chiến đấu phát triển lên một chất mới cao hơn.


Khi pháo cao xạ ta chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, tiến vào tới tuyến xuất phát tiến công, ta có khả năng vững chắc khống chế được máy bay cường kích bổ nhào của quân ngụy Sài Gòn, bảo đảm an toàn cho đội hình ta chiến đấu ở trước tiền duyên trận địa địch, yểm hộ đắc lực cho bộ binh và xe tăng cùng pháo bắn ngắm trực tiếp của ta thực hành đột phá, không cho máy bay địch bịt cửa mở, cản trở bước xung phong của bộ binh và xe tăng ta tiến vào cửa mở.


Trên chiến trường Tây Nguyên, kinh nghiệm này xuất hiện từ trận Chư Nghé (Lệ Minh) trừng phạt quân ngụy Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pa-ri vào tháng 9 năm 1973. Trận Chư Nghé mở đầu các trận tiếp theo trong những năm 1973, 1974 và 1975 đã cho ta dẫn chứng thực tế tương đối đầy đủ để nêu ra kết luận trên đây.


Khi xe tăng ta xuất hiện, quân ngụy Sài Gòn - những kẻ vốn quá sùng bái kỹ thuật, đã bị bất ngờ về nhận thức, tư tưởng và đâm ra hoảng hốt về tinh thần, về chiến thuật; do đó sức chiến đấu bị sa sút nặng.


Trận Buôn Ma Thuột, ta hành quân cơ giới để tập kết bộ đội. Trong một thời gian ngắn, ta đã tập kết được một số quân đông của các binh chủng tham chiến, nhờ đó mà giữ được bí mật, làm cho quân địch bị bất ngờ. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ta phán đoán địch có khả năng cho sư đoàn 23 (thiếu) đổ bộ hạ cánh đường không xuống đường 21 ở phía đông Buôn Ma Thuột để ngăn chặn quân ta tiến công xuống đồng bằng và cũng có thể phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Khả năng đó đã thành hiện thực. Ngoài lực lượng đã bố trí sẵn, ta liền cơ động bằng cơ giới một đơn vị vừa mới đánh xong ở nơi khác đến đường 21, tăng cường cho đơn vị tại chỗ. Do hành quân bằng cơ giới nên đơn vị trên cơ động được nhanh và đã tới kịp. Lực lượng đánh sư đoàn 23 ngụy như thế là sung sức. Sư đoàn 23 ngụy vừa mới đổ quân xuống, chân ướt chân ráo, chưa kịp tổ chức chiến đấu, đã bị ta đánh ngay nên bị tiêu diệt một cách nhanh chóng.


Trận đánh quyết định tiêu diệt tập đoàn tháo chạy của quân đoàn 2 địch từ Kon Tum, Plây Cu về đường số 7, quân ta cũng cơ động bằng cơ giới, nên mới chớp được thời cơ then chốt quý báu hiếm có đó. Quân ta hành quân, cơ động bằng cơ giới, nâng cao hiệu suất chiến đấu và tốc độ tiến công lại làm cho địch mắc thêm một bất ngờ nữa.


Chiến đấu hiệp đồng binh chủng, quân chủng là một yêu cầu tất yếu và ngày càng phát triển của chiến tranh hiện đại trong thời đại công nghiệp hóa ở trình độ cao. Ăng-ghen nói: "Chúng ta đã dần dần thấy rõ ràng, khi những thành tựu về kỹ thuật vừa mới trở thành có thể áp dụng được và trong thực tế được dùng vào mục đích quân sự, thì lập tức và hầu như cưỡng bức phải có những sự thay đổi, thậm chí những sự đảo lộn cả phương pháp tác chiến. Sự thay đổi và đảo lộn đó thường ngược lại ý muốn của những người chỉ huy quân đội"1 (Mác, Ăng-ghen, Lênin, Xta-lin, Trích luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 24).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:52:03 am
3. Chọn hướng

Sau khi đã xác định nhiệm vụ của tổng tiến công là đánh tiêu diệt chiến lược và tiến hành quyết chiến chiến lược để hoàn thành nhiệm vụ của chiến tranh, thì tổ chức thế trận là vấn đề rất quan trọng. Trong thế trận có các vấn đề như chọn tuyến, hướng, xác định các khu vực, địa bàn để đánh tiêu diệt chiến lược và tiến hành quyết chiến chiến lược, vấn đề hiệp đồng giữa các lực lượng, vấn đề phối hợp chiến trường, vấn đề thứ tự hành động của các lực lượng tiến công, vấn đề thứ tự tiến công trên các hướng, v.v...


Hướng tiến công chủ yếu trong giai đoạn đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là chiến trường Tây Nguyên. Nhiệm vụ chiến lược trước mắt là tiêu diệt lực lượng cơ bản của quân đoàn 2 địch, giải phóng Tây Nguyên. Nhiệm vụ chiến lược tiếp theo là giải phóng vùng đồng bằng, ven biển và vùng ven Sài Gòn. Nhiệm vụ cuối cùng là đánh vào thủ đô của địch, tiêu diệt lực lượng vũ trang còn lại của địch, tiêu diệt chính quyền trung ương của địch, giải phóng Sài Gòn, kết thúc chiến tranh.


Mở đầu cuộc tiến công chiến lược, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu. Thực tiễn chiến đấu đã chứng minh rằng, đó là một quyết định hoàn toàn chính xác. Giai đoạn đầu của cuộc tiến công chiến lược, ta tiêu diệt được lực lượng chủ yếu của quân đoàn 2 và một bộ phận lực lượng tổng dự bị chiến lược địch, giải phóng Tây Nguyên, do đó đã tạo ra một chuyển biến rất quan trọng về so sánh lực lượng, về thế chiến lược và một sự thay đổi đột ngột về tinh thần. Tình hình này đã tạo điều kiện và thời cơ rất thuận lợi để giải phóng vùng đồng bằng, vùng ven biển và vùng ven Sài Gòn. Quân địch mất một quân đoàn, mất một địa bàn chiến lược quan trọng là nguy cơ rất nghiêm trọng đối với chúng. Tầy Nguyên là hướng quân địch yếu, nhưng lại là hướng hiểm yếu. Vì vậy, ta đã giành được thắng lợi lớn, dễ, nhanh và gọn ở đây, sau đó lại có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tiến công tiếp theo đi các hướng, các mục tiêu quan trọng và hướng quyết định. Đó là một kinh nghiệm hay của việc chọn hướng tiến công. Đó cũng là yêu cầu chắc thắng và yêu cầu phát triển của tiến công trong việc chọn hướng.


Một vấn đề nữa của việc chọn hướng tiến công chủ yếu là sau khi đã tiến công giành được thắng lợi, phải bảo đảm vững chắc thắng lợi đó, làm bàn đạp tốt cho việc tiếp tục phát triển tiến công.

Sau khi Tây Nguyên được giải phóng, quân địch rất khó tiến hành phản kích để chiếm lại. Nếu chúng có tiến hành phản kích thì chẳng qua chỉ là hành động một cách liều lĩnh và dại dột. Lực lượng của địch đã bị căng mỏng ra trên khắp các chiến trường và ở đâu cũng đều bị quân ta tiến công, có nơi lại bị tiến công mạnh. Nếu chúng rút một ít lực lượng ở các chiến trường khác, tung ra phản kích ở Tây Nguyên thì vừa có thể bị sa lầy và bị tiêu diệt ở Tây Nguyên, lại vừa có thể bị thua to ở các nơi khác.


Muốn tiến hành phản kích lấy lại Tây Nguyên, quân địch cần sử dụng bao nhiêu lực lượng? Chúng phán đoán quân ta ở chiến trường Tây Nguyên có không dưới 3 sư đoàn và nhiều đơn vị binh chủng thiện chiến. Đối chọi với một tập đoàn hùng mạnh như thế, quân địch cần có một lực lượng nhiều hơn, ít ra cũng phải gấp đôi đối phương. Chúng lấy đâu ra được 5 - 6 sư đoàn? Hành động dốc túi là một cuộc tự sát!


Căn cứ vào những điều phân tích trên, qua thực tiễn chiến đấu, ta phán đoán là địch khó phản kích được ở Tây Nguyên. Thực tế cho ta thấy quân địch đã vội vã tháo chạy và tiến hành ngăn chặn bộ phận. Nhưng tất cả những hành động đó đều bị thất bại thảm hại, vì tốc độ tiến công của quân ta quá nhanh.


Chính Ma-tin, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng không dám nhìn thẳng vào sự kiện Tây Nguyên. Ngày 14 tháng 3 năm 1975, sau khi mất Buôn Ma Thuột, từ bên Mỹ, Ma-tin viết cho Thiệu một bức thư, chỉ thị cho Thiệu phải cố giành lấy môt vài thắng lợi vang dội để gây lòng tin và vòi quốc hội Mỹ cấp cho tiến viện trợ. Thắng lợi vang dội mà Ma-tin yêu cầu không phải ở Tây Nguyên, mà ở Tây Ninh. Bức thư có đoạn viết: "Như tôi đã nói với ngài từ trước, tôi không nghĩ rằng hiện nay người Mỹ thực sự có đủ tiêu chuẩn (về pháp lý) để giúp ý kiến cố vấn về quân sự. Vì tác động chính trị, nếu như trong vài tuần tới có thể có cơ hội để quân lực cộng hòa đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam làm cho công chúng thấy rõ, thì ít ra có tác dụng. Phản ứng chính trị ở đây (Mỹ) sẽ rất tốt nếu có sự kiện như vậy. Có thể các trận đánh tới ở quanh Tây Ninh hoặc các nơi khác trong quân khu 3 sẽ tạo ra cơ hội trên, ở đây, một số người lo rằng ngài có thể dùng quá nhiều lực lượng để tái chiếm Buôn Ma Thuột ngay..."1 (Tài liệu thu được ở nhà Thiệu (Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu)).


Nếu quân địch dám liều lĩnh tập trung quân lên phản kích ở Tây Nguyên thì ta vừa có điều kiện tiêu diệt chúng một cách dễ dàng, lại vừa có thời cơ giải phóng các vùng đồng bằng ven biển một cách nhanh chóng.
Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược lợi hại, là một chiến trường rất cơ động. Chiến lược Tây Nguyên, quân ta có thể bảo đảm thắng lợi vững chắc và lấy đó làm bàn đạp tốt, tập trung thêm lực lượng để phát triển tiến công một cách thuận lợi về các hướng quan trọng khác như vùng đồng bằng, ven biển và đông - bắc Sài Gòn. Thực tế chiến đấu diễn ra đã chứng minh sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong việc chọn hướng này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:52:35 am
4. Phương pháp tiến công và phối hợp chiến trường

Trong giai đoạn đầu của cuộc tiến công chiến lược, ta chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu không có nghĩa là chỉ đánh lớn ở Tây Nguyên. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân. Không phải chỉ có bộ đội địa phương và dân quân du kích mà cả bộ đội chủ lực cũng bố trí xen kẽ, cài chặt vào quân địch ở khắp mọi nơi, mọi hướng. Thế trận sâu hiểm đó của ta buộc quân địch phải phân tán mỏng ra khắp mọi chiến trường.


Khi ta tập trung lực lượng tiến công ở Tây Nguyên thì ở các hướng khác, quân ta cũng tiến công phối hợp, căng kéo kìm giữ quân địch lại khiến chúng không ứng cứu được cho nhau, đồng thời tạo điều kiện và chuẩn bị tiến công lớn trên các hướng đó. Đòn Tây Nguyên vừa kết thúc thắng lợi, quân địch đang hoang mang dao động mạnh thì ở hướng kế cận, quân ta liền mở đòn tiến công lớn kế tiếp ngay làm cho địch thở không được, trở tay không kịp.


Mở các đòn tiến công chiến lược liên tục kế tiếp nhau, đồng loạt hoặc gối đầu trên các hướng khác nhau là phương pháp tiến công chiến lược hay. Cần giữ thế chủ động trong suốt cả quá trình tiến công. Tiến công phải liên tục không dừng lại, không để đứt quãng; nếu dừng lại, đứt quãng, không liên tục thì quân địch có thể hồi phục, kịp thời điều động, sử dụng các lực lượng dự bị, chấn chỉnh lực lượng và có thể giành lại được chủ động, thực hành phản công hoặc bố trí lại thế trận, tổ chức lại phòng ngự, gây khó khăn cho ta.


Muốn tiến công liên tục, kế tiếp nhau một cách chủ động trên nhiều hướng thì cần có nhiều binh đoàn chiến lược, cần có nhiều đạo quân, bố trí sẵn trên nhiều chiến trường, nhiều hướng chiến lược. Chiến trường nào, lúc nào, thời cơ nào trở thành trọng điểm sẽ được cơ động tập trung nhiều hơn. Thế trận chiến tranh nhân dân cài răng lược, xen kẽ đã tạo ra thế trận chiến lược sâu hiểm và phương pháp tiến công chiến lược lợi hại này.


Nhiều chiến trường, nhiều hướng chiến lược cùng ở thế tiến công, các binh đoàn chiến lược cùng tiến vào giao chiến, thì phải đặt ra vấn đề phối hợp chiến trường.

Khi quân ta ở hướng Tây Nguyên triển khai cuộc tiến công thì ở hướng Trị - Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, hướng miền Đông Nam Bộ, các binh đoàn khác cũng triển khai cuộc tiến công phối hợp. Các chiến trường đã tiến công phối hợp với Tây Nguyên: tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân, phân tán hai sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch là sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ ở Trị - Thiên và Quảng Đà. Chiến trường Khu 5 đã giam chân sư đoàn 22 địch ở đường số 19. Vì vậy, khi bọn cầm đầu Mỹ - ngụy phát hiện ra hướng hoạt động chủ yếu của quân ta là chiến trường Tây Nguyên thì dù chúng có muốn tăng cường ứng cứu cũng không điều được lực lượng. Mặt khác, cũng còn vì phải lo đối phó ở khắp nơi nên địch không đủ tỉnh táo để đối phó với quân ta ở chiến trường Tây Nguyên một cách có hiệu quả. Rõ ràng, các chiến trường khác đã hoạt động yểm hộ rất đắc lực, tạo điều kiện thuận lợi cho hướng Tây Nguyên giành thắng lợi lớn, nhanh và gọn. Ngược lại, chiến thắng Tây Nguyên đã có tác dụng trở lại đối với các chiến trường toàn miền Nam, làm cho kẻ địch ngày càng lúng túng và sai lầm, dẫn tới những đột biến vô cùng thuận lợi cho quân ta.


Do có phương pháp tiến công đúng, có sự phối hợp chiến trường chặt chẽ, nên ta đã nâng cao được tốc độ tiến công, liên tục tiêu diệt quân địch, giải phóng đất đai và địa bàn quan trọng, giành được thắng lợi hết sức to lớn và cực kỳ nhanh chóng. Tốc độ tiến công thần tốc đó như một cơn bão mạnh ập xuống quân thù khiến chúng không kịp chuẩn bị đối phó, không kịp chấn chỉnh và điều động lực lượng, không kịp bố trí lại thế trận đã bị đảo lộn và xé nát, thậm chí không kịp cả suy nghĩ nữa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:55:01 am
5. Chỉ đạo thời cơ

Chỉ đạo thời cơ là một vấn đề rất quan trọng trong nghệ thuật chỉ đạo chiến lược. Chỉ đạo thời cơ là tạo ra được thời cơ, nám được thời cơ và biết khuếch trương, phát triển thời cơ.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ta đã tạo được thời cơ để chiến dịch mở đầu Tây Nguyên nắm chắc phần thắng và quân ta ở hướng Tây Nguyên tiêu diệt được quân đoàn 2 của địch.

 Trong chỉ đạo chiến lược, ta đã tổ chức thế trận chiến lược, bố trí lực lượng chiến lược và tiến công chiến lược, phối hợp chiến trường nhịp nhàng khiến cho hướng Tây Nguyên có đủ điều kiện thuận lợi để giành chiến thắng. Nhằm mục đích trên, lực lượng ta đã đánh tiêu hao và tiêu diệt để giam chân lực lượng tổng dự bị chiến lược tinh nhuệ nhất của địch ở chiến trường Trị - Thiên và Quảng Đà. Hoạt động phối hợp của các lực lượng ta ở nhiều hướng khiến cho bọn cầm đầu quân ngụy do dự trong việc sử dụng lực lượng tổng dự bị chiến lược hoặc sử dụng một cách sai lầm. Trong quá trình diễn biến của chiến dịch Tây Nguyên, địch chỉ điều được từ Nam Bộ ra Plây Cu một liên đoàn biệt động quân - liên đoàn số 7 - sau khi chúng mất Buôn Ma Thuột tiếp đó là lữ đoàn dù số 3 ra chặn ở đèo Phượng Hoàng, phía tây thị trấn Ninh Hòa, sau khi quân ta tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy tại Phước An. Các đơn vị quân ngụy này đều chung một số phận với quân đoàn 2 ngụy bị quân ta tiêu diệt.


Trong chỉ đạo chiến lược, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã tạo ra và nắm chắc thời cơ tiêu diệt Buôn Ma Thuột. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, quân địch hoang mang, bối rối, đã bị động càng thêm bị động. Đối với quân ta, đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột, thế chia cắt vây hãm chiến lược toàn Tây Nguyên, đòn tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy cùng với thế tiến công thắng lợi của quân ta trên toàn chiến trường lại tạo ra một thời cơ mới: thời cơ tiêu diệt tập đoàn tháo chạy của quân đoàn 2 ngụy. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhanh chóng nắm chắc thời cơ này và chỉ đạo quân ta khẩn trương tiêu diệt tập đoàn tháo chạy của quân đoàn 2 ngụy. Mặt khác, thất bại nặng nề của quân ngụy tại Tây Nguyên đã làm rung động cả thế trận của quân đội ngụy trên toàn chiến trường miền Nam, đẩy chúng lâm vào tình trạng hoang mang, bối rối, kể cả tên tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lẫn binh lính ngụy. Từ chiến lược phòng ngự toàn tuyến không chịu mất đất, và có phản công bộ phận, quân ngụy đã buộc phải chuyển sang rút lui chiến lược, co cụm phòng ngự có trọng điểm. Cũng từ đó, thời cơ lớn đã xuất hiện.


Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã kịp thời nắm lấy thời cơ ngàn năm có một ấy, lãnh đạo quân dân ta phát triển cuộc tiến công chiến lược thành tổng tiến công chiến lược, liên tục giải phóng hết vùng này đến vùng khác, cuối cùng đã giải phóng toàn bộ miền Nam nước ta.


Đoạn trên đã nêu một số vấn đề nổi bật về chỉ đạo chiến lược. Riêng về mặt nghệ thuật chiến dịch cũng có nhiều vấn đề phong phú. Dưới đây, xin nêu một số kinh nghiệm chỉ đạo, chỉ huy trong chiến dịch.


1. Sử dụng lực lượng

Với tư tưởng chỉ đạo tác chiến đánh chắc thắng và nguyên tắc đánh chắc thắng trận đầu, ta đã nghiên cứu kỹ càng việc tập trung ưu thế lực lượng để có thể đánh chắc thắng, thắng nhanh và thắng gọn.


Trong những điều kiện cụ thể của chiến trường Tây Nguyên, ta cần có ưu thế nhất định về lực lượng so với địch trên toàn tuyến chiến dịch, song đó chỉ là ưu thế tương đối. Trong thực tế, nếu chỉ tính so sánh lực lượng đôi bên về số quân và vũ khí thì nói chung toàn chiến trường Tây Nguyên, ta không có ưu thế lớn so với địch. Thế nhưng, ta còn có các mặt ưu thế khác để tạo thành ưu thế tổng hợp lớn hơn hẳn địch như ưu thế về tinh thần, về địa hình, về nghệ thuật quân sự, v.v...


Về tinh thần chiến đấu, giữa quân ta và quân địch ai hơn ai kém đã quá rõ ràng.

Về địa hình, Tây Nguyên với núi rừng và cao nguyên rộng lớn có nhiều điểm thuận lợi cho ta. Nó có thể tiếp nhận được một lực lượng chiến đấu lớn; vào mùa khô, sông suối cạn, đường sá thuận tiện, ta có thể sử dụng được các binh đoàn lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng. Còn đối với địch, Tây Nguyên dễ bị cô lập, bị cắt đứt với hậu phương chiến lược ở đồng bằng ven biển; bản thân quân địch ở Tây Nguyên cũng dễ bị chia cắt giữa khu vực này với khu vực khác. Vì vậy trong chiến dịch Tây Nguyên, do biết triệt để lợi dụng địa hình để phục vụ đắc lực cho các yêu cầu chiến đấu của ta nên với số quân không nhiều hơn địch là bao trên toàn chiến trường, thậm chí có những trận còn ít hơn địch, ta vẫn đánh thắng chúng.


Về nghệ thuật sử dụng lực lượng, ta biết tổ chức, bố trí và phân phối lực lượng một cách khoa học, hợp lý. Ta có lực lượng tập trung và lực lượng phân tán; có lực lượng lớn và lực lượng nhỏ; có chỗ nhiều, có chỗ ít; có chỗ dày, có chỗ mỏng; có bộ đội chủ lực và có bộ đội địa phương, dân quân du kích; có lực lượng tiến công và có lực lượng nổi dậy. Nói chung, các lực lượng của ta ở vào vị trí nào, giữ vai trò gì, đều phát huy được tác dụng tích cực, lại hành động thống nhất và hiệp đồng chặt chẽ nên tạo ra được một sức mạnh thống nhất về lực lượng rất lớn. Các lực lượng đó lại trải ra chiếm một không gian rộng lớn, vừa có bể rộng và bề sâu, vừa có chiều dày và chiều nhọn, bao bọc và xuyên sâu vào không gian của địch, khiên ta hành động được tự do, linh hoạt và dồn ép địch vào nơi chật hẹp, không hành động được.


Trên toàn tuyến chiến dịch, ta chỉ có ưu thế lực lượng tương đối so với địch, nhưng ở hướng chủ yếu, ở khu vực trọng điểm như Buôn Ma Thuột ta đã chiếm ưu thế tuyệt đối hơn địch. Chỗ giỏi của ta là biết phản tán địch ra thành hai khối ở hai đầu để tập trung ưu thế lớn vào nơi quyết định, đánh vào Buôn Ma Thuột; đồng thời kèm cụm mạnh của địch ở Plây Cu. Trong trận mở đầu quyết định này, ta đã tập trung một lực lượng đúng mức và hợp lý, tạo thành một quả đấm mạnh đủ sức thôi động tình thế nên đã giành được thắng lợi to lớn và nhanh chóng. Mặt khác, lực lượng quân ta lại có tính cơ động, linh hoạt cao. Cũng trong đòn mở đầu chiến dịch, ta sử dụng 1 sư đoàn tăng cường đánh Buôn Ma Thuột, 1 sư đoàn (thiếu) đánh Đức Lập xong liến được dùng ngay làm dự bị cho hướng Buôn Ma Thuột, 1 sư đoàn đứng ở giữa Buôn Ma Thuột và Plây Cu có thể được sử dụng vào Buôn Ma Thuột hoặc vào Plây Cu. Do đó, ta đã thực hiện được tập trung, phán tán, chuyển hưởng, lật cánh lực lượng một cách linh hoạt, cơ động uà kịp thời, tạo ra được một thế trận vừa có chiều dày lại vừa có chiều rộng, một thế trận vừa mạnh lại vừa dẻo dai, sắc nhọn. Cho nên ngoài hướng chủ yếu, ở các hướng quan trọng khác và tiếp ngay sau đó sẽ nhanh chóng trở thành hướng chủ yếu, lực lượng của ta cũng đủ mạnh để đón thời cơ chung và tạo ra thời cơ trực tiếp, đánh những đòn then chốt và quyết định, giành thắng lợi cũng rất to lớn và nhanh chóng (đòn đánh quân phản kích ở Phước An, đòn truy kích trên đường số 7).


Nói đến ưu thế, không thể chỉ tính có giai đoạn đầu mà còn phải tính cả đến giai đoạn tiếp sau của chiến dịch. Bước mở màn chiến dịch, ta đã chiếm ưu thế hơn địch mà trong quá trình chiến dịch tiếp diễn, địch điều động lực lượng tới tăng cường, ta cũng vẫn giữ được ưu thế. Chẳng hạn, sau trận Buôn Ma Thuột, ta đã điều động lực lượng dự bị kịp thời để tiêu diệt sư đoàn 23 đến phản kích. Ngày 12 tháng 3, địch điều liên đoàn biệt động quân 7 ở Nam Bộ ra tăng cường cho quân đoàn 2, đổ bộ xuống Plây Cu. Song nó đã bị tiêu diệt như các liên đoàn biệt động quân khác của quân đoàn 2. Sau khi ta tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy, địch điều trung đoàn 40 và lữ đoàn dù số 3 đến Khánh Dương và đèo Phượng Hoàng. Song chúng vẫn không thay đổi được tình thế, không làm mất được ưu thế của quân ta, mà rốt cuộc cũng bị quân ta tiêu diệt. Ta giữ được ưu thế từ đầu đến cuối là nhờ cớ sự chỉ đạo chiến lược tài tình của trên, sự phối hợp nhịp nhàng và tích cực của các chiến trường. Trên các hướng khác, ta đều đánh mạnh, tiêu hao, tiêu diệt, căng kéo, phân tán lực lượng tổng dự bị của địch, khiến chúng bối rối và do dự trong việc sử dụng, không ứng cứu được nhau. Do đó, quân ta ở hướng Tây Nguyên cũng được rảnh tay, chủ động và có điều kiện thuận lợi để chiến thắng nhanh chóng, kể cả khi địch điều động lực lượng dự bị tới tăng cường, cứu nguy.


Nhìn chung, do biết phát huy và thống nhất các yếu tố tinh thần, vật chất, địa hình và nghệ thuật chỉ huy nên với một lực lượng quân chủ lực vừa phải, không nhiều hơn địch là mấy, ta vẫn tạo được sức mạnh tổng hợp lớn, giữ vững được ưu thế tuyệt đối từ đầu đến cuối chiến dịch để giành thắng lợi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Sáu, 2023, 06:55:38 am
2. Lợi dụng địa hình

Tại Tây Nguyên, địch tập trung vào một đầu có thế và lực phòng ngự mạnh, có địa hình vững chắc, nhưng lại yếu và sơ hở ở một đầu khác. Ta thì tập trung vào một đầu địch yếu về phòng ngự và địa hình, thuận lợi cho ta phát huy lực lượng và thế tiến công cũng như thế phát triển tiến công một cách rộng lớn, trên một địa hình thuận lợi.


Bố trí trên địa hình Tây Nguyên, quân địch dễ bị chia cắt, vây hãm và cô lập với đồng bằng, cũng như giữa các khu vực trong bản thân chiến trường Tây Nguyên với nhau. Còn ta thì vừa tập trung được lực lượng vào hướng chính, hướng quyết định, lại vừa xen được vào trong hình thái bố trí của địch mà làm nhão, làm nát và chia cắt nó, khiến cho nó mất vững chắc đi.


Địa hình Tây Nguyên có những nơi cao, thấp, gồ ghề, hiểm trở, lại có những nơi mấp mô, trung bình, tương đối bằng phẳng, nhìn chung thuận lợi cho phía chúng ta. Với tính năng động cách mạng, ta có thể lợi dụng địa hình đó để khắc phục mặt yếu và phát huy mặt mạnh của ta. Còn đối với địch, địa hình đó lại hạn chế mặt mạnh và tảng mặt yếu lên.


Một công sự giản đơn của ta trên một sườn núi hiểm trở cũng làm cho hỏa lực địch khó sát thương được quân ta, dù đó là hỏa lực pháo binh hay máy bay B.52. Tổ chức trận địa ở đâu, quân ta cũng thường có điều kiện tìm vật liệu tại chỗ để làm công sự vững chắc bằng gỗ, đất. Một trung đội quân ta chiếm lĩnh một đỉnh đèo có thể ngăn chặn được hàng tiểu đoàn quân địch. Cho nên, với địa hình như thế, với điều kiện làm công sự như thế, một phân đội pháo binh hoặc pháo cao xạ của ta cũng có thể chiến đấu độc lập được, không cần có sự yểm hộ của bộ binh. Các pháo thủ được trang bị thêm súng tiểu liên, súng B.40, súng phóng lựu có thể đánh tan, đánh bại được các đợt xung phong của từng đại đội bộ binh địch. Một trận địa hỏa lực có 1 khẩu súng cối 82 ly và 1 khẩu 60 ly của quân ta, có địa hình hiểm trở và có công sự vững chắc đã từng làm tốt nhiệm vụ kìm diệt một trận địa pháo 105 ly bốn khẩu của quân Mỹ. Tuy có khí tài trinh sát hiện đại, quân địch cũng khó phát hiện được đội hình của từng trung đoàn quân ta chỉ cách trận địa chúng khoảng 5 - 10km. Trong cùng một hôn núi, quân địch bố trí trên đỉnh núi, còn quân ta lại bố trí ở ngang sườn núi.


Tại Tây Nguyên, quân ta đã tận dụng thế lợi, đã khắc phục, cải tạo và phát huy tác dụng của địa hình rừng núi, cũng như đã vận dụng sáng tạo thêm về mặt chiến thuật trong chiến đấu ở rừng núi cho cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Chiến thuật đánh gần, chiến thuật bám trụ ở rừng núi đã được nâng cao và phát triển.


Địa hình là một trong những yếu tố để bố trí binh lực nên có mối liên quan với hình thái bố trí chiến lược. Để bảo vệ các thị xã, thị trấn, các trung tâm chính trị, quân sự và kinh tế, các trục giao thông, các khu vực tập trung dân, trong thế phòng ngự ngày càng tiêu cực, quân địch bắt buộc phải phân tán bố trí binh lực. Chúng phải chia quân ra chiếm giữ, khống chế nhiều điểm cao và nhiều tuyến điểm cao chung quanh các thị xã, thị trấn ven các trục giao thông. Trước những cách đánh linh hoạt sáng tạo và những đòn tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng, gồm quân chủ lực, quân địa phương và quân du kích trong thế trận chiến tranh nhân dân, dù cho quân địch bố trí binh lực như thế nào, khống chế bao nhiêu điểm cao, ngọn đồi, đỉnh núi, sườn đèo, chúng cũng vẫn thấy là còn có sơ hở. Trong thế phòng ngự, chúng lại càng phải rải quân ra phòng ngự, trong thế phân tán lại càng phải phân tán mỏng.


Hướng phòng ngự chủ yếu của địch ở Tây Nguyên là bắc Tây Nguyên, gồm hai thị xã Plây Cu, Kon Tum và trục đường giao thông số 19. Tại đây tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực của quân đoàn 2. Hướng phòng ngự thứ yếu của địch, vùng nam Tây Nguyên gồm hai tỉnh Đắc Lắc và Quảng Đức, chỉ có 1 trung đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân và 1 trung đoàn xe tăng - xe bọc thép.


Hệ thống phòng ngự chủ yếu bắc Tây Nguyên của địch được bố trí thành hai cụm và một tuyến: cụm Plây Cu, cụm Kon Tum và tuyến đường số 19. Do phải phòng ngự rải ra trên một diện rộng toàn tuyến, nên dù có tập trung vào hướng chủ yếu, thì ở đó cũng vẫn cứ mỏng yếu. Các cụm phòng ngự dễ bị chia cắt, vây hãm, cô lập. Đường giao thông rất dễ bị cắt đứt. Tại nam Tây Nguyên, trên phạm vi hai tỉnh rừng núi có đất đai rộng lớn, lực lượng phòng ngự của địch lại càng mỏng yếu. Khi bị một đòn đánh lớn của chủ lực đối phương, quân địch rất khó xoay xở, đối phó.


Do bị phụ thuộc vào địa hình, bị phụ thuộc vào cách đánh của quân ta, do tư tưởng và phương pháp phòng ngự của địch, nên lực lượng của địch đã phải dàn ra thành một cái hình dài, mỏng, thấp và hẹp, tuy chúng có vận dụng được một phần chiến lược phòng ngự diện địa. Do đó, ta có nhiều điều kiện thuận lợi để chia cắt quân địch ra thành nhiều mảnh, vây hãm và cô lập chúng với nhau; cô lập, tách rời Tây Nguyên với hậu phương chiến lược của chúng ở vùng đồng bằng ven biển, làm cho chúng khốn quẫn về vật chất và tinh thần, rồi đi đến chỗ bị đánh tiêu diệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:13:21 am
3. Cách đánh

Thành công nổi bật về cách đánh trong chiến dịch Tây Nguyên là: quân ta đã thực hiện đòn mở đầu then chốt vào Buôn Ma Thuột, đánh thẳng vào đầu não, đánh trúng vào huyệt hiểm của địch, khiến chúng bị choáng váng thần kinh, phải hốt hoảng rút bỏ tây Nguyên, tiếp đó đã sa vào hàng loạt sai lầm và thất bại khác.


Như ta biết, Buôn Ma Thuột là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa, là nơi tập trung bọn đầu sỏ phản động của khu vực Tây Nguyên và bọn cầm đầu hệ thống chỉ huy các lực lượng địa phương của tỉnh Đắc Lắc. Đồng thời, Buôn Ma Thuột còn là nơi đóng sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23. Vì vậy, trong trận tiến công Buôn Ma Thuột, quân ta đã chọn sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23 làm mục tiêu chủ yếu: các hướng, các mũi tiến công bàng binh chủng hợp thành đều tập trung vào đó để hiệp đồng tiến công hợp điểm, giành thắng lợi quyết định, sở chỉ huy sư đoàn 23 bị đánh thì các lực lượng của sư đoàn này sống chết cũng phải tới phản kích, tăng viện, ứng cứu. Cho nên, quân ta đã bố trí sẵn thế trận đón đánh chúng ở phía đông Buôn Ma Thuột. Thực tế diễn biến chiến sự cho thấy: sư đoàn 23 bị xóa sổ đã làm cho bọn cầm đầu quân ngụy mất hẳn chỗ dựa chủ yếu của chúng ở Tây Nguyên. Bộ xương sống bị đập gãy thì toàn bộ cơ thể bị sụp đổ, lực lượng chủ chốt của địch là sư đoàn 23 bị tiêu diệt thì bọn quân địa phương ở khu vực này cũng nhanh chóng tan rã hoặc bị tiêu diệt theo. Điểm Buôn Ma Thuột đã bị diệt, viện gần bị mất, viện xa không có khả năng, tất nhiên các lực lượng địch còn lại ở Tây Nguyên đang bị vây hãm cô lập, nếu không bỏ chạy thì chỉ còn con đường đầu hàng hoặc bị tiêu diệt tại chỗ mà thôi.


Mặt khác, Buôn Ma Thuột lại là ngã ba đường chiến lược quan trọng. Từ địa điểm cơ động có ý nghĩa chiến lược này, quân ta có thể tiến nhanh đến các mục tiêu chiến lược còn quan trọng hơn cả Tây Nguyên. Trong khi đó, tập đoàn chủ yếu của quân đoàn 2 địch ở Plây Cu và Kon Tum lại đang bị trói chặt, cứ nằm chết gí ở đây thì lãng phí lực lượng mà rồi cũng sẽ chết dần chết mòn. Nếu đối phương không đánh Plây Cu và Kon Tum, chỉ dùng một số ít lực lượng tiếp tục vây hãm tập đoàn này, rồi đem đại quân từ Buôn Ma Thuột thọc thẳng theo đường 21 xuống đánh Nha Trang và Cam Ranh thì tình thế còn rối bời hơn. Vùng đồng bằng ven biển sẽ bị cắt ra làm đôi, và con đường tiến về Sài Gòn sẽ mở ra trước mắt. Lúc đó, dù không bị đánh thì Plây Cu và Kon Tum cũng phải đầu hàng. Cho nên, muốn hay không muốn, chúng cũng buộc phải nhanh chóng rút bỏ Tây Nguyên để về giữ đồng bằng.


Buôn Ma Thuột giữ vị trí hiểm yếu như vậy, song lại là nơi địch có nhiều sơ hở. Địch cho rằng đây là một vị trí nằm sâu trong vùng chúng chiếm đóng, không trực tiếp đối mặt với ta, thêm nữa lại cho rằng ta chưa đủ khả năng đánh chiếm những thị xã lớn như thế, nên chúng bố trí lực lượng ở đây không nhiều và sự bố phòng cũng không chặt chẽ bằng các vị trí khác. Vì vậy, sự kiện ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột đã làm cho địch hết sức bất ngờ, choáng váng trước sức mạnh và trình độ tác chiến của ta. Đòn hiểm Buôn Ma Thuột rõ ràng đã gây chấn động lớn đến toàn chiến trường Tây Nguyên và cả các chiến trường khác, tạo nên những đột biến dây chuyền lớn hơn tiếp sau, khiến địch không sao chống đỡ nổi và đi đến sụp đổ hoàn toàn.


Một cách đánh rất có hiệu quả nữa mà ta đã vận dụng trong chiến dịch Tây Nguyên là chia cắt, vây hãm, kết hợp với đột phá và đột phá kết hợp với thọc sâu, vu hồi.

Bước vào chiến dịch, ta đã tiến hành chia cắt vây hãm trước. Chính cách đánh này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đột phá tiếp theo và đảm bảo đột phá thành công, truy kích thắng lợi. Tất nhiên, riêng cách đánh chia cắt vây hãm không thể đưa chiến dịch đến kết thúc thắng lợi mà cuối cùng ta vẫn phải dùng cách đánh đột phá, đánh phản kích và truy kích. Tại Tây Nguyên, ta đã chọn cách đánh chia cắt vây hãm kết hợp với đột phá vì trong những điều kiện cụ thể của chiến trường, cách đánh này bảo đảm cho ta chủ động và chắc thắng hơn. Về mặt chủ động, sau khi đã chia cắt vây hãm quân địch rồi, ta muốn đánh lớn lúc nào, ở đâu là do ta chọn. Ta không phải đánh theo ý đồ của địch, không buộc phải quyết chiến khi tình huống chưa chín muồi, thời cơ chưa đến. Quân địch có mạnh chúng ta cũng có cách đối phó tốt. Ngoài ra, phương pháp này còn tạo điều kiện cho ta tiêu diệt gọn quân địch, bắt sống được nhiều quân địch, kể cả cơ quan chỉ huy của chúng. Vì ta đã vây hãm nhiều tầng thì chúng khó chạy thoát.


Diễn biến thực tế của chiến dịch đã chứng minh cách đánh trên đây là chính xác.

Dựa vào thuận lợi của địa hình hiểm trở ở vùng rừng núi và hình thái bố trí của địch, quân ta đã diệt một số cứ điểm quận lỵ nằm trên đường giao thông chiến lược, đánh chiếm từng đoạn đường số 19, số 21 và số 14, chia cắt vây hãm quân địch thành từng cụm cô lập rồi mới tiến công đột phá đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Hành động tiến công chia cắt, vây hãm của quân ta đã đặt quân địch vào trong vòng vô cùng khốn quẫn, vì bị cô lập hẳn với hậu phương chiến lược của chúng ở đồng bằng.


Về tiếp tế, quân địch vẫn còn hàng tháng dự trữ, nhưng chúng vẫn buộc phải tiết kiệm đạn dược, xăng dầu đề phòng đường sá bị cắt đứt dài ngày. Điều đó ảnh hưởng đến việc sử dụng hỏa lực, cơ động quân và sức đột kích của xe tăng, có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết tâm chiến đấu và vận dụng chiến thuật.


Kết quả quan trọng khác của hành động tiến công chia cắt vây hãm là nó tác động trực tiếp ngay đến sự phát triển của chiến đấu và chiến dịch: thế trận của địch bị chia cắt cô lập thành từng cụm, từng mảng và cụm nào cũng bị đánh hoặc bị uy hiếp. Toàn bộ quân địch ở Tây Nguyên bị trói chặt, từng cụm một nằm trong cái thòng lọng của quân ta đang thắt lại. Quân địch không cựa quậy được và ngạt thở. Chúng còn có thể sử dụng được những phương tiện đi lại lẻ tẻ trên không (ngay các sân bay cũng bị hỏa lực ta khống chế), song những phương tiện hạn chế đó không thể cứu vãn chúng thoát khỏi cảnh nguy ngập. Quân địch lâm vào thế quân đứng ở đâu bị chôn chân ở đó, bị đánh ở đâu đối phó ngay tại đó, không thể ứng cứu lẫn nhau được. Có chỗ thừa quân buộc lòng phải cho là thừa, có chỗ thiếu quân thì phải cố mà chịu cái phận thiếu.


Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần binh lính địch và gia đình của họ, gây nên một làn sóng dao động, hoang mang, sợ hãi, dẫn đến tình hình trật tự, kỷ luật bị phá vỡ, chỉ huy bất lực và cuối cùng là hỗn loạn lan tràn từ trên xuống dưới trong hàng ngũ địch. Tình trạng "vỡ đê" về tinh thần đó càng dồn quân địch vào cảnh sụp đổ hoàn toàn không phương cứu vãn.


Ba tác dụng trên đây của cách đánh chia cắt, vây hãm đã tạo cho ta những điều kiện rất thuận lợi để thực hành đột phá, tiêu diệt các cụm phòng ngự của địch, đánh chiếm các căn cứ quân sự, các thị xã giành thắng lợi to lớn và nhanh gọn.


Đột phá là hành động cuối cùng của chiến đấu và chiến dịch. Chỉ có tiến công đột phá vào trận địa của địch, tiêu diệt và bắt sống hết quân địch ngay tại trận địa phòng ngự của chúng thì chiến đấu mới kết thúc, đạt được thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng đột phá phải tinh nhuệ, thiện chiến và mạnh, vì phải đánh vào chỗ địch cứng nhất, mạnh nhất và có tính chất quyết định nhất của chiến đấu. Đột phá, đánh vỡ những cụm phòng ngự then chốt của địch là một điều kiện rất quan trọng. Các điểm phòng ngự then chốt là các điểm tụ, điểm tập trung sức mạnh của lực lượng phòng ngự. Các điểm này bị phá vỡ, sức mạnh bị tiêu diệt thì thế trận của địch bị rệu rã và đổ vỡ.


Trên cơ sở chia cắt, vây hãm ba cụm phòng ngự của địch ở: Kon Tum, Plây Cu và Buôn Ma Thuột, quan trong nhất là chia cắt, vây hãm tập đoàn chủ yếu của địch ở Plây Cu, ta thực hành một đòn đột phá Buôn Ma Thuột, đánh đúng vào cái huyệt hiểm của địch ở Tây Nguyên, ở Buôn Ma Thuột, ta không đột phá lần lượt, không đột phá vòng ngoài mà đột phá thọc sâu và vu hồi làm cho địch bị tiêu diệt nhanh chóng. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, các đội quân có sức chiến đấu mạnh hơn của địch ở Plây Cu đành đứng cứng ở đó mà nhìn, vì không mở được đường để đi ứng cứu. Địch cố tập trung và điều động máy bay lên thẳng ở các chiến trường khác đến, nhưng cũng chỉ đổ bộ hạ cánh được sư đoàn 23 (thiếu), không có xe tăng mà chỉ có ít pháo, xuống phía đông Buôn Ma Thuột, trên đường số 21. Sư đoàn này chưa kịp chuẩn bị, triển khai để làm nhiệm vụ thì đã bị tiêu diệt và đánh tan. Điều đó chứng tỏ tính chất lợi hại của thế chia cắt, vây hãm và sức mạnh của đột phá.


Trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta đã thực hiện chia cắt vây hãm vững chắc và dẻo dai, đã tiến hành đột phá nhanh mạnh, sắc nhọn. Hai vế, hai thành phần của cách đánh này đều được thực hiện tốt nên đã bảo đảm thắng lợi của chiến dịch.


Do vây hãm tốt và đột phá giỏi nên ta lại tạo ra cách đánh quân địch tháo chạy, cách đánh dễ nhất, tốt nhất và tiêu diệt được nhiều quân địch nhất. Quân ta chỉ đánh một đòn mà ăn hai, không cần đánh vào Plây Cu mà địch ở đó đã phải bỏ chạy. Đây cũng là một thành công nổi bật của cách đánh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:18:36 am
4. Điều khiển tình huống

Một điểm nổi rõ trong nghệ thuật chiến dịch ở Tây Nguyên là ta đã chủ động điều khiển tình huống, đã có mưu kế để gạn lọc và loại trừ những tình huống phức tạp, làm cho những tình huống phức tạp ít có khả năng xảy ra, vì thế chiến dịch diễn ra cũng giản đơn bớt đi, thuận lợi cho việc xử trí chỉ huy.


Chẳng hạn, mở đầu chiến dịch, quân ta đánh cắt các đường bộ, có nghĩa là đã loại trừ được hai tình huống: tình huống địch tăng viện, phản kích ứng cứu bằng đường bộ và tình huống địch rút chạy (địch tăng viện, phản kích bằng đường bộ là tình huống rất quan trọng; có trường hợp chiến dịch không thành công vì không đánh bại được quân tiếp viện phản kích). Loại trừ được hai tình huống quan trọng đó rồi, chúng ta chỉ cần dự kiến ba tình huống: một là quân địch tăng viện, phản kích bằng đường không, hai là chúng co cụm lớn, ngoan cố chống cự trong công sự vững chắc và ba là chúng liều lĩnh phá vây để rút chạy. Diễn biến thực tế cho ta thấy: quân địch đã phản kích bằng đường không về hướng Buôn Ma Thuột và liều lĩnh phá vây từ Plây Cu rút chạy về hướng đường 7, còn tình huống địch ngoan cố chống cự trong công sự vững chắc thì không xảy ra. Khi hai tình huống trên diễn ra, ta đều giải quyết được tốt vì đã có sẵn mưu kế và chỉ huy linh hoạt, kịp thời.


Điều khiển tình huống là một cuộc đối chọi gay gắt và khẩn trương giữa ta với dịch. Nó đòi hỏi bộ chỉ huy phải có nhiều mưu kế, phải sáng suốt, tỉnh táo, bình tĩnh, nhạy bén và quả cảm. Do có mưu kế và thực hiện được các mưu kế chiến dịch, ta đã làm chủ được các tình huống trong suốt quá trình diễn biến của chiến dịch Tây Nguyên và tạo ra được những tình huống có lợi. Kinh nghiệm cho thấy, trong chỉ đạo chiến lược và chiến dịch, nếu tạo ra được tình huống buộc địch phải bị động tháo chạy trong thế trận của ta là rất hay.


Căn cứ vào nhiệm vụ và ý đồ chiến lược chung, ý đồ của ta trong chiến dịch Tây Nguyên là tiêu diệt địch và giải phóng khu vực nam Tây Nguyên trước, sau đó sẽ giải phóng toàn Tây Nguyên và phát triển đi các hướng khác. Mưu kế chiến dịch của ta là: trước tiên hãy cô lập Tây Nguyên với đồng bằng. Trong phạm vi chiến trường Tây Nguyên, tiến hành chia cắt bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên, vây hám, cô lập tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tự do hành động, để có thể đối phó được ở chiến trường nam Tây Nguyên. Khi tập đoàn chủ yếu của địch đã bị trói chặt ở bắc Tây Nguyên, thì chiến trường nam Tây Nguyên hoàn toàn bị sơ hở. Ở đó, ta sẽ tập trung lực lượng chủ yếu, nhanh chóng đánh chiếm Buôn Ma Thuột, rồi giải phóng toàn bộ nam Tây Nguyên. Từ địa bàn rộng lớn cơ động lợi hại này, các binh đoàn hùng mạnh của quân ta sẽ ngang dọc đánh thọc đi các hướng. Vùng cao nguyên Trung Bộ và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ sẽ vô cùng sôi động, góp phần tạo ra thế chiến lược sôi động chung của toàn chiến trường miền Nam.


Thực hiện chia cắt, cô lập Tây Nguyên với đồng bằng là việc tương đối dễ vì ta giữ được quyền chủ động tương đối. Lôi kéo, thu hút quân địch lên bắc Tây Nguyên rồi giam hãm chúng ở đây là việc khó hơn, có thể là tình huống khó nhất. Ta phải đấu mưu đấu trí với địch trước khi bước vào trận Buôn Ma Thuột ở nam Tây Nguyên.


Tình huống thứ hai yêu cầu phải có mưu trí là tiến hành trận đánh then chốt vào Buôn Ma Thuột. Đánh thắng trận đầu vốn đã rất quan trọng, đánh thắng trận đầu then chốt lại càng quan trọng hơn. Vì thế, ta phải làm cho chiến trường nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột sơ hở.


Tình huống thứ ba ta dự kiến là: khi ta đang đánh thị xã Buôn Ma Thuột, có khả năng địch sẽ phản kích bằng đổ bộ máy bay lên thẳng, song lực lượng tăng viện bằng máy bay lên thẳng của quân ngụy không mạnh. Vì vậy binh đoàn đánh Buôn Ma Thuột phải tự mình có lực lượng dự bị, ngoài ra Bộ tư lệnh chiến dịch cũng có lực lượng dự bị chiến dịch để đối phó với các tình huống trên.


Tình huống thứ tư là: sau khi đã giải phóng được Buôn Ma Thuột, địch sẽ thực hành phản kích lớn, định chiếm lại Buôn Ma Thuột. Trường hợp này, quân ta đã có một địa bàn rộng rãi; ta có thể tập trung lực lượng dự bị chiến dịch cũng như lực lượng đánh Buôn Ma Thuột lúc đó đã rảnh tay, để đánh quân phản kích.


Tình huống thứ năm là: sau khi ta đã đánh bại được quân phản kích của địch về Buôn Ma Thuột, hoặc ta chưa đánh bại được hoàn toàn nhưng địch cũng không còn đủ sức để phản kích nữa thì ta xử trí ra sao, đánh đi đâu, phát triển tiến công về hướng nào? Để chỉ huy được tình huống này, ta phải có nhiều mưu kế và phải hết sức linh hoạt.


Trên đây là những tình huống lớn và cơ bản; cũng từ những tình huống đó, ta đã đặt ra những mưu kế lớn và cơ bản. Trong quá trình thực hành chiến dịch, mưu kế của ta đã phát triển hết sức phong phú. Trước hết, ta đã thực hiện tốt mưu kế thứ nhất là kéo địch về bắc Tây Nguyên và hãm địch ở đấy. Tuy nhiên, như ta biết, để thực hiện được mưu kế này, ta phải đấu tranh với địch rất gay gắt, đấu tranh hàng ngày, suốt từ tháng 2 cho đến ngày 10 tháng 3, ngày mở đầu trận then chốt đánh vào Buôn Ma Thuột. Ta làm cho địch mắc mưu và phán đoán lầm rằng ta sẽ tiến công bắc Tây Nguyên là chủ yếu, do đó từ cuối tháng 2 trở đi chúng đã để hở hướng nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Ta phải cố giữ tình trạng này cho đến đầu tháng 3, lúc ta bắt đầu đánh, cắt đường để cô lập Tây Nguyên với đồng bằng và chia cắt Tây Nguyên, vây hãm cụm Plây Cu, Kon Tum, cô lập Buôn Ma Thuột. Thành công này giúp ta điều kiện thuận lợi để đánh Buôn Ma Thuột nhanh chóng, gọn ghẽ.


Mưu kế kéo địch, hãm địch và diệt địch, đánh đòn then chốt đã giành được thắng lợi tốt đẹp. Song nếu không thực hiện được mưu kế đánh bại quân phản kích thì thắng lợi bước trước của ta sẽ bị mất hoặc không được củng cố. Đánh bại quân phản kích của địch không những bảo đảm củng cố được thắng lợi bưốc trưốc mà còn tạo ra được điều kiện để giành thắng lợi trong bước tiếp sau. Trong chiến dịch Tây Nguyên, lực lượng của quân đoàn 2 không đáng ngại lắm đối với ta, vì ta có khả năng căng kéo, phân tán được chúng ra các hướng trên chiến trường Tây Nguyên. Điều ta cần quan tâm hơn là lực lượng tăng viện địch điều từ các chiến trường khác đến, nhất là lực lượng tổng dự bị.


Trong kế hoạch đánh Buôn Ma Thuột, ta đã dự kiến mấy tình huống và có mưu kế đối phó. Tình huống thứ nhất là trước khi ta đánh Buôn Ma Thuột, địch có thể điều động về đây từ 1 đến 2 trung đoàn để tăng cường phòng ngự cho thị xã này. Tình huống thứ hai là sau khi ta giái phóng được Buôn Ma Thuột, địch có thể tổ chức phản kích quyết liệt ở hai hướng: một là từ Plây Cu xuống, hai là từ Nha Trang lên. Thực tế cho thấy: địch không tăng cường trước cho Buôn Ma Thuột được; như thế là tình huống thứ nhất không xảy ra và được loại trừ. Mưu kế căng kéo, thu hút của ta đã thành công. Tình huống địch phản kích về Buôn Ma Thuột có xảy ra nhưng địch phản kích yếu ớt, không quyết liệt do bị chia cắt, vây hãm. Khi dịch đổ bộ hạ cánh sư đoàn 23 (thiếu) từ Plây Cu xuống dường 21, phía đông Buôn Ma Thuột thì ta đã có lực lượng dự bị hùng hậu, sẵn sàng tiến ra đánh phủ đầu ngay cánh quân phản kích đó và đánh bại chúng một cách nhanh chóng. Như thế là mưu kế đánh phản kích của ta cũng thành công.


Thắng lợi này đã củng cố thắng lợi Buôn Ma Thuột và tạo điều kiện để nhanh chóng phát triển tiến công xuống đồng bằng, đánh tan quân dù ra ngăn chặn và giải phóng Nha Trang, Cam Ranh.

Gạn lọc được tình huống, điều khiển được tình huống, đặt ra và thực hiện được nhiều mưu kế linh hoạt, sâu hiểm, quân ta đã dồn quân địch vào cảnh thế cùng, lực tận để rồi tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:20:08 am
5. Thế trận

Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đã kết hợp thế đánh đằng trước mặt địch với thế đánh ở đằng sau lưng và cạnh sườn quân địch, làm cho địch bị đánh từ nhiều phía, không đường xoay xở và chống đỡ, không thể tập trung được lực lượng, phải bị động đối phó ở khắp nơi. Ta đánh địch ở Buôn Ma Thuột, Plây Cu, đồng thời lại đánh cả ở trên đường số 19, 21 và 14. Thế trận đó vừa mạnh lại vừa hiểm, linh hoạt và dẻo dai, thiên biến vạn hóa, khiến ta có thể phá được thê địch chứ không để cho địch phá được thế ta. Lực lượng đánh Buôn Ma Thuột của ta không đơn độc, khi cần thiết có thể được lực lượng đánh trên đường số 14 ở Cẩm Ga - Thuần Mẫn đến tăng cường.


Thế đánh trên đường số 14 ở Cẩm Ga, giữa Plây Cu và Buôn Ma Thuật rất linh hoạt, cơ động. Ta có thể đánh về hướng Buôn Ma Thuột, đánh về hướng Plây Cu, và cũng có thể đánh về hướng Cheo Reo. Lực lượng ở hướng đường số 19 có thể đánh địch ở trên đường bộ và khi cần lại có thể đánh về hướng Plây Cu, hoặc về hướng An Khê. Thế đánh ở đường số 19 và đường số 21 là thế đánh chia cắt quân địch ở Tây Nguyên với đồng bằng, lại là thế đánh vào đằng sau lưng địch, một thế đánh sâu và hiểm. Thế đánh vào sân bay nhằm làm cho địch không thể tiếp tế bằng đường không một cách dễ dàng.


Thế trận càng phong phú, nhiều hình nhiều vẻ, càng phức tạp thì càng dễ điều khiển các tình huống và chỉ huy càng chủ động. Trong chiến dịch Tây Nguyên, các thế trận đã được tổ chức tương đối hoàn chỉnh và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ được lẫn nhau, hợp thành chính thể của một thế trận chung, vừa vững mạnh vừa sắc nhọn.


Thực hiện được thế vây, thế cắt trên các đường số 19, 21 và 14, ta đã làm cho quân địch ở Tây Nguyên bị cô lập ra từng cụm, từng mảnh, đi đến chỗ bị suy yếu, mòn mỏi.

Thực hiện được thế kìm, thế hãm quân địch ở bắc Tây Nguyên, ta đã làm cho địch bị thu hút và bị trói chặt, bị giam hãm ở đó, có lực lượng mà đành chịu không phát huy được. Thế này đã tạo được điều kiện tốt cho thế diệt.


Do được tổ chức tốt, lại được các thế khác tạo điều kiện thuận lợi, nên thế diệt của ta đã phát triển được liên tục, ngày càng mạnh và thắng lợi ngày càng to, từ Buôn Ma Thuột đến Cheo Reo, Phước An, Khánh Dương, Củng Sơn, đèo Phượng Hoàng đến Bình Khê, sân bay Gò Quánh, thị xã Tuy Hòa, Nha Trang, Cam Ranh và sân bay Thành Sơn.


Ta thực hiện được các thế trận thành công là do đã phân tích đúng hình thái và thế trận của địch và đã đánh đúng vào chỗ dễ tan vỡ của địch.

Thế trận của địch được tổ chức và bố trí thành tuyến chạy dọc theo các trục đường giao thông. Trên tuyến có các điểm gồm các thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự và các đồn bốt lẻ. Các thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự là những điểm phòng ngự then chốt, những cái nút của tuyến phòng ngự, là chỗ tựa của lực lượng phòng ngự.


Tuyến phòng ngự chạy dọc theo đường giao thông là tuyến phòng ngự cơ bản, là xương sống của phòng ngự địch. Một số điểm phòng ngự lẻ, đồn bốt, cứ điểm lẻ, bố trí ở ven phía ngoài đường giao thông hình thành một tuyến phòng ngự tiền duyên không liên tục, đứt đoạn, rất mỏng yếu. Nó mang tính chất an ninh, cảnh giới, chỉ có khả năng đối phó với hoạt động tác chiến du kích, không đủ sức chống cự với quân chủ lực của đối phương. Vì vậy, quân chủ lực của ta chỉ cần đánh một vài cứ điểm hoặc có khi không cần đánh vẫn có thể vượt qua tuyến phòng ngự tiền duyên đó để đánh thẳng vào các thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự nằm trên trục đường giao thông. Khi đánh thị xã Buôn Ma Thuột, quân ta đã vượt qua, không cần đánh các cứ điểm phòng ngự vòng ngoài, trên tuyến phòng ngự tiền duyên của Buôn Ma Thuột là Bản Đôn, Chi Lăng, Chư Nga ở phía bắc, Đra Dơ Lin ở phía tây, cầu Sê Rê Pốc, Đoàn Kết, Thọ Thành ở phía tây - nam và nam.


Cách bố trí tuyến phòng ngự của địch như vậy lộ rõ sự mỏng yếu, không có chiều sâu phòng ngự lớn và vững chắc. (Tuy nhiên, ở một vài khu vực phòng ngự chủ yếu, thế trận phòng ngự của địch cũng có chiều sâu khá hơn, như ở Plây Cu, Kon Tum, Buôn Ma Thuột). Đối phương rất dễ tiến công, đánh chiếm các cứ điểm trên tuyến cơ bản, cắt đứt xương sống phòng ngự ra làm nhiều mảnh, phá vỡ thế trận phòng ngự của địch. Khi một điểm nào đó ở trên tuyến bị tiến công, đội dự bị hoặc thê đội hai của địch ra phản kích lại phải tiến dọc theo đường, giơ sườn lồ lộ ra cho đối phương chặn lại tiêu diệt, không tiến tới được mục tiêu cần ứng cứu.


Ta đã biết khai thác, khoét sâu nhược điểm đó nên chỗ yếu mỏng của địch càng tăng. Trong chiến dịch, ta đã bám lấy hai bên đường giao thông, tức là thế chiều dọc của tuyến phòng ngự cơ bản của địch, mà đánh vào từng điểm. Như vậy, chỉ cần một lần đột phá chiến thuật hoặc chiến dịch, ta cũng đánh được vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, không phải trải qua nhiều lần đột phá liên tục. Đánh một thị trấn, chi khu, quận lỵ trên đường giao thông, ta chỉ cần đột phá chiến thuật là giải quyết ngay được căn cứ quân sự cỡ nhỏ hoặc cỡ vừa đó. Điều này đã được trận đánh Cẩm Ga - Thuần Mẫn ngày 8 tháng 3 và trận Đức Lập ngày 9 tháng 3 chứng minh là đúng. Đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột, ta cũng chỉ cần một lần đột phá chiến dịch, không cần đột phá liên tục. Tuy là đột phá chiến dịch, nhưng tại nhiều mũi, ta cũng chỉ cần có một lần đột phá chiến thuật là đánh ngay được vào thị xã, không kể mũi thọc sâu.


Như thế là đột phá chiến thuật đã làm được đột phá chiến dịch. Thế trận, đội hình phòng ngự theo tuyến đường giao thông của địch nói chung tương đối đơn giản, không có nhiều tuyến phụ, điểm phụ, mỏng yếu, không vững chắc. Đó là do nó bị tác động bởi thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Ta đã đánh ép địch, đã cài xen kẽ, buộc thế trận của địch phải co hẹp vào mấy tuyến trơ trọi và một số điểm không có độ dày. Như vậy, thế trận của địch đã bị thế trận của ta bao vây và xuyên cắt. Muốn toàn bộ đội hình của địch nhanh chóng bị xiêu vẹo, đổ vỡ thì ta đánh đồng thồi hoặc đánh kế tiếp liên tục vào cả hai thành phần cấu thành thế trận của địch là tuyến và điểm. Có thể hình dung tuyến là cạnh và điểm là góc. Đánh đồng thời, kế tiếp cả cạnh và góc thì cái hình sẽ mau sụp đổ. Đánh cạnh trước rồi tiếp ngay sau đó đánh luôn cả góc. Đánh cạnh dễ hơn đánh góc, vì góc là chỗ hợp tụ của lực. Đánh cạnh thì góc đâm ra yếu đi, và dễ đánh hơn. Có lực lượng lớn, ta có thể đánh ngay góc trước làm cho toàn bộ cái hình đổ vỡ nhanh hơn. Nếu không có lực lượng lớn, song góc lộ ra chỗ yếu thì ta cũng có thể đánh ngay vào đó trước. Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975, ta đánh vào tất cả các cạnh của cái hình Tây Nguyên và đập vào một góc quan trọng là Buôn Ma Thuột, do đó toàn bộ cái hình Tây Nguyên đổ vỡ. Tất cả các cạnh ở Tây Nguyên đều bị đánh, bị vỡ nên tất cả các góc ở Tây Nguyên đều yếu đi và xiêu vẹo. Cái góc Buôn Ma Thuột lại có liên quan với các cạnh và các góc trong một cái hình rộng lớn ở đồng bằng ven biển, nên khi nó bị vỡ thì rung động xiêu vẹo cả Tây Nguyên và đồng bằng, làm cho Tây Nguyên bị đổ vỡ nhanh chống, kéo theo ngay sự đổ vỡ của đồng bằng.


Cùng với thế trận chung, quân ta cũng đã giải quyết được tốt các yếu tố, các thành phần khác của thế trận, ví dụ các vấn đề: xác định khu quyết chiến để đánh trận then chốt, tổ chức và sử dụng các đội dự bị chiến dịch gần và xa, tổ chức và thiết bị chiến trường, v.v... để đưa trận Buôn Ma Thuột và cả chiến dịch Tây Nguyên đến thắng lợi nhanh gọn, giòn giã.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:30:32 am
6. Thời cơ chiến dịch

Một điểm nổi bật nữa trong nghệ thuật chỉ huy thực hành tác chiến chiến dịch ở Tây Nguyên là: trên cơ sở nắm chắc thời cơ chiến lược, ta đã luôn luôn chủ động tạo ra tình huống tốt và chín muồi, tạo ra thế có lợi và thời cơ có lợi, rồi nhanh chóng chớp lấy thời cơ, giáng cho địch những đòn quyết định, giành thắng lợi quyết định cho từng trận chiến đấu và toàn chiến dịch. Thành công của mỗi đòn lớn trong chiến dịch đều gắn liền với cả một quá trình dẫn dắt tình huống để tạo thế và tạo thời cơ, chớp thời cơ. Vì vậy nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ chiến dịch cũng tức là nghệ thuật chỉ huy thực hành tác chiến chiến dịch.


Thực hiện đòn mở đầu chiến dịch, ta đã xây dựng tình huống để tạo thời cơ như nghi binh để kéo trung đoàn 45 của địch về Plây Cu, đồng thời tiến hành đánh cắt đường. Buôn Ma Thuột trở nên sơ hở. Vậy là ta đã tạo ra tình huống, tạo ra thời cơ. Nhưng muốn bảo đảm cho thời cơ chín nẫu hơn, vững chắc hơn, ta cần xây dựng, tổ chức thêm một tình huống nữa là trói chặt tập đoàn chủ yếu của quân đoàn 2 địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tăng cường hoặc ứng cứu Buôn Ma Thuột một cách dễ dàng. Để bồi bổ cho thời cơ, lúc cần thiết ta lại tiến hành chặt bớt chân tay của địch ở chung quanh Buôn Ma Thuột, làm cho cứ điểm đó càng thêm yếu mềm và bị cô lập, đồng thời mở rộng và tạo thêm chỗ đứng của ta. Tình huống này được xây dựng bằng cách đánh Cẩm Ga - Thuần Mẫn và Đức Lập. Tuy nhiên tiến công Cẩm Ga - Thuần Mẫn và Đức Lập có thể đánh động, khiến địch ở Buôn Ma Thuột phán đoán ta đang chuẩn bị đánh thị xã này và chú ý đề phòng. (Vì thế, có thể và cũng có thể không cần xây dựng tình huống này). Và thời điểm của thời cơ đánh Buôn Ma Thuột phải rất ăn khớp, rất sát với tình huống Cẩm Ga - Thuần Mẫn và Đức Lập, khiến cho bộ tư lệnh quân đoàn 2 địch ở Plây Cu và sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23 ở Buôn Ma Thuột không kịp trở tay. Ngày 8 tháng 3 ta đánh Cẩm Ga - Thuần Mẫn, ngày 9 tháng 3 ta đánh Đức Lập và ngày 10 tháng 3 ta đánh Buôn Ma Thuột. Tình huống diễn ra liên tục, dồn dập trong ba ngày liền. Địch bôi rối, phán đoán mờ mịt, xử trí do dự, quyết tâm rối loạn. Chúng chưa kịp suy nghĩ thì số phận Buôn Ma Thuột đã được định đoạt trong ngày 11 tháng 3 năm 1975.


Nhìn chung trận Buôn Ma Thuột, ta vừa có thế tốt lại vừa có lực mạnh. Thế tốt ở chỗ, trước trận đánh ta đã chia cắt, vây hãm địch và rất chủ động, có thể phát huy cao và phát huy hết sức mạnh của mình. Ta có thể chủ động tập trung lực lượng đánh địch ở nhiều hướng và ở những hướng thuận lợi nhất. Địch thì như cá trong chậu, chim trong lồng, khó bề xoay xở. Còn lực mạnh ở chỗ, ta đã tập trung được phần lớn lực lượng của chiến dịch vào trận Buôn Ma Thuột và xung quanh Buôn Ma Thuột để đảm bảo cho trận này chắc thắng. Lực mạnh và thế tốt là hai thành phần của thời cơ. Thành phần thứ ba của thời cơ là thời điểm đúng. Có lực mạnh và thế tốt nhưng hành động sớm quá hoặc muộn quá cũng không thành công.


Nếu ngày 11 hoặc ngày 12 tháng 3 ta mới đánh Buôn Ma Thuột thì cũng có thể còn thời cơ và cũng có thể lỡ thời cơ, mất thời cơ. Nếu ta đánh chậm một vài ngày sau, địch có thể đổ bộ hạ cánh thêm lực lượng xuống phòng thủ, đối phó. Đánh ngày 10 tháng 3 là đúng thời điểm, hợp thời cơ. Trong khi tạo ra thời cơ để đánh Buôn Ma Thuột, sự đối chọi giữa ta và địch diễn ra rất phức tạp, khẩn trương và quyết liệt.


Thời cơ thứ nhất thành công tốt đẹp thúc đẩy thời cơ khác nhanh chóng xuất hiện. Đó là thời cơ đánh địch đi mở đường giải tỏa giao thông và thời cơ đánh địch phản kích.

Trên đường số 19, sư đoàn 22 của địch đã phải tập trung vào đoạn giữa thị trấn Bình Khê và thị trấn An Khê để đi giải tỏa, mở đường. Nắm thời cơ, quân ta đã giam chân và tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn của sư đoàn này, và cuối cùng dã tiêu diệt sư đoàn này, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân giải phóng thị xã Quy Nhơn.


Thời cơ quan trọng tiếp theo là đánh địch phản kích. Ta dự kiến và bố trí lực lượng sẵn sàng đánh quân phản kích trên hai hướng đường bộ (đường số 14 và số 21) và một hướng đường không. Thực tế chỉ xảy ra một hướng đường không mà ta đã dự kiến.


Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, ta đã tập trung lực lượng hùng hậu và tổ chức thế trận để quyết tâm đánh bại phản kích của địch. Lực và thế ta đã sẵn, đã tốt, thời của ta cũng vừa kịp vừa khớp.


Sự thống nhất các yếu tố đó đã tạo nên sức mạnh lớn. Trung đoàn 45, đội tiên phong của sư đoàn 23 ngụy vừa mới chạm chân xuống tới đất, chưa kịp chuẩn bị trận địa triển khai chiến đấu đã bị đánh mạnh, không ngóc đầu dậy được và bị tiêu diệt, tan rã. Đâm lao phải theo lao, các thê đội tiếp sau của sư đoàn 23 tiếp tục đổ xuống, và cuối cùng số phận của chúng đã được định đoạt ở quận lỵ Phước An sau 6 ngày phản kích bằng đường không.


Trong lúc ta đang đánh bại cuộc ngăn chặn, phản kích, tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy, thì một thời cơ môi đã xuất hiện: địch bị choáng váng sau đòn mở đầu Buôn Ma Thuột, hốt hoảng rút bỏ Tây Nguyên, co về giữ đồng bằng.


Tình huống đã diễn ra và thời cơ đã đến. Vậy phải xoay chuyển tình huống như thế nào để chớp được thời cơ, tiêu diệt bằng được tập đoàn tháo chạy của địch, không cho chúng về tới đồng bằng? Điều trước tiên là phải nhanh chóng chặn quân địch lại và làm cho đội hình chúng bị rối loạn, mất trật tự, khiến tiến trình tháo chạy bị chậm lại, để ta kịp thời đưa lực lượng đến tiêu diệt chúng. Ta có một điều kiện thuận lợi để tạo ra khả năng đó. Cánh quân ở hướng Thuần Mẫn có một mũi đang chuẩn bị đánh địch ở hướng Cheo Reo, đang đứng chân sẵn ở gần Cheo Reo và đường số 7. Tức thì đơn vị này được lệnh tiến ra đánh chặn địch ở phía đông Cheo Reo và chốt đường số 7. Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Phú Yên cũng được điều động ra đánh chặn địch ở khu vực Củng Sơn, Sơn Hòa. Và, ta đã thực hiện thành công kế hoạch này bằng hai đòn tiêu diệt: đòn thứ nhất ở Cheo Reo, đòn thứ hai ở Củng Sơn. Tóm lại, do thực hiện được việc xoay chuyển thế trận, điều động lực lượng, tổ chức thế đánh chặn và xây dựng thế đánh tiêu diệt nên ta đã chớp được thời cơ giành thắng lợi lớn.


Thời cơ không phải chỉ được tạo ra ở một hướng, một khu quyết chiến mà phải có sự hỗ trợ của các hướng khác, do sự chỉ đạo chiến lược và chiến dịch tạo ra. Quân địch không thể ứng cứu tập đoàn tháo chạy trên đường số 7 vì Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang,... còn quan trọng hơn, lực lượng tổng dự bị của địch đang phải xé ra để đối phó ở các nơi đó. Quân địch ở Cheo Reo, Củng Sơn phải tự lo liệu lấy, không được ứng cứu, do đó ta có điều kiện thuận lợi để tạo ra thời cơ tiêu diệt toàn bộ bọn chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:31:17 am
Sau thời cơ này, một thời cơ quan trọng khác đã xuất hiện nối tiếp. Đó là thời cơ quét sạch quân địch còn lại ở vùng giáp ranh giữa Tây Nguyên và đồng bằng, giải phóng toàn Tây Nguyên và tiến xuống đồng bằng, trong khi quân địch đã bước sang thời kỳ suy yếu mới một cách toàn diện.


Quân địch còn lại ở vùng giáp ranh là trung đoàn 40 (thiếu) ở Khánh Dương và lữ đoàn dù 3 ở đèo Phượng Hoàng. Hai đơn vị này bị tiêu diệt thì cái cửa vào Nha Trang cũng được mở toang. Quân địch còn lại ở đây lâm vào một tình trạng vô cùng hoang mang, sức chống cự của chúng không còn mạnh nữa.


Để tranh thủ thời cơ, ta đã nâng cao tốc độ tiến công bằng tiến công trong hành tiến hoặc tiến công có chuẩn bị gấp. Ta tiến công theo đội hình vừa đi vừa đánh hoặc triển khai nhanh rồi đánh ngay. Quân ta đã hành quân, cơ động bằng xe cơ giới và chiến thắng vẻ vang ở khắp nơi.


Trên đây là những thời cơ lớn, then chốt, có tính chất quyết định của chiến dịch. Sự thành cõng trong chỉ đạo thời cơ đã làm cho chiến dịch phát triển thuận lợi, nhanh chóng và giành thắng lợi lớn. Điều đó chứng tỏ tạo thời cơ và chớp thời cơ là hoạt động tổng hợp, là sự phát triển cao của nghệ thuật chỉ huy tác chiến chiến dịch.


Trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta đã tập trung đánh từng trận tiêu diệt có ảnh hưởng lớn. Các trận Cẩm Ga - Thuần Mẫn, Đức Lập, Buôn Ma Thuột, Phước An, Cheo Reo, Củng Sơn, v.v... là những trận đánh tiêu diệt có giá trị kế tiếp nhau, làm cho quân địch không thể ngóc đầu dậy được và nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn.


Từ trận mở đầu cho đến trận kết thúc trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta thực hiện được đánh tiêu diệt nhanh, gọn, triệt để là do có công phu xây dựng về mặt chiến thuật.

Ta đã xây dựng được các chiến thuật cơ bản, rất quan trọng để đánh bại mọi chiến thuật của địch. Đó là chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc, chiến thuật đánh thành phố và chiến thuật đánh địch tiến quân và tạm dừng ở đã ngoại.


Đánh địch trong công sự vững chắc là chiến thuật quan trọng nhất. Trước hết vì có vận dụng thành thạo chiến thuật này mới tiêu diệt được các đồn bốt, quận lỵ, chi khu của địch. Chiến thuật này còn là cơ sở và thành phần cơ bản của các chiến thuật đánh căn cứ quân sự lớn, đánh thành phố - những sào huyệt cuối cũng của địch.


Đánh công sự vững chắc trong giai đoạn mới là đánh các cụm công sự vững chắc lớn, các tập đoàn phòng ngự bằng hiệp đồng binh chủng, gồm bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, tên lửa, công binh, thông tin, v.v... Đánh hiệp đồng binh chủng rất quan trọng, vì sức mạnh tập thể của các binh chủng của hỏa lực và đột kích rất lỏn. Có đánh hiệp đồng binh chủng mới tiêu diệt được nhanh chớng các cụm phòng ngự công sự vững chắc lớn của địch.


Trình độ đánh công sự vững chắc hiệp đồng binh chủng của bộ đội ta đã khá thành thạo và phát triển đồng đều. Đó là một sức mạnh tập thể rất lớn. Có một số đơn vị đã đạt tới trình độ điêu luyện. Trong chiến dịch mùa Xuân 1975, quân ta đánh đâu là thắng đó, thắng giòn giã. Có một số vị trí địch cỡ tiểu đoàn, tiểu đoàn tăng cường, vị trí quận lỵ, chi khu, quân ta chỉ đánh trong 3 - 4 tiếng đồng hồ; có thành phố loại vừa, quân ta chỉ đánh trong 1 ngày rưỡi.


Ngoài chiến thuật đánh công sự vững chắc, đánh thành phố, ta còn xây dựng chiến thuật đánh địch tạm dừng ở dã ngoại. Chiến thuật này không phức tạp, luyện tập không công phu bằng chiến thuật đánh công sự vững chắc. Nhưng, cái khó của chiến thuật này là đánh tiêu diệt gọn. Quân địch ở trong công sự vững chắc có thể chạy khi có nguy cơ bị tiêu diệt, nhưng dù sao vẫn khó. Quân địch tạm dừng ở dã ngoại chạy dễ hơn, đường chạy nhiều hơn, "thời cơ" chạy cũng rộng rãi hơn, có khi chưa gặp nguy cơ bị tiêu diệt, chúng đã chạy rồi. Tư tưởng chỉ đạo của chiến thuật này cũng như của mọi chiến thuật là đánh tiêu diệt. Yêu cầu chính của chiến thuật này là không cho địch chạy, vì để địch chạy được là không tiêu diệt gọn, không thực hiện được đánh tiêu diệt. Biện pháp quan trọng của chiến thuật đánh địch tạm dừng ở dã ngoại là tập trung lực lượng đủ để vây lõng, có khi còn nhiều hơn cả lực lượng sử dụng trong chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc. Có thế mới thực hiện được thế bao vây rộng, bao vây hẹp, bao vây vòng trong vòng ngoài, bao vây nhiều tầng nhiều lớp, hình thành một cái lưới giãng ra kín chắc. Có hình thành một thế bao vây như thế, rồi mới thực hành công kích, đột phá, thì quân địch mới bị tiêu diệt và bị bắt sống, khó lọt lưới được. Sư đoàn 23 của địch tiến hành ngăn chặn, phản kích ở phía đông Buôn Ma Thuột và bị tiêu diệt ở Phước An, tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 bị tiêu diệt trên đường số 7, lữ đoàn dù số 3 bị tiêu diệt ở đèo Phượng Hoàng trên đường số 21 đã chứng minh hiệu quả của chiến thuật này.


Muốn đánh tiêu diệt thì cần có chiến thuật phù hợp. Nhưng muốn đánh tiêu diệt được triệt để thì lại cần phải có tư tưởng đánh gần, thể hiện cụ thể trong các thủ đoạn và động tác chiến thuật. Đánh gần thể hiện tính chiến đấu cao, tinh thần ngoan cường, dũng cảm của quân đội ta. Quân địch không có tư tưởng đánh gần, không đám đánh gần, vì tinh thần chiến đấu của chúng yếu kém. Trong đánh gần, khi mặt giáp mặt với quân địch thì quân ta có ưu thế tuyệt đối về tinh thần hơn địch. Khi đánh gần, mặt giáp mặt với địch, nắm lây thắt lưng, nắm lấy đầu địch mà đánh thì hỏa lực pháo binh, máy bay của địch rất bị hạn chế. Mỗi khẩu B.40, khẩu B.41, mỗi quả bộc phá của quân ta cũng có giá trị như một khẩu pháo, một trái bom. Trong đánh gần, các loại vũ khí bộ binh của ta có sức mạnh hơn hẳn các loại vũ khí bộ binh của địch. Chiến thuật đánh gần không phải chỉ được quán triệt và được vận dụng trong bộ binh và cho các loại vũ khí bộ binh. Các quân chủng và binh chủng khác của ta cũng quán triệt tư tưởng đánh gần và vận dụng chiến thuật này đạt hiệu suất chiến đấu cao.


Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975, chiến thuật đánh gần của ta đã thực hiện được yêu cầu cao về đánh tiêu diệt và giành thắng lợi nhanh chóng. Trận Buôn Ma Thuột, khi bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, công binh của quân ta xuất hiện ở dầu các đường phố, ở rìa ngoại ô thị xã, quân địch mới biết chính xác là thị xã này đã bị bao vây và đang bị tiến công. Khi các binh đoàn binh chủng hợp thành của quân ta triển khai, tiến sát vào tới trước trận địa của địch, sức mạnh của các binh chủng của ta được tăng lên gấp bội. Về phía quân địch thì chúng đã bị một đòn đột ngột về tinh thần, bị cướp mất thời gian và bị chèn ép về không gian.


Quân địch tuy có chiến thuật đổ bộ hạ cánh đường không bằng máy bay lên thẳng, nhưng vẫn không thể phát huy được tác dụng trước chiến thuật đánh gần của quân ta. Khi quân địch đã bị quân ta bao vây gần, bao vây chặt thì máy bay lên thẳng của chúng không thể hạ cánh vào trong vòng vây để tăng viện hoặc bôc cháy được; thậm chí có trận chúng còn không thả được đồ tiếp tế. Trên tuyến bao vây, về lưới lửa phòng không, quân ta không phải chỉ có pháo cao xạ và súng máy cao xạ, mà còn có cả các loại súng trường, súng máy của bộ binh. Lưới lửa phòng không của các loại súng trường, súng tiểu liên, súng máy cũng rất dày đặc và lợi hại. Máy bay lên thẳng của địch đã khiếp sợ không dám bén mảng.


Nếu quân địch đổ bộ hạ cánh ở ngoài vòng vây để đến ứng cứu, chúng cũng không có sức mạnh, vì không có xe tăng và chỉ có một số ít pháo binh. Khi quân địch không có xe tăng, pháo binh hoặc có ít các loại binh khí đó, sức chiến đấu của chúng đã kém lại càng rất kém.


Đánh tiêu diệt và đánh gần là tư tưởng chiến thuật độc đáo và là ưu thế của quân đội ta. Nó có tính cách mạng và tính khoa học cao. Tư tưởng và cách đánh gần đã được vận dụng thắng lợi trong mọi chiến thuật của các quân chủng, binh chủng của quân đội ta. Nổi bật nhất là ta đã vận dụng vào chiến thuật đánh công sự vững chắc, đánh thành phố và đánh địch tiến công hoặc phản kích trong trạng thái tạm thời dừng lại ở ngoài dã ngoại. Thắng lợi giòn giã của các trận đánh tiêu diệt trong chiến dịch Tây Nguyên đã chứng minh điều đó.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:31:54 am
KẾT LUẬN


Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mùa thắng lợi huy hoàng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, mùa lập nên chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm từ ngàn xưa đến nay của dân tộc ta.


Chiến thắng Tây Nguyên có ý nghĩa rất quan trọng. Nó tạo điều kiện thuận lợi và làm đà cho các chiến thắng lớn hơn tiếp sau, giành toàn thắng cho dân tộc. Mặt khác, chiến thắng Tây Nguyên lại năm trong thế tiến công mạnh mẽ của toàn chiến trường miền Nam, nằm trong thế thuận lợi của cả nước chung sức đánh giặc, quyết tâm giành thắng lợi, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Chính vì vậy chiến dịch Tây Nguyên đã hoàn thành nhiệm vụ và chiến thắng vẻ vang.


Những kinh nghiệm của chiến dịch Tây Nguyên là những kinh nghiệm của một hướng chiến lược, một chiến trường, một loại địa hình, trong giai đoạn đầu của chiến lược. Những kinh nghiệm đó phản ánh những cái riêng biệt của chiến dịch Tây Nguyên, song cũng phản ánh những cái phổ biến của toàn cuộc Tổng tiến công vồ nổi dậy mùa Xuân 1975 và của nghệ thuật chiến dịch nói chung. Vì vậy, chúng có thể góp phần vào việc tổng kết và khái quát những nguyên tắc và quy luật chung về chiến dịch, trong quá trình xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:34:37 am
PHỤ LỤC


KẾT QUẢ CHIẾN ĐẤU CỦA TOÀN CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
TỪ 4-3 ĐẾN 3-4-1975



Quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã quân đoàn 2, một bộ phận lực lượng dự bị chiến lược, toàn bộ lực lượng địch ở Tây Nguyên và ở hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa.

Cụ thể là: tiêu diệt sư đoàn 23; lữ đoàn dù số 3; 7 liên đoàn quân biệt động (số 4, 6, 7, 21, 22, 23, 25); 4 trung đoàn thiết giáp (sô 9, 8, 21, 19); 11 tiểu đoàn và 11 đại đội pháo. Tiêu diệt và làm tan rã trung đoàn 40 (thiếu) của sư đoàn 22, một liên đoàn công binh và liên đoàn quân biệt động số 24. Tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn (trong đó có 5 liên đoàn) và 51 đại đội bảo an, toàn bộ dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát 7 tỉnh. Đánh thiệt hại nặng sư đoàn 6 không quân ngụy.


Tổng cộng diệt và bắt sống 28.514 tên lính chủ lực ngụy (diệt 4.502 tên, có 165 sĩ quan; bắt sống 16.822 tên, có 779 sĩ quan từ chuẩn úy đến chuẩn tướng, phóng thích tại chỗ 7.190 tên).

Bắn rơi 44 máy bay, thu và phá 110 chiếc.

Thu và phá 17.183 súng các loại (có 9 khẩu pháo 175 ly, 30 khẩu 155 ly, 101 khẩu 105 ly), 767 máy thông tin các loại, 1.095 xe các loại (có 72 xe tăng, 52 xe bọc thép).

Thu toàn bộ kho tàng thiết bị chỉ huy, cơ sở sửa chữa của quân đoàn 2 ở Tây Nguyên và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa.

Giải phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên gồm năm tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa (có hai thành phố Nha Trang và Cam Ranh) thuộc Khu 5. Số dân trong vùng giải phóng có khoảng một triệu sáu trăm nghìn người (1.600.000).


KẾT QUẢ TRẬN TIẾN CÔNG THỊ XÃ BUÔN MA THUỘT

Tính cả trong và ngoài thị xã, ta tiêu diệt, làm tan rã và bắt sống 10.210 tên (riêng trong thị xã có 3.523 tên): bắt sống 5.197 tên, có 186 sĩ quan các cấp từ chuẩn úy đến đại tá (3 tên đại tá, trong đó có tên sư đoàn phó sư đoàn 23 và tên tỉnh trưởng Đắc Lắc); làm tan rã 1.490 tên.


Các đơn vị địch bị diệt ở trong thị xã có: sở chỉ huy nhẹ sư đoàn 23 cùng các đơn vị trực thuộc (tiểu đoàn 23 thông tin, tiểu đoàn 23 công binh, tiểu đoàn 23 vận tải, tiểu đoàn 23 tiếp vận, đại đội 23 trinh sát, đại đội 23 vận tải, đại đội 23 thông tin hữu tuyến điện, đại đội 154 thông tin vô tuyến điện); ban chỉ huy thiết đoàn 8, chiến đoàn 3 thiết đoàn 8; liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu); tiểu đoàn 1 trung đoàn 53; lực lượng bảo vệ hậu cứ trung đoàn 45; các tiểu đoàn 230, 232 pháo binh và số lính đang huấn luyện; 2 đại đội bảo an, 9 trung đội dân vệ, 2 đại đội cảnh sát, cơ quan ngụy quân, ngụy quyền tỉnh; 1 đại đội máy bay lên thẳng và nhân viên kỹ thuật.


Các đơn vị bị diệt và tan rã ở ngoài thị xã có: cơ quan chỉ huy, nhân viên kỹ thuật, cảnh sốt sân bay Hòa Bình; ban chỉ huy trung đoàn 53, tiểu đoàn 3 trung đoàn 53, đại đội 45 trinh sát; 1 tiểu đoàn và 4 đại đội bảo an; 57 trung đội dân vệ, cảnh sát quận, xã; 5 trung đội pháo hỗn hợp; 1 chi đội thiết giáp.


Ta thu được 3.215 súng các loại (có 42 khẩu pháo, súng cối); thu 355 xe ô tô, 24 xe tăng và xe bọc thép, phá hủy 386 xe các loại; thu 3.200 tấn đạn dược, hàng triệu lít xăng dầu.

Ta bắn rơi và phá hủy 50 mảy bay, gồm 30 máy bay A.37, 4 máy bay L.19, 13 máy bay lên thẳng, 3 máy bay C.130.
 

KẾT QUẢ TRẬN ĐÁNH QUÂN TĂNG VIỆN PHẢN KÍCH Ở KHU VỰC PHƯỚC AN - CHƯ CÚC

Tổng cộng, trên hướng đánh quân địch ra tăng viện, ta tiêu diệt và bắt sống 5.266 tên; thu 3.718 khẩu súng các loại (có 5 khẩu pháo 155 ly, 9 khẩu 105 ly), 170 xe vận tải GMC, 8 xe M.113, 127 xe giép và 1 máy bay lên thẳng.

Các đơn vị địch bị diệt có: sư đoàn 23 bộ binh ngụy (thiếu) gồm hai trung đoàn 44 và 45; các lực lượng bảo an dân vệ địa phương và tàn quân các nơi chạy về.


KẾT QUẢ TRẬN TRUY KÍCH ĐOÀN QUÂN ĐỊCH THÁO CHẠY TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7

Quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân địch rút chạy trên đường số 7 và quân địch co cụm ở Cheo Reo, Củng Sơn.

Cụ thể là: tiêu diệt 4 liên đoàn quân biệt động (số 22, 23, 6, 25); lữ đoàn kỵ binh số 2, 3 thiết đoàn (số 3, 19, 21); tiểu đoàn bộ binh số 4 thuộc trung đoàn 44; tiểu đoàn 89 thuộc liên đoàn quân biệt động số 21; sở chỉ huy nhẹ trung đoàn 44, cơ quan quân đoàn 2 và cơ quan sư đoàn 6 không quân, 6 tiểu đoàn pháo, liên đoàn 66 truyền tin, liên đoàn 20 công binh. Tiêu diệt và làm tan rã: 2 liên đoàn quân biệt động (số 4 và 7); 2 liên đoàn bảo an, nhiều trung đội, đại đội bảo an, cảnh sát và nhiều lực lượng ác ôn, bình định, chiêu hồi, tể điệp,... của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn, quận Sơn Hòa tỉnh Phú Yên.


Loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục nghìn tên địch, có 14.729 tên lính chủ lực ngụy (diệt 1.044 tên; bắt sống 6.458 tên, có 538 sĩ quan từ chuẩn úy đến đại tá; gọi hàng 7.225 tên, có 97 sĩ quan từ chuẩn úy đến đại tá). Phóng thích hàng nghìn tên ở ngay tại trận, hàng chục nghìn tên ra trình diện với địa phương.


Ta thu 5.759 súng các loại (có 22 khẩu pháo 155 ly, 9 khẩu 175 ly, 48 khẩu 105 ly), 314 máy vô tuyến điện, 185 máy điện thoại (chưa kể số lượng địa phương thu được). Thu và phá hủy 2.000 xe các loại (có 207 xe tăng - xe bọc thép). Bắn rơi và bắn cháy 5 máy bay HU.1A và một máy bay A.37.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:36:32 am
TÌM HIỂU VỀ TỔ TIÊN TA ĐÁNH GIẶC1
(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1977)

Lời nhà xuất bản


Dân tộc Việt Nam ta đã có hơn bốn nghìn năm lịch sử vẻ vang.

Đất nước Việt Nam đã có hàng mấy chục thế kỷ lịch sử đấu tranh anh dũng, quật cường và bất khuất.

Đó là lịch sử của một dân tộc anh hùng mà sự sống còn và phát triển luôn luôn gắn liền với lịch sử của những cuộc đấu tranh lâu dài chống kẻ thù xâm lược.

Điều đó ngày nay cả thế giới đều công nhận và nhất là được thực tế lịch sử của dân tộc ta đã chứng mình một cách rất sinh động.

Nước Việt Nam chúng ta nằm ở ven biển Thái Bình Dương, cửa ngõ quan trọng đi vào lục địa Đông nam châu Á, nên suốt bao thế kỷ nay bọn xâm lược phong kiến và đế quốc luôn luôn nhòm ngó và xăm lăng. Nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Có thể nói từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã đời này qua đời khác, bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tô quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ...


Ngày nay dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân ta đã phát huy cao độ truyền thống anh hùng của dân tộc kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiến lên giành được những thắng lợi hết sức to lớn. Dân tộc ta đã làm cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam châu Á. Dân tộc ta đã đánh thắng oanh liệt hai cường quốc đế quốc là Nhật và Pháp. Dân tộc chúng ta đã đánh thắng, đang đánh thắng và nhất định đánh thắng hoàn toàn cường quốc đế quốc đầu sỏ - đế quốc Mỹ - tên hung nô của thời đại, kẻ thù số một của dân tộc ta và của cả loài người tiến bộ.


Thắng lợi đó không tách khỏi truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc. Và truyền thống đó bao giờ cũng là một nhân tố tạo thành sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta. Ngày nay, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc trên cơ sở tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân, vẫn luôn luôn là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp trước kia cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hiện nay. Vì vậy vấn đề nghiên cứu, học tập và phát huy truyền thống dân tộc luôn luôn là một đòi hỏi khách quan, một nhiệm vụ quan trọng đối với quân và dân ở trên cả hai miền Nam, Bắc nước ta.


Để đáp ứng yêu cầu đó, một trong những việc làm vừa qua của Quân giải phóng Tây Nguyên là nghiên cứu, biên soạn và xuất bản (1971) cuốn sách Tổ tiên ta đánh giặc với nội dung:

- Một số cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trong lịch sử.

- Một số vấn đề nghiên cứu về truyền thống của dân tộc ta.

Trong điều kiện chiến đấu hết sức khẩn trương và gian khổ mà cuốn sách được xuất bản ngay tại chiến trường là một sự cố gắng rất lớn. Tuy nhiên cũng vì trong điều kiện chiến đấu như vậy nên cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế nhất định.


Để phục vụ bạn đọc, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in lại cuốn Tổ tiên ta đánh giặc của Quân giải phóng Tây Nguyên dưới tên Tìm hiểu về tổ tiên ta đánh giặc.

Xin trân trọng giới thiệu với các đồng chí và các bạn.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:38:31 am
VIỆT NAM, DÂN TỘC ANH HÙNG


Nước Việt Nam nằm ở miền Đông nam châu Á, ven biển Thái Bình Dương.

Từ hàng chục vạn năm nay, người Việt Nam đã sinh sống trên khoảng đất đai gồm phần lớn miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Đến thế kỷ thứ XVII, đất nước Việt Nam đã bao gồm cả miền nam Trung Bộ và Nam Bộ ngày nay.


Từ đó đến nay, lãnh thổ thống nhất của nước ta đi từ điểm cực bắc, là chòm Lũng Cú trên cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), đến điểm cực nam là xóm Rạch Tàu trên mũi Cà Mau, diện tích 334.334km2. Trên lãnh thổ thống nhất đó đã sinh sống và phát triển các dân tộc hợp thành dân tộc Việt Nam thống nhất cùng chung một lịch sử, một nền văn hóa, dân số hiện nay trên 31 triệu người.


Từ khi có lịch sử dân tộc, mở đầu bằng quốc gia Văn Lang, hơn bốn mươi thế kỷ đã trôi qua. Bốn nghìn năm lịch sử ấy là bốn nghìn năm dân tộc ta đấu tranh anh dũng kiên cường, liên tục, bền bỉ, chinh phục thiên nhiên hà khắc và chống sự xâm lược của nước ngoài để sống còn và phát triển.


Thế kỷ thứ III trước công nguyên, An Dương Vương thành lập nước Âu Lạc, đóng đô tại Phong Khê (Cổ Loa, thuộc Hà Nội ngày nay). Trong lần đánh xuống phương Nam của tên Tần Thủy Hoàng, năm 218 trước công nguyên, một bộ phận trong 50 vạn quân Tần đã tiến đánh nước ta, bị nhân dân ta anh dũng chống lại. Năm 180 trước công nguyên, Triệu Đà, một tướng của nhà Hán, tiến quân đánh chiếm Âu Lạc. Quân dân ta nhiều lần đánh bại quân xâm lược, nhưng rồi nước ta lại rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc. Dân tộc ta mất nền độc lập bắt đầu từ đó.


Nhưng dân tộc ta quyết không chịu làm nô lệ, nhân dân ta quyết không chịu mất nước. Trong gần 12 thế kỷ, từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ X, dân tộc ta đã hàng trăm lần anh dũng nổi dậy nhằm lật đổ ách thống trị của nước ngoài, khôi phục quyền làm chủ đất nước mình. Trong đó có nhiều cuộc nổi dậy rất lớn, trên quy mô cả nước.


Thế kỷ thứ I, năm 40, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, dân tộc ta đã vùng lên giành 65 thành, lật đổ bọn thống trị, khôi phục nền tự chủ trong ba năm. Sau đó lại bị nhà Hán đặt ách nô dịch.

Tiếp theo những cuộc khởi nghĩa của Chu Đạt (năm 160), Lương Long (năm 178), là cuộc nổi dậy anh dũng của nhân dân ta năm 218, dưới sự lãnh đạo của Bà Triệu.

Tiếp đó, năm 541, Lý Bôn nổi dậy lật đổ ách thống trị của nhà Lương, khôi phục chủ quyền dân tộc, lập nên nhà nước Vạn Xuân. Ba năm sau, quân Lương tiến sang xâm lược. Quân và dân ta chống đánh quyết liệt, nhưng Lý Bôn phải rút về Khuất Lão (Hưng Hóa, thuộc Vĩnh Phú ngày nay) trao binh quyền cho Triệu Quang Phục. Trong nhiều năm liên tiếp, Triệu Quang Phục dựa vào đầm Dạ Trạch (thuộc Hải Hưng ngày nay) làm chỗ đứng chân, chuyển sang không trực tiếp đối diện chiến đấu chống địch, mà ngày thì ẩn, đêm đánh úp, làm địch mệt mỏi suy yếu, cuối cùng tiến lên đánh lớn, quật ngã quân thù, thu phục thành Long Biên, giải phóng đất nước. Nhà nước Vạn Xuân tồn tại đến năm 602 thì bị nhà Tùy thôn tính.


Năm 722, Mai Thúc Loan liên minh với các nước Lâm Ấp và Chân Lạp nổi lên đuổi bọn thống trị nhà Đường, nhưng sau đó đã bị quân Đường tăng viện đánh bại. Tiếp đó là cuộc nổi dậy của Phùng Hưng năm 791. Trước sự xâm lược tàn bạo của quân thù, nhân dân các dân tộc trong cả nước ta đều một lòng đứng dậy đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong thời kỳ này nhân dân Tây Bắc cũng quật cường đứng dậy chiến đấu diệt thù. Nhân dân Thái có các lãnh tụ Lý Tự Tiên và Dương Thanh đều cùng lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược. Đến đầu thế kỷ thứ X, nhân lúc chính quyền thống trị đang suy yếu trầm trọng, năm 905, Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân ta nổi dậy lật đổ chính quyền đô hộ, tiến quân chiếm lấy thành Tống Bình (thuộc miền Hà Nội ngày nay) quét sạch quân Đường mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Cuối năm 931, Dương Diên Nghệ đã quét sạch quân Nam Hán khôi phục chủ quyền dân tộc.


Năm 938, Nam Hán phái quân đội xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, quân và dân ta đã chiến đấu rất anh dũng, giành chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, tiêu diệt phần lớn quân xâm lược, kết thúc trên mười hai thế kỷ bị nô dịch và mở ra giai đoạn lịch sử mới: dân tộc ta hoàn toàn giành lại nền độc lập, quyền làm chủ đất nước và sự toàn vẹn về lãnh thổ.


Trong hơn mười hai thế kỷ trên, dân tộc ta luôn luôn tỏ ra kiên cường bất khuất, anh dũng vùng lên, do thiếu kinh nghiệm nên tạm thời thất bại, lại quật khởi nổi dậy, nhân dân ta đã dùng vũ lực chống lại vũ lực của quân thù, cho đến lúc hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị của phong kiến nước ngoài, hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình. Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938 biểu hiện rực rỡ về sự kết hợp chặt chẽ của tinh thần anh dũng kiên cường và mưu trí sáng tạo của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã quyết định thắng bại trong cuộc vật lộn trường kỳ quyết liệt, giữa dân tộc ta và bọn xâm lược thống trị nước ngoài trên hơn một nghìn nàm lịch sử.


Năm 981, nhà Tống phái quân sang xâm lược nước ta. Trên ải Chi Lăng và sông Bạch Đằng, Lê Hoàn đã đánh bại hoàn toàn quân Tống giữ vững nền độc lập dân tộc. Nước ta bước vào thời kỳ chế độ phong kiến tập quyền.


Giữa thế kỷ XI, nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Lý Thường Kiệt, từ năm 1075 đến năm 1077, quân và dân ta đã đập tan mưu đồ đó, chủ động đánh đòn phủ đầu mãnh liệt vào căn cứ tiến quân của địch, rồi chặn đứng quân xâm lược trên đất nước ta, chuyển sang phản công anh dũng, quét sạch quân Tống ra khỏi bờ cõi.


Đến thời Trần, trong khoảng ba mươi năm, dân tộc ta đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, đẩy lùi ba lần tiến quân xâm lược của quân Nguyên, một đế quốc thuộc loại mạnh nhất thời ấy đang thống trị toàn Trung Quốc và trên nửa châu Âu. Chiến thắng vang dội Đông Bộ Đầu (1258), Tây Kêt, Vạn Kiếp (1285), Bạch Đằng - Nội Bàng (1288) là những chiến thắng nổi tiếng hết sức oanh liệt, tiêu diệt hàng mây chục vạn quân hung nô xâm lược. Trong thời nhà Trần đánh quân Nguyên, ở Lạng Sơn có Nguyễn Lộc lãnh đạo nhân dân địa phương đánh đằng sau quân Nguyên khi chúng đã tiến qua Lạng Sơn về Thăng Long.


Ở Vĩnh Phú (cũng trong thời nhà Trần) có Hà Đặc và Hà Chương cũng lãnh đạo nhân dân các dân tộc ở địa phương đứng lên đánh quân Nguyên.

Năm 1407, nhà Minh cất quân xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến của nhà Hồ bị thất bại. Nhân dân ta liên tục vùng lên. Và chỉ mười năm sau, cờ khởi nghĩa lại phất lên từ Lam Sơn. Trải qua mười năm chiến đấu gian khổ và anh dũng, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, dân tộc ta liên tục tiến công, tiêu diệt hết đạo quân này đến đạo quân khác của địch, mở rộng vùng giải phóng, tiến lên hoàn toàn tiêu diệt địch ở Chi Lăng - Xương Giang; buộc 10 vạn quân địch còn lại đầu hàng, kết thúc hai mươi năm thống trị của nhà Minh (1427).


Hơn ba thế kỷ sau, nước ta đứng trước nguy cơ bị nhà Mãn Thanh thống trị. Năm 1789, đạo quân nông dân đầy nhuệ khí đã từng quật đổ nền thống trị của bọn phong kiến phản động Nguyễn, Trịnh, Lê, dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Huệ, đã cùng toàn dân làm nên chiến công hiển hách, trong khoảng năm ngày, chiến đấu mãnh liệt và thần tốc, với trận Ngọc Hồi - Đống Đa oanh liệt, tiêu diệt 20 vạn quân xâm lược, giữ vững độc lập thống nhất của dân tộc chấm dứt nạn xâm lược của phong kiến phương Bắc luôn luôn đe dọa dân tộc ta từ trên hai mươi thế kỷ.


Đến thế kỷ thứ XIX, dân tộc ta lại đứng trước một kẻ thù mới: chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Năm 1858, đế quốc Pháp được đế quốc Tây Ban Nha giúp sức, bắt đầu xâm lược nước ta. Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng từng bước; đến năm 1883 đã hoàn toàn bán nước ta cho bọn đế quốc Pháp. Nhưng ngay từ khi quân xâm lược đặt chân vào nước ta, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên cầm vũ khí đánh quân thù. Trương Định phất cao cờ khởi nghĩa, liên tục đánh địch trên miền đồng bằng rộng rãi của Nam Bộ, đã từng nhiều lần đánh bại thủy quân và lục quần của quân viễn chinh Pháp. Từ Hương Sơn, Phan Đình Phùng đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy đánh địch trên mười năm. Hoàng Hoa Thám dựa vào vùng Yên Thế, đã cùng nông dân phất cao cờ nghĩa, anh dũng bền bỉ tiêu hao, tiêu diệt địch trong hơn ba mươi năm. Ma Trang Lơn ở Đắc Lắc (Tây Nguyên) đã lãnh đạo nhân dân Tây Nguyên đứng lên chống Pháp một cách kiên cường bất khuất hàng chục năm trời ở vùng rừng núi hiểm trở. Và còn rất nhiều nhà yêu nước khác ở miền đồng bằng cũng như trên miền núi, đã bền bỉ vùng lên chống nền thống trị của thực dán Pháp. Vì không có một đường lối đúng đắn lãnh đạo, những cuộc khởi nghĩa anh dũng đó đã lần lượt bị thất bại, nhưng vũ khí của quân thù không bao giờ dập tắt nổi ngọn lửa yêu nước, tinh thần dân tộc của nhân dân ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2023, 07:44:56 am
Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, phất cao ngọn cờ lãnh đạo cách mạng, phát động một phong trào giải phóng dân tộc sôi nổi với đỉnh cao là Xô-viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931). Kết hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời học tập những kinh nghiệm quý báu của các đảng anh em, Đảng Cộng sản Đông Dương ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn để giải phóng nhân dân; kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc, của phong kiến, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, đem lại ruộng đất cho dân cày và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Mười lăm năm sau khi ra đời, Đảng đã nhằm lúc quân đội Xô-viết anh hùng đánh thắng bọn phát xít Nhật, lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam châu Á.


Chưa đầy một tháng sau, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài và cực kỳ anh dũng chống bọn thực dân Pháp xâm lược có đế quốc Mỹ giúp sức và cuối cùng đã giành được thắng lợi vĩ đại Điện Biên Phủ, chấn động hoàn cầu, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.


Từ năm 1954, nhân dân ta tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh yêu nước để giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tiến tới thực hiện thống nhất nước nhà.


Ở miền Bắc, sau khi hoàn thành thắng lợi cải cách ruộng đất, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, từng bước xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hiện, nay vừa chiến đấu vừa sản xuất, miền Bắc nước ta tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã đánh bại "chiến tranh phá hoại" bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.


Ở miền Nam, sau thắng lợi của "đồng khởi", nhân dân ta đã đánh thắng cuộc "chiến tranh đặc biệt" và đang đánh thắng cuộc "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ và bẽ lũ tay sai, lập nên những kỳ công chói lọi nhất trong lịch sử đấu tranh anh dũng kiên cường của dân tộc từ trên bốn nghìn năm nay.


Chỉ trong một thời gian lịch sử ngắn ngủi, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã liên tục đánh thắng chủ nghĩa quân phiệt của đế quốc Nhật, chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp và đang đánh thắng chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ.


Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã chiến đấu anh dũng kiên cường, không hề mệt mỏi, đã chiến thắng oanh liệt, vẻ vang, giữ vững độc lập của dân tộc, thống nhất của Tổ quốc.

Từ An Dương Vương lập nước đến nay, chỉ tính những cuộc chiến tranh (tự vệ và giải phóng) lớn, có quy mô cả nước, dân tộc ta đã trải qua hàng chục cuộc chiến tranh quyết liệt một mất một còn với mọi kẻ thủ, để giữ gìn độc lập, thống nhất. Rất nhiều lần nổi dậy lật đổ ách thống trị của nước ngoài. Trong hàng chục lần đứng lên chống lại sự xâm lược vũ trang của giặc ngoài, có một số lần tạm thời thất bại còn phần lớn lần thành công hiển hách, với những chiến công oanh liệt Bạch Đằng, sông Cầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa, Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Điện Biên Phủ... lịch sử dân tộc ta nói lên rằng, một dân tộc người không đông, đất không rộng, nhưng anh dũng kiên cường, quyết đánh quyết thắng, có đường lối đúng đắn lãnh đạo, có nỗ lực chủ quan phi thường, thì nhất định có thể đánh bại mọi quân thù.


Đặc điểm và nội dung chủ yếu của các cuộc chiến tranh đó như sau:

- Cuộc chiến tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo là một cuộc khởi nghĩa vũ trang, một cuộc đồng khởi, khởi nghĩa cả nước, ở cả trung ương và các địa phương. Quân thù bị đánh đổ ngay, không chống cự nổi, không ứng cứu lẫn cho nhau được. Đó là một cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang thắng lợi.


- Cuộc chiến tranh do Lý Bôn và Triệu Quang Phục lãnh đạo cũng là một cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang thắng lợi. Sau đó lại tiếp tục tiến hành một cuộc chiến tranh du kích và rồi từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung; cuối cùng giành được thắng lợi, giữ vững được nước non bờ cõi.


- Cuộc chiến tranh do Lý Thường Kiệt tiến hành là một cuộc chiến tranh chính quy, đánh tập trung, có cả đánh trận địa và đánh vận động.

Tư tưởng chỉ đạo tác chiến rất tích cực có tư tưởng tiến công cao; đánh phủ đầu quân địch đang chuẩn bị tiến công ta, phá tiến cuộc tiến công của địch ngay trong trứng nước.

Phòng ngự trận địa kết hợp với phản công để tiêu diệt địch, đánh bại cuộc tiến công của địch.


- Cuộc chiến tranh dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo là một cuộc chiến tranh chính quy kết hợp với chiến tranh du kích, đánh vận động là chủ yếu kết hợp với đánh thành, đánh trận địa.

Về chỉ đạo chiến tranh, xác định được đường lối và nguyên tắc chỉ đạo đánh một kẻ địch mạnh hơn mình, mạnh nhất thế giới thời kỳ bấy giờ, là nhử địch vào sâu, phân tán chia cắt quân địch, vừa đánh vào sinh lực, vừa đánh vào tiếp tế, làm cho địch khó khăn, mệt mỏi, khốn quẫn về các mặt, rồi tập trung lực lượng tiêu diệt từng bộ phận, từng cánh quân đi đến tiêu diệt hoàn toàn.


Nhìn chung về cả chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, cuộc chiến tranh là một cuộc chiến tranh vận động, tính cơ động về mặt chiến lược cao. Nhưng về mặt chiến dịch và chiến thuật cũng có kết hợp một phần với đánh thành, đánh trận địa khi cần thiết.


- Cuộc chiến tranh do Lê Lợi chủ trương là một cuộc chiến tranh du kích lâu dài. Từ đánh du kích tiên lên đánh tập trung. Những vấn đề chiến lược quan trọng là xây dựng lực lượng, tổ chức các thứ quân, xây dựng căn cứ địa, đánh quân địch yếu trước, đánh quân địch mạnh sau.

Về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật chủ yếu là đánh vận động. Trong chiến thuật thì lấy phục kích là chủ yếu, khi cần có tập kích và rất ít đánh thành.


- Cuộc chiến tranh do Quang Trung lãnh đạo là một cuộc chiến tranh chính quy, đánh tập trung cao và chủ yếu là đánh công thành, đánh trận địa, có kết hợp đánh vận động khi cần thiết.

Về chiến lược là một cuộc chiến tranh cơ động rất cao. Về chiến dịch và chiến thuật thì chủ yếu là đánh công thành, sức đột phá trong tiến công rất mạnh, kết hợp với nghệ thuật bao vây vu hồi rất tài tình. Nghệ thuật bao vây vu hồi của Quang Trung không những chỉ thực hành trong chiến dịch mà còn thực hành cả về chiến lược. Đó là tư tưởng tiến công rất tích cực, tư tưởng đánh tiêu diệt rất cao, đánh tiêu diệt triệt để.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:15:31 am
Phần thứ nhất
MỘT SỐ CUỘC CHIẾN TRANH
CHỐNG NGOẠI XÂM TRONG LịCH SỬ
1
(Đề mục này chúng tôi thêm vào (Nxb QĐND))


I. CHIẾN TRANH TỰ VỆ THỜI LÝ CHỐNG TỐNG (1075-1077)

Đầu thế kỷ thứ X, triều Lý được thành lập đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của nước ta. Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp khá phát triển với những công trình thủy lợi và hệ thống đê điều đã được mở mang, chế độ phong kiến trung ương tập quyền được củng cố và hoàn bị dần dần. Nước Đại Việt với kinh đô mới là Thăng Long - nơi trung tâm của đất nước - đã trờ thành một quốc gia hoàn chỉnh có chính quyền trung ương vững chắc, có lực lượng vũ trang khá mạnh.


Thời kỳ ấy, nhà Tống đã làm chủ Trung Quốc, nhưng luôn luôn bị nạn uy hiếp, xâm lấn của hai nước Liêu, Hạ, ở phía bắc, mà không sao trừ diệt được. Cho nên nhà Tống chủ trương thực hiện chính sách "trước Nam, sau Bắc", tức là đánh nước ta ở phía Nam trước, để gây thanh thế và sức mạnh, khiến có thể đánh thắng Liêu, Hạ ở phía Bắc sau. Do đấy, nhà Tống đã luôn luôn dòm ngó nước ta và đã thực tế bắt tay vào việc chuẩn bị xâm lược.


Chúng mua chuộc, chia rẽ các dân tộc miền núi với nhân dân miên xuôi, cắt đứt quan hệ buôn bán giữa hai nước, luyện binh đổi tướng, đóng thuyền, tích trữ quân lương, quấy rối biên giới, lôi kéo Chiêm Thành. Ba châu Ung - Khâm - Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay) đã trở thành những căn cứ rất quan trọng, nơi tập trung quân đội, lương thực, khí giới chuẩn bị cho cuộc xâm lược sắp tới.


Nắm được âm mưu của giặc, nhà Lý cũng ra sức chuẩn bị đối phó. Đối với dân, đi đôi với những biện pháp kinh tế để phát triển sản xuất nông nghiệp, triều Lý nới rộng luật lệ, giảm thuế, tranh thủ nhân dân miền núi. Về mặt quân sự: tích cực luyện binh, tập trận, tãng cường lực lượng phòng thủ biên giới ở cả hai mặt bắc - nam. Ngoài ra dùng một số biện pháp như tăng cường đoàn kết thống nhất trong lãnh đạo, hậu đãi các lão thần, mở khoa thi tuyển nhân tài...


Sang năm 1075, dân tộc ta đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.


1. Để chặn thế mạnh của giặc, quân đội Đại Việt tiến công Ung - Khâm - Liêm

Trước âm mưu và hành động chuẩn bị xâm lược ngày càng nghiêm trọng rõ rệt của Tống, Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt chủ trương: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước chặn thế mạnh của giặc". Theo ông thì trước khi Tống khởi sự, ta nên đánh vào các châu Ung - Khâm - Liêm là những căn cứ quan trọng của giặc để đánh sang ta, nhằm làm suy yếu sức tiến công của chúng, do đó mà đạt được mục đích của chiến tranh tự vệ. Chủ trương này được triều đình tán thành.


Nhằm đúng lúc Tống đang gặp nhiều khó khăn lớn, trong thì nhân dân chống đối, ngoài thì Liêu, Hạ uy hiếp, Lý Thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân tiến vào đất Tống.

Trước tiên, dùng 4 vạn quân (gồm phần lớn thổ binh, tiến công ở dọc biên giới, nhằm thu hút lực lượng địch). Sau đó 6 vạn đại quân vượt biển, bất ngờ đổ bộ đánh chiếm các cảng Khâm (Khâm Châu), Liêm (Hợp Phổ), rồi tiến về phía thành Ung (Nam Ninh) hợp với đạo quân từ phía biên giới theo hướng Vĩnh Bình đánh sang.


Ngày 15 tháng 9 (26-10-1075) suốt dọc biên giới từ Quảng Uyên (Cao Bằng) tới Vĩnh An (Móng Cái) quân ta bất ngờ tiến công phá hủy các đồn trại và tiêu diệt nhiều binh lính, tướng lĩnh địch. Bị đánh bất ngờ, triều đình Tống không kịp đối phó.


Ngày 20 tháng 10 (30-12-1075), đại quân ta đổ bộ lên cảng Khâm. Địch hoàn toàn bị bất ngờ và bị tiêu diệt toàn bộ. Bốn ngày sau, một cánh quân khác của ta đổ bộ bất ngờ vào cảng Liêm, hạ luôn thành này. Từ châu Liêm, một bộ phận quân ta tiến lên Ung Châu nhằm chặn viện binh địch từ phía đông kéo tới.


Trên hai hướng, 10 vạn quân Đại Việt tiến sâu vào đất Tống, nhằm hướng chung là thành Ung. Trên đường hành binh, với danh nghĩa chính đáng là chỉ đánh quân Tống để giữ nước và đưa quân tới để cứu dân, quân đội Đại Việt đã tranh thủ được cảm tình và sự ủng hộ của nhân dân Tống.


Ngày 10 tháng Chạp (18-1-1076), đại quân ta đã vây chặt thành Ung.

Trước thế tiến công hết sức bất ngờ và mạnh mẽ của quân ta, triều Tống lúc đầu rất bị động, lúng túng. Nhưng sau đó, chúng cho rằng: đại quân ta kéo vào đất Tống, trong nước tất trống rỗng có thể nhân cơ hội này mà đánh úp, sau đó sẽ tập trung lực lượng tiêu diệt đại quân Lý Thường Kiệt.


Thực hiện âm mưu trên, một mặt chúng lo đối phó với quân ta ở trước mặt (di chuyển kho tàng, cố thủ các thành quan trọng, tăng viện, v.v...), một mặt chúng điều động quân đội, chọn tướng lĩnh thành lập "An Nam hành doanh" chỉ huy đại binh tiến thẳng sang ta.


Trong kế hoạch trên, việc giữ được thành Ung là điểm then chốt, vì đó là căn cứ chính của địch để đánh ta, đó là nơi kìm chân quân đội Đại Việt, nên địch kiên quyết giữ. Về phía ta, nhận rõ tầm quan trọng của thành Ung, ta cũng kiên quyết đánh. Do đó trận chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt.


Đoán chắc địch có thể từ phía bắc kéo xuống cứu viện thành Ung Châu, nên ngay trong lúc đang vây đánh thành Ung, Lý Thường Kiệt đã phái một đạo quân quan trọng tiến lên phía Côn Lôn Quan (cách Ung Châu khoảng 40km về phía bắc) để chặn địch từ Quế Lâm kéo xuống và ngày 4 tháng Giêng, ta tiêu diệt được đạo viện binh địch ở Côn Lôn Quan. Ngày 23 tháng Giêng, sau 42 ngày vây hãm và tiến công quyết liệt, ta hạ thành Ung, diệt và bắt sống nhiều địch.


Nhận thấy những mục đích của cuộc tiến công đã đạt, nhiều lực lượng địch bị tiêu diệt, nhiều thành lũy lớn nhỏ bị san bằng, lương thực, khí giới bị hủy hoặc bị đoạt, sự chuẩn bị xâm lược của giặc bị phá vỡ nghiêm trọng, Lý Thường Kiệt quyết định lui quân về nước. Cuộc lui quân đúng lúc của ta không những đã bảo toàn được lực lượng mà còn phá luôn được cả kế hoạch nham hiểm của giặc định đánh úp nước ta. Tất cả những điều đó sẽ gây ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc tiến quân xâm lược của Tống vào Đại Việt sau này: chúng phải tiến quân trong những điều kiện chính trị, quân sự không lợi, trong một thế bị động khá sâu sắc.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:22:51 am
2. Quân Tống xâm lược Đại Việt

Chật vật mãi, tới tháng 10 năm 1076, Tống mới điều động và dẫn được quân ra biên giới. Lực lượng có 10 vạn quân chiến đấu, 20 vạn quân tải lương. Quách Quỳ làm thống soái.

Kế hoạch của giặc là: đại quân sẽ tiến theo hướng Lạng Sơn, Thăng Long; thủy quân sẽ dọc theo ven biển vào sông Bạch Đằng; sau khi đánh tan các đạo quân thủy, bộ của ta, chúng sẽ hội quân, dùng thuyền vượt sông, đánh chiếm Thăng Long.


Về phía ta, sau khi rút quân về nước, biết rõ Tống sẽ sang xâm lược, quân dân ta cũng tích cực chuẩn bị đối phó. Kế hoạch như sau:

- Trên khu vực biên giới, chủ yếu sử dụng các lực lượng thổ binh, hương binh bố trí tại một số nơi như Quảng Uyên (Cao Bằng), Hạ Liêu và Cổ Lộng (vùng tiếp giới giữa Bắc Cạn và Thái Nguyên). Quyết Lý và Giáp Khẩu (tức Châu Ôn và Chi Lăng) có nhiệm vụ tiêu hao ngăn chặn địch. Quyết Lý và Giáp Khẩu là hướng quan trọng, được tăng cường một bộ phận quân triều đình do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy. Ven biển có thủy quân đóng căn cứ tại Vân Đồn (thuộc Quảng Yên) phối hợp với quân bộ đóng ở Ngọc Sơn (thuộc Móng Cái), có nhiệm vụ đánh chặn địch trên vùng biển Đông Kênh (ven biển Quảng Ninh ngày nay).

- Chiến tuyến chính là ở trung du, dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), đắp đê cao, có rào giậu chắc chắn, chạy dài từ sườn đông bắc dãy Tam Đảo đến sườn tây nam dãy Nham Biển (Yên Dũng, Hà Bắc) khoảng trên 200 dặm (chừng 100km). Dưới sông có thủy quân, trên thành có quân đóng và tuần tiễu, tập trung gần các bến đò quan trọng.


Đại quân gồm hai bộ phận: quân bộ đóng ở vùng Thiên Đức (giữa Bắc Ninh và Thăng Long), quân thủy có trên 400 chiến thuyên đóng tại vùng Vạn Xuân (Phả Lại ngày nay), cả 2 bộ phận đểu có thể sẵn sàng cơ động ra đánh địch ở các hướng.


Cuối tháng 11 năm 1076, chiến sự bắt đầu trên khu vực biên giới. Trước tiên, Quách Quỳ cử một đạo quân đánh chiếm Quảng Uyên, nơi y nhận định là "cổ họng" của nước ta. Nhưng chúng đã vấp phải sức chống trả mạnh mẽ của quân dân Quảng Uyên. Cuối cùng với thủ đoạn mua chuộc, ly gián, chúng đã lôi kéo được Lưu Kỳ, người chỉ huy ở khu vực ấy và chiếm được đất Quảng Uyên.


Ngày 11 tháng Chạp, đại quân Tống chia làm nhiều cánh vượt biên giới trên hướng Lạng Sơn, chiếm được các Châu Ôn, Quyết Lý, Quang Lang, Tô Mậu... Để tiến nhanh, Quách Quỳ cho đại quân vòng sang phía tây, lọt giữa hai đạo quân ta, theo đường tắt vượt qua dãy Bắc Sơn và tiến đến sông Phú Lương (sông Cầu, thuộc phần đất Thái Nguyên ngày nay). Đồng thời cho một bộ phận vòng đánh vào phía sau lưng Thân Cảnh Phúc. Thân Cảnh Phúc cho bộ phận chủ yếu của mình lại hướng Vạn Xuân, giữ liên hệ với thủy quân, bộ phận còn lại phân tán dựa vào rừng núi hiểm trở, dùng lối đánh tỉa, đánh úp, đánh lén, đánh phục các toán quân nhỏ, nhất là các đoàn tải lương của địch.


Sau một tháng tác chiến trên khu vực biên giới, ngày 21 tháng Chạp (18-1-1077), đại quân Tống đã tiến đến bờ bắc sông Cầu. Cánh phải do Miêu Lý chỉ huy tập trung trên đoạn bến Như Nguyệt, cánh trái do Quách Quỳ chỉ huy đóng ở Thị Cầu.


Nhưng trên biển, thủy quân địch đã bị ta đánh bại, phải rút về đóng ỏ cửa Đông Kênh (có thể là Tiên Yên ngày nay) cho tới hết chiến tranh.

Cuối tháng Chạp, Miêu Lý cho bắc cầu nổi, vượt sông tiến công, trên bến Như Nguyệt. Quân ta đánh lại quyết liệt. Nhưng có bộ phận địch đã đột nhập được chiến tuyến, ồ ạt tiến sâu. Kỵ binh đi trước của chúng có lúc đã đến cách Thăng Long khoảng 15 dặm, nhưng đã bị một bộ phận quân ta từ phía Thiên Đức cơ động tới bao vây tiêu diệt.


Chờ mãi không thấy thủy quân tới, Quách Quỳ phải cho đóng bè chở quân đánh sang. Cuộc tiến công lớn này lại bị thất bại hết sức nặng nề, đến nỗi Quách Quỳ phải quay về cố thủ bờ bắc và hạ lệnh "ai bàn đánh sẽ bị chém".


Để làm địch càng bị tiêu hao mệt mỏi, cả phía trước lẫn phía sau, ta đều tăng cường hoạt động, đánh lén, đánh úp... làm chúng phải bị động đối phó và sa vào thế thiếu thốn lương thực nghiêm trọng.

Nắm thời cơ địch tuy còn đông (8 vạn) nhưng sức lực, sĩ khí giảm sút, ý chí tiến công không còn, Lý Thường Kiệt cho bắt đầu phản công.

Trên đoạn từ đông Nham Biền đến tây Vạn Xuân, Hoằng Chân chỉ huy 400 chiến thuyền và vài vạn quân đánh sang tiến sâu vào đất địch. Địch liều chết chống lại và tung kỵ binh ra phản kích. Ta lui quân về bờ nam sau khi đã gây tổn thất lớn cho địch, đặc biệt là đội kỵ binh cơ động Quách Quỳ.


Nhân lúc địch tập trung đối phó ở phía cánh phải, Lý Thường Kiệt chỉ huy đại quân vượt sông Phú Lương, tiến công giặc cánh trái, thu được thắng lợi rất lớn. Theo Việt sử lược, trong trận này địch 10 phần đã bị giết 5, 6 phần.


Những thắng lợi liên tiếp của quân ta đã đẩy địch vào một tình trạng hết sức khốn quẫn. Từ tiến công chuyển vào phòng ngự, bị động chịu đòn, quân bốn phần đã mất ba, trước mặt cũng bị đánh, sau lưng cũng bị thổ binh, hương binh đánh. Lương thảo đã gần cạn, sức cùng, chí nản. Vua quan nhà Tống cũng hoang mang, mâu thuẫn giữa chủ hòa, chủ chiến càng tăng.


Nắm rõ tình hình trên, dựa vào sức mạnh và thanh thế đang lên của quân dân ta, để kết thúc chiến tranh một cách có lợi cho ta, Lý Thường Kiệt chủ động cử người sang gặp Quách Quỳ bàn hòa với điều kiện: toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất nước mà ta sẽ sang giao hảo và tu công.


Trước nguy sắp bị tiêu diệt, không còn con đường nào khác, Quách Quỳ vội nhận điều kiện trên và không chờ lệnh triều đình, y lập tức rút quân. Ta thu hồi toàn bộ đât đai, trừ Quảng Uyên, địch còn ngoan cố chống lại.


Tháng 2 năm 1077, 23.400 quân chiến đấu và 3.174 ngựa của Quách Quỳ đã về tới đất Tống. Trong hơn hai tháng chiến đấu anh dũng, ta đã tiêu diệt trên 19 vạn quân chiến đấu, tải lương và gần 6 nghìn ngựa của địch. Tính cả trận tiến công vào Ung - Khâm - Liêm, gần 30 vạn quân địch đã bị tiêu diệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:23:24 am
3. Tiếp tục tiến công ngoại giao giành toàn vẹn lãnh thổ

Quyết không chịu để một bộ phận đất đai của ta lọt vào tay nhà Tống, trên cơ sở thắng lợi lớn về quân sự vừa qua, nhà Lý đã dùng ngoại giao liên tục tiến công trên hai năm, buộc Tổng phải trả hoàn toàn đất Quảng Uyên về với ta.


Cuộc đấu tranh đó rất gay go, có lúc đã căng thẳng cao độ. Lợi dụng những bất đồng trong nội bộ triều Tống và những khó khăn của Tống đang bị Liêu, Hạ uy hiếp ở phương Bắc, đi đôi với việc dùng lý lẽ đấu tranh, nhà Lý còn cho tập trung quân xung quanh Quảng Uyên làm áp lực kết hợp với đấu tranh của nhân dân ở bên trong và cuối cùng đã thu được thắng lợi. Năm 1079, sau khi được ta giao trả 221 tù binh, những tên xâm lược cuối cùng của Tống đã phải rút khỏi Quảng Uyên.


Sau này còn tiếp tục đấu tranh buộc Tống phải công nhận Đại Việt là một nước riêng biệt chứ không phải là một quận của Tông, vua Lý là một quốc vương chứ không phải là "Giao Chỉ quận vương" như vua Tống thường "phong".


Những cuộc đấu tranh ngoại giao nói trên đã thu hồi được toàn vẹn lãnh thổ và đã nâng cao địa vị của nước ta, của dân tộc ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:24:19 am
II. BA LẦN CHIẾN TRANH TỰ VỆ THỜI TRẦN CHỐNG NGUYÊN (1258-1285-1288)

Đầu thế kỷ thứ XIII, ở nước ta, triều Trần thay thế triều Lý. Kinh tế nông nghiệp phát triển, chế độ phong kiến trung ương tập quyền được củng cố vững chắc hơn trước.

Cũng thời gian này, nhà nước phong, kiến Mông Cổ đã hình thành và chỉ trong vài chục năm, đã phát triển thành một đế quốc lớn mạnh chưa từng thấy trong lịch sử thế giới từ trước đến giờ.

Chúng đã xâm lược rất nhiều nước ở châu Âu và châu Á. Phía châu Âu, vó ngựa của quân Mông Cổ đã đến Đức, Ba Lan, Hung-ga-ri và đến tận Vơ-ni-dơ (Ý), làm chấn động cả châu Âu. Phía nam, chúng chiếm Trung Quốc, Cao Ly... Một đế quốc rộng mênh mông được thành lập từ bờ biển Hắc Hải cho đến Thái Bình Dương. Quân Mông Cổ rất thiện chiến; đoàn quân kỵ binh nổi tiếng đánh đâu thắng đấy của chúng dong đuổi khắp nơi đã từng đánh bại nhiều quân đội các nước, kể cả những đoàn kỵ binh nổi tiếng đương thời.


Thế nhưng, ba lần xâm lược nước ta là cả ba lần bị ta đánh cho đại bại, gần 1 triệu quân bị đánh tan.

Lịch sử của dân tộc đã ghi thêm rất đậm nét những chiến thắng cực kỳ oanh liệt vẻ vang của thế kỷ thứ XIII.


1. Chiến tranh lần thứ nhất (1258)

Sau khi thống trị một nửa châu Âu và một phần châu Á, đế quốc Mông Cổ chuyển về đánh Trung Quốc (triều Nam Tống).

Từ nước Đại Lý (Vân Nam) một cánh quân do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, với danh nghĩa "mượn đường", định đánh lấy nước ta làm bàn đạp tiến vào Nam Tống, hội binh tại Ngạt Châu (Vũ Xương) với các cánh quân của Mông Kha và Hốt Tất Liệt từ phía bắc đánh xuống.


Biết được dã tâm của giặc, vua Trần và Trần Thủ Độ kiên quyết chống lại. Trước tiên cử một đạo quân lên biên giới chặn địch, còn đại quân theo đường thủy bộ sẽ tiến lên sau.

Đầu tháng Chạp âm lịch (1258), quân Mông Cổ vượt biên giới, sau vài trận giáp chiến ở khoảng đông nam Lào Cai ngày nay, trước quân địch còn sung sức, tiền quân của ta lui dần từng bước về Phú Thọ. Đại quân của ta cũng đang lúc kéo lên. Đại quân hai bên gặp nhau ở vùng Bạch Hạc. Sau trận đánh giữa hai đội tiền quân của hai bên, tướng Mông Cổ định chặn đường phía sau quân ta, cướp thuyền chiến, cắt đường rút lui của quân đội ta, rồi bao vây tiêu diệt.


Nhận thấy quyết chiến ngay không có lợi, ta chỉ để một bộ phận chặn đánh yểm hộ cho đại quân lui một bước về xuôi. Quân Mông Cổ vồ hụt, tràn xuống đuổi theo, tới Bình Lệ Nguyên (gần Hương Canh, Vĩnh Phú ngày nay), đại quân hai bên lại gặp nhau, tình thế bên ta rất không lợi, một lần nữa, ta quyết định lui quân về phía Hưng Yên. Kinh thành bỏ trống. Nhân dân quanh Thăng Long được lệnh làm kế "thanh dã", thực hiện vườn không nhà trống.


Sau khi vồ hụt lần thứ hai, quân Mông Cổ tiến vào Thăng Long không người. Chúng tàn phá kinh thành.

Lúc này, lương thảo mang theo đã cạn, xung quanh dân ta đã làm vườn không nhà trống, không cướp bóc được gì, sức mệt, sĩ khí sa sút, quân xâm lược Mông Cổ sa vào tình thế tiến, lui đều rất khó khăn.


Biết tình hình nguy khốn của giặc, nắm thời cơ có lợi, quân ta phản công. Đêm 24 tháng Giêng (1258) tức là chín ngày sau khi địch chiếm kinh thành, quân ta bí mật tiến lên Đông Bộ Đầu (phía đông thành Thăng Long), đánh úp mãnh liệt quân địch. Bị đánh bất ngờ, thua đau, địch bỏ Thăng Long rút chạy một mạch về Đại Lý. Qua Quỳ Hóa (Vĩnh Phú ngày nay) bị chủ trại Hà Bổng, thuộc dân tộc Mường, chỉ huy dân binh mai phục đánh thêm một trận nữa. Cuối tháng Giêng, địch hoàn toàn rút khỏi nước ta.


Thắng lợi của quân dân ta trong chiến tranh lần thứ nhất không những đã bảo vệ được nền độc lập dân tộc mà còn bẻ gẫy một gọng kìm của quân Mông Cổ định đánh vào miền Nam Trung Quốc.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:26:01 am
2. Chiến tranh lần thứ hai (1285)

Chiếm xong Trung Quốc, Cao Ly, quân Mông Cổ đang vào thời kỳ cực thịnh. Vua Mông Cổ Hốt Tất Liệt đổi quốc hiệu là Đại Nguyên, chuẩn bị những cuộc viễn chinh mới để thực hiện mưu đổ thống trị thế giới. Phía đông thì chuẩn bị đánh Nhật Bản, phía nam thì trước tiên chiếm các nước Đông nam châu Á rồi sẽ tiến sang đánh Ấn Độ phối hợp với một cánh từ Ba Tư đánh xuống.


Trong bước chiếm Đông nam châu Á, thì đánh Đại Việt là khâu chủ yếu, quyết định. Vì thế Hốt Tất Liệt đã chuẩn bị một đạo quân rất lớn gồm 60 vạn quân giao cho con trai là Thoát Hoan chỉ huy.

Kế hoạch của giặc là trước tiên dùng 10 vạn quân chiếm Chiêm Thành, sau đó cả 60 vạn quân sẽ từ hai mặt bắc, nam giáp công đánh tới, chỉ một đòn quyết định số phận nước ta.

Năm 1282, Toa Đô chỉ huy 10 vạn quân vượt biển chiếm Chiêm Thành. Nhưng bị người Chiêm chống cự quyết liệt, Toa Đô phải lui quân về chiếm châu Ô Lý và Việt Lý, giáp biên giới Đại Việt, chuẩn bị bàn đạp đánh sang ta.


Về phía ta, sau chiến tranh lần một (1258), nhà Trần vẫn cố gắng vừa mềm dẻo vừa kiên quyết duy trì quan hệ bằng ngoại giao bình thường với nhà Nguyên. Nhưng biết rằng trước sau quân Nguyên sẽ sang xâm lược nên từ lâu đã có những chuẩn bị tích cực đổi phó.


Tháng 10 (1282), vua Trần triệu tập hội nghị Bình Than cùng triều đình và các vương hầu bàn kế hoạch chống giặc. Trần Quốc Tuấn được cử làm Quốc công tiết chế thống lĩnh toàn quân. Lực lượng quân sự được tăng cường. Trần Quốc Tuân thảo ra hai bộ binh thư Việt Nam đầu tiên là Binh thư yếu lược và Vạn kiếp bí truyền để huấn luyện tướng sĩ.


Tháng 8 (1282), trước tình hình chiến tranh sắp nổ ra, Trần Quốc Tuấn tập trung du quân (quân tập trung cơ động của triều đình), quân các lộ và các vương hầu về Đông Bộ Đầu, tổng cộng 20 vạn quân, duyệt binh, động viên tướng sĩ, rồi phân phối lực lượng để đóng giữ các nơi hiểm yếu.


Sau đó, vua Trần triệu tập các bô lão toàn quốc về kinh thành mở hội nghị Diên Hồng lịch sử, nhằm động viên sự nhất trí chống giặc trong nhân dân.

Câu trả lời "Quyết chiến" của các bô lão và hai chữ "Sát Thát" thích trên cánh tay quân sĩ đã nói lên ý chí sắt đá quyết một lòng giết giặc cứu nước của toàn thể quân dân ta.

Theo kế hoạch, quân ta chia quân bố trí đánh địch trên các hướng: Mặt bộ ở Lạng Sơn, mặt biển ở Quảng Yên, còn đại quân tập trung chủ yếu tại khu vực Lạng Giang, Vạn Kiếp, Bình Than. Phía nam, sát Biên Giới Chiêm Thành, cũng có 3 vạn quân của Trần Quang Khải có nhiệm vụ ngăn chặn địch.


Cuối năm 1284, Thoát Hoan bắt đầu tiến quân chia làm hai cánh đánh vào Tuyên Quang và Lạng Sơn. Mặt Lạng Sơn, sau khi đánh chặn địch từng bước, ta lui dần về Lạng Giang.

Thấy chủ lực ta tập trung ở khu vực Lạng Giang - Vạn Kiếp, Thoát Hoan tiến thành ba mũi từ trước mặt và hai bên sườn, định hợp vây tiêu diệt.

Nhưng Trần Quốc Tuấn đã nhận định "Nguyên binh khí nhuệ đang hưng, kíp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy" và đã kịp thời cho đại quân rút lui theo hướng Thăng Long - Thiên Trường, một bộ phận rút về hướng Quảng Yên.


Vồ hụt quân ta ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan thúc quân tiến đánh Thăng Long. Một bộ phận quân ta dựa vào bờ nam sông Hồng ngăn chặn địch, yểm hộ cho đại quân tiếp tục rút. Ngày 13 tháng Giêng (19-2-1285), quân Nguyên vượt sông tiến vào kinh thành bỏ trống. Nhưng những cuộc chiến đấu trong khu vực Thăng Long vẫn tiếp diễn đến cuối tháng giêng.


Tháng hai, địch cho quân tiến xuống Hưng Yên, Hà Nam. Ta có một số trận đánh úp. Khi mũi nhọn của quân Nguyên dừng lại ở Trường An (Ninh Bình) thì đại quân ta đã vượt qua dãy Tam Điệp về tập trung ở Thanh Hóa.


Phía nam, quân Trần Quang Khải cùng dùng lối đánh chặn từng bước và cuối cùng đã chặn đứng địch tại khu vực giáp Nghệ An và Thanh Hóa.

Đến tháng 3 (1285), sau ba tháng tác chiến, quân Nguyên đã chiếm được kinh thành và một bộ phận lớn đất nước ta nhưng chúng đã không diệt được chủ lực ta.

Quần chúng phải rải ra chiếm đóng các nơi, đặc biệt trên lưu vực Bỏng Hồng, xung quanh Thăng Long và trên đường giao thông liên lạc từ Thăng Long đến Nam Quan. Tuy đồn trú ở nhiều nơi nhưng tình hình vẫn không ổn định. Đi đôi với kế thanh dã, nhân dân ta cùng với dân binh và một bộ phận quân triều đình vẫn tích cực hoạt động, đánh lén, đánh úp, đánh tỉa, đánh phục các toán quân địch đi tiễu, sục sạo, cướp bóc, v.v... nhất là trong khu vực Thăng Long.


Do chủ quan tưởng thắng nhanh, quân Nguyên không tải theo nhiều lương thực, đến đâu dân ta cũng làm vườn không nhà trống, cướp bóc khó khăn; lực lượng lại bị phân tán, luôn luôn bị quấy rối tiêu hao; hai gọng kìm Thoát Hoan và Toa Đô bị tách xa nhau nên tuy đông quân mà sức tiến công bị giảm sút và cuối cùng lâm vào thế sa lầy nghiêm trọng.


Để gỡ thế bí, Thoát Hoan quyết định chuyển đạo quân Toa Đô ra Bắc để dựa vào nhau và có thêm sức tiếp tục tiến công.

Hiểu được ý định của giặc và cho rằng đó là thời cơ để đánh trả lại chúng, vua Trần và Trần Quốc Tuấn quyết định nhằm đạo quân Toa Đô hành quân xa, mệt nhọc, lại thiếu lương thực mà đánh trận phủ đầu.


Năm vạn quân ta - do Trần Nhật Duật chỉ huy - mai phục đón đánh địch ở của Hàm Tử (thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) và đã tiêu diệt được đạo quân tiền vệ của Toa Đô. Toa Đô phải lui lại cửa biển Thiên Trường, hoàn toàn mất liên lạc với Thoát Hoan.


Sau trận này, Trần Quốc Tuấn nhận định: "Quân ta mới thắng, khí lực đương hăng, mà quân Nguyên mới thua tất cũng chột dạ" và chủ trương "vậy nên nhân dịp tiến quân đánh Thoát Hoan để khôi phục kinh thành".


Thực hiện ý định trên, ta đã đánh một trận rất lớn, rất tài tình: trận Chương Dương - Thăng Long. Trận này, ta đã phối hợp các thứ lực lượng (quân triều đình, quân địa phương và dân binh quanh Thăng Long), dùng lối đánh úp thủy trại Chương Dương, kéo viện ở Thăng Long ra (trong đó có kỵ binh là lực lượng cơ động nòng cốt của địch) vừa mai phục diệt viện, vừa nhân lúc Thăng Long sơ hở mà đánh úp.


Ta diệt được rất nhiều địch, Thoát Hoan thoát chết vượt sông chạy sang Kinh Bắc thu quân còn lại và rút cả các đồn binh lẻ trên đồng bằng tập trung về đây.

Để liên tục phản công địch, ta điều tiếp đại quân từ Thanh Hóa ra hướng Tây Kết, nhân lúc Toa Đô liều đánh lên đó bắt liên lạc với Thoát Hoan, ta đã đánh một trận lớn nữa trên đoạn từ Thiên Trường tới Tây Kết, tiêu diệt toàn bộ 8 vạn quân của Toa Đô (bắt sống 5 vạn, chém chết Toa Đô).


Những đòn phản công liên tiếp trên đà thắng lợi hết sức rực rỡ, gần 20 vạn quân địch bị tiêu diệt (phần lớn là quân tinh nhuệ). Thăng Long và toàn bộ khu vực sông Hồng được giải phóng, quân dân ta đã thực hiện được bước ngoặt quyết định của chiến tranh.


Về phía địch, bị thất bại hết sức nặng nề, tinh thần sa sút nghiêm trọng, lương thảo càng thiếu thốn. Thoát Hoan quyết định lui quân về biên giới.

Nắm thời cơ có lợi, Trần Quốc Tuấn đã kịp thời dàn quân đánh đòn quyết định mới.

Một bộ phận quan trọng quân triều đình kết hợp với quân địa phương và dân binh phục sẵn trên các ngả chạy về biên giới (hướng Bắc Giang, Lạng Sơn, hướng Vạn Kiếp).

Cuối tháng 5, Trần Quốc Tuấn tiến công đại quân Thoát Hoan ở khu vực Bắc Giang, tiêu diệt một số lớn địch. Chúng bỏ chạy về Vạn Kiếp thì bị quân ta đã mai phục sẵn đánh một đòn lớn tiếp theo. Tới đây, quân Nguyên đã căn bản tan rã. Một số tán loạn bỏ chạy về biên giới cũng bị tiêu diệt gần hết ờ dọc đường, chỉ còn Thoát Hoan và một số tàn quân chạy được về nước.


Đầu tháng 6, trên đất nước ta không còn bóng một tên xâm lược, về căn bản 60 vạn quân Nguyên trong đó có nhiều tướng tài khét tiếng gian ác và các đạo kỵ binh thiện chiến của chúng đã bị tiêu diệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:27:17 am
3. Chiến tranh lần thứ ba (1288)

Được tin Thoát Hoan thua nặng, Hốt Tất Liệt phải đình chỉ xâm lược Nhật Bản, chuyển quân và thuyền xuống phương nam tiếp tục đánh ta một lần nũa. Kể cả quân mới mộ, chúng có 30 vạn. Lần này chúng đặc biệt chú ý tới việc tải lương đi theo và đánh theo lối "tằm ăn dần dà".


Khi quân Nguyên chuẩn bị tiến công, Trần Quốc Tuấn nhận định "năm nay thế giặc dễ đánh" và chia quân chặn đánh địch ở các hướng Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Yên, Nghệ An; đại quân tập trung trên miền Hải Dương, Thái Bình.


Tháng 11 (1287), quân Nguyên bắt đầu tiến công. Trên các hướng tiến quân của giặc, ta đều bám đánh, gây cho chúng một số tổn thất như ở hướng biển đã đánh đắm 70 thuyền lương của Ô Mã Nhi và lui dần từng bước. Hướng Lào Cai, ta đã lui về chặn đứng cánh quân A Lỗ ở Tam Đại Giang (Việt Trì). Hướng Lạng Sơn, ta lui về khu Bắc Giang, Vạn Kiếp, để lại một bộ phận phân tán cùng quân địa phương, dân binh đánh nhỏ ở sau lưng địch.


Giữa tháng Chạp (1288) hai cánh quân thủy, bộ của địch đã hội binh tại khu vực Phả Lại - Chí Linh, lợi dụng địa hình và mạng đường thủy, bộ thuận lợi ở nơi đây, chúng xây dựng thành căn cứ vững chắc, làm chỗ dựa để tiến đánh các nơi.


Bị nghi binh thu hút, lầm tưởng chủ lực ta tập trung ở khu vực Thăng Long, địch tiến công về hướng Thăng Long. Sau khi đánh bật được một bộ phận quân ta ở Đại Than, ngày 29 tháng Chạp (tức ngày 2 tháng 2 năm 1288), Thoát Hoan tiến vào Thăng Long đã bỏ trống từ lâu. Nhân dân ta đã triệt để làm "thanh dã" cất giấu lương thực và tích cực chặn đánh địch đi sục sạo, cướp phá.


Ô Mã Nhi xuôi sông Hồng đuổi theo quân ta về phía Hưng Yên, nhưng giữa lúc ấy thì bị ta đánh mạnh ở phía sau. Phả Lại - một hậu cứ an toàn của địch - bị đánh úp, đường giao thông từ Từ Minh sang, từ mặt biển vào cửa Đại Bàng đều bị ta uy hiếp, cắt đứt. Thoát Hoan phải cấp tốc điều Ô Mã Nhi quay về cứu Phả Lại, Chí Linh.


Lúc này lại thêm nguy cơ thiếu lương thực. Đoàn thuyền Trương Văn Hổ chở lương đi tiếp sau chưa tới, đường giao thông bị cắt đứt, Thoát Hoan phải cử Ô Mã Nhi ra mở thông cửa Đại Bàng đón đoàn thuyền lương. Đối với quân Nguyên lúc này, tiến hay rút, công hay thủ, phụ thuộc phần lớn vào đoàn thuyền lương.


Nắm được điểm cốt tử của địch, Trần Quốc Tuấn lệnh cho Trần Khánh Dư chặn đánh. Ngày 13 tháng 2 năm 1288, tại cửa Lục Thủy Dương (Quảng Yên) ta đợi cho ô Mã Nhi vượt lên trước rồi mới xông ra tiến công đoàn thuyền lương. 70 vạn thạch lương và khí giới của giặc bị đắm hoặc lọt vào tay ta.


Để làm cho quân sĩ địch chóng "ngã lòng, bấy giờ mới phá dễ"1 (Lời của Trần Quốc Tuấn, Việt sử thông giám cương mục), ta thả tù binh báo tin thất trận cho Thoát Hoan. Trong khi đó quân dân ta tiếp tục hoạt động mạnh ở xung quanh Thăng Long. Trước tình hình ở không yên, lương thực lại mất, quân sĩ Nguyên hết sức ngã lòng và Thoát Hoan buộc phải lui quân về cố thủ ở Vạn Kiếp, Chí Linh (3-1288).


Tại đây, tình hình lại càng khốn đốn hơn, không giải quyết được lương thực, ta lại càng ngày càng đánh phá mạnh (đánh úp trại địch, đục thuyền, đánh địch đi cướp lương, v.v...). Cuối cùng Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường thủy, bộ.


Nhưng biết trước được thế giặc, ta đã chuẩn bị sẵn để không cho chúng chạy thoát. Đường bộ thì giăng một lưới phục kích trên 100 dặm từ Nội Bàng - núi Kỳ Cấp đến núi Ái Nữ Nhi, đường thủy thì mai phục ở sông Bạch Đằng, đại quân từ Thái Bình, Hải Dương cũng cơ động tới hướng đó.


Ngày 8 tháng 3 (ngày 9-1-1288), ta khéo léo dụ địch vào khúc sông cắm cọc và đã tiêu diệt toàn bộ cánh quân địch rút theo đường thủy, thu hơn 400 thuyền, bắt sống Ô Mã Nhi.

Mặt bộ, trận Nội Bàng và một số trận tiếp theo đã tiêu diệt gần hết đại quân của Thoát Hoan, chỉ còn y và vài ngàn quân chạy thoát được về nước.

Không đầy năm tháng, quân dân ta đã tiêu diệt 30 vạn quân Nguyên, đánh bại cuộc xâm lược lần thứ ba và cũng là lần chót của chúng. Không những thế, còn ngăn chận sự bành trướng của đế quốc Nguyên xuống Đông nam châu Á buộc chúng phải bỏ không đánh Nhật Bản.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:29:18 am
III. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH CỦA NHÀ HỒ (1407)

Cuối thế kỷ XIV, xã hội phong kiến thời Trần lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng và tới năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần lên ngôi vua.


1. Một số cải cách của Qúy Ly

Ngay dưới triều Trần, từ khi nắm được quyền bính trong tay cho đến sau khi lên ngôi, Quý Ly đã thực hiện một loạt biện pháp về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, ván hóa... nhằm củng cố nhà nước phong kiến.


Những cải cách đó, có một số điểm về khách quan có tác dụng tốt (như việc chấn chỉnh lại chế độ thi cử, mở mang trường học, đề cao chữ nôm, v.v...) nhưng nhìn chung còn hạn chế chưa đáp ứng hoặc chưa phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của xã hội Việt Nam, nhất là một số chính sách cơ bản như hạn điền, hạn nô.


Qua chính sách hạn điền, ruộng đất tập trung vào tay nhà nước: nông dân vẫn không được chia ruộng.

Chính sách hạn nô biến người gia nô thành công nô, người nông nô vẫn không được giải phóng thành nông dân tự do.

Thuế có điều chỉnh nhưng so với đầu thời Trần lại nặng hơn. Chính sách tiền giấy đã gây rối loạn về tiền tệ, gây phản ứng không những trong thương nhân, mà còn cả trong một số tầng lớp nhân dân khác nữa.


Cho nên nhà Hồ không được lòng dân, ngay cả với các tầng lớp trên cũng có nhiều mâu thuẫn. Sự cô lập của tập đoàn Quý Ly đã biểu hiện rõ trong câu nói của Hồ Nguyên Trừng: "Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân theo hay không theo mà thôi".


2. Nhà Hồ chuẩn bị kháng chiến

Biết rõ tham vọng cướp nước ta của nhà Minh, nhà Hồ đã tích cực chuẩn bị đối phó.

Trước hết là có một số quân đông như Quý Ly thường nói: "Ta làm thế nào để có trăm vạn quân thì địch nổi giặc Bắc".

Trang bị có nhiều cải tiến quan trọng như đúc súng thần công, đóng cổ lâu thuyên.

Thành lũy, chướng ngại được xây đắp, bố trí với quy mô lớn và trình độ kỹ thuật tương đối cao nhằm chặn địch dọc theo các hướng chúng có khả năng tiến công sang (như hướng Lào Cai, hướng Lạng Sơn, các cừa sông, cửa biển). Nhưng chủ yếu là chặn ngang địch ở trước đồng bằng dựa vào phòng tuyến sóng Hồng, kéo dài hơn 700 dặm, từ chân núi Tản Viên (Ba Vì) theo sông Đà lên Bạch Hạc và từ đó qua Đông Đô (Hà Nội) trở về xuôi. Trên phòng tuyến, có hai thành lớn là Đa Bang (Hà Tây) và Đông Đô.


Những công trình trên là bộ phận chủ yếu của kế hoạch phòng thủ của Hồ Quý Ly. Ngoài ra cùng thực hiện kế "thanh dã" ở một số nơi (thuộc vùng Lạng Sơn, Hà Bắc, Bắc Thái, Vĩnh Phu...).


3. Quân Minh kéo sang xâm lược

Năm 1406, nhà Minh quyết định đem quân sang xâm chiếm nước ta, núp dưới danh nghĩa "phù Trần, diệt Hồ".

Lực lượng có 21 vạn rưỡi, chưa kể một số đông dân binh và thổ binh tải lương đi theo1 (Hoàng Minh thực lục, dẫn theo An Nam sử nghiên cứu của Sơn bản đạt lang, Tokyo, 1950, quyển I), chia quân làm hai đạo:

- Một đạo do Trương Phụ chỉ huy, đi từ Bằng Tường (Quảng Tây) kéo vào Lạng Sơn.

- Một đạo do Trấn thủ Vân Nam Mộc Thạnh chỉ huy, đi từ Vân Nam tiến theo sông Hồng, sông Lô vào nước ta.

Kế hoạch của chúng là: một đội kỵ binh của Trương Phụ sẽ tiến trước đến Gia Lâm, hư trương thanh thế nghi binh như tập trung quân vượt sông ở đây, thu hút quân ta. Trong khi đó, hai đạo quân Minh sẽ bí mật hội quân ở miền thượng lưu sông Hồng, tìm chỗ nông để vượt qua rồi đánh xuống Đông Đô.


Về mặt chính trị, chúng kể "tội" Quý Ly, tuyên bố lập lại con cháu nhà Trần và dùng nhiều lời lẽ xảo trá để hòng lôi kéo các tầng lớp nhân dân ta.

Tháng 10 (11-1406), địch bắt đầu tiến công.

Quân tiên phong của Trương Phụ đã nhanh chóng hạ được ải Lưu Quan và Kê Lăng (Chi Lăng), hai vị trí quan trọng của ta có địa thế hiểm yếu và khá đông quân phòng giữ. Sau đó tiếp tục tiến về Cần Trạm (quãng Kép - Bắc Giang ngày nay).


Tới đây, chúng chiếm đóng vùng Xương Giang (Bắc Giang), Thị Cầu; kỵ binh tiến đến Gia Lâm làm nhiệm vụ nghi binh thu hút lực lượng ta; còn đại quân tắt qua những nơi bỏ trống tiến đến miền Đa Phúc, Lập Thạch bắt liên lạc với Mộc Thạnh. Dọc đường tiến quân, địch không vấp phải sức kháng cự nào đáng kể.


Phía Lào Cai, Hà Giang, quân Mộc Thạnh cũng hạ được nhiều đồn ải, đánh tan các bộ phận án ngữ của ta trên sông Lô, sông Hồng rồi theo sông tiến xuống Bạch Hạc.

Ngày 11 tháng 12 năm 1406, hai đạo quân Minh đã thực hiện được kế hoạch hợp binh ở bờ bắc sông Hồng, chuẩn bị thêm thuyền bè, khí giới để tiến công.

Quân nhà Hồ vẫn dựa vào phòng tuyến bờ nam sông Hồng kiên trì cố thủ, chờ địch đánh sang.

Trước tình hình đó, Thành Tổ nhà Minh sợ quân ta làm trì hoãn binh, chờ lúc quân Minh không hợp thủy thổ, ốm yếu rồi mới tiến công nên lệnh cho Trương Phụ tiếp đánh quân ta vào mùa xuân sang năm.


Trương Phụ, Mộc Thạnh quyết định tập trung lực lượng đánh thành Đa Bang, "điểm chốt" rất quan trọng của phòng tuyến. Từ lúc giặc vượt sông đến khi đánh vào thành, ta đều tích cực chống đỡ, có lúc phản kích lại quyết liệt, nhưng cuối cùng không giữ nổi, phải bỏ chạy.


Giặc thừa thế tràn xuống chiếm được Đông Đô (22-1-1407), một số quan lại quý tộc đã phản bội hợp với giặc đánh lại Quý Ly.

Quan nhà Hồ lui về Hoàng Giang (khúc sông Hồng thuộc địa phận Lý Nhân - Nam Hà), bị địch kéo tới đánh thua phải rút về Muộn Hải (Giao Thủy - Nam Hà) xây thành, đắp lũy, đúc súng, đóng thuyền, cố thủ. Nhưng lại bị quân địch đánh thua, phải lui về Đại An (cửa sông Đáy).


Đến lúc này, khoảng tháng 3, địch không chịu được thủy thổ. Muộn Hải lại là nơi ẩm thấp, sinh ốm đau nhiều chúng phải quay về Hàm Tử (Hưng Yên). Nắm thời cơ đó, quân nhà Hồ tập trung được 7 vạn quân tiến lên phản kích nhưng địch đã biết trước, mai phục sẵn, nên trận phản công bị thất bại nặng.


Quân nhà Hồ rút vào Thanh Hóa. Tháng 4, địch tiến đánh phải lui vào Hà Tình. Tới đây, sau trận đánh ở cửa biển Kỳ La (cửa Nhượng) quân nhà Hồ hoàn toàn tan vỡ.

Cuộc kháng chiến của nhà Hồ chấm dứt, nhưng ở nhiều nơi nhân dân ta vẫn tiếp tục nổi dậy chống quân Minh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:32:23 am
IV. CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG THỜI LÊ CHỐNG MINH (1418-1427)

Cướp được nước ta, nhà Minh thi hành một chính sách thống trị cực kỳ tàn bạo, hòng khuất phục nhân dân ta và biến nước ta thành một quận huyện của chúng. Chúng đặt bộ máy cai trị, tổ chức ngụy quân, ngụy quyền, thiết lập một bộ máy thống trị khổng lồ để áp bức bóc lột, đàn áp nhân dân ta. Trên cả nước, chúng xây dựng gần 40 thành trì lớn làm trụ sở hành chính và căn cứ quân sự, hàng trăm thành lũy và hàng nghìn đồn nhỏ để kiểm soát các nơi.


Bị áp bức, bóc lột nặng nề tới mức chưa từng thấy, nhân dân ta đã kiên quyết đấu tranh, cuộc khởi nghĩa này bị đàn áp, cuộc khởi nghĩa khác lại nổ ra trong suốt những năm chiếm đóng của quân Minh.


Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi - Nguyễn Trãi phất cao cờ khởi nghĩa Lam Sơn, dấy lên một phong trào đấu tranh vũ trang mới nhằm "tiêu diệt quân Minh để đem lại cái phúc thái bình muôn thuở".

Từ 1418 đến 1424: vùa tấn công địch, vừa chống vây quét giữ vững được căn cứ - Tạm thời hòa hoãn.

Mới bắt đầu khởi nghĩa, toàn bộ nghĩa quân có hơn 600 người và 14 thớt voi.

Cờ khởi nghĩa vừa phất, địch đã đem quân đàn áp. Ta mai phục ở Lạc Thủy đánh thắng trận đầu tiên. Từ đó cho đến năm 1422 địch đã liên tục tổ chức những cuộc tiến công vây quét nhằm tiêu diệt nghĩa quân, đàn áp cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trung tâm của phong trào đấu tranh cả nước. Có những cuộc vây quét rất lớn, hàng chục vạn quân tham gia, kéo dài trên hai tháng. Không những huy động quản ở tây Đô (Thanh Hóa) và còn đưa quân từ Đông Quan (Hà Nội) vào, Nghệ An ra, kết hợp với bọn tù trưởng phản động Ai Lao từ phía sau đánh tới. Lúc thì đánh ồ ạt, thọc thẳng vào căn cứ, lúc thì vây nhiều tầng, tiến chắc, đánh dài ngày.


Trong những năm đấu tranh gay go ác liệt đó, nghĩa quân đã anh dũng đánh trả địch, với một tinh thần tiến công rất cao, với những cách đánh rất linh hoạt: lúc thì mai phục trong căn cứ, khi thì luồn ra ngoài đánh úp sau lưng; lúc thì phá vây, khi thì đem quân uy hiếp tận sào huyệt địch. Tuy có lúc tổn thất tạm thời, quân chỉ còn 100, lương đã cạn từ hai tháng, ba lần phải rút về Chí Linh, nhưng có quyết tâm chiến đấu cao, lại được dân giúp đỡ, nên nghĩa quân càng đánh càng mạnh, thắng được nhiều trận lớn, duy trì được cuộc đấu tranh vũ trang, đứng vững trên miền tây Thanh Hóa.


Cũng những năm đó, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta vẫn liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi khác từ vùng núi tới vùng xuôi, nhưng nói chung tới mùa thu năm 1421 thì địch đã tạm thời đàn áp được hết.

Năm 1424, căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn được mở rộng, nhưng khó khăn còn nhiều, ta cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, về phía địch, tuy có những cố gắng lớn, nhưng vẫn không sao tiêu diệt được nghĩa quân, trong nước cũng đang gặp nhiều khó khăn do cuộc chiến tranh với Mông Cổ, nên cũng muốn thay đổi chính sách, quay ra dụ dỗ Lê Lợi.


Do đó có cuộc tạm hòa hoãn 1423-1424. Tranh thủ cơ hội này, nghĩa quân tích cực củng cố và phát triển lực lượng, tập hợp thêm nhân tài các nơi, chuẩn bị đưa cuộc khởi nghĩa tiến lên một bước mới.

Từ 1424 đến 1426: Phát triển vào Nghệ An. Liên tục tiến công địch, vây các thành lớn, giải phóng Thanh - Nghệ và Tân Binh - Thuận Hóa

Nhận thấy phía ta đã ổn định mọi mặt, mà địch cũng rục rịch sắp tiến công, tháng 9 năm 1424, Lê Lợi - Nguyễn Trãi triệu tập các tướng lĩnh họp bàn kế tiến thủ trong thời kỳ tới. Mọi người đã nhất trí với đề nghị của Nguyễn Chích: "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông; tôi đã từng qua lại Nghệ An, nên rất thông thuộc đường đất, nay ta trước hãy đánh lấy Trà Long, chiếm lĩnh bình định cho được Nghệ An để làm chỗ đất đứng chân, rồi dựa vào đấy mà lấy tiền tài sức lực, sau sẽ quay cờ trẩy ra Đông Đô thì có thể tính xong được việc dẹp yên thiên hạ".


Theo phương sách trên, nghĩa quân di chuyển về hướng Trà Long (Con Cuông - Nghệ An). Vừa đi vừa đánh: hạ thành Đa Căng, diệt được các toán quân địch từ Tây Đô đuổi theo và từ Nghệ An tới chặn. Thành Trà Long cũng ra hàng sau hai tháng ta vừa vây hãm, vừa ngụy vận. Nhân dân địa phương (Kinh, Mường...) nhiệt liệt hưởng ứng phong trào, giúp đỡ nghĩa binh, 5.000 thanh niên đã gia nhập hàng ngũ; cả những người trước theo giặc, nay được khoan dung đều hết sức "cảm kích, nguyện ra sức lập công". Ta đã bước đầu xây dựng được căn cứ Nghệ An.


Biết quân Minh đã được tăng viện, đang chuẩn bị tiến công lớn, ta quyết định đánh trước, nhằm giành chủ động và "đứng vững chân" ở toàn phủ Nghệ An.

Từ thành Nghệ An, địch theo sông Lam tiến đến gần Khả Lưu đắp lũy trú quân. Ta khéo léo nghi binh nhử địch rời lũy tiến quân vào nơi đã mai phục sẵn và diệt được của chúng đến hàng vạn tên.

Nhưng địch còn đông, dừng lại dựng đồn, định nhử ta tới đánh. Biết mưu địch, nghĩa quân cho một bộ phận tiến về phía Thanh Chương hoạt động nhằm kéo địch về, còn đại quán bí mật vòng xuống sau lưng địch mai phục ở Bố Ái. Thấy ta xuất hiện ở phía sau, địch kéo quân về đánh, sa vào trận địa mai phục, bị ta tiêu diệt rất nhiều, đến nỗi "Thuyền giặc chặn ngang dòng, xác chết nổi lấp sông, khí giới chất đầy khe núi" (Lam Sơn thực lục).


Thừa thắng, ta liên tục đuổi địch trong ba ngày đêm và tiến về bao vây thành Nghệ An.

Trận Khả Lưu - Bố Ải là một trận đánh rất mưu trí, vận dụng một cách sáng tạo cách đánh "nhử người tới, chứ không để người nhử tới". Đồng thời còn đánh dấu một bước phát triển mới của nghĩa quân trên con đường tiến lên đánh quy mô lớn hơn, tập trung hơn.


Vừa vây Nghệ An, ta vừa cho quân đánh chiếm các phủ, huyện trong trấn. Đến đâu dân cũng hưởng ứng và giặc phải xin hàng (có nơi ngụy quân tự kéo quần đến xin hàng như tri phủ Ngọc Ma là Cầm Quý mang 8.000 quân tới theo Lê Lợi). Cho nên chỉ trong vòng ba tháng, toàn phủ đã được giải phóng (trừ hai thành cô lập: Nghệ An và Diễn Châu). Chính quyền mới được thiết lập, nhân dân sôi nổi ủng hộ, tham gia nghĩa binh.


Trước tình hình Nghệ An bị uy hiếp mạnh, tháng 5 năm 1425, địch từ Đông Đô theo đường biển tới cứu. Nhưng vừa lên bờ đã bị ta đánh cả quán tới cứu lẫn quân trong thành ra đón. Địch lại phải chui vào thành cố thủ.


Một bộ phận nghĩa quân tiến ra vây Diễn Châu, trong khi hãm thành đã diệt được một đoàn thuyền lương của giặc từ Đóng Quan vào tiếp tế.

Lúc này Lê Lợi - Nguyễn Trãi nhận định: "Quân giặc dồn hết về cứu thành Nghệ An, các nơi khác tất trống rỗng" nên chủ trương "bỏ chỗ cứng mà đánh chỗ hở, tránh chỗ chắc mà đánh chỗ hư". Một đạo quân tiến ra đánh Diễn Châu, vây Tây Đô, giải phóng Thanh Hóa, một đạo quân khác vào giải phóng Tân Binh - Thuận Hóa. Chỉ trong một thời gian ngắn, ta đã giải phóng được các nơi trên. Đến đâu cũng được nhân dân hưởng ứng, lực lượng nghĩa binh được bổ sung đến vài vạn người.


Trong khi nghĩa quân liên tục tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng thì ở ngoài Bắc, nhân dân nhiều nơi lại nổi dậy đấu tranh, đặc biệt sôi nổi là ở miền thượng du và trung du (phong trào "nghĩa binh áo đỏ" của nhân dân thiểu số). Địch phải đối phó rất chật vật.


Sau gần tám năm chiến đấu gian khổ và anh dũng, nghĩa quân đã trưởng thành rõ rệt nhất là từ khi phát triển vào Nghệ An. Từ những đội quân nhỏ bé hoạt động du kích ở miền thượng du Thanh Hóa nay đã là một quân đội khá mạnh, đủ sức diệt những đạo quân lớn, vây những thành lớn của giặc. Từ căn cứ nhỏ hẹp ban đầu, nay đã có cả vùng giải phóng rộng lớn từ dãy Tam Điệp đến nam đèo Hài Vân, tạo thành một hậu phương vững chắc cho thời kỳ tiến công quyết liệt sắp tới.


Từ 1426 đến 1427: Tiến quân ra Bắc, hai lần đánh tan viện binh địch, giải phóng toàn bộ đất nước.

Nhận thấy sức ta đã mạnh, giặc thì suy yếu phải dựa vào thành cố thủ đợi viện binh sang, Lê Lợi - Nguyễn Trãi quyết định tiến công ra Bắc.

Tháng 9 năm 1426, ba đạo quân cộng trên 1 vạn người, phái ra trước với nhiệm vụ chung là chặn viện binh, "vỗ về nhân dân". Ta chia làm ba hướng hoạt động. Tới đâu cũng được nhân dân nô nức hưởng ứng, nổi dậy cùng nghĩa binh đánh giặc bao vây thành trại của chúng. Ngụy quyền tan rã nhanh chóng.


Bị uy hiếp mạnh, địch buộc phải kéo quân từ Đông Đô ra đối phó, bị ta tiêu diệt một bộ phận lớn ở Ninh Kiều (Chương Mỹ - Hà Tây). Phía Tam Giang, ta cũng diệt được một bộ phận trong số 1 vạn quân địch viện từ Vân Nam sang. Bọn còn lại phải chui vào thành Tam Giang cố thủ.


Bọn địch ở Đông Đô rất lo sợ, phải điều bớt quân ở Nghệ An ra cứu. Nhận định viện binh địch tất sẽ sang, Lê Lợi chuyển đại quân ra Thanh Hóa chuẩn bị đánh những đòn lớn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:33:32 am
Tháng 10 năm 1426, Vương Thông theo đường Lạng Sơn dẫn được 5 vạn viện binh tới Đông Quan. Vừa tới nơi chúng đã hùng hổ ra quân, lực lượng tập trung được 10 vạn, dàn ra ba nơi: Cổ Sở (nay là An Sở trên sông Đáy, phía tây nam Phùng - Hà Tây), Sa Đôi (vùng Phú Đô). Giao Quang (thuộc Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội), Thanh Oai, mưu toan dùng binh lực lớn bao vây tiêu diệt nghĩa quân ở khu vực này.


Cho rằng ngồi chờ địch sẽ không chống nổi chúng, Lý Triện quyết định chủ động tiến công trước, mặc dầu ta ít hơn địch rất nhiều. Mục tiêu nhằm cánh quân Mã Kỳ ở Thanh Oai, tương đối yếu, sơ hở nhất. Bằng hành động khéo léo, ta đã dụ địch tới cầu Ba La (gần thị xã Hà Đông) nơi địa hình lầy lội, rồi phục binh đổ ra tiêu diệt gần toàn bộ. Ta định nhân cơ hội đó đánh úp sau lưng cánh quân Phương Chính (ở Sa Đôi), nhưng bọn này đã bỏ chạy cụm về gần cánh quản Vương Thông (ở Cổ Sở).


Ta lui về Cao Bộ (Chương Mỹ - Hà Tây), hợp thành với cánh quân của Đinh Lễ, Lê Xí từ Thanh Đàm kéo xuống.

Trong khi đó, Vương Thông cũng tiến xuống Ninh Kiều chuẩn bị tiến công. Kế hoạch của chúng là chia quân từ trước mặt, sau lưng rồi theo một tín hiệu thống nhất dồn ta lại bao vây tiêu diệt. Nắm được kế hoạch đó, ta tương kế tựu kế cho quân mai phục sẵn ở Chúc Động (hay Chúc Sơn, Chương Mỹ) và Tốt Động (hay Tụy Động, Chương Mỹ), nơi địch tất sẽ đi qua.


Diễn biến trận đánh đã đúng như dự kiến của ta: pháo hiệu do ta phát lên đã lừa địch vào nơi mai phục và bị ta giết hại vô kể (diệt trên 5 vạn quân địch).

Trận phản công lớn đầu tiên của địch đã thất bại nặng nề.

Lê Lợi quyết định đưa đại quân ra Bắc.

Về phía địch, sau những thất bại liên tiếp, chúng phải co vào các thành cố thủ và xin triều Minh tăng viện.

Ta chủ trương vây thành, cắt lương, cô lập địch và tiến hành địch vận.

Riêng Đông Quan, để uy hiếp mạnh Vương Thông, ta đã diệt hết các dinh trại ở vòng ngoài và tiến vào bao vây sát tận chân thành. Vương Thông rất lo sợ, có lúc đã dao động muốn hàng, nhưng với bản chất của kẻ đi xâm lược, hắn một mặt giả xin hòa một mặt vẫn bí mật xin viện binh. Cuộc giảng hòa giả dối đó tất nhiên không thành.


Ta vẫn tiếp tục bao vây chặt và kiên trì dụ hàng. Một số thành địch lần lượt xin hàng, như Điều Diêu (Gia Lâm), Thị Cầu, Bình Than, Diễn Châu, Nghệ An. Thời gian này địch ở Đông Quan có một vài cuộc xuất kích bất ngờ đánh úp ta, nhưng đều bị đánh lui.


Đi đôi với công tác bao vây địch vận, Lê Lợi - Nguyễn Trãi bắt tay vào xây dựng lại đất nước trên quy mô lớn, quy định các khu vực hành chính, tổ chức chính quyền từ cơ sở đến trung ương, kêu gọi nhân tài, tổ chức thi cử, tăng cường lực lượng quân sự.


Gặp nhiều khó khăn lớn (nhân dân chống đôi, nội bộ chia rẽ, Mông Cổ uy hiếp...) nhà Minh phải mất gần 8 tháng mới điều được quân tăng viện cho Vương Thông. Lực lượng gồm 15 vạn do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy.


Từ lâu đã phán đoán được tình thế, ta chuẩn bị sẵn sàng đánh viện. Một số thành nằm trên các trục đường tiến quân của giặc đã bị hạ hoặc bằng sức mạnh, hoặc bằng địch vận (Tam Giang, Khâu On). Riêng thành Xương Giang, địch ngoan cố chống cự, ta phải mất sáu tháng mới hạ xong vào ngày 8 tháng 9, tức mười ngày trước khi viện binh địch vượt biên giới.


Trong tình hình vừa có địch còn ở trong nước, vừa có địch từ bên ngoài tới, các lãnh tụ Lam Sơn vẫn chủ trương từ trước khi viện binh giặc tới, là: "Đánh thành là hạ sách, ta đánh thành lâu hàng tháng hàng năm không hạ được, quân ta sức mỏi mà khí nhụt, nếu viện binh giặc đến thì trước mặt, sau lưng đều có giặc, đó là con đường nguy. Không bằng nuôi dài, chứa sức để chờ viện, viện diệt thì thành phải hàng, thế là làm một mà được hai, kế vẹn toàn đấy".


Đầu tháng 9, viện binh địch đã sẵn sàng vượt biên giới; 10 vạn quân do Liễu Tháng chỉ huy sẽ tiến vào Lạng Sơn, 5 vạn do Mộc Thạnh chỉ huy sẽ tiến vào Hà Giang, cả hai cánh quân đều nhằm hướng chung là Đông Quan.


Trong nước ta, chúng còn khoảng 10 vạn đóng trong 4 thành trơ trọi (5 vạn ở Đông Quan, 5 vạn ở Chí Linh, Cổ Lộng (Nam Định) và Tây Đô).

Quân chủ lực của ta có khoảng 10 vạn.

Ta quyết định: dùng 1 vạn quân chặn Mộc Thạnh ở phía Lê Hoa (Hà Giang), diệt xong Liễu Thăng sẽ chuyển sang đánh Mộc Thạnh.

Bố trí lực lượng như sau:

- 1 vạn quân lên mai phục ở Chi Lăng, tiếp ứng cho cánh này có 2 vạn quân nữa sẽ tiến lên sau.

- Một bộ phận tiếp tục vây ở các thành.

- Đại quân thủy bộ tập trung ở mạn sông Thương.

Ngày 18 tháng 9 (8-10-1427), quân Liễu Thăng vượt biên giới. Ta vừa chặn vừa lui dần từng bước, dụ địch về phía Chi Lăng.

Ngày 20, Liễu Thăng rất chủ quan, dẫn đầu 1 vạn quân tiên phong tiến lên trước, sa vào trận địa mai phục bị ta tiêu diệt hoàn toàn. Liễu Thăng bỏ mạng bên sườn núi Mã Yên.

Địch còn đông vẫn tiếp tục đánh mở đường tiến lên. Đạo quân tiếp ứng của ta cũng vừa tới kịp, cùng phối hợp đánh thêm một số trận nữa trong ngày 25, 28 tiêu diệt được thêm 2 vạn địch.

Địch còn khoảng 8 vạn tên do Thôi Tụ, Hoàng Phúc chỉ huy tới được Xương Giang thì thấy thành đã mất, phải đóng quân giữa đồng, đắp lũy chống giữ và tìm cách liên lạc với Đông Đô, Chí Linh.

Sau một thời gian bao vây, hãm địch vào một tình trạng hết sức khốn đốn, ngày 15 tháng 10, ta bắt đầu công kích. Địch chống cự tuyệt vọng và đầu hàng (5 vạn bị giết, 3 vạn bị bắt sống trong đó có cả Thôi Tụ, Hoàng Phúc).


Chỉ trong 27 ngày, ta đã tiêu diệt toàn bộ 10 vạn viện binh địch.

Phía Hà Giang ta dùng cách báo cho Mộc Thạnh biết tin thất trận làm chúng phải rút lui và nhân cơ hội đó đánh một số trận ở Đan Xá, Lãnh Câu, tiêu diệt được một số lớn địch.
   
Viện binh đã bị tiêu diệt, liêu chống lại chỉ là vô ích, không còn cách nào khác, Vương Thông cuối cùng đã phải đầu hàng.

Cuối năm 1427, 86.000 tướng sĩ Minh theo đường thủy rút ra khỏi nước ta, được ta cấp ngựa, thuyền và lương thực đầy đủ.

Trước những thất bại hết sức nặng nề, triều Minh thực tế cũng không còn khả năng tiếp tục chiến tranh, đã buộc phải xuống chiếu bãi binh. Nhưng chiếu chưa tới thì bại quân của Vương Thông đã về tới Nam Ninh.


Ta cũng mềm dẻo, cử sứ bộ sang "cầu phong", tỏ ý thần phục. Trong số phẩm vật có cả chiếc song hổ phù, các ấn tín của Liễu Thăng và một số tướng khác, danh sách của hơn 2 vạn 7 ngàn tù binh.

Mang danh nghĩa "cầu phong" để giữ thể diện cho "thiên triều" nhưng thực ra đó là những sứ giả của một nước chiến thắng.

Chiến tranh giải phóng của dân tộc ta đã hoàn toàn thắng lợi. Từ trận Lạc Thủy đầu tiên năm 1418, đến chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang năm 1427, toàn dân ta đã trải qua mười năm đấu tranh cực kỳ anh dũng, viết nên những trang sử chói lọi vinh quang.


Lê Lợi công bố bài Bình Ngô đại cáo kết thúc một thời kỳ đấu tranh quyết liệt và đánh dấu mở đầu một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử dân tộc ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:35:17 am
V. CHIẾN THẮNG OANH LIỆT CỦA NGUYỄN TÂY SƠN TIÊU DIỆT QUÂN XÂM LƯỢC NHÀ THANH (1789)

Sau khi đánh đổ các tập đoàn phong kiến Nguyễn, Trịnh thống trị ở hai miền Nam Bắc, giành được chính quyền trong cả nước, thống nhất nước nhà, nghĩa quân Tây Sơn đã phải đương đầu ngay với một kẻ thù mới, khá hung hãn, xảo trá, đó là quân xâm lược Mãn Thanh.


1. Âm mưu xâm lược của nhà Thanh

Sẵn có dã tâm từ trước, nay lại được cớ bọn vua tôi bán nước Lê Chiêu Thống sang cầu cứu, vua Càn Long nhà Thanh vội bắt tay vào việc chuẩn bị xâm lược nước ta.

Hai mươi vạn quân của bốn tỉnh: Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu được đặt dưới quyền chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng. Ngoài ra còn có một số lớn phu đi phục dịch, 70 kho quân lương được chuẩn bị ở các địa điểm xuất phát và sẽ rải ra trên các trục đường tiến quân.


Đồng thời, chúng còn xúi giục nhân dân ta nổi lên chống lại Tây Sơn và động viên bọn quan lại cũ của nhà Lê mộ quân "cần vương" hưởng ứng hiệp lực với quân Thanh.

Chiến lược của Càn Long rất quỷ quyệt, hắn muốn mượn tay Lê Chiêu Thống để đánh Tây Sơn, quân của chúng chỉ hỗ trợ ở phía sau, như vậy là "không khó nhọc mà thành công" và "đó là thượng sách".


2. Tình hình ta

Trước khi quân Thanh kéo sang xâm lược, chính quyền cả nước đã vào tay anh em Tây Sơn, những người lãnh đạo xuất sắc của cuộc khởi nghĩa nông dân to lớn nhất trong lịch sử phong kiến của dân tộc ta.


Quân đội Tây Sơn, con đẻ của phong trào nông dân, được quần chúng ủng hộ, trải qua đấu tranh đã sớm trưởng thành, có tinh thần chiến đấu cao, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật tốt. Trang bị so với đương thời chưa phải là tinh xảo, nhưng cũng đã có những cải tiến đáng kể, nhất là pháo binh và hạm thuyền. Tướng lĩnh gồm những người chỉ huy có tài, trong đó nổi bật lên Nguyễn Huệ, một thiên tài quân sự, một anh hùng dân tộc xuất thân từ người nông dân áo vải.


Tuy nhiên, tình hình lúc đó cũng có nhiều khó khăn. Trong Nam Bộ, Nguyễn Ánh đang âm mưu đánh chiếm lại Gia Định. Ngoài Bắc, bọn cận thần nhà Lê vẫn xúi giục nhân dân, chiêu mộ quân "cần vương" nổi dậy ở một số nơi. Dân chúng Bắc Hà bị địch lừa bịp chưa phải ngả hết về với Tây Sơn. Tình hình này đã có những chi phối nhất định tới việc bố trí lực lượng, tới ý định tác chiến của Tây Sơn trước và trong khi quân Thanh kéo vào xâm lược nước ta.


3. Quân Thanh kéo sang xâm lược. Quân ta tạm thời rút lui bào toàn lực lượng

Ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (25-11-1788), quân Thanh chia làm ba đạo, theo hướng Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, kéo vào nước ta, nhằm hướng chung là Thăng Long. Đạo quân Tôn Sĩ Nghị tiến theo đường Lạng Sơn là quân chủ lực.


Về phía ta, lúc này ngoài Bắc chỉ có 1 vạn quân do Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm, được Nguyễn Huệ trao quyền thống lĩnh và tự liệu đối phó với địch lúc ban đầu. Còn Nguyễn Huệ và đại quân ở một vị trí trung tâm là Phú Xuân (Huế), tích cực chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng đánh địch ở hướng nào nguy hại nhất.


Với số ít quân trong tay, địch lại ưu thế gấp bội đang hùng hổ tiến đánh, dân chúng phần chưa hiểu Tây Sơn, phần bị địch mê hoặc, lũng đoạn nên chưa thật ngả về Tây Sơn, các tưởng lĩnh Bắc Hà cho rằng giữ hay đánh đều không được và chủ trương lui quân bảo toàn lực lượng, quân thủy về Biện Sơn, quân bộ về Tam Điệp, thành thế nương tựa giữ lấy nơi hiểm yếu. Một mặt báo cáo về Nguyễn Huệ điều động đại quân, tùy theo tình hình mà quyết chiến.


Tinh thần kiên quyết nhưng lại rất linh hoạt mềm dẻo, không sợ địch nhưng lại không chủ quan của Tây Sơn đã biểu lộ rất rõ trong lời nói của Ngô Thì Nhậm sau đây:

"... Tướng giỏi đời xưa, lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ. Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi, cũng như ngọc bích của nước Tần đời xưa, vẫn nguyên lành chứ có mất gì".


Chủ trương rất sáng suốt trên đã tránh cho quân đội Tây Sơn khỏi giao chiến trong những điều kiện bất lợi, bảo toàn lực lượng, gây thêm chủ quan cho địch, giữ được địa hình có lợi. Tóm lại là đã tạo nên một số điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công sau này. Chính Nguyễn Huệ, khi tới Tam Điệp đã xác nhận chủ trương này là đúng.


Trong khi thực hiện một số biện pháp để nghi binh và ngăn chặn địch, quân ta bí mật lui quân về Biện Sơn và Tam Điệp. Ngày 17 tháng 12 năm 1788 tới nơi. Cũng cùng ngày đó, quân Thanh lục tục kéo vào Thăng Long.


Đại quân Lưỡng Quảng đóng tại những khu bãi rộng hai bên bờ sông Hồng, giữa có bắc cầu phao. Quân của Sầm Nghi Đống đóng tại khu vực Khương Thượng. Đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long. Quân "cần vương" của Lê Chiêu Thống đóng tại nội thành. Đạo quân Vân Nam đang trên đường tiến về đồn trú tại Sơn Tây.


Chiếm được Bắc Hà một cách dễ dàng, Tôn Sĩ Nghị hí hửng chủ quan, cho quân dừng lại ở Thăng Long nghỉ ngơi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Bảy, 2023, 10:36:35 am
4. Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh

Hôm trước, được tin quân Thanh tiến vào Thăng Long thì ngày hôm sau (22-12-1788), đại quân Nguyễn Huệ đã lên đường ra Bắc.

Ngày 26 tháng 12 tới Nghệ An, Nguyễn Huệ cho dừng lại, mộ thêm quân. Với số quân mới mộ thêm, Tây Sơn đã có được 10 vạn người và một đội tượng binh lớn gồm vài trăm voi chiến.

Sau khi phiên chế xong đội ngũ, tổ chức duyệt binh, động viên tướng sĩ, gửi thư cho Tôn Sĩ Nghị xin "bãi binh" để khiến giặc càng thêm kiêu ngạo, chủ quan, Nguyễn Huệ cho tiếp tục hành quân, 15 tháng 1 năm 1789 tới Tam Điệp.


Tới đây, ta dừng lại chuẩn bị chiến đấu thêm. Đồng thời truyền hịch kể tội quân Thanh, động viên nhân dân Bắc Hà đoàn kết, quyết tâm diệt địch.

Trong khi ta đang tích cực chuẩn bị phản công thì quân Thanh trái lại, rất lơi lỏng, chủ quan, "mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ, đi lại lang thang, không có kỷ luật gì". Nhân dân một cổ đôi tròng, hết quân Thanh cướp bóc, hà hiếp, lại Lê Chiêu Thống khủng bố, trả thù, đời sống vô cùng cực khổ nên hết sức căm ghét chúng và mong đợi Tây Sơn. Một số quan lại nhà Lê, lo lắng trước tình hình, đề nghị quân Thanh mau sớm đánh, nhưng Tôn Sĩ Nghị vẫn huênh hoang đắc chí: "giặc gầy mà ta đang béo, hãy để chúng tự đến nộp thịt". Và hắn quyết định đợi sang xuân, mồng 6 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), sẽ bắt đầu xuất quân.


Tuy nhiên, để để phòng, hắn cũng chia quân đóng giữ một số đồn ở phía nam Thăng Long như Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì), Hạ Hồi (huyện Thường Tín), Nhật Tảo (huyện Duy Tiên), v.v... một bộ phận quân Chiêu Thống giữ đồn Gián Khẩu làm tiền tiêu án ngữ đường tiến ra Thăng Long.


Nhìn chung đến lúc này, tình hình chính trị đã có lợi cho Tây Sơn. Về quân sự, địch tuy có để phòng nhưng cũng còn rất nhiều sơ hở chủ quan, đang nghỉ ngơi đợi tết. Đối với Tây Sơn, đó là một thời cơ rất tốt để tiến công tiêu diệt địch, nhưng thời cơ này cũng chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn, vì ra Giêng địch sẽ tiến công.


Với quyết tâm rất cao, mau chóng nắm lấy thời cơ có lợi, Nguyễn Huệ quyết định mở cuộc tiến công chớp nhoáng nhằm tiêu diệt toàn bộ quân Thanh.


Kế hoạch như sau:

- Đạo quân thứ nhất (chủ lực), do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy có nhiệm vụ tiến công vào hệ thống phòng ngự chính của địch trên đường phía nam kinh thành Thăng Long.

- Đạo quân thứ hai do Đô đốc Bảo chỉ huy có nhiệm vụ theo đường Sơn Minh (huyện ửng Hòa) ra làng Đại Áng đánh vào sườn tây nam đồn Ngọc Hồi, vị trí quan trọng nhất của địch, phối hợp với đạo quân chủ lực.

- Đạo quân thứ ba do Đô đốc Long chỉ huy theo đường huyện Chương Đức (Chương Mỹ hiện nay) thật nhanh chóng vu hồi vào sườn địch, tiến công vào quân Sầm Nghi Đống, sau đó phát triển vào Thăng Long.

- Đạo quân thứ tư đi đường thủy, do Đô đốc Tuyết chỉ huy tiến vào sông Lục Đầu, tiêu diệt quân cần vương của nhà Lê ở Hải Dương, làm tiếp ứng cho các đạo quân khác tiến công dịch ở khu vực Thăng Long.

- Đạo quân thứ năm do Đô đốc Lộc chỉ huy cũng tiến theo đường trên, nhưng đi tới Lục Đầu sẽ đi gấp lên phía Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế chặn đường rút chạy của địch.

Nguyễn Huệ quy định 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (25-1-1789) là ngày xuất quân và tuyên bố trước quân sĩ là sẽ ăn tết Khai hạ ở Thăng Long vào ngày mồng 7 tháng Giêng.


Kế hoạch trên đã thể hiện lối đánh mạnh dạn nhưng chắc thắng của Nguyễn Huệ, dựa trên cơ sở quyết tâm cao, phát huy được khí thế hăng hái của nhúng người nông dân được phát động triệt để tận dụng được yếu tố bí mật bất ngờ, lợi dụng được những sơ hở của địch. Nó còn thể hiện được lối đánh từ nhiều hướng bao vây vu hồi, kiên quyết tiêu diệt gọn địch.


Ngày 30 tháng Chạp, quân chủ lực của Nguyễn Huệ vượt sông Gián Thủy, hạ đồn Gián Khẩu và tiếp tục tiến lên hạ một số vị trí khác. Ta đánh nhanh diệt gọn và êm, địch không biết tin tức gì về việc tiến quân của Tây Sơn.


Vào đêm 3 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (28-1-1789), ta vây chặt Hạ Hồi, hư trương thanh thế, uy hiếp địch và bắt chúng phải hàng.

Ngày 4 (29-1-1789), ta tiếp cận Ngọc Hồi chuẩn bị tiến công. Mất đồn Hạ Hồi, Tôn Sĩ Nghị mới biết, hắn rất hoảng sợ nhưng đang lo đối phó ở mặt nam thì ngay đêm đó (29-1), quân của Đô đốc Long đã đánh úp Khương Thượng tiêu diệt đạo quân Sầm Nghi Đông và nhanh chóng đánh vào Thăng Long, đồng thời thọc vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị.


Nghị vội vàng qua cầu phao, nhằm hướng bắc chạy trốn. "Tướng sĩ thấy vậy, tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn ngã cả xuống sông chết đến vài vạn người".

Sáng sớm mồng 6 (31-1), trừ một bộ phận tiếp tục đuổi địch, còn các đạo quân khác đều được nghỉ ngơi ăn tết Khai hạ (7 tháng Giêng), đúng như lời Nguyễn Huệ đã hứa trước quân sĩ ở Tam Điệp.

Một số lớn địch còn lại, hoặc tan tác dọc đường sau ra thú tội vài vạn người, hoặc chạy tới vùng Bắc Giang thì bị quân Đô đôc Lộc đón đánh tiêu diệt hết. Chỉ còn một số rất ít chạy thoát, trong đó có cả Tôn Sĩ Nghị.

Đạo quân Vân Quý ở Sơn Tây nghe tin thất trận cũng vội bỏ chạy từ ngày mồng 5.

Thế là không đầy một tuần lễ, hơn 20 vạn quân Thanh đã bị quét sạch khỏi đất nước ta, đại bộ phận bị tiêu diệt.

Với quyết tâm sắt đá và bước chân thần tốc của người lính Tây Sơn bôn tập nhanh chóng trên một chặng đường xa, nắm thời cơ có lợi nhất để bất ngờ bao vây tiến công địch, đánh nhanh diệt gọn, cuộc phản công chớp nhoáng của Nguyễn Huệ, nói một cách khái quát, có thể xem như một cuộc "tập kích lớn về chiến lược", đã thành công hoàn toàn.


Nền độc lập của dân tộc ta được giữ vững. Từ sau trận thua năm 1789 đến trước khi đế quốc Pháp xâm lược nước ta, phong kiến phương Bắc không còn dám tiến hành xâm lược nước ta nữa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:02:37 am
Phần thứ hai
MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VỀ TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TA


Những cuộc chiến tranh trên đây tuy diễn ra trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng đểu thể hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tập trung trên ba mặt chủ yếu sau đây:


I. TINH THẦN YÊU NƯỚC NỒNG NÀN TỰ LẬP, TỰ CƯỜNG, QUẬT CƯỜNG BẤT KHUẤT

Trong bản Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam tháng 2 năm 1951, Hồ Chủ tịch đã nói:

"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xãm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.

Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dán ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v... Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng"1 (Hồ Chí Minh - Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1970, tr. 239).


Toàn bộ lịch sử của dân tộc ta đã chứng minh chân lý sáng ngời đó, 40 thế kỷ qua là 40 thế kỷ đấu tranh kiên cường để dựng nước và giữ nước.

Mỗi trang sử của ta đều nói lên ý chí tự lập tự cường, kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn sâu sắc của mỗi một người dân Việt Nam.


1. Tinh thần yêu nước đó do đâu mà có?

Từ bao thế kỷ nay, để sống còn và phát triển, dân tộc ta đã kiên cường đấu tranh với thiên nhiên, với kẻ thù xâm lược, đã dựng nên một nước riêng biệt, giàu đẹp, có nền "văn hóa khá cao", có cương giới rõ ràng. Chính do gắn bó với đất nước quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, nơi mà đôi tay, bộ óc, trái tim đã tạo nền những thành quả lao động giàu đẹp và một nền văn hóa độc đáo nên nhân dân ta rất tha thiết yêu quê hương đất nước của mình, và đã không tiếc công sức, xương máu để xây dựng đất nước ta thành một quốc gia riêng và dùng mọi sức mạnh để bảo vệ nó.


Tình cảm và ý thức đó chính là lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc của dân tộc Việt Nam.


2. Tinh thần yêu nước nồng nàn đó gắn liền với tinh thần yêu tự do, độc lập

Tinh thần yêu nước của dân tộc ta gắn liền với tinh thần yêu tự do, độc lập, không chịu làm nô lệ, không chịu mất nước, không chịu bị áp bức bóc lột.

Tinh thần yêu nước đó là một tinh thần yêu nước rất cao, có một nội dung phong phú. Do đó mà dân tộc ta luôn luôn phát triển mạnh mẽ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:04:31 am
3. Yêu nước là phải tự lập, tự cường, phải kiên cường, bất khuất

a) Trong mấy nghìn năm trở lại đây, sự phát triển của lịch sử đã đặt nước ta, một nước đất không rộng, người không đông trong điều kiện thường xuyên bị các thế lực phong kiến lớn mạnh ở bên ngoài nhòm ngó. Cuộc sống độc lập tự chủ thường xuyên bị uy hiếp. Chính trong hoàn cảnh đó, lòng yêu nước rất cao đã làm cho dân tộc ta sớm có ý thức mạnh mẽ về quyền làm chủ đất nước, quyền làm chủ vận mệnh của mình, dó là tinh thần tụ lực, tự cường, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất rất cao của dân tộc ta.


Tinh thần này biểu lộ rất rõ trong bốn câu thơ của Lý Thường Kiệt:
   "Nam quốc sơn hà Nam đế cư
   Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
   Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
   Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ".


Dịch: "Nước Nam có vua nước Nam ở đó,
   Bờ cõi đã được ghi trên sách trời
   Cớ sao quân giặc còn dám lại xâm phạm
   Chúng bay sẽ bị đánh bại cho mà coi".


Trong đoạn mở đầu Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

   "Như nước Đại Việt, đất văn hiến xưa.
   Cõi bờ sông núi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác.
   Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, dựng nền độc lập,
   Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, đều chủ một phương.
   Tuy cường nhược có lúc khác nhau,
   Mà hào kiệt bao giờ cũng có...".


Trong lời tuyên bố của Nguyên Huệ, trước lúc xuất quân đại phá quân Thanh:

"... Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam phương Bắc chia nhau mà cai trị...".

Có tinh thần tự lập tự cường rất cao như vậy nên dân tộc ta tuy thường xuyên bị các nước lớn mạnh uy hiếp, xâm lược, nhưng không hề bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển được cho tới nay. Không những thế, còn hùng mạnh hơn bao giờ hết, như ngày nay. Mặc dầu trong lịch sử có những thời kỳ rất dài (trong hơn một nghìn năm), bị nước ngoài đặt ách thống trị nhưng rồi dân tộc ta vẫn quật khởi vùng lên, liên tục đấu tranh kiên quyết, đã giành được nền độc lập và giữ vững nó trong nhiều thế kỷ.


Đúng như lời đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét:

"... Nhân dân ta vốn có tinh thần tự lập, tự cường rất cao. Tinh thần ấy được giữ gìn và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử. Nó đã trở thành một truyền thống sâu sắc, một sức mạnh ưật chất kỳ diệu của dân tộc ta...".


b) Cầm vũ khí đấu tranh là con đường sống còn duy nhất của dân tộc ta.

Từ xưa đến nay, dân tộc ta luôn luôn bị những nước phong kiến và đế quốc lớn mạnh gấp rất nhiều lần uy hiếp và xâm lược, mưu toan vứt bỏ quyền làm chủ đất nước, thủ tiêu nền độc lập dân tộc, mưu toan đồng hóa dân tộc, làm tiêu tan tinh thần yêu nước, tình cảm dân tộc, mưu toan cướp bóc mọi của cải vật chất, chiếm đoạt những giá trị tinh thần của nhân dân ta.


Kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh đã làm cho tổ tiên ta nhận thức một cách rất sâu sắc rằng để sống còn và phát triển, muốn thoát khỏi cuộc sống nô lệ ngựa trâu cho cả nước, dân tộc ta không còn con đường nào khác là phải kiên cường bất khuất, phải cầm vũ khí vùng lên đấu tranh một mất một còn với kẻ thù xâm lược.


Đó là một vấn đề rất lớn, có quan hệ mất còn đối với vận mệnh dân tộc, mà Nguyễn Trãi, trải qua lịch sử, đã tổng kết trong hai câu mở đầu của Binh Ngô đại cáo:

   "Việc nhăn nghĩa cốt ở yên dân;
   Quân điều phạt trước là khử bạo...".

Muốn "yên dân" thì trước hết phải dùng "quân điếu phạt" để "khử bạo". Ngoài ra không còn con đường nào khác. Tất cả những hành vi đầu hàng, thỏa hiệp, tin tưởng ở sự "vỗ về của thượng quốc" cầu xin ở kẻ thù, v.v... đều là phản bội, là ảo tường, đều dẫn đến mất nước.


Trong lời kêu gọi tướng sĩ trước khi xuất quân đại phá quán Thanh, Nguyễn Huệ cũng đã nói:

"... Từ đời nhà Hán đến nay, chúng (tức phong kiến phương Bắc) đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ; các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc... Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy, đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước...".


Đó là kinh nghiệm, là truyền thống, là sự "lợi hại, được, mất" của dân tộc ta mà thực tiễn lịch sử đã chứng minh rất rõ rệt.

Sớm hiểu như vậy nên dân tộc ta rất kiên cường anh dũng, đã bao lần đúng lên cầm vũ khí kiên quyết đấu tranh đánh bại mọi kẻ thù đến xâm lược hoặc đang thống trị, vô luận đó là kẻ thù nào, dù là phong kiến phương Bắc, là đế quốc Mông Cổ khổng lồ và ngày nay là các đế quốc sừng sỏ trên thế giới (Pháp, Mỹ...).


Khi cầm vũ khí đứng dậy diệt giặc, nhân dân ta hiểu rằng chiến tranh đặt vấn đề mất, còn, chết, sống trước mọi người và trong chiến tranh sẽ không tránh khỏi những tổn thất nhất định, những hy sinh cần thiết. Nhưng vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lập, tự cường rất cao và ý chí kiên cường bất khuất lại trải qua thực tế đấu tranh của bao thế kỷ, nhân dân ta đã nhận thức sâu sắc rằng: trước quân thù hung bạo, trước nguy cơ mất nước thì phải đặt sự mất, còn của đất nước, của cả dân tộc lên trên hết, phải chiến đấu vì sự sống còn của cả dân tộc, trong đó có sự sống còn của chính bản thân, của gia đình mỗi người dân. Cho nên nhân dân ta dám chịu mọi hy sinh, mọi tổn thất để giành lấy bằng được sự sống còn của cả dân tộc. Tinh thần dám hy sinh, dám xả thân vì nước, thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ, "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" đã là động cơ thôi thúc mỗi một người dân ta trải qua bao thế kỷ cầm vũ khí xông lên kiên quyết chiến đấu chống quân thù.


Nhưng không những chỉ có quyết đánh, mà muốn giành và giữ vững độc lập, dân tộc ta còn phải quyết thắng một cách hết sức vẻ vang.

Trong suốt cả quá trình lịch sử, "nền độc lập của nước ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược rất mạnh..."1 (Lê Duẩn - Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 12, 13). Các chiến thắng oanh liệt trên sông Cầu đời Lý, ở Vạn Kiếp, Bạch Đằng đời Trần, ở Chi Lăng, Xương Giang đời Lê, ở Ngọc Hồi, Đống Đa đời Tây Sơn đều bắt nguồn từ tinh thần anh hùng bất khuất của dân tộc ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:05:43 am
4. Trong lịch sử phong kiến của dân tộc ta thì nông dân là những người luôn luôn nêu cao tinh thần yêu nước, tự lập tự cường, kiên cường bất khuất

Từ ngày xưa, nông dân lao động là lực lượng chủ yếu xây dựng nên đất nước, đồng thời cũng là những người bị áp bức bóc lột nhiều nhất. Một mặt họ yêu quý tất cả những gì họ đã làm nên, mặt khác họ hiểu rằng nếu nước mất thì nhà tan, nếu bị quân thù đến thống trị thì một cổ đôi tròng, họ là những người bị áp bức, bóc lột cùng cực nhất. Cho nên họ coi sự nghiệp bảo vệ đất nước là sự nghiệp của chính mình, chứ không phải là sự nghiệp riêng của giai cấp quý tộc, của những nhà cầm quyến phong kiến. Họ đánh giặc là để bảo vệ sự sống còn của cả dân tộc - trong đó có sự sống còn của chính bản thân, để bảo vệ những thành quả lao động mà họ đã cần cù vất vả làm nên.


Anh hùng, bất khuất trong lao động sản xuất, nông dân ta cũng rất anh hùng, bất khuất trong đấu tranh giai cấp và trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Họ đã từng đấu tranh chống bọn phong kiến áp bức bóc lột, đã từng lật đổ các triều đại thối nát. Và trước giậc ngoại xâm, họ đã nêu cao tinh thần bất khuất kiên cường xả thân vì nước (tự đốt nhà cửa, đồng ruộng, hy sinh cả tính mệnh...) chịu đựng mọi hy sinh lớn lao nhất để đánh bại kẻ thù. Họ không những chỉ giúp đỡ, phục vụ quân đội đánh giặc mà còn tự tay cầm vũ khí đánh giặc với trăm phương nghìn kế của mình.


"... Đặc biệt là nông dân ta trước đây đã từng nêu cao tinh thần quật khởi trong các cuộc khởi nghĩa lật đổ các triều đại phong kiến trong nước cùng như trong kháng chiến giữ nước chống lại nạn ngoại xâm"1 (Võ Nguyên Giáp - Nắm vững đường lối quân sự của Đảng, tiến lên giành những thắng lợi mới. (Từ sau sẽ gọi tắt là đường lối quân sự của Đảng)).


Nhưng trước đây, nông dân chưa có ý thức đầy đủ về đấu tranh giai cấp nên trong khi đứng lên đánh đổ phong kiến họ cũng chưa hiểu là phải xóa bỏ chế độ phong kiến, họ lật đổ triều đại phong kiến này rồi lại thay thế bằng một triều đại phong kiến khác. Và tinh thần dân tộc của nông dân không phải lúc nào cũng được phát huy đầy đủ, cũng có lúc nó bị lu mờ. Chỉ đến ngày nay, có chủ nghĩa Mác - Lênin, có giai cấp công nhân, có Đảng lãnh đạo, giai cấp nông dần mới có thể phát huy được đầy đủ tinh thần và sức mạnh to lớn của mình trong đấu tranh giai cấp và đấu tranh giải phóng dân tộc.


5. Dân tộc anh hùng và anh hùng dân tộc

Những trang sử vô cùng vẻ vang của ta đã nói lên: dân tộc ta rất anh hùng, nhân dân ta rất anh hùng. Không có một nhân dân anh hùng, uy vũ không thể khuất phục, khó khăn không làm nản chí, dám hy sinh tất cả tính mệnh, tài sản... để chống giặc, thì không sao có thể tạo nên được một sức mạnh vô địch để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh, không sao có được những chiến công hết sức oanh liệt, những sự tích thần kỳ.


Không có một nhân dân anh hùng như thế thì không sao có được những anh hùng kiệt xuất mà đến nay sử sách vẫn lưu danh.

Hai Bà Trưng, Bà Triệu phá bỏ những ràng buộc của lễ giáo đứng ra cầm quân đánh giặc, cứu nước đã tiêu biểu cho truyền thống của phụ nữ nước ta là "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh".

Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ, trước sức mạnh như vũ bão của quần Nguyên, đã không hề khiếp nhược, luôn luôn nêu cao quyết tâm kháng chiến. Trần Bình Trọng thà chết không hàng giặc. Lê Lợi, Nguyễn Trãi linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã trải qua bao khó khăn nguy hiểm, anh dũng chiến đấu, đưa cuộc chiến tranh giải phóng tới hoàn toàn thắng lợi. Nguyễn Huệ, người anh hùng nông dân áo vải, đã đánh đổ bọn cầm quyền phong kiến trong nước, đánh bại cuộc xâm lược của nhà Thanh, dựng nên những võ công vô cùng hiển hách, v.v... Ngoài ra còn biết bao những anh hùng khác tiêu biểu một cách rực rỡ cho chí khí anh hùng bất khuất của cả dân tộc ta.


Chúng ta hiểu rõ: quyết định vận mệnh dân tộc, làm nên lịch sử phải là cả một nhân dân anh hùng, một tập thể anh hùng, một dân tộc anh hùng. Đồng thời cũng phải ghi nhớ công lao của các anh hùng dân tộc. Họ trở thành anh hùng vì họ hy sinh phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì có dân ủng hộ, vì biết dựa vào dân và chính có nhân dân anh hùng họ mới làm nên được những sự nghiệp anh hùng.


Yêu nước nồng nàn, tự lực tự cường, kiên cường bất khuất là một truyền thống lâu đời hêt sức tốt đẹp và quý báu của dân tộc ta.

Đứng lên cầm vũ khí kiên quyết đánh đến cùng, chống mọi kẻ thù là con đường sống còn duy nhất và đúng đắn của dân tộc ta.

Chúng ta vô cùng tự hào và rất trân trọng truyền thống đó, kinh nghiệm đó.

Ngày nay, có chủ nghĩa Mác - Lênin, có Đảng lãnh đạo, biết kết hợp chặt chẽ quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản chân chính, quán triệt quan điểm cách mạng bạo lực, có tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp vô sản, chúng ta lại càng có điều kiện phát huy tới trình độ cao truyền thống yêu nước nồng nàn, tự lực tự cường, kiên cường bất khuất. Chúng ta càng thấm thía sâu sắc rằng: Để chống bạo lực phản cách mạng thì không có con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để đánh bại kẻ thù dân tộc và giai cấp, giành lấy những quyến lợi sống còn cho nhân dân.


Từ thuở xưa, tổ tiên ta đã biết đấu tranh kiên quyết chống kẻ thù thì ngày nay có chủ nghĩa Mác - Lênin, có Đảng lãnh đạo, nhân dân ta nhất định lại càng vững chắc hơn, càng kiên quyết đánh đến cùng, quyết tâm đánh bại hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, quyết không có một chút ảo tưởng nào đối với chúng được.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:07:54 am
II. TINH THẦN ĐOÀN KẾT

Tại đại hội Thanh niên Quyết thắng toàn quân lần thứ nhất, đồng chí Lê Duẩn nói:

"Trong lịch sử nước ta, dân tộc ta phải luôn luôn đương đầu với giặc ngoại xâm, lực lượng quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc bao giờ cũng là khối đoàn kết chặt chẽ của cả dân tộc mà nông dân là lực lượng lớn nhất, mạnh nhất".


Ở nước ta, đoàn kết dân tộc, từ ngàn xưa đã trở thành một nhu cầu khách quan, một lẽ sống thiêng liêng của dân tộc.

Những câu: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng", "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao"... lưu truyền từ trước đến nay, đã phần nào nói lên tinh thần đoàn kết, sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc.


Nhận rõ điều đó, với mức độ khác nhau, tùy theo đặc điểm cụ thể của từng triều đại, tổ tiên ta đã biết tìm sức mạnh trong việc thắt chặt đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong nội bộ quân đội và nội bộ triều đình, đoàn kết giữa quân và dân, đoàn kết giữa các dân tộc ốùng sống trên một đất nước.


1. Đoàn kết với dân

a) Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng những nhà lãnh đạo thời xưa, do thực tiễn của lịch sử, đã ít nhiều nhận thức được sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân.

Trần Quốc Tuấn đã thấy được ý chí của dân chúng mới là thành trì kiên cố nhất để giữ nước (chúng chí thành thảnh).

Nguyễn Trãi, gần gũi với nhân dân hơn, đã hiểu: "Thường nghĩ những quy mô lớn lao lộng lẫy đều là do sức lao khổ của nhân dân" và "mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân".

Nhận thức được như thế, họ đã tìm ra con đường đúng đắn là phải dựa vào toàn dân, dựa vào sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc thì mới có lực lượng để chiến thắng quân thù lớn mạnh, hung bạo.

Đi ngược lại con đường đó là thất bại. Cuộc kháng chiến chống quân Minh do nhà Hồ lãnh đạo là một dẫn chứng rất điển hình. Đúng như lời của Nguyễn Trãi, trong bài thơ "Đóng cửa bể" (Quan hải), đã phê phán rất sâu sắc những sai lầm của Hồ Quý Ly, chỉ biết dựa vào xích sắt, cọc gỗ, khóa cửa biển, mà không biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, chỉ biết cậy nơi hiểm yếu, thành cao, lũy dày, quân đông, binh khí tinh xảo... mà không biết chú trọng tới lòng người...

"Thung mộc trùng trùng hải lãng tiên.
   Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên.
   Phúc chu thủy tín dân do thủy,
   Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên..."
1 (Trong "Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi", Nxb Văn hóa, H. 1962, tr. 10).

Dịch:
   "Cọc cắm hết lớp này đến lớp khác trước sóng bể.
   Giăng dây sắt ngầm, khóa sông lại cũng uổng công thôi.
   Úp thuyền mới rõ sức dân mạnh như nước,
   Hiểm yếu không cậy được, không phải mệnh ở trời..."
.


b) Muốn dựa được vào dân, các nhà cầm quyền phong kiến cho rằng "đối với dân phải hết sức hòa", phải "lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ" (Nguyễn Trãi), "phải khoan sức cho dân, để làm cái kế rễ bền sâu gốc" và coi "đó là thượng sách để giữ nước" (Trần Quốc Tuấn).

Cho nên trong một chừng mực nào đó, các triều đại phong kiến đã có những quan tâm nhất định tới quyền lợi của dân, nhất là khi cần động viên, huy động lực lượng để chống ngoại xâm hoặc lật đổ kẻ thù đang thống trị.


Thời Lý, Trần đã có những biện pháp kinh tế nhằm phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, chú trọng mở mang đê điều, thủy lợi, giảm nhẹ hoặc miễn thuế cho dân những năm bị mất mùa; áp dụng chính sách "ngụ binh ư nông" nhằm bảo đảm vừa có lực lượng sản xuất vừa có lực lượng chiến đấu, giảm bớt được phần nào gánh nặng cho dân... Lê Lợi, Nguyễn Trãi chủ trương "vừa cày ruộng vừa đánh giặc". Nguyễn Huệ có chính sách "khuyên nông", v.v...


Về mặt chính trị, cũng phải có một số biện pháp nới rộng quyền hạn của nhân dân, như mở khoa thi để tuyển nhân tài - dần dần bỏ chế độ "con quan thì lại làm quan" - cất nhắc những người từ hàng ngũ gia nô lên làm những chức vụ quan trọng (như trường hợp đối với Yết Kiêu, Dã Tượng), mở hội nghị để hỏi ý dân (như hội nghị Diên Hồng), v.v...


Thực hiện những biện pháp trên thì trước hết và chủ yếu là vì quyền lợi của giai cấp phong kiến, của nhà nước phong kiến. Nhưng mặt khác, cũng làm cho việc làm ăn và đời sống của nhân dân ít nhiều được bảo đảm hơn. Do đó có tác dụng động viên nhân dân, củng cố được khối đoàn kết toàn dân, làm cho nước được giàu, dân được mạnh; có thế mới đủ sức để giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc.


c) Nhưng dưới thời phong kiến, nói "sức dân", "lòng dân" thì cũng vẫn chủ yếu là nói đến nông dân lao động, tức là những người nông dân tự do, nông nô, nô tì, v.v... lực lượng lớn nhất và mạnh nhất của dân tộc.

Cố nhiên, trong xã hội phong kiến, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ là mâu thuẫn đối kháng, đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được. Nhưng trước nguy cơ mất nước, khi cần tập trung lực lượng giải quyết mâu thuẫn dân tộc, nông dân vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước, nhận thức được kẻ thù chủ yếu, trước mắt là kẻ thù dân tộc và trong điều kiện giai cấp phong kiến trong nước biết dựa vào dân, có chú ý tới quyền lợi của nông dân đến chừng mực nào đó, thì nông dân vẫn kiên quyết đứng lên đánh bại kẻ thù đang thống trị hoặc xâm lược.


Sự thật lịch sử qua các triều đại đã chúng minh rõ ràng là: "... Nói phong trào dân tộc Việt Nam tức là nói phong trào nông dân Việt Nam. Ý thức dân tộc của nông dân đã rất mạnh ngay trong thời kỳ phong kiến nghìn năm trước đây do tình trạng bị mất nước tạo nên. Ý thức cách mạng của nông dân không phải chỉ là ý thức dân tộc mà còn là ý thức về quyền lợi giai cấp. Trong lịch sử chống ngoại xâm nghìn năm trước đây, dưới chế độ phong kiến, những khi có mâu thuẫn gay gắt về quyền lợi với phong kiến thì nông dân không theo phong kiến để chống ngoại xâm nữa. Do đó phong trào dân tộc sút kém. Nhưng khi quyền lợi của nông dân được chú ý đến thì nông dân tham gia tích cực và phong trào dân tộc mạnh. Ví dụ phong trào chống quân Nguyên dưới thời Trần Hưng Đạo, phong trào chống quân Minh do Lê Lợi cầm đầu đểu giành được thắng lợi to lớn là vì lãnh đạo các phong trào này, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi đều có chiếu cố đến quyền lợi của nông dân, mang lại quyền lợi cho nông dân chừng mực nào..."1 (Lê Duẩn - Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, H. 1965, tr. 69, 70).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:11:41 am
2. Chú trọng sự hòa thuận trong nội bộ triều đình

Tiêu biểu là thời Lý và thời Trần. Trước nguy cơ bị xâm lược, Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành đã biết gạt lợi ích riêng, thù riêng mà đoàn kết lại.

Giữa vua Trần và Trần Quốc Tuấn, vốn có mối hiềm riêng, hoặc giữa Trần Quang Khải và Trần Quốc Tuấn, có sự bất đồng, nhưng đều biết xem quyền lợi dân tộc làm trọng, đã vì nước mà đoàn kết, cùng nhau ra sức chống giặc.


Sự đoàn kết trong nội bộ triều đình đã được xem là một trong những nguyên nhân quan trọng quyết định thắng lợi của chiến tranh, thể hiện trong câu nói sau đây của Trần Quốc Tuấn: "Vua tôi cùng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu, nên giặc phải bó tay''1 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, Nxb Văn Sử Địa, H. 1958, tr. 98).


3. Đoàn kết trong quân đội

Ở nhiều triều đại khác nhau, nhưng các nhà cầm quân của ta đều cùng chung một điểm là hết sức lo tới sự hòa thuận, sự nhất trí trong nội bộ quân đội, giữa chỉ huy và binh sĩ, giữa binh sĩ với nhau...

Trần Quốc Tuấn: "Cốt dùng được binh phải đồng lòng như cha con một nhà thì mới có thể đánh được'.

Nguyễn Trãi, trong thư viết cho Vương Thông: ''Quân mạnh hay yếu không cứ ở nhiều. Nhà Hồ thì dối trời hại dân, mà tôi thì kính trời thuận dân, lẽ thuận nghịch không giống nhau là một. Quân của nhà Hồ trăm vạn người; trăm vạn lòng, mà quân của tôi bất quá vài mươi vạn, nhưng ai cũng một lòng, không giống nhau là hai...".

Hoặc trong Bình Ngô đại cáo, cụ viết:
   "Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương manh lệ;
   Thết quân rượu hòa nước, quân đội cha con một lòng"
.

Đến Nguyễn Huệ: "Quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông ", v.v...

Dưới thời phong kiến, có quan điểm như thế, thực khá tiến bộ và đáng khâm phục.

Để xây dựng mối quan hệ "phụ tử chi binh", sự đoàn kết nhất trí trong quân đội, các nhà cầm quân của ta đã một mặt chăm lo tới đời sống của quân sĩ "lo cái lo của quân sĩ, đau cái đau của quân sĩ" nên có tinh thần đồng cam cộng khổ, nhường cơm sẻ áo, cứu đỡ nhau trong lúc khó khăn nguy hiểm; mặt khác biết khêu gợi tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc, vừa nêu rõ sự nhất trí về quyền lợi, vừa lấy nghĩa lớn ra để kêu gọi, trên cơ sở đó mà động viên mọi người đoàn kết, chung sức diệt giặc (như trong Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Chiếu dụ hào kiệt của Lê Lợi).


4. Đoàn kết giữa quân và dân

Là một vấn đề cũng được coi trọng, thời Trần: "Các vương hầu và các tướng sĩ ai nấy phải cần giữ phép tắc, đi đến đâu không được quấy nhiễu dân".

Thời Lê chống Minh, cách đối xử với dân càng được quy định rõ ràng và tinh thần đoàn kết giữa quân và dân càng mật thiết. Quân ta tiến vào vùng địch còn chiếm đóng thì "Dân ta khô vì giặc đã lâu, phàm đến châu huyện nào, mảy may không được xâm phạm". Giải phóng một vùng nào, Lê Lợi đều ra lệnh: "...Quân sĩ không được đụng chạm tơ hào của dân chúng. Trâu, bò, thóc lúa nếu không phải là của tàng trữ của người Minh thì không được lấy". Ngược lại, những hình ảnh dân chúng đi theo nghĩa quân đông như đi chợ, giúp đỡ và cùng nghĩa quân vây thành, đánh giặc, v.v... cũng nói lên tình nghĩa của dân đối với quân. Thời Tây Sơn, cũng có nhiều sự việc thể hiện rất rõ tình đoàn kết giữa nhân dân và nghĩa quân.
   

5. Đoàn kết giữa các dân tộc anh em cùng chung một đất nước

Dưới thời phong kiến, cố nhiên không có sự bình đẳng giữa các dân tộc, nhưng đứng trước một kẻ thù chung, hung bạo, các dân tộc anh em luôn luôn biết đoàn kết lại để bảo vệ sự sống còn của mình. Những triều đại tiến bộ cũng biết chăm lo đến sự gắn bó mật thiết giữa các dân tộc nhằm mục đích đánh giặc giữ nước và cứu nước. Nhân dân các dân tộc Mường, Tày, Nùng, Thái, Chàm, Chân Lạp, Tây Nguyên... đã từng đóng góp công lao cực kỳ to lớn trong sự nghiệp chống Tống, Nguyên, Minh, Pháp, v.v... cùng với nhân dân thuộc dân tộc Việt (tức người Kinh) lập nên những chiến công lẫy lừng.


Tìm sức mạnh trong việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết của toàn dân tộc, đó là một truyền thống tốt đẹp, đồng thời là một bài học thành công lớn của tổ tiên ta.

Tổ tiên ta xuất phát từ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và kinh qua thực tiễn của lịch sử mà có được kinh nghiệm quý báu trên, tìm ra được con đường đúng đắn và có tính chất tất yếu trên.

Còn ngày nay, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng của giai cấp công nhân đã vạch rõ: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng tiến hành.

Đảng có đường lối chính trị đúng đắn, đáp ứng được quyền lợi cơ bản của nhân dân, trước hết là của công nhân và nông dân, do đó đã phát huy được sức mạnh to lớn của công nông và toàn dân để đánh bại kẻ thù.

Ngày xưa, nông dân lao động trong điều kiện có mâu thuẫn giai cấp với các tập đoàn lãnh đạo, chỉ có thể phát huy tính tích cực và lòng yêu nước của mình đến một mức độ nhất định, mà sự đoàn kết toàn dân đó đã cho phép lập được những chiến công oanh liệt.


Ngày nay, toàn dân đoàn kết xung quanh khối liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vùng lên đánh giặc với một trình độ giác ngộ giai cấp và dân tộc rất cao, với tư thế là người chủ tập thể của đất nước, đã phát huy đến cao độ sức mạnh của mình, đã lập được những sự tích thần kỳ và nhất định sẽ còn lập nên sự nghiệp càng to lớn hơn nữa trong cuộc đấu tranh đánh bại sự xâm lược và nô dịch của đế quốc Mỹ và tay sai.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:15:37 am
III. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH XUẤT SẮC

Các cuộc chiến tranh trong lịch sử của dân tộc ta diễn ra trong những hoàn cảnh khác khau, nhưng những chiến công hiển hách của tổ tiên ta đều có những biểu hiện tương đối thống nhất của một nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc đáo, ưu việt.


"Chủ nghĩa Mác - Lênin không phủ định lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại nó còn phát triển những tinh hoa đó đến một trình độ mới trong điều kiện lịch sử mới. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã từng bao phen anh dũng đứng dậy chống nạn ngoại xâm, giữ gìn độc lập cho đất nước. Trong các cuộc đấu tranh vũ trang đó, dân tộc ta đã có những sáng tạo kiệt xuất về tài thao lược"1 (Võ Nguyên Giáp, Mấy vấn để về đường lối quân sự của Đàng ta, Nxb Sự thật, H. 1970, tr. 43).


Trước nạn ngoại xâm, dân tộc ta không có con đường nào khác là con đường đứng lên cầm vũ khí chống quân thù. Nhưng quân xâm lược là một kẻ địch có lực lượng quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Để đánh bại một kẻ địch như vậy, tổ tiên ta đã biết tìm sức mạnh trong khối đoàn kết toàn dân. Còn phải sáng tạo ra cách đánh như thế nào để đánh thắng địch.


Đất nước ta không rộng, người nước ta không đông, địch là một nước lớn, người nhiều, của nhiều. Cho nên để giữ gìn đất nước, yêu cầu của dân tộc ta là phải đánh quyết liệt, phải thắng oanh liệt, phải lập nên những chiến công vang dội, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm tan rã ý chí xâm lược của chúng.


"Nền độc lập của nước ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược rất mạnh"1 (Lê Duẩn - Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 12 và 13).


Do điều kiện lịch sử trước đây, nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của tổ tiên ta không thoát khỏi sự ràng buộc và hạn chế của ý thức hệ phong kiến, nhưng từ đời này qua đời khác, nó cũng đã được xây dựng tương đối toàn diện.


Đặc điểm của nền nghệ thuật đó là:

1. Nghệ thuật đó không những chỉ đạo lực lượng vũ trang, mà còn chỉ đạo nhân dân vũ trang kết hợp với lực lượng vũ trang.

Nghệ thuật đó không chỉ dựa vào quân đội, mà dựa vào dân chúng và quân đội để giành chiến thắng. Toàn dân đánh giặc, điều đó đã được nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử ta chứng minh. Nhân dân không những cất giấu lương thực, thực hành "thanh dã" gây cho địch nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực mà còn trực tiếp giết giặc, ở nước ta "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh", thiếu niên, phụ lão cũng đánh, những điều đó đã có từ ngàn xưa.


Nêu lên điểm đó, nhà quân sự vĩ đại Trần Quốc Tuấn có nói: "Cả nước góp sức chiến đấu nên giặc phải bó tay". Theo nhà sử học thế kỷ thứ XIX Phan Huy Chú thì "đời Trần nhân dân ai cùng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, bản dịch, Nxb Sử học, H. 1961, tr. 6).


Với lực lượng vũ trang của cả nước, lực lượng vũ trang các địa phương kết hợp với thổ binh, hương binh, dân binh và dân chúng, sức mạnh của toàn dân, toàn quân được phát huy đến độ cao để diệt giặc.


2. Trong điều kiện ta là một nước đất không rộng, người không đông, phải đánh phải thắng oanh liệt một quân đội xâm lược của một nước phong kiến lớn mạnh, dân tộc ta đã tạo nên một nghệ thuật mà tổ tiên ta gọi là "lấy ít đánh nhiều, lấy yếu trị mạnh, lấy đoàn chống trường".

''Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại trường trận là việc thường trong binh pháp"2 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, bản dịch, Nxb Văn sử Địa, H. 1958, tr. 99).

"Bậc nhân giả lấy yếu trị mạnh, bậc nghĩa giả lấy ít địch nhiều"3 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch, Nxb Sử học, H. 1961, tr. 21).

Trong nhiều cuộc chiến tranh, quân và dân ta đã đánh địch cả ờ trước mặt và sau lưng, đánh địch tại chỗ, không những tiêu diệt sinh lực địch mà còn làm tan rã quân xâm lược về tổ chức và về tinh thần, không những đánh tập trung mà còn đánh phán tán, dùng nhiều cách đánh, đánh những đòn oanh liệt làm cho địch gãy xương sông, nát xương sườn. Tổ tiên ta coi trọng việc dùng lực lượng một cách hợp lý, nhằm đạt hiệu lực cao, như Nguyễn Trãi nói: "Sức dùng có nửa, công được gấp đôi". Không những biết giành thắng lợi quân sự quyết định mà còn có biện pháp để củng cố những thắng lợi đó.

Câu ca dao từ ngàn xưa:
   "Nực cười, châu chấu đá xe
   Tường rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng"
.
   có thể nói lên phần nào đặc điểm này.


3. Nghệ thuật đó xây dựng trên cơ sở một tinh thần yêu nước rất cao, một tinh thần quật cường bất khuất, tự lập tự cường rất mạnh, trên cơ sở tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh, nên có sức sống mãnh liệt, có tinh thần tích cực chủ động rất cao. Nền nghệ thuật đó biết phát huy những chỗ mạnh mọi mặt của mình nhất là chỗ mạnh về tính chất chính nghĩa, về ý chí bất khuất kiên cường của dân tộc, về chất lượng mọi mặt của quân đội, để đánh quân địch vào chỗ chúng yếu, lúc chúng yếu. Nhiều nhà quân sự nổi tiếng thời xưa thường nhấn mạnh cách đánh chủ động linh hoạt, nhử người đến, chứ không để người nhử, cách đánh vu hồi, bao vây chặt chẽ để tiêu diệt gọn, tiến càng liên tục, dồn địch vào thế bị động chịu đòn, không có cách nào thoát khỏi bị tiêu diệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:18:55 am
4. Nghệ thuật đó rất sáng tạo, độc đáo, rất xuất sắc, tinh vi, rất mưu trí và linh hoạt.

"Ông cha ta ngày trước có nhiều sáng tạo về cách đánh giặc, không có sáng tạo đó, không thể giữ được nước, không thể giành được tự do"1 (Lê Duẩn, Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đấu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 29).


"Anh dũng và thông minh là hai yếu tố tạo nên sức mạnh của dân tộc ta trong chiến đấu chống ngoại xâm"2 (Lê Duẩn, Cứu nước là nghĩa vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 12 năm 1960, tr. 5).


"Tổ tiên ta đã biết dựa trên yếu tố chính nghĩa, trên tinh thần yêu nước nồng nàn và chiến đấu anh dũng của quân và dân, phát huy mọi cái mạnh của ta trong điều kiện ta chiến đấu trên đất nước mình, đánh bại những đạo quân xâm lược từ xa đến, mà sáng tạo ra cách đánh của ta, buộc địch phục tùng ý chí của ta, buộc địch đánh theo cách đánh có lợi cho ta, không cho dịch đánh theo cách đánh sở trường của chúng.


Nguyễn Huệ nói: "Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ khổng phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít"1 (Tây Sơn bang giao tập. Dẫn trong "Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ" của Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1971, bản in lần thứ hai, tr. 344).


Trong chỉ đạo chiến tranh, Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh: "Phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà ứng biến cho đúng"2 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, bản dịch, tr. 100, 99).


Ngô Thì Nhậm, một tướng giỏi của Nguyễn Huệ cho rằng, là một người tướng giỏi phải biết "lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ"3 (Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch, Nxb Văn học, H. 1964, tr. 342).


Sức sáng tạo của dân tộc ta thể hiện ở chỗ, không phải chỉ có quân đội đánh giặc, mà là cả nhân dân và quân đội cùng đánh. Ta yếu mà ta đánh thắng, đó cũng là sáng tạo. Sự nỗ lực chủ quan phi thường của toàn dân tộc, sức sống mãnh liệt của nền nghệ thuật đó cũng nói lên súc sáng tạo này.


Nên nghệ thuật đó dựa trên cơ sở đánh giá địch, ta một cách bình tĩnh, hiểu địch, hiểu ta một cách sâu sắc.

Trần Quốc Tuấn cho rằng: "Nếu thấy quân giặc tràn sang như gió như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được"4 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, bản dịch, tr. 100, 99).

Nguyễn Trãi nói: "Tri kỳ tri bỉ, năng nhược năng cường"5 (Thư chữ Hán Nguyễn Trãi, bản dịch, Nxb Vản hóa, H. 1962, tr. 115) . Nghĩa là biết người biết ta, có thế yếu, có thế mạnh.

Tổ tiên ta đã không nao núng vì sức mạnh tạm thời của địch, không bị uy hiếp vũ bão bên ngoài của chúng. Những nhà quân sự thời xưa của ta hiểu rõ: ta không phải chỉ có yếu, mà còn có mạnh, hơn nữa có những chỗ mạnh rất cơ bản, còn địch, không phải chỉ có mạnh, mà còn có yếu, những chỗ yếu trí mạng tất yếu, đồng thời cũng thấy rõ những chỗ và lúc địch yếu, ta mạnh, để có những chủ trương chiến lược thích hợp.


Nhìn bao quát cả cuộc chiến tranh, tổ tiên ta không sợ địch, tin tưởng mình có thể đánh bại địch. Trong việc xử trí tình huống chiến lược cụ thể thì không khinh địch, đánh giá đúng mức sức mạnh ban đầu của quân xâm lược: lúc quân địch còn mạnh thì ta hành động rất thận trọng, nhưng khi địch đã trở thành yếu lại hành động rất táo bạo. Trước thanh thế lớn lao của quân Thanh tiến vào xâm lược nước ta, lời phân tích của Ngô Thì Nhậm sau đây nêu rõ được phần nào điều đã nói trên: "Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi, cũng như ngọc bích của nước Tăn đời xưa, vẫn nguyên lành chứ có mất gì"1 (Ngô Gia Văn Phái, tài liệu đã dẫn, tr, 342) (chúng tôi nhấn mạnh, T.G).


Trên cơ sở đánh giá đúng đắn tình thế khách quan, biết địch biết ta một cách đúng đắn, tổ tiên ta đă phát huy đến mức độ cao nỗ lực chủ quan, phát huy đến độ cao trí tuệ của mình, tìm ra trăm phương nghìn kế, khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ và đã lập nên những chiến công kỳ lạ. Đó cũng chính là điều kiện làm cho tính sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đạt đến trình độ rất cao, câu nói của Nguyễn Trãi có thể nêu rõ điều đó:

"Có lẽ nhiều tai nạn chính là cái gốc để dựng nước, mà sự băn khoăn lo lắng cũng lá cái nền để mà ra nghiệp thánh.
Trải biến cố nhiều thi trí lự sáu,
   Lo công việc xa thi thành công kỳ.
   Đế vương nổi lên, ai cũng thế này"1 (Nguyễn Trãi, Chí Linh sơn phú).

Yếu có thể đánh mạnh, ít có thể đánh nhiều là do tinh thần dũng cảm đánh và sau đó là biết đánh - đánh mai phục - lừa địch vào sâu - toàn dân đều đánh, v.v...

Có thể nêu lên một số nội dung chính của nền nghệ thuật đó thành ba vấn đề lớn như sau:

A- Chỉ đạo quân sự.

B- Địch vận.

C- Đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:21:18 am
A- CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ

1. Trong chỉ đạo tác chiến về chiến lược, chiến thuật, dân tộc ta đã từng có kinh nghiệm tốt về đánh lâu dài.

Xét thực tiễn diễn biến của nhiều cuộc chiến tranh thắng lợi có thể thấy rõ tổ tiên ta không bao giờ đi trệch khỏi mục đích quân sự cuối cùng là tiến công tiêu diệt địch trên đất nước ta. Nhưng tổ tiên ta cũng không hề tách mục đích cần đạt đó với điều kiện khách quan là lúc đầu lực lượng quân sự địch mạnh, ta yếu.


Trước quân địch lớn mạnh, các nhà quân sự ta đã biết tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi khi cuộc chiến tranh mới bắt đầu, nhằm bảo toàn lực lượng, tranh thủ thời gian, tạo nên thế có lợi cho ta, làm địch suy yếu, bồi dưỡng lực lượng ta, rồi từng bước tiêu diệt quân địch mà giành thắng lợi trong chiến tranh.


Trong chiến tranh tự vệ, trước thế tiến công mạnh mẽ của quân địch có ưu thế về số lượng, tổ tiên ta đã tránh không dốc toàn lực lượng để hòng phân thắng bại, giành thắng lợi nhanh chóng ngay buổi đầu, mà đã biết thực hành rút lui chiến lược, có gan rút bỏ kinh đô, cho địch vào sâu mà tiêu hao địch. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ nhất, trước ý định của vua Trần quyết chiến với địch trong điều kiện không có lợi ở gần biên giới, tướng Lê Phủ Trân đã can rằng: "Làm như vậy thì chỉ như những người dốc hết túi tiền đề đánh nốt tiếng bạc mà thôi"1 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr. 34), và khuyên "hãy nên lánh đi"2 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr. 34). Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chủ trương: "Nguyên binh khi nhuệ đương hưng, kíp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy"3 (Thiên Nam ngữ lục). Do đó quyết định rút khỏi Vạn Kiếp, rút khỏi kinh thành. Nhận xét về chủ trương rút bỏ Thăng Long của Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ đã đánh giá: "Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng..."4 (Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch của Ngô Tất Tố, Nxb Mai Lĩnh, H. 1954, tr. 531).


Nhưng rút lui chiến lược của tổ tiên ta có những nét độc đáo. Đất nước ta không rộng, chiều sâu không lớn, nếu cứ rút mãi thì sẽ không còn đất để mà rút, phải tự hãm mình vào thế bị động nghiêm trọng. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chặn đứng địch ở phía nam, trong khi ở phía bắc thì chỉ huy chủ lực rút lui từng bước. Trong cuộc chiến tranh này cũng như nhiều cuộc chiến tranh tự vệ khác, khi chủ lực rút lui, quân địa phương vẫn ở lại phối hợp với thổ binh, dân binh, hương binh đánh địch tại chỗ, thực hiện rút phía trước nhưng đánh mạnh phía sau lưng địch. Tóm lại, trong quá trình rút lui vẫn tiến công tích cực. Trong lịch sử dân tộc, cũng có những nhà cầm quân không biết tiếp thu nghệ thuật đúng đắn đó của dân tộc, nên đã bị thất bại; trong chiến tranh chống quân Minh dưới thời Hồ, trận quyết chiến thất bại ở Đa Bang, rồi chỉ rút lui chạy dài mà không tích cực tiến công địch, đã đưa cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta đến thất bại.


Thừa nhận sự cần thiết rút lui chiến lược, biết cách rút lui đúng đắn và có lợi, các nhà quân sự ta còn thông thạo trong việc tạo nên điều kiện để chuyển sang quật trả lại địch những đòn quyết liệt, biết vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc quân sự cổ đại "dĩ dật đãi lao" tức là lấy nhàn chờ mệt, lấy mạnh chờ yếu, lấy sung sức chờ hao mòn. Trong quá trình phòng ngự, rút lui, không những đã liên tục tiêu hao địch, buộc địch phải chịu ảnh hưởng không lợi của khí hậu và địa hình nước ta, hãm chúng vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, mà còn biết buộc, địch rải quân ra (như Trần Quốc Tuấn) hoặc làm cho địch sơ hở phạm sai lầm (như Nguyễn Huệ), tức là tạo nên một thế chiến lược khiến cho địch từ mạnh trở thành yếu, tự bộc lộ nhược điểm, để diệt đội quân xâm lược lớn mạnh.


Để đạt tới mục đích đó, các nhà quân sự ta thường dùng hai cách: Một là, khi địch đã rải quán, ta đi từ thắng lợi nhỏ, vừa, đến thắng lợi lớn, tạo nên bước ngoặt trong chiến tranh. Trong trường hợp này, tổ tiên ta đã tỏ ra biết nắm quy luật phát triển của địch trong chiến tranh. Trong quá trình ta phản công, quân địch bị tiêu diệt từng bộ phận ngày càng lớn hơn, đến một mức nào đó, khi những đạo quân nào đó bị tiêu diệt, thì đoàn quân xâm lược to lớn của địch bắt đầu tan rã (như Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên). Khi chưa tạo ra được bưâc ngoặt chiến lược, tổ tiên ta biết đánh địch một cách vững chắc. Khi thì lấy ít thắng nhiều, khi thì lấy nhiều thắng ít, tiêu diệt tiêu hao địch, tạo ra từng bước chuyển biến, nhưng chủ yếu vẫn là lấy ít thắng nhiều. Nhưng sau khi bước ngoặt diễn ra, lại táo bạo lấy ít đánh nhiều, dốc lực lượng thường không nhiều của mình đánh vào toàn bộ quân địch với số lượng còn to lớn nhưng chất lượng đã suy sụp mà giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh tự vệ. Hai là, địch tuy chưa rải quân nhưng có sơ hở nên ta thực hành chia cắt địch ra từng mảng, giáng những đòn mãnh liệt vào chỗ hiểm nhất của địch, đánh vào trung tâm đầu não của chúng khiến cho địch choáng váng, kinh hoàng, rối loạn, tê liệt (như Nguyễn Huệ đánh quân Thanh). Từ những cuộc chiến tranh thắng lợi đó có thể thấy rằng ngay trong khi rút lui chiến lược, các nhà quân sự ta luôn luôn nhằm vào mục đích phản công tiêu diệt địch, tích cực tạo điều kiện để chuyển sang phản công chiến lược. Trong phản công chiến lược đã sáng tạo ra cách đánh tiến công lần lượt hoặc đồng thời, tiến công từ nhỏ đến lớn hoặc đánh một đòn quyết định.


Trong chiến tranh giải phóng, tổ tiên ta đã thực hiện chiến lược đánh lâu dài một cách khác. Trong điều kiện dân tộc ta sống dưới sự thống trị của phong kiến nước ngoài và bè lũ tay sai, các nhà yêu nước ngày xưa đã nắm được khá chính xác tình hình so sánh lực lượng giữa hai bên, thấy rõ thế và lực của địch và ta, lãnh đạo dân tộc vùng lên khởi nghĩa, thực hành liên tục tiến công địch cho đến khi đánh đổ hoàn toàn nền thống trị của chúng. Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát triển thành chiến tranh giải phóng lâu dài. Trong quá trình đó, về chiến lược, ta không ngừng tiến công địch trong nhiều năm liền (không kể thời gian đình chiến) với quy mô ngày càng to lớn cho đến thắng lợi hoàn toàn. Còn địch thì không ngừng phản công hòng tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa và khôi phục nền thống trị của chúng. Chúng nhiều lần tăng thêm quân đội từ chính quốc nhưng thế phản công chung của chúng không ngừng sút kém; chúng ngày càng đi sâu vào thế phòng ngự cho đến khi chịu thất bại hoàn toàn. Trên chiến trường, quá trình giao tranh giữa ta và địch diễn ra theo hình thái: ta tiến công và phản công đánh tan các cuộc phản công và tiến công của địch cho đến thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Bảy, 2023, 10:23:08 am
Khi mới bắt đầu đứng lên tiến công địch, tuy thế chính trị và chiến lược trên những mặt nào đó có lợi cho ta không lợi cho địch, nhưng lực lượng quân sự địch nhiều hơn ta. Trong điều kiện đó các nhà quân sự ta đã biết "chờ thời để lừa khi địch mỏi mệt, giấu mũi nhọn và bít ánh sáng" buộc địch phải đánh lâu dài, ngày càng tiêu hao, suy yếu; còn ta có thể tranh thủ thời gian xây dựng, mở rộng lực lượng vũ trang và chỗ đứng chân của mình. Do đó mà tạo nên thời cơ chiến lược có lợi, giáng cho địch những đòn quyết định trong những năm sau của cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài.


Khởi nghĩa Lam Sơn và nhiều cuộc khởi nghĩa khác của dân tộc ta trong lịch sử đã sáng tạo ra một kinh nghiệm quý báu: Trong thế chính trị và chiến lược chung có lợi cho ta, không lợi cho địch ở một số mặt, có thể tạo thành ưu thế cục bộ mà tiến công địch, phát triển tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn cục, giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh giải phóng lâu dài.


Có thể nói hình thái phát triển của những cuộc chiến tranh tự vệ và giải phóng đã nói trên như sau:

   Thời Lý: Phòng ngự chiến lược tích cực, phản công chiến lược.

   Thời Trần: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược.

   Thời Tây Sơn: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược.

   Thời Lê: Liên tục tiến công chiến lược từ nhỏ đến lớn (có hai năm đình chiến).

   Thời Hồ: Phòng ngự, rút lui.


Trong bốn cuộc chiến tranh thắng lợi trên, nhờ biết tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không lợi, tiến lên quyết chiến trong điều kiện có lợi, tổ tiên ta đã đưa chiến tranh lâu dài đến thắng lợi hoàn toàn. Ngược lại, trong chiến tranh thời Hồ, do bị buộc phải quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi cho ta mà lợi cho địch, không biết bảo toàn chủ lực trong tình hình địch mạnh, ta yếu, dốc sức để phân thắng bại ngay từ đầu, kết quả là chủ lực tan vỡ. Do không nắm vững được quy luật chỉ đạo chiến tranh tự vệ theo chiến lược đánh lâu dài của thời Lý, thời Trần, nên bị thất bại là điều tất yếu.


Đáng chú ý là các nhà quân sự của ta học tập Tôn Tử, nhưng không theo quan điểm "thắng nhanh" của Tôn Tử. Binh pháp Tôn Tử cho rằng "việc dùng binh, chỉ nghe nói có tốc quyết vụng về, chứ không thấy có lâu dài, khôn khéo; chiến tranh lâu dài mà có lợi cho quốc gia là việc không thể có". Biết đánh lâu dài, điều đó chứng tỏ tinh thần độc lập sáng tạo của tổ tiên ta.


Chính sách "ngụ binh ư nông" (nghĩa là đặt binh ở nông thôn) được thi hành ở nước ta từ khá sớm, nhất là từ thời kỳ Lý, Trần trở đi. Chính sách đó nhằm bảo đảm có số quân tập trung của triều đình đến mức cần thiết và hợp lý, giảm một phần nào đóng góp của nhân dân và tiêu dùng của nhà nước, bảo đảm có sức sản xuất để đánh lâu dài. Điều quan trọng hơn nữa là với chính sách đó, ngoài việc bảo đảm có quân đội tập trung còn tổ chức nên những đội dân binh (hương binh, thổ binh) bảo vệ các thôn, ấp, đánh địch tại chỗ. Thời Lê lại phát tríen đến chính sách "vừa đánh giặc vừa cày ruộng" nhằm bảo đảm xây dựng "chỗ đứng chân" để từ đó tiến lên giải phóng toàn bộ đất nước. Đó là những điều kiện rất quan trọng để có thể đánh lâu dài.


Đánh lâu dài rõ ràng là một kinh nghiệm quý báu của dân tộc ta. Khi thì đánh đòn phủ đầu trước, khiến địch phải tiến quân trong thế bị động, rồi chặn đứng địch trên tuyến thuận lợi đã chuẩn bị sẵn, chuyển sang quật trả địch (thời Lý). Khi thì cho địch vào thật sâu, buộc địch rải quân, rồi chọn thời gian, địa điểm tốt, đánh địch từng trận đến khi tiêu diệt toàn bộ (thời Trần). Khi thì lập chỗ đứng chân quần nhau lâu dài với địch, rồi tiến lên đánh bại hoàn toàn quân địch (thời Lê). Khi thì chủ động rút, nhân sơ hở của địch, điều động chủ lực từ xa tới, chiến thắng địch trong một trận thần tốc (thời Tây Sơn)... Hình thức nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nội dung là một: tránh quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi, làm cho địch từ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh phải chuyển sang đánh lâu dài, đợi cho địch từ mạnh trở thành yếu, lực còn nhiều nhưng thế đã yếu, số lượng còn đông nhưng chất lượng đã kém; còn ta thì giữ gìn và bồi dưỡng được lực lượng tiến lên đánh cho địch một đòn hoặc nhiều đòn quyết chiến chiến lược liên tiếp, tiêu diệt phần lớn hay toàn bộ quân địch, giành thắng lợi to lớn. Điều đáng chú ý là trong quá trình đánh lâu dài như vậy, các nhà quân sự ta đã biết chớp thời cơ có lợi, chuyển sang giáng cho địch những đòn mãnh liệt, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn.


Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta, tư tưởng, đường lối chung về chiến lược là đánh lâu dài, vì quân xâm lược thường mạnh hơn quân ta lúc đầu. Nhưng căn cứ vào các điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau về các mặt của cuộc chiến tranh mà tình hình lâu dài có khác nhau. Cũng có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 08:16:34 am
2. Trong nhiều cuộc chiến tranh, các nhà quân sự thời xưa đã biết khéo léo vận dụng hai cách đánh: đánh phân tán và đánh tập trung, tạo nên sức mạnh to lớn để đánh bại quân địch.

Biết kết hợp cách đánh nhỏ của dân chúng và các lực lượng vũ trang địa phương nhỏ bé với cách đánh tập trung lớn của quân đội triều đình là một sáng tạo quan trọng của tổ tiên ta.

Trong tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta, lực lượng vũ trang tập trung của ta bao giờ cũng kém xa địch về số lượng và ở một mức độ nhất định, cũng kém địch về trang bị kỹ thuật, vật chất, nhất là trong thời kỳ đầu của chiến tranh. Để đánh thắng một quân giặc mạnh hơn, ta không thể chỉ đánh bằng riêng các lực lượng vũ trang tập trung được, mà phải đánh bằng tất cả tinh thần và vật chất của dân tộc ta, của toàn thể nhân dân ta. Tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược đã thắng lợi trong lịch sử nước ta đều là những cuộc chiến tranh mà toàn thể dân tộc ta, toàn thể nhân dân ta gián tiếp và trực tiếp cùng các lực lượng vũ trang của mình đánh giặc.


Trong nhiều triều đại, tổ chức lực lượng vũ trang không phải chỉ có quân đội của triều đình. Tuy tên gọi khác nhau, cách tổ chức cũng có điều khác nhau, song thường có 3 cấp lực lượng rõ rệt: quân tập trung của triều đình gọi là du quân, đại quân; quân ở các địa phương (quân do các chính quyền địa phương tổ chức và quản lý hoặc quân của các vương hầu nhưng chịu sự chỉ huy của triều đình) tùy từng thời mà gọi là quân các lộ, quân các đạo; và dân binh còn gọi là thổ binh hoặc hương binh. Quân tập trung của triều đình thường làm nhiệm vụ cơ động trong cả nước. Quân ở các địa phương có trách nhiệm giữ các lộ, các đạo, các thành quan trọng, còn dân binh thì bảo vệ các thôn ấp.


Nhờ biết tổ chức lực lượng một cách rộng rãi và hợp lý như vậy, cho nên dân tộc ta đã có thể thực hành vừa đánh phân tán, vừa đánh tập trung, vừa đánh nhỏ, vừa đánh lớn. Và chính nghệ thuật biết vận dụng khéo léo và hình thức đánh phân tán và tập trung như vậy đã cho phép huy động được lực lượng to lớn của toàn dân và các lực lượng vũ trang ở các cấp để tiêu diệt địch.


Cách đánh nhỏ, phân tán của dân chúng và quân đội đã từng có một địa vị và tác dụng rất lớn trong lịch sử dân tộc ta. Triệu Quang Phục dùng cách đánh "đột xuất ra đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày, lâm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba, bốn năm không hề đối diện chiến đấu"1 (Lĩnh Nam trích quái, bản dịch, Nxb Văn hóa, H. 1960, tr. 37) đã làm quân Lương vô cùng khốn đốn, sức cùng chí nản. Thời Trần, các đội dân binh cùng dân chúng đã làm quân Nguyên nhanh chóng mất sức tiến công. Thời Lê, nghĩa quân Lam Sơn lúc lên phía bắc, thoắt quay về nam, khi xuất hiện ở đông, lúc đánh úp ở tây, nên với số quân ít, đã từng đánh tan nhiều cuộc tiến công càn quét có khi đông đến hàng chục vạn quân Minh.


Cách đánh lớn, tập trung của quân đội triều đình (quân chủ lực) đã từng lập nên những chiến thắng oanh liệt: Bạch Đằng, Chương Dương, Vạn Kiếp, Xương Giang, Ngọc Hồi, Đống Đa... Đáng chú ý là cách đánh tập trung của quân đội ta thời xưa cũng có đặc điểm rất Việt Nam, phù hợp với điều kiện đất không rộng, người không đông. Đó là những cách đánh mà các nhà quân sự thời xưa gọi là "xuất kỳ bất ý", là "công kỳ vô bị", là đánh bằng kỳ binh, phục binh, tức là những cách đánh không bộc lộ mục tiêu, không đối trận với địch, mà dựa vào điều kiện nhân dân ủng hộ, không theo địa hình mà phát huy đến độ cao tính bất ngờ, giáng những đòn rất mạnh, giải quyết trận đánh rất nhanh "sấm ran, chớp giật" như Nguyễn Trãi nói.


Trong nhiều triều đại, tổ tiên ta đã nhiều lần vùng lên, bắt đầu bằng khởi nghĩa ở một số địa phương, tiến hành đánh du kích, cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng nhằm lật đổ ách thống trị của nước ngoài, khôi phục quyền làm chủ của dân tộc. Về quân sự, ta đã từ đánh du kích, đánh nhỏ, tiến lên đánh tập trung với quy mô ngày càng lớn. Việc phát triển từ đánh du kích lên đánh tập trung đã cho phép dân tộc ta giành được thắng lợi to lớn và quyết định trong cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài. Cuộc chiến tranh của Triệu Quang Phục chống quân Lương đã chứng minh rõ ràng điều đó và cuộc chiến tranh giải phớng thời Lê có the xem là một điển hình thành công của dân tộc ta trong lịch sử thời xưa về việc vận dụng khéo léo đánh du kích và đánh tập trung.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc, tổ tiên ta đã nhiều lần biết kết hợp khéo léo đánh phân tán và đánh tập trung. Trong chiến tranh giải phóng, sau khi đã từ đánh phân tán mà phát triển lên đánh tập trung, tổ tiên ta đã biết kết hợp hai cách đánh đó, nhò đó mà phát huy được sức mạnh to lớn của toàn dân (thời Lê). Trong chiến tranh tự vệ có những lần dân ta dựa vào lực lượng quân đội đánh tập trung quy mô lớn, mà giành những thắng lợi vang dội, như Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu mà phá kế hoạch xâm lược của nhà Tống; Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Tình hình đó không tách rời khỏi sự chỉ huy tài tình biết nhằm nơi địch sơ hở mà nhanh chóng giáng đòn mãnh liệt, quyết định, không tách rời khỏi sự ủng hộ to lớn nhiều mặt của nhân dân. Nhưng nhìn chung thì trước kẻ thù lớn mạnh đang xâm lược nước ta, việc kết hợp cách đánh của quân đội triều đình (quân chủ lực) với cách đánh nhỏ của quân đội các địa phương và của dân chúng cho phép dân tộc ta phân tán, tiêu hao, làm suy yếu quân địch, tạo ra điều kiện thuận lợi cho quân đội tập trung tiêu diệt quân địch, nhờ đó mà nhiều lần chiến thắng oanh liệt. Nhiều triều đại đơn thuần dựa vào quân đội tập trung, nhất là khi lại phạm sai lầm về chỉ đạo chiến lược đã bị thất bại (An Dương Vương, Lý Phật Tử, Hồ Quý Ly).


Đưa đánh du kích lên đánh tập trung, kết hợp đánh tập trung và đánh du kích là một kinh nghiệm sáng tạo của dân tộc ta. Kinh nghiệm chiến tranh thắng, bại của nhiều triều đại hoặc ngay trong bản thân một số triều đại đã chứng minh tính chất quan trọng của sự kết hợp đó.


'"Sự nghiệp chống ngoại xâm của Lý Bôn (Lý Bí) đã để lại cho ta ba bài học lịch sử khác nhau: Bài học thành công lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa khôi phục nền độc lập; bài học thất bại gân mất hết nghiệp nước khi lấy mạnh chọi mạnh theo chiến lược dốc túi đánh nhanh thắng nhanh chống lại quân phong kiến xâm lược Trần Bá Tiên (nhà Lương); sau đó phải lui quân về Hưng Hóa đê tổ chức lại đội ngữ mưu tính cuộc kháng chiến lâu dài, giao binh quyền cho Triệu Quang Phục chuyển sang không trực diện đánh ban ngày với địch mà đêm đêm bí mật tổ chức đánh úp (tập kích) tiêu diệt địch, lấy lương thực vũ khí của địch để đánh lâu dài đến khi nhà Lương bị quét sach, đó là bài học thứ ba, bài học thành công"1 (Văn Tiến Dũng, Phát huy sức mạnh của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước - Tạp chí Quân đội nhân dân, số 6 năm 1966, tr. 21).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 08:19:05 am
3. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến về chiến lược chiến thuật của tổ tiên ta có nhiều điều rất tiến bộ.

a) Trong việc chỉ đạo chiến lược chiến thuật, tổ tiên ta đã biểu lộ một tinh thần tích cực, chủ động tiến công rất mãnh liệt.

Trong chiến tranh tự vệ, tinh thần đó biểu hiện trong các hoạt động chiến lược của quân đội nhà Lý (Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu phá các cuộc xâm lược của nhà Tống), quân đội nhà Trần (trong cả ba cuộc chiến tranh, nhất là trong các trận phản công chiến lược); và trong cuộc hành binh táo bạo, thần tốc đại phố quân Thanh của quân đội Tây Sơn thì tinh thần đó được phát huy đến độ cao.


"Ngồi đợi giặc đến, không bằng đánh trước làm nhụt nhuệ khí của giặc"2 (Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, bản dịch, Nxb Văn hóa, H. 1960, tr. 30).

Trong chiến tranh giải phóng, tinh thần đó biểu hiện trong khắp các cuộc khởi nghĩa của dân tộc ta, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh thời Lê.

Tinh thần tích cực chủ động tiến công rất mãnh liệt đó không tách ròi khỏi lòng yêu nước nồng nàn, chí kiên cường bất khuất của dân tộc ta.

"Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải luôn luôn chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do, sự sống còn của mình, cho nên có tinh thần tự vệ rất mạnh. Chính trên cơ sở của tình thần tự vệ mạnh mẽ đó đã nảy sinh ra cách đánh giặc của người Việt Nam. Không phải là ngẫu nhiên mà trong lịch sử nước ta, mỗi khi dân tộc ta vùng dậy chống ngoại xâm, là chỉ tiến công chứ không phòng ngự, tiến công kẻ xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Tiến công là chiến lược, còn phòng ngự chỉ là sách lược"1 (Lê Duẩn, Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 30).


b) Về thực tế cũng như về lý luận, trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh tự vệ, nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của tổ tiên ta đều chú trọng tránh chỗ mạnh của địch, giành chỗ lợi cho mình, lấy cái mạnh của mình tìm chỗ yếu của địch mà đánh. Do đó, sức mạnh của địch không dùng được, lực lượng lớn của địch không phát huy hết sức mạnh, không đạt được hiệu quả cao. Trái lại ta thì dùng mọi sức mạnh của ta một cách thích hợp, có thể tiến công tiêu diệt địch ở mọi nơi, mọi lúc, với mọi quy mô khác nhau.


Nói chung, tổ tiên ta thừa nhận công thành là "hạ sách" và nhấn mạnh đánh bất ngờ, mai phục, đánh úp.

"Đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi ở trên không xuống, gây nên cuộc đời vô sự"2 (Trần Quốc Tuấn, Binh thư yếu lược, Sđd).

"Lấy yếu thắng mạnh, tiến công khi giặc không chuẩn bị, lấy ít đánh nhiều, thường mai phục, ra kỳ binh"3 (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo. Chiến thuật cổ đại thường chia ra chính và kỳ: bộ đội đánh theo chính là chính binh, đánh theo kỳ, là kỳ binh: đánh trước mặt địch, đánh dàn trận với địch, đánh theo cách đánh thông thường là đánh theo chính, đánh sau lưng địch, đánh bất ngờ, đánh theo cách đánh đặc biệt là đánh theo kỳ. Phối hợp khéo léo chính và kỳ, thay đổi khéo léo chính và kỳ là một yêu cầu trong chỉ huy quân đội thời xưa).


Trên thực tế chỉ đạo chiến lược chiến thuật, các nhà quân sự ta biết cắt địch ra từng mảnh, tiêu diệt địch từng bộ phận, đánh bại địch từng bước. Trong dân gian từ xưa thường có câu "bẻ đũa không bẻ cả nắm", "đánh rắn phải đập nát đầu"; những câu đó nói lên tư tưởng cắt địch ra từng mảnh, đánh vào những chỗ hiểm yếu nhất của địch, để tiêu diệt chúng.


Quán triệt những tư tưởng trên, các nhà quân sự ta thông thường biết:

Lợi dụng những sơ hở, những chỗ yếu của địch do nhận thức được địch có những chỗ yếu về nhiều mặt, nhất là những chỗ yếu trí mạng do tính chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược đẻ ra; các nhà quân sự thời xưa một mặt phát hiện những chỗ yếu của chúng để lợi dụng, mặt khác khoét sâu sơ hở và nhược diểm đó của địch rồi giáng những đòn mạnh mẽ.


"Đánh mà muốn lấy được phải đánh vào chỗ giặc không giữ, nếu quân địch lấy quân các nơi tăng cường cho Nghệ An, thành ta khó đánh, trái lại các nơi khác thì địch sơ hở, chi bằng chia quân đi đánh các nơi khác, khiến Nghệ An bị hãm vào thế cô lập, tức khắc giặc phải hàng. Các bậc tướng giỏi đời xưa đánh chỗ thực, công chỗ hư..."1 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).


''Binh đánh vào đâu như lấy đá gieo vào quả trứng". "Phàm lấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, Sđd, tr. 56).

"Nuôi uy chứa sức, đợi đánh tan viện binh thì thành phải hàng, làm một được hai"3 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).

Cuộc tiến công Chương Dương, Tây Kết, trận đánh thuyền lương Trương Văn Hổ, cuộc tiến quân của Lê Lợi vào Nghệ An, Diễn Châu, Tân Binh - Thuận Hóa, cuộc hành binh táo bạo của Nguyễn Huệ ra Thăng Long đều là những trận chiến thắng nêu rõ sự lợi dụng khéo léo sơ hở và nhược điểm của địch của tổ tiên ta.


Tạo nên sơ hở cho địch, làm cho địch bộc lộ chỗ yếu bằng nhiều biện pháp tích cực khác nhau, như nghi binh, tỏ ra yếu, che giấu ý định của mình, đưa địch vào những địa điểm bất lợi, v.v... các nhà quân sự ta đã làm cho địch nhận định sai lầm, chủ quan, khinh thường đối phương, hành động sai lầm, do đó tự bộc lộ sơ hở, nhược điểm. Những cuộc xuất kích trên tuyến sông Cầu của Lý Thường Kiệt để tiêu hao liên tục đội kỵ binh thiện chiến của Quách Quỳ; Trần Quốc Tuấn kéo quân kỵ binh cơ động của quân Nguyên rời khỏi thành Thăng Long để tiêu diệt dọc đường; việc gửi thư cho Liễu Thăng trước khi viện binh Minh vượt biên giới; các trận đánh kéo địch vào trận địa mai phục Chi Lăng, v.v... và một khi địch có sơ hở bộc lộ chỗ yếu, các nhà quân sự ta biết tập trung lực lượng bất ngờ giáng những đòn mãnh liệt để tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 08:20:28 am
Trong điều kiện nước ta là một nước đất không rộng, người không đông mà phải đánh những đạo quân xâm lược lớn mạnh, tổ tiên ta đã biết huy động toàn dân cùng với lực lượng vũ trang tập trung đánh giặc, tạo nên một sức mạnh to lớn. Mặt khác, muốn phát huy tác dụng to lớn của lực lượng vũ trang tập trung thường kém xa địch về số lượng, tổ tiên ta đã có nghệ thuật biết dùng lực lượng vũ trang đó với một hiệu lực lớn nhất để đánh bại một kẻ địch đông hơn và thiện chiến. Tư tưởng chỉ đạo của nghệ thuật đó được Nguyễn Trãi nêu lên một cách xuất sắc: "Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi"1 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).


Chính vì vậy mà nét sáng tạo trong nghệ thuật quân sự dân tộc của ta là không những tổ tiên ta biết lấy nhiều đánh ít mà còn biết lấy ít đánh nhiều: khi cần thiết thì tập trung quân có số lượng lớn hơn địch để tìm diệt chúng; khi thì biết dùng những đạo quân có chất lượng cao, có sức chiến đấu lớn để tiêu diệt những đạo quân đông hơn của địch trong những thời cơ thuận lợi. Có thể nói rằng những chiến thắng oanh liệt nhất trong những cuộc chiến tranh thắng lợi đều là những trận lấy ít thắng nhiều: Vạn Kiếp, Chúc Động - Tốt Động, Chi Lăng - Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa...


Để đạt được yêu cầu đó, tổ tiên ta đã rất chú trọng đến nhân tố chất lượng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang. Nhiều nhà quân sự của ta ngày xưa xem nhân tố chính trị, tinh thần, đoàn kết nhất trí, đồng cam cộng khổ cùng với nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài giỏi, sự tinh nhuệ của quân đội là những nhân tố rất cơ bản quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trần Quốc Tuấn nói: "Binh quý về tinh, không quý về nhiều".


Nguyễn Trãi đã đánh giá như sau về sức mạnh của quân đội nhà Hồ và nghĩa quân Lam Sơn:

"Quân mạnh hay yếu không cứ ở nhiều. Quân của nhà Hồ trăm vạn người, trăm vạn lòng, mà quân của tôi bất quá vài mươi vạn, nhưng ai cũng một lòng"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 51, 57).

Nguyễn Huệ thì nói: "Còn như quân lính thì cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều".

Trong khi Hồ Quý Ly luôn luôn lo lắng "làm thế nào để có trăm vạn quân thì địch nổi giặc Bắc" mà rút cuộc vẫn bại trận.

Để tăng sức mạnh của lực lượng vũ trang, tổ tiên ta biết: "Vỗ nuôi sĩ tốt, vời đón hiền giả, thu dụng nhân tài, sửa rèn khí giới, luyện tập binh tượng, dạy bảo những phương pháp ngồi, dậy, tiến lui, lại hun đúc bằng những điều nhân nghĩa, khiến ai ai cũng hết lòng thành, thân với kẻ trên, chết cho người trưởng". Cho nên Nguyễn Trãi nói: "Đem quân ấy ra đối phó với địch, thì kẻ nào theo ý hướng ta sẽ sống, kẻ nào trái ý hướng ta sẽ chết".


Trái lại điều trên, nhà Hồ đặt trọng tâm việc nâng cao sức chiến đấu của quân đội vào đúc súng "thần công" đóng thuyền "cổ lâu", tức là cải tiến vũ khí.

Thắng lợi của bốn cuộc chiến tranh và thất bại của nhà Hồ, những lời nói của những nhà quân sự đánh thắng và của Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng đã nêu lên khá rõ kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta: vũ khí và số lượng là quan trọng, nhưng quyết định là con người và chất lượng.


Tư tưởng tích cực tiến công, phát huy mọi chỗ mạnh của mình nhằm mọi chỗ yếu của địch mà đánh, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ, vừa đến lớn, đã được vận dụng trong thực tế hết sức cơ động, linh hoạt, mưu trí bằng nhiều cách đánh tài tình, sáng tạo, đánh trước mặt và đánh sau lưng, đánh phân tán và đánh tập trung, đánh bằng tiến công quân sự và bằng tiến công binh vận, đánh vào tất cả các mục tiêu, đánh bằng nhiều phép đánh độc đáo.


Những cách đánh thiên biến vạn hóa đó là những cách đánh vượt ra ngoài cách đánh thông thường của các binh pháp cổ đại. Trên cơ sở của tinh thần anh dũng quả cảm đã sản sinh ra những cách đánh thông minh linh hoạt, phát huy được mọi tài năng, sở trường của ta, mà hạn chế được mọi khả năng, sở trường của địch. Quân kỵ binh Mông Cổ rất cơ động, giỏi đánh ngoài thành lũy, trên đồng nội, đã từng phát huy đến cao độ sở trường của họ trên nhiều chiến trường. Nhưng, trước những cách đánh mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta thời Trần, đã không thể phát huy được lối đánh sở trường đó, như Nguyên sử đã thừa nhận, trên đất nước Đại Việt "quân và ngựa Mông Cổ đã không thi thố" được tài năng nào". Quân Minh thông thạo công thành và giữ thành, vẫn không thoát khỏi bị tiêu diệt hết đạo quân này đến đạo quân khác ngoài thành lũy.


Những trận đánh trên các đường giao thông thủy bộ, đánh vào các căn cứ an toàn, đánh vào các cơ quan đầu não của địch vừa tiêu diệt sinh lực, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh (xe, thuyền, vũ khí) và cơ sở vật chất khác (lương thực); những trận hạ thành bằng vây hãm quân sự kết hợp với tiến công binh vận, làm tan rã tổ chức và tinh thần của địch, những phép đánh như đục thuyền, dùng cọc gỗ và lợi dụng thủy triều để phá hủy quân địch, v.v... đều chứng tỏ dân tộc ta đã sáng tạo ra nhiều cách đánh phong phú, độc đáo, kết hợp chặt chẽ anh dũng và thông minh, khiến cho quân và dân ta có thể giành và giữ quyền chủ động ở độ cao, đẩy địch lún sâu vào thế bị động chịu đòn. Những cách đánh cơ động mưu trí đó, không những đã không cho địch phát huy được sở trường của chúng mà còn buộc địch phải đánh theo cách đánh có lợi cho ta, phải phục tùng ý chí của quân và dân ta. Do đó, chúng đánh ta thì đánh không trúng, không tiêu diệt nổi quân ta; quân ta đánh thì đánh rất trúng, đánh tiêu diệt chúng. Các cách đánh phản công mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, các cách đánh mai phục bất ngờ của Lê Lợi, cách hành binh thần tốc, táo bạo đánh úp của Nguyễn Huệ là những cách đánh chứng tỏ địch không cách nào đối phó nổi.


Sử thần Ngô Sĩ Liên đã nói như sau về trận đánh của Lý Thường Kiệt: "Hơn mười vạn quân hoành hành đi sâu vào nước người, đánh tan quân 3 châu gần như dễ bẻ cành khô; khi ở đấy thì không ai dám đương đầu, lúc rút về thì không ai dám theo sau"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, bản dịch, Nxb Sử học, H. 1961, tr. 195). Trong Hoàng Lê nhất thống chí có nêu rõ nhận định của địch đối với nghĩa quân Tây Sơn là ẩn hiện như thần, "tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên".


Nhờ sự chỉ đạo chiến tranh tài tình, nhờ tư tưởng chiến lược, chiến thuật đúng đắn, cộng với chất lượng cao của quân đội và nhiều trường hợp biết dựa vào dân, tổ tiên ta đã nhiều phen đánh bại, thậm chí hoàn toàn tiêu diệt những đội quân xâm lược về số lượng đông hơn quân đội tập trung của ta, nhiều khi đến gấp mấy lần.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 08:23:56 am
B- ĐỊCH VẬN

Đi đôi với việc phát huy những chỗ mạnh của mình về mặt quân sự, tổ tiên ta đã biết phát huy cao độ yếu tố chính nghĩa của cuộc chiến tranh đang tiến hành, để đánh vào kẻ xâm lược phi nghĩa. Tiêu biểu nhất là cuộc chiến tranh đời Lê; Nguyễn Trãi đã đặt vấn đề địch vận lên một vị trí rất cao, tiến hành rất kiên nhẫn và có hệ thống chiến lược "đánh vào lòng người" như đã nêu lên trong "Bình Ngô sách" từ ngày đầu tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.


Xuất phát từ tư tưởng "lấy đại nghĩa thắng hung tàn" và nhận rõ tác dụng quyết định của "lòng người" trong chiến tranh, các nhà quân sự thời Lê hiểu rằng, một mặt phải đánh thật mạnh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch thì mới làm địch suy yếu và mau suy sụp về tinh thần; một mặt khác khoét sâu nhược điểm trí mạng về tinh thần của quân đội xâm lược chiến đấu xa nhà, xa nước, đứng trước cả một dân tộc đang chống lại. Phối hợp hai mặt tiến công đó, vừa đánh tiêu diệt lực lượng vật chất của địch vừa tiến công vào tinh thần chiến đấu của chúng, tổ tiên ta đã buộc hàng chục vạn tên địch phải hạ vũ khí xin hàng, làm tan rã về tổ chức và tinh thần cả một quân đội xâm lược lớn mạnh. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi tổng kết:

"Bỉ chí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong.

Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, Sđd, tr. 70).

Nghĩa là: Địch đã chí cùng lực kiệt bó tay chờ chết, ta tìm cách đánh vào lòng người, không đánh trận mà giặc phải khuất phục, ở đây nổi bật lên cái ý, dùng chính nghĩa sáng tỏ để đánh địch.

Những văn kiện địch vận của Nguyễn Trãi có sức thuyết phục mạnh mẽ, nêu bật tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng của dân tộc ta và tính chất phi chính nghĩa trong chiến tranh xâm lược của nhà Minh, nêu rõ sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta và mâu thuẫn xâu xé nội bộ địch, nhằm mục tiêu làm tan rã tinh thần chiến đấu của chúng, đưa chúng đến chỗ hàng phục ta, trong điều kiện bị hãm vào thế nguy khôn về quân sự. Đánh bằng quân sự càng mạnh, quy mô càng lớn, thì đánh bằng binh vận cũng càng ngày càng mạnh, với quy mô càng lớn.


Với lý lẽ sáng ngời trên cơ sở của sự thật, những văn kiện địch vận đó đã đi sát các đối tượng vận động (quân Minh và quân ngụy), đi sát tình huống chiến lược, chiến thuật của ta, vừa nêu lên tinh thần khó khăn, tuyệt vọng, thất bại của địch, vừa chỉ ra lối thoát cho chúng, vừa khẳng định ý chí kiên quyết tiêu diệt địch của quân và dân ta, lại vừa nói rõ chính sách khoan hồng của dân tộc ta đối với tù, hàng binh.


Trong thư gửi Phương Chính, một tướng nhà Minh, Nguyễn Trãi vạch ra như sau: "Nước người nhân dịp nhà Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội (ý nói nhà Minh mượn tiếng thương dân sống khổ mà đánh kẻ có tội để cứu dân - T.G.), kỳ thực là làm việc bạo tàn, lấn cướp nước ta, bóc lột dân ta, thuế nặng, hình nhiều, vơ vét của quý, dân mọn các làng không được yên sống. Nhân nghĩa lại làm thế ư? Nay ở nước người, dân oán, thần giận, kế tiếp có đại tang, thế mà đã không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ (ý nói dùng vũ lực, đánh nhau không thôi - T.G.), ham thích xâm lược nơi xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 22, 20). Rồi ông chỉ rõ cho tướng sĩ nhà Minh:

"Kế của ngài ngày nay không gì bằng cởi giáp nghĩ binh, ngồi nhàn mà nhận hàng, đó là thượng sách. Thế tuy là may cho bọn tôi cùng ngài, mà cũng là may lớn cho vạn dân thiên hạ vậy"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 22, 20).

Khi gần 10 vạn quân Minh bị vây khốn trong các thành, tổng binh Minh là Vương Thông chờ mong viện binh, hy vọng được giải vây rồi phản công đánh luôn nghĩa quân, Nguyễn Trãi đã phân tích như sau:

"Trước đây lòng mưu giả trá, mặt thác giảng hòa, rồi cứ đào hào đắp lũy, ngồi đợi viện... Hiện nay phương Bắc có kẻ địch Thiện Nguyên (một tướng thuộc dòng dõi nhà Nguyên, chiếm giữ miền Bắc Trung Quốc, vẫn đang chống lại nhà Minh - T.G.), trong nước có mối lo các xứ Tầm Châu (chỉ khởi nghĩa của nhân dân Trung Quốc ở Quảng Tây chống lại nhà Minh - T.G.), một khu Giang Tả (nay thuộc Giang Tô, Trung Quốc - T.G.) không tự giữ xong, huống còn mưu toan cướp nước khác ư? Các người không hiểu sự thế bị người đánh thua, lại còn chực dựa uy Trương Phụ (lúc đó Vương Thông thường phao tin Trương Phụ là tướng tài đã từng thắng nhà Hồ sẽ sang, định dựa vào oai phong của Trương Phụ để uy hiếp nghĩa quân ta - T.G.), thế là đại trượng phu chăng?... Sự thế ngày nay, dẫu cho thượng vị (chỉ vua Minh - T.G.) có đem quân đến nữa cũng chỉ chóng chết mà thôi, huống là Trương Phụ tự đến nạp xác thì sao đáng nói... Nay sức hết kế cùng, quân nhọc lính mệt, trong thiếu lương thực, ngoài không viện binh, bám hờ khu nhỏ mọn, nghỉ tạm thành chơ vơ, đó không phải là như thịt trên thớt, cá trong nồi ư?"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 48, 49).

Cuối cùng, ông khái quát như sau: "Nay tính hộ các ông, xét có sáu điều phải thua:

- Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết, quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất.

- Xưa Đường Thái bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay những nơi quan ải hiểm yếu, đều có quân nhà vua đóng giữ, nếu viện binh đến, thì tất phải thua; viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.

- Ở nước các ông, quân mạnh ngựa tốt, nay đóng cả ở miền Bắc để phòng bị quân Nguyên, không dõi nhìn đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.

- Động dụng can qua, hàng năm đánh dẹp, dân sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.

- Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình thêm biến. Đó là điều phải thua thứ năm.

- Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc; quân sĩ trong thành thì đều mỏi mệt, kham khổ, tự chuốc lấy bại vong. Đó là điều phải thua thứ sáu.


Nay giữ cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, ta lấy làm tiếc cho các ông lắm. Cổ ngữ có câu: "Nước xa không thể cứu được lửa gần", giá viện binh có đến cùng có ích gì cho sự bại vong?"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 49, 50, 41, 42).


Đối với tướng sĩ ngụy, Nguyễn Trãi khêu gợi tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc: "Người xưa có câu nói: "Quạ đi lại về quê cũ, cáo chết quay đầu về núi", cầm thú còn thế, huống nữa là người? Các ngươi vốn đều là người dân Tây Việt, dòng dõi nhà quan. Trước nhân nhà Hồ thất đức, giặc Ngô lăng loàn, các người có người thân bị hãm ở tặc đình, có người thì danh bị buộc ở ngụy chức, đó là thế không đừng được, nào phải do ở bản tâm đâu... Bọn các ngươi nếu biết sửa lòng đổi dạ, bỏ nghịch theo thuận, hoặc ở làm nội ứng hoặc ra để cũng đầu hàng thì không những rửa mối hổ thẹn ngày trước mà cũng được phần soi xét về sau. Ta không nói lời lại ăn lời, nếu các ngươi lại còn tiếc tham ngụy chức, chống cự vương sư thi khi hãm thành tội các người tất nặng hơn giặc Ngô đấy"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 49, 50, 41, 42).


Chính sách đối với quân giặc ra hàng cũng đã được quy định rõ:

"Tướng giặc đã hàng mảy may cũng không được xâm phạm. Bất cứ tội to tội nhỏ đều xóa cho hết"3 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).

"Quan quân đã hàng, vợ con quyến thuộc cùng là tài vật đều bảo toàn hết cả, không chút thiệt hại"1 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).


Đối với tướng sĩ ngụy đã ra hàng:

"Ra ngoài thành cùng ta hòa thân, thì ta sẽ coi các ngươi như tình anh em ruột thịt, chẳng những là bảo đảm tính mạng vợ con mà thôi..."2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 43, 50).

Còn đối với tướng sĩ nhà Minh thì:

"Nếu muốn rút quân về nước ta sẽ sửa sang cầu cống, chuẩn bị thuyền bè, thủy lục hai đường, tùy theo ý muốn, bảo đảm đưa ra khỏi bờ cõi không phải lo gì"3 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 43, 50).


Việc kết hợp chặt chẽ tác chiến và địch vận đã làm cho tổ tiên ta phát huy được sức mạnh chính trị của mình, tiết kiệm được xương máu, giành được thắng lợi to lớn trong chiến tranh.

Kết quả là "thành giặc các nơi, mũi nhọn không dính máu mà tự mở. Hàng vạn quân ngụy ra hàng, rất nhiều người đã tham gia hàng ngũ nghĩa quân, giúp cho quân đội phát triển nhanh. Hàng vạn quân Minh đã mở của thành, dâng thành cho nghĩa quân, có những tướng lĩnh đã đứng hẳn về phía chính nghĩa giúp quân và dân ta trong công tác vận động thuyết phục các tướng lĩnh Minh khác cũng như giúp nghĩa quân tin tức quân sự và cách chế tạo chiến cụ để đánh bại quân Minh.


Ở những thời khác, tuy công tác địch vận chưa được tiến hành một cách đầy đủ như thời Lê, nhưng ít nhiều cũng đã có những tác dụng nhất định trong việc làm tan rã tinh thần chiến đấu của quân xâm lược (thời Lý, Trần và Nguyễn Huệ, v.v...).


Trước Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cũng đă có chủ trương đánh bằng địch vận - nhưng chưa coi trọng như Nguyễn Trãi, chưa thành một vấn đề chiến lược như trong thời Nguyễn Trãi. Trần Hưng Đạo cũng đã biết lợi dụng mâu thuẫn giữa người Hán với người Mông Cổ trong quân Nguyên mà lôi kéo những tướng sĩ người dân tộc Hán trong quân đội nhà Nguyên.


Một vụ điển hinh là vụ Triệu Trung, một tướng người Hán trong quân Nguyên đã ra hàng quân ta và tham gia đạo quân Trần Nhật Duật, đã góp phần đánh tan đoàn quân tiên phong của đạo quân Toa Đô tại trận Hàm Tử năm 1285.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 08:36:56 am
C- ĐẤU TRANH VŨ TRANG VÀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO

Để dựng nước và giữ nước, để giành và giữ nền độc lập dân tộc, nhìn chung cả quá trình mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta trước kẻ thù hung bạo, dùng vũ lực đặt ách thống trị, đã không đi trệch con đường đúng đắn duy nhất đã chọn: con đường cầm vũ khí đấu tranh quyết liệt một mất một còn với địch. Chưa đạt tới mục đích độc lập dân tộc, chưa thực hiện quyền làm chủ hoàn toàn đất nước mình thì tổ tiên ta quyết nắm chắc vũ khí trong tay, quyết đánh quyết thắng. Chính đi theo con đường đó, mà tổ tiên ta đã sáng tạo một nghệ thuật chỉ đạo đúng đắn, một nghệ thuật biết khởi sự và giỏi tiến hành chiến tranh đồng thời biết kết thúc chiến tranh và giữ vững thắng lợi của chiến tranh đó một cách có lợi nhất cho đất nước, dân tộc, một khi mà các mục tiêu cơ bản của chiến tranh đã đạt được. Đó là nghệ thuật giành, giữ vững, củng cố quyền làm chủ đất nước của một dân tộc kiên cường bất khuất, người không đông, quân đội không nhiều, đất nước không rộng, mà phải chiến thắng những quân đội xâm lược của một nước phong kiến lớn mạnh.


1. Trong các cuộc chiến tranh, dân tộc ta đã kiên quyết đánh những đòn rất mạnh, tiêu diệt những lực lượng rất quan trọng của địch, thậm chí nhiều khi tiêu diệt toàn bộ đoàn quân xâm lược trên đất nước ta, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, do đó mà quét sạch quân địch khỏi bờ cõi, giành lấy độc lập dân tộc.

Thường xuyên đương đầu với một nước phong kiến lớn mạnh xâm lược, tổ tiên ta đã chiến đấu rất quyết liệt, đánh bại ý chí xâm lược của chúng bằng cách liên tục và triệt để tiêu diệt địch trên đất nước ta, khiến cho kẻ địch lớn mạnh phải chịu khuất phục, tuy còn khả năng nhưng ý chí xâm lược đã tan rã khiến không những bọn quan quân, tướng sĩ đã từng tiến vào nước ta khiếp vía, run sợ, mà ngay cả bọn cầm đầu triều đình ở chính quốc cũng phải chịu thua.


Hai lần quân Tống xâm lược là hai lần quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt đánh cho chúng không còn chỗ đứng chân trên đất nước ta; chỉ đến mức đó thì nhà Tống mới chịu thua hẳn. Ba lần quân và dân ta thời Trần đã tiêu diệt trên dưới chín mươi vạn quân Nguyên thì đế quốc Đại Nguyên mới chịu "bãi binh". Phải sau 10 năm đọ sức quyết liệt với nhà Minh tiêu diệt và làm tan rã trên nửa triệu quân Minh, vua Minh mới buộc phải ra lệnh "rút quân về nước". Nguyễn Huệ chỉ có tiêu diệt trong một trận thần tốc hai mươi vạn quân Thanh, mới khiến cho triều đình Thanh vứt bỏ mộng tưởng thống trị nước ta.


Để đạt tới mục tiêu quét sạch địch ra khỏi nước ta, đập tan ý chí xâm lược của chúng, tổ tiên ta tùy hoàn cảnh cụ thể đã dùng hai cách: hoặc là tiêu diệt toàn bộ quân địch, thu hồi toàn bộ đất đai của ta (thời Trần, thời Nguyễn Huệ); hoặc là trong những điều kiện nhất định, tiêu diệt đại bộ phận, đặc biệt là tiêu diệt những đạo quân chủ lực tinh nhuệ nhất, xương sống của đoàn quân xâm lược, đặt bộ phận còn lại vào nguy cơ bị tiêu diệt, rồi hạ tối hậu thư cho chúng phải nhanh chóng lui quân (thời Lý, thời Lê); địch rút đến đâu ta tiến đến đó (thời Lý, thời Lê); đối với bọn ngoan cố chống cự lại thì quyết tiêu diệt cho đến khi thu hồi toàn bộ đất đai (thời Lý).

   "Chúng đã sợ chết xin hòa, thực thà cầu sống;
   Ta muốn toàn quân làm cốt, ngơi nghỉ cùng dân".

Điều đáng chú ý là, khi cho phép một bộ phận địch còn lại rút khỏi nước ta, tổ tiên ta không những nhằm mục tiêu trước mắt của cuộc chiến tranh đang tiến hành, mà còn nhằm vào lợi ích lâu dài của dân tộc, như Nguyễn Trãi đã viết:

"Thần vũ không giết, đức lớn hiếu sinh. Nghĩ đến kế lâu dài của nước nhà, tha ngay 10 vạn hàng binh".


2. Tổ tiên ta đã biết khéo léo kết hợp đấu tranh vũ trang rất kiên quyết với đấu tranh ngoại giao rất mềm dẻo, sau khi đã giành được thắng lợi to lớn quyết định trên chiến trường, sau khi quân địch bị thất bại nặng nề mà thực chịu thua, nhằm củng cố và mở rộng thành quả đấu tranh.

Trong những cuộc chiến tranh thắng lợi, vấn đề "đánh" và "đàm" đã được tổ tiên ta nhận thức một cách đúng đắn và giải quyết một cách đúng đắn và sáng tạo. Luôn luôn sẵn sàng đánh, đánh đến thắng lợi hoàn toàn, đánh hết trận này, đánh xong với kẻ thù này lại chuẩn bị đánh trận khác, đánh kẻ thù khác nêu chúng dám xâm lược. Đó là quan điểm chiến lược nhất quán của dân tộc ta. Mặt khác, tổ tiên ta cũng tỏ ra mình hiểu người, biết dùng biện pháp đàm phán kết hợp được tính cứng rắn về nguyên tắc và tính mềm dẻo về sách lược, để củng cố và mở rộng thành quả của đấu tranh vũ trang.


Có đánh có đàm, trên cơ sở đánh thắng oanh liệt mà chủ động đẩy mạnh hoạt động ngoại giao khôn khéo, điều đó đã được thể hiện trong những cuộc chiến đấu nói trên. Kinh nghiệm lịch sử của tổ tiên chúng tỏ phải có những chiến thắng oanh liệt, những trận đánh tiêu diệt lớn thật vang dội, cổ vũ đến cao độ nhiệt tình yêu nước của nhân dân ta, khiến toàn quân toàn dân dốc sức đánh bại hoàn toàn quân địch, mà địch thì suy sụp tinh thần chiến đấu, không thể không chịu thua trước thảm họa quân sự của chúng, đó là thời cơ có lợi để tổ tiên ta tiến hành ngoại giao với địch. Tùy theo so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng triều đại, tổ tiên ta đã biết áp dụng hai cách vừa đánh vừa đàm và đánh thắng rồi đàm.


Sau chiến thắng của trận phản công trên sông Cầu tiêu diệt phần lớn chủ lực tinh nhuệ của quân Tống, tuy quân địch còn trên đất nước ta, Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang gặp tướng chỉ huy quân xâm lược để đặt điều kiện lập lại hòa bình giữa hai nước: Quân Tống rút lui toàn bộ khởi đất nước ta. Quách Quỳ - tướng chỉ huy quân Tống - lúc đó chỉ có thể chọn một trong hai con đường: hoặc tiếp tục đánh thì nhất định bị tiêu diệt hoàn toàn, hoặc nhận điều kiện rút quân thì bảo tồn được bộ phận sinh lực còn lại, giữ được tính mạng của bản thân. Trong điều kiện nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn là rõ ràng, khẩn cấp, Quách Quỳ đã chọn con đường thứ hai, lập tức rút quân, ngay trước khi triều đình Tống ra lệnh bãi binh. Thời Lê, trong mười năm chiến tranh giải phóng, đã có nhiều lần vừa đánh vừa đàm như vậy. Như sau lần đánh bại cuộc tiến công càn quét của 10 vạn quân Minh ở vùng huyện Khôi nhằm tranh thủ thời gian để củng cố lực lượng chuẩn bị tiếp tục đánh, hai bên đã đàm phán đi tới tạm hòa hoãn trong hai năm. Sau chiến thắng vang dội Chi Lăng - Xương Giang, đập tan cố gắng cao nhất cuối cùng của nhà Minh, Lê Lợi - Nguyễn Trãi lại tiếp tục đàm phán với Vương Thông, buộc 10 vạn quân địch còn lại phải đầu hàng và được phép rút quân về nước, trước khi vua Minh có lệnh bãi binh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 08:43:47 am
Còn thời Trần, thời Nguyễn Huệ, chỉ sau khi đã giành thắng lợi hoàn toàn bằng những chiến công hiển hách, tiêu diệt gần hoàn toàn quân xâm lược, nhà Trần và Nguyễn Huệ mới chủ động tiến hành hoạt động ngoại giao với các triều đình Nguyên và Thanh.


Như trên đã nêu, dù vừa đánh vừa đàm, hay là đánh rồi đàm, tổ tiên ta tỏ ra nắm vững quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường nước ta và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao. Đó là biểu hiện của sự kết hợp đúng đắn giữa ý chí kiên cường bất khuất và nhãn quan trông xa thấy rộng, có lòng căm thù sâu sắc quân địch, lại biết đánh giá đúng sức mình, sức người. Nhà sử học Phan Huy Chú đã bình luận như sau về mối quan hệ giữa chiến thắng quyết định và hoạt động ngoại giao thời Lý:

   "Việc biên giới ở đời Lý được trả lại đất rất nhiều.

Bởi vì, trước thì có oai thắng trận, người trung châu (ý chỉ đoàn quân Tống xâm lược nước ta - T.G.) hoảng sợ, đủ làm cho nhà Tống phải phục, sau thì sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung càng thêm khéo léo. Cho nên cần gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người phương Bắc phải khuất, mà thế lực của Nam Giao được mạnh. Xem đó cũng có thể biết qua thế cường thịnh của thời bấy giờ"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Bang giao chí, tập IV, bản dịch, tr. 196) (chúng tôi nhấn mạnh * T.G).


Cho nên biện pháp ngoại giao không phải được thực hiện với tinh thần sợ hãi quân địch lớn mạnh hơn mình, mà với thế của kẻ chiến thắng, của một nước đã đánh bại quân thù xâm lược.

Tinh thần trên thể hiện rõ trong lời của Nguyễn Trãi nói với Lê Lợi và các tướng lĩnh của nghĩa quân sau khi tiêu diệt viện binh địch tại Chi Lăng - Xương Giang: "Tình hình quân giặc trong lúc này, mình phá vào sào huyệt ăn gan uống máu để rửa mối thù sâu không phải là một sự khó khăn. Nhưng thần trộm e, như vậy sẽ kết mối thù với triều Minh quá sâu. Vì sự trả thù, vì sự vớt lấy thể diện của một nước lớn, Minh chúa tất lại phái binh sang, như thế cái vạ binh đao biết đến bao giờ cho dứt được. Chi bằng ta nên thừa lúc này, kẻ thù lâm vào thế cùng mà cùng họ hòa hiếu để tạo phúc cho cả sinh linh hai nước"2 (Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn trích dẫn trong Khởi nghĩa Lam Sơn và phong trào giải phóng đất nước vào đầu thế kỳ XV, Nxb Khoa học, H. 1969, tr. 240).


Với nội dung bảo đảm giành độc lập hoàn toàn của dân tộc, hoạt động ngoại giao đó đã được tiến hành dưới nhiều hình thức nhằm buộc địch chịu thua mà không "mất mặt", như: tạo điều kiện cho quân bại trận rút về, chịu phong vương, nhận triều công, nhận trao trả tù binh, v.v... để đặt lại quan hệ bình thường giữa hai nước.


Trên cơ sở của cái "oai thắng trận", cuộc đấu tranh về mặt ngoại giao giữa ta và địch vẫn không kém phần gay go quyết liệt, có lúc rất căng thẳng. Như nhà Trần đã kiên quyết bác bỏ toàn bộ 6 điều của nhà Nguyên, tuy rằng trong cuộc đấu tranh ngoại giao đó, phía bên Nguyên đã rút lui từng bước, rút bỏ một số điều kiện, cho đến lúc cuối cùng phải bỏ hẳn các điều kiện xâm phạm chủ quyền nước ta.


Trong nhiều trường hợp (thời Lý, thời Tây Sơn), cuộc đấu tranh ngoại giao mang tính chất một cuộc tiến công tích cực để khuếch trương chiến quả của đấu tranh vũ trang, tiêu biểu là cuộc đấu tranh thời Lý buộc Tống phải thừa nhận Đại Việt là một nước riêng biệt, chứ không phải làm một quận, cũng không phải là một chư hầu của Tông; thừa nhận vua nước Đại Việt là quốc vương chứ không phải là "Giao Chỉ quận vương".


Điêu đáng chú ý là tổ tiên ta không hề có ảo tưởng đối với "thiện chí" của quân xâm lược, chưa triệt để đánh bại chúng thì chưa có thể có độc lập dân tộc. Sau năm năm chiến tranh, Lê Lợi tạm hòa hoãn với quân Minh chỉ là để chuẩn bị tiếp tục chiến đấu quyết liệt hơn. Đến năm thứ mười của cuộc chiến tranh, khi 8 vạn quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị quân ta vây hãm ở Xương Giang có ý trá hàng, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã không chấp nhận mà kiên quyết tiêu diệt chúng toàn bộ. Có như vậy mới có điều kiện buộc quân Vương Thông ở Đông Quan phải thực sự đầu hàng. Các triều đại chỉ đặt quan hệ bình thường với quân địch sau khi đã hoàn toàn đánh bại các cuộc xâm lược của chúng.


Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh xuất sắc của dân tộc ta với nội dung hết sức phong phú và sáng tạo đã góp phần rất to lớn để đưa những cuộc chiến tranh tự vệ và giải phóng của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 09:06:52 am
IV. TRUYỀN THỐNG VẺ VANG, DI SẢN QUÝ BÁU

A- Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh liên tục để giành tự do và độc lập, dân tộc ta đã xây dựng và hun đúc cho mình một truyến thống vô cùng vẻ vang và oanh liệt.

Đó là lòng yêu nước và yêu tự do, dân tộc ta đã xây dựng được cho mình một tinh thần, ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, bất khuất và tin tưởng vào thắng lợi.

Muốn đấu tranh thắng lợi, cần phải có sự đoàn kết của toàn dân. Trước nạn nước, thù nhà, nhân dân ta, tất cả cùng một chí hướng, nguyện vọng, đều nhất tề đứng dậy, tạo nên một sức mạnh phi thường đủ sức đánh bại tất cả những kẻ thù xâm lược hung bạo nhất trong lịch sử.


Từ đời này qua đời khác, từ cuộc đấu tranh này qua cuộc đấu tranh khác, truyền thống đó luôn luôn được phát huy, được hun đúc tinh xảo hơn, lại càng thêm rực rỡ.

Ở thời đại ngày nay, trong ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học, Hồ Chủ tịch là người kế thừa và phát huy truyền thống, phát huy tinh hoa của dân tộc một cách nhuần nhuyễn, tốt đẹp và chân chính nhất.


B- Truyền thống của dân tộc ta là truyền thống đấu tranh giành thắng lợi.

Vì thế mà nó có rất nhiều điều quý, có nhiều cái cao đẹp.

Đấu tranh xã hội, đấu tranh giai cấp là một loại đấu tranh rất quyết liệt.

Đấu tranh vũ trang là một cuộc đấu tranh quyết liệt nhất trong đấu tranh giai cấp.

Dân tộc ta, từ đời này sang đời khác luôn luôn trường kỳ, liên tục, tiến hành đấu tranh vũ trang chống những kẻ thù xâm lược thường lớn mạnh hơn mình; và phần lớn các cuộc đấu tranh vũ trang đó đều giành được thắng lợi vẻ vang.


Dân tộc ta phải rất kiên cường và tài giỏi lắm mới làm như thế được.

Trong những chiến thắng oanh liệt đó, có biết bao nhiêu cái tài, cái giỏi, cái hay, cái đẹp.

Chúng ta phải khám phá ra, kế thừa và phát huy lên cao hơn nữa. Dân tộc ta phải phát triển toàn diện, giỏi toàn diện thì mới đạt tới những đỉnh cao của tất cả những thắng lợi đó; tức là phải giỏi cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, triết học, v.v...


Về quân sự, từ đời này sang đời khác, từ cuộc đấu tranh này sang cuộc đấu tranh khác, tổ tiên ta đã từng bước hoàn chỉnh dần và nâng cao dần nghệ thuật quân sự; đến thời đại Quang Trung thì nền nghệ thuật quân sự thời cổ Việt Nam đã được hoàn chỉnh và có trình độ tương đối cao.


Bắt đầu từ Hai Bà Trưng, ta có khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi bằng một cuộc tổng khởi nghĩa, đồng thời trong cả nước, từ địa phương đến trung ương, nhanh chóng tiêu diệt quân thù, đập tan bộ máy thống trị của địch, lập nên chính quyền của ta.


Đến Triệu Quang Phục, ta đã đánh du kích, rồi tiến lên đánh tập trung và cuối cùng giành được thắng lợi. Đến các đời sau này, từ đời Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, đến Trần Hưng Đạo, Lê Lợi - Nguyễn Trãi lại phát triển lên đánh tập trung, đánh vận động với thế trận chiến dịch, chiến lược rất tài giỏi và khi cần thiết cũng có đánh công thành, đánh trận địa.


Đến Quang Trung thì nghệ thuật quân sự Việt Nam lại được nâng cao lên một bước mới và hoàn chỉnh nghệ thuật quân sự Việt Nam thời cổ.

Đó là nghệ thuật đánh công thành, đánh trận địa.

Về chiến dịch và chiến thuật thì đánh công thành, đánh trận địa là chủ yếu nhưng về chiến lược thì Quang Trung đã vận dụng một chiến lược cơ động rất cao.

Sức đột phá trong tiến công rất mạnh kết hợp với nghệ thuật bao vây vu hồi chiến dịch và chiến lược rất tài tình.

Đặc điểm của mỗi cuộc chiến tranh của từng thời đại như sau:

1. Nét đặc sắc của cuộc nổi dậy thời Hai Bà Trưng là sức mạnh lớn lao của cuộc tổng nổi dậy vũ trang đồng thời của toàn dân ở khắp miền đất nước, quật ngã quân thù cùng một lúc ở khắp cả mọi nơi, đập tan ngay chính quyền thống trị trung ương, làm quân địch trở tay không kịp. Đòn quyết định do Hai Bà lãnh đạo, chỉ huy là diệt ngay cái đầu "rắn", diệt ngay sào huyệt lớn nhất của quân thù, vì thế mà đã giành được thắng lợi hoàn toàn và nhanh chóng.

2. Nét đặc sắc của Lý Thường Kiệt là tư tưởng tiến công rất cao. Ông luôn luôn chủ động, tích cực, liên tục tiến công kẻ thù; đánh phủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động và dù trong thế bị kẻ thù tiến công, ông cũng quyết liệt phản công lại kẻ thù một cách nhanh chóng.

3. Nét đặc sắc của Trần Hưng Đạo là biết phân tán, làm mệt mỏi quân thù lớn mạnh, đưa chúng vào thế khốn quẫn, rồi thực hành phản công.

Trần Hưng Đạo biết rõ sức mạnh của toàn dân và phát động được nhân dân đứng lên chiến đấu. Ông giỏi chỉ huy các binh đoàn lớn đánh vận động.

Trong tác chiến vận động, Trần Hưng Đạo đã tổ chức được những chiến dịch phục kích quy mô và liên hoàn, diệt đạo quân lớn của quân xâm lược và giành được thắng lợi quyết định.

Ông có sở trường về sử dụng thê đội hai chiến lược. Sau khi thê đội một chiến lược đã tiêu diệt được một bộ phận sinh lực quan trọng của quân địch, ông liền tung thê đội hai chiến lược ra đánh đòn quyết định, dứt điểm về chiến lược, thực hiện được tiêu diệt chiến lược và giành được thắng lợi chiến tranh. Trận Chương Dương và trận Bạch Đằng là những trận chiến nổi tiếng trong lịch sử.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 09:07:56 am
4. Nét đặc sắc của Lê Lợi - Nguyễn Trãi là biết rõ sức mạnh của nhân dân, và có lòng tin vào sức mạnh đó. Cho nên Lê Lợi - Nguyễn Trãi biết phát động nhân dân đứng lên khởi nghĩa. Hai ông giỏi về đánh du kích, rồi từ du kích tiến lên đánh tập trung.

Tác chiến tập trung là đánh vận động.

Đặc điểm của đánh vận động thời Hậu Lê này là có nhiều mưu trí, biết chọn mục tiêu, đối tượng tiến công thích hợp để giành thắng lợi.

Trong cuộc chiến tranh có nhiều trận hay.

Thế trận chiến lược hay nhất, tài giỏi nhất là thế trận chiến lược của đòn quyết chiến cuối cùng tiêu diệt đạo quân chủ lực của quân địch do Liễu Thăng chỉ huy ở Chi Lăng.

Thời kỳ này, bộ tham mưu của Lê Lợi đã tổ chức được các tập đoàn chiến lược khác nhau để bao vây chia cắt chiến lược thế trận của quân thù, đã phân tích chính xác các đối tượng tiến công và biết thực hành các cách đánh khác nhau đối với từng đối tượng và biết tập trung tập đoàn chiến lược mạnh nhất và tập trung mọi sự nỗ lực vào tiêu diệt tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân thù, được sự hiệp đồng toàn diện của cả chiến trường để tiêu diệt gọn tập đoàn chiến lược chủ yếu đó giành thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến lâu dài vĩ đại. Thế trận chiến lược của cuộc quyết chiến cuối này là một thế trận chiến lược có danh tiếng trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta và cũng là một thế trận chiến lược hay trong lịch sử chiến tranh thế giới.


Thế trận chiến lược này tuy quy mô có khác nhưng có thể so sánh được với thế trận chiến lược của mũi vu hồi chiến lược của Hàn Tín, bắt đầu bằng trận chiến lừng danh "Bối Thủy trận" ở trên bờ sông Miên Man, đánh bại đại tướng Trần Dư, bắt sống quân sư Lý Tà Xa và toàn bộ vua quan nhà Triệu, giành đòn thắng lợi đầu tiên và rất quyết định tạo ra điều kiện và thời cơ thuận lợi cho việc phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng mũi vu hồi chiến lược ở mặt chính của Lưu Bang.


Còn so với chiến dịch Can của Ha-ni-ban thì quy mô chiến cục mùa đông 1427 của Lê Lợi - Nguyễn Trãi to rộng hơn và có phần phức tạp hơn.

Đối với việc nghiên cứu lịch sử, chúng ta hiểu biết rằng mỗi sự kiện lịch sử phát sinh và phát triển đều có những điều kiện khác nhau, cho nên mỗi sự kiện lịch sử chiến tranh đều có những đặc điểm, những cái hay và những cái độc đáo riêng của nó.

Cuộc chiến tranh do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo là một cuộc chiến tranh có nhiều tính chất nhân dân.


5. Đặc tài của Quang Trung là có tư tưởng tiến công cao, tiến công rất kiên quyết và có tư tưởng tiêu diệt chiến cao.

Quang Trung giỏi về đánh công thành, đánh mạnh, đánh chớp nhoáng, giỏi cơ động các binh đoàn lớn một cách thần tốc.

Quang Trung có tài về đột phá, đồng thời cũng giỏi về nghệ thuật bao vây vu hồi. Sức đột phá trong tiến công rất mạnh, đồng thời kết hợp được với bao vây vu hồi rộng rãi, nhiều tầng và chặt chẽ. Quang Trung thường tổ chức các chiến dịch đánh công thành lớn. Các chiến dịch đó là những đòn tiến công chiến lược chủ yếu của Quang Trung và đều thành công, giành được thắng lợi quyết định.


Do trình độ đánh công thành khá, tinh thần tiến công kiên quyết, có sức đột phá mạnh, nên Quang Trung thường chỉ dùng một thê đội chiến lược để thực hành tiến công chiến lược, quyết chiến chiến lược và đi đến tiêu diệt chiến lược quyết định, giành thắng lợi cho chiến tranh. Trong lịch sử chiến tranh, Quang Trung thường chỉ thực hành một trận quyết chiến chiến lược là giải quyết được chiến tranh, giành được thắng lợi hoàn toàn.


Trận phản công đánh vào Thăng Long là một trận có danh tiếng trong lịch sử.

Sở dĩ Quang Trung chỉ thực hành một trận quyết chiến chiến lược cũng giành được thắng lợi chiến tranh là do ông đã đánh thắng được ngay vào sào huyệt trung ương, sào huyệt cuối cùng của kẻ thù, diệt được ngay bộ tổng chỉ huy của quân địch, cùng với tập đoàn chiến lược chủ yếu của nó.


Qua tất cả quá trình của các cuộc chiến tranh chống xâm lược và chiến tranh giải phóng trong lịch sử đấu tranh vũ trang lâu dài của dân tộc ta, nghệ thuật quân sự Việt Nam thời cổ đã hình thành từng bước, đã dần dần hoàn chỉnh và đã phát triển tới một trình độ khá cao, và đã có thể gọi là hoàn chỉnh.


Quá trình hình thành, phát triển và hoàn chỉnh của nghệ thuật quân sự đó như sau:

Khởi nghĩa vũ trang bằng tổng khởi nghĩa vũ trang, bằng đồng khởi trong cả nước từ địa phương đến trung ương.

Đánh du kích đến đánh tập trung. Đánh vận động là chủ yếu kết hợp với đánh công thành, đánh trận địa. Đánh thành là chủ yếu kết hợp với đánh vận động.

Tổng hợp tất cả các cuộc chiến tranh trên đây, chúng ta thấy rằng tất cả các phương thức chiến tranh, tất cả các hình thức tác chiến đều đã diễn ra trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta và có thứ đã phát triển tới trình độ cao.


Những điều này chứng tỏ nghệ thuật quân sự của dân tộc ta đã được hoàn chỉnh và phát triển tới trình độ cao.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 14 Tháng Tám, 2023, 09:10:52 am
C- Có đường lối chính trị, đường lối cứu nước đúng đắn, có nghệ thuật quân sự tài giỏi, lãnh đạo chiến tranh thắng lợi. Nước Việt Nam ta không những đã có nhân dân anh hùng mà còn có những nhà lãnh đạo tài giỏi, có nhiều nhân tài, hào kiệt, có những người rất xuất sắc, có cả nam và nữ, v.v...

Chiến tranh là một cuộc đấu tranh tổng hợp của cả một xã hội, một quốc gia về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, v.v...

Nhân tố giành thắng lợi trong chiến tranh cũng là những nhân tố tổng hợp, mà đấu tranh vũ trang - quân sự chỉ là một biểu hiện cụ thể, tập trung nhất. Những lãnh tụ quân sự cũng thường là những lãnh tụ chính trị và những lãnh tụ chính trị cũng thường là những người chỉ huy, chỉ đạo cả quân sự:


Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung cũng đều là nhu thế cả.

Đường lối chính trị, quân sự đúng đắn là do có lập trường, ý chí vững vàng, kiên định. Ngoài ra lại có nhận thức đúng đối với chiến tranh, biết phân tích chiến tranh một cách khoa học.

Trong sự thành công và thắng lợi của chiến tranh đều có chứa đựng những nhân tố như trên, nhất là trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, một nước nhỏ đánh thắng một nước lớn thì những nhân tố đó lại càng phong phú. Những người chỉ huy quân sự và những nhà lãnh đạo chiến tranh tài giỏi đều là những người có chuẩn bị được cho mình những nhân tố trên, biết nắm vững những nhân tố trên.


Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi là những người biết nắm vững những nhân tố đó một cách xuất sắc, mà Nguyễn Trãi là người xuất sắc nhất.

Nguyễn Trãi là một người lãnh đạo chiến tranh một cách rất tự giác, vì Nguyễn Trãi đã nắm vững được quy luật của chiến tranh.

Nguyễn Trãi không những có lập trường và ý chí vững vàng, kiên định, có quyết tâm cao mà còn phân tích chiến tranh một cách khoa học; do đó mà chỉ đạo chiến tranh một cách đúng đắn và đi đến thắng lợi.


Trong vườn hoa nhân tài của dân tộc ta, không những chúng ta có rất nhiều nhà chính trị, quân sự, văn học lỗi lạc, thiên tài, mà chúng ta còn có những nhà tư tưởng vĩ đại. Trong các nhà tư tưởng vĩ đại đó ở các thời kỳ lịch sử trung cổ đại của dân tộc ta thì Nguyễn Trãi là một nhà tư tưởng vĩ đại nhất, tiến bộ nhất.


Nguyễn Trãi đã có tư tưởng biện chứng trong việc nhận thức, phân tích chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh.

Cái cốt tủy tinh túy trong tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi là nhìn nhận hai mặt tư tưởng của sự vật và nhìn nhận sự biến hóa của sự vật trải qua một quá trình đấu tranh. Cao hơn một bước, ông còn cho rằng ý chí của con người là nhân tố quan trọng trong việc làm thay đổi sự vật.


Tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi không phải chỉ có phát triển đến đó mà ông còn nhận thấy điều kiện cụ thể của sự vật.

Do đó mà sự chỉ đạo chiến tranh của Nguyễn Trãi không những chỉ có chính xác mà còn rất linh hoạt.

Trong đấu tranh giai cấp, cũng như đấu tranh sản xuất, từ ngàn xưa, trải qua đời này đến đời khác, mặc dù thô sơ và tự phát, tổ tiên ta ít nhiều đã có quan điểm duy vật và tư tưởng biện chứng.

Nguyễn Trãi chính cũng là tiếp thu kinh nghiệm và tinh hoa đó và phát triển lên thêm trong đấu tranh thực tế của xã hội và bản thân mình. Nguyễn Trãi đã có trình độ tổng hợp và khái quát cao hơn các nhà tư tưởng trước kia.


Do đó mà quan điểm duy vật và tư tưởng biện chứng của ông đã có một trình độ cao hơn và xuyên suốt được vào trong mọi hành động của ông.

Tìm thấy tư tưởng biện chứng thô sơ của Nguyễn Trãi là một phát hiện có giá trị về cả mặt lịch sử và triết học.

Trong tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi phân tích được điều kiện tồn tại và vận động của sự vật là đi sâu thêm vào một khía cạnh trong việc phân tích triết học biện chứng.

Dân tộc ta không những chỉ có những nhà chính trị, quân sự, văn học lỗi lạc thiên tài, mà còn có những nhà tư tưởng vĩ đại, nhà triết học biện chứng.

Qua lịch sử trên, chúng ta thấy rất tự hào về tổ tiên ta, dân tộc ta, một dân tộc anh hùng, tài giỏi, đã phát triển cao về nhiều mặt.

Đó là những di sản rất quý giá. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, phát hiện để làm giàu thêm cho kho tàng lịch sử, kho tàng nghệ thuật quân sự của nước ta, để học tập, vận dụng và phát huy cao hơn, giành lấy thắng lợi to lớn vĩ đại hơn và vẻ vang hơn.


Có thể tóm tắt về những bài học lịch sử như sau:

Tinh thần yêu nước, yêu tự do, độc lập.

Ý chí kiên cường, bất khuất.

Tinh thần đoàn kết và đấu tranh.

Tinh thần đấu tranh bền bỉ, không quản hy sinh, gian khổ. Chí khí anh hùng, dũng cảm và truyền thống anh hùng.

Truyền thống đấu tranh vũ trang chống xâm lược.

Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài giỏi, sáng tạo.

Nghệ thuật quân sự cao và hoàn chỉnh.

Đời nào cũng có anh hùng và nhân tài lỗi lạc về các mặt. Sức sống của dân tộc rất mãnh liệt, một dân tộc luôn luôn phát triển và phát triển cao.

Ngày nay, trong ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, và dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta sẽ phát triển mạnh mẽ và nhất định sẽ mãi mãi là một dân tộc anh hùng, độc lập, tự do, thống nhất trong chế độ xã hội mới hùng mạnh và tiền tiến.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 09:59:16 am
V. MẤY BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH

Trong chiến tranh, đường lối chính trị và quân sự là rất cơ bản; nó quyết định việc chỉ đạo chiến tranh và giành thắng lợi trong chiến tranh.

Để thực hiện đường lối, chủ trương chiến tranh, cần có sự chỉ đạo cụ thể về phương pháp và các cách thức để tiến hành chiến tranh. Đó là sự chỉ đạo về nguyên tắc thực hành chiến lược.

Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, sự chỉ đạo về nguyên tắc chiến lược - những vấn đề cụ thể về chiến lược - có rất nhiều cái hay và rất phong phú. Đi sâu tìm tòi, nghiên cứu để tổng hợp, phân tích các loại kinh nghiệm vô cùng phong phú, quý báu của lịch sỏ chiến tranh là một điều cần thiết.


Qua những kinh nghiệm muôn màu muôn vẻ, có thể tìm hiểu quy luật của chiến tranh và giúp cho việc tham khảo để chỉ đạo vào thực tiễn chiến tranh hiện nay. Vấn đề thì rất nhiều, dưới đây chỉ đề xuất một vài vấn đề nhỏ.


1. Vấn đề tiến công và phản công

Tiến công và phản công là vấn đề chủ chốt trong chiến tranh. Vì chỉ có tiến công và phản công mới giành được thắng lợi trong chiến tranh. Nhưng tiến công chiến lược và phản công chiến lược như thế nào? Yêu cầu phải đạt được những gì? Lúc nào, thời cơ nào thì thực hành tiến công và phản công chiến lược? Tiến công và phản công chiến lược lần lượt trên từng hướng chiến lược hay đồng thời trên toàn tuyến? Đó là một nghệ thuật trong chỉ đạo chiến tranh.


Nghiên cứu vấn đề này, cần nắm vững một điểm cơ bản có tính chất bản chất là sự so sánh lực lượng và so sánh về thế và lực của hai bên. Trên cơ sở đó mà nghiên cứu các điều kiện cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng cho thích hợp.


Bộ chỉ huy chiến tranh phải căn cứ vào tình hình so sánh lực lượng, vào thế và lực giữa hai bên địch, ta trên chiến trường và của cả hai quốc gia mà quyết định một cách linh hoạt và sáng tạo.

Lý Thường Kiệt có thể phản công ngay lập tức ở trên hướng tiến công chủ yếu của địch, đánh ngay vào đạo quân chủ yếu của địch đang thực hành tiến công, là do tình hình so sánh lực lượng giữa hai bên, là do thế và lực giữa hai bên không chênh lệch nhau. Ngoài vấn đề thế và lực ra thì trình độ tác chiến của quân đội và nghệ thuật chỉ đạo của bộ chỉ huy cũng rất quan trọng. Đó là tính năng động chủ quan trong lãnh đạo, chỉ huy và hành động của cán bộ chỉ huy và của chiến sĩ. Quân đội nhà Lý là một quân đội thiện chiến, đã được rèn luyện trong chiến tranh nhiều năm và thường đánh thắng trận. Lý Thường Kiệt lại là một nhà chỉ huy thao lược, có ý chí, có quyết tâm và có tài.


Về nhân dân và tình hình xã hội thì được phát triển và vững mạnh trong một nước độc lập; nhân dân hăng hái, đoàn kết, quyết tâm đánh giặc, giữ nước.

Trong khi đó, bên nhà Tống thì đang có nguy cơ bị xâm lược ở phía bắc. Trước và sau khi quân Tống đánh nước ta thì các nước Liêu, Hạ, Kim đều đánh Tống (1004 Liêu đánh Tống, 1038 Tây Hạ đánh Tống, 1125 Kim đánh Tống). Về nội bộ thì triều đình nhà Tống có nhiều mâu thuẫn, chém giết lẫn nhau giữa phái Vương An Thạch và Lã Huệ Khanh; nền chính trị hủ bại suy đồi, nhân dân có nhiều oán ghét.


Trần Hưng Đạo khi phân tích tình hình thời đại đó cũng đã nói là lúc này nhà Lý có thế lực mạnh (Trần Quốc Tuấn trả lời nhà vua khi bị ốm).

Do sự so sánh lực lượng cụ thể giữa hai bên ở trên chiến trường và tình hình chính trị, kinh tế, quân sự của hai quốc gia cộng với trình độ tác chiến của hai quân đội, sự chỉ huy của hai bộ chỉ huy mà xem xét điều kiện và thời cơ phản công.


Lý Thường Kiệt thực hành phản công sớm và thành công, nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh trong vài ba tháng là do đã có những điều kiện cụ thể, những nhân tố thắng lợi nhanh của cuộc chiến tranh đó.


Đến thời đại Trần Hưng Đạo, việc thực hành phản công chiến lược có khác với Lý Thường Kiệt. Đó là do điều kiện của cuộc chiến tranh của thời nhà Trần có khác với thời nhà Lý.

Một điều kiện giống nhau là nhà Lý và nhà Trần đều đã là một nhà nước độc lập, có nhân dân đoàn kết quyết tâm đánh giặc, giữ nước. Nền kinh tế đã được tổ chức và phát triển. Nền chính trị cũng được tương đối ổn định. Quân đội đã được tổ chức, được huấn luyện tinh nhuệ, đã thành một quân đội chính quy của một nhà nước. Điều kiện khác nhau là đối tượng chiến tranh không giống nhau. Quân nhà Nguyên mạnh hơn quân nhà Tống.


Trước một quân địch mạnh như thế, Trần Hưng Đạo đã không thể phản công nhanh và sớm như Lý Thường Kiệt được. Ông phải rút lui từng bước, xoay chuyển thế trận, nhử địch vào sâu, phân tán quân địch, làm cho địch bị tiêu hao, mệt mỏi, tạo điều kiện để tiêu diệt từng bộ phận quân địch, dần dần thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra thế lợi, thế mạnh cho ta, đưa địch vào thế bất lợi, thế yếu, rồi mới thực hành phản công, tiến hành tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược đi đến giành thắng lợi quyết định và thắng lợi hoàn toàn. Trần Hưng Đạo đã đề ra phương châm lấy "ngắn trị dài", "lấy nhàn trị nhọc".


Trần Hưng Đạo phản công chậm hơn Lý Thường Kiệt mấy tháng, nhìn chung thì cũng là nhanh. Lý Thường Kiệt phản công và giành thắng lợi trong vài tháng. Trần Hưng Đạo phản công và giành thắng lợi trong sáu, bảy tháng.


Đến Quang Trung thì cuộc phản công lại sớm hơn và giành thắng lợi nhanh hơn. Khoảng hai tháng, Quang Trung đã giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để. Cuộc phản công chính vào Thăng Long giành thắng lợi quyết định thì chỉ khoảng một tuần lễ.


So sánh tình hình và lực lượng hai bên thì quân của Quang Trung là một đội quân mạnh, rất tinh nhuệ, đã đánh trăm trận trăm thắng, trình độ đánh công thành giỏi, nghệ thuật đột phá chiến dịch và bao vây vu hồi chiến dịch cao. Nhân dân đoàn kết, quyết tâm, được rèn luyện và có kinh nghiệm, truyền thống đấu tranh vũ trang.


Về quân nhà Thanh là một đội quân xâm lược, tinh thần kém và các mặt đều kém hơn đạo quân chủ lực của Quang Trung, về triều đình nhà Thanh thì ngày càng suy yếu. Đối ngoại thì có nhiều cuộc xung đột, chiến tranh với các nước láng giềng. Trong nước thì nhân dân có nhiều bất mãn. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên. Từ đời Càn Long thứ 35 đến đời Quang Tự thứ 14 (1721-1888) có tới hàng vài chục cuộc khởi nghĩa.


Trong điều kiện nhà nước và quân đội của hai bên như thế nên Quang Trung đã thực hành phản công sớm và giành thắng lợi nhanh chóng.

Trong lịch sử chiến tranh nước ta thì đây là một cuộc phản công mạnh nhất, nhanh nhất, giành thắng lợi nhanh nhất và rất oanh liệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:00:24 am
Bên cạnh những cuộc phản công sớm và giành thắng lợi nhanh thì trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có những cuộc phản công chậm, kéo dài. Đó cũng là do so sánh lực lượng, so sánh thế và lực.

Năm 544, Lý Bôn khởi nghĩa vũ trang thành công, năm 545, nhà Lương lại phái Dương Phiên đem quân sang xâm lược. Lý Bôn và Triệu Quang Phục rút lên núi và về vùng nông thôn đồng bằng để đánh du kích tiếp tục duy trì cuộc kháng chiến. Triệu Quang Phục tiến hành đánh du kích trong vài năm, rồi dần dần phát triển lên đánh tập trung và tới năm 548 (trong 3 năm: 545 đến 548) mới thực hành phản công chiếm lại Long Biên, giải phóng được đất nước.


Cuộc chiến tranh du kích lâu dài của Lê Lợi phải mấy năm sau mới tiến hành phản công cục bộ và cho tới năm 1426, tức là 8 năm sau, mới thực hành phản công chiến lược quyết định và một năm sau, tức 1427, thì giành được thắng lợi hoàn toàn. Trong phản công và tiến công, Lê Lợi không những chỉ phản công và tiến công bằng quân sự, bằng quân chủ lực và quân du kích, mà Lê Lợi còn phản công và tiến công bằng binh vận địch vận.


Trong thời kỳ thực hành phản công chiến lược cục bộ từ Nghệ An, hai đòn phản công quân sự và địch vận đã hỗ trợ nhau và đã thu được thắng lợi. Tướng giặc ở Trà Long (Nghệ An) đã hàng nghĩa quân Lam Sơn.

Đến thời kỳ tổng phản công, đại quân của Lê Lợi đánh ra ngoài Bắc - đánh vào trận địa chủ yếu, trận địa cuối cùng của địch ở vùng xung quanh Đông Đô - thì đòn tiến công địch vận vẫn đi sát đòn tiến công quân sự - hai đòn hỗ trợ nhau và phát huy thắng lợi tốt.


Tổng tư lệnh quân địch là Vương Thông cùng 5 vạn quân đã hàng ở Đông Đô (Hà Nội) và các thành lũy khác cùng đầu hàng hàng loạt.

Trên đây là những cuộc phản công và tiến công có nhiều vẻ khác nhau và đều thành công. Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có cuộc chiến tranh vì phản công quá sớm, đánh tập trung quyết chiến quá sớm nên không thành công.


Sau khi Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang thành công chưa được bao lâu thì lại phải chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược mới của nhà Hán do Mã Viện chỉ huy.

Nước ta mới được độc lập, quân đội chưa được tổ chức huấn luyện thành một quân đội mạnh, tinh nhuệ. Trong tình hình đó, đánh tập trung, phân công, quyết chiến ngay là chưa phù hợp. Đó là nguyên nhân làm cho cuộc kháng chiến không thành công.


Trước sự so sánh lực lượng như thế, dân tộc ta đã có cách đánh thích hợp và giành được thắng lợi. Lý Bôn, Triệu Quang Phục đã biết đánh du kích, phân tán địch, tiêu hao, tiêu diệt nhỏ quân địch, giữ gìn, bồi dưỡng, phát triển lực lượng của ta từng bước, dần dần làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra thế mạnh, tạo ra thời cơ, điều kiện để tiến lên đánh tập trung rồi thực hành phản công, đạt được tiêu diệt chiến lược, giành thắng lợi quyết định về chiến lược và tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ tịch, cũng đã thực hành đánh du kích rồi tiến lên đánh tập trung, rồi thực hành phản công cục bộ, từng bước, từ Biên Giới đến Điện Biên Phủ và cuối cùng giành được thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước. Những cuộc phản công này nằm trong tình hình của một cuộc chiến tranh nhân dân phát triển trong cả nước. Nó được sự hỗ trợ đắc lực của các hướng tiến công và phản công khác trong cà nước của một cuộc chiến tranh nhân dân. Vì thế mà sức mạnh của các cuộc phản công đã được tăng lên gấp bội. Quân địch bị cuộc chiến tranh nhân dân bao vây chia cắt trong cả nước, nên bị suy yếu và căng mỏng. Do đó mà không tập trung được sức mạnh để đối phó có hiệu quả.


Cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước hiện nay của nhân dân ta là một cuộc chiến tranh vĩ đại nhất, phát triển cao nhất và phong phú nhất. Trong một xã hội hiện đại, phát triển cao như ngày nay thì cuộc chiến tranh có rất nhiều yếu tố phức tạp và rất phong phú. Sự vận động của chiến tranh không đơn giản như trước kia. Sự so sánh lực lượng, so sánh thế và lực giữa hai bên cũng có nhiều cái phức tạp; phải tính đến rất nhiều yếu tố. Do đó mà nghệ thuật phản công và tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân ta có rất nhiều cái mới, rất phong phú và sáng tạo trong một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển rất cao. Ta tiến hành đồng thời đánh du kích và đánh tập trung, đánh địch cả ở các vùng và các tuyến, tiến hành phản công và tiến công liên tục, ở các quy mô nhỏ, vừa và lớn, trên nhiều hướng khác nhau và đồng loạt, đều khắp trên toàn tuyến cả quân sự và chính trị; kết hợp giữa phản công, tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng; kết hợp giữa phản công, tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng ở chiến trường với sự phản công, tiến công chính trị của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược, chống lại bọn cầm quyền hiếu chiến.


Trên đây là sự vận động và phát triển của nghệ thuật phản công và tiến công trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta.

Dân tộc ta đã có một nghệ thuật phản công và tiến công phát triển muôn màu muôn vẻ, tài giỏi và thắng lợi. Sự muôn màu muôn vẻ đó chứng tỏ tổ tiên ta đã biết căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Điều này cũng chứng minh một khía cạnh trong tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi là "điều kiện tồn tại và vận động của sự vật". Sự vật không ra đời một cách ngẫu nhiên mà phải có điều kiện cụ thể mới xuất hiện được. Cũng cùng một sự vật, ở nơi này, thời gian này nó xuất hiện một cách khác; ở một nơi khác, thời gian khác nó xuất hiện một cách khác. Cho nên việc chỉ đạo chiến tranh phải rất linh hoạt và sáng tạo; không thể rập khuôn máy móc.


Mục đích của phản công và tiến công chiến lược là đánh những đòn tiêu diệt lớn, tiêu diệt chiến dịch và chiến lược, có ý nghĩa về chiến dịch và chiến lược, làm thay đổi sự so sánh lực lượng, thay đổi thế và lực trên chiến trường, làm thay đổi tình thế, tạo ra sự chuyển biến cục diện, tạo ra bước phát triển mới trong chiến tranh, tạo ra những bước ngoặt trong chiến tranh, tạo ra bước ngoặt quyết định, bước phát triển nhảy vọt, giành thắng lợi quyết định và thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:04:35 am
Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Nguyên lần thứ hai năm 1285, đòn phản công thứ nhất của Trần Hưng Đạo tiêu diệt và đánh tan đạo quân của Toa Đô, phá vỡ một thế trận, một cánh ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ của quân xâm lược nhà Nguyên, làm cho Thoát Hoan bị cô lập ở Thăng Long, lực lượng quân xâm lược bị suy yếu, thế trận không dựa được vào nhau, tinh thần và ý chí bị lung lay. Cuộc phản công đó thắng lợi đã phát triển thế chủ động của quân ta, động viên tinh thần, ý chí của quân dân ta, mở rộng địa bàn chiến lược của quân ta, tạo ra thế đứng có lợi để bao vây Thăng Long. Cuộc phản công đó đã tạo ra sự chuyển biến cục diện, tạo ra điều kiện thuận lợi để thực hành cuộc phản công thứ hai.


Cuộc phản công thứ hai tức cũng là một đòn tiến công chiến lược tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan, tập đoàn chiến lược chủ yếu của địch ở giữa Thăng Long và Chương Dương, là một đòn tiêu diệt chiến lược quyết định, giành thắng lợi quyết định rồi tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Về hướng tiến hành phản công và đối tượng, mục tiêu tác chiến, Trần Hưng Đạo đã chọn hướng địch sơ hở, chọn đạo quân yếu ở ngoài thành quách mà đánh trước. Những yếu tố trên có thể bảo đảm cho việc chắc thắng. Đạt được thắng lợi bước đầu, tạo được thế lợi rồi thì có thể tiếp tục tiến đánh các đạo quân mạnh hơn, lớn hơn ở những địa bàn chiến lược quan trọng hơn.


Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã thực hành tiến công và phản công từ nhỏ đến lớn, từ tiêu diệt chiến thuật, chiến dịch đến tiêu diệt chiến lược, rồi đến tiêu diệt chiến lược quyết định. Đó cũng là quy luật chung của một cuộc chiến tranh du kích, phát triển từ nhỏ đến lớn, từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung. Thời kỳ phản công có ý nghĩa là sau khi đã di chuyển đội quân chủ yếu vào Nghệ An (1424), lập căn cứ địa mới ở đó, nghĩa quân Lam Sơn đã chọn chỗ địch yếu, sơ hở, cô lập; về phía ta thì có nhân dân vững mạnh làm chỗ dựa vững chắc để thực hành những trận phản công có ý nghĩa chiến lược để giành thắng lợi bước đầu làm cơ sở tốt cho các bước phát triển sau.


Phân tích đúng tình hình địch, ta trong so sánh lực lượng, so sánh thời và thế nên sau khoảng một năm mở những cuộc phản công và tiến công liên tiếp, nghĩa quân Lam Sơn đã giành được thắng lợi lớn, toàn diện, giải phóng được Tân Binh (Quảng Bình), Thuận Hóa và đẩy quân địch ở khu vực Nghệ An chuyển hoàn toàn vào thế phòng ngự, co hẹp địa bàn chiếm đóng của địch vào một vùng đồng bằng nhỏ bé. Vùng căn cứ của ta được mở rộng từ Thuận Hóa ra tới Thanh Hóa, lực lượng vũ trang được phát triển nhanh chóng. Đó là những thắng lợi chiến lược rất quan trọng, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, tạo ra điều kiện thuận lợi cho nghĩa quân tiến ra Bắc.


Sau khi tiến ra Bắc, đòn phản công đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng về chiến lược là trận tiêu diệt chiến lược trong chiến dịch Chúc Động - Tốt Động, 1426. Trận này nghĩa quân đã tiêu diệt 5 vạn quân trong đạo quân 10 vạn của Vương Thông chiếm đóng khu vực Đông Đô (Hà Nội) và lân cận, đánh quỵ tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân xâm lược, buộc địch chuyển sang phòng ngự hoàn toàn về chiến lược trong cả nước, tạo điều kiện cho nghĩa quân tiến lên đánh một đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng đất nước.


Sau thắng lợi chiến dịch Chúc Động - Tốt Động, bộ chỉ huy nghĩa quân thấy rằng thế và lực giữa ta và địch đã có sự chuyển biến về căn bản, quân địch đã suy yếu hẳn. Chủ lực của địch không thể chọi được với chủ lực của ta ở cả ngay hướng chúng còn tương đối mạnh. Còn về quân ta thì đã trưởng thành nhanh chóng, đã lớn mạnh về các mặt, đã là một đội quân thiện chiến. Căn cứ vào tình hình trên, bộ chỉ huy nghĩa quân thấy đã có thời cơ và điều kiện để đánh những đòn quyết chiến chiến lược quyết định.


Thời kỳ giành thắng lợi cuối cùng đã mở ra: Quân ta có thể giao chiến được với đội quân chủ lực của địch và có thể tiêu diệt được đội quân đó. Những nhận định và chủ trương này dẫn tới cuộc quyết chiến chiến lược, tiêu diệt đạo quân cứu viện chủ yếu của quân xâm lược nhà Minh do Liễu Thăng chỉ huy ở Chi Lăng và Xương Giang (Bắc Giang), giành được thắng lợi hoàn toàn cho cuộc chiến tranh giải phóng.


Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Tống và nhà Thanh, Lý Thường Kiệt và Quang Trung lại thực hành phản công vào hướng tiến công chủ yếu của địch, đánh vào ngay đạo quân mạnh nhất của địch, tiêu diệt được đạo quân đó và giành được thắng lợi chiến lược quyết định một cách nhanh chóng. Đó cũng là do sự so sánh lực lượng, sự so sánh về thế và lực giữa hai bên, so sánh về trình độ tác chiến của quân đội và tài chỉ huy của hai bên.


Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh, dựa theo quy luật chung của một cuộc chiến tranh giải phóng phát triển từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung, quân đội ta cũng thực hành phản công cục bộ, bắt đầu ở những hướng quân địch yếu, cô lập trước, sau mới đến chỗ quân địch tương đối mạnh và mạnh.


Cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mỹ ngày nay có nhiều điểm khác với tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta trước đây. Những điểm khác đó là những điều kiện về nhân dân, về quân đội, về nhà nước, về xã hội, về Đảng lãnh đạo, về tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, về tình hình trong nước ta, trên thế giới và trong nước Mỹ, điều kiện về thời đại, v.v...


Trên cơ sở của những yếu tố đó, mà nghệ thuật tiến công và phản công của lực lượng vũ trang nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược phát triển rất phong phú, sáng tạo, muôn màu muôn vẻ trong một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển cao, độc đáo của Việt Nam, có nhiều cái mới trong thời đại ngày nay. Ta có thể phản công và tiến công ở các hướng khác nhau, đánh với tất cả mọi đối tượng, mục tiêu, cả quân Mỹ và quân ngụy, cả với những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân Mỹ; đánh ở cả nông thôn và thành thị, đánh ở các hướng khác nhau và có thể đồng loạt trên nhiều hướng, có thể phản công và tiến công ngay từ đầu cuộc chiến tranh và ngày càng phát triển mạnh trong các giai đoạn sau; phản công và tiến công bằng cả quân sự, chính trị, binh vận, địch vận, ngoại giao và hoạt động quốc tế.


Qua những thực tế chiến tranh trên đây, vấn đề chọn hướng, mục tiêu, đối tượng phản công và tiến công cũng có rất nhiều hình vẻ, rất phong phú, linh hoạt.

Đây lại là vấn đề "điều kiện tồn tại và vận động của sự vật".

Tuy một sự vật có nhiều hình vẻ, có chỗ giống nhau và khác nhau. Nhưng sự vật vận động là có quy luật. Quy luật đó là sự vận động của bản chất của sự vật, là điều kiện cụ thể tạo thành sự vật đó. Bản chất của sự vật thế nào, các điều kiện, nhân tố hình thành sự vật như thế nào thì nó sẽ biểu hiện ra đúng như bản chất và điều kiện tồn tại của nó.


Muốn thực hành phản công và tiến công thì phải tổ chức các chiến dịch phản công và tiến công để tiêu diệt quân địch, tiêu diệt các tập đoàn chiến dịch, chiến lược của địch; vừa tiêu diệt lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của địch, vừa phá vỡ thế trận của địch, giành dân, giải phóng đất đai. Nội dung và yêu cầu của phản công và tiến công là phải tiêu diệt được lực lượng lớn của địch, tiêu diệt được tập đoàn chủ yếu của địch và cơ quan chỉ huy cao cấp của địch, chiếm lĩnh được trận địa của địch, giành được dân về ta, giải phóng được đất đai. Có thế phản công và tiến công mới giành được thắng lợi to lớn, thắng lợi quyết định.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, phản công và tiến công có muôn màu, muôn vẻ, rất phong phú, linh hoạt, sáng tạo và đã phát triển tới một trình độ, một nghệ thuật cao.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:05:24 am
2. Vấn đề rút lui và phòng ngự

Trong chiến tranh, có phản công, tiến công và cũng có rút lui và phòng ngự.

Đối với quan điểm cách mạng, quan điểm đấu tranh triệt để thì rút lui và phòng ngự chỉ là tạm thời, là sách lược, là chuẩn bị điều kiện cho phản công và tiến công. Vì phòng ngự là không có thể tiêu diệt được quân địch. Lý Bôn, Triệu Quang Phục rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi chuyển sang phản công và tiến công. Trần Hưng Đạo rút lui để nhử địch vào sâu, phân tán quân địch, làm cho địch mệt mỏi, sa vào thế bị bao vây khốn quẫn, rồi chuyển sang phản công và tiến công. Lê Lợi nổi dậy tiến công địch, rồi có lúc phải tạm rút lui sâu vào vùng núi ở phía bác Thanh Hóa, sau lại chuyển sang tiến công. Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm rút lui về núi Tam Điệp, chuẩn bị cho Quang Trung ra phản công chiếm lại Thảng Long.


Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Pháp lần thứ hai (1945-1954), quân ta cũng từ các thành thị rút về nông thôn, đồng bằng và rừng núi, rồi chuyển sang phản công và tiến công.

Đó là những cuộc rút lui cần thiết, trước một quân địch còn tạm thời mạnh hơn, mà chưa đủ sức tiêu diệt chúng, ngăn chặn hẳn chúng lại, hoặc đánh bật chúng ra khỏi đất nước. Đứng về mặt hành động chiến lược thì là rút lui. Nhưng về mặt chiến đấu và chiến dịch thì vẫn có tiến công và phản công. Quá trình rút lui vẫn là quá trình chiến đấu tiêu hao và tiêu diệt nhỏ quân địch. Điểm này thể hiện rõ nét nhất là ở cuộc chiến tranh thời nhà Trần và trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp lần thứ hai.


Rút lui trong các cuộc chiến tranh này là rút lui tích cực, chứ không phải là rút lui đơn thuần, rút lui một cách tiêu cực. Rút lui là một hình thức khác của việc xoay chuyển thế trận: tìm một thế trận khác có lợi hơn; nhường địch một bước làm giảm sức mạnh của chúng, đưa chúng vào một thế bất lợi hơn để ta chuẩn bị điều kiện tốt hơn rồi mới quyết chiến với địch mà tiêu diệt chúng.


Về phòng ngự thì có phòng ngự trong cuộc chiến tranh thời Lý và thời Trần.

Lý Thường Kiệt đã tổ chức phòng ngự ở sông Như Nguyệt (sông Cầu) và Trần Quang Khải đã tổ chức phòng ngự ở vùng Nghệ An. Hai trận phòng ngự này là phòng ngự tích cực chứ không phải là phòng ngự đơn thuần, phòng ngự tiêu cực, mà Lý Thường Kiệt và Trần Quang Khải đã hoàn thành được nhiệm vụ của phòng ngự là ngăn chặn được quân địch, tiêu hao được quân địch, rồi chuyên sang phản công tiêu diệt quân địch.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có trận chiến phòng ngự đơn thuần tiêu cực và đi đến thất bại. Đó là trận chiến phòng ngự trận địa tiêu cực của Hồ Quý Ly, dựa vào thành Đa Bang trên bờ phía nam sông Hồng. Kết quả là không thể tiêu diệt được quân địch và cũng không thể chống đối nổi với quân xâm lược nhà Minh và bị thất bại, bị mất nước.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:13:45 am
3. Vấn đề tiêu diệt chiến lược và nghệ thuật quyết chiến.

Trong chiến tranh, vấn đề tiêu diệt chiến lược là vấn đề hết sức quan trọng. Tiêu diệt đối phương, đè bẹp sự kháng cự của đối phương, buộc đối phương phải nhận sự thất bại. Đó là yêu cầu cao nhất của chiến tranh, để đạt mục đích cao nhất của chiến tranh là giành thắng lợi chiến tranh. Tiêu diệt đối phương, có tiêu diệt nhỏ, vừa và lớn, có tiêu diệt chiến thuật, chiến dịch và tiêu diệt chiến lược. Các mức tiêu diệt đó đều quan trọng, nó bồi bổ, bổ sung cho nhau và tạo điều kiện cho nhau, tạo thành một sức tiêu diệt địch rất rộng rãi, rất mạnh. Nhưng trong các mức đó thì tiêu diệt chiến lược là quan trọng nhất. Tiêu diệt chiến lược làm cho sự so sánh lực lượng giữa hai bên thay đổi một cách nhanh chóng, tạo ra thế chiến lược mới, tạo ra sự chuyển biến cục diện chiến tranh, tạo ra thắng lợi chiến lược, thắng lợi chiến lược quyết định trong chiến tranh. Đánh tiêu diệt là một cái chất chính trong chiến tranh. Đánh tiêu diệt nhỏ, vừa, lớn là một quá trình phát triển dần dần từ nhỏ đến lớn, từ lượng đến chất.


Tiêu diệt chiến lược là một chuyển biến về chất trong quá trình vận động và phát triển của chiến tranh.

Tiêu diệt chiến lược không những chỉ tiêu diệt một lực lượng lớn, quan trọng của địch trong một thời gian ngắn mà còn tiêu diệt và đánh bại từng tập đoàn chiến lược, từng đạo quân của địch. Các tập đoàn chiến lược, các đạo quân là những lực lượng cốt cán, là những tổ chức cốt cán của lực lượng vũ trang để tiến hành chiến tranh, để tiến hành các đòn đánh quyết liệt, quyết định trong chiến tranh. Tiêu diệt chiến lược của địch, đánh bại tổ chức chiến dịch, chiến lược của địch, đánh bại các ý đồ, kế hoạch chiến lược của địch, đánh bại nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược của địch, và trên cơ sở đó mà đánh bại ý chí kháng cự của địch. Muốn tiêu diệt chiến lược phải tổ chức các chiến dịch lớn và các chiến dịch có tính chất quyết chiến về mặt chiến lược.


Chủ lực của hai bên - các tập đoàn chiến lược đương đầu giao chiến với nhau, đối chọi với nhau một cách quyết liệt. Cuộc đối chọi quyết liệt đó diễn ra dưới hình thức quyết chiến chiến lược. Quyết chiến chiến lược là một cuộc đấu tranh gay gắt nhất, quyết liệt nhất, cao nhất, giải quyết mâu thuẫn lớn nhất, tập trung nhất trong chiến tranh.   


Quyết chiến chiến lược là một cuộc thử thách lớn nhất, một cuộc thử thách toàn diện các mặt trong chiến tranh, là một sự thử thách về tài tổ chức và nghệ thuật chỉ huy; là một sự thử thách về ý chí, là một sự đối chọi quyết liệt nhất của hai bên tham chiến. Muốn giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong chiến tranh thì cần thiết phải tiến hành quyết chiến chiến lược để tiêu diệt chiến lược quyết định. Quyết chiến chiến lược là một thành phần tính đặc nhất trong sự cấu thành của chiến tranh, là một nhân tố rất quan trọng trong vận động của chiến tranh, là một sự vận động có tính quy luật trong toàn bộ quá trình vận động và phát triển của chiến tranh.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược thường xuất hiện và diễn ra một cách phổ biến.

Lý Thường Kiệt đã tiến hành quyết chiến chiến lược trên chiến tuyến sông Cầu để tiêu diệt chiến lược quyết định mà giành được thắng lợi trong chiến tranh. Lý Thường Kiệt chỉ thực hành một cuộc quyết chiến chiến lược cũng giành được thắng lợi chiến tranh. Quyết chiến chiến lược và tiêu diệt chiến lược của Lý Thường Kiệt được sự hiệp đồng và hỗ trợ rất đắc lực của nhiều trận đánh nhỏ và vừa. Các trận đánh đó đạt được mục đích tiêu hao địch một cách rộng rãi và thực hiện được tiêu diệt chiến thuật và chiến dịch, tạo điều kiện tốt cho việc chuẩn bị quyết chiến để tiêu diệt chiến lược.


Trần Hưng Đạo qua từng trận đánh nhỏ đạt tiêu hao và tiêu diệt chiến thuật, rồi tiến lên tổ chức một số chiến dịch, đạt được tiêu diệt chiến dịch và chiến lược, rồi trên cơ sở những thắng lợi đó mà tiến hành quyết chiến chiến lược, đạt được tiêu diệt chiến lược quyết định, giành được thắng lợi cho chiến tranh, hoặc giành được thắng lợi cơ bản, thắng lợi quyết định cho chiến tranh. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), Trần Hưng Đạo đã tổ chức một trận quyết chiến tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan - tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân xâm lược ở giữa Thăng Long và Chương Dương. Sau một chiến dịch lớn đã tiêu diệt và đánh tan đạo quân Toa Đô trên sông Hồng, từ bến Hàm Tử đến cửa sông Luộc, giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, đập gãy một thế trận của địch làm cho Thoát Hoan ở Thăng Long bị cô lập. Sau trận Hàm Tử, quân địch bị suy yếu một bước quan trọng, lâm vào thế bị động lúng túng. Nắm được thời cơ có lợi, Trần Hưng Đạo liền tổ chức một trận quyết chiến Chương Dương - Thăng Long nhằm tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan. Trận quyết chiến này đã thành công, giành thắng lợi chiến lược quyết định, tạo ra điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc tiếp tục tiêu diệt và đánh bại hoàn toàn quân xâm lược.


Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), Trần Hưng Đạo cũng đã tổ chức hai trận quyết chiến chiến lược; một trận ở Bạch Đằng, tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi và một trận ở vùng Vạn Kiếp, tiêu diệt và đánh tan đạo quân Thoát Hoan. Hai trận này đã thành công rực rỡ và hai trận này đã chấm dứt hoàn toàn và vĩnh viễn mưu đồ xâm lược của triều đình phong kiến nhà Nguyên đối với nước ta.


Trận Bạch Đằng là một trận đã thể hiện được trình độ chỉ huy cao và nghệ thuật chỉ huy tài của bộ chỉ huy quân đội nhà Trần. Việc nắm địch, phán đoán địch được chính xác, biết được ý đồ rút lui của địch. Việc chọn mục tiêu, đối tượng tiến công cũng rất đúng. Tập trung lực lượng đánh đạo quân rút trước, đánh đạo quân đang vận động trên đoạn đường rút lui xa có nhiều khó khăn trước. Diệt được đạo quân này một cách nhanh gọn sẽ tạo điều kiện tốt cho việc tiêu diệt tiếp đạo quân thứ hai. Nếu không đồng thời tiêu diệt được cả hai đạo quân trong cùng một lúc thì cũng tập trung lực lượng tiêu diệt gọn một đạo quân yếu trước. Sau đó sẽ tiếp tục tiêu diệt các đạo quân khác, về thế trận thì chọn được khu vực quyết chiến có lợi. Trong khu vực quyết chiến lại biết cải tạo địa hình, tổ chức lại chiến trường, nhử địch vào cạm bẫy, làm cho địch đang mạnh hóa thành yếu đột ngột, không kịp và không có cách xử trí đối phó, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt dịch một cách dễ dàng, về sử dụng lực lượng thì đã cơ động đúng lúc lực lượng dự bị chiến lược đứng chân ở địa bàn cơ động tập trung về hướng tiến công chiến lược có lợi nhất, có điều kiện phát triển thuận lợi nhất. Tập trung lực lượng vào hướng đó thì có thể giành được thắng lợi to lớn. Thắng lợi chiến lược đó đạt được thì sẽ tạo ra điều kiện rất thuận lợi cho bước phát triển tiếp theo. Do có trình độ và nghệ thuật chỉ huy cao cường nên trận Bạch Đằng là một trận thắng lợi rất đẹp, một trận thắng lợi rất oanh liệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:14:52 am
Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nghĩa quân Lam Sơn, sau một thời gian dài tiêu hao, tiêu diệt nhỏ và vừa quân địch, đến năm 1426, Lê Lợi - Nguyễn Trãi mới có điều kiện tổ chức các chiến dịch lớn, thực hiện việc tiêu diệt chiến lược đối với quân địch.


Chiến dịch Chúc Động - Tốt Động là một chiến dịch lớn thực hiện việc tiêu diệt chiến lược, giành thắng lợi chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng buộc quân địch phải chuyển vào thế phòng ngự hoàn toàn về chiến lược trên toàn tuyến. Sau chiến dịch này, một thời kỳ mới, một tình thế mới, một thời cơ mới đã mở ra - Thời kỳ đánh những đòn quyết định để giành thắng lợi hoàn toàn. Đòn quyết định mới đó là trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng sang cứu viện cho Vương Thông. Tình hình lúc này đặt ra cho bộ chỉ huy của Lê Lợi - Nguyễn Trãi nhiều vấn đề phải xử trí. Nguyễn Trãi đã nắm được bản chất của tình hình chiến tranh trong thời kỳ này. Ông đã nắm được mâu thuẫn chính của chiến tranh trong thời kỳ này. Ông đã nói rõ cho Vương Thông rằng hắn chỉ còn trông chờ vào Liễu Thăng để mà sống thoi thóp trong vòng vây mà thôi và một khi nghĩa quân Lam Sơn đã tiêu diệt được đạo quân ứng cứu của Liễu Thăng thì Vương Thông chẳng khác gì như cá đã bỏ trong giỏ.


Nhận thức và phân tích được tình hình một cách chính xác và khoa học như thế, bộ chỉ huy nghĩa quân đã quyết định tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ, quyết tâm tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng. Bộ chỉ huy nghĩa quân đã tập trung mọi sự cố gắng để tổ chức và thực hành trận đánh quyết định này một cách rất chu đáo, cẩn thận. Trận quyết chiến này đã giành được thắng lợi vẻ vang, đã kết thúc và xóa sạch được ách thống trị nước ngoài.


Cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước do Quang Trung lãnh đạo, quyết chiến diễn ra tương đối độc đáo. Quyết chiến không diễn ra sau một quá trình ngắn của các trận tiêu diệt nhỏ như thời Lý Thường Kiệt, nó không diễn ra sau một quá trình nhử địch vào sâu, tiêu hao tiêu diệt nhỏ và vừa quân địch trong một thời gian ngắn như thời Trần Hưng Đạo. Nó cũng không diễn ra sau một thời gian dài hàng mấy năm như thời Lê Lợi. Quyết chiến ở thời đại Quang Trung diễn ra rất nhanh, trong một thời gian đặc biệt ngắn. Quyết chiến không trải qua một số bước chuẩn bị mà xuất hiện cùng lúc với việc phát động cuộc chiến tranh chống xâm lược và cũng kết thúc luôn cả cuộc chiến tranh.


Nguyên nhân gì đã sinh ra sự việc này?

Đó cũng là do điều kiện cụ thể của hai bên tham chiến. Quân của Quang Trung giỏi hơn quân của Tôn Sĩ Nghị về trình độ kỹ thuật, chiến thuật và chỉ huy, về tinh thần và quyết tâm. Quân của Quang Trung là một đội quân rất tinh nhuệ, rất thiện chiến, một đội quân dày dạn chiến đấu, có rất nhiều kinh nghiệm chiến tranh, một đạo quân trăm trận trăm thắng, đặc biệt là có trình độ sở trường đánh vào chỗ mạnh nhất của đối phương. Đó là trình độ đánh công thành. Đặc tài này, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi không có được đầy đủ như Quang Trung. Quang Trung lại có tài tạo ra thời cơ và biết lợi dụng thời cơ có lợi nhất để giành thắng lợi tốt nhất.


Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp của nhân dân ta ở thời đại Hồ Chí Minh cũng phát triển từ tiêu diệt nhỏ, vừa rồi đến lớn, trải qua một quá trình phát triển lâu dài.

Năm 1950, quân ta đã mở chiến dịch Biên giới, tiêu diệt tập đoàn chiến dịch của địch, giành thắng lợi chiến dịch quyết định, tạo ra thắng lợi chiến lược, giải phóng một khu vực rộng lớn từ Cao Bằng xuống qua Lạng Sơn, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự, phát triển thế chủ động tiến công của quân ta. Sau cục diện Biên Giới và tiếp theo một số các chiến dịch tiến công khác, thế và lực của quân ta ngày càng phát triển, càng mạnh. Quá trình phát triển này là một quá trình chuẩn bị cho bước phát triển mới mạnh hơn.


Đến Đông Xuân 1953-1954, ta chủ động tiến công địch trên khắp các chiến trường và đặc biệt là mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một trận quyết chiến chiến lược, thực hiện việc tiêu diệt chiến lược đối với địch, cùng với các trận tiêu diệt nhỏ và vừa trên toàn bộ chiến trường, giành thắng lợi chiến lược quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), giải phóng một nửa đất nước.


Chiến tranh là một cuộc đấu tranh quyết liệt nhất. Chiến tranh vận động và phát triển bằng một quá trình đối chọi nhau quyết liệt giữa hai bên tham chiến. Quá trình đối chọi đó, đứng về mặt đấu tranh vũ trang mà nói, là quá trình tiêu diệt lẫn nhau giữa hai lực lượng vũ trang; đánh tiêu diệt là cái lõi của chiến tranh. Đánh tiêu diệt vận động bằng hình thức quyết chiến.


Quyết chiến là một hình thức thể hiện cao nhất, tập trung nhất của đánh tiêu diệt, quyết chiến là một khâu giải quyết mâu thuẫn, là một quá trình phát triển, là một bước chuyển biến của chiến tranh, là một khâu then chốt của chuỗi chiến lược. Mục đích và yêu cầu toàn diện và cao nhất của đánh tiêu diệt và quyết chiến là tiêu diệt được từng bộ phận lực lượng quan trọng của địch, phá vỡ được thế trận của địch, chiếm lĩnh được trận địa của địch, giành được dân về ta và giải phóng được đất đai.


Trong chiến tranh, đánh tiêu diệt và quyết chiến có nhiều màu, vẻ rất phong phú, rất linh hoạt. Đánh tiêu diệt, có tiêu diệt nhỏ, vừa và lớn cũng có cả tiêu hao (về ý nghĩa chiến lược). Mỗi thứ đều có vai trò, vị trí, tác dụng của nó và bồi bổ, hỗ trợ lẫn nhau. Mỗi thứ đều có tầm quan trọng của nó. Nhưng tiêu diệt lớn là quan trọng nhất, có tác dụng quyết định nhất trong chiến tranh, vì nó làm thay đổi cơ bản, làm chuyển biến về chất trong chiến tranh, giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong chiến tranh. Chiến tranh cũng như các sự vật khác, có rất nhiều mâu thuẫn, nhiều loại mâu thuẫn. Có thứ mâu thuẫn nhỏ, có thứ mâu thuẫn lớn, có thứ mâu thuẫn chủ yếu, có thứ mâu thuẫn thứ yếu. Có giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu thì mới giải quyết chiến tranh được triệt để. Đánh tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược là giai đoạn phát triển cao trong quá trình vận động của những mâu thuẫn trong chiến tranh, là giai đoạn giải quyết mâu thuẫn cao nhất, quyết liệt nhất trong chiến tranh.


Trong điều kiện cụ thể nào đó, việc đánh tiêu diệt nhỏ, vừa và tiêu hao lớn, rộng rãi cũng có thể tạo nên chuyển biến về chất, tạo được thắng lợi chiến lược.

Tiêu diệt nhỏ và vừa chỉ gây được chuyển biến về lượng nhưng cái số lượng về "lượng" đó to đến một mức nào đó, cái lượng đó xảy ra ở trong một hoàn cảnh, điều kiện nào đó thì cũng gây ra được chuyển biến về chất.


Đánh tiêu diệt nhỏ và vừa vào các mục tiêu, đối tượng quan trọng nhất của địch, lại đánh đồng loạt vào tất cả mọi nơi, vào tất cả các mục tiêu, đối tượng quan trọng nhất của địch, tuy là từng nơi thì nhỏ, nhưng nhìn chung cả toàn cục thì cũng là lớn, cũng có tác động lớn.


Tung toàn bộ lực lượng hoặc phần lớn lực lượng ra đánh tiêu diệt nhỏ và vừa, đánh vào phần lớn các mục tiêu, đối tượng quan trọng nhất cũng là có ý nghĩa, có tính chất của quyết chiến. Cho nên quyết chiến cũng diễn ra một cách rất linh hoạt và phong phú, có nhiều hình thức, nhiều màu vẻ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:25:40 am
Quyết chiến vào lúc nào, thời cơ nào cũng có nhiều biểu hiện khác nhau. Đánh sớm như Quang Trung và Lý Thường Kiệt, đánh muộn một chút như Trần Hưng Đạo, một thời gian lâu mới đánh như Lý Bôn, Triệu Quang Phục và Lê Lợi - Nguyễn Trãi, các thời cơ quyết chiến trên đều giành được thắng lợi.


Thời cơ quyết chiến là một điều rất quan trọng, có quan hệ đến thắng bại của chiến tranh. Vì thế phải xét đến điều kiện giữa địch và ta một cách rất kỹ càng, chính xác, cụ thể là vấn đề tương quan lực lượng giữa hai bên, sự so sánh về thế và lực giữa hai bên; tính năng động trong chỉ huy của hai quân đội, v.v...


Về hướng quyết chiến và đối tượng quyết chiến cũng có nhiều vẻ. Lý Thường Kiệt và Quang Trung đánh ngay vào hướng tiến công chủ yếu của địch, vào ngay đạo quân chủ yếu của địch, vào ngay bộ thống soái của địch. Trần Hưng Đạo, Lê Lợi - Nguyễn Trãi thì đánh vào hướng địch yếu trước, vào đạo quân yếu trước, sau mới đến đạo quân mạnh nhất của địch. Chiến dịch Biên Giới (1950) cũng đánh vào chỗ địch tương đối yếu trước, rồi tiến lên đánh vào quân địch tương đối mạnh hơn trong chiến dịch Điện Biên Phủ.


Về kiểu thức quyết chiến thì có thể đánh những đòn tập trung tiêu diệt lớn, trên từng hướng, cũng có thể đánh nhiều đòn nhỏ, tiêu diệt vừa, phân tán trên nhiều hướng. Hai phương thức trên phải căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng cho thích hợp. Nếu có điều kiện tập trung đánh lớn, thì chiến tranh giải quyết sẽ nhanh hơn.


Về cách thức quyết chiến thì có thể đánh từng bộ phận, hoặc có thể liên tục kế tiếp, hoặc có thể đồng loạt đánh vào nhiều mục tiêu trên nhiều hướng, v.v... Có thể đánh một đòn hoặc nhiều đòn.

Lý Thường Kiệt và Quang Trung chỉ đánh một đòn. Các cuộc chiến tranh khác thường đánh nhiều đòn. Lê Lợi đánh diệt bộ phận. Trần Hưng Đạo đánh các đòn tương đối liên tục kế tiếp nhau.

Về sử dụng lực lượng trong quyết chiến, trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta thì thường là ít hơn so với địch. Trận Chi Lăng - Xương Giang, quân Lê Lợi khoảng 5 vạn, quân Liễu Thăng 10 vạn. Trận Thăng Long, quân Quang Trung 10 vạn, quân Tôn Sĩ Nghị 20 vạn. Các trận của Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên, quân nhà Trần cũng thường ít hơn quân Nguyên. Câu nói của Trần Hưng Đạo: "Lấy ngắn trị dài" có nhiều ý nghĩa: quân ít đánh thắng quân nhiều cũng có ý nghĩa đó.


Trong lịch sử chiến tranh, lực lượng sử dụng trong quyết chiến của hai bên thường là xấp xỉ nhau. Có rất nhiều trận quyết chiến, bên quân ít thắng bên quân nhiều một cách oanh liệt. Thắng lợi của quyết chiến không phải chỉ quyết định ở quân số, mà còn quyết định vào nhiều nhân tố khác. Có những nhân tố chủ yếu hơn quân số.


Về hình thức quyết chiến thì có đánh vận động - đánh ngoài công sự - và đánh công thành - đánh trong công sự. Trần Hưng Đạo và Lê Lợi tổ chức các trận quyết chiến bằng cách đánh vận động để giải quyết chiến tranh. Quang Trung thì đánh công thành để giải quyết chiến tranh. Ngày xưa, trình độ phát triển của xã hội còn thấp. Chiến tranh vận động tương đối đơn giản hơn, vì thế vận dụng một hình thức tác chiến cũng có thể giải quyết được chiến tranh (một hình thức đây là nói một hình thức chủ yếu, ngoài ra còn có các hình thức khác bổ trợ). Ngày nay, tình hình phức tạp hơn, chiến tranh thường giải quyết bằng nhiều hình thức tác chiến; phải đánh cả ngoài công sự và trong công sự và còn nhiều điều phức tạp khác nữa.


Quyết chiến là một nghệ thuật và là nghệ thuật rất cao. Đánh tiêu diệt và quyết chiến trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta có nhiều kiểu cách khác nhau, nhiều màu vẻ rất phong phú, linh hoạt và sáng tạo. Nghệ thuật quyết chiến đã phát triển lên một trình độ cao, có những trận quyết chiến tài giỏi.


Lịch sử chiến tranh trên đây đã chứng minh chiến tranh có quy luật chung và quy luật riêng; có những nguyên tắc cơ bản và có những điểm phát triển. Nhận thức chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh phải vững chắc và hết sức linh hoạt, sáng tạo, không cứng đờ, rập khuôn máy móc. Trong cái muôn màu muôn vẻ đó, thì màu nào cũng thắng, vẻ nào cũng thành. Đó là do biết vận dụng phương pháp chiến tranh phù hợp với từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể khác nhau của mỗi cuộc chiến tranh.


Lửa to phải 10 thùng nước, hoặc 100 gáo nước, lửa nhỏ chỉ cần một phảy quạt cũng đủ để dập tắt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:37:51 am
4. Vấn đề thế trận chiến lược

Thế trận chiến lược là sự thể hiện cụ thể của chủ trương, quyết tâm và kế hoạch chiến lược, là sự bày binh bố trận để tiến hành tác chiến, tiêu diệt quân địch.

Thế trận chiến lược triển khai trên một khu vực chiến lược rộng lớn, hoặc trên quy mô phạm vi cả nước. Thế trận chiến lược là sự tổ chức triển khai chiến đấu của nhiều loại lực lượng vũ trang, của nhiều binh chủng, của nhiều đơn vị với quy mô khác nhau, của nhiều loại kinh nghiệm đánh địch và đánh địch bằng nhiều hình thức chiến thuật, nhiều cách đánh, nhiều thủ đoạn phương thức chiến dịch, chiến lược khác nhau, có nhiều hướng, nhiều tuyến nhằm tiêu diệt, tiêu hao nhiều mục tiêu, đối tượng quân địch với nhiều quy mô, yêu cầu khác nhau để đạt tới thắng lợi có ý nghĩa về chiến lược.


Thế trận chiến lược hình thành là căn cứ vào sự phán đoán, phân tích tình hình địch, ta. Căn cứ vào mục đích, yêu cầu nhiệm vụ tác chiến, căn cứ vào địa hình, v.v...

Thế trận chiến lược là một tổ chức rất phức tạp. Nó thể hiện trình độ và nghệ thuật tổ chức và chỉ huy của cơ quan tham mưu và bộ chỉ huy cao cấp.

Thế trận đúng sẽ bảo đảm một phần quan trọng cho sự thắng lợi. Thế trận hay là một thế trận có thể tiêu diệt được nhiều địch, đánh bại được ý đồ và kế hoạch tác chiến của địch. Muốn thế thì ngoài việc tiêu diệt, tiêu hao địch rộng rãi ở trên toàn thế trận ra, còn cần tiêu diệt được lực lượng nòng cốt của địch tham gia giao chiến, tức là những đơn vị lớn của địch, tập đoàn chiến dịch và chiến lược chủ yếu của địch. Thế trận chứa đựng hai quân đội, chứa đựng sự hoạt động của hai quân đội luôn luôn đấu tranh với nhau. Vì thế mà thế trận luôn luôn biến hóa. Bộ chỉ huy bày thế trận và điều khiển thế trận cần làm thế nào giữ được chủ động từ đầu đến cuối, giữ được thế mạnh, thế có lợi và phát huy được cao thế mạnh để nhử địch vào thế bất lợi, thế bị động khốn quẫn có lực nhiều mà yếu. Có thế mới có thể tiêu diệt địch nhanh gọn, đánh một số trận then chốt, trận quyết định để giành thắng lợi lớn.


Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), trong thế trận chung trên phạm vi cả nước, Trần Hưng Đạo đã tổ chức dược một trận quyết chiến có thế trận rất đẹp, tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan ờ Chương Dương và Thăng Long. Chiến dịch lớn này có nhiều thế trận hiệp đồng hỗ trợ nhau rất chặt chẽ, ăn ý, tạo được thời cơ, điều kiện cho nhau rất hay; có thế nhử, thế đánh, thế nổi, thế chìm. Vây hãm thủy trại Chương Dương là thế nhử. Diệt địch ở giữa Chương Dương và Thăng Long là thế đánh. Hai thế trên đây là thế nổi. Lực lượng bí mật phục sẵn ở gần thành Thăng Long để đợi thời cơ khi đạo quân Thoát Hoan tiến ra khỏi thành Thăng Long đi cứu Chương Dương, bỏ thành Thăng Long sơ hở thì hiệp đồng cùng các thế khác bất ngờ đánh chiếm Thăng Long là thế chìm.


Thế trận này là một thế trận tạo thời cơ, có rất nhiều mưu mẹo, là một chiến dịch đánh bằng mưu. Sự thống nhất giữa thế và thời trong chiến dịch rất đẹp. Đặc điểm thế trận của Trần Hưng Đạo là mưu sâu, thế hiểm.


Trong cuộc kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn, ở vào giai đoạn cuối (1427), Lê Lợi đã bày một thế trận rất đẹp, thế trận có hướng chủ yếu, hướng thứ yếu, hướng phối hợp; có hướng tiến công, hướng phòng ngự, hướng vây hãm. Trên hướng chủ yếu lại có khu vực tập trung lực lượng, khu quyết chiến. Thế trận cũng có tuyến một là các lực lượng tham chiến đợt đầu và tuyến hai là lực lượng dự bị tham gia đợt sau, lại còn lực lượng hậu bị, bổ sung.


Sau trận Chúc Động - Tốt Động (1426), 10 vạn quân của Vương Thông bị tiêu diệt 5 vạn, còn lại 5 vạn co về phòng ngự cố thủ trong thành Đông Đô. Một số thành khác cũng lâm vào tình hình khốn quẫn đó. Vương Thông đã phải cầu cứu, xin thêm quân tiếp viện. Triều đình nhà Minh buộc phải phái quân sang cứu Vương Thông. Hai đạo quân cứu viện sang cứu Vương Thông tiến vào đường Lạng Sơn và Hà Giang. Bộ chỉ huy nghĩa quân nhận định: quân ở trong thành không mạnh, quân viện mới là vấn đề quyết định tình thế trong lúc này. Mối mâu thuẫn chủ yếu của thời kỳ này là những đạo quân cứu viện. Trong hai đạo quân cứu viện thì đạo quân Liễu Thăng là quyết định nhất. Nhưng muốn bảo đảm cho việc tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng thì phải có cái thế hỗ trợ chung.


Do nhận định, phân tích chính xác, bộ chỉ huy nghĩa quân đã triển khai được một thế trận trên quy mô chiến lược cả nước một cách đúng đắn. Hướng đánh đạo quân Liễu Thăng là hướng chủ yếu, tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ, thực hành tiến công tiêu diệt. Hướng đánh đạo quân cứu viện thứ hai của địch do Mộc Thạnh chỉ huy tiến vào đường Hà Giang là hướng đánh viện thứ yếu. Cách đánh ở hướng này là đánh ngăn chặn, không cho Mộc Thạnh tiến tới được Đông Đô để liên lạc với Vương Thông. Hướng vây hãm Vương Thông ở Đông Đô cũng là hướng thứ yếu. Hướng này thực hành cách đánh vây hãm không cho Vương Thông đánh ra ngoài để liên lạc được với Liễu Thăng và Mộc Thạnh. Còn các hướng khác là hướng phối hợp, thực hành vây hãm và địch vận, không cho địch chạy thoát, tập trung về Đông Đô và bức hàng quân địch ngay tại chỗ.


Thế trận là ý đồ tác chiến, là biểu hiện cụ thể bằng sự bố trí lực lượng. Căn cứ vào một số bài viết của Nguyễn Trãi và một số tài liệu khác (các tài liệu này cũng không có đủ số liệu), căn cứ vào tư tưởng và nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của bộ chỉ huy nghĩa quân, căn cứ vào thế trận lúc bấy giờ, ta có thể nghiên cứu về lực lượng và cách bố trí, triển khai lực lượng của nghĩa quân để hình thành thế trận chiến lược của chiến cục mùa đông náăm 1427. Quân chủ lực của nghĩa quân có khoảng 5-6 vạn người. Quân các lộ (quân địa phương) khoảng 10 vạn.


Trong một cuộc chiến tranh giải phóng có nhiều tính chất nhân dân thì quân địa phương và dân quân có tác dụng rất lớn. Trong điều kiện công cụ chiến tranh giữa hai bên không chênh lệch nhau mấy về chất lượng, về trình độ kỹ thuật thì tác dụng của dân quân, của địa hình lại càng lớn. Do đó mà quân địa phương và dân quân trong thời nhà Trần và thời Lê Lợi đã phát huy được vai trò rất lớn, đã phát huy được sức mạnh của một cuộc kháng chiến có nhân dân tham gia. Căn cứ vào lực lượng trên, ta có thể phán đoán việc triển khai lực lượng trong thế trận như sau:

Ở hướng chủ yếu có thể có khoảng hơn 3 vạn đến 4 vạn, gồm cả lực lượng dự bị chiến lược và được sự hỗ trợ của quân địa phương, ở hướng đánh ngăn chặn đạo quân Mộc Thạnh có khoảng 1 vạn quân cùng với quân địa phương và nghĩa binh. Ở hướng vây hãm Vương Thông có thể có khoảng 1 vạn cùng với quân địa phương và dân binh, ở hướng này có thể huy động được nhiều quân địa phương và dân binh, vì là một vùng đông dân và quân chủ lực của Lê Lợi cũng đã hoạt động ở đó tương đối lâu và đã đánh thắng nhiều trận lớn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:38:37 am
Còn các hướng phối hợp khác, chủ yếu là dùng cách đánh bao vây, địch vận thì chỉ có một số ít quân chủ lực làm nòng cốt, còn chủ yếu là dùng quân địa phương và dân binh để có thể tiết kiệm binh lực ở hướng không quan trọng mà tập trung được vào hướng quan trọng. Trong khi đó thì bộ tham mưu của Lê Lợi vẫn tiếp tục tuyển mộ thêm quân sĩ và gấp rút huấn luyện để làm quân hậu bị bổ sung và phát triển thêm quân đội.


Ở đây có một vấn đề rất khó cho nghĩa quân là quân ít mà phải đánh với một đội quân đông, lại nhiều mục tiêu đối tượng cùng xuất hiện trong cùng một lúc. Cái giỏi là vẫn phân tán, kiềm chế chia cắt được quân địch trên toàn chiến trường lại tập trung được vào hướng chủ yếu, biết dùng cách đánh khác nhau để tiêu diệt từng bộ phận địch rồi tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Ở trên hướng chủ yếu lại có khu quyết chiến. Hướng tiến công chủ yếu tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng là từ Lạng Sơn đến Bắc Ninh, những khu vực đánh tiêu diệt chủ yếu, khu vực tập trung lực lượng (khu quyết chiến) có thể là từ Chi Lăng (Đồng Mỏ) cho tới Xương Giang (Bắc Giang).


Trong các tài liệu chưa thấy nới đến chữ quyết chiến, chưa thấy có lý luận về "khu quyết chiến". Nhưng căn cứ vào sự bố cục lực lượng vào sự triển khai thế trận, ta có thể phân tích về hướng chủ yếu và thứ yếu, về khu quyết chiến ở trên hướng chủ yếu.


Trong khoảng 5-6 vạn quân chủ lực, thì phần lớn là bố trí từ Bắc Ninh đến Chi Lăng. Ý định tác chiến và kế hoạch tác chiến là định đánh một trận quyết định ở Chi Lăng và không cho địch tiến qua Xương Giang (Bắc Giang) để tiến về Đông Đô. Cần phải hiệp đồng với thế trận mai phục ở Chi Lăng mà chặn đứng quân địch lại ở Xương Giang vì nếu địch tiến qua đường Xương Giang về tới Bắc Ninh thì tình thế sẽ có rất nhiều khó khăn. Và địch đã tới được Bắc Ninh thì có thể bắt đầu liên lạc được với Vương Thông ở Đông Đô. Vì thế trước khi bố cục thế trận đánh Liễu Thăng, bộ chỉ huy nghĩa quân đã quyết định phải đánh chiếm cho được thành Xương Giang. Trình độ đánh thành của nghĩa quân không được khá lắm, nhưng với ý nghĩa chiến dịch và chiến lược của thành Xương Giang nên nghĩa quân quyết tâm hạ cho được thành đó và việc này phải mất hàng tháng mới làm được. Ngoài việc phải chiếm lấy thành Xương Giang để chặn quân địch lại ở đó, làm cho địch không có một đầu mối trung gian để nối liền với Vương Thông, không có một bàn đạp trung gian để tiến về Đông Đó (một đầu cầu chiến lược để tiến về Đông Đô), bộ chỉ huy nghĩa quân còn bố trí một lực lượng tổng dự bị chiến lược ở mạn sông Thương để cơ động về hướng Xương Giang, chi viện cho lực lượng ở tuyến một, đồng thời đề phòng ngăn chặn Vương Thông nếu hắn phá vỡ được vòng vây ở Đông Đô chạy về hướng Xương Giang.


Thế trận ở hướng chủ yếu như thế là tương đối chặt chẽ, vững chắc và linh hoạt. Có thế trận mai phục ở Chi Lăng, có thế chặn đầu về chiến dịch và chia cắt về chiến lược, có lực lượng dự bị ở sát ngay tuyến ngăn chặn để quyết tiêu diệt địch.


Chiến sự diễn biến tương đối đi đúng theo đường hướng của thế trận. Thế trận không đứng yên, nó luôn luôn biến hóa trong quá trình đấu tranh của hai quân đội và có những thế mới xuất hiện.


Bộ chỉ huy nghĩa quân đã làm chủ được thế trận, đã điều khiển được thế trận, dẫn dắt sự biến hóa đi vào được đúng thế trận và đã thành công rực rỡ.


Căn cứ vào thế trận trên đây, vào ý định và quyết tâm của bộ chỉ huy nghĩa quân và căn cứ vào diễn biến chiến sự, có thể đi sâu một bước để nghiên cứu và phân tích kỹ hơn nữa về thế trận, tìm ra những điểm cụ thể trong thế trận, phân tích các thành phần cấu thành thế trận. Điểm quan trong nhất trong các thành phần của thế trận là khu vực tập trung lực lượng để tiêu diệt địch một cách quyết định, đánh những trận then chốt.


Khu vực tập trung đó khái quát lên là khu quyết chiến. Khu quyết chiến là hạt nhân của thế trận. Quyết định việc tiêu diệt tập đoàn chiến dịch và chiến lược chủ yếu của địch là ở khu quyết chiến. Muốn tiêu diệt tập đoàn chiến dịch, chiến lược chủ yếu của địch ở khu quyết chiến thì phải đánh một số trận then chốt, quyết định cho việc tiêu diệt đó. Sự vận động của sự vật cũng như sự vận động của chiến tranh có rất nhiều thành phần đấu tranh với nhau, nhiều mặt đấu tranh với nhau; có rất nhiều mâu thuẫn. Phải tập trung giải quyết những khâu mấu chốt chính, tập trung vào chỗ nào, lúc nào thành phần nào gay gắt nhất, quyết liệt nhất thì mới quyết định được sự chuyển biến căn bản của sự vật. Nếu cứ phân tán, chỗ nào cũng giải quyết thì giải quyết không được triệt để.


Trong thế trận ở khu quyết chiến, trên hướng chủ yếu này, trận Chi Lăng là một trận then chốt thứ nhất, là hiệp đầu quyết định cho việc tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng. Sau trận Chi Lăng, quân địch bị tiêu diệt một bộ phận quan trọng về sinh lực và cơ quan chỉ huy, làm cho đội hình địch rối loạn, thế trận của địch tan vỡ, tinh thần địch hoang mang, chúng phải cố chạy xuống Xương Giang. Trận Xương Giang là một trận then chốt thứ hai, quyết định việc tiêu diệt hoàn toàn đạo quân Liễu Thăng.


Do có thế trận đúng, hiểm và hay nên các bước tác chiến đều hoàn thành nhiệm vụ và đòn quyết chiến tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng đã thành công, giành được thắng lợi hoàn toàn cho cuộc kháng chiến. Chiến cục này là một chiến cục có thế trận trên phạm vi cả nước. Thế trận này là một thế trận rất phức tạp. Các thế trận có mối liên hệ bên trong về chiến lược rất chặt chẽ, có sự liên hệ về tình huống chiến lược chứ không phải chỉ có liên hệ về mặt kế hoạch. Đặc biệt của thế trận là sự hỗ trợ của các thế tạo điều kiện cho thế chủ yếu rất là quan trọng. Mỗi thế cũng phải hành động cùng một lúc, nhiệm vụ rất nặng nề và phải hoàn thành cho được mới hoàn thành được nhiệm vụ chung một cách hoàn hảo. Nhìn trận đồ này như là xem một bức tranh tuyệt đẹp, có nhiều màu sắc tươi sáng, phong phú và sinh động.


Trong cuộc phản công ra Thăng Long, thế trận của Quang Trung triển khai để đánh vào một mục tiêu tập trung. Nhưng thế trận rất mạnh, hiểm, kín và chắc. Thế trận này là một thế trận có nhiều thế, các thế có mối quan hệ hữu cơ trong một thế tổng hợp chung, hiệp đồng, hỗ trợ nhau rất chặt chẽ, ăn ý.


Thế đánh ở một mặt chính là một thế mạnh, thế chủ yếu, gồm nhiều mũi, có đánh thẳng vào mặt chính trận địa của địch, có đánh vào sườn trận địa của địch, hiệp đồng, hỗ trợ nhau chặt chẽ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Tám, 2023, 10:39:23 am
Thế chủ yếu - hướng chủ yếu, đánh thẳng vào Thăng Long có ba mũi, ba thế nhỏ. Cánh đánh theo đương số 1 vượt qua Hạ Hồi, Ngọc Hồi có hai mũi. Hai mũi đó có sự hiệp đồng với nhau trong cánh đó. Cánh đánh theo đường số 6 vào Khương Thượng - Đống Đa chỉ có một mũi. Cánh này đánh vào sườn địch, hiệp đồng và cùng hỗ trợ với cánh ở đường số 1. Cánh này (cánh đường số 6) chỉ có một mũi - một đạo quân. Nhưng một mũi đó cũng lại có thể chia làm hai mũi nhỏ, để tự bản thân nó có sự hiệp đồng, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Mũi đánh vào Lục Đầu là thế chia cắt quân địch ở Thăng Long với Hải Dương, là thế vây chặt và là thế yểm hộ sườn phải (phía đông) cho đạo quân chủ lực của Quang Trung đánh vào Thăng Long và cũng là một thế để yểm hộ cho mũi đánh lên Phượng Nhỡn. Mũi đánh vào Phượng Nhỡn (Hà Bắc) là thế vây chặn xa, chặn quân địch rút chạy và chặn quân cứu viện từ Nam Quan xuống.


Thế trận của Quang Trung có một đặc điểm nổi bật là có sức tiến công mạnh, có sự kết hợp chặt chẽ giữa đột phá với bao vây vu hồi, có cái hình dáng của một thế trận bao vây tiêu diệt quân địch. Để đánh những đòn bất ngờ, mãnh liệt, Quang Trung thường hoàn chỉnh thế trận trong quá trình thực hành tiến công. Thế trận của Quang Trung thể hiện tư tưởng tiến công tiêu diệt rất kiên quyết, rất triệt để...


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hiện nay, nhân dân ta có một thế trận rất hay, vô cùng phức tạp và phong phú. Nó phát triển tới một đỉnh cao trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta.

Thế trận đó là một thế trận của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển tới một đỉnh cao. Thế trận này là một thế trận thiên la địa võng. Nhân dân ta đã bày được một thế trận trong cả nước: thế trận của mọi người dân, mọi lực lượng (quân sự và chính trị), mọi thứ quân (chủ lực, địa phương và dân quân du kích), mọi thứ vũ khí, mọi phương pháp chiến tranh, mọi biện pháp đấu tranh. Nhân dân ta đã đánh địch ở khắp mọi nơi, cụ già, em bé cũng đánh địch, cũng thành một thế trận, cũng thành một mũi tiến công, một người cũng thành 3 mũi giáp công. Nhân dân ta đánh địch ở ngay trong sào huyệt của nó, đánh địch ở cả trên không, dưới dất, dưới nước. Quân địch ở đâu cũng bị đánh, bị đánh ở trước mặt, bị đánh ở sau lưng. Thế trận này làm cho hơn một triệu quân với hàng ngàn máy bay, xe tăng của Mỹ, ngụy cùng 4-5 nước chư hầu tham chiến đều không cựa quậy được, bị bao vây, trói chặt, bị tiêu diệt và thất bại từng bộ phận, từng bước, đi dần tới thất bại hoàn toàn. Thế trận này làm cho địch không thể xoay xở được, không thể đánh theo ý muốn của chúng được, không thể đánh theo cách đánh của chúng được, làm cho địch quân đông, vũ khí nhiều mà hóa ít. Thế trận này làm cho lực ta tăng lên gấp bội, thế ta biến hóa vô cùng.


Thế trận này tạo cho ta những điều kiện vô cùng thuận lợi, muốn đánh địch ở đâu, lúc nào, cách gì tùy ta lựa chọn. Do có thế trận đó mà ta luôn luôn chủ động điều động địch, làm cho địch phải phân tán, căng mỏng, mệt mỏi, sa vào thế trận của ta rồi bị tiêu diệt. Thế trận của ta là một thế trận tiến công địch một cách tổng hợp toàn diện. Nó có một sức mạnh rất lớn, một sức dẻo dai rất bền, lại rất vững chắc, sâu hiểm, sắc nhọn. Thế trận trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước hiện nay của nhân dân ta là một thế trận rất phong phú, rất mạnh, rất hay và đã phát triển tới một đỉnh rất cao. Nó kế thừa những kinh nghiệm, tinh hoa của dân tộc ta, tiếp thu kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cách mạng thế giới và phát huy lên một trình độ mới của thời đại ngày nay.


Qua nhiều kiểu cách của thế trận và sự vận động phong phú của thế trận có thể đi sâu thêm một bước để nghiên cứu về bản chất của thế trận. Thế trận là vấn đề về tình huống và thời cơ để tiêu diệt địch. Bày thế trận và điều khiển thế trận là tạo ra được tình huống và thời cơ có lợi để tiêu diệt được tập đoàn chiến dịch, chiến lược chủ yếu của địch một cách hay nhất, đẹp nhất. Sự vận động của thế trận là sự vận động của tình huống và thời cơ, là sự vận động của thế quyết chiến. Thời cơ là vấn đề quan trọng nhất trong sự vận động của thế trận. Thế trận và thời cơ có mối liên hệ bên trong rất khăng khít với nhau, là một sự thống nhất về chất. Điều khiển thế trận để tạo ra được tình huống và thời cơ là tính năng động và chủ động trong sự chỉ huy. Giữ được chủ động trong suốt cả quá trình biến hóa của thế trận là vấn đề rất quan trọng trong sự chỉ huy để tạo ra được tình huống và thời cơ có lợi nhất để tiêu diệt địch.


Các dẫn chứng chiến tranh trên đây đã nói lên nhiều đặc điểm khác nhau muôn màu muôn vẻ về thế trận trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta. Thế trận của Quang Trung rất mạnh, mạnh như gió gào, thác đổ. Thế trận của Lê Lợi - Nguyễn Trãi mềm mại, nhẹ nhàng, nhưng rất vững chãi, dẻo dai như núi nhọn, sông dài. Thế trận của Trần Hưng Đạo sâu hiểm như rừng rậm, cây dày. Quang Trung đánh trận như cưỡi ngựa múa đao. Lê Lợi đánh trận như đánh cờ chọn nước. Trần Hưng Đạo đánh trận như tìm mồi đặt bẫy.


Qua lịch sử chiến tranh trên đây, tổ tiên ta đã xây dựng được một nghệ thuật về thế trận rất hay, rất đẹp; mỗi thời một vẻ, mỗi người một vẻ.

Thế trận là một vấn đề rất phức tạp, là một vấn đề tương đối khó, là một nghệ thuật cao trong chiến tranh.

Thế trận chứa đựng, thể hiện hầu như toàn bộ nội dung của chiến dịch, của chiến tranh.

Bày được thế trận đúng, hay đã khó, nhưng điều khiển thế trận lại còn khó hơn. Được rèn luyện trong một quá trình đấu tranh vũ trang lâu dài, dân tộc ta đã có một nghệ thuật muôn màu muôn vẻ về thế trận, có nhiều thế trận rất hay, rất đẹp, rất phong phú, linh hoạt, sáng tạo và đã phát triển tới một trình độ cao.


Ngày nay, chúng ta cần tiếp thu, học tập một cách nghiêm túc để vận dụng sáng tạo và nâng cao lên hơn nữa, làm phong phú kho tàng nghệ thuật chiến tranh và khoa học quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:25:24 am
5. Nghệ thuật đột phá và bao vây vu hồi

Đột phá, bao vây vu hồi là một hình thức của thế trận, là sự thể hiện thế trận về mặt cách đánh.

Đột phá, bao vây vu hồi là một thủ đoạn hành động của các binh đoàn (các phân đội) trong tác chiến tiến công tiêu diệt địch, là một cách đánh của các đơn vị bộ đội, các lực lượng vũ trang.

Yêu cầu của tác chiến là tiêu diệt địch một cách kiên quyết, nhanh gọn và triệt để. Muốn thế thì phải đánh thẳng vào đội hình của địch, xuyên thủng được đội hình của địch, cùng một lúc vây địch lại không cho địch chạy thoát và chia cắt địch ra nhiều mảnh không cho dồn cục lại, rồi tiêu diệt cho nhanh chóng, sạch gọn.


Lịch sử chiến tranh đã chứng minh, chiến dịch nào, trận chiến đấu nào kết hợp được chặt chẽ giữa đột phá mạnh (đột kích) với bao vây vu hồi chặt thì tiêu diệt địch được nhanh gọn, triệt để, và lực lượng ít cũng tiêu diệt được lực lượng nhiều.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, Quang Trung là người có trình độ cao, có đặc tài về nghệ thuật đột phá và bao vây vu hồi. Trận Phú Xuân (Huế) và trận Thăng Long là hai trận điển hình xuất sắc về nghệ thuật đột phá và bao vây vu hồi. Trong chiến dịch này, Quang Trung đã đánh vào chỗ mạnh nhất, cứng nhất và quan trọng nhất của địch. Ông đánh ngay vào bộ chỉ huy, bộ thống soái của địch, diệt ngay bộ chỉ huy đó cùng với tập đoàn chiến lược chủ yếu của nó, ở trong thành quách. Ba yếu tố trên (diệt bộ thống soái, diệt tập đoàn chiến lược chủ yếu, diệt trong thành quách) làm cho cuộc chiến tranh giành được thắng lợi rất nhanh. Thường Quang Trung chi đánh một đòn quyết chiến là giành được thắng lợi chiến tranh.


Nguyên nhân của thắng lợi có nhiều mặt. Trước tiên là tinh thần và quyết tâm của quân đội của Quang Trung rất cao, tư tưởng tiến công rất kiên quyết, tư tưởng đánh tiêu diệt rất triệt để. Đội quân của Quang Trung là một đội quân dày dạn chiến đấu, có nhiều kinh nghiệm, trình độ và nghệ thuật tác chiến giỏi. Quang Trung là người chỉ huy có tài năng kiệt xuất. Về trình độ và nghệ thuật tác chiến thì Quang Trung rất giỏi về đánh công thành, đánh tiêu diệt các tập đoàn lớn của địch ở trong thành quách. Điều quan trọng là không cho địch chạy thoát và không cho quân địch ở ngoài đến cứu viện. Muốn thế phải đột phá và bao vây vu hồi. Đột phá cũng phải nhiều mũi, nhiều hướng, bao vây vu hồi cũng phải có gần, có xa, nhiều tầng nhiều lớp.


Trong chiến dịch Thăng Long, Quang Trung thực hành đột phá trên hai hướng: hướng theo đường số 1 qua Hạ Hồi, Ngọc Hồi và hướng theo đường số 6 vào Khương Thượng - Đống Đa. Bản thân mỗi hướng cũng có nhiều mũi, cũng có bao vây của bản thân mũi đó. Trong hai mũi đột phá vào Thăng Long thì mũi đánh vào Khương Thượng lại có tác dụng là một mũi bao vây, đánh vào sườn so với mũi chính đánh thẳng theo đường số 1 là đạo đại quân do chính Quang Trung thân chinh chỉ huy. Về bao vây vu hồi thì có vu hồi gần ở Lục Đầu và vu hồi xa ở Phượng Nhỡn.


Chiến dịch Phú Xuân có vu hồi gần ở Phú Xuân và vu hồi xa ở gần sông Gianh. Hai thành phần đó (đột phá và bao vây vu hồi) kết hợp, hiệp đồng được chặt chẽ với nhau thì làm cho quân địch bị diệt ngay ở trong thành, không thể chạy thoát được và quân ngoài muốn đến cứu cũng không được. Trong chiến dịch Thăng Long, thế trận đột phá và thế trận vu hồi đã hiệp đồng được với nhau chặt chẽ, yểm hộ, tác động lẫn nhau. Hai mũi đột phá mạnh có tác dụng quyết định tiêu diệt đạo quân Tôn Sĩ Nghị. Hai mũi đột phá này được sự hiệp đồng yểm hộ và hỗ trợ bằng hai mũi vu hồi: một mũi vu hồi gần và một mũi vu hồi xa.


Mũi vu hồi gần đánh vào Lục Đầu và vùng Hải Hưng có nhiệm vụ chia cắt Thăng Long với Hải Hưng, tiêu diệt và ngăn chặn quân địch ở Hải Hưng không cho về tiếp ứng cho Thăng Long và không cho quân ở Thăng Long chạy về hướng Lục Đầu, đồng thời cũng để hư trương thanh thế, yểm hộ cho hướng Thăng Long và cũng là một thế yểm hộ cho mũi vu hồi xa ở Phượng Nhỡn. Mũi vu hồi xa đánh vào Phượng Nhỡn vừa có ý nghĩa chiến dịch và chiến lược. Nhiệm vụ của nó là diệt quân địch rút chạy về Nam Quan, đồng thời có nhiệm vụ diệt và ngăn chặn vòng ngoài, không cho địch từ Nam Quan sang cứu viện cho quân địch ở Thăng Long. Mũi này đã đánh tan quân rút lui của Tôn Sĩ Nghị. Đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật bao vây của Quang Trung là khép rất kín thế bao vây, là vu hồi rất xa, là bao vây hai vòng (bao vây kép). Nghệ thuật bao vây này có hình thức của hợp vây chiến dịch và hợp vây chiến lược.


Trong nhiều chiến dịch tiến công, Quang Trung đã vận dụng cách đánh đột phá kết hợp với bao vây vu hồi một cách thành thạo, nhuần nhuyễn, có một trình độ cao. Ông rất có tài về đánh thành, về đột phá công sự vững chắc. Phần lớn các trận thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đều là đánh thành như đánh thành Bình Định, thành Gia Định (Sài Gòn), thành Phú Xuân (Huế), thành Thăng Long.


Về kỹ thuật đánh thành và chiến thuật đánh thành của Quang Trung tài liệu còn ít, chưa sưu tầm được hết, sự hiểu biết về vấn đề này còn ít. Căn cứ vào một ít tài liệu, có thể đề ra một số vấn đề nghiên cứu về kỹ thuật đánh thành, thì Quang Trung đã sử dụng thang ván để vượt thành, con lăn, con cúi, khiên mộc để chống tên nỏ và thuốc súng để diệt sinh lục và phá tường thành, v.v... về sử dụng các phương tiện này có thể tập trung vào các mũi công phá chủ yếu, để phá vỡ sự chống cự và vỏ cứng (tường thành, công sự) của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đột phá. Về chiến thuật thì đột phá nhiều hướng nhiều mũi. Trong trận Thăng Long, khi địch dang phải tập trung đối phó với hướng Ngọc Hồi ở trên đường số 1, thì mũi tiến công theo đường số 6 của Đô đốc Long đánh ngay vào Khương Thượng rồi phát triển tiến công chọc sâu ngay vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị, đánh vỡ ngay thế trận của địch, làm cho quân đội của Tôn Sĩ Nghị bị hỗn loạn. Bộ tham mưu và bản thân Tôn Sĩ Nghị cũng không còn cách đối phó và phải tháo chạy.


Đánh công thành, đột phá là một chiến thuật khó, là một nghệ thuật cao. Quang Trung có sở trường, có tài năng về môn này. Do đó mà ông có quyết tâm cao, tin tưởng vào việc tiêu diệt địch, tin vào chắc thắng và thắng lợi nhanh chóng.


Trong cuộc chiến tranh đời nhà Trần, trình độ đánh công thành còn yếu. Cách đánh đột phá vào thành quách chưa phát triển, về bao vây vu hồi thì có một số trận có trình độ cao. Trận Chương Dương - Thăng Long (1285), mũi đánh vào thành Thăng Long là một mũi vu hồi rất đẹp. Mũi đó là một thế trận về thời cơ nằm trong thế trận chung. Mũi đó có mối liên hệ chặt chẽ với mũi (hướng) chính; lợi dụng thời cơ khi mũi chính tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch mà trong thành Thăng Long sơ hở thì kịp thời đánh vào hậu phương, vào sau lưng dịch để hiệp đồng với hướng chính, tạo ra thắng lợi chung to lớn. Trận Bạch Đằng (1288), Trần Hưng Đạo đã bao vây chặt được đạo quân Ô Mã Nhi, tiêu diệt toàn bộ đạo quân đó và bắt sống tướng chỉ huy Ô Mã Nhi. Cách bao vây ở đây, ngoài các cánh quân ở hai bên bờ sông và ở thượng lưu ra, thì còn có một thế trận bao vây bằng hàng rào cọc lim ở miền hạ lưu sông Bạch Đằng cùng với một số binh lực nhỏ. Hàng rào ngăn chặn cọc lim này là thế chặn đầu, lại vừa là một thế bao vây ở mặt đầu đạo quân của địch; nó nằm trong thế trận bao vây chung. Trận tiến công phục kích với thế bao vây chặt bằng mưu sâu này rất đẹp - Nó đã giành được thắng lợi vẻ vang.


Trong cuộc chiến tranh giải phóng thời Lê Lợi, chiến cục mùa đông 1427 có một thế trận bao vây chiến lược rất lớn, phức tạp, nhưng rất hay nên đã tiêu diệt được đạo quân Liễu Thăng và đạo quân Vương Thông.


Bao vây, vu hồi ở đây không phải chỉ là trong phạm vi chiến dịch, đánh vào một mục tiêu chiến dịch, một khu vực chiến dịch mà là đánh vào nhiều mục tiêu, đối tượng chiến dịch, trong một thế trận chiến lược chung, trên một địa bàn chiến lược rộng lớn.


Trong thế trận bao vây chiến lược chung, có mấy thế trận bao vây cục bộ. Thế trận bao vây đạo quân Vương Thông ở trong thành Đông Đô - Nhiệm vụ của thế trận này là không cho Vương Thông chạy thoát ra khỏi thành đi về hướng Hà Bắc, hoặc đi về hướng Vĩnh Phú, để sau khi tiêu diệt được đạo quân Liễu Thăng thì sẽ dụ hàng hoặc là đánh tiêu diệt. Thế trận bao vây này tương đối đơn giản. Thế bao vây ở hướng chính đánh đạo quân Liễu Thăng có phần phức tạp hơn. Bao vây ở đây có bao vây mai phục diệt địch ở Chi Lăng, có chặn đuôi phía Lạng Sơn và cắt được lương thảo, chặn đoàn quân tiếp viện. Thế chặn đầu thì có mũi chặn trực tiếp của chiến dịch ở Chi Lăng. Ngoài ra còn có mũi chặn đầu xa, có ý nghĩa chiến lược ở Xương Giang. Mũi chặn đầu ở Xương Giang vừa là thế chặn đầu, vừa là thế chia cắt chiến lược giữa đạo quân Liễu Thăng với đạo quân Vương Thông ở Đông Đô. Do có thế bao vây chặt chẽ, kín chắc, nhiều tầng như thế nên Lê Lợi đã chia cắt được Liễu Thăng với Vương Thông, cô lập được Vương Thông và khép chặt được Liễu Thăng mà tiêu diệt ở trên hai khu quyết chiến Chi Lăng và Xương Giang, ở khu quyết chiến Chi Lăng, Lê Lợi không tiêu diệt hết được đạo quân Liễu Thăng. Số còn lại tháo chạy về Xương Giang. Nhờ có mũi chặn đầu - mũi bao vây trước mặt ở Xương Giang nên đã chặn được đạo tàn quân đó lại, tạo điều kiện tốt cho lực lượng ở các hướng khác cơ động đến bao vây tiêu diệt nốt.


Lịch sử chiến tranh trên đây chứng tỏ thế trận tốt là một thế trận có thế đột phá và bao vây vu hồi tốt. Hai thành phần này là hai thế trận của một thế trận chung, có mối liên hệ chặt chẽ, tác động hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một sức mạnh chung, thành những mũi đánh mạnh, sắc, nhọn, hiểm vào toàn bộ đội hình của địch, vào tất cả mọi bộ phận của đội hình địch, không cho địch có điều kiện cơ động, xoay chuyển thế trận, không cho địch có điều kiện chống đỡ, đối phó hoặc tháo chạy mà phải chịu để bị tiêu diệt hoàn toàn.


Đột phá là một nghệ thuật rất khó, nhưng bao vây vu hồi cũng không phải là giản đơn, là một vấn đề rất phức tạp. Có nhiều hình thức và kiểu cách bao vây vu hồi. Vấn đề rất quan trọng là bao vây được kín, chắc, làm cho địch ra cũng không được mà vào cũng không được; bao vây được đúng chỗ, đúng lúc. Có thế mới tiêu diệt gọn được quân địch. Bao vây vu hồi có thể hình thành trước khi tiến công hoặc vừa tiến công, đột phá vừa hình thành bao vây vu hồi. Đột phá, bao vây vu hồi là một thủ đoạn tác chiến rất cần thiết và rất hay. Thủ đoạn này đã được phát triển phong phú, nhiều kiểu cách trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:27:55 am
6. Vấn đề xây dựng và sử dụng lực lượng

Xây dựng lực lượng là một vấn đề rất cơ bản trong chiến tranh. Có lực lượng quân sự mới có thể tiến hành chiến tranh được. Cái cơ sở, cái nguồn của lực lượng quân sự là ở nhân dân. Chiến tranh giải phóng, chiến tranh chống xâm lược là dựa vào sức mạnh của nhân dân. Các cuộc chiến tranh giải phóng và chống xâm lược của dân tộc ta ở những thế kỷ trước tuy do giai cấp phong kiến lãnh đạo nhưng cũng được nhân dân ủng hộ và tham gia, vì họ nêu được ngọn cờ độc lập dân tộc. Một cuộc chiến tranh giải phóng, chống xâm lược của một nước nhỏ chống lại một nước lớn thì điều kiện nhân dân tham gia là vô cùng quan trọng, là quyết định. Việc tổ chức và xây dựng lực lượng trong một cuộc chiến tranh như thế thường là chia ra mấy thứ quân, thường là có ba thứ quân cơ bản:

- Quân chủ lực (quân trung ương hay quân triều đình).

- Quân địa phương (quân các lộ hay quản các vương hầu).

- Dân binh (nghĩa dũng quân hay hương binh).

Việc tổ chức các thứ quân như trên thể hiện được quy luật của việc tổ chức lực lượng vũ trang trong một cuộc chiến tranh chống xâm lược, thể hiện được bản chất của một cuộc chiến tranh có tính chất nhân dân. Đội quân tập trung đặt dưới sự chỉ huy của cơ quan chỉ huy tối cao, cơ động tác chiến trên phạm vi cả nước là đội quân chủ lực. Ở từng khu vực, có lực lượng vũ trang của các lãnh tụ địa phương, ở từng thôn, xã thì nhân dân đứng dậy đánh địch. Đó là lực lượng vũ trang rộng rãi trong nhân dân.


Trong cuộc chiến tranh đời nhà Trần, khi quân triều đình rút lui, xoay chuyển thế trận, thì quân các lộ và hương binh đánh địch ở các nơi, cả miền núi và miền xuôi cùng nhân dân làm nhà không vườn trống. Do đó đã làm cho địch bị tiêu hao, mệt mỏi, không vơ vét được lương thực, của cải làm cho quân lính địch tinh thần chán nản. Tình hình này tạo điều kiện thuận lợi cho quân chủ lực và tất cả các lực lượng vũ trang tiêu diệt địch.


Trong cuộc chiến tranh của nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân nhiều nơi đã hưởng ứng với nghĩa quân nổi dậy đánh địch bằng cách này cách khác. Khi quân chủ lực của nghĩa quân đến đánh địch ở đâu thì quân các lộ và nghĩa dũng quân đều có phối hợp, hiệp đồng tác chiến. Số lượng quân chủ lực của nghĩa quân không nhiều. Các đạo quân, cánh quân chủ lực đi tác chiến ở các hướng so với địch thì rất ít. Nhưng do có sự phối hợp, hiệp đồng của quân địa phương và dân binh nên nghĩa quân vẫn có đủ sức mạnh để đánh địch, giành được thắng lợi rực rỡ.


Nguyễn Trãi đã nói đại ý là nghĩa quân Lam Sơn có quân tinh nhuệ, quân các lộ và quân nghĩa dũng. Thời cổ cũng đã có câu: "Ngụ binh ư nông" và câu: "Vừa cày ruộng, vừa đánh giặc". Do tổ chức được các thứ quân như thế, tổ chức được lực lượng vũ trang rộng rãi như thế, nên sức mạnh của chiến tranh được nhân lên gấp bội, đánh địch được khắp mọi nơi, dàn được thế trận trong cả nước, đưa địch vào một vòng vây trùng điệp. Tổ chức được các lực lượng quân sự, các thứ quân như trên thì có một sức mạnh rất lớn, có một nguồn vô tận.


Cuộc chiến tranh nhân dân của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong thời đại Hồ Chí Minh, đã thể hiện được cao nhất, toàn diện nhất về ý nghĩa và tính chất này.

Ngoài việc tổ chức các thứ quân ra, thì việc tổ chức lực lượng vũ trang thành các binh chủng và thành các đơn vị tác chiến cũng rất quan trọng. Trong lực lượng vũ trang cần tổ chức các đơn vị tác chiến để thực hành các trận đánh có ý nghĩa về chiến dịch và chiến lược.


Căn cứ theo yêu cầu của tác chiến, căn cứ vào khả năng và căn cứ vào sự phát triển của chiến tranh mà tổ chức các đơn vị tác chiến lớn, vừa hoặc nhỏ. Giai đoạn đầu của chiến tranh, trong thời ký đánh du kích thì đơn vị tác chiến thường là nhỏ, rồi tiến dần lên các đơn vị vừa và đến giai đoạn cuối của chiến tranh trong thời kỳ đánh tập trung, vận dụng chiến lược phản công và tiến công, đánh những đòn tập trung lớn thì có thể tổ chức các đơn vị lớn.


Trong cuộc chiến tranh mà bên kháng chiến đã có một nhà nước, đã có một quân đội tập trung, chính quy thì có thể tổ chức ngay được những đơn vị vừa và lớn.

Quy luật giành thắng lợi triệt để trong chiến tranh là quy luật của tiêu diệt chiến lược. Đó là quy luật có tính chất phổ biến. Có tiêu diệt chiến lược, tiêu diệt chiến lược quyết định mới giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong chiến tranh. Tiêu diệt chiến lược càng lớn, càng có ý nghĩa quyết định thì thắng lợi càng nhanh. Trong một hoàn cảnh, điều kiện nào, tiêu diệt nhỏ và tiêu hao chiến lược lớn rộng rãi cũng có thể giành được thắng lợi chiến lược. Nhưng lúc nào, thời cơ nào thì thực hành tiêu diệt chiến lược là phải căn cứ vào sự so sánh lực lượng giữa hai bên, căn cứ vào thế và lực của hai bên mà quyết định, không thể theo ý muốn chủ quan. Muốn tiêu diệt chiến lược thì cần tổ chức các đơn vị lớn hoặc tương đối lớn để tổ chức các chiến dịch, thực hành đánh tiêu diệt các đơn vị chiến dịch và chiến lược của địch, giành thắng lợi chiến dịch, chiến lược và thắng lợi chiến lược quyết định. Các đơn vị này là các đạo quân, các tập đoàn chiến lược. Các đơn vị chiến lược phụ trách từng hướng chiến lược, từng địa bàn chiến lược. Nó là lực lượng để tổ chức các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược.


Trần Hưng Đạo đã tổ chức các đơn vị chiến lược và các tập đoàn chiến lược để thực hành phản công và tiến công chiến lược. Trên các hướng tiến công chiến lược của quân địch, Trần Hưng Đạo đểu tổ chức các đạo quân lớn, nhỏ, để đánh ngăn chặn quân địch, còn đại quân thì bố trí ở địa bàn cơ động để chuẩn bị tạo thời cơ phản công.


Khi phản công, các đạo quân được triển khai trên một số hướng, bắt đầu phản công trên từng hướng rồi liên tục, kế tiếp ở hướng khác. Đạo đại quân thì dừng chân ở địa bàn chiến lược cơ động, sẵn sàng di chuyển về hướng chủ yếu để đánh đòn chiến lược quyết định.


Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), Trần Hung Đạo dàn một đạo quân ở hướng Lạng Sơn, một đạo quân ở hướng Quảng Yên, một đạo quân ở hướng Nghệ An để chặn đánh các mũi tiến công của địch, còn đại quân thì thời kỳ đầu tập trung ở hướng Lạng Giang - Vạn Kiếp. Khi bắt đầu phản công thì đạo quân của Trần Nhật Duật thực hành phản công trên hướng sông Hồng, tiêu diệt và đánh tan đạo quân Toa Đô. Cuộc phản công thứ nhất trên hướng quan trọng này đã tạo điều kiện, thời cơ cho cuộc phản công thứ hai. Cuộc phản công thứ hai do tập đoàn chiến lược chủ yếu của Trần Hưng Đạo đảm nhiệm, lúc đó đóng ở hướng Ninh Bình - Thanh Hóa, thực hiện việc tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan (tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân xâm lược) ở Chương Dương - Thăng Long, giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến.


Đến cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), Trần Hưng Đạo cũng bố trí các đạo quân để đánh địch trên các hướng tiến quân của chúng. Đại quân bố trí ở địa bàn cơ động. Khi bất đầu phản công, đạo quân thứ nhất của nhà Trần đánh tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi ở sông Bạch Đằng. Sau đó đạo quân thứ hai đánh kế tiếp luôn đạo quân Thoát Hoan ở vùng Vạn Kiếp.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:29:19 am
Trong cuộc chiến tranh giải phóng thời Lê Lợi, đến giai đoạn phản công chiến lược (1426), đội quân chủ lực đã được phát triển, Lê Lợi cũng tổ chức các đơn vị chiến lược - các đạo quân tung ra hoạt động, tiến vào địa bàn chiến lược chủ yếu của quân nhà Minh để tác chiến tiến công tiêu diệt địch. Các đạo quân đó hoạt động ở trên một số hướng chiến lược, địa bàn chiến lược, ở miền Bắc Bộ và xung quanh Đông Đô.


Đạo quân thứ nhất gồm khoảng trên 3.000 quân hoạt động ở vùng Sơn Tây, Ninh Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang. Nhiệm vụ của đạo quân này là tiêu diệt địch và mở rộng vùng giải phóng ở phía tây Đông Đô, vùng tây Bắc Bộ, lập một bàn đạp để bao vây và tiến công Đông Đô, đồng thời dàn một thế trận để chặn đường tiếp viện của địch từ Vân Nam sang.


Đạo quân thứ hai gồm khoảng 4.000 quân hoạt động ở vùng Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Giang. Nhiệm vụ của đạo quân này là tiêu diệt địch và mở rộng vùng giải phóng ở phía đông và phía bắc Đông Đô, vùng đông, đông bắc và vùng nam của Bắc Bộ, ngăn chặn quân Minh từ Nghệ An, Thanh Hóa rút về Đông Đô bằng đường sông Hồng và chặn quân tiếp viện từ Quảng Tây sang.


Đạo quân thứ ba gồm khoảng 2.000 quân hoạt động ở phía nam thành Đông Đô. Còn đại quân của Lê Lợi thì đóng ở vùng Thanh Hóa.

Các đạo quân này cùng với quân các lộ (quân địa phương) và nghĩa dũng quân (dân binh) đã hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược, tiêu diệt địch, giải phóng được nhiều vùng đất đai rộng lớn, mở rộng, phát triển được lực lượng kháng chiến và đã tạo ra được thế trận có lợi để tiến hành cuộc quyết chiến cuối cùng đạt thắng lợi vào mùa đông 1427. Chiến cục mùa đông 1427, trên cơ sở thắng lợi đã giành được trong một năm phản công vào năm 1426, bộ tham mưu nghĩa quân cũng tổ chức các đơn vị chiến lược, tập đoàn chiến lược để đánh những đòn chiến lược quyết định.


Ở Đông Đô, có đơn vị chiến lược bao vây Vương Thông. Ở Lào Cai có đơn vị chiến lược đánh ngăn chặn đạo quân Mộc Thạnh từ Vân Nam sang, ở Chi Lăng và Xương Giang có tập đoàn chiến lược chủ yếu đánh tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng.


Thời Quang Trung, trong chiến dịch tiến công Thăng Long, Quang Trung cũng đã tổ chức và triển khai được các đơn vị chiến lược, các tập đoàn chiến lược tác chiến trên nhiều hướng.

Tập đoàn chiến lược chủ yếu - đại quân gồm ba đạo quân - phụ trách hướng tiến công chủ yếu, đánh thẳng vào Thăng Long. Các hướng khác do các đơn vị chiến lược khác phụ trách, cùng hiệp đồng tiến công ở bên sườn, sau lưng và đường rút chạy của địch.


Qua những dẫn chứng chiến tranh trên đây, có thể thấy trong các cuộc chiến tranh trước kia, để tiêu diệt chiến lược khác nhau thì có thể tổ chức các đơn vị chiến lược và tập đoàn chiến lược. Các đơn vị chiến lược và tập đoàn chiến lược mới có khả năng đánh tiêu diệt lớn, giải phóng và giữ vững những địa bàn chiến lược. Trên chiến trường cả nước có tổ chức được một số đơn vị chiến lược và tập đoàn chiến lược mới có thể căng địch, phân tán địch ra trên các hướng, mởi có thể tiến công địch trên nhiều hướng, tiến công địch một cách liên tục kế tiếp, tiêu diệt chiến lược quân địch một cách dồn dập, làm cho địch xoay xở không kịp, không kịp hồi phục, lực lượng bị suy yếu một cách nhanh chóng, gây nên sự thay đổi so sánh lực lưạng một cách nhanh chóng có lợi cho ta.


Vấn đề quan trọng là tiến công chiến lược một cách liên tục kế tiếp, hướng này kế tiếp hướng khác hoặc tiến công đồng thời ở trên nhiều hướng đạt được tiêu diệt chiến lược một cách dồn dập, liên tục, tạo ra thời cơ liên tục, tạo ra thời cơ mới, thời cơ sau lớn hơn thời cơ trước, thắng lợi sau lớn hơn thắng lợi trước. Tiến công nhiều hướng, nhưng vẫn có thể tập trung được một số đơn vị chiến lược thành tập đoàn chiến lược chủ yếu vào hướng trọng điểm để đánh những đòn có tính chàt quyết định. Có nhiều đơn vị chiến lược, tập đoàn chiến lược, tiến công địch trên nhiều hướng một cách kế tiếp hoặc đồng thời mới có sự phối hợp chiến trường, có sự hỗ trợ lẫn nhau, tạo được thời cơ cho nhau để tiêu diệt địch một cách dễ dàng, nhanh, gọn. Tổ chức được nhiều tập đoàn chiến lược mới có lực lượng hùng hậu, dẻo dai, đánh được dài hơi, dai sức và linh hoạt. Các tập đoàn chiến lược có thể dàn ra tuyến trước trên một số hướng thành một thê đội tác chiến, hoặc có thể dàn ra phía trước một vài tập đoàn chiến lược thành thê đội một, còn một tập đoàn lớn thì để ở tuyến sau làm thê đội hai, khi có thời cơ hoặc có tình huống mới sử dụng.


Tổ chức hai thê đội chiến lược thì việc sử dụng lực lượng và hành động tác chiến có thể được chủ động và linh hoạt hơn, hơi sức sẽ vững bền hơn, dẻo dai hơn. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) thời nhà Trần, trong bố trí chiến lược của Trần Hưng Đạo, có thể nêu ý kiến là thế trận chiến lược đó do hai thê đội chiến lược dàn quân trên các hướng chiến lược tổ chức thành. Tập đoàn chiến lược Trần Nhật Duật đánh đạo quân Toa Đô ở trên sông Hồng và một số đơn vị khác ở trên một số hướng khác là thê đội một. Đại quân của Trần Hưng Đạo đóng ở Ninh Bình - Thanh Hóa là thê đội hai.


Sau khi thê đội một tiêu diệt và đánh tan đạo quân Toa Đô, tạo ra được thời cơ chiến lược mới, thì Trần Hưng Đạo liền sử dụng thê đội hai chiến lược tiến ra, đánh đạo quân Thoát Hoan ở Thăng Long, Chương Dương dứt điểm về chiến lược. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), thê đội một chiến lược đánh địch ở Bạch Đằng và Vạn Kiếp, thì đại quân (thê đội hai) vẫn còn đóng quân ở tuyến sau trên địa bàn chiến lược cơ động là Thái Bình và Hải Hưng. Sau khi đã tạo ra được thời cơ chiến lược. Trần Hưng Đạo liền tung thê đội hai ra tăng cường cho thê đội một ở các hướng Bạch Đằng và Vạn Kiếp để kiên quyết tiêu diệt triệt để quân thù.


Thời cơ sử dụng thê đội hai chiến lược của Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến lần thứ ba có sớm hơn trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, nhưng là đúng thời cơ.

Việc sử dụng thê đội hai chiến lược cũng rất linh hoạt, vừa có thể là đội dự bị, vừa có thể là thê đội hai, có thể có hai tính chất, làm cả hai nhiệm vụ.

Trong cuộc chiến tranh thời Lê Lợi, năm 1426, ba đạo quân tiến ra miền Bắc Bộ để hoạt động là có tính chất thê đội một chiến lược. Còn đại quân của Lê Lợi đóng ở Thanh Hóa là có tính chất thê đội hai chiến lược.


Chiến cục mùa đông 1427, các đạo quân ở Lê Hoa, Đông Đô, Chi Lăng có tính chất là thê đội một, còn đại quân của Lê Lợi đóng ở Bắc Ninh thì vừa có tính chất là một đội tổng dự bị chiến lược, vừa có tính chất là thê đội hai chiến lược. Trong thực tế sử dụng thì đạo đại quân đó có tính chất là đội tổng dự bị chiến lược.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:30:22 am
Tổ chức nhiều tập đoàn chiến lược và bố trí được thành hai thê đội là một vấn đề rất quan trọng để tiến công địch được toàn diện, liên tục làm cho địch đối phó bị động, xoay xở khó khăn, suy yếu nhanh chóng mà ta thì chủ động, linh hoạt, bên sức, dẻo dai, nhưng trong một điều kiện hoàn cảnh nào đó, thì tổ chức một thê đội chiến lược cùng đánh tiêu diệt chiến lược lớn quyết định, giành được thắng lợi chiến tranh một cách nhanh chóng. Thực tiễn này đã thể hiện ở thời Quang Trung. Quang Trung thường chỉ sử dụng tập đoàn chiến lược chủ yếu thành một thê đội chiến lược, đánh một đòn quyết chiến chiến lược là thực hiện được tiêu diệt chiến lược giành được thắng lợi chiến lược quyết định. Trận Thăng Long là một điển hình về vấn đề này.


Tổ chức lực lượng nhỏ, vừa, lớn đánh tập trung hay phân tán cũng phải vận dụng rất linh hoạt, phải có tất cả các quy mô, kiểu cách. Mỗi cái đều có tác dụng, ý nghĩa của nó, không một thứ nào thay thế được tất cả. Mỗi thứ phải bồi bổ, bổ sung cho nhau. Phải vận dụng tổng hợp, toàn diện. Sức mạnh lớn là ở chỗ tổng hợp, toàn diện. Trong phân tán có tập trung. Vừa có nhỏ lại vừa có lớn, nhưng cái trọng điểm vẫn là có tính chất quyết định. Có tập trung lực lượng, chỉ huy thống nhất, công cụ tiến bộ thì năng suất mới cao.


Có tập trung lực lượng, tập trung đấu tranh vào giải quyết những kháu mấu chốt nhất mới giành được thắng lợi quyết định, mới thúc đẩy sự vật phát triển nhanh chóng. Việc tổ chức, xây dựng và sử dụng lực lượng chiến lược là một vấn đề rất cơ bản, rất quan trọng trong chiến tranh. Nó là cơ sở cho việc chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh.


Qua các diễn biến về lịch sử chiến tranh trên đây có thể đề ra một vấn đề về quy luật chiến tranh.

Chiến tranh luôn luôn phát triển, không một cuộc chiến tranh nào giống một cuộc chiến tranh nào.

Chiến tranh phát triển rất phong phú, muôn màu muôn vẻ, có nhiều điểm rất khác nhau.

Nhưng chiến tranh vận động là có quy luật. Người ta vẫn có thể nhận thức được chiến tranh, học tập được các kinh nghiệm khác nhau của chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh theo quy luật của nó. Chiến tranh cũng như các sự vật khác, vận động là có quy luật; có quy luật chung và quy luật riêng.


Quy luật của chiến tranh là sự vận động có tính chất bản chất của chiến tranh.

Chiến tranh là sự đối chọi giữa hai quân đội, giữa hai quốc gia, hai tập thể quốc gia hoặc hai tập đoàn xã hội. Sự diễn biến và kết quả của sự đối chọi đó (chiến tranh) như thế nào là do nhân tố chính sau đây:

1. Sức mạnh của hai bên tham chiến (vật chất và tinh thần, cả nhân dân và quân đội).

2. Tài năng lãnh đạo, chỉ huy của cơ quan lãnh đạo (gồm cả đường lối chiến tranh và khả năng thực hiện đường lối đó) và trình độ tác chiến của quân đội.

Chiến tranh không thể thoát khỏi hai nhân tố cơ bản trên đây. Hai nhân tố trên cấu thành sự vận động của chiến tranh. Sự vận động của chiến tranh chính là sự vận động của hai nhân tố trên. Đó cũng là điều kiện tồn tại và vận động của chiến tranh. Đó là sự vận động có tính bản chất của chiến tranh. Tìm hiểu quy luật chung của chiến tranh để chỉ đạo chiến tranh chính là tìm hiểu sự vận động của hai nhân tố cơ bản của chiến tranh trên đây.


Sức mạnh của hai bên tham chiến đối chọi nhau là sự quan hệ về so sánh lực lượng hai bên tham chiến. Sự so sánh về lực lượng vật chất là yếu tố khách quan của chiến tranh. Sự chỉ đạo, tính năng động chủ quan là yếu tố chủ quan của chiến tranh.


Lực lượng so sánh giữa hai bên chênh lệch nhau nhiều thì chiến tranh có thể diễn ra một cách khác. Lực lượng so sánh không chênh lệch nhau mấy thì chiến tranh có thể diễn biến một cách khác. Đó là căn cứ vào yếu tố khách quan của chiến tranh mà nói. Nhưng chiến tranh còn phụ thuộc vào cả yếu tố chủ quan nữa, tức là sự chỉ đạo chiến tranh của cơ quan lãnh đạo và trình độ tác chiến của quân đội. Đó là tính năng động chủ quan trong chiến tranh.


Đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, chế độ xã hội tốt đẹp, đoàn kết được toàn dân, phát huy cao độ được tinh thần chiến đấu của nhân dân và quân đội; sự chỉ đạo chiến tranh tài tình, trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang tài giỏi là những nhân tố chủ quan của chiến tranh, là sức mạnh cực kỳ to lớn của chiến tranh, là sức mạnh có tính chất quyết định. Lực lượng vật chất yếu, nhưng lực lượng tinh thần mạnh thì sức mạnh tổng hợp vẫn mạnh. Lực lượng vật chất mạnh, nhưng lực lượng tinh thần yếu thì sức mạnh tổng hợp cũng sẽ yếu, hoặc không mạnh.


Đường lối chính trị, chế độ xã hội, sự chỉ đạo chủ quan có khả nãng biến tinh thần thành sức mạnh vật chất rất to lớn có tính chất quyết định thắng bại của chiến tranh.

Sức mạnh vật chất là một thành phần cơ bản của chiến tranh. Nó vận động cùng một nhịp, cùng trong một khối thống nhất với sức mạnh tinh thần của chiến tranh.

Nhận thức, nghiên cứu chiến tranh, tìm hiểu quy luật của chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh không thể tách rời hai nhân tố cơ bản đó ra được. Chỉ có tổng hợp hai nhân tố đó thành một khối thống nhất, có sự tác động lẫn nhau để nhận thức quy luật của chiến tranh, nhận thức sự vận động của chiến tranh thì mới có thể chỉ đạo chiến tranh một cách đúng đắn được.


Lịch sử chiến tranh của dân tộc ta có những sự diễn biến rất khác nhau. Có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian rất ngắn. Có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn. Có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian dài, v.v... Những diễn biến trên đây đều vận động trong một quy luật chung là quy luật của sự so sánh lực lượng và sự chỉ đạo chiến tranh. Những cuộc chiến tranh thời cổ ở nước ta, trong một xã hội mà nền kinh tế còn thuần nhất - kinh tế nông nghiệp - các nhân tố chính trị và xã hội cũng chưa phức tạp, công cụ chiến tranh còn đơn giản, phương tiện cơ động, phương tiện thông tin còn thô sơ, thì chiến tranh thường kết liễu bằng một số cuộc quyết chiến tuy cũng có những cuộc chiến tranh kéo đài vì có một số điều kiện khác.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:32:02 am
Ngày nay, trong thế giới công nghiệp phát triển cao, những nhân tố quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội có nhiều phức tạp, công cụ chiến tranh phát triển cao, phương tiện cơ động và phương tiện thông tin tiến bộ thì chiến tranh diễn ra cũng phức tạp hơn.


Một nước lực lượng vật chất yếu đánh bại một quân đội xâm lược có lực lượng vật chất mạnh thì chiến tranh thường diễn ra lâu dài hơn. Chiến tranh chống xâm lược ít có khả năng giành thắng lợi bằng một vài ba cuộc quyết chiến.


Chiến tranh thời cổ có thể giải quyết bằng một hình thức tác chiến (vận động chiến), hoặc đánh công thành (trận địa chiến). Chiến tranh ngày nay có thể phải giải quyết bằng nhiều hình thức tác chiến (cả đánh du kích, đánh vận động và đánh trong công sự - đánh trận địa...).


Trên đây là những vấn đề quy luật có tính chất tổng quát của chiến tranh.

Về nguyên tắc chỉ đạo chiến lược, chiến tranh cũng vận động có tính quy luật. Muốn giành được thắng lợi trong chiến tranh thì phải phản công và tiến công.

Phòng ngự chỉ là cục bộ và tạm thời. Phòng ngự đơn thuần là con đường chết. Đó là quy luật rất cơ bản của sự vận động của chiến tranh.

Quy luật của phản công và tiến công cũng căn cứ vào thế và lực của hai bên và căn cứ vào sự chỉ đạo chủ quan của hai bên. Phản công và tiến công không thể vận động ra ngoài quy luật này.

Căn cứ vào các yếu tố, điều kiện trên, phản công và tiến công có thể vận động theo một số quy luật. Phản công và tiến công có thể từ nhỏ đến vừa rồi đến lớn (cuộc chiến tranh thời Lê Lợi). Phản công và tiến công cũng có thể từ vừa đến lớn (cuộc chiến tranh thời Trần Hưng Đạo). Phản công và tiến công có thể bắt đầu đánh lớn ngay (cuộc chiến tranh thời Quang Trung). Phản công và tiến công có thể bắt đầu từ hướng quân địch yếu trước rồi đến hướng quân địch mạnh sau (Lê Lợi và Trần Hưng Đạo). Phản công và tiến công cũng có thể bắt đầu ngay từ hướng quân địch mạnh (Lý Thường Kiệt, Quang Trung).


Các tình huống chiến lược về phản công và tiến công trên đây tuy có khác nhau, nhưng phản công và tiến công vẫn vận động có quy luật. Phản công và tiến công trong các cuộc chiến tranh của các thời kỳ trên xuất hiện được và đều giành được thắng lợi. Nhưng sự xuất hiện về vận động của mỗi cuộc phản công và tiến công có khác nhau. Đó là do điều kiện tồn tại và vận động của nó có khác nhau.


Ở thời Hai Bà Trưng, phản công có xuất hiện, nhưng không tồn tại được. Ở thời Lý Bôn, Triệu Quang Phục, phản công có xuất hiện, rồi bị thủ tiêu; sau đó lại xuãt hiện và cuối cùng tồn tại được.

Một sự vật nào nảy sinh được là do có điều kiện cho nó ra đời; có những nhân tố hình thành sự vật đó: những điều kiện tồn tại của sự vật như thế nào, những nhân tố hình thành sự vật như thế nào thì sự vật xuất hiện như thế. Đó cũng là quy luật tồn tại và vận động của sự vật.


Sự phản công và tiến công trong cuộc chiến tranh thời Lê Lợi xuất hiện từ nhỏ đến vừa rồi đến lớn và ở hướng quân địch yếu trước rồi mới đến hướng quân địch tương đối mạnh, cuối cùng đến hướng quân địch mạnh là phù hợp với quy luật của phản công và tiến công trong cuộc chiến tranh đó. Vì về so sánh lực lượng thì quân đội của Lê Lợi ít hơn quân đội của quân xâm lược nhà Minh nhiều.


Nhưng về mặt chính trị, về tinh thần kháng chiến của nhân dân và quân đội, về chỉ đạo chủ quan của bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn, thì quân dân ta thời bấy giờ mạnh hơn hẳn quân xâm lược. Nghĩa quân Lam Sơn có cái thế mạnh hơn quân xâm lược. Do đó mà Lê Lợi thực hành phản công và tiến công được. Nhưng phản công và tiến công phải tiến hành theo một cách phù hợp với thực tiễn chiến tranh đó, phù hợp với điều kiện cụ thể đó.


Nếu cơ quan chỉ đạo chiến tranh không chủ trương phản công và tiến công và không tổ chức phản công và tiến công là không nắm hết được thực tiễn của chiến tranh, không nắm được quy luật của chiến tranh. Nhưng nếu đi ra ngoài thực tiễn và điều kiện cụ thể của chiến tranh là không phù hợp với quy luật. Không phù hợp với quy luật thì phản công và tiến công không thể tồn tại và vận động được.


Trong cuộc chiến tranh do Quang Trung lãnh đạo phản công và tiến công xuất hiện khác với cuộc chiến tranh do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo.

Đó cũng là do thực tiễn chiến tranh thời Quang Trung khác thời Lê Lợi. Do điều kiện cụ thể của cuộc chiến tranh, Quang Trung thực hành phản công lớn ngay và ở hướng quân địch mạnh nhất, cũng là phù hợp với thực tiễn chiến tranh, phù hợp với quy luật của phản công và tiến công trong cuộc chiến tranh đó. Về so sánh lực lượng, thì sức mạnh chiến tranh của Tây Sơn không yếu hơn Tôn Sĩ Nghị, mà là tương đương với Tôn Sĩ Nghị, về chỉ đạo chủ quan thì Quang Trung giỏi hơn Tôn Sĩ Nghị. Do đó mà có thể đánh lớn ngay được và đánh ngay vào được nơi quân địch mạnh nhất.


Phản công và tiến công thể hiện tư tưởng quân sự cách mạng. Phản công và tiến công là nhân tố chủ yếu của thắng lợi trong hoạt động chiến tranh và cũng là quy luật của thắng lợi trong chiến tranh.

Quy luật thắng lợi của phản công và tiến công là quy luật của đánh tiêu diệt.

Đánh tiêu diệt như thế nào để giành thắng lợi? Thắng lợi trong chiến tranh có thể nhanh và có thể chậm.

Về so sánh lực lượng và về chỉ đạo, nếu đánh tiêu diệt được lớn, tiêu diệt được những tập đoàn chiến dịch và chiến lược quan trọng của địch, ở những hướng chiến lược quan trọng thì thắng lợi có thể nhanh (Quang Trung, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo).


Nếu đánh tiêu diệt được nhỏ, phải qua nhiều trận tiêu diệt nhỏ, dần dần tiến lên đánh tiêu diệt được lớn thì thắng lợi sẽ chậm hơn (Triệu Quang Phục, Lê Lợi).

Đó là những quy luật cơ bản của tiến công và phản công để giành thắng lợi trong chiến tranh. Quy luật cơ bản nhất của tiến công và phản công là quy luật của đánh tiêu diệt chiến lược. Quy luật giành thắng lợi chiến tranh cũng là quy luật của đánh tiêu diệt chiến lược. Tóm lại, quy luật cơ bản nhất của chiến tranh là quy luật đánh tiêu diệt chiến lược hoặc đánh tiêu diệt có ý nghĩa chiến lược.


Ngoài những quy luật cơ bản đó ra, chiến tranh cũng có thể vận động theo một số quy luật khác. Trong điều kiện nào đó, đánh tiêu diệt nhỏ và vừa cũng có thể giành được thắng lợi trong chiến tranh và cũng có thể giành được thắng lợi tương đổi nhanh. Chiến tranh tổng hợp rất nhiều những nhân tố rất phức tạp.


Chiến tranh là sự đấu tranh toàn diện về cả quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa của hai quốc gia, hai tập đoàn đối địch.

Sức mạnh tổng hợp, toàn diện của chiến tranh biểu hiện tập trung nhất trong sự đối chọi của hai lực lượng vũ trang. Nhưng lực lượng vũ trang không thể thoát ra khỏi cái nền của kinh tế và chính trị của chiến tranh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:34:17 am
Ngày xưa trong một xã hội nông nghiệp, ảnh hưởng của kinh tế và chính trị đối với hoạt động quân sự rất quan trọng; nhưng sự quan trọng đó không lớn, không thật nhạy bén như trong một xã hội công nghiệp - Chính trị và kinh tế bao giờ cũng là cái nền, là cơ sở của quân sự - Ngày nay, trong một xã hội công nghiệp phát triển, trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa đang phát triển mạnh mẽ, sự giác ngộ của quần chúng nhân dân đã có một trình độ cao; sức mạnh của nhân dân đã cố một tác động lớn đến mỗi hoạt động của xã hội thì tác động của chính trị và kinh tế đối với toàn bộ quá trình hoạt động quân sự là rất lớn. Sự tiến công chính trị của quần chúng nhân dân chống quân xâm lược làm cho sức mạnh tổng hợp của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân chống xâm lược tăng lên rất lớn. Sự tiến công chính trị của nhân dân đối với chính phủ phản động ở trong nước đế quốc gây ra chiến tranh xâm lược; sự tiến công chính trị của nhân dân thế giới đối với nước đế quốc xâm lược, làm cho sức mạnh của chiến tranh xâm lược suy yếu đi nhiều.


Cuộc chiến tranh đế quốc xâm lược hao người tốn của gây nên sự khốn quẫn, suy thoái của nền kinh tế trong nước đế quốc cũng làm cho sức mạnh của chiến tranh xâm lược suy yếu đi nhiều.

Do những nhân tố toàn diện của chiến tranh tác động mạnh vào hoạt động quân sự mà những điều kiện giành thắng lợi của chiến tranh trở nên rất phức tạp. Dù sao, quy luật cơ bản của thắng lợi trong chiến tranh vẫn là phương hướng cần nắm vững. Trên cơ sở quy luật cơ bản đó mà tích cực, triệt để khai thác các điều kiện khác trong chiến tranh.


Muốn giành được thắng lợi trong chiến tranh thì phải đánh tiêu diệt; đánh tiêu diệt lớn - tiêu diệt chiến dịch và tiêu diệt chiến lược.

Quy luật của đánh tiêu diệt là quyết chiến - quyết chiến chiến dịch và quyết chiến chiến lược.

Có quyết chiến mới có thể tiêu diệt được triệt để quân địch, có tiêu diệt lớn, tiêu diệt triệt để quân địch mới giành được thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi triệt để. Đánh phân tán, không kiên quyết thì không có thể tiêu diệt được quân địch, không có thể tiêu diệt lớn, tiêu diệt triệt để được quân địch. Để quyết chiến, cần tổ chức các tập đoàn chiến dịch, chiến lược, tổ chức các chiến dịch và các chiến dịch lớn ở trên một số hướng chiến lược quan trọng.


Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung đều tổ chức một vài tập đoàn chiến lược cơ bản làm lực lượng nòng cốt cơ động trên những hướng chiến lược chủ yếu; thực hành quyết chiến đánh những đòn tiêu diệt quyết định.


Ngày nay, trong cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại ở thời đại Hồ Chí Minh, quy luật của đánh tiêu diệt và quyết chiến có những phát triển mới.

Chiến tranh ngày nay phát triển rộng lớn và phức tạp hơn. Sức mạnh của quần chúng nhân dân rất lớn. Đánh tiêu diệt và quyết chiến được sự hỗ trợ mạnh mẽ của thế trận chiến tranh nhân dân cách mạng rộng lớn.


Trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ nằm trong thế quyết chiến chung rộng lớn của chiến tranh nhân dân vĩ đại.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày nay, đánh tiêu diệt và quyết chiến lại nằm trong cái thế tiến công và nổi dậy rộng lớn và mạnh mẽ của toàn dân ở cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng và đô thị trong cả nước.


Nghiên cứu chiến tranh, học tập chiến tranh để chỉ đạo chiến tranh.

Một trong những vấn đề rất quan trọng của việc nghiên cứu chiến tranh là nghiên cứu quy luật của chiến tranh. Quy luật của chiến tranh luôn luôn phát triển theo với sự phát triển của chiến tranh. Chiến tranh luôn luôn có những quy luật mới. Trong sự phát triển phong phú của quy luật chiến tranh vẫn tồn tại một số quy luật cơ bản của chiến tranh. Những quy luật cơ bản của chiến tranh cũng vận động trong sự vận động chung, tổng hợp của tất cả các quy luật của chiến tranh.


Quy luật cơ bản có tác dụng chi phối cả quá trình tiến triển của chiến tranh. Vì quy luật cơ bản của chiến tranh là quy luật có tính chất bản chất của chiến tranh; là quy luật của những nhân tố cơ bản cấu thành chiến tranh, là những điều kiện cơ bản tạo thành sự vận động và phát triển của chiến tranh.


Trong cuộc chiến tranh nào, sự so sánh lực lượng giữa hai bên đối chọi nhau và sự chỉ đạo chủ quan của hai bên cũng là rất cơ bản, là những vấn đề quan trọng nhất của chiến tranh. Nhưng trong mỗi cuộc chiến tranh khác nhau, sự so sánh lực lượng và sự chỉ đạo chủ quan lại có những sự thể hiện khác nhau. Có cuộc chiến tranh, sự so sánh lực lượng và sự chỉ đạo chủ quan thể hiện bằng sự đối chọi thuần túy giữa hai quân đội, giữa hai lực lượng vũ trang, thể hiện bằng sự đối chọi có chiến tuyến giữa hai quân đội. Có cuộc chiến tranh, sự so sánh lực lượng và sự chỉ đạo chủ quan thể hiện bằng lực lượng quân đội và lực lượng nhân dân ở một bên chống lại quân đội chuyên môn nhà nghề của một bẽn khác; thể hiện bằng một cuộc chiến tranh cài răng lược, không phân rõ chiến tuyến, thể hiện bằng sự tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân quần chúng, ở khắp cả ba vùng chiến lược có một thế trận rộng lớn đã bố trí sẵn trong cả nước.


Nắm quy luật chiến tranh để chỉ đạo chiến tranh là một vấn đề rất quan trọng trong chỉ đạo. Có nắm quy luật chiến tranh mới nắm được đường đi và nước bước của chiến tranh.

Nắm quy luật chiến tranh là nắm những quy luật chung, những quy luật cơ bản của chiến tranh, đồng thời nắm những quy luật phát triển của chiến tranh, những quy luật riêng của chiến tranh.

Có thế mới chỉ đạo được chiến tranh một cách hoàn chỉnh, vững chắc, linh hoạt và sáng tạo.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:36:40 am
THAY KẾT LUẬN


"Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là cái vốn quý nhất và là đặc điểm của dân tộc Việt Nam ta trải qua mấy nghìn năm lịch sử. Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc ấy đã hình thành trong nhân dân ta ngay từ khi dựng nước và phát triển trong quá trình đấu tranh lâu dài chống ngoại xâm. Tổ tiện chúng ta đã biết nắm lấy nó, phát huy nó để bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Điều đó cắt nghĩa vì sao dân tộc Việt Nam ta đã lập được những chiến công lẫy lừng trong lịch sử"1 (Lê Duẩn, Vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam và nhiệm vụ của công đoàn trong giai đoạn trước mất. Tạp chí Học tập, số 5, H. 1967, tr. 16).


"Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta trong thời đại hiện nay không những đã vận dụng những kinh nghiệm quý báu nhất của chiến tranh cách mạng của các nước anh em, mà lại đang kế tục và phát triển đến trình độ cao truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng như tinh thần đấu tranh anh dũng và quật cường của các cuộc khởi nghĩa của nông dân ta trước đây. Chủ nghĩa Mác - Lênin quyết không phủ định lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại nó càng phát triển những tinh hoa đó lên một trình độ mới... Tinh thần quật cường của dân tộc ta, cũng như những tri thức về thao lược của ông cha ta chính đã góp phần xăy dựng nên đường lối quân sự và lý luận quân sự của Đảng ta trong điều kiện lịch sử hiện đại"1 (Võ Nguyên Giáp, Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, Nxb Sự thật, H. 1970, tr. 151). Mấy nghìn năm sống còn và phát triển, chiến đấu quyết liệt và chiến thắng oanh bệt nói rõ: dân tộc Việt Nam là một dân tộc kiên cường và mưu lược, anh dũng và thông minh, bất khuất và sáng tạo. Truyền thống tự lập tự cường, đoàn kết chống giặc, mưu cao mẹo giỏi của tổ tiên ta là những truyền thống hết sức quý báu, được thế hệ này đến thế hệ khác tiếp thu, kế thừa và phát triển.


Lịch sử dân tộc ta là lịch sử một dân tộc chiến thắng.

Lý Thường Kiệt đã từng đánh thắng một quân đội trên 30 vạn người.

Trần Quốc Tuấn trong 30 năm trời ròng rã đã ba lần đánh thắng một kẻ thù mạnh nhất của thời đại đó trên thế giới, đã oanh liệt đánh một quân đội xâm lược đông đến trên dưới 90 vạn người.

Nguyễn Huệ đã từng chiến đấu quyết liệt, táo bạo, thần tốc, chỉ trong một trận đánh thắng trên 20 vạn quân xâm lược.

Những chiến công vang dội, hiển hách của tổ tiên ta bao giờ cũng là niềm tự hào chính đáng và kho kinh nghiệm phong phú của toàn dân tộc.

Từ khi có Đảng và Hồ Chủ tịch lãnh đạo, nhân dân ta từ hai bàn tay trắng vùng lên, đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến thắng lợi, liên tiếp đánh thắng những quân đội xâm lược đông mạnh, có trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân nhất của phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Có đường lối cách mạng đúng đắn sáng tạo lãnh đạo, kết hợp được lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, tinh thần cách mạng và sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta nhất là của công nhân và nồng dân - càng được phát  huy triệt để, tài năng càng phát triển và kinh nghiệm đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang càng được tích lũy phong phú, dân tộc ta đã viết nên những trang sử mới hết sức vẻ vang.


Đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn sáng tạo của Đảng, của giai cấp công nhân là nhân tố quan trọng bậc nhất quyết định sự thành công của cách mạng nước ta, lại là ngọn đuốc sáng ngời soi đường đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng nói chung và sự nghiệp đấu tranh vũ trang nói riêng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Đường lối quân sự của Đảng có sức mạnh vô tận và vô địch vì đó là đường lối chiến tranh cách mạng của nhân dân mà công nhân và nông dân là quân chủ lực, nhằm đánh đổ kẻ thù đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc, mang lại ruộng đất cho nông dân và tiến lên chủ nghĩa xã hội, là đường lối chiến tranh giải phóng dân tộc triệt để, đường lối của chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh xâm lược phi chính nghĩa của kẻ thù. Đó là đường lối quân sự của Đảng lãnh đạo một dân tộc nhỏ chống lại một kè địch mạnh gấp nhiều lần, đã giải quyết thành công một cách hết sức sâu sắc và sáng tạo, vấn đề cơ bản là dựa vào ưu thế tuyệt đối về chính trị - tinh thần, dựa vào chính nghĩa, vào sức đoàn kết chiến đấu của nhân dân thì có thể lấy yếu đánh mạnh, biến ưu thế tuyệt đối về chính trị, tinh thần thành lực lượng và thành ưu thế vật chất, quân sự; lấy tinh thần cách mạng và lực lượng vật chất của toàn thể dân tộc đánh bại những quân đội xâm lược lớn mạnh của chủ nghĩa đế quốc có trang bị vũ khí hiện đại.


Đường lối quân sự của Đảng là một điển hình thành công rực rỡ của sự vận dụng tài tình và sáng tạo những nguyên lý phổ biên của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, về chiến lược, chiến thuật của chiến tranh nhân dân, về xây dựng căn cứ địa cách mạng, v.v... vào thực tiễn cụ thể của nước ta, kết hợp tài tình và sáng tạo kinh nghiệm, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta và có phê phán, có chọn lọc kinh nghiệm chiến tranh cách mạng của các nước anh em.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ tịch kính yêu, nhân dân ta kiên quyết đi theo con đường bạo lực cách mạng mà Đảng đã xác định là con đường đúng đắn duy nhất để đánh đổ kẻ thù, giành chính quyền về tay mình, đưa cách mạng đến thắng lợi. Dưới ngọn cờ của Đảng, nhân dân ta trong một thời kỳ lịch sử ngắn, nổi dậy liên tiếp chiến đấu cực kỳ anh dũng và cực kỳ quyết liệt lập nên những sự tích phi thường.


Nhân dân ta đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, quật ngã trên mấy chục vạn quân phát xít Nhật, tên đế quốc mạnh nhất châu Á thời đó, một trong những tên đế quốc mạnh nhất của thế giới tư bản chủ nghĩa.


Nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, đánh thắng nửa triệu quân của thực dân xâm lược Pháp có Mỹ giúp sức, một tên đế quốc cáo già, đã từng thống trị gần một thế kỷ trên đất nước ta.

Ngày nay, nhân dân ta đã và đang ghi những chiến công oanh liệt nhất, vẻ vang nhất trong lịch sử của dân tộc, liên tiếp đánh thắng mọi mưu đồ xâm lược của đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ, mạnh nhất của phe đế quốc chủ nghĩa, tên hung nô của thời đại ngày nay.

- Đã đánh thắng chính sách xâm lược thực dân kiểu mới với những thủ đoạn cổ truyền của chúng.

- Đã đánh thắng chiến lược ''chiến tranh đặc biệt" với trên nửa triệu quân ngụy dưới sự chỉ huy của 3 vạn "cố vấn Mỹ".

- Đã và đang tiến tới hoàn toàn đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" với trên 1 triệu 20 vạn quân Mỹ, ngụy và quân chư hầu ở miền Nam.

- Đồng thời đã chiến thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của chúng ở miền Bắc, đập nát ưu thế của "không lực hiện đại" và "hải quân hiện đại" Huê Kỳ.


Đó là những sự tích thần kỳ của thời đại.

Những sự tích phi thường, những chiến công kỳ diệu đó chứng tỏ đường lỗi chính trị của Đảng là tất thắng, đường lối quân sự của Đảng là vô địch.

Lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Hồ Chủ tịch đã được toàn dân, toàn quân ta giương cao, chỉ đạo nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Dưới lá cờ vẻ vang tất thắng đó, chúng ta hoàn toàn tin tưởng chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam anh hùng và thông minh chống chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ nhất định sẽ toàn thắng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:46:02 am
Phần phụ lục


   
BÀI HỊCH TƯỚNG SĨ CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

Ta thường nghe: Kỷ Tín1 đem minh chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu2 chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng3 nuốt than báo thù cho chủ; Thân Khoái4 chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức5, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh6, một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!


Các ngươi con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa, ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây:

Vương Công Kiên7 là người thế nào? Tỳ tướng của ông, Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào? Mà giữ thành Điếu Ngư8 nhỏ như cái đấu, chống với quân Mông Kha9 đông đến hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu. Cốt Đãi Ngột Lang10 là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào? Mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên, đến nay vẫn còn lưu tiếng tốt.


Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường. Uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ. Thác mệnh Hốt Tất Liệt11 mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham không cùng; giả hiệu Vân Nam Vương12, mà thu bạc vàng để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau?


Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa13 ta cũng cam lòng.


Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì.


Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc Thái thường để đãi yến14 ngụy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Cổ tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con rịn, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khỏe khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp15 của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khôn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi phỏng có được không?


Nay ta bảo thật các ngươi: Nên nhớ câu "đặt mồi lửa vào dưới đống củi"16 là nguy cơ, nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội"17 làm răn sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên; khiến cho người người như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ18; có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết19, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai20. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi, trăm năm về sau, tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi phỏng có được không?


Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là "Binh thư yêu lược". Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ21; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.


Vì sao vậy? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy bảo quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Ta viết ra bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.


Chú thích:

1. Kỷ Tín: tướng của Hán Cao Tổ. Lúc Cao Tổ bị Hạng Vũ vây, Kỷ Tín giả làm Cao tổ ra hàng, bị Hạng Vũ giết, nhân thế Cao tổ thoát nạn.

2. Do Vu: tướng của Sở Chiêu Vương (đời Xuân Thu). Lúc Chiêu Vương lánh nạn, bị kẻ cướp đâm. Do Vu chìa lưng che chở.

3. Dự Nhượng: gia thần của Trí Bá (đời Chiến Quốc) khi Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết, Dự Nhượng nuốt than cho khác giọng giả làm hành khất, mưu giết Tương Tử báo thù cho chủ.

4. Thân Khoái: người đời Xuân Thu, một viên quan giữ ao cá của Tề Trang Công. Khi Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái chết theo.

5. Kính Đức: tức Uất Trì Cung, đời Đường, đã đánh tháo vòng vây Vương Thế Sung, lấy mình che đỡ, hộ vệ cho Đường Thái Tông thoát nạn.

6. Cảo Khanh: tức Nhân Cảo Khanh - khi An Lộc Sơn khởi loạn đánh Đường Minh Hoàng, Cảo Khanh mắng Lộc Sơn, bị giặc cắt lưỡi mà vẫn không khuất phục.

7 và 8. Điếu Ngư: tên một trái núi rất hiểm trở ở Tứ Xuyên, đời Tông, Dư Giới có đắp thành ở đó. Khi Kiên và Lập đóng giữ, Mông Kha (tướng Mông Cổ) kéo quân đến đánh không được.

9. Mông Kha: anh của Hốt Tất Liệt, tức vua Hiến Tông nhà Nguyên.

10. Cốt Đãi Ngột Lang: một tướng giỏi của Mông Cổ đã từng đem quân đi đánh lấy nước Nam Chiếu (Nam Chiếu là một nước trước kia ở vào khoảng giữa 2 tình Tứ Xuyên và Vân Nam) đóng đô ở Đại Lý, Vân Nam.

11. Hốt Tất Liệt: tên vua Thế tổ nhà Nguyên.

12. Văn Nam Vương: tức là Thoát Hoan, con thứ 9 của Hốt Tất Liệt được phong ở đất Vân Nam.

13. Gói trong da ngựa: lấy ý câu nói của Mã Viện đời Hán: "Làm trai phải đánh đông dẹp bắc, dẫu chết ở chiến trường lấy da ngựa bọc thây cũng đành lòng".

14. Yến: đặt yến tiệc thết giặc. Nhạc Thái thường đời Trần chỉ dùng trong những dịp lễ tiết lớn, lúc ấy phải dùng để tiếp sứ thần giặc. Hưng Đạo Vương lấy điều ấy làm điều nhục lớn.

15. Thái ấp: phần đất vua phong cho quý tộc.

16. Đặt mồi lửa: theo nghĩa câu của Hán thư, đại ý: "ôm mồi lửa mà đặt dưới đống củi, rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên".

17. Kiềng canh nóng: theo một câu ờ Sờ từ, đại ý: "kẻ sợ canh nóng thường hay thổi cả rau nguội".

18. Bàng Mông, Hậu Nghệ: hai nhân vật bắn cung giỏi thời xưa, chép trong thần thoại Trung Quốc.

19. Cửa khuyết: của lớn ở hoàng cung.

20. Cảo Nhai: nơi dinh ngự của các vua man di khi vào chầu vua nhà Hán ở Tràng An (Trung Quốc).

21. Thần chủ: bề tôi và chúa. Đây là nói về quan hệ giữa lãnh chúa thái ấp và gia tướng, gia nô. Trần Quốc Tuấn là một trong những lãnh chúa lớn.

Dịch và chú thích của
Bùi Văn Nguyên


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:48:17 am
TRẦN QUỐC TUẤN (HƯNG ĐẠO)
TRẢ LỜI NHÀ VUA


Quốc Tuấn bị bệnh, nhà vua đến nhà riêng thăm và hỏi rằng: "Nếu có sự không lành xảy ra1 mà quân nhà Nguyên lại sang xâm lấn, thì chống cự lại bằng cách gì?". Quốc Tuấn thưa: "Ngày trước Triệu Võ (Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán sai quân sang đánh, lúc ấy, về phía tiểu dân thì phá hết hoa màu ở đồng nội; về phần quân lính thì đại binh kéo sang châu Khâm, châu Liêm, đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh2 đánh tập hậu, đấy là một thời kỳ. Đến đời nhà Đinh, nhà Lê dùng được người hiền tài, lúc ấy phương Nam đương mạnh, phương Bắc đương suy, trên dưới một lòng, dân không có lòng ly tán, đắp thành Bình Lỗ mà phá được nhà Tống sang xâm lấn, lúc ấy dùng Lý Thường Kiệt đánh châu Khâm, châu Liêm, nhiều lần tiến quân đến Mai Lĩnh3, đấy là có thế lực mạnh. Mới rồi, Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt đánh phá bao vây, lúc ấy vua tôi cùng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu nên giặc phải bó tay...


Đại khái, quân giặc cậy vào trường trận4, quân ta cậy vào đoản binh; đem đoản binh đánh lại trường trận, là việc thường trong binh pháp. Nhưng cần phải xét: Nếu thấy quân giặc tràn sang như gió, như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được; nếu giặc dùng cách chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay, thì mình phải dùng tướng giỏi, phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến cho đúng, làm thế nào thu hút được binh lính như cha con một nhà, mới có thể dùng để chiến thắng được, vả lại, phải bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn". Nhà vua rất phục lời trình bày của Quốc Tuấn là đúng.

Trích trong bản dịch
Việt sử thông giám cương mục


1. Ý nói Quốc Tuân mất.

2. Một binh chủng chuyên dùng giáo mác đánh giặc, khác với trường binh là binh chủng đánh giặc bằng cung tên.

3. Ở địa phận tỉnh Giang Tây, tức là núi Đại Dũ, nơi xung yếu giữa tinh Giang Tây và Quảng Đông, trên núi trồng nhiều cây mai nên gọi tên là Mai Lĩnh.

4. Trường trận cũng như trường binh, xem chú thích trường binh, đoản binh ở trên.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:56:42 am
BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO1
(dịch)

NGUYỄN TRÃI

Thay trời làm việc, Hoàng thượng nghĩ rằng:
   Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân;
   Quân điếu phạt trước là khử bạo.
   Như nước Đại Việt,
   Đất văn hiến xưa,
   Cõi bờ sông núi đã riêng,
   Phong tục Bắc Nam cũng khác.
   Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần dựng nền độc lập2,
   Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương3.
   Tuy cường nhược có lúc khác nhau,
   Mà hào kiệt bao giờ cũng có.
   Cho nên Lưu Cung tham công to mà chịu tai vạ4;
   Triệu Tiết ham việc lớn mà chóng bại vong5.
   Toa Đô bị bắt ở Hàm Tử quan6;
   Ô Mã lại chết ở Bạch Đằng hải7.
   Việc xưa xét lại bằng chứng rõ ràng.
   Gần đây nhân họ Hồ chính sách phiền hà,
   Khiến nên nỗi lòng dân oán hận.
   Quân Minh cường bạo, thừa dịp hại dân;
   Đảng ngụy gian tà, manh tâm bán nước.
   Thui dân đen trên lò bạo ngược,
   Vùi con đò dưới hố tai ương.
   Lừa chúng, dối trời, kế giở đủ muôn nghìn khóe;
   Động binh, gây hấn, ác chứa gần hai chục năm.
   Đủ điều bại hoại nghĩa nhân, chẳng còn trời đất;
   Hết cách vét vơ thuế má, nhẵn sạch núi đầm.
   Lên núi đào vàng, xông lam chướng để phá rừng đãi cát;
   Ra khơi mò ngọc, vấp giao long mà lặn biển dòng dây.
   Nhiễu dân, bẫy đặt bắt hươu đen;
   Hại vật, lưới dăng lùng chả biếc.
   Dù thảo mộc, côn trùng cũng không thỏa sống;
   Đến khốn cùng quan quả cũng chẳng yên thân.
   Rút máu mủ sinh linh, lũ kiệt hiệt miệng ráng nhờn béo;
   Đủ công trình thổ mộc, chỗ công tư nhà cửa nguy nga.
   Chốn hương thôn sưu dịch nặng nề;
   Trong làng xóm cửi canh bỏ phế.
   Tát khô nước Đông hải, khôn rửa sạch tanh hôi;
   Chẻ hết trúc Nam sơn, khó ghi đầy tội ác.
   Thần nhân thảy đều căm giận;
   Trời đất lẽ nào dung tha.
   Ta đây, phát tích đất Lam Sơn, nương thân nơi hoang dã8.
   Nghĩ khó đội trời cùng quân địch;
   Thề không chung sống với giặc thù.
   Nhức óc, đau lòng đã mười năm lẻ,
   Nằm gai, nếm mật, há một ngày đâu.
   Phát tức quên ăn, thường nghiên kỹ những pho thao lược;
   Ngẫm nay suy trước, đã xét cùng mọi lẽ hưng vong.
   Chí ở đồ hồi9, ngày đêm không nhãng.
   Đương lúc nghĩa binh mới dấy,
   Chính khi thế giặc đương hăng.
   Ngặt vì nhân tài lác đác lá thu.
   Tuấn kiệt lưa thưa sao sớm.
   Việc bôn tẩu thiếu người sai phái,
   Nơi trướng màn ít kẻ đỡ đần.
   Vì chưng lòng cứu lê dân, những bực tức mà miền đông muốn ruổi10
   Bởi vậy xe chờ hiền giả, vẫn thiết tha mà bên tả để không.
   Thế mà mong người tài vẫn như trông biển mịt mù;
   Làm điều nhân kíp hơn cứu người đắm đuối.
   Giận hung đồ vẫn chưa tiêu diệt;
   Lo quốc vận còn phải gian truân.
   Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần"11;
   Lúc Khôi Huyện quân không một lữ12;
   Ấy trời muốn thử ta để trao nhiệm vụ;
   Nên ta càng cố chí để vượt gian nan.
   Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương manh lệ13 14;
   Thết quân, rượu hòa nước, dưới trên đều một bụng cha con15.
   Yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ;
   Ít địch nhiều, thường dùng mai phục
   Rút lại, thắng hung tàn bằng đại nghĩa;
   Thay tàn bạo lấy chí nhân.
   Trận Bồ Tất như chớp giật sấm ran16;
   Trận Trà Lân tựa tro bay trúc chẻ17.
   Cho nên sĩ khí càng hăng hái;
   Cho nên quân thanh rất lẫy lừng.
   Trần Trí, Sơn Thọ mấy tên, nghe hơi hết vía18;
   Phương Chính, Lý An một lũ, nín thở thoát thân19.
   Thừa thắng ruổi tràn, Tây Kinh đã trở về chủ cũ20;
   Tuyển quân tiến thẳng, Đông Đô lại thu hết cõi xưa.
   Trận Ninh Kiểu máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm;
   Trận Tốt Động thây phơi đầy nội, để thối nghìn thu21;
   Tâm phúc giặc, Trần Hiệp phải bêu đầu22;
   Sâu mọt dân, Lý Lượng cũng bỏ mạng.
   Vương Thông nhảy sang đánh gỡ, thua lại thêm thua23;
   Mã Anh kéo đến cứu nguy, tức càng thêm tức.
   Giặc chí cùng lực kiệt, bó tay chờ chết đến nơi;
   Ta mưu phạt tâm công, không đánh mà người phải khuất24.
   Vẫn tưởng giặc tất thay lông và đổi ý;
   Nào ngờ chúng lại gây nghiệt để chuốc tai.
   Cố chấp kỷ kiến định gieo vạ cho người ta;
   Tham công một thời để mua cười với thiên hạ.
   Để khiến trẻ ranh Tuyên Đức, độc vũ quá chừng25;
   Lại sai tướng nhát Liễu Thăng, thêm dầu chữa cháy.
   Năm Đinh Vị tháng chín, Liễu Thăng dẫn quân do Khâu On tiến sang26;
   Lại năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường tự Vân Nam kéo đến.
   Ta đã phục binh giữ hiểm, đập gãy tiên phong;
   Sau lại sai tướng chẹn ngang, cắt ngăn lương đạo.
   Ngày mười tám Liễu Thăng đã Chi Lăng thua kế;
   Ngày hai mươi Liễu Thăng lại Mã Yên bỏ thây27.
   Ngày hăm lăm Lương Minh trận hãm phải bỏ mình;
   Ngày hăm tám Lý Khánh kế cùng mà thắt cổ.
   Ta cứ đưa dao là phăng toạc cả;
   Chúng liền quay giáo mà đánh lộn nhau.
   Ta đã thêm quân bốn mặt vây thành28;
   Lại hẹn giữa tháng Mười diệt giặc.
   Bèn tuyển những quân hùm gấu;
   Lại sai các tướng vuốt nanh.
   Voi uống mà cạn hết nước sông;
   Gươm mài mà khuyết mòn đá núi.
   Đánh trận đầu sạch sanh kình ngạc;
   Đánh trận nữa tan tác chim muông.
   Lỗ kiến xoi đê vỡ phá tung;
   Gió mạnh thổi lá khô trút sạch.
   Thôi đô đốc gối quỳ phục tội,
   Hoàng thượng thư tay trói nộp mình29.
   Lạng Sơn, Lạng Giang thây ngã đầy đường;
   Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
   Sắc phong vân phải biến đổi,
   Ánh nhật nguyệt phải lu mờ.
   Quân Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa, sợ mà vỡ mật30;
   Quân Mộc Thạnh tan nơi Cần Trạm31, chạy để tháo thân.
   Máu chảy đầy đồng, Lãnh Cầu nọ nước trôi ấp ức;
   Thây chồng thành núi, Đan Xá kia cỏ nội thấm hồng.
   Cứu binh hai lộ kéo sang, chưa quay chân đã bại;
   Cường khấu các thành khiếp sợ, đều cởi giáp ra hàng.
   Tướng giặc bắt tù, xin thương hại vẫy đuôi cầu sống;
   Vũ thần chẳng giết, lấy khoan hồng thể bụng hiếu sinh.
   Bọn Phương Chính, Mã Kỳ được cấp năm trăm thuyền đã vượt biển vẫn hồn kinh phách lạc;
   Lũ Vương Thông, Mã Anh được cho mấy nghìn ngựa, đã về nước còn ngực đập chân run.
   Chúng đã sợ chết xin hòa, thực thà cầu sống;
   Ta muốn toàn quân làm cốt, ngơi nghỉ cùng dân.
   Chẳng những mưu kế cực sâu xa,
   Cũng là cổ kim chưa nghe thấy.
   Xã tắc từ nay bền vững,
   Sơn hà bởi đó đẹp tươi.
   Một áng kiền khôn, bĩ rồi lại thái32;
   Đôi vầng nhật nguyệt, hối mà lại minh33.
   Để mở nền muôn thuở thái bình,
   Để rửa nỗi nghìn thu hổ thẹn
   Thực cũng là nhờ trời đất, tổ tông thiêng liêng phù hộ mới được như thế.
   Ôi! Một tấm nhung y34, dẹp phăng giặc giã dựng nên công vô cạnh35 từ đây;
   Bốn bề phẳng lặng, sạch hết đục nhơ, tuyên bố mệnh duy tân khắp nước.
   Mấy lời bá cáo thiên hạ nghe tường.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Tám, 2023, 09:59:45 am
Chú thích:

1. Tháng 12 năm Đinh Vị (1427), những tên giặc Ngô cuối cùng đều phải rút khởi nước ta, sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước đã kết thúc thắng lợi. Cuối tháng 12 năm ấy, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi viết bài "Binh Ngô đại cáo" này để công bố cho toàn dân biết thắng lợi rực rỡ của sự nghiệp diệt giặc, cứu nước, mở ra một thời kỳ độc lập, thái bình mới.


2. Triệu (nhà Triệu thành lập nhà nước Nam Việt từ 207-111 trước Công nguyên); Đinh (968-979); Lý (1010-1224); Trần (1226-1399). Thực ra nhà Triệu đã lập nên ở Nam Việt không phải là một triều đại của nước ta, ngược lại chính Triệu Đà đã xâm lược và thống trị nước ta trong khoảng thời gian từ 180-111 trước Công nguyên. Trong sử sách cũ của ta thường chép nhà Triệu như một triều đại phong kiến dân tộc. Đó là một sai lầm lớn cần chấn chỉnh lại.


3. Hán (220-204 trước Công nguyên), Đường (618-907), Tống (960-1279), Nguyên (1260-1368) là những triều đại phong kiến ở Trung Quốc.

4. Lưu Cung sau đổi gọi là Lưu Nghiêm, vua Nam Hán sai thái tử Hoàng Thao sang lấn nước ta, bị Ngô Quyền đánh đuổi.

5. Triệu Tiết, tướng nhà Tống, cùng Quách Quỳ đem quân sang lấn nước ta bị Lý Thưởng Kiệt nhà Lý đánh đuổi.

6. Toa Đô, tướng nhà Nguyên, sang đánh nước ta về thời Trần bị thua chết ở Hàm Tử quan (theo sử thì bị chết ở Tây Kết, Hưng Yên).

7. Ô Mã Nhi, tướng nhà Nguyên, sang đánh nước ta về thời Trần và bị bắt sống ở trận Bạch Đằng và chết ở cửa Bạch Đằng.

8. Lam Sơn là quê hương của Lê Lợi và cũng là nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

9. Đồ hồi là mưu toan khôi phục lại đất nước;

10. Hán Bái Công bảo Tiêu Hà rằng "Ta cũng muốn sang miền đông đấy, sao lại rầu rĩ ở đây lâu mãi được ư?" (Hán Thư, truyện Hàn Tín).

11. Linh Sơn là núi Chí Linh. Mỗi tuần là 10 ngày, mỗi tháng chia làm 3 tuần: thượng tuần, trung tuần, hạ tuần. Ở đây nghĩa quân 3 lần bị bao vây rất nguy khốn, riêng lần bị bao vây thứ ba (1423) nghĩa quân bị thiếu lương thực trong hơn hai tháng.


12. Khôi Huyện hay Khôi Sách là một địa điểm ở miền thượng du Thanh Hóa. Ở đây, đầu năm 1423, nghĩa quân bị quân Minh bao vây rất gấp, nên phải hy sinh liều chết phá vòng vây mới thoát khỏi nơi "tử địa" ấy như Lê Lợi đã nói. Lữ là một đơn vị quân đội theo biên chế xưa có 500 người.


13. Trong bài văn của Già Nghi có câu: "Yết can vi kỳ" - Giơ gậy tre làm cờ. Ý nói vội vàng khởi sự, chỉ kịp giơ cao cái gậy tre làm như cờ để làm hiệu triệu.

14. Manh lệ: Manh - dân cày ruộng; lệ - kẻ hèn. Manh lệ - trỏ nhân dân.

15. Xưa khi Sở với Tần đánh nhau, có người dâng vua Sở một chai rượu. Vua muốn quân sĩ cùng hưởng, nhưng rượu có ít không thể khắp được. Vua Sở bèn đổ rượu xuống sông rổi bảo mọi nguời múc uống, sĩ tốt cảm ân huệ rồi hết sức đánh bại Tần.


16. Bồ Tất hay Bồ Đằng là một địa điểm ở Thanh Nga, thuộc Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, năm 1424 trên đường tiến quân vào Nghệ An, nghĩa binh đã phục kích đánh bại một đạo quân Minh ở đây.

17. Trà Lân nay là huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Tháng 12 năm Giáp Thìn (1424), nghĩa binh hạ được thành Trà Lân (nay gọi là Con Cuông).

18 và 19. Trần Trí, Sơn Thọ, Phương Chính, Lý An là tướng nhà Minh ở Thanh Hóa, Nghệ An đã bị nghĩa binh đánh bại nhiều lần.

20. Tây Kinh hay Tây Đô là thành nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

21. Tốt Động (có sách chép là Tụy Động), một địa điểm thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, ở đây, tháng 10 năm Binh Ngọ (1426) nghĩa binh đã phục kích tiêu diệt phần lớn đạo viện binh của Vương Thông vừa mới kéo sang.


22. Trong trận Tốt Động nghĩa quân đã giết chết thượng thư Trần Hiệp và nội quan Lý Lượng.

23. Năm 1426, nhà Minh cử Vương Thông làm tổng binh và đô đốc Mã Anh làm tham tướng chỉ huy 5 vạn viện binh kéo sang Đông Quan. Đạo viện binh này bị đại bại ở trận Tốt Động.

24. Mưu phạt là dùng mưu lược để đánh thua kẻ địch; tâm công là lấy đức trí mà đánh đổ lòng giặc.

25. Tuyên Đức là niên hiệu vua Tuyên Tông (1426-1435) nhà Minh.

26. Khâu On thuộc tỉnh Lạng Sơn.

27. Mã Yên hay Đảo Mã ở xã Mai Sao thuộc On Châu, tỉnh Lạng Sơn. Liễu Thăng bị giết chết tại sườn núi Mã Yên này.

28. Sau khi thất bại ở Chi Lăng, bọn Hoàng Phúc, Thôi Tụ phải thu quân tiến về phía thành Xương Giang, nhưng thành này đã về tay nghĩa binh, nên quân Minh phải đóng quân giữ đồn, đắp lũy để tự vệ. Lê Lợi điều động đại quân tới bao vây và mở cuộc tiến công quyết liệt vào tháng 10 năm ấy.


29. Ngày 15 tháng 10 năm Đinh Vị (1427), quân Minh ở Xương Giang bị đại bại, đô đốc Thôi Tụ, thượng thư Hoàng Phúc đều bị bắt sống.

30. Ải Lê Hoa trước thuộc Tuyên Quang, sau bị mất vào miền Mông Tự, thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Đoạn sông Hồng ở huyện Mông Tự còn có tên là sông Lê Hoa. Vậy ải Lê Hoa có lẽ cũng nằm trên lưu vực sông Hồng gần biên giới Việt - Trung. Đạo viện binh của Mộc Thạnh bị chặn đánh ở Lê Hoa và khi nghe tin đạo quân Liễu Thăng bị đại bại thì kinh sợ, bỏ chạy tán loạn.


31. Cần Trạm có sách chép là Thang Trạm, cùng với Lãnh Câu hay Lãnh Thủy, Đan Xá là những địa điểm ờ gần ải Lê Hoa, ở những nơi đó nghĩa binh đã thừa thắng truy kích đánh thắng địch những trận lớn.

32. Kiền khôn bĩ rồi lại thái: ý nói đất nước qua cơn loạn lạc, rồi trở lại cảnh thái bình.

* Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì cửa Lê Hoa và sông Lô đều thuộc Tuyên Quang. Tuyên Quang thời xưa bao gồm tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang bây giờ. Như vậy, Lê Hoa có thể là một cửa ải ở phía biên giới Hà Giang, giáp sông Lô, không phải ở phía biên giới Lào Cai - Mông Tự, giáp sông Hồng. (Nxb QĐND).

** Cần Trạm thuộc vùng Kép - cần Dinh bây giờ, phía trên thị xã Bắc Giang khoảng 20km - Câu chính văn trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có nghĩa là "Quân Mộc Thạnh nghe tin quân Liễu Thăng bị thua ở Cần Trạm...". Không phải quân Mộc Thạnh bị thua ở Cần Trạm (Nxb QĐND).

33. Hối là tối, minh là sáng.

34. Nhung y: quân phục mặc ra trận. Thiên Vũ Thành ở Kinh Thư có câu: "Nhất nhung y, thiên hạ đại định" ý nói một khi mặc nhung y dẹp loạn lạc thì thiên hạ được bình định ngay.

35. Vô cạnh là không địch được. Thơ "Chấp cạnh" trong Kinh Thi có câu: "Vô cạnh duy liệt" (công không ai địch được). Ý nói lên cái công đánh được nhà Thương là công to, không ai địch nổi.

Dịch và chủ thích của bản dịch
Quân trung từ mệnh tập


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:14:02 am
BÀI PHÚ NÚI CHÍ LINH

   Rồng thiêng vùng dậy bay Lam kinh,
   Giáo trời chỉ thẳng ải Bắc thành.
   Sáng nghiệp, nên công khó nhọc,
   Núi sông miền Tây anh linh.
   Ôi! Vua ta gồm tài thành võ,
   Việc bốn phương ra sức kinh doanh,
   Vận nước gian truân, lòng khổ nghĩ rành.
   Xem cơ trời đã có phần quyết đoán,
   Chắc thành công bèn luyện chí sắt danh.
   Vì thế nên ngày nay mới hóa Hồ, Việt thành một nhà mà núi này được ngàn thuở lưu danh vậy.
   Đương lúc:
   Nghĩa binh mới dấy, thế giặc đang hăng,
   Anh hùng trong nước, cây gặp mùa sương.
   Chí nuốt giặc Ngô ư? Ai Chủng, ai Lãi?
   Muốn xây nghiệp Hán ư? Ai Bình, ai Lương?
   Vua ta còn ẩn giấu ở núi này, chỉ nương náu mà tiềm tàng,
   Vợ con lưu ly, sĩ tốt tan hoang.
   Tuy xử cảnh khốn mà lòng càng thư thái, biết tương lai hẳn được vẻ vang.
   Mặc quân phục để làm áo, ăn rễ rau để làm lương.
   Chí tha thiết tính bề khôi phục, lòng băn khoăn chẳng chút trễ tràng.
   Tưởng núi này trong lúc ấy há chẳng như Hán Cao Tổ còn ở núi Mang Đường đó ư?
   Bời vì:
   Biết thế địch, biết sức mình, khi nhượng bộ, khi tăng cường.
   Chờ thời cơ đến khi thuận lợi, giấu oai hùng chẳng để hở hang.
   Nằm gai chẳng quản, nếm mật là thường,
   Lo rửa thẹn xưa nghìn thuở, để phục đất cũ bốn phương.
   Tưởng núi này lúc bấy giờ, há chẳng phải như đất Cối Kê còn làm chỗ ẩn náu cho Việt Vương đó ư?
   Thế rồi:
   Thu thập tàn quân, nuôi dưỡng ân cần,
   Trong sửa chiến cụ, ngoài vờ hòa thân.
   Tung vàng mộ lính, giết voi khao quân,
   Mọi người đều thân mến người trên mà liều chết, những lo đem sức lực để đền ần.
   Khi bây giờ:
   Luyện quân và chọn tướng, quyết thắng ra chước hay;
   Sống nhục thác vinh, biết quân ta vững chí;
   Lương thực, khí giới, lấy của giặc để xài.
   Kế vạn toàn sắp sẵn, tên một mũi không rơi.
   Cầm Bành cúi đầu mà nộp đất, Phương Chính khiếp vía mà chạy dài.
   Bèn cứ hiểm mà lập công, lại nhiều cách để lừa người.
   Lửa đốt ban đêm, cờ giăng ban ngày.
   Trận Đỗ Gia lấn đất để giành tiện lợi nơi ấy,
   Trận Khả Lưu qua sông đánh đắm quân thủy bên này.
   Sấm ran chớp giật, trúc chẻ tro bay.
   Chu Kiệt bỏ cũi, Hoàng Thành phơi thây.
   Hạ thành Nghệ An đã làm toàn vẹn,
   Thẳng tới Tây Đô chỉ trong phút giây.
   Cơm nước dọc đường đón rước,
   Đi lại tấp nập vui vầy.
   Hào kiệt còn nghiến răng căm giặc;
   Phụ lão đều khóc xưa mừng nay.
   Uy thanh quân ta ngày càng lừng lẫy;
   Địch binh bị động chống đó đỡ đây.
   Trận Thị Kiều như tổ kiến vỡ khi đê sạt;
   Trận Tốt Động như cây khô bị gió to lay.
   Trần Hiệp, Lý Lượng hùm xuống hầm sâu cùng thế;
   Vương Thông, Mã Kỳ cá trong vạc sôi sánh tày.
   Non sông muôn dặm thu phục,
   Chợ búa Đông Đô chẳng thay.
   Đương lúc bấy giờ, chẳng phải giống như Hán Cao Tổ, đuổi quân Sở ở đất Cai Hạ, bốn mặt bao vây đó ư?
   Có sao bọn giặc điên rồ, lòng tham không chán, sai viện binh sang cả hai nơi. Lấy dầu chữa cháy, tai vạ xem chơi.
   Liễu Thăng nộp mạng mà Chi Lăng máu chảy;
   Mộc Thạnh trốn chạy mà Lãnh Kinh xương đầy.
   Cứu binh hai đường, thua liểng xiểng không quay gót kịp;
   Thành giặc các xứ ra đầu hàng chẳng giọt máu rơi.
   Nguẩy đuôi van lạy, thảm thiết thương thay;
   Đương lúc bây giờ há chẳng giống như Câu Tiễn hãm vua Ngô ở Cô Tô đài đó ư?
   Tuy vậy:
   Hán Cao Tổ quy mô xa rộng, chính giống được thịnh đức của vua ta ngày nay,
   Còn Câu Tiễn chỉ có cái chí phục thù đáng kể, sánh vua ta muôn một nào tày!
   Đến như:
   Thần vũ không giết, đức lớn hiếu sinh.
   Nghĩ kế quốc gia trường cửu, tha ngay mười vạn hàng binh.
   Hai nước dốc lòng hòa hiếu, muôn đời dập mối chiến tranh.
   "Toàn quốc" trên hết lo sự yên lành.
   Vậy thì đức thịnh vua ta, Hán Cao Tổ làm sao sánh kịp, sẽ cùng hai đế ba vương mà lừng danh!
   Than ôi! Xưa qua nay lại, trăm đời khá suy.
   Vua Nghiêu trước làm Đường hầu, vua Thuấn nguyên xưa hàn vi.
   Thành Thang khởi binh từ đất Bạc, Thái Vương thiên đô sang núi Kỳ.
   Vì nhiều nạn là gốc dựng nước ở đó, mà lo âu là nền mở thánh từ đây.
   Trải biến nhiều thì trí lự sâu, tính việc xa thì thành công kỳ. Đế vương nổi lên, ai cũng thế này.
   Thế thì sự nghiệp vua ta, thực từ nay mà xây dựng;
   Và công cao đức thịnh vua ta, há chẳng cùng núi này vòi vọi muôn thì!
   Bèn chắp tay cúi đầu mà hiến bài ca rằng:
   Trời sinh thánh hoàng, đất dấy nghiệp vương.
   Kiền khôn mờ ám, gặp vận phi thường.
   Trông núi này cao ngất, nghĩ đến ngày xưa gian khổ,
   Nhớ vương nghiệp xây nên, quên lãng sao đang.
   Xin ghi thịnh đức, khắc vào đá để truyền bất hủ;
   Suốt nghìn đời và muôn đời, cùng trời đất mà trường thọ.

Bản dịch trong
Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:15:07 am
TÌM HlỂU MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ NGHỆ THUẬT CHỈ HUY

(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1987)


Lời nhà xuất bản


Để góp phần vào việc nghiên cứu phát triển lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn "Tìm hiểu một số vấn đề về nghệ thuật chỉ huy" của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam. Nội dung gồm một số bài viết chọn lọc của tác giả trong những năm gần đây.


Trong cuốn sách, trên cơ sở quán triệt đường lối quân sự của Đảng và nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước trong lịch sử dân tộc, nhất là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, tác giả nêu lên một số vấn đề về nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy tác chiến trong phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, trong đó nổi lên vấn đề nghệ thuật vận dụng kết hợp các yếu tổ lực lượng, thế trận, mưu kế và thời cơ để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, bảo đảm lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít thắng nhiều. Đây cũng là một nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam cần được nghiên cứu sâu sắc và khái quát lên thành lý luận. Trong cuốn sách này, các vấn đề trên bước đầu được tác giả trình bày một cách có hệ thống, có căn cứ khoa học, được minh họa bằng những dẫn chứng lịch sử cụ thể, sinh động.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn dọc.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:17:09 am
I
NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG
(Bài viết theo yêu cầu của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân)


Quá trình diễn biến của một cuộc khởi nghĩa vũ trang cũng như một cuộc chiến tranh là quá trình diễn ra những cuộc đọ sức giữa những lực lượng đối địch trên một khoảng không gian và trong một khoảng thời gian nhất định, dẫn đến kết quả chung cuộc là phân định bên thắng, bên bại, kết thúc cuộc khởi nghĩa vũ trang hoặc cuộc chiến tranh đó. Đây cũng là quá trình vận động của nhân tố lực lượng trong nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng. Sử dụng lực lượng thích ứng hay không thích ứng với những điều kiện cụ thể khách quan trong đấu tranh giữa hai bên đối địch, điều đó quyết định sự phát huy hay suy giảm hiệu quả của lực lượng.


Từ đây, nổi bật lên vai trò và vị trí của nghệ thuật sử dụng lực lượng trong khởi nghĩa vũ trang và trong chiến tranh. Như V.I. Lênin đã nói, chìa khóa của chiến thắng nằm ở chỗ: "Có ưu thế áp đảo trong giờ phút quyết định, ở điểm quyết định - cái "quy luật" đó của những thắng lợi quân sự đồng thời cũng là quy luật của thắng lợi chính trị, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh giai cấp khốc liệt, kịch liệt mà người ta gọi là cách mạng"1 (V.I. Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, M. 1977, tr. 8). Lênin nhấn mạnh: "... Trong thời kỳ cách mạng, không phải chỉ biết rõ "ý chí của đa số" mà đủ đâu; không phải thế đâu, cần phải tỏ ra là mình có lực lượng mạnh hơn ở vào lúc quyết định và ở chỗ quyết định; cần phải chiến thắng"1 (Sdd, tập 34, tr. 54). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "... Muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng"2 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 194).


Nhìn lại các cuộc chiến tranh mà quân và dân ta đã tiến hành để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, có thể thấy rõ nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong quá trình lịch sử, quân và dân Việt Nam đã đánh thắng nhiều đạo quân xâm lược đông và mạnh hơn mình gấp bội. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của thắng lợi là chúng ta đã nắm vững và vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn quy luật về tổ chức, sử dụng lực lượng.


Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, việc đầu tiên phải xét đến là so sánh lực lượng giữa hai bên đối địch. Trong đời sống của dân tộc ta suốt bốn nghìn năm lịch sử, chúng ta "chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh" (Nguyễn Trãi - Phú núi Chi Linh). Nhưng đất nước ta lại là miếng mồi ngon mà các triều đại phong kiến Trung Quốc xưa kia, sau đó là bè lũ đế quốc thực dân phương Tây thèm thuồng nhòm ngó. Để tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính nước ta, khi bắt đầu chiến tranh, các kẻ thù của chúng ta luôn luôn tập trung ưu thế về lực lượng quân đội và trang bị vũ khí. Những đạo quân xâm lược lúc đầu chủ yếu gồm quân, đội chính quy của chính quốc, rồi sau đó tùy theo phạm vi lãnh thổ mà chúng chiếm đóng được, cùng với thời gian của sự chiếm đóng đó, chúng tổ chức ngụy quyền và xây dựng ngụy quân làm lực lượng bổ trợ. Trong mọi trường hợp, nòng cốt của lực lượng địch vẫn là đạo quân viễn chinh.


Có những lần tổ tiên ta đã chọn lúc quyết định và điểm quyết định để tiến hành quyết chiến chiến lược ngay khi kẻ thù vừa đặt chân lên những ải địa đầu của Tổ quâc ta. Ví như trường hợp Ngô Quyền tiêu diệt đạo quân thủy Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng vào năm 938. Lực lượng quân thủy của ta lúc ấy không nhiều hơn lực lượng quân thủy Nam Hán. Thế nhưng, huy động lực lượng nhân dân địa phương cùng với quân đội xây dựng trận địa cọc ngầm dưới lòng sông Bạch Đằng, lợi dụng quy luật lên xuống của thủy triều, Ngô Quyền đã tiêu diệt cả đạo quân thủy Nam Hán ngay tại trận địa mai phục của ta, giết chết tại chỗ hoàng tử Hoằng Thao, đập tan ý chí xâm lược của vua Nam Hán chỉ trong một trận quyết chiến chiến lược. Lực lượng của kẻ thù đơn thuần là số lượng chiến thuyền và binh sĩ, nên tuy có số lượng đông, được trang bị tốt và có kinh nghiệm thủy chiến, nhưng đã không phát huy được sức mạnh của nó một khi dấn thân vào sông nước của ta. Đúng như lời Ngô Quyền nói với tướng sĩ: "Hoằng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức mạnh, đối địch với quân mỏi mệt, tất phá được..."1 (Lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, tập 1, H. 1971, tr. 138). Tất phá được là còn tùy thuộc vào việc xây dựng trận địa mai phục mà một phần quan trọng dựa vào sức người, sức của của nhân dân địa phương, tùy thuộc vào tài thao lược của vị thống soái trong việc bố trí lực lượng, xác định cách đánh, dựa vào quy luật thiên nhiên của nước triều lên xuống, vào tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn quân. Tổng thể các nhân tố đó hội tụ lại đă tăng sức mạnh sẵn có của lực lượng ta lên gấp bội, khiến cho lực lượng ta tuy ít hơn nhưng vẫn tạo được sức mạnh hơn hẳn lực lượng địch để đè bẹp chúng ồ đúng nơi, vào đúng lúc quyết định.


Những điều kiện cụ thể về tương quan lực lượng xét cả hai mặt lực và thế đã cho phép Ngô Quyền tiến hành trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn chỉ một ngày và trong không gian hẹp chỉ một đoạn trên sông Bạch Đằng ở gần cửa sông, tại ải địa đầu của Tổ quốc, ngay trong những ngày đầu của chiến tranh. Lực lượng đã được bố trí ở đúng nơi quyết định tại khu vực trận địa bãi cọc bằng gỗ đầu bịt sắt nhọn, và được tung ra đúng vào lúc quyết định khi nước triều rút xuống tức là vào nơi và lúc mà cả đoàn thuyền chiến Nam Hán sa vào bãi cọc ngầm, phần bị cọc đâm thủng, phần thì va vào nhau bị vỡ và đắm, đội hình địch rối loạn, tinh thần binh sĩ địch hoang mang, tan rã, dẫn đến kết quả là sức mạnh của chúng tụt xuống hẳn trong khi sức mạnh của ta vượt lên gấp bội.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:18:32 am
Bối cảnh tình hình và tương quan lực lượng mỗi thời mỗi khác. Có những trường hợp bước nhảy vọt quyết định thắng lợi chung cuộc của chiến tranh lại là hệ quả của một chuỗi thắng lợi, là bước ngoặt quyết định cuối cùng trong một chuỗi bước ngoặt đánh dâu sự chuyển tiếp của những giai đoạn phát triển kế tiếp nhau, diễn ra trong một không gian rộng bao gồm lãnh thổ cả nước, trong một thời gian kéo dài nhiều năm. Đây cũng là những bước ngoặt trong quá trình diễn biến của sự phát triển lực lượng mà cuộc kháng chiến chống Minh là một ví dụ.


Lúc mới khởi sự, trong khi lực lượng kẻ thù gồm cả quân đội triều Minh và bọn ngụy quân lên đến vài chục vạn tên thì nghĩa quân Lam Sơn chỉ gồm không quá hai nghìn người. Đã diễn ra những cảnh ngộ "Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần, lúc Khôi Huyện quân không một lữ" (Bình Ngô đại cáo). Thế nhưng, "trải nhiều biến thì mưu kế sâu, tính việc xa thì thành công kỳ" (Phú núi Chi Linh), "lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục, lấy yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ" (Bình Ngô dại cáo), nghĩa quân Lam Sơn đã vượt qua được những khó khăn ban đầu, ngày càng phát triển.


Một bước ngoặt chiến lược đã được tạo ra vào những tháng đầu năm 1425 khi nghĩa quân Lam Sơn tiến vào giải phóng Nghệ An là "nơi hiểm yếu, đất rộng người đông" (Việt sử thông giám cương mục), để rồi thừa thắng tiến công ra Thanh Hóa. Nắm chắc được thời cơ, đánh đúng vào nơi quyết định vốn là địa bàn chiến lược quan trọng đồng thời lại là khâu yếu trong hệ thống phòng thủ của quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn đã chiến thắng giòn giã, và từ đấy lực lượng của nghĩa quân đạt được bước phát triển mới. Sau đó, thừa lúc hệ thống phòng thủ của quân địch bị đảo lộn, đẩy các tướng Minh lâm vào tình trạng hoang mang, đối phó bị động, lúng túng, nghĩa quân Lê Lợi - Nguyễn Trãi cùng bộ tham mưu nghĩa quân quyết định tiến quân ra Bắc Hà và vây Đông Đô, tạo nên một cục diện mới, một bước ngoặt mới trong việc phát triển lực lượng của nghĩa quân. Từ những vùng mà quân thù đã chiếm đóng hàng chục năm và gây ra ở đó biết bao tội ác tày trời, thanh niên nô nức tham gia đạo quân chủ lực của nghĩa quân, đồng thời những đội quân địa phương và dân quân cũng được thành lập, với sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, cùng với một bộ phận quân chủ lực tiến hành vây hãm và cô lập nhiều thành trì địch. Một thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước đã hình thành.


Tiếp đến là giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến với những trận đánh lớn quyết định kết cục của chiến tranh vào cuối năm 1427. Giữa việc đánh thành Đông Quan và đánh viện binh địch, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã chọn đánh viện. Giữa hai đạo quân Mộc Thạnh và Liễu Thăng, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã tập trung lực lượng chủ yếu đánh đạo quân Liễu Thăng. Trên đường tiến quân của đạo quân địch từ Quảng Tây sang, nghĩa quân Lam Sơn đã chọn những điểm quyết chiến: Chi Lăng, Cần Trạm, Xương Giang. Có những thời cơ chiến đấu chỉ trong khoảnh khắc như trong trận mai phục Chi Lăng đánh vào lúc Liễu Thăng vượt lên dẫn đầu đoàn quân kỵ; lại có lúc thời cơ kéo dài gần nửa tháng như khi đạo quân Quảng Tây bị vây chặt tại Xương Giang. Tương quan lực lượng giữa ta và địch trong chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang cứ theo thời gian và không gian mà chuyển biến từng bước có lợi cho ta. Đạo quân địch càng xa hậu phương của chúng thì càng vấp thêm những khó khăn mới về tiếp tế hậu cần. Nỗi hoang mang lo sợ vì bị tập kích liên tục cứ theo những bước dấn sâu vào lãnh thổ đối phương và theo khoảng thời gian kéo dài mà rữa mòn cả thể xác lẫn tinh thần của tưổng sĩ giặc. Chính vì thế, tại Xương Giang số quân chủ lực của nghĩa quân Lam Sơn không hơn số quân chủ lực của đạo quân Quảng Tây, nhưng sức mạnh của ta lại trở thành áp đảo so với quân giặc, và chúng ta đã hoàn thành việc tiêu diệt toàn bộ đạo quân này. Thế là 10 vạn quân của Liễu Thăng sang xâm lược nước ta, chỉ có một tên địch duy nhất thoát chết chạy trốn về nước. Lực lượng của Vương Thông tại Đông Quan còn đến khoảng 10 vạn quân, nhưng tên tướng Minh này không còn cách nào khác hơn là xin tuyên thệ đầu hàng, rút quân về nước.


Sau khi nghĩa quân Lam Sơn đã đứng vững chân trên địa bàn căn cứ Lam Sơn, quá trình cuộc kháng chiến chống Minh là quá trình phát triển không ngừng của lực lượng kháng chiến của quân và dân ta thời đó, đồng thời cũng là quá trình suy giảm liên tục của lực lượng kẻ thù. Quá trình đó được đánh dấu bằng những bước ngoặt phát triển nhảy vọt của nghĩa quân Lam Sơn. Những bước nhảy vọt do được tạo thành nhờ một chất xúc tác: hành động tiến công của nghía quân Lam Sơn nhằm vào đúng những lúc quyết định, đúng những nơi quyết định mà do tập trung được lực lượng đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch, phía ta giành được ưu thế áp đảo so với địch. Điều kỳ diệu trong nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn là về chỉ đạo chiến lược, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã vận dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật sử dụng lực lượng trong các giai đoạn từ thấp đến cao của cuộc kháng chiến, và các tướng lình Lam Sơn cũng đã vận dụng tài tình trong các trận chiến đấu cụ thể từ Tốt Động, Chúc Động, đến Chi Lăng, Xương Giang. Lực lượng của ta dưới quyền chỉ đạo, chỉ huy của những thống soái, tướng lĩnh tài ba đã được thế người, thế đất, thế thời nhân lên gấp bội để cuối cùng đặt kè địch vào thế "cá trên thớt, thịt trong nồi" và kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến. Đây là kết quả của nghệ thuật sử dụng lực lượng đánh kế tiếp những đòn quyết định vào những nơi và lúc quyết định với cường độ ngày càng mãnh liệt.


Đến khi quân Thanh kéo sang xâm lược nước ta vào cuối năm 1788, bối cảnh tình hình chính trị nội bộ nước ta cực kỳ phức tạp. Quân chủ lực của Tây Sơn đo Nguyễn Huệ chỉ huy đang đóng ở Phú Xuân. Tương quan lực lượng giữa quân Thanh và quân Tây Sơn ở Bắc Hà nghiêng hẳn về phía kẻ thù. Cái kế cho địch "ngủ trọ một đêm tại Thăng Long" của Ngô Thì Nhậm chính là nhằm chuyển hóa tương quan lực lượng đó, trên cơ sở tạo ra một thế cả chính trị lẫn quân sự có lợi cho ta, nhằm làm giảm sức mạnh của kẻ thù xuống; nâng sức mạnh của ta lên, xây dựng một thế trận mới thuận lợi cho một cuộc tiến công sấm sét vào quân địch. Nín nhịn để tránh mũi nhọn của giặc, nén lòng lùi lại, thậm chí rút bỏ cả kinh thành Thăng Long, tất cả đều nằm trong tính toán của Ngô Thì Nhậm nhằm tranh thủ thời gian để phía Tây Sơn tập trung lực lượng, tạo thế bất ngờ, chọn đúng lúc quyết định, đánh vào nơi quyết định trong thế trận của Tôn Sĩ Nghị.


Tiến quân ra Bắc Hà nhằm tiêu diệt quân xâm lược và bè lũ Việt gian, giải phóng Thăng Long, quân Tây Sơn được bổ sung ở Nghệ An, Thanh Hóa, sĩ khí bừng bừng. Khi quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp, về số lượng quần chủ lực, phía Tôn Sĩ Nghị vẫn đông hơn ta gấp bội, nhưng đông đảo nhân dân Bắc Hà cũng như trong khu vực Thảng Long đã đứng về phía Tây Sơn. Trong khi đó, Tôn Sĩ Nghị lại phải dàn quân trong một thế trận phòng ngự tạm thời nhằm chuẩn bị cho bước tiến công sau đó, nên không tránh khỏi phải phản tán lực lượng và bộc lộ những sơ hở.


Cuộc hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Tam Điệp đã tạo điều kiện cho Nguyễn Huệ nắm được quyền chủ động tiến công bất ngờ. Qua hành động cơ động thần tốc đó, sức mạnh của quân Tây Sơn đã được nhân tố thời gian nhân lên gáp bội, trong khi khoảng thời gian ấy được Tôn Sĩ Nghị dùng vào những cuộc truy hoan mừng tết Kỷ Dậu, dẫn chúng vào tình thế bị động về chiến lược. Ngay từ lúc bắt đầu hành quân từ Phú Xuân và đến khi tập kết đại quân tại Tam Điệp, Nguyễn Huệ đã phát hiện được chỗ yếu của quân Thanh và đã tính sẵn phương lược tiến đánh. Thời gian quyết định là những ngày tết Kỷ Dậu; nơi quyết định, mắt xích chủ yếu mà nếu bẻ gãy sẽ làm đứt tung cả sợi dây xích, đó là hai đồn Ngọc Hồi và Khương Thượng. Nguyễn Huệ đã tập trung lực lượng chủ yếu của đại quân Tây Sơn đánh vào Ngọc Hồi, trong khi một cánh quân khác do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy theo thượng đạo ập xuống Khương Thượng.


Tại nơi quyết định, vào lúc quyết định, lực lượng ta được các nhân tố bất ngờ, tinh thần kỷ luật cũng như trình độ tác chiến và vũ khí trang bị thích hợp của quân đội, cùng với sự hỗ trợ mọi mặt của nhân dân địa phương nhân lên gấp bội, trở nên chiếm ưu thế áp đảo so với địch. Kết quả là Nguyễn Huệ đã tiêu diệt gọn 20 vạn quân Thanh chỉ vẻn vẹn trong mấy ngày.


Trước kẻ thù đông hơn, mạnh hơn, cực kỳ hung hăng và thâm hiểm, để tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tổ tiên ta đã theo dòng thời gian hàng nghìn năm lịch sử xây dựng nên một nền nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, trong đó có nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng kết hợp chặt chẽ với thế và thời, đặt trên nền tảng thế trận chữ "nhân", thế trận đưa sức mạnh cả nước ra đánh giặc, một thế trận kỳ diệu giành vào tay ta quyền chủ động tiến công cả về chiến lược và chiến đấu.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:21:56 am
Bước sang thời kỳ hiện đại, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa truyền thống quân sự của tổ tiên, Đảng ta đã đưa nền nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung, nghệ thuật sử dụng lực lượng nói riêng lên một bước phát triển mới.


Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, sự phát triển của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của ta trên cả nước đã đưa đến cục diện là Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch và của ta, nơi tất yếu phải diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa hai bên. Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định chính xác đây chính là nơi và là lúc quyết định số phận của kế hoạch Na-va, quyết định thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược và của toàn cuộc kháng chiến. Chính vì thế, những cố gắng cao nhất của toàn quân, toàn dân đã được huy động đê giành toàn thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Các chiến trường trên cả nước đã tác chiến phối hợp nhịp nhàng với Điện Biên Phủ, theo một chủ trương chiến lược, một kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất. Bị cầm giữ và chịu đòn ở khắp các nơi chúng dừng chân hay điều quân đến, Na-va không còn khả năng tăng viện cho lực lượng của chúng tại Điện Biên Phủ, nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược định đoạt số phận cuộc chiến tranh xâm lược của chúng tại ba nước Đông Dương.


Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, lực lượng kháng chiến đã được huy động và chiến đấu trên không gian cả nước từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, được tổ chức thành ba thứ quân phối hợp tác chiến chặt chẽ, hình thành lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị hỗ trợ nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, cuộc đấu tranh của nhân dân ta vượt qua không gian đất nước, diễn ra trong bối cảnh thế tiến công mạnh mẽ của ba dòng thác cách mạng trên thế giới, được những lực lượng cách mạng và cả nhân loại tiến bộ cổ vũ, giúp đỡ. Tại điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, sức mạnh của quân đội ta được đặt trên nền tảng thế nước, thế thời đại, được sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng và nhiều nhân tố cơ bản thuận lợi khác nhân lên gấp bội. Lực lượng của chúng ta đã chiếm ưu thế áp đảo so với lực lượng của địch tại nơi quyết định là chiến trường Điện Biên Phủ, vào lúc quyết định là những tháng đầu năm 1954 - thời điểm diễn ra hội nghị Giơ-ne-vơ bàn về cuộc chiến tranh Đông Dương. Chính vì thế, sau khi quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 đã được ký kết, dẫn đến kết quả một nửa nước Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đánh dấu một đỉnh cao mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam mà nghệ thuật sử dụng lực lượng là một yếu tố rất cơ bản. Vào lúc đó quân đội ta đã có những binh đoàn cơ động lớn với các thành phần binh chủng kỹ thuật hiện đại, nhất là các binh đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh, phòng không, có khả năng tiến hành các chiến dịch hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang ta đã nâng lên trình độ tác chiến hợp đồng quân, binh chủng hiện đại cỡ quân đoàn và cụm quân đoàn. Các khối quân chủ lực của ta - những quả đấm thép - đã đứng vững chân trên những địa bàn chiến lược then chốt, có khả năng cơ động nhanh chóng để đánh vào những điểm yếu mà sơ hở trong hệ thống phòng ngự của địch. Đồng thời, chúng ta lại có sẵn những quả đấm thép khác là lực lượng dự bị chiến lược đặt trên tư thế sẵn sàng nhận lệnh bước vào chiến đấu khi giờ quyết định đã điểm.


Trong khi đó, tại vùng địch kiểm soát, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống cơ sở chính trị sâu rộng ở trong tư thế sẵn sàng nổi dậy. Cũng ngay trong lòng địch, chúng ta đă duy trì và phát triển các lực lượng vũ trang địa phương được trang bị ngày càng tốt hơn và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, đồng thời ém sẵn nhiều đơn vị đặc công, biệt động. Trong thế trận chiến tranh nhân dân, sức mạnh của bộ đội chủ lực, của lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị của quần chúng kết thành sức mạnh tổng hợp to lớn làm nghiêng cán cân lực lượng về phía ta. Vấn đề được đặt ra là sử dụng lực lượng đó để chiếm ưu thế áp đảo so với lực lượng địch vào lúc và nơi quyết định, nhằm phá vỡ một mảng xung yếu trong thế trận phòng thủ của kẻ thù, dẫn đến đập tan toàn bộ thế trận đó.


Thời cơ chiến lược đã xuất hiện vào đầu Xuân 1975. Sau khi quân đội viễn chinh Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, trước thế tiến công của ba dòng thác cách mạng trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, đế quốc Mỹ phải đối phó với hàng loạt vấn đề gay cấn cả về đối nội lẫn đối ngoại. Đây là những sợi dây buộc chân, trói tay chính quyền Oa-sinh-tơn, khiến chúng khó có thể trở lại dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới tại miền Nam Việt Nam để cứu vãn chế độ ngụy quyền Sài Gòn trước nguy cơ sụp đổ. Sau khi "Mỹ cụt", ngụy quyền, ngụy quân mất chỗ dựa quân sự của đạo quân viễn chinh Mỹ, lâm vào tình trạng bối rốỉ về tinh thần, đảo lộn về thế trận và suy yếu về lực lượng, nên càng lún sâu trong thế bị động chiến lược, trong khi đó, các đơn vị chủ lực ngụy lại bị dàn mỏng trong thế trận "phòng thủ diện địa" nặng ở hai đầu và sơ hở ở quãng giữa, các lực lượng dự bị chiến lược của chúng vừa phải đối phó với quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam, vừa bị đặt trên tư thế sẵn sàng đối phó với những cuộc đảo chính âm ỉ trong nội bộ ngụy quyền. Chiếc chăn đã ngắn lại hẹp, bị Mỹ - ngụy co kéo để cố che kín cả đầu lẫn chân thì lại để hở sườn. Chỗ hở sườn đó là địa bàn Tây Nguyên.


Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã phân tích chính xác thời cơ chiến lược đó và hạ quyết tâm lịch sử giải phóng miền Nam. Chiến trường Tây Nguyên vừa là địa bàn xung yếu vừa là nơi sơ hở của thế trận địch, được chọn làm hướng tiến công chủ yếu, trong đó Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu. Đánh vào Buôn Ma Thuật, chúng ta đã điểm đúng tử huyệt của thế trận phòng thủ của địch trên toàn chiến trường Tây Nguyên, ở đây, lực lượng chủ lực của ta đã được tập trung với ưu thế áp đảo về số lượng. Trong khi đó, quân địch ở Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập. Lực lượng của địch ở Tây Nguyên và trên khắp chiến trường bị ta căng ra và giam chân ở mọi nơi, khiến chúng không còn khả năng ứng cứu cho Buôn Ma Thuột. Vì vậy trong trận mở đầu chiến dịch, chúng ta đâ tập trung được ưu thế lực lượng đánh đúng vào nơi quyẽt định, vào lúc quyết định tại chiến trường. Lực lượng đã chiếm ưu thế lại được yếu tố bất ngờ, cách đánh tài giỏi, tinh thần dũng cảm và kỹ thuật chiến đấu của cán bộ và chiến sĩ ta nhân lên gấp bội để trở thành áp đảo, nên đã đè bẹp nhanh chóng sự kháng cự của địch, phá vỡ một mảng xung yếu trong thế trận phòng thủ Tây Nguyên của chúng, buộc địch phải rút khỏi vùng cao nguyên chiến lược này, mở đầu cho sự sụp đổ "dây chuyền" của toàn bộ thế trận địch ở miền Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:22:45 am
Nắm vững thời cơ chiến lược lớn đã tới, Bộ Chính trị hạ quyết tâm "với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm"1 (Trích: Điện số 956KT ngày 1 tháng 4 năm 1975 của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và các đồng chí đại diện Bộ Chính trị tại mặt trận Sài Gòn). Bộ Chính trị đã đánh giá chính xác tình hình thế giới, tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường và đã chọn chính xác lúc và nơi quyết định đẽ tập trung lực lượng mở trận quyết chiến chiến lược cuối cùng kết thúc thắng lợi chiến tranh: lúc - là những ngày cuối tháng 4 năm 1975; nơi - là sào huyệt cuối cùng của Mỹ - ngụy tại Sài Gòn. Đấy cũng là thời gian và mục tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã bước vào giai đoạn cuối cùng. Lực lượng mà chúng ta tung vào cuộc là lực lượng cả nước với những quả đấm thép là các binh đoàn chủ lực đã đứng chân và tác chiến ở chiến trường, cùng với những binh đoàn chủ lực từ miền Bắc hành quân thần tốc vào chiến trường. Lực lượng chiếm ưu thế áp đảo đó tiến công đúng vào lúc quyết định và nơi quyết định, trở thành "sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát" (Nguyễn Trãi - Quân trung từ mệnh tập), đánh những trận "sấm ran chớp giật, trúc chẻ tro bay", giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, cùng với nghệ thuật tập trung lực lượng chiếm ưu thế áp đảo vào các trận quyết chiến, điểm vào đúng những tử huyệt của địch trong những thời điểm quyết định, lực lượng của chúng ta đã cơ động thần tốc, kịp thời, tận dụng được thời cơ để giành thắng lợi lớn và từ đấy lại tạo ra những thời cơ mới. Sự cơ động thần tốc đã nhân sức mạnh của những quả đấm thép trên chiến trường và cả sức mạnh của những lực lượng nổi dậy trong lòng địch lên gấp bội, tạo nên sự phối hợp tuyệt đẹp, đẩy Mỹ - ngụy đến chỗ hoang mang cùng cực và sụp do cả về ý chí lẫn tổ chức kháng cự. Như Ăng-ghen đã chỉ rõ "tốc độ vận động nhanh có thể bù đắp sự thiếu quân, bởi vì nó cho phép tiến công địch khi chúng chưa kịp tập trung binh lực. Cũng giống như trong thương mại có câu: "Thời giờ là vàng bạc", trong chiến tranh cũng có thể nói: "Thời giờ là bộ đội"1 (C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, tập 9, bản tiếng Nga, xuất bản lần thứ hai, tr. 495).


Đúng là trong quá trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, bằng cách đánh thần tốc, lực lượng của ta được nhân lên với mỗi giờ mỗi ngày trôi qua, trong khi đó, lực lượng của kẻ địch lại bị thời gian xô đẩy tới tấp không sao gượng dậy được và cứ theo thời gian mà tan rã từng mảng để cuối cùng đi đến sụp đổ hoàn toàn.


Trong bài diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm lần thứ 10 thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: "Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta đã thắng vì sự nghiệp của chúng ta là chính nghĩa, vì chúng ta dám đánh và biết đánh, biết thắng, càng đánh càng mạnh, tạo được lực lượng vượt trội hơn, đủ sức đánh bại đối phương, đè bẹp ý chí xâm lược của địch"1 (Lê Duẩn, "Thiên anh hùng ca vỉ đại", Tạp chí Cộng sàn, số tháng 5 năm 1985, tr. 8 ).


Trong lĩnh vực "biết đánh" rất phong phú đó, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã vận dụng tài tình sáng tạo, đúng quy luật và nâng lên một đỉnh cao mới nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng được kế thừa của tổ tiên ta.


Trong lịch sử, dân tộc ta luôn luôn phải chống lại những kẻ thù xâm lược có đông quân, lắm súng, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn ta, có khi gấp nhiều lần. Trong tình hình đỏ, nếu không biết đánh giá địch, ta cho đúng thì làm sao dám đánh, dám chấp nhận cuộc chiến đấu không cân sức với quân thù, từ đó tìm ra con đường dẫn tới chiến thắng.


Để đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch, chúng ta đã luôn luôn vận dụng đúng đắn quan điểm tổng hợp, đánh giá sức mạnh của địch và của ta không chỉ dựa vào số lượng quân đội, vũ khí, phương tiện vật chất, mà xem xét toàn diện các mặt quân sự, chính trị, kinh tế và văn hoá, vật chất và tinh thần, số lượng và chất lượng, điều kiện trong nước và trên thế giới... Trong kháng chiến chống Mỹ, đế quõc Mỹ mạnh hơn ta gấp hàng trăm nghìn lần về kinh tế, về số lượng và chất lượng vũ khí, kỹ thuật quân sự. Nhưng chúng ta mạnh hơn hẳn chúng về chính trị, về tinh thần của nhân dân và quân đội, về chất lượng lực lượng vũ trang, về khoa học, nghệ thuật quân sự. Chính vì vậy Đảng ta khẳng định ngay từ đầu: "Mỹ giàu nhưng không mạnh", và hạ quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.


Trong chiến tranh giải phóng, lúc đầu ta còn yếu hơn địch về vật chất. Muốn mạnh hơn địch để thắng địch, phải qua một quá trình chuyển hóa làm cho ta ngày càng mạnh lên, địch ngày càng yếu đi. Vì vậy phải đánh lâu dài, ta càng đánh càng mạnh, cuối cùng đủ sức áp đảo quân địch, giành thắng lợi.


Trong chiến tranh, phải đánh thắng địch về quân sự. Vì vậy phải tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch về quân sự. Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của nhân dân ta chống xâm lược là chính nghĩa nên có sức mạnh của toàn dân. Lực lượng vũ trang tập trung của ta lúc đầu thường ít hơn quân xâm lược, nhưng ta vẫn duy trì và phát triển được cuộc kháng chiến là nhờ có sức mạnh của chiến tranh nhân dân, của toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Lực lượng vũ trang được tổ chức thành ba thứ quân nên có thể phát huy sức mạnh đánh địch ở khắp nơi, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Lực lượng vũ trang kết hợp với lực lượng chính trị càng tạo thành sức mạnh tổng hợp rất lớn. Thực tiễn của các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của nhân dân vừa qua đã chứng minh: thế dựa vào dân là thế vững nhất, sức mạnh của nhân dân là sức mạnh to lớn nhất, trí sáng tạo của nhân dân là vô tận. Cho nên nghệ thuật tổ chức, xây dựng lực lượng của chúng ta trước hết là nghệ thuật tổ chức xây dựng lực lượng của chiến tranh nhân dân, đi từ xây dựng cơ sở chính trị mà xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân cân đối và đồng bộ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:23:26 am
Trong nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng, trong khi đánh giá đúng mức vai trò của số lượng lực lượng vũ trang, chúng ta hết sức coi trọng yếu tố chất lượng. Tổ tiên ta xưa kia đã từng vận dụng đúng đắn quan điểm xây dựng quân đội "cốt ở tinh nhuệ, không cốt nhiều". Khi sử dụng, lúc thì lấy ít đánh nhiều, khi thì tập trung lực lượng ưu thế lấy nhiều đánh ít, nhưng nói chung đều sử dụng một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất, "sức dùng một nửa mà công được gấp đôi" (Nguyễn Trãi - Lam Sơn thực lục). Nghệ thuật sử dụng lực lượng của ta còn luôn luôn đi đôi với nghệ thuật làm suy yếu lực lượng của địch, khơi sâu chỗ yếu và hạn chế chỗ mạnh của chúng.


Nét đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng lực lượng của chúng ta là sử dụng lực lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với thế và thời. Chúng ta coi lực lượng là yếu tố cơ bản để tạo nên sức mạnh giành thắng lợi, nhưng sức mạnh không phải chỉ tùy thuộc vào bản thân lực lượng mà còn phụ thuộc vào thế và thời cơ mà lực lượng ây được sử dụng. Lẽ đương nhiên là phải có lực lượng đủ mạnh thì mới tạo nên hoặc tận dụng được thế và thời cơ có lợi nhưng một khi có thế tốt và được sử dụng đúng thời cơ thì sức mạnh mà lực lượng đó tạo ra sẽ vượt xa sức mạnh ban đầu của bản thân nó. Đúng như Nguyễn Trãi đã nói, "được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn..." (Quân trung từ mệnh tập). Ví như một đội đặc công, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, với thế mạnh của lối đánh luồn sâu, ém sẵn, bí mật, bất ngờ, khi tập kích một sân bay địch có thể làm nên chuyện mà bình thường phải sử dụng từng trung đoàn, sư đoàn không quân ném bom mới làm nổi. Cho nên có thể nói nghệ thuật quân sự Việt Nam luôn luôn là nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ để sử dụng lực lượng có lợi nhất, phát huy được sức mạnh lớn nhất và đạt tới hiệu quả cao nhất.


Trong nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng của ta, còn nổi lên vấn đề xây dựng lực lượng và phát triển lực lượng để hình thành những quả đấm mạnh, giáng những đòn tiêu diệt lớn quân địch, đặc biệt là vào giai đoạn cuối của chiến tranh.


Trong chiến tranh giải phóng, lực lượng ta lúc đầu còn nhỏ nên phải đánh lâu dài, phải thắng địch từng bước, đánh bại địch từng bộ phận, vừa đánh vừa xây dựng, phát triển lực lượng về mọi mặt; đến khi lực lượng ta dần dần mạnh lên mới có khả năng đánh tập trung, thực hiện các đòn tiêu diệt lớn. Cùng với sự phát triển của chiến tranh, lực lượng vũ trang tập trung của ta được tổ chức với quy mô ngày càng lớn, đồng thời thế trận chiến tranh nhân dân của ta cũng phát triển ngày càng sâu rộng, cài xen vào thế trận của địch, buộc địch phải phân tán đối phó, phòng ngự bị động, không thể tập trung được lực lượng lớn để tiến công có hiệu quả.


Đến giai đoạn cuổi chiến tranh, ta tiến hành tiến công chiến lược và tổng tiến công chiến lược kết hợp với nổi dậy của quần chúng để giành thắng lợi quyết định thì trên cơ sở chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, phải tổ chức các tập đoàn chiến dịch và tập đoàn chiến lược đứng chân trên các địa bàn trọng yếu, hình thành những quả đấm mạnh trên nhiều hướng chiến lược. Những quả đấm đó trên nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp và vững chắc, cho phép ta thực hành các trận tiến công đồng thời hoặc gối đầu hay kế tiếp liên tục trên toàn chiến trường, làm cho địch bị động đối phó ở nhiều nơi, không điều động được lực lượng đi ứng cứu lẫn nhau; gây nên sự đổ vỡ "dây chuyền" trong thế trận chiến lược của địch, làm xuất hiện những tình huống chiến lược và thời cơ chiến lược mới nối tiếp nhau, tạo điều kiện cho ta giành thắng lợi nhanh chóng, dồn dập và ngày càng lớn.


Trong kháng chiến chống Pháp, ta mới có khả năng tổ chức được một tập đoàn chiến lược nên chỉ mở được từng chiến dịch riêng rẽ trên từng hướng chiến lược riêng rẽ; các hướng chiến lược khác chỉ có sự phối hợp bằng các hoạt động tác chiến hoặc chiến dịch nhỏ mà kết quả thắng lợi chỉ có giá trị về chiến dịch, ít có giá trị về chiến lược. Năm 1950, ta mở chiến dịch Biên Giới; đầu năm 1951 mới mở chiến dịch Trần Hưng Đạo rồi tiếp đến chiến dịch Hoàng Hoa Thám, sau đó là chiến dịch Quang Trung, nhưng đó đểu là những chiến dịch nhỏ, chưa làm thay đổi được cục diện chiến trường. Đến Đông Xuân 1953-1954, ta cũng chỉ tập trung được một tập đoàn chiến lược mở chiến dịch Điện Biên Phủ mà không có tập đoàn chiến lược thứ hai ở đồng bằng Bắc Bộ; ở các hướng chiến lược khác, ta cũng mới tổ chức được một vài tập đoàn chiến dịch nhỏ. Do đó thắng lợi chiến lược có phần bị hạn chế.


Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, với những điều kiện mới của tình hình trong nước và trên thế giới, việc xây dựng, phát triển lực lượng và sự chỉ đạo chiến lược của ta có bước phát triển cao hơn. Tới một giai đoạn phát triển nhất định của chiến tranh, ta đã tổ chức được nhiều tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch, đứng chân và cài thế sẵn trên các hướng chiến lược trọng yếu trên toàn chiến trường. Trong chiến cuộc xuân - hè 1972, ta đã tổ chức được một tập đoàn chiến lược đứng chân ở phía bắc trận tuyến của địch ở Quảng Trị; một tập đoàn chiến dịch mạnh đứng chân ở phía nam trận tuyến của địch ở phía tây Sài Gòn; và một tập đoàn chiến dịch nhỏ đứng ở giữa trận tuyến của địch tại Tây Nguyên. Khi cuộc tiến công chiến lược được phát động thì các tập đoàn chiến lược và chiến dịch này đồng thời hành động với sự phối hợp của chiến tranh nhân dân rộng rãi, sâu hiểm trên toàn chiến trường cả trước mặt và sau lưng địch. Tình thế đó buộc địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó một cách lúng túng, dẫn đến trận tuyến của chúng bị phá vỡ ở một số nơi, không sao hàn gắn được.


Đến đầu năm 1975, việc tổ chức, chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng tiến công chiến lược đạt tới quy mô lớn hơn trước nhiều. Để chuẩn bị cho chiến cuộc Xuân 1975, ta đã xây dựng được hai tập đoàn chiến lược và một tập đoàn chiến dịch mạnh, đồng thời có lực lượng tổng dự bị chiến lược hùng hậu.


Tập đoàn chiến lược thứ nhất gồm một quân đoàn và một số sư đoàn đứng chân ở hướng chiến lược Huế - Đà Nảng. Tập đoàn chiến lược này đã kéo được hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược của địch (sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn dù) ra Huế và Đà Nẵng rồi giam chân chúng ở đó, làm cho bộ chỉ huy địch không còn nắm được trong tay lực lượng dự bị mạnh.


Tập đoàn chiến lược thứ hai gồm một quân đoàn cùng một số sư đoàn, đứng chân ở phía tây bắc Sài Gòn. Đó là chiếc búa sẵn sàng đập vào đầu địch, khiến địch luôn luôn phải cảnh giác đề phòng.

Tập đoàn thứ ba là một tập đoàn chiến dịch mạnh gồm một số sư đoàn đứng chân ở quãng giữa trận tuyến địch là Tây Nguyên.

Ngoài ba tập đoàn lực lượng đó ra, Bộ Tổng tư lệnh của ta còn nắm trong tay lực lượng dự bị chiến lược mạnh gồm một quân đoàn, đồng thời có nguồn hậu bị dồi dào sẵn sàng được động viên.

Do tổ chức được các tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch mạnh đứng chân trên các hướng chiến lược trọng yêu trên suốt chiều dài trận tuyến như thế, nên khi cuộc tổng tiến công chiến lược được phát động thì các hướng đều có thể đồng thời hành động, hoặc gối đầu nhau, hoặc kế tiếp nhau một cách liên tục.


Cách tổ chức, bố trí lực lượng như vậy làm cho ta nắm vững được quyền chủ động chiến lược. Ta lại có mưu kế hay, lập thế trận tốt, giỏi nghi binh lừa địch, điều động và điều khiển được địch nên tạo được bất ngờ tối đa cho địch và phát huy đến mức tối đa quyền chủ động của ta về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Khi ta phát động tiến công trên nhiều hướng chiến lược một cách liên tục, đột phá thắng lợi một số khâu xung yếu trong hệ thống phòng ngự của địch thì tạo nên tác động "dây chuyền", phá vỡ từng mảng và mau chóng làm sụp đổ toàn bộ trận tuyến địch.


Do đó khi chuẩn bị cho một chiến cuộc, trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, phải tiến hành tổ chức, xây dựng các binh đoàn lớn, hình thành các tập đoàn chiến dịch, tập đoàn chiến lược như những quả đấm mạnh đủ sức đột phá từng đoạn trên trận tuyến của địch. Như vậy mới có thể hoàn thành được các nhiệm vụ chiến lược quan trọng.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tùy tình hình và điều kiện cụ thể mà xây dựng các tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch bố trí có chiều sâu trên nhiều hướng để có khả năng đánh bại các cuộc tiến công bằng lực lượng lớn của địch trên các hướng chiến lược trọng yếu.


Từ kinh nghiệm thực tiễn của các cuộc chiến tranh vừa qua, có thể đi đến một kết luận: Tổ chức được các tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch đứng chân trên các hướng chiến lược trọng yếu trên toàn bộ trận tuyến là một quy luật về xây dựng, tổ chức lực lượng trong các chiến cuộc mang tính chất phản công chiến lược hoặc tiến công chiến lược để giành thắng lợi quyết định, làm xoay chuyển cục diện hay kết thúc chiến tranh.


Đương nhiên vận dụng quy luật là phải có điều kiện. Nếu không có điều kiện khách quan cho sự vật tồn tại thì quy luật cũng không thể vận động được.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:25:05 am
II
NGHỆ THUẬT LẬP THẾ TRẬN*
(Bài đăng trên Tạp chí Quân đội nhân dân, số tháng 7 và tháng 8 năm 1978. Có sửa chữa, bổ sung)


Nghệ thuật lập thế trận - một nội dung rất quan trọng của nghệ thuật quân sự - đã ra đời từ rất sớm trong lịch sử chiến tranh. Nó cũng được nghiên cứu và vận dụng khá phổ biến ở các nước phương Đông từ nhiều thế kỷ qua.


Ở Việt Nam, trong tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược lớn từ trước tái nay, thời nào cũng vậy, dân tộc ta luôn luôn phải đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh. So sánh lực lượng lúc ban đầu thường là bọn xâm lược có số quân đông hơn ta, có khi gấp nhiều lần. Để đánh thắng chúng, ngoài việc tính toán chuẩn bị về lực lượng, tinh thần và tiềm lực kinh tế, quân sự của đất nước, dân tộc ta luôn luôn phải nghiên cứu vận dụng nghệ thuật đánh giặc thích hợp, trong đó có nghệ thuật lập thế trận.


Trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ vừa qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội vào thực tiễn nước ta, kế thừa kinh nghiệm đánh giặc, giữ nước của dân tộc đồng thời tiếp thu những kinh nghiệm quân sự tiên tiến trên thế giới, đưa nghệ thuật quân sự của chiến tranh cách mạng Việt Nam phát triển lên những đỉnh cao mới; trong đó nghệ thuật lập thế trận đã có nhiều biểu hiện phong phú, sáng tạo. Trong điều kiện phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nghệ thuật quân sự của ta đã thành công xuất sắc trong việc lập thế trận, nên với lực lượng ít hơn địch đã tạo ra sức mạnh áp đảo quân địch, giành thắng lợi. Nghệ thuật lặp thế trận đã thực sự trở thành một bản lĩnh sở trường, một kinh nghiệm có tính chất truyền thống của quân và dân ta, một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.


I. THẾ TRẬN LÀ GÌ?

Thế trận là thế bố trí lực lượng, sắp xếp triển khai đội hình và tổ chức, thiết bị chiến trường trên một địa hình tác chiến nhất định đối trước quân địch, theo mưu kế tác chiến của ta.

Nghệ thuật lập thế trận, theo binh pháp thời xưa thì gọi là phép bày binh bố trận. Đó là khoa học về tìm chọn phương án tối ưu trong việc bố trí, sắp xếp đội hình tác chiến phù hợp với những điều kiện khách quan trên chiến trường, nhằm thực hành tác chiến chiến lược, chiến dịch hay từng trận chiến đãu. Bố trí thế trận giỏi, điều khiển thế trận tài thì với lực lượng ít có thể thắng kẻ địch có số lượng đông hơn, có khi đông hơn mình gấp bội. Lực lượng mạnh, thế trận hay thì thắng lợi càng lớn. Ngược lại, có lực lượng mạnh mà bố trí thế trận tồi thì trước một đối phương có lực lượng kém nhưng có thế mạnh, vẫn lâm vào thế bị động, đối phó lúng túng, phạm sai lầm, dẫn đến hao binh tổn tướng và thất bại. Trong lịch sử đấu tranh vũ trang từ xưa tới nay đã không hiếm trường hợp một đội quân nhỏ đứng trên chỗ hiểm, lại khéo bày binh bố trận, giỏi điều khiển tình huống chiến đấu, đã thắng oanh liệt những đội quân đông hơn.


Thế trận mang tính chất tổng hợp. Nó được hình thành trên cơ sở của nhiều yếu tố và sự tác động lẳn nhau giữa những yếu tố đó. Những yếu tố cơ bản là: lực lượng và hình thái bố trí của địch; lực lượng của ta; điều kiện địa hình và thiết bị chiến trường; nghệ thuật lập thế trận và tổ chức, chỉ huy của ta, v.v...


Thế trận có thể sớm hình thành đầy đủ, trong đó toàn bộ đội hình của các lực lượng tham gia được triển khai ngay từ đầu. Thế trận cũng có thể hình thành dần từng bước trong quá trình tác chiến. Nhưng nói chung thế trận không đứng im mà luôn luôn vận động, biến hóa từ lúc ban đầu cho tới khi kết thúc tác chiến. Thế trận là một yếu tố giữ vai trò quyết định đối với diễn biến của tình huống chiến đấu.


Thế trận và thế có mối quan hệ khăng khít với nhau. Trong cuộc đấu tranh giữa hai bên đối địch, thế là hình thái tạo ra điều kiện thuận lợi cho bên này và khó khăn cho bên kia trong việc phát huy sức mạnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra cho mình. Thế là kết quả của một quá trình đấu tranh làm chuyển biến so sánh lực lượng giữa hai bên, là kết quả sự vận động tổng hợp của nhiều yếu tố: khách quan và chủ quan, vật chất và tinh thần, lực lượng và thế trận... Trong đó thế trận là một yếu tố rất cơ bản để hình thành thế, tạo ra thê có lợi nhằm đánh bại đối phương, giành thắng lợi về mình.


Trong một cuộc chiến tranh, thường có rất nhiều thế trận khác nhau. Mỗi hình thức tác chiến có thể là một thế trận. Người ta thường chia ra thành thế trận chiến lược, thế trận chiến dịch và thế trận chiến đấu.


Xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân, trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ vừa qua, Đảng ta đã tổ chức xây dựng được một thế trận rộng lớn trên phạm vi cả nước: thế trận chiến tranh nhân dân. Trong thế trận chiến tranh nhân dân đó, thế trận chiến dịch và chiến đấu của ta phát triển hết sức phong phú, độc đáo và rất lợi hại.


Thế trận chiến tranh nhân dân của ta là thế trận đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy1 (Ngày nay được gọi là: kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh băng các binh đoàn chủ lực - B.T), tiến công với nổi dậy, kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, kết hợp tiêu diệt địch với làm chủ, làm chủ với tiêu diệt địch... trong một cuộc đấu tranh toàn diện trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong thế trận đó, mỗi người dân là một chiến sĩ giết giặc, cứu nước, mỗi làng xã, mỗi địa phương là một pháo đài phòng giữ vững chắc, tiến công mạnh mẽ; sức mạnh tại chỗ của mỗi địa phương và sức mạnh của cả nước được phát huy đến mức cao khiến cả nước trở thành một mặt trận thống nhất, mỗi địa phương là một trận địa tiến công tiêu diệt kẻ thù.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:25:40 am
Thế trận chiến tranh nhân dân tạo ra cho quân và dân ta thế chủ động tiến công địch, bao vây, chia cắt, giam chân địch, căng mỏng chúng ra mà đánh ở mọi nơi, trong mọi lúc, đồng thời tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch ở nơi hiểm yếu, nơi địch sơ hở, trên chiến trường ta lựa chọn. Chính dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân đã bày sẵn mà năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào miền Nam hòng tạo ra bước ngoặt căn bản về so sánh lực lượng có lợi cho chúng, quân và dân ta ở miền Nam vẫn giữ vững và không ngừng phát triển thế tiến công quân địch.


Giặc Pháp và giặc Mỹ tuy có số quân đông, được trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, lại chiếm giữ được một số vùng và địa bàn chiến lược, nhưng đụng vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta, chúng đều đã thất bại. Cả giặc Pháp lẫn giặc Mỹ đểu sa vào thế trận không có lợi cho chúng: càng đánh chúng càng bị hãm vào thế phòng ngự bị động, bị bao vây chia cắt, chỗ mạnh của chúng bị kiềm chế, chỗ yếu của chúng bị khoét sâu, muốn tập trung mà phải phân tán, có quân đông mà vẫn thiếu, vẫn sơ hở, liên tiếp bị tiêu hao và tiêu diệt.


Cậy có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự của một nước có số dân đông, có kỹ thuật hiện đại, đế quốc Mỹ đã dốc mọi khả năng chúng có thể huy động hòng phá vỡ thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Chúng đã đưa số quân của chúng lên tới mức gấp gần 10 lần số quân của ta. Những thành tựu mới nhất về vũ khí, kỹ thuật chiến tranh, chỉ trừ vũ khí hạt nhân, đã được chúng sử dụng vào chiến trường Việt Nam. Nhưng tất cả những cố gắng đó không giúp chúng thoát khỏi thế bị động, thế phòng ngự. Như các tướng lĩnh Mỹ đã thú nhận, khi quân Mỹ ở chiến trường miền Nam đạt tới con số cao nhất thì cũng là lúc số quân phải làm nhiệm vụ phòng thủ có tỷ lệ đông hơn số quân cơ động tới 8 lần.


Thế trận chiến tranh nhân dân của ta vô cùng nguy hiểm đối với kẻ thù, song lại tạo điều kiện rất thuận lợi cho lực lượng chủ lực cơ động của ta luôn luôn có khả năng đánh địch trên thế mạnh. Thế trận chiến tranh nhân dân là cái nền vững chắc cho ta tổ chức các thế trận chiến đấu, chiến dịch và tác chiến chiến lược để thực hành quyết chiến, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi quyết định cho toàn cuộc chiến tranh.


Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, thế trận chiến tranh nhân dân đã tạo cơ sở cho ta bố trí nhiều thế trận tác chiến chiến lược rất hay, rất độc đáo. Thế trận tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vừa là thế trận tiếp tục phát triển thế chủ động về chiến lược của ta, vừa là thế trận đập tan cuộc phản công chiến lược bằng kế hoạch Na-va của Pháp - Mỹ, giành thắng lợi quyết định, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thế trận trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam, Xuân 1968 đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật đánh bất ngờ, đánh hiểm của quân và dân ta. Thế trận tiến công chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã đạt tới đỉnh cao của việc làm chuyển biến nhanh nhất so sánh lực lượng giữa ta và địch về mặt chiến lược, của nghệ thuật tiến công thần tốc.


Nghệ thuật lập thế trận chiến dịch của ta đã đạt được nhiều thành công trong việc xây dựng và điều khiển thế trận chiến dịch tiến công. Thế trận chiến dịch của chiến tranh nhân dân trong hai cuộc kháng chiến vừa qua của quân và dân ta chủ yếu là thế trận chiến dịch tiến công. Cũng có một số chiến dịch được tiến hành bằng thế trận phản công như chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào. Thế trận chiến dịch phòng ngự cũng có nhưng rất ít.


Thế trận chiến dịch tiến công được thể hiện cụ thể ở việc chuẩn bị và thiết bị chiến trường, bố trí lực lượng, sắp xếp đội hình theo phương án tác chiến đã định, lựa chọn các hướng tiến công và định các bước, các giai đoạn của chiến dịch, dự kiến và chuẩn bị đối phó vỏi các tình huống phát triển trong chiến dịch. Trong thế trận chiến dịch, hình thành những thế khác nhau như thế công, thế vây, thế cắt, thế kìm, thế diệt; trong các thế đó lại có trạng thái của thế nổi và thế chìm. Trong thế trận chung của một chiến dịch tiến công, có thể hình thành một số hoặc toàn bộ các thế đó. Một thế trận càng gồm đầy đủ các thế đó bao nhiêu thì càng tạo cho ta có sức mạnh áp đảo địch bấy nhiêu. Nói chung, thế trận chiến dịch tiến công của ta bao giờ cũng có thế công, thế diệt và đây là những thế cơ bản nhất. Vì có tạo được thế công, thế diệt mới bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch, giành thắng lợi cho chiến dịch.


Các thế của một thế trận có quan hệ hữu cơ với nhau. Có thế công, thế cắt, thế vây, thế kìm mới tạo được thế diệt. Thế diệt càng mạnh, càng được phát huy tốt và sớm thì càng có tác động nhanh tới các thế khác. Nhìn chung trong một thế trận, nếu các thế đều vận động, phát triển tốt, kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau thì sức mạnh và tính vững chắc của chiến dịch tiến công càng được nhân lên gấp bội, có khi không lường hết được. Vì vậy, trong nghệ thuật thế trận, cần coi trọng vai trò của các thế, củng cố, giữ vững và phát triển các thế trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Làm được như vậy thì thế trận mới mạnh và vững, bảo đảm mỗi chiến dịch đểu có thể "sức dùng một nửa mà công được gấp đôi", như tổ tiên ta đã từng vận dụng thành công trong các cuộc đánh Tống, diệt Nguyên, trừ Minh và phá Thanh thuở trước.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:27:05 am
II. NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ LẬP THẾ TRẬN

Khi lập thế trận chiến dịch hay thế trận chiến đấu, đều phải xuất phát từ các căn cứ: tình hình địch, tình hình ta, điều kiện khí tượng - thủy văn, địa hình và tình hình nhân dân, tức là các điều kiện trước đây thường gọi là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Đó là những yếu tố cơ bản để lập thế trận trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào. Nắm vững những yếu tố đó để lập thế trận và đặt kế hoạch tác chiến đã trở thành một nguyên tắc của bất cứ nền khoa học quân sự nào, ở bất kỳ thời đại nào.


Nghiên cứu để nắm vững các yếu tố nói trên là điều mà ai cũng thấy được là cần thiết và phải làm. Nhưng phân tích một cách toàn diện, khách quan, khoa học các yếu tố đó, phát huy được tác dụng tổng hợp của chúng để tạo nên thế trận hay lại là một nghệ thuật rất cao.


Khi nghiên cứu các yếu tố tạo thành thế trận, cần vận dụng phương pháp tư duy biện chứng, phần tích cụ thể, toàn diện, sâu sắc từng yếu tố trong môì liên hệ với các yếu tố khác và trong sự vận động có tính quy luật của chúng, xem xét tốc động tổng hợp của các yếu tố đó đối với chiến dịch hay trận chiến đấu đã có quyết tâm chính xác và vạch ra cách đánh cụ thể; từ đó định ra cách bố trí thế trận phù hợp, bảo đảm cho cách đánh. Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu tổng hợp các yếu tố, lại phải tìm ra trong từng trường hợp cụ thể, yếu tố nào nổi lên hàng đầu và có tác dụng chủ yếu trong việc bố trí thế trận và trong nghệ thuật đánh địch. Cho nên, phải nắm vững và nghiên cứu toàn diện các yếu tố, nhưng lại phải thấy đầy đủ vị trí, tác dụng của từng yếu tố trong những điều kiện cụ thể.


Dưới đây là nội dung của một số yếu tố và sự vận dụng các yếu tố trong nghệ thuật lập thế trận.

1. Yếu tố về địch

Biết địch một cách đầy đủ, sâu sắc là một yếu tố rất cơ bản để lập thế trận. Biết địch không phải chỉ cần biết số quân, vũ khí, trang bị, cách bố trí của chúng, mà còn phải biẽt rõ mật chất lượng, tinh thần, kỷ luật, trình độ tác chiến, sở trưởng, chỗ mạnh, chỗ yếu và cả tính nết người chỉ huy của chúng. Đặc biệt là phải biết rõ âm mưu, thủ đoạn và quy luật hành động của địch. Có như vậy mới có cơ sở chính xác để đánh giá thế trận của địch có gì mạnh, yếu, khi bị ta đánh thì cả thế và lực của địch sẽ biến đổi thế nào.


Biết địch là để đánh địch. Biết chỗ mạnh của địch là để tìm cách phá cái mạnh, biết chỗ yếu là để khoét sâu cái yêu của chúng, lấy cái mạnh của ta đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch. Do đó, trong việc tìm hiểu địch phải hết sức tỉnh táo, khách quan, không để địch đánh lừa, song phải luôn luôn có ý chí, quyết tâm tiến công tiêu diệt địch, giành thắng lợi trong cuộc đọ sức, đọ tài với chúng. Từ đó mới có sự quan sát tinh tường, phán đoán sắc bén, phát hiện ra những sai lầm của địch hoặc tìm cách lừa địch, bố trí thế trận có thật, có giả, dẫn địch đến chỗ phạm sai lầm để đánh bại chúng.


Có thể lấy trận Can xảy ra năm 216 trước Công nguyên làm thí dụ về điều đó. Tướng Ha-ni-ban chỉ huy quân Các-ta-giơ có 5 vạn quân, hạ trại cố thủ ở cánh đồng gần thành Can. Đối thủ của Ha-ni-ban là tướng Va-rôn chỉ huy quân La Mã có gần 7 vạn quân. Cậy có số quân đông, Va-rôn bố trí đội hình thành thế trận tập trung dày đặc có chiều sau để đột phá bằng sức mạnh vào quân Các-ta-giơ. Với con mắt tinh tường và tài suy xét sắc sảo, Ha-ni-ban đã đánh giá đúng thế mạnh về đột phá của đối phương, đồng thời cũng phát hiện được sai lầm của đối phương là bố trí thế trận quá dày đặc trên chính diện hẹp nên khó cơ động và dễ bị bao vây từ hai bên sườn. Ha-ni-ban đã bố trí thế trận hình móng ngựa lồi về phía địch với lực lượng vừa đủ chống với lực lượng đột phá của địch, còn lực lượng mạnh thì bố trí ở hai bên sườn để cơ động bao vây vu hồi, đánh vào sau lưng quân địch và phá vỡ thế trận của chúng. Kết quả là chưa trọn một buổi, quân Các-ta-giơ ít hơn đã đánh bại hoàn toàn quân La Mã có số lượng đông gần gấp rưỡi, diệt 40.000, bắt gần 10.000 tên địch mà chỉ bị thương vong 6.000 người.


Thắng lợi của quân Các-ta-giơ là thắng lợi của nghệ thuật biết địch, biết mình, thắng lợi của nghệ thuật lập thế trận tài giỏi.

Trong lịch sử chiến đấu chống xâm lược của dân tộc ta, các võ công oanh liệt Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa... đều là những thắng lợi của mưu sâu kế hiểm trong nghệ thuật lập thế trận của tổ tiên ta.


Thế trận tiêu diệt gọn 10 vạn quân Minh do Liễu Thăng chỉ huy là một trong những điển hình của nghệ thuật lập thế trận sâu hiểm mà mạnh của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trước. Đây là trận đánh diễn ra trong thời kỳ kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Lúc đó, quân địch đã bị bao vây và đang cụm lại cố thủ trong các sào huyệt của chúng. Để tiếp ứng cho đạo quân chiếm đóng, nhà Minh tổ chức một đội quân viễn chinh lớn chia làm hai đạo tiến vào nước ta theo hai đường: một đạo do Liễu Thăng chỉ huy gồm 10 vạn tên, tiến sang theo đường Quảng Tây; một đạo do Mộc Thạnh chỉ huy gồm 5 vạn tên, tiến sang theo đường Vân Nam. Với lực lượng cố thủ còn khá đông và vẫn chiếm giữ nhiều địa bàn chiến lược quan trọng, nhà Minh hy vọng với 15 vạn quân mới sang sẽ có thể tiến hành một cuộc phản công chiến lược, trong đánh ra ngoài đánh vào để chuyển bại thành thắng.


Như vậy, thế của địch không phải không có mặt mạnh; so sánh lực lượng xét về quân chủ lực tập trung thì địch có số lượng đông hơn ta. Song về cơ bản, địch đã ở thế yếu, thế thua không sao cứu vãn nổi. Bọn địch đang bị vây hãm không đủ sức phá vỡ vòng vây, bọn mới kéo sang chỉ hùng hổ bên ngoài. Mộc Thạnh vừa tiến vừa thăm dò; đối với đạo quân này, ta có thể kìm giữ chúng rồi tiêu diệt sau. Còn Liễu Thăng thì hung hăng kiêu ngạo, nắm trong tay một đạo quân lớn, nhưng như bộ thống soái nghĩa quân đã vạch rõ, Liễu Thăng tiến quân sâu vào nước ta sẽ không thể không bị "hãm vào thế trong miệng cọp".


Nghĩa quân quyết định lập thế trận "vây thành diệt viện" trên quy mô chiến lược, tập trung lực lượng chủ yếu tiêu diệt đạo quân lớn nhất, mạnh nhất của địch do Liễu Thăng trực tiếp chỉ huy từ đường Quảng Tây tiến vào nước ta. Thế trận lập ra để tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng được Nguyễn Trãi gọi là thế trận "phục binh giữ hiểm đập gãy tiên phong". Nếu so sánh lực lượng quân chủ lực tập trung thì trong trận này, địch có 10 vạn, còn nghĩa quân có 5 vạn. Nhưng thế trận của ta là lấy thế mạnh đánh địch đông mà yếu, tận dụng thế hiểm của địa hình, liên tục tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng các trận mai phục, tiến lên tiêu diệt hoàn toàn quân địch.


Như ta đã biết, nghĩa quân đã liên tiếp tiêu diệt từng bộ phận quân Liễu Thàng bằng các trận Chi Lăng, Cần Trạm, Xương Giang. Trong các trận Chi Lăng, Cần Trạm, ta dựa vào thế hiểm của địa hình để lập thế trận mai phục tiến công. Trong trận Xương Giang, ta lập thế trận bao vây quân địch đã ở thế bị cô lập, tướng mất, quân thua sau mấy trận liên tiếp. Kết quả là với nghệ thuật nắm địch, phân tích chính xác mặt mạnh, mặt yếu của địch, nắm vững tính nết của từng tên tướng chỉ huy của chúng, nghĩa quân Lam Sơn đã lập thế trận giỏi, dùng 5 vạn quân ta diệt 10 vạn quân địch gồm cả các tướng lĩnh chỉ huy của chúng.


Ngày nay, nguyên tắc phải "biết địch" không khác, nhưng nghệ thuật nắm địch và phán đoán về địch thì đã phát triển rất nhiều.

Trong chiến dịch, biết địch không chỉ hạn chế trong phạm vi địa bàn tác chiến mà còn phải biết địch từ gốc, tức là hiểu sâu cả âm mưu, chủ trương chiến lược, thủ đoạn tác chiến cũng như quy luật hành động của địch tại chiến trường. Như vậy, ta mới có đầy đủ cơ sở để phán đoán và dự kiến được đường đi, nước bước của địch, từ đó mà bày mưu tính kế, bố trí thế trận hiểm hóc để tiêu diệt chúng.


Cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở đường số 9 - Nam Lào của địch bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1971, nhưng do nắm chắc âm mưu và chủ trương chiến lược của địch nên ta đã sớm phán đoán trước ý đồ của chúng mở cuộc hành quản này. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1970, ta đã tiến hành công tác chuẩn bị chiến trường, tổ chức lực lượng và hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến dịch. Vì vậy, trước khi quân địch bắt đầu hành quân vượt biên giới Việt - Lào, ta đã cùng với các lực lượng bạn triển khai xong thế trận. Kết quả là cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch nhằm đánh phá hậu cần, cắt đường tiếp tế chiến lược của ta, đã bị đánh bại hoàn toàn.


Trong chiến dịch Sa Thầy ở mặt trận Tây Nguyên tháng 10 đến tháng 11 năm 1966, ta đã nắm vững quy luật hoạt động của quân Mỹ là: mỗi khi phát hiện lực lượng của ta, chúng thường dùng trực thăng đổ quân "nhảy cóc" vào phía sau lưng ta hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng của ta. Từ đó, ta đã bố trí thế trận ở khu vực sông Sa Thầy, tiến hành nghi binh lừa địch, dụ chúng vào những khu quyết chiến ta đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt chúng. Kết quả là trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt 2.400 tên địch (có hơn 2.000 tên Mỹ), góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của giặc Mỹ.


Những ví dụ trên cho thấy: biết địch càng rộng, càng sâu, càng cụ thể, chính xác bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho ta có cách đánh hay, lập thế trận tốt và điều khiển được địch để tiêu diệt chúng dễ dàng, thuận lợi bấy nhiêu.


Đi đôi với biết địch, còn phải chú ý không để địch biết ta, kể cả những điều ta biết được về chúng. Phải triệt để giữ bí mật và dùng mọi biện pháp nghi binh, ngụy trang để bưng tai, bịt mắt địch, hướng chúng vào những hoạt động sai lầm và qua đó bộc lộ thêm những sơ hở, những chỗ yếu khiến ta có điều kiện nhanh chóng tiêu diệt chúng.


Trong chiến tranh hiện đại, việc nắm địch chính xác, kịp thời càng trở nên quan trọng và phức tạp. Ngày nay, các phương tiện vô tuyên điện được sử dụng rộng rãi trong các lực lượng vũ trang, cuộc chiến đấu trên làn sóng điện, được gọi là chiến tranh vô tuyên điện tử, đã và đang phát triển mạnh. Dù biết đầy đủ về địch, cần sử dụng tốt các phương tiện trinh sát điện tử kết hợp chặt chẽ với các biện pháp nắm địch cổ truyền. Có như vậy mới có khả năng nắm địch kịp thời, biết địch đầy đủ, chính xác và có biện pháp tót để phá trinh sát địch, giữ bí mật của ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:28:06 am
2. Yếu tố về ta

Biết ta là một yếu tố cơ bản quyết định việc hình thành thế trận. Biết ta là để tổ chức, sắp xếp, bố trí lực lượng đúng nhằm phát huy được sở trường chiến đấu và sức mạnh cao nhất của các lực lượng vũ trang ta.


Nắm tình hình ta phải đầy đủ, chính xác cả về sốlượng và chất lượng trên các mặt: tinh thần, tu tưởng, tổ chức, trang bị, vũ khí, trình độ tác chiến của tất cả các lực lượng, nhất là trình độ lãnh đạo, chỉ huy của cán bộ các cấp. Trên cơ sở đó, đánh giá một cách thật khách quan chỗ mạnh, chỗ yếu và khả năng tiêu diệt địch của từng lực lượng, từng đơn vị. Nắm cho được thực chất tình hình ta về mọi mặt đúng với yêu câu, đó là cả một nghệ thuật.


Nắm tình hình ta có nội dung rất phong phú và phải trải qua một quá trình, trong đó người chỉ huy triển khai toàn bộ các hoạt động đối với đơn vị: nuôi quân, quản lý, giáo dục, rèn luyện bộ đội, tổ chức chỉ huy đơn vị công tác chiến đấu. Đó cũng là quá trình cán bộ, chiến sĩ cùng nhau chung sức xây dựng đơn vị, đoàn kết gắn bó với nhau, hiểu nhau, trên dưới một lòng, tin tưởng lẫn nhau, hiệp đồng ăn ý, cùng nhau khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.


Nghệ thuật nắm tình hình ta còn thể hiện ở chỗ ngay trong quá trình luyện quân đã xây dựng và tăng cường từ sự nhất trí về tư tưởng, quyết tâm, phương châm tác chiến, vận dụng chiến thuật, kỹ thuật đến sự hòa hợp về tâm tư, tình cảm trong sinh hoạt hàng ngày của bộ đội. Như vậy, nắm tình hình ta không phải chò đến lúc ra quân mới làm. Tất nhiên khi bước vào chiến đấu, cần nắm chắc lại một lần nữa tình hình về mọi mặt, xem xét những vấn đề mới phát sinh, những vấn đề còn tồn tại mà quá trình rèn luyện chưa kịp giải quyết, những vấn đề phải đến khi ra quân mới có điều kiện đánh giá như: lực và thế của ta thế nào, chỗ nào còn yếu cần khắc phục, những mặt cần thiết phải giải quyết? So sánh giữa thế ta và thế địch ra sao? v.v...


Năm 1789, vua Quang Trung từ Phú Xuân tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh, khi dừng lại ở Thọ Hạc (Thanh Hóa) làm lễ "thệ sư" (một hình thức động viên quân sĩ) đã truyền cho nghĩa quân tinh thần quyết chiến quyết thắng và niềm tin mãnh liệt. Ông ra lệnh: "Bớ chư quân! Phàm ai bằng lòng chiến đấu thì hãy vì ta giết sạch quân giặc. Nếu ai không muôn thì hãy xem ta giết vài vạn người trong một trận. Đó không phải là chuyện lạ đâu". Sách Lê quý ký sự mô tả quang cảnh lúc đó như sau: "Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đổi màu. Rồi chiêng trống đồng thời khua vang, quân lính gấp đường ra Bắc". Vốn tự mình xây dựng, rèn luyện quân đội, Quang Trung nắm quân rất chắc và hết lòng tin tưởng vào tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội. Song ngay trong quá trình hành quân ra Bắc (khoảng một tháng), bằng những cố gắng lớn lao, Quang Trung không ngừng tiếp tục bổ sung, chấn chỉnh, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của quân đội, tạo nên những điều kiện chính trị, quân sự cần thiết để chiến thắng quân địch bằng những đòn tiến công sấm sét.


Với nghệ thuật luyện quân và cầm quân tài giỏi, với lòng tin sắt đá ở quân đội thuộc quyền mình, Quang Trung khang định mạnh mẽ: "Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh" (Hoàng Lê nhất thống chí), và hạ quyết tâm dứt khoát: đánh tan quân giặc giải phóng thành Thăng Long trước ngày mồng sáu tháng Giêng để ngày mồng bảy sẽ mở tiệc mừng chiến thắng giữa kinh thành.


Sở dĩ Quang Trung nắm quân chắc, điều khiển quân giỏi là do ông có quan điểm đúng đắn về xây dựng quân đội: "Quân đội chỉ cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều", và thắng bại trong chiến tranh "không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít" (Tây Sơn bang giao tập).


Trên cơ sở nắm vững chất lượng, bản lĩnh chiến đấu của quân đội cùng với tài năng chỉ huy của mình, trong suốt cuộc đòi chinh chiến lúc vào Nam, khi ra Bắc, hết dẹp Trịnh, Nguyễn đến diệt Xiêm, phá Thanh, lần nào Quang Trung cũng bày được thế trận lợi hại và cũng chỉ bằng một trận quyết chiến đã tiêu diệt và đánh bại quân thù có số lượng lớn hơn mình gấp bội.


Phương pháp đánh giá so sánh lực lượng giữa ta và địch một cách tổng hợp, cả thế và lực, cả số lượng và chất lượng... là nét nổi bật, xuyên suốt của lý luận khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nó xuất hiện từ rất sớm. Tổ tiên ta xưa kia vận dụng phương pháp ấy tuy còn thô sơ nhưng đã có những thành công xuất sắc. Ngày nay, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta đã nắm vững và phát huy phương pháp đó lên một trình độ mới. Phương pháp ấy rất khác biệt với học thuyết về "binh số" (ưu thế về số lượng) của nhiều nhà lý luận quân sự nước ngoài thời xưa cũng như thời nay.


Trong lịch sử phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam, tổ tiên ta có lý luận khác với thuyết dùng binh của Tôn Tử: "Gấp mười thì mới vây diệt được địch" còn "ít mà đánh địch đông thì không tránh khỏi bị địch diệt và bắt làm tù binh". Tổ tiên ta khẳng định: "Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi". Tất nhiên từ xưa tới nay, lý luận quân sự Việt Nam cũng rất coi trọng số lượng. Chúng ta không đánh giá thấp mặt mạnh của những kẻ địch xâm lược có số lượng đông, có trang bị vũ khí nhiều và hiện đại hơn ta. Để khắc phục chỗ mạnh đó của địch, dựa vào tính chất chính nghĩa của chiến tranh, chúng ta động viên toàn dân tham gia giết giặc, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ. Lực lượng cầm vũ khí được tổ chức, huấn luyện, trang bị thích hợp, được chuẩn bị chu đáo, có tinh thần quyết đánh và biết đánh thắng địch. Do đó, khi nghiên cứu tình hình ta, phải tính toán đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng, song trên cơ sở số lượng nhất định, bao giờ cũng phải xem trọng yếu tố chất lượng, lấy chất lượng cao của ta thắng số lượng đông của địch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:29:52 am
3. Một số yếu tố địa lý quân sự

Trước đây ta thường gọi yếu tố này là "thiên thời, địa lợi". Ngày nay, qua quá trình phát triển của khoa học quân sự, các hiểu biết về trời, về đất đối với quân sự đã được tổng hợp lại thành môn khoa học về địa lý quân sự.


Mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch bao giờ cũng diễn ra trong không gian và thời gian cụ thể nhất định. Muốn bố trí thế trận, không thể không dựa vào một yếu tố cơ bản là yếu tố địa lý quân sự. Do đó, phải nghiên cứu cụ thể các điều kiện địa lý tác động đến quân sự để vận dụng cách đánh và bố trí thế trận cho phù hợp.


a) Khí tượng - thủy văn:

Khí tượng - thủy văn là những hiện tượng trong thiên nhiên diễn ra có quy luật như: mưa nắng, nóng lạnh, gió bão, sương mù, băng tuyết, hạn, lụt, thủy triều... Các hiện tượng trên ít nhiều đều có tác động trực tiếp tới hoạt động quân sự. Trong việc bố trí thế trận, phải hết sức tránh tác hại do các hiện tượng tự nhiên gây ra cho ta, đồng thời nghiên cứu lợi dụng nó để tăng cường thế trận của ta, làm yếu thế trận của địch.


Trước đây, Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đều đã lợi dụng yếu tố thủy văn, bày trận trên sông Bạch Đàng để đánh thắng thủy quân của giặc. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, chúng ta cũng thường lợi dụng đêm tối, sương mù để triển khai thế trận tiếp cận địch, để bày trận tập kích, phục kích và cũng thường lợi dụng thời tiết mùa khô để tổ chức các chiến dịch tiến công.


Muốn lợi dụng thiên nhiên, phải nắm cho được quy luật của thiên nhiên và hành động đúng với quy luật đó mới tận dụng được thế lợi do thiên nhiên tạo ra để bày thế trận tiêu diệt địch.


b) Địa hình:

Địa hình là một yếu tố cơ bản chi phối trực tiếp tới thế trận. Thế trận không thể tách khỏi địa hình. Ta phải nghiên cứu các mặt lợi hại của địa hình, khai thác, cải tạo địa hình, tận dụng thế hiểm của địa hình để tăng thêm sức mạnh và tính vững chắc cho thế trận của ta. ở Việt Nam có rất nhiều loại địa hình: rừng núi, đồng bằng, làng mạc, sông ngòi, ven biển, thành phố, thị xã... mỗi loại có đặc điểm riêng. Mỗi loại địa hình có nhiều dạng khác nhau, mỗi địa bàn lại thường có nhiều loại địa hình xen kẽ với nhau.


Chiến đấu ngày nay không chỉ diễn ra trên mặt đàt mà cả ở trên không, trên mặt nước và dưới nước. Song giữ vai trò quyết định là chiến đấu trên mặt đất. Bởi vì chiến đấu trên không, trên biển nếu không có chỗ dựa trên mặt đất thì cũng không có thế vững và không có lực chi viện mạnh. Tất nhiên trong chiến tranh cũng có những trận chiến đấu và chiến dịch độc lập trên biển, trên không, nhưng thắng lợi của chiến tranh cuối cùng cũng phải giải quyết trên mặt đất.


Các tướng giỏi thời xưa đều căn cứ vào địa hình để bày trận. Trong sách Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ có đoạn bàn về phép bày trận như sau:

"Nếu ở đồng bằng nội rộng thì kết trận tròn..."

"Nếu gặp chỗ đất gập ghềnh hiểm trở thì biến làm trận cong..."

"Nếu gặp chỗ đường cái rộng lớn thì nên bày trận thẳng..."

"Nếu như đường cong thì nên dùng trận nhọn..."

"Nếu như núi cao hiểm dốc, khấp khểnh gập ghểnh, sợ giặc đánh bất ngờ mà đầu đuôi không ứng nhau được thì biến làm trận rắn dài thẳng tiến, hình như thế liên châu trường xà"1 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 488-491, 172).


Sách Binh thư yếu lược cũng nói: "Cái đạo hành binh, quý nhất là biết địa lợi"2 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 488-491, 172).

Chúng ta rất coi trọng yếu tố địa hình và đã rất sáng tạo trong việc lợi dụng thế lợi của địa hình để bày trận. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đầu năm 1953, Trung ương Đảng phân tích hình thái chiến trường toàn quốc và chỉ rõ: đại bộ phận quân địch tập trung ở Bắc Bộ nên các chiến trường khác có nhiều sơ hở; ở bắc Bộ, lực lượng địch lại tập trung lớn ở đồng bằng. Trong tình hình chiến trường đồng bằng có nhiều thuận lợi cho địch, chúng ta chỉ có thể giành và giũ được ưu thế lực lượng và chủ động tiến công địch trong điều kiện tác chiến ở rừng núi. Trên cơ sở đó, Trung ương Đảng đã xác định phương hướng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó với ta trên những hướng xung yếu; từ đó tạo ra những điều kiện thuận lợi mới cho ta diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng. Nắm vững phương hướng chiến lược đó, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng xác định chủ trương tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954 là: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở (Tây Bắc Việt Nam) và phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào mở hướng đánh địch ở Lào; đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh vào vùng tự do của ta, đi đôi với việc đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Khi phát hiện quân ta tiến lên Tây Bắc, địch vội cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Sau khi đã cân nhắc thận trọng, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn tiêu diệt tập đoàn cứ điểm quan trọng này.


Ở Điện Biên Phủ, địch có lực lượng mạnh và tổ chức phòng ngự chặt chẽ, nhưng có nhiều bất lợi về mặt địa hình. Về phía ta, ta có thể lợi dụng địa hình vùng núi cao bao quanh lòng chảo Điện Biên Phủ để xây dựng thế trận lợi hại, khống chế, bao vây chặt quân địch để tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Chín, 2023, 07:31:02 am
4. Yếu tố nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "... Thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết"1 (Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980, tr. 168).


Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo là chiến tranh nhân dân. Trong suốt cuộc chiến tranh cũng như trong mỗi chiến dịch, mỗi trận chiến đấu, bao giờ cũng có sự tham gia về nhiều mặt của nhân dân. Yếu tố nhân dân đã trở thành một yếu tố quyết định trực tiếp đối với toàn bộ quá trình và kết cục của chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu. Yếu tố nhân dân có quan hệ và tác động về nhiều mặt tới các lĩnh vực của nghệ thuật quân sự, trong đó có thế trận. Chính vì vậy, thế trận của ta có một đặc điểm nổi bật là tính nhân dân; nghệ thuật lập thế trận của ta luôn luôn coi trọng việc phát huy yếu tố nhân dân trong bố trí thế trận.


Yếu tố nhân dân tạo cho chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu của ta có sức mạnh hết sức to lớn về lực và thế, góp phần làm thay đổi về căn bản so sánh lực lượng giữa lực lượng vũ trang ta với quân xâm lược. Với sự tham gia, phối hợp, giúp đỡ của nhân dân, một đại đội, tiểu đoàn của ta có thể đương đầu với từng trung đoàn, sư đoàn địch.


Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua cho thấy, khi đã hình thành phong trào toàn dân đánh giặc, khi đã có lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân hợp đồng chiến đấu chặt chẽ với nhau thì về chiến lược, chiến dịch và trong từng trận chiến đấu, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta có thế trận rất mạnh và lợi hại, cài xen vào trận tuyến của địch và vây chặt lấy địch, tạo ra các thế mạnh như thế công, thế vây, thế cắt, thế kìm, thế diệt và thế nổi, thế chìm. Thế trận đó càng khoét sâu mâu thuẫn của địch giữa tập trung và phân tán, giữa tiến công và phòng thủ, làm cho thế trận của địch có nhiều nhược điểm, sơ hở. Còn ta thì do có yếu tố nhân dân, ta thực hiện được sự thống nhất chặt chẽ giữa tác chiến tại chỗ và tác chiến cơ động, đánh địch kịp thời bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào, làm cho lực lượng cơ động của ta có thể chủ động và nhanh chóng đánh vào những nơi hiểm yếu và sơ hở trong thế trận chiến lược, chiến dịch của địch. Phát huy được yếu tố nhân dân trong nghệ thuật lập thế trận, lực lượng vũ trang ta khi còn chưa đủ sức tập trung thành đơn vị lớn cũng như khi đã mạnh, đều có thể bố trí thế trận có lợi để tiêu diệt địch. Lực ta càng mạnh thì thế trận của ta càng lợi hại.


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh điều này. Dựa vào sức mạnh của toàn dân, của cả nước, các binh đoàn chủ lực cơ động của ta đã đồng thời triển khai tiến công địch trên toàn tuyến từ Trị - Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng đến Tây Nguyên, từ Xuân Lộc, Biên Hòa đến tây - nam Sài Gòn và suốt tuyến đường số 4 từ Sài Gòn đến Cà Mau. Các binh đoàn chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương hình thành thế trận tiến công rộng lớn và tạo nên lực lượng tiến công tổng hợp với thế tiến công thần tốc, mạnh mẽ, hiểm hóc, nhanh chóng phá vỡ và làm đảo lộn tuyến phòng thủ chiến lược của địch, khiến lực lượng chúng đông mà ở đâu cũng bị cắt, bị kìm, không thể tập trung được lực lượng đủ mạnh để ứng cứu cho nhau.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay, chúng ta phải tiếp tục không ngừng củng cố, tăng cường thế trận toàn dân đánh giặc trên cả nước cũng như ở từng địa phương và cơ sở, không ngừng củng cố, phát triển lực lượng vũ trang tại chỗ, cả bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ. Những việc đó chỉ có thể làm được khi ta có cơ sở chính trị vững mạnh trong nhân dân, khi nhân dân được giáo dục, chuẩn bị tốt cả về tinh thần, ý chí chiến đấu và về tổ chức tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Hoạt động xây dựng và tác chiến của quân đội có quan hệ mật thiết với việc củng cố, tăng cường thế trận toàn dân đánh giặc. Quân đội cũng làm tốt nhiệm vụ là nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, càng hiệp đồng và phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang quần chúng và nhân dân trong xây dựng và chiến đấu thì càng có điều kiện thuận lợi để phát triển lực lượng của mình và bố trí thế trận mạnh đẽ đánh địch.


Nắm vững tình hình nhân dân, góp phần bồi dưỡng sức dân và phát huy khả năng to lớn của nhân dân tham gia đánh giặc là một yếu tố tạo thành sức mạnh lớn lao của thế trận chiến đấu, thế trận chiến dịch và cho toàn cuộc chiến tranh. Đó là một trong những yếu tố cơ bản quyết định thắng lợi, là một nội dung sáng tạo trong nghệ thuật quân sự của dân tộc ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:14:26 am
III. NHỮNG YÊU CẦU CỦA THẾ TRẬN

Bày trận có mục đích cao nhất là tạo thế lợi cho mình, phá thế của địch, tiêu diệt và đánh bại đối phương, giành thắng lợi trong chiến tranh, chiến dịch và chiến đấu.

Thế trận là một bộ phận của việc tổ chức và thực hành một hình thức tác chiến cụ thể nên phải đáp ứng yêu cầu của nghệ thuật vận dụng cách đánh của hình thức tác chiến đó.

Vì vậy, muốh bố trí thế trận tốt, trên cơ sở những căn cứ chung về tình hình địch, tình hình ta, địa hình, thời tiết, tình hình nhân dân... còn phải dựa vào tính chất, nhiệm vụ, cách đánh và mưu kế của chiến dịch hay trận chiến đấu.


Nói chung mỗi thế trận đều cần đạt được những yêu cầu chính sau đây:

1. Ưu thế về sức mạnh

Bày trận là nghệ thuật tạo thế. Thế ở trong một thế trận, một mặt do bản thân sức mạnh của các lực lượng tham gia thế trận, mặt khác do mưu kế bố trí lực lượng khôn khéo mà tạo nên. Bởi vậy, vận dụng mưu kế để tạo thế là cái lõi của nghệ thuật bố trí thế trận. Có mưu hay kế giỏi thì dù lực lượng ít vẫn có thể tạo nên nhiều thế tốt và thế tốt sẽ làm cho sức mạnh được nhân lên gấp bội. Có như vậy mới tiêu diệt được địch, mới giải quyết được một vấn đề có tính quy luật là "mạnh được, yếu thua". Cho nên yêu cầu đầu tiên, quan trọng nhất của việc lập thế trận là tạo ưu thế sức mạnh.


So sánh lực lượng giữa hai bên đối địch trong từng trận hay trên toàn cục đều có trạng thái cơ bản là một bên mạnh, một bên yếu hoặc hai bên ngang nhau. Bất kể tình hình so sánh lực lượng thế nào, ta đều phải đánh thắng. Nếu lực lượng ta chưa mạnh hơn hoặc tương đương với địch thì ta phải tạo được sức mạnh hơn địch để đánh thắng chúng. Nếu ta đã mạnh thì phải làm cho ta càng mạnh thêm để giành thắng lợi cao nhất. Vì vậy, yêu cầu của việc bố trí thế trận là phải làm sao phát huy được cao nhất sức mạnh của ta, khắc phục mặt yếu của ta, đồng thời hạn chế chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng, buộc chúng phải chiến đấu trong thế yếu, thế không thuận lợi.


Để thực hiện tốt yêu cầu này, trong việc bày mưu tính kế, trước hết thường phải cân nhắc rất kỹ việc chọn hướng (mục tiêu) tác chiến, chọn khu vực quyết chiến để đánh đòn quyết định tiêu diệt địch. Tùy theo sự so sánh lực lượng giữa ta và địch, việc chọn hướng và khu vực quyết chiến có thể theo nguyên tắc như sau:

Nếu lực lượng ta mạnh hơn địch, có thể đánh vào nơi địch mạnh.

Nếu lực lượng ta tương đương với địch, có thể đánh vào nơi địch tương đối mạnh.

Nếu lực lượng ta yếu hơn địch, thường đánh vào nơi địch sơ hở (yếu hoặc tương đối yếu).

Song, dù lực lượng so sánh thế nào, việc chọn hướng tiến công chủ yếu và khu vực quyết chiến cũng đòi hỏi trình độ nghệ thuật rất cao. Hướng chủ yếu thường nên chọn vào nơi hiểm yếu của địch, đánh mạnh vào đó sẽ làm cho thế trận địch lung lay hay có thể sụp đổ hoàn toàn. Chọn nơi hiểm yếu đồng thời là nơi địch tương đối yếu và sơ hở thì thắng lợi sẽ càng nhanh hơn, dễ dàng hơn.


Thực tiễn chiến đấu cho thấy, nơi hiểm yếu, chỗ sơ hở của một bên nào đó không phải chỉ do bản thân bên đó gây ra mà còn do thế trận của đối phương tạo nên nữa. Thế trận của Mỹ - ngụy trong chiến tranh vừa qua có nhiều sơ hở, nhiều nơi hiểm yếu vì nó đụng đầu với thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Cho nên lập thế trận giỏi không những phải chọn đúng hướng chủ yếu, khu vực quyết chiến mà còn phải tạo cho ta nhiều khả năng lựa chọn. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước các cuộc tiến công chiến lược của ta, Mỹ - ngụy đều lúng túng và phạm sai lầm khi phán đoán hướng tiến công chủ yếu của ta. Bởi vì trưởc thế trận chiến tranh nhân dân trùng điệp của ta, ở đâu chúng cũng thấy bị uy hiếp, có khả năng bị ta tiến công, cả ở phía trước, bên sườn hay phía sau lưng.


Có xác định được đúng khu vực quyết chiến để đánh đòn quyết định thì mới hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến dịch hay chiến đấu. Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch hay cả cuộc chiến tranh nói chung, hai bên tham chiến bao giờ cũng đi đến chỗ đưa lực lượng chủ yếu của mình ra đối chọi với đối phương. Cuộc chiến lúc đó sẽ diễn ra quyết liệt nhất, và cuối cùng thắng bại của trận chiến đấu, chiến dịch hay toàn cuộc chiến tranh là do cuộc đọ sức đó quyết định. Thông thường cuộc chiến đấu đó diễn ra trên hướng chủ yếu, nên khu vực quyết chiến thường thống nhất với hướng chủ yếu. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học kỹ thuật quân sự, quân đội ngày càng có sức cơ động cao nên hướng tác chiến và so sánh lực lượng trên chiến trường thay đổi, chuyển hóa nhanh chóng. Trong chiến tranh hiện đại, để thực hiện được việc đánh đòn quyết định trên khu vực quyết chiến, cần phải tổ chức đội đự bị mạnh, có sức cơ động cao thì mới đối phó với các tình huống được chủ động và kịp thời.


Trong một chiến dịch hay một trận chiến đấu, lực lượng ta có thể lớn hơn, bằng hoặc kém địch. Nhưng nhất thiết phải bảo đảm tập trung lực lượng ưu thế trên hướng chủ yếu và cho trận then chốt quyết định. Vì vậy nghệ thuật chọn hướng chủ yếu và khu vực quyết chiến để đánh trận then chốt có quan hệ trực tiếp đến việc tổ chức, sắp xếp lực lượng sao cho thế trận giành được ưu thế sức mạnh. Đi đôi với tập trung lực lượng ưu thế, phải tìm được thế đánh có lợi thì mới phát huy được ưu thế đó, làm tăng hơn nữa sức mạnh của ta.


Thế trận của ta buộc địch tuy đông mà phải phân tán, bị tiêu diệt, hao mòn, mệt mỏi, có lực lượng mạnh nhưng vẫn bộc lộ nhiều sơ hở. Ta thì tập trung được lực lượng đúng vào chỗ có lợi thê để đánh vào thế trận bị căng mỏng của địch. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, trên địa bàn từ Trị - Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Tây Nguyên... tới Sài Gòn, lực lượng ta và địch không hơn kém nhau bao nhiêu. Song do phát huy được sức mạnh của thế trận chiến lược, chọn đúng hướng tiến công chủ yếu, khéo lập thế trận chìm, nổi kết hợp với thế trận kìm địch, chia cắt địch, nên ta đã tạo được sức mạnh hơn địch, đánh đòn đầu tiên điểm trúng huyệt ở Buôn Ma Thuột dẫn đến việc đẩy nhanh sự sụp đổ của địch trên toàn chiến trường.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:17:29 am
2. Thế chủ động

Giành và giữ được thế chủ động trong suốt quá trình chiến tranh, chiến dịch hay trận chiến đấu luôn luôn là một yêu cầu hàng đầu đối với cả hai bên tham chiến. Bên nào "giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 137).


Thế trận chỉ có ưu thế sức mạnh thôi thì chưa đủ bảo đảm giành thắng lợi. Còn phải có cả thế chủ động nữa mới phát huy được ưu thế sức mạnh để diệt địch.

Nội dung của thế chủ động trong thế trận bao gồm: chủ động lựa chọn chiến trường, bố trí thế trận, chủ động lựa chọn thời cơ tiến công, triển khai các phương pháp và thủ đoạn tiến công, thực hiện các bước của chiến dịch hay trận chiến đấu theo kế hoạch đã đề ra. Trong thế chủ động đó, các lực lượng phải hiệp đồng, phối hợp tác chiến chặt chẽ, phải tạo được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia chiến dịch hay trận chiến đấu.


Để giành thế chủ động, hai bên đều cố gắng phát hiện lực lượng, ý định hành động của nhau và tìm mọi cách đánh lừa để gây cho đối phương bị bất ngờ, đối phó lúng túng. Thực tiễn chiến đấu chỉ rõ một bên đã mạnh và khôn khéo đến đâu cũng khó giành được toàn bộ quyền chủ động về mình và tước đoạt hết của đối phương mọi khả năng chủ động chống trả. Ví dụ, bên bị bao vây dù đã ở thế rất hiểm nghèo vẫn có khả năng chủ động thực hiện các trận phản kích để phá vây hoặc tiêu hao, tiêu diệt đối phương. Bởi vậy, dù đã giành và giữ được thế chủ động rồi vẫn không bao giờ được chủ quan, coi thường khả năng phản kích của địch.


Để giành và giữ thế chủ động trong thế trận, cần chú ý mấy yêu cầu sau đây:

- Thế trận phải kín đáo, vững vàng, có điều kiện tập trung và cơ động lực lượng.

- Phải hình thành được thế chia cắt, bao vầy, kìm giữ, nghi binh, ngăn chặn các hành động chống trả của địch, điều khiển địch theo mưu kế của ta, đẩy chúng vào thế bị cô lập, bị động đối phó, buộc địch phải đánh theo ý định của ta.

- Trong quá trình hình thành thế trận và quá trình tác chiến, phải tăng cường các hoạt động nghi binh lừa địch, kết hợp với các hoạt động tập kích của đặc công, pháo binh, không quân... gây cho địch những thiệt hại bất ngờ và buộc chúng phải đối phó lúng túng.

- Phải thấy trước những khó khăn và dự kiến mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra trong quá trình tác chiến để chuẩn bị sẵn các biện pháp khắc phục. Tất nhiên không ai có thể lường hết được tất cả những khó khăn, phức tạp nảy sinh trong cuộc đọ sức mất còn giữa hai bên đối địch. Nhưng giỏi lập thế trận thì có thể gạn lọc bớt những tình huống phức tạp, làm cho tình huống diễn biến đơn giản hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho ta nhanh chóng đánh bại kẻ địch.


Gạn lọc tình huống là một việc làm rất công phu, đòi hỏi phải bố trí một thế trận khá phức tạp. Thế trận càng công phu, phức tạp bao nhiêu thì diễn biến tác chiến sẽ giản đơn bấy nhiêu. Điều đó không có gì là mâu thuẫn. Vì nếu dự kiến được hết các tình huống phức tạp và có chuẩn bị sẵn sàng biện pháp đối phó, nếu bố trí được thế trận chặt chẽ, khiến quân địch nếu sa vào đấy sẽ không thể tự do hành động mà buộc phải hành động theo ý định của ta, thì như vậy tình huống diễn biến sẽ giản đơn hơn, yêu cầu xử trí ít phức tạp hơn, và do đó ta càng có điều kiện giành và giữ thế chủ động để đánh thắng quân địch nhanh chóng, dễ dàng hơn.


Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, ta đã lập một thế trận không những có khả năng tiến công địch ở Buôn Ma Thuột mà còn chia cắt, kìm chân địch trên toàn chiến trường Tây Nguyên, tạo thế đánh các loại địch phản kích và cả thế đánh địch rút chạy. Đó là một thế trận rộng lớn được chuẩn bị công phu và phức tạp, nhưng chính nhờ vậy mà ta đã loại trừ được những khả năng bất ngờ do địch gây ra.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:20:14 am
3. Thế tiến công đánh hiểm, đánh nhanh, đánh tiêu diệt

Như đã nói ở trên, mục đích của bày trận là tạo thế có lợi cho mình, phá được thế địch để tiêu diệt chúng. Nếu thế trận của ta đã có ưu thế sức mạnh và có thế chủ động, thi đương nhiên để phá thế trận địch và tiêu diệt dịch, còn phải tạo thế tiến công, đánh hiểm, đánh nhanh, đánh tiêu diệt.


Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch, đẽ thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt dịch, giải phóng hoặc bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân, người ta thường phân chia các nhiệm vụ cụ thể của từng bước chiến đấu, từng giai đoạn chiến dịch: nhiệm vụ trước mắt, nhiệm vụ tiếp sau, nhiệm vụ phát triển, v.v...


Trong các nhiệm vụ nói trên, lại phân chia cho các lực lượng chiến đấu, các binh chủng trên các địa bàn, các hướng khác nhau, như hướng chủ yếu, hướng thứ yếu, hướng phối hợp... hoạt động ở chính diện hoặc bên sườn, phía sau hoặc ở ngay trong lòng địch.


Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch, tất cả các lực lượng tham gia tác chiến, phục vụ tác chiến, dù làm bất cứ nhiệm vụ gì, vào lúc nào, cũng đều nằm trong thế trận chung và dựa trên sức mạnh của toàn thế trận để thực hiện nhiệm vụ của mình. Do đó mặc dù là thành phần lực lượng nào, làm nhiệm vụ gì, bản thân từng lực lượng cũng phải quán triệt tư tưởng tiến công và tích cực hành động tiến công địch. Thế tiến công đối với thế trận không những phải thể hiện ở thế tiến công chung của toàn bộ các lực lượng, mà từng bộ phận, từng hướng cũng phải có thế tiến công. Có như vậy mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia tốc chiến.


Trong bố trí thế trận, nếu tạo được ưu thế sức mạnh và nắm được quyền chủ động là đã có cơ sở để tạo thế tiến công. Song thế tiến công có hình thành được hay không, có thể trở thành thế tiến công nhanh, mạnh, có hiệu suất tiêu diệt địch lớn hay không cũng còn tùy thuộc vào nghệ thuật vận dụng cách đánh, nghệ thuật bố trí thế trận kìm chân địch, cô lập địch.


Trong các trận chiến đấu, các chiến dịch giành được thắng lợi giòn giã, thế trận thường bao gồm những thế như: thế vây, thế cắt, thế kìm, thế tiến công, thế diệt. Trong các thế nói trên, có một số được thể hiện rõ ràng, cụ thể ngay trong việc bố trí lực lượng đối chọi với địch. Đó có thể gọi là thế nổi. Có một số thế địch không thấy được, nhưng nếu chúng hành động hoặc khi cuộc chiến diễn ra đến lúc nào đó thì mới xuất hiện. Đó gọi là thế chìm, thế ém trước, thế mai phục. Ngoài ra cũng có những thế đặc biệt lợi hại có thể gọi là thế hiểm, sâu, dài, sắc, nhọn... Ví dụ, thế bố trí đánh ngay được vào chỗ hiểm yếu của địch, hoặc dùng đơn vị tinh nhuệ (đặc công) luồn sâu, ém sẵn, bất ngờ xuất hiện đánh vào cơ quan chỉ huy đầu não, kho tàng, binh khí kỹ thuật của địch... Một thế trận gồm đủ các thế như trên là một thế trận hay, tạo điều kiện cho ta tiến công lợi hại, đánh địch cả phía trước, phía sau, bên sườn, tiêu diệt địch mau chóng và gọn ghẽ.


Muốn lập được thế trận như vậy, phải triệt để tận dụng yếu tố bí mật, bất ngờ trong quá trình triển khai thế trận. Địch bao giờ cũng tìm mọi cách phát hiện, chống phá từ lúc ta chuẩn bị cho đến lúc kết thúc chiến dịch, chiến đấu. Ta phải tìm mọi biện pháp khắc phục, có khi phải tiếp tục tạo thế trong quá trình tác chiến. Thực tế cho thấy, trong nhiều chiến dịch, để tạo được thế hay ta phải tranh chấp quyết liệt với địch. Giải quyết được tốt điều đó ta sẽ làm rung chuyên thế địch, dẫn tới làm sụp đổ hoàn toàn thế trận của chúng. Tuy nhiên phải kiên quyết giữ vững thế trận đã tạo lập để thực hiện cho được mưu kế của chiến dịch, chiến đấu.


Những kinh nghiệm về lập thế trận với đầy đủ các thế mạnh như trên đã phát triển ngày càng phong phú qua thực tiễn các chiến dịch Biên Giới, Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp, các chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, và một số chiến dịch khác nữa.


Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, thế trận đã được tổ chức khá rộng lớn với nhiều thế rất lợi hại. Thế trận Tây Nguyên càng thêm phần lợi hại trong sự bố trí phối hợp chặt chẽ với thế trận chiến lược nói chung, với các thế trận của ta ở Trị - Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, ở xung quanh Sài Gòn. Các thành phần của thế trận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và tác động lẫn nhau, hợp thành một thế trận hoàn chỉnh, vừa vững mạnh vừa sắc nhọn.


Thế trận đó có những nét nổi bật như:

- Thế vây, cắt: vừa vây, cắt chiến lược giữa chiến trường Tây Nguyên với các chiến trường khác; vừa vây, cắt chiến dịch giữa bắc với nam Tây Nguyên. Các thế đó đều phát huy tốt tác dụng, đã làm cho quân địch ở Tây Nguyên bị cắt ra thành nhiều khu vực và nhiều cụm. Từng cụm, khu vực lại bị vây, cắt, bị cô lập.

- Cùng với thế vây, cắt, ta đã tạo được thế kìm, hãm quân địch ở bắc Tây Nguyên, làm cho chúng bị giam chân, trói tay, đồng thời phải đối phó lúng túng với các đòn tiến công nghi binh của ta. Nên địch có lực lượng mà không phát huy được, lại bị suy yếu, hao mòn.

Các thế vây, cắt, kìm, hãm đã tạo ra cho ta thế chủ động hoàn toàn, còn địch thì bị dồn vào thế ngày càng bị động. Kết quả là với thế trận hay, mưu kế giỏi, ta đã thực hành tiến công như vũ bão; phương án dự kiến đánh chiếm Buôn Ma Thuột trong thời gian 5 - 7 ngày đã được thực hiện chỉ trong 30 giờ. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, thế trận của địch vỡ rất nhanh. Quân địch ở nam Tây Nguyên số bị diệt, số chạy trốn, quân cứu viện định đến cứu đồng bọn thì lại phải kêu kẻ cần được cứu đến cứu mình. Quân địch ở bắc Tây Nguyên hoang mang, tập đoàn chủ yếu của chúng chỉ mới nếm đòn nghi binh phối hợp của ta, đã vội vàng tháo chạy mà cũng không thoát.


Thực tiễn cho thây, trong chiến dịch Tây Nguyên, từ Đức Lập qua Buôn Ma Thuật đến Phước An, Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng, từ Kon Tura, Plây Cu ra Bình Khê, sân bay Gò Quánh và từ Cheo Reo đến Củng Sơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, sân bay Thành Sơn... các thế trận của ta đều phát huy được quyền chủ động và thế tiến công dũng mãnh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:20:55 am
IV. MƯU KẾ VÀ THẾ TRẬN

Mưu kế được thể hiện cụ thể trong ý định, chủ trương, kế hoạch tác chiến và trong toàn bộ quá trình lập thế trận, điều khiển thế trận, thế trận sâu hiểm phản ánh mưu cao, kế giỏi.

Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trước đây đều biết rõ mỗi khi ta tiến công ở đâu đều lập thế trận bao vây, chia cắt và tập trung lực lượng ưu thế đánh vào nơi hiểm yếu của chúng. Nhưng khi vào trận chúng vẫn không thể biết ta vây thế nào, cắt ở đâu, tập trung lực lượng ra sao. Đó là vì ta có mưu cao, kế giỏi trong khi lập thế trận.


Muốn đạt tới mưu cao, kế giỏi trong chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, phải trải qua sự nghiên cứu tổng hợp về địch, ta, địa hình và hình thái bố trí của hai bên trên chiến trường, cả kết luận đúng về chỗ mạnh, chỗ yếu, về âm mưu, thủ đoạn, quy luật hoạt động và phương thức tác chiến của địch, trên cơ sở đó mà lập mưu kế tiêu diệt, đánh bại địch.


Bày thế trận là có mưu kế và mưu kế bày thế trận cũng là mưu kế chung của chiến dịch. Nghiên cứu các yếu tố về địch, ta, địa hình và hình thái bố trí trên chiến trường đê lập mưu kế cũng là nghiên cứu các yếu tố để bày thế trận. Mưu kế và thế trận là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. Nghiên cứu nội dung của mối liên quan đó là điều hết sức cần thiết để nâng cao trình độ mưu kế trong lập thế trận, điều khiển thế trận.

1. Mưu kế giỏi quyết sụ thống nhất giữa khách quan và chủ quan

Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch hay toàn cuộc chiến tranh, bao giờ cũng có hai yếu tố khách quan và chủ quan. Khách quan là những hiện tượng thực tế về địch, ta, địa hình và hình thái bố trí của hai bên trên chiến trường. Chủ quan là những cái thuộc về nhận thức của con người đánh giá tình hình khách quan, từ đó định ra quyết tâm, chủ trương, kế hoạch tác chiến. Có mưu kế giỏi là nắm được quy luật khách quan và biết cách làm cho chủ quan chuyển biên phù hợp với thực tế khách quan. Trong đấu tranh vũ trang, nếu có lực lượng hơn địch mà đánh thắng địch thì đó là một việc làm theo chiều thuận, biểu hiện sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan: giữa ý muốn chủ quan đánh thắng và tình hình thực tế khách quan lực lượng mình đã mạnh hơn lực lượng địch. Tuy nhiên chiều thuận hay sự thống nhất đó giữa hai mặt khách quan và chủ quan cũng mới chỉ có trong phạm vi so sánh lực lượng lúc ban đầu. Trong quá trình tác chiến, so sánh lực lượng có thể thay đổi và tạo nên điều kiện khách quan mới khiến cho bên mạnh có thể trở thành yếu và ngược lại, do nỗ lực chủ quan, trình độ mưu kế của hai bên khác nhau.


Hai người đánh cờ, lúc đầu có số lượng quân ngang nhau, xếp quân giống nhau, nhưng kết quả là người thắng, kẻ thua. Người thắng là người có mưu kế hay, lập thế trận tài và điều quân giỏi. Trong đấu tranh vũ trang, cũng có lúc lực lượng hai bên ngang nhau, nhưng khác với đánh cờ, ngay từ đầu hai bên không xếp quân giống nhau mà mỗi bên đểu có mưu kế riêng để bố trí thế trận. Trong điều kiện đó, thắng được địch đã là hay rồi.


Thực tiễn hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta vừa qua cho thấy, có rất nhiều trường hợp ta và địch có lực lượng không cân xứng nhau. Địch có số quân đông, có khối lượng vật chất, trang bị lớn và hiện đại. Ta có số quân ít, vật chất, trang bị kém. Nhưng ta lại thắng địch. Đó mới là cái hay trong cái hay, cái hay do nghệ thuật mưu kế tạo ra. Đây là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận và thực tiễn đối với nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện phải chuẩn bị sẵn sàng để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chống các kẻ thù xâm lược có quân đông, súng nhiều.


Nhìn chung thì dùng nhỏ thắng lớn là có mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan. Muốn giải quyết mâu thuẫn đó không có cách nào khác là phải phát huy nỗ lực chủ quan rất cao, phát huy tính năng động cách mạng, tính sáng tạo trong nghệ thuật quân sự. Một nội dung cụ thể của nỗ lực chủ quan đó là nâng cao trình độ mưu kế, đánh thắng địch bằng trí thông minh.


Dùng mưu kế để giải quyết mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan thực chất là sự tính toán khoa học các điều kiện khách quan, chủ quan để có chủ trương hành động thật chính xác. Phải xem xét, phân tích hàng loạt điều kiện về địch, ta, địa hình, hình thái bố trí của hai bên, qua đó mà xác định cái gì khó khăn nhất ta phải và có thể khắc phục hay hạn chế được, cái gì có lợi ta cần tận dụng để phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của mình. Trên cơ sở đó, tính toán giải quyết lần lượt toàn bộ các mâu thuẫn, xác định chủ trương chính xác và kế hoạch khôn khéo để giành thắng lợi.


Muốn giải quyết các vấn đề trên, cần nắm vững hai khâu cơ bản là: mưu kế trong việc bày thế trận và vận dụng cách đánh. Bày thế trận là để thực hiện các cách đánh và muốn thực hiện cách đánh lại phải dựa trên thế trận. Cho nên mưu kế phải tính toán tới những chuyển biến của thế trận do cách đánh tạo nên và sự phát triển của cách đánh do tác động của sự chuyển biến thế trận. Cả hai khâu cơ bản nói trên cùng phát triển, hỗ trợ, tạo thế cho nhau sẽ làm cho các lực lượng tham gia chiến dịch, chiến đấu phát huy sức mạnh hơn địch và đánh lại chúng.


Mưu kế giải quyết được tốt hai khâu cơ bản trên chính là một yếu tố quyết định sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan, làm cho ta tuy ít hơn địch nhưng lại trở thành mạnh hơn địch để thắng chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:22:36 am
2. Mưu kế giải quyết các mâu thuẫn giữa ta và địch

Trong đấu tranh vũ trang, mâu thuẫn giữa dịch và ta diễn ra rất phức tạp, có mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, có mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu...

Quá trình giải quyết các mâu thuẫn lại diễn ra trong nhiều loại tình huống: có tình huống then chốt, tình huống then chốt quyết định và những tình huống phụ không có ý nghĩa quyết định. Tình huống này được giải quyết lại phát sinh tình huống mới. Quá trình xuất hiện và giải quyết các tình huống thường là những điều kiện để xuất hiện thời cơ. Mâu thuẫn cứ như thế diễn ra và nảy sinh phát triển, nhưng không có mâu thuẫn nào giống mâu thuẫn nào, không có tình huống nào giống tình huống nào.


Các mâu thuẫn nảy sinh, phát triển không phải ngẫu nhiên mà theo những quy luật nhất định, nên con người có thể nắm được, dự kiến được những khả năng, điều kiện phát sinh và hình thức biểu hiện của nó. Từ đó mà phát huy nỗ lực chủ quan, bày mưu tính kế, tạo điều kiện cho nó xuất hiện, hoặc ngược lại hạn chế không cho nó nảy sinh. Có những tình huống không thể dự kiến được hết, nhưng người chỉ huy có mưu kế giỏi phải biết đề phòng và sẵn sàng đối phó khi nó xảy ra. Có mưu kế giỏi thì khi giải quyết mâu thuẫn, có thể dự kiến được hết các tình huống và chủ động khắc phục tình huống khó khăn, tạo ra thời cơ, nắm thời cơ để giành thắng lợi. Ngược lại mưu không hay, kế không giỏi thì mâu thuẫn đã không giải quyết được mà còn phát triển thêm, tình huống xuất hiện càng phức tạp, khó khăn, chiến dịch, chiến đấu bị bế tắc hoặc thất bại.


Trong đấu tranh vũ trang, mâu thuẫn chủ yếu thường là mâu thuẫn giữa các tập đoàn lực lượng chủ yếu của hai bên, trong chiến dịch Xuân 1975 ở Tây Nguyên, mâu thuẫn chủ yếu thứ nhất là mâu thuẫn giữa lực lượng của quân và dân ta ở Tây Nguyên với lực lượng dự bị cơ động chiến dịch, chiến lược của địch ở đồng bằng và các chiến trường khác có thể được điều đến (gồm sư đoàn bộ binh 22 của quân đoàn 2 và sư đoàn dù tổng dự bị của địch). Mâu thuẫn lớn thứ hai là mâu thuẫn giữa lực lượng ta ở nam Tây Nguyên với tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên. Ta giải quyết hai mâu thuẫn trên bằng cách cắt đường và khống chế sân bay, không cho lực lượng cơ động của địch tới Tảy Nguyên và Buôn Ma Thuột; mặt trận Huế - Đà Nẵng đánh phối hợp, kìm giữ sư đoàn dù của địch ở Đà Nẵng.


Vì vậy có mưu hay kế giỏi là biết khôn khéo tính toán các điều kiện, khả năng để giải quyết đúng đắn các mâu thuẫn. Phải dự kiến cho hết các tình huống chiến dịch, chiến đấu có thể diễn ra, xác định tình huống nào là cơ bản, then chốt, gây khó khăn lớn nhất cho ta, để tập trung tìm cách giải quyết thích hợp. Thực tiễn đã chứng minh, sau khi ta đã xác định được các mục tiêu, cách đánh và phương pháp tiến công tiêu diệt địch thì mâu thuẫn mới, tình huống khó khăn, nguy hiểm có thể nảy sinh thường là kẻ địch sử dụng lực lượng cơ động các cấp, nhất là lực lượng tổng dự bị chiến lược, để phản kích hòng làm thay đổi cục diện trên chiến trường có lợi cho chúng.


Để giải quyết mâu thuẫn giữa hai tập đoàn chủ yếu của ta và của địch đối chọi nhau, cần có mưu kế trong việc bày thế trận và gạn lọc tình huống.

Mưu hay, kế giỏi là kết quả của việc nắm chắc tình hình địch, ta, địa hình, hình thái bố trí của hai bên, từ đó có những quyết định thật khôn khéo về lập thế trận. Thế trận đó phải làm sao địch không đoán được khu vực ta quyết định tiêu diệt chúng hoặc đến khi đoán được thì đã quá muộn không sao đối phó được nữa. Mưu kế trong lập thế trận còn phái thể hiện ở chỗ không để bị mắc mưu địch, không để có sơ hở mà dịch có thể lợi dụng để phá thế trận ta.


Một thế trận tốt là một thế trận bố trí sao cho có thể loại trừ được những tình huống gây khó khăn trở ngại lớn nhất cho ta. Tình huống là sự vận động của mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan, giữa địch và ta. Mục đích của việc lập thế trận là tạo các khả năng, điều kiện để thống nhất khách quan với chủ quan. Do đó, bố trí thế trận để thực hiện được mưu kế, gạn lọc tình huống, loại trừ tình huống nguy hại, thì như vậy là một thế trận rất phức tạp nhưng tình huống diễn biến sẽ giản đơn. Tuy nhiên, nói gạn lọc tình huống không có nghĩa là không cần chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống đột xuất có thể xảy ra.


Kinh nghiệm chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975 đã chứng minh điều đó. Ý định của Bộ chỉ huy chiến dịch là cô lập các lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột để tiêu diệt chúng. Tình huống lớn có thể xảy ra là địch dùng lực lượng mặt đất và đổ bộ đường không để ứng cứu và phản kích. Phải loại trừ được tình huống này thì mới bảo đảm thực hiện được ý định của chiến dịch. Mưu kế định ra là loại trừ các khả năng địch tăng viện đường bộ, bằng cách dùng lực lượng của Sư đoàn bộ binh 3 và trung đoàn 95 đánh cắt giao thông và chặn đường số 19, trung đoàn 25 chặn đường 21 làm cho sư đoàn 22 địch không thể đi tăng viện cho Tây Nguyên; đồng thời dùng Sư đoàn bộ binh 320 đánh cắt, chặn đường số 14 làm cho tập đoàn chủ yếu của địch ở Kon Tum, Plây Cu không sao đi ứng cứu được cho Buôn Ma Thuột.


Để hạn chế khả năng địch tăng viện bằng đường không, ta đã dùng trung đoàn đặc công tập kích, chiếm sân bay Hòa Bình, và dùng tên lửa phòng không A.72 khống chế không cho máy bay C.130 địch hạ cánh. Như vậy, địch chỉ còn khả năng dùng máy bay lên thẳng để tăng viện. Với khả năng này, lực lượng tăng viện của địch sẽ yếu hơn, ta có thể dễ dàng đối phó. Tuy nhiên để đề phòng các tình huống khác có thể xảy ra, ta vẫn chuẩn bị sẵn sàng lực lượng của Sư đoàn bộ binh 320 để cơ động đối phó, và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu) sau khi đánh Đức Lập xong thì lập tức cơ động về hướng đông - bắc Buôn Ma Thuột, sẵn sàng đánh quân tăng viện bằng máy bay lên thẳng của địch.


Chiến dịch đã diễn biến đúng như mưu kế của ta: sau khi mất Buôn Ma Thuột, quân địch đã dùng máy bay lên thẳng chở quân tăng viện vào đúng nơi ta dự kiến nên chúng vừa đổ quân thì lập tức bị Sư đoàn bộ binh 10 tiêu diệt.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:23:26 am
3. Mưu kế trong điều khiển thể trận và đối chọi tình huống

Thế trận vận động, biến hóa do hoạt động của hai bên đối địch, do sự vận động của cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Sự vận động của yếu tố chủ quan, một phần là do mưu kế và sự điều khiển thế trận của ta quyết định. Sự vận động của yếu tố khách quan thường là do địch đối phó gây ra.


Để thực hiện được mục đích của chiến dịch, tiêu diệt và đánh bại kẻ địch thì việc chủ động điều khiển thế trận vận động, biến hóa theo mưu kế định sẵn là thuận lợi nhất. Muốn vậy, phải điều khiển thế trận phát triển một cách nhịp nhàng, ăn ý, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Điều khiển thế trận là căn cứ vào tình hình diễn biến chiến đấu mà điều chỉnh, bố trí lại lực lượng bổ sung phương pháp, thứ tự tiến công, vận dụng các cách đánh thích hợp để thục hiện mưu kế, ý định đã đề ra.


Chiến đấu là cuộc đọ sức sống còn, được mất. Dù ta có mưu kế tài giỏi đến đâu cũng không thể bắt kẻ thù phải ngoan ngoãn, bó tay khuất phục ngay được. Với tinh thần quyết chiến quyết thắng của ta và sự chống trả quyết liệt của địch, tình huống có thể diễn ra như ta đã dự kiến hoặc cũng có thế xuất hiện bất ngờ, nguy hiểm, làm đảo lộn thế trận, nhất là khi cuộc chiến bước vào giai đoạn quyết định ở khu vực quyết định. Vì vậy, quá trình điều khiển thế trận là quá trình phải đối chọi tình huống.


Nếu tình huống diễn biến đúng như ta dự kiến thì việc xử trí không có gì khó khăn lắm. Song nếu tình huống xuất hiện ngoài dự kiến thì đấy là một khó khăn, trở ngại khách quan lớn. Ta phải xem xét kỹ và tập trung trí tuệ, sức lực để đối phó, nhất là những tình huống bất ngờ, nguy hiểm. Để xác định đúng phương hướng xử trí tình huống, phải cân nhắc giữa tình huống mới xuất hiện và nhiệm vụ tác chiến đang thực hiện, tình hình và khả năng của ta, từ đó xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu để giải quyết cho phù hợp. Đối chọi tình huống là một quá trình xử trí, dẫn dắt, điều khiển tình huống để tạo ra tình huống lớn chín muồi. Tình huống lớn chín muồi là mâu thuẫn phát triển đến cực điểm, đến độ phái chuyến hóa. Mâu thuẫn đó là mâu thuẫn giữa hai tập đoàn chiến dịch hay chiến lược chủ yếu của ta và của địch. Giải quyết được mâu thuẫn này thì sự vật sẽ chuyển hóa, cục diện trên chiến trường sẽ ngã ngũ, tức là thắng lợi hay thất bại. Do đó tình huống lớn chín muồi chính là thời cơ chiến dịch hoặc chiến lược để đưa tập đoàn chiến dịch, chiến lược của ta ra đánh trận then chốt quyết định, tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch, giành thắng lợi.


Kinh nghiệm cho thấy, tình huống xuất hiện thường có hai mặt: một mặt gây khó khăn cho ta, mặt khác cũng tạo ra khả năng đưa đến thời cơ thuận lợi cho ta tiêu diệt địch. Tuy nhiên tình huống xuất hiện chưa hẳn đã dẫn tới thời cơ thuận lợi ngay, mà còn phải dẫn đến tình huống khác rồi mới tạo thời cơ thuận lợi cho ta. Do đó, trong quá trình điều khiển thế trận, xử trí, đối chọi tình huống, có khi phải căn cứ vào trạng thái địch, ta mà khêu gợi, dẫn dắt tình huống để tạo thời cơ có lợi.


Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975 đã cho ta một số kinh nghiệm về xử trí, đối chọi tình huống.

Để tạo thuận lợi cho khu vực quyết chiến đánh trận then chốt quyết định, Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề nghị với cấp chỉ đạo chiến lược tìm cách giũ chân sư đoàn dù là lực lượng tổng dự bị của địch ở Huế và Đà Nẵng, để sau khi ta đánh Buôn Ma Thuột xong mới cho nó đến. Kết quả là ta đã hãm được sư đoàn dù, và khi nó bung ra được đến đèo Phượng Hoàng thì đã muộn. Lúc này là tình huống thuận lợi, tạo cho ta thời cơ tập trung tiêu diệt lực lượng dự bị chiến lược của địch.


Sư đoàn bộ binh 320 bố trí thế trận cắt đường số 14, nhưng chưa đến thời điểm hoạt động thì địch cho tiểu đoàn 1, trung đoàn 45 sục ra thăm dò. Trước tình huống đó, Sư đoàn 320 phải lùi bước, cả một sư đoàn mạnh phải giấu mặt trước một tiểu đoàn địch, tránh đụng độ để khỏi lộ bí mật chiến dịch.


Sau khi toàn chiến dịch đã lập thế trận xong, địch đã đánh hơi thấy sự chuẩn bị của ta nhưng chưa phán đoán được ý định của ta, nên đưa quân sục sạo thăm dò. Bộ chỉ huy chiến dịch liền chủ trương cho Sư đoàn 320 thực hành liên tiếp hai trận tiêu diệt các cứ điểm Chư Xê và Cẩm Ga để đánh lạc hướng phán đoán của địch. Địch đã hoàn toàn bị bất ngờ khi ta tiến công Đức Lập, tiếp đó tiến công Buôn Ma Thuột khiến cho chúng không kịp trở tay đối phó. Đúng như Nguyễn Trãi đã viết: "Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời, thế mà thôi. Được thời, có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời, không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay" (Quân trung từ mệnh tập).


Giữa mưu kế và thế trận có mối quan hệ hữu cơ. Đó là ý định và biện pháp giải quyết mâu thuẫn và là sự đối chọi tình huống, dẫn dắt tình huống, tạo thời cơ thuận lợi nhất cho chiến dịch.

Trong hai cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, quân và dân ta đều phải chống lại những kẻ thù có số lượng quân đội tập trung đông và trang bị mạnh hơn ta gấp bội. Nhưng cả hai lần chống xâm lược đó, chúng ta đều dùng thế trận chiến tranh nhân dân và các phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân để đánh thắng giặc. Ta đã phát triển lực lượng vũ trang cả ba thứ quân. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, kết hợp tác chiến chính quy, hợp đồng binh chủng với chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân ở địa phương và ở cơ sở, kết hợp đánh nhỏ, đánh vữa và đánh lớn, vừa đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, vừa tập trung lực lượng cơ động hùng mạnh giáng cho địch những đòn tiêu diệt lớn trễn những địa bàn trọng điểm. Trong tương lai, dù kẻ thù xâm lược có số quân đông, có trang bị mạnh hơn nữa thì thế trận chiến tranh nhân dân của ta văn là sức mạnh vô địch.


Ngày nay, chúng ta có điều kiện xây dựng lực lượng ba thứ quân tốt hơn và bố trí thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh hơn. Trong các lực lượng vũ trang, không những lực lượng chủ lực cơ động được trang bị tương đối hiện đại và hiện đại, được huấn luyện tác chiến hợp đồng quân chủng, binh chủng quy mô lớn, mà các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, huyện đến dân quân, tự vệ ở các thôn xã, phố phường, công trường, nông trường, xí nghiệp cũng được kiện toàn tổ chức, được trang bị và huấn luyện tác chiến tốt hơn. Đi đôi với tăng cường trang bị, chúng ta có kế hoạch tăng cường tuyến phòng thủ, thiết bị địa hình, xây dựng các loại trận địa, công trình quốc phòng ở các địa phương. Sức mạnh chiến đấu của chiến tranh nhân dân được tổ chức chặt chẽ sẽ bảo đảm cho chúng ta đánh thắng bất cứ kẻ thù xâm lược nào.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đặt ra trước chúng ta nhiều vấn đề lớn về xây dựng thế trận trong phạm vi cả chiến lược, chiến dịch và chiến đấu.

Hiện nay các lực lượng vũ trang địa phương và dân quân, tự vệ đã tổ chức và chuẩn bị sẵn thế trận, chuẩn bị các phương án tác chiến ngay trên địa bàn của địa phương, trên các tuyến phòng thủ của đất nước. Bộ đội chủ lực cũng sẵn sàng làm lực lượng nòng cốt trong thế trận toàn dân đánh giặc. Do đó, ngay từ đầu cuộc chiến tranh nếu nó nổ ra, quân và dân ta đã có thể hợp đồng ba thứ quân, đánh tiêu diệt quân địch ngay từ khi chúng mới đặt chân lên đất nước ta ở biên giới, ven biển và hải đảo; tiến công kiên quyết, phòng ngự ngoan cường, đánh chặn, đánh chia cắt, đánh vào sườn, phía sau địch, tiêu diệt thật nhiều quân địch, bảo vệ đất đai của Tổ quốc. Thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh là cơ sở đê xây dựng các thế trận chiến dịch, chiến đấu lợi hại trên các địa bàn tác chiến. Với thế trận như vậy, các lực lượng vũ trang nhân dân ta có thể đồng thời tiến hành các đòn đánh tiêu diệt trong các khu vực quyết chiến đã chọn sẵn.


Trong việc lập thế trận, trước đây ta đã có sở trường vận dụng nghệ thuật bao vây, chia cắt, cô lập địch, ngăn chặn, kiềm chế kết hợp với tiến công đột phá kiên quyết, liên tục và thực hiện các đòn đánh hiểm, đánh bất ngờ... Ngày nay, ta có thể phát huy sở trường đó tới mức cao hơn và hoàn chỉnh hơn nhiều, cả trong tiến công, phản công và phòng ngự.


Với kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, các lực lượng vũ trang ta sẽ ngày càng được tăng cường cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật thích hợp, được bổ sung những cán bộ và chiến sĩ có trình độ chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật và bản lĩnh chiến đấu không ngừng được nâng cao. Con người là yếu tố quyết định nhất trong chiến tranh, trong việc vận dụng nghệ thuật quân sự. Với con người mới xã hội chủ nghĩa, với sức mạnh mới về tổ chức, trang bị của lực lượng vũ trang, nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật lập thế trận của ta nói riêng nhất định sẽ phát triển lên những đỉnh cao mới. Vận dụng vào thực tiễn chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nó sẽ tạo nên sức mạnh thần kỳ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:27:24 am
III. NGHỆ THUẬT CHỈ HUY TÌNH HUỐNG*
(Bài đăng trên Tạp chí Quân đội nhân dân, số tháng 4 năm 1980. Có sửa chữa, bổ sung)

Chỉ huy tình huống là một vấn đề rất quan trọng trong chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch và chiến đấu. Nó đòi hỏi người chỉ huy phải có bản lĩnh kiên cường, tài năng mưu trí sáng tạo. Nếu chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch và chiến đấu là một nghệ thuật thì chỉ huy tình huống là một biểu hiện đặc sắc của nghệ thuật ấy.


Muốn chỉ huy tình huống được tốt, trước hết cần làm rõ tình huống và chỉ huy tình huống là gì?

Tình huống là tổng thể những hiện tượng, trạng thái và hoạt động của hai bên đối chiến, diễn ra trong không gian, thời gian nhất định, trong những điều kiện nhất định về địa hình, thời tiết, khí hậu...


Chiến tranh, chiến đấu tất yếu biểu hiện ra bằng tình huống và vận động thông qua tình huống. Tình huống diễn ra không lệ thuộc vào ý muôn chủ quan của con người nhưng cũng không phải là bất kỳ, mà diễn ra có quy luật, do nỗ lực chủ quan của hai bên đối chiến trên chiến trường, trong không gian và thời gian cụ thể. Nó là sự vận động tổng hợp của cả lực và thế cùng nhiều yếu tố khác. Nó thường phản ánh tập trung sự đối chọi quyết liệt khẩn trương giữa hai lực lượng đối địch. Nó tạo thuận lợi và đem lại điều kiện thành công hoặc gây khó khăn, thất bại cho mỗi bên. Sự phát triển của tình huống có ý nghĩa rất quan trọng, có khi quyết định kết cục của một giai đoạn hay toàn bộ trận chiến đấu, chiến dịch, cuộc chiến tranh. Tình huống diễn ra liên tiếp cả trước, trong và sau chiến đấu. Quan trọng và phức tạp nhất thường là những tình huống diễn ra trong chiến đấu với những biểu hiện muôn hình muôn vẻ. Có tình huống chiến đấu, tình huống chiến dịch và tình huống chiến lược. Có tình huống chung và có tình huống riêng về từng mặt, từng bộ phận, từng cấp, diễn ra trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, mang tính chất quyết liệt khẩn trương nhiều hay ít, tạo thuận lợi hay khó khăn, do địch, ta hay điều kiện tự nhiên gây ra, đã được tính trước hay ngoài dự kiến, v.v...


Chỉ huy tình huống là một quá trình thực hành dự kiến, xây dựng, dẫn dắt, hạn chế, gạn lọc, xử trí và đối chọi tình huống.

Đó là sự vận động tổng hợp của mưu kế, thế trận, lực lượng, biện pháp, trước hết nhằm làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo thế và thời cơ thuận lợi, tổ chức thực hiện thành công những đòn then chốt và then chốt quyết định trong thời gian quyết định, ở địa điểm quyết định, bảo đảm thực hiện thắng lợi chủ trương và ý định đã đề ra, giành toàn thắng cho trận chiến đấu, chiến dịch hay chiến tranh. Chỉ huy tình huống là một nghệ thuật rất cao, rất sinh động, phức tạp trong nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch và chiến đấu.


Chỉ huy tình huống không phải chỉ đơn giản là xử trí tình huống. Nếu ngồi chờ tình huống xảy ra rồi mới đối phó thì sẽ bị động. Người chỉ huy giỏi phải chủ động tác động vào điều kiện khách quan để xây dựng và dẫn dắt tình huống phát triển thuận lợi cho mình, bất lợi cho địch. Đặc biệt phải tạo ra được tình huống thuận lợi cho các trận đánh then chốt. Muốn vậy phải có chủ trương, ý định tác chiến đúng đắn, có mưu kế hay và phải giỏi bố trí đội hình, lập thế trận.


Ý định tác chiến vạch ra mục tiêu ta cần đạt tới, đối tượng ta định tiêu diệt, địa điểm ta sẽ tiêu diệt chúng, trận địa, địa bàn ta cần chiếm lĩnh hoặc giữ vững, thứ tự hành động của các đơn vị, v.v... Quân địch mà ta cần tiêu diệt trong một chiến dịch hay trận chiến đấu thường là tập đoàn chủ yếu của địch trong chiến dịch hay trận chiến đấu đó. Đó là lực lượng trụ cột của địch trong phòng ngự hoặc là mũi nhọn sức mạnh của chúng trong tiến công. Địa bàn, trận địa mà ta cần chiếm lĩnh thường là địa bàn, trận địa có vị trí hiểm yếu tạo nên tính vững chắc trong phòng ngự hoặc tạo điều kiện hình thành sức đột kích mạnh trong tiến công. Tiêu diệt được quân địch đó, ở địa bàn đó, ta sẽ nhanh chóng giành được thắng lợi.


Để thực hiện được ý định tiêu diệt quân địch tại nơi mà ta đã lựa chọn, cần có mưu kế. Muốn có mưu kế hay, phải hiểu rõ quân địch, nắm vững điều kiện địa hình, thời tiết..., hiểu rõ khả năng, sở trường của quân ta. Từ chỗ hiểu biết chính xác về địch, về địa hình, về ta mà bày mưu đặt kế để đánh địch sao cho có lợi nhất. Phải đặt ra và giải đáp hàng loạt câu hỏi: đánh vào quân địch nào thì có thể tiêu diệt và đánh bại được chúng? Phải phân tán, kìm hãm, chia cắt, ngăn chặn địch như thế nào? Đánh địch vu hồi, tăng viện, ứng cứu, phản kích ở đâu? v.v...


Trong chiến dịch Biên Giới 1950, ý định của ta là đánh địch ở Đông Khê để cô lập địch ở Cao Bằng, kéo viện binh của chúng ở Lạng Sơn lên để tiêu diệt, sau đó sẽ tiêu diệt nốt quân địch ở Cao Bằng, giải phóng vùng biên giới.


Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, ý định của ta là phân tán địch ra Trung Lào và giam chân địch ở đồng bằng, để tập trung lực lượng tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Điện Biên Phủ.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ý định của ta là cô lập địch ở Tây Nguyên để tiêu diệt chúng, giải phóng Tây Nguyên trước.

Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, ta hãm địch ở Plây Cu, chia cắt địch giữa Plây Cu và Buôn Ma Thuột, chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng ven biển miền Trung, tạo điều kiện để ta đánh địch ở Buôn Ma Thuột được thuận lợi.


Đó là những dẫn chứng rất sinh động về tài nghệ xây dựng, tạo nên tình huống thuận lợi cho ta, hãm địch vào thế bất lợi.

Sau khi đã định được mưu kế rồi thì đến bước lập thế trận, bố trí đội hình. Ta lập thế trận trong thế trận chung của chiến tranh nhân dân phát triển cao, do đó thế trận của ta rất hiểm hóc, vững chắc. Ta có thể đánh địch ở khắp nơi, cả trước mặt và sau lưng địch, bằng nhiều hình thức rất phong phú, sáng tạo và có hiệu lực. Trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, quân và dân ta luôn luôn đánh địch trên thế chủ động tiến công, làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ. Vì vậy, thế trận của ta là thế trận xé nát quân thù, có sức mạnh vô cùng to lớn mà không một kẻ thù nào có thể phá vỡ nổi. Chính trong thế trận chung đó của chiến tranh nhân dân, ta tạo nên thế trận lợi hại cho từng chiến dịch, từng trận chiến đấu, cho phép ta xây dựng và dẫn dắt tình huõng một cách thuận lợi.


Lập được thế trận rồi là bước vào cuộc chiến đấu. Chiến đấu diễn ra là thế trận vận động mưu kẽ được phát huy. Thế trận vận động làm nảy sinh tình huống. Tình huống diễn biến là kết quả của sự đấu lực, đấu trí quyết liệt giữa hai bên đối chọi nhau. Tình huống phát triển, chuyển hóa là những mâu thuẫn trong đấu tranh được giải quyết. Tình huống đẻ ra tình huống, và cứ như thế diễn ra liên tục, kế tiếp nhau cho đến khi kết thúc cuộc chiến, phân rõ thắng bại.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:28:37 am
Mưu kế, thế trận hay, dở thế nào, phải đợi lúc thực sự vào cuộc chiến, tình huống diễn biến, chuyển hóa mới có thể đánh giá được.

Điều khiển, chỉ huy tác chiến là lúc hoạt động sôi nổi nhất, sáng tạo nhất của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy. Chỉ huy tác chiến là thực hành mưu kế, điều khiển thế trận, phát huy lực lượng và cách đánh, cũng tức là dẫn dắt tình huống, xử trí tình huống, đối chọi tình huống.


Người chỉ huy và cơ quan chỉ huy có cao tay hay không, có bản lĩnh hay không, điều đó được biểu hiện tập trung ở nghệ thuật chỉ huy tình huống.

Như trên đã phân tích, chỉ huy tình huống là một hệ thống các hoạt động của người chỉ huy, từ việc suy nghĩ, dự kiến tình huống khi nó chưa xảy ra, định mưu kế, lập thế trận, tính toán kỹ lưỡng thứ tự hành động của ta và khả năng đối phó của địch, phán đoán các hành động của địch và dự kiến cách đối phó của ta, để xây dựng, dẫn dắt tình huống cho đến việc xử trí các tình huống khi cuộc chiến đã nổ ra. Tiến trình đó diễn ra như trong một cuộc đánh cờ.


Trong chỉ huy tình huống, điều rất quan trọng và cũng là điều nổi bật có tính nghệ thuật là xây dựng, dẫn dắt, điều khiển tình huống, hạn chế gạn lọc tình huống và đối chọi tỉnh huống.

Đó là nghệ thuật tạo ra tình huống ban đầu thuận lợi, nghệ thuật điều khiển quân địch, buộc địch phải đánh theo ý định của ta, đưa địch vào thế trận ta đã bày sẵn, tạo ra được tình huống theo mưu kế của ta để tiêu diệt địch.


Trong chiến dịch Kon Tum xuân - hè 1972 ở chiến trường Tây Nguyên, ta đã điều được lữ đoàn dù ngụy thuộc lực lượng tổng dự bị của địch ra phía tây - bắc thị xã Kon Tum để tiêu diệt và giam chân chúng ở đó, tạo điều kiện thuận lợi cho trận đánh then chốt Đắc Tô - Tân cảnh giành thắng lợi.


Vì sao ta dụ được quân dù ngụy ra ngoài thị xã Kon Tum? Vì ta khéo nghi binh, lừa địch. Ta biết rằng lúc này các đơn vị chủ lực cơ động của quân ngụy còn đang hung hăng và chủ quan. Hơn nữa, khu vực tây - bắc thị xã Kon Tum có một địa thế rất lợi hại; nêu quân ta có một hoạt động gì ở đó, vào thời điểm đó, thì nhất định quân địch sẽ ra. Ta đã khêu vào đúng chỗ địch tất phải ứng cứu.


Tình huống ban đầu của chiến dịch Kon Tum xuân - hè 1972 là kéo quân dù ra khu vực tây - bắc thị xã Kon Tum và giam chân, tiêu diệt chúng ở đó, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đánh địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Như vậy khi ta đánh Đắc Tô - Tân Cảnh, địch sẽ không có lực lượng phản kích, nếu có thì lực lượng đó cũng rất yếu. Một khi địch không có quân tiếp viện, phản kích thì trận đánh của ta dễ thành công và thành công nhanh chóng, gọn ghẽ. Thực tế trên chiến trường đã diễn ra đúng như vậy.


Trong chiến tranh hiện đại, lực lượng vũ trang hai bên đối chiến có số quân đông, hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, nên tình huống chiến đấu diễn ra rất nhanh chóng, bất ngờ, rất khẩn trương và phức tạp.


Làm thế nào để tình huống diễn ra ít bất ngờ và bớt phức tạp, để đánh thắng địch nhanh chóng và dễ dàng hơn? Đó là vấn đề hạn chế tình huống, gạn lọc tình huống, làm cho tình huống thuận lợi phát triển, tình huống khó khăn bị loại trừ hoặc giảm bớt, tình huống bất ngờ ngoài dự kiến của ta ít xảy ra; làm cho địch không thể tự do đối phó, không thể hành động theo ý muốn của chúng.


Ta phải phán đoán, dự kiến những tình huống nào sẽ xảy ra khi cuộc chiến bắt đầu. Trước đòn tiến công thứ nhất và các đòn tiếp sau của ta, địch sẽ phản ứng như thế nào, chúng có những khả năng gì để đổi phó lại? Với mỗi cách đối phó của địch, tình huống sẽ diễn biến như thế nào, trong đó những tình huống nào là then chốt, có thể làm xoay chuyển cục diện trên chiến trường, có quan hệ đến thành bại của chiến dịch, chiến đấu? Đối với những tình huống gây khó khăn, nguy hiểm lớn nhất cho ta thì phải suy nghĩ tìm cách hạn chế, gạn lọc không cho nó xảy ra hoặc nếu xảy ra thì chỉ gây khó khăn cho ta ở mức thấp nhất.


Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, tình huống khó khăn nhất có thể xảy ra khi ta bắt đầu tiến công là quân địch ở đồng bằng ven biển miền Trung từ Quy Nhơn và Nha Trang theo hai con đương số 19 và số 21 đi ứng cứu cho Plây Cu và Buôn Ma Thuột. Đi theo tình huống đó là việc địch vận chuyển tiếp tế từ hậu phương chiến lược của chúng ở đồng bằng cho Tây Nguyên cũng bằng hai con đường ấy. Tóm lại, tình huống gay cấn nhất cho ta là địch nối liền được đồng bằng với Tây Nguyên bằng đường bộ.


Nếu ta cô lập được quân địch ở Tây Nguyên với quân địch ở đồng bằng, không để cho đồng bằng nuôi sống Tây Nguyên bằng đường bộ nữa thì quân địch ở Tây Nguyên sẽ rất nguy ngập vì bị cắt mất cái dạ dày. Hoàn toàn trông chờ vào đường không, chúng chỉ có thể sống thoi thóp mà thôi.


Trên cơ sở dự kiến, phân tích như vậy, ta quyết định tìm cách loại trừ tình huống địch sử dụng hai con đường bộ số 19 và sô 21 đê đưa quân đi ứng cứu và vận chuyển tiếp tế cho Plây Cu và Buôn Ma Thuột. Thực hiện ý định đó, ta đã sử dụng một lực lượng tương đối mạnh và có kinh nghiệm đánh giao thông để cắt đứt và khống chế hai con đường số 19 và số 21. Khi chiến dịch vừa nổ ra, quân ta đã hoàn toàn làm chủ hai con đường ấy. Sư đoàn bộ binh 22 ngụy cùng các liên đoàn bảo an, các đoàn vận tải của địch đành chịu nằm chết gí ở các đoạn đèo An Khê và đèo Phượng Hoàng nhìn Plây Cu và Buôn Ma Thuột bị vây hãm trong tình trạng ngắc ngoải. Việc ngăn chặn, loại trừ được khả năng địch ứng cứu, tiếp viện bằng đường bộ đã tạo cho ta những điều kiện vô cùng thuận lợi để nhanh chóng đánh chiếm Buôn Ma Thuột, và sau đó đánh tan mọi cố gắng phản kích bằng đường không của địch, hãm chúng vào thế bị động, lúng túng, cuối cùng buộc địch phải rút chạy khỏi Plây Cu và Kon Tum trong cơn hoảng loạn. Đó là kinh nghiệm thành công về vấn đề hạn chế, gạn lọc, loại trừ những tình huống nguy hại nhất.


Trong tác chiến, muôn giành được chủ động thì phải điều khiển, dẫn dắt tình huống ban đầu phát triển sang các tình huống tiếp sau có lợi cho ta, bất lợi cho địch.

Trong chiến dịch Kon Tum xuân - hè 1972, ở bước thứ nhất, ta đã dụ được lữ đoàn dù của địch ra phía tây - bắc thị xã Kon Tum để tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng từng tiểu đoàn của chúng. Tình huõng được dẫn dắt sang bước thứ hai: ta lại điều được sư đoàn bộ binh 23 của địch ra đường số 14 ở đoạn Plây Cu đi Kon Tum và đoạn Kon Tum đi Tân Cảnh để tiêu hao, tiêu diệt và giam chân chúng ở đấy. Như vậy ta đã dẫn dắt tình huống thành công, tạo ra điều kiện hết sức thuận lợi để đánh đòn quyết định vào Đắc Tô - Tân Cảnh.


Trong quá trình dẫn dắt tình huống, phải đối chọi tình huống. Đây là giai đoạn đấu trí rất khẩn trương và quyết liệt giữa ta và địch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:29:31 am
Đấu tranh vũ trang là hai bên đấu trí, thi tài với nhau. Ai cao tay hơn thì người ấy sẽ giành được quyền chủ động. Ta có thể dẫn dắt quân địch đi theo tình huống mà ta lựa chọn nhưng cũng có thể địch không đi theo tình huống ấy. Trong tác chiến, việc xảy ra những tình huống ngoài dự kiến của ta là lẽ thường. Ngay trong những tình huống diễn ra theo sự dẫn dắt của ta, ta cũng phải đối chọi quyết liệt; còn những tình huống diễn ra không theo ý định của ta thì ta càng phải đối chọi quyết liệt hơn.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, sự đối chọi tình huống chiến lược của ta thật sắc sảo. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, ta đã sừ dụng hai cụm lực lượng tác chiến ở hai đầu Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung lực lượng đánh dứt điểm ở Tây Nguyên trước. Nghệ thuật dẫn dắt tình huống chiến lược của ta ở đây là căng quân địch ra hai đầu để phá thế địch ở giữa, giam chân địch khiến chúng không còn lực lượng đi tăng viện, ứng cứu cho chiến trường Tây Nguyên và cũng không thể ứng cứu lẫn nhau giữa các chiến trường. Phân tán địch về chiến lược là một nghệ thuật dàn thế về chiến lược, một nguyên tắc quan trọng trong chỉ đạo chiến lược, nhất là đối với một kẻ địch có số quân đông. Muốn thế phải có lực lượng tại chỗ mạnh kết hợp với lực lượng cơ động bố trí một cách thích hợp và có lợi nhất.


Khi đòn Tây Nguyên sắp dứt điểm mà địch không có lực lượng dự bị chiến lược đến ứng cứu thì ta tiếp tục đánh đòn gối đầu ở Huế - Đà Nẵng. Đây là một phương thức ưu việt của nghệ thuật thực hành các đòn chiến lược. Đến khi ta giải phóng Tây Nguyên trong tình hình quân địch tháo chạy hỗn loạn thì lại xuất hiện một tình huống chiến lược mới. Ta đã bắt mạch quân địch rất trúng, thấy rõ sự suy sụp về thế, về lực và cả về tâm lý - tinh thần của chúng. Trong tình huống này, nghệ thuật đối chọi chiến lược của ta là mạnh dạn thay đổi quyết tâm, từ tiến công chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược, rút ngắn kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm xuống còn một năm. Đó là vì ta đã tạo được thời cơ, sỏm nắm bắt được thời cơ và kiên quyết tranh thủ thời cơ chiến lược để giành thắng lợi lớn.


Đòn chiến lược thứ hai đánh vào Huế - Đà Nẫng bằng phương thức gối đầu thành công thì lại nảy sinh một tình huống chiến lược mới. Sự đối chọi chiến lược của ta lúc này là quyết tâm giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam trước mùa mưa năm 1975, chứ không phải kéo dài đến hết năm 1975.


Để thực hiện quyết tâm mới, đối chọi tình huống chiến lược mới đó, ta phải thực hành đòn chiến lược thứ ba bằng phương thức kế tiếp. Đòn chiến lược thứ ba đánh vào Sài Gòn này có tính chất kế tiếp, nhưng chưa thực hiện được kế tiếp một cách liên tục. Do đó ta phải thực hành các hoạt động tác chiến đệm bằng những chiến dịch nhỏ và trận chiến đấu ở vòng ngoài Sài Gòn làm cho địch không kịp hồi phục, chấn chỉnh lại lực lượng, không kịp điều động lực lượng, tổ chức lại phòng ngự. Trong khi đó, ta cơ động lực lượng ở Tây Nguyên và ở Huế - Đà Nẵng về hướng Sài Gòn.


Lúc này thời cơ lớn về chiến lược đang phát triển thuận lợi. Bộ chỉ huy ta quyết định sử dụng lực lượng tổng dự bị chiến lược. Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của ta rõ ràng hơn hẳn địch về mặt sử dụng lực lượng dự bị chiến lược, về tổ chức, quân ngụy Sài Gòn có hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược, thành hai đơn vị, hai tổ chức. Ta thì có cả một quân đoàn tổng dự bị chiến lược, thành một đơn vị, một tổ chức chặt chẽ. Về sử dụng, quân ngụy đưa sư đoàn dù thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược ra làm một nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, thực hành phản kích định chiếm lại cứ điểm cỡ tiểu đoàn là Thượng Đức. Còn sư đoàn lính thủy đánh bộ, địch dùng để bảo vệ Huế. Đó là một sai lầm nghiêm trọng của chúng về sử dụng lực lượng dự bị chiến lược. Còn ta thì sử dụng một quân đoàn tập trung vào thời điểm quyết định về chiến lược. Lực lượng tổng dự bị chiến lược được sử dụng đúng với vị trí và ý nghĩa của nó; lực lượng đó lại nằm trong tay bộ chỉ huy tối cao, được sử dụng một cách rất chủ động, gặp tình huống chiến lược nào cũng đối chọi được.


Trong chiến tranh, sự đối chọi quyết định nhất là tung lực lượng vào đánh đòn quyết chiến cuối cùng, chắc thắng để hoàn thành dứt điểm cuộc tổng tiến công chiến lược, giải quyết thắng lợi cuộc chiến tranh. Trong đòn chiến lược thử ba này sự đối chọi tình huống chiến lược của ta là tập trung toàn bộ lực lượng kể cả lực lượng tổng dự bị chiến lược, bảo đảm có ưu thế sức mạnh áp đảo quân địch để đánh đòn quyết định cuối cùng, nhanh chóng đè bẹp hoàn toàn quân địch, kết thúc chiến tranh thắng lợi.


Như chúng ta đã biết, trong chiến dịch Kon Tum xuân - hè 1972, ở đợt một ta đã dẫn dắt tình huống và đối chọi tình huống tốt, nên đã giành được thắng lợi ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Sang đợt hai, vì không đối chọi tình huống tốt nên ta không đánh dứt điểm được thị xã Kon Tum.


Đến chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, nghệ thuật đối chọi tình huống của ta đã có bước phát triển rõ rệt. Sau khi cắt đứt các đường số 19, 21 và 14, ta thực hành tiến công vào quận lỵ Đức Lập và thị xã Buôn Ma Thuột. Ta phán đoán địch sẽ sử dụng sư đoàn bộ binh 23 (thiếu) đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống phía đông Buôn Ma Thuột trên đường số 21 để phản kích, ứng cứu cho Buôn Ma Thuột và ngán chặn quân ta tiến xuống Nha Trang. Từ nhận định đó, ta đã nhanh chóng cơ động Sư đoàn bộ binh 10 vừa đánh Đức Lập xong về đứng chân ở phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Đúng như ta dự kiến, sau khi mất Buôn Ma Thuột, địch liên cho sư đoàn bộ binh 23 đến ứng cứu. Sư đoàn 10 của ta đã được chuẩn bị sẵn sàng để đội phó với tình huống đó và đã xóa sổ sư đoàn bộ binh 23 của địch.


Sự đối chọi tình huống sau khi ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột diễn ra thuận lợi là do trước đó, ta đã có một sự đối chọi tình huống khá phức tạp. Trước khi ta nổ súng đánh Buôn Ma Thuột, địch cho trung đoàn 45 thuộc sư đoàn 23 ra phía bắc Buôn Ma Thuột để thăm dò. Một sư đoàn của ta đã phải tránh né một tiểu đoàn của địch để giữ bí mật ý định chiến dịch. Để kéo trung đoàn 45 của địch trở lại Plây Cu, ta cho một sư đoàn (thiếu) tiến công mạnh phía tây - nam thị xã Plây Cu. Đòn đó tỏ ra rất có hiệu quả. Trung đoàn 45 của địch phải tức tốc quay về Plây Cu để đối phó với đòn tiến công của ta. Sự đối chọi tình huống này đã thành công.


Sự đối chọi tình huống thứ ba trong chiến dịch Tây Nguyên là tình huống quân địch rút chạy khỏi Plây Cu và Kon Tum theo đường số 7. Tình huống này diễn ra ngoài dự kiến của ta. Nhưng ta đã đối chọi thành công nhờ có thế trận tốt. Sư đoàn bộ binh 320 của ta đứng chân ở một vị trí rất cơ động trên đường số 14 giữa Plây Cu và Buôn Ma Thuột; từ đó, sư đoàn có thể tiến đánh ra các hướng Buôn Ma Thuột, Plây Cu, Cheo Reo, đường số 7 hoặc đường số 21. Vì vậy, khi quân địch vừa rút chạy khỏi Plây Cu theo đường số 7 thì Sư đoàn 320 đã kịp thời cơ động ra hướng đó và chặn đánh được ngay.


Dẫn dắt tình huống và đối chọi tình huống là nhằm tạo ra thời cơ thuận lợi, nhất là thời cơ đánh trận then chốt và then chốt quyết định. Nội dung chính, yêu cầu chính, cái đích chính của chỉ huy tình huống cũng là ở chỗ đó.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2023, 08:30:05 am
Chiến dịch không có trận then chốt thì không thể thắng lợi được. Muôn đánh thắng trận then chốt thì phải tạo ra thời cơ. Thời cơ là kết quả của sự đấu tranh giải quyết tình huống giữa hai bên. Thời cơ chính là tình huống thuận lợi đã phát triển đến độ chín muồi, là mâu thuẫn phát triển đến độ cần và có điều kiện giải quyết. Thắng trận then chốt là mở được cái khóa để giải quyết mâu thuẫn, để chuyển hóa tình huống, làm chuyển biến cục diện trên chiến trường.


Thời cơ trận then chốt xuất hiện là đã đạt được một phần quan trọng ý định và mục đích của chỉ huy tình huống, nhưng lúc này toàn bộ ý định tác chiến vẫn chưa phải đã thực hiện được. Chỉ huy tình huống phải tiếp tục xây dựng, dẫn dát tình huống, tạo ra tình huống thuận lợi mới, bảo đảm chu đáo các điều kiện để đánh trận then chốt thắng lợi nhanh chóng, giòn giã. Trận then chốt thắng lợi là tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định cho chiến dịch. Trận then chốt thắng lợi càng lớn thì chiến dịch chuyển biến càng tốt.


Trong tình huống đánh địch ở trong căn cứ của chúng, khi ta kéo được lực lượng cơ động của địch ra ngoài để tiêu hao, tiêu diệt và giam chân chúng ở đó thì ta đã có thời cơ để đánh vào cứ điểm, vào căn cứ của địch. Cũng có trường hợp kéo được lực lượng cơ động của địch ra ngoài rồi nhưng vẫn chưa có thời cơ để đánh vào căn cứ mà phải tiếp tục dẫn dắt tình huống, tạo thời cơ hoặc thúc đẩy cho thời cơ chín hơn nữa. Ví dụ, có thể đánh tiếp một đòn để cắt đường giao thông, làm cho căn cứ của địch mà ta định tiến công bị vây hãm, cô lập hơn nữa. Như vậy khi ta tiến công, địch không còn khả năng phản kích, ứng cứu, quân địch bị tiến công sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt hoặc buộc phải đầu hàng; thắng lợi của ta sẽ chắc chắn hơn, nhanh gọn hơn.


Trong tình huống đánh địch ở ngoài công sự, việc tiếp tục dẫn dắt tình huống, tạo thời cơ có thể là đưa địch đi xa căn cứ của chúng hơn nữa, vào những nơi địa hình hiểm trở, làm cho địch hoàn toàn bị cô lập, các trận địa pháo cố định không thể chi viện đắc lực, xe tăng của địch hoạt động khó khăn, địch không thể đưa quân đến tăng viện ứng cứu hoặc nếu có thì ta cũng dễ đối phó và có khả năng tiêu diệt.


Trong chiến tranh, tình huống diễn biến, chuyển hóa rất nhanh chóng, phức tạp, muôn hình muôn vẻ. Tình huống sinh ra tình huống, thời cơ đẻ ra thời cơ. Vì vậy, người chỉ huy phải rất linh hoạt, sáng tạo để điều khiển, dẫn dắt tình huống, dẫn dắt thời cơ. Tình huống được dẫn dắt một cách khôn khéo thì thời cơ càng chín muồi hơn và tác chiến càng giành được thắng lợi lớn hơn.


Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý về chỉ huy, xử trí tình huống. Ví dụ, trong cuộc kháng chiến chống Minh, trước tình huống viện binh của nhà Minh kéo sang, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng, tạo điều kiện bức Vương Thông phải hàng. Kết hợp với đòn quân sự, hai ông chủ trương dùng đòn chính trị - ngoại giao để kết thúc thắng lợi chiến tranh. Trong thư gửi Vương Thông lúc đó đang bị vây hãm ở Đông Quan, với lý lẽ sắc bén và đanh thép, Nguyễn Trãi đã tính hộ kẻ địch "sáu điều phải thua"1 (Xem: Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, Nxb Sử học, H. 1961, tr. 49-50). Đòn tiến công chính trị đó đã phát huy mạnh mẽ kết quả của chiến thắng quân sự và có sức mạnh không nhỏ góp phần tạo nên thế uy hiếp và áp đảo Vương Thông, buộc y phải chịu thua, xin lui binh, ta không cần tôn thêm xương máu để công phá thành Đông Quan mà vẫn đạt tới toàn thắng.


Chỉ huy tình huống là một khâu rất quan trọng, có ý nghĩa then chốt, quyết định trong chỉ huy tác chiến cả trong chiến đấu, chiến dịch và chiến lược. Đó là một công việc khó khăn, phức tạp, phải qua nhiều bước như dự kiến, xây dựng, dẫn dắt, hạn chế, gạn lọc, xử trí, đối chọi tình huống; phải làm nhiều việc như nắm tình hình, phán đoán tình huống, xác định quyết tâm, đặt mưu kế, lặp thế trận, tổ chức sử dụng lực lượng, tiến hành các biện pháp giải quyết từng tình huống đế giành thắng lợi, v.y...


Mỗi bước, mỗi việc cũng như cả quá trình chỉ huy tình huống đều đòi hỏi ở người chỉ huy một ý chí và nâng lực rất cao. Quán triệt đường lối quân sự của Đảng, ý định của cấp trên, người chỉ huy phải có lập trường đúng đắn, ý chí chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, quan điểm và phương pháp xem xét khoa học, năng lực tổ chức giỏi. Trong bất cứ tình huống nào, dù khó khăn đến mấy, người chỉ huy cũng phải làm chủ tình huôrig, chủ động, bình tĩnh, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết và quả đoán, năng động và sáng tạo, nhạy bén và khẩn trương, thận trọng và chín chắn, kiên trì nguyên tắc nhưng xử trí linh hoạt, nắm vững nghệ thuật quân sự, kỹ thuật quân sự cần thiết, khéo tổ chức, biết phát huy tối mức cao nhất sức mạnh tổng hợp của cơ quan và đơn vị, của các lực lượng...


Vì vậy, người chỉ huy phải luôn luôn rèn luyện bản lĩnh, nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội, quán triệt đường lối, tư tưởng quân sự của Đảng, tổng kết những kinh nghiệm của bản thân và học hỏi những kinh nghiệm chiến đếu rất phong phú qua các cuộc chiến tranh, các trận chiến đấu ở trong nước và trên thế giới, cả xưa và nay, để không ngừng nâng cao trình độ và nghệ thuật chỉ huy của mình.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:30:56 am
IV. THẾ TRẬN VÀ CÁCH ĐÁNH CỦA QUANG TRUNG TRONG TRẬN ĐẠI PHÁ QUÂN THANH
(Bài viết nhân dịp kỷ niệm lần thủ 195 ngày Quang Trung đại phá quân Thanh. Đăng trên Tạp chí Cộng sản số tháng 1 nàm 1984. Có sửa chữa, bổ sung)

Khi được tin hai mươi vạn quân chiến đấu cùng với hàng chục vạn dân phu vận chuyển, phục dịch của nhà Thanh do Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng (hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây) chỉ huy sang xâm lược nước ta, một vấn đề chiến lược trọng yếu đặt ra cho Nguyễn Huệ là phải làm sao tiêu diệt được quân địch một cách nhanh, gọn, triệt để. Trong tình hình nước ta lúc đó, nỗi lo canh cánh đối với Nguyễn Huệ là mối hiểm họa Nguyễn Ánh ở Đàng trong. Thấy rõ sự yếu đuối, nhu nhược của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, nhìn về xa, Nguyễn Huệ xem "họa Nguyễn Ánh" như một càn bệnh tiềm tàng, nếu không xóa được tận gốc sẽ có lúc bột phát đe dọa đến sinh mệnh của phong trào Tây Sơn. Tình hình Đàng ngoài cũng vô cùng phức tạp. Nếu chậm trễ, dây dưa, giặc Thanh có thể nhận được thêm viện binh, chiến tranh sẽ kéo dài. Nấp dưới giáo giặc Thanh, bọn bán nước Lê Chiêu Thống có thể xây dựng dần dần lực lượng ngụy quân đáng kể để hỗ trợ cho Tôn Sĩ Nghị. Trong thực tế, sau khi quân Thanh chiếm được Thăng Long, quân "cần vương" của Lê Chiêu Thống đã lên tới khoảng hai vạn tên.


Khi đó, tại Phú Xuân quân đội Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Quang Trung chỉ có khoảng sáu vạn. Quang Trung đã trù tính dọc đường tiến ra Bắc Hà sẽ tuyển thêm quân, nhưng có thể thấy trước rằng khi tiến đánh Thăng Long, số quân trong tay ông cũng chỉ khoảng mười vạn, tức là chưa bằng nửa số quân của kẻ thù.


Triều Thanh dưới thời Càn Long lại đang ở vào giai đoạn cường thịnh. Tôn Sĩ Nghị sau khi chiếm được Thăng Long đã được hoàng đế nhà Thanh khen là "đại thần toàn tài", là người "một mình gánh vác, điều khiển có phương pháp, cho nên không đầy một tháng mà đã thành công" (Đại Thanh lịch triều thực lục). Càn Long ban cho Tôn Sĩ Nghị tước "Mưu dũng công" hạng nhất.


Như vậy, quân giặc đông, tướng giặc tài, chúng còn có thêm bọn Việt gian thông thạo địa hình và tình hình trong nước làm tay sai đắc lực.

Lực của ta đã không bằng địch nên muôn đánh thắng chúng, tất phải tạo ra được thế lợi nhằm tăng gấp bội thực lực của ta, làm suy giảm xuống nhiều lần thực lực của địch. Thế đó trước hết là thế bất ngờ. Đây là điều Quang Trung lựa chọn, và bất ngờ đã trở thành yếu tố then chốt trong kế hoạch đại phá quân Thanh mà người "anh hùng áo vải" trù hoạch ngay tại Phú Xuân.


Là một thiên tài quân sự, hiểu rõ ta, rõ địch, Quang Trung thấy trước và nắm chắc được những điều kiện dễ tạo ra yếu tố bất ngờ cần thiết đó. Quang Trung tỏ ra rất tâm đắc với ý kiến của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp: "Bây giờ trong nước trông không, lòng người tan rã, quân Thanh ở xa tới đây không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh hay giữ ra sao. Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, giặc Thanh sẽ bị đập tan". Chính vì thế, khi vừa ra đến Tam Điệp, Quang Trung đã khẳng định mạnh mẽ với các tướng lĩnh ở Bắc Hà: "Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh" (Hoàng Lê nhất thống chí).


Phương lược của Quang Trung tiến đánh quân Thanh được đặt trên cơ sở yếu tố hàng đầu: bất ngờ.

Bất ngờ không thể tự nó đến mà phải tạo ra. Ở đây, trước hết phải ghi công đầu cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm. Các tướng Tây Sơn là những dũng tướng, đi theo Nguyễn Huệ từ những ngày đầu khởi nghĩa, trăm trận trăm thắng, chỉ biết tiến không biết lùi. Tuy trong tay chỉ có bảy, tám ngàn quân nhưng Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân có thừa dũng cảm và mưu lược để quyết chiến với hai mươi vạn quân Thanh, vì như Ngô Văn Sở đã nói, "giặc đến thì phải sống chết với giặc, còn mất với thành", nhất là đây lại là thành Thăng Long. Thế mà nghe theo lời bàn của Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở đã ra lệnh lui quân về giữ Tam Điệp, về việc này, Quang Trung đã nhận xét tại Tam Điệp: "Các ngươi đã biết nín chịu để tránh mũi nhọn của giặc, chia ra ngăn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng" (Hoàng Lê nhất thống chí).


Ngạo mạn, kiêu căng vốn là căn bệnh cố hữu của các tướng "thiên triều". Đường đường là tổng đốc Lưỡng Quảng, kéo quân hai tỉnh sang "khu xử" công việc của một "quận Giao Chỉ" thuộc tộc "man di" thì có gì là khó! Tôn Sĩ Nghị vốn đã kiêu căng càng thêm ngông cuồng, đi đến chủ quan, khinh địch, nhất là sau khi chiếm được thành Thăng Long một cách nhanh chóng, dễ dàng, không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể. "Thắng lợi" của Tôn Sĩ Nghị lại diễn ra đúng vào dịp gần tết Nguyên đán Kỷ Dậu. Quân Tây Sơn thì rút lui từng bước từ Lạng Sơn đến Thăng Long rồi từ Thăng Long xa hơn nữa về phía nam. Tất cả những điều trên đây đã đẩy Tôn Sĩ Nghị đi đến quyết định: cho quân lính nghỉ ngơi ăn tết và chuẩn bị thêm lực lượng để sau tết, khoảng ngày mồng sáu sẽ tiếp tục tiến quân. Trong thực tế quân Thanh và bọn tay sai đã bỏ hết mọi việc chỉ lo ăn tết. Theo tập quán, tết Nguyên đán bắt đầu từ ngày "tiễn táo quân về trời"1 () tức là ngày 23 tháng Chạp, đến ngày "hạ nêu" tức là ngày mồng bảy tháng Giêng. Bọn bù nhìn Lê Chiêu Thống làm lễ "phong ấn" (cất ấn nghỉ việc) từ ngày 25 tháng Chạp, "cho phép các quan và quân lính nghỉ mười ngày để cùng vui đón tiết xuân" (Hoàng Lê nhất thống chí).


Kế của Ngô Thì Nhậm cho giặc Thanh "ngủ trọ một đêm" tại Thăng Long đã góp phần kích thích tâm lý chủ quan khinh địch của Tôn Sĩ Nghị và cả đạo quân Thanh xâm lược, khiến chúng dừng chân tại Thăng Long và vùi đầu vào cuộc say sưa hưởng lạc dịp tết. Đây là màn khói che khuất cuộc tiến quân của Quang Trung từ Phú Xuân ra Tam Điệp, là liều thuốc làm tê liệt cả thế trận lẫn tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu của quân Thanh tại khu vực Thăng Long.


Trong khi Tôn Sĩ Nghị và bọn tùy tưởng đang dương dương tự đắc, xem quân Tây Sơn như "cá chậu chim lồng, chỉ còn chút hơi thừa thoi thóp" (Hoàng Lê nhảt thống chí) thì Quang Trung khi tiến quân ra đến Nghệ An, Thanh Hóa lại sai người "đưa thư đến Sĩ Nghị để xin đầu hàng, lời lẽ trong thư rất là nhũn nhặn khiêm tốn" (Việt sử thông giám cương mục). Tôn Sĩ Nghị càng hống hách, khinh thường, ra lệnh cho Quang Trung "hãy rút quân về Thuận Hóa để chờ phân xử" (Lê quý ký sự).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:31:57 am
Thế là khi đại quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp thì Tôn Sĩ Nghị và đại quân Thanh vẫn còn mơ màng, say sưa trong "thắng lợi" và chìm đắm trong các cuộc truy hoan. Một tháng "ngủ trọ" tại Thăng Long là thời gian quân Thanh thả sức hoành hành và bộc lộ hết bản chất xâm lược tàn bạo của chúng, đồng thời cũng là thời gian nuôi dưỡng và phát triển đến cực độ tâm lý chủ quan khinh địch của Tôn Sĩ Nghị và bè lũ. Đáy cũng là thời gian mà bộ mặt bán nước cực kỷ đê tiện của bè lũ Lê Chiêu Thống càng bị phơi trần, đồng thời chính nghĩa đánh giặc, cứu nước của nghĩa quân Tây Sơn càng thêm sáng tỏ trước nhân dân Bắc Hà. Những nhân tố đó đã đưa nhân dân Bắc Hà và cả nước hướng về người "anh hùng áo vải", về nghĩa quân Tây Sơn. Bối cảnh chính trị và tư tưởng mới tại Bắc Hà "trong nước trông không, lòng người tan rã" đối với Tôn Sĩ Nghị và bọn tay sai Lê Chiêu Thống có nghĩa là trong nước tràn đầy căm thù bọn giặc xâm lược và bọn Việt gian bán nước, lòng người đồng tâm nhất trí đánh giặc, cứu nước, thu giang sơn về một mối. Quang Trung đã đặt bọn Tôn Sĩ Nghị, Lê Chiêu Thống vào tình trạng "có mắt không thấy, có tai không nghe".


Muốn tạo bất ngờ, phải giữ được bí mật. Quân bộ Tây Sơn án ngữ Tam Điệp, thủy quân Tây Sơn án ngữ các đường thủy ra bắc vào nam. Nhân dân Bắc Hà hết lòng giúp đỡ nghĩa quân đã ngăn chặn không cho bọn gián điệp giặc lọt vào phòng tuyến của ta, đồng thời thu thập tin tức tình báo từ hậu phương địch chuyển về bộ chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn. Bí mật của ta được bảo vệ chặt chẽ, động tĩnh của địch bị ta nắm chắc từng ngày. Vì thế, khi đại quân Tây Sơn đến Nghệ An, Thanh Hóa, Tôn Sĩ Nghị vẫn chưa hay biết gì về ý đồ chiến lược của Quang Trung.


Như vậy với tầm nhìn chiến lược sắc sảo, Quang Trung đã đánh giá đúng đắn những điều kiện khách quan về địch, về ta, tạo thời cơ cho một cuộc tiến công bất ngờ, trên thế chủ động, khiến cho lực của ta được nhân lên gấp bội; đẩy quân địch vào thê án binh bất động, sức chiến đấu bị tê liệt, hoàn toàn thụ động trước cuộc chuẩn bị tiến công của nghĩa quân Tây Sơn. Thật đúng như Nguyễn Trãi đã nói: "Được thời, có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời, không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay" (Quân trung từ mệnh tập).


Muốn không lỡ, phải hành động nhanh chóng cho kịp thời cơ. Vấn đề thần tốc được đặt ra cho Quang Trung: thần tốc hành quân đến vị trí tập kết, thần tốc chuẩn bị và tiến công quân địch. Đây vốn là sở trường của Quang Trung và nghĩa quân Tây Sơn. Với tinh thần cao, tổ chức gọn nhẹ, sức lực dẻo dai, nghĩa quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Quang Trung - như lời của một cung nhân nới với mẹ Lê Chiêu Thống - "ra bắc vào nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường trước được" (Hoàng Lê nhất thống chí). Đây cũng là điều bè lũ Tôn Sĩ Nghị không thể nào ngờ tới.


Ngày 21 tháng 12 năm 1788, tại Phú Xuân Nguyễn Huệ nhận được tin báo khẩn cấp của Ngô Văn Sở. Ngay ngày hôm sau, ông làm lễ đăng quang, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc. Chỉ riêng động thái đó cũng đủ chứng minh sự sẵn sàng chiến đấu rất cao của các đơn vị nghĩa quân Tây Sơn, tính quyết đoán, khẩn trương hành động và đặc biệt là nhãn quan chiến lược sâu rộng của Quang Trung trong việc làm chủ thời gian nhằm thực hiện bất ngờ.


Tranh thủ từng khắc, từng giờ trong hành quân, dừng lại ở Nghệ An hơn 10 ngày - thời gian vừa đủ để nghỉ ngơi, bổ sung lực lượng và tổ chức duyệt binh nhàm cổ vũ nâng cao sĩ khí của quân đội - rồi tiếp tục lấy thêm quân ở Thanh Hóa, đến ngày 15 tháng 1 năm 1789, Quang Trung và đại quân Tây Sơn đã tới Tam Điệp. Như vậy là chỉ trong vòng 24 ngày kể từ khi xuất phát từ Phú Xuân, Quang Trung và nghĩa quân Tây Sơn đã đến vị trí tập kết, đồng thời đã hoàn tất hàng loạt hành động bổ sung lực lượng và chuẩn bị về mọi mặt vật chất và tinh thần cho quân sĩ. Hầu như không một khắc, một giờ nào bị bỏ phí. Trừ thời gian dừng chân ở Nghệ An và Thanh Hóa, thời gian hành quân của đại quân Tây Sơn đông trên sáu vạn người khi xuất phát từ Phú Xuân và lên đến mười vạn khi đi từ Thanh Hóa, chỉ vào khoảng 11-12 ngày. Thật là điều vượt quá sức tưởng tượng và sự tính toán chiến lược của Tôn Sĩ Nghị, mặc dù tên tướng giặc Thanh này tuy chủ quan khinh địch nhưng cũng đã cẩn thận để phòng bằng cách bố trí khá chu đáo lực lượng của hắn, "cho quân đi đóng giữ ở tất cả các nơi hiểm yếu trên khắp bốn ngả đường" (An Nam quân doanh kỷ yếu) nhằm bảo vệ khu vực Thăng Long.


Đã tính sẵn "phương lược tiến đánh" từ khi ra quân tại Phú Xuân, đến Tam Điệp, Quang Trung lại phải giải quyết hàng loạt vấn đề cụ thể: nghiên cứu đầy đủ thế bố trí lực lượng của địch trên suốt dọc đường từ Tam Điệp đến Thăng Long, đặc biệt là tại chính khu vực Thăng Long; chọn hướng tiến công chủ yếu và những mục tiêu then chốt cần tập trung đánh chiếm; huấn luyện nghĩa quân cách đánh cụ thể vào từng mục tiêu cụ thể; chuẩn bị vật chất phục vụ chiến đấu và động viên quyết tâm của ba quân không tiếc xương máu, quét sạch giặc ngoại xâm. Đã thần tốc trong hành quân, nghĩa quân Tây Sơn lại thần tốc trong các công việc chuẩn bị tác chiến ngay trong những ngày giáp tết. Chỉ trong vòng 10 ngày từ 15 đến 25 tháng 1 năm 1789 (tức là ngày 30 tết), đại quân Tây Sơn đã hoàn thành một động tác chuẩn bị và sẵn sàng bước vào trận quyết chiến lịch sử. Trước khi xuất phát, Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố: "Nay hãy làm lễ ăn tết Nguyên đán trước, đợi đến sang xuân ngày mồng bảy vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn. Các ngươi hãy nghe nhớ lấy lời ta xem có đúng thế không?" (Đại Nam chính biên liệt tuyển sơ tập).


Lời tuyên bố đanh thép đó là hiệu lệnh tiến công thần tồc. bước quyết định trong ba bước: thần tốc hành quản, thần tốc chuẩn bị, thần tốc tiến công; bước hoàn tất môi quan hệ giữa bất ngờ và thần tốc, giữa bất ngờ và thời cơ trong bối cảnh "Thời! Thời! Thực không nên lỡ" (Nguyễn Trãi - Quân trung từ mệnh tập). Những ngày mồng ba và mồng bôn tết là những ngày quân giặc ở trong tình trạng mệt mỏi cả về thể lực lẫn tinh thần sau hàng chục ngày đêm chuẩn bị cho tết và Ăn tết. Đây chính là thời gian thuận lợi cho việc bất ngờ tiến công và giáng đòn quyết định vào hang ổ của đại quân Thanh, kể cả sở chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị tại cung Tây Long.


Từ chủ trương tiến công thần tốc đó, phải lựa chọn cách đánh nhằm đạt được mục tiêu chiến lược: tiêu diệt nhanh gọn toàn bộ quân địch để kết thúc chiến tranh chỉ trong vòng mấy ngày. Với lực lượng ta ít, tiến đánh những lực lượng địch đông gấp hơn hai lần. Quang Trung đã chọn cách đánh sở trường của nghĩa quân Tây Sơn: bí mật bất ngờ, nhanh chóng tiến công từ nhiều hướng, bằng nhiều cánh nhằm kẹp quân Thanh vào giữa vòng vây của quân ta; tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu, đồng thời triển khai lực lượng trên một số hướng khác, tạo thành ưu thế áp đảo, tiến công mãnh liệt một số vị trí then chốt trong hệ thống phòng ngự của quân Thanh tại khu vực Thăng Long, phá vỡ thế trận của giặc, đẩy chúng vào tình trạng hỗn loạn, hoang mang, không ứng phó kịp, đi đến bị tiêu diệt hoàn toàn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:32:33 am
Quang Trung bố trí đại quân Tây Sơn thành năm đạo quân cùng tiến đánh khu vực Thăng Long. Đạo quân chủ lực do Quang Trung trực tiếp chỉ huy đánh thẳng vào hệ thống phòng ngự chủ yếu của địch ở phía nam Thăng Long. Đạo quân thứ hai do Đô đốc Bảo chỉ huy tiến ra Đại Áng (Thường Tín, Hà Sơn Bình) làm nhiệm vụ yểm hộ và phối hợp với đạo quân chủ lực. Đạo quân thứ ba do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở Khương Thượng rồi thọc sâu vào Thăng Long; đây là mũi bao vây chiến dịch, đánh vào sườn phải trận tuyến của địch, nơi chúng ít phòng bị, nhưng lại có tính chất hiểm yếu. Đạo quân thứ tư do Đô đốc Tuyết chỉ huy đi theo đường biển đánh vào Hải Dương. Đạo quân thứ năm do Đô đôc Lộc chỉ huy là mũi bao vây chiến lược, cũng theo đường biển tiến vào hướng Bắc Giang nhằm chặn đường rút lui của quân Thanh từ Thăng Long về Quảng Tây và sẵn sàng chặn đánh quân tiếp viện từ Quảng Tây sang.


Thế trận tiến công của Quang Trung đặt đại quân Thanh vào thế "cá chậu chim lồng" không đường thoát chạy. Từ thế trận đó Quang Trung đã chọn những "tử huyệt" trong hệ thống phòng ngự của Tôn Sĩ Nghị: Hạ Hồi, Ngọc Hồi và Khương Thượng. Tập trung lực lượng đánh vào các điểm đó, phía Tây Sơn tuy tổng số quân chưa bằng nửa tổng số quân địch nhưng đã tạo được ưu thế lực lượng tại các điểm quyết chiến đã chọn, và với tinh thần và tài nghệ chiến đấu của các tướng sĩ cùng sự giúp đỡ, phối hợp chiến đấu của nhân dân các địa phương, ưu thế đó càng áp đảo quân địch.


Khi cuộc tiến công mở màn, theo kế hoạch tác chiến của Quang Trung, đã hình thành rõ rệt thế trận rộng lớn bao vây toàn bộ đại quân của Tôn Sĩ Nghị tại khu vực Thăng Long. Các đường rút lui của quân giặc đều bị khóa chặt. Trên chính diện, trong khi đạo quản chủ lực do Quang Trung đích thân chỉ huy đánh vỗ mặt, thì cánh quân vu hồi do Đặng Tiến Đông chỉ huy từ "thượng đạo" (đường núi) ập xuống như mũi dao nhọn cắm phập vào sườn quân giặc ở phía tây - nam Thăng Long rồi thọc sâu vào tận tim của chúng là cung Tây Long bên bờ sông Hồng. Sự phối hợp giữa các cánh quản tiến theo cả hai đường thủy, bộ đã diễn ra hết sức nhịp nhàng.


Cách đánh bao vây trên toàn bộ thế trận đó đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần của bộ chỉ huy quân Thanh và toàn bộ tướng sĩ địch. Với tinh thần dễ bị hoang mang dao động của một đội quân xâm lược lúc gặp khó khăn, khi thày hệ thống phòng ngự của chúng bị chọc thủng tại những điểm xung yếu, đặc biệt là khi đứng trước nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt thì phản ứng tất yếu của quân địch là lo chạy tháo thân. Tôn Sĩ Nghị "người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đặt yên" hốt hoảng bỏ cung Tây Long cùng với một số tùy tùng vượt cầu phao chạy sang bò bên kia sông Hồng, rồi ra lệnh cắt cầu làm cho hàng vạn quân Thanh rơi xuống sông chết đuối. Kết quả là trong tổng số hai mươi vạn quân chiến đấu và hàng chục vạn dân phu của giặc Thanh, chỉ có khoảng năm nghìn tên cùng Tôn Sĩ Nghị chạy thoát về Trung Quốc.


Trong thế trận bao vây để tiêu diệt toàn bộ đại quân Thanh Quang Trung đã thực hiện cách đánh bao vây tiêu diệt từng vị trí then chốt của giặc.

Giữa đêm 30 tết (25-1-1789), đạo quân chủ lực của Quang Trung vượt sông Gián, bất ngờ tiêu diệt các vị trí tiền tiêu của giặc ở bờ bắc sông Nguyệt Quyết và Nhật Tảo, truy kích các toán quân Thanh và bắt gọn chúng tại Phú Xuyên, "không để một tên nào trốn thoát" (Hoàng Lê nhất thống chí). Nhờ đấy, nửa đêm mồng ba tết Kỷ Dậu (28-1-1789), quân Tây Sơn đã tiến đến bao vây kín đồn Hạ Hồi (Thường Tín, Hà Sơn Bình) cách Thăng Long chỉ khoảng 20km mà quân giặc trong đồn không hề hay biết. Vừa bao vây, tiến đánh vừa gọi hàng quân giặc bằng cách cho "quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người" (Hoàng Lê nhất thống chí), quân Tây Sơn đã kết hợp tài tình sức mạnh về quân sự với công tác địch vận đánh vào tinh thần dịch, khiến chúng rụng ròi, sợ hãi xin hàng.


Chiến thắng Hạ Hồi là tiền đề và điều kiện để tiến công đồn Ngọc Hồi, trận đánh then chốt quyết định số phận của đạo quân Tôn Sĩ Nghị.

Khi được biết quân Tây Sơn đã tiến đến Ngọc Hồi, Tôn Sĩ Nghị và tất cả quân tướng giặc Thanh tại khu vực Thăng Long thảy đều kinh hoàng, khiếp sợ. Chúng bảo nhau: "Thật là tướng ở trên trời xuống, quân ở dưới đất chui lên" (Hoàng Lê nhất thống chí). Bản thân Tôn Sĩ Nghị khi được tin cấp báo cũng phải "rút kiếm chém xuống đất nói rằng: sao mà thần đến thế!" (Minh đô sử). Tinh thần quân Thanh lâm vào tình trạng hoang mang, xao xuyến cực độ. Bởi vì Ngọc Hồi là một cứ điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của quân Thanh ở mặt trận phía nam, với khoảng ba vạn quân tinh nhuệ, là lá chắn chủ yếu che chở cho đại quân của chúng ở Thăng Long. Mắt xích này bị chặt đứt sẽ làm cả chuỗi xích đứt tung, không có cách gì hàn gắn được.


Ở đây Quang Trung đã quyết định sử dụng đạo quân chủ lực Tây Sơn do ông trực tiếp chỉ huy, cộng với đạo quân tiếp ứng do Đô đốc Bảo chỉ huy, tổng cộng khoảng từ năm đến sáu vạn người để tiến công quân Thanh. Ngoài ưu thế về số quân, phía Tây Sơn còn có khoảng một trăm voi chiến trong lực lượng xung kích. Cùng với vũ khí lạnh như cung nỏ, giáo, lao... quân Tây Sơn còn được trang bị nhiều thứ hỏa khí như súng tay, hỏa hổ và đặc biệt là cả đại bác đặt trên mình voi.


Quang Trung quyết định dùng đại bộ phận binh lực, trong đó có toàn bộ tượng binh, tiến công mãnh liệt vào phía nam đồn Ngọc Hồi, trong khi một bộ phận đạo quản chủ lực được bố trí sẵn ở phía đông - bắc Ngọc Hồi, chặn cả hai hướng: đường cái lớn về Thăng Long và đê sông Nhị, nhằm buộc số quân địch còn lại phải chạy giạt về phía tây theo hướng đầm Mực. Đạo quân của Đô đốc Bảo từ Đại Áng được sử dụng như lực lượng hỗ trợ cho đạo quân chủ lực công phá đồn Ngọc Hồi, nhưng nhiệm vụ chủ yếu của nó là sẵn sàng bao vây và tiêu diệt quân giặc nếu chúng rút chạy về đầm Mực.


Tiến công mãnh liệt ở chính diện đồng thời mở cho quân giặc một lối thoát để đẩy chúng chạy vào một cái bẫy ở nơi tử địa mà ta đã chuẩn bị từ trước - cách đánh tài tình này của Quang Trung đã dẫn đến kết quả là tiêu diệt hoàn toàn cánh quân của đô đốc Thanh Hứa Thế Hanh ngay trong đồn Ngọc Hồi và tại đầm Mực. Về trận tiến công dũng mãnh này của quân Tây Sơn, kẻ thù cũng đã phải thừa nhận: "Quân tiên phong của giặc (tức quân Tây Sơn) xông thẳng vào đại doanh của ta" (An Nam quân doanh kỷ yếu), "giặc dùng những bó rơm to để che đỡ mà lăn xả vào... kẻ trước ngã, người sau nối, hết thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu" (Việt sử thông giám cương mục).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:33:15 am
Cũng vào khoảng canh tư đêm mồng bốn tết Kỷ Dậu, khi đạo quân chủ lực đang tiến đánh đồn Ngọc Hồi thì trên hướng phối hợp, đạo quân làm mũi bao vây chiến dịch do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy, bất ngờ xuất hiện và tiến công mãnh liệt đồn Khương Thượng ở sát phía tây - nam thành Thăng Long. Quân giặc không kịp trở tay vì chúng không ngờ rằng quân Tây Sơn lại từ hướng núi thình lình ập xuống. Chỉ sau vài giờ chiến đấu, đồn Khương Thượng đã bị tiêu diệt. Quân Tây Sơn thừa thắng tiêu diệt luôn các đồn Yên Quyết, Nam Đồng rồi tràn qua cửa ô tây - nam, như một mũi lao từ xa phóng thẳng vào cung Tây Long, nơi Tôn Sĩ Nghị đặt sở chỉ huy của hắn. Đang dồn tâm trí để chống đỡ ở phía Ngọc Hồi thì lại thấy quân Tây Sơn ập đến từ phía tây - nam, Tôn Sĩ Nghị và các tướng sĩ Thanh kinh hồn bạt vía, không còn cách nào hơn là cuống cuồng tìm kế thoát thân.


Trong các trận Ngọc Hồi, Khương Thượng, các yếu tố bất ngờ, thần tốc, bao vây và tiến công mãnh liệt đã được kết hợp chặt chẽ, nhân sức mạnh của quân Tây Sơn lên gấp bội, do đó đã đè bẹp quân Thanh một cách nhanh chóng, mặc dù số quân của chúng đông hơn ta rất nhiều. Quang Trung và các tướng Tây Sơn đã nắm vững thời cơ, thực hiện bất ngờ, hành động thần tốc để giành chủ động, tận dụng thời cơ; dựa vào bết ngờ để tạo nên thế trận bao vây, và ngược lại chính thế trận bao vây đó lại nâng cao thêm hiệu lực, tác động của bất ngờ; sử dụng các yếu tố bất ngờ, bao vây và thần tốc làm cơ sở và điều kiện thuận lợi cho hành động tiến công mãnh liệt nhằm tiêu diệt một số cứ điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của địch.


Đó là cách đánh kỳ diệu của Quang Trung. Thật chẳng khác nào dùng những ngón tay thép điểm trúng vào những tủ huyệt của giặc, đập vỡ thế trận của chúng, đẩy chúng vào tình trạng tan rã và bị tiêu diệt trong vòng vây siết chặt của quân ta. Bất ngờ và thần tốc đã tạo ra thời cơ bao vây, tiến công tiêu diệt các đồn Hạ Hồi, Ngọc Hồi và Khương Thượng. Thời cơ này được sử dụng đúng đắn, chính xác lại tạo ra thời cơ mới. Đô đốc Đặng Tiến Đông đã không bỏ lỡ thời cơ này khi "một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm", dẫn đầu kỵ binh Tây Sơn táo bạo thọc sâu vào tận cung Tây Long, sào huyệt của Tôn Sĩ Nghị bên bờ sông Hồng.


Mờ sáng ngày mồng năm tết Kỷ Dậu, đạo quân của Đô đốc Đặng Tiến Đông tiến vào giải phóng Thống Long. Đến trưa, đạo quân chủ lực của Quang Trung cùng với đạo quân của Đô đốc Bảo cũng tiến vào kinh thành.


Nét tiêu biểu đặc sắc trong tư tưởng quân sự của Quang Trung là tư tưởng tiến công, giành và nắm chắc quyền chủ động cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu; dùng mưu kế và hành động thần tốc để tạo ra bất ngờ, dùng cách đánh bao vây, chia cắt kết hợp với đột phá để tiến công tiêu diệt gọn quân địch có số lượng đông hơn mình nhiều. Đang trên đà tiến công xâm lược nước ta, lại chiếm được kinh thành Thăng Long một cách nhanh chóng, dễ dàng, bè lũ Tôn Sĩ Nghị tưởng chừng đang nắm trong tay quyền chủ động chiến lược, có thể tiếp tục tiến đánh ta ở đâu, vào lúc nào tùy ý chúng. Thế nhưng ngay tại Phú Xuân, với tư tưởng tiến công, tính quyết đoán nhanh chóng và dựa trên cơ sở tính toán toàn diện, chính xác, người "anh hùng áo vải" đã giành lại quyền chủ động chiến lược về tay mình khi quyết định "lập tức xuất quân".


Ở vào thế phải "lấy ít đánh nhiều", vấn đề đặt ra là phải tạo thế, tạo thời cơ để chuyển hóa so sánh lực lượng giữa hai bên, dùng thế và thời để tăng sức mạnh của ta lên gấp bội, giảm sức mạnh của địch xuống nhiều lần. Quang Trung đã vận dụng tài tình yếu tố bất ngờ cả trong kế hoạch chiến lược, chiến dịch lẫn trong hành động chiến đấu. Trong thực tế diễn biến trên chiến trường, Tôn Sĩ Nghị đã hoàn toàn bị bất ngờ về ý định chiến lược của Quang Trung, bất ngờ về nghệ thuật chiến dịch và bất ngờ cả về chiến thuật của quân Tây Sơn trong từng trận chiến đấu, từ các trận Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng đến đòn thọc sâu của Đô đốc Đặng Tiến Đông vào cung Tây Long.


Dựa trên yếu tố bất ngờ, Quang Trung đã xây dựng thế trận bao vây chiến lược, chiến dịch, thực hiện thần tốc từ trong hành quân, chuẩn bị chiến đấu đến triển khai đội hình, tiếp cận các điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của địch, để cuối cùng dùng tiến công mãnh liệt bao vây chia cắt, thọc sâu táo bạo để tiêu diệt nhanh gọn các đơn vị quân giặc nằm trong vòng vây của ta, đưa đến kết quả chỉ đánh một đòn là kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi hoàn toàn.


Cách đánh của Quang Trung đã phát huy được sức mạnh kỳ diệu vì nó được xây dựng trên một nền tảng vững chắc. Trước hết, Quang Trung đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, đã giải quyết thỏa đáng một số hiềm khích trong nội bộ phong trào Tây Sơn, đã thu phục được lòng dân cả nước và đặc biệt là lòng dân Bắc Hà trong vùng bị giặc tạm chiếm đóng.


Quang Trung đã tận dụng thế đất hiểm trở của Tổ quốc từ dãy núi Tam Điệp, đầm Mực đến con đường "thượng đạo" ập xuống Khương Thượng. Dưới quyền chỉ huy của Quang Trung là các tướng sĩ nghĩa quân Tây Sơn tài trí, dũng cảm, có kỷ luật nghiêm minh, sẵn sàng hy sinh vì nước. Quang Trung còn kết hợp tài tình hành động quân sự với công tác địch vận.


Cách đánh của Quang Trung trong trận đại phá quân Thanh được tạo thành từ nhiều yếu tố, trong đố có các yếu tố nổi bật là bất ngờ, thần tốc, bao vây và tiến công mãnh liệt. Tư tưởng và nghệ thuật quân sự trong trận này thể hiện một bước phát triển mối cao hơn của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trung cổ.


Phương pháp tác chiến "công thành" ở các thời kỳ trước Quang Trung phát triển chưa cao. Đến thời đại của ông, phương pháp tác chiến này được hoàn thiện hơn về trình độ tổ chức và thực hành chiến dịch. Trận đánh Thăng Long là một chiến dịch lớn ở quy mô chiến lược. Thế trận chiến dịch là một thế trận liên hoàn rất chặt chẽ, đồng thời tiến công trên nhiều hướng, nhiều mũi với năm đạo quân, đánh vào toàn bộ cơ cấu đội hình phòng ngự của địch.


Việc chỉ huy, điều hành chiến dịch rất tài giỏi, bao quát một phạm vi rộng lớn gồm mây tỉnh Bắc Hà. Năm đạo quân cùng triển khai chiến đấu và hiệp đồng một cách nhịp nhàng trên các hướng cách xa nhau, chứng tỏ một trình độ cao về tổ chức, chỉ huy một chiến dịch lớn. Điều đó gợi cho ta thấy chiến dịch Thăng Long như cỏ dáng dấp của một chiến dịch trong thời đại ngày nay. Về mặt tổ chức, chỉ huy chiến dịch, trận đánh Thăng Long cũng là một bước phát triển mới cao hơn và hoàn thiện thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trung cổ.


Thống soái Quang Trung cùng các tưởng sĩ nghĩa quân Tây. Sơn đă có những đóng góp quý giá vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trận đánh Thăng Long đại phá quân Thanh là sự kế tục xuất sắc các trận Bạch Đàng, Như Nguyệt, Chi Lăng... trong lịch sử dân tộc. Ngày nay trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc do Đảng ta lãnh đạo, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, cuộc Tông tiến công và nổi đậy Xuân 1975... lại là sự kế tục tuyệt vời các chiến công hiển hách đó.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:35:40 am
V. MƯU KẾ CHIẾN TRANH VÀ CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THƯ - ĐÔNG 1950
   (Bài viết tháng 10 năm 1980)

Chiến tranh là một quá trình đọ sức quyết liệt về lực lượng và đấu tranh gay go về trí tuệ giữa hai bên tham chiến. Hành động của mỗi bên đều chịu sự chi phối của những quy luật chung của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang, cũng như những quy luật riêng của từng kiểu loại chiến tranh và quy luật đặc thù của từng cuộc chiến tranh cụ thể. Người nào hành động phù hợp với quy luật thì sẽ chiến thắng, kẻ đi ngược lại quy luật thì phải hứng chịu thất bại. Nói một cách khái quát, trong chiến tranh, ai mạnh hơn, thông minh hơn sẽ thắng. Giỏi hành động bằng mưu kế là một trong những biểu hiện của sự thông minh, khôn khéo trong chiến tranh.


Mưu kế chiến tranh là những phương sách, biện pháp, thủ đoạn được dùng trong cuộc chiến nhằm đánh lừa đối phương, điều khiển hành động của đối phương theo ý định của mình, đưa đối phương vào thế trận mình đã bày sẵn, từ đó buộc đối phương phải phạm sai lầm, tạo yếu tố bất ngờ để đánh bại đối phương, giành thắng lợi về mình. Mưu kế thường cho phép dùng lực lượng ít hơn mà chiến thắng được đối thủ có lực lượng đông hơn, thậm chí cả trong những tình thế hiểm nghèo. Cái tinh vi trong hành động bằng mưu kế là đạt tới thành công bằng cách làm cho đối phương tự họ tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình hủy diệt chính bản thân họ.


Trong lịch sử quân sự thế giới, ngay từ thời cổ đại đã có nhiều nhà quân sự nhờ giỏi sử dụng mưu kế mà đánh thắng địch thủ có lực lượng đông hơn mình. Chiến công của Ê-pa-mi-nông-đa trong trận Lác-tơ-ra (năm 371 trước Công nguyên) cũng như thắng lợi của Ha-ni-ban trong trận Can (năm 216 trước Công nguyên) là những ví dụ cụ thể1 (Trong trận Lớc-tơ-ra (Hy Lạp) ngày 5 tháng 8 nồm 371 trước Công nguyên, 7.500 quân Thi-vơ do Ê-pa-mi-nông-da chỉ huy đã đánh thắng 11.000 quân Xpác-tơ do Clê-ôm-brốt chỉ huy. Trong trận Can (I-ta-li-a) ngày 2 tháng 8 năm 216 trước công nguyén, 50.000 quân Các-ta-giơ do Ha-ni-ban chỉ huy đà đánh tan 69.000 quân La Mã do Va-rôn chỉ huy).


Trong lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải nhiều lần đánh trả những kẻ thù xâm lược có quân đông hơn, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn mình gấp nhiều lần. Trong các cuộc chiến tranh không cân sức đó, để lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nhân dân ta đã phát huy cao độ trí thông minh, óc sáng tạo để vận dụng mưu kế trong đánh giặc và đã đạt được những thành công xuất sắc. Chỉ cần nhắc lại trận thủy chiến trên sông Bạch Đàng năm 938, với việc khôn khéo lợi dụng quy luật thủy triều lên xuống để xây dựng bãi cọc ngầm giữa lòng sông Bạch Đáng, với việc bố trí trận địa mai phục thích hợp, dùng mưu kế nhử dịch vào rồi bất ngờ phản kích quật lại chúng, Ngô Quyền đã chỉ huy những đội thuyền chiến nhỏ hơn và ít hơn địch mà hủy diệt được phần lớn hạm đội Nam Hán khi nó vừa từ biển xâm nhập vào nước ta.


Trong Binh thư yếu lược - một tác phẩm quân sự nổi tiếng của dân tộc ta - có đoạn nói về dùng mưu kế đánh giặc như sau: "Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"1 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 183), về thực tiễn cũng như lý luận, mưu kế chiến tranh đã sớm trở thành một nội dung quan trọng của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lĩnh vực chiến lược và chiến thuật, và ngày nay cả trong lĩnh vực chiến dịch nữa.


Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước của nhân dân là trong thời đại lịch sử mới, Đảng ta đã dựa trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội, đúc kết kinh nghiệm chiến đấu phong phú của quân và dân ta, kế thừa truyền thống quân sự quý báu của tổ tiên, tham khảo kinh nghiệm quân sự trên thế giới để xác định một tổng thể các nguyên tắc của nghệ thuật quân sự nhằm chỉ đạo mọi hành động tác chiến của lực lượng vũ trang. "Mưu trí, linh hoạt bí mật, bất ngờ" là một trong những nguyên tắc chỉ đạo đó. Nguyên tắc này mở ra một phạm vi rộng lớn cho cán bộ, chiến sĩ ta ra sức sáng tạo, tìm tòi và sử dụng nhiều mưu kế hay, nhiều cách đánh thiên biến vạn hóa để giành thắng lợi trên chiến trường.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần chỉ rõ phải biết dùng mưu kế lừa địch trong chiến tranh. Trong tác phẩm Cách đánh du kích, Người viết: "Lừa gạt quân giặc. Làm cho chúng mắt mù tai điếc, hoặc truyền đến cho chúng những tin tức sai lầm để lừa gạt chúng", "... lúc nhằm đánh vào chỗ nào, mình phải lừa quân thù không chú ý phòng bị chỗ ấy mà lại phòng bị chỗ khác, nghĩa là náo phía đông, đánh phía tây", "giả làm quân thù, kéo vào thành rồi đánh úp", "... tìm cách dụ quân giặc, đánh lừa quân giặc vào bẫy để phục kích"2 (Hồ Chí Minh, Những bải viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 138-154), v.v...


Nghe theo lời dạy của Người, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các lực lượng vũ trang ta đã thường xuyên vận dụng mưu kế chiến tranh, với những hình thức, biện pháp rất linh hoạt và có hiệu quả như: nghi binh bằng cách chuẩn bị và thực hành tác chiến hay cơ động bộ đội trên hướng phụ để đánh lạc hướng địch; tung tin giả; dùng phương tiện kỹ thuật để nghi binh, lừa địch; chăng gài cạm bẫy và dụ địch vào đó; cải trang đánh địch; làm trận địa giả, vũ khí giả, v.v... Những mưu kế đó được cán bộ, chiến sĩ ta sử dụng một cách thông minh, khéo léo trên cơ sở tính toán, cân nhắc nhiều mặt: nhiệm vụ chiến dịch, chiến đấu; khả năng của ta; mạnh, yếu của địch; địa hình, thời tiết ở khu vực tác chiến, v.v...


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:36:36 am
Trong các mưu kế nói trên, hành động nghi binh đánh lạc hướng địch đã được bộ chỉ huy cao cấp của ta vận dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nhiều chiến dịch và trận chiến đấu. Nó nhằm thu hút lực lượng và sự cố gắng của địch vào một hoặc một số hướng khác với hướng tác chiến chủ yếu cúa ta. Trong mọi trường hợp, nó đều nhằm phân tán, dàn mỏng lực lượng địch, nhất là lực lượng cơ động chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung lực lượng chủ yếu giáng đòn quyết định trên chiến trường lựa chọn. Chiến dịch Biên Giới là một ví dụ sinh động về vấn đề này.


Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng ta quyết định mỏ chiến dịch Biên Giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai biên giới phía bắc từ Cao Bằng đến Thất Khê, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bác, nối thông đường liên lạc quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa. Trong chiến cuộc thu - đỏng 1950, Đông Bắc được chọn là hướng chính, Tây Bắc là hướng nghi binh; các chiến trường khác đều tăng cường hoạt động để phối hợp với chiến trường chính.


Trong "Huấn thị về chiến dịch Cao - Bắc - Lạng", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Để thắng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận ấy phải kiên quyết dũng cảm trăm phần trăm; các chiến sĩ các khu, các mặt trận khác phải ra sức thi đua giết giặc, lập công để hết sức tiêu diệt địch, khống chế địch, không cho phép chúng tiếp viện mặt trận Cao - Bắc - Lạng"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 433). Huấn thị của Người đã xác định một trong những nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự là: phối hợp nỗ lực của các hướng và chiến trường thứ yếu với nỗ lực của tập đoàn chủ yếu hành động trên hướng chủ yếu. Tư tưởng chủ đạo của Người là: nắm vững quyền chủ động tác chiến, phân tán, giam chân lực lượng địch, buộc địch phải đánh theo ý định của ta mà không được tự do hành động, nhằm mục đích "không cho phép chúng tiếp vận mặt trận Cao - Bắc - Lạng". Chỉ thị đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt mọi kế hoạch tác chiến của ta trong thu - đông 1950.


Đến cuối mùa hè năm 1950, lực lượng dự bị chiến lược trong tay bộ tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương có 10 đến 12 tiểu đoàn cơ động, trong đó vai trò ứng chiến nhanh chóng trên các chiến trường được ủy thác cho 7 tiểu đoàn dù. Lực lượng dự bị chiến lược đó phần lớn được tập trung ở Bắc Bộ, chỉ có 4 tiểu đoàn dù được bố trí ở Nam Bộ và Trung Trung Bộ. Tổng chỉ huy Pháp dự tính khi cần thiết có thể đỉều động 4 tiểu đoàn dù đó cùng với 2 đến 3 tiểu đoàn bộ binh từ miền Nam Đông Dương ra tăng viện cho chiến trường phía Bắc.


Nhằm thực hiện mục tiêu đánh lạc hướng quân địch, phân tán lực lượng dự bị chiến lược của địch để chúng không thể tiếp viện lớn cho mặt trận Cao - Bắc - Lạng, mưu kế của Bộ Tổng tư lệnh ta là: trước khi mở chiến dịch trên hướng chủ yếu ở mặt trận Đông Bắc, cần tiến hành một số cuộc tiến công và hoạt động nghi binh trẽn một số hướng khác ở chiến trường miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh hoạt động đánh địch của lực lượng vũ trang ta ở Trung Bộ và Nam Bộ. Bằng cách đó ta sẽ buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược, nhất là các tiểu đoàn dù, ra đối phó ở các hướng thứ yếu, không thể tập trung lực lượng tiếp viện cho mặt trận chính.


Đến giữa tháng 8 năm 1950, tình báo Pháp xác định lực lượng của đối phương có hai khối lớn bộ đội chủ lực chính quy: khối thứ nhất và là khối chủ yếu có 6 đến 7 trung đoàn bộ binh, trong đó có Sư đoàn 308 thiện chiến, đứng chân ở mặt trận Đông Bắc; khối thứ hai và là khối quan trọng, có 7 đến 8 trung đoàn bộ binh, trong đó có Sư đoàn 304 mới thành lặp, bố trí trên khu vực Chợ Bến - Thanh Hóa. Ngoài ra còn có một cụm thứ yếu gồm 2 trung đoàn bộ binh hoạt động ở mặt trận Tây Bắc. Lúc đầu địch phán đoán ta có ý định mở cuộc tiến công chủ yếu vào Cao Bằng. Bộ tổng chỉ huy Pháp tuy có lo ngại trước sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực ta, nhưng họ tin rằng ưu thế quân sự vẫn thuộc về quân đội Pháp.


Thực hiện kế hoạch do Rơ-ve - tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp - đề ra, bộ tổng chỉ huy địch ở Đông Dương đâ có ý định rút quân khỏi Cao Bằng để tránh thế phán tán lực lượng, đồng thời tập trung lực lượng mở cuộc tiến công đánh chiếm Thái Nguyên. Lạng Sơn và Thái Nguyên sẻ trở thành hai trụ cột chính trong trận tuyến phòng ngự chiến lược mới của quân Pháp. Nhưng kế hoạch của họ chưa kịp triển khai thực hiện thì các lực lượng vũ trang ta đã phát huy quyền chủ động tác chiến, tiến hành một loạt cuộc tiến công.


Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1950, phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Pa-thét Lào đang tiến công thắng lợi dọc sông Mã trên đoạn Xiềng Khọ - Xốp Hào, hai tiểu đoàn của ta vây hãm địch ở Sầm Tợ và phát triển tiến công trong vùng. Liên quân Lào - Việt tạo nên một sức ép mạnh đối với toàn khu vực Sầm Nưa. Ngày 4 tháng 9, tổng chỉ huy quân Pháp phải cho thả một tiểu đoàn dù xuống Sầm Nưa.


Từ tháng 8 năm 1950, trên mặt trận Tây Bắc, ta tiến hành một chiến dịch nghi binh rầm rộ bằng cách: tăng cường trinh sát, địch vận ở khu vực Lao Cai; tổ chức diễn tập lớn ở Yên Bình Xã với các đơn vị mang mật hiệu của Sư đoàn 308; dùng hàng trăm thuyền bè và nhiều đoàn dân công vận chuyển lương thực, đạn dược lên hướng Lao Cai, v.v... Trước tình hình đó, bộ tổng chỉ huy Pháp lại phán đoán có thể cuộc tiến công chính của ta trong thu - đông đã chuyển sang hướng Lao Cai, Tây Bắc. Ngày 23 tháng 8, họ mở cuộc hành binh "cái kén" (chrysalide) cho nhiều tiểu đoàn thọc ra vùng tự do của ta ở Phú Thọ để thăm dò và phá kế hoạch tiến công thu - đông của ta. Nhưng bị bộ đội địa phương và dân quân đánh thiệt hại hàng trăm tên, đến ngày 3 tháng 9 quân địch phải vội vã rút lui.


Ngày 12 thảng 9 năm 1950, bốn ngày trước khi chiến dịch Biên Giới chính thức mở màn, một trung đoàn chủ lực của ta cùng với lực lượng vũ trang địa phương nổ súng tiến công vào Bắc Hà, một cứ điểm quan trọng của địch ở phía đông Lao Cai, khiến cho bộ tổng chỉ huy Pháp càng tin chắc rằng phán đoán của họ là đúng.


Đúng vào lúc địch bất ngờ nhất, sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, ta tiến công cứ điểm Đông Khê, đánh trận mở màn chiến dịch. Đánh Đông Khê là đánh vào nơi địch tương đối yếu nhưng lại là vị trí rất quan trọng trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn. Mất Đông Khê, địch buộc phải cho quân đi ứng cứu, tạo cho ta thời cơ thuận lợi tiêu diệt chúng trong tác chiến vận động.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:37:24 am
Trước tình huống đó, bộ tổng chỉ huy quân Pháp quyết định tổ chức lực lượng ứng cứu cho Đông Khê, đồng thời rút quân khỏi Cao Bằng để tránh bị tiêu diệt. Ngay chiều ngày 16 tháng 9, trong khi một tiểu đoàn dù được lệnh chuẩn bị nhảy xuống Đông Khê thì tại Lạng Sơn, một binh đoàn tác chiến cũng được thành lập để tiến lên Thất Khê. Cả hai lực lượng này đều có nhiệm vụ ứng cứu cho Đông Khê và yểm trợ cho quân ở Cao Bằng rút về. Nhưng sáng ngày 18, địch chưa kịp hành động thì ta đã hoàn thành việc tiêu diệt cứ điểm Đông Khê. Bộ tổng chỉ huy Pháp đành phải ném tiểu đoàn dù xuống Thất Khê, như một thành phần của binh đoàn tác chiến mới thành lập. Binh đoàn này gồm 4 tiểu đoàn Âu - Phi do viên trung tá Lơ Pa-giơ chỉ huy có nhiệm vụ tiến lên Đông Khê để đón cụm quân ở Cao Bằng được lệnh rút về. Ngày 21 tháng 9 một tiểu đoàn bộ binh được không vận đến Cao Bằng để tăng thêm lực lượng cho cụm quân ở đây tổ chức rút lui.


Trong lúc này, ở mặt trận Tây Bắc, ta đánh tan địch ở bắc Hà, đuổi đánh chúng trên đường tháo chạy về Xi Ma Cai, đồng thời bao vây uy hiếp mạnh thị xã Lao Cai. Sợ Lao Cai bị tiêu diệt, địch vội vã điều từ Sài Gòn ra một tiểu đoàn dù đẽ ném xuống thị xã này.


Cũng vào dịp này, tại phía nam đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng vũ trang ta hoạt động mạnh hẳn lên, tiến công hàng loạt vị trí địch, đánh phá giao thông, diệt tề trừ gian. Bộ chỉ huy Pháp phải cấp tốc đưa đến Phát Diệm một tiểu đoàn dù để củng cố phòng ngự và ngăn chặn sự tan rã của khối ngụy binh ở khu vực này.


Ở Trung Trung Bộ, lực lượng vũ trang ta cũng hoại động mạnh và đều khắp. Tiểu đoàn dù, lực lượng cơ động độc nhất của địch tại chiến trường này, đã bị xé lẻ ra thành nhiều mảnh để ném vào Bình - Trị - Thiên, Liên khu V và cả vào rừng núi Tây Nguyên nữa. Nó đã bị tiêu hao nặng và không còn khả năng tập trung lại để tiếp ứng cho chiến trường chính.


Từ tháng 5 đến giữa tháng 9 nốm 1950, chiến trường Nam Bộ tương đối yên tĩnh. Đột nhiên, bước vào tuần lễ cuối của tháng 9, các lực lượng vũ trang ta chuyển sang tiến công và hoạt động rất mạnh, thu hút về phía mình các tiểu đoàn cơ động của địch trên chiến trường này. Trước sức uy hiếp mạnh của bộ đội chủ lực ta trên tuyến Bến Cát - Thủ Dầu Một, bộ chỉ huy quân Pháp buộc phải tung vào Dầu Tiếng một tiểu đoàn dù để bám giữ lấy vùng cao su quan trọng đó.


Hoạt động tiến công mạnh mẽ của các lực lượng vũ trang ta trên khắp các chiến trường từ Nam đến Bắc đã phân tán, căng kéo địch đến cực độ và đặt bộ tổng chỉ huy Pháp trước một tình thế gay cấn. Trong tay họ chỉ còn một tiểu đoàn dù ở Sài Gòn và 2 tiểu đoàn bộ binh ở bắc Bộ. Mà tình hình lúc này ở Lao Cai, Sầm Nưa, Phát Diệm, Thừa Thiên, Dầu Tiếng không cho phép rút về bất cứ một tiểu đoàn dự bị cơ động nào.


Tuy đã phải vứt bỏ ảo tưởng đánh chiếm Thái Nguyên để xây đựng thế trận phòng ngự chiến lược mới, nhưng trước tình hình nguy ngập ở biên giới Đông Bắc, tổng chỉ huy quân Pháp cũng phải cố vét lực lượng dự bị còn lại tổ chức một cuộc tiến công lên thị xã Thái Nguyên, với hy vọng kéo chủ lực ta về giao chiến ở đây để đỡ đòn cho biên giới, lực lượng này gồm 1 tiểu đoàn dù điều động từ Sài Gòn ra, 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc lực lượng tổng dự bị và 2 tiểu đoàn bộ binh khác rút từ tay bộ chỉ huy Pháp tại chiến trường Bắc Bộ. Ngày 29 tháng 9, các đơn vị bộ binh theo đường bộ và đường sông tiến lên Thái Nguyên. Ngày 1 tháng 10, tiểu đoàn dù cũng được thả xuống thị xã này. Cùng ngày, trên mặt trận Đông Bắc, binh đoàn Lơ Pa-giơ từ Thất Khê tiến đến phía nam Đông Khê thì bị chặn đứng. Ngày 3 tháng 10, binh đoàn Sác-tông cũng vội vã rút khỏi Cao Bằng.


Đây là thời điểm hết sức quan trọng của cuộc chiến. Sau chiến thắng Đóng Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: có thể địch sẽ cố chiếm lại Đông Khê để giữ vững Cao Bằng, hoặc phải đánh lên để đón quân ở Cao Bằng rút về. Người vạch ra mưu kế tác chiến của ta là "nhử thú dữ vào tròng" để "khép vòng lưới thép" tiêu diệt chúng.


Đúng vào lúc bộ tổng chỉ huy Pháp sử dụng hết lực lượng dự bị chiến lược của họ thì Bộ Tổng tư lệnh của ta quyết định tập trung lực lượng chủ lực ở mặt trận Đông Bắc tiêu diệt hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông tại khu vực Đông Khê. Cụm quân địch ở Thái Nguyên thì giao cho các lực lượng vũ trang tại chỗ bám đánh, tiêu hao và giam chân chúng tại đấy.


Cho đến lúc đó, các tướng tá Pháp dựa theo "kinh nghiệm" của họ và với căn bệnh cố hữu "chủ quan, khinh địch", vẫn tin rằng tập đoàn chủ lực của đối phương chưa có khả năng tiến hành tác chiến chính quy trên quy mô lớn, và nếu đối phương có "liều lĩnh" đụng độ với quân viễn chinh Pháp trong một cuộc chiến tranh vận động chính quy thì 8 tiểu đoàn "thiện chiến" của Pháp ở khu vực biên giới sẽ thừa sức đánh bại từ 15 đến 18 tiểu đoàn chủ lực của Việt Nam. Trên phạm vi chiến lược tổng chỉ huy quân Pháp cho rằng mình đã phân phối đúng đắn lực lượng và phương tiện cho các viên chỉ huy chiến trường để họ đủ sức đối phó với các hành động của đối phương. Tuy vậy, để được yên tâm hơn, sau khi suy tính, cân nhắc kỹ, ông ta quyết định rút tiểu đoàn dù từ Sầm Nưa về Hà Nội. Tiểu đoàn này đã bị kiệt sức sau một tháng bị các lực lượng vũ trang cách mạng Lào - Việt bám đánh liên tục.


Tình huống đã diễn ra đúng như mưu kế tác chiến của ta. Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1950, tại dãy núi Cốc Xá và điểm cao 477 trong khu vực Đông Khê, các đơn vị chú lực của ta đã giáng đòn quyết định, vận động tiến công tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông gồm 8 tiểu đoàn, trong đó có 5 tiểu đoàn cơ động thiện chiến vào bậc nhất của địch, với toàn bộ ban tham mưu của chúng.


Chiều ngày 8 tháng 10 năm 1950, trước sự kêu cửu của quan quân địch tại các vị trí còn lại trên biên giới Đông Bắc, tổng chỉ huy quân Pháp đành ném nốt xuống Thất Khê tiểu đoàn dù cuối cùng vừa điều từ Sầm Nưa về và mới chi được nghỉ ngơi có vài ngày chưa kịp lại sức. Song trước thế tiến công và sức ép mạnh của quân ta, từ ngày 10 đèn ngày 23 tháng 10, quân địch lần lượt rút chạy khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn đến Đình Lập, An Châu về sát Tiên Yên.


Ở mặt trận Thái Nguyên, quân địch bị đánh thiệt hại nặng, ngày 10 tháng 10 phải tháo chạy khỏi thị xã. Trên mặt trận Tây Bắc, trước sức tiến công của ta, ngày 2 tháng 11 địch buộc phải rút khỏi Lao Cai, sau đó liên tiếp bị đánh bật khỏi Sa Pa, Phong Thổ. Ngày 6 tháng 11 chúng cũng buộc phải rút khỏi thị xã Hòa Bình.


Cuộc tiến công chiến lược thu - đông 1950 của ta, trong đó có chiến dịch Biên Giới, đã giành được thắng lợi hết sức to lớn. Thắng lợi đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, là do: "Trung ương lãnh đạo sáng suốt. Các cấp địa phương chỉ đạo đúng đắn. Các cơ quan quân, dân, chính đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, hành động nhất trí"; "Chiến sĩ ta rất hăng hái, anh dũng..."; "Nhân dân ta rất tốt... nồng nàn yêu nước, hãng hái hy sinh"; "Giặc chủ quan, khinh địch, không ngờ ta mạnh như vậy và tiến bộ nhanh như vậy, nên chúng hớ hênh không để phòng cẩn thận"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 443).


Bộ tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp đã bị hoàn toàn bất ngờ về ý đồ chiến lược của ta, về quy mô rộng lớn của cuộc tiến công, về sức mạnh và khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực ta trên chiến trường chính. Đặc biệt, họ đã hoàn toàn bất ngờ trước diễn biến mau lẹ của trận vận động tiến công của ta, chỉ trong 4 ngày, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1950, đã tiêu diệt gọn hai binh đoàn Âu - Phi thiện chiến, đẩy họ đến thảm bại không lường trước được. Nắm trong tay những lực lượng lớn, được trang bị vũ khí tốt hơn hẳn đối phương, có khả năng cơ động cao, nhưng bộ tổng chỉ huy Pháp đành đóng vai những "khán giả" bất lực, tận mắt chứng kiến các binh đoàn thiện chiến nhất của mình bị diệt vong mà không có cách gì để cứu vãn.


Thực ra họ còn có thể làm gì được nữa, khi ngay từ đầu đã mắc phải mưu kế của đối phương, đã hành động theo sự điều khiển của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, lần lượt tung hết các đơn vị dự bị chiến lược ra khắp các chiến trường Đông Dương, trước khi diễn ra những tình huống quyết định trên chiến trường chính. Khi đã tung đi rồi, họ lại không thể thu về khi cần thiết, vì các lực lượng đó đã bị đối phương giam chân, tiêu hao tiêu diệt từng phần. Kê sách cuối cùng của họ là ném 5 tiểu đoàn còn lại lên Thái Nguyên hòng co kéo chủ lực của đối phương, đỡ đòn cho biên giới, cũng chỉ là cố gắng tuyệt vọng đã nhanh chóng tiêu tan trước một thế trận chiến tranh nhân dân vô cùng hiểm hóc.


Thất bại của địch trong thu - đông 1950 là do bộ tổng chỉ huy quân Pháp đã liên tiếp phạm những sai lầm. Những sai lầm ấy không phải họ ngẫu nhiên mắc phải mà là những sai lầm tất yếu của nền nghệ thuật quân sự tư sản lỗi thời trong một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, phải đương đầu với nền nghệ thuật quân sự vô sản tiên tiến và ưu việt của một dân tộc bất khuất, kiên cường và dày dạn kinh nghiệm chống xâm lược, vấp phải một thế trận chiến tranh nhân dân vô địch. Những sai lầm và thất bại ấy, đế quốc Mỹ sau này vẫn tiếp tục phải hứng chịu, mặc dù chúng giàu hơn, mạnh hơn rất nhiều và đã dày công rút tỉa những bài học từ thất bại của thực dân Pháp và nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược khác trên thế giới. Và bất cứ kẻ xâm lược nào khác dù hung hăng và xảo quyệt đến đâu cũng sẽ phải lặp lại những sai lầm và thất bại ấy, nếu chúng liều lĩnh gây chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:39:40 am
VI. MƯU KẾ VÀ THẾ TRẬN TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
(Bài viết nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 chiến thắng Điện Biên Phủ. Đảng trên Tạp chí Cộng sản, số thống 5 năm 1984. Có sửa chữa, bổ sung)


Ba mươi năm đã qua nhưng bài học thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vẫn còn nóng hổi trong trái tim chúng ta và mang tính thời đại sâu sắc. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã nói: "Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công"1 (Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vi chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H.1970, tr. 253). Điện Biên Phủ còn là tiếng sét kinh hoàng giáng vào mọi mưu toan gây chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác hòng thôn tính nước ta.


Ngày nay, nhìn lại chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng ta, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, đồng thời kế thừa những tinh hoa về tài thao lược, ý chí quật cường của dân tộc trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.


Để tìm hiểu thêm sự đúng đắn, tài giỏi trong việc chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng dẫn tới chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, không thể không kể đến nghệ thuật mưu kế và thế trận đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo. Mưu kế và thế trận là những yếu tố rất quan trọng của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chỉ huy nói riêng.


Cuối năm 1953 - đầu năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch có những chuyển biến quan trọng có lợi cho ta. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của chúng ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Để đánh bại chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp gây ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với sức mạnh tổng hợp của khôi đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông. Toàn dân ta đã nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 222). Khắp nơi đều xây dựng lực lượng kháng chiến, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một trận địa đánh giặc kiên cường. Trên cơ sở đó, thế trận chiến tranh nhân dân đã được xây dựng và phát triển ngày càng vững mạnh và rộng khắp trên cả nước.


Các lực lượng vũ trang ta, từ chỗ lúc đầu mới là những đơn vị nhỏ bé, trang bị thô sơ, sau tám năm kháng chiến đã trưởng thành nhanh chóng, với ba thứ quân ngày càng lớn mạnh. Các đại đoàn chủ lực đã ra đời và được tôi luyện, thử thách trong chiến tranh. Sự phối hợp giữa ba thứ quân cùng với phong trào toàn dân đánh giặc ngày càng chặt chẽ. Với những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta, từ chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947, chiến dịch Biên Giới thu - đông 1950, các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung (Hà - Nam - Ninh) năm 1951, chiến dịch Hòa Bình đông - xuân 1951-1952 đến các chiến dịch Tây Bắc thu - đông 1952, Thượng Lào xuân 1953, với thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ trên cả ba nước Đông Dương, thế chủ động trên chiến trường đã thuộc về ta.


Trong khi đó thực dân Pháp ngày càng sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Quân đội viễn chinh Pháp và quân đội tay sai phải chịu nhiều tổn thất nặng nề, khu vực chiếm đóng của chúng ngày càng bị thu hẹp, quân lính mệt mỏi, tinh thần ngày càng sa sút. Mâu thuẫn thuộc về bản chất của một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ngày càng bộc lộ. Đứng trước cuộc chiến tranh "bẩn thỉu" kéo dài và hao người tốn của đó, nước Pháp ngày càng lâm vào tình thế khủng hoảng trầm trọng.


Hình thái chiến trường Đông Xuân 1953-1954 đã có những thay đổi lớn. Vùng tự do và căn cứ du kích của ta đã trải rộng từ biên giới Lạng Sơn - Cao Bằng - Hà Giang - Lao Cai, bao gồm hầu hết miền Tây Bắc (chỉ trừ Nà Sản và Lai Châu) tới vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, từ nam phần Trung Bộ tới bắc Tây Nguyên. Nhiều căn cứ địa cách mạng xen kẽ với địch từ cực nam Trung Bộ tới miền tây Nam Bộ. Những làng và cụm làng kháng chiến mọc lên chi chít ngay ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Với tình trạng đó, bộ tham mưu quân Pháp đã phải gọi tấm bản đồ thể hiện hình thái chiến trường đồng bằng Bắc Bộ là bản đồ "lên sởi".


Đánh giá tình hình quân sự lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định:

"BÊN ĐỊCH: ... Lực lượng địch bị tiêu hao nhiều (tính đến tháng 11 năm 1953, độ 32 vạn). Quân số Âu Phi ngày càng thiếu. Trên chiến trường chính, địch càng bị động. Mới đây, địch cố thọc ra vùng tự do ở Liên khu 3 và một vài nơi ở bờ biển Liên khu 4, nhưng thế của địch căn bản vẫn là bị động.

"Tuy vậy, hiện nay lực lượng địch vẫn còn mạnh. Ta không được khinh địch...

"BÊN TA: ... Từ thu - đông năm 1950, ta đã thắng to trong bảy chiến dịch và đã nắm được chủ động trên chiến trường chính. Ta đã giải phóng phần lớn vùng Tây Bắc to rộng. Phong trào du kích lên mạnh khắp các nơi.

"Những đợt chỉnh quân về chính trị và kỹ thuật có kết quả tốt. Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng về số lượng và chất lượng"1 (Hồ Chí Minh, Vì độc lập lự do, vì chủ nghĩa xã hội, tr. 145-147).


Lúc này, thực dân Pháp với sự tăng cường can thiệp của đế quốc Mỹ bằng viện trợ quân sự ngày càng tảng, âm mưu tiếp tục kéo dài và mở rộng chiến tranh, tìm cách giành lại thế chủ động trên chiến trường hòng chuyển bại thành thắng và chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh. Cử Na-va sang thay Xa-lăng làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, chính phủ La-ni-en hy vọng có thể xoay chuyển lại cục diện của chiến tranh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:40:16 am
Hòng thoát khỏi thế phòng ngự bị động và thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, Na-va đề ra một kế hoạch chiến lược mang đầy tham vọng: xây dựng lực lượng cơ động chiến lược lớn hơn lực lượng cơ động chiến lược của đối phương để chuyển sang tiến công làm chuyển biến tình thế; đẩy mạnh xây dựng quân ngụy để đảm nhiệm việc chiếm đóng các địa phương, tạo điều kiện tập trung quân Âu - Phi xây dựng lực lượng cơ động chiến lược. Na-va dự định chỉ trong vòng 18 tháng sẽ giành lại thế chủ động chiến lược.


Na-va phán đoán có ba hướng chiến lược có thể bị ta uy hiếp là: đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc Việt Nam - Thượng Lào và miền Nam Đông Dương, ông ta nhận định: đồng bằng Bắc Bộ là một địa bàn xung yếu có thể là hướng tiến công chính của chủ lực đối phương. Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào là vùng rừng núi mà phòng ngự của Pháp có nhiều sơ hở, nhưng đối phương không thể mở những cuộc tiến công quy mô lớn và dài ngày do địa hình hiểm trở và khó khăn trong việc giải quyết hậu cần, kỹ thuật. Miền Nam Đông Dương là khu vực mà lực lượng chủ lực của đối phương chưa có nhiều, nhưng lực lượng của Pháp cũng yếu hơn so với ở đồng bằng Bắc Bộ, lại bố trí phân tán. Ở đây có vùng Tây Nguyên xung yếu nối liền với Hạ Lào và chiến trường Nam Bộ; nếu chủ lực đối phương mở cuộc tiến công lớn ở vùng này thì có khả năng gây ra đảo lộn lớn trong thế trận của hai bên. Từ những nhận định đó, Na-va vạch ra kế hoạch tác chiến gồm hai bước. Bước một: trong Đông Xuân 1953-1954, tránh giao chiến toàn bộ với các đơn vị chủ lực cơ động của đối phương; ở phía bạc vĩ tuyến 18, giữ thế phòng ngự chiến lược; ở phía nam vĩ tuyến 18, thực hành tiến công nhằm chiếm đóng tất cả các vùng tự do của đối phương, nhất là Liên khu 5 và vùng Hậu Giang, Nam Bộ. Bước hai: sang Đông Xuân 1954-1955, khi lực lượng cơ động chiến lược của Pháp đã được xây dựng đủ mạnh thì tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực đối phương trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định.


Theo phương hướng đó, mùa thu 1953 thực dân Pháp tăng viện ngay cho quân viễn chinh 12 tiểu đoàn lấy từ Pháp, Bắc Phi và rút từ Triều Tiên về. Na-va quyết định rút quân khỏi Nà Sản (Tây Bắc) và cố sức tập trung được 84 tiểu đoàn cơ động; riêng ở đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn, chiếm hơn 50 phần trăm lực lượng cơ động của Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương. Theo lệnh quan thầy, ngụy quyền bù nhìn Bảo Đại ra "dụ" tổng động viên, bắt hàng chục vạn thanh niên vào lính để mở rộng quân ngụy.


Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Ban Châp hành Trung ương Đảng ta họp bàn về chủ trương tác chiến Đông Xuán 1953-1954. Hội nghị đã khẳng định sự đúng đắn của phương hướng chiến lược mà Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng đã vạch ra và xác định chủ trương tác chiến trong Đóng Xuân 1953-1954 là: Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Bộ Chính trị nhận định: lúc này địch tập trung cao độ quân chủ lực để tác chiến với ta ở đồng bằng; chiến trường đồng bằng có nhiều thuận lợi cho địch, đánh lớn vào đồng bằng chỉ có thể thu được nhưng thắng lợi có hạn, không thay đổi được cục diện chiến tranh mà chủ lực ta có thê bị tiêu hao. Tây Bắc Việt Nam và Lào là nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Đưa bộ đội chủ lực lên hướng đó, mặc dù có khó khăn rất lớn về tiếp tế nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, tranh thủ tiêu diệt sinh lực dịch. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở các chiến trường sau lưng địch để tiêu hao và giam chân địch, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.


Phương hướng chiến lược và chủ trương tác chiến mà Đảng đề ra trong Đông Xuân 1953-1954 là sự thể hiện của mưu kế chiến lược: căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt, giữ vững quyền chủ động đánh địch trên cả hai mặt trận trước mặt và sau lưng địch, phối hợp các chiến trường trên phạm vi cả nước và phối hợp trên toàn chiến trường Đông Dương, tạo thời cơ để tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch trên chiến trường ta lựa chọn vào thời gian thích hợp.


Mưu cao nhất là mưu lừa địch. Nắm vững phương hướng chiến lược của Đảng, quán triệt một nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự là "mưu trí, linh hoạt, bí mật, bất ngờ", chúng ta đã thực hiện thành công nhiều biện pháp nghi binh lừa địch như: chuẩn bị hành quân, tác chiến; di chuyển bộ đội; tung tin giả... để đánh lạc hướng địch. Kết quả là đã làm cho địch phán đoán lầm ý định của ta. Trong khi bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp còn đang thăm dò, mò mẫm xem đại bộ phận quân chủ lực ta đang tập trung và triển khai tác chiến về hướng nào, thì Na-va nhận được tin tình báo cho rằng ta đang chuẩn bị tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ với lực lượng của các sư đoàn 320, 308, 312, 304 và có thể cả một bộ phận của Sư đoàn 316. Thế là Na-va quyết định hành động trước. Ông ta ra lệnh cho các cấp dưới "phải ra tay trước, phải hành động sớm hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận. Khẩu hiệu là giành quyền chủ động..."1 (Hăng-ri Na-va, Đòng Dương hấp hối, Nxb Plông, Pa-ri, 1958). Hè - thu năm 1953, quân Pháp đã mở hàng chục trận càn quét trong vùng chúng tạm chiếm ở Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Bộ; mở cuộc tiến công lớn mang tên "chiến dịch Hải âu" đánh ra tây - nam Ninh Bình và địa đầu Thanh Hóa. Nhưng chúng đã không giành được một thắng lợi nào đáng kể, lại còn bị các lực lượng vũ trang địa phương và một bộ phận chủ lực của ta tiêu hao, tiêu diệt một phần không nhỏ.


Tháng 11 năm 1953, Na-va nhận được tin tình báo cho biết: một bộ phận chủ lực của ta đang hành quân lên hướng Lai Châu; quân tình nguyện Việt Nam và quân đội Pa-thét Lào đang chuẩn bị tiến công ở Trung Lào; bộ đội chủ lực của ta ở Liên khu 5 ráo riết chuẩn bị tiến vào Tây Nguyên... Na-va đã thấy rõ hướng tiến công chủ yếu của ta không phải là đồng bằng Bắc Bộ như ông ta đã phán đoán, nên phải bị động thay đổi kế hoạch. Từ giữa tháng 11, Na-va vội vã cho 6 tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ, đồng thời trước sức uy hiếp của ta, ông ta quyết định rút quân chiếm đóng khỏi Lai Châu, vừa để tránh bị tiêu diệt vừa có thêm lực lượng tăng cường cho Điện Biên Phủ. Na-va cũng điều động binh đoàn cơ động số 2 và 2 tiểu đoàn độc lập tảng cường cho hướng Trung Lào. Như vậy ta đã buộc địch phải phân tán lực lượng, điều một bộ phận quân chủ lực của chúng lên Tây Bắc và Trung Lào.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:41:09 am
Kế hay nhất là kế điều địch và quan trọng nhất là điều lực lượng cơ động chiến lược của địch. Đó là nghệ thuật rất cao trong nghệ thuật chỉ huy nhằm thực hiện phương hướng chiến lược của ta: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, phân tán lực lượng địch để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do của ta. Dùng mưu kế để lừa địch, điều địch, phân tán lực lượng địch rồi bất ngờ nhằm vào nơi sơ hở, hiếm yếu của địch để đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đó là nét nối bật của nghệ thuật mưu kế và thế trận trong Đông Xuân 1953-1954. Thực hiện phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" mà Bộ Chính trị đã đề ra, chúng ta đã điều động được địch theo ý định của ta, căng địch ra mà đánh, buộc chúng phải phân tán lực lượng, đối phó lúng túng, còn ta thì nắm chắc khối chủ lực để tùy theo tình hình diễn biến trên chiến trường mà xử trí một cách hết sức chủ động, linh hoạt.


Để tiếp tục đánh lạc hướng phán đoán của địch và phân tán khối chủ lực cơ động của chúng ra các chiến trường khác, tạo điều kiện cho việc tập trung lực lượng và chuẩn bị tiến công của ta ở Điện Biên Phủ, cuối tháng 12 năm 1953, ta tiến công dịch ở Trung Lào, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở chiến trường này, rồi thừa thắng phát triển tiến công xuống Hạ Lào. Cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1954, ta tiến công quét sạch địch ở bắc Tây Nguyên, giải phóng thị xã Kon Tum. Cuối tháng 1 năm 1954, quân đội ta cùng với bộ đội Pa-thét Lào mở đợt tiến công ở Thượng Lào, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu mà địch mới xây dựng để nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Ta thừa thắng phát triển lên phía bắc giải phóng Phông-xa-lỳ, nối liền khu giải phóng của cách mạng Lào với Tây Bắc Việt Nam. Địch buộc phải điều ngay lực lượng cơ động tăng cường cho Luông Pha-băng hòng giữ cho thế trận của chúng ở Thượng Lào khỏi sụp đổ.


Ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội chủ lực của các quân khu cũng đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, đánh trả mãnh liệt các cuộc càn quét của địch, với phương châm đánh nhỏ ăn chắc, tiêu hao sinh lực địch, mở rộng căn cứ du kích của ta, thu hút và giam chân chủ lục địch để phối hợp với chiến trường chính.


Như vậy, đến tháng 2 năm 1954, hình thái trên toàn chiến trường đã có những chuyển biến quan trọng. Vùng giải phóng của ta mở rộng hơn, vùng địch tạm chiếm bị thu hẹp nhiều trong thế cài xen giữa địch và ta, ta đứng chân ở những vị trí khá then chốt và thuận lợi cho việc tiến công địch. Nó phản ánh thế trận của ta đã phát triển vững chắc trên tất cả các địa bàn chiến lược. Kế hoạch Na-va đã bắt đầu bị phá sản. Số quân cơ động với 44 tiểu đoàn mà Na-va cố gắng tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ nay chỉ còn 20 tiểu đoàn. Mâu thuẫn cố hữu giữa giữ đất và cơ động, giữa phân tán và tập trung của mọi quân đội xâm lược ngày càng bộc lộ sâu sắc. Sự rệu rã, mệt mởi, mất tinh thần của đội quân đánh thuê và tay sai là mầm mống thất bại không thể tránh khỏi của địch.


Với phương pháp suy nghĩ chủ quan, siêu hình, đánh giá thấp đối phương của học thuyết quân sự tư sản phản động, Na-va liên tiếp mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác. Trong khi lực lượng cơ động chiến lược của ông ta đang bị ta căng ra khắp Đông Dương, đang lâm vào thế bị động đối phó thì Na-va vẫn mơ tưởng tới một cuộc tiến công chiến lược. Na-va quyết tâm tập trung quân cơ động ở năm địa điểm lớn là: Điện Biên Phủ, đồng bằng Bắc Bộ, Luông Pha-băng, Xê-nô và Tây Nguyên. Na-va quyết định chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Ông ta chủ trương tăng thêm lực lượng để biến Điện Biên Phủ thành một "con nhím" khổng lồ, một cái bẫy để thu hút rồi nghiền nát chủ lực của ta.


Tương kế tựu kế để đánh địch là một kinh nghiệm hay của ông cha ta. Sách Binh thư yếu lược nói: "Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó;... lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"1 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 183). Địch chọn Điện Biên Phủ làm nơi thu hút lực lượng ta hòng đánh quỵ chủ lực ta, rồi phát triển tiến công đánh chiếm các vùng chiến lược của ta trên toàn chiến trường Đông Dương, về phía ta thì tuy có khó khăn về vận chuyển tiếp tế song tác chiến ở vùng rừng núi này căn bản có lợi cho ta, phù hợp với khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực ta. Cách đối phó bị động của địch đã trúng kế của ta: chúng đã bị điều đến nơi ta có khả năng và thế lợi để tiêu diệt chúng; ở đó ta có hậu phương rộng lớn, địch thì bị cô lập.


Sự phát triển lô-gích của hình thái trên toàn chiến trường đã dẫn tới chỗ Điện Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, các lực lượng chủ lực cơ động của ta tiếp tục được lệnh hành quân áp sát và bao vây quân địch ở thung lũng Điện Biên Phủ và gấp rút tiến hành mọi công tác chuẩn bị tiến công. Nhân dân ta ở vùng tự do, vùng mới giải phóng và vùng sau lưng địch đã dồn sức người sức của cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị chiến trường, nhất là việc làm đường và vận chuyển tiếp tế, bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, đã được thực hiện với những cố gắng cao nhất.


Đắc chí với những tính toán chiến lược của mình, Na-va ra sức củng cố Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố vào bậc nhất Đông Dương, một "pháo đài bất khả xâm phạm". Các quan chức và tướng lĩnh cao cấp của cả Pháp lẫn Mỹ đều hết sức tán dương chủ trương quyết chiến của Na-va và huênh hoang: cái "tập đoàn cứ điểm đáng sợ" này sẽ là "một Véc-đoong1 (Véc-đoong (Verdun), một tỉnh của nước Pháp. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), quân Pháp đã phòng ngự và đánh tan quân Đức ở đây) thứ hai ở Viễn Đông".


Với nhận định chủ quan cho rằng đối phương khó có đủ sức tiến công vào Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va cho quân đổ bộ vào Tuy Hòa, mở đầu chiến dịch Át-lăng, một bộ phận chủ yếu trong kế hoạch chiến lược của ông ta. Quân và dân Liên khu 5, quán triệt phương hướng chiến lược của Trung ương Đảng chỉ để lại một bộ phận nhỏ đối phó với địch, còn đại bộ phận vẫn tiến công lên Tây Nguyên là hướng quan trọng mà địch tương đối sơ hở. Để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân ta đánh mạnh ở khắp các chiến trường khác. Na-va tiếp tục dấn sâu vào thế bị động. Sau khi buộc phải phân tán lực lượng lần thứ hai ở Trung Lào, ông ta lại phải bị động phân tán lực lượng cơ động lần thứ ba ở Hạ Lào, lần thứ tư ở Tây Nguyên và lần thứ năm ở Thượng Lào. Ở đồng bằng ta cũng đánh mạnh, giam chân địch ở khắp nơi. Nhưng khi thấy cuộc tiến công của ta trên chiến trường Thượng Lào dừng lại ở Mường Sài và Luông Pha-băng, Na-va vội cho là "sức tiến công của đối phương đã đạt đến điểm cao nhất", liền tiếp tục đợt hai của chiến dịch Át-lăng, cho quân đổ bộ vào Quy Nhơn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Chín, 2023, 08:41:43 am
Một cuộc đọ mưu, đọ sức quyết liệt đã diễn ra với sự nỗ lực cao nhất của ta và của địch. Thế trận của ta lúc này phát triển rất thuận lợi. Ta có thế hiểm trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên toàn chiến trường, nhờ đó mà thực hiện được mưu lừa địch và kế điều địch, căng địch ra mà đánh cả ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược là rất hiểm, rất bất ngờ đối với một kẻ địch vốn rất chủ quan, ỷ vào binh khí kỹ thuật, đánh giá thấp đối phương. Địch định dùng mưu lừa ta, ta lại dùng mưu của nó để lừa lại nó. Trong cuộc đọ sức ở Điện Biên Phủ, ta có nhiều khó khăn nhưng ta hoàn toàn cố thể khắc phục được những khó khăn đó bằng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, bằng nghệ thuật chỉ đạo chiến lược và tổ chức, chỉ huy chiến dịch tài giỏi. Bộ đội chủ lực của ta lại phát huy được sở trường và khả năng tác chiến trên địa bàn rừng núi. Trúng kế của ta, lực lượng cơ động chiến lược của địch bị căng ra khắp các chiến trường Đông Dương, bị trói chân trói tay và bị tiêu hao, tiêu diệt, không sao ứng cứu được cho nhau và cũng không có khả năng ứng cứu cho Điện Biên Phủ bị cô lập.


Như vậy, sự phát triển của thế trận chung trên toàn chiến trường đã tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi cho ta tập trung một bộ phận lớn lực lượng chủ lực cơ động tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Điện Biên Phủ, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Song để đạt được mục tiêu ấy, nghệ thuật quân sự còn phải giải quyết thành công nhiều vấn đề về tổ chức, chỉ huy chiến dịch.


Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương với tổng số quân là 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của địch, với trên 40 khẩu pháo, 10 xe tăng, được sự chỉ viện của 80 phần trăm lực lượng không quân của Pháp ở Đông Dương. Chúng bố trí trong 49 cứ điểm, tổ chức thành 8 cụm, mỗi cụm là một hệ thống hỏa lực nhiều tầng có thể yểm hộ đắc lực cho nhau.


Vì vậy, chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch tác chiến hợp đồng binh chủng có quy mô lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta phải sử dụng phương pháp tác chiến trận địa tiến hành một loạt các trận đánh kế tiếp nhau để giải quyết những cứ điểm và cụm cứ điểm rắn chắc trong một hệ thống phòng ngự có chuẩn bị và tổ chức chặt chẽ. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là "đánh chắc thắng", phương châm tác chiến chiến dịch của ta đã được thay đổi rất kịp thời và chính xác từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" dù phải khắc phục nhiều khó khăn. Bộ đội ta phải cố tinh thần quyết chiến quyết thắng rất cao, phải sử dụng sáng tạo cách đánh: kết hợp đột phá chính diện trên nhiều hướng với thọc sâu chia cắt, bao vây chặt, kiên quyết bóp nghẹt nguồn tiếp tế duy nhất của địch bằng đường không, giành thắng lợi từng bước, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, kiên quyết chọc thẳng vào trung tâm chỉ huy của địch, giành thắng lợi hoàn toàn.


Ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta nổ súng tiến công mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong đợt đầu, chúng ta đã tập trung sức mạnh hợp đồng binh chủng đánh chiếm các cứ điếm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo là những vị trí kiên cố vào bậc nhất của địch ở phía bắc và đông bắc. Mất ba trung tâm đề kháng quan trọng che chở cho tập đoàn cứ điểm, quân địch bị một đòn choáng váng, và nỗi kinh hoàng nhanh chóng lan từ Điện Biên Phủ đến các sở chỉ huy địch ở Hà Nội và Sài Gòn, báo hiệu sự thất bại của chúng là không thể tránh khỏi. Nhưng địch vẫn còn trên một vạn quân và hơn ba chục vị trí, phần lớn đều nằm tập trung giữa cánh đồng Mường Thanh. Trên địa hình bằng phăng, địch có thể phát huy ưu thế về pháo binh, xe tăng, máy bay.


Với quyết tâm cao và cách đánh mưu trí sáng tạo, quân ta tiếp tục mở đợt tiến công thứ hai, đột phá các cao điểm khống chế ở khu đông tập đoàn cứ điểm, đồng thời đưa lực lượng thọc sâu đánh chiếm sân bay, cắt đứt dạ dày của địch, chia cắt địch giữa phân khu nam và phân khu trung tâm, siết chặt quân địch trong vòng vây lửa của một hệ thống chiến hào ngang dọc dài hàng trăm ki-lô-mét. Phát huy hiệu quả của cách đánh gần, bắn ngắm trực tiếp, pháo binh ta với số lượng ít hơn đã hoàn toàn áp đảo pháo binh, xe tăng địch, điều mà kẻ địch hoàn toàn bị bất ngờ và không sao hiểu nổi. Sự xuất hiện và hiệu lực của pháo binh ta đã gây nên nỗi kinh hoàng cho giặc Pháp ở Điện Biên Phủ đến nỗi ngay trong đêm đầu tiên ta mở cuộc tiến công, viên trung tá chỉ huy pháo binh địch đã phải tự sát vì thấy mình bất lực. Còn bộ binh ta, với những cách đánh hết sức dũng cảm, sáng tạo như đánh lấn, bắn tỉa, vây hãm quân địch cả ở mặt đất và trên không, cài xen áp sát địch... đã làm cho địch càng thêm khốn quẫn, trận địa phòng ngự của chúng ngày càng thu hẹp, hỏa lực và khả năng tiếp tế, ứng cứu bằng không quân của địch trở thành vô hiệu.


Trước tình hình nguy ngập của Điện Biên Phú. hy vọng được đế quốc Mỹ cứu nguy bằng kế hoạch ném bom "Diều hâu" cũng đã tiêu tan, Na-va chỉ còn cách ra lệnh cho Đờ Ca-xtơ-ri mở một đường máu tháo chạy về phía tây. Nhưng đã muộn! Chiếc thòng lọng đã xiết chặt vào cổ chúng. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ta đã mở đợt công kích cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phú. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngọn cờ "Quyết chiến quyết thắng'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh tung bay trên nóc sở chỉ huy địch. Tướng Đờ Ca-xtơ-ri và toàn bộ bộ tham mưu địch bị bắt sống, gần một vạn quân địch còn sống sót đã đầu hàng. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng hết sức vẻ vang.


Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh hùng hồn rằng Đảng ta không những có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn sáng tạo mà còn đạt tới trình độ rất cao trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự cách mạng, trong đó có nghệ thuật mưu kế và lập thế trận.


Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa ở thế kỷ XX. Từ sau Điện Biên Phủ, nhân dân ta lại viết tiếp những trang sử huy hoàng mới với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Với tinh thần quật cường bất khuất và tài thao lược được tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử, ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta nhất định sẽ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:24:57 am
VII. BÀY MƯU LẬP THẾ CHO TRẬN ĐÁNH ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH XUÂN - HÈ 1972
(Bài đăng trên Tạp chí Quân đội nhân dân, số thang 5 nôm 1983. Có sửa chữa, bổ sung)


Đánh giặc bằng mưu là một cách đánh hay. Trong lịch sử chiến tranh, đã có nhiều trận đánh, do biết dùng mưu hay kế giỏi mà bên ít quân đã đánh thắng bên đông quân hơn mình.

Phát huy truyền thống quý báu về tài thao lược của dân tộc, trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, lực lượng vũ trang nhân dân ta đã có nhiều trận đánh biết dùng mưu kế hay để thắng địch. Dưới đây là một trận trong hàng trăm trận như vậy trên khắp đất nước ta.


Năm 1972 là năm có những chuyển biến lớn về chiến lược có lợi cho nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Qua mấy năm bị thất bại nặng nề, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Ních-Xơn đang đứng trước nguy cơ bị phả sản hoàn toàn. Quân ngụy đã mất khả năng tiến công, buộc phải đi vào thế phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường.


Để thúc đẩy nhanh chóng sư suy sụp của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo điều kiện và thời cơ đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở một cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trên chiến trường miền Nam. Mục đích của cuộc tiến công chiến lược lần này là tiêu diệt một bộ phận lớn lực lượng của địch, giải phóng một số vùng đất đai quan trọng gồm một số thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự, nhằm phá vỡ một mảng trong thế trận phòng ngự của địch, tạo ra sự chuyển biến về so sánh lực lượng và cục diện chiến tranh có lợi cho ta.


Trong chủ trương chiến lược nói trên, chiến trường Tây Nguyên là một hướng tiến công chiến lược được giao nhiệm vụ "tiêu diệt địch, giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là hướng Plây Cu..."1 (Trích: Điện số 236 của Bộ gửi mặt trận Tây Nguyên, ngày 10 tháng 9 năm 1971).


Thực hiện nhiệm vụ nói trên, chiến dịch tiến công địch ở bắc Tây Nguyên được chia thành hai đợt. Đợt một: tiêu diệt địch ở căn cứ Tân Cảnh, giải phóng thị trấn Tân Cảnh và quận lỵ Đắc Tô. Đợt hai: tiêu diệt địch ở thị xã Kon Tum và quân ứng cứu, tiếp viện từ Plây Cu lên, giải phóng thị xã Kon Tura và vùng phụ cận.


Phải có cách đánh như thế nào để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của chiến dịch? Đó là một vấn đề mà Bộ tư lệnh và cơ quan chỉ huy chiến dịch phải suy nghĩ nung nấu. Vì đây là lần thứ hai ở chiến trường Tây Nguyên, từ tết Mậu Thân năm 1968, quân ta đánh vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, vào thị trấn, thị xã, và là lần đầu tiên ta đánh vào thị trấn, thị xã bằng tác chiến hợp đồng binh chủng có sử dụng xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ. Đánh lớn, đánh vào chỗ địch mạnh, địch cứng, thì phải đánh thế nào cho tốt, giành được thắng lợi giòn giã?


Câu trả lời là: phải hạn chế được chỗ mạnh, chỗ cứng của địch, làm cho địch mạnh mà hóa yếu, cứng mà hóa mềm.

Về so sánh lực lượng, ta không có ưu thế hơn địch về số lượng nên càng phải coi trọng hướng suy nghĩ này. Cách đánh theo hướng này là đánh bằng mưu và bằng thế.

Ở Tây Nguyên, địch có 2 sư đoàn bộ binh (các sư đoàn 22, 23) và liên đoàn biệt động quân số 2. Về binh chủng kỹ thuật, địch có 10 tiểu đoàn pháo binh, 4 trung đoàn thiết giáp và 1 trung đoàn không quân. Ngoài ra, chúng còn có lực lượng bảo an, dân vệ và quân biệt động biên phòng. Địch coi Tây Nguyên là chiến trường chính của quân khu 2 nên chúng tập trung ở đây phần lớn lực lượng chủ lực và thành phần binh chủng kỹ thuật của quân khu 2. Toàn quân khu chỉ có 2 sư đoàn bộ binh chủ lực và 1 liên đoàn biệt động quân thì địch tập trung ở Tây Nguyên sư đoàn 23 nguyên vẹn, sư đoàn 22 thiếu và liên đoàn biệt động số 2 là lực lượng cơ động của quân khu. Về binh chủng kỹ thuật, chúng cũng tập trung phần lớn ở chiến trường Tây Nguyên.


Ngoài lực lượng của quân khu 2, bộ tổng tham mưu ngụy cũng thường sử dụng lực lượng tổng dự bị chiến lược vào chiến trường Tây Nguyên. Địch phán đoán đòn tiến công chiến lược chủ yếu của ta trong mùa xuân 1972 sẽ nhằm vào Tây Nguyên. Cuối tháng 2 năm 1972, sau khi thấy Sư đoàn bộ binh 320 của ta xuất hiện ở Tây Nguyên thì chúng càng tin chắc rằng phán đoán đó là đúng. Chúng vội điều lên Tây Nguyên sư đoàn dù thiếu gồm 2 lữ đoàn và liên đoàn biệt động quân số 6. Như vậy, ở chiến trường Tây Nguyên lúc này địch có 32 tiểu đoàn bộ binh chủ lực, 10 chi đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh, cùng mấy chục tiểu đoàn biệt động, biên phòng, bảo an... Lực lượng này lại tập trung chủ yếu vào khu vực từ thị xã Plây Cu đến Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh.


Về phía ta, lực lượng chủ lực của ta có 1 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 320), 1 sư đoàn bộ binh thiếu (Sư đoàn 2), 4 trung đoàn bộ binh độc lập, 1 trung đoàn đặc công thiếu, 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng thiếu, 2 trung đoàn công binh... Như thế, về quân chủ lực, ta có 29 tiểu đoàn, ít hơn địch một chút, về quân địa phương, địch đông hơn ta nhiều. Địch cũng có lực lượng: nhiều hơn ta về pháo binh, xe tăng và có ưu thế tuyệt đối về máy bay.


Thế bố trí của địch như sau:

Ở thị trấn Tân Cảnh, địch bố trí sư đoàn 22 (thiếu) gồm trung đoàn 42, trung đoàn 47, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 41; ngoài ra, địch điều tới đây tiểu đoàn dù số 9 và có lực lượng tại chỗ gồm 2 tiểu đoàn bảo an. Về binh chủng kỹ thuật, có trung đoàn thiết giáp số 14 và 2 tiểu đoàn pháo binh.

Ở thị xã Kon Tum, địch bố trí sư đoàn dù (thiếu), liên đòàn biệt động quân số 2 và liên đoàn biệt động quân số 6 điều từ Sài Gòn tới, cùng với các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật.

Ở thị xã Plây Cu, địch bố trí sư đoàn 23 cùng các đơn vị binh chủng kỹ thuật và không quân.

Theo cách bố trí của địch, ta phán đoán hướng phòng ngự chủ yếu của địch là đoạn từ thị xã Kon Tum đến thị trấn Tân Cảnh. Địch cho rằng ta chưa có đủ điều kiện để đánh Plây Cu mà nhiều lắm cũng chỉ có khả năng đánh Kon Tum hoặc Tân Cảnh. Vì vậy chúng đã tập trung xây dựng hai khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh và thị xã Kon Tum thành những trung tâm phòng ngự mạnh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:25:38 am
Trong tác chiến, đánh cứ điểm, đột phá trận địa phòng ngự của địch mới chỉ là hành động chiến đấu thứ nhất. Còn phải có hành động chiến đấu thứ hai là đánh quân địch đi phản kích, ứng cứu. Sau khi đột phá thành công trận địa của địch rồi, nếu không đánh bại được quân địch đi phản kích, ứng cứu thì trận đánh sẽ giằng co, nhập nhằng, không giữ vững được thắng lợi. Vì vậy trong điều kiện địch có số lượng quân đông và vũ khí nhiều hơn ta thì phải tìm cách phân tán, chia cắt địch hoặc tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận địch ở vòng ngoài, trên một hướng khác, trước khi ta đột phá trận địa phòng ngự của địch ở hướng tiến công chủ yếu. Có như vậy mới tước bỏ hoặc làm suy yếu khả năng phản kích, ứng cứu của chúng.


Theo phương hướng đó, cần bày ra mưu kế và xây dựng thế trận thích hợp để có thể thực hiện được nhiệm vụ chiến dịch với thắng lợi lớn nhất và tổn thất ít nhất.

Mưu kế của ta là: trước khi đánh trận then chốt ở Tân Cảnh thì phải đánh lạc hướng địch, làm cho chúng tưởng lầm rằng ta sẽ đánh Kon Tum, đồng thời phải tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lực lượng dự bị của địch để hạn chế khả năng phản kích, ứng cứu của chúng khi ta đánh Tân Cảnh. Ta đã nắm vững quy luật hành động của địch là mỗi khi một tập đoàn, một trận địa nào của chúng bị tiến công thì lập tức chúng phái ngay lực lượng dự bị đến phản kích, ứng cứu, ngăn chặn. Quy luật này diễn ra khá phổ biến, vì địch còn có quân đông, có phương tiện cơ động nhiều và hiện đại, có mạng đường bộ tốt và có hệ thống vận chuyển đường không hoàn hảo, đặc biệt là có nhiều máy bay lên thẳng.


Theo mưu kế đó, kế hoạch của ta là: phân tán, chia cắt quân địch giữa Plây Cu với Kon Tum, kìm địch ở Plây Cu, hãm địch ở Kon Tum; nhử địch ra ngoài Kon Tum để tiêu hao, tiêu diệt, làm cho Tân Cảnh bị sơ hở, tạo ra yếu tố bất ngờ để đánh Tân Cảnh được thuận lợi. Cách đánh của ta là: chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt.


Để thực hiện mưu kế trên, ta bày thế trận như sau:

Sử dụng bộ đội địa phương và du kích tỉnh Gia Lai đánh giao thông trên đường số 19 từ thị trấn An Khê đến thị xã Plây Cu, phá đường tiếp tế hậu cần của địch từ hậu phương chiến lược của chúng ở đồng bằng lên Tây Nguyên. Đó là thê đánh vào tuyến vận tải chiến lược của địch.


Sử dụng bộ đội đặc công, tiểu đoàn mũi nhọn và tiểu đoàn pháo binh chuyên trách đánh sàn bay, kho tàng và các cơ sở quân sự của địch ở trong và ven thị xã Plây Cu. Đó là thế đánh vào cơ sở vật chất hạ tầng và cơ quan đầu não của địch ở đô thị.


Thế chia cắt quân địch giữa Plây Cu và Kon Tum và kìm chân sư đoàn 23 của địch ở Plây Cu được tạo ra bằng các hoạt động của trung đoàn 95, trung đoàn 24, cùng với bộ đội địa phương huyện và du kích trên đường số 14 ở khu vực đó.


Sư đoàn 320, trung đoàn pháo binh, tiểu đoàn pháo cao xạ và tiểu đoàn pháo binh chuyên trách cùng với đơn vị đặc công tỉnh Kon Tum chịu trách nhiệm tạo ra thế hãm địch ở thị xã Kon Tum và nhử địch ra ngoài ven thị xã để tiêu hao, tiêu diệt. Còn việc tạo thế chia cắt địch giữa Kon Tum với Tân Cảnh thì do trung đoàn 28 và bộ đội địa phương huyện cùng du kích trên đường số 14 ở khu vực đó đảm nhiệm.


Trên cơ sở các thế phân tán, chia cắt, kìm chân và tiêu hao tiêu diệt địch đã được tạo ra như trên, thế đánh Tân Cảnh, quận lỵ Đắc Tô sẽ do Sư đoàn 2 (thiếu), trung đoàn 66, trung đoàn đặc công (thiếu), các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện và du kích trong khu vực cùng với các đơn vị binh chủng pháo binh, pháo cao xạ, xe tăng... đảm nhiệm thực hiện.


Nhờ có thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao nên ta mái có thể bày được một thế trận sâu hiểm, xen kẽ cài chặt vào địch như vậy. Cũng chỉ với thế trận như vậy ta mới có thể thực hiện một cách thuận lợi việc bố trí các lực lượng như trên.


Để thực hiện quyết tâm chiến dịch theo mưu kế đã định, ta cho đánh địch trên đứờng giao thông trước. Đây là cách đánh mà ta dễ giành quyền chủ động và đạt hiệu suât chiến đấu cao. Vào khoảng giữa tháng 3 năm 1972, bộ đội địa phương và du kích tỉnh Gia Lai bắt đầu đánh địch trên đường số 19, tiêu diệt sinh lực và phá hủy phương tiện của địch, thu hút sự đối phó của chúng. Ngày 26 tháng 3, trung đoàn 95 đánh địch trên đường số 14 từ Plây Cu đi Kon Tum và cắt đường ở quãng giữa hai thị xã này, thu hút, kìm chân, tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 23 của địch ở khu vực đó. Ngày 30 tháng 3, Sư đoàn 320 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn dù số 2 và tiêu diệt tiểu đoàn dù số 11 ở các điểm cao 1049 và 1015 trên dãy núi phía tây sông Pô Cô, tây - bắc thị xã Kon Tum. Trung đoàn 28 đánh cắt đường giao thông số 14, chia cắt Kon Tum với Tân Cảnh ở đoạn Võ Định.


Tại sao ta lại nhử được quân dù của địch ra tây - bắc thị xã Kon Tum để đánh chúng? Đây là mưu hay nhất trong trận này.

Muốn tiêu hao, tiêu diệt quân dù - lực lượng cơ động "tinh nhuệ" của địch trên chiến trường này - làm cho nó sứt mẻ, mệt mỏi không còn đủ khả năng làm "đội cứu hỏa" của quản ngụy trên chiến trường thì ta phải nhử nó ra ngoài công sự, ra nơi địa hình hiểm trở để tiêu diệt nó một cách dễ dàng hơn. Khu vực địa hình mà ta đã lựa chọn là dãy núi ở phía tây sông Pô Cô. Ở đó do không có đường cơ giới nên quân dù chỉ có thể chiến đấu bằng bộ binh với sự chi viện của máy bay lên thẳng vũ trang, mà không có xe tăng đi cùng.


Để nhử quân dù ra đây một cách chắc chắn, ta phái dùng kế làm hai con đường vận chuyển cơ giới vượt qua dãy núi nói trên, chọc ra bờ sông Pô Cô rồi nối với đường số 14 ở phía bắc thị xã Kon Tum khoảng 20 - 25km. Hai con đường này rõ ràng là những cái gai đâm vào mắt kẻ địch mà chúng không thể bỏ qua được. Xe ô tô vận tải, xe kéo pháo và cả xe tăng của đối phương sẽ theo những con đường đó chạy vào phía bắc thị xã Kon Tum? Kẻ địch nào ngồi trong thị xã mà chẳng hoảng hồn! Con đường xe cơ giới xuất hiện ở nơi đó và vào thời điểm đó là một đòn lừa địch rất trúng. Chúng càng tin chắc mười mươi là đối phương sẽ đánh Kon Tum chứ không phải Tân Cảnh.


Đòn đánh lừa này đã đạt tới hai tác dụng: thứ nhất, buộc địch phải tập trung đối phó ở Kon Tum; thứ hai, điều lữ đoàn dù số 3 ra ngăn chặn phía tây - bắc thị xã Kon Tum để ta tiêu hao, tiêu diệt chúng.

Sở dĩ địch phải cho quân dù ra ngăn chặn ta ở khu vực này là do chúng phán đoán rằng hướng này giáp với vùng giải phóng của ta, ta có lực lượng lớn mạnh, nên phải dùng lực lượng mạnh như quân dù mới đối phó được; nếu sử dụng biệt động quân thì e không đủ sức. Hơn nữa ở thị xã Kon Tum lúc này lực lượng quân dù là đông nhất. Ngoài ra, địch buộc phải sử dụng quân dù cũng còn do với địa hình ở khu vực đó, chỉ có thể dùng máy bay lên thẳng để cơ động và chi viện hỏa lực trực tiếp. Quân dù thường được ưu tiên cơ động và chi viện bằng máy bay lên thẳng, chúng cũng có trình độ thành thạo hơn các đơn vị khác về tác chiến với máy bay lên thẳng và máy bay lên thẳng vũ trang.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:26:24 am
Đó là những lý do khiến địch tung quân dù ra tuyến điểm cao 1049, 1015 để rồi phải chịu đòn. Mưu kế nhủ địch của ta đã thành công. Địch đã phạm sai lầm: tung con "chủ bài" ra quá sớm khi đối phương mối đi nước thứ nhất có tính chất thăm dò. Nhưng vì sao chúng vội vã phản ứng như vậy?


Một là, vì ta đánh vào chỗ địch tất phải cứu. Ở hướng khác ta cũng làm đường xe cơ giới, và làm để sử dụng thật, nhưng đó là các hướng không xung yếu nên địch không ra ngăn chặn hoặc có ra thì cũng không hành động quyết liệt.

Hai là, địch còn tương đối chủ quan. Trong phòng ngự với nguyên tắc chiến thuật "phản kích, ngăn chặn từ xa", địch luôn luôn tìm cách ngăn chặn quân ta tiến công ở ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng. Năm 1972, tuy còn được sự chi viện về không quân của Mỹ, kể cả máy bay B.52, nhưng quân ngụy không còn khả năng đánh sâu vào vùng giải phóng của ta, cũng không có khả năng ra ngăn chặn, phản kích ở cự ly quá xa ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng. Tuy nhiên nếu có sự uy hiếp ở gần tuyến phòng ngự thì chúng chắc chắn sẽ có phản ứng.


Người cầm quân cũng là một yếu tố cần tính đến. Tướng Ngô Du, tư lệnh quân khu 2 ngụy, như ta đã nắm được là một người cầm quân tương đối non tay và rụt rè. Trong các cuộc hành quân đánh sâu vào vùng giải phóng của ta những năm 1970-1971, khi một vài đại đội bị tiêu diệt là mấy tiểu đoàn đều dừng lại hoặc lùi về tuyến sau. Nếu một vài tiểu đoàn bị tiêu diệt thì cuộc hành quân có thể kết thúc trong that bại. Năm 1972, Ngô Du khó mà dám tung quân ra xa ngoài trận tuyến, dù có sự thúc ép của trưởng đoàn cố vấn Mỹ Giôn Pôn-van.


Do đó, bẫy nhử địch của ta không thể đạt ỏ quá xa, mà phải sát gần tuyến phòng ngự cơ bản của địch, ở nơi hiểm yếu nhất đối với địch.

Kế thứ nhất của ta đã thành công: đánh chiếm đường giao thông, chia cắt quân địch giữa Plây Cu với Kon Tum. Sư đoàn 23 và các trung đoàn thiết giáp của địch không thể giải tỏa được đường số 14 từ Plây Cu đi Kon Tum.


Kế thứ hai của ta là kế khó nhất cũng thành công: vây hãm thị xã Kon Tum, nhử quân dù - lực lượng cơ động chiến lược làm nhiệm vụ dự bị chiến dịch của địch - ra ngoài thị xã Kon Tum để tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân chúng tại chỗ. Quân dù rơi đúng bẫy của ta, một tiểu đoàn bị tiêu diệt, hai tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, phải rút chạy về phòng giữ thị xã Kon Tum. Sau khi tuyên ngăn chặn vòng ngoài của địch bị phá vỡ, Sư đoàn 320 cho một trung đoàn vượt sông Pô Cô tiến ra đường số 14, phối hợp với trung đoàn 28 cắt đường, cô lập hoàn toàn hai cụm quân địch ở thị xã Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh.


Hai kế trên thành công đã tạo điều kiện thuận lợi cho ta thực hiện kế thứ ba: đánh Đắc Tô - Tân Cảnh. Trong khi thế trận nổi diễn ra sôi động ở các hướng đường số 19, thị xã Plây Cu, đường số 14, tây - bắc thị xã Kon Tum, thì thế trận chìm ở hướng chủ yếu Đắc Tô - Tân Cảnh được triển khai một cách thuận lợi. Một bộ phận nhỏ của Sư đoàn 2 hoạt động để yểm hộ cho chủ lực của sư đoàn và cho trung đoàn 66 tiến hành công tác chuẩn bị. Sư đoàn 2 và trung đoàn 66 "ngả cờ, im trống", lặng lẽ chuẩn bị cho trận tiến công tiêu diệt căn cứ 42 - mục tiêu chủ yếu trong cụm phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh. Căn cứ này có trung đoàn 42 thuộc sư đoàn 22, sở chỉ huy tiền phương sư đoàn 22, trận địa pháo và có một trung đoàn thiết giáp bảo vệ ở vòng ngoài.


Mặc dù mắc phải mưu kế của ta nhưng địch cũng không hoàn toàn bị thu hút vào khu vực thị xã Kon Tum. Ngô Du và Giôn Pôn-van còn giữ được chút ít tỉnh táo, vẫn để mắt tới Đắc Tô - Tân Cảnh. Dưới sự thúc ép của Giôn Pôn-van, Ngô Du phải điều tiểu đoàn dù số 9 ở Kon Tum lên Tân Cảnh, đưa Lê Đức Đạt, đại tá sư đoàn trưởng sư đoàn 22, lên trực tiếp chỉ huy ở sở chỉ huy tiền phương và tăng cường thêm cả tên đại tá Tôn Thất Hùng làm phái viên đốc chiến. Như vậy địch cũng đã đánh hơi thấy có một cái gì đó ở khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh. Nhưng chúng vẫn không xác định được rõ ràng ý định của đối phương và cũng không còn khả năng làm gì hơn ở khu vực này.


Sau khi phân tán, tiêu hao, kìm chân địch ở hướng Plây Cu và trên đường số 19, đường số 14, hãm địch ở Kon Tum, thời cơ đã mở ra cho ta bắt đầu cuộc tiến công đánh chiếm căn cứ Tân Cảnh và quận lỵ Đắc Tô. Ở đây ta cũng hết sức vận dụng yếu tố bất ngờ: đánh vào chỗ địch không đề phòng hoặc ít để phòng, nhưng lại là chỗ hiểm yếu của chúng mà nếu đánh vào đó thì thế trận của địch dễ tan vỡ nhanh chóng. Chỗ hiểm yếu đó là sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 22 và trận địa pháo ở trong căn cứ 42.


Nhưng muốn đánh được vào đó, ta phải tránh trận địa phòng ngự của địch ở phía tây đường số 14 và sông Pô Cô, và phải đặt trận địa xuất phát tiến công ở đông và đông - bắc đường số 14, tức là phía sau lưng tuyến phòng ngự của địch. Đưa một sư đoàn bộ binh sang phía đông và đông - bắc đường số 14 tuy có khó khăn nhưng không phải không khắc phục được, vì ta có lực lượng và cơ sở chính trị vững ở khu vực này. Điều khó nhất là làm sao đưa được xe tăng, pháo binh và pháo cao xạ tự hành đến trận địa xuất phát tiến công. Cách giải quyết duy nhất là phải làm một con đường cho xe tăng và cơ giới. Từ đó nảy ra cái khó thứ hai là làm sao giữ được bí mật về con đường cơ giới đó. Ta đã cố gắng hết sức ngụy trang và giữ bí mật hành động của bộ đội trên con đường này, nhưng giấu kín một con đường vận chuyển cơ giới là điều khó có thể làm được triệt để. Với phương tiện và khí tài trinh sát hiện đại của Mỹ, địch cũng phát hiện được con đường của ta khi ẩn khi hiện trên các sườn đồi và thung lũng ở phía tây - bắc Tân Cảnh. Lê Đức Đạt liền tung các tiểu đoàn của trung đoàn 47 và một số tiểu đoàn bảo an ra thăm dò. Tuy Lê Đức Đạt đặc biệt chú ý đến con đường đó vì nó uy hiếp trực tiếp cụm phòng ngự do y chỉ huy, nhưng Ngô Du thì chỉ liếc mắt qua vì thị xã Kon Turn đã hút hết tâm trí của hắn rồi. Do đó với nghệ thuật ngụy trang khéo léo, Sư đoàn 2, trung đoàn 66 và các đơn vị xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, công binh, vặn tải... của ta đã bí mật an toàn tiến sang phía đông dưòng số 14, áp sát căn cứ Tân Cảnh ở phía đông và phía bắc.


Thế trận đánh vào cụm phòng ngự của địch ở bắc Kon Tum (Đắc Tô - Tân Cảnh) thế là đã bày xong. Thời cơ giành thắng lợi đã đến. Sáng sớm ngày 24 tháng 4 năm 1972, bộ binh và xe tăng của ta, dưới sự chi viện của hỏa lực pháo binh và sự yểm hộ của pháo cao xạ, dũng mãnh tiến công vào trận địa địch. Có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các thứ quân, các binh chủng, với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường và kỹ năng chiến đấu tốt của cán bộ và chiến sĩ, chỉ sau hơn 10 tiếng đồng hồ quân ta đã chiếm lĩnh hoàn toàn căn cứ Tân Cảnh và sau đó vài giờ, bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum cũng làm chủ quận lỵ Đắc Tô. Lê Đức Đạt, đại tá sư đoàn trưởng sư đoàn 22, cùng với tên đại tá cố vấn Mỹ bị bắn chết. Vi Văn Bình, đại tá sư đoàn phó cùng toàn bộ cơ quan tham mưu sư đoàn 22 và hàng trăm binh lính, sĩ quan địch bị bắt sống. Tôn Thất Hùng, đại tá phái viên "đốc chiến" của quân đoàn 2, vội bám theo máy bay lên thẳng của cố vấn Mỹ chuồn về Plây Cu. Số sĩ quan, binh lính còn lại định tháo chạy về Kon Tum thì phần lớn đều bị các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân của ta đón lõng và bắt sống.


Sau thất bại này, Ngô Du bị cách chức, Nguyễn Văn Toàn lên thay, cố vấn trưởng Giôn Pôn-van bị thiêu cháy trong chiếc máy bay lên thẳng bị quân ta bắn rơi.

Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, quân ta tiến công vào một cụm phòng ngự cỡ sư đoàn nầm ngay trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch, tiêu diệt một lực lượng địch tương đương với một sư đoàn tăng cường, giải phóng một địa bàn rộng lớn chiếm một nửa đất đai tỉnh Kon Tum.


Ta giành được thắng lợi nhanh, gọn trong trận Đắc Tô - Tân Cảnh là do đã đặt ra và thực hiện tốt các mưu kế nhằm chia cắt, phân tán, giam chân, tiêu diệt từng bộ phận địch trước khi đánh trận quyết định đột phá trận địa phòng ngự của địch trên hướng chủ yếu. Ta đã cắt đường số 14 từ thị xã Kon Tum lên thị trấn Tân Cảnh, khiến địch không thể tiếp viện, ứng cứu cho Tân Cảnh bằng đường bộ. Việc ứng cứu bằng máy bay lên thẳng cũng không thực hiện được vì quân ta đã xiết chặt vòng vây. Hơn nữa, Ngô Du không còn lực lượng dự bị, vì quân dù ngay từ đầu đã bị nhử ra ngoài và bị đánh cho tơi tả phải lùi về cùng quân biệt động giữ thị xã Kon Tum. Nguyễn Văn Thiệu cũng không còn lực lượng dự bị chiến lược. Hắn có 2 sư đoàn tổng dự bị thì sư đoàn dù đã bị nhừ đòn ở Tây Nguyên, còn sư đoàn lính thủy đánh bộ thì cũng đang lao đao ở Trị - Thiên - Huế. Do đó, Tân Cảnh ở trong tình thế hoàn toàn bị vây hãm, bị cô lập, bị trói lại đánh mà không có ai đến cứu, cuối cùng bị tiêu diêt hoàn toàn.


Mưu hay để đánh Tân Cảnh chính là ở chỗ đó.

Sau khi giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, ta tập trung phần lớn lực lượng tiến xuống vây hãm và tiến công thị xã Kon Tum. Bộ đội ta đã chiếm được một số vị trí của địch trong thị xã. Nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan - trong đó nguyên nhân chủ quan của chỉ huy chiến dịch là chủ yếu - nên cuộc tiến công vào thị xã không thành công.


Đến lúc này, Mỹ - Thiệu mới thoát khỏi sự bất ngờ về chiến lược, mới phát hiện ra hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta là ở Quảng Trị và một hướng xung yếu khác ở Lộc Ninh - An Lộc, cửa ngõ của Sài Gòn. Ở Quảng Trị, địch bị đánh tan tác, tuyến phòng ngự mạnh nhất của chúng bị đập vỡ một mảng lớn. Còn ở Lộc Ninh - An Lộc, phòng tuyến của địch bị chọc thủng, chúng bị thất bại nặng nề. Trước tình hình nguy ngập ở hai hướng nóng bỏng trên, Thiệu phải điều sư đoàn dù thiếu ở Kon Tum về ứng cứu cho các hướng đó. Việc phòng giữ thị xã Kon Tum được giao cho sư đoàn 23 của quân khu 2 địch đảm nhiệm. Lực lượng địch ở thị xã Kon Tum lúc này không còn mạnh như trước. Chúng lại bị phân tán ra các chiến trường trọng yếu khác. Ta không đánh được thị xã Kon Tum là do trình độ tổ chức và nghệ thuật chỉ huy chiến dịch của người tư lệnh và cơ quan chỉ huy chiến dịch còn có mặt non kém. Về phía địch, chúng cũng còn một vài điểm mạnh mà ta chưa hạn chế được: đó là sự tăng viện và tiếp tế bằng đường không của máy bay lên thẳng; là trận địa phòng ngự dày đặc của địch trong thị xã mà ta chưa đột phá sâu và chia cắt được.


Ngày 5 tháng 6 năm 1972, chiến dịch xuân - hè 1972 ở mặt trận Kon Tum kết thúc. Tuy chiến dịch chưa giành được thắng lợi trọn vẹn nhưng từ thực tiễn chiến dịch, chúng ta cũng rút ra được nhiều bài học thành công cũng như chưa thành công, trong đó có bài học khá sâu sắc về bày mưu lập thế trong trận tiêu diệt cụm phòng ngự Đắc Tô - Tản Cảnh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:27:31 am
VIII. MẤY BÀI HỌC CỦA CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN XUÂN 1975 ĐẠI THẮNG
(Bài viết nhân dịp kỳ niệm lần thứ nhất thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tháng 5 năm 1976)   


Mùa Xuân năm 1975, lịch sử dân tộc Việt Nam lại ghi thêm một chiến công vĩ đại. Chỉ trong thời gian chưa đầy hai tháng, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với quy mô chưa từng có, tiêu diệt hoàn toàn đội quân ngụy đông trên một triệu tên, được Mỹ trang bị, huấn luyện và chỉ huy, xóa bỏ toàn bộ chính quyền tay sai bán nước, quét sạch cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam nước ta, giải phóng miền Nam thân yêu, giành lại độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc.


Trong trận quyết chiến chiến lược thần tốc và thắng lợi vẻ vang ấy, quân và dân ta đã liên tiếp đánh ba trận tiêu diệt lớn ở Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn.

Chiến dịch Tây Nguyên là trận đánh lớn mở đầu đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng ngự chiến lược của địch, tạo điều kiện cho các trận tiếp sau đánh tiêu diệt lớn hơn. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên có tầm quan trọng về chiến lược, mở ra cục diện chiến lược thuận lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.


Qua chiến thắng Tây Nguyên, ta càng thấy rõ hơn sự suy yếu trầm trọng của địch về mọi mặt, thấy rõ sự sụp đổ của chúng trong một thời gian ngắn là không thể tránh khỏi.

Chiến thắng Tây Nguyên đã cổ vũ, động viên mạnh mẽ tinh thần và khí thế của quân và dân ta ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương, nâng cao quyết tâm chiến đấu và lòng tin của toàn quân, toàn dân ta vào thắng lợi cuối cùng.


Chiến thắng Tây Nguyên cũng đem lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Về nghệ thuật chiến dịch, bước đầu có thể nêu ra mấy bài học chính sau đây:

- Tạo lực mạnh, dùng lực đúng.

- Chọn cách đánh hay, bày mưu kế giỏi.

- Xây vững thế trận ta, phá tan thế trận địch.

- Tạo thời cơ tốt, chớp thời cơ nhanh.

Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở màn cho toàn bộ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Kết quả của chiến dịch, nhất là kết quả của trận mở màn chiến dịch và trận then chốt đập tan cuộc phản kích của địch ở phía đông Buôn Ma Thuột, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và kết quả của toàn bộ cuộc tổng tiến công.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Đảng ta đã phân tích tình hình, đánh giá so sánh lực lượng giữa địch và ta hết sức đúng đắn, đã chọn thời cơ và hạ quyết tâm rất chính xác, về chỉ đạo chiến lược, đã chọn đúng hướng tiến công đầu tiên là Tây Nguyên, đã tạo ra tình huống tốt và thời cơ rất thuận lợi cho quân và dân ta trên hướng Tâv Nguyên tiêu diệt gọn một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch. Ta đã bố trí lực lượng, tổ chức thế trận chiến lược và thực hành tiến công chiến lược, phối hợp chiến trường rất đẹp trên toàn miền Nam để tạo tình huống thuận lợi cho hướng Tây Nguyên. Trong những điều kiện hết sức thuận lợi đó, bản thân chiến trường Tây Nguyên đã giải quyết thành công nhiều vấn đề trong phạm vi chiến dịch, như sử dụng lực lượng, chọn cách đánh chiến dịch, lập thế trận, tạo thời cơ, v.v...


1. Tạo lực mạnh, dùng lực đúng

Với tư tưởng chỉ đạo tác chiến đánh chắc thắng và đánh thắng trận đầu, ta đã nghiên cứu kỹ việc sử dụng lực lượng trong chiến dịch. Muốn chắc thắng và thắng nhanh, thắng gọn, phải có ưu thế về sức mạnh tổng hợp; trong sức mạnh tổng hợp thì lực lượng là cơ sở vật chất, là điều kiện cơ bản đầu tiên.


Trên chiến trường Tây Nguyên, quân địch có lực lượng tương đối mạnh, trước hết là quân chủ lực với các binh chủng kỹ thuật hiện đại của chúng. Ngoài ra địch còn có lực lượng quân địa phương khá đông. Lực lượng của địch tập trung phần lớn ở bắc Tây Nguyên, xung quanh thị xã Plây Cu và thị xã Kon Tum. Lực lượng địch ở nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột thì yếu hơn.


Tây Nguyên là một địa bàn rừng núi có nhiều đặc điểm về mặt địa hình mà ta có thể tận dụng để tạo thế lợi.

Căn cứ vào lực lượng địch ở Tây Nguyên (chủ yếu là lực lượng chủ lực) và hình thái bố trí của chúng, ta đã xác định việc sử dụng lực lượng một cách thích hợp để thực hiện quyết tâm chiến dịch trong quyết tâm chiến lược chung.


Trên cơ sở phân tích về địch, địa hình như trên, để giành thắng lợi cho chiến dịch ta cần có ưu thế nhất định về lực lượng so với địch trong phạm vi chiến dịch, nhưng chỉ cần hơn địch một ít về bộ binh (quân chủ lực) là ta đã có ưu thế lớn hơn địch. Vì ta còn có ưu thế về các mặt khác như tinh thần chiến đấu, nghệ thuật quân sự, khả năng lợi dụng địa hình, v.v...


Về sử dụng lực lượng, ta phải tính toán kỹ trên nhiều khía cạnh. Trong toàn chiến dịch, ta có ưu thế hơn địch một ít, nhưng ở hướng chủ yếu, ở khu vực tiến công chủ yếu là Buôn Ma Thuột, ta phải có ưu thế tuyệt đối so với địch1 (So sánh lực lượng giữa ta và địch ở khu vực chủ yếu của chiến dịch là: về bộ binh, ta 5,5 - địch 1; về xe tăng, thiết giáp, ta 1,2 - địch 1: về pháo lớn, ta 2,1 - địch 1). Tính toán về ưu thế, ta còn phải xem xét cả giai đoạn đầu và giai đoạn tiếp sau của chiến dịch. Trong trận mở màn chiến dịch, ta có ưu thế hơn địch, nhưng trong quá trình chiến dịch nếu địch cơ động lực lượng dự bị tới thì ta có còn giữ được ưu thế nữa không? Câu trả lời là: nếu trình độ chiến đấu của bộ đội ta cao, nghệ thuật chiến dịch của ta giỏi, thì ta vẫn có thể giữ vững được ưu thế. Vấn đề này cũng còn liên quan đến các hướng phối hợp, đến sự phối hợp chiến trường do sự chỉ đạo chiến lược. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, trên thực tế vấn đề này đã được giải quyết. Nhờ sự chỉ đạo chiến lược tài tình, sự phối hợp chiến trường nhịp nhàng, nên chiến trường Tây Nguyên đă giữ vững ưu thế từ đầu đến cuối chiến dịch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:28:14 am
Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, ngày 12 tháng 3 năm 1975, địch điều một liên đoàn biệt động quân - liên đoàn 7 ở Nam Bộ - tăng cường cho quân đoàn 2, đổ bộ xuống Plây Cu. Liên đoàn này "đi mây" nhưng lại "về đất" và cũng phải chịu chung số phận hẩm hiu với các đơn vị khác của quân đoàn 2 ngụy trong cuộc tháo chạy trên đường số 7. Sau khi ta tiêu diệt và đánh tan cuộc phản kích của sư đoàn 23 ngụy ờ vùng Phước An trên đường số 21, địch điều trung đoàn 40 (thiếu) và lữ đoàn dù 3 đến Khánh Dương chốt chặn ở đèo Phượng Hoàng, nhưng cũng không làm thay đổi được so sánh lực lượng có lợi cho chúng. Cuối cùng hai đơn vị này cũng bị tiêu diệt và đánh tan một cách nhanh chóng.


Tập trung lực lượng như thế nào cho đúng để tạo ưu thế cần thiết trên hướng chủ yếu là một vấn đề khó khăn, phúc tạp trong chỉ huy, đòi hỏi phải vừa có quyết tâm cao, vừa có nghệ thuật giỏi. Ta tập trung lực lượng vào Tây Nguyên như vậy là hoàn toàn chính xác. Với lực lượng đó, ta có khả năng chắc chắn để hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch trên chiến trường này, đồng thời vẫn không làm yếu sức tiến công ở các hướng quan trọng khác. Có hướng quan trọng sau này đã nhanh chóng trở thành hướng chủ yếu; sự chuyển hóa hướng tiến công được thực hiện mau lẹ và linh hoạt như vậy là do ta đã bố trí sẵn trên các hướng lực lượng đủ mạnh để tự mình có thể tạo ra thời cơ trực tiếp đánh đòn quyết định, giành lấy thắng lợi có ý nghĩa quan trọng về chiến dịch hoặc về chiến lược.


Trong việc sử dụng lực lượng, chúng ta tránh khuynh hướng máy móc, thiển cận, chỉ nhìn một hướng, tách rời hướng này với các hướng khác, trong điều kiện khả năng cơ động của ta có hạn; đồng thời cũng chống lối dàn đều, phân tán, không tạo thành quả đấm mạnh, mũi tiến công sắc nhọn để có đủ sức đánh tiêu diệt lớn quân địch, làm chuyển biến cục diện trên chiến trường.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ta đã sử dụng lực lượng rất chính xác. Trên hướng Tây Nguyên, trong chiến dịch mở đầu, ta đã tập trung lực lượng đúng mức, hợp lý, bảo đảm được ưu thế nên đã giành được thắng lợi to lớn và nhanh chóng, ở các hướng quan trọng khác có khả năng sau đó trở thành hướng chủ yếu, lực lượng của ta cũng đủ mạnh để đón thời cơ chung và tạo ra thời cơ trực tiếp, đánh những đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn và nhanh gọn.


Ta cùng một lúc đánh mạnh trên các hướng chiến lược khác, nên địch không tập trung đối phó ở Tây Nguyên được. Lực lượng tổng dự bị của chúng bị căng kéo, phân tán, bị tiêu hao, tiêu diệt khiến bọn đầu sỏ ngụy quyền, ngụy quân rất bối rối và do dự trong việc sử dụng lực lượng dự bị. Do đó quân ta ở hướng Tây Nguyên được rảnh tay, chỉ huy rất chủ động, có điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi rất nhanh.


Sử dụng lực lượng nhiều hay ít, không phải chỉ đơn thuần dựa vào sự so sánh về số quân giữa địch và ta. Trong chiến tranh có trường hợp bên đông quân hơn vẫn không giành được thắng lợi; trái lại bên ít quân hơn lại chiến thắng vẻ vang.


Sử dụng lực lượng trước hết phải căn cứ vào nhiệm vụ đã đề ra, vào đối tượng tác chiến cụ thể, đồng thời phải căn cứ vào số lượng, chất lượng bộ đội, cơ sở vật chất - kỹ thuật, vào trình độ chỉ huy, nghệ thuật quân sự của ta và vào địa hình. Trên chiến trường Tây Nguyên, ta có đủ điều kiện phát huy các yếu tố nói trên để tạo thành ưu thế sức mạnh tổng hợp.


Về số lượng bộ đội và trang bị, vũ khí, ta đã chuẩn bị tương đối đầy đủ để có thể hoàn thành được nhiệm vụ chiến dịch.

Về tinh thần, ý chí chiến đấu, ta có ưu thế tuyệt đối hơn địch. Điều này không những quân ngụy không dám xuyên tạc mà cả đế quốc Mỹ cũng phải thừa nhận. Với sức mạnh vô cùng to lớn đó, quân ta với lực lượng ít có thể đánh thắng quân địch có lực lượng nhiều hơn ta.


Về nghệ thuật quân sự, cán bộ và chiến sĩ ta đã được rèn luyện trong mấy chục năm đánh Pháp và đánh Mỹ, nên dày dạn kinh nghiệm, có trình độ ngày càng được nâng cao. Với nghệ thuật quân sự sắc sảo, ta có thể làm cho quân địch nhiều mà hóa ít, muốn tập trung mà phải phân tán, muốn đi mà phải đứng, muốn đánh mà phải chạy, muốn chạy mà không thoát.


Về địa hình, ta có thể lợi dụng thế hiểm của núi rừng để phục vụ tốt yêu cầu tác chiến của ta, hạn chế khả năng phát huy hỏa lực của địch. Một trung đoàn của ta đứng chặn trên đường thì hai, ba trung đoàn của địch cũng không thể mở thông được. Một sư đoàn của ta áp sát xung quanh thị xã Buôn Ma Thuột mà quân địch cũng không phát hiện được.


Do biết phát huy và vận dụng kết hợp các yếu tố nói trên nên với một lực lượng vừa phải, không nhiều hơn địch bao nhiêu về bộ binh, về quân chủ lực mà ta vẫn hình thành được ưu thế lớn về sức mạnh tổng hợp, bảo đảm giành thắng lợi to lớn. Điều đó rất có lợi cho việc phân phối, bố trí lực lượng ở các hướng khác trên toàn chiến trường. Cho nên tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu một cách hợp lý, đúng mức là một yêu cầu rất cao trong nghệ thuật sử dụng lực lượng.


Về nghệ thuật tổ chức lực lượng trong chiến dịch Tây Nguyên, cần nói đến việc xây dựng và sử dụng đội dự bị, nhất là đội dự bị chiến dịch. Trong trận Buôn Ma Thuột, đội dự bị được tổ chức ở các cấp, các mũi, các hướng. Bộ chỉ huy chiến dịch có đội dự bị gần là lực lượng nhỏ sử dụng trực tiếp cHo trận Buôn Ma Thuột. Để sẵn sàng đối phó với các tình huống lớn và phức tạp có thể xảy ra trong trận đánh mở màn hay trong quá trình chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch còn tổ chức đội dự bị chiến dịch xa với lực lượng lớn hơn, hùng mạnh hơn. Đó là Sư đoàn 10, một binh đoàn thiện chiến, lúc đầu được sử dụng để đánh chiếm Đức Lập (ngày 9 tháng 3) sau đó lập tức cơ động về hướng Buôn Ma Thuật. Trưa ngày 11 tháng 3 năm 1975, ta giải phóng Buôn Ma Thuột và ngày 12 tháng 3, đội dự bị gần đã tiêu diệt và đánh tan liên đoàn 21 biệt động quân ỏ hậu cứ trung đoàn 45, nên Sư đoàn 10 không cần sử dụng vào Buôn Ma Thuột nữa. Ngày 13 tháng 3, sư đoàn này cùng với các đơn vị tác chiến ở Buôn Ma Thuột chiếm lĩnh trục đường số 21, chuẩn bị đánh địch phản kích. Nhờ cơ động rất kịp thời và sử dụng đúng lúc, nớ đã đánh ngay đợt đổ quân thứ nhất của sư đoàn 23 ngụy và liên tiếp đánh các đợt đổ quân tiếp sau ở Chư Cúc, Phước An, làm cho sư đoàn 23 ngụy chưa kịp triển khai chiến đấu thì đã bị tiêu diệt và đánh taọ.


Trong chiến dịch này, ta đã nghiên cứu kỹ và tìm nhiều biện pháp để tổ chức, xây dựng lực lượng dự bị mạnh. Để bảo đảm chắc thắng cho trận Buôn Ma Thuột, ngoài các đội dự bị đã được tổ chức như trên, Bộ chỉ huy chiến dịch còn dự kiến và có kế hoạch sử dụng một đơn vị của binh đoàn tác chiến ở khu vực Cẩm Ga, Thuần Mẫn để làm lực lượng dự bị tăng cường cho hướng Buôn Ma Thuột và hướng đường số 21 khi cần thiết.


Trong chiến dịch, đội dự bị có thể được tổ chức sẵn từ trước, cũng có thể xây dựng trong quá trình tác chiến bằng cách cơ động lực lượng ở hướng khác đến. Việc cơ động phải được thực hiện rất nhanh bằng những phương tiện cơ giới cần thiết. Tất nhiên, nếu tổ chức được đội dự bị sẵn từ trước thì bảo đảm tác chiến chủ động và thuận lợi hơn, nhưng cách tổ chức đội dự bị bằng cơ động lực lượng trong quá trình tác chiến cũng rất cần thiết và có ưu điểm lớn là tiết kiệm được binh lực.


Sử dụng đội dự bị đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời cơ là điều rất quan trọng. Không nên sử dụng vào tình huống chưa cán thiết, sử dụng phân tán, sử dụng quá sớm hoặc quá muộn.

Do biết phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, có nghệ thuật tổ chức và sừ dụng lực lượng tài giỏi nên lực lượng ta tuy có hạn nhưng vẫn đánh thắng rất lớn trên tất cả mọi chiến trường trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Đó là một kinh nghiệm quý, là nét độc đáo của nghệ thuật sử dụng lực lượng trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:29:05 am
2. Chọn cách đánh hay, lập mưu kế giỏi

Cách đánh của ta thấm nhuần sâu sắc tinh thần cách mạng triệt để, tư tưởng chiến lược tiến công, tư tưởng đánh tiêu diệt. Dựa vào tinh thần và tư tưởng chỉ đạo đó cùng các điều kiện thực tế khác, cách đánh của ta về chiến lược, chiến dịch cũng như chiến đấu rất phong phú và linh hoạt.


Trong chiến dịch ta có nhiều cách đánh. Nhiệm vụ chiến dịch, đối tượng tác chiến của ta và so sánh lực lượng giữa dịch và ta trong các chiến dịch khác nhau nên cách đánh cũng không giống nhau. Trong chiến dịch tiến công, bộ đội chủ lực tác chiến hợp đồng binh chủng thường có những cách đánh cơ bản như: đột phá kết hợp với bao vây vu hồi; đột phá kết hợp với thọc sâu, lấy đột phá làm chính; thọc sâu kết hợp với đột phá, lấy thọc sâu làm chính; chia cắt, vây hãm kết hợp với đột phá; đột phá kết hợp với chia cắt, vây hãm, v.v... Việc vận dụng cách đánh phải căn cứ vào điều kiện khách quan và vào trình độ, khả năng chiến đấu của lực lượng tham gia chiến dịch, đặc biệt là phải căn cứ vào tình hình địch, tình hình ta, địa hình... với sự phân tích, đánh giá hết sức khoa học, đúng đắn.


Trên chiến trường Tây Nguyên mùa Xuân năm 1975, ta đã chọn cách đánh chiến dịch là chia cắt, vây hãm kết hợp với đột phá. Phương pháp này thường được vận dụng trong điều kiện hỏa lực ta không mạnh lắm, sức đột kích của ta không lớn lắm. Trong chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu của cuộc Tổng tiến công - ta đã tập trung binh lực và hỏa lực đủ sức tiến công và cũng hình thành được sức đột kích tương đối mạnh. Với lực lượng đó, ta có đủ khả năng vận dụng cách đánh đột phá kết hợp với chia cắt, vây hãm nhưng ta đã chọn cách đánh chia cắt, vây hãm kết hợp với đột phá. Bài học thành công trong việc chọn cách đánh ở đây chính là ở chỗ không chỉ đơn thuần dựa vào so sánh lực lượng, mà còn biết cân nhắc nhiều yếu tố khác để chọn cách đánh hay nhất, nhằm phát huy được sở trường của ta, khoét sâu được những chỗ yếu của địch để đạt tới hiệu suất chiến đấu cao nhất với tổn thất của ta ít nhất. Thực tế thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã chứng minh cách đánh như đã lựa chọn là hoàn toàn chính xác.


Có cách đánh chiến dịch đúng là rất quan trọng, nhưng bản thân điều đó chưa tạo ra được thắng lợi mà còn phải thông qua sự chỉ đạo và điều hành kiên quyết, linh hoạt qua các tình huống chiến dịch. Trong chiến dịch Tây Nguyên, sự chỉ đạo đó tập trung vào khâu mấu chốt: kết hợp thật chặt chẽ chia cắt, vây hãm với đột phá. Chia cắt, vây hãm phải đạt được mấy yêu cầu chủ yếu: triệt tiếp tế của địch bằng đường bộ và cả bằng đường không; chia cắt, cô lập quân địch thành từng cụm và cụm nào cũng bị đánh hoặc bị uy hiêp; làm cho quân địch hoang mang, dao động đi đến suy sụp. Đạt được ba yêu cầu kể trên thì chia cắt, vây hãm sẽ tạo cho đột phá những điều kiện rất thuận lợi. Đột phá sẽ có cơ sở vững chắc và thực hiện rất chủ động, mặc dù lực lượng đột phá có khi không lớn lắm.


Mục đích của chia cắt, vây hãm là tạo điều kiện cho đột phá; đột phá mới là hành động cuối cùng có tính chất quyết định. Phải đột phá được trận địa của địch, tiêu diệt địch nhanh gọn thì trận đánh mới kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy phải có đòn đột phá thật mạnh, có lực lượng đột phá thật tinh nhuệ, thiện chiến, đủ sức đập vỡ từng mảng thế trận của địch. Kết quả đột phá sẽ tác động trở lại làm cho chia cắt, vây hãm tiếp tục phát triển, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho những đòn đột phá mới. Cũng có trường hợp, như đã diễn ra trong chiến dịch Tây Nguyên, do ta tiến hành chia cắt, vây hãm tốt, đột phá nhanh và mạnh nên chỉ cần một đòn đột phá đánh đúng chỗ, điểm đúng huyệt là toàn bộ thế trận của địch bị đổ vỡ tan tành. Sau khi cắt đứt các con đường huyết mạch số 19, số 21, số 14, khống chế các sân bay, hãm chặt các căn cứ Plây Cu, Kon Tum, ta đã giáng một đòn bất ngờ vào thị xã Buôn Ma Thuột. Kẽt quả là toàn bộ thế trận địch ở Tây Nguyên bị tan vỡ. Đó là sự lợi hại của thế chia cắt, vây hãm, là sức mạnh của đột phá; là thành công của sự chỉ đạo kết hợp giữa hai thành phần của cách đánh chiến dịch này.


Chọn được cách đánh hay rồi, nhưng làm thế nào để thực hiện cách đánh đó đạt kết quả cao nhất thì lại phải có mưu kế. Mưu kế giỏi là một điều kiện rất cần thiết để đánh thắng. Trong lịch sử chiến tranh, đánh bằng mưu đã được coi là một nghệ thuật cao. Có nhiều trận, bên ít quân thắng bên đông quân chủ yếu là bằng mưu kế. Lực càng mạnh mưu càng hay thì thắng lợi càng lớn, càng nhanh, càng triệt để.


Cách đánh chiến dịch có thể giống nhau, nhưng mưu kế để thực hiện cách đánh đó thì không nhất thiết giống nhau. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sự đối phó của địch, nhất là tùy theo bản lĩnh của người chỉ huy mà có mưu kế khác nhau. Trong chiến dịch Tây Nguyên, việc bày mưu tính kế là căn cứ vào nhiệm vụ và ý định chiến lược chung và ý định chiến dịch. Trước hết phải tìm cách cô lập Tây Nguyên với đồng bằng; trong phạm vi chiến trường Tây Nguyên thì chia cắt bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên, vây hãm và cô lập tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên với quân địch ở nam Tây Nguyên; nhanh chóng đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột đang sơ hở, tạo thành một địa bàn lợi hại tiến lên giải phóng toàn bộ nam Tây Nguyên.


Theo những yêu cầu của chiến dịch, căn cứ vào sự phán đoán, dự kiến các tình huống, ta đã định ra nhiều mưu kế và đã thực hiện thành công, có cái thành công lớn. Mưu kế thứ nhất là nghi binh kéo địch về bắc Tây Nguyên và hãm địch ở đó. Để thực hiện được mưu kế này ta phải đấu tranh với địch gay gắt, hàng ngày, từ cuối tháng 2 cho đến ngày 10 tháng 3 năm 1975 là ngày mở đầu trận then chốt thứ nhất, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuật.


Do các hoạt động nghi binh của ta, địch phán đoán ta sẽ đánh Kon Tum hoặc Plây Cu nên chú ý phòng thủ bắc Tây Nguyên nhiều hơn. Ở phía đông Plây Cu, ta tích cực tiến hành công tác chuẩn bị cho đơn vị đánh đường số 19, làm cho phán đoán của địch càng được củng cố. Quân địch dùng máy móc, dùng kỹ thuật điện tử để tìm hiểu, theo dõi ta; ta sẵn sàng để cho địch phát huy tác dụng của những máy móc đắt tiền đó của Mỹ để càng bị mắc lừa sâu hơn nữa.


Đến đầu tháng 3 năm 1975, ta mở một đợt đánh mạnh ở phía tây Plây Cu và liên tiếp giành được những thắng lợi lớn. Liên đoàn 25 biệt động quân của địch phòng ngự ở tuyến tây - nam Plây Cu bị thiệt hại nặng, không đủ sức đối phó, địch phải điều trung đoàn 45 đang hoạt động ở khu vực Cẩm Ga, Thuần Mẫn về tăng cường cho tuyến phòng ngự của liên đoàn 25. Khi trung đoàn 45 về đây, ta đánh mạnh vào trung đoàn này, làm cho nó bị tiêu hao nặng và bị giam chân ở đó.


Thế là từ đầu tháng 3 trở đi, thế trận địch ở hướng nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột bị sơ hở. Ta cố giữ tình trạng này cho đến ngày nổ súng đánh trận đầu ở Buôn Ma Thuột. Ngày 4 và 5 tháng 3, ta bắt đầu cắt đứt đường số 19 và đường số 21 để cô lập Tây Nguyên với đồng bằng và ngày 7 và 8 tháng 3 thì cắt đứt đường số 14, cô lập cụm Buôn Ma Thuột, chia cắt địch giữa nam Tây Nguyên và bắc Tây Nguyên.


Phán đoán lầm hướng tiến công chủ yếu của ta ở bắc Tây Nguyên, quân địch đã mắc mưu của ta. Rút trung đoàn 45 ở Cẩm Ga, Thuần Mẫn về Plây Cu, chúng lại mắc mưu của ta thêm một lần nữa. Mưu kế được thực hiện thành công đã giúp cho ta điều kiện thuận lợi để đánh chiếm Buôn Ma Thuột được nhanh, gọn.


Mưu kế căng kéo, phân tán địch, mưu kế vây hãm, chia cắt địch để bảo đảm cho việc đánh đòn then chốt giành thắng lợi tốt đẹp. Nhưng để giữ vững và phát triển thắng lợi đó, mưu kế đánh địch phản kích cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Thành công hay thất bại của việc đánh địch phản kích sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới các bước phát triển tièp sau của chiến dịch.


Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, ta dự kiến hai tình huống có thể xảy ra. Tình huống thứ nhất là trước khi ta đánh, địch điều động từ một đến hai trung đoàn về tăng cường cho Buôn Ma Thuột. Tình huống thứ hai là sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuật, địch tổ chức phản kích quyết liệt. Nếu địch dùng lực lượng của quân đoàn 2 ở Tây Nguyên để phản kích thì không đáng ngại lắm. Điều đáng quan tâm hơn là địch đưa lực lượng từ các chiến trường khác đến, nhất là lực lượng tổng dự bị chiến lược, để ứng cứu, phản kích, theo hai hướng: từ Plây Cu xuống và từ Nha Trang lên.


Ta đã đạt được mưu kế hay để đối phó với hai tình huống đó. Để loại trừ khả năng địch tăng cường lực lượng trước cho Buôn Ma Thuột, ta đã thực hiện nghi binh, căng kéo thu hút địch về phía Plây Cu, chia cắt địch giữa Tây Nguyên và đồng bằng ven biển miền Trung, giữa nam Tây Nguyên và bắc Tây Nguyên. Để đối phó với tình huống địch phản kích, ứng cứu cho Buôn Ma Thuột, ta đã cắt đứt các đường giao thông huyết mạch, loại trừ khả năng địch tăng viện, ứng cứu bằng đường bộ; đánh chiếm sân bay Hòa Bình, tước bỏ khả năng của địch đổ quân lớn bằng máy bay có cánh cố định; đồng thời chuẩn bị lực lượng dự bị mạnh để sẵn sàng cơ động đánh địch. Kết quả là tình huống địch phản kích ở Buôn Ma Thuột có diễn ra, nhưng lực lượng phản kích chỉ có thể đổ bộ bằng máy bay lên thẳng nên yếu ớt và đã bị ta đánh bại một cách nhanh chóng.


Thắng lợi của trận đánh địch phản kích đã củng cố và phát triển thắng lợi Buôn Ma Thuột, làm sụp đổ toàn bộ thế trận địch ở Tây Nguyên, buộc chúng phải rút khỏi chiến trường này, tạo ra thời cơ lớn cho các lực lượng của ta nhanh chóng phát triển tiến công xuống đồng bằng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:29:42 am
3. Xây vững thế trận ta, phá tan thế trận địch

Xây dựng thế trận là bố trí lực lượng, sắp xếp đội hình, thiết bị chiến trường theo ý đồ và kế hoạch chiến dịch. Để hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch thì lực lượng là một yếu tố cơ bản, không có đủ lực lượng hoặc lực lượng yếu thì chiến dịch khó giành được thắng lợi. Nhưng có lực lượng mạnh chưa đủ, còn phải có nghệ thuật xây dựng thế trận để lực lượng đó có thế mạnh, thế lợi để đánh địch, ở thế có lợi thì sức một thành mười, sức mười thành trăm. Tạo ra thế lợi để đánh bại địch là yêu cầu chính của nghệ thuật xây dựng thế trận.


Xây dựng thế trận cũng là việc bố trí, sắp xếp lực lượng theo nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch trong các bước, các giai đoạn, trên các hướng để thực hiện ý định chung của chiến dịch từ đầu đến cuối. Thế trận không phải chỉ là đội hình ban đầu, càng không phải là một đội hình cứng nhắc, mà thế trận luôn luôn vận động, biến hóa theo sự phát triển của chiến dịch, do sự điều khiển của người chỉ huy chiến dịch.


Trên chiến trường Tây Nguyên, dựa vào thế lợi của chiến tranh nhân dân, tận dụng thời cơ chiến lược, phát huy những điều kiện thuận lợi, những chỗ mạnh của ta, khai thác những khó khăn, những chỗ yếu của địch, ta đã xây dựng được một thế trận chiến dịch hoàn chỉnh, vững chắc. Các yếu tố, thành phần trong thế trận chung có mối quan hệ rất chặt chẽ, hỗ trợ, tác động lẫn nhau, hợp thành một chỉnh thể của một thế trận tiến công vừa vững mạnh, vừa sắc nhọn. Việc cắt đứt các đường số 19, số 21 và số 14 thực hiện được tốt đã làm cho quân địch bị chia cắt, cô lập, bị suy yếu. Việc thu hút, kìm chân, vây hãm địch ở bắc Tây Nguyên đã làm cho địch bị trói chân trói tay, lực lượng còn đông mà không phát huy được hiệu lực, thấy đồng bọn bị nguy khốn mà không đi cứu được, chưa bị đánh đã tan. Đặc biệt, việc tiêu diệt địch được thực hiện tốt trong các trận then chốt như trận Buôn Ma Thuột, trận đánh địch phản kích và trận đuổi đánh quân địch rut lui, đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc tăng cường thế trận chung của ta trong chiến dịch.


Thế trận chung của ta được xây dựng tốt, vững là một yếu tố quan trọng góp phần nhanh chóng đánh vỡ toàn bộ thế trận của địch. Mặt khác, ta phá tan được thế trận địch còn là do ta phân tích, đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu trong thế trận địch và đánh trúng vào những chỗ dễ tan vỡ nhát của chúng bằng cách đánh hay. Thực vậy, thế trận phòng ngự của địch do các tuyến và các điểm tạo thành. Tuyến phòng ngự chạy dọc theo các trục đường giao thông; các điểm trên tuyến là các thị trấn, thị xã, các căn cứ quân sự và đồn bốt lẻ, trong đó một số điểm là những cái "nút" trên tuyến, là tụ điểm của lực lượng phòng ngự. Nghiên cứu hình thái bố trí của địch, ta đã phát hiện được sự mỏng yếu của nó cả về khả năng của từng điểm cũng như sức chống đỡ của toàn tuyến, cả về chiều sâu của toàn tuyến và bề dày trong từng khu vực, cả về sức chiến đấu của lực lượng tại chỗ và khả năng của lực lượng cơ động ứng cứu. Sở dĩ thế trận của địch mỏng yếu là do tác động củạ thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Ta đã đánh ép địch, cài thế xen kẽ với chúng, buộc thế trận của địch phải co hẹp lại, nằm trong thế trận bao vây của ta. Trên cơ sở phân tích như vậy, ta đã tìm ra cách hay để phá thế địch, vừa phát huy được chỗ mạnh của thế trận ta, vừa khoét sâu được nhược điểm của thế trận địch.


Hình thái địch, ta như vậy dẫn đến chỗ ta có thể đồng thời hoặc lần lượt đánh vào toàn bộ đội hình của địch trong một đợt tiến công, và có thể nhanh chóng đánh xiêu vẹo hoặc đánh vỡ toàn bộ đội hình của địch. Muốn nhanh chóng đánh vỡ toàn bộ đội hình của địch thì ta đánh đồng thời hoặc đánh kế tiếp vào cả hai thành phần cấu thành thế trận của địch là tuyến và điểm.


Trong chiến địch Tây Nguyên Xuân 1975, ta đánh vào tất cả các tuyến của hệ thống phòng ngự địch ở Tây Nguyên và đập vào một điểm quan trọng là Buôn Ma Thuột, nên toàn bộ mặt trận Tây Nguyên của địch đổ vỡ. Tất cả các tuyến ở Tây Nguyên đều bị đánh, bị vỡ, nên tất cả các điểm ở Tây Nguyên đều suy yếu. Buôn Ma Thuột là một điểm xung yếu có liên quan tới các tuyến và các điểm trong thế trận rộng lớn của quân khu 2 ngụy, nên khi điểm Buôn Ma Thuột bị vỡ thì toàn bộ quân khu 2 địch bị rung động. Thế trận địch ở Tây Nguyên sụp đổ nhanh chóng chỉ trong 20 ngày đã kéo theo sự đổ vỡ của chúng ở đồng bằng.


Nghệ thuật xây dựng thế trận ta, phá thế trận địch còn là nghệ thuật tổ chức và thiết bị chiến trường. Thế trận của ta đối chọi với thế trận địch. Thế trận thể hiện phương pháp tác chiến chiến dịch của ta là phương pháp tác chiến của chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại. Cách đánh của ta là vừa đánh ở đằng trước, vừa đánh ở bên sườn, phía sau quân địch, vừa đột phá vừa thọc sâu, bao vây, vu hồi, vừa có tác chiến của bộ đội chủ lực, vừa có tác chiến của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong đó đòn đánh lớn tập trung, hợp đồng binh chủng có ý nghĩa quyết định.


Đánh lớn đặt ra những yêu cầu rất cao về bảo đảm vật chất kỹ thuật. Ngoài lương thực ra, còn phải có khối lượng lớn vũ khí đạn dược, xăng dầu, xe cộ. Mật khác bảo đảm hậu cần phải rất nhanh chóng, kịp thời. Để đáp ứng những yêu cầu đó, việc vận chuyển vật tư, kỹ thuật cũng như việc cơ động bộ đội đều phải thực hiện bằng cơ giới. Do đó, trong phạm vi chiến dịch, việc tổ chức, thiêt bị chiến trường phải tập trung vào khâu then chốt là đường sá. Không có mạng đường giao thông cơ giới thì không thể nào triển khai được lực lượng lỏn, nâng cao được tốc độ tiến công và phát triển nhanh chóng thế tiến công vũ bão của ta vào sâu trong hệ thống phòng thủ của địch. Hệ thống thông tin liên lạc cũng là một khâu quan trọng. Các cơ sở hậu phương khác của chiến dịch cũng phải được xây dựng cho tốt.


Với tinh thần cách mạng của một quân đội dày dạn kinh nghiệm chiến đấu chống Pháp và chống Mỹ, chúng ta đã giải quyết thắng lợi vấn đề thiết bị chiến trường, tập trung sức vào việc giải quyết đường sá. Để đánh địch trên đường số 19, ta đã làm đường xe ô tô tới gần đèo Măng Giang, đường xe ô tô từ Võ Định chạy qua phía đông - bắc thị xã Kon Tum, Plây Cu, sát gần các vị trí quân sự lớn của địch, xuống tới phía bắc đường số 19 ở gần đèo Măng Giang. Đây là một cuộc chiến đấu quyết liệt và gian khổ chống lại mọi hành động ngăn chặn và đánh phá của địch. Việc tổ chức, thiết bị chiến trường trong phạm vi chiến dịch thống nhất được với kế hoạch tổ chức, thiết bị chiến trường trong phạm vi chiến lược. Ngược lại, việc tổ chức chiến trường trong phạm vi chiến lược lại chi viện đắc lực và tạo cho chiến dịch rất nhiều thuận lợi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 09 Tháng Mười, 2023, 08:30:28 am
4. Tạo thời cơ tốt, chớp thời cơ nhanh

Trong quá trình diễn biến của chiến dịch, do sự nỗ lực thực hiện ý định, kế hoạch chiến dịch của ta và do sự đối phó của địch, các tình huống khác nhau liên tiếp diễn ra. Giải quyết thắng lợi những tình huống đó sẽ làm nảy sinh thời cơ. Thời cơ là lúc tình huống phát triển thuận lợi nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch. Nắm đúng thời cơ để hành động thì sẽ làm nảy sinh tình huống mới, tạo ra thời cơ mới, và cứ như vậy tình huống và thời cơ kế tiếp nhau cho đến khi kết thúc thắng lợi chiến dịch hay toàn cuộc chiến tranh.


Trong những điều kiện khách quan nhất định, thời cơ là sản phẩm của sự nỗ lực chủ quan của hai bên đối chọi nhau trên chiến trường, trong đó nghệ thuật chỉ huy chiến đấu, chiến dịch và chỉ đạo chiến lược giữ vai trò quyết định. Cho nên giải quyết thắng lợi tình huống, tạo được thời cơ tốt, chớp thời cơ nhanh để liên tục phát huy quyền chủ động, giành thắng lợi trong từng trận chiến đấu, đi đến giành thắng lợi hoàn toàn, triệt để cho chiến dịch hay cho toàn cuộc chiến tranh là một nội dung quan trọng của nghệ thuật chỉ huy.


Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, được sự chỉ đạo đúng đắn, chặt chẽ của Bộ Tổng tư lệnh, trên cơ sở có lực mạnh, thế vững, ta đã chủ động tạo được nhiều thời cơ tốt. Trước hết là thời cơ đánh trận then chốt mở màn chiến dịch: trận Buôn Ma Thuột. Biện pháp chủ yếu của ta để giữ quyền chủ động, tạo thời cơ lúc đó là nghi binh, cắt đường và vây hãm, cô lập quân địch ở Buôn Ma Thuột. Sau khi trung đoàn 45 của địch bị kéo về Plây Cu và ta đánh cắt các đường số 19, số 21 và số 14 thì thời cơ thuận lợi để tiến công Buôn Ma Thuột đã xuất hiện.


Trong nghệ thuật tạo thời cơ, có lúc ta phải dàn dựng thêm một số tình huống phụ để bảo đảm cho thời cơ được chín muồi, vững chắc hơn. Để đánh thắng địch ở Buôn Ma Thuột được nhanh gọn, vấn đề đặt ra là phải trói chặt tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tăng cường, ứng cứu Buôn Ma Thuột một cách dễ dàng; phải chặt tay địch xung quanh Buôn Ma Thuột, làm cho vị trí này càng thêm yếu, thêm cô lập, đồng thời mở rộng, tạo thêm chỗ đứng cho ta. Ta đánh Cẩm Ga, Thuần Mẫn trên đường số 14 giữa Buôn Ma Thuột và Plây Cu, tiến công Đức Lập ở tây - nam Buôn Ma Thuột là nhằm thực hiện ý định đó. Tuy nhiên, một vấn đề khác cũng được đặt ra là phải làm sao cho các tình huống phụ diễn ra đúng lúc, nhằm phục vụ tốt cho tình huống chính, thời cơ chính. Đánh Cẩm Ga, Thuần Mẫn, Đức Lập phải bảo đảm không làm lộ ý định chiến dịch của ta khiến kẻ địch chú ý để phòng, gây khó khăn cho việc tiến công Buôn Ma Thuột. Thực hiện yêu cầu đó, ta đã xử trí rất khéo léo: ngày 8 tháng 3 năm 1975 đánh Cẩm Ga, Thuần Mẫn, ngày 9 tháng 3 đánh Đức Lập và ngày 10 tháng 3 đánh Buôn Ma Thuột. Ta đã dẫn dắt các tình huống trên điễn ra dồn dập trong ba ngày liền làm cho bọn chỉ huy quân đoàn 2 địch ở Plây Cu không kịp trở tay, bọn chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23 ở Buôn Ma Thuột cũng đành bó gối. Quân địch chưa kịp phán đoán, chưa kịp hành động thì số phận của Buôn Ma Thuột đã được định đoạt trưa ngày 11 tháng 3 năm 1975.


Nắm vững thời cơ đánh đòn thứ nhất giành thắng lợi tốt đẹp, ta lại tạo ra thời cơ mới, những thuận lợi mới, gây cho địch những khó khăn mới, buộc chúng phải phạm những sai lầm mới. Đồng thời tình huống phát triển cũng làm tăng thêm tính chất gay go phức tạp, khẩn trương của cuộc đối chọi giữa ta và địch. Điểm nổi bật của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, nghệ thuật tạo và chớp thời cơ lúc này là phán đoán, hạ quyết tâm, xử lý đúng đắn, kịp thời để khỏi bỏ lỡ thời cơ, củng cố và phát triển thắng lợi vừa giành được. Lúc này điểm mấu chốt của nghệ thuật chỉ huy không phải là tạo thời cơ như lúc đầu, vì thời cơ mới - thời cơ đánh quân địch phản kích - đã được tạo ra, mà là tận dụng thời cơ, biến khả năng thành kết quả thực hiện, tiêu diệt nhanh gọn quân địch, đập tan ý định của chúng phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột; tiếp tục tạo nên sự thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Trong chiến dịch Tây Nguyên, tình huống và thời cơ đánh địch phản kích đã được dự kiến trong kế hoạch chiến dịch, và nó đã xuất hiện đúng như ta dự kiến. Nhưng do tính chất phức tạp, khẩn trương của cuộc đối chọi giữa ta và địch, nên muốn biến thời cơ tốt thành kết quả thắng lợi còn đòi hỏi sự nỗ lực chủ quan rất cao của tất cả cán bộ và chiến sĩ tham gia chiến dịch, nhất là của người chỉ huy chiến dịch.


Nghệ thuật tạo và nắm thời cơ gắn liền với nghệ thuật xoay chuyển, chuyển hóa thế trận, điều động lực lượng, nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến dịch. Đánh địch phản kích là một tình huống then chốt trong chiến dịch, có khi là một tình huống quyết định. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, ta đã kiên quyết tập trung lực lượng dự bị đủ mạnh và khẩn trương tổ chức thế trận, quyết tâm đánh bại phản kích của địch trên đường số 21 (đông Buôn Ma Thuật). Có lực lượng hùng hậu, có thế trận vững mạnh, lại có kinh nghiệm và khí thế sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, nên ta có những điều kiện cơ bản để tận dụng thời cơ, giành thắng lợi. Thành công của ta ở đây là đã bảo đảm cho các yếu tố lực lượng, thế trận và thời cơ được vận dụng, kết hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Nhờ vậy, ta đã biên thời cơ tốt thành kết quả thắng lợi giòn giã, đánh bại hoàn toàn cuộc phản kích của quân địch, đập tan hy vọng của chúng giành lại Buôn Ma Thuật, đẩy địch đi vào những bước sai lầm nghiêm trọng hơn.


Trong chiến dịch, chiến đấu, thời cơ thường do ta tạo ra như hai thời cơ đầu trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975. Nhưng thời cơ cũng có khi do địch tạo ra cho ta, do sự phán đoán và chủ trương sai lầm của chúng. Đương nhiên những sai lầm ấy của địch cũng có tính tất yếu, do thế và lực của ta tác động vào địch buộc chúng phải phạm sai lầm. Đó là trường hợp địch rút bỏ Tây Nguyên, ở đây vấn đề đặt ra cho nghệ thuật chiến dịch là phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ, giành thắng lợi lớn. Nó đòi hỏi tính năng động rất cao của tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch, trước hết là của các cấp chỉ đạo và chỉ huy. Tất nhiên để tận dụng được thời cơ có lợi, phải có cơ sở lực và thế nhất định, nhưng rõ ràng ở đày tính năng động chủ quan của người chỉ đạo, chỉ huy cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Phải nắm được thời cơ, chớp đúng thời cơ, phán đoán chính xác, hạ quyết tâm đúng đắn, kịp thời, hành động kiên quyết, khẩn trương.


Ngày 15 tháng 3 năm 1975, địch bát đầu rút chạy khỏi Tây Nguyên: một tình huống mới, hết sức quan trọng đã xuất hiện. Lực lượng rút chạy là lực lượng lớn nhất, đông nhất còn lại của quân đoàn 2 ngụy, gồm phần lớn các đơn vị chủ lực bộ binh và các binh chủng. Hạ quyết tâm tiêu diệt lực lượng này không phải đơn giản, tổ chức thực hiện quyết tâm này gặp không ít khó khăn. Vấn đề mấu chốt là phải làm sao chặn được địch lại và cơ động được lực lượng lớn đến kịp thời để tiêu diệt chúng. Được sự chỉ đạo sáng suốt, sắc bén của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, trực tiếp là đại diện Bộ Tổng tư lệnh, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kịp thời phát hiện ý định và hành động của địch, có quyết tâm và cách xử trí đúng đắn, kịp thời. Việc xoay chuyển thế trận, điều động lực lượng, việc tổ chức và tạo thế đánh tiêu diệt đã được thực hiện tốt nên ta đã chóp đúng thời cơ và giành thắng lợi rực rỡ. Ở đây còn thấy rõ việc chớp được thời cơ hay không, không phải chỉ do sự nỗ lực của một hướng, của một khu quyết chiến, mà phải có sự hỗ trợ của các hướng khác, của toàn chiến dịch hoặc toàn chiến trường, làm cho địch bị hãm vào thế bị động, bất lợi, lực lượng bị giam chân, bị phân tán, muốn cứu nhau không cứu được, muốn chạy cũng không thoát.


Qua chiến dịch Tây Nguyên, ta còn thấy được vai trò của những biện pháp tổ chức trong nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ. Qua các ví dụ nêu trên, rõ ràng là trong các thời cơ khác nhau, nổi lên những yêu cầu khác nhau về nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ. Có lúc đó là việc bày mưu hay, định kế giỏi để tạo thời cơ; có khi là tính kiên quyết trong chủ trương, ý định để tận dụng thời cơ; cũng có lúc là sự nhạy bén trong việc phán đoán tình huống để chớp thời cơ. Nhưng trong bất cứ tình huống nào cũng có vấn đề biện pháp tổ chức, cũng phải luôn luôn có nhiều biện pháp tổ chức tốt. Đặc biệt, cũng có khi biện pháp tổ chức lại đóng vai trò then chốt, nổi bật trong nghệ thuật tạo và nắm thời cơ. Khi đã có thời cơ, tình huống đang phát triển thuận lợi thì chỉ cần có biện pháp tốt là thời cơ đó sẽ được tận dụng, những điều kiện thuận lợi sẽ được khai thác, phát huy cao độ. Ngược lại kết quả có thể rất hạn chế, không phải vì thiếu dự kiến, thiếu nhạy bén, thiếu quyết tâm mà chính là do thiếu những biện pháp tốt.


Sau khi lực lượng địch ở Tây Nguyên rút chạy và đã bị tiêu diệt, ta giải phóng toàn bộ Tây Nguyên thì quân địch bị đẩy vào thế suy sụp rất nghiêm trọng. Một thời cơ vô cùng thuận lợi để ta phát triển xuống đồng bằng đã mở ra. Vấn đề đặt ra cho nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật chiến dịch lúc này là phải có nhiều biện pháp tổ chức nhằm nâng cao tốc độ tiến công, nhanh chóng quét sạch lực lượng ngân chặn dọc đường, bảo đảm cơ động nhanh, chuẩn bị tiến công gấp, vừa đi vừa đánh, hoặc triển khai nhanh thế trận rồi đánh ngay, giải quyết nhanh và phát triển nhanh. Do biết đoán định thời cơ, chớp thời cơ, đặc biệt là do có những biện pháp tổ chức tốt nên các cánh quân của ta đã cùng với các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân nhanh chóng phá vỡ các khu vực phòng ngự của địch, đánh chiếm các thị xã và giải phóng một số tỉnh ở đồng bằng.


Thành công trong nghệ thuật tạo thời cơ và chốp thời cơ đã góp phần làm cho chiến dịch Tây Nguyên tiêu diệt quân đoàn 2 và đánh chiếm toàn bộ quân khụ 2 ngụy phát triển thuận lợi, nhanh chóng, giành thắng lợi rất to lớn, tạo nên một bước ngoặt đột biến có ý nghĩa chiến lược trong cục diện chiến tranh ở miền Nam nước ta vào mùa Xuân năm 1975.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:01:50 pm
IX. XUÂN 1975 - ĐỈNH CAO MỚI CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
(Bài viết nhân dịp kỷ niệm lẩn thứ 10 thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đăng trên tạp chí Cộng sản, sô tháng 4 năm 1985. Có sửa chữa, bổ sung)


Lịch sử cho thấy, sự phát triển của nghệ thuật quân sự trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa giành được thắng lợi, thường vươn tới đỉnh cao vào giai đoạn cuối cùng của nó. Bởi vì đó là giai đoạn diễn ra trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, đỉnh cao của những cố gắng trong sự đâu lực, đấu trí giữa hai bên để giành thắng lợi về mình. Chiến cuộc Xuân 1975 với các chiến dịch tiến công kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là một ví dụ.


Nghệ thuật quân sự Việt Nam đạt đến những đỉnh cao mới vào mùa Xuân 1975 trong tình hình có những đặc điểm sau đây:

Một là, nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sự chỉ đạo chiến tranh sáng suốt của Đảng, sau chặng đường dài 30 năm đánh giặc, cả hai lực lượng chính trị và vũ trang, cả ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân ta đều lớn mạnh vượt bậc. Vào đầu năm 1975, trên tất cả các địa bàn rừng núi, đồng bằng và đô thị của miền Nam, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta đều phát triển sâu rộng, đứng chân vững chắc, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân sâu hiểm cài xen với thế trận địch trên toàn bộ miền Nam. Những cơn lốc tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công ngày càng dồn dập, tích tụ và lan rộng, sẵn sàng dâng thành bão táp tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt. Lực lượng tổng hợp của chiến tranh nhân dân mà Đảng ta tạo được vào lúc đó là lực lượng đông đảo, mạnh mẽ và có tổ chức cao chưa từng có ở nước ta.


Hai là, lần đầu tiên trong lịch sử quân sự nước ta, cấp quân đoàn chủ lực đã được thành lập vào thời điểm sát gần với cuộc tổng tiến công và để chuẩn bị trực tiếp cho tổng tiến công. Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các quản chủng, binh chủng kỹ thuật, sự ra đời của cấp quân đoàn chủ lực đã nâng sức chiến đấu của quân đội ta lên một chất lượng mới. Với quy mô tổ chức như vậy, quân đội ta vừa có khả năng cơ động cao, sức đột phá mạnh, vừa có nâng lực tác chiến liên tục, đáp ứng được những diễn biến mau lẹ của tình huống và sẵn sàng đón thời cơ. Nó cho phép chúng ta tổ chức những tập đoàn chiến lược lớn để mở các chiến dịch lớn gối đầu và kế tiếp nhau, trong một thời gian ngắn có thể cơ động lực lượng đánh địch trên nhiều địa bàn chiến lược, đánh vào những cụm phòng thủ kiên cố, phá vỡ toàn bộ thế trận cố thủ cứa địch ở miền Nam. Đó là năng lực tác chiến chưa từng có của quân đội ta trước đó.


Ba là, sau gần 20 năm đánh Mỹ, ta đã tạo lập được mạng đường chiến lược và tuyến đường ống dẫn dầu vươn dài từ hậu phương lớn đến những địa bàn trọng yếu của tiền tuyến lớn. Nó cho ta khả năng cơ động dễ dàng những binh đoàn lớn, những khối lượng binh chủng, kỹ thuật lớn bằng cơ giới. Với mạng đường đó, chúng ta có thể phát huy đến mức cao nhất hiệu lực của sự chi viện về vật chất của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hộỉ chủ nghĩa anh em khác đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện tốt việc bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Đó là điều kiện mới ta đã tạo lập được cho mối quan hệ chiến lược giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn trên quãng đường dài hơn một nghìn ki-lô-mét.


Bốn là, quyết tâm giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị Trung ương Đảng đặt ra cho lực lượng vũ trang một nhiệm vụ lớn lao và triệt để: cùng với lực lượng chính trị của nhân dân đập tan toàn bộ bộ máy ngụy quyền, đập nát đội quân ngụy còn trên 1 triệu 35 vạn tên, được trang bị bằng vũ khí kỹ thuật hiện đại của Mỹ, phòng thủ trong một hộ thống khá chặt chẽ, với những căn cứ quân sự lớn, những trung tâm đề kháng rắn chắc và phức tạp liên kết với nhau trên suốt bề rộng và chiều sâu chiến trường như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Plây Cu, Kon Tum, Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, v.v... Trong lịch sử chiến tranh, khi hai bên cân sức nhau thì hiếm có trường hợp một bên có thể triển khai thế trận chiến lược trải dài từ ngoài vào trong, từ tiền duyên phòng ngự đến chiều sâu nhất thế trận phòng thủ của đối phương, như thế trận chiến tranh nhân dân của ta từ Quảng Trị đến Sài Gòn vào mùa Xuân năm 1975. Do đó, khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy được phát động thì các chiến trường, các hướng chiến lược đều phối hợp một cách nhịp nhàng, làm cho địch không có cách gì đối phó, không thể ứng cứu được cho nhau mà chỉ có thể bị động chống đỡ tại chỗ. Đó là một trong nhiều điều giải thích sự sụp đổ của địch chỉ trong 55 ngày đêm.


Trong những điều kiện thuận lợi cơ bản như vậy, nghệ thuật quân sự Việt Nam có thể phát huy cao độ sức sáng tạo của mình để phục vụ nhiệm vụ chính trị mà Đảng đã đề ra, từ việc dùng mưu kế, bày thế trận ta phá thế trận địch, tạo ưu thế trên chiến trường, sáng tạo và sử dụng thời cơ, đến việc đánh đòn mở đầu, thực hiện cơ động chiến lược và đánh đòn quyết chiến chiến lược, v.v... Trong 55 ngày đêm ấy, chúng ta đã vận dụng toàn bộ kinh nghiệm được tích lũy từ trong lịch sử để thực hiện những nội dung đó. Vì vậy nghệ thuật quân sự của ta vào mùa Xuân 1975 đã thể hiện tính cách mạng, tính nhân dân, tính sáng tạo và tính hiện đại cao.


Về nghệ thuật quân sự trong chiến cuộc Xuân 1975, có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu một cách sâu sắc. Ở đây chỉ bước đầu đề cập một số vấn đề được giới hạn trong phạm vi chiến lược và nghệ thuật chiến dịch.

Một là, nghệ thuật dùng mưu kế để giành thế chủ động đánh địch.

Nghệ thuật dùng mưu kế là nghệ thuật buộc địch phải bố trí, sử dụng và điều động lực lượng theo ý định của ta. Từ đó, bắt địch phải bộc lộ sơ hở trong thế trận của chúng; ta bí mật bất ngờ tập trung lực lượng đánh đòn đầu tiên vào nơi sơ hở nhưng hiểm yếu của địch. Cũng bằng mưu kế, ta trói chật lực lượng dự bị cơ động chiến lược của địch ở một địa bàn hiểm yếu khác, buộc chúng không thể tự do điều động để phản kích, ứng cứu, hàn vá chỗ bị phá vỡ, phải đi đến thay đổi hoặc cải tạo lại thế bố trí, do đó tiếp tục bộc lộ sơ hở mới để ta đánh các đòn tiếp theo, đập tan thế trận chiến lược cơ bản của địch, và cứ như thế dẫn địch đi từ thất bại này đến thất bại khác cho đến thất bại hoàn toàn.


Có mưu kế hay sẽ lập được thế trận tốt, bảo đảm nắm vững quyền chủ động chiến dịch. Thế trận vận động theo đúng mưu kế đã định, sẽ tạo ra tình huống thuận lợi, tình huống phát triển lại sinh ra thời cơ. Nắm bắt được thời cơ để đánh đòn quyết định sẽ thúc đẩy sự chuyển biến nhanh chóng về so sánh lực lượng, hình thành cục diện mới, tạo ra thời cơ mới. Mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố mưu kế, thế trận và thời cơ đã được nghệ thuật quân sự Việt Nam vặn dụng rất sắc sảo trong chiến cuộc Xuân 1975 là như vậy.


Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, quân Mỹ buộc phải rút khỏi Việt Nam; quân ngụy mất đi chỗ dựa chủ yếu trong tác chiến, Mỹ chỉ còn có thể viện trợ ở mức độ hạn chế. Vì vậy khả năng chiến đấu của quân ngụy giảm sút hẳn đi. Nực cười thay, Thiệu phải hô hào quân lính của hắn "đánh theo kiểu con nhà nghèo". Tuy đã hụt hơi, nhưng đến trước chiến cuộc Xuân 1975, địch còn đông và khá mạnh, chúng vẫn còn được tăng cường về mặt này hay mặt khác.


Bằng các đòn tác chiến liên tiếp và với thế bố trí lực lượng sâu hiểm của ta (hai quân đoàn chủ lực ở nam, bắc sông Bến Hải và một quân đoàn ở ngoại vi Sài Gòn), ta đã căng địch ra, buộc chúng tăng cường phòng thủ ở hai đầu (Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn). Bằng cách đó, ta làm cho địch mất quyền chủ động chiến trường và không còn khả năng nắm và sử dụng lực lượng dự bị mạnh. Khi đòn tổng tiến công của ta mới bắt đầu, có những lúc cả sư đoàn dù lẫn sư đoàn thủy quân lục chiến là lực lượng tổng dự bị ngụy đã phải làm nhiệm vụ của thê đội một tác chiến - một điều tối kỵ trong nguyên tắc sử dụng lực lượng dự bị chiến lược. Như vậy đây là điều chủ yếu, địch đã để hở quãng giữa miền Trung tại địa bàn chiến lược rất quan trọng: Tây Nguyên. Nhằm sơ hở ấy, ta bí mật tập trung một số sư đoàn ở Tây Nguyên, phá vỡ thế trận địch ở chỗ xung yếu, tạo ra một chuyển biến lớn về chiến lược. Địch bị bất ngờ, bị động đối phó và suy sụp nhanh chóng không sao gượng lại được.


Địch bị lừa, mắc phải mưu kế chiến lược của ta nên ta điều động được địch, điều khiển được địch theo ý định của mình. Như vậy là đã làm chủ được tình thế, giành được quyền chủ động. Chủ động là mạch sống của tác chiến. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "... Giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì cũng thắng nhỏ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr, 169).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:02:30 pm
Hai là, nghệ thuật lập thế trận chiến lược.

Lập thế trận chủ yếu là ở việc tổ chức, bố trí lực lượng trong những không gian thích hợp, vào thời gian thích hợp, với những khả năng thích hợp. Khi nói đến thế trận, trước hết cần phải xét đến yếu tố cơ bản tạo thành thế trận là lực lượng, xem nó đã được sắp đặt như thế nào? Cho đến trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, chúng ta đã bố trí được những lực lượng mạnh và sung sức trên tất cả các hướng chiến trường. Cùng với việc bổ sung quân số, trang bị đủ theo biên chế, lần đầu tiên ta đã thành lập và bố trí các quân đoàn binh chủng hợp thành tại các mặt trận Trị - Thiên, Đông Nam Bộ, và các sư đoàn độc lập ở quân khu 5 và Tây Nguyên. Các binh đoàn ấy vừa là quả đấm thép cơ động chiến lược, vừa là lực lượng chủ lực tập trung tại chỗ, với trang bị kỹ thuật mạnh chưa từng thấy, được huấn luyện tác chiến theo hướng hợp đồng binh chủng cấp chiến dịch, có đội dự bị theo chiều sâu, bảo đảm chiến đấu trong thời gian và không gian cần thiết, đã tạo nên ưu thế lực lượng tổng quát hơn địch trên từng hướng. Sự bố trí binh lực như thế đã không có được hồi năm 1972.


Chúng ta cũng đã hoàn chỉnh cả một mạng lưới đường sá và căn cứ hậu cần cấp chiến lược và chiến dịch, bảo đảm cung ứng vật chất và cơ động bộ đội ra phía trước. Sau Hiệp định Pa-ri, ta đã tổ chức được mạng lưới ấy một cách nhanh chóng, đặc biệt là đã hoàn chỉnh mạng đường chiến lược 559 với hệ thống đường ống dẫn dầu kỳ diệu trong hai năm 1973-1974; nhờ vậy chúng ta đã đưa đến các hướng chiến trường một khối lượng vật chất gấp 8 - 9 lần khối lượng của năm 1972. Điều đó không những tạo khả năng bảo đảm nhiệm vụ tác chiến trước mắt mà còn cho phép ta chuẩn bị lực lượng dự trữ để tăng cường thế trận theo chiều sâu.


Từ nửa cuối năm 1973, với việc chỉ đạo kiên quyết phân công đánh bại các hoạt động lấn chiếm của địch ngay tại nơi xuất phát của chúng, và những chiến thắng liên tiếp nhất là trong năm 1974, chúng ta đã giành được quyền chủ động cả về chiến lược và chiến đấu, nâng cao tinh thần phấn khởi, quyết tâm của bộ đội, góp phần xác lập thế trận có lợi trước chiến cuộc Xuân 1975. Ở mặt trận Trị - Thiên, với việc phá vỡ một phần tuyến phòng ngự thành phố Huế, chúng ta uy hiếp địch không những từ hướng bắc mà còn từ hướng tây và hướng nam. Các căn cứ lực lượng đặc biệt của địch cắm trong vùng giải phóng và vùng giáp ranh trên mặt trận Trung Trung Bộ và Tây Nguyên đã bị nhổ bật, nhổ gọn làm cho khu giải phóng của ta hình thành thế liên hoàn, căn cứ hậu phương chiến lược, chiến dịch được mở rộng. Với việc đó ta đã xóa bỏ được khả năng địch thực hành các mũi vu hồi bằng lực lượng tại chỗ, buộc chúng phải phòng ngự và tác chiến theo những hướng nhất định. Trên mặt trận Nam Bộ, thế trận có lợi cho ta cũng được củng cố theo đà tiến công phá bốt, mở vùng liên tiếp giành được thắng lợi, nhất là trên chiến trường Khu 9.


Như vậy, với việc triển khai binh lực, tổ chức bảo đảm hậu cần, giành quyền chủ động tác chiến, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng hậu phương trực tiếp trên từng hướng chiến lược..., chúng ta đã xác lập một thế trận sâu hiểm và vững chắc trên toàn bộ chiến trường miền Nam.


Một thế trận như vậy trước đó chưa từng xuất hiện trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thế trận ấy chính là bắt nguồn từ thế trận chiến tranh nhân dân với sức mạnh của toàn dân, của cả nước đánh giặc bằng hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự, bằng ba thứ quân với tư tưởng chiến lược tiến công và phương pháp tiến hành chiến tranh cách mạng tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ và tiêu diệt địch, đánh địch bằng hai phương thức: chiến tranh nhân dân địa phương kết hợp với tác chiến của các binh đoàn chủ lực. Trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân đã được xây dựng từ hàng chục năm trước đó, mùa Xuân năm 1975 ta đã lập được thế trận sâu hiểm cài xen với địch từ Trị - Thiên đến Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Quân địch không chỉ phải đối phó ở Trị - Thiên - Huế mà còn phải đồng thời đối phó ở ngay cửa ngõ Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của chúng. Do đó lực lượng của chúng bị phân tán, căng kéo, tạo thành một trận tuyến dài và mỏng, không có lực lượng dự bị hùng hậu, bị đánh ở đâu đối phó ở đó, không thể cơ động, ứng cứu lẫn nhau.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:03:34 pm
Ba là, nghệ thuật giành và nắm thời cơ, chuyển hóa thế trận.

Đầu năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã thông qua kế hoạch hai năm hoàn thành việc giải phóng miền Nam, đồng thời cũng dự kiến phương án: nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Kế hoạch đó lá kết quả của việc nắm thời cơ trên cơ sở phân tích tình hình lúc ấy. Sự phát triển của cách mạng, cũng như sự tiến triển chung của lịch sử loài người, đều tuân theo một quy luật: từ phát triển tuần tự đến những bước nhảy vọt. Nhưng khác với nhiều lĩnh vực khác trong xã hội, trong chiến tranh cách mạng, một bước nhảy vọt này có thể tạo ra thời cơ đưa tới một bước nhảy vọt khác có tính chất dây chuyền, đem lại một sự nhảy vọt về chất. Thời cơ ấy chỉ xuất hiện trong khoảnh khác, và phải có tầm nhìn chiến lược sắc sảo nhạy bén mới nắm bắt được nó. Chúng ta đều biết, thời cơ được tạo ra là do các tình huống trong chiến tranh và là kết quả cụ thể của những thắng lợi mà ta đã giành được. Mùa Xuân năm 1975, cách mạng miền Nam đã đi những bước "một ngày bàng hai mươi năm" sau chiến dịch Tây Nguyên, thời cơ chiến lược đến không phải từng ngày mà là từng giờ. Thời cơ đã được tạo ra; thời cơ phải được nắm lấy để giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Theo sát sự phát triển của tình hình, trên cơ sở phân tích chính xác các sự kiện, ngày 18 tháng 3 năm 1975 Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định cuộc tổng tiến công chiến lược đã diễn ra ngay trong năm 1975, mờ đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên, và quyết định hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975. Ngày 25 tháng 3, thấy trước sự thất bại không thể tránh khỏi của địch ở Huế và Đà Nẵng, nắm bắt thời cơ mới, Bộ Chính trị lại quyết định giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Không dừng lại, ngày 31 tháng 3 Bộ Chính trị đã ấn định thời điểm cuối cùng: kết thúc chiến tranh ngay trong tháng 4 năm 1975.


Mười năm đã trôi qua, đến nay nhìn lại các sự kiện năm 1975 bằng con mắt phê phán của lịch sử, chúng ta có thể khẳng định: việc rút ngắn thời gian của các kế hoạch chiến lược như Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định là tuyệt đối đúng. Nắm thời cơ là một nội dung và yêu cầu rất quan trọng của nghệ thuật chỉ huy, đòi hỏi tính năng động chủ quan rất cao của cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh. Vào mùa Xuân năm 1975, nghệ thuật nắm bắt thời cơ không hề bắt nguồn từ sự tính toán phiêu lưu mà là sự quyết đoán chính xác dưa trên cơ sở phân tích khoa học, khả năng giành thắng lợi chắc chắn. Nó cũng không hề phạm phải sự cứng nhắc của chủ nghĩa kinh nghiệm. Đây là một vấn đề thuộc về phương pháp luận. Chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, rất dài, một cuộc chiến tranh phải giành thắng lợi từng bước. Bởi vậy chúng ta đã quen đặt kế hoạch chiến lược theo một quá trình nhất định, tạo và nắm thời cơ theo các chiến cuộc. Mùa Xuân năm 1975, khi xuất hiện những nhân tố mới - những nhân tố do chính chúng ta tạo ra - đưa đến thời cơ mới, Đảng ta đã nhạy bén nắm lấy nó. Trận Buôn Ma Thuột mở đầu chiến dịch Tây Nguyên đã làm rung chuyển thế trận chiến lược của địch. Chúng hoảng loạn rút chạy khỏi Tây Nguyên trong một cuộc hành quân được thiết kế vội vã. Nắm lấy sai lầm của địch, chớp lấy thời cơ chiến dịch do thời cơ chiến thuật đẻ ra, chúng ta đã nhamh chóng giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Thời cơ chiến dịch lại làm nảy sinh thời cơ chiến lược. Nắm bắt thời cơ ấy, chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam trong một thời gian ngắn nhất.


Như vậy, bước sang năm 1975, thời cơ lớn xuất hiện là kết quả chín muồi của quá trình chiến tranh cách mạng lâu dài và của sự thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta từ sau Hiệp định Pa-ri, do những thãt bại nặng nề của quân ngụy trong hai năm 1973-1974 mà cái "nút" là trận Phước Long có ý nghĩa chiến lược để thăm dò và xác định khả năng của hai bên. Nắm đúng thời cơ, ta đã tạo ra bước nhảy vọt từ chiến dịch Tây Nguyên với trận mở đầu then chốt đánh vào vị trí hiểm yếu Buôn Ma Thuột. Phải có tầm nhìn chiến lược mang đầy đủ tính cách mạng và khoa học, sáng suốt và táo bạo thì mới có thể nhận ra từ đấy một thời cơ chiến lược.


Nhưng thời cơ tự nó không phải là một yếu tố vật chất đem lại chiến thắng. Đi đôi với việc nắm bắt thời cơ là nghệ thuật tổ chức thực tiễn. Chưa bao giờ trong một thời gian ngắn chúng ta lại mở một loạt các chiến dịch cỡ trên quân đoàn và nhiều quân đoàn và giành thắng lợi to lớn, triệt để như vậy. Để tiến hành một loạt chiến dịch như thế, trước hết cấp chiến lược phải tổ chức huy động, tập trung những binh lực to lớn về cung cấp một khối lượng vật chất khổng lồ. Trong chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu - chúng ta tập trung 5 sư đoàn; đến chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch cuối cùng - lực lượng tham gia là 5 quân đoàn (Đoàn 232 tương đương một quân đoàn). Trong điều kiện lực lượng có hạn - mà trong bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng đều có sự hạn chế về lực lượng - thì kiên quyết cơ động, tích cực cơ động, tăng tốc độ và cường độ cơ động sẽ cho phép tạo ra sừc mạnh ở những nơi cần thiết, lực lượng một sẽ thành mười. Trong chiến tranh, thời gian là lực lượng, chân lý đó đã được nhiều nhà lý luận và chỉ huy quân sự ở các thời đại khẳng định. Trong chiến cuộc Xuân 1975, bằng cơ động nhanh, nhiều quân đoàn, sư đoàn trong một thời gian ngàn đã tham gia liên tiếp hai, ba chiến dịch (kể cả những chiến dịch thuộc phạm vi quân khu). Đó là kết quả của năng lực tổ chức và điều hành chiến cuộc.


Chúng ta cũng đã nắm vững đặc điểm của địch ỏ từng khu vực để chỉ đạo cụ thể từng chiến dịch, không máy móc. Đối với Tây Nguyên, địch ở trạng thái tĩnh, bố trí ổn định, ta đã chỉ đạo công tác chuẩn bị thật chặt chẽ, tiến hành từng bước vững chắc. Khi bắt đầu tác chiến thì nắm lực lượng dự bị mạnh, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Đối với Huế - Đà Nẵng, địch ở trạng thái động, đang hoang mang rối loạn, ta đã nhấn mạnh yếu tố thời cơ khẩn trương đánh thẳng vào trung tâm hệ thống phòng ngự của địch ngay cả khi ta chưa kịp tập trung đủ lực lượng. Đối với Sài Gòn, địch tuy đã bị rung động, ở trong thế thất bại về chiến lược, nhưng vì đó là sào huyệt cuối cùng, chúng phải bảo vệ bằng mọi giá, nên ta đã khẩn trương huy động mọi khả năng, tập trung lực lượng áp đảo tuyệt đối quân địch, đánh chắc thắng. Đó là sự chỉ đạo đúng đắn, khoa học và táo bạo của cơ quan chỉ huy và tham mưu chiến lược.


Thắng lợi của các chiến dịch tiến công ấy là những đòn chí tử đối với địch và có tác động mạnh mẽ về mặt chiến lược. Chiến dịch Tây Nguyên dẫn đến giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, bẻ quặt chiến tranh sang một hướng mới. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng làm chủ hoàn toàn miền Trung và Nam Trung Bộ, đẩy tiền duyên chiến lược của địch về phía sau nửa nghìn ki-lô-mét. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đập tan toàn bộ quân địch tại sào huyệt cuối cùng của chúng, kết thúc chiến tranh thắng lợi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:04:26 pm
Cần nhấn mạnh thêm là chúng ta đã vận dụng và kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực, giữa tiến công và nổi dậy - một quy luật chi phối xuyên suốt cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc ta. Tác chiến của bộ đội địa phương và nổi dậy của quần chúng nhân dân đã hỗ trợ đắc lực và phát huy kết quả của các chiến dịch tiến công; ngược lại các chiến dịch tiến công thắng lợi lại tạo điều kiện và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào nổi dậy của quần chúng. Trong thực tế, ta đã giành được chính quyền ở một loạt thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn bằng tác chiến nhỏ kết hợp với nổi dậy.


Nghệ thuật điều hành chiến cuộc Xuân 1975 còn nổi bật trong khâu tổ chức hậu phương. Vào thời điểm đang tiến hành các chiến dịch tiến công ở miền Nam, chúng ta đã thành lập trên miền Bắc nhiều sư đoàn bộ binh và trung đoàn phòng không, vừa làm lực lượng dự bị chiến lược vừa sẵn sàng đối phó với khả năng một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và một cuộc tập kích chiến lược bằng lực lượng bộ binh của địch vào hậu phương lớn. Cùng với các binh đoàn tác chiến, hàng chục vạn tân binh mới tuyển đã được huấn luyện cấp tốc và đưa nhanh ra tiền tuyến. Trong một thời gian rất ngắn, chúng ta đã tập trung cố gắng huy động mọi phương tiện và khả năng bảo đảm vật chất cho chiến trường dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chi viện chiến trường được thành lập ở Trung ương. Tất cả những điều đó chứng tỏ guồng máy của bộ tham mưu chiến lược đã hoạt động một cách khẩn trương, chính xác và có hiệu quả.


Bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 được thể hiện đồng thời trong những nét chung và những nét đặc thù của từng chiến dịch riêng biệt.

Đây là những chiến dịch tiến công nhằm thẳng vào các thành phố, thị xã lớn - căn cứ chủ yếu của từng quân khu của địch hoặc của ngụy quyền trung ương - với mục đích giải phóng đất đai và tiêu diệt sinh lực địch. Thành phố, thị xã lớn là nơi tập trung các cơ quan đầu não và cũng là nơi đông người, nhiều của nên kẻ địch hết sức chú trọng bảo vệ. Nhưng do đặc điểm chiến tranh nhân dân của ta, chúng không thể tổ chức phòng thủ một cách chặt chẽ, thành từng tuyến có chính diện liên tục và chiều sâu lớn. Tuy nhiên nếu đánh hơi thấy các đòn tiến công của ta, chúng sẽ nhanh chóng tăng cường lực lượng, tổ chức co cụm phòng thủ. Đó là tình hình thực tế đã được kinh nghiệm của năm 1972 chứng minh. Bởi vậy, trong các chiến dịch Xuân 1975, chúng ta đều dự kiến hai phương án tác chiến: phương án đánh địch không tổ chức phòng ngự chiến dịch và phương án đánh địch co cụm. Trên thực tế chúng ta đã tiến hành nghi binh, hoặc lợi dụng sự sơ hở và hỗn loạn của địch để đánh theo phương án thứ nhất. Đó là sự lựa chọn tối ưu, bảo đảm tiết kiệm sinh lực nhiều nhất và giành thắng lợi nhanh nhãt.


Trong vấn đề lựa chọn hướng và mục tiêu tiến công nhằm nhanh chóng đánh quỵ quân địch, ta đều nhằm vào những nơi hiểm yếu nhưng có sơ hở của địch, về hướng tiến công, nơi hiểm yếu là nơi địch có sơ hở, ta có thể nhanh chóng, bất ngờ đánh thẳng vào sở chỉ huy và căn cứ quan trọng của chúng. Về mục tiêu tiến công, nơi hiểm yếu là nơi mà kết quả thắng lợi của ta sẽ có tác dụng làm rung chuyển thế trận của địch về chiến dịch và về chiến lược, về mặt chiến lược, nam Tây Nguyên chính là nơi hiểm yếu đối với toàn cục, nên đã được lựa chọn để mở đầu chiến cuộc Xuân 1975.


Việc lựa chọn mục tiêu có tính chất hiểm yếu đã dẫn đến một cách đánh chiến dịch đặc trưng cho cuộc Tổng tiến công Xuân 1975: thọc sâu. Đó là cách đánh bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, dùng lực lượng mạnh và tinh nhuệ tiến công mãnh liệt, vô hiệu hóa một số mục tiêu, kết hợp trong đánh ra ngoài đánh vào, khiến địch khó có khả năng chống trả hữu hiệu. Đây là cách đánh có hiệu suất lớn. Nó đòi hỏi sự chính xác rất cao trong việc chọn hướng, chọn mục tiêu, sự kiên quyết trong chỉ huy và dũng mãnh trong tác chiến. Chúng ta cũng đã thực hiện một cách phổ biến việc chia cắt địch ngay từ đầu và trong suốt quá trình tác chiến, thực hiện chia cắt chiến lược, chia cắt chiến dịch, bao vây chặt và tiến công kiên quyết.


Là những chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng quy mô lớn, chúng ta đã đặc biệt chú ý phát huy vai trò và tác dụng của các binh chủng kỹ thuật, ở đây, nổi bật lên vai trò của bộ đội xe tăng - thiết giáp với tư cách là lực lượng đột kích mạnh, đã làm tăng khả năng đánh địch trong hành tiên, chiếm lĩnh mục tiêu trong hành tiến của tác chiến chiến dịch.


Ngoài những nét chung, có thể nhận thấy những nét nổi bật riêng biệt về sự phát triển nghệ thuật quân sự trong từng chiến dịch.

Đó là nghệ thuật nghi binh lừa địch trong chiến dịch Tây Nguyên, với những hoạt động và biện pháp được tiến hành một cách khoa học, hợp lý. Nhờ đó, chúng ta đã điều khiển địch từng bước, khiến chúng bị đánh lừa cho đến phút chót cả về hướng tiến công, lực lượng tiến công và thời cơ tiến công. Chiến dịch này cũng nổi bật về thực hiện chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch, tạo nên một thế trận rất đẹp. Từ thực tiễn của chiến dịch này, có thể khái quát một khía cạnh của nghệ thuật quân sự: mưu cao nhất là mưu lừa địch và kẽ hay nhất là kế điều địch. Lừa được địch và điều được địch thì sẽ tạo ra được bất ngờ tối đa và chủ động tối đa. Bất ngờ và chủ động là mạch sống của tác chiến.


Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, đó là nghệ thuật tổ chức hiệp đồng các hướng trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động, nghệ thuật chớp thời cơ chiến dịch, hành động khẩn trương, táo bạo, kiên quyết tiến công, tiến công liên tục cho đến tận sào huyệt cuối cùng của địch. Đây là một chiến dịch lớn được tổ chức gấp rút trên cơ sở hai chiến dịch nhó ban đầu với mục tiêu hạn chẽ của cấp quân khu (Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5). Đây cũng là một bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch.


Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đó là nghệ thuật tổ chức và chỉ huy một chiến dịch chiến lược với sự tham gia của hầu hết các binh đoàn chủ lực, của các quân binh chủng. Từ chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947 với sự tham gia của vài trung đoàn đến chiến dịch chiến lược Hồ Chí Minh Xuân 1975 với 5 quân đoàn chủ lực và các quân binh chủng, chúng ta đã đi một bước rất dài.


Ngày nay, mười năm sau ngày chiến thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chúng ta lại đang đứng trước những âm mưu và hành động phá hoại, xâm lược của kẻ thù mới. Nền nghệ thuật quân sự của chúng ta luôn luôn là một nền nghệ thuật quân sự chống ngoại xâm. Nó kế thừa những kinh nghiệm đánh giặc của ông cha trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước và được Đảng ta, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa lên một đỉnh cao mới. Ngày nay nó phải được tiếp tục phát triển và nâng cao hơn nữa cho phù hợp với những điều kiện mới và để đáp ứng những yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tô quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:05:56 pm
X. TÌM HIỂU MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN BẢO VỆ ĐẢO QUA CUỘC CHIẾN TRANH Ở MAN-VI-NÁT
(Bài viết vào cuối năm 1982)


Cuộc chiến tranh giữa Ác-hen-ti-na và Anh diễn ra tại khu vực quần đảo Man-vi-nát (nam Đại Tây Dương) vào giữa năm 1982 đã gây ra những cuộc bàn luận sôi nổi của giới quân sự nhiều nước trên thế giới xung quanh vấn đề phương pháp tác chiến bảo vệ hải đảo trong những điều kiện của chiến tranh hiện đại.


Chiến lược đại dương là một thành phần trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của một số nước lớn. Hải đảo lại giữ vị tri quan trọng trong không gian đại dương. Tại những hải đảo nhất định, có thể xây dựng những căn cứ quân sự liên hợp hải - không - lục quân. Đây là trạm tiếp tế, nơi dừng chân, điểm tựa và căn cứ xuất phát cho những lực lượng hải quân, không quân và lục quân, đặc biệt là cho những đơn vị thuộc một hạm đội nhất định. Thậm chí những hải đảo có diện tích rất nhỏ cũng có thể được sử dụng làm nơi đặt các trạm trinh sát điện tử.


Phía tiến công từ ngoài biển có thể dựa vào hải đảo và tuyến hải đảo làm bàn đạp, làm nơi xuất phát để mở những cuộc tiến công vào lục địa.

Phía phòng ngự ở đất liền có thể dùng hải đảo, tuyến hải đảo làm hàng rào chắn, làm tuyến tác chiến phía trưởc khác nào một tấm áo giáp che chở vững chắc cho đất liền.

Chính do tầm quan trọng đó của các hải đảo mà trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc tranh chấp giữa một số nước nhằm thâu tóm một số hải đảo vào phạm vi chủ quyền của mình. Hòng kiểm soát các đại dương thế giới, Mỹ đã chiếm đóng nhiều hải đảo trên Đại Tây Dương. Riêng tại Thái Bình Dương, do kết quả của chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã chiếm dụng hầu hết các quần đảo ở vùng giữa Thái Bình Dương từ bắc chí nam, lập nên tuyến trung gian hải đảo ở tây Thái Bình Dương từ các đảo A-li-u-xiên đến Mít-uê, qua các đảo Ô-ki-na-oa, Gu-am, quần đảo Mi-crô-nê-xi-a đến tận Úc và Niu Di-lơn. Tiếp đó là tuyến hải đảo tiền tiêu tiếp cận với lục địa châu Á chạy từ các hòn đảo Nhật Bản xuống Đài Loan rồi đến các hòn đảo Phi-líp-pin, với một đầu cầu lục địa ở Đông Bắc Á là Nam Triều Tiên (trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 còn có một đầu cầu lục địa nữa tại Đông Nam Á là miền Nam Việt Nam). Từ những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80, Mỹ đã xúc tiến việc xây dựng những căn cứ liên hợp hải - không quân lớn tại quần đảo Đi-ê-gô Gác-xi-a nhằm khống chế Ấn Độ Dương. Các tuyến hải đảo là thành phần quan trọng của thế trận đại dương nói riêng, thế trận chiến lược toàn cầu nói chung của đế quốc Mỹ.


Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, ngoài tầm quan trọng về chiến lược quân sự, nhiều hải đảo còn mang ý nghĩa quan trọng mới về kinh tế do việc phát hiện những khu vực dầu mỏ mang trữ lượng lớn tại nhiều vùng thềm lục địa. Nếu như nền công nghiệp nước Anh trước đây phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông, thì ngày nay những giếng dầu đang được khai thác ở ngoài khơi miền Bắc nước này đang đem lại những triển vọng đáng khích lệ về nguồn năng lượng cho các hòn đảo Anh.


Chính trong lúc các giới quân sự trên thế giới đang chăm chú nghiên cứu vai trò của các hải đảo trong chiến lược quân sự và kinh tế của nhiều nước trong bối cảnh tình hình thế giới đầu những năm 80 thì nổ ra cuộc chiến tranh giữa Ác-hen-ti-na và Anh tại khu vực quần đảo Man-vi-nát.


Về vị trí địa lý chiến lược, quần đảo Man-vi-nát gồm có 2 đảo lớn và khoảng 200 đảo nhỏ ở vùng tây - nam Đại Tây Dương, cách bờ biển phía nam Ác-hen-ti-na khoảng 600km và cách nước Anh khoảng 12.000km. Với diện tích 11.718km2, quần đảo có số dân thưa thớt chỉ khoảng 1.800 người gốc Anh làm nghề chăn nuôi, đánh cá, sản xuất len...


Quần đảo Man-vi-nát chỉ cách mũi Óoc-nôit (Hornos) ở cực nam châu Mỹ khoảng 400km, nên được Lầu năm góc xem như một "tháp canh" quan trọng trên eo biển nối liền Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, cụ thể là nối liền hạm đội 2 Đại Tây Dương với các hạm đội 3 Đông Thái Bình Dương và hạm đội 7 Tây Thái Bình Dương của hải quân Mỹ trong trường hợp kênh đào Pa-na-ma bị tắc nghẽn. Mối quan tâm của Lầu năm góc đối với quần đảo Man-vi-nát càng tăng lên khi chính quyền Oa-sinh-tơn dự định xúc tiến việc thành lập khối liên minh quân sự Nam Đại Tây Dương bao gồm Mỹ, Bra-xin, Ác-hen-ti-na và một số nước Nam Mỹ khác ở ven bờ Đại Tây Dương.


Mặt khác, từ những năm cuối thập kỷ 70, quần đảo Man-vi-nát bỗng chốc thu hút sự chú ý đặc biệt của các công ty kinh doanh dầu mỏ Mỹ - Anh sau khi những cuộc thăm dò cho thấy trữ lượng dầu mỏ có thể khai thác được ở khu vực này lên đến 70 - 80 tỷ tấn. Đối với một nước Anh đang bị khốn đốn vì những khó khăn kinh tế - tài chính chồng chất, đây là tia sáng lóe ra đầy hy vọng.


Về mặt lịch sử, Man-vi-nát vốn là vùng đất thuộc Ác-hen-ti-na nhưng bị thực dân Anh xâm chiếm từ năm 1833. Nhân dân Ác-hen-ti-na đã liên tục đấu tranh đòi lại chủ quyền của mình đối với quần đảo này nhưng đều bị đế quốc Anh ngoan cố bác bỏ. Sau nhiều lần thương lượng không đem lại kết quả gì, chính quyền Ác-hen-ti-na đã quyết định dùng hành động quân sự. Ngày 2 tháng 4 năm 1982, quân đội Ác-hen-ti-na đổ bộ lên quần đảo. 81 sĩ quan và lính thủy đánh bộ Anh đồn trú và viên toàn quyền Anh trên quần đảo đã đầu hàng. Chính quyền Luân Đôn phản ứng bằng cách phái một lực lượng đặc nhiệm đến đánh chiếm lại quần đảo Man-vi-nát và làm nổ ra cuộc chiến tranh giữa Anh và Ác-hen-ti-na tại khu vực này.


Việc giành lại quần đảo Man-vi-nát là quyền thiêng liêng của nhân dân Ác-hen-ti-na. Song cuộc chiến tranh này lại trước hết nằm trong những tính toán chiến lược phức tạp của các bên. Về phía Ác-hen-ti-na, vào thời điểm đầu năm 1982, chính quyền nước này do tướng Gan-ti-ê-ri cầm đầu là một chính quyền quân sự độc tài đang vấp phải những khó khăn gay gắt về kinh tế và sự phản kháng quyết liệt của nhân dân trong nước. Chính quyền Gan-ti-ê-ri tính toán rằng bằng cách dùng hành động quân sự chiếm lại Man-vi-nát, họ sẽ lợi dụng được tình cảm dân tộc, khoác cho mình chiếc áo ngoài "yêu nước", đẩy mũi nhọn bất bình của nhân dân Ác-hen-ti-na ra bên ngoài về phía đế quốc Anh. Mặt khác, trữ lượng to lớn về dầu mỏ tại Man-vi-nát sẽ có thể tạo ra cho chính quyền Ác-hen-ti-na triển vọng hoãn trả được những món nợ nước ngoài lúc đó đã lên đến trên 27 tỷ đô la, và vay mượn thêm nữa để cứu vãn tình hình kinh tế khốn đốn trong nước. Chính quyền Gan-ti-ê-ri còn tính toán rằng do những khó khăn kinh tế và chính trị nội bộ, Luân Đôn sẽ khó có thể tổ chức được một cuộc hành binh lớn vượt 12.000km đường biển để đánh chiếm lại Man-vi-nát. Đồng thời Ác-hen-ti-na lại đang là một bạn đồng minh khá thân thiết của Mỹ tại khu vực Nam Mỹ và nam Đại Tây Dương, nên chính quyền Gan-ti-ê-ri trông đợi có thể được sự ủng hộ nào đó của Mỹ, cộng với sự ủng hộ của các nước Mỹ La-tinh và các nước không liên kết trên thế giới. Bối cảnh đó sẽ buộc Anh phải thương lượng và tại bàn hội nghị, Ác-hen-ti-na có sẵn thế mạnh, trong đó có việc đã chiếm lĩnh xong quần đảo Man-vi-nát và tổ chức bố phòng ở đó với một lực lượng mạnh, được sự hỗ trợ của các lực lượng trên đất liền, đặc biệt là hải quân và không quân.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:06:38 pm
Phía Anh cũng đang vấp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế khiến cho thế lực của đảng Bảo thủ Anh đang cầm quyền ngày càng giảm sút. Song chính việc Ác-hen-ti-na dùng hành động quân sự đánh chiếm quần đảo Man-vi-nát lại tạo cho chính quyền Thát-chơ cơ hội khích động tinh thần dân tộc sô-vanh trong một bộ phận quần chúng Anh, tô vẽ cho thủ tướng Thát-chơ hình ảnh một người phụ nữ "kiên quyết bảo vệ danh dự và quyền lợi của đế quốc Anh" nhằm xoa dịu sự phẫn nộ của nhân dân Anh đối với chính sách đối nội phản động và chính sách đối ngoại theo đuôi Mỹ của bà ta. Mặt khác, đây còn là cơ hội để giới chỉ huy quân sự Anh chứng minh khả năng của lực lượng triển khai nhanh của Anh tại một khu vực xa xôi nhưng có tầm quan trọng chiến lược đối với khối NATO. Điều này tất phải thu hút được sự đồng tình, giúp đỡ và hỗ trợ của phía Mỹ. Hành động quân sự của Anh tại Man-vi-nát trên thực tế nằm trong khuôn khổ củng cố thế trận của khối NATO tại khu vực Đại Tây Dương.


Chính trên nền tảng những tính toán trên đây, hai bên Ác-hen-ti-na và Anh đã xác định những mục tiêu chiến lược của mình khi cuộc chiến tranh giữa hai nước tại khu vực Man-vi-nát đã trở nên không thể tránh khỏi.


Phía Ác-hen-ti-na chủ trương đánh trả lực lượng đặc nhiệm của Anh bằng hải quân và không quân có căn cứ trên đất liền và bằng các hành động tác chiến phòng ngự của lực lượng đồn trú trên quần đảo, đồng thời tiến hành các cuộc thương lượng với Anh thông qua sự trung gian của Mỹ và các hoạt động ngoại giao tại Liên hợp quốc. Giới cầm quyền Ác-hen-ti-na đặt nhiều hy vọng vào một sự thỏa hiệp với Anh, theo đó Anh sẽ công nhận, ít nhất là trên danh nghia, chủ quyền của Ác-hen-ti-na đối với Man-vi-nát. Trong suốt thời gian chiến tranh, cho đến khi các đơn vị quân đội Ác-hen-ti-na tại cảng Xten-li - thủ phủ của Man-vi-nát - đầu hàng, chính quyền Ác-hen-ti-na vẫn nuôi ảo tưởng về vai trò trung gian của Mỹ. Mục tiêu chiến lược mập mờ đó không phù hợp với lợi ích của nhân dân Ác-hen-ti-na, vì thế đã không động viên được tinh thần chiến đấu và tác động tai hại đến hành động tác chiến của các lực lượng vũ trang Ác-hen-ti-na trong suốt quá trình cuộc chiến tranh.


Về phía Anh, mục tiêu chiến lược được xác định rõ ràng dứt khoát ngay từ đầu: chiếm lại Man-vi-nát, lập lại chủ quyền của nước Anh trên quần đảo này trong một thời gian ngắn. Tình hình chính trị nội bộ và kinh tế nước Anh cũng như chiến lược của khôi NATO không cho phép chính quyền Luân Đôn nhân nhượng, dù chỉ trên danh nghĩa, về "chủ quyền" của Anh đối với Man-vi-nát. Đồng thời tình hình cũng không cho phép lực lượng đặc nhiệm Anh có mặt quá dài ngày tại vùng biển xa xôi này, vì sẽ gây ra sơ hở ở khu vực bắc Đại Tây Dương, và sẽ đẻ ra rất nhiều khó khăn trong việc bổ sung và tiếp tế trên một quãng đường biển quá dài. Việc thương lượng được phía Anh xem như một biện pháp hỗ trợ, đồng thời cũng là thủ đoạn nhằm ru ngủ chính quyền Ác-hen-ti-na. Mục tiêu chiến lược trên đây là cơ sở cho những hành động tác chiến kiên quyết của phía Anh.


Về lực lượng do hai bên huy động trực tiếp vào cuộc chiến, phía Anh có 10.000 lính thủy đánh bộ, 44 tàu chiến các loại trong đó có 2 tàu sân bay nhỏ và 2 tàu ngầm nguyên tử, 50 máy bay chiến đấu (không kể máy bay lên thẳng); còn phía Ác-hen-ti-na thì có 11.000 bộ binh đóng trên quần đảo Man-vi-nát, 18 tàu chiến và 126 máy bay chiến đấu. Như vậy, so sánh lực lượng giữa Anh và Ác-hen-ti-na có tỷ lệ về tàu chiến là 2,4 trên 1, về máy bay chiến đấu là 1 trên 2,5; còn bộ binh thì xem như ngang nhau.


Tuy nhiên, theo tính toán của bộ chỉ huy Anh, do Mỹ đã thỏa thuận cho Anh mượn căn cứ không quân Át-xen-sân của Mỹ, ở về phía nam bờ biển Ngà (tây châu Phi) 1.500km, làm căn cứ chuyển tiếp, nên rút ngắn được đến một nửa khoảng cách giữa nước Anh đến quần đảo Man-vi-nát. Mỹ lại giúp Anh máy bay tiếp dầu trên không, tạo điều kiện cho một số máy bay ném bom chiến lược kiểu Vun-can và những máy bay vận tải cỡ lớn của Anh có thể hoạt động được. Đặc biệt là qua hệ thống vệ tinh và máy bay trinh sát chiến lược của Mỹ, Lầu năm góc thông báo cho Anh những tin tức tình báo rất kịp thời, phục vụ đắc lực cho các hoạt động tác chiến tại chỗ.


Bộ chỉ huy Anh còn tính toán rằng về lực lượng hải quản, phía Anh chiếm ưu thế áp đảo trên biển; về bộ binh thì một khi đã đặt chân được lên Man-vi-nát, với sự yểm trợ của không quân gồm cả máy bay trên tàu sân bay lẫn máy bay ném bom chiến lược tầm xa, lính thủy đánh bộ Anh có khả năng đánh bại sự chống cự của bộ binh Ác-hen-ti-na vốn ít có kinh nghiệm chiến đấu. Về không quân, tuy ưu thế số lượng nghiêng về phía Ác-hen-ti-na, nhưng máy bay chiến đấu Ha-ri-ơ của Anh có căn cứ ngay tại khu vực chiến sự trên các tàu sân bay, nên có bán kính hoạt động bao quát được khu vực chiến sự và có thể xuất kích nhiều lần trong một ngày, với thời gian hoạt động mỗi lần đến 80 - 90 phút. Trong khi đó, từ đất Liên đến khu vực chiến sự, các máy bay Ác-hen-ti-na phải vượt qua khoảng cách từ 600 đến 800km, nên số lần sử dụng trong ngày ít hơn và thời gian tác chiến cũng rất hạn chế. Thông thường, mỗi lần xuất kích máy bay Ác-hen-ti-na chỉ thực hiện được một lần công kích vào mục tiêu rồi phải quay về ngay. Theo giới quân sự phương Tây, có từ 10 đến 20 phần trăm số máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na bị rơi trong cuộc chiến tranh Man-vi-nát chi vì không đủ nhiên liệu để bay về đến căn cứ. Ngoài ra, bộ chỉ huy Anh còn tin tưởng rằng các phi công Anh được đào tạo tốt hơn, lại được hỏa lực phòng không của các tàu chiến yểm trợ trực tiếp, được hệ thống ra-đa trên tàu trợ lực trong việc phát hiện mục tiêu và dẫn đường, nên tuy ít hơn về số lượng nhưng trên thực tế lại có nhiều điều kiện thuận lợi để chiếm ưu thế so với đối phương. Về lực lượng bộ binh, tuy hai bên có quân số xấp xỉ bằng nhau, nhưng kết quả chiến đấu trên vùng trời và vùng biển tại khu vực sẽ có ảnh hưởng và tác động lớn đến cuộc chiến đấu trên mặt đất. Mặt khác, lính thủy đánh bộ Anh được huấn luyện tốt hơn, có kinh nghiệm chiến đấu vượt xa bộ binh Ác-hen-ti-na vốn nằm dưới quyền chỉ huy của những tướng độc tài quân sự từ trước đến nay luôn luôn bị chi phối nặng nề bởi những tham vọng chính trị.


Thực tiễn cuộc chiến tranh đã chứng tỏ rằng các tính toán trên đây của bộ chỉ huy quân sự Anh có phần chính xác, nhưng họ cũng ít nhiều chủ quan nên đã vấp phải những bất ngờ cay đắng và phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:07:23 pm
Ngay từ đêm 30 tháng 4 năm 1982, sau khi máy bay Anh đánh phá sân bay cảng Xten-li, thủ phủ quần đảo Man-vi-nát, chiến sự đã diễn ra ác liệt. Ngày 4 tháng 5, tàu ngầm nguyên tử Anh phóng ngư lôi điều khiển "Tai-gơ-phi-sơ" đánh đắm tàu tuần dương Ác-hen-ti-na "Tướng Ben-gra-nô" trọng tải 10.000 tấn ở ngoài "khu vực cấm 200 hải lý" do Anh tuyên bố. Hôm sau, máy bay Ác-hen-ti-na dùng tên lửa E-xô-xét do Pháp chế tạo, bắn chìm tàu khu trục Anh Xép-phin trọng tải 4.500 tấn trị giá 40 triệu đô la. Các máy bay Ác-hen-ti-na tiếp tục tiến công trong những ngày sau đó, vượt qua được hàng rào ra-đa phòng không của các tàu chiến Anh, đánh đắm và làm hư hỏng nặng tổng cộng 4 tàu khu trục và tàu Phri-gát hiện đại, 1 tàu vận tải chở quân loại lớn, 6 tàu chiến khác trong đó có hai tàu đổ bộ, bắn rơi 19 máy bay Anh trong đó có 8 máy bay Ha-ri-ơ. Đây là tổn thất nặng nề nhất của hải quân Anh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.


Tuy nhiên, chỉ trong vòng 20 ngày của tháng 5 năm 1982, hải quân Ác-hen-ti-na cũng bị thiệt hại nặng đến mức không thể gượng dậy được nữa. Sau khi chiếc tàu tuần dương "Tướng Ben-gra-nô" và một tàu ngầm đi-ê-den, một tàu hậu cần trọng tải 13.000 tấn cùng một tàu chiến khác của hải quán Ác-hen-ti-na bị đánh đắm thì quân chủng này của quân đội Ác-hen-ti-na hầu như tê liệt, không còn tác dụng gì nữa trong chiến tranh.


Lực lượng không quân Ác-hen-ti-na tuy đạt được hiệu suất chiến đấu khá cao nhưng cũng đã phải trả giá đắt về máy bay và phi công. Theo các nguồn tin phương Tây, có khoảng 100 máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na bị rơi vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong số đó có đến 32 chiếc Mi-ra-giơ 3 phần lớn bị máy bay Ha-ri-ơ bắn hạ bằng tên lửa không đối không và cả bằng đạn pháo 30 ly. Do không thể bổ sung kịp về máy bay cũng như phi công, từ những ngày cuối tháng 5 năm 1982 trở đi, không quân Ác-hen-ti-na không còn là mối đe dọa đáng kể đối với lực lượng đặc nhiệm Anh cả trên mặt biển lẫn trên mặt đất tại khu vực Man-vi-nát, dẫn đến kết quả là các đơn vị bộ binh Ác-hen-ti-na đồn trú trên quần đảo rơi vào tình trạng bị cô lập với đất liền và phải tác chiến đơn độc.


Các đơn vị lính thủy đánh bộ Anh đã không vội vã đánh ngay vào cảng Xten-li, là nơi đã được quân Ác-hen-ti-na xây dựng thành một trung tâm phòng thủ khá mạnh. Với hành động nghi binh và tạo bất ngờ bằng cách đổ bộ trên nhiều điểm ở nhiều hướng cách xa cảng này từ 40 đến 80km và lập thành những đầu cầu vững chắc, phía Anh đã kéo các đơn vị Ác-hen-ti-na ra vòng ngoài khu vực Xten-li, buộc lực lượng phòng thủ cảng này phải phân tán ra nhiều hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho phía Anh tiêu diệt từng bộ phận nhỏ quân Ác-hen-ti-na. Cuối cùng, tình trạng cảng Xten-li bị bao vây, cô lập không lối thoát đã tác động mạnh mẽ đến ý chí của chính quyền Gan-ti-ê-ri vốn từ đầu đã không có mục tiêu chiến lược kiên định. Ngày 15 tháng 6 năm 1982, chính quyền Gan-ti-ê-ri buộc phải chấp nhận cho lực lượng Ác-hen-ti-na đồn trú tại cảng Xten-li đầu hàng quân Anh.


Diễn biến của cuộc chiến tranh Man-vi-nát đã đem lại cho các giới quân sự trên thế giới nhiều sự bất ngờ đáng được suy ngẫm và nghiên cứu kỹ lưõng. Trong một khu vực nhỏ hẹp tại một vùng hẻo lánh ở nam Đại Tây Dương, trong thời gian một tháng rưỡi, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1982 khi Anh tuyên bố phong tỏa vùng trời và vùng biển 200 hải lý xung quanh Man-vi-nát, đến ngày 15 tháng 6 năm 1982 khi quân Ác-hen-ti-na đóng tại cảng Xten-li đầu hàng, đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt, đặc biệt là giữa lực lượng không quân Ác-hen-ti-na với lực lượng đặc nhiệm Anh gồm tàu chiến và máy bay trên tàu sân bay. Lần đầu tiên trên thế giới, một số loại vũ khí tối tân nhất đã được đưa ra sử dụng, từ các tàu khu trục và tàu Phri-gát phóng tên lửa, tàu ngầm hạt nhân công kích đến máy bay chiến đấu Ha-ri-ơ, máy bay chiến đấu Mi-ra-giơ 3, tên lửa không đối biển Ê-xô-xét. Chi phí cho "cuộc hành binh Man-vi-nát" của lực lượng đặc nhiệm Anh, tính từ ngày ròi căn cứ ở Anh vào đầu tháng 4 đến ngày 15 tháng 6 năm 1982 là ngày chiếm được cảng Xten-li, đã vượt quá chi phí tối đa 2 tỷ đô la trong khoản kinh phí dự trữ dùng cho trường hợp khẩn cấp mà không cần phải động viên lực lượng toàn nước Anh. Như vậy nếu cuộc chiến tranh Man-vi-nát kéo dài thêm một số ngày nữa thì sẽ có thể làm đảo lộn đời sống kinh tế - tài chính của nước Anh, dẫn đến những hậu quả về chính trị khó lường trước được đối với chính quyền Thát-chơ. Phí tổn mà phía Ác-hen-ti-na phải gánh chịu cũng tương đương với phí tổn của Anh, vượt quá khả năng có thế tiếp tục gánh chịu của nền kinh tế Ác-hen-ti-na đang trong tình trạng khốn đốn.


Từ thực tiễn này, các giới chiến lược quân sự trên thế giới rút ra một kết luận đáng chú ý: trong một cuộc chiến tranh dù chỉ đóng khung trong một không gian nhỏ hẹp, mang tính chất tranh chấp về một vấn đề cụ thể khu vực, diễn ra trong một thời gian tương đối ngắn, số tổn thất về sinh mạng có thể chỉ ở mức vài trăm đến một, hai nghìn người nhưng chi phí chiến tranh lại lên đến hàng tỷ đô la, vì các vũ khí hiện đại được đưa ra sử dụng đều rất đắt tiền. Theo thời giá năm 1985, một chiếc tàu khu trục hiện đại được trang bị tên lửa trị giá trên dưới 100 triệu đô la, còn một máy bay tiêm kích hiện đại kiểu F.15, F.16, hay F.18 cũng trị giá khoảng 20 triệu đô la. Cuộc chiến tranh tranh chấp hải đảo lại diễn ra trước hết giữa các lực lượng hải quân và không quân của hai bên đối địch, nên tổn thất chủ yếu là về tàu chiến và máy bay chiến đấu, loại vũ khí đắt tiền nhất.


Do đó, về mặt chiến lược, phải có tiềm lực lớn và chuẩn bị sẵn sàng lực lượng dự trữ cần thiết để bổ sung kịp thời sau những tổn thất không thể tránh khỏi. Trong cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, cả hai bên Ác-hen-ti-na và Anh đều tỏ ra đã lâm vào tình trạng không thể tiếp tục chịu đựng nổi cái giá phải trả. Nhờ đánh quỵ được kịp thời lực lượng không quân Ác-hen-ti-na nên phía Anh đã kết thúc chiến tranh thắng lợi đúng vào lúc như giới quân sự phương Tây nhận xét - lực lượng đặc nhiệm Anh đã mang thương tích rất nặng.


Qua diễn biến của cuộc "khủng hoảng Man-vi-nát" còn nổi lên một thực tế chiến lược quan trọng khác. Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày nay, cuộc tranh chấp về chủ quyền đối với một số hải đảo - đặc biệt là khi các hải đảo đó có tầm quan trọng về vị trí địa lý chíến lược và về kinh tế - không còn chỉ đóng khung trong khuôn khổ quan hệ giữa những nước đối địch trực tiếp. Cuộc tranh chấp đó còn quan hệ đến những nước khác thuộc những khối liên minh quân sự và cả những khối cộng đồng kinh tế khác nhau. Nhiều hải đảo nằm gần những eo biển chiến lược, những đường giao thông hàng hải quốc tế trọng yếu, hoặc có khoảng cách tạo nên mối đe dọa đối với lãnh thổ của một hoặc nhiều nước nhất định. Do đó, tuy thuộc chủ quyền một nước hoặc đang nằm trong tình trạng tranh chấp giữa một số nước, những hải đảo đó có quan hệ đến thế trận chiến lược đại dương của một số nước lớn trên thế giới cũng như của nhiều nước thuộc khu vực. Chính vì thế, trong tính toán chiến lược của những nước tranh chấp, phải suy nghĩ đến sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của một số nước khác có thể sẽ đứng về phía bên này hay phía bên kia.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:08:22 pm
Trong trường hợp cuộc xung đột Man-vi-nát, chính quyền Ác-hen-ti-na do chủ quan, đánh giá sai lầm lập trường và thái độ của chính quyền Mỹ, nên trong một thời gian, dài đã nuôi ảo tưởng về sự ủng hộ của Oa-sinh-tơn, sau đó lại cho rằng ít ra Mỹ cũng giữ thái độ trung lập. Đến khi chính quyền Ác-hen-ti-na nhận ra được lòng dạ phản trắc của Oa-sinh-tơn thì đã quá muộn, về phía Anh, do hiểu rõ tâm địa của tên trùm khối NATO, chính quyền Luân Đôn đã tranh thủ được sự đồng lõa và tiếp tay có hiệu quả của Mỹ, từ việc cho mượn căn cứ chuyển tiếp Át-xen-sân đến việc cung cấp các tin tức tình báo qua hệ thống vệ tinh và cung ứng một số nhu cầu cấp thiết về tiếp tế hậu cần.


Như vậy, nhân tố chiến lược ở tầm toàn cầu và khu vực có tác động quan trọng đến các hoạt động tác chiến tiến công hoặc phòng ngự tại một khu vực hải đảo nhất định. Đó là điều mà các bên đối địch không thể không xem xét và tính toán kỹ lưỡng.


Quá trình và kết cục của chiến tranh trước hết phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động tác chiến trên chiến trường. Kết quả của cuộc chiến tranh tại Man-vi-nát trước hết là kết quả của phương pháp tác chiến tiến công đảo của lực lượng đặc nhiệm Anh và phương pháp tác chiến bảo vệ đảo của quân đội Ác-hen-ti-na. Ở đây, nói riêng về phương pháp tác chiến bảo vệ đảo, qua các hoạt động tác chiến của phía Ác-hen-ti-na, nổi bật lên một số bài học đã và đang được các giới quân sự trên thế giới quan tâm nghiên cứu.


Trước sự xuất hiện của lực lượng tiến công trên mặt biển hay đại dương, lực lượng bảo vệ đảo cả từ đất liền lẫn trên đảo có thể sử dụng hai cách đánh:

Một là, nếu xét thấy mình có sức mạnh phần nào trội hơn hoặc tương đương với quân địch thì có thể dùng cách đánh phòng ngự kết hợp với tiến công hoặc tiến công kết hợp với phòng ngự. Dùng cách nào thì mục đích vẫn là bảo vệ địa bàn của mình, tiêu diệt hoặc đẩy lùi bên tiến công. Cách đánh này khác với cách đánh phòng ngự trận địa thông thường ở chỗ có những hành động tiến công rộng rãi hơn, liên tục hơn, với lực lượng sử dụng tập trung ở những hướng, những khu vực được lựa chọn. Cách đánh phòng ngự từ xa, dùng không quân và hải quân đánh địch đang hành quân trên biển, nếu được thực hiện tốt sẽ tạo ra điều kiện và thời cơ để chuyển hóa nhanh chóng tương quan lực lượng giữa hai bên trong quá trình chiến tranh, nhằm đi đến đánh bại quân địch.


Hai là, nếu xét thấy lực lượng mình kém hơn địch thì có thể dùng cách đánh phòng ngự tích cực: về cơ bản vẫn là phòng ngự, nhưng không phải chỉ nằm im chờ địch tiến công rồi mới chống đỡ, mà tạo ra cơ hội và dùng mọi biện pháp để đánh những đòn giáng trả lực lượng tiến công, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tiêu hao lực lượng chúng trong quá trình chiến tranh để từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng, giành lấy ưu thế về phía mình. Nếu có được cách đánh đúng đắn, tài giỏi, phòng ngự kiên cường, vững chắc, giáng trả quyết liệt, đúng chỗ, đúng lúc, thì phía phòng ngự tích cực có đầy đủ khả năng đánh bại quân tiến công xâm lược, dù rằng trong giai đoạn đầu chúng có thể đông hơn, có vũ khí và phương tiện mạnh hơn.


Trong cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, phía Ác-hen-ti-na đã chọn cách đánh phòng ngự tích cực. Đây là một sự lựa chọn chính xác xét về tương quan lực lượng giữa hai bên. Bộ chỉ huy quân sự Ác-hen-ti-na đã sử dụng lực lượng không quân của mình đánh những đòn giáng trả, trong khi lực lượng hải quân, sau những thiệt hại ban đầu, đã rút về các quân cảng, còn lực lượng lục quân đồn trú thì cố thủ trên quần đảo. Tuy nhiên, trong quá trình diễn biến chiến tranh, chỉ đạo tác chiến của phía Ác-hen-ti-na đã phạm nhiều sai lầm hoặc vấp phải một số nhược điểm lớn mà không thể khắc phục được kịp thời.


Trong tác chiến bảo vệ đảo, giai đoạn thứ nhất là giai đoạn đánh địch khi lực lượng đối phương còn ở xa. Để thực hiện nhiệm vụ này, có thể dùng máy bay ném bom tầm trung, tàu ngầm và máy bay cất cánh từ các tàu sân bay. Hiện nay, một số nước có máy bay ném bom tầm trung hiện đại với bán kính hoạt động 2.000 - 2.500km, với tốc độ có thể đạt đến 1.500 - 1.800 km/giờ, cao hơn tốc độ máy bay Ha-ri-ơ của Anh (1.150 km/giờ), mang theo các loại tên lửa có điều khiển không đối biển mà tầm bắn có thể từ 100 đến 600km, tốt hơn loại tên lửa Ê-xô-xét của Pháp có tầm bắn dưới 100km. Loại máy bay này trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với các tàu mặt nước lớn, nhất là tàu sân bay, nòng cốt của lực lượng đặc nhiệm của phía tiến công. Khi đang trên đường tiến và còn cách xa mục tiêu, đội hình lực lượng đặc nhiệm tiến công có những giãn cách nhất định, và trong hoàn cảnh di chuyển cụ thể bộc lộ những sơ hở. Đây là cơ hội cho tàu ngầm, kể cả các tàu hoạt động lẻ, tiến hành tập kích địch. Nếu phía phòng ngự có tàu sân bay, có thể sử dụng máy bay hải quân tiến hành đánh phá các tàu chiến địch.


Trong trường hợp cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, giai đoạn chiến đấu bảo vệ đảo từ xa đã không diễn ra. Phía Ác-hen-ti-na không có tàu sân bay nhưng có 9 máy bay ném bom Can-be-ra B.62 và một số tàu ngầm đi-ê-den. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, bị chi phối bởi đường lối lưng chừng, do dự, chính quyền Ác-hen-ti-na vẫn trông mong vào sự dàn xếp do Mỹ làm trung gian, nên đã không hành động. Nếu phía Ác-hen-ti-na tiến hành công kích lực lượng đặc nhiệm Anh từ xa, thì dù cho không gây được những tổn thất đáng kể thì cũng gây được những khó khăn cho phía địch, làm cho lực lượng đặc nhiệm Anh phải lúng túng đối phó ngay từ đầu. Điều đó có thể cổ vũ tinh thần của quân và dân Ác-hen-ti-na, tạo điều kiện cho phía Ác-hen-ti-na tranh thủ thêm thời gian để củng cố hệ thống phòng ngự trên quần đảo và tổ chức những đòn giáng trả mạnh mẽ khi lực lượng đặc nhiệm Anh đến gần hơn.


Giai đoạn thứ hai là giai đoạn đánh địch khi lực lượng đặc nhiệm của phía tiến công đã đến vùng biển gần của hải đảo và gần bờ biển thuộc đất liền của phía phòng ngự. Trong giai đoạn này, phía phòng ngự có được một số lợi thế về vị trí địa lý. Họ có thể dựa vào những căn cứ, bàn đạp vững chắc trên đảo và trên đất liền để xuất kích tiến công lực lượng hải quân và không quân địch. Lúc này, lực lượng bộ binh địch còn nằm trên các tàu chở quân nên dễ bị tiêu diệt khi các tàu đó bị đánh phá. Phía phòng ngự có thế sử dụng các loại tên lửa đất đối biển một cách rộng rãi để đánh địch có hiệu quá. Hải quân bên phòng ngự có khả năng sử dụng nhiều loại tốc hạm phóng lôi, xuất kích từ cự ly gần, chạy nhanh ở những vùng biển nông nên ít bị đe dọa bởi tàu ngầm của bên tiến công. Hoạt động ở vùng biển gần, các tàu chiến của bên phòng ngự còn được các máy bay có căn cứ trên đất liền yểm trợ và được pháo và tên lửa phòng không đặt trên bờ biển phối hợp tác chiến. Ngoài ra cũng có thể sử dụng máy bay lên thẳng vũ trang hợp đồng chiến đấu và chi viện.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:09:13 pm
Trong trường hợp cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, phía Ác-hen-ti-na không có tên lửa đất đối biển. Sau khi chiếc tàu tuần dương "Tướng Ben-gra-nô" và một vài tàu chiến khác trong đó có một chiếc tàu ngầm đi-ê-den bị đánh chìm, lực lượng hải quân Ác-hen-ti-na đã mất tinh thần và co lại nằm im trong các quân càng. Các tốc hạm và máy bay lên thẳng của hải quân Ác-hen-ti-na cũng nằm trong tình trạng đó. Từ đất liền, lực lượng không quân Ác-hen-ti-na đã xuất kích tiến công các tàu chiến Anh, và đã gây thiệt hại nặng cho lực lượng đặc nhiệm Anh về tàu chiến. Điều này đã chứng minh lợi thế của không quân cất cánh tử đất liền đánh vào các tàu chiến của đối phương trong vùng biển gần, khi lực lượng không quân của hai bên hoặc xấp xỉ nhau, hoặc hơn kém nhau không nhiều lắm. Chính trong những trận chiến đấu tại vùng biển gần này, tên lửa không đối biển Ê-xô-xét AM-39 do Pháp chế tạo, với tầm bắn 50 - 70km, đã tỏ ra khá lợi hại. Tàu khu trục Anh Xép-phin đã bị một máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa đánh chìm bằng một tên lửa Ê-xô-xét; tàu chở quân Át-lăng-tích của Anh cũng bị đánh chìm bởi hai tên lửa loại này. Tiếc rằng không quân Ác-hen-ti-na vào lúc đó chỉ có một số lương tên lửa rất hạn chế, và trong các cuộc chiến đấu chống lực lượng đặc nhiệm Anh, các máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa của Ác-hen-ti-na chỉ có cơ hội phóng đi 7 tên lửa Ê-xô-xét.


Cũng trong giai đoạn này, đã diễn ra những trận không chiến ác liệt giữa các máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na kiểu Mi-ra-giơ 3, Xu-pe Ê-tăng-đa và "chim ưng nhà trời" với những máy bay kiểu Ha-ri-ơ của Anh. Một phần do phải bay xa cách căn cứ từ 600 đến 800km nên thời gian hoạt động của các máy bay Ác-hen-ti-na trên khu vực chiến sự không còn bao nhiêu, phần nữa các phi công Ác-hen-ti-na tuy dũng cảm nhưng trình độ kỹ thuật kém các phi công Anh, lại phải đối phó với pháo và tên lửa phòng không của các tàu chiến Anh, nên lực lượng không quân Ác-hen-ti-na đã bị thiệt hại nặng. Vì thế đến giai đoạn cuối của chiến tranh, các máy bay Anh đã hoàn toàn khống chế bầu trời và các tàu chiến Anh đã làm chủ mặt biển tại khu vực Man-vi-nát.


Trong cuộc chiến đấu ở vùng biển gần, bộ chỉ huy Ác-hen-ti-na còn phạm một sai lầm lớn nữa là đã không sớm xác định mục tiêu chủ yếu cho lực lượng không quân của mình là hai tàu sân bay và các tàu chở quân của Anh để tiến công bất ngờ ngay từ đầu vào các mục tiêu này. Trong những ngày đầu khi lực lượng đặc nhiệm Anh vừa đến vùng biển gần quần đảo Man-vi-nát và gần bờ biển phía nam Ác-hen-ti-na, đã có lúc do chủ quan, bộ chỉ huy lực lượng đặc nhiệm Anh đã để cho hai tàu sân bay của mình nằm trong tầm hoạt động của máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa của Ác-hen-ti-na. Sau này, giới hải quân Anh cũng đã phải thừa nhận rằng nêu không quân Ác-hen-ti-na dùng tên lửa Ê-xô-xét tập trung tiến công hai tàu sân bay Anh thì chiến sự tại Man-vi-nát đã có thể xoay chuyển theo hướng bất lợi cho quân Anh. Thế nhưng vào lúc đó các máy bay Ác-hen-ti-na lại chĩa mũi nhọn tiến công vào các tàu khu trục và tàu Phri-gát hộ tống. Sau khi tàu khu trục Anh Xép-phin bị đánh đắm, các tàu sân bay Anh đã thận trọng lùi ra ngoài tầm hoạt động có hiệu quả của các máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa. Máy bay Ha-ri-ơ của Anh có bán kính hoạt động lớn hơn bán kính của máy bay Ác-hen-ti-na, trong khi đó Ác-hen-ti-na lại không có máy bay ném bom tầm trung có bán kính hoạt động lớn hơn và tốc độ cao hơn máv bay Ha-ri-ơ. Nếu Ác-hen-ti-na có trong tay loại máy bay ném bom tầm trung hiện đại và mang nhiêu tính năng ưu việt thì hai tàu sân bay nhỏ của Anh chở máy bay Ha-ri-ơ chắc hẳn đã khó mà tồn tại được.


Mặt khác, trên quần đảo Man-vi-nát bộ chỉ huy Ác-hen-ti-na đã không cố gắng cải tạo kịp thời đường băng sân bay tại cảng Xten-li chỉ dài 1.800m, nên không bố trí được máy bay chiến đấu của mình tại đó. Ngay từ đêm 30 tháng 4 năm 1982, máy bay Anh đã ném bom và gây thiệt hại nậng cho sân bay này. Từ đó, nó chỉ còn tiếp nhận được một số máy bay vận tải loại nhẹ, có khả năng hạ cánh trên đường băng ngắn.


Như vậy, trong giai đoạn chiến đấu ở vùng biển gần - giai đoạn có tẩm quan trọng lớn đối với việc bảo vệ đảo - phía Ác-hen-ti-na đã không lợi dụng được thế đứng chân vững chắc ở cả đất liền lẫn hải đảo, đã bỏ lỡ cơ hội đánh vào xương sống của lực lượng đặc nhiệm đối phương, do chịu tác động của đường lối thỏa hiệp và cũng do thiếu sót trong chỉ đạo tác chiến.


Cũng trong giai đoạn này, đã nổi lên vai trò của một số thiết bị và vũ khí hiện đại như: vai trò của các hệ thống thu thập tình báo và thông tin bằng vệ tinh, bàng các trạm trinh sát điện tử và các máy bay trinh sát tầm xa (của Mỹ hoạt động hỗ trợ cho Anh); vai trò của các máy bay chiến đấu hiện đại có tính năng chiến đấu khác nhau cần được sử dụng thích hợp với những điều kiện cụ thể trên chiến trường; vai trò của các tên lửa điều khiển, đặc biệt là tên lửa đất (bờ) đối biển, tên lửa hạm đối hạm và tên lửa không đối biển; vai trò của ra-đa phát hiện mục tiêu cả ở tầm cao lẫn tầm rất thấp sát mặt biển... Tóm lại, ở đây sự phát triển của khoa học - kỹ thuật quân sự và các loại vũ khí hiện đại đang đặt ra những vấn đề rất mới cho tác chiến bảo vệ đảo cũng như cho tác chiến trên biển và tác chiến giữa lực lượng trên mặt đất với lực lượng trên biển.


Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đánh địch trong khoảng 30km trở vào bờ, đánh địch đổ bộ lên bờ và chiến đấu trên đảo. Đây là giai đoạn chiến đấu quyết liệt vì nó quyết định cuối cùng thắng lợi hay thất bại của mỗi bên. Cả hai bên tiến công và phòng ngự đều có thể tung ra những lực lượng mình có trong tay thuộc cả ba quân chủng hải, lục và không quân.


Nếu có lục quân mạnh và tổ chức phòng ngự trên đảo tốt thì dù cho lực lượng hải quân và không quân của mình có yếu hơn, bên phòng ngự vẫn có thể gây cho bên tiến công những tổn thất nặng nề, buộc đối phương phải kéo dài tác chiến trên đảo hoặc có khi phải chịu thất bại.


Ngoài lực lượng chiến đấu bố trí trên đảo, bên phòng ngự còn có lực lượng từ trong đất liền chi viện và hợp đồng chiến đấu. Như vậy phía phòng ngự bảo vệ đảo dựa được vào cả trận địa vững chắc trên đảo lẫn lực lượng trên đât liền; nếu lực lượng ở hai nơi hỗ trợ nhau đắc lực thì đây sẽ là một thế trận lợi hại. Do đó vấn đề kết hợp giữa lực lượng trên đảo và lực lượng hùng hậu trên đất liền phải được đặt ra cho rõ ràng. Riêng trên đảo, lực lượng phòng ngự có thể dựa vào những công sự trận địa vững chắc đã được chuẩn bị sẵn, nên dù lực lượng có ít hơn vẫn có thể chống lại lực lượng địch đông hơn.


Trong cuộc chiến tranh Man-vi-nát, lực lượng bộ binh Ác-hen-ti-na có số quân tương đương với lực lượng lính thủy đánh bộ Anh và cũng không kém bao nhiêu về trang bị vũ khí. Quân Anh lại phải chiến đấu cách xa hậu phương của mình tới 12.000km nên nếu thời gian chiến tranh kéo dài, lực lượng lính thủy đánh bộ Anh tất sẽ vấp phải những khó khăn lớn về tiếp tế hậu cần và bổ sung quân số. Mặt khác một cuộc chiến tranh kéo dài với những tổn thất nặng nề cả về sinh mạng lẫn vũ khí trang bị chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế và chính trị nước Anh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Mười, 2023, 06:10:17 pm
Nhìn chung, phía lực lượng bảo vệ đảo của Ác-hen-ti-na có nhiều lợi thế. Thế nhưng, trong quá trình chiến tranh vào tháng 5 và nửa đầu tháng 6 năm 1982, bộ chỉ huy Ác-hen-ti-na đã phạm nhiều sai lầm.


Trước hết như đã nói ở trên, do không sửa chữa các sân bay trên quần đảo, đặc biệt là sân bay Xten-li, nên lực lượng bảo vệ đảo không có máy bay chiến đấu có căn cứ tại chỗ. Các máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na cất cánh từ đất liền lại thuộc những loại không hoạt động được trong mọi thời tiết và khóng có bán kính chiến đấu lớn nên đã hạn chế hiệu quá tiến công các tàu chiến và tàu đổ bộ Anh, đặc biệt là khi các tàu đó tiếp cận bờ vào ban đêm hay vào lúc có nhiều sương mù. Có trường hợp máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na đã đánh trúng và loại khỏi vòng chiến đấu hai tàu đổ bộ Anh ngay trong lúc chúng tiến hành đổ quân và gây thương vong cho hàng trăm binh lính Anh. Điều đó chứng tỏ nếu có được kế hoạch tác chiến thích hợp hơn, có những máy bay chiến đấu với tính năng tốt hơn, không quân Ác-hen-ti-na đã có thể gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng lính thủy đánh bộ Anh trong giai đoạn đổ bộ lên bờ, và như vậy sẽ tác động lớn đến các hoạt động tác chiến tiếp theo trên đảo.


Trước tình hình quân Anh đổ bộ lên nhiều điểm và tiến về cảng Xten-li từ nhiều hướng, lực lượng lục quân Ác-hen-ti-na bảo vệ đảo đã đối phó rất lúng túng, bị phân tán lực lượng và kéo ra ngoài thủ phủ để bị tiêu hao dần. Sau khi thành công một phần trong kế hoạch làm giảm mật độ tập trung của quân Ác-hen-ti-na tại Xten-li, quân Anh đã tiến lên bao vây cảng này từ nhiều hướng và tiến hành một đợt tiến còng mănh liệt. Trong tình trạng bị cô lập không được không quân từ đất liền chi viện, bị cắt đứt nguồn tiếp tế bổ sung cả bằng đường không, tinh thần binh lính và sĩ quan sa sút, dao động, lực lượng Ác-hen-ti-na đồn trú trên cảng Xten-li đã phải ngừng tiếng súng vào ngày 15 tháng 6 năm 1982, kết thúc cuộc chiến tranh Man-vi-nát với thất bại thuộc về phía Ác-hen-ti-na.


Cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát chỉ là một cuộc xung đột vũ trang tranh chấp một quần đảo tại một khu vực xa xôi ở vùng nam Đại Tây Dương, nhưng từ đấy đã nảy ra hàng loạt vấn đề về chiến lược toàn cầu và khu vực liên quan đến nhiều nước, về khoa học, nghệ thuật quân sự cũng như khoa học kỹ thuật quân sự.


Cũng như trong cuộc chiến tranh giữa I-xra-en và Li-băng, trong cuộc chiến tranh này, nhiều loại vũ khí hiện đại nhất lần đầu tiên đã được đưa ra sử dụng giữa hai bên đối địch như: tàu ngầm hạt nhân, máy bay trinh sát điện tử tối tân AWACS, tên lửa không đối biển Ê-xô-xét, tên lửa không đối đất AS-12 của Anh, v.v... Đây cũng là lần đầu tiên diễn ra cuộc đọ sức giữa các loại máy bay Ha-ri-ơ của Anh và Mi-ra-giơ 3 do Pháp chế tạo và do Ác-hen-ti-na sử dụng; lần đầu tiên các tin tức tình báo thu thập bằng vệ tinh được sử dụng để trực tiếp phục vụ cho chiến đấu. Tác dụng của vũ khí hiện đại đã gây những bất ngờ cay đắng cho cả hai bên đối địch, thậm chí đã tỏ ra có khả năng dẫn đến những bước ngoặt quyết định trong chiến tranh.


Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, cùng với sự ra đời của các loại vũ khí mới, phương thức tác chiến và chiến thuật cũng thay đổi theo. Sự xuất hiện và hoàn thiện khẩu súng trường đã đưa đến chiến thuật dàn hàng ngang, còn việc trang bị súng nòng có rãnh xoắn đã đề ra chiến thuật sử dụng các khối dọc hạm đội hình giãn thưa. Trong hải quân, sự ra đời của hạm đội chèo tay làm nảy sinh phương thức tác chiến "đâm thuyền" và "áp mạn công kích" bằng đội hình hàng ngang, còn việc hạm đội tàu buồm được trang bị pháo đã dẫn đến chiến thuật dùng đội hình hàng dọc và phương thức tác chiến chủ yếu là những trận đấu pháo ở tầm xa nhất định. Đúng như Ph.Ăng-ghen đã nhận xét, "những tiến bộ về kỹ thuật, một khi đã có thể áp dụng và trên thực tế đã được áp dụng trong quân sự, thì lập tức - hầu như có tính chất cưỡng bức và thường là trái với ý muốn của cấp chỉ huy quân đội - dẫn đến những thay đổi và thậm chí những sự đảo lộn trong phương thức tác chiến..."1 (C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, tập 20, tiếng Nga, xuất bản lần thứ 2, tr. 176). V.I.Lênin cũng chỉ rõ: "Chiến thuật quân sự tùy thuộc ở trình độ kỹ thuật quân sự - Ăng-ghen đã nhắc đi nhắc lại và đã dạy chân lý ấy cho những người mác-xít. Kỹ thuật quân sự hiện nay không giống như kỹ thuật quân sự vào giữa thế kỷ XIX. Lấy đám đông mà chọi lại đại bác và dùng súng lục mà phòng thủ các lũy chướng ngại, thì là ngu xuẩn"2 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 13, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, M 1980, tr. 470).


Cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát lại là-một ví dụ nữa chứng minh luận điểm nói trên của Ăng-ghen. Cuộc chiến tranh này cung cấp nhiều bài học đáng giá trên nhiều lĩnh vực. Riêng về phương thức tác chiến bảo vệ đảo, một bài học đáng được quan tâm nghiên cứu là trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật quân sự hiện đại, cần phải theo dõi sát sao sự xuất hiện của những loại vũ khí, thiết bị quân sự mới với những tính năng và tác dụng của nó, để có thể đề ra phương hướng xây dựng, phát triển lực lượng và những phương pháp tác chiến thích hợp.


Nhưng vũ khí dù có hiện đại đến đâu đi nữa thì cuối cùng cũng vẫn phải do con người sử dụng. Bàn về thắng lợi của quân Phổ trong cuộc chiến tranh Áo - Phổ năm 1866 đã đánh bại quân Áo có ưu thế hơn mình về số lượng và cả về tổ chức, chỉ huy, kinh nghiệm chiến đấu, Ph.Ăng-ghen đã nhận xét: "Có thể khẳng định đó là do có súng trường nạp đạn từ ổ đạn, nhưng đương nhiên những khẩu súng đó không thể tự nó hoạt động mà phải có những trái tim dũng cảm và những bàn tay rắn chắc sử dụng"1 (C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 16, tiếng Nga, xuất bản lần thứ 2, tr. 193). Con người có tinh thần chiến đấu cao, được trang bị vũ khí thích hợp, có kỹ năng làm chủ được vũ khí kỹ thuật và có phương pháp chiến đấu tốt, lại được tổ chức lãnh đạo chặt chẽ thì sẽ giành được thắng lợi trong chiến tranh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:06:32 pm
NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN
MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1990)

Chương I
NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN
KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG MỐI LIÊN HỆ


Nghệ thuật quân sự có vị trí hết sức quan trọng trong chỉ đạo chiến tranh. Nó là một trong những nhân tố quyết định thành bại của chiến tranh.

Nghệ thuật quân sự là lý luận và thực tiễn chuẩn bị, tổ chức và tiến hành đấu tranh vũ trang. Nó nghiên cứu các quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang, xác định những nguyên tắc và phương pháp tiến hành các hoạt động quân sự trong chiến tranh. Các bộ phận hợp thành của nghệ thuật quân sự là chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.


Nội dung sinh động nhất của nghệ thuật quân sự là nghệ thuật tác chiến. Bởi vì cuối cùng nghệ thuật quân sự chỉ có thể được đánh giá bằng kết quả giao chiến trên chiến trường.

Nghệ thuật tác chiến là nghệ thuật tổ chức, sử dụng và phát huy sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang trong quá trình giao chiến với quân địch trên chiến trường; chuẩn bị và tiến hành các đòn đánh và đòn đánh quyết định nhằm thực hiện mục tiêu tác chiến đã đê ra với hiệu suất cao, góp phần vào thắng lợi của chiến tranh.


Nghệ thuật tác chiến được vận dụng trong tác chiến chiến lược, chiến dịch và trận chiến đấu. Ở các quy mô và hình thức tác chiến khác nhau, nghệ thuật tác chiến được thể hiện với những điểm chung giống nhau, đồng thời cũng có những đặc điểm, điều kiện riêng biệt, nên phải vận dụng sáng tạo, không thể máy móc, rập khuôn. Ví dụ: tuy cùng phải quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân và tạo sức mạnh tổng hợp, nhưng ở phạm vi chiến lược, chiến dịch thì có điều kiện để vận dụng rộng rãi hơn so với chiến đấu; hay tác chiến trên bộ, ở vùng đông dân cư thì có thuận lợi hơn so với tác chiến ở vùng biển và hải đảo hoặc vùng rừng núi thưa dân, v.v...


Trong phạm vi cuốn sách này, người viết muốn đề cập chủ yếu tới nghệ thuật tác chiến ở phạm vi chiến dịch.

Tiến trình tác chiến phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện khách quan và chủ quan của các bên tham chiến. Trong đó, về nghệ thuật tác chiến, theo ý kiến chúng tôi thì các yếu tố có tác động trực tiếp và quyết định đến thành công hay thất bại là mưu kế, thế trận, lực lượng, cách đánh, tình huống, thời cơ. Nghệ thuật tác chiến là nghệ thuật vận dụng một cách tổng hợp các yếu tố nói trên trong sự vận động và trong môi quan hệ tác động lẫn nhau của chúng, trong suốt quá trình chuẩn bị, tổ chức và thực hành tác chiến, nhằm huy động đến mức cao nhất mọi khả năng của mình, hạn chế và làm suy yếu đến mức có thể những khả năng của đối phương, đê giành thắng lợi trên chiến trường.


Nghệ thuật là lĩnh vực của những khả năng sáng tạo. Song sự sáng tạo cũng phải tuân theo những quy luật nhất định, chịu sự chi phối của những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định. Vì vậy trước khi bàn đến các yếu tố nội dung của nghệ thuật tác chiến, chúng ta hãy cùng nhau xem xét nghệ thuật tác chiến có những mối liên hệ nào chịu ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện gì và phải dựa trên những căn cứ nào. Có nắm vững những vấn đề đó thì vận đụng nghệ thuật tác chiến mới đúng hướng và mang lại hiệu quả cao.


1. Đường lối tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang

Mọi hoạt động tác chiến đều diễn ra trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh nhất định và nhàm đạt tới mục tiêu mà mỗi bên tham chiến đề ra cho cuộc chiến tranh đó. Vì vậỵ nghệ thuật tác chiến trước hết chịu sự chỉ đạo của đường lối tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang do cơ quan lãnh đạo chiến tranh xác định, đồng thời là sự thể hiện đường lối đó trong thực tiễn.


Cơ quan lãnh đạo chiến tranh là đại diện giai cấp và dân tộc của bên tham chiến này đối kháng với bên tham chiến kia. Đường lối tiến hành chiến tranh do cơ quan đó vạch ra phản ánh ý chí của giai cấp, dân tộc kết hợp với năng lực trí tuệ, khả năng của cơ quan lãnh đạo chiến tranh nắm bắt và vận dụng các quy luật của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang, đề ra các biện pháp tiến hành chiến tranh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể.


Đường lối tiến hành chiến tranh vạch ra mục đích, tính chất và đặc điểm của chiến tranh, xác định những mục tiêu chiến lược, phương thức tổ chức lực lượng, các hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang để làm thất bại đối phương, giành thắng lợi về mình. Nghệ thuật tác chiến phải quán triệt, tổ chức thực hiện đường lốĩ đó, đồng thời tận dụng và phát huy mọi khả năng do đường lối đó tạo ra.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:07:53 pm
Đường lối tiến hành chiến tranh chỉ đạo mọi mặt hoạt động của đất nước và của lực lượng vũ trang trong quá trình chuẩn bị và tiến hành một cuộc chiến tranh nhất định, với đối tượng tác chiến và những điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể. Nghệ thuật tác chiến chịu sự chỉ đạo của đường lối đó trên một số mặt chủ yếu sau đây:

a) Hệ thống tư tưởng, quan điểm về tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang

Tư tưởng quân sự, quan điểm về tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang là một bộ phận trong hệ tư tưởng của một giai cấp, chịu sự chi phối của những quan điểm chính trị - xã hội, kinh tế, triết học... của giai cấp đó. Nó phản ánh chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước, mục đích chính trị và tính chất của chiến tranh, phụ thuộc vào chế độ xã hội, trình độ của nền sản xuất, vị trí địa lý... của nước tiến hành chiến tranh. Đồng thời tư tưởng quân sự cũng mang dấu ấn dân tộc, tiếp thụ và kế thừa kinh nghiệm, truyền thống quân sự của dân tộc.


Tư tưởng, quan điểm về tiến hành chiến tranh là sản phẩm chủ quan của cơ quan lãnh đạo chiến tranh, là kết quả nhận thức, phản ánh các điều kiện, quy luật khách quan của chiến tranh. Nhận thức và phản ánh đúng quy luật là tiền đề của thắng lợi, còn nếu phản ánh sai lệch, cưỡng lại quy luật thì thất bại là tất yếu.


Tiến hành chiến tranh xâm lược phi nghĩa, đi ngược lại lợi ích của các dân tộc và của chính nhân dân nước chúng, chủ nghĩa đế quốc và cấc thế lực phản động không có cách nào khác hơn là dựa vào quân đội nhà nghề với số lượng đông, vào ưu thế về tiềm lực kinh tế và vũ khí kỹ thuật hiện đại, sử dụng các biện pháp vũ lực tàn bạo kết hợp với thủ đoạn chính trị xảo quyệt, hòng giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn. Chiến lược "đánh nhanh giải quyết nhanh" của thực dân Pháp khi khởi đầu chiến tranh xâm lược Việt Nam, hay chiến lược "tìm diệt" của đế quốc Mỹ khi đưa quân Mỹ ồ ạt vào tham chiến ở miền Nam nước ta, đều không thoát ra khỏi những vấn đề có tính quy luật ấy của chiến tranh xâm lược. Vấp phải đối thủ kiên cường và tài trí là nhân dân Việt Nam anh hùng, chúng buộc phải chuyển sang đánh kéo dài là đã chấp nhận mầm mống của thất bại không sao tránh khỏi.


Trong quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân ta để giành và giữ vững nền độc lập, Đảng ta và Bác Hồ đã hình thành và từng bước hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng, quan điểm về tiến hành chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước ở Việt Nam, mà những nội dung cơ bản là:

- Quan điểm chiến tranh nhân dân, phát động và tổ chức toàn dân đánh giặc.

- Quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để đánh thắng kẻ thù xâm lược.

- Tư tưởng chiến lược tiến công, đánh thắng quân địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

"Mạnh được, yếu thua", kết cục của chiến tranh cuối cùng tùy thuộc vào tương quan sức mạnh của các bên tham chiến trên chiến trường. Đó là quy luật của chiến tranh. Nhân dân Việt Nam thường phải chiến đấu và chiến thắng các thế lực xâm lược của những nước lớn có nền kinh tế phát triển cao hơn, có quân đội đông, được trang bị nhiều và hiện đại hơn mình, có khi gấp nhiều lần. Đó là một mâu thuẫn gay gắt phải giải quyết thành công thì mới giành được thắng lợi. Đảng ta đã nhìn thấy sức mạnh để đánh thắng quân địch không phải chỉ ở số lượng quân đội và vũ khí mà tìm nguồn sức mạnh vô tận ở tinh thần hy sinh, dũng cảm và khả năng đánh giặc của nhân dân, không chỉ nhìn hiện tại mà còn nhìn thấy xu thế phát triển của sức mạnh phía ta và phía địch. Tổ chức và tiến hành chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước kết hợp với sức mạnh của thời đại, thực hành nhất quán chiến lược tiến công, đánh thắng địch từng bước, làm chuyển hóa so sánh lực lượng có lợi cho ta, cuối cùng tạo thành sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch để đánh bại chúng, đó là chiếc chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn, là quy luật giành thắng lợi của chiến tranh cách mạng Việt Nam.


Những tư tưởng, quan điểm cơ bản nói trên là sự kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nó đã dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua. Nó cũng đang soi rọi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:08:32 pm
b) Phương thức tổ chức lực lượng

Tư tưởng, quan điểm về tiến hành chiến tranh được thể hiện thông qua phương thức tổ chức lực lượng.

Để tiến hành chiến tranh xâm lược, bọn đế quốc và phản động chủ yếu dựa vào việc tổ chức quân đội chính quy nhà nghê gồm đội quân viễn chinh và quân đội tay sai bản xứ. Dù ở nơi nào, lúc nào đó, chúng cũng lập ra các tổ chức địa phương quân, dân vệ, v.v... nhưng thực chất đó cũng chỉ là những đội quân đánh thuê đối lập với nhân dân.


Xuất phát từ quan điểm chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc, Đảng ta đã đề ra phương thức tổ chức lực lượng: đi từ xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng mà xây dựng lực lượng vũ trang gồm ba thủ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ với cơ cấu cân đối, hoàn chỉnh. Phương thức tổ chức lực lượng như trên cho phép khơi dậy tiềm năng to lớn của nhân dân để đánh thắng kẻ thù xâm lược, bảo đảm cho lực lượng vũ trang gắn bó mật thiết với toàn dân đánh giặc, có nguồn bổ sung vô tận để phát triển và trưởng thành.


Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trước đây và hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở hai đầu đất nước vừa qua đều chứng minh: ở đâu, lúc nào thực hiện được đầy đủ, đồng bộ phương thức tổ chức lực lượng như trên thì sẽ giành được thắng lợi; trái lại nếu chệnh choạng về đường lối quan điểm, mất cân đối trong tổ chức thực hiện thì sẽ gặp khó khăn, thậm chí bị thất bại tạm thời.


c) Phương thức tiến hành chiến tranh.

Phương thức tiến hành chiến tranh là tổng thể các hình thức và phương pháp sử dụng các lực lượng theo tư tưởng, quan điểm chỉ đạo đã đề ra để giành thắng lợi trong chiến tranh.

Từ quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc với lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt, dẫn đến phương thức tiến hành chiến tranh của nhân dân ta trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước mà những điểm nổi bật là: kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực; kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, binh vận, ngoại giao; kết hợp các quy mô, các hình thức tác chiến, đánh địch trên mọi địa bàn chiến lược...


Phương thức tiến hành chiến tranh như trên đã phát triển ngày càng hoàn chỉnh và đưa đến thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngày nay nó cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để phát huy hiệu lực to lớn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Quán triệt sâu sắc những nội dung nói trên trong đường lối tiến hành chiến tranh của Đảng ta, nghệ thuật tác chiến Việt Nam có điều kiện để phát triển rực rỡ. Sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang hùng hậu gồm ba thứ quân, sự kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức đấu tranh, giữa chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực mở ra những khả năng vô cùng thuận lợi để nghệ thuật tác chiến xây dựng thế trận vững chắc, cài xen vào thế trận phòng thủ của địch, thực hành mưu kế hiểm hóc, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ để giành thắng lợi giòn giã.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:09:26 pm
2. So sánh lực lượng trên chiến trường

Tác chiến là một quá trình đấu lực và đấu trí quyết liệt, khẩn trương giữa hai tập đoàn vũ trang đối địch trên chiến trường nhằm đánh lạc đối phương, giành thắng lợi về mình. So sánh lực lượng giữa hai bên đối chiến cả về quy mô, khối lượng bộ đội và trang bị kỹ thuật cũng như trạng thái tinh thần, bản lĩnh chiến đấu, nghệ thuật chỉ huy... là yếu tố khách quan chi phối sự vận dụng nghệ thuật tác chiến của mỗi bên. Vì vậy, đánh giá đúng so sánh lực lượng để tìm ra đấu pháp thích hợp là điều kiện tiên quyết để giành thắng lợi. Ngược lại, đánh giá sai là bước đi đầu tiên kéo theo hàng chuỗi những sai lầm dẫn đến bị động và thất bại.


"Biết người biết mình, trăm trận trăm thắng". Các nhà cầm quân từ xưa đến nay đều khẳng định điều đó. Nhưng làm thế nào để ''biết người biết mình" cho đúng lại là một nghệ thuật.

Để đánh giá đúng địch, đúng mình, trước hết phải có quyết tâm và lòng dũng cảm, đồng thời phải có tri thức, kinh nghiệm và cách xem xét khách quan, khoa học. Nếu ý chí không vững vàng, thiếu năng lực phân tích, hay có cách nhìn phiến diện thì nhìn người, nhìn mình không thật, sinh ra dao động sợ địch hoặc chủ quan khinh suất, đều dẫn đến sai lầm nguy hiểm.


Đánh giá so sánh lực lượng không thể chỉ bằng các kết quả tính toán số học, mặc dù đó là những căn cứ cần được xem xét một cách nghiêm túc. Phải có sự phân tích tổng hợp, khái quát cả số lượng và chất lượng, con người và tổ chức, vật chất và tinh thần, thế và lực, khả năng tác chiến của binh sĩ và nghệ thuật, bản lĩnh của chỉ huy... để đánh giá so sánh lực lượng lúc ban đầu và dự kiến sự chuyển hóa trong tiến trình tác chiến. Từ đó tìm ra biện pháp hạn chế chỗ yếu, phát huy chỗ mạnh của ta, kiềm chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu và mâu thuẫn của địch, buộc chúng phải mắc sai lầm để ta tập trung nỗ lực tạo ưu thế sức mạnh vào nơi và lúc quyết định để giành thắng lợi.


Tổ tiên ta đã nêu nhiều tấm gương xuất sắc về nghệ thuật đánh giá so sánh lực lượng, làm cơ sở cho việc vận dụng nghệ thuật tác chiến sắc sảo linh hoạt. Thời Trần, trước đối thủ là đạo quân Nguyên xâm lược khét tiếng thiện chiến và hung bạo, ông cha ta không hề nao núng mà bình tĩnh, sáng suốt nhìn thấu chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và của ta, từ đó định ra kế sách đúng đắn "lấy nhàn chờ nhọc, đoạt nhuệ khí của giặc trước", "lấy đoản binh thắng trường trận", tạo thời cơ thực hành phản công chiến lược, giành thắng lợi hoàn toàn. Lời nhắc nhủ của Trần Quốc Tuấn khi lâm bệnh: "Nếu giặc ở thế tiến quân ồ ạt như lửa thiêu gió táp thì dễ chế ngự" thể hiện một tầm nhìn vững vàng, sâu sắc trong việc đánh giá địch, ta.


Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi và các lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn cũng nêu một ví dụ điển hình về đánh giá địch, ta một cách chính xác. Khi trong nước vẫn còn 10 vạn quân thù chiếm đóng và 15 vạn viện binh địch sẵn sàng vượt biên giới tràn sang nước ta, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã vạch ra "sáu điều địch phải thua" và quyết định lập thế trận "vây thành diệt viện" trên quy mô chiến lược. Các ông cũng phân tích sâu sắc chỗ mạnh, chỗ yếu của hai cánh quân tiếp viện, kể cả kinh nghiệm từng trải và tính khí của hai viên tưởng chỉ huy là Mộc Thạnh và Liễu Thăng. Từ đó hạ quyết tâm chính xác tập trung tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng trước bằng cách đánh "phục binh giữ hiểm, đập nát tiền phong".


Nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp đánh giá địch, ta một cách khoa học, biện chứng là: không "chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện trạng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem..." mà phải "không những nhìn vào hiện tại, mà lại nhìn vào tương lai... tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 13).


Đánh giá so sánh lực lượng trong tác chiến không thể dừng lại ở những nhận định chung, khái quát mà phải rất cụ thể, phân tích đúng khả năng tác chiến, sở trường, thủ đoạn và quy luật hành động của từng đổi tượng tác chiến. Ví dụ: trong chiến tranh xâm lược Việt Nam vừa qua, chỗ mạnh và sở trường của quân Mỹ là sử dụng máy bay lên thẳng đổ quân và thiết lập các trận địa hởa lực ở sâu trong hậu phương ta, kết hợp với đột kích thọc sâu bằng xe tăng, xe bọc thép. Nhưng chỗ yếu của chúng là tinh thần chiến đấu kém, ỷ lại vào hỏa lực, phụ thuộc vào việc vận chuyển, tiếp tế yểm hộ của máy bay lên thẳng. Vì vậy, nếu chúng ta tập trung diệt máy bay lên thẳng và chế áp hỏa lực của chúng, thì đội hình quân Mỹ dễ hỗn loạn, dễ bị ta đưa vào bẫy và tiêu diệt từng bộ phận.


Tác chiến hiện đại trong tương lai sẽ diễn ra cả trên bộ, trên không và trên biển với nhịp độ cao, huy động nhiều loại lực lượng, nhiều thứ vũ khí, phương tiện kỹ thuật mới, mỗi bên đều tìm biện pháp để che giấu ý đồ, hành động của mình, gây bất ngờ cho đối phương. Vì vậy, để đánh giá đúng so sánh lực lượng không những phải có quan điểm, phương pháp đúng mà còn phải biết sử dụng các phương pháp, phương tiện kỹ thuật hiện đại để tiến hành trinh sát, thu thập và xử lý thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác, đồng thời để che giấu hành động của mình và nghi binh lừa địch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:10:14 pm
3. Môi trường tác chiến

Môi trường tác chiến bao gồm những yếu tố tự nhiên và xã hội tồn tại và vận động trong không gian và thời gian tác chiến như địa hình, điều kiện khí tượng - thủy văn, sự phân bố và mật độ dân cư, trình độ chính trị, kinh tế, trạng thái tinh thần, tâm lý của nhân dân, v.v... Những yếu tố đó là những điều kiện khách quan có ảnh hưởng quan trọng đến hành động và việc vận đụng nghệ thuật tác chiến của hai bên tham chiến, tạo thuận lợi cho bến này, gây trở ngại cho bên kia, hoặc cũng có khi tạo thuận lợi hay khó khăn cho cả hai bên. Vì vậy trong phép dùng binh từ xưa đến nay, các nhà cầm quân đều coi trọng các yếu tố môi trường tác chiến và tìm cách tranh thủ các điều kiện "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" để giành thắng lợi.


Xem xét môi trường tác chiến là phải phân tích từng yếu tố trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, xác định những thuận lợi, khó khăn mà các yếu tố đó gây ra cho ta, cho địch và xem xét các khả năng cải tạo môi trường, từ đó tìm biện pháp tận dụng những điều kiện thuận lợi, hạn chế những khó khăn của ta, làm tăng thêm khó khăn cho địch.


Các trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 và Trần Hưng Đạo năm 1288 để lại cho chúng ta một mẫu mực tuyệt vời về việc vận dụng tổng hợp các yếu tố môi trường trong nghệ thuật tác chiến, về sự kết hợp tài tình giữa thế hiểm của đất trời, sông núi với trí tuệ và sức mạnh của con người mà đòi xưa từng ca ngợi:

Thủy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp
Bán tại quan hà, bán tại nhân1 (Hai câu thơ chữ Hán của Nguyễn Sưởng, thời Trần. Theo: Nguyễn Lương Bích, Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1981, tr. 296).

Dịch là: Có ai biết sự nghiệp thời Trùng Hưng lưu danh muôn thuở, một nửa do sông núi, một nửa là do người.

Chặn đánh đoàn chiến thuyền Nam Hán vào xâm lược nước ta, Ngô Quyền đã nghiên cứu tận dụng triệt để địa hình thiên nhiên phức tạp, chọn điểm quyết chiến ở vùng cửa biển Bạch Đằng, nơi có nhiều cồn bãi, đầm lầy, kênh rạch... Trần Quốc Tuấn đánh đạo quân thủy của Nguyên - Mông rút chạy khỏi nước ta, đã lập trận địa mai phục ở vùng thượng lưu sông Bạch Đằng, nơi có địa thế sông núi tiếp liền nhau, có nhiều lạch sông nhỏ tiện giấu quân kín đáo, xuất kích bất ngờ trên đường địch tất phải qua. Cả hai ông đều nghiên cứu kỹ chế độ sông nước, thủy triều để xác định thời gian bắt đầu và kết thúc tác chiến có lợi nhất, đồng thời dùng biện pháp cải tạo môi trường bằng cách xây dựng những bãi cọc ngầm dưới lòng sông để chặn đứng đoàn thuyền địch khi nước triều xuống. Hai ông cũng phát huy sức mạnh của yếu tố "nhân hòa", động viên lực lượng nhân dân địa phương góp công góp của xây dựng trận địa cọc và tổ chức những đội dân binh phối hợp cùng quân triều đình đánh giặc. Đó chính là những yếu tố quan trọng góp phần làm nên hai trận quyết chiến chiến lược lừng danh trong lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:11:35 pm
4. Bản lĩnh của chỉ huy

Hạt nhân chủ thể của việc vận dụng nghệ thuật tác chiến là người chỉ huy và cơ quan chỉ huy.

Thắng lợi trên chiến trường tùy thuộc vào hành động kiên quyết và hiệp đồng chặt chẽ của tất cả các lực lượng tham gia tác chiến theo kế hoạch và hiệu lệnh thống nhất của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy. Tất nhiên chỉ huy không phải là yếu tố quyết định hết thảy; mọi ý đồ, quyết tâm của người chỉ huy dù chính xác đến mấy cũng phải do những người và tổ chức thuộc quyền chấp hành một cách tích cực, sáng tạo thì mới trở thành hiện thực. Song với tư cách là trung tâm thần kinh của các lực lượng tác chiến, người chỉ huy và cơ quan chỉ huy có vai trò rất quan trọng và trách nhiệm hết sức nặng nề, ở cương vị càng cao thì vai trò và trách nhiệm đó càng lớn. Bởi vì mỗi quyết định, mệnh lệnh của người chỉ huy đểu có quan hệ đến sinh mạng của hàng trăm, hàng nghìn người, đến diễn biến và kết cục của tác chiến. Trong chiến tranh, một sai lầm, sơ suất, một sự do dự, chậm trễ dù nhỏ nhất cũng có thể phải trả giá bằng xương máu và kéo theo những hậu quả khó lường.


Bản lĩnh của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy thể hiện chủ yếu ở trình độ vận động nghệ thuật tác chiến trong suốt quá trình tổ chức và thực hành tác chiến, mà hiệu lực thực tế được đánh giá bằng kết quả tác chiến. Bản lĩnh đó là sản phẩm tổng hợp của nhiều yếu tố: các phẩm chất tinh thần, tâm lý và trí tuệ, kiến thức và kinh nghiệm, năng lực và phong cách.


Người chỉ huy trước hết phải có lòng dũng cảm. Bởi vì có dám đánh rồi mới biết đánh, có dũng cảm mới đủ tỉnh táo, sáng suốt để phát huy được trí tuệ và năng lực trong chỉ huy tác chiến. Clau-dơ-vit - nhà lý luận quân sự nổi tiếng nước Phổ thế kỷ XIX - đã có lý khi nhận định: "Chiến tranh là môi trường của nguy hiểm nên lòng dũng cảm là đức tính quân sự quan trọng nhất"1 (Các Phôn Clau-dơ-vit, Bàn về chiến tranh, phần một, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1981, tr. 83). Đức tính ấy của người chỉ huy phải được xây dựng trên những cơ sở vững chắc: nhận thức đầy đủ về mục đích, tính chất của chiến tranh, lòng yêu nước, lòng căm thù và quyết tâm tiêu diệt địch, ý thức trách nhiệm và lòng tin ở quân đội của mình, ở thắng lợi... Khác với các chiến binh trực tiếp giao chiến với quân địch, lòng dũng cảm của người chỉ huy không chỉ biểu hiện ở sự gan dạ, không ngại hy sinh, coi thường nguy hiểm, mà trước hết và chủ yếu phải bieu hiện ở thái độ dám đảm đương nhiệm vụ, dám chịu trách nhiệm trước tình huống khó khăn phức tạp. Nói về tư cách của người tướng, Bác Hồ đã dạy: "Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh"2 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, 1985, tr. 365).


Song chỉ dũng cảm thôi chưa đủ, người chỉ huy phải có những phẩm chất trí tuệ phát triển. Không phải ngẫu nhiên mà Bac Hồ đã nêu điều đầu tiên (trong sáu điều) về tư cách của người tướng: "Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng"3 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, 1985, tr. 365). Óc sáng suốt đó không thể tự nhiên mà có mà là kết quả tổng hợp của kiến thức sâu rộng và bề dày kinh nghiệm qua quá trình học tập và rèn luyện công phu trong thực tiễn đấu tranh. Sách Binh thư yếu lược - một tác phẩm quân sự cổ của dân tộc ta - cũng chỉ rõ: Người làm tướng không nên lấy giỏi cung đao cưỡi bắn làm tài, mà phải lấy thông suốt cổ kim làm giỏi"1 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 35, 56, 48. Bản gốc Binh thư yếu lược (hay Binh gia diệu lý yếu lược) của Trần Quốc Tuấn đến nay chưa tìm thấy. Cuốn Binh thư yếu lược này là bản viết do người đời sau (có thể vào đầu thế kỷ XIX) biên soạn lại).


Lòng dũng cảm và trí tuệ là cơ sở cho tính quyết đoán, một đức tính rất quan trọng của người chỉ huy. Chiến tranh là sự xung đột giữa những lực lượng sống với những biến cố khó dự đoán được hết, những tình huống khẩn trương, ác liệt. Điều đó đòi hỏi người chỉ huy phải có tính quyết đoán và năng lực hạ quyết tâm chính xác trong thời gian ngắn. Trù trừ, do dự có thể làm lỡ thời cơ, mất quyền chủ động, làm giảm hiệu quả tác chiến, thậm chí dẫn đến thất bại. Chính vì thế mà trong Binh thư yếu lược có nêu một trong "tám điều tệ" của đạo làm tướng là "do dự không quả quyết"2 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 35, 56, 48. Bản gốc Binh thư yếu lược (hay Binh gia diệu lý yếu lược) của Trần Quốc Tuấn đến nay chưa tìm thấy. Cuốn Binh thư yếu lược này là bản viết do người đời sau (có thể vào đầu thế kỷ XIX) biên soạn lại), và "cái hại trong việc dùng binh thì do dự là lớn nhất, tai vạ của ba quân sinh ra bởi sự hồ nghi"3 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 35, 56, 48. Bản gốc Binh thư yếu lược (hay Binh gia diệu lý yếu lược) của Trần Quốc Tuấn đến nay chưa tìm thấy. Cuốn Binh thư yếu lược này là bản viết do người đời sau (có thể vào đầu thế kỷ XIX) biên soạn lại). Tất nhiên tính quyết đoán của người chỉ huy hoàn toàn không đồng nghĩa với sự hấp tấp, bất cẩn và thói độc đoán.


Một yêu cầu cũng rất quan trọng về bản lĩnh của người chỉ huy là năng lực tư duy sáng tạo. Đó là năng lực phán đoán, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm về chiến tranh và khoa học, nghệ thuật quân sự vào thực tế chiến trường, tìm ra phương án tối ưu để đạt tới thắng lợi. Nghệ thuật tác chiến không chấp nhận mọi sự giáo điều, công thức, rập khuôn. Trần Quốc Tuấn khi soạn Vạn kiếp tôn bí truyền thư để dạy tướng sĩ đã không quên căn dặn người đọc: "... Sau khi học được bí quyết này, nên thi hành, bài binh bố trận một cách sáng suốt thông minh, không được cứ theo di văn truyền lặp một cách ngu muội"1 (Nguyễn Lương Bích, Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, tr. 152). Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về cách dùng binh cũng đòi hỏi phải "thiên biến vạn hóa, kẻ thù không biết đâu mà ngờ, mà phòng"2 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 138). Cho nên tư duy sáng tạo chính là thước đo trình độ vận dụng nghệ thuật tác chiến của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy.


Bản lĩnh của người chỉ huy còn thể hiện ở lòng nhân nghĩa đối với tướng sĩ dưới quyền, đoàn kết được ba quân. Như Nguyễn Trãi nói: "Rượu hòa nước, dưới trên đều một bụng cha con"3 (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đậi cáo). Có thế mới tạo ra sự gắn bó, một lòng chiến đấu cho mục đích chung.


Trên đây là mấy yêu cầu lớn về bản lĩnh của chỉ huy. Tất nhiên còn có thể kể ra những yêu cầu khác nữa như: tính kiên định, tính nhạy bén, trí tưởng tượng, năng lực tổ chức, điều hành, v.v... nhưng trong phạm vi cuốn sách này không thể đê cập hết được.


Trong lịch sử quân sự Việt Nam, những chiến công hiển hách đều gắn liền với tên tuổi của những vị thống soái lỗi lạc: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... mà tầm vóc trí tuệ, tài năng mãi mãi là bài học sông động cho những người chỉ huy và cơ quan chỉ huy chúng ta.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:16:27 pm
Chương II
MƯU KẾ


Tác chiến là cuộc đọ sức quyết liệt, trong đó hai bên đối địch vận dụng hết sức lực, cân não để giành quyền chủ động, tạo bất ngờ, thực hiện các đòn đánh trúng, đánh hiểm nhằm làm thất bại ý đồ, kế hoạch tác chiến của đối phương, đạt tới mục tiêu tác chiến của mình.


Quyền chủ động là quyền tự do hành động, là khậ năng bắt đầu và kết thúc tác chiến vào nơi và lúc có lợi nhất, bằng lực lượng và cách đánh mình mong muốn. Chủ động và bất ngờ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nắm được quyền chủ động thì có nhiều khả năng tạo bất ngờ; ngược lại, tạo bất ngờ là một phương thức để giành giật và phát huy quyền chủ động. Nắm được quyền chủ động và tạo được bất ngờ thì có thể ít thành nhiều, yếu hóa mạnh, gặp lúc nguy nan có thể chuyển bại thành thắng. Vì vậy, giành quyền chủ động tối đa, tạo bất ngờ tối đa là những vấn đề có ý nghĩa mạch sống của tác chiến, là mục tiêu vươn tối và là thước đo nghệ thuật của các bên tham chiến. Sách Binh thư yếu lược viết: "Tiến lên hay lui giữ do ở ta thì hẳn thắng, do ở ta thì ta khống chế địch, do ở địch thì ta bị địch khống chế"1 (Binh thư yếu lược, tr. 44). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Giữ quyền chủ động là khôn khéo xử khiến quân thù, muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được... giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ. Trái lại, nếu mình không giữ được quyền chủ động mà lại ở vào địa vị bị động, để cho quân thù xử khiến, mình dễ bị thất bại"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 137-138).


Quyền chủ động trong tác chiến thuộc về bên nào, điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố: số lượng, chất lượng quân đội, binh khí kỹ thuật và phương tiện vật chất bảo đảm; khả năng cơ động và điều động bổ sung; địa thế; loại tác chiến (tiến công hay phòng ngự), v.v... song yếu tố chủ yếu quyết định là nghệ thuật tác chiến. Bên có ưu thế về lực lượng thì có. điều kiện giành và giữ quyền chủ động, những bên có lực lượng ít hơn có thể lấy chất lượng bù số lượng, khéo léo bố trí, sử dụng lực lượng, tận dụng địa thế có lợi để giành lấy quyền chủ động. Thông thường bên tiến công nắm quyền chủ động nhưng bên phòng ngự không hẳn lúc nào cũng bị động. Nếu nắm chắc đối phương, có dự kiến đầy đủ, kế hoạch chu đáo và cách đánh thích hợp thì vẫn có thể giữ quyền chủ động và đánh thắng. Chiến dịch phòng ngự với đòn phản chuẩn bị mãnh liệt, bất ngờ, rồi chuyển sang phản công của Quân đội Liên Xô ở vòng cung Cuốc-xcơ mùa hè năm 1943 đã chứng minh điều đó. Trận "Điện Biên Phủ trên không" của quân và dân ta tháng 12 năm 1972 đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội - Hải Phòng cũng là một dẫn chứng hùng hồn về vấn đề này.


Có thể có nhiều phương thức, biện pháp để tạo bất ngờ, giành chủ động, song xem trong lịch sử chiến tranh, chúng ta thấy nổi lên hai khuynh hướng chủ yếu sau đây:

Khuynh hướng thứ nhất là dựa vào quân đông, binh khí nhiều, gây tình huống đột biến bằng cách tập trung hoặc tăng cường đột ngột số lượng quân đội tác chiến và binh khí kỹ thuật, nhằm tạo ưu thế áp đảo, phá vỡ thế trận của đối phương, giành quyền chủ động trên chiến trường. Một ví dụ tiêu biểu về quan điểm này là việc đế quốc Mỹ đưa quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1965-1968, đưa số quân Mỹ ở Việt Nam từ 2 vạn lên 18 vạn (tháng 12-1965), 30 vạn (tháng 8-1966), rồi 48 vạn (tháng 12-1967), cùng với gần 6 vạn quân chư hầu và 65 vạn quân ngụy hợp thành đội quân xâm lược đông tới 1 triệu 20 vạn tên. Với lực lượng ấy, chúng tính toán đã đạt tới ưu thế 4,7/1 và liên tiếp mở hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967   hòng "đánh gãy xương sống Việt cộng", giành lại quyền chủ động đã mất. Song thực tế chiến trường đã chứng minh: chúng không sao đảo ngược được tình thế và tiếp tục sa lầy trong thế bị động; quân và dân miền Nam vẫn giữ vững và phát triển thế chủ động tiến công.


Khuynh hướng thứ hai là vừa trọng lực vừa trọng mưu, nhưng hết sức chú trọng vận dụng mưu kế để lập thế ta, phá thế địch, điều khiển tình huống tác chiến, tạo thời cơ hành động bất ngờ, giành thắng lợi. Tác chiến có nhiều mưu hay kế giỏi thường đem lại hiệu quả cao mà tiết kiệm được lực lượng, giảm được tổn thất, với lực lượng ít hơn địch vẫn có thể thực hiện nguyên tắc tập trung sức mạnh vào nơi và lúc quyết định để đánh đòn quyết định.


Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật trọng dùng mưu trong tác chiến. Với điều kiện của một nước nhỏ, lực lượng vũ trang tập trung thường không nhiều, phải chống lại những đội quân xâm lược vừa đông vừa mạnh hơn mình về vũ khí trang bị, các nhà chỉ huy quân sự Việt Nam từ xưa đến nay đã có nhiều sáng tạo trong vận dụng mưu kế tác chiến và đạt những thành tựu xuất sắc. Từ Ngô Quyền trong chiến thắng Bạch Đằng; Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt; Trần Hưng Đạo ỏ Hàm Tử, Chương Dương - Thăng Long... ; Lê Lợi - Nguyễn Trãi với Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang; Quang Trung với Ngọc Hồi - Đống Đa... đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vừa qua, lịch sử quân sự Việt Nam lấp lánh những chiến công của một nghệ thuật dùng binh đầy mưu lược.


Nói đến mưu kế, có người nghĩ đó chỉ là những mưu mẹo để đánh lừa địch và thường chỉ được vận dụng trong chiến thuật. Theo chúng tôi quan niệm như thê có phần hạn hẹp.

Vậy mưu kế tác chiến là gì? Đó là những phương sách, biện pháp và bước đi nhằm giành quyền chủ động trên chiến trường, buộc địch phải chấp nhận tác chiến ở nơi và vào lúc ta mong muốn, phải hành động theo phương án ta dự kiến, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt địch và thực hiện thắng lợi ý đồ tác chiến đã đề ra.


Mưu kế tác chiến được vận dụng trong tác chiến chiến lược, chiến dịch và trận chiến đấu với quy mô và biện pháp khác nhau. Ở quy mô chiến lược, chiến dịch, có thời gian chuẩn bị dài thì có điều kiện lập và triển khai mưu kế tinh vi, phức tạp, hiểm hóc, nhưng việc điều hành cũng đòi hỏi nghệ thuật cao. Trong một số loại tác chiến như chiến đấu gặp gỡ, truy kích... hay khi phải bước vào chiến đấu gấp thì điều kiện để vận dụng mưu kế có khó khăn hơn, đòi hỏi người chỉ huy phải rất nhạy bén, sáng tạo thì mới thành công.


Mưu kế tác chiến được vận dụng trong mối quan hệ mật thiết với các yếu tố khác của nghệ thuật tác chiến: dùng mưu kế đê lập thế trận, cài thế ta, phá thế địch; để sử dụng lực lượng hợp lý, tiết kiệm mà đạt hiệu quả cao; để vận dụng cách đánh táo bạo, hiểm hóc; để dẫn dắt tình huống tác chiến diễn biến theo ý định của mình, để tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định.


Mưu kế tác chiến là yếu tố chỉ đạo xuyên suốt quá trình tác chiến, từ lúc xác định phương án, kế hoạch tác chiến, tổ chức hiệp đồng và bảo đảm, bố trí triển khai lực lượng, điều hành tác chiến qua các bước, các giai đoạn cho đến khi hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đã đề ra. Mưu kế tác chiến có khi chưa hoàn chỉnh ngay từ đầu mà từng bước được bổ sung hoàn thiện thêm trong quá trình tác chiến.


Lập mưu kế phải dựa trên sự phân tích đúng đắn chỗ mạnh, chỗ yếu, ý đồ và quy luật, thủ đoạn hành động của địch, khả năng thực tế của ta, điều kiện địa hình, thời tiết... Đặc biệt phải tính toán kỹ lực lượng dự bị (cả chiến dịch, chiến lược) của địch và khả năng cơ động, ứng cứu, phản kích của chúng, từ đó dự kiến hết các khả năng diễn biên tình huống, chuẩn bị sẵn các phương án và lực lượng để đối phó với những khả năng xấu nhất.


Trong vận dụng nghệ thuật mưu kế, một yêu cầu rất quan trọng là phát hiện đúng mâu thuẫn của ta, của địch và tìm ra những biện pháp có hiệu quả để giải quyết mâu thuẫn của ta, khoét sâu mâu thuẫn của địch. Sách Binh thư yếu lược viết : "Nắm được một cái sở đoản của địch thì phá được trăm cái sở trường của nó. Nhân một cái sở trường của ta thì cứu được trăm cái sở đoản của ta"1 (Binh thư yếu lược, tr. 185).


Trong tác chiến, các bên đối địch bên nào cũng gặp những mâu thuẫn. Có mâu thuẫn cơ bản, bắt nguồn từ tính chất, mục đích của chiến tranh; có mâu thuẫn tạm thời, trước mắt, do những điều kiện tác chiến cụ thể quy định. Kẻ tiến hành chiến tranh xâm lược phi nghĩa thường gặp những mâu thuẫn gay gắt, khó khắc phục vì chúng gắn với bản chất phản động của chiến tranh. Còn trong chiến tranh chính nghĩa, những mâu thuẫn gặp phải không thuộc về bản chất nên có thể hạn chế, khắc phục được. Tuy nhiên nếu không phát hiện kịp thời và có biện pháp giải quyết đúng đắn thì mâu thuẫn sẽ phát triển, gây khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ tác chiến, thậm chí dẫn đến thất bại.


Xưa nay, trong các cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, kẻ địch thường gặp những mâu thuẫn cơ bản là: mâu thuẫn giữa tập đoàn thống trị và nhân dân nước địch về mục đích chính trị của chiến tranh; mâu thuẫn giữa quân xâm lược và nhân dân ta; mâu thuẫn giữa tham vọng xâm lược với khả năng huy động và cung cấp nhân lực, tiền của cho chiến tranh xâm lược, v.v... Trong tác chiến, chúng thường bộc lộ những mâu thuẫn giữa tiến công và phòng ngự, giữa tập trung và phân tán, giữa cơ động và chiếm đóng, v.v... Nghệ thuật tác chiến của ta đã nhằm khai thác và phát triển được những mâu thuẫn đó của địch nên đã thành công.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã chỉ rõ: "Với binh nhiều tướng đủ, với khí giới tối tân, chúng (thực dân Pháp xâm lược - T.G) định đánh mau thắng mau. Với quân đội mới tổ chức, với vũ khí thô sơ, ta quyết kế trường kỳ kháng chiến"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 2, tr. 428). Đây là một ví dụ sinh động về vận dụng kế sách chiến lược nhằm khoét sâu mâu thuẫn của địch, giải quyết mâu thuẫn của ta. Đánh lâu dài thì những mâu thuẫn cố hữu của kẻ xâm lược sẽ phát triển ngày càng trầm trọng. Còn mâu thuẫn của ta giữa yêu cầu tiêu diệt địch, giải phóng đất đai với lực lượng tác chiến còn nhỏ và thiếu kinh nghiệm... sẽ dần dần được khắc phục với nghệ thuật đánh giặc bằng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh toàn dân, toàn diện.


Vận dụng mưu kế là quá trình tư duy sáng tạo và tổ chức điều hành căng thẳng của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy. Trên cơ sở nắm vững nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến, hiểu rõ tình hình địch, tình hình ta và môi trường tác chiến, người chỉ huy phải đặt ra và giải đáp mấy câu hởi: tập trung tiêu diệt địch ở đâu, lúc nào là có lợi nhất? Và như vậy, phải lừa địch bằng cách gì, cắt, vây, kìm địch ở đâu? Địch sẽ phản ứng thê nào, ta tiếp tục đánh địch ở đâu, bằng lực lượng nào, v.v... Mưu hay, kế giởi là phải lừa được địch và điều khiển được địch. Cho nên mưu cao nhất là mưu lừa địch, kế hay nhất là kế điều địch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 09:48:01 pm
Xem trong lịch sử quân sự Việt Nam, chúng ta thấy các nhà chỉ huy đã vận dụng mưu kế rất linh hoạt, sáng tạo. Có thể kể ra mấy dạng mưu kế chính sau đây:
 
1. Nghi binh, lừa địch

Là dùng mọi biện pháp để địch không biết đâu là ý định thật của ta, đi đến phán đoán lầm, hành động sai, bộc lộ sơ hở, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đánh địch ở nơi và vào lúc đã chọn. Đây là biện pháp được các nhà quân sự từ xưa tới nay hết sức quan tâm và vận dụng rộng rãi. Clau-dơ-vít viết: "Kẻ dùng mưu chước nhằm làm cho người mình muốn lừa phạm phải những sai lầm trong suy nghĩ, những sai lầm này cuối cùng sẽ tập trung vào một kết quả độc nhất là đột nhiên làm biến đổi trước mắt họ bản chất của sự vật"1 (Các Phân Clau-dơ-vít, Bàn về chiến tranh, phần một, tr. 274). Sách Binh thư yếu lược có mục: "Dùng cách lừa dối": "Điều cốt yếu để đánh được địch, không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa... lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực..."2 (Binh thư yếu lược, tr. 183).


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng biện pháp nghi binh lừa địch trong tác chiến. Người viết: "... mình phải lừa quân thù không chú ý phòng bị chỗ ấy mà lại phòng bị chỗ khác, nghĩa là náo phía đông đánh phía tây"3 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 138-139, 140), "... làm cho chúng mắt mù, tai điếc, hoặc truyền đến cho chúng những tin tức sai lầm để lừa gạt chúng"4 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 138-139, 140).


Nghi binh, lừa địch có nhiều cách như tung tin giả, tạo ra các mục tiêu giả, hiện tượng giả, tiến hành các hoạt động giả nhằm đánh lạc hướng chú ý của đối phương vào nơi này, hướng này, để rồi bất ngờ hành động thật ở nơi khác, hướng khác. Ngày nay, với việc sử dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật quân sự, việc tạo giả, tung tin giả, gây nhiễu để thực hiện nghi binh càng trở nên tinh vi, phức tạp hơn. Vì vậy muốn nghi binh, lừa địch có hiệu quả, phải thực hiện tốt các biện pháp trinh sát để nắm đúng, hiểu đúng địch, đồng thời phải tăng cường việc ngụy trang, giữ bí mật về lực lượng, ý định tác chiến của mình. Trước hết phải không để bị địch lừa rồi mới lừa được địch.


Lịch sử quân sự Việt Nam đã có nhiều bài học thành công về nghi binh, lừa địch. Trong chiến dịch Biên giới thu - đông 1950, ta tổ chức nghi binh rầm rộ ở Lào Cai và tiến công Bắc Hà trên hướng Tây Bắc, thu hút sự chú ý của quân Pháp vào hướng đó, để rồi bất ngờ mở chiến dịch trên hướng Đông Bắc, giành thắng lợi giòn giã.


Trong chiến dịch bắc Tây Nguyên xuân 1972, để bảo đảm cho trận mở màn đánh chiếm căn cứ Tân Cảnh, ta đã tiến hành một loạt biện pháp nghi binh, tạo thế: đánh cắt đoạn quốc lộ 14 từ Plây Cu đi Kon Tum và từ Kon Tum đi Tân Cảnh, đồng thời mở hai đoạn đường quân sự làm gấp ở tây bắc thị xã Kon Tum và phía tây sông Pô Cô, làm cho địch tin chắc rằng ta sẽ đánh Kon Tum nên tung lữ dù 3 là lực lượng dự bị chiến dịch ra tây bắc Kon Tum nhằm phá sự chuẩn bị tiến công của ta. Lực lượng ta được chuẩn bị sẵn đã tiêu diệt một bộ phận quân dù, số còn lại bị ta giam chân ở đó. Thế là ta có điều kiện bất ngờ tập trung đánh chiếm Tân Cảnh mà địch không có cách gì cứu viện được.


Trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, ta cũng dùng các biện pháp điều quân, cắt đường giao thông, tác chiến nghi binh để hút địch về hướng Kon Tura, Plây Cu và vây hãm địch ở đó, bảo đảm cho trận mở màn đánh chiếm Buôn Ma Thuột diễn ra bất ngờ và giành thắng lợi nhanh gọn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 09:48:49 pm
2. Đặt bẫy, dụ địch

Là kế lập sẵn thế trận ở nơi địch tất phải tới mà ta thì có thế lợi, rồi tìm cách dụ địch sa vào bẫy đúng lúc ta dự kiến đê tiêu diệt chúng. Loại mưu kế này được sử dụng trong chiến dịch hoặc chiến lược có thể tạo ra các trận then chốt hoặc then chốt quyết định.


Thời cổ đại, Ha-ni-ban - vị thống soái lừng danh xứ Các-ta-giơ - đã lùi một bước, lừa quân La Mã tiến sâu vào trận địa của mình rồi khép chặt vòng vây tiêu diệt chúng trong trận Can (năm 216 trước Công nguyên). Hàn Tín - một tướng tài nhà Hán (Trung Quốc) - trong trận Bối Thủy (năm 204 trước Công nguyên) đã giăng bẫy trên bờ sông, lừa quân Triệu sa vào đó để tiêu diệt.


Xem trong lịch sử quân sự Việt Nam cả xưa lẫn nay, có thể dẫn ra nhiều ví dụ về việc vận dụng mưu kế này. Năm 938, để tiêu diệt quân Nam Hán vào xâm lược nước ta bằng đường thủy, tướng quân Ngô Quyền đã lợi dụng địa hình và điều kiện thủy văn một cách thông minh để lập sẵn thế trận ở đoạn hiểm yếu trên sông Bạch Đằng nơi quân địch tất phải qua, với bãi cọc ngầm xuất hiện đột ngột khi nước triều xuống có hiệu lực như một cánh quân vây bọc phía sau. Ông lại nắm vững bản lĩnh non nớt của tên tướng trẻ Hoằng Thao để dùng thuật dụ binh khích tướng, vừa nhử vừa hãm, đưa đoàn thuyền địch vào trận địa cọc đúng lúc thủy triều xuống. Vì vậy với diệt lực lượng ít hơn địch, chỉ bằng một trận then chốt, ông đã đập tan kế hoạch xâm lược của triều đình Nam Hán.


Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), Trần Hưng Đạo đã vận dụng phương sách này trên quy mô chiến lược. Nắm vững sở trường tác chiến của quân Nguyên là dùng kỵ binh có sức cơ động nhanh để vây bọc và đột phá trận địa đối phương, nhưng sở trường ấy chỉ phát huy được trên địa hình rộng và tương đối bằng phẳng, Trần Hưng Đạo đã dùng cách vừa đánh chặn địch vừa cơ động từng bước, khiến quân địch luôn luôn vồ hụt nên càng cay cú dấn sâu vào vùng đồng bằng sông Hồng, nơi có nhiều sông ngòi, ruộng nước, đầm lầy. Ở đây sở trường của địch bị hạn chế nhiều, ngược lại phương thức tác chiến chiến tranh nhân dân của ta được phát huy mạnh mẽ. Khi quân địch đã lâm vào thế phòng ngự bị động, mệt mỏi, suy yếu, ông mới tung chủ lực còn nguyên vẹn ra giáng những đòn then chốt quyết định.


Lê Lợi - Nguyễn Trãi cũng sử dụng phương sách này rất thành công trong chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang (1427). Khi quyết định tập trung sức mạnh tiêu diệt đạo quân viện 10 vạn tên của Liễu Thăng trên hướng Lạng Sơn, bộ thống soái nghĩa quân Lam Sơn đã cho lập trận địa mai phục ở Chi Lăng, nơi có địa hình hiểm trở trên đường địch tất phải qua, đồng thời hạ thành Xương Giang trên đường từ Đông Quan lên Pha Lũy để cắt đứt liên lạc giữa quân cứu viện của địch với quân đồn trú ở Đông Quan. Khi địch vượt qua biên giới, ta chặn địch từng bước và khích được tính hung hăng của Liễu Thăng khiến hắn đích thân dẫn một vạn quân tiền đạo sa vào trận địa phục sẵn của ta và phải bỏ xác tại đấy. Quân địch còn lại cố tiến xuống Xương Giang thì thành đã mất, chúng phải hạ trại trên cánh đồng với tâm trạng hoang mang, mệt mỏi. Đây là thời cơ để ta đánh đòn then chốt quyết định tiêu diệt gọn đạo quân viện của Liễu Thăng, đưa cuộc kháng chiến chống Minh đến thắng lợi hoàn toàn.


Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phương sách này được vận dụng rộng rãi dưới hình thức đánh điểm, diệt viện, ở đây chỉ xin nêu một ví dụ điển hình là chiến dịch Biên Giới thu - đông 1950. Giữa Cao Bằng và Đông Khê, ta đã chọn rất chính xác Đông Khê làm điểm đột phá đầu tiên, vì nó là một vị trí rất quan trọng trên tuyến Lạng Sơn - Cao Bằng. Mất Đông Khê, địch sẽ buộc phải đưa quân ứng cứu lên giành lại để giữ Cao Bằng, hoặc phải đánh lên để đón quân Cao Bằng rút lui, ta sẽ có cơ hội thuận lợi tiêu diệt lớn quân địch ngoài công sự. Chiến dịch đã diễn ra đúng với ý đồ tác chiến của ta mà Bác Hồ đã vạch ra là: "nhử thú dữ vào tròng" để "khép vòng lưới thép" tiêu diệt chúng1 (Xem Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974, tr. 405).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 09:49:38 pm
3. Tương kế tựu kế

Là biết rõ và lợi dụng mưu kế của đối phương để lập ra kế của mình đánh lại chúng. Sách Binh thư yếu lược viết: "... Nhân cách lừa của địch mà lừa nó... lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"2 (Binh thư yếu lược, tr. 183).


Dùng mưu của mình để lừa địch đã là giỏi, nhưng dùng chính kế của địch để đánh địch, lấy "gậy ông đập lưng ông" thì lại càng tinh vi hiểm hóc hơn. Đây là một qua trình đấu mưu chọi kế quyết liệt giữa hai bên đối chiến. Ai thông minh hơn, có bản lĩnh cao hơn, người đó sẽ thắng.


Muốn tương kế tựu kế, trước hết phải biết được kế của địch. Người chỉ huy chẳng những phải nắm vững lực lượng, cách bày binh bố trận và mọi động thái của quân địch mà còn phải có năng lực phân tích, phán đoán sắc sảo ý đồ sâu kín của chỉ huy địch, nhìn thấy trước đường đi nước bước của chúng để không mắc mưu địch mà còn tìm ra những sơ hở trong kế của địch và tìm cách quật lại chúng. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy thực hiện được tương kế tựu kế thì từ bị động sẽ chuyển thành chủ động, đã chủ động càng chủ động cao hơn, tạo được bất ngờ tối đa, giành thắng lợi to lớn.


Ở vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai (1285), Trần Hưng Đạo và các vua Trần đã nêu gương xuất sắc về vấn đề này. Sau khi vào được kinh thành Thăng Long bỏ ngỏ, kế của quân Nguyên là dùng đạo quân của Thoát Hoan từ Thăng Long đánh xuống, quân của Toa Đô từ Nghệ An - Thanh Hóa đánh lên, kẹp chặt đạo quân của vua Trần ở Thiên Trường - Trường Yên giữa hai gọng kìm. Biết rõ kế của giặc, vua Trần lập mưu cầu hòa tạm thời hoãn chiến, một mặt làm cho địch tưởng rằng kế của chúng đã thành công, mặt khác giành lấy thời gian để bí mật, an toàn rút hết đại quân ra biển. Sau đó vua Trần cho một bộ phận lên vùng Đông Bắc hợp với đạo quân của Trần Hưng Đạo án ngữ ở Vạn Kiếp, còn đại bộ phận thì vượt biển vào Thanh Hóa, ép phía sau lưng đạo quân Toa Đô vừa tiến lên Trường Yên. Thế là ta đã thoát ra khỏi thế bị kẹp giữa hai gọng kìm của quân Nguyên mà còn hình thành hai gọng kìm lớn hơn kẹp lại quân địch. Tình thế đó đã làm xuất hiện thời cơ phản công mà Trần Hưng Đạo và vua Trần đã kịp thời nắm lấy để giáng đòn quyết định tiêu diệt hoàn toàn 50 vạn quân Nguyên xâm lược.


Trận Tốt Động - Chúc Động (1426) của nghĩa quân Lam Sơn trong kháng chiến chống Minh là một điển hình thành công khác về tương kế tựu kế. Biết rõ kế của Vương Thông dùng hai cánh quân theo hai hướng đánh vào căn cứ Cao Bộ của ta (thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Sơn Bình ngày nay), chúng lại quy ước dùng pháo lệnh làm tín hiệu hiệp đồng để đồng thời đánh khép lại, các tướng lĩnh nghĩa quân đã lập trận địa mai phục ở Tốt Động - Chúc Động, nơi hai đạo quân địch tất phải qua. Khi quân địch tới gần, các ông cho nổ pháo lệnh khiến cả hai đạo quân địch đều tưởng đó là pháo lệnh của chúng nên càng tiến gấp đến khu vực quy định và sa vào trận địa đã bày sẵn của ta. Kết quả là chỉ với lực lượng khoảng 1 vạn quân, nghĩa quân Lam Sơn đã tiêu diệt trên 5 vạn quân địch và bắt sống hơn 1 vạn tên.


Trong kháng chiến chống Pháp, cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ cũng là một ví dụ hay về tương kế tựu kế. Cuối năm 1952, sau khi bị mất gần hết vùng Tây Bắc rộng lớn, quân Pháp lần đầu tiên trong chiến tranh xâm lược Việt Nam đã xây dựng một tặp đoàn cứ điểm ở Nà Sản với binh lực 8 tiểu đoàn. Ta đã tiến hành đột phá vào Nà Sản nhưng không thành công. Thấy vậy, bộ chỉ huy Pháp đinh ninh rằng tập đoàn cứ điểm là một kế lợi hại, có thể chặn đứng cuộc tiến công của ta trên mọi hướng, thu hút chủ lực ta đến để tiêu diệt, từ đó giành lại quyền chủ động trên chiến trường. Biết rõ kế của địch, bước vào Đông Xuân 1953-1954, Bộ chỉ huy tối cao của ta quyết định mở cuộc tiến công trên những hướng sơ hở và hiểm yếu của địch ở Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào và Tây Nguyên, buộc quân Pháp tung lực lượng cơ động chiến lược ra lập thành các tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ, Xê-nô (Trung Lào), Luông Pha-băng (Thượng Lào)... Thế là ta đã lợi dụng được kế của địch để phân tán chủ lực địch và giam chân chúng trên nhiều hướng, từ đó tạo ra thời cơ tập trung lực lượng vào chiến trường chính do ta lựa chọn để tiêu diệt lớn quân địch. Đối với Điện Biên Phủ, một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương hồi đó mà Na-va gọi là "một Véc-đoong thứ hai ở Viễn Đông", bộ chỉ huy Pháp tin rằng nếu ta chấp nhận giao chiến ở Điện Biên Phủ là sa vào bẫy của họ và sẽ bị nghiền nát. Nhưng họ không ngờ rằng chính quân Pháp đã trúng kế của ta; chúng đã bị ta điều đến một chiến trường xa, hoàn toàn bị cô lập mà ta có khả năng và thế lợi để tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 09:50:54 pm
4. Nỗ lực cao, vượt khó khăn lớn để đánh địch vào nơi và lúc chúng không ngờ tới

Đây là một biện pháp của mưu kế tác chiến đòi hỏi trí thông minh, lòng dũng cảm, tính quyết đoán của người chỉ huy và bản lĩnh chiến đấu cao của bộ đội để vượt qua những khó khăn trở ngại tưởng chừng không thể khắc phục nổi, tiến công địch trên hướng chúng ít ngờ tới nhất và vào lúc chúng ít đề phòng nhất. Làm được như vậy thì tác chiến thường đạt được hiệu quả cao. Đúng như Clau-dơ-vit đã nhận định: "... Bất ngờ càng dễ thì hiệu quả càng ít, và ngược lại bất ngờ càng khó thì hiệu quả càng nhiều"1 (Các Phôn Clau-dơ-vit, Bàn về chiến tranh, phần một, tr. 269).


Lịch sử quân sự Việt Nam cho ta nhiều dẫn chứng sinh động về vấn đề này. Ngô Quyền xây dựng trận địa cọc gỗ bịt sắt dưới lòng sông Bạch Đằng; Lý Thường Kiệt xuất quân sang đánh phá trước các căn cứ chuẩn bị tiến công của địch ở các châu Ung - Khâm - Liêm; các vua Trần đã "cử quốc hàng hải" (đưa cả nước đi ra biển) - như chính kẻ địch phải thừa nhận - cơ động một đạo quân lớn trên sông biển ra khỏi vòng vây của địch để rồi trở lại bao vây tiêu diệt chúng; vua Quang Trung mở cuộc hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc, vừa đi đường vừa bổ sung lực lượng và chuẩn bị tác chiến để bất ngờ tiến công chớp nhoáng vào Thăng Long; tất cả đều là kết quả của trí sáng tạo, tài quyết đoán và nỗ lực rất cao của ông cha ta để tạo bất ngờ lớn, giành thắng lợi vẻ vang.


Đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, những kỳ tích như vậy tiếp tục được lập nên với những tầm vóc mới. Như trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã thiêt lập tuyến hậu cần chiến dịch với những đoàn xe đạp thồ vận chuyển ngày đêm dưới bom đạn địch, dùng sức người kéo những cỗ trọng pháo vào trận địa trên đỉnh núi cao, xây dựng hàng trăm ki-lô-mét chiến hào và giao thông hào vây bọc tập đoàn cứ điểm với những đoạn hào vây lấn như những mũi dùi đâm vào tim gan địch. Những nỗ lực to lớn đó vượt quá sức tưởng tượng của bộ chỉ huy quân Pháp.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 09:52:54 pm
5. Đánh trúng huyệt, gãy phản ứng dây chuyển, tạo đột biến chiến dịch

Là kế đánh vào một điểm hiểm yếu của địch, buộc địch phải phản ứng theo phương án ta lựa chọn và bộc lộ sơ hở, tạo điều kiện cho ta đánh những đòn tiếp theo, đẩy địch vào thế bị động và thất bại dây chuyền, dẫn đến đột biến về chiến dịch và có khi cả về chiến lược. Đây là một trong những biện pháp hay nhất, có hiệu quả nhất của mưu kế tác chiến. Đặt kế nghi binh, làm cho địch mắc lừa thì mưu đã là cao, nhưng chọn đúng huyệt để chỉ cần đánh một đòn hiểm mà làm rung cả hệ thống, dứt một dây mà động cả rừng, buộc địch đi theo nước cờ ta tính sẵn, điều khiển được ý chí và hành động của đỏi phương thì mưu ấy mới thật tuyệt diệu. Đó chính là thuật giành chủ động tối đa và bất ngờ tối đa trong tác chiến.


Vận dụng biện pháp này đòi hòi nghệ thuật rất cao của người chỉ huy trong suốt quá trình chuẩn bị, tổ chức và điều hành tác chiến, phải có con mắt tinh tường, sắc sảo, nhìn thấy trong thế trận của địch đâu là điểm xung yếu mà nếu đột phá vào đấy sẽ làm cho toàn bộ hệ thống của địch rung chuyển, mất tính cân bằng và vững chắc của nó. Lại phải tính toán các nước cờ tiếp theo của địch, của ta: trước đòn hiểm ấy địch sẽ phản ứng cách gì, ở đâu, bằng lực lượng nào... để tìm chọn những biện pháp buộc địch phải phản ứng theo cách và ở nơi ta mong muốn, từ đó dự kiến và chuẩn bị cho các đòn tiếp theo.


Tuy nhiên mọi phán đoán, dự kiến không phải bao giờ cũng có thể chính xác và đầy đủ ngay từ đầu, nên phải chuẩn bị sẵn nhiều phương án; trong quá trình tác chiến, phải bám sát mọi chuyển biến về lực lượng, thế trận của địch, tìm ra những điểm hiểm yếu mới để tập trung đánh những đòn tiếp theo. Cũng có những trường hợp lúc đầu ta chưa thể phán đoán rõ ràng ý đồ và hành động của địch, mà mới chỉ dự kiến được những xu thế chính. Chỉ sau khi tiến hành một số đòn đánh, tác động vào một số huyệt nhạy cảm của địch, lúc ấy thế trận của địch chuyển động, ý đồ của chúng bộc lộ rõ, sơ hở của chúng được phơi bày, ta mới có thể tìm chọn nơi xung yếu nhất để giáng đòn quyết định.


Lịch sử quân sự cho thấy việc đánh những đòn hiểm kế tiếp nhau theo trình tự của mứu kế được tính toán và tổ chức công phu như vậy thì thường đẩy địch tới sự sụp đổ dây chuyên, còn thắng lợi của ta thì được nhân lên gấp bội, từ hiệu quả chiến thuật tạo nên đột biến về chiến dịch và cả về chiến lược.


Trong chiến dịch Biên Giới thu - đông 1950, ta chọn đúng huyệt xung yếu trên tuyến phòng thủ Lạng Sơn - Cao Bằng của địch dọc theo đường số 4. Đánh Đông Khê, một cứ điểm loại vừa cỡ tiểu đoàn của địch cũng phù hợp với điều kiện trang bị và kinh nghiệm đánh công kiên của bộ đội ta hồi đó. Mất Đông Khê, địch buộc phải phản ứng theo hướng ta dự kiến: đưa binh đoàn Lơ Pa-giơ từ Thất Khê đánh lên hòng chiếm lại Đông Khê và đón binh đoàn Sác-tông ở Cao Bằng rút chạy về. Cả hai binh đoàn đã sa vào thế trận bày sẵn của ta và lần lượt bị tiêu diệt gọn trong tác chiến vận động - loại tác chiến mà bộ đội ta có nhiều kinh nghiệm và lợi thê. Đột biến chiến dịch đã xảy ra kéo theo sự phá vỡ thế trận địch về chiến lược: địch vội vã rút khỏi Thất Khê, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu về sát Tiên Yên thuộc vùng duyên hải. Trên hướng Tây Bắc chúng phải tháo chạy khỏi Lào Cai, Sa Pa, Phong Thổ, thị xã Hòa Bình.


Trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, chủ trương tác chiến lúc đầu của ta là tiến công vào những hướng nhạy cảm của địch: Tây Bắc (Lai Châu), Trung, Hạ Lào và Tây Nguyên là những địa bàn chiến lược mà địch yếu và sơ hở nhưng không thể bỏ, nhằm phân tán lực lượng cơ động chiến lược của địch, rồi theo dõi động thái của chúng để chọn đòn quyết định tiếp theo. Thế trận địch đã chuyển động theo phương hướng ta dự kiến: chúng nhảy dù xuổng Điện Biên Phủ và xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh án ngữ như Tây Bắc; tổ chức một tập đoàn cứ điểm thứ hai ở Xê-nô, chốt chặn ở Trung Lào; tiến hành chiến dịch Át-lăng đánh vào vùng tự do của ta ở Liên khu 5 nhằm kéo chủ lực ta và đỡ đòn cho Tây Nguyên; đổ quân xuống Mưòng Sài, Luông Pha-băng để chống giữ ở Thượng Lào. Thời cơ đánh trận then chốt quyết định nhằm tiêu diệt lởn quân địch đã xuất hiện ở điểm xung yếu mới của chúng: Điện Biên Phủ.


Chiến cuộc Xuân 1975 cũng là một điển hình thành công xuất sắc của loại mưu kế này. Trong toàn bộ thế trận của địch ở miền Nam, ta chọn đánh trước vào Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược rất xung yếu, và trong địa bàn xung yếu đó, chọn điểm xung yếu Buôn Ma Thuột để đánh trận mở màn. Đòn điểm trúng huyệt ở Buôn Ma Thuột, tiếp theo là đòn đập tan quân địch phản đột kích ở Phước An đã nhanh chóng gây phản ửng dây chuyển, tạo đột biến chiến dịch kéo theo sự phá vỡ về chiến lược: địch phải rút chạy khỏi Tây Nguyên, bị ta quét sạch khỏi vùng đồng bằng ven biển miền Trung và cuối cùng sụp đổ hoàn toàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Trên đây là mấy dạng mưu kế chính thường được các nhà chỉ huy vận dụng trong tác chiến chiến dịch và chiến lược. Mỗi dạng có hình thức, biện pháp khác nhau và đạt tới mục tiêu, hiệu quả khác nhau. Song các dạng mưu kế đó có mối quan hệ mật thiết, nhiều khi khó phân biệt được ranh giới rõ ràng và thường phải được vận dụng một cách tổng hợp. Giữa mưu kế chiến lược và mưu kế chiến dịch cũng phải kết hợp chặt chẽ thì mới đem lại hiệu quả to lớn.


Qua các ví dụ đã nêu ở trên, chúng ta thấy trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai, Trần Hưng Đạo đã vận dụng mưu kế chiến lược "dĩ đoản chế trường" trong giai đoạn đầu chiến tranh, đưa quân địch sa lầy vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta ở đồng bằng sông Hồng, tạo điều kiện thực hành mưu kế chiến dịch đánh đòn hiểm tạo phản ứng dây chuyền trong giai đoạn cuối để kết thúc chiến tranh. Chiến dịch Biên Giới thu - đông 1950 là sự kết hợp giữa mưu kế nghi binh về chiến lược trên hướng Tây Bắc để thực hiện kê đánh đòn hiểm "nhử thú dữ vào tròng" trên hướng Đông Bắc. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, mưu kế chiến lược căng địch ra hai đầu (Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn) tạo điều kiện cho chiến dịch Tây Nguyên thực hành mưu kế nghi binh kéo địch về bắc Tây Nguyên để bất ngờ đánh đòn hiểm vào Buôn Ma Thuột, gây phản, ứng dây chuyền phá sập toàn bộ thế trận của địch ở miền Nam.


Ngày nay nếu chúng ta buộc phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì việc vận dụng mưu kế trong tác chiến vẫn rất cần thiết, có những thuận lợi mới nhưng cũng có những yêu cầu mới cao hơn.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai nếu xảy ra sẽ mang đầy đủ tính chất một cuộc chiến tranh hiện đại: quy mô không gian rộng lớn, nhịp độ tác chiến cao, sử dụng nhiều loại binh khí kỹ thuật mới có uy lực lớn, khả năng cơ động nhanh và độ chính xác cao, diễn biến tác chiến khẩn trương ác liệt. Trong cuộc chiến tranh ấy, nhân dân ta vẫn phải lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, vì vậy phải dựa trên nền tảng chiến tranh nhân dân và phát huy nghệ thuật mưu kế thì mới thắng được địch. Mặt khác, với thế trận quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân được thiết lập sẵn, chúng ta cũng có điều kiện thuận lợi để vận dụng mưu kế trong chiến tranh.


Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các quân đội hiện đại được trang bị những hệ thống chỉ huy tự động hóa, các phương tiện thông tin và trinh sát tối tân. Cuộc đấu tranh điện tử để nghi binh, đánh lừa đối phương sẽ diễn ra rất tinh vi, phức tạp. Song máy móc dù hiện đại đến đâu cũng chỉ giúp việc thu thập, xử lý thông tin để người chỉ huy hạ quyết tâm, lập kế hoạch nhanh và chính xác chứ không thể thay thế hoàn toàn tư duy sáng tạo của người chỉ huy. Cuộc chiến đấu vẫn là sự đọ mưu, đọ trí giữa những con người. Trong tác chiến hiện đại, tình huống sẽ diễn biến khẩn trương, phức tạp, đòi hỏi phải nắm bắt và xử lý hết sức nhanh chóng. Song như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "phải quyết đoán, phải dũng cảm, tiến đánh cho thật nhanh... Nhưng đánh thật nhanh không phải là hấp tấp vội vàng mà quên cả cơ mưu, phải vừa nhanh vừa có cơ mưu mới quyết định được thắng lợi"1 (Q. Th. "Phương pháp tác chiến", báo Cứu quốc, ngày 14 tháng 6 năm 1946).


Vận dụng nghệ thuật mưu kế trong tác chiến hiện đại đặt ra những yêu cầu rất cao đối với người chỉ huy không những về năng lực tư duy sáng tạo, tính quyết đoán, tài nghệ tổ chức chỉ huy tác chiến, mà cà về kiến thức khoa học kỹ thuật quân sự, nhất là những vấn đề khoa học kỹ thuật ứng dụng vào lỉnh vực chỉ huy bộ đội.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu xảy ra sẽ quyết liệt ngay từ đầu. Kẻ địch sẽ tìm mọi cách giành chủ động, bất ngờ và tập trung sức mạnh vào đòn đánh đầu tiên, đánh cả trước mặt và trong chiều sâu, khống chế vùng trời, vùng biển. Vì vậy, việc giữ và giành quyền chủ động tác chiến trong giai đoạn đầu chiến tranh là một yêu cầu bức thiết mà nghệ thuật mưu kế phải tìm mọi biện pháp sáng tạo để thực hiện cho được.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 10:04:30 pm
Chương III
THẾ VÀ THẾ TRẬN


Thế là một khái niệm quân sự đã được đề cập từ lâu trong các nền nghệ thuật quân sự phương Đông, song vẫn còn khá xa lạ đối với các nền nghệ thuật quân sự phương Tây. Tôn Tử (thế kỷ 6-5 trước Công nguyên), nhà lý luận quân sự nổi tiếng của Trung Quốc thời cổ đại, viết: "Khúc gỗ, hòn đá đặt vào chỗ bằng phẳng thì đứng im, đặt vào chỗ dốc thì lăn; hòn đá, khúc gỗ vuông thì nằm im, tròn thì lăn. Cho nên, người thiện chiến phải tạo nên cái thế giống như lăn hòn đá tròn từ trên núi cao 800 trượng xuống"1 (Binh pháp Tôn Tử, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 80).


Ở Việt Nam, do đặc điểm chiến tranh chống xâm lược thường phải lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nên việc nghiên cứu và vận dụng thế trong nghệ thuật quân sự để đánh thắng địch càng được quan tâm đặc biệt. Sách Binh thư yếu lược viết: "Người đánh giỏi vì có thế mà thắng"2 (Binh thư yếu lược, tr. 169, 172) và "Biết xem thế đất, biết lập thế quân, khéo dùng kỹ thuật, đánh không đâu là không lợi"3 (Binh thư yếu lược, tr. 169, 172).


Bàn về thế trong quân sự, Nguyễn Trãi đã có những nhận định thật sắc sảo. Trong thư gửi Vương Thông, chủ tưông quân Minh, ông viết: "Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi. Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chì trong khoảng trở bàn tay"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập). Trong thư gửi Lương Minh, phó tướng của Liễu Thăng, ông vạch rõ: "Nay các người đem quân đi sâu vào, chính là bị hãm vào thế trong miệng cọp, muốn tiến không được, muốn lui không xong. Còn ta thì nhân thế chẻ tre, sau khi chẻ được mấy đốt, cứ tọng lưỡi dao mà chẻ đi, thực không khó gì"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập).


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần phân tích về thế ta, thế địch. Ngay trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (tháng 6-1947), Người đã khẳng định: "Thế địch như lửa, thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa3 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 262). Trong kháng chiến chống Mỹ, nói chuyện với cán bộ cao cấp toàn quân (tháng 5-1969), Bác đã giải thích một cách giản dị, dễ hiểu về mối quan hệ giữa thế và lực: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam ở vào thế lợi thì lực nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực, ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều, được là nhờ cái thế của ta rất lợi"4 (Báo Quân đội nhân dân, ngày 23 tháng 5 năm 1969).


Vậy thế là gì? Nó có vị trí như thế nào trong nghệ thuật quân sự? Đó là điều cần được nghiên cứu công phu để có lời giải đáp đầy đủ và khoa học. Trong phạm vi cuốn sách này, chúng tôi mới đề cập được một vài khía cạnh.


Thế là một hiện tượng khách quan trong tự nhiên cũng như trong đời sống con người. Trong vật lý, thế năng là dạng năng lượng phát sinh do tác dụng qua lại của các vật, phụ thuộc vào vị trí của vật này so với vật kia. Đòn bẩy nhờ chuyển động trên một điểm tựa thích hợp mà có thể dùng một lực nhỏ cân bằng một lực lớn. Trong đời sống, ta thấy có thế võ, thế cờ, v.v...


Trong quân sự, từ lâu người ta đã thấy tác dụng của thế. Sách Binh thư yếu lược viết: "Địa thế ở trên núi cao lợi, xông đánh xuống thấp thì thắng"1 (Binh thư yếu lược, tr. 170). Trong tác chiến của không quân, giành trước độ cao so với đối phương luôn luôn là một điều kiện sống còn. Tất nhiên nghệ thuật quân sự không quan niệm thế chỉ phụ thuộc vào vị trí không gian của bên này so với bên kia.


Thế trong quân sự là tổng thể các mối quan hệ tạo thành điều kiện và xu thế vận động, phát triển của các bên tham chiến. Thế là kết quả của sự vận động tổng hợp của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan: số lượng, chất lượng bộ đội, hình thái bố trí lực lượng, cách đánh, kết quả tác chiến và sự chuyển biến so sánh lực lượng, trạng thái, tinh thần - tâm lý của hai bên tham chiến, địa hình, v.v... Thế không phải đứng im mà luôn luôn vận động. Lúc đầu hai bên tham chiến có thể ở thế cân bằng, nhưng trong quá trình phát triển, thế của bên này vận động ngược chiều với thế của bên kia. Bên này có thế phát triển thì bên kia ở vào thế suy thoái, bên này có thế chủ động thì bên kia ở vào thế bị động, v.v... Thế cũng có thể chuyển hóa đảo ngược: bên đang ở thế chủ động bỗng trở thành bị động; bên đang ở thế tiến công lại buộc phải chuyển sang thế phòng ngự.


Trong tác chiến, có thế chủ động và thế bị động, thế tiến công và thế phòng ngự, thế bao vây chia cắt và thế bị vây hãm, bị cô lập, thế phát triển và thế suy thoái, v.v... Tổng hợp các thế đó tạo thành thế mạnh và thế yếu, thế thắng và thế thua.


Thế không hình thành và phát triển một cách tự nhiên mà do nỗ lực của các bên tham chiến tạo ra. Lập thế ta, phá thế địch, giành thế lợi về mình, hãm đối phương vào thế bất lợi luôn luôn là mục tiêu hành động của mỗi bên trong quá trình tác chiến.


Thế có mối quan hệ mật thiết với lực lượng. Lực lượng là cơ sở vật chất của thế. Có lực lượng nhất định mới hình thành thế; lực lượng càng mạnh càng có khả năng tạo ra thế mạnh. Nhưng điều quan trọng là lực lượng ấy được bố trí, triển khai như thế nào, trên địa hình nào, hành động ra sao, cộng với các điều kiện khách quan và chủ quan của các bên tham chiến thì mới tạo ra thế. Và khi thế đã hình thành rồi, thì sức mạnh của lực lượng tác chiến sẽ có sự chuyển hóa về chất, như Nguyễn Trãi đã nói "mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn" hay ngược lại "mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy". Thực tiễn đã cho thấy, một phân đội nhỏ đặc công dựa vào sự giúp đỡ, bảo vệ của nhân dân, phát huy cao độ yếu tố chính trị - tinh thần và bản lĩnh chiến đấu, tạo được thế luồn sâu lót sát trong lòng đối phương thì khi tiến đánh một sân bay địch có thể đạt tới hiệu suất chiến đấu ngang với những binh đoàn không quân chiến lược.


Vì vậy trong nghệ thuật tác chiến phải luôn luôn coi trọng cả tạo lực và tạo thế. Hai mặt đó bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau hình thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng.

Với đặc điểm luôn luôn phải lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, nghệ thuật quân sự Việt Nam đánh giặc bằng cả lực và thế nhưng đặc biệt coi trọng việc lập thế ta, phá thế địch, đồng thời vận dụng sáng tạo mối quan hệ giữa thế và lực, để đưa cả lực và thế của ta ngày càng phát triển, làm cho thế và lực của địch ngày càng suy yếu.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 10:05:32 pm
Từ khái niệm về thế, chúng ta đi đến tìm hiểu khái niệm thế trận. Như trên đã nói, thế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó thế trận là một yếu tố rất cơ bản để tạo ra thế có lợi nhằm đánh bại đối phương, giành thắng lợi về mình.


Thế trận là hình thái bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường theo mưu kế và cách đánh đã lựa chọn, nhằm tạo thế có lợi để phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham chiến, giành thắng lợi trên chiến trường.


Thế trận không đứng yên mà vận động theo các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của việc đối chọi mưu kế và cách đánh giữa hai bên đối địch.

Có nhiều loại thế trận. Xét về quy mô tác chiến, có thế trận chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Xét về loại hình tác chiến, có thế trận tiến công, phản công và phòng ngự. Xét về hình thái bố trí lực lượng, có thế trận hình khối (thời cổ, trung đại), thế trận tuyến, thế trận cụm chiến đấu, thế trận cài xen, v.v... Mỗi loại được vận dụng trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau. Trong tác chiến cũng có khi vận dụng kết hợp nhiều loại thế trận.


Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, thế trận cài xen được vận dụng một cách rộng rãi vì nó tạo ra nhiều thế lợi trong hoàn cảnh lực lượng vũ trang tập trung của ta thường ít hơn địch. Thế trận cài xen đạt được tính chủ động, vững chắc, hiểm hóc, tiến có thể thắng, lui có thể giữ, có thể tiến công địch mọi nơi mọi lúc, cả phía trước mặt, và sau lưng, có thể đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, bao vây, chia cắt, cô lập từng bộ phận địch, buộc chúng phải bị động phân tán đối phó khắp nơi.


Thế trận cài xen chỉ xuất hiện trong điều kiện chiến tranh nhân dân phát triển cao, với ba thứ quân (quân chủ lực, quân địa phương và dân quân) đều vững mạnh. Trong ba lần kháng chiến chống Nguyên (thế kỷ XIII), các vua Trần và Trần Hưng Đạo đã lập và điều khiển thế trận cài xen rất tài giỏi. Địch đi đến đâu cũng bị quân của triều đình, quân các lộ và hương binh, thổ binh chặn đánh, khi chúng vượt qua rồi thì tiếp tục đánh phía sau lưng chúng, tạo thời cơ cho quân chủ lực tập trung đánh đòn quyết định ở nơi quyết định. Đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thế trận cài xen càng phát triển sâu rộng trên tất cả các địa bàn chiến lược. Sa vào thế trận đó, quân địch bị phân tán, dàn mỏng, ở đâu cõng bị đánh, chỗ nào cũng là mặt trận, ngay tại sào huyệt cũng không an toàn, thêm bao nhiêu quân cũng không đủ, khiến cho mâu thuẫn của chúng giữa tiến công và phòng ngự, giữa tập trung và phân tán, giữa cơ động và chiếm đóng... ngày càng trầm trọng, không phương cứu vãn. Về phía ta, thế trận cài xen tạo điều kiện cho ta giành quyền chủ động về chiến dịch, chiến lược, liên tục tiến công cả trước mặt và sau lưng địch, kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, thực hành mưu kế sâu hiểm, tập trung lực lượng giáng đòn quyết định trến những địa bàn then chốt. Thế trận cài xen là một đặc trưng tạo thành sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam.


Trong lịch sử, quân và dân ta trong điều kiện hoàn cảnh nào dó cũng có khi vận dụng thế trận tuyến, dải, kết hợp với thế trận cài xen. Trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077), Lý Thường Kiệt xây dựng phòng tuyến trên sông Như Nguyệt để chặn địch, đồng thời sử dụng các đội thổ binh đánh phía sau lưng chúng, tạo thời cơ chuyển từ phòng ngự sang phản công và tiến công đánh bại hoàn toàn quân địch. Lịch sử Việt Nam cũng chứng minh, nếu vận dụng thế trận tuyến đơn thuần thì tác chiến gặp khó khăn và không tránh khỏi thất bại. Để chống quân Minh xâm lược, Hồ Quý Ly cũng lập phòng tuyến với nhiều thành lũy kiên cố, với số quân và trang bị vũ khí không thua kém địch. Nhưng do nhà Hồ không được lòng dân, không thiết lập được thế trận cài xen của chiến tranh nhân dân kết hợp với thế trận tuyến, lại thực hành phòng ngự tiêu cực nên đã thất bại, để đất nước rơi vào tay giặc.


Trong chiến dịch, ta cũng vận dụng thế trận cài xen một cách phổ biến và có khi kết hợp với thế trận tuyên, dải. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta xây dựng thế trận tiến công tuyến vòng tròn, thực hành cách đánh vây lấn và đột phá lần lượt, đồng thời dùng những mũi thọc sâu cắt đứt sân bay địch, tạo ra thế trận cài xen rất lợi hại. Trong chiến dịch Quảng Trị xuân 1972, ở giai đoạn cuối ta cũng thiêt lập thế trận phòng ngự khu vực hình thành tuyến, kết hợp với thế trận cài xen.


Lập thế trận là một nghệ thuật, đòi hỏi tư duy sáng tạo của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy tác chiến. Đó không chỉ đơn giản là sắp xếp đội hình chiến đấu mà là tìm chọn các phương pháp bố trí, sử dụng lực lượng, các biện pháp hành động để với lực lượng sẵn có, tạo ra thê lợi nhất cho ta, bất lợi nhất cho địch khi bước vào chiến đấu, và trong quá trình tác chiến nhanh chóng chuyển hóa từ thế trận này sang thế trận khác với thế mới có lợi hơn. Vì vậy, lập thế trận phải dựa trên sự tính toán cân nhắc nhiều mặt: nhiệm vụ tác chiến, lực và thế, thế trận, sở trường và cách đánh của địch, của ta trên toàn cục cũng như trong phạm vi chiến trường, địa hình, thời tiết, v.v... từ đó tìm ra cách bố trí, sử dụng lực lượng thích hợp nhất, định ra các biện pháp để phát huy thế mạnh của ta, phá thế mạnh của địch. Quá trình lập thế trận bao hàm việc tạo thế, cài thế, phá thế để nắm quyền chủ động, đánh được địch ở cả trước mặt và sau lưng, bên sườn, điều động được địch đến nơi ta muốn, kìm được địch ở nơi cần kìm, đánh thắng địch trên hướng đã chọn.


Quá trình lập thế trận ta cũng là quá trình phá thế trận địch. Đó là các biện pháp hoạt động nhằm phá vỡ các mối liên kết trong hệ thống bố trí của địch, làm cho thế trận địch mất tính ổn định, liên hoàn, vững chắc, buộc chúng phải thay đổi thế bố trí, đang tập trung phải phân tán, đang có hệ thống thành bị cô lập, đang tiến công phải co cụm... bộc lộ sơ hở để ta đánh đòn quyết định vào những mục tiêu then chốt.


Thế trận có quan hệ mật thiết với mưu kế. Lập thế trận là để thực hiện mưu kế, thế trận hàm chứa mưu kế, đồng thời lại dùng mưu kế để lập thế trận và chuyển hóa thế trận. Thế trận chuyển hóa hàm chứa mưu kế mối, và mưu kế mới lại tạo ra thế trận mới... Quá trình đó tiếp diễn không ngừng cho đến khi giành thắng lợi hoàn toàn. Trần Hưng Đạo dùng mưu kéo địch vào vùng đồng bằng sông Hồng, vào thế trận cài xen để quần lộn đánh tiêu hao chúng, rồi chuyển hóa sang thế trận phản công, dùng khối chủ lực được bảo toàn giáng đòn quyết định. Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, ta dùng mưu phá thế tập trung khối chủ lực của địch, phân tán, dàn mỏng lực lượng cơ động của địch để lập thế trận tiêu diệt chúng ở Điện Biẽn Phủ. Xuân 1975, ta cũng dàn thế trận căng địch ra hai đầu để đánh trận mở đầu ở Tây Nguyên, từ đó làm đảo lộn hoàn toàn thế trận của địch, tạo thế phát triển đột biến cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam. Những ví dụ trên cho thấy vận dụng nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa mưu kế và thế trận là một yêu cầu rất cao trong tư duy nghệ thuật của người chỉ huy.


Thế trận chiến lược, chiến dịch hay chiến đấu cũng như thế trận tiến công, phản công hay phòng ngự có những điểm khác nhau về mục đích, tính chất, phạm vi... nhưng cũng có những yêu cầu chung cần nắm vững.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 10:06:22 pm
1. Thế trận phải kết họp được nhiều để tạo ra thế lợi tối đa

Yêu cầu cao nhất của việc lập thế trận là tạo được thế lợi tối đa để thực hành cách đánh đã lựa chọn, đạt tới mục tiêu tác chiến với hiệu quả cao. Muốn vậy thì thế trận phải đồng thời đạt được các thế bao vây, chia cắt, kìm hãm nhằm cô lập và tiêu diệt lực lượng chủ chốt của địch, làm cho thế trận của chúng rung chuyển, suy sụp. Muốn tạo được các thế đó phải dùng mưu phân tán, căng kéo địch ra nhiều hướng, nghi binh lừa địch, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên hướng và mục tiêu chủ yếu.


Vận dụng các biện pháp lập thế trận để đạt được lợi thế tối đa là phải tùy theo nhiệm vụ tác chiến, tình hình và điều kiện cụ thể về ta, về địch, về địa hình trên chiến trường. Trong tiến công, có thể có các giai đoạn tạo thế, giữ thế, phát triển thế. Trong phòng ngự có thể có các giai đoạn lập thế, giữ thế, chuyển thế. Trong phản công thì tạo thế và phát triển thế được thực hiện ngay từ đầu.


Lý Thường Kiệt dùng cách xuất kích sang đất địch phá sự chuẩn bị tiến công của chúng để giành thời gian xây dựng thế trận phòng thủ và phản công trên đất ta. Đó có thể coi là một hình thức tác chiến tạo thế. Trần Hưng Đạo dùng cách vừa chặn địch, vừa cơ động kéo địch vào sâu, tạo thế chia cắt, bao vây, kìm hãm tiêu hao địch rồi chớp thời cơ chuyển sang phản công chiến lược cũng là cách tạo thế, chuyển thế. Còn Quang Trung thì lập thế trận tiến công nhiều mũi, nhiều hướng đánh cùng một lúc vào toàn bộ đội hình chiến lược của địch, tạo nên thế bao vây chia cắt, vu hồi thọc sâu và thế tiêu diệt địch ngay từ đầu và trong suốt cuộc chiến, đạt được thế mạnh áp đảo và tốc độ phát triển rất cao. Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 cũng là những ví dụ sinh động về tạo thế và lập thế trận với các biện pháp căng kéo, phân tán, kìm hãm địch trên các hướng thứ yếu để tạo thế cô lập và tiêu diệt địch trên hướng chủ yếu, quyết định.


2. Thế trận phải vững chắc, cơ động, có thể chuyển hóa thuận lợi và mau lẹ

Quá trình tác chiến là quá trình thế trận vận động, chuyển hóa do kết quả đấu trí, đấu lực giữa hai bên tham chiến. Đố cũng là quá trình nảy sinh tình huống, có tình huống có thể dự kiến được, cũng có tình huống đột xuất không lường trước được. Do đó yêu cầu thế trận phải vững chắc, đồng thời phải cơ động, đáp ứng được sự chuyển biến mau lẹ của tình huống, cả tình huống thuận lợi và khó khăn, nhất là các tình huống đột biến.


Tính vững chắc của thế trận thể hiện ở sự liên kết về vị trí, chức năng giữa các bộ phận trong hệ thống, bảo đảm sự hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ của các lực lượng tham chiến. Sự liên kết đó tạo điều kiện cho mỗi lực lượng phát huy vai trò, chức năng của mình, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ thay thế lẫn nhau trong mọi tình huống.


Tính cơ động của thế trận thể hiện chủ yếu ở vị trí đứng chân của các khối chủ lực và đội dự bị, làm sao mỗi lực lượng vừa có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ trước mắt, vừa có điều kiện thuận lợi để cơ động thực hiện nhiệm vụ tiếp theo và ứng phó với các tình huống đột xuất có thể xảy ra. Thế trận còn phải bảo đảm kết hợp được các loại hình tác chiến (tiến công, phòng ngự, phản công) và mau lẹ chuyển hóa từ tiến công sang phòng ngự, từ phòng ngự sang phản công...


Thế trận chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là một điển hình về thế trận có tính vững chắc và cơ động cao. Đó là một thế trận liên hoàn cả ba vùng từ Bắc vào Nam với các binh đoàn chủ lực cơ động và đội dự bị chiến lược mạnh đứng chân trên các hướng chiến lược trọng yếu, kết hợp với các lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng chính trị của quần chúng trên một chiến trường được tố chức và chuẩn bị chu đáo. Thế trận đó cho phép vừa đánh địch trên diện rộng vừa tập trung được vào trọng điểm, có thể mở những chiến dịch tiến công vào những khu vực quan trọng nhất, có thể hình thành thế kìm hãm chia cắt, bao vây chiến lược, chiến dịch, đồng thời có thể cơ động tập trung lực lượng mau lẹ, chớp thời cơ đột biến, phát triển tiến công vào tận sào huyệt cuối cùng của địch.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay nếu xảy ra sẽ là một cuộc chiến tranh hiện đại, diễn biến khẩn trương phức tạp ngay từ đầu; trên đất liền và cả trên không, trên biển, trên chính diện và cả trong chiều sâu hậu phương ta. Vì vậy yêu cầu tính vững chắc và tính cơ động của thế trận phòng thủ phải rất cao, bảo đảm đánh địch cả trước mặt và phía sau lưng, cả trên bộ và trên vùng trời, vùng biển, có thê kết hợp chặt chẽ phòng ngự với tiến công và chuyển hóa mau lẹ sang thế trận phản công, đánh bại quân xâm lược. Chủ trương của Đảng ta xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh (thành phố) và huyện để tổ chức các hướng chiến dịch và hướng chiến lược chính là một biện pháp lớn để đáp ứng yêu cầu nói trên.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười Một, 2023, 10:09:03 pm
3. Thế trận cần hiểm hóc, phức tạp

Thế trận càng hiểm hóc, phức tạp thì càng tạo ra thế có lợi, tính vững chắc, cơ động càng cao, tính chủ động, bất ngờ và hiệu suất tác chiến càng lớn. Mặt khác, thế trận hiểm hóc, phức tạp bao nhiêu thì ngược lại tình huống tác chiến sẽ diễn ra giản đơn, xử trí dễ dàng bấy nhiêu, vì đã buộc được địch phải phân tán lực lượng và bị động đối phó.


Thế trận hiểm hóc, phức tạp là thế trận hàm chứa mưu sâu kế hiểm, tận dụng được các yếu tố địa hình, thời tiết, khắc phục khó khăn để đưa lực lượng của mình vào các hướng, khu vực hiểm yếu trong thế trận của địch, từ đó đạt được chủ động tối đa và bất ngờ tối đa trong tác chiến. Thế trận cài xen của chiến tranh nhân dân phát triển cao là một thế trận hiểm hóc, phức tạp như thiên la địa võng. Lực lượng của ta có ở khắp nơi, trước mặt, bên sườn, sau lưng và cả trong lòng địch, khiến chúng đi đâu cũng bị đánh, không ở đâu được an toàn, bị hết đòn bất ngờ này đến đòn bất ngờ khác.


Tính chất hiểm hóc phức tạp của thế trận còn thể hiện ở chỗ nó được thiết lập để thực hành cách đánh hiểm, đánh tiêu diệt. Đó là cách đánh nhằm vào lực lượng chủ chốt, vị trí then chốt, vào nơi hiểm yếu, nơi sơ hở của quân địch. Tiêu diệt được những lực lượng ấy, đánh vào những vị trí ấy thì sẽ làm rung chuyển toàn bộ thế trận của địch, buộc chúng phải phản ứng một cách lúng túng bị động, tạo điều kiện cho ta phát triển tiến công tiêu diệt địch, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


4. Thế trận phải đạt được tính thống nhất và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển giữa chiến lược, chiến dịch và chiến đấu

Trong tác chiến, thế trận chiến lược, chiến dịch và chiến đấu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, lập thế trận phải đạt được yêu cầu: thế trận chiến lược tạo điều kiện thuận lợi cho thế trận chiến dịch, thế trận chiến dịch tạo ra thế lợi cho chiến đấu và ngược lại. Sự tác động hai chiều đó diễn ra trong suốt quá trình tác chiến, làm cho thế trận chiến lược, chiến dịch và chiến đấu đều phát triển không ngừng, ngày càng tạo thêm những thế lợi mới.


Có thể thấy rõ điều này qua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy toàn thắng Xuán 1975. Thế trận chiến lược cài xen và căng địch ra hai đầu đã tạo ra thế lợi tối đa cho chiến dịch Tây Nguyên. Thế trận chiến dịch Tây Nguyên cắt rời Tây Nguyên với đồng bằng ven biển miền Trung và cô lập nam Tây Nguyên với bắc Tây Nguyên lại tạo ra thế rất lợi cho trận Buôn Ma Thuột. Ngược lại, thắng lợi Buôn Ma Thuột làm cho thế trận chiến dịch Tây Nguyên chuyển hóa mau lẹ, dẫn đến sự phát triển đột biến của thế trận chiến lược trên toàn miền Nam.


Trên đây là mấy yêu cầu chung của nghệ thuật lập thế trận, song vận dụng vào các loại hình tác chiến khác nhau, ở các quy mô khác nhau cũng có những đặc điểm riêng biệt.

Thế trận tiến công phải nhằm đáp ứng các yêu cầu của tiến công là: tập trung sức mạnh đột phá trên hướng chủ yếu, đánh tiêu diệt, cơ động nhanh, phát triển tiến công với nhịp độ cao... Thế trận phòng ngự thì phải đạt tới yêu cầu: vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu, liên tục phản kích kết hợp với các hành động tiến công khác và chuyển sang phản công nhanh và mạnh, v.v...


Lập thế trận chiến lược, chiến dịch và chiến đấu cũng có sự vận dụng khác nhau trong thực tế. Chiến đấu thường diễn ra trong không gian hẹp, thời gian ngắn, trên địa hình đã được xác định và ít có điều kiện để cải tạo, đội hình tác chiến của địch tương đối dày đặc nên điều kiện để ta vận dụng mưu kế và thiết lập thế trận để lừa địch, điều động địch có khó khăn. Vì vậy trong chiến đấu, nhất là trong tiến công quân địch phòng ngự có chuẩn bị sẵn, thường phải tập trung lực lượng ưu thế hơn địch gấp nhiều lần. Nghệ thuật lập thế trận thường phải nhằm bảo đảm đột phá nhanh, mạnh, kết hợp với vu hồi thọc sâu đánh vào nơi sơ hở nhưng có liên quan đến nơi hiểm yếu trong thế trận của địch. Tuy nhiên với một số loại hình tác chiến chiến thuật (như phục kích, tiến công vận động...), khi có thời gian và điều kiện chuẩn bị thì vẫn có thế vận dụng mưu kế và thế trận một cách liên hoàn để tiêu diệt địch, giành thắng lợi lớn. Các trận thủy chiến trên sông, Bạch Đằng của Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo, các trận Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng của nghĩa quân Lam Sơn, v.v... là những ví dụ cụ thể.


Tác chiến chiến dịch và chiến lược diễn ra trên không gian rộng với nhiều dạng địa hình khác nhau, thời gian dài hơn nên có điều kiện thuận lợi để vận dụng mưu kế, thiết lập thế trận và chuyển hóa thế trận. Ta có thể đưa lực lượng vào cài xen với địch, dùng mưu điều địch từ hướng này sang hướng khác, cô lập bộ phận này, giam chân bộ phận kia mà chỉ cần sử dụng một lực lượng không lớn, để tập trung lực lượng quan trọng đánh đòn hiểm, đòn quyết định vào nơi hiểm yếu, nơi sơ hở của địch. Chiến dịch là một chuỗi những trận chiến đấu đồng thời hay kế tiếp liên kết chặt chẽ và tác động lẫn nhau theo một ý định và kế hoạch thống nhất. Vì vậy nếu được tiến hành theo một trình tự thích hợp và một nghệ thuật điều hành tài giỏi thì sẽ tạo nên lực "cộng hưởng" rất lớn: trận này dẫn dắt sang trận khác, trận trước tạo thế tạo lực cho trận sau, đưa đến trận then chốt quyết định, giống như nhiều đợt sóng nhỏ góp lại thành một ngọn trào lớn. Sự tích tụ kết quả của chiến đấu biến thành sự bùng nổ chiến dịch và thế chiến dịch phát triển cao có thể dẫn đến sự phát triển đột biến về thế chiến lược.


Từ những vấn đề nêu trên, có thể tìm ra câu giải đáp cho một vấn  đề thực tiễn: vì sao trong chiến đấu thường phải tập trung ưu thế lực lượng gấp nhiều lần mới đánh thắng địch, còn về chiến dịch, chiến lược thì với lực lượng ngang bằng hoặc thậm chí ít hơn địch, ta vẫn có thể giành thắng lợi lớn. Ví dụ: trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975, lực lượng ta và địch lúc đầu ngang nhau (về bộ đội chủ lực, địch 1 - ta 1,03); trong chiến dịch Tây Nguyên, ta có ưu thế hơn địch một ít, nhưng trong trận mở màn Buôn Ma Thuột ta đã tập trung lực lượng ưu thế tuyệt đối so với địch (về bộ binh: 5,5/1; về xe tăng, thiết giáp: 1,2/1; về pháo lớn: 2,1/1). Về không quân, địch có ưu thế tuyệt đối nhưng ta có lực lượng phòng không để đối phó.


Chìa khóa của vấn đề là ở chỗ vận dụng nghệ thuật mưu kế, thế trận để làm cho địch mạnh mà hóa yếu, nhiều mà hóa ít, còn ta thì như Nguyễn Trãi đã nói: "sức dùng một nửa nhưng công được gấp đôi", tạo ra thời cơ có lợi để tập trung lực lượng ưu thế vào một điểm như "đem núi Thái Sơn đè lên quả trứng" đánh những trận như "sấm ran chớp giật, trúc chẻ tro bay", làm chuyển hóa từng bước so sánh lực lượng giữa ta và địch để đánh thắng chúng hoàn toàn. Trần Hưng Đạo cũng nói: "Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi trên không, dựng lên cuộc đời vô sự"1 (Binh thư yếu lược, tr. 45).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:50:37 am
Chương IV
TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG


Lực lượng tác chiến là cơ sở vật chất để vận dụng nghệ thuật tác chiến, là nhân tố cơ bản quyết định tiến trình và kết cục của tác chiến. Mưu kế hay, thế trậntốt, cách đánh giỏi còn phải do các lực lượng tác chiến có số lượng và chất lượng tương ứng thực hiện thì mối trở thành thắng lợi hiện thực.


Lực lượng tác chiến bao gồm những con người trong các tổ chức quân sự cùng với trang bị kỹ thuật và cơ sở vật chất để tác chiến và bảo đảm hoạt động tác chiến. Hiệu quả tác chiến đạt được đến đâu là do sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham chiến quyết định.


Sức mạnh chiến đấu là tổng hợp các nhân tố vật chất và tinh thần tạo thành năng lực thực hiện nhiệm vụ của các lực lượng tác chiến: số lượng, trạng thái tinh thần - tâm lý, trình độ chiến thuật kỹ thuật, bản lĩnh chiến đấu của bộ đội; số lượng, chất lượng vũ khí, kỹ thuật và vật chất bảo đảm cho tác chiến; cơ cấu tổ chức bộ đội, trình độ khoa học quân sự, năng lực tổ chức chỉ huy của cán bộ và cơ quan chỉ huy, v.v...


Sức mạnh chiến đấu là tiêu chuẩn cản bản để đánh giá so sánh lực lượng giữa hai bên đối chiến, là yếu tố trực tiếp quyết định thành bại của tác chiến. Quá trình tác chiến là quá trình đối chọi và chuyển hóa sức mạnh, bên nào phát huy được sức mạnh của mình, triệt tiêu hay làm suy giảm được sức mạnh của đối phương thì bên ấy giành chiến thắng, hiệu quả tác chiến chính là thước đo cuối cùng của sức mạnh chiếnđấu. Vì vậy, có thể nói tiêu điểm của nghệ thuật tác chiến là phát huy cao độ sức mạnh chiến đấu của lực lượng mình và tạo nên những đòn đánh đập tan sức mạnh của đối phương.


Bồi dưỡng, nâng cao sức mạnh chiến đấu cửa các lực lượng vũ trang là một quá trình xây dựng, rèn luyện lâu dài về mọi mặt: chính trị tư tưởng, tổ chức, kỷ luật, trang bị kỹ thuật, khoa học và nghệ thuật quân sự, xây dựng đội ngũ cán bộ, v.v... Khi bước vào tác chiến lại phải có nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng giỏi thì mới phát huy được sức mạnh chiến đấu sẵn có để giành thắng lợi trên chiến trường.


Tổ chức sử dụng lực lượng trong tác chiến là căn cứ vào nhiệm vụ, ý định tác chiến, tình hình địch-ta, địa hình và khả náng, sở trường của từng lực lượng mà xác định quy mô, hình thức tổ chức, phân bố lực lượng, quy định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, tạo lập các nguồn bổ sung, thay thế, v.v... Qua kinh nghiệm thực tiễn các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của dân tộc ta, tổ chức và sử dụng lực lượng trong tác chiến cần đáp ứng mấy yêu cầu chủ yếu sau đây:


1. Tổ chức, sử dụng lực lượng phải nhằm tạo thành sức mạnh tổng họp lớn nhất

Do đặc điểm các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta luôn luôn phải lấy ít địch nhiều, nên tác chiến chiến dịch và chiến lược thường diễn ra trong điều kiện lực lượng chủ lực ta không nhiều hơn mà chỉ ngang bằng hay thậm chí ít hơn địch. Vấn đề đặt ra là với lực lượng sẵn có và có thể huy động được, làm sao tạo thành sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch để đánh thắng chúng.


Trước hết phải dựa trên nền tảng chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh phối hợp tác chiến của ba thứ quân, của lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động. Có ba thứ quân hoạt động đều khắp và hỗ trợ lẫn nhau, mới bảo đảm giữ quyềnchủ động, tác chiến liên tục, dẻo dai, đánh được cả trước mặt và sau lưng địch, mới xây dựng được thế trận hiểm hóc, mới thực hiện được mưu kế lừa địch, điều địch, chia cắt phân tán địch để tập trung lực lượng chủ yếu vào nơi và lúc quyết định. Ông cha ta thời Lý - Trần đã biết kết hợp chặt chẽ tác chiến của quân triều đình, quân các lộ và hương binh, thổ binh ở làng xã. Kinh nghiệm hai cuộc kháng chiếnchống Pháp, chống Mỹ, và cả chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vừa qua cũng cho thấy: ở đâu, lúc nào chỉ có lực lượng chủ lực tác chiến đơn độc thì sẽ gặp khó khăn lớn. Chính vì vậy mà thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp (1948-1949), ta đã phải phân tán một phần bộ đội chủ lực vào vùng sau lưng địch, gây dựng cơ sở, xây dựng các lực lượng vũ trang địa phương, và đến khi các lực lượng này đã trưởng thành rồi mởi tập trung trở lại để phát triển chủ lực.


Một nét đặc sắc của lực lượng vũ trang nhân dân ta là tổ chức lực lượng đặc công. Với số lượng rất ít, trang bị vũ khí nhẹ, các đơn vị đặc công ta đã đạt hiệu suất chiến đấu rất cao, gây kinh hoàng và hỗn loạn trong hậu phương địch.


Trong chiến tranh hiện đại, việc tổ chức, sử dụng lực lượng tác chiến gồm ba thứ quân vẫn có ý nghĩa và tác dụng to lớn. Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc (1964-1972), chúng ta đã tổ chức và phát huy hiệu lực của hệ thống phòng không ba thứ quân, sử dụng mọi loại vũ khí từ máy bay phản lực siêu âm, tên lửa, pháo cao xạ đến súng máy, súng trường, hình thành một lưới lửa dày đặc, nhiều tầng, đánh địch mọi lúc, mọi nơi, ở mọi độ cao, vừa bảo đảm tác chiến tại chỗ rộng khắp, vừa tập trung được lực lượng đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn trên những địa bàn và mục tiêu trọng yếu. Các loại lực lượng đều đạt hiệu suất chiến đấu cao: trong tổng số 4.181 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc thì phòng không chủ lực bắn rơi 2.422 chiếc (57,9%); phòng không địa phương: 1.335 chiếc (31,9%);phòng không dân quân tựvệ: 424 chiếc (10,1%). Nếu tính hiệu suất chiến đấu của các loại vũ khí thì pháo cao xạ bắn rơi 2.459 chiếc (71%); tên lửa phòng không: 760 chiếc (18%); không quân tiêm kích: 305 chiếc (7%); súng mấy, súng trường: 157 chiếc (4%). Để đánh trả hải quân hiện đại của giặc Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc, chúng ta cũng đã huy động lực lượng của ba thứ quân đạt hiệu quả tác chiến khá cao. Trong tổng số 296 tàu địch bị bắn chìm, bắn hỏng thì thành tích cao nhất thuộc về pháo binh địa phương: 158 chiếc (53,3%); thành tích của pháo binh chủ lực là 112 chiếc (37,8%); của hải quân: 14 chiếc (4,6%); của không quân: 6 chiếc (4%)1 (Xem: Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tập 2, Nxb Quân độinhân dân, H. 1983). Qua những số liệu trên, ta thấy: không phải lúc nào lực lượng chủ lực và các binh khí, kỹ thuật hiện đại cũng đạt được hiệu suất chiến đấu cao nhất. Thực tế đó chứng minh hùng hồn rằng chỉ có phát huy được sức mạnh của ba thứ quân phối hợp tác chiến thì mới giải quyết được mâu thuẫn gay gắt phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy vũ khí kém đánh thắng kẻ địch được trang bị hiện đại hơn.


Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp còn là nghệ thuật kết hợp đúng đắn lực, thế và thời cơ. Một lực lượng tuy nhỏ nhưng tạo được thế lợi và sử dụng đúng thời cơ thì sẽ có sức mạnh rất lớn, đánh thắng được kẻ địch có số lượng đông hơn mình, có khi gấp nhiều lần. Chiến dịch đại phá quân Thanh, giải phóng Thăng Long (1789) của Quang Trung là một ví dụ tiêu biểu. Với 5 - 6 vạn quân chủ lực ở Phú Xuân và vài vạn quân tại Bắc Hà, tất cả chưa đầy 10 vạn, nhưng với thế ra quân chủ động, bất ngờ, thần tốc, táo bạo, tiến công vào đúng lúc quân địch đang chủ quan, kiêu ngạo và mải mê ăn tết, Quang Trung đã đánh một trận tiêu diệt gần 30 vạn quân xâm lược chỉ vẻn vẹn trong 5 ngày.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:51:11 am
2. Tập trung lực lượng tạo ưu thế sức mạnh ở nơi và lúc quyết định

Đây là một nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự được các nhà chỉ huy quân sự phát hiện và áp dụng từ lâu. Theo các nhà sử học quân sự, Ê-pa-mi-nông-đa, tướng Hy Lạp thời cổ đại là người đầu tiên vận dụng nguyên tắc này trong trận Lốc-tơ-ra (năm 371 trước Cồng nguyên).


Lịch sử quân sự Việt Nam cũng chứng minh: có tập trung được sức mạnh ưu thế vào nơi và lúc quyết định mới tạo nên những trận then chốt, những đòn đánh tiêu diệt làm đảo lộn thế trận của địch, xoay chuyển cục diện chiến trường và kết thúc chiến tranh thắng lợi. Vì vậy, kết hợp tác chiến rộng rãi của ba thứ quân với đòn tiêu diệt mãnh liệt của lực lượng chủ lực tập trung là một vấn đề mang tính truyền thốhg của nghệ thuật tác chiến Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi nêu phương châm chiến lược: "tránh giặc hãng, đánh giặc mệt, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh", nhưng ông cũng chủ trương "lây mạnh đánh yếu" (dĩ cường công nhược) về chiến thuật, dùng sức mạnh đập tan quân địch như "lấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim".


Để tạo ưu thế sức mạnh ở nơi và lúc quyết định, như trên đã nói, phải dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân và vận dụng mưu kế lừa địch, điều địch, phân tán chia cắt, đánh nhỏ, đánh hiểm ở sau lưng địch, tạo điều kiện tập trung lực lượng chủ lực mạnh trên hướng và mục tiêu chủ yếu. Trong những trận then chốt, đặc biệt là những trận tiến công quân địch phòng ngự công sự vững chắc, để bảo đảm chắc thắng, đánh nhanh diệt gọn, thường phải tập trung lực lượng ưu thế gấp ba, gấp năm lần địch và có khi hơn nữa. Mở màn chiến dịch Biên Giới (1950), ta sử dụng 2 trung đoàn bộ binh và 13 khẩu sơn pháo để tiến công cụm cứ điểm Đông Khê do 2 đại đội lê dương, một trung đội ngụy với hai khẩu pháo trấn giữ, tạo ưu thế về bộ binh gấp gần 9 lần, về pháo binh gấp 6,5 lần. Trongchiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng của ta có 11 trung đoàn bộ binh, 60 khẩu pháo (kể cả cối 120 ly), còn địch có 17 tiểu đoàn bộ binh, hơn 40 khẩu pháo; như vậy,về bộ binh ta gấp gần 2 lần, về pháo binh gần 1,5 lần. Riêng trong trận Him Lam mở màn chiến dịch, ta sử dụng 2 trung đoàn (18 đại đội bộ binh để đánh 5 đại đội địch (gấp 3,5 lần). Trong trận Buôn Ma Thuột mờ đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975, ta cũng tập trung lực lượng ưu thế tuyệt đối: về bộ binh 5,5/1, về pháo lớn 2,1/1, sốlượng xe tăng thiết giáp cũng trội hơn địch.


Tuy nhiên trong một số loại hình tác chiến (như phục kích, đánh vận dộng...), lợi dụng được địa thế có lợi và bằng nghệ thuật mưu kế, thế trận tài giỏi, ta vẫn có thể dùng số quân hơn địch không nhiều, thậm chí ngang bằng hoặc ít hơn nhưng có chất lượng cao để tạo ưu thế sức mạnh, đánh những trận then chốt quyết định. Trong trận Chi Lăng, nghĩa quân Lam Sơn chỉ dùng một vạn quân tinh nhuệ "phục binh giữ hiểm" đã "đập nát tiền phong" địch gồm 1 vạn quân do tên chủ soái Liễu Thăng trực tiếp chỉ huy. Còn trong trận Tốt Động - Chúc Động, nghĩa quân Lam Sơn cũng chỉ có khoảng 1 vạn người đã đánh một trận tiêu diệt xuất sắc "như đê vỡ kiến trôi, như gió tung lá rụng" giết tại trận gần 5 vạn tên địch, bắt sống trên 1 vạn tên.


Những ví dụ trên cho thấy quan điểm tạo ưu thế sức mạnh của nghệ thuật tác chiến Việt Nam không phải là "lấy thịt đè người" mà là sử dụng lực lượng một cách hợp lý, tối ưu, khi cần thiết có thể "dùng mười chọi một" tại điểm quyết định, nhưng nói chung hết sức chú trọng lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, tận dụng mọi điều kiện khách quan, chủ quan có lợi, phát huy cao độ tài năng của chỉ huy và bản lĩnh chiến đấu của bộ đội để chỉ dùng một lực lượng tương đối ít vẫn đạt được sức mạnh cần thiết cho chiến thắng.


Để tạo sức mạnh ưu thế, về hình thức tổ chức lực lượng, kinh nghiệm lịch sử cho thấy ở những bước ngoặt quyết địnhcủa chiến tranh, phải tổ chức các tập đoàn chiến lược và chiến dịch đứng chân trên các địa bàn trọng yếu, hình thành những quả đấm mạnh tiến công đồng thời hay kế tiếp nhau trên các hướng chiến lược quan trọng. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai, sau khi dùng chiến tranh nhân dân quần lộn với địch ở đồng bằng sông Hồng, với chủ lực được bảo toàn ta đã tổ chức thành hai tập đoàn chiến lược: một tập đoàn của Trần Hưng Đạo ở Hải Đông từ phía bắc đánh xuống Thăng Long; tập đoàn thứ hai của các vua Trần từ Thanh Hóa đánh lên Trường Yên - Thiên Trường, phối hợp phản công quét sạch 50 vạn giặc Nguyên xâm lược. Trong Đông Xuân 1953-1954, ta đã tập trung lực lượng chủ lực lập thành một tập đoàn chiến lược để mở chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng không đủ sức tổ chức một tập đoàn chiến lược thứ hai để tiến công đồng thời hay kê tiếp trên một hướng khác. Đến mùa Xuân 1975, ta đã thành lập được hai tập đoàn chiến lược đứng chân ở hai đầu nam, bắc và một tập đoàn chiến dịch mạnh đứng ở giữa trận tuyến địch, nên đã mở được ba đòn chiến lược gối đầu và kế tiếp nhau, giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:52:04 am
3. Tổ chức đội dự bị mạnh, bố trí đúng chỗ, sử dụng đúng thời cơ

Tác chiến là quá trình đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa ta và địch, nên diễn biến thường rát khẩn trương, phức tạp, với nhiều tình huống đột biến. Người chỉ huy và cơ quan chỉ huy có thể dự kiến được những tình huống chính sẽ xảy ra, nhưng không thể hoàn toàn loại trừ những tình huống ngẫu nhiên, đột xuất. Tổ chức đội dự bị là để sẵn sàng ứng phó với các tình huống đã dự kiến hoặc nảy sinh bất ngờ cũng như để tăng thêm sức mạnh trong giai đoạn tác chiến quyết định. Quy mô tổ chức và thành phần của đội dự bị là do tình hình và nhiệm vụ tác chiến quy định, song nói chung phải bảo đảmcó đủ sức mạnh và khả năng cơ động để giải quyết được những tình huống then chốt của tác chiến.


Vị trí đứng chán trong thế trận và thời cơ hành động là nhủng yếu tố quyết định hiệu lực tác chiến của đội dự bị. Cần bố trí đội dự bị trên địa bàn có thể cơ động thuận lợi ra nhiều hướng, sẵn sàng đảm nhận được những nhiệm vụ khác nhau trong các tình huống khác nhau. Đội dự bị phải giữ được bí mật lực lượng và thế bố trí để khi bước vào hành động, tạo được bất ngờ lớn đối với địch. Việc sử dụng đội dự bị là tùy theo diễn biến của tác chiến và phương án đã định trước, nhưng nói chung khi đã sử dụng là phải sử dụng tập trung, đúng thời cơ, bảo đảm chắc thắng.


Một ví dụ: Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, Sư đoàn 320 là đội dự bị chiến dịch được bố trí ở phía tây đường 14, tây bắc Buôn Ma Thuột. Từ vị trí này, sư đoàn vừa có thể đánh chận địch từ Plây Cu xuống cứu viện cho Buôn Ma Thuột, cắt đứt đường 14, vừa có thể kịp thời tăng cường cho lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột nếu gặp khó khăn, vừa sẵn sàng cơ động theo đường ngắn nhất để tiêu diệt địch trên đường 7 nếu chúng rút chạy khỏi Tây Nguyên. Sư đoàn đã làm tốt việc giữ bí mật lực lượng, khi bước vào tác chiến đã nhanh chóng tiến công diệt địch trên đường 14 và kịp thời đuổi đánh địch rút chạy trên đường 7, góp phần quan trọng vào chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng.


Ngoài việc tổ chức sẵn lực lượng dự bị, trong quá trình tác chiến có thể tổ chức đội dự bị mới. Cũng trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, Sư đoàn 10 sau khi đánh xong Đức Lập đã được chuyển thành đội dự bị và được sử dụng đánh phản đột kích của sư đoàn 23 địch.


4. Phát huy mạnh mẽ uy lực của vũ khí, trang bị kỹ thuật

Con người và vũ khí là hai nhân tố cơ bản tạo thành sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Trong đó con người là nhân tố quyết định nhất, nhưng vũ khí, trang bị kỹ thuậtcũng là nhân tố rất quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến cơ cấu tổ chức quân sự, đến quy mô và phương thức tác chiến. Thực tiễn đã cho thấy, nếu không có trang bị vũ khí đến một trình độ nhất định, chúng ta đã không thể tổ chức được các tập đoàn tác chiến để tiến hành các chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn như trong Đông Xuân 1953-1954 và mùa Xuân năm 1975. Vì vậy, chăm lo tăng cường, cải tiến và sử dụng tốt nhằm phát huy mạnh mẽ uy lực của vũ khí trang bị trong tác chiến là một nội dung quan trọng của nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng.


Trong lịch sử quân sự Việt Nam, ông cha ta đánh giặc bằng sức mạnh của toàn dân đoàn kết, bằng tài thao lược, quân đội dũng cảm thiện chiến và cả bằng những vũ khí lợi hại. Thời Âu Lạc có nỏ cứng, có mũi tên đồng. Thời nhà Lý, ngoài cung nỏ giáo mác, còn có máy phóng đá. Thời nhà Trần đã có kỹ thuật đúc đồng, làm thuốc nổ. Thời nhà Hồ đã chế tạo và sản xuất súng thần cơ - một loại đại bác nhỏ, đã đóng chiến thuyền lớn hai tầng. Thời Quang Trung có súng thần công đặt trên lưng voi chiến, trên chiến thuyền, có súng hỏa hổ (ống phóng lửa), v.v...


Đến thời kỳ hiện đại, trước đối tượng tác chiến là những quân độiđế quốc vừa đông vừa có nhiều trang bị, vũ khí tối tân, chúng ta đã phát huy cao độ tinh thần dũng cảm và trí sáng tạo của quân và dân nhằm giải quyết nguồn vũ khí và phát huy hết uy lực của vũ khí có trong tay để tiêu diệt địch. Những ngày đầu chống Pháp, ta chưa có súng chống tăng thì dùng bom ba càng, chai xăng-crếp để đánh xe tăng địch. Pháo thiếu máy ngắm thì ngắm qua gò nòng, pháo xe kéo được tháo rời thành pháo khiêng vác, đưa vào gần, bắn thẳng để nâng cao độ chính xác và uy lực của đạn. Để tăng cường hỏa lực cho bộ đội tác chiến, ta đã khắc phục khó khăn, tự lực sản xuất các loại cối (kể cả cối cỡ lớn 185ly), SKZ, súng phóng bom, v.v... Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta dùng sức người kéo pháo lớn lên các trận địa ở độ cao trên 1.000m để bất ngờ giội bão lửa xuống đầu quân địch.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta đã sử dụng các loại pháo cối cỡ nhỏtổ chức thành các đội pháo chuyên trách đánh ở sau lưng địch rất lợi hại, đã biến pháo xe kéo thành pháo mang vác để đưa vào gần, bắn ngắm trực tiếp, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao. Chúng ta cũng nghiên cứu và sản xuất thành công các loại pháo phản lực mang vác có tầm bắn xa, uy lực lớn như ĐKB, A12... phù hợp với điều kiện tác chiến ở chiến trường miền Nam. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ta đã táo bạo sử dụng máy bay A37 vừa lấy được của địch để ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, khiến địch bị bất ngờ và càng thêm hoảng loạn. Những ví dụ trên cho thấy, trong điều kiện trang bị kém hơn địch nhưng với tinh thần dũng cảm, sáng tạo và nghệ thuật sử dụng tài giỏi, chúng ta vẫn có thể phát huy đến mức cao nhất hiệu lực của các vũ khí có trong tay để đánh thắng kẻ địch được trang bị hiện đại hơn.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai nếu xảy ra sẽ là một cuộc chiến tranh nhân dân với trình độ hiện đại ngày càng cao. Vì vậy xác định phương hướng tăng cường, cải tiến vũ khí trang bị phù hợp với điều kiện kinh tế, địa hình và cách đánh của ba thứ quân là một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân ta.


Trong tác chiến hiện đại, các nước có nền công nghiệp và kỹ thuật quân sự tiên tiến giải quyết mâu thuẫn giữa địa hình và cơ động bằng cách dùng máy bay và máy bay lên thẳng đánh sâu vào tung thâm của đối phương. Ta chưa có đủ điều kiện để giải quyết mâu thuẫn đó bằng kỹ thuật thì phải giải quyết bằng nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng: dùng bộ đội địa phương, du kích, đặc công, biệt động và một bộ phận chủ lực dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân, tác chiến ỏ hậu phương trận tuyến địch. Trên các hướng và địa bàn chiến lược trọng yếu, ngoài việc tổ chức ba thứ quân mạnh, cần thành lập các đơn vị bộ đội cơ động nhanh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:53:11 am
Chương V
CÁCH ĐÁNH


Cách đánh là biểu hiện tập trung sự sáng tạo và là cốt lõi của nghệ thuật tác chiến. Dù cho các bên tham chiến sử dụng những mưu kế gì để lừa nhau và bài binh bố trận như thế nào thì cuối cùng diễn biến và kết cục của tác chiến vẫn phụ thuộc vào kết quả các đòn đánh. Có đánh trúng, đánh hiểm, đánh mạnh mới tiêu diệt được lực lượng và đập tan sức mạnh của đối phương, mới điều khiển được sự phát triểntình huống theo dự kiến, mở ra thời cơ mong đợi, đạt được mục tiêu tác chiến đã đề ra. Vì vậy sau khi lập được mưu kế, bày được thế trận tốt rồi thì tinh lực và tâm huyết của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy phải dồn vào việc tìm chọn cách đánh hay.


Cách đánh (hay còn gọi là phương thức tác chiến, phương pháp tác chiến) là cách thức sử dụng lực lượng thực hiện các đòn đánh nhằm tiêu diệt địch, giành thắng lợi trong tác chiến. Tùy theo quy mô tác chiến (chiến lược, chiến dịch hay trận chiến đấu), loại hình tác chiến (tiến công, phòng ngự hay phản công), lực lượng tác chiến (bộ đội binh chủng hợp thành hay từng quân chủng, binh chủng...) mà có các cách đánh khác nhau. Nhưng nói chung cách đánh thường bao gồm: lựa chọn thực tiễn, đối tượng, hướng tác chiến chủ yếu và các hướng khác, xác định trình tự sử dụng lực lượng thực hiện các đòn đánh và đòn đánh then chốt, vận dụng các biện pháp, thủ đoạn tác chiến, v.v...


Lựa chọn cách đánh phải căn cứ vào nhiệm vụ tác chiến, lực lượng và khả năng tác chiến của địch, của ta, điều kiện địa hình, thời tiết... Cách đánh phải thể hiện được những nguyên tắc tác chiến cơ bản như: kiên quyết, chủ động, mưu trí linh hoạt, bí mật bất ngờ, tập trung ưu thế sức mạnh ở nơi và lúc quyết định, bảo đảm chu đáo các mặt, v.v... và phải đạt tới mấy yêu cầu chủ yếu sau đây:

a) Đánh trúng, đánh hiểm là đánh đúng những mục tiêu, đối tượng cần phải đánh, đánh trúng những lực lượng then chót, những vị trí hiểm yếu của địch mà nếu bị mất, thế và lực của địch sẽ bị suy yếu, thế trận của chúng bị đảo lộn và có nguy cơ rạn nứt, tan vỡ nhanh chóng. Đánh trúng,đánh hiểm thường đạt hiệu suất chiến đấu cao, có khi chỉ dùng ít lực lượng mà đem lại hiệu quả lớn. Nhưng cũng có khi phải tập trung sức mạnh áp đảo để phá vỡ khâu then chốt, hiểm yếu làm rung chuyển thế trận của địch, tạo tình huống đột biến và thời cơ thuận lợi, gây phản ứng dây chuyền làm sụp đổ toàn bộ sức mạnh của địch.


Để đánh trúng, đánh hiểm phải chọn mục tiêu, đối tượng, hướng đánh, thời cơ đúng, sử dụng lực lượng thích hợp và có nhiều biện pháp mưu trí, sáng tạo. Những mục tiêu hiểm yếu thường là: trung tâm đầu não chỉ huy, các lực lượng nòng cốt, lực lượng dự bị, các phương tiện chiến tranh chủ yếu, cơ sở hậu cần kỹ thuật quan trọng của địch, các đầu mối giao thông trọng yếu, v.v... Đó là những mục tiêu có quan hệ sống còn đến tính ổn định, liên hoàn, vững chắc và khả năng tác chiến của địch nên thường được chúng bố trí cẩn mật và bảo vệ chu đáo. Vì vậy để đánh vào những mục tiêu hiểm yếu đó, phải sử dụng những lực lượng ưu tú và đủ mạnh, có khi được tổ chức và huấn luyện đặc biệt, đồng thời phải dùng mưu lừa địch, buộc chúng bộc lộ sơ hở, ta tạo được bất ngờ tốì đa và chủ động tối đa trong tác chiến.


Đánh trúng đánh hiểm là một nét đặc sắc của nghệ thuật tác chiến Việt Nam mà ở đây chỉ có thể nêu một số ví dụ tiêu biểu. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai, sau khi dùng kế sách "lấy đoản binh chống trường trận", hãmđịch vào thế bị phân tán, chia cắt, lúng túng về chiến lược, bế tắc về chiến thuật, Trần Hưng Đạo chuyển sang phản công tiêu diệt địch. Mở đầu cuộc phản công chiến lược, ông không đánh ngay vào đại bản doanh của Thoát Hoan ở Thăng Long mà chọn mục tiêu đầu tiên là đồn A Lỗ, xương sống của địch trên tuyến hành lang nối liền Trường Yên - Thiên Trường với Thăng Long, cắt đứt liên hệ giữa đạo quân Thoát Hoan ở Thăng Long và đạo quân Toa Đô ở phía nam. Trận mở màn này đã làm rung chuyển toàn bộ thế trận của địch, tạo thế và thời cơ thuận lợi cho ta giáng những đòn then chốt ở Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, đánh bại hoàn toàn 50 vạn quân Nguyên xâm lược. Đến cuộc kháng chiến lần thứ ba, sau khi vừa chặn đánh vừa cơ động và để cho địch vào được thành Thăng Long bỏ ngỏ, ta đã chọn đối tượng tiến công tiêu diệt là đoàn thuyền lương của giặc tại Vân Đồn và các đoàn vận chuyển của chúng theo đường bộ tại Nội Bàng, đây quân địch vào tình trạng lương không có ăn, sức không còn mà đánh, buộc phải rút quân về nước, tạo thời cơ cho ta đánh đòn quyết định trên sông Bạch Đằng. Đó là những đòn đánh trúng, đánh hiểm vào những mục tiêu, những thời điểm được lựa chọn rất chính xác nên đã nhanh chóng phá vỡ thế trận của địch, giành thắng lợi rất lớn.


Trong chiến dịch Biên Giới, đánh Đông Khê là một đòn hiểm làm rung chuyển hệ thống phòng thủ biên giới đông bắc của địch, tạo thời cơ cho ta đánh tiếp những trận then chốt tiêu diệt những lực lượng nòng cốt của địch. Còn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cách đánh vây lấn, thọc sâu của ta cũng là cách đánh hiểm, như sợi thòng lọng siết dần vào cổ họng địch và những lưỡi dao lách sâu vào tim gan chúng.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng có nhiều ví dụ hay về cách đánh trúng, đánh hiểm. Cuộc tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân, đưa chiến tranh vào tận sào huyệt địch, đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của địch là một đòn chiến lược táo bạo, bất ngờ và rất hiểm, làm đảo lộn thế chiến lượccủa địch, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang và thay đổi chiến lược chiến tranh. Trận Buôn Ma Thuột mở đầu chiến dịch Tây Nguyên trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 là một điển hình xuất sắc về đánh hiểm, đánh trúng huyệt, chỉ đột phá một điểm mà làm rung động toàn bộ, tạo phản ứng dây chuyền, dẫn đến làm sụp đổ hoàn toàn bộ máy quân sự của địch gồm hơn một triệu tên.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:54:16 am
b) Đánh tiêu diệt là một yêu cầu rất quan trọng của cách đánh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trừ diệt lực lượng của địch là điều kiện có thể quyết định thắng lợi. Đối với một người, làm thương tổn 10 ngón tay không đau đớn bằng cắt đứt hẳn 1 ngón tay. Về quân sự cũng vậy, đánh bại 10 sư đoàn không bằng trừ diệt 1 sư đoàn"1 (Dẫn theo: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chi Minh, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr. 111). Đánh tiêu diệt là phải diệt gọn bộ phận lớn quân địch gồm cả chỉ huy, bắt tù binh, thu vũ khí, đập tan tổ chức, đánh bại các thủ đoạn chiến thuật và biện pháp chiến lược chủ yếu của địch, khiến chúng mất hẳn sức chiến đấu và không thể khôi phục lại ngay được. Có đánh tiêu diệt mới làm thay đổi đột biến so sánh lực lượng trên chiến trường, đập tan ý chí chiến đấu của địch, tạo nên những bước ngoặt để phát triển tiến công hoặc để kết thúc chiến tranh thắng lợi.


Lịch sử quân sự Việt Nam chói lọi những chiến công của nghệ thuật đánh tiêu diệt về chiến dịch, chiến lược. Ngô Quyền chỉ bằng một đòn đánh tiêu diệt toàn bộ đạo binh thuyền của địch trên sông Bạch Đằng đã đập tan ý chí xâm lược của triều đình Nam Hán. Ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên của nhà Trần đểu được quyết định bằng những trận đánh tiêu diệt xuất sắc: Đông Bộ Đầu (1258), Chương Dương - Thăng Long, Tây Kêt - Hàm Tử (1285), Bạch Đằng (1288). Trong cuộc kháng chiến chống Minh, nghĩaquân Lam Sơn từ những lúc "lương cạn mấy tuần, quân không một lữ"1(Theo cách tính thời đó, một tuần là 10 ngày, một lữ gồm 500 quân) phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, tiến lên đánh những trận tiêu diệt như "sấm ran chớp giật, trúc chẻ tro bay" ở Bồ Đằng, Trà Long, Khả Lưu, Bố Ải, giáng những đòn như "đê vỡ kiến trôi, gió rung cây gãy" ở Ninh Kiều, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang, bẻ gãy hoàn toàn ý chí xâm lược của quân Minh, khiến cho Vương Thông còn trong tay hơn 10 vạn quân mà phải xin hàng để được về nước. Trận đại phá gần 30 vạn quân Thanh xâm lược, giải phóng Thăng Long của Quang Trung cũng là mẫu mực kiệt xuất về nghệ thuật đánh tiêu diệt.


Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ta cũng từ đánh tiêu hao, tiêu diệt nhỏ, tiến lên những chiến dịch đánh tiêu diệt quy mô lớn ở Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc... cuối cùngkết thúc thắng lợi bằng trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đánh dấu sự thất bại của từng chiến lược chiến tranh của địch là những đòn tiêu diệt của quân và dân ta. Các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài... đã góp phần quyết định đảnh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ; cuộc tiến công chiến lược xuân Mậu Thân 1968 làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của chúng; cuộc tiến công chiến lược xuân 1972 và trận "Điện Biên Phủ trên không" đạt hiệu suất chiến đấu cao (bắn rơi 34 máy bay B.52, 5 máy bay F. 111) làm lung lay đến tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri và rút khỏi Việt Nam. Cuối cùng bằng ba đòn tiêu diệt chiến lược kế tiếp nhau vào mùa Xuân 1975, chúng ta đã đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam.


Như vậy, trong chiến tranh chống xâm lược, có khi đánh tiêu diệt lớn diễn ra ngay từ đầu và kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn, nhưng cũng có khi (nhất là trong chiếntranh giải phóng) phải bắt đầu từ đánh tiêu hao, tiêu diệt nhỏ, tiến lên đánh tiêu diệt từ thấp đến cao, đánh bại từng chiến lược chiến tranh của địch, làm chuyển hóa từng bước so sánh lực lượng giữa ta và địch, cuối cùng đánh tiêu diệt lớn quân địch bằng những đòn chiến lược then chốt để kết thúc chiến tranh thắng lợi.


Giữa yêu cầu đánh tiêu diệt và đánh trúng, đánh hiểm có mối quan hệ qua lại chặt chẽ. Muốn thực hiện được đánh tiêu diệt thì phải đánh trúng, đánh hiểm. Ngược lại thực hiện được đánh tiêu diệt thì mới phát huy mạnh mẽ tác dụng của đòn đánh trúng, đánh hiểm, trong cuộc Tổng tiến côngchiến lược Xuân 1975, trận Buôn Ma Thuột là một đòn đánh trúng, đánh hiểm tạo tiền đề cho các đòn tiêu diệt lớn quân địch ở Tây Nguyên và tiếp đó trên toàn chiến trường miền Nam. Ngược lại, có thực hiện được đánh tiêu diệt địch ở Buôn Ma Thuột và quân địch phản kích sau đó thì tác dụng của đòn hiểm Buôn Ma Thuột mới được phát huy mạnh mẽ, tạo phản ứng dây chuyền làm sụp đổ toàn bộ thế trận của địch.


c) Để thực hiện được đánh trúng, đánh hiểm, đánh tiêu diệt thì một yêu cầu quan trọng là phải đánh táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Đánh táo bạo là vượt qua khó khăn, nguy hiểm, đánh vào nơi và bằng cách mà địch ít ngờ tới nhất. Đòn táo bạo, bất ngờ thường đem lại hiệu suất chiến đấu cao và đạt được yêu cầu đánh trúng, đánh hiểm, đánh tiêu diệt. Nhưng táo bạo không có nghĩa là phiêu lưu, mạo hiểm mà phải bảo đảm chắc thắng, giảm được tổn thất, hy sinh đến mức thấp nhất. Trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, quyết định tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ bằng cách đánh tiến công tập đoàn cứ điểm là một quyết định táo bạo, vượt quá sức tưởng tượng của bộ chỉ huy Pháp, khiến họ tin chắc sẽ "nghiền nát" chủ lực ta nếu ta dám mạo hiểm mơ cuộc tiến công, về cách đánh chiến dịch, quyết định hoãn cuộc tiến công chỉ vài giờ trước lúc nổ súng, chuyển từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" là một quyết định dũng cảm, chính xác của người chỉ huy để bảo đảm yêu cầu "đánh chắc thắng". Thực tiễn đó là một bài học sinh động về vận dụng đúng đắn yêu cầu táo bạo bất ngờ nhưng chắc thắng trong cách đánh của người chỉ huy.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:57:29 am
Để thực hiện những yêu cầu trên, phải vận dụng sáng tạo các biện pháp, thủ đoạn tác chiến phù hợp với điều kiện cụ thể về địch, về ta và địa hình, thời tiết... trên chiến trường. Từ thực tiễn lịch sử quân sự, có thể nêu lên một số biện pháp, thủ đoạn chính sau đây:

1. Căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt.

Thủ đoạn tác chiến này thường được áp dụng khi phải dùng lực lượng ít đánh quân địch có số lượng đông và đang còn sung sức. Đó là cách dùng mưu kéo địch ra nhiều nơi, chia cắt, cô lập các cụm quân của chúng làm cho lực lượng địch tuy đông mà phải dàn mỏng, phân tán, từ đó bộc lộ sơ hở, ta tập trung được lực lượng vào nơi và lúc có lợi để giáng những đòn then chốt, tiêu diệt một bộ phận quan trọng của chúng. Như sách Binh thư yếu lược đã viết: "Ta thì chụm mà địch thì chia; ta chụm làm một mà địch thì chia làm mười, như thế là lấy mười mà đánh một..."1 (Binh thư yếu lược, tr. 218). Đó cũng là cách triệt để cô lập đối tượng mà ta chọn để tiêu diệt với các bộ phận khác của địch, khiến cho chúng tuy còn lực lượng mà như bị trói chân trói tay, đành ngồi nhìn quân mình chịu chết mà không sao tiếp viện ứng cứu được.


Trong lịch sử quân sự Việt Nam, có thể kể ra nhiều ví dụ hay về việc sử dụng thủ đoạn này. Trong cả ba lần đánh Mông - Nguyên xâm lược, vua quan nhà Trần đều dùng cách vừa đánh chặn vừa cơ động căng chúng ra vùng đồng bằng sông Hồng, tạo thời cơ tập trung lực lượng phản công tiêu diệt địch bằng những trận then chốt quyết định: Đông Bộ Đầu,Chương Dương - Thăng Long, Tây Kết - Hàm Tử, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, v.v... Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, ta dùng cách phản tán khối chủ lực cơ động mà Na-va đã cố công xây dựng ra 5 hướng và giam chân chúng ở đó để tập trung lực lượng giáng đòn quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ. Quân địchở Điện Biên Phủ cũng bị ta trói chặt bằng cách cắt đứt đường tiếp viện, ứng cứu và rút chạy theo đường bộ vềhướng Thượng Lào và bóp nghẹt đường tiếp viện, tiếp tế bằng cầu hàng không của chúng. Trong cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968, ta tăng cường áp lực trên mặt trận đường 9, gây cho giới cầm quyền và chỉ huy quân sự Mỹ sự ám ảnh nặng nề về "một cái gì giống như Điện Biên Phủ" ở Khe Sanh, thu hút và kìm giữ ở đây trên 45.000 quân Mỹ để rồi bất ngờ mở cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt ở hầu khắp các đô thị miền Nam. Trong chiến dịch bắc Tây Nguyên xuân 1972, ta dùng cách nhử quân dù là lực lượng dự bị chiến dịch của địch ra phía tây bắc Kon Tum để tiêu diệt một bộ phận và giam chân chúng ở đó đồng thời cắt đứt đường tiếp viện, tiếp tế bằng đường bộ của địch từ đồng bằng lên Tây Nguyên và từ nam Tây Nguyên lên bắc Tây Nguyên, vây hãm, cô lập địch ở Đắc Tô, Tân Cảnh. Nên khi các căn cứ này bị ta tiến công tiêu diệt thì địch đành bó tay, không có cách nào ứng cứu. Cách đánh này cũng được vận dụng rất thành công trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975: về mặt chiến lược, căng địch ra hai đầu chiến tuyến để mở cuộc tiến công vào quãng giữa là địa bàn chiến lược Tây Nguyên; còn trong chiến dịch Tây Nguyên thì thực hành chia cắt vây hãm để trói chặt quân địch ở Buôn Ma Thuột mà tiêu diệt.


Như vậy, căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt là thủ đoạn tác chiến mang tính truyền thống của nghệ, thuật quân sự Việt Nam, được vận dụng khá phổ biến ở quy mô chiến lược, chiến dịch. Vận dụng thủ đoạn này thường phải dùng mưu lừa địch, điều địch, và mưu kế càng sâu thì hiệu quả càng lớn. Chính vì vậy mà tuy cùng một thủ đoạn tácchiến nhưng khi vận dụng thì thiên biến vạn hóa mỗi trận một khác, kẻ địch không biết đằng nào mà phòng, nên vẫn bị bất ngờ, vẫn phạm sai lẫm và thất bại.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:58:34 am
2. Kết hợp đánh trước một với đánh bên sườn và phía sau, hình thành thế bao vây tiêu diệt dịch.

Đây là thủ đoạn tác chiến được vận dụng rộng rãi trong nhiều nền nghệ thuật quân sự từ xưa đến nay, cả ở phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, trong các loại hình tác chiến tiến công, phản công và phòng ngự. Nó nhằm phân tán sức mạnh của đối phương, bảo đảm tập trung sức mạnh của mình vàohướng, mục tiêu chủ yếu được lựa chọn. Nó còn bảo đảm bao vây, chia cắt địch ra nhiều mảnh để lần lượt tiêu diệt từng bộ phận, không để cho chúng ứng cứu lẫn nhau hoặc rút chạy. Giỏi vận dụng thủ đoạn này thì bên ít quân vẫn có thể đánh thắng bên đông quân hơn và đạt hiệu suất chiến đấu cao.


Thời cổ đại, trong trận Lốc-tơ-ra (năm 371 trước Công nguyên), Ê-pa-mi-nông-đa lần đầu tiên từ bỏ lối đánh vỗ mặt, và chỉ dùng một ít lực lượng kiềm chế địch trên chính diện còn lực lượng chủ yếu thì tập trung thành quả đấm mạnh đánh vào sườn phải quân Xpác-tơ, nên với 7.000 quân đã tiêu diệt hoàn toàn 11.000 quân của đối phương. Trong trận Can (năm 216 trước Công nguyên) Ha-ni-ban chỉ có 5 vạn quân, bằng đòn đánh vào hai bên sườn và phía sau kết hợp với kìm giữ chính diện đã đánh bại hoàn toàn 7 vạn quân La Mã do Va-rôn chỉ huy. Trong thời kỳ cận đại, Na-pô-lê-ông Bô-na-pác cũng nổi tiếng về vận dụng thủ đoạn này mà điển hình là trận Au-xtec-lit1(Trong trận này, Na-pô-lê-ông với 73.000 quân đã đánh bại liên quân Nga - Áo có 86.000 người) năm 1805. Ông ta nói: "Khi phải đánh quân địch trội hơn về số lượng, tôi thường nhanh như chớp lao vào sườn địch ở đó, rồi nhân lúc địch đang lúng túng, lại dùng toàn bộ lực lượng đánh mạnh vào các điểm khác"1 (Theo: V.E.Xap-kin, Những nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 33).


Trong trận Xta-lin-grat cuối năm 1942, quân đội Xô-viết đã chặn đứng địch ở trước thành phố rồi dùng hai gọng kìm hợp vây tiêu diệt 33 vạn quân phát xít Hít-le, bắt sống thống chế Phôn Pao-luyt. Đây là một điển hình về nghệ thuật hợp vây hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh.


Ở nước ta, thủ đoạn này cũng được vận dụng một cách phổ biến mà ở đây chỉ có thể nêu một số ví dụ. Trong trận đại phá quân Thanh xâm lược, giải phóng Thăng Long (1789) trên đường hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc, Quang Trung bố trí lực lượng thành 5 đạo quân cùng một lúc tiến công từ nhiều hướng trên cả chính diện, bên sườn và phía sau khiến quân địch không kịp trở tay. Bằng cách ấy, với 10 vạn quân trong tay, chỉ trong 5 ngày, ông đã tiêu diệt gần hêt 30 vạn quân địch, kết thúc chiến tranh thắng lợi.


Trong kháng chiến chống Pháp, chiến dịch Hòa Bình là một ví dụ về kết hợp đánh địch trên mặt trận chính diện (Hòa Bình) và mặt trận sau lưng địch (trung du và đồng bằng). Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 mở đầu bằng cuộc tiến công trên nhiều hướng: Tây Bắc, Trung - Hạ Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào rồi mới kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Trong kháng chiến chống Mỹ, cuộc tiến công chiến lược xuân 1972 được tiến hành đồng thời trên ba hướng: Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ta bắt đầu bằng đòn tiến công vào bên sườn thế trận chiến lược của địch rồi giáng các đòn gối đầu và kế tiếp trên chính diện và sau lưng địch. Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng là một ví dụ điển hình về tiến công địch bằng nhiều mũi, trên nhiều hướng, thực hiện bao vây toàndiện và thọc sâu chia cắt để tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch một cách nhanh gọn.


Sử dụng kết hợp ba thứ quân đánh địch trên nhiều hướng là một nét đặc sắc của nghệ thuật tác chiến Việt Nam. Bộ đội địa phương đánh quận lỵ, phá khu dồn dân...; du kích đánh tỉa, phá giao thông...; đặc công, biệt động đánh sân bay, sở chỉ huy, căn cứ hậu cần của địch...; bộ đội chủ lực tiêu diệt các mục tiêu then chốt; những trận đánh cố sự kết hợp chặt chẽ như vậy đều giành thắng lợi vang dội.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 09:59:44 am
3. Kết hợp đột phá (hoặc vây lấn) với thọc sâu, đưa lực lượng luồn sâu, thực hiện trong ngoài cùng đánh.

Thủ đoạn tác chiến này thường được vận dụng trong tiến công và phản công. Đó là sự kết hợp giữa lực lượng đột phá trước mặt và bên sườn với lực lượng thọc sâu (hay đã luồn sâu ém sẵn từ trước) đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy, lực lượng dự bị và các mục tiêu trọng yếu khác nằm sâu trong lòng địch, thực hiện trong ngoài cùng đánh, hoặc phối hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào. Thủ đoạn này nếu được vận dụng tốt thường gây bất ngờ lớn cho đối phương, đạt được yêu cầu đánh hiểm, đánh tiêu diệt và đem lại hiệu quả chiến đấu cao.


Trong cuộc tiến công tiêu diệt quân Thanh ở Thăng Long (1789), mũi thọc sâu từ hướng tây nam do Đô đốc Long chỉ huy1 (Có tài liệu nói mũi này do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy) đánh vào Khương Thượng rồi chọc thẳng vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long đã tỏ ra rất lợi hại, như một lưỡi đao nhọn đâm vào tim địch, phối hợp rất nhịp nhàng với mũi đột phá chính diện do Quang Trung trực tiếp chỉ huy đánh vào Ngọc Hồi, đồn quân mạnh nhất của địch ở mặt trận nam Thăng Long. Cách đánh này của Quang Trung là môt ví dụ về nghệ thuật "lấy chính để đánh, dùng kỳ để thắng". Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, vào giai đoạn cuối ta cũngkết hợp đột phá ở vòng ngoài với mũi thọc sâu, vào thẳng sở chỉ huy của tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968 là cách đánh luồn sáu vào trong lòng địch trên quy mô chiến lược. Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975 cũng là một vi dụ xuất sắc về kết hợp đột phá ở vòng ngoài với các mũi thọc sâu vào các trung tâm đầu não của địch trong nội thành Sài Gòn.


Vận dụng thủ đoạn này đòi hỏi người chỉ huy phải chọn mục tiêu, thời cơ đúng, tổ chức sử dụng lực lượng thích hợp, chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ. Lực lượng thọc sâu thường không nhiều nhưng phải đủ mạnh, tinh nhuệ và được trang bị tốt, phải hành động bất ngờ, táo bạo, hiệp đồng chặt chẽ vỏi các lực lượng trên các hướng khác. Đó có thể là lực lượng đặc công, biệt động và bộ đội địa phương, du kích bí mật luồn sâu lót sẵn trong lòng địch, hoặc là các lực lượng bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng, bộ đội đổ bộ đường không bằng nhảy dù, bằng máy bay lên thẳng... tiến hành thọc sâu đồng thời với đột phá hay sau khi đột phá ở vòng ngoài.


4. Kéo viện ra để tiêu diệt

Thủ đoạn này thường được vận dụng khi địch bố trí phòng ngự trong công sự vững chắc, ta có sở trường và kinh nghiệm tác chiến vận động trên địa hình. Có thể thực hiện bằng cách đánh điểm hay vây điểm để diệt viện.


Đó là cách tiến công hay vây hãm một điểm hiểm yếu trong thế trận địch, buộc chúng phải điều động quân ở một nơi khác đến ứng cứu, giải tỏa hoặc chiếm lại, ta lập thế trận tại nơi quân viện của địch tất phải qua để tiêu diệt chúng, sau đó có thể thừa thắng tiếp tục vây ép bức hàng hay tiêu diệt địch trong công sự. Cũng có khi kéo quân viện của địch ra để tiêu diệt và giam chân chúng ở nơi này, tạo điều kiện cho ta tiến công tiêu diệt chúng ở nơi khác.


Có thể lấy nhiều ví dụ trong lịch sử về vận dụng thủ đoạn này. Vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Minh, Lê Lợi -Nguyễn Trãi đã tiến hành vây thành (quân Vương Thông ở Đông Quan), diệt viện (quân Liễu Thăng và quân Mộc Thạnh) trên quy mô chiến lược, sau đó phát huy thắng lợi, tiếp tục vây ép, gọi hàng, buộc Vương Thông phải xin hàng rút quân về nước.


Chiến dịch Biên Giới (1950) là một ví dụ điển hình về cách đánh điểm (Đông Khê) diệt viện (quân Lơ Pa-giơ từ Thất Khê lên định chiếm lại Đông Khê và đón quân Sác-tông rút chạy khỏi Cao Bằng) đạt hiệu suất chiến đấu cao. Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 cũng có thể coi là một trận đánh điểm diệt viện trên quy mô chiến lược: đánh các điểm then chốt của địch ở tây Bắc (Lai Châu), Trunp - Hạ Lào, Tây Nguyên, buộc địch phải tung viện ra hòng chặn đứng cuộc tiến công của ta, tạo thời cơ cho ta tập trung diệt bộ phận quân viện chủ yếu của địch ở Điện Biên Phủ bằng một trận tiến công tập đoàn cứ điểm.


Trong kháng chiến chống Mỹ, lợi dụng quân Mỹ thường chủ quan, ỷ lại vào hỏa lực và cơ động, ta đã bày mưu nhử chúng ra các khu chiến đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt, như sư đoàn kỵ binh bay ở thung lũng I-a Đrăng, lữ đoàn dù thuộc sư đoàn dù 101 ở vùng sông Sa Thầy, lữ đoàn dù 173 và sư đoàn bộ binh 4 ở cao điểm 875 (Tây Nguyên), v.v...


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 28 Tháng Mười Một, 2023, 10:00:35 am
5. Tiến hành các đòn đột kíchđồng loạt hay gối đầu, kế tiếp nhau.

Đây là phương thức tác chiến được vận dụng trong tiến công (hoặc phản công) ở quy mô chiến lược, chiến dịch khi ta có đủ sức mạnh cả về thế và lực.

Tiến hành các đòn đột kích đồng loạt thường tạo được bất ngờ lớn, buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó trên nhiều hướng, dễ lâm vào thế lúng túng, rối loạn. Hiệu quả của cách tiến công đồng loạt phụ thuộc vào nghệ thuật sử dụng lực lượng, lựa chọn mục tiêu tiến công, tạo và nắm thờicơ hành động, phối hợp chiến trường và phát triển nhịp độ tiến công.


Tiến hành các đòn đột kích gối đàu hoặc kế tiếp trong một quy hoạch tổng thể là phương thức nhầm phát triển tiến công với nhịp độ ngày càng cao, cường độ ngày càng lớn, tạo phản ứng dây chuyền phá vỡ từng mảng thế trận địch, gây đột biến về chiến dịch, chiến lược. Hiệu quả của cách tiến công bằng các đòn gối đầu hoặc kê tiếp phụ thuộc vào nghệ thuật xây dựng thế trận, quy hoạch chiến lược, chiến dịch chính xác, bố trí triển khai lực lượng thích hợp trên các hướng chiến trường, lựa chọn mục tiêu đột kích đầu tiên và dự kiến các đòn tiếp theo, nắm thời cơkịp thời phát triển tiến công.


Có thể nêu ra nhiều ví dụ về vận dụng phương thức tác chiến nói trên trong lịch sử quân sự thế giới cũng như ở nước ta. Cuộc phản công của quân độiXô-viết ở Xta-lin-grat (1942) trong chiến tranh thế giới thứ hai được mở đầu bằng những đòn đột kích đồng loạt của ba phương diện quân sống Đôn, Tây Nam và Xta-lin-grat, kết thúc bằng việc bao vây tiêu diệt hoàn toàn cụm tập đoàn quân phát xít gồm gần 1,5 triệu tên. Chiến dịch công phá Béc-lin (1945) cũng được tiến hành bằng các đòn đột kích đồng loạt của ba phương diện quân Bê-lô-ru-xia 1, Bê-lô-ru-xia 2 và U-crai-na 1 vào sào huyệt cuối cùng của phát xít Đức.


Trong lịch sử Việt Nam, chiến dịch đại phá quân Thanh của Quang Trung là cuộc tiến công đồng loạt bằng 5 đạo quân kết hợp đòn đột phá chính diện với các mũi đột kích bên sườn, thọc sâu, vu hồi được thực hiện một cách bất ngờ, chớp nhoáng. Cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968 là một cuộc tiến công chiến lược với các đòn đột kích đổng loạt bất ngờ vào các mục tiêu trọng yêu của địch ở hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 được tiến hành bằng ba đòn tiến công chiến lược gôi đầu và kê tiếp trên toàn chiến trường miền Nam.


6. Phát huy cách đánh sáng tạo của các quân, binh chủng trong tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng.

Để thực hiện yêu cầu đánh trúng, đánh hiểm, đánh tiêu diệt, các quân binh chủng của lực lượng vũ trang ta đã phát huy nhiều cách đánh sảng tạo cả trong tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng.

Pháo binh có cách đánh độc lập của các đội pháo mang vác chuyên trách, bí mật luồn sâu vào hậu phương địch, đánh vào các sở chỉ huy, sân bay, trận địa pháo, căn cứ hậu cần... của chúng. Trong tác chiến hiệp đồng thì dùng cách tháo ra mang vác hay kéo đẩy vào sát trận địa địch để bắn gần, bắn ngắm trực tiếp đạt hiệu suất chiến đấu cao như ở Điện Biên Phủ hay trên chiến trường Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ.


Trong cách đánh của xe tăng, có lúc lợi dụng hoạt động nghi binh phía trước mặt địch, xe tăng cùng bộ binh tiến quân ban đêm luồn vào bên sườn trận địa địch để đột kích bất ngờ, giành thắng lợi lớn, như trong trận Đắc Tô - Tân Cảnh tháng 4 năm 1972. Lại có trường hợp lợi dụng đòn đánh trước của đặc công và pháo binh khiến địch hoang mang rối loạn, xe tăng bật đèn pha tiến nhanh vào trận địa địch, cùng bộ binh đánh chiếm các mục tiêu, như trong trận Buôn Ma Thuột mùa Xuân 1975.


Bộ đội đặc công có lúc tác chiến độc lập, tiêu diệt các mục tiêu hiểm yếu trong hậu phương địch, đánh rồi rút. Cũng có trường hợp chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, đánh và chiếm giữ các vị trí then chốt như sân bay, cầu... tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng phát triển tiến công.


Hải quân ta có cách đánh độc lập của các đơn vị tàu, các đội đặc công nước, đồng thời tác chiến hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trên bờ.

Các binh chủng của bộ đội phòng không và không quân có cách đánh sáng tạo trong tác chiến độc lập và hiệp đồng đã đánh bại không quân hiện đại của đế quốc Mỹ, đặc biệt đãhiệp đồng tác chiến tuyệt vời trong trận đập tan cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng tháng 12 năm 1972.
   Cách đánh là lĩnh vực hết sức phong phú mà ở đây chỉ có thể nêu lên một số dạng phổ biến

ược rút ra từ thực tiễn lịch sử. Cách đánh không phải và không thể là những công thức cố định, chết cứng, mà phải được vận dụng với tinh thần sáng tạo, luôn luôn phát triển, đổi mới phù hợp với thực tiễn đấu tranh vũ trang trong từng giai đoạn lịch sử. Cách đánh phát triển dưới ảnh hưởng của nhiêu nhân tố khác nhau, và như Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ, những nhân tố có tác động mang tính cách mạng trước hết là việc sử dụng những trang bị vũ khí mới và chất liệu người cầm súng chứ không phải là "sự sáng tạo tự do của trí tuệ" các tướng lĩnh thiên tài. Ảnh hưởng của người tướng giỏi chỉ là làm cho cách đánh phù hợp với trình độ trang bị vũ khí và chất lượng người lính mà thôi.


Trong lịch sử quân sự Việt Nam, cách đánh nảy sinh, phát triển và hoàn thiện trong thực tiễn chiến đấu, và nhiều khi là sản phẩm sáng tạo của những người trực tiếp chiến đấu trên chiến trường, như cách đánh đặc công ra đời trong cuộc kháng chiến chống Pháp và phát triển đến trình độ cao trong kháng chiến chống Mỹ, cách đánh vây lấn nảy sinh từ chiến dịch Điện Biên Phủ, sau này được vận dụng với tầm vóc lớn hơn ở Khe Sanh, v.v... Nghệ thuật vận dụng cách đánh của người chỉ huy là phải xuất phát từ những điều kiện thực tế về trang bị kỹ thuật, chất lượng bộ đội của ta, của địch, về môi trường tác chiến, phát huy trí tuệ tập thể của cán bộ, chiến sĩ, kịp thời tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, từ đó tìm ra được cách đánh hay nhất cho từng trận đánh, từng chiến dịch, khắc phục mọi biểu hiện máy móc, rập khuôn, chủ quan, xa rời thực tiễn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:25:06 am
Chương VI
TÌNH HUỐNG


Quá trình tác chiến diễn ra thông qua các tình huống. Sự đối chọi về mưu kế, thế trận và sức mạnh của các bên tham chiến cuối cùng biểu hiện ra ởtình huống. Việc phán đoán, xử trí tình huống đó như thế nào có liên quan mật thiết đến diễn biến và kết cục của tác chiến. Vì vậy, đây là một nội dung quan trọng của nghệ thuật chỉ huy.


Tình huống tác chiến là tổng thể những nhân tố và điều kiện xuất hiện ở một thời điểm nhất định, có tác động đến quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến của các bên tham chiến trên chiến trường. Nó tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho mỗi bên trong việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến.


Có nhiều loại tình huống. Xét về quy mô tác chiến, có tình huống chiến lược, chiến dịch, chiến đấu. Xét về phạm vi, mức độ, có tình huống chung tác động đến toàn bộ cuộc chiến và có tình huống riêng về từng mặt (tình huống trên mặt đất, trên không, trên biển...) hay tác động đến những bộ phận, lực lượng riêng biệt, v.v... Xét về tính chất, có tình huống thuận lợi hay khó khăn, tình huống có chủ định, có dự kiến hay ngẫu nhiên, đột xuất, v.v...


Tình huống nảy sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan: số lượng, hình thái bố trí, hành động và kết quả tác chiến của các bên tham chiến, những biến đổi về địa hình khí tượng - thủy văn, tình hình nhân dân trong khu vực tác chiến, v.v... Tình huống tác chiến (nhất là ở quy mô chiếnlược, chiến dịch) còn chịu ảnh hưởng của tình hình chính trị ngoại giao, của cục diện chiến tranh nói chung, của hoạt động tác chiến trên các chiến trường khác. Song động lực chủ yếu và trực tiếp tạo nên tình huống tác chiến là sự đấu trí, đấu lực giữa hai bên đối địch trên chiến trường.


Như vậy tình huống là một hiện tượng khách quan phản ánh kết quả đáu tranh đối kháng giữa các lực lượng đối địch trong một không gian, thời gian cụ thể. Tình huống có hai mặt: tất yếu và ngẫu nhiên.


Các nhà lý luận quân sự tư sản thường nhấn mạnh vai trò của ngẫu nhiên trong chiến tranh. Họ đổ lỗi cho ngẫu nhiên để biện minh cho những thất bại của các quân đội xâm lược. Khi lý giải nguyên nhân bại trận của quân đội Hít-le trong chiến tranh xâm lược Liên Xô (1941-1945), một số nhà sử học tư sản và tướng lĩnh phát xít cũ phân bua rằng chúng bị đánh bại không phải bởi quân đội và nhân dân Xô-viết anh hùng mà bởi "tướng Lầy lội" và "tướng Băng giá" của mùa đông Nga.


Với quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta cho rằng tình huống chiến đấu cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, đều nảy sinh và phát triển theo những quy luật khách quan nên mang tính tất yếu và đó là một chủ đạo của tình huõng. Con người có thể nhận thức được quy luật và xu hướng khách quan của các sự kiện, nắm được những yếu tố, điều kiện làm nảy sinh tình huống, từ đó có thể phán đoán, dự kiến và dùng nỗ lực chủ quan tác động tích cực vào quá trình khách quan để dẫn dắt tình huống phát triển theo hướng có lợi cho mình. Song chúng ta không phủ nhận vai trò quan trọng của ngẫu nhiên trong tác chiến. Bởi vì đây là cuộc xung đột mất còn giữa những lực lượng đối địch mà mỗi bên đểu tìm cách xoay chuyển tình thế có lợi cho mình và tiêu diệt đối phương, diễn ra trong một không gian rộng và chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan khác, nên có thể xảy ra những sự kiện bất ngờ mang tính xác suất mà ta khó dự kiếntrước được. Nhận thức đúng hai mặt tất yếu và ngẫu nhiên của tình huống là để phát huy cao độ tính năng động chủ quan trong việc phán đoán, điều khiển và tạo lập tình huống, đồng thời sẵn sàng về mọi mặt để ứng phó với những tình huống ngẫu nhiên đột xuất.


Quá trình người chỉ huy xác định quyết tâm và tổ chức thực hiện quyết tâm tác chiến chính là quá trình phân tích tổng hợp mọi thông tin cần thiết để đánh giá tình huống trước mắt, dự đoán những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, từ đó xác định mưu kế, thế trận, tổ chức lực lượng và cách đánh để loại trừ tình huống bất lợi, tạo lập tình huống có lợi, chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng đối phó với những tình huốngbất ngờ có thể xảy ra. Đây chính là tiêu điểm của cuộc đấu trí giữa hai bên đối chiến. Bên nào có tư duy sắc sảo, nhạy bén và nắm được nghệ thuật điều khiển tình huống thì bên ấy giành được quyền chủ động, dẫn dắt quá trình tác chiến phát triển đến thắng lợi.


Nghệ thuật điều khiển tình huống bao gồm một số nội dung chủ yếu sau đây:

1. Phán đoán tình huống.

Là việc người chỉ huy và cơ quan chỉ huy đánh giá, phân tích mọi yếu tố, điều kiện liên quan đến tác chiến để phán đoán các sự kiện, tình thế đang diễn ra hoặc cọ thể xảy ra trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến.


Phán đoán tình huống là công việc thường xuyên, liên tục của chỉ huy từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc tác chiến. Phán đoán tình huống sát, đúng là cơ sở để xử trí điều khiển tình huống chính xác, đạt hiệu quả cao. Ngược lại, phán đoán sai sẽ là bước đầu tiên kéo theo các sai lầm khác, và nếu không lập thời sửa chữa, thì sẽ rơi vào thế bị động, tổn thất và thậm chí thất bại. Vì vậy phán đoán tình huống là công việc khó khăn, hệ trọng, có liên quan đến thành bại và xương máu củabộ đội, đòi hỏi người chỉ huy phải có trách nhiệm cao, có năng lực tư duy sâu sắc và phương pháp tư duy đúng, có tác phong quyết đoán nhưng chín chắn, thận trọng. Mọi thái độ giản đơn, tùy tiện hay nông cạn hời hợt trong phán đoán tình huống đều dẫn đến những thiếu sót tai hại.


Song cũng cần thấy rằng người chỉ huy dù sáng suốt đến đâu cũng chỉ có thể dự đoán được những xu thế chính, những tình huống lớn có thể xảy ra trong một khoảng không gian, thời gian nào đó, còn hình thái, quy mô, giờ giấc và địa điểm cụ thể của tình huống thì không thể lường trước hết được. Vì vậy trong quá trình tác chiến, người chỉ huy cần bám sát mọi diễn biến trẽn chiến trường để kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung những phán đoán ban đầu của mình, đồng thời nhanh chóng phát hiện, đánh giá những tình huống xảy ra đột biến mà mình chưa dự kiến trước được. Nếu cứng nhắc trong suy nghĩ, thiếu cơ động linh hoạt trong điều hành thì khi vấp phải khó khăn dễ lâm vào lúng túng, bị động. Một ví dụ: trong chiến tranh thế giới thứ hai, người Anh cho rằng quân đội Nhật không thể đột nhập vào Xinh-ga-po (lúc đó thuộc Anh) từ hướng bắc vì hướng đó có 700km rừng rậm án ngữ, nên họ tập trung xây dựng hệ thống phòng thủ quay về hướng nam. Nhưng ngày 8 tháng 2 năm 1942, quân Nhật đã tiến công vào Xinh-ga-po từ phía bắc và quân Anh đã phải chịu thất bại do phán đoán thiếu chính xác và không chuẩn bị để đối phó với tình huống đột xuất này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:26:21 am
Trong phán đoán hình huống, người chỉ huy cần dựa vào những căn cứ chủ yếu sau đây:

a) Hiểu địch một cách toàn diện, khách quan, trên cơ sở những cứ liệu xác thực về số lượng, chất lượng, hình thái bố trí, khả năng tác chiến và khả năng cơ động của từng lực lượng nhất là lực lượng dự bị, khả năng tiếp viện, bổ sung, quy luật hoạt động của địch. Phải chú ý mọi hiện tượng, động thái của địch nhưng không dừng lại ở hiện tượng bên ngoài, cũng không bị những hiện tượng giả do địch tạo ra để đánhlừa ta, mà phải đi sâu phân tích bản chất, âm mưu, thủ đoạn, quy luật hành động và khả năng thực tế của chúng. Đặc biệt cần tìm hiểu năng lực, phong cách và cả cá tính của chỉ huy địch, bởi vì tình huống nảy sinh chủ yếu từ sự đối chọi mưu kế, thế trận, lực lượng, cách đánh... mà chỉ huy địch là người thiết kế và điều hành.


Trong thực tế không phải bao giờ người chỉ huy cũng có được những tin tức thật đầy đủ, chính xác về địch, và nhiều khi phải tiếp nhận những thông tin sơ lược, mơ hồ hoặc thậm chí sai lệch và trái ngược nhau. Vì vậy người chỉ huy cần có cái nhìn tinh tế, gạn lọc lấy những điểm mấu chốt nhất để phán đoán tình huống được sát đúng.


b) Hiểu rõ tình hình ta về mọi mặt: số lượng, chất lượng, trình độ huấn luyện, trạng thái tinh thần, trang bị kỹ thuật, khả năng tác chiến, chỗ mạnh, chỗ yếu... của từng lực lượng tham chiến.

c) Xem xét những yếu tố bên ngoài tác động đến tác chiến: tình hình đấu tranh chính trị, ngoại giao, cục diện chiến tranh nói chung và hình thái địch - ta trên các chiến trường khác, v.v...

d) Hiểu rõ những đặc điểm của môi trường tác chiến: tình hình nhân dân, địa hình, thời tiết... và những biến động có thể xảy ra trên địa bàn trong thời gian tác chiến.


Trên cơ sở phân tích, tổng hợp những cứ liệu về các vấn đề nói trên, người chỉ huy phán đoán, dự kiến mọi tình huống có thể xảy ra trước chiến đấu và trong quá trình chiến đấu. Đặc biệt cần phán đoán cho đúng ý định, mục tiêu của chỉ huy địch với mức cố gắng cao nhất mà chúng có thể đạt tới trong mối tương quan về thế và lực giữa ta và địch, trong những điều kiện cụ thể của môi trường tác chiến và điều kiện phối hợp với các hướng tác chiến khác. Trong phán đoán về địch, không được đánh giá thấp đi đến chủ quan, phiêu lưu, cũngkhông đánh giá cao hơn cái địch có trong thực tế và cần dự kiến cả những khả năng địch mắc sai lầm mà ta có thể lợi dụng để phát triển thắng lợi. Cũng như người đánh cờ phải tính trước nhiều nước, người chỉ huy cần suy xét để dự kiến được những tình huống kế tiếp nhau qua các bước phát triển của tác chiến: nếu ta đột phá vào một điểm nào đó thì địch sẽ có những khả năng gì để đối phó, ta sẽ xử trí với cách đối phó ấy như thế nào và địch tiếp tục phản ứng ra sao, v.v...


Trong chiến dịch Biên Giới (1950) ta chủ trương đánh chiếm Đông Khê nhằm kéo viện binh địch ra để tiêu diệt bằng tác chiến vận động. Bộ chỉ huy chiến dịch dự kiến sau khi địch mất Đông Khê, có thể xảy ra mấy tình huống sau:

- Địch ứng cứu hòng chiếm lại Đông Khê bằng đường bộ từ Lạng Sơn - Thất Khê lên và có thể bằng cả đường không (nhảy dù).

- Địch rút quân khỏi Cao Bằng, phối hợp với quân từ Thất Khẽ lên ứng cứu.

- Bị đánh mạnh trên mặt trận Cao - Lạng, có nhiều khả năng địch đánh lên Thái Nguyên hòng kéo chủ lực ta về, đỡ đòn cho hướng chính.

Trên cơ sở những phán đoán như trên, Bộ chỉ huy chiến dịch xác lập mưu kế, bày thế trận và bố trí lực lượng sẵn sàng đánh địch. Thực tế đã diễn ra về cơ bản đúng như dự kiến: hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông đã sa vào trận địa bày sẵn của ta và bị tiêu diệt gọn. Cuộc hành quân của địch lên Thái Nguyên cũng vấp phải sự đánh trả của các lực lượng vũ trang đã được bố trí sẵn, nên cũng nhanh chóng thất bại.


Cũng có những trường hợp trong phán đoán tình huống, ta chưa đủ yếu tố để khẳng định một cách chắc chắn, nên phải dùng biện pháp tác động buộc địch bộc lộ ý định và khả năng thực tế của chúng, tạo thêm căn cứ cho ta kết luận một cách chính xác. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, khi hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, Hội nghịBộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1974 đặt ra một vấn đề cần cân nhắc là nếu ta đánh lớn, liệu Mỹ có đưa quân trở lại miền Nam không? Tuy đã kết luận: Mỹ đã rút khỏi miền Nam thì khó có khả năng quay trở lại, nhưng Bộ Chính trị vẫn thấy rằng để đi đến kết luận cuối cùng về quyết tâm chiến lược, còn phải tiếp tục nghiên cứu tình hình kỹ hơn nữa. Đầu tháng 1 năm 1975, ta mở cuộc tiến công giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, và qua xem xét động thái của giới cầm quyền Mỹ - ngụy trước sự kiện này, Bộ Chính trị đã có cơ sở để khẳng định khả năng can thiệp trở lại của đế quốc Mỹ là rất hạn chế.


Trong phán đoán tình huống, chiều dày kiến thức và kinh nghiệm của người chỉ huy về những quy luật của đấu tranh vũ trang, về những nguyên tắc của nghệ thuật quân sự có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, kiến thức, kinh nghiệm dù sâu rộng đến đâu cũng chỉ có tác dụng gợi ý cho người chỉ huy những kết luận mang tính giả định mà nếu chỉ dựa vào đó thì dễ mắc sai lầm, vì điều kiện lịch sử mỗi lúc một khác, tình huống tác chiến không bao giờ lập lại y nguyên như cũ. Do đó để phán đoán tình huống chính xác, người chỉ huy phải dựa vào tư duy biện chứng, vận dụng thành thạo các phương pháp tư duy lô-gích: phân tích và tổng hợp, trừu tượng và khái quát, quy nạp và diễn dịch, v.v... Sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức, kinh nghiệm với phương pháp tư duy biện chứng sẽ giúp người chỉ huy nhanh chóng nắm bắt được những nét chủ yếu của tình huống và kết luận một cách mau lẹ, chính xác.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:28:13 am
2. Xử trí tình huống.

Là việc người chỉ huy dựa trên sự phán đoán, dự kiến tình huống, đề ra những giải pháp, phương án nhằm loại bỏ hoặc hạn chế các tình huống bất lợi, điều khiển và dẫn dắt tình huống phát triển có lợi nhất cho nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến. Đây là bước có ý nghĩa quyết định trong nghệ thuật chỉhuy tình huống mà sự đúng sai của nó có quan hệ trực tiếp đến thành bại của tác chiến và xương máu của bộ đội.


Xử trí tình huống đạt hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào ý chí, năng lực của chỉ huy và khả năng hành động của bộ đội trong việc thực hiện mấy yêu cầu chủ yếu sau đây:

a) Tuân thủ tính khách quan.

Tính khách quan là yêu cầu quan trọng đầu tiên để bào đảm người chỉ huy xử trí tình huống được chính xác. Nó đòi hòi mọi quyết định, giải pháp đề ra phải phù hợp với tình hình thực tế lúc diễn ra tình huống, dù thực tế đó có khác hoặc thậm chí trái ngược với tình huống và phương án được dự kiến từ trước. Muốn vậy, người chỉ huy không bao giờ được chủ quan, thỏa mãn với những hiểu biết đã có mà cho đến giờ phút chót, phải thu thập phân tích những thông tin xác thực, toàn diện và mới nhất có liên quan đến tác chiến, từ đó rà soát lại để kịp thời sửa đổi, điều chỉnh các quyết định của mình nếu thấy không còn phù hợp nữa. Người chỉ huy cần biết tư duy một cách độc lập, song cũng phải tôn trọng và phát huy trí tuệ của những người giúp việc và cấp dưới thuộc quyền. Xưa nay, các nhà chỉ huy lỗi lạc đều là những người biết nghe và chấp nhận những ý kiến đúng của cấp dưới. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên, vua Trần Thái Tôn đã nghe lời khuyên của Lê Phụ Trần, không tiếp tục quyết chiến "dốc túi đánh nước cuối cùng" với địch mà lánh đi, chờ thời cơ phản công. Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã chấp nhận ý kiến và kế hoạch của Nguyễn Chích trong việc chuyển hướng chiến lược đánh vào Nghệ An, tạo ra một bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Minh.


Trong xử trí tình huống, người chỉ huy phải dám quyết đoán với lý trí sáng suốt, với đầy đủ ý thức trách nhiệm và lòng dũng cảm. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, việc thay đổi quyết tâm từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" chỉ vài giờ trước lúc nổ súng trên toàn mặt trận là một quyết định đúng đắn, dũng cảm của tư lệnh chiếndịch sau khi kiểm tra cân nhắc kỹ những yếu tố mỗi nhất về địch, về ta. Quyết định đó đã bảo đảm cho chiến dịch chắc chắn giành thắng lợi và giảm bớt xương máu của bộ đội.


b) Tuân thủ tính thời gian.

Trong cuộc đấu trí đấu lực giữa ta và địch, bên nào cũng hết sức tranh thủ thời gian để hành động trước đối phương. Hành động trước cũng là cách giành chủ động, tạo thế lợi và tăng sức mạnh. Vì vậy, một yêu cầu nghiêm ngặt đối với việc xử trí tình huống là phải mau lẹ, kịp thời. Mọi sự phán đoán, xử trí tình huống dù chính xác đến đâu nhưpg chậm chạp, mất thời cơ thì đều trở thành vô hiệu, hoặc đạt hiệu quả rất thấp.


Tính thời gian trong xử trí tình huống được thể hiện ở việc hạ quyết tâm của người chỉ huy và tổ chức thực hiện quyết tâm đó. Phấn đấu để rút ngắn thời gian ở cả hai khâu đó là một vấn đề có ý nghĩa lớn của khoa học chỉ huy, đặc biệt là trong tác chiến hiện đại.


Trong chiến dịch Biên Giới (1950), sau khi ta đánh chiếm Đông Khê, tình huống diễn biến rất khẩn trương phức tạp. Sau khi mưu toan chiếm lại Đông Khê không thành, bộ chỉ huy Pháp quyết định cho binh đoàn Sac-tông rút khỏi Cao Bằng, và ra lệnh cho binh đoàn Lơ Pa-giơ ngừng việc chiếm lại Đông Khê để vòng qua hướng tây nam Đông Khê đón quân từ Cao Bằng rút về. Bộ chỉ huy ta đã phán đoán đúng ý định của địch và nhận rõ nếu để cho hai binh đoàn địch hội quân được với nhau thì rất khó tiêu diệt chúng, nên đã hạ quyết tâm nhanh chóng, chính xác: tranh thủ thời gian tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ trước khi binh đoàn Sác-tông về đến nơi; đồng thời tích cực ngăn chặn binh đoàn Sác-tông để sau khi tiêu diệt xong binh đoàn Lơ Pa-giơ thì chuyển sang tiêu diệt chúng. Quyết tâm đó được các đơn vị của ta quán triệt và thực hiện hết sức tích cực, khẩn trương nên đã đạt hiệu quả tác chiến rất cao: chỉ trong 7 ngày đêm (từ ngày 2 đến ngày 7 tháng 10 năm 1950) tiêu diệt gọn hai binh đoàn tinh nhuệ của quân Pháp.


c) Tuân thủ tính toàn cục.

Cùng với tính khách quan và tính thời gian, tính toàn cục bảo đảm sự đúng đắn và hiệu quả cao của việc xử trí tình huống.

Tính toàn cục đòi hỏi người chỉ huy khi hạ quyết tâm xử trí tình huống cẩn tính toán các mối quan hệ ảnh hưởng, tác động qua lại giữa hành động trước mắt và hành động tiêp sau, giùa trận này với trận khác, giữa các hướng, các mũi, các bộ phận, giữa chiến thuật, chiến dịch và chiến lược, và nhiều khi phải tính cả mối quan hệ với các mặt đấu tranh chính trị, kinh tế, ngoại giao trong nước và quốc tế, v.v...


Quyết định của bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn tập trung lực lượng chủ yếu tiêu diệt cánh quân cứu viện của Liễu Thảng trên hướng Lạng Sơn - Chi Lăng là đã tính đến toàn cục, đến mối quan hệ giữa đạo quân của Vương Thông ở Đông Quan với hai cánh quân viện của Liễu Thăng và Mộc Thạnh, có tính đến việc giải quyết toàn bộ cuộc chiến tranh.


Quyết định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta tập trung lực lượng tiêu diệt quân địch ỏ Điện Biên Phủ sau những đòn tạo thế chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954 là kết quả sự cân nhắc tình hình chiến trường cả nước, trong mối quan hệ với chiến trường Lào, Cam-pu-chia, cũng như tác động của chiến dịch đối với tình hình quân sự chính trị ở Đông Dương và cuộc đấu tranh ngoại giao của ta ở Hội nghị Giơ-ne-vơ.


Tính toàn cục bảo đảm cho quyết tâm xử trí tình huống của người chỉ huy đạt được độ chính xác cao và hiệu quả lớn. Nó thúc đẩy mối quan hệ tác động qua lại tích cực giữa các yếu tố của tác chiến, trận trước tạo tiền đề cho trận sau, địa bàn này tạo thuận lợi cho địa bàn khác, chiến đấu tạo thê cho chiến dịch, chiến dịch tạo thế cho chiến lược, đấu tranh vũ trang kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, ngoại giao... tất cả nhằm đạt tới mục tiêu chung giành thắng lợi. Ngược lại, nếu người chỉ huy hạn chế tầm nhìn trong phạm vi mụctiêu trước mắt của đơn vị mình, chiến trường mình thì xử trí tình huống dễ không chính xác, hiệu quả thấp, có khi còn gây trở ngại, tổn thất cho việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chung, ở đây có thể nhắc lại một kinh nghiệm đau xót thời kỳ cuối năm 1945, đầu năm 1946. Trước thái độ hống hách của quân đội Tưởng và thấy có cơ hội tìm nguồn vũ khí, có cán bộ chỉ huy ta dã quyết định tiến công một đơn vị là quân Tưởng để lấy vũ khí, trang bị cho mình. Bị lóa mắt bởi lợi ích nhỏ nhoi, đồng chí đó không nhìn thấy hậu quả tai hại của việc mình làm đối với toàn cục cuộc đấu tranh giữa ta với quân Tưởng, mà Bác Hồ và Trung ương Đảng đã mất bao công sức, kể cả phải dùng những biện pháp đau đớn để giải quyết1 (Xem: Báo Nhân dân chủ nhật, ngày 5 tháng 8 năm 1990).


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:30:42 am
d) Bảo đảm tính tối ưu.

Tính tối ưu đòi hỏi người chỉ huy khi xử trí tình huống phải lựa chọn được phương án hợp lý nhất, bảo đảm đạt được hiệu quả cao nhất với mức tổn thất, tiêu hao về người và vật chất thấp nhất.

Thực hiện đầy đủ yêu cầu của tính khách quan, tính thời gian và tính toàn cục là đã thực hiện được về cơ bản những yêu cầu của tính tối ưu, nhưng chưa đủ. Trong mỗi tình huống, người chỉ huy đều phải dự kiến nhiều phương án để cân nhắc lựa chọn lấy phương án tốt nhất. Trong đông - xuân 1950, để thực hiện nhiệm vụ giải phóng biên giới, Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra hai phương án: phương án 1 dự kiến tập trung lực lượng chủ yếu tiêu diệt địch ở Cao Bằng trước, sau đó đánh viện binh địch và tiếp tục tiêu diệt Đông Khê, Thất Khê. Phương án 2 là đánh Đông Khê trước để mở màn chiến dịch, sẵn sàng tiêu diệt quân địch ứng cứu cho Đông Khê, sau đó chuyển xuống đánh Thất Khê và cuối cùng tiêu diệt địch ở Cao Bằng, nếu địch rút chạy khỏi Cao Bằng thì tập trung lực lượng tiêu diệt chúng. Bộ chỉ huy chiến dịch đã chọn phương án 2 và thực tiễn đã chứng minh đó là phương án đạt được tính tối ưu, vì nó đáp ứng ở mức cao nhất mấy yêu cầu chính sau đây:


- Tập trung được sức mạnh đánh vào nơi tương đối yếu nhưng hiểm yếu của địch...

- Bảo đảm đánh thắng trận đầu, tạo thế tốt cho các đòn tiếp theo.

- Phù hợp với sở trường và khả năng tác chiến, khả năng cơ động của các lực lượng tham gia chiến dịch.

Trong thực tế, mỗi phương án đều có mặt thuận lợi và mặt khó khăn, và nhiều khi để thực hiện phương án tối ưu, chúng ta phải chấp nhận những khó khăn đòi hỏi phải có quyết tâm cao, cố gắng lớn để khắc phục. Như trong chiến dịchĐiện Biên Phủ, sau khi quyết định chọn phương án tối ưu là "đánh chắc tiến chắc" chúng ta đã phải bỏ nhiều công sức để khắc phục những khó khăn về thay đổi thế bố trí lực lượng, về xây dựng hệ thống trận địa, về vận chuyển, tiếp tế bảo đảm hậu cần cho chiến dịch và cả về công tác tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.


Trên đây là mấy yêu cầu chính để bảo đảm xử trí tình huống được chính xác vàđạt hiệu quả cao. Nắm vững những yêu cầu đó, người chỉ huy con phải biết sử dụng những biện pháp thích hợp và sáng tạo để giải quyết tình huống.


Như trên đã nói, có nhiều loại tình huống vàđối với mỗi loại, mỗi tình huống cụ thể, phải có những biện pháp xử trí riêng biệt. Ởđây, chỉ nêu một số biện pháp chính thường được vận dụng để xử trí với những tình huống tác chiến nảy sinh từ sựđấu trí, đấu lực giữa ta vàđịch trên chiến trường:


Gạn lọc tình huống.

Trong tác chiến, do kết quả sựđối chọi về mưu kế, thế trận và sức mạnh giữa ta vàđịch, có thể xuất hiện nhiều khả năng, nhiều tình huống khác nhau. Gạn lọc tình huống là việc người chỉ huyđánh giá, phân loại các tình huống đang diễn ra hoặc có khả năng sẽ xảy ra, xác định những tìnhhuống nào nguy hại cho việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến mà ta có thể dùng nỗ lực chủ quan để loại bỏ, ngăn chặn không cho chúng nảy sinh, hoặc nếu có xảy ra thì tác hại cũng bị hạn chế. Như vậy ta có thể tập trung tâm trí và sức lực để đối phó với những tình huống không thể loại bỏ được. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trước khi mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm, ta đã phối hợp với quân giải phóng Pa-thét Lào phá tan phòng tuyến sông Nậm Hu, loại trừ tình huống địch có thể tiếp viện bằng đường bộ cho Điện Biên Phủ, hoặc quân địch ở Điện Biên Phủ có thể rút chạy theo hướng Thượng Lào. Bước vào chiến dịch, ta dùng pháo binh bẳn phá sân bay Mường Thanh, loại trừ tình huống địch sử dụng sân bay tại chỗ để vận chuyển, tiếp tế và tác chiến bằng không quân, đồng thời bao vây, áp sát, chia cắt tập đoàn cứ điểm để hạn chế đến mức thấp nhất tình huống địch tiếp viện, tiếp tế bằng thả dù. Như vậy ta chỉ còn phải tập trung đối phó với một tình huống: quân địch ở Điện Biên Phủ chống trả bằng lực lượng của bản thân với sự chi viện và tiếp viện bằng đường không ngày càng hạn chế.


Dẫn dắt tình huống.

Là việc người chỉ huy dùng những biện pháp tác động để điều khiển tình huống đang xảy ra hoặc sẽ diễn ra theo hưáng mà mình mong muốn. Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo trong hai trận chiến thắng trên sông Bạch Đằng đều khôn khéo sử dụng những biện pháp như chặn đánh, khiêu chiến rồi giả thua rút chạy... để lái tình huống tác chiến diễn ra theo đúng ý định của ta: đưa đoàn binh thuyền của địch đến bãi cọc ngầm đúng vào lúc nước triều xuống thấp. Để đánh thắng trận Chi Lăng, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã thi hành một loạt biện pháp để dẫn dắt tình huống phát triển theo phương án mình đã chọn: đánh chặn và rút quân từng bưác từ Pha Lũy đến Ải Lưu, đồng thời gửi thư khuyên Liễu Thăng lui quân để kích thích thêm tính kiêu ngạo, chủ quan của hắn; dựng nhiều rào lũy từ Ải Lưu tới Chi Lăng để địch khỏi nghi ngờ ta mai phục; cho những độiquân nhỏ vừa đánh vừa lùi để nhử địch; phá cầu để chia cắt đội hình quân địch... Cách "đánh điểm diệt viện" (như trong chiến dịch Biên Giới 1950) củng là dùng biện pháp tác động vào điểm hiểm yếu của địch để kéo chúng ra khỏi công sự, dẫn đến tình huống ta mong muốn: đánh địch bằng tác chiến vận động trên địa hình dã ngoại.


Gạn lọc tình huống có khi cũng là biện pháp để dẫn dắt tình huống: loại trừ một số khả năng hành động của địch, buộc chúng chì còn khả năng hành động theo tình huống ta dự kiến. Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, để tạo thế cho trận mở màn Buôn Ma Thuột, ta cắt đường 19, đường 21, loại trừ tình huống quân địch từ đồng bằng ven biển lên ứng cứu cho Tây Nguyên bằng đường bộ, đồng thờibố trí lực lượng sẵn sàng đánh cắt đường 14 trước ngày nổ súng để loại trừ tình huống địch từ Plây Cu tiếp viện cho Buôn Ma Thuột. Địch chỉ còn cách ứng cứu bằng đường không nhưng khả năng đổ quân lớn bằng máy bay vận tải quân sự cũng bị ta tước bỏ bằng cách đánh chiếm sânbay Hòa Bình. Kết quả gạn lọc tình huống đó đã dẫn dắt đến tình huống ta dự kiến: sau khi mất Buôn Ma Thuột, địch chỉ có thể phản kích với lực lượng không lớn chở bằng máy bay lên thẳng và ta đã chuẩn bị sẵn lực lượng để tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:34:01 am
Tạo lập tình huống.

Là việc người chỉ huy chọn các biện pháp hành động để chủ động tạo ra tình huống buộc địch phải đối phó nhằm những mục đích như: làm thất bại hoặc gây trở ngại cho việc thực hiện ý đồ tác chiến của địch; buộc địch phải bộc lộ thế trận, ý định và thủ đoạn tác chiến, qua đó phát hiện sơ hở hoặc nơi hiểm yêu của địch để ta đánh đòn quyết định; đánh lạc hướng địch, kéo địch về hướng này để ta tiêu diệt chúng ở hướng khác, v.v...


Lý Thường Kiệt bất ngờxuất quân sang đất địch, triệt phá các căn cứ hậu cần và căn cứ xuất phát xâm lược của quânTống là tạo lập một tình huống buộc địch phải hoãn cuộc tiến công vào nước ta.

Trong Đông Xuân 1953-1954, ta tạo tình huốngtrước bằng cách mởhướng tiến quân lên Tây Bắc giải phóng Lai Châu, buộc địch phải phản ứng bằng cách cho quân nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ lập thành tập đoàn cứ điểm và đưa quân lên Thượng Lào, lập phòng tuyến sông Nậm Hu. Tiếp đó ta lại tạo thêm tình huống mới với cuộc tiến công ở Trung Lào rồi phát triển xuống Hạ Lào, buộc địch phải tiếp tục điều quân cơ động đến lập một tập đoàn cứ điểm mới ở Xê-nô (Xa-va-na-khet). Ta tạo tình huống tiếp theo: tiến công địch ở Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum, buộc địch phải ngừng cuộc tiến công ở Phú Yên để đưa quân lên tăng cường phòng thủ Plây Cu và nam Tây Nguyên. Tiếp đó lại xuất hiện một tình huống mới do ta tạo ra: tiến công phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu khiến địch lại phải rút quân dự bị cơ động chỉ còn khá mỏng manh để tăng cường phòng thủ kinh đô Luông Pha-băng. Đến đây toàn bộ thế trận địch đã bị phơi bày và lộ ra nơi hiểm yếu của chúng để ta tập trung lực lượng giáng đòn quyết định: Điện Biên Phủ.


Trong cuộc tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân xuân 1968, ta tăng cường sức ép ở khu vực Khe Sanh và nổ súng tiến công trên mặt trận đường 9, tạo một tình huống tác động mạnh mẽ đến tâm lý của giới cầm quyền và chỉ huy quân sự Mỹ, thu hút về đây một lực lượng lớn quân chiến đấu Mỹ, tạo điều kiện cho ta bất ngờ mở cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt ở hầu khắp các thành phố thị xã miền Nam.


Đối chọi tình huống.

Là việc người chỉ huy tạo lập một tình huống mới để đối chọi với một tình huống khác do địch gây ra, nhằm giành và giữ quyền chủ động, làm thất bại ý đồ tác chiến của địch và xoay chuyển tình thế có lợi cho ta. Đây là sự đấu mưu, đấu trí khẩn trương quyết liệt giữa hai bên tham chiến. Bên nàothông minh, sắc sảo hơn, có năng lực tổ chức, chỉ huy giỏi hơn và khả năng hành động tốt hơn thì bên ấy giành phần thắng.


Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai (1285), sau khi quân nhà Trần rút khỏi Thăng Long về Thiên Trường, Thoát Hoan cho quân từ Thăng Long tiến xuống Thiên Trường phối hợp với đạo quân Toa Đô từ Nghệ An - Thanh Hóa đánh lên Trường Yên, tạo ra tình huống kẹp chặt quân nhà Trần giữa hai gọng kìm. Đối chọi với tình huống này, Trần Hưng Đạo và các vua Trần đã cho đại quân rút khỏi Trường Yên - Thiên Trường theo đường biển, một bộ phận ngược lên hướng đông bắc chiếm lĩnh những địa bàn trọng yếu, còn đại bộ phận trở vào Thanh Hóa. Sự đối chọi tình huống sắc sảo ấy đã làm thất bại kế hoạch hợp vây chiến lược của địch và đảo ngược tình thế từ chỗ bị vây ép quay lại vây ép địch, từ hướng bắc xuống và từ hướng nam lên, tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi để tiến hành cuộc phản công chiến lược đánh bại hoàn toàn quân xâm lược.


Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, vào tháng 12 năm 1946, quân và dân ta đứng truớc một tình huống gay cấn: sau khi đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, thực dân Pháp gây hấn ở Hà Nội, liên tiếp gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta và dự định nổ súng đánh chiếm Hà Nội vào ngày 22 tháng 12. Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta và Bác Hồ đã có một quyết định đối chọi tình huống sáng suốt: phát động cả nước đứng lên kháng chiến vào đêm 19 tháng 12, giành quyền chủ động tiến công địch trước khi chúng kịp hành động.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa hơn 20 vạn quân Mỹ và quân chư hầu vào tham chiến ở miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta, hòng tạo ra tình huống thay đổi đột ngột so sánh lực lượng, đảo ngược cục diện chiến tranh, buộc quân và dân ta lui về phòng ngự và chỉ có thể đánh du kích bằng những đơn vị nhỏ. Với sự phán đoán tình huống chính xác: "Dù Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh,lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn", Trung ương Đảng ta quyết định tiếp tục phát triển thế chiến lược tiến công. Thực hiện quyết tâm đó, quân và dân ta đã đánh cho quân Mỹ những đòn phủ đầu đích đáng ở Núi Thành, Vạn Tường, Plây Me, Đất Cuốc, Bầu Bàng..., đồng thời phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, đánh địch bằngcác "vành đai diệt Mỹ" ở Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê, Củ Chi... Có thể nói đây là một sự đối chọi tình huống chiến lược mang đầy đủ tính cách mạng và tính khoa học.


Trong tác chiến, đối chọi tình huống gay gắt nhất là lúc địch tăng viện, ứng cứu, phản kích. Trong trận Xta-lin-grat cuối năm 1942, Bộ chỉ huy quân đội Xô-viết đã sử dụng đội dự bị mạnh đánh vào bên sườn và phía sau cụm quân Man-sten được phái đến cứu nguy cho đạo quân Pao-luyt, đập tan kế hoạch giải vây của chúng, buộc Pao-luyt phải đầu hàng.


Mùa Xuân 1975, khi địch sử dụng sư đoàn 23 đến ứng cứu cho Buôn Ma Thuột, ta đã kịp thời sử dụng đội dự bị mới được thành lập là Sư đoàn 10 để đánh bại địch phản kích. Còn trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1972, khi ta đánh vào thị xã Kon Tum, địch đã kịp thời tăng cường lực lượng của sư đoàn 23 để củng cố phòng ngự nhưng ta sử dụng trung đoàn 66 không hợp lý, nên trận đánh không thành công.


Trên đây là một số biện pháp chủ yếu trong nghệ thuật xử trí tình huống của người chỉ huy. Việc phân chia các loại biện pháp như trên chỉ có ý nghĩa tương đối, để tiện nghiên cứu, xem xét. Thật ra giữa các biện pháp đó, không có ranh giới thật rõ ràng, dứt khoát. Chúng có quan hệ qua lại chặt chẽ, được vận dụng đan xen vào nhau, kết hợp với nhau nhằm mục tiêu chung cuối cùng là điều khiển tình huống phát triển theo hướng có lợi nhất, tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến.


Nghệ thuật điều khiển tình huống có quan hệ khăng khít với nghệ thuật mưu kế, thế trận, sử dụng lực lượng và cách đánh, vì đó chính là những phương tiện trong tay người chỉhuy để điều khiển tình huống. Muốn gạn lọc, dẫn dắt tình huống, hoặc tạo lập, đối chọi tình huống thành công, người chỉ huy đều phải biết lập mưu lừa địch, điều địch, tạo thế ta, phá thế địch, bày thế trận vững chắc hiểm hóc, giỏi tổ chức sử dụng lực lượng và tìm chọn được cách đánh hay. Và nghệ thuật mưu kế, thế trận, tổ chức sử dụng lực lượng và cách đánh có hiệu quả cao đến đâu, cuối cùng phải được thể hiện ở kết quả điều khiển tình huống trên chiến trường.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:39:04 am
Chương VII
THỜI CƠ


Thời cơ là một yếu tố quan trọng trong mọi hoạt động của con người. Việc gì cũng vậy, khi đã có những điều kiện đầy đủ rồi thì làm đúng thời cơ sẽ đạt kết quả cao. Ngược lại làm không đúng thời cơ thì kết quả thấp hay thậm chí bị thất bại.


Đối với các cuộc đấu tranh xã hội gay go quyết liệt thì thời cơ càng có ý nghĩa to lớn. Chúng ta đã biết Mác, Ăng-ghen, Lênin coi trọng việc nắm thời cơ trong khởi nghĩa vũ trang như thế nào. Ở Nga vào tháng Mười năm 1917, Lênin kêu gọi phải "lập tức chuyển sang khởi nghĩa"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, M. 1976, tr. 448, 512, 572) vì thời cơ đã hoàn toàn chín muồi. "Trì hoãn là chết"2 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, M. 1976,tr. 448, 512, 572) và "những người cách mạng sẽ phạm tội ác vô cùng lớn, nếu họ bỏ mất thời cơ"3 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, M. 1976,tr. 448, 512, 572).


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu một mẫu mực về nắm thời cơ trong khởi nghĩa. Mùa thu năm 1944, biết thời cơ chưa đến, Người đã kịp thời chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa ở Cao - Bắc - Lạng, tránh cho cách mạng khỏi bị tổn thất. Tháng 10 năm 1944, Người dự đoán: "Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong vòng một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh"4 (Hồ Chí Minh - Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr. 57). Tháng 8 năm 1945, trước tình hình thế giới, trong nước chuyển biến dồn dập, Người khẳng định: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"1 (Hồ Chí Minh - Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr. 62).


Vấn đề thời cơ trong chiến tranh, trong tác chiến được các nhà lãnh đạo chiến tranh và chỉ huy quân sự hết sức coi trọng. Nguyễn Trãi nói: "Thời cơ, thời cơ, chớ nên để lỡ"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập) và trong thực tiễn, ông luôn chỉ đạo nghĩa quân Lam Sơn nắm đúng thời cơ mà hành động. Bác Hồ cũng thường căn dặn bộ đội: "Phải luôn luôn có sáng kiến để lợi dụng thời cơ"3 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 232).


Thời cơ tác chiến là hoàn cảnh có những điều kiện thuận lợi tối đa cho việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến, diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định.

Có nhiều loại thời cơ. Xét về quy mô tác chiến, có thời cơ chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Xét về phạm vi, mức độ phát huy tác dụng, có thời cơ cho từng hành động, từng nhiệm vụ cụ thể (thời cơ nổ súng, phản kích, kết thúc trận chiến đấu, chiến dịch...) và thời cơ có quan hệ tới toàn bộ cuộc chiến đấu hay chiến tranh. Xét về tính chất, có thời cơ được chuẩn bị từ trước và thời cơ đột biến, v.v...


Thời cơ là một hiện tượng khách quan. Nó là sản phẩm sự vận động tổng hợp của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan: sự phát triển thế và lực, kết quả tác chiến của ta; sự suy thoái và khó khăn, thất bại, sai lầm của địch; ảnh hưởng thắng lợi của ta trên các chiến trường khác, trên các mặt đấu tranh khác (chính trị, kinh tế, ngoại giao...) và những biến động trong tình hình quốc tế; những yếu tố tự nhiên (địa hình, thời tiết khí hậu...) có lợi cho ta, bất lợi cho địch, v.v... Nhưng động lực chủ yếu và trực tiếp làm nảy sinh thời cơ là nỗ lực chủ quan của ta trong quá trình đấu trí, đấu lực với địch trên chiến trường.


Như vậy, thời cơ không phải là hiện tượng hoàn toàn ngẫu nhiên. Con người có thể nhận thức được thời cơ, phát huy nỗ lực chủ quan và tận dụng các điều kiện khách quan có lợi đê chủ động tạo ra thời cơ và nắm bắt thời cơ mà hành động.


Thời cơ không phải là một yếu tố vật chất nên tự nó không thể đem lại một hiệu quả vật chất nào hêt. Nó chỉ là điều kiện, khả năng, và điều quyết định là con người nhận biết và sử dụng điều kiện, khả năng ấy như thế nào để đạt tối mục đích của mình. Nếu nắm đúng thời cơ và biết hành động phù hợp với thời cơ thì sức mạnh được tăng lên gấp bội, có thể chỉ dùng ít lực lượng mà đạt được hiệu quả lớn, đúng như Bác Hồ đã nói: "Gặp thời một tốt cũng thành công"1 (Sách đã dẫn, tr. 193). Ngược lại bỏ lỡ thời cơ thì hành động không đạt được kết quả mong muốn, thậm chí có thể rơi vào tình thế bị động, suy thoái "mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập) như Nguyễn Trãi từng chỉ rõ.


Cũng như mọi sự vật, hiện tượng khác, thời cơ hình thành và phát triển theo quy luật: từ những biến đổi về lượng chuyển hóa thành biến đổi về chất, từ phát triển tuần tự đến những bước nhảy vọt. Thời cơ là những điểm nút trong suốt tiến trình tác chiến và chiến tranh, là sản phẩm của sự tích tụ những điều kiện cần thiết cho nó nảy sinh. Dĩ nhiên, khi đến những điểm nút ấy, sự biến đổi về chất hay bước nhảy vọt có diễn ra hay không là tùy thuộc vào hoạt động của con người. Thời cơ là lúc mâu thuẫn phát triển đến độ chín muồi cần được giải quyết của đấu tranh tình huống.


Thời cơ có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố khác của nghệ thuật tác chiến. Nó đến nhanh hay chậm là do kết quả vận dụng tổng hợp các yếu tố mưu kế, thế trận, lực lượng,cách đánh, tình huống đạt được đến mức nào. Thời cơ là khâu cuối cùng để biến kết quả vận dụng các yếu tố nói trên thành thắng lợi hiện thực trên chiến trường và tác động trở lại làm tăng sức mạnh và hiệu quả của việc vận dụng các yếu tố đó trong giai đoạn tiếp theo.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:42:13 am
Vì vậy, nghệ thuật vận dụng thời cơ giữ một vị trí quan trọng trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến. Nó bao gồm mấy nội dung chủ yếu sau đây:

1. Tạo thời cơ

Như trên đã nói, thời cơ không tự dưng đến mà phải do ta tạo ra. Vì vậy phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, có phương hướng biện pháp đúng đắn, sáng tạo để phát triển những điều kiện thuận lợi cho thời cơ sớm xuất hiện.


Muốn tạo thời cơ, trước hết phải biết đoán trước thời cơ, như Nguyễn Trãi từng nói: "Người trí giả thấy việc từ lúc việc chưa phát"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập). Đoán trước không có nghĩa là tính được cụ thể ngày, tháng nổ ra thời cơ mà là nhìn thấy trước xu thế phát triển của tình hình, dự kiến được các khả năng, từ đó xác định được phương hướng, mục tiêu và những công việc cần thiết để tạo thời cơ và sẵn sàng đón lấy thời cơ khi nó nổ ra. Đoán trước thời cơ còn là để biết chờ thời cơ, không hành động một cách phiêu lưu, nôn nóng khi điều kiện chưa đầy đủ.


Mùa thu năm 1974, trên cơ sở phân tích sự chuyển biến so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường miền Nam, tình hình thế giới và Đông nam châu Á có liên quan đến cuộc kháng chiến của ta. Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã sớm suy tính về thời cơ giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam và dự kiến thời cơ chiến lược "có thể xuất hiện trong ba tình huống: 1) Khi ta đánh mạnh nhất, tức là trong đợt hai của năm 1975; 2) Ngay trong mùa mưa ở nam Bộ; 3) Những tháng cuối năm, khi ngụy quyền tổ chức bầu cử tổng thống"1 (Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, in lần thứ hai, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr. 150, 154). Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định phải tiếp tục tạo thế, tạo lực để sẵn sàng đón thời cơ và hạ quyết tâm: "Trong bất kỳ tình huống nào cũng không để lỡ thời cơ chiến lược"2 (Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, in lần thứ hai, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr. 150, 154).


Trong dự đoán thời cơ, ngoài việc tính toán xu thế phát triển so sánh lực lượng giữa ta và địch, còn phải suy xét các yếu tố khách quan có ảnh hưởng đến thời cơ. Đối với thời cơ chiến lược, đó là những sự kiện chính trị, quân sự lớn có thể hoặc chắc chắn sẽ xảy ra bên phía địch hay trên trường quốc tế, mà nếu ta lợi dụng được để hành động thì sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt hiệu quả lớn. Như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã chuẩn bị cho thời cơ mở các cuộc tiến công chiến lược xuân 1968 và xuân 1972 vào những năm sẽ cớ bầu cử tổng thống Mỹ. Trong tác chiến chiến dịch, chiến thuật, yếu tố khách quan cần dự kiến thường là các điều kiện khí tượng - thủy văn. Ví dụ: trong hai trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đểu tính toán và chuẩn bị cho thời cơ tiêu diệt địch tốt nhất vào kỳ nước cường3 (Kỳ nước cường là thời kỳ nước triều lên xuống mạnh nhất. Theo khảo sát tại sông Bạch Đằng thì trong ký nước cường, mức nước triều khi dâng cao và khi xuống thấp chênh nhau tới hơn hai mét. Còn vào kỳ nước kém, độ chênh chì khoảng nửa mét. Xem: Nguyễn Lương Bích, Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thẳng, tr. 300) và lúc nước triều xuống thấp. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các chiến dịch tiến công lỡn thường phải dự tính thời cơ bắt đầu chiến dịch vào mùa khô và kết thúc chiến dịch vào trước mùa mưa.


Dự đoán được thời cơ rồi thì phải đánh giá những điều kiện cần thiết của thời cơ đã đạt được đến đâu, chỗ nào cònthiếu để có kế hoạch, biện pháp bổ sung và phát triển các điều kiện đó đến độ chín muồi nhằm thúc đẩy thời cơ nổ ra sớm hoặc đúng vào lúc ta mong muốn. Vì vậy tạo thời cơ thường phải tiến hành các việc sau đây:

- Xây dựng, phát triển lực lượng của ta có đủ sức hành động khi thời cơ đến. Dùng mọi biện pháp tiêu hao, làm suy yếu lực lượng của địch.

- Xây dựng, bố trí, điều chỉnh thế trận của ta, tiến hành các hoạt động tác chiến tạo thê khi cần thiết. Hạn chế các thế lợi của địch.

- Cải tạo môi trường tác chiến và thiết bị chiến trường phù hợp với yêu cầu của tác chiến khi thời cơ đến.

- Đẩy mạnh đấu tranh chính trị, ngoại giao phối hợp với đấu tranh quân sự. Tiến hành mọi việc cần thiết để góp phần thúc đẩy các điều kiện bên ngoài phát triển thuận lợi. Ví dụ: tháng 4 năm 1949, theo đề nghị của ban lãnh đạo Đảng Cộng sản tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, ta đã sử dụng một bộ phận lực lượng vũ trang mở chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, giúp phía Trung Quốc mở rộng vùng căn cứ Ung - Long - Khâm và tiến xuống giải phóng hoàn toàn vùng Hoa Nam. Hành động đó thể hiện tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, đồng thời cũng là góp phần tạo điều kiện bên ngoài thuận lợi cho ta mở chiến dịch giải phóng biên giới sau này.


Trong những việc trên, việc phát triển thế và lực của ta, làm suy yếu thế và lực của địch là nội dung chủ yếu quan trọng nhất của quá trình tạo thời cơ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:43:42 am
2. Nắm thời cơ

Tạo thời cơ mới chỉ là thúc đẩy sự phát triển những yếu tố, điều kiện của thời cơ và chuẩn bị về mọi mặt để sẵn sàng đón nhận thời cơ khi nó nổ ra. Còn thời cơ đến vào lúc nào, ở đâu, có tính chất, phạm vi cụ thể như thế nào thì phải đến khi nó xuất hiện mới có thể nhận biết được.


Thời cơ thường diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có khi chỉ trong khoảnh khắc. Sách Binh thư yếu lược viết: "Thời là cái đến không đầy chớp mắt; trước thì thái quá sau thì bất cập"1 (Binh thư yếu lược, tr. 227). Nắm thời cơ đúng lúc nó chín muồi thì hành động mới kịp thời, chính xác. Nhận định thời cơ không đúng, dẫn đến hành động sớm hoặc muộn đều không đạt được kết quả và còn bị tổn thất. Vì vậy nắm thời cơ là việc hệ trọng liên quan đến thành bại của tác chiến, đến việc giữ vững và phát triển những thành quả đã đạt được, đến xương máu của bộ đội và nhiều khi của cả nhân dân. Nó đòi hỏi người lãnh đạo và chỉ huy phải có ý chí, trách nhiệm rất cao, có tầm nhìn sắc sảo nhạy bén, có phương pháp xem xét khách quan, toàn diện và cả lòng dũng cảm nữa.


Nhận định thời cơ phải dựa trên sự phân tích, tổng hợp tất cả các yếu tố, điều kiện chủ quan và khách quan tạo nên thời cơ, đặc biệt là đánh giá đúng đắn so sánh thế và lực giữa ta và địch. Phải có quan điểm biện chứng trong việc phân tích, đánh giá: không chỉ nhìn hiện tượng mà phải nhìn vào bản chất, không xem xét các yếu tố một cách tách biệt, cứng nhắc, cố định mà phải xem xét chúng trong môì quan hệ tác động lẫn nhau và trong sự vận động, phát triển. Có như vậy mới xác định được đúng thời cơ và hạ quyết tâm hành động chính xác.


Vào cuối năm 1946, sau hơn một năm đấu tranh gay go phức tạp bằng cả quân sự, chính trị, ngoại giao để giành lấy thời gian "xây dựng lực lượng căn bản"2 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 2, tr. 11), nhân dân ta đứng trước tình thế: khả năng hòa hoãn đã hết, thực dân Pháp đã quyết tâm xâm lược nước ta bằng vũ lực, cuộc kháng chiến trên cả nước sớm muộn sẽ phải nổ ra. Nhưng lúc nào là thời cơ phát động toàn quốc kháng chiến? Đầu tháng 11 năm 1946, Bác Hồ viết văn kiện quan trọng "Công việc khẩn cấp bây giờ".


Đánh giá về địch, Người viết: "Cuộc kháng chiến sẽ rất gay go cực khổ. Dù dịch thua đến 99% nó cùng rán sức cắn lại... Nhưng ta phải hiểu: lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn "chớp nhoáng" đó, thì địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 220-221), về thế và lực của ta, Người nhận định: "Khi chỉ có hai bàn tay trắng, với một số đồng chí bí mật, leo lói trong rừng, ta còn gây nên cơ sở kháng Nhật, kháng Pháp. Huõng gì bây giờ, ta cóquân đội, có nhân dân. Nam Bộ, địa thế khó, chuẩn bị kém, mà kháng chiến đã hơn một năm. Ta địa thế tốt, lực lượng nhiều hơn, nhất định kháng chiến được mấy năm, đến thắng lợi"2 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 220-221). Với sự đánh giá đó, Đảng ta và Bác Hồ đã xác định rõ: thời cơ phát động kháng chiến trên cả nước đã đến. Và đêm 19 tháng 12 năm 1946, khi mâu thuẫn giữa nhân dân ta và thực dân Pháp đã phát triển đến cực điểm, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã quyết định cho các lực lượng vũ trang đồng loạt nổ súng đánh quân Pháp tại thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn, giành quyền chủ động tiến công trước khi kẻ địch kịp hành động (kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp là đánh chiếm Hà Nội vào ogày 22 tháng 12)3 (Xem: Hồ Chi Minh - Biên niên những sự kiện uà tư liệu về quân sự, tr. 86).


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 cũng là một điển hình về nghệ thuật nắm bắt thời cơ chiến lược. Đầu năm 1975, trên cơ sở đánh giá đúng đắn so sánh thế và lực giữa ta và địch, âm mưu và khả năng của Mỹ can thiệp trở lại vào miền Nam Việt Nam, tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á có liên quan đến Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng xác định: "Đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp cách mạng Lào vàCam-pu-chia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này không có thời cơ nào khác"1 (Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, tr. 157). Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị đã thông qua kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, đồng thời cũng dự kiến nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.


Trên đây là những ví dụ về nắm bắt thời cơ chiến lược, mở đầu và kết thúc chiến tranh. Tác chiến chiến dịch có quy mô nhỏ hơn, không gian và thời gian hẹp hơn nên việc xác địch thời cơ thuận lợi hơn, nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng, đơn giản. Như trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lúc đầu căn cứ vào tình hình địch chưa tăng cường, công sự chưa kiên cố, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định thời cơ nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm vào ngày 26 tháng 1 năm 1954. Nhưng sau khi cân nhắc, đánh giá kỹ tình hình mọi mặt về ta, về địch, tư lệnh chiến dịch nhận thấy thời cơ đó không còn nữa nên quyết định hoãn cuộc tiến công để tiếp tục tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ mới. Sau đó, Bộ chỉ huy chiến dịch đã quyết định chính xác thời cơ bắt đầu tiến công Điện Biên Phủ là ngày 13 tháng 3 năm 1954, vì lúc đó ta đã hoàn thành tốt mọi mặt chuẩn bị, còn lực lượng của địch thì càng bị căng ra sau các cuộc tiến công của ta ở Tây Nguyên, Thượng Lào, đồng bằng Bắc Bộ... Chọn thời điểmấy để tiến công cũng bảo đảm cho ta kịp kết thúc chiến dịch trước mùa mưa.


Trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1972, sau khi ta giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, quân địch ở thị xã Kon Tum hoang mang, chuẩn bị rút chạy. Ta có mấy trung đoàn ở sát thị xã nhưng không kịp thời tiến công, bỏ lỡ thời cơ giải phóng Kon Tum. Đó là sự kém cỏi về chớp thời cơ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:47:00 am
3. Hành động đúng thời cơ

Tạo thời cơ và nắm thời cơ là để hành động. Thời cơ có trở thành sức mạnh, có tạo nên chiến thắng hay không là dohành động của con người quyết định. Nắm được thời cơ rồi mà không hành động hoặc hành động chậm thì thời cơ không có ý nghĩa gì, thậm chí có khi làm đảo ngược tình thế: đang mạnh hóa yếu, đang thắng hóa thua. Binh thư yếu lược viết: "Ta có chí mà chậm thì người sẽ tính trước ta; thấy mà không quyết định thì người sẽ phát trước ta. Ta phát mà không nhanh thì người sẽ thắng trước ta. Khó được ấy là thời, dễ mất ấy là cơ, nên phải làm nhanh vậy"1 (Binh thư yếu lược, tr. 188).

Hành động đúng thời cơ là phải hành động kịp thời và có phương án hành động chính xác, cần tuân theo mấy yêu cầu sau đây:

- Xác định đúng những mục tiêu mà thời cơ và khả năng thực tế của ta cho phép, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị cho phương hướng hành động nhằm những mục tiêu lổn hơn. Chọn những biện pháp hành động đạt hiệu quả cao mà ít tốn lực lượng nhất.

- Vừa dồn sức vào các mục tiêu then chốt, bảo đảm chắc chắn giành thắng lợi, vừa chú ý phối hợp đồng đều và có lực lượng dự bị thích hợp.

- Hành động táo bạo, bất ngờ, nhanh chóng, thần tốc, vượt lên trên những tính toán thông thường.

- Không ngừng phát triển kết quả đã giành được, mở rộng thế và lực của ta, làm suy yếu thế và lực của địch, không để chúng kịp khôi phục, củng cố.

- Chỉ huy chặt chẽ, liên tục, tiến hành tốt mọi mặt bảo đảm cho tác chiến. Đồng thời phát huy cao độ tính chủ động, độc lập tác chiến, tự lực khắc phục khó khăn của từng bộ phận.

Trong lịch sử quân sự Việt Nam, không hiếm những trường hợp thành công của nghệ thuật nắm thời cơ và hànhđộng đúng thời cơ, mà ở đây chỉ có thể dẫn ra một vài ví dụ tiêu biểu.

Nguyễn Trãi đã nêu một mẫu mực tuyệt vời về nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ để hành động. Đầu năm 1423, sau trận đánh ở huyện Khôi, nghĩa quân không còn đến một lữ (chưa đầy 500 người), ông chủ trương hòa hoãn với địch, giành thời gian tạo thế tạo lực, chờthời cơ chuyển sang tiến công. Cuối năm 1424, lực lượng nghĩa quân đã phát triển tuy số lượng mới khoảng 4 - 5 nghìn người, nhưng chớp thời cơ thuận lợi lúc địch đang lúng túng về phương hướng tác chiến, bên nước chúng thì bối rối với lễ tang vua cũ và vua mối lên ngôi, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã có quyết định đúng đắn: chuyển hướng chiến lược vào Nam, chiếm lấy Nghệ An là nơi lực lượng địch mỏng yếu, rồi giải phóng Diễn Châu, Thanh Hóa và phát triển vào Tân Binh, Thuận Hóa. Nhân lúc quân Minh đang bị giam chân ở Đông Quan và quân viện chưa sang kịp, Lê Lợi - Nguyễn Trãi quyết định tiến quân ra Bắc, giải phóng các lộ phủ ở Đông Đô, tạo thời cơ đánh những trận tiêu diệt lớn quân viện của Vương Thông ở Ba La, cầu Mọc, Tốt Động, Chúc Động. Khi viện binh của Liễu Thăng tiến sang, nghĩa quân lại chớp thời cơ đánh tiêu diệt chúng ở Chi Lăng - Xương Giang. Đến đây thời cơ lớn giải phóng hoàn toàn đất nước đã xuất hiện. Nắm vững thời cơ đó, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã quyết định kết thúc chiến tranh không phải bằng gươm giáo mà bằng cách dụ hàng quân địch, vừa khỏi đổ thêm xương máu lại thể hiện được đức lớn hiếu sinh, "gây lại hòa hảo cho hai nước, dập tắt chiến tranh cho muôn đời"1 (Nguyễn Trãi, Phú núi Chí Linh).


Khi quân Thanh vào xâm lược nước ta, Quang Trung Nguyễn Huệ không chủ trương quyết chiến với chúng ngay từ đầu mà tạo thời cơ bằng cách lui quân về giữ hiểm ở Tam Điệp, rồi chọn đúng thời cơ địch đang say sưa với thắng lợi và mải mê ăn tết để mở cuộc tiến quân thần tốc, từ nhiều hướng đánh đồng loạt, mãnh liệt, liên tục vào Thăng Long, chỉ trong 5 ngày tiêu diệt gọn ghẽ gần 30 vạn quân xâm lược.


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 cũng là một điển hình rực rỡ về nghệ thuật nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ. Sau khi xác định thời cơ chiến lược đã đến vào đầu năm 1975, ta đã chọn phương án hành động chính xác: đánh trước vào Tây Nguyên bằng trận mở màn Buôn Ma Thuột. Sau khi cuộc phản kích của quân đoàn 2 ngụy bị đập tan, quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên trong cơn hoảng loạn. Chớp thời cơ đó, ta truy kích tiêu diệt địch rút chạy, đồng thời mở cuộc tiến công gối đầu vào Huế - Đà Nẵng, thời cơ chiến lược mới đã đến, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: ta có điều kiện giải phóng miến Nam sớm hơn dự kiến, và quyết định tập trung nhanh nhất lực lượng để giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Quyết tâm đó đã được thực hiện với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến suy cho cùng là nghệ thuật tạo thời cơ, nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ, đó là một quá trình liên tục, vận động và phát triển không ngừng từ thấp lên cao theo một vòng tròn xoáy ốc ngày càng mở rộng của mổi liên hệ nhân quả giữa thời cơ và hành động. Tạo thời cơ, nắm thời cơ là để hành động. Hành động thắng lợi sẽ tạo ra thời cơ mới, thắng lợi mới... Cứ như thế thời cơ và hành động kế tiếp nhau, tạo tiền đề cho nhau cho đến khi giành thắng lợi hoàn toàn.


Tất nhiên, quá trình đó không phải lúc nào cũng suôn sẻ thuận chiều, mà nhiều khi phải vượt qua những bước quanhco, khúc khuỷu mới có thể tiếp tục tiến lên. Trận chiến đấu ba mươi năm của dân tộc ta hết đánh Pháp lại đánh Mỹ là một quá trình như vậy. Chúng ta đã phải đối đầu với những hoàn cảnh hiểm nghèo, nếm trải không ít tổn thất gian lao mới tạo được những thời cơ, những bước nhảy vọt từ nhỏ đến lớn và tiến đến trận thắng cuối cùng.


Vì vậy, nghệ thuật thời cơ đòi hỏi người lãnh đạo chiến tranh cũng như chỉ huy tác chiến phải rất năng động nhạy bén, nhưng cũng rất tỉnh táo, sáng suốt, hiểu địch nhưng cũng lượng đúng sức mình, đón thời cơ nhưng cũng phải biết chờ thời cơ, tìm chọn con đường ngắn nhất nhưng cũng ít tổn thất nhất để đi đến thắng lợi. Vì vậy trong quá trình nắm thời cơ và hành động, phải bám sát mọi biến chuyển của tình hình, thấy có thời cơ mới thì kiên quyết dấn lên giành thắng lợi tối đa, nhưng nếu thấy thời cơ không còn nữa thì phải biết kết thúc hay chuyển hướng hành động một cách kịp thời để tạo thời cơ mới. Trong chiến dịch Tây Bắc đông - xuân năm 1952, sau khi ta giải phóng hầu hết vùng Tây Bắc, quân địch cụm lại ở Nà Sản lập thành tập đoàn cứ điểm. Ta đột phá thử không thành công. Lượng đúng sức ta sức địch, Bộ chỉ huy chiến dịch kịp thời và chủ động kết thúc chiến dịch, tránh những tổn thất thêm không cần thiết. Đầu năm 1968, ta đã nắm vững thời cơ tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân giành thắng lợi rất lớn. Song chúng ta cũng đã phạm một số thiếu sót trong chỉ đạo tác chiến như: chủ quan trong đánh giá tình hình, nhất là đánh giá lực lượng chính trị của quần chúng ở thành thị, có phần đánh giá thấp khả năng và phản ứng của địch, đề ra mục tiêu quá cao. Trong quá trình phát triển của cuộc tổng tiến công, do không kịp thời đánh giá lại so sánh lực lượng địch - ta, nên khi tình thế có những bất lợi, ta đã không kịp thời chuyển hướng tiến công mà vẫn tiếp tục đánh vào thành thị khi yếu tố bất ngờkhông còn nữa và để sơ hở nông thôn. Lực lượng của ta qua chiến đấu liên tục và ác liệt, bị tổn thất, sức chiến đấu giảm sút1 (Xem: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, quyển 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1988, tr. 405, 418). Đó là một bài học sâu sắc về nghệ thuật nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:50:13 pm
Chương VIII
MẤY VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT CỦA
NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN VIỆT NAM


Từ những nội dung đã nghiên cứu ở các chương trên, đến đây chúng ta có thể rút ra một vài vấn đề có tính quy luật của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.


1. Tính chất, đặc điểm của nghệ thuật tác chiến Việt Nam

Nghệ thuật tác chiến Việt Nam hình thành và phát triển từ thực tiễn chiến đấu chống xâm lược trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm, thành tựu của các nền nghệ thuật quân sự khác. Nó mang mấy tính chất, đặc điểm chủ yếu sau đây:

a) Tính nhân dân.

Là một đặc điểm cơ bản nói lên nguồn gốc, điều kiện hình thành và phát triển của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.

Thời nào cũng vậy, đánh giặc để giải phóng và bảo vệ đất nước khỏi ách xâm lược là lợi ích sống còn và là sự nghiệp của nhân dân cả nước ta. Vì vậy, nghệ thuật tác chiến phải dựa vào nhân dân, tìm nguồn sức mạnh ở nhân dân. Có nhân dân tham gia, các yếu tố của nghệ thuật tác chiến mới được vận dụng một cách sáng tạo và đạt hiệu quả cao nhất.


Trong trận đại phá thủy quân Nguyên trên sông Bạch Đằng năm 1288, mưu kế của Trần Hưng Đạo một phần cũng nhờ nhân dân giúp ông xác định các kỳ con nước và quy luật thủy triều lên xuống của sông Bạch Đằng. Thế trận của ôngđược thiêt lập với sự tham gia của nhân dân chặt cây, đẽo cọc và cắm cọc xuống lòng sông. Lực lượng của ông càng thêm mạnh với các đội dân binh do nhân dân tổ chức và các bè hỏa công do nhân dân làm ra để phóng vào đốt thuyền giặc.


Cuộc tiến công thần tốc của Quang Trung giải phóng Thăng Long nàm 1789 được thực hiện bất ngờ, đúng thời cơ đã chọn, có phần đóng góp công sức của nhân dân trong việc bưng tai bịt mắt địch, giữ bí mật hành động của nghĩa quân và việc hàng vạn trai tráng nô nức tòng quân ngay trên đường hành quân chiến đấu.


Tính nhân dân của nghệ thuật tác chiến Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh càng được thể hiện sâu sắc với thế trận chiến tranh nhân dân được triển khai vững chắc và hiểm hóc, với lực lượng toàn dân và ba thứ quân đánh giặc trên khắp mọi miền đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng,v.v... Đó là nền tảng để nghệ thuật tác chiến Việt Nam phát huy đầy đủ tính sáng tạo, luôn luôn giành và giữ quyền chủ động đánh thắng địch từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


b) Tính kiên quyết mưu lược.

Nghệ thuật tác chiến Việt Nam là nghệ thuật quyết đánh và biết đánh thắng.

Với tinh thần bất khuất chống ngoại xâm, "nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 222), nghệ thuật tác chiến Việt Nam kiên quyết vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đánh thắng mọi kẻ địch dù chúng có đông quân, có nhiều vũ khí hiện đại và sử dụng những thủ đoạn dã man, tàn bạo đến mức nào.


Tính kiên quyết trước hết thể hiện ở tư tưởng tiến công, tích cực, chủ động, liên tục tiến công tiêu diệt địch từ thấp đến cao.

Mặc dù có nơi có lúc phải tạm thời phòng ngự, nhưng trong phòng ngự vẫn có tiến công và phòng ngự là để tạo điều kiện chuyển sang tiếp tục tiến công. Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược của quân dân ta thời LýThường Kiệt đã chứng minh rõ điều đó.


Tính kiên quyết còn thể hiện ở tư tưởng đánh tiêu diệt từ nhỏ đến lớn, tiến lên thực hành những trận quyết chiếnchiến lược tiêu diệt gọn những lực lượng nòng cốt, tinh nhuệ của địch, giành thắng lợi quyết định. Những trận đánh tiêu diệt xuất sắc ở cácthời đại khác nhau: Bạch Đằng, Chương Dương - Thăng Long, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa, chiến thắng Biên Giới, Điện Biên Phủ, tết Mậu Thân 1968, xuân 1972, trận "Điện Biên Phủ trên không", Đại thắng mùa Xuân 1975, v.v... là những ví dụ hùng hồn về vấn đề này.


Tính kiên quyết là cơ sở của tính mưu lược. Bởi vì dám đánh rồi mới biết đánh, có lòng dũng cảm mới đủ tỉnh táo, sáng suốt để tìm ra phương lược đánh giặc thông minh và có hiệu quả. Kiên quyết phải đi đôi với mưu lược. Trong điều kiện thực tế của ta luôn luôn phải đánh bại những quân đội xâm lược đông và được trang bị tốt hơn thì tính mưu lược càng đặc biệt quan trọng.


Tính mưu lược của nghệ thuật tác chiến Việt Nam biểu hiện ở những nét đặc sắc dưới đây:

- Lấy ít đánh nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, "sức dùng một nửa mà công được gấp đôi".

- Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế, thời.

- Bày thế trận vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, cài xen với địch, đánh cả trước mặt và sau lưng địch.

- Lừa địch, điều địch, phân tán, chia cắt địch ra mà đánh; vây hãm, trói chặt địch lại mà diệt.

- Bí mật, bất ngờ, đánh trúng, đánh hiểm.

- Dùng nhiều cách đánh linh hoạt, khi phân tán, lúc tập trung, thực hư lẫn lộn, chính kỳ biến hóa "lấy chính để hợp lấy kỳ để thắng"1 (Xem Binh thư yếu lược, tr. 253.Chính, kỳ là những khái niệm quân sự cổ. Chính là đánh chính diện, đối mặt với địch. Kỷ là đánh bí mật, bất ngờ ở cạnh sườn, sau lưng địch).


Kiên quyết và mưu lược, anh dũng và thông minh là hai yếu tố tạo nên sức mạnh và những nét độc đáo của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.

c) Tính sáng tạo, biện chứng.

Tính sáng tạo là động lực phát triển của nghệ thuật tác chiến Việt Nam. Là một dân tộc nhỏ phải đánh thắng những kẻ thù xâm lược có quân đông, trang bị hiện đại, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn, nghệ thuật tác chiến Việt Nam không thể "tự giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường" như Ăng-ghen đã từng nói, mà phải tìm ra cách đánh của mình, phù hợp với những điều kiện thực tế của đất nước và con người Việt Nam.


Sự sáng tạo đó không phải chủ quan tùy tiện mà có cơ sở khách quan khoa học, dựa trên sự phân tích toàn diện các yếu tố, các mối quan hệ để rút ra những vấn đề có tính quy luật của đấu tranh vũ trang trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước ở Việt Nam. Vì vậy tính biện chứng là hạt nhân sáng tạo của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.


Dưới thời phong kiến, nghệ thuật tác chiến của dân tộc ta đã chứa đựng những yếu tố của phép biện chứng, mặc dù còn ở dạng thô sơ và mang tính tự phát. Trước sự xâm lược của quân Nguyên hung bạo và thiện chiến, Trần Hưng Đạo thấy chỗ mạnh nhưng cũng nhìn thãy những mâu thuẫn bên trong của chúng, ông nhận định: "Nếu giặc ở thế tiến quân ồ ạt như lửa thiêu gió táp thì dễ chế ngự"2 (Đại Việt sử kỹ toàn thư), và cách chế ngự của ông là "lấy nhàn chờ nhọc", "lấy đoản binh phá trường trận"để khơi sâu mâu thuẫn của địch, làm thay đổi so sánh lực lượng, tạo thời cơ tiến hành phản công chiến lược, giành thắng lợi hoàn toàn.


Nguyễn Trãi cũng thể hiện quan điểm biện chứng ở việc xem xét sự vật trong sự vận động, phát triển, nhìn thấy bản chất của sự vật và mối quan hệ qua lại giữa các mặt, các yêu tố bên trong của nó. Ông nhận định: "Binh mạnh hay yếu, không cứ ở nhiều"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập) và mạnh hay yếu không chỉ tùy thuộc vào lực lượng mà "được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập). Từ đó kế sách đánh giặc của ông là "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít đánh nhiều, biến nhỏ thành lớn, chuyển nguy thành vững"3 (Nguyễn Trãi, Hoàng triều dữ Minh nhân vãng phục thư tập), vừa đánh bằng quân sự, vừa đánh mạnh vào lòng địch, về phương thức tác chiến thì "tìm nhiều phương lừa đánh địch"4 (Nguyễn Trãi, Phú núi Chí Linh) từ chỗ "tránh mạnh đánh yếu", "bỏ chỗ vững đánh chỗ núng, tránh chỗ thực đánh chỗ hư"5 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục) tiến lên "lấy mạnh đánh yếu" đánh tiêu diệt lớn quân địch, kết thúc chiến tranh thắng lợi.


Đến thời đại Hồ Chí Minh, được trang bị phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nghệ thuật tác chiến Việt Nam càng mang tính biện chứng sâu sắc, toàn diện. Nó được thể hiện ở quan điểm đánh giá đúng đắn so sánh lực lượng giữa ta và địch, phát hiện và khơi sâu những mâu thuẫn của địch, thấy rõ để khắc phục những mâu thuẫn của ta. Như Bác Hồ đã chỉ rõ: "Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công"6 (Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980, tr. 78, 218) và "Nay tuy châu chấu đấu voi, nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra"7 (Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980, tr. 78, 218). Nó cũng thể hiện ở việc kết hợp đúngđắn các mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa nổi dậy và tiến công, giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, giữa ba vùng chiến lược, ba mũi giáp công, giữa đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ, giữa lực, thế và thời cơ... tạo thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng Việt Nam.


Tính nhân dân, tính kiên quyết mưu lược và tính sáng tạo biện chứng có mối quan hệ chặt chẽ tạo thành nguồn gốc và động lực phát triển của nghệ thuật tác chiến Việt Nam, một nền nghệ thuật phải giải quyết mâu thuẫn gay gắt lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều để giành thắng lợi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:51:40 pm
2. Mấy vấn đề có tính quy luật

Cũng như mọi sự vật, hiện tượng khác, chiến tranh và đấu tranh vũ trang vận động theo những quy luật khách quan của nó. Nhận thức đúng và hành động phù hợp vỏi các quy luật đó là điều kiện để giải quyết thành công mọi nhiệm vụ tổ chức, tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang.


Thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời đại đã chứng minh rằng: chúng ta đã phát hiện và nhận thức ngày càng sâu sắc toàn diện tác động của các quy luật chiến tranh trong điều kiện cụ thể của chiến tranh chống xâm lược ở Việt Nam mà đặc điểm nôi bật là luôn luôn phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn; từ đó đã xác định đúng đắn những vấn đề có tính quy luật của chiến tranh giải phóng và giữ nước ở nước ta. Đó là:

- Phát huy mạnh mẽ ưu thế của chiến tranh chính nghĩa, của yếu tố chính trị - tinh thần, động viên và tổ chức toàn dân đánh giặc với lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt.

- Tiến hành chiến tranh toàn diện trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hốa... Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao.

- Kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn trên cả ba vùng chiến lược.

- Làm chuyển hóa từng bước so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo thời cơ thực hành những trận quyết chiến chiến lược làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, đánh thắng từng bước, đánh đổ địch từng bộ phận và kết thúc chiến tranh thắng lợi.

- Kết hợp tiền tuyến với hậu phương, xây dựng hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ rộng khắp, vững chắc của chiến tranh nhân dân.


Đấu tranh vũ trang - mà nội dung chủ yếu là sử dụng các lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động tác chiến - là lĩnh vực đấu tranh cơ bản và đặc trưng của chiến tranh. Nó chịu sự tác động của các quy luật chung của chiến tranh, đồng thời cũng có những quy luật riêng. Nghệ thuật tác chiến Việt Nam đã nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật đ^-trong điều kiện cụ thể của chiến tranh giải phóng và giữ nước ồ Việt Nam, thể hiện ở mây vấn đề có tính quy luật sau đây:


a) Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả con người và vũ khí, số lượng và chất lượng trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lực, thế và thời cơ.

Quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang là mạnh được yếu thua. Nghệ thuật tác chiến Việt Nam không thể vượt ra ngoài quy luật đó. Trong điều kiện phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, làm thế nào để có sức mạnh lớn hơn địch và tác chiến thắng lợi? Con đường duy nhất đúng là dùng sức mạnh tổng hợp, phát huy khả năng tác chiến của ba thứ quân, của lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, phát huy hết uy lực của mọi thứ vũ khí có trong tay và có thể huy động được, lấy chất lượng cao về chính trị - tinh thần và bản lĩnh chiến đấu để bù số lượng. Sức mạnh ấy còn được nâng lên gấp bội nhờ kết hợp chặt chẽ các yếu tố lực, thế và thời cơ trong mối quan hệ tác động lẫn nhau và vận động, phát triển không ngừng từ thấp lên cao: có thế mạnh, lực sẽ tăng lên; lực mạnh, thế mạnh sẽ tạo ra thời cơ; đến lượt mình, thời cơ lại tạo ra thế mới, lực mới...


b) Phân tán, chia cắt lực lượng địch, hạn chế sức mạnh của chúng để tập trung ưu thế sức mạnh của ta vào nơi và lúc quyết định.

Tạo sức mạnh của ta phải đi đôi với việc hạn chế sức mạnh của địch, buộc chúng không thể phát huy được ưu thế về số lượng quân đội và vũ khí trang bị, không thi thố được cách đánh sở trường. Vì vậy phải sử dụng mưu kế, lập thế trận để lừa địch, điều địch, dàn mỏng lực lượng và phân tán sức mạnh của địch, chia cắt cô lập chúng, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng chủ yếu đánh những đòn then chốt vào nơi và lúc quyết định.


c) Đánh bất ngờ, đánh hiểm

Lấy ít đánh nhiều thì phải triệt để tận dụng yếu tố bất ngờ và sử dụng cách đánh hiểm thì mới đạt hiệu suất chiến đấu cao. Phải đạt được bất ngờ về một hoặc nhiều yếu tố dưới đây: ý định và thời điểm hành động, hướng, khu vực tác chiến; lực lượng và phương tiện sử dụng; cách đánh...


Đạt được bất ngờ là đã thực hiện được một phần yêu cầu của đánh hiểm. Nhưng đánh hiểm còn phải thể hiện ở những yêu cầu khác như: đánh trúng khâu hiểm yếu của địch; đánh bằng mưu lừa địch, điều địch, dẫn chúng đến chỗ bị bại vong mà không sao thoát ra được, v.v...


Yêu cầu đánh bất ngờ, đánh hiểm phải được đặc biệt chú trọng đối với đòn đánh đầu tiên và các đòn then chốt, quyết định.


d) Kết hợp đánh lớn, đánh vừa và đánh nhỏ, đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao; kết hợp đánh vận động và đánh trận địa, đánh du kích và đánh chính quy hiệp đồng quăn binh chủng.

Lấy ít đánh nhiều thì phải vận dụng và kết hợp các quy mô, các phương thức tác chiến thích hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng chiến lược trong từng giai đoạn chiến tranh.

Trong giai đoạn đầu chiến tranh, nhất là trong chiến tranh giải phóng, khi sức ta còn yếu thì thường phải bắt đầutừ đánh nhỏ, đánh vừa, đánh du kích tiêu hao địch ở khắp nơi đi đôi với đánh vận động, chủ yếu là ở địa hình rừng núi, để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, từng bước chuyển hóa so sánh lực lượng giữa địch và ta. Đến khi sức ta đã mạnh và nhất là vào giai đoạn cuối chiến tranh, phải tiến lên đánh lớn, đánh vận động và cả đánh trận địa hiệp đồng quân binh chủng, thực hành những đòn tiến công tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch trên mọi địa bàn chiến lược ở cả đồng bằng và đô thị, tạo nên những bước ngoặt của chiến tranh hoặc kết thúc chiến tranh thắng lợi. Tuy nhiên trong giai đoạn này vẫn phải tiếp tục phát huy vai trò phối hợp và bổ trợ của tác chiến du kích rộng khắp, đánh nhỏ, đánh tiêu hao, nhất là ở các trung tâm chính trị - kinh tế quan trọng của địch.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khi tác chiến vận động và trận địa quy mô lớn của lực lượng chủ lực diễn ra ngay từ đầu, kết hợp với tác chiến du kích, đánh tiêu hao địch của các lực lượng địa phương, giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn.


e) Kết hợp tiêu diệt sinh lực địch với giải phóng và bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân.

Mục tiêu cuối cùng của tác chiến là bảo vệ và giải phóng toàn vẹn đất đai của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Nhưng để thực hiện mục tiêu ấy, trong điều kiện lấy ít đánh nhiều, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tiêu diệt sinh lực địch và bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân.


Trong giai đoạn đầu chiến tranh, nhất là trong chiến tranh giải phóng, khi ta chưa có đủ sức mạnh để bảo vệ toàn bộ đất đai thì phải lấy tiêu diệt sinh lực địch làm chính chứ không thể dàn quần ra giữ đất, nhưng vẫn phải tích cực bảo vệ nhân dân bằng cách tổ chức chiến tranh du kích ngay trong vùng địch tạm chiếm. Sang giai đoạn tiếp sau và nhất là vào giai đoạn cuối chiến tranh, tác chiến phải nhằm cả haimục tiêu: vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa giải phóng đất đai, bảo vệ vững chắc và không ngừng mở rộng vùng giải phóng, tiến tới giải phóng hoàn toàn đất nước.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, vấn đề bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết. Nếu sức ta đủ mạnh thì ngay từ đầu đã phải đặt ra nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch đi đôi với bảo vệ đất đai, bảo vệ cơ sở vật chất, kỹ thuật, các công trình quốc phòng, kinh tế, văn hóa của đất nước và tính mạng, tài sản của nhân dân.


Trên đây là mấy vấn đề mang tính quy luật của nghệ thuật tác chiến trong chiến tranh giải phóng và giữ nước ở Việt Nam. Chúng phản ánh tính tất yếu của các quá trình đấu tranh vũ trang của một nước nhỏ phải đánh thắng sự xâm lược của những nước lớn có tiềm lực kinh tế - quân sự mạnh, có quân đông, được trang bị vũ khí nhiều và hiện đại hơn mình.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:53:07 pm
3. Mấy điều suy nghĩ về nghệ thuật tác chiến Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đất nước ta đang có cục diện tương đối hòa bình trên cả nước, nhưng đó là một nền hòa bình chưa vững chắc, chưa trọn vẹn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vẫn nuôi dưỡng những mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, cách mạng ba nước Đông Dương bằng các thủ đoạn kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng, xâm lược vũ trang bộ phận... và có thể cả bằng chiến tranh xâm lược quy mô lớn dưới nhiều hình thức: chiến tranh "cường độ thấp", chiến tranh "ủy nhiệm" qua tay người khác, chiến tranh cục bộ, v.v...


Vì vậy, quân và dân ta phải không ngừng nâng cao cảnh giác sẵn sàng đối phó với mọi hành động chiến tranh mà kẻ thù có thể gây ra như:

- Chiến tranh xâm lược từng phần, lấn chiếm từng bộ phận lãnh thổ của Tổ quốc.

- Các đòn tập kích chiến lược bằng không quân, tên lửa, bằng lực lượng đổ bộ đường không, đường biển...

- Chiến tranh xâm lược quy mô lớn cả trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

Ngày nay trong bối cảnh quốc tế mới và do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong quân sự, nêu chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động gây ra chiến tranh xâm lược cục bộ thì cuộc chiến tranh ấy sẽ có những điểm khác với chiến tranh xâm lược trước đây về hình thái, quy mô, phương thức tiến hành. Qua thực tiễn một số cuộc chiến tranh "cường độ thấp" của đế quốc Mỹ xâm lược Grê-na-đa, Pa-na-ma, chống Li-bi..., I-xra-el chống Li-băng, Tổ chức giải phóng Pa-le-xtin (PLO), chúng ta có thể hình dung một số đặc điểm của chiến tranh xâm lược cục bộ trong tương lai nếu xảy ra.


a) Không gian rộng, chiều sâu lớn.

Chiến tranh có thể xuất phát từ nhiều hướng: trên bộ, trên không, từ biển vào, có thể diễn ra cùng một lúc ở chính diện và trong chiều sâu, quân xâm lược có thể tiến công ngay vào các trung tâm đầu não về chính trị, quân sự, kinh tế của đất nước.


b) Hành động bất ngờ, chớp nhoáng.

Trong tình hình chính trị quốc tế hiện nay và cả tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước họ, các thế lực xâm lược khó có thể tiến hành chiến tranh xâm lược kéo dài. Mặt khác việc nâng cao uy lực và tính năng của các loại vũ khí sát thương, phương tiện cơ động, trinh sát, chỉ huy... cùng tạo điều kiện cho quân xâm lược tiến hành các cuộc tiến công bất ngờ, chớp nhoáng để đạt tới các mục tiêu chiến lược trong thời gian ngắn.


c) Nhịp độ cao, cường độ lớn ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh.

Để kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn, quân xâm lược thường tập trung những lực lượng mạnh để giành thắng lợi ngay trong đòn quyết định đầu tiên và liên tục triển khai các đòn kế tiếp vào các mục tiêu then chốt. Tình huống tác chiến sẽ diễn biến khẩn trương, quyết liệt, đột biến.


d) Sử dụng nhiều loại lực lượng, phương tiện, phương thức và thủ đoạn tác chiến.

Phía xâm lược có thể sử dụng nhiều loại lực lượng khác nhau: không quân, hải quân, bộ binh cơ giới, quân đổ bộ đường biển, đường không, lực lượng đặc nhiệm, "triển khai nhanh"... Những phương tiện chiến tranh mới nhất sẽ được đưa ra sử dụng và thử nghiệm (như Mỹ đã sử dụng máy bay "tàng hình" F.117 trong cuộc xâm lược Pa-na-ma cuối năm 1989). Nhiều phương thức, thủ đoạn tác chiến khác nhau sẽ được sử dụng: tập kích đường không vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của quốc gia đối địch hòng bằng hành động chiến thuật đạt tới mục tiêu chiến lược (như Mỹ đã làm ở Li-bi năm 1986); tiến công trên bộ kết hợp với đổ bộ bằng đường không, đường biển; tiến công từ ngoài vào kết hợp với tổ chức bạo loạn từ bên trong; phong tỏa đường không, đường biển, v.v...


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:53:59 pm
e) Tiến công quân sự kết hợp với chính trị, ngoại giao, kinh tế.

Để đánh lừa dư luận quốc tế, trong nước, phía xâm lược sẽ tìm mọi cách núp dưới các chiêu bài chính trị, dựng lên bọn bù nhìn tay sai, sử dụng các thủ đoạn ngoại giao lừa bịp và mua chuộc bằng kinh tế. Cuộc đấu tranh sẽ diễn ra khẩn trương, đồng thời trên tất cả các lĩnh vực.


Xem xét những đặc điểm nói trên, chúng ta thấy một số vấn đề đặt ra cho nghệ thuật tác chiến Việt Nam trong thời kỳ mới.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn phải lấy ít đánh nhiều, chống lại kẻ xâm lược câ tiềm lực kinh tế - quân sự mạnh hơn. Con đường đi đến thắng lợi của chúng ta vẫn phải là tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, đánh địch bằng cả quân sự, chính trị, ngoại giao, bằng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân phát triển cân đối, đồng bộ, kết hợp lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, đánh địch trên mọi địa bàn.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mục tiêu của ta là phải bảo vệ đất đai, không để địch chiếm đoạt, phá hoại các cơ sở kinh tế văn hóa, tàn sát nhân dân. Vì vậy phải đánh địch ngay từ đầu ở bất cứ nơi nào chúng đột nhập, kết hợp đánh tiêu diệt lớn và đánh vừa, đánh nhỏ, đánh tiêu hao, kết hợp tác chiến tại chỗ của lực lượng vũ trang địa phương và các đòn phản công, tiến công của bộ đội chủ lực cơ động với nhịp độ ngày càng cao, quy mô ngày càng lớn.


Từ những yêu cầu nói trên, việc xây dựng các khu vực phòng thủ trên địa bàn tỉnh (thành phố), huyện xây dựng các xã, phường chiến đấu... và hình thành các hướng chiến lược, chiến dịch trọng yếu ngay từ thời bình có ý nghĩa chiến lược to lớn. Nó bảo đảm chống lại mọi hành động chiến tranh của địch từ bất cứ phương nào tới một cách nhanh nhất, kịp thời nhất, tạo điều kiện tập trung lực lượng chủ yếu đánh những đòn then chốt ở nơi và lúc quyết định.


Dưới đây xin nêu một vài vấn đề gợi ý để tiếp tục nghiên cứu phát triển nghệ thuật tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Về mối quan hệ giữa lực lượng, thế trận và thời cơ.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lực lượng và thế trận là những yếu tố được chuẩn bị, xây dựng từ trước trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa bàn, từng khu vực.

Xây dựng lực lượng phải bảo đảm cân đối, hợp lý, có chất lượng cao, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở, hình thành lựclượng cơ động và lực lượng tại chỗ đều mạnh, có lực lượng triển khai ứng cứu nhanh. Mỗi lực lượng cần được tổ chức, trang bị và huấn luyện đủ sức làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình.


Dân quân tự vệ và bộ đội địa phương phải đánh được địch ngay từ đầu và bám trụ tại địa phương, liên tục tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân địch, sẵn sàng phối hợp với chủ lực phản công, tiến công tiêu diệt địch, đồng thời đập tan bạo loạn ở địa phương nếu kẻ địch gây ra, bảo vệ có hiệu quả các mụctiêu trọng yếu, tính mạng và tài sản của nhân dân. Huấn luyện cho các lực lượng vũ trang địa phương biết cách đánh địch đổ bộ đường biển, đổ bộ đường không, đánh biệt kích, đánh địch vu hồi, thọc sâu, chống địch phong tỏa, v.v... Lực lượng vũ trang địa phương cần được trang bị tương đối hiện đại đồng thời vẫn phải phát triển các loại vũ khí thô sơ, tự tạo.


Lực lượng chủ lực phải đáp ứng yêu cầu đánh lớn ngay từ đầu và đánh liên tục, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt những lực lượng quan trọng của địch trên hướng chủ yếu và vào thời cơ quyết định. Bộ đội chủ lực cần được huấn luyện nâng cao tính cơ động và trình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn.


Thế trận chiến tranh nhân dân không chỉ bao gồm các lực lượng vũ trang được bố trí đứng chân trên các địa bàn theo kế hoạch phòng thủ thống nhất mà là thế trận của toàn dân, toàn quân ở cả phía trước và ở hậu phương chiến lược, chiến dịch, kết hợp sản xuất với sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, với mạng lưới bảo đảm tác chiến được chuẩn bị chu đáo: hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, y tế, kho tàng, cung ứng vật tư, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, sửa chữa bảo dưỡng kỹ thuật, phòng thủ dân sự, v.v...


Thời cơ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể xuất hiện nhanh và trong thời gian rất ngắn. Để nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ, vấn đề tổ chức trinh sát, nắm địch, thu thập, xử lý thông tin và hạ quyết tâm nhanh, bộ đội sẵn sàngchiến đấu và có sức cơ động cao là những yếu tố có ý nghĩa quyết định.


Như vậy, việc tạo lực, tạo thế, tạo thời cơ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc phải được suy nghĩ, chuẩn bị từ thời bình trong phạm vi cả nướcvà ở từng địa phương, từng cơ sở trong quy hoạch tổng thể xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng.


Về cách đánh.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngay từ đầu đã phải thực hiện được sự phân tán, chia cắt đội hình địch, bao vây cô lập từng bộ phận, tạo thời cơ tập trung lực lượng đánh những đòn then chốt ở nơi và lúc quyết định. Muốn vậy, các lực lượng vũ trang địa phương phải chặn đánh, ghìm chân địch, vừa đánh trước mặt vừa đánh bên sườn và phía sau, tạo thế cài xen với địch. Các lực lượng chủ lực đứng chân trên các địa bàn có khả năng tiện cơ động đến các hướng và khu vực quan trọng, chóp thời cơ địch đang bị kìm chân, chia cắt và bộc lộ sơ hở để chọn mục tiêu đánh đòn tiêu diệt lớn.


Thực hiện yêu cầu đánh hiểm, đánh bất ngờ, phải hết sức giữ bí mật ý định hành động, lực lượng và phương tiện sử dụng, chọn đúng mục tiêu đánh vào các trung tâm chỉ huy, cơ sở hậu cần quan trọng, lực lượng và phương tiện chiến tranh chủ yếu của địch. Vận dụng rộng rãi các thủ đoạn thọc sâu, vu hồi bằng các lực lượng đặc công, bộ binh cơ giới, đổ bộ đường không... kết hợp với tác chiến du kích ở vùng sau lưng địch.


Nghệ thuật tác chiến Việt Nam là kết tinh những tri thức và kinh nghiệm được trả giá bằng xương máu của biết bao thế hệ trong lịch sử lâu dài chống xâm lược. Nó đã giải quyết thành công những mâu thuẫn của chiến tranh chống xâm lược ở Việt Nam, mà mâu thuẫn lớn nhất là phải lấy ít đánhnhiều, lấy nhỏ thắng lớn. Tính đúng đắn, sáng tạo của nó được chứng minh bằng những chiến công hiển hách của dân tộc ta đã liên tiếp đánh bại những thế lực xâm lược lớn mạnh và hung hàn ở cácthời đại khác nhau. Nó không ngừng phát triển trên cơ sở tinh thần kiên cường bất khuất của dân tộc, trí thông minh sáng tạo của nhân dân và tài thao lược của các nhà lãnh đạo và thống soái kiệt xuất. Đó là một tài sản vô giá cả về lý luận, phương pháp luận và thực tiễn quân sự mà mỗi người chúng ta có trách nhiệm giữ gìn, vận dụng và phát triển lên nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:55:14 pm
MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2001)


Lời nhà xuất bản


Để cung cấp cho bạn đọc tài liệu nghiên cứu về kho tàng nghệ thuật quân sự phong phú và độc đáo của Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự của Nhà giáo nhân dân, Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.    


Là một vị tướng đã từng trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh và chiến dịch lớn trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp và hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, tác giả không những đã dày công nghiên cứu và vận dụng kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc ta và của thế giới, mà còn đúc rút được những kinh nghiệm quý báu từ thực tế chiến trường.


Với cách luận chứng ngắn gọn, súc tích, sâu sắc, tác giả tập trung trình bày 12 vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó bao gồm: nghệ thuật tác chiến chiến lược; vận dụng thế và lực trong chiến tranh; nghệ thuật dụ địch; nghệ thuật chuyển hóa thế trận; nghệ thuật mưu kế; nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, v.v... Đây thực sự là những kinh nghiệm quý, góp phần làm phong phú thêm tinh hoa trí tuệ quân sự Việt Nam, đồng thời củng đặt ra những vấn đề cần được tích cực nghiên cứu và giải quyết nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.


Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo rất bổ ích đối với bạn đọc, nhất là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chỉ huy trong quân đội, cán bộ giảng dạy và học viên trong các trường quân sự.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 9 năm 2001
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:57:12 pm
I
MẤY VẤN ĐỀ
VỀ NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC


1. Khái niệm

Tác chiến chiến lược làmột hoạt động tác chiến lớn có phạm vi toàn quốc, diễn ra trên một địa bàn lớn, một chiến trường lớn, một vài chiến trường hoặc trên toàn bộ chiến trường trong nước do Bộ Tổng tư lệnh hoặc Bộ tư lệnh chiến trường chỉ huy, nhằm tiêu hao lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh và tiêu diệt một bộ phận lực lượng chiến lược quan trọng của địch, để bảo vệ những mục tiêu, địa bàn quan trọng, chủ yếu, hoặc giải phóng những mục tiêu, địa bàn trọng yếu, chủ yếu có ý nghĩa chiến lược.


Ý nghĩa của tác chiến chiến lược, của các chiến dịch chiến lược là làm thay đổi lớn cục diện chiến tranh, tạo ra bước ngoặt của chiến tranh, tạo ra đột biến trong chiến tranh.

Nghệ thuật tác chiến chiến lược là nghiên cứu các quy luật, định ra các nguyên tắc, biện pháp, tổ chức, sử dụng và điều hành tác chiến các lực lượng vũ trang để phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, sử dụng lực lượng ba thứ quân trên phạm vi các chiến trường hoặc trong cả nước, trên toàn bộ chiến trường; là nghiên cứu các chiến dịch, các chiến dịch chiến lược của quân binh chủng hợp thành, hoặc các chiến dịch liên hợp của quần chúng, hoặc các chiến dịch độc lập của quần chúng.


Nghệ thuật tác chiến chiến lược là tổng hợp các sức mạnh của chiến tranh, là đấu tranh vũ trang kết hợp vớiđấu tranh chính trị, ngoại giao theo một ý định và kế hoạch thống nhất,phối hợp với nhau để tạo ra tình huống chiến lược có lợi, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của cấp chỉ huy chiến lược.


Nghệ thuật tác chiến chiến lược nhằm đánh bại các biện pháp tác chiến chiến lược của địch, đánh bại ý đồ chiến tranh của địch, giành thắng lợi trong chiến tranh.

Đó là những khái niệm về tác chiến chiến lược và nghệ thuật tác chiến chiến lược. Tác chiến chiến lược còn thể hiện ở chiến cục. Trong phản công chiến lược, tổng phản công hoặc tiến công chiến lược, tổng tiến công thì thường diễn ra chiến cục, thể hiện cách đánh tập trung. Chiến cục là một trong những hình thức, là biểu hiện tập trung thống nhất của tác chiến chiến lược. Chiến cục diễn ra trong một thời gian dài hoặc tương đối dài, không gian rộng và tương đối rộng, theo một kế hoạch thống nhất của cấp chỉ đạo chiến lược. Chiến cục gồm nhiều chiến dịch, có chiến dịch lớn - chiến dịch chiến lược hoặc có ý nghĩa chiến lược; chiến dịch vừa; chiến dịch nhỏ và các hoạt động tác chiến của ba thứ quân, trên một địa bàn rộng lớn của chiến trường và trong một thời gian tương đối dài, có thể kéo dài cả một mùa trong một năm (chiến cục Đông Xuân năm 1953-1954) để thực hiện một ý định, kế hoạch thống nhất, nhằm đạt được mục đích chiến lược nào đó do Bộ Tổng tư lệnh quy định. Trong chiến cục thì các chiến dịch và các hoạt động tác chiến có sự phối hợp, hiệp đồng với nhau chặt chẽ, theo một kế hoạch thống nhất của Bộ Tổng tư lệnh, để các chiến địch và các hoạt động tác chiến tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển, tạo ra các tình huống thuận lợi cho các chiến dịch quan trọng, đi đến giành thắng lợi lớn hoặc quyết định. Trong chiến cục có thể có các đòn chiến lược - các chiến dịch chiến lược để đánh bại địch nhanh chóng hoặc chiến dịch quyết chiến chiến lược (chiến cục Đông Xuân 1953-1954 ta đã giăng quân Pháp ra khắp chiến trường Đông Dương để tập trung đánh Điện Biên Phủ thắng lợi và trong chiến cục Xuân 1975, ta đã tiến hành ba đòn chiến lược - ba chiến dịch chiến lược để giải phóng miền Nam).


Để tiến hành tác chiến chiến lược cần có một nghệ thuật cao. Nghệ thuật đó là biết vận dụng một phương pháp tác chiến - phương pháp chiến tranh phù hợp, biết so sánh lực lượng địch, ta về chiến lược và chiến thuật; biết dựa vào môi trường tác chiến và biết dựa vào tinh thần chiến đấu của hai bên đối địch; biết tìm và tạo ra sức mạnh của chiến tranh. Chiến tranh của ta là chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược. Do đó ta phải tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của ba thứ quân. Trong điều kiện lấy ít địch nhiều thì chiến tranh nhân dân cũng phải mạnh. Trong lịch sử dân tộc, chiến tranh nhân dân của ta phát triển rất sớm. Tổ tiên ta đã biết dựa vào sức mạnh của toàn dân để tiến hành kháng chiến thắng lợi.


Theo Trần Hưng Đạo, "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước".

Và Nguyễn Trãi quan niệm "Chở thuyền và lật thuyền cũng là dân".

Còn Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân là "một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 151).

Có thể nói, chiến tranh nhân dân là học thuyết quân sự Việt Nam. Học thuyết quân sự Việt Nam là chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích của ba thứ quân, là những tư tưởng, quan điểm lấy dân làm gốc, lấy chính nghĩa làm nền của quốc phòng và chiến tranh; của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân, là nguyên nhân, nguồn gốc của chiến tranh; là bản chất, tính chất của chiến tranh; và cũng là nhân tố thắng lợi trong chiến tranh, là những quy luật vận động của chiến tranh; là nghệ thuật lãnh đạo quốc phòng và chiến tranh. Tóm lại, đó là những quan điểm, tư tưởng, nguyên lý, quy luật về lãnh đạo quốc phòng và chiến tranh của một nước nhỏ đánh một nước lớn - lấy thế và thời để phát huy tài thao lược. Đó là đặc trưng của học thuyết quân sự Việt Nam và là trường phái quân sự Việt Nam. Tóm lại, học thuyết quân sự Việt Nam là chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược, toàn dân, toàn diện; tiến hành chiến tranh chính quy kết hợp với chiến tranh du kích của ba thứ quân; lấy sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân làm cơ sở, vận dụng thế và thời trong khởi nghĩa, trong chiến tranh và trong tác chiến, để đánh thắng quân xâm lược lớn mạnh hơn mình nhiều lần.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:58:03 pm
2. Phương pháp tác chiến

Tiến hành tác chiến chiến lược cũng có nhiều phương pháp, nhiều cách, cần căn cứ vào so sánh lực lượng hai bên, vào các giai đoạn của chiến tranh và vào khả năng, nghệ thuật của ta mà vận dụng các phương pháp cho phù hợp và sinh động. Nếu trong giai đoạn đầu của chiến tranh mà địch rất mạnh, ta phải tạm thời rút lui và đánh nhở trên toàn tuyến, tiêu hao địch, dụ địch vào sâu, phân tán địch, tiêu diệt nhỏ quân địch, để bảo toàn lực lượng của ta và tranh thủ thời gian củng cố phát triển lực lượng. Trần Hưng Đạo và Hồ Chí Minh đã thực hiện rất thành công phương pháp này. Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ta đã thực hiện phường pháp chiến đấu này và đề ra phương châm rất hay, rất phù hợp là du kích chiến và du kích vận động chiến, tổ chức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung. Ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, nếu địch vẫn mạnh hơn ta, nhưng không mạnh lắm, ta không yếu quá, không sợ bị địch tiêu diệt, có khả năng đương đầu với địch thì có thể phòng ngự chặn địch lại, để không cho địch chiếm các địa bàn chiến lược trọng yêu. Khi đã chặn được địch lại, tiêu hao địch nặng nề và còn đủ sức thì chuyển sang phản công để tiêu diệt địch. Lý Thướng Kiệt đã chặn Quách Quỳ ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) để bảo vệ kinh thành Thăng Long; sau đó chuyểnsang phản công tiêu diệt địch. Ở các giai đoạn sau của chiến tranh, khi lực lượng ta đã mạnh lên và địch đã yếu đi, ta có thể phản công và tiến công. Ở giai đoạn giữa của chiến tranh, khi lực lượng ta đã tương đối mạnh lên thì phương pháp tác chiến của ta có thể là đánh nhỏ và đánh vừa, mở các chiến dịch nhỏ và vừa, kết hợp với các hoạt động tác chiến nhỏ rộng khắp trên toàn chiến trường của ba thứ quân, có cả tiến công và phòng ngự, song tiến công vẫn là chủ yếu. Các chiến dịch nhỏ và vừa phải có chọn lọc, đánh địch ngoài công sự là chính; có điều kiện mới đánh địch trong công sự. Năm 1950, trong kháng chiến chống Pháp, ta đánh một vị trí công sự vững chắc Đông Khê là khêu ngòi để đánh vận động tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông giành thắng lợi giòn giã.


Năm 1967, trong kháng chiến chống Mỹ, bộ đội Tây Nguyên pháo kích vào Đắc Tô - Tân Cảnh, căn cứ của một lữ đoàn thuộc sư đoàn bộ binh số 4 của Mỹ cũng là để khêu ngòi cho đánh vận động tiêu diệt những đơn vị của lữ đoàn dù 173 Mỹ và một vài đơn vị của sư đoàn không vận Mỹ; cuối cùng đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 của Mỹ trên đồi 875 nổi tiếng. Đến giai đoạn tổng phản công, phương pháp tác chiến chiến lược có thể tiến hành bằng các cách như sau: tiến công kế tiếp, tiến công gổĩ đầu, tiến công đồng loạt và vừa tiến công, vừa vây hãm, vừa phòng ngự, muôn hình, muôn vẻ. Trong cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975, phương pháp tác chiếnchiến lược của ta vừa có phương pháp gối đầu, vừa có phương pháp kế tiếp. Mùa Xuân 1975, ý đồ và kế hoạch của ta là mở cácchiến dịch lớn để tiêu diệt lực lượng lớn quân địch và giải phóng những địa bàn chiến lược quan trọng. Muốn thế, ta lại phải tổ chức các đòn chiến lược - các chiến dịchchiến lược. Các sư đoàn, quân đoàn và lực lượng vũ trang các quân khu của ta đã sẵn sàng ở tuyến tác chiến. Ta mởchiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch đầu tiên của cuộc tổng tiến công, là đòn chiến lược đầu tiên, là chiến dịch chiến lượcđầu tiên. Các đơn vị khác của ta ở Huế, Đà Nẵng cũng sẵn sàng vào trận cùng tiến hành đòn chiến lược thứ hai - chiến dịch chiến lược thứ hai.


Ngày 25 tháng 3 năm 1975, ta giải phóng Tây Nguyên và tiếp tục truy kích địch đang rút chạy xuống đồng bằng. Trước đó, ngày 21 tháng 3 năm 1975, ta tiến công Huế, không đợi kết thúc chiến dịch Tây Nguyên và ngày 25 tháng 3 năm 1975, quân ta giải phóng Huế. Sau khi giải phóng Tây Nguyên, ta tiếp tục tiến công xuống vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và ngày 3 tháng 4 năm 1975 giải phóng Cam Ranh, kết thúc chiến dịch Tây Nguyên. Trước đó, ngày 29 tháng 3 năm 1975, bộ đội cánh bắc của ta giải phóng Đà Nẵng, kết thúc chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Như thế, phương pháp tác chiến chiến lược ở đây là phương pháp gối đầu giữa hai chiến dịch - đó là phương pháp thứ nhất.


Phương pháp thứ hai là phương pháp kế tiếp. Sau hai chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, ta mỏ chiến dịch chiến lược thứ ba - đòn chiến lược thứ ba, chiến dịch quyết chiến chiến lược để giải phóng Sài Gòn (chiến dịch Hồ Chí Minh). Để chuẩn bị mở chiến dịch Hồ Chí Minh, ta có một đợt hoạt động đêm để địch không kịp tổ chức phòng ngự và ta có điều kiện điều động, bố trí lực lượng. Đến ngày 26 tháng 4 năm 1975, ta mới bắt đầu tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiến dịch Hồ Chí Minh là kế tiếp chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng.


Phương pháp thứ ba là phương pháp tiến hành đồng thời, đồng loạt mở các chiến dịch tiến công của tác chiến chiến lược. Cuộc tổng tiến công năm 1285 trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, Trần Hưng Đạo đã mở cuộc tiến công đánh đạo quân chủ lực của chủ tướng Thoát Hoan ở Thăng Long; Trần Nhật Duật cũng đồng thời mở cuộc tiến công đánh Toa Đô ở Tây Kết. Thoát Hoan và Toa Đô đồng thời bị tiêu diệt chỉ cách nhau có mấy ngày. Đó là phương pháp tổng tiến công chiến lược một cách đồng thời, đồng loạt.


Cũng có một phương pháp khác trong tổng tiến công, tổng phản công là vừa có tiến công, vừa có vây hãm và có cả phòng ngự.

Phương pháp tác chiến chiến lược vừa có tiến công, phản công và phòng ngự được Lý Thường Kiệt áp dụng trên tuyến phòng ngự ở sông Như Nguyệt để bảo vệ Thăng Long và đã thành công.

Trong giai đoạn tiến công và phản công chiến lược thường diễn ra các trận đánh lớn, các chiến dịch rất lớn. Có thế mới nhanh chóng đánh bại địch về chiến lược, tạo ra các bước ngoặt của chiến tranh.

Năm 1427, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đánh quân nhà Minh, vừa phản công đánh Liễu Thăng ở Chi Lăng, vừa tiến hành vây hãm Vương Thông ở Đông Đô (Thăng Long), lại vừa chặn đánh (phòng ngự) Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa.


Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô đã phòng ngự chiến lược ở phía tây đất nước nhằm ngăn chặn quân phát xít Hít-le và đã làm chậm bước tiến của quân xâm lược.

Trong cuộc tổng tiến công đầu năm 1945, Hồng quân Liên Xô đã đồng loạt mở cuộc tổng tiến công vào nước Đức phát xít và các nước Đông Âu.

Thực hiện phương pháp nào là căn cứ vào so sánh lực lượng địch, ta; vào hình thái, hình thế chiến trường; vào khả năng và tài thao lược của ta. Thực hiện phương pháp gôì đầu và đồng loạt thì địch sẽ nhanh chóngbị đánh bại.


Phương pháp tác chiến chiến lược là có gối đầu, kế tiếp và đồng loạt, diễn ra ở dạng các đòn chiến lược trong một khung chiến cục, một tổ chức hoạt động tác chiến chiến lược thống nhất, tập trung về kế hoạch, thời gian và tình huống.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:59:01 pm
3. Tổ chức lực lượng tác chiến

Tổ chức lực lượng tác chiến chiến lược căn cứ vào các giai đoạn chiến tranh, vào khả năng của ta, vào yêu cầu phát triển của chiến tranh và vào tài thao lược của Bộ Tổng tư lệnh.

Trong điều kiện lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, trong giai đoạn đầu của chiến tranh chống xâm lược, tổ chức lực lượng của ta là các đơn vị nhỏ cỡ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn. Trong kháng chiến chống Pháp, ta chỉ tổ chức các đơn vị tiểu đoàn, trung đoàn. Đến giai đoạn giữa và cuối của cuộc chiến tranh, ta mới tổ chức đến cấp sư đoàn. Chưa có đơn vị lớn thì phổ biến là đánh nhỏ, đánh du kích một cách rộng rãi và đánh tập trung một cách có chọn lọc.


Trong kháng chiến chống Mỹ, ngay trong giai đoạn đầu, ta đã tổ chức các đơn vị sư đoàn. Đến giai đoạn giữa của cuộc kháng chiến, ta đã tổ chức đơn vị cấp quân đoàn. Có tổ chức đơn vị lớn mới đánh tiêu diệt lớn, giải phóng đãt đai và bảo vệ các địa bàn trọng yếu.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, quân đội chính quy đã được xây dựng ngay từ đầu và được huấn luyện, nên đã tổ chức được các đơn vị lớn ngay từ giai đoạn đầu của chiến tranh. Triều Lý đã có những đơn vị lớn nên Lý Thường Kiệt đã tổ chức trận phòng ngự lớn (chiến dịch phòng ngự chiến lược) ở tuyến sông Như Nguyệt để ngăn chặn Quách Quỳ, rồi phản công tiêu diệt.


Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hồng quân Liên Xô đã tổ chức ra các tập đoàn quân và phương diện quân gồm khoảng 80 vạn quân. Phương diện quân của Nguyên soái Giu-cốp khi đánh Béc-lin có biên chế tới 5 tập đoàn quân binh chủng hợp thành và 2 tập đoàn quân xe tăng, quân số khoảng hơn 1 triệu người. Còn phát xít Đức xâm lược thì tổ chức ra các tập đoàn quân và cụm tập đoàn quân - cụm tập đoàn quân thường có khoảng 1 triệu quân. Mùa hè năm 1941, khi phát xít Đức tiến công Liên Xô, cụm tập đoàn quân Trung tâm đánh vềhướng Mát-xcơ-va có tới 50 sư đoàn.


Chiến tranh ngày nay là chiến tranh sử dụng công nghệ cao, tác chiến điện tử. Tổ chức quân đội ngày nay phải tăngcường các quân binh chủng. Bộ đội chủ lực có thể tổ chức bộ binh hợp lý, nhưng phải tăng cường các quân binh chủng, tăng cường các đơn vị bộ đội kỹ thuật. Đặc biệt, phải tăng cường bộ đội phòng không để đánh trả các cuộc tiến công hỏa lực đường không của quân địch bằng máy bay và tên lửa hành trình. Phải tăng cường súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không các loại, các cỡ, loại cố định và loại cơ động. Bộ đội xe tăng và bộ đội pháo binh cần có biên chế, trang bị các loại súng, pháo, tên lửa phòng không để bảo vệ cho bản thân mình và được đặt trên xe bánh xích, hoặc xe bánh lốp. Dân quân tự vệ được huấn luyện đánh chặn tên lửa hành trình và máy bay bay thấp.


Nga có tên lửa SAM-6 cơ động trên xe bánh xích và tên lửa phòng không hiện đại tiên tiến S-300, cơ động trên xe bánh lốp. Tên lửa phòng không S-300 tiên tiến hơn loại tẽn lửa phòng không Pa-tơ-ri-ốt của Mỹ. Nga còn có loại tên lửa phòng không mới nhất là S-400 tiên tiến hơn loại S-300. Từ tư thế hành quân chuyển sang tư thế chiến đấu, S-300 chỉ mất 5 phút, còn Pa-tơ-ri-ốt của Mỹ mất 15 phút. Đây là loại vũ khí phòng không ta cần có để trang bị cho bộ đội Phòng không - Không quân.


Ở nước ta, tổ chức đánh trả cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch là rất quan trọng. Do đó ta phải xây dựng tổ chức lực lượng phòng không mạnh; coi trọng xây dựng tổ chức các lực lượng tên lửa phòng không và các loại súng, pháo phòng không cho cả ba thứ quân. Tuy lực lượng không quân của ta còn hạn chế, nhưng nếu sức mạnh phòng không của ba thứ quân mạnh thì cũng có thể đối phó được sức mạnh tiến công hỏa lực đường không của đối phương; mà sức mạnh tiến công hỏa lực đường không hiện nay là một mũi nhọn của địch.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 10:00:11 pm
4. Tìm chọn địa bàn, mục tiêu tác chiến, hướng tiến công chủ yếu

Xác định đúng thì thắng lợi. Tùy từng giai đoạn chiến tranh, lúc đầu ta chưa mạnh lắm thì chọn địa bàn nơi địch yếu. Nhưng nếu khi cần, mà ta có khả năng chiến đấu thì có thể chọn theo yêu cầu chiến lược. Lý Thường Kiệt đã chọn tuyến sông Như Nguyệt để ngăn chặn Quách Quỳ, rồi tổng phản công tiêu diệt địch bảo vệ kinh đô Thăng Long. Cần chọn địa bàn địch yếu, nhưng là nơi hiểm yếu của nó, lại có cái thế phát triển và địch khó sử dụng lực lượng dự bị chiến lược. Trong kháng chiến chống Pháp ta chọn đánh Điện Biên Phủ, dịch tuy mạnh nhưng cũng khó sử dụng lực lượng dự bị chiến lược.


Trong chiến cục mùa Xuân 1975, mưu kế chiến lược của ta là kìm địch ở hai đầu nam, bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để địch bị sơ hở ở Tây Nguyên. Ở Sài Gòn và Huế - Đà Nảng địch phải để lực lượng tổng dự bị. Tây Nguyên là nơi địch yếu. Ta chọn Tây Nguyên là nơi địch cũng khó sử dụng lực lượng dự bị chiến lược; ta dễ thắng lợi và sau đó cũng dễ phát triển xuống đồng bằng ven biển cực nam Trung bộ. Chọn mục tiêu và hướng tiến công chủ yếu cũng tùy theo giai đoạn chiến tranh, tùy theo so sánh lực lượng và yêu cầu của chiến lược. Có lúc chọn nơi địch yếu, có lúc chọn nơi địch tương đối mạnh hoặc mạnh, nghệ thuật chọn địa bàn, mục tiêu là kiểm chế một hoặc vài mục tiêu để đánh một mục tiêu. Phòng ngự ở một địa bàn để tiến công ở một địa bàn khác.


Trận đầu, chiến dịch đầu, nên chọn địa bàn nơi địch yếu, hướng, mục tiêu địch yếu và ta dễ phát triển. Chọn nơi địch yếu thì địch mạnh cũng sẽ trở thành yếu, vì nó không còn thế liên hoàn nữa. Cũng giống như một cái hình, nếu mất một cạnh, một góc thì cái hình không còn được hoàn chỉnh nữa. Các cạnh khác, góc khác cũng sẽ yếu đi. Trong chiến cục mùa Xuân năm 1975, địch mất Tây Nguyên thì Huế - Đà Nẵng có mạnh cũng sẽ trở thành yêu.


Đó là vấn đề thế trận và hình trận.


5. Sử dụng đội tổng dự bị và đánh phản kích

Đây cũng là vấn đề nguyên tắc và nghệ thuật chỉ huy.

Đội dự bị, tổng dự bị là quả đấm nguyên vẹn, sung sức, là con dao sắc sử dụng vào những tình huống, thời cơthen chốt để tăng thêm sức mạnh, để đối phó có hiệu quả với những tình huống khó khăn, để phát triển thắng lợi lớn, nhanh chóng hoặc để cứu vãn tình thế.


Người chỉ huy không nên sử dụng hết toàn bộ lực lượng. Trong chiến đấu thường diễn ra những điều mà người chỉ huy không lường hết được. Do đó, cần phải có đội dự bị đê sẵn sàng ứng phó với những tình huống thuận hay nghịch.


Chiến cục Xuân 1975, đội tổng dự bị chiến lược của ta là Quân đoàn 1, ta có thể sử dụng vào chiến trường Huế - Đà Nẵng. Nhưng Quân đoàn 2 của ta và lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên không cần dùng đến đội tổng dự bị chiến lược. Đến chiến dịch Hồ Chí Minh, ta mới sử dụng Quân đoàn 1 để nhanh chóng giải phóng Sài Gòn, để địch không kịp có kế hoạch đối phó.


Chiến cục xuân-hè 1972, địch đã sử dụng đội tổng dự bị chiến lược là sư đoàn dù có hiệu quả. Sư đoàn dù đã cứu được An Lộc đang bị nguy khốn; và sau đó nó lại cứu được Quảng Trị cũng trong tình cảnh nguy khốn. Đội tổng dự bị chiến lược của địch (sư đoàn dù) làm được nhiệm vụ đó là vì nó cơ động bằng máy bay trực thăng.


Sức cơ động nhanh (máy bay trực thăng) tạo ra lực lượng, thời gian, không gian và thời cơ, tình huống. Chiến cục Xuân 1975, đội tổng dự bị chiến lược của địch sử dụng không hợp lý. Sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến của địch lại phân tán sử dụng vào trực tiếp chiến đấu ở tuyến một và một phần làm dự bị cho chiến dịch hoặc chiến lược. Về phía ta, đội tổng dự bị chiến lược được tổ chức thành một lực lượng mạnh và tập trung. Đội tổng dự bị của ta là một quân đoàn (Quân đoàn 1), mạnh hơn đội tổng dự bị chiến lược của địch. Đội tổng dự bị chiến lược của ta được sử dụng tập trung vào những thời điểmthen chốt, thúc đẩy cho tác chiến phát triển và có tínhquyết định. Quân đoàn 1 của ta được sử dụng vào chiến dịch quyết chiến chiến lược để giải phóng Sài Gòn một cách nhanh chóng.


Về đánh phản kích, trong giai đoạn cuối của chiến dịch Quảng Trị năm 1972, ta chưa tổ chức được đội tổng dự bị chiến lược để đánh bại địch phản công, về đánh phản kích trong chiến dịch, ta đã thành công trong việc đánh bại sư đoàn 23 của địch định đi ứng cứu Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1975; do đó ta đã tạo ra đột biến chiến dịch. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã sử dụng đội tổng dự bị chiến lược đê tiêu diệt hết tàn quân của Liễu Thãng chạy từ Chi Lăng về Bắc Giang. Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai, trong chiến dịch Xta-lin-grát, Hồng quân Liên Xô đã dùng lực lượng tổng dự bị chiến lược của tướng Ma-li-nôp-xki để đánh bại cuộc phản kích của thống chế Đức Von Manh-xi-tanh định đi cứu 33 vạn quân Đức bị bao vây ỏ Xta-lin-grát, buộc thống chế Đức Von Pao-lut-sơ đang bị vây hãm phải đầu hàng. Đây là lần đầu tiên trong chiến tranh thế giới thứ 2, thống chế Đức Von Manh-xi-tanh đã từng chỉ huy các binh đoàn xe tăng Đức làm mưa, làm gió một thời trên đất Pháp, đã bị đánh bại và một thống chế khác bị bắt làm tù binh.


Những ví dụ trên đã cho thây đội dự bị, tổng dự bị chiến lược có vị trí, vai trò quan trọng như thế nào trong chiến tranh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười Hai, 2023, 10:03:02 pm
6. Vận dụng "thế", "thời" trong tác chiến

Vận dụng "thế", "thời" là nét đặc sắc về nghệ thuật khởi nghĩa và chiến tranh của Việt Nam. Trong tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã vận dụng thế và thời một cách tài tình, nên đã đưa cuộc tổng khởi nghĩa đến thắng lọi nhanh chóng, ít tổn thất và đã lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa. Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1945,cả nước ta đã sôi sục khí thế khởi nghĩa. Tình thế tiền khởi nghĩa đã diễn ra khắp nước. Nhân dân ở nhiều vùng nông thôn đã nổi dậy cướp kho thóc của Nhật. Trước tháng 8 năm 1945, quân du kích cách mang ở nhiều nơi đã lập ra các chiến khu, và đã đánh một số đồn bốt. Như thế là Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chiến đấu chống phát xít, phối hợp với Hồng quân Liên Xô và quân đôi Đông minh. Nhưng thơi cơ tổng khởi nghĩa chưa chín muồi.


Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô phát động cuộc tiến công đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hồng quân tiến vào trung tâm Mãn Châu. Biết quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh vào 12 giờ trưa ngày 13 tháng 8 năm 1945, 11 giờ đêm cùng ngày lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng Tổng bộ Việt Minh phát lệnh khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa.


Cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra khi quân Nhật đã mất hết tinh thần và sức chiến đấu, và lúc đó quân Đồng minh chưa kịp tiến vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Đó là thời cơ thuận lợi nhất để đưa cách mạng đến thành công và lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước khi quân Đồng minh vào. Nếu khởi nghĩa nổ ra chậm, khi quân Đồng minh đã vào và chính phủ thân Đồng minh được lập ra thì ta sẽ khó bề xoay xở. Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi quân Đồng minh vào, ta đã ở một vị thế là Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật.


Trong trận Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đánh quân Nam Hán cũng vận dụng thế, thời một cách tài tình. Cọc dưới lòng sông Bạch Đằng là "thế", thủy triều là "thời". Do vận dụng thế, thời một cách tài tình nên Ngô Quyền đã giành thắng lợi, chiến tranh chỉ diễn ra trong có mấy ngày. Đây là cuộc chiến tranh ngắn nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Trong chiến cục Xuân 1975 của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thế trận chiến lược của ta là căng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến (ở Huế - Đà Nẫng và Sài Gòn), để hở quãng giữa (miền Trung và Tây Nguyên). Ta kìm giữ địch ở Huế - Đà Nẵng bằng Quân đoàn 2 và Quân đoàn 1 là tổng dự bị chiến lược ở đằng sau Quân đoàn 2. Ta cũng kim giữ địch ở Sài Gòn bàng Quân đoàn 4, đứng chân ở phía bắc Sài Gòn. Do ta bcT trí ba quân đoàn như thế ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến, nên dịch cũng đặt sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến ở Huế: Đà Nẵng và Sài Gòn để sẵn sàng đối phó. Địch sợ nhất là mặt trận Huế - Đà Nẵng. Vì ở đây ta có lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân của Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5. Ngoài ra, ta lại có Quân đoàn 1 đứng chân ở phía bắc vĩ tuyến 17.


Khi đã giữ chặt được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến của địch cắm chân ở các vị trí chiến lược then chốt đó, ta đã tạo được thời cơ để phát động chiến dịch tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa là, để phá vỡ thế trận phòng ngự của địch ở Tây Nguyên một cách nhanh chóng, ta đã bí mật tăng thêm cho Tây Nguyên hai sư đoàn nữa. Ở Tây Nguyên, từ hai sư đoàn đã tăng lên thành bốn sư đoàn. Một quả đấm mạnh thứ ba được hình thành ở Tây Nguyên. Như vậy, khi ta đã kìm chân được địch ở hai đầu chiến tuyến; lực lượng tổng dự bị của địch đã bị dính chặt ở những nơi ta định kìm chân chúng, thì ta vẫn có một lực lượng mạnh đểphá vỡ địch ở nơi ta chọn. Do đó mà lực lượng của địch nhanh chóng bị đập tan. Tài thao lược, mưu kế chiến lược của ta là kìm địch ở hai đầu để phá ở quãng giữa.


Thế trận chiến lược của ta là căng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến, tạo ra sơ hở ở Tây Nguyên. Do đó mà ta dễ phá vỡ địch ở Tây Nguyên. Thế trận chiến lược của ta như thế là đẹp. Thế trận chiến lược đã tạo điều kiện tốt cho trận mở đầu Buôn Ma Thuột giành thắng lợi nhanh chóng. Thời cơ chiến lược là khi ta đã kìm chân được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến ở Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn, cùng lúc ta phát động cuộc tiến công ở Tây Nguyên. Khi ta đánh địch ở Tây Nguyên, thì tổng dự bị của địch không đi cứu được. Do đó, mặt trận Tây Nguyên bị phá vỡ một cách nhanh chóng và tạo ra đột biến. Thời ởđây cũng hay - nghệ thuật thế và thời ở đây cũng được vận dụng một cách sáng tạo, hợp lý.

   Mưu sinh ra thế,
   Kế đẻ ra thời.
   Đánh bằng mưu kế,
   Thắng bằng thế thời.

Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều nói, nước nhỏ đánh một nước lớn tìi phải dùng "thế" và "thời".

   Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:
   "Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ,
   Ít địch nhiều thường dùng mai phục''.

Trong Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi viết: "Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn. Không thời mất thế thì to hóa ra nhỏ, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy".

   Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về thế và thời đã viết:
   "Lạc nước hai xe đành bỏ phí.
   Gặp thời một tốt cũng thành công".

Và: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi. Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng...."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 455). Vận dụng thế, thời là một nghệ thuật cao trong tác chiến, đặc biệt là trong trường hợp dùng một lực lượng nhỏ để đánh lại một lực lượnglớn hơn, mạnh hơn. Có thể nói:
   Mưu cao nhất là mưu lừa địch,
   Kế hay nhất là kế điều địch.
   Lừa địch là tạo ra bất ngờ,
   Điều địch là tạo ra chủ động.
   Bất ngờ và chủđộng là mạch sống của tác chiến.
   Thế trận càng phức tạp, thì tình huống diễn ra càng giản đơn.
   Đánh bằng nhiều thế, bảo đảm cho một thế thắng để đi đến toàn thắng.
   Chia địch ra để đánh, căng địch ra mà diệt.
   Đánh quân yếu trước, quân mạnh sau.
   Đánh vận động trước, đánh công sự sau.
   Kết hợp chặt chẽ giữa đánh quân đường bộ với quân đổ bộ đường không.
   Phòng ngự dùng quân ít, hợp lý để dành lực lượng cho tiến công và phản công.
   Vận dụng mưu lược chính kỳ một cách biến hóa. Cố gắng đánh vu hồi và đánh thọc sâu. Như Trần Hưng Đạo đã dạy: "Bậc thánh võ trị đời đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa bay trên không, lập nên các cuộc đời vô sự"1 (Trần Hưng Đạo: Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1970,tr. 39).

"Chính, kỳ" là nghệ thuật tác chiến của tổ tiên ta ngày xưa. Đó là một nghệ thuật quân sự đạt đến trình độ cao.

Trần Hưng Đạo nói: "Bỏ chỗ thực, đánh chỗ hư, đó là cái diệu của việc binh", và "Kỳ, chính đều dùng cả là tướng giúp nước vậy". (Binh thư yếu lược, tr. 147, 190). Và Nguyễn Trãi cũng viết:
   "Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị.
   Dĩ quảđịch chúng, thường thiệt phục dĩ xuất kỳ".

Tạm dịch:
   "Yếu đánh mạnh hay đánh khi không phòng bị,
   Ít địch nhiều thường mai phục để đánh bất ngờ".
(Bình Ngô đại cáo)

"Chính", "kỳ" là kết hợp giữa mũi tiến công chính và mũi đánh bất ngờ nhằm nhanh chóng đánh bại kẻ địch. Vì phải đối phó ở nhiều nơi, địch phải phân tán lực lượng. Địch tập trung đối phó với hướng chính thì ta bất ngờ đánh vào một hướng khác để giành thắng lợi nhanh chóng, địch đối phó không kịp.


"Chính" là mũi tiến công chính, "kỳ" là mũi đánh bất ngờ phối hợp với mũi tiến công chính, lợi dụng tác động của mũi tiến công chính mà địch phải tập trung đối phó để bất ngờ đánh vào quân địch đang sơ hở, giành thắng lợi một cách nhanh chóng, quyết định.


Quang Trung - Nguyễn Huệ đánh ở hướng chính Hạ Hồi, Ngọc Hồi; còn Đặng Tiến Đông (Đô đốc Long) đánh vu hồi vào hướng Đống Đa, bất ngờ đánh thẳng vào Tây Long Cung, đánh bại Tôn Sĩ Nghị.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:02:23 pm
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285), Trần Hưng Đạo đã giải phóng thành Thăng Long một cách nhanh chóng. Trận Chương Dương - Thăng Long của Trần Hưng Đạo năm 1285, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên không nói rõ chi tiết. Vậy Trần Hưng Đạo đã vận dụng tư tưởng và nghệ thuật quân sự như thế nào để có thể chiếm được thành Thăng Long nhanh chóng như thế. Có thể suy đoán một thế trận thể hiện tư tưởng và nghệ thuật quân sự của Trần Hưng Đạo như sau: Trần Quang Khải đã dùng một bộ phận đánh vây hãm Chương Dương để nhử Thoát Hoan ở thành Thăng Long đem đại quân ra cứu Chương Dương. Trên đường từ Thăng Long đến cứu Chương Dương, Thoát Hoan đã bị Trần Quang Khải đánh bại. Trong khi đó, các tướng của ta là Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền lợi dụng sơhở của thành Thăng Long, đánh chiếm thành một cách bất ngờ, có tính chất như mũi kỳ binh. Khi Thoát Hoan bị đánh thua, định rút vào thành Thăng Long nhưng thành đã bị quân ta chiếm, nên hắn buộc phải tháo chạy qua sông Hồng.


Có thể nói, Trần Hưng Đạo thường chủ trương đánh vận động, ít chủ trương đánh thành và thường dùng mưu để đánh địch.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi mũi tiến công chính của ta đang đánh ở phía đông, thì mũi thọc sâu của ta bất ngờ đánh vào sở chỉ huy của địch, bắt sống Đờ Ca-xtơ-ri. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, khi các cánh quân tiến công chính của ta đang đánh địch ở các mục tiêu đã định, thì mũi thọc sâu của ta bất ngờ đánh thẳng vào dinh Độc Lập, bắt sốngtổng thống của chính quyền ngụy Sài Gòn.


Vì thế, "chính", "kỳ" là một nghệ thuật hay, ta cần vận dụng nhiều trong tác chiến.

Từ nghệ thuật "chính", "kỳ", ta có thể mở rộng và phát triển nó một cách sinh động, Trong tác chiến bao giờ cũng có mũi đánh chính và các mũi đánh phối hợp. Từ nguyên lý mũi đánh chính và mũi đánh phối hợp, từ nguyên lý "chính", "kỳ" ta có thể vận dụng một cách sáng tạo trong tình hình phát triển mới. Mũi đánh chính bao giờ cũng có; còn mũi đánh phối hợp thi có thể có ít hoặc nhiều; mỗi mũi có một tác dụng nhất định như: mũi tạo thế, mũi nghi binh, mũi chia cắt, mũi phối hợp hỗ trợ, v.v... Tác chiến là tổng hợp của nhiều mũi đánh một cách hữu cơ, có mối liên hệ tác động lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau để giành thắng lợi. Kết quả của tác chiến là biết tìm ra mối liên hệ một cách biện chứng, vận dụng các mũi phối hợp với nhau một cách mưu lược để lừa địch để đạt được cái đích cuối cùng cao nhất là chiến thắng.


Trong trận Buôn Ma Thuột năm 1975, ta có các mũi chia cắt để tạo thế, mũi nghi binh tạo điều kiện cho mũi đánh chính vào thị xã Buôn Ma Thuột và trong trận đánh này, cácmũi đánh chính đã kết hợp với mũi thọc sâu, vu hồi để đánh bại địch một cách nhanh chóng.


Đánh địch có hỏa lực mạnh và cơ động cao thì ta phải đánh bằng nhiều mũi, đánh vào nhiều mục tiêu và bằng nhiều thế. Các mũi có tác dụng khác nhau mới phân tán được hỏa lực của địch, phân tán được sự đối phó của địch, phân tán sức cơ động của địch và có đòn lừa địch để địch bị bất ngờ.


"Chính", "kỳ" cần được vận dụng trong điều kiện mối và có những sáng tạo mới. "Chính", "kỳ" phải hỗ trợ cho nhau một cách hữu cơ. Có lúc "chính" đánh, "kỳ" thắng. Có lúc "kỳ" đánh, "chính" thắng. Có lúc "chính", "kỳ" biến hóa vô cùng. Sự vận dụng "chính", "kỳ" là sự vận dụng phối hợp giữa các mũi trong tác chiến, nhằm tạo ra sức mạnh một cách sinh động và lừa địch để đánh thắng địch một cách bất ngờ và nhanh chóng.


Chỉ huy tác chiến là sự phối hợp giữa các mũi tác chiến một cách hữu cơ trên địa hình trước quân địch, trên cơ sở "thế", "thời" và "chính", "kỳ" một cách mưu lược và tránh đi các nước cờ sai về chính trị, về chiến lược.


Tóm lại, chính, kỳ là mũi đánh chính và mũi đánh lừa, đánh bất ngờ làm cho địch mắc sai lầm để giành thắng lợi nhanh chóng, đánh quân địch có hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, bao giờ cũng phải đánh lừa, đánh bất ngờ phối hợp với mũi đánh chính thì mới có thể thắng địch. Nghi binh là lừa địch, tạo ra bất ngờ, làm cho địch mắc sai lầm. Vu hồi, thọc sâu là làm cho địch bị đánh bất ngờ và bị thua nhanh.


Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa hè 1972 ta đã lừa đội tổng dự bị của địch là sư đoàn dù của Sài Gòn ra đối chọi với quân ta ở ngoại ô thị xã Kon Tum. Ta đánh tiêu hao sư đoàn dù và giữ chân sư đoàn này ở Kon Tum một thời gian để tạo thế cho mũi đánh chính của ta cơ động triển khai một cách an toàn và đánh căn cứ 42, tiêu diệt hai trung đoàn và bộ chỉ huy nhẹ của sư đoàn 22 quân Sài Gòn và đánh chiếm Đắc Tô - Tân Cảnh.


Trong tác chiến chiến lược, điều cốt yêu là tiêu diệt lực lượng chiến lược của địch. Lực lượng chiến lược của địch là công cụ chính để tiêu diệt đối phương và đánh chiếm đất đai hoặc giữ vững địa bàn chiến lược.


Tiêu diệt tập đoàn chiến lược của địch có thể ở trong công sự và ngoài công sự. Tiêu diệt tập đoàn chiến lược của địch ở trong công sự là quan trọng hơn; nếu trong đó có cả bộ thống soái thì càng quan trọng.


Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt tập đoàn chiến lược của phát xít Đức ở thủ đô Béc-lin, tên trùm phát xít Hít-le phải tự sát và bộ thống soái của địch bị bắt sống, buộc nước Đức phải đầu hàng vô điều kiện.


Tiêu diệt tập đoàn chiến lược của địch ở ngoài công sự cũng dẫn tới thắng lợi của chiến tranh. Năm 1288, Trần Hưng Đạo đã tiêu diệt tập đoàn quân chiến lược của Ô Mã Nhi trên sóng Bạch Đằng, buộc Thoát Hoan ở Vạn Kiếp phải bỏ chạy về nước trong điều kiện không còn tiếp tế lương thực. Trong trận Bạch Đằng năm 1288, Trần Hưng Đạo đã lừa Ô Mã Nhi cả về chiến thuật và chiến dịch. Trần Hưng Đạo chỉ tiêu diệt một tập đoàn chiến lược trong đánh vận động ở ngoài công sự, bộ thống soái của địch cùng tập đoàn chiến lược khác ở trong công sự (Vạn Kiếp) phải bỏ chạy. Đó là điều kiện hoàn cảnh chiến tranh lúc đó. Đây cũng là một hiện tượng chiến tranh cần nghiên cứu.


Lê Lợi - Nguyễn Trãi tiêu diệt tập đoàn chiến lược của Liễu Thăng ngoài công sự, nhưng tập đoàn chiến lược của Vương Thông vẫn còn ở Đông Đô nên đã đàm phán hòa bình buộc họ rút quân về nước.


Hồ Chí Minh tiêu diệt tập đoàn chiến lược ở Điện Biên Phủ, nhưng tập đoàn chiến lược ở Hà Nội cùng với bộ thống soái của Pháp còn ở đó, nên đã đàm phán hòa bình đê Pháp rút khỏi một nửa nước ta.

Chiến cục Xuân 1975, ta phải tiêu diệt các tập đoàn chiến lược của địch ở Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và sau cùng phải tiêu diệt tập đoàn chiến lược ở Sài Gòn cùng bộ thống soái của địch thì mới giành được toàn thắng.


Cần nghiên cứu nhiều hiện tượng chiến tranh khác nhau để tìm hiểu về thế - thời và chính - kỳ để tìm ra quy luật của chiến tranh. Phải căn cứ vào điều kiện chủ quan, khách quan, về chính trị, kinh tế, quân sự, địa lý của hai bên đối địch mà vận dụng quy luật một cách sinh động. Quy luật của chiến tranh là tiêu diệt lực lượng chiến lược của địch. Trên cơ sở đó mà chiếm lĩnh đất đai hoặc giữ vững đất đai.


Có nhiều cách tiêu diệt lực lượng chiến lược của địch khác nhau. Loại hình chiến tranh là muôn hình, muôn vẻ, nhưng cần nắm vững quy luật là có tiêu diệtlực lượng chiến lược của địch thì mới giành được thắng lợi. Cần có quan điểm biện chứng, phương pháp luận đúng đắn mới nhận thức được chiến tranh và chỉ đạo được chiến tranh. Điều quan trọng là bao giờ cũng phải lừa địch, làm cho địch mắc sai lầm thì mới có thể đánh thắng địch. Chính, kỳ là ở chỗ đó.


Trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, sức mạnh của ta là tác chiến du kích kết hợp với tác chiến chính quy của ba thứ quân trong chiến tranhnhân dân và vận dụng những nét độc đáo của nghệ thuật "thế", "thời" và "chính", "kỳ".


Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật của "mưu", "kế", "thế", "thời" và "chính", "kỳ".


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:04:14 pm
7. Phương pháp luôn trong vận dụng nghệ thuật tác chiến và chiến tranh

Tác chiến và chiến tranh vận động rất sinh động và linh hoạt. Nhận thức về chỉ đạo tác chiến và chiến tranh phải có quan điểm biện chứng và thực tiễn, không máy móc, rập khuôn và giáo điều. Tác chiến và chiến tranh thể hiện ra muôn hình, muôn vẻ; tất nhiên là chúng có nguyên tắc, cóquy luật. Lúc thì mạnh thắng yếu, to thắng nhỏ, nhiều thắng ít; nhưng cũng có lúc yếu thắng mạnh, nhỏ thắng lớn, ít thắng nhiều. Cái đó tùy theo điều kiện của hai bên đối địch, do điều kiện của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, mà quan trọng nhất là điều kiện nhân hòa và tài thao lược. Ít đánh nhiều, nhỏ đánh lớn không theo quy luật thông thường thì phải có các điều kiện đặc biệt. Phần này muốn nghiên cứu các vấn đề về chiến dịch chiến lược - đòn chiến lược, chiến cục và việc vận dụng các vấn đề đó như thế nào? Các nhà quân sự tiền bối của dân tộc ta đã vận dụng như sau:


Lý Thường Kiệt đã có đủ sức và có khả năng phòng ngự. Ông đã tổ chức phòng ngự chiến lược ở tuyến sông Cầu để chặn Quách Quỳ, không cho quân Tống tiến vào chiếm Thăng Long. Sau đó, ông tổ chức phản công để đánh tan quân xâm lược. Trần Hưng Đạo do không đủ sức để giữ Thăng Long, nên phải tạm thời rút lui, bỏ kinh thành để giữ gìn lực lượng. Sau đó ông phản công giải phóng Thăng Long. Hồ Quý Ly thì không đủ sức phòng ngự và tổ chức phòng ngự không tốt mà để mất nước. Lê Lợi, Nguyễn Trãi thì dùng mai phục để diệt Liễu Thăng, rồi thu phục lại Đông Đô (Thăng Long) bằng đàm phán hòa bình, để cho Vương Thông rút quân về nước. Thời đại Hồ Chí Minh, ta tập trung lực lượng đánh tan quân địch ở Điện Biên Phủ để giành lại Hà Nội, và sau đó đánh thẳng vào Sài Gòn để giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước.


Tác chiến chiến lược là phải có các đòn chiến lược. Có đòn chiến lược thì mới thúc đẩy được chiến tranh phát triển, tạo ra bước ngoặt của chiến tranh hoặc kết thúcchiến tranh. Chiến tranh nhân dân là phải có tác chiến rộng khắp của ba thứ quân trên toàn bộ chiến trường và trên cơ sở đó, hình thành các chiến dịch và các đòn chiến lược có chọn lọc. Thời kỳ đầu chiến tranh, trên cơ sở tác chiến của ba thứ quân, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích, đánh cai xen kẽ với địch, phân tán, chia cắt địch, đánh cảở trước mặtđịch lẫn đằng sau lưng địch; có thể tiến hành tiến công nhỏ, vừa và phòng ngự nhỏ, làm cho địch bị tiêu hao và làm chậm bước tiến của địch vào sâu trong nội địa ta. Trong kháng chiến chống Pháp, trên cơ sở tác chiến rộng khắp của ba thứ quân trên khắp chiến trường, ta đã tổ chức các đòn chiến dịch có chọn lọc ở một số chiến trường và tổ chức đòn chiến lược quyết chiến ở Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống Mỹ, ở chiến cục mùa Xuân năm 1975, ta tổ chức ra ba đòn chiến lược: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông năm 1285, Trần Hưng Đạo đã tổ chức ra hai đòn chiến lược đồng thời, đồng loạt tiến công hai tập đoàn chiến lược của địch: Trần Quang Khải tiến công đạo quân chủ chổt của chủ tướng Thoát Hoan ở Thăng Long và Trần Nhật Duật tiến công đạo quân của Toa Đô ở Tây Kết. Hai tập đoàn chiến lược đó của địch đồng thời bị xóa sổ chỉ cách nhau có mấy ngày. Vì thế, cuộc tổng phản công chiến lược của Trần Hưng Đạo nhanh chóng giành được thắng lợi.


Trên cơ sở tác chiến của ba thứ quân mà tiến hành các hoạt động tác chiến, các chiến dịch nhỏ, vừa, lớn và các chiến dịch chiến lược (các đòn chiến lược). Chiến cục thể hiện các hoạt động tác chiến tập trung của tác chiến chiến lược. Nó gồm các hoạt động tác chiến trên chiến trường. Trên cơ sở đó mà tổ chức các chiến dịch, chiến dịch chiến lược theo một kế hoạch thống nhất, thời gian thống nhất theo mục đích thống nhất có sự phối hợp về tình huống chiến lược, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển, đạt mục đích của yêu cầu chiến lược, của bước ngoặt chiến tranh. Có thể có một đòn chiến lược để kết thúc chiến tranh, như trận Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp, trận sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt. Có thể có mấy đòn chiến lược để kết thúc chiến tranh như năm 1285 Trần Hưng Đạo tiến hành hai đòn: một ở Thăng Long và một ở Tây Kết. Trong chiến cục Xuân 1975 của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân ta đã tiến hành ba đòn chiến lượcđể giải phóng miền Nam Việt Nam: Đòn chiến lược thứ nhất tiến hành ở Tây Nguyên; đòn chiến lược thứ hai tiến hành ở Huế - Đà Nầng; đòn chiến lược thứ ba - đòn quyết chiến chiến lược - được tiến hành ờ Sài Gòn. Tiến hành ba đòn chiến lược kế tiếp nhau thắng lợi, ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam một cách nhanh chóng chỉ trong 55 ngày đêm.


Như vậy, đến thời kỳ tổng phản công, tổng tiến công thì thường là phải có các đòn chiến lược, các chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, hoặc các chiến dịch chiến lược.

Đòn chiến lược và chiến dịch chiến lược là thực hiện nhiệm vụ chiến lược, là tiêu diệt lớn, tiêu diệt chiến lược đối vớiquân địch và giữ vững địa bàn chiến lược hoặc giải phóng một địa bàn chiến lược trọng yếu, một mục tiêu chiến lược trọng yếu hoặc có tính chất quyết định (chiến dịch quyết chiến chiến lược).


Ý nghĩa của chiến dịch chiến lược là tiêu diệt lực lượng chiến lược của đối phương và giải phóng đất đai, giải phóng hoặc giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng. Chiến dịch chiến lược Tây Nguyên (1975) ta đã tiêu diệt một tập đoàn chiến lược của địch (một quân khu - quân đoàn) và giải phóng sáu tỉnh (ba tỉnh Tây Nguyên và ba tỉnh đồng bằng duyên hải miền Trung), chiến dịch chiến lược Huế - Đà Nẵng cũng diễn ra như vậy. Trong chiến tranh, có lúc chỉ tiêu diệt một lực lượng chiến lược, một mục tiêu chiến lược then chốt có tính quyết định, ở một địa bàn chiến lược chưa phải là then chốt, như trong một hoàn cảnh, tình huống chiến lược mà trên cơ sở thất bại đó, khó khăn của địch trên toàn bộ chiến trường cả về quân sự lẫn chính trị thì cũng có thể dẫn đến thắng lợi của chien tranh, như trận Điện Biên Phủ. Nội dung của chiến dịch chiến lược là tiêu diệt lực lượng chiến lược trọng yếu của đối phương và giải phóng địa bàn chiến lược trọng yêu hoặc giữ vững địa bàn chiến lược trọng yếu, trong đó việc tiêu diệt lực lượng chiến lược trọng yếu là quan trọng nhất, vì nó là công cụ chủ yếu của tác chiến chiến lược, của chiến tranh, làđộng lực của tác chiến và chiến tranh. Chiến dịch chiến lược làm nhiệm vụ chiến lược, trực tiếp làm thay đổi về chất của chiến lược. Còn chiến dịch thường chỉ làm thay đổi về lượng của chiến lược. Nếu tác chiến tạo ra đột biến về chiến lược thì nó làm thay đổi về chất của chiến lược của chiến tranh một cách đột ngột, nhảy vọt.


Nhận thức chiến tranh cũng phải có quan điểm biện chứng, tùy theo các điều kiện, hoàn cảnh thực tế. Chiến tranh có thể dài, có thể ngắn: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung chỉ tiến hành trong mấy tháng là giải quyết được chiến tranh; Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh phải kéo dài 9 - 10 năm; nhưng Ngô Quyền chỉ có mấy ngày - một cuộc chiến tranh nhanh nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.


Tiến hành chiến tranh có thể bằng đánh đuổi địch ra khỏi đất nước và cũng có thể bằng đàm phán hòa bình để địch rút quân về nước. Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến tranh: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".


Tác chiến chiến lược, chiến tranh cũng có thể phòng ngự chiến lược ngay từ thời kỳ đầu chiến tranh như Lý Thường Kiệt, Hồng quân Liên Xô, cũng có thể phải rút lui chiến lược như Trần Hưng Đạo hoặc phải đánh nhỏ và không có phòng ngự chiến lược như Hồ Chí Minh. Trong chiến tranh, muốn phòng ngự chiến lược phải có quân đội chính quy có đủ sức để phòng ngự. Còn bắt đầu từ đánh du kích và đánh vận động thì không đủ sức để phòng ngự chiến lược ngay từ giai đoạn đâu chiến tranh. Ở đây cũng cần nghiên cứu một vấn đề có tính quy luật: Khi một nhà nước độc lập đã xây dựng được một đội quân chính quy thì có thể tổ chức phòng ngự ngay từ đầu. Từ khởi nghĩa mà tiên lên chiến tranh, chưa xây dựng được nhà nước độc lập, chưa có quân đội chính quy đủ sức tiến hành tác chiến phòng ngự thì thời kỳ đầu chiến tranh chưa thể phòng ngự và phòng ngự chiến lược. Trường hợp có nhà nước độc lập rồi, có quân đội chính quy rồi, nhưng địchmạnh quá thì cũng phải tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi phản công đánh chiếm lại sau.


Vận dụng phương pháp luận trong nhận thức và chỉ đạo tác chiến chiến lược và chiến tranh là một nghệ thuật cao, phải nghiên cứu các hiện tượng trong lịch sử chiến tranh đông tây, kim cổ, diễn ra trong các điều kiện thực tiễn khác nhau để thấy sự vận động của quy luật và thấy sự muôn hình muôn vẻ của nó.


Phương pháp tiến hành chiến tranh của nhân dân ta là vừa có chiến tranh du kích, vừa có chiến tranh chính quy. Hai phương pháp đó kết hợp với nhau hình thành phương thức chiến tranh nhân dân Việt Nam. Quy luật của chiến tranh nhân dân Việt Nam là phương thức kết hợp hai phương pháp tác chiến: du kích và chính quy; nếu đi trật phương thức này là thất bại.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:05:31 pm
8. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Chiến tranh ngày nay là chiến tranh công nghệ cao và tác chiến điện tử rộng rãi.

Bên tiến công có thể đánh chiếm đất đai để xâm lược và cũng có thể dùng chiến tranh để ép buộc đối phương phải chấp nhặn một đường lối cường quyền mà họ đưa ra.

Dù chiến tranh xâm lược hay áp đặt đường lối thì chiến tranh ngày nay cũng bắt đầu bằng tiến công hỏa lực đường không, do máy bay và tên lửa hành trình tiến hành. Sau giai đoạn tiến công hỏa lực đường không đạt được kết quả như dự kiến, rồi mới đến giai đoạn đưa quân bộ và quân đổ bộ đường không vào đánh chiếm đất đai (như ở I-rắc). Cũng có trường hợp chỉ có tiến công hỏa lực đường không, mà không có quân bộ vào đánh chiếm đất đai như ở Cô-xô-vô. Trường hợp này, mục đích của chiến tranh có bị hạn chế. Ta phải dự kiến cả hai trường hợp, hai tình huống. Dự kiến và có kế hoạch đối phó với tình huống khó nhất. Trường hợp chiến tranh nào thìđầu tiên là phải đánh trả, đối phó với cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch. Nếu đối phó có hiệu quả tốt thì tình huống thứ hai có thể không xảy ra. Đó là gạn lọc tình huống. Quân địch rất sợ bị thương vong và bị sa lầy; vì thế ta phải tiến hành chiến tranh nhân dân bằng ba thứ quân để đánh trả cuộc tiến công hỏa lực đường không bằng máy bay và tên lửa hành trình. Lực lượng chính là các loại súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không. Súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không là lực lượng chủ lực (12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 ở Hà Nội và Hải Phòng đã cho ta những kinh nghiệm quý báu).


Ngoài súng, pháo, tên lửa phòng không là lực lượng chủ lực ra, ta phải có không quân để phối hợp.

Dân quân tự vệ là lực lượng rộng rãi để đánh máy bay bay thấp, tên lửa hành trình và máy bay trực thăng. Chỉ có bộ đội chủ lực thì không đủ sức mạnh để đánh tên lửa hành trình và máy bay trực thăng. Trong chiến tranh phá hoại đánh máy bay Mỹ ở miền Bắc, dân quân tự vệ đã bắn rơi được máy bay F.111 của Mỹ. Cần tăng cường các loại, các cỡ tên lửa phòng không cho bộ đội chủ lực, có sức cơ động cao và tăng cường cho dân quân tự vệ súng máy để đánh tên lửa hành trình, máy bay bay thấp và máy bay trực thăng. Biên chế cho các binh chủng súng, pháo phòng không để có sức tự bảo vệ. Các loại súng, pháo phòng không hoặc tên lửa phòng không vác vai biên chế cho bộ đội xe tăng cần đặt trên bệ xích; cho bộ đội pháo binh và cho bộ đội vận tải thì đặt trên xe bánh lốp và trên xuồng máy. Phòng không là nhiệm vụ tác chiến đặc biệt quan trọng trong chiến tranh hiện đại. Nếu không khống chế được trên không, không hạn chế được sức mạnh trên không của đối phương thì cũng khó hoạt động trên mặt đất. Cần thấy rằng, không quân và tên lửa hành trình là mũi nhọn tác chiến ngày nay của kẻ xâm lược. Ngoài đánh địch trên không ra, cần sản xuất các loại súng, pháo phản lực (mang vác hiện đại) để đánh vào đằng sau lưng chúng. Địch tiến công ta, ta cũng tiến công lại vào các mục tiêu trong hậu phương địch. Tổ chức các đội chuyên trách của ba thứ quân để đánh yào các căn cứ, sân bay, kho tàng, nơi tập trung quân, buộc địch cũng phải phân tán lực lượng, làm giảm sức mạnh tiến công. Tiến công vào hậu phương địch là rất quan trọng. Địch sẽ bị sa lầy giữa tiến công và phòng giữ.


Ngoài vấn đề đánh trả, việc phòng tránh cũng rất quan trọng. Có phòng tránh tốt mới đỡ thiệt hại, mới bảo toàn được lực lượng, mỏi có sức để đánh trả. Phòng tránh và đánh trả cũng quan trọng như nhau. Phòng tránh tốt để cuối cùng tạo điều kiện cho đánh trả tốt. Ít vũ khí tiến công thì phải có vũ khí đánh trả.


Muốn đánh trả tốt, cần phải đối phó được với tác chiến điện tử, tin học. Cần có cách ngụy trang, nghi binh mới. Cần có nhiều biện pháp chống tác chiến điện tử, cần có kỹ thuật ra-đa tốt. Người chỉ huy ngày nay cần có những hiểu biết cần thiết về kỹ thuật quân sự để chỉ huy bộ đội trong chiến tranh công nghệ cao. Người chỉ huy phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, phải thành thạo về nghệ thuật quân sự và phải hiểu biết về kỹ thuật quân sự. Điều khiển chiến tranh sau này phải có người chỉ huy và người kỹ sư hoặc hợp nhất người chỉ huy và người kỹ sư. Người chỉ huy biết chỉ huy đánh địch trên mặt đất chưa đủ mà còn phải biết chỉ huy đánh địch trên không. Quân tiến công trên bộ cũng phải dựa vào sức mạnh trên không, đặc biệt là đối vớiquân đội đi xâm lược. Sức mạnh trên không có nhiều ưu việt. Nó đánh nơi nào cũng được, kể cả nơi mà quân bộ không tới được. Xu hướng của chiến tranh ngày nay là phát triển sức mạnh chiến đấu trên không. Không trung và mặt đất cũng như mặt biển đã thống nhấtvới nhau trong chiến đấu. Cái hướng mới nữa là phát triển các loại vũ khí điều khiển từ xa. Nhưng muốn chiếm lĩnh đất đai thì vẫn phải có quân đổ bộ lên mặt đất. Nếu không có quân để chiếm lĩnh đất đai thì mục đích của chiến tranh cũng bị hạn chế. Bộ đội mặt đất cũng phải phát triển mạnh các binh chủng, đặc biệt là binh chủng, quân chủng chiến đấu trên không. Trên mặt đất, có thể tiến công nhỏ, vừa và phòng ngự nhỏ để làm chậm bước tiến của địch; đánh cả đằng trước mặt và đằng sau lưng địch làm cho chúng bị sa lầy; đánh cài xen kẽ với địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng giữ căn cứ, hậu phương.


Để bảo vệ Tổ quốc, ta phải phát triển tên lửa phòng không và súng, pháo phòng không; sau đó đến máy bay và hải quân. Nếu không phát triển được máy bay và hải quân thì không đánh được vào các căn cứ trên đất liền và trên biển - những nơi xuất phát của máy bay và tên lửa hành trình. Ngoài ra, phải tăng cường sức mạnh trên biển để chiến đấu trên biên, trên đảo. Nước ta bờ biển dài, có nhiều hải đảo và tài nguyên, cần phát triển hải quân cận đại dương. Khoa học, kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát triển; con đường tiến lên tất yếu phải phát triển các loại vũ khí điều khiển từ xa.


Trong chiến tranh, sức mạnh chính trị tinh thần là chính, nhưng không nên coi nhẹ kỹ thuật. Có tinh thần và kỹ thuật, công nghệ mới thì hiệu suất mới cao. Cần huy động nhân tài, các nhà khoa học hàng đầu quốc gia hợp tác cùng quân đội tham gia nghiên cứu cải tiến, sản xuất vũ khí, đặc biệt là tên lửa phòng không và vũ khí tối tân. Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã động viên lòng yêu nước nồng nàn của Thiếu tướng anh hùng Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của súng Ba-dô-ca Việt Nam, là một minh chứng điển hình.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:06:29 pm
9. Nhân tố thắng lợi trong chiến tranh

Tại làm sao ta lấy nhỏ đánh lớn, ít đánh nhiều, yếu đánh mạnh mà lại giành được thắng lợi? Đó là như thế nào? Cần nghiên cứu những nguyên nhân nào dẫn đến thắng lợi? Nguyên nhân thắng lợi của chiến tranh thì có nhiều, nhưng có mấy nhân tố cơ bản quyết định: Nhân tố thứ nhất là sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc. Toàn dân đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, quyết tâm đứng lên dám đánh và quyết đánh, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh thì mới có sức mạnh. Điều cốt lõi là dám đánh. Dám đánh, quyết đánh, dám đấu tranh thì mới có đấu tranh, mới có kháng chiến. Có đấu tranh, có kháng chiến thì mới thoát khỏi được ách lầm than, nô lệ, được độc lập tự do. Một người đấu tranh thì không có sức mạnh. Phải toàn dân đoàn kết kháng chiến, kiến quốc thì mới có sức mạnh to lớn. Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến, kiến quốc, không phân biệt người già, người trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái. Đã là người Việt Nam thì phải cùng nhau đoàn kết lại, đứng lên kháng chiến để cứu Tổ quốc. Trần Hưng Đạo cũng nói: "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức; khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng sách giữ nước". Thể hiện sức mạnh này trong kháng chiến là phải tổ chức thành ba thứ quân để chiến đấu: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Thời xưa, nước ta đã có quân triều đình, quân các lộ và hương binh, đó là lực lượng nòng cốt của toàn dân đánh giặc cứu nước. Sự thống nhất lợi ích giữa nhân dân và Nhà nước càng cao, càng chặt chẽ, càng tốt bao nhiêu thì chiến tranh nhân dân càng phát triển cao bấy nhiêu.


Nhân tố thứ hai là tài thao lược Việt Nam. Cơ quan lãnh đạo chiến tranh của ta đã biết vận dụng phương pháp luận để tìm ra phương pháp lãnh đạo chiến tranh phù hợp, đúng đắn. Ta đã biết kết hợp hai phương pháp chiến tranh: chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy, hình thành phương thức chiến tranh Việt Nam là chiến tranh nhân dân, rất phù hợp và có sức mạnh; rất thích hợp với một nước nhỏ đánh một nước lớn. Nhỏ thắng lớn thì phải có nghệ thuật chiến đấu, nghệ thuật đó là vận dụng thế và thời. Thế và thời là đặc trưng của nhỏ đánh lớn và đó cũng là trường phái quân sự Việt Nam trong học thuyết chiến tranh nhân dân Việt Nam. Quân địch rất khó tiêu diệt chiến tranh du kích. Địch đã mắc vào cái lưới của chiến tranh du kích thì sẽ bị tiêu hao,bị sa lầy. Nhưng nếu không có chiến tranh chính quy, thì không tiêu diệt lớn được quân địch và không giành được thắng lợi có tính chất quyết định. Phương thức chiến tranh nhân dân Việt Nam là sự kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, là một phương pháp luận hay trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh.


Nhân tố thứ ba là sự ủng hộ của quốc tế. Nhân dân tiến bộ trên thế giới đều ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa thì ủng hộ cả tinh thần và vật chất. Nhân dân tiến bộ trong các nước đi xâm lược cũng ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta, phản đối chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của giới cầm quyền.


Trên đây là ba nhân tố có thể nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Về chiến tranh hiện đại, chúng ta cần nghiên cứu thêm kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, vì các thứ đó sẽ làm cho hiệu suất chiến đấu cao hơn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:07:04 pm
KẾT LUẬN


Trong chiến tranh công nghệ cao, tác chiến điện tử rộng rãi, chiến tranh du kích vẫn phát triển cùng với chiến tranh chính quy. Chiến tranh du kích cần được trang bị vũ khí tương đối hiện đại và hiện đại; vũ khí mang vác phải là vũ khí mang vác hiện đại. Bộ đội chủ lực cần được trang bị vũ khí hiện đại tiên tiến và tôi tân, có thể chiến đấu trên mặt đất, trên không và trên biển. Chiến đấu trên không và mặt đất gắn chặt với nhau. Đánh đau, đánh nặng, đánh bại được sức mạnh trên không thì sẽ có điều kiện đánh bại địch trên mặt đất, hoặc sẽ không có chiến đấu trên mặt đất. Ngoài ra còn phải chiến đấu với các loại vũ khí điều khiển từ xa.


Người chỉ huy cấp chiến dịch - chiến lược vừa phải biết điều khiển chiến tranh du kích, lại vừa phải biết điều khiểnchiến tranh chính quy. Muốn chuyển biến chiến lược tạo ra bước ngoặt của chiến tranh thì cần phải tiến hành các đòn chiến lược, các chiến dịch chiến lược trong một cái khung tác chiến thống nhất là chiến cục.


Trong chỉ đạo tác chiến chiến lược cần gây ra các đột biến về chiến lược để tạo ra các bước ngoặt đột ngột, nhảy vọt của chiến tranh.

Người điều hành tác chiến chiến lược ngoài việc nắm vững các nghệ thuật quân sự truyền thống là thời, thế, cần nắm vững các kỹ thuật quân sự hiện đại tiên tiến của chiến tranh nhân dân trong thời đại chiến tranh công nghệ cao.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:10:11 pm
II
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ


1. Nghiên cứu khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, ta cần lấy phép biện chứng làm hạt nhân. Chiến tranh vận động rất sinh động. Nó căn cứ vào các điều kiện khách quan, chủ quan của hai bên đối địch, của thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tài thao lược của hai bên để vận động.


Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung đã tiến hành cuộc chiến tranh đánh đuổi địch ra khỏi đất nước. Còn Lê Lợi, Hồ Chí Minh thì đàm phán để địch rút quân về nước. Liên Xô thì đánh sang tận sào huyệt địch đế dập tắt lò lửa chiến tranh. Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh thì không có phòng ngự chiến dịch (đối với quân xâm lược nước ngoài). Lý Thường Kiệt thì có phòng ngự chiến lược (chiến dịch phòng ngự chiến lược) ở tuyến sông Cầu để bảo vệ kinh thành Thăng Long.


Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung chỉ đánh trong mấy tháng là thắng lợi, đặc biệt Ngô Quyền chỉ có mấy ngày. Lê Lợi, Hồ Chí Minh chín đến mười năm. Cho nên nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự là phải nghiên cứu lịch sử chiến tranh trong nước và thế giới. Cần dùng quan điểm biện chứng để nhận thức và chỉ đạo chiến tranh. Sự vận động của chiến tranh rất đa dạng. Do đó, tất nhiên nó phải có quy luật.


2. Trong nghiên cứu, phân tích sự vật cần tìm ra mâu thuẫn trong sự vận động, phát triển của sự vật và thấy cách, tìm cách giải quyết mâu thuẫn đó để cho sự vật phát triển.

Lịch sử chiến tranh chống xâm lược của Việt Nam là lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, và cuối cùng giành thắng lợi. Đó là một mâu thuẫn rất lớn, rất gay gắt. Ông cha ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhận thức được mâu thuẫn đó. Họ đều biết cách giải quyết mâu thuẫn đó để giành thắng lợi.


Cần thấy những mâu thuẫn trong chiến tranh cũng như các đấu tranh khác và biết cách giải quyết mâu thuẫn. Đó cũng là cách nghiên cứu, phân tích sự vật. Như thê mối thấy sự vật một cách đúng đắn.



Muốn giải quyết mâu thuẫn trong nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều thì phải phát huy sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân, dám đánh và quyết đánh và phải có tài thao lược. Phải khoan thư sức dân và quân đội phải như cha con một nhà (Trần Hưng Đạo). Phải:

"Bốn phương dân cày tập hợp. Rượu hòa nước,
   Dưới trên đểu một bụng cha con".

(Nguyễn Trãi)

   Và: "Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ;
   Ít địch nhiều thường dùng mai phục"
(Bình Ngô đại cáo)

Hoặc như ngày nay thì:

Dân làm chủ. "Du kích như cá, dân chúng như nước"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 470).

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay chúng ta phải phát động chiến tranh nhân dan chính nghĩa chống xâm lược, toàn dân đoàn kết một lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm quật khởi đứng dậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, dám đánh và quyết đánh, phát huy sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân. Dân quân du kích tự vệ được trang bị vũ khí tương đối hiện đại và hiện đại; bộ đội chủ lực được trang bị vũ khí công nghệ cao, giăng thế trận thiên la địa võng, cộng với tài thao lược thì không một kẻ thù nào có thể thắng nổi.


Trong nghiên cứu để có các giải pháp, bước đi, chúng ta cũng gặp rất nhiều mâu thuẫn, trong đó có mâu thuẫn giữa yêu cầu với khả năng.

Cần căn cứ vào khả năng, điều kiện với một tinh thần tích cực để giải quyết yêu cầu. Tránh duy ý chí và tránh bảo thủ, đồng thời cũng phải tránh tham ô, lãng phí. Phải phát huy tinh thần siêng năng, chắt chiu, cần cù. Đó cũng là nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn.


3. Trong nghiên cứu nghệ thuật quân sự, chúng ta cần tìm ra cái chất cấu thành nghệ thuật lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ đánh lớn. Cần đi sâu tìm hiểu, phân tích nghệ thuật đó. Đó là vấn đề "thế" và "thời" trên cơ sở mưu kế.

Trận Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền đã áp dụng kế nghi binh, lừa địch mà vận dụng "thế, thời". Bãi cọc Bạch Đằng là một "thế" biến hóa, khi ẩn, khi hiện do tác động của nước thủy triều. Trên cái "thế" đó mà Ngô Quyền lúc lừa dử địch, lúc diệt địch.


Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh cũng từ cái "thế" nổi dậy của nhân dân, quần chúng mà chớp thời cơ tiến hành cách mạng đúng lúc và thành công.

Lúc Nhật chưa đầu hàng thì chưa phải là "thời". Mà để quân Đồng minh vào thì là mất "thời", lỡ "thời". Cuộc cách mạng nổ ra đúng lúc Nhật sắp đầu hàng và quân Đồng minh chưa kịp vào. Chữ "thời" ở đây là tuyệt vời.


Cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1975 cũng đúng "thế" đúng "thời" sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, từ hai năm rút xuống còn một năm. Sau chiến thắng Huế - Đà Nẵng từ một năm rút xuống trước mùa mưa năm 1975.


"Thế" của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 cũng rất kỳ lạ. Nó thể hiện tài thao lược Việt Nam. Hai quân đoàn của ta đứng chân ở phía Bắc và Nam chiến tuyến, buộc địch phải nằm im ở Sài Gòn, ở Huế và Đà Nẵng, không dám cơ động đi đâu, để ta tự do tung hoành ở Tây Nguyên.


Có nghiên cứu lịch sử thực tiễn mới thấy được sự vận động phát triển rất sinh động của chiến tranh, mới thấy được sự phong phú của nghệ thuật, và có đi vào nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích các chất cấu thành sự vật mới thấy được chiều sâu của sự vật, của nghệ thuật, của lý luận.


Nguyễn Trãi nói: "Được thời, có thế thì mất biến thành còn; nhỏ hóa ra lớn. Không thời, mất thế thì mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy..." (Quân trung từ mệnh tập).

Hồ Chí Minh cũng nói: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Sđd, tr. 455). Đó là một câu rất hay, thậm chí có thể hay hơn những câu nói của một số danh tướng trên thế giới.


4. Trong nghiên cứu khoa học, cần đúc kết thực tiễn và lịch sử để nâng lên thành lý luận và từ lý luận khái quát thành quy luật và nguyên lý hoặc có tính chất nguyên lý. Chỉ từ thực tiễn và kinh nghiệm mới có thể đúc kết thành lý luận thì mới là sáng tạo.
"Mưu cao nhất là mưu lừa địch,
   Kế hay nhất là kế điều địch".
   Và: "Đánh bằng mưu kế,
   Thắng bằng thế thời".

Nêu quy luật, nguyên lý thành văn vần thì dễ nhớ, dễ thấm vào lòng người.
   Hồ Chí Minh nói: "Không có việc gì khó,
            Chỉ sợ lòng không bền,
            Đào núi và lấp biến,
            Quyết chí ắt làm nên"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 95).

Hay:   "Lạc nước hai xe đành bỏ phí.
      Gặp thời một tốt cũng thành công"

Nguyễn Trãi nói:
      "Ngẫm xưa, nghiệm nay,
      Xét cùng mọi lẽ hưng vong.
      Trải biến nhiều thì suy nghĩ sâu,
      Tính việc xa thì thành công lọ "
(Phú núi Chí Linh)


5. Nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự là nêu ra được sự đấu tranh giữa hai bên hoặc là sự đấu tranh, sự phức tạp của các sự vật, của những vấn đề. Vấn đề rất quan trọng là nghệ thuật xử trí, đối phó với các tình huống. Nó là cái hồn của để tài, của luận án, của công trình nghiên cứu. Lý luận chung chung chỉ là bộ xương. Trên cơ sở lý luận mà đề ra được cách xử trí, đối phó các tình huống, các giải pháp, bước đi, các phương án thực nghiệm thì mới thể hiện được rõ trình độ, năng lực bản thân.

Trong cách xử trí tình huống, giải pháp, bước đi, cần đề ra được các mô hình bằng sơ đồ, bản đồ, bảng biểu hoặc phương án thực nghiệm. Có thế mới dễ nắm vấn đề và dễ chứng minh kết quả, và có thế mới thể hiện được trình độ sâu của đề tài của luận án; thể hiện được phương pháp tổng hợp cao.


Xử trí, đối phó với tình huống, đối chọi tình huống, đề ra giải pháp, bước đi, thực nghiệm là cái hay nhất và cũng khó nhất của công trình nghiên cứu, của đề tài, luận án khoa học. Các nhà khoa học, các nghiên cứu sinh cần tập trung tinh lực vào vấn đề này.


Nghiên cứu khoa học là để vận dụng thực hiện. Các công trình khoa học cần có tính hiện thực, khả thi. Nâng cao lý luận cũng là nhằm mục tiêu đó.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:11:58 pm
III
LỰC VÀ THẾ TRONG CHIẾN TRANH


Bất cứ sự việc gì cũng phải có lực. Có lực thì mới hành động được. Lực là cơ sở của mọi hoạt động. Người nhỏ, yếu thì mang được một vật nhẹ. Người to, khỏe thì mang được một vặt nậng. Nhưng cũng có trường hợp ngược lại. Điều đó do đâu? Đó là do hoàn cảnh, điều kiện giúp đỡ.


Lực lượng vũ trang ta nhỏ, bé hơn lực lượng vũ trang của thế lực đế quốc xâm lược, nhưng ta vẫn đánh bại được chúng.

Từ những việc ngày thường cho đến việc đại sự quốc gia, nguyên lý này vẫn được vận dụng.

Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta chỉ có 5.000 đảng viên, một đội Tuyên truyền giải phóng quân, vài đội cứu quốc quân và mấy đội du kích. Mỗi đội chỉ có mấy chục người, vũ khí thô sơ, thế mà ta đã tổng khởi nghĩa thắng lợi. Đó là do có cái thế của toàn dân, sôi sục, hừng hực, tràn đầy khí thế cách mạng, nổi dậy đánh Nhật, đánh Pháp giải phóng khỏi ách nô lệ lầm than; và cũng được cái thế chiến thắng phát xít Đức của Hồng quân Liên Xô động viên, cổ vũ.


Từ sự kiện đó, ta mới thấy mối quan hệ hữu cơ giữa lực và thế mới thấy cái thế vô cùng quan trọng. Lực ít, thế tốt, thế lợi thì thế sẽ làm chuyển biến lực. Lực ít hóa nhiều, nhỏ hóa lớn. Nếu thế bất lợi thì lực nhiều hóa ít. Thế là cả hoàn cảnh, điều kiện và cả tinh thần, ý chí đều là những yếu tố rất quan trọng. Trần Hưng Đạo gọi đó là khí thế.


Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lực của ta - một nước nông nghiệp lạc hậu kém xa nước Pháp là một nước công nghiệp, lại được Mỹ chi viện rất nhiều. Thế mà ta đánh thắngđược Pháp. Đó là do ta có cái thế lợi của lực, biết vận dụng lực một cách hợp lý. "Thế" đó là cả toàn dân đứng dậy đoàn kết, thống nhất ý chí quật cường bất khuất quyết tâm chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. "Thế" đó là cái thế chính nghĩa chống xâm lược của nhân dân ta được các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới, trong đó có nhân dân Pháp, ủng hộ, cổ vũ, chi viện cả tinh thần và vật chất. Do có cái "thế" tốt, thuận lợi như thế cho nên lực ta tăng lên gấp bội, lại có tinh thần, ý chí cao và tài thao lược Việt Nam, kế thừa tinh hoa truyền thống của tổ tiên, nên ta đã thắng được quân Pháp.

Hồ Chủ tịch đã nói:
   "Nay tuy châu chấu đấu voi,
   Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000,tr. 164).

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, "lực" ta lại kém Mỹ rất nhiều. Mỹ mạnh hơn Pháp nhiều. Nhưng ta vẫn có thể thắng vì thế và lực của ta mạnh hơn trước. Lực và thế có quan hệ với nhau. Chúng ta không nên có quan niệm siêu hình, duy ý chí, và cũng không nên duy vật chất tầm thường. Phải có lực, nhưng vận dụng lực như thế nào để phát huy lực một cách tốt nhất, mạnh nhất, làm cho lực ít hóa nhiều, nhỏ hóa lớn. Nếu không biết vận dụng tốt thì lực nhiều mà ra ít, to mà thành nhỏ. Bộ đội ta ít nhưng biết dựa vào dân, đoàn kết phát động toàn dân cùng tham gia chiến đấu thì quân địch có nhiều cũng phải phân tán mỏng ra các nơi, luôn phải đối phó, căng thẳng mệt mỏi. Ta lại có điều kiện tập trung đánh từng đòn quyết liệt.


Ta ít nhưng ta lại có nghệ thuật hay, biết cách đánh thì ít cũng có thể đánh nhiều. Người có võ giỏi thì tuy bé nhưng cũng có thể đánh người to hơn. Trong chiến dịch Điện Biên Phu, pháo của ta ít hơn địch, nhưng ta lại ở trên cao, tronghầm, nên pháo ta thắng được pháo địch, ở chiến trường Tây Nguyên, một khẩu pháo của ta ở trên cao và vào gần có sức mạnh hơn ba khẩu đặt ở dưới thấp mà bắn lên trên cao. Như thế thì cao là lợi hơn thấp, và gần thì mạnh hơn xa. Đó là cái thế của lực, là điều kiện, hoàn cảnh để cho lực vận động, tác động và phát huy tác dụng.


Vật chất (lực) vận động trong điều kiện này, điều kiện khác, có thể biến đổi, và chịu tác động bỏi điều kiện này, điều kiện khác. Cho nên ta không nên thấy lực lớn mà sợ; đừng thấy lực nhỏ mà coi thường. Đó là quan điểm biện chứng.


Ngô Quyền chỉ có một đội quân nhỏ mà trong mấy ngày đã đánh tan đội quân xâm lược Nam Hán lớn mạnh hơn. Đội quân nhỏ của Ngô Quyền đã biết dùng thế và thời để chiến thắng.

Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí Minh cũng đều biết vận dụng thế, thời một cách tài tình để phát huy sức mạnh của lực mà giành thắng lợi.

Ngày nay, nếu có điều kiện ta cần phát huy lực tốt hơn nữa. Lực càng tốt thì kết hợp với thế càng tốt. Và lực cần phù hợp với điều kiện hoạt động của nó. Trong chiến tranh, lực cũng phải luôn luôn phát triển theo sát với sự tiến bộ của vật chất kỹ thuật của hai bên đối địch. Chiến tranh ngày nay, sức mạnh chiến đấu trên không ngày càng kết hợp chặt chẽ với chiến đấu trên mặt đất. Có khi nó chi phối mặt đất. Cho nên ta cũng phải có lực chiến đấu trên không. Lực chiến đấu trên không là máy bay, súng pháo cao xạ, tên lửa phòng không và cả súng bộ binh. Nếu ta có ít máy bay thì phải tăng cường súng pháo cao xạ, tên lửa phòng không, và tạo ra cái thế, cái lợi toàn dân cả nước trên mọi miền, mọi địa hình đều đánh máy bay, bắn tên lửa hành trình thì cũng tạo ra được sức mạnh chiến đấu trên không để bảo vệ mặt đất và chiến đấu trên mặt đất. Muốn chiến đấu trên không được tốt thì phải tác chiến điện tử. Lực trong điều kiện mới cũng phải pháttriển theo thời đại. Lực ta dù có phát triển cũng vẫn kém địch. Nên ta vẫn phải dùng thế và thời, trí thông minh, tài thao lược để thắng địch.


Lực ít, thế tốt thì thành mạnh. Có lúc lại phải kết hợp với thời và mưu thì lực dựa vào thế đó càng mạnh.

Thế cọc Bạch Đằng của Ngô Quyền nếu không kết hợp với thời là lúc nước thủy triều xuống thì thắng lợi cũng không thật lớn. Cách mạng tháng Tám năm 1945 nếu không kịp thời lợi dụng lúc Nhật vừa đầu hàng và quân Đồng minh chưa vào thì thế tổng khởi nghĩa đó cũng không thật đẹp. Việc ký kết Hiệp định Pa-ri để Mỹ rút quân mà không kết hợp với việc B.52 của Mỹ bị đánh bại ở miền Bắc thì thắng lợi của ta cũng không thật lớn.


Tổ tiên ta đã tiến hành chiến tranh nhân dân, dùng nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều, vận dụng thế thời và tài thao lược để chiến thắng kẻ thù to mạnh hơn mình nhiều lần.

Nguyễn Trãi viết: "Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn. Không thời mất thế thì to hóa ra nhỏ, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy"1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H. 1976, tr. 132)...

Hồ Chí Minh viết:
   "Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
   Gặp thời một tốt củng thành công"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 287)

Và: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi..."3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ. tập 12, tr. 455)


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:16:31 pm
IV
NGHỆ THUẬT DỤ ĐỊCH


Dụ địch thuộc phạm trù mưu kế. Dụ địch là giành chủ động, là điều động địch theo kế tác chiến của ta.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cửu nước, ở chiến trường Tây Nguyên, ta có nhiều cách dụ địch. Điển hình là hai trận sau đây:

Trận thử nhất là vào mùa đông năm 1967 (tháng 11-1967) ở chiến dịch Đắc Tô 1 (phía tây Đắc Tô - Tân Cảnh). Thời kỳ này quân Mỹ đang thực hành chiến lược "tìm diệt". Thấy quân ta ở đâu là chúng dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống để tiêu diệt.


Rút kinh nghiệm chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến dịch Sa Thầy năm 1966, lần này ta cũng vận dụng cách dụ địch, gọi địch vào thế trận của ta.

Sư 4 Mỹ có một lữ đoàn đóng ở Tân Cảnh và sau đó điều thêm lên đây lữ dù 173 - dự bị chiến trường. Địa hình ở vùng này núi cao rừng rậm, xen kẽ có những thung lũng nhỏ.

Dựa vào địch và địa hình như thế, ta bố trí một sư đoàn (Sư 1 gồm 3 trung đoàn: 66, 174, 320) và được trung đoàn 24 cùng đặc công, bộ đội địa phương, dân quân du kích Kon Tum phối hợp để tiến hành chiến dịch.

Trong các dãy cao điểm, có cao điểm 875 là nơi được tổ chức trận quyết chiến.

Mưu kế của ta là tìm cách dụ địch vào các khu chiến ta có bố trí sẵn. Trong các khu chiến đó, xác định một khu quyết chiến - một điểm quyết chiến. Như thế là mưu kế thống nhất với thế trận một cách chặt chẽ.

Mưu kế (thế trận) của ta như sau:

Ta dùng cách khêu ngòi bằng pháo kích để dử địch ra, và bố trí sẵn lực lượng đón địch ra để đánh.

Ta phán đoán, khi ta khêu ngòi thì địch có thể sẽ cho bộ binh ra đánh đuổi bộ phận khêu ngòi của ta, kết hợp với dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau đội hình đơn vị khêu ngòi của ta để bao vây tiêu diệt. Và nếu đơn vị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng bị đối phương đánh thì chúng lại đổ tiếp vào sâu hậu phương ta để đánh phá hậu phương ta và cắt đứt liên hệ giữa bộ đội đang chiến đấu với hậu phương.


Dựa vào kinh nghiệm phán đoán quy luật, thủ đoạn hành động của địch, ta bố trí thế trận như sau: ở đằng sau bộ đội khêu ngòi bố trí một trung đoàn để đón đánh quân đô bộ đường không của địch. Khi quân đổ bộ đường không của địch bị đánh thì đội đổ bộ đường không thứ hai của địch lại đổ tiếp vào hậu phương ta. Ở đó ta cũng bố trí sẵn lực lượng để đánh quân đổ bộ đường không thứ hai của địch.


Dựa vào mưu kế (và thế trận) đó, ta bố trí thế trận như sau:

Ở dãy cao điểm Ngọc Bơ Biêng ta bố trí một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 24 và hai khẩu sơn pháo 75 ly cùng súng cối 82 ly để pháo kích vào sở chỉ huy của địch ở Tân Cảnh. Đằng sau đơn vị khêu ngòi ở Ngọc Bơ Biêng, ta bố trí trung đoàn 320 của Sư 1 ở Ngọc Dơ Lang; và đằng sau Ngọc Dơ Lang ta bố trí trung đoàn 174 ở cao điểm 875 và trung đoàn 66 ở cao điểm 823. Đây là khu quyết chiến và cao điểm 875 là điểm quyết chiến, ở đây ta sẽ dùng hai trung đoàn 174 và 66 để tiêu diệt địch và khi cần thì điều cả trung đoàn 320 đánh quặt lại phía sau đội hình tiến công của địch vào cao điểm 875.


Trung đoàn 174 chiến đấu ở điểm quyết chiến 875 trong khu quyết chiến. Trung đoàn 66 đánh vào cạnh sườn địch và bảo vệ cánh trái cho trung đoàn 174.

Quy luật và thủ đoạn hành động của địch về cơ bản diễn ra như ta dự kiến. Ta điều địch từng bước vào thế trận của ta.

Lữ 3 của sư 4 Mỹ cho hai tiểu đoàn tiến công đường bộ vào trận địa khêu ngòi của ta ở Ngọc Bơ Biêng và cho trực thăng đổ bộ quân xuống đằng sau trận địa khêu ngòi của ta ở khu vực Ngọc Dơ Lang, hòng bao vây tiêu diệt ta. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, dựa vào công sự vững chắc, ta giữ vững trận địa; và ở khu chiến thứ nhất (khu chiến trung gian), trung đoàn 320 của ta chiến đấu với quân đổ bộ đường không của địch.


Không đẩy được ta ra khỏi trận địa khêu ngòi và lại bị đánh ở mũi bao vây nên địch phái trung đội dự bị là lữ đoàn dù 173 Mỹ tới đối phó. Lữ đoàn dù 173 Mỹ đóng ở hai nơi. Sở chỉ huy và một lực lượng đóng ởTân Cảnh. Một lực lượng nữa đóng ở Plây Cần.


Nhiệm vụ của lữ đoàn dù 173 Mỹ là đánh vào hậu phương ta, cắt đứt liên hệ giữa tuyến trước với tuyến sau của ta, hòng bao vây tiêu diệt các lực lượng phía trước của ta và giải tỏa cho Tân Cảnh.

Lữ dù 173 dùng hai cánh làm hai mũi tiến công vào hậu phương ta. Mũi đổ bộ trực thăng đánh vào cao điểm 875, điểm khống chế và dùng đường bộ từ căn cứ Plây Cần đánh vào sườn bắc cao điểm 875.


Tiểu đoàn 3 trung đoàn 24 ở bộ phận khêu ngòi tiếp tục chiến đấu giữ vững trận địa và trung đoàn 320 Sư đoàn 1 tiếp tục vây đánh bộ phận đổ bộ đường không ở khu chiến trung gian. Trung đoàn 174 và trung đoàn 66 đánh địch ở khu quyết chiến, khu quyết chiến là khu chiến thứ hai, ở sâu hậu phương ta. Trung đoàn 174 đánh địch ở cao điểm 875 và trung đoàn 66 đánh cánh vu hồi địch ở dãy cao điểm 823. Hai mũi trên hai hướng tiến công của lữ 173 địch bị đánh thiệt hại nặng; qua 5 ngày chiến đấu, chúng chỉ chiếm được một phần cao điểm 875, rồi sau đó phải rút bỏ. Trong khi đó thì trung đoàn 24 cùng đặc công, bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Kon Tum cài xen kẽ với địch; đánh vào phía sau của địch, tức là đánh địch ở phía đông Tân Cảnh, phân tán sự đối phó của địch. Địch bị thương vong lớn. Chúng phải điều một tiểu đoàn của sư không vận ở An Khê lên để hỗ trợ lữ dù 173 lấy xác địch ở chân cao điểm 875.


Như thế là mưu kế dụ địch từng bước vào thế trận của ta đã thành công. Muốn dụ địch phải căn cứ vào quy luật, thủ đoạn hành động của địch, căn cứ vào các giai đoạn chiến tranh, căn cứ vào địa hình và căn cứ vào tâm lý tính nết, vào khả năng, sở trường, sư đoàn của địch. Có lúc địch ra xa, có lúc địch ra gần, và cũng có lúc địch không ra. Nhưng đánh vào chỗ địch buộc phải cứu thì có nhiều khả năng địch phải ra. Đó là nghệ thuật dụ dịch.


Trận thứ hai

Đánh Đắc Xiêng để gọi địch ở Tân Cảnh ra cứu, rồi tiêu diệt quân cứu viện. Xuân - hè 1970 ta mở mặt trận ở vùng Đắc Xiêng phía tây bắc Tân Cảnh. Mưu kế của ta là đánh cứ điểm Đắc Xiêng để trung đoàn 42 của địch ở Tân Cảnh ra cứu; ta sẽ đánh quân cứu viện.


Để yểm hộ cho một đơn vị thuộc trung đoàn 28 của ta bao vây tiến công Đắc Xiêng và không cho địch chiếm lĩnh một vài cao điểm trên dãy núi Ét ở phía tây Đắc Xiêng đánh vào đằng sau đội hình của ta, ta cho một đơn vị thuộc trung đoàn 28 chiếm lĩnh núi Ét.


Địch từ Tân Cảnh tiến lên phía nam Đắc Xiêng. Bị quân ta đánh chặn lại, địch lại cho đổ bộ trực thăng xuống phía tây Đắc Xiêng và đánh lên núi Ét. Ý định của địch là đánh quân ta ở núi Ét trước, sau đó mới giải tỏa cho Đắc Xiêng. Bịđơn vị của trung đoàn 28 đánh bật khỏi núi Ét, địch co cụm lại dưới chân núi Ét. Ta liền cho trung đoàn 66 ở nam Đắc Xiêng cơđộng lên bao vây quân địch ở phía tây Đắc Xiêng, dưới chân núi Ét. Trận quyết chiến diễn ra. Ta quyết tâm bao vây chặt quân địch và tiêu diệt chung ở đấy. Rút kinh nghiệm mọt số trận trước đểđịch thoát vây, lần này ta quyết tâm áp sát siết chặt vòng vây, không để cho địch chạy thoát. Vòng vây siết chặt đến đâu, công sự siết chặt tới đó. Có công sự tốt, phi pháo của địch ít tác dụng.


Sau hai ngày đêm chiến đấu liên tục, một trung đoàn thiếu của ta đã tiêu diệt hoàn toàn một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 42 của địch; bắt sống tù binh, bắt sống chỉ huy và thu toàn bộ vũ khí. Trung đoàn trưởng trung đoàn 42 đi trên máy bay lên thẳng nhìn thấy cảnh đó cũng đành chịu.


Đó là chiến thuật đánh điểm diệt viện. Đánh điểm ở đây chưa thành công, nhưng diệt viện thì thắng lợi. Ở đây địch có hai cách viện. Viện bằng đường bộ và viện bằng đường không. Ta đánh lui quân viện đường bộ và tiêu diệt quân viện đường không.


Trong chiến tranh sau này phải đánh địch cả ở đường bộ và đường không. Cái nào nhiều ít còn tùy tình hình, nhưng đường không là nguy hiểm hơn và có thể nhiều hơn.

Trong trận này, một chiến thuật mới có trình độ đánh tiêu diệt cao được hình thành. Đó là chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục. Chiến thuật này bắt đầu diễn ra từ năm 1969 trong trận đánh của trung đoàn 66 ở dãy núi Ngọc Dơ Lang.


Khác với chiến thuật tập kích, chiến thuật này, quân ta đánh trận địa; đánh đến đâu làm công sự trụ lại ở đó rồi tiếp tục công kích cả đêm và ngày. Ta đã đối mặt với địch thì phi pháo của địch cũng giảm tác dụng.

ở trận Ngọc Dơ Lang ta không bao vây nên địch chạy mất.

Đến chiến dịch Pu-prăng - Đức Lập ở nam Buôn Ma Thuột, trong trận Ka-te, ta cũng tiến công trận địa dã chiến một tiểu đoàn địch. Trận này diệt địch nhiều hơn; nhưng cũng không vây chặt, nên địch cũng chạy mất một số.


Đến trận Đắc Xiêng này, ta vây tròn, vây chặt cả bốn mặt, nên địch không chạy được, không thoát vây được, nên bị tiêu diệt hoàn toàn.

 Từ trận này mà hình thành chiến thuật "vận động bao vây tiến công liên tục", ở chiến trường lúc đó ta gọi là "bao vây công kích".

Đây là hai trận trong nhiều trận dụ địch. Kế dụ địch cũng có nhiều cách. Dụ địch là điều địch, là giành chủ động.

Dụ địch liên quan đến lừa địch. Lừa địch, dụ địch là một nghệ thuật cao và hay trong chiến tranh.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:19:23 pm
V
VẤN ĐỀ CHUẨN BỊ CHIẾN DịCH


Chuẩn bị chiến dịch tốt thì tiến hành chiến dịch được thuận lợi. Nó có thể góp một nửa phần thắng lợi của chiến dịch. Muốn tiến hành chiến dịch được tốt thì người chỉ huy và cơ quan phải biết ta, biết địch, biết địa hình địa lý, biết nhân dân như thế nào? Tức là phải biết thiên thời, địa lợi, nhân hòa như thế nào? Nếu biết được các vấn đề này càng rõ ràng, chi tiết thì khả năng thắng lợi càng nhiều.


Chẳng hạn, năm 1967, trong chiến dịch Đắc Tô 1 ở khu vực Ngọc Dơ Lang, cao điểm 875.

Về ta: nhân dân ở đây rất tốt, có tinh thần kháng chiến cao, quật cường bất khuất, một lòng theo cách mạng, theo Đảng và Bác Hồ. Về bộ đội: bộ đội ta có kinh nghiệm chiến đấu trong chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến dịch Sa Thầy năm 1966. Về địa hình thì ở đây là vùng núi hiểm trở.


Về địch: quân Mỹ đang ở trong giai đoạn thực hiện chiến lược "tìm diệt". Chúng rất hung hăng, ỷ vào sức mạnh kỹ thuật quân sự, nên ở đâu xuất hiện bộ đội ta là chúng dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống để chộp ta, tiêu diệt ta.


Dựa vào các yếu tố trên và đưa vào kinh nghiệm của chiến dịch Plây Me và Sa Thầy, một lần nữa, ta cũng lại dùng mưu khêu ngòi để dử địch ra.

Ở đây vấn đề nắm địch là rất quan trọng. Ta phải nắm được phiên hiệu, số lượng địch, biết quân địch có sở trường, sở đoản gì, biết được khả năng của nó, biết được tâm lý, tính nết của địch, nhất là người chỉ huy; biết được chiến thuật của địch trong giai đoạn chiến lược nào của chiến tranh.


Trong giai đoạn chiến lược tìm diệt thì đối với quân Mỹ, ta cứ pháo kích khêu ngòi là chúng ra ngay, vì chúng cậy có nhiều máy bay lên thẳng và được phi pháo rất mạnh yểm hộ, chi viện. Nếu dùng chiến thuật vây điểm diệt viện thì chúng càng phải ra. Đối với quân ngụy, trong giai đoạn đầu của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, chúng cũng nhảy ra, xa, gần còn tùy theo điều kiện, ở giai đoạn cuối của chiến tranh thì quân ngụy ra rất dè dặt, trừ khi ta đánh cắt đường giao thông giữa căn cứ này với căn cứ khác của chúng hoặc khi ta đánh chiếm một cứ điểm, một căn cứ, một thị trấn, thị xã tiện đường cơ động và chúng còn lực lượng dự bị thì chúng có nhiều khả năng ra. Đánh vào chỗ tất phải cứu thì có nhiều khả năng địch phải ra. Xuân - hè 1972 ta áp sát vào thị xã Kon Tum thì sư dù và biệt động quân ngụy phải ra. Vì ở nơi đó là nơi địch tất phải cứu. Mùa Xuân 1975, ta giải phóng Buôn Ma Thuột, quân dù ngụy ở Sài Gòn và Đà Nẵng không đi phản kích ứng cứu cho Buôn Ma Thuột được vì chúng phải chuẩn bị đối phó với Quân đoàn 4 của ta đóng ở phía bắc Sài Gòn và chuẩn bị đối phó với Sư 304 và Quân đoàn 2 của ta ở Đà Nẵng và Huế. Năm 1972, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đã tối giai đoạn gần cuối, lục quân Mỹ không tham gia các cuộc hành quân mà chỉ còn không quân Mỹ tham gia chi viện cho quân ngụy. Lúc này dùng pháo kích để điệu quân ngụy ra xa là khó. Ta phải dùng lực lượng áp sát các thị xã, các căn cứ quân sự lớn thì địch mới ra, và nó cũng ra gần thôi; hoặc là ta tiến công đánh chiếm các thị xã, thị trấn thì địch mới ra. Vì ở những nơi đó, địch không ra không được. Nó vừa có ý nghĩa quân sự, lại vừa có ý nghĩa chính trị.


Còn ta cũng phải nắm chắc sở trường, sở đoản của các đơn vị mình. Đơn vị nào giỏi chiến thuật nào thì phải dùng cho đúng. Đánh với Mỹ phải dùng lực lượng nhiều hơn, dùng sức mạnh vật chất nhiều hơn, vì quân Mỹ rất mạnh, tiêu hao vật chất lớn hơn và phải có dự trữ lớn hơn. Ta phải làm nhiều đường sá, nhiều tuyến kho tàng trên các hướng; nhiều lương khô, nhiều cuốc xẻng. Đối với người chiến binh, cái xẻng, cái cuốc nhỏ cũng không kém phần quan trọng như khẩu súng.


Về địa hình thì cần phân biệt vùng rừng núi khác, vùng đồng bằng khác, vùng sông ngòi khác.

Ở vùng rừng núi có thể đánh lớn, khi lực lượng ta còn có sự hạn chế. Nguyễn Trãi nói: "Quan hà bách nhị do thiên thiết. Hào kiệt công danh thử địa tãng", nghĩa là vùng sông núi hiểm trở thì hai người có thể chọi trăm người.


Ở vùng đồng bằng, khi ta mạnh lên rồi thì mới có thể đánh lớn. So sánh lực lượng giữa ta và địch để mà chọn địa hình. Trên cơ sở nắm địch, ta, địa hình, địa lý, nhân dân, cơ sở vật chất, đường sá, sông ngòi mà định ra mưu kế. Điều đầu tiên của quyết tâm tác chiến là định ra mưu kế. Điều đầu tiên của mưu kế là hướng tiến công (phản công) chủ yếu ở đâu? Đánh quân địch nào, đánh chiếm, giải phóng mục tiêu nào?


Để tiêu diệt quân địch nào, đánh chiếm, giải phóng mục tiêu nào được thuận lợi, thì phải nghĩ đến cách đánh như thế nào để được nhanh chóng, ít tốn xương máu? Muốn thế thì phải làm cho địch ở đó ít đề phòng, bị sơ hở, còn ta tập trung được lực lượng thuận lợi.


Để đạt được mưu kế đó: điều đầu tiên là phải nghi binh, lừa địch. Nghi binh, lừa địch là thuộc lĩnh vực nghệ thuật chỉ huy.

Người có nghệ thuật chỉ huy cao là biết nghi binh, lừa địch giỏi. Xuân - hè 1972, trong chiến dịch bắc Tây Nguyên (chiến dịch Đắc Tô 2), ta đã làm hai con đường giả tiến vào hướng tây bắc thị xã Kon Tum kéo địch ra đấy để cho Đắc Tô - Tân Cảnh chuẩn bị tiến công được thuận lợi. Địch đã mắc mưu nghi binh của ta. Ta đánh Đắc Tô - Tân Cảnh được thuận lợi, địch không còn lực lượng đi phản kích.


Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975, ta cũng nghi binh đánh địch ở Plây Cu, lừa địch tập trung vào đó, để cho Buôn Ma Thuột bị sơ hở. Buôn Ma Thuột sơ hở, không phòng bị, nên ta đánh được dễ dàng. Nguyễn Trãi nói: "Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu; tránh chỗ thực đánh chỗ hư thì sức dùng một nửa mà công được gấp đôi".

Tôn Tử nói: "Việc binh là việc dối trá".

Trần Hưng Đạo nói: "Lừa người chứ đừng để người lừa".

Sau khi có mưu kế định đánh địch ở đâu và lừa địch ở đâu rồi thì đến vấn đề lập thế trận. Lập thế trận là bày binh, bố trận trước quân địch, là xây dựng trên địa hình như thê nào để đánh địch được tốt nhất.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2024, 09:20:35 pm
Muốn thế phải chia cắt địch ra nhiều cụm, nhiều mảnh; phá thế liên hoàn của địch. Cô lập mục tiêu ta định tiêu diệt; kìm hãm mục tiêu quan trọng của địch; đánh đằng trước mặt địch như thế nào, đánh cài xen kẽ đằng sau lưng địch như thế nào. Thế trận phải phức tạp, có nhiều thế. Phải bày một thế trận rất phức tạp. Phải kết hợp cả ba thứ quân mới tạo ra được thế trận phức tạp và hiểm hóc.


Thế trận phức tạp như trận đồ bát quái của Gia Cát Lượng, Chu Du vào mà không ra được, phải có Hoàng Thừa Ngạn, bố vợ của Gia Cát vào dẫn mới thoát ra được. Cho nên điều thứ hai của quyết tâm là thế trận. Nguyễn Trãi nói: "Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn. Không thời mất thế thì to hóa ra nhỏ, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy". Hồ Chí Minh nói: "Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công". Trong quá trình chuẩn bị phải luôn luôn nắm địch và giữ gìn bí mật của ta, đồng thời phải có kế hoạch đối phó với các hành động của địch phá cuộc tiến công của ta, nhất là phi pháo và biệt kích của địch. Trong kế hoạch tác chiến phải dự kiến nhiều tình huống, cần dự kiến tình huống khó, tình huống dễ. Cần có kế hoạch đối phóvới tình huống khó trước. Nhưng lại phải có kế hoạch hạn chế sự diễn ra tình huống khó để ta đối phó với tình huống dễ được thuận lợi hơn. Muốn hạn chế tình huống khó thì ngoài cách đối phó của ta ra, còn phải nhờ cấp trên giúp đỡ.


Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975, muốn không cho các lữ dù của địch lên Buôn Ma Thuột, ngoài việc chiến trường Tây Nguyên nghi binh lừa địch đánh Plây Cu, thì Bộ Tổng chỉ huy cho Sư đoàn 304 Quân đoàn 2 bám đánh lũ dù 3 ở Đà Nẵng và Quân đoàn 4 rập rình ở vùng Biên Hòa và các hoạt động chiến đấu của Quân khu 7 ở phía tây Sài Gòn. Như thế là ta có khả năng hạn chế sự cơ động của địch lên tăng cường cho Buôn Ma Thuột, để tiến hành phòng ngự dự phòng. Tuy vậy ta vẫn chuẩn bị ba sư đoàn cùng hai - ba trung đoàn để đánh Buôn Ma Thuột. Trường hợp địch tăng cường lực lượng cho Buôn Ma Thuột thì ta cũng đủ sức đối phó. Cho nên tập trung ba sư đoàn đánh một trung đoàn không phải là phung phí lực lượng.


Trong khi có kế hoạch để đối phó với tình huống khó khăn nhất thì ta vẫn tìm cách để thúc đẩy diễn ra tình huống dễ nhất. Đó cũng là một nghệ thuật chỉ huy. Cho nên trong khi chỉ huy ta phải luôn luôn nắm chắc địch. Có nắm chắc địch thì mới có cách đối phó phù hợp. Chiến đấu là một quá trình diễn ra liên tục sự đối chọi của hai bên đối địch. Có nắm chắc địch mới biết cách xử trí, điều động địch. Nắm địch là phải dùng mọi phương pháp, phương tiện phối hợp với nhau; cả trinh sát lục quân và trinh sát kỹ thuật, v.v... Nắm địch phải đặt lên vấn đề trước tiên của công tác chuẩn bị và tiến hành chiến dịch.


Về địa hình, phải nắm các ngọn đồi núi nào địch có thể đổ quân đường không đến chiếm, đặt pháo. Ngọn đồi nào, bãi trống nào địch có thể đổ bộ đường không và ngọn đồi nào địch có thể đặt pháo. Phải nắm chắc để có kế hoạch đánh địch, và kế hoạch kìm pháo địch. Năm 1969, trong chiến dịch Pu-prăng - Đức Lập ở nam Buôn Ma Thuột, ở trận Ka-te, ta đã phán đoán đúng địch đổ quân xuống các ngọn đồi nào và cũng phán đoán nếu địch đổ quân xuống đó thi các ngọn đồi cách đó khoảng 8km địch sẽ đổ pháo xuống đó để chi viện; vì pháo 105 ở cách bộ binh 8km mới chi viện có hiệu lực.


Công tác chuẩn bị vật chất cũng phải đặt lên hàng quan trọng. Có trường hợp thiếu gạo, đạn mà phải ngừng chiến đấu, phải kết thúc chiến dịch. Cho nên phải chuẩn bị vật chất cho thật tốt, có dự trữ, và bảo vệ các kho tàng; nhất là khi ta đánh với quân địch có tiềm lực lớn và có phi, pháo, biệt kích mạnh.


Vì vậy việc chuẩn bị chiến dịch to hay nhỏ, dài hay ngắn còn phải căn cứ vào cả số lượng gạo, đạn mà ta có, hoặc được bổ sung một cách chắc chắn trong quá trình chiến dịch. Người chỉ huy và cơ quan khi đã nắm được địch và địa hình kỹ rồi thì phải chuẩn bị lương thực và đạn dược cho thật tốt.


Có khi ta phải tập cách đánh công sư vững chắc. Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1951, khi chuẩn bị đánh vị trí Chùa Cao, ta đã cho bộ đội diễn tập có sơn pháo 75 bắn đạn thật chi viện cho bộ binh xung phong đánh chiếm đầu cầu. Trận này ta đã thành công. Trong kháng chiến chống Mỹ, năm 1971 ta đã cho bộ đội tập đào công sự hầm chữ A ở gần hàng rào địch để chiếm lĩnh trận địa tiến công. Khi chuẩn bị đánh vị trí Ngọc Rinh Rua ở phía tây Tân Cảnh, buổi chiều tối, bộ đội mang sẵn các cây gỗ theo kích thước vào chiếm lĩnh vị trí tiến công và đào hầm chữ A cho từng tổ. Sáng hôm sau bắt đầu tiến công thì bộ đội đã có hầm chữ A cho từng tổ. Trận này ta đã chiếm được vị trí Ngọc Rinh Rua của địch và dùng pháo địch bắn vào sở chỉ huy của địch ở Tân Cảnh.


Dùng các cách đánh mới mà bộ đội chưa quen, chưa thành thạo thì phải tập cho kỹ trước khi đánh.

Còn một điều nữa là nếu chưa có đường để đánh vu hồi thì phải làm gấp đường cho mũi vu hồi. Năm 1972, trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên (Đắc Tô 2) ta đã làm một con đường quân sự gấp cho xe tăng và pháo binh đánh vu hồi ở phía đông Tân Cảnh.


Làm tốt tất cả các công tác chuẩn bị như trên là ta đã giành được một nửa phần thắng lợi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 01:46:46 pm
VI
TƯ DUY CHIẾN THUẬT VÀ TƯ DUY CHIẾN DỊCH


Chiến thuật và chiến dịch khác nhau về chất, chứ không phải khác nhau về lượng.

Chiến thuật là nghệ thuật của chiến đấu; nghệ thuật của sự kết hợp các động tác chiến đấu như tiến công, phòng ngự; lợi dụng địa hình địa vật; các thủ đoạn chiến đấu như đột phá, thọc sâu, luồn sâu, bao vây, vu hồi, chia cắt trong một trận đánh.


Chiến dịch cũng vận dụng các thủ đoạn này, nhưng trong phạm vi lớn hơn, trong phạm vi của chiến dịch, trong phạm vi của nhiều trận đánh trong một chiến dịch.

Trong chiến đấu thường sử dụng các hình thức chiến đấu khác nhau như đánh công sự vững chắc, đánh phục kích, đánh tập kích, đánh vận động tiến công, đánh đặc công, đánh pháo kích v.v... Từng hình thức chiến đấu tổng hợp các động tác chiến đấu lại thành chiến thuật - thành nghệ thuật chiến đấu.


Cho nên, hình thức chiến đấu nào, chiến thuật nào cũng có đột phá bao vây, vu hồi, v.v... Các hình thức chiến đấu mang tính nghệ thuật chiến đấu lại trở thành chiến thuật như chiến thuật đánh công sự vững chắc, chiến thuật tập kích, phục kích, v.v... Các động tác chiến đấu, các thủ đoạn chiến đấu mang tính nghệ thuật lại trở thành chiến thuật như chiến thuật đột phá, chiến thuật bao vây, vu hồi, v.v...


Các thủ đoạn chiến đấu không chỉ dùng riêng cho chiến thuật mà nó còn dùng cho cả chiến dịch và chiến lược như:

Đột phá chiến dịch.

Đột phá chiến lược.

Bao vây chiến dịch, chiến lược.

Vu hồi chiến dịch, chiến lược.

Đợt hoạt động chiến đấu 60 ngày đêm ở Thủ đô Hà Nội 1946 có phải là chiến dịch không? Qua nghiên cứu các thành phần, yếu tố hình thành chiến dịch thì có thể nói đó chưa phải là chiến dịch; hoặc là chỉ mới có yếu tố của chiến dịch.

Còn ở Nam Định chiến đấu gần ba tháng thì sao?

Trong cuộc chiến đấu này có một trận diệt được mấy chục tên địch. Đó là một trận đánh lớn, có tính chất như một trận then chốt, nhưng chưa phải là một trận then chốt đúng với ý nghĩa và tác dụng của nó. Trận tiêu diệt được mấy chục tên địch là đánh một trận rồi rút; không kiên quyết bám trụ để tiếp tục đánh, buộc địch phải tiếp viện, rồi đánh viện binh, tiêu diệt quân tiếp viện hoặc tiêu hao một số quân tiếp viện.

Đánh kiểu như thế thì là một cách đánh du kích.

Cuốn "Lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch Việt Nam" đã công nhận cuộc chiến đấu trong thu - đông Việt Bắc 1947 là chiến dịch đầu tiên của quân đội ta.

Cái khác giữa chiến dịch với chiến thuật là: Chiến dịch là tổng hợp các trận đánh, là một hệ thống các trận đánh theo mục đích ý đồ chiến dịch rất kiên quyết, cùng vận động để tạo ra các tình huống chiến dịch dẫn đến trận then chốt quyết định, làm chuyển biến chiến lược, các trận đánh có mối quan hệ hữu cơ, nội tại, tạo tiền đề cho nhau. Trận đánh này tạo tiền đề cho trận đánh sau. Kết quả của trận đánh trước là nguyên nhân xảy ra trận đánh sau.


Tiêu diệt một căn cứ quân sự để địch đến phản kích, ta lại tiêu diệt quân phản kích tạo ra thắng lợi lớn hơn, tạo ra trận then chốt quyết định. Chiến dịch Biên Giới tiêu diệt Đông Khê; đánh bại sự phản kích của Lơ Pa-giơ, tạo ra trận then chốt quyết định, tạo ra đột biến, địch rút chạy khỏi Lạng Sơn.


Đánh Buôn Ma Thuột, giải phóng Buôn Ma Thuật và đánh bại sư 23 đến phản kích cũng tạo ra trận then chốt quyết định, tạo ra đột biến, dịch rút chạy khỏi Plây Cu - Kon Tum.

Ta pháo kích khêu ngòi để địch đổ bộ trực thăng ra phản kích nhằm đánh đuổi bộ phận pháo kích khêu ngòi của ta. Ta đánh quân đổ bộ bằng trực thăng, địch lại đổ tiếp trực thăng ra để đánh vào đằng sau đội hình bộ phận thứ ba của ta, và chia cắt bộ phận chiến đấu với bộ phận hậu phương của ta. Đội hình trực thăng thứ hai của địch bị đánh, địch lại cho bộ binh ở một vị trí bên cạnh đến phối hợp. Ta phán đoán được ý đồ đó, nên đã cho một bộ phận phục sẵn trên đường tiên quân của địch, và đánh bại cánh quân phối hợp đó. Rút cục địch thất bại, rút chạy. Trận địa vẫn do ta kiểm soát. Năm 1285 trong trận Chương Dương - Thãng Long, Trần Quang Khải cho vây hãm thủy trại Chương Dương nhằm buộc Thoát Hoan phải đưa quân ra cứu viện, Trần Quang Khải đánh đạo quân cứu viện của Thoát Hoan và cho môt đội đặc nhiệm đánh chiếm thành Thăng Long. Thoát Hoan thua định bỏ chạy vào thành, nhưng cờ Trần đã kéo lên trên thành, Thoát Hoan phải bỏ chạy qua sông Hồng về nước.


Bao nhiêu trận đánh quan hệ chằng chịt với nhau, tạo tiền đề cho nhau, dẫn đến thắng lợi lớn.

Các trận đánh có mối quan hệ chằng chịt với nhau, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau cùng phát triển, để đi đến một kết quả chung của tổng hợp các trận đánh đó thành kết quả của chiến dịch.

Trong chiến thuật cũng có cách đánh điểm, diệt viện hoặc công điểm, diệt viện; cũng có cách đánh địch phản kích. Nhưng quy mô nhỏ hơn, phạm vi hẹp hơn, và giản đơn hơn. Trận nào có các mối quan hệ giữa các trận đánh nhỏ như thế thì nó cũng gần giống như chiến dịch; nó cũng cớ yếu tố của chiến dịch; nó cũng tiến sát tới chiến dịch. Sự vật cũng có những cái gần giống nhau.


Các tình huống chiến thuật diễn ra giản đơn hơn, ít tình huống hơn, vì quy mô, phạm vi, thời gian nhỏ hơn, ít hơn. Mối quan hệ giữa các tình huống cũng giản đơn. Các trận đánh tạo tiền đề, tạo tình huống cho nhau cũng giản đơn hơn. Còn chiến dịch thì rất phức tạp. Các trận đánh phải là một tổng hợp hoạt động ăn khớp với nhau theo một kế hoạch thống nhất về hành động, thời gian và địa điểm. Các tình huống phải liên kết với nhau một cách chặt chẽ; phải thực hiện một cách kiên quyết liên tục, không được tùy tiện.


Chiến thuật tác động rất ít tới chiến lược. Chiến dịch thì tác động tới chiến lược. Tích tụ chiến thuật dẫn đến chiến dịch để chiến dịch tác động tới chiến lược.

Thắng lợi chiến thuật ít có ý nghĩa về chiến lược, trừ một số trường hợp đặc biệt. Quy luật cũng có quy luật chung và quy luật đặc thù. Thắng lợi chiến dịch thì có ý nghĩa về chiến lược, có ý nghĩa thúc đẩy chiến lược phát triển, có ý nghĩa làm chuyển biến cục diện chiến lược, có ý nghĩa tạo ra bước ngoặt của chiến lược, có ý nghĩa quyết định về chiến lược của chiến tranh, kết thúc chiến tranh như chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh, v.v... Quy mô và phạm vi chiến thuật, chiến dịch khác nhau; ý nghĩa của nó cũng khác nhau. Các thành phần, yếu tố hình thành và sự vận động của nó cũng khác nhau, tức là khác nhau về lượng và về chất.


Chiến dịch nhỏ, sơ khai thì có chỗ gần giống như chiến thuật; nó hình như là một chiến thuật lớn. (Chẳng hạn như một trung đoàn cũng đánh điểm diệt viện; hoặc vây điểm diệt viện). Chỗ này cũng gần giống như chiến dịch là các trận đánh có mối liên hệ với nhau.


Nhưng chiến dịch thì mục đích rất kiên quyết và có rất nhiều trận đánh khác nhau, vận dụng nhiều chiến thuật khác nhau. Từng trận đánh cũng phải kiên quyết, liên tục để đạt được tác dụng, mục đích yêu cầu của chiến dịch đề ra, để tạo ra tình huống cho chiến dịch, để đánh trận này tạo ra tìnhhuống cho trận khác, để cuối cùng đi đến kết quả của chiến dịch, đạt đến thắng lợi của chiến dịch.


Có thể nói chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, chứ không nói chiến thuật có ý nghĩa chiến lược, trừ trường hợp đặc biệt. Và nói chiến dịch chiến lược thành một cụm từ, chứ không nói chiến thuật chiến lược. Không có cụm từ chiến thuật chiến lược.


Đặc trưng chiến dịch khác chiến thuật là các trận đánh trong chiến dịch phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, có môi liên hệ nội tại giữa các trận đánh với nhau để tạo ra tình huống chiến dịch và các tình huống nhỏ dần dần phát triển để tạo ra tình huống lớn, tình huống then chốt, trận đánh then chốt, quyết định. Trận này tạo tình huống cho trận khác, là tiền đề, điều kiện cho trận khác. Kết quả của trận sau là nguyên nhân của trận trước. Cho nên từng trận đánh cũng phải rất kiên quyết liên tục. Không được đánh rồi bỏ, như kiểu đánh du kích. Mỗi trận đánh là một thành phần của chiến dịch, không phải là các trận đánh đơn lẻ rời rạc. Trận đánh đó ở thời gian, địa điểm nào, quy mô nào là nằm trong hệ thống chiến dịch, một hệ thống tổng thể của các trận đánh trong chiến dịch. Nó là một mắt xích trong hệ thống. Nếu một mắt xích nào đó không hoạt động thì cả hệ thống xộc xệch. Cho nên mưu kế, thế trận trong chiến dịch cũng là ở điểm này.


Chiến dịch có quy mô lớn, phạm vi rộng, thời gian dài, nhiều đơn vị tham gia, hai bên đối chọi nhau quyết liệt, phức tạp diễn ra nhiều tình huống, nên có điều kiện để thực hiện mứu kế và thế trận. Do vậy, nghệ thuật chiến dịch là nghệ thuật của mưu kế và thế trận.


Người chỉ huy chiến dịch như người đánh cờ. Ta đi quân nào, địch đi quân nào? Phải phán đoán và tính toán kỹ lưỡng từng nước. Tính được nhiều nước và lừa được địch thì cho dù hai xe đành bỏ phí nhưng một tốt cũng thành công.


Chiến thuật là tích tụ về lượng trong chiến tranh, trừ một số trường hợp đặc biệt.

Chiến dịch là tích tụ về chất, tạo ra sự phát triển, chuyển biến về chất trong chiến tranh; nhất là các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược và chiến dịch chiến lược, tạo ra bước ngoặt chiến lược, bước nhảy vọt về chiến lược trong chiến tranh.


Chiến thuật và chiến dịch có điểm giống nhau và khác nhau; chúng cùng thuộc phạm trù của nghệ thuật quân sự. Ví như ngôi nhà một tầng và hai tầng có điểm giống nhau là đều có buồng, có cửa, nhưng điểm khác nhau là ở chỗ nhà hai tầng phải có một cầu thang để nối hai tầng với nhau.


Nhận thức sự giống nhau và khác nhau như vậy để hiểu biết về chiến dịch rõ hơn và vận dụng nghệ thuật chiến dịch tốt hơn.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 01:50:34 pm
VII
NGHỆ THUẬT CHUYỂN HÓA THẾ TRẬN VÀ TẠO ĐỘT BIẾN


Trong các tài liệu nghiên cứu thường thấy có vấn đề chuyển hóa thế trận. Có chuyển hóa thế trận mới có thể làm cho tác chiến phát triển được. Từ thế trận tiến công cứ điểm, căn cứ, hoặc đánh địch đang vận động thành công thì phải chuyển ngay sang thế trận đánh địch phản kích, ứng cứu. Thế trận lúc này không giống thế trận ban đầu nữa. Đội hình lúc này cũng khác. Thế trận lúc này là thế trận đánh địch phản kích và kìm giữ địch ở các hướng để bảo đảm cho đánh địch phản kích thắng lợi.


Thế trận đánh cứ điểm hoặc đánh địch đang vận động đã chuyển hóa thành một thế trận khác. Đội hình không còn như cũ nữa. Thế trận hai bên đã khác; tình huống tác chiến đã khác; địa hình hai bên cũng đã khác. Phải có sự cơ động, điều động mới. Lực lượng dự bị (đội dự bị) được tung ra đánh địch phản kích (đường bộ hoặc đường không), rồi phải tổ chức đội dự bị khác để luôn có lực lượng đối phó với các tình huống. Sau khi đánh địch phản kích thắng lợi rồi thì thế trận lại tiếp tục được chuyển hóa. Thế trận mới này, đội hình mới này là để phát triển chiến đấu và chiến dịch.


Đánh địch đang đồn trú hoặc đang vận động thắng lợi, sau đó lại đánh địch phản kích cũng thắng lợi thì có thể tạo ra một bước chuyển hóa cục diện chiến đấu, chiến dịch; và có khi tạo ra đột biến về chiến dịch, về chiến lược.


Năm 1972, ta đã giành thắng lợi ở ba chiến dịch trên ba chiến trường Quảng Trị, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộtrong cuộc tiến công chiến lược xuân - hè 1972 và chiến dịch Điện Biên Phủ trên không mùa đông 1972 ở Hà Nội, Hải Phòng buộc Mỹ phải chấp nhận rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đó là bước thay đổi cục diện chiến tranh ở Việt Nam, tạo ra một bước ngoặt về chiến tranh. Ta đã tiêu diệt một số lực lượng có ý nghĩa chiến dịch và chiến lược của quân ngụy Sài Gòn, giải phóng một số vùng đất đai, nhất là Quảng Trị, Đông Hà, Lộc Ninh là những địa bàn trọng yếu. Năm 1972, hình thái và hình thế chiến tranh đã có thay đổi. Địch mất một lực lượng lớn và một số địa bàn trọng yêu. Chiến trường đã có sự thay đổi, chủ trương chiến tranh đã có sự thay đôi cơ bản. Lực lượng và địa bàn (chiến trường) đã có lợi cho ta. Cục diện chiến tranh đã thay đổi, đã có bước ngoặt (quân Mỹ đã bị loại ra khỏi cuộc chiến tranh). Năm 1973, Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến tranh tạo cho ta điều kiện rất thuận lợi để mở cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 và giành thắng lợi hoàn toàn.


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là cuộc chiến đấu cuối cùng để giải phóng miền Nam, thống nhấtTổ quốc.

Bố cục chiến lược của ta là căng địch ra hai đầu chiến tuyến và để hở quãng giữa miền Trung.

Địch thường xuyên và tập trung mọi chú ý vào Quân đoàn 2 của ta ở phía tây thành phố Huế, Quân đoàn 1 của ta ở bắc bờ sông Bến Hải và Quân đoàn 4 của ta ở phía bắc, tây bắc Sài Gòn. Đó là các tập đoàn chiến lược có ảnh hưởng tới sự sống còn của chiến tranh. Còn ở Tây Nguyên ta có một tập đoàn chiến dịch gồm 2 - 3 sư đoàn thì địch chỉ chú ý một cách không thường xuyên.


Đó là một thế trận mạnh, hay và hiểm hóc, thể hiện tài thao lược của ta. Đang lúc địch tập trung mọi chú ý vào Sài Gòn, Huế thì ta mỏ chiến dịch ở Tây Nguyên, nơi sơ hở và yếu, nhưng hiểm yếu của địch.

Đặt Quân đoàn 2, Quân đoàn 1 ở phía bắc chiến tuyến, và Quân đoàn 4 ở phía nam chiến tuyến cũng là cách nghi binh chiến lược cho Tây Nguyên. Khi địch đã bị giữ chặt ở Huế và Sài Gòn thì ta mở cuộc công phá lớn ở Tây Nguyên. Ta điều Sư đoàn 316 và Sư đoàn 968 vào Tây Nguyên một cách đột ngột, nhanh chóng cũng làm cho địch bị bất ngờ. Ở Tây Nguyên, từ một tập đoàn chiến dịch có 2 - 3 sư đoàn, bỗng nhiên trở thành một tập đoàn chiến lược gồm 5 sư đoàn (các sư 10, 320, 316, 968, Sư 3 Sao Vàng Quân khu 5 và bốn trung đoàn độc lập cùng bộ đội địa phương các tỉnh).


Thế trận ban đầu vào tháng Giêng 1975 chưa có gì chuyển biến, nhưng đến cuối tháng 2 năm 1975 đã có chuyển biến. Tây Nguyên im ắng đã nổi sóng. Thế trận đã chuyển hóa. Thế trận giữ nhau ở hai đầu đã chuyển thành thế trận chọi nhau và bị phá vỡ ở quãng giữa. Sau khi Đức Lập và Buôn Ma Thuột bị phá vỡ, các tuyến đường bị cắt đứt, thế trận lại chuyển hóa thành thế trận đánh địch phản kích. Ta đã tập trung lực lượng đánh địch phản kích. Khi lực lượng phản kích bị đánh bại, địch buộc phải rút chạy khỏi Plây Cu, Kon Tum, thế trận lại chuyển hóa thành đánh địch rút chạy và phát triển xuống đồng bằng, tiêu diệt địch còn lại và giải phóng các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ.


Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, thế trận đã chuyển hóa. Từ tiến công các cứ điểm, đánh cắt giao thông, chia cắt địch chuyển sang đánh địch phản kích. Đội hình phải điều động, bố trí lại. Thế trận chuyển hoá. Cách chuyển hóa thế trận ở đây không giống như cách chuyển hóa thông thường, không phải bố trí thế trận đội hình một cách thông thường mà là sự chuyển hóa đặc biệt; không phải là sự chuyển hóa về lượng, từ lượng nhỏ sang lượng lớn hơn, chuyển hóa từng bước lớn dần về lượng mà là chuyển hóa từ lượng sang chất. Sự chuyển hóa thế trận biến thành sự chuyển hóa chiến dịch và chiến lược, đặc biệt là gây ra đột biến chiến dịch và chiến lược.


Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột và đánh bại địch phản kích, thực hiện sự bùng nổ chiến thuật và tạo ra phản ứng dây chuyên làm cho tập đoàn lớn của địch ở Plây Cu và Kon Tum không bị đánh mà phải chạy. Plây Cu và Kon Tum ta không đánh mà thắng. Phản ứng dây chuyền đó tạo ra đột biến về chiến dịch; chiến dịch đang tiến triển một cách bình thường, đang thắng lợi một cách bình thường, bỗng trỗ nên thắng lợi một cách đột ngột; thắng lợi rất lớn, rất nhanh, ngoài dự tính của cả hai bên. Sau thắng lợi đột biến về chiến dịch đó, ta lại chớp được thời cơ, tiêu diệt quân địch rút chạy khỏi Plây Cu, Kon Tum ở Củng Sơn và Tuy Hòa (Phú Yên) và phát triển xuống đồng bằng, giải phóng các tỉnh ven biển Khu 5 Nha Trang, Cam Ranh; biến thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược, tạo ra sự chuyển hóa về chiến lược, tạo ra sự đột biến về chiến lược trên chiến trường Tây Nguyên và chiến trường đồng bằng ven biển nam Khu 5. Địch bị tan vỡ từng mảng trong từng ngày một cách rất nhanh chóng và đột ngột. Chỉ huy rối loạn. Chiến lược chuyển sang bị động đối phó và rút lui. Sự chuyển hóa chiến lược đó, sự đột biến chiến lược đó cùng với sự giải phóng Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đã tạo ra bước ngoặt quyết định về chiến tranh, đưa địch đến bên bờ của sự sụp đổ. Và chiến dịch Hồ Chí Minh sau đó đã giành thắng lợi quyết định.


Giải phóng Buôn Ma Thuột và đánh bại sư 23 địch đi phản kích là sự báo hiệu cho sự sụp đổ của quân khu 2, quân đoàn 2 của địch. Mất một căn cứ quân sự, chính trị, văn hóa lớn và mất một lực lượng cơ động, tinh nhuệ, địch mất hết các biện pháp tác chiến. Địch tác chiến dựa vào quân đồn trú (đồn trại, cứ điểm, căn cứ) và quân cơ động - vận động, nhưng khi hai chỗ dựa này bị đánh bại ở cỡ thị xã và sư đoàn thì chúng hết cách. Ở Plây Cu địch còn nhiều lực lượng, nhưng đơn vị tổ chức chỉ là cấp liên đoàn - trung đoàn nên không đủ sức đối phó. Trong khi đó chủ trương của địch là muốn giữ địa bàn còn lại ở ven biển với hy vọng kéo dài sự tồn tại, cho nên đãdẫn chúng đến thảm họa. Sự đột biến ở đây là đột biến về chiến dịch trên chiến trường Tây Nguyên, sau đó là đột biến về chiến lược trên cả địa bàn Tây Nguyên và vùng ven biển Nam Trung Bộ.


Đột biến là sự phát triển về lượng còn đang trong quá trình vận động thì có một tác động đặc biệt nhanh chóng, đột ngột, phát triển thành chuyển biến về chất. Sự vật phát triển từ lượng đến chất, từ chất sơ khai đến chất trưởng thành, đến chất chín muồi, hoặc từ chất sơ khai đến chất chín muồi do có đột biến. Muốn có đột biến thì cần tạo ra sự bùng nổ, gây ra phản ứng dây chuyển và dẫn đến đột biến.


Chuyển hóa thế trận, chuyển biến chiến dịch, chiến lược, tạo ra đột biến dẫn đến bước ngoặt chiến tranh là mưu kế, thế trận hay trong nghệ thuật chỉ huy.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 01:52:09 pm
VIII
PHƯƠNG PHÁP XÂY DƯNG MỘT CÁCH ĐÁNH MỚI


Trong thực tiễn chiến đấu, tiếp xúc với thực tế, với đấu tranh, lúc thắng lúc bại, quần chúng bao giờ cũng nghĩ ra cách làm để thắng nhiều, bại ít. Ở chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước, từ không thành công trong hai trận năm 1969, năm 1970, trung đoàn 66 (Đoàn Plây Me) đã thành công trong trận năm 1971. Ở Đăc Xiêng (tây bắc tỉnh Kon Tum), trận năm 1969 là ở Ngọc Dơ Lang, tây nam Đắc Tô - Tân Cảnh vào ban đêm, trung đoàn 66 đã đột phá được vào một nửa trận địa của địch trong công sự dã chiến. Địch chống cự quyết liệt, gần sáng ta phải rút ra. Rút kinh nghiệm trận đó, ta chủ trương các trận sau phải bao vây rồi mới công kích, đột phá. Trận thứ hai trong trận đánh trong vùng Đức Lập - Bu Prăng ở Đắc Lắc, ta thực hiện bao vây rồi mới công kích. Nhưng do bao vây không chặt, sau khi công kích, đột phá, chiếm được phần lớn trận địa, địch lại chạy mất. Rút kinh nghiệm ta thấy khuyết điểm là không bao vây chặt, để cho địch chạy thoát một số. Từ những kinh nghiệm xương máu đó, ta chủ trương các trận sau phải bao vây thật chặt cả bốn mặt, rồi mối công kích đột phá, đánh đến đâu bám trụ tới đó, tiếp tục chiến đấu không để cho địch chạy thoát. Ngày 20 tháng 4 năm 1971, ta phát hiện một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 42 quân đội ngụy Sài Gòn co cụm trước điểm chốt núi Ét của ta ở tây cứ điểm Đắc Xiêng của địch. Đắc Xiêng là một cứ điểm địch đóng giữ ở phía tây bắc tỉnh Kon Tum. Nắm được địch và chủ trương tiêu diệt tiểu đoànnày, ta cho trung đoàn 66 (Đoàn Plây Me) vận động đến bao vây để công kích tiêu diệt. Đêm 22 tháng 4 năm 1971, ta dùng hai tiểu đoàn đến bao vây cả bốn mặt, chuẩn bị công sự dã chiến. Các công việc chuẩn bị chiến đấu xong, đến sáng 23 tháng 4 năm 1971, ta nổ súng công kích; đánh đến đâu bám đến đó; địch đối phó quyết liệt và có bộ phận địch định rút chạy, nhưng ta đã bao vây kín bốn mặt, cho nên bộ phận địch định rút chạy cũng bị diệt, bị bắt. Cuộc chiến đấu diễn ra liên tục ác liệt và chỉ trong hai tiếng đồng hồ ta đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 3, trung đoàn 42, sư đoàn 22 quân Sài Gòn, diệt hơn 200 tên, bắt sống 176 tên có cả tiểu đoàn trưởng, thu 112 súng các loại, bắn rơi 7 máy bay lên thẳng.


Đây là trận đánh hay, tiêu diệt nhanh gọn; đánh tiêu diệt ở trình độ cao, bắt sống cả chỉ huy, và địch không chạy thoát được; ta hoàn toàn làm chủ chiến trường, bắt tù binh, thu vũ khí. Qua hai trận không thành công, ta biết rút kinh nghiệm những khuyết điểm, chỉ ra những điểm cần bổ sung. Trận thứ ba khắc phục được những điểm còn tồn tại và đã thành công. Rút kinh nghiệm chính là tìm ra được những chỗ còn thiếu sót, những chỗ chưa tốt, rồi bổ khuyết và phát huy.


Thất bại là mẹ thành công. Tữ đó ta xây dựng chiến thuật "vận động bao vây tiến công liên tục". Đây là một dạng của chiến thuật vận động tiến công. Hiệu quả của chiến thuật tốt. Nó đạt tới trình độ cao về đánh tiêu diệt đối với công sự dã chiến. Cần chú trọng huấn luyện nhiều về hình thức chiến thuật này. Chiến thuật "vận dộng bao vây tiến công liên tục".


Đây là một dạng của chiến thuật "vận động tiến công", là đánh địch trong dã chiến, ngoài công sự vững chắc. Nó gồm các thành phần là vận động, tiến công, bao vây và chốt chặn. Trong tiến công thì đánh địch dạng vận động hoặc co cụm có công sự dã chiến. Trong khi đang vận động tiến công địch thì cũng có thể có một bộ phận chặn đầu không cho địch chạy để ta kịp cơ động đến để tiêu diệt.


Từ bốn thành phần hợp thành chiến thuật vận động tiến công đó có thể xuất hiện thành phần nổi bật, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của trận đánh là bao vây để hình thành một dạng của chiến thuật vận động tiến công mà ta gọi là "vận động bao vây tiến công liên tục" hoặc chốt chặn mà ta gọi là một dạng khác của chiến thuật vận động tiến công là "vận động kết hợp chốt chặn".


Vận động và tiến công là nhân tố thường xuyên của chiến đấu tiến công. Bao vây và chốt chặn là những thành phần nhỏ của chiến đấu, có khi không bao vây hoặc chốt chặn được thì địch chạy thoát; trận đánh thắng lợi nhưng lại để cho địch chạy mất một số, không tiêu diệt gọn, tiêu diệt hoàn toàn được. Phải tiếp tục đánh trận khác tiếp theo, có bao vây hoặc có chốt chặn mới tiêu diệt được địch. Như thê phải có nhiều trận đánh, có trận không có bao vây hoặc chốt chặn và có trận có bao vây, có chốt chặn mối tiêu diệt được địch hoàn toàn.


Ở chiến dịch Biên Giới trong kháng chiến chống Pháp, Đại đoàn 308 và 312 phải đánh nhiều trận ở cao điểm 447 và ở Cốc Xá mới tiêu diệt được binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông, vì tiêu diệt một trung đoàn khó có thể đánh một trận. Còn vận động bao vây ngay từ đầu hoặc chốt chặn ngay từ đầu thì có thể chỉ một trận đánh là có thể tiêu diệt được địch hoàn toàn. Thường một trung đoàn hoặc trung đoàn thiếu đánh một tiểu đoàn địch mới có khả năng làm được điều này.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 01:53:00 pm
IX
NGHỆ THUẬT MƯU KẾ


Mưu kế là một nghệ thuật cao trong tác chiến. Điều đầu tiên của người chỉ huy là định ra mưu kế để tác chiến. Mưu kế là định tiêu diệt địch ở đâu, lừa địch ở đâu, chia cắt địch ở đâu để tạo thế có lợi cho ta và bất lợi cho địch. Mưu kế là thế thời và tình huống. Mưu sinh thế, kế đẻ ra thời. Từ đó mà diễn ra tình huống.

Thế tạo ra lực mạnh.

Thời tạo ra tình huống thuận lợi để giành thắng lợi.

Trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954, mưu kế chiến lược của ta là: phân tán quân đội thực dân Pháp ra các chiến trường Đông Dương để phá sự tập trung của địch ở chiến trường Bắc Việt Nam. Ta đánh địch ở Bắc Lào, Trung Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia, Tây Nguyên. Địch phải đi cứu các nơi đó, không đủ quân cần thiết để cứu Điện Biên Phủ. Chủ trương chiến lược của ta là phân chia lực lượng cơ động của địch ra các chiến trường mà nó cần phải giữ để không tập trung cho Điện Biên Phủ được. Khi Điện Biên Phu bị đánh thì địch không đủ lực lượng cơ động đi ứng cứu. Do đó, Điện Biên Phủ bị thất thủ.


Trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, mưu kế chiến lược của ta là ghìm địch ở hai đầu Nam, Bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để địch bỏ hở quãng giữa Tây Nguyên. Thế trận chiến lược đó tạo thuận lợi cho chiến dịch Tây Nguyên. "Thời" để phát động chiến dịch Tây Nguyên đánh trận mở đầu Buôn Ma Thuột là lúc ta tăng thêm choTây Nguyên hai sư đoàn nữa, làm cho lực lượng của Tây Nguyên mạnh lên hơn địch.


Ở Tây Nguyên, ta lại dùng mưu kế lừa địch bằng các hoạt động nghi binh như: mở đường ở phía bắc hướng vào thị xã Kon Tum, di chuyển Sư 10 và Sư 320 vào Buôn Ma Thuột nhưng để lại toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc; cắt đường 19, 21 để cô lập Plây Cu, Kon Tum và các tỉnh ven biển miền Trung. Đồng thời sử dụng Sư 968 đánh vào phía nam Plây Cu. Đây là đòn nghi binh có giá trị nhất.


Thế, thời trong chiến dịch Tây Nguyên mà mở đầu bằng trận mở màn Buôn Ma Thuật là lúc ta đã dùng mưu kế nghi binh lừa địch ở Kon Tum, Plây Cu, chia cắt địch ra thành nhiều mảng và cắt đường 14 cô lập Buôn Ma Thuột. Thê là ta chia cắt địch, phá thế liên hoàn của địch. "Thời" là lúc ta tập trung được lực lượng áp đảo ở Buôn Ma Thuột, mà địch thì tập trung ở Plây Cu để sơ hở ở Buôn Ma Thuột.


Thế là tạo ra tình huống. Tình huống chín muồi là thời cơ hành động. Thế, thời là tạo ra tình huống để hành động. Xây dựng tình huống, tạo tình huống, gạn lọc tình huống, đấu tranh, đối chọi tình huống là cả một quá trình trong chỉ huy tác chiến, là cả một quá trình điêu luyện về chỉ huy, là giải quyết các mâu thuẫn trong đấu tranh giữa ta và địch. Mâu thuẫn là bản chất của sự vận động của sự vật, là quan hệ và đấu tranh giữa hai chủ thể, nhiều chủ thể và giữa các mặt đối lập. Nhận thức được mâu thuẫn, phân tích được mâu thuẫn và biết cách giải quyết mâu thuẫn là giành được thắng lợi.


Thế, thời cũng là tạo ra tình huống để hành động. Mùa đông 1967, ở Tây Nguyên, ta pháo kích vào một căn cứ của lữ đoàn Mỹ ở Đắc Tô - Tân Cảnh để nhử địch nhảy dù ra phía sau trận địa pháo của ta, vào khu chiến của ta. Ta tổ chức khu chiến 1 để đánh quân nhảy dù vào phía sau trận địa pháo của ta.


Đằng sau khu chiến 1, ta tổ chức khu chiến 2 - là khu quyết chiến, ở đây ta bố trí hai trung đoàn. Ta phán đoán khiquân dù thứ nhất của địch bị đánh ở khu chiến 1, địch có nhiều khả năng đổ quán dù lần thứ hai xuống đằng sau khu chiến 1 để đánh quân ta, cứu nguy cho quân dù 1 đang bị đánh ở khu chiến 1. Khi quân dù thứ hai đổ xuống đằng sau khu chiến 1, thì hai trung đoàn của ta tiến vào chiến đấu. Hai trung đoàn của ta đã đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn của lữ đoàn dù 173 Mỹ ở các khu chiến. Địch bị thất bại ở các khu chiến, tức là bị thất bại trong các cuộc hành quân giải tỏa. Đó là xây dựng thế trận, tạo thế trận đê tạo ra tình huống. Tạo tình huống, và khi tình huống phát triển đến độ chín muồi, là thời cơ hành động. Tổ chức xây dựng thế trận của ta là pháo kích và lập ra hai khu chiến. Tạo tình huống là ta pháo kích vào căn cứ địch, đánh quân dù lần thứ nhất và đánh quân dù lần thứ hai. Quân dù nhảy xuống các khu chiến và ta đã sẵn sàng đón đánh chúng, đó là thời cơ.


"Thế", "thời" là tạo ra tình huống. Tình huống phát triển đến độ chín muồi là thời cơ hành động.

Mưu kế, thế thời, tình huống là một nghệ thuật chỉ huy rất cao. Người chỉ huy phải được rèn luyện rất công phu, phải học tâp luyện tập rất kỹ càng và luôn rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc và có tinh thần sáng tạo trong thục tien đau tranh mới có thể phát triển được nghệ thuật chỉ huy và tài năng chỉ huy.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 01:54:39 pm
X
NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VÀ CHIẾN THUẬT


Chiến dịch là một hoạt động tác chiến quan trọng trong chiến tranh; nó hoàn thành một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến dịch hoặc chiến lược. Trong chiến tranh, người ta thường tiến hành các trận chiến đấu, các chiến dịch lớn, nhỏ và thường phải qua các chiến dịch lớn, các chiến dịch chiến lược, các trận quyết chiến chiến lược (chiến dịch chiến lược quyết chiến) để giải quyết chiến tranh, để kết thúc thắng lợi của chiến tranh.


Chiến dịch là các trận giao chiến giữa hai bên đối địch. Chỉ đạo chiến dịch thể hiện mưu kế chỉ huy. Chiến dịch vừa thể hiện mưu kế vừa thể hiện hành động trực tiếp của lực lượng vũ trang - của quân đội. Người chỉ đạo chiến lược có thể ngồi trong màn chướng mà đặt mưu kế tác chiến. Người chỉ huy chiến dịch phải trực tiếp hành động với quân đội ở ngoài chiến trường.


Thắng lợi cuối cùng của chiến tranh phải do các trận đánh và các chiến dịch quyết định trực tiếp. Chiến dịch là tổng hợp các trận đánh có mối quan hệ hữu cơ với nhau, liên kết với nhau, tạo tình huống cho nhau. Từng trận đánh phải rất kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ của mình để hoàn thành nhiệm vụ chung. Các trận đánh trong chiến dịch đều tuân thủ theo một kế hoạch chung thống nhất, chỉ huy thống nhất theo một thời gian, địa điểm nhất định trong đó có trận then chốt và then chốtquyết định để hoàn thành một nhiệm vụ nhất định, làm thất bại nhiệm vụ tác chiến của đối phương, tạo ra thắng lợi có mức độ khác nhau trong chiến tranh; tạo ra sự thay đổi, chuyển hóa về chiến lược, tạo ra cục diện mởi về chiến tranh hoặc tạo ra thắng lợi quyết định trong chiến tranh.


Đợt hoạt động kéo dài tới mấy tháng trong đó có thể có một chiến dịch hoặc hai chiến dịch.

Chiến dịch cũng như chiến lược phải thể hiện được quy luật của chiến tranh. Quy luật của chiến tranh là tránh tiêu diệt chiến lược, gồm cả lực lượng chiến lược và bộ thống soái của địch thì mới giành được thắng lợi triệt để, hoàn toàn trong chiến tranh.


Nhiệm vụ chiến dịch rất nặng nề, nó trực tiếp hoàn thành nhiệm vụ chiến lược, mưu kế chiến lược. Chiến dịch có hoàn thành được nhiệm vụ hay không lại do chiến thuật, do các trận chiến đấu có hoàn thành được nhiệm vụ của mình mà chiến dịch đặt ra hay không. Cuối cùng là do các chiến binh trên chiến hào quyết định.


Muốn tiến hành chiến dịch, đầu tiên phải định ra mưu kế. Mưu kế chiến dịch là định đánh địch ở đâu, hướng chủ yếu, hướng phối hợp, hướng nghi binh như thế nào? Chia cắt địch ở đâu? Trong mưu kế, điều đầu tiên là tạo bất ngờ để đánh đòn quyết định; địch không có cách đối phó. Có thế ta mới dễ thắng và thắng nhanh.


Trong kháng chiến chống Pháp, trong chiến dịch Biên Giới 1950 mưu kế chiến dịch của ta là: Đánh Đông Khê để câu viện từ Thất Khê, Lạng Sơn lên. Tiêu diệt cứ điểm Đông Khê xong rồi diệt viện binh. Diệt cả điểm và diệt cả viện, làm cho quân địch ở Cao Bằng bị cô lập và cũng rút chạy luôn. Ta lại tiêu diệt luôn cả quân ở Cao Bằng rút chạy. Thế là thắng lợi cả ba bề, làm một được hai. Đánh một đòn mà thắng ba đòn.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ phương châm chiến dịch của ta là đánh chắc tiến chắc. Trên cơ sở phương châm đó, mưu kế chiến dịch của ta là tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài làm suy yếu lực lượng địch và phá vỡ từng mảnh trận địa địch làm cho thế trận của địch xộc xệch, cùng với việc không chế, đánh chiếm sân bay, cắt cái dạ dày của địch làm cho địch chưa bị tiêu diệt nặng nề nhưng phải đầu hàng.


Trong kháng chiến chống Mỹ, năm 1966, ở Tây Nguyên, mưu kế chiến dịch của ta là lừa địch ra tuyến sông Sa Thầy để tiêu diệt. Kết quả ta đã đánh thiệt hại nặng một số tiểu đoàn của sư 4 Mỹ và lữ đoàn dù 101 Mỹ.


Kế thừa chiến dịch Sa Thầy, mùa đông năm 1967 trong chiến dịch Đắc Tô 1 (Kon Tum) ta cũng đã lừa được các tiểu đoàn của một lữ đoàn thuộc sư 4 Mỹ và lữ đoàn dù 173 Mỹ hạ cánh trực thăng vào hai khu chiến ta đã dự kiến để đánh thiệt hại một số tiểu đoàn Mỹ và đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 Mỹ ở đồi 875 nổi tiếng ở phía bắc Kon Tum.


Đến chiến dịch Đắc Tô 2 (Đắc Tô - Tân Cảnh) ở phía bắc thị xã Kon Tum năm 1972 mưu kế chiến dịch của ta lại có thay đổi. Ý định chiến dịch của ta là bước đầu giải phóng thị trấn Đắc Tô - Tân Cảnh. Sau đó mới đánh xuống thị xã Kon Tum. Để thực hiện nghi binh lừa địch, làm cho địch tập trung lực lượng vào thị xã Kon Tum mà để sơ hở Đắc Tô - Tân Cảnh, ta mở một con đường cơ giới phía tây bắc thị xã Kon Tum khoảng 20-25km. Hai lữ đoàn dù và liên đoàn cơ động quân số 22 của địch ra đối phó, định ngăn chặn, phá việc làm đường của ta. Ta cho Sư đoàn 320 và hai trung đoàn cùng các binh chủng ra đối chọi.


Lực lượng chủ chổt của địch tập trung vào khu vực thị xã Kon Tum mà để sơ hở thị trấn Đắc Tô - Tân Cảnh. Lợi dụng sự sơ hở đó ta làm một con đường quân sự gấp nối vào đường 14 để đưa lực lượng chủ chốt của ta gồm Sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng trung đoàn 66, một tiểu đoàn đặc công của B3 cùng pháo binh, pháo cao xạ, tên lửa chống tăng và xe tăng vòng về phía đông Đắc Tô - Tân Cảnh, lợi dụng sơ hở, ít phòng bị của địch mà bất ngờ đánh vào căn cứ quân sự 42; trong khi xe tăng và pháo binh của địch lại bố trí ở phía tây căn cứ, hòng đối phó với ta ở phía tây. Cuộc chiến giữa ta và địch đang diễn ra quyết liệt xung quanh thị xã Kon Tum thì căn cứ 42 bất ngờ bị ta tiến công ở phía dông, nơi mỏng yếu và ít đề phòng của địch. Địch không kịp trở tay, sư dù mắc ở Kon Tum không đi cứu được thị trấn Đắc Tô - Tân Cảnh, lại cũng có thêm trung đoàn 28 cũng ra cắt đường 14 từ Kon Tum đi Tân Cành không cho dịch từ Kon Tum đi cứu Đắc Tô nên trung đoàn địch ở thị trấn Đắc Tô - Tân Cảnh bị tiêu diệt và bị bắt sống chỉ trong gần một ngày.


Đến chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân năm 1975, mưu kế của ta là nghi binh lừa địch ở Plây Cu để địch tập trung vào Plây Cu, sơ hở ở Đắc Lắc để ta đánh đòn quyết định vào Buôn Ma Thuột. Ngoài lừa địch ra, trong mưu kế, ta còn chia cắt địch ra thành nhiều cụm cô lập nhau, khó ứng cứu được cho nhau, tạo ra thế tập trung của ta, phá thế liên hoàn của địch.


Trong mưu kế, ngoài việc lừa địch, tạo ra bất ngờ, nó còn lập thế cho ta, phá thế của địch. Có thế mới tạo ra được tình 1 huống và thời cơ có lợi để tiêu diệt địch.

Do có mưu kế nghi binh lừa địch và chia cắt địch như thê, nên khi ta giải phóng Buôn Ma Thuật, địch ở Plây Cu không đi đường bộ xuống cứu Buôn Ma Thuột được mà phải đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống phía đông Buôn Ma Thuột và bị tiêu diệt. Trận giải phóng Buôn Ma Thuột và đánh bại phản kích ứng cứu của địch đã tạo ra một trận then chốtquyết định, làm cho địch hết cả lực lượng và hết cả các biện pháp tác chiến, tạo ra đột biến, buộc địch phải rút chạy khỏi Tây Nguyên; Plây Cu, Kon Tum không đánh mà thắng. Chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975 và trận Buôn Ma Thuột thể hiện được đầy đủ các thành phần chiến thuật của nghệ thuật chiến dịch, làm cho địch hoàn toàn bị thất bại.


Chiến dịch muốn thắng lợi phải có chiến thuật tốt. Chiến thuật của ta là đánh vận động, trong đó có chiến thuật phục kích, tập kích, về đánh công sự vững chắc thì có chiến thuật cường tập, kỳ tập. Ngoài ra, còn có chiến thuật đánh đặc công.


Trong thực tiễn đấu tranh và thực tiễn tiến hành chiến tranh, chúng ta phải giải quyết nhiều mâu thuẫn. Quá trình đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn, quần chúng luôn luôn có sáng tạo. Đó cũng là nguyên lý và là quy luật của sự phát triển. Bộ đội Tây Nguyên đã phát triển sáng tạo cách đánh chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt. Quân Mỹ có sức cơ động cao, hỏa lực mạnh. Nếu ta không có các chốt để chặn các mũi tiến công đột ngột, biến hóa của địch lại, chia cắt địch ra thì khó đánh được địch. Từ yêu cầu chiến thuật đó mà sinh ra chiến thuật mới là "vận động tiến công kết hợp chốt".


Trong chiến dịch Đắc Tô 1 (Kon Tum) năm 1967 bộ đội Tây Nguyên đã vận dụng chiến thuật này để đánh quân Mỹ ở cao điểm 875 và đã giành được thắng lợi.

Do yêu cầu đánh tiêu diệt, chiến thuật luôn phát triển. Năm 1970, bộ đội Tây Nguyên lại phát triển, sáng tạo ra chiến thuật "vận động bao vây tiến công liên tục". Chiến thuật này đã có tiền đề, sơ khai trong chiến dịch Biên Giới năm 1950 ở thời đánh Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, năm 1970 trong đánh ngụy ở cứ điểm Đắc Xiêng, quân ta đã dùng chiến thuật này để tiêu diệt sạch gọn một tiểu đoàn ngụy thuộc trung đoàn 42 lên ứng cứu cho cứ điểm. Chiến thuật này đạt trình độ đánh tiêu diệt cao. Quân ta vận động đến bao vây chặt cả bốn phía quân địch, rồi công kích liên tục cả ngày đêm, đánh đến đâu, chiếm chỗ luôn đến đó rồi tiếp tục công kích đến khi tiêu diệt hoàn toàn, bắt tù binh, thu cả vũ khí lẫn chỉ huy của địch, không để tên nào chạy thoát. Từ năm 1970 trở đi, chiến thuật này đã được vận dụng có kết quả ở chiến trường bắc Tây Nguyên. Năm 1973, trong trận đánh địch ở Com Bray, chiến thuật này cũng đã thành công, tiêu diệt được một tiểu đoàn quân ngụy ở phía đông bắc thị xã Kon Tum. Trung đoàn 66 của B3 là đơn vị vận dụng tốt chiến thuật này.


Về đánh công sự vững chắc, khó khăn nhất của ta là chế áp các công sự, các hỏa điểm và phá rào. Vận dụng kinhnghiệm chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa pháo lên cao, vào hầm tháng 10 năm 1972 bộ đội pháo binh Tây Nguyên, lần đầu tiên đã vận dụng đưa lựu pháo 122 ly lên cao vào gần, cách vị trí địch khoảng 2km. Chỉ trong khoảng bốn tiếng đồng hồ, với việc tiêu thụ khoảng 100 viên đạn pháo cùng một số đạn súng cối, súng B41, quân ta đã tiêu diệt một tiểu đoàn tăng cường biệt động quân của địch.


Tháng 4 năm 1974, bộ đội pháo binh Tây Nguyên cũng đưa pháo 122 ly (có tầm bắn xa 27km) lên cao, có hầm chống đạn vào gần 4km cách vị trí Đắc Pét ở phía tây bắc tỉnh Kon Tum và đã tiêu diệt một tiểu đoàn biệt động quân địch trong khoảng gần một ngày.


Chiến dịch, chiến thuật, chiến đấu là hoạt động trực tiếp của bộ đội trên chiến trường. Mưu kế của nó là mưu kế hành động trực tiếp. Tình huống, thế và thời của nó diễn biến, biến hóa đột ngột, tức thời. Người chỉ huy phải rất năng động, nhạy bén và quả đoán mối có thể chỉ huy được tình huống, đấu tranh tình huống, đối chọi tình huống mà giành thắng lợi.


Trí tuệ Việt Nam, nghệ thuật quân sự Việt Nam là dựa trên cơ sở văn hóa chính trị Việt Nam nhằm chiến thắng các kẻ thù xâm lược.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 03:07:43 pm
XI
TÌM HIỂU VỀ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH CỦA NGUYỄN TRÃI


Một cuộc chiến tranh giành được thắng lợi là do có đường lối chủ trương đúng và có cách tiến hành chiến tranh đúng.

Một cuộc chiến tranh giải phóng của một nước nhỏ đánh thắng một nước lớn thì đường lối phải đúng đắn và phương pháp chiến tranh phải có nhiều sáng tạo.

Cuộc chiến tranh giải phóng cứu nước của dân tộc ta ở đầu thế kỷ thứ XV do nghĩa quân Lam Sơn lãnh đạo đã chứng minh được cho những điều nói trên.

Nguồn gốc của sự đúng đắn và sáng tạo đó là ở đâu? Vấn đề này phải được đánh giá một cách toàn diện trên tất cả các mặt, các góc cạnh, các nhân tố của chiến tranh.

Ở bài viết này chỉ đề cập một mặt, một khía cạnh. Khía cạnh đó là vấn đề nhận thức về bản chất, tính chất của chiến tranh, về quy luật của chiến tranh và về sự chỉ đạo chiến tranh theo quy luật của nó.

Xét cho cùng sự đúng đắn và sáng tạo của mọi việc làm đều do con người có cách nhìn nhận và hành động đúng, phù hợp với sự vận động của sự vật. Hay nới một cách khác là con người nhận thức được bản chất và quy luật của sự vật, đồng thời lại chỉ đạo sự vật vận động đi đúng được quy luật.


Bài viết này đặt vấn đề bước đầu tìm hiểu về thế giới quan và phương pháp luận trong chỉ đạo chiến tranh của Nguyễn Trãi, một nhà quân sự lỗi lạc trong bộ chỉ huy của nghĩa quân Lam Sơn.

Trước hết, sự tiến bộ về thế giới quan và phương pháp luận của Nguyễn Trãi thể hiện ở quan điểm nhân dân và quan điểm chính nghĩa của chiến tranh. Có tin tưởng vào nhân dân, vào chính nghĩa mới tin tưởng vào sức mạnh tất thắng của chiến tranh.


Sự tin tưởng đó còn cao hơn nữa là dám chiến đấu, quyết chiến đấu để cho nhân nghĩa được sáng ngời, để cho cuộc chiến đấu quyết liệt, gian khổ giành được thắng lợi. Cái cốt lõi trong tư tưởng của Nguyễn Trãi là quan điểm nhân nghĩa tiến bộ, quan điểm nhân nghĩa của nhân dân. Quan điểm nói trên của Nguyễn Trãi được thể hiện ở những câu sau đây của ông: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân cứu nước trước cần trừ bạo" (Bình Ngô đại cáo). "Vả lại mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân..." (Chiêu về việc làm bài "Hậu tự huấn" để răn bảo thái tử trong Nguyễn Trãi toàn tập, tr. 203)1 (Những trích dẫn của Nguyễn Trãi trong bài này đều lấy từ: Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H. 1976).


"Đẹp cung thất mà cao đài tạ, tất gây thói tục xa hoa; theo ý mình mà ức lòng người, tất đến trăm năm oán giận. Trẫm rất thẹn thùng vềđiều đó. Thường nghĩ quy mô lớn lao lộng lẫy, đều là sức lao khổ của quân dân...".

(Chiếu truyền bách quan không được làm những lễ nghi khánh hạ. sđd, tr. 196).

Nguyễn Trãi thực sự có quan điểm vì nhân dân, có lòng nhân nghĩa tiến bộ cao cả bao la đổi với nhân dân và gắn chặt với nhân dân:

   "Thà người phụ ta chứ ta không phụ người".

   "Trong khoảng vua tôi, lấy nghĩa lớn mà xử với nhau, thân nhau như ruột thịt, không hiềm gì, không ngờ gì, thế cho nên được lòng người mà ai ai cũng vui theo", (sđd, tr. 73).

Ông nói tiếp:

"Trước kia họ Trình (Trình tức là Trần, vì tránh huý mà đổi) cậy mình mạnh giàu, mặc dân khôn khổ, chỉ ham vui chơi, đắm đuối tửu sắc. Những việc vô ích bày ra hàng ngày: nào là đánh bạc, vây cờ, chọi gà, thả chim; nào là cá vàng nuôi chậu, chim rừng nhốt lồng. Khoe tất tài năng nhỏ mọn, giành lấy hơn thua; quên hẳn thiên hạ lớn lao; chẳng hề đoái nghĩ...".


"Chỉ vụ ích kỷ phì gia; chẳng nghĩ khổ dân hại nước. Yêu người gần, vị tình riêng. Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểu nhân mà người nịnh cũng tin dùng. Nhân mừng mà thưỏng khen; nhân giận mà phạt giết. Người trung trực phai khóa miệng; kẻ lương thiện thì ngậm oan". (Chiếu cấm các đại thần, tổng quản cùng các quan ở viện sảnh cục tham lam lười biếng, sđd. tr. 196).

"Kể đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của". (Thư trả lời Phương Chính, sđd, tr. 105).

"Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu". (Lại thư trả lời Phương Chính, sđd, tr. 106).

Những lời nói trên đây của Nguyễn Trãi đúng là những tư tưởng quan điểm của một người có nhân sinh quan đứng về phía nhân dân, đứng về phía nhân nghĩa, đứng về phía chân lý tiến bộ của xã hội.

Mặt khác trong nhân sinh quan của Nguyễn Trãi lại có tinh thần dám đấu tranh cho chính nghĩa, cho chân lý, và tin tưởng vào sự thắng lợi của chính nghĩa, của chân lý:

Ông nói: "Rút cục, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn.
      Lấy chí nhân mà thay cường bạo"
(Binh Ngô đại cáo)

Chính nghĩa của Nguyễn Trãi là chính nghĩa của nhân dân, vì nhân dân. Chính nghĩa chỉ có thực hiện được ở trongnhân dân thì mới đạt được mục đích của chính nghĩa, mới là chính nghĩa chân chính. Chính nghĩa đó như sau:

"Dân ta khổ vì giặc đã lâu, phàm đến châu huyện nào, mảy may không được xâm phạm. Nhân dân chẳng ai là không mừng, tranh nhau đem trâu rượu ra đón khao để cung vào quân dụng". (Lam Sơn thực lục, sđd, tr. 58).

Chính nghĩa của Nguyễn Trãi không những chỉ sáng ngời trong nhân dân, mà nó còn chiếu rọi tới cả quân địch, tới tù binh, hàng binh:

   "Phàm vợ con của (giặc) bắt được, không nỡ giết một ai, tha cho về hết".

   "Vua ra lệnh cho trong quân rằng: Đầu sỏ giặc đã hàng mảy may không được xâm phạm, những kẻ tội lớn tội nhỏ đều tha hết". (Lam Sơn thực lục, sđd, tr. 55).

   Do chính nghĩa sáng ngời như thế, nên nghĩa quân đã cảm hóa được quân địch; nhiều trận không đánh mà địch phải ra hàng.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 03:10:12 pm
Nguyễn Trãi có tinh thần chiến đấu cao. Dù gặp khó khăn, gian khổ, ông vẫn có quyết tâm vượt qua để giành thắng lợi. Tinh thần chiến đấu đó thể hiện ở các câu sau đây của ông: "Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần. Lúc Khôi Huyện quân không một lữ. Bởi trời muốn khôn ta để trao trách nhiệm, nên ta càng cố chí để vượt gian nan" (Bình Ngô đại cáo).

"Tuy khốn đốn mà lại hay, vì cớ điều sắp vẻ vang. Mang giáp trụ để che thân, lấy củ rau để làm lương. Chí hăm hở lo toan, lòng căm tức chẳng hề quên" (Phú núi Chí Linh).

"Thế là bởi tai nạn nhiều là gốc dựng nước, lo nghĩ nhiều là cái nền mở nghiệp thánh" (Phú núi Chí Linh).

Nhân sinh quan của Nguyễn Trãi còn biểu hiện tập trung ở một câu nổi tiếng sau đây:

"Sống nhục thà thác (chết) vinh, biết quân ta khả dụng (giỏi giang)" (Phú núi Chí Linh).

Câu này cũng gần giống như lời kêu gọi vang dậy núi sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"; "Không có gì quý hơn độc lập tự do!"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 480 và tập 12, tr. 107). Đó là những quan điểm thuộc về nhân sinh quan của Nguyễn Trãi. Qua một số câu trích dẫn trên đây, ta có thể thấy tư tưởng và hành động của Nguyễn Trãi là thống nhất, và nhất quán trong suốt cả cuộc đời chiến đấu của ông.


Từ đó có thể thấy nhân sinh quan của ông rất tiến bộ và có nhiều điều gần gũi với nhân sinh quan cách mạng của chúng ta.

Những lời xưa mà tưởng như là lời nói của ngày nay. Bên cạnh nhân sinh quan tiến bộ đó, Nguyễn Trãi còn có thế giới quan và phương pháp luận tiến bộ.

Do nhận thức được sự vật và hành động theo được quy luật vận động của cuộc chiến tranh giải phóng, Nguyễn Trãi đã đềxuất được chủ trương đúng đắn để đóng góp vào sự lãnh đạo cuộc chiến tranh của Lê Lợi.

Nhận thức sự vật đúng và hành động đúng là do có thế giới quan đúng và có phương pháp luận đúng.

Có thể nói Nguyễn Trãi đã nhận thức được tính chất và quy luật của chiến tranh. Ông đã nắm bắt được sâu sắc tính chất chính nghĩa và phi nghĩa của chiến tranh, vấn đề khởi nghĩa và chiến tranh nhân dân.

Ông nhận thấy chiến tranh giải phóng cứu nước là một điều cần thiết, cần phải làm, vì quân xâm lược nhà Minh rất tàn ác, nhân dân ta, dân tộc ta không thể sống nổi dưới ách đô hộ bạo tàn đó.

Ông nói:

   "Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa hết vết nhơ. Chặt hết trúc Nam Sơn chẳng đủ ghi hết tội ác. Thần người đều căm giận trời đất chẳng dung tha.
   Ta đây phát tích Lam Sơn, nương thân hoang dã. Nghĩ thế thù không đội trời chung.
   Thề giặc nước khó cùng chung sống"
(Bình Ngô đại cáo)

Khi nước nhà bị đô hộ thì ông thấy cần phải tiến hành chiến tranh để giải phóng đất nước.

Khi đã hoàn thành được sứ mạng đó, thì ông thấy rằng cần phải có hòa bình để xây dựng đất nước, bảo đảm đời sống yên vui cho nhân dân và giữ mối quan hệ hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc. Những điều gì giữ vững được hòa bình, tránh đước chiến tranh thì phải cố gắng tiến hành.

   Ông nói:

   "Chúng đã sợ chết tham sống mà thực muốn cầu hòa, ta lấy toàn quân làm cốt mà cho dân được nghỉ, chẳng những mưu kế cực kỳ sâu xa.
   Tưởng cũng xưa nay chưa từng được thấy.
   Xã tắc do đó được yên, non sông do đó đổi mới"
(Bình Ngô đại cáo)

   Một đoạn khác:
   "Đến như thân võ không giết.
   Đức lớn hiếu sinh.
   Nghĩ vì thế lâu dài của nhà nước.
   Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh.
   Sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muốn đời chiến tranh.
   Chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh"
(Phú núi Chí Linh)

   Hai đoạn thơ văn trên đây có thể chứng tỏ rằng ông đã có suy nghĩ ở một khía cạnh nào đó về nguyên nhân, nguồn gốc của chiến tranh.

   Xuất phát từ quan điểm nhân nghĩa tích cực, nhân nghĩa tiến bộ, ông cho rằng chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh giải phóng cứu nước là chính nghĩa và tin tưởng rằng chính nghĩa thuộc về nhân dân thì nhất định thắng phi nghĩa.

   "Rút cục, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn.
   Lấy chí nhân mà thay cường bạo"
(Bình Ngô đại cáo)

   "Vì thế một khi cờ nghĩa mới phất, bốn phương nổi dậy như ong, mà giặc Ngô liền bị bại diệt".
   "Bởi chúng chỉ biết cướp nước bằng bạo mà không biết vỗ về bằng ân. Tuy ta lấy đại nghĩa mà được lòng người nhưng cũng bởi trời chán ghét giặc mà phó thác cho ta vậy". (Quân trung từ mệnh tập, sđd, tr. 198)

   Nguyễn Trãi không những nhận thức được tính chất của chiến tranh, mà ông còn đi xa hơn nữa là nhận thức được quy luật của chiến tranh và hành động theo quy luật của một cuộc chiến tranh giải phóng cứu nước. Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng. Vì có hiểu quy luật và hành động theo quy luật thì mới đi đúng đường hướng được. Đi đúng đường hướng thì mới có thể giành được thắng lợi.


   Nguyễn Trãi cho rằng một cuộc chiến tranh giải phóng là phải lấy ít đánh nhiều, lấy yếu địch mạnh. Do so sánh lực lượng như vậy nên cuộc chiến tranh phải trải qua nhiều khó khăn gian khổ. Cuộc chiến tranh đó phải dựa vào sức mạnh của nhân dân và cuối cùng nhất định thắng lợi; vì nó là chính nghĩa, nó hợp với lòng người.


   Ông biết quy luật chung của chiến tranh là: "Huống chi lấy mạnh lấn yếu, lấy nhiều thắng ít, đó là việc thường". (Lam Sơn thực lục, sđd, tr. 66).

   Nhưng ông lại biết cái bản chất của sự vật. Ông có nhắc lại một câu của người xưa trong binh pháp:

   "Kẻ nhân giả lấy yếu chế mạnh, kẻ nghĩa giả lấy ít địch nhiều". (Thư trả lời Phương Chính, sđd, tr.105).

   Như thế cũng chưa đủ, ông còn tìm thêm về nghệ thuật, để cho quy luật yêu thắng mạnh, ít thắng nhiều được vận động.

   Ông nói:
   "Lấy yếu chống mạnh thường đánh bất ngờ. Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục"
(Bình Ngô đại cáo)

   Đây là một điểm rất hay của Nguyễn Trãi.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 03:11:34 pm
Ông đã tìm ra được điều kiện tồn tại và vận động của sự vật. Đó là một quan điểm, thực tiễn rất cao. Chỉ như vậy mới có thé nhìn sự vật ở mọi khía cạnh của nó, mới tìm ra được các điều kiện cho sự vật tồn tại và vận động đê có thế nhận thức được bất cứ sự vật nào và có cách xử trí đúng đắn rất sinh động linh hoạt đối với các sự vật, dù phức tạp đến đâu. Có thể thấy trong nhận thức của Nguyễn Trãi đã có mầm mốngvề mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, giữa bản chất và hiện tượng, ông đã nhìn kỹ bản chất hơn hiện tượng, nhìn kỹ nội dung hơn hình thức.


Nguyễn Trãi đã thấy những nhân tố tổng hợp của chiến tranh. Ông luôn luôn tin tưởng vào sức mạnh và sự tất thắng của chính nghĩa, của nhân dân. Ông không có quan điểm định mệnh về chiến tranh.

Do có quan điểm biện chứng, Nguyễn Trãi đã có được nhận thức sâu sắc về quy luật của chiến tranh, ông cho rằng sự vật là có vận động, có biến đổi, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, lúc đầu là nhỏ yếu, nhưng sau có thể lớn mạnh.

   Ông đã từng nói:

   "Song gặp khôn mà thông, càng đánh càng thắng, đến đâu cũng là bẻ gẫy đập tan, há chẳng phải là lòng trời đấy sao! Ngày nay vận trời tuần hoàn, đi rồi lại. Trước kia ăn không nề hai bữa, mà nay thì với lương thực của các ngươi tích trữ ăn được ba chục năm; trước kia quân bất quá vài trăm người, mà nay thì binh phụ tử ở Thanh Hóa không dưới hai vạn, quân có tiếng tinh tráng dũng cảm ở Diễn Châu, Tân Binh, Thuận Hóa cũng không dưới vài vạn, cùng quân đồng lực ở các lộ Giao Châu, không dưới mười vạn người" (Lại thư cho Vương Thông, sđd, tr. 138).

   Ông còn nói:

   "Kể ra, thời có khi thịnh khi suy, thế có kẻ mạnh, kẻ yếu; cũng là lẽ trời lòng người, thuận hay nghịch, hướng theo haytrái ngược". (Thư dụ tướng sĩ trong thành Xương Giang, sđd, tr. 157).

   Ông thường khuyên mọi người nên hiểu biết mọi lẽ thay đổi của sự vật:

   "Song điều đáng quý ở người quân tử là hiểu thời thông biến mà thôi, vả lại vận trời tuần hoàn, đi rồi lại lại, từ xưa đến nay, bao giờ cũng thế, nước An Nam xưa bị Trung Quốc xâm chiếm là từ Tần, Hán trở đi. Phương chi trời đã phân cách Nam Bắc, có núi cao sông lớn, bờ cõi rành rành; dẫu mạnh như Tần; giàu như Tuỳ, nào có thểsinh thế lực được đâu!" (Thư cho Đả Trung và Lương Như Hối, sđd, tr. 122).


   Do nhận thức được sự vận động, biến đổi của sự vật, nên ông tin tưởng cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng do Lê Lợi lãnh đạo nhất định sẽ thắng, tuy lúc đầu so sánh lực lượng giữa ta và địch có chênh lệch nhau nhiều. Và ông kết luận:

   "Càn khôn đã bĩ mà lại thái. Nhật nguyệt đã mờ lại trong".
(Bình Ngô đại cáo)

   "Than ôi! Từ xưa đến nay. Trăm đời đổi thay". (Phú núi Chí Linh, sđd, tr. 87).

   Không những Nguyễn Trãi hiểu được sự vật là có biến đổi, mà ông còn thấy được các mối quan hệ của sự vật. Nhìn nhận sự vật bao giờ ông cũng nhìn các khía cạnh của nó, các mối liên hệ của nó. Do đó ông nhìn nhận sự vật một cách đúng đắn và tìm ra được kết luận sắc sảo.


   Ông cho rằng nghĩa quân Lam Sơn lúc đầu còn nhỏ yếu, nhưng vì có chính nghĩa, được nhân dân ủng hộ và có cách đánh phù hợp nên nhất định sẽ ngày càng lớn mạnh và cuối cùng sẽ chiến thắng quân địch có số quân đông hơn.


   Quân xâm lược yếu hay mạnh không phải chỉ ở số lượng quân đội của chúng nhiều hay ít, mà còn ở các vấn đề khác như chính trị, tinh thần, nghệ thuật quân sự và cả hậu phương của chúng nữa.

   Ông đã khẳng định các điều thua của quân nhà Minh như sau trong lá thư dụ Vương Thông:

   "Nay tính hộ các ông thì có sáu điều phải thua:

   - Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cơ thiếu thốn, ngựa chết, quân ôm. Đó là điều phải thua thứ nhất.

   -Xưa Đường Thái bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi đồn, giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.

   -(Ở nước các ông) quân mạnh ngựa tốt nay đóng cả ở miền Bác để phòng bị quân Nguyên, không dõi nhìn đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.

   - Luôn động can qua, liên tiếp đánh dẹp, người sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.

   -Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình sinh biến. Đó là điều phải thua thứ năm.

   -Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc; quân sĩ trong thành thì đều mệt mỏi, tự chuốc diệt vong. Đó là điều phải thua thứ sáu". (Lại thư dụ Vương Thông, sđd. tr. 134).

   Có nhận thấy mối quan hệ của sự vật, có thấy các sự vật có mối liên hệ với nhau trong quá trình vận động của nó thì mới có thái độ đúng, có cách xử trí đúng đối với mọi sự vật được.

   Nguyễn Trãi đã nhận thức sự vật như thế nên có cách xử trí đối với sự vật như sau:

   "Bởi biết người biết mình, hay yếu hay mạnh". (Phú núi Chí Linh, sđd, tr. 85).

   "Sống nhục thà thác (chết) vinh, biết quân ta khả dụng (giỏi giang)".
(Phú núi Chí Linh)

   "Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ.
   Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục"
(Bình Ngô đại cáo)

   Sống trong hoàn cảnh của một cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, Nguyễn Trãi luôn luôn cho rằng phải cố gắng vươn lên từ trong khó khăn, gian khổ; muốn thắng lợi phải trải qua khó khăn gian khổ, phải có chí bền để mà thành công. Ở đây lại thấy tính năng động chủ quan của Nguyễn Trãi.

   Nguyễn Trãi thấy được nhân tố khách quan và chủ quan. Nguyễn Trãi không có tư tưởng định mệnh.

   "Bởi trời muốn khốn ta để trao trách nhiệm, nên ta càng cố chí để vượt gian nan"
(Binh Ngô đại cáo)


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 03:21:25 pm
Chiến tranh tức là đấu tranh xã hội. Ở lĩnh vực đó, mối liên hệ nhân quả của sự vật được Nguyễn Trãi đặt trong sự cố gắng của con người.

Giải phóng đất nước, lập nước là công cuộc rất lớn lao. Phải có sự cố gắng lớn mới làm được. Lúc đầu lại phải trải qua những khó khăn gian khổ. Bất cứ sự vật nào ra đời, xuất hiện được cũng phải trải qua những quá trình hình thành của nó. Sự vật càng có công phu xây dựng thì khi xuất hiện, hình thành càng tốt đẹp.

Hãy nghe ông nói về môi liên hệ nhân quả như sau:

"Thế là bởi tai nạn nhiều là gốc dựng nước, lo nghĩ nhiều là cái nền mở nghiệp thánh. Trải biến nhiều thì mưu kế sâu, tính việc xa thì thành công kỳ"
(Phú núi Chí Linh)

   "Nghĩ sửa trí ở khi chư loạn".
   "Nghĩ giữ nước từ lúc chưa nguy".
   "Phải cẩn thận lúc trước để tính lúc sau; phải làm nên việc lớn từ ở việc nhỏ".

   (Chiếu giáng Tư Tề làm quận Vương, đặt con thứ là Nguyễn Long nối nghiệp, sđd, tr. 204).

   "Nhiều hoạn nạn mối dựng được nước, lắm lo phiền mới dạy thành nhân, cái khốn khô ngày nay là trời thử ta thôi.

   Các khanh nên bền giữ lòng xưa, thận trọng, đừng vì thế mà chán nản". (Lam Sơn thực lục, sđd. tr. 72).

   Ông còn đi xa hơn nữa trong nhận thức về mối liên hệ nhân quả của sự vật bằng sự phát huy tài năng, trí tuệ của con người. Tài năng, trí tuệ của con người có khả năng tác động một cách tích cực vào sự vận động của sự vật, lập nên một mối liên hệ nhân quả rất tích cực trong sự vận động của sự vật.

   Ông nói:

   "Kể ra người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi. Được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế, thì mạnh hóa ra yêu, yên lại thành nguy; sự vật thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay". (Lại thư dụ Vương Thông, sđd, tr. 132).

   Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói về thời, thế rất sâu sắc và có tầm khái quát cao:

   "Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ,

   Kiên quyết, không ngừng thế tiến công;

   Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,

   Gặp thời, một tốt cũng thành công"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 287. 1158).
   
Sự tài tình của Nguyễn Trãi còn ở chỗ ông đã có trong nhận thức mầm mống về các mặt đối lập của sự vật và tìm ra được cách giải quyết mâu thuẫn, cách thống nhất các mặt đôi lập.

   Ông đã từng nói:
   "... Không lấy việc nhỏ hại việc lớn, không lấy nhìn gần mà lãng nhìn xa...".
   "... Tất phải nghĩ chỗ khó mà mưu việc dễ. Bảo rằng công khó thành mà lại dễ hỏng, tất phải cẩn thận lúc đầu mà tính về sau". (Lam Sơn thực lục, sđd, tr. 73, 74).

   Nhìn thấy mâu thuẫn trong sự vận động của sự vật là thể hiện một tư duy cao. Tìm ra được cách giải quyết mâu thuẫn lại là một phương pháp tư duy cao hơn nữa. Dựa vào sức mạnh chính trị, tinh thần của nhân dân, vào sức mạnh của ý chí con người, Nguyễn Trãi đã bước một chân sang địa hạt duy vật.

   Ông nói: "Đã do trời mà biết thời lại có chí để công thành"
(Phú núi Chí Linh)
   và:
   "Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần.
   Lúc Khôi Huyện quân không một lữ.
   Ấy trời muốn khốn ta để trao trách nhiệm,
   Nên ta càng quyết chí để vượt gian nan".
(Binh Ngô đại cáo)

   và: "Thời có thịnh có suy,
      Quan hệ ở vận trời.
      Việc có thành, có bại,
      Thực bởi tại người làm".
(Quân trung từ mệnh tập)

   Nguyễn Trãi còn tiến một bước cao hơn là trong mớ bòng bong của các mâu thuẫn, ông đã tìm ra được mâu thuẫn chủ yếu. Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu thì các mâu thuẫn khác đều được giải quyết. Vào khoảng cuối năm 1427, 15 vạn viện binh của nhà Minh chia làm hai đạo quân tiến vào nước ta để đi cứu nguy cho đạo quân Vương Thông đang bị vây hãm chặt ở thành Đông Quan.


   Trong tình hình đó, bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định tập trung lực lượng đánh bại hai đạo quân viện binh. Đội quân viện binh bị đánh bại thì Vương Thông bị vây hãm ở thành Đông Quan sẽ phải đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. Mâu thuẫn chủ yếu của chiến cục lúc đó là đội quân viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh; và mặt chủ yếu của mâu thuẫn là đạo quân của Liễu Thăng.


   Giải quyết được mâu thuẫn giữa quân ta và Liễu Thăng thì các mâu thuẫn khác trong chiến cục lúc đó sẽ được giải quyết và cũng giải quyết được chiến tranh.

   Nguyễn Trãi đã nói như sau với Vương Thông:
   "... Chỗ trông cậy của các ông chỉ là quân cứu viện mà thôi". (Thư cho Vương Thông, sđd, tr. 144).
   "... Nếu viện binh đến, thế tất phải thua, viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt". (Sáu điều thua của Vương Thông, sđd, tr. 134).

   Tiêu diệt, đánh bại được đội quân cứu viện thì đội quân bị vây hãm sẽ phải đầu hàng hoặc bị tiêu diệt.

   Đó là quy luật chung của chiến tranh. Lịch sử đã chứng nhận như thế.

   Đối với các sự vật, Nguyễn Trãi bao giờ cũng cố gắng xem xét mọi khía cạnh của nó; thấy hết sự phức tạp của nó cũng như những mối liên hệ giữa chúng với nhau. Như vậy là ông đã nhìn thấy mâu thuẫn của sự vật và các mối liên hệ qua lại của nó. Hơn thế nữa, Nguyễn Trãi còn tìm ra phương pháp để giải quyết sự phức tạp đó, các mâu thuẫn đó của sự vật một cách rất đúng đường hướng, rất chủ động.


   Trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, cũng như trong công việc quản lý nhà nước, trong quan hệ giữa người với người trong xã hội, Nguyễn Trãi bao giờ cũng chân thành, nhân nghĩa, hiến cả đời mình cho sự nghiệp lớn của đất nước, của dân tộc. Ông luôn nhận thức được vấn đề phức tạp của mọi sự vật, và tìm ra cách giải quyết đúng đắn, sáng suốt.


   Nguyễn Trãi quả là một nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc ta. Dân tộc ta rất tự hào có một nhà tư tưởng lớn rất tiến bộ như thế.

   Ngày nay, chúng ta cần thực sự học tập Nguyễn Trãi, nắm chắc những tư tưởng, phương pháp luận của ông và vận dụng một cách sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Giêng, 2024, 03:22:37 pm
XII
CUỘC CHIẾN TRANH CỦA MỸ VÀ NATO Ở CÔ-XÔ-VÔ, NAM TƯ - MỘT HÌNH THỨC CHIẾN TRANH MỚI


Hỏa lực đường không ngày càng phát triển và sẽ tiếp tục phát triển. Máy bay và tên lửa là loại vũ khí có thể giải quyết, khắc phục được mâu thuẫn giữa sự cơ động và địa hình, giải quyết, khắc phục được mâu thuẫn giữa đột kích hỏa lực với thời gian và không gian. Máy bay và tên lửa không bị hạn chế về không gian và thời gian. Nó có thể đánh được vào toàn bộ đất nước của đối phương chỉ trong thời gian rất ngắn, dù ở đó địa hình có phức tạp - núi non, sông nước hiểm trở - mà bộ đội lục quân không thể làm được như thế. Máy bay và tên lửa có thể tiến công được mọi nơi, với tốc độ rất nhanh, tạo ra tình huống đột ngột, bất ngờ. Bởi vì hâa lực của máy bay và tên lửa cũng rất lớn. Sự tiến công bằng hỏa lực đường không rất mạnh, rất lợi hại. Đó là tính ưu việt của máy bay và tên lửa. Do có tính ưu việt như thê nên loại vũ khí này sẽ ngày càng phát triển và ngày càng chiếm ưu thế trong chiến đấu. Nó là đòn bẩy của tác chiến; quân đội của chủ nghĩa đế quốc muốn đi xâm lược nước khác, không có máy bay và tên lửa thì không thể chiến đấu được. Bởi vì bộ đội lục quân phải dựa vào sức mạnh của máy bay và tên lửa mối có thể chiến đấu được. Do đó, chiến trường trên không ngày càng gắn với trên bộ, chi phối trên bộ. Máy bay và tên lửa là nhân tố mới trong chiến tranh; chúng hình thành nên phương pháp tác chiến mối, hình thành phương pháp tác chiến chiến lược mới. Tác chiến phòng không đánh trả máy bay, tên lửa cũng là phương pháp tác chiến chiến lược mới.


Chiến trường trên không ngày càng phát triển. Chiến đấu cũng càng phát triển ở trên không. Ai làm chủ được không trung, người đó sẽ có khả năng khốhg chế được trên bộ, trên biển. Lý luận về tác chiến của quân đội Mỹ là không - bộ - không biển và không - biển - bộ. Vũ khí trên không sẽ ngày càng có tác dụng lớn, ngày càng là át chủ bài của quân đội xâm lược. Nó giải quyết những vấn đề cơ bản của chiến đấu là cơ động, hỏa lực và đột kích. Nó giải quyết những mâu thuẫn giữa cơ động và địa hình, giữa đột kích hỏa lực và thời gian, không gian; tạo ra lực lượng, tạo ra tình huống, tạo ra xu thế phát triển của chiến tranh là chiến đấu trên không do máy bay và tên lửa ngày càng phát triển.


Song, chiến tranh cuối cùng phải giải quyết trên bộ, đó là phải chiếm lĩnh đất đai. Chiến tranh sau này phải lấy kết quả của các vũ khí chiến đấu trên không tiến công trên bộ, trên biển để đi tới chiếm lĩnh đất đai. Các nước có nền kỹ thuật, công nghệ cao, có máy bay, tên lửa ngày càng tiến bộ thì xu hướng phát triển chiến đấu trên không ngày càng trở nên quan trọng, dùng hỏa lực đường không tiến công các mục tiêu trên bộ, trên biển. Trước kia, quân đội dùng hỏa lực của lục quân để chiến đấu trên bộ. Ngày nay và sau này, quân đội dùng hỏa lực đường không (máy bay và tên lửa) để tiến công trên bộ. Tiến công bằng hỏa lực đường không sẽ đánh được toàn bộ lãnh thổ của nước đối phương mà lại ít bị thương vong về sinh lực. Tiến công trên bộ, dùng hỏa lực của lục quân chỉ đánh được một phạm vi hẹp, chiều sâu đánh phá chỉ khoảng mấy chục, mấy trăm ki-lô-mét và thương vong sinh lực lớn. Ngày nay, khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển, người ta có thể dùng không trung để giải quyết các vấn đề cốt yếu trên mặt đất. Điều này đã được chứng minh qua các cuộc chiến tranh gần đây: Trong chiến tranh Vùng Vịnh chống I-rắc, Mỹ và đồng minh đã dùng không trung tiến hành hỏa lực đường không vào I-rắc kéo dài liên tục 38 ngày đêm. Sau khi đánh rã đối phương, xét thấy có khả năng chiếm lĩnh mục tiêu, Mỹmới tiến hành tiến công trên bộ. Tiến công trên bộ vào I-rắc chỉ có bốn ngày, Mỹ đã đạt được các mục tiêu đề ra. Cuộc chiến tranh xâm lược I-rắc là 42 ngày. Qua cuộc chiến tranh này ta thấy, tiến công trên bộ phụ thuộc vào kết quả của tiến công hỏa lực đường không. Nếu tiến công hỏa lực đường không chưa làm cho đối phương suy yếu nặng nề thì tiến công trên bộ chưa đặt ra. Điều này được minh chứng qua cuộc chiến tranh ở Cô-xô-vô.


Trong cuộc chiến ở Cô-xô-vô - Nam Tư, Mỹ và NATO chỉ tiển công hỏa lực đường không bằng máy bay và tên lửa, chưa tiến công trên bộ bằng lục quân. Cuộc chiến tranh này kết thúc sau giai đoạn tiến công hỏa lực đường không kéo dài liên tục 79 ngày đêm. Tại sao Mỹ và NATO không tiến hành cuộc tiến công trên bộ? Có nhiều lý do buộc Mỹ và NATO phải xem xét, trong đó có lý do Mỹ và NATO rất sợ thương vong sinh mạng. Thương vong nhiều về sinh mạng sẽ gây ra vấn đề chính trị lớn trong các nước NATO và nước Mỹ. Tiến công hỏa lực đường không chỉ đạt được mục đích hạn chế, vì không có bộ đội lục quân chiếm lĩnh đất đai thì chỉ đạt được một số mục đích nhất định. Mỹ và NATO rất sợ đưa bộ đội lục quân đánh vào một đất nước có địa hình hiểm trở, có nhân dân và quân đội kiên cường, đoàn kết, nhất trí, quyết tâm đồng lòng kháng chiến, không sợ hy sinh gian khổ để bảo vệ đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, bảo vệ phẩm giá con người. Thực tếở Cô-xô-vô - Nam Tư cho thấy, tiến công hỏa lực đường không đánh vào các mục tiêu di động thì rất khó. Bên bị tiến công nếu khéo ngụy trang, nghi binh lừa địch, thì tiến công hỏa lực đường không lại càng kém hiệu quả.


Tiến công hỏa lực đường không đã trở thành một hình thức chiến tranh mới. Chiến tranh chỉ diễn ra bằng máy bay, tên lửa và chống máy bay, tên lửa. Ở I-rắc, cuộc chiến tranh được diễn ra qua hai giai đoạn, giai đoạn đầu - giai đoạn cốt yếu là tiến công hỏa lực đường không, và giai đoạn hai là tiến công trên bộ.


Ở Cô-xô-vô - Nam Tư, cuộc chiến tranh diễn ra chỉ có tiến công hỏa lực đường không mà không có tiến công trên mặt đất. Chiến tranh ở đây là cuộc chiến tranh bằng không quân và tên lửa và tiến công hỏa lực đường không bằng máy bay và tên lửa đã trở thành một hình thức chiến tranh mới - chiến tranh hỏa lực đường không.


Ngày nay trong chiến tranh xâm lược hay chống khủng bố quốc tế, đầu tiên là phải chống được cuộc tiến công hỏa lực đường không của đối phương. Các nước đế quốc ỷ vào sức mạnh và với những lý do (cớ) rất vô lý, đã dùng biện pháp tiến công hỏa lực đường không để áp đặt đường lối, để duy trì lợi ích kinh tế, để thực nghiệm vũ khí mới và thu lợi nhuận cho bọn lái súng.


Thực tế các cuộc chiến tranh gần đây cho thấy, có trường hợp phải chống cuộc tiến công bằng hỏa lực đường không đồng thời với chống cuộc tiến công trên bộ, trên biển. Dù trong trường hợp nào, chống cuộc tiến công bằng hỏa lực đường không là rất quan trọng. Trong khi bộ đội lục quân của hai bên đang đánh nhau ở ngoài mặt trận, ở hậu phương của nước bị xâm lược cũng bị kẻ xâm lược tiến công bằng hỏa lực đường không. Cũng có trường hợp, kẻ xâm lược dùng biện pháp tiến công hỏa lực đường không trước ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, nhằm đánh phá nát (hủy diệt) hậu phương của nước bị xâm lược, làm mềm chiến trường; sau đó, nó dùng biện pháp tiến công trên bộ và trên biển để xâm chiếm đất đai hòng đạt được mục đích cao hơn.


Cuộc đánh trả có hiệu quả cuộc tiến công bằng hỏa lực đường không đối với quân xâm lược là rất quan trọng, có lúc mang ý nghĩa quyết định. Đòn tiến công hỏa lực đường không bị đánh đau, đánh bại thì kẻ đi xâm lược phải xuống thang, phải kết thúc, đi vào hòa đàm bằng cách này hoặc cách khác; chiến tranh bằng tiến công hỏa lực đường không chỉ đạt được mục đích hạn chế. Điều này đã được chứng minh ở Việt Nam, sau thất bại của Mỹ trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972.


Nếu cuộc chiến tranh tiến hành bằng hai giai đoạn, giai đoạn đầu tiến công bằng hỏa lực đường không và giai đoạn tiếp sau là tiến công trên bộ, thì có thể đạt được mục đích cao hơn. Nhưng nếu giai đoạn tiến công trên bộ bị sa lầy, bị đánh đau, buộc phải đi vào hòa đàm thì mục đích chiến tranh không đạt được, hoặc đạt được rất thấp. Hình thức tiến hành chiến tranh một giai đoạn hay hai giai đoạn là phụ thuộc vào đối tượng tác chiến.


Ngày nay, chống cuộc chiến tranh xâm lược phải rất coi trọng đánh trả có hiệu quả cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch; đồng thời phải sẵn sàng đánh bại cuộc tiến công trên bộ và trên biển của địch. Đầu tiên, địch tiến hành cuộc tiến công bằng hỏa lực đường không trước, nếu ta đánh kém hiệu quả thì địch sẽ tiếp tục cuộc tiến công này rồi kết hợp với tiến công trên bộ, trên biển bằng bộ đội lục quân, hải quân đánh bộ, đổ bộ đường không, vấn đề này còn tùy theo đối tượng tác chiến. Có khi kẻ xâm lược lấy tiến công trên bộ là chính; có đối tượng, nó đồng thời tiến công trên bộ và tiến công bằng hỏa lực đường không; có đối tượng, nó tiến công bằng hỏa lực đường không là chính... Như vậy, để đối phó với biện pháp tiến công này, một mặt phải đối phó có hiệu quả cuộc tiến công bằng hỏa lực đường không; đồng thời phải sơ tán các cơ sở vật chất, các nhà máy, kho tàng, v.v... và bộ đội phải luôn luôn di chuyển, phải làm mục tiêu giả, nghi binh lừa địch. Nếu ta đánh tốt, cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch đạt hiệu quả thấp, địch cũng có thể phải kết thúc và đi vào đàm phán. Nếu ta đánh không tốt, địch có thể liều lĩnh, dựa vào kết quả cuộc tiến công bằng hỏa lực đường không mà phát triển tiếp theo cuộc chiến tranh bằng tiến công trên bộ và trên biển. Lúc đó ta phải đồng thời đánh trên cả ba mặt trận: trên không, trên bộ, trên biển.


Với xu thế phát triển của chiến tranh như thế, ta phải củng cố, tăng cường lực lượng, tăng cường huấn luyện và nâng cao nghệ thuật tác chiến phòng không của ba thứ quân, mà quan trọng hơn cả là tăng cường súng, pháo phòng không, tên lửa phòng không các cỡ, các loại súng, pháo phòng không cho dân quân, tự vệ để vừa đánh được máy bay, vừa đánh được tên lửa hành trình. Cũng cần dùng súng bộ binh để phòng không, vì nó cũng có thể làm được điều đó. Người chỉ huy và cơ quan phải nắm được, hiểu được phương pháp tổ chức, trang bị, huấn luyện, sản xuất vũ khí và nghệ thuật tác chiến phòng không của ba thứ quân, hiểu biết, nắm được các vũ khí hỏa lực tiến công đường không của cấc nước trên thế giới, nhất là các nước tiên tiến. Ngày nay, ngoài súng pháo phòng không của quân đoàn, sư đoàn ra thì các binh chủng của quân đoàn, sư đoàn cũng phải được biên chế trang bị súng phòng không, tên lửa phòng không vác vai như: bộ đội xe tăng, pháo binh, công binh, vận tải, v.v...


Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới là áp đặt đường lối bá quyền lãnh đạo và lợi ích kinh tế, quân đội tư bản rất sợ thương vong về sinh mạng nên tiến công hỏa lực đường không thường xảy ra phổ biến, cũng có khi kết hợp với tiến công trên bộ và có khi không có tiến công trên bộ.


Cuộc chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược sau này cần theo sát, theo kịp với xu hướng phát triển mới của chiến tranh, và phải biết đánh đau, đánh bại các biện pháp tác chiến chiến lược mũi nhọn của địch.