|
Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Hai, 2023, 03:27:38 pm - Tên sách: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2021 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO * TRƯỞNG BAN: - Thượng tướng LÊ HUY VỊNH - Ủy viên Ban Chấp hành Trung Ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. - Đồng chí NGÔ VĂN TUẤN - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hòa Bình. * PHÓ TRƯỞNG BAN: - Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. - Trung tướng NGUYỄN QUANG NGỌC - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Quân khu 3. - Đồng chí BÙI VĂN KHÁNH - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhản dân tỉnh Hòa Bình. - Thiếu tướng NGUYỄN HOÀNG NHIÊN - Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. * CÁC ỦY VIÊN: - Trung tướng TRẦN DUY GIANG - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. - Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CHÍNH - Phó Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng. - Thiếu tướng LƯU SỸ QUÝ - Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng. - Thiếu tướng NGUYỄN VĂN ĐỨC - Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. - Thiếu tướng CHU VĂN ĐOÀN - Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng Tham mưu. - Đại tá NGUYỄN VĂN SÁU - Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. BAN NỘI DUNG * TRƯỞNG BAN: - Thiếu tướng, TS NGUYỄN HOÀNG NHIÊN - Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. * PHÓ TRƯỞNG BAN: - Thiếu tướng HÀ TẤT ĐẠT - Phó Tư lệnh Quân khu 3. - Đồng chí QUÁCH THẾ NGỌC - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình. - Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU - Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. - Đại tá, PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH - Phó Viện trưỏng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. * CÁC ỦY VIÊN: - Đại tá, TS TRƯƠNG MAI HƯƠNG - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. - Đại tá, TS NGUYỄN VĂN LƯỢNG - Trưởng phòng Kế hoạch, quản lý khoa học và đào tạo, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. - Đại tá, ThS ĐẬU XUÂN LUẬN - Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. - Đại tá, TS LÊ THANH BÀI - Trưởng phòng Lịch sử Tư tưởng - Tổ chức quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. - Đại tá, ThS Đỗ MẠNH CƯỜNG - Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. - Thượng tá, ThS LÊ QUANG LẠNG - Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. - Thượng tá, TS PHAN SỸ PHÚC - Phó Trưởng phòng Lịch sử quân sự thế giới, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. - Trung tá, TS LÊ VĂN CỬ - Phó Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:37:23 am LỜI GIỚI THIỆU Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Tổng Tư lệnh, trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch, quân và dân ta đã mở Chiến dịch Hòa Bình và giành thắng lợi vang dội. Chiến thắng Hòa Bình khẳng định sự thành công xuất sắc của Đảng trong chỉ đạo, điều hành chiến tranh; đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam và nghệ thuật quân sự Việt Nam; là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng mang tầm chiến lược, làm thất bại âm mưu và nỗ lực chiếm đóng vùng tự do, phá tan ý đồ của thực dân Pháp nhằm giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ; mở rộng và nối thông các căn cứ du kích ở trung du với đồng bằng, tạo thời cơ và điều kiện phát triển mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày mở màn Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 10.12.2021), Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Hòa Bình tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ với chủ đề: “Chiến thắng Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử”. Hội thảo là diễn đàn để chúng ta tiếp tục khảng định và làm sâu sắc hơn tầm nhìn chiến lược, chủ trương đúng đắn, sáng suốt, linh hoạt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh khi quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, tiến công địch trên cả mặt trận chính diện Hòa Bình với mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Thông qua Hội thảo, cuộc chiến đấu kiên cường, anh dũng, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta được tái hiện sinh động với sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa mặt trận chính Hòa Bình với vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ; sự chia lửa của quân và dân cả nước với Mặt trận Hòa Bình; đặc biệt là những phân tích, làm rõ thêm những khía cạnh mới về nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng, phát huy sức mạnh thế trận chiến tranh nhân dân; về sự phát triển của nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật tiến công địch phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm; nêu bật tầm vóc, ý nghĩa Chiến thắng Hòa Bình; tập trung khái quát, đúc rút những kinh nghiệm và bài học lịch sử có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Kết quả Hội thảo góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự cường, niềm tự hào dân tộc cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; tạo sự thống nhất về nhận thức, góp phần đấu tranh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động. Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được gần 90 báo cáo, tham luận của các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, một số tổng cục, quân khu, quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường, các tướng lĩnh, sĩ quan; lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và một số ban, ngành của tỉnh Hòa Bình và các tỉnh; các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội. Các tham luận đã phản ảnh khá đầy đủ và toàn diện về thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Đảng; tầm vóc, ý nghĩa lịch sử, những bài học kinh nghiêm của Chiến dịch Hòa Bình đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Mỗi tham luận trong Hội thảo là một công trình nghiên cứu độc lập của từng tác giả, được tiếp cận qua nhiều nguồn sử liệu, do đó trong một số bài có sự khác nhau về đánh giá, nhận định cũng như về sự kiện, số liệu. Nhằm tôn trọng ý kiến tác giả và phát huy tính khách quan trong trao đổi khoa học, Ban Nội dung vẫn giữ nguyên tình thần cơ bản, chỉ lược bớt những vấn đề trùng lặp hoặc ít liên quan đến chủ đề Hội thảo. Cuốn sách tập hợp các bài tham luận gửi đến Hội thảo, dựa trên nội dung các bài tham luận, chúng tôi chia thành ba phần. Tuy nhiên, sự phân chia ở đây chỉ mang tính tương đối vì một số bài viêt có sự liên hệ, xâu chuỗi sự kiện để luận giải, làm rõ nội dung chủ đề nên có sự giao thoa giữa các vần đề: Phần thứ nhất: Những vấn đề chung; Phần thứ hai: Chiến dịch Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng; Phần thứ ba: Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử. Nhân dịp này, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam trân trọng cảm ơn Thủ trưởng Bộ Quốc phỏng và Tỉnh ủy; Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình đã chỉ đạo, phối hợp, tạo điều kiện để tổ chức thành công Hội thảo; cảm ơn các cơ quan, đơn vị, địa phương, các vị lão thành cách mạng, tướng lĩnh, sĩ quan, nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội đã tham gia, tạo điều kiện cho cuốn sách được xuất bản. Trong quá trình hoàn chỉnh cuốn sách, mặc dù Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã có nhiều cố gắng, song khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí và bạn đọc. Trân trọng giới thiệu cuốn sách đến bạn đọc! BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:39:39 am PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO KHOA HỌC “CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - THÀNH CÔNG XUẤT SẮC VỀ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ" Thượng tướng, TS LÊ HUY VỊNH Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trướng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng! - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các cơ quan Trung ương; lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện các ban, ngành, đoàn thể tỉnh Hòa Bình và lãnh đạo các tỉnh, thành phố tham dự Hội thảo! - Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan! - Kính thưa các nhà khoa học, các quý vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí! 70 năm trước đây, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã mở Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) và giành thắng lợi to lớn. Chiến thắng Hòa Bình là một sự kiện quan trọng trong tiến trình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự linh hoạt, sáng tạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Với chiến thắng to lớn này, quân và dân ta tiếp tục giữ quyền chủ động và phát triển thế tiến công chiến lược, trong khi thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động, lúng túng, bị mất quyền chủ động chiến lược. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển của Quân đội ta về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận rộng lớn sau lưng địch; đồng thời ghi nhận bước tiến mới về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là lần đầu tiên Quân đội ta huy động một lực lượng lớn bộ đội chủ lực tác chiến trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch; cũng là lần đầu tiên tiến công quân địch phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm và giành thắng lợi. Nhằm thiết thực kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Hòa Bình tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ với chủ đề: “Chiến thắng Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử”. Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Ban Chỉ đạo Hội thảo, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các ban, ngành, đoàn thể tỉnh Hòa Bình; đại biểu lãnh đạo các tỉnh, thành phố; các đồng chí lão thành cách mạng; các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan; các quý vị đại biểu, khách quý, các nhà khoa học cùng toàn thể các đồng chí về dự Hội thảo khoa học quan trọng này. Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp! Kính thưa toàn thể các đồng chí! Sau thất bại ở biên giới Việt - Trung trong Thu - Đông 1950, tiếp đó liên tục bị ta tiến công ở trung du, Đường số 18, Hà Nam Ninh, quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để cứu vãn tình hình, cuối năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định mở cuộc tiến công ra Hòa Bình, lập phòng tuyến Sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại “Hành lang Đông - Tây”, thực hiện tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với các liên khu 3 và 4. Ở Hòa Bình, Pháp cho thành lập các “Xứ Mường tự trị” để thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, đồng thời lấy đó để gây ảnh hưởng chính trị với Mỹ, Anh và chính quyền tay sai. Trước hành động của quân Pháp, Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định nhanh chóng điều chỉnh kế hoạch hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952, mở Chiến dịch tiến công Hòa Bình, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan kế hoạch chiếm đóng của chúng; đồng thời, đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch. Với phương châm tác chiến “đánh điểm, diệt viện” và “liên tục chiến đấu”, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng ở mặt trận chính diện phối hợp chặt chẽ với mặt trận phía sau ở đồng bằng Bắc Bộ liên tục hoạt động, tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tiến tới bao vây, cô lập lực lượng địch tại thị xã Hòa Bình, buộc chúng phải rút chạy trong thế bị động, tạo thuận lợi cho ta giành quyền chủ động về chiến lược. Trải qua hơn hai tháng chiến đấu, Chiến dịch Hòa Bình đã giành thắng lợi to lớn, đánh bại âm mưu chiếm đóng vùng tự do, phá tan ý đồ của địch nhằm giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ; nối thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, tạo điều kiện cho những thắng lợi quan trọng về sau của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Kính thưa các đồng chí! Chiến thắng Hòa Bình mãi là mốc son trong tiến trình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam, thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình, sáng tạo của Đảng; về sự phát triển của nghệ thuật quân sự và sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Kết quả Chiến dịch Hòa Bình góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược trong Đông - Xuân 1951 - 1952; để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là tiến công địch phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm, kinh nghiệm phối hợp tác chiến giữa mặt trận chính diện Hòa Bình với mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ; phát huy sức mạnh thế trận chiến tranh nhân dân. Những bài học, kinh nghiệm quý báu đó vẫn còn nguyên giá trị vận dụng trong xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Hội thảo khoa học hôm nay là hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Hòa Bình, là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ôn lại truyền thống đấu tranh anh dũng của các thế hệ cha anh, tưởng nhớ đến các đồng bào, đồng chí đã chiến đấu, hy sinh trong cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc, trong đó có Chiến dịch Hòa Bình. Kết quả của Hội thảo sẽ góp phần hun đúc tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí độc lập tự chủ và khát vọng hòa bình, củng cố niềm tin và quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cùng đoàn kết một lòng vượt qua mọi gian lao, thử thách, đặc biệt khống chế và đẩy lùi đại dịch COVID-19 để trở lại trạng thái bình thường mới; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phủ nhận giá trị lịch sử và hiện thực của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, Chiến dịch Hòa Bình nói riêng. Đồng thời, giúp chúng ta nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn tầm vóc, ý nghĩa lịch sử cũng như những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Với ý nghĩa đó, thay mặt Ban Chỉ đạo, tôi tuyên bố khai mạc Hội thảo khoa học “Chiến thằng Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử”. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp! Trân trọng cảm ơn các quý vị đại biểu và các đồng chí! Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:41:53 am PHÁT BIỂU CHÀO MỪNG HỘI THẢO KHOA HỌC “CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - THÀNH CÔNG XUẤT SẮC VỀ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ" Đồng chí NGÔ VĂN TUẤN Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình, Đồng Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các cơ quan Trung ương; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố; các điểm cầu trực tuyến tại quân khu, quân đoàn, học viện, nhà trường Quân đội tham dự Hội thảo; - Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; - Kính thưa các nhà khoa học, các quý vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí! Hôm nay, tỉnh Hòa Bình rất vinh dự được phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Hòa Bình với chủ đề “Chiến thắng Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử" bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu chính tỉnh Hòa Bình và 12 điểm cầu ở các quân khu, quân đoàn, học viện, nhà trường Quân đội trên cả nước. Thay mặt lãnh đạo tỉnh, tôi nhiệt liệt chào mừng sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội, các vị đại biểu khách quý tại điểm cầu chính tỉnh Hòa Bình và 12 điểm cầu trên cả nước. Xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất, chúc Hội thảo thành công rực rỡ! - Kính thưa các đồng chí! Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược quan trọng; phá tan âm mưu của thực dân Pháp nhằm đánh chiếm vùng tự do để giành quyền chủ động trên chiến trường, tạo nên thế trận có lợi cho chúng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chiến thắng Hòa Bình tiếp tục củng cố thế chủ động chiến lược, tạo đà cho quân và dân ta tiếp tục giành những thắng lợi tiếp sau, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, đưa đến thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chính vì vậy, Hội thảo khoa học hôm nay nhằm tập trung khẳng định chủ trương và sự chỉ đạo chiến lược nhạy bén, đúng đắn của Trung ương Đang, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh; sự nỗ lực vượt bậc của quân và dân ta trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch; đồng thời phân tích, đánh giá tầm vóc, ý nghĩa, đúc rút những bài học lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn để vận dụng vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. - Kính thưa các đồng chí! Là tỉnh miền núi cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, Hòa Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa vùng Tây Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; là một trong những an toàn khu Của cách mạng Việt Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Hòa Bình có diện tích tự nhiên gần 4.600km2; có 9 huyện và 1 thành phố, 151 xã, phường, thị trấn; dân số trên 85 vạn người, với 7 dân tộc cùng chung sống, các dân tộc thiểu số chiếm 74,14%, trong đó dân tộc Mường chiếm 64%. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hòa Bình đã là hậu cứ của chiến trường Chiến khu 2, Liên khu 3, là hành lang giao thông chiến lược giữa Liên khu 3, Liên khu 4 với Việt Bắc, Tây Bắc. Với vị trí đặc biệt quan trọng như vậy, nên khi quay trở lại xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã nhanh chóng đánh chiếm tỉnh Hòa Bình và lập phòng tuyến Sông Đà, nhằm nối lại “Hành lang Đông - Tây”, thực hiện khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 hòng thực hiện âm mưu lập lại “Xứ Mường tự trị”... Song, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Hòa Bình với tinh thần yêu nước nồng nàn; khát vọng không có gì quý hơn độc lập, tự do; với truyền thống đoàn kết, ý chí tự chủ, tự cường đã phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu kiên cường, dũng cảm, không sợ hy sinh, gian khổ, luôn bám đất, bám dân, phá tề, trừ gian, đập tan âm mưu lập lại “Xứ Mường tự trị” “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp. Quân và dân Hòa Bình đã chủ động hiệp đồng chiến đấu, cung cấp sức người, sức của, góp phần làm nên chiến thắng của chiến dịch, giải phóng tỉnh Hòa Bình. Ngày nay, trên mảnh đất này còn ghi dấu những chiến tích của Chiến dịch Hòa Bình như Đường số 6, sông Đà; cùng tên tuổi các anh hùng liệt sĩ, như tượng đài Cù Chính Lan, đường Cù Chính Lan, nhiều trường học mang tên Anh hùng Cù Chính Lan, Nghĩa trang liệt sĩ Chiến dịch Hòa Bình... Vì vậy, Hội thảo được tổ chức chính là sự tri ân những công lao đóng góp, sự hy sinh vô giá của các anh hùng, liệt sĩ, của quân và dân cả nước nói chung, quân và dân tỉnh Hòa Bình nói riêng cho thắng lợi của chiến dịch. Phát huy tinh thần và khí thế tiến công của Chiến dịch Hòa Bình và để xứng đáng với danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Hòa Bình không ngừng phấn đấu, nỗ lực đạt nhiều thành tích trong sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong quá trình xây dựng tỉnh nhà, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức song với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, tỉnh Hòa Bình đã phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng khá và vững chắc; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp thủy sản; các ngành, các lĩnh vực sản xuất đều phát triển, giá trị tổng sản phẩm (GDP) tăng năm sau cao hơn năm trước, kinh tế của tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân hằng năm đạt 7,59%; quy mô nền kinh tế được mở rộng, năm 2020 tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt 54.956 tỷ đồng, gấp 1,65 lần so với năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người nam 2020 đạt 63,8 triệu đồng, gấp 1,6 lần so với năm 2015, cao hơn trung bình khu vực trung du và miền núi phía Bắc và bằng khoảng 92% GDP bình quân đầu người của cả nước. - Kính thưa các đồng chí! Năm 2021 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, trong bối cảnh cả nước tiếp tục đối mặt với diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện các ca nhiễm COVID-19 trong cộng đồng làm ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội... Tuy nhiên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết tâm tập trung chỉ đạo làm thật tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh và thực hiện 4 đột phá mà Đại hội Đảng bộ tinh lần thứ XVII đã đề ra, đó là: (1) - Thực hiện tốt công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch: Triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đáng và Nhà nước đối với công tác quy hoạch; nâng cao chất lượng lập và quản lý quy hoạch. Hoàn thành việc lập Quy hoạch tỉnh Hòa Bình thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. (2) - Hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư: Tập trung cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển các thành phần kinh tế, doanh nghiệp và thu hút đầu tư. (3) - Phát triển nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động: Đẩy mạnh giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghiệp gắn với nhu cầu của thị trường lao động và xu hướng sử dụng lao động của doanh nghiệp. (4) - Phát triển kết cấu hạ tầng: Tăng cường huy động mọi nguồn lực để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, trong đó tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành một số dự án công trình giao thông trọng điểm để từng bước hoàn chỉnh mạng lưới giao thông theo quy hoạch. Đồng thời tranh thủ các nguồn ngân sách và hỗ trợ từ Trung ương, phát huy nội lực địa phương, đầu tư mở rộng các công trình trọng điểm như: Đường cao tốc Hòa Lạc - Hòa Bình nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông giữa khu vực Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình với Thủ đô Hà Nội và các địa phương khác trong khu vực. - Kính thưa các đồng chí! Từ lịch sử đến hiện tại là một dòng chảy liên tục. Những giá trị lịch sử cần được tiếp nối, phát huy, trong đó có Chiến thắng Hòa Bình (1951 - 1952). Trong thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục đoàn kết, nỗ lực quyết tâm cao hơn nữa, nắm bắt các cơ hội, phấn đấu xây dựng tỉnh Hòa Bình trở thành khu vực phòng thủ vững chắc, vùng chiến lược quân sự quan trọng của đất nước, đồng thời là vùng kinh tế động lực của khu vực. Chúng tôi tin tưởng và mong muốn rằng, thời gian tới tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhiều hơn nữa của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; sự ủng hộ sẻ chia, giúp đỡ của các tỉnh thành trong cả nước để tỉnh Hòa Bình hoàn thành các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. Một lần nữa, thay mặt lãnh đạo tỉnh xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị đại biểu khách quý đã đến tham dự Hội thảo khoa học hôm nay. Kính chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đồng chí đại biểu khách quý nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công. Xin trân trọng cảm ơn! Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:44:19 am BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC “CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - THÀNH CÔNG XUẤT SẮC VỀ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ" Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đàng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng! - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các cơ quan Trung ương; lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện các ban, ngành, đoàn thể tỉnh Hòa Bình và lãnh đạo các tỉnh, thành phố tham dự Hội thảo! - Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan! - Kính thưa các nhà khoa học, cúc quý vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí! Vào những ngày này cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã mở màn Chiến dịch Hòa Bình, giành thắng lợi sau 3 đợt tiến công (10.12.1951 - 25.2.1952). Chiến thắng Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược quan trọng, làm thất bại âm mưu và nỗ lực của thực dân Pháp nhằm giành lại quyền chủ động, chiếm đóng “Xứ Mường”, chia cắt chiến trường Bắc Bộ; mở rộng và nối thông các căn cứ du kích ở trung du với đồng bằng, tạo thời cơ và điều kiện phát triển mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Kính thưa các đồng chí! Tháng 11 năm 1951, quân Pháp tập trung lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Cuộc tiến công do tướng R. Xalăng (Raoul Salan) - Phó Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy. Ngày 9 tháng 11, quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến; ngày 14 tháng 11, tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6, Ba Vì. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, Pháp để lại 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội và 1 trung đội xe tăng tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam); ngoài ra, có Phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông, bảo vệ Hòa Bình. Lần đầu tiên trên chiến trường Đông Dương, quân Pháp tổ chức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm. Đánh giá tình hình và âm mưu của địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đánh Hoà Bình, địch đã phân tán lực lượng cơ động ra một địa hình rừng núi hiểm trở, binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mỏng và tương đối sơ hở; đây là cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hòa Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; Thiếu tướng Hoàng Văn Thai - Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351; trên mặt trận phối hợp, 2 đại đoàn bộ binh 316, 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng cùng các lực lượng tại chỗ tiến công địch, diệt tề trừ gian, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Tại Mặt trận Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 tiến công trên hướng chủ yếu, phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch; Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở tả ngạn sông Đà, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình; Đại đoàn 312 ở hữu ngạn, diệt cứ điểm Chẹ, đánh quân viện trên đường từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ; Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch, kiềm chế địch ở thị xã Hoà Bình và đánh địch trên Đường số 6; Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) làm lực lượng dự bị đứng chân ở Cổ Tiết (Nam thị xã Phú Thọ) cùng lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ sẵn sàng đánh địch càn quét khu vực Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hoá, Đường số 2. Cách đánh chiến dịch được xác định là “đánh điểm diệt viện”, kết hợp đánh địch trong công sự với đánh địch vận động, càn quét hoặc tăng viện, ứng cứu bằng đường bộ, đường sông, đường không, sẵn sàng đánh địch rút chạy. Địa bàn chiến dịch từ Xuân Mai đến thị xã Hòa Bình và từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà. Về bảo đảm hậu cần, các ban cung cấp tiền phương ở Bắc và Nam Hòa Bình huy động 27 xe quân sự, trên 1.000 thuyền lớn, nhỏ, 20.000 dân công bảo đảm tiếp tế cho bộ đội gần 300 tấn đạn dược, trên 6.000 tấn lương thực, thực phẩm trong suốt quá trình chiến dịch. Trên mặt trận địch hậu ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 316 (được tăng cường Trung đoàn 246 trực thuộc Bộ) và Đại đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng cách mạng, chủ động tích cực tiêu diệt địch, phá tề, trừ gian, tổ chức chống càn quét đc phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính diện Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:45:59 am Ở các chiến trường phối hợp, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các đơn vị chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động ở Bình - Trị - Thiên. Lực lựợng vũ trang Liên khu 5 và Nam Bộ tích cực hoạt động kiềm chế địch, không cho chúng điều quân ra Bắc Bộ ứng cứu.
Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ở Mặt trận Hòa Bình, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập “Xứ Mường tự trị” của quân Pháp. Ở mặt trận địch hậu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 tên địch, thu 6.000 súng các loại, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hòa Bình giành thắng lợi. Sự chỉ đạo phối hợp có hiệu quả giữa hai mặt trận là yếu tố quyết định trực tiếp thắng lợi của chiến dịch1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Hòa Bình). Kính thưa các đồng chí! Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước tiến bộ mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục, dài ngày của bộ đội chủ lực, về sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ, hiệu quả của ba thứ quân; có ý nghĩa chiến lược quan trọng, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Hòa Bình, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Hòa Bình tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng với chủ đề: “Chiến thắng Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử”. Ban Tổ chức đã nhận được gần 90 báo cáo, tham luận của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; các cơ quan Trung ương, các địa phương; các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội. Các tham luận đã đề cập một cách tương đối toàn diện, sâu sắc những vấn đề cơ bản mà Hội thảo đặt ra. Tại Hội thảo hôm nay, Ban Chỉ đạo rất mong các đại biểu, các nhà khoa học, nhân chứng lịch sử tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn một số nội dung chủ yếu sau: Một là, tập trung làm rõ bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế; phân tích âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp trong Kế hoạch Đờ Lát (De Lattre), đặc biệt là hành động đánh chiếm Hòa Bình hòng giành lại quyền chủ động chiến lược, thu hút và tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta. Hai là, khẳng định tầm nhìn chiến lược, chủ trương đúng đắn, linh hoạt, sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh khi quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, tiến công địch trên cả hai mặt trận (mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch). Phân tích, làm rõ quá trình chuẩn bị và tổ chức sử dụng lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi; công tác bảo đảm vũ khí, trang bị, hậu cần và sự tham gia phục vụ chiến đấu của quân và dân ta trong chiến dịch. Ba là, tái hiện cuộc chiến đấu kiên cường, anh dũng, mưu trí sáng tạo của quân và dân ta; quá trình thực hành phương châm “đánh điểm, diệt viện” với cách đánh linh hoạt: Phục kích, tập kích, kỳ tập, quấy rối, phá hoại, đánh sâu trong lòng địch...; kết hợp vận động chiến với du kích chiến, kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng để giành thắng lợi. Bên cạnh đó, cần đánh giá, nhìn nhận những hạn chế, khuyết điểm trong vận dụng phương châm tác chiến, trong tổ chức, chỉ huy chiến đấu của cán bộ các cấp. Bốn là, làm rõ vai trò, vị trí của mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch; sự phối hợp, chia lửa của quân và dân cả nước với Mặt trận Hòa Bình. Tiếp tục nghiên cứu, chỉ ra bước phát triển của nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch làm nên Chiến thắng Hòa Bình. Năm là, nêu bật tầm vóc, giá trị và ý nghĩa của Chiến thắng Hòa Bình; tập trung khái quát, rút ra những bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh; về nhân tố chính trị, tinh thần, ý chí quyết tâm khắc phục khó khăn, gian khổ, hy sinh để giành thắng lợi; về phát huy sức mạnh của cả nước,... Tầm vóc và ý nghĩa của những bài học từ Chiến thắng Hòa Bình có giá trị sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng, củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Ban Chỉ đạo tin tưởng Hội thảo khoa học: “Chiến thắng Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử” sẽ thành công tốt đẹp. Kết quả Hội thảo tiếp tục khẳng định tầm vóc, giá trị và ý nghĩa của Chiến dịch Hòa Bình trong cuọc kháng chiến chống thực dân Pháp; đồng thời góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề khoa học về lý luận và thực tiễn đặt ra từ Chiến thắng Hòa Bình; nâng cao niềm tự hào, tự tôn dân tộc; củng cố niềm tin và quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới chấn hưng đất nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phủ nhận giá trị lịch sử, bài học về dựng nước và giữ nước của dân tộc, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp! Trân trọng cảm ơn các quý vị đại biểu và các đồng chí! Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:49:08 am Phần thứ nhất NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG BỘ TỔNG THAM MƯU CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thượng tướng NGUYỄN TÂN CƯƠNG Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phóng Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952 là chiến dịch lần đầu tiên Quân đội ta tiến công vào quân địch phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm trên địa bàn rộng, có sự phối hợp chặt chẽ với mặl trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952, đánh bại âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do của ta kể từ sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950, tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược và chiến dịch trên chiến trường Bắc Bộ, tạo thế trận mới chưa từng có của ta trong vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, bảo đảm giao thông liên lạc thông suốt giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Đó là “thắng lợi quân sự, thắng lợi chính trị và thắng lợi kinh tế. Nó đánh bại âm mưu cố gắng giành lại quyền chủ động của Đờ Lát đờ Tátxinhi”1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập IV, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 210). Góp phần làm nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của Chiến dịch Hòa Bình là công tác chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu - một trong những nhân tố giữ vai trò rất quan trọng, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Một là, nhận định, đánh giá đúng tình hình, kịp thời tham mưu cho Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy mở Chiến dịch Hòa Bình - yếu tố quyết định, góp phần chuyển từ thế bị động sang thế chủ động tiến công địch Bước vào Thu - Đông năm 1951, địch tăng viện binh từ Pháp sang, tăng cường củng cố lực lượng, nhất là ở chiến trường Bắc Bộ (83/162 tiểu đoàn cơ động hiện có ở Đông Dương). Âm mưu của địch là giành thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Về phía ta, lúc này Bộ Tổng Tham mưu đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc xác định phương hướng phát triển thế chủ động. Lúc đầu, Cơ quan Tham mưu phán đoán hướng địch có thể tiến công ta là: Miếu Môn, Ba Thá (Hà Đông), Chũ (Bắc Giang), Bình Liêu, Đình Lập (trên Đường số 4); táo bạo hơn, địch có thể đánh chiếm Hòa Bình hay Lạng Sơn nhằm ngăn chặn vận chuyển của ta và mở đầu cho một giai đoạn phản công chiến lược. Và trong khi ta đang chuẩn bị mở “Chiến dịch Liên khu 3” thì địch đánh chiếm Hòa Bình1 (Sau khi hoàn thành đánh chiếm Hòa Bình, thực dân Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu Chính: Phân khu sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam). Toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch được hình thành theo hình thức tập đoàn cứ điểm, gồm 28 vị trí (công sự) lớn nhỏ xây dựng bằng gỗ, đất, gạch đá (về sau được gia cố bằng bê tông cốt sắt), có hàng rào dây thép gai bao bọc. Phân khu Nam Hòa Bình trở thành hệ thống cụm cứ điểm mạnh - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn, lần đầu tiên xuất hiện ở chiến trường Đông Dương. Ngoài ra, còn có Phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông bảo vệ Hòa Bình. Tổng số binh lực địch trên địa bàn Hòa Bình có 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng). Như vậy, tuy “khả năng còn ít” nhưng dự kiến của Bộ Tổng Tham mưu về địch tiến công Hòa Bình đã thành hiện thực. Kịp thời nắm tình hình địch và đặc điểm chiến trường, Bộ Tổng Tham mưu đề nghị: Đình chỉ mở chiến dịch ở Liên khu 3 để mở chiến dịch tại Hòa Bình có lợi hơn vì địch mới ra chưa được củng cố. Hơn nữa, Hòa Bình là chiến trường rừng núi, ta dễ bao vây, chia cắt địch, lại tiếp giáp với khu vực tự do Việt Bắc, cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần thuận lợi; các đại đoàn chủ lực của ta đều đang bố trí sát gần, tranh thủ được thời gian nổ súng sớm. Mặt khác, ta không thể để địch chia cắt hành lang liên lạc và vận chuyển giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4, vì sẽ gây nhiều khó khăn, phức tạp sau này. Trên cơ sở đó, Bộ Tổng Tham mưu đã kịp thời dự kiến kế hoạch đối phó để báo cáo Tổng Quân ủy. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, tại cuộc họp mở rộng, sau khi nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình địch đánh chiếm Hòa Bình, tình hình sẵn sàng chiến đấu của bộ đội và ý kiến đề đạt mở Chiến dịch Hòa Bình, Tổng Quân ủy nhất trí đình chỉ việc mở “Chiến dịch Liên khu 3” để mở chiến dịch tại Hòa Bình. Ngay sau đó, Tổng Quân ủy đã đề nghị Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển thế bị động sang thế tiến công quân địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là mặt trận phối hợp”1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 381). Nhất trí với nhận định và chủ trương của Tổng Quân ủy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đồng ý chuyển hướng chiến dịch về Hòa Bình, đồng thời khẳng định: “Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh và thắng”2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trunng ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập IV, Sđd, tr. 55). Tiếp đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ “Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch”, nêu rõ, đây là cơ hội tốt để ta đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình, mặt trận sau lưng địch và các mặt trận khác. Đặc biệt, trong thư gửi các cán bộ, chiến sĩ ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan, khinh địch. Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch Thu - Đông của chúng”1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 242). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:50:37 am Như vậy, nhờ nắm vững và phân tích một cách khoa học, đúng đắn tình hình, Bộ Tổng Tham mưu đã kịp thời tham mưu, đề đạt với Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Ta đã kịp thời chuyển loại hình chiến dịch phản công Hòa Bình khi địch mới tiến công ra, sang loại hình chiến dịch tiến công khi ta bắt đầu nổ súng mở màn chiến dịch, nhờ đó ta chuyển từ thế bị động đối phó sang thế chủ động tiến công. Bộ Tổng Tham mưu đã góp phần “sửa sai” nhận định hướng tiến công của địch trong Đông - Xuân 1951 - 1952, mở ra thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, đẩy địch lún sâu vào thế bị động trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Hai là, kịp thời chỉ đạo công tác chuẩn bị lực lượng, tham gia chỉ huy, xây dựng kế hoạch tác chiến sát với thực tế chiến trường Chiến dịch Hòa Bình là chiến dịch đầu tiên không có thời gian chủ động chuẩn bị trước, mọi công tác chuẩn bị phải chạy đua với thời gian, nhằm tranh thủ đánh địch càng sớm càng tốt, khi địch chưa kịp củng cố. Do vậy, cùng với việc đề đạt Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy mở Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Tổng Tham mưu bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị về mọi mặt. Về điều động lực lượng: Giữa tháng 11 năm 195], trong khi chờ quyếl định của trên, thực hiện nhiệm vụ do Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp giao, Bộ Tổng Tham mưu lệnh cho Đại đoàn 312 chuẩn bị chiến đấu và di chuyển xuống gần Hòa Bình để bảo vệ căn cứ tiếp tế, đường vận chuyển; lệnh cho Trung đoàn 209 bám sát địch, tiêu diệt một bộ phận nhỏ của địch, giúp địa phương phân tán kho tàng; đồng thời chuẩn bị kế hoạch tác chiến để kịp thời phổ biến cho các đơn vị. Tiếp đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3 tranh thủ địch sơ hở, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Đến ngày 17 tháng 11, tại hậu phương, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đại đoàn 308, 312, 316 và Liên khu Việt Bắc. Về công tác bảo đảm, Bộ Tổng Tham mưu chủ động trao đổi, thống nhất với Tổng cục Cung cấp bố trí các kho lương thực, vũ khí đạn dược, bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu. Tham gia cơ quan chỉ huy chiến dịch: Là chiến dịch do Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy cả mặt trận chính và các mặt trận phối hợp, một bộ phận nhẹ Cơ quan Bộ Tổng Tham mưu xuống Hòa Bình trước, để kịp thời tham gia phục vụ công tác chỉ huy, chỉ đạo tác chiến. Cán bộ cơ quan Bộ Tổng Tham mưu đi Chiến dịch Hòa Bình đông hơn các chiến dịch trước, có đầy đủ các bộ phận của Cơ quan Tham mưu tiền phương. Bộ phận cán bộ Bộ Tổng Tham mưu xuống Liên khu 3 từ cuối tháng 10 được lệnh ở lại giúp Bộ Chỉ huy Mặt trận phía Nam Hòa Bình. Lúc này, Sở Chỉ huy Tiền phương bố trí ở Đồng Lương, Cẩm Khê (Phú Thọ). Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng và thành lập Đảng ủy Chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Phó Bí thư. Việc tổ chức và hoàn thiện cơ quan chỉ huy chiến dịch do đồng chí Tổng Tư lệnh chỉ huy, góp phần quan trọng vào thành công trong chỉ đạo tác chiến chiến dịch. Chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện kế hoạch tác chiến và dự kiến trên các hướng: Thực hiện chỉ thị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch tác chiến và dự kiến trên các hướng. Trong đó, xác định hướng chính Hòa Bình, ta sử dụng lực lượng gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312 và 304) cùng Đại đoàn công pháo 351. Trên mặt trận phối hợp, gồm các đại đoàn 316, 320 và các trung đoàn đẩy mạnh tiến công địch ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hà Nam, Ninh Bình... Ở các chiến trường xa, các đơn vị chủ lực phối hợp với bộ đội địa phượng, dân quân du kích hoạt động ở đồng bằng Bình - Trị - Thiên; Liên khu 5 và Nam Bộ tuỳ điều kiện để tích cực phối hợp. Ngoài rạ, Bộ Tổng Tham mưu cũng kịp thời chỉ đạo các đơn vị tiến hành xây dựng kế hoạch bảo đảm, tác chiến của đơn vị mình theo các tình huống đã dự kiến. Đến ngày 1 tháng 12 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng thông qua kế hoạch tác chiến. Như vậy, chỉ trong khoảng một tháng, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy, chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu kịp thời chỉ đạo công tác chuẩn bị, tham gia Bộ Chỉ huy Chiến dịch, chỉ đạo xây dựng kế hoạch tác chiến, sử dụng bộ đội chủ lực tiến cộng địch trên cả mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, nhằm đập tan ý đồ của địch muốn chiếm đóng Hòa Bình, cắt đứt đường tiếp tế của ta, đồng thời chỉ đạo đánh mạnh vùng địch hậu của chúng, giành thế chủ động chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ. Ba là, chỉ đạo, điều hành linh hoạt, hiệu quả hoạt động phối hợp tác chiến giữa hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, giữa hai phương thức tác chiến chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích Cùng với tổ chức, sử dụng và phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị, cơ quan, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các thứ quân, việc tổ chức mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, tác chiến chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích ở các loại hình chiến dịch là nét nghệ thuật đặc sắc và sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Thực tiễn Chiến dịch Hòa Bình cho thấy, mặc dù lúc đầu ta không kịp mở chiến dịch phản công địch, nhưng sau đó nhanh chóng chuyển thành chiến dịch tiến công, đồng thời chủ trương mở mặt trận mới - mặt trận sau lưng địch, chủ yếu là trung du và đồng bằng Bắc Bộ trong một kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất, gồm 2 hướng: Mặt trận Hòa Bình, Mặt trận Trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Nhờ đó, Bộ Tổng Tham mưu có điều kiện tổ chức thực hiện đầy đủ nhất ý định của trên là phối hợp tác chiến giữa lực lượng ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, phát huy hiệu quả của từng mặt trận, bổ trợ lẫn nhau giữa 2 mặt trận, cùng hoàn thành mục đích chiến dịch. Đây cũng là chiến dịch đầu tiên, ta hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa mặt trận chính diện và sau lưng địch, đồng thời là một sáng tạo mới trong chỉ đạo chiến dịch có tầm chiến lược, là một đòn chiến lược hiểm, góp phần vào cải thiện tình hình vùng sau lưng địch có lợi cho ta, đồng thời phối hợp đắc lực với hướng chính diện, buộc địch không thể kéo dài tình trạng lực lượng bị căng kéo, cuối cùng phải rút khỏi Mặt trận Hòa Binh. Ở hướng chính diện, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã sử dụng những đơn vị của Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn 304 linh hoạt trong tiến công tiêu diệt các mục tiêu then chốt, lần lượt chiếm được các cứ điểm quan trọng trên phòng tuyến Sông Đà - Ba Vì cũng như ven thị xã Hòa Bình và Đường số 6. Trong những trận đánh quan trọng, Bộ Tổng Tham mưu đều cử phái viên theo sát đội hình các đơn vị tiến công, kịp thời có những điều chỉnh tình huống phát sinh. Trong các đợt tiến công, Cơ quan Tham mưu chủ trì tổ chức, hiệp đồng giữa các đơn vị, Tham mưu trưởng các đơn vị và cán bộ của Cơ quan Tham mưu xuống trực tiếp động viên bộ đội, nghiên cứu bổ sung vũ khí, chấn chỉnh lại tổ chức, xây dựng quyết tâm và hướng dẫn phương thức hoạt động. Đồng thời, sau mỗi đợt chiến dịch, Cơ quan Tham mưu đã kịp thời xuống đơn vị gặp khó khăn để chỉ đạo và tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm chiến đấu, phối hợp làm việc với Cơ quạn Cung cấp chuẩn bị vật chất cần thiết, bảo đảm cho bộ đội chiến đấu liên tục, dài ngày đến khi kết thúc thắng lợi chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:53:21 am Phối hợp tác chiến với Mặt trận Hòa Bình, ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, dưới sự chỉ huy của Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng, các đơn vị chủ lực của Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 đánh nhiều trận tiêu diệt địch, phá hủy nhiều đồn bốt, hỗ trợ mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh ở các tỉnh: Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên... Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ theo Kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi của địch đã bị phá vỡ. Coi trọng tác chiến chính quy và tác chiến du kích ở vùng địch hậu, Bộ Tổng Tham mưu cử phái viên theo đội hình Đại đoàn 320 sang hoạt động ở Tả ngạn sông Hồng. Tiếp đó ngày 14 tháng 1 năm 1952, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái1 (Lúc này đồng chí Hoàng Văn Thái đã trở lại hậu phương giúp trên chỉ đạo các chiến trường phối hợp đẩy mạnh chiến tranh du kích. Nhiệm vụ Tham mưu trưởng Chiến dịch do đồng chí Hà Văn Lâu, Cục trưởng Cục Tác chiến đảm trách) xuống Liên khu Việt Bắc và Đại đoàn 316 truyền đạt chỉ thị của Trung ương Đảng về chỉ đạo chiến tranh du kích ở vùng địch hậu, phát triển đi đôi với củng cố, chuẩn bị đánh địch càn quét. Ở các chiến trường xa, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Cơ quan Tham mưu các đơn vị làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt đồn bốt, phá kìm kẹp, giải phóng dân.
Thành công của Bộ Tổng Tham mưu trong chỉ đạo hoạt động phối hợp tác chiến giữa 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch, giữa hai phương thức tác chiến chiến tranh chính quy và du kích trong Chiến dịch Hòa Bình đã “đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của nghệ thuật quân sự Việt Nam, tiến hành một cuộc tiến công chiến lược quy mô rộng lớn, đạt yêu cầu cao”1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 46). Ta đánh bại âm mưu giành lại thế chủ động của địch, buộc chúng phải quay về phòng ngự chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh. Bốn là, chỉ đạo vận dụng các phương thức tác chiến, hình thức chiến thuật đúng đắn, sáng tạo, giúp các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ Trong bối cảnh địch đã tổ chức chiếm đóng thành hai phân khu Chính: Hòa Bình và Sông Đà. Chúng đang gấp rút củng cố công sự tương đối kiên cố, lực lượng đông, một nửa là lính Âu - Phi, phần lớn thuộc các binh đoàn cơ động tương đối mạnh, lại có sự chi viện trực tiếp của không quân, pháo binh và xe tăng. Ta tiến hành tác chiến theo nguyên tắc của nghệ thuật chiến dịch tiến công tiêu diệt địch phòng ngự trong hệ thống trận địa kiểu tập đoàn cứ điểm. Với tư tưởng chỉ đạo tác chiến là tích cực tiêu diệt sinh lực địch, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu, chỉ đạo vận dụng phương châm tác chiến “đánh điểm, diệt viện” và “liên tục chiến đấu” là hoàn toàn đúng đắn. Dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, ta “đánh điểm” nhiều trận hiệu quả cao, như: Tập kích Điểm cao 600, Điểm cao 400, diệt trận địa pháo địch trong thị xã Hòa Bình; một số trận “diệt viện” hiệu quả trên sông Đà hay trận Gốp Bộp của Trung đoàn 209 Đại đoàn 312, mặc dù ta bị thương vong nhiều... Tuy nhiên, trong nhiều trận đánh, ta chọn đúng “điểm”, nhưng lại chưa thật gắn với “diệt viện”, chưa chuẩn bị kịp lực lượng, trận địa cảnh giới cũng không chặt chẽ, nên nhiều lần bỏ lỡ cơ hội diệt viện binh địch, nhất là ở khu vực Ba Vì hoặc không tiêu diệt được bộ phận cuối cùng khi chúng rút chạy khỏi Hòa Bình. Cùng với đó, căn cứ diễn biến tình hình và những bước phát triển của chiến dịch, Bộ Tổng Tham mưu đã kịp thời ban hành chỉ thị về vận dụng chiến thuật, nâng cao hiệu suất trong chiến đấu. Theo đó, ta thực hiện đúng nguyên tắc tập trung ưu thế về binh lực, thực hiện bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch. Tập trung binh lực ở một điểm để tiến công, đồng thời bố trí lực lượng hai đến ba mặt để bao vây, tiêu diệt địch. Phát huy lối đánh gần để hạn chế ưu thế hỏa lực pháo binh, máy bay địch và khoét sâu chỗ yếu về mặt tinh thần của chúng. Ở hướng chính diện, Cơ quan Tham mưu chiến dịch trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị vận dụng tốt các hình thức chiến thuật phù hợp với từng địa bàn, như: Đánh công kiên và vận động; tránh chỗ địch mạnh (thị xã Hòa Bình), đánh trúng chỗ địch yếu (vận động trên Đường số 6 và trên sông Đà); triệt đường tiếp tế, tăng viện của địch (trên bộ và trên sông); phát triển nhiều cách đánh như sử dụng một lực lượng tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao, trận địa pháo; sử dụng lực lượng lớn để đánh phục kích trên bộ, trên sông với sự hỗ trợ của pháo binh. Do vậy ta đã lần lượt tiêu diệt nhiều vị trí quan trọng của địch, như: Tu Vũ, Điểm cao 600, Điểm cao 400, diệt trận địa pháo trong thị xã Hòa Bình..., loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, làm tê liệt đường tiếp tế trên sông, trên bộ, cô lập hoàn toàn thị xã Hòa Bình, buộc địch phải rút quân. Trong khi đó, ở mặt trận sau lưng địch, Cơ quan Tham mưu chỉ đạo các đơn vị phát triển “đánh điểm, diệt viện”, kết hợp với đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, tiến công và nổi dậy của quần chúng. Trong đó, nổi bật là trận ta đưa Trung đoàn 48 luồn sâu vào lòng địch, tập kích Phát Diệm (Ninh Bình), kết hợp trận đánh “diệt viện” của Trung đoàn 52 khi chúng đưa lực lượng tăng viện cho Phát Diệm..., mở ra nhiều triển vọng về vận dụng chiến thuật cho các chiến dịch sau này. Có thể khẳng định, quá trình chuẩn bị, tham gia giúp Bộ Tổng Tư lệnh, trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch điều hành Chiến dịch Hòa Bình và chỉ đạo, chỉ huy các mặt trận phối hợp chiến đấu, Bộ Tổng Tham mưu đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của Cơ quan Tham mưu chiến lược, chiến dịch, góp phần quan trọng vào thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của chiến dịch. Tuy nhiên, Bộ Tổng Tham mưu cũng còn một số khuyết điểm, như: Phán đoán sai tình huống ban đầu, khi cho rằng địch ít có khả năng đánh ra Hòa Bình, và về cuối chiến dịch thì lại chưa dự kiến đúng thời gian địch rút khỏi Hòa Bình nên đối phó bị động và lúng túng; trong chỉ thị vận dụng chiến thuật có những điểm còn chung chung và công tác đôn đốc, kiểm tra một số trận đánh chưa tốt1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954), Sđd, tr. 410). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Ba, 2023, 07:56:24 am Trong giai đoạn cách mạng mới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây bất ổn, nhất là vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng hơn; đối tác, đối tượng chuyển hóa mau lẹ; các thế lực thù địch tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và “phi chính trị hóa” Quân đội, hòng chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, chống phá Quân đội ta. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra yêu cầu mới ngày càng cao, đòi hỏi phải dự báo chính xác âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; tham mưu, đề xuất các đối sách hợp lý để giải quyết tốt các vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh của đất nước, không đế bị động, bất ngờ về chiến lược trong mọi tình huống. Từ thực tiễn công tác tham mưu, chỉ đạo tác chiến trong Chiến dịch Hòa Bình có thể rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu vận dụng trong công tác tham mưu chiến lược:
Một là, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ tham num, đề xuất giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phồng kiến nghị với Đàng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Bộ Tổng Tham mưu cần nắm vững và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, cụ thể là: “Thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 160); Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; các nghị quyết của Quân ủy Trung ương, chỉ thị của Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Tăng cường công tác nghiên cứu, nắm tình hình, phân tích, đánh giá và dự báo chiến lược chính xác đối tác và đối tượng, kịp thời đề xuất các chủ trương, đối sách đúng đắn, xử trí kịp thời, có hiệu quả các tình huống. Chủ động tham mưu, soạn thảo kế hoạch, nội dung về chiến lược, sách lược bảo vệ Tổ quốc, dự kiến tình huống có thể xảy ra và các biện pháp đối phó, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, ngăn chặn xung đột từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ về chiến lược. Trong đó, cần xác định đúng hướng, đúng mục tiêu chiến lược cả trước mắt và lâu dài để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia cả trên bộ, trên biển, trên không và trên không gian mạng. Tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng kiến nghị với Đảng, Nhà nước có đối sách xử lý hiệu quả các tình huống an ninh phi truyền thống, như: “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, khủng bố, an ninh mạng, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh... Chú trọng chỉ đạo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham mưu cấp chiến lược, nhất là cán bộ chủ trì và đội ngũ chuyên gia của Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp tham mưu giúp Quân ủy Trung Ương, Bộ Quốc phòng tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kết thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng làm căn cứ xác định, bổ sung, phát triển đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam; tham mưu giúp Quân ủy Trang ương, Bộ Quốc phòng kiến nghị với Đảng, Nhà nước định ra các thể chế và hoạch định chính sách đối với lực lượng vũ trang và những vấn đề liên quan đến quốc phòng. Hai là, tiếp tục tham mưu, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhát là Quân đội nhân dân ‘‘cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; xây dựng dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”, lực lượng dự bị hùng hậu. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Xây đựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, TậpI,Sđd,tr. 157- 158). Quán triệt và thực hiện Nghị quyết của Đảng, Bộ Tổng Tham mưu chủ động tham mưu, chỉ đạo, tổ chức xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; trước mắt, chỉ đạo toàn quân triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới (giai đoạn 2020 - 2025)”, điều chỉnh tổ chức, biên chế tinh, gọn, mạnh; cơ cấu đồng bộ, hợp lý; tập trunng xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, làm cơ sở đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Đồng thời, cần làm tốt công tác tham mưu, tổ chức xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp. Tiếp tục chỉ đạo toàn quân đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác huấn luyện, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng cơ quan, đơn vị, môi trường tác chiến và các tình huống phức tạp; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện, làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại, với diễn tập nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng; giữa các đơn vị chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực phòng thủ; gắn diễn tập với luyện tập các phương án, kế hoạch tác chiến trên các hướng chiến trường, địa bàn chiến lược, góp phần nâng cao sức mạnh của Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Ba là, thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất, chỉ đạo, tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, xây dựng nên quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ vững mạnh cả về tiềm lực và thế trận, chú trọng thế trận quân sự và thế trận lòng dân. Theo hướng đó, Bộ Tổng Tham mưu cần tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2019 của Chính phủ, “về xây dựng khu vực phòng thủ” và Kết luận số 57-KL/TW ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị, “Về kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”; đặc biệt là định hướng trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Sđd, tr. 157), cũng như thấu suốt quan điểm: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh ià trọng yếu, thường xuyên”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XUI, Tập I, Sđd, tr. 110). Tiếp tục chủ động tham mun, đề xuất chủ trương, biện pháp tăng cường tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân; chỉ đạo thực hiện tốt chủ trương kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế - xã hội và an ninh; chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ tinh, thành phố, khả năng phòng thủ quốc gia, ưu tiên các hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm cà trên đất liền, trên không, biển, đảo và không gian mạng, phù hợp tình hình mới. Tập trung nghiên cứu điều chỉnh lực lượng, hoàn chỉnh thế bố trí chiến lược, sẵn sàng đối phó thắng lợi với chiến tranh xâm lược (nếu xảy ra) ở các loại hình và quy mô khác nhau. Chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Nhận thức rõ vai trò của quốc phòng, an ninh đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan đối ngoại quốc phòng với các lực lượng liên quan, tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước những chủ trương, đối sách phù hợp và những vấn đề về quan hệ quốc phòng, góp phần xử lý có hiệu quá các tình huống phức tạp nảy sinh; đồng thời lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân làm tốt công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội, đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình. Nhìn lại Chiến dịch Hòa Bình cách đây 70 năm, chúng ta cần đánh giá đầy đủ, toàn diện hơn ý nghĩa, giá trị to lớn của chiến dịch, trong đó có vai trò chỉ đạo trực tiếp, rất quan trọng của Bộ Tổng Tham mưu. Những bài học quý về công tác tham mưu, chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu trong Chiến dịch Hòa Bình vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong đào tạo, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:28:08 am CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI, TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG HIỆN NAY Thượng tướng, TS LÊ HUY VỊNH Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Cách đây 70 năm, từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Hòa Bình, giải phóng một vùng rộng lớn khu vực Hòa Bình - Sông Đà, đánh bại âm mưu đánh chiếm vùng tự do của ta, phá tan ý đồ giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ của quân Pháp; giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, đồng thời "Ta đã giành nhiều thắng lợi cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất, giải phóng dân, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12. 1951 - 2.1952), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 6). Chiến thắng Hòa Bình không chỉ là "Thắng lợi quân sự, mà còn là thắng lợi chính trị có tiếng vang trên thế giới"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 263). Bảy mươi năm đã trôi qua, nhìn lại chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình, chúng ta rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đáng đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng Trong Chiến dịch Hòa Bình, ta không có thời gian chủ động chuẩn bị trước, mọi công tác đều phải chạy đua với thời gian nhằm tranh thủ đánh địch càng sớm càng tốt, khi địch mới chiếm được địa bàn. Do đó, từ khâu chuẩn bị đến thực hành tác chiến của các đơn vị tham gia chiến dịch đều phải nỗ lực, cố gắng cao nhất, không ngại gian khổ, hy sinh mới có thể giành được thắng lợi. Trong chiến dịch này, bộ đội đã liên tục chiến đấu hơn 78 ngày đêm, thời gian dài nhất của một chiến dịch từ trước tới lúc đó; trong khi địch sử dụng khối lượng lớn binh khí và máy bay, gây nhiều khó khăn, tổn thất cho ta. "Vì thế trong suốt quá trình chiến dịch, ý chí, quyết tâm chiến đấu của bộ đội ta luôn được củng cố và nâng cao, bảo đảm chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, liên tục"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952) Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 52). Các đơn vị tham gia chiến dịch đều quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 22-CT/TƯ, ngày 24 tháng 11 năm 1951 của Ban Chấp hành Trung ương "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", trong đó chỉ rõ đây là cơ hội để ta đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình, trên các mặt trận khác và sau lưng địch, "nắm lấy cơ hội tốt ấy để đánh địch và thắng địch là phá tan được âm mưu quân sự mới của địch". Các đơn vị cũng đã được học tập, quán triệt sâu sắc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Trong thư Người khẳng định: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ. Để tiêu diệt sinh lực địch, để đánh tan kế hoạch Thu - Đông của chúng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập IV, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 71, 55). Bộ đội ta ở các mặt trận đều thấm nhuần chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh và thắng"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập IV, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 71, 55). Với những chủ trương, quyết sách đúng đắn, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là yếu tố quyết định thắng lợi của chiến dịch. Đồng thời, sự tin tưởng, ý chí, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ và hy sinh tiêu diệt địch, thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mỗi cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch đã tạo nên sức mạnh to lớn đưa chiến dịch đến thắng lợi. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta cần vận dụng bài hục này vào quá trình xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Trước hết, tiếp tục thực hiện nghiêm túc, triệt để cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng. Đồng thời, đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý, điều hành đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; kịp thời chuyển hóa thế trận quốc phòng toàn dân thành thế trận chiến tranh nhân dân, bảo vệ vững chẳc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Những chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải được quán triệt sâu sắc đến mọi cấp, mọi ngành, lĩnh vực, cả hệ thống chính trị và toàn dân, mà trước hết là mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp cần đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời và hiệu quả; phái huy vai trò của cơ quan tham mưu, phụ trách công tác quân sự, quốc phòng ở cơ quan, đơn vị, địa phương, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:28:50 am Hai là, chủ trọng công tác nghiên cứu dự báo, sớm nắm bắt và dự kiến tình hình để chủ động trong mọi chủ trương, chiến lược về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng
Để đi đến quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình và đề ra những quyết sách trong chỉ đạo, điều hành chiến dịch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy đã luôn chú trọng công tác nghiên cứu, dự báo âm mưu hành động của địch và kịp thời định hướng hành động của ta. Trong Hè - Thu 1951, tập trung nghiên cứu kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1951 - 1952, song ta vẫn chưa tìm ra phương hướng phù hợp cho chủ lực hoạt động. Ban đầu, nhận định địch ít có khả năng đánh ra Hòa Bình, ta chủ trương mở cuộc tiến công trước khi địch tiến công ta và hướng mở chiến dịch lớn ở hữu ngạn Liên khu 3. Trong khi ta đang ráo riết chuẩn bị chiến dịch ở Liên khu 3, ngày 14 tháng 11 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu nhận được tin quân Pháp nhảy dù chiếm thị xã Hòa Bình và về cuộc hành quân Hoa Sen (Lotus) của chúng. Việc quân Pháp mang binh lực lớn ra ngoài phòng tuyến boongke, đánh chiếm vùng Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6 đã tạo cho ta "một cơ hội bằng vàng" để đánh địch, như cách nói của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Hòa Bình là chiến trường rừng núi, ta dễ bao vây, chia cắt địch lại tiếp giáp với khu vực tự do Việt Bắc, cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần thuận lợi. Các đại đoàn chủ lực của ta đang bố trí sát gần, dễ tranh thủ được thời gian, nổ súng tiến công địch được sớm. Kéo quân ra Hòa Bình, tự quân Pháp đã phải phân tán lực lượng, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi. Hơn nữa, việc địch tập trung lực lượng vào Mặt trận Hòa Bình sẽ tạo sơ hở để ta đánh địch ở đồng bằng. Mặt khác, đánh địch ở Hòa Bình ta sẽ ngăn chặn, không cho địch cắt đứt hành lang liên lạc và vận chuyển giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4, tránh được việc chúng gây khó khăn cho ta sau này. Tại cuộc họp ngày 15 tháng 11 năm 1951, sau khi nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình địch đánh chiếm Hòa Bình, tinh thần sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng ta, Tổng Quân ủy đình chỉ mở chiến dịch ở Liên khu 3, đề nghị Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển thế bị động sang tiến công quân địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính các nơi khác là mặt trận phối hợp"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.381). Đề nghị đó được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất trí và coi đây là cơ hội rất tốt để quân ta tiêu diệt địch. Quá trình chiến dịch, công tác nghiên cứu, dự báo âm mưu hành động của địch vẫn được Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh chú trọng. Lúc chiến dịch đang diễn ra, ta phán đoán địch sẽ phải rút khỏi Hòa Bình vì địch không thể bỏ khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nơi đang bị ta đánh mạnh và giải phóng từng khu vực rộng lớn. Đồng thời, cơ quan nghiên cứu của ta còn tính đến đặc điểm của tên chỉ huy chiến trường của địch. Quyết định đưa quân đánh lên Hòa Bình là của tướng Đờ Lát - Tổng Chỉ huy quân Pháp kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Giữa lúc chiến sự tại Hòa Bình và cả đồng bằng Bắc Bộ đang diễn ra ác liệt thì Đờ Lát bị bệnh, phải trở về Pháp và mất tại đó. Nắm quyền thay Đờ Lát, tướng Raun Xalăng chỉ là quyền Tổng Tư lệnh và không đủ bản lĩnh như Đờ Lát, không dám và cũng không thể cùng một lúc đối phó với cả hai mặt trận chính diện ở Hòa Bình và mặt trận ở vùng sau lưng dịch. Từ nghiên cứu, dự báo chính xác đó, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã có các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch giành thắng lợi ngày càng lớn. Trong công cuộc xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng ngày nay, tình hình thế giới, khu vực những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự đoán. Chiến tranh quy mô lớn ít có khả năng xảy ra, nhưng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ có thể diễn ra gay gắt. Đặc biệt, một số nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực hải quân với những thế hệ vũ khí mới. Các yếu tố an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục phức tạp, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới làm thay đổi môi trường chiến lược, tác động sâu sắc tới mọi quốc gia dân tộc. Là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, ổn định của đất nước, trong xây đựng Quân đội nhân dân hiện nay, cần chú trọng công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược chính xác về quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ nghiên cứu, dự báo chính xác, Quân đội chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định và thực hiện đường lối, chiến lược, chủ động, tích cực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa lâm nguy. Quân đội cần chủ động nghiên cứu, dự kiến các tình huống, biện pháp đối phó hiệu quả với mọi tình huống về quân sự, quốc phòng cả trên không, trên đất liền, trên biển, đảo và trên không gian mạng, kiên quyết không để bị động bất ngờ, luôn bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển toàn diện đất nước. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, bổ sung, hoàn thiện tư duy lý luận quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội. Về vấn đề này, văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: "Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng - quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự... Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Sđd, tr. 159). Đây là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng Quân đội nhân dân, tăng cường quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:29:33 am Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, trong đó tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
Trong Chiến dịch Hòa Bình, trên cơ sở lực lượng vũ trang ba thứ quân được xây dựng từ năm 1949, đặc biệt là các đại đoàn chủ lực đã được xây dựng vững mạnh, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh đã thành công trong chỉ đạo phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị của quần chúng, giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch phát huy cao độ hiệu quả của từng mặt trận, từng lực lượng cùng hoàn thành mục tiêu chiến dịch. Về lực lượng, cho đến trước lúc bước vào Chiến dịch Hòa Bình, riêng ở Bắc Bộ, ta đã xây dựng được một lực lượng chủ lực mạnh bao gồm 5 đại đoàn bộ binh (304, 308, 312, 320, 316), Đại đoàn công pháo 351 cùng các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực của các địa phương. Trong đề nghị Tổng Quân ủy "Phương hướng Chiến dịch mùa Đông 1951 và kế hoạch đề phòng địch tấn công" báo cáo tại hội nghị Bộ Chính trị ngày 19 tháng 10 năm 1951 đã điểm lại tình hình bộ đội ta: "Cả 5 đại đoàn bộ binh và 3 trung đoàn độc lập ở Bắc Bộ đã trang bị xong, đều đã chỉnh huấn một lần, sau kỳ tác chiến vừa qua phần lớn đã bổ sung... biên chế bắt đầu thực hiện... Trung đoàn sơn pháo đang chấn chỉnh, trung đoàn trọng pháo cũng đang huấn luyện... Sau một thời gian huấn luyện thì trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội được đề cao một bước... Trình độ chính trị khá hơn trước... Sức khỏe có tiến bộ... Bộ đội địa phương thì toàn Bắc Bộ có 14 tiểu đoàn tập trung và 180 đại đội tỉnh và huyện"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập IV, Tlđd, tr. 25-26). Sau đợt hoạt động tác chiến Xuân - Hè 1951, các đại đoàn chủ lực của ta có thời gian tập trung huấn luyện quân sự và học tập chính trị, trong đó chú trọng huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật, tổ chức các lớp chỉnh huấn chính trị cho cán bộ trung sơ cấp của các đại đoàn. Vừa huấn luyện, vừa tiếp nhận trang bị mới (trừ Đại đoàn 325) nên sức mạnh chiến đấu của bộ đội được tăng lên rõ rệt. Trước khi địch tiến công Hòa Bình, các đại đoàn chủ lực cũng như các địa phương đã sẵn sàng để bước vào tác chiến trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Cùng với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, lực lượng dân quân, du kích đã phát triển nhanh chóng và tăng cường hoạt động phối hợp ở khắp các chiến trường. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của việc chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân; trong đó chú trọng khối chủ lực mạnh. Đây thực sự là một yêu cầu cấp thiết và tất yếu của kháng chiến, có bộ đội chủ lực mới có thể đánh những đòn mạnh làm xoay chuyển tình thế, xoay chuyển cục diện chiến trường, giành thắng lợi. Có chủ lực mạnh mới tùy theo yêu cầu của từng chiến dịch để tổ chức thành công những trận đánh quyết định. Bên cạnh đó, để phối hợp, phát huy hiệu quả của những đòn đánh của bộ đội chủ lực cũng cần chú trọng xây dựng phát triển lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích ở các thôn xã. Trong giai đoạn hiện nay, cùng những tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, sự biến động của tình hình thế giới, khu vực đem lại cả thuận lợi và thời cơ, khó khăn và thách thức đan xen, đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; tăng cường tiềm lực quốc phòng, tạo thế chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Theo đó, cần coi trọng xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cân đối, đồng bộ, có chất lượng tổng hợp, trình độ, sức mạnh và khả năng phối hợp tác chiến cao, nhất là giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Toàn quân cần tranh thủ thời cơ, tận dụng thời gian, khai thác, phát huy tốt lợi thế của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, khoa học - công nghệ,... nhằm đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa Quân đội đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và đóng góp tích cực cho nền hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Đề án tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới giai đoạn 2020 - 2025, điều chỉnh tổ chức, biên chế bảo đảm "tinh, gọn, mạnh"; cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, giảm đầu mối trung gian, đồng bộ giữa vũ khí, trang bị với nhân lực và công tác bảo đảm. Cùng với đó, cần tổ chức xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, được quản lý, chặt chẽ, sẵn sàng động viên, mở rộng lực lượng khi cần thiết. Củng cố lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có số lượng, cơ cấu phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân số, chủ trọng lực lượng dân quân tự vệ ở các vùng trọng điểm, dân quân biển; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh ngay tại cơ sở, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đảm bảo chất lượng huấn luyện, diễn tập, Quân đội phải thực hiện tốt chức năng "Đội quân chiến đấu", "Đội quân công tác", "Đội quân lao động sản xuất" trong thời bình, sẵn sàng giúp dân trong phòng, chống thiên tai dịch bệnh và những thách thức an ninh phi truyền thống, phát huy phẩm chất và xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời kỳ mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:30:23 am Bốn là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc
Trong Chiến dịch Hòa Bình, Tổng Quân ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã kết hợp được hiệu quả chiến đấu của các lực lượng dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân ở các địa bàn khác nhau, đặc biệt là đã phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng giữa mặt trận chính và mặt trận sau lưng địch. Ở các mặt trận, ta đã phối hợp được sức mạnh chiến đấu của các lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích... Trong bộ đội chủ lực, ta đã bố trí các lực lượng, vận dụng các cách đánh sáng tạo, phù hợp và đã phát huy tốt sức mạnh của các binh chủng, các lực lượng tiêu diệt quân địch ở các hướng, các mũi, cả quân địch phòng ngự trong công sự lẫn quân địch chi viện trên đường bộ, đường sông,... Với việc đưa 2 đại đoàn chủ lực vào hoạt động ở vùng sau lưng địch, ta đã kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích và các hoạt động của toàn dân đánh giặc, phá tề trừ gian, bao vây, phá hủy các đồn bốt của địch, mở rộng căn cứ du kích, các khu Căn cứ kháng chiến, mở rộng vùng giải phóng. Tiến công quân sự phối hợp, hỗ trợ đấu tranh chính trị và ngược lại lực lượng chính trị của quần chúng cũng giúp đỡ, tạo điều kiện để lực lượng quân sự phát huy sức mạnh giành thắng lợi. Sự phối hợp giữa các lực lượng, các mặt trận đã "vô hiệu hóa một đòn tiến công chiến lược của địch, đồng thời làm cho chúng rối tung không biết tìm cách đối phó"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 295). Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng ta là trong khi đẩy mạnh vận động chiến vẫn phải phát triển chiến tranh du kích rộng khắp. Chiến tranh nhân dân của ta cần có sự phối hợp chặt chẽ với tác chiến của các binh đoàn chủ lực và chiến tranh nhân dân địa phương càng phát triển thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực giành thắng lợi lớn. Thắng lợi của các binh đoàn chủ lực trực tiếp thúc đẩy chiến tranh nhân dân địa phương phát triển lên trình độ cao hơn. Bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng trong tình hình hiện nay, đó chính là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, nhằm phát huy cao độ sức mạnh của các lực lượng trong bảo vệ Tổ quốc. Để đáp ứng những yêu cầu đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TVV ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X, "về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới" và Nghị định số 21/2019/NĐ/CP ngày 22 tháng 2 năm 2019 của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Quá trình xây dựng khu vực phòng thủ, cần tập trung xây dựng đồng bộ, toàn diện các tiềm lực trong khu vực phòng thủ (chính trị - tinh thần, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, đối ngoại), trong đó cần chú trọng đặc biệt công tác xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt việc kết hợp giữa các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, khu kinh tế, khu Công nghiệp trọng điểm để đảm bảo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Quan tâm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên xây dựng công trình phòng thủ trong căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, hậu cần, kỹ thuật, khu vực phòng thủ then chốt, sở chỉ huy các cấp, tạo lập thế bố trí hiểm hóc, vững chắc giữa các khu vực phòng thủ với phòng thủ quân khu và trên từng hướng chiến lược, sẵn sàng cho các tình huống quốc phòng, an ninh. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân hiện nay cần gắn với tổ chức, bố trí lực lượng với xây dựng các tiềm lực của đất nước, sẵn sàng triển khai, chuyển hóa các tiềm lực thành thực lực quốc phòng một cách đồng bộ theo ý định, kế hoạch chiến lược trên toàn lãnh thổ, bảo đảm thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc. Trên các hướng, các địa bàn chiến lược cần bố trí cân đối, hợp lý giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, giữa lực lượng địa phương và bộ đội chủ lực, giữa các quân, binh chủng, lực lượng, ngành; tạo thế trận tổng hợp, vững chắc, phát huy tối đa sức mạnh của các lực lượng, bảo đảm khả năng tác chiến trên mọi môi trường, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bảy mươi năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và những bài học lịch sử rút ra từ thực tiễn chỉ đạo, tổ chức, điều hành Chiến dịch Hòa Bình vẫn có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc, góp phần vào công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:37:47 am CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH – BƯỚC TRƯỞNG THÀNH VƯỢT BẬC CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM Thượng tướng VÕ MINH LƯƠNG Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, là chiến dịch đầu tiên sử dụng lực lượng lơn nhất về bộ binh và các binh chủng trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) nhằm tiến công địch phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của quân Pháp, đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch ở chiến trường trung du, Liên khu 3, góp phần làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của quân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình khẳng định khả năng tác chiến ở địa hình rừng núi và khả năng tiến công hệ thống cứ điểm địch phòng ngự trong công sự vững chắc, tạo bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình tiếp tục giữ vững và phát huy thế tiến công chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam, thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau: 1. Thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình khẳng định sự phát triển vượt bậc về tổ chức xây dựng lực lượng chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam Ngay từ khi mới ra đời, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc tổ chức xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam được xác định là công việc trọng tâm để tiến hành cuộc kháng chiến. Từ yêu cầu thực tiễn tác chiến vận động chiến, nên phải có những đơn vị chủ lực lớn để thực hiện nhiệm vụ đánh tiêu diệt. Do vậy, từ các đại đội, tiểu đoàn độc lập, ta tập trung cán bộ, vũ khí, phương tiện thông tin liên lạc để xây dựng các trung đoàn, đại đoàn chủ lực ở quy mô thích hợp. Đến Chiến dịch Hòa Bình, ta đã thảnh lập được các đại đoàn, như: Đại đoàn 308 (28.8.1949), Đại đoàn 304 (10.3.1950), Đại đoàn 312 (27.12.1950), Đại đoàn 320 (16.01.1951), Đại đoàn công pháo 351 (27.3.1951) và Đại đoàn 316 (01.5.1951)1 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 10, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2019, tr. 229). Trang bị của các đại đoàn tương đối thống nhất, đại đội có tiểu đội súng cối 60mm và tiểu đội đại liên; tiểu đoàn có đại đội trợ chiến trang bị súng cối 82mm, pháo ĐKZ 57mm; trung đoàn có đại đội súng cối 82mm, pháo ĐKZ 57mm, đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Trực thuộc Bộ Tư lệnh, có đại đoàn công pháo và trung đoàn sơn pháo. Ở các khu, liên khu hầu hết đều có trung đoàn chủ lực cơ động và các tiểu đoàn hỏa lực. Trên cơ sở tổ chức xây dựng và phát triển lực lượng chủ lực, ta đã thành công trong xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc,... Đây là cơ sở để Bộ Tổng Tư lệnh đủ điều kiện sử dụng quy mô lực lượng lớn cho Chiến dịch Hòa Bình (5 đại đoàn bộ binh và Đại đoàn công pháo 351). Trong đó, sử dụng 4 đại đoàn (308, 312, 304 và 351) đánh địch trên hướng chính diện ở Hòa Bình, Sông Đà, Đường số 6 (mặt trận phía trước), đồng thời, sử dụng 2 đại đoàn (320 và 316) tiến công địch trên hướng phối hợp ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ (mặt trận vùng sau lưng địch). Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh được cử làm Tư lệnh Chiến dịch; đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng Chiến dịch. Bên cạnh việc tổ chức xây dựng lực lượng chủ lực, Trung ương còn ban hành các chỉ thị, quy định về tổ chức, chức năng quyền hạn của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu1 (Gồm các cục: Tác chiến, Quân báo, Quân huấn, Dân quân, Quân lực, Thông tin liên lạc, Công binh, Pháo binh), Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp2 (Gồm: Quân lương, Quân y, Quân dược, Vận tải, Quân giới, Quân trang, Quân khí), các liên khu, các khu tiếp tục được củng cố, tăng cường... Điều đó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi trong lãnh đạo, chỉ đạo tác chiến và sự chỉ huy thống nhất trong hệ thống tổ chức Quân đội, làm cho lực lượng vũ trang không ngừng phát triển lớn mạnh, tổ chức lực lượng ngày càng chặt chẽ, nhất là lực lượng chủ lực (tính đến cuối năm 1951, lực lượng chủ lực đã tăng lên 253.270 người)3 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử tổ chức quân sự Việt Nam, Tập 3, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 465). Thành quả đó, đã cho phép Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng lực lượng chủ lực lớn để thực hiện nhiệm vụ đánh tiêu diệt, bảo đảm chắc chắn cho chiến dịch giành thắng lợi. Tính đến thời điểm Chiến dịch Hòa Bình diễn ra thì đây là chiến dịch có quy mô lực lượng lớn nhất, hơn hẳn so với tất cả các chiến dịch trước đó4 (Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 159, 201, 177, 180, 192: Chiến dịch Biên Giới sử dụng Đại đoàn 308, 2 trung đoàn bộ binh (174, 209), 4 đại đội sơn pháo, 5 đại dội công binh, 3 tiểu đoàn của Liên khu Việt Bắc (426, 428 và 888) cùng dân quân du kích Cao Bằng, Lạng Sơn; Chiến dịch Trần Hưng Đạo sử dụng 2 đại đoàn (308, 312), Trung đoàn 675, 4 tiểu đoàn địa phương và dân quân du kích; Chiến dịch Hoàng Hoa Thám sử dụng 2 đại đoàn (308, 312), 2 trung đoàn (98, 174), 4 liên đội sơn pháo 75mm, Trung đoàn 675, 2 tiểu đoàn công binh và lực lượng vũ trang địa phương, hướng phối hợp có các đại đoàn 304, 320; Chiến dịch Lý Thường Kiệt sử dụng Đại đoàn 312, 1 liên đội sơn pháo, 2 đại đội công binh cùng lực lượng vũ trang địa phương; Chiến dịch Hà Nam Ninh sử dụng 3 đại đoàn (308, 304 và 320), 5 đại đội sơn pháo, 1 trung đoàn công binh và lực lượng vũ trang địa phương). Nhờ đó, trong gần 80 ngày chiến đấu, ta đã phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, Sông Đà với diện tích khoảng 2.000km2, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm phá sản kế hoạch chiến lược của tướng Đờ Lát đờ Tatxinhi1 (Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, 2005, Sđd, tr.902: P. Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassigny, (1889 - 1952): Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương (1950 - 1952), Thống chế Pháp (truy phong 1952)), giữ vững quyền chủ động chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ. Ở mặt trận sau lưng địch, quân và dân ta cũng giành thắng lợi to lớn, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 15.000 tên địch, mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng Bắc Bộ. Phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ, bộ đội chủ lực ta tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tác chiến nhằm thúc đẩy và hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển, tiếp tục củng cố vững chắc quyền chủ động chiến lược, thực hiện tiêu hao sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, đẩy địch vào thế bị động chiến lược trong Thu - Đông 1952. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:39:31 am 2. Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới
Để đáp úng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân, bảo đảm cho kháng chiến giành thắng lợi, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2.1951) đã xác định: "Đảng và Chính phủ ta phải xây dựng một Quân đội nhân dân mạnh mẽ, chân chính với ba đặc điểm: Dân tộc, nhân dân và dân chủ; phải tích cực xây dựng bộ đội chính quy, củng cố bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích"2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hả Nội, 2004, tr. 108). Điều đó tiếp tục khẳng định đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; coi trọng giáo dục bản chất cách mạng đi đôi với việc chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức lực lượng, tăng cường kỷ luật, đẩy mạnh huấn luyện chính trị, kỹ thuật và chiến thuật. Về củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo: "Nắm vững sự lãnh đạo tư tưởng trong toàn quân, lãnh đạo việc học tập tư tưởng mới, học tập chủ trương và chính sách của Đảng và Chính phủ, sửa chữa những sai lầm đã bộc lộ trong cuộc chỉnh huấn vừa qua"1 (Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 (27.9 - 5.10.1951) về nhiệm vụ quân sự trước mắt, in trong: Những lài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy (từ năm 1945 đến năm 1954), Tập 3, Sdd, tr. 106),... Thông qua đó, vị trí, vai trò của hệ thống tổ chức đang ngày càng được tăng cường và củng cố, bảo đảm cho Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành Quân đội cách mạng của nhân dân, một quân đội vô địch, được xây dựng, phát triển toàn diện về mọi mặt, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tác chiến, Hội nghị Trung ương Đảng (3.1951) chỉ rõ: "Ở Bắc Bộ, bộ đội chủ lực phải đề cao vận động chiến tiến tới và phát triển du kích chiến đến cao độ,... Riêng Khu 3 phải đặc biệt phát triển du kích đến cao độ. Tại Trung Bộ và Nam Bộ, phát triển mạnh mẽ du kích chiến tranh, đẩy mạnh vận động chiến, tiến tới củng cố và mở rộng các căn cứ, vùng giải phóng đánh mạnh vào các đường giao thông huyết mạch của địch, tích cực xây dựng lực lượng, chuẩn bị chiến trường để chuyển sang tổng phản công"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 280). Tập trung sản xuất vũ khí trợ chiến công đồn và hỏa khí cầu vồng, đẩy mạnh sản xuất các trái FT1, FT2 (bộc phá khối) để tiến công đồn, bốt. Ưu tiên vũ khí, trang bị và phương tiện thông tin liên lạc cho bộ đội chủ lực thực hiện nhiệm vụ đánh tiêu diệt lớn quân chủ lực địch; nhiệm vụ chống càn, sử dụng lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích là chủ yếu. Cũng trong thời gian này, Trung ương ban hành các chỉ thị về xây dựng lực lượng, chỉ đạo kiện toàn các cơ quan theo hướng gọn nhẹ, tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu. Giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao ý chí chiến đấu, đi đôi với tích cực rèn luyện nắm vững kỹ thuật, chiến thuật mới bảo đảm cho tác chiến giành thắng lợi. Thông qua hệ thống các nhà trường của Quân đội, tiến hành bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ chỉ huy và cán bộ chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm chiến đấu. Sau một số chiến dịch tiến công chưa thành công đầu năm 19511 (Các chiến dịch: Trần Hưng Đạo (Trung Du), Hoàng Hoa Thám (Đường 18), Quang Trung (Hà Nam Ninh), Lý Thường Kiệt (Nghĩa Lộ)), các đơn vị kịp thời rút kinh nghiệm và bước vào 5 tháng chỉnh huấn, chỉnh quân. Trong đó, coi việc chỉnh huấn chính trị là trọng tâm của chỉnh quân2 (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 (27.9 - 5.10.1951) về nhiệm vụ quân sự trước mắt, in trong: Những lài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy (từ năm 1945 đến năm 1954), Tập 3, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr.104, 105: "Tích cực nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực tức là thực hiện biên chế, tiến hành chỉnh huấn (chú trọng về chính trị), thực hiện từng bước tiêu chuẩn cung cấp, thi hành chế độ cấp ủy,... Bộ đội địa phương thấm nhuần phương châm hoạt động của chiến tranh du kích, đồng thời nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật, thực hiện biên chế và cải tiến cung cấp"). Việc chỉnh huấn bộ đội, lấy chỉnh huấn chính trị làm gốc và khởi đầu từ cán bộ, dần dần đến toàn đội viên. Trước khi bước vào chiến dịch, các đại đoàn (308, 312, 316, 320, 304) và Đại đoàn công pháo 351 đã hoàn thành 5 tháng chỉnh huấn, chỉnh quân, bổ sung quân số, ổn định tổ chức biên chế, trang bị gọn nhẹ. Nhờ đó, sức khỏe bộ đội đã tăng thêm, tinh thần chiến đấu được nâng cao, trình độ kỹ thuật, chiến thuật đã được nâng cao một bước. Tiếp tục củng cố, rút kinh nghiệm và tổ chức học tập về chiến thuật công kiên (tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc), kỹ thuật sử dụng súng trường, súng tiểu liên, lựu đạn và hiệp đồng binh chủng khi tiến công cứ điểm lớn hoặc cụm cứ điểm của địch3 (Riêng Đại đoàn 312 chưa tham gia chỉnh huấn, chỉnh quân vì đang tham gia chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Nghĩa Lộ), đáp ứng yêu cầu tác chiến mới, đưa tác chiến chính quy bằng các đại đoàn chủ lực tiến lên trở thành địa vị chủ yếu, kết hợp chặt chẽ với chiến tranh nhân dân địa phương bằng lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:41:01 am 3. Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, khẳng định khả năng tác chiến ở địa hình rừng núi của Quân đội nhân dân Việt Nam
Trước Chiến dịch Hòa Bình, ta chủ yếu tác chiến du kích tiến lên chính quy ở quy mô nhỏ, mục tiêu tiến công chủ yếu là cứ điểm hoặc cụm cứ điểm của địch. Nhưng nay, "địch ra sức tập trung binh lực củng cố phòng tuyến trung châu Bắc Bộ, chúng đã tăng viện một phần từ Pháp sang, đã được Mỹ giúp đỡ một phần nào về vũ khí và phương tiện, nhất là chúng đã khuếch trương quân ngụy nhanh chóng... kiểm soát và lợi dụng nhân lực, vật lực của ta trong vùng tạm chiếm và vùng du kích"1 (Xem: Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy (từ năm 1945 đến năm 1954), Tập 3, 1963, Sđd, tr 102). Địch đã thay đổi thủ đoạn từ phòng ngự cứ điểm theo kiểu "đồn binh" chuyển sang phòng ngự kiểu tập đoàn cứ điểm, có lực lượng quân ứng chiến cơ động cao, dưới sự chi viện đắc lực của hỏa lực không quân, pháo binh, về ta, lực lượng của ta đã phát triển vượt bậc, tương quan so sánh lực lượng chủ lực không quá chênh lệch. Thực tiễn đó, đòi hỏi và đặt ra những yêu cầu khách quan trong chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật tác chiến chiến dịch. Trước khi Chiến dịch Hoà Bình diễn ra, Tổng Quân ủy quyết định phân tán lực lượng chủ lực trên nhiều chiến trường, thực hiện luân phiên tác chiến ở các khu vực, thời điểm, thời gian khác nhau; sử dụng một số trung đoàn hoạt động vùng sau lưng địch ở trung du, hữu ngạn sông Hồng. Riêng Mặt trận Hữu Ngạn do Bộ trực tiếp chỉ huy. Trong khi ta đang chuẩn bị chiến trường ở hữu ngạn thì địch đánh ra Hòa Bình. Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã nhanh chóng chỉ đạo công tác trinh sát nắm địch1 (Bộ Tổng Tư lệnh thành lập 2 đoàn cán bộ đi trinh sát chiến trường trên hai hướng chính Hòa Bình và hướng phối hợp vùng địch hậu. Đến tháng 12 năm 1951, đoàn cán bộ Đại đoàn 308 tiếp tục nắm địch ở tả ngạn sông Đà thay cho đoàn cán bộ Đại đoàn 312 và đoàn cán bộ Đại đoàn 312 chuyển sang nắm địch ở hữu ngạn sông Đà, cán bộ Đại đoàn 304 nắm địch trên Đường số 6) và tiến hành khẩn trương công tác chuẩn bị và bảo đảm chiến dịch. Trong khị các đơn vị tiến hành công tác chuẩn bị, ta vẫn chủ trương vừa làm công tác chuẩn bị vừa tác chiến. Sử dụng Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 đánh địch ở La Phù, Trung đoàn 165 Đại đoàn 312 đánh địch ở Thu Cúc, Lai Đồng (ngày 25 và 26.11.1951), Trung đoàn 48 Đại đoàn 320 đánh địch ở Đồi Sim (25.11.1951). Hội đồng Cung cấp chỉ đạo Ban Cung cấp tiền phương chuẩn bị mọi mặt để chi viện cho chiến trường, nhất là lương thực, thực phẩm ở các địa phương trên địa bàn chiến dịch. Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo nhanh chóng chuyển từ hình thức phản công sang tiến công địch phòng ngự cho phù hợp với trạng thái hiện tại của địch, thực hiện chủ trương thực chiến bằng các trận đánh tao ngộ với địch. Tranh thủ thời gian địch vừa mới chiếm đóng, công sự của chứng còn sơ sài để tiêu diệt sinh lực địch, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng. Đồng thời, khắc phục mọi khó khăn, nhanh chóng hoàn thành công tác chuẩn bị chiến dịch để thực hành đánh tiêu diệt lớn. Để bảo đảm chắc thắng cho chiến dịch, Bộ Tổng Tư lệnh đã kịp thời chỉ đạo sâu sát công tác trinh sát nắm địch, nắm chắc sự thay đổi trạng thái và hình thái bố trí của địch sau khi chuyển vào phòng ngự chiến dịch2 (Từ kết quả trinh sát chiến trường cho thấy: Sau 25 ngày đánh chiếm ra Hòa Bình toàn bô đội hình của địch đã chuyển sang phòng ngự chiến dịch, chúng đã gấp rút củng cố công sự, trận địa tương đối kiên cố, tổ chức phòng ngự thành hai phân khu Chính Phân khu Hòa Bình và Phân khu Sông Đà) với 28 cứ điểm lớn, nhỏ; lực lượng đông và tương đối mạnh, phần lớn là các lực lượng thuộc binh đoàn cơ động có sự chi viện trực tiếp của không quân, pháo binh và xe tăng địch. Sau khi chúng tương đối ổn định công sự trận địa, chúng tung lực lượng thám báo ra sục sạo xung quanh các cứ điểm và tổ chức các cuộc tiến công thăm dò các lực lượng của ta). Sự chỉ đạo kịp thời về chiến lược của Bộ Tổng Tư lệnh đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các đơn vị kịp thời vừa tiến hành công tác chuẩn bị, vừa tổ chức đánh địch theo phương pháp tác chiến mới. Bộ Tổng Tư lệnh tập trung ưu thế lực lượng và phương tiện nhằm đột phá phòng tuyến Sông Đà, đánh bại hoàn toàn ý đồ đánh chiếm Hòa Bình của địch. Để phối hợp với mặt trận chính diện phía trước ở Hòa Bình, ta sử dụng một phần bộ đội chủ lực kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích tiến công địch trên mặt trận phía sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, liên tục tiến công tiêu hao sinh lực địch, giải phóng đất đai, mở rộng vùng giải phóng, làm thay đổi cục diện chiến trường, buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình về cứu vãn cho trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng, sự cứu vãn muộn màng của quân Pháp đã không xoay chuyển được tình thế chiến lược và buộc phải chịu thảm bại trong tác chiến Đông - Xuân 1951 - 1952. Trong Chiến dịch Hòa Bình, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã lựa chọn phương pháp tác chiến chính xác, khéo lựa chọn mục tiêu tiến công, tập trung ưu thế lực lượng, phương tiện tiến công địch. Từ việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo phương châm "đánh điểm, diệt viện" trong Chiến dịch Biên Giới và rút kinh nghiệm kịp thời từ các chiến dịch đầu năm 1951, trong Chiến dịch Hòa Bình, ta không tiến công toàn bộ hệ thống phòng ngự trên cả hai phân liên khu Của địch, mà tập trung lực lượng, phương tiện đột phá trên tuyến Sông Đà, lựa chọn một vài cứ điểm hoặc cụm cứ điểm quan trọng của hệ thống phòng ngự trong hai phân liên khu Của địch để thực hiện "đánh điểm", như: Trận công kiên tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc ở cứ điểm Tu Vũ của Trung đoàn 88 Đại đoàn 308, trận tập kích các cao điểm 400, 600 của Trung đoàn 141 Đại đoàn 312, trận tiến công trận địa pháo địch trong thị xã Hòa Bình của Đại đoàn 308 và Trung đoàn 66 Đại đoàn 304. Khi đã hoàn thành mục tiêu "đánh điểm", ta nhanh chóng chuyển sang thực hiện mục tiêu "diệt viện" bằng các trận đánh địch chi viện đường sông trên phòng tuyến Sông Đà của Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141, tiến công địch chi viện đường bộ ở Gốp Bộp của Trung đoàn 209 Đại đoàn 312... Sự chỉ đạo chiến lược sáng suốt và kịp thời của Bộ Tổng Tư lệnh trong Chiến dịch Hòa Bình đã góp phần thúc đẩy nghệ thuật chiến dịch phát triển nhảy vọt lên một bước mới. Trong đó, nghệ thuật "đánh điểm, diệt viện" có nhiều nét phát triển mới, sáng tạo và tiến bộ hơn trước, mang lại hiệu suất chiến đấu cao. Thành công của chiến dịch đã khẳng định khà năng ưu việt trong tác chiến của bộ đội ta ở địa hình rừng núi. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:41:50 am 4. Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của nghệ thuật kết hợp chặt chẽ giữa mặt trận chính diện phía trước với mặt trận phía sau lưng địch
Sau liên tiếp một số thành công trong tác chiến đầu năm 1951, cùng với những nỗ lực bình định của địch ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, địch cho rằng chúng đã ổn định được vùng hậu phương và đã rảnh tay để có thể sẵn sàng chuyển sang thế chủ động phản công, tiến công các lực lượng của ta ở vùng thượng du hòng giành lại thế chủ động chiến lược. Song, với tầm nhìn chiến lược xa, rộng, nắm chắc và làm chủ tình hình, Trung ương Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng đánh địch trên cả hai mặt trận, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó với các hoạt động tác chiến của ta. Cùng với sử dụng 4 đại đoàn (308, 312, 304 và 351) tiến công địch trên mặt trận chính diện ở Hòa Bình, thành lập Ban Chỉ đạo mặt trận sau lưng địch nhằm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động tác chiến phối hợp với mặt trận chính diện và đưa 2 đại đoàn chủ lực (320 và 316) về vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ cùng với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động tác chiến phối hợp. Tổ chức phát động nhân dân nổi dậy diệt tề, trừ gian, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, tạo ra thế mới, lực mới trong vùng sau lưng địch để phối hợp với chiến trường chính Hòa Bình. Thế đánh địch ở mặt trận chính diện phía trước kết hợp chặt chẽ với thế đánh địch ở mặt trận phía sau lưng địch đã tạo ra thế trận chiến lược xen kẽ, cài răng lược với địch, làm cho địch bị động đối phó, vừa phải lo đối phó với ta ở mặt trận chính diện Hòa Bình, vừa phải lo phòng giữ vùng hậu phương, mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng để giành thắng lợi ở vùng thượng du với phân tán lực lượng giữ vững ở vùng hậu phương đã làm cho quân Pháp mất dần thế chủ động chiến lược. Thắng lợi quan trọng của mặt trận chính diện phía trước của ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển và thu được thắng lợi to lớn ở mặt trận sau lưng địch. Khi mặt trận chính diện tiêu diệt hơn 6.000 tên địch thì ở mặt trận sau lưng địch đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 15.000 tên địch. Sự phối hợp sử dụng lực lượng tiến công địch ở cả hai mặt trận chính diện phía trước và phía sau lưng địch đã đưa Chiến dịch Hòa Bình lên một tầm cao mới, trở thành một cuộc tiến công chiến lược ở quy mô rộng lớn, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Sự phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Hòa Bình đã được cụ thể hóa bằng những thắng lợi to lớn trên cả hai mặt trận của chiến dịch. Tiến công địch trên cả hai mặt trận là nét mới, đặc sắc và sáng tạo về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, khẳng định bước phát triển nhảy vọt của nghệ thuật quân sự Việt Nam. 5. Chiến dịch Hòa Bình khảng định khả năng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật của Quân đội đáp ứng yêu cầu tác chiến quy mô lớn, đánh địch dài ngày Trước Chiến dịch Hòa Bình, ta thường tác chiến trong thời gian ngắn, phạm vi không gian hẹp với quy mô lực lượng nhỏ. Đến Chiến dịch Hòa Bình, cấp chiến lược đặt ra yêu cầu "liên tục chiến đấu" và cố gắng nổ súng càng sớm càng tốt để tận dụng tình trạng còn sơ hở của địch, hạn chế khả năng củng cố và mở rộng chiếm đóng của địch. Để bảo đảm đầy đủ, kịp thời các nhu cầu về hậu cần, kỹ thuật, Tổng Quân ủy chỉ đạo Hội đồng Cung cấp thành lập Ban Cung cấp Tiền phương, gồm 2 ban trên cả 2 hành lang: Một ban cho khu vực Sông Đà và thị xã Hòa Bình, một ban cho Nam thị xã Hòa Bình và Đường số 6; mặt trận sau lưng địch thành lập Ban Cung cấp riêng. Chỉ đạo yêu cầu không sử dụng toàn bộ lực lượng cùng một lúc, mà các đơn vị luân phiên chiến đấu và nghỉ ngơi, thực hiện chấn chỉnh, học tập rút kinh nghiệm khi nghỉ xen kẽ giữa các đợt của chiến dịch để giảm áp lực cho bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Tăng cường chỉ đạo chăm sóc thương, bệnh binh nhằm nhanh chóng phục hồi và duy trì sức chiến đấu lâu dài của bộ đội, liên tục tuyển mộ tân binh, tổ chức huấn luyện trước khi bước vào các đợt tiếp theo của chiến dịch. Đồng thời, Tổng Quân ủy kịp thời động viên chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, đấu tranh khắc phục tư tưởng chủ quan tự mãn, muốn nghỉ ngơi hoặc sợ hy sinh, thương vong, ngại khó khăn gian khổ. Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cũng được chú trọng ngay từ đầu chiến dịch, nhất là về vũ khí trang bị, đạn dược, thuốc quân y, lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm bảo đảm sinh hoạt. Phương thức bảo đảm kết hợp nguồn của trên và nguồn huy động tại chỗ. Chỉ đạo thành lập các tuyến vận chuyển1 (Tuyến ôtô Phú Thọ - Đồn Vàng - Hòa Bình - Nho Quan - Rịa - Kim Tân... sửa chữa 60km đường, làm 44 cầu cho ôtô, làm mới 143km đường, bắc 450 cầu phao... Tuyến thuyền Sông Hồng bảo đảm 1.000 chiếc thuyền lớn, nhỏ tham gia vận tải cung cấp), quá trình vận chuyển kết hợp cả vận chuyển đường sông bằng thuyền và vận chuyển đường bộ bằng ôtô, xe cơ giới và phương tiện thô sơ. Chỉ đạo bảo đảm quân y, cứu chữa thương binh theo phương pháp ba bậc1 (Việc bảo đảm quân y trong chiến dịch được tổ chức phân cấp cứu chữa theo ba bậc thang: Bậc 1, ở đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn làm công tác cấp cứu, chọn lọc chuyển về quân y đại đoàn; bậc 2, quân y đại đoàn làm phẫu thuật xử lý vết thương và chuyển về phân viện hậu phương; bậc 3, các phân viện hậu phương điều trị thương binh cho đến khi lành bệnh), bảo đảm điều trị thương bệnh binh đến khi lành bệnh, đủ điều kiện sức khỏe tiếp tục tham gia chiến đấu. Tổng Quân ủy cũng đã chỉ đạo các đơn vị tham gia chiến dịch quan hệ chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương trên địa bàn tác chiến để huy động nhân, vật lực,... bảo đảm cho chiến dịch tác chiến giành thắng lợi. Nhờ sự chỉ đạo chiến lược nhanh chóng, kịp thời của Trung ưong Đảng và Tổng Quân ủy, cùng với sự tích cực chủ động của Hội đồng Cung cấp và các ban Cung cấp Tiền phương, nên công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật đã đáp ứng tốt yêu cầu tác chiến chiến dịch. Thực tiễn bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong Chiến dịch Hòa Bình đã chứng minh khả năng phát triển vượt bậc của ngành Hậu cần, Kỹ thuật Quân đội, đáp ứng yêu cầu tác chiến quy mô lực lượng lớn với phạm vi không gian rộng, bảo đảm đánh địch dài ngày trong điều kiện chiến đấu ác liệt. Sau gần 80 ngày chiến đấu ác liệt với phạm vi không gian rộng lớn trên cả hai mặt trận, chiến dịch đã giành được thắng lợi to lớn. Phát huy giá trị lịch sử và những bài học kinh nghiệm về những bước phát triển trưởng thành vượt bậc của Quân đội trong Chiến dịch Hòa Bình, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư lường, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tiếp tục nghiên cứu phát triển lý luận về quân sự quốc phòng, nghệ thuật quân sự, khoa học công nghệ và xã hội nhân văn quân sự. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ nhằm xây dựng Quân đội trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0). Để bảo đảm cho quân đội luôn hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, nhất là trong điều kiện chiến tranh hiện đại, đòi hỏi chúng ta phải hiện đại hóa quân đội, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh và cơ động. Trước mắt, toàn quân triển khai thực hiện hiệu quả Đề án tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới (giai đoạn 2020 - 2025), điều chỉnh tổ chức, biên chế tinh, gọn, mạnh; cơ cấu đồng bộ, hợp lý; có giải pháp đột phá thu hút nhân lực chất lượng cao vào Quân đội... Tập trung hoàn thành các mục tiêu, chi tiêu theo Kết luận số 16-KL/TW, ngày 7 tháng 7 năm 2017 và Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1 tháng 8 năm 2017 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tổ chức lực lượng và bảo đảm vũ khí trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; nâng cao chất lượng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo Kết luận số 60-KL/QUTW, ngày 18 tháng 1 năm 2019 của Quân ủy Trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW ngày 20 tháng 12 năm 2012. Tăng cường huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nâng cao trình độ hiệp đồng tác chiến; coi trọng huấn luyện thực hành sát thực tế chiến đấu, huấn luyện thể lực gắn với rèn luyện sức cơ động, diễn tập khu vực phòng thủ các cấp, diễn tập chống khủng bố và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống... Coi trọng phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, từng bước đáp ứng nhu cầu vũ khí, trang thiết bị cho các lực lượng góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh rộng khắp, có số lượng phù hợp, chất lượng tổng hợp ngày càng cao. Phát huy thắng lợi đã đạt được trong thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "từ sớm", "từ xa", hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:42:54 am PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH, XÂY DỰNG TỈNH NHÀ NGÀY CÀNG GIÀU MẠNH Đồng chí NGÔ VĂN TUẤN Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hòa Bình Hòa Bình là tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, có vị trí chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là hướng phòng thủ quan trọng của Quân khu 3 và Thủ đô Hà Nội. Trải qua nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, đến nay, tỉnh Hòa Bình có 10 đơn vị hành chính cấp huyện; 151 đơn vị hành chính cấp xã, dân số trên 86 vạn người với 6 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 64%, dân tộc Kinh chiếm trên 27,73%, còn lại là các dân tộc khác. Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình tự hào có Nhà máy Thủy điện Hòa Bình là công trình trọng điểm của quốc gia, là quê hương có nền "Văn hóa Hòa Bình", là miền đất của sử thi "Đẻ đất, đẻ nước", của những lễ hội giàu bản sắc văn hóa. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Từ khi có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, truyền thống đó tiếp tục được bồi đắp, hội tụ và lan tỏa tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn, là động lực để nhân dân các dân tộc trong tỉnh vượt qua mọi khó khăn, thách thức trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Cách đây 70 năm, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Tổng Quân ủy đã quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp, phá vỡ phòng tuyến sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch Hòa Bình bắt đầu vào ngày 10 tháng 12 năm 1951 và kết thúc ngày 25 tháng 2 năm 1952. Sau hơn hai tháng chiến đấu, ở mặt trận Hòa Bình, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại...; giải phóng 5.000km2 đất đai khu vực Hòa Bình - sông Đà với gần 2 triệu dân1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167); giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Trong thời gian chuẩn bị và diễn ra chiến dịch, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng về "Nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hòa Bình của địch", của Liên khu 3 và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hai lần gửi thư động viên toàn quân, toàn dân ở Mặt trận Hòa Bình, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quyết định nhiều chủ trương, biện pháp để đảm bảo công tác phối hợp với Ban Chỉ huy Mặt trận, phục vụ tốt nhất cho chiến dịch, trọng tâm là: Tăng cường lực lượng dân công, vận chuyển gấp lương thực phục vụ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; đẩy mạnh địch vận, vận động toàn dân đóng góp sức người, sức của và tham gia phục vụ chiến dịch; đẩy mạnh chiến tranh du kích, thi đua giết giặc lập công; phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, giúp đỡ bộ đội chủ lực đánh địch trên các hướng, các địa bàn trong tỉnh... Tỉnh ủy đã phân công 2 đồng chí tỉnh ủy viên chịu trách nhiệm chỉ đạo các mặt hoạt động cụ thể phục vụ chiến dịch. Việc huy động nhân lực được giao cho Ban Dân công tỉnh chịu trách nhiệm. Tỉnh Đoàn thanh niên Cứu quốc đảm đương việc huy động lực lượng thanh niên nam, nữ phục vụ công tác quân y. Tỉnh ủy Hòa Bình đã phát động đợt thi đua "Quân, dân thi đua giết giặc, đẩy mạnh chiến thắng Thu - Đông" trong thời gian diễn ra chiến dịch. Bộ đội địa phương, dân quân du kích đã phối hợp với bộ đội chủ lực tiến hành nhiều trận đánh lớn, nhỏ trên các mặt trận, chặn đứng các hướng tấn công của địch, bắt và tiêu diệt hàng trăm tên, thu giữ, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến đấu như súng ống, đạn dược, bắn chìm 1 tàu và 6 canô, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm, bắn hạ 3 máy bay và phá hủy 4 chiếc tại sân bay Thịnh Lang... Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã huy động sức người, sức của cho chiến dịch với 291 thanh niên lên đường tham gia chiến đấu, hơn 200.000 ngày công phục vụ công tác vận chuyển bộ đội, lương thực, thực phẩm; ủng hộ 523 con trâu, bò, lợn, hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, hàng nghìn cây tre, bương để làm lán trại, hàng trăm bè màng vượt sông, suối... Vừa hết lòng phục vụ chiến đấu, nhân dân vừa tích cực tăng gia sản xuất, hoàn thành thu hoạch vụ mùa, sản xuất. Chiến thắng Hòa Bình là thắng lợi quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần làm thay đổi cục diện trên chiến trường nghiêng về có lợi cho ta, giúp ta có nhiều bài học kinh nghiệm tác chiến trên chiến trường trung du, miền núi. Chiến dịch Hòa Bình là chiến dịch đầu tiên Quân đội ta tiến công vào quân địch trong thế phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm. Trong Chiến dịch Hòa Bình, ta đã có chủ trương đúng và vận dụng tốt 2 phương châm tác chiến chiến dịch: "Đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu". Qua đó, đã thể hiện sự chỉ đạo đúng đắn, tài tình về nghệ thuật quân sự của Đảng ta trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa lực lượng vũ trang của Quân đội ta có bước tiến mới về trình độ kỹ, chiến thuật, về sức mạnh của chiến tranh nhân dân: Chọn chiến trường thích hợp để tiêu diệt địch, đánh vào chỗ sơ hở, nơi hiểm yếu của địch, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các địa bàn, các chiến trường; phối hợp nhuần nhuyễn ba thứ quân, giữa quân và dân,... đồng loạt tiến công liên tục; duy trì được khả năng chiến đấu trong chiến dịch dài ngày trên một chiến trường rộng lớn, phức tạp đã chứng tỏ khả năng phối hợp nhịp nhàng, lối đánh muôn màu, muôn vẻ của bộ đội chủ lưc bộ đội địa phương và dân quân du kích, làm thất bại đòn tiến công chiến lược của địch. Đồng thời, tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho Quân đội ta, tạo đà tiến lên mạnh mẽ hơn. Đây là bước phát triển mới rất quan trọng về nghệ thuật chiến dịch của ta. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:43:27 am Ngày 25 tháng 2 năm 1952, nhân dịp giải phóng tỉnh Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các chiến sĩ Mặt trận Hòa Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương. Trong thư Bác viết: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7 (1951 - 1952), xuất bản lần thứ ba, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 331-332).
Cùng với chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tỉnh Hòa Bình trở thành một trong những hậu cứ vững mạnh của chiến trường Liên khu 3; chi viện sức người, sức của đến mức cao nhất phục vụ chiến trường chung, nhất là Chiến dịch Điện Biên Phủ; đặc biệt là đã bảo vệ thành công đường giao thông có ý nghĩa chiến lược giữa căn cứ địa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4. Quân dân tỉnh Hòa Bình đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân về những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Phát huy truyền thống yêu nước và tinh thần chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình, 70 năm qua dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã vừa lao động sản xuất, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; vừa chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, địa phương giàu mạnh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với tinh thần tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, toàn tỉnh có 11.460 con em các dân tộc nhập ngũ, trong đó có 1.440 gia đình có từ 2 con nhập ngũ trở lên, 15.670 thanh niên xung phong, đóng góp nghĩa vụ cho Nhà nước 162.000 tấn lương thực, 14.336 tấn thực phẩm,... Ở hậu phương lớn, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội phòng không góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, bắn rơi 49 máy bay, bắt sống và tiêu diệt nhiều giặc lái, bảo vệ vững chắc quê hương, trong đó có địa bàn CT229, đóng góp to lớn vào sự nghiệp thống nhất đất nước. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là từ năm 1976 đến năm 1991, mặc dù gặp muôn vàn khó khăn về nhiều mặt, song chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tập trung huy động sức người, sức của, đóng góp, hy sinh to lớn để phục vụ công trình Thủy điện Sông Đà. Tổng diện tích đất đai phục vụ cho công trình là 12.934ha, trong đó có 11,894ha của 24 xã, thị trấn thuộc các huyện: Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Kỳ Sơn, thị xã Hòa Bình đã bị ngập sâu dưới lòng hồ. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã di chuyển 4.596 hộ, 7.987 mồ mả, cùng một khối lượng lớn tài sản, nhà cửa, công trình của nhân dân, của tập thể, Nhà nước phải di chuyển hoặc bỏ lại. Tỉnh Hòa Bình đã thực hiện tốt công tác bảo vệ an ninh, an toàn công trình Thủy điện Sông Đà và hệ thống tải điện 500kV Bắc - Nam, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho 800 chuyên gia Liên Xô và trên 1.000 người thân của họ tại làng chuyên gia trên khu vực công trường. Những nỗ lực, đóng góp, hy sinh to lớn của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình cho công trình Thủy điện Sông Đà "Công trình trọng điểm của quốc gia" là minh chứng sinh động cho tinh thằn "Mình vì mọi người", "Tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc". Từ khi tái lập tỉnh (10.1991) đến nay, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình luôn phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần Chiến thắng Hòa Bình, đoàn kết khắc phục khó khăn và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vục như: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh... Từ chỗ xuất phát điểm thấp, nền kinh tế nghèo nàn, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí còn thấp của những năm đầu tách tỉnh, đến nay, nhân dân các dân tộc tỉnh nhà dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đoàn kết, phấn đấu đạt được nhiều kết quả tích cực. Trong 5 năm (2015 - 2020), kinh tế của tỉnh luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, từng bước khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế để phát triển. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Đến hết năm 2020, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 45,58% (công nghiệp 38,89%), dịch vụ chiếm 29,32%, nông, lâm nghiệp, thủy sản 19,98%, thuế sản phẩm 5,12%. Thu ngân sách Nhà nước bình quân lăng 15,2%/năm. Thu nhập bình quân đầu người (GRDP) đạt 60,3 triệu đồng, gấp 1,6 lần so với năm 2015, cao hơn trung bình khu vực trung du, miền núi phía Bắc, bằng khoảng 92% GDP bình quân đầu người của cả nước. Tổng đầu tư toàn xã hội 17.667 tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 4.116 tỷ đồng, tỷ lệ đô thị hóa đạt 28,69%; tỷ lệ hộ nghèo còn 8,6%,... Từ đầu năm 2020 đến nay, dịch COVTD-19 bùng phát, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Song, với sự chủ động, quyết liệt, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, đến thời điểm này, tỉnh Hòa Bình được đánh giá là một trong những tỉnh phòng, chống dịch bệnh hiệu quả của cả nước. Từ đó, giúp tỉnh thực hiện khá tốt "mục tiêu kép". Trong 9 tháng đầu năm 2021, tăng trưởng kinh tế toàn tinh đạt 8,3%, giá trị xuất khẩu tăng 10,5%. Kết cấu hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư, thành phố Hòa Bình và các thị trấn được đầu tư nâng cấp mở rộng. Khu vực nông thôn có nhiều đổi mới. 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã, phường, thị trấn trong tỉnh có điện lưới quốc gia. Các tuyến đường quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh được cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây mới đã góp phần quan trọng trong lưu thông hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hạ tầng y tế được đầu tư đồng bộ với 2 bệnh viện tuyến tỉnh, 1 bệnh viện đa khoa khu vực và 10 bệnh viện đa khoa huyện, thành phố. Trạm y tế xã, phường, thị trấn đều được xây dựng kiên cố; tỷ lệ bác sĩ đạt trên 8,8/1 vạn dân. Giáo dục và đào tạo không ngừng phát triển, quy mô trường, lớp ngày càng mở rộng khang trang hơn. Năm 1995, Hòa Bình đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học - xóa mù chữ, là tỉnh miền núi thứ 2 và tỉnh thứ 13 trong cả nước đạt chuẩn về công tác này; tháng 12 năm 2003 đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở; tháng 12 năm 2005 đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; tháng 7 năm 2012 đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi. Hòa Bình là tỉnh miền núi đầu tiên và là tỉnh thứ hai trong cả nước được công nhận phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đầu tư. Công nghệ thống tin, viễn thông phát triển vượt bậc, mạng truyền dẫn được cáp quang hóa đến 10 huyện, thành phố, 100% cơ quan Nhà nước cấp tinh, huyện được nối mạng truyền số liệu chuyên dùng và kết nối internet. Tất cả các huyện đã lắp đặt hệ thống truyền hình trực tuyến giao ban đến các xã. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Tư, 2023, 08:43:56 am Tỉnh đã thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia. Nổi bật là Chương trình xây dựng nông thôn mới được các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, người dân và cộng đồng doanh nghiệp chung tay góp sức thực hiện. Đến hết năm 2020, toàn tỉnh có 3 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (thành phố Hòa Bình, các huyện Lương Sơn, Lạc Thủy); 58/131 xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, trong đó có 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.
Trong lĩnh vục quốc phòng, an ninh, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương; thực hiện xây dựng, củng cố khu vực phòng thủ; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, "thế trận lòng dân" vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; đồng thời tăng cường các biện pháp phòng ngừa đấu tranh chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; duy trì và mở rộng các hoạt động đối ngoại. Qua đó, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, góp phần quan trọng tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng, quan tâm thực hiện trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và có nhiều đổi mới, đạt nhiều kết quả tích cực. Đặc biệt, tỉnh Hòa Bình luôn quan tâm xây dựng bộ máy chính quyền các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Những năm gần đây, Hòa Bình là một trong những địa phương đi đầu trong việc thí điểm điều chỉnh sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, huyện của cả nước,.... Những thành tựu quan trọng đó đánh dấu bước phát triển mới, tạo đà vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Ghi nhận những đóng góp, những chiến công to lớn của tỉnh trong kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước đã trao tặng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Quân công và Huân chương Độc lập hạng Nhất; nhiều Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba. Hàng chục tập thể, cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; 248 bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 31 gia đình liệt sĩ được trao tặng Huân chương Độc lập... Tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng và tinh thần chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình, trong những năm tới, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh nhà quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025: "Phấn đấu đến năm 2025, kinh tế tỉnh Hòa Bình đạt mức trung bình của cả nước; đến năm 2030 trở thành tỉnh phát triển, thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ và đến năm 2050 trở thành tỉnh phát triển của cả nước". Để hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết đề ra, Đảng bộ, chính quyền đang tập trung lãnh đạo thực hiện có hiệu quả 4 đột phá chiến lược: Một là, thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch theo quy định của pháp luật. Hai là, hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư. Ba là, phát triển nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động. Bốn là, phát triển kết cấu hạ tầng, tăng cường huy động mọi nguồn lực để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; trong đó tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết. Với những thành tích đã đạt được, chúng ta càng ý thức sâu sắc hơn về trọng trách to lớn của mình trước các yêu cầu, nhiệm vụ mới. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng khó khăn, phức tạp. Tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Các thế lực thù địch, phản động không ngừng tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thách thức, khó khăn luôn đi đôi với những thuận lợi. Trước những vận hội mới, cơ hội mới chúng ta càng thấm nhuần những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc vận dụng phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Hòa Bình, tự hào ôn lại những chiến công chói lọi và phát huy tinh thần, ý nghĩa lịch sử chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình quyết tâm vươn lên mạnh mẽ, nỗ lực cao hơn, tạo sức bật mới để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:29:58 am CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Đầu tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp mở cuộc hành binh đánh chiếm thị xã Hòa Bình và vùng phụ cận nhằm bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặt đứt đường giao thông giữa căn cứ địa Việt Bắc với Nam Liên khu 3 và vùng tự do Liên khu 4. Đờ Lát (De Lattre) - Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ thu hút bộ đội chủ lực của ta đến tiêu diệt; thắng lợi của cuộc tiến quân sẽ giành lại quyền chủ động trên chiến trường, xoay chuyển tình thế có lợi cho Pháp, nhận thêm sự viện trợ từ Anh, Mỹ. Trước âm mưu của địch, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp thuận đề xuất của Tổng Quân ủy, quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, với nhận định: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh và thắng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 55). Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta đã huy động lực lượng lớn bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch. Các đại đoàn 304, 308, 312 cùng Đại đoàn công pháo 351 có nhiệm vụ đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình - Sông Đà; Đại đoàn 316 tiến công địch ở trung du Bắc Bộ; Đại đoàn 320 tiến sâu vào đồng bằng Bắc Bộ, cùng Trung đoàn 42, Trung đoàn 46 (chủ lực Liên khu 3) phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích đánh tiêu diệt địch đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích; các đơn vị chủ lực của Bình - Trị - Thiên đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên địa bàn. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn, qua 3 đợt chiến đấu trong suốt 78 ngày đêm. Trên mặt trận chính diện, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng hơn 1.000km2 và 2 vạn dân, diệt 6.012 tên địch, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 17 canô, phá hủy 246 xe quân sự. Trên mặt trận trung du và đồng bằng Liên khu 3, bộ đội chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, kết hợp tác chiến với phá tề, trừ gian, loại khỏi vòng chiến đấu 15.237 tên địch, phá hơn 1.000 đồn bốt, thu 6.126 súng các loại, giải phóng 4.000km2 với hơn 1 triệu dân1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2000, tr. 379); phát triển sâu rộng chiến tranh du kích, khôi phục và mở rộng căn cứ du kích, khu du kích cả những địa bàn ở sâu trong vùng địch tạm chiếm. Âm mưu giành lại quyền chủ động của thực dân Pháp đã thất bại hoàn toàn, đây là thắng lợi "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ"2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 -2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó hoạt động công tác đảng, công tác chính trị là một trong những yếu tố quan trọng, để lại những kinh nghiệm sâu sắc cho sự nghiệp đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là: Một là, lãnh đạo tư tưởng, động viên chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ Tiến hành Chiến dịch Hòa Bình trong bối cảnh sau 4 chiến dịch (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt) và 1 tháng hoạt động du kích không đạt kết quả như dự kiến, "Chúng ta chưa giành được ưu thế quân sự, chưa phá được phòng tuyến của địch, chưa thay đổi được tình thể ở đồng bằng Bắc Bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, 1951, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 573); trong khi thực dân Pháp và tay sai ra sức đẩy mạnh chiến tranh tổng lực, càn quét bình định hết sức quyết liệt hòng biến vùng tạm chiếm và vùng du kích trở thành hậu phương vững chắc của chúng. Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy xác định: "Năm vững và kịp thời lãnh đạo tư tưởng bộ đội, làm cho toàn quân nhận rõ cơ hội thuận lợi và nhiệm vụ quan trọng lần này để nâng cao quyết tâm chiến đấu"2 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiêm trong các chiến dịch lớn, tập 1, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản 1963, tr. 26 - 27). Thực hiện chủ trương này, công tác lãnh đạo tư tưởng, động viên chính trị đã tập trung quán triệt, giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc nhiệm vụ chiến dịch, củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc ý định của cấp trên ý nghĩa của chiến dịch; nhận định đúng đắn địch, ta, thuận lợi, khó khăn, phương châm tác chiến..., qua đó phát huy tinh thần khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, củng cố niềm tin vào thắng lợi của chiến dịch. Thành công của các trận đánh Tu Vũ, Đồi Mồi, Điểm cao 600... là do làm tốt công tác quán triệt, giáo dục nên đã chuẩn bị tốt tư tưởng cho bộ đội, tinh thần quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng, sự chủ động, linh hoạt của bộ đội được nâng lên, tạo nên sức mạnh to lớn trong quá trình thực hành tác chiến, trở thành yếu tố căn bản của mọi thắng lợi, của từng trận đánh để đưa chiến dịch đi đến thắng lợi. Hiện nay, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt trước sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, đã tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quân sự, quốc phòng. Nếu chiến tranh xảy ra, địch sẽ triệt để sử dụng vũ khí công nghệ cao với tính chất hủy diệt ngày càng lớn. Điều đó tác động không nhỏ đến tư tưởng của bộ đội; đặt ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu để xây dựng và phát huy các nhân tố: Chính trị - tinh thần; ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Từ kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nắm vững chỉ dẫn của V.I. Lênin: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (V.I. Lênin, Toàn tập, Tháng Năm - Tháng Mười một 1920, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 147). Luôn quán triệt và thực hiện nghiêm đường lối, chiến lược của Đảng về quân sự, quốc phòng, nhất là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết của Quân ủy Trung ương. Bám sát tình hình nhiệm vụ, thực tiễn đơn vị để tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, giúp họ nhận diện đúng bản chất mối quan hệ giữa đối tượng, đối tác, phát huy sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam, vũ khí, trang bị hiện có,... xây dựng phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Toàn quân thực hiện nghiêm Đề án "Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới" của Bộ Quốc phòng và Quy chế "Giáo dục chính trị trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam" (ban hành kèm theo Quyết định số 438/QĐ-CT ngày 21 tháng 3 năm 2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; chú trọng tuyên truyền, giáo dục nhiệm vụ của đơn vị, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; từ đó xác định mục đích, động cơ, thái độ, ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, khắc phục khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, nhất là chống quan điểm sai trái, thù địch và âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" Quân đội của các thế lực thù địch; không mơ hồ, mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến, tự chuyển hóa" trong nội bộ, tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng trong từng cơ quan, đơn vị và toàn quân; xây dựng ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:36:16 am Hai là, thực hành dân chủ quân sự rộng rãi, khơi dậy và phát huy tinh thần tự giác phấn đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ
Trong Chiến dịch Hòa Bình, thông qua phát huy dân chủ quân sự đã làm cho từng cán bộ, chiến sĩ nhận thấy niềm vinh dự, tự hào được tham gia chiến đấu; hiểu rõ nhiệm vụ, tác dụng và ý nghĩa lớn lao của chiến dịch, khiến mọi người nêu cao ý chí, vượt qua khó khăn, không ngại gian khổ, kiên quyết làm tròn nhiệm vụ. Phát huy dân chủ quân sự đã hình thành nên những phong trào thi đua giết giặc, lập công, thi hành chính sách... và giúp đỡ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Thông qua việc mở rộng dân chủ quân sự đã phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tài năng, sáng kiến của quần chúng, nêu cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, dám chịu trách nhiệm, chủ động tự giải quyết lấy những khó khăn, vướng mắc, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng. Điển hình của công tác này là ở Đại đội 41, Tiểu đoàn 84 (Trung đoàn 36, Đại đoàn 308) khi nhận nhiệm vụ luồn sâu, bí mật đột nhập tiêu diệt trận địa pháo địch ở khu Kiểm Lâm, nhiều cán bộ, chiến sĩ lo lắng khó giữ bí mật khi phải vào sâu hậu cứ địch trong điều kiện trăng sáng, vượt qua ruộng lầy; lại phải đối phó với lực lượng bảo vệ pháo của địch mạnh và những khó khăn về đảm bảo thông tin liên lạc, giải quyết thương binh, cũng như bộ đội chưa biết khẩu pháo của địch ra sao,... Để giải quyết những băn khoăn trên, Đảng ủy Trung đoàn 36 đã triệu tập hội nghị, tập trung thảo luận về những khó khăn, về tình hình tư tưởng bộ đội, về kế hoạch lãnh đạo mọi mặt và lấy tinh thần xung phong thực hiện nhiệm vụ. Do phát huy được dân chủ quân sự, nhiều sáng kiến của tập thể được đưa ra để khắc phục khó khăn một cách tỷ mỷ và sát thực tế; đơn vị đã tìm được cách đặt bàn chân xuống ruộng lầy và rút lên không gây tiếng động, cách ngụy trang bằng rơm để dễ lẫn vào ruộng dưới ánh trăng, cách cắt dây thóp gai vẫn không phát ra âm thanh, cách tiến quân bí mật,... Đơn vị đã tổ chức cho bộ đội quan sát pháo của ta để nắm được hình thù khẩu pháo 105mm. Vấn đề thông tin được huấn luyện đi vào những kỹ thuật tỷ mỷ nhất, đảm bảo tuyệt đối an toàn, bí mật. Vấn đề tải thương được giải quyết bằng cách tự các tổ 3 người sẽ kiểm soát và giải quyết,... Những thắc mắc trong tư tưởng được dân chủ thảo luận và giải quyết nên bộ đội thống nhất về hành động, phấn khởi và tự tin bước vào trận đánh, giành được thắng lợi, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm, diệt 20 tên địch, bắt tên đại úy chỉ huy1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 101). Tiếng nổ bộc phá của Đại đội là hiệu lệnh cho các đơn vị tiến công tiêu diệt các vị trí của địch ở ngoại vi thị xã, cũng là mở màn cho đợt 3 của chiến dịch. Dân chủ quân sự chính là thực hiện đường lối quần chúng trong công tác quân sự, là sự vận dụng một cách cụ thể phương pháp lãnh đạo "từ trong quần chúng mà ra lại trở về quần chúng"2 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 123) trong Quân đội, là tập trung và phát huy tài năng của quân chúng để bổ sung cho những hạn chế của lãnh đạo. Đó là phương pháp tốt nhất để nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm cho cán bộ, chiến sĩ thống nhất tư tưởng và hành động. Từ kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải luôn nhận thức đúng tầm quan trọng của việc phát huy và mở rộng dân chủ; tiếp tục thực hiện nghiêm Kết luận số 120-KL/TW ngày 7 tháng 1 năm 2016 của Bộ Chính trị (khóa XI) về "Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở"; Chỉ thị số 590-CT/©UQSTW ngày 4 tháng 10 năm 2010 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) và Hướng dẫn số 1575/HD-CT ngày 15 tháng 10 năm 2010 của Tổng cục Chính trị về "Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong Quân đội"- "Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở. Chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 51), để cho mọi cán bộ, chiến sĩ vừa là chủ và vừa làm chủ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Quân đội; được đóng góp ý kiến vào chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước, vào nhiệm vụ chính trị của Quân đội, vào sự lãnh đạo của Đảng ở đơn vị, được phê bình cán bộ, đảng viên, được quyền phát biểu về mọi vấn đề trong đơn vị; được bảo đảm thông tin về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được thực hiện quyền công dân của mình tham gia vào sinh hoạt chính trị của xã hội; được tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến vào đường lối của Đảng; tham gia ý kiến vào các chương trình, kế hoạch, biện pháp bảo đảm cho huấn luyện đạt kết quá tốt. Đảm bảo dân chủ quân sự luôn phát huy được tinh tích cực, chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm trong chiến đấu, học tập, công tác và sản xuất, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Phát huy dân chủ là cơ sở tạo sự đồng thuận, đoàn kết, ký luật trong nội bộ cơ quan, đơn vị, tăng cường, củng cố vững chắc niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp được thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:38:19 am Ba là, làm tốt công tác dân vận, động viên quần chúng nhân dân tham gia chiến dịch
Chiến dịch Hòa Bình diễn ra trên địa bàn rộng, có nhiều dân tộc, với nhiều đối tượng quần chúng; do vậy, công tác dân vận được quán triệt hết sức sâu sắc, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi. Thực hiện chỉ đạo của Tổng Quân ủy "Có kế hoạch tuyên truyền kịp thời để động viên tinh thần quân dân và phản tuyên truyền địch. Giúp đỡ địa phương giữ vững cơ sở nhân dân, chú ý giúp cơ quan cung cấp"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 27), cấp ủy, chỉ huy các cấp đã quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc phương châm tranh thủ quảng đại quần chúng nhân dân. Khi liên hệ với nhân dân phải có ý kiến của địa phương và do cán bộ địa phương giúp đỡ; tuyệt đối không được cưỡng bức nhân dân buôn bán hay phục vụ bộ đội; tránh tất cả những phiền hà cho nhân dân, dù là nhỏ nhất; giúp đỡ nhân dân đề phòng địch đánh phá cũng như tăng gia sản xuất. Phải tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số, ra sức thuyết phục các đối tượng lang đạo. Đối với dân công, cấp ủy, chỉ huy các cấp được yêu cầu sử dụng dân công đảm bảo hết sức tiết kiệm và hợp lý, đỡ gánh nặng cho nhân dân và đáp ứng cho kế hoạch tác chiến lâu dài. Chỉ sử dụng dân công vào vận chuyển phục vụ chiến đấu, giải quyết các vấn đề liên quan đến chiến trường. Kịp thời chấn chỉnh những hành động đối xử không đúng đối với dân công. Chăm sóc, giúp đỡ nhân dân trong việc tiếp tế, ăn ở, bảo vệ an toàn cho dân công; cử cán bộ có năng lực công tác chính trị phụ trách dân công, phối hợp chặt chẽ với cán bộ địa phương của các đội dân công trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Nhờ làm tốt công tác dân vận nên trong Chiến dịch Hòa Bình, thế trận chiến tranh nhân dân được phát huy cao độ với sự tham gia rộng rãi của nhân dân. Đồng bào từ miền núi đến đồng bằng đang bị địch chiếm đều hết sức, hết lòng phục vụ chiến đấu, cưu mang bộ đội. Trên cả hướng chính diện và sau lưng địch, đồng bào đã cung cấp cho bộ đội hơn 6.000 tấn gạo, 70 tấn muối, 70 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác; điều trị phục vụ 6.390 thương binh, huy động 333.200 dân công với 11.914.000 ngày công1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập V, phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 467). Kết quả trên có ý nghĩa quan trọng đối với thắng lợi của chiến dịch. Công tác dân vận là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cấp ủy, chỉ huy các cấp, các cơ quan, đơn vị và mọi quân nhân, công nhân, viên chức, lao động quốc phòng. Từ kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "không có dân thì không có bộ đội"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 219); "nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 485). Luôn quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về "Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới"; Kết luận số 114-KL/TW ngày 14 tháng 7 năm 2015 của Ban Bí thư (khóa XT) về "Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của cơ quan nhà nước các cấp"; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Ban Bí thư (khóa XI) về "Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số"; Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10 tháng 1 năm 2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về "Công tác tôn giáo trong tình hình mới"... Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua, cuộc vận động, xây dựng nhiều mô hình, điển hình "Dân vận khéo" trong từng lĩnh vực. Quân đội thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động, sản xuất; phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", luôn là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, "thế trận lòng dân" vững chắc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định đe phát triển đất nước. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:39:30 am Bốn là, công tác đảng, công tác chính trị phải được tiến hành thường xuyên, chủ động, nhạy bén, linh hoạt, bám sát thực tế chiến dịch, chiến đấu
Trong suốt chiến dịch, công tác đảng, công tác chính trị đã phát huy vai trò đảm bảo cho chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, của Tổng Quân ủy đến với cán bộ, đảng viên, quần chúng và biến chủ trương, đường lối, chính sách thành sức mạnh; biến quyết tâm của Trung ương Đảng, của Tổng Quân ủy thành quyết tâm của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Để đạt được thành công đó, công tác đảng, công tác chính trị luôn kịp thời bám sát diễn biến của chiến dịch, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh, động viên bộ đội, phát huy ý chí chiến đấu, mưu trí, dũng cảm hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu biểu ở trận tiến công cứ điểm Tu Vũ, khi địch chống cự quyết liệt lại được pháo binh yểm trợ tối đa nên bộ đội thương vong nhiều, sau nhiều đợt xung phong vẫn chưa dứt điểm được mục tiêu. Trước tình thế đã gần sáng, cơ số đạn và thuốc nổ dùng trong trận đánh không còn nhiều, quân số bị hao hụt, nhưng yêu cầu phải quyết thắng trận mở màn; để khắc phục khó khăn, tập trung binh lực tiêu diệt bằng được cứ điểm Tu Vũ, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) hội ý gấp, tìm biện pháp tiến công có hiệu quả nhất, động viên cán bộ và đảng viên nêu gương dũng cảm quyết đánh, quyết thắng trận đầu, tạo thế cho chiến dịch. Quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 được các đơn vị trực thuộc và phối thuộc (cả bộ binh, pháo binh và phòng không) thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng xốc lại lực lượng, tập trung sức mạnh đột phá thành công, làm chủ toàn bộ cứ điểm Tu Vũ khi trời rạng sáng, kết thúc trận đánh kéo dài tới gần 6 tiếng đồng hồ. Việc xử trí tình huống chiến đấu phức tạp ở trận Tu Vũ đã được đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch đánh giá là "kinh điển về công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việl Nam (1944 - 2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 245). Cùng với bám sát từng trận đánh, trước khi bước vào đạt chiến đấu mới, Cơ quan Chính trị Chiến dịch đã ban hành chỉ thị về công tác đảng, công tác chính trị. Để chuẩn bị cho đợt 2 của chiến dịch, ngày 16 tháng 12 năm 1951, Cơ quan Chính trị Chiến dịch ra Chỉ thị "Công tác chính trị đợt 2", nêu rõ 7 vấn đề phải lãnh đạo, đảm bảo thực hiện thắng lợi. Trong đó, nhấn mạnh việc phải làm cho cán bộ, chiến sĩ thấu triệt những nhận định về thắng lợi, tình hình và nhiệm vụ; phát động học tập Thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng; làm tốt việc chuẩn bị tư tưởng, động viên tinh thần phấn khới thi đua lập công đối với cán bộ, chiến sĩ; kiên định ý chí chiến đấu trong mọi hoàn cành khó khăn, phức tạp; kiên quyết khắc phục vượt mọi khó khăn; liên tục chiến đấu, vừa đánh vừa kịp thời củng cố để phát huy sức mạnh, giành thắng lợi. Chú trọng công tác binh vận, dân vận; nắm vững chính sách đối với hàng binh, tù binh. Đảm bảo giữ bí mật, phòng gian, đề cao cảnh giác... Trong suốt quá trình chiến đấu, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị các cấp đã thường xuyên xem xét trạng thái tinh thần, dũng khí và quyết tâm chiến đấu của bộ đội để tiến hành công tác tư tưởng, cổ động chiến trường, động viên cán bộ, chiến sĩ đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ. Phương pháp tiến hành đa dạng, phong phú, hết sức linh động; tày theo điều kiện chiến đấu, thời gian và hoàn cảnh, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị được thực hiện thông qua các hình thức, như: Sinh hoạt tập thể hoặc nói chuyện riêng, khuyến khích tự phê bình và phê bình, giáo dục, động viên tư tưởng, thông báo tin chiến thắng kịp thời, các phong trào thi đua..., qua đó xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm chiến đấu vững chắc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Vận dụng kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, trong giai đoạn hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải luôn bám sát mọi mặt đời sống xã hội và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ Quân đội, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng; nâng cao giác ngộ, lập trường, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tình hình kinh tế, chính trị, quân sự thế giới, khu vực, trong nước, nhất là sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đều tác động đến nhận thức, tư tưởng của bộ đội, làm nảy sinh cả những tư tưởng tích cực và tiêu cực, đòi hỏi công tác đảng, công tác chính trị phải bám sát đời sống xã hội, thực tiễn trong Quân đội thì mới có sức sống, tính thuyết phục. Trên cơ sở đó, đề xuất các chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát, đúng, kịp thời định hướng, cổ vũ và phát triển nhân tố tích cực, hạn chế tác động tiêu cực, ngăn chặn và loại bỏ những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, ý chí quyết tâm của bộ đội và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng thời, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị phải không ngừng đổi mới, trước hết là sự đổi mới tư duy của cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp, tiếp đến đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm nội dung thiết thực, phù hợp đối tượng; có nhiều hình thức phong phú, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, cập nhật, tiếp thu có chọn lọc những trào lưu, xu thế mới của xã hội, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, mang lại hiệu quả thực chất trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã củng cố niềm tin với chiến tranh toàn dân, dù lực lượng vũ trang ta còn có hạn, ta vẫn có thể giành quyền chủ động trên chiến trường chính để đi tới chiến thắng. Thắng lợi quan trọng đó đã để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc về tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, phù hợp, phát huy tốt vai trò công tác đảng, công tác chính trị, để cho công tác này thực sự là "linh hồn, mạch sống" của Quân đội ta. Qua đó, góp phần thực hiện thành công chủ trương "xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của loàn quân" đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:43:52 am 70 NĂM NHÌN LẠI THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thiếu tướng, TS NGUYỄN HOÀNG NHIÊN Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam 70 năm trước đây, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trang ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta tiến hành Chiến dịch tiến công Hòa Bình, giành thắng lợi vang dội. Chiến thắng Hòa Bình là một sự kiện quan trọng trong tiến trình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trực tiếp đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình, làm phá sản âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ của thực dân Pháp. Chiến thắng đó còn là minh chứng sống động cho sức mạnh đoàn kết dân tộc, ý chí quyết tâm của quân và dân ta ở cả mặt trận chính và mặt trận sau lưng địch. Với độ lùi thời gian, cùng nguồn tư liệu phong phú, chúng ta có điều kiện để nhìn nhận rõ hơn, sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng Hòa Bình, được thể hiện trên những luận điểm chủ yếu sau: 1. Chiến thắng Hòa Bình thể hiện tư duy chỉ đạo chiến lược, chiến dịch nhạy bén, sáng tạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Từ sau thất bại ở biên giới Việt - Trung năm 1950, thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch Đờ Lát, cố gắng giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, ra sức phát triển quân đội "Quốc gia Việt Nam", tập trung xây đựng lực lượng cơ động, tổ chức phòng tuyến quân sự kiểu mới, đẩy mạnh chương trình bình định vùng tạm chiếm. Trong khi đó, quân và dân ta vẫn nắm quyền chủ động, liên tiếp tiến hành 4 chiến dịch tiến công (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt), gây nhiều khó khăn, lúng túng cho địch. Trước tình hình đó, thực dân Pháp buộc phải thực hiện các biện pháp nhằm giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp quyết định tập trung lực lượng đánh chiếm Hòa Bình. Trên cơ sở nắm chắc và đánh giá đúng âm mưu, ý đồ chiến lược của địch, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, nhận định: Với cuộc tiến công ra Hòa Bình, địch đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, cố gắng giành lại quyền chủ động, gây cho ta những khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế. Nhưng chúng phải dùng một bộ phận cơ động để mở rộng phạm vi chiếm đóng khiến cho chiến tranh du kích ở đồng bằng có điều kiện phát triển. Đồng thời, địch phải phân tán lực lượng trên chiến trường rừng núi, công sự mới xây dựng chưa được vững chắc. Đó là cơ hội để ta tiêu diệt chúng1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 48-49, 55). Tổng Quân ủy đề nghị Bộ Chính trị chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chuẩn bị chiến trường,... Nhất trí với nhận định và đề nghị của Tổng Quân ủy, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh và thắng"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 48-49, 55). Từ nhận định và quyết tâm chiến lược trên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương tranh thủ thời cơ tổ chức chiến dịch phản công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị nhận thấy quân và dân ta chưa đủ khả năng tổ chức chiến dịch phản công, nên sau khi địch tổ chức phòng ngự tương đối hoàn chỉnh, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thay đổi hình thức tác chiến từ phản công sang tiến công. Đó là quyết định thể hiện sự nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo, theo sát diễn biến thực tế chiến trường, phù hợp với thực lực của quân và dân ta. Đồng thời, với quyết định thay đổi hình thức tác chiến, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công lớn, một mặt tập trung lực lượng chủ lực đánh địch ở hướng chính là Hòa Bình; mặt khác, đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng sau lưng địch, chủ yếu là trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Như vậy, kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất gồm 2 hướng: Mặt trận Hòa Bình (mặt trận chính diện) và Mặt trận trung du và đồng bằng Bắc Bộ (mặt trận sau lưng địch), buộc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải phân tán lực lượng, tiến tới lúng túng, bị động đối phó. Thực tiễn đã chứng minh Chiến dịch Hòa Bình diễn ra theo phương thức tiến công bao gồm Chiến dịch tiến công Hòa Bình của bộ đội chủ lực trên địa bàn Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6 và các đợt tác chiến của cả lực lượng chủ lực, lực lượng chính trị và đông đảo quần chúng trên địa bàn trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Trong kế hoạch tác chiến trên, Mặt trận Hòa Bình đóng vai trò quyết định, thu hút, giam chân, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, tạo điều kiện cho mặt trận sau lưng địch đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ thời cơ để phát triển thế và lực. Ngược lại, hoạt động quân sự hiệu quả ở trung đu và đồng bằng Bắc Bộ buộc quân Pháp phải cơ động lực lượng từ Hòa Bình về giải tỏa. Điều này thể hiện trí tuệ quân sự sáng suốt, quyết đoán của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong tổ chức và điều hành chiến tranh, khoét sâu sơ hở của địch để tạo lợi thế cho ta, chớp thời cơ giành quyền chủ động trên chiến trường. Thực hiện chủ trương trên, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy quyết định thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình, gồm: Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái giữ chức Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính diện, gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351; tại mặt trận sau lưng địch, có 2 đại đoàn bộ binh 316, 320. Tại Mặt trận Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các đơn vị: 2 đại đoàn 308,312 tiến công trên hướng chủ yếu, phá vỡ phòng tuyến Sông Đà của địch; Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch, kiềm chế địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Trên mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho 2 đại đoàn 316 và 320 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương chủ động, tích cực tiêu diệt địch, phá tề, trừ gian, chống phá chương trình bình định của địch, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Trải qua hơn hai tháng chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn. Kết quả, ta không chỉ đánh thiệt hại nặng các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược của địch mà còn phá được thế kìm kẹp của địch ở vùng tạm bị chiếm, đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược của địch. Tại mặt trận chính diện, ta đánh bại ý đồ chiếm đóng Hòa Bình và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp, làm chủ hoàn toàn khu vực phía Tây đồng bằng Bắc Bộ. Ở mặt trận sau lưng địch, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu 6.000 súng các loại1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1 : Lịch sử quân Sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167), căn cứ du kích được mở rộng, tạo thành thế liên hoàn. Như vậy, Chiến thắng Hòa Bình thể hiện tư duy, bản lĩnh của Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo chiến lược, chiến dịch, kịp thời điều chỉnh kế hoạch tác chiến phù hợp với diễn biến thực tế trên chiến trường và thực lực của quân và dân ta. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch, quân và dân ta ở cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch đã đánh bại âm mưu, thủ đoạn quân sự của thực dân Pháp, giành thắng lợi vang dội trong Chiến dịch Hòa Bình. Nói cách khác, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh là nhân tố tiên quyết quyết định thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:44:39 am 2. Chiến thắng Hòa Bình là kết quả của tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm giành thắng lợi của quân và dân ta
Trước khi Chiến dịch Hòa Bình diễn ra, quân và dân ta đã liên tiếp tiến hành 4 chiến dịch tiến công, tuy giành được một số thắng lợi nhưng không đạt mục tiêu chiến lược đề ra. Tại vùng địch tạm chiếm, nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở chính trị vũ trang địa phương bị phá vỡ, vùng tự do bị thu hẹp. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến ý chí, quyết tâm của quân và dân ta. Trước tình hình đó, khi quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Trung ương kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta hạ quyết tâm: Tranh thủ thời gian, tập trung tinh thần, sức lực, coi đây là cơ hội hiếm có để phát huy sáng kiến..., đánh bại âm mưu quân sự của thực dân Pháp. Thực hiện quyết tâm đó, tại mặt trận chính diện, Bộ Chỉ huy Chiến dịch tập trung lực lượng, gồm lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động gồm các đại đoàn chủ lực mạnh, được biên chế đầy đủ các đơn vị binh chủng: Pháo binh, phòng không, công binh, thông tin... Lực lượng tại chỗ đã huy động hàng chục nghìn dân công phục vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đạn dược tham gia phục vụ chiến dịch. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Kết thúc Hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra "Huấn lệnh" kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của dịch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 73). Cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận chính diện Hòa Bình đã phát huy tinh thần khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm giành thắng lợi. Nhiều đơn vị, cá nhân đã sáng tạo ra cách đánh hay, hiệu quả, hoàn thành và lập nhiều chiến công xuất sắc. Ở mặt trận sau lưng địch, bộ đội chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng loạt cứ điểm của địch, giải tán chính quyền do Pháp lập lên, mở rộng căn cứ du kích và khu du kích, khiến cho vùng tạm chiếm của thực dân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ bị thu hẹp, kế hoạch bình định của thực dân Pháp bị phá sản. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân dân các địa phương tham gia giúp đỡ, ủng hộ chiến đấu, góp phần quan trọng vào công tác bảo đảm cho chiến dịch. Tại mặt trận chính diện, dù không được chuẩn bị trước, nhưng nhân dân các tỉnh Phú Thọ, Sơn Tây, Hòa Bình đã ủng hộ hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm cùng hàng nghìn vật dụng, đồ dùng sinh hoạt. Nhân dân nhiều địa phương hăng hái tham gia vận tải lương thực, đạn dược, làm đường, bảo đảm chiến đấu. Ở vùng sau lưng địch thuộc trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhân dân các thôn, xã xay thóc, giã gạo, góp tre, gỗ làm cầu, thuyền, sẵn sàng tham gia nổi dậy phá tề, trừ gian... Tính chung trong Chiến dịch Hòa Bình, nhân dân ở cả hai mặt trận đã cung cấp 6.275 tấn gạo, 70 tấn muối, 70 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác, số người tham gia dân công lên tới 333.200 lượt người với 11.914.000 ngày công1 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 161). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành chiến dịch của Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã nêu cao quyết tâm, đoàn kết chiến đấu, đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp, đồng thời giành thắng lợi quan trọng tại mặt trận sau lưng địch. Sự tham gia tích cực, hiệu quả của quần chúng nhân dân vào công tác chuẩn bị chiến đấu, phục vụ chiến đấu và chiến đấu ở cả mặt trận chính diện và sau lưng địch góp phần củng cố và thúc đẩy chiến tranh nhân dân phát triển một bước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. "Chiến thắng Hòa Bình đã củng cố niềm tin: Với chiến tranh toàn dân, dù lực lượng vũ trang ta còn hạn chế, ta vẫn có thể giành quyền chủ động trên chiến trường chính để đi tới chiến thắng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 805). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:45:43 am 3. Chiến thắng Hòa Bình đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu". Ý định của Bộ Chỉ huy Chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện", kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân địch đi càn quét sục sạo, buộc chúng phải co vào các vị trí dã chiến, đánh tiêu diệt quân nhảy dù hoặc ứng cứu giải tỏa. Xây dựng kế hoạch tác chiến, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định thời gian tác chiến chiến dịch có thể kéo dài từ 2 đến 3 tháng, chia thành nhiều đợt chiến đấu, trên nhiều khu vực với những yêu cầu cụ thể khác nhau. Kết quả của đợt 1 sẽ quyết định các bước tiếp theo. Vì vậy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ tác chiến đợt 1, tạo điều kiện thuận lợi phát triển những đợt sau của Chiến dịch. Thực tiễn trong suốt cả 3 đợt của Chiến dịch Hòa Bình, phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" đã được Bộ Chỉ huy Chiến dịch vận dụng triệt để, hiệu quả, góp phần quan trọng vào thành công của chiến dịch. Đây cũng chính là hai đặc điểm đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch, phản ảnh tài năng quân sự sắc sảo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong quá trình tổ chức và điều hành chiến dịch. Nét độc đáo và sự phát triển về nghệ thuật quân sự trong Chiến dịch Hòa Bình còn thể hiện ở nghệ thuật đánh trận then chốt. Đây là lần đầu tiên Quân đội ta đánh trận then chốt mở đầu vào cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng ngự của địch, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở đường giao thông vận chuyển chiến dịch, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Trên cơ sở nghiên cứu chiến trường, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chọn tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là trận then chốt mở đầu trong đợt 1. Tu Vũ là cứ điểm án ngữ trên trục đường liên tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, cách thị xã Hòa Bình 30km về phía Bắc, nằm sát bờ Tây của sông Đà. Cứ điểm này có vị trí đặc biệt quan trọng trong Phân khu sông Đà - Ba Vì, do Tiểu đoàn lê dương 1 thuộc Trung đoàn Marốc 2 đảm nhiệm phòng ngự, được phối thuộc 1 đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 6, 1 trung đội thiết giáp. Địch ở Tu Vũ bảo vệ thị xã Hòa Bình từ xa, ngăn chặn ta tiến công từ Yên Lãng, sẵn sàng cơ động ứng cứu cho cứ điểm Đá Chông, Đoan Hạ, Chẹ (Phân khu Bắc), cứ điểm Pheo, Đầm Huống, Ao Trạch (Phân khu Nam). Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định trận then chốt Tu Vũ để mở đầu là đánh vào vị trí xung yếu nhất trong hệ thống phòng ngự đã phá thế liên hoàn của địch trên phòng tuyến Sông Đà, buộc chúng phải ứng cứu giải tỏa, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Thực tế diễn biến chiến dịch cho thấy xác định trận then chốt mở đầu tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp. Về vận dụng chiến thuật, Bộ Chỉ huy Chiến dịch thực hiện đúng nguyên tắc tập trung ưu thế về binh lực, thực hiện bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch; kiên quyết áp dụng chiến thuật đánh gần, dưới phi cơ và pháo binh của địch, để khắc phục chỗ mạnh của địch về hỏa lực và lợi dụng chỗ yếu của chúng về tinh thần. Với cách đánh này, ta vừa tránh hạn chế được thương vong, tổn thất cho bộ đội khi tiến công vào những cứ điểm vững chắc của địch, vừa khoét sâu những điểm yếu của địch, buộc đối phương phải tăng viện giải vây, tạo cơ hội cho ta tiêu diệt địch ngoài công sự. Trong quá trình thực hành đánh địch trong công sự vững chắc đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức tác chiến, lúc thì đột phá từ ngoài vào (công kiên) khi thì bí mật luồn vào trong trận địa địch, kết hợp đánh từ ngoài vào và từ trong đánh ra (tập kích). Trên mặt trận chính diện, ngoài đánh công kiên và vận động như các chiến dịch trước, lần này Bộ Chỉ huy Chiến dịch phát triển nhiều cách đánh như sử dụng một bộ phận tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao, trận địa pháo; sử dụng lực lượng lớn để đánh phục kích trên bộ, trên sông dưới sự hỗ trợ của pháo binh, ở mặt trận sau lưng địch, lần đầu tiên ta sử dụng một lực lượng lớn bộ đội chủ lực đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm, vận dụng sáng tạo cách đánh kết hợp giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng. Thắng lợi của Chiến dịch tiến công Hòa Bình đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" là những đặc điểm đặc sắc nhất. Nghệ thuật chọn trận then chốt thể hiện tư duy sáng tạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong việc xác định mục tiêu mở đầu, lập thế, điều hành tác chiến, chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật và biện pháp chiến dịch. Bên cạnh đó, vận dụng chiến thuật, lựa chọn cách đánh hiệu quả đã góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:47:18 am 4. Chiến thắng Hòa Bình đánh bại nỗ lực chiến tranh của thực dân Pháp, tạo đà cho quân và dân ta giữ vững quyền chủ động chiến lược, tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi
Thất bại nặng nề trong Thu - Đông 1950, đặc biệt là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn đã đẩy quân Pháp vào tình thế vô cùng khó khăn, phải chuyển sang trạng thái phòng ngự chiến lược, thậm chí, tướng Cácpăngchiê (Carpentier), Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương còn có ý định rút bỏ Hà Nội, về phòng giữ Hải Phòng. Tình trạng hỗn loạn ở Đông Dương đã tác động mạnh mẽ đến chính quyền Pháp ở Pari, mâu thuẫn giữa các phe phái lên đến đỉnh điểm. Chính phủ Pháp do Thủ tướng R. Plêven1 (Plêven (Réné Pléven) làm Thủ tướng lần thứ nhất (6.1950 - 2.1951). Tháng 2 năm 1951, Nội các do Plêven đứng đầu bị sụp đổ, Chính phủ mới do Henri Cơi (Henry Queille) đứng đầu được thành lập (2-8.1951). Tháng 8 năm 1951, Plêven (Réné Pléven) làm Thủ tướng lần thứ hai (8.1951 -2.1952)) buộc phải tăng cường các biện pháp chính trị nhằm tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Kết quả, ngày 22 tháng 11 năm 1950, Quốc hội Pháp đã thông qua quyết định ủy quyền cho Chính phủ tăng cường tối đa các biện pháp chiến tranh xâm lược Việt Nam, Lào, Campuchia. Để tăng cường sự lãnh đạo của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Chính phủ Pháp quyết định cử Đờ Lát đờ Tátxinhi (Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassigny) làm Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương thay cho Cácpăngchiê và Pinhông (Pignon). Đây là lần đầu tiên kể từ khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, Chính phủ Pháp tập trung quyền lực của Cao ủy và Tổng Chỉ huy vào một cá nhân. Điều này nhằm khắc phục những mâu thuẫn, cạnh tranh trong bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Pháp ở Đông Dương cũng như phát huy tối đa tài năng quân sự của Đờ Lát đờ Tátxinhi. Ngay sau khi nhậm chức, Đờ Lát nhanh chóng tiến hành sắp xếp lại bộ máy chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, đồng thời gấp rút xây dựng kế hoạch chiến lược nhằm đảo ngược chiều hướng thất bại của quân Pháp, giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Nội dung chủ yếu của kế hoạch, gồm: ổn định tình hình sau thất bại ở biên giới Việt - Trung; xây dựng cấp tốc các binh đoàn cơ động (Groupement mobile - GM); xây dựng và phát triển quân đội Quốc gia Việt Nam; lập phòng tuyến để bảo vệ trung du và đồng bằng Bắc Bộ; đẩy mạnh càn quét vùng bình định, chiếm đóng, lấn chiếm vùng tự do; sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ;... Để thực hiện kế hoạch, Đờ Lát kiến nghị Chính phủ Pháp bổ sung lực lượng cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Đến cuối năm 1950, lực lượng quân Pháp ở Đông Dương là 239.000 quân, trong đó có 117.000 lính Âu - Phi, riêng binh lính Pháp là 63.000 người1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V: Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,417). Cùng với đó, ngân sách quốc phòng của Pháp dành cho chiến tranh ở Đông Dương cũng không ngừng gia tăng nhanh chóng. Triển khai chiến lược mới, thực dân Pháp tăng cường đôn quân, bắt lính, đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân đội Quốc gia Việt Nam cả về số lượng và trang bị, tiến hành các cuộc hành quân bình định, lấn chiếm; thiết lập phòng tuyến Đờ Lát... Các thủ đoạn quân sự mới của thực dân Pháp và Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu, bước đầu đạt được một số kết quả nhất định, khiến Chính phủ Pháp ở cả Pari và Bộ Chỉ huy tối cao quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chủ quan cho rằng "cán cân đã nghiêng về Pháp, đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã chịu đựng từ năm 1948, nhất là từ cuối năm 1950, để chuyển sang thế tiến công"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V: Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,417). Từ đó, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chủ trương đánh đòn quyết định bằng cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình, mở đầu cho việc giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Tiến hành chiếm đóng Hòa Bình, ngày 9 tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích, mở cuộc hành quân Hoa Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Tiếp đó, ngày 14 đến ngày 15 tháng 10, quân Pháp bổ sung 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn đù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm khu vực Hòa Bình - sông Đà - Ba Vì. Cuộc tiến công do tướng Xalăng, Phó Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, Bộ Chỉ huy quân Pháp giao trách nhiệm cho 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội và 1 trung đội xe tăng tổ chức phòng ngự trên 28 cứ điểm lớn, nhỏ, đánh chiếm, mở rộng khu vực chiếm đóng1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 165). Với lực lượng mạnh, chuẩn bị hậu cần chu đáo, thực dân Pháp hy vọng sẽ giành được thế chủ động tiến công, buộc đối phương phải tuân theo kịch bản chiến tranh của Pháp. Hòa Bình trở thành "canh bạc" của Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Trước hành động quân sự của Pháp ở Hòa Bình, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam hạ quyết tâm phá tan âm mưu của địch bằng một cuộc tiến công lớn trên cả hai mặt trận, trong đó Hòa Bình là mặt trận chính diện. Kết quả, quân đội Pháp gặp thất bại nặng nề, bị loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 người, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167; Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chóng thực dân Pháp (1945 -1954), Tập V: Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 442: Trên mặt trận Hòa Bình, ta đã tiêu diệt 5.317 tên, bắt 593 tên, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy thu phát thông tin, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 ca nô, tàu chiến, phá hủy 246 xe quân sự). Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình góp phần đánh bại nỗ lực quân sự cao nhất của thực dân Pháp ở chiến trường chính Bắc Bộ kể từ sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950. Sau thất bại này, thực dân Pháp chẳng những không giành được quyền chủ động mà còn rơi vào tình thế bị động hơn trước. Ngược lại, quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ vững quyền chủ động, tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Từ những bài học quý giá trong Chiến dịch Hòa Bình, đặc biệt là bài học về chọn hướng tiến công và vận dụng cách đánh, quân và dân ta đã giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa chiến lược sau đó trong các chiến dịch như: Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953), đặc biệt là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), đưa đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến thắng Hòa Bình là thắng lợi "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Chiến thắng đó thể hiện đường lối quân sự nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh cũng như ý chí, quyết tâm của toàn quân và toàn dân ta trong quá trình thực hành chiến dịch. Chiến thắng Hòa Bình chẳng những đánh dấu bước trưởng thành xuất sắc của cơ quan lãnh đạo kháng chiến trong quá trình tổ chức và điều hành chiến tranh mà còn đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. 70 năm đã trôi qua nhưng Chiến thắng Hòa Bình vẫn chứa đựng giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục vận dụng và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:50:07 am CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH KẾT QUẢ SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG PGS, TS TRẦN TRỌNG THƠ Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 của quân và dân Việt Nam đã tạo ra một bước ngoặt của cuộc kháng chiến, "đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến của Quân đội ta", đẩy quân đội Pháp ở Đông Dương vào tình thế bị động, kế hoạch quân sự chính trị bị phá sản. Ngoan cố kéo dài chiến tranh để lấy lại danh dự sau thất bại ở Cao Bằng, Lạng Sơn..., giới cầm quyền hiếu chiến Pháp quyết định tập trung vào biện pháp quân sự, sử dụng vũ lực nhiều hơn để có thể giành lại quyền chủ động tiến công trên chiến trường. Người được Chính phủ Pháp phó thác "sứ mệnh lớn lao" đó là Đại tướng, Tổng Thanh tra quân lực Pháp J. M. G. Đờ Lát đờ Tatxinhi (Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassigny). Ngày 7 tháng 12 năm 1950, Đờ Lát được cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương, một mình nắm cả 2 quyền chỉ huy dân sự và quân sự. Mang theo kinh nghiệm và tầm nhìn của một viên tướng từng giữ chức Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Quân đoàn Rhin và Danube khét tiếng, chỉ huy các lực lượng trên bộ tại Tây Âu, ngay khi sang Đông Dương vào ngày 17 tháng 12 năm 1950, Đờ Lát đã xây dựng và triển khai một kế hoạch quân sự có 3 nội dung chính: Xin tăng viện binh; tập trung nỗ lực chiến tranh ở miền Bắc; thiết lập phòng tuyến (được gọi là phòng tuyến Đờ Lát), là một hành lang trắng (no man’s land) rộng 3km bao quanh châu thổ Bắc Bộ để bảo vệ khu vực chiến lược này. Sau chuyến công du sang Mỹ (9.1951) và nhận được lời hứa sẽ "viện trợ dồi dào" từ phía Mỹ, Đờ Lát quyết định mở các trận "phản công" để giành lại quyền chủ động trên chiến trường. Đờ Lát chọn Hòa Bình là mục tiêu tấn công đầu tiên. Thị xã tỉnh lỵ Hòa Bình nằm sát hữu ngạn sông Đà cách Hà Nội khoảng 110km về phía Tây Nam. Trong quá trình xâm lược Việt Nam lần thứ hai, quân Pháp đã chiếm đóng Hòa Bình, gọi đây là "thủ phủ xứ Mường". Sau thất bại ở biên giới Thu - Đông 1950, quân Pháp rút khỏi Hòa Bình để bảo toàn lực lượng. Cùng với những chuyển biến của hình thái chiến trường, tầm quan trọng Hòa Bình ngày càng nổi lên, là trung tâm điểm giao thông giữa miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Đờ Lát quyết định tái chiếm Hòa Bình nhằm nhiều mục tiêu. Thứ nhất, cắt đứt hành lang tiếp tế của Việt Minh giữa Việt Bắc với Thanh - Nghệ - Tĩnh, "đe dọa con đường "huyết mạch" của Việt Minh nối "tứ giác rừng núi" với kho gạo và người từ "vùng đỏ lớn Bắc Trung Kỳ. "Ở Hòa Bình là bóp họng quân Việt, ngăn chặn họ"1 (Lucien Bodard, Cuộc chiến tranh Đỏng Dương, người dịch: Đoàn Doãn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 857). Thứ hai, giảm áp lực tấn công của Việt Minh trên các địa bàn khác ở Bắc Bộ, nhất là Liên khu 3. Chiếm Hòa Bình dẫn đến việc kiểm soát vùng núi Ba Vì, mở rộng phòng tuyến chiếm đóng đến tận hữu ngạn sông Đà, khống chế Đường số 6, qua đó sẽ uy hiếp, ngăn chặn các đường tiến quân, cơ động của các đại đoàn chủ lực của bộ đội Việt Minh. Giới quân sự Pháp ở Đông Dương cho rằng: Tấn công Hòa Bình là "đi trước chiến cuộc của Việt Minh (...) làm đảo lộn kế hoạch của họ"2 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Pion, Paris, 1979). Thứ ba, chiếm Hòa Bình sẽ tạo cơ hội cho quân Pháp có dịp "tiêu diệt" chủ lực Việt Minh khi đối phương phải chấp nhận các trận đánh trong các công sự phòng thủ của Pháp. Tấn công ra Hòa Bình, quân Pháp còn âm mưu về phương diện tâm lý, nhằm xốc lại tinh thần quân viễn chinh Pháp; mưu toan "thu hút sự ủng hộ" của nhân dân các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình. Với những toan tính đó, quân Pháp huy động một lực lượng lớn gồm 15 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn nhảy dù, 2 liên đoàn thiết giáp, 7 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 2 hải đoàn để đánh ra Hòa Bình (sau đó bổ sung thêm 7 tiểu đoàn bộ binh tới Hòa Bình để mở rộng khu vực chiếm đóng). Từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp chia làm 3 mũi: Phía Bắc vào Ba Vì và theo sông Đáy; phía Nam tiến theo Đường số 6; mũi nhảy dù. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp chiếm thị xã Hòa Bình và nhanh chóng mở rộng sân bay tại tỉnh lỵ, thiết lập hệ thống phòng thủ dọc sông Đà và Đường số 6 để làm trục tiếp tế. Đích thân Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy Đờ Lát đến Hòa Bình để kiểm tra trận địa và khích lệ tinh thần binh lính. Địch tấn công Hòa Bình đúng lúc ta đang gặp khó khăn trong việc chọn hướng chiến lược1 (Sau ba chiến dịch tiến công ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950 - 17.1.1951), Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23.3 - 7.4.1951), Chiến dịch Quang Trung (28.5 - 20.6.1951) chưa đạt được mục đích chiến lược, ta mở tiếp Chiến dịch Lý Thướng Kiệt đánh lên miền núi nhưng không đạt được mục tiêu. Do vậy, khi ta quay lại chuẩn bị mở tiếp chiến dịch ở Liên khu 3, thì địch đánh ra Hòa Bình). Với nhãn quan quân sự sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy đây là cơ hội để thực hiện nhiệm vụ quân sự lớn mà Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (27.9 - 5.10.1951) vừa đề ra là "Tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch phòng ngự của chúng, giữ vững thế chủ động, tiến tới giành ưu thế quân sự trên chiến trường chính"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 587). Người chỉ rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh, nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 242). Ngày 23 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị hợp nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy về các hướng tiến công trong tinh hình mới. Theo đó, hướng tiến công chủ yếu là Mặt trận Hòa Bình, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, phá phòng tuyến Sông Đà; hướng phối hợp là đồng bằng Bắc Bộ, có nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích, phối hợp với hương chủ yếu. Trên cơ sở đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Trung ương Đảng chỉ rõ: Địch quyết chiếm Hòa Bình để cắt đường giao thông liên lạc của ta từ Việt Bắc đi các khu phía Nam, bảo vệ các phòng tuyến của chúng ở Tây Nam Trung châu Bắc Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng, gây ảnh hưởng chính trị đối với Mỹ, Anh và trấn an tinh thần quân đội Pháp. Chỉ thị cũng phân tích: Tấn công, đánh chiếm Hòa Bình, địch buộc dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ, sơ hở các mặt trận khác, phải phân tán lực lượng trên một mặt trận lớn rộng, rừng núi hiểm trở, công sự chưa kịp xây dựng, chưa kịp củng cố, là cơ hội tốt để ta đánh địch, đồng thời, có thể hoạt động mạnh trong vùng du kích Bắc Bộ nhất là ở tả ngạn sông Hồng. Chỉ thị viết: "Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này, tranh thủ thời gian để đánh địch tiêu diệt sinh lực địch trên Mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch, nhằm mục đích phá âm mưu quân sự mới của địch"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 596). Chủ trương kết hợp mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch, kiên quyết đánh bại cuộc hành binh của địch đánh ra Hòa Bình là một quyết định chính xác của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hiện chủ trương của Đảng, từ cuối tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã điều 3 đại đoàn 308 312 và 304 lên Mặt trận Hòa Bình; điều 2 đại đoàn 320 và 316 vào vùng địch hậu Bắc Bộ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh phá các cuộc hành quân bình định của địch. Trên cơ sở phân tích âm mưu và các động thái của đối phương, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương chưa đánh thẳng vào chỗ mạnh của địch là tập đoàn cứ điểm Hòa Bình, mà tập trung binh, hỏa lực đánh vào chỗ yếu của chúng là tuyến sông Đà và Đường số 6, là hai tuyến vận chuyển, tiếp tế thủy bộ của Pháp nhằm "cắt cổ họng" của địch. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch bắt đầu bằng cuộc tấn công của bộ đội chủ lực ta vào đồn Tu Vũ, một cứ điểm quan trọng của địch ở hữu ngạn sông Đà, được phòng thủ kiên cố. Sau cuộc tiến công đầu tay, bộ đội chủ lực ta liên tục tiến công, phục kích đường tiếp tế bằng sông Đà đến Hòa Bình. Tiếp đó, từ đầu tháng 1 năm 1952, bộ đội chủ lực tập trung đánh công kiên, phục kích trên Đường số 6, tập kích vào thị xã Hòa Bình. Từ các điểm cao, pháo binh ta bắn vào các căn cứ địch trong thị xã, khống chế sân bay, ngăn chặn sự tiếp tế của quân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Năm, 2023, 07:53:01 am Cùng với chỉ đạo cuộc chiến đấu trên mặt trận chính, Trung ương Đảng chỉ đạo các cấp bộ Đảng, quân và dân các địa phương đẩy mạnh tiến công, phối hợp với Mặt trận Hòa Bình.
Một ngày sau khi Chiến dịch Hòa Bình bắt đầu, để đẩy mạnh hoạt động phối hợp và hỗ trợ Mặt trận Hòa Bình, ngày 11 tháng 12 năm 1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị đặc biệt gửi ban cán sự và các tỉnh ủy tả ngạn Liên khu 3 nêu rõ: "Trước cơ hội rất tốt cho cuộc vận động đấu tranh chống địch ở trong vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, Trung ương đã chỉ thị cho các khu phải kịp hành động phối hợp chặt chẽ với chủ lực ta đang tiêu diệt địch ở Mặt trận Hòa Bình - Chợ Bến"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đàng toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 617). Ngày 1 tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy nhận định tình hình và chủ trương tiếp tục tiêu diệt, thu hút và kiềm chế quân cơ động địch ở Hòa Bình để mặt trận địch hậu có điều kiện phát triển; đưa chủ lực sang tả ngạn hoạt động, đẩy mạnh củng cố cơ sở, chống càn quét, phát triển chiến tranh du kích. Trên cơ sở đó, ngày 20 tháng 1 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Chỉ thị "về đẩy mạnh du kích chiến tranh trên chiến trường Bắc Bộ", yêu cầu các đảng bộ, quân dân các địa phương Bắc Bộ nhân khi địch đánh ra Chợ Bến, Hòa Bình, cơ sở vùng địch hậu, "nắm vững cơ hội thuận lợi tranh thủ thời gian, đẩy mạnh phong trào đấu tranh về mọi phương diện". Tiếp đó, ngày 26 tháng 1 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành "Chỉ thị phát triển và củng cố các vùng du kích và căn cứ du kích tích cực chuẩn bị chống giặc càn quét", nhắc nhở các địa phương kết hợp chặt chẽ lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang, bảo đảm tập trung thống nhất lãnh đạo, nêu cao cảnh giác, chống tư tưởng sai lầm như lạc quan tếu, bi quan... Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, quân và dân các địa phương tranh thủ cơ hội, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống địch ở vùng tạm chiếm và vùng du kích, phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính Hòa Bình, Chợ Bến. Cùng với tiếng súng tiến công trên mặt trận Hòa Bình, quân và dân ta trên khắp các chiến trường, nhất là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và trung du Bắc Bộ đã liên tục tiến công hàng loạt vị trí địch, kết hợp với nổi dậy phá tề, trừ gian, giành quyền làm chủ, đưa chiến tranh du kích lên đỉnh cao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, khôi phục và mở rộng các căn cứ du kích của ta, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Ở vùng Đông Bắc, quân và dân các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh liên tục bao vây nhiều vị trí địch, phá vành đai trắng, mở rộng vùng giải phóng. Ở tả ngạn Liên khu 3, những ngày cuối năm 1951 đầu năm 1952, lực lượng vũ trang địa phương chủ động tác chiến, diệt nhiều vị trí địch. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Thái Bình trực tiếp hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá tề, diệt dõng, mở lại các khu du kích trong vùng, ở hữu ngạn Liên khu 3, quân và dân các tỉnh Hà Đông, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình... liên tục tiến công tiêu diệt địch, bức rút nhiều vị trí địch, phục hồi được cơ sở, mở rộng căn cứ du kích, đẩy mạnh phá tề, tiến hành công tác binh vận, ngụy vận,... Đến cuối năm 1951 đầu năm 1952, hàng loạt khu du kích và căn cứ du kích được khôi phục, phát triển với tổng diện tích 4.800km2 (chiếm hai phần ba diện tích đồng bằng châu thổ). Nhiều căn cứ du kích liên tỉnh, liên huyện rộng lớn đã xuất hiện, nối liền với nhau thành thế liên hoàn từ Bắc Giang, Bắc Ninh đến Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông. Quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đã tiêu diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, tiêu diệt 160 cứ điểm do quân chủ lực địch đóng giữ, khoảng 1.000 vị trí của bọn tề vũ trang, tổng dõng, vệ sĩ; tịch thu và phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Cao trào tiến công quân sự của các lực lượng vũ trang địa phương, hỗ trợ phong trào nổi dậy của quần chúng trong cuộc tổng phá tề lần thứ hai, phá tan từng mảng lớn ngụy quân, ngụy quyền, từng bước làm "ruỗng nát" hệ thống chiếm đóng của chúng. Cùng với quân và dân miền Bắc, quân và dân Bình - Trị - Thiên, Liên khu 5, Nam Bộ tích cực phát triển đấu tranh quân sự, tiến công đồn bốt địch, kiềm chế lực lượng quân ứng chiến, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ. Có thể thấy, phạm vi không gian của "Chiến dịch Hòa Bình" trên thực tế đã mở rộng bao gồm cả đồng bằng Bắc Bộ. Thế trận chiến tranh nhân dân được phát huy, sự phối hợp giữa mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ đã đẩy quân Pháp vào thế đối phó hết sức lúng túng; phải điều động các binh đoàn cơ động số 1, số 3, số 4, số 5, số 7 vào một cuộc "kéo quân như đèn cù", đỡ đòn xuôi ngược, từ trong vùng địch hậu ra ngoài, từ ngoài trở vào đồng bằng để "chữa cháy". Sau hơn 2 tháng tấn công và chiếm đóng Hòa Bình và hơn 10 ngày sau khi Đờ Lát - cha đẻ của cuộc tấn công ra "thủ phù xứ Mường" qua đời tại Pháp, quân Pháp buộc phải "mở cuộc triệt thoái" mang tên "Arcenciel", rút khỏi khỏi Hòa Bình vào ngày 23 tháng 2 năm 1952. Tất cả những toan tính và và các tham vọng của quân Pháp khi mở cuộc tấn công ra Hòa Bình không đạt được. Hơn nữa, bị thiệt hại về mọi phương diện, thất bại này là một đòn giáng mạnh vào âm mưu sử dụng vũ lực kéo dài chiến tranh ở Đông Dương, đưa quân Pháp tiếp tục bị động, đối phó, "sa lầy ở Đông Dương". Tướng Yves Gras viết: "Cuộc rút lui khỏi Hòa Bình đã gây nên một cảm giác buồn nản thậm chí thảm hại. Mưu toan duy nhất chuyển sang tiến công Việt Minh đã kết thúc bằng một cuộc rút lui. Mưu toan này đã gây nên bao nhiêu hy vọng thì nay sự thất vọng càng lớn bấy nhiêu"1 (Yves Gras, Lịch sử chiến tranh Đông Dương, Sđd). Những cộng sự của phía Pháp sau này cũng nhận định: "Đây là một thất bại chiến lược của De Lattre", "De Lattre vẫn chủ trương dùng vũ lực với đường lối chiến tranh thuộc địa kiểu D’ Argenlieu, Pignon và đã không có một đường lối giải quyết tiến bộ nào (...). De Lattre chỉ kéo dài chiến tranh chứ không thể làm nước Pháp thoát khỏi cảnh sa lầy tại Đông Dương", "Hòa Bình là một thất bại cho Pháp (...) việc rút lui này làm tiêu tan ý chí chiến thắng cuối cùng của quân Pháp"2 (Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam cộng hòa, Quân sử 4,1972, tr. 53-54,144). Chiến thắng Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược to lớn về nhiều phương diện. Chiến thắng Hòa Bình là đòn giáng mạnh vào kế hoạch quân sự Đờ Lát, báo hiệu sự phá sản của những âm mưu, nỗ lực chiến tranh mới của thực dân Pháp ở Đông Dương. Qua chiến dịch Hòa Bình, ta đã làm thất bại âm mưu lập "xứ Mường tự trị" của địch, tiêu diệt 6.012 quân địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn trên 1.000km2 với 20.000 dân1 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 1, Quyển 2 (1945 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018, tr. 382-383). Bằng việc đẩy mạnh tấn công địch ở các chiến trường phối hợp, thắng lợi to lớn của ta ở mặt trận sau lưng địch ở làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, có ý nghĩa phát triển thắng lợi của ta trong Chiến dịch Hòa Bình, đồng thời, có vai trò trong thắng lợi của Chiến dịch, góp phần làm cho cục diện chiến trường thay đổi có lợi cho ta. Phạm vi chiếm đóng của địch bị thu hẹp vùng du kích mở rộng là điều kiện căn bản để giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, giải quyết vấn đề hoạt động chiến lược trong địch hậu và mọi mặt công tác địch hậu. Chiến thắng Hòa Bình là kết quả của sự nỗ lực lớn lao của quân và dân ta, mà trước hết là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng thể hiện rõ sự đúng đắn, kịp thời, linh hoạt trong nắm bắt thời cơ, đề ra quyết tâm chiến lược, xác định phương hướng tiến công và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân: Kết hợp mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, kết hợp đánh tập trung và đánh phân tán, vây điểm diệt viện, đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao, kết hợp ba thứ quân, kết hợp đấu tranh quân sự chính trị, binh vận, trong đó, quân sự là chính, qua đó làm thất bại âm mưu quân sự và chính trị của thực dân Pháp... Chiến thắng Hòa Bình tạo thế và lực cho ta, đồng thời, đặt ra yêu cầu đối với toàn Đảng, toàn quân và dân cần phải nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Người căn đặn: "Chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch... Bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 331-332). Chiến thắng Hòa Bình để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành chiến tranh, kinh nghiệm về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:01:00 am CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH PGS, TS LÝ VIỆT QUANG* TS TRẦN THỊ HUYỀN * Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hổ Chí Minh ** Giảng viên chính Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952 là một mốc son lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta. Đây là chiến thắng đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam non trẻ, đã bẻ gãy cuộc phản công chiến lược của những đơn vị tinh nhuệ vào loại bậc nhất của quân đội Pháp ở Đông Dương, phá tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ và đẩy thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế bị động chiến lược, khoét sâu hơn nữa mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung. Chiến thắng lịch sử này cũng thể hiện vai trò và tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài, nhà quân sự lỗi lạc của Đảng và dân tộc Việt Nam. Sau thất bại ở biên giới trong Thu - Đông 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ với 3 chiến dịch: Hoàng Hoa Thám, Quang Trung và Trần Hưng Đạo, quân Pháp lâm vào tình thế phòng ngự bị động. Để xoay chuyển tình thế, cuối tháng 12 năm 1950, thực dân Pháp đưa tướng Đờ Lát sang làm Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau những nỗ lực xây dựng các binh đoàn cơ động và càn quét, bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ, tháng 10 năm 1951, Đờ Lát tuyên bố, đã tới lúc giành lại chủ động trên chiến trường, buộc Việt Minh phải tiếp nhận chiến đấu trên một địa điểm do Pháp lựa chọn. Đờ Lát quyết định chọn Hòa Bình - địa bàn chỉ cách Hà Nội 76km, nằm trong tầm hoạt động của máy bay ném bom Pháp, là nút giao thông thủy - bộ nối liền Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung làm điểm tấn công. Mục tiêu của Pháp khi mở cuộc tiến công Hòa Bình để lập phòng tuyến Sông Đà với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây"; tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với các Liên khu 3 và Liên khu 4 của ta. Thực hiện ý đồ trên, ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân Tuylíp đánh chiếm Chợ Bến, nhằm cắt đường di chuyển chủ lực của ta từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Ngày 14 và 15 tháng 11 năm 1951, quân Pháp tiếp tục mở cuộc hành quân Lôtuýt, sử dụng 3 tiểu đoàn nhảy dù xuống thị xã Hòa Bình (nay là thành phố Hòa Bình). Chiều ngày 15 tháng 11 năm 1951, Đờ Lát chủ trì họp báo ở Hà Nội, thông báo về "chiến thắng Hòa Bình" và cho rằng, tiến công Hòa Bình có nghĩa là chúng ta (quân Pháp - NV) đã bắt buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hòa Bình sẽ có ảnh hưởng quốc tế lớn. Sau khi chiếm đóng Hòa Bình, quân Pháp đã xây dựng một hệ thống theo kiểu tập đoàn cứ điểm mạnh, hình thành hai tuyến phòng ngự dọc Đường số 6 và dọc sông Đà, đồng thời cho thành lập các "Xứ Mường tự trị" để thực hiện âm mưu "dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam". Trước âm mưu của Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, thống nhất đề nghị Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch Hòa Bình, chuyển hưởng hoạt động sang tiến công nơi địch mới chiếm đóng; xác định Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình đập tan phòng tuyến sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đó là một cơ hội hiếm cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hòa Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trang du đều tương đối sơ hở hơn trước"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 9). Căn cứ nhận định trên, ngày 21 tháng 11 năm 1951, đồng chí Phạm Văn Đồng thông báo với các đồng chí trong Tổng Quân ủy ý kiến của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý nhận xét và chủ trương mở Chiến dịch Hòa Bình của Tổng Quân ủy. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Việc địch đánh ra Hòa Bình có làm khó cho ta, nhưng cũng gây cơ hội cho ta đánh địch, thắng địch... Phải coi việc địch đánh Hòa Bình là việc ta dự đoán trước, không có gì lạ, đó chỉ là một biểu hiện của thế khó khăn, lúng túng của nó, ta khéo và quyết nhằm chỗ hở của nó mà đánh chúng cho đúng, cho kịp thời, chuẩn bị chu đáo và bí mật thì ta sẽ thắng"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1963 tr. 55). Ngày 23 tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì họp Bộ Chính trị3 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 18, tr. 776), nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy chuyển hướng chiến dịch về Hòa Bình, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, phá phòng tuyến Sông Đà trên hướng chủ yếu, đồng thời tạo điều kiện và phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ trên hướng phối hợp. Ngay sau cuộc họp Bộ Chính trị, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 594-599, 598-599). Chỉ thị vạch rõ, địch quyết chiếm Hòa Bình để cắt đường giao thông liên lạc của ta từ Việt Bắc đi các khu phía Nam, bảo vệ các phòng tuyến của chúng ở Tây Nam trung châu Bắc Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng, gây ảnh hưởng chính trị đối với Mỹ, Anh. Từ sự phân tích đó, Chỉ thị đưa ra nhận định: "1- Đánh và chiếm đóng chợ Bến và Hòa Bình, địch phải phân tán các đội ứng chiến của chúng trên một mặt trận rộng lớn, rừng núi hiểm trở, công sự chưa kịp xây dựng, chưa kịp củng cố. Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch. 2- Địch dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ của chúng ở Hòa Bình, buộc phải sơ hở các mặt khác và ở sau lưng địch. Đó cũng là cơ hội tốt để ta đánh địch trên các mặt trận ấy và hoạt động mạnh trong vùng du kích nhất là ở tả ngạn Hồng Hà. Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực của địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khấp vùng du kích sau lưng địch, nhằm mục đích phá âm mưu quân sự mới của địch"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 594-599, 598-599). Chỉ thị cũng nêu rõ: "Địch chiếm chợ Bến và Hòa Bình có gây khó khăn cho ta, nhưng cũng gây cơ hội tốt đế ta đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình, trên các mặt trận khác và sau lưng địch"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 594-599, 598-599). Cũng trong tháng 11 năm 1951, nhằm kịp thời chỉ đạo và động viên bộ đội, dân quân du kích đánh giặc, Chủ tịch Hồ Chí Minh có "Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình". Trong thư, Người chỉ rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 tr. 242). Cách nhìn và tinh thần lạc quan của vị lãnh tụ là luồng sinh khí nhân lên sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ và dân quân du kích tham gia chiến dịch. Từ suy nghĩ của thực dân Pháp cho rằng việc chọn Hòa Bình là "buộc Việt Minh phải tiếp nhận chiến đấu trên một địa điểm do Pháp lựa chọn" thì với cách nhìn nhận của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, đây chính là "cơ hội", "thuận lợi" cho ta tiêu diệt quân thù, ta từ chỗ phải lừa địch ra để đánh, nay địch lại tự ra cho ta đánh. Đó là thuận lợi, cơ hội cần tranh thủ, phát huy. Tuy nhiên, để tránh suy nghĩ chủ quan trong cán bộ, bộ đội và dân quân du kích, trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Muốn thắng thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan, khinh địch. Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch Thu - Đông của chúng"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 tr. 242). Người còn động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích khi hứa sẽ "để dành giải thường đặc biệt cho bộ đội nào và chiến sĩ nào lập công to nhất"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 tr. 242). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:02:13 am Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã chiến đấu dũng cảm trên các mặl trận chính diện tại Chợ Bến sông Đà, Hòa Bình và vùng sau lưng địch ở Bắc Ninh, Bắc Giang Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình...
Tại mặt trận chính, Chiến dịch Hòa Bình diễn ra thành 3 đợt. Đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta cắt đứt tuyến Sông Đà, tiến công tiêu diệt các cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ. Đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta tiếp tục đập vỡ phòng tuyến Sông Đà, tiêu diệt các điểm cao 400, 600, Đá Chông, Chẹ, chặn đánh các cánh quân viện trên các trục Đường số 87, Ba Vì, Mỹ Khê. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), ta tiếp tục vận dụng tốt phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viẹn và thường xuyên uy hiếp các đường tiếp tế thủy, bộ để cầm chân số lớn lính Pháp (riêng tại Đường số 6, Pháp phải huy động tới 16 tiểu đoàn để bảo vệ). Trên hướng phối hợp, ta tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, liên tục tiến công địch, góp phần vào thắng lợi của mặt trận chính. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo sát diễn biến của chiến dịch, kịp thời chỉ đạo và động viên cán bộ, chiến sĩ, đồng bào tham gia chiến dịch. Ngay trong đợt 1 của chiến dịch, ngày 22 tháng 12 năm 1951, khi Đại đội 756 đánh trận vận động phục kích diệt gọn đoàn tàu địch 5 chiếc ở gần bến Lạc Song (dưới thị xã Hòa Bình 10km), Người đã kịp thời động viên, tặng Đại đội 756 lá cờ "Chiến thắng Lạc Song"1 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 5, xuất bản lần thứ ba, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2016, tr 106-107). Ngày 25 tháng 12 năm 1951, trong cuộc họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì kiểm điểm công tác năm 1951, bàn kế hoạch năm 1952, nghe báo cáo tình hình quân sự từ sau cuộc hành quân của địch vào tỉnh Hòa Bình, Người đã chỉ rõ và nhấn mạnh nhiệm vụ của năm 1952 là đẩy mạnh tăng gia sản xuất, quyết giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Đây chính là nguồn động lực tinh thần to lớn để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm vượt mọi khó khăn, tiếp tục đẩy mạnh những thắng lợi mới trên mọi mặt trận, đặc biệt là Chiến dịch Hòa Bình. Đầu năm 1952, khi nghe báo cáo của Tổng Tham mưu trưởng về kế hoạch 3 đợt của Chiến dịch Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Ngay lúc này, cần có kế hoạch nếu địch rút Hòa Bình thì ta khuếch trương về quân sự, chính trị như thế nào cũng phải chuẩn bị trước". Tư tưởng chỉ đạo này thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng, chủ động trong tiến hành chiến dịch của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời, Người cũng căn dặn cách thức xử lý, giải quyết với từng loại tù binh "thì nguyên tắc là sĩ quan không được thả, binh lính cho ăn uống, giáo dục rồi thả sớm..."1 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 5, Sdd, tr. 115). Qua 3 đợt chiến đấu, với sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Quân ủy, sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chiến dịch Hòa Bình đã kết thúc thắng lợi. Ta đã tiêu diệt được 6.012 quân địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn trên 1.000km2 với 20.000 dân, phá tan âm mưu lập cái gọi là "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, ngay khi Chiến dịch Hòa Bình kết thúc, tỉnh Hòa Bình được giải phóng, để khuyến khích tinh thần chiến đấu của bộ đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi Điện khen ngợi Ban chỉ huy và các chiến sĩ mặt trận Hòa Bình, dân công phục vụ chiến dịch và đồng bào địa phương. Người khẳng định: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tặp 7, Sđd, tr. 331). Thắng lợi đó cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Bảo cáo tại Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa II, phần tình hình và nhiệm vụ đã đánh giá: "Cuộc thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã phá tan kế hoạch Thu - Đông của dịch, đã đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch ở Bắc Bộ, đã có tiếng vang dội trong nước và ngoài nước"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 389, 331-332, 401). Đồng thời, Người cũng căn dặn bộ đội: "Phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 389, 331-332, 401). Giữ đúng lời hứa với đồng bào trong bức thư gửi những ngày đầu chiến dịch, kết thúc Chiến dịch Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thưởng cờ danh dự và gửi thư khen Tiểu đoàn phòng không 387. Người nêu rõ: "Bác rất vui lòng thay mặt Chính phủ thưởng các chú một lá cờ danh dự. Bác cho phép các chú chọn một thành tích to nhất trong Chiến dịch Hòa Bình mà thêu vào lá cờ và từ nay về sau trong mọi chiến dịch mới, cứ chọn trận thắng lợi to nhất của các chú mà thêu thêm vào. Mong các chú luôn luôn cố gắng học tập, tiến bộ và thắng trận, để xứng đáng với danh dự vẻ vang này"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 389, 331-332, 401). Đặc biệt, nhân những thành tích của các đơn vị trong Chiến dịch Hòa Bình và nhân dịp Ngày Quốc tế Lao động (1.5.1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư khen thưởng các đơn vị bộ đội chiến thắng: Tiểu đoàn 387, Đại đội 313, Đại đội 314 thuộc Đại đoàn X; các đại đội 270, 755, 756, 752 thuộc Đại đoàn Y, Đại đội công binh Đại đoàn Z một cờ thường danh dự và một thiếp khen. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thắng lợi của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Thắng lợi đó là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự quyết tâm, đồng lòng, đồng sức của toàn quân, toàn dân ta. Đặc biệt, sở dĩ Chiến dịch Hòa Bình mau giành được thắng lợi có một phần rất lớn xuất phát từ tầm nhìn sáng suốt, sự chỉ đạo quyết liệt, cương quyết và sự quan tâm sâu sát của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, bộ đội và đồng bào tham gia chiến dịch. Sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Người đối với cán bộ, bộ đội và đồng bào tham gia chiến dịch đã góp phần rất to lớn trong việc phán đoán đúng âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, đồng thời nâng cao sức mạnh chiến đấu của cán bộ, bộ đội và dân quân du kích, đem lại thắng lợi cho Chiến dịch Hòa Bình, tạo đà để nhân dân ta tiếp tục xốc tới, giành những thắng lợi lớn hơn trong cuộc tiến công Tây Bắc, tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:03:57 am QUÁN TRIỆT CHỈ ĐẠO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH "CHẮC THẮNG MỚI ĐÁNH, NHƯNG TUYỆT ĐỐI CHỚ CHỦ QUAN KHINH ĐỊCH’’ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, TS LÊ VĂN THÁI Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong khi các đại đoàn chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương đã sẵn sàng bước vào đợt tác chiến Đông - Xuân 1951 - 1952 thì nửa đầu tháng 11 năm 1951, giới "chóp bu" quân sự Pháp ở Đông Dương tập trung lực lượng lớn tiến công Hòa Bình nhằm mở rộng vùng chiếm đóng, chia cắt Bắc Bộ với Liên khu 4 và chiến trường phía Nam. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng ra Chỉ thị "về nhiệm vụ phả cuộc tấn công Hòa Bình của địch Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Trong thư, Người nêu rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Để đánh thắng giặc trong Chiến dịch Hòa Bình, Người nhấn mạnh: "Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Quán triệt chỉ đạo của Người, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo quân và dân ta khẩn trương tiến hành toàn bộ công tác chuẩn bị chiến dịch chu đáo; hiệp đồng chặt chẽ các lực lượng trên chiến trường, tiến hành các hình thức tác chiến có hiệu quả chiến đấu, nên đã giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Hòa Bình. Sau khi nắm rõ ý đồ và diễn biến cuộc hành quân của địch, Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tiến công đánh địch trên 2 mặt trận. Hướng chính là Mặt trận Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch (trung du, đồng bằng Bắc Bộ) nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là ở đồng bằng Bắc Bộ. Bộ Chính trị quyết định thành lập Đảng ủy và tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch, cử Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy; Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng Chiến dịch. Để giành thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình, trước hết công tác chuẩn bị Chiến dịch phải đầy đủ, chu đáo. Đây là một trong những nguyên tắc tác chiến mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong tài liệu "Để hiểu chiến lược "Không chuẩn bị đầy đủ thì không đánh. Không chắc thắng thì không đánh"1 (Tư liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ sơ H6-C5/5). Quán triệt nguyên tắc tác chiến và chỉ đạo của Người, quân và dân ta đã nỗ lực cao trong việc chuẩn bị chiến dịch chu đáo, đầy đủ về mọi mặt để đánh địch dài ngày, đảm bảo chắc thắng trong tác chiến diệt địch. Điều đó thể hiện ở các điểm chủ yếu sau: Về nắm tình hình địch. Nắm chắc tình hình địch có vị trí hết sức quan trọng trong công tác chuẩn bị chiến trường cũng như trong quá trình tác chiến diệt địch. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm chắc tình hình địch, trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Không biết rõ tình hình bên địch mà dám khai chiến, thời có khác gì đánh bạc với chiến tranh"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 61). Do đó, trong quá trình chuẩn bị chiến trường, Ban Tham mưu Mặt trận đã khẩn trương hoạt động nắm tình hình địch, biết rõ bố trí lực lượng của địch ở Hòa Bình, Đường số 6, sông Đà và Ba Vì. Tại khu vực này, quân Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam) và Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc). Hệ thống phòng ngự của địch gồm 28 điểm lớn, nhỏ. Mỗi cứ điểm có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh, những cứ điểm lớn có 3 đại đội bộ binh, được tăng cường 1 đại đội pháo và 1 trung đội xe tăng. Việc nắm tình hình địch tiếp tục được thực hiện để rõ thêm cách bố phòng của chúng trong mỗi căn cứ để lựa chọn mục tiêu tiến công địch trong các đợt tác chiến. Về công tác chính trị. Ngày 19 tháng 11 năm 1951, Cơ quan Chính trị đã gửi toàn mặt trận Chỉ thị "Tuyên truyền về cuộc hành binh của địch ở Hòa Bình" và tiến hành mọi mặt hoạt động công tác chính trị: Chuẩn bị bộ đội, dân công phối hợp tác chiến với dân vận, địch vận1 (Bảo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiêm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 37). Thực hiện chỉ đạo của Cơ quan Chính trị Mặt trận, các đơn vị đã giáo dục tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ để bộ đội được chuẩn bị kỹ càng trước khi bước vào chiến đấu. Về đảm bảo hậu cần. Đề cập đến vấn đề hậu cần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 296). Do tầm quan trọng của công tác hậu cần trong hoạt động tác chiến, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo thành lập 2 ban cung cấp ở Bắc và Nam Hòa Bình. Ban Cung cấp tiền phương ở Mặt trận Bắc Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 cùng lực lượng vũ trang địa phương. Ban Cung cấp tiền phương Mặt trận Nam Hòa Bình có nhiệm vụ đảm bảo cho Đại đoàn 304 và Đại đoàn 320. Thời kỳ đầu ở hướng chính Hòa Bình, ta đã chuẩn bị được 820 tấn gạo, huy động 20 nghìn dân công phục vụ chiến dịch1 (Suốt Chiến dịch Hòa Bình, các ban cung cấp mặt trận đã tiếp tế cho bộ đội 6.475 tấn lương thực, thực phẩm và 280 tấn đạn). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:05:05 am Về kế hoạch tác chiến. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định sử dụng các đại đoàn (308, 312, 304) vào nhiệm vụ tiêu diệt địch trên hướng chính ở Hòa Bình. Đại đoàn 316 kết hợp với Liên khu Việt Bắc hoạt động ở Trung du, trọng điểm là vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Đại đoàn 320 phối hợp với Liên khu 3 hoạt động ở Hà Nam Ninh. Căn cứ vào quyết định sử dụng lực lượng của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, trong kế hoạch tác chiến chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch sử dụng Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu. Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu làm nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Kế hoạch tác chiến chiến dịch xác định rõ hướng tiến công, điểm đột phá mở đầu chiến dịch. Nghiên cứu tình hình bố trí lực lượng của địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định không đánh vào tập đoàn cứ điểm Hòa Bình, bởi nơi đây lực lượng địch rất mạnh gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, trận địa pháo và sân bay, trong khi lúc này quân ta chưa có nhiều kinh nghiệm đánh địch cố thủ trong các công sự vững chắc, nên khó đảm bảo "chắc thắng" khi đánh. Ta cũng không tập trung lực lượng đánh ngay địch trên Đường số 6 vì địa hình nơi đây trống trải, lại phải qua sông, rất khó tiếp cận mục tiêu. Còn lực lượng địch ở Phân khu Sông Đà gồm 2 tiểu khu Đa Thê - La Phù và Tu Vũ - Núi Chẹ thì lực lượng địch ở tiểu khu Tu Vũ - Núi Chẹ yếu hơn vì bị cô lập do sông ngăn cách, lại xa căn cứ Sơn Tây, Trung Hà. Để tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển bằng trận mở đầu thắng lợi, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tập trung binh hỏa lực đột phá tuyến sông Đà, bắt đầu bằng cuộc tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ.
Không chủ quan khinh địch đánh vào nơi chúng đã tổ chức phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm mạnh mà lựa chọn hướng đột phá, điểm đột phá phù hợp để chắc thắng khi tiến hành đánh địch được nêu rõ trong kế hoạch tác chiến thể hiện sự quán triệt chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch". Ngày 21 tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn y kế hoạch của Bộ Tổng Tư lệnh và chỉ rõ: "Ta khéo và quyết nhằm chỗ sơ hở của nó mà đánh cho đúng, cho kịp thời, chuẩn bị chu đáo và bí mật thì ta sẽ ăn"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện quân sự (1919 - 1969), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 346). Hơn một tuần sau, ngày 2 tháng 12, Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Thay mặt Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo trước Hội nghị về "Chủ trương tác chiến trên Mặt trận Sông Đà", nêu rõ: "Tập trung lực lượng tiêu diệt Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ...". Công tác chuẩn bị chiến dịch đã được thực hiện chu đáo và đầy đủ về mọi mặt, ngày 10 tháng 12 năm 1951, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, quân ta nổ súng tiến công địch, mở đầu chiến dịch. Quá trình tác chiến, sự quán triệt chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong việc lựa chọn vị trí tiến công, chỉ huy tác chiến linh hoạt và tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân dân ta qua 3 đợt chiến đấu. Ngày 10 tháng 12, trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được tăng cường 1 tiểu đoàn, 8 khẩu sơn pháo và 1 đại đội súng phòng không 12,7mm nổ súng tiến công cứ điểm Tu Vũ. Sau hơn 5 giờ chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ Tu Vũ. Cũng trong ngày 10 tháng 12, khi Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) đang vận động chuẩn bị tiến công căn cứ Núi Chẹ thì địch tổ chức lực lượng càn quét ở làng Chúc phía Nam Ba Vì. Linh hoạt và quyết đoán trong chỉ huy tác chiến, Bộ Chỉ huy Chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 209 tạm dừng tiến công Núi Chẹ, vận động đến Ninh Mít phối hợp với 2 tiểu đoàn địa phương chặn đánh địch càn quyết, tiêu diệt địch ngoài công sự. Trong 3 ngày (10 -12.12.1951), quân ta tiêu diệt 6 đại đội bộ binh và 1 trung đội cơ giới địch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 128). Nhận được báo cáo chiến thắng trong trận mở đầu chiến dịch, ngay trong ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới chiến sĩ Mặt trận Hòa Bình. Trong thư, Người viết: "Bác rất vui lòng nhận được báo cáo thắng trận của các chú..., "Chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 242) bởi trong hoạt động quân sự rất "thiên biến vạn hóa", kẻ địch lại lắm âm mưu, thủ đoạn. Nếu chủ quan khinh địch, không điều tra kỹ để nắm tình hình địch thì khó đảm bảo chắc thắng khi tiến công đánh chúng. Nhận được thư khen ngợi, động viên và lời căn dặn của Bác, cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Hòa Bình càng hăng hái thi đua đánh giặc, lập công. Từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 12, Tiểu đoàn 84 (Đại đoàn 308) và Tiểu đoàn 16 (Đại đoàn 312) phục kích địch bên sông Đà, bắn chìm 2 canô địch, cắt đứt tuyến cơ động của chúng trên sông Đà. Trên hướng Đường số 6, một đơn vị của Đại đoàn 304 phục kích trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, bắn cháy 34 xe địch. Tiếp đó, quân ta tổ chức phục kích ờ đoạn đường từ Hòa Bình đi Chợ Bờ, diệt 1 đại đội Âu - Phi, phá hủy 5 xe, chặn đánh địch gần điểm cao 585, diệt nhiều địch. Bị quân ta đánh mạnh ở Hòa Bình, quân Pháp phải bỏ dở cuộc càn ở khu vực tỉnh Bắc Ninh để điều quân ứng cứu cho khu vực sông Đà, Ba Vì. Phối hợp với hướng chính Mặt trận Hòa Bình, ở mặt trận sau lưng địch, Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch rộng khắp, giành thắng lợi lớn. Địch lại phải điều quân ở Hòa Bình về để đối phó. Ngày 26 tháng 12, đợt 1 chiến dịch kết thúc. Sau Đợt 1, Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ đánh căn cứ Đá Chông, Đại đoàn 312 đánh căn cứ Núi Chẹ và điểm cao 600. Khi quân ta đang tổ chức điều tra để nắm rõ hơn các vị trí hỏa lực và bố trí lực lượng của địch trong 2 căn cứ đó để chọn điểm đột phá trận đánh thì quân Pháp điều quân tăng cường cho căn cứ Đá Chông và Núi Chẹ làm cho lực lượng địch ở 2 căn cứ này thay đổi lớn. Trước tình hình đó, quán triệt chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch", Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tạm dừng kế hoạch tiến công 2 cứ điểm Đá Chông và Núi Chẹ để tập trung lực lượng đánh các vị trí khác, đảm bảo chắc thắng khi đánh. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:06:06 am Bước vào đợt 2, đêm 29 tháng 12, Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) bí mật tập kích địch ở điểm các cao 600, 165 và 400 (Ba Vì) diệt nhiều địch. Trên Đường số 6, đêm 30 tháng 12, Trung đoàn 9 (Đại đoàn 304) tiến công vị trí Hàm Voi, diệt phần lớn địch trong đồn; Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) tiêu diệt nhiều địch ở Đồi Mồi. Trong những ngày này, tại mặt trận sau lưng địch, ta đẩy mạnh hoạt động quân sự, tiêu diệt, bức rút nhiều đồn bốt địch, mở rộng nhiều khu Căn cứ du kích. Ngày 31 tháng 12 năm 1951, đợt 2 chiến dịch kết thúc.
Đợt 3 chiến dịch, Bộ Chỉ huy quyết định tập trung lực lượng đánh địch trên Đường số 6 và bao vây chặt tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Thực hiện kế hoạch, đêm ngày 7 tháng 1 năm 1952, trong khi 1 trung đoàn của Đại đoàn 308 và 1 trung đoàn của Đại đoàn 304 tiến công căn cứ Pheo và Đầm Huống gặp khó khăn thì 1 đơn vị của Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) bí mật tiếp cận trận địa pháo địch nằm sâu trong thị xã Hòa Bình phá hủy 4 khẩu pháo 105mm; 2 tiểu đoàn khác của Trung đoàn 36 tiến công tiêu diệt vị trí Đồi Cháy, Đồi Dè, Khuỳu, Râm và 1 trận địa pháo địch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong khủng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 377). Phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, ở mặt trận sau lưng địch, 2 đại đoàn chủ lực (320 và 316) phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích vận dụng cách đánh sáng tạo, kết hợp tiến công và nổi dậy của quần chúng liên tục tiến công, diệt nhiều địch, giải phóng nhiều vùng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Hoạt động tác chiến mạnh mẽ của quân dân ta ở mặt trận chính và mặt trận sau lưng địch trong đợt 3 đã làm cho tình thế chiến trường Hòa Bình thay đổi rõ rệt2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 176). Trước nguy cơ thất bại lớn, tướng Xalăng gấp rút đưa toàn bộ lực lượng trên tuyến sông Đà về thị xã Hòa Bình và Đường số 6 chuẩn bị cho cuộc rút lui. Quân ta tiếp tục bao vây thị xã và các vị trí địch trên Đường số 6. Lúc này, quân ta đã cắt đứt tuyến vận chuyển trên sông Đà, khống chế tuyến tiếp tế trên bộ, quân Pháp trong thị xã Hòa Bình lâm vào tình trạng nguy khốn. Tuy vậy, quân địch ở thị xã Hòa Bình và một số vị trí trên Đường số 6 vẫn còn mạnh, lại cố thủ trong công sự vững chắc. Quán triệt chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch", Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định không tiến công thị xã Hòa Bình và các vị trí địch đã được tăng cường lực lượng trên Đường số 6 mà ra lệnh tập trung lực lượng đánh địch ngoài công sự khi chúng tháo chạy. Chiều ngày 22 tháng 2 năm 1952, 5 tiểu đoàn địch ở thị xã Hòa Bình triển khai vượt sông Đà, rồi tổ chức vượt sông tiếp. Ngày 24 tháng 2, địch ở Ao Trạch rút về Đồng Bãi. Hôm sau (25.2) chúng từ Đồng Bãi rút về Xuân Mai. Quá trình rút quân, địch dùng máy bay nối nhau trút bom, dùng pháo bắn 30 nghìn viên đạn yểm trợ nhưng vẫn không tránh khỏi tổn thất lớn. Trong 4 ngày đánh địch rút lui, quân ta đã tiêu diệt 6 đại đội địch, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 23 xe quân sự, thu trên 100 tấn đạn, quân trang, quân dụng. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Tổng Quân ủy quyết định kết thúc chiến dịch. Hơn 2 tháng chiến đấu liên tục (10.12.1951 - 25.2.1952), quân và dân ta đã đánh thắng kế hoạch đánh chiếm Hòa Bình của địch loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 tên. Tại Mặt trận Hòa Bình, ta diệt hơn 6.000 tên địch, thu 24 khẩu pháo, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm, cháy 17 canô, tàu chiến, phá hủy 246 xe quân sự, giải phóng 15 vạn dân. Mặt trận sau lưng địch (Trung Du, Liên khu 3) diệt 15.000 tên địch, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh, giải phóng hơn 2 triệu dân1 (Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1947, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 526). Ngay trong ngày kết thúc chiến dịch thắng lợi, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch. Trong thư, Người viết: "So với thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Sđd, tr. 331). Hai tháng sau (cuối tháng 4 năm 1952), trong Báo cáo đọc tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương và khái quát thành tích của quân dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình: "Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã phá tan kế hoạch Thu Đông của địch, đã đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch ở Bắc Bộ, đã có tiếng vang dội trong nước và ngoài nước. Bộ đội địa phương và dân quân du kích cũng tiến bộ. Việc phối hợp với quân chủ lực ở các nơi, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, việc mở rộng vùng du kích, việc phá tề và vận động ngụy binh... đều có thành tích khá"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 389). Chiến thắng của quân dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược về quân sự, chính trị. Chiến thắng đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trước hết là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Quán triệt chỉ đạo của Người trong Chiến dịch Hòa Bình "Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch", quân dân ta đã nỗ lực chuẩn bị chiến trường chu đáo, đầy đủ về mọi mặt, đảm bảo chắc thắng khi nổ súng diệt địch. Quá trình tác chiến sử dụng lực lượng hợp lý, ta đã lựa chọn mục tiêu tiến công phù hợp, phối hợp chiến đấu giữa các chiến trường và ba thứ quân chặt chẽ, chỉ huy tác chiến linh hoạt, quân dân chiến đấu kiên cường... nên đã giành được thắng lợi to lớn, tạo đà cho những chiến dịch tiếp theo trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:07:03 am CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC, CHIẾN DỊCH CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ TỔNG QUÂN ỦY TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá NGUYỄN BỘI GIONG Nguyên Thư ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tham gia Chiến dịch Hòa Bình Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) giành thắng lợi là kết quả thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược, chiến dịch của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy. Là người trực tiếp được vinh dự giúp việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Hòa Bình, tôi phân tích làm rõ thêm về sự chỉ đạo chiến lược, chiến dịch xuất sắc của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy mà tôi trực tiếp chứng kiến, cảm nhận. Sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950, trên chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Tổng Tư lệnh đã mở 4 chiến dịch tiến công: Trần Hưng Đạo (Trung Du), Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch Đường 18), Quang Trung (Hà Nam Ninh) và Lý Thường Kiệt (Nghĩa Lộ). Tham gia chiến dịch đều là những đơn vị chủ lực của Bộ và lực lượng vũ trang địa phương, các đơn vị pháo binh, công binh, thông tin. Cả 4 chiến dịch đều chưa đạt mục đích chiến lược, chưa phát huy được thành quả từ Chiến dịch Biên Giới, nói chung là ta bị tiêu hao. Đây là điều mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này trong quá trình viết hồi ký, mà chúng tôi được phục vụ đều nhắc lại một cách rất xót xa. Vậy nguyên nhân từ đâu? Lúc bấy giờ, tư tưởng về mặt chiến lược là giai đoạn tổng phản công, mở các chiến dịch tiến công, mục tiêu là giải phóng đất đai và giải phóng nhân dân. Mà đã giải phóng đất đai thì thế nào cũng phải đánh điểm, vì địch là kẻ xâm lược, chiếm đóng ở đâu thì lập đồn bốt và có công sự vững chắc, thường xuyên củng cố hoàn thiện. Trong khi đó, ta chưa có điều kiện để đánh điểm một cách chắc thắng. Lý do: Thứ nhất, do thiếu hỏa lực; thứ hai, do phương tiện trinh sát chưa đầy đủ; thứ ba, trình độ cán bộ, về mặt kinh nghiệm đánh công kiên còn thiếu. Một phương pháp tác chiến nữa rất lợi hại là đánh viện "đánh điểm diệt viện" hoặc là "vây điểm diệt viện", tức là làm cách nào cho địch ra khỏi công sự mà đánh thì ta lại chưa đánh được trận nào lớn và chưa có nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên cũng có một số trận ta đánh địch vận động khá tốt, như trận Thanh Lâm Bồ ở Thừa Thiên; trận Xuân Trạch ở Vĩnh Yên trong Chiến dịch Trung Du do anh Lê Trọng Tấn chỉ huy. Trận Thanh Lâm Bồ tiêu diệt cả lính Âu - Phi lẫn lính ngụy hơn 1 tiểu đoàn (gần 1.000), còn trận đánh ở Vĩnh Yên thì tiêu diệt gần 400 tên của 1 tiểu đoàn ngụy. Kinh nghiệm của 2 trận đó được đúc rút thành bài học nghệ thuật quân sự được giảng dạy trong nhà trường và các hội nghị lớn khi đó. Như thế có thể nói một cách cụ thể là lúc bấy giờ, ta đang ở thế rất khó về mặt chiến thuật do cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Đó là trang bị vật chất kỹ thuật kém, thông tin yếu. Đã đánh vận động thì phái có thông tin tốt nhưng bây giờ thông tin cấp trung đoàn mới có máy vô tuyến, tiểu đoàn thì một số tiểu đoàn chủ công mới có, còn các tiểu đoàn khác không có, chỉ có máy điện thoại, không thể đi đến đâu rải dây đến đó, dễ bị địch phát hiện. Trong khi đó, trang bị của địch từ trung đội trở lên đã có máy thông tin vô tuyến rồi. Cái thiếu thứ 2 là cơ động toàn hành quân bộ, trong khi địch thì đi ô tô, xe bọc thép hoặc trực thăng đổ bộ. Thứ 3 là địch có hỏa lực mạnh. Chúng tôi đã tính toán, trong những trận đánh, hỏa lực của địch bao giờ cũng gấp 3 đến 5 lần hỏa lực ta. Riêng Chiến dịch Hòa Bình, hỏa lực địch gấp 10 lần ta. Đó là những điều kiện khách quan và chủ quan mà ta chưa khắc phục được, cho nên chỉ có đánh phục kích, tiêu diệt lẻ tẻ 1 - 2 đại đội, hoặc là tiêu hao lực lượng địch. Tiểu đoàn Âu - Phi của địch là trên 1.000 quân, tiểu đoàn ngụy là 1.300 - 1.400 quân, trong khi một tiểu đoàn của ta về quân số chiến đấu nhiều nhất là 600. Như vậy, về quân số, tiểu đoàn địch gấp khoảng 2 lần tiểu đoàn ta, chưa nói đến vũ khí, trang bị và các phương tiện bổ trợ. Trong điều kiện như thế, rất khó đánh vận động, nhưng ta vẫn tổ chức đánh công kiên. Vì vậy, 3 chiến dịch lớn đó, diệt địch cũng nhiều nhưng chỉ diệt được bộ phận địch, chưa diệt lớn. Sau này, khi viết hồi ký, anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) có nói với chúng tôi là: Biết là cái thế như thế nhưng lúc đó theo sự chỉ đạo chung thì ta chuyển sang giai đoạn tổng phản công, nặng về tác chiến, nhẹ về xây dựng. Vì vậy, địch nhận định về ta là: Việt Minh đã bị tiêu hao khá nặng trong mấy chiến dịch vừa qua, cho nên chúng mới dám đánh ra Hòa Bình. Địch đánh ra Hòa Bình trong khi ta đang chuẩn bị một kế hoạch hoạt động Thu - Đông 1951, nhưng chưa đầy đủ. Có mấy lý do, sau khi bị tiêu hao qua các chiến dịch trước thì kế hoạch chung là đi vào xây dựng, các cơ quan Tổng bộ, tác chiến, quân lực, dân quân, thông tin, binh chủng đều đi vào kế hoạch xây dựng, kiện toàn các đơn vị chủ lực cấp Bộ và cấp liên khu. Về kế hoạch tác chiến thì chưa chuẩn bị xong và thực ra cũng chưa đánh giá được một cách cụ thể địch sẽ hoạt động như thế nào trong Thu - Đông 1951. Các cơ quan của Bộ từ quân lực tác chiến, quân báo đến thông tin lúc bấy giờ đã đi xuống các liên khu, nhất là xuống Liên khu 3 để chuẩn bị cho đợt hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952. Đúng lúc đó, quân Pháp đánh ra Hòa Bình mà không gặp một sức kháng cự đáng kể nào. Lực lượng địch tung ra rất mạnh gồm 20 tiểu đoàn bộ binh (của các GM: 1, 2, 3, 4, 7), 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng. Cho nên rất dễ hiểu tại sao nó đánh rất nhanh và bất ngờ như thế. Như vậy, lần này địch sử dụng lực lượng mạnh hơn lực lượng trong Chiến dịch Biên Giới, và so sánh xa nữa là còn mạnh hơn toàn bộ lực lượng mà địch định tiến công căn cứ địa Việt Bắc năm 1947. Sau khi địch nhảy dù đánh ra Hòa Bình, Tổng Quân ủy và sau đó Trung ương Đảng đã nhanh chóng nắm bắt, phân tích tình hình. Tại Hội nghị Trung ương, Bác Hồ có nói một câu: "Địch đánh ra Hòa Bình tức là chúng đã rời khỏi công sự vững chắc, đó là thời cơ tốt nhất để chúng ta tiêu diệt địch". Ý Bác là địch đánh ra Hòa Bình là không chủ động, liều lĩnh nhằm thay đổi tình hình. Đối với ta thì địch ra khỏi công sự vững chắc là thời cơ tiêu diệt lớn đã đến. Khi phân tích ý đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh, như thế là Bác nhìn với một cái thế chiến lược rất chủ động. Nếu nhìn qua thấy địch sử dụng lực lượng lớn, đánh lớn, hiệp đồng cả bộ binh, pháo binh, thiết giáp cơ giới lẫn quân nhảy dù thì cho là quân địch rất mạnh. Nhưng theo nhận định của Bác thì đó là sự liều lĩnh của địch. Chiến tranh mà liều lĩnh cầu may là không phải, chiến tranh phải khoa học, đánh đến đâu chắc đấy như Bác Hồ nói: Có chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh. Nhận định của Bác có sự bao quát rất lớn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:07:33 am Đi vào Chiến dịch Hòa Bình, đại để kế hoạch tiến công có 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 đánh địch trên khu vực địch đang chiếm (thị xã Hòa Bình và vùng phụ cận phía Bắc bờ sông Đà). Giai đoạn 2 đánh địch tăng viện hoặc rút lui. Ngay từ đầu Tổng Quân ủy nhận định: Trước sau địch sẽ rút Hòa Bình. Do kế hoạch của ta và do nhiều yếu tố mà Tổng Quân ủy và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như cơ quan giúp việc của Bộ Tổng Tham mưu đã đánh giá đúng, chính xác. Thời gian đó anh Nguyễn Chí Thanh là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nhưng rất quan tâm vấn đề thảo luận về quân sự cho nên trong quá trình chỉ đạo, rất nhiều hôm anh trực tiếp dự họp với Bộ Tổng Tham mưu. Tôi làm thư ký dự nhiều cuộc họp thảo luận về chính trị nhưng chưa thấy lần nào như trong Chiến dịch Hòa Bình mà Chủ nhiệm Tổng cục Chínli trị lại sát sao đến vấn đề quân sự như thể. Điều đó chứng tỏ là Bộ Chính trị rất quan tâm đến chiến dịch. Những chỉ đạo của anh Thanh cũng rất sắc bén, nhất là ý kiến: Không được tự tiêu hao (ý kiến này Bác Hồ cũng đã có nói). Chủ lực ta được xây dựng lại sau 3 chiến dịch như thế nhưng rất dễ bị tiêu hao trong chiến dịch này. Bởi vi địch có lực lượng mạnh: Thứ nhất, hết sức phát huy hỏa lực của pháo binh và không quân; thứ hai, phát huy tác dụng ngăn chặn của bộ binh, thiết giáp và xe tăng; thứ ba, phát huy bất ngờ của lính dù và trên chiến trường Hòa Bình hết sức phát huy tác dụng của hai con đường sông Đà và Đường số 6. Địch tiến công cũng trên 2 con đường đó và sau này chúng rút lui cũng trên 2 con đường đó.
Trước tầm quan trọng của chiến dịch, Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và cả anh Trường Chinh đã 3 lần sang Bộ Tổng Tham mưu trao đồi, nghe báo cáo và có ý kiến. Như vậy, từ cuối tháng 11 sang tháng 12 năm 1951 đã có sự bài binh bố trận của cả 2 bên rất rõ ràng. Địch thì bắt đầu bài binh bố trận đánh ta, còn ta thì bài binh bố trận để đánh địch, mở rộng chiến tranh du kích ở các vùng địch tạm chiếm. Lúc bấy giờ đánh theo tinh thần một câu nói vui: Một đòn đập chết 2 mạng. Anh Văn nói với anh em. Hai mạng ở đây là gì? Mạng thứ nhất là ở thị xã Hòa Bình và vùng phụ cận. Mạng thứ hai là ở vùng địch tạm chiếm, do du kích chiến tranh đánh. Tức là lần này, ta đánh địch khi chúng đánh ra, tiến hành vây hãm, tiêu hao, thậm chí có những trận đánh tiêu diệt. Bên cạnh đó, ở những vùng địch tạm chiếm, mặt trận sau lưng địch cũng sẽ đẩy mạnh chiến tranh du kích cộng với chiến tranh chính quy để tiêu diệt địch và có thể giải phóng những vùng rộng lớn ở trong những vùng địch tạm chiếm, giải phóng nhân dân, đánh bại kế hoạch rất lớn của địch hồi đó là kế hoạch Đờ Lát được thi hành từ năm 1950. Đây là kế hoạch địch tấn công vào những khu phòng thủ chính của ta; rút ngắn tuyến chiếm đóng biên giới, quay về kiện toàn tuyến phòng thủ ở lưu vực sông Hồng tức là vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhất là khu vực phía Nam của lưu vực sông Hồng là Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Sau Chiến dịch Biên Giới, ta bắt được nguyên văn kế hoạch, chính anh Văn nghiên cứu rất kỹ, rất sâu, anh Văn nói kế hoạch này có tác động đến Đông Dương trong vòng từ 3 đến 5 năm, vì đây là một kế hoạch chiến lược. Như vậy, địch đánh ra Hòa Bình là thời cơ tốt để ta tiêu diệt chúng. Có thể nói địch chuẩn bị hết sức kỹ. Sau khi địch đánh Hòa Bình thì Bác có hỏi rất nhiều và nói với anh Văn là: Không nên ham đánh quá. Ý là địch đã đánh thì ta phản công. Cho nên cái phản công thì nhằm vào chỗ nó chiếm để mà giải phóng, nhưng không nên ham đánh quá. Ý Bác nói là cẩn thận như lối đánh trận Đông Khê. Ham đánh và cậy chủ lực của Bộ mới chỉnh huấn, tập huấn về. Thực ra những kết quả rèn luyện của mình so với địch bao giờ cũng thấp hơn. Tôi nói thí dụ giữ ở thị xã Hòa Bình (giữ Pheo) địch dùng 2 tiểu đoàn DBLE (bán lữ đoàn lê dương cơ động) rất mạnh, rất nổi danh ở mặt trận Bắc Phi trong Thế chiến thứ 2. Nên khi đưa DBLE sang Đông Dương, địch cho là để đi du lịch thôi chứ Đông Dương không có đối thủ. Đưa tiểu đoàn đó giữ Hòa Bình thì đủ biết tính toán của Đờ Lát cũng ghê gớm. Vì thế đến đánh trận Pheo thì Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo đến tận trung đoàn là Trung đoàn 102, bởi vì địch rất mạnh. Lúc bấy giờ ta đã làm kế hoạch là phải đánh một trận vào thị xã. Tức là công kiên đánh vào vị trí trọng yếu, nơi địch dựa vào để không rút bỏ Hòa Bình. Trận then chốt phải đánh, tốn người cũng phải đánh để buộc địch phải rút. Trong nhận định của Tổng Quân ủy ngay từ đầu khi đặt kế hoạch phản công Hòa Bình đã nói là trước sau địch sẽ rút. Đó là phán đoán hết sức chính xác, phải nói đó là một tài năng, là một ưu điểm về chỉ đạo chiến lược. Trước sau địch sẽ rút khỏi Hòa Bình vừa nói lên quyết tâm vừa nói lên đánh giá thế của địch. Kế hoạch tác chiến cụ thể: Đánh trận then chốt sau đó đánh vận động, tạo thời cơ. Hết sức tránh điểm mà đánh vận động. Đánh vận động lớn tiêu diệt tương đối lớn trong thế địch đã rời khỏi công sự. Khi địch không có công sự vững chắc bằng bê tông cốt thép, mà công sự làm bằng đất đá và gỗ, làm thành tuyến phòng thủ chống lại ta nên dễ đánh. Đánh một trận then chốt thôi mà phải đánh kỳ thắng, còn các trận khác chuyển sang đánh vận động, đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn. Trên cơ sở đó, chúng ta tổ chức đánh địch trong thị xã, vừa tiêu hao địch vừa đánh những chỗ then chốt nhất mà địch không thể có hy vọng ở lại thị xã Hòa Bình; sau đó đánh vận động trên sông Đà, trên Đường số 6 để tiêu diệt lớn quân địch. Đồng thời, kết hợp tiêu diệt từng bộ phận địch ở hướng chính là hướng Hòa Bình. Tại các hướng phối hợp tức là các mặt trận sau lưng địch, ở đồng bằng Bắc Bộ, ở Thừa Thiên Huế, Liên khu 5, thì mở rộng chiến tranh du kích kết hợp với một phần chủ lực khu để giải phóng những vùng địch chiếm, giải phóng nhân dân, tiêu diệt từng bộ phận địch ở mặt trận sau lưng địch, làm cho địch căng thẳng đối phó cả hai nơi. Thực hiện kế hoạch đó, ta đưa hẳn một bộ phận chủ lực lớn của Bộ vào tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng là vùng địch hậu, lấy vùng đó làm vùng tác chiến lớn tiêu hao địch. Cụ thể, đưa Đại đoàn 320 đang đóng ở giữa hữu và tả ngạn đưa hẳn sang tả ngạn; đưa Đại đoàn 316 vào hữu ngạn. Một lúc ta đưa 2 đại đoàn gần 5 vạn quân vào. Các đồng chí chuyên gia Trung Quốc lúc bấy giờ cho rằng làm như thế táo bạo quá, ta vẫn làm và làm thành công. Khi Mặt trận đồng bằng Bắc Bộ của địch đã bị uy hiếp, tại Hòa Bình ta chuyển sang tiêu hao chặn địch trên Đường số 6. Đại đoàn 308 phụ trách thị xã Hòa Bình cộng với một đơn vị chủ công của Đại đoàn 304. Đại đoàn 312 phụ trách đánh địch ở tuyến sông Đà (La Phù, Đan Thê), Đại đoàn 304 phụ trách đánh địch trên Đường số 6, đánh đường bộ đến giáp chợ Bến, Xuân Mai. Như thế, lực lượng gồm 3 đại đoàn bộ binh và Đại đoàn công pháo 351. Bác chỉ đạo rất chặt cách đánh. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:08:15 am Ở thị xã Hòa Bình có 2 căn cứ Tu Vũ và Chẹ. Chẹ là căn cứ pháo binh đồng thời là căn cứ của bộ binh. Tu Vũ là căn cứ của bộ binh và xe tăng thiết giáp, ở đấy địch đã bố trí tiểu đoàn DBLE như đã nói ở trên, đồng thời cộng một số bộ phận nữa, gọi là các đơn vị xung kích là bộ binh thiết giáp và xe tăng. Công sự đất đá nhưng yểm hộ cho bộ phận chiếm đóng là pháo binh và hỏa lực không quân. Đó là một kế hoạch yểm trợ bằng pháo binh duy nhất được thực hiện từ khi bắt đầu chiến tranh đến bây giờ chưa có chỗ nào, để thấy rõ tài năng của Đờ Lát. Ở mặt trận chính, địch đã bắn đến 3 vạn viên đạn pháo, còn trước khi rút bắn 1 vạn viên. Có thể nói rằng địch tập trung giữ Hòa Bình bằng pháo binh.
Lúc bấy giờ, anh Văn là Chỉ huy trường, khi ngồi nói chuyện với chúng tôi có nói là riêng Tu Vũ địch bắn khoảng 45 phút pháo, cối 120mm và pháo 105mm thì các anh ấy tính cũng không dưới 5.000 - 6.000 viên. Mà nói 5.000 - 6.000 thì phải so sánh với Him Lam và Độc Lập ở Điện Biên Phủ sau này mới rõ. Ở Him Lam, ta bắn 500 viên đạn pháo. Khi ta chiếm đồi Độc Lập bắt tù binh nó nói chưa bao giờ tôi thấy rùng rợn khiếp sợ như trận vừa rồi, pháo các ông đánh ghê gớm quá. Trận Tu Vũ là trận công kiên oanh liệt và dũng cảm bởi vì một phái viên của Bộ về báo cáo lại, khi địch nổ pháo thì anh Thái Dũng - Trung đoàn trướng Trung đoàn 88 có nói là cho nó bắn chán đi mới đánh. Nhiệm vụ của mình là đào sâu công sự để tránh nhưng kiên quyết tiêu diệt Tu Vũ. Cho nên khi địch ngừng bắn 10 phút thì ta xung phong và đánh chiếm Tu Vũ, tiêu diệt luôn tiểu đoàn DBLE, xe thiết giáp có mười mấy chiếc. Đó là trận then chốt công kiên trong Chiến dịch Hòa Bình. Đánh Tu Vũ kiềm chế Đầm Huống vì Đầm Huống giao cho Trung đoàn 66 đánh nhưng mà không đánh nổi. Đồng ý cho 66 đánh kiềm chế, nên giao cho Trung đoàn 88 do các anh Thái Dũng và Đặng Quốc Bảo chỉ huy. Hai đồng chí đó trong Chiến dịch Hòa Bình nổi danh là những chỉ huy rất kiên quyết và mưu lược, quyết tâm rất cao. Biểu dương Trung đoàn 88, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: Thái Dũng đáng là tấm gương về quyết tâm của những người chỉ huy. Sau khi tiêu diệt Tu Vũ và kiềm chế tiêu hao Đầm Huống, địch chắc chắn sẽ rút bỏ và chuyển về hướng Đường số 6 và sông Đà. Lúc đó, Trung đoàn 209 được giao chịu trách nhiệm ở sông Đà, La Phù, Đan Thê; Trung đoàn 36 ở hướng đầu Đường số 6 và sông Đà. Khi thực tế vào cuộc chiến đấu thì không thực hiện được đánh vận động lớn, chỉ đánh được vận động nhỏ vì địch cũng có kế hoạch chặt chẽ. Địch đã dùng pháo binh và không quân để giữ những chỗ Việt Minh có thể xuất kích đánh vào. Đó là cầu sang sông, địch phá cầu trước, đồng thời hỏa lực pháo binh chặn đánh ta. Địch tuyên bố trong quá trình yểm hộ cho quá trình rút chạy chúng tôi đã dùng 3 vạn viên đạn pháo, cho nên nó rút được tuy bị tiêu hao 8 đại đội, mất gần 40 chiếc thiết giáp, xe tăng... Lực lượng rút chạy khoảng 2 vạn quân. Sau đó, chúng tôi có phỏng vấn anh Hồng Sơn chỉ huy của Trung đoàn 36. Anh Hồng Sơn nói không thể xuất kích được vì nó chặn trước, cả Đường số 6 và đầu thị xã Hòa Bình. Anh có nói là "không thực hiện được nhiệm vụ của Bộ cũng thấy nhục nhưng mình đã giữ được lực lượng không bị tiêu hao, cũng là một cái công". Trên sông Đà cũng vậy, các thủy đội của địch đi lại trên sông, pháo bắn cả ban đêm và mờ sáng. Trong Chiến dịch Hòa Bình, kế hoạch rút lui được địch chuẩn bị rất chu đáo, nó chuẩn bị rút từ ngày 15 tháng 12 năm 1951 cho đến ngày 22 tháng 2 năm 1952 mới rút. Tất cả các điểm từ thị xã Hòa Bình về Chợ Bến địch bố trí 18 vị trí chốt để chống lại Việt Minh. Kế hoạch đợt 2 của ta chưa hoàn thành, chưa đánh được trận vận động nào lớn ở thị xã Hòa Bình ra sông Đà. Ta thắng lợi ở vùng Thừa Thiên Huế và địch hậu đồng bằng Bắc Bộ. Chúng ta thành công về kế hoạch một đòn đập 2 mạng. Trên mặt trận chính diện và trên mặt trận phối hợp. Ta giải phóng được vùng phía Nam lưu vực sông Hồng. Tư tưởng chỉ đạo của Trung ương và Tổng Quân ủy là luôn luôn giữ vững quan điểm đánh địch trên 2 mặt trận chính diện và sau lưng. Kéo dài chiến dịch không cho địch rút. Đáng lẽ Tết Nhâm Thân là kết thúc thì tiếp tục có lệnh vây hãm Hòa Bình cho địch hậu còn chiến đấu, cho nên đến cuối tháng 2 năm 1952 mới kết thúc (Tết Nhâm Thân vào khoảng ngày 18 đến ngày 20 tháng 1 năm 1952). Giỏi là chỗ đó. Cái giỏi thứ 2 là thấy đánh điểm không được thì chuyển sang đánh vận động, không đánh lớn được thì đánh vừa, không đánh vừa được thì đánh nhỏ. Đánh được vận động là đánh. Giỏi nữa là thích ứng ngay với tình hình biến đổi của địch, không đánh theo phương án cố định, sáng tạo, tránh tiêu hao. Tránh tiêu hao ta nhưng tiêu hao nhỏ địch, nhiều tiêu hao nhỏ thành tiêu hao lớn. Về thành tích của riêng tôi trong Chiến dịch Hòa Bình là quá trình mã thám. Tổ mã thám do Cục phó Cục Quân báo Cao Pha đề xuất và thực hiện, hình thành tổ chức mã thám và đã đạt thành tích rất cao. Tôi nhớ lúc đó là bắt đầu vào khoảng trung tuần tháng Giêng. Một đồng chí cán bộ mã thám mang đến Bộ Chỉ huy Chiến dịch một bức điện. Tôi cầm xem trước khi báo cáo anh Văn. Tôi xem xong dịch sang tiếng Việt thế này: "Bình minh Kim Tự Tháp sẽ nở hoa". Tôi chợt nhớ đến khi học trường Bưởi, một giáo sư dạy lịch sử nước Pháp có nói với chúng tôi rằng quê ông ở miền Bắc của đảo Coócxơ là quê hương của Napôlêông, có dãy núi đặc biệt là một năm nó đổi mầu một lần vào mùa Thu, có màu vàng rất đẹp, có thể sánh với Kim Tự Tháp ở Ai Cập. Cho nên trong bức mã thám có nói đến Kim Tự Tháp thì tôi nghĩ ngay đến Kim Tự Tháp ở núi đá chứ không phải sa mạc cát. Thứ 2 là nở hoa, thì nở hoa là gì, là dù bung ra. Đưa bản đồ ra xem thì thấy ở Xuân Mai, Chợ Bến trở lên quá Lương Sơn là một dãy núi. Tôi phán đoán là địch sẽ rút trên Đường số 6 và các điểm nhảy dù trên dãy núi sẽ yểm hộ cho quân địch rút trên con đường này. Lúc bấy giờ, Anh Văn đọc và hỏi tôi: Cậu thấy thế nào. Tôi báo cáo như trên. Lập tức anh Văn gọi báo ngay anh Hoàng Văn Thái ra lệnh cho anh Lê Trọng Tân chuẩn bị 2 tiểu đoàn tinh nhuệ ngay trong buổi chiều vượt lên gần Lương Sơn chuẩn bị nếu địch nhảy dù thì đánh. Sau khi đi một lúc thì báo cáo lại là ở đó có dãy núi đá và rừng cây thưa có thể nhảy dù được. Sau đó ra lệnh cho bộ đội địa phương chuẩn bị các trung đội, nếu trong đêm hoặc sáng mai địch nhảy dù thì bắt kỳ hết. Đúng 6 giờ đến 7 giờ ngày hôm sau thì chúng nhảy dù, ta bắt hơn 200 tên địch, bắn rơi 6 trực thăng. Qua đó, thấy rằng thành tích của mã thám rất cao. Tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công trong trận đó và được 1 Bằng khen của Tổng cục Chính trị do đồng chí Nguyễn Chí Thanh ký. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có tầm vóc và ý nghĩa to lớn trong tiến trình cuộc kháng chiến chống Pháp. Thắng lợi đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, nhưng nhân tố tiên quyết, đóng vai trò quyết định chính là sự chỉ đạo chiến lược, chiến dịch tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. 70 năm đã trôi qua, nhưng những bài học về sự chỉ đạo chiến dịch, chiến lược trong Chiến dịch Hòa Bình vẫn còn nguyên giá trị trong xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:09:46 am CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH THÀNH CÔNG CỦA TỔNG QUÂN ỦY, BỘ TỔNG TƯ LỆNH TRONG CHỈ ĐẠO VÀ ĐIỀU HÀNH CHIẾN DỊCH Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cách đây 70 năm (1951 - 2021), Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là dấu ấn quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tạo thế và lực cho cách mạng tiến lên, đẩy thực dân Pháp tiếp tục rơi vào thế bị động. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thắng lợi của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, của sự kết hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường và sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc của lực lượng vũ trang; đồng thời khẳng định vai trò to lớn của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo và điều hành chiến dịch, thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau: 1. Mở Chiến dịch Hòa Bình - quyết định mang tầm chiến lược của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Trước những diễn biến mới của tình hình trên chiến trường, ngày 19 tháng 10 năm 1951, Tổng Quân ủy báo cáo Bộ Chính trị về "Phương hướng chiến dịch mùa Đông năm 1951 và Kế hoạch đề phòng địch tấn công", trong đó dự kiến trường hợp địch đánh nhỏ và đánh lớn vào hướng Hòa Bình: "Trong trường hợp địch đánh lớn ra Hòa Bình thì chuẩn bị tiêu diệt địch ở Hòa Bình rồi sẽ xem tình huống" để tiếp tục phát triển trong Thu - Đông 1951 - 1952. Trong khi vạch kế hoạch đánh địch ở hướng hữu ngạn Liên khu 3, Tổng Quân ủy cũng dự kiến "nếu địch đánh ra Hòa Bình thì đó là một cơ hội cho ta tiêu diệt địch"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1963, Tập 4, tr. 15-34). Về phía thực dân Pháp, sau thắng lợi trong cuộc hành quân Chợ Bến, ngày 11 tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp ra lệnh mở cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình. Với lực lượng quân sự vượt trội, ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp chiếm được thị xã Hòa Bình và đến hết ngày 15 tháng 11 năm 1951 đã hoàn thành việc chiếm đóng các vị trí then chốt trong khu vực Hòa Bình - Đường số 6, sông Đà - Ba Vì. Sau khi đặt chân lên Hòa Bình, địch cấu trúc hệ thống phòng ngự dã chiến với nhiều cứ điểm lớn nhỏ bằng đất, gỗ, có hàng rào dây thép gai bao bọc. Mỗi cứ điểm có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh, ở những vị trí quan trọng như Pheo, Đồng Hến, Ao Trạch, Chẹ, Đá Chông, địch bố trí 3 đại đội bộ binh, tăng cường 1 trung đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh. Khu vực Hòa Bình - sông Đà, Đường số 6 hình thành cụm cứ điểm mạnh - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn, lần đầu tiên xuất hiện ở Đông Dương. Được tin địch đánh chiếm Hòa Bình, Tổng Tham mưu trưởng trao đổi nhanh với một số cán bộ chủ chốt trong cơ quan về tình hình và dự kiến kế hoạch đối phó báo cáo lên Tổng Quân ủy. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng. Sau khi nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình địch đánh chiếm Hòa Bình, tình hình bộ đội ta sẵn sàng chiến đấu và đề đạt ý kiến mở chiến dịch Hòa Bình, Tổng Quân ủy đã trao đổi, thống nhất và nhận định: "Cuộc tấn công ra Hòa Bình địch đã thu được thắng lợi... Chúng đã mở rộng được đất đai, giành lại quyền chủ động; chúng đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, một đường giao thông trọng yếu, cắt đứt liên lạc của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và miền Nam. Cuộc tấn công này quan trọng về mặt quân sự, còn gây khó khăn cho ta về mặt chính trị và kinh tế. Nhưng địch chiếm rộng ra như vậy phải dùng một lực lượng cơ động nên đồng bằng sơ hở, chiến tranh du kích có điều kiện phát triển. Địch phải phân tán một bộ phận trên chiến trường rừng núi, giao thông không thuận tiện, trong một thời gian nữa mới củng cố được thế phòng ngự, do đó chúng ta có cơ hội tiêu diệt sinh lực địch"1 (Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Tổng Tham mưu, Hồ sơ 109). Đối với ta, Tổng Quân ủy nhận định: "Từ khi ta giải phóng Hòa Bình (4.11.1950) tới nay vừa tròn một năm nhưng việc củng cố vùng giải phóng của ta chưa làm được mấy... Cuộc tiến công của địch ra Hòa Bình xảy ra lúc ta còn chuẩn bị tiến công chúng, ta bị động về kế hoạch... Khó khăn chính của ta vẫn là vấn đề lương thực và đạn dược...". Tổng Quân ủy chủ trương: "Trước đây ta có dự kiến địch đánh ra Hòa Bình (nhưng khả năng này ít) và có chủ trương nếu địch đánh ra thì chuyển chiến dịch tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường đó". Tổng Quân ủy đề nghị lên Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh "Cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tấn công quân địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là phối hợp"2 (Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Tổng Tham mưu, Hồ sơ 109). Cũng trong ngày 15 tháng 11 năm 1951, sau khi được tin địch đánh ra Chợ Bến, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị đình chỉ công tác chuẩn bị chiến trường Liên khu 3. Bước đầu, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 312 chuẩn bị chiến trường, bảo vệ căn cứ tiếp tế, đường vận chuyển; điều Trung đoàn 209 từ Phú Thọ xuống gần Hòa Bình bám sát và tiêu diệt những bộ phận nhỏ của đối phương, cùng bộ đội địa phương bảo vệ, phân tán kho tàng tiến hành vũ trang tuyên truyền trong vùng Đà Bắc. Đồng thời Tổng Quân ủy đề nghị với Bộ Chính trị thành lập Ban Chỉ huy lâm thời để chỉ đạo bộ phận chuẩn bị chiến trường của Bộ Tổng Tư lệnh ở Liên khu 3 và Liên khu ủy tăng cường cán bộ giúp đỡ cho Tỉnh ủy Hòa Bình, khẩn trương chuẩn bị hậu cần, đảm bảo có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho chiến dịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh Bộ Chính trị hoàn toàn nhất trí với nhận định cũng như chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:10:38 am Thực hiện chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh ngày 17 tháng 11 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đại đoàn 308, 312, 316 và Liên khu Việt Bắc. Các đơn vị được phổ biến, quán triệt những nhận định và chủ trương sắp tới của Tổng Quân ủy là: "Tranh thủ thời gian, lợi dụng lúc địch chưa được củng cố, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, tiến tới phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch; lợi dụng địch sơ hở, ta mạnh dạn đánh sâu vào địch hậu, đẩy mạnh du kích chiến tranh; Tổng Quân ủy đề nghị với Trung ương Đảng cho đình chỉ mở chiến dịch tại Liên khu 3 và một số nơi khác để mở chiến dịch tại Hòa Bình"1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 -1954), Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1991, tr. 522). Tiếp đó, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy nhận định: "Cuộc tiến công của địch sẽ gây cho ta những khó khăn nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực địch. Vì địch đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi"; vì phần lớn lực lượng cơ động đã tập trung vào Mặt trận Hòa Bình, cho nên lực lượng của địch ở vùng địch hậu đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước1 (Nhận định của Tổng Quân ủy về cuộc tấn công của địch ra Hòa Bình ngày 18 tháng 11 năm 1951, dẫn theo Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 324).
Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh quyết định sử dụng 3 đại đoàn (308, 312 và 304) vây hãm và tiêu diệt quân cơ động của địch ở Mặt trận Hòa Bình; Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh phá bình định, phát triển chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch đồng bằng Bắc Bộ. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình được thành lập, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh và phụ trách Bí thư Đảng ủy Chiến dịch2 (Ngày 30 tháng 11 năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh Chiến dịch tới Sở Chỉ huy Tiền phương ở Đồng Lương thuộc huyện Cẩm Khê, bên bờ sông Thao để chỉ huy chiến dịch), đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Ngày 23 tháng 11 năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Hoàng Văn Thái ở Sở Chỉ huy Tiền phương báo tin Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy là chuyển hướng chiến dịch về Hòa Bình và nhấn mạnh một số điểm: "Đây là cơ hội rất tốt, thuận lợi để tiêu diệt địch. Đáng lẽ ra ta phải đánh điểm diệt viện, phải điều nó ra để đánh, ở đây ta không cần đánh điểm mà viện của nó cũng ra. Đây là cơ hội hiếm có để tích cực kìm hãm địch. Đây là cơ hội rất thuận lợi để phát triển du kích chiến tranh rộng rãi. Cần hết sức tranh thủ thời gian, nhiều thắng lợi nhỏ cộng lại sẽ thành thắng lợi lớn nên không chờ đợi lâu quá"3 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 -1954), Sđd, tr. 525). Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch" và những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong "Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình", ngày 2 tháng 12 năm 1951, Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch báo cáo trước Hội nghị "Chủ trương tác chiến trên mặt trận sông Đà", về chủ trương và phương châm tác chiến, Đại tướng nêu rõ: "Tập trung lực lượng tiêu diệt Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ và bên hữu ngạn, Núi Chẹ và hữu ngạn thì địch có thể bất ngờ, ít nhất cũng giúp cho việc tiêu diệt Tu Vũ được thuận lợi hơn…"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1963, Tập 2, tr. 27). Kết thúc Hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra "Huấn lệnh" kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Sđd, tr. 73). Như vậy, mở Chiến dịch Hòa Bình là quyết định mang tầm chiến lược của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Quyết định được đưa ra trên cơ sở phân tích đúng đắn tình hình địch - ta và khả năng thực tế chiến trường. Đề nghị mở Chiến dịch Hòa Bình được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh phê chuẩn, là cơ sở để Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo, điều hành chiến dịch giành thắng lợi, tạo bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang bước vào giai đoạn cam go, ác liệt. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 19 Tháng Năm, 2023, 08:11:53 am 2. Sự chỉ đạo, điều hành của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh - nhân tố quan trọng, quyết định thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình
Địa bàn chiến dịch diễn ra trên khu vực từ Xuân Mai đến thị xã Hòa Bình dài 50km và từ Trung Hà đến thị xã Hòa Bình dài khoảng 60km. Đây là khu vực có địa hình rừng núi sát với đồng bằng, có hai dãy núi cao, dãy Ba Vì 1.287m và dãy Viên Nam cao 1029m. Phía Đông Ba Vì có nhiều đồi núi trống trải, phía Tây Ba Vì là rừng núi kín đáo. Có 3 trục đường lớn, cơ giới hoạt động được là Đường số 89, Đường số 87 và Đường số 6 là đường giao thông chính, ven đường có nhiều núi rừng xen kẽ đồi gianh. Sông Đà rộng và sâu, nước chảy mạnh, các tàu nhỏ đi lại được, nhưng dễ bị ta phục kích1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 367 - 368). Chiến dịch Hòa Bình có nhiệm vụ đánh địch trên cả 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch, có sự chỉ đạo phối hợp chặt chẽ 2 mặt trận với nhau. Tại Mặt trận Hòa Bình, lực lượng của địch lúc nhiều nhất là 29 tiểu đoàn, lúc ít nhất là 21 tiểu đoàn. Chúng đóng thành 3 phân khu: Phân khu Chợ Bến, Phân khu sông Đà và Phân khu Hòa Bình (bao gồm cả Đường số 6). Ở thị xã Hòa Bình, địch xây dựng một cụm cứ điểm lớn với binh lực gần 8 tiểu đoàn. Hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm đã xuất hiện. Để đảm bảo công tác hậu cần cho chiến dịch, Tổng Quân ủy quyết định thành lập 2 ban cung cấp tiền phương ở Bắc và Nam Hòa Bình. Ban Cung cấp Tiền phương Mặt trận Bắc Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đai đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn Công pháo 351 cùng các lực lượng vũ trang địa phương. Ban Cung cấp Tiền phương Mặt trận Nam Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 304 và Đại đoàn 320. Ngày 20 tháng 11 năm 1951, Bộ Tổng Tư lệnh ra "Mệnh lệnh" tác chiến số 1 cho Đại đoàn 312: Đánh địch từ thị xã Hòa Bình lên Trung Hà, dọc 2 bên tả ngạn và hữu ngạn sông Đà, tiêu diệt những cứ điểm địch mới chiếm đóng, lực lượng cơ động đường bộ và đường thủy, quân địch đi càn quét sục sạo xung quanh các vị trí... Yêu cầu Đại đoàn khẩn trương ra quân, trận đầu phải đánh thắng, chủ động tìm địch mà đánh; khi có điều kiện thuận lợi thì tổ chức đánh địch, không phải chờ lệnh; thực hiện nhiệm vụ tác chiến phải nhanh chóng, bí mật, nắm vững tình huống, không bỏ lỡ thời cơ. Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Đại đoàn 316 được tăng cường Trung đoàn 246 tranh thủ thời gian, hoạt động mạnh ở Bắc Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc), cho một bộ phận táo bạo vào sâu địch hậu phát triển chiến tranh du kích, mở rộng vùng du kích, căn cứ du kích, tiêu diệt sinh lực địch; có kế hoạch phối hợp, giúp đỡ bộ đội địa phương chống càn quét... Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh cho Đại đoàn 308 dự bị chiến lược và các phân đội pháo binh phối thuộc, bố trí Trung đoàn 88 ở phía Nam Phong Vực, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 36 ở Bắc tỉnh Phú Thọ, từ Đào Giã đến Chí Chủ giáp tới sông Lô, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến và khi có điều kiện tập trung tiêu diệt địch nếu chúng chiếm đóng Hưng Hóa hoặc đánh lên Phong Vực, Phú Thọ. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, đợt 1 Chiến dịch Hòa Bình bắt đầu và kết thúc vào ngày 26 tháng 12 năm 1951. Tại Hội nghị đợt 1 chiến dịch, Tổng Quân ủy nhận định: "Địch bị thất bại lớn về quân sự và chính trị. Trong một thời gian ngắn địch bị tiêu diệt 23 đại đội. Với chiến thắng Tu Vũ, Nam Ba Vì, Đường số 6 trực tiếp uy hiếp kế hoạch chiếm đóng của địch. Trận đánh vào Phát Diệm và những trận thắng lợi ở trung du đã góp phần vào việc phát triển du kích chiến tranh và làm rối loạn hậu phương của chúng, hiện nay địch vẫn còn sơ hở... Những trận thắng vừa qua đã giải quyết được nhiều vấn đề chiến thuật... Bộ đội ta có thể đi sâu vào địch hậu. Nhưng, vừa qua chưa có trận nào tiêu diệt gọn ghẽ. Ta bỏ nhiều cơ hội tiêu diệt địch trong vận động". Chủ trương của Tổng Quân ủy là "tranh thủ tiêu diệt thêm sinh lực địch trong khu Cơ động Ba Vì, Đường số 6, Bắc thị xã Hòa Bình, chuẩn bị có thể đánh điểm diệt viện trong khu vực Đá Chông, Chẹ và tiếp tục kiềm chế lực lượng của chúng để các hướng và địch hậu có thể phát triển thuận lợi. Ở chiến trường phối hợp, "trung du mạnh dạn đưa thêm chủ lực vào địch hậu để mở rộng thêm các khu Căn cứ... Liên khu 3 cần có kế hoạch giúp đỡ tả ngạn phát triển du kích chiến tranh". Ở các chiến trường xa, "lệnh cho các chiến trường Bình - Trị - Thiên, Liên khu 5, Nam Bộ ra sức hoạt động kiềm chế địch, tích cực phối hợp với chiến trường chính". Phương châm tác chiến ở chiến trường chính là "đánh điểm diệt viện, tranh thủ đánh một trận tương đối lớn. Phải tổ chức đánh giao thông thường xuyên trên Đường số 6"1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 -1954), Sđd, tr. 539). Đợt 2 chiến dịch bắt đầu vào ngày 27 tháng 12 năm 1951 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 1951. Tính chung qua 2 đợt chiến dịch, ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch trên mặt trận chính diện, đồng thời mở rộng hoạt động vũ trang vào vùng sau lưng địch. Nắm vững tình hình sau 2 đợt tiến công, tại Hội nghị chuẩn bị đợt 3 chiến dịch họp ngày 1 tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy nhận định: Địch bị thất bại nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình gặp nhiều khó khăn, nhất là do tuyến vận tải trên sông Đã hoàn toàn tê liệt và Đường số 6 luôn bị cắt đứt. Vì vậy, chúng có thể cố gắng chiếm giữ Hòa Bình, nhưng hoàn cảnh khách quan cũng có thể buộc địch phải nghĩ đến việc rút quân2 (Báo cáo kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Tập 2, Sđd, tr. 53). Tổng Quân ủy chủ trương: Chuyển mặt trận xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình, Đường số 6 là hướng chính, vùng Chẹ, Đá Chông, Bắc Ba Vì là hướng phụ; tiêu diệt sinh lực địch, cắt Đường số 6 và mở rộng vùng sau lưng địch ở hướng chính, tiêu hao kiềm chế, cắt đường tiếp tế trên sông Đà, mở rộng mặt trận sau lưng địch ở Đá Chông, Chẹ, Bắc Ba Vì nhằm tiếp tục tiêu diệt sinh lực địch, thu hút và kiềm chế đối phương ở Hòa Bình để các mặt trận phối hợp và địch hậu có điều kiện phát triển mạnh; chuẩn bị sẵn sàng để đánh tiêu diệt khi địch rút quân. Phương châm vẫn là đánh điểm, diệt viện nhưng tuỳ tình hình cụ thể mà vận dụng và phối hợp tác chiến chặt chẽ với mặt trận vùng sau lưng địch. Hướng vùng sau lưng địch là đưa chủ lực sang tả ngạn sông Đà củng cố cơ sở, đẩy mạnh chống càn, phối hợp tích cực với Mặt trận Hòa Bình, Đường số 61 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 168). Đợt 3 chiến dịch bắt đầu vào ngày 7 tháng 1 năm 1952 với sự kiện Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm Pheo. Khi đợt 3 chiến dịch đang diễn ra, ngày 30 tháng 1 năm 1952, Bộ Tổng Tư lệnh họp, nhận định tình hình địch - ta sau 2 tháng hoạt động trong Chiến dịch Hòa Bình, về tình hình địch, Bộ Tổng Tư lệnh nêu rõ: Trong đợt 3, địch bị ta tiếp tục đánh mạnh và thiệt hại nặng trên mặt trận chính diện và trong địch hậu. Trên Mặt trận Hòa Bình - Đường số 6, phòng tuyến sông Đà bị bức rút, thị xã Hòa Bình bị đánh mạnh và bao vây, Đường số 6 bị tấn công và cắt đứt. Địch hậu cũng bị đánh mạnh, nhất là ở Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình. Địch đang ở trong tình trạng lúng túng, mâu thuẫn giữa sự đòi hỏi của mặt trận chính diện và địch hậu, giữa yêu cầu quân sự và chính trị. Theo thế chung, dù muốn hay không muốn, địch cũng phải rút Hòa Bình2 (Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy (từ năm 1945 đến năm 1954), Tập 3, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1963, tr. 188- 195). Căn cứ nhận định của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch đánh địch rút chạy. Đúng như dự đoán của ta, ngày 23 tháng 2 năm 1952, quân địch bắt đầu rút chạy khỏi Hòa Bình. Trên cơ sở kế hoạch đánh địch rút chạy, quân ta tiêu diệt thêm một bộ phận quân địch. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Có thể khẳng định, mở chiến dịch Hòa Bình là quyết định đúng đắn của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Quyết định được đưa ra trên cơ sở cân nhắc, phân tích, tính toán kỹ tình hình mọi mặt địch - ta. Do vậy, ngay từ khâu chuẩn bị chiến dịch, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời đối với các lực lượng tham gia chiến dịch, với các chiến trường phối hợp nhằm đảm bảo chiến dịch diễn ra được thuận lợi và giành thắng lợi. Khi chiến dịch diễn ra, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh luôn có sự chỉ đạo, điều hành sát thực tế chiến trường. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Tổng Quân ủy và Bộ Tư lệnh trong việc chỉ đạo tiến công địch trên cả hai hướng chiến lược chủ yếu, kết hợp hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, kết hợp vận động chiến và du kích chiến, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng. Trong Chiến dịch này, dưới sự chỉ đạo, điều hành của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, lực lượng vũ trang ta có bước tiến bộ mới về trình độ kỹ, chiến thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày cũng như về sự phối hợp tác chiến giữa ba thứ quân, để lại nhiều kinh nghiệm quý đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:45:16 am ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tá, TS TRẦN ANH TUẤN Trưởng phòng Lịch sử quân sự Thế giới, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp đưa 20 tiểu đoàn, phần lớn là lực lượng cơ động chiến lược, mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Với tầm nhìn chiến lược, kinh nghiệm thực tiễn phong phú, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh kịp thời tham mưu cho Bộ Chính trị mở Chiến dịch Hòa Bình và trực tiếp điều hành công tác chuẩn bị, xây kế hoạch tác chiến và chỉ đạo quân và dân ta đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng, đập tan kế hoạch đầy tham vọng của thực dân Pháp. 1. Cùng Tổng Quân ủy nhận định, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, kịp thời tham mưu cho Bộ Chính trị mở Chiến dịch Hòa Bình Trước khi địch điều quân lên đánh chiếm Hòa Bình, trong báo cáo đề nghị của Tổng Quân ủy tại Hội nghị Bộ Chính trị ngày 19 tháng 10 năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có dự kiến phương án địch đánh ra Hòa Bình nhưng cho rằng khả năng đó ít, vì đây là vùng rừng núi bất lợi cho chúng. Báo cáo đề cập đến tình huống nếu địch đánh ra thì sẽ đề nghị chuyển hướng chiến dịch, tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường chính là Hoà Bình, các hướng khác phối hợp cùng với các chiến trường toàn quốc nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch và đẩy mạnh chiến tranh du kích. Đặc biệt, Đại tướng đã sớm nhận định: "Nếu địch đánh ra Hòa Bình thì đó là một cơ hội cho ta tiêu diệt"1 (Những chỉ đạo chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 30). Ngày 10 tháng 11 năm 1951, được tin địch đánh ra Chợ Bến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phán đoán "nhiều khả năng địch sẽ chiếm Hòa Bình". Quả nhiên, chiều 14 tháng 11 năm 1951, 3 tiểu đoàn dù địch nhảy xuống Hoà Bình; nửa đêm, 2 binh đoàn cơ động chia làm 2 hướng, 1 hướng theo Đường số 6 tiến về thị xã Hòa Bình, 1 hướng theo sông Hồng và sông Đà tiến công đánh chiếm Tu Vũ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: "Đờ Lát đã cho ta những cơ hội bằng vàng để tiêu diệt sinh lực địch và cứu vãn tình hình địch hậu"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 773). Ngày hôm sau (15.11.1951), Đại tướng triệu tập Hội nghị Tổng Quân ủy. Trước khi vào cuộc họp, Đại tướng nói với mọi người nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nghe báo cáo về việc địch tiến công ra Hòa Bình: "Đó là một cơ hội tốt cho ta. Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh"3 (Trần Trọng Trung, Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 263 (bản PDF)). Bước vào Hội nghị, khi phân tích tình hình, Tổng Quân ủy nhận định: Đờ Lát muốn giành lại quyền chủ động. Địch đánh trước hòng gây tiếng vang về chính trị đối với Pari và Oasinhtơn, đồng thời hy vọng gây thêm khó khăn cho ta. Nhưng, chúng đưa một lực lượng lớn thoát khỏi phòng tuyến boongke, hình thành một tuyến dài đột xuất trên chiến trường rừng núi, là một dịp tốt cho ta mở chiến dịch quy mô lớn, tiêu diệt sinh lực địch trên hướng chính diện, đồng thời lợi dụng tình thế sơ hở trong vùng tạm bị chiếm để đẩy mạnh cuộc đấu tranh trong vùng sau lưng địch. Tổng Quân ủy nhất trí đình chỉ việc mở chiến dịch Liên khu 3, đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển thế bị động sang thế tiến công quân địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là mặt trận phối hợp"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr 381). Trong thư đề ngày 15 tháng 11 năm 1951 gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tồng Bí thư Trường Chinh và các đồng chí Trung ương, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã báo cáo toàn diện về tình hình địch, về chiến trường Hòa Bình; những khó khăn, thuận lợi của ta; công tác chuẩn bị và phương sách đối phó đầu tiên... Báo cáo nhấn mạnh: Mở chiến dịch tiến công giải phóng Hòa Bình là giải phóng một trung tâm chính trị của vùng đồng bào Mường, không chỉ quan trọng về quân sự mà còn cả về chính trị và kinh tế. Mặt khác, do chúng điều một bộ phận lực lượng cơ động ra ngoài phòng tuyến là một cơ hội cho chiến tranh du kích nói riêng và cuộc đấu tranh trong vùng đồng bằng tạm chiếm nói chung có điều kiện phát triển hơn. Ngày 23 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất trí với nhận định và đề nghị của Tổng Quân ủy về chuyển hướng chiến dịch về Hòa Bình và nêu rõ, đây là cơ hội tốt để ta đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình, mặt trận sau lưng địch và các mặt trận khác. Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hoà Bình gồm các đồng chí: Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy; Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy; Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng Chiến dịch. Tiếp đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Như vậy, nhờ nắm chắc tình hình, nhận đúng âm mưu, thủ đoạn của đối phương, ngay khi địch vừa đưa quân đánh chiếm Hòa Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng tập thể Tổng Quân ủy đã kịp thời tham mưu cho Bộ Chính trị mở Chiến dịch Hòa Bình; đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng. Thực tiễn đã minh chứng, việc tham mưu cho Bộ Chính trị mở chiến dịch tiến công địch ở Hòa Bình là hoàn toàn đúng đắn, kịp thời. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:46:18 am 2. Chủ động chỉ đạo tiến hành công tác chuẩn bị, xây dựng kế hoạch tác chiến chiến dịch khoa học
Ngay khi thực dân Pháp lên Hòa Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu dự kiến ngay phương án tác chiến, chuyển hướng theo tình huống chiến lược mới. Trong khi chờ quyết định chính thức của Bộ Chính trị, Đại tướng đã chỉ đạo cơ quan hậu cần tranh thủ cử cán bộ đi nghiên cứu, triển khai hệ thống kho trạm ở phía Nam tỉnh Phú Thọ; chỉ đạo cơ quan tham mưu triệu tập hội nghị giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đại đoàn 308, 312, 316 và Liên khu Việt Bắc, đồng thời điện cho Đại đoàn 312 đang trên hướng Tây Bắc nhanh chóng chuyển xuống chuẩn bị chiến trường, bảo vệ căn cứ tiếp tế, bảo vệ đường vận chuyển hậu cần và cho một đơn vị xuống sát Hoà Bình, cùng bộ đội địa phương Phú Thọ bám sát, quấy rối, tiêu hao địch. Ở Liên khu 3, để thống nhất chỉ huy bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, Tổng Quân ủy quyết định thành lập Ban Chỉ đạo lâm thời do đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 phụ trách. Nhiệm vụ trước mắt của Ban là điều động lực lượng, bám sát và tiêu hao địch dọc Đường số 6, giữ vững tinh thần và cơ sở nhân dân, tăng cường hoạt động ở Chợ Bến. Tổng Quân ủy đề nghị Khu ủy tăng cường cán bộ và giúp đỡ Tỉnh ủy Hòa Bình. Về tổ chức nắm địch, Bộ Tổng Tư lệnh thành lập 2 đoàn cán bộ đi nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường trên cả hai hướng Chiến dịch Hòa Bình và hướng địch hậu. Phần lớn cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên của các đơn vị đều được đi nghiên cứu chiến trường. Ngoài ra, ta còn tăng thêm lực lượng trinh sát để nắm tình hình địch ở thị xã Hòa Bình. Các đoàn nghiên cứu chiến trường trinh sát đã căn bản nắm được tình hình địch, địa hình, xác định được phương án tác chiến cho từng đơn vị. Ngay sau khi Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết thư cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Hoàng Văn Thái1 (Ngày 18 tháng 11, theo sự phân công của Tổng Quân ủy, các đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Vân Thái cùng với một bộ phận nhẹ của Bộ Tổng Tham mưu iên đường đi trước tới Cẩm Khê (Phú Thọ), gần Hòa Bình để kịp thời chỉ đạo, chỉ huy tác chiến) nói lại những ý kiến của Bộ Chính trị: Đây là cơ hội rất tốt, thuận lợi để tiêu diệt địch, để phát triển du kích chiến tranh rộng rãi. Cần hết sức tranh thủ thời gian, góp nhiều thắng lợi nhỏ thành thắng lợi lớn, không nên chờ đợi quá lâu. Có thể tiêu diệt ngay một, hai cứ điểm đột xuất như La Phù, Tu Vũ. Nếu Đại đoàn 312 đánh công sự vững chắc chưa bảo đảm thì điều động một trung đoàn thuộc Đại đoàn 3082 (Trần Trọng Trung, Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 275). Trước khi lên đường tới Sở Chỉ huy tiền phương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết bản Huấn lệnh kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đứt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"1 (Những chỉ đạo chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Sđd, tr. 73). Ngày 30 tháng 11 năm 1951, Đại tướng đến Sở Chỉ huy Chiến dịch đặt ở Đồng Lương (huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ), thông qua kế hoạch tác chiến. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, Tổng Quân ủy tổ chức Hội nghị cán bộ phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch báo cáo trước Hội nghị về chủ trương tác chiến trên Mặt trận Sông Đà. Từ kết quả trinh sát, nắm tình hình địch, Hội nghị phân tích: Hiện nay, địch đã củng cố khu vực chiếm đóng của chúng thành 2 khu: Hoà Bình - Đường số 6 và sông Đà. Nếu ta tác chiến lớn ở Hòa Bình - Đường số 6 thì cung cấp gặp khó khăn và không tranh thủ được thời gian. Khu sông Đà, địch chia thành 2 tiểu khu phòng ngự then chốt: La Phù - Đan Thê và Tu Vũ - Núi Chẹ. Tiểu khu La Phù - Đan Thê mạnh hơn, vì các vị trí có thể yểm hộ, ứng cứu lẫn nhau, nhiều đường giao thông thủy, bộ, trong khi đó, tiểu khu Tu Vũ - Núi Chẹ yếu hơn vì ở vào vị trí cô lập, có sông ngăn cách, xa các căn cứ Sơn Tây, Trung Hà, chỉ có một con đường bộ (Đường số 87) và một đường thủy (sông Đà - Hoà Bình đi Trung Hà). Hai cứ điểm Tu Vũ và Núi Chẹ quan hệ mật thiết với nhau. Núi Chẹ là trận địa hỏa lực và căn cứ hậu cần của Tu Vũ, còn Tu Vũ là bình phong của Núi Chẹ, nhưng giữa hai cứ điểm có sông ngăn cách. Trên cơ sơ phân tích thế bố trí của địch, những thuận lợi, khó khăn của ta, Hội nghị chủ trương: Tập trung lực lượng đột phá tuyến Sông Đà, bắt đầu bằng trận tiêu diệt Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ tiêu diệt viện binh địch cả trên bộ và trên sông, ở vùng sau lưng địch, tích cực phát triển du kích chiến tranh, phối hợp với mặt trận phía trước. Phương châm tác chiến đề ra cho Mặt trận Hoà Bình - sông Đà - Đường số 6 là "đánh điểm, diệt viện" (có thể vây điểm, diệt viện), hết sức tranh thủ giải quyết xong trận đánh trong một đêm, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng tiếp tục đánh ban ngày, về đánh viện, chuẩn bị đánh viện binh địch cả trên đường thủy, đường bộ, cả cơ giới và quân dù hết sức tạo cơ hội và không bỏ lỡ cơ hội diệt viện binh địch ban đêm. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là tích cực, chủ động, linh hoạt tìm địch mà đánh; nhanh chóng, bí mật, nêu cao tinh thần phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau. Hội nghị chỉ rõ những điều cần đặc biệt chú ý: Đánh thông tư tưởng, làm cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ nhận rõ cơ hội thuận lợi để tiêu diệt sinh lực địch, thấu triệt ý nghĩa và mục đích quan trọng của chiến dịch; chú trọng công tác tuyên truyền, đề cao tinh thần mạnh bạo, cương quyết hoàn thành nhiệm vụ; triệt để giữ bí mật. Cơ quan tham mưu phải nắm vững địch ở Bắc Bộ, đặc biệt là Mặt trận Sông Đà; tổ chức chỉ huy chu đáo, tăng cường nắm vững thông tin liên lạc; giải quyết các vấn đề chiến thuật cho bộ đội, nhất là chiến thuật qua sông, đánh sông, đánh cơ giới, phòng không, đánh pháo; giúp đỡ địa phương tăng cường lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh du kích. Cơ quan cung cấp có kế hoạch chuẩn bị để có thể liên tục chiến đấu; hết sức tiết kiệm lương thực, dân công; giải quyết chu đáo vấn đề thương binh, tử sĩ... Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch sử dụng Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu của chiến dịch, tiêu diệt sinh lực địch và phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà. Đại đoàn 308 có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ và đánh viện cả trên bộ và trên sông Đà từ Tu Vũ đến Hoà Bình. Riêng Trung đoàn 102 (làm dự bị) đứng chân ở Cổ Tiết, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ sẵn sàng đánh địch tiến công ra vùng tự do Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hoá. Nhiệm vụ tiến công Tu Vũ được giao cho Trung đoàn 88. Đại đoàn 312 có nhiệm vụ tiêu diệt vị trí Núi Chẹ (đồng thời với Đại đoàn 308 tiến công Tu Vũ), đánh viện trên hướng Sơn Tây - Đá Chông - Trung Hà, giao cho Trung đoàn 209 tiến công Núi Chẹ. Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch làm nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hoà Bình và đánh địch trên Đường số 6. Sau Hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp riêng Ban Chỉ huy Trung đoàn 88 nhấn mạnh: Giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 88, Đảng ủy đã cân nhắc, thấy khả năng các đồng chí làm được. Nhớ rằng trận đầu phải thắng, chỉ được phép thắng. Có nhiều khó khăn đấy. Phải quyết tâm vượt qua, mà vượt qua được thì Trung đoàn các đồng chí sẽ rất trưởng thành. Về công tác bảo đảm, ngay khi địch đánh chiếm Hòa Bình, Tổng Quân ủy chỉ đạo tiến hành triển khai hệ thống kho trạm trên một diện rất rộng từ Bắc Ninh - Bắc Giang qua Phú Thọ sang hướng sông Đà, Đường số 6, trong đó có những vùng "vành đai trắng" như Trung Hà trên các trục đường số 89, số 87, số 21; đẩy mạnh việc chuẩn bị lương thực, thực phẩm, đạn dược cho chiến dịch. Để nhanh chóng huy động được nhân lực vật lực, bảo đảm cho tác chiến trên các hướng theo quyết tâm chiến dịch, Tổng Quân ủy quyết định thành lập 2 ban cung cấp tiền phương ở Bắc và Nam Hoà Bình. Ban Cung cấp tiền phương Mặt trận Bắc Hoà Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn công pháo 351 cùng các lực lượng vũ trang địa phương; Ban Cung cấp tiền phương Mặt trận Nam Hoà Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 304 và Đại đoàn 320. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:47:13 am 3. Chỉ đạo tác chiến chiến dịch linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa mặt trận chính diện và sau lưng địch
Khi địch mới tiến công lên Hòa Bình, ta chủ trương mở chiến dịch phản công, đập tan cuộc tiến công quy mô lớn của địch. Nhưng, trên cơ sở đánh giá toàn diện, nhất là nhận thấy địch đã chuyển nhanh sang trạng thái phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm, trong khi chúng ta chưa có khả năng tổ chức ngay chiến dịch phản công, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Quân ủy đã kịp thời chuyển từ loại hình chiến dịch phản công sang loại hình chiến dịch tiến công khi ta bắt đầu nổ súng mở màn chiến dịch. Từ chuyển hướng đúng đắn đó, Đại tướng đã cùng Tổng Quân ủy khẩn trương chỉ đạo công tác chuẩn bị, kịp thời cơ động và triển khai lực lượng chiến dịch; xây dựng được kế hoạch tác chiến chiến dịch đúng đắn, sáng tạo. Đó là kết hợp tác chiến chặt chẽ giữa mặt trận chính diện (Hòa Bình) và mặt trận sau lưng địch (trung du và đồng bằng Bắc Bộ). Hai mặt trận này luôn gắn bó với nhau một cách hữu cơ, cùng tạo điều kiện cho nhau để giành thắng lợi. Thực tiễn đã chứng minh chủ trương phối hợp tác chiến giữa hai mặt trận phía trước và vùng sau lưng địch trong một chiến dịch là một cách đánh sáng tạo và có hiệu quả, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó trên hai chiến trường phía trước và sau lưng, đẩy địch ngày càng lún sâu vào thế bị động, bị tổn thất nặng nề. Suốt quá trình chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn bám sát thực tiễn chiến trường, nắm chắc diễn biến của từng đợt, từng trận đánh, nhất là những trận then chốt để kịp thời giải quyết mọi khó khăn và xử trí các tình huống phức tạp; kịp thời bổ sung kế hoạch, điều chỉnh lực lượng sát với diễn biến chiến dịch tiến công. Ngay sau đợt 2 của chiến dịch, Đại tướng và Tổng Quân ủy đã kịp thời chuyển hướng chính của chiến dịch sang tuyến thị xã Hòa Bình - Đường số 6, tuyến sông Đà - Ba Vì thành hướng phụ; tiến hành cắt Đường số 6, bao vây, khống chế, cô lập thị xã Hòa Bình và tổ chức nhiều hoạt động nhỏ để tiêu hao sinh lực, khiến cho quân Pháp càng lâm vào thế bị động. Đặc biệt, sau từng trận đánh thành công hoặc không thành công, sau mỗi đợt chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều chỉ đạo các đơn vị tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm chiến đấu; kịp thời gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sẳc nhiệm vụ. Trên cơ sở so sánh lực lượng khoa học, nắm vững âm mưu, thủ đoạn của địch, Đại tướng đã chỉ đạo các đơn vị quán triệt, vận dụng phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện", "liên tục chiến đấu"; tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, bí mật bất ngờ, nghi binh lừa địch, tận dụng địa hình rừng núi để chủ động tiêu diệt địch. Cách đánh đó không chỉ đem lại kết quả về mặt tiêu diệt sinh lực địch mà còn khoét sâu khó khăn chủ yếu của chúng về mặt hậu cần tiếp tế và cơ động lực lượng, ở mặt trận sau lưng địch, Đại tướng chỉ đạo các đơn vị phát triển "đánh điểm, diệt viện", kết hợp với đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, tiến công và nổi dậy của quần chúng. Dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, ta "đánh điểm" nhiều trận hiệu quả cao như tập kích Điểm cao 600, Điểm cao 400; diệt trận địa pháo địch trong thị xã Hòa Bình của Đại đội 41 Trung đoàn 36; trận Gốp Bộp của Trung đoàn 209 Đại đoàn 312... Cách đánh và sự phối hợp chặt chẽ của ta trên cả hai hướng (Đường số 6 và tập kích trận địa pháo trong thị xã Hoà Bình) đã gây cho quân Pháp tổn thất nặng nề. Tướng Xalăng phải thừa nhận rằng, quân Pháp bất lực, không thể đối phó đồng thời trên cả hai mặt trận, số thương vong của các binh đoàn cơ động không thể bổ sung. Thị xã Hòa Bình ngày càng bị cô lập do bị ngăn chặn cả đường không và đường bộ. Đó là nguyên nhân dẫn đến quyết định của Tướng Xalăng, từng bước rút quân khỏi chiến trường Hoà Bình - Đường số 6, trước hết là rút hẹp dần phạm vi chiếm đóng trên hướng sông Đà, chuẩn bị từng bước rồi bí mật và nhanh chóng đưa toàn bộ lực lượng hơn 2 vạn quân về bên trong phòng tuyến boongke. Từ cuối tháng 1 năm 1952, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân định: "Theo thế chung thì muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hoà Bình. Hiện nay đã có nhiều triệu chứng chứng từ địch rút và có thể là địch tranh thủ rút nhanh"1 (Trần Trọng Trung, Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 275) và chỉ đạo cơ quan tham mưu xây dựng ngay kế hoạch đánh địch rút chạy. Đúng như nhân định của Đại tướng, do bị bao vây, cô lập ở Hoà Bình, lại bị đánh mạnh ở đồng bằng, từ ngày 23 tháng 2 năm 1952, có 5 tiểu đoàn địch bắt đầu lặng lẽ rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Quân Pháp dùng 3 vạn viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút lui với hy vọng giảm thiểu thiệt hại. Trên đường rút chạy, bị chủ lực, bộ đội địa phương ta đón đánh gây thiệt hại một phần, phần lớn quân địch chạy thoát về Xuân Mai. Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sau hơn 2 tháng chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), ở Mặt trận Hoà Bình ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6 nghìn tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hoà Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của Pháp. Ở mặt trận địch hậu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 tên địch, thu 6.000 súng các loại, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hoà Bình giành thắng lợi. Nhà báo, nhà sử học Bécna Phôn (Bernard Fall) sau này đã viết: "Chiến dịch Hòa Bình đối với quân Pháp cũng tổn thất về sinh mạng và trang bị nhiều không kém gì Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Điện Biên Phủ sau này"2 (Dẫn theo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Sđd, tr. 805). Bằng tư duy nhạy bén, kinh nghiệm thực tiễn phong phú, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã nhận định đúng tình hình tham mưu cho Bộ Chính trị mở Chiến dịch Hòa Bình, trực tiếp chỉ đạo công tác chuẩn bị chu đáo; luôn bám sát diễn biến của chiến dịch để kịp thời điều chỉnh lực lượng, chuyển hướng, mục tiêu tiến công chính xác; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả giữa hai mặt trận, tạo sức mạnh tổng hợp bảo đảm tiến công địch liên tục, dài ngày, càng đánh càng mạnh; đề ra được phương châm tác chiến chiến dịch phù hợp; tạo được thế trận bao vây, chia cắt thế trận địch, đẩy đối phương ngày càng lâm vào thế bị động, bị tổn thất nặng nề về lực lượng, cuối cùng chịu thất bại hoàn toàn. Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chiến dịch. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đúc kết: "Sau ba chiến dịch Xuân - Hè ở trung du và đồng bằng, đến Chiến dịch Hoà Bình, một vấn đề có tầm chiến lược đã được khẳng định: Địa bàn rừng núi là chiến trường bộ đội ta có thêm điều kiện hạn chế ưu thế về binh khí, kỹ thuật và khả năng cơ động tăng viện của địch đồng thời cũng là chiến trường quân ta có thể phát huy sở trường chiến đấu của mình nhằm tiêu diệt sinh lực địch đủ để tạo nên chuyển biến lớn có ý nghĩa chiến lược"1 (Trần Trọng Trung, Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 276). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:49:35 am THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH BƯỚC PHÁT TRIỂN ĐIỀU HÀNH CHIẾN TRANH CỦA ĐẢNG Đại tá, TS LÊ THANH BÀI Trưởng phòng Lịch sử Tư tưởng, tổ chức quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Lãnh đạo nhân dân ta tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, với phương châm đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Đường lối đó là sự vận dụng truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông và quy luật chiến tranh cách mạng bảo vệ Tổ quốc nhằm huy động tối đa sức mạnh, chuyển hóa lực lượng cho cuộc chiến đấu chống lại kẻ xâm lược hơn hẳn về tiềm lực vật chất, giành thắng lợi từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong quá trình chỉ đạo kháng chiến, với cách điều hành ngày càng linh hoạt, Trung ương Đảng đã hướng cho mọi hoạt động diễn ra theo đường lối, chủ trương đã xác định, ngày càng đạt hiệu quả cao. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951 - 1952 là bước phát triển điều hành chiến tranh của Trung ương Đảng. 1. Nắm chắc tình hình, linh hoạt chớp thời cơ Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới (Thu - Đông 1950) đã tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Kể từ đây, cuộc kháng chiến đã thoát khỏi vòng vây quân thù, quân và dân ta đã giành được quyền chủ động chiến lược, đẩy mạnh vận động chiến để đi đến giành những thắng lợi lớn hơn. Tuy nhiên, sau bốn chiến dịch (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt) và một tháng hoạt động du kích đã không đạt kết quả như dự kiến, nên đến nửa cuối năm 1951 "Chúng ta chưa giành được ưu thế quân sự, chưa phá được phòng tuyến của địch, chưa thay đổi được tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, 1951, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 573), trong khi Pháp và tay sai củng cố thế phòng ngự, ra sức đẩy mạnh chiến tranh tổng lực, càn quét bình định quyết liệt hòng biến vùng tạm chiếm và vùng du kích trở thành hậu phương vững chắc của chúng. Âm mưu và hành động của địch gây cho chúng ta khá nhiều khó khăn, nhất là ở Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Trước tình hình đó, Hội Nghị Trung ương lần thứ 2 (10.1951) chủ trương: nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực, đẩy mạnh vận động chiến, phát triển chiến tranh du kích nhằm "tiêu diệt sinh lực của địch, phá kế hoạch phòng ngự của chúng, giữ vững thế chủ động, tiến tới giành ưu thế quân sự trên chiến trường chính"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 587). Tuy nhiên, để thực hiện được chủ trương trên là một vấn đề lớn, bởi chúng ta vẫn chưa tìm ra phương hướng phù hợp cho bộ đội chủ lực hoạt động, chưa chọn được được hướng tiến công và kế hoạch tác chiến nhằm phá ý đồ tấn công giành quyền chủ động của địch trong Đông - Xuân 1951 - 19523 (Xem Bộ Tổng Tham mưu, Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), 1991, tr. 509). Ngày 13 tháng 10 năm 1951, trong kế hoạch tác chiến báo cáo lên Tổng Quân ủy, cơ quan tham mưu nhận định: Ta chưa đủ điều kiện để tấn công vào vùng Đông Bắc và địa bàn trung du nơi địch bố trí đông lực lượng, công sự vững chắc; Hướng Tây Bắc địch bố trí phân tán, ít có điều kiện sử dụng binh lực lớn, nhưng thắng lợi Tây Bắc sẽ không gây ảnh hướng lớn về chính trị. Cơ quan tham mưu lựa chọn hữu ngạn Liên khu 3 làm hướng tiến công chủ yếu. Dù nơi đây địa hình khá bằng phẳng, bị sông ngòi chia cắt, bất lợi cho hoạt động của ta… nhưng có thuận lợi là địch tương đối yếu, xa các căn cứ chính. Ta có điều kiện đánh công kiên, đánh vận động tiến sâu vào lòng địch. Thắng lợi ở hướng này sẽ gây ảnh hưởng lớn về mặt chính trị, tranh thủ được nhân dân, trực tiếp thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở đồng bằng, có thể phá được kế hoạch giành lại quyền chủ động của địch. Trên cơ sở đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở "Chiến dịch Liên khu 3" tiến công địch ở đồng bằng Bắc Bộ bằng lực lượng của 2 đại đoàn 320 và 304 và một số đơn vị pháo binh, hướng phối hợp là trung du và Tây Bắc do Đại đoàn 316 và Đại đoàn 312 đảm nhiệm; dự kiến chiến dịch sẽ diễn ra trung tuần tháng 12 năm 1951. Bộ Tổng Tham mưu cũng dự kiến và lên phương án đánh địch nếu chúng tiến công Thanh Hóa, Hòa Bình, hoặc Lạng Sơn, vùng tự do khu vực trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang. Đối với hướng Hòa Bình, khi địch tấn công, lực lượng địa phương sẽ đối phó trước. Sau đó tuỳ theo điều kiện sẽ sử dụng lực lượng của ba đại đoàn 308, 304 và 320 để đánh địch và căn cứ điều kiện cụ thể có thể mở chiến dịch phản công. Dự kiến trên đã thể hiện tư tưởng chỉ đạo của cơ quan tham mưu là vừa chuẩn bị tiến công nhưng vẫn sẵn sàng đánh phản công. Tuy vậy, ta vẫn nhận định: "Táo bạo địch có thể sục sạo hay tấn công đánh chiếm Hòa Bình. Nhưng khả năng này hiện nay còn ít"1 (Chỉ thị cho Liên khu 3, số 520 CT/GS ngày 24 tháng 10 năm 1951, Dẫn theo Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp,.. Sđd, tr. 515). Về phía Pháp, dưới sự chỉ huy của Đờ Lát - Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương, quân viễn chinh Pháp nhanh chóng triển khai phòng tuyến với trên 80 vị trí gồm 800 lô cốt chạy dài từ Hòn Gai, Đông Triều qua Bắc Giang, Bắc Ninh, sang Sơn Tây, Hòa Bình, xuống Ninh Bình - Phát Diệm, được trấn giữ bởi 25 tiểu đoàn quân Âu - Phi tinh nhuệ, với 1.200 khẩu cối, 500 khẩu pháo từ 37mm đến 105mm và trên 10 nghìn súng tự động1 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 346). Với phòng tuyến này, cộng với sự tập trung của 54% quân số trên toàn Đông Dương (86 tiểu đoàn bộ binh, trong đó có 26 tiểu đoàn cơ động chiến lược và 15 tiểu đoàn cơ động chiến thuật), địch đã binh định, đánh chiếm hầu hết vùng đồng bằng chiến lược, thế trận chiến tranh nhân dân ở đây bị suy giảm nghiêm trọng. Với kết quả đó, Đờ Lát tính đến phải có trận đánh quyết định hòng làm thay đổi tương quan lực lượng, giành quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ để xoay chuyển tình thế cuộc chiến tranh. Mục tiêu đầu tiên mà viên tướng đầy tham vọng này lựa chọn là Thanh Hóa, vùng hậu phương chiến lược của ta. Dự kiến vào nửa cuối tháng 10 năm 1951 sẽ cho 10 tiểu đoàn hành quân đường biển đổ bộ vào Sầm Sơn, 8 tiểu đoàn sẽ nhảy dù xuống thị xã Thanh Hóa và vùng phụ cận, nhằm thọc sâu vào vùng tự do của ta, phá hậu phương quan trọng của cuộc kháng chiến, buộc chủ lực ta phải giao chiến ở địa bàn mới lạ, xa căn cứ Trung ương. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc, với mong muốn "hút chủ lực đối phương để tiêu diệt", Đờ Lát chuyển mục tiêu tấn công lên Hòa Bình, tinh miền núi, có hơn 15.000 dân, chủ yếu dân tộc Mường, địa bàn Pháp phải rút bỏ sau thất bại ở biên giới Thu - Đông 1950. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:50:41 am Hòa Bình không phải là hậu phương quan trọng của cuộc kháng chiến nhưng lại là đầu mối giao thông giữa Việt Bắc với các tỉnh đồng bằng hữu ngạn sông Hồng và vùng tự do Liên khu 4, vào Liên khu 5, chiến trường Nam Bộ; là cửa ngõ tiến vào Tây Bắc, thông sang Thượng Lào. Chiếm được Hòa Bình, không những thực hiện được việc chia cắt chiến trường mà còn mở rộng phòng tuyến Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, biến Hòa Bình thành bàn đạp tiến công vào miền núi rừng phía Bắc, uy hiếp vùng tự do của ta ở Phú Thọ, tây Ninh Bình, Thanh Hóa. Đờ Lát cũng cho rằng với việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ thu hút được được chủ lực ta đến tiêu diệt. Thắng lợi về mặt quân sự sẽ tạo thế cho việc lập lại cái gọi là "Xứ Mường tự trị", tiếp tục thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc. Viên chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương cũng hy vọng với thắng lợi này sẽ nhận thêm được sự viện trợ của Mỹ và Anh1 (Trong tháng 9 và 10 năm 1951, Đờ Lát công du Mỹ và Anh nhằm xin thêm viện trợ. Được Mỹ cam kết sẽ gửi sang chiến trường Đông Dương 9.000 súng tiểu liên, 500 súng máy, 5.000 xe vận tải; xem xét viện trợ xe tăng, máy bay, tàu chiến... Anh cung cấp thêm một số trang bị, chủ yếu súng tiểu liên cá nhân. Tuy vậy, những cam kết trên đã không đáp ứng được yêu cầu của Đờ Lát, đó là chưa kể Mỹ ra điều kiện phần lớn hàng viện trợ phải được sử dụng vào tổ chức và trang bị cho quân đội Quốc gia Bào Đại).
Ngày 9 tháng 11, cuộc hành quân tấn công Hòa Bình chính thức bắt đầu. Dưới sự chỉ huy của tướng Đờ Linarét (De Linares) - Tư lệnh lục quân Bắc Việt, 7 tiểu đoàn bộ binh và dù thực hiện cuộc hành quân Hoa Tuylíp đánh ra Chợ Bến. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, tướng Xalăng tập trung lực lượng thuộc 5 binh đoàn cơ động cùng với quân dù, có máy bay, pháo binh, xe tăng, tàu xuồng chiến đấu yểm trợ, mở hành quân Hoa sen (Lôtuýt) đánh chiếm Hòa Bình, Đường số 6 và khu vực sông Đà - Ba Vì. Các hướng tiến của địch gần như không gặp trở ngại, đến 17 giờ ngày 14, chúng đã chiếm được thị xã Hòa Bình, sang ngày 15 hoàn thành việc chiếm đóng các vị trí then chốt trong khu vực Hòa Bình - Đường số 6, sông Đà - Ba Vì. Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam), được xây dựng theo hình thức tập đoàn cứ điểm gồm 28 vị trí lớn nhỏ bằng gỗ, đất, gạch đá, có thể hỗ trợ cho nhau khi bị tiến công. Ngoài ra còn có phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía đông bảo vệ Hòa Bình. Toàn bộ lực lượng gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng1 (Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng Hoà Bình, Pháp đã rút một số lực lượng gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo về tăng cường cho đồng bằng Bắc Bộ). Sau khi tái chiếm Hòa Bình, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đốc thúc xây dựng trận địa phòng thủ, chờ cơ hội để tiêu diệt bộ đội chủ lực ta. Trước hành động của địch, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định đình chỉ công tác chuẩn bị chiến trường Liên khu 3. Trong báo cáo gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phân tích: Với cuộc tiến công ra Chợ Bến, Hòa Bình, địch đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, cố gắng giành lại quyền chủ động, gây cho ta những khó khăn mới về chính trị, quân sự, kinh tế. Nhưng chúng phải dùng một bộ phận cơ động để mở rộng phạm vi chiếm đóng khiến cho chiến tranh du kích ở đồng bằng có điều kiện phát triển. Đồng thời, địch phải phân tán một lực lượng trên chiến trường rừng núi, giao thông không thuận lợi, công sự mới xây dựng chưa được vững chắc. Đại tướng nhận định: "Trước cũng có dự kiến nếu địch đánh ra Hòa Bình... và chủ trương nếu địch đánh ra thì chuyển hướng chiến dịch, và tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực trên chiến trường đó. Nay chủ trương mở Chiến dịch Hòa Bình, chuyển kế hoạch hoạt động thu đông sang tiến công nơi địch mới chiếm. Hòa Bình sẽ là hướng chính, các nơi khác phối hợp. Mục đích chính của chiến dịch này là tiêu diệt sinh lực địch ở chiến trường Hòa Bình, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích nơi khác"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 50). Tổng Quân ủy đề nghị Bộ Chính trị thành lập Ban Chỉ huy lâm thời để chỉ đạo bộ phận chuẩn bị chiến trường, khẩn trương chuẩn bị hậu cần chiến dịch. Ngày 21 tháng 11 năm 1951, trong thư gửi các đồng chí trong Tổng Quân ủy, đồng chí Phạm Văn Đồng thông báo Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị hoàn toàn nhất trí với nhận định và chủ trương của Tổng Quân ủy và khẳng định: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh và thắng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Sđd, tr. 56). Ngày 24 tháng 11, trong Chỉ thị số 22-CT/TU "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", sau khi vạch rõ âm mưu của đánh ra Hòa Bình của địch, nêu lên nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, Ban Chấp hành Trung ương đã phân tích những đặc điểm của thời cơ mới: "Địch phải phân tán các đội ứng chiến của chúng trên một mặt trận rộng lớn, rừng núi hiểm trở, công sự chưa kịp xây dựng, chưa kịp củng cố. Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch... Địch dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ của chúng ở Hòa Bình, buộc phải sơ hở các mặt trận khác và ở sau lưng địch. Đó cũng là cơ hội tốt để ta đánh địch trên các mặt trận ấy và hoạt động mạnh trong vùng du kích nhất là ở tả ngạn Hồng Hà. Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch, nhằm mục đích phá âm mưu quân sự mới của địch"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 596,598). Chỉ thị cũng nhắc nhở chiến trường trên toàn quốc "phải tìm chỗ sơ hở mà đánh địch trên mặt chính và mặt sau lưng... để kìm hãm địch, không cho chúng điều động ra Bắc Bộ"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 596,598). Hạ tuần tháng 11 năm 1951, trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ chủ lực, dân quân, du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"4 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Như vậy, trên cơ sở nắm chắc tình hình, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh đã kịp thời điều chỉnh kế hoạch tác chiến, tạo cơ sở để Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hòa Bình. Điều này đã thể hiện sự linh hoạt trong điều hành chiến tranh, vận dụng nhận thức đúng đắn vào thực tiễn, tranh thủ thời cơ, xoay chuyển tình huống có lợi cho kháng chiến. Đây chính là bước phát triển trong điều hành chiến tranh ở Chiến dịch Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:51:59 am 2. Chỉ đạo thành công chiến dịch quy mô lớn đầu tiên
Chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy xác định quyết tâm phải phá tan âm mưu của địch trong Thu - Đông 1951, nhấn mạnh việc "Địch mang lực lượng vào chiến trường miền Tây là cơ hội tốt để tiêu diệt chúng, đồng thời phải đẩy mạnh chiến trường du kích ở khắp các nơi sau lưng địch hiện đang sơ hở. Để tận dụng kịp thời cơ hội này, chúng ta phải tranh thủ thời gian, vừa chuẩn bị vừa ra trận, khắc phục mọi khó khăn, đánh cho địch những đòn nặng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Sđd, tr. 72). Bộ Tổng Tư lệnh đã huy động 3 đại đoàn chủ lực (304, 308, 312) và Đại đoàn công pháo 351, có nhiệm vụ đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6; Đại đoàn 316 tấn công địch ở trang du Bắc Bộ; các đơn vị chủ lực của Liên khu 4 được lệnh đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường Bình - Trị - Thiên. Đại đoàn 320 cùng Trung đoàn 42, Trung đoàn 46 (chủ lực Liên khu 3) dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng, phối hợp với lực lượng bộ đội địa phương dân quân du kích tiến sâu vào lòng địch, đánh tiêu diệt, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích. Như vậy, đây là lần đầu tiên chúng ta tiến hành chiến dịch trên mặt trận cả chính diện và sau lưng địch, trên phạm vi rộng của khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Kể từ ngày đầu kháng chiến, đây cũng là chiến dịch huy động lực lượng cao nhất (6 đại đoàn, 2 trung đoàn)2 (Chiến dịch Biên Giới có 1 đại đoàn (308), 2 trung đoàn (209, 174), 3 tiểu đoàn (426, 428, 888); Chiến dịch Trần Hưng Đạo có 4 đại đoàn (308, 312 hướng chính, 320, 304 hướng Liên khu 3); Chiến dịch Hoàng Hoa Thám có 4 đại đoàn (308, 312 hướng chính; 304, 320 hướng phối hợp) và 2 trung đoàn (98,174); Chiến dịch Quang Trung có 3 đại đoàn (304, 308, 320) và 5 liên đội pháo). Đây cũng là chiến dịch huy động lực lượng dân công lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp1 (Chiến dịch Biên Giới có 121.700 người, Chiến dịch Trần Hưng Đạo có 300.000 người, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám có 110.000 người, Chiến dịch Quang Trung có 161.000 người, Chiến dịch Tây Bắc có 194.400 người, Chiến dịch Thượng Lào có 62.530 người, Chiến dịch Điện Biên Phủ có 261.451 người), lên đến 333.200 lượt người với tổng số 11.914.000 ngày công2 (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam - 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010, tr. 173). Sau 78 ngày đêm tiến hành chiến dịch, trên mặt trận chính diện, bộ đội ta liên tiếp tấn công địch ở phòng tuyến Sông Đà và Đường số 6, vây hãm địch ở Hòa Bình. Trên "Mặt trận đồng bằng" bộ đội chủ lực các đơn vị bộ đội chủ lực thuộc Đại đoàn 320 các trung đoàn chủ lực Liên khu, ở vùng trung du các đơn vị của Đại đoàn 316 và Trung đoàn 246 phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương kết hợp tác chiến với nổi dậy phá tề trừ gian, phát triển sâu rộng chiến tranh du kích. Trên mặt trận chính diện, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng của địch giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà với diện tích trên 1.000km2 và 20 nghìn dân, diệt 6.012 tên địch, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 17 canô, phá hủy 246 xe quân sự. Trên Mặt trận Trung du và đồng bằng Liên khu 3, bộ đội chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, kết hợp tác chiến với phá tề, trừ gian ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.237 tên địch, phá hơn 1.000 đồn bốt, thu 6.126 súng các loại giải phóng 4.000km2 với hơn 1 triệu dân3 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 379), khôi phục và mở rộng căn cứ du kích, khu du kích cả những vùng ở sâu trong vùng địch tạm chiếm. Phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, quân dân Bình - Trị - Thiên và Nam Trung Bộ đẩy mạnh hoạt động, giành được những thắng lợi quan trọng. Kể từ ngày đầu kháng chiến, số binh lực bị tiêu diệt và tan rã trong Chiến dịch Hòa Bình là thiệt hại cao nhất của Pháp qua một chiến dịch. Đó là thắng lợi "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr, 6). Âm mưu củng cố phòng tuyến, tấn công ra vùng tự do của ta và giành lại quyền chủ động của thực dân Pháp đã bị thất bại nặng. "Chẳng những chúng không giành lại được quyền chủ động mà lại trở thành bị động hơn trước"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 13, 1952, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 46). Phía Pháp cũng phải thừa nhận "Cuộc hành quân chấm dứt bằng cuộc rút chạy của chúng ta trong những điều kiện khó khăn mà không đạt được một kết quả chiến lược nào. Rủi thay, cuộc chiến ở Hòa Bình đã giữ chân lực lượng cơ động của ta ở xa đồng bằng quá lâu, do đó đã tạo điều kiện cho Việt Minh xâm nhập vào đây với số lượng lớn. Và từ đó bắt đầu tình trạng "ruỗng nát" mỗi ngày một tăng, dần dần làm bất động đại bộ phận đạo quân viền chinh. Đối phương đã giành thắng lợi căn bản"3 (Henri Nava, Thời điểm của những sự thật, Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 43-44). "Sự phối hợp chiến lược có hiệu quả giữa 2 chiến trường Hòa Bình và địch hậu đã buộc địch phải chấp nhận "một thất bại kép về chiến lược", thất bại cả 2 mặt trận"4 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945- 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 135). "Thành công của Chiến dịch Hòa Bình rõ ràng là thành công của Đảng ta trong việc chỉ đạo chiến dịch tiến công trên cả 2 hướng chiến lược chủ yếu, kết hợp 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch, kết hợp vận động chiến với du kích chiến, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng"1 (Trận đánh ba mươi năm, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 475). Với việc chỉ đạo tiến hành chiến đấu giành thắng lợi trong chiến dịch huy động lực lượng cao nhất, trên địa bàn rộng lớn nhất, kết hợp nhiều hình thức tác chiến, đấu tranh kể từ ngày đầu cuộc kháng chiến và giành thắng lợi đã khẳng định sự phát triển của Trung ương, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh về chỉ đạo chiến dịch. Nhạy bén nắm bắt tình hình, kịp thời thay đổi kế hoạch, hạ quyết tâm mở chiến dịch, xây dựng phương pháp tác chiến đến vận dụng chiến thuật hiệu quả đã tạo bước phát triển mới về điều hành chiến tranh của Đảng, làm thay đổi cục diện chiến trường chính của Bắc Bộ có lợi cho ta sau 3 chiến dịch liên tiếp ở trung du và đồng bằng (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung), đã khẳng định sự phát triển trong điều hành chiến tranh của Đảng, phát huy quyền chủ động chiến lược, làm phá sản kế hoạch chiến tranh lớn của địch. Nghiên cứu về Chiến dịch Hòa Bình, các sử gia Trường Đại học Quebec (Canada) cũng nhận định: "Rõ ràng từ thời điểm này, Quân đội Việt Nam dân chủ cộng hòa đang hoạt động theo kiểu hiện đại, chỉ huy của họ có khả năng phối hợp và điều hành một trận chiến trên một khu vực rộng lớn"2 (Hòa Bình, battle of (10 december 1951-25/ebruary 1952), https://indochine. uqam.ca/en/historical-dictionary/603-hoa-binh-battle-of-10-december-195125-febni- ary-1952.html). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:53:49 am CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH KẾT QUẢ CỦA SỨC MẠNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hòa Bình có một vị trí quan trọng, là cửa ngõ kết nối giữa căn cứ địa Việt Bắc với các căn cứ kháng chiến ở đồng bằng Bắc Bộ và vùng tự do Liên khu 4. Vì thế, trong mục tiêu giành lại thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương coi việc đánh và chiếm giữ dược Hòa Bình là một ưu tiên quân sự nhằm cắt tuyến liên lạc Bắc - Nam của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời nối lại hành lang Đông - Tây, thông đường từ đồng bằng Bắc Bộ lên Tây Bắc, sang Thượng Lào, củng cố vị thế của lực lượng Pháp ở Bắc Đông Dương. Sau một thời gian chuẩn bị khá kỹ lưõng nhằm "buộc Việt Minh phải tiếp nhận chiến đấu trên một địa điểm do Pháp lựa chọn", trung tuần tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương huy động 20 tiểu đoàn bộ binh tinh nhuệ, 3 tiểu đoàn dù và nhiều binh chủng phối thuộc, chia làm 3 cánh phối hợp tấn công, đánh chiếm Hòa Bình1 (Các binh chủng phối thuộc có 7 tiểu đoàn pháo binh, 2 liên đoàn thiết giáp (tương đương trung đoàn), 1 tiểu đoàn công binh, 2 hải đoàn xung kích). Nhận định về cuộc tấn công Hòa Bình của địch, Tổng Quân ủy chỉ rõ, cuộc tấn công này "sẽ gây cho ta một số khó khăn về quân sự, nhưng mặt khác cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực địch"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong những chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, tr. 15, 16, 18). Từ nhận định đó, Tổng Quân ủy hạ quyết tâm phải nhanh chóng tranh thủ thời gian, "lợi dụng lúc địch chưa kịp củng cố, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của địch, tiến tới phá kế hoạch chiếm đóng mới của chúng"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong những chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, tr. 15, 16, 18). Với tinh thần "chủ động, linh hoạt và tích cực tiêu diệt địch"3 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong những chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, tr. 15, 16, 18) Quân đội nhân dân Việt Nam đã tác chiến trên nhiều hướng chính diện và sau lưng địch; phối hợp chặt chẽ giữa đánh địch trên khu vực sông Đà - Hòa Bình, Hòa Bình - Đường số 6 với đánh địch khôi phục, gây dựng cơ sở kháng chiến ở các vùng tạm bị chiếm nhất là ở khu vực trung du phía Bắc đồng bằng sông Hồng và phía Nam đồng bằng sông Hồng. Với cách đánh đó, toàn bộ Bắc Bộ trở thành một chiến trường, có sự chỉ đạo tác chiến thống nhất. Đây là chiến dịch có phạm vi chiến đấu rộng lớn nhất từ trước tới thời điểm đó; đồng thời, đây cũng là chiến dịch có khoảng thời gian tác chiến dài nhất, lên tới trên 2 tháng. Kết quả, ta đã giải phóng khoảng 2.000km2, tiêu diệt 22.000 sinh lực địch, bắt và bức hàng gần 7.000 tên4 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 261). Đặc biệt, trong số sinh lực địch bị tiêu diệt, có nhiều binh chủng đặc biệt (công binh, pháo binh, không quân, hải quân...), có nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Có thể nói, đó là mức tiêu diệt sinh lực địch cao nhất trong một chiến dịch từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến đến thời điểm này. Thắng lợi to lớn đó có được là nhờ ở sức mạnh của chiến tranh nhân dân, một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Trước tiên, Đảng, Chính phủ và Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh đã thành công trong việc tranh thủ nhân dân, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nhân dân trong vùng địch hậu để tiến hành kháng chiến. Sự tin tưởng của nhân dân vào tiền đồ của cuộc kháng chiến, vào thắng lợi tất yếu của cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ là một yếu tố quan trọng trong việc huy động các tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc kháng chiến nói chung, tham gia vào Chiến dịch Hòa Bình nói riêng. Trong Chiến dịch Hòa Bình, nhân dân tham gia giúp đỡ, ủng hộ bộ đội chiến đấu một cách dẻo dai, bền bỉ, không quản ngại hy sinh cả những thứ quý giá nhất của mình. Đồng bào nhiều địa phương đã dành cả những ngày Tết Nguyên đán thiêng liêng để đi dân công hỏa tuyến vận tải lương thực, đạn dược, làm đường..., đảm bảo cho bộ đội chiến đấu. Ở vùng địch hậu thuộc trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhân dân các thôn, xã vận chuyển, xay thóc, giã gạo cho bộ đội; góp tre, gỗ làm cầu, thuyền hỗ trợ bộ đội vượt sông, kênh mương đến nơi tập kết, chuẩn bị chiến đấu an toàn, ở mặt trận chính diện, dù không được chuẩn bị trước, nhưng để đảm bảo cho bộ đội chiến đấu, nhân dân các tỉnh Phú Thọ, Sơn Tây, Hòa Bình đã ủng hộ hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm cùng hàng nghìn vật dụng, đồ dùng sinh hoạt. Trong đó, nhân dân huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ngày nay) góp 2.000 gốc sắn1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 149); nhân dân các huyện: Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Lâm Thao, Thanh Ba, Yên Lập (tỉnh Phú Thọ) góp 2.800 tấn gạo, 250 con trâu, 123 con bò, 428 con lợn. Riêng nhân dân trên khu vực sông Thao của tỉnh Phú Thọ còn ủng hộ bộ đội 1.200 chiếc thuyền nan vốn là phương tiện sinh nhai để giúp cho bộ đội vượt sông2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Hậu cần - Kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 213). Tính trong 78 ngày đêm bảo đảm cho chiến dịch, nhân dân ở cả hai mặt trận đã ủng hộ hơn 6.000 tấn gạo, 70 tấn muối, 70 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác, số người tham gia dân công lên tới 333.200 lượt người với 11.914.000 ngày công1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập V, Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 167). Để bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu ở cả mặt trận chính diện và địch hậu cùng với sự giúp đỡ của nhân dân, Cơ quan Hậu cần còn huy động và cung cấp kịp thời cho các đơn vị chiến đấu 6.275 tấn gạo, hơn 200 tấn thực phẩm2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Hậu cần - Kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954), Sđd, tr. 215). Chiến dịch Hòa Bình có đặc điểm hết sức quan trọng, khác biệt so với các chiến dịch trước đây. Trong chiến dịch này bên cạnh tập trung bộ đội chủ lực 3 đại đoàn (308, 312, 304) ở mặt trận chính diện, 2 đại đoàn chủ lực khác (316, 320) của Quân đội nhân dân Việt Nam còn được điều đi sâu hoạt động trong vùng địch hậu ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, thực hiện nội ngoại tuyến phối hợp một cách rất chặt chẽ trên toàn chiến trường Bắc Bộ cũng như ở mỗi mặt trận; từ đó, phối hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích trên một quy mô rộng lớn. Trong khi ở mặt trận chính diện, nhất là phòng tuyến sông Đà - Hòa Bình và Đường số 6 - Hòa Bình, các đại đoàn chủ lực (308, 312, 304) ra sức tiến công tiêu diệt các cứ điểm, đoàn tiếp viện, tuần tra... của quân Pháp thi ở mặt trận sau lưng địch, các đại đoàn 316, 320 cùng lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích cùng nhân dân ở các tình Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình và Hải Phòng cũng mở các cuộc tiến công tiêu diệt đồn binh của Pháp và của lực lượng tay sai chính quyền Bảo Đại thân Pháp. Sự phối hợp chặt chẽ đó của quân và dân ta ở Bắc Bộ khiến Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương lúng túng đối phó, quân Pháp phải căng sức đối phó. Vào tháng 12 năm 1951, việc Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp phải điều gấp 2 binh đoàn cơ động số 1 và số 4 từ Mặt trận Hòa Bình về ứng phó với hoạt động của Đại đoàn 316 ở địa bàn Bắc Ninh đã tạo thuận lợi hơn cho các đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam tiêu diệt vị trí đồn Tu Vũ và một số cứ điểm nhỏ của đối phương trên phòng tuyến sông Đà - Hòa Bình. Sang đầu năm 1952, chuẩn bị cho cuộc rút quân khỏi Hòa Bình, tướng Xalăng - Phó Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải huy động hầu hết lực lượng dự bị cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ (tương đương 6 binh đoàn cơ động) đê đảm bảo giao thông trên Đường số 6 từ Hòa Bình về Hà Nội. Tình hình đó càng tạo điều kiện thuận lợi cho các đại đoàn chủ lực 316 và 320 của ta tăng cường luồn sâu, đẩy mạnh phối hợp tác chiến với các lực lượng vũ trang địa phương ở Khu Tả Ngạn và Liên khu 3 đánh lui các cuộc càn quét của quân Pháp. Riêng ở Liên khu 3, cuối tháng 1 năm 1952, lần đầu tiên một lực lượng bộ đội chủ lực lớn (Đại đoàn 320) đã luồn sâu thành công vào địa bàn tỉnh Thái Bình. Tại đây, Đại đoàn 320 phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích, đẩy lùi các cuộc hành quân càn quét của đối phương vào các huyện Tiền Hải, Thái Thụy, Thụy Anh... Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:54:39 am Như vậy, trong Chiến dịch Hòa Bình, Tổng Quân ủy đã có một bước đi táo bạo và sáng tạo khi vừa tiêu diệt địch ở mặt trận chính diện Hòa Bình, vừa kết hợp với đẩy mạnh tác chiến ở mặt trận sau lưng địch, tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân "thiên la địa võng", đẩy địch vào thế lúng túng. Quân Pháp không thể vừa củng cố vị trí mới chiếm đóng ở mặt trận sông Đà - Hòa Bình, vừa duy trì an ninh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Quán triệt phương châm "đánh địch trên hai mặt trận" của Trung ương, khi đưa chủ lực vào địch hậu, Tổng Quân ủy đồng thời cho lập các ban chỉ đạo để thống nhất chỉ đạo cuộc đấu tranh về mọi mặt ở vùng sau lưng địch. Theo cơ chế đó, trong vùng địch hậu, bộ đội chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng loạt cứ điểm của địch, giải tán chính quyền do Pháp lập lên, mở rộng căn cứ du kích và khu du kích. Nhiều căn cứ du kích được mở rộng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đi thông từ tỉnh này sang tinh khác; hàng triệu đồng bào được giải phóng, mùa màng và tài sản được bảo vệ. Tình hình đó khiến cho vùng tạm chiếm của thực dân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ bị thu hẹp lại, chỉ còn chiếm khoảng 1/3 đất đai vùng này. Địa bàn mà quân Pháp còn giữ quyền kiểm soát tập trung chủ yếu ở những nơi gần các đường giao thông quan trọng và các đô thị lớn1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập luận văn, Sđd, tr. 390). Riêng ở Thái Bình, quân Pháp mât hoàn toàn quyền kiểm soát 2 huyện Kiến Xương, Tiền Hải, khoảng 1/2 diện tích các huyện Thái Ninh, Thụy Anh và nhiều xã, thôn ở các huyện Quỳnh Côi, Phụ Dực, Vũ Tiên... Những thắng lợi của bộ đội trong địch hậu, một phần quan trọng là nhờ có đồng bào giúp đỡ hay phối hợp tranh đấu, đáng chú ý trong đó có sự góp sức của đồng bào công giáo Phát Diệm, Ninh Bình. Như thế, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào kháng chiến ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ đã làm tiêu tan kết quả bình định trong phần lớn năm 1951 mà Bộ Chỉ huy quân Pháp đã phải bỏ nhiều công sức mới có được, đồng thời cũng phá hỏng một phần kế hoạch "tổng động viên" nhân lực của địch ở địa bàn chiến lược này. Nếu như trong các chiến dịch trước đây, địch thua ở mặt trận chính diện nhưng củng cố được vùng địch hậu, thì lần này, địch thất bại cả ở mặt trận chính diện và địch hậu - đó là một hiện tượng mới, một thất bại mới của quân Pháp. Thắng lợi to lớn ở mặt sau lưng địch đã "làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, đã có ý nghĩa quyết định thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hòa Bình"2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944- 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr 459). Bên cạnh việc tranh thủ và vận động nhân dân giúp đỡ bộ đội chủ lực trong các hoạt động tác chiến, Tổng Quân ủy hết sức chú trọng phát triển lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân - phát triển bộ đội chủ lực về tổ chức, về tư tưởng, về chiến thuật và kỹ thuật. Trong Chiến dịch Hòa Bình, tinh thần anh dũng tập thể của bộ đội được phát huy khá cao, xuất hiện nhiều chiến sĩ dũng cảm đánh xe tăng, đánh pháo; nhiều chiến sĩ bị thương hai, ba lần nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu, nhiều chiến sĩ và đơn vị kiên quyết khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ và giúp đỡ thêm anh em đồng đội. Nhìn chung, tất cả các đơn vị đều tiến bộ. Bộ đội có nhiều tiến bộ về kỹ thuật và khả năng phối hợp tác chiến, về phương diện chiến thuật, bộ đội giữ vững và đảm bảo các nguyên tắc chiến thuật như nguyên tắc tập trung ưu thế binh lực để bao vây chia cắt tiêu diệt địch, kiên quyết áp dụng chiến thuật đánh gần, dưới phi cơ và pháo binh của địch, để khắc phục chỗ mạnh của địch về hỏa lực và lợi dụng chỗ yếu của chúng về tinh thần... Bên cạnh đó, tác phong lãnh đạo của cán bộ được nâng cao một bước đáng kể: Cán bộ được rèn luyện trong chiến đấu đã tiến bộ hơn, quyết tâm hơn, tinh thần trách nhiệm cao hơn, tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc hơn, đi sát chiến sĩ hơn, chỉ huy sát bộ đội hơn, lãnh đạo dân chủ hơn... Chiến dịch Hòa Bình đã khiến quân đội Pháp đã bị thiệt hại nặng nề về người và của. Qua đó, phản ảnh sự thất bại về chiến lược của quân Pháp khi các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của họ bị giam chân ờ xa đồng bằng trong một thời gian dài. Nhận xét về Chiến dịch Hòa Bình, nhà sử học người Pháp Bécna Phôn (Bernard Fall) cho rằng: "Chiến dịch Hòa Bình đối với Quân đội Pháp cũng tổn thất về sinh mạng và trang bị nhiều không kém gì Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Điện Biên Phú sau này"1 (Bernard B. Fall, Street without Yoy, Indochina at war, 1946-54, The Stackpoie Company, Harrisbarg, Pennsylvania, 1961, p. 55). Gửi thư khen ngợi Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các chiến sĩ mặt trận Hòa Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công"1 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 186). Có thể khẳng định rằng, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả tập trung nhất của sức mạnh chiến tranh nhân dân và đến lượt mình, chiến thắng đó tác động trở lại, thúc đẩy chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ lên một bước mới, tạo điều kiện cho thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - cuộc kháng chiến bảo vệ lợi ích của nhân dân, mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân nhanh chóng đến gần. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:56:47 am CHIẾN TRƯỜNG BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thượng tá, TS PHAN SỸ PHÚC Phó Trưởng phòng Lịch sử quân sự thế giới, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cuối năm 1951, đầu năm 1952, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã giành thắng lợi lớn trong Chiến dịch Hòa Bình. Với chiến thắng này, quân và dân ta đã đánh bại âm mưu chiếm đóng vùng tự do, phá tan ý đồ giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ; nối thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, tạo điều kiện cho những thắng lợi quan trọng về sau. Đây là chiến thắng mang ý nghĩa chiến lược về quân sự và chính trị đối với nước ta và có ảnh hưởng đến cục diện chung toàn chiến trường Đông Dương. Mặt khác, những hoạt động của lực lượng kháng chiến ở các chiến trường Lào, Campuchia cũng đã có những ảnh hưởng, vai trò nhất định trong việc "chia lửa", góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình tại Việt Nam. Sau 4 năm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, trên toàn chiến trường Đông Dương, nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đã giành được những thắng lợi cả về quân sự, chính trị, ngoại giao... Lúc này, được Mỹ tích cực giúp đỡ, thực dân Pháp tiếp tục theo đuổi chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" ngày một triệt để hơn. Về tổng thể, địch tập trung lực lượng phòng giữ và bình định vùng chiếm đóng, chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, đồng thời ra sức tăng cường lực lượng, nhất là viện binh từ Pháp sang, chuẩn bị điều kiện để phản công nhằm tiêu diệt chủ lực Việt Minh, giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất. Được cử sang làm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, tướng Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) nhanh chóng đề ra kế hoạch mới. Mục tiêu của Đờ Lát là tiến hành "chiến tranh tổng lực" để bình định những vùng tạm chiếm và chuẩn bị tiến ra vùng tự do nhằm vơ vét sức người sức của của ba nước Đông Dương, chuẩn bị tổng phản công giành lại quyền chủ động chiến lược. Các hoạt động của địch đã gây cho lực lượng kháng chiến ba nước Đông Dương nhiều khó khăn, nhất là cuộc đấu tranh vùng sau lưng địch càng phức tạp. Phát huy thắng lợi đã giành được trong 4 năm, tiếp tục đưa cuộc kháng chiến đi lên, bước sang giai đoạn mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương xác định: "Đông Dương là một chiến trường cùng chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và cách mạng Việt Nam có trách nhiệm tiếp tục giúp cách mạng Lào, Campuchia, hơn lúc nào hết, chúng ta phải ra sức giúp đỡ Lào, Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, phát triển chiến tranh du kích"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 81, 82, 83, 280 Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1945 - 1954) ", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 65). Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp, xác định nhiệm vụ và biện pháp chủ yếu cho cách mạng Việt Nam Lào và Campuchia lúc bấy giờ là "tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập, thống nhất cho đất nước, bảo vệ hòa bình thế giới". Văn kiện Đại hội khẳng định: "Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến. Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào. Vì vậy ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào. Và tiến đến thành lập mặt trận thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 36), về tổ chức đảng ở mỗi nước, theo đề nghị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, vào thời điểm đó, trên cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương nên tổ chức ở mỗi nước một Đảng Cộng sản để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình. Ở Lào, thực hiện kế hoạch Đờ Lát nhằm biến Lào thành một chiến trường phối hợp quan trọng, phục vụ mở rộng cuộc chiến tranh Đông Dương, thực dân Pháp tập trung ở Lào gồm 20.000 quân, trong đó có 60% quân ngụy Lào, 40% quân Âu - Phi và quân ngụy Việt Nam, mở các cuộc càn quét ác liệt vào các vùng căn cứ kháng chiến. Đồng thời, địch dùng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, tuyên truyền lừa bịp, mua chuộc, lôi kéo hòng chia rẽ, cô lập làm suy yếu tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân hai nước Lào - Việt. Ở Đông Lào, ngoài trung tâm phòng thủ Khang Khay, Cánh Đồng Chum, địch gấp rút lập 29 đồn bốt và một số sân bay nhằm đánh chiếm toàn bộ khu vực các huyện Mường Kham, Mường Pẹc, Mường Khum, Mường Mộc, hình thành một vành đai an toàn cho chúng ở sát biên giới tỉnh Nghệ An (Việt Nam). Trong 2 năm 1951 - 1952, thực dân Pháp tập trung nhiều lực lượng cơ động liên tục mở các cuộc càn quét, đánh phá dữ dội các căn cứ kháng chiến, trọng tâm là các tỉnh ở Bắc Lào, hòng "biến Bắc Lào thành nơi trú quân" hỗ trợ cho đồng bọn của chúng ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Địch tập trung hơn 1.000 quân càn quét vùng Nậm Bạc kéo dài hơn 1 tháng. Chúng mở rộng chiếm đóng thêm 63 vị trí trong tổng số 126 vị trí ở Thượng Lào, gây cho các lực lượng kháng chiến của Lào và Việt Nam nhiều khó khăn2 (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 81, 82, 83, 280 Quân ltình nguyện Việt Nam tại Lào (1945 - 1954)", Sđd, tr. 156). Để tăng cường sức mạnh giúp cách mạng Lào, tháng 4 năm 1951, Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào được thành lập. Các lực lượng Quân tình nguyện ở đây được thống nhất thành 4 đoàn (81, 82, 83, 280 - mỗi đoàn tương đương 1 trung đoàn). Tổng quân số của Mặt trận Thượng Lào là 2.343 người1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập 5, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 206). Việc thành lập các đoàn Quân tình nguyện Việt Nam là sự kiện quan trọng đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về quy mô tổ chức lực lượng và là thay đổi về chất, tạo ra lực mới để phối hợp tác chiến quy mô ngày càng lớn trên chiến trường Lào, tiến tới giành những thắng lợi ngày càng to lớn hơn. Trong những năm 1951 - 1952, thực dân Pháp ra sức càn quét, bình định các vùng mới giải phóng, các căn cứ địa của Lào, các nơi cơ sở cách mạng còn yếu và lực lượng vũ trang kháng chiến còn phân tán. Do địch có lực lượng đông, vũ khí hiện đại, ta lại chưa đủ sức ngăn chặn các cuộc càn quét quy mô của địch nên vùng giải phóng bị thu hẹp, nhiều cơ sở bị phá. Quân tình nguyện Việt Nam đã cùng bộ đội Lào Ítxala kiên cường bám địa bàn, bám dân, tích cực chiến đấu chống địch lấn chiếm, tiêu hao, kiềm chế địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, giữ vững cơ sở, tham gia cùng nhân dân lao động sản xuất. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:58:04 am Ở Hạ Lào (gồm 3 tỉnh Chăm Pa xắc, Xalavan và Atôpơ, chiếm 1/6 diện tích nước Lào), với lực lượng gần 1 trung đoàn, được triển khai trên toàn địa bàn, trong đó có hơn 200 cán bộ dân vận, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng bộ đội Ítxala đẩy mạnh chiến tranh du kích chống địch càn quét, giữ vững thế trận của cách mạng. Trên Đường số 13 và vùng Mường Mun, ta và bạn tiến công tiêu diệt đồn Xu Ma Kha cùng một số vị trí khác. Mùa Xuân năm 1952, Đại đội 200 của Liên khu 5 chi viện cho Hạ Lào cùng Đại đội Xaychắccàphắt trá hình giả Tây và ngụy Lào, giữa ban ngày tập kích tiêu diệt đồn Chămpi. Trận đánh thắng giòn giã, mưu trí này đã tạo không khí phấn khởi cho nhân dân Hạ Lào, khiến quân địch khiếp sợ1 (Ban Liên lạc Quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia (1948 -1954), (Lưu hành nội bộ), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 182).
Ở Mặt trận Tây Nam của Hạ Lào, đến giữa năm 1951, trước các hoạt động càn quét, khủng bố của địch, các đơn vị vũ trang tuyên truyền của ta phải rút về phía Đông Đường số 13. Trước các hoạt động càn quét ráo riết của địch, các tổ dân vận của ta và bạn đều bị bật khỏi các bản. Lực lượng vũ trang ta và bạn chuyển sang hoạt động với những phương thức uyển chuyển thích hợp, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ trên nhiều phương diện, ngoan cường chiến đấu, khắc phục gian khổ, khó khăn, tạo sức mạnh tổng hợp, từng bước phá tan âm mưu của kẻ thù. Cán bộ ta và bạn bí mật bám dân, bám địa bàn xây dựng cơ sở từ nhỏ đến lớn, từ từng người ra cả bản, bồi dưỡng cốt cán, phát huy tính chủ động sáng tạo của họ, từng bước khôi phục và phát triển cơ sở, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân, từ đấu tranh kinh tế, chính trị bằng hình thức hợp pháp đến nửa hợp pháp, tiến lên tiến hành chiến tranh du kích ngày càng mạnh, giải phóng nhân dân khỏi sự kìm kẹp của địch. Đầu năm 1952, có thêm lực lượng từ Liên khu 5 sang tăng cường, lực lượng ta và bạn ở đây trở lại vùng tạm bị chiếm, tăng cường hoạt động, nhanh chóng khôi phục các vùng cơ sở cũ, phát triển ra các vùng mới, vào sát các vị trí của địch. Phong trào chiến tranh du kích lên cao khiến quân địch phải co lại trong đồn. Các cuộc càn quét lùng sục thưa dần và phạm vi thu hẹp. Quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Ítxala tiến hành những trận đánh nhỏ lẻ bằng thức tập kích, phục kích, tiến lên tổ chức những trận đánh địch càn quét. Những thắng lợi đó đã mở ra khả năng tiến lên đánh nhiều trận liên kết thành một đợt tác chiến, thành chiến dịch. Ở Viêng Chăn, đầu năm 1952, trước sự phát triển của phong trào kháng chiến Lào, quân địch hoảng sợ, tập trung lực lượng đánh phá, càn quét dữ dội hòng tiêu diệt lực lượng liên quân Việt - Lào. Ngoài các đồn cũ như Bản Cơn, Phô Nhồng, Thành Gòn, Mường Xa Kỷ..., địch còn tăng cường đóng thêm các đồn Bạn Xang, Tan Piều (Tu La Khôm), Bạ Nhẹ, Bạn Đon (Nặm Tòn) ngay trong vùng kháng chiến của cách mạng Lào. Các hoạt động của địch gây nhiều khó khăn cho kháng chiến Lào, nhất là về lương thực. Các đơn vị bộ đội Lào Ítxala và Quân tình nguyện Việt Nam vẫn kiên trì bám đất, bám dân, tiến hành các trận đánh giáng trả các cuộc tiến công, càn quét của địch. Trong 2 năm 1951 - 1952, lực lượng bộ đội Ítxala cùng Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào đã phối hợp vừa chống địch càn quét, bảo vệ căn cứ kháng chiến, vừa phải tiến hành các mặt xây dựng và phát triển thực lực cách mạng. Nhờ đó, lực lượng cách mạng ở Lào đã từng bước đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn bình định của địch. Các khu Căn cứ, vùng giải phỏng ở Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào được giữ vững, chính quyền kháng chiến, các đoàn thể cách mạng được củng cố, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, tạo thế uy hiếp địch ở các vùng chúng kiểm soát, kể cả những nơi sát đô thị. Riêng đoàn 83 đã cùng bạn xây dựng và củng cố 5 căn cứ vùng kháng chiến vững chắc, tạo thế liên hoàn trong toàn tỉnh. Nhiều vùng trước là hậu phương của địch đã chuyển dần thành khu du kích của kháng chiến Lào. Các khu Căn cứ kháng chiến, căn cứ du kích được củng cố và phát triển đóng vai trò thực sự là chỗ dựa quan trọng để cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến; đồng thời là bàn đạp để lực lượng kháng chiến tiến công tiêu diệt địch trong các trận đánh lớn trong các chiến dịch quan trọng trên chiến trường Lào. Nhờ sự giúp đỡ của bộ đội và chuyên gia Việt Nam, đến đầu năm 1952, cách mạng Lào đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân (gồm đại đội chủ lực của khu, đại đội bộ đội tỉnh, trung đội vũ trang huyện và dân quân, du kích ở bàn, mường). Riêng ở Trung Lào, bạn đã xây dựng được 100 du kích (Ma Hả Xây); 600 du kích và 1 trung đội bộ đội địa phương (Mường Noòng), hơn 1.000 du kích và 2 trung đội bộ đội địa phương. Được sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam, bộ đội Ítxala cũng đã có bước phát triển, với quy mô tổ chức cao nhất là bộ đội chủ lực khu, đại đội bộ đội tỉnh và trung đội ở huyện. Ở chiến trường Campuchia, những tháng cuối năm 1951, đầu năm 1952, về cơ bản âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp vẫn không có gì thay đổi so với thời kỳ trước. Quân Pháp ở đây bị đẩy vào thế phòng ngự, buộc phải điều thêm lực lượng tăng viện, thay đổi thế bố trí, gấp rút xây dựng, phát triển lực lượng quân đội ngụy Campuchia, nhằm từng bước rút quân Pháp cũng như lính Âu - Phi sang chiến trường Bắc Bộ Việt Nam. Vì vậy, hoạt động quân sự chủ yếu của quân Pháp những năm 1951 - 1952 nhằm củng cố những vị trí then chốt, giành giật lại những vị trí đã mất, ngăn chặn bước phát triển toàn diện của phong trào kháng chiến toàn diện Khơme Ítxarắc để rảnh tay đối phó với Quân đội nhân dân Việt Nam ở chiến trường chính Bắc Bộ Việt Nam. Nếu như cuối năm 1949, đầu năm 1950, địch tăng viện 8.000 quân sang chiến trường Campuchia, nâng tổng số lực lượng quân Pháp ở đây lên 20.000 người, trong đó có 4 trung đoàn cơ động, thì đến cuối năm 1951, địch lại điều bớt lực lượng sang chiến trường Bắc Bộ Việt Nam. Lúc này ở Campuchia chi còn lại 2 tiểu đoàn quân Pháp. Tuy vậy, lực lượng quân đội Vương quốc Campuchia lại tăng lên rất nhanh. Cùng với sự thay đổi về quân số, thực dân Pháp tổ chức bố trí lại chiến trường, chia Campuchia thành 3 khu (Bắc, Trung tâm và Nam). Trong đó, lực lượng mạnh nhất tập trung ở khu Nam, chú trọng đóng chốt tập trung ở các đô thị quan trọng. Các tuyến đường huyết mạch như Đường số 1 (Phnôm Pênh - Batambang), Đường số 13 (Xtung Treng - Crachiê), Đường số 1 Bis (Xiêm Riệp - Côngpông Chàm), Đường số 17 (Campốt - Takeo) và các tuyến đường thủy, bộ từ Phnôm Pênh đi Sài Gòn được quân Pháp tăng cường kiểm soát. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2023, 06:58:51 am Với lực lượng đó, quân Pháp và quân đội Vương quốc Campuchia đẩy mạnh củng cố các vùng đang chiếm giữ, liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, giành lại những địa bàn đã bị mất, ngăn chặn phong trào kháng chiến Khơme Ítxarắc hòng tạo thế chia cắt giữa chiến trường Campuchia với chiến trường Việt Nam và Lào. Địch tập trung quân càn quét vùng Đông Nam, Tây Nam, tung gián điệp và các nhóm vũ trang biệt lập..., tiến công vùng giải phóng của lực lượng kháng chiến Campuchia. Bên cạnh đó, chúng còn lập ra một số nhóm Khơme Ítxarắc giả danh, cát cứ từng địa phương, lập vùng giải phóng giả hiệu để lừa bịp nhân dân, ngăn cản các đơn vị liên quân Việt Nam - Campuchia tiến công quân Pháp ở các tỉnh trung tâm và thành thị.
Dù vậy, những khó khăn, thất bại về quân sự đã khiến chế độ cai trị của thực dân Pháp ở Campuchia lâm vào khó khăn, khủng hoảng. Các lực lượng thân Pháp ở Campuchia cũng có nhiều mâu thuẫn. Lúc này, Xihanúc công khai đòi Pháp trao trả chủ quyền và khôi phục lại "nền độc lập quốc gia" cho Vương quốc Campuchia. Trước những yêu cầu đó, chính quyền Pháp ở Campuchia buộc phải thay đổi sách lược, tỏ ra mềm dẻo hơn, không sử dụng các biện pháp trấn áp trắng trợn đối với các khuynh hướng có tính chất độc lập như trước. Tháng 9 năm 1951, thực dân Pháp tổ chức lại cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ở Campuchia, Đảng Dân chủ giành chiến thắng. Nhân cơ hội đó, thực dân Pháp khoét sâu mâu thuẫn giữa Đảng Dân chủ và Hoàng gia Campuchia. Về phía cách mạng Campuchia, thực hiện chủ trương Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương (2.1951), ngày 28 tháng 6 năm 1951, Ban Cán sự Đảng toàn Miên triệu tập Hội nghị cán bộ toàn Miên tại Lơbớt (Campốt), quyết định thành lập Ban Vận động xây dựng Đảng Nhân dân cách mạng Khơme1 (Đại hội lần thứ IV Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia (26 - 29.5.1981) quyết định lấy ngày 28 tháng 6 là Ngày thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia), hoạt động như Ban Trung ương lâm thời. Đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Campuchia, ngày 19 tháng 6 năm 1951, tại làng Côngpông Tơrôcông, bộ đội Khơme Ítxarắc được thành lập trên cơ sở thống nhất các đơn vị vũ trang cách mạng trong cả nước Campuchia. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Campuchia, phản ảnh hiệu quá của bộ đội tình nguyện Việt Nam trong việc giúp đỡ cách mạng Campuchia. Từ lúc này, bộ đội Khơme Itxarắc từng bước trở thành lực lượng vũ trang nòng cốt của cách mạng Campuchia, phối hợp chặt chẽ với Quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia tiếp tục phát triển. Bộ đội Khơme Ítxarắc ngày càng phát triển, "từ 20 trung đội thời kỳ trước, đến năm 1952 bộ đội Khơme Ítxarắc địa phương huyện đã có 69 trung đội"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết hoạt động Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2021, tr. 108). Đến giữa cuối năm 1951, phong trào cách mạng ở các vùng miền của Campuchia cũng có những bước phát triển mạnh mẽ. Ở Tây Nam Campuchia đã hình thành 4 vùng hay phân khu gồm các huyện, mỗi huyện đều có các đơn vị vũ trang khá mạnh. Tây Campốt gồm 3 huyện, Đông Campốt gồm 4 huyện, mỗi huyện có một đơn vị tương đương trung đội như các đơn vị bộ đội: 126, 129 và 640. Vùng Takeo - Nam Côngpông Xpư có các đơn vị bộ đội: 471, 515 và 620; vùng Bắc Côngpông xpư có bộ đội 305. Cùng với việc kiện toàn lại tổ chức vùng, các đơn vị bộ đội Khơme Ítxarắc phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam liên tục tổ chức các trận đánh, đợt hoạt động quân sự, mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ chính quyền, hỗ trợ phong trào đấu tranh của Mặt trận Ítxarắc. Tiêu biểu là đầu năm 1952, Đại đội 160 Quân tình nguyện Việt Nam cùng nhân dân Campuchia chặn đánh 1 đại đội địch khi chúng càn vào xã Ô, huyện Chúc, diệt 1 trung đội, thu nhiều vũ khí các loại và bắt một số tù binh. Tiếp đó, đơn vị phối hợp với bộ đội 640 bảo vệ căn cứ cùng du kích tiến công gây nhiều thương vong cho Tiểu đoàn Âu - Phi càn quét khu Căn cứ kháng chiến ở Tây Nam. Khi tiểu đoàn này rút ra Đường số 17, đến suối Ô Crahon, tiếp tục bị Đại đội 160 cùng Đại đội 180 và 2 trung đội của Đoàn Vận tải xuyên Tây chặn đầu, khóa đuôi, chia cắt đánh thiệt hại nặng. Kết quả của những trận đánh này, Liên quân đã loại khỏi vòng chiến đấu 140 tên địch, thu 1 trung liên, 6 tiểu liên và 15 súng trường. Ở miền Tây Bắc Campuchia, bộ đội tình nguyện và các đơn vị vũ trang cách mạng Campuchia đã tích cực tiến công địch, bảo vệ vùng giải phóng. Trên địa bàn tỉnh Puốcxát, Đại đội 140 tổ chức đánh địch khi chúng đang đổi quân ở Lếch (1.1952), diệt gọn 3 xe quân sự và 2 trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí... Ở vùng Đông Nam Campuchia, cùng với quá trình tổ chức lại địa bàn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các ban cán sự vùng thuộc miền, các đơn vị vũ trang Liên quân Việt Nam - Campuchia liên tiếp tổ chức đánh địch, tiêu hao, tiêu diệt quân địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng. Cuối năm 1951, thực dân Pháp huy động 8 tiểu đoàn (có 8 xe bọc thép và 4 khẩu pháo lớn) tổ chức cuộc càn quét và đóng chốt trước chùa Krabaora, đồn Kom Chimeát. Các lực lượng kháng chiến Khơme phục kích đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 50 tên địch, trong đó có cả sĩ quan Pháp tham gia chỉ huy cuộc càn. Ở vùng Đông Bắc Campuchia, tháng 9 năm 1951, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng lâm thời miền Đông Bắc Campuchia được thành lập, thu hút được nhiều nhân sĩ tham gia. Phong trào cách mạng trong vùng đi vào nền nếp và ngày càng phát triển, tạo thành vùng cơ sở liên hoàn rộng lớn. Hệ thống mặt trận Khơme Ítxarắc, chính quyền cách mạng Campuchia từ miền xuống phum, khum từng bước được củng cố. Lực lượng dân quân du kích hình thành ở nhiều nơi, phối hợp với bộ đội Khơme Ítxarắc và Quân tình nguyện Việt Nam đánh địch bảo vệ phum, sóc. Đến tháng 11 năm 1951, Ban Cán sự đã tổ chức chỉnh huấn cho cán bộ phụ trách các đội, các địa phương về đường lối kháng chiến và phương pháp vận động quần chúng... Nhờ đó, phong trào kháng chiến ngày một phát triển vững chắc. Đầu năm 1952, sau một thời gian bị đánh mạnh, quân Pháp ở Xtung Treng phục hồi lại có được lực lượng tăng viện nên đã mở nhiều cuộc hành quân đánh phá vùng căn cứ kháng chiến. Kết hợp với chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp chúng đóng đồn bốt, lập các khu dồn dân, thực hiện "tát cạn nước bắt cá", vừa đàn áp, vừa dụ dỗ mua chuộc, vu khống, xuyên tạc, chia rẽ nội bộ kháng chiến. Các thủ đoạn của địch gây ra nhiều khó khăn tổn thất cho lực lượng kháng chiến. Cán bộ Campuchia sát cánh cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam kiên trì bám địa bàn, vận động nhân dân, tuyên truyền giải thích, phục hồi cơ sở. Nhờ đó, đồng bào nhận ra âm mưu, thủ đoạn của địch và nhận ra chân lý, trở lại ủng hộ kháng chiến, cơ sở cách mạng nhờ đó được phục hồi. Như vậy, những thắng lợi của các lực lượng cách mạng Lào, Campuchia trên các chiến trường nước bạn đã có ảnh hưởng, có vai trò quan trọng tới cục diện chung của chiến trường ba nước Đông Dương, buộc thực dân Pháp phải căng mình, chia quân ra đối phó ở nhiều nơi, không thể tập trung quân tạo những đòn đánh mạnh theo kế hoạch. Những hoạt động tích cực, hiệu quả của các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia đã gián tiếp góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình của quân và dân Việt Nam cuối năm 1951, đầu năm 1952 trên chiến trường chính Bắc Bộ. Thắng lợi đó càng khăng định sự đúng đắn trong chủ trương của Đảng nâng quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào - Campuchia lên tầm cao mới, phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh của ba dân tộc, với đặc điểm của từng nước. Đồng thời, nó cũng làm thất bại âm mưu của Pháp, Mỹ nhằm chia rẽ Đông Dương, biến Đông Dương thành chốt ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Quốc và chống lại trào lưu cách mạng lan xuống các nước Đông Nam Á. Những thắng lợi của Liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương trong Đông - Xuân 1951 - 1952 cũng như những thắng lợi trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp đã càng góp phần khẳng định: Liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương là nhân tố đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:00:14 am NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG TỪ SAU CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 1950 ĐẾN CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tá, TS LÊ VĂN CỬ Phó Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Phát huy thắng lợi, quân và dân ta liên tiếp mở các chiến dịch tiến công vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ nhưng kết quả đều không đạt mục tiêu đề ra. Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp đánh chiếm ra khu vực Hòa Bình - Sông Đà. Trước tình hình đó Trung ương Đảng đứng đâu là Chủ tịch Hô Chi Minh, Tong Quân ủy và Bọ Tổng Tư lệnh quyết định điều chỉnh hướng hoạt động trong Đông - Xuân 1951 - 1952, mở chiến dịch tiến công Hòa Bình. Đó là quyết định thể hiện sự chỉ đạo chiến lược xuất sắc đưa đến thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Chặng đường từ sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 đến Chiến dịch Hòa Bình là chặng đường Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được thử thách trong chiến đấu và trưởng thành nhanh chóng, đặc biệt trong tác chiến tập trung với quy mô ngày càng lớn, tiếp tục duy trì và phát triển thế tiến công chiến lược. Sau thất bại ở biên giới Việt - Trung trong Thu - Đông 1950, thực dân Pháp bị mất quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Trước tình hình đó, Chính phủ Pháp buộc phải dựa vào Mỹ, xin viện trợ Mỹ để tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương, đồng thời triển khai kế hoạch do Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) đề ra: Kế hoạch Đờ Lát. Thực hiện Kế hoạch Đờ Lát, Pháp và chính quyền "Quốc gia Việt Nam" ráo riết bắt lính, tập trung quân cơ động, xây dựng 7 binh đoàn cơ động chiến lược (GM) và 4 tiểu đoàn dù bố trí ở các tỉnh phía Bắc đồng bằng Bắc Bộ. Đến cuối năm 1951, tổng quân số Pháp ở Đông Dương tăng lên 338.000 (trong đó quân Âu - Phi có 128.000 người); tổng quân số của "Quân đội Quốc gia Việt Nam" có 210.000 người (chiếm 62% tổng quân số quân đội Liên hiệp Pháp)1 (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.447). Cùng với việc tăng nhanh quân số, thực dân Pháp xúc tiến xây dựng phòng tuyến boongke ở Bắc Bộ gồm 113 vị trí, do 20 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng, kéo dài từ Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Đông đến Ninh Bình. Ở vành ngoài, chúng triệt hạ làng mạc, dồn dân vào vùng chúng kiểm soát để lập "vành đai trắng". Trên khắp chiến trường từ Bắc đến Nam, chúng liên tiếp tiến hành các cuộc càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang, đánh phá cơ sở, giành dân và phá hoại, cướp đoạt kinh tế, gây cho lực lượng kháng chiến nhiều khó khăn. Chúng còn dốc sức củng cố chính quyền "Quốc gia Việt Nam", lập "hương dũng", "hương đồn", tuyên truyền cho nền "độc lập quốc gia" của Bảo Đại, đề cao Mỹ nhằm lừa gạt dân chúng. Trong khi đó, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày càng phát triển lớn mạnh về mọi mặt. Sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950, Việt Nam dân chủ cộng hòa được nối thông với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, được nhiều nước xã hội chủ nghĩa công nhận và giúp đỡ, nhất là Trung Quốc và Liên Xô. Kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế ngày càng phát triển, về quân sự, Quân đội nhân dân Việt Nam có sự trưởng thành vượt bậc. Ngoài 2 đại đoàn được thành lập trước Chiến dịch Biên Giới là Đại đoàn 308 (8.1949) và Đại đoàn 304 (3.1950), từ cuối năm 1950 đến trước khi mở màn Chiến dịch Hòa Bình, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục thành lập thêm 3 đại đoàn bộ binh: 312 (12.1950), 320 (1.1951), 316 (5.1951) và Đại đoàn công pháo 351 (3.1951). Như vậy, trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 5 đại đoàn bộ binh chủ lực và 1 đại đoàn công binh, pháo binh. Đây là "những binh đoàn cơ động - quả đấm chiến lược" để thực hiện các chiến dịch lớn, các đợt hoạt động mang tầm chiến lược, tạo chuyển biến trên chiến trường có lợi cho ta, bất lợi cho đối phương. Tổng quân số chủ lực của ta tính đến cuối năm 1951 là 253.270 người1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 308). Bên cạnh các đại đoàn chủ lực còn có các trung đoàn, tiểu đoàn bộ đội địa phương của các liên khu, các tỉnh. Tuy nhiên, vùng trung du, đồng bằng đông người, nhiều của vẫn nằm trong vùng kiểm soát của Pháp. Tác chiến tập trung được đẩy mạnh một bước, nhưng chiến tranh du kích tại vùng địch hậu chậm phát triển, một số nơi gặp khó khăn, nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trước tình hình trên, nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến phát triển hơn nữa, từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II được triệu tập. Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là "tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới"2 (Đảng Cộng sán Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 32-33), về quân sự, Đại hội chỉ ra nhiệm vụ phải tích cực xây dựng bộ đội chính quy, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích; coi trọng giáo dục bản chất cách mạng đi đôi với chấn chỉnh về tổ chức biên chế, tăng cường kỷ luật, không ngừng rèn luyện về kỹ thuật, chiến thuật. Phương châm tác chiến vẫn là lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ, nhưng phải đẩy mạnh vận động chiến tiến lên, làm cho vận động chiến tiến tới giữ địa vị chủ yếu. Phát huy thắng lợi sau Chiến dịch Biên Giới, ta quyết tâm giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược. Chủ trương của ta lúc này là, nhân lúc địch đang hoang mang sau thất bại ở biên giới và chưa kịp củng cố hệ thống phòng ngự chiến lược của chúng ở cửa ngõ đồng bằng, ta tranh thủ phát triển tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn trung du và đồng bằng, làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ. Vì vậy, ta liên tiếp mở 3 chiến dịch lớn do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy, tiến công địch ở hướng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:01:15 am Chiến dịch Trần Hưng Đạo (Chiến dịch Trung Du) diễn ra từ ngày 25 tháng 12 năm 1950 đến ngày 17 tháng I năm 1951, tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp ở vùng trung du Bắc Bộ từ Đông Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên đến Tây sông Cầu. Lực lượng tham gia gồm 2 đại đoàn 308 và 312, 4 liên đội sơn pháo 75mm (Trung đoàn 675), 4 tiểu đoàn địa phương và dân quân du kích, có sự phối hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang vùng duyên hải Đông Bắc và đồng bằng Sông Hồng, về cách đánh chiến dịch, ta chủ trương kết hợp đánh vận động với đánh công kiên, đánh điểm, diệt viện (lấy diệt viện làm chính). Tranh thủ yếu tố bí mật, bất ngờ, sử dụng từng tiểu đoàn bôn tập, tiến công đồng loạt, tiêu diệt một số cứ điểm đột xuất nhằm khơi ngòi, kéo viện; tập trung lực lượng thích hợp để diệt viện tại khu vực dự kiến.
Đợt 1 chiến dịch diễn ra từ ngày 25 đến ngày 29 tháng 12 năm 1950, mở đầu bằng chặn đánh cuộc hành quân Bêcatxin của Pháp vào khu vực tập kết của ta ở Xuân Trạch - Liễn Sơn, buộc địch phải co về thị xã Vĩnh Yên. Đêm 26 và 27 tháng 12, ta vận động bao vây, tiến công diệt 5 cứ điểm kiên cố: Hữu Bằng, Tú Tạo, đồi Cà Phê, Yên Phụ, Thằn Lằn, nhưng đánh các cứ điểm Chợ Thá, Chợ Vàng không thành công. Địch tăng cường phòng thủ Vĩnh Yên. Đợt 2 diễn ra từ ngày 30 tháng 12 năm 1950 đến ngày 18 tháng 1 năm 1951. Vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện", ta tiến công diệt cứ điểm Ba Huyên (14.1.1951), chặn đánh quân ứng cứu ở Thanh Vân - Đạo Tú, truy kích địch tới thị xã Vĩnh Yên và bao vây thị xã. Tuy nhiên, quân Pháp tiếp tục đưa lực lượng cơ động có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc hành quân giải tỏa, đánh chiếm Núi Đanh. Sau 2 ngày chiến đấu giành giật các điểm cao phía Bắc Vĩnh Yên trong điều kiện hỏa lực phi pháo áp đảo của địch (lần đầu tiên địch sử dụng bom napan), bộ đội gặp khó khăn và tổn thất, Bộ Chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch. Kết quả, ta loại khỏi chiến đấu khoảng 5.000 địch, giải phóng vùng Bắc Vĩnh Yên và một phần Phúc Yên1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 202). Chiến dịch Trần Hưng Đạo đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về đánh địch trong công sự vững chắc và đánh địch ngoài công sự, cả đánh đêm và đánh ngày trên địa hình trống trải, địch có điều kiện phát huy mặt mạnh về hoả lực không quân, pháo binh và khả năng cơ động. Lần đầu tiên, trên địa hình trống trải, bộ đội ta tiêu diệt được 10 cứ điểm có trên dưới 1 đại đội địch chiếm giữ. Trong chiến dịch, ta đã vận dụng thành công chiến thuật đánh vận động để tiêu diệt các cứ điểm nhỏ, thực hiện tốt phương châm đánh điểm, vây điểm để diệt viện, lấy diệt viện làm chính. Tuy nhiên, bộ đội thương vong nhiều do lần đầu tiên phải đối mặt với hỏa lực dày đặc và quân cơ động ứng chiến nhanh của địch trong một chiến dịch tiến công trên địa hình trung du. Quân ta hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch nhưng chưa hoàn thành nhiệm vụ hỗ trợ cho vùng sau lưng địch phát động chiến tranh du kích. Sau Chiến dịch Trần Hưng Đạo, Tổng Quân ủy nhận định địch sẽ khẩn trương củng cố vùng tạm chiếm và nhất là triển khai kế hoạch xây dựng phòng tuyến boongke vây quanh đồng bằng Bắc Bộ. Trên cơ sở đó, Tổng Quân ủy đề xuất mở chiến dịch Hoàng Hoa Thám tiến công vào tuyến phòng thủ Đường số 18 của quân Pháp từ Bãi Thảo đến Uông Bí, dài 50km, nhằm tiêu diệt sinh lực, phá vỡ chủ trương "phòng thủ và cân bằng lực lượng" của địch, phát triển chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Bắc Bắc Bộ. Lực lượng tham gia gồm 2 đại đoàn 308 và 312, 2 trung đoàn độc lập 98 và 174, 4 liên đội sơn pháo 75mm thuộc Trung đoàn 675, 2 tiểu đoàn công binh và lực lượng vũ trang địa phương. Hướng phối hợp có các đại đoàn 304 và 320 hoạt động kìm chân địch ở Vĩnh Phúc, Hà Đông, Hà Nam. Đường số 18 là địa bàn xung yếu trên hướng Đông Bắc, địa hình trung du xen lẫn rừng núi nên Tổng Quân ủy dự kiến quân ta có điều kiện "đánh điểm, diệt viện". Chiến dịch Hoàng Hoa Thám diễn ra từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 7 tháng 4 năm 1951, với 2 đợt chiến đấu. Đợt 1 từ ngày 23 đến ngày 31 tháng 3, thực hiện phương pháp tác chiến "đánh điểm, diệt viện", ta tiến cộng diệt 5 vị trí: Lán Tháp, Lọc Nước, Máng Nước, Sống Trâu, Chấp Khê ở phía Bắc và Đông Nam Uông Bí để khêu ngòi nhử viện. Tuy nhiên, chờ 3 ngày địch không ra, ta tiếp tục diệt các cứ điểm Bí Chợ, Tràng Bạch và chuẩn bị tiến công Uông Bí. Bị cô lập và uy hiếp, quân Pháp ở Uông Bí rút chạy về Quảng Yên theo Đường số 18, nhưng ta không kịp chặn đánh. Đêm 29 và 30 tháng 3, quân ta tiến công các cứ điểm Mạo Khê Mỏ, Mạo Khê Phố không thành công, phải lui quân với thương vong cao do hai vị trí đều đã được tăng cường, bị bom napan và đạn pháo của hạm đội địch từ sông Đá Bạc ngăn chặn. Kết thúc đợt 1, ta mở được khoảng 30km trên tuyến Mạo Khê - Biểu Nghi nhưng không thực hiện được "đánh điểm, diệt viện". Đợt 2 diễn ra từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 4 năm 1951. Lúc này, địch tăng cường lực lượng phòng giữ Đông Triều, Phả Lại. Ta chủ trương chuyển hướng sang Đông Bắc Phả Lại, nhưng cả 4 trận tiến công các cứ điểm Bãi Thảo, Bến Tắm, Hoàng Gián, Hạ Chiểu đều không thành công, bị thương vong nhiều do hỏa lực pháo binh địch từ Đông Triều và từ phía sông Đá Bạc bắn chặn. Trước tình thế bất lợi, Bộ Chỉ huy phải kết thúc chiến dịch. Kết quả chiến dịch, quân ta đã loại khỏi chiến đấu hơn 1.300 địch nhưng không đạt mục tiêu đề ra1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quản sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 177). Theo đồng chí Lê Trọng Tấn, "Chiến dịch Hoàng Hoa Thám là một chiến dịch không thành công. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch hay là thay đổi cục diện chiến trường, không rõ. Cả 3 đại đoàn đều không hoàn thành nhiệm vụ. Ta mở chiến dịch trong tình hình chưa có chuẩn bị đầy đủ về địa hình, nhất là về hậu cần. Các đơn vị đều thương vong cao, không hoàn thành nhiệm vụ"1 (Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 176-177). Kết thúc Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, ta quyết định mở thêm một chiến dịch nhằm tiếp tục đẩy mạnh thế tiến công chiến lược, đồng thời hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của nhân dân vùng sau lưng địch. Trong buổi họp ngày 20 tháng 4 năm 1951, Trung ương quyết định mở Chiến dịch Quang Trung (Chiến dịch Hà Nam Ninh) trên địa bàn Hà Nam Ninh, tiến công vào phòng tuyến sông Đáy của quân Pháp từ Nam Phủ Lý (Hà Nam) đến Yên Mô (Ninh Bình). Mục đích của chiến dịch nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan khối ngụy quân, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ nhân dân (phần lớn là đồng bào công giáo). Lực lượng tham gia gồm 3 đại đoàn: 308, 304 và 320; 5 đại đội sơn pháo, 1 trung đoàn công binh và các lực lượng vũ trang địa phương. Phối hợp với chiến dịch, các lực lượng vũ trang ở phía tả ngạn sông Hồng như Hưng Yên, Thái Bình đẩy mạnh hoạt động. Phương pháp tác chiến chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện", nhưng do đặc điểm chiến trường và tình hình có thể chuyển biến nhanh nên lúc đầu chủ yếu là đánh điểm, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng để chuyển sang đánh viện cả trên bộ, trên sông và quân dù. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:02:10 am Chiến dịch Quang Trung diễn ra từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 20 tháng 6 năm 1951, với 2 đợt chiến đấu. Đợt 1, từ ngày 28 đến ngày 31 tháng 5, trên hướng Ninh Bình (hướng chính), bộ đội tiến công vào thị xã, diệt địch ở nhà thờ Đại Phong, các cứ điểm Non Nước, Gối Hạc; diệt 6 cứ điểm nhỏ ở khu vực Yên Mô - Yên Khánh, đánh địch ở Chùa Hữu, Yên Thịnh rút chạy. Trên hướng Nam Hà Đông, ta diệt 3 cứ điểm, đánh viện trên đoạn Đoan Vỹ - Mai Cầu - Kinh Đông. Tuy nhiên, trong đợt I, ta đánh một số cứ điểm không thành công như: Lan Khê, Chùa Cao, Kỳ Cầu. Đối phó với cuộc tiến công của ta, Pháp đưa lực lượng từ Nam Định sang phản kích và tăng cường phòng thủ các trọng điểm: Thị xã Ninh Bình, Phủ Lý, Hoàng Đan.
Đợt 2, diễn ra từ ngày 1 đến ngày 20 tháng 6, ta tiến công cứ điểm Chùa Cao (lần 2) không thành công; đánh các cứ điểm Cầu Bút, Ngọc Cầm không diệt gọn; bức hàng vị trí Núi Sậu và đánh viện trên đoạn Ninh Bình - Yên Phú. Trong khi đó, quân Pháp tiếp tục tăng viện cho các trọng điểm, dùng hỏa lực pháo binh, không quân tiêu hao lực lượng ta và càn quét một số nơi. Trước tình hình đó, từ ngày 8 tháng 6, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương mỗi đại đoàn để lại 1 trung đoàn cùng lực lượng vũ trang địa phương chống địch càn quét, củng cố cơ sở, giúp dân thu hoạch mùa màng; bộ phận còn lại lui về phía sau củng cố lực lượng. Trên hướng Nam Hà Đông, Hà Nam, ta diệt vị trí Phúc Lâm, tập kích địch ở Mai Câu. Ngày 19 tháng 6, địch tập trung càn quét lớn vào khu vực Chợ Cháy (Nam Hà Đông), bị 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 48 cùng lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 quân địch rồi rút khỏi vòng vây. Ngày 20 tháng 6, Chiến dịch Quang Trung kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4.000 quân địch (40% là lính Âu - Phi), tiêu diệt và bức rút 23 đồn bốt; thu hơn 1.000 súng các loại, 18 máy vô tuyến điện, vũ khí quân dụng đủ trang bị cho một trung đoàn; phá huỷ 16 xe quân sự, đánh chìm, đánh hỏng 5 tàu và ca nô địch1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyên 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Quang Trung (Chiến dịch Hà Nam Ninh, 28.5 - 20.6.1951)). Nét đặc sắc của Chiến dịch Quang Trung là lần đầu tiên quân ta tiêu diệt được quân địch trong một thị xã và tiêu diệt được 4 đại đội địch trong công sự vững chắc; có phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa nội tuyến (phòng tuyến Sông Đáy) với ngoại tuyến (tả ngạn Sông Hồng). Đây là kinh nghiệm quý trong chiến đấu công kiên cũng như mở ra khả năng thực hiện sự phối hợp giữa hai mặt trận phía trước và vùng sau lưng địch sau này. Tuy nhiên, quân ta không hoàn thành nhiệm vụ cả về tiêu diệt địch và giải phóng đất đai. Nhiệm vụ hỗ trợ phong trào chiến tranh du kích, vận động ngụy quân và tranh thủ nhân dân chưa đạt kết quả mong muốn. Nguyên nhân về chiến lược là ta chọn hướng tiến công không phù hợp, địch dựa vào hỏa lực, phi pháo, tận dụng địa hình đồng bằng thuận lợi và phương tiện cơ động nhanh để tăng viện, mau chóng làm thay đổi so sánh lực lượng và thế trận chiến dịch. Nghệ thuật điều hành chiến dịch đã không tạo được điều kiện để bộ đội khắc phục những yếu kém đã mắc phải trong 2 chiến dịch Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám trước đó. Như vậy, lần đầu tiên trong vòng khoảng nửa năm (từ tháng 12.1950 đến tháng 6.1951), ta tiến hành liên tiếp 3 chiến dịch quy mô nhiều đại đoàn chủ lực, kết hợp đánh vận động và đánh trận địa trên chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đối mặt cả ngày và đêm với các binh đoàn cơ động (GM) và quân dù của địch cả trên bộ và trên sông. Cũng là lần đầu tiên, cấp chiến lược chỉ đạo phối hợp giữa ba thứ quân trên quy mô nhiều liên khu, giữa chủ lực tiến công trên hướng chính của chiến dịch với các lực lượng vũ trang địa phương diệt tề trừ gian và chống càn quét trong vùng sau lưng địch. Bước tiến bộ nổi bật của bộ đội ta thể hiện trong trận diệt địch chiếm đóng một thị xã (Ninh Bình) trong Chiến dịch Quang Trung Hày các trận đánh địch cơ động ở Xuân Trạch (Vĩnh Phúc) trong Chiến dịch Trần Hưng Đạo. Cùng với tiêu diệt sinh lực địch (khoảng 10.000 tên, trong đó một nửa là quân cơ động ứng chiến)1 (Trần Trọng Trung, Bài học chỉ đạo chiến lược - chiến dịch Xuân - Hè năm 1951, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 7.2011, tr. 11) và một số trang bị chiến lợi phẩm thu được, ta đã làm thất bại cuộc hành binh càn quét quy mô lớn của địch (hành quân "Chim dẽ giun" (Bécassine) và làm chậm kế hoạch củng cố của địch trên chiến trường chính Bắc Bộ trong nửa đầu năm 1951. Tuy nhiên, cả 3 chiến dịch đều không hoàn thành nhiệm vụ chiến lược đề ra. Sự chỉ đạo tác chiến chiến lược không tạo điều kiện cho nghệ thuật chiến dịch phát triển kể từ Chiến dịch Biên Giới 1950. Về chỉ đạo chiến lược, ta đã đánh giá không đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950: Đánh giá ta quá cao, đánh giá địch quá thấp, về chiến dịch, nổi lên là thiếu sót về vận dụng cách đánh. Phương châm "đánh điểm, diệt viện" là đúng nhưng bộ đội quá chú trọng đánh điểm mà không nhận thức đầy đủ nhiệm vụ đánh địch ngoài công sự. Về nghệ thuật chọn mục tiêu (đánh điểm) mở màn chiến dịch, ta đã chọn mục tiêu quá nhiều dẫn tới kết quả, hoặc là không dứt điểm được, hoặc là mục tiêu không đủ sức thu hút viện binh địch. "Cấp chiến dịch đã không bảo đảm các yếu tố chắc thắng trong các trận tiến công cứ điểm"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945 - 1975), Tập I: Trong kháng chiến chống Pháp (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 153), không vận dụng được những kinh nghiệm chỉ đạo, chỉ huy bảo đảm chắc thắng, nhất là thắng trận đầu như Đông Khê trong Chiến dịch Biên Giới 1950. Chính vì về tư tưởng chiến thuật, phương châm "đánh điểm, diệt viện" quán triệt không đầy đủ; về nghệ thuật chiến dịch, không cài được thế hiểm, bộ đội bố trí xa đường tiến quân của địch; về chỉ huy tác chiến, nắm tình huống không sát và nắm quân không chặt (bộ đội ngủ, không cảnh giới...) nên bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh viện, kể cả có lần viện binh lớn xuất hiện. Bởi vậy, không tạo nên bước ngoặt phát triển chiến dịch có lợi cho ta. Sau 3 chiến dịch đều không hoàn thành nhiệm vụ đề ra, quân và dân ta trong vùng địch tạm chiếm, vùng du kích vẫn gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở kháng chiến bị vỡ. Trong Đông - Xuân 1951 - 1952, Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương điều động một số trung đoàn vào hoạt động vùng sau lưng địch ở Trung du và đồng bằng sông Hồng. Thời gian hoạt động dự định vào giữa tháng 12 năm 1951. Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy Tiền phương của Bộ lên đường làm công tác chuẩn bị mở Chiến dịch ở Liên khu 3. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:03:04 am Trong khi ta đang triển khai kế hoạch hoạt động trong Đông - Xuân 1951-1952 thì quân Pháp bất ngờ tiến quân đánh chiếm Hòa Bình và tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hoà Bình - Đường số 6 (khu Nam). Ngoài ra, quân Pháp tổ chức Phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông bảo vệ Hoà Bình.
Đánh giá tình hình và âm mưu địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy nhận định địch đánh ra Hoà Bình là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hoà Bình đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Lực lượng tham gia gồm 3 đại đoàn bộ binh: 308, 312 và 304, Đại đoàn công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phương, ở hướng phối hợp, 2 đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích. Sau hơn 2 tháng với 3 đợt chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), ở mặt trận Hoà Bình, các đơn vị chủ lực cùng lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân trên địa bàn đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hoà Bình - sông Đà gồm 2.000km2 với 20.000 dân, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Ở mặt trận địch hậu, các lực lượng vũ trang và đông đảo nhân dân đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu hơn 6.000 súng các loại, 10 khẩu pháo, 41 máy vô tuyến điện, giải phóng 4.000km2 với khoảng 2 triệu dân, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hoà Bình giành thắng lợi1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952)). Nhiều khu du kích liên huyện, liên tỉnh ra đời, tạo thành thế liên hoàn từ Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh qua Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây. Kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ theo Kế hoạch Đờ Lát của thực dân Pháp cơ bản bị phá vỡ. Như vậy, trải qua hơn 6 năm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, đến đầu năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình là chiến dịch đã gây cho địch tổn thất lớn nhất cả về binh lực, phương tiện chiến tranh, vị trí đóng quân ở cả mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Quân và dân Việt Nam "đã giành nhiều thắng lợi cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất, giải phóng dân, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta trong vùng địch tạm chiếm ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12-1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Qua sự chỉ đạo, chỉ huy và thực hành Chiến dịch Hòa Bình, có thể thấy bước phát triển vượt bậc về nghệ thuật quân sự. Về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã đánh giá đúng địch, chọn hướng tiến công chính xác, kịp thời chuyển hướng cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời có sự lãnh đạo sâu sát trong toàn bộ chiến dịch. Trên cơ sở đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã xác định và vận dụng chính xác phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong suốt quá trình tổ chức chỉ huy thục hành chiến địch, đó là: Nắm vững và kiên trì vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" tập trung đánh giao thông trên sông, trên bộ, khoét sâu khó khăn của địch về vận tải tiếp tế, dồn địch vào thế bị bao vây, cô lập, tổ chức, sử dụng lực lượng thích hợp, bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày trên phạm vi chiến trường rộng lớn. Về vận dụng chiến thuật, các đơn vị chủ lực đã vận dụng đúng nguyên tắc tập trung ưu thế về binh lực, thực hiện bao vây chia cắt, tiêu diệt địch. Trên hướng chính diện Mặt trận Hòa Bình, ngoài đánh công kiên và đánh chính diện như các chiến dịch trước, lần này bộ đội phát triển nhiều cách đánh mới như đánh địch vận chuyển trên sông, dùng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao và trận địa pháo của địch, v.v... Riêng với hình thức chiến thuật công kiên, chiến thắng Tu Vũ đã khẳng định bước trưởng thành lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, mở ra khả năng đánh tiêu diệt quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc với hình thức cụm cứ điểm có tiểu đoàn tăng cường có xe tăng, pháo binh chi viện. "Từ Tu Vũ và Chiến dịch Hòa Bình đã hình thành những tư tưởng giúp chúng ta tiến đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bài học trí tuệ đổi mới, dân chủ, đoàn kết trong trận Tu Vũ, trong sách: Chiến thắng Tu Vũ 10.12.1951, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 18), ở hướng phối hợp, các đơn vị thực hiện "đánh điểm diệt viện", vây điểm diệt viện kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, tiến công và nổi dậy của quần chúng. Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của nghệ thuật chiến tranh nhân dân đặc sắc. Cả ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã đồng loạt tiến công, liên tục chiến đấu dài ngày trên một chiến trường rộng lớn, có sự phối hợp, hỗ trợ rất lớn của đông đảo quần chúng nhân dân với nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Tuy nhiên, trong tổ chức, điều hành chiến dịch cũng bộc lộ những nhược điểm, thiếu sót, nổi lên là có lúc tác phong chỉ huy thiếu chu đáo, cụ thể, khiến một số trận đánh điểm không thành công thương vong cao, bỏ lỡ nhiều thời cơ đánh địch vận động và không thực hiện được tiêu diệt lớn quân địch rút chạy. Mặc dù vậy, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ có lợi cho ta và đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật chiến dịch phát triển lên một bước mới cao hơn. Nhìn lại chặng đường chiến đấu của quân và dân ta từ sau Chiến thắng Biên Giới - Thu Đông 1950 đến Chiến dịch Hòa Bình, có thể thấy đó là quá trình rèn luyện, thử thách và không ngừng phát triển, đặc biệt là về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch. Trải qua 3 chiến dịch không đạt mục đích chiến lược đề ra, quân và dân ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu và làm nên thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình, tạo nên bước chuyển biến mới về cục diện chiến trường, làm cơ sở để quân và dân ta tiếp tục tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đi đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:07:06 am Phần thứ hai CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - THÀNH CÔNG XUẤT SẮC VỀ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đồng chí BÙI VĂN KHÁNH Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình về nghệ thuật quân sự của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân tỉnh Hòa Bình đã đoàn kết một lòng, anh đũng chiến đấu, góp phần làm nên chiến thắng to lớn trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Sau khi quân Pháp tập trung lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Tiếp đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ đề ra nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hòa Bình của địch, nêu rõ, đây là "cơ hội tốt đề ta đánh địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 597). Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Liên khu ủy 3, trong 2 ngày 23 và 24 tháng 11 năm 1951, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình đã họp và đề ra nhiệm vụ trọng tâm phục vụ chiến dịch là: Tận dụng mọi khả năng, mọi lực lượng tuyên truyền, phân tích âm mưu tái chiếm Hòa Bình của địch, những khó khăn địch vấp phải, triển vọng chiến thắng của ta, động viên nhân dân đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến đấu; đẩy mạnh công tác địch vận, ngụy vận, coi đây là một trọng tâm công tác. Về công tác quân sự, lấy xây dựng du kích là chính, nâng cao chất lượng bộ đội địa phương. Hai đồng chí tỉnh ủy viên được phân công chịu trách nhiệm chỉ đạo các mặt hoạt động cụ thể phục vụ chiến dịch. Việc huy động nhân lực được giao cho Ban Dân công tỉnh chịu trách nhiệm. Tỉnh Đoàn thanh niên Cứu quốc đảm đương việc huy động nam, nữ thanh niên phục vụ công tác quân y. Ngay sau Hội nghị, được sự chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh ủy, Mặt trận Liên Việt tỉnh đã triệu tập "Hội nghị nhân dân bàn về chống giặc". Gần 200 đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân, trong đó có nhiều thân hào, thân sĩ từ nhiều huyện, nhiều vùng trong tỉnh đã về dự Hội nghị tại xã Đại Đồng (Lạc Sơn). Hội nghị chỉ rõ khả năng của quân ta, chỗ yếu và thất bại không thể tránh khỏi của địch, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Ngày 9 tháng 12 năm 1951, Thường vụ Tỉnh ủy phát động cuộc thi đua lập công với ba nội dung: Phát triển chiến tranh du kích, thi đua giết giặc lập công; đẩy mạnh địch, ngụy vận, tích cực phục vụ tiền tuyến. Bộ đội địa phương (trừ Tiểu đoàn 616 hoạt động tập trung) đều phân tán về cơ sở làm nhiệm vụ củng cố, dìu dắt dân quân du kích hoạt động. Thực hiện kế hoạch phối hợp giữa Ban Chỉ huy Mặt trận với địa phương, ngày 3 tháng 1 năm 1952, Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy mở rộng quyết định những công việc cần làm ngay: Đưa nhân dân quanh vị trí chiếm đóng của địch sơ tán ra vùng tự do; tăng cường lực lượng dân công, vận chuyển gấp lương thực phục vụ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; đẩy mạnh địch vận, thực hiện gây nhân mối, vận động đông đảo nhân dân tham gia công tác địch vận, tuyên truyền chiến thắng, vận động toàn dân tham gia phục vụ chiến dịch. Thường vụ Tỉnh ủy xác định hướng địa bàn công tác chính là Đường số 6 và khu vực xung quanh thị xã, yêu cầu các huyện (trừ huyện Lạc Sơn), các ban, ngành phải tăng cường thêm cán bộ cho các địa bàn trên. Sau Hội nghị, hàng trăm cán bộ được huy động tăng cường cho khu vực thị xã Hòa Bình và Đường số 6 giúp các xã xây dựng cơ sở phá tề, làm công tác địch vận, vận động nhân dân quanh các vị trí địch tạm chiếm triệt để sơ tán lên rừng, hình thành các tuyến trắng, bao vây, triệt mọi nguồn tiếp tế lương thực, thực phẩm của địch. Các đơn vị bộ đội tỉnh phối hợp cùng bộ đội chủ lực liên tiếp phục kích, chống càn quét, quấy rối, tập kích các vị trí địch. Các đại đội 121 (Lương Sơn), 16 (Kỳ Sơn), 116 (Mai Đà), 112 (Lạc Sơn) và Tiểu đoàn 616 phân tán về các xã củng cố, xây dựng lực lượng dân quân du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng bị uy hiếp và vùng địch chiếm đóng lên cao độ. Ban Địch vận các cấp phối hợp cùng các đoàn thể, các lực lượng ráo riết thực hiện với nhiều hình thức: In và phát hành hàng nghìn bức thư của Bác Hồ gửi anh em ngụy binh, thông báo của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh về việc thi hành chính sách khoan hồng của Chính phủ, Bác Hồ đối với những người lầm đường theo giặc trở về với nhân dân... Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền tin chiến thắng, động viên, giáo dục nhân dân đoàn kết đấu tranh chống giặc, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định từ tháng 1 năm 1952, tờ "Toàn Thắng" sẽ ra hằng tháng, tăng từ 2 trang lên 4 trang, nâng số lượng phát hành lên 2.000 tờ mỗi kỳ. Tờ báo do Ban Tuyên huấn tỉnh chịu trách nhiệm biên tập, phát hành và hướng dẫn sử dụng làm tài liệu chính tuyên truyền trong Đảng bộ và nhân dân. Các ngành từ Thông tin tuyên truyền, Công an, Giao thông đến Chi sở mậu dịch, từ Mặt trận Liên Việt đến Đoàn Thanh niên Hội Phụ nữ, Nông hội... đã huy động mọi lực lượng của mình tham gia phục vụ chiến đấu với tinh thần tất cả cho chiến đấu, tất cả cho chiến thắng. Toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh ra quân với tinh thần phấn khởi, với khí thế khẩn trương, sôi động chưa từng có. Nhân đân các dân tộc trong tỉnh đã thể hiện tinh thần không tiếc sức người, sức của cho chiến thắng. Đảng bộ, quân dân tỉnh Hòa Bình đã tiếp nhận và phân phối đến các đơn vị ngoài mặt trận hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, đạn dược đảm bảo cho bộ đội ăn no, đánh thắng. Trong vòng hơn 100 ngày tham gia phục vụ chiến dịch, nhân dân các dân tộc trong tinh đã huy động 200.000 ngày công phục vụ công tác vận chuyển, ủng hộ bộ đội 323 con bò, 200 con lợn, hàng nghìn cây tre, bương... để dựng lán trại, làm hàng trăm bè mảng giúp bộ đội vượt sông, suối... Phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị chủ lực, quân và dân Hòa Bình đã chiến đấu anh dũng góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Đến ngày 23 tháng 2 năm 1952, tỉnh Hòa Bình hoàn toàn được giải phóng. Một lần nữa, Hòa Bình là nơi ghi đậm dấu ấn thất bại thảm hại của quân đội viễn chinh Pháp! Chiến dịch Hòa Bình đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, âm mưu dựng lại "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp trên đất Hòa Bình; giải phóng 5.000km2 đất đai khu vực Hòa Bình - sông Đà với gần 2 triệu dân; giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4; góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch; làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Kể từ ngày đầu kháng chiến, số binh lực bị tiêu diệt và tan rã trong Chiến dịch Hòa Bình là thiệt hại cao nhất của Pháp qua một chiến dịch. Toàn chiến dịch, ta tiêu diệt 6.012 tên địch, 156 xe các loại, 17 tàu chiến, ca nô, 24 đại bác, 9 máy bay cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác. Nhìn lại chặng đường 70 năm, từ chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình đến nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình có quyền tự hào trước diện mạo ngày càng đổi mới của quê hương. Từ một trong những tinh cực kỳ khó khăn, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, nền kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp và còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, công nghiệp, thương mại, dịch vụ chưa phát triển, đến nay, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đoàn kết, phấn đấu đạt được nhiều kết quả đáng tự hào. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:07:54 am Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, kinh tế của tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân hằng năm đạt 7,59%; quy mô nền kinh tế được mở rộng, năm 2020 tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt khoáng 54.956 tỷ đồng, gấp 1,65 lần so với năm 2015. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Đến hết năm 2020, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 45,58% (công nghiệp chiếm 38,89%), dịch vụ chiếm 29,32%, nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 19,98%, thuế sản phẩm 5,12%. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 63,8 triệu đồng, gấp 1,6 lần so với năm 2015, cao hơn trung bình khu vực trung du và miền núi phía Bắc và bằng khoảng 92% GDP bình quân đầu người của cả nước. Các chi tiêu thu ngân sách Nhà nước, tổng vốn đầu tư toàn xã hội, số doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập, hoạt động có hiệu quả, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, tỷ lệ đô thị hóa, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tinh khóa XVI, nhiệm kỳ 2015 -2020 đã đề ra.
Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả quan trọng, cấp ủy, chính quyền các cấp và cả hệ thống chính trị đã tích cực, chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Xây dựng nông thôn mới được phát triển theo đúng quy hoạch và Đề án đã ban hành. Nhận thức của người dân về vai trò chủ thể được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng lên. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu vực nông thôn từng bước được đầu tư nâng cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác an sinh xã hội được quan tâm, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Từ năm 2016 đến năm 2019, toàn tỉnh đã có thêm 57 xã đạt chuẩn nông thôn mới; lũy kế đến cuối năm 2019, tổng số xã về đích nông thôn mới là 88 xã (chiếm 46% tổng số xã), trung bình số tiêu chí nông thôn mới trên 1 xã đạt 15,01 tiêu chí. Thực hiện Nghị quyết 830/NQUBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh, đến cuối năm 2020, có 3 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, 44,3% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới, hoàn thành trước một năm thực hiện nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (đứng thứ 3 các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, đứng đầu các tỉnh Tây Bắc về xây dựng nông thôn mới). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh, kể cả vùng cao vùng khó khăn được cải thiện đáng kể. Văn hóa - xã hội được chăm lo phát triển, có nhiều tiến bộ. Việc thực hiện chính sách đối với người có công được quan tâm, các hoạt động xã hội, từ thiện được đẩy mạnh. Công tác quốc phòng - quân sự địa phương được tăng cường, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm, phương thức lãnh đạo của Đảng có nhiều đổi mới. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó đánh dấu bước phát triển mới, tạo đà vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình khóa XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định tập trung thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược: 1- Cải cách hành chính. 2- Tập trung phát triển nguồn nhân lực. 3- Xây dựng kết cấu hạ tầng góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Theo đó, tỉnh đã chủ động thể chế hóa các chính sách, pháp luật phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, thuận lợi; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính. Tỉnh Hòa Bình đã thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp huyện, duy trì bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở 151 xã, phường, thị trấn, áp dụng phần mềm một cửa điện từ dùng chung để tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị từ tinh đến cơ sở từng bước được nâng cao. Cùng với đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo các cấp ủy, chính quyền tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng, chất lượng, hướng tới cơ cấu nhân lực hợp lý, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế; thực hiện rà soát, sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo. Nguồn nhân lực nội tỉnh đã phát triển cả về số lượng và chất lượng; năm 2020, năng suất lao động đạt 99,3 triệu đồng/lao động, gấp 1,65 lần so với năm 2015. Các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn từ các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và nhân dân đã được các cấp, các ngành huy động bằng nhiều cơ chế, chính sách phù hợp để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đã huy động đạt khoảng 80.630 tỷ đồng. Kết cấu hạ tầng giao thông được chú trọng, nhiều tuyến giao thông trọng điểm đã và đang được đầu tư tạo động lực phát triển. Hệ thống thuỷ lợi được duy trì và mở rộng, nhiều công trình thủy lợi được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới đảm bảo tưới tiêu và phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Hệ thống cấp nước sạch sinh hoạt được cải thiện, nguồn tài nguyên nước được khai thác hiệu quả, an ninh nguồn nước được đảm bảo; nhiều công trình nước sinh hoạt phục vụ người dân nông thôn được quan tâm đầu tư. Hệ thống lưới điện được đầu tư phát triển, chất lượng điện từng bước được cải thiện. Tỉnh đã tích cực phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt-Nam (EVN) thực hiện dự án mở rộng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, dự án năng lượng nông thôn 2, dự án cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia và huy động các nguồn vốn khác đầu tư xây dựng hạ tầng điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Hạ tầng công nghệ thống tin phát triển nhanh, đồng bộ, mạng truyền dẫn đã được cáp quang hóa đến 10 huyện, thành phố, đáp ứng yêu cầu phục vụ công việc, giao dịch của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Kết cấu hạ tầng phục vụ thương mại, dịch vụ phát triển với nhiều loại hình; có nhiều cơ sở kinh doanh, trung tâm thương mại hiện đại được xây dựng từ nguồn xã hội hóa. Hạ tầng giáo dục và đào tạo được chú trọng đầu tư, hằng năm ngân sách tỉnh dành 20% đầu tư cho giáo dục. Mạng lưới hạ tầng y tế được đầu tư khá đồng bộ; chú trọng phát triển mạng lưới y tế cơ sở. Thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được đầu tư phát triển. Từng bước đầu tư cải tạo, nâng cấp các công trình hạ tầng về văn hóa. Hạ tầng khoa học, công nghệ bước đầu đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Hòa Bình tiếp tục củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát hiện và xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp, không đê trở thành điểm nóng; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình hình tội phạm và tệ nạn về ma túy; thực hiện tốt các chính sách về tôn giáo, dân tộc. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:09:44 am PHÚ THỌ - NƠI MỞ ĐẦU CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đồng chí BÙI MINH CHÂU Ủyy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ Sau thất bại nặng nề ở biên giới trong Thu - Đông 1950, đồng thời bị quân ta đánh liên tiếp ở trung du và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thực dân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để giành lại quyền chủ động trên chiến trường, mùa Đông năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân chiếm đóng Hòa Bình, lập phòng tuyến Sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung du, sông Đáy nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, ngăn chặn liên lạc của ta giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Về chính trị, Pháp muốn biến khu tập trung đồng bào Mường ở vùng này thành "Xứ Mường tự trị" để tiếp tục thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc. Việc đánh chiếm Hòa Bình của thực dân Pháp đã ảnh hưởng trực tiếp đến vùng tự do của Phú Thọ. Một số khu vực Tây - Nam của tỉnh bị địch chiếm lại, trong đó có Tu Vũ thuộc xã Tân Tiến, huyện Thanh Sơn (nay là xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy). Thực dân Pháp đã tập trung xây dựng cứ điểm Tu Vũ thành một cứ điểm quân sự nhằm làm điểm án ngữ sông Đà và làm bàn đạp để đánh thọc sâu vào vùng hậu phương của Phú Thọ. Địch thường xuyên dùng không quân oanh tạc để hỗ trợ cho quân lính tại các vị trí mới chiếm đóng trên đất Phú Thọ. Ở Việt Trì, địch tổ chức càn quét các xã Chính Nghĩa, Minh Khai. Từ vị trí Toa Đen (Bạch Hạc) và từ phía Trung Hà (thuộc Sơn Tây), địch dùng đại bác bắn phá suốt một dải từ Hạc Trì lên Lâm Thao và từ hạ huyện Tam Nông đến thượng huyện Thanh Thủy. Không quân Pháp hoạt động ráo riết, bắn phá nhiều điểm của Đường số 2, bến phà Đoan Hùng, bắn thuyền bè trên sông và ném bom vào nhiều thị trấn, nhất là những nơi chúng nghi có kho tàng hoặc các mục tiêu quan trọng về chính trị và kinh tế của ta. Xung quanh cứ điểm Tu Vũ, địch tổ chức càn quét đốt cháy hơn 100 căn nhà, tàn phá hơn 300ha lúa, gây tang tóc đau thương cho nhân dân địa phương. Tu Vũ được quân Pháp xây dựng thành một vị trí then chốt trong tuyến phòng thủ Sông Đà. Thực hiện chiếm đóng cứ điểm này là 1 tiểu đoàn lính Âu - Phi thuộc Trung đoàn bộ binh Marốc số 1, 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6 với 6 xe tăng và thiết giáp trực chiến. Cứ điểm được xây dựng rất kiên cố bao quanh vòng ngoài là hàng rào thép gai dày đặc. Địch tổ chức phân chia cứ điểm thành 3 khu A, B và C. Mỗi khu đều có nhiều lô cốt chiến đấu và hỏa lực mạnh. Riêng Khu B là trung tâm phòng ngự, có sở chỉ huy tiểu đoàn và 2 đại đội bộ bịnh được trang bị 1 xe tăng, pháo 37mm, ĐKZ 75mm; có 1 lô cốt lớn được bao quanh bởi 4 ụ chiến đấu. Ngoài ra, cứ điểm Tu Vũ còn được yểm trợ bằng hỏa lực từ các vị trí núi Chẹ, Đá Chông, thủ pháo và có thể được tăng viện từ canô, tàu chiến theo đường sông Đà. Xác định cứ điểm Tu Vũ là một mắt xích quân sự quan trọng nằm trong tuyến phòng thủ then chốt của địch trên dọc tuyến sông Đà và đây là hướng tiến công chủ yếu của ta đánh địch ở Hòa Bình tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình để tiêu diệt địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích phối hợp chặt chẽ để đánh bại cuộc tiến công của Pháp đánh chiếm Hòa Bình. Sau khi phân tích tình hình cụ thể trên chiến trường, đồng thời để đảm bảo trận mở màn chắc thắng, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển và mở rộng hành lang vận chuyển hậu cần, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định lập trung binh lực, hỏa lực đột phá phòng thủ tuyến Sông Đà, bắt đầu bằng trận tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ. Để trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Sở Chỉ huy tiền phương do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo đặt vị trí gần Đồn Vàng (Thanh Sơn), cách cứ điểm Tu Vũ khoảng 20km. Quân và dân vùng Tây Bắc, đặc biệt là quân và dân tỉnh Phú Thọ được Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao nhiệm vụ phối hợp với Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) đánh địch bên tả ngạn sông Đà, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân cứu viện của địch trên sông Đà. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, tiếng súng mở đầu cho Chiến dịch Hòa Bình bắt đầu nổ trên tất cả các hướng tiến vào trung tâm cứ điểm Tu Vũ. Trung đoàn 88 và lực lượng vũ trang địa phương được lệnh tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Theo kế hoạch hiệp đồng, đúng 20 giờ, Trung đoàn 88 chia làm 3 mũi tiến công chiếm lĩnh trận địa, Tiểu đoàn 29 chiếm lĩnh phía Đông, tiến đánh Khu B, Tiểu đoàn 23 đánh phía Bắc Khu A, Tiểu đoàn 322 đột nhập khu vực Đông Nam diệt Khu C. Địch phát hiện bị quân ta bao vây tiêu diệt, hoả lực của chúng từ trong cứ điểm và ở 3 vị trí yểm trợ kháng cự quyết liệt, tạo thành một vành đai lửa bao quanh cứ điểm. Các đơn vị của ta bị pháo địch bắn dữ dội, nhưng với tinh thần anh dũng, kiên cường, quyết chiến, quyết thắng, cán bộ, chiến sĩ bí mật tiếp cận mục tiêu, triển khai lực lượng, hình thành thế bao vây, cắt gỡ hàng rào dây thép gai, dùng hỏa lực chế áp quân địch, thọc sâu chia cắt tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch... Trận đánh diễn ra rất ác liệt. Khi quân ta bắt đầu tiến công, địch tập trung hỏa lực mạnh hòng ngăn cản bước tiến quân của ta. Dưới làn mưa đạn, cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, anh dũng xông lên tiêu diệt địch. Đến 1 giờ sáng ngày 11 tháng 12, Tiểu đoàn 322 đã chiếm xong Khu C, sau đó dùng hỏa lực mạnh kiềm chế địch ở khu B. Cuộc chiến đấu ở 2 khu A, B diễn ra rất quyết liệt, ta và địch giằng co từng ụ súng. Đến 2 giờ 50 phút sáng ngày 11 tháng 12, quân ta hoàn toàn làm chủ được 2 khu này. Sau hơn 5 giờ chiến đấu ác liệt, cứ điểm Tu Vũ của địch bị tiêu diệt. Quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn thứ nhất thuộc Trung đoàn Marốc số 1, tiêu diệt 158 tên địch, bắt 12 tên (trong đó có tên quan ba Leveux), phá huỷ 3 xe tăng và 1 xe bọc thép; giải phóng cho hơn 100 thanh niên bị địch giam giữ tại đây. Trận tiến công cứ điểm Tu Vũ của Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) kết hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích là trận công kiên lớn nhất, trận đánh mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình đã hoàn thành nhiệm vụ do Bộ Tổng Tư lệnh giao. Ta đã tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Tu Vũ, xóa bỏ một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ Sông Đà của địch, làm cho chúng không có căn cứ để mở rộng và đẩy mạnh chiến dịch theo kế hoạch, tạo điều kiện cho bộ đội ta đánh bại âm mưu của địch. Đây cũng là một trong những trận chiến đấu tiêu biểu chống quân xâm lược Pháp của tỉnh Phú Thọ nói riêng, của Quân đội ta, nhân dân ta nói chung. Trận đánh thành công thể hiện sự chỉ đạo chặt chẽ của Quân ủy Trung ương, vai trò lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của bộ đội chủ lực (Trung đoàn 88) phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, đánh giá đúng tình hình, hạ quyết tâm chính xác, chủ động hiệp đồng, vận dụng linh hoạt các hình thức, thủ đoạn chiến đấu, kiên quyết tiến công giành thắng lợi. Với chiến thắng trong trận tiến công cứ điểm Tu Vũ - trận đánh mở đầu của Chiến dịch Hòa Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, quân và dân địa phương: "Trận Tu Vũ là thắng lợi đầu tiên của quân ta đánh địch trong công sự... Nó biểu hiện một tinh thần hy sinh quả cảm, tích cực tiêu diệt địch và tính chủ động linh hoạt trong chiến đấu... Tôi biểu dương các đồng chí đà đánh trận Tu Vũ, cả du kích và bộ đội, biểu dương anh chị em dân công và đồng bào các dân tộc, đặc biệt là các mẹ đã hết sức giúp đỡ bộ đội cùng nhau làm nên chiến thắng lớn"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bài học trí tuệ đổi mới, dân chủ, đoàn kết trong trận Tu Vũ, in trong Kỷ yếu Hội tháo khoa học "Chiến thắng Tu Vũ - 10.12.1951", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 17, 18, 19). Nhìn lại cả quá trình diễn biến của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại tưởng Võ Nguyên Giáp đã có nhận xét: "... có trận Tu Vũ mới có Him Lam, Độc Lập... Từ Tu Vũ và Chiến dịch Hòa Bình đã hình thành những tư tưởng giúp chúng ta tiến đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ. Với trận Tu Vũ, các đồng chí đã góp phần quan trọng cho những thắng lợi lớn sau này"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bài học trí tuệ đổi mới, dân chủ, đoàn kết trong trận Tu Vũ, in trong Kỷ yếu Hội tháo khoa học "Chiến thắng Tu Vũ - 10.12.1951", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 17, 18, 19). Thắng lợi đó chứng tỏ bước trưởng thành của Quân đội ta, đó là thắng lợi của quá trình phát triển và chuẩn bị mọi mặt của ta và sự phối hợp, ủng hộ của nhân dân địa phương; làm rạng rỡ thêm tinh thần đánh giặc giữ làng, giải phóng quê hương, đất nước của nhân dân Phú Thọ nói riêng và của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Tham gia Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân tỉnh Phú Thọ đã phát huy khả năng cao nhất của địa phương, dốc sức phục vụ chiến trường, cung cấp nhân lực, vật lực cho chiến dịch với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng". Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:10:21 am Từ giữa tháng 9 năm 1951, Liên Khu ủy Việt Bắc đã chỉ thị cho Tỉnh ủy Phú Thọ phải tích cực chuẩn bị mọi mặt để phá kế hoạch củng cố vùng trung du của địch. Theo đó, ngay cuối tháng 9, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị gồm đại diện của Tỉnh đội, Tiểu đoàn 72 Đại đoàn 308 và các huyện Thanh Thủy, Tam Nông, Lâm Thao và Hạc Trì để bàn và phổ biến kế hoạch chống địch càn quét, chiếm đóng. Vì vậy, khi địch mở các cuộc càn quét vào địa bàn các huyện trên, chúng đã vấp phải sự chiến đấu kiên cường của quân và dân địa phương. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân du kích các xã anh dũng chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm chúng phải co cụm vào các vị trí để cố thủ.
Phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, cuối tháng 11 năm 1951, cơ quan quân sự tỉnh Phú Thọ đã lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương liên tiếp bao vây, tiến công địch, kìm hãm chân chúng trong các vị trí chiếm đóng. Dân quân, du kích và bộ đội địa phương các huyện chặn đánh địch ở nhiều nơi. Du kích các xã phục kích địch đi tuần trên sông Đà, bắn vào các vị trí trong cứ điểm Tu Vũ. Bộ đội địa phương trong tỉnh và Đại đội du kích Thục Luyện (Thanh Sơn) phối hợp với Đại đoàn 312 tiêu diệt hàng trăm tên địch với 4 đại đội Âu - Phi bị thiệt hại nặng; Tiểu đoàn Thái số 3 bị tiêu diệt... Những hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương đã góp phần tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tập trung vào mặt trận chính Hòa Bình, Sông Đà, Đường số 6. Tháng 12 năm 1951, tỉnh Phú Thọ được Trung ương và Liên khu Việt Bắc giao nhiệm vụ chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ Chiến dịch Hòa Bình. Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và các địa phương xác định đây là nhiệm vụ trung tâm, đột xuất nên đã tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời. Tỉnh đã thành lập Ban Chuẩn bị chiến trường, điều động 4 đồng chí Tỉnh ủy viên cùng 30 cán bộ giúp việc, tổ chức phổ biến Thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời động viên nhân dân dồn sức hoàn thành mọi mặt công tác, đảm bảo yêu cầu chiến dịch. Bên cạnh sự chỉ đạo các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chiến đấu, Tỉnh ủy và chính quyền tỉnh Phú Thọ đã vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tình phục vụ tích cực cho chiến dịch. Chưa có chiến dịch nào lại gấp rút và động viên lực lượng lớn như Chiến dịch Hòa Bình. Để làm tốt nhiệm vụ vận chuyển lương thực và vũ khí phục vụ chiến dịch, tỉnh Phú Thọ phối hợp với bộ đội Công binh mở mới và sửa chữa nhanh chóng những tuyến đường vận tải quân sự Phú Thọ - Đồn Vàng - Hòa Bình; mở thêm nhiều tuyến đường dài hàng trăm kilômét; sửa chữa 60km đường ôtô, làm bến vượt, những sân tránh xe; làm hàng chục cầu phao ở Cẩm Khê, Yên Lập, Ngọc Lập, Thục Luyện, Đồng Cốc, Hương Cần, Đèo Huống, Bản Thôn... Quân và dân Phú Thọ đã nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh, đóng góp 3.000 tấn gạo, 800 con lợn, 150 con trâu, bò thịt và 2.000 chiếc thuyền, 45.000 dân công phục vụ thường xuyên cho cả chiến dịch. Riêng trận công phá Tu Vũ, trong các đêm từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 12 năm 1951, mặc cho pháo sáng và đạn địch từ trên máy bay bắn phá, đèn pha của canô địch tuần tiễu phát hiện và uy hiếp, nhân dân các làng ven sông đã dùng hàng trăm thuyền nhỏ nhanh chóng đưa bộ đội qua sông an toàn, luồn sâu vào vùng sau lưng địch ở Ba Trại. Cũng trong trận chiến đấu này, huyện Thanh Thủy đã huy động hơn 500 dân công làm nhiệm vụ tiếp đạn, cứu thương, vận chuyển lương thực, thuốc men cho bộ đội. Sau Chiến thắng Tu Vũ, với quyết tâm triệt hẳn tuyến vận tải đường sông của địch, không cho địch có cơ hội củng cố lực lượng, ngày 14 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 387 thuộc Đại đoàn 308 phối hợp với bộ đội và dân quân du kích địa phương phục kích bắn chìm 2 sà lan của địch, làm cho địch hoang mang lo sợ, phải cầu viện từ Sơn Tây sang chiếm đóng vị trí Phương Viên. Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 và bộ đội địa phương cũng bố trí trận địa phục kích ở Lạc Song, chặn đánh tàu địch từ bến Ngọc xuôi về Trung Hà. Khoảng 11 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1951, 1 đoàn tàu chiến và 6 canô của địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, ta bắn chìm 1 tàu chiến và bắn cháy 4 canô, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, bắt 80 tên, làm tê liệt hoàn toàn đường tiếp tế của địch trên sông Đà. Đây là trận đánh thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta. Sau những thắng lợi trên, cơ sở đảng, chính quyền nhân dân tại khu vực này được củng cố, chiến tranh du kích được đẩy mạnh và phát triển, quân và dân Phú Thọ phấn khởi tích cực phối hợp tác chiến và phục vụ cho Chiến dịch Hòa Bình đến khi toàn thắng. Những đóng góp tích cực của Đảng bộ, quân và dân Phú Thọ trong Chiến dịch Hòa Bình đã được Trung ương Đảng và Chính phủ tuyên dương với 37 huân chương cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Riêng Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, đơn vị chủ công đánh đồn Tu Vũ và giành thắng lợi hoàn toàn, được Hội đồng Chính phủ tặng danh hiệu "Trung đoàn Tu Vũ". Địa điểm Chiến thắng Tu Vũ được công nhận Di tích lịch sử kháng chiến và Tượng đài chiến thắng Tu Vũ được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngay từ khi mới được thành lập và trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỳ, cũng như trong chiến đấu bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, lực lượng vũ trang tỉnh Phú Thọ đã đoàn kết một lòng, đồng cam cộng khổ, chiến đấu dũng cảm kiên cường, lập nhiều chiến công hiển hách, ghi đậm dấu ấn hào hùng của dân tộc. Từ những chiến công mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược như Chiến thắng Sông Lô, Chiến thắng Tu Vũ, Chiến thắng Cầu Hai - Chân Mộng cho đến Chiến thắng Điện Biên Phủ và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đều có đóng góp to lớn của quân và dân Phú Thọ. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Phú Thọ là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng trong thế trận phòng thủ đất nước. Thời gian qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, đổi mới sáng tạo, quyết tâm phấn đấu và đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực. Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang tỉnh luôn phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị xã, thành phố ngày càng vững chắc. Chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần quan trọng cùng nhân dân các dân tộc trong tỉnh giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; phấn đấu đưa tỉnh Phú Thọ là tỉnh phát triển hàng đầu của vùng trung du và miền núi phía Bắc. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:11:33 am LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LIÊN KHU 3 "CHIA LỬA" VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng NGUYỄN QUANG NGỌC Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Quân khu 3 Sau khi thực dân Pháp thực hiện cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến sông Đà, tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích vùng trung du và châu thổ sông Hồng. Là hướng phối hợp quan trọng, quân và dân Liên khu 3 đã tích cực "chia lửa" với mặt trận chính, trực tiếp góp phần làm nên những thành công vang dội trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tổng kết: "Đây là chiến dịch kép. Một chiến dịch gồm hai mặt trận. Mặt trận chính là Hòa Bình, mặt trận phối hợp là vùng địch hậu trang du và đồng bằng Bắc Bộ. Trong suốt quá trình chiến dịch, hai mặt trận này đã gắn bó với nhau một cách hữu cơ, cùng tạo điều kiện cho nhau để giành thắng lợi. Có thể nói nếu không có thắng lợi ở nơi này thì cũng không có thắng lợi ở nơi kia"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phú, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 293 - 294). Thực hiện chủ trương Hội nghị lần thứ hai của Ban Chap hành Trung ương Đảng (27.9 - 5.10.1951), từ ngày 9 đến ngày 10 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định phân tán chủ lực trên nhiều chiến trường với quy mô trên dưới một đại đoàn, phối hợp mật thiết với lực lượng vũ trang của Liên khu 3, Liên khu 1 luân phiên tác chiến, buộc các binh đoàn cơ động của thực dân Pháp phải phân tán đối phó, từ đó tiêu diệt sinh lực địch, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển. Tổng Quân ủy cũng chủ trương sử dụng một số đại đoàn hoạt động phân tán ở trung du và hữu ngạn Liên khu 3 để thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích sau lưng địch và mở chiến dịch Liên khu 3 tiến công địch ở đồng bằng. Tuy nhiên, khi ta đang chuẩn bị mở chiến dịch, quân Pháp đã xây dựng kế hoạch phản công, chuẩn bị đưa toàn bộ lực lượng cơ động chiến lược mở cuộc hành quân đánh chiếm tỉnh Hòa Bình - tỉnh tự do duy nhất của Liên khu 3, mở đầu cho cuộc phản công nhằm cắt đứt đường giao thông huyết mạch của lực lượng kháng chiến từ Bắc vào Nam, khiến "chủ lực đối phương phải tham chiến", từ đó giành "thắng lợi quân sự, chính trị vang dội", dựng lại "Xứ Mường tự trị" ở Hòa Bình. Để phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Liên khu 3 đã thành lập Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng gồm các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy và đồng chí Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320. Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng họp xác định kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952: Đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với mặt trận chính tiêu diệt địch và nhân cơ hội địch đưa quân cơ động ra ngoại tuyến, tập trung đánh mạnh ở sau lưng, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của chúng, tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đẩy mạnh công tác địch vận, giành lại kho nhân tài, vật lực của Liên khu1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 301). Đợt hoạt động của Liên khu được chia thành 2 bước: Bước thứ nhất, tập trung toàn bộ lực lượng của Đại đoàn 320 cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đánh mạnh ở Hà Nam, Ninh Bình tiêu diệt địch, phá ngụy quân, ngụy quyền, tạo địa bàn đứng chân để tiếp tục đưa chủ lực vào sâu hơn. Bước thứ hai, Đại đoàn 320 (thiếu 1 trung đoàn) vượt sông Hồng sang Thái Bình cùng Trung đoàn 42 và bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến, khôi phục và mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, uy hiếp Đường số 5. Đồng thời, tập trung 2 trung đoàn chủ lực (1 trung đoàn của Đại đoàn 320 và Trung đoàn 46 của Liên khu 3) cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến ở Hà Nam, Nam Định, tạo thế căng kéo, phối hợp với chiến trường chính và tiếp tục mở rộng các vùng giải phóng. Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng cũng quyết định thành lập các hội đồng cung cấp từ Liên khu tới các tỉnh, thành phố, các huyện để chi viện cho chiến trường. Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1951, các đơn vị, địa phương trên địa bàn Liên khu 3 tổ chức chuyển quân và triển khai các mặt bảo đảm chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Ở các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương và Kiến An các đơn vị bộ đội địa phương đều đưa lực lượng vào vùng địch tạm chiếm đánh địch. Các cơ quan cấp tỉnh, huyện tổ chức một bộ phận gọn, nhẹ bám sát vùng xung yếu chỉ đạo phong trào. Ban Chuẩn bị chiến trường của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình chuẩn bị huy động lực lượng, vật chất bảo đảm cho bộ đội chủ lực tác chiến trên mặt trận chính diện Hòa Bình, đồng thời sẵn sàng đánh địch tại địa phương, phát triển chiến tranh du kích. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn. "Chia lửa" với mặt trận chính, Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quyết định đưa lực lượng bí mật tiến sâu vào trong vùng địch hậu, thực hiện đánh từ trong đánh ra với mục tiêu tiến công đầu tiên là Phát Diệm (Ninh Bình). Theo đó, Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 tập trung tác chiến ở hướng Phát Diệm. Trung đoàn 64 tổ chức tác chiến ở vùng sau lưng địch Hà Nam. Bộ đội địa phương, dân quân du kích toàn Mặt trận đẩy mạnh đánh nhỏ, phối hợp với chủ lực và hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy phá tề, giành lại quyền làm chủ thôn, xã. Được sự che chở, đùm bọc của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 và bộ đội địa phương tỉnh Ninh Bình bí mật vượt qua nhiều đồn giặc, vành đai trắng và nhiều sông ngòi bằng các phương tiện chuyên chở do nhân dân giúp đỡ để chiếm lĩnh vị trí tiến công. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 có sự phối hợp của các lực lượng tại chỗ đã san phẳng 10 vị trí, diệt và bắt 875 tên địch, thu 186 súng và phá huỷ nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh khác, giải phóng thị trấn Phát Diệm. Đồng thời, Trung đoàn 52 và bộ đội địa phương huyện Yên Khánh tiêu diệt và bắt toàn bộ lực lượng chi viện tiến qua Yên Ninh về Phát Diệm. Đến cuối tháng 12 năm 1951, các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân du kích đã phối hợp chặt chẽ, liên tục tiêu diệt, tiêu hao, bao vây, quấy rối địch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân nổi dậy phá tề. Sau hơn nửa tháng hoạt động, Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 cùng quân và dân tỉnh Ninh Bình đã giành được những thắng lợi quan trọng, tiêu diệt 2/3 quân chiếm đóng, phá 128/138 ban tề, giải phóng phần lớn huyện Yên Mô, một phần huyện Kim Sơn, xây dựng nhiều cơ sở trong đồng bào công giáo ở Phát Diệm, mở một số khu du kích mới ở Kim Sơn, nối liền với khu du kích Yên Khánh. Thắng lợi đã làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, quân ngụy ở phía Nam tỉnh Ninh Bình, trực tiếp mở đường cho lực lượng ta vượt sông Đáy, tiến sâu hơn vào trong vùng địch hậu. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:12:06 am Để kịp thời phối hợp với mặt trận Hoà Bình, chiều ngày 8 tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 64 từ vùng tự do hành quân vào vùng địch hậu Hà Nam. Đêm mùng 10, rạng ngày 11 tháng 12, Tiểu đoàn Hưng Công đã san phẳng vị trí Ngô Khê (ven sông Đào), mở đường liên lạc giữa các huyện Lý Nhân, Bình Lục, Duy Tiên, đồng thời tiêu diệt một đại đội biệt kích đi ứng cứu ở Tái Kênh, làm chấn động tinh thần binh lính ngụy ở Hà Nam. Tiếp đó, từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 12 năm 1951, dân quân du kích trong tỉnh tổ chức vây ép các đồn bốt giặc và hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá tề, diệt dõng, giành lại quyền làm chủ thôn, xã. Đến giữa tháng 12 năm 1951, chủ lực ta đã có mặt trên toàn tỉnh Hà Nam và phía Bắc tỉnh Nam Định. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, đân quân du kích liên tục chiến đấu tiêu diệt, tiêu hao quân địch. Bộ đội chủ lực tập trung tiêu diệt các vị trí quan trọng của địch. Lực lượng tại chỗ của ta kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, binh vận đã xóa bỏ hàng chục vị trí tề dõng, chuyển các thôn, xã tạm bị chiếm thành các làng xã chiến đấu. Chiến tranh du kích và phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ đã xóa bỏ hệ thống ngụy quyền cơ sở mà quân địch đã phải mất nhiều công sức gây dựng. Chỉ trong gần một tháng hoạt động ở Hà Nam, ta đã san phẳng 14 cứ điểm, bức rút, bức hàng 24 cứ điểm khác, diệt 45/50 vị trí tề vũ trang, hương tổng dũng, phá 312/380 ban tề, thu gần 1.000 súng, tăng cường trang bị cho các đơn vị bộ đội địa phương và du kích các xã. Cùng với thắng lợi quân sự, công tác tranh thủ nhân dân cũng đạt được kết quả lớn, các cơ sở chính trị được mở rộng, nhiều khu du kích mới được hình thành ở các huyện.
Tại Hà Đông, chấp hành nhiệm vụ hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952 của Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 3, bộ đội địa phương và dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động quân sự, đồng thời kết hợp với tiến công chính trị, binh vận. Nửa cuối tháng 12 năm 1951, nhân dân Hà Đông đã vùng dậy tổng phá tề, phục hồi cơ sở ở 171 thôn, mở 5 khu du kích ở các huyện ứng Hòa, Phú Xuyên, Thường Tín và Liên Nam. Ở Sơn Tây, Hòa Bình, ngoài trực tiếp phối hợp đánh địch tại mặt trận chính, quân và dân 2 tỉnh còn đẩy mạnh hoạt động quấy rối, tiêu hao, bao vây đồn bốt, đánh phá giao thông vận chuyển của địch và tham gia công tác phục vụ chiến dịch. Chỉ riêng tỉnh Hòa Bình, tháng 12 năm 1951, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đã huy động nhân dân tham gia 200.000 ngày công làm nhiệm vụ vận tải, chuyển thương, mở đường, bảo đảm cho chủ lực ta chiến đấu thắng lợi. Cuối tháng 12 năm 1951, sau khi mở rộng vùng giải phóng, tạo bàn đạp đứng chân ở Ninh Bình, Trung đoàn 52, Trung đoàn 48 tiên sâu vào vùng địch hậu ở phía Nam tỉnh Nam Định cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, đồng thời mở đường để chuẩn bị đưa chủ lực vượt sông Hồng đánh sang tả ngạn. Trung và hạ tuần tháng 12 năm 1951, ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch ở cả mặt trận chính Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch. Ở hữu ngạn sông Hồng, chiến tranh du kích đã diễn ra sôi nổi và có chuyển biến mạnh. Ở tả ngạn sông Hồng, cơ sở quần chúng và phong trào chiến tranh du kích bước đầu phục hồi, tạo tiền đề căn bản cho ta giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Trước tình hình đó, để chống đỡ với miền đồng bằng đang rung chuyển và chống lại áp lực của chủ lực ta tại mặt trận chính, ngày 8 tháng 1 năm 1952, quân Pháp rút lực lượng khỏi phân khu Sông Đà về tăng cường phòng thủ khu vực thị xã Hòa Bình - Đường số 6, đồng thời đưa một phần lực lượng cơ động về đồng bằng. Thực hiện chủ trương của Tổng Quân ủy về việc đưa chủ lực sang tả ngạn, đẩy mạnh củng cố cơ sở, chống càn quét, phát triển chiến tranh du kích, phối hợp với mặt trận Hòa Bình - Đường số 6, Thường vụ Liên khu ủy và Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quyết định đưa toàn bộ Đại đoàn 320, các trung đoàn 42, 46 vào vùng địch hậu phối hợp cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh đồng bằng hoạt động lâu dài, tiêu diệt sinh lực địch, phá ngụy quân, ngụy quyền, bảo vệ nhân dân, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích sau lưng địch. Theo đó, Trung đoàn 64 hoạt động mạnh ở Hà Nam, Bắc Nam Định để nghi binh đánh lạc hướng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho Đại đoàn bộ và các trung đoàn 48, 52 đánh qua khu vực phía Nam tỉnh Nam Định, vượt sông Hồng sang chiến đấu ở Thái Bình. Trung tuần tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 64 tiêu diệt một số vị trí ven sông Hồng, uy hiếp phía Bắc thị xã Nam Định, ở phía Nam tỉnh Nam Định, ta cũng liên tiếp giành thắng lợi. Nhân cơ hội đó, được sự hỗ trợ của Trung đoàn 46, lực lượng quân sự và chính trị các huyện Nghĩa Hưng, Giao Thủy và Hải Hậu tiến công phá vỡ toàn bộ hệ thống tề dõng của địch ở Hạ Nghĩa Hưng và giải phóng phần lớn các huyện Giao Thủy, Hải Hậu. Bằng đòn tiến công quân sự của lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp với đòn tiến công chính trị, binh vận với nhiều hình thức phong phú của nhân dân, chỉ sau một thời gian ngắn, ta đã bức rút, bức hàng 40 vị trí, diệt và phá bỏ 87/103 ban tề vũ trang, mở được các khu du kích, căn cứ du kích rộng lớn ở phía Nam tỉnh Nam Định, ở khu vực phía Bắc Nam Định, ta cũng mở lại các khu du kích ở nhiều huyện và nối liền với các khu du kích, căn cứ du kích ở Hà Nam, đưa phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn tỉnh chuyển sang một bước phát triển nhảy vọt mới. Ở Tả Ngạn, Bộ Chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn và tỉnh ủy các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An và thành phố Hải Phòng tổ chức cho bộ đội địa phương, dân quân du kích cùng Trung đoàn 42 đẩy mạnh tác chiến phối hợp với chiến trường chính diệt địch, mở rộng địa bàn. Tháng 12 năm 1951 và nửa đầu tháng 1 năm 1952, trọng điểm hoạt động của Mặt trận Tả Ngạn là địa bàn tỉnh Thái Bình. Bộ đội địa phương, dân quân du kích đã hỗ trợ quần chúng nổi dậy liên tiếp phá tề, diệt dõng ở nhiều huyện, mở lại các khu du kích. Cuối tháng 1 năm 1952, các đơn vị của Đại đoàn 320 lần lượt vượt sông Hồng sang Thái Bình hoạt động. Theo quyết định của Thường vụ Liên khu ủy 3, Đảng ủy Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn được thành lập. Các đồng chí Đỗ Mười, Nguyễn Khai, Dương Hữu Miên, Văn Tiến Dũng tham gia Đảng ủy Mặt trận và trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến đấu. Đảng ủy Mặt trận chủ trương đưa toàn bộ lực lượng đánh mạnh nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích, vận động nhân dân phá ngụy quân, ngụy quyền. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Sáu, 2023, 07:12:55 am Từ ngày 18 tháng 1 năm 1952, các đơn vị thuộc Đại đoàn 320 đã vượt qua sự phong tỏa của địch, tiến sang đất Thái Bình. Qua những đợt hoạt động đầu tiên, bộ đội chủ lực và địa phương đã làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, quân ngụy ở phía Nam thị xã Thái Bình. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn, ngày 3 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 tiến công hệ thống chiếm đóng của địch ở Kiến Xương và Tiền Hải. Cùng thời gian đó, bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình và dân quân du kích các huyện Kiến Xương, Tiền Hải bao vây bức hàng 9 vị trí do bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đóng giữ, giải phóng huyện Tiền Hải. Phát huy thắng lợi, lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục phát triển lên Vũ Tiên - Kiến Xương phối hợp với dân quân du kích và đồng bào trong vùng bao vây bức hàng 12 vị trí, giải phóng gần hết huyện Kiến Xương và khu vực phía Nam huyện Vũ Tiên. Các tiểu đoàn Thanh Lũng, Kiên Trung, Tiểu đoàn pháo thuộc Đại đoàn 320 vượt sông Trà Lý phối hợp với các lực lượng tại chỗ giải phóng huyện Thái Ninh và Thụy Anh. Huyện ủy và Ban Chỉ huy Huyện đội các huyện Tiên Hưng, Thư Trì và Duyên Hà sử dụng lực lượng vũ trang tại chỗ và huy động nhân dân bao vây bức rút nhiều vị trí, mở lại các khu du kích. Tháng 2 năm 1952, ta tiếp tục bao vây, bức hàng nhiều vị trí, phục hồi khu du kích, căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng, mở rộng vùng giải phóng ờ 4 huyện phía Bắc tỉnh Thái Bình. Cuộc đấu tranh của quân và dân Thái Bình đã có bước phát triển nhảy vọt, Qua hơn 1 tháng hoạt động, ta đã xoá bỏ toàn bộ kết quả bình định của địch trong 6 tháng cuối năm 1950 và đầu năm 1951; tiêu diệt, bức hàng, bức rút 75 vị trí; giải phóng hoàn toàn các huyện Tiền Hải, Kiến Xương, 3/4 diện tích huyện Thụy Anh, 1/3 diện tích huyện Đông Quan; phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi và Phụ Dực. Hệ thống tề dõng, chính quyền cơ sở của địch ở Thái Bình cơ bản bị tan rã.
Ở Hải Dương và Hưng Yên, thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn, cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1952, các trung đoàn 42, 174 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt nhiều vị trí địch, tổ chức đánh phá giao thông, mở rộng khu du kích, căn cứ du kích. Mỗi tỉnh giải phóng được hàng trăm thôn, xã và mở lại các khu du kích, căn cứ du kích ở tất cả các huyện. Khu du kích, căn cứ du kích Bắc sông Luộc đã được mở rộng (gồm 7 huyện) thành căn cứ liên tỉnh, nối liền với các khu du kích, căn cứ du kích ở phía Bắc tỉnh Thái Bình. Tại Kiến An, chấp hành nhiệm vụ của Liên khu ủy và Ban Chỉ đạo Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn, Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội chủ trương sử dụng lực lượng đẩy mạnh hoạt động phối hợp chiến trường và tranh thủ quân cơ động địch đang bị thu hút, giam chân ở mặt trận chính, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và vận động chính trị, khôi phục, phát triển cơ sở trong vùng địch tạm chiếm, trọng điểm là phục hồi khu du kích Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Sau hơn 1 tháng kiên trì bám đất, bám dân, ta đã phục hồi được cơ sở chính trị ở Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Đồng thời với tiến công quân sự, ta phát động nhân dân đấu tranh chính trị, kinh tế, chống bắt phu, nộp thuế. Cuối tháng 1, đàu tháng 2 năm 1952, đảng bộ địa phương phát động nhân dân đứng lên phối hợp cùng lực lượng vũ trang bao vây, bức hàng, bức rút toàn bộ 46 đồn hương dõng trong vùng, giải phóng 22 xã. Khu du kích, căn cứ du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bảo trở thành căn cứ chính và là bàn đạp tiến công quan trọng của ta tại Kiến An - Hải Phòng. Đầu tháng 2 năm 1952, để đối phó với phong trào chiến tranh du kích Kiến An đang phục hồi, Bộ Chỉ huy quân Pháp điều động 1 binh đoàn cơ động chiến lược dùng 38 xe bọc thép có không quân, pháo binh chi viện mở cuộc hành quân càn quét vào khu du kích Tiên Lãng nhưng không thu được kết quả nên chuyển hướng sang huyện Vĩnh Bảo. Những trận đánh nhỏ, diệt nhỏ của bộ đội địa phương hoạt động phân tán và dân quân du kích diễn ra khắp nơi làm cho quân cơ động của địch hết sức căng thẳng và tổn thất không nhỏ nên phải kết thúc cuộc càn quét. Việc ta khôi phục và giữ vũng được khu du kích, căn cứ du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bảo càng củng cố thêm niềm tin và sức mạnh thế trận tại chỗ của ta ở các mặt trận nằm sâu trong vùng địch hậu. Kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, binh vận, quân và dân Liên khu 3 còn đánh mạnh vào tinh thần binh lính địch, làm hàng nghìn lính ngụy bỏ ngũ trở về nhà, nhiều người đem theo cả vũ khí về giao nộp cho chính quyền cách mạng. Trước Đông - Xuân 1951 - 1952, hầu như toàn bộ vùng châu thổ sông Hồng nằm dưới sự kiểm soát của địch, đến đầu năm 1952, ta đã giải phóng hơn 2 triệu đồng bào, với diện tích 4.800km2 (bằng 2/3 diện tích vùng châu thổ); khu du kích được mở ở hầu hết các huyện đồng bằng, nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên huyện, liên tỉnh rộng lớn xuất hiện1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Sđd, tr. 334). Cơ sở chính trị và vũ trang của ta cũng đã phát triển khá mạnh ở các vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa. Âm mưu chia rẽ lương - giáo, phá khối đoàn kết dân tộc, thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" bị đánh bại một bước quan trọng. Bị thất bại trên cả mặt trận chính và đặc biệt là trên mặt trận sau lưng địch, ngày 23 tháng 2 năm 1952, quân Pháp bỏ Hòa Bình rút chạy. Tỉnh Hòa Bình được giải phóng. "Chia lửa" với mặt trận chính, quân và dân Liên khu 3 đã tiêu diệt, bắt hơn 10.000 quân địch, tiêu diệt 160 cứ điểm, diệt khoảng 1.000 vị trí do tề vũ trang, tổng dõng, vệ sĩ đóng giữ, thu và phá hủy nhiều vũ khí, đạn dược và các phương tiện chiến tranh1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Sđd, tr. 333). Thắng lợi to lớn của ta ở mặt trận sau lưng địch làm thay đổi tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ, có ý nghĩa quan trọng đối với thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hòa Bình. Đó là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, là kết quả của tư duy sắc sảo, nhạy bén của Bộ Chỉ huy tối cao và Bộ Tư lệnh Chiến dịch trong phân tích tình hình, đánh giá về lương quan lực lượng, trong định ra phương thức và phương châm hoạt động cho toàn chiến dịch cũng như cho từng mặt trận. Đồng thời là thắng lợi của chủ trương "lấy dân làm gốc", kiên trì tổ chức toàn dân đánh giặc bằng sức mạnh của lực lượng tổng hợp kiên quyết mở cuộc đấu tranh toàn diện ở mặt trận sau lưng địch đẩy mạnh tiến công địch bằng cả ba thứ quân, bằng kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với tiến công chính trị, binh vận, giữa đánh địch và thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng kháng chiến ở vùng địch hậu về mọi mặt. Chiến thắng Hòa Bình và những hoạt động quân sự của ta trong vùng địch hậu Liên khu 3 đã giáng một đòn mạnh vào kế hoạch chiến lược của Đờ Lát, khiến quân Pháp "tổn thất về sinh mạng và trang bị không kém gì Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Điện Biên Phủ sau này"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 294), làm xoay chuyển cục diện trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ theo chiều hướng có lợi cho ta. Chiến thắng Hòa Bình cũng là cuộc tập dượt cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của phong trào cách mạng ở Liên khu 3. Với sự phát triển cả về số lượng, chất lượng của lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, quân dân Liên khu 3 sẵn sàng cùng cả nước tiến lên giành những thắng lợi lớn hơn, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:24:32 am QUÂN VÀ DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 2 TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thiếu tướng PHẠM HỒNG CHƯƠNG Tư lệnh Quân khu 2 Chiến thắng Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951 - 1952 là chiến thắng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị và quân sự trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong chiến thắng này, quân và dân Tây Bắc (Quân khu 2 ngày nay) đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não chiến dịch, giữ gìn bí mật cho chủ lực của Bộ triển khai lực lượng đánh tạo thế; đồng thời cung cấp sức người, cơ sở vật chất, lương thực cho chiến dịch, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, đánh dấu sự khởi đầu giành quyền chủ động trên chiến trường của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới. Sau thất bại trong Chiến dịch Biên Giới 1950, quân Pháp ở Đông Dương rơi vào thế bị động, phái tìm cách để giữ thế chủ động về chiến lược. Từ cuối năm 1950, thực dân Pháp tăng quân, đổi tướng, triển khai kế hoạch quân sự mới ở Đông Dương. Tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi sau khi sang Việt Nam đã khẩn cấp triển khai xây dựng một loạt hệ thống đồn, bốt kiên cố, vững chắc ở những vị trí có ý nghĩa chiến lược dọc theo các tuyến giao thông quan trọng hòng kiểm soái, ngăn chặn mọi hoạt động của ta, nhất là các cuộc tiến công của quân chủ lực từ vùng thượng du xuống đồng bằng và cắt đứt nguồn tiếp tế nhân lực, vật lực từ vùng châu thổ sông Hồng, nơi đông dân, nhiều lúa gạo cho căn cứ cách mạng. Đồng thời, cho quân đẩy nhanh quá trình bình định nông thôn, các vùng tạm chiếm bằng các cuộc hành binh càn quét quy mô lớn nhằm tiêu diệt các cơ sở chính trị, vũ trang, bắt lính, dồn dân, triệt phá kinh tế... Đến đầu tháng 9 năm 1951, những nỗ lực về quân sự của thực dân Pháp đã làm cho tình hình của ta ở Tây Bắc gặp rất nhiều khó khăn. Với kế hoạch tăng cường khối phòng thủ độc lập Tây Bắc, địch đã co về củng cố Nghĩa Lộ (Yên Bái) để giữ vững vựa thóc lớn của Tây Bắc và uy hiếp phía Tây căn cứ địa Việt Bắc. Chúng củng cố những cứ điểm nhỏ thành cứ điểm vừa do 1 đại đội đóng giữ, lập mới 4 tiểu khu Nghĩa Lộ, Gia Hội, Ba Khe, Gốc Báng; mỗi tiểu khu Có 1 tiểu đoàn chiếm đóng. Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp tăng cường 3 tiểu đoàn quân viễn chinh cho Tây Bắc, đồng thời tăng cường nắm thổ ty, lang, đạo, khủng bố đàn áp nhân dân, phá vỡ cơ sở kháng chiến. Phong trào cách mạng ở Yên Bái tạm lắng xuống, các đội du kích ở Sơn La chưa có hoạt động tác chiến đáng kể. Tại Lai Châu mới tạo được chỗ đứng chân trong đồng bào Mông ở 3 huyện Điện Biên, Tuần Giáo, Quỳnh Nhai. Đường giao thông từ các địa phương về Liên khu Việt Bắc thường xuyên bị địch phục kích, ngăn chặn... Trước tình hình đó, Liên khu ủy Việt Bắc chủ trương xây dựng Lào Cai làm bàn đạp chính, tiến tới giải phóng Lai Châu, mở đường vào hoạt động sâu trong hậu địch. Ngày 13 tháng 9 năm 1951, Thường vụ Liên khu ủy quyết định: "Mở đợt hoạt động đẩy mạnh chiến tranh du kích" phục vụ đấu tranh Chính trị, bảo vệ mùa màng và chuẩn bị chiến trường cho tác chiến trong Thu - Đông 1951 - 1952. Cùng thời điểm này, từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 31 tháng 10 năm 1951, Bộ Tổng Tư lệnh mở Chiến dịch Lý Thường Kiệt đánh vào Phân khu Nghĩa Lộ nhằm tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công quân địch trên chiến trường chính, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt phỉ củng cố phát triển cơ sở trong vùng sau lưng địch ở Tây Bắc, giải phóng đất đai, đồng thời thăm dò phản ứng của quân viễn chinh Pháp khi ta tiến công lên rừng núi. Kết thúc chiến dịch, ta tiêu diệt khoảng 1.000 tên địch, thu hàng trăm súng các loại, 15 tấn đạn, 13 tân quân trang quân dụng và 60 tấn luơng thực. Trong khi quân và dân Quân khu 2 cùng các đơn vị tiến hành Chiến dịch Lý Thường Kiệt, từ cuối tháng 10 năm 1951, sau khi giành được kết quả nhất định trong lấn chiếm đồng bằng Bắc Bộ, tướng Đờ Lát tuyên bố, đã tới lúc giành lại chủ động trên chiến trường, buộc Việt Minh phải tiếp nhận chiến đấu trên một địa hình do Pháp lựa chọn. Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã chọn Hòa Bình làm nơi quyết chiến nhằm mục tiêu cắt rời phần đất của Việt Minh ở Việt Bắc đã nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa khỏi phần còn lại rộng lớn ở phía Nam Việt Nam, để mở đường cho bước 2 - đánh chiếm vùng tự do Liên khu 4. Bộ Chỉ huy quàn viễn chinh Pháp nhận định Hòa Bình là nút giao thông thủy - bộ nối liền Việt Bắc với đồng bằng hữu ngạn sông Hồng, vùng tự do Liên khu 4, là cửa ngõ tiến lên Tây Bắc thông sang Thượng Lào. Chiếm được Hòa Bình, không những thực hiện được việc chia cắt chiến trường mà còn mở rộng phòng tuyến Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, giảm nhẹ sự cô lập của Tây Bắc, uy hiếp vùng tự do của ta ở Phú Thọ, Tây Ninh Bình. Đờ Lát cho rằng, với việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ thu hút được lực lượng ta đến chiến trường đã chọn để "nghiền nát". Thắng lợi về mặt quân sự sẽ tạo thế cho việc lập lại "xứ Mường tự trị", tiếp tục chính sách chia rẽ dân tộc, biến Hòa Bình thành bàn đạp tiến công vào vùng rừng núi Tây Bắc. Ngày 14 và ngày 15 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6. Tiếp đó, địch đánh chiếm Đá Chông, Núi Chẹ (Sơn Tây), La Phù, Tu Vũ (Phú Thọ), thiết lập phòng tuyến sông Đà hỗ trợ cho khu vực Hòa Bình. Đồng thời, địch tăng cường cho máy bay bắn phá sâu vào vùng tự do của ta, dùng đại bác từ vị trí Toa Đen (Hạc Trì) và Trung Hà liên tục bắn phá vào làng mạc suốt một dải ven sông Hồng, sông Đà từ Việt Trì qua Lâm Thao, Tam Nông đến Thanh Thủy, gây tổn thất nghiêm trọng cho nhân dân Phú Thọ. Về phía ta, trên cơ sở đánh giá tình hình, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch, cử các đồng chí: Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng Chiến dịch; Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Chiến dịch. Lực lượng tham gia trên mặt trận chính gồm các đại đoàn 308, 312, 304, 351 và lực lượng vũ trang địa phương; trên mặt trận phối hợp có 2 đại đoàn 316 và 320 cùng các và lực lượng tại chỗ tiến công địch, diệt tề trừ gian, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Hoàng Văn Thái cùng bộ phận của Bộ Tổng Tham mưu hành quân về xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê (Phú Thọ) thiết lập Sở Chỉ huy Tiền phương để kịp thời chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:26:56 am Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TW "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Chỉ thị nêu rõ: Nhiệm vụ của Mặt trận Hòa Bình là phải tiến công tiêu diệt địch, động viên lực lượng toàn dân phá kế hoạch chiếm đóng, dựng lực lượng ngụy quân, đặt cơ sở ngụy quyền, tuyên truyền lừa phỉnh nhân dân; mặt trận trung du và đồng bằng Bắc Bộ phát triển mạnh mẽ các hoạt động chiến tranh du kích tiến công tiêu diệt địch ở các đồn, bốt lẻ, thậm chí bao vây, đánh chiếm các quận, lỵ, mở rộng và phát triển căn cứ du kích; tuyên truyền, vận động nhân dân bất hợp tác với địch, đẩy mạnh công tác địch vận lôi kéo những người đang hợp tác với địch trở về với cách mạng... Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, các lực lượng, các địa phương từ miền xuôi đến miền ngược gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch; trọng tâm là xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu; giáo dục tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; bảo đảm các mặt cho lực lượng tiến công tiêu diệt địch trên hai mặt trận.
Ở Tây Bắc, sau Chiến dịch Lý Thường Kiệt, công tác vùng địch tạm chiếm có thuận lợi và phát triển, cơ sở của ta được mở rộng, chiến tranh du kích được đẩy mạnh. Tuy nhiên, địch đã nhanh chóng bổ sung lực lượng, tăng cường càn quét, khủng bố, binh địch vùng chiếm đóng. Từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 2 năm 1952, quân Pháp đã tổ chức trên 40 trận càn, trong đó có 6 trận quy mô từ 100 đến 300 quân, kéo dài từ 1 đến 5 ngày. Trọng điểm càn quét của địch là vùng ta có cơ sở, nhất là các cơ sở gần các căn cứ quan trọng của ta và cướp bóc kinh tế, gom dân để dễ kiểm soát, khống chế, đã gây cho quân và dân Tây Bắc rất nhiều khó khán và thiệt hại. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ được giao trong Đông Xuân 1951 - 1952 của Trung ương Đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn Quân khu 2 đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch tiến công của địch. Liên khu ủy Việt Bắc và các tỉnh ủy tích cực đẩy mạnh phong trào đấu tranh vùng sau lưng địch, đồng thời chỉ đạo lực lượng vũ trang tăng cường phối hợp chiến đấu và huy động cao nhất lực lượng, cơ sở vật chất, lương thực phục vụ Chiến dịch Hòa Bình. Trước hết, huy động lực lượng dồn sức chuẩn bị địa điểm, cơ sở vật chất, xây dựng các kho lương thực, vũ khí đạn dược của Tồng cục Cung cấp được bố trí các ở khu trung tuyến Đồn Vàng, huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) đủ cho 2 đại đoàn bước vào hoạt động; huy động dân công tập kết thóc gạo, xay xát lương thực, làm đường và bảo vệ Sở Chỉ huy Chiến dịch và các căn cứ du kích. Trung ương và Liên khu Việt Bắc giao nhiệm vụ cho Phú Thọ chuẩn bị chiến dịch và tham gia chiến đấu. Những ngày cuối tháng 11 năm 1951, lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ đà liên tục bao vây, tiến công, kìm chân địch trong các vị trí của chúng, phục kích địch đi tuần tiễu trên sông Đà, bắn súng uy hiếp Tu Vũ. Tiểu đoàn 72 của Phú Thọ sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Chiến dịch Lý Thường Kiệt, trở về Thu Cúc, Lai Đồng gặp địch đã phối hợp với bộ đội Đại đoàn 312 tiêu diệt gần 100 tên địch vào ngày 25 tháng 11 năm 19511 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945 - 2005), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 116). Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các đại đoàn 308, 312 tiến công trên hướng chủ yếu, phá vỡ tuyến phòng ngự sông Đà của địch. Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở tả ngạn sông Đà tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình. Đại đoàn 312 ở hữu ngạn diệt cứ điểm Chẹ, đánh quân viện trên đường từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ. Đại đoàn 304 đánh ở hướng thứ yếu của chiến dịch, kiềm chế địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch ờ Đường số 6. Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) làm lực lượng dự bị dừng chân ở Cổ Tiết (Nam thị xã Phú Thọ) phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ sẵn sàng đánh địch càn quét ra vùng tự do Hạc Trì, Lâm Thao Hưng Hóa, Đường số 2. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn từ Xuân Mai đến thị xã Hòa Bình và từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà là vùng rừng núi sát với đồng bằng, có 2 dãy núi cao (Ba Vì và Viên Nam). Trong quá trình hoạt động tác chiến của các đơn vị chủ lực trực thuộc Bộ, ngay từ trước khi mở màn chiến dịch, lực lượng vũ trang Quân khu và tỉnh Phú Thọ đã xây dựng phương án phối hợp chặt chẽ với Đại đoàn 308 sẵn sàng tiêu diệt địch càn quét vùng tự do ở Hạc Trì, Lâm Thao, Đường số 2 và Hưng Hóa. Đồng thời, bảo vệ tuyệt đối bí mật và an toàn cho Sở Chỉ huy Chiến dịch; chuẩn bị tốt điểm trú quân tập kết và vị trí triển khai đội hình tiến công của Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 theo kế hoạch tác chiến. Lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ tích cực phối hợp cùng các đơn vị mở nhiều đường nhỏ và sửa chữa hàng chục kilômét đường ôtô, làm nhiều bến vượt sông và hàng trăm cầu phao ở Cẩm Khê, Yên Lập, Ngọc Lập, Thục Luyện, Hương Cần...; huy động hơn 1.000 chiếc thuyền của nhân dân để vận tải phục vụ chiến dịch trên đoạn sông Hồng, từ Thanh Ba, Chí Chủ đến sông Bứa. Khó khăn lớn nhất của Đại đoàn 312 trong chiến dịch là phải tổ chức vượt sông Đà để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện nước sông lớn, chảy xiết và địch kiểm soát vô cùng gắt gao. Ban đêm, máy bay thả pháo sáng và bắn phá liên tục; canô của địch từ các vị trí Tu Vũ, La Phù, Đá Chông thay nhau tuần tiễu quét đèn pha trên sông và hai bên bờ. Khi địch lập xong vành đai trắng bên hữu ngạn sông Đà, nhân dân ven sông đã phải chuyển đi nơi khác. Mỗi kilômét vành đai, địch bố trí khoảng 45 tên và 8 khẩu liên thanh, cứ 9km lại bố trí 1 khẩu đại bác sẵn sàng bắn chi viện. Lường trước được khó khăn của Đại đoàn 312 nên khi giao nhiệm vụ cho đơn vị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã căn dặn: Thắng lợi của cuộc vượt sông dựa vào hai yếu tố, dựa vào dân, bám hẳn vào dân và giữ bí mật nghiêm ngặt. Để tạo điều kiện cho Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ và phối hợp tác chiến cho mặt trận chính diện, Liên khu ủy và cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn Quân khu đã lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang và nhân dân giữ gìn tuyệt đối bí mật cho các đơn vị hành quân tập kết, trú quân; tổ chức tốt việc phòng chống gián điệp, biệt kích do thám tình hình, phá hoại các cơ quan, kho tàng; vận động ủng hộ, cung cấp lương thực cho bộ đội. Nhân dân các làng ven sông đã mang hàng trăm chiếc thuyền nan, là tài sản giá trị, quan trọng nhất để kiếm sống, mưu sinh của gia đình cho bộ đội mượn để vượt sông Đà đánh địch. Nhờ đó, trong đêm mùng 7 và mùng 8 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 312 đã vượt sông thành công và nhanh chóng tiếp cận mục tiêu, triển khai chuẩn bị tiến công địch. Tiếp đó, hằng đêm, nhiều cụ già, chị em phụ nữ tỉnh Phú Thọ bên tả ngạn sông Đà đã dùng thuyền nan nhỏ vượt qua làn đạn pháo của địch chuyển lương thực, thuốc men phục vụ bộ đội đánh giặc. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:28:14 am Trong trận đánh cứ điểm Tu Vũ (vị trí phòng ngự then chốt của địch trên phân khu sông Đà, thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, do Tiểu đoàn bộ binh Marốc số 1 (1/2RTM) - một đem vị thiện chiến của Pháp trấn giữ), Tiểu đoàn 72 Phú Thọ đã phối hợp với Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiêu diệt nhiều địch, phá hủy vũ khí và phương tiện chiến tranh. Ngay sau Chiến thắng Tu Vũ, ngày 14 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 387 (Đại đoàn 308) phối hợp với bộ đội và dân quân du kích huyện Thanh Thủy phục kích bắn chìm 2 sà lan ở Yến Mao, làm cho quân địch ở La Phù hoang mang lo sợ phải cầu viện lực lượng từ Sơn Tây sang tăng cường phòng thủ. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) và Đại đội sơn pháo 756 (Trung đoàn 675) cùng bộ đội huyện Thanh Thủy bố trí trận địa phục kích ở Lạc Song bên bờ sông Đà, bắn chìm 1 tàu chiến, bắn cháy 4 canô, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, bắt 80 tên, làm tê liệt hoàn toàn đường tiếp tế của địch trên sông Đà1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945 - 2005), Sđd, tr. 117).
Cũng trong thời gian diễn ra chiến dịch, sau khi ta làm chủ cứ điểm Tu Vũ, Sở Chỉ huy Chiến dịch di chuyển từ Đồng Lương, huyện Cẩm Khê về xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) để bảo đảm sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh sát gần hơn với hoạt động tác chiến của bộ đội khu vực Hòa Bình. Quân và dân Quân khu 2 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho Sở Chỉ huy Chiến dịch. Tỉnh Phú Thọ vừa là mặt trận trực tiếp, nơi diễn ra trận đánh Tu Vũ quan trọng trong ngày mở màn chiến dịch (10.12.1951), vừa là hậu phương trực tiếp của chiến dịch nên được Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ cho chiến dịch. Trước nhiệm vụ trên giao hết sức khẩn trương và khó khăn, số lượng dân công phục vụ, lương thực, thực phẩm huy động tương đối lớn, lại phải vận chuyển qua sông Đà vào hậu địch ém sẵn trong điều kiện ngày đêm giặc tuần tiễu, theo dõi, phá hoại ráo riết..Liên khu ủy Việt Bắc và Tỉnh ủy Phú Thọ xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất nên đã tập trung lãnh đạo kịp thời, sâu sát, động viên nhân dân dồn sức hoàn thành đúng thời gian với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Bằng những nỗ lực cao nhất, tỉnh đã huy động được 12.500 dân công loại A, 30.000 dân công loại B, 38.501 dân công loại C; 3.000 tấn gạo, 800 con lợn, 150 con trâu bò thịt và 2.000 chiếc thuyền kịp thời phục vụ cho chiến dịch1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tinh Phủ Thọ (1945 - 2005), Sđd, tr. 116). Cùng với đó, theo kế hoạch ban đầu, tỉnh Phú Thọ được giao phải huy động 600 y tá, hộ lý, nhưng khi diễn biến chiến đấu phát triển phải bổ sung thêm 1.800 người. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, Tỉnh ủy cử 2 đồng chí Tỉnh ủy viên và một số cán bộ chuyên trách công tác tổ chức trạm y tế và chuyển tải, chăm sóc thương binh. Các đoàn thể quần chúng trong tỉnh đều có kế hoạch tham gia đón tiếp, săn sóc, phục vụ, động viên thương binh, bệnh binh... Ngoài ra, nhân dân Phú Thọ còn quyên góp, gửi quà tặng các chiến sĩ ngoài mặt trận trên 23 triệu đồng. Phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, tinh Vĩnh Phúc được Liên khu ủy Việt Bắc giao nhiệm vụ tăng cường "bộ đội, cán bộ vào địch hậu phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình và mặt trận Bắc Ninh, Bắc Giang tiêu hao sinh lực địch, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phục hồi cơ sở"1 (Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - Đảng ủy Quân sự tình, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (1950 - 2020), xuất bản năm 2020, tr. 134, 140). Thực hiện chủ trương trên, từ trung tuần tháng ! 2 năm 1951 đến ngày 22 tháng 2 năm 1952, quân và dân Vĩnh Phúc mở hai đợt hoạt động tiến công vào vùng địch hậu phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, giành nhiều thắng lợi, đạt được kết quả to lớn, diệt, phá 22 vị trí, tháp canh, tiêu diệt 1.200 địch, làm bị thương 151 tên, gần 500 lính bảo an, hương dũng ra hàng, giải tán hết tề ở 26 xã. Một số cơ sở đảng được phục hồi, cơ sở quân chúng được mở rộng, mở được 3 khu du kích ở địch hậu gồm 18 xã, 45 thôn2 (Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - Đảng ủy Quân sự tình, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (1950 - 2020), xuất bản năm 2020, tr. 134, 140)... Đây là những nhân tố quan trọng mở ra điều kiện mới để quân và dân Vĩnh Phúc tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới. Chiến dịch Hòa Bình thắng lợi, quân và dân Liên khu Việt Bắc, trực tiếp là quân và dân Tây Bắc (Quân khu 2 ngày nay) được Đảng, Chính phủ tặng nhiều phần thưởng. Riêng quân và dân tỉnh Phú Thọ đã được tặng thưởng 37 huân chương (chiếm hơn 55,2% tổng số huân chương toàn chiến dịch); huyện Thanh Ba được tặng 1 huân chương về thành tích huy động dân công cùng hàng trăm bằng khen giấy khen cho các đơn vị và cá nhân xuất sắc3 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945- 2005), Sđd, tr. 117). Quân và dân trên địa bàn Quân khu 2 tự hào đã có nhiều đóng góp quan trọng trong Chiến dịch Hòa Bình, tạo nên thế và lực mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển thuận lợi. 70 năm đã trôi qua, chúng ta vẫn luôn khẳng định rằng, Chiến thắng Hòa Bình là bước ngoặt chiến lược quan trọng, mốc son trong lịch sử cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là một trong những chiến dịch điển hình về chỉ đạo chiến lược đúng đắn, tài tình của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng Tư lệnh, để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Vận dụng, kế thừa thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình chính là những bài học về sự lãnh đạo của Đảng, về nghệ thuật chỉ đạo phối hợp chiến đấu của các mặt trận, các lực lượng, phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, đại đoàn kết toàn dân, trong đó có sự đóng góp rất quan trọng, to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 2 tạo thành sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi vẫn giữ nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:29:46 am QUÂN VÀ DÂN HÀ NỘI TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thiếu tướng NGUYỄN QUỐC DUYỆT Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội Đầu năm 1951, sau khi nhậm chức Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Đờ Lát đờ Tátxinhi - viên tướng năm sao nổi tiếng vào bậc nhất của nước Pháp đã tìm mọi cách đối phó với các chiến dịch tiến công của quân ta. Quân Pháp vừa ra sức củng cố, tăng cường lực lượng cơ động, vừa xây dựng phòng tuyến boongke bằng bê tông cốt thép (còn gọi là "Phòng tuyến Đờ Lát") nhằm bao vây chia cắt đồng bằng Bắc Bộ với căn cứ địa Việt Bắc. Đến cuối năm 1951, Đờ Lát cùng giới quân sự Pháp đều cho rằng, thế và lực của Pháp đã thay đổi, "nhìn chung cán cân đã nghiêng về phía Pháp, đã đến lúc... chuyển sang thế tiến công"1 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, bản dịch lưu tại Thư viện Quân đội). Từ đánh giá đó, Đờ Lát quyết định mở cuộc hành quân tái chiếm Hòa Bình - tỉnh tự do duy nhất còn lại của Liên khu 3. Đây là địa bàn mà quân Pháp đã buộc phải rút bỏ sau thất bại ở biên giới (Thu - Đông 1950). Mục tiêu của Đờ Lát là nhằm thu hút khối chủ lực của ta vào nơi mà quân Pháp đã bày sẵn thế trận để tiêu diệt, nối lại hành lang Đông - Tây; lập "Tam giác sắt" Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình; ngăn chặn vận chuyển, giao thông, tiếp tế của ta từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, vào Liên khu 4 và các chiến trường phía Nam, gây ảnh hưởng chính trị để củng cố ngụy quân, ngụy quyền, tranh thủ viện trợ của Mỹ. Từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn đù lê dương và 2 đại đội biệt kích (Commăngđô) số 21, 22 mở cuộc hành quân Tuylíp do tướng Đờ Linarét - Tư lệnh Bắc Bộ chỉ huy. Được máy bay và pháo binh yểm trợ, quân Pháp chia làm 3 mũi tiến công đánh chiếm khu vực Chợ Bến, bao gồm huyện Lương Sơn (Hòa Bình) và huyện Mỹ Đức (Hà Đông). Sau 4 ngày, địch đã hoàn thành đánh chiếm khu vực này. Quân Pháp thiết lập 20 vị trí theo Đường số 21 từ Xuân Mai xuống Chợ Bến và từ Ba Thá vào Miếu Môn, hình thành tuyến phòng thủ Đường số 21 ở phía Nam nối với Đường số 6. Tiếp đó, trong 2 ngày (14-15.11.1951), địch huy động 5 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3, GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, hơn 700 xe cơ giới, nhiều xe tăng, tàu chiến, máy bay tổ chức hai cánh quân được máy bay yểm trợ mở cuộc hành quân Lôtuýt theo Đường số 6 đánh chiếm thị xã Hòa Bình và khu vực ven sông Đà (thuộc các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn). Ngày 14 tháng 11 năm 1951, cánh quân thứ nhất gồm GM1, GM3 và 200 xe cơ giới từ Xuân Mai tiến lên đánh chiếm Hùng Sơn. Cánh quân thứ hai gồm GM2, GM4 và 500 xe cơ giới đổ quân xuống Trung Hà, Hòa Lạc đánh chiếm khu vực núi Ba Vì. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, từ Hùng Sơn, địch đánh chiếm các điểm cao trong đó có Dốc Kẽm, Bãi Nai rồi vượt qua thị trấn Kỳ Sơn tiến lên Hòa Bình. Cánh quân thứ hai tiếp tục đánh chiếm Ba Vì, một bộ phận vượt qua Ba Vì đánh chiếm Túy Cổ Hạ (Bãi Vàng) thuộc xã Phú Cường (Kỳ Sơn). Đồng thời, từ phía Trung Hà, GM4, GM7 cùng 3 đại đội pháo, 1 đại đội xe tăng hành quân bằng đường thủy ngược sông Đà rồi chia làm 2 mũi theo Đường số 87 và Đường số 89 đánh chiếm Đan Thê, Đá Chông, Chẹ, sau đó tiếp tục ngược sông Đà tiến lên thị xã Hòa Bình. Sau khi dồn lực cho cuộc hành binh chiếm đóng Hòa Bình, thực dân Pháp lo sợ phía sau lưng không yên ổn liền rút 3 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh về đồng bằng châu thổ sông Hồng. Với 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng, địch tổ chức thành 2 phân khu nhằm chiếm đóng lâu dài và sẵn sàng đè bẹp chủ lực của ta tại Hòa Bình. Phân khu sông Đà - Ba Vì (Phân khu Bắc) có 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 trung đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh do Đại tá Đôđơliê chỉ huy. Sở Chỉ huy đạt ở Đan Thê. Phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (Phân khu Nam) có 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng do Đại tá Clêmăng chỉ huy. Sở Chỉ huy đặt tại thị xã Hòa Bình. Một số đơn vị bộ binh, pháo binh, xe tăng chiếm giữ Đường số 6, lực lượng dự bị đóng ở Trung Hà. Đồng thời, quân Pháp cũng tổ chức Phân khu Chợ Bến thành tiền đồn phía Đông nhằm bảo vệ cho Hòa Bình. Địch xây dựng thị xã Hòa Bình thành 1 tập đoàn cứ điểm gồm 28 vị trí lớn, nhỏ. Mỗi cứ điểm có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh, 1 trung đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh. Các cứ điểm đều có thể hỗ trợ cho nhau khi bị tiến công. Phân khu Nam trở thành một cụm cư điểm mạnh - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn theo kiểu tập đoàn cứ điểm, lần đầu tiên xuất hiện ở chiến trường Đông Dương1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V. Phát triển chiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 421 - 422). Tái chiếm thị xã Hòa Bình "đã tiêu thổ" khá dễ dàng, các mục tiêu khác trên Đường số 6 và 2 bờ sông Đà đều nhanh chóng bị đánh chiếm khiến Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cùng giới hiếu chiến Pháp đều coi đó là một chiến thắng quan trọng. Hòa Bình trở thành "một canh bạc" lớn của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương với mong muốn tìm kiếm chiến thắng có ý nghĩa chiến lược hòng giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Về phía ta, ngay từ cuối tháng 10 năm 1951, khi xây dựng kế hoạch tác chiến Đông - Xuân, Bộ Tổng Tư lệnh đã dự kiến kế hoạch đối phó với các cuộc tiến công của địch ra vùng tự do, nhất là với hướng Lạng Sơn và Hòa Bình. Ngày 19 tháng 10 năm 1951, khi báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị phương hướng chiến dịch mùa Đông năm 1951 và kế hoạch đề phòng địch tiến công, Tổng Quân ủy dự kiến, nếu địch đánh ra Hòa Bình thì đó là một cơ hội cho ta tiêu diệt. Sau khi nhận được tin địch đã đánh ra Hòa Bình, Bộ Tổng Tư lệnh lập tức chỉ thị cho các địa phương, đơn vị đình chỉ công tác chuẩn bị mở chiến trường Liên khu 3. Trong báo cáo gửi Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy phân tích: Với cuộc tiến công ra Chợ Bến, Hòa Bình, địch đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, cố gắng giành lại quyền chủ động, gây cho ta những khó khăn mới về quân sự, chính trị và kinh tế. Nhưng chúng đã phải dùng một bộ phận cơ động để mở rộng phạm vi chiếm đóng, khiến cho chiến tranh du kích ở đồng bằng có điều kiện phát triển, đồng thời phân tán một lực lượng trên chiến trường rừng núi, giao thông không thuận lợi, trong một thời gian nữa địch mới xây đẳp được công sự, do đó ta có cơ hội tiêu diệt địch. Tổng Quân ủy kiến nghị mở chiến dịch Hòa Bình, chuyển kế hoạch hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952 sang tiến công địch nơi mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác phối hợp, mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch ở chiến trường Hòa Bình và đẩy mạnh chiến tranh du kích ở nơi khác. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:31:48 am Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị nhất trí với nhận định và kiến nghị của Tổng Quân ủy. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch Trung ương chỉ rõ, đó là cơ hội tốt để ta đánh địch và xác định nhiệm vụ của quân và dân ta là phải đánh địch ở Chợ Bến, Hòa Bình, Hưng Hóa, phá kế hoạch chiếm đóng của chúng.
Theo chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân dân ta sẽ thực hiện đánh địch trên cả 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị giao Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch và mặt trận chính diện Hòa Bình. Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch. Trên mặt trận chính diện, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng 3 đại đoàn bộ binh 308, 312, 304 và 2 trung đoàn công binh - pháo binh thuộc Đại đoàn 351 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tổ chức phục kích, tập kích tiêu diệt quân cơ động của địch trên cả hai tuyến giao thông thủy - bộ (theo Đường số 6 và sông Đà), đồng thời tiến hành vây hãm, tiêu bao, tiêu diệt khối quân cơ động của địch trong các cứ điểm ở thị xã Hòa Bình. Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 có nhiệm vụ luồn sâu vào vùng địch hậu thuộc đồng bằng Bắc Bộ, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân các tình Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đẩy mạnh các hoạt động tập kích, phục kích, phá tề, phát triển chiến tranh du kích nhằm tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, biến hậu phương của địch thành tiền phương, thành hậu phương của ta. Cả hai mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch đều có sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương tói các liên khu, tỉnh, huyện, xã. Nhằm động viên quân dân ta, cuối tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và quân dân du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Người chỉ rõ: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta... ... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Thực hiện chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh, của Khu ủy - Bộ Tư lệnh Liên khu 3, quân dân Hà Nội cùng với quân dân các địa phương đồng thời thành lập các ban chuẩn bị chiến trường các cấp, khẩn trương triển khai các hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chấp hành mệnh lệnh của trên, các đơn vị các địa phương tổ chức chuyển quân chuẩn bị tác chiến và khẩn trương triển khai các mặt công tác bảo đảm, phục vụ chiến đấu. Các ban chuẩn bị của các tỉnh, trong đó có Sơn Tây, Hà Đông huy động dân công, tập kết thóc gạo, xay xát lương thực cho chiến dịch. Cơ quan hậu cần tổ chức hành lang cung cấp: Một hành lang phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở khu vực sông Đà và một bảo đảm cho khu vực Nam Đường số 6 và địch hậu Liên khu 3. Ở phía Bắc thị xã Hòa Bình có 3 tuyến vận tải: Tuyến cơ giới, tuyến thuyền và tuyến dân công. Tuyến cơ giới dài 80km có 27 ôtô chở vũ khí đạn dược, tuyến thuyền dài 50km có trên 100 thuyền lớn, nhỏ để chở gạo, tuyến dân công và xe thồ dài 1.00km để vận chuyển lương thực, thực phẩm. Tại Sơn Tây, cuối tháng 11 năm 1951, đồng chí Kim - Phó Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Trung - Tỉnh đội trưởng cùng hàng chục cán bộ tỉnh, huyện về các xã vận động nhân dân dùng thuyền đưa Đại đoàn 312 từ Phú Thọ vượt sông Đà. Từ đêm mùng 6 đến ngày 8 tháng 12 năm 1951, với sự giúp đỡ của nhân dân 2 bên ven sông cùng hàng trăm chiếc thuyền nan, Đại đoàn 312 vượt sông từ làng Đoan Hạ (huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) vượt sông Đà luồn sâu vào vùng sau lưng địch ở Ba Trại, Ba Vì. Cũng trong thời gian này, các cụ già, chị em phụ nữ dùng thuyền nan chở lương thực, thuốc men cho bộ đội. Nhân dân Bất Bạt, Ba Vì dù thiếu đói vẫn nhường gạo, đào 20.0000 gốc sắn tiếp tế cho bộ đội. Sáng ngày 10 tháng 12, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến hành trận phục kích tiêu diệt 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn dù số 1 của địch ở xóm Ninh Mít (Tây Nam núi Ba Vì), mở đầu chiến dịch. Đêm ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Tu Vũ - một vị trí rất quan trọng trong cụm phòng ngự then chốt của địch ở Phân khu Sông Đà - Ba Vì, cách thị xã Hòa Bình hơn 30km, do 1 tiểu đoàn Âu - Phi cùng 6 xe tăng đóng giữ; được máy bay, tàu chiến và các trận địa pháo của địch ở Chẹ, Thủ Pháp, Đá Chông (20 khẩu) bên hữu ngạn sông Đà yểm trợ, chi viện tối đa. Trận Tu Vũ diễn ra vô cùng ác liệt. Khi quân ta đang triển khai chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công thì bị địch phát hiện. Ngoài hỏa lực rất mạnh của cứ điểm, từ các trận địa bên phía hữu ngạn đã bắn tới 5.000 viên đạn pháo vào đội hình ta. Sau 5 giờ chiến đấu, Trung đoàn 88 đã tiêu diệt được cứ điểm song cũng bị thương vong lớn. Sau khi cứ điểm Tu Vũ bị tiêu diệt, Trung đoàn pháo binh 676 Đại đoàn công pháo 351 và Trung đoàn bộ binh 36 Đại đoàn 308 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân huyện Bất Bạt (nay là huyện Ba Vì) liên tục phục kích, bắn chìm nhiều tàu chiến địch trên sông Đà. Sáng ngày 11 tháng 12 năm 1951, bắn chìm 1 tàu chiến và bán bị thương 2 chiếc khác ờ Đoan Hạ. Chiều cùng ngày, ta phục kích đoàn tàu 3 chiếc của địch, bắn chìm 2 chiếc. Toàn bộ số binh lính địch trên 2 chiếc tàu đều bị tiêu diệt hoặc bị bắt. Chiếc còn lại vội kéo cờ trắng chạy vào bờ xin hàng. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, ta lại diệt gọn đoàn tàu chiến gồm 5 chiếc của địch, làm tê liệt tuyến vận tải đường sông của địch trên sông Đà, buộc thực dân Pháp phải lập cầu hàng không tiếp tế cho Hòa Bình. Đêm 29 tháng 12 năm 1951, được đồng chí Trình (Xã đội trưởng) và 7 du kích người dân tộc Dao xã Minh Quang dẫn đường và phối hợp chiến đấu, Trung đoàn 141 (thuộc Đại đoàn 312) tập kích các vị trí của địch ở các điểm cao 400 và 600 trên núi Ba Vì. Tại điểm cao 400, chỉ sau 10 phút, quân ta đã đánh chiếm được Sở Chỉ huy, Trung tâm điện đài, diệt 1 đại đội địch, bắt 20 tên. Tại điểm cao 600, trận đánh diễn ra quyết liệt hơn. Sau 6 giờ chiến đấu, ta mới làm chủ được trận địa, tiêu diệt 120 tên địch, bắt 135 tên. Những trận tiến công của quân dân Hà Nội trên các trục đường giao thông thủy, bộ trong Chiến dịch Hòa Bình không chỉ tiêu diệt một phần sinh lực, phương diện chiến tranh của địch mà quan trọng hơn là chặt đứt con đường tiếp tế, chi viện của địch, bao vây cô lập các vị trí địch, nhất là cụm quân địch ở thị xã. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:32:43 am Trong những ngày diễn ra chiến dịch, nhân dân Hà Nội từ vùng tự do đến vùng địch tạm chiếm, từ nông thôn đến đô thị, từ vùng thấp đến vùng cao đều tích cực tham gia, góp công, góp sức tiêu diệt địch, ngăn chặn địch và phục vụ chiến đấu. Nhân dân hăng hái đi dân công sửa đường, bắc cầu, vận chuyển lương thực vũ khí, cứu chữa, chăm sóc thương binh, chôn cất liệt sĩ. Riêng các huyện Quảng Oai, Tùng Thiện, Bất Bạt, có ngày huy động đến hơn một nghìn người. Nhiều chị em phụ nữ không ngại hy sinh, gian khổ, hăng hái làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, tải thương, phục vụ cứu chữa thương binh. Nhiều cụ già 70 - 80 tuổi vẫn hăng hái xung phong phục vụ bộ đội. Nhân dân Hà Nội còn theo dõi địch, cung cấp kịp thời tình hình cho bộ đội, đẫn đường cho bộ đội đánh giặc và là những người có công đầu trong công tác binh vận, địch vận.
Trong trận đánh ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đội du kích Giáp Thượng phần lớn là nữ do đồng chí Đinh Văn Thức (người dân tộc Mường) chỉ huy được giao nhiệm vụ phối hợp với tổ trung liên của Đại đội 8 (Trung đoàn 141 Đại đoàn 312) chặn đánh một mũi tiến công của địch từ khu vực Núi Chẹ đánh vào nơi trú quân của ta. Trung đội vừa dẫn đường, vừa cùng bộ đội chặn đánh địch. Khi xạ thủ trung liên hy sinh, anh Thức lập tức thay thế, bắn mãnh liệt vào đội hình địch, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, tiêu diệt nhiều tên, bắt 3 tên lính Pháp. Với thành tích đặc biệt xuất sắc đó, cuối năm 1952, đồng chí Đinh Văn Thức vinh dự được cử tham gia Đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới tổ chức ở Liên Xô và được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin, Liên Xô tặng Huy chương Vàng1 (Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Ba Vì (1945 - 2017), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2017, tr. 169). Có nhiều tấm gương nổi bật của nữ du kích trong Chiến dịch Hòa Bình như Cao Thị Nấm - Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc xã Thuần Mỹ, huyện Tùng Thiện kiêm chỉ huy đội du kích. Chị đã cùng đội du kích phối hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương tiếp tục đánh địch tại xã Thuần Mỹ và xã Đông Sơn. Đội du kích do chị chỉ huy đã tiêu diệt 15 tên, bắn bị thương và bắt 20 tên, phá hủy 2 xe cơ giới, thu 12 súng các loại, vận động 35 lính ngụy đầu hàng. Sau Chiến dịch Hòa Bình, chị không may bị sa vào ổ phục kích của địch ở Cầu Trôi. Biết chị là một cán bộ quan trọng, địch đưa chị về giam ở Nhà tà Nhà Tiền (Hà Nội). Suốt nhiều tháng liền, mặc cho địch dùng mọi cực hình tra tấn, chị vẫn tỏ rõ khí phách kiên trung, bất khuất, khiến bọn giám thị nhà tù khiếp sợ. Biết không thể khuất phục được người nữ du kích, ngày 16 tháng 3 năm 1953, địch đã hèn hạ tiêm thuốc độc sát hại chị. Với những chiến công, những thành tích đặc biệt xuất sắc trong quá trình hoạt động cách mạng cũng như trong Chiến dịch Hòa Bình, ngày 4 tháng 5 năm 2000, liệt sĩ Cao Thị Nấm được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân1 (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Lịch sử phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1955), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 288-289). Trước đòn tiến công của ta ở mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch, ngày 23 tháng 2 năm 1952, thực dân Pháp buộc phải cho quân rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, trong đó có sự góp sức của quân dân Hà Nội. Trải qua hơn 2 tháng chiến đấu, trên cả 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch, quân và dân ta đã tiêu diệt 22.000 tên. Riêng ở mặt trận sau lưng địch, quân dân ta đã diệt 15.000 tên, tiêu diệt, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh (chiếm hai phần ba tổng số đồn bốt tháp canh của địch). Các khu du kích, căn cứ du kích của ta được mở rộng và nối liền với nhau thành thế liên hoàn từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh, qua Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Phúc Yên. Hai triệu dân được giải phóng. Âm mưu phản công tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, giành lại quyền chủ động chiến lược của địch bị đánh bại. Thắng lợi Hòa Bình là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy về phân tích tương quan lực lượng, nhận định tình thế chiến tranh, xác định phương thức, phương châm hoạt động đúng đắn; sự kết hợp mặt trận chính diện với mặt trận vùng sau lưng địch; việc sử dụng cách đánh liên tục, tiêu diệt sinh lực địch, sự chỉ đạo tấn công địch trên cả 2 hướng chiến lược chủ yếu, việc tổ chức phối hợp nội tuyến với ngoại tuyến, linh hoạt trong dân vận, địch vận, đặc biệt là sự kết hợp tác chiến của bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và dân quân du kích của các tỉnh trên địa bàn tác chiến, trong đó có đóng góp to lớn của quân dân Thủ đô Hà Nội. Chiến thắng Hòa Bình có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần làm thay đổi cục diện trên chiến trường chính Bắc Bộ, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho Quân đội ta nói chung và cho lực lượng vũ trang Thu đô Hà Nội nói riêng. Trong đó, bài học kinh nghiệm về công tác địch vận, công tác dân vận, công tác xây dựng lực lượng 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ) có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Những kinh nghiệm đó đã góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội vững mạnh toàn diện; luôn phát huy vai trò nòng cốt trong tham mun giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác quốc phòng, quân sự địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ Thủ đô Hà Nội ngày càng vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội địa bàn Thủ đô, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:34:21 am NHỚ LẠI CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHIẾN TRƯỞNG CỦA TRUNG ĐOÀN 88 TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá NGUYỄN QUỐC THỊNH Nguyên sĩ quan tác huấn Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 trong Chiến dịch Hòa Bình, nguyên Phó Giám đốc Học viện Khoa học quân sự Đông - Xuân 1951 - 1952, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952). Đây là một sự kiện quan trọng góp phần tạo nên bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Quân và dân ta tiếp tục giữ quyền chủ động và phát triển thế tiến công chiến lược, trong khi thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động, lúng túng, bị mất quyền chủ động chiến lược. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình chẳng những đánh dấu bước phát triển của Quân đội ta về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch rất rộng lớn mà còn ghi nhận bước tiến mới về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây cũng là lần đầu tiên Quân đội ta tiến công quân địch phòng ngự kiểu lập đoàn cứ điểm và giành thắng lợi. Sinh ra, lớn lên và học tập ở Hà Nội, ngay từ năm học lớp 4, lớp 5 bậc tiểu học, tôi đã tham gia phong trào Hướng đạo sinh do các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu lãnh đạo. Sau Cách mạng Tháng Tám, mùa Hè năm 1946, tôi được dự lớp "Trẻ Gióng" do Đội tự vệ chiến đấu Hà Nội tổ chức, được học lập cách sử dụng vũ khí, giúp rất nhiều cho công tác trinh sát, tác huấn sau này. Khi tham gia Quân đội, do bộ đội ta lúc đó nhiều người chưa biết chữ, trong khi tôi đã học xong đệ tam phổ thông (tương đương như lớp 8 hiện nay) nên được nhiều chỉ huy đơn vị lúc đó như các anh Phạm Hồng Cư, Trần Xuân Trường, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thái Dũng... quý mến, giúp đỡ. Nhờ nhanh nhẹn, thông minh, có tố chất của công tác trinh sát nên các trận đánh của đơn vị tôi đều được đi theo. Do đó, tôi học tập được nhiều kinh nghiệm, kiến thức về trinh sát và tác huấn. Chiến dịch Hòa Bình đã diễn ra cách đây 70 năm nhưng mỗi lần nhắc đến, những ký ức của một thời chiến đấu gian khổ nhưng rất vẻ vang lại ùa về trong tâm trí tôi. Khi đó, tôi là sĩ quan tác huấn Trung đoàn 88, Đại đoàn 308, được trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị chiến trường của Trung đoàn trong suốt chiến dịch, đặc biệt là công tác chuẩn bị cho những trận đánh quyết định, tiêu biểu nhất là trận công kiên Tu Vũ mở màn chiến dịch mà tôi không thể nào quên. Giữa năm 1951, bộ đội ta vừa trải qua đợt chỉnh huấn, vì vậy, trình độ nhận thức về nhiệm vụ chính trị được nâng cao. Cán bộ, chiến sĩ đều có tinh thần quyết tâm, mong muốn được đi chiến đấu. Sau khi quân Pháp đánh chiếm Hòa Bình, Trung đoàn 88 chúng tôi vẫn đóng quân ở Phú Thọ. Trong anh em, có người thắc mắc và viết trên bích báo: Chiến dịch Thu Đông đã mở rồi; Đại đoàn chủ lực vẫn nằm chơi! Đúng như mong đợi của cán bộ, chiến sĩ lúc đó, cuối tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 88 chúng tôi được lệnh chuẩn bị tiến công cứ điểm La Phù. Qua nghiên cứu sơ bộ, La Phù là cứ điểm nằm ở tả ngạn sông Đà, cách Trung Hà chừng 30km, xung quanh là vùng ngập nước. Trung đoàn 88 đã có kinh nghiệm chiến đấu qua các trận Bãi Thảo (Quảng Ninh, 4 - 6.4.1951), trận Chùa Cao (Ninh Bình, 4 - 6.6.1951) cũng là vùng nước ngập, việc tiến vào trận địa khó khăn, dễ lộ bí mật, không đào được công sự, bị phi cơ, pháo binh bắn phá, dễ bị thương vong và đặc biệt khi bị thương dễ nhiễm trùng uốn ván. Nhưng ngay sau đó, Trung đoàn trưởng Nguyễn Thái Dũng và Chính ủy Trung đoàn Đặng Quốc Bảo được gọi lên Sở Chỉ huy Chiến dịch gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 88 tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, mở màn Chiến dịch Hòa Bình thay đơn vị bạn. Được cấp trên tin tưởng, giao nhiệm vụ đánh trận mở màn chiến dịch, anh em rất phấn khởi. Với truyền thống đánh công kiên (từ năm 1949 đến năm 1951, Trung đoàn 88 đã từng tiêu diệt cứ điểm cấp trung đội, đại đội Âu - Phi chiếm đóng như: Bản Trại, 3.1949; Nà Han, 11.1949; Hữu Bằng, Thằn Lằn, 1.1951) nhưng chi là tiêu diệt các cứ điểm cấp trung đội, đại đội do từng tiểu đoàn ta đảm nhiệm. Nay nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm do 1 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng mà là trận đánh của toàn Trung đoàn, có pháo binh tham gia nên càng quyết tâm chiến thắng, khí thế bộ đội lên cao. Ngày hôm sau, Trung đoàn 88 thành lập đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường gồm: Đồng chí Nguyễn Thái Dũng - Trung đoàn trưởng; các đồng chí Trương Đình Mậu - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 29, Vũ Phương - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 23 và đồng chí Vinh - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 322; các đại đội trưởng, các bộ phận trợ chiến, khinh pháo, quân báo, tác huấn, thông tin đi nghiên cứu cứ điểm. Một bộ phận nhỏ cán bộ tác huấn, quân báo đi trước để liên hệ với cán bộ địa phương nhờ giúp đỡ, nắm tình hình chung cung cấp cho đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường. Tôi là một trong những cán bộ tác huấn Trung đoàn tham gia bộ phận này. Vì đã khá quen thân với các anh Vân Thường, Đào Tiệm ở đại đội quân báo nên tôi nhanh chóng hòa đồng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Cứ điểm Tu Vũ do 1 tiểu đoàn Âu - Phi thuộc Trung đoàn Marốc số 1 chiếm đóng, nằm bên tả ngạn sông Đà, sát mép sông, trên địa hình bằng phẳng, khô ráo. Từ Tu Vũ, có đường bộ và đường thủy từ Hòa Bình đi Trung Hà. Tuy là mùa nước cạn nhưng canô và tàu nhỏ vẫn đi lại dễ dàng. Phía Tây cứ điểm là dãy núi Yên Lãng cao 205m, cách xa chừng 3km. Từ chân núi ra Tu Vũ rất bằng phẳng, lau lách mọc cao khoảng bằng đầu người. Phía Đông cứ điểm có núi Chẹ cao 135m, đối diện Tu Vũ cũng có địch chiếm đóng. Từ Chẹ, có canô qua sông đến Tu Vũ. Lúc này, đã vào tháng 11 âm lịch, trời chớm lạnh, quang đãng, lúc sáng sớm và chập tối nhiều sương khói làm giảm tầm quan sát. Ban đêm, trăng thượng tuần mọc muộn nhưng càng về sau trăng mọc sớm hơn, rất sáng. Trước đó, phát hiện đơn vị thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 của ta đến điều tra, địch đã tăng cường đối phó, khẩn trương xây dựng công sự, trận địa, rào thêm các lớp hàng rào. Do cạnh sông, tiện đường bộ, việc vận chuyển vật liệu xây dựng khá thuận tiện và vào các xóm dỡ nhà dân nên tôc độ xây dựng, củng cố trận địa của địch rất nhanh. Chúng tăng cường tuần tiễu, phục kích ngăn chặn, phát hiện bộ đội ta; tổ chức 2 đội tuần tra, đội tuần tra ban ngày sục vào sâu, sát chân núi Yên Lãng, chiều rút về. Ban ngày, chúng cảnh giác nhưng qua một ngày mệt mỏi, đến chiều tâm lý nghỉ ngơi, chúng rút rất nhanh. Đội tuần tra đêm thường ăn tối xong, chờ trăng lên mới lên đường và thường tuần tiễu, phục kích gần cứ điểm chứ không đi xa. Trăng thượng tuần mọc muộn, ngày hôm sau mọc sớm hơn hôm trước chừng 55 phút. Lúc trăng chưa lên, trời tối nhiều sương khói, cứ điểm lại sáng đèn, từ đồn địch quan sát ra ngoài khó, nhưng từ bên ngoài, nếu gần, quan sát địch rất tốt. Đêm mùng 5 tháng 12 năm 1951, tức mùng 7 tháng 11 âm lịch, đoàn cán bộ tiến hành trinh sát và đề xuất "Nghiên cứu trong trước, nghiên cứu ngoài sau". Khi bộ phận tuần tra địch ban ngày rút thì tổ chức bám theo, chờ chập choạng tối, tiềm nhập vào gần cứ điểm, quan sát các hàng rào, ụ súng, lô cốt, cách bố trí của địch... Khi trăng gần lên thì rút ra ngoài, tiếp tục nghiên cứu, bố trí các trận địa, tập kết, hỏa lực, các trạm tải thương, trạm quân y... Ngay đêm mùng 5 tháng 12, về cơ bản ta đã quan sát được các ụ súng, lô cốt, hàng rào địch. Ngày 6 tháng 12 năm 1951, đồng chí Trung đoàn trưởng đã sơ bộ dự kiến kế hoạch tiến đánh, chọn các mũi đột phá, phân công đơn vị, các đường tiến công... Theo kế hoạch tác chiến của Trung đoàn trưởng, bộ phận Tác huấn nhanh chóng lập sa bàn cứ điểm. Bộ phận Tác huấn của Trung đoàn đi chuẩn bị chiến trường có 3 người: Đồng chí Đỗ Thế Nhân - Trưởng Tiểu ban mới được bổ sung từ đơn vị bạn trước chiến dịch; đồng chí Lại Văn Đạm và tôi - Nguyễn Quốc Thịnh. Nhưng ngày 6 tháng 12 năm 1951, đồng chí Lại Văn Đạm được lệnh trở về đơn vị để tập trung đi học lái máy bay nên chỉ còn 2 người. Với tinh thần khẩn trương, bộ phận Tác huấn đã hoàn thành sa bàn để Trung đoàn trưởng phổ biến dự kiến kế hoạch tấn công, phân công, giao nhiệm vụ tiếp tục tiềm nhập, nghiên cứu, lên kế hoạch tác chiến của đơn vị. Đêm mùng 6 tháng 12 năm 1951, do trăng mọc sớm hơn nên ta phải khẩn trương vào sâu nắm tình hình địch, địa hình, hướng đột phá, đột kích tung thâm. Do mải mê nghiên cứu nên bên phía Nam, ngòi Lát, bộ phận cán bộ Tiểu đoàn 322 bị địch phục kích, bắn bị thương đồng chí Vinh - Tiểu đoàn phó và đồng chí Quý, Đại đội trưởng Đại đội 231 trợ chiến. Đồng chí Qúy bị địch bắt, dùng cưa gỗ cưa chân, tra hỏi (sau năm 1954, đồng chí Quý phục viên, đảm nhận chức vụ Chánh Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng). Sau khi tiềm nhập, các cán bộ tiểu đoàn và đại đội đã nắm thêm được tình hình địch, dự kiến cửa mở, hướng đánh tung thâm, đường tiến quân và lên kế hoạch tiến đánh Tu Vũ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:36:45 am Ngày 7 tháng 12 năm 1951, đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường thông qua kế hoạch tiến đánh Tu Vũ, giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, các đơn vị xây dựng kế hoạch tác chiến, dự kiến công tác chuẩn bị chiến đấu.
Bộ phận quân báo tiếp tục bám địch, theo dõi các hoạt động. Bộ phận Tác huấn và Thông tin cho làm nhiều lộ tiêu (cọc trắng có khắc ký hiệu các đơn vị) cắm hướng dẫn đường tiến quân. Theo phân công của chỉ huy Trung đoàn 88, tôi xuống các đơn vị giúp công tác chuẩn bị chiến đấu. Là chiến sĩ cũ của Đại đội Tô Văn nên anh em quen biết rất nhiều. Tôi thường kể lại chuyện chiến đấu của đại đội, nhắc lại những kỷ niệm vui buồn, những sai sót dễ mắc phải như cách đánh bộc phá liên tục có yểm trợ của hỏa lực và tổ lựu đạn; cách nhận hướng đặt bộc phá; cách đặt chân trụ khi nằm đánh bộc phá. Đó là những kinh nghiệm nhỏ song có ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh bộc phá, mở cửa mở, thời gian mở cửa... Theo kế hoạch của mặt trận, đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, đơn vị bạn sẽ tiến công cứ điểm Chẹ, kiềm chế các cứ điểm Đá Chông, Thủ Pháp. Nhưng do chiều mùng 10 tháng 12, ta gặp địch tại Ninh Mít nên không thực hiện tiến công theo đúng kế hoạch. Từ vị trí Chẹ, địch dùng súng bắn thẳng, súng cối, pháo binh yểm hộ Tu Vũ, pháo binh từ Đá Chông, Thủ Pháp liên tục bắn hàng nghìn quả đạn pháo chi viện Tu Vũ, gây nhiều khó khăn cho Trung đoàn. Để giải quyết khó khăn, tập trung tiêu diệt bằng được cứ điểm Tu Vũ, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 họp gấp, tìm biện pháp tiến công có hiệu quả nhất, động viên cán bộ, đảng viên nêu gương dũng cảm, quyết đánh, quyết thắng trận đầu, tạo thế cho chiến dịch. Do dây điện thoại bị đứt, không liên lạc được với các tiểu đoàn, tôi được phái xuống Tiểu đoàn 322 gặp đồng chí Nam Hà - Tham mưu trưởng để phổ biến quyết tâm của Đảng ủy Trung đoàn. Băng qua sân bay, lội qua ngòi láp, tôi gặp đồng chí Đậu Sỹ Tụ - Trung đội trưởng, đồng chí Đỗ Trọng - Đại đội phó Đại đội 225 đang mở cửa mở, rồi gặp đồng chí Nam Hà truyền đạt quyết tâm của Đảng ủy. Sau đó, tôi trở lại Chỉ huy sở theo dõi tình hình và truyền phát lệnh chiến đấu. Quyết tâm của Đảng ủy Trung đoàn được các đơn vị trực thuộc và phối thuộc thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng xốc lại lực lượng, tập trung đột phá thành công, làm chủ toàn bộ cứ điểm Tu Vũ khi trời rạng sáng. Chiến thắng Tu Vũ của Trung đoàn 88 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về cách đánh công kiên cho các chiến dịch sau này. Trong buổi Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Tu Vũ (10.12.1951 - 10.12.1991), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu "Có Tu Vũ, Nghĩa Lộ mới có Him Lam, Độc Lập ở Điện Biên Phủ". Sau trận đánh, Trung đoàn 88 vinh dự được mang danh hiệu Trung đoàn Tu Vũ. Giải quyết xong cứ điểm Tu Vũ, có dịp nghiên cứu lại thực địa, kiểm tra, so sánh nhận xét của đoàn cán bộ đi trinh sát chuẩn bị chiến trường và cách bố phòng của địch, từ đó đánh giá công tác điều tra thực địa. Nói chung về cơ bản là đúng, là tốt, chỉ không phát hiện địch có xe tăng, xe thiết giáp mà cho là xe ô tô vận tải. Sau đợt 1 chiến dịch, Trung đoàn 88 được lệnh vượt sông Đà hoạt động phía Bắc Đường số 6, có nhiệm vụ đánh chặn quân tiếp viện, vận chuyển tiếp tế, tạo thế bao vây, cô lập Hòa Bình. Tôi và đồng chí Nguyễn Hoàng - Tiểu đoàn phó được tăng cường cho Cơ quan Tác huấn đi tìm chỗ giấu quân, đường tiến quân ra quốc lộ, tính toán thời gian cần thiết để tiến ra đường, dự tính cả thời gian bị địch bắn chặn. Trong những năm 1948 - 1949, Trung đoàn 88 đã nhiều lần đánh phục kích địch trên Đường số 4, tiêu diệt các đoàn xe vận tải. Địa hình Đường số 4 quanh co, hiểm trở, cây rừng mọc um tùm, dễ giấu quân, khi ta chặn đánh, dồn xe và quân địch vào một vùng hẹp, thực hiện "Chặn đầu, khóa đuôi" để tiêu diệt, tiêu biểu như các trận Lũng Vài, Bố Củng (1.1948), Bông Lau, Lũng Phầy (4 - 9.1949), Khua Đa Nam Meo (12.1949). Nhưng ở trung du, địa hình bằng phẳng, trống trải, khó giấu quân, nếu phát hiện bộ đội ta tiếp cận, chúng sử dụng phi pháo ngăn chặn. Sau khi rút quân từ sông Đà về, địch tăng cường cho Đường số 6, bố trí thêm nhiều điểm đóng quân, cử các đội tuần tra, chiếm đóng cao điểm dọc đường, sục sạo vào ven đường, làm công sự cá nhân. Để khắc phục khó khăn đó, nhận nhiệm vụ cắt Đường số 6, Trung đoàn 88 tổ chức nhiều bộ phận nhỏ, dùng vũ khí bộ binh, cối 60mm bám gần đường, bắn tỉa các tổ tuần tra của địch. Khi đi trên đường, các đội tuần tra của địch thường chốt tại các chỗ đào công sự cá nhân, tối rút về đồn. Lợi dụng ban đêm, ta bố trí lựu đạn tại các công sự đó, khi địch đến, ta bắn tỉa buộc chúng phải nhảy vào công sự, vướng lựu đạn của ta. Ngoài ra, ta tổ chức bộ đội đánh phục kích các đoàn xe vận tải, các đội quân vận chuyển lớn của địch. Do địa hình như trên, đơn vị phải tập kết bộ đội xa đường, dẫn đến khi vận động ra tấn công địch phải qua nhiều đoạn trống, nên đòi hỏi người chỉ huy phải tính toán thời gian, đoạn đường để đánh quân địch, hạn chế tác động phi pháo. Trung đoàn tổ chức đài quan sát, theo dõi sự vận chuyển của địch, chỉ định đồng chí Nguyễn Hoàng - Tiểu đoàn phó lên đài quan sát nắm địch, nhận định tình hình, đề xuất việc xuất kích bộ đội từ xa nhằm giữ bí mật khi tiếp cận quân của chúng, giảm thương vong. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 322 đã diệt được 2 đại đội địch ở khu Bãi Nai, cầu Mè, Cầu Dụ. Qua trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị chiến trường trong Chiến dịch Hòa Bình cũng như nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch khác, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau: 1. Trong một trận đánh, bộ phận chuẩn bị chiến trường không phải chỉ một lần mà là phải nhiều lần tiềm nhập cứ điểm. Cán bộ chuẩn bị chiến trường cần nâng cao quyết tâm tiêu diệt địch. 2. Khi chuẩn bị chiến trường, cán bộ phải thấy rõ trách nhiệm với đơn vị, cần chuẩn bị tốt bảo đảm thắng lợi trận đánh, giảm bớt xương máu đồng đội. Cần thực hiện "Vào tận nơi, nhìn tận mắt, sờ tận tay" . 3. Cán bộ tham mưu cần học tập, nghiên cứu, tìm hiểu quy luật hoạt động, cách bố trí và các vũ khí, khí tài của địch đế đề xuất cách xử trí. Ví như đầu năm 1951, địch trang bị loại "mìn cóc" có chăng dây gần mặt đất, khi ta chạm phải, mìn nảy lên cao ngang bụng mới nổ, ta không nắm được, cho là pháo cối địch, lệnh bộ đội tản ra, càng đụng nhiều mìn. Hay như ta và địch gần nhau, kiểu cài răng lược, phi pháo địch không dám yểm trợ bộ binh, chúng dùng loại cối nhỏ bắn gần, dùng bom châu chấu, vùng sát thương nhỏ, ta chỉ cần dùng công sự, có "con cúi" (tạo bằng các cành cây nhỏ) là đã có thể hạn chế tác dụng của đạn địch. 4. Cần nắm được quy luật thời tiết, vùng miền hoạt động, chú ý các hiện tượng nhỏ, rất bình thường, nhưng khi ta đánh lớn nhiều đơn vị tham gia lại gây ra khó khăn, dễ bị lạc. 5. Khi dự kiến kế hoạch, phái dự kiến trường hợp khó khăn nhất, đề ra cách xử lý. Theo phương châm chuẩn bị xử lý khó nhất đề xứ lý trường hợp dễ nhất nếu gặp cũng không gây hoang mang, luôn làm chủ tình huống. 6. Trong chiến đấu, hạn chế phi pháo địch, ta chủ động tiến sát địch khi có thể. Vừa hạn chế thương vong, lại giảm thời gian mở cửa mở, nhanh chóng phát triển tung thâm, như tranh thủ cắt hàng rào, gỡ mìn, đưa hỏa lực vào trong hàng rào, bắn ngắm trực tiếp (trận Tu Vũ). Như vậy, cán bộ lại càng phải dũng cảm vào sâu, quan sát cách bố trí hoạt động của địch. Đó cũng là manh nha tư tưởng, nghệ thuật tác chiến "nắm thắt lưng địch mà đánh" của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh sau này. Chiến tranh đã lùi xa nhưng những ký ức về thời trai trẻ được tham gia Chiến dịch Hòa Bình vẫn vẹn nguyên trong ký ức của tôi. Mỗi lần nhớ lại, tôi không khỏi bồi hồi, xúc động trước những gì mà mình cùng đồng đội đã trải qua, đặc biệt là tham gia công tác chuẩn bị chiến đấu trong trận Tu Vũ mở màn chiến dịch. Đến nay, dù đã nghỉ hưu nhưng tôi vẫn luôn ý thức sâu sắc về trách nhiệm của một người lính, một cựu chiến binh, luôn nguyện suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, cho hạnh phúc của nhân dân. Vinh dự, tự hào là người lính Cụ Hồ, tôi vẫn luôn giáo dục truyền thống cách mạng và gia đình cho con, cháu; tham gia công tác xã hội, tiếp tục góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh đồng thời tô thắm thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:40:06 am ĐẠI ĐỘI 209 BÍ MẬT MỞ ĐỘT PHÁ KHẨU, BẤT NGỜ TIẾN CÔNG KHU B CỨ ĐIỂM TU VŨ, NHANH CHÓNG HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ CHIẾN ĐẤU, ÍT THƯƠNG VONG Đồng chí ĐỖ HẠP Nguyên Đại đội trưởng Đại đội 209 Tiểu đoàn 23 Trung đoàn 88 Đại đoàn 308; nguyên Vụ trưởng Vụ 1, Bộ Công nghiệp nặng Tháng 11 năm 1951, sau đợt chỉnh huấn chính trị và huấn luyện quân sự hơn 3 tháng tại Thanh Hóa và Phú Thọ, tinh thần bộ đội lên rất cao, mong mỏi được đi chiến đấu lập chiến công, đồng thời để "rửa hận Chùa Cao"1 (Trong Chiến dịch Trung đoàn 88 hai lần tiến công vị trí của địch ở Chùa Cao không thành công). Địch tiến công ra Hòa Bình, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đó là một cơ hội tốt cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch...". Bác Hồ cũng gửi thư động viên bộ đội: Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh, đó là một cơ hội tốt cho ta...". Được giao nhiệm vụ tham gia tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, một vị trí then chốt của địch trên phòng tuyến Sông Đà, mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình, cán bộ và chiến sĩ Đại đội 209 rất phấn khởi, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, lập chiến công. Đại đội 209 chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 23, làm nhiệm vụ "Mũi điểm" trên hướng tiến công thứ yếu của Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 vào khu B cứ điểm Tu Vũ. Quá trình chiến đấu chia làm 2 bước: Bước 1- Chuẩn bị chiến đấu 1. Trinh sát thực địa (lúc đó gọi là chuẩn bị chiến trường) Đoàn cán bộ đi trinh sát thực địa của Tiểu đoàn 23 gồm các cán bộ tiểu đoàn, các đại đội trưởng (trong đó có tôi - Đại đội trưởng Đại đội 209) và các trung đội trưởng bộc phá của các đại đội, được 1 dân quân người địa phương dẫn đường, từ chân núi theo đường Xóm Né - Đồng Xuân, qua phía Bắc sân bay, nhằm hướng làng Tu Vũ. Đêm hôm đó, tiết trời mùa Đông trên miền núi ven sông có sương mù nhẹ, ánh trăng bàng bạc, tâm nhìn xa hạn chế, nhưng đến gần lại nhìn rất rõ, rất thuận lợi cho việc trinh sát. Bắt đầu rời chân núi, xuống bãi bằng rộng mênh mông, lau sậy mọc cao ngút đầu người. Được đồng chí dân quân địa phương dẫn đường, đoàn cán bộ đi trinh sát vạch lau tạo thành một lối đi (lúc về lại vuốt thẳng trở lại để xóa dấu vết). Từ đầu làng Tu Vũ, đoàn chúng tôi chiếu thẳng hướng vị trí dự định chọn đột phá khẩu cho Đại đội 209. Từ đầu làng ra, trước mặt là bãi phẳng đã được phát quang. Đi khỏi đầu làng khoảng 250 - 300m, gặp một cây bị chặt đổ, thân rất to, ngồi xuống che khuất đầu người. Để tránh lộ người trên khoảng không thì đoàn chúng tôi không trèo qua thân cây, mà núp dưới thân cây rồi men theo bên phải về phía ngọn cây đổ. Đến chỗ thân cây chia thành 2 cành lớn, 1 cành nằm sát mặt đất, 1 cành chổng lên trời, tôi là người bò đầu, nghi ngở chỗ chui qua giữa 2 cành này có thể có mìn, tôi ra hiệu cho cả đoàn dừng lại, một mình bò lên sờ thì quả nhiên thấy một sợi dây thép căng vào đúng tầm người chui qua. Biết đây là một bẫy mìn kéo nổ, tôi thận trọng sờ theo đường dây, tháo dây khỏi kíp mìn, rồi từ từ cuộn lại ở phía đầu kia mắc vào cành cây rồi lấy 1 nhánh cây nhỏ cắm chốt quả mìn (và khi chui ra đoàn không quên đặt dây mìn lại như cũ, đề phòng địch đi tuần tra, phát hiện mất dấu). Từ thân cây đổ này vào tới hàng rào thứ nhất khoảng 200m, tôi và Trung đội trưởng bộc phá vừa bò vừa dò mìn vào tới hàng rào thứ nhất, Trung đội trưởng bộc phá quay lại đón đoàn lên. Chỉ có Tiểu đoàn trưởng, cán bộ tác huấn và Trung đội trưởng thông tin của Tiểu đoàn lên, còn tất cả dừng lại sau thân cây. Địa hình rất bằng phẳng, trong đồn cao hơn bên ngoài, nhìn rõ 6 lớp hàng rào dây thép gai, 1 số ụ súng và lô cốt cao ở trong trung tâm khu B, trong lớp hàng rào cũng là loại mìn kéo nổ. Tiểu đoàn trưởng xác định hướng và điểm đột phá xong đi xem các điểm mở cửa của các đại đội khác, hẹn giờ tập trung ở đầu làng Tu Vũ để trao đổi, tôi và Trung đội trưởng bộc phá xem kỹ lại thực địa, chọn vị trí mở đột phá khẩu, xác định ụ súng đầu cầu, hướng phát triển vào tung thâm và trận địa hỏa lực của Đại đội. Đại đội 213 được chọn làm mũi diện của Tiểu đoàn nghiên cứu đánh dọc theo đường cái thẳng cổng phía Bắc vào. Đại đội 211 được giao nhiệm vụ làm đội dự bị của Tiểu đoàn. 2. Tiến hành bồi dưỡng kỹ thuật Đại đội 209 tổ chức các bãi tập nhỏ có hàng rào như ở đồn địch, lấy dây rừng giả làm dây thép gai, luyện tập thành thục động tác phối hợp giữa người cắt và người cuộn dây, cuộn lại gọn ghẽ, không ảnh hưởng tới động tác xung phong của các đội đột kích. Ôn lại lý thuyết vô hiệu hóa các loại mìn địch thường dùng như mìn nhảy, mìn đạp nổ, đặc biệt luyện tập thành thạo gỡ các loại mìn kéo nổ mà địch đang bố trí phổ biến ở trong đồn. Song song với việc luyện tập bí mật khắc phục chướng ngại vật, một bộ phận khác tiến hành luyện tập đánh bộc phá ống, đặc biệt coi trọng việc đánh liên tục, nối đuôi nhau thành một đường thẳng tiến lên phía trước. Tuy luyện tập bí mật khắc phục chướng ngại vật nhưng vẫn chuẩn bị đầy đủ số bộc phá ống cho việc không kỳ tập được thì chuyển sang cường tập. Ôn tập kỹ thuật nằm thấp đào công sự và quy định mọi người đều phải có một dụng cụ đào công sự - nếu thiếu xèng, cuốc, phải tự tạo lấy một dụng cụ đào công sự như chọn lấy đoạn thân cây tre ở gần gốc chẻ đôi vót vát như hình cái xẻng. Trong khi phổ biến kế hoạch tác chiến, quy định đội hình toàn Đại đội phải bố trí ở phía trước thân cây đô, không được ai lợi dụng thân cây đổ này, vì tử giác cho thân cây to đổ thường là mục tiêu đã chuẩn bị sằn của các loại pháo và vũ khí bắn cầu vồng của địch. Trong Hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến của Tiểu đoàn 23, tôi cũng đã kiến nghị như vậy, nhưng rất tiếc là cơ quan chỉ huy Tiểu đoàn vừa kịp đến sau thân cây này đã bị pháo cối địch sát thương cả Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên và một số cán bộ, chiến sĩ khác. Luyện tập theo nhiệm vụ chiến đấu: Các trung đội, các tiểu đội căn cứ vào nhiệm vụ đã được phân công trong chiến đấu, tạo dựng mô hình vị trí tác chiến của mình để luyện tập. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:41:12 am Bước 2- Chiếm lĩnh trận địa và thực hành chiến đấu
Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, trăng sáng hơi có sương nhẹ, toàn Đại đội 209 hành quân ra chiếm lĩnh trận địa, người nào cũng mang theo một số cành cây để khắc phục các bãi lầy trên đường tiến quân, tạo điều kiện thuận lợi cho pháo binh, hoả khí nặng và cho các bộ phận mang vác nặng như tải đạn và tải thương hành quân. Phía Tiểu đoàn 29 và Trung đoàn bộ bị lộ, địch bắn pháo chặn, tôi chỉ huy Đại đội cơ động dạt về phía Bắc, nhằm hướng làng Tu Vũ để tránh các làn pháo bắn chặn của địch. Toàn Đại đội hành quân an toàn về phía ngoài đầu làng Tu Vũ. Trước khi hạ lệnh cho các trung đội lần lượt vào chiếm lĩnh trận địa, tôi không quên cho đồng chí dân quân dẫn đường quay trở lại vị trí xuất phát. Toàn Đại đội 209 bí mật tiếp cận mục tiêu, trung đội bộc phá được lệnh bí mật cắt dây thép gai và gỡ mìn mở dần đột phá khẩu: Ban Chỉ huy Đại đội kiểm tra vén gọn người chiến sĩ cuối cùng của Đại đội lên phía trước thân cây đổ và dừng lại đến đâu đào công sự đến đấy, người trước tiến lên, người sau lắp vào và tiếp tục đào công sự của người trước. Pháo địch bắt đầu bắn quanh đồn, nhận định là pháo địch không thể bắn vào sát hàng rào của chúng, Ban Chỉ huy Đại đội 209 lệnh cho Trung đội bộc phá cắt hàng rào, gỡ mìn đến đâu, chui vào trong công sự đến đó, anh em hành động rất bí mật nên địch ở trong đồn không hề phát hiện. Thấy pháo địch khép dần vào, bắn lên phía trước thân cây đổ, Ban Chỉ huy Đại đội 209 hạ lệnh cho các trung đội đột kích dồn đội hình lên gần sát hàng rào hơn, Trung đội đột kích 1 ở bên phải đột phá khẩu, Trung đội đột kích 2 ở bên trái thành đội hình hàng ngang, vây quanh hàng rào cứ điểm. Địch càng bắn mạnh, càng khép dần hỏa lực vào gần hàng rào, quân ta càng tiếp cận và đào công sự mạnh hơn. Ban Chỉ huy Đại đội 209 đã không máy móc tuân thủ đội hình "Đầu nhọn, đuôi dài" đã được học trong chiến thuật đánh công kiên. Chính cái đội hình hàng ngang "trái khoáy" này và việc tích cực đào công sự đã làm giảm thương vong của Đại đội trong giai đoạn chiếm lĩnh trận địa, triển khai đội hình chiến đấu. Các tổ gỡ mìn và cắt hàng rào của Đại đội 209 được lệnh lần lượt thay nhau lên làm nhiệm vụ một cách hết sức bí mật. Do được huấn luyện kỹ, anh em lần lượt cắt được 3 lớp hàng rào và vô hiệu hóa được các bãi mìn trên cửa mớ. Đến khi còn 1 lớp hàng rào cuối cùng, anh em được lệnh dừng lại vì sợ khắc phục nốt hàng rào cuối cùng, gần địch quá, dễ lộ bí mật. Anh em chuẩn bị sẵn bộc phá ống để khi có lệnh cường tập nốt hàng rào và bãi mìn cuối cùng. Khi có lệnh nổ súng của Trung đoàn, tôi đã ở trong công sự (do liên lạc viên Đại đội đã đào sẵn) bên cạnh Tiểu đội trưởng Tiểu đội bộc phá 1 cùng Trung đội trưởng Trung đội bộc phá, hạ lệnh đánh quả bộc phá đầu tiên và cũng là quả bộc phá cuối cùng mở đột phá khẩu. Người chiến sĩ đánh quả bộc phá thứ 2 vào ụ súng tiền duyên của địch. Lúc này bên phải Đại đội 217 (Đại đội Tô Văn) của Tiểu đoàn 29 và bên trái Đại đội 213 Tiểu đoàn 23 cũng bắt đầu đánh những quả bộc phá đầu tiên. Tôi hạ lệnh cho Trung đội đột kích 1 lên chiếm lĩnh đầu cầu, một mũi đánh thẳng vào nhà kho chuẩn bị đánh lô cốt chính của địch, một mũi phát triển về bên phải, phía của Đại đội 217 đang mở đột phá khẩu, một mũi phát triển về bên trái phía Đại đội 213 cũng đang mở đột phá khẩu bằng bộc phá liên tục. Mũi phát triển về bên phải nhanh chóng chiếm được ụ súng cuối cùng giáp hàng rào ngăn cách khu B với khu A, được lệnh dùng trung liên bắn vào lô cốt chính của địch trong khu A đang cản trở Tiểu đoàn 29 mở đột phá khẩu cho đến khi các chiến sĩ vào đánh lô cốt này hét to yêu cầu ngưng bắn mới thôi. Trung đội đột kích 2 được lệnh vào tiếp sức cho Trung đội đột kích 1 đánh vào lô cốt và phát triển về phía Đại đội 213, Trung đội bộc phá được lệnh củng cố để làm đội dự bị của Đại đội. Lúc đầu do bị đánh bất ngờ, địch đối phó rất lúng túng, quân ta chiếm lĩnh ụ súng đầu cầu và phát triển vào trong và hai bên tương đối thuận lợi. Địch rút vào lô cốt giữa đồn chống trả tương đối quyết liệt: Khi Đại đội 213 sau 13 quả bộc phá liên tục vào được đồn, phát triển thẳng theo đường cái vào phía trong, đánh bộc phá vào lô cốt, địch đối phó yếu ớt và rút dần về phía sau, lúc này Tiểu đoàn 29 đã mở được cửa mở, đang phát triển vào tung thâm của địch. Đại đội 209 hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu một cách nhanh chóng. Một bộ phận của Trung đội bộc phá được điều vào phối hợp với Đại đội 213 truy kích địch ra bờ sông, còn đại bộ phận đại đội chiếm lĩnh Khu B. Trong trận đánh, toàn Đại đội hy sinh 3 đồng chí, bị thương 7 đồng chí trong chiến đấu tung thâm; không có thương vong trong giai đoạn tiến quân và chiếm lĩnh trận địa. Sau trận đánh này, bản thân tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì (sau đổi thành Huân chương Chiến công) và được đề bạt Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 23. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2023, 07:42:29 am Qua trận đánh, có thể rút ra một số vấn đề về chiến thuật:
1. Về chọn hướng tiến công chủ yếu Hướng phòng ngự chủ yếu của địch trong trận này về phía Tây, phía quân ta dễ lợi dụng rừng núi tiến công xuống. Trong khi đó, ta lại chọn hướng tiến công chủ yếu về hướng này, tức là chọn vào chỗ rắn nhất, mạnh nhất và địch đề phòng nhất. Nếu ta chọn chủ yếu vào khu B, nhanh chóng đánh chiếm khu B và khu C, rồi từ hai mặt này, đánh vào 2 sườn khu A, kết hợp với mũi tiến công thứ yếu từ hướng Tây vào, đồng thời có một mũi vu hồi ra phía bờ sông, chắc chắn là dễ phá vỡ khu A nhanh, ít thương vong và bao vây tiêu diệt gọn quân địch. 2. Về bảo đảm thông tin liên lạc và giữ vững kỷ luật chiến trường Trong trận đánh này, Tiểu đoàn 322 tiêu diệt được khu C là thành tích to lớn. Tuy nhiên, tiêu diệt xong khu C, người chỉ huy cao nhất Tiểu đoàn 322 không tích cực bắt liên lạc với Ban Chỉ huy Trung đoàn, trong lúc trận chiến đấu còn đang tiếp diễn bên khu A và khu B mà đã cho rút quân ra khỏi trận địa khi chưa có lệnh của Ban Chỉ huy Trung đoàn là một khuyết điểm rất lớn về kỷ luật trong chiến đấu. Nếu lúc đó, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 322 tích cực khắc phục khó khăn, bắt liên lạc với Ban Chỉ huy Trung đoàn, tổ chức truy kích địch qua ngòi Lát phối hợp với khu A và khu B thì trận đánh có thể kết thúc sớm hơn và ta ít thương vong hơn. 3. Việc chủ động hiệp đồng giữa các mũi, các hướng trong tiến công là rất cần thiết Trong chiến đấu, tình huống diễn ra rất nhanh chóng, mọi hành động hiệp đồng đều chờ lệnh cấp trên thì không kịp thời. Trong trận Tu Vũ, quá trình đánh vào tung thâm địch, nếu tôi chủ động tổ chức lực lượng đánh một mũi vào sườn khu A, thay vì chỉ dùng hoả lực trung liên chi viện thì việc tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 29 hoàn thành nhiệm vụ sẽ tốt hơn. Sau Chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn 88 được giao nhiệm vụ tiêu diệt đồn Nghĩa Lộ Phố trong Chiến dịch Tây Bắc (cuối năm 1952). Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 29 là mũi điểm, Tiểu đoàn 23 là mũi diện 1, Tiểu đoàn 322 làm mũi diện 2. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 23 ốm nặng, không đi chiến đấu được. Trên quyết định bổ sung cho Tiểu đoàn 23 một tiểu đoàn phó và quyết định cho tôi làm Tiểu đoàn phó chỉ huy Tiểu đoàn trong suốt chiến dịch. Cũng như trận Tu Vũ, Tiểu đoàn 23 bí mật khắc phục chướng ngại vật, nhanh chóng mở đột phá khẩu, chiếm lô cốt đầu cầu. Khi vào tới trong đồn, nhận thấy Tiểu đoàn 29 còn đang lúng túng ngoài hàng rào vì bị 3 quả bộc phá ống không nổ, tôi liền hạ lệnh cho một mũi đánh sang chiếm lô cốt đầu cầu, tạo điều kiện cho xung kích của Tiểu đoàn 29 bắc ván và trải chăn qua hàng rào dây thép gai. "Ba mũi giáp công" của Tiểu đoàn 23, Tiểu đoàn 29 và Tiểu đoàn 322 cùng tiêu diệt đồn Nghĩa Lộ Phố trong thời gian 2 giờ 30 phút. Sau trận này, tôi được tặng thường Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất (nay là Huân chương Chiến công hạng Nhất). Chiến dịch Hòa Bình mặc dù diễn ra cách đây 70 năm, với trận Tu Vũ mở màn giành thắng lợi giòn giã, nhưng trong ký ức của mình, tôi vẫn còn nhớ như in diễn biến của sự kiện này. Qua chiến đấu, bản thân tôi có bước trưởng thành, được cấp trên tin tưởng giao trách nhiệm cao hơn và tôi đã cùng đơn vị tiêu diệt đồn Nghĩa Lộ Phố, góp phần vào thắng lợi trong Chiến dịch Tây Bắc. Mãi mãi trong tôi niềm tự hào về những tháng năm tuổi trẻ, đã tham gia và góp phần công sức nhỏ bé của mình vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc chống thực đân Pháp xâm lược. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:39:49 am CHIẾN THẮNG TIÊU DIỆT CỤM CỨ ĐIỂM TRÊN ĐỈNH NÚI 600 BA VÌ (29 - 30.12.1951) Đại tá NGUYỄN HỮU TÀI Nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 tham gia Chiến dịch Hòa Bình; nguyên Phó Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu Sau những thất bại nặng nề ở Biên Giới Thu - Đông 1950 đến trung du và đồng bằng Bắc Bộ, trong thế bị động về chiến lược, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi, Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương tập trung nhiều binh đoàn cơ động có xe tăng, pháo binh và không quân yểm trợ, theo Đường số 6 và sông Đà đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Trước âm mưu, thủ đoạn của địch, Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã nhận định đây là thời cơ cho ta tiêu diệt địch và quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, trên khắp các chiến trường, đặc biệt là ở đồng bằng Liên khu 3. Trước khi mở chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Trong thư, Người nhấn mạnh: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Để bảo đảm thắng lợi của chiến dịch, Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng một lực lượng lớn các đơn vị chủ lực. Hướng chủ yếu của chiến dịch có 3 đại đoàn chủ lực: 308, 312 và 304. Hướng phối hợp và sau lưng địch có 2 đại đoàn 316 và 320. Nhiệm vụ của Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) là vượt sông Đà sang dãy núi Ba Vì phía sau lưng phòng tuyến sông Đà của địch. Được tham gia Chiến dịch Hòa Bình, lúc này tôi đang giữ cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Trước đó, trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt (29.9 - 31.10.1951), chỉ huy Tiểu đoàn 16 có Tiểu đoàn trưởng Trần Đình Khiết và tôi - Nguyễn Hữu Tài, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 11 chuyển sang. Sau Chiến dịch Lý Thường Kiệt, vì Chính trị viên Tiểu đoàn Trần Nguyên Độ và Phó Tiểu đoàn trưởng Chu Phương Đới đi chỉnh huấn ở Bộ, Tiểu đoàn trưởng Trần Đình Khiết hy sinh, nên chỉ còn tôi là chỉ huy Tiểu đoàn duy nhất khi hành quân về. Khi hành quân đi Chiến dịch Hòa Bình vẫn chỉ có mình tôi chỉ huy Tiểu đoàn. Lúc đầu, Tiểu đoàn 16 được phân công bố trí ở tả ngạn Sông Đà, tổ chức đánh địch trên sông và bảo đảm cho toàn Đại đoàn hành quân từ Phú Thọ đến mặt trận. Chúng tôi dùng đại liên bắn tàu của Pháp trên sông Đà và bắt sống 1 tàu chở hàng từ Hòa Bình về. Sau đó vượt sông sang Ba Vì. Đợt 1 chiến dịch diễn ra nhiều trận đánh ác liệt. Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 tiêu diệt vị trí Tu Vũ ở tả ngạn sông Đà, mở màn chiến dịch. Nhiều trận phục kích trên sông Đà tiêu diệt nhiều tàu chiến của địch ở khu vực Lạc Song. Trung đoàn 209 đã tiêu diệt 2 đại đội khi chúng đưa Binh đoàn cơ động số 4 vào càn quét khu tự do của ta ở Ninh Mít; Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141 đã phục kích tiêu diệt nhiều xe quân sự của địch trên Đường số 87 ở khu vực Ba Trại thuộc Ba Vì... Sang đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch, trực tiếp là Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lệnh cho Đại đoàn 312 phải tiêu diệt cụm cứ điểm của địch trên đỉnh núi 600 Ba Vì. Trung đoàn 141 vinh dự được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đó là đỉnh núi của nhánh núi Ba Vì nhô ra phía sông Đà, là điểm cao khống chế của chiến dịch, yểm trợ cho phòng tuyến Sông Đà và khu vực dưới chân núi từ Trung Hà tới Chẹ, Đá Chông... Trên đỉnh cao 600, địch có thể quan sát, hiệu chỉnh cho pháo binh và không quân bắn phá các khu vực trú quân của ta, yểm trợ cho các binh đoàn cơ động càn quét vùng Sơn Tây và chi viện cho các cứ điểm khác của chúng khi bị ta tiến công. Dựa vào địa thế hiểm trở, sườn núi dốc đứng, chỉ có đường độc đạo ôtô từ dưới chân núi đi lên, địch đóng quân trên khu vực có biệt thự của viên tướng Pháp Moócđăng - Tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương thời Pháp thuộc, tuy biệt thự đã bị phá hoại nhưng còn hầm nhà và tường cao vây quanh. Lực lượng địch tại đây có 2 đại đội lê dương chiếm đóng, làm các lô cốt và công sự dã chiến. Sau khi ta tiêu diệt căn cứ Tu Vũ, địch tăng thêm 1 đại đội biệt kích (Commăngđô) chiếm đóng cao điểm phía trước 550m thành cứ điểm dã chiến bảo vệ cho cứ điểm chính. Lực lượng địch tại đây có thể được không quân và pháo binh dưới chân núi chi viện. Vì vậy chúng coi đây là cứ điểm vững chắc, bất khả xâm phạm. Với mục tiêu có đặc điểm như vậy, đánh trận này ta gặp nhiều khó khăn như: 1- Địa hình hiểm trở, dốc núi cao, vực sâu, không có điều kiện triển khai binh lực và hỏa lực khi tiến công. 2- Do chỉ có đường ôtô độc đạo từ dưới chân núi lên nên trinh sát và cán bộ nghiên cứu chiến trường không thể tiếp cận tìm hiêu cách bố trí binh hỏa lực và công sự của địch. 3- Thời gian chuẩn bị cho trận đánh rất gấp, ngày 16 tháng 12 năm 1951, nhận lệnh của Đại đoàn, Trung đoàn phải tiêu diệt địch trên đỉnh núi 600, trước ngày 30 tháng 12 năm 1951 để phối hợp chiến trường chung. 4- Về chủ quan: Trung đoàn 141 vừa trải qua Chiến dịch Lý Thường Kiệt không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ, quân số bị tiêu hao. Chưa có thời gian củng cố, chưa kịp bổ sung quân số, nhiều cựu binh và tiểu đội trưởng của Tiểu đoàn 11 bị thương vong. Tuy nhiên, trải qua nhiều trận đánh, cán bộ và chiến sĩ có kinh nghiệm và rất quyết tâm chiến đấu. Nhưng khó khăn chính là chưa nắm được tình hình địch và xác định được cách đánh. Trong lúc ta đang bàn cách khắc phục mọi khó khăn thì may mắn có 2 hàng binh lê dương người gốc Ba Lan ra hàng. Họ cung cấp cho ta nhiều tin tức quý giá về binh lực, bố trí của địch. Trong tình hình ấy, tìm ra cách đánh phù hợp là rất quan trọng. Phải sáng tạo và dựa vào kinh nghiệm các trận đánh kỳ tập trước đây. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:40:47 am Biết được khó khăn của Trung đoàn 141, Bộ Chỉ huy Chiến dịch cử 2 phái viên đốc chiến là Thiếu tướng Hoàng Sâm, Tư lệnh Liên khu 3 và đồng chí Cao Xuân Hổ đến giúp đỡ Trung đoàn.
Ban Chỉ huy chung trận đánh Ba Vì được chỉ định gồm: Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Hồ Quang Hóa, Chỉ huy trường; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 16 Chu Phương Đới, Chỉ huy phó; Chính trị viên Tiểu đoàn 11 Đào Đình Luyện, sau rút về Sở Chỉ huy Trung đoàn, Chính trị viên Tiểu đoàn 16 Trần Nguyên Độ, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16 Nguyễn Hữu Tài. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 Nam Long. So sánh lực lượng khi ấy, ta có 2 tiểu đoàn bộ binh, địch có 3 đại đội phòng ngự trên đỉnh núi và có công sự tương đối vững chắc. Khi ấy ta chưa có kỹ thuật của đặc công nên kế hoạch tác chiến phải sáng tạo, táo bạo, không có hỏa lực chi viện nên phải dùng binh lực mạnh và tinh, bí mật, áp sát đồn địch, bất ngờ xung phong. Phương châm đề ra là dùng xung lực mạnh, giảm bớt đầu mối chỉ huy, tăng cường lực lượng xung kích cho các tiểu đội. Hai tiểu đoàn 11 và 16 sáp nhập thành một và lập ban chỉ huy chung, mỗi tiểu đoàn biên chế thành 2 đại đội, quân số của tiểu đội đầy đủ 10 người. Như vậy, ta dùng 4 đại đội để tiêu diệt 3 đại đội của địch. Kế hoạch chiến đấu chia làm 2 bước: Bước 1: Tiểu đoàn 11 có 2 đại đội bí mật tiếp cận, bao vây rồi bất ngờ dùng thủ pháo, đồng loạt xung phong tiêu diệt cứ điểm phía trước trên Cao điểm 550 do đại đội biệt kích (Commăngđô) của địch án ngữ phía trước trên Cao điểm 600. Bươc 2: Trong khi đó, Tiểu đoàn 16 theo đường cái xông thẳng lên Cao điểm 600, lợi dụng vách đá và tường cao để hạn chế pháo cối và hỏa lực bắn thẳng của địch. Với cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16, khi các thủ trướng tiểu đoàn đi học vắng mặt, tôi đã đưa Tiểu đoàn đến vị trị tập kết an toàn trên sườn núi Ba Vì và tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Gần đến ngày nổ súng thì các anh Trần Nguyên Độ và Chu Phương Đới về. Để bảo đảm thắng lợi, công tác chuẩn bị lúc này là quan trọng nhất. Trước hết là chuẩn bị về tinh thần, động viên bộ đội có quyết tâm cao và tin tưởng chiến đấu thắng lợi. Đảng ủy Tiểu đoàn và các chi bộ họp để quán triệt nhiệm vụ và tham gia thảo luận cách đánh, cách khắc phục khó khăn, giải quyết những thắc mắc và tổ chức dân chủ về quân sự. Tiếp đó là chuẩn bị quyết tâm chiến đấu, giao nhiệm vụ cho các đơn vị và các cán bộ, đảng viên; chuẩn bị về tổ chức và vật chất cho trận đánh như: Các chiến sĩ dũng cảm, có sức khỏe và quyết tâm cao được bổ sung vào các tổ chiến đấu 3 người, nhằm thực hiện cách đánh được xác định là: Dùng thang leo lên vách núi và tường cao, đồng loạt ném thủ pháo và nhảy qua bờ tường xung phong. Làm nhiều thang tre, mỗi tiểu đội một thang tre dài từ 3 - 4m, mỗi chiến sĩ đeo từ 4 - 5 quả thủ pháo cùng tiểu liên và trung liên khi xung phong. Không đào công sự, không ngụy trang, cuốc xẻng và các thứ phát ra tiếng động và ánh sáng như bật lửa, đèn pin phải để lại nơi trú quân. Chỉ có cán bộ đại đội có đèn pin nhưng phải dán kín chỉ để lọt ánh sáng bằng hạt đậu. Không được đi giày đinh. Những người nghiện thuốc lào hay ho không được vào đội xung kích mà bổ sung vào các đội cáng thương, vận tải và anh nuôi. Về bảo đảm thông tin liên lạc, có tín hiệu nhận nhau trong đêm tối. Rút kinh nghiệm trong trận Nghĩa Lộ, có đơn vị lạc đường trong hành tiến, nên đường hành quân trong đêm có đường mòn, lối rẽ đều có trinh sát chỉ đường, tránh bị lạc trong hành quân như trận đánh Nghĩa Lộ trước đó. Cả đơn vị như một công trường, làm thủ pháo, làm thang tre, tập mang vác trong hành tiến và trong chiến đấu, đặc biệt là công tác giữ bí mật trong lúc chuẩn bị và khi hành quân tiếp cận địch. Ngày 29 tháng 12, trời lạnh và tối nhanh, các đơn vị tập trang lúc 17 giờ kiểm tra toàn bộ vũ khí, trang bị. Mọi người phải nhảy xem có phát ra tiếng động không. Sau đó đọc quyết tâm thư rồi mới xuất phát. Tôi được phân công đi cùng Tiểu đoàn trưởng Chu Phương Đới ở tiền phương cùng thê đội 1 của tiểu đoàn do Đại đội trưởng Bạch Đăng Hội chỉ huy. Đồng chí Trần Nguyên Độ, Chính trị viên Tiểu đoàn ở Sở Chỉ huy chung với đồng chí Hồ Quang Hóa. Có 2 đồng chí dân quân người Dao sống ở sườn núi Ba Vì là Triệu Phú Hồng và Triệu Hữu Tài là người dẫn đường, từ sườn núi Ba Vì đến vị trí chiến đấu. Khoảng 23 giờ các đơn vị của Tiểu đoàn 11 đã bí mật áp sát và bao vây cứ điểm dã chiến của đơn vị biệt kích địch. Tiểu đoàn trưởng Hồ Quang Hóa báo cáo với Trung đoàn trưởng Nam Long đơn vị đã sẵn sàng. Trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Theo tín hiệu, các chiến sĩ đồng loạt tiến công vào các chiến hào của địch cùng với tiểu liên và trung liên xung phong. Bị bất ngờ, địch không kịp chống đỡ, sau gần 30 phút, Tiểu đoàn 11 đã làm chủ trận địa, tiêu diệt và bắt toàn bộ đại đội commăngđô của địch. Trong khi đó, Tiểu đoàn 16 do Tiểu đoàn trưởng Chu Phương Đới chỉ huy theo đường ôtô tiến thẳng lên cứ điểm chính 600. Tôi đi cùng anh Chu Phương Đới lập Sở Chỉ huy Tiểu đoàn ngay trên đường cái dựa vào vách núi và khe nước bên đường ôtô. Thông tin rải dây liên lạc với chỉ huy phía sau và các đại đội. Anh Đới đi theo đại đội xung kích, tôi có nhiệm vụ báo cáo với cấp trên, nhận lệnh và báo cáo diễn biến chiến đấu. Phía sau là thê đội xung kích 2. Địch đã kịp thời đối phó, các khẩu đại liên ở cổng chính liên tục nhả đạn về phía đường ôtô nhưng quân ta đã áp sát các cứ điểm phía chân vách núi. Từ trên cao, địch liên tục thả lựu đạn và bắn đạn cối 60mm xuống phía dưới để sát thương ta. Vì vậy, các chiến sĩ bắc thang leo lên nhưng bị đánh chặn lại. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, đến gần sáng, ta vẫn chưa bám được vào bờ tường. Đã có một số thương vong, ta phải dừng lại để củng cố và tìm cách leo lên tường. Trời gần sáng thì ta phát hiện được một điểm có thể bắc thang leo lên tường, ta cho một tổ nghi binh thu hút địch đối phó ở hướng cổng chính, trong khi đó các chiến sĩ bí mật bắc thang lên bờ tường ném thủ pháo vào đồn địch. Trong lúc địch bị thương vong và hoang mang do tiếng thủ pháo nổ như bắn đại bác của ta thì khẩu trung liên của Lê Văn Tỷ và sau đó của Nguyễn Văn Bệ đã đặt trên bờ tường bắn vào tung thâm chi viện cho các mũi leo lên bờ tường và xung phong. Địch rút chạy vào hầm ngầm, ta liên tục ném thủ pháo vào trong, số địch còn lại phải xin hàng. 5 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1951, ta làm chủ trận địa, tiêu diệt 155 tên, bắt 135 tên, đa số là lính Âu - Phi, thu toàn bộ vũ khí, trang bị của địch, trong đó có nhiều thực phẩm chuẩn bị cho Tết dương lịch 1952. Về phía ta, hy sinh 15 đồng chí và bị thương 90 đồng chí. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:43:04 am Sau chiến đấu thắng lợi, tôi định vào đồn, nhưng anh Chu Phương Đới ngăn lại. Tôi theo đội hình hành quân về hướng 400 và ngược lên khu tập kết 1.000m theo kế hoạch lui quân. Ngay sáng hôm đó, sau khi nghe báo cáo chiến thắng của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen Trung đoàn 141. Bức điện viết:
"Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ tiêu diệt cụm cứ điểm 600 Ba Vì trong điều kiện rất khó khăn. Các đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm, chiến thắng oanh liệt, lập công xuất sắc. Bộ Tổng Tư lệnh đã báo cáo thành tích của Trung đoàn lên Bác Hồ và Trung ương Đảng. Bác rất vui và gửi lời khen ngợi đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 141. Trận thắng lợi ở Ba Vì đã góp phần đưa chiến dịch phát triển sang giai đoạn mới. Bộ Tổng Tư lệnh quyết định tặng danh hiệu Trung đoàn Ba Vì và Huân chương Quân công hạng Ba cho Trung đoàn 141". Chiến thắng Ba Vì có giá trị và ý nghĩa về nhiều mặt. Ta đã chọc mù "con mắt" chiến dịch của địch trên Điểm cao Ba Vì, góp phần uy hiếp tuyến phòng ngự Sông Đà của địch, buộc chúng phải rút khỏi một loạt vị trí Chẹ, Đá Chông, Mỹ Khê, Thủ Pháp. Do đó, đường vận chuyển trên Sông Đà của địch bị cắt đứt. Với chiến thắng này, ta kết thúc đợt 2 chiến dịch và chuyển sang đánh địch ở Hòa Bình và trên Đường số 6, sau đó giải phóng thị xã Hòa Bình, đánh địch rút chạy trên Đường số 6, kết thúc thắng lợi chiến dịch. Về chiến thuật, đây là trận đánh táo bạo, tiêu diệt gọn hiệu suất chiến đấu cao, bắt nhiều tù binh và ta tổn thất ít. Trong điều kiện khó về địa hình cho tiến công, lợi cho thế phòng thủ, ta dùng binh lực ít và cách đánh sáng tạo, chuẩn bị chu đáo, quyết tâm cao, bí mật, bất ngờ, hạn chế điểm mạnh của địch về pháo binh và không quân. Trong trận này, thành công của công tác đảng, công tác chính trị là xây dựng quyết tâm cao, các đơn vị đoàn kết hiệp đồng trong chiến đấu, phát huy dân chủ, vai trò của đảng viên, cán bộ, nổi bật như đồng chí Tiểu đội trưởng Lê Văn Tỷ, người đưa trung liên lên bờ tường, yểm trợ cho lực lượng xung kích (sau đó đồng chí là Chiến sĩ thi đua toàn quốc). Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Bệ (sau này là Chiến sĩ thi đua toàn quân) và Tiểu đội trưởng Tống Tính, chiến sĩ xung kích của Tiểu đoàn 11 là những đảng viên gương mẫu, xung kích đi đầu. Đại đội trưởng Bạch Đăng Hội của Tiểu đoàn 16 chỉ huy khôn khéo và dũng cảm. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 16 Chu Phương Đới, sau này là Thiếu tướng, Tư lệnh Mặt trận 378 ở chiến trường nước bạn Lào, lúc ốm nặng, anh viết về chiến thắng Ba Vì như sau: "Quân lệnh như sơn Cán binh một lòng Thông minh, sáng tạo Dũng cảm phi thường Tiêu diệt quân thù Giải phóng Tản Viên". Hai du kích người Dao là Triệu Hữu Tài và Triệu Phú Hồng đã dẫn đường sát cánh chiến đấu cùng bộ đội chủ lực lúc khó khăn. Đỉnh núi 600 Ba Vì đã được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia và ngày nay trở thành một điểm đến du lịch và nghỉ dưỡng ở vườn quốc gia Ba Vì. Chiến thắng trên đỉnh núi Ba Vì là chiến thắng oanh liệt trong truyền thống anh hùng của Trung đoàn 141, được các thế hệ sau tiếp nối và phát huy. Từ Trung đoàn 141 - Trung đoàn Ba Vì của Đại đoàn 312 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã tách ra thành 3 trung đoàn 141 anh em: Trang đoàn 141 Sư đoàn 312 Quân đoàn 1; Trung đoàn 141 Sư đoàn 7 Quân đoàn 4; Trung đoàn 141 Sư đoàn 3 (Sao vàng) Quân khu 5 (từ năm 1979 chuyển thuộc Quân khu 1). Những chiến công của Trung đoàn 141 được nối tiếp từ Him Lam (Điện Biên Phủ) trong kháng chiến chống thực dân Pháp đến Vạn Tường (Quân khu 5) trong kháng chiến chống Mỹ; từ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trên chiến trường Lào đến các chiến thắng An Lộc, Đường số 13, Bình Dương, Bình Phước (Đông Nam Bộ); từ Thành cổ Quảng Trị đến những cánh rừng già Campuchia. Các trung đoàn 141 đã phát huy truyền thống Ba Vì, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc và đều được tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều chiến sĩ Trung đoàn Ba Vì đã nằm lại trên các chiến trường từ Bắc chí Nam và trên cả 3 nước anh em Việt Nam - Lào - Campuchia. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã mang thương tật suốt đời, trở về xây dựng đất nước, quê hương ngày một tươi đẹp, sung túc hơn, hướng đến một ngày mai tươi sáng cho con cháu. Nhiều cán bộ trong trung đoàn trưởng thành các tướng lĩnh nổi tiếng như: Trung tướng Nam Long, Thượng tướng Đào Đình Luyện, Thiếu tướng Hồ Quang Hóa, Thiếu tướng Chu Phương Đới, Thiếu tướng Trần Nguyên Độ... Ngày nay, Đảng ta, nhân dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu: Xây dựng nước Viêt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Chúng tôi - những chiến sĩ "Bộ đội Cụ Hồ", với truyền thống Ba Vì anh hùng, nguyện suốt đời học tập và là theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh và triệt đế thực hiện Di chúc của Ngươi với khát vọng giữ cho đất nước hòa bình, ổn định, cuộc sống của nhân dân ngày càng tươi đẹp, Tổ quốc phồn vinh và phát triển mọi mặt ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:44:41 am VỊ TRÍ ĐỊA CHIẾN LƯỢC CỦA TỈNH HÒA BÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Đại tá QUÁCH ĐĂNG PHÚ Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình Hòa Bình - quê hương mang khí thiêng sông núi, nơi có vị trí địa chiến lược quan trọng, là mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa, một trong những cái nôi của nền văn minh người Việt cổ - "Văn hoá Hòa Bình". Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình có truyền thống đoàn kết, cần cù trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Từ khi có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, truyền thống đó được bồi đắp, hội tụ và lan tỏa tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn giúp nhân dân các dân tộc trong tỉnh vượt qua khó khăn thử thách, giành được nhiều thành tựu trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hòa Bình là địa bàn chiến lược nối liền đầu não kháng chiến Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 và chiến trường toàn quốc. Hòa Bình được Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đặc biệt quan tâm. Ở Bắc Bộ, địa bàn tỉnh Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược, là cửa ngõ vào Thủ đô Hà Nội, lên vùng Tây Bắc, là bản lề giữa đồng bằng Bắc Bộ, Liên khu 4 với Tây Bắc, Việt Bắc và là cửa ngõ thông sang Lào. Hòa Bình là giao điểm của nhiều tuyến giao thông thủy, bộ quan trọng, về đường bộ có Đường số 6 là con đường chiến lược nổi Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào; Đường số 12, Đường số 15 từ Ninh Bình, Thanh Hóa qua Hòa Bình nối với Tây Bắc, Việt Bắc; Đường số 21 chạy dọc địa giới phía Đông tỉnh nối từ khu quân sự Thông - Sơn Lộc (Sơn Tây cũ) với Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa. Sau này, Đường Hồ Chí Minh, con đường huyết mạch Bắc - Nam hoàn thành đi qua huyện Lương Sơn, Lạc Thủy, Yên Thủy, Lạc Sơn và đường cao tốc Láng - Hòa Lạc kéo dài tới thành phố Hòa Bình đã và đang nâng tầm vị trí chiến lược trọng yếu của Hòa Bình với Thủ đô Ha Nội và cả nước. Đường thủy có sông Đà từ phía Tây Bắc qua địa phận tỉnh Hòa Bình và nối với sông Hồng ở Việt Trì; sông Bôi chảy qua huyện Lạc Thủy rồi nhập vào hệ thống sông Đáy ở tỉnh Ninh Bình. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có sông Bưởi ở Lạc Sơn, sông Bùi ở Lương Sơn. Những con đường thủy, đường bộ đều là những mạch máu giao thông quan trọng nối Hòa Bình với các tỉnh xung quanh. Núi rừng ở Hòa Bình có địa thế, địa hình khá hiểm trở, chia thành 2 tiểu vùng: Tiểu vùng thứ nhất, trải dài từ Đà Bắc qua Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai Châu nối với miền núi thượng du Thanh Hóa. Tiểu vùng thứ hai, bao gồm các huyện từ Kỳ Sơn, Lương Sơn xuống đến Lạc Thủy. Địa hình rừng núi trong tỉnh bị chia cắt bởi nhiều thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng và các triền bãi ven sông. Do vị trí, địa thế, địa hình có những đặc điểm như trên Hòa Bình trở thành một địa bàn cơ động chiến lược ở Bắc Bộ là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, là hậu cứ bảo vệ Thủ đô Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình, địa thế hiểm trở tạo nên lợi thế trong việc xây dựng căn cứ, một thế đất "tiến có thế đánh, lui có thể giữ". Thực tiễn trong tiến trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, núi rừng Hòa Bình đã từng nhiều lần là căn cứ dấy binh, là địa bàn hoạt động chống xâm lăng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hòa Bình từng là hậu cứ của chiến trường Liên khu 3, là hành lang giao thông chiến lược giữa Liên khu 3, Liên khu 4 với Việt Bắc, Tây Bắc. Đầu năm 1947, địa bàn huyện Lạc Thủy được chọn làm căn cứ của Ủy ban kháng chiến hành chính Khu 2, của Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Hà Nam. Nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quân đội đã về làm việc tại đây như các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Hà Kế Tấn... Đặc biệt, khu vực xã Cổ Nghĩa là nơi Bộ Tài chính, Kho Bạc, Xưởng in tiền làm việc. Tuy nhiên, đến đầu tháng 4 năm 1947, khi quân Pháp tiến công đánh chiếm thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Nhà máy in tiền và Kho Bạc phải chuyển lên Việt Bắc. Tại đây còn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ chân khi Người đi công tác ở tỉnh Thanh Hóa vào tháng 2 năm 1947. Ngày 15 tháng 4 năm 1947, thực dân Pháp bắt đầu tiến công đánh chiếm Hòa Bình. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo xây dựng phong trào đấu tranh trong vùng tạm bị giặc chiếm, Trung ương Đảng quyết định sáp nhập xã Mai Châu vào huyện Lạc Sơn, còn toàn bộ huyện Mai Đà và 3 xã Hòa Bình, Thịnh Lang, Yên Mông của huyện Kỳ Sơn chuyển về Khu 4. Cũng trong thời gian này, Khu ủy Khu 2 đã quyết định thành lập An toàn khu (ATK) tại 6 xã vùng "trong" của Lương Sơn (xã Nật Sơn, Vĩnh Đồng, Kim Bôi, Kim Truy, Hạ Bì, Tú Sơn) vì khu vực này có những điều kiện rất thuận lợi. Về địa thế, đây là khu vực tương đối kín, xung quanh có nhiều dãy núi đá bao bọc; hệ thống đường giao thông lớn nối vùng này với các con đường số 6, 12, 21 chưa có nên hạn chế được sức cơ động ra vào của địch. Ngược lại, đối với ta, bằng những con đường nhỏ, đường mòn xuyên rừng vẫn bảo đảm thuận lợi đế giao thương với các vùng xung quanh. Từ đây, đi xuống đồng bằng cũng không xa, có thể vào Lạc Sơn, từ đó vào Liên khu 4, lên vùng Tây Bắc và nhất là nối liền với Lạc Thủy, Nho Quan, là khu an toàn của Khu ủy trên đất Hà Nam, Ninh Bình, về chính trị, đây là khu vực có cơ sở cách mạng, thế lực phản động lang đạo không lớn, những lang có uy thế nhất trong vùng đều đang tham gia chính quyền tỉnh, về kinh tế, đây là Mường Động (nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động), một trong 4 vùng trù phú của Hòa Bình, có khả năng tự cung, tự cấp về lương thực, thực phẩm. Thu - Đông năm 1949, Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 3 quyết định mở Chiến dịch Lê Lợi (chiến dịch giải phóng tỉnh Hòa Bình lần thứ nhất), hướng tiến công chính là Hòa Bình, nhằm mục đích tiêu diệt một phần sinh lực địch, giáng một đòn mạnh vào hành lang Đông - Tây của địch, giải phóng một phần đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào chiến tranh nhân dân ở địa phương tiếp tục phát triển. Cuối tháng 1 năm 1950, chiến dịch kết thúc thắng lợi. "Phòng tuyến sông Đà", "Hành lang Đông - Tây" của giặc bị phá vỡ một mảng lớn; Đường số 12 và các vị trí quan trọng của địch trên con đường này bị uy hiếp nghiêm trọng; "Xứ Mường tự trị" bị giáng một đòn mạnh, hầu như rệu rã. Thắng lợi to lớn của chiến dịch đã tạo đà cho phong trào kháng chiến ở Hòa Bình phát triển mạnh mẽ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:45:28 am Sau thất bại ở Chiến dịch Biên Giới (1950), tiếp đó lại bị đánh mạnh ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ buộc quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Trước tình hình đó, cuối tháng 10 năm 1951, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi tuyên bố: Đã tới lúc giành lại chủ động trên chiến trường buộc Việt Minh phải chấp nhận chiến đấu trên một địa hình do Pháp lựa chọn. Với quan điểm trên, bộ máy chiến tranh của Pháp ở Đông Dương đã thống nhất chọn Hòa Bình là địa bàn cần phải đánh chiếm. Bởi Pháp nhận định Hòa Bình có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với quân ta, là một nút giao thông thủy - bộ nối liền Việt Bắc với đồng bằng và miền Trung. Cho dù biết rõ địa hình Hòa Bình có lợi cho ta, nhưng Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương lại cho rằng cần phải có miếng mồi ngon, thì Việt Minh mới chấp nhận trận đánh do mình sắp xếp. Ngoài ra, đánh chiếm Hòa Bình, quân Pháp sẽ cắt rời Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung. Đồng thời, đây sẽ là tiền đề để Pháp tiến đánh vùng tự do Liên khu 4.
Thực dân Pháp cho rằng: "Hòa Bình sẽ là chiếc cối xay thịt nghiền nát Việt Minh". Và để chuẩn bị "đón tiếp" bộ đội chủ lực của ta, ngay sau khi đổ quân chiếm đóng Hòa Bình, quân Pháp đã xây dựng hệ thống cứ điểm mạnh hình thành 2 tuyến phòng ngự dọc Đường số 6 và dọc sông Đà. Đây là 2 vị trí vô cùng quan trọng, quyết định sự thành bại của chiến dịch bởi lúc này địch tập trung lực lượng chủ yếu ở thị xã Hòa Bình, nhận sự vận chuyển tiếp tế chủ yếu từ đồng bằng lên, do đó địch bố trí lực lượng tương đối lớn và trang bị hỏa lực rất mạnh, có cả đại bác để quyết giữ và giành thế chủ động trên 2 tuyến đường này. Chiến dịch đánh chiếm Hòa Bình do Xalăng - Phó Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy. Trước kế hoạch của Pháp, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng Quân ủy họp bàn và nhất trí mở chiến dịch Hòa Bình, đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch Hòa Bình do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy. Chiến dịch mở màn vào ngày 10 tháng 12 năm 1951, kết thúc ngày 25 tháng 2 năm 1952, ta giành thắng lợi và buộc quân Pháp phải rút chạy khỏi Hòa Bình. Sau hơn 2 tháng chiến đấu anh dũng, quân và dân tỉnh Hoà Bình phối hợp với bộ đội chủ lực anh dũng chiến đấu, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch: 6.012 tên bị tiêu diệt, bắn rơi 9 máy bay, phá hủy 156 xe các loại, bắn chìm 17 tàu chiến và canô, phá hủy 12 khẩu pháo. Ta thu được 800 khẩu súng các loại, trong đó có 24 khẩu pháo, 88 máy vô tuyến điện và 23.000 lít xăng, dầu. Với phương châm tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét, cắt đứt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình, đồng thời xác định đây là 2 vị trí chiến lược quan trọng, quyết định đến thắng lợi của chiến dịch, Tổng Quân ủy đã chỉ đạo chiến dịch tập trung phá vỡ hệ thống phòng tuyến của địch trên sông Đà và Đường số 6, cắt đứt con đường tiếp tế của địch. Với địa thế hiểm yếu của sông Đà và Đường số 6, theo sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy, quân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã cùng với bộ đội chủ lực tạo nên những trận đánh oanh liệt, đập tan ý đồ của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Tiêu biểu như trong đợt tiến công lần thứ nhất, tại mặt trận chính diện, ta tập Irung tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ - các trọng điểm án ngữ con đường vận chuyển huyết mạch trên sông Đà. Tiếp đà thắng lợi, dân quân du kích tập kích cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tổ chức tiêu diệt địch ở đồi Bục Bịch (Bãi Vàng, Kỳ Sơn). Đại đội 16 (huyện Mai Đà), Đại đội 16 (huyện Kỳ Son) và Trung đội du kích xã Yên Mông (huyện Kỳ Sơn) đã phục kích bắn cháy, bắn chìm nhiều tàu chiến địch. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, trong vòng 20 phút chiến đấu trên một trận địa phục kích, bộ đội và du kích đã đánh tan một đoàn tàu chiến, ca nô của địch, bắn chìm 1 tàu Mônitô (LCT) và 6 canô. Đó là trận phối hợp phục kích tại Dốc Kẽm, trên Đường số 6 của du kích xóm Dụ, xã Mông Hóa, huyện Kỳ Son, tỉnh Hòa Bình (11.12.1951), tiêu diệt 2 trung đội địch, phá hủy 12 xe quân sự, giải thoát an toàn cho 100 đồng bào ta bị địch bắt đi phu. Trận đánh ờ Dốc Kẽm đã góp phần củng cố lòng tin của nhân dân địa phương đối với lực lượng vũ trang địa phương, đồng thời khẳng định cách đánh phục kích táo bạo, bất ngờ của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích xã, góp phần hạn chế được việc mở rộng hệ thống đồn bốt và kế hoạch càn quét của địch; giải quyết khó khăn về vũ khí, trang bị cho các lực lượng vũ trang địa phương trong giai đoạn tổng phản công. Đó là trận tiêu diệt xe cơ giới địch tại Dốc Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Kỳ Sơn trên Đường số 6 (13.12.1951). Khi địch lọt vào trận địa, bất ngờ nổ súng tiêu diệt gọn 1 đại đội địch, phá hủy 5 xe cơ giới. Trận tiến công địch tại Dốc Giang Mỗ, Bình Thanh đã ghi dấu son lịch sử, chiến thắng oanh liệt và tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của Anh hùng Cù Chính Lan "Dũng sĩ diệt tăng trên đường 6". Tấm gương của Cù Chính Lan đã cổ vũ toàn quân thi đua diệt xe tăng và xe cơ giới địch. Trận chiến đấu đã góp phần quan trọng vào việc đập tan bộ máy chính quyền phản động của địch ở khắp nơi trong tỉnh; làm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, góp phần làm nên thắng lợi to lớn của Chiến dịch Hòa Bình. Những trận tiến công địch trên các trục giao thông thủy bộ không chỉ tiêu diệt một phần sinh lực địch, phương tiện chiến tranh của địch mà quan trọng hơn là chặt đứt con đường chi viện tiếp tế của chúng, bao vây cô lập các vị trí địch ở khu vực thị xã Hòa Bình. Trong đợt 2 của chiến dịch, Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy mở rộng họp và xác định địa bàn công tác chính hiện nay là Đường số 6 và khu vục quanh thị xã Hòa Bình. Trên các hướng Đường số 6, Đường số 21, khu vực thị xã Hòa Bình, quân dân ta liên tục tiến công địch dưới các hình thức: Công đồn, diệt viện, phong tỏa giao thông... thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng lên cao, đẩy thực dân Pháp ngày càng lúng túng ở mặt trận chính Hòa Bình cũng như đồng bằng Bắc Bộ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:46:18 am Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch bắt đầu rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Trên đường 6, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đã kịp thời truy kích, chặn đánh, chia cắt toàn quân địch. Tại Thịnh Lang, 2 đại đội địch bị tiêu diệt. Tại Bến Ngọc, nhiều canô bị chìm, xe giặc bị bốc cháy, hàng chục tên giặc tan xác. Trên các đoạn đường thuộc Đường số 6 từ Phương Lâm đến Đầm Lấm, từ Cầu Dụ đến Xuân Mai trên một tiểu đoàn địch bị đánh thiệt hại nặng...
Hòa Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp. Một lần nữa, Hòa Bình là nơi ghi đậm dấu ấn thất bại thảm hại của quân đội viễn chinh Pháp. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các chiến sĩ Mặt trận Hoà Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưa củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa đổ tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"1 (Hồ Chí Minh, Toài 1 tập, Tập 7 (1951 - 1952) xuất bản lần thứ ba, Nxb Chính trị quốc gia Sự thặt, Hà Nội, 2011, tr. 331 -332). Chiến dịch Hoà Bình giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đây ]à chiến thắng lớn nliất của ta sau Chiến dịch Biên Giới. Hành lang Đông - Tây của địch bị phá vỡ, âm mưu giành thế chủ động chiến lược của thực dân Pháp không thực hiện được. Chiến dịch Hoà Bình đã tạo thế phát triển mới cho phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của các địa phương lân cận và trên chiến trường toàn quốc, cục diện chiến trường Bắc Bộ đã thay đổi có lợi cho ta. Địch bị dồn vào thế bị động theo cách đánh của ta, đẩy chúng đến nguy cơ bị tiêu diệt từng mảng lớn. Thắng lợi của Chiến dịch Hoà Bình góp phần làm phá sản kế hoạch bình định, mưu đồ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch. Đối với Hoà Bình, âm mưu lập lại "Xứ Mường tự trị" của Pháp và bọn phản động bị thất bại hoàn toàn. Hầu hết đất đai trong tỉnh được giải phóng, nhân dân các dân tộc được sống trong tự do, càng thêm tin tưởng, hăng hái đóng góp sức người, sức của cùng nhân dân cả nước làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Với những chiến công trong trong kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, Chiến dịch Hoà Bình nói riêng, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình đã vinh dự, tự hào được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp và nhiều phần thưởng cao quý khác. Phát huy truyền thống Chiến thắng Hòa Bình và kháng chiến chống thực dân Pháp, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với tinh thần tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hàng vạn thanh niên trai gái đất Mường tình nguyện lên đường nhập ngũ, tham gia thanh niên xung phong, anh dũng chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường. Ở hậu phương lớn, quân và dân các dân tộc phối hợp chặt chẽ với bộ đội phòng không, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, bắn rơi 49 máy bay, bắt hàng chục giặc lái, đóng góp xúng đáng vào sự nghiệp thống nhất đất nước. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là từ khi tái lập tỉnh đến nay, phát huy truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Chiến dịch Hoà Bình, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc Hoà Bình luôn hãng hái phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Tại thị xã Hoà Bình của chiến trường xưa, công trình thế kỳ - Thủy điện Hoà Bình lớn nhất Đông Nam Á được xây dựng, thị xã nay đã phát triển lên thành phố ngày càng hiện đại. Ngày nay, với lợi thế tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, Hòa Bình là một trong 8 tình nằm trong quy hoạch đường vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội; là cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, nơi có nhiều tuyến đường giao thông thủy, bộ thuận lợi cho giao thương, phát triển kinh tế; nhiều hang động, điểm cao có giá trị quân sự trên hướng Tây - Tây Bắc của Tổ quốc. Hòa Bình là vùng đất giàu tiêm năng, có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, di sản văn hóa độc đáo, nhiều lề hội văn hóa các dân tộc thiểu số đặc sắc, thuận lợi để phát triển loại hình du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng... Năm 2021, mặc dù trong điều kiện dịch COVID-19 bùng phát, ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, song Hòa Bình vẫn chủ động, sáng tạo để đạt được các kết quả tốt ở nhiều lĩnh vực. Tinh cùng cả nước nỗ lực phòng, chống dịch COVID-19 và phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện "mục tiêu kép" đạt được nhiều kết quả khá quan. Quốc phòng, an ninh thường xuyên được tăng cường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, nhiệm vụ kết hợp giữa kinh tế, xã hội với quốc phòng, an ninh được thực hiện có hiệu quả. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân đã trở thành nền nếp. Khu vực phòng thủ tình, huyện được xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc. Lực lượng vũ trang tỉnh (bộ đội địa phương, công an nhân dân và dân quân tự vệ) được quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Chiến dịch Hòa Bình đã diễn ra cách đây 70 năm, nhưng những chiến công của cha ông ta vẫn luôn được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình gìn giữ, tự hào và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Nhân dịp này, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình và toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thể hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân dân các dân tộc - những người trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và công tác đã góp phần tạo nên những trang sử vẻ vang trong truyền thống chống giặc ngoại xâm của tỉnh Hòa Bình. Kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh nói chung và lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình nói riêng quyết tâm đoàn kết, phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hoà Bình lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đề ra, xây dựng tỉnh nhà ngày càng giàu mạnh. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:48:10 am CHIẾN THẮNG HOÀ BÌNH - MỐC SON TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, CHIẾN DẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA ĐẠI ĐOÀN 308 - QUÂN TIÊN PHONG Đại tá VŨ VIỆT HÙNG Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 Quân đoàn 1 Trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), Đại đoàn 308 (nay là Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong) là một trong ba đại đoàn chủ lực được Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ tiến công địch trên mặt trận chính diện Hòa Bình và đã lập công xuất sắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Những chiến công trong Chiến dịch Hòa Bình mãi là mốc son chói lọi trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong. Đại đoàn 308 được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1949 tại thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, là đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Biên chế của Đại đoàn gồm các đơn vị có nhiều thành tích chiến đấu trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ Đô), Trung đoàn 88 và Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc). Sau khi ra đời, Đại đoàn đã nhanh chóng kiện toàn, củng cố và bước ngay vào các trận đánh, các chiến dịch lớn, lập nhiều chiến công. Sau hơn 1 năm được thành lập, Đại đoàn 308 là đại đoàn duy nhất tham gia Chiến dịch Biên Giới 1950. Đây cũng là lần đầu tiên Đại đoàn được giao nhiệm vụ tổ chức tác chiến ở quy mô đại đoàn tập trung và lập công xuất sắc, góp phần to lớn vào Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950. Sau Chiến dịch Biên Giới, Đại đoàn 308 tiếp tục tham gia các chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy như: Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung. Trong cuộc tiến công Đông - Xuân 1951 - 1952, Đại đoàn 308 tham gia trên hướng chủ yếu Chiến dịch Hòa Bình - một chiến dịch tiến công quy mô lớn với sự tham gia của nhiều đại đoàn nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng Hòa Bình, bảo vệ khu vực phía Tây đồng bằng Bắc Bộ và tuyến đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4. Căn cứ vào tình hình bố phòng của địch trên khu vực Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu của chiến dịch, tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà. Cụ thể: Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở bên tả ngạn sông Đà, có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình. Trung đoàn 102 làm dự bị chiến dịch, được bố trí ở khu vực Cổ Tuyết (phía Nam thị xã Phú Thọ), có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ cùng lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ sẵn sàng đánh địch càn quét ra vùng tự do (Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hóa, Đường số 2). Trung đoàn 88 vinh dự được giao nhiệm vụ đột phá căn cứ Tu Vũ - một căn cứ then chốt trên phòng tuyến Sông Đà. Hoạt động của Đại đoàn 308 diễn ra 3 đợt chiến dịch. Đợt 1: Mở màn chiến dịch, đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm Tu Vũ (nay thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) - một vị trí do 1 tiểu đoàn Au - Phi tăng cường chiếm giữ, đồng thời đánh cắt đường vận chuyển của địch trên sông Đà. Theo kế hoạch, Trung đoàn triển khai đội hình: Tiểu đoàn 29 theo đường Xóm Né - Bò Ngang chiếm lĩnh phía Đông cụm đồi khu A; Tiểu đoàn 23 theo đường Xóm Né - Đông Xuân chiếm lĩnh phía Bắc cụm đồi khu B; Tiểu đoàn 322 theo đường Đồi Lau - Xóm Trại chiếm lĩnh phía Đông Nam đồi khu C. Sở Chỉ huy Trung đoàn đi cùng Tiểu đoàn 29 bố trí ở khu vực Gốc Gạo (cạnh sân bay Tu Vũ cũ). Ngay khi chiếm lĩnh trận địa ở hướng tiến công chủ yếu, Tiểu đoàn 29 bị địch phát hiện. Tiếp đó, toàn Trung đoàn 88 bị pháo và súng cối của địch ở Tu Vũ và các cứ điểm lân cận bên kia sông Đà như Đá Chông, Chẹ, Cổ Pháp... bắn chặn ác liệt. Nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh hoặc bị thưong, một nửa số pháo tăng cường bị phá hủy, đường dây điện thoại liên lạc giữa chỉ huy Trung đoàn với các tiểu đoàn bị đứt. Đúng 1 giờ 45 phút ngày 11 tháng 12, sau 5 giờ bị pháo địch liên tục bắn chặn và gặp nhiều khó khăn, đặc biệt về quân số, Trung đoàn trưởng Thái Dũng vẫn kiên quyết hạ lệnh nổ súng tiến công. Trận đánh diễn ra quyết liệt. Các chiến sĩ Trung đoàn 88 dũng mãnh đột phá, giành giật với địch từng thước đất, từng lô cốt... Đến 4 giờ ngày 11 tháng 12, quân ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tu Vũ, phòng tuyến Sông Đà bị bẻ gãy đã tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta tiến vào đánh địch trên Đường số 6, bao vây thị xã Hòa Bình. Địch bị tiêu diệt 155 tên, bị bắt 12 tên. Ta bắn cháy 2 xe tăng, 2 xe thiết giáp, 5 khẩu pháo và thu một số lượng lớn vũ khí dạn dược1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2019), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2019, tr. 94). Đây là một trong những trận đánh công kiên xuất sắc nhất của ta trong Chiến dịch Hòa Bình. Ngay sau trận đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp đến tận cứ điểm Tu Vũ để khảo sát trận đánh. Đồng chí đã gửi thư khen Trung đoàn: "... Chiến thắng Tu Vũ là trận công kiên lớn nhất mở màn chiến dịch. Nó biểu hiện một tinh thần hy sinh quả cảm của một quân đội cách mạng chỉ có biết tiến, không biết lùi. Các đồng chí 88 đã nêu gương anh dũng tuyệt vời của quân đội"2 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2019), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2019, tr. 94). Cùng đêm 10 tháng 12, Trung đoàn 36, được tăng cường Tiểu đoàn phòng không 387 và 1 đại đội pháo 75mm, bố trí trận địa phục kích địch ờ Đoan Hạ bên tả ngạn sông Đà, cách Tu Vũ 15km. Hôm sau, 1 đoàn tàu chiến và canô địch từ thị xã Hoà Bình xuôi về Trung Hà qua trận địa phục kích, nhưng vì chưa có kinh nghiệm đánh địch trên sông, bố trí pháo ở tầm bắn bị hạn chế, chỉ bao quát được một phần ba sông phía bờ đối diện nên Trung đoàn đã để đoàn tàu lọt qua trận địa. Ngày 4 tháng 12, Tiểu đoàn 387 dùng trọng liên 12,7mm, bắn chìm 2 sà lan ở Yến Mao cách Đoan Hạ 4km về phía Nam. Quyết tâm triệt hẳn tuyến vận tải đường sông của địch, Trung đoàn 36 tiếp tục tổ chức trận địa phục kích dài 6km ở khu vực Lạc Song - Đông Việt, cách thị xã Hòa Bình 10km. Khoảng 11 giờ ngày 22 tháng 12, một đoàn gồm 1 tàu chiến và 6 canô địch lọt vào trận địa phục kích. Do chuẩn bị tốt, ta đã bắn chìm 1 tàu chiến và 4 canô. Hai canô chạy thoát. Vận chuyển trên sông Đã hoàn toàn bị tê liệt, địch phải lập cầu hàng không tiếp tế cho Hoà Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:49:06 am Đợt 2: Bộ Chỉ huy Mặt trận chủ trương đẩy mạnh các hoạt động ngay trong thị xã Hòa Bình. Đại đoàn 308, được tăng cường Trung đoàn 66 (Đại đoàn 304), nhận nhiệm vụ tiêu diệt 2 cứ điểm mạnh của địch là Pheo, Đầm Huống, trận địa pháo binh và một số vị trí địch ờ xung quanh thị xã Hòa Bình. Đêm mùng 7 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 102, được tăng cường Tiểu đoàn 23 (Trung đoàn 88), tiến đánh Pheo, do 1 tiểu đoàn lê dương, 1 đại đội pháo 105mm và 1 trung đội xe tăng đóng giữ. Do chủ quan, chuẩn bị chiến trường không kỹ, pháo đặt ở xa bắn không chính xác, trận đánh không thành công, bộ đội thương vong nặng. Trung đoàn 66 cũng không hoàn thành nhiệm vụ. Trong trận tiến công cụm pháo địch ở thị xã Hoà Bình, Trung đoàn 36 chuẩn bị chu đáo cả về tư tưởng, tổ chức, thảo luận dân chủ, phát huy sáng kiến nên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đại đội 41 bí mật lọt vào trận địa pháo, phá hủy 4 khẩu 105mm, tiêu diệt 20 tên, bắt tên đại úy chỉ huy. Năm cứ điểm ngoại vi thị xã bị các tiểu đoàn 80, 89 tiêu diệt gọn.
Trước sức tiến công của quân ta, ngày 8 tháng 1, địch phải rút khỏi núi Chẹ và Đá Chông. Phòng tuyến Sông Đà bị phá vỡ, thị xã Hòa Bình trở thành mục tiêu đột xuất. Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương tiến hành đợt 3 với mục tiêu bao vây thị xã, kìm chân địch tại Hòa Bình để các mặt trận khác, nhất là vùng sau lưng địch, đẩy mạnh hoạt động, đồng thời triệt để cắt Đường số 6, sẵn sàng đánh địch ở Hoà Bình rút chạy. Đợt 3: Thực hiện chủ trương của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Đại đoàn 308 phân công Trung đoàn 36 (thiếu Tiểu đoàn 89) bao vây thị xã; Trung đoàn 102, được tăng cường Tiểu đoàn 89, chuẩn bị đánh địch ở Phương Lâm - Bến Ngọc; Trung đoàn 88 và Trung đoàn 66 cắt đứt Đường số 6 giữa Đầm Huống - Ao Trạch; Liên đội sơn pháo 75mm tổ chức trận địa ở tả ngạn sông Đà và phía Tây làng Pheo chuẩn bị đánh địch từ Bến Ngọc đến Pheo nếu chúng rút. Phương châm tác chiến là vừa bao vây, vừa chặn địch, vừa tranh thủ tiêu hao địch, đồng thời tăng cường các hoạt động phá hoại giao thông. Từ ngày 11 tháng 1 đến ngày 22 tháng 2 năm 1952, các đơn vị thuộc Đại đoàn vừa đánh địch, vừa luân phiên nghỉ ngơi, củng cố lực lượng, sinh hoạt chính trị ngay tại mặt trận. Các đơn vị pháo phối thuộc với Đại đoàn nhiều lần bắn vào sân bay, trận địa pháo và đồn trại của địch; các đơn vị phòng không tích cực bắn máy bay địch (riêng Tiểu đoàn 387 trong 10 ngày bắn rơi 3 máy bay, bắn bị thương 6 chiếc khác). Bộ đội được tổ chức ăn Tết Nguyên đán ngay tại mặt trận, ở vùng sau lưng địch, chiến tranh du kích phát triển, vùng tự do ngày càng mở rộng. Tướng Đờ Lát về Pháp chữa bệnh rồi chết ở Pháp. Tướng Xalăng lên thay, quyết định rút bỏ Hòa Bình, kéo quân về giữ châu thổ sông Hồng. Từ hạ tuần tháng 1 năm 1952, địch mở cuộc hành quân từ Xuân Mai lên Hòa Bình nhằm tạo một hành lang bảo vệ cho cuộc rút lui, nhưng bị ta chặn đánh. Từ ngày 18 tháng 1 đến ngày 24 tháng 1, địch đánh nống ra nhưng bị các trung đoàn 88 và 66 tiêu diệt gần 4 đại đội. Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp buộc phải đưa Binh đoàn cơ động số 1 lên chiếm lĩnh các điểm cao từ Xuân Mai đến Pheo. Đại đoàn 308 tiếp tục bao vây thị xã Hoà Bình, đẩy mạnh các hoạt động đánh phá, tiêu hao địch. Trung đoàn 36 hoạt động tích cực, chỉ trong vòng 44 ngày đã đánh nhiều trận nhỏ, diệt hàng trăm tên địch, phá hủy 2 máy bay vận tải và 1 máy bay trinh sát tại sân bay thị xã. Ngày 10 tháng 2, khi địch nối thông được quãng đường từ Xuân Mai tới Pheo, Bộ Chỉ huy Mặt trận lệnh cho Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) thay Trung đoàn 88 phụ trách quãng Đầm Huống - Pheo và Trung đoàn 102, đang phối thuộc Đại đoàn 312 trở về đội hình của Đại đoàn 308, chuẩn bị đánh địch nếu chúng rút chạy, đồng thời diệt thêm một số cứ điểm ngoại vi thị xã. Trong khi ta đang nghiên cứu kế hoạch tác chiến thì đêm 22 tháng 2, địch bí mật rút khỏi thị xã Hòa Bình. Ngày 23 tháng 2, quân địch ở dọc Đường số 6 cũng rút theo kiểu cuốn chiếu. Mặc dù từ chập tối 22 tháng 2, địch đã để lộ nhiều dấu hiệu rút lui và Trung đoàn 102 đã báo cáo lên Bộ Tư lệnh Đại đoàn, nhưng đến sáng sớm ngày 23 tháng 2 Bộ Tư lệnh Đại đoàn mới lệnh cho các đơn vị xuất kích, vì vậy hiệu quả chiến đấu không cao. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hoà Bình kết thúc thắng lợi. Trải qua hơn 2 tháng nỗ lực chiến đấu, ta đã giải phóng hoàn toàn khu vực Hòa Bình rộng chừng 2.000km2, làm chủ hoàn toàn khu vực phía Tây đồng bằng Bắc Bộ, bảo vệ toàn vẹn đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc vào Liên khu 4. Ở vùng châu thổ sông Hồng, ta đã diệt và bức rút hơn 1.000 đồn, tháp canh (chiếm gần hai phần ba số đồn, bốt của địch)1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân tiên phong (1949 - 2019), Sđd,tr. 98). Các căn cứ du kích được mở rộng và nối liền với nhau thành thế liên hoàn từ Bắc Giang, Bắc Ninh tới sát Đường số 5, qua Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông. Chiến dịch Hòa Bình thắng lợi. Các đơn vị tham gia chiến dịch trưởng thành vượt bậc. Trong chiến dịch, Đại đoàn 308 đã vận dụng thành công nhiều hình thức tác chiến như đánh công kiên địch phòng ngự trong công sự vững chắc, phục kích chặn đường vận chuyển trên sông, tập kích và hoạt động nhỏ lẻ, thu được nhiều kinh nghiệm quý báu. Ngày 27 tháng 2, tại lễ mừng chiến thắng tổ chức ở thị xã Hòa Bình vừa được giải phóng, Đại đoàn 308 được Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trao tặng Huân chương Quân công hạng Nhỉ. Trung đoàn 88 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Tiểu đoàn 29 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, Tiểu đoàn 322 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba; Trung đoàn 36 được tặng thưởng Huân chương Quần công hạng Ba và nhiều cán bộ, chiến sĩ được tặng thường Huân chương Chiến công các loại. Sau Chiến thắng Hòa Bình, phát huy những thành tích đã đạt được Đại đoàn 308 tiếp tục tham gia nhiều chiến dịch lớn, có ý nghĩa quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp như Chiến dịch Tây Bắc (1952), Chiến dịch Thượng Lào (1953), đặc biệt là tham gia cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là Chiến địch lịch sử Điện Biên Phủ (1954), góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, phát huy truyền thống Quân Tiên phong, Sư đoàn 308 tiếp tục tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Đường 9 - Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972)... Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Sư đoàn 308 làm nhiệm vụ dự bị chiến lược, bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng cơ động tham gia chiến đấu khi có lệnh. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Tám, 2023, 09:50:07 am Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Sư đoàn 308 tiếp tục được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân tin tưởng giao cho những nhiệm vụ quan trọng. Đặc biệt, vinh dự và tự hào, ngày 15 tháng 1 năm 1976, Sư đoàn 308 được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì đã lập được nhiều chiến công, thành tích vẻ vang trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngay sau đó, bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, Sư đoàn còn được giao nhiệm vụ là lực lượng dự bị chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (1977 - 1979) và biên giới phía Bắc (1979 - 1989). Trong thế trận chiến tranh nhân dân của cả nước, Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ được giao bảo vệ hậu phương chiến lược, sẵn sàng tăng cường cho phía trước ở thời điểm quyết định, góp phần vào chiến thắng chung, bảo vệ chế độ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Với những chiến công xuất sắc của một sư đoàn có truyền thống công kiên giỏi, đánh vận động giỏi, Sư đoàn luôn là niềm tự hào, tin tưởng của quân và dân ta, là nỗi khiếp sợ của kẻ thù. Ngày nay, Sư đoàn luôn được tin tưởng giao nhiệm vụ làm đơn vị mẫu trong huấn luyện, trong xây dựng chính quy, quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật. Sư đoàn luôn đi trước, tìm tòi, bất cứ hoàn cảnh nào và việc gì cũng làm tốt với tinh thần xung phong đột phá, không ngại gian khổ, không sợ khó khăn. Các cuộc diễn tập thực nghiệm ở Phúc Thọ, Xuân Mai, Hòa Lạc... trước đây và các cuộc diễn tập H-79, CĐ-30, A-83, A-84, TP-88, TN-94, PT-98... những năm sau này với quy mô, lực lượng, vũ khí, trang bị khác nhau, trên các địa hình khác nhau đã được Sư đoàn thực hiện thành công, nhất là tham gia diễn tập DT-17 phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan thành công rực rỡ đã khẳng định trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Sư đoàn, sự tin lường cũng như sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng, Nhà nước, Quân đội đối với sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ. Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đại đoàn 308, từ kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", sự phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, lúc chiến đấu ở chiến trường trọng điểm, khi làm nhiệm vụ chiến lược ở hậu phương, Đại đoàn - Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong luôn quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, chăm lo xây dựng Sư đoàn vững mạnh về chính trị, coi đó là yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Bài học sâu sắc được rút ra là Sư đoàn phải thường xuyên nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện, cả về tư tưởng và tổ chức; cả về quân sự, chính trị, hậu cần, khoa học kỹ thuật; cả cơ quan, đơn vị, cả cán bộ và chiến sĩ. Khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ thị của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ngày thành lập Đại đoàn "Hễ đánh là thắng, hễ đánh là quyết định chiến trường", trong suốt chặng đường 72 năm qua, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, viết nên truyền thống: "Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, quyết chiến, quyêỉ thăng", luôn luôn xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Bác Hồ, của nhân dân và Quân đội giao phó. Hiện nay, Sư đoàn 308 là sư đoàn bộ binh rút gọn, có 1 trung đoàn bộ binh cơ giới đú quân và các đơn vị khung thường trực. Nhiệm vụ chính trị trọng tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đối ngoại quốc phòng; sẵn sàng tham gia phòng chống bão lụt, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác. Nhiệm vụ của Sư đoàn cơ bản ổn định, đội ngũ cán bộ các cấp thường xuyên được kiện toàn, bảo đảm đủ về số lượng, có chất lượng cao, nhiệt tình, trách nhiệm trong công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Sư đoàn 308 luôn tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, xây dựng Đảng bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đơn vị vững mạnh toàn diện "Mầu mực, tiêu biểu", góp phần xây dựng Quân đội "Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Quân đội giao phó. Để thực hiện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn xác định tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp. Đó là, thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng các cấp đối với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đẩy mạnh công tác giáo dục, quản lý bộ đội, quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, quy định của cấp trên; tăng cường xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa cấp trên với cấp dưới giải quyết tốt mối quan hệ đoàn kết quân dân trên địa bàn; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chính trị, găn giáo dục chính trị với giáo dục truyền thống, tuyên truyền phổ biến pháp luật. Trong đó, tập trung quán triệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về "Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh " với Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu và tính sáng tạo, thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của đơn vị; gắn xây đựng Đảng bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện "Mẫu mực, tiêu biểu". Trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong phát huy cao độ lịch sử và truyền thống vẻ vang trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của đơn vị, trong đó có tinh thần Chiến thắng Hòa Bình, tiếp tục đi theo con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã lựa chọn. Quán triệt và thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, toàn đơn vị quyết tâm xây dựng Sư đoàn vững mạnh toàn diện "Mẫu mực, tiêu biểu", cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hoàn thành xuất sắc 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:31:36 am SƯ ĐOÀN 312 PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU Đại tá NGUYỄN TRUNG HIẾU Phó Tư lệnh Quân đoàn 1, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312 Mùa Đông năm 1951, thực dân Pháp mở cuộc tiến công ra Hòa Bình, lập phòng tuyến Sông Đà nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây", tăng cường phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Trước tình hình mới, ngày 17 tháng 11, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ sơ bộ cho 3 đại đoàn (312, 308, 316) va Liên khu Việt Bắc. Đại đoàn 312 được giao hoạt động trên hướng chủ yếu của chiến dịch, có nhiệm vụ đánh địch từ thị xã Hoà Bình tới Trung Hà trên cả hai bên tả ngạn và hữu ngạn sông Đà. Mục tiêu chính là tiêu diệt các cứ điểm địch mới chiếm đóng và lực lượng cơ động vận chuyển đường bộ, đường thủy, lực lượng càn quét xung quanh các vị trí của địch, sẵn sàng phối hợp hoạt động với Đại đoàn 308. Ngay ngày hôm sau (18.11), Đảng ủy Đại đoàn họp quán triệt, phổ biến nhiệm vụ đến cấp đại đội. Ngày 1 tháng 12 năm 1951, sau khi phân tích tình hình địch, Tổng Quân ủy nhận thấy muốn triệt đường tiếp tế của địch và thọc sâu vào đội hình của chúng, ta phải đánh vào Phân khu sông Đà trước. Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ: Diệt vị trí Chẹ, đánh viện ở Nam Ba Vì, Đường số 87, đánh địch trên sông quãng Lạc Song và địch càn quét ở phía Bắc thị xã Hòa Bình. Để chuẩn bị tiến công Chẹ, đêm mùng 8 tháng 12 năm 1951, đồng chí Nguyễn Bàng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 cùng đồng chí Nguyễn Tâm - Tham mưu trưởng, một số cán bộ và đội trinh sát đi điều tra tình hình địch. Khi rút ra bị địch phục kích, đồng chí Bàng, đồng chí Tâm và 1 đồng chí đại đội trưởng bộ đội địa phương hy sinh. Đồng chí Hoàng Cầm - Trung đoàn phó được chỉ định thay đồng chí Nguyễn Bàng làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209. Đêm mùng 9 tháng 12, Trung đoàn 209 bí mật qua Bến Mai vượt sông Đà sang tập kết ở Trại Khoai, Bãi Vàng nhưng tình hình địch có thay đổi, vị trí Chẹ được tăng cường thêm 1 tiểu đoàn, địch lại đang mở cuộc càn quét khu Ninh Mít - Đồng Song, phá phách, cướp bóc, triệt hạ cơ sở của ta hòng bảo đảm an toàn cho núi Chẹ. Do thời gian gấp, nhiều việc chuẩn bị chưa kịp và do lực lượng địch đã thay đổi nên Đảng ủy Đại đoàn 312 chủ trương vận động phục kích diệt tiểu đoàn địch đang càn quét ở Ninh Mít trước, dùng hoả lực kiềm chế uy hiếp Chẹ để hiệp đồng với Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 đánh Tu Vũ. 6 giờ ngày 10 tháng 12, Trung đoàn 209 hoàn thành công tác chuẩn bị chiến đấu. Đến 7 giờ 30 phút, một tiểu đoàn địch từ núi Chẹ theo đường làng tiến vào Ninh Mít nhưng bị ta đánh trả quyết liệt, đến 17 giờ địch phải rút về Chẹ. Sau một ngày chiến đấu liên tục với địch, các chiến sĩ Trung đoàn 209 đã diệt và bắt 305 tên (có 200 tên chết), thu 10 trung liên, 18 tiểu liên, 31 súng trường và nhiều đạn dược, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Sư đoàn 312, Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2010). Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 103). Trận vận động Ninh Mít là trận thắng đầu tiên trên Mặt trận Sông Đà. Chiến thắng Ninh Mít cổ vũ, khích lệ toàn thổ cán bộ, chiến sĩ trong Đại đoàn và các đơn vị tham gia chiến dịch. Cùng thời gian Trung đoàn 209 đánh Ninh Mít, Tiểu đoàn 16 Trung đoàn 141 được phối thuộc 3 khẩu pháo 75mm, 1 khẩu 70mm phục kích bắn canô địch trên sông Đà (lúc này Đại đoàn 308 đã tiêu diệt Tu Vũ), nhằm cắt đứt liên lạc bằng đường thủy của địch lên thị xã Hoà Bình. Sáng 11 tháng 12, Tiểu đoàn 16 phục kích đoàn canô địch từ Trung Hà về Tu Vũ khiến một số tên địch bị thương, ngã xuống sông. Nhưng canô địch chạy thoát về Hoà Bình. Sau khi gọi phi pháo bắn phá trận địa Tiểu đoàn 16, địch chủ quan cho rằng ta không dám bố trí ở đó nên đến 3 giờ chiều, chúng lại cho canô từ Hoà Bình xuống. Lần này ta để canô địch lọt vào trận địa mới bắn, 2 chiếc bị thương bỏ chạy, 1 chiếc dạt vào bờ xin hàng. Đêm 11 tháng 12, Tiểu đoàn 16 rút vào trong 500m phục kích bộ binh địch. Sáng ngày 12 tháng 11, 2 đại đội từ Hòa Bình tiến xuống, khi chúng lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng diệt 23 tên, bắt 14 tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Cùng với nhiệm vụ chiến đấu trong đợt 1 chiến dịch, Đại đoàn 312 đã cử một số đơn vị của Trung đoàn 141 bảo vệ mùa màng ờ Tam Nông; chuẩn bị công kiên La Phù và Tu Vũ (sau có lệnh thôi hoạt động); phối hợp với huyện Mai Đà đẩy mạnh hoạt động xung quanh thị xã Hoà Bình. Sang đợt 2, Đại đoàn 312 được phối thuộc Trung đoàn 66 Đại đoàn 304, hoạt động trên hướng chủ yếu của chiến dịch. Trung đoàn 141 có 2 tiểu đoàn phối thuộc chuẩn bị đánh điểm cao 600, 400 và đánh viện, sau đó chuẩn bị đánh Thủ Pháp. Trung đoàn 66 đánh Núi Chẹ. Trung đoàn 209 tiếp tục chấn chỉnh ở vị trí cũ, sẵn sàng chiến đấu, 2 tiểu đoàn 428 và 115 phối hợp với đại đội bộ đội địa phương Sơn Tây đánh địch vận chuyển trên Đường số 87. Theo lệnh của Bộ, Đại đoàn phối thuộc 2 tiểu đoàn cho Đại đoàn 308 đánh địch ở khu vực Đá Chông và đánh viện trên sông Đà. Núi Ba Vì cao hơn 1.000m, nằm bên tả ngạn sông Đà phía Tây Bắc Sơn Tây. Dưới chân núi có Đường số 87 từ Sơn Tây đi Đá Chông, Chẹ. Đây là vị trí rất quan trọng trên tuyến phòng ngự Sông Đà của địch nên có 2 đại đội địch chiếm đóng. Trong đó, điểm cao 600 có vị trí địa quân sự lợi hại. Chiếm được điểm cao này, địch có thể kiểm soát vùng Sơn Tây - Cỏ Đắng - Trung Hà - Ba Trại - Đá Chông - Tu Vũ - Chẹ - Đường số 87 và sông Đà, chỉ điểm cho pháo binh bắn phá nếu phát hiện được ta. Quyết tâm của Tổng Quân ủy là tiêu diệt điểm cao 600, phá âm mưu dùng vị trí này để kiểm soát phòng tuyến Sông Đà và phía Bắc Ba Vì của địch. Để đảm bảo chắc thắng, Đảng ủy Đại đoàn đã thảo luận những công việc thật cụ thể, sử dụng các đại đội 241, 243, 245, 19 và 20 tổ chức thành hai bộ phận trang bị nhẹ, chủ yếu là tiểu liên, lựu đạn; huấn luyện cách vượt vách đứng, cách mang giày, dép để áp sát một cách bí mật... Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:32:35 am 23 giờ 15 phút ngày 29 tháng 12 năm 1951, toàn Tiểu đoàn 11 đã vào sát hàng rào đồn địch ở điểm cao 400. Đại đội 243 xung phong đạp đổ hàng rào tre qua đột phá khẩu, địch trong đồn chưa kịp đối phó thì Đại đội 243 đã thọc sâu vào giữa đồn, phát triển sang bên trái, Đại đội 241 nhảy qua hàng rào thọc sâu vào diệt khẩu ĐKZ 57mm và các ụ trung liên, đồng thời phát triển sang trái bắt liên lạc với các đại đội 243 và 245, tiếp tục tiêu diệt các hoả điểm còn lại. Mất Sở Chỉ huy, binh lính địch hoang mang, một số ra hàng, số khác lẩn trốn vào các ngách hầm. Sau 30 phút chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ đồn dưới và đế lại một trung đội chiếm giữ, các đơn vị tiếp tục đánh lên đồn cao.
Trong khi các đại đội 241, 243, 245 đánh đồn dưới thì Đại đội 19 và Đại đội 20 theo đường ôtô tiến lên đồn cao. 20 giờ 30 phút tối 29 tháng 12 mới bố trí xong và bắt đầu nổ súng. Đồn cao ở móm 600 không có hàng rào, địch dựa vào bức tường cao 2m xung quanh đồn để phòng ngự. Chúng ném lựu đạn, bắn tiểu liên xuống đường cái nơi ta bố trí. Đại đội 19 tiến theo phía cổng đồn cũng bị đánh bật ra, phải dừng lại ở chân tường. Đại đội 245 được lệnh tiếp ứng công kích. Đại đội 20 xung phong lần thứ ba mà vẫn không vào được đồn. Pháo địch ở Đá Chông, Sơn Tây bắn lên từng đợt quanh đồn rất dữ dội. Trước tình hình giằng co, chỉ huy Trung đoàn 141 ra lệnh củng cố đơn vị kiên quyết tiêu diệt vị trí 600 trước khi trời sáng. Sau khi củng cố, các đơn vị bất ngờ tiến công mãnh liệt vào nơi địch sơ hở, cách cổng chính 20m. Đại đội 19 dùng thang trèo lên mặt tường. Tiểu đội trưởng Phạm Văn Ngôn chỉ huy tiểu đội trèo thang nhảy vào đồn, dùng lựu đạn, tiểu liên quét địch. Quân ta chiếm được đầu cầu, địch tập trung hoả lực ngăn chặn nhưng bị trung liên ta dập tắt. Theo sau tiểu đội xung kích, các đại đội 19, 241 lần lượt trèo lên đồn và phát triển sâu vào tung thâm. Đại đội 245 cũng vào được đồn, cả hai mũi nhanh chóng phát triển diệt các hoả điểm và diệt bọn địch lẩn trốn trong hầm ngầm. Khi trời sáng, vẫn còn địch trong hâm ngầm chống cự. Đồng chí Lê Văn Tỷ đặt súng cửa hầm bắn uy hiếp rồi gọi 40 tên lính lê dương ra hàng. Chiến thắng ở Điểm cao 600 - Ba Vì làm rung chuyển phòng tuyến Sông Đà. Mất đường tiếp tế, mất chỗ dựa kiên cố, địch phải rút các vị trí Chẹ, Đá Chông, Mỹ Khê. Trận này ta tiêu diệt 120 tên (có 70 lính Âu - Phi, 50 lính ngụy) địch bị thương 32 tên, bị bắt 136 tên (có 53 lính Âu - Phi, 83 lính ngụy). Ta hy sinh 15, bị thương 90 cán bộ, chiến sĩ. Ngày 30 tháng 12 địch cho 1 trunng đoàn và 3 tiểu đoàn dù lên chiếm lại các điểm cao 400 và 600. Tiểu đoàn 564 và Tiểu đoàn 542 phối thuộc với Trung đoàn 141 đánh viện, nhưng do bố trí xa, không cơ động kịp nên bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt địch1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Sư đoàn 312, Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 112). Sang đợt 3, Tổng Quân ủy chủ trương chuyển lực lượng xuống hoạt động ở phía Nam Hoà Bình và đường số 6, tranh thủ lúc địch còn sơ hở, tiêu diệt thêm sinh lực địch. Đại đoàn 312 được Bộ giao nhiệm vụ hoạt động từ khu vực Núi Chẹ trở lên, đánh địch từ Pheo đến Đồng Bến. Ngày 8 tháng 1 năm 1952, địch bắt đầu rút khỏi khu vực sông Đà, Ba Vì và có nhiều biểu hiện muốn rút khỏi Hoà Bình. Tổng Quân ủy chủ trương tiếp tục tiêu diệt sinh lực địch, tích cực phá hoại và cắt đứt Đường số 6, mở rộng địch vận, chuẩn bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực rút chạy. Thời gian này, Đại đoàn đã đánh nhiều trận nhỏ như: Đánh đồn Miếu, bắn kiềm chế Pheo và Bến Ngọc. Đây là vị trí địch mới chiếm đóng để yểm hộ lực lượng rút khỏi Hòa Bình. Địch ở đồn Miếu có 2 đại đội, chúng dùng gỗ, nứa chất ngổn ngang quanh đồn làm hàng rào khiến ta tiến rất chậm và mở đường khó, đánh nhiều bộc phá mà chưa phá hết rào. Pháo địch ở Pheo, Bến Ngọc, Hoà Bình bắn yểm hộ rất dữ dội. Tiểu đoàn 428 mới chiếm được nửa đồn, trời đã sáng. Ta bị thương vong nhiều, các đơn vị phối hợp không chặt chẽ nên phải rút để mang thương binh ra. Kết quả địch chết 150 tên. Lực lượng ta hy sinh 34 đồng chí, bị thương 64 và mất tích 2 đồng chí. Chiều ngày 22 tháng 2, địch bắt đầu rút từ Phương Lâm sang thị xã. Đêm 22, chúng rút từ thị xã sang Bến Ngọc rồi rút từ Bến Ngọc đến Ao Trạch. Ta xuất kích chậm nên không đánh được địch. Trong đợt 3 chiến dịch, nhiệm vụ đánh viện trên Đường số 6 (Ao Trạch - Đầm Huống), Đại đoàn không thực hiện được mà chỉ tiêu hao nhỏ; đánh viện từ Bến Ngọc đến Pheo diệt hơn 1 đại đội. Các đơn vị phát triển vào vùng địch hậu Sơn Tây diệt được 4 đồn, 1 đại đội và 1 trung đội địch. Kết quả, từ ngày 25 tháng 11 năm 1951 (ngày Đại đoàn tiêu diệt gọn Tiểu đoàn Thái số 3 ở Thu Cúc - Lai Đồng) đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, Đại đoàn 312 đã chiến đấu liên tục trong 3 tháng, đánh 7 trận lớn (1 trận vận động, 4 trận vận động phục kích, 2 trận công kiên), tiêu diệt 2.235 tên địch, bắt 320 tên; phá hủy 1 máy bay, 1 canô và 3 xe tăng, thu 50 xe đạp, 200 súng trường, 7 đại liên, 20 trung liên, 100 tiểu liên, 12 ôtô. Trong chiến đấu đã có 498 cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn anh dũng hy sinh và 1.034 đồng chí bị thương1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Sư đoàn 312, Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2010), Sđd, tr. 114-115). Qua chiến dịch, cán bộ Đại đoàn có thêm nhiều kinh nghiệm chỉ huy đánh công kiên, đánh vận động phục kích, xử trí các tình huống. Trình độ hiệp đồng tác chiến của các đơn vị trong Đại đoàn và các đơn vị bạn được nâng cao. Những biểu hiện sinh động "Đoàn kết - Anh dũng - Chiến thắng" được hình thành ngay từ trận đầu Đại đoàn ra quân, trải qua thử thách, qua các chiến dịch gian khổ và quyết thắng, đến Chiến dịch Hoà Bình càng được tôi luyện trở thành bản chất truyền thống của Đại đoàn 312. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:33:21 am Những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo vẫn là vấn đề nóng. Trong nước, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tăng cường hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, trực diện. Trước tình hình đó, Đảng ủy Sư đoàn 312 đã phát huy truyền thống vẻ vang "Đoàn kết - Anh dũng - Chiến thắng", vận dụng linh hoạt những bài học kinh nghiệm quý báu trong Chiến dịch Hòa Bình để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Sư đoàn vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Cụ thể là:
Thứ nhất, chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp đối với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là giải pháp và nhân tố quyết định chất lượng huấn luyện. Các cơ quan, đơn vị trong Sư đoàn. Cấp ủy, người chỉ huy các đơn vị luôn quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm, đường lối quân sự - quốc phòng của Đảng. Hằng năm, Đảng ủy, Chỉ huy Sư đoàn 312 xác định 3 khâu đột phá, trong đó có đột phá về huấn luyện: Nâng cao chất lượng huấn luyện đáp ứng yêu cầu tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ chiến đấu của Quân đội trong thời bình, triển khai và áp dụng mô hình "2 thực chất" là huấn luyện thực chất và kiểm tra, đánh giá kết quả thực chất. Tích cực nghiên cứu phát triển lý luận nghệ thuật quân sự, đổi mới cách đánh phù hợp với sự phát triển của đối tượng tác chiến, trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao. Thường xuyên chỉ đạo cơ quan, đơn vị nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ huấn luyện đảm bảo khoa học, tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không chồng chéo. Cùng với đó tăng cường kiểm tra, phúc tra thường xuyên với đột xuất. Thứ hai, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp huấn luyện Để đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh hiện đại, Sư đoàn 312 tiếp tục bám sát phương châm huấn luyện: "Cơ bản, thiết thực, vững chắc". Trong đó, chú trọng tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, cập nhật những nội dung mới về đường lối quân sự - quốc phòng, nghệ thuật quân sự, phát triển vũ khí, trang bị thế hệ mới, hiện đại... để bổ sung, hoàn thiện chương trình, nội dung huấn luyện. Kiên quyết loại bỏ những nội dung trùng lặp, không phù hợp với điều kiện tác chiến mới. Đặc biệt, Sư đoàn 312 đẩy mạnh huấn luyện theo tình huống, tạo chuyển biến về trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu theo hướng dẫn của Quân đoàn 1. Tích cực đổi mới nội dung, chương trình, tổ chức và phương pháp huấn luyện cho các đối tượng theo hướng phát huy dân chủ, khơi dậy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; kết hợp chặt chẽ lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; truyền thụ kinh nghiệm, truyền thống cho người học. Đồng thời, vận dụng linh hoạt các mối kết hợp trong huấn luyện, nhất là gắn xây dựng chính trị tư tưởng, ý chí chiến đấu với rèn luyện năng lực, tác phong chỉ huy, kỹ năng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ; gắn kỹ thuật với chiến thuật; gắn lý luận với thực tiễn... Coi trọng huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ theo phân cấp bằng nhiều hình thức và phương pháp thích hợp để nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, nhất là năng lực thực hành huấn luyện. Huấn luyện phân đội được thực hiện theo phương pháp xoay vòng, xen kẽ các nội dung để tăng thời gian luyện tập, chia nhỏ tập nhiều, thực hiện sai đâu sửa đó. Kết hợp huấn luyện cơ bản với huấn luyện ứng dụng, huấn luyện theo chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị. Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành huấn luyện Trong tình hình hiện nay, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành huấn luyện. Sư đoàn quan tâm kiện toàn và phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan tham mưu cấp trung đoàn, sư đoàn trong việc tham mưu, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ huấn luyện. Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp huấn luyện gắn phân cấp với phân rõ trách nhiệm của cơ quan, chỉ huy các cấp; tăng cường sự phối hợp, hiệp đồng giữa cơ quan, đơn vị trong quản lý, chỉ đạo, điều hành huấn luyện. Cùng với đó, các đơn vị đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thống tin vào quản lý, điều hành thực hành huấn luyện; đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp kiểm tra huấn luyện, thực hiện kiểm tra chỉ huy và cơ quan trước khi kiểm tra phân đội; tăng cường kiểm tra đột xuất, phúc tra kết quả huấn luyện nhằm đánh giá thực chất công tác huấn luyện của từng đơn vị, kịp thời rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục những hạn chế. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:33:53 am Thứ tư, nâng cao chất lượng tập huấn, bồi dưỡng cán bộ và huấn luyện phân đội
Với quan điểm huấn luyện cán bộ là then chốt, huấn luyện phân đội là trọng điểm, trước hết, Sư đoàn tập trung làm tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng kiện toàn đội ngũ, nhất là cán bộ trực tiếp huấn luyện đủ về số lượng, có chất lượng toàn diện, bảo đảm đủ năng lực chỉ đạo, thực hành huấn luyện, khả năng tham mưu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành huấn luyện. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tập trung tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ các cấp những nội dung sát với cương vị, chức trách đảm nhiệm. Cụ thể là, đối với chỉ huy, sĩ quan các cấp, bồi dưỡng về chiến thuật binh chủng hợp thành, quân chủng, binh chủng, ngành; công tác tham mưu tác chiến, tham mưu huấn luyện; quy định an toàn và quản lý vũ khí, trang bị... Đối với hạ sĩ quan chỉ huy, huấn luyện về phương pháp điều hành luyện tập, sửa tập trong tiểu đội, khẩu đội... Trong huấn luyện cán bộ, Sư đoàn 312 chỉ đạo thực hiện tốt phương châm "cấp trên dạy cấp dưới, chỉ huy dạy đơn vị". Theo đó, lựa chọn những cán bộ có nhiều kinh nghiệm và phương pháp huấn luyện thực hành tốt ở các đơn vị để thành lập tổ huấn luyện chuyên sâu. Với cách làm này, Sư đoàn không những nâng cao được chất lượng huấn luyện trong từng nội dung mà còn bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ các cấp. Cùng với đó, Sư đoàn 312 tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hành huấn luyện, thực hiện sai đâu sửa đó, dần khắc phục được những khâu yếu, mặt yếu. Hằng năm, Sư đoàn 312 duy trì nghiêm chế độ hội thi, hội thao huấn luyện, tạo động lực để cán bộ học tập, nghiên cứu, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực huấn luyện, tác phong chỉ huy... Với cấp phân đội, Sư đoàn 312 tiến hành nghiêm túc quy trình huấn luyện từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ phân đoạn đến tổng hợp. Đế đáp ứng yêu cầu tác chiến mới trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh hiện đại, sử dụng vũ khí công nghệ cao, Sư đoàn 312 chú trọng huấn luyện cơ động, kết hợp với rèn luyện thể lực cho bộ đội. Kết thúc mỗi giai đoạn huấn luyện, Sư đoàn 312 đều chỉ đạo các đơn vị tổ chức diễn tập nghiêm túc chặt chẽ. Qua đó, không chỉ nâng cao năng lực tổ chức, chỉ huy của cán bộ, mà còn nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là trình độ hiệp đồng chiến đấu giữa các phân đội. Trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Sư đoàn không ngừng được nâng lên, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Thứ năm, nâng cao chất lượng diễn tập chiến thuật Diễn tập là hình thức huấn luyện cao nhất, có ý nghĩa quan trọng trong rèn luyện, nâng cao năng lực chỉ huy của cán bộ chỉ huy các cấp, trình độ kỹ, chiến thuật và khả năng hiệp đồng chíên đấu của các bộ phận, trực tiếp góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 312 đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức diễn tập ở các cấp và xác định đây là một trong nhưng khâu đột phá trong đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện của Sư đoàn. Theo đó, cùng với chú trọng làm tốt công tác chuẩn bị diễn tập, cả về con người, vũ khí trang bị, cơ sở vật chất bảo đảm, Sư đoàn phải tích cực nghiên cứu, đổi mới nội dung, phương pháp diễn tạp; trong đó, chú trọng điều chỉnh, bổ sung nội dung bảo đảm sát với đối tượng, phương án, địa bàn, trong điều kiện địch sử dụng phổ biến vũ khí công nghệ cao; chỉ đạo thực hiện phương pháp "đạo theo diễn" trong một số giai đoạn diễn tập... Sư đoàn triển khai xây dựng đầu bài diễn tập chiến thuật vòng tổng hợp, chỉ huy - cơ quan trên bản đồ và ngoai thực địa, nhất là ở địa hình mới và đa dạng hình thức chiến thuật, phù hợp với tổ chức biên chế, trang bị, sự phát triển của tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ và ý định tác chiến của Sư đoàn. Trong diễn tập vòng tổng hợp, các đơn vị gắn thực hiện nội dung chiến thuật với tổ chức hành quân cơ động đường dài từ 80 - 100km, qua các địa hình phức tạp và tổ chức vượt sông đảm bảo sát với thực tế chiến đấu để rèn luyện thể lực, sức bền của bộ đội. Trước sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi Sư đoàn phải đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong hoạt động quân sự - quốc phòng, trong đó có hoạt động huấn luyện, diễn tập. Đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công nghệ thống tin vào diễn tập trước hết là diễn tập chỉ huy, cơ quan với việc sử dụng các phần mềm ứng dụng phục vụ tác chiến, như: Bản đồ kỹ thuật số mô phông 3D, các phần mềm hỗ trợ công tác tham mưu tác chiến, tính toán các chuyên ngành. Thực hiện được vấn đề này sẽ tạo bước đột phá trong diễn tập, khắc phục được hạn chế về thao trường, địa bàn diễn tập, huấn luyện cho người chỉ huy, cơ quan kỹ năng cần thiết về chỉ huy, tham mưu tác chiến trong kỷ nguyên số. Sư đoàn tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ công nghệ thống tin cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, đòi hỏi phải có sự quan tâm đầu tư của cấp trên cả về nhân viên chuyên môn, cơ sở hạ tầng, trang bị, phương tiện công nghệ thống tin hiện đại, đồng bộ. Thứ sáu, làm tốt công tác bảo đảm huấn luyện Thực tế cho thấy, muốn huấn luyện giỏi phải có thao trường tốt. Con người là quyết định nhưng vật chất bảo đảm, vũ khí trang bị, thao trường là những yếu tố rất quan trọng để huấn luyện đạt hiệu quả cao. Sư đoàn đóng quân phân tán trên địa bàn rộng quân số đông, nhiều đối tượng huấn luyện; kinh phí, cơ sở vật chất thao trường bãi tập so với yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu có nội dung còn hạn hẹp... Để giải quyết những khó khăn nêu trên, Sư đoàn đẩy mạnh phong trào thi đua "Phát huy sáng kiến cải tiến mô hình học cụ" và tổ chức hội thi ở các cấp đưa hàng trăm sáng kiến áp dụng vào huấn luyện đạt kết quả cao. Đồng thời bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực để cán bộ huấn luyện được theo phân cấp; tổ chức phát động thi đua "giờ học, ngày học thanh niên tự quản", "đôi bạn học tập", "đôi bạn cùng tiến", "tiểu đội huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm"... Cùng với đó, Sư đoàn còn tổ chức hàng trăm hội thi, hội thao theo phân cấp; tham gia tích cực hội thi: do Bộ Quốc phòng và Quân đoàn tổ chức. Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Hòa Bình là dịp để Sư đoàn 312 ôn lại truyền thống chiến đấu của đơn vị về những ngày tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954); đồng thời, nhận thức sâu sắc hơn về những bài học kinh nghiệm đã làm nên thắng lợi của chiến dịch để tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, có hiệu quả vào quá trình huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tại đơn vị. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:35:08 am SƯ ĐOÀN 304 TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá TRỊNH CA Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 Đại đoàn 304 (nay là Sư đoàn 304) thành lập ngày 10 tháng 3 năm 1950 với lực lượng nòng cốt từ các trung đoàn 9, 57, 66 và 68 - những đơn vị chủ lực của Liên khu 3, Liên khu 4, con em của những địa phương giàu truyền thống cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn đã được tôi luyện trong chiến đấu. Quá trình xây dựng và trưởng thành, Đại đoàn đã tham gia chiến đấu trên nhiều chiến trường ác liệt, cùng quân và dân các đơn vị, địa phương giành thắng lợi trong nhiều chiến dịch của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc. Chiến dịch Hòa Bình là một trong những sự kiện như vậy. Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung lực lượng lớn đánh chiếm Hoà Bình nhằm mục đích mở rộng khu vực chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, ngăn chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4. Sau khi đánh chiếm khu vực chợ Bến, ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân đánh chiếm thị xã Hòa Bình. Trước những hành động của địch, sau khi nghiên cứu tình hình, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng quyết định đề nghị Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đình chỉ mở chiến dịch ở Liên khu 3 và cho mở Chiến dịch Hoà Bình. Nhất trí với đề nghị trên, ngày 24 tháng 11, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22 CT/TƯ về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Trong chiến dịch này, Đại đoàn 304 được Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ đánh địch ở hướng thứ yếu trên mặt trận chính diện, phía Nam thị xã Hoà Bình, tiêu diệt các điểm cao và cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên Đường số 6, phối hợp với các đại đoàn 308, 312 hoạt động ở tuyến sông Đà và vùng thị xã Hoà Bình. Đảng ủy Đại đoàn nhận định: Ngoài tuyến vận chuyển trên sông Đà thì Đường số 6 là tuyến đường huyết mạch duy nhất của địch nối Hà Nội với Hòa Bình, địch sẽ giữ đoạn đường này bằng mọi giá, nhiệm vụ chiến dịch của Đại đoàn rất nặng nề. Để hoàn thành nhiệm vụ, Đại đoàn ủy chủ trương: Tập trung Trung đoàn 66 và Trung đoàn 9 trên dọc tuyến đường số 6. Trung đoàn 66 đảm nhiệm từ Chuộm đến Dốc Động, chú trọng vùng từ Đầm Huống về Đông Bái. Trung đoàn 9 chặn viện, diệt quân địch tuần tiễu, tiến đánh quân địch càn quét từ Chợ Bờ đến Ngã ba Chăm. Trung đoàn 57 đánh địch trên Đường số 21 từ Chợ Bến đến Xuân Mai, bảo đảm cạnh sườn phía Nam của mặt trận. Phương châm tác chiến được Đại đoàn quán triệt theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tư lệnh là: Đánh điểm, diệt viện, tùy theo điều kiện có thể vây điểm, diệt viện giải quyết trận đánh ngay trong đêm, nếu phải kéo dài thì tiếp tục tiêu diệt địch vào ban ngày, chuẩn bị đánh viện đường bộ, đường thủy, cơ giới, nhảy dù và không bỏ cơ hội diệt viện, ban đêm dù đánh bằng hình thức nào cũng phải nắm vững quyết tâm: Đánh thắng trận đầu, đánh chắc thắng và thắng liên tiếp, góp phần giành toàn thắng cho chiến dịch. Đúng thời gian quy định, sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, Đại đoàn 304 chiếm lĩnh trận địa, bí mật, an toàn và sẵn sàng chờ lệnh. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 352 (Trung đoàn 9) có sự phối hợp của 1 trung đội địa phương Hoà Bình tổ chức trận phục kích ờ Giang Mỗ, đoạn từ Hoà Bình đi Chợ Bờ, cách thị xã Hoà Bình khoảng 10km. Trận địa phục kích được Tiểu đoàn bố trí trong phạm vi hơn 1km. 10 giờ 30 phút, đoàn xe chở 1 đại đội Âu - Phi lọt vào trận địa, Tiểu đoàn 352 dùng ĐKZ và đại liên bắn mạnh vào đoàn xe, tạo điều kiện cho các đại đội xung phong. Sau 30 phút chiến đấu, 5 xe GMC và xe tăng bị phá hủy, hơn 1 đại đội Âu - Phi bị tiêu diệt và bị bắt. Trong trận này, Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan đã dũng cảm, mưu trí tiếp cận, dùng lựu đạn diệt xe tăng địch, mở đầu cách đánh xe tăng bằng lựu đạn của bộ đội ta. Sau những trận đánh của Đại đoàn trên Đường số 6 và Đường số 21, địch nhận thấy con đường huyết mạch của chúng bị uy hiếp mạnh nên đã thay đổi chiến thuật tiếp viện. Việc vận chuyển tiếp tế phải đi từng đoàn lớn, có máy bay, xe tăng thiết giáp hộ tống và pháo binh dọn đường. Vì vậy, để tiêu diệt địch, ta phải tổ chức đánh vào các cứ điểm, diệt những chốt quan trọng, buộc chúng phải tăng viện để ta đánh. Lúc này, Đảng ủy Đại đoàn đề ra phương châm tiêu diệt địch là: "Đánh điểm, mở đường diệt viện, chuẩn bị đánh lớn". Trung đoàn 57 và Trung đoàn 9 được lệnh tổ chức đánh một số cứ điểm dọc tuyến Đường số 6, Trung đoàn 66 sang phía Bắc phối hợp với đại đoàn bạn hoạt động ở phía Nam Ba Vì. Sau một số trận đánh ban đầu, Đảng ủy Đại đoàn hội ý và đề ra một số nội dung cần thiết: Một là, phải kịp thời rút kinh nghiệm sau các trận đánh, nhất là trận đánh cứ điểm trên đồi cao. Hai là, công tác chính trị phải làm cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt ý đồ và phương châm tác chiến trong đợt này của Đại đoàn, làm cho anh em tin là đánh được cứ điểm trên đồi cao và tìm ra cách đánh thích hợp nhất. Ba là, phải bố trí những cán bộ có năng lực tăng cường cho công tác hậu cần, củng cố các đội điều trị, dân công, tìm mọi cách bảo đảm sức khỏe bộ đội để chiến đấu được dài ngày. Bốn là, tập trung chỉ đạo Trung đoàn 57 tổ chức đánh tốt trận Đồi Mồi để rút kinh nghiệm chung. Bước vào trận đánh cứ điểm Đồi Mồi, ta có thuận lợi cơ bản là khu vực tác chiến nằm trong đội hình của Đại đoàn theo kế hoạch thống nhất, có sự kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trên toàn địa bàn nên buộc địch phải phân tán đối phó. Các đơn vị tham gia tác chiến trang bị tương đối hoàn chỉnh. Cán bộ chỉ huy có kinh nghiệm trong chiến đấu, kô cả đánh địch trong công sự và ngoài công sự. Địch tuy mạnh về pháo binh nhưng chúng có chỗ yếu là công sự sơ sài, tinh thần bạc nhược, ta có thể khắc phục bằng cách lợi dụng địa hình, bí mật, nhanh chóng áp sát, bất ngờ nổ súng. Đúng 1 giờ sáng ngày 29 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57 nổ súng, sơn pháo và cối của ta bắn trùm lên phía cửa mở xung kích, hình thành những mũi thọc sâu xung phong lên cứ điểm, đánh chiếm rùng lô cốt, cả đại đội Âu - Phi chiếm giữ cứ điểm Đồi Mồi bị tiêu diệt. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:35:47 am Ngày 31 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 400 (Trung đoàn 9) tiến công điểm cao Hàm Voi, tiêu diệt 1 trung đội Âu - Phi. Mất Đồi Mồi, Hàm Voi, hệ thống bảo vệ Đường số 6 của địch bị uy hiếp mạnh.
Theo sát tình hình, Đảng ủy - Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương: Chuyển mặt trận xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình, Đường số 6 là hướng chính, vùng Chẹ, Đá Chông, Ba Vì là hướng phụ. Tiêu diệt sinh lực địch, cắt Đường số 6 và mở rộng vùng sau lưng địch ở hướng chính, tiêu hao, kiềm chế cắt đường tiếp tế trên sông Đà, mở rộng mặt trận sau lưng địch ở Đá Chông, Chẹ, Bắc Ba Vì nhằm tiếp tục tiêu diệt sinh lực địch, thu hút và kiềm chế đối phương ở Hòa Bình để các mặt trận phối hợp và địch hậu có điều kiện phát triển mạnh. Chuẩn bị sẵn sàng để đánh tiêu diệt khi địch rút quân. Nhiệm vụ cụ thể của Đại đoàn 304 (thiếu) phụ trách Nam Đường số 6 và phía Nam thị xã, trọng tâm là Nam Đường số 6. Trước tình hình đó, Đại đoàn ủy - Bộ Tư lệnh Đại đoàn điều ngay Trung đoàn 66 đang ở Ba Vì và Trung đoàn 57 đang ở Đường số 21 về tập trung trên toàn tuyến Đường số 6. Đảng ủy Đại đoàn họp và nhận định: Sau thất bại trong đợt 1 chiến dịch của ta, quân địch đã thay đổi quy luật hoạt động. Các vị trí từ Bến Ngọc đến Xuân Mai, chúng bố trí từ 1 đại đội trở lên. Ở những vị trí chính như Đầm Huống, Gò Bùi, Đông Bái, địch đóng từ 2 đại đội và có xe tăng, pháo binh yểm trợ. Phương châm tác chiến của Đại đoàn lúc này vẫn là "đánh điểm, diệt viện" nhưng tùy theo tình hình cụ thể mà vận dụng cho phù hợp. Chấp hành chủ trương trên, các đơn vị tranh thủ thời gian hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho cuộc chiến đấu đợt 2 của chiến dịch. Trong 17 ngày đợt 2 của chiến dịch, các đơn vị trong Đại đoàn đã tổ chức 10 trận đánh trên Đường số 6, diệt 7 đại đội Âu - Phi tinh nhuệ, phá hủy 26 xe cơ giới, phá hỏng 5 khẩu pháo 105mm, giáng đòn mạnh vào tuyến vận chuyển trên Đường số 6, làm chủ nhiều đoạn đường, chặn đường tiếp tế của địch cho Hòa Bình. Đại đoàn cùng với các đơn vị bạn tham gia chiến dịch đã đẩy địch vào tình thế bị động, lúng túng, rối loạn. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc, âm mưu giành lại thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi hoàn toàn bị thất bại. Từ thực tế chiến đấu của Đại đoàn trong Chiến dịch Hòa Bình, có thể rút ra một số nét đặc sắc trong chỉ đạo tác chiến như sau: Một là, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, đánh giá sát đúng tình hình, xác định quyết tâm và phương án tác chiến chính xác Được giao nhiệm vụ tiến công địch ở hướng Nam Mặt trận Hoà Bình, Đại đoàn phải tiêu diệt các điểm cao và cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên Đường số 6, phối hợp với hướng Bắc do các đại đoàn 308, 312 hoạt động ở tuyến Sông Đà và vùng thị xã Hoà Bình. Hầu hết các cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ của Đại đoàn cơ bản đã được tôi luyện và trưởng thành trong khói lửa ác liệt của các chiến trường, với ý chí chiến đấu và quyết tâm cao giành thắng lợi trong chiến dịch. Nhận định về địch ở trận phục kích Cầu Dụ đến Hang Đá trên Đường số 6, ta xác định: Địch tuy tiến công ồ ạt nhưng vừa mới đến nên còn nhiều sơ hở, ta chọn được quãng đường có địa hình hiểm trở phục kích, nhất định đánh thắng. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 66 tổ chức phục kích đoạn đường giữa cứ điểm Pheo và Đồng Bến, cách thị xã Hoà Bình 15km về phía Đông Bắc, giấu quân cách Đường số 6 khoảng 500m và chỉ bố trí một bộ phận trinh sát bám đường để phát hiện địch. 11 giờ 45 phút, 30 chiếc xe ôtô của địch phủ kín bạt từ phía Xuân Mai đi lên, cùng lúc đó 4 ôtô chở binh lính từ thị xã Hoà Bình xuống đón đoàn xe tiếp tế cũng tới Cầu Dụ. Khi đoàn xe địch lọt vào trận địa phục kích, quân ta đồng loạt nổ súng. Sau đòn đánh phủ đầu, bộ binh ta từ hai bên đường đánh thẳng vào đoàn xe ôtô trên cả trận địa phục kích dài hơn 2km. Địch bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại bỏ chạy vào rừng hoặc chui vào gầm xe ôtô trốn. Chỉ trong vòng 20 phút, Trung đoàn 66 đã bắn cháy và phá hủy 34 xe, tiêu diệt 11 tên (trong đó có 2 tên quan hai), bắt 19 tên, thu 15 khẩu súng trường, 7 khẩu súng đại liên, 2 khẩu súng ngắn và nhiều quân trang, đạn dược. Nói về thắng lợi trận đầu ra quân của Đại đoàn, địch cũng phải thừa nhận: Ngày 2 tháng 12 năm 1951, một đoàn xe rơi vào ổ phục kích mạnh vùng Đồng Bến, ít nhất 20 xe bị đốt cháy và hư hại. Sau trận phục kích Cầu Dụ - Hang Đá, Bộ Tư lệnh Đại đoàn tổ chức rút kinh nghiệm. Cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên được triệu tập tại Trung đoàn 66. Hội nghị đã phân tích những nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và nhất trí kết luận: Thắng lợi của trận Cầu Dụ - Hang Đá là kết quả của công tác chọn và xây dựng trận địa phục kích thích hợp, là kết quả việc giữ bí mặt trận địa, tổ chức bám sát địch và nổ súng đúng thời cơ. Khi nổ súng, các tổ xuất kích nhanh chóng, hình thành nhiều mũi xung phong chia cắt quân địch, chặn đầu và khoá đuôi tốt, diệt gọn quân địch. Dù vậy, ta cũng gặp nhiều khó khăn: Địch đã chiếm các điểm cao có lợi, chiến trường của ta mới lạ, lượng công tác chuẩn bị lớn, thời gian gấp, chưa có kinh nghiệm tổ chức trận đánh cứ điểm trên đồi cao, một số cán bộ mới được đề bạt, trình độ tổ chức chỉ huy so với yêu cầu còn hạn chế. Khó khăn lớn nhất lúc này là phải khắc phục sự do dự, thiếu quyết tâm của cán bộ tiểu đoàn ảnh hưởng đến quyết tâm của các đại đội. Do yêu cầu nhiệm vụ đánh cứ điểm Đồi Mồi, để từng bước khắc phục khó khăn, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm chắc thắng, Đại đoàn ủy cử đồng chí Tham mưu trưởng Trung đoàn và đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 57 đi cùng Tiểu đoàn 418 chuẩn bị lại chiến trường, xây dựng kế hoạch và giải quyết những vướng mắc trên thực tế. Mọi công tác chuẩn bị chiến đấu được tiến hành tỷ mỷ, chu đáo, khí thế bộ đội nâng lên rõ rệt, ai cũng tin tưởng đánh thắng, nô nức lập công. Bên cạnh đó, cơ quan, đơn vị tập trung quán triệt giao nhiệm vụ đến từng cấp, tổ chức nghiên cứu nắm chắc tình hình các mặt (địch, ta, địa hình) bằng các phương tiện, biện pháp để kịp thời xác định quyết tâm chiến đấu; mặt khác khẩn trương hoàn thành kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị, công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong chiến đấu. Đại đoàn 304 đã sử dụng lực lượng phục kích, đánh thẳng vào đội hình cơ động của địch, kết hợp với lực lượng chặn đầu khóa đuôi chặt chẽ. Như vậy, với những nhận định đánh giá đúng về địch, thấy được hướng thuận lợi cơ bản của đơn vị và việc nắm chắc những vấn đề cơ bản tình hình trong khu vực tác chiến... thực sự là cơ sở vững chắc để Đại đoàn hạ quyết tâm chính xác, bảo đảm chắc thắng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:36:24 am Hai là, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng ý chí và quyết tâm chiến đấu cho bộ đội
Nhận yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, từ Đảng ủy, chỉ huy Đại đoàn đến cấp ủy cơ quan, đơn vị các cấp đã tiến hành làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, làm cho mọi quân nhân thấu suốt vai trò, tầm quan trọng, yêu cầu nhiệm vụ của mình trong chiến dịch; động viên cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khi gặp khó khăn trong phát triển chiến đấu, lãnh đạo, chỉ huy kịp thời động viên tư tưởng, xác định quyết tâm cho bộ đội, nhanh chóng khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong trận tiến công cứ điểm Đồi Mồi, cán bộ đại đội, tiểu đoàn còn do dự, khi chuẩn bị chiến đấu, trinh sát Tiểu đoàn 418 2 lần trinh sát Đồi Mồi đều gặp địch, bị thương vong, anh em cho là bị lộ, phần vì địch đã tăng cường bảo vệ, phần vì cán bộ tiểu đoàn đánh giá cao địch, Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh cho bộ đội nửa đường quay về, lấy lý do là trận đánh không bảo đảm và xin chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước Trung đoàn ủy. Bí thư Liên chi và Liên chi ủy Tiểu đoàn cũng đồng ý với đề nghị đó của Tiểu đoàn trưởng. Trước tình huống đó, Trung đoàn ủy Trung đoàn 57 triệu tập hội nghị từ cán bộ đại đội trở lên, quán triệt ý nghĩa của trận đánh, thống nhất phương châm đánh chiếm điểm cao, nghiên cứu kỹ phương án tiến công cứ điểm Đồi Mồi và kiểm điểm sự do dự, thiếu quyết tâm, đánh giá quá cao về địch của Tiểu đoàn 418. Tại Hội nghị, Trung đoàn ủy cũng phân tích, phê phán nghiêm khắc khuyết điểm do dự, thiếu quyết tâm, thiếu trách nhiệm của Liên chi ủy, đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của đồng chí Bí thư Liên chi và đồng chí Tiểu đoàn trưởng. Qua đó, cán bộ đại đội, tiểu đoàn đều thấy vị trí của trận đánh và khả năng tiến công làm chủ điểm cao, nâng cao rõ rệt khí thế chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Việc làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng làm cho mọi quân nhân thấu suốt yêu cầu, nhiệm vụ, khả năng hoàn thành, động viên cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngoài việc giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng ý chí quyết tâm, Đại đoàn chú trọng rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm chiến đấu qua từng trận đánh, nhất là kinh nghiệm chuẩn bị chiến dịch, tiến công các cứ điểm. Phát huy tốt yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến đấu là khâu quan trọng nhằm xây dựng sức mạnh tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn. Khi tổng kết Chiến dịch Hòa Bình, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã chỉ ra nguyên nhân: "Công tác lãnh đạo tư tưởng, động viên chính trị giải quyết được chu đáo như vậy đã nâng cao được quyết tâm của cán bộ tiểu đoàn và đại đội"... Ba là, đề ra nhiều phương án tác chiến, làm tốt công tác chuẩn bị bảo đảm chắc thắng, tiến công tiêu diệt các mục tiêu quan trọng buộc địch phải đưa quân ứng cứu, tạo điều kiện cho ta diệt địch Chuẩn bị cho Chiến dịch Hòa Bình, Đại đoàn 304 đã chuẩn bị nhiều phương án tác chiến để bộ đội tập luyện, sẵn sàng áp dụng khi có tình huống. Những đoạn đường hiểm yếu, ta đều tổ chức nghiên cứu bố trí trận địa, làm tốt công tác chuẩn bị, sẵn sàng lúc nào cũng có thể đánh được địch tăng viện, tiếp tế hoặc lùng sục dọc đường, như trận đánh ngày 2 tháng 12 năm 1951 của Trung đoàn 66 phục kích địch trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, cách thị xã Hòa Bình 15km về phía Đông Bắc, tiêu diệt 34 chiếc xe và toàn bộ quân địch. Đây là một trong những chiến thắng vang dội trên đất Hòa Bình trong những ngày đầu chiến dịch. Cũng trên Đường số 6, tại dốc Kẽm, ngày 11 tháng 12 năm 1951, 1 tiểu đoàn chủ lực cùng Tiểu đoàn 616, Đại đội 16 bộ đội địa phương và du kích xóm Dụ, xã Mông Hóa đã phục kích diệt 2 trung đội, phá hủy 11 xe, giải thoát trên 100 đồng bào bị giặc bắt đi làm phu. Từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn đã diệt 4 đoàn xe, phá hủy hơn 60 xe vận tải và thiết giáp, tiêu diệt hơn 3 đại đội tỉnh nhuệ của địch trên Đường số 6, Đường số 21, làm cho tiếp tế của địch trên đường bộ gặp khó khăn, góp phần tạo nên thế bao vây cụm cứ điểm Sông Đà - Hòa Bình, làm chủ Đường số 6, uy hiếp địch ở phía Nam. Nhận thấy việc vận chuyển trên Đường số 6 và Đường số 21 bị uy hiếp mạnh, địch cố phòng giữ bằng cách đốt trụi cây cối hai bên đường, rải quân canh gác nghiêm ngặt những quãng đường nghi ta tiến công. Việc vận chuyển tiếp tế phải đi từng đoàn lớn, có máy bay, xe tăng thiết giáp hộ tống và pháo binh dọn đường. Chấp hành mệnh lệnh của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Đại đoàn 304 tiếp tục hoạt động mạnh trên tuyến Đường số 6 và Đường số 21. Đảng ủy Đại đoàn nhận định: "Qua những hoạt động của ta, địch ráo riết tăng cường lực lượng để giữ vững tuyến vận chuyển quan trọng của chúng. Vì vậy, để tiêu diệt địch ta phải tổ chức đánh vào các cứ điểm, diệt những chốt quan trọng của chúng, buộc chúng phải tăng viện để ta đánh". Ngày 31 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 400 Trung đoàn 9 tiến công điểm cao Hàm Voi, tiêu diệt 1 trung đội Âu - Phi. Mất Đồi Mồi, Hàm Voi, hệ thống bảo vệ Đường số 6 của địch bị uy hiếp mạnh. Nắm vững tình hình sau 2 đợt tiến công, ngày 1 tháng 1 năm 1952, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: "Địch bị thất bại nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình gặp nhiều khó khăn, nhất là do tuyến vận tải trên sông Đã hoàn toàn tê liệt và Đường số 6 luôn luôn bị cắt đứt. Vì vậy, chúng có thể cố gắng chiếm giữ Hòa Bình nhưng hoàn cảnh khách quan cũng có thể buộc địch phải nghĩ đến việc rút quân". Thực hiện chủ trương của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Trung đoàn 9 và Trang đoàn 57, bám sát Đường số 6 chuẩn bị đánh địch rút chạy. Ngày 23 tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 9 tiêu diệt 2 đại đội địch ờ Thịnh Lang Ngoại, phá hủy 23 xe cơ giới. Tối cùng ngày, Trung đoàn tiếp tục tiêu diệt 30 tên, bắt 27 tên, thu 1 khẩu đại bác 57mm ở Rồng Vàng, Rồng Tằm, cách Xuân Mai 10km về phía Tây. Kết thúc Chiến dịch Hoà Bình, Đại đoàn 304 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hiệp đồng chiến đấu trong đội hình chung do Bộ Tổng Tư lệnh chỉ huy. Đại đoàn đã đánh hơn 30 trận, tiêu diệt 1.500 tên địch, phần lớn là lính Âu - Phi tinh nhuệ. Đồng thời, qua thực tế chiến đấu, công tác đảng, công tác chính trị, công tác tổ chức chỉ huy, hiệp đồng tác chiến đã có những bước chuyển biến rõ rệt. Tiếp nối truyền thống, vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm sâu sắc trong Chiến dịch Hòa Bình, Sư đoàn 304 đã tham gia nhiều chiến dịch tiếp sau trong cả 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng, viết tiếp truyền thống "Thần tốc, táo bạo, quyết thắng" của Quân đoàn 2 anh hùng. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu, việc vận dụng các bài học kinh nghiệm của Sư đoàn trong hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành luôn là một nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng. Kế thừa và phát triển truyền thống đỏ, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn luôn linh hoạt, nhận định đánh giá đúng tình hình, đề ra các chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện khoa học, hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:38:06 am ĐẠI ĐOÀN 320 ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN Ở ĐỒNG BẰNG LIÊN KHU 3 PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá LÊ KHẮC ĐỘ Phó Sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn 320 Với Chiến thắng Hòa Bình, quân và dân ta đã đánh bại âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do của ta, phá vỡ ý đồ giành lại quyền chủ động của địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, bảo đảm giao thông liên lạc thông suốt giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Trong chiến dịch này, cùng với hướng chính diện ở Hòa Bình, ta mở mặt trận mới - mặt trận sau lưng địch chủ yếu là trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Đây chiến dịch đầu tiên ta hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa mặt trận chính diện và sau lưng địch, khẳng định nghệ thuật chỉ đạo tác chiến tài tình sáng tạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong thắng lợi chung của Chiến dịch Hòa Bình, hoạt động tác chiến của Đại đoàn 3201 (Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) là 1 trong 6 đại đoàn bộ binh chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 16 tháng 1 năm 1951 tại đình Mông Lá, xã Yên Quang, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay là Sư đoàn bộ binh 320, đơn vị trực thuộc Quân đoàn 3, đóng quân tại xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Sư đoàn bộ binh 320 được Đảng, Nhà nước 2 lần phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) ở đồng bằng Liên khu 3 có đóng góp rất quan trọng. Tham gia Chiến dịch Hòa Bình, cùng với các đại đoàn chủ lực trên hướng chính diện, Đại đoàn 320 được giao nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích hoạt động tác chiến ở các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên. Ngay khi địch mở cuộc hành binh Tuylíp chiếm được Chợ Bến, Đồi Sim, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 320 đánh địch từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà và 2 bên tả, hữu ngạn sông Đà nhằm ngăn chặn, phá thế tiến công của địch và tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực triển khai đội hình chiến dịch. Ngày 16 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 320 lệnh cho Trung đoàn 64 tiến công địch ở Tử Đền, tiêu diệt và bắt toàn bộ 2 đại đội Âu - Phi thuộc Tiểu đoàn lê dương số 2, Trung đoàn lê dương số 3. Tiếp đó, đêm 23 tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 48 tiến công địch ở Đồi Sim, tiêu diệt và bắt 2 đại đội, thu nhiều súng đạn và phương tiện chiến tranh của địch. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn. Tại mặt trận sau lưng địch, từ đêm mùng 9 tháng 12 năm 1951, đợt hoạt động tác chiến phối hợp với mặt trận chính diện Hòa Bình chính thức bắt đầu. Thực hiện kế hoạch tác chiến, Đại đoàn 320 sử dụng Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn, tập trung tác chiến ở hướng thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình mở đầu đợt hoạt động. Với phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục đánh địch" nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, Trung đoàn 48 được giao nhiệm vụ tiến công vào thị trấn Phát Diệm và Trung đoàn 52 phục kích địch ở khu vực Yên Ninh ngăn chặn, tiêu diệt viện binh của chúng từ Phước Nhạc xuống; Trung đoàn 64 hoạt động mạnh ở Hà Nam. 3 giờ sáng ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 phối hợp lực lượng du kích tiến công Phát Diệm, san phắng 10 vị trí, diệt và bắt 875 tên, thu 186 súng và phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh khác của địch, giải phóng thị trấn Phát Diệm. Phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 và bộ đội địa phương huyện Yên Khánh tổ chức phục kích địch từ Chùa Cao (Vân Đồng) và Phúc Nhạc ứng cứu cho thị trấn Phát Diệm, diệt gọn 2 đại đội địch. Kết hợp với đòn tiến công chính của Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 ờ Phát Diệm, Yên Ninh, Yên Thổ; lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích các huyện Yên Mô, Gia Viễn, Gia Khánh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tỉnh ủy và Tỉnh đội Ninh Bình liên tục bao vây, quấy rối, kiềm chế các vị trí địch ờ Chợ Trung, Phúc Nhạc, Bình Hải, Dưỡng Điềm, Đò Mười, Bình Hòa làm cho binh lính địch hoảng loạn, rút chạy ở các vị trí Tuy Lộc, Lộc Bà, Bình Sa. Trên hướng Hà Nam, chiều ngày 8 tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 64 phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Hà Nam tiến công tiêu diệt căn cứ Ngô Khê - cứ điểm trọng yếu của địch nằm án ngữ Đường số 22, kề sát sông Đào, do 1 đại đội ngụy đóng giữ nhằm mở thông con đường liên lạc giữa 3 huyện Lý Nhân, Bình Lục và Duy Tiên sang các tỉnh vùng tả ngạn sông Hồng. Trên hướng Ninh Bình, Trung đoàn 48 tiếp tục đẩy mạnh tiến công, phá vỡ vành đai địch xung quanh thị trấn Phát Diệm. Đêm 15 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 sử dụng Tiểu đoàn 771 (Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 48 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 1, Trung đoàn bộ binh cơ giới 48) được tăng cường 4 khẩu pháo của Tiểu đoàn công pháo 8342 (Tiểu đoàn công pháo 834 là đơn vị tiền thân của Trung đoàn pháo binh 54, Sư đoàn bộ binh 320) tiến công Yên Mô Thượng, tiêu diệt và bắt toàn bộ 1 đại đội địch chiếm giữ ở đây; trưa ngày 16 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 tiếp tục sử dụng Tiểu đoàn 5233 (Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 2, Trung đoàn bộ binh cơ giới 48) phục kích 2 đại đội của Tiểu đoàn Âu - Phi số 22 từ thị trấn Phát Diệm ra tiếp viện cho Yên Mô Thượng ở Xuân Thành, tiêu diệt và bắt 180 lính Âu - Phi. Phối hợp với quân chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích tỉnh Ninh Bình cũng bao vây, đánh chiếm các vị trí Dưỡng Điềm, Đò Mười, Cầu Xanh. Được thắng lợi quân sự cổ vũ nhân dân trong vùng đồng loạt nổi dậy quét tề, diệt gian, xây dựng củng cố khu du kích 13 xã thuộc huyện Kim Sơn, nối liền với các khu du kích Khánh Thiện, Khánh Trung thuộc huyện Yên Khánh. Cuối tháng 12 năm 1951, trong khi Mặt trận Hòa Bình vẫn đang tiếp diễn và đã thu được những thắng lợi quan trọng sau 2 đợt tiến công; ở mặt trận sau lưng địch, Đại đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đã mở rộng được vùng giải phóng, tạo được bàn đạp đứng chân vững chắc ở Ninh Bình Theo đó, Trung đoàn 64 đưa Tiểu đoàn 7221 (Tiểu đoàn 722, Trung đoàn 64 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 7, Trung đoàn bộ binh 64) về huyện Ý Yên, Bắc Bình Lục và Vụ Bản; Tiểu đoàn 7062 (Tiểu đoàn 706, Trung đoàn 64 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 8, Trung đoàn bộ binh 64) về 2 huyện Bình Lục và Duy Tiên; Tiểu đoàn 7383 (Tiểu đoàn 738, Trung đoàn 64 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 9, Trung đoàn bộ binh 64) về huyện Lý Nhân hoạt động tác chiến, làm nòng cốt cho bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:38:57 am Để phối hợp với hướng chính trong đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch, Đại đoàn 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch hậu phía Nam Nam Định, phối hợp cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, chuẩn bị vượt sông Hồng đánh sang vùng tả ngạn. Đêm 28 và ngày 29 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn lệnh cho Trung đoàn 52 (gồm Tiểu đoàn 3374 (Tiểu đoàn 337, Trung đoàn 52 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 4, Trung đoàn bộ binh 52), Tiểu đoàn 391) và Tiểu đoàn 523 Trung đoàn 48 vượt sông Đáy, phát triển sang 2 huyện Nghĩa Hưng và Nam Trực (tỉnh Nam Định). Để lấy chỗ đứng chân ở địa bàn hoạt động mới, Đại đoàn 320 lệnh cho Trung đoàn 52 sử dụng Tiểu đoàn 337 phối hợp du kích địa phương tiến công tiêu diệt đồn Hải Lạng và đồn Phù Sa thuộc huyện Nghĩa Hưng, Tiểu đoàn 3911 (Tiểu đoàn 391, Trung đoàn 52 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 6, Trung đoàn bộ binh 52) tiến công tiêu diệt đồn Nam Trực và đồn Ngọc Tĩnh, những thắng lợi trên đã tạo điều kiện cho 6 huyện ở phía Nam tỉnh Nam Định đẩy mạnh hoạt động diệt tề trừ gian, phát triển chiến tranh du kích.
Đầu tháng 1 năm 1952, Hội nghị Đảng ủy Đại đoàn 320 mở rộng đã đề ra chủ trương tác chiến "đưa toàn Đại đoàn vào hoạt động nội tuyến, trong đó phần lớn lực lượng sang tả ngạn sông Hồng, biến hậu tuyến của địch thành tiền phương của ta". Đảng ủy Đại đoàn quyết định đưa Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 tiến sang hoạt động ở vùng tả ngạn sông Hồng. Tư tưởng tác chiến là: "Tích cực, chủ động, phân tán, cơ động linh hoạt, chú trọng đánh gần". Sau khi phát hiện chủ lực của ta ở Nam Định, địch vội vã rút Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) ở Mặt trận Hòa Bình về nhằm tiêu diệt Trung đoàn 52. Trung đoàn 52 đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân địa phương dựa vào các lũy tre làng, đào công sự, kiên quyết đánh chặn địch. Đêm mùng 4, rạng ngày 5 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 52 sử dụng Tiểu đoàn 337 tiến hành phục kích trên Đường số 21, đoạn qua Đỗ Xá, Nam Trực, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 40 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, đốt cháy 2 xe GMC. Tiếp đó, Trung đoàn 52 đưa Tiểu đoàn 337 cơ động sang huyện Hải Hậu đánh địch, hỗ trợ địa phương mở khu du kích liên hoàn Nghĩa Hưng - Nam Trực. Ngay khi đặt chân đến khu vực hoạt động mới, đêm mùng 8 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 337 tiến công tiêu diệt đồn Văn Đàn, mở đầu cho phong trào phá tề, trừ gian trong toàn huyện Hải Hậu. Trong hơn 2 tuần tiếp theo, Trung đoàn 52 và lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích đã đập tan 28 đồn bốt địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 800 tên ngụy binh, dân vệ; xóa 15 đội "hương dũng" khoảng 300 tên; thu 500 vũ khí các loại; quét sạch 64 ban tề, đưa chính quyền cách mạng ra hoạt động công khai. Để kịp thời phối hợp với chủ lực trên hướng chính diện Hòa Bình, Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng lệnh cho Đại đoàn 320 vượt sông Hồng tiến về đánh địch ở Thái Bình. Để nghi binh, tạo điều kiện cho đội hình của Đại đoàn vượt sông, Trung đoàn 64 được lệnh phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh các hoạt động tác chiến ở Hà Nam, phía Bắc tỉnh Nam Định, thu hút Binh đoàn cơ động số 4 và thủy binh địch về bến Nhật Tảo, xã Nhân Hưng, huyện Lý Nhân. Nắm thời cơ, đêm 13 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 tổ chức cho các đơn vị còn lại hình thành 2 cánh vượt sông Vạc, sông Đáy, sau đó vượt sông Hồng tiến vào Thái Bình. Đêm 17 tháng 1 năm 1952, gồm: Cánh thứ nhất, Đại đoàn bộ và một bộ phận của Trung đoàn 48 được địa phương giúp đỡ vượt sông Hồng lên đất Vũ Tiên Thái Bình. Ngay sau khi đặt chân lên đất Thái Bình, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 48 phối hợp với du kích địa phương đã tổ chức trận phục kích ờ đoạn Thanh Nê - Phương Ngãi, tiêu diệt 1 trung đội lính Âu - Phi. Tiếp đó, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 48 tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở vị trí An Bồi, Tiền Hải và Đông Hưng, hỗ trợ phong trào du kích 2 huyện Kiến Xương và Tiền Hải đẩy mạnh hoạt động. Đêm 18 tháng 1 năm 1951, cánh thứ hai gồm: Lực lượng còn lại của Trung đoàn 48, Trung đoàn 52, Tiểu đoàn sơn pháo 834, Tiểu đoàn phòng không Mai Đà vượt sông Hồng ở bến Cổ Lễ nhưng bị địch phát hiện, ta nhanh chóng triển khai đội hình đánh địch bảo vệ đội hình nên chưa sang được Thái Bình. Thực hiện chủ trương của Đại đoàn: "Đánh địch mở đường mà đi", từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn sơn pháo 834 đánh các trận ở Hoành Nha, Hoành Lộ (Giao Thủy, Nam Định), diệt hơn 200 tên, bắt 40 lính Âu - Phi và 90 lính ngụy binh, phá hủy 18 xe cơ giới, giải thoát 30 đồng chí của ta và nhiều người dân bị địch bắt. Đêm 25 tháng 1 năm 1952, cánh quân thứ hai của Đại đoàn vượt sông Hồng tiến sang Thái Bình. Đến ngày 31 tháng 1 năm 1952, tại thôn Kinh Nhuế, huyện Kiến Xương, tình Thái Bình, Liên khu ủy Liên khu 3 tổ chức cuộc họp do đồng chí Đỗ Mười - Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn và đồng chí Văn Tiến Dũng - TƯ lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 chủ trì, quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn, thông qua kế hoạch tác chiến gồm 3 bước: Bước 1: Tập trung mở rộng khu Căn cứ phía Nam sông Trà Lý; bước 2: Phát triển lên Bắc sông Trà Lý và 3 huyện Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân (tỉnh Thái Bình); bước 3: Chuyển địa bàn hoạt động sang các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ (tỉnh Hưng Yên) và Nam huyện Thanh Miện, Bắc huyện Ninh Giang (tỉnh Hải Dương) tiêu diệt địch, mở rộng căn cứ du kích, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, phá ngụy quyền, ngụy quân trong vùng địch tạm chiến. Đồng thời, xác định phương châm tác chiến là: "Kết hợp chặt chẽ ba thứ quân, đánh điểm diệt viện, vây điểm diệt viện, kết hợp quân sự với địch vận rộng rãi". Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn, Đại đoàn 320 quyết định tiến công vào hệ thống đồn bốt địch ở huyện Kiến Xương và huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình). Mở đầu đợt hoạt động tác chiến, đêm 31 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 sử dụng 2 tiểu đoàn (77 và 523) thuộc Trung đoàn 48, được tăng cường Tiểu đoàn Công pháo 834 tiêu diệt bốt La Cao. Hòa với tiếng súng của Đại đoàn, lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt tiến công bức rút 9 vị trí địch, giải phóng huyện Tiền Hải rồi phát triển sang Nam huyện Kiến Xương và huyện Vũ Tiên. Tiếp đó, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 337 Trung đoàn 52 và Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 vượt sông Trà Lý sang vùng Thần Đầu, Thần Huống (huyện Thái Ninh) đánh địch. Với cách đánh linh hoạt, sáng tạo, chỉ trong 3 ngày, hàng chục đồn bốt nhỏ và tháp canh của địch ờ Thần Đầu, Thần Huống bị quét sạch, ta thu hàng trăm súng các loại. Trong vùng, địch chỉ còn lại 3 đồn lớn chưa bị diệt là Chợ Mới, Chợ Cổng và Văn Hàn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Chín, 2023, 07:39:28 am Để mở rộng vùng giải phóng, tạo khí thế tiến công địch mạnh mẽ hơn, đêm mùng 7, rạng sáng ngày 8 tháng 2 năm 1951, Đại đoàn 320 lệnh cho Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 337 Trung đoàn 52 và Tiểu đoàn công pháo 834 tiến công bốt Chợ Cổng. Sau 1 giờ chiến đấu, ta làm chủ đồn địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 130 tên địch, trong đó có 5 chỉ huy người Phap, thu 1 khẩu pháo 105mm và 300 viên đạn pháo 2 súng cối 81mm, 7 đại liên và trên 100 súng các loại. Tiếp đó, Đại đoàn lệnh cho Tiểu đoàn công pháo 834 dùng ngay khẩu pháo 105mm vừa thu được bắn vào bốt Chạ Mới. Bị pháo ta bắn trúng, tên chỉ huy bị diệt ngay tại chỗ, thông tin liên lạc bị mất, bọn địch hoang mang kéo cơ trắng xin hàng. Được chiến thắng Chợ Cổng, Chợ Mới cổ vũ khí thế tiến công địch của quân và dân bên bờ Bắc sông Trà Lý dâng cao. Quân địch đồn trú trong nhiều đồn bốt nhỏ lân cận như: Xuân Hòa, Danh Giáo, Đồng Chanh, Xuân Hải, Cống Cất, Đồng Tỉnh, Sơn Thọ, Các Động và Bích Du đã nhanh chóng kéo cờ trắng xin hàng khi ta vừa nổ súng tiến công.
Trước sức tiến công liên tục, dũng mãnh của ta, ngày 9 tháng 2 năm 1952, địch điều Binh đoàn cơ động số 4 từ thị xã Thái Bình đi giải vây cho các vị trí dọc Đường số 218 (Thái Ninh). Đại đoàn 320 lệnh cho Trung đoàn 52 sử dụng Tiểu đoàn 391 phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương dựa chắc vào công sự lũy tre làng anh dũng chiến đấu, kiên quyết chặn dịch, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công trực diện và phục kích, đánh thiệt hại nặng Binh đoàn cơ động so 4, tiêu diệt 126 tên, bắt 18 tên, hầu hết là lính Âu - Phi. Chiều cùng ngày, địch ở đồn Đổng Lương sợ hãi xin hàng. Sau đợt hoạt động khẩn trương sôi nổi ở phía Nam tỉnh Thái Bình, để mở rộng vùng giải phóng, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 48 vượt Đường số 10 cơ động lên tác chiến ở các huyện Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân. Riêng Tiểu đoàn 523 hoạt động ở phía Bắc Thái Bình đã tiêu diệt 5 vị trí: Buộm, Dốc Văn, Phú Vật, Mỹ Đình, Cúc Đình và hỗ trợ cho bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt một số vị trí khác, vùng giải phóng 4 huyện phía Bắc tỉnh Thái Bình được mở rộng. Ở Hà Nam, thực hiện chủ trương đẩy mạnh hoạt động tác chiến trong vùng địch hậu. Đêm mùng 6, rạng sáng ngày 7 tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 64 sử dụng Tiểu đoàn 722 phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt đại đội biệt kích ở Lạc Tràng (Phủ Lý), diệt và bắt hơn 100 tên, thu nhiều vũ khí. Tiếp đó, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 64 đưa Tiểu đoàn 706 vượt sông Hồng sang tả ngạn, tiêu diệt vị trí Đào Thành, với mục đích mở cống lấy nước sông Luộc cứu 3 vạn mẫu lúa đang bị khô héo thuộc 3 huyện Tiên Hưng, Duyên Hà và Hưng Nhân (tình Thái Bình). Trước nguy cơ hàng loạt đồn bốt bị tiêu diệt, địch huy động 2 binh đoàn cơ động số 4 và 7 mở cuộc càn "Mưa phùn" đánh vào khu du kích phía Nam sông Trà Lý, sau đó đánh sang Thụy Anh, Thái Ninh, ngăn chặn chủ lực ta phát triển lên phía Bắc tỉnh Thái Bình. Trước tình hình đó, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 337, Trung đoàn 52 chặn đánh cuộc càn của địch. Từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 2 năm 1952, các đơn vị đã triển khai đội hình, chặn đánh quyết liệt địch ở Quảng Lạc, Ô Trình, Hoành Sơn, Hạ Đồng, Vị Dương, Vị Thủy, diệt 300 tên địch, bảo vệ được nhân dân và địa bàn. Bị đòn đau, ngày 20 tháng 2 năm 1952, địch huy động một lực lượng khá đông bộ binh, có máy bay, xe thiết giáp yểm trợ quyết bao vây "cất vó" Tiểu đoàn 337, Trung đoàn 52 ở làng Hạ Đồng (Hồng Hưng, Thụy Anh) nhưng bị Tiểu đoàn 337 và dân quân du kích địa phương kiên quyết ngăn chặn, đánh bật các đợt tiến công liên tiếp của chúng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Bị ta đánh thiệt hại nặng, địch buộc phải rút lui, chấm dứt trận càn "Mưa phùn". Trước các đòn tiến công mạnh của ta ở cả mặt trận chính diện Hòa Bình và thắng lợi lớn ở mặt trận sau lưng địch đã làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, ngày 23 tháng 2 năm 1952, quân địch rút chạy khỏi Hòa Bình. Đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Trong Chiến dịch Hòa Bình, hướng chính diện và mặt trận sau lưng địch đã phối hợp chặt chẽ về thời gian, chọn mục tiêu hiểm yếu; các lực lượng phối, kết hợp tiến công đồng loạt vào nhiều mục tiêu ở 2 chiến trường cách xa nhau làm cho lực lượng của địch bị căng kéo giữa 2 mặt trận, đối phó lúng túng, bị động, không thể chi viện, ứng cứu cho nhau. Nét đặc sắc của chiến dịch còn thể hiện ở nghệ thuật chỉ đạo phối hợp tác chiến nhịp nhàng giữa 2 mặt trận. Do vậy, ngay từ đầu chiến dịch, địch đã nhiều lần phải điều 2 binh đoàn cơ động số 4 và 7 liên tục cơ động giữa 2 chiến trường, không những không phát huy được hiệu quả của vũ khí hiện đại mà còn bị hao tổn sinh lực. Đây là bước phát triển mới rất quan trọng về nghệ thuật quân sự của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đại đoàn 320 dưới sự chỉ huy của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn đã vận dụng tốt và phát triển nghệ thuật tác chiến là "đánh điểm, diệt viện" lên một tầm cao mới; đã vận dụng, kết hợp chặt chẽ linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật tiến công địch phòng ngự, vận động tiến công, phục kích, tập kích; kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, giành nhiều thắng lợi quan trọng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Những bài học và kinh nghiệm quý báu được đúc rút ra trong Chiến dịch Hòa Bình, đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học có được từ hoạt động tác chiến ở vùng sau lưng địch là cơ sở quan trọng đê Sư đoàn 320 tiếp tục nghiên cứu, vận dụng phát triển trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, xây dựng Sư đoàn có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu ngày càng cao; tiếp bước cha anh lập nên những kỳ tích mới, tô thắm truyền thống "Đoàn kết - Nghiêm túc - Dũng cảm - Chiến thắng" của Đại đoàn Đồng Bằng anh hùng; cùng quân và dân Tây Nguyên xây dựng địa phương ngày càng giàu mạnh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 11:49:26 am ĐẠI ĐOÀN 316 TRÊN CHIẾN TRƯỜNG PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thượng tá CHU VĂN THÀNH Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316, Quân khu 2 Sư đoàn 316 (tiền thân Đại đoàn 316) - một trong những Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951 tại làng Cốc Lùng, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Sư đoàn 316 đã tham gia chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước, lập nhiều chiến công, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Trong những trang vàng truyền thống chói lọi đó không thể không kể đến những đóng góp của Sư đoàn 316 trong Chiến thắng Hòa Bình. Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hoà Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực, phá sự chuẳn bị tiến công Thu - Đông của ta. Từ ngày 9 đến ngày 14 tháng 11 năm 1951, địch liên tiếp mở 2 cuộc hành quân quy mô lớn đánh chiếm Chợ Bến và thị xã Hòa Bình. Đánh giá tình hình và âm mưu của địch, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định, địch đánh ra Hòa Bình có gây khó khăn cho ta, nhưng đây là cơ hội để ta tổ chức đánh địch tốt buộc chúng phải phân tán, để lộ nhiều sơ hở. Theo đó, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên 2 mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hoà Bình đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Trong đó, Đại đoàn 316 cùng với Đại đoàn 320 được giao nhiệm vụ tiến công vùng sau lưng địch nhằm tiêu hao, giam chân, căng kéo lực lượng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Thực hiện nhiệm vụ đó, ngày 20 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 316 được tăng cường thêm Trung đoàn 246, cơ động về Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Đây là địa bàn có vị trí hết sức quan trọng, có hệ thống giao thông thủy bộ đa dạng, địch có điều kiện phát huy những thế mạnh và chúng đã xây dựng được một hệ thống đồn bốt dày đặc. Tuy nhiên, địch cũng bộc lộ những sơ hở và chủ quan, lực lượng tương đối mòng, về phía ta lại có những thuận lợi là nguồn nhân lực, vật lực có thể cung cấp và bổ sung tại chỗ; hơn nữa, nơi đây trải qua quá trình chiến đấu kiên cường, nhiều khu du kích, làng chiến đấu tiêu biểu đã ra đời như ờ Yên Dũng, Quế Võ, Lang Tài... Trước những nhận định đánh giá tình hình giữa địch và ta cũng như yêu cầu nhiệm vụ được giao, Đại đoàn 316 xác định nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị trực thuộc và phối thuộc như sau: Trung đoàn 98 có nhiệm vụ tiến vào Bắc Ninh, lấy khu du kích Tiên - Quế - Võ làm nơi đứng chân và phối hợp với lực lượng địa phương tiến công địch ở một số đồn, tạo đà phát triển chiến tranh du kích và võ trang tuyên truyền; Trung đoàn 176 hoạt động tại Lạng Giang, Lục Ngạn bảo vệ liên lạc giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm qua tuyến Đường số 13; Trung đoàn 174 được tăng cường 1 tiểu đoàn phòng không và 1 tiểu đoàn sơn pháo tiến sang Vĩnh Phúc đánh địch, tạo điều kiện cho Trung đoàn 98 đánh địch ở tuyến trong, đồng thời là lực lượng đự bị của đại đoàn. Trong giai đoạn này, Sở Chỉ huy cơ bản của Đại đoàn được đóng ở Bắc Giang do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách; Sở Chỉ huy Tiền phương do đồng chí Chu Huy Mân phụ trách cùng đi với các trung đoàn vào vùng sau lưng địch. Đây là lần đầu tiên Đại đoàn 316 ra quân với một lực lượng lớn, từ rừng núi xuống trung du, đồng bằng, hoạt động sâu sau lưng địch, vừa đánh vừa làm công tác tuyên truyền vận động, phát triển chiến tranh du kích. Trên hướng Vĩnh Phúc, Trung đoàn 174 đã giành được chiến thắng vang dội đánh vào cứ điểm Larivê, chặt đứt một mắt xích trong hệ thống boongke phòng thủ của địch ở "vành đai trắng", cổ vũ và tăng thêm sức mạnh, khả năng tác chiến của lực lượng ta; gây cho địch lúng túng, hoài nghi, tạo điều kiện cho các hướng chiến dịch phát triển thuận lợi. Trên hướng Bắc Giang, Bắc Ninh, cuối tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 98 bắt đầu lên đường gấp rút tiến về thôn Trừng Xá (vị trí tập kết) làm công tác chuẩn bị tiến công đồn Thứa và Lang Tài. Đồn Thứa đã được xây dựng và củng cố nhiều lần tương đối vững chắc. Lực lượng địch trong đồn có 1 đại đội quân ngụy và hơn 1 trung đội bảo an. Sau khi làm công tác chuẩn bị, đúng 2 giờ ngày 10 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 215 do đồng chí Nguyễn Đức Y - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, phát lệnh nổ súng. Chỉ trong một thời gian ngắn trận đánh đã giành thắng lợi. Toàn bộ lính trong đồn Thứa bị tiêu diệt và bắt gọn, trong đó có tên quan ba người Pháp. Ta thu được nhiều vũ khí, trang bị. Sau chiến thắng, lòng tin của nhân dân lại càng được củng cố, tạo điều kiện cho đơn vị tiệp tục hoạt động và chiến đấu. Đến cuối tháng 12, Trung đoàn 98 tiếp tục đánh địch ở Phù Ninh, Định Mỗ, Phương Xá, Ruôi... gây cho địch tổn thất nặng nề, buộc chúng phải co cụm, không dám hoạt động. Ở hướng Bắc Giang, Trung đoàn 176 hoạt động ở Trại Mít, Quất Lâm cũng giành được nhiều thắng lợi to lớn. Sau 1 tháng chiến đấu ở vùng sau lưng địch, Đại đoàn 316 đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Vùng giải phóng gồm 3 huyện Gia Bình, Lang Tài và Thuận Thành (Bắc Ninh) được nối liền tạo thành thế liên hoàn vững chắc, phong trào du kích phát triển mạnh, cơ sở kháng chiến được củng cố. Ngày 15 tháng 12 năm 1951, Sở Chỉ huy Tiền phương của Đại đoàn cùng Trung đoàn 174 cơ động vào Bắc Ninh. Trung đoàn 174 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 215 đánh Cầu Ngà, Tiểu đoàn 255 đánh Phố Mới. Đến đầu năm 1952, Trung đoàn 174 chuyển xuống hoạt động ở Nam Bắc Ninh, thực hiện đánh những trận chắc thắng ở các vị trí địch trên Đường số 20, Vân Trai, Đam Trai, Kênh Vàng... Vùng giải phóng được mở rộng từ Gia Lương đến bờ sông Thái Bình, tạo điều kiện phát triến sang hướng Nam Sách (Hải Dương). Ngày 14 tháng 1 năm 1952, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng chỉ thị cho Đại đoàn 316 tiếp tục đẩy mạnh hoạt động trong vùng sau lưng địch, chuẩn bị mọi mặt để đập tan các cuộc càn quét lớn của địch. Chấp hành mệnh lệnh của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng, Trung đoàn 174 vượt sông Thái Bình sang Nam Sách phối hợp chiến đấu với chủ lực Quảng Yên. Ngay trong đêm ngày 24 tháng 1 năm 1952, ta diệt hai vị trí An Dật và Vạn Tải, sau đó lại vượt sông trở về Bắc Ninh. Trong lúc Tiểu đoàn 249 và Tiểu đoàn 255 đánh địch ở Nam Sách thì Tiểu đoàn 251 chuẩn bị đánh Thuận Thành. Tối ngày 25 tháng 1 năm 1952, ta nổ súng tiến công (đúng vào đêm 30 Tết) và giành thắng lợi sau 28 phút chiến đấu. Cũng trong thời gian này, Trung đoàn 98 bao vây bức hàng địch ở Mao Điền bên bờ sông Đuống, thu 30 súng, giải tán 80 nhân viên ngụy quyền mới về tập trung ở đồn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 11:59:52 am Ngày 27 tháng 1 năm 1952, dưới sự chỉ huy của đồng chí Chu Huy Mân, Trung đoàn 98 và Trung đoàn 174 triển khai lực lượng ở phía Đông Đường số 38. Địch ở Thiên Thai bị vây hãm, sau một tuần phải xin cứu viện ở Hà Nội. Trước các đợt hoạt động của ta, quân Pháp phải chấm dứt cuộc càn quét ở Nam Sách, dồn quân về Cẩm Giàng để giải vây cho Thiên Thai. Ngày 7 tháng 2, địch dùng 100 xe cơ giới chở 3 tiểu đoàn đánh vào Nghi An, Cửu Cáp nhưng bị ta chặn đánh, buộc chúng phải co cụm về Trạm Trai, Lạc Thổ.
Đầu tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tham mưu chỉ rõ vai trò quan trọng của chiến trường sau lưng địch với Mặt trận Hòa Bình đồng thời giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 316 tiếp tục đẩy mạnh đánh địch, mở rộng địa bàn hoạt động. Chấp hành chỉ thị đó Đại đoàn 316 chủ trương sử dụng Trung đoàn 174 và Trung đoàn 98 tiếp tục đánh địch ở Bắc Ninh, đồng thời mở rộng địa bàn sang Hưng Yên, Hải Dương. Trung đoàn 176 (tăng cường Tiểu đoàn 888) tiến sâu vào Vĩnh Phúc. Trung tuần tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 98 tiến về Tiên Du, Từ Sơn. Đây là địa bàn quan trọng giáp Hà Nội, địch còn khống chế được dân, cơ sở của ta còn yếu. Vào đến Tam Sơn, các đơn vị của ta đang đào công sự thì một trung đội bảo an có tên quận trưởng Từ Sơn cùng đi tiến vào làng. Ta khẩn trương tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Bị bất ngờ, địch bị ta vây bắt gần hết, số còn lại tháo chạy. Sau đó, chúng cho máy bay trinh sát và bắn pháo vào làng nhưng vẫn không phát hiện được chủ lực ta. Cùng thời gian này, Trung đoàn 174 vượt Đường số 5 sang hoạt động tại Bình Giang (Hải Dương), Tiểu đoàn 888 Trung đoàn 176 tiến sang Vĩnh Phúc. Vừa tới Bình Giang, Trung đoàn 174 nhận nhiệm vụ tiêu diệt đồn Vân Độ, đêm 26 tháng 2, Tiểu đoàn 249 Trung đoàn 174 nổ súng đánh đồn Vân Độ. Bằng hỏa lực áp đảo và lối đánh táo bạo, chỉ trong 40 phút ta đã tiêu diệt gọn đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Tiếp đó, với sự giúp đỡ của nhân dân ta đã bao vây, uy hiếp gọi hàng và san bằng nhiều đồn bốt, tháp canh và trạm hương dõng. Bỉnh Giang trở thành vùng giải phóng rộng lớn, trực tiếp uy hiếp lực lượng địch đóng tại Hải Dương, Hưng Yên và Đường số 5. Sau khi diệt đồn Vân Độ, để đánh lạc hướng địch, Trung đoàn 174 nhanh chóng chuyển sang vùng Bắc Thanh Miện (Hải Dương). Tiểu đoàn 249 ở lại giúp nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống. Nhưng do vị trí quân sự trọng yếu, 2 ngày sau, địch huy động 1 binh đoàn cơ động có không quân, pháo binh chi viện tiến đánh Ba Vì, Ô Xuyên. Tiểu đoàn 249 kiên cường chiến đấu trong một ngày đã đập tan 8 đợt xung phong của địch. Tại Vĩnh Phúc, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 888 Trung đoàn 176 vượt "vành đai trắng" Bắc Đa Phúc vào trú quân ở khu du kích Bình Xuyên (huyện Yên Lãng). Tại đây Tiểu đoàn 888 kết hợp với các lực lượng địa phương quét tề, trừ gian, mở rộng khu du kích sang hướng Bình Lâm, Nho Lâm (huyện Yên Lạc). Đêm 3 tháng 3 năm 1952, Đại đội 813 đánh bốt Đồng Tâm, diệt và bắt 40 hương dõng, thu toàn bộ vũ khí. Đại đội 812 bao vây bức rút đồn Đồng Mẫu. Ngày 4 tháng 3 năm 1952, địch điều quân từ Phúc Yên lên đánh chiếm lại Đồng Mẫu và Đồng Tâm nhưng bị ta đánh lui. Ngày 5 tháng 3 năm 1952, địch huy động một lực lượng lớn gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, 196 xe tải, 16 xe thiết giáp, 44 xe tăng, 4 máy bay, 3 canô mở cuộc bao vây, càn quét khu vực Nam thị xã Vĩnh Yên. Tiểu đoàn 888 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đã chủ động kịp thời phân tán lực lượng, dùng lối đánh du kích đánh trả địch quyết liệt. Tại Tứ Trương, Ngũ Kiên, Đại đội 811 cùng các lực lượng tại chỗ đánh liên tiếp 5 đợt tiến công của địch, rồi tổ chức phản kích phá vỡ vòng vây vượt ra ngoài di chuyển lên Bình Xuyên. Sau 7 ngày liên tục chống càn, Tiểu đoàn 888 đã tiêu diệt 300 tên, phá huỷ 4 xe. Ngày 10 tháng 3, Tiểu đoàn rút về Xuân Bảng (bắc Đa Phúc) sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch rút khỏi Hòa Bình. Đây là một thắng lợi chiến lược của ta, trong cùng một lúc đánh địch ở 2 mặt trận: Chiến trường và sau lưng địch. Đại đoàn 316 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và nhận lệnh của Bộ rút ra vùng tự do để củng cố. Trung đoàn 98 tiếp tục ở lại Bắc Ninh. Trung đoàn 174 từ Bình Giang chuyển về Bắc Ninh. Đêm 12 tháng 3 năm 1952, trong lúc vượt Đường số 5, Trung đoàn 174 bị địch chặn đường, buộc phải quay trở lại Hải Dương tìm hướng khác hành quân. Trung đoàn chủ trương đánh vào Thanh Miện, vòng sau Hưng Yên gây lạc hướng địch, sau đó bí mật quay về Thuận Thành (Bắc Ninh). Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa lực lượng vũ trang của Quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên 2 mặt trận rộng lớn và phức tạp. Đồng thời, tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho Quân đội ta tạo đà tiến lên mạnh mẽ hơn. Đặc biệt đối với Đại đoàn 316 (nay là Sư đoàn 316) thông qua phối hợp, chia lửa trong Chiến dịch Hoà Bình đã góp phần củng cố vững chắc sức mạnh, khả năng cơ động chiến đấu và chiến thắng của Sư đoàn. Đồng thời, đây cũng chính là những năm tháng gian khổ mà hào hùng, khẳng định lòng trung thành tuyệt đối của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự tin yêu của nhân dân. Ở đâu và bất cứ lúc nào cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 đều thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên cường, bền bỉ, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn cùng những gian khổ, hy sinh để giành chiến thắng, xứng đáng là một đơn vị anh hùng. Phát huy tinh thần Chiến thắng Hoà Bình, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; mài sắc ý chí sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng; đoàn kết, thống nhất, năng động, đổi mới và sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thừ thách; hăng hái phấn đấu vươn lên giành nhiều chiến công và thành tích mới trong xây dựng, huấn luyện, học tập và công tác. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Sư đoàn vững mạnh toàn diện, "mẫu mực tiêu biểu", sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:01:54 pm LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH HÒA BÌNH TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá NGUYỄN QUỐC TOÀN Chỉ huy trường Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chiến dịch Hòa Bình là một dấu ấn quan trọng, mốc son của quân và dân ta nói chung, quân và dân Hòa Bình nói riêng, trọng đó có sự đóng góp to lớn của lực lượng vũ Irang Hòa Bình đê làm nên chiến thắng này. Vào tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công ra Hoà Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Theo đó, ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành binh "Hoa Tuylíp" đánh chiếm Chợ Bến. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp tiếp tục mở cuộc hành binh "Hoa Sen" - Lôtuýt đánh chiếm thị xã Hòa Bình (nay là thành phố Hòa Bình) và Tu Vũ (nay thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ). Trước kế hoạch của thực dân Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, thống nhất đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động sang tiến công địch mới chiếm đóng; xác định Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến Sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định tình hình địch, trên cơ sở đó quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ. Tại Mặt trận Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 tiến công trên hướng chủ yếu, có nhiệm vụ phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch; Đại đoàn 304 đảm nhiệm hướng thứ yếu, có nhiệm vụ kiềm chế địch ở thị xã Hoà Bình và đánh địch trên Đường số 6. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch tiến công Hòa Bình bắt đầu. Sau trận mở màn chiến dịch, tấn công cứ điểm Tu Vũ (10 - 11.12.1951), quân ta liên tiếp tổ chức nhiều trận phục kích uy hiếp nặng nề Đường số 6 nơi được coi như mạch máu tiếp tế trên bộ của quân Pháp ở Hòa Bình. Trong đó có những trận phục kích đã làm cho giặc Pháp trở nên khiếp nhược như trận phục kích Cầu Dụ ta diệt 34 xe cơ giới và hàng trăm tên địch, trận Giang Mỗ ta diệt 10 xe cơ giới, trong đó có cả xe tăng. Tiếp đó, ngày 11 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 375 (Trung đoàn 66 Đại đoàn 308) có sự phối hợp của Tiểu đoàn 616 địa phương, Đại đội 16 (Kỳ Sơn) và du kích xóm Dụ (Mông Hóa) chặn địch ở dốc Kẽm, diệt 2 trung đội địch, phá hỏng 11 xe vận tải, giải thoát cho trên 100 đồng bào bị bắt đi phu. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 9 Đại đoàn 304) phối hợp với bộ đội tình đánh trận Giang Mỗ (xã Bình Thanh, huyện Kỳ Sơn) tiêu diệt và bắt sống hơn 1 đại đội Âu - Phi, phá hủy 5 xe cơ giới, 1 xe tăng. Trong trận này nổi lên tấm gương dũng cảm của Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan gan dạ đuổi theo xe tăng địch, nhảy lên xe, mở nắp ném lựu đạn vào trong xe, tiêu diệt xe tăng địch. Chiến công và tên tuổi người anh hùng mãi mãi gắn liền lịch sử chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Đại đội pháo binh 786 phối hợp với Đại đội 16 (Kỳ Sơn), Đại đội 116 (Mai Đà) và du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình bí mật bố trí trận địa phục kích liên hoan trên sông Đà dài 6km, từ xóm Mỵ (Yên Mông) đến Lạc Song (Phú Thọ). Kết quả trận này ta tiêu diệt 4 canô và 1 tàu chiến, LCT cùng hàng trăm tên địch... Tiểu đoàn 616 của tỉnh phối hợp du kích xóm Chăm (xã Quỳnh Lâm) phục kích tại dốc Cun phá hủy 1 xe, tiêu diệt hàng chục tên địch, bẻ gãy cuộc tấn công của địch vào Đường số 12A Trung đoàn chủ lực 36 (Sư đoàn 308) phối hợp du kích Xã Mông ra phục kích địch tại cầu Mè, phá hủy 34 xe, tiêu diệt nhiều địch. Đến đợt 3 Chiến dịch Hòa Bình (7.1-25.2.1952), ta đã tổ chức nhiều trận đánh các đoàn tàu pháp trên sông Đà và tập trung lực lượng đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6. Các tuyến tiếp tế đường thủy và đường bộ của quân Pháp cho Hòa Bình đều bị cắt đứt. Tiếp đà chiến thắng, trên hướng phối hợp, 2 đại đoàn luồn sâu vào tấn công vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ, khiến hệ thống đồn bốt thực dân Pháp sụp đổ từng mảng. Các tiểu đoàn cơ động của pháp còn lại ở vùng đồng bằng Bắc Bộ phải liên tục chạy ngược, chạy xuôi cứu viện nhau. Lực lượng du kích của ta ở các địa phương có bước phát triển mạnh mẽ hơn trước, gây cho địch những thiệt hại đáng kể. Trong khi đó, tại Hòa Bình, đêm mùng 7 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) đã tổ chức tiến công tiêu diệt đồn Pheo; Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) được du kích địa phương dẫn đường tập kích thị xã Hòa Bình, diệt các vị trí ngoại vi. Chỉ trong 1 đêm ta hạ 6 đồn. Tiêu biểu là trận đánh của 40 cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện chu đáo bất ngờ thọc sâu vào tiêu diệt cụm pháo gồm 4 khẩu pháo 105mm ở sát sân bay Hòa Bình, bắt 20 tên địch, trong đó có tên quan ba chỉ huy. Ngày 8 tháng 1 năm 1952, địch phải rút toàn bộ lực lượng chốt ven sông Đà về tăng cường phòng thủ cho khu vực thị xã. Những ngày tiếp theo, các đơn vị bộ đội địa phương đã phối hợp với bộ đội chủ lực liên tiếp phục kích, chống càn quét, quấy rối, tập kích các vị trí địch. Các đại đội 121 (Lương Sơn), 16 (Kỳ Sơn), 116 (Mai Đà) và 112 (Lạc Sơn) phân tán về các địa phương củng cố, xây dựng lực lượng du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình, Thịnh Lang, Mông Hóa, Quỳnh Lâm, Phú Cường, Cao Dương, Liên Sơn, Hoàng Sơn... đã tích cực phục vụ, phối hợp chiến đấu cùng bộ đội chủ lực, tham gia tổ chức vận chuyển, giúp đỡ bộ đội hành quân, chuẩn bị trận địa, diệt tề trừ gian, phá cầu đường, phục kích địch... Ngoài lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, lực lượng dân công phục vụ chiến đấu, tiếp lương, tải đạn, cứu thương, giúp bộ đội xây dựng công sự trận địa, xây dựng doanh trại, đưa bộ đội qua sông... được tổ chức với quân số hàng nghìn người. Trong chiến đấu, bộ đội địa phương có sự trưởng thành vượt bậc, độc lập tác chiến nhiều trận rất hiệu quả. Điển hình như Tiểu đoàn 616 tập kích quân địch đi càn trú đóng tại điểm cao 585, diệt và bắt 100 tên; Đại đội 116 của du kích Hiền Lương, tại bến Trương bẻ gãy cuộc càn quét lên Chợ Bờ; du kích Cao Dương cắt hàng nghìn mét dây điện thoại địch ở Đường số 21; du kích Quỳnh Lâm, Mông Hóa, Yên Mông thường xuyên bố trí bắn trả địch, không cho chúng vào làng. Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, công tác binh, địch vận cũng được quan tâm và thực hiện có hiệu quả, khắp nơi đều có cán bộ, có cơ sở kháng chiến hoạt động thường xuyên, bám sát địch và vận động ngụy binh đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến... Kết quả, đã có hơn 50 binh lính địch, trong đó có cả lính Âu - Phi mang vũ khí ra đầu hàng. Hơn 100 ngày diễn ra chiến dịch, quân và dân Hòa Bình đã tiếp nhận và phân phối đến từng đơn vị chiến đấu ngoài mặt trận hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm bảo đảm cho bộ đội đánh thắng. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã huy động 200.000 ngày công phục vụ công tác vận chuyển, ủng hộ bộ đội 325 con bò, 200 con lợn, hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, hàng nghìn cây tre bương để làm lán trại, làm hàng trăm bè mảng vượt sông suối. Cùng với đó, 291 thanh niên đồng bào các dân tộc Hòa Bình tòng quân, bổ sung cho Quân đội. Trong khi thế trận chiến tranh nhân dân của ta ngày càng lên cao thì quân Pháp ở Hòa Bình ngày càng rơi vào thế lúng túng chống trả yếu ớt. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 23 tháng năm 1952, địch buộc phải rút chạy, thị xã Hòa Bình được giải phóng. Trên đường rút chạy địch bị lực lượng vũ trang tổ chức truy kích, phục kích, chặn đánh gây ra một số tồn hại nhất định nhất là đoạn đường dài 40km từ Hòa Bình về Xuân Mai, phải mất 2 ngày địch mới rút hết về căn cứ Xuân Mai. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:10:52 pm Ngày 25 tháng 2 năm 1952, chiến dịch kết thúc thắng lợi, Hòa Bình được giải phóng lần thứ 2. Trong chiến dịch này, quân và dân tỉnh Hòa Bình tham gia, hiệp đồng phối hợp với bộ độ chủ lực tiêu diệt 6.012 tên, phá hủy 156 xe các loại, 17 tàu chiến, canô, 12 khẩu đại bác; thu trên 800 khẩu súng, có 24 khấu pháo cỡ lớn, 88 máy vô tuyến điện, 10 tấn đạn và 23 nghìn lít xăng dầu... Hòa Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Chiến thắng đó là kết quả của ý chí, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực, tự cường của quân và dân Hòa Bình góp phần tạo nên thắng lợi.
Ra đời và phát triển trên cơ sở các đội vũ trang cách mạng của Đảng, Quân đội, lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, nuôi dưỡng, không ngừng trưởng thành lớn mạnh. Phát huy truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Chiến thắng Hòa Bình, lực lượng vũ trang tỉnh luôn nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng. Thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, đứng trước những cơ hội và thách thức, nhất là tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường; lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh tại địa phương. Có được những chiến công, những thành tích trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; tất cả những điều đó thể hiện bản lĩnh chính trị, đức hy sinh cao cả và tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh trong suốt thời gian qua. Để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của Quân đội trong tình hình mới, lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị; tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luậl của Nhà nước. Đặc biệt cần quán triệt, nhận thức sâu sắc đường lối, quan điểm quân sự, quốc phòng của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi "nước chưa nguy"; tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chính sách, pháp luật về quốc phòng, quân sự, xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh, phòng chống âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Lực lượng vũ trang Hòa Bình tiếp tục cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng đi vào chiều sâu vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần cùng với quân và dân cả nước bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyên, toan vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc. Thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vu trang tỉnh, bám sát hơn sự phát triển của thực tiễn đất nước, Quân đội và của địa phương, làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối đổi mới của Đảng; nắm chắc đối tượng, đối tác, hiểu được bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; có khả năng nhận thức, phân tích, xử lý những vấn đề phức tạp đang diễn ra thực tiễn hằng ngày; tăng cường tính chiến đấu, trong sinh hoạt, học tập và công tác ở mỗi đơn vị trong lực lượng vũ trang tỉnh. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải kết hợp với đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng trong các đơn vị khơi dậy tính tích cực, động cơ phấn đấu vươn lên làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật, có kiến thức nhất định về kinh tế, văn hoá - xã hội; tích cực tuyên truyền gương "người tốt, việc tốt", kết hợp phê phán, đấu tranh với những nhận thức mơ hồ, lệch lạc về đối tượng đối tác. Đồng thời, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm để dân chủ được phát huy đầy đủ trong các đơn vị lực lượng vũ trang tỉnh. Trong tình hình hiện nay, đi đôi với việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, cần tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đồng thời, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, đây là một nhiệm vụ chính trị vừa cơ bản, vừa cấp bách của Quân đội ta. Đòi hỏi lực lượng vũ trang tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành đoàn thể tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, làm tốt công tác vận động quần chúng, tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, thực hiện tốt Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sông văn hóa ở khu dân cư"; xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; coi trọng xây dựng chất lượng chính trị, chất lượng huấn luyện, diễn tập, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về sức chiến đấu, năng lực điều hành, quản lý của người chỉ huy và ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của Quân đội và cải cách hành chính quân sự. Đi đôi với nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu đảm bảo cho lực lượng vũ trang tỉnh chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống là đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng gắn thực hiện tốt Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các cuộc vận động ở địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiên tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống lụt bão - tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống dịch bệnh. Phát huy tinh thần chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình luôn phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tinh, thực hiện tốt chức năng tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh có chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao; góp phần xây dựng tỉnh Hòa Bình giàu về kinh tế, vừng về chính trị, mạnh về quốc phòng, an ninh, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiẹn thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:12:08 pm QUÂN VÀ DÂN THỊ XÃ HÒA BÌNH GÓP PHẨN GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG Đồng chí NGÔ NGỌC ĐỨC Bí thư Thành ủy Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Thị xã Hòa Bình (nay là thành phố Hòa Bình) là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình, có diện tích tự nhiên 348,65km2, dân số 135.718 người, với cộng đồng dân tộc chủ yếu là người Kinh, người Mường, người Dao và một số rất ít người Thái, Tày, Mông, Hoa cùng chung sống. Hiện nay, thành phố Hòa Bình có tổng số 19 đơn vị hành chính cáp xã, gồm 12 phường, 7 xã. Đầu năm 1951, châu Mai Đà chuyển về tỉnh Hòa Bình, 3 xã Hòa Bình, Thịnh Lang và Yên Mông được bàn giao về huyện Kỳ Sơn quản lý và xây dựng. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy là tích cực xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, đẩy mạnh công tác trừ gian, gìn giữ bí mật, xây dựng Hòa Bình thành hậu phương vững mạnh, các chi bộ đảng và chính quyền các địa phương đã chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng, củng cố lực lượng dân quân, du kích của địa phương. Các ban chỉ huy xã đội, thôn đội được kiện toàn. Trong đó, xã đội trưởng do đồng chí bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên trực tiếp đảm nhiệm, còn các thôn đội trưởng phải là đảng viên. Nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn đó, số lượng dân quân, du kích tập trung ngày càng phát triển mạnh. Đến giữa năm 1951, xã Quỳnh Lâm có 3 đại đội dân quân du kích; xã Hòa Bình và xã Yên Mông, mỗi xã có 2 đại đội; xã Thịnh Lang có 1 đại đội. Đặc biệt, xã Yên Mông còn xây dựng được 1 trung đội nữ du kích. Các đại đội, trung đội dân quân du kích tập trung của các xã tích cực luyện tập quân sự, tổ chức canh gác chu đáo nhằm kịp thời phát hiện và chặn đứng hành động phá hoại của bọn gián điệp và biệt kích. Cùng với đó, các trận địa liên hoàn theo quy mô xóm, thôn cũng được xây dựng ở xã Yên Mông và xã Quỳnh Lâm. Phong trào toàn dân tham gia bảo trợ du kích có bước phát triển mạnh mẽ. Nhân dân xã Yên Mông tự nguyện góp hơn chục tấn thóc và hàng vạn đồng để ủng hộ kháng chiến; nhân dân xã Quỳnh Lâm cũng dành 5 mẫu ruộng tốt nhất cho dân quân du kích tự cày cấy bảo đảm đời sống. Hội Phụ lão ở các xã tích cực vót chông, làm cạm, vót tên, nỏ, tẩm thuốc độc để ủng hộ du kích. Hội Phụ nữ phát động phong trào trồng bông, gai, làm chăn, dệt vải tặng cho du kích làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ xóm làng... Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp mở cuộc tấn công đánh chiếm tỉnh Hòa Bình, do tướng Xalăng (Salan) chỉ huy. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân địch đánh chiếm khu vực Đường số 21 và chợ Bến. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân địch tiến công lên thị xã Hòa Bình bằng 3 mũi: Mũi thứ nhất, cơ động từ Xuân Mai lên và chiếm giữ các vị trí xung yếu trên Đường số 6. Mũi thứ hai, ào ạt nhảy du xuống Thịnh Lang, Phố Đúng, Hòa Bình và dàn quân chiếm đóng 2 bên bờ sông Đà. Mũi thứ ba, dùng canô, tàu thủy từ Sơn Tây tiến lên chiếm Tu Vũ, kiểm soát dọc sông Đà lên tới Phương Lâm. Kết quả, chúng nhanh chóng chiếm được thị xã Hòa Bình, kiểm soát dọc sông Đà từ Phú Thọ tới Phương Lâm. Sau đó, địch tập trung lực lượng xây dựng các vị trí kiên cố trên Đường số 6, thị xã Hòa Bình, dọc sông Đà, với khoảng 50 vị trí, hình thành 3 phân khu (Phân khu Sông Đà, Phân khu Thị xã và Phân khu Chợ Bến). Riêng Phân khu Thị xã có gần 30 đồn bốt. Nhân cơ hội này, bọn lang đạo phản động ráo riết khôi phục lại "xử Mường tự trị". Về phía ta, được Tỉnh ủy và Huyện ủy Kỳ Sơn trực tiếp chỉ đạo, ngay từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, khi địch đánh chiếm Đường số 21 và Chợ Bến, cán bộ, đảng viên các xã đã tổ chức cho nhân dân khẩn trương di chuyển lên Chuộn Trại để tránh thương vong. Đối với lực lượng du kích, do quân địch khá đông, hỏa lực mạnh, nên không triển khai chiến đấu đối mặt với quân thù mà chỉ tổ chức phục kích bắn tỉa, giúp đỡ nhân dân sơ tán an toàn. Ngoài ra, còn hỗ trợ các cơ quan của tỉnh khẩn trương rời thị xã về khu Căn cứ. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", vạch rõ, đây là "cơ hội tốt để ta đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình, trên các mặt trận khác và sau lưng địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 599). Theo đó, quân và dân tỉnh Hòa Bình khẩn trương chuẩn bị thực hiện chiến dịch. Để triển khai đánh địch ở dọc sông Đà, Đường số 6 và thị xã, các đại đoàn bộ đội chủ lực như: 304, 308 và 312 được khẩn trương điều về Hòa Bình để chuẩn bị chiến trường. Chi bộ và ủy ban kháng chiến hành chính các xã Yên Mông, Quỳnh Lâm, Hòa Bình và Thịnh Lang quán triệt chủ trương mở chiến dịch của Trung ương và chỉ thị của Tỉnh ủy Hòa Bình tới cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Tỉnh đội Hòa Bình và Huyện ủy Kỳ Sơn, du kích Quỳnh Lâm phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Đại đoàn 304 và 312; du kích Hòa Bình, Thịnh Lang, Yên Mông phối hợp tác chiến với các đơn vị thuộc các đại đoàn 308, 312 và 304. Nhân dân thị xã Hòa Bình đã vượt qua mọi địa hình, luồn qua nhiều đồn bốt địch để đưa hàng chục tấn gạo đến các kho trung tuyến ở Mãn Đức (huyện Lạc Sơn), Rạch (huyện Kim Bôi). Hàng trăm thanh niên khỏe của địa phương lên đường phục vụ hàng nghìn ngày công đổ tải đạn, sửa đường, đóng bè mảng, làm lán trại, chuyển thương binh về hậu tuyến. Ngay đợt đầu của Chiến dịch, xã Thịnh Lang đã ủng hộ được 5 tấn thóc, 5 tạ gạo, 3 tạ muối, 300m vải cùng 30 dân công lên đường phục vụ chiến dịch. Đồng bào Dao xã Quỳnh Lâm đã cử 50 nam nữ thanh niên đi dân công giúp vận chuyển pháo để chiếm lĩnh trận địa đồi Rảnh khống chế địch bờ trái sông Đà. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:13:16 pm Các đoàn dân công của địa phương lên đường đi vận chuyển lương thực từ Phú Thọ về nhập vào các kho trong núi thuộc xã Hòa Bình, Thịnh Lang. Nhiều anh chị em ở xã Hòa Bình đã ngày đêm sát cánh cùng bộ đội, dần đường đưa bộ đội chủ lực vào bốt Gai, bốt Đúng; tuyên truyền, động viên nhân dân ủng hộ giúp đỡ bộ đội, nhận và chuyển hàng tạ gạo; tổ chức tiếp tế cơm, nước cho các phân đội pháo binh chốt giữ trên các điểm khống chế địch ờ Phân khu Thị xã. Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc tổ chức đan hàng nghìn đôi sọt, làm hàng trăm cáng thương kịp thời phục vụ chiến dịch. Khi chiến dịch chuyển sang đợt 2, yêu cầu phải đưa bộ đội vượt sông Đà gấp, tổ chức phụ nữ, phụ lão xã Yên Mông đã xung phong và đảm nhận bơi thuyền đưa bộ đội qua sông an toàn. Du kích xóm Chăm (xã Quỳnh Lâm) phối hợp với Tiểu đoàn 616, phục kích địch ở Dốc Cun, diệt 8 tên địch và một xe cam nhông.
Khi Đại đoàn 308 tiêu diệt gọn đồn Tu Vũ, Đại đoàn 312 chiếm lĩnh Điểm cao 600 (Ba Vì) thì Đại đội 116 (Mai Đà) và Đại đội 16 (Kỳ Sơn) cùng du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình và Đại đội pháo binh 786 đã phối hợp chia lửa chiến trường, bố trí trận địa phục kích liên hoàn trên sông Đà đoạn từ Mỵ - Yên Mông - Lạc Song (dài 6km). Ngày 12 tháng 12 năm 1951, với sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, ta đã tiêu diệt 4 canô, 1 tàu LCT khiến hàng chục tên địch bị nhấn chìm xuống lòng sông Đà. Ngày 15 tháng 12 năm 1951, du kích Bình Thanh, Chăm, Vôi, Tháu (xã Quỳnh Lâm) phối hợp với Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 66 Đại đoàn 304) phục kích tại Giang Mỗ đánh tan 1 tiểu đoàn địch, bắt gần 1 đại đội, phá hủy 6 xe cơ giới. Trong trận chiến đấu này, anh hùng Cù Chính Lan đã dũng cảm đuổi theo xe tăng địch, nhảy lên xe dùng lựu đạn diệt xe tăng địch. Đêm mùng 7 tháng 1 năm 1952, du kích xã Thịnh Lang và xã Hòa Bình cùng với Trung đoàn 36 tiến công địch ở 4 cứ điểm: Dè, Gai, Dậm, đồi Trùng bắt 50 tên, thu toàn bộ vũ khí. Du kích xã Thịnh Lang dẫn đường và hiệp đồng chiến đấu với bộ đội chủ lực, tấn công sân bay Thịnh Lang và các trận địa pháo binh địch ở Ba Vành, đồi Thông (sau phổ Đúng), phá hủy 4 khẩu pháo 105mm, bắt hàng chục tên pháo thủ. Du kích và cán bộ xã Hòa Bình và xã Thịnh Lang còn phục vụ Đại đội 755 chốt giữ trên điểm cao 170, khống chế sân bay Thịnh Lang, phá hủy 3 máy bay và bắn cháy 4 chiếc, sân bay bị hoàn toàn tê liệt. Du kích Bình Thanh (Quỳnh Lâm) phối hợp với Trung đoàn 36, Đại đội 112 Lạc Sơn và Đại đội pháo binh 756 san phẳng các đồn: Chăm, Dậm, Trùng, Máng Nước (Sẩy). Giữa tháng 1 năm 1952, tình thế địch ở Phân khu Thị xã rất nguy khốn, đường tiếp tế bị chặt đứt, các bốt địch không liên lạc được với nhau. Bọn tề ngụy ban đêm phải chui vào đồn, bốt kiên cố để tránh khỏi sự truy bắt của ta. Đêm 1 tháng 2 năm 1952 du kích xã Quỳnh Lâm phối hợp với Tiểu đoàn 616 (bộ đội chủ lực của tỉnh) và Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 66 Đại đoàn 304) tiến công đồn Gô Tô nằm trên Đường số 16. Đồn Gô Tô bị tiêu diệt - đường tiếp tế bằng xe cơ giới bị cắt, quân địch ở Phân khu Thị xã bị tê liệt và có nguy cơ bị tiêu diệt. Ngày 23 tháng 2 năm 1952, trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, giặc Pháp bị tổn thất nặng nề, buộc phải rút quân khỏi thị xã Hòa Bình. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có sự đóng góp xứng đáng của quân và dân các dân tộc thị xã Hòa Bình. Hơn 100 ngày đêm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, quân và dân thị xã Hòa Bình đã đóng góp hàng vạn ngày công để chuyển lương, tải thương, tải đạn... phục vụ bộ đội "ăn no, đánh thắng". Nhân dân đã dành 30 tấn thóc, góp 200 thuyền bè, hàng trăm con trâu, bò, hàng tạ gà, vịt, rau các loại. Riêng lực lượng du kích địa phương đã độc lập tác chiến 10 trận, phối hợp với bộ đội chiến đấu 30 trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng khác. Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, quê hương được giải phóng, quân và dân các dân tộc thị xã Hòa Bình dạt dào niềm vui chiến thắng, giải phóng quê hương, được sống trong tự do, càng tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngay sau khi thực dân Pháp rút chạy, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, quân và dân thị xã Hòa Bình và khu vực lân cận đã nhanh chóng khắc phục khó khăn, thiếu thốn, ổn định đời sống. Việc tháo gỡ bom mìn, tổ chức khai hoang phục hóa hàng trăm mẫu ruộng được hoàn thành trong một thời gian ngắn. Nhân dân các xã Yên Mông, Thịnh Lang và Quỳnh Lâm đã mua sắm được một số trâu bò, nông cụ để khai hoang sản xuất. Quá trình xâv dựng, chiến đấu và trưởng thành trong hơn 60 năm qua, lực lượng vũ trang thành phố Hòa Bình luôn hoàn thành các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, nêu cao tinh thần lao động giúp dân, được nhân dân tin yêu, góp phần giữ vững an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố; nêu cao truyền thống: "Đoàn kết, hiệp đồng, lập công, chiến thắng"; góp phần tô thắm truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:14:41 pm HUYỆN THANH THỦY TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH TS NGUYỄN MINH TƯỜNG Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ Thanh Thủy là một huyện miền núi phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ - một vùng đất cổ có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ nhân dân Thanh Thủy kế tiếp nhau chung sức đồng lòng, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên trung, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Thủy vừa là hậu phương tích cực đóng góp sức người sức của, vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu chống địch càn quét, chiếm đóng, lập nhiều chiến công xuất sắc, tạc vào trang sử vàng truyền thống của tỉnh Phú Thọ nói chung, huyện Thanh Thủy nói riêng những mốc son sáng ngời. Trong Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân Thanh Thủy đã lập nhiều thành tích góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, tiêu biểu là Chiến thắng Tu Vũ trên địa bàn huyện. Sau thất bại ở biên giới Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở trung du, Đường số 18, Hà Nam Ninh, quân Pháp đã lâm vào thế phòng ngự bị động. Chi phí cho chiến tranh Đông Dương càng ngày càng cao, đã lên tới 308 tỷ phơrăng vào năm 1951, gấp 2,5 lần chi phí cho tái thiết đất nước sau Chiến tranh thế giới thứ hai của Pháp. Để giành lại quyền chủ động, mùa Đông năm 1951, Pháp mở cuộc tiến công ra Hòa Bình, lập phòng tuyến Sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây", thực hiện tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với các liên khu 3 và 4. Ở Hòa Bình, Pháp cho thành lập các "Xứ Mường tự trị" để thực hiện "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Thực hiện mưu đồ trên, ngày 9 tháng 11 năm 1951, Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Tiếp đó, ngày 14 tháng 11, 300 quân địch từ Sơn Tây mở cuộc tấn công đánh phá vị trí Đá Chông, Núi Chẹ và chiếm lại vị trí Tu Vũ, La Phù (thuộc huyện Thanh Thủy) nhằm hỗ trợ cho Mặt trận Hòa Bình và bảo vệ tuyến phòng thủ. Sau khi chiếm lại 2 vị trí ở huyện Thanh Thủy, thực dân Pháp giao cho tiểu đoàn lính Âu - Phi chiếm giữ. Hằng ngày, chúng chuyên chở vật liệu xây dựng hệ thống công sự rất kiên cố, đồng thời cho quân càn quét, cướp phá ở những vùng xung quanh để lập vành đai trắng. Ngày 28 tháng 11 năm 1951, địch huy động lực lượng mạnh mở đợt càn quét quy mô lớn trên diện rộng vào địa bàn huyện. Ở phía hạ huyện, địch tập trung 1.000 quân ồ ạt tấn công vào 3 xã: Thành Công, Vinh Quang và Xuân Lộc càn quét và cướp mất 45 con trâu bò, 600 con gà vịt của nhân dân; cũng trong ngày 28 tháng 11 năm 1951, 500 tên địch tấn công càn quét ác liệt xã Văn Minh, xã Đoàn Kết và thôn Hoàng Xá. Trước đó, ngay từ giữa tháng 9 năm 1951, Liên khu ủy Việt Bắc đã ra chỉ thị cho Tỉnh ủy Phú Thọ phải tích cực chuẩn bị mọi mặt để phá kế hoạch củng cố vùng trung du của địch. Đến cuối tháng 9, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị gồm đại diện của Tỉnh đội, Tiểu đoàn 72, Đại đoàn 308 và các huyện Thanh Thủy, Tam Nông, Lâm Thao và Hạc Trì để bàn và phổ biến kế hoạch chống địch càn quét, chiếm đóng. Vì vậy, khi địch mở các cuộc càn quét vào địa bàn huyện, chúng đã vấp phải sự chiến đấu kiên cường của quân và dân địa phương, nhất là các xã: Thành Công, Xuân Lộc và Đề Thám, diệt nhiều sinh lực địch, khiến chúng phải co cụm vào các vị trí cố thủ, không dám lùng sục mạnh như trước. Nhiều trận đạt hiệu suất cao như trận phục kích ở Dốc Đà thuộc xã Yến Mao, trận phục kích Gò Đình ở Đồng Xe, khe cạn ở xóm Xui, Đồng Sạnh ờ Hương Cần (Thanh Sơn)... tiêu diệt được 47 tên, thu 32 súng các loại và một số quân trang, quân dụng, bào toàn lực lượng và tính mạng, tài sản của nhân dân. Trên cơ sở phân tích tình hình ta và địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định, việc địch đánh ra Hoà Bình khiến chúng phải phân tán lực lượng cơ động ra một địa hình rừng núi hiểm trở binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mòng và tương đối sơ hở đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ nhận định này, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22 "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hoà Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hoà Bình do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; đồng chí Nguyền Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trướng Chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính gồm 3 đại đoàn bộ binh (308 312 304) và Đại đoàn công pháo 351; trên mặt trận phối hợp, 2 đại đoàn bộ binh 316, 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng cùng các lực lượng tại chỗ tiến công địch, diệt tề trừ gian, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích phối hợp chặt chẽ trong Chiến dịch Hòa Bình. Trong thư, Người nêu rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:15:23 pm Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường, đồng thời để đảm bảo trận mở màn chắc thắng, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển và mở rộng hành lang vận chuyển hậu cần, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tập trung binh lực, hỏa lực đột phá phòng tuyến Sông Đà, bắt đầu bằng trận tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ. Để trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Sở Chỉ huy tiền phương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt vị trí gần Đồn Vàng (Thanh Sơn), cách cứ điểm Tu Vũ khoảng 20km. Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 được Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Trong chỉ thị giao nhiệm vụ cho cán bo Trung đoàn 88, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh ghi rõ: Bộ Tổng Tư lệnh đã cân nhắc và quyết tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình; trận đánh phải thắng, chỉ được phép thắng; có nhiều khó khăn đấy, có thể phải trả giá rất đắt có thể 1 trung đoàn không xong thì phải dùng tới 2 trung đoàn; dù phải hy sinh bộ phận cho toàn bộ thì vẫn cứ phải làm... Điều đó cho thay tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của trận Tu Vũ, trận then chốt cho Chiến dịch Hòa Bình.
Tu Vũ là một cứ điểm có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng nằm trên tả ngạn sông Đà. Quân Pháp chiếm lại vị trí này nhằm làm điểm án ngữ sông Đà và làm bàn đạp để đánh thọc sâu vào vùng hậu phương của Phú Thọ. Vì vậy, thực dân Pháp đã bố trí chiếm đóng ở cứ điểm Tu Vũ Tiểu đoàn 1 Trung đoàn bộ binh Marốc số 2, tăng cường 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn người Mường số 6, 1 xe tăng và 2 xe thiết giáp chiếm giữ. Chúng tổ chức phòng ngự thành 3 khu (khu A, khu B ở Đông Bắc ngòi Lát, khu C ở Tây Nam ngòi Lát). Theo đó, khu A gồm 1 đại đội bộ binh, 1 xe thiết giáp; công sự phòng ngự có 6 ụ chiến đấu bao quanh 1 lô cốt lớn được trang bị hỏa lực mạnh (1 xe tăng, 1 trọng liên 12,7mm, súng cối 81mm); khu B là trung tâm phòng ngự, có Sở Chỉ huy tiểu đoàn 1, 2 đại đội bộ binh, 1 xe tăng, 1 ĐKZ 57mm, 1 pháo 37mm, công sự phòng ngự có 1 lô cốt lớn bao quanh bởi 4 ụ chiến đấu; khu C có 1 đại đội bộ binh địch chiếm giữ, gồm 7 ụ chiến đấu bao quanh 1 lô cốt lớn được trang bị đại liên và nhiều súng trường. Ngoài ra, cứ điểm Tu Vũ còn được yểm trợ hỏa lực từ các vị trí núi Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp và có thể được tăng viện từ canô, tàu chiến dọc theo đường sông Đà. Hằng ngày, canô địch từ các vị trí Tu Vũ, La Phù, Đá Chông thay nhau tuần tiễu quét đèn pha trên sông Đà và bắn phá vào hai bên bờ, lập vành đai trắng từ Trung Hà đi Hoà Bình, khiến nhân dân một số làng ven sông phải sơ tán đi nơi khác. Trên mỗi kilômét vành đai, địch bố trí 45 lính canh và 8 khẩu súng liên thanh. Phối hợp với bộ đội chủ lực, quân và dân huyện Thanh Thủy có nhiệm vụ: Một là, chuyên chở bộ đội thuộc Đại đoàn 312 bí mật vượt sông sang đánh phía núi Chẹ, Đá Chông; hai là, phối hợp cùng Đại đoàn 308 tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Để có thể bí mật vượt sông nhanh chóng, quân dân huyện Thanh Thủy, nhất là những xã ven sông Đà, phải canh phòng và chuyên chở bộ đội vượt sông một cách an toàn. Trong các đêm từ mùng 6 đến mùng 8 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 312 vượt sông từ làng Đoan Hạ (Thanh Thủy) sang phía núi Chẹ, Đá Chông. Nhân dân các làng ven sông đã huy động hàng trăm thuyền nan và hơn 200 người lái đò để đưa bộ đội qua sông. Mặc cho pháo sáng và đạn địch bắn phá, đèn pha từ canô của địch tuần tiễu nhằm uy hiếp và ngăn bước tiến của quân ta, song với quyết tâm và lòng căm thù giặc, quân dân địa phương nhanh chóng đưa bộ đội ta qua sông an toàn để kịp thời phối hợp tác chiến tiêu diệt địch ở núi Chẹ. Ở phía thượng huyện Thanh Thủy, Trung đoàn 88 phối hợp với bộ đội và nhân dân địa phương đã chuẩn bị xong trận địa, chờ mệnh lệnh tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Đe phục vụ bộ đội chủ lực trong trận này, huyện Thanh Thủy đã huy động trên 500 dân công hỏa tuyến làm nhiệm vụ tiếp tải đạn, xay lúa giã gạo và tiếp tế lương thực. Đúng 20 giờ tối mùng 10 tháng 12 năm 1951, ba mũi tiến công của bộ đội ta mở màn trận đánh. Phát hiện thấy lực lượng của ta, pháo của địch từ các vị trí xung quanh cứ điểm (núi Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp) bắn dồn dập hàng nghìn quả vào khu vực quân ta đang triển khai lực lượng, tạo thành một vành đai lửa bao quanh cứ điểm. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 308 yêu cầu các đơn vị bạn ở hữu ngạn sông Đà bắn kiềm chế pháo địch, đồng thời, lệnh cho tiểu đoàn pháo của ta nhanh chóng tập trung hoả lực công phá lô cốt địch và yểm trợ cho bộ binh ta tiến công. Trận đánh diễn ra rất ác liệt. Khi quân ta bắt đầu tiến công, địch tập trung hoả lực mạnh hòng ngăn cản bước tiến của quân ta. Dưới làn mưa đạn, cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, anh dũng xông lên tiêu diệt địch. Đến 1 giờ sáng ngày 11, Tiểu đoàn 322 Trung đoàn 36 đã chiếm xong khu C, sau đó dùng hoả lực mạnh kiềm chế địch ở khu B. Cuộc chiến đấu ở 2 khu A, B diễn ra rất quyết liệt, ta và địch giằng co từng ụ súng. Đến 2 giờ 50 phút sáng 11 tháng 12 năm 1951, quân ta hoàn toàn làm chủ được 2 khu này. Sau hơn 5 giờ chiến đấu ác liệt, cứ điểm Tu Vũ của địch bị tiêu diệt. Kết quả, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Marốc số 2, tiêu diệt 159 tên địch, bắt 12 tên (trong đó có tên quan ba Leveux), phá hủy 3 xe tăng và 1 xe bọc thép, đồng thời giải phóng cho hơn 100 thanh niên bị địch giam giữ tại đây. Tu Vũ - cứ điểm kiên cố của thực dân Pháp bị tiêu diệt, làm rung chuyển toàn bộ tuyến phòng thủ Sông Đà, tạo điều kiện cho bộ đội ta tiến đánh Hoà Bình thắng lợi. Ngày 14 tháng 12 năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến tận đồn Tu Vũ để nghiên cứu và viết thư khen ngợi Trung đoàn 88, trong đó có đoạn viết: Chiến thắng Tu Vũ là một trận công kiên lớn nhất, mở màn chiến dịch. Chiến thắng Tu Vũ biểu hiện tinh thần quả cảm hy sinh, tích cực, chủ động tiêu diệt địch, linh hoạt trong chiến đấu, chứng tỏ bước tiến bộ mới của Trung đoàn 88 nói riêng và của Quân đội nói chung. Tiến bộ không chỉ đơn thuần về kỹ thuật, chiến thuật mà còn cả về mặt tư tưởng của Quân đội cách mạng chỉ biết tiến công, không biết lùi bước. Tôi gửi lời khen ngợi các đồng chí Trung đoàn 88 đã nêu cao gương anh dũng tuyệt vời của Quân đội...". Trung đoàn 88 đã vinh dụ được mang tên "Trung đoàn Tu Vũ" từ đó. Cứ điểm Tu Vũ bị tiêu diệt, địch ở La Phù hết sức hoang mang lo sợ phải cầu viện quân từ Sơn Tây sang chiếm đóng thêm vị trí Phương Viên. Không đế cho địch củng cố lực lượng, bộ đội chủ lực cùng với bộ đội địa phương huyện Thanh Thũy tổ chức phục kích đoàn tàu địch từ Hoà Bình định rút về Trung Hà. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, đoàn tàu địch gồm 1 tàu chiến Mênitô và 4 canô chở 1 tiểu đoàn quân lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Trận đánh diễn ra nhanh, gọn. Chiếc tàu chiến và 2 canô bị bắn chìm, 2 chiếc còn lại bị thương bốc cháy, 1 chiếc dạt vào bở phía huyện Thanh Thủy. Bộ đội địa phương phối hợp với dân quân du kích một số xã tả ngạn sông Đà bắt 80 tên lính Pháp và bắn bị thương 1 máy bay đến cứu đồng bọn của chúng. Đây là trận thắng thể hiện đậm nét sự phối hợp tác chiến đánh địch có hiệu quả của ba thứ quân trên địa bàn huyện. Chiến thắng Tu Vũ là một minh chứng hùng hồn về chiến công oanh liệt và sự hy sinh anh dũng của bộ đội Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, chiến thắng đó có sự đóng góp của quân và dân xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy nói riêng và của quân và dân tỉnh Phú Thọ nói chung. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quỷ cho các chiến dịch tiếp sau, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: "Không có trận Tu Vũ thì không có trận Him Lam, Độc Lập, Điện Biên Phủ". Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:21:58 pm QUÂN VÀ DÂN HUYỆN BA VÌ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH ThS PHÙNG TÂN NHỊ Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Ba Vì ở phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng gần 60km. Tiền thân của huyện Ba Vì gồm 3 huyện Quảng Oai, Bất Bạt, Tùng Thiện. Với diện tích 424km2, toàn huyện có 30 xã và 1 thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi (là nơi sinh sống tập trung của đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 47% diện tích toàn huyện), 1 xã nằm ở bãi giữa sông Hồng. Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây; phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân huyện Ba Vì với truyền thống cách mạng ý chí tự lực, tự cường đã tích cực đóng góp sức người, sức của và tập trung chuẳn bị mọi mặt phối hợp với các lực lượng, tổ chức đánh địch, góp phần làm nên Chiến thắng Hòa Bình. Khi ta mở chiến dịch, quán triệt sự chỉ đạo của Huyện ủy Bất Bạt, Chi bộ xã Tân Dân1 (Xã Tân Dân: Năm 1976 đổi tên thành xã Khánh Thượng (huyện Ba Vì)) (xã Khánh Thượng ngày nay) đã lãnh đạo nhân dân và các đoàn thể trong xã gấp rút chuẩn bị chiến trường, làm công tác phục vụ và phối hợp với bộ đội chủ lực trong chiến dịch; cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội chủ lực; chuẩn bị phương tiện, thuyền mảng phục vụ bộ đội vượt sông vào đánh địch ở một số vị trí trên phòng tuyến sông Đà, làm nhiệm vụ vận tải thương binh, bảo vệ bộ đội. Chỉ trong vòng một tuần lễ, với sự tham gia của hàng trăm người dưới trời mưa giá rét mùa Đông, con đường mở mới phục vụ nhiệm vụ tác chiến của bộ đội chủ lực từ Thủ Pháp vào dốc Bóp1 (Dốc Bóp: Thuộc thôn Giáp Thượng, nay thuộc thôn Hương Canh, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì) dài hơn 2.000m được hoàn thành. Trung đội du kích tập trung và lực lượng tự vệ xã được tập hợp lại chuẩn bị chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong đợt 1 của chiến dịch, Đại đoàn 312 vượt sông Đà tiên sâu vào vùng sau lưng địch, đánh địch từ dốc Pheo2 (Dốc Pheo: Thuộc thôn Pheo, xã Minh Quang, huyện Ba Vì) đến Điểm cao Ba Vì, trong đó diệt địch ở 2 vị trí Chẹ và Ba Vành3 (Chẹ: Thuộc thôn Sơn Hà, xã Khánh Thượng; Ba Vành: Thuộc thôn Việt Yên, xã Yên Bài, huyện Ba Vì) là chủ yếu. Ngoài ra còn chặn địch trên Đường số 87 nhằm cắt giao thông, chia cắt và cô lập từng cụm quân địch, không cho chúng cơ động và ứng cứu nhau khi ta tiến công. Trong khi Đại đoàn 308 đánh Tu Vũ4 (Tu Vũ: Thuộc xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) và một số vị trí đối diện với Chẹ qua sông Đà thì trên Đường số 87, quân ta nổ súng đánh sập các cầu, cắt đứt giao thông quan trọng từ Sơn Tây đi Chẹ, góp phần cùng quân dân ta bao vây chia cắt địch ở Hòa Bình. Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cán bộ, đảng viên xã Tân Dân khắc phục mọi khó khăn giúp đỡ quân chủ lực trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch. Nhân dân xã Khánh Thượng đã khẩn trương huy động hàng trăm chiếc thuyền đưa bộ đội vượt sông Đà đánh địch; quyên góp hơn 17 tấn sắn tươi, hơn 9 tấn lúa, trên 2 tấn thịt gia súc, gia cầm cùng một số nồi đồng lớn phục vụ nuôi quân. Đội du kích tập trung xã Tân Dân được giao nhiệm vụ phối hợp chiến đấu. Đồng chí Đinh Văn Tỵ1 (Đồng chí Đinh Văn Tỵ: Ở xóm Gò Đá Chẹ, xã Khánh Thượng; nguyên Chỉ huy trưởng xã Tân Dân (giai đoạn 1959 - 1969), mất ngày 26 tháng 2 năm 2014) và đồng đội được giao nhiệm vụ dẫn đường cho mũi hỏa lực công phá đỉnh núi đá Chẹ. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dẫn đường, các đồng chí trong tổ du kích cùng bộ đội triển khai đánh và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Sau trận đánh này, đồng chí Đinh Văn Tỵ được tặng thường Huân chương Chiến công. Bị ta đánh bất ngờ, sáng ngày 10 tháng 12 năm 1951, địch cho tiểu đoàn lính dù thiện chiến cùng một lực lượng cơ động mạnh mở cuộc tiến công vào khu Căn cứ của tỉnh đóng ở các xóm Ninh, Mít, Giáp Thượng2 (Thôn Ninh, thôn Mít: Nay là thôn Mít Đồng sống; thôn Giáp Thượng: Nay là thôn Hương Canh, xà Khánh Thượng, huyện Ba Vì). Cùng ngày, 2 trung đoàn bộ binh địch xuyên rừng từ phía Đông núi Ba Vì qua dốc Mát xuống dốc Bóp. Mục đích của hai cánh quân này là khi gặp nhau sẽ hợp quân tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến tỉnh Sơn Tây, làm chủ khu vực Chẹ, kiểm soát đường thủy từ Chẹ về Trung Hà, Sơn Tây và Đường số 89. Tại 2 xóm Sui3 và Mít, từ 10 giờ sáng các đơn vị của Đại đoàn 312 phối hợp với du kích địa phương tổ chức đánh địch. Ngoài lực lượng mạnh, địch còn dùng phi cơ, phi pháo, xe bọc thép liên tục bắn đại bác yểm trợ. Trận đánh diễn ra vô cùng quyết liệt, la đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, không cho chúng tràn lên núi. Ta và địch giành nhau từng gốc cây, mòm đá, chia cắt từng toán địch để đánh và tiêu diệt chúng. Trong hơn 5 giờ chiến đấu, đoạn đường dài gần 1km từ xóm Ninh đến xóm Sui3 (Thôn Sui: Nay thuộc thôn Sui Quán, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì) - Mít xác địch ngổn ngang. Ta đã tiêu diệt được 300 tên địch, bắt gần 2 đại đội, bắn hỏng 1 xe tăng, thu 13 súng trung liên, 41 tiểu liên, nhiều súng trường, đạn dược và phương tiện chiến đấu của địch. Trong trận đánh ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đội du kích Giáp Thượng do đồng chí Đinh Văn Thức1 (Ông Đinh Văn Thức: Tên đúng là Đinh Văn Thực, thôn Gò Đá Chẹ, xã Khánh Thượng, nguyên Xã đội trưởng xã Tân Dân (giai đoạn 1949 - 1950), mât năm 2000) (Xã đội trưởng xã Tân Dân) chỉ huy được phân công phối hợp với Tổ trung liên của Trung đội 209 (trong đó có Tiểu đội phó Phan Đình Giót, sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân), Đại đội 58, Trung đoàn 141 của Đại đoàn 312 chặn đánh một mũi tiến công của địch trên đường từ khu vực núi Chẹ đánh vào khu Căn cứ của tỉnh. Địch hò hét nhau liều chết xông lên, đồng chí Thức vừa bình tĩnh chỉ huy Trung đội đánh địch, vừa dẫn đường cho bộ đội phục kích. Khi một xạ thủ trung liên bị thương, đồng chí Thức không ngần ngại thay thế, nhả đạn vào đội hình địch, bẻ gãy nhiều đợt tiến công ào ạt của địch, bắt 3 tên lính Pháp. Với thành tích đặc biệt xuất sắc và tinh thần mưu trí dũng cảm, đồng chí Đinh Văn Thức đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin (Liên Xô) tặng Huy chương Vàng trong dịp tham gia Đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới tổ chức ở Liên Xô cuối năm 1952. Một yếu tố rất quan trọng góp phần tạo nên thắng lợi ở Ninh Mít là ngay từ chiều hôm trước, nhờ có tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao nên khi một cánh quân địch từ Tu Vũ sang, tiến thẳng vào khu vực Trạc Tượng2 (Trạc Tượng: Dốc Trạc Tượng, giáp ranh giữa thôn Ninh và thôn Sui Quán, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì), một tổ du kích của địa phương tổ chức đánh mìn trên đường địch hành quân tại khu vực Trán Voi3 (Trán Voi: Thuộc thôn Ninh, xã Khánh Thượng (nối liền dốc Trạc Tượng), huyện Ba Vì). Bị vấp mìn ngang đường, toán quân tiên trạm của địch phải dừng lại đê thăm dò lực lượng ta. Khi toán địch buộc phải dừng lại, ta có thông tin kịp thời để bổ sung và bố trí lực lượng đánh địch cho lực lượng quân chủ lực và du kích địa phương ở hướng này. Chỉ trong một thời gian ngắn bị thất bại liên tiếp, để lên dây cót tinh thần cho binh sĩ và lừa phỉnh nhân dân ta, thực dân Pháp dùng máy bay thả hàng vạn truyền đơn xuống khu Căn cứ Ba Vì. Ngày 17 tháng 12 năm 1951, quân Pháp mở cuộc càn lớn vào các xã Tản Hồng và Phú Phương nhằm làm sạch địa bàn. Trận càn này kẻo dài trong 5 ngày liên tục. Nhiều nhà cửa bị đốt phá, trâu, bò, lợn, gà, thóc, gạo bị cướp, gần 200 người bị bắt, trong đó chủ yếu là cán bộ, đảng viên và du kích. Trong đợt 2 của Chiến dịch Hòa Bình, các vị trí ở các điểm cao 400 và 600 trên núi Ba Vì có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự. Đây là một trong các vị trí then chốt nhất trên phòng tuyến Sông Đà, bảo vệ chắc chắn bên sườn và phía sau đội hình bố trí của địch ở Hòa Bình, là vị trí quan trọng trong việc bảo vệ Sơn Tây và Hà Nội. Chính vì vậy, ngoài sự chi viện và bảo vệ của không quân, vị trí Ba Vì còn được trực tiếp bảo vệ của trận địa pháo binh ở Ao Trạch, Trung Hà, Tông - Xuân Mai. Để đánh các vị trí này, Đại đội 243, Đại đội 241 và Đại đội 58 thuộc Đại đoàn 312 bí mật tiếp cận sát vị trí. Trong trận đánh này, Xã đội Tân Dân chọn 7 chiến sĩ du kích thông thạo đường lên núi, có sức khỏe, nhanh nhẹn có nhiệm vụ dẫn đường và phối hợp tác chiến, vận chuyển thương binh, làm công tác mai táng liệt sĩ... Đêm 29 tháng 12 năm 1951, đúng giờ quy định, bộ đội chủ lực và du kích đồng loạt nổ súng, địch chưa kịp đối phó, ta đã chiếm Sở Chỉ huy của tên Moócgăng. Hơn 20 phút sau, quân ta hoàn toàn làm chủ vị trí. Từ Điểm cao 400 sang Điểm cao 600 chỉ có một đường độc đạo, khi ta đánh sang, địch phản kích lại quyết liệt. Trận đánh tại Điểm cao 600 diễn ra vô cùng quyết liệt. Ta quyết đánh, địch quyết giữ. Ta và địch giành nhau lừng thước đất. Sau đó, ta phải chia thành nhiều mũi, cùng du kích chuẩn bị thang, ván để vượt qua hàng rào thép gai, vách núi đá, xung phong vào cứ điểm từ nhiều hướng, giành thắng lợi trước khi trời sáng. Địch chống trả điên cuồng, tuyệt vọng, nhiều tên lính Âu - Phi cuống cuồng chạy theo tên chỉ huy quan ba Pháp nhảy xuống vách đá tìm đường thoát thân... Đến 4 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 1951, ta hoàn toàn làm chủ Điểm cao 600 và cụm cứ điểm trên núi Ba Vì. Chiến thắng liên tiếp của quân ta ở Tu Vũ, Sui - Mít, các điểm cao 400, 600 làm cho thực dân Pháp ở khu vực sông Đà, Hòa Bình hoảng sợ. Một số chốt điểm của địch trên khu vực xã Tân Dân phải co cụm lại khu vực Chẹ. Những hành động càn phá cướp boc không còn xảy ra. Bọn tề ngụy, bảo an, chỉ điểm run sợ nằm im không dám hoạt động. Vòng kiểm soát của địch đã được nới lỏng. Thời gian này, Chiến dịch Hòa Bình trên sông Đà đang đi vào thời điểm quyết liệt. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:23:58 pm Để tiếp tục phục vụ Chiến dịch Hòa Bình, Chi bộ xã Tân Dân lãnh đạo tuyển lựa gần 200 dân công mở đường bí mật tránh vòng vây của địch dài hơn 10km từ căn cứ Ba Vì tới Lương Sơn - Hòa Bình và khu vực Xuân Mai - Đường số 6 phục vụ bộ đội hành quân tiếp cận căn cứ địch. Hàng trăm người vừa làm nhiệm vụ dẫn đường, tiếp tế hậu cần, truy kích địch, dẫn giải tù binh, thu chiến lợi phẩm, giúp bộ đội thu dọn chiến trường.
Trong tháng 12 năm 1951, giặc Pháp bắt được một số cán bộ cách mạng hoạt động ở xã Phú Châu đưa về giam ở đồn Phú Xuyên. Chúng dùng cực hình tra khảo nên một nữ giao thông viên đầu hàng dẫn giặc tới khám và lùng bắt cán bộ cách mạng tại một cơ sở kháng chiến ở thôn Phong Châu. Để bảo vệ cán bộ, cụ Tẻo và cô Hồng (chủ nhà)1 (Cụ Tẻo: Là bố đẻ của cô Hồng, đã mất; cô Hồng: Sinh năm 1932, hiện ở thôn Phong Châu, xã Phú Châu, huyện Ba Vì) kiên quyết không khai và bị giặc đánh đập dã man. Sau một hồi lùng sục, đào bới không thấy, chúng lôi cụ Tẻo tới giam ở đồn Phú Xuyên. Tấm gương dũng cảm, bất khuất của gia đình cụ Tẻo làm dân làng vô cùng cảm phục, Chi bộ lấy đó làm điển hình để giáo dục đảng viên và quần chúng. Năm 1951, địa bàn tỉnh Sơn Tày nói chung, huyện Tùng Thiện, Quảng Oai, Bất Bạt nói riêng, chiến sự diễn ra hết sức khốc liệt. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính, lực lượng vũ trang các huyện Tùng Thiện, Quảng Oai, Bất Bạt phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ, đơn vị bộ đội địa phương tỉnh Sơn Tây chiến đấu ngoan cường, mưu trí, dũng cảm, góp phần vào thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình, gây cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề. Đồng thời kiên cường bám trụ, bám đất, bám dân, làm nòng cốt cho nhân dân trong đấu tranh toàn diện với quân thù, giữ vững cơ sở cách mạng, phát triển phong trào kháng chiến ở các địa phương, tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến ở địa phương. Do bị ta tiến công mạnh mẽ và liên tục ở mặt trận chính diện cùng thất bại nặng nề trên khắp những vùng sau lưng, giặc Pháp rơi vào thế bị động mất tinh thần chiến đấu. Để tránh bị tiêu diệt, ngày 8 và ngày 9 tháng 1 năm 1952, chúng buộc phải rút khỏi phòng tuyến Sông Đà, chỉ còn lại 3 điểm địch chốt lại ở Đan Thê, La Phù, Thái Bạt. Ngày 13 tháng 1 năm 1952, toán lính và sĩ quan Pháp cuối cùng chạy khỏi khu vực Phố Chẹ, xóm Gò. Xã Tân Dân sau gần 2 tháng địch chiếm đóng o ép, càn quét gắt gao được giải phóng. Sau những thất bại nặng nề trong Chiến dịch Hòa Bình, đầu năm 1952, thực dân Pháp phải cho quân lui về phòng thủ các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Tại địa bàn tỉnh Sơn Tây, thực dân Pháp đặt các huyện Tùng Thiện, Quảng Oai, Bất Bạt nằm trong 3 vòng tuyến phòng thú chính: Vòng tuyến 1, phòng thủ trung tâm từ Sơn Tây đi Trung Hà, chúng cho quân viễn chinh đóng chốt ở các vị trí quan trọng như: Trung Hà, Đồng Bảng, Chùa Cao, Mông Phụ... Vòng tuyến 2, phòng thủ dọc sông Đà, sông Hồng từ Bất Bạt đi Trung Hà và từ Trung Hà đi Sơn Tây. Chúng thường xuyên cho quân tuần tra, càn quét nhằm chia cắt trung du với đồng bằng. Vòng tuyến 3, phòng thủ dọc các tuyến đường số 88 từ Vị Thủy đi Bất Bạt với các đồn bốt: Vị Thủy, Xuân Sơn, Yên Khoái, Gò Ong, Ao Khoang. Cách bố trí hệ thống phòng thủ đó của thực dân Pháp là nhằm trấn giữ cửa ngõ đồng bằng Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội. Đồng thời, vừa chống lại sự tiến công, thâm nhập của ta từ căn cứ Ba Vì xuống, vừa thực hiện bao vây, uy hiếp căn cứ kháng chiến Ba Vì. Cùng với xây dựng hệ thống tuyến phòng thủ, trong vùng tạm chiếm, thực dân Pháp cho quân lính từ đồn Tổng Dũng tăng cường kiểm soát hương thôn, kìm kẹp nhân dân. Trước mưu đồ của thực dân Pháp, tháng 2 năm 1952, thực hiện sự chỉ đạo của Liên khu 3, Tỉnh ủy Sơn Tây tổ chức Hội nghị cán bộ mở rộng xác định nhiệm vụ chủ yếu của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sơn Tây là: Phát động quần chúng đấu tranh rộng rãi. Thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm là nắm dân và củng cố tổ chức đảng. Phương hướng hoạt động trong thời kỳ mới là đấu tranh kinh tế, chính trị là chính. Lợi dụng tề, lợi dụng mọi tổ chức của địch lợi dụng mọi khả năng hợp pháp để giác ngộ, tập hợp quân chúng đấu tranh với địch. Kết hợp lợi dụng các tổ chức của địch và các hình thức hợp pháp với việc củng cố tổ chức trung kiên và bí mật của ta. Trước hành động càn quét của địch, Xã đội Cẩm Lĩnh chỉ đạo du kích làng Vô Khuy bố trí mìn ờ rừng lim khu Cống Chuốc1 (Cống Chuốc: Giáp ranh giữa thôn Vu Khuy và thôn Cẩm Tân, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì). Ngày 6 tháng 2 năm 1952, khi chiếc xe Jeép của địch lọt vào trận địa, ta giật mìn nổ tiêu diệt gọn 2 vợ chồng tên chủ thầu người Pháp. Cuối tháng 1 năm 1952, địch bao vây nhà anh Phụ, thôn Liễu Đông2 (Thôn Liễu Đông: Nay là thôn Áng Đông, xã Thụy An, huyện Ba Vì) (xã Thụy An) tìm hầm bí mật. Chúng sục tìm hầm bí mật và bắt được đồng chí Nhung và đồng chí Trọng - cán bộ huyện. Mặc dù bị địch tra tấn dã man nhưng đồng chí Nhung và đồng chí Trọng vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo cơ sở. Sau một thời gian bị giam giữ, đồng chí Trọng trốn thoát. Đồng chí tiếp tục được Huyện ủy Tùng Thiện điều về Thụy An gây dựng cơ sở và phong trào kháng chiến. Ngày 15 tháng 2 năm 1952, quân Pháp huy động 5 xe camnhông chở lính từ Sơn Tây đi càn dọc Đường số 88. Trung đội du kích Cẩm Đái1 (Cẩm Đái: Nay thuộc thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì) cử tổ du kích gồm các đồng chí Triện, Trình, Bình, Loan, Núi và Miên, do đồng chí Triện chỉ huy, mang mìn ra phục kích tại gò Lát đầu làng Cẩm Đái để đánh địch. Khi chiếc xe đi đầu lọt vào trận địa, đồng chí Phùng Thị Núi giật dây cho mìn nổ tiêu diệt chiếc xe và toàn bộ binh lính địch trên xe. 21 giờ 30 phút ngày 20 tháng 2 năm 1952, lực lượng du kích xã Vạn Thắng phối hợp với Đại đội 350 của tỉnh Sơn Tây bao vây, diệt đồn Tổng Dũng ở thôn Mai Trai. Quân ta bao vây bốn mặt, dùng loa kêu gọi giặc đầu hàng. Tên chỉ huy cùng đồng bọn ngoan cố chống lại, hòng chờ viện binh đến cứu. Sau 1 ngày chờ đợi không có viện binh cứu trợ, đứng trước tình thế bị tiêu diệt 14 giờ ngày 21 tháng 2 năm 1952, chúng phải xin nộp vũ khí đầu hàng. Ngay sau đó, Chi bộ Vạn Thắng tổ chức cuộc mít tinh liên hoan mừng chiến thắng, tuyên bố giải thích chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ, tha cho bọn binh lính về với gia đình làm ăn sinh sống. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, Quân đội ta đã tiêu diệt khoảng 22.000 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, đạn dược quân trang quân dụng của địch. Hiện nay, tại Nhà Truyền thống huyện Ba Vì đang trưng bày 1 chiếc xe tăng là chiến lợi phẩm trong trận đánh Tu Vũ của Chiến dịch Hòa Bình. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta trong việc chỉ đạo chiến dịch và đưa Quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp. Ta giành được thế chủ động trên chiến trường; bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc; lực lượng của ta trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt; căn cứ du kích của ta được mở rộng và nối liền nhau thành thế liên hoàn vững chắc. Đúng như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng khẳng định: Không có Chiến dịch Hòa Bình thì sẽ không có chiến thắng ở Hồng Cúm, Him Lam, Độc Lập...! Trong 78 ngày đêm chiến dịch, quân và dân huyện Ba Vì đã một lòng theo Đảng, theo Bác, với lòng tin vững chắc vào chiến thắng, đã vượt qua mọi khó khăn, không sợ hy sinh, gian khổ đã phục vụ đắc lực bộ đội chủ lực về sức người, sức của; phối hợp với bộ đội trực tiếp chiến đấu với quân thù, góp phần làm nên chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình. Với truyền thống đó, Đảng bộ, quân và dân huyện Ba Vì sẽ thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới của Đảng; phấn đấu xây dựng quê hương Ba Vì ngày càng giàu mạnh. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 09:50:54 pm LỰC LƯỢNG PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng VŨ VĂN KHA Quyền Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp. Quán triệt chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị và nhiệm vụ của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh giao, các lực lượng phòng không tham gia Chiến dịch, với trang bị chủ yếu là súng máy phòng không 12,7mm và số ít pháo cao xạ 20mm, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh máy bay địch ném bom vào đội hình tiến công các cứ điểm của ta, đánh máy bay địch tiếp tế đường không, phối hợp hỏa lực với pháo binh ta cắt đứt tiếp tế bằng đường thủy trên sông Đà của địch, góp phần quan trọng cùng các lực lượng khác tham gia chiến dịch giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với các Liên khu 3 Liên khu 4; đồng thời góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Với âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mùa Đông năm 1951, thực dân Pháp mở cuộc tiến công Hòa Bình lập phòng tuyến sông Đà, nhằm nối lại hành lang Đông - Tây cắt đứtChiến khu Việt Bắc của ta với các chiến trường Liên khu 3 và Liên khu 4. Sau khi tiến vào Hòa Bình chiếm các vị trí then chốt, thực dân Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam), trong đó thị xã Hòa Bình được xây dựng theo kiểu tập đoàn cứ điểm có sân bay dã chiến bên trong thị xã. Ngoài ra, còn có Phân khu Chợ Bên là tiền đồn phía Đông bảo vệ thị xã Hòa Bình. Tổng số lực lượng địch gồm có 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoànpháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng. Lực lượng không quân của địch được huy động gồm 9 phi đội với các loại máy bay Hencát (F6F), Biacát (F8F), Henđivơ (SB20), Privatơ (B24), Invadơ (B26) do Mỹ sản xuất viện trợ, được bố trí chủ yếu ở các sân bay Bạch Mai, Gia Lâm và sân bay dã chiến ở thị xã Hòa Bình; có nhiệm vụ chi viện hỏa lực và hỗ trợ đường không cho các cứ điểm phòng ngự ở Hòa Bình. Cường độ sử dụng của không quân địch tối đa 80 lần chiếc/ngày đánh vào đội hình tiến công của ta. Trước diễn biến của tình hình, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tổ chức tấn công quân Pháp ở Hòa Bình, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan phòng tuyến Sông Đà, giải phóng thị xã Hòa Bình phối hợp tạo điều kiện cho phát triển rộng khắp chiến tranh du kích ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị và đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởngChiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312 và 304), Đại đoàn công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phưong. Phối hợp tham gia chiến dịch có các đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch chiếm đóng ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương tại đây đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích. Lực lượng phòng không tham gia chiến dịch gồm: Tiểu đoàn phòng không 387 của Đại đoàn 308; các đại đội phòng không của các đại đoàn 304, 312, 316 và 320, được trang bị tương đối thống nhất, phần lớn là súng máy phòng không 12,7mm và số ít pháo cao xạ 20mm. Tư tưởngchỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch đề ra cho lực lượng phòng không là "diệt máy bay địch một cách rộng rãi", "diệt quân nhảy dù". Nhiệm vụ được giao của lực lượng phòng không là bắn máy bay, đánh quân dù và sử dụng tới quy mô đại đội, tiểu đoàn phòng không để bảo vệ pháo binh, bộ binh chiến đấu trong các trận tiến công cứ điểm địch. Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1951, lực lượng phòng không của các đơn vị tham gia chiến dịch bước vào giai đoạn chuẩn bị thực hiện triển khai đội hình chiến đấu. Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, lực lượng phòng không của Đại đoàn 308, 312 được bố trí bám sát đội hình chiến đấu của các trung đoàn 36, 88 và 141, trên cả 2 bên tả và hữu ngạn sông Đà, trải dài từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 304 bố trí bảo vệ đội hình chiến đấu ở phía Nam Hòa Bình, đánh địch trên các điểm cao 2 bên Đường số 6 và cắt đứt đường vận chuyển của địch trên Đường số 6. Trên hướng Đại đoàn 320, lực lượng phòng không bố trí bảo vệ đội hình đánh địch ở Chợ Bến và cơ động theo đội hình chiến đấu của Đại đoàn 320 vào vùng địch hậu đồng bằng. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 316 bố trí bảo vệ đội hình đánh địch của Trung đoàn 176 ở vùng Lộc Bình (Lạng Sơn), Đường số 4 và ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, lực lượng phòng không và các đơn vị chiến đấu đã hình thành thế trận xung quanh địch, sẵn sàng mở màn chiến dịch. Đợt 1 của chiến dịch (10 - 26.12.1951), Tiểu đoàn phòng không 387 được tăng cường cho Trung đoàn 36 bố trí đánh địch ở Đoan Hạ, tả ngạn sông Đà. Trung đoàn 88 được tăng cường 1 đại đội phòng không 12,7mm đánh địch ở cứ điểm Tu Vũ. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 312 bảo vệ cho Trung đoàn 209, Trung đoàn 141 đánh địch ở núi Chẹ, xóm Ninh Mít thuộc khu vực Đá Chông, Ba Vì và Lạc Song. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 304 bảo vệ các mũi tiến công của Trung đoản 66 từ Cầu Du đến Cầu Mè cách thị xã Hòa Bình 15km về phía Đông Bắc và Trung đoàn 9 ở khu vực Giang Mỗ. Trên cả chiều dài và chiều rộng chiến dịch, lực lượng phòng không đã được sử dụng theo quy mô cấp đại đội, tiểu đoàn phòng không, tập trung được hỏa lực đánh máy bay địch; chi viện được hỏa lực cho pháo binh, bộ binh chiến đấu đánh cứ điểm, tiêu diệt sinh lực địch và ngăn chặn địch tiếp tế theo đường thủy trên sông Đà. Trong trận chiến ngày 14 tháng 12 năm 1951, ở Yến Mao, cách Đoan Hạ 4km về phía Nam, Tiểu đoàn 387 dùng súng máy phòng không 12,7mm bắn chìm 2 sà lan địch. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, trong trận Lạc Song, vừa đánh máy bay, vừa đánh tàu chiến canô địch, Đại đội phòng không 341 (Tiểu đoàn 387) đã đánh bại cuộc tập kích của 12 máy bay địch, bắn rơi 2 chiếc, hiệp đồng hỏa lực cùng các lực lượng khác bắn cháy 1 tàu chiến, 4 canô địch. Đợt 2 của chiến dịch (27 - 31.12.1951), lực lượng phòng không của Đại đoàn 312 bảo vệ cho Trung đoàn 141 tiến công đánh địch ở các điểm cao 165, 400, 600 thuộc khu vực Ba Vì. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 304 bảo vệ cho Trung đoàn 9 đánh địch ở Hàm Voi và Trung đoàn 57 đánh địch ở vị trí Đồi Mồi, cách Xuân Mai 15km trên Đường số 21. Lực lượng phòng không của Đại đoàn 308 bảo vệ bộ đội đánh địch ở khu vực Đá Chông và đánh viện trên sông Đà. Trong đợt chiến đấu này, lực lượng phòng không đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kiềm chế hỏa lực đường không của máy bay yểm trợ các đơn vị phản kích của địch, hòng chiếm lại các điểm cao 400, 600 vào ngày 30 tháng 12 năm 1951. Đợt 3 của chiến dịch (7.1 - 25.2.1952), khi vận chuyển trên sông của địch bị cắt đứt, vận chuyển trên Đường số 6 hầu như bị tê liệt, 6 tiểu đoàn địch trong thị xã Hòa Bình hằng ngày chỉ còn trông chờ vào những chuyến bay tiếp tế nhỏ giọt của không quân địch. Khoét sâu vào chỗ yếu của địch, các phân đội phòng không của các đại đoàn 304, 308, 312, bố trí dọc 2 bên sông Đà, Đường số 6 và quanh thị xã Hòa Bình đã được tập trung đẩy mạnh việc bắn máy bay địch, hạ được 5 chiếc, ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất còn lại của địch và bảo vệ cho bộ binh ta diệt 10 đại đội Âu - Phi trên các cứ điểm từ Ao Trạch đến Hàm Voi. Cùng thời gian này, hỏa lực phòng không của ta đã kết hợp với các cuộc pháo kích và lực lượng đột kích đánh máy bay địch hoạt động ở sân bay dã chiến trong thị xã Hòa Bình, phá hủy 2 máy bay địch. Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch rút quân khỏi thị xã Hòa Bình. Ta tiến hành truy kích địch, nhưng bị các máy bay B-26, F-6F và pháo binh địch hoạt động mạnh ngăn chặn đường tiến, các mũi vận động tiến công của quân ta đều ra chậm và không đánh được. Vì vậy, trong 3 ngày đánh địch rút lui (23 - 25.2.1952), ta chỉ diệt được một bộ phận nhỏ quân địch. Do hỏa lực của lực lượng phòng không ta chưa đủ mạnh đã hạn chế nhiều đến kết quả diệt địch khi chúng tổ chức rút lui khỏi thị xã Hòa Bình. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn chìm 17 tàu, xuồng phá hủy 12 khẩu pháo và hàng trăm xe vận tải. Các lực lượng phòng không tham gia chiến dịch đã bắn rơi và phá hủy của địch tổng cộng 9 máy bay các loại, góp phần thực hiện được mục tiêu của Bộ Chính trị giao là tiêu diệt sinh lực địch, đập tan phòng tuyến Sông Đà, giải phóng thị xã Hòa Bình và phát triển chiến tranh du kích rộng khắp ở đồng bằng Bắc Bộ. Thắng lợi của các lực lượng vũ trang ta tham gia Chiến dịch Hòa Bình, trong đó có lực lượng phòng không, cũng đã được Bác Hồ gửi thư khen ngợi. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 09:51:34 pm Từ thực tiễn chiến đấu của lực lượng phòng không trong Chiến dịch Hòa Bình, chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng phòng không như sau:
Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, ta có và dùng hỏa lực tập trung của lực lượng phòng không với quy mô cấp đại đội, tiểu đoàn, đánh máy bay địch để bảo vệ pháo binh, bộ binh tiến công cứ điểm (như trận Tu Vũ đêm ngày 10 tháng 12 năm 1951) hay trận phục kích dùng hỏa lực phòng không phối hợp tiêu diệt tàu địch, ngăn chặn địch tiếp tế trên sông Đà (ở Đoan Hạ ngày 14, ở Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951) và giành thắng lợi. Đây chính là bài học kinh nghiệm về thành công về nghệ thuật tổ chức lực lượng phòng không. Các phân đội phòng không ta đã khống chế được hỏa lực đường không của địch, góp phần vây hãm địch vào tình thế nguy khốn. Thứ hai, việc sử dụng tập trung các phân đội phòng không ở hướng sông Đà trong đợt 1, đợt 2 và ở hướng Đường số 6 trong đợt 3 để bảo vệ lực lượng bộ binh, pháo binh ta chiến đấu tiến công địch đã hình thành bài học kinh nghiệm về nghệ thuật sử dụng lực lượng phòng không tập trung trên hướng chủ yếu, cho nhiệm vụ chủ yếu và cho mục tiêu quan trọng. Thứ ba, lực lượng phòng không đã áp dụng chiến thuật phòng tránh đánh trả, lợi dụng địa hình, địa vật để phục kích đánh máy bay địch, hỗ trợ chi viện hỏa lực bảo vệ cho pháo binh, bộ binh ta đánh địch tiếp viện trên sông cũng như trên bộ, nhất là tập trung nỗ lực bắn máy bay địch tiếp tế khi vận chuyển trên sông của chúng bị cắt đứt, vận chuyển đường bộ bị tê liệt, sân bay bị tập kích, pháo kích. Cùng với đó là việc phối hợp với các đơn vịbộ binh áp dụng cách đánh gần trong công kiên, cũng như trong vận động tiến công để hạn chế sức mạnh hỏa lực của không quân địch đã tạo ra bước phát triển mới của nghệ thuật sử dụng lực lượng và nghệ thuật chuyển hóa thế trận phòng không của các lực lượng phòng không trong Chiến dịch Hòa Bình. Thứ tư, lực lượng phòng không của ta trong chiến dịch đã có tiến bộ về nhiều mặt, nhất là với các phân đội phòng không có trong biên chế các đại đoàn bộ binh. Tuy nhiên, lực lượng phòng không ta còn chưa đủ mạnh nên chưa đáp ứng được các yêu cầu tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ lực lượng tiến công của ta trong chiến dịch cũng như đánh địch tăng viện hay tiếp tế có hiệu quả. Cụ thể là như giai đoạn cuối chiến dịch, khi địch rút chạy khòi thị xã Hòa Bình. Kế thừa bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng phòng không trong Chiến dịch Hòa Bình, bộ đội Phòng không ta đã vận dụng sáng tạo cho giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước. Cho đến nay, những bài học kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị lý luận, thực tiễn cho sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc, xây lực lượng phòng không 3 thứ quân và nhất là xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân vững mạnh toàn diện, trong đó cần tập trung làm tốt một số vấn đề chủ yếu sau đây: Một là, xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân và lượng phòng không 3 thứ quân vững mạnh về chính trị; quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng phòng không không quân, trong đó có nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng phòng không trong tác chiến hiện đại; quán triệt chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhiệm vụ được giao, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần quyết tâm dám đánh, biết đánh và đánh thắng địch. Hai là, tập trung xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân "Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại", có tổ chức biên chế hợp lý theo hướng "tinh, gọn, mạnh"; tổ chức bố trí lực lượng, xây dựng thế trận của Quân chủng Phòng không - Không quân phù hợp trên các hướng chiến lược và khu vực phòng thủ, đảm bảo cơ động cao, chuyển hóa linh hoạt; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng phòng không, không quân chủ lực với lực lượng phòng không 3 thứ quân rộng khắp, tạo ra lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, quản lý vững chắc các khu vực, mục tiêu trọng yếu, không để bị bất ngờ lỡ thời cơ với mọi tình huống trên không. Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, trình độ hiệp đồng chiến đấu của của lực lượng phòng không trong Quân chủng Phòng không - Không quân với các lực lượng binh chủng hợp thành và lực lượng vũ trang địa phương khu vực phòng thủ, trong các loại hình tác chiếnchiến dịch, nhằm đánh địch hiệu quả và đối phó thắng lợivới các đòn tập kích đường không trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra). Bốn là, tập trung phát huy hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại tích cực chủ động nghiên cứu khoa học, cải tiến, nâng cấp các loại vũ khí có trong biên chế; đầu tư nâng cấp một số công trình sân bay, công trình chiến đấu, bảo đảm cho các lực lượng của Quân chủng Phòng không - Không quân có đủ sức mạnh, thực sự làm nòng cốt trong quản lý và bảo vệ bầu trời. Năm là, tổ chức thế trận bảo đảm hậu cần, kỹ thuật của Quân chủng Phòng không - Không quân theo vùng miền, có chiều sâu ở tất cả các cấp chiến dịch, chiến thuật; vừa bảo đảm cho sẵn sàng chiến đấu, vừa bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các lực lượng của Quân chủng hoàn thành các nhiệm vụ thường xuyên, cũng như các nhiệm vụ đột xuất khác được giao. 70 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình trong đó có thắng lợicủa lực lượng phòng không tham gia chiến dịch vẫn luôn đồng hành cùng cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân. Các lực lượng của Quân chủng đã, đang và sẽ luôn luôn cảnh giác, nắm vững âm mưu, thủ đoạn của địch, tính chất phức tạp của chiến tranh công nghệ cao trong tác chiến đường không. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sắc của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ đội Phòng không - Không quân sẽ luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trên mặt trận đối không, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 09:54:46 pm BẢO ĐẢM CÔNG BINH TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thiếu tướng TRẦN TRUNG HÒA Tư lệnh Binh chủng Công binh Mùa Đông năm 1951, quân Pháp mở cuộc tiến công ra Hòa Bình nhằm nối lại "hành lang Đông - Tây" với việc lập phòng tuyến Sông Đà làm tuyến phòng thủ trung tâm, mở rộng khu Chiếm đóng, phá sự chuẩn bị tiến công, thu hút chủ lực của ta để tiêu diệt. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch lớn đánh địch trên cả 2 mặt trận: Tập trung chủ lực ở mặt trận chính là Hòa Bình và đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động ở địch hậu là trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng. Cùng với các lực lượng vũ trang, bộ đội Công binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình. Tham gia chiến dịch, lực lượng công binh có Trung đoàn công binh 151 (gồm: Tiểu đoàn 444 phối thuộc Đại đội 311 cho Đại đoàn 316 hoạt động ở địch hậu; Tiểu đoàn 333 sử dụng Đại đội 250 làm Sở Chỉ huy Chiến dịch, Đại đội 270 phối thuộc cho Đại đoàn 312, Đại đội 260 phối thuộc cho Đại đoàn 308; Tiểu đoàn 555 ở hậu cứ) và 5 đại đội công binh thuộc 5 đại đoàn bộ binh. 1. Bảo đảm công binh trên mặt trận chính (hướng chủ yếu chiến dịch) Trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, Tiểu đoàn công binh 444 và Đại đội công binh 240 (Đại đoàn 312) bảo đảm đường, bắc cầu cho bộ binh tiến từ Phú Thọ hành quân qua sông Hồng, theo đường Đồn Vàng, Thục Luyện đến Tu Vũ vượt sông Đà vào khu vực tác chiến. Tại bến Lạc Song (sông Đà), với 7 thuyền nan do Đại đội công binh 313 huy động tại chỗ và số thuyền đưa từ Thục Luyện về, công binh đã bảo đảm cho Trung đoàn 209 cùng 6 khẩu pháo 75mm và 1 tiểu đoàn bộ binh qua sông Đà. Trong 3 đêm (7 - 9.12.1951), bộ đội Công binh cùng nhân dân địa phương kịp thời đưa lực lượng chủ lực của ta cơ động vào vị trí chuẩn bị tác chiến bí mật, an toàn. Chiến dịch tiến công Hòa Bình diễn ra qua 3 đợt tác chiến: Đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá tuyến Sông Đà. Ngày 9 tháng 12 năm 1951, phát hiện chủ lực ta vượt sông Đà sang hữu ngạn, địch điều Binh đoàn cơ động số 4 càn quét vùng Ba Vì, Yên Lê, Đường số 87. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 312 chuyển sang đánh địch đi càn. Sáng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) mở màn chiến dịch bằng trận vận động phục kích tiêu diệt một bộ phận lớn Tiểu đoàn dù số 1 của quân Pháp ở Ninh Mít (Tây Nam núi Ba Vì) buộc địch phải kết thúc cuộc càn, rút chạy về Trung Hà. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiến công Tu Vũ, một vị trí phòng ngự then chốt của Phân khu Sông Đà do lực lượng lính Âu - Phi của Pháp chiếm đóng, đến 5 giờ ta làm chủ trận địa. Trận đánh làm rung chuyển tuyến phòng ngự Sông Đà của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Trong đợt này, 2 đại đội công binh 260 và 309 đã mớ đường cho bộ binh xuất kích, bắc 2 cầu phao bôn tập, mỗi chiếc dài 27m qua Ngòi Lát dưới hỏa lực pháo rất mạnh của địch uy hiếp. Cùng đêm mùng 10 tháng 12, 1 trung đội thuộc Đại đội công binh 313 đã phá 5 cầu gỗ trên đường từ Tu Vũ đến Hòa Bình. Để giữ bí mật, các chiến sĩ công binh đã không sử dụng thuốc nổ phá cầu mà dùng cưa để cắt các dầm cầu và chân cầu, làm cho ôtô của địch không thể đi qua được, tạo điều kiện cho bộ binh tiêu diệt. Sau khi bảo đảm vượt sông cho Đại đoàn 312 qua hữu ngạn sông Đà, Tiểu đoàn công binh 444 cùng Đại đội công binh 260 rút về bảo đảm đường chiến dịch. Ở bến Lạc Song, công binh và dân công bảo đảm vượt sông cho các lực lượng củachiến dịch qua sông Đà vào chiếm lĩnh trận địa. Ngàỵ 23 tháng 12 năm 1951, địch cho một đoàn canô từ Hòa Bình cố mở thông sông Đà về xuôi, để bảo vệ bến vượt, pháo binh của ta đã phục kích bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu địch trên sông; tuyến cơ động của địch trên sông Đà vẫn bị cắt đứt. Bến Lạc Song không còn bị uy hiếp, công binh bàn giao công việc chèo chở lực lượng qua sông cho dân công, chỉ để lại một lực lượng nhỏ để hướng dân kỹ thuật. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và có nhiều khó khăn nên toàn bộ lực lượng được huy động vào việc mở đường qua đèo Luồng, làm đường vòng tránh qua các "trọng điểm" và bảo đảm cho chủ lực vượt sông tham gia chiến đấu. Đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta giữ vững được hành lang vận chuyển qua sông Đà và tiêu diệt bức rút nhiều đồn bốt, tiếp tục dồn địch vào thế bị động. Nhưng do ta chuẩn bị không tốt nên lực lượng của ta cũng bị thương vong nhiều, việc bổ sung quân số và tiếp tế gặp khó khăn. Bộ Chỉ huy Chiến dịch động viên các đơn vị "tranh thủ tiêu diệt thêm sinh lực địch và tranh thủ chấn chỉnh lực lượng để có cơ hội thì đánh mạnh"; đồng thời không được coi thường đánh nhỏ, diệt nhỏ và phải chuẩn bị khi có điều kiện sẽ đánh lớn và diệt lớn. Trên Đường số 6, phải hoạt động quấy rối, đánh phá giao thông, ngăn chặn tiếp tế của địch. Trong đợt 2, Đại đội công binh 309 (Đại đoàn 308) được giao nhiệm vụ sử dụng mìn phóng tập kích vào đồn Pheo, Đại đội đãđánh sập 3 lô cốt, cắt đứt 3 đoạn hào và tiêu diệt nhiều tên địch ở cứ điểm đồn Pheo. Sau đó, Đại đội công binh 309 tiếp tục chôn mìn phục kích diệt 4 xe cơ giới địch trên Đường số 6. Bị thiệt hại nặng nề, địch điều thêm 2 binh đoàn cơ động (số 3 và số 7) từ đồng bằng lên tăng viện nhưng không khai thông được tuyến sông Đà. Ta tiếp tục uy hiếp mạnh địch trên Đường số 6 và cô lập địch ở thị xã Hòa Bình, quân địch bị động lúng túng đối phó. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), sau đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: Nếu ta đánh mạnh, địch sẽ rút chạy khỏi Hòa Bình. Bộ Chỉ huy quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu xuống Đường số 6 và khống chế địch vận chuyển trên sông Đà, đồng thời vây chặt địch trong thị xã Hòa Bình và sẵn sàng đánh địch rút chạy. Để bảo đảm cơ động cho các đơn vị chủ lực, Đại đội công binh 270 trở về đội hình Tiểu đoàn công binh 333, cùng Đại đội công binh 260 bảo đảm sửa đường chiến dịch từ Đồn Vàng đến Đèo Cốc. Tiểu đoàn công binh 444 sử dụng 2 đại đội công binh (313 và 314) bảo đảm sửa đường và bảo đảm bến vượt sông ở xóm Ni để Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) chuẩn bị đánh cứ điểm đồn Pheo. Các bến vượt ở xóm Ni cách đồn Pheo khoảng 500m và trong tầm hỏa lực của địch, nhưng do tổ chức chặt chẽ, bí mật, công binh đã bảo đảm cho Trung đoàn 102 vượt sông an toàn. Đêm mùng 7 tháng 1, Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm đồn Pheo (đây là vị trí quan trọng của địch nằm giữa Đường số 6 và sông Đà), Trung đoàn 66 tiến công vị trí Đầm Huống. Cả 2 đơn vị đều đánh không thành công và thương vong lớn, nhưng cũng gây cho địch nhiều thiệt hại. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) bí mật đột nhập thị xã Hòa Bình giành thắng lợi, tiêu diệt 4 vị trí ngoại vi và 1 trận địa pháo địch ở khu Kiếm Lâm, phá hủy 4 khẩu 105mm. Bị ta đánh mạnh ớ Đường số 6 và thị xã Hòa Bình, ngày 8 tháng 1, địch rút toàn bộ lực lượng ở tuyến sông Đà về giải vâycho Đường số 6 và thị xã Hòa Bình. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương tiếp tục đánh cắt Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình. Các đơn vị hoạt động trên Đường số 6 đã thực hiện đúng phương châm của Bộ, tổ chức các trận đánh nhỏ tiêu diệt, tiêu hao địch, kết hợp phá hoại, quấy rối, ngày càng đây quân địch vào vòng nguy khốn. Để chuẩn bị đánh địch rút chạy, Tiểu đoàn công binh 333 được giao nhiệm vụ sửa đường cho ôtô cơ động từ Yên Mạo qua Tu Vũ đến Đồng Việt. Tại Tu Vũ, công binh được giao nhiệm vụ bảo đảm bến vượt cầu. Nhiệm vụ bắc cầu qua sông rất khó khăn do địa chất yếu và nước chảy mạnh, đồng thời cũng dễ bị lộ do bến vượt tương đối gần địch. Để khắc phục khó khăn, các chiến sĩ công binh đã đan sọt đổ đá làm chân cầu và để giữ bí mật, công binh làm 2 vệt mặt cầu sát mặt nước. Mọi công việc được hoàn thành đúng thời hạn, 27 xe ôtô vận tải đã qua sông, kịp thời tiếp tế cho các đơn vị chủ lực đang bao vây, truy kích địch. Ngày 12 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn công binh 151 nhận lệnh bảo đảm cho 1 tiểu đoàn pháo xe kéo (gồm 1 đại đội pháo 105mm, 1 đại đội cối 120mm, 2 trung đội đạn, 1 trung đội xe ôtô) từ hậu phương hành quân ra mặt trận. Để thực hiện nhiệm vụ này, Ban Chỉ huy Trung đoàn đã điều Tiểu đoàn công binh 555 làm bên phà sông Thao ở Gia Dụ, sửa đường Đồn Vàng - Lạc Song và làm 2 công sự có nắp cho pháo ở Xóm Bún (gần Lạc Song) để pháo binh ta bắn vào cứ điểm đôn Pheo và thị xã Hòa Bình. Bị ta đánh mạnh, ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch rút chạy khỏi Hòa Bình. Trung đoàn công binh 151 được lệnh nhanh chóng bắc cầu phao ở bến Lạc Song để bộ binh qua sông Đà truy kích địch trên Đường số 6. Đại đội công binh 313 được giao nhiệm vụ này, nhưng do thiếu kinh nghiệm, trời tối và sông rộng (trên 100m), đến 2 giờ sáng ngày 24 tháng 2 mới bắc xong cầu, chậm 6 tiếng so với quy định. Để đáp ứng yêu cầu chiến dịch, công binh đã chủ động bảo đảm cho bộ binh qua sông bằng thuyền nan, lực lượng còn lại qua sông bằng cầu khi hoàn thành. Sau chiến dịch, cầu phao Lạc Song còn tiếp tục được duy trì cho các lực lượng của ta rút quân. Sau khi địch rút lui, Trung đoàn công binh 151 được giao nhiệm vụ quét mìn ở thị xã Hòa Bình để bảo đảm an toàn cho nhân dân. Đại đội công binh 270 nhận nhiệm vụ dò, gỡ mìn địch trong điều kiện không có máy dò mìn. Các chiến sĩ công binh vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, sau hơn 1 tháng đã dò, gỡ được trên 900 quả mìn các loại. Đây là đợt "quét mìn toàn diện" và thành công đầu tiên của công binh Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 09:56:22 pm 2. Bảo đảm công binh ở mặt trận địch hậu (hướng phối hợp chiến dịch)
Hướng Đại đoàn 316, Đại đội công binh 311 đi cùng Trung đoàn 174 tiên sâu vào vùng địch hậu. Trong 10 ngày, Đại đội hành quân từ Lạp Xuyên (Phú Thọ) đến Mẹt (Bắc Giang) vượt qua chặng đường 300km. Trong 3 tháng phối thuộc với Trung đoàn 174 các chiến sĩ công binh Đại đội 311 đã cùng bộ binh đánh địch ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương. Đêm mùng 6 tháng 12 năm 1951 công binh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở cửa mở và phá lô cốt đầu cầu của địch, tạo điều kiện cho bộ binh diệt đồn Larivê. Đêm 20 tháng 12 năm 1951 ta tiến công vị trí Phố Mới (Quế Võ) đêm 22 tháng 12 năm 1951, tiến công Phố Mới lần thứ hai. Công binh tiếp tục làm nhiệm vụ mở cửa mở và hướng dẫn dân quân phá hoại đoạn đường từ Bắc Ninh đến Phố Mới. Đêm 15 tháng 1 năm 1952, công binh hoàn thành nhiệm vụ bắc cầu tre dài 30m và mở cửa qua bãi vật cản bảo đảm cho bộ binh tiêu diệt vị trí Vân Thai. Trong đợt hoạt động này, Đại đội công binh 311 đã nhiều lần bắc cầu, chèo thuyền qua sông cầu, sông Thương, sông Đuống, sông Phú Lâu (Hải Dương), sông Đào (Kè Sặt), bảo đảm cho bộ binh, pháo 75mm cơ động đánh địch. Ở hướng Đại đoàn 320 (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình), Đại đội công binh 2468 của Đại đoàn cùng với dân quân và nhân dân các địa phương liên tục bảo đảm cho bộ binh, pháo binh vượt sông Đáy, sông Vạc, sông Thái Bình, sông Trà Lý tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm chủ thị trấn Phát Diệm 1 ngày và diẹt nhiều vị trí khác của địch như Ngô Khê, Vũ Diệu, La Cao, Chợ Mới... Trong trận đánh càn Mécquya ở thôn Bích Du (Thụy Anh - Thái Bình), Đại đội công binh 2468 cùng 1 tiểu đoàn bộ binh anh dũng chiến đấu phá vây, nhưng do lực lượng quá chênh lệch, Đại đội bị thương vong lớn, chỉ có một số ít anh em thoát được vòng vây. Sau khi chiến dịch kết thúc, Đại đội 2468 chuyển ra hậu phương củng cố lực lượng. Lúc nàỵ các đơn vị bộ binh và lực lượng dân quân du kích đánh mạnh khắp nơi, làm cho ngụy binh địch tan rã từng bộ phận, buộc địch phải đưa lực lượng ứng chiến ở mặt trận Hòa Bình về đỡ đòn cho mặt trận phía sau. Thắng lợi to lớn ở mặt trận phía sau lưng địch có ý nghĩa lớn, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà; đánh bại âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do của ta, phá được ý đồ giành quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch; giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4 đồng thời, phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ đồng bào Mường của địch. Trong Chiến dịch Hòa Bình, nhiệm vụ bảo đảm công binh, ban đầu không hình thành công binh chiến dịch. Các đơn vị của Trung đoàn công binh 151 được chia ra tăng cường cho các đại đoàn, bảo đảm cho các đại đoàn cơ động linh hoạt trong các hoạt động tác chiến. Đến cuối đợt 1, tình huống chiến trường thay đổi, các tiểu đoàn công binh được rút về bảo đảm cho các trục đường chiến dịch, lúc này mới hình thành bảo đảm công binh chiến dịch cho các binh đoàn chủ lực chuyển sang tiến công. Khối lượng bảo đảm đường của công binh cũng không nhiều, do cơ bản tận dụng được mạng đường có sẵn và sử dụng lực lượng dân công vận chuyển nhưng việc bảo đảm bến vượt, làm cầu, làm phà chuyên chở cho lực lượng chủ lực qua sông rất khẩn trương trong điều kiện gần địch, thời gian gấp và bị hỏa lực địch uy hiếp. Các đơn vị công binh đã kiên quyết, dũng cảm, vượt qua khó khăn, ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ. Kết thúc Chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn công binh 151 được tặng thường Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ba đơn vị công binh của Trung đoàn được vinh dự nhận 3 cờ thưởng của Bác Hồ: Đại đội 313 được thưởng cờ "Liên tục vượt sông Đà" Đại đội 314 được thường cờ "Anh dũng vượt sông Đà", Đại đội 270 được thường cờ "Bảo đảm đường tiếp tế Hòa Bình". Đây không chỉ là phần thưởng cao quý mà còn là sự ghi nhận những đóng góp quan trọng của lực lượng công binh vào chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 09:57:06 pm Qua chiến dịch này cho thấy lực lượng công binh đã có bước phát triển về tổ chức bảo đảm công binh chiến dịch cũng như khả năng sử dụng vũ khí công binh truy kích, tiêu diệt địch và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý:
Một là, nắm chắc ý định và các tình huống chiến dịch luôn chủ động kịp thời chuyến hướng phù hợp với diễn biến của tình hình mới Trong tác chiến chiến dịch, các tình huống có thể xảy ra liên tục, khấn trương, diễn biến trên chiến trường phức tạp và ác liệt nhiều tình huống ngoài dự định. Vì vậy, cơ quan và người chỉ huy đơn vị bảo đảm công binh phải luôn chủ động nắm chắc ý định các phương án tác chiếncủa người chỉ huy bảo đảm cơ động để có phương án bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông hợp lý, kịp thời. Nhiệm vụ bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông trong tác chiếnchiến dịch thường phải triển khai cùng một lúc trên các hướng, nhiều khu vực, nhiều đối tượng và lực lượng tham gia. Do đó phái có kế hoạch tổ chức, chỉ huy, chỉ đạo lực lượng công binh các cấp thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông theo quyết tâm của người chỉ huy. Chiến dịch Hòa Bình là chiến dịch tiến công vào quân địch mới tỏa ra chiếm đóng, công sự chưa vững chắc; thời gian chuan bị chiến dịch gấp. Kế hoạch chiến dịch mới xác định được đợt 1, sau đó được bổ sung quá trình phát triển chiến dịch, về nhiệm vụ bảo đảm công binh, trong giai đoạn chuẩn bị chủ yếu là bảo đảm cho bộ binh vận động tiến công và bảo đảm cơ động trong khu vực chiến dịch, trọng tâm là qua sông Thao, sông Đà. Sang đợt 2 của chiến dịch, toàn bộ công binh chiến dịch tập trung bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông cho ôtô vận tải hậu cần và các đơn vị pháo cơ giới tăng cường cho chiến dịch tiến công địch. Nắm chắc ý định của trên và hiểu rõ nhiệm vụ công binh chủ yếu trong từng giai đoạn tác chiến, lực lượng công binh tham gia chiến dịch đã tích cực, chủ động, kịp thời chuyển hướng phù hợp với tình hình mới và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm công binh được giao. Lực lượng công binh lúc đầu sử dụng phân tán, sau tập trung là kịp thời phù hợp yêu cầu tác chiến. Giai đoạn tổ chức chuẩn bị Tiểu đoàn công binh 333 phân tán (1 đại đội làm Sở Chỉ huy,1đại đội phối thuộc Đại đoàn 312, 1 đại đội phối thuộc Đại đoàn 308), lúc đầu sử dụng lực lượng phân tán, do ta chủ trương tiến hành chiến dịch phản công để đánh bại cuộc tiến công của địch. Song quá trình chiến dịch, ta không chuẩn bị kịp để tiến hành ngay chiến dịch phản công. Do vậy ta phải chuyển từ chiến dịch phản công sang chiến dịch tiến công. Để bảo đảm cho chiến dịch tiến công giành thắng lợi, công binh phải tập trung lực lượng vào nhiệm vụ công binh chủ yếu trên mặt trận chính cho các lực lượng cơ động vào tác chiến chiến dịch đúng thời gian quy định. Theo yêu cầu nhiệm vụ, Tiểu đoàn công binh 333 (tập trung đủ3đại đội) bảo đảm đường cho ôtô từ Yên Mạo qua Tu Vũ đến Đồng Việt và bắc cầu Tu Vũ. Nhờ có sự tập trung đã phát huy được khả năng của toàn bộ lực lượng vào nhiệm vụ sửa đường, bắc cầu và hoàn thành đúng thời hạn, 27 xe ôtô vận tải đã qua sông, kịp thời tiếp tế cho các đơn vị chủ lực tăng cường cơ động vào đánh địch. Hai là, triệt để tận dụng địa hình, mạng đường, công trình, bên vượt có sẵn giữ được yêu tố bí mật, bất ngờ và triển khai nhiệm vụ bảo đảm công binh kịp thời đáp ứng yêu cầu chiến dịch Chiến dịch tiến công Hòa Bình diễn ra trên mặt trận chính là vùng rừng núi sát với đồng bằng, có Đường số 6 và sông Đà là đường giao thông huyết mạch chính; ở mặt trận phía sau lưng địch là địa bàn rộng lớn khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch Hòa Bình là bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời cũng là bước nhảy vọt của nghệ thuật quân sự Việt Nam, phát huy cao độ sức mạnh của lực lượng chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương, của mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận phía sau ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, buộc địch phải phân tán đối phó. Nhiệm vụ của lực lượng công binh trong chiến dịch hết sức nặng nề, khối lượng công việc lớn trải dài trên phạm vi rộng, qua nhiều địa hình phức tạp, thời gian làm công tác chuẩn bị gấp... Để hoàn thành nhiệm vụ, công binh phải có sự chuẩn bị trước và huy động được đông đảo lực lượng cùng tham gia và tận dụng được vật liệu tại chỗ của địa phương, kết hợp với công tác ngụy trang, nghi binh khôn khéo để giảm khối lượng và thời gian. Đây chính là những yếu tố để lực lượng công binh hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo đảm công binh cho chiến dịch. Quá trình thực hiện nhiệm vụ nhờ giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ làm cho địch không kịp đối phó, do vậy việc mở đường cho bộ binh xuất kích, việc bắc cầu, chèo thuyền cho các phương tiện và bộ binh qua sông giữ được bí mậtan toàn, bảo đảm cho bộ binh, pháo binh tiến côngcứ điểm Tu Vũ giành thắng lợi. Cũng để bảo đảm bí mật, an toàn cho các đơn vị tác chiến, lực lượng công binh đã thực hiện một số biện pháp bảo mật cần thiết như: Một trung đội thuộc Đại đội công binh 313 đã không sử dụng thuốc nổ phá cầu mà dùng cưa cắt các dầm cầu và chân cầu để ngăn chặn cơ giới địch. Khi bắc cầu Tu Vũ, các chiến sĩ công binh đã đan sọt đổ đá làm chân cầu, mặt cầu sát mặt nước để ngụy trang. Hay việc bí mật dò, gỡ mìn bẫy, mìn chống bộ binh của địch, bảo đảm cho các đơn vị cơ động vào khu vực tác chiến được bí mật, an toàn. Ba là, phát huy sức mạnh của các lực lượng tham gia, lấy lực lượng công binh làm nòng cốt nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm công binh trong tác chiến chiến dịch Việc huy động công binh cùng các lực lượng khác tham gia chiến dịch đã thực hiện được nhiệm vụ bảo đảm cơ động trong suốt giai đoạn chuẩn bị và thực hành chiến dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội cơ động và thực hành chiến dịch bí mật, kịp thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung. Trong Chiến dịch Hòa Bình, nhiệm vụ bảo đảm công binh rất phức tạp, thời gian gấp, tình huống khẩn trương, khối lượng cung cấp lớn, các mạng đường giao thông bị gián đoạn nên rất khó khăn, nhưng do biết tận dụng khả năng của các địa phương đã giải quyết được việc bảo đảm vận chuyển và tổ chức thành 2 hành lang: Một hành lang phục vụ cho các đơn vị tác chiến khu vực sông Đà, thị xã Hòa Bình và một hành lang phục vụ cho các đơn vị tác chiến khu vực Nam thị xã Hòa Bình và Đường số 6. Đồng thời các phương tiện vận chuyển của địa phương đều được tận dụng, kết hợp chặt chẽ giữa thô sơ và cơ giới. Phía Bắc thị xã Hòa Bình tổ chức làm 3 tuyến: Tuyến cơ giới, tuyến thuyền và tuyến dân công xe thồ. Tuyến cơ giới dài 80km có 27 xe ôtô chở vũ khí đạn; tuyến thuyền dài 50km có trên 100 thuyền lớn nhỏ để chở gạo; tuyến dân công tải bộ và xe thồ dài trên 100km vận chuyển lương thực, thực phẩm. Chính vì được tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo, huy động được nhiều lực lượng tham gia cho nên việc mở đường cho ôtô từ Phú Thọ - Đồn Vàng - Hòa Bình - Nho Quan - Kim Tân đã nhanh chóng hoàn thành, cùng với việc hoàn thành nhiều tuyến đường nhánh đến các trận địa. Đồng thời, công binh đã thực hiện tốt công tác phối hợp với các lực lượng tham gia chiến dịch vào làm bến vượt, làm cầu phao (Cẩm Khê, Yên Lập, Ngọc Lập, Thục Luyện...). Trong thời gian ngắn, công binh đã sửa chữa được 60km đường, làm 44 cầu cho xe ôtô; 143km đường, 450 cầu phao cho bộ binh và dân công qua lại; trên tuyến sông Hồng từ Thanh Ba đến sông Hứa, công binh huy động hơn 1.000 chiếc thuyền lớn nhỏ tham gia vận chuyển cung cấp kịp thời cho mặt trận. Việc huy động các lực lượng chiến dịch cùng tham gia vận chuyển và bảo đảm cơ động do công binh làm nòng cốt trong suốt giai đoạn chuẩn bị và thực hành chiến dịch đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường Bắc Bộ có lợi cho ta và đưa nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển lên một bước mới cao hơn. Bảo đảm công binh Chiến dịch Hòa Bình đã chứng tỏ sự trưởng thành, phát triển quan trọng trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy thực hiện nhiệm vụ bảo đảm công binh cho chiến dịch từ phản công chuyển sang chiến dịch tiến công trong điều kiện thời gian gấp, diễn biến chiến trường khẩn trương, mau lẹ là bước phát triển mới. Việc sử dụng lực lượng công binh giai đoạn tổ chức chuẩn bị phân tán sang sử dụng lực lượng tập trung giai đoạn thực hành tácchiến là kịp thời, đáp ứng yêu cầu diễn biến thực tế chiến trường. Trong Chiến dịch Hòa Bình, công binh còn phát huy được khả năng đánh mìn trên Đường số 6 để tiêu hao và tạo điều kiện cho bộ binh truy kích, tiêu diệt địch được nhiều hơn. Đây chính là bước phát triển, là những bài học quý trong quá trình xây dựng, trưởng thành, không ngừng lớn mạnh của lực lượng công binh. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 09:58:22 pm LỰC LƯỢNG PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thiếu tướng NGUYỄN HỒNG PHONG Tư lệnh Binh chủng Pháo binh Từ sau thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, đánh dấu bước phát triển về lực lượng, nội dung và hình thức chiến thuật pháo. Ngày 27 tháng 3 năm 1951, Đại đoàn 351 - Đại đoàn công pháo đầu tiên của Quân đội ta được thành lập. Đại đoàn được trang bị sơn pháo 75mm và 2 khẩu pháo 105mm chiến lợi phẩm của Chiến dịch Biên Giới. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới về quy mô tổ chức lực lượng, đáp ứng yêu cầu chiến thuật "đánh điểm, diệt viện", "đánh vận động bằng tiểu đoàn tập trung rồi tiến lên thực hiện đánh vận động bằng trung đoàn dã chiến". Sau thất bại mang tính chiến lược trên tuyến phòng thủ Biên Giới, để đối phó với đà tiến công của quân ta, thực dân Pháp đã tăng quân, thay tướng, triển khai một loạt biện pháp chiến lược như xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh, phát triển tề ngụy, lập tuyến phòng thủ bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định cho được vùng tạm chiếm, đánh phá ác liệt căn cứ hậu phương và chuẩn bị tiến công ra vùng tự do của ta. Ngày 9 tháng 11 năm 1951,quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3),1tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Ngày 14 tháng 11, Pháp tăng cường thêm2binhđoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở cuộc hành quân Lôtuýt đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6, Ba Vì. Mục tiêu của địch nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Đến ngày 15 tháng 11 năm 1951, sau khi đánh chiếm Hòa Bình, địch tập trung binh lực trên 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì và Phân khu Hòa Bình - Đường số 6, ngoài ra có phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông bảo vệ Hòa Bình. Tại Phân khu Hòa Bình - Đường số 6, một tập đoàn cứ điểm dần dần hình thành ở thị xã với 6 tiểu đoàn bộ binh, trận địa pháo, sân bay, sở chỉ huy phân khu; cùng với 2 tiểu đoàn bộ binh phân tán ở một sốcứ điểm dọc Đường số 6. Phân khu sông Đà gồm 2 tiểu khu Đan Thê - La Phù và Tu Vũ - Núi Chẹ. Đánh giá tình hình và âm mưu của địch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là một cơ hội hiếm có để ta có thể tiêu diệt sinh lực địch cả trên chiến trường phía trước và vùng địch hậu. Mọi nỗ lực phải được tập trung vào nhiệm vụ đánh bại cuộc hành binh của địch chiếm đóng Hòa Bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Lực lượng tham gia Chiến dịch Hòa Bình trên mặt trận chính gồm 3 đại đoàn bộ binh 304, 308 và 312. Để thực hiện chủ trương đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng tạm bị chiếm,khi địch tung quân chủ lực ra hướng Hòa Bình có nhiều sơ hở, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch Hòa Bình của ta, Tổng Quân ủy lệnh cho Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng, cùng với các lực lượng địa phương tại chỗ tiến công địch, phát động nhân dân nổi dậy diệt tề trừ gian, nhanh chóng mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích tạo thế mới cho ta trong vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ và phối hợp với chiến trường chính. Cùng với các lực lượng pháo binh của các đại đoàn bộ binh, lực lượng pháo binh tham gia Chiến dịch Hòa Bình có Trung đoàn sơn pháo 675 của Đại đoàn công pháo 351, gồm 2 tiểu đoàn (175 và 275), trang bị 24 khẩu sơn pháo 75mm và pháo binh trực thuộc các đại đoàn bộ binh. Lực lượng pháo binh trong các đại đoàn bộ binh có tiểu đoàn, đại đội pháo binh; được trang bị sơn pháo 75mm, SKZ 120mm, cối 81mm hoặc ĐKZ 75mm, cối 120mm. Theo nhiệm vụ được giao, Trung đoàn sơn pháo 675 tổ chức phân chia lực lượng pháo binh như sau: Tăng cường Tiểu đoàn sơn pháo 275 cho Đại đoàn 308; tăng cường 1 đại đội pháo của Tiểu đoàn sơn pháo 175 cho Đại đoàn 312 đảm nhiệm hướng chủ yếu của chiến dịch đánh địch trên hướng phòng tuyến Sông Đà. Sử dụng 1 đại đội pháo của Tiểu đoàn 175 phục kịch trên sông Đà, có nhiệm vụ diệt canô, tàu chiến địch. Phối thuộc 1 đại đội pháo của Tiểu đoàn 175 cho Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng Bắc Ninh, Bắc Giang. Nghiên cứu về tình hình địch, cơ quan tham mưu chiến dịch nhận thấy: Khi ta nổ súng tiến công một trong hai phân khu, địch có thể tăng viện ứng cứu từ nhiều hướng, bằng đường bộ, đường sông hoặc bằng quân dù. Ta không đánh vào hình thức tập đoàn cứ điểm Hòa Bình vì đòi hỏi nhiều thời gian chuẩn bị và nhất là quân ta lúc này chưa có kinh nghiệm. Ta cũng không tập trung binh lực đánh ngay trên Đường số 6, vì mặc dù các cứ điểm địch cách xa nhau, dễ bị chia cắt, nhưng địa hình trống trải, lại phải qua sông, khó tiếpcận. Ở Phân khu Sông Đà - Ba Vì, ta nhận thấy tiểu khu Tu Vũ - Núi Chẹ tương đối yếu hơn vì ở vào vị trí cô lập, có sông ngăn cách, xa căn cứ Sơn Tây, Trung Hà. Muốn ứng cứu cho tiểu khu này, địch chỉ có 1 đường bộ (Đường số 87) và 1 đường thủy (sông Đà). Trên tuyến sông Đà (từ Hòa Bình đi Trung Hà), 2 cứ điểm Tu Vũ và Núi Chẹ quan hệ mật thiết với nhau (Núi Chẹ là trận địa hỏa lực và căn cứ hậu cần của Tu Vũ; còn Tu Vũ là bình phong của Núi Chẹ), nhưng giữa hai cứ điểm lại có sông ngăn cách. Để bảo đảm trận mở màn thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến địch phát triển và mở hành lang vận chuyển hậu cần chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tập trung binh hỏa lực đột phá tuyến sông Đà, bắt đầu bằng trận tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ - Núi Chẹ. Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) và Đại đoàn 312 đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh phòng tuyến sông Đà; Đại đoàn 304 hướng thứ yếu, kiềm chế địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6; Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 làm lực lượng dự bị, đứng chân ở Cổ Tiết (phía Nam thị xã Phú Thọ), cùng lực lượng địa phương sẵn sàng đánh địch càn quét khu vực Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hóa, Đường số 2. Bộ Chỉ huy xác định cách đánh chiến dịch là đánh điểm diệt viện, kết hợp đánh địch trong công sự với đánh phục kích, đánh địch càn quét, hoặc tăng viện, ứng cứu bằng đường bộ, đường sông hoặc đường không. Đêm mùng 10 rạng ngày 11 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn pháo binh 275 tập trung 8 khẩu sơn pháo 75mm chi viện cho Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Tu Vũ, mở màn chiến dịch. Tu Vũ là một cứ điểm lớn thuộc cụm phòng ngự then chốt của Phân khu Sông Đà do 1 tiểu đoàn lính Marốc và 1 phân đội (3 chiếc) xe tăng chiếm giữ. Tu Vũ được các trận địa pháo từ Đá Chông, Núi Chẹ, Thủ Pháp bắn yểm trợ. Với sự chi viện kịp thời của hỏa lực pháo binh đã tạo điều kiện cho bộ binh hình thànhcác mũi tiến công tiêu diệt các cụm quân địch. Đến 4 giờ ngày 11 tháng 12, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Tu Vũ. Kết quả, ta tiêu diệt 159 tên địch, bắt 12 tên, bắn cháy 1 xe tăng, 2 xe thiết giáp, phá hủy 5 khẩu pháo, thu 1 khẩu ĐKZ, 1 khẩu badôca 60mm, 1 khẩu cối 60mm. Chiều ngày 11 tháng 12, Đại đội 756 Tiểu đoàn pháo binh 275 chi viện cho Trung đoàn 36 Đại đoàn 308, đánh trận vận động phục kích diệt gọn đoàn tàu 5 chiếc ờ gần bên Lạc Song. Nhận được tin vui, Bác Hồ đã tặng Đại đội pháo binh 756 lá cờ "Chiến thắng Lạc Song". Sau 4 ngày đầu chiến dịch, lực lượng pháo binh đã hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho bộ binh đánh địch càn quét ở Nam Ba Vì, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ và bắn chìm tàu địch trên sông Đà, đánh phục kích địch trên Đường số 6. Tuy vậy, do chiến đấu trong điều kiện phi pháo địch mạnh, cơ động chiếm lĩnh bị lộ nên pháo binh bị thương vong nặng, mất sức chiến đấu 2 đại đội, hỏng 4 khẩu pháo phải lui về sau củng cố. Bước vào đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương đẩy mạnh hoạt động quấy rối, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, phá giao thông, chặn tiếp tế. Bằng cách đánh đó, quân ta vừa kìm chân địch, vừa dồn chúng vào thế khó khăn lúng túng hơn nữa, trước yêu cầu bảo vệ tuyến giao thông đường bộ để tiếp tế và tăng viện, buộc địch phải tiếp tục phân tán binh lực hơn nữa đối phó trên cả 2 hướng sông Đà và Đường số 6, làm cho tập đoàn cứ điểm Hòa Bình càng thêm cô lập. Thực hiện chủ trương trên, từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 12, pháo binh đã chi viện cho Đại đoàn 308 và 2 tiểu đoàn của Đại đoàn 312 tiến công cứ điểm Đá Chông để thu hút địch, đánh viện binh địch trên các đường 84, 87 và trên sông Đà, tiêu diệt địch trên các điểm cao 400, 600 Ba Vì và Núi Chẹ, thu hút và đánh viện binh trên đường Mỹ Khê - Ba Vì, tiếp tục chi viện cho Đại đoàn 304 đánh địch trên Đường số 6. Đêm 29 tháng 12, Trung đoàn 141 Đại đoàn 312, được trang bị 4 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 82mm, 6 khẩu cối 60mm đã bí mật tập kích địch trên các điểm cao 400, 600 Ba Vì. Kết quả, ta diệt 120 tên, bắt 86 tên, thu 1 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 60mm. Đây là một trận đánh đạt hiệu suất cao, ta thương vong ít. Trận tiến công Điểm cao 600 Ba Vì thể hiện trình độ vận dụng chiến thuật và chỉ huy hiếp đồng, trình độ kỹ chiến thuật của người chỉ huy binh chủng hợp thành và bộ đội Pháo binh đã có bước tiến rõ rệt. Khi thực hành chiến đấu, người chỉ huy pháo binh xử trí tình huống đánh địch linh hoạt kịp thời. Trong trận đánh, pháo binh bám sát bộ binh, chi viện có hiệu quả tạo điều kiện để bộ binh vận dụng các thủ đoạn thọc sâu, vu hồi đánh vào phía sau, bên sườn địch. Đồng thời, pháo binh đã sử dụng hỏa lực tạo nên sức mạnh cần thiết để chi viện bộ binh nhanh chóng đánh chiếm ngay địa hình có lợi, mục tiêu chủ yếu mà các trận đánh trước đây chưa thực hiện được. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 09:59:19 pm Đợt 3 chiến dịch bắt đầu từ ngày 7 tháng 1 năm 1952. Bộ Chỉ huy xác định phương hướng tác chiến trong đợt 3 là lấy Bắc Đường số 6 làm hướng tiến công chủ yếu, tranh thủ tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, đồng thời tiếp tục khống chế đường vận chuyển của địch trên sông Đà, bám sát và vây chặt địch trong tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Phía Bắc Đường số 6 trở thành hướng tiến công chủ yếu do Đại đoàn 308 (được tăng cường Trung đoàn 66 Đại đoàn 304) đảm nhiệm; Đại đoàn 304 (thiểu Trung đoàn 66), phụ trách phía Nam Đường số 6; Đại đoàn 312 đánh địch trên khu vực Ba Vì. Yêu cầu trên hướng tiến công chủ yếu là vừa thực hiện tốt đánh điểm diệt viện trên Đường số 6, vừa sẵn sàng lực lượng đánh địch khi chúng rút chạy.
Mở đầu đợt 3 của chiến dịch, đêm mùng 7 tháng 1, Đại đội 755 Tiểu đoàn sơn pháo 175 chi viện cho Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 tiêu diệt 4 vị trí vòng ngoài tập đoàn cứ điểm Hòa Bình là Đồi Cháy, Đồi Rò, Khuỷu, Dậm và tập kích vào trận địa pháo binh địch trong tập đoàn cứ điểm. Chỉ với một đại đội trang bị gọn nhẹ tổ chức thành từng bộ phận nhỏ, ta đã luồn qua các cứ điểm ngoại vi, bất ngờ tập kích phá hủy 4 khẩu pháo 105mm, diệt đại đội bảo vệ, bắt viên đại úy chỉ huy pháo binh địch trong tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Trên Đường số 6, pháo binh chi viện cho Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 và Trung đoàn 66, Đại đoàn 304 tiến công 2 cứ điểm Pheo và Đầm Huống. Do hiệp đồng bộ binh - pháo binh và đối phó với hỏa lực xe tăng, pháo binh địch trong và sau khi mở cửa chưa tốt là những nguyên nhân dẫn đến trận đánh không thành công và thương vong cao. Đúng như phán đoán của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, bảo vệ Đường số 6 đã trở thành yêu cầu cấp bách đối với địch, khi chúng không khai thông được tuyến sông Đà và khi tuyến đường bộ này ngày càng bị uy hiếp mạnh, thị xã Hòa Bình càng bị cô lập; địch đã phải rút lực lượng từ phía sông Đà xuống, hành quân thận trọng, rải quân chiếm đóng thêm nhiều điểm cao dọc Đường số 6. Rõ ràng, khi quân ta bước vào đợt 3 thì thế trận trên Mặt trận Hòa Bình - Đường số 6 đã trở nên rất bất lợi đối với địch. Các vị trí địch rải trên tuyến dài dọc Đường số 6 dễ bị chia cắt, nhất là các vị trí mới chiếm đóng, công sự lại chưa kiên cố. Trong thị xã quân địch đông, các cứ điểm có khả năng yểm trợ và chi viện cho nhau, nhất là bằng hỏa lực pháo binh, nhưng khó khăn nổi bật là tiếp tế và tinh thần binh lính mệt mỏi, căng thẳng. Trong khi đó, ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng cơ động bị điều đi đối phó ở phía trước nên đã hình thành "những khoảng trống" rất lớn. Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 cùng với các lực lượng địa phương nhạy bén nắm bắt thời cơ, tiến công liên tiếp, đánh thắng giòn giã phát động chiến tranh du kích, mở toang vùng địch chiếm, thiết lập hàng chục căn cứ du kích, vùng du kích liên hoàn với nhau, làm đảo lộnhoàn toàn thế trận đồng bằng Bắc Bộ có lợi cho ta. Từ trung tuần tháng 1 năm 1952, vấn đề rút quân khỏi Hòa Bình đã trở thành bài toán gay gắt đối với Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định, khi quân ta chưa tiến công tập đoàn cứ điểm thị xã Hòa Bình, địch sẽ cố gắng khắc phục khó khăn về tiếp tế, cố gắng bảo vệ Đường số 6 và kéo dài chiếm đóng Hòa Bình thêm một thời gian; thời gian đó dài hay ngắn tùy thuộc vào khả năng và cường độ hành động của ta. Do đó, lúc này khả năng đánh địch trong công sự vững chắc có giảm nhưng khả năng đánh địch vận động còn nhiều, nhất là những trận đánh nhỏ nhằm tranh thủ tiêu diệt thêm sinh lực địch, đi đôi với liên tục phá hoại cầu đường, làm gián đoạn việc vận chuyển trên Đường số 6. Từ ngày 19 tháng 1 năm 1952, nhằm tăng cường hỏa lực cho những trận quyết định cuối cùng trong chiến dịch tiến công Hòa Bình, Đại đội 113 cối 120mm vượt sông Đà sang Đường số 6, cùng Đại đội sơn pháo 753 của Tiểu đoàn pháo 275 phối thuộc Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 vận động phục kích trên đoạn đường từ Ao Trạch đến Pheo. Với phương thức hoạt động mới này dần dần làm cho việc vận chuyển của địch trên Đường số 6 hầu như bị tê liệt. Việc tiếp tế cho thị xã Hòa Bình và các vị trí từ Ao Trạch đến Phương Lâm chủ yếu dựa vào đường không. Sau khi phân tích tình hình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định thay đổi cách đánh, sử dụng 1/3 lực lượng bám đánh địch, giam chân chúng trong thị xã Hòa Bình và khoét sâu những khó khăn của chúng càng lâu càng tốt, 2/3 lực lượng vừa củng cố chấn chỉnh, vừa sẵn sàng nhận lệnh chiến đấu. Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ thị cho Đại đoàn 351 thành lập Đại đội 119 pháo xe kéo, biên chế 2 khẩu pháo 105mm (chiến lợi phẩm ta thu được trong Chiến dịch Biên Giới) và 3.000 viên đạn. Ngay trong đêm 19 tháng 2, Đại đội đã chiếm lĩnh xong trận địa ở phía Tây đồn Tu Vũ, có nhiệm vụ bắn vào thị xã Hòa Bình và Đường số 6. Đây là đại đội pháo binh xe kéo đầu tiên của Quân đội ta, đánh dấu bước phát triển trang bị trong xây dựng lực lượng pháo binh. Địch cố tìm cách đối phó hòng thoát khỏi tình thế bất lợi nói trên. Từ ngày 21 tháng 1, chúng tung 11 tiểu đoàn bộ binh và 1 cụm pháo chiếm đóng thêm nhiều vị trí trên đoạn đường từ An Ao Trạch đến Hàm Voi nhằm hạn chế hoạt động tác chiến phục kích và phá hoại cầu đường của ta. Quá trình địch ken dày lực lượng ở các vị trí dọc Đường số 6, cũng là quá trình ta có thêm điều kiện thực hiện chủ trương đánh nhỏ nhưng hiệu suất cao, kết hợp tác chiến với phá hoại và quấy rối thường xuyên suốt dọc đường. Trung bình cứ vài ba ngày, quân ta lại đánh được 1 trận nhỏ hoặc vừa, tiêu diệt trên dưới 1 đại đội địch, phá hủy một số xe cơ giới, bắn rơi một vài máy bay. Từ trung tuần tháng 2 năm 1952, khi phát hiện địch chuẩn bị rút chạy khỏi Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định sử dụng 4 đại đội sơn pháo 75mm của Trung đoàn 675, Đại đội pháo xe kéo 119 và toàn bộ các phân đội cối 81 trong biên chế của Trung đoàn bộ binh 36 triển khai 5 vị trí trên dãy điểm cao 140, 128 sát bở tả ngạn sông Đà sẵn sàng đánh địch rút chạy. Hệ thống đài quan sát được tổ chức đủ ở 3 cấp gồm đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Đài quan sát của Trung đoàn trưởng pháo binh đặt trên điểm cao 210, có thể quan sát toàn bộ khu vực thị xã Hòa Bình Đường số 6 từ Bến Ngọc đến Pheo. Lúc 10 giờ ngày 21 tháng 2 năm 1952, pháo 105mm được lệnh bắn thử vào đồn Pheo. Đêm 22 tháng 2 năm 1952, lợi dụng đêm tối, địch bỏ thị xã Hòa Bình rút chạy theo Đường số 6 và sông Đà. Trung đoàn bộ binh 36 lệnh cho các mũi xuất kích đánh thẳng vào thị xã. Từ 3 giờ sáng ngày 23 tháng 2 năm 1952, theo lệnh của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đại đội pháo 105mm, 2 đại đội súng cối 81mm, 2 đại đội sơn pháo 75mm bắn mạnh vào Phương Lâm, Bến Ngọc và cầu Phao. Trong buổisáng ngày 23, pháo binh đã bắn cháy, bắn hòng 23 xe, trong đó có 2 xe tăng, cùng bộ binh diệt 2 đại đội địch. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch trong Đông - Xuân 1951 - 1952, trong đó có nghệ thuật sử dụng pháo binh. Trong chiến dịch, ta đã tập trung pháo binh đánh trúng vào nơi hiểm yếu nhất của địch ở sông Đà và Đường số 6, triệt giao thông thủy bộ, cô lập địch ở thị xã Hòa Bình. Đây là đòn đánh hiểm, đúng vào chỗ yếu nhất của địch trong chiến dịch. Đồng thời, trong tổ chức phân chia pháo binh đã có pháo binh trực thuộc chiến dịch, pháo binh của đại đoàn bộ binh tập trung trên hướng chủ yếu, khu vực tác chiến chủ yếu. Qua đó, kiên quyết tập trung hỏa lực vào khu vực, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu trong từng đợt tác chiến. Những thành công về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch đã thể hiện sự trưởng thành rõ rệt về tổ chức lực lượng và trình độ tác chiến, từng bước khăng định pháo binh là hỏa lực mặt đất chủ yếu trong tác chiến hiệp đồng binh chủng. Đây là cơ sở rất quan trọng để phát triển nghệ thuật sử dụng pháo binh trong các chiến dịch tiếp theo của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 10:00:56 pm BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thiếu tướng KHÚC ĐĂNG TUẤN Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc Sau thất bại ở biên giới trong Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở Đường số 18, Hà Nam Ninh, quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để giành lại quyền chủ động, mùa Đông năm 1951, quân Pháp mở cuộc tiến công Hòa Bình, lập phòng tuyến sông Đà nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây", tăng cường phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc của ta với các liên khu 3 và 4. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp và quyết định đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sửquân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Tập IV, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 150). Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định, đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh Hòa Bình, địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình phức tạp, công sự chưa vững chắc. Mặt khác, vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dànmỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước. Căn cứ vào nhận định trên, Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tiến công lớn trên cả hai mặt trận: Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hòa Bình và đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạchchiếm đóng Hòa Bình của quân Pháp, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TU "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Trên cơ sơ chỉ thị của Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng lực lượng như sau: Trênhướng chính sử dụng 3 đại đoàn 308, 312, 304 và lực lượng vũ trang địa phương có nhiệm vụ vây hãm và tiêu diệt quânđịch ở Mặt trận Hòa Bình. Hướng phối hợp sử dụng 2 đại đoàn 320, 316 phối hợp lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch ở trung du vàđồng bằng Bắc Bộ. Trong chiến dịch này, vượt qua những khó khăn về địa hình, phương tiện cá nhân hạn chế, bộ đội Thông tin đã tổ chức liên lạc chặt chẽ bảo đảm chỉ huy thông suốt, vững chắc trong mọi tình huống, góp phần to lớn vào thắng lợi của chiến dịch. Thành tích của công tác bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ cho chiến dịch là kết quả của những nguyên nhân chính sau: Thứ nhất, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ được giao, chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện mọi mặt; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong bảo đảm thông tin liên lạc tác chiến Ngày 20 tháng 11 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưuchỉ thị cho Cục Thông tin liên lạc chuẩn bị lực lượng, phương tiện sẵn sàng phục vụ chiến dịch. Trong điều kiện vừa phải bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy các chiến trường toàn quốc, vừa phải tổ chức lực lượng, phương tiện thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch; trang bị phương tiện còn hạn chế, thời gian yêu cầu rất khẩn trương, Cục Thông tin liên lạc đã quán triệt sâu sắc chỉ thị của cấp trên, chuẩn bị mọi mặt để bảo đảm tốt thông tin liên lạc phục vụ choChiến dịch Hòa Bình. Cục tiến hành kiện toàn lại Ban Thông tin Chiến địch, đồng chí Hoàng Bửu Đôn - Bí thư Đảng ủy trực tiếp làm Trưởng ban, đồng chí Nguyễn Văn Tình - Cục phó làm Phó ban. Cục thành lập Đảng ủy Tiền phương để lãnh đạo các liên chi, chi bộ thuộc Đảng bộ tham gia chiến dịch. Các đơn vị trực thuộc Ban Thông tin Chiến dịch gồm: Tiểu đoàn thông tin dã chiến 303 (có Đại đội hữu tuyến điện 99, trang bị 40 máy điện thoại, 3 tổng đài và 80km dây bọc; Đại đội liên lạc chuyển đạt 103; Đội liên lạc vô tuyến điện 101 có 3 liên đài, mỗi liên đài có 2 máy thu phát V101 và 1 máy 15PM làm dự bị); 1 liên đài dùng máy thu phát MK2 kèm theo máy phát điện để liên lạc với các chiến trường ở xa về hậu phương, Bộ Tổng Tư lệnh và Đội thông tin chuyển đạt 231. Khi các đơn vị chuẩn bị lên đường làm nhiệm vụ, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục bổ sung cho Cục Thông tin liên lạc 10 cán bộ vừa tốt nghiệp Khóa 6, Trường Sĩ quan Lục quân 1 về tăng cường cho Tiểu đoàn thông tin dã chiến 303. Cùng với đó, lực lượng thông tin liên lạc của các đơn vị tham gia chiến dịch cũng được chuẩn bị chu đáo, cụ thể: ở các đại đoàn có ban thông tin, đại đội thông tin liên lạc, mỗi đại đội có 1 trung đội liên lạc chuyển đạt 50 người 5 xe đạp, 4 ngựa; 3 trung đội hữu tuyến điện 120 người, 30 máy2 tổng đài, 50km dây bọc; 1 trung đội vô tuyến điện có 3 máy 15W và 3 máy bộ đàm BC1000. Mỗi trung đoàn thuộc đại đoàn có đại đội thông tin gồm 1 trung đội liên lạc chuyển đạt với súng pháo hiệu, kèn, cơ, lộ tiêu; 1 trung đội hữu tuyến điện có 18 máy 1 tổng đài, 20km dây bọc; 1 tiểu đội vô tuyến điện có 1 máy 15W. Mỗi tiểu đoàn có 1 tiểu đội liên lạc chuyển đạt. Riêng Đại đoàn 304 còn có hơn 20km dây điện thoại. Trên đường hành quân, theo chỉ thị của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, các chiến sĩ Thông tin liên lạc, nhất là liên lạc vô tuyến điện vừa đi vừa giữ liên lạc với các đại đoàn, như: Đại đoàn 312 đang đánh địch ở Lai Đồng - Thu Cúc, các đại đoàn 316, 320 đanghành quân vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Đại đoàn 304 từ Thọ Xuân (Thanh Hóa) đang hành quân ra Mặt trận Hòa Bình. Theo kế hoạch, trên Mặt trận Hòa Bình - Đường số 6, Ban Thông tin Chiến dịch giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn thông tin dã chiến 303 cùng với thông tin liên lạc Đại đoàn 308 tổ chức mạng điện thoại từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống các đơn vị gồm: Sở Chỉ huy Đại đoàn, đài quan sát mặt trận, Trung đoàn 88 chuẩn bị đánh cứ điểm Tu Vũ; Trung đoàn 36 phục kích dọc sông Đà (đoạn Tu Vũ - Hòa Bình) và Trung đoàn 102, lực lượng dự bị chiến dịch. Đội liên lạc vô tuyến điện 101 cử người xuống Đại đoàn hiệp đồng tổ chức mạng hen lạc vô tuyến điện vượt cấp với Trung đoàn 88 và Trung đoàn 102. Các chiến sĩ liên lạc chuyển đạt của Đội 231 vượt sông Đà lập mạng liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống Đại đoàn 312. Ở hướng Đường số 6, từ Xuân Mai lên thị xã Hòa Bình, đường liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống Đại đoàn 304 chủ yếu sử dụng vô tuyến điện. Ban Thông tin Chiến dịch còn giao cho Đội liên lạc chuyển đạt 231 đặt trạm Đá Cốc để giữ liên lạc với Đại đoàn và với hướng Liên khu 3. Riêng ở chiến trường sau lưng địch, trung du và đồng bằng Bắc Bộ, mạng liên lạc giữa Bộ Chỉ huy Chiến dịch với Đại đoàn 316, Đại đoàn 320 chủ yếu bằng vô tuyến điện, có sự hỗ trợ của Đội liên lạc chuyển đạt 231. Ban Thông tin Chiến dịch còn tổ chức liên lạc về hậu phương Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu bằng cả 3 phương tiện. Lực lượng của Cục Thông tin liên lạc ở hậu phương do đồng chí Cục trường trực tiếp phụ trách, có cụm điện đài của Đội liên lạc vô tuyến điện 230 đặt cố định, công suất phát lớn, độ nhạy thu cao hỗ trợ để Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo các chiến trường xa, nhất là chiến trường vùng sau lưng địch. Ban Thông tin chiến dịch dành riêng liên đài dùng máy thu phát MK2 để liên lạc với hậu phương và các hướng chiến trường. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 10:01:44 pm Thứ hai, bám sát diễn biến chiến dịch, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, linh hoạt, sáng tạo sử dụng hiệu quả các phương tiện thông tin liên lạc; quyết tâm bảo đảm thông tin liên lạc trong mọi tình huống.
Trên hướng chính, trong đợt 1 của chiến dịch (10 - 26.12.1951), bộ đội Thông tin đã bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy các cánh, các mũi, góp phần vào thắng lợi mở đầu chiến dịch. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, ta tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, triệt đường tiếp tế chủ yếu trên sông, cắt đứt phòng tuyến sông Đà của địch. Nhưng khi phát hiện quân ta sắp tiến công ở vùng núi Chẹ, địch đã gấp rút tập trung quân mở cuộc càn quét vùng Ninh Mít, ở đây có Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312 đang giấu quân. Đây là tình huống bất ngờ xảy ra, khó khăn lớn nhất lúc này của Ban Thông tin Chiến dịch là làm thế nào để chuyển kịp lệnh chiến đấu của Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống Đại đoàn 312, khi Sở Chỉ huy Đại đoàn đang cùng đơn vị hành quân vào vị trí tập kết. Theo quy định, trong quá trình hành quân, Ban Thông tin Đại đoàn tổ chức liên lạc vô tuyến điện về Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhưng Ban đang cùng đơn vị hành quân, điện đài chưa được lệnh làm việc. Do có sự chuẩn bị trước đài canh liên tục ở hậu phương nên 3 giờ sáng ngày 10 tháng 12, khi điện đài của Đại đoàn phát tín hiệu gọi canh xin làm việc thì lập tức nhận được điện của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, do vậy Trung đoàn 209 nhận được lệnh khi trời vừa sáng, đơn vị kịp thời chiếm lĩnh trận địa phục kích đánh địch. Ở trận vận động phục kích này, mặc dù địch tập trung pháo dồn dập bắn vào khu vực quân ta chiếm lĩnh nhưng các chiến sĩ hữu tuyến điện và liên lạc chuyển đạt vẫn dũng cảm thay nhau giữ vững liên lạc phục vụ chiến đấu. Cùng thời gian đó, ở phía tả ngạn sông Đà, Ban Thông tin Chiến dịch và thông tin liên lạc Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 đang gấp rút hoàn thành mọi công việc chuẩn bị cuối cùng cho trận đánh Tu Vũ. Trận đánh mở đầu có tính chất then chốt chặt đứt phòng tuyến sông Đà của địch, do Bộ Chỉ huy Chiến dịch trực tiếp chỉ đạo. Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi giao nhiệm vụ cho đơn vị đã yêu cầu Ban Thông tin Chiến dịch cũng như thông tin liên lạc Đại đoàn phải giữ vững liên lạc bằng hai phương tiện vô tuyến điện và hữu tuyến điện, chủ yếu là hữu tuyến điện để đồng chí trực tiếp theo dõi chỉ đạo trận đánh. Bước vào cuộc chiến đấu ác liệt, pháo địch nổ dày đặc, trong lừa đạn, các chiến sĩ Thông tin liên lạc chuyển đạt luôn nhanh chóng giúp người chỉ huy giữ vững đội hình, đưa đơn vị vào vị trí quy định. Các chiến sĩ hữu tuyến điện nhanh chóng vượt qua khu vực hỏa lực địch đang ngăn chặn, tìm mọi cách sớm rải dây từ vị trí xuất phát tiến công của các đơn vị về Trung đoàn. Trong trận chiến đấu này có nhiều tấm gương dũng cảm hy sinh vì nhiệm vụ của các chiến sĩ Thông tin liên lạc. Chiến sĩ hữu tuyến điện Nguyễn Bút thuộc Tiểu đoàn sơn pháo 75mm, nối dây đến mối thứ 11 thì bị thương nặng ở đùi; chiến sĩ Đào Đình Phấn cùng tiểu đội với chiến sĩ Bút cũng nối xong mối đứt thứ 8 thì bị quả đạn cối nổ ngay cạnh tiện đứt cả một ống chân và một bàn tay. Hai chiến sĩ vẫn cố gắng nối lại đường dây nhưng một loạt đạn khác lại trùm xuống, cả 2 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Khi thấy đường dây vừa thông lại bị đứt, chiến sĩ chuyển đạt Đào Văn Phượng nhảy ra khỏi chiến hào lao tới chỗ đồng chí Bút và đồng chí Phấn để nối lại, từ đó đường dây của pháo binh về Trung đoàn do đồng chí Đào Văn Phượng đảm nhiệm thông suốt đến khi kết thúc trận đánh. Ở hướng chủ yếu, các chiến sĩ hữu tuyến điện Phan Đình Hồng, Nguyễn Văn Đang, Tạ Văn Tại và Nguyễn Văn Khoái thay nhau liên tục nối gần 40 mối dây đứt. Đường dây về gần tới Sở Chỉ huy Trung đoàn bị đứt, chiến sĩ Phan Đình Hồng đi nối được một quãng, anh phải dừng lại vì đạn pháo địch nổ dày đặc xung quanh làm đường dây đứt rất nhiều. Đồng chí Phan Đình Hồng đã quay máy về tiểu đoànxin được nằm tại đó coi dây; chưa kịp đào xong cho mình chỗ ẩn nấp thì đường dây lại đứt, một mình một máy nằm giữa bãi trống, xung quanh đạn pháo nổ suốt 3 giờ, đồng chí Hồng nối xong mối đứt thứ 20 thì trận đánh kết thúc thắng lợi. Còn đồng chí Vũ Văn Nghĩa - chiến sĩ liên lạc chuyển đạt trên đường làm nhiệm vụ bị 3 vết thương (ở má, chân và lưng), nhưng khi thấy đồng đội bị thương, đồng chí Nghĩa đã cố gắng cõng đồng đội về chỗ an toàn, băng bó và đào công sự cho đồng đội ẩn nấp. Khi chiến sĩ bộc phá đánh hàng rào, đến quả thứ 3 thì hết bùi nhùi, không đợi lệnh, đồng chí Nghĩa lao xuống gặp chính trị viên phó lấy bật lửa trao cho đồng đội đánh tiếp. Sau đó, đồng chí Nghĩa còn giúp chỉ huy điều động xung kích, hỏa lực đánh địch cho đến khi trận đánh kết thúc thắng lợi. Trên Đường số 6 (Xuân Mai - thị xã Hòa Bình), thông tin liên lạc đã bảo đảm cho Đại đoàn 304 vừa hành quân từ Thanh Hóa ra đánh các trận vận động phục kích và phục kích, tiêu biểu là các trận ở Cầu Dụ và Giang Mỗ. Ở trận Cầu Dụ, chiến sĩ liên lạc chuyển đạt Đào Văn An bị thương nặng do bom napan của địch. Đồng chí An gắng chịu đau, lết đến giao lệnh kịp cho đơn vị vận động chặn đầu đoàn xe cơ giới địch, diệt 34 xe. Còn trận Giang Mỗ, khi đường dây điện thoại bị đứt, chiến sĩ Trần Văn Lục đã xung phong đi nối, khi đường dây vừa được nối thông thì Lục bị thương ở cánh tay. Gặp chiến sĩ Bùi Ngọc Bích liên lạc chuyển đạt đang trên đường chuyển lệnh bị thương khá nặng ở đầu, đồng chí Lục dìu đồng chí Bích vào vị trí ẩn nấp, băng bó vết thương cho đồng đội rồi thay đồng chí Bích tiếp tục đi chuyển đạt. Nhờ vậy, đơn vị của đồng chí Cù Chính Lan kịp thời xuất kích tiêu diệt xe tăng địch. Phòng tuyến sông Đà của địch bị vỡ, các trận đánh tiếp theo, Ban Thông tin Chiến dịch giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn Thông tin dã chiến 303 triển khai ngay đường dây điện thoại từ Sở Chỉ huy qua sông Đà xuống các đơn vị bên hữu ngạn. Trong điềukiện cực kỳ khó khăn khi phải thiết lập một đường dây hữu tuyến điện qua sông rộng, nước chảy mạnh, địch rải quân bên hữu ngạn và hằng ngày cho máy bay kiểm soát dọc sông, pháo của chúng vẫn bắn vào hai bên bờ theo chi điểm của máy bay trinh sát. Song với ý chí quyết tâm, linh hoạt, sáng tạo của những chiến sĩ Thông tin liên lạc, đường dây điện thoại qua sông Đà đã được triển khai theo đúng kế hoạch. Bên cạnh đó một đường đây khác đã được triển khai từ xóm Bún qua trận địa pháo bên tả ngạn kéo sang hữu ngạn vào Đại đoàn 308, vượt Đường số 6 sang Đại đoàn 304. Đây là đường dây vu hồi, song cùng một lúc Bộ Chỉ huy Chiến dịch có thể dùng cả 2 đường dây để chỉ huy các cánh, mũi tiến công. Cùng thời gian chuẩn bị cho trận phục kích trên sông và khi đường dây qua sông Đà đã được triển khai xong, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ thị cho Ban Thông tin triển khai một đường dây hữu tuyến điện xuống Đại đoàn 312 để Bộ Chỉ huy Chiến dịch theo dõi và chỉ đạo trực tiếp Trung đoàn 141 tập kích tiêu diệt quân địch ở Điểm cao 400 (Ba Vì). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Mười, 2024, 10:02:23 pm Đợt 2 (27.12 - 25.2.1952), Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định đưa phần lớn lực lượng chủ lực áp sát Đường số 6 từ Xuân Mai lên thị xã Hòa Bình, dùng một lực lượng nhỏ kiềm chế các vị trí Chẹ, Đá Chông, cắt đứt hẳn đường vận tải tiếp tế của địch trên sông Đà, giam chặt quân địch trên mặt trận Hòa Bình. Đồng thời chỉ đạo các đơn vị chủ lực đánh mạnh trong hậu phương địch tạm chiếm ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích phối hợp tổ chức chặt chẽ với Mặt trận Hòa Bình. Lúc này, mạng thông tin liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch xuống các đại đoàn nhanh chóng được củng cố, tổ chức phát triển thêm một số tuyến mới theo yêu cầu của chiến dịch, chủ yếu là liên lạc vô tuyến điện và hữu tuyến điện. Mạng vô tuyến điện tăng cường liên lạc vượt cấp cả ở Mặt trận Hòa Bình và chiến trường hậu phương địch. Hai đường dây từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch qua sông Đà đếnĐại đoàn 312 và Đại đoàn 308 vẫn được duy trì, củng cố vững chắc và phát triển ra Đường số 6. Thông qua 2 đường dây này, giúp cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo các đại đoàn, trung đoàn đánh giam chân địch ở trong cứ điểm.
Khi lực lượng thông tin liên lạc đang bảo đảm liên lạc ở hai bên Đường số 6 để các đơn vị đánh giam chân địch thì Ban Thông tin Chiến dịch được lệnh tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc để Bộ Chỉ huy Chiến dịch theo dõi, chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị cho trận tập kích sâu vào thị xã Hòa Bình và cụm pháo binh địch. Nhận được nhiệm vụ, Ban Thông tin Chiến dịch đã chỉ đạo các lực lượng thông tin liên lạc tích cực, khẩn trương liên tục chuẩn bị suốt mấy ngày đêm. Ngày 27 tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy họp nhận định, dù muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hòa Bình. Căn cứ vào ý định của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch đánh quân Pháp rút chạy. Từ ngày 9 tháng 2, địch có biểu hiện muốn rút khỏi thị xã Hòa Bình và Đường số 6, Ban Thông tin Chiến dịch đã chuẩn bị trước cho tình huống này và kịp thời thông báo cho thông tin các đại đoàn cùng chuẩn bị, phát triển kéo dài đường dây hữu tuyến điện. Các đơn vị cấp tiểu đoàn được lệnh đấu đinh vào đường dây hữu tuyến điện của chiến dịch sẵn sàng đợi lệnh. Ngày 13 tháng 2, qua đường dây hữu tuyến điện, Bộ Chỉ huy Chiến dịch lệnh cho các đơn vị sẵn sàng tiến đánh thị xã Hòa Bình, chặn đường rút lui của địch trên Đường số 6. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình. Khi các đơn vị tiến vào khu vực tác chiến mới, đường dây liên lạc đang củng cố thì đêm 22, rạng sáng 23 tháng 2 năm 1952, đài quan sát chiến dịch điện về báo cáo địch đang rút khỏi thị xã Hòa Bình, thông tin liên lạc tiếp tục phục vụ cho chỉ huy pháo binh của ta bắn chặn, bộ binh ta truy kích đánh địch rút khỏi Hòa Bình chạy về hướng Xuân Mai. Trên hướng phối hợp, ở mặt trận trung du và đồng bằng, sau 1 tuần địch đánh và chiếm đóng thị xã Hòa Bình, qua mạng vô tuyến điện chiến lược, Bộ Tổng Tư lệnh đã lệnh cho Trung đoàn 42 (trung đoàn chủ lực cơ động của Khu Tả Ngạn) tiến vào hoạt động ở 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên; Đại đoàn 316 vào hoạt động ở trung du và Đại đoàn 320 vào hoạt động ở đồng bằng Liên khu 3 để phối hợp với Mặt trận Hòa Bình. Theo chỉ thị của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Ban Thông tin Chiến dịch hằng ngày giúp Bộ Chỉ huy Chiến dịch theo dõi sát hoạt động của các đơn vị ở mặt trận này, chỉ đạo vô tuyến điện giữ vững liên lạc với các đơn vị để phối hợp chiến đấu. Ở hướng Đại đoàn 316 tiến vào trung du, các chiến sĩ báo vụ thường xuyên giữ liên lạc với đài canh của Cục Thông tin liên lạc, thông qua đó chuyển báo cáo hoạt động của Đại đoàn về Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ của địch ờ Vĩnh Phúc - Phúc Yên, Đại đoàn 316 tiến sâu vào Bắc Ninh, Bắc Giang, mở rộng và nối liền các khu Căn cứ du kích rồi tiến ra sát Đường số 5. Trên đường tiến quân, Đại đoàn truy quét một loạt vị trí địch, trong đó có các cứ điểm có công sự boongke nằm trên phòng tuyến boongke của địch. Khi xuất hiện cứ điểm có công sự boongke của địch, Cục Thông tin liên lạc đã nghiên cứu phương án dùng bộ đàm để tổ chức thông tin liên lạc bảo đảm chỉ huy chiến đấu. Nhưng số bộ đàm ta thu được của địch chưa nhiều, lại nằm rải rác ở các đại đoàn, trung đoàn, chưa thể tập trung về để huấn luyện nên không sử dụng được. Vì vậy, việc tổ chức và giữ vững thông tin liên lạc vẫn chủ yếu phải dùng hữu tuyến điện và liên lạc chuyển đạt, thông tin đơn giản. Trong trận đánh cứ điểm Larivê ở Phúc Yên của Trung đoàn 174, đây là loại cứ điểm có công sự boongke lần đầu tiên quân ta gặp phải. Trong trận này xuất hiện tấm gương chiến sĩ hữu tuyến điện Triệu Văn Báo. Vào lúc tiểu đoàn của đồng chí Báo hết bộc phá, cần xin trung đoànchi viện thì đường dây liên lạc bị đứt, đạn pháo địch vẫn nổ xung quanh. Đồng chí Báo nhảy ra khỏi công sự để đi nối dây, khi nối đến mối nối thứ tư thỉ 2 đầu dây văng đi mỗi đầu một nơi. Khi tìm được thi hai đầu dây không đủ dài để nối nữa, Báo đã đưa hai đầu dây vào miệng dùng răng căn chặt lại cho tín hiệu chạy qua, thông tin thông suốt, trung đoàn kịp thời điêu bộc phá đến cho tiểu đoàn đánh sập lô cốt cuối cùng của địch. Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy đồng chí Báo đang nằm ngất xỉu, răng vẫn cắn chặt 2 đầu dây. Sau những chiến thắng ở khu vực Chợ Bến, Đại đoàn 320 bí mật tiến vào đồng bằng Bắc Bộ (Liên khu 3). Để giữ vững liên lạc từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch với Đại đoàn, Ban Thông tin Chiến dịch một mặt dùng cụm điện đài chiến lược ở hậu phương với các đài canh một mặt dùng điện đài của chiến dịch. Bằng phương pháp này đã bảo đảm vững chắc liên lạc từ Bộ đến Đại đoàn suốt cả quá trình chiến đấu; đồng thời còn bảo đảm chỉ huy vượt cấp từ Bộ Chỉ huy Chiến dịch đến các trung đoàn, các tiểu đoàn thuộc Đại đoàn. Trong trận tiến công của Đại đoàn vào thị trấn Phát Diệm, đánh viện ở Yên Ninh, Phúc Nhạc và Ngô Khê bắt đầu vào đêm mùng 9 tháng 12 năm 1951, thông tin liên lạc vô tuyến điện trực canh liên tục; các mũi tiến công đến đâu đường dây hữu tuyến điện được kéo tới đó, giúp cho sự chỉ đạo, chỉ huy của các trung đoàn đến các tiểu đoàn luôn thông suốt. Tiêu biểu là trận Trung đoàn 52 của Đại đoàn chặn viện trên Đường số 10, trận địa chính ở làng Yên Ninh, các chiến sĩ Thông tin liên lạc đã vượt qua vành đai trắng rải dây qua 5 vị trí của địch để bảo đảm thông tin cho Trung đoàn diệt gọn 2 đại đội của địch. Điên cuồng trước thất bại bị mất 2 đại đội, địch tập trung 12 máy bay với đại bác ở thị xã Ninh Bình bắn vào làng nơi quân ta đóng quân. Trung đoàn 52 cần điều gấp các đơn vị ra khỏi vòng lửa đạn, chuẩn bị đánh địch theo kế hoạch, chiến sĩ liên lạc Trương Công Man xin nhận nhiệm vụ truyền lệnh.Trong khi vận động, hai lần đồng chí Man bị bom xăng bám cháy, phải lăn vào vũng trâu đằm lấy bùn dập lửa, một lần phải đội đất ngoi lên vì bị bom nổ vùi lấp, nhưng lệnh của Trung đoàn được truyền xuống các đơn vị kịp thời. Trong đêm địch rút khỏi thị xã Hòa Bình, điện đài của Đại đoàn 320 nhận được điện báo của Bộ: Có thể chúng sẽ quay về tập trung đối phó với ta ở đồng bằng, nhất là tả ngạn. Đại đoàn cần có kế hoạch tổ chức chống càn và thường xuyên giữ liên lạc với Bộ. Trận chống càn lớn mang tên "Thủy Ngân" đã xảy ra. Tại Sở Chỉ huy Trung đoàn 64 đặt ở một làng thuộc huyện Lý Nhân, đồng chí Trung đoàn trưởng nhận được điện tối khẩn của Bộ thông báo tình hình địch và chỉ thị cho Trung đoàn tổ chức đánh địch càn quét. Trận phá càn kéo dài suốt 10 ngày đêm liền của Trung đoàn đã kết thúc thắng lợi. Tại sở Chỉ huy của Đại đoàn 320, gần 50 lượt máy bay địch tới bắn phá ác liệt, chiến sĩ báo vụ của đơn vị vẫn bình tĩnh giữ vững liên lạc; khi tổ đài được lệnh di chuyển đến địa điểm mới, báo vụ viên vừa mở máy bắt liên lạc đã thấy điện đài của Bộ phát tín hiệu yêu cầu nhận điện, đó là bức điện của đồng chí Tổng Tư lệnh gửi đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 "Anh Hùng vượt vây sang Nam Định bàn với Thanh Giang đánh phối hợp ngoại tuyến. Văn". Chấp hành lệnh của Tổng Tư lệnh, Đại đoàn 320 vượt sông Hồng liên lạc với Đại đoàn 304 cùng đánh địch tiến từ phía Nam lên. Trận phá càn của 2 đại đoàn chủ lực đã giành thắng lợi. Sau hơn 2 tháng, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Ở Mặt trận Hoà Bình, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hoà Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược,mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị"của Pháp. Ở mặt trận dịch hậu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu 6.000 súng các loại, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. 70 năm đã trôi qua nhưng Chiến dịch Hòa Bình vẫn là trang sử vàng chói lọi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, thắng lợi của chiến dịch thể hiện sự chỉ đạo chiến lược tài tình củaĐảng ta đối với chiến dịch tiến công, sự phát triển nghệ thuật quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tác chiến liên tục dài ngày trên mặt trận rộng lớn và phức tạp. Còng tác thông tin liên lạc trong Chiến dịch Hòa Bình đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho bộ đội Thông tin liên lạc ngày nay, đó là tinh thần quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong chiến đấu; chủ động, linh hoạt, sáng tạo giữ vững mạch máu thông tin liên lạc trong mọi tình huống. Truyền thống và những bài học kinh nghiệm đó sẽ tiếp thêm sức mạnh giúp cho cán bộ, chiến sĩ Thông tin liên lạc quyết tâm xây dựng Binh chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội và nhân dân giao cho. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 08:49:39 pm QUÂN VÀ DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 1 PHỐI HỢP TÁC CHIẾN VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng NGUYỄN HỒNG THÁI Ủy viên Ban Chấp hànhTrung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Quân khu 1 Thời điểm diễn ra Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 -25.2.1952) địa bàn Quân khu 1 ngày nay là một phần của Liên khu Việt Bắc1 (Ngày 4 tháng 11 năm 1949, Chủ tịch Chính phủ ra sắc lệnh số 127/SL thành lập Liên khu Việt Bắc trên cơ sở hợp nhất Liên khu 1 và Liên khu 10, gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Quảng Yên, Hòn Gai, Hải Ninh, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Lai Châu, Sơn La và châu Mai Đà). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Việt Bắc là địa bàn diễn ra nhiều chiến dịch có ý nghĩa chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh như Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Chiến dịch Biên Giới 1950... Trong Đông - Xuân 1951 - 1952, thực hiện chủ trương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân Liên khu Việt Bắc nói chung, các tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 ngày nay nói riêng, đã đẩy mạnh tác chiến trên hướng phối hợp, góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hòa Bình. Sau thất bại ở biên giới Việt - Trung trong Thu - Đông 1950, thực dân Pháp ráo riết triển khai thực hiện Ke hoạch Đờ Lát, củng cố và tăng cường xây dựng một lực lượng lớn binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ. Tháng 11 năm 1951, quân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Cuộc tiến công do tướng Xalăng - Phó Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, sau khi nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình địch đánh chiếm vào Hòa Bình và tình hình sẵn sàng chiến đấu của bộ đội ta, đã đề xuất hoãn mở chiến dịch ở Liên khu 3 để mở chiến dịch tại Hòa Bình. Ta nhận định mở chiến dịch Hòa Bình là có lợi hơn vì địch mới ra chưa được củng cố. Hòa Bình là chiến trường rừng núi nên ta dễ bao vây, chia cắt địch, mặt khác việc tiếp giáp với Việt Bắc có điều kiện cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần thuận lợi. Hơn nữa, các đại đoàn chủ lực của ta lại đều đang bố trí gần Hòa Bình tranh thủ được thời gian nổ súng sớm; ta không thể để địch chia cắt hành lang liên lạc và đường vận chuyển giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4 vi sẽ gây nhiều khó khăn, phức tạp sau này. Ngày 17 tháng 11 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đại đoàn 308, 316 và Liên khu Việt Bắc. Tiếp đó, ngày 18 tháng 11 năm 1951, tại An toàn khu Việt Bắc, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy nhận định: Đánh ra Hòa Bình, đích đã phân tán lực lượng cơ động ra một địa hình rừng núi hiểm trợ, binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mỏng và tương đối sơ hở; đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hòa Bình; đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình: Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch: Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái; Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Chiến dịch: Nguyễn Chí Thanh. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính diện gồm 3 đại đoàn bộ binh: 308, 312, 304 và Đại đoàn công pháo 351; trên mặt trận phối hợp, 2 đại đoàn bộ binh 316, 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng cùng các lực lượng tại chỗ tiến công địch, diệt tề trừ gian, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Cùng thời gian này, trước tình hình vùng hậu phương của địch ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ có nhiều sơ hở nên thuận lợi cho ta, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương điều một phần bộ đội chủ lực vào vùng địch hậu, trong đó có Việt Bắc đê phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở vùng địch kiểm soát. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị" về nhiệm vụ phả cuộc tấn công Hòa Bình của địch’’ xác định rõ: "Chiến trường Bắc Bộ lúc này là cơ hội rất tốt cho chiến tranh du kích phát triển, nhiệm vụ là phải phá tan cuộc tiến công Hòa Bình của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596). Khi quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Người chỉ rõ: "Nay địch ra cho ta đánh. Đó là cơ hội tốt nhất cho ta. Bộ đội chủ lực đánh, bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp chặt chẽ với nhau để tiêu diệt sinh lực địch, để đánh tan kế hoạch Thu Đông của chúng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 242). Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, ngày 10 tháng 12 năm 1951, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công quân địch, mở màn Chiến dịch Hòa Bình. Chiến dịch diễn ra qua 3 đợt (10.12.1951 -25.2.1952)2 (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, CD, Quyển 1, Lịch sử quân sự, Mụctừ: "Chiến dịch Hòa Bình"). Sau hơn 2 tháng chiến đấu ở Mặt trận Hòa Bình, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hờn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng các loại và phá hủy 12 khẩu pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 12 khẩu pháo và gần 800 súng các loại, giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc - Quân khu 1 với Liên khu 3, Liên khu 4, đập tan âm mưu lập lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị"của thực dân Pháp3 (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, CD, Quyển 1, Lịch sử quân sự, Mục từ: "Chiến dịch Hòa Bình"). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 08:52:03 pm Để hỗ trợ lực lượng vũ trang Việt Bắc đánh địch tại vùng địch hậu phối hợp với mặt trận chính diện Hòa Bình, Bộ đã bố trí Đại đoàn 316 kết hợp với Trung đoàn 246 đang ở Bắc Giang, Bắc Ninh; đưa Trung đoàn 98 vào đánh chiếm vùng Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh); Trung đoàn 174 hoạt động ở tuyến ngoài, tiêu diệt một vài cứ điểm của địch và chủ động sẵn sàng tiêu diệt quân địch nếu chúng đánh ra vùng tự do Việt Bắc. Ngoài ra Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo cánh quân ở phía Bắc Đường số 13 (Bắc Giang), khi có điều kiện thuận lợi thì cho một bộ phận vào vùng địch hậu tác chiến cùng quân và dân Hòa Bình; Trung đoàn 176 bố trí đề phòng địch đánh ra Đường số 4 (Lạng Sơn) có thể cho một bộ phận xuống Đường số 13 hoạt động. Đại đoàn 320 sử dụng Trung đoàn 64 vào vùng địch hậu để hoạt động phối kết hợp đánh địch.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, để chuẩn bị tốt mọi mặt cho chiến dịch, cuối tháng 11 năm 1951, Thường vụ Liên khu ủy Việt Bắc họp bàn chủ trương phối hợp và nhận định đây là thời cơ tốt nhất cho ta đẩy mạnh hoạt động tác chiến và mở rộng căn cứ du kích ở vùng địch hậu; trên cơ sở đó tiếp tục chỉ đạo lực lượng vũ trang Liên khu và các địa phương phối hợp với các đơn vị chủ lực của Bộ mở các đợt tác chiến tấn công quân địch rộng khắp nhằm kết hợp với Mặt trận Hòa Bình. Tại hướng Bắc Ninh, Bắc Giang, ngoài lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích, còn có các đơn vị thuộc Đại đoàn 316 và Trung đoàn 246 đẩy mạnh tác chiến. Hai trung đoàn 174 và 98 tiến vào Bắc phần Bắc Ninh tiêu diệt một số vị trí địch trên Đường số 18 (đoạn Bắc Ninh đi Phả Lại). Trung đoàn 98 diệt vị trí Cầu Ngà. Trung đoàn 174 hai lần đánh vị trí Phổ Mới nhưng đều không thành công. Đầu tháng 12 năm 1951, các trung đoàn này vượt sông cầu, sông Đuống xuống Nam phần Bắc Ninh. Ngày 9 tháng 12, Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) đánh đồn Thứa (thuộc Lang Tài) bắt toàn bộ sĩ quan, binh lính địch, thu trên 100 súng các loại. Ngày 13 tháng 12, Tiểu đoàn 215 lại chặn đánh một cánh quân của Binh đoàn cơ động số 3 địch từ Cẩm Giàng đi càn ở Cổ Lâm, Lĩnh Mai (Gia Lương)1 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phả hoại của giặc Mỹ (1965 -1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 87-90). Trong những ngày cuối tháng 12 năm 1951, bộ đội ta còn bẻ gãy nhiều cuộc càn ở Gia Phó, Lĩnh Mai, phục kích địch trên Đường số 18, diệt 1 trung đội lính Âu - Phi đánh bốt Đậu (Thuận Thành), uy hiếp cầu Đuống và thị trấn Gia Lâm. Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Thiên Đức cùng các đơn vị chủ lực của Bộ đánh phá nhiều vị trí địch ở Nam phần Bắc Ninh, vây hãm đồn Kênh Vàng (15.1) và các đồn Thiên Thai, Văn Thai, Vệ Đạo, đánh phá quận lỵ Thuận Thành... Ngày 25 tháng 1, quân ta tổ chức trận phục kích chặn đánh tiểu đoàn viện binh địch từ cầu Đuống theo trục Đường số 3 lên Bắc phân Bắc Ninh, phá 7 xe quân sự (có 3 xe tăng và bọc thép), diệt và đánh bị thương 2 đại đội địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Ngày 26 tháng 1, dân quân du kích xung quanh khu vực Đông Côi (Thuận Thành, Bắc Ninh) phối hợp với Tiểu đoàn 215 - bộ đội chủ lực chặn đánh một cánh quân của Binh đoàn cơ động số 2 (GM2) càn trên dọc Đường số 38, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2 đại đội địch (có trên 100 tên bị diệt)1 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ (1965 - 1972), Sđd, tr. 88). Cuối tháng 1 năm 1952, bộ đội địa phương Bắc Ninh cùng dân quân, du kích tiếp tục đánh vào vị trí Trạm Trại diệt và bắt 55 tên, thu toàn bộ vũ khí. Trong những ngày đầu tháng 1 năm 1952, chủ lực ta vây hãm vị trí Thiên Thai và đánh viện binh địch ở Nghi An Cứu Cáp (ngày 7 và 8 tháng 2) theo Đường số 18, diệt trên 300 tên. Tiểu đoàn Thiên Đức diệt gọn vị trí Tiên Xá và cùng một bộ phận của Trung đoàn 98 bao vây bức hàng vị trí Mão Điền bên bờ sông Đuống. Chỉ tính riêng tháng 1 năm 1952, quân và dân Bắc Ninh liên tiếp tiêu diệt 12 vị trí, bao vây gọi hàng và bức rút 14 vị trí khác, diệt 850 tên địch, bắt 260 tên khác, thu nhiều vũ khí trong đó có 4 khẩu đại liên, 65 trung liên và tiểu liên. Trong những ngày tháng chiến đấu kiên cường, mưu trí, anh dũng, bộ đội Trung đoàn 98 và lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Ninh đã tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, làm bị thương gần 200 tên2 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ (1965 - 1972), Sđd, tr. 88). Tại tỉnh Bắc Giang, Tỉnh đội quyết định đưa Tiểu đoàn 61 vào phía Nam huyện Lạng Giang, Yên Dũng đánh địch, mở rộng khu Căn cứ du kích Yên Dũng, phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch Hòa Bình; thực hiện nhiệm vụ phá tề trừ gian, diệt biệt kích, củng cố cơ sở phát triển du kích chiến tranh, chống địch càn quét bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo vệ và khơi thông Đường số 13, bảo đảm liên lạc giữa vùng tự do và khu Căn cứ, tuyệt đôi giữ bí mật lực lượng sẵn sàng chiến đấu đánh địch. Ngày 6 tháng 12 năm 1951, địch cho 200 quân cùng xe tăng, xe lội nước tấn công từ Thái Đào xuống Đông Loan để bảo vệ cho lực lượng của chúng đi canô từ Phả Lại lên Phủ Lạng Thương. Tiểu đoàn 61 bí mật, kiên trì phục kích, bất ngờ đánh chặn, toàn bộ lực lượng địch đã lọt vào trận địa, bị tiêu diệt 45 tên (một nửa là lính Âu - Phỉ), bị thương 10 tên, bắt 5 tên, phát hủy 1 xe cơ giới và thu một số vũ khí. Thắng lợi trận đầu của lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Giang đã tạo đà cho việc giải phóng hầu hết các xã Nam Lạng Giang và Bắc Yên Dũng, lập thêm các khu du kích mới gồm Dĩnh Kế, Thái Sơn, Tân Dân, Nội Hoàng, Phấn Dũng nối liền với khu Căn cứ du kích Yên Dũng. Chiến thắng Quỳnh Sơn, Chợ Rào mở ra bước ngoặt của chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch... Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc chỉ đạo gấp rút xây dựng vùng căn cứ du kích thực sự vững mạnh, sẵn sàng đối phó với âm mưu mới của địch. Phong trào rào làng, đắp lũy xây dựng thôn trang chiến đấu; phong trào giết giặc lập công được phát triển mạnh mẽ. Tiểu đoàn 61 phối hợp với các đơn vị bộ đội huyện Yên Dũng, Lạng Giang, Việt Yên tìm những nơi sơ hở những mục tiêu quan trọng để đánh địch1 (Ngày 20 tháng 12 năm 1951, du kích đã tiêu diệt bọn tề phản độngg ở Hoàng Mai (Việt Yên). Ngày 21 tháng 12 năm 1951, ta phục kích đánh địch đi tuần ở Phán Dũng. Ngày 30 tháng 12 năm 1951, ta phục kích đánh địch ở Bằng Lương và ngày 8 tháng 1 năm 1952, ta chống càn ở Ảm Trứ). Tiêu biểu là trận vận động phục kích đánh địch trên Đường số 13 ngày 29 tháng 1 năm 1952 (Mùng 3 Tết Nguyên đán) khi chúng từ thị xã Phủ Lạng Thương đi Kế. Lực lượng của ta tham gia ngoài 4 đại đội của Tiểu đoàn 61 còn có 1 đại đội của huyện Lạng Giang, 1 đại đội của Tiểu đoàn 88 thuộc Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316), du kích các xã Thái Sơn và Dĩnh Kế. Do chuẩn bị tốt, chỉ huy hiếp đồng chặt chẽ, sau 4 đợt tấn công (từ 6 giờ sáng đến 14 giờ), ta đã tiêu diệt 105 tên địch, làm bị thương 28 tên, bắt 12 tên lính Âu - Phi, phá hỏng 6 xe tăng và xe thiết giáp, thu 6 súng tiểu liên, 3 trung liên, 5 đại liên, 13 súng trường, 2 súng ngắn và một số chiến lợi phẩm khác1 (Tổng kết chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 và chống chiến tranh phá hoại củagiặc Mỹ (1965 - 1972), Sđd, tr. 92-93). Đây là trận đánh thắng lợi giòn giã của bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh, làm cho hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền hoang mang dao động, cơ sở của ta được củng cố, phát triển, trình độ tác chiến của bộ đội có nhiều tiến bộ rõ rệt. Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 61 cùng bộ đội huyện và dân quân du kích Yên Dũng chống càn ở Âm Trứ, Đức La. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 08:54:23 pm Khắp các địa phương trên địa bàn Quân khu 1, bộ đội cùng dân quân du kích và nhân dân bao vây bức hàng nhiều vị trí lẻ, tháp canh hương dũng, tổng dũng, làm cho cơ sở ngụy quyền bị tan rã từng mảng. Ta thành lập thêm một số khu du kích và căn cứ du kích ở Yên Dũng, Nam Lạng Giang và Nam Việt Yên, hình thành khu Chiến đấu gồm 88 thôn, chạy dài 20km, nối liền với khu du kích Tiên - Quế - Võ.
Tại tỉnh Thái Nguyên, để chi viện cho các chiến trường và Chiến dịch Hòa Bình, tính đến cuối năm 1951, tỉnh Thái Nguyên đã bổ sung cho bộ đội chủ lực hết 4/5 quân số bộ đội địa phương. Cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng, tổ chức phối hợp bảo vệ an toàn khu, những tháng cuối năm 1951, đầu năm 1952, tỉnh Thái Nguyên đã cử một số đơn vị bộ đội địa phương và du kích về các vùng Kim Anh (Vĩnh Phúc) và Bắc Giang phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch, giải thoát 3 cán bộ của ta bị địch bắt giữ, tiêu diệt hơn 200 tên (trong đó có 1 tên quan hai Pháp), phá hủy 1 khẩu đại bác, 1 xe thiết giáp, 1 xe vận tải, bắt 4 lý trưởng, thu 3 xe đạp và 1 cặp tài liệu, giải phóng cho một số đồng bào ta bị địch bắt giữ1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên, Lịch sử Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên, xuất bản năm 2014, tr. 62, 64)... Bên cạnh đó, thực hiện nhiệm vụ được giao, quân và dân trên địa bàn Quân khu 1 còn tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo giao thông vận tải, huy động sức người, sức của cho tiền tuyến. Để đảm bảo thông suốt tuyến đường vận chuyển khối lượng lớn hàng hóa, phương tiện chiến tranh do các nước anh em viện trợ từ các tỉnh biên giới theo Quốc lộ 3, 1B về xuôi cho kháng chiến, Trung ương đã giao cho các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên tập trung mọi nỗ lực mở rộng, giữ vững thông suốt các tuyến đường bằng mọi giá, trước mắt là đảm bảo phục vụ Chiến dịch Hòa Bình. Những tháng cuối năm 1951, đầu năm 1952, quân và dân các tỉnh trên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huy động nhân lực đảm bảo giao thông vận tải, vận chuyển hàng hóa ra chiến trường phục vụ bộ đội ta chiến đấu đánh địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo xây dựng lực lượng, tổ chức trấn áp bọn phản động, sẵn sàng phối hợp chiến đấu đề phòng địch mở cuộc tấn công đánh chiếm Đường số 4. Sau khi Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, đúng như ta dự đoán, ngay sau khi rút khỏi Hòa Bình, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp lập tức tung quân ra càn quét vùng tạm bị chiếm để tiêu hao, tiêu diệt và đẩy lùi bộ đội chủ lực ta, đánh phá cơ sở vàphong trào chiến tranh du kích, củng cố lại thế phòng thủ và khôi phục quyền kiểm soát của chúng. Các lực lượng vũ trang Việt Bắc vẫn tiếp lục chiến đấu ngoan cường chống lại các cuộc hành quân, càn quét của địch1 (Theo Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 1 - Việt Bắc (1945 - 2015) Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 116: Từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5 năm 1952 địch sử dụng tới 5 binh đoàn cơ động, 2 tiểu đoàn pháo binh (có 48 khẩu 105mm), 2 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp và xe cơ giới mở liên tiếp các cuộc càn quét đẫm máu với mật danh Poóctô, Pôlô, Tuyếccô vào tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, các đơn vị tham chiến của ta (chủ yếu gồm Tiểu đoàn 433 Thiên Đức, Tiểu đoàn 18, Trung đoàn 98 chủ lực của Bộ, đại đội bộ đội các huyện và dân quân du kích địa phương) chiến đấu hết sức ngoan cường, dũng cảm, tiêu diệt trên 2.000 tên địch, làm bị thương hàng nghìn tên khác thu nhiều súng và đồ dùng quân sự. Ta bị tổn thất không nhỏ, bộ đội và dân quân du kích có gần 700 đồng chí hy sinh, trên 500 đồng chí bị thương, hàng trăm đồng chí bị thất lạc hoặc mất tích. Địch còn giết hại trên 100 thường dân, bắt hơn 1.000 thanh niên, đốt 3.170 nhà, triệt phá hàng nghìn mẫu lúa và hoa màu, giết và bát hàng nghìn gia súc), bảo vệ địa phương. Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đúc kết và phổ biến kịp thời những kinh nghiệm quý báu về tổ chức bám nắm, đề ra các biện pháp tổ chức chống địch càn quét hiệu quả, giảm thương vong; phối hợp tác chiến giữa các lực luợng bằng nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo; đồng thời kết hợp chặt chẽ tác chiến với địch vận, trừng trị bọn ác ôn ngoan cố chống phá cách mạng và có nợ máu với nhân dân. Với những nỗ lực trong phối hợp tác chiến với Chiến dịch Hòa Bình, lực lượng vũ trang Liên khu Việt Bắc, trong đó có quân và dân thuộc địa bàn Quân khu 1 ngày nay, đã đánh 301 trận, diệt 2.607 tên, bắt 1.204 tên, góp phần bức hàng, bức rút và hạ hơn1.000 đồn bốt, tháp canh địch, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, làm cho chúng bị phân tán, tạo điều kiện thuận lợi để ta triển khai tác chiến tiêu diệt đánh địch tại Hòa Bình. Các căn cứ du kích của ta được mở rộng và nối liền thành thể liên hoàn từ Bắc Giang, Bắc Ninh, vượt qua Đường số 5 tới Hải Dương, Hưng Yên, xuống Thái Bình, Nam Định, hàng triệu dân được giải phóng. Đồng thờiquân và dân Việt Bắc còn làm tốt công tác địch vận, tuyên truyền, giác ngộ được 4.626 ngụy binh rời hàng ngũ địch quay về với cách mạng. Thắng lợi của quân dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình đã khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Đóng góp vào thắng lợi của chiến dịch có sự phối hợp tác chiến ở địch hậu với chiến trường chính của quân và dân trên địa bàn Quân khu 1. Thắng lợi đó đã để lại cho lực lượng vũ trang Quân khu một số bài học kinh nghiệm quý báu, đó là: Thứ nhất, luôn quán triệt, tổ chức thực hiện tốt chủ trương, quan điểm của Đảng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng Quán triệt và thực hiện các chỉ thị, quyết định của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương về phá cuộc tấn công của địch, mở cuộc tấn công lớn trên 2 mặt trận (mặt trận chính diện Hòa Bình và vùng địch hậu Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm) và Thư kêu gọi, động viên toàn thể cán bộ chiến sĩ, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy, Liên khu ủy, lực lượng vũ trang Liên khu Việt Bắc luôn bám sát, chấp hành nghiêm các chủ trương của Trung ương, Tổng Quân ủy, xác định rõ và giao nhiệm vụ cụ thể cho các địa phương; tổ chức chỉ đạo xây dựng căn cứ, lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp với lực lượng của Bộ tác chiến tiêu hao, phân tán sinh lực địch, hỗ trợ cho chiến trường chính, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; tổ chức lực lượng bảo vệ vững chắc an toàn khu; huy động nhân lực, vật lực cho tiền tuyến. Thứ hai, đánh giá đúng các âm mưu, thủ đoạn của địch, phối hợp vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến, thực hành lối đánh du kích, xây dựng căn cứ du kích liên hoàn vững chắc, mở rộng địa bàn tác chiến Bám sát vào nhiệm vụ được Tổng Quân ủy, Bộ Chính trị giao, các lực lượng vũ trang Việt Bắc đã nắm chắc tình hình, đánh giá đúng tương quan lực lượng, tổ chức lực lượng hợp lý tại địa bàn, đặc biệt tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh; vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến, lối đánh du kích; kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến trên mặt trận chính diện với phía sau lưng địch. Bên cạnh đó, tổ chức thiết lập, xây dựng được hệ thống căn cứ du kích, căn cứ chiến đấu liên hoàn vững chắc; tổ chức nghi binh đánh địch và phối hợp tác chiến với lực lượng chủ lực luôn đảm bảo kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, linh hoạt, phát huy được hiệu quả cao. Lực lượng vũ trang Việt Bắc còn tổ chức bám nắm, nghiên cứu, nắm vững âm mưu, thủ đoạn, chỗ mạnh, chỗ yếu của địch để mở các trận đánh giành thắng lợi. Thắng lợi các đợt phối hợp tác chiến giữa lực lượng vũ trang các địa phương với chủ lực chiến đấu tại Bắc Ninh, Bắc Giang, thậm chí mở rộng xuống một số khu vực các tỉnh đồng bằng, hoặc việc cơ động lực lượng từ Thái Nguyên xuống Bắc Giang, Vĩnh Phúc phối hợp tác chiến là những minh chứng xác đáng về bài học này của lực lượng vũ trang Liên khu. Bài học về mở rộng địa bàn tác chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ đảm bảo phòng thủ, bảo vệ địa bàn từ xa và hoạt động tác chiến du kích trong thời gian diễn ra chiến dịch vẫn còn nguyên giá trị để Quân khu vận dụng chỉ đạo nhiệm vụ tác chiến chiến dịch của lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ hiện nay. Thứ ba, kết hợp giữa tác chiến quân sự với công tác chính trị, tổ chức vận động quần chúng nhân dân và làm tốt công tác địch vận Thành công của Chiến dịch Hòa Bình để lại cho Quân khu 1 không chỉ những bài học kinh nghiêm về công tác phối hợp tác chiến về mặt quân sự mà còn để lại bài học sâu sắc về sự kết hợp giữa công tác quân sự với công tác chính trị, công tác vận động quần chúng nhân dân và làm tốt công tác địch vận. Kết hợp với các hình thức tác chiến, lực lượng vũ trang các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 1 đã tích cực vận động nhân dân ủng hộ các đơn vị chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương cả về vật chất và tinh thần, đảm bảo cho bộ đội tác chiến; vận động nhân dân xây dựng các làng chiến đấu, căn cứ chiến đấu liên hoàn. Đồng thời, ngoài việc bức hàng, ta còn làm tốt công tác địch vận, tuyên truyền, giác ngộ binh lính địch và gia đình họ, quay về với Tổ quốc. Trong thời gian diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân Việt Bắc đã tuyên truyền vận động và kêu gọi được 4.626 ngụy binh rời hàng ngũ địch quay về với cách mạng cùng nhân dân chống lại kẻ thù. Đây là những kinh nghiệm quý báu cần tiếp tục vận dụng vào tình hình thực tiễn hiện nay để không ngừng nâng cao hiệu quả việc vận động nhân dân chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình", chia rẽ của các thé lực thù địch, xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần trong khu vực phòng thủ ngày càng vững mạnh. Thứ tư, phối hợp, chỉ đạo làm tốt việc huy động cung cấp nhân lực, vật lực; tổ chức tốt các hoạt động bảo đảm để tiến hành tác chiến thắng lợi Ngoài những bài học nêu trên, qua Chiến dịch Hòa Bình, chúng ta có thể nhận thấy, để đảm bảo cho các lực lượng phối hợp tác chiến thành công, còn phải phối hợp, chỉ đạo làm tốt việc huy động cung cấp nhân lực, vật lực; tổ chức tốt các hoạt động bảo đảm để tiến hành tác chiến thắng lợi. Thực tiễn từ Chiến dịch Hòa Bình đã chứng minh, quân và dân Việt Bắc đã tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ vận động nhân dân, huy động sức người, đóng góp sức của cho tiền tuyến; bảo đảm tốt nhiệm vụ giao thông vận tải vận chuyển hàng hóa, phương tiện phục vụ chiến dịch. Nhândân các dân tộc không chỉ ủng hộ công sức, vật chất nuôi dưỡng, giúp đỡ lực lượng vũ trang địa phương, chủ lực chiến đấu, xây dựng căn cứ và tham gia chiến đấu ở vùng địch hậu mà còn ủng hộ đóng góp hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm cho bộ đội chiến đấu ngoài chiến trường, góp phần cho Chiến dịch Hòa Bình giành thắng lợi hoàn toàn. Đây là bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu, để Quân khu vận dụng, tiếp tục chỉ đạo, phát huy nguồn lực tại chỗ để nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm và hoạt động của Hội đồng cung cấp các cấp trên địa bàn trong nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ và tác chiến phòng thủ hiện nay. Kỷ niệm 70 năm ngày mở màn chiến dịch, cũng như thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là dịp để quân, dân cả nước nói chung, lực lượng vũ trang Quân khu 1 nói riêng ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại. Với lòng tự hào từng là căn cứ địa kháng chiến, có nhiều đóng góp quan trọng cho chiến dịch thắng lợi, quân và dân Quân khu 1 tiếp tục phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng và nhân dân giao cho, đem hết sức mình đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 08:58:47 pm QUÂN VÀ DÂN LIÊN KHU 4 VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng NGUYỄN DOÃN ANH Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Quân khu 4 Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến địch tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp, phá vỡ phòng tuyến Sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị và quân sự, đánh bại kế hoạch quân sự của thực dân Pháp nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự bị động về chiến lược, lúng túng về chiến dịch, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta phát triển sang giai đoạn mới. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, sự anh dũng chiến đấu của quân, dân Hòa Bình và cả nước. Trong đó, quân và dân Liên khu 4 đã đồng lòng chung sức cùng cả nước củng cố hậu phương, chống phá âm mưu lấn chiếm của địch, là chiến trường thu hút giam chân địch, phối hợp chia lửa với chiến trường chính; vừa là hậu phương cung cấp sứcngười, sức của, góp phần quan trọng để chiến dịch giành thắng lợi, được thổ hiện trên một số nội dung sau: 1. Đấu tranh khôi phục cơ sở vùng bị tạm chiếm, chống phá âm mưu bình định lấn chiếm của địch Nhằm tiếp tục đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, sẵn sàng phối hợp tác chiến với chiến trường chính Bắc Bộ, tháng 2 năm 1951, tại Mặt trận Bình - Trị - Thiên, Liên khu ủy tổ chức Hội nghị quân chính tại Chiến khu Ba Lòng để quán triệt nhiệm vụ quân sự năm 1951. Hội nghị quyết định tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ nhằm thống nhất nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ tác chiến. Trên cơ sở đó, nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, quyết tâm "xây đà chiến thắng", bám dân, bám đất, giữ vững địa bàn, chăm lo củng cố mọi mặt, đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh bại âm mưu bình định của địch, đưa phong trào ở Bình - Trị - Thiên tiến kịp các chiến trường. Đợt sinh hoạt chính trị đã kịp thời củng cố tổ chức và tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. Tại Mặt trận Bình - Trị - Thiên, ngày 12 tháng 2, Tiểu đoàn 436 được Tiểu đoàn pháo binh 888 chi viện, tiến công tiêu diệt hoàn toàn vị trí An Gia trong hệ thống phòng thủ Phú Óc - Sịa huyện Quảng Điền. Ngay sau đó, địch cho quân đến tiếp viện, giải tỏa hòng chiếm lại vị trí này, nhưng Trung đoàn 101 vẫn kiên quyết chiến đấu, làm chủ vị trí trên; đồng thời, kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm phương thức đánh công kiên, tập kích vào các vị trí phòng thủ lô cốt, tháp canh vững chắc của địch. Sau Chiến thắng An Gia, Bộ Chỉ huy Mặt trận chủ trương giao cho Trung đoàn 101 cường tập vị trí Phổ Lại nhằm tiêu diệt lực lượng địch tại đây, làm tan rã tinh thần binh lính địch, nhất là Tiểu đoàn 7 ngụy quân. Đêm mùng 9 tháng 3 năm 1951, Trang đoàn 101 tổ chức cường tập tiêu diệt vị trí Phổ Lại, thu toàn bộvũ khí. Chiến thắng Phổ Lại cùng với Chiến thắng An Gia đã bè gãy tuyến phòng ngự Phú Ốc - Sịa của địch. Để tiếp tục chỉ đạo các hoạt động quân sự, Thường vụ Liên khu ủy ra nghị quyết, chỉ rõ: "Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, chiến tranh du kích là chính, quy mô tác chiến của chủ lực là trung đoàn, khi cần có thể tổ chức hai trung đoàn, nhưng phải chuẩn bị chu đáo, chủ động đánh tiêu diệt ăn chắc, đánh quân ứng chiến là chính"1 (Nghị quyết số 52-NQ-LK4 ngày 19 tháng 3 năm 1951, tài liệu lưu trữ tại Phòng Khoa học quân sự Quân khu 4). Để đối phó với ta, thực dân Pháp đã tổ chức trận càn lớn vào Thanh Hương – Mỹ Xuyên. Chúng đã huy động trên 2.200 quân ứng chiến tinh nhuệ có pháo binh, công binh, cơ giới và máy bay chi viện, chia làm 2 cánh hành quân chiếm lĩnh trận địa, hình thành thế bao vây căn cứ Thanh Hương - Mỹ Xuyên. Thực hiện nghị quyết Thường vụ Liên khu ủy, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Liên khu, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 nhanh chóng hành quân trong đêm chiếm lĩnh trận địa, kịp thời nổ súng đánh địch, mở đầu trận chống càn. Từ ngày 10 đến ngày 13 tháng 3 năm 1951, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 đã phối hợp với lực lượng dân quân và bộ đội địa phương 2 huyện Phong - Hải tổ chức trận chống càn Thanh Hương - Ưu Điềm bằng chiến thuật vận động chiến lớn nhất từ trước đến nay, tiêu diệt gọn cả binh đoàn của Pháp (1.200 tên chết và bị thương). Đây là trận vận động chiến quy mô với toàn bộ lực lượng chủ lực có mặt trên chiến trường, cơ động nhanh, kết hợp chặt chẽ giữa phản kích, đột kích, tập kích với bám trụ vững vàng, bẻ gãy từng cánh quân của địch. Lực lượng vũ trang Liên khu 4 đã phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa quân và dân, giữa đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, liên tục tiến công làm cho địch dù có lực lượng ứng chiến lớn và phương tiện chiến tranh hiện đại nhưng vẫn bị thất bại. Kế hoạch của Đờ Lát nhằm tiêu diệt chủ lực của ta và tham vọng dùng ngụy quyền đảm nhiệm chiến trường Bình - Trị - Thiên để rút quân ứng chiến tăng cường cho chiến trường Bắc Bộ bị phá sản. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 09:17:04 pm 2. Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ
Tháng 6 năm 1951, khi vào kiểm tra tình hình và giao nhiệm vụ cho Liên khu 4 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ: "Một mặt vẫn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến ở Bình - Trị - Thiên, tránh chủ quan khinh địch, chống tư tưởng ăn to đánh lớn trong một số cán bộ, đẩy mạnh xây dựng lực lượng địa phương thay thế các trung đoàn chủ lực, xúc tiến sớm việc tập trung Đại đoàn 325, xây dựng thành đại đoàn cơ động trong đội hình các đại đoàn chủ lực của Bộ. Một mặt Liên khu phải tập trung sự nỗ lực cao nhất xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, vừa sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ"1 (Dẫn,theo Lịch sử Quân khu 4 0945 - 2015), Tập 1: Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 265). Lực lượng vũ trang Liên khu 4 tiếp tục xây dựng và hoàn thiện kế hoạch tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng ba thứ quân sẵn sàng bổ sung cho chủ lực; tinh giản cơ quan Liên khu bộ để tăng cường lực lượng chi viện cho chiến trường. Các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương được tăng cường huấn luyện, nâng cao năng lực chiến đấu. Các kho dự trữ lương thực ở các địa phương được thành lập nhằm tăng cường khả năng cung cấp nhanh nhất cho nhu cầu chiến trường. Các trung đoàn 9, 103 ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, các trung đoàn 18, 101, 95 ở Bình - Trị - Thiên tiếp tục được củng cố, phát triển. Các đơn vị binh chủng pháo binh, công binh trực thuộc Bộ Chỉ huy Mặt trận, 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh vừa tích cực xây dựng hậu phương, vừa đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng, chất lượng, vũ khí trang bị. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang đủ "ba quân, sáu cấp"1 (). Trang bị vũ khí, quân trang cho bộ đội ngày càng tốt hơn; toàn Liên khu đã tổ chức được 30 xưởng sản xuất, sửa chữa vũ khí, cung cấp cho bộ đội đánh giặc với hệ thống "binh xưởng" của Liên khu và Bộ Quốc phòng. Công tác xây dựng lực lượng vũ trang được gắn liền với các đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng và các lớp huấn luyện nâng cao kỹ thuật tác chiến cho bộ đội đáp ứng yêu cầu mới. Trên cơ sở phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, quân và dân Binh - Trị - Thiên đã tích cực tham gia phong trào thi đua "giết giặc lập công, sản xuất lập công, đề cao chiến sĩ1 (Dân quân, du kích của thôn xã, bộ đội địa phương của huyện, tỉnh, bộ đội chủ lực của tỉnh, Liên khu), mở đầu bằng hội mừng chiến thắng Trung Du diễn ra khắp các đơn vị. Tại Quảng Trị, Thừa Thiên, bộ đội cùng du kích các huyện Phong - Quảng - Triệu - Hải liên tiếp mở những trận tiến công địch trên tuyến phòng ngự Phú Óc - Sịa. Sau trận đánh giao thông của Trung đoàn 101 là trận đánh công kiên đầu tiên của Trung đoàn 95 vào vị trí Ba Dốc, với sự hiệp đồng chặt chẽ của cà 3 lực lượng. Trung đoàn 95 vừa đánh địch trong công sự kiên cố, vừa đánh quân tiếp viện, đồng thời tổ chức, giúp đỡ nhân dân từ đô thị đến nông thôn nổi dậy chống địch đi càn, chống bắt lính, dồn dân. Các lực lượng bám nắm địa bàn của Trung đoàn 101, Trung đoàn 95 đã phát động nhân dân trong các thị xã, thành phố Huế đứng lên đấu tranh đòi tự do đi lại. Các đội cơ sở hoạt động trong lòng địch tích cực quấy rối, phục kích, tập kích, ám sát địch, làm rối loạn an ninh, buộc địch phải tập trung lực lượng đối phó. Tại Thanh - Nghệ - Tĩnh, các cấp ủy Đảng tập trung củng cố dân quân, xây dựng lực lượng hậu bị. Lực lượng dân quân vừa sản xuất, vừa tham gia chiến đấu bảo vệ hậu phương. Bằng những biện pháp kiên quyết và tích cực, tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đưa Tiểu đoàn 195 và Tiểu đoàn 275 ra Mặt trận Phú Thọ. Lực lượng vũ trang tỉnh Hà Tĩnh vừa giúp dân vùng trọng điểm, vừa sẵn sàng đánh địch, kiên quyết bảo vệ hậu phương và phối hợp dân quân, du kích tổ chức được 2.700 dân công, vận chuyển 1.000 tấn gạo đáp ứng yêu cầu phục vụ mặt trận1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 216). Trường Quân chính Liên khu, trường quân sự các tỉnh cải tiến phương pháp huấn luyện, đào tạo bồi dưỡng cấp tốc 2.000 cán bộ sơ cấp cho mặt trận phía Bắc. Để đảm bảo lực lượng dân công phục vụ Chiến dịch Hòa Bình, đầu tháng 11 năm 1951, Bộ Tư lệnh Liên khu huy động lực lượng bao gồm dân công từng đợt và dân công thường trực. Ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đẩy mạnh cuộc vận động công trái quốc gia, xây dựng lực lượng tại chỗ, tổ chức chiến dịch dân công, thi đua sản xuất động viên bỗ sung cho chiến trường và chi trong thời gian ngắn đã huy động 145.724 người tham gia và phục vụ chiến dịch. Nhận thức rõ trách nhiệm của hậu phương với tiền tuyến trong điều kiện đường sá xa xôi, địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, nhưng với tinh thần "tất cả vì tiền tuyến", Liên khu 4 đã huy động hàng vạn dân công cùng với bộ đội bí mật mở đường, gùi thồ, gồng gánh vận chuyển hàng vạn tấn lương thực cùng vũ khí, đạn dược ra chiến trường. Cùng với ngành Hậu cần Quân đội và các địa phương khác, nhân dân vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh đã góp phần vận chuyển gần 20 tấn vũ khí, đạn dược, 6.275 tấn lương thực, 70 tấn thịt lợn và 50 tấn thực phẩm khác, huy động 333.400 lượt người đi dân công với 11.914.000 ngày công cho chiến dịch1 (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 4 (1945 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 385). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 09:18:18 pm 3. Đẩy mạnh hoạt động phối hợp, tiêu diệt sinh lực địch, củng cố và mở rộng căn cứ du kích, chia lửa với Chiến dịch Hòa Bình
Trong khi cuộc chiến đấu ở Liên khu 4 đang diễn ra quyết liệt thì ở Bắc Bộ, Đờ Lát tập trung lực lượng mở cuộc tiến công lớn ra Hòa Bình. Tổng Quân ủy nhận định: "Địch đang mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi, tạo cho ta một thời cơ tốt để tiêu diệt sinh lực chúng"2 (Dẫn theo: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 447). Trung ương quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm vây diệt quân cơ động của địch. Các chiến trường khác trên toàn quốc phải hoạt động phối hợp tích cực. Bộ đội chủ lực đánh, bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ, để tiêu diệt sinh lực địch, đánh tan kế hoạch Thu Đông của chúng3 (Lịch sử Quân khu 4 (1945 - 2015), Tập 1, Sđd, tr. 272). Chấp hành Chỉ thị của Trung ương Đảng và Thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liên khu ủy 4 tổ chức cuộc Hội nghị mở rộng, đánh giá tình hình và đề ra chủ trương: Trong lúc lo đối phó với chủ lực ta ở Hòa Bình, địch sẽ sơ hở ở các chiến trường và sẽ bị hạn chế khả năng tiếp viện vào Bình - Trị - Thiên. Do vậy, Bình - Trị - Thiên phải đẩy mạnh hoạt động phối hợp, tranh thủ tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng căn cứ du kích, giải phóng đất, giành dân, củng cố thế đứng trên chiến trường. Bộ Chỉ huy Phân khu Bình - Trị - Thiên kịp thời xác định: Nơi địch sơ hở lúc này là Bắc Quảng Bình, mục tiêu tiến công là hệ thống chiếm đóng của địch ở huyện Bố Trạch. Bộ Chỉ huy điều Trung đoàn 95 nhanh chóng cơ động ra Bắc Quảng Trị đánh địch. Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Tiểu đoàn 227 tiêu diệt tháp canh Phúc Tự; Tiểu đoàn 302 đánh vào Hoàn Lão, phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích Bố Trạch đã diệt 13 lô cốt và tháp canh ờ xung quanh Hoàn Lão, xóa sổ Tiểu đoàn số 25 của ngụy; hầu hết huyện Bố Trạch được giải phóng. Trung đoàn 101 diệt một số tháp canh ở Hương Trà (Thừa Thiên), san bằng lô cốt Bác Vọng, Giáp Viên, Vân Cự. Bộ đội Thừa Thiên diệt 2 trung đội địch ở Nông và 2 trung đội ở suối Đá Dầm. Đại đội Hương Thủy diệt 1 trung đội trên đường Vân Dương. Tại Quảng Trị, tiểu đoàn tỉnh phá càn Bích La, Đại đội Cam Lộ tập kích quân ứng chiến trên đường Đập Huyện. Tiêu biểu là trận chống càn của dân quân du kích và nhân dân xã Vĩnh Hoàng (huyện Vĩnh Linh). Từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 1 năm 1952, địch liên tiếp bị tập kích, phục kích, tiêu hao, buộc chúng phải rút khỏi Vĩnh Hoàng. Kết quả, ta đã đánh bại được trận càn của 3 tiểu đoàn địch, có máy bay pháo binh chi viện, diệt gần 50 tên, phá hủy 2 xe quân sự, bảo vệ được nhân dân và vùng du kích. Tiếng súng phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình rền vang khắp chiến trường Bình - Trị - Thiên. Hơn 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hàng loạt lô cốt, tháp canh bị san bằng. Hàng chục hội tê bị phá. Vùng giải phóng Bắc Quảng Bình được mở rộng. Vì thế, từ tháng 1 năm 1952, địch thay đổi thủ đoạn hoạt động, rút các vị trí lẻ và cô lập để tập trung các đơn vị ứng chiến, phối hợp lực lượng chiếm đóng mở các cuộc càn quét trên một diện hẹp và dài ngày, nhằm vào căn cứ du kích và vùng đứng chân của lực lượng chủ lực ta. Để đối phó với thủ đoạn mới của địch, đồng thời tìm ra phương thức tác chiến thích hợp, Đảng ủy Mặt trận đã nghiên cứu kỹ tình hình, cố gắng khai thác những sai lầm của địch; sử dụngsức mạnh tổng hợp lực lượng ba thứ quân, đẩy mạnh hoạt động, tập trung vào đánh phá giao thông, quấy rối đô thị nhằm phân tán lực lượng cơ động của địch; sử dụng 1 trung đoàn chủ lực đanh vào 1 cứ điểm trọng yếu của chúng nhằm tiêu diệt sinh lực địch và tiếp tục phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả; tổ chức lại chiến trường, bộ đội địa phương Thừa Thiên tiến công địch tại đô thị và Đường số 1; Trung đoàn 18 và bộ đội địa phươngQuảng Bình đánh giao thông, tập kích thị xã Đồng Hới và hoạt động nghi binh, thu hút quân ứng chiến của địch; Trung đoàn 95 cùng đoàn Quảng Trị và Đại đội Gio Linh đánh ở Nam Đông. Trung đoàn 101 và bộ đội Cam Lộ, Triệu Phong đánh địch ở ngay tại khu vực đứng chân. Phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình và tận dụng thời cơ thuận lại quân và dân Liên khu 4 tiếp tục thế chủ động tiến công tiêu diệt địch,mở rộng vùng giải phóng, củng cố thế đứng chân vững chắc, ngăn không cho địch đưa quân tiếp ứng chi viện cho các chiến trường khác. Tính đến cuối năm 1951, quân và dân Liên khu 4 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7.000 quân địch, phá 70 lô cốt và 5 đồn, số vu khí và đạn dược thu được đủ trang bị cho 1 trung đoàn; địch buộc phải rút khỏi 1 vùng rộng lớn thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Bình. Đây là một thành tích to lớn của quân và dân Liên khu 4 trong việc thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng làm nhiệm vụ phối hợp thu hút và phân tán lực lượng địch, chia lửa với chiến trường. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 09:19:06 pm 4. Vận dụng bài học kinh nghiệm của quân và dân Liên khu 4 trong Chiến dịch Hòa Bình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp khó lường, các nước lớn tiếp tục điều chỉnh chiến lược, tăng cường cạnh tranh lôi kéo các quốc gia. Khu vực châu Á, trong đó có Đông Nam Á là trọng điểm can dự và cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn. Bên cạnh âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới có nhiều thay đổi so với trước, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt; yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Quân khu 4 trong tình hình mới có bước phát triển mới. Bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng và tổ chức tác chiến trong Chiến dịch Hòa Bình đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Vì thế, vận dụng bài học kinh nghiệm của quân và dân Liên khu 4 trong Chiến dịch Hòa Bình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung sau: Mọi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tập trung mọi nguồn lực xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh về mọi mặt; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh rộng khắp; điều chỉnh vị trí đứng chân của các đơn vị, hình thành thế bố trí chiến lược bảo đảm nâng cao khả năng phòng thủ, sức mạnh sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới. Không ngừng nâng cao năng lực dự báo, kịp thời tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những phát triển mới về quốc phòng, quân sự, đối ngoại quốc phòng. Luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, xử lý đúng đắn các tình huống về quốc phòng, an ninh, có biện pháp ứng phó, ngăn chặn từ xa; đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu, tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong thời kỳ mới. Chủ động và tích cực nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng theo đúng đường lối đối ngoại của Đảng, Nha nước, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác, phát triển với nước bạn Lào. Vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân vào tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ "chiến đấu" trong thời bình, thực sự là lực lượng nòng cốt, chỗ dựa tin cậy, vững chắc cho cấp ủy, chính quyền, nhân dân trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 thực hiện đồng bộ các biện pháp xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, huấn luyện, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu; phát huy tốt chức năng đội quân công tác, tích cực tiến hành công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; góp phần xây dựng 6 tỉnh Bắc Trung Bộ mạnh về chính trị, kinh tế; vững chắc về quốc phòng, an ninh, xứng đáng với truyền thống quê hương Khu 4 anh hùng. Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình có giá trị và ý nghĩa lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật chiến dịch, kế thừa và nâng lên tâm cao mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Lực lượng vũ trang Quân khu 4 tiếp tục phát huy phẩm chất, truyền thống vẻ vang 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, vận dụng bài học kinh nghiệm lịch sử từ Chiến dịch Hòa Bình vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn Quân khu; luôn quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ được giao, tiếp tục đoàn kết, thống nhất, tích cực đổi mới, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, làm nòng cốt cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân trên địa bàn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 09:24:31 pm HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN Ở LIÊN KHU 5 TRONG ĐÔNG - XUÂN 1951 -1952 Trung tướng THÁI ĐẠI NGỌC Ủy viên Ban Chấp hànhTrung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Quân khu 5 Sau thất bại tại biên giới Việt - Trung (Thu - Đông 1950), thực dân Pháp phải dựa vào Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuối năm 1950, Chính phủ Pháp cử Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) sang làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Tới Đông Dương, Đờ Lát đưa ra một kế hoạch 4 điểm: 1- Tập trung quân Au - Phi tính nhuệ, xây dựng lực lượng cơ động mạnh, phát triển quân ngụy 2- Xây dựng phòng tuyến boongke, lập "vành đai trắng"; 3- Bình định vùng tạm chiếm; 4. Phá hoại vùng tự do bằng biệt kích thổ phỉ, gián điệp, máy bay oanh tạc, chiến tranh tâm lý, bao vây kinh tế. Thực dân Pháp ráo riết thực hiện "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"; vừa tập trung đối phó với những đòn tiến công mới của ta, vừa bình định vùng tạm chiếm, gây cho ta không ít khó khăn, tổn thất. Đầu tháng 11 năm 1951, địch huy động 20 tiểu đoàn đánh chiếm Hòa Bình, lập phòng tuyến phòng ngự nhằm cắt đứt hành lang và phá công tác chuẩn bị tiến công của ta, thu hút chủ lực ta để tiêu diệt1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 255). Đối với ta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2.1951) nêu phương châm tác chiến là:"Lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ, nhưng phải đẩy mạnh vận động chiến tiến lên"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247,255). Để giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến, Đại hội xác định: "Đảng và Chính phủ ta phải xây dựng một quân đội nhân dân mạnh mẽ, chân chính với ba đặc điểm: Dân tộc, nhân dân và dân chủ"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247, 255). Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3.1951) xác định: "Củng cố và gia cường bộ đội chủ lực, đồng thời củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích"3 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam(1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247,255). Trên chiến trường chính Bắc Bộ, ta tập trung xây dựng 3 đại đoàn bộ binh 312, 320, 316, Đại đoàn Công pháo 351; mở liên tiếp các chiến dịch: Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt đánh vào phòng tuyến của địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Về cuộc tiến công của địch ở Hòa Bình, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy nhận định: "Cuộc tiến công của địch sẽ gây cho ta những khó khăn nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực của địch"4 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam(1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 241, 242, 247,255). Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952), chiến dịch tiến công ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực dịch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của quân Pháp. Tư lệnh Chiến dịch là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312 và 304), Đại đoàn Công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phương. Tại mặt trận phối hợp, các đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ta giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp1 (Từ điển Bách khoa quản sự Việt Nam, mục từ "Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2 1952)"). Trong chiến dịch này, lực lượng vũ trang của ta có bước tiến bộ mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày, về sự phối hợp tác chiến giữa ba thứ quân. Trong Đông - Xuân 1951 - 1952, tại Liên khu 5, hình thái chiến trường có 2 vùng rõ nét: Vùng địch tạm chiếm (Đà Nẵng, Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ), vùng tự do (Nam - Ngãi - Bình - Phú)2 (Gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên). Thực hiện kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi, quân Pháp ra sức củng cố và kiểm soát các thành phố, hải cảng có vị trí chiến lược quan trọng (Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh), đẩy mạnh "chiêu an" dồn dân ở vùng tạm chiếm, tập trung củng cố Tây Nguyên. Chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét với quy mô từ 800 đến 1.000 quân, chà đi xát lại nhiều lần ở vùng đồng bằng, vùng giáp ranh và vùng rừng núi. Song song với việc đánh phá phong trao kháng chiến và thành lập hệ thống cứ điểm boongke, quân địch còn đẩy mạnh việc củng cố ngụy quyền, bắt lính và phát triển ngụy quân. Nhiều cơ sở của ta ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Tây Nguyên bị tổn thất nặng. Với đặc điểm chiến trường xa sự chỉ đạo của Trung ương, luôn bị địch bao vây, quân dân Liên khu 5 luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn từng bước xây dựng lực lượng nhằm đối phó với địch. Bộ Tư lệnh Liên khu Chỉ đạo tiến hành sắp xếp kiện toàn biên chế tổ chức. Tổng số quân toàn Liên khu giảm nhưng tăng cường lực lượng chiến đấu lên gần 15%. Năm 1951, Liên khu 5 không tuyển tân binh nhưng vẫn thành lập được Tiểu đoàn 30 và bổ sung đầy đủ quân số cho 2 trung đoàn chủ lực 108 và 803. Lực lượng vũ trang địa phương cũng được kiện toàn, chỉ riêng 3 tỉnh Tây Nguyên (Gia Kon1 (Năm 1950, tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum hợp nhất thành tỉnh Gia Kon (Gia Công). Năm 1954, tách thành tỉnh Gia Lai và Kon Tum), Đắk Lắk, Lâm Đồng) và 4 tỉnh tạm bị địch chiếm ở đồng bằng (Quảng Nam - Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) đã bổ sung đầy đủ quân số cho 26 đội vũ trang tuyên truyền, 29 đại đội độc lập, 6 tiểu đoàn tập trung và 2 đội cảm tử. Các binh chủng tiếp tục được kiện toàn. Tháng 2 năm 1952, Liên khu tiếp thu kỹ thuật đặc công từ Nam Bộ, Trung đoàn 812 tổ chức lớp học đặc công đầu tiên gồm 46 cán bộ và chiến sĩ, sớm vận dụng trong chiến đấu2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 1, Kháng chiến chống Pháp, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 xuất bản 1986, tr. 177). Trong tác chiến, lực lượng vũ trang Liên khu 5 mưu trí sáng tạo, dũng cảm kiên cường, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính Bắc Bộ, tiến hành căng kéo, kiềm chân, tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, lập nên nhiều thắng lợi to lớn, trong Đông - Xuân 1951 - 1952 đã có những hoạt động nổi bật sau: Một là, đẩy mạnh du kích chiến, chú trọng vận động chiến ở vùng địch tạm chiếm, góp phần tiêu diệt, tiêu hao, kiềm chân quân địch Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 5 lần thứ II (16.7 - 2.8.1951) xác định: Tác chiến phải tuyệt đối phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ cơ sở, vận động chiến phải tất thắng và tiêu diệt địch, kết hợp nhiệm vụ bồi dưỡng lực lượng với nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích, chú ý công tác địch vận. Thực hiện chủ trương đó, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 sử dụng Trung đoàn 108 tiến công tiêu diệt đồn Kon Plong, Kon Tum (6.8.1951). Từ đầu năm 1950, quân Pháp ở đồn Kon Plong đã chỉ huy, tiếp tế cho lực lượng nổi loạn ở Sơn Hà (Quảng Ngãi). Để giữ vững vùng tự do tỉnh Quảng Ngãi, ta phải tiêu diệt đồn Kon Plong. Đây là đồn khá lớn, công sự bằng gỗ đất nhưng dày và chắc. Quân địch tại đây khoảng 200 tên thuộc Tiểu đoàn sơn chiến số 5. Trận tiến công đồn Kon Plong là trận đánh lớn trong Thụ - Đông 1951 của Liên khu 5, thành công cả về kỹ thuật, chiến thuật. Bộ đội sử dụng xe công đồn bắn chế áp hỏa lực địch, hỗ trợ tích cực cho bộ binh tiến công. Trước sức tiến công dũng mãnh của quân ta, địch ở lô cốt trung tâm phải giơ cờ trắng đầu hàng. Chiến thắng Kon Plong mở ra khả năng tác chiến và huấn luyện chiến thuật công kiên, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực Liên khu 5 đánh điểm diệt viện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn vận động chiến. Sau chiến thắng Kon Plong, đến cuối năm 1951, tình hình ở Sơn Hà cơ bản ổn định. Phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực Liên khu 5, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Kon tiến công vào vùng địch ở xung quanh Kon Plong, Kon Rẫy, Đắk Tô, Đắk Lây, xây dựng cơ sở cách mạng, giải tán ổ vũ trang phản động của địch ở Đắk Krông thu một số súng diệt ác, trừ gian, mở thế kìm kẹp quần chúng, đồng thời tổ chức bao vây uy hiếp, bức rút một số đồn nhỏ của địch. Các đội vũ trang tuyên truyền cũng đẩy mạnh hoạt động ở Đông và Tây Đường số 14, phát động quần chúng vừa đánh địch, vừa giữ vững bàn đạp, kiên quyết đưa vùng này thành khu du kích. Ở phía Bắc (giáp Quảng Nam), ta phát triển cơ sở ở 100 làng, nối liền với vùng căn cứ cách mạng ở Nam Lào. Công tác xây dựng cơ sở cách mạng cũng đạt được nhiều thành công ở Đắk Lắk và Lâm Đồng. Vượt qua mọi khó khăn, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ ta bám chắc vào buôn, rẫy, bắt nối với cơ sở cũ, tìm hiểu xây dựng cơ sở mới, xây dựng du kích, hồi phục các tổ chức cách mạng. Du kích, bộ đội địa phương và nhân dân liên tục phá hoại đường sá, cầu cống, phục kích các đoàn xe vận tải, các toán tiếp tế của địch gây cho chúng nhiều thiệt hại. Tại Bình Thuận - địa bàn xa sự chỉ đạo và chi viện của Liên khu, các đơn vị vũ trang đều phải hết sức tiết kiệm đạn dược. Ta phát động phong trào chiến tranh du kích. Đến cuối năm 1951, ta củng cố được 700 cơ sở ở nội thị Phan Thiết, trong đó có gần 80 du kích mật. Tại Phú Hải và Phan Thiết, phong trào chống bắt lính, chống làm xâu ngày càng dâng cao, thu được nhiều thắng lợi. Đêm 28 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 86 Trung đoàn 812 Liên khu 5 cùng lực lượng vũ trang thị xã Phan Thiết tập kích vào căn cứ Căng Escpic. Lực lượng địch tại đây có 1 đại đội Âu - Phi, 1 trung đội pháo (2 khẩu 75mm) và hơn 100 học viên đào tạo hạ sĩ quan của Pháp. Ta diệt và làm bị thương hơn 150 quân địch, phá hủy 2 khẩu pháo, 2 xe bọc thép, thu 175 súng các loại. Đây là một trong những trận đánh lớn trên chiến trường Liên khu 5 trong Đông - Xuân 1951 - 1952, chiến lợi phẩm đã bổ sung cho lực lượng vũ trang, góp phần phá vỡ kế hoạch đào tạo bổ sung đội ngũ hạ sĩ quan của Pháp ở cực Nam Trung Bộ1 (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, mục từ "trận Căng Esepic (28.12.1951)"). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 07 Tháng Bảy, 2025, 09:25:37 pm Hai là, đánh bại cuộc hành quân của địch, bảo vệ vững chắc vùng tự do, tăng cường tiềm lực kháng chiến của ta
Tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị: "Phải tranh thủ phá kế hoạch càn quét của chúng một cách chủ động", "Chuẩn bị thiết thực để chống càn quét thắng lợi"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944- 1975), Sđd, tr. 263). Liên khu ủy 5 xác định: Đoàn kết, tổ chức tranh đấu mọi mặt, không để cho địch củng cốphòng tuyến, mở rộng vùng chúng tạm chiếm để thựchiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Tích cực xây dựng củng cốcơ sở đảng, các tổ chức quần chúng, tích trữ lực lượng, đợi thời cơ hành động. Giữ vững và phát triển đấu tranh vũ trang nội tuyến và ngoại tuyến1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum, Kon Tum - 30 năm chiến đấu kiên cường bất khuất, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum xuất bản, 1993, tr. 55). Như vậy, nhiệm vụ giữ vững vùng tự do không cho địch mở rộng vùng tạm chiếm, tích trữ lực lượng, tăng cường tiềm lực kháng chiến đã được đặt ra. Đối với thực dân Pháp, phải chống đỡ phong trào chiến tranh du kích, các trận tiến công của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương nhưng chúng vẫn không từ bỏ âm mưu "khoét sâu" vào vùng tự do. Từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1952, 3.000 quân địch từ Tây Nguyên thực hiện cuộc hành quân Laterít (Latérite) do Lơcôc chỉ huy xuống miền Tây Quảng Ngãi hòng khôi phục lại lực lượng nổi loạn Sơn Hà ở lưu vực sông Re. Bộ Tư lệnh Liên khu điều Trung đoàn 108 và Trung đoàn 803 cơ động chiến đấu, đánh tan cuộc hành quân của địch, giữ vững địa bàn. Nhằm tăng cường tiềm lực hậu cần tại chỗ, củng cố thực lực cho cuộc kháng chiến, nhân dân Quảng Nam, Phú Yên... ra sức đào ao, vét giếng chống hạn, khẩn trương gieo giống, tăng vụ. Đồng bào các dân tộc xen canh 2 hoặc 3 loại cây rau màu trong 1 rẫy. Cơ quan, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội hăng hái tham gia sản xuất lương thực, thực phẩm. Tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp duy trì mức sản xuất ổn định. Các xưởng quân giới sản xuất một số súng đạn, trang bị phục vụ đánh công kiên. Tiết kiệm lương thực được thực hiện triệt để. Thắng lợi của phong trào thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm đã từng bước khắc phục được những khó khăn do thiên tai, địch họa gây ra, ổn định được đời sống của bộ đội và nhân dân, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến. Như vậy, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ trong Chiến dịch Hòa Bình, hoạt động tác chiến ở Liên khu 5 trong Đông - Xuân 1951 - 1952 đã góp phần đánh bại kế hoạch của Đờ Lát. Lực lượng vũ trang Liên khu 5 được kiện toàn, tăng cường lực lượng chiến đấu. Ta đẩy mạnh du kích chiến ở vùng địch tạm chiếm, tăng cường vũ trang tuyên truyền, xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng ở Đông và Tây Đường số 14, Bắc Kon Tum, nối liền với căn cứ cách mạng Nam Lào, ở nội thị Phan Thiết (Bình Thuận). Đặc biệt, ta tổ chức trận tiến công đồn Kon Plong (Kon Tum) và Căng Esepic (Bình Thuận) thắng lợi lớn, chiến lợi phẩm của 2 trận đánh này đã giải quyết được những nhu cầu bức thiết trong xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang. Ở vùng tự do, ta sử dụng 2 trung đoàn chủ lực của Liên khu thực hành vận động chiến đánh tan cuộc hành quân của địch, giữ vững vùng tự do Quảng Ngãi. Phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm được tiến hành sâu rộng, đem lại hiệu quả thiết thực, tăng cường thực lực cho cuộc kháng chiến. Hoạt động tác chiến trên chiến trường Liên khu 5 đã góp phần tích cực tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, giữ vững thế trận và quyền chủ động của ta trên chiến trường, "chia lửa" với Chiến dịch Hòa Bình, phá tan kế hoạch Đờ Lát của thực dân Pháp. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra), những kinh nghiệm tác chiến ở Liên khu 5 trong Đông-Xuân 1951 -1952có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đối với địa bàn dễ bị chia cắt chiến lược như Quân khu 5 thì việc phát huy cao độ tinh thần tực lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, chủ động tiến công địch, đánh địch càn quét, giữ vững căn cứ vừa là truyền thống cách mạng, vừa là kinh nghiệm quý báu. Với thế trận chiến tranh nhân dân đã được chuẩn bị trong khu vực phòng thủ, phòng thủ quân khu, tiến hành căng kéo, tiêu hao sinh lực địch; không ngừng tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng, nhất là tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, bảo đảm hậu cần tại chỗ; tổ chức các trận đánh, chiến dịch vào các mục tiêu trọng yếu, từng bước đánh bại âm mưu, thủ đoạn của địch, giữ vững thế chủ động trên chiến trường; cùng với cả nước giành thắng lợi cuối cùng. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:17:51 pm QUÂN VÀ DÂN MIỀN ĐỒNG NAM BỘ ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN TRONG ĐÔNG - XUÂN 1951 -1952 Thiếu tướng NGUYỄN TRƯỜNG THẮNG Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Quân khu 7 Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược, giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp. Gắn với chiến công này, ngoài sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng,Tổng Quân ủy, sự đoàn kết, chiến đấu vô cùng quyết liệt anh dũng và mưu trí của quân dân trên các chiến trường khắp cả nước, miền Đông Nam Bộ cũng có sự phối hợp, "nổ súng chia lửa" góp phần vào thắng lợi trên mặt trận chính diện. Cuối năm 1951, đầu năm 1952, quân Pháp tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách "bình định". Ở miền Đông Nam Bộ chúng thực hiện bao vây và lấn sâu vào vùng căn cứ của ta, chiếm đóng các khu vực tranh chấp, các vùng du kích, đồng thời tích cực càn quét bình định" để củng cố cơ sở kinh tế, chính trị, quân sự và các đường giao thông quan trọng. Để có đủ quân thực hiện nhiệm vụ trên, trong điều kiện lực lượng cơ động ngày càng bị động, phân tán trên nhiều chiến trường, nhất là chiến trường Hòa Bình - sông Đà, địch ráo riết phát triển ngụy quân, dùng bọn này làm lực lượng chiếm đóng "bình định" thay thế cho quân chính quy tập trung thành các đơn vị ứng chiến cơ động. Chúng thành lập Sư đoàn ứng chiến cơ động ngụy số 6, gồm 6 tiểu đoàn đóng trên các địa bàn miền Đông Nam Bộ. Tại các thành phố, thị xã, địch thành lập các đội cảnh sát đô thị và đội biệt kích CDS (City Development Strategy). Trong phạm vi Phân liên khu miền Đông, chúng lập 104 đội CDS và 22 đội bổ sung. Đối với các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, chúng xúc tiến mạnh việc thân binh hóa giáo phái. Địch xây dựng 1 tiểu đoàn dân sự và 17 đại đội Cao Đài (chưa bao gồm hơn 1.000 tên Cao Đài liên minh của Trịnh Minh Thế), bố trí tại khu vực Tòa thánh Tây Ninh và khắp các tỉnh Bà Chợ1 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn), Thủ Biên2 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa), Mỹ Tho, Long Châu Sa3 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Long Xuyên, Châu Đôc và Sa Đéc). Lực lượng vũ trang Hòa Hảo của Năm Lửa, Nguyễn Giác Ngộ, Hai Ngoan, Ba Cụt cộng lại khoảng 10.000 tên được bọn chỉ huy người Pháp bố trí đánh phá Đồng Tháp Mười và các tỉnh đồng bằng sông Cưu Long. Ở miền Đông Nam Bộ, lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn gồm 12 đại đội cũng được thực dân Pháp sáp nhập vào "quân đội quốc gia" ngụy, chuẩn bị tiến tới thành lập trung đoàn. Thực dân Pháp cũng ưu tiên bố trí lực lượng cơ động Pháp cũng như ngụy ở miền Đông. Trong tổng số 25 tiểu đoàn ở Nam Bộ 17 tiểu đoàn được bố trí ở miền Đông, hầu hết là línhÂu - Phi. Trên cơ sở đánh giá âm mưu và hành động của địch, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị: "Cuộc kháng chiến của ta còn trường kỳ và gian khổ. Trên chiến trường toàn quốc hiện nay, ta đang trong thời kỳ hoàn thành nhiệm vụ tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công. Riêng ở Nam Bộ, thế giằng co của ta còn thấp kém, ta bị động nhiều vì du kích chiến tranh của ta chậm phát triển và lực lượng của ta còn kém hơn địch. Do đó, phương châm chiến lược của ta ở Nam Bộ vẫn du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến trong trường hợp có điều kiện thuận lợi và phải tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch"1 (Nghị quyết quân sự 1952, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ 46, phông Nam Bộ, tr. 2). Thực hiện chủ trương trên, Bộ Tư lệnh Nam Bộ đề ra các nhiệm vụ cụ thể: 1-Chống địch chiếm đóng sâu vào vùng tự do và đánh phá căn cứ. 2-Giữ vững và giành giật sức người, sức của với địch, đặc biệt ở vùng du kích, bồi dưỡng sức chiến đấu của ta, làm giảm sức chiến đấu của địch. 3-Tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng ta, bảo vệ kinh tế, chú trọng nhiệm vụ sản xuất tự túc, chống bao vây kinh tế của giặc. 4.Tránh thế bị cắt đứt giữa miền Tây và miền Đông, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và vận chuyển liên lạc thông suốt. Thực hiện chủ trương, nhiệm vụ do Bộ Tư lệnh Nam Bộ đề ra, các địa phương miền Đông Nam Bộ tăng cường phát triển lực lượng, đẩy mạnh tác chiến, tiêu diệt địch, vừa bảo vệ vùng căn cứ vừa căng kéo địch, phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình. Ở tỉnh Gia Ninh2 (Được thành lập từ giữa năm 1951, bao gồm tỉnh Gia Định và tỉnh Tây Ninh), Tiểu đoàn tập trung 306, các đại đội độc lập huyện cùng du kích địa phương hướng trọng tâm hoạt động vào chống địch càn quét lấn chiếm "bình định". Tại Bời Lời, Trảng Bàng, ta chặn đánh nhiều cuộc càn quét của địch, gây cho chúngnhững thiệt hại đáng kể. Tại vùng căn cứ, phần đất phía Bắc tỉnh Tây Ninh cũ được xây dựng thành huyện căn cứ Dương Minh Châu, trở thành nơi đứng chân của Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ và Tiểu đoàn 302. Cuối năm 1951, các đơn vị bảo vệ căn cứ và nhân dân tại đây đã đánh tan cuộc càn gồm 20 tiểu đoàn bộ binh có cơ giới và máy bay yểm trợ của địch vào căn cứ Đồng Rùm, diệt gần 2 đại đội địch, bắn rơi 2 máy bay tại Đồng Sầm và Trâm Sụ. Tỉnh ủy Gia Ninh chuyển một số bộ phận cơ quan trọng yếu sang bên kia sông Sài Gòn thuộc địa phận Bến Cát (tỉnh Thủ Biên) tránh tập trung cao ở căn cứ, xây dựng hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều vùng, bảo vệ căn cứ từ xa. Nhân dân đào hầm hào, gài mìn, lựu đạn và lập hệ thống nắm địch, báo động từ ngoài căn cứ. Công nhân các sở cao su tiến hành bãi công, ngấm ngầm phá hoại kinh tế địch và hoạt động diệt bọn cai xu ác ôn, thám báo tề điệp tại sở. Đồng bào các vùng tạm chiếm tiếp tục đấu tranh chống thuế, chống bắt lính. Đặc điểm nổi bật ở Gia Ninh là công tác Cao Đài vận phát triển mạnh. Các đơn vị vũ trang, các huyện tổ chức học tập chính sách Cao Đài vận trong cán bộ, chiến sĩ, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và nhân dân, phát động toàn dân vận động lính Cao Đài, giáo dục đồng bào tín đồ bỏ khu vực xung quanh đồn bốt về làng cũ kêu gọi thanh niên Cao Đài tòng quân tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Kết quả, phong trào này đã làm hạn chế hoạt động của quân đội Cao Đài và những khó khăn do số tín đồ Cao Đài bị địch lợi dụng gây ra. Nhiều binh sĩ Cao Đài bỏ ngũ về nhà làm ăn. Một số lính còn ở tháp canh, đồn bốt làm nội ứng hỗ trợ cho lực lượng vũ trang ta đánh lấy bốt, diệt tháp canh. Mặt khác, ta kiên quyết đối phó với bọn ngoan cố Cao Đài liên minh do Trịnh Minh Thế cầm đầu. Bọn này thân Mỹ, thường đóng sâu vào những vùng căn cứ của ta để làm áp lực với Pháp và đánh phá ta từ bên trong. Từ Tây Ninh, giả danh chống Pháp, chúng lấn sâu vào các vùng giải phóng, đóng một số bốt sâu vào rừng, như Bác Rù, Xóm Mía, Trà Xiêm, Rừng Nhum... thuộc huyện Châu Thành. Hằng ngày, chúng tung quân đi ruồng bố cướp giật của cải của nhân dân và chặn bắt cán bộ, du kích, gây tình hình hết sức căng thẳng, làm cho ta gặp rất nhiều khó khăn trong thực hiện chính sách "Cao Đài vận". Do đó, chúng ta dùng Tiểu đoàn 302, Tiểu đoàn 306 và Đại đội bộ đội địa phương huyện Châu Thành tập trang đánh nhiều trận, gỡ hết các bốt, giải phóng các vùng bị chúng lấn chiếm. Tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Vũng Tàu, cùng với phong trào phá hoại kinh tế, các đội biệt động tiếp tục tổ chức các trận đánh nhỏ lẻ phối hợp với các đơn vị vũ trang đánh "thọc sâu, rút nhanh" nhằm phá các cơ sở kinh tế và tiêu hao sinh lực địch. Các chiến sĩ biệt động dũng cảm táo bạo, được nhân dân gọi là quyết tử quân. Ban ngày họ cải trang thành lính Cao Đài, diệt tên Tây lai Phòng nhì Phơrăngxoa (François) - một tên ác ôn đã giết hại nhiều cán bộ của ta và nhân dân. Tập kích Bốt AK Chợ Lớn giữa ban ngày, trừng trị tên Móc - một tên phản bội chỉ điểm lợi hại của giặc... Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:18:58 pm Đêm 21, rạng ngày 22 tháng 12 năm 1951, Đội Biệt động thị xã Vũng Tàu tiến công khu nhà nghỉ mát của sĩ quan Pháp ở trung tâm thị xã. Nhờ có cơ sở mật bên trong của ta cung cấp tình hình đội đã đột nhập an toàn vào khu nhà giữa lúc địch đang tập trung ăn bữa tôi. Trận đánh diễn ra chỉ trong 8 phút, ta tiêu diệt 52 sĩ quan Pháp, trong đỏ có tên thiếu tướng.
Tại Thủ Biên, trong tháng 11 và tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 303 liên tục đánh địch tại địa bàn các huyện Châu Thành, Lái Thiêu, Vĩnh Cửu, diệt các bốt: Nhà Thờ, Vĩnh Ký, Bọng Dầu, Trà Vinh và Máy Nước, tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Các đơn vị vũ trang huyện Hớn Quản phối hợp với bộ đội tỉnh phục kích đánh địch trên Đường số 3, Đường số 14.Tính riêng từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1951, lực lượng vũ trang Hớn Quản đã đánh 25 trận (trong đó có 8 trận đánh tháp canh, 10 trận đánh giao thông, 4 trận chống càn), phá tháp canh Xa Cát, Tham Rót, cầu Tân Định. Ở Bến Cát, du kích các xã Thanh Tuyền, Thanh An, Phú An, An Điền, An Tây... phối hợp với đại đội độc lập huyện (Đại đội Lê Hồng Phong) và Tiểu đoàn 303 đánh quân địch đi sửa đường, diệt các tháp canh trên Đường số 7, Đường liên tỉnh số 14, đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh và phục kích bắn chìm 2 tàu địch, bắn bị thương 7 tàu khác trên sông Sài Gòn đoạn lên Dầu Tiếng. Ở Lái Thiêu, lực lượng vũ trang huyện kiên trì bám đất, bám dân tổ chức các trận đánh nhỏ lẻ, ngăn chặn, tiêu hao quân địch, phối hợp với đại đội độc lập huyện (Đại đội Nguyễn An Ninh) và bộ đội tỉnh chiến đấu đánh địch càn quét, bảo vệ Chiến khu Thuận An Hòa. Trong 3 tháng cuối năm 1951, lực lượng vũ trang huyện đã đánh 34 trận lớn nhỏ, gây cho địch nhiều thiệt hại. Du kích các xã Thuận Giao, Bình Nhâm, Hưng Định... hỗ trợ nhân dân trong căn cứ đào hầm hào, xây dựng trạm giao liên, đưa đón cán bộ từ Sài Gòn, Thủ Dầu Một vào rừng Cò My, Chiến khu Thuận An Hòa và ngược lại. Đầu năm 1952, địch liên tục tổ chức các cuộc càn quy mô lớn vào các căn cứ của ta với quy mô từ tiểu đoàn trở lên. Chúng tổ chức các cuộc càn lớn vào Chiến khu Đồng Tháp Mười, Chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu. Thượng tuần tháng 2, địch tập trung quân ở Suối Đá, Dầu Tiếng chuẩn bị mở cuộc hành quân "Nhà lá" càn quét vào Chiến khu Dương Minh Châu. Tiểu đoàn 304 phối hợp với Đội biệt động Dầu Tiếng đã bất ngờ tập kích vào khu vực Sở Chỉ huy, diệt tại chỗ tên quan năm Tham mưu trưởng hành quân cùng với một số sĩ quan khác, bẻ gãy cuộc hành quân ngay tại căn cứ xuất phát của địch. Tại Chiến khu Đồng Tháp Mười, từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1952, chúng liên tiếp thực hiện các cuộc hành quân "Gió lốc" 1, 2, 3, 4, trong đó có 3 cuộc càn lớn có lực lượng tham gia từ 1 đén 3 tiểu đoàn. Tại Chiến khu Đ, chỉ tính riêng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 43 bộ binh thuộc địa Pháp đã tổ chức 6 cuộc càn cấp tiểu đoàn, không kể các cuộc đột kích và càn quét nhỏ vào các căn cứ nhỏ, các làng du kích của ta trên khắp chiến trường miền Đông. Quân và dân ta ở các vùng căn cứ liên tục phải đối phó với các cuộc càn, chặn đánh, tiêu hao sinh lực địch bảo vệ an toàn căn cứ. Vừa chống càn, phá vây, giữ vững căn cứ, các lực lượng vũ trang vừa tỏa ra các địa bàn chủ động tìm đánh địch, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, xây dựng phát triển lực lượng, từng bước đưa trình độ tác chiến của các đơn vị bộ đội theo kịp diễn biến cuộc kháng chiến. Tiểu đoàn 303 để lại 2 đại đội bảo vệ Chiến khu Đ, 2 đại đội khác về hoạt động ở vùng Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát... Tiểu đoàn 302 để lại 1 đại đội bảo vệ căn cứ Xuyên Phước Cơ, 1 đại đội khác về hoạt động ở Long Thành. Các tiểu đoàn khác đều phân tán lực lượng ra hoạt động khắp các vùng tự do và vùng du kích. Trong khi đó, du kích các xã vùng căn cứ địa và vùng du kích vừa phối hợp tác chiến với bộ đội, vừa độc lập tác chiến đánh nhỏ lẻ tiêu hao địch, dùng mìn, lựu đạn gài bao vây các bốt, các ngả đường giao thông, phá đường sá, cầu cống, hạn chế địch đi lại, càn quét, bắt lính, gom dân. Tiêu biểu nhất là phong trào du kích ở các huyện Bến Cát, Đồng Nai, Lái Thiêu. Các đội vũ trang tuyên truyền, biệt động bám dân, bám địa bàn xây dựng cơ sở đánh địch có kết quả ở vùng cao su Dầu Tiếng, Hớn Quản, Phú Riềng, thị xã Thủ Dầu Một, thị trấn Lái Thiêu, Định Thành, Bến Súc, Phước Hòa, Tân Ba. Năm 1952, một trận đánh lớn của ta đã nổ ra tại chi khu Cần Giờ. Chi khu này do 2 đại đội quân Cao Đài đóng giữ dưới quyền chỉ huy của tên quan hai kiêm Chi khu trường người Pháp. Đây là một căn cứ quan trọng chốt chặn đầu cầu từ Biển Động vào Sài Gòn, nằm trong hệ thống phòng thủ đường vận chuyển quốc tế, đồng thời làm bàn đạp đánh phá kìm kẹp nhân dân vùng Nam Rừng Sác. Lực lượng tiến công của ta gồm 1 đại đội của Tiểu đoàn 300 do đồng chí Nguyễn Văn Bứa chỉ huy và 1 đại đội địa phương liên huyện do đồng chí Trần Minh Tâm chỉ huy. Đêm 29 tháng 1 năm 1952 (tức mùng 3 Tết Nhâm Thìn), quân ta ở Long Thạnh và Đông Hòa được nhân dân địa phương giúp đỡ phương tiện đã bất ngờ đột kích từ phía biển lên. Có cơ sở nội tuyến trong chi khu, theo kế hoạch mở sẵn cổng đồn cho quân ta xông vào nổ súng diệt gọn 2 đại đội địch, làm chủ khu vực chi khu đến sáng. Địch huy động 30 tàu chiến lớn nhỏ đến ứng cứu, chặn hết các ngả sông rạch. Một bộ phận quân ta phải trụ lại trong khu vực Mũi Bần. Sau 10 ngày, nhờ sự giúp đỡ của nhân dân địa phương về phương tiện đi lại và chỉ đường, bộ phận này thoát được vòng vây địch về căn cứ an toàn. Thắng lợi của trận Cần Giờ không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự mà còn tạo sự tin tưởng, phấn khởi trong nhân dân, mở ra khí thế mới trong phong trào kháng chiến ở vùng liên huyện. Các đơn vị tham gia chiến đấu được Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông gửi điện khen. Đã 70 năm trôi qua kể từ ngày Chiến dịch Hòa Bình giành thắng lợi (25.2.1952) nhưng ý nghĩa to lớn mang tầm chiến lược của chiến thắng này trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cho thấy bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày của Quân đội ta, đồng thời cho thấy tài thao lược của Đảng ta, trực tiếp là Tổng Quân ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác, trong đó có chiến trường Đông Nam Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng căn cứ, làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho cách mạng. Ngày nay, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp. Trong xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đối diện với sự cạnh tranh gay gắt về kinh tế và những nguy cơ và thách thức đối với quốc phòng, an ninh. Quân khu 7 là địa bàn chiến lược, trọng điểm, có biên giới, biển đảo, đô thị, đồng bằng, rừng núi; là nơi phát triển năng động về mọi mặt. Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Trong những năm qua, triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo đường lối đổi mới của Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tập trung xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, nỗ lực vươn lên, lập thêm nhiều thành tích mới, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong bối cảnh đó, những bài học kinh nghiệm trong lịch sử chống ngoại xâm nói chung, bài học về sự phối hợp giữa các chiến trường trong chiến tranh giải phóng, sự phối hợp đẩy mạnh tác chiến trong Đông - Xuân 1951 - 1952 của quân dân miền Đông Nam Bộ đối với Chiến dịch Hòa Bình, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị cả lý thuyết và thực tiễn, cân được nghiên cứu, vận dụng trong điều kiện mới, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:20:41 pm CHIẾN TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRƯỚC VÀ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng NGUYỄNXUÂN ĐẠT Tư lệnh Quân khu 9 Sau Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950, cục diện chiến tranh ở Việt Nam và trên toàn Đông Dương đã có những thay đổi lớn, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta chuyển sang bước ngoặt quan trọng. Khả năng thất bại của quân Pháp ngày càng rõ, chi phí cho chiến tranh Đông Dương ngày càng nặng, đã vượt qua những chi phí kiến thiết mà nước Pháp đang càn. Tới năm 1951, chi phí cho chiến tranh Đông Dương đã lên tới 308 tỷ phơrăng (Franc), gấp 2,5 lần chi phí cho tái thiết đất nước Pháp sau Thế chiến thứ hai. Thực dân Pháp thấy rõ không thể một mình theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Pháp buộc phải dựa vào đế quốc Mỹ để tiếp tục chiến tranh xâm lược. Ngày 23 tháng 12 năm 1950, Mỹ ký hiệp định chính thức về viện trợ quân sự cho Pháp và bọn bù nhìn. Được Mỹ tiếp sức, Pháp chủ trương quyết giữ Đông Dương, tập trung lực lượng phòng ngự và bình định đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời tăng cường lực lượng, chuẩn bị phản công giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất trên chiến trường chính Bắc Bộ. Chính phủ Pháp cử tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) sang làm Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Vừa nhận chức, Đờ Lát đã gửi tờ trình đặc biệt xin viện binh, lý do là với thực lựchiện có không đủ sức chống cự lại đối phương. Chính phủ Pháp cho lấy ở Bắc Phi 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh và 1 tiểu đoàn truyền tin. Tới Đông Dương, Đờ Lát đã ngăn chặn quân Pháp rút quân một cách rối loạn khỏi hành lang Đông Bắc và đưa ra một kế hoạch gồm các điểm: Gấp rút tập trung nỗ lực của đạo quân viễn chinh Pháp (quân Âu - Phi) vào Bắc Bộ xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh, ra sức phát triển ngụy quân; thiết lập một phòng tuyến chạy bao quanh vùng châu thổ để ngăn cách đồng bằng, trung du với miền rừng núi Bắc Việt Nam; tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định cho được các vùng tạm chiếm; đánh phá ác liệt căn cứ, hậu phương và chuẩn bị tiến công ra vùng tự do của ta hòng gây thanh thế và lấy lại tinh thần binh lính, làm cơ sở xin Mỹ tăng viện trợ với ý đồ giành lại quyền chủ động. Thực hiện kế hoạch trên, địch ráo riết bắt lính, tập trung quân cơ động, xúc tiến xây phòng tuyến boongke ở Bắc Bộ, lập vành đai trắng, đẩy mạnh bình định khắp chiến trường Bắc Bộ. Thủ đoạn bình định chủ yếu của thực dân Pháp là càn quét, càn quét lớn kết hợp với càn quét vừa và nhỏ, càn quét ngắn ngày kết hợp với càn quét dài ngày. Bao vây, chia cắt kết hợp với càn đi, càn lại nhiều lần để tiêu diệt lực lượng quân sự, đánh phá cơ sở, giành dân và cướp đoạt của cải, phá hoại kinh tế của ta. Với những thủ đoạn vô cùng ác liệt, kế hoạch của Đờ Lát đã gây cho ta rất nhiều khó khăn mới. Đối với miền Nam Việt Nam, tướng Săngxông (Chanson) sau khi thay thế Đờ Latua (De Latour) tiếp tục công cuộc bình định. Mặc dù bị rút bớt 7 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh để tăng cường lực lượng yểm trợ cho chiến trường Bắc Bộ nhưng chúng vẫn tiếp tục đẩy mạnh các cuộc hành quân bình định, đế tăng quân số, Bảo Đại ra sắc lệnh tổng động viên nâng quân ngụylên 110.000 tên, thành lập được 68 tiểu đoàn các loại. Săngxông chủ trương đóng thêm đồn bốt và tháp canh, chia cắt chiến trường. Chúng lấn chiếm, củng cố và khống chế được những vùng đông dân có nhiều tín đồ đạo giáo, đồng thời lập những đơn vị cơ động ứng chiến để tăng cường các cuộc càn quét. Chúng thành lập 2 tiểu đoàn cơ động: Tiểu đoàn 1 BMEO phụ trách các tỉnh sông Tiền và Tiểu đoàn 2 BMEO phụ trách các tỉnh sông Hậu. Thực hiện bình định lấn chiếm tỉnh Bến Tre, phần lớn các tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh xong, địch mở rộng càn quét, đánh phá 2 tỉnh Cần Thơ và Rạch Giá. Địch huy động 15 tiểu đoàn càn quét 6 xã thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ và 3 huyện Long Mỹ và Giồng Riềng, Châu Thành của tỉnh Rạch Giá. Ở Hà Tiên và Rạch Giá, địch đóng lại đồn bốt ở Giồng Riềng, Tri Tôn và Sóc Xoài. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Nam Bộ đề ra chủ trương lãnh đạo: Chủ động kiềm chế địch trên chiến trường Nam Bộ và tiến lên kịp với phong trào toàn quốc. Muốn chủ động kiềm chế địch phải giành giật Khu 8, tiến công kiềm chế ở Khu 7, giữ vững Khu 9, giúp phong trào cách mạng ở Campuchia phát triển và phối hợp chặt chẽ với Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ. Nắm vững phương châm chiến lược du kích là chính, học tập đánh vận động chiến, đẩy mạnh vận động chiến tiến tới. Tình hình chiến sự thời gian này diễn ra gay gắt, địch ra sức càn quét lấn chiếm, ta quyết phá, bẻ gãy các cuộc tiến công của địch, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích, tổ chức tập kích, phục kích, giáng cho địch những đòn đích đáng, gây nhiều tổn thất cho địch. Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Nam Bộ về mở chiến dịch "phá ngụy", trọng điểm của chiến dịch là Long Châu Hà (Khu 9) và Long Châu Sa (Khu 8). Các tỉnh khác phối hợp bằng cách kiềm chân địch tại chỗ và tăng cường hoạt động vào vùng có đông dân cư... Thực hiện chủ trương đó, để khắc phục khó khăn, vươn lên giành thế chủ động, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 mở Chiến dịch Long Châu Hà II; trọng điểm của chiến dịch là 2 huyện Châu Thành (Long Xuyên) và Châu Phú A. Trước khi mở chiến dịch, ta nghi binh đánh Rạch Giá, buộc địch huy động 250 lính Pháp và Bắc Phi cùng một số sĩ quan ngụy ở Cần Thơ, Long Xuyên đến tăng cường cho Rạch Giá. Tại Cần Thơ, ta tổ chức phá hoại trong thị xã và thị trấn Ô Môn, phá cầu Trà Nóc, cầu Bò Ót và vũ trang tuyên truyền trong vùng Thốt Nốt. Tại thị xã Châu Đốc, ta tổ chức quấy rối địch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có: Trung đoàn Tây Đô (3 tiểu đoàn 402, 404, 406), 2 đại đội địa phương tỉnh Long Châu Hà, đội biệt động của Ban Hòa Hảo vận 304, các trung đội du kích tập trung của các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, 2 đơn vị công binh trợ chiến và các tổ chức làm công tác dân vận ở các nơi ta mở chiến dịch. Sau 3 đợt thực hành chiến dịch, ta diệt 300 tên, bắt nhiều tên khác, phá hủy 4 lô cốt và nhiều tháp canh, thu 21 súng, trong đó có 2 khẩu đại liên, về mặt chính trị, ta đã tiến sâu vào vùng sau lưng địch, tuyên truyền, giải thích cho đồng bào theo đạo Hòa Hảo thấy được âm mưu thâm độc của thực dân Pháp và tay sai, hiểu rõ tính chất của cuộc kháng chiến, chính sách của Mặt trận Việt Minh, của Chính phủ kháng chiến và đã gây dựng được một số cơ sở. Phối hợp với chiến dịch của Quân khu 9 Quân khu 8 mở chiến dịch "phá ngụy" ở huyện Phú Châu, tỉnh Long Châu Sa ngày 16 tháng 3 năm 1951. Sau 7 ngày đêm hoạt động liên tục, quân dân tại đây đã tiêu diệt 150 tên, bắt 16 tên (có 4 lính lê dương), bắn hỏng 2 tàu, thu 5 trung liên, 2 súng cối 60mm và nhiều súng trường... Chiến dịch phối hợp này tuy chưa đạt hiệu suât cao về mặt quân sự, nhưng về chính trị ta đã giành thắng lợi quan trọng, mở được "đột phá khẩu" vào vùng Hòa Hảo, nơi quân Pháp và bọn phản động tay sai đã kiểm soát, khống chế lâu năm, cũng là nơi ta đã tốn nhiều xương máu mà chưa vào được. Kết quả thực hiện 2 chiến dịch kế tiếp nhau của 2 quân khu đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giết giặc lập công của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:22:27 pm Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2.1951), Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị mở rộng nhằm triển khai những chủ trương, đường lối của Đảng đối với Nam Bộ và định hướng về các lĩnh vực của công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ: Phát triển du kích chiến tranh; tăng cường mạnh mẽ bộ đội địa phương; xây dựng chủ lực mạnh về tác chiến, xây dựng Đảng. Phát triển chính quyền dân chủ nhân dân, phá chính quyền địch; chính sách ruộng đất; tăng gia sản xuất tự cung tự cấp; công tác tài chính, tiên tệ; về bao vây,phá hoại kinh tế địch; tăng cường công tác địch ngụy vận; xây dựng, củng cố căn cứ địa về mọi mặt cả quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa...; xác định biện pháp tranh thủ tối đa sự chi viện của Trung ương, nhất là về quân sự (củng cố và mở thêm những đường giao thông vận tải, cả đường thủy lẫn đường bộ từ nước ngoài và từ Trung ương về Nam Bộ...
Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (khoá II) đã quyết nghị thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ. Cơ cấu nhân sự và phạm vi công tác của Trung ương Cục được xác định: Gồm các ủy viên Trung ương ở Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư. Nhiệm vụ và phạm vi phụ trách của Trung ương Cục được quy định rõ: Căn cứ các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị đề chỉ đạo công tác cho Nam Bộ và bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Cao Miên (Campuchia). Ủy ban kháng chiến Nam Bộ tiếp tục đứng chân lâu dài trên địa bàn trung tâm căn cứ địa vùng đồng bằng sông Cửu Long ờ Đông Tháp Mười và vùng u Minh. Lúc này, thực dân Pháp tăng cường bình định Nam Bộ, đánh phá phong trào kháng chiến trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... Trung ương Cục đề ra nhiệm vụ: "Giành lại thế chủ động chiến trường, phát triển sâu rộng du kích chiến tranh trên chiến trường Nam Bộ"; chỉ đạo sáp nhập 17 tỉnh, thành của Nam Bộ thành 11 tỉnh và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; giải thể Khu 7,Khu 8, Khu 9, phân chia Nam Bộ thành 2 phân liên khu là Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây, tiến hành củng cố lại bộ máy chính quyền, đoàn thể; kiện toàn tổ chức đảng; chuyển đổi công tác đảng trong Quân đội. Cơ cấu lại hệ thống tổ chức đảng ở Nam Bộ, từ 4 khu thành 2 phân liên khu bộ, mỗi phân liên khu bộ có 1 phân liên khu ủy lãnh đạo. Thực hiện các nhiệm vụ quân sự, phát triển thế chủ động chiến lược để giữ vững chiến tranh du kích, ứng phó với những biện pháp quân sự mới của đối phương, về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang: Lập Ban Căn cứ địa Nam Bộ; thành lập Bộ Tư lệnh các phân liên khu; tổ chức hội nghị bí thư chi bộ đại đội toàn Nam Bộ, quán triệt nhiệm vụ đẩy mạnh chiến tranh du kích chống địch càn quét, lấn chiếm, chú trọng xây dựng đơn vị cơ sở đại đội; quán triệt quan điểm chiến trường Nam Bộ là chiến trường du kích; đẩy mạnh công tác địch vận. Để thực hiện chủ trương tiến sâu vào sau lưng địch, tước vũ khí các sóc được địch vũ trang, phá hệ thống chiếm đóng của địch mở rộng địa bàn giải phóng, giành lại đồng bào Khơme đang bị kìm kẹp; củng cố và phát triển cơ sở cách mạng của ta trong vùng địch kiểm soát. Tháng 5 năm 1951, Quân khu 9 mở Chiến dịch Sóc Trăng II. Địa bàn chiến dịch là các huyện Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Long Phú, Châu Thành thuộc tỉnh Sóc Trăng; trọng điểm là huyện Thạnh Trị. Lực lượng tham gia chiến dịch có Trung đoàn Tây Đô phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tại chỗ. Đồng chí Nguyễn Chánh - quyền Tư lệnh Quân khu làm Chỉ huy trưởng Chiến dịch. Ngày 13 tháng 5 năm 1951, trận đánh đầu tiên mở đầu chiến dịch do Tiểu đoàn 408 (từ Tiểu đoàn 402 đổi phiên hiệu) tiến công đồn Xã Sang (xã Tuân Tức). Qua 1 ngày chiến đấu ác liệt, giằng co, ta chỉ đánh thiệt hại nặng bốt chính, diệt 4 lô cốt và tiêu hao một bộ phận quân địch từ Sóc Trăng đến tiếp viện. Ngày 15 tháng 5 năm 1951, Tiểu đoàn 410 (từ Tiểu đoàn 404) đánh đồn Xẻo Me (Vĩnh Châu). Sau 3 giờ chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, ta tiêu diệt đồn chính và 4 lô cốt. Sau đó, Tiểu đoàn triển khai đánh quân tăng viện của địch từ thị xã Bạc Liêu đến. Địch bắn pháo và thả bom napan vào trận địa ta. Bộ đội kiên trì bám trụ trận địa chờ quân địch đến gần mới nổ súng. Kết quả: Ta diệt 2 trung đội, số còn lại bỏ chạy, phá hủy 7 xe. Trận này tuy giành thắng lợi nhưng Tiểu đoàn cũng bị thương vong nhiều vì phi pháo và bom của địch. Đến 15 giờ cùng ngày, Tiểu đoàn 2 BMEO của địch từ Cần Thơ đến cứu viện, Tiểu đoàn 410 tiếp tục chiến đấu. Địch cho máy bay thả bom, bắn pháo yểm trợ cuộc hành quân. Tiểu đoàn chiến đấu dũng cảm, diệt trên 50 tên, buộc chúng phải rút lui trước lúc trời tối. Tuy nhiên, vừa phải tiến công đồn địch và 2 lần liên tiếp đánh địch tăng viện, Tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, trên 30 đồng chí hy sinh và bị thương. Cùng thời gian này, ở phía mặt trận thứ yếu của chiến dịch cũng đã chiến đấu đánh nhiều trận đạt hiệu suất cao, diệt nhiều địch phá lộ, cắt đứt giao thông. Đặc biệt trong chống cuộc càn quét của tiểu đoàn thân binh ngụy (BVN) ở Phụng Hiệp, Tiểu đoàn 406 diệt gần 70 tên, bắn rơi 1 máy bay khu trục và diệt gọn trung đội biệt kích ở Phú Hữu (Châu Thành, Cần Thơ). Trong Chiến dịch Sóc Trăng II, cùng với thắng lợi về quân sự, ta đã tạo được ảnh hưởng lớn về mặt chính trị trong đồng bào Khơme, thông qua công tác tuyên truyền, đồng bào Khơme trên địa bàn đã nhận thức đúng đắn về chính sách đại đoàn kết của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủng hộ kháng chiến, không mắc mưu của thực dân Pháp. Qua đó, ta đã tạo được một khí thế mới trong quần chúng gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng sóc Khơme bị đích tạm thời chiếm đóng. Ngày 31 tháng 7 năm 1951, tại thị xã Sa Đéc, tướng Săngxông - Tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ và Thái Lập Thành - Thủ hiến Nam Việt của Chính phủ Bảo Đại cùng nhiều sĩ quan khác đang dự cuộc duyệt binh ở thị xã đã bị cảm tử quân Phan Văn Út (còn gọi là Út Ngọ, tức Triệu Hoàng Minh) ném lựu đạn. Thái Lập Thành chết tại chỗ, Săngxông bị trọng thương và chết sau vài giờ, 4 sĩ quan Pháp bị thương. Tuy tiêu diệt được kẻ thù nhưng đồng chí Phan Văn Út cũng đã anh dũng hy sinh. Thời gian này địch đã tiến sâu vào Đồng Tháp Mười trên trục kênh Nguyễn Văn Tiếp, chiếm Ngã Sáu, Thiên Hộ. Tiểu đoàn 307 về đứng chân ở Đồng Tháp Mười để bảo vệ chiến khu, đánh địch bảo vệ căn cứ, tiêu diệt gần 200 tên địch, bắn chìm và cháy 4 tàu trên kênh Nguyễn Văn Tiếp và thực hiện nhiệm vụ vận chuyển tiếp tế cho miền Đông trong thời điểm miền Đông bị bão lụt; hỗ trợ cho phong trào chống lấn chiếm và phát động chiến tranh du kích, phân tán từng đại đội để phối hợp cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu hao, tiêu diệt địch làm công tác "ngụy địch vận" được 1 trung đội Hòa Hảo bỏ đồn về quê hương (Long Xuyên). Tháng 9 năm 1951, lực lượng vũ trang Khu 8 cũ đã tổ chức các cuộc tiến công liên tiếp vào hệ thống kho của địch ở thị trấn Cái Bè (Mỹ Tho): Đốt cháy 1 kho xăng, 1 kho chứa 1.000 tấn đạn các cỡ và 1 kho chứa 20 xe vận tải của địch, tiêu diệt 1 đồn lính Âu - Phi gồm 80 tên và 1 đồn lính biệt kích 100 tên. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:24:28 pm Lúc này, Trung ương Cục chủ trương tổ chức đủ ba thứ quân tinh gọn và hiệu quả, giải thể các đơn vị chủ lực cấp trung đoàn liên trung đoàn, tổ chức lại thành các tiểu đoàn, các đại đội để phù hợp với khả năng cung ứng hậu cần và trang bị kỹ thuật, giúp các đơn vị đứng vững trên địa bàn được phân công, tiến sâu vào vùng địch tạm thời chiếm đóng.
Tháng 7 năm 1951, Bộ Tư lệnh Nam Bộ quyết định giải thể Liên trung đoàn 109-111 và Trung đoàn Tây Đô, phân tán các tiểu đoàn chủ lực về hoạt động tại các vùng trọng điểm bố trí ở các tỉnh thích hợp với tình hình chung, đồng thời tăng cường các đơn vị trợ chiến như công binh, pháo nhẹ, đặc công, để phát huy được hiệu quả tác chiến. Lúc này ở Nam Bộ chỉ bố trí 2 tiểu đoàn chủ lực cơ động: Tiểu đoàn 302 ở Phân liên khu miền Đông, Tiểu đoàn 307 ở Phan liên khu miền Tây, mỗi tỉnh đều xây dựng tiểu đoàn tập trung. Các phân liên khu Còn có các đại đội độc lập để tăng cường cho vùng yếu, các đội vũ trang tuyên truyền để hoạt động vùng sau lưng địch và các đội binh chủng như: Đặc công, pháo binh, công binh, đội săn tàu bằng thủy lôi... Các nơi đều củng cố các đại đội địa phương huyện để đủ sức bảo vệ địa phương mình và phát triển lực lượng dân quân du kích để đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển rộng khắp. Cuối năm 1951, các phân liên khu tập trung củng cố tổ chức, bố trí lại lực lượng hợp lý, thống nhất chỉ huy, giảm quân số cơ quan để đưa ra đơn vị chiến đấu, tăng cường cán bộ về cơ sở, củng cố ban chỉ huy tỉnh đội để đủ sức chỉ huy các lực lượng vũ trang trong tỉnh. Những việc làm thiết thực đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phá thế bao vây lấn chiếm của địch. Trước âm mưu hành động tiến công lên Hòa Bình của thực dân Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp và quyết định: Đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hoà Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Trung ương giao nhiệm vụ cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ phối hợp với chiến trường chính, hạn chế lực lượng của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ bằng cách phát triển mạnh chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ: Đối với miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ, phải tùy hoàn cảnh ở đó, tùy công tác đang tiến hành mà ra sức hoạt động mạnh hơn, nhất là chiến tranh du kích để tiêu diệt địch và kìm hãm địch, không cho chúng điều quân ra chi viện Bắc Bộ. Để Nam Bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ phối hợp, ngoài giao nhiệm vụ, Trung ương cũng đặt vấn đề chi viện cho miền Nam. Ngày 7 tháng 12 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương đã có nghị quyết về tiếp tế cho miền Nam. Trong nghị quyết này đã xác định tầm quan trọng của việc tiếp tế cho miền Nam, nhằm tạo điều kiện về vũ khí, cán bộ, tiền bạc để tăng cường hoạt động. Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Trung ương Cục, lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhất là bộ đội địa phương tỉnh, huyện được tăng cường; dân quân, tự vệ và du kích xã phát triển; nhiều đội võ trang tuyên truyền hoạt động trong các vùng nông thôn tạm chiếm, vùng ngụy Cao Đài, Hoà Hảo, công giáo, vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện phương châm phát triển kinh tế phục vụ kháng chiến, moi khả năng, điều kiện sản xuất đều được phát huy nhằm đảm bảo tự cung tự cấp, đặc biệt là ở những vùng căn cứ; sản xuất dựa vào nhân dân, tin ở nhân dân; tăng gia sản xuất và tiết kiệm, lấy nông nghiệp làm chủ yếu... Thực hiện chủ trương phát triển mạnh chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ, sau khi điều chỉnh thế bố trí lực lượng, cán bộ được tăng cường về cơ sở, địa phương, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, các lực lượng đã trụ vững trên địa bàn được giao. Tuy nhiên, lúc này lực lượng địch ở đồng bằng sông Cửu Long còn mạnh, hệ thống đồn bốt còn dày đặc. Do đó, ta chủ trương trong thời gian này là không cho địch chia cắt giữa miền Tây và miền Đông, mỗi địa phương là một trận tuyến chống địch càn quét, lấn chiếm. Quân và dân ra sức giết giặc lập công với nhiều hình thức khác nhau. Ta và địch đã dần chuyển sang thế giằng co quyết liệt, khắp các tỉnh quân ta đều lập được chiến công. Đầu năm 1952, ở Cần Thơ, Tiểu đoàn 308 tiến công tiêu diệt hàng trăm tên địch ở Ô Môn và Châu Thành, thu 60 súng các loại. Cũng trong thời gian này, 4 chiếc tàu địch càn quét vào 2 huyện Châu Thành và Giồng Riềng đã bị quân dân Cần Thơ dùng thủy lôi diệt 1 tàu và tiêu diệt 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 16 BVN địch. Trên chiến trường Sóc Trăng, 2 tiểu đoàn địch có xe lội nước và máy bay yểm trợ tiến hành càn quét vào vùng Long Mỹ đã bị lực lượng của 2 tiểu đoàn 307 và 410 chặn đánh ở Giồng Sao. Trận đánh kéo dài suốt ngày, đến tối, địch di chuyển quân qua Trà Bang Nhỏ, đóng tại Trà Kết, lại bị Tiểu đoàn 308 tập kích tiêu diệt 2 đại đội... Tại Long Châu Hà, địch dùng 3 tiểu đoàn Âu - Phi đánh vào Ba Chúc để yểm trợ cho lực lượng đóng đồn và tiến công vùng căn cứ của ta ở Bảy Núi. Lực lượng vũ trang của ta phục kích diệt gần hết 1 đại đội lê dương tại cầu sắt Vĩnh Thông, bẻ gãy cuộc càn quét của địch. Ta tiến đánh đồn Phố Đà, phá thế bao vây vùng Ba Chúc... Ở Bạc Liêu, Tiểu đoàn 307 đã phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt 100 tên ở Lai Hòa và phá hủy hàng chục xe quân sự của địch. Đại đội địa phương huyện Giá Rai đã phối hợp với đại đội cơ động của tỉnh diệt đồn Cây Giang và đồn Cầu Sập cùng nhiều tháp canh trên lộ Đông Dương 16 từ Bạc Liêu đi Cà Mau. Đội võ trang tuyên truyền của ta trừng trị viên thiếu tá Trương Văn Xương giữa ban ngày ngay tại thị xã Bạc Liêu, làm cho bọn ác ôn tại đây phải khiếp đảm... Từ ngày 19 đến ngày 28 tháng 2 năm 1952, ta chặn đánh và phá tan cuộc hành quân càn quét lớn "Gió lốc 2" của địch vào Chiến khu Đồng Tháp Mười. Trong cuộc càn này, địch đã huy động lực lượng lên đến 3.000 quân, 75 xe lội nước, 39 tàu chiến và được máy bay yểm trợ. Quân và dân ta đã đánh địch suốt 17 ngày đêm liền, ta đã tiêu diệt 780 tên, làm bị thương 790 tên, bắn chìm 3 tàu chiến, phá hủy 4 xe lội nước, lực lượng còn lại của địch phải rút chạy. Hoạt động của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long góp phần cùng toàn Miền thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Trung ương Đảng giao, phối hợp có hiệu quả với chiến trường chung, liên tục tiến công căng kéo, kìm chân địch, chống địch chia cắt chiến lược, phá thế liên kết, cắt đứt nguồn bảo đảm hậu cần từ miền Tây lên miền Đông, không cho chúng điều động lực lượng ra tiếp ứng ở chiến trường chính Bắc Bộ. Đồng thời, lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long đã làm tốt công tác dân vận binh địch vận, phát triển chiến tranh du kích, tuyên truyền vận động làm thất bại âm mưu của địch vũ trang cho đồng bào dân tộc và tôn giáo chống lại lực lượng kháng chiến, xây dựng được mối quan hệ đoàn kết, tin cậy với đồng bào các dân tộc, tôn giáo, nhất là đồng bào Khơme Nam Bộ. Đây cũng là cơ sở quan trọng để huy động sức mạnh tổng hợp toàn dân, thực hiện chiến tranh nhân dân trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những kinh nghiệm đó tiếp tục được vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) và được nghiên cứu vận dụng trong xây dựng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh cũng như bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn chiến lược Tây Nam Bộ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:31:58 pm NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN HIỆP ĐỒNG BINH CHỦNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, TS VŨ NGỌC THỦY Viện trưởng Viện Khoa học Nghệ thuật quân sự, Học viện Quốc phòng Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình. Đây là chiến thắng mang ý nghĩa chiến lược về quân sự và chính trị; đánh dấu bước trưởng thành và tiến bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng. Đánh hiệp đồng binh chủng là lối đánh cơ bản của bộ binh, kết hợp với các hoạt động tác chiến chi viện của lực lượng binh chủng pháo binh, phòng không, công binh, thông tin... theo ý định kế hoạch tác chiến thống nhất, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại quân địch phòng ngự và chiếm đóng trên mặt trận chính diện ở Hòa Bình và phía sau lưng địch. Tháng 11 năm 1951, Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương tập trung lực lượng lớn đánh chiếm tỉnh Hòa Bình, một vị trí chiến lược đặc biệt (chỉ cách Hà Nội 76km), nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu vực chiếm đóng, bịt chặt đường giao thông từ Việt Bắc đi các liên khu 3, 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá thế chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Để thực hiện kế hoạch đó, trong các ngày 9 và 14 tháng 11, chúng huy động lực lượng cơ động mạnh gồm bộ binh, pháo binh, xe tăng - thiết giáp mở 2 cuộc hành quân Tuylíp và Lôtuýt đánh chiếm các khu vực Chợ Bốn, thị xã Hòa Bình, Đường số 6, Ba Vì... Sau khi chiếm được các mục tiêu, chúng để lại 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp; tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Bắc là sông Đà - Ba Vì thuộc thị xã Hòa Bình; Phân khu Nam là Đường số 6. Tại phân khu Hòa Bình - Đường số 6, địch tập trung lực lượng bố trí phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm bao gồm cả trận địa pháo binh, sân bay, sở chỉ huy. Phân khu sông Đà - Ba Vì được chia làm 2 khu then chốt phòng ngự gồm: La Phù - Đan Thê và Tu Vũ - Núi Chẹ; ngoài ra, khu vực Chợ Bến được thiết lập là tiền đồn phía Đông bảo vệ cho Hòa Bình. Trước những diễn biến về địch như trên, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan ý đồ chiếm đóng của chúng; đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy. Lực lượng tham gia trên mặt trận chính gồm các đại đoàn 304 308 312 và Đại đoàn Công pháo 351; trên mặt trận phối hợp gồm các đại đoàn 316, 320, cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Hòa Bình và một số địa phương trên địa bàn tác chiến. Diễn biến chiến dịch chia làm 3 đạt. Đợt 1 (10 - 26.12.1951), chiến dịch tập trung lực lượng, phương tiện đột phá tuyến sông Đà. Sử dụng Đại đoàn 312 đánh địch càn quét trên Đường số 87, Đại đoàn 308 tiến công tiêu diệt địch ở cứ điểm Tu Vũ, đồng thời tiêu diệt một bộ phận địch ở cứ điểm Chợ Bến, Thu Cúc - Lai Đồng. Đợt 2 (27 - 31.12.1951), chiến dịch phát triển tiến công tiêu diệt địch ở tuyến sông Đà, cắt đứt đường tiếp tế của địch. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), lợi dụng lúc quân địch phòng ngự có nhiều sơ hở, chiến địch đánh cắt Đường số 6, bao vây thị xã Hòa Bình, buộc địch phải rút chạy. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, Chiến dịch Hòa Bình đà tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, thu giữ nhiều loại vũ khí, phá hủy nhiều loại phương tiện chiến tranh của chúng. Đặc biệt chiến dịch đã đánh bại âm mưu chiếm đóng, phá tan ý đồ giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ của địch; giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, khai thông giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 và tạo điều kiện làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng có lợi cho ta, giành ưu thế quân sự trên chiến trường Bắc Bộ. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã đánh dấu bước đầu hình thành nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng, được thể hiện trên một số vấn đề sau: Một là, công tác tổ chức chuẩn bị tác chiến hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, chu đáo Để chuẩn bị mở Chiến dịch Hòa Bình, công tác chuẩn bị tác chiến hiệp đồng binh chủng rất chặt chẽ, công phu, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng ta mà trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch, về lực lượng, đã tập trung toàn diện cả lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động gồm các binh đoàn chủ lực mạnh nhất của chiến trường, được biên chế đầy đủ các đơn vị binh chủng: Pháo binh, phòng không, công binh, thông tin... Lực lượng tại chỗ đã huy động hàng chục nghìn dân công phục vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đạn dược. Sử dụng lực lượng trinh sát chiến trường với đầy đủ thành phần bộ binh, binh chủng chiến đấu, bảo đảm. Từng binh chủng nắm chắc nhiệm vụ của mình, bí mật triển khai lực lượng, công binh sẵn sàng cắt gỡ một phần hàng rào, mở cửa bằng bộc phá liên tục; pháo binh chuẩn bị vị trí triển khai trận địa sẵn sàng chế áp hỏa lực vào các mục tiêu phòng ngự của địch chi viện cho các đơn vị bộ binh chiến đấu, các đơn vị bộ binh tận dụng kết quả chi viện của các binh chủng, xác định đường hướng vượt qua cửa mở nhanh chóng đánh chiếm đầu cầu, thọc sâu, chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận địch. Hai là, xác định đổi tượng, mục tiêu cho các lực lượng tham gia tác chiến hiệp đồng binh chủng phù hợp, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ sơ hở của địch Địch tiến công và chiếm giữ khu vực Hòa Bình, chỗ mạnh của chúng là quân số đông, hỏa lực phi cơ, pháo binh, xe tăng mạnh. Khi ta mở màn chiến dịch thí bố trí của địch đã khá vững chắc, dựa vào các điểm cao khống chế và công sự kiên cố, hình thành các cứ điểm và cụm cứ điểm liên hoàn, có thể hỗ trợ nhau, nhất là bằng hỏa lực. Nơi mạnh của địch là tập trung phòng ngự hình thành tập đoàn cứ điểm trong thị xã Hòa Bình, một trong những mục đích của địch là thu hút chủ lực của ta đến một chiến trường mà chúng đã lựa chọn và chuẩn bị trước để tiêu diệt và như tướng Đờ Lát đã tuyên bố là khiến cho các sư đoàn Việt Minh không còn có thể ngóc đầu lên được. Về ta, đang trong giai đoạn đẩy mạnh chiến tranh du kích, chuẩn bị thế và lực để phản công, phương hướng tác chiến chiến lược lúc này vẫn là tiêu diệt sinh lực địch, nhưng chưa phải là giải phóng đất đai. Ngay từ đầu, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã xác định: Nơi nào địch sơ hở thì ta đánh, nơi nào có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch thì ta đánh, không nhất thiết là đánh Hòa Bình. Bộ Chỉ huy đã chọn khu sông Đà là hướng tiến công chính, vì trên hướng này ta có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch. Trên hướng sông Đà, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã nhận thấy địch phòng ngự ở khu La Phù - Đan Thê mạnh hơn và có điều kiện yểm hộ thuận lợi cả đường bộ và đường sông. Khu then chốt phòng ngự Tu Vũ - Núi Chẹ của địch yếu hơn; đặc biệt, cứ điểm Tu Vũ là đầu cầu án ngữ nhưng;tương đối phân tán, sơ hở. Chủ trương của chiến dịch là đánh mạnh địch trên hướng sông Đà, tập trung lực lượng đánh trận then chốt hiệp đồng binh chủng vào khu vực phòng ngự then chốt của địch ở Tu Vũ; đồng thời, chỉ đạo đánh nhỏ liên tục trên Đường số 6 đã thể hiện việc lựa chọn mục tiêu vừa sức cho các lực lượng tác chiến hiệp đồng binh chủng nhằm vào chỗ yếu của địch mà tiêu hao, tiêu diệt sinh lực của chúng. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:33:46 pm Ba là, tập trung lực lượng đánh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt các mục tiêu trên sông và trên bộ, khoét sâu khó khăn về giao thông, vận tải tiếp tế của địch
Để vận chuyển tiếp tế cho hàng vạn quân địch rải ra trên một địa bàn rộng, xa hậu phương, trong đó có các tiểu đoàn bị cô lập trong thị xã Hòa Bình, chúng dựa vào 2 tuyến đường vận tải sông Đà và Đường số 6 (địch gọi là "cuống họng ướt" và "cuống họng khô"). Ngay từ đầu, chúng tập trung lực lượng bảo vệ 2 tuyến này và xác định đây là vấn đề sinh tử trong cuộc hành binh ra Hòa Bình. Bộ Chỉ huy Chiến dịch sớm phát hiện khó khăn lớn nhất này của địch. Trong suốt quá trình chỉ đạo tác chiến, chiến dịch tập trung lực lượng bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng, coi đánh giao thông vận tải trên sông, trên bộ là hướng hoạt động quan trọng của các lực lượng, nhằm không ngừng khoét sâu khó khăn của địch về vận tải tiếp tế. Trong đợt 1 và đợt 2, ta lấy sông Đà - Ba Vì làm hướng tiến công chính, trên hướng này, ta đã tập trung lực lượng lớn pháo binh của các sư đoàn chi viện cho lực lượng bộ binh đánh địch; sang đợt 3, nỗ lực của ta tập trung đánh vào tuyến Đường số 6, kết hợp tác chiến của bộ binh, pháo binh, với hoạt động đánh phá hoại đường sá, cầu cống của lực lượng công binh làm nòng cốt đã đem lại hiệu suất chiến đấu rất cao. Trong suốt thời gian này, dù tiến công cứ điểm hay phục kích địch trên bộ, trên sông, các hoạt động tác chiến phá hoại cầu đường đều được Bộ Chỉ huy Chiến dịch quan tâm chỉ đạo. Kết quả là ta đã uy hiếp và cắt đứt nhiều nguồn tiếp tế bằng đường bộ, đường thủy của địch. Đường vận chuyển trên sông của địch đã bị ta vô hiệu hóa ngay từ đợi 1 chiến dịch; trong đó trận phục kích ngày 23 tháng 12 của quân ta đã làm thất bại cố gắng cuối cùng của địch hòng khai thông tuyến giao thông sông Đà. Các trận đánh địch trên sông không những đã cắt đứt "cuống họng ướt"của địch mà còn tạo thêm điều kiện cho bộ đội đánh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt địch vận động trong khu vực Ba Vì. Đồng thời, liên tục đánh nhiều trận phục kích uy hiếp sự vận chuyển và hành quân của địch trên Đường số 6, con đường bộ huyết mạch duy nhất còn lại "cuống họng khô" của chúng - với chức năng nuôi sống tập đoàn cứ điểm Hòa Bình và các vị trí dọc theo Đường số 6. Trong thời điểm này, pháo binh được tổ chức thành các đơn vị nhỏ bố trí phân tán trên địa hình có lợi, sử dụng hỏa lực khống chế giao thông, đánh xe cơ giới, tàu xuồng, đã khống chế 2 trục đường vận chuyển trên sông, trên bộ của địch và đẩy địch vào tình thế nguy khốn, chỉ còn trông chờ vào những chuyến máy bay tiếp tế nhỏ giọt hằng ngày. Khi lực lượng bộ binh tiến công vào các cứ điểm thì vai trò của lực lượng pháo binh và các lực lượng bảo đảm lại càng quan trọng, đã tổ chức thành các khẩu đội, trung đội, bố trí trận địa bắn ở sẵn các mục tiêu trọng tâm bắn có lợi, chi viện có hiệu quả cho bộ binh tiến công. Bốn là, đánh hiệp đồng binh chủng được thể hiện qua phương châm "đánh điểm, diệt viện" Địa hình vùng Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 thuận lợi cho bộ đội phát huy sở trường, thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện". Trong suốt quá trình tác chiến, Bộ Chỉ huy Chiến dịch luôn nhấn mạnh phương châm "đánh điểm diệt viện" và nhắc nhở cán bộ chỉ huy các cấp nhiều vấn đề về phương thức tác chiến hiệp đồng binh chủng. Trong đánh điểm phải tập trung lực lượng chủ lực mạnh, đặc biệt là pháo binh, nắm chắc thời cơ tranh thủ đánh sớm, giải quyết xong trận đánh trong một đêm; đồng thời phải tích cực chuẩn bị để nếu cuộc chiến đấu kéo dài thì có thể tiếp tục đánh ban ngày. Khi đánh viện, phải xác định đánh cả đường thủy, đường bộ và cả quân dù; đánh cả ban ngày, đồng thời phải chú trọng tạo thời cơ và không bỏ lỡ cơ hội diệt viện ban đêm. Tiêu biểu như trận đánh cứ điểm Tu Vũ của Trung đoàn 88, chiến dịch đã sử dụng Tiểu đoàn sơn pháo 75mm của Đại đoàn 308 bố trí ở cự ly gần cách trận địa địch 100m, đã phát huy hiệu quả rất rõ, cùng với lực lượng súng máy phòng không 12,7mm, đánh hiệp đồng binh chủng đã tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn lê dương địch được xe tăng, pháo binh yểm trợ chỉ trong 1 đêm (10.12.1951). Sử dụng pháo binh chi viện kịp thời cho bộ binh đánh vận động phục kích trên Đường số 6 trong ngày 12 tháng 12 năm 1951. Trong đợt 2, chiến dịch vẫn kiên trì thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện" nhưng linh hoạt hơn như đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, đánh liên tục. Tranh thủ diệt viện bằng cách đánh linh hoạt của nhiều binh chủng với các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu như phục kích, tập kích, kỳ tập, quấy rối, phá hoại, đánh sâu trong lòng địch. Bước sang đợt 3, cùng với chủ trương chuyển hướng chủ yếu xuống vùng Hòa Bình - Đường số 6, Bộ Chỉ huy Chiến dịch vẫn kiên trì cách đánh hiệp đồng binh chủng và nhấn mạnh phải áp dụng một cách hết sức linh hoạt, lúc thì nặng về đánh điểm, lúc thì nặng về đánh viện và sử dụng lực lượng hỏa lực cho phù hợp. Khi nhận thấy quân địch ở cụm cứ điểm thị xã Hòa Bình còn mạnh, ta chưa đù sức và tập trung lực lượng đánh cụm cứ điểm, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã tổ chức các trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô nhỏ tiến công vào một số căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để tiêu hao, tiêu diệt địch. Đồng thời kết hợp chặt chẽ với các lực lượng lồ đội cơ động vật cản của công binh đánh cắt giao thông khống chế hoàn toàn tuyến đường vận chuyển sông Đà và Đường số 6. Khi tiến công vào các cứ điểm vòng ngoài thị xã Hòa Bình, lực lượng pháo binh đã thực hiện chiến thuật "đặt gần, bắn thẳng", đã chi viện có hiệu quả cho các lực lượng tác chiến; đồng thời sử dụng các lực lượng phòng không, công binh, thông tin tham gia bảo đảm, bảo vệ các lực lượng chiến đấu. Khi bị ta đánh mạnh vào các căn cứ bên ngoài, kết hợp với đánh cắt giao thông, địch trong cụm cứ điểm Hòa Bình bị bao vây, cô lập, tinh thần bị hoang mang cực độ, buộc phải rút lui, không thực hiện được ý đồ chiếm đóng thị xã Hòa Bình. Trong quá trình tác chiến hiệp đồng binh chủng, chiến dịch cũng nhận thấy còn nhiều thiếu sót như: Có lúc còn "nặng về đánh điểm", hoặc chưa bảo đảm chắc thắng trong chỉ đạo đánh điểm; các cấp chỉ huy còn thiếu hướng dẫn các biện pháp cụ thể. Khi đề ra chủ trương đánh nhỏ trên Đường số 6 để kìm giữ địch cấp chiến dịch chưa quán triệt đầy đủ chủ trương và nhiệm vụ nên tư tưởng của một số cán bộ, chiến sĩ không thông suốt, ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện, về chỉ đạo đánh địch rút lui, mặc dù Bộ Chỉ huy đã dự kiến từ trước nhưng cũng thiếu biện pháp chỉ đạo kịp thời nên không đạt được kết quả như mong muốn. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra), đối tượng tác chiến của ta có thể là quân đội của các thế lực thù địch và đồng minh, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta về nhiều mặt; được trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, chủ yếu là vũ khí công nghệ cao, khả năng cơ động nhanh, tình huống tác chiến diễn ra rất mau lẹ, khẩn trương, ác liệt và khó lường, về ta, sẽ tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện bằng tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của địch. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển và vận dụng những kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng trong Chiến dịch Hòa Bình trong điều kiện tác chiến mới, theo những định hướng sau: Một là, nghiên cứu điều chỉnh tổ chức, biên chế, trang bị cho các đơn vị chủ lực cơ động binh chủng hợp thành, quân chủng, binh chủng phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến lên hiện đại. Phấn đấu đến năm 2025 xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ tác chiến bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hai là, chủ động triển khai toàn diện công tác huấn luyện cho từng lực lượng, cả chủ lực và địa phương, bộ binh, quân, binh chủng chiến đấu, bảo đảm. Coi trọng phương châm huấn luyện "Cơ bản, thiết thực, vững chắc", lấy huấn luyện kỹ thuật làm cơ sở, huấn luyện chiến thuật làm trung tâm, giỏi đánh bằng vũ khí có trong biên chế và thành thạo tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng ở mọi quy mô, lấy quy mô nhỏ là chính. Thường xuyên tổ chức diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Từng bước áp dụng công nghệ thông tin trong huấn luyện, theo hướng mô phỏng hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng. Ba là, làm tốt công tác bảo đảm tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Chủ động và tiến hành đầy đủ các mặt bảo đảm như nắm địch, cơ động lực lượng, thông tin liên lạc, phòng chống vũ khí công nghệ cao, công sự ngụy trang, hậu cần, kỹ thuật... Chủ động và sớm triển khai công tác củng cố, xây dựng công sự trận địa phòng thủ, tiến hành ngụy trang, nghi binh theo kế hoạch. Xây dựng khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố vững mạnh, làm nền tảng cho hoại động tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Các binh chủng bảo đảm như thông tin, công binh, hóa học... cần chủ động phối hợp và huy động tiềm năng cơ sở vật chất trong khu vực phòng thủ. Tiếp tục quán triệt và thực hiện lời huấn thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh Chiến dịch Hòa Bình: "Trong lĩnh vực đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh nhân dân của các binh đoàn chủ lực là nội dung rất cơ bản của nghệ thuật phát động cả nước đánh giặc ở nước ta" nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:45:35 pm NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng, PGS, TS HOÀNG VĂN MINH Giám đốc Học viện Lục quân Chiến dịch Hòa Bình diễn ra trên địa bàn Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6, được sự phối hợp chặt chẽ của mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Đây là hướng tiến công quan trọng của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cùng mặt trận sau lưng địch tạo nên bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ta tiếp tục giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường. Sau thất bại ở biên giới trong Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ khiến quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động; chi phí cho chiến tranh ở Đông Dương ngày càng nặng, vượt quá những chi phí kiến thiết mà nước Pháp đang cần. Do đó, các nhà cầm quân của thực dân Pháp cần phải có một hành động hiệu quả và một thắng lợi để có tiếng vang gây thiện cảm ở Quốc hội Pháp. Cuối tháng 10 năm 1951, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (DeLattre de Tassigny) tuyên bố "Đã tới lúc giành lại thế chủ động trên chiến trường, buộc Việt Minh tiếp nhận chiến đấu trên một địa điểm do Pháp lựa chọn". Thực hiện ý định trên, địch tiến hành mở cuộc tiến công lên Hòa Bình, lập phòng tuyến sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "hành lang Đông - Tây", thực hiện tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ. Để tiến công lên Hòa Bình, ngày 9 tháng 11 năm 1951, địch mở cuộc hành binh Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm chợ Bến nhằm cắt đứt đường di chuyển của Việt Minh từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, địch mở tiếp cuộc hành binh Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình. Chiều ngày 15 tháng 11 năm 1951, địch đã hình thành 2 cụm quân ở sông Đà - Ba Vì và Đường số 6 - thị xã Hòa Bình, quân Pháp tuyên bố đã làm chủ được Hòa Bình. Tại Hà Nội, tướng Đờ Lát đã loan tin chiến thắng Hòa Bình và đã tuyến bố rằng việc tiến công Hòa Bình đã gây khó khăn lớn cho đối phương; nó có ý nghĩa chiến lược là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận; trận Hòa Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn. Trước tình hình trên, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là một thời cơ hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Bởi vì, khi đánh lên Hòa Bình, chúng phải phân tán lực lượng cơ động trên một mặt trận rộng lớn; địa hình hiểm trở; hệ thống công sự chưa vững chắc. Mặt khác, khi tiến công lên Hòa Bình, địch phải tập trung phần lớn quân cơ động nên lực lượng ở đồng bằng bị dàn mỏng, bộc lộ nhiều sơ hở. Từ nhận định trên Trung ương Đảng chủ trương mở một cuộc tiến công lớn trên cả hai mặt trận chính diện và vùng địch hậu. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch, do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh, đồng chí Nguyền Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, do đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng và thành lập Đảng ủy Chiến dịch do dồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách Bí thư, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Phó Bí thư Đảng ủy. Đây là chiếndịch đầu tiên Quân đội ta tiến công vào quân địch phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm, về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong chiến dịch được thể hiện trên một số vấn đề như sau: Thứ nhất, tổ chức, sử dụng lực lượng kết hợp đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch Xuất phát từ chủ trương đánh địch trên cả hai mặt trận, ta đã tổ chức lực lượng đánh địch trên mặt trận chính là Hòa Bình, mặt trận sau lưng địch là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Về lực lượng, trên mặt trận chính sử dụng 3 đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn Công pháo 351 kết hợp với lực lượng tại chỗ. Ở mặt trận sau lưng địch, ta sử dụng các đại đoàn 316, 320, các trung đoàn 246, 238 và 46 cùng lực lượng vũ trang địa phương. Các chiến trường Khu 4, Khu 5, Nam Bộ khi được lệnh thì đẩy mạnh tác chiến phối hợp. Như vậy, với cách tổ chức lực lượng như trên, ta đã tạo được thế trận đánh địch rộng khắp trên các chiến trường, buộc địch phải phân tán đối phó, tạo điều kiện cho chiến trường chính đánh những đòn quyết định giải phóng Hòa bình. Trên mặt trận chính (Hòa Bình), ý định của chiến dịch là tập trung lực lượng đột phá khu vực phòng thủ sông Đà, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở đường giao thông vận chuyển, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá về địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu. Để phá vỡ phòng tuyến sông Đà, Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở tả ngạn sông Đà có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh viện binh của địch trên sông Đà đoạn từ thị xã Hòa Bình đến Tu Vũ. Đại đoàn 312 ở bên hữu ngạn sông Đà, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Chẹ, đánh viện binh địch trên đường bộ từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ. Đại đoàn 304 đánh địch trên hướng thứ yếu của chiến dịch, có nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Lực lượng dự bịcủa chiến dịch sử dụng Trung đoàn 102, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương bố trí ở khu vực cổ Tuyết sẵn sàng đánh địch càn quét ra vùng tự do (Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hóa và Đường số 2). Ở mặt trận sau lưng địch, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho 2 đại đoàn 316 và 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương ở vùng trung du, tả ngạn sông Hồng chủ động tích cực tiêu diệt địch, phá tề, trừ gian, tổ chức quần chúng chống địch càn quét để phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính diện. Như vậy, từ cách tổ chức, sử dụng lực lượng trên, ta đã tạo được thế trận đánh địch rộng khắp ở cả mặt trận chính và vùng địch hậu. Trên mặt trận chính, từ việc nghiên cứu, tìm ra sơ hở của địch để tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp, tập trung trên hướng chủ yếu; có lực lượng tiến công địch trong công sự đủ mạnh để đánh những trận then chốt; có lực lượng đánh địch càn quét, ứng cứu bằng đường bộ, đường sông và lực lượng dự bị thích hợp. Việc ta thực hành tiến công trên mặt trận ở Hòa Bình, đồng thời đẩy mạnh tác chiến ở mặt trận sau lưng địch khiến thế bố trí chiến lược của địch bị rối loạn, rơi vào thế bị động, cùng lúc phải đối phó trên nhiều hướng, dẫn đến không thể ứng cứu cho nhau. Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn, sáng tạo trong tổ chức, sử dụng lực lượng; thể hiện tư tưởng chiến lược tiến công, phát huy được cách đánh của ta trong thế trận chiến tranh nhân dân. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:46:45 pm Trên thực tế, trong đợt 1 của chiến dịch, khi ta tiến công cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ trên phòng tuyến sông Đà - Ba Vì, kết hợp với đánh nhỏ lẻ trên nhiều khu vực, buộc địch phải điều lực lượng từ phía sau lên, tạo điều kiện cho ta đánh địch ứng cứu. Chớp thời cơ, ở mặt trận sau lưng địch, Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động tác chiến ở vùng Bắc Ninh, Phát Diệm và một số địa phương ở đồng bằng Bắc Bộ, buộc địch phải điều lực lượng từ Hòa Bình về bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, nhưng sau đó lại phải điều quân trở lại ứng cứu cho Hòa Bình. Như vậy, sự phối hợp nhịp nhàng, ăn kliớp trong hoạt động tác chiến của các lực lượng ờ 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch khiển chúng bị động, buộc phải nhiều lần điều động lực lượng cơ động giữa 2 chiến trường, mất thế chủ động dẫn đến "một thất bại kép".
Trong Chiến dịch Hòa Bình, từ việc tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp đã tạo điều kiện cho chiến dịch chuyển hóa thế trận linh hoạt. Ngay từ đầu, trong âm mưu đánh chiếm Hòa Bình, địch đã xác định 2 tuyến vận tải cho quân chiếm đóng, đó là tuyến sông Đà và Đường số 6. Tuy nhiên, khi các cứ điểm then chốt của Phân khu sông Đà - Ba Vì bị tiêu diệt, dẫn tới tuyến vận tải sông Đà bị tê liệt thì Đường số 6 trở thành "yết hầu". Trước tình hình trên, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã điều chỉnh lại lực lượng, tiếp tục tiến công nhiều vị trí trên phòng tuyến sông Đà - Ba Vì như Đá Chông, Hưng Hóa, tiêu diệt địch ở các điểm cao 600, 400... Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 tiến công một số cứ điểm trên Đường số 6, khống chế, uy hiếp địch ở thị xã Hòa Bình. Bị đánh mạnh trên Đường số 6 và thị xã Hoà Bình, địch phải rút bỏ các vị trí ở tuyến sông Đà về bảo vệ thị xã Hòa Bình. Từ diễn biến trên chiến trường, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhanh chóng chuyển hóa thế trận, chuyển hướng hoạt động của chiến dịch xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình và Đường số 6 là hướng chính. Tập trung lực lượng đánh mạnh vào thị xã Hòa Bình, cắt Đường số 6, gây cho địch nhiều thiệt hại; đồng thời tiếp tục đưa một bộ phận chủ lực tiến vào vùng địch hậu, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng các căn cứ du kích. Từ việc chuyển hóa thế trận linh hoạt, kịp thời, phù hợp với diễn biến tình hình, tạo sức ép từ nhiều phía, buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình. Đây là bước phát triển về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong tác chiến chiến dịch. Thứ hai, tập trung lực lượng đánh trận then chốt tiêu diệt địch trong công sự, tạo thế, thời cơ để tiêu diệt địch ngoài công sự Trong các chiến dịch được mở trước Chiến dịch Hòa Bình, với phương châm "đánh điểm, diệt viện", có chiến dịch đã đạt được hiệu suất chiến đấu cao, như Chiến địch Biên Giới năm 1950, ta tập trung ưu thế về lực lượng tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê, điều được 2 binh đoàn địch (Lơ Pagiơ và Sáctông) đến ứng cứu để tiêu diệt. Tuy nhiên, 3 chiến dịch tiếp theo (Chiến dịch Trần Hưng Đạo, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám và Chiến dịch Quang Trung), ta vẫn thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện" nhưng hiệu quả chiến đấu không cao, không hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược xác định. Có nhiều nguyên nhân để dẫn tới tình trạng trên nhưng nguyên nhân chủ yếu là chọn quá nhiều mục tiêu đánh điểm, chưa tập trung lực lượng đủ mạnh để tiêu diệt điểm nên không kéo được viện binh của địch ra; tổ chức, sử dụng lực lượng chưa phù hợp nên bỏ 15 nhiều thời cơ đánh viện. Rút kinh nghiệm trong các chiến dịch trước, trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể và mục đích đề ra. Điều này được thể hiện trong tổ chức, bố trí lực lượng của chiến dịch. Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá về địch, điều kiện địa hình ở khu vực Ba Vì và Hòa Bình chiến dịch đã tổ chức lực lượng đánh địch rộng khắp trên cả hướng chủ yếu, thứ yếu, kết hợp giữa tập trung và phân tán. Vì vậy, trong cả 3 đợt của chiến dịch, ta đã tiến hành nhiều trận đánh với các quy mô khác nhau, đánh cả trong và ngoài công sự, làm cho địch phải phân tán đối phó. Trận tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ ờ phòng tuyến sông Đà - Ba Vì trong đợt 1 của chiến dịch, đây là trận đánh mở đầu chiến dịch. Để đảm bảo chắc thắng, tạo điều kiện cho ta đánh địch ngoài công sự, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã tập trung lực lượng ưu thế hơn địch, với quy mô cấp trung đoàn bộ binh có hiệp đồng binh chủng. Cụ thể, ta sử dụng Trung đoàn 88 thuộc Đại đoàn 308, tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 36, 8 khẩu sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Lực lượng còn lại của Đại đoàn 308 đảm nhiệm đánh viện binh của địch trên sông Đà từ Hòa Bình đến Tu Vũ. Từ chỗ ta tập trung lực lượng chiếm ưu thế, nên chỉ trong 1 đêm (10.12.1951), Trung đoàn 88 đã đánh chiếm được cụm cứ điểm Tu Vũ, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn lê dương được tăng cường xe tăng, pháo binh. Lực lượng cơ động của chiến dịch đã tiêu diệt và đánh bại nhiều cuộc hành quân ứng cứu của địch trong ngày 11 tháng 12 năm 1951 trên cả đường sông và đường bộ, làm cho chúng bị thiệt hại nặng. Sau khi kết thúc đợt 1, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định, khi bị mất cứ điểm Tu Vũ, địch sẽ tiếp tục điều quân từ các chiến trường khác đến để củng cố phòng tuyến sông Đà. Mặt khác, ở khu vực sông Đà, Ba Vì, ta vẫn có điều kiện để đánh điểm, diệt viện nếu ta khéo nghi binh, tạo thế, trong khi địch vân còn dùng sông Đà để tiếp tế cho lực lượng ở thị xã Hòa Bình. Từ nhận định trên Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã củng cố, tổ chức lại lực lượng trên hướng chủ yếu. Đợt 2 chiến dịch, ta sử dụng Đại đoàn 308 tiến công địch ở Đá Chông diệt viện trên sông Đà, Trung đoàn 88 chấn chỉnh đội hình ở Hưng Hóa. Đại đoàn 312 tiến công tiêu diệt địch ờ Điểm cao 600 và núi Chẹ, đánh viện binh từ Mỹ Khê lên Ba Vì, Trung đoàn 209 chấn chỉnh đội hình ờ Giếng Ông. Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 tiếp tục thực hiện nhiều trận đánh trên Đường số 6, khống chế địch ở thị xã Hòa Bình. Với cách tổ chức, bố trí lực lượng và hoạt động tác chiến của ta như trên, địch phải phân tán lực lượng để đối phó; khi phòng tuyến sông Đà - Ba Vì bị phá vỡ, địch phải rút quân về bảo vệ thị xã Hòa Bình. Đây là sự phát triển cao về nghệ thuật tác chiến chiến dịch nói chung, nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng nói riêng của Chiến dịch Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Bảy, 2025, 08:47:46 pm Thứ ba, tổ chức, sử dụng lực lượng đánh nhỏ lẻ, kìm giữ địch ở Hòa Bình, tạo điều kiện cho mặt trận sau lưng tiêu diệt lớn quân dịch và phát triển chiến tranh du kích
Sau đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch, địch bị tổn thất nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng ngày càng gặp nhiều khó khăn, về ta, mặc dù bị tiêu hao, tổn thất về lực lượng và phương tiện nhưng tinh thần chiến đấu của bộ đội lên cao, tin tưởng vào khả năng thắng lợi của chiến dịch. Từ những thuận lợi trên, sau khi nghiên cứu chiến trường, bước vào đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chuyển phần lớn lực lượng chủ lực xuống cắt Đường số 6. Tranh thủ lúc địch còn sơ hở, ta tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh công tác địch vận, bám sát, bao vây chặt địch ở Hòa Bình. Đại đoàn 308 phụ trách Bắc Đường số 6, tiêu diệt địch ở Pheo, Đầm Huống. Đại đoàn 312 phụ trách Nam Đường số 6, đoạn Nam thị xã Hòa Bình từ Phương Lâm đến Ao Trạch. Đại đoàn 304 phụ trách đánh địch ở Nam và Bắc Đường số 6 đoạn từ Ao Trạch về Xuân Mai. Bị đánh thiệt hại lớn, phòng tuyến sông Đà bị bức rút, thị xã Hòa Bình bị bao vây, Đường số 6 bị cắt đứt liên tục, buộc địch phải tập trung phần lớn lực lượng về mở Đường số 6 và giải vây cho thị xã Hòa Bình. Trước những diễn biến về địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm tiếp tục cắt Đường số 6, bao vây địch trong thị xã Hòa Bình bằng cách tổ chức nhiều trận đánh nhỏ và liên tục; cố giam chân địch để mặt trận sau lưng đẩy mạnh chiến tranh du kích. Với phương châm "đánh điểm, diệt viện", cùng với tập trung lực lượng chiếm ưu thế, đánh những trận then chốt, tạo đột biến cho chiến dịch phát triển thì việc đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, đánh liên tục cũng được thực hiện rất nhiều trên toàn địa bàn chiến dịch. Nghệ thuật đó được xuất phát từ chỗ ta chưa đủ điều kiện về lực lượng, công tác bảo đảm và kinh nghiệm để đánh tập đoàn cứ điểm có công sự vững chắc như tập đoàn cứ điểm ở thị xã Hòa Bình lúc bấy giờ. Vì vậy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã liên tục tổ chức, sử dụng lực lượng tiến hành các trận đánh nhỏ (cả đánh điểm và diệt viện) tiến công vào một số căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để tiêu hao, tiêu diệt lớn lực lượng địch. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng đánh cắt giao thông, khống chế hoàn toàn tuyến sông Đà và Đường số 6. Các cứ điểm nhỏ xung quanh thị xã Hòa Bình liên tục bị đánh, tuyến vận tải chi viện bị cắt; lực lượng bị tiêu hao, tổn thất, tinh thần cả tướng lẫn quận hoang mang cực độ, buộc quân Pháp phải rút lui, không thực hiện được ý đồ chiếm đóng Hòa Bình. Khi mặt trận chính (ở Hòa Bình) kìm giữ được quân chủ lực cơ động của địch, mặt trận sau lưng (ở trung du, đồng bằng Bắc Bộ) cũng thu được thắng lợi lớn. Bộ đội chủ lực kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động mạnh ở khu vực trung du va Liên khu 3, chiến tranh du kích phát triển cả về bề rộng và chiều sâu ở vùng trung du, nhất là khu vực Bắc Ninh, ta tiêu diệt, bức hàng nhiều vị trí và đánh viện tốt; khu vực đồng bằng, ta đã tập kích tiêu diệt nhiều đồn, bốt, tập kích sân bay Bạch Mai, làm cho địch bị thiệt hại lớn; chiến tranh du kích phát triển mạnh đã đẩy quân địch vào thế ngày càng nguy khốn. Thắng lợi to lớn ở mặt trận sau lưng địch đã làm thay đổi tình hình ở đồng bằng Bắc Bộ, có ý nghĩa quyết định vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình; chiến tranh du kích được phục hôi và phát triển. Thứ tư, tổ chức, sử dụng lực lượng luân phiên bảo đảm tác chiến liên tục, dài ngày Với âm mưu giành lại thế chủ động trên chiến trường, cuối năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Hà Nội đã tung mệt lượng lớn binh lực cùng phương tiện chiến đấu vào Hòa Bình nhằm thu hút, tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, nối lại hành lang Đồng - Tây, khôi phục lại "tam giác sắt" là "Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình";chặn đứng con đường vận chuyển, tiếp tế của ta từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên Việt Bắc. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội vàng để quân ta tiêu diệt sinh lực địch. Tháng 11 năm 1951, khi quân Pháp huy động 20 tiểu đoàn, có máy bay, pháo binh yểm trợ tiến công đánh chiếm Hòa Bình; tổ chức chiếm đóng thành 1 hình thức tập đoàn cứ điểm (gồm 28 cứ điểm lớn, nhỏ), Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đề ra chủ trương"chiến đấu liên tục", thời gian chiến dịch có thể kéo dài từ 2 đến 3 tháng. Vì vậy, muốn đánh được liên tục dài ngày, chiến dịch phải có kế hoạch sử dụng lực lượng luân phiên tác chiến, chỉnh huấn bổ sung kịp thời. Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch không sử dụng toàn bộ lực lượng ngay cùng một lúc mà thực hiện kế hoạch sử dụng lần lượt từng đơn vị, luân phiên tác chiến và nghỉ ngơi chỉnh huấn, học tập rút kinh nghiệm, bổ sung quân số, vũ khí, trang bị, vật chất bảo đảm, bồi dưỡng kỹ, chiến thuật, kinh nghiệm chiến đấu cho tân binh. Cụ thể, các trung đoàn bộ binh 88 và 209 đánh trong đợt 1, sau đó nghỉ ngơi chỉnh huấn, thay bằng các trung đoàn bộ binh 102, 36, 141, 165 đánh trong đợt 2, đến đợt 3, ta chỉ sử dụng 1/3 lực lượng đánh địch, 2/3 lực lượng vừa tranh thủ chấn chỉnh, vừa sẵn sàng chiến đấu. Các trung đoàn bộ binh 88 và 209 tiếp tục bước vào chiến đấu với ý chí, quyết tâm cao hơn. Công tác quân y của chiến dịch cũng được tổ chức điều trị chu đáo, bảo đảm cho thương binh nhanh chóng hồi phục trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Nên khi bước vào đợt 3, các đại đoàn 308, 312 đã tiếp nhận lại 2/3 số lượng thương binh đã phục hồi sức khỏe. Cùng với đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm cũng được Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quan tâm, tổ chức, tiến hành chặt chẽ. Vì vậy, trong suốt quá trình chiến dịch, ý chí, quyết tâm chiến đấu của bộ đội ta luôn được củng cố và nâng cao, bão đảm chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, liên tục, làm cho quân địch phái bất ngờ. Tóm lại, thắng lợi của Chiến dịch tiến công Hòa Bình là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng về chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Qua chiến dịch, ta đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý về nghệ thuật quân sự. Bài học về nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng trong Chiến dịch Hòa Bình đã được vận dụng mang lại hiệu quả cao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). Đây là những bài học cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào tác chiến trong điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu xảy ra trong tương lai. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:25:15 pm NGHỆ THUẬT TIẾN HÀNH TRẬN THEN CHỐT TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thiếu tướng, PGS, TS, NGUYỄN THANH HIỆP Phó Hiệu trường Trường Sĩ quan Lục quân 2 Ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe), dưới sự chỉ huy của Đờ Linarét (De Linares). Các GM (1,2, 3), tiểu đoàn dù lê dương và 2 đại đội Commăngđô số 21, 22 chia thành 3 mũi tiến công Chợ Bến, mở đầu cho kế hoạch tái chiếm Hòa Bình. Sau khi chiếm được chợ Bến, ngày 14 tháng 11, dưới quyền chỉ huy của Tướng Xalăng (Salan), Phó Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã chỉ huy cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm Hòa Bình. Với âm mưu chiếm đóng lâu dài cho nên sau khi đánh chiếm được Hòa Bình, quân Pháp đã chuyển vào phòng ngự rất chặt chẽ nhằm ngăn chặn ta tiến công từ nhiều hướng, tạo bàn đạp vững chắc để tiếp tục đánh lên Phú Thọ. Chúng tổ chức phòng ngự thành phân khu sông Đà - Ba Vì (Phân khu Bắc), phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (Phân khu Nam) với 28 cứ điểm. Lực lượng mỗi cứ điểm từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn bộ binh được tăng cường xe tăng, pháo binh. Các cứ điểm, phân khu được liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành khu Chiến địa liên hoàn, rộng lớn. Đây là kiểu phòng ngự dạng tập đoàn cứ điểm, lần đầu tiên được thực dân Pháp tổ chức ởĐông Dương, với ý định lừa dụ, thu hút và tiêu diệt chủ lực của ta ở chiến trường chúng đã chuẩn bị và có nhiều lợi thế. Trước âm mưu của địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, tập trang chủ lực ở hướng chính (các đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn Công pháo 351), đưa một bộ phận quan trọng vào hoạt động ở vùng địch hậu (các đại đoàn 316, 320) nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực, tiến tới đập tan ý định chiếm đóng Hòa Bình, đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích và tiêu hao sinh lực địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch đã diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, mở đầu bằng trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, liên tục tiến công các mục tiêu quan trọng như Điểm cao 600, cứ điểm Pheo, đánh viện trên sông Đà, địch rút chạy khỏi Hòa Bình. Sau hơn 2 tháng, chiến dịch đã giành thắng lợi to lớn về quân sự, chính trị, kinh tế, làm thay đổi tình thệ chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ, có bước phát triển toàn diện về nghệ thuật chiến dịch, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Trận tiến công cứ điểm Tu Vũ diễn ra trong đêm mùng 10 và ngày 11 tháng 12 năm 1952 là trận then chốt của chiến dịch, đã tiêu diệt phần lớn tiểu đoàn lê dương tinh nhuệ bậc nhất của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đây cũng là trận công kiên cấp trung đoàn bộ binh tăng cường, chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn nhất của Quân đội ta cho đến thời điểm này. Lần đầu tiên ta tiêu diệt cụm cứ điểm tiểu đoàn bộ binh tăng cường, có pháo binh, xe tăng, xe thiết giáp phòng ngự trong công sự vững chắc, được hỏa lực chi viện rất mạnh. Nghệ thuật tiến hành trận then chốt trong Chiến dịch Hòa Bình được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau: Một là, nghệ thuật xác định trận then chốt Nét độc đáo và sự phát triển về nghệ thuật trong Chiến dịch Hòa Bình là xác định chính xác trận then chốt, lần đầu tiên ta đánh trận then chốt mở đầu vào cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng ngự của địch. Nếu như trong các chiến dịch tiến công trước đây, chúng ta thường lựa chọn các cứ điểm, cụm cứ điểm do 1 đến 2 đại đội bộ binh địch phòng ngự thì trong chiến dịch này ta chọn cứ điểm tiểu đoàn bộ binh tăng cường. Qua nghiên cứu chiến trường, âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định thời gian chiến dịch kéo dài từ 2 đến 3 tháng, được chia thành nhiều đợt. Trong đó, các lực lượng phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ tác chiến đạt 1, tạo điều kiện cho đợt sau phát triển thuận lợi. Cùng với đó, xác định phương châm tác chiến là "đánh điểm, diệt viện". Tuy nhiên, đánh trận then chốt mở đầu ở đâu để tạo phản ứng dây chuyền, thúc đẩy chiến dịch phát triển thuận lợi là vấn đề rất khó khăn, có nhiều mâu thuẫn phức tạp cần phải giải quyết, nhất là đối với chiến dịch có ý nghĩa chiến lược như Chiến dịch Hòa Bình. Trên cơ sở nghiên cứu chiến trường, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định chọn tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là trận then chốt mở đầu trong đợt 1. Tu Vũ là cứ điểm án ngữ trên trục đường liên tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, cách thị xã Hòa Bình 30km về phía Bắc, nằm sát bờ Tây của sông Đà. Cứ điểm này có vị trí đặc biệt quan trọng trong phân khu sông Đà - Ba Vì, do Tiểu đoàn lê dương 1 thuộc Trung đoàn Marốc 2 đảm nhiệm phòng ngự, được phối thuộc 1 đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 6 (ngụy Mường), 1 trung đội thiết giáp (6 chiếc). Địch ở Tu Vũ bảo vệ thị xã Hòa Bình từ xa, ngăn chặn ta tiến công từ Yên Lãng, sẵn sàng cơ động ứng cứu cho cứ điểm Đá Chông, Đoan Hạ, Chẹ (Phân khu Bắc), cứ điểm Pheo, Đầm Huống, Ao Trạch (Phân khu Nam). Mặc dù ở vị trí xung yếu nhưng cứ điểm Tu Vũ lại tương đối độc lập so với các cứ điểm khác, gần Chẹ, Đá Chông nhưng lại bị chia cắt bởi sông Đà. Đồng thời, khu A và khu B của cứ điểm cũng bị chia cắt với khu C bởi ngòi Lát. Thực tế diễn biến chiến dịch cho thấy xác định trận then chốt mở đầu tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là hoàn toàn đúng đắn, khoa học và đạt đến tầm cao của nghệ thuật. Bởi vì, địch âm mưu tập trung lực lượng mạnh và bố trí có chiều sâu ở phân khu Sông Đà - Ba Vì. Do đó, nếu lựa chọn mục tiêu mở đầu là các cứ điểm vòng ngoài của Phân khu Bắc, tiến công từ Nam Phú Thọ xuống, ta phải liên tục đột phá qua các cụm cứ điểm vững chắc, liên hoàn. Đồng thời, lựa chọn mục tiêu mở đầu, xác định trận then chốt ở khu vực này, ta sẽ rơi vào bẫy do quân địch đã chuẩn bị sẵn. Bên cạnh đó, các cứ điểm này ở xa thị xã Hòa Bình, không tạo ra sự uy hiếp trực tiếp đến mục tiêu chủ yếu của địch, vì vậy, khó tạo đột biến chiến dịch. Một điểm quan trọng nữa là hỏa lực pháo binh, phòng không, sức cơ động của ta chưa chiếm ưu thế so với địch để có thể duy trì sức đột phá liên tục, dài ngày nếu tiến công trực diện vào phân khu sông Đà - Ba Vì. Như vậy, có thể khẳng định Chiến dịch Hòa Bình đã đạt đến tầm nghệ thuật về xác định trận then chốt, mục tiêu mở đầu khi lần đầu tiên ta tiến công vào hệ thống phòng ngự kiểu tập đoàn cứ điểm. Xác định chính xác trận then chốt mở đầu đánh vào vị trí xung yếu nhất trong hệ thống phòng ngự đã phá thế liên hoàn của địch trên phòng tuyến sông Đà, buộc chúng phải ứng cứu giải tỏa, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Bên cạnh đó, trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ không chỉ thực hiện được yêu cầu đánh vào mục tiêu "nhạy cảm, hiểm yếu, tạo phản ứng dây chuyền" mà còn tiêu diệt bộ phận sinh lực quan trọng, gây tâm lý hoang mang đối với quân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:26:07 pm Hai là, nghệ thuật lập thế đánh trận then chốt
Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả đấu trí, đọ lực quyết liệt giữa ta và địch. Bộ Chỉ huy Chiến dịch, các lực lượng có liên quan đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật lập thế, tạo lực. Trong đó, lập thế đánh trận then chốt là nét độc đáo, sáng tạo tiêu biểu. Đây là tiền đề quan trọng để Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ huy đánh thắng trận then chốt, chuyển hóa thế trận tiêu diệt địch ứng cứu giải tỏa đường bộ, đường sông, cũng như phát triển chiến dịch thuận lợi. Lực lượng đánh địch trong công sự được tổ chức thành 3 hướng tiến công. Mỗi hướng do 1 tiểu đoàn bộ binh đảm nhiệm, được phối thuộc từ 1 đến 3 khẩu đội hỏa lực bắn thẳng. Hướng tiến công chủ yếu do Tiểu đoàn bộ binh 29 đảm nhiệm (được phối thuộc 1 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu badôca; được 4 khẩu pháo 75mm, 7 khẩu cối 82mm trực tiếp chi viện), bố trí ở gốc gạo phía Bắc ngòi Lát đánh thẳng vào Sở Chỉ huy của Tiểu đoàn lê đương 1. Tiểu đoàn bộ binh 23 (được phối thuộc 1 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu đại liên; được 2 khẩu sơn pháo 75mm trực tiếp chi viện), bố trí ở Bắc và Tây Bắc cứ điểm, đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu, hình thành 2 mũi tiêu diệt khu A, sẵn sàng đánh viện binh từ làng Tu Vũ. Tiểu đoàn bộ binh 322 (được tăng cường 1 đại đội bộ binh, 1 khẩu sơn pháo 75mm, 2 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu cối 82mm, 2 khẩu đại liên), đảm nhiệm hướng tiến công phối hợp, hình thành 2 mũi từ Nam và Tây Nam đánh vào khu C, sẵn sàng đánh địch ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ, đường sông. Sở Chỉ huy Chiến dịch bố trí ở Xóm Giớn. Sở Chỉ huy Trung đoàn bộ binh 88 và Tiểu đoàn bộ binh 80 (thiếu 1 đại đội) bố trí ở núi Yên Lãng sẵn sàng tăng cường sức chiến đấu cho các bộ phận, cơ động đánh địch ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ từ làng Tu Vũ xuống, ứng cứu giải tỏa bằng đổ bộ đường không. Hỏa lực do chiến dịch phối thuộc, Trung đoàn bộ binh 88 trực tiếp nắm để chi viện chung. Trận địa hỏa lực được bố trí ở Đông Nam sân bay dã chiến. Để hỗ trợ cho đánh trận then chốt, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã cơ động Đại đoàn 312 sang hoạt động ở bờ Đông, khu vực Ba Vì, hình thành thế bao vây, chia cắt Phân khu Bắc và Phân khu Nam. Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao choTrung đoàn bộ binh 209 bao vây, kiềm chế pháo binh ở cứ điểm Chẹ, thực hiện cài xen với địch. Do đó, khi lực lượng tiến công địch trong công sự thực hành đánh chiếm mục tiêu, quân Pháp ở cứ điểm Chẹ đã không dám vượt sông tăng viện phản kích cho Tu Vũ. Trên đường liên tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Bộ Chỉ huy Chiến dịch triển khai Tiểu đoàn bộ binh 84 thuộc Trung đoàn bộ binh 36 ở Bắc Đồng Cam chặn viện của địch từ Đoan Hạ, Đá Chông bảo vệ đội hình phía Bắc của lực lượng tiến công địch trong công sự. Tiểu đoàn bộ binh 6 thuộc Trung đoàn bộ binh 141, Tiểu đoàn bộ binh 1 thuộc Trung đoàn bộ binh 36 bố trí ở Lạc Song, Đồng Việt (cách thị xã Hòa Bình khoảng 10km) để đánh địch ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ, đường sông. Ngoài ra, Trung đoàn bộ binh 36 còn sẵn sàng tăng cường sức chiến đấu, thay thế cho Trung đoàn bộ binh 88 khi trận then chốt gặp khó khăn. Với nghệ thuật sáng tạo, khoa học trong tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng tiến công địch trong công sự và các lực lượng có liên quan đã hình thành thế đánh trận then chốt vững chắc, hiểm hóc, bao vây, chia cắt, cài xen, rộng khắp. Lực lượng đánh trận then chốt được tổ chức, sử dụng tập trung, ưu tiên cho hướng chủ yếu, kết hợp chặt chẽ giữa binh lực với hỏa lực, hình hành thế tiến công liên tục, phát huy sức mạnh tổng hợp của các đơn vị. Vì vậy, ta đã trói chặt địch trong công sự, chia cắt chúng thành nhiều cụm mục tiêu nhỏ, cô lập cứ điểm Tu Vũ với các cứ điểm khác; bao vây chặt địch cả vòng trong và vòng ngoài. Quá trình cơ động vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, mặc dù bị địch phát hiện và sử dụng hỏa lực bắn chặn quyết liệt nhưng các tiểu đoàn đã kịp thời áp sát hàng rào vật cản, từng bước siết chặt vòng vây. Do đó, ta càng đánh càng phát huy sức mạnh, địch càng đánh càng bị suy yếu và nhanh chóng bị tiêu diệt. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:27:04 pm Ba là, nghệ thuật thực hành đánh trận then chốt
Trận then chốt tiến công cứ điểm Tu Vũ không chỉ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Chiến dịch Hòa Bình mà còn có tác động đối với cấp chiến lược. Do đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định lựa chọn Trung đoàn bộ binh 88 thuộc Đại đoàn 308 đảm nhiệm tiêu diệt. Đây là đơn vị đã tham gia nhiều chiến dịch, đảm nhiệm nhiều trận đánh quan trọng, dày dạn kinh nghiệm, có tinh thần chiến đấu cao. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh Chiến dịch đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ huy Trung đoàn (Trung đoàn trưởng Thái Dũng, Chính ủy Trung đoàn Đặng Quốc Bảo). Bên cạnh đó, Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Lê Đình Cúc làm phái viên đi cùng, giúp đỡ Trung đoàn, trực tiếp nắm tình hình để báo cáo Tư lệnh Chiến dịch và Bộ Tổng Tham mưu. Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo Trung đoàn bộ binh 88 thực hiện cách đánh công kiên, sẵn sàng chuyển sang đánh ban ngày. Ban Chỉ huy Trung đoàn đã chỉ huy Tiểu đoàn bộ binh 29 và các đơn vị đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Nam Hà trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn bộ binh 322 tiến công tiêu diệt khu C. Trung đoàn phó Hùng Sinh trực tiếp chỉ huy bộ phận hỏa lực (Tiểu đoàn pháo binh 90, Đại đội cối 82mm, Đại đội súng máy phòng không 12,7mm). Như vậy, ở cấp trung đoàn và các tiểu đoàn làm nhiệm vụ chủ yếu, quan trọng đều được tăng cường chỉ huy, trực tiếp theo dõi, đôn đốc, giúp đỡ trong quá trình chiến đấu. Quá trình vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, hướng tiến công chủ yếu của Trung đoàn bộ binh 88 bị lộ, từ 20 giờ ngày 10 đến 1 giờ ngày 11 tháng 12, địch từ các cứ điểm Chẹ, Đá Chông và Tu Vũ đã bắn ra xung quanh cứ điểm khoảng 5.000 quả đạn pháo, cối các loại gây thương vong lớn cho Trung đoàn. Bước ngoặt thành công đối với trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ có dấu ấn rất lớn của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong điều hành trận đánh, xử trí tình huống. Có thể thấy, ở thời điểm khó khăn, ác liệt nhất, giữa ranh giới "lui quân hay tiếp tục đánh" và "đánh liệu có thắng không?" thì vai trò tiền phong, tinh chiến đấu của đảng ủy các tiểu đoàn, trung đoàn, của Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã phát huy cao độ, kiên định, sáng suốt, kịp thời lãnh đạo đơn vị ổn định tổ chức, đội hình tiến công. Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định lực lượng tiến công tuy gặp nhiều khó khăn, có thương vong tổn thất nhưng bộ đội đã tiếp cận gần địch, ta vẫn nắm quyền chủ động để giành thắng lợi. Do đó, Tư lệnh Đại đoàn 308 đã kịp thời chỉ thị cho lực lượng tiến công tiếp tục động viên bộ đội khắc phục khó khăn, kiên quyết thực hiện nhiệm vụ tiến công địch trước lúc trời sáng. Sự kiên quyết này xuất phát từ vai trò rất quan trọng của đảng ủy, chỉ huy các cấp trong chiến đấu. Ở thời khắc khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất, Bộ Chỉ huy Chiến dịch và lực lượng đánh trận then chốt vẫn kiên định với nhiệm vụ được giao, xác định rõ có thể phải "hy sinh bộ phận để giành thắng lợi đại cục". Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn bộ binh 88 đã tổ chức hội nghị ngay tại trận địa, các ý kiến đều thể hiện ý chí quyết tâm chiến đấu cao, kiên quyết khắc phục khó khăn để đánh thắng trận then chốt. Trung đoàn đã phân công cán bộ trực tiếp xuống chỉ huy các đơn vị, phổ biến nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy, ổn định lại tổ chức, đội hình chiến đấu cho các bộ phận. Mặc dù, có thời điểm bị pháo binh địch đánh phá quyết liệt nhưng các tiểu đoàn đã duy trì hiệp đồng chặt chẽ, chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao. Trên hướng tiến công thứ yếu tiếp cận địch thuận lợi hơn, chớp thời cơ, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Nam Hà đã ra lệnh cho Tiểu đoàn bộ binh 322 thực hành nổ súng tiến công, xung phong tiêu diệt khu C, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn bộ binh 29, Tiểu đoàn bộ binh 23 tiến công tiêu diệt khu B, khu A. Đến 4 giờ ngày 11 tháng 12, trung đoàn đã hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tu Vũ, sẵn sàng chuyển sang đánh địch ứng cứu giải tỏa. Từ diễn biến và thắng lợi của chiến dịch cho thấy: Nếu lãnh đạo, chỉ huy các cấp không kiên quyết đánh thắng trận then chốt mở đầu thì sẽ không phá vỡ được hệ thống phòng tuyến sông Đà - Ba Vì, không tạo ra phản ứng dây chuyền, buộc địch phải ứng cứu giải tỏa cũng như rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Sự chỉ đạo kiên quyết của Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch, quyết tâm cao của các đơn vị, linh hoạt chỉ huy, xử trí tình huống là yếu tố cơ bản để ta giành lại quyền chủ động, chuyển khó khăn thành thuận lợi. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:27:37 pm Bốn là, nghệ thuật chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật, biện pháp chiến dịch
Nếu lựa chọn cứ điểm Tu Vũ làm mục tiêu then chốt mở đầu là sự sáng suốt, bước phát triển tư duy chiến dịch của Tổng Quân ủy thì đánh thắng trận then chốt lại thể hiện tài thao lược của Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Trong đó, chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật, biện pháp chiến dịch để đánh trận then chốt là nét độc đáo, sáng tạo điển hình. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá chính xác hình thái phòng ngự và âm mưu của địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định mặc dù quân Pháp tổ chức phòng ngự rất chặt chẽ nhưng điểm yếu nhất của hệ thống phòng thủ sông Đà là cứ điểm Tu Vũ. Khi mục tiêu này bị tiến công, địch có thể kịp thời tăng viện phản kích, ứng cứu giải tỏa từ nhiều hướng tới bằng đường bộ, đổ bộ đường không, đường sông. Muốn thực hiện được ý định "diệt viện" thì "đánh điểm" phải nhất định thành công. Do đó, để tiêu diệt cứ điểm lớn được tăng cường pháo binh, tăng thiết giáp, chiến dịch xác định và chỉ đạo lực lượng đánh địch trong công sự vận dụng hình thức chiến thuật công kiên (tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc). Tư tưởng chỉ đạo trong trận chiến đấu này được xác định là tiến công kiên quyết, liên tục, đánh nhanh, tiến chắc, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, sẵn sàng chuyển sang đánh viện ban ngày. Từ kinh nghiệm trong các trận then chốt như trận tiến công Chùa Cao, trận tiến công cứ điểm Đông Khê... bị kéo dài do hỏa lực chế áp, chi viện của ta có phần hạn chế. Chính vì vậy, trong trận tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã quyết định tiến công bằng sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Đồng thời, đây là cứ điểm lớn, ta cũng xác định tiến công ban đêm, dự kiến sẵn sàng chuyển sang đánh ban ngày. Do đó, lực lượng tiến công địch trong công sự đã được phối thuộc Tiểu đoàn bộ binh 80 thuộc Trung đoàn bộ binh 36, Tiểu đoàn pháo binh 90 (sơn pháo), 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Bên cạnh đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo lực lượng đánh trận then chốt không chỉ "quyết đánh" mà còn phải "biết đánh", làm công tác chuẩn bị chiến đấu chu đáo, chặt chẽ. Trong đó, các đơn vị lấy cấp đại đội bộ binh làm đơn vị cơ sở để tổ chức huấn luyện bổ sung chiến thuật công kiên, phương pháp mở cửa, cách tiêu diệt các mục tiêu kiên cố như lô cốt, hầm ngầm, nhà âm, các mục tiêu trong tung thâm trận địa. Trong thực hành chiến đấu, khi địch bắn phá ra bên ngoài dữ dội, Chiến dịch đã chỉ huy lực lượng tiến công chuyển từ bí mật chiếm lĩnh sang cơ động, chiếm lĩnh trận địa trong hành tiến. Các hướng tiến công linh hoạt vận dụng phương pháp mở cửa trong điều kiện địch đánh phá ác liệt. Quá trình chiến đấu, các tiểu đoàn bộ binh kịp thời chuyển hóa thế trận, tổ chức truy kích địch rút chạy, tiêu diệt nhiều sinh lực, phương tiện của chúng. Một điểm đặc sắc nữa trong đánh trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã vận dụng kết hợp nhiều biện pháp tác chiến rất linh hoạt và hiệu quả. Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 đẩy mạnh hoạt động phá tề, diệt ngụy ở vùng địch hậu, Đại đoàn 312 đánh rộng khắp ở khu vực Ba Vì trong ngày 10 tháng 12, kiềm chế pháo binh địch ở cứ điểm Chẹ. Trung đoàn bộ binh 36 bố trí đánh địch ứng cứu giải tỏa trên sông Đà, đường liên tỉnh Hòa Bình - Phú Thọ. Lực lượng tiến công địch trong công sự vận dụng kết hợp thủ đoạn đột phávới thọc sâu, bao vây, chia cắt, kiên quyết đánh địch trong công sự với chủ động truy kích địch rút chạy bằng hỏa lực, xung lực. Nghệ thuật vận dụng linh hoạt, kết hợp chặt chẽ các biện pháp chiến dịch đã góp phần quan trọng làm suy yếu địch, hỗ trợ kịp thời cho đánh thắng trận then chốt. Thắng lợi của Chiến dịch tiến công Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt của Quân đội ta. Trong đó, nghệ thuật tiến hành trận then chốt có bước phát triển cả về tư duy xác định mục tiêu mở đầu, lập thế, điều hành tác chiến, chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật và biện pháp chiến dịch. Mặc dù trận then chốt trong Chiến dịch Hòa Bình đã diễn ra cách đây 70 năm nhưng đến nay các bài học kinh nghiệm vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây là cơ sở quan trọng để Quân đội ta vận dụng vào huấn luyện tác chiến, nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển nghệ thuật chiến dịch tiến công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai (nếu xảy ra). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:30:26 pm PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA MẶT TRẬN SAU LƯNG ĐỊCH TRUNG DU VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VỚI MẶT TRẬN CHÍNH DIỆN HÒA BÌNH Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sau khi quân Pháp đánh chiếm Hòa Bình, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ ngày 24 tháng 11 năm 1951 "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch" xác định nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Chỉ thị nêu rõ: "1. Đánh và chiếm Chợ Bến và Hòa Bình, địch phải phân tán các đội ứng chiến của chúng trên một mặt trận rộng lớn, rừng núi hiểm trở, công sự chưa kịp xây dựng, chưa kịp củng cố. Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch. 2. Địch dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ của chúng ở Hòa Bình, buộc phải sơ hở các mặt trận khác và ở sau lưng địch. Đó cũng là cơ hội tốt để ta đánh địch trên các mặt trận ấy và hoạt động mạnh trong vùng du kích nhất là ở tả ngạn Hồng Hà. Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch, nhằm mục đích phá âm mưu quân sự mới của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596). Trung ương Đảng chủ trương mở một cuộc tiến công lớn ở hướng chính là Hòa Bình đồng thời ở mặt trận sau lưng tích cực phối hợp tác chiến nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tạo thế trận tổng hợp phá tan kế hoạch của địch trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Theo đó, Bộ Quốc phòng xác định quyết tâm phá tan âm mưu của địch trong Đông - Xuân 1951 - 1952, nhấn mạnh việc địch đưa lực lượng vào chiến trường Hòa Bình là cơ hội tốt để tiêu diệt chúng, đồng thời phải đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các nơi sau lưng địch hiện đang sơ hở. Để tận dụng kịp thời cơ hội này, quân và dân ta phải tranh thủ thời gian, vừa chuẩn bị vừa ra trận, khắc phục mọi khó khăn, đánh cho địch những đòn nặng. Triển khai kế hoạch tác chiến, Bộ Quốc phòng huy động 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304), Đại đoàn công pháo 351 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình mở chiến dịch tiến công địch ở mặt trận chính diện Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952). Đồng thời, tại mặt trận sau lưng địch - trung du và đồng bằng Bắc Bộ, 2 đại đoàn (320, 316) và Trung đoàn 246 trực thuộc Bộ cùng các đơn vị chủ lực Liên khu 3 và lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, thực hiện phối hợp với mặt trận chính diện Hòa Bình, tiến công địch ở khắp nơi, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích rộng khắp. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng Bắc Bộ được thành lập do đồng chí Lê Thanh Nghị - Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 làm Trưởng ban, các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 3, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 là thành viên. Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng Bắc Bộ họp xác định kế hoạch đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với mặt trận Hòa Bình. Theo đó, Đại đoàn 320 và Trung đoàn 42 chủ lực Liên khu 3 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến trên nhiều nơi thuộc địa bàn Liên khu 3. Đêm 9 rạng sáng ngày 10 tháng 12 năm 1951 các trung đoàn 48, 52 (Đại đoàn 320) hành quân vượt qua nhiều làng tề phối hợp cùng bộ đội địa phương tỉnh Ninh Bình tiến đánh địch ở Phát Diệm. Dưới sự chỉ huy của Tỉnh đội Ninh Bình, bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện Yên Mô, Gia Viễn, Gia Khánh,... liên tục bao vây, quấy rối, kiềm chế các vị trí địch ở Chợ Trung, Phươc Nhạc, Bình Hải, Dương Điền, Đò Mười, Bình Hòa; buộc địch phải tháo chạy khỏi các vị trí Tuy Lộc, Lộc Bà, Bình Sa. Ngày 4 tháng 1 năm 1952, một đơn vị của Đại đoàn 308 cùng dân quân du kích Khánh Trung - Khánh Thiện chủ động đánh địch bỏ gãy nhiều cuộc tiến công của chúng, giữ vững Khu du kích Khanh Trung - Khánh Thiện. Được sự hỗ trợ của Trung đoàn 64, bộ đội địa phương cùng dân quân du kích Hà Nam liên tục chiến đấu, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh địch vận phá vỡ hàng loạt vị trí tề dõng, xây dựng cơ sở chính trị và làng xã chiến đấu ở nhiều nơi. Nhiều khu du kích được hình thành, chính quyền cách mạng đã phát huy hiệu quả trong việc giúp dân Ổn định đời sống, tổ chức sản xuất; lực lượng dân quân du kích phát triển mạnh mẽ. Dù không có bộ đội chủ lực tăng cường nhưng các tỉnh Hà Đông Sơn Tây đã huy động bộ đội địa phương và dân quân du kích tận dụng thời cơ tấn công địch. Chỉ trong thời gian ngắn các vị trí Quang Tó, Canh Hoạch, Chợ Dầu, Chương Dương, Cầm Cơ của địch bị xóa bỏ. Bằng áp lực quân sự kết hợp với binh vận ta đã bức rút các vị trí Lường Dụ, Lạc Đạo, La Phù, Lộc Dư, Tneu Đông và một số vị trí ở các đường số 71, 72, 73. Vào cuối tháng 12 năm 1951, Tỉnh ủy Hà Đông mở đợt tổng phá tề, phục hồi cơ sở ở 171 thôn, mở 5 khu du kích ở Nam Ứng Hòa, Đông và Tây Phú Xuyên, Đông Thường Tín và Nam Liên Nam. Sau khi đã mở rộng vùng giải phóng, tạo thế đứng chân ờ Ninh Bình và Hà Nam, cuối tháng 12 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận đồng bằng quyết định đưa Trung đoàn 48 và 52 tiến vào Nam Định cùng lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu du kích, đồng thời mở đường cho lực lượng Đại đoàn 320 tiến sang Thái Bình. Đêm 28 và 29 tháng 12, Tiểu đoàn Yên Ninh (Trung đoàn 52) và Tiểu đoàn Thanh Lũng (Trung đoàn 48) vượt sông Đáy tiến công các vị trí Hải Lạng, Phù Sa, Nam Trực, Ngọc Tịnh, nhưng không thành công. Tuy vậy, sự xuất hiện của bộ đội chủ lực khiến cho binh lính địch ở Phù Sa, Liễu Đề hốt hoảng bỏ chạy. Nắm bắt cơ hội, Huyện ủy Nghĩa Hưng lãnh đạo quân dân địa phương nổi dậy diệt đồn Chương Nghĩa, phá toàn bộ tổ chức hội tề của địch ở các xã trung tâm huyện. Đầu tháng 1 năm 1952, bộ đội địa phương và Trung đoàn 64 đột nhập vào thành phố Nam Định tiến công địch ở nhiều vị trí. Sau khi đánh vào các vị trí Nam Trực, Ngọc Tịnh, Vân Đàn không thành công, bộ đội ta chuyển sang bao vây, dùng áp lực quân sự kết hợp binh vận, uy hiếp địch, hỗ trợ cho nhân dân các huyện phía Nam Nam Định phá tề, trừ gian và chuyển sang đánh phục kích. Đêm 13 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 64) trở lại vùng địch hậu phía Nam Nam Định. Ngày 14 tháng 1 Tiểu đoàn 337 cùng bộ đội địa phương Nam Định phục kích tại làng Kiên Trung. Tiếp đó, Tiểu đoàn Thanh Lũng phục kích ở Thẫn Lỗ. Đến giữa tháng 1 năm 1952, trên địa bàn Nam Định ta đã bức rút, bức hàng 40 vị trí, diệt và phá bỏ 87 trong 107 ban tề vũ trang, mở ra các khu du kích, căn cứ du kích ở miền Nam tỉnh, các khu du kích của ba huyện phía Bắc được khôi phục, nối liền với các khu du kích của Hà Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:31:46 pm Chớp thời cơ quân địch hoang mang dao động trước đòn tấn công của Đại đoàn 316 trên địa bàn Bắc Ninh, quân dân Cẩm Giàng (Hải Dương) nổi dậy phá tề, mở rộng khu du kích Vĩnh Giang, Bình Định. Ngày 15 tháng 12, bộ đội Cẩm Giàng cùng bộ đội huyện Gia Lương (Bắc Ninh) giành thắng lợi trong trận chống càn ở thị trấn Cẩm Giàng. Đêm 19 tháng 12, bộ đội và du kích Thanh Hà diệt đồn hương dũng ở huyện lỵ Thanh Hà, giải tán vị trí Thừa Liệt, tiêu diệt vị trí An Liệt, Đông Phan và xóm 6 xã Minh Phúc, mở khu du kích, uy hiếp Đường số 190. Ngày 20 tháng 12, diệt vị trí tổng dũng Văn Thai, tháp canh Đan Tràng; du kích dọc đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và Đường số 5 liên tục mở các đợt tiến công uy hiếp con đường vận chuyển của địch. Quân dân Nam Sách đánh tan gần 80 tháp hương canh, hương đồn, phá thế kìm kẹp địch lập từ ngày đầu lấn chiếm.
Đầu năm 1952, với sự trợ giúp của Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316), lực lượng vũ trang Hải Dương đẩy mạnh tiến công địch, diệt vị trí Hồ; diệt 3 đồn hương dũng ở Thanh Hà; phục kích ở Cầu Rạng; bộ đội tỉnh tập trung hoạt động ở Nam Gia Lộc, Bắc Thanh Miện, bức rút một số vị trí, xây dựng khu du kích trên địa bàn xã Phạm Kha và xã Đồng Quang. Đêm mùng 3 tháng 2, Trung đoàn 174 và lực lượng vũ trang địa ta mở đợt hoạt động lớn ở Bình Giang tiêu diệt hơn 20 vị trí, bắt hơn 300 tên địch, thu 40 súng các loại. Các xã Hồng Mi, Vĩnh Thị, Thúc Khanh, Tân Hồng, Bình Minh trở thành khu du kích liên hoàn. Trong các đêm 17 và 19 tháng 2, Đại đội Quang Trung (Cẩm Giàng) tiến công tiêu diệt Hà Xá, Phí Xá. Trung đoàn 42 tập kích vị trí An Lại (Tứ Kỳ), tiêu diệt vị trí Văn Độ, Tiểu khu Phương Điếm cùng nhiều vị trí khác. Tại Hưng Yên, đêm mùng 7 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 664 (Trung đoàn 42) phục kích ở An Tảo, cách thị xã 2km, diệt gọn đại đội Commăngđô. Cùng lúc đó, tiểu đoàn bộ đội tỉnh bức rút các vị trí ở Tây Nam huyện Yên Mỹ, giải phóng các xã Hoàng Long, Yên Phú và một phần xã Dân Chủ. Quá hoảng sợ, đêm mùng 8 tháng 12, đơn vị bảo chính đoàn đóng ở Thượng Tài bỏ chạy, một nửa xã Thanh Long được giải phóng. Cùng ngày, đại đội bộ đội tỉnh tiến sang phía Đông huyện Văn Giang diệt đồn Nhân Nội, uy hiếp vị trí Đa Ngưu, giải phóng xã Tân Tiến. Cũng trong đêm mùng 8, Tiểu đoàn 664 diệt đồn An Tảo, uy hiếp thị xã Hưng Yên từ hướng Bắc. Đại đội huyện Tiên Lữ và dân quân du kích diệt đồn Vân Phương, bức rút đồn Đông Chiểu, An Chiểu, Phương Chiểu, Hải Yên,... Vành đai phòng thủ phía Đông thị xã Hưng Yên bị phá bung, Đường số 39 bị cắt đứt, tuyến giao thông thủy trên sông Luộc bị ta khống chế trên quãng dài 20km. Vùng giải phóng phía Đông thị xã Hưng Yên - phía Tây Tiên Lữ được nối liền với căn cứ du kích Hưng Nhân (Thái Bình). Ngày 7 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 664 và lực lượng vũ trang Hưng Yên tiến hành hàng chục trận chiến đấu, diệt một số đồn bốt và binh lính địch, trực tiếp uy hiếp sân bay Gia Lâm và thế phòng thủ phía Đông Nam Hà Nội. Lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Kiến An đẩy mạnh tiến công quân sự trên toàn địa bàn, tiêu hao sinh lực địch đồng thời phát động đấu tranh chính trị, khôi phục và phát triển cơ sở trong vùng tạm chiếm, phục hồi khu du kích Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Khu du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bảo được khôi phục và giữ vững càng củng cố thêm niềm tin vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân nơi năm sâu trong vùng địch hậu. Sau những thành công trên mặt trận Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, ngày 25 tháng 1 (29 Tết Nhâm Thìn), Đại đoàn 320 đã vào Thái Bình an toàn. Ngày 26 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Đống Đa (Trung đoàn 48) phối hợp cùng du kích phục kích trên Đường số 39, đánh tan 1 trung đội Âu - Phi. Trận mở màn thắng lợi đã gây tiếng vang lớn. Thừa thắng, bộ đội và du kích tiêu diệt luôn 3 vị trí ở Tiền Hải và Đông Hưng làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của Pháp ở Nam thị xã Thái Bình. Thực hiện kế hoạch mở rộng khu du kích phía Nam sông Trà Lý, rạng sáng ngày 31 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Đống Đa và Tiểu đoàn pháo binh 834 tiến công tiêu diệt Chi khu quân sự La Cao. Nghe tin La Cao thất thủ, quân địch ở các đồn Vũ Lăng, Giáo Nghĩa (Kiến Xương) mang súng quy hàng, quân ở Trà Lý (Tiền Hải) bỏ đồn tháo chạy. Phát huy chiến thắng La Cao, bộ đội và du kích liên tiếp tổ chức đánh phục kích, công kiên diệt đồn bốt địch. Tiểu đoàn 66 bộ đội địa phương tỉnh bao vây bức hàng 9 vị trí vệ sĩ Công giáo, giải phóng huyện Tiền Hải. Tiếp đó, đơn vị tiến quân về phía Nam huyện Vũ Tiên, Kiến Xương phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt và bức hàng 12 vị trí lớn nhỏ. Trong khi đó, Trung đoàn 52 (Đại đoàn 320) và một bộ phận pháo binh của Đại đoàn vượt sông Trà Lý tiến công địch ờ Thái Ninh Thụy Anh, Đông Quan. Trong các ngày 9 và 10 tháng 2, Trung đoàn 52 tổ chức bao vây các vị trí Trà Linh, Diêm Điền, Đông Hòa, Bình Lạng (Thụy Anh). Ở phía Nam Đường số 10, các tiểu đoàn Tiên Yên, Kiên Trung, Thanh Lũng (Đại đoàn 320) đã phối hợp với du kích, bộ đội địa phương tiến hành bao vây, bức hàng, bức rút hàng loạt vị trí địch ở Thái Ninh, Thụy Anh, Phụ Dực, Duyên Hà. Phát huy tinh thần chủ động, lực lượng vũ trang các huyện phía Bắc tổ chức bao vây, bức rút một số vị trí như Hải An, Đồng Phó, An Lạc, trong đó có những vị trí có trên đại đội chốt giữ như Tạ Xá (Tiên Hưng), Nguyệt Lãng (Thư Trì), cẩm Phán (Quỳnh Côi),... Ngày 8 tháng 2, Tiểu đoàn Tiên Yên tiến lên miền Bắc Thái Bình, bao vây, bức hàng các vị trí Dốc Văn, Phú Vật; bộ đội địa phương, dân quân, du kích các huyện Hưng Nhân, Duyên Hà, Quỳnh Côi bức rút 5 vị trí, phục hồi khu du kích, căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng. Tiếp đó, Đại đoàn 320 điều động Tiểu đoàn 706 (Trung đoàn 64) từ Hà Nam sang đánh đồn Đào Thành (Thái Bình), Tiểu đoàn Tiên Yên làm nhiệm vụ đánh viện ở Hà Nguyên. Bốt Đào Thành bị phá, nhân dân địa phương phấn khởi mở cống đưa nước về đồng ruộng, kịp thời gieo cấy vụ mùa. Ngày 15 tháng 2, Tiểu đoàn Trung Thành và Thanh Lũng (Trung đoàn 42 Đại đoàn 320) cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích chặn đánh quyết liệt cuộc càn của địch ở Thái Ninh, Thụy Anh. Được sự hỗ trợ của Đại đoàn 316, Trung đoàn 246 chủ lực Bộ và Trung đoàn 238 chủ lực Liên khu 3, quân dân các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc đẩy mạnh hoạt động tiến công địch, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn. Các trung đoàn (174 và 98 của Đại đoàn 316) tiến vào phía Bắc tỉnh Bắc Ninh tiêu diệt một số vị trí địch trên Đường số 18. Trong những ngày cuối tháng 12, lực lượng vũ trang ở Bắc Ninh chủ động tiến công, bẻ gãy nhiều cuộc càn của địch ở Gia Phó, Lĩnh Mai; phục kích trên Đường số 18 đánh bốt Đậu (Thuận Thành), uy hiếp các vị trí địch ở cầu Đuống và thị trấn Gia Lâm. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:33:10 pm Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn Thiên Đức (Bắc Ninh) cùng các đơn vị chủ lực của Bộ đánh phá nhiều vị trí ở Nam phần Bắc Ninh. Đại đội 317 (Tiểu đoàn 249) "độn thổ" phục kích trên Đường số 20. Ngày 15 tháng 1 năm 1952, các đơn vị của Đại đoàn 316 phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích diệt đồn Vân Thái, bức rút đồn Am Trai (Gia Lương), giải tán hội tề ở Cường Tráng. Tiểu đoàn 439 diệt đồn Kênh Vàng, bức rút đồn bảo an Đan Giàng, mở rộng vùng giải phóng Gia Lương, mở đường sang huyện Nam Sách (Hải Dương).
Tiểu đoàn 251 (Trung đoàn 174) cùng dân quân du kích đánh vị trí Đam Trai. Một bộ phận của Trung đoàn 98 bức hàng vị trí Mão Điền bên bờ sông Đuống. Tiểu đoàn Thiên Đức diệt đồn Tiên Xá. Trong 2 ngày 7 và 8 tháng 2, Trung đoàn 98 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích vây hãm vị trí Thiên Thai. Ngày 22 tháng 2, Tiểu đoàn 938 (Trung đoàn 98) phối hợp với du kích địa phương giải tán hội tề ở làng Đồng Kỵ. Các trận tiến công của lực lượng vũ trang ta đã làm cho tình hình địch ở Bắc Ninh xấu đi rõ rệt. Tỉnh trưởng Bắc Ninh phải cấp báo "Tình hình ở đây hết sức nguy ngập, Việt Minh hoành hoành dữ dội và đã chiếm được nhiều nơi, riêng huyện Thuận Thành có 69 làng thì 68 làng theo Việt Minh, còn Lạc Thổ có bốt đóng cũng có ý định cắt đứt với Chính phủ Quốc gia để ngả về Việt Minh"1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Ninh, Bắc Ninh lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 228). Thực hiện chỉ thị của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Đại đoàn 316 vừa chuẩn bị chống càn quét vừa khẩn trương phát triển vùng hoạt động sang Nam Sách (Hải Dương). Ngày 23 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 249 và 255 (Trung đoàn 174) vượt sông Thái Bình sang phối hợp tác chiến với tiểu đoàn chủ lực Quảng Yên. Tại Bắc Giang, ngày 6 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 61 của tỉnh phục kích tại Quỳnh Sơn, Chợ Rào. Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316) liên tục uy hiếp địch trên Đường số 13. Đại đội 812, 813 đánh địch mở rộng vùng tự do Lạng Giang. Từ trung tuần tháng 12 năm 1951, các đơn vị của Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) luồn sâu đánh địch ở Yên Dũng, hỗ trợ cho chiến tranh du kích phát triển. Cuối tháng 12, Tiểu đoàn 61 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích Yên Dũng, Lạng Giang đẩy mạnh diệt tề, trừ gian, bức rút các đồn hương dũng, làm tan rã chính quyền cơ sở của địch ở nhiều nơi, mở thêm các khu du kích ở Yên Dũng, Nam Lạng Giang, Nam Việt Yên, hình thành căn cứ du kích gồm 88 thôn, trải dài 20km nối liền với khu du kích Tiên - Quế - Võ (Bắc Ninh).Tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 61 cùng bộ đội huyện và dân quân du kích Yên Dũng chống càn ở Am Trứ, Đức La. Tiếp đó, ngày 30 tháng 1, Tiểu đoàn 61 phối hợp với bộ đội huyện Lạng Giang phục kích trên Đường số 13, đoạn từ thị xã Bắc Giang đến Kế. Ở Vĩnh Phúc, quân và dân địa phương đồng loạt tiến công các vị trí Đông Đồ, Tàng Mi (Đông Anh), Phù Lỗ Đông (Kim Anh), Trung Hà, Ngọc Long, Ngọc Tường (Yên Lãng); tiến hành tổng phá tề, lùng bắt trừ diệt bọn phản động, làm tan rã hoàn toàn các bốt hương dũng, bảo an ở Yên Lãng và một phần Bình Xuyên, giải phóng 20 xã phía Nam thị xã Phúc Yên. Tóm lại, từ tháng 12 năm 1951 đến cuối tháng 2 năm 1952, mặt trận sau lưng địch - trung du và đồng bằng Bắc Bộ đã phối hợp tác chiến với mặt trận chính diện Hòa Bình, tiến công địch cả về quân sự và chính trị rộng khắp, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 binh lính, diệt 160 cứ điểm do quân chủ lực của địch chiếm giữ, triệt phá trên 1.000 vị trí do bọn tề vũ trang, tổng dõng vệ sĩ, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh. Tổng diện tích số làng xã được giải phóng lên đến 4.800km2, bằng hai phần ba diện tích của đồng bằng châu thổ, hơn 2 triệu đồng bào thoát khỏi ách kìm kẹp của kẻ thù, khu du kích, căn cứ du kích được mở hầu hết ở các huyện trên địa bàn đồng bằng, bao gồm 109 xã, 842 thôn; khu du kích bao gồm 163 xã và 1.469 thôn với số là 3.038.265 người1 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 160, 161, 162). Nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên huyện, liên tỉnh được xuất hiện tạo thành thể liên hoàn từ Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh qua Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây. Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ theo kế hoạch Đờ Lát của quân Pháp đã bị phá vỡ2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954), Tập 5 - Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 464). Kể từ ngày đầu cuộc chiến tranh (23.9.1945 đến cuối 1951 đầu năm 1952), hao tổn về binh lực, phương tiện chiến tranh ở mặt trận sau lưng và mặt trận chính diện Hòa Bình là thiệt hại lớn nhất của Pháp. Thắng lợi của quân và dân ta ở mặt trận sau lưng địch trung du và đồng bằng Bắc Bộ là thắng lợi "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Âm mưu củng cố phòng tuyến, tiến công ra vùng tự do của ta và giành lại quyền chủ động của thực dân Pháp bị thất bại nặng, "chẳng những chúng không giành lại được quyền chủ động mà lại trở thành bị động hơn trước"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 46). Phía thực dân Pháp cũng phải thừa nhận: "Cuộc hành quân chấm dứt bằng cuộc rút chạy của chúng ta trong những điều kiện khó khăn mà không đạt được một kết quả chiến lược nào. Rủi thay, cuộc chiến ở Hòa Bình đã giữ chân lực lượng cơ động của ta ở xa đồng bằng qua lâu do đó đã tạo điều kiện cho Việt Minh xâm nhập vào đây với số lượng lớn. Và từ đó, bắt đầu tình trạng "ruỗng nát" mỗi ngày một tăng, dần dần làm bất động đại bộ phận đạo quân viên chinh. Đối phương đã giành thắng lợi căn bản"3 (Henri Nava, Thời điểm của những sự thật, Nguyễn Huy cầu dịch, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 43-44). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:35:24 pm CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH TRỰC TIẾP ĐẬP TAN NỖ LỰC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐỜ LÁT CỦA THỰC DÂN PHÁP Đại tá, TS NGUYỄN VĂN LƯỢNG Trưởng phòng Kế hoạch, quản lý khoa học và đào tạo, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Thất bại trong Thu - Đông 1950, quân Pháp bị mất quyền chủ động, phải chuyển sang trạng thái phòng ngự. Lúc này giới chóp bu quân sự Pháp ở Đông Dương xuất hiện mâu thuẫn trong xây dựng kế hoạch chiến lược, đó là sử dụng tập Trung hay phân tán lực lượng; giữa giành đất, giành dân và thu hẹp phạm vi chiếm đóng. Sau các chuyến thị sát nắm tình hình, tướng Gioăng đã đệ trình với Chính phủ Pháp những giải pháp mới nhằm đối phó với tình thế ở Đông Dương. Quan điểm của ông ta là không phân tán lực lượng để chiếm đóng, mà tập trung xây dựng lực lượng thành các binh đoàn cơ động; đồng thời xây dựng, tổ chức quân đội các quốc gia liên kết (Quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia) đủ mạnh làm nhiệm vụ bình định. Để thực hiện đề xuất trên, Chính phú Pháp thấy cần phải có một viên tướng tài ba để "chèo chống trước những cơn sóng gió", nên đến đầu tháng 12 năm 1950 đã điều Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Latre de Tassigny), nguyên là chỉ huy Tập đoàn quân số 1 và đang là Tổng Thanh tra Quân đội, được cử giữ chức Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nhận nhiệm vụ mới, Đờ Lát sắp xếp lại bộ máy chỉ huy quân sự ở Đông Dương đổ dồn mọi nỗ lực bình định đồng bằng Bắc Bộ, nhằm xoay chuyển tình hình, giành lại quyền chủ động trên chiến trường và tiến tới phản công. Đờ Lát vạch kế hoạch nhanh chóng củng cố quân đội viễn chinh và xây dựng, phát triển quân đội quốc gia Việt Nam (quân ngụy); tập trung các tiểu đoàn Âu - Phi tổ chức thành các binh đoàn cơ động (GM); lập phòng tuyến để bảo vệ trung du và đồng bằng Bắc Bộ; đẩy mạnh càn quét bình định vùng chiếm đóng, mở rộng vùng chiếm đóng, đánh phá căn cứ du kích, khu du kích; sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ, gấp rút chuẩn bị, tạo điều kiện phản công giành lại quyền chủ động chiến lược. Thực hiện kế hoạch trên, chỉ trong 6 tháng đầu năm 1951, ở đồng bằng Bắc Bộ, địch đã tiến hành hơn 49 cuộc càn quét lớn nhỏ vào các vùng du kích và vùng ven. Đờ Lát cũng đề nghị với Chính phủ Pháp tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh nhiều hơn nữa cho Đông Dương và để tổ chức phòng thủ Bắc Bộ. Đến cuối năm 1950, tổng lực lượng quân Pháp ở Đông Dương có 239.000 quân, trong đó có 117.000 lính Âu - Phi (riêng số binh lính Pháp có 63.000), còn lại chủ yếu là quân ngụy. Lực lượng trên được bố trí ở Bắc Bộ 64 tiểu đoàn (54%), Trung Bộ có 20 tiểu đoàn (17%), Nam Bộ có 23 tiểu đoàn (19%), còn lại là Campchia và Lào 11 tiểu đoàn (10%)1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 20). Cùng với phân chia lực lượng, Đờ Lát còn tập trung xây dựng các công trình quân sự, như sân bay Cát Bi, Kiến An (Hải Phòng), đặc biệt là phòng tuyến gồm hệ thống công sự boongke và vành đai trắng chạy bao quanh vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, từ Đông Triều đến Sơn Tây, nối liền với phòng tuyến sông Đáy vây chặt đồng bằng Bắc Bộ. Đờ Lát cho ràng, với hệ thống phòng tuyến này sẽ ngăn chặn được lực lượng ta từ vùng rừng núi, nhất là từ căn cứ địa Việt Bắc xuống. Đồng thời siết chặt vùng kiểm soát, mở các cuộc hành quân càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến cuối năm 1951, Pháp đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng tuyến phòng thủ boongke, gồm 80 vị trí lớn nhỏ, 800 lô cốt với đầy đủ vũ khí và lực lượng. Có thể nói, "Kế hoạch Đờ Lát" đã vực dậy một bước tinh thần quân đội viễn chinh, biết tập trung lực lượng nhanh chóng vào chiến trường trọng điểm, phát huy tối đa sức mạnh của binh khí kỹ thuật hiện đại để ngăn chặn ta trong đánh vận động cũng như trong đánh điểm. Với cuộc "chiến tranh tổng lực", thực dân Pháp đã mở hàng trăm cuộc càn lớn nhỏ và đạt được một số thành công tạm thời trong âm mưu bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến cuối năm 1950, Bộ Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng "cán cân đã nghiêng về Pháp, đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã chịu đựng từ năm 1948 nhất là từ cuối năm 1950, để chuyển sang thế tiến công"1 (Yves gras, Histoire de la guerre d'Indochine, Pion, 1978 (Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương), Bản dịch lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Đến tháng 10 năm 1951, Bộ chỉ huy quân Pháp huy động 10 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn dù và các đơn vị binh chủng yểm trợ tiến công vào Thanh Hóa, nhằm thọc sâu vào vùng tự do, phá hậu phương của ta, buộc chủ lực ta phải giao chiến ớ địa bàn mới lạ, xa căn cứ Trung ương. Nhưng, cuộc tiến công vào Thanh Hóa bị bỏ dở nên Đờ Lát thực hiện ý định "đánh đòn quyết định" bằng cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình. Về phía ta, sau thắng lợi ở biên giới năm 1950, Trung ương Đảng chủ trương mở một số chiến dịch lớn nhằm tiến công tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch củng cố, bình định của chúng, phát triển chiến tranh du kích, giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, từ cuối năm 1950 đến đầu năm 1951, ta đã mở các chiến dịch: Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung nhằm tiến công vào phòng tuyến trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhưng "cả ba chiến dịch ta chỉ thu được kết quả hạn chế, địch bị thiệt hại nặng, nhưng ta cũng bị tiêu hao lớn"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập V, Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 148). Những hạn chế của các chiến dịch này để lại kinh nghiệm sâu sắc cho các cấp lãnh đạo, chỉ huy ở cả cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, đặc biệt là chưa đánh giá đúng về khả năng của ta và sức phòng thủ của địch trên chiến trường Bắc Bộ. Do vậy, đến cuối năm 1951, thế trận chiến tranh nhân dân ở đồng bằng Bắc Bộ bị suy giảm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (10.1951) chủ trương: "Ra sức tiêu diệt sinh lực địch, tiến tới giành ưu thế quân sự, phá kế hoạch phòng ngự của địch ở trung châu Bắc Bộ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), tr. 575). Tuy nhiên,đến thời điểm này ta vẫn chưa chọn được địa bàn phù hợp cho hoạt động của bộ đội chủ lực, chưa chọn được hướng tiến công và kế hoạch tác chiến nhằm phá ý đồ giành quyền chủ động của địch trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Ngày 13 tháng 10 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu báo cáo kế hoạch tác chiến lên Tổng Quân ủy, trong đó có dự kiến: Nếu địch tiến công Hòa Bình thì lực lượng địa phương sẽ đối phó trước, sau đó sẽ sử dụng lựclượng của 3 đại đoàn: 308, 304 và 320 để đánh và có thể mở chiến dịch phản công. Các đại đoàn 316 và 320 thọcsâu vào vùng trung du, đồng bằng, mở mặt trận ở vùng sau lưng địch1 (Sư đoàn 316, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 52). Dự kiến phương án đánh địch khi chúng tiến công Hòa Bình của Bộ Tổng Tham mưu đã thể hiện tư tưởng chỉ đạo của cơ quan tham mưu chiến lược: Vừa chuẩn bị tiến công nhưng sẵn sàng phương án cho phản công. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Tám, 2025, 07:37:13 pm Ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe), dưới sự chỉ huy của Đờ Linarét (De Linares), các GM (1,2, 3), tiểu đoàn dù lê dương và 2 đại đội Commăngđô số 21, 22 chia thành 3 mũi tiến công Chợ Bến, mở đầu cho kế hoạch tái chiếm Hòa Bình. Sau khi chiếm được Chợ Bến, ngày 14 tháng 11, dưới quyền chỉ huy của Tướng Xalăng (Salan), Phó Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã mở cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm Hòa Bình. Lực lượng của cuộc hành quân này gồm 20 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng được chia thành 4 cánh quân, hình thành 2 gọng kìm từ Sơn Tây - Trung Hà xuống và từ Xuân Mai lên. Ngoài ra, một lực lượng dự bị gồm tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh 105mm và 1 đại đội xe tăng sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết.
Trước tình hình đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã báo cáo Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị về "Chủ trương mở Chiến dịch Hòa Bình và điều chỉnh kế hoạch hoạt động Thu - Đông sang tiến công nơi địch mới chiếm. Hòa Bình sẽ là hướng chính, các nơi khác phối hợp. Mục đích chính của Chiến dịch Hòa Bình là tiêu diệt sinh lực địch ở chiến trường Hòa Bình, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích nơi khác"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu, 1963, tr. 50). Chủ tịch Hồ Chí Minh và BộChính trị hoàn toàn nhất trí với nhận định, chủ trương của Tổng Quân ủy và khẳng định: "Đây là cơ hội tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh thắng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu, 1963, tr. 55). Để đập tan cuộc hành quân chiếm đóng Hòa Bình của địch, Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch, cử đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng và thành lập Đảng ủy Chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách Bí thư, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Phó Bí thư. Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch sử dụng Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 đánh địch trên hướng chủ yếu, tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ tuyến phòng ngự sông Đà, trong đó Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 142) đánh địch bên tả ngạn sông Đà, có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình. Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 có nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Các đại đoàn 308, 316, 320... thực hiện đánh phân tán địch ở vùng trung du, đồng bằng phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình. Trong đợt 1 của chiến dịch (10 - 26.12.1951), các đại đoàn 312, 308, 304 tập trung tiến công địch trên tuyến sông Đà - Ba Vì để vừa triệt đường tiếp tế của địch trên sông, vừa nối thông hành lang tiếp tế của ta, khi có điều kiện sẽ phát triển sang hữu ngạn sông Đà, Đường số 6. Mục tiêu ban đầu của chiến dịch là tiến công vào khu vực phòng ngự then chốt của địch ở Tu Vũ - Chẹ. Sau hơn hai tuần chiến đấu, trên mặt trận sông Đà - Đường số 6, ta đã tiêu diệt 10 đại đội tỉnh nhuệ của địch, phần lớn là lính Âu - Phi, bắn chìm 7 canô, tàu, xuồng, bắn bị thương hai chiếc trên sông Đà, uy hiếp hệ thống phòng thủ sông Đà, Ba Vì, Đường số 6 của địch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 27). Phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, các đại đoàn 320, 316 tiến sâu vào vùng sau lưng địch, nhất là ở Bắc Ninh, Phát Diệm (Ninh Bình), buộc địch phải điều lực lượng từ Hòa Bình về đối phó. Sau những thắng lợi trong đợt 1 của chiến dịch, ta đã thực hiện được ý định vừa kìm giữ địch ở Hòa Bình, vừa căng kéo địch ở vùng sau lưng. Do vậy, bước vào đợt 2 của chiến dịch (27 - 31.12.1951), ta vẫn tiếp tục lấy phân khu Sông Đà - Ba Vì làm hướng tiến công chính để tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tạo điều kiện cho vùng sau lưng phát triển chiến tranh du kích. Trong đợt này ta chỉ giữ được tuyến hành lang vận chuyển qua sông Đà, uy hiếp mạnh Đường số 6, làm chủ Điểm cao 600 ở khu vực Ba Vì. Ta cũng bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch trong vận động và bị những tổn thất trên Đường số 6. Tuy nhiên, mặt trận sau lưng địch ở vùng đồng bằng Bắc Bộ của ta lại hoạt động mạnh, rộng khắp, thu được nhiều thắng lợi to lớn. Kết quả đó một phần do Chiến dịch Hòa Bình mang lại, vì các đại đoàn của ta đã ngăn chặn không cho địch rút từ Hòa Bình về tăng cường cho vùng đồng bằng. Sau đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: Quân địch đã bị tổn thất nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng ngày càng gặp khó khăn, nhất là về giao thông, tiếp tế vì đường sông Đà bị tê liệt, Đường số 6 đang bị uy hiếp mạnh... nhưng nếu ta tiếp tục đánh mạnh cũng có thể buộc địch phải nghĩ đến việc rút khỏi Hòa Bình2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Sđd, tr. 30). Trên cơ sở nhận định đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịchhạ quyết tâm trong đợt 3 (7.1 - 25.2.1952): Tiêu diệt gọn một phần sinh lực địch, đẩy mạnh công tác địch vận, tiếp tục bám sát địch và bao vây chặt địch ở thị xã Hòa Bình. Trên khu vực Chẹ và Đá Chông, ta thực hiện kiềm chế địch, tiếp tục cắt sông Đà. Ở vùng sau lưng địch, ta đẩy mạnh chống càn để phối hợp với mặt trận Hòa Bình, Đường số 6... Với quyết tâm cao và sử dụng lực lượng hợp lý nên từ ngày 7 tháng 1 năm 1952, ta đã đánh mạnh các vị trí phòng ngự của địch trên Đường số 6, thị xã Hòa Bình, sau đó đánh cắt Đường số 6 và bao vây cô lập thị xã Hòa Bình, buộc địch phải thả dù tiếp tế. Mặt trận sau lưng địch bị đánh mạnh, thị xã Hòa Bình bị bao vây cô lập, đây là thời cơ thuận lợi cho các đại đoàn tiến công địch... Đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Qua hơn hai tháng chiến đấu, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà với diện tích gần 2.000km2 với gần 20 nghìn dân. Trên Mặt trận Hòa Bình, ta diệt 5.317 tên địch, bắt 593 tên, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy thu phát thông tin, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 canô, phá hủy 246 xe quân sự1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập V, Phát triển thể tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 442). Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã phá được ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, làm cho thực dân Phập lún sâu vào thế bị động chiến lược. Ngược lại, ta bắt đầu chuyển sang thế phản công và từng bước giành lại thế chủ động trên chiến trường. "Nếu kế hoạch chiến lược của De Lattre đã có lúc phần nào thành công trong việc dựa vào đồng bằng ngăn chặn được ta,thì nay với thất bại Hòa Bình, cả phòng tuyến xây dựng kiên cố của ông ta trở nên vô ích, tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn bị đảo lộn có lợi cho ta. Chiến tranh trở lại thế trận không phân tuyến. Chiến tích cuối cùng của y trở thành chiến bại cuối cùng"1 (Trận đánh ba mươi năm, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 475). Chiến dịch Hòa Bình đã lùi xa 70 năm, nhưng giá trị và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch vẫn còn hiện hữu, có sức lan truyền mạnh mẽ về ý chí quyết tâm giành thắng lợi của quân và dân ta trước một đội quân nhà nghề thực dân Pháp với trang bị vũ khí hơn ta gấp nhiều lần. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều kinh nghiệm lịch sử, đặc biệt là việc nhận định, dự kiến về địch và xác định những chủ trương, biện pháp của Tổng Quân ủy; công tác tham mưu, chỉ đạo, điều hành tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu nên đã nhanh chóng giành thế chủ động trong chiến dịch và cả chiến trường Bắc Bộ. Các đại đoàn của ta không chỉ tập trung đánh địch ở Hòa Bình mà còn đánh địch ở vùng sau lưng, đẩy chúng vào thế mâu thuẫn giữa tập trung với phân tán, giữa bình định với mở rộng địa bàn. Ngay phía Pháp cũng phải thừa nhận "chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó, đã tạo thế lợi cho đối phương đưa được các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng"2 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951-2.1952), Ha Nội, 1991, tr. 40). Với giá trị và ý nghĩa lịch sử của Chiến dịch Hòa Bình, chúng ta có thể vận dụng vào nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cơ quan chỉ huy cấp chiến dịch, chiến lược, dự bảo sát đúng đối tượng tác chiến, trên cơ sở đó tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ để sẵn sàng đối phó với những nguy cơ chiến tranh, những tác động của yếu tố an ninh phi truyền thống nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: ptlinh trong 01 Tháng Chín, 2025, 02:25:12 pm SỰ PHỐI HỢP GIỮA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC VỚI LỰC LỰỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG Ở TRUNG DU VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tá, ThS NGUYỄN HÀ HẢl Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong Chiến dịch Hòa Bình, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, cùng với chiến trường phía trước1 (Do các đại đoàn 304, 308, 312, 351 đảm nhiệm), Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch tác chiến vùng địch hậu (trung du và đồng bằng Bắc Bộ). Theo đó, Đại đoàn 316, được tăng cường thêm Trung đoàn 246 trực thuộc Bộ, hoạt động ở Bắc Giang, Bắc Ninh, đưa Trung đoàn 98 vào địch hậu ở vùng Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh), đẩy mạnh du kích chiến tranh, mở rộng căn cứ địch hậu ở huyện Gia Lương. Trung đoàn 174 hoạt động ở tuyến ngoại, tiêu diệt một số cứ điểm; sẵn sàng tiêu diệt quân địch nếu chúng đánh ra vùng tự do Bắc Đường số 13. Khi có thời cơ, cho một bộ phận vào địch hậu. Trung đoàn 176 bố trí đề phòng địch đánh ra Đường số 4, có thể cho một bộ phận xuống Đường số 13 hoạt động. Đại đoàn 320 đưa Trung đoàn 64 vào địch hậu ở Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân (tỉnh Hà Nam); một trung đoàn hoạt động ở Kim Sơn, Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình); một trung đoàn làm dự bị. Để chỉ đạo mọi hoạt động của cả ba thứ quân, Ban Chỉ đạo Mặt trận Trung du và Mặt trận Liên khu 3 được thành lập. Các mặt trận phối hợp được yêu cầu hết sức khẩn trương tranh thủ thời gian hoạt động sớm; vừa hoạt động vừa chuẩn bị và mạnh dạn đưa lực lượng vào địch hậu. Một là, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động ở hậu phương của địch Tháng 11 năm 1951, hòa nhịp với mặt trận chính diện, các đại đoàn 316 và 320 bắt đầu vượt qua "vành đai trắng" và phòng tuyến boongke1 (Sau khi được Chính phủ Pháp cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương (1950), Đại tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattrẹ de Tassigny) vạch một kế hoạch chiến lược đối với trung du và đồng bằngBắc Bộ là: Xây dựng phòng tuyến boongke, thiết lập "vành đai trắng" bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với chủ lực đối phương xâm nhập; đánh phá hậu phương của Việt Minh bằng nhiều mặt; tiến hành "chiến tranh tổng lực", binh định vùng đã chiếm và đánh phá vùng du kích, huy động sức người, sức của, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh), tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Ngày 20 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 316 nhận được lệnh chuyển vào hoạt động trong vùng sau lưng địch gồm các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... Trung đoàn 246 của Bộ được điều về tăng cường cho Đại đoàn 316 trong đợt hoạt động này. Để tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 98 tiến sâu vào lòng địch, đêm mùng 6 tháng 12, Tiểu đoàn 249, do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu An chỉ huy, tiến công đồn Larivê. Đây là một vị trí boongke thuộc tiểu khu Phù Lỗ của địch. Đến 3 giờ 51 phút (7.12), tên đồn trưởng và số quân địch còn lại phải hạ vũ khí đầu hàng. Thắng trận này ta buộc địch phải lúng túng đối phó trên phòng tuyến Vĩnh Phúc ngay sát Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của Đại đoàn trên hướng Bắc Ninh. Đây là trận đầu tiên quân ta đánh tiêu diệt đồn địch, có công sự boongke tại vành đai, góp phần phối hợp với Mặt trận Hoà Bình. Ở hướng Bắc Ninh (9.12), Tiểu đoàn 215 Trung đoàn 98 hoàn thành công tác chuẩn bị đánh Thứa (huyện Lương Tài), nằm sâu trong vùng cơ sở của ta tại phía Nam Bắc Ninh, có cơ quan hành chính quận và sở chỉ huy tiểu khu địch. Vị trí địch ở đây được xây dựng và củng cố lại nhiều lần, công sự tương đối vững chắc. Quanh đồn có hào nước sâu cắm chông tre và hệ thống hàng rào dây thép gai cùng các bãi mìn. Các lô cốt trong vị trí được cải tạo bằng xi măng chắc chắn. Lực lượng địch có một đại đội ngụy và hơn 1 trung đội bảo an, được trang bị đầy đủ. Đêm mùng 9 tháng 12, Tiểu đoàn 215, do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đức Y chỉ huy, bao vây vị trí địch theo kế hoạch đã định. 2 giờ ngày 10 tháng 12, quân ta bắt đầu nổ súng. Kết thúc trận đánh, ta thu trên 100 súng các loại, trong đó có 1 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 81mm, 3 khẩu đại liên, 8 trung liên, 15 tấn đạn cùng nhiều quân trang, quân dụng. Sáng ngày 10 tháng 12, do chưa biết vị trí Thửa bị tiêu diệt, địch cho 1 tiểu đội từ đồn Phương Xá (cách Thứa 50km) đến thăm dò. Chúng lọt vào trận địa phục kích của ta và bị bắt gọn. Bị bất ngờ, địch hết sức lúng túng, tung gián điệp trà trộn trong nhân dân để đi dò la tình hình. Sau khi phát hiện ở Bắc Ninh có chủ lực ta, thực dân Pháp vội vã điều gấp một bộ phận lực lượng cơ động từ Hoà Bình về để đối phó. Ngày 15 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 174 được lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh vận động gấp vào Bắc Ninh cùng Trung đoàn 98 mở rộng hoạt động. Cùng đi với Trung đoàn 98 trong cuộc hành quân có Đại đội sơn pháo 75mm. Tiểu đoàn 215, sau thời gian củng cố, cũng được lệnh trở lại chiến trường. Tiểu đoàn 999 Trung đoàn 176, từ phía Lạng Sơn tiến xuống Hải Ninh tiễu phỉ, sẵn sàng đánh địch nếu chúng tiến công ra Đường số 4. Tiểu đoàn 888 Trung đoàn 176 vào vùng Yên Dũng (Bắc Giang) để hỗ trợ cho các lực lượng của Đại đoàn hoạt động phía Bắc Ninh. Sau khi vào tới phía Bắc Bắc Ninh, Trung đoàn 174 được lệnh đánh 2 vị trí cầu Ngà và Phố Mới. Đêm 22 tháng 12, đơn vị nổ súng. Đại đội 671 Tiểu đoàn 215 diệt gọn vị trí cầu Ngà trong đêm. Nhưng bên đồn Phố Mới, Tiểu đoàn 255 gặp khó khăn. Tới gần sáng, quân ta vẫn không giải quyết được đồn, buộc phải rút quân. Đối với Đại đoàn 320, mở màn đợt hoạt động đơn vị quyết định đánh vào thị trấn Phát Diệm và vị trí Ngô Khê. Thời gian nổ súng đã được Bộ Tổng Tư lệnh ấn định vào đêm mùng 9 tháng 12 để thu hút sự chú ý của địch và giành một chiến thắng vang dội, tạo điều kiện cho những bước phát triển sau1 (Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc, Lịch sử bộ đội Thông tin liên lạc, Tập 1, tác giả tự in, Hà Nội, 1985, tr. 242). Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) là sào huyệt của địch ở Ninh Bình. Ngay từ khi đặt chân lên đất Phát Diệm (tháng 10.1949), thực dân Pháp đã tìm mọi cách lôi kéo đồng bào chống phá cách mạng. Chúng tuyên truyên lừa bịp, lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để chia rẽ lương - giáo. Lập trại giam ngay trong nhà thờ chính, ngày ngày tra tấn dã man đồng bào vô tội. Lực lượng địch ở đây có một trung đoàn, được trang bị đầy đủ vũ khí, lại được pháo binh từ Phúc Nhạc và các vị trí trên Đường số 59 sẵn sàng chi viện2 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh, Hà Nam Ninh - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1986, tr.250). Địch chia Phát Diệm thành 2 hệ thống chiếm đóng gồm: Khu Trì Chính do quân Liên hiệp Pháp đóng giữ và khu Thượng Kiệm do quân ngụy đóng giữ. Chúng biến những khu nhà vững chắc ở đây thành một hệ thống cứ điểm với hơn 10 vị trí, nằm sâu trong thị trấn, rải suốt chiều dài 2km. Đêm mùng 9 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52, Đại đoàn 320, được đồng bào lương - giáo Yên Mô và Kim Sơn che chở, đã "nhảy dù" thành công vào xung quanh các cứ điểm của địch tại thị trấn Phát Diệm. 2 giờ 50 phút ngày 10 tháng 12, cuộc công kích bắt đầu. Sau 1 giờ công kích, ta đã tiêu diệt và làm chủ hầu hết các vị trí địch ở khu Trì Chính, Kiến Thái, như nhà Lê Phát, nhà Công binh, nhà hát Họ Mạc, nhà Chỉ huy của tên Trung úy Sagôn. Quân ta chiếm trận địa pháo, phá hủy 2 khẩu pháo 105mm và 75mm. Trong khi đó, bên tả ngạn sông Trì Chính quân ta đã tiêu diệt và làm chủ khu Thượng Kiệm, chiếm hết các vị trí nhà Phủ Chiểu, nhà Hai Vỡi, vị trí Đại đội 5, Tiểu đoàn ngụy số 18 BVN1 (BVN viết tắt từ Bataillon du Vietnam (Tiểu đoàn bộ binh người Việt)), diệt vị trí chùa Phú Vinh và bao vây tiêu diệt quân địch chạy vào nhà thờ Phát Diệm2 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh, Hà Nam Ninh - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1986, tr. 252). Sau Phát Diệm, ta chuẩn bị tiến công Ngô Khê, Ngô Khê là vị trí địch nằm cạnh nhà thờ Cát Lại, án ngữ Đường số 62, sát đê sông Châu, có công sự cải tiến, do một đại đội ngụy binh chiếm giữ. Từ khi địch chiếm Ngô Khê, con đường liên lạc của ta đi qua 3 huyện: Lý Nhân, Bình Lục và Duy Tiên sang cả Hưng Yên, Thái Bình bị cắt đứt. Được sự che chở giúp đỡ của nhân dân, 2 tiểu đoàn Hưng Công và Đồng Mít (Trung đoàn 64), có bộ đội địa phương phối hợp, đã bao vây và bất ngờ nổ súng tiến công vị trí Ngô Khê vào lúc 1 giờ 45 phút ngày 11 tháng 12 năm 1951. Sau gần 4 giờ tiến công, kết hợp với địch vận, quân địch buộc phải đầu hàng. Chiến thắng Ngô Khê làm cho hệ thống ngụy quân, ngụy quyền địa phương rung chuyển. Nhiều ban tề trong tỉnh như An Nông, Thọ Vực (Duy Tiên) phải chạy vào những nơi địch kiểm soát. Hai khu du kích Lý Nhân và Duy Tiên được khôi phục và nối liền, có 200 ngụy binh bỏ ngũ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: ptlinh trong 01 Tháng Chín, 2025, 02:27:40 pm Hai là, làm nòng cốt tham gia phá tề, trừ gian, xây dựng cơ sở trong vùng địch hậu
Đối với Đại đoàn 320, đi đôi với công tác phá tề trừ gian, các đơn vị của Đại đoàn đã cùng với lực lượng địa phương ra sức tranh thủ nhân dân, xây dựng cơ sở, phát động du kích chiến tranh. Nhiều thôn trước đó gần một năm ta không thể vào hoạt động, thì nay bộ đội ta đã làm cho đồng bào tin tưởng ở cuộc kháng chiến, ở chính sách đoàn kết, chính sách tôn giáo của Đảng. Nhiều nơi nhân dân kêu gọi con em đang ở trong hàng ngũ địch không cầm súng chống lại bộ đội, trở về với kháng chiến. Trên 800 ngụy binh, vệ sĩ đã nghe tiếng gọi của Tổ quốc, của gia đình, bỏ hàng ngũ giặc trở về1 (Sư đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr.233). Riêng Trung đoàn 64, sau chưa đầy một tháng hoạt động, đã cùng nhân dân địa phương tiêu diệt 45 vị trí tề vũ trang, phá 312 ban tề trong tổng số 380 ban tề của Hà Nam2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991, tr. 541, 542). Trung đoàn đã khuếch trương thắng lợi, tạo được chỗ đứng vững chắc, mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời với số vũ khí thu được đã giúp địa phương xây dựng thêm lực lượng vũ trang tập trung và bán tập trung. Toàn tỉnh Hà Nam đã kiện toàn được 3 đại đội địa phương tinh, xây dựng thêm 1 đại đội. Ở mỗi huyện kiện toàn 2 trung đội và xây đựng thêm 1 trung đội. Vũ khí, trang bị tương đối đầy đủ. Cũng trong khoảng thời gian đó, Trung đoàn 48 đã diệt, giải tán 115 ban tề, cả tỉnh Ninh Bình chỉ còn sót lại 6 ban tề3 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991, tr. 541, 542). Cuối tháng 12 năm 1951, sau khi mở rộng được vùng giải phóng, tạo được bàn đạp đứng chân ở Ninh Bình, Thường vụ Liên khu uỷ 3 và Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quyết định cho Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 tiến sâu vào vùng địch hậu vùng Nam Nam Định, cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, đồng thời mở tiếp đường để chuẩn bị vượt sông Hồng đánh sang Tả Ngạn4 (Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiếnchống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Ha Nội, 1990, tr. 315). Đêm 28 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 52 cùng quân dân địa phương tiến côngHải Lạng, Phù Sa và bốt Nam Trực. Tiểu đoàn 66 đánh bốt Ngoại Đê, huyện Nam Trực. Do nắm địch không chắc, chuẩn bị chưa chu đáo nên ta không tiêu diệt được địch. Tuy vậy, sự xuất hiện của chủ lực đã làm địch hoang mang. Binh lính địch ở Phù Sa, Liễu Đề phải bỏ đồn tháo chạy. Nắm cơ hội đó, Huyện ủy Nghĩa Hưng lãnh đạo quân và dân địa phương kết hợp tiến công quân sự với chính trị, binh vận, diệt vị trí bộ phận lính dõng ở Chương Nghĩa và phá tan toàn bộ tổ chức hội tề của địch ở miền trung huyện Nghĩa Hưng. Để phối hợp hoạt động, các đại đội 91 và 33 bộ đội địa phương Nam Định, do đồng chí Đặng Thiết, Tỉnh đội phó chỉ huy, tiến công bốt dõng Ngoại Đông (Trực Ninh). Khi quân ta đến nơi, địch thấy không thể kháng cự nổi đã vội vã vượt sông rút về bốt Thái Lãng (xã Trực Nội). Tiếp đó, đêm 29 và ngày 31 tháng 12, các đại đội này tổ chức tiến đánh bốt Nam Long (xã Trực Tuấn). Nhưng khi các đơn vị vận động tới thì quân địch đã rút bỏ từ chiều. Quân ta tiến lên vị trí An Lãng (xã Phương Định), nhưng địch đã rút chạy về Cổ Lễ1 (Đảng ủy - Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Nam Định, Nam Định - Lịch sử kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 178). Sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương đã làm cho cả hệ thống ngụy quân, ngụy quyền được địch xây dựng trên địa bàn Hà Nam và 3 huyện phía Bắc Nam Định rung chuyển. Đặc biệt trong dịp này, ta đã xoá sổ "Đội biệt kích Hổ xám", một ám ảnh kinh hoàng đối với đồng bào đôi bờ tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng2 (Đội trưởng của Đội biệt kích này là tên Văngđăngbe (Vandenberg), con nuôi của Đờ Lát). Bị một đòn bất ngờ, địch choáng váng và ra sức đề phòng quân ta tiến công. Tướng Xalăng (Raoul Salan) - người kế nhiệm của Đờ Lát, phải chỉ thị cho quân lính: "Ban đêm mọi cửa ra vào và cửa sổ phải đóng chặt và từngoài không thể mở được. Các sĩ quan, ban ngày và nhất là ban đêm luôn phải giữ vũ khí trong tay"1 (Sư đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr.242). Về phía ta, tình hình kháng chiến ở địch hậu trung du và đồng bằng Bắc Bộ thời điểm này đã phát triển hơn trước. Ta khôi phục và mở rộng được các khu du kích và căn cứ du kích. Các khu du kích đã nổi liền từ hữu ngạn sang tả ngạn sông Hồng, từ đồng bằng lên trung du, uy hiếp hậu phương địch khiến cho chúng đối phó rất khó khăn. Các binh đoàn cơ động của địch phải chạy như "đèn cù" ứng cứu cho mặt trận chính diện và địch hậu. Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở mặt trận sau lưng địch đã làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hoà Bình. Việc ta bao vây chặt thị xã Hoà Bình, đánh địch trên Đường số 6, đã tạo điều kiện cho quân và dân đồng bằng và các chiến trường sau lưng địch hoạt động mạnh, khiển cho địch phải thừa nhận: "ông Giáp tổ chức một chiến dịch kéo cưa để hạ thủ tại chỗ chúng ta"2 (Siêu Hải, Khắc Tính, Đoàn voi thép trong chiến dịch Hoà Bình, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966, tr. 46). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: ptlinh trong 01 Tháng Chín, 2025, 02:30:27 pm Ba là, kết hợp tiến công địch, phát động chiến tranh du kích và mở rộng căn cứ ở địa phương
Trước tình hình quân địch dần lâm vào thế bị động trên các chiến trường, để tích cực phát huy thắng lợi, đánh mạnh vào chô yếu của địch, ngày 14 tháng 1 năm 1952, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái chỉ thị cho Đại đoàn 316 đẩy mạnh các hoạt động trong vùng sau lưng địch, chuẩn bị sẵn sàng chống trả các cuộc càn quét lớn của chúng. Bản chỉ thị viết: Chiến trường trung du là một chiến trường rất quan trọng, vừa qua đã làm cho địch phải lúng túng, phải điều các trung đoàn cơ động về đối phó, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến trường chính, đã mở rộng được khu Nam tỉnh Bắc Ninh và thâm nhập hầu hết các địa phương". Yêu cầu: "Đại đoàn phải tăng cường hoạt động và khẩn trương mở rộng thêm các khu Căn cứ du kích của ta trong thời cơ này"1 (Sư đoàn 316, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 73). Chấp hành chỉ thị của cấp trên, Đảng ủy và Ban Chỉ huy Đại đoàn quyết định cùng với Tỉnh ủy Bắc Ninh, Bắc Giang triển khai kế hoạch chống càn quét, đồng thời đưa lực lượng phát triển nhanh chóng sang phía Nam Sách (Hải Dương). Đầu năm 1952, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 chuyển xuống hoạt động ở Nam phần Bắc Ninh. Khác với khi mới vào, lần này Trung đoàn bắt đầu bằng những trận đánh nhỏ nhưng chắc thắng. Ngày 23 tháng 1 năm 1952, 2 tiểu đoàn 249 và 255 (Trung đoàn 174) được lệnh bí mật vượt sông Thái Bình, sang phối hợp chiến đấu với Tiểu đoàn Bạch Đằng (chủ lực của tỉnh Quảng Yên). Ngày 24 tháng 1, địch cho quân càn quét Nam Sách. Theo kế hoạch đã định, Tiểu đoàn Bạch Đằng ở lại chống càn, diệt 300 tên, phối hợp với dân quân Nam Sách bức rút các đồn hương dõng và tháp canh còn lại trên Đường số 17, giải phóng phần lớn huyện2 (Ban Chỉ huy quân sự tinh Hải Hưng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Himg, Hà Nội, 1988, tr. 310), mở ra một vùng du kích mới nối liền một dải với khu Nam phần Bắc Ninh. Trong khi 2 tiểu đoàn 249 và 255 đánh địch phía Nam Sách, thì Tiểu đoàn 215 phối hợp với du kích và nhân dân Gia Lương, có một số tề ngụy được giác ngộ làm nội ứng, đã tổ chức đánh vào Trạm Trai, diệt và bắt sống 55 tên địch, thu toàn bộ vũ khí. Cùng thời gian này, một bộ phận Trung đoàn 98 phối hợp với dân quân, du kích bao vây bức hàng vị trí Mão Điền, bên bờ sông Đuống, thu 30 súng, giải tán 80 nhân viên ngụy quyền mới về tập trung ở đồn. Sau một thời gian hoạt động, Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng địa phương đã cắt được Đường số 38, diệt các đồn Thiên Thai, Lạc Thổ và uy hiếp mạnh Đường số 5, phát triển thêm vùng du kích. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, tranh thủ nhân dân, phá khối ngụy quân, ngụy quyền, Thường vụ Liên khu ủy 3 và Ban Chỉ đạo mặt trận quyết định đưa toàn bộ Đại đoàn 320, các trung đoàn 42, 46 vào địch hậu hoạt động1 (Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 318). Trong vòng nửa tháng hoạt động ở Nam Định, các đơn vị của Đại đoàn 320, được sự phối hợp chặt chẽ của lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, đã phá 80 ban tề, giải phóng hàng trăm kilômét vuông và hàng vạn nhân dân, tạo điều kiện cho Đại đoàn vượt sông Hồng sang tả ngạn. Sau 5 ngày đêm hành quân luồn qua hệ thống chiếm đóng dày đặc trên 5 huyện, 2 tỉnh, vượt qua 2 con sông, ngày 17 tháng 1 năm 1952, cánh quân thứ nhất của Đại đoàn 320 đã từ phía Nam thị xã Nam Định, vượt sông Hồng, đặt chân lên đất Thái Bình. Ngay khi mới tới Thái Bình (ngày 26.1), Tiểu đoàn Đống Đa cùng Đội du kích Nguyên Thị Chiên phục kích địch ở Thanh Nê, bắt gọn một trung đội Âu - Phi. Thừa thắng, Tiểu đoàn Đống Đa, được sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương, đã diệt đồn An Bồi và quận lỵ Tiền Hải, mở rộng vùng giải phóng Nam Kiến Xương2 (Bộ Chỉ huyquân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 - 1954), Hà Nội, 1989, tr. 275), làm rung chuyển cả hệ thống phòng ngự của địch ở phía Nam thị xã Thái Bình. Vào lúc quân ta bước vào đợt 3 của chiến dịch, lực lượng cơ động của địch bị điều đi đối phó ở Hoà Bình nên đã tạo ra những khoảng trống rất lớn ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ. Nắm được thời cơ đó, các đại đoàn 316 và 320 cùng các lực lượng địa phương tiến công liên tiếp, đánh thắng giòn giã, phát động chiến tranh du kích, mở toang vùng địch chiếm, thiết lập hàng chục căn cứ du kích, vùng du kích liên hoàn với nhau, làm đảo lộn thế trận đồng bằng Bắc Bộ theo hướng có lợi cho ta. Sau những cuộc hành quân bị thất bại và trước sức chiến đấu dẻo dai của lực lượng vũtrang của ta, tướng Xalăng phải thốt lên: "Họ là một đội quân biết lấy sức sống của mình từ nhân dân"1 (Sư đoàn 316, Tập 1,Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 77, 82). Đầu tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Đại đoàn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến, mở rộng phạm vi hoạt động. Bản chỉ thị viết: "Địch đánh ra Hoà Bình là để tạo ra sự thay đổi về chiến lược ở Bắc Bộ. Đánh ra được, chúng có khả năng rút lui được. Nhưng rút lui hay không, không phải do chính diện Hoà Bình quyết định mà chính là do vùng sau lưng của chúng bị uy hiếp nhiều hay ít"2 (Sư đoàn 316, Tập 1,Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 77, 82). Trung tuần tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 98 được lệnh vượt sông Đuống, tiến vào hoạt động ở các vùng Tiên Du, Từ Sơn (Bắc Ninh). Đây là những địa bàn quan trọng tiếp giáp với Hà Nội, địch còn kiểm soát và khống chế được nhân dân. Cơ sở kháng chiến và những hoạt động của ta ở vùng này còn yếu. Ngày 22 tháng 2 năm 1952, bộ đội tổ chức tiến công làng tề Đồng Kỵ (Từ Sơn). Đây là một trung tâm tề điệp, ác ôn mà địch đã bỏ nhiều công sức xây dựng. Từ nhiều năm, Đồng Kỵ trở thành bàn đạp đánh phá phong trào cách mạng trong vùng, đồng thời là tấm lá chắn bảo vệ an toàn cho Đường số 1 và thị xã Bắc Ninh. Tối 22 tháng 2, Tiểu đoàn 938 nổ súng đánh vào làng. Địch lợi dụng hầm hào, ngõ ngách và các khu nhà tầng chống trả. Các đơn vị vừa đánh địch vừa dùng loa kêu gọi, giải thích chính sách, quyết tâm giải quyết xong Đồng Kỵ trước khi trời sáng. Đại đội 34 Tiểu đoàn 215 được lệnh chi viện cho Tiểu đoàn 938. Lúc này, sức chống cự của địch đã yếu. Sau khi Đại đội 34 đánh chiếm khu cố thủ giữa làng, ổ đề kháng cuối cùng của địch cũng bị dập tắt. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: ptlinh trong 01 Tháng Chín, 2025, 02:31:57 pm Cùng thời gian này, Trung đoàn 174 vượt sông Thái Bình sang hoạt động tại Bình Giang (Hải Dương), Tiểu đoàn 888 tiến sang Vĩnh Phúc. Cuối tháng 2, khi vào tới Bình Giang, Trung đoàn 174 nhận lệnh chuẩn bị tiêu diệt đồn Vân Độ, một cứ điểm tiền tiêu của tiểu khu quân sự Phương Điếm. Vị trí Vân Độ (tức Đô) án ngữ cả một vùng sông Đĩnh Đào, uy hiếp các xã của Gia Lộc và Bình Giang. Tại đây có một đại đội lính Liên hiệp Pháp đóng giữ, có hoả lực mạnh và công sự boongke kiên cố. Đêm 26 tháng 2, sau khi triển khai xong đội hình, Tiểu đoàn 249 Trung đoàn 174 nổ súng tiến công đồn Vân Độ. Bằng hoả lực áp đảo và lối đánh táo bạo, chỉ trong vòng 40 phút, Tiểu đoàn 249 đã diệt gọn đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Đây là trận đánh có ý nghĩa lớn về quân sự, có tiếng vang về chính trị và tâm lý kể từ ngày Đại đoàn 316 vào Hải Dương. Đây cũng là lần đầu tiên trên địa bàn địch hậu tả ngạn xuất hiện lối đánh dùng sức mạnh hoả lực - xung lực đột phá và tiêu diệt một vị trí kiên cố1 (Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Hải Hưng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng, tác giả tự in, Hà Nội, 1988, tr. 313).
Ngày 23 tháng 4 năm 1952, các hoạt động của Đại đoàn 316 trong vùng sau lưng địch chính thức kết thúc. Sau 5 tháng chiến đấu, Đại đoàn đã cùng lực lượng vũ trang các địa phương mở rộng vùng giải phóng mới rộng trên 300km2 với 107 làng xã, mở đường nói liền giữa các căn cứ của ta từ Hải Dương, Hưng Yên tới Bắc Ninh, Bắc Giang, giành lại kho nhân, vật lực vùng trung du, đồng bằng, góp phần làm thất bại âm mưu chiếm đóng Hoà Bình của địch, đẩy chúng ngày càng lún sâu vào thế bị động chiến lược. Trong khi đó, sau khi đánh một số trận giành thắng lợi Đại đoàn 320 chủ trương đánh đòn quyết định vào hệ thống chiếm đóng Kiến Xương - Tiền Hải của địch. Trước hết là tiêu diệt La Cao - nơi đặt cơ quan chỉ huy của 19 đồn, bao gồm cả Liên hiệp Pháp và vệ sĩ Thiên Chúa giáo thuộc 2 huyện Kiến Xương, Tiền Hải. Đây là trận tiêu diệt đồn lớn đầu tiên bằng xung lực ở Thái Bình của quân và dân ta. Cùng với chiến thắng của Đại đoàn 320, Tiểu đoàn 66 cùng bộ đội huyện và du kích Kiến Xương, Vũ Tiên đã chủ động vây ép, bức hàng, bức rút một loạt 10 đồn tổng dõng, vệ sĩ. Chưa đầy một tháng đánh địch, Đại đoàn 320 và quân, dân Thái Bình đã giải phóng được một vùng rộng lớn bao gồm: Tiền Hải, Kiến Xương và phía Nam Vũ Tiên1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 - 1954), tác giả tự in, Hà Nội, 1989, tr. 276), phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Hệ thống tề dõng - chính quyền cơ sở của địch ở Thái Bình, bị tan rã từng mảng lớn. Hoạt động của Binh đoàn cơ động số 4 cũng không xoay chuyển được tình thế, Bộ Chỉ huy quân Pháp vội điều thêm Binh đoàn cơ động số 7 về Thái Bình, bổ sung lực lượng cho cuộc hành binh Cơraxanh, nhằm đánh Thái Ninh, Thụy Anh, đẩy lui chủ lực Việt Minh, bảo vệ cho quân cảng Hải Phòng. Sáng ngày 15 tháng 2, cuộc hành binh bắt đầu. Trong suốt 5 ngày địch càn quét, bộ đội chủ lực cùng bộ đội địa phương và du kích đã đánh địch quyết liệt tại Ô Trình, Hoành Sơn, Hạ Đồng (Thụy Anh), Vị Dương (Thái Ninh). Tại Hoành Sơn và Hạ Đồng, địch bị tổn thất nặng nhất, mặc dù đã bắn vào khu vực nhỏ này hơn 4.000 quả đạn pháo. Ngày 20 tháng 2, địch buộc phải rút quân. Thừa thắng, các đơn vị chống càn đã bao vây và diệt đồn Trà Linh (Thụy Anh). Trong đợt hoạt động từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1952, Đại đoàn 320 đã cùng quân và dân Thái Bình tiêu diệt, làm bị thương và bắt hàng nghìn tên địch, trong đó có hàng trăm lính Âu - Phi, giải phóng gần hết 4 huyện: Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Tiên, Thái Ninh, khôi phục lại một phần khu du kích Tiên - Duyên - Hưng. Địch phải co vào chống giữ, không tự do hoạt động như trước2 (Tổng cục Chính trị, Tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 281). Sau khi Chiến dịch tiến công Hoà Bình kết thúc, Đại đoàn 320 vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi cán bộ và chiến sĩ. Bộ Tổng Tư lệnh quyết định đề nghị tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Đại đoàn 320. Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Trung đoàn 48 bốn chừ vàng: "Giúp dân đánh giặc" và Trung đoàn 64 được tặng bốn chữ vàng: "Dũng cảm đánh hăng". Có thể thấy, nhờ có chủ trương chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nên lần đầu tiên kể từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định đưa 2 đại đoàn vào hoạt động ở vùng sau lưng địch tại trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Việc đưa 1/3 đại đoàn chủ lực (nếu tính cả Đại đoàn công pháo 351, lúc đó ta có 6 đại đoàn) vào địch hậu, phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương mở mặt trận phối hợp chiến đấu với Mặt trận Hoà Bình buộc quân Pháp phải cùng một lúc đối phó với cuộc tiến công của quân và dân ta trên cả hai mặt trận là thành công lớn của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Vào hoạt động ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, các đại đoàn chủ lực được sự hậu thuẫn to lớn của nhân dân, đã kết hợp nhịp nhàng với lực lượng vũ trang địa phương, trở thành nòng cốt cho các hoạt động "chia lửa" của chiến trường sau lưng địch với chiến trường chính ở Hòa Bình, Đường số 6, sông Đà. Kể từ khi đích nhảy dù đánh chiếm Hoà Bình tới kết thúc chiến dịch, ở đồng bằng Bắc Bộ ta đã giải phóng hơn 4.000km2 đất đai, với gần 2 triệu đồng bào1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 5, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 464). Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ trong nửa cuối năm 1950 và cả năm 1951 của địch bị phá vỡ. Mưu đồ phản công tiêu diệt bộ đội chủ lực ta của thực dân Pháp bị thất bại. Tất cả những thành quả Đờ Lát xây dựng trong một năm đã từng bước bị phá sản. Khối ngụy quân, ngụy quyền tan vỡ từng mảng; trên 1.000 hương đồn, chiếm 3/4 tổng số hương đồn của địch ở đồng bằng Bắc Bộ bị phá vỡ. Nhiều nơi chỉ còn 5 đến 6 ban tề chạy thoát lên vị trí địch chiếm đóng. Tỉnh trưởng ngụy quyền các tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh và Phúc Yên đều chạy trốn về Hà Nội. Cơ sở chính trị và vũ trang của ta cũng phát triển mạnh ở các vùng có đông đảo đồng bào theo đạo Thiên Chúa (kể cả những vùng đạo toàn tòng). Âm mưu lợi dụng thần quyền để chia rẽ lương - giáo, phá khối đoàn kết toàn dân của thực dân Pháp bị đánh bại một bước quan trọng. Tại trung du và đồng bằng Bắc Bộ, chiến tranh du kích có điều kiện phát triển mạnh mẽ, trở thành một cao trào tiến công và nổi dậy, chống phá càn quét, bình định của địch, nhiều khu du kích và căn cứ du kích được mở rộng. Phòng tuyến Đờ Lát với những công sự vững chắc, được xây dựng rất tốn kém cũng không ngăn chặn được các đại đoàn chủ lực của ta xâm nhập vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ. "Đờ Lát đã phải lao vào cuộc chiến gay go và tốn kém và cũng từ đây nước Pháp hoàn toàn mất chủ động buộc phải quay về phòng ngự"1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991,tr. 548). Tướng Xalăng đã phải thừa nhận: "Ngày cũng như đêm từng giờ, từng phút đặt ra cho tôi biết bao vấn đề nan giải. Việc nỗ lực bình định ở châu thổ sông Hồng đã trở nên vô ích, không những quân Pháp không xoá được những chấm đỏ (ký hiệu địch ghi tren bản đồ thể hiện khu du kích và căn cứ du kích của ta) mà ngược lại các căn cứ du kích và khu du kích trong Hoà Bình được mở rộng hơn bao giờ hết"2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991,tr. 548). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:21:04 pm VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH ThS NGUYỄN THỊ MINH HƯƠNG Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống các thể lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập Tổ quốc, ước vọng hòa bình lại càng cháy bỏng trong trái tim mỗi người dân đất Việt. Phụ nữ Việt Nam chính là người nuôi dưỡng mạch nguồn khát vọng đó và hun đúc sâu sắc thêm truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, gìn giữ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam độc lập, Hòa Bình và phát triển. Trong Chiến dịch Hòa Bình (12 1951 - 2.1952), lực lượng phụ nữ đã có đóng góp không nhỏ vào thắng lợi chung. 70 năm đã trôi qua nhưng dấu ấn về Chiến dịch Hòa Bình vẫn là niềm tự hào của các thế hệ phụ nữ Việt Nam. Phụ nữ Việt Nam tham gia Chiến dịch Hòa Bình được thể hiện trên một số nội dung sau: Một là, sự chung sức đồng lòng của phụ nữ đã góp phần đem lại thắng lợi của chiến dịch Sau thất bại tại ở biên giới Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã khiến quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Thực dân Pháp đã chọn phương án đánh chiếm Hòa Bình, địa bàn giáp Thủ đô Hà Nội để giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Ngày 9 và ngày 14 tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp mở hai cuộc tiến công ra Chợ Bến và Hòa Bình nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây", lập phòng tuyến Sông Đà nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4 của ta. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng nhận định tình hình địch và quyết định đề nghị Trung ương mở Chiến dịch Hòa Bình. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596). Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy tranh thủ thời gian để "vừa chuẩn bị vừa ra trận"2 (Những lài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 72) đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ, chiến dịch được chia làm 3 đợt tấn công và buộc quân Pháp phải rút khỏi Hòa Bình. Quá trình chuẩn bị và trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, phụ nữ Liên khu 3, Liên khu 4 và đặc biệt là phụ nữ tỉnh Hòa Bình đã hăng hái tham gia phục vụ chiến dịch. Ở đồng bằng Bắc Bộ, mặt trận sau lưng địch, phụ nữ tham gia du kích, trực tiếp chiến đấu tiêu diệt địch. Cùng với đó, các chị còn tham gia dân công làm đường, tải đạn, tải lương, tải thương... Vượt lên trên sự nguy hiểm đến tính mạng, sự thiếu thốn về vật chất và thể lực nhỏ yếu, phụ nữ vẫn luôn có mặt và góp phần vào thắng lợi của chiến dịch khiến kẻ thù cũng phải khiếp sợ. Tiêu biểu như mế Thanh đã hơn 80 tuổi ở Cao Phong, Kỳ Sơn vẫn tha thiết xin gia nhập đoàn dân công phục vụ chiến dịch, không trực tiếp cầm súng được thì me tình nguyện nấu cơm, đun nước phục vụ bộ đội. Các chị như chị Hữu, chị Khuyên trong Hội Phụ nữ thị xã ngày đêm liên lạc chặt chẽ với bộ đội, cung cấp thông tin về tình hình địch, dẫn đường cho bộ đội, làm công tác địch vận. Tỉnh hội Phụ nữ Hòa Bình trực tiếp đảm nhiệm trạm quân y ở xã Vĩnh Đông. Chị em không ngại gian khổ, hy sinh ngày đêm làm nhiệm vụ tải thương trong chiến đấu, chăm sóc thương bệnh binh. Ở trạm Suối Chuộn, chỉ có 3 chị mà chăm sóc hơn 300 thương binh, có chị nhiều đêm thức trắng lấy thân mình làm điểm tựa cho thương binh nặng chợp mắt, có chị nhận chăm sóc đến 30 thương binh1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 142-143, 138). Tại mặt trận sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, các địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích kết hợp với bộ đội chủ lực, dân quân du kích đánh mạnh tạo điều kiện cho bộ đội tiêu diệt lớn khi có thời cơ. Thời điểm này, phong trào toàn dân hỗ trợ, xây dựng lực lượng vũ trang sôi nổi, rộng khắp đồng bằng Bắc Bộ. Các bà, các mẹ, các chị có "Hội mẹ chiến sĩ", "Hũ gạo kháng chiến" với nhiệm vụ đỡ đầu chiến sĩ, thương bệnh binh, ủng hộ lương thực, thực phẩm cho kháng chiến. Ở khắp các thôn xóm, bản làng, các tầng lớp phụ nữ tham gia tích cực sản xuất, hăng hái vận chuyển vũ khí lương thực, thuốc men phục vụ bộ đội và kháng chiến. Nhiều chị em ngày đêm tham gia bắc cầu, làm đường, làm bè mảng dựng lán trại phục vụ bộ đội hành quân. Nhiều nữ thanh niên các dân tộc xung phong vào các đội tải thương, phục vụ trong các trạm quân y2 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 142-143, 138). Trong những năm tháng lịch sử đó, phụ nữ cùng nhân dân tỉnh Hòa Bình đã thi đua sản xuất, nâng cao năng suất đóng góp hàng tấn gạo và lương thực phục vụ cho bộ đội chiến đấu. Cùng tham gia chiến dịch với Hòa Bình, phụ nữ ở các tỉnh bạn cũng đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị như: Tại Thái Bình, đông đảo phụ nữ giáo dân tham gia vận động binh lính đào ngũ, không làm bia đỡ đạn cho quân Pháp. Để phá âm mưu chia rẽ lương giáo, lôi kéo đồng bào công giáo, phụ nữ Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình đã phối hợp với các tỉnh có đông giáo dân tuyên truyền vận động giúp bà con ổn định tư tưởng, nhận thức đúng về chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, nhận ra bản chất phản động của giặc để đề cao cảnh giác. Song song với các hoạt động hỗ trợ bộ đội chiến đấu, Hội Phụ nữ còn tổ chức vận động nhân dân đấu tranh đòi lại ruộng đất, đắp đê để phát triển sản xuất. Nhiều nơi, chị em bị địch uy hiếp nhưng vẫn bám ruộng, cày cuốc, cắt cỏ đảm bảo sản xuất chuẩn bị lương thực cho các chiến dịch. Các chị đã chiến đấu chống địch bằng nhiều cách, nhiều hình thức. Vùng địch tạm chiếm, giặc vào làng cướp bóc, vơ vét, các bà, các mẹ, các chị lăn xả giằng co, vác gậy đuổi đánh khiến giặc khiếp sợ mà chùn bước. Các tầng lớp phụ nữ đã cùng nhân dân đoàn kết, dũng cảm, bền bỉ đấu tranh chống giặc phá lúa, hoa màu, nhà cửa, dồn làng, dồn dân vào trại tập trung để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần đập tan âm mưu "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của địch. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:23:36 pm Tất cả phụ nữ bất kể vùng tự do, vùng tạm chiếm hay khu du kích đều tham gia dân công phục vụ các yêu cầu kháng chiến như chuyển thóc gạo, vận chuyển vũ khí, chiến lợi phẩm, phục vụ thương binh... Nhiều chị em tham gia dân công dài ngày với nhiều vất vả, khó khăn, Hội Phụ nữ đã kịp thời động viên hỗ trợ. Ở mỗi trung đội, đại đội nữ dân công đều có cán bộ phụ nữ làm công tác giáo dục, động viên, chăm lo sinh hoạt cho chị em. Với tinh thần "tất cả để chiến thắng", phụ nữ và nhân dân Liên khu 3 đã đóng góp rất lớn về sức người, sức của cho các chiến dịch, trong đó có Chiến dịch Hòa Bình. Theo số liệu thống kê, phục vụ cho Chiến dịch Hòa Bình, toàn Liên khu 3 đã huy động hơn 10 triệu lượt dân công, trong đó phụ nữ chiếm 50%1 (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Lịch sử phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1955), Nxb Lao động, Hà Nội, 2000, tr. 221). Hàng nghìn phụ nữ vùng địch tạm chiếm vượt qua những đồn bốt địch, những đoạn sông địch kiểm soát, các cánh đồng chiêm lầy lội để đem đến cho bộ đội những hạt gạo không chỉ thấm mồ hôi mà nhiều khi còn thấm cả máu. Các địa phương đã huy động hàng vạn dân công tham gia phục vụ chiến dịch, trong đó đa phần là chị em phụ nữ, thường xuyên bám đội hình để vận chuyển lương thực, đạn dược ra mặt trận và cáng thương bệnh binh ra tuyến sau...
Không chỉ tham gia các hoạt động tại hậu phương, các bà, các mẹ, các chị em còn tích cực tham gia các hoạt động giao thông liên lạc, một công việc cực kỳ quan trọng trong các chiến dịch. Các bà, các mẹ, các chị em đã vận chuyển vô số công văn, tài liệu, truyền đạt mệnh lệnh, chỉ thị, nắm bắt tình hình, đưa đón cán bộ, chiến sĩ ra vào vùng địch hậu được bí mật, an toàn. Họ đã góp phần rất lớn giữ vững đường dây liên lạc giữa các tuyến trong tỉnh, giữa tỉnh với Liên khu và Trung ương, phục vụ đảm bảo sự lãnh đạo thông suốt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy cam go và quyết liệt. Những người phụ nữ anh hùng đã rất khéo léo, linh hoạt, quyết liệt trong công tác địch vận, ngụy vận, đấu tranh chống địch bất thanh niên, chồng con đi lính. Không chỉ vận động, giúp bà con nhận rõ âm mưu của địch, khuyên họ bỏ ngũ trở về, chưa về được thì trốn tránh không đi càn phá, nếu phải đi thì không bắn phá. Nhiều người dân được vận động đã lập công như cung cấp thông tin về quân số, súng đạn, các kế hoạch chuyển quân, càn phá của địch... Các bà, các mẹ, các chị em còn tham gia các đội nữ du kích trực tiếp chiến đấu với sự kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Các hình thức đánh du kích như đánh mìn, làm hố chống,cạm bẫy... đã được các chị em chủ động tìm địch đánh bằng vũ khí thô sơ, những dụng cụ có tại chỗ. Họ đã cùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đánh công đồn, diệt bốt địch mở rộng khu du kích, đánh phá địch càn quét, giành nhiều thắng lợi lớn. Các chị em tham gia đội nữ du kích đồng bằng Liên khu 3 là nữ nông dân, hội viên phụ nữ cứu quốc ưu tú, các chị tham gia ban chỉ huy thôn xã, nhiều chị đã vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các chị kiên cường đánh giặc, không chịu khuất phục trước kẻ thù tàn bạo, giữ vững truyền thống anh hùng, bất khuất của phụ nữ Việt Nam, của người chiến sĩ, người đảng viên Đảng Cộng sản. Đó chính là truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh, sự giác ngộ cách mạng, quyết tâm theo Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả nước chiến đấu, giành độc lập, tự do, bình đẳng. Chiến dịch Hòa Bình thắng lợi đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, âm mưu lập lại "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp trên đất Hòa Bình, giải phóng 5.000km2 đất đai khu vực Hoà Bình - sông Đà với gần 2 triệu dân, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4; đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp1 (http://tinhuyhoabinh.vn/chuyenmuc/chitietchuyenmuc/tabid/236/title/2518/ctitle/299/TopMenuĩd/276/cMenu0/276/cMenul/292/cMenu2/299/Default.aspx). Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các chiến sĩ Mặt trận Hoà Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"1 (https://edu.viettel.vn/vtu-xuyenmoc-thhuynhrninhthanh/tai-nguyen-day-hoc/bai-viet/lich-su-viet-nam/su-kien-lich-su/chien-dich-hoa-binh-1951-1952.html). Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa vô cùng quan trọng, sau này Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: "Không có Chiến dịch Hòa Bình thì sẽ không có chiến thắng ở Hồng Cúm, Him Lam, Độc Lập..."2 (http://www.baohoabinh.coin.vn/231/141199/Chien-dich-Hoa-Binh-ghi-dau-su-tham-bai-cua-quan-Phap.htm). Trong chiến thắng đó có sự đóng góp không nhỏ của nhiều tầng lớp chị em phụ nữ tại Hòa Bình và các địa phương lân cận. Các bà, các mẹ, các chị, các em với tinh thần yêu nước tha thiết, sự nhân ái, đôn hậu cùng truyền thống đảm đang, anh hùng, dù ở vùng tự do, vùng căn cứ du kích hay tạm chiếm đều không ngại gian khổ, hy sinh, tích cực tham gia kháng chiến, chăm nuôi bộ đội, thương binh, hăng hái đi dân công, phục vụ các chiến dịch. Ở mặt trận nào, các bà, các mẹ, các chị em cũng hết lòng chăm sóc, bảo vệ cán bộ, bộ đội, đóng góp sức người, sức của, làm tròn trách nhiệm nghĩa vụ của người công dân với kháng chiến thể hiện tha thiết niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến trường kỳ của cả dân tộc. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:25:13 pm Hai là, phát huy thành quả Chiến dịch Hòa Bình phụ nữ Việt Nam góp phần tham gia giữ vững chủ quyền biên giới, hải đảo và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay
Chiến dịch Hòa Bình với sự tham gia đóng góp không nhỏ của các tầng lớp phụ nữ - một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng, lực lượng không thể thiếu trong chiến dịch. Phát huy truyền thống rạng ngời non sông của con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam tiếp tục cùng với Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững chủ quyền biên giới, hải đảo và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Nhận thức đúng đắn về vai trò, tiềm lực của phụ nữ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách nhằm tạo cơ hội cho người phụ nữ khẳng định vị thế của mình. Sự chăm lo, thiết thực của Đảng và Nhà nước là niềm động viên to lớn, cổ vũ, khích lệ các tầng lớp phụ nữ phát huy truyền thống tốt đẹp, đoàn kết, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Tiếp bước truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ, trong nhiều năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động nhiều phong trào thi đua, cuộc vận động nhằm phát huy cao nhất tinh thần tự hào, tiềm năng, sức sáng tạo của phụ nữ Việt Nam hướng tới "xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển toàn diện", rèn luyện các phẩm chất đạo đức "tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang" gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời cùng chung sức, chung lòng thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương... Các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các đơn vị Quân đội đã đồng hành, phối hợp triển khai nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, dân trí cho cán bộ, hội viên, phụ nữ và cộng đồng vùng biên giới, hải đảo - góp phần tăng tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được đến trường ngày càng cao, hỗ trợ học bổng, vận động hàng nghìn trẻ em bỏ học quay lại trường học. Xây dựng nhiều mô hình phát triển kinh tế gia đình giúp đồng bào phát triển sản xuất, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, từng bước xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, đem lại sự khởi sắc cho những vùng đất nơi biên cương của Tổ quốc. Phụ nữ là điểm tựa vững chắc, do đó, các cấp Hội đã tổ chức nhiều hoạt động chăm lo cho đời sống vật chất và tinh thần cho chiến sĩ và gia đình chiến sĩ. Thường xuyên thăm hỏi, động viên, tặng quà các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo. Cùng với đó, quan tâm làm tốt công tác chăm sóc, phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình chính sách... Tất cả nhằm để các chiến sĩ ấm lòng, giữ vững tay súng, yên tâm công tác nơi biên giới, hải đảo xa xôi của Tổ quốc. Với tinh thần "uống nước nhớ nguồn", nhiều năm qua, các cấp Hội Phụ nữ đã triển khai các hoạt động thiết thực như: Nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; chăm sóc, đỡ đầu gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng; hỗ trợ mẹ, vợ, con cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thể hiện trách nhiệm, tấm lòng, tình cảm cao đẹp, sự tri ân của người phụ nữ Việt Nam. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đối với cán bộ, chiến sĩ và những người dân đã và đang tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Chương trình "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương" giai đoạn 2018 - 2020 đã trở thành điểm sáng thể hiện sự chung tay của các tầng lớp phụ nữ, nhân dân và lực lượng chiến sĩ Biên phòng Được phát động thực hiện từ năm 2018, đến nay sau hơn 2 năm thực hiện, Chương trình đã huy động được hơn 110 tỷ đồng1 (Trong đó: Hỗ trợ gần 10 nghìn con giống, hỗ trợ vốn vay gần 4 tỷ đồng, gần 1 nghìn công trình dân sinh, gần 300 mái ấm tình thương, trên 70 nghìn suất quà tặng 7 nghìn suất học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, tổ chức gần 500 lớp tập huấn truyền thông nâng cao năng lực cho phụ nữ, tổ chức khám chữa bệnh cho gần 15 nghìn người...) với nhiều hoạt động hỗ trợ cụ thể cho 155 xã biên giới đặc biệt khó khăn (vượt 65 xã so với kế hoạch). Trong đó, riêng số tiền vận động qua cổng thông tin nhân đạo 1400 là gần 4 tỷ đồng để hỗ trợ mô hình sinh kế tại 39 xã thuộc Chương trình. Hiện nay, 100% các xã biên giới, hải đảo của 44 tỉnh, thành đều có hội phụ nữ cơ sở. Hoạt động của các cấp Hội đã tập trung ưu tiên cho các xã, các thôn, bản biên giới vùng sâu, vùng xa, chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hoá các loại hình sinh hoạt nên nhiều cơ sở Hội phụ nữ có tỷ lệ hội viên tham gia sinh hoạt cao. Kết quả của Chương trình cũng mở ra một chặng đường đồng hành tiếp theo dài hơi hơn với các hoạt động được củng cố, phát triển phù hợp với tình hình mới đang diễn ra trên tuyến biên giới địa đầu của Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước đang trải qua giai đoạn khó khăn, thử thách chống đại dịch COVID-19, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam trên khắp mọi miền Tổ quốc đã phát huy truyền thống tốt đẹp, đoàn kết, đồng lòng, vượt lên gian khó, thử thách, bằng những việc làm, hành động thiết thực đã chia sẻ, động viên, khích lệ cán bộ, hội viên, phụ nữ, đặc biệt là các chị em vùng tâm dịch vững vàng, lạc quan, quyết tâm chống dịch. Nhiều chương trình, mô hình thể hiện tinh thần tương thân tương ái như "Triệu phần quà san sẻ yêu thương", "Gian hàng 0 đồng", "Phiên chợ Online", "Tất cả vì miền Nam thân yêu"... đã được các cấp Hội triển khai kịp thời, hỗ trợ, cung cấp nhu yếu phẩm cho phụ nữ, người dân khó khăn bởi dịch bệnh COVID-19. Hàng triệu suất ăn mang trọn tình cảm hậu phương được gửi đến các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại các khu Cách ly, các chốt kiểm dịch. Bên cạnh đó, phụ nữ tiếp tục là hậu phương trực tiếp ngay trong tâm dịch khốc liệt nhất. Chương trình "Đồng hành vượt cạn" mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc do Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đã góp phần san sẻ gánh nặng lo toan cho hàng nghìn thai phụ có hoàn cảnh khó khăn tại Thành phố. Phụ nữ Việt Nam trên tuyến đầu hay hậu phương đều là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phối hợp và hỗ trợ. Điều đó một lần nữa khẳng định tinh thần đoàn kết, yêu nước, nhân hậu, "thương người như thể thương thân", không ngại gian khó của dân tộc Việt Nam. 70 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay với những thành tựu đáng tự hào, từng bước sánh vai cùng các cường quốc, nhưng ký ức về cuộc chiến khốc liệt,những chiến công, sự hy sinh anh dũng, ý chí chiến đấu của hàng vạn anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh, trong đó có không ít chị em phụ nữ vẫn mãi được lưu giữ trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam. Trong những tháng ngày này, chiến sĩ, nhân dân và phụ nữ cả nước lại hướng về kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Hòa Bình năm 1951, cùng ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đồng hành cùng phong trào phụ nữ cả nước phát huy vai trò, tiềm năng của các tầng lớp phụ nữ, nỗ lực học tập, lao động sáng tạo để viết tiếp truyền thống của các thế hệ phụ nữ Việt Nam anh hùng và cùng xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, hòa bình và phát triển. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:29:26 pm LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, ThS ĐỖ MẠNH CƯỜNG Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Từ cuối năm 1950, nhằm tiếp tục chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny), Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương thực hiện ý định phòng ngự và binh định đồng bằng Bắc Bộ bằng cách gấp rút tập trung lính Âu - Phi, xây dựng các binh đoàn cơ động chiến lược, phát triển quân ngụy. Với nhận định: "Bắc Bộ quyết định số phận Đông Dương"1 (Trận đánh 30 năm, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 2), Đờ Lát xây dựng tuyến phòng thủ bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, "gồm 113 vị trí với 1.300 lô cốt do 20 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng, cùng với một "vành đai trắng" ở ngoài rộng từ 5 đến 10km"2 (Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 124); đồng thời, sử dụng lực lượng lớn tổ chức càn quét, lùng diệt lực lượng vũ trang của ta. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, Đờ Lát huy động 20 tiểu đoàn bộ binh tiến công ra Hòa Bình, hòng kéo chủ lực ta ra nơi chúng chuẩn bị sẵn để tiêu diệt, nối lại hành lang Đông - Tây. Để đánh bại âm mưu của địch, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Chỉ thị xác định: "Lúc này là cơ hội rất tốt cho chiến tranh du kích ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng Hà phát triển, hoạt động mạnh mẽ và liên tiếp để tiêu diệt địch, khôi phục, củng cố và mở rộng căn cứ du kích. Đó cũng là cơ hội tốt để tiến hành công tác vận động ngụy binh"1 (Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dượng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 145, 146). Đối với quân và dân đồng bằng Bắc Bộ, đây là cơ hội thuận lợi để "uy hiếp hệ thống chiếm đóng của địch, uy hiếp các đường giao thông quan trọng, các đô thị làm tê liệt tinh thần ngụy quân, ngụy quyền, dìu dắt nhân dân"2 (Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dượng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 145, 146). Tháng 11 năm 1951, Hội nghị Liên khu ủy 3 họp, đề ra nhiệm vụ cho bộ đội địa phương. Trên cơ sở đó, Bộ Tư lệnh Liên khu 3 giao nhiệm vụ cho các tỉnh: Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên và Kiến An: Củng cố cơ sở du kích xã; khôi phục các căn cứ du kích bị mất, củng cố và mở rộng các căn cứ du kích mới; củng cố cơ sở chính trị. Tiếp đó, ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng quán triệt nhiệm vụ, xác định Kế hoạch Đông - Xuân nhằm đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, tập trung đánh mạnh sau lưng địch, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của chúng, tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích. Các đơn vị, địa phương khẩn trương triển khai chuẩn bị chiến đấu. Ở các tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương và Kiến An, các đơn vị bộ đội địa phương được lệnh luồn sâu vào vùng tạm chiếm đánh địch. Các thị xã Hà Đông và Sơn Tây vừa huy động nhân tài vật lực bảo đảm cho các đại đoàn chủ lực tác chiến trên mặt trận chính diện vừa tích cực chuẩn bị đánh địch ngay tại địa phương, phát triển chiến tranh du kích3 (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu III (1945 - 1955), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 301). Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch tiến công Hòa Bình mở màn bằng trận đánh công kiên vào cứ điểm Tu Vũ của Trung đoàn 88 Đại đoàn 308. Cùng thời gian, quân và dân đồng bằng Bắc Bộ cũng mở đợt tiến công địch. Ở Hữu ngạn, Bộ Tư lệnh Liên khu 3 sử dụng 2 trung đoàn chủ lực cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến ở Hà Nam, Nam Định. Tại Hà Nam, đêm mùng 10 rạng sáng ngày 11 tháng 12, được sự giúp đỡ của nhân dân và phối hợp của 2 tiểu đoàn Hưng Công và Đồng Mít thuộc Trung đoàn 64, lực lượng vũ trang tỉnh tiến công vị trí Ngô Khê (Bình Lục). Sau gần 4 giờ chiến đấu, ta buộc địch phải đầu hàng. Trong ngày 11 tháng 12, địch điều 1 đại đội biệt kích từ Phủ Lý đến tiếp viện, bị bộ đội ta chặn đánh tại làng Tái Kênh (Thanh Liêm), diệt 60 tên. Ngày 12 tháng 12, địch tập trung ở Đường số 21 (địa phận Bình Lục) theo sông Sắt tới giải vây cho An Bài, Hàng Mạc, cũng bị ta chặn đánh, diệt khoảng 100 tên. Hệ thống ngụy quân, ngụy quyền địa phương rung chuyển. Nhiều ban tề ở An Nông, Thọ Vực (Duy Tiên) phải lánh vào khu vực địch kiểm soát. Hai khu du kích Lý Nhân và Duy Tiên được khôi phục và nối liền, có 200 ngụy binh bỏ ngũ. Sau gần một tháng hoạt động, quân và dân tỉnh Hà Nam tiêu diệt 45 vị trí tề vũ trang, phá trên 300 trong tổng số 380 ban tề1 (Dẫn theo: Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Hà Nội, 1991, tr. 541). Lực lượng vũ trang Hà Nam kiện toàn 3 đại đội, xây dựng 1 đại đội; mỗi huyện kiện toàn 2 trung đội và xây dựng 1 trung đội, với vũ khí trang bị tương đối đầy đủ. Ở Nam Định, quân và dân ta tổng phá tề, mở rộng khu du kích trong hai huyện Giao Thủy, Hải Hậu, 10 xã của huyện Trực Ninh, miền hạ huyện Nghĩa Hưng, 5 xã của huyện Ý Yên, 10 xã ở huyện Vụ Bản, 2 xã ở huyện Mỹ Lộc. Đêm 28 tháng 12 năm 1951, lực lượng vũ trang địa phương cùng với Trung đoàn 52 tiến công Hải Lạng, Phù Sa và bốt Nam Trực. Tiểu đoàn 66 đánh bốt Ngoại Đê (huyện Nam Trực). Sự xuất hiện của chủ lực đã làm địch hoang mang. Binh lính ở Phù Sa, Liễu Đề bỏ đồn tháo chạy. Phát huy thắng lợi, Huyện ủy Nghĩa Hưng lãnh đạo quân, dân địa phương diệt vị trí dõng vũ trang Chương Nghĩa và phá tan tổ chức hội tề ở miền trung huyện Nghĩa Hưng. Cũng trong đêm, các đại đội 91 và 33 phát triển nhanh về xã Thiện Đạo, huyện Trực Ninh, tiến công bốt dõng Ngoại Đông. Thấy quân ta đến, địch vượt sông Rõng rút chạy về bốt Thái Lãng (xã Trực Nội). Đêm 29 và ngày 31 tháng 12, các đại đội này tổ chức tiến đánh bốt Nam Long (xã Trực Tuấn)1 (Dẫn theo: Đảng ủy - Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Nam Định, Nam Định - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.tr. 178). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:31:52 pm Tại Hưng Yên, ngày 16 tháng 12 năm 1951, ta triển khai đợt hoạt động ở Ân Thi. Đại đội 22 chủ lực tỉnh cùng lực lượng vũ trang huyện và dân quân, du kích diệt đồn Đới Khê, Đặng Xuyên, Cổ Lễ. Tiếp đó, diệt đồn Lưu Xá;(ngày 19 tháng 12). Ở Kim Động và thị xã Hưng Yên, ngày 17 tháng 12 năm 1951, Đại đội 21 huyện Kim Động diệt 2 đồn bảo chính đoàn tại Tượng Cước Phái Thủy. Ngày hôm sau, ta diệt tiếp vị trí Tiên Cầu, cắt Đường số 39. Cùng ngày, Đại đội 27 diệt đồn Thanh Sâm, Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 diệt các đồn hương dũng Đỗ Xá, Ngô Xá, An Xá và đồn bảo chính đoàn Lôi Cầu. Hướng các huyện: Phù Cừ,Tiên Lữ và Khoái Châu, bộ đội địa phương, dân quân, du kích được Trung đoàn 42 hỗ trợ đồng loạt nổi dậy phá nhiều hương đồn, tháp canh, giải phóng nhiều khu vực2 (Dẫn theo: Hội đồng chỉ đạo biên soạn công trình lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả ngạn sông HồngT Lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả ngạn sông Hồng 1945 -1954, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 310).
Tại Kiến An, phong trào chiến tranh du kích bùng lên mạnh mẽ. Ở Tiên Lãng, Đại đội 61 phục kích địch ở xã Vinh Quang, bắt 12 tên; sau đó, phục kích ở Xuân Úc diệt 1 tiểu đội địch, tạo khí thế phấn khởi trong nhân dân. Tại tỉnh Bắc Ninh, sáng 10 tháng 12, do chưa biết đồn Thứa đã bị tiêu diệt, địch cho 1 tiểu đội từ Phương Xá (cách Thứa 50km) đến thăm dò. Chúng lọt vào trận địa phục kích của ta và bị bắt gọn. Bộ Chỉ huy quân Pháp hết sức lúng túng, vội điều một lực lượng từ Hoà Bình về để đối phó. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, Binh đoàn cơ động số 7 (GM7), có xe tăng và pháo binh yểm trợ cơ động theo Đường số 20 càn quét khu Cổ Lãm, Lĩnh Mai thuộc huyện Gia Lương làm bàn đạp tiến công chiếm lại Thứa, bị du kích địa phương kết hợp với Tiểu đoàn 215 chủ lực chặn đánh, tiêu hao nhiều sinh lực địch. Sau khi phản kích địch và chuyển hết số thương binh, tử sĩ ra ngoài, đơn vị rút khỏi làng an toàn. Những ngày sau, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với chủ lực tiếp tục chặn đánh các cánh quân của địch càn quét các vùng Đoàn, Gia Phó, Lĩnh Mai, Ngụ, Triện, diệt trên 300 tên, trong đó có 1 quan tư và 2 quan ba. Nhận thấy trận càn không đạt mục đích, lại bị uy hiếp ở tuyến sau, địch vội vã rút lui. Tranh thủ sự hỗ trợ của các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương ra sức xây dựng cơ sở, phát động chiến tranh du kích, gây dựng được cơ sở mới. Nhân dân kêu gọi con em đang ở trong hàng ngũ địch trở về với kháng chiến. Ở tỉnh Ninh Bình, ta tiêu diệt 2/3 quân địch chiếm đóng, phá 128 trong tổng số 138 ban tề, giải phóng hầu hết huyện Yên Mô, mở Khu du kích I và II gồm 13 xã thuộc huyện Kim Sơn, nối liền khu du kích Khánh Trung, Khánh Hội, Khánh Vân (huyện Yên Khánh), Yên Lạc (huyện Yên Mô) mở đường cho chủ lực vượt sông Đáy đánh vào vùng địch hậu. Ta đã giải tán 115 ban tề, cả tỉnh chỉ còn lại 6 ban tề1 (Dẫn theo: Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Hà Nội, 1991, tr. 542). Cuối tháng 12 năm 1951, sau khi mở rộng vùng giải phóng, tạo bàn đạp đứng chân ở Ninh Bình, Thường vụ Liên Khu ủy 3 và Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng quyết định cho Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 tiến sâu vào vùng địch hậu phía Nam Nam Định, cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích và mở đường chuẩn bị vượt sông Hồng đánh sang Tả Ngạn1 (Dẫn theo: Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 315). Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở đồng bằng Bắc Bộ buộc thực dân Pháp phải phân tán lực lượng đối phó cả ở mặt trận phía trước và phía sau. Cuối năm 1951, tin thất bại ở Hoà Bình làm cho nhân dân Pháp càng mất niềm tin vào thắng lợi ở Đông Dương. Phiên họp Quốc hội Pháp ngày 23 tháng 12 công bố: 26.000 người Pháp chết, trong đó có 1.000 sĩ quan, 36.000 người bị thương kể từ 23 tháng 9 năm 1945 đến cuối tháng 12 năm 1951. Số đông nghị sĩ Pháp muốn hoãn chuẩn chi ngân sách cho đội quân viễn chinh. Tuy vậy, cuối cùng ngân sách vẫn được thông qua và Chính phủ Pháp còn khen ngợi binh sĩ chiến đấu ở Hoà Bình hòng che đậy cho sự lúng túng và thất bại về chiến lược. Đầu tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy nhận định: "Bộ đội địa phương và dân quân du kích hoạt động mạnh, có hiệu quả. Căn cứ du kích được phục hồi và mở rộng. Địch bị thiệt hại nặng phải điều quân từ Pháp sang và từ Trung Bộ, Nam Bộ ra, rút bớt một số vị trí co hẹp phạm vi chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ bổ sung cho số quân bị tổn thất nên địch hậu cầng sơ hở"2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chong Pháp, Ha Nội, 1991, tr. 542). Tổng Quân ủy chỉ thị cho các chiến trường phối hợp "tích cực hoạt động phối hợp với chiến trường chính, chuẩn bị chống địch càn quét". Ngày 20 tháng 1 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Đẩy mạnh du kích chiến tranh trên chiến trường Bắc Bộ". Chỉ thị xác định nhiệm vụ tích cực phát triển và củng cố cơ sở đẩy mạnh phong trào du kích, đặc biệt chú trọng xây dựng căn cứ. Thực hiện Chỉ thị, Thường vụ Liên khu ủy 3 và Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng đẩy mạnh hoạt động của chủ lực trong vùng địch tạm chiếm, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Ở tả ngạn, cuối năm 1951, đầu năm 1952, lực lượng vũ trang địa phương chủ động tác chiến, diệt nhiều vị trí địch. Ngày 24 tháng 1, địch cho quân càn quét Nam Sách. Tiểu đoàn Bạch Đằng (chủ lực tỉnh Quảng Yên) chiến đấu chống càn, diệt 300 tên, phối hợp với dân quân Nam Sách bức rút các đồn và tháp canh còn lại trên Đường số 17, giải phóng phần lớn huyện1 (Dẫn theo: Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Hải Hưng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng, Hà Nội, 1988, tr. 310), mở một vùng du kích mới nối liền với địa bàn nam tỉnh Bắc Ninh. Cùng thời gian, một bộ phận Trung đoàn 98 phối hợp với dân quân, du kích bao vây bức hàng vị trí Mão Điền, thu 30 súng, giải tán 80 nhân viên nguỵ quyền. Tiểu đoàn Thiên Đức (chủ lực tỉnh Bắc Ninh) đánh đồn Tiêu Xá thắng lợi. Sau một thời gian hoạt động, với sự hỗ trợ của chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương cắt Đường số 38, diệt các đồn Thiên Thai, Lạc Thổ và uy hiếp Đường số 5, mở rộng vùng du kích. Sáng ngày 26 tháng 1 năm 1952, trên 100 chiếc xe của địch chở 3 tiểu đoàn từ cầu Đuống theo Đường số 38 tiến vào Đông Côi (tỉnh Thái Bình). Để chặn đánh địch, lực lượng dân quân du kích phối hợp với chủ lực bố trí sẵn ở ven Đường số 38 và xung quanh Đông Côi. Phát hiện trận địa của ta, địch dừng lại và tổ chức tiến công vào làng. Ta kiên cường đánh trả địch, giữ vững trận địa và bắn cháy 1 xe bọc thép. Khi địch tăng cường lực lượng tiến công, ta sử dụng 1 trung đội đánh tạt sườn, một bộ phận khác phản kích chính diện. Bị ta đánh dữ dội từ hai phía, địch bỏ chạy về Lạc Thổ. Trận này, địch bị tiêu diệt 2 đại đội địch; riêng Tiểu đoàn Bécsu (thuộc Binh đoàn cơ động số 2 - GM2) bị tiêu hao trên 100 tên. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:34:07 pm Thực hiện chủ trương mở rộng mặt trận sau lưng địch, Thường vụ Liên Khu ủy 3 và Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng quyết định đưa Đại đoàn 320 và các trung đoàn 42 và 46 vào hoạt động trong vùng địch hậu. Phương châm tác chiến là kết hợp chặt chẽ hoạt động của chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp tiến công quân sự với vận động chính trị, liên tiếp đánh địch và bồi dưỡng lực lượng kháng chiến.
Để đối phó với các hoạt động mạnh của quân và dân ta, địch vội vã điều Binh đoàn cơ động số 4 từ Hoà Bình về vùng đồng bằng, mở nhiều cuộc càn quét nhỏ thăm dò, cản bước tiến của quân ta. Cuối tháng 12 năm 1951, một tiểu đoàn của Trung đoàn 42 tăng cường cho Thái Bình, cùng Tiểu đoàn 38 của tỉnh tiến vào Phụ Dực, Thụy Anh. Ngày 1 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 648 Trung đoàn 42 diệt đồn Đồng Bằng và phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt, bức hàng một loạt vị trí như Đào Động, Đại Điền, Vọng Lỗ, Thanh Mai, Lý Xá, An Hải, Tô Đê ở huyện Phụ Dực, gọi hàng vị trí Công giáo Phục Lỗ ở Quỳnh Côi. Khu du kích của Phụ Dực được mở rộng thêm ở Tô Công, Tô Xuyên, Tô Hải, Tân Tiến1 (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Quân khu 3, Trung đoàn 42 trung dũng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 180). Ngày 4 tháng 1 năm 1952, trên đường hành quân chuẩn bị vượt sông Đáy, Tiểu đoàn 884 (Trung đoàn 48) và một bộ phận của Tiểu đoàn pháo 834 về trú quân tại làng Tiên Yên (huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình). Qua điện đài của cấp trên, Tiểu đoàn 884 nắm được địch điều Binh đoàn cơ động số 4 từ Hoà Bình về, phối hợp với lực lượng ứng chiến địa phương, tập trung thành 8 tiểu đoàn, có máy bay, pháo binh, tàu chiến yểm trợ, từ nhiều hướng bao vây khu tập kết của Tiểu đoàn1 (Dẫn theo: Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc, Lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc, tập 1, Hà Nội, 1985, tr. 238). Do có sự chuẩn bị trước, Tiểu đoàn 884 cùng lực lượng vũ trang địa phương chủ động chiến đấu, bẻ gãy hàng chục đợt tiến công của địch, tiêu diệt và bắt gần 200 tên, phá huỷ 2 xe bọc thép và 2 khẩu pháo 37mm, thu hàng trăm trung liên, đại liên, súng trường và nhiều quân trang quân dụng2 (Dẫn theo: Sư đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 254), buộc chúng phải rút lui. Trong lúc Binh đoàn cơ động số 4 - GM4 bị ta đánh thiệt hại nặng thì từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 1, Trung đoàn 42 tổ chức phục kích địch ở Đỗ Xá (Đường số 21), Liễu Đề và bến Tam Toà giành thắng lợi. Riêng trận Đỗ Xá, ta bắt 39 tên hạ sĩ quan Pháp vừa tốt nghiệp ở Trường Nam Định ra. Ngày 14 tháng 1, Binh đoàn cơ động số 4 sử dụng 1 đại đội Âu - Phi giải vây cho địch ở Đông Biên (Hải Hậu) đang bị Tiểu đoàn 337 uy hiếp. Nhận được tin, Tiểu đoàn 337 phục kích tại làng Kiên Trung (gần Đông Biên), tiêu diệt Đại đội 15 thuộc Tiểu đoàn Âu - Phi số 2, bắt 46 tên, phá huỷ 5 xe quân sự, thu hơn 200 khẩu súng và toàn bộ quân trang quân dụng cùng 1 hòm tiền đựng 50.000 đồng Đông Dương3 (Dẫn theo: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 180, 171). Trong nửa tháng hoạt động ở Nam Định, được sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị thuộc Đại đoàn 320, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã phá 80 ban tề, giải phóng hàng trăm kilômét vuông và hàng chục nghìn dân, tạo điều kiện cho Đại đoàn 320 vượt sông Hồng sang Tả Ngạn4 (Dẫn theo: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 180, 171). Đêm 13 tháng 1 năm 1952, các bộ phận còn lại của Đại đoàn 320 cơ động vào địch hậu. Nhân dân các xã ven sông dùng 500 thuyền đưa bộ đội vượt sông Đáy. Ngày 17 tháng 1 năm 1952, cánh quân thứ nhất của Đại đoàn 320 đặt chân lên đất Thái Bình. Bộ Tư lệnh Đại đoàn 320 đặt Sở Chỉ huy ở làng Kiến Xá, huyện Thư Trì. Ngày 26 tháng 1, Tiểu đoàn Đống Đa của Đại đoàn cùng đội du kích Nguyễn Thị Chiên và nhân dân xã Tản Thuật (Kiến Xương) phục kích địch ở Thanh Nê, bắt một trung đội Âu - Phi. Trận mở màn thắng lợi đã gây tiếng vang lớn. Tinh thần binh lính trong các đồn bốt ngụy và vệ sĩ công giáo hoang mang, lo sợ. Thừa thắng, Tiểu đoàn Đống Đa, được sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương tiến công diệt đồn An Bồi và quận lỵ Tiền Hải, mở rộng vùng giải phóng Nam Kiến Xương1 (Dẫn theo: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 - 1954), Hà Nội, 1989, tr. 275), làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của địch ở phía Nam thị xã Thái Bình. Tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị nhấn mạnh vai trò của chiến trường vùng địch hậu đối với Mặt trận Hoà Bình: "Địch đánh ra Hoà Bình là để tạo ra sự thay đổi về chiến lược ở Bắc Bộ. Đánh ra được, chúng có khả năng rút lui được. Nhưng rút lui hay không, không phải do chính diện Hoà Bình quyết định mà chính là do vùng sau lưng của chúng bị uy hiếp nhiều hay ít"2 (Sư đoàn 316, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 82). Sau khi đánh một số trận giành thắng lợi, Đại đoàn 320 chủ trương đánh đòn quyết định vào hệ thống phòng ngự của địch ở Kiến Xương - Tiền Hải. Ngày 31 tháng 1 năm 1952, ta nổ súng tiến công La Cao, diệt và bắt 2 trung đội và chỉ huy đồn, trong đó có tên đồn trưởng. Tin La Cao thất thủ khiến địch ở các đồn Vũ Lăng, Giáo Nghĩa (Kiến Xương) ra hàng; địch ở đồn Trà Lý (Tiền Hải) rút chạy. Nhân đà thắng lợi, Tiểu đoàn 66 cùng bộ đội huyện và du kích Kiến Xương, Vũ Tiên vây ép, bức hàng, bức rút 10 đồn. Chưa đầy một tháng, quân và dân Thái Bình đã giải phóng một vùng rộng lớn bao gồm: Tiền Hải, Kiến Xương và phía Nam Vũ Tiên1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 -1954), Hà Nội, 1989, tr. 276), phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Hệ thống chính quyền cơ sở của địch tan rã từng màng. Phía Bắc Đường số 10, bộ đội địa phương và du kích tiến công bức hàng, bức rút một loạt vị trí: An Lạc, Đồng Phú, Hải An, đồn Bào chính đoàn Tạ Xá (Tiên Hưng). Địch ở các đồn cầu Phán (Quỳnh Côi), Nguyệt Lãng (Thư Trì) hoảng sợ rút chạy. Trước thất bại liên tiếp của Binh đoàn cơ động số 4, Bộ Chỉ huy Pháp điều thêm Binh đoàn cơ động số 7 về Thái Bình, bổ sung lực lượng cho cuộc hành binh Cơraxanh, nhằm tiến công Thái Ninh, Thụy Anh, kéo giãn chủ lực Việt Minh, bảo vệ cho quân cảng Hải Phòng. Sáng 15 tháng 2, cuộc hành binh bắt đầu. Trong suốt 5 ngày địch càn quét, 2 tiểu đoàn Kiên Trung, Thanh Lũng (Trung đoàn 42) cùng bộ đội địa phương và du kích đã chặn đánh địch tại Ô Trinh, Hoành Sơn, Hạ Đồng (Thụy Anh), Vị Dương (Thái Ninh), gây cho địch tổn thất nặng nề. Ngày 20 tháng 2, địch phải rút quân. Thừa thắng, các đơn vị bao vây và diệt đồn Trà Linh (Thụy Anh). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:35:28 pm Ở Hải Dương, cuối tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 42 (thiếu Tiểu đoàn 664) cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích Hải Dương đồng loạt tiến công, diệt 21 vị trí hương dõng ven Đường số 5, thuộc huyện Bình Giang. Cuối tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 42 tiến công tiêu diệt cứ điểm Hoành Bồ (Thanh Miện). Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Hải Dương và các huyện ủy, lực lượng vũ trang địa phương quét sạch hệ thống tề dõng ở Bắc Thanh Hà, Nam Cẩm Giàng, đánh mìn lật đổ 1 đoàn tàu ở Kim Thành và cùng nhân dân trong vùng phá Đường số 5, làm tê liệt hoạt động vận chuyển đường bộ của địch.
Tại Hưng Yên, từ ngày 13 đến ngày 26 tháng 2, Tiểu đoàn 664 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tiến công tiêu diệt các vị trí Chợ Thi (Ân Thi), Cao Má (Phù Cừ), Lạc Thuỷ (Khoái Châu) và bao vây bức hàng một loạt vị trí hương dõng, tạo điều kiện cho nhân dân hai huyện Ân Thi, Khoái Châu giành quyên làm chủ. Tỉnh uỷ Hưng Yên còn huy động nhân dân phá hai đường số 5 và 39, đấp ụ trên đê sông Hồng và tổ chức lực lượng tiến sâu vào các vùng địch tạm chiếm tại Mỹ Hào, Vân Giang, vận động chính trị, xây dựng cơ sở. Sáng 23 tháng 2, địch rút khỏi thị xã Hòa Bình. Được tin, Liên khu ủy III và Bộ Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng chỉ đạo lực lượng vũ trang và nhân dân tranh thủ tiến công tiêu diệt sinh lực địch, tích cực thực hiện kế hoạch phát triển và củng cố vùng du kích và căn cứ du kích. Ngày 27 tháng 2 năm 1952, địch điều 1 tiểu đoàn từ Hải Dương xuống cứu Vân Độ. Hai đại đội của tỉnh và bộ đội huyện Gia Lộc tổ chức chặn đánh, diệt nhiều địch, bắt 50 tên. Hai ngày sau, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động một binh đoàn cơ động tiến công Cổ Bì. Trong ngày 29 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 249 và lực lượng địa phương liên tiếp bẻ gẫy 8 đợt xung phong của địch. Tiểu đoàn 255, nhận được tin địch đánh Bình Giang, lập tức quay lại phối hợp với Tiểu đoàn 249 đánh địch. Sau một ngày, địch bị loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên. Ta phá 1 xe tăng và thu nhiều vũ khí. Riêng tại Bì Đổ, Bình Dương có 256 tên chết, hơn 100 tên bị thương. Từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 3 năm 1952, quân và dân Hải Dương đánh 457 trận, bức hàng, bức rút 105 vị trí, phá một phần ba số ban tề, mở rộng khu du kích gồm 36 xã với 388km2. Quân và dân Hưng Yên tiêu diệt, bức rút, bức hàng 147 vị trí của địch. Mỗi tỉnh giải phóng hàng trăm thôn xã. Phong trào toàn dân đánh giặc ở Hải Dương, Hưng Yên được phục hồi, chiến tranh du kích phát triển, uy hiếp mạnh mẽ tuyến giao thông huyết mạch của địch trên Đường số 5. Tại Vĩnh Phúc, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 888 vào đóng quân ở khu du kích Bình Xuyên, thuộc huyện Yên Lãng. Tại đây, Tiểu đoàn phối hợp với các lực lượng địa phương phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích sang hướng Bình Lâm, Nho Lâm, huyện Yên Lạc. Đến cuối tháng 2, phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Vĩnh Phúc "tiêu diệt hoàn toàn hệ thống công sự mới của địch ở Đa Phúc, 18 tháp canh hương dõng, giải tán nhiều ban tề, đưa chính quyền ta ra hoạt động công khai, mở ba khu du kích đầu tiên trong địch hậu: Tây Đông Anh - Nam Yên Lãng, Tây Yên Lãng - Nam Yên Lạc, Nam Bình Xuyên - Đông Nam Yên Lạc, bao gồm 18 xã, 45 thôn. Cơ sở chính trị và vũ trang trong vùng địch hậu phát triển mạnh"1 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 159, 160-161). Trong 3 tháng diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các đại đoàn 320, 316, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đã kết hợp tác chiến với nổi dậy phá tề, phát triển chiến tranh du kích, giải phóng hàng loạt làng xã; diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, tiêu diệt 160 cứ điểm do chủ lực địch đóng giữ, khoảng 1.000 vị trí của bọn tề vũ trang, tổng dõng, vệ sĩ, thu và phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch2 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 159, 160-161). Thắng lợi của quân và dân đồng bằng Bắc Bộ gây chấn động dư luận nước Pháp: "Việc giữ gìn đồng bằng Bắc Bộ rất đắt đỏ cho Pháp, cán bộ quân sự Pháp bị hy sinh ở đó nhiều hơn số cán bộ trường quân sự Pháp đào tạo trong cả một năm"3 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 159, 160-161). Đánh giá thắng lợi, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Trong chiến dịch giải phóng biên giới địch thua ở Biên giới, nhưng củng cố được địch hậu, lần này địch thất bại cả ở mặt trận chính diện và trong địch hậu, đó là một hiện tượng chưa từng thấy từ trước đến nay"1 (Võ Nguyên Giáp, Chúng ta đã thắng lợi trong Chiến dịch giải phóng Hòa Bình (trích Báo cáo của đồng chí Văn tại Hội nghị cán bộ), rài liệu lưu tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 9). Khu du kích, căn cứ du kích được mở ở hầu hết các huyện đồng bằng, với số dân trên 3 triệu người2 (Căn cứ du kích bao gồm 109 xã 842 thôn, khu du kích bao gồm 163 xã và 1.460 thôn. Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 -1954), Sđd, tr. 161), tổng diện tích 4.800km2, chiếm hai phần ba diện tích đồng bằng châu thổ. Những thắng lợi lớn có ý nghĩa chiến lược ở Hòa Bình và đồng bằng Bắc Bộ "làm cho đế quốc Pháp tuy được đế quốc Mỹ giúp sức, càng lún sâu trong thế bị động chiến lược"3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39 - 40). Đây là cơ sở để quân và dân đồng bằng Bắc Bộ giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích những năm tiếp theo, góp phần vào thắng lợi ngày càng to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:38:28 pm DÂN CÔNG - LỰC LƯỢNG GÓP PHẦN BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại úy, ThS NGUYỄN THỊ THẢO Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân công luôn là lực lượng quan trọng, có nhiều đóng góp cho công tác bảo đảm hậu cần của các chiến dịch. Trong Chiến dịch Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), dân công đã hoạt động liên tục cả trước, trong và sau thời gian diễn ra chiến dịch, góp phần vào thắng lợi, để lại nhiều kinh nghiệm quý cho công tác tổ chức và huy động dân công chiến dịch. Tháng 10 năm 1951, dưới sự lãnh đạo Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, đểchuẩn bị cho đợt hoạt động quân sự trong Thu - Đông 1951 - 1952, Tổng cục Cung cấp đã liên hệ với các khu, các tỉnh để sơ bộ nắm khả năng huy động nhân lực, vật lực và phương tiện vận chuyển của nhân dân các địa phương. Trong khi ta đang chuẩn bị kế hoạch Thu - Đông 1951 - 1952 thì ngày 9 và ngày 14 tháng 11 năm 1952, thực dân Pháp mở 2 cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) và Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm Hòa Bình, tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hoà Bình - Đường số 6 (khu Nam); ngoài ra, có Phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông bảo vệ Hoà Bình. Đánh chiếm Hòa Bình, địch nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định đình chỉ chiến dịch ở Liên khu 3, đồng thời báo cáo Trung ương mở Chiến dịch Hòa Bình. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596). Chấp hành Chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy tranh thủ thời gian để "vừa chuẩn bị vừa ra trận"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 72), đánh địch ở mặt trận chính diện, đồng thời đưa lực lượng vào địch hậu, phát triển du kích chiến tranh. Ở mặt trận chính Hòa Bình, ta sử dụng 3 đại đoàn (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351. Ở mặt trận đồng bằng địch hậu, ta sử dụng 2 đại đoàn (316, 320). Tổng số lực lượng tham gia chiến dịch khoảng 6.000 người3 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 60), hậu cần phải đảm bảo một số nhân vật lực rất lớn. Do đó, ngoài lực lượng hậu cần Quân đội, ta đã huy động lực lượng lớn dân công. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng dân công đã phải bám sát chiến trường, bảo đảm số lượng vật chất lớn trên một địa bàn chiến trường rộng và thời gian chiến dịch dài ngày. Qua những đóng góp của dân công trong Chiến dịch Hòa Bình, nổi lên một số nội dung như sau: Một là, công tác huy động dân công đã có sự chuẩn bị chu đáo, góp phần bảo đảm tốt cho chiến dịch Chiến trường Hòa Bình, sông Đà và Đường số 6 là khu vực chiến lược quan trọng, một vùng rừng núi ở sát đồng bằng Bắc Bộ. Chiếm đóng Hòa Bình, thực dân Pháp đã cắt đứt đường giao thông chính trên chiến trường, uy hiếp căn cứ hậu phương Liên khu 3. Khu vực địch chiếm đóng ở Hòa Bình là ven sông Đà và Đường số 6, Ba Vì, gồm vùng núi đồi trọc, ít rừng rậm, có những cánh đồng nhỏ. Bộ đội tập trung tác chiến ở tả ngạn sông Đà, Nam Hòa Bình và Nam Đường số 6 nên việc vận chuyển từ hậu phương ra mặt trận phải tổ chức tuyến theo các đường mòn trong rừng, đó là một khó khăn trở ngại đầu tiên của dân công. Mặc dù đường sá xa xôi, quãng đường di chuyển khó khăn nhưng việc huy động dân công lại có nhiều thuận lợi do ta đã có kinh nghiệm từ các chiến dịch trước, các cấp ủy và chính quyền địa phương đã có nhiều kinh nghiệm về tổ chức lãnh đạo dân công phục vụ chiến dịch, ở chiến dịch này, tuy chưa có quy định về tuyến chọn dân công1 (Tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động dân công, quy định về chế độ làm việc và tiêu chuẩn tính công cho dân công gánh trên đường rừng núi, Điều lệ tạm thời về huy động dân công cũng là một trong những công tác chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc năm 1952) nhưng nhân dân cũng đã hiểu rõ quyên và nghĩa vụ của dân công khi tham gia phục vụ tiền tuyến. Nhờ đó, việc huy động nhân vật lực có nhiều thuận lợi. Dân công được huy động để bảo đảm cho việc vận chuyển, Ban Cung cấp tiền phương đã dùng dân công ngay từ khi chuẩn bị chiến dịch. Ở Mặt trận phía Bắc Hòa Bình, khả năng nhân lực các địa phương lân cận tương đối nhiều nhưng việc huy động gặp khó khăn vì yêu cầu quá gấp, nhân dân thì đang bận gặt mùa đề phòng địch phá. Trước tình hình đó, Ban Cung cấp tiền phương phải tập trung giải quyết vấn đề dân công. Được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, các địa phương tăng cường việc huy động dân công phục vụ chiến dịch. Để có thể huy động dân công phục vụ ngay cho kế hoạch tác chiến đợt 1, Ban Cung cấp tiền phương đã huy động dân công ngay tại Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp đi kiểm tra, đôn đốc việc huy động dân công. Trong lúc chưa huy động được dân công cho công tác vận chuyển, Ban Cung cấp tiền phương sử dụng ngay số dân công đang vận chuyển vũ khí đi Liên khu 3 để phục vụ cho chiến dịch, chọn lọc một số, phân phối ngay cho các đơn vị, đồng thời tung cán bộ phối hợp với cán bộ địa phương xuống các huyện phổ biến kế hoạch huy động dân công. Nhờ các địa phương có kế hoạch chuẩn bị dân công cho Chiến dịch Thu - Đông cụ thể từng xã đã thống kê, phân loại dân công, đến khi huy động các xã có kế hoạch tổ chức, hướng dẫn nhân dân thu hoạch vụ mùa nhanh chóng, tổ chức giúp đờ gia đình những người đi dân công, công tác tuyên truyền động viên được làm tốt. Do đó việc huy động dân công nhanh chóng hoàn thành. Lực lượng Dân công được tổ chức chặt chẽ, có đảng viên và tổ chức đảng trong các đội dân công, các xã cử y tế đi theo để chăm sóc. Ở Mặt trận Nam Hòa Bình và Đường số 6, dân công được huy động từ Liên khu 3 và Liên khu 4 (Thanh Hóa). Tại đây, việc huy động dân công thuận lợi vì đã có kinh nghiệm trong các chiến dịch trước như Hà Nam Ninh nên tổ chức dân công chặt chẽ. Ở hướng này, dân công đã theo các kho trạm bố trí mà vận chuyển khối lượng lớn vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch với quãng đường hàng trăm cây số. Từ Nho Quan đến Suối Chuộn là 100km, dân công phải vận chuyển là chủ yếu, bố trí thành nhiều trạm, vận chuyển theo dây chuyền. Bên cạnh nhiệm vụ vận chuyển lực lượng dân công còn tham gia bốc dỡ xếp hàng tại các kho trạm. Ở hướng này, do có sự chuẩn bị chu đáo từ đầu nên đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho bộ đội tác chiến, cùng với đó còn có gạo dự trữ vận chuyển từ Thanh Hóa ra. Ở mặt trận trung du, huy động vùng địch hậu Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang và hữu ngạn sông Hồng cùng với huy động nhân dân tại địa bàn đóng quân của các đơn vị tác chiến. Tổng kết trong Chiến dịch Hòa Bình, ta đã tổ chức 5 đợt huy động dân công với tổng số 333.400 lượt người đi dân công quy ra thành 11.914.000 ngày phục vụ chiến dịch1 (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010, tr. 173). Như vậy, mặc dù trong quá trình Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến Thu - Đông 1951 - 1952, chưa có ý định đánh địch ở đâu nhưng khi địch đánh ra Hòa Bình thì chúng ta đã có số lượng nhân vật lực cơ bản để tiến hành kế hoạch tác chiến dài ngày và trên một địa bàn rộng lớn từ núi rừng Hòa Bình và cả ở đồng bằng Bắc Bộ. Đó là điều kiện đảm bảo đầu tiên cho một chiến dịch lớn. Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo nên bộ đội yên tâm tác chiến, giành được những thắng lợi quan trọng. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:39:41 pm Hai là, phục vụ chiến dịch ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Trong cả 3 đợt tác chiến của Chiến dịch Hòa Bình, dân công tham gia ở tất cả các nhiệm vụ: Sửa và mở đường, sửa cầu, làm kho lán, bốc xếp, dỡ hàng lên xuống xe, xuống thuyền, gánh vác, vận tải, tổ chức vận chuyển lương thực và vũ khí theo sự chỉ đạo và bố trí kho trạm, tải thương, chăm sóc thương, bệnh binh... Ở nhiệm vụ nào dân công cũng thể hiện tròn vai trò trách nhiệm của mình, dù gặp nhiều gian khổ và hy sinh. Chẳng hạn, trong quá trình vận chuyển vũ khí từ Sở Quân giới ra tiền phương đã bị đạn nổ làm chết và bị thương hơn 10 người2 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Công tác hậu cần Chiến dịch Hòa Bình Đông Xuân 1951 -1952, Tổng cục Hậu cần, Ban Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh xuất bản năm 1978, tr. 33). Trong lúc chiến sự đang diễn ra căng thẳng, việc cứu chữa cho dân công cũng chưa được chu đáo nhưng họ cũng không nao núng tinh thần. Trong khi bộ đội tác chiến, không thể thiếu dân công ở bên để hỗ trợ. Trong đợt 1 chiến dịch, sau khi bộ đội làm chủ Tu Vũ, lực lượng dân công tải thương đã sẵn sàng làm nhiệm vụ: "Chung quanh các đồn, các chị dân công tải thương đứng hẳn người lên hò reo hoan hô bộ đội đánh đồn. Đại bác vẫn nổ ầm ầm, các chị xắn quần lội nước, qua lầy, xông qua cỏ gianh, băng băng vào tận sân bay đón anh em thương binh khiêng ra. Có anh hỏi: Các chị không sợ à. Các chị trả lời: Các anh vào đồn còn không sợ, chúng tôi ở đây sợ gì, và các chị vẫn băng qua đại bác địch, cáng thương binh ra bên ngoài"1 (Những thắng lợi trên Mặt trận Hòa Bình, Đường số 6, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1952, tr. 6-7). Đó là những hình ảnh đẹp và những cảm xúc chân thành của những người chiến sĩ đối với lực lượng dân công, minh chứng cho lòng dũng cảm và ý chí dấn thân của lực lượng dân công. Trong đợt 2 chiến dịch, Tổng Quân ủy chủ trương đánh xuống Hòa Bình và Đường số 6. Khi bộ đội tác chiến ở mặt trận thì địch rút khỏi phòng tuyến Sông Đà nhưng lập nhiều điểm để ngăn chặn bộ đội nên công tác vận chuyển gặp nhiều khó khăn, việc vận chuyển bằng cơ giới cũng không thực hiện được do pháo địch bắn phá liên tục. Khi ta vận chuyển bằng thuyền thì bị các trạm tuần tra trên sông Đà đoạn Trung Hà và Hòa Bình của địch chặn đánh và cướp phá. Lúc này mọi công việc vận chuyển đều phải sử dụng dân công. Không chỉ vận chuyển hàng hóa vũ khí từ hậu phương ra các kho trạm mà dân công còn vận chuyển vũ khí, lương thực tới các vị trí tác chiến của bộ đội. Sau mỗi trận tác chiến, bộ đội bị thương, dân công phục vụ vận chuyển và chăm sóc thương binh ngay cả những ngày Tết. Cũng trong đợt 2 chiến dịch diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán, nhiều dân công đi đủ ngày công đã được về, lực lượng dân công thiếu hụt cần bổ sung để đảm bảo cho tác chiến. Lúc đó, các địa phương như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, đến 28 Tết vẫn huy động đủ số dân công đi phục vụ tiền tuyến, có địa phương vượt mức quy định như ở Vĩnh Phúc. Điều đó cho thấy tinh thần dân công phục vụ chiến dịch rất hăng hái và quyết tâm. Ở mặt trận sau lưng địch Liên khu 3, địch khủng bố, phong tỏa mọi ngả đường giao thông chính, việc tải lương và vận chuyển thương binh đi chữa trị và chuyển ra vùng tự do gặp nhiều khó khăn. Thương, bệnh binh đã được dân công vận chuyển qua sông Hồng và sông Đáy bằng thuyền nan chuyển ra vùng tự do Bắc Giang an toàn bất chấp sự đánh phá, kiểm soát của địch. Việc vận chuyển thương binh cũng được chia thành nhiều chặng ngắn được bố trí qua các tuyến: Ở địch hậu, trung du, tổ chức tuyến từ Nam phần Bắc Ninh ra vùng tự do Bắc Giang ở Kép; ở địch hậu Liên khu 3, tổ chức 3 tuyến từ Thái Bình ra vùng tự do Liên khu 3. Thương binh được dân công chuyển từ chặng này qua chặng kia, tại mỗi chặng, dân công địa phương thông thạo địa hình được giao nhiệm vụ đón tiếp và chuyển tiếp thương binh ra vùng tự do an toàn, giấu và bảo vệ thương binh khi địch truy lùng và khủng bố. Tại Thái Bình, khi chuyển thương binh ra vùng tự do Liên khu 3 phải đi đến 9, 10 ngày, có khi bị địch càn quét phải giấu thương binh ở các trạm, khi ở lại các trạm, thương binh vãn được chăm sóc chu đáo. Có khi địch càn quét vào các cơ sở, cán bộ địa phương đã vận động được nhân dân chuyển thương binh ngụy trang đi sát vị trí địch, thoát ra ngoài vòng vây. Phối hợp với dân công, lực lượng quân y đã tổ chức được nhiều đường chuyển thương binh ra vùng tự do, khi địch phong tỏa đường này ta vẫn có thể dùng đường khác, điều đó giúp đẩy nhanh quá trình cứu chữa thương binh. Như vậy là, khi tham gia dân công phục vụ chiến dịch, nhân dân đã thể hiện lòng yêu nước, chí căm thù giặc và cả tình cảm quý mến bộ đội. Dân công luôn bền bỉ, dẻo dai phối hợp với bộ đội cả ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Ghi nhận đóng góp của lực lượng dân công và nhân dân trong Chiến dịch Hòa Bình, trong Báo cáo tại Hội nghị cán bộ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: "Chiến dịch kéo dài 3 tháng, đã huy động nhiều nhân lực, vật lực của nhân dân. Không những vậy, nhiều nơi, đồng bào đã hy sinh cả ngày Tết để đi dân công ngoài mặt trận. Nhân dân đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch đặc biệt là đồng bào Phú Thọ và đồng bào Mường"1 (Chúng ta đã thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình, trích Báo cáo của đồng chí Văn tại Hội nghị cán bộ, tài liệu lưu tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,VL08351-VV00384, tr. 13). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Chín, 2025, 08:40:35 pm Ba là, huy động dân công trong Chiến dịch Hòa Bình để lại nhiều kinh nghiệm quý về công tác dân công cho các chiến dịch sau
Thứ nhất, công tác chuẩn bị được tiến hành sớm, tuyên truyền, giải thích cho nhân dân thông suốt nhiệm vụ, thấy rõ nghĩa vụ của mỗi người dân tham gia phục vụ tiền tuyến giết giặc. Trong chiến dịch, công tác dân công đã làm tốt bởi vì có kinh nghiệm từ những chiến dịch trước, đồng thời trong quá trình chuẩn bị kế hoạch Thu - Đông 1951 - 1952, Tổng Quân ủy đã giao cho Tổng cục Cung cấp chuẩn bị nhân vật lực từ các địa phương, từ mùa Hè, nhân dân đã được các cán bộ địa phương giải thích, giáo dục từng xã đã có số liệu và phân loại dân công chuẩn bị cho Chiến dịch Thu - Đông. Thứ hai, khi huy động dân công, địa phương đã có kế hoạch bảo đảm sản xuất, tổ chức cho nhân dân thu hoạch mùa màng và có kế hoạch giúp đỡ những gia đình có người đi dân công. Các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình có kế hoạch giúp đỡ, tổ chức nhân dân thu hoạch mùa màng tránh bị địch phá. Các cấp ủy và chính quyền địa phương tổ chức vận động giúp đỡ các gia đình có người đi dân công, có nơi đã tổ chức làm tập thể giúp đỡ nhau, cho dân công an tâm đi phục vụ. Thứ ba, dân công đi phục vụ được tổ chức chặt chẽ từ xã, có tổ chức đảng trong lực lượng dân công nên giáo dục chính trị nâng cao tinh thần phục vụ chiến dịch lúc gặp khó khăn được thực hiện tốt. Dân công được tổ chức theo từng xã, huyện, tỉnh và lấy xã làm cơ sở. Mỗi xã tổ chức thành một đơn vị, cấp ủy và chính quyền xã chỉ định cán bộ phụ trách, có đảng viên làm nòng cốt, có tổ chức đảng để lãnh đạo. Trước khi đi, cấp ủy, chính quyền tổ chức giao nhiệm vụ, làm cho cán bộ cũng như dân công thấy trách nhiệm của mình đối với địa phương. Mặt khác, tổ chức theo từng xã như vậy, cán bộ hiểu rõ được tình hình dân công trong xã quen biết nhau, đoàn kết giúp đỡ nhau trong khi phục vụ. Nhờ có tổ chức chặt chẽ nên việc tiến hành giáo dục, lãnh đạo tư tưởng dân công tốt, đồng thời dễ dàng phát hiện những phần tử phá hoại để kịp thời có biện pháp ngăn chặn. Thứ tư, về công tác chính trị với dân công cũng được rút kinh nghiệm. Công tác chính trị có những hình thức phong phú như kiểm điểm công tác hằng ngày, biểu dương khen thưởng kịp thời, phổ biến tin chiến thắng. Tăng tình đoàn kết giữa các dân công với nhau, giữa bộ đội và dân công, giữa dân công và nhân dân địa phương, liên hệ mật thiết giữa tiền phương và hậu phương để động viên dân công phục vụ. Các buổi liên hoan giữa bộ đội và dân công giữa các dịp Tết, nhân dân địa phương Hòa Bình giúp đỡ dân công, các đại biểu từ hậu phương ra tiền tuyến úy lạo dân công... Thứ năm, về sử dụng dân công, Chiến dịch Hòa Bình cho thấy khi đã sử dụng một số lượng lớn dân công thì phải có kế hoạch chu đáo. Nếu không có kế hoạch chu đáo thì chẳng những gây lãng phí lớn về nhân lực mà còn làm ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến. Trong Chiến dịch Hòa Bình, Ban Dân công tiền phương có nhiệm vụ liên hệ với Ban Vận tải tiền phương nhưng chưa quy định rõ, Ban Dân công cử cán bộ đến trạm nhưng cán bộ lại bỡ ngỡ với nhiệm vụ, không rõ phải tiến hành công việc như thế nào, có khi can thiệp vào kế hoạch của trạm làm trở ngại cho việc điều động dân công thực hiện kế hoạch vận chuyển giao cho vận tải trong từng đợt kế hoạch không dứt khoát. Thứ sáu, việc sử dụng dân công đôi khi còn lãng phí, thiếu kế hoạch chưa thực sự chú trọng trong việc bảo vệ chăm nom đời sống cho dân công. Có nhiều đợt dân công đau ốm nhiều, có đơn vị dân công ốm đến 50% quân số1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Công tác hậu cần Chiến dịch Hòa Bình Đông Xuân 1951 -1952, Sđd, tr. 28). Đôi khi để dân công gồng gánh quá mức nên dân công phàn nàn... Thành công trong công tác huy động và tổ chức lực lượng dân cộng là yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm cho thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Vượt qua khó khăn về địa hình, đường sá xa xôi, vượt qua thời tiết khắc nghiệt, qua bom đạn của kẻ thù, các đơn vị dân công đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, kịp thời phục vụ chiến đấu. Bên cạnh đó, việc huy động và tổ chức dân công còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm làm tiền đề quan trọng để chúng ta tổ chức tốt lực lượng dân công phục vụ các chiến dịch lớn sau này như Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:15:21 pm "PHÒNG TUYẾN SÔNG ĐÀ" TRONG KẼ HOẠCH CHIẾM ĐÓNG HÒA BÌNH CỦA THỰC DÂN PHÁP Trung tá, ThS NGUYỄN NGỌC ĐÔNG Khoa Binh chủng, Trường Sĩ quan Lục quân 1 Sau thất bại ở biên giới trong Thu - Đông 1950, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi hàng loạt các vị trí trọng yếu dọc Đường số 4 từ thị xã Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng) đến Đình Lập (tỉnh Lạng Sơn), thậm chí còn phải từ bỏ 2 thị xã là Lào Cai và Hòa Bình. Đến tháng 12 năm 1950, Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) được cử giữ chức Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương thay cho Cao ủy Pinhông (Pignon) và Tổng Chỉ huy Cácpăngchiê (Carpentier). Đây là lần đầu tiên có một nhân vật cùng lúc nắm cả hai chức vụ cao nhất về chính trị, quân sự của Pháp ở Đông Dương. Sau khi nắm tình hình Đông Dương, Đờ Lát đưa ra một bản kế hoạch tống quát về chính trị và quân sự nhằm giành lại quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ và đảo ngược chiều hướng thất bại của quân Pháp. Theo đó, thực dân Pháp nhanh chóng củng cố đội quân viễn chinh và xây dựng, phát triển lực lượng tay sai quân đội "Quốc gia Việt Nam"; tập trung các tiểu đoàn Âu - Phi tổ chức thành các binh đoàn cơ động (Groupement Mobile, viết tắt là GM); lập phòng tuyến đế bảo vệ trung du và đồng bằng Bắc Bộ; đẩy mạnh càn quét bình định vùng chiếm đóng, càn quét lấn chiếm vùng tự do, phá hoại căn cứ du kích, khu du kích; sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ, gấp rúí chuẩn bị, tạo điều kiện phản công giành lại quyền chủ động chiến lược. Để có đủ lực lượng và phương tiện chiến tranh, Đờ Lát kiến nghị phải được tăng cường tối đa về không quân, 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đơn vị xe cơ giới. Ngoài ra, Đờ Lát còn dự kiến thêm 1 sư đoàn bộ binh, 11 đại đội phòng không, 1 hàng không mẫu hạm và 1 hạm đội vận tải... Những đề nghị của Đờ Lát đã được các thành viên Chính phủ Pháp chấp thuận một phần. Pháp quyết định điều từ chiến trường Bắc Phi 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn cơ giới, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh và 1 tiểu đoàn thông tin bổ sung cho chiến trường Đông Dương, với điều kiện, những đơn vị này sẽ phải được điều trả cho Bắc Phi vào đầu năm 1952. Nhờ đó, đến cuối năm 1950, tổng lực lượng quân Pháp ở Đông Dương là 239.000 quân, trong đó có 117.000 lính Âu - Phi (riêng số binh lính Pháp có 63.000 quân), về đơn vị, thực dân Pháp có 118 tiểu đoàn bộ binh, 13 tiểu đoàn pháo binh, 3 trung đoàn thiết giáp, 143 máy bay các loại (40 máy bay khu trục), 263 tàu các loại, trong đó có 3 tàu lớn; 1 tuần dương hạm (Duguay Troin), 1 thông báo hạm hạng nặng (La Grondière) và 1 thông báo hạm hạng nhẹ (La Moqueuse)1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,21). Riêng về tài chính, đến năm 1951, ngân sách của Pháp dành cho cuộc chiến tranh ở Đông Dương lên tới 308 tỷ phơrăng, tăng 107 tỷ phơrăng so với năm 19502 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,21). Được bổ sung thêm lực lượng, phương tiện và ngân sách, Đờ Lát nhanh chóng lập phòng tuyến bao quanh khu vực Bắc Bộ gồm 113 vị trí, do 20 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng, kéo dài từ Hồng Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Đông đến Ninh Bình; đồng thời, mở các cuộc hành quân càn quét quanh vòng ngoài. Đờ Lát tin rằng, với một"vành đai trắng" gồm hệ thống lô cốt, lực lượng và vũ khí, kết hợp với các binh đoàn cơ động sẽ đánh bật được tất cả các cuộc tiến công của bộ đội ta vào đồng bằng, chặt đứt mọi sự liên lạc giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với các vùng khác của Việt Bắc, Tây Bắc và Liên khu 4, tạo thế ổn định lâu dài cho vùng chiếm đóng của chúng. Nhận định về phòng tuyến Đờ Lát, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: "Những khối bê tông thấp lùn với lỗ châu mai sâu hoắm nằm sát mặt đất, như những con quái vật phục trên mọi nẻo đường từ vùng tự do dẫn vào vùng tạm chiếm, sẵn sàng dùng lưới lửa thiêu cháy bất cứ người lính, anh cán bộ, chị dân công nào định vượt qua"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 789). Một năm sau khi tập trung lực lượng tiến hành "chiến tranh tổng lực" cao độ và đạt được những kết quả ban đầu, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng: "Cán cân đã nghiêng về Pháp, đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã chịu đựng từ năm 1948, nhất là từ cuối năm 1950, để chuyển sang thế tiến công"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Sđd, tr. 417). Tháng 10 năm 1951, sau cuộc hành quân thọc sâu vào vùng tự do Thanh Hóa, nhằm phá hậu phương cuộc kháng chiến, buộc chủ lực ta phải giao chiến ở địa bàn mới lạ, xa căn cứ Trung ương ở tỉnh Thanh Hóa bị lỡ dờ, Đờ Lát gấp rút thực hiện ý đồ "đánh đòn quyết định" bằng cuộc hành quân "chớp nhoáng" đánh chiếm Hòa Bình. Theo toan tính của giới quân sự Pháp, tỉnh Hòa Bình có vị trí trọng yếu, là đầu mối giao thông quan trọng giữa Việt Bắc với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và vùng tự do Liên khu 4, là cửa ngõ tiến lên Tây Bắc, thông sang Thượng Lào; nếu Pháp chiếm được Hòa Bình, không những thực hiện được việc chia cắt chiến trường mà còn mở rộng phòng tuyến phía Tây Nam của đồng bằng Bắc Bộ, "cứu" Tây Bắc khỏi bị cô lập, uy hiếp trực tiếp vùng tự do của ta ở các tỉnh Phú Thọ, Ninh Bình và Thanh Hóa. Quan trọng hơn, Đờ Lát tin rằng với việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ thu hút được chủ lực ta đến chiến trường đã chọn và sẵn sàng "nghiền nát" lực lượng của ta. Với thắng lợi về mặt quân sự ở Hòa Bình sẽ tạo thế cho việc lập lại "Xứ Mường tự trị", tiếp tục thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc, biến nơi đây thành bàn đạp tiến công vào vùng núi rừng phía Bắc, cô lập, tiến tới tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, dưới sự chỉ huy của Đờ Linarét (De Linarès), quân Pháp mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) gồm các binh đoàn cơ động GM1, GM2 và GM3, 1 tiểu đoàn dù lê dương; 2 đại đội Commăngđô 21 và 22 chia thành ba mũi tấn công Chợ Bến, mở đầu cho kế hoạch tái chiếm Hòa Bình. Trong 2 ngày hành quân đánh chiếm, quân Pháp đã bắn và đốt phá 36 xóm ven Đường số 21, giết hại hàng chục người dân. Từ Tế Tiêu đến Chợ Bến, từ Chợ Bến lên Xuân Mai, từ Miếu Môn đến Ba Thá, địch đóng 20 cứ điểm, hình thành một tuyến phòng thủ liên hoàn nối Đường số 6A với tuyến sông Đáy. Sau khi chiếm Chợ Bến, ngày 14 tháng 11, dưới quyền chỉ huy của Xalãng (Salan) - Phó Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Pháp tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hoà Bình, Đường số 6, Ba Vì. Ngoài ra, một lực lượng dự bị gồm tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh 105mm và 1 đại đội xe tăng được tập kết ở Hà Nội, sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết. 17 giờ ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp chiếm được thị xã Hòa Bình, sang ngày 15 tháng 11, chúng hoàn thành việc chiếm đóng các vị trí then chốt trong khu vực Hòa Bình - Đường số 6, sông Đà - Ba Vì. Chiếm được Hòa Bình, với lực lượng đông, được trang bị vũ khí hiện đại, thực dân Pháp nhanh chóng cấu trúc hệ thống phòng ngự dã chiếngồm 28 cứ điểm lớn, nhỏ với những công sự bằng gỗ đất và hàng rào dây thép gai vây quanh; tổ chức tuyến phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà-Ba Vì (Phân khu Bắc), gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 trung đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh do Đại tá Đôđờliơ (Dodelier) chỉ huy, Sở Chỉ huy đặt tại Đan Thê. Phân khu Hòa Bình - Đường 6 (Phân khu Nam) có 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng do Đại tá Clêmăng (Clement) chỉ huy. Ngoài ra, Phân khu Chợ Bến (Phân khu tiền đồn phía Đông) có nhiệm vụ bảo vệ thị xã Hòa Bình. Tại mỗi phân khu là một cụm cứ điểm lớn bao gồm hàng chục vị trí cứ điểm nhỏ khác. Lực lượng địch ở mỗi phân khu sẵn sàng cơ động, ứng cứu được cho nhau khi bị ta tiến công. Lúc này, có thể khẳng định, lần đầu tiên trên chiến trường Đông Dương, hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm của địch đã xuất hiện - "một hình thái phòng ngự mới của quân Pháp ở miền rừng núi. Nó hoàn toàn khác với các cứ điểm của địch trước đây. Khi tiến đánh một cứ điểm nằm trong một hệ thống, bộ đội ta lúc nào cũng bị đạn bắn thẳng của địch đe dọa từ nhiều phía, có khi từ cả bốn phía"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.805). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:17:34 pm Để bảo đảm vững chắc hơn cho 2 phân khu trên, trên tuyến vận tải thủy chạy từ Trung Hà ngược lên thị xã Hòa Bình (dài 60km), thực dân Pháp nhanh chóng thiết lập "phòng tuyến Sông Đà" với nhiều cứ điểm chạy dọc hai bên bờ sông Đà, như: Trung Hà, La Phù, Đan Thê, Đồng Tâm, Đá Chông, Chẹ, Tu Vũ, Pheo... Tại mỗi cứ điểm, thực dân Pháp bố trí từ 1 - 2 đại đội bộ binh đóng giữ. Riêng tại các vị trí quan trọng như: Pheo, Chẹ, Đá Chông, Tu Vũ... có tới 3 đại đội bộ binh, được tăng cường 1 trung đội xe tăng và 1 trung đội pháo binh đóng giữ. Chúng chia "phòng tuyến Sông Đà" thành 2 khu then chốt phòng ngự: Khu then chốt thứ nhất là La Phù - Đan Thê, khu then chốt thứ hai là Tu Vũ - Núi Chẹ. Mỗi nơi địch bố trí 2 tiểu đoàn bộ binh, ngoài ra địch có 1 tiểu đoàn nhảy dù ở Đá Chông1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Tập 2, tr. 22).
Các cứ điểm trên "phòng tuyến Sông Đà" cũng được bố trí chặt chẽ, trong thế liên hoàn, yểm trợ lẫn nhau và hỗ trợ chi viện được cho nhiều vị trí ngoài phạm vi của "phòng tuyến" trong trường hợp bị ta tiến công. Tại khu then chốt La Phù - Đan Thê được đánh giá là khu phòng ngự mạnh nhất do gần căn cứ của địch ở Sơn Tây và Trung Hà, chưa kể, từ căn cứ địch đến khu phòng ngự này có nhiều tuyến giao thông thủy, bộ dễ dàng cơ động ứng cứu khi bị ta tiến công. Tại khu then chốt Tu Vũ - Núi Chẹ, được đánh giá là tương đối yếu vì ở xa căn cứ địch, từ căn cứ của chúng đến đây chỉ có một tuyến giao thông đường thủy là sông Đà và một đường bộ từ Đá Chông lên Núi Chẹ. Khu này do Tiểu đoàn Marốc số 1, một đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6 với xe tăng, xe thiết giáp chốt giữ. Nhưng đây lại là cứ điểm được cấu trúc kiên cố, chia thành 3 khu: Khu A, xung quanh được phát quang rộng 100m và những lớp rào, bãi mìn rộng 24m. Khu C được tách khỏi Khu A, B bằng ngòi Lát do 1 đại đội địch chiếm giữ, có 1 lô cốt và 7 ụ chiến đấu bao quanh. Khu A có 1 đại đội bộ binh, 6 ụ chiến đấu bao quanh lô cốt lớn, được trang bị hỏa lực 12,7mm, ĐKZ 57mm, cối 81mm. Khu B có Sở Chỉ huy Tiểu đoàn và 2 đại đội bộ binh được trang bị ĐKZ 57mm, pháo 37mm và nhiều ụ chiến đấu. Khi Tu Vũ bị ta tiến công, địch sẽ nhận được sự yểm trợ của pháo binh (19 khẩu) từ Đá Chông, Chẹ, Thủ Pháp bắn sang. Tương tự như ở Pheo, có tiểu đoàn 2 thuộc Bán Lữ đoàn lê dương 13 trấn giữ. Cứ điểm chia làm 3 khu: Đồi Pheo, làng Pheo và đồi Miều. Ngoài hỏa lực của bộ binh, ở đây địch còn có 4 khẩu đại bác 105mm và 1 trung đội xe tăng phối thuộc, cộng với sự chi viện bằng hỏa lực pháo từ những trận địa chung quanh như Chẹ, cầu Mè, Ao Trạch. Đánh giá về "phòng tuyến Sông Đà", Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận định: "Các cứ điểm ở Hòa Bình tuy đã được củng cố nhưng vẫn còn là công sự dã chiến, chúng liên kết với nhau thành một hệ thống nhưng vẫn nằm rải trên những tuyến dài, trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Trở ngại lớn trong các trận đánh không chỉ là lực lượng chiếm đóng vị trí, mà còn là hỏa lực chi viện từ xa của những trận địa pháo được tính toán rất kỹ lưỡng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr. 788). Ngày 2 tháng 12 năm 1951, tại Hội nghị cán bộ, sau khi phân tích những ưu, nhược điểm của tuyến phòng ngự Hòa Bình nói chung, "phòng tuyến Sông Đà" nói riêng, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đề ra chủ trương tác chiến trên Mặt trận Sông Đà, trong đó nhấn mạnh: Để phá vỡ phòng tuyến Sông Đà đó, Bộ quyết định: "Tập trung lực lượng tiêu diệt Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ và bên hữu ngạn. Đánh Núi Chẹ và hữu ngạn thì địch có thể bị bất ngờ, ít nhất cũng giúp cho việc tiêu diệt Tu Vũ được thuận tiện hơn. Nếu địch chiếm lại, thì tranh thủ tiêu diệt lần nữa. Có thể đưa thêm lực lượng sang hữu ngạn đổ tùy theo tình hình cụ thể mà phát triển lên trên hay xuống dưới"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 25). Thực hiện chỉ thị của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức nắm vững tình hình địch trên Mặt trận Sông Đà. Ngày 6 tháng 12, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị về vận dụng chiến thuật, phân tích rõ đặc điểm chiến trường,thuận lợi cho ta giấu quân và tác chiến, địch mới chiếm đóng, công sự chưa kiên cố, bộ đội ta qua chỉnh huấn có nhiều tiến bộ, nhưng có khó khăn là địa hình hẹp, đường giao thông ít, có sông lớn, địch bố trí tương đối tập trung thành cụm lớn, có nhiều binh chủng yểm hộ cho nhau. Do vậy, yêu cầu về chiến thuật trong hành quân phải tuyệt đối giữ bí mật, di chuyển vào ban đêm, bố trí cảnh giới nghiêm ngặt; trú quân phải xa đường cái lớn, cấm khói lửa ban ngày...; vượt sông phải có kế hoạch cảnh giới nghiêm mật đề phòng máy bay địch phát hiện, cho một bộ phận sang trước lập đầu cầu, tổ chức vượt sông phải có kế hoạch và trật tự, sang sông xong phải xóa dấu vết và sẵn sàng chiến đấu ngay; đánh công kiên phải có kế hoạch bám sát địch, đề phòng xe cơ giới của địch, kiềm chế pháo binh, cố gắng giải quyết trận đánh trong một đêm, nếu phải kéo dài sang ban ngày phải có kế hoạch đánh quân nhảy dù tại chỗ;... đánh viện binh trên sông phải phân tán hỏa khí, bố trí nhiều chặng trên một tuyến dài và có kế hoạch phòng không tích cực, làm trận địa giả nghi binh, lừa địch1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr 387-388). 23 giờ đêm 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 bắt đầu tiến công cứ điểm Tu Vũ - một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự Sông Đà, mở đầu Chiến dịch Hòa Bình. Đến 5 giờ sáng 11 tháng 12 năm 1951, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trận đánh làm rung chuyển phòng tuyến Sông Đà của địch, khai thông đường vận chuyển từ hậu phương Việt Bắc tới Mặt trận Hòa Bình, tạo điều kiện làm tan rã phòng tuyến Sông Đà, khép chặt vòng vây, đánh thẳng vào căn cứ của địch ở thị xã Hòa Bình, góp phần đưa Chiến dịch Hòa Bình đến thắng lợi. Sau hơn 2 tháng chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), ở Mặt trận Hoà Bình ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm17 tàu, xuồng, phá hủy 12 khẩu pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 khẩu pháo và gần 800 súng các loại; đập tan "phòng tuyến Sông Đà", giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc với Liên khu 3 Liên khu 4; phá tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:20:21 pm CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH PGS, TS VŨ QUANG HIỂN Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh giặc ở cả mặt trận chính diện và sau lưng chúng, kết hợp đánh tập trung và đánh phân tán, đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao là một điển hình thành công của Đảng trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong Chiến dịch Hòa Bình, quân dân đồng bằng sông Hồng phát triển mạnh chiến tranh du kích, xây dựng và củng cố một hệ thống khu du kích và căn cứ du kích, góp phần đưa chiến tranh nhân dân lên đỉnh cao, làm ruỗng nát hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, không chỉ biến hậu phương của địch thành tiền phương, mà còn thành hậu phương của cuộc kháng chiến. 1. Quân Pháp tiến công ra Hòa Bình - cơ hội tốt để phát triển chiến tranh du kích ở địch hậu Bắc Bộ Mùa Đông năm 1951, Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương - Đờ Lát đờ Tátxinhi (Jean de Lattre de Tassigny) huy động hơn 20 tiểu đoàn bộ binh cơ động chiến lược, với sự chi viện của cơ giới, pháo binh và không quân, mở cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ, kéo chủ lực Việt Minh ra nơi chúng chuẩn bị sẵn để tiêu diệt, nối lại "Hành lang Đông - Tây". Nhận định đây là cơ hội tốt để tiêu diệt địch, Bộ Chính trị phê chuẩn đề nghị mở chiến dịch Hòa Bình của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch. Bản chỉ thị phân tích tình hình và khẳng định: "Địch dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ của chúng ở Hòa Bình, buộc phải sơ hở ở các mặt trận khác và ở sau lưng địch". "Đó là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch... Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực của địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch, phá âm mưu quân sự mới của địch". Bản chỉ thị xác định: "Ở tả ngạn sông Hồng Hà, chúng ta phải ra sức tăng cường sức chiến đấu cho bộ đội và dân quân du kích. Lúc này là cơ hội rất tốt cho chiến tranh du kích ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng Hà phát triển, hoạt động mạnh mẽ và liên tiếp để tiêu diệt địch, khôi phục, củng cố và mở rộng căn cứ du kích. Đó cũng là cơ hội tốt để tiến hành công tác vận động ngụy binh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.tr. 596-598). Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch Hòa Bình với binh lực 3 đại đoàn (308, 312 và 304), đồng thời dùng 2 đại đoàn (320 và 316) phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đánh phá thủ đoạn bình định của địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Quân dân đồng bằng Bắc Bộ có cơ hội thuận lợi đề đẩy mạnh chiến tranh du kích gồm hai điều kiện: "1 - Địch đem quân ra ngoại tuyến, sơ hở trong nội tuyến (chiến trường chính đã thu hút các binh đoàn cơ động 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 5 tiểu đoàn dù của địch). 2- Chủ lực ta tiến sâu vào địch hậu, đánh liên lục, dài ngày, khoét sâu chỗ sơ hở, chỗ yếu của địch, cùng với lực lượng địa phương uy hiếp hệ thống chiếm đóng của địch, uy hiếp đường giao thông quan trọng, các đô thị, làm tê liệt tinh thần ngụy quân, ngụy quyền, dìu dắt nhân dân, dân quân du kích và bộ đội địa phương cả về quân sự và chính trị"1 (Báo cáo tình hình dân quân du kích các liên khu, tổng kết phong trào du kích chiến tranh ở Bắc Bộ 1952, tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 5). Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy chỉ đạo các đảng bộ, chính quyền địa phương uổn nắn những sai lệch khi phối hợp với chiến trường chinh như: "Khuynh hướng rụt rè, do dự, không dám mạnh bạo hoạt động đón thời cơ; chậm chạp, không tận dụng được sờ hở của địch, bỏ lỡ cơ hội..., nặng chỉ đạo quân sự, nhẹ tranh thủ nhân dân, không chú ý củng cố cơ sở, nắm chắc nhân dân; chủ quan tếu, ẩu, công khai hóa khi phong trào lên"2 (Báo cáo tình hình dân quân du kích các liên khu, tổng kết phong trào du kích chiến tranh ở Bắc Bộ 1952, tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 5). Hội nghị Liên Khu ủy 3 (11.1951 ) đề ra những nhiệm vụ cho bộ đội địa phương tả ngạn: Củng cố cơ sở du kích xã; khôi phục các căn cứ du kích bị mất, củng cố và mở rộng các căn cứ du kích mới; củng cố cơ sở chính trị. Theo mệnh lệnh ngày 20 tháng 11 năm 1951 của Bộ Tư lệnh Liên khu 3, nhiệm vụ của từng tỉnh là: - Thái Bình: Củng cố miền Nam, phục hồi cơ sở Tiên - Duyên - Hưng, tạo điều kiện khôi phục khu du kích. - Hải Dương: Củng cố cơ sở, khôi phục căn cứ du kích tây Ninh Giang, nam Thanh Miện. - Hưng Yên: Củng cố căn cứ du kích mới mở và phát triển cơ sở lên phía Bắc. - Kiến An: Củng cố và phát triển cơ sở Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, tạo điều kiện mở khu du kích nhỏ làm chỗ đứng. Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quán triệt nhiệm vụ và xác định kế hoạch Đông - Xuân nhằm đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với mặt trận chính diện, tập trung đánh mạnh ở sau lưng địch, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của địch, tranh thủ nhân dân, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích. Toàn bộ đợt hoạt động trên chiến trường đồng bằng sông Hồng chia thành hai bước: Bước 1: Tập trung lực lượng bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đánh mạnh ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Yên và Phúc Yên, tiêu diệt lực lượng quân sự và phá bộ máy chính quyền cơ sở của địch, tạo địa bàn đứng chân đế tiếp tục đưa chủ lực tiến sâu hơn vào vùng đồng bằng. Bước 2: Cho Đại đoàn 320 (thiếu một trung đoàn) vượt sông Hồng, sang Thái Bình cùng Trung đoàn 42 chủ lực Liên khu và bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến, khôi phục và mở rộng các căn cứ du kích và khu du kích ở tả ngạn, uy hiếp Đường số 5, đồng thời bên hữu ngạn tập trung 2 trung đoàn chủ lực (1 trung đoàn của Đại đoàn 320 và Trung đoàn 46 chủ lực Liên khu) cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đẩy mạnh tác chiến ở Hà Nam, Nam Định để tiêu diệt địch, tạo thế căng kéo địch và tiếp tục mở rộng các vùng giải phóng hữu ngạn. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong Chiến dịch Hòa Bình đã mở ra bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:23:03 pm 2. Đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động trên chiến trường (từ trung tuần tháng 12 năm 1951 đến đầu tháng 1 năm 1952)
Trước Đông - Xuân 1951 - 1952, hầu như toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng bị quân Pháp kiểm soát, một vài khu du kích lẻ tẻ còn được duy trì đều nằm trong thế bị địch bao vây và uy hiếp thường xuyên. Từ khi mở màn Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951), các đơn vị bộ đội chủ lực tiến về đồng bằng, dựa vào dân để hoạt động. Phối hợp với mặt trận chính diện, phong trào chiến tranh du kích ngày càng lên cao khắp các tỉnh đồng bằng. Bộ đội địa phương và dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động tác chiến, cùng với bộ đội chủ lực các đại đoàn 320 và 316 tiến công đồn bốt địch, tiêu diệt và tiêu hao nhiều sinh lực quân Pháp, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá tề, sôi nổi nhất là ở các tỉnh hữu ngạn. Tại Ninh Bình, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp cùng bộ đội chủ lực Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 Đại đoàn 320 diệt nhiều vị trí địch ở Phát Diệm, Yên Mô, Yên Khánh, đánh phá giao thông trên Đường số 10, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích phát triển, tiêu diệt 2/3 quân chiếm đóng của địch, hỗ trợ quần chúng nôi dậy phá 128 trong tổng số 138 ban tề, giải phóng gần hết huyện Yên Mô, mở các khu du kích I và II gồm 13 xã thuộc huyện Kim Sơn, nối liền với khu du kích Khánh Trung - Khánh Thiện, Khánh Hội, Khánh Vân (Yên Khánh), Yên Lạc (Yên Mô), làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của địch ở phía Nam tỉnh và trực tiếp tạo bàn đạp cho bộ đội chủ lực vượt sông Đáy đánh sâu hơn nữa vào vùng địch hậu phía Nam tỉnh Nam Định. Ở Hà Nam, có Trung đoàn 64 Đại đoàn 320 về hoạt động, tiến công nhiều vị trí quân Pháp, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển, chuyển hàng loạt thôn, xã tạm chiếm thành làng, xã chiến đấu, san phẳng 14 cứ điểm, bức hàng 24 cứ điểm khác, diệt 45 trong tổng số 50 vị trí tề vũ trang, hương, tổng dũng; phá 320 trong tổng số 380 ban tề, mở rộng cơ sở chính trị ở khắp nơi. Phong trào xây dựng thôn "trang chiến" lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia, hình thành nhiều khu du kích và căn cứ du kích ở các huyện. Tại Hà Đông, dân quân du kích cùng nhân dân nổi dậy tổng phá tề, phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt và bao vây, bức rút nhiều vị trí của quân Pháp, phục hồi cơ sở ở 171 thôn, mở cáckhu du kích Nam Ứng Hòa, Đông Phú Xuyên, Tây Phú Xuyên Đông Thường Tín và Nam Liên Nam... Ở Nam Định, lực lượng vũ trang đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ quần chúng tổng phá tề, mở rộng khu du kích trong toàn huyện Giao Thủy và Hải Hậu; 10 xã của huyện Trực Ninh; miền hạ Nghĩa Hung; 5 xã ở Ý Yên; 2 xã ở Mỹ Lộc. Địch điều Binh đoàn cơ động số 4 từ Hòa Bình về đối phó, song không làm thay đổi được tình thế, mà còn bị phục kích ở khắp nơi, chịu nhiều tổn thất. Ngày 11 tháng 12 năm 1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị gửi Ban Cán sự và các tỉnh ủy tả ngạn Liên khu 3 về việc phối hợp chặt chẽ với chủ lực ở Mặt trận Hòa Bình - Chợ Bến. Bản chỉ thị nhấn mạnh: "Hiện nay, phần lớn lực lượng cơ động của địch ở Bắc Bộ đã tập trung vào Mặt trận Chợ Bến - Hòa Bình. Vì vậy, mà ở tả ngạn cũng như ở nhiều nơi khác địch rất sơ hở". "Trước cơ hội rất tốt cho công cuộc vận động đấu tranh chống địch ở vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, Trung ương đã chỉ thị cho các khu phải kịp hành động phối hợp chặt chẽ với chủ lực ta đang tiêu diệt địch ở mặt trận Hòa Bình - Chợ Bến". Các tỉnh tả ngạn phải hết sức lợi dụng cơ hội này để củng cố cơ sở nhân dân xúc tiến công tác ngụy vận, đẩy mạnh chiến tranh du kích, "khôi phục lại các khu du kích và căn cứ du kích, đồng thời có thể mở rộng thêm nhiều khu du kích và căn cứ du kích mới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 617-618). Chấp hành chỉ thị trên, các lực lượng vũ trang địa phương ở tả ngạn sông Hồng đẩy mạnh tác chiến, diệt nhiều vị trí quân Pháp. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Thái Bình hỗ trợ quần chúng nôi dậy phá tề, diệt dõng ở Đông Quan, Thụy Anh, Phụ Dực, Tiền Hải, mở lại các khu du kích trong vùng. Tại Kiến An, Tỉnh ủy và Tỉnh đội chủ trương đẩy mạnh hoạt động phối hợp chiến trường, nhanh chóng khôi phục và phát triển cơ sở trong vùng tạm bị chiếm, trọng điểm là phục hồi khu du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bào. Sau hơn một tháng kiên trì bám đất, bám dân của cán bộ và lực lượng vũ trang địa phương, cơ sở chính trị ở 2 huyện đã được xây dựng lại, phong trào chiến tranh du kích bùng lên mạnh mẽ, đập tan một số cuộc càn quét của quân Pháp. Tại Bắc Ninh, Trung đoàn 98 Đại đoàn 316 vào hoạt động ở Nam phần, diệt nhiều cứ điểm của địch ở Lang Tài, cầu Đuống, Gia Lâm, tạo điều kiện cho lực lượng dân quân du kích phát triển, nhiều cán bộ bị "bật đất"trở về địa bàn, bám đất, bám dân, gây dựng cơ sở chính trị, chuẩn bị điều kiện mở khu du kích. Với sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, chiến tranh du kích phát triển mạnh trong lòng địch đã tạo ra thế trận mới ở đồng bằng, làm cho hậu phương của quân Pháp mất ổn định và buộc chúng phải đối phó lúng túng ở cả phía trước mặt và sau lưng. Trung ương Đảng nhận định: "Việc đánh ra Chợ Bến, Hòa Bình của địch về căn bản là một thất bại quân sự khá nặng. Không những địch bị thiệt hại nhiều về sinh lực mà công trình củng cố địch hậu chúng tiến hành suốt một năm ròng, chỉ trong hơn một tháng trời đã bị ta làm cho hoàn toàn sụp đổ". "Địch lại bị thêm một uy hiếp mới do chỗ chủ lực ta vào địch hậu. Chúng định giành lại thế chủ động nhưng lại càng bị động thêm nhiều". Cơ sở kháng chiến trong địch hậu "đã phát triển, chiến tranh du kích đang lên mạnh. Ta đã khôi phục và mở rộng được nhiều căn cứ, thu được nhiều kinh nghiệm. Thế chủ động của ta càng vững chắc". Trung ương Đảng dự kiến: "Hiện thời địch đang còn phải giữ nhiều lực lượng đối phó với những hoạt động của ta ở tuyến ngoài, hậu phương của chúng còn sơ hở nhiều. Nhưng sau này thì chúng có thể tập trung lực lượng về càn quét, củng cố lại". Những cuộc càn quét đó có thể sẽ khốc liệt nhưng lực lượng kháng chiến đã phát triển mạnh, "cơ sở và căn cứ được mở rộng, nếu chúng ta cố gắng, âm mưu của địch nhất định không thành và hình thái chiến trường thay đổi đối với ta cũng rất nhiều thuận lợi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 4-5, 9). Biến hậu phương của địch thành tiền phương của kháng chiến quân dân đồng bằng sông Hồng làm thất bại một bước quan trọng âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:25:27 pm 3. Phát triển chiến tranh du kích đều khắp, đẩy mạnh xây dựng khu du kích và căn cứ du kích (từ trung tuần tháng 1 đến cuối tháng 2 năm 1952)
Ngày 20 tháng 1 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị Đẩy mạnh du kích chiến tranh trên chiến trường Bắc Bộ, xác định nhiệm vụ: Tích cực phát triển và củng cố cơ sở, đẩy mạnh phong trào du kích, nhằm "tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của chủng"; "đặc biệt cần chú trọng việc xây dựng căn cứ", "mở rộng và củng cố căn cứ địa". Những căn cứ chính cần xây dựng cho được là: Vùng Tiên Lữ, Phù Cừ - Hưng Yên, Hải Dương và vùng Tiên - Duyên - Hưng (Thái Bình), sau đó thì đến căn cứ Hà Nam (Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm), ở hữu ngạn sông Hồng và căn cứ Nam phần Bắc Ninh (Gia Lương và Tiên - Quế -Võ), ở tả, hữu ngạn sông Đuống... chú trọng làm thế nào đánh thông được đường liên lạc giữa các căn cứ đó để khi địch càn quét lớn thì có thể dựa vào nhau mà đối phó. Ngoài ra, mỗi địa phương cũng cần xây dựng nhiều căn cứ nữa, nhưng cũng phải phân biệt căn cứ phụ và căn cứ chính. Căn cứ chính thì cấp ủy phải tập trung cán bộ mà trực tiếp phụ trách"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 4-5, 9). Ngày 26 tháng 1 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị phát triển và củng cố các vùng du kích và căn cứ du kích, tích cực chuẩn bị chống giặc càn quét (gửi các liên khu ủy, tỉnh và thành ủy). Bản chỉ thị đánh giá: "Từ hơn hai tháng nay, để phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính, các liên khu 3 và Việt Bắc đã đẩy mạnh phong trào du kích tiến tới, hầu hết các vùng du kích và căn cứ du kích được phục hồi, ngoài ra ta lại mở thêm được nhiều vùng du kích và căn cứ du kích mới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Sđd, tr. 15,23). Chỉ thị nhấn mạnh: "Cơ hội tốt cho công tác vùng địch của ta còn nhiều. Giặc Pháp đang lúng túng to. Nhưng sức địch còn mạnh, chúng vẫn có thể mở càn quét lớn vào vùng du kích và căn cứ du kích của ta. Cho nên không được chủ quan khinh địch, phải luôn tỉnh táo và tranh thủ thời gian tích cực phát triển và củng cố vùng du kích và căn cứ du kích, sẵn sàng chống lại tất cả mọi cuộc càn quét lớn nhỏ của địch mà bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Sđd, tr. 15,23). Cuối tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 64) vượt sông Hồng sang Thái Bình. Đảng ủy Mặt trận vùng sau lưng địch tả ngạn được thành lập và chủ trương tung toàn bộ lực lượng đánh mạnh, phát triển chiến tranh du kích, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, tranh thủ nhân dân, phá bộ máy kìm kẹp của địch. Trung đoàn 64 tiếp tục ở lại hữu ngạn, hoạt động ở Nam Định và Hà Nam. Đại đoàn 316 đưa thêm Trung đoàn 174 vào hoạt động ở Bắc Ninh, Quảng Yên. Ngày 30 tháng 1 năm 1952, Thường vụ Liên khu ủy 3 tổ chức hội nghị, đánh giá "nhân thời cơ địch sơ hở chủ lực ta hoạt động mạnh, phong trào du kích chiến tranh đang phát triển, hệ thống hương tổng dũng bị phá vỡ, hoang mang... khu du kích và căn cứ du kích đang phục hồi, mở rộng và mở rộng thêm. Nhưng nhiều địa phương hoạt động chưa có trọng tâm, chưa tập trung khả năng xây dựng những khu Căn cứ du kích chính..., việc phối hợp chỉ đạo trong các khu Căn cứ du kích liên hoàn giữa nhiều địa phương cần được ấn định cụ thể"1 (Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Liên khu ủy III (30, 31-1-1952), tài liệu lưu tại Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 236). Hội nghị xác định những khu Căn cứ du kích chính và phụ cần xây đựng ở các tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Hà Đông, Ninh Bình Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An và hướng dẫn thành lập những ban chỉ đạo phối hợp giữa những căn cứ du kích liên huyện, liên tỉnh. Hội nghị còn chủ trương "nhổ các vị trí lẻ, các tổ võ trang của địch" và chỉ đạo "các đơn vị bộ đội địa phương vừa tác chiến, vừa chỉnh huấn, đồng thời tăng cường lực lượng cho những khu Căn cứ du kích mở rộng"2 (Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Liên khu ủy III (30, 31-1-1952), Tlđd, tr. 238). Thực hiện kế hoạch trên, Thường vụ Liên Khu ủy 3 và Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng chủ trương đưa chủ lực vào sâu hơn nữa trong vùng quân Pháp chiếm đóng để hoạt động, phát triển chiến tranh du kích, mở rộng và củng cố các khu du kích và căn cứ du kích. Bên hữu ngạn, phối hợp với Trung đoàn 64, quân dân Hà Nam Nam Định tiêu diệt 2 đại đội biệt kích của Pháp, mở rộng căn cứ du kích thuộc 2 huyện Vụ Bản và Mỹ Lộc, nối liền lên phía Bắc với khu du kích Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động (Hưng Yên) Chợ Cháy (Hà Đông). Quân dân các tỉnh tả ngạn đẩy mạnh mọi hoạt động, làm cho phong trào chiến tranh du kích lên cao với những hình thức hoạt động phong phú, hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy phá tề xóa bỏ bộ máy chính quyền địch ở cơ sở. Riêng tỉnh Thái Bình đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút 75 vị trí địch, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Tiền Hải và Kiến Xương,hầu hết huyện Thụy Anh, một phần huyện Đông Quan, phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi và Phụ Dực. Căn cứ du kích liên huyện Tiên - Duyên - Hưng với diện tích 300km2. Hệ thống tề, dõng ở Thái Bình bị tan rã về cơ bản. Đểđối phó, Bộ Chỉ huy quân Pháp lần lượt điều các binh đoàn số 4 và số 7 tập trung càn quét từ phía Bắc xuống phía Nam của tỉnh, nhưng bị tổn thất nhiều về sinh lực, không thể đẩy bộ đội chủ lực Việt Nam ra khỏi địa bàn. Các căn cứ du kích ở Thái Bình được giữ vững. Ở Hải Dương, Hưng Yên, các lực lượng vũ trang tiến công, diệt hàng loạt vị trí địch, nhất là các vị trí hương dõng ven Đường số 5, uy hiếp mạnh tuyến vận chuyển của quân Pháp. Bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện Thanh Hà, Cẩm Giàng... đánh mìn lật đồ tàu hỏa trên đường sắt, phá hoại các trục đường 5, 17, 20 và 12B, làm tê liệt hoạt động vận chuyển của địch. Dân quân du kích phối hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương tiến công nhiều vị trí địch ở An Thi, Phù Cừ, Khoái Châu, bao vây bức hàng nhiều vị trí hương dõng, tạo điều kiện cho nhân dân 2 huyện Ân Thi, Khoái Châu vùng lên giành quyền làm chủ; liên tục đánh phá giao thông, phá hoại Đường số 5, Đường số 39 đắp ụ trên đê sông Hồng. Cơ sở chính trị được xây dựng lại ở các huyện Mỹ Hào, Văn Giang... Trong tháng 2 năm 1951, Hải Dương và Hưng Yên đã giải phóng hàng trăm thôn, xã và mở lại khu du kích, căn cứ du kích ở tất cả các huyện. Đảng bộ Kiến An phát động nhân dân nổi dậy, cùng lực lượng vũ trang bức rút, bức hàng 46 đồn hương dũng, giải phóng 22 xã, khống chế những vị trí lớn do quân chính quy Pháp đóng giữ. Căn cứ du kích Tiên Lãng - Vĩnh bảo được khôi phục, trở thành bàn đạp quan trọng để tiến công địch ở Hải Phòng, Kiến An. Trung tuần tháng 2 năm 1952, quân dân Tiên Lãng - Vĩnh Bảo anh dũng chống càn, đánh trả một binh đoàn cơ động chiến lược quân Pháp, diệt 70 tên, làm bị thương 170 tên, phá hủy 13 xe bọc thép, buộc địch phải rút lui, giữ vững căn cứ du kích. Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương Vĩnh Yên, Phúc Yên mở đợt tiến công, tiêu diệt hoàn toàn hệ thống công sự mới của quân Pháp ở Đa Phúc, 18 tháp canh hương dũng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy, giải tán các ban tề, đưa chính quyền kháng chiến ra hoạt động công khai, mở 3 khu du kích đầu tiên ở địa phương: Tây Đông Anh - Nam Yên Lãng, Tây Yên Lãng - Nam Yên Lạc, Nam Bình Xuyên - Đông Nam Yên Lạc, gồm 18 xã, 45 thôn. Cơ sở chính trị và vũ trang trong vùng địch hậu phát triển mạnh, từ 117 thôn non yếu chỉ còn 67 thôn, từ 200 thôn không có cơ sở chỉ còn 50 thôn. Đầu năm 1952, ở vùng địch hậu thuộc 2 tỉnh có 4.725 du kích và 6.035 dân quân. Ở nhiều xã du kích đã độc lập tác chiến. Thanh niên hăng hái tòng quân, vào dân quân du kích, tham gia tiếp tế, tải thương, phục vụ chiến đấu. Chính sách thuế nông nghiệp, đi dân công hỏa tuyến được thực hiện. Vụ mùa năm 1951 và vụ chiêm năm 1952, nhân dân đã nộp và chuyển ra vùng tự do 592 tấn thóc thuế... Ở phía Bắc Đường số 5, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương cùng dân quân du kích tiêu diệt 2 vị trí An Dật và Văn Tài (Quảng Yên), xóa nhiều đồn bốt và chính quyền cơ sở của địch giải phóng phần lớn huyện Nam Sách (Hải Dương); bao vây vị trí Lạc Thổ (Bắc Giang), tiêu diệt 300 lính Âu - Phi đến tiếp viện- tiêu diệt các vị trí Đồng Kỵ (huyện Tiên Du), Vân Đô (huyện Bình Giang)... Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. "Thắng lợi to lớn của ta ở mặt trận sau lưng địch làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, đã có ý nghĩa quyết định thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hòa Bình"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 459). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:26:45 pm 4. Biến hậu phương của địch thành hậu phương kháng chiến - thành công đặc sắc của quân dân đồng bằng trong Chiến dịch Hòa Bình
Đồng bằng sông Hồng, một kho người, kho của, là nơi quân Pháp ra sức bình định, chiếm đóng để biến thành hậu phương của chiến tranh xâm lược. Chúng ra sức chiếm đất, giành dân. Kháng chiến muốn thắng lợi cũng cần phải giữ đất, giữ dân. Vì thế cuộc kháng chiến ở đồng bằng luôn diễn ra vô cùng cam go. Tận dụng thời cơ khi bộ đội chủ lực liên tiếp tiến công địch trên Mặt trận Hòa Bình, quân dân đồng bằng sông Hồng, với sự phối hợp chặt chẽ ba thứ quân phát triển chiến tranh du kích lên đỉnh cao, kết hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang với phong trào nổi dậy phá tề của quần chúng, đã tiêu diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, diệt 160 cứ điểm quân Pháp và hơn 1.000 vị trí tề vũ trang, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh; mở nhiều khu du kích và căn cứ du kích, giải phóng hàng loạt làng xã với tổng diện tích 4.800km2 (chiếm 2/3 diện tích đồng bằng châu thổ). Hệ thống chiếm đóng của quân Pháp ở đồng bằng bị ruỗng nát. Cả vùng đồng bằng rung chuyển mạnh, làm xôn xao dư luận Pháp. Tờ báo Diện mạo nước Pháp (22.2.1952) viết: "Việc giữ gìn đồng bằng Bắc Bộ rất đắt đỏ cho Pháp, cán bộ quân sự Pháp bị chết trận ở đó nhiều hơn số cán bộ trường quân sự Pháp đào tạo trong cả một năm". Khu du kích và căn cứ du kích được xây dựng ở tất cả các tỉnh đồng bằng. Căn cứ du kích bao gồm 109 xã, 842 thôn, khu du kích bao gồm 163 xã và 1.460 thôn với số dân là 3.038.265 người. Nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên tỉnh, liên huyện rộng lớn được củng cố, nối liền với nhau từ Bắc Giang, Bắc Ninh đến Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông. Thắng lợi đó làm cục diện chiến trường thay đổi có lợi cho cuộc kháng chiến. Khu du kích và căncứ du kích càng mở rộng thì vùng chiếm đóng của quân Pháp càng bị thu hẹp. Đến tháng 2 năm 1952, "chỉ còn Sơn Tây, Tây Vĩnh Yên, Bắc Hà Đông, Đông Kiến An, Gia Lâm, dọc các đường giao thông quan trọng và thành phố là vùng tạm chiếm mà thôi. Ngay trong các vùng tạm chiếm này, cơ sở của ta cũng đã phục hồi nhiều... Đó là điều kiện căn bản để giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, để giải quyết vấn đề hoạt động chiến lược trong địch hậu và mọi mặt công tác địch hậu. Khả năng chiến thắng địch của ta lớn mạnh hẳn lên"1 (Báo cáo tình hình dân quân du kích các liên khu, tổng kết phong trào du kích chiến tranh ở Bắc Bộ, 1952, tài liệu lưu tại Trung tâm lữu trữ Bộ Quốc phòng tr. 7-8). Nếu như mỗi khu du kích khi ra đời ở đồng bằng trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến còn nhỏ bé và nằm trong tình thế bị địch bao vây, thì trong thời gian diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, cả một hệ thống căn cứ du kích được xây dựng và nối liền nhau, tạo thành thế liên hoàn, trở thành một tấm lưới bủa vây quân địch, làm cho lực lượng quân Pháp bị chia cắt, phân tán và bị giam chân ờ khắp nơi, khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực của quân xâm lược; là một thành tổ để phát triển chiến tranh du kích, đưa chiến tranh nhân dân ở vùng đồng bằng lên đỉnh cao. Căn cứ du kích không chỉ là hậu phương của chiến tranh du kích, điểm tựa của lực lượng vũ trang địa phương để tiến hành kháng chiến lâu dài, mà còn là nơi đứng chân của các trung đoàn và đại đoàn bộ đội chủ lực trên đường tiến vào địch hậu để tác chiến hoặc rút ra vùng tự do để xây dựng lực lượng. Hai đại đoàn 320 và 316 có thể tiến sâu vào vùng địch hậu hoạt động trong một thời gian dài là nhờ sự phát triển của các căn cứ du kích và khu du kích. Đó là nét độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử thế giới. Căn cứ du kích không chỉ là chiến trường, là trận địa tiến công địch từ trong lòng chúng, mà còn là một loại hình hậu phương tại chỗ của chiến tranh nhân dân, là nơi cung cấp sức người sức của cho kháng chiến. Biến hậu phương của địch thành hậu phương kháng chiến, "các đảng bộ và chính quyền địa phương đã tổ chức các ban cung cấp, ban quân lương, từ huyện đến xã, chuẩn bị cơ sở vật chất, cơ sở quần chúng cho bộ đội vào hoạt động. Do đó, khi chiến dịch mở màn, nhân dân địch hậu đã tích cực giúp đỡ bộ đội, lương thực, thực phẩm được tiếp tế đầy đủ"1 (Biên niên sự kiện Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1944 - 1954, Tổng cục Hậu cần xuất bản, Hà Nội, 1986, tr. 273). Tính chung trong thời gian diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, nhân dân đồng bằng đã cung cấp cho bộ đội 6.275 tấn gạo, 70 tấn muối, 60 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác, phục vụ 6.390 thương binh; huy động 333.200 dân công phục vụ chiến dịch. Thắng lợi của chiến tranh du kích ở đồng bằng sông Hồng trong Đông - Xuân 1951 - 1952 là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện; thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo sắc sảo, linh hoạt của các cấp ủy Đảng và chỉ huy các cấp. Đó cũng là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh: "Nước lấy dân làm gốc". Thắng lợi đó cũng khẳng định, ở đâu có nhân dân yêu nước thì ở đó có nhân tố của hậu phương. Vì thế, hậu phương không còn là đối xứng của tiền tuyến theo cách hiểu thông thường, cũng không thể phân biệt rạch ròi với tiền tuyến chỉ bằng yếu tố không gian, mà đan xen với tiền tuyến, làm cho tiền tuyến cũng là hậu phương, hậu phương cũng là tiền tuyến. Đó là nét đặc sắc của hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam, là một đóng góp quan trọng của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:29:58 pm BẾP HOÀNG CẦM - MỘT SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH Phó Viện trường Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có một điều còn ít người biết đến, đó là từ chiến dịch này, một sáng tạo độc đáo đã đi cùng với Quân đội ta, nhân dân ta đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đến nay, sau 70 năm, sáng tạo đó vẫn còn nguyên giá trị, nó tiếp tục được nghiên cứu và đưa vào chương trình huấn luyện cho bộ đội. Đó là cái bếp được mang tên người sáng tạo ra nó - Bếp Hoàng Cầm. Bếp Hoàng Cầm là bếp dã chiến đào dưới đất, đun bằng củi, không bị lộ khói và lửa, tránh địch phát hiện do Tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm thuộc Đội điều trị Sư đoàn 308 sáng tạo ra1 (Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Từ điển Hậu cần quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 47). Bếp được mang tên người tiểu đội trưởng nuôi quân nghiên cứu, sáng tạo ra trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952)2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Từ điển Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 19). Ngày 14 tháng 11 năm 1951, thực hiện âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng, cắt đứt giao thông liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với các chiến trường, phá vỡ kế hoạch chuẩn bị Thu - Đông 1951 - 1952 của ta, giành thế chủ động trên chiến trường chính, Bộ Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp huy động 20 tiểu đoàn bộ binh và dù, 7 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn thiết giáp 2 đại đội xe tăng, nhiều tàu chiến mở cuộc tiến công đánh chiếm các vị trí then chốt của ta ở khu vực Hòa Bình, Đường số 6, sông Đà - Ba Vì. Địch tấn công ra Hòa Bình trong lúc ta đang tích cực chuẩn bị cho kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952 nhưng gặp khó khăn về chọn hướng chiến dịch. Nhận thấy đây là một cơ hội tốt để ta diệt địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch và chọn Hòa Bình làm hướng chính của kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952. Diễn biến Chiến dịch Hòa Bình được chia làm 3 đợt. Đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá phòng tuyến Sông Đà, đánh địch càn quét ở Nam Ba Vì, tiến công diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh nhiều trận phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6, đồng thời đánh mạnh ở vùng địch hậu Bắc Ninh. Thực dân Pháp phải rút bớt lực lượng cơ động từ Hòa Bình về Bắc Ninh để đối phó, nhưng ngay sau đó phải đưa quân trở lại cứu nguy cho Hòa Bình. Đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập kích diệt địch ở các điểm cao 500 và 564; trên hướng Đường số 6 tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi, tiêu diệt một bộ phận địch. Quân Pháp cố gắng tăng viện cho Hòa Bình song vẫn không đánh thông được tuyến sông Đà, phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hòa Bình. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình: Tập kích tiêu diệt trận địa pháo và 4 vị trí địch ở trung tâm và ngoại vi thị xã; đánh cắt giao thông, làm tê liệt vận chuyển của địch trên Đường số 6. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, ngày 23 tháng 2 quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình. Kết quả toàn chiến dịch, ta loại khỏi chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 khẩu pháo, hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với các liên khu 3 và 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp1 (Bộ Quốc phòng, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 176). Bước vào đợt 2 chiến dịch, bộ đội ta chuyển sang vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6. Nhiều đơn vị phải liên tục bám sát trận địa, vây đánh địch cả ngày đêm. Do yêu cầu tác chiến liên tục để giữ gìn sức khỏe cho bộ đội, các đơn vị đã chú trọng tổ chức cải thiện sinh hoạt với khẩu hiệu "rau xanh, cơm nóng, nước chín, không để đói"2 (Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 152). Địch đánh phá ác liệt, ban ngày nuôi quân không triển khai nấu ăn được. Việc bảo đảm cơm nóng, nước sôi cho bộ đội rất khó thực hiện. Anh em cấp dưỡng phải chuyển sang nấu ăn chủ yếu về đêm nhưng vẫn bị địch phát hiện, đánh phá. Lúc đầu có đơn vị còn tổ chức cho bộ đội ở tuyến sau đốt củi lấy than hoa chuyển lên để có thể giảm lượng khói bay lên khi nấu ban ngày, nhưng làm như vậy tốn công mà không nấu được nhiều. Có đơn vị nấu cơm ban đèm, gói vào lá dong rồi đào hố để ủ cơm. Bộ đội thường xuyên phải ăn nguội hoặc không có cơm ăn nên sức khỏe bị giảm sút. Các bếp nấu ăn của các đơn vị thường xuyên là mục tiêu đánh phá của địch do bếp bị địch phát hiện bởi ban ngày nâu ăn bị lộ do khói bếp bay lên, ban đêm nấu ăn bị lộ bởi ánh lửa. Việc lộ bếp lúc nấu ăn nhiều khi còn dẫn đến lộ bí mật khu vực bố trí hậu cần của đơn vị, ảnh hưởng đến ý định và phương án tác chiến. Chiến sĩ nấu ăn không được che chắn bảovệ nên khi địch đánh phá vào khu vực bếp dễ bị thương vong. Việc nấu ăn của nuôi quân còn chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết, nhất là khi mưa gió làm cho củi và bếp bị ướt. Hiệu quả sử đụng nhiệt thập, tốn nhiều củi và mất nhiều thời gian nấu ăn. Chính vào thời điểm này, Tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm thuộc Đội điều trị Đại đoàn 308 đã mày mò, nghiên cứu thành công một kiểu bếp đơn giản nhưng rất hiệu quả. Bếp được đào xuống đất, sử dụng chất đốt bằng củi khô. Khi đun ánh lửa được che chắn kỳ nên xung quanh không nhìn thấy, khói không tạo thành cột mà tồn tại như dạng sương mù bay là là mặt đất nên tránh bị địch phát hiện, đánh phá. Bếp gồm: Hố đặt nồi (chảo), hố ngồi nấu, hệ thống đường dẫn khói và tản khói; rãnh thoát nước và mái che. Bếp vừa che được ánh lửa khi nấu ban đêm, vừa làm cho khói lan tỏa rộng khi nấu ban ngày. Sáng kiến này đã bảo đảm cho bộ đội có cơm nóng và nước uống đầy đủ cả ngày và đêm ngay trên trận địa1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Hậu cần - Kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 388). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:32:09 pm Hoàng Cầm sinh ra và lớn lên ở làng Cát Nội, xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Sau đó gia đình chuyển lên sinh sống tại làng Đồi Mây, nay là thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 2 năm 1946, Hoàng Cầm tình nguyện lên đường vào bộ đội chống Pháp. Trước khi vào quân ngũ, ông làm đầu bếp cho một gia đình ở Hà Nội. Có lẽ vì thế, ông được giao làm chiến sĩ nuôi quân thuộc đơn vị quân y tiền phương Đại đoàn 308. Là anh nuôi, ông luôn tận tâm, tận lực với công việc nấu ăn phục vụ bộ đội trong nhiều chiến dịch. Qua các chiến dịch, ông nhận ra chiến tranh ngày càng khốc liệt, bộ đội ta chiến đấu, hy sinh không chỉ ở mặt trận giáp mặt quân thù mà hy sinh, thương vong ngay cả khi về hậu cứ nghỉ ngơi, sinh hoạt. Nguyên nhân của việc mất mát ấy có một phần do việc nấu ăn hằng ngày của anh em nuôi quân. Những cột khói từ những khu vực đặt bếp nuôi quân bốc lên cao, máy bay địch phát hiện được đã trút bom đạn xuống. Tổ anh nuôi của ông và nhiều đơn vị khác đã phải thường xuyên phòng tránh bằng cách chuyển sang nấu ăn ban đêm, khi nghe tiếng động cơ máy bay địch bay tới thì dập lửa, dội nước nhưng nhiều khi vẫn không tránh kịp. Đang đun, dập lửa, rồi sau đó nấu lại, cơm thường bị khê, sống. Nấu ăn vào ban đêm, mang đến cho bộ đội vào ban ngày thì cơm đã nguội lạnh, hoặc ôi thiu. Bộ đội ăn cơm sống, khê, nguội lạnh, không đảm bảo sức khỏe. Có lần, thủ trưởng đơn vị đi kiểm tra, nhắc tổ nuôi quân: Các đồng chí cố gắng xem có cách nào khắc phục cái bếp. Để anh em thương vong chết chóc ở ngay nơi đóng quân và ăn uống khổ cực là mình có tội với nhân dân, với bộ đội đây.
Ông trăn trở ngày đêm suy nghĩ. Có buổi ông ngồi hàng giờ đồng hồ dưới tán cây rừng quan sát anh em nhóm bếp và đăm đăm nhìn ngọn lửa, nhìn làn khói cuồn cuộn bay lên. Rồi ông chợt nhớ đến cách nấu cám lợn ở quê. Bếp thường đắp bằng đất sét bao kín chung quanh chỉ để một lỗ thoát hơi phía sau, nên lửa cháy tập trung ít bốc ra ngoài. Nhưng làm thế nào để bếp đun không có khói bốc lên. Ông lại nghĩ ra cảnh mình từng đi hun chuột ngoài đồng. Đào cửa hang sâu xuống, chất rạ đốt, hầu như khói hút cả vào trong hang. Như vậy, nếu áp dụng để cải tiến thành bếp nuôi quân kiểu mới sẽ hạn chế được khói và lửa bốc cao. Từ suy nghĩ đó, ông miệt mài nghiên cứu, vẽ sơ đồ một số kiểu bếp. Lúc rảnh, ông tranh thủ vác xẻng, đeo xoong nồi, đi vào rừng đào bếp thử nghiệm. Chưa biết thành công hay thất bại, nhưng sợ anh em tốn sức, vất vả, ông giấu kín mọi người. Ông đào hàng chục cái bếp khác nhau, có nhiều nhánh dẫn khói như hang chuột. Làm xong, ông đặt nồi lên từng cái bếp rồi chất củi đun thử. Kết quả tạm được, nhưng lửa vẫn lộ, khói ra vẫn phảng phất bay lên. Ông lại hì hục đào bếp khác. Lần này ông đào các đường dẫn khói chia ra nhiều nhánh và dài hơn. Trên rãnh dẫn khói, ông rải cành cây rồi đổ đất san phẳng. Phía trước cửa bếp đào một hố sâu để chiến sĩ nuôi quân ngồi nấu, trên phủ lá cây để che ánh lửa khi đun nấu. Phía sau có ống dẫn khói ra hầm chứa khói để hút lửa mạnh hơn. Lần này bếp có nhiều ưu điểm hơn, đã giấu kín được ánh lửa, nhưng khói trên ống dẫn vẫn lảng vảng bay lên ngọn cây. Rồi ông chợt nhớ ngày ở quê, chiều chiều nấu cơm, gặp trời mưa, khói chui qua mái tranh ướt, bốc lên nhè nhẹ như sương mù. Thế là ông lật hết cành cây khô lát trên đường ống dẫn khói, rồi dùng cây chuối rừng chẻ ra lát lên trên, phủ đất san phẳng và dùng nước tưới đều lên rãnh dẫn khói. Quả nhiên, khi đun khói cứ là là tỏa đều mặt đất, không bốc lên cao nữa. Trong hồi ức của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp có đoạn viết: Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc ở đây một sáng kiến đã mang lại sự cải thiện rất quan trọng trong đời sống các chiến sĩ ngoài mặt trận. Khói lửa từ những bếp của anh nuôi đã nhiều lần làm lộ vị trí trú quân, dẫn đến những tổn thất xương máu... Một chiến sĩ nuôi quân ở Trạm Quân y của Đại đoàn 308 đã có sáng kiến đào những đường rãnh thoát khói bên sườn núi, nối liền với lò bếp, bên trên rãnh đặt những cành cây và phủ một lớp đất mỏng được tưới nước để giữ độ ẩm. Khói từ trong lò bếp bốc lên qua các đường rãnh chỉ còn là một dải hơi nước tan nhanh khi rời khỏi mặt đất. Từ đó anh nuôi có thể thổi nấu ban ngày, ngay cả khi máy bay trinh sát địch bay trên đầu. Bộ đội bắt đầu được ăn cơm nóng, uống nước nóng1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 286). Cái bếp do chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm sáng tạo ra rất phù hợp với việc nấu ăn cho bộ đội, nhất là khi phải đóng quân gần địch. Bếp có các đặc điểm nổi bật: Giấu được ánh lửa, giấu được khói, bảo vệ được người nấu; hệ số sử dụng nhiệt cao nên quá trình nấu ăn nhanh, tiết kiệm củi, nhiên liệu; giữ cho nồi chảo không bị ám khói và đóng nhọ nồi xung quanh. Bếp đào xuống đất nên ánh lửa của bếp được che kín, khói theo các rãnh len lỏi trong đất ẩm và lá cây tạo thành màn sương mỏng bay là là mặt đất không bốc lên cao. Chiến sĩ nuôi quân ngồi dưới hố sâu hoặc trong hầm kiên cố, không sợ máy bay địch phát hiện đánh phá. Từ đó, bộ đội được phục vụ ăn uống đúng giờ, có cơm canh nóng, nước sôi. Khi quân ta ém sát địch, chiến sĩ nuôi quân vẫn nổi lửa nấu ăn không kể đêm, ngày. Củi được để trong hầm có mái che nên không bị ảnh hưởng khi thời tiết mưa gió. Tháng 10 năm 1952, đơn vị đề nghị và được cấp trên quyết định bếp mang tên người chiến sĩ đã sáng tạo ra nó: Bếp Hoàng Cầm. Chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm được tặng thường Huân chương Chiến công hạng Ba. Và năm đó ông được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Bếp Hoàng Cầm ngay sau đó được phổ biến, áp dụng trong toàn quân. Do có hiệu quả trong sử dụng, phù hợp với điều kiện chiến đấu, bếp Hoàng Cầm nhanh chóng được phổ biến và thực hiện rộng rãi đáp ứng yêu cầu cải thiện ăn uống, tăng sức chiến đấu của bộ đội1 (Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr. 152), đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch có quy mô lớn nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến dịch được tổ chức trong điều kiện địa hình hết sức phức tạp, trận địa của ta và địch sát gần nhau nên công tác bảo đảm cho bộ đội gặp nhiều khó khăn do hỏa lực và không quân của địch khống chế mạnh, liên tục uy hiếp ta suốt ngày đêm. Do vậy, việc sử dụng bếp Hoàng Cầm đặt dưới hầm để nấu ăn cho bộ đội trong chiến đấu phát huy hiệu quả rất cao. Bếp bảo đảm yếu tố bí mật, tránh được sự phát hiện của máy bay địch, hạn chế thương vong cho bộ đội. Thậm chí, có đơn vị hàng trăm người, đóng quân ngay sát các cứ điểm của địch trong thời gian dài mà địch hoàn toàn không biết vị trí đặt bếp. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 17 Tháng Chín, 2025, 09:33:28 pm Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bếp được cải tiến với kích thước lớn hơn, có hệ thống đường hào liên hoàn nối liền với hố chiến đấu, hầm bếp, hầm chứa lương thực, thực phẩm, hầm ngủ kiểu chữ A, phù hợp với điều kiện chiến đấu phòng ngự tại các căn cứ chiến đấu, các binh trạm. Bếp còn được làm trong các địa đạo Vĩnh Linh, Củ Chi1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Từ điển Lịch sử quân sự Việt Nam, Sdd, tr. 20). Bếp Hoàng Cầm có thể bảo đảm yêu cầu ăn, uống cho bộ đội với số lượng lớn và đối phó với khả năng phát hiện bằng các phương tiện trinh sát hiện đại của địch. Một số nơi địa hình núi đá kênh rạch, nền đất yếu không thể đào bếp được, bộ đội còn có sáng kiến làm sẵn các "môđun bếp", khi cần triển khai sẽ chọn địa hình rồi lắp ghép các bộ phận lại, phủ cây cỏ, đất vụn lên trên, tưới nước tạo ẩm, vừa rút ngắn thời gian triển khai mà vẫn đáp ứng yêu cầu phòng tránh, giữ bí mật.
Bếp Hoàng Cầm là một sáng tạo độc đáo của bộ đội ta để giải quyết yêu cầu thực tiễn đặt ra trong chiến đấu. Bếp dễ làm, triển khai nhanh được ở nhiều địa hình khác nhau. Bếp sử dụng được cả trong quá trình hành quân dã ngoại và cả trong chiến đấu ác liệt. Chiến sĩ nuôi quân có thể nấu ăn trong mọi điều kiện để bảo đảm đầy đủ, kịp thời cơm ăn nước uống cho bộ đội. Từ chiếc bếp sơ khai do Tiểu đội trưởng cấp dưỡng Hoàng Cầm sáng tạo ra trong Chiến dịch Hòa Bình, sau 70 năm, qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bếp không ngừng được cán bộ, chiến sĩ nghiên cứu cải tiến và dần hoàn thiện. Đến nay, theo quy mô cấu tạo, bếp Hoàng cầm được phân chia thành 3 loại: Bếp cấp 1, cấp 2 và cấp 3. Bếp cấp 1 cấu tạo gồm hầm bếp, hệ thống thoát khói và mái che tạm thời bằng tăng bạt, lá cây. Bếp thường được sử dụng trong thời gian tạm dừng khi hành quân còn cách xa địch, ít phi pháo hoặc trong chiến đấu tiến công. Bếp cấp 2 cũng gồm 3 phần như bếp cấp 1, nhưng ở bếp cấp 2 phải đưa cả khu vực đun nấu xuống hầm. Bếp có chỗ để thực phẩm, có bể nước, trên lát bằng tre, gỗ chắc chắn, phía trên hầm lấp đất dày 0,5m trở lên. Bếp cấp 3 tương tự như bếp cấp 2, có thêm hầm chứa lương thực, thực phẩm và hầm ngủ của nuôi quân, mái hầm bếp bằng bê tông hoặc gỗ, phía trên lấp đất dày trên 1 m. Bếp dùng trong chiến đấu phòng ngự hoặc trú quân dài ngày gần địch, nơi địch đánh phá ác liệt. Cấu tạo bếp Hoàng cầm cấp 1 gồm có các bộ phận chính: 1. Bệ bếp: Nếu là đất bằng thì mặt bệ bếp cần đào thấp xuống 15 - 20cm, kích thước dài 1,4m, rộng 0,8m, cao 0,8m, phía dưới chân bệ bếp làm một gờ rộng 10cm để đỡ củi dọc theo chiều dài bệ bếp. 2. Hố đặt nồi: Lấy nồi đặt lên bệ bếp, khoanh đánh dấu rồi khoét dần, khi đặt nồi xuống, nồi còn thừa lên trên khoảng 5cm là vừa, xung quanh mép hố ôm sát khít vào thành nồi. Trong lòng hố khoét hình tang trống, sửa cho nhẵn, tạo ra một khoảng cách với thành nồi để khi đun ngọn lửa lùa đều xung quanh, tận dụng nhiệt lượng, đun chóng sôi. Đáy hố cách đáy nồi khoảng 20 - 25cm. Hai nồi cách nhau khoảng 15cm. 3. Cửa bếp: Cửa bếp được khoét cân đối với mặt nồi có dạng hình vòm loa kèn (bên trong to, bên ngoài nhỏ), rộng 20 - 25cm, cửa bếp nhỏ hơn khoảng cách từ đáy nồi tới đáy hố đặt nồi 5cm. 4. Ống khói: Đào phía trong đáy hố đặt nồi, hướng lên phía trên, khoét ống khói cao dần lên nối đến hầm chứa khói, bảo đảm luồng khói thoát ra đi được dễ dàng. 5. Hố ngồi của người nấu: Để chiến sĩ nuôi quân ngồi đun nấu, đồng thời che chắn ánh lửa và che chắn bảo đảm an toàncho nuôi quân. Hố có chiều dài bằng bề dài bệ bếp, rộng khoảng 0,80m và sâu tùy yêu cầu, nhưng tối thiểu phải bằng 0,95m. 6. Hệ thống dẫn khỏi, chứa khói, tản khói: Hệ thống thoát khói có tác dụng hút khí tạo ra sự đối lưu không khí giúp cho bếp cháy tốt và dẫn khói thoát ra tạo thành làn khói mỏng. Hệ thống thoát khói gồm 3 bộ phận: Hầm chứa khói, rãnh dẫn khói và tia tản khói. Rãnh dẫn khói có tiết diện 30x30cm, chiều dài từ ống khói đến hầm chứa khói thứ nhất 2,5 đến 3m, thẳng góc và cân đối với chiều dài bệ bếp, hướng thoai thoải vươn lên, góc vươn 30°C là tốt nhất. Rãnh dẫn khói đưa khói tới 2 hầm chứa khói, hầm thứ nhất có kích thước 0,8x0,8x0,8m. Hầm thứ 2 cách hầm thứ nhất 3m có kích thước 1x1x1m. Các tia tản khói bắt đầu từ hầm chứa khói thứ 2. Mỗi bếp thường có 3 tia tản khói, có tiết diện 20x20cm hoặc 25x25cm, dài ít nhất là 7m; đầu tia tản khói khuất vào trong bụi rậm hoặc lùm cây. Phía trên hầm khói, rãnh khói và tia tản khói được lát bằng cây, que tươi, phủ một lớp lá tươi và trên cùng là một lớp đất ẩm, tơi xốp để cho khói thoát ra thành làn khói mỏng. 7. Mái che, lợp bếp: Nhằm giữ cho ánh lửa không lọt ra ngoài và đun nấu được trong mọi điều kiện thời tiết. Có thể dùng tăng bạt có khung là tre, nứa, cây gỗ nhỏ căng ra che kín bếp hoặc dùng tranh, lá để lợp. Đề phòng khi trời mưa nước tràn xuống bếp, cần đào xung quanh bếp hệ thống rãnh thoát nước để dẫn nước chảy ra ngoài; khi đào bếp ở sườn đồi phải đắp bờ cao, chắc chắn để giữ nước khỏi tràn vào gây ngập và vỡ bếp. Với những ưu điểm vượt trội, bếp Hoàng Cầm được sáng tạo ra từ trong Chiến dịch Hòa Bình, trải qua thực tiễn, sau 70 năm, bếp Hoàng Cầm vẫn được các đơn vị trong toàn quân sử dụng trong điều kiện huấn luyện dã ngoại và là một nội dung huấn luyện về hậu cần của các đơn vị trong toàn quân. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:02:10 pm CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH VÀ CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ BƯỚC PHÁT TRIỂN Thượng tá, ThS LÊ QUANG LẠNG Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Mười chín năm là khoảng thời gian giữa 2 chiến dịch: Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) trong kháng chiến chống thực dân Pháp và Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1 - 23.3.1971) trong kháng chiến chống Mỹ. Mặc dù diễn ra ở hai thời điểm, với đặc điểm tình hình, đối tượng tác chiến, phương châm tác chiến mục tiêu chiến dịch và các yêu cầu về chuẩn bị, tổ chức sử dụng lực lượng, công tác bảo đảm,v.v.. khác nhau, nhưng thông qua việc so sánh đổi chiếu có thể gợi ra những nét tương đồng "thú vị" giữa 2 chiến dịch về thời cơ, hiệu quả và những tác động đối với cục diện chiến tranh. 1. Thời cơ tiêu diệt sinh lực đối phương Trong cả 2 chiến dịch Hòa Bình và Đường 9 - Nam Lào "thời cơ tiêu diệt sinh lực đối phương" là yếu tố nổi bật. Thời cơ do khách quan và chủ quan tạo nên sẽ trở thành lợi thế nếu biết tranh thủ, tận dụng. Do đó, trong khi các đại đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam khẩn trương chuẩn bị mở chiến dịch ở trung du, hữu ngạn sông Hồng và Tây Bắc theo phương án tác chiến mùa Đông thì quân Pháp tổ chức đánh ra Hòa Bình1 (Quân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộngkhu chiếm đóng, bịt chặt của ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyểncủa ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bịtiến công Thu - Đông của ta. Cuộc tiến công do tướng Xalăng (Raoul Salan) - Phó Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy. Ngày 9 tháng 11, quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến; ngày 14 tháng 11, tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp vả 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6, Ba Vì. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, Pháp để lại 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội và 1 trung đội xe tăng tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hoà Bình - Đường số 6 (Khu Nam); ngoài ra, có Phân khu Chợ Bến là tiên đôn phía Đông bảo vệ Hòa Bình). Trước hành động của quân Pháp, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy nhận định: "Cuộc tiến công của địch sẽ gây cho ta những khó khăn nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực của địch"2 (Dẫn theo: Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 324). Vì "địch đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi...; vì phần lớn lực lượng cơ động đã tập trung vào Mặt trận Hòa Bình, cho nên lực lượng của địch ở vùng địch hậu đồng bằng bị dàn mỏng..., các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước"3 (Dẫn theo: Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 324). Tiếp đó, ngày 21 tháng 11 năm 1951, thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí Phạm Văn Đồng4 (Lúc này là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ) gửi thư cho Tổng Quân ủy chỉ rõ: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng, và quyết tâm đánh và thắng... ta khéo và quyết nhằm chỗ hở của nó mà đánh cho đúng,cho kịp thời, chuẩn bị chu đáo và bí mật thì ta sẽ thắng"1 (Dẫn theo: Trận đánh 30 năm, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 460). Tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch Thu - Đông của chúng"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Do yêu cầu và tầm quan trọng của Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chính trị quyết định tập trung 3 đại đoàn chủ lực (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351 cho mặt trận chính Hòa Bình, đồng thời đưa 2 đại đoàn chủ lực (316, 320) vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hoà Bình gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch. Đối với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, thời cơ để chuẩn bị tiến hành một đòn phản công quyết liệt tiêu diệt địch xuất hiện sớm hơn so với Chiến dịch Hòa Bình. Ngay từ giữa năm 1970, trên cơ sở nắm bắt được ý đồ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cơ quan tham mưu chiến lược của ta nhận định: Sau khi kết thúc cuộc tiến công sang Campuchia, Mỹ và quân đội Sài Gòn sẽ mở một số cuộc hành quân lớn đánh phá hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, trọng điểm là hướng Đường 9 - Nam Lào. Đúng như nhận định của cơ quan tham mưu chiến lược, đầu năm 1971, quân đội Sài Gòn và quân Mỹ cùng lúc mở 3 cuộc hành quân lớn: Lam Sơn 719 (Đường 9 - Nam Lào), Toàn Thắng 1 -71 (miền Đông Nam Bộ - Đông Bắc Campuchia) và Quang Trung (Bắc Tây Nguyên - Khu vực Ngã ba biên giới). Trước hành động của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thống nhất nhận định: Đây là bước phiêu lưu quân sự cực kỳ nghiêm trọng, nhưng cũng là một sai lầm về chiến lược của địch. Cả 3 cuộc hành quân nói trên đều nằm trong một động thái thống nhất nhằm thực hiện có hệ thống biện pháp chiếm đất giành dân, tiêu diệt Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và triệt phá cơ sở hậu cần, chặn cắt hành lang vận chuyển chi viện Bắc - Nam. Do đó, các chiến dịch phản công đánh bại các cuộc hành quân nói trên không diễn ra đơn lẻ, cục bộ, mà gắn kết thành một hệ thống, có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình chiến đấu. Việc địch tập trung lực lượng1 (Địch huy động lúc đầu gồm 3 sư đoàn (bộ binh, dù, thuỷ quân lục chiến) và Liên đoàn Biệt động quân 1 quân đội Sài Gòn, 2 lữ đoàn thiết giáp (7 tiểu đoàn, có 4 tiểu đoàn Mỹ), 16 tiểu đoàn pháo binh (5 tiểu đoàn Mỹ), 700 máy bay các loại, tổng số quân khoảng 42 nghìn (có 9 nghìn lính Mỹ); trong quá trình hành quân bổ sung thêm 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến (369), Trung đoàn bộ binh 4 (Sư đoàn bộ binh 2) và một số đơn vị hoả lực, nâng tổng quân số lên 55 nghìn (có 15 nghìn lính Mỹ), 578 xe tăng, thiết giáp, 318 pháo từ 105mm trở lên. Quân đội Phái hữu Lào tham gia phối hợp có 2 binh đoàn cơ động (30,31 ) gồm 9 tiểu đoàn bộ binh. Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào) mở cuộc hành binh lớn ở khu vực Đường 9 - Nam Lào đặt ra yêu cầu bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược, đồng thời đây cũng là cơ hội thực hiện một trận "quyết chiến chiến lược" nhằm tiêu diệt một bộ phận lớn quân đội Sài Gòn, làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Với tầm quan trọng của chiến dịch, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được cử vào chiến trường trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Ngày 31 tháng 1 năm 1971, trong cuộc họp với Bộ Tư lệnh Chiến dịch1 (Bộ Tư lệnh Chiến dịch do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy), Tổng Tham mưu trưởng đã quán triệt yêu cầu của Trung ương Đảng đối với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đó là: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng dự bị chiến lược của địch; làm thất bại một bước âm mưu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến tới giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc; thực hiện vẻ vang nhiệm vụ quốc tế, đồng thời nâng cao trình độ tác chiến của các đơn vị chủ lực... Cần thấy rằng, thời cơ tiêu diệt sinh lực đối phương đặt ra yêu cầu rất cao, trước hết là sự chủ động, nhạy bén, đúng đắn, sáng suốt về chỉ đạo chiến lược và chỉ huy điều hành chiến dịch. Cả trong Chiến dịch Hòa Bình và Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy (thời kỳ chống Mỹ gọi là Quân ủy Trung ương) đều nắm giữ và từng bước làm chủ tình hình; giải quyết được những tình huống khó khăn, bất ngờ trong quá trình chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:04:40 pm 2.Hiệu quả của quá trình chỉ đạo, chỉ huy và thực hành chiến dịch
Trong Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân ta phải đối mặt với lực lượng địch đông, vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu hiện đại, được bố trí trong 3 phân khu: Phân khu Chợ Bến, Phân khu Sông Đà và Phân khu Hòa Bình (bao gồm cả Đường số 6). Riêng tại thị xã Hòa Bình, địch xây dựng một cụm cứ điểm lớn với binh lực 8 tiểu đoàn. Hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm đã xuất hiện2 (Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, Sđd, tr. 326). Do đó, để giành thắng lợi cho chiến dịch, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đặt ra yêu cầu hết sức khẩn trương, nhấtlà công tác nắm địch và bảo đảm hậu cần. Ta phải cố gắng nổ súng mở màn càng sớm càng tốt để tận dụng tình trạng còn sơ hở của địch1 (Lúc đầu, ta định tiến hành chiến dịch phản công khi địch đang còn tiến công, phần lớn vị trí chiếm đóng chưa được củng cố. Tuy nhiên, do không chuẩn bị kịp, ta chuyển từ ý định chiến dịch phản công sang chuẩn bị và tiến hành chiến dịchtiến công quân địch đã chiếm đóng), hạn chế khả năng chúng củng cố thế chiếm đóng. Qua nghiên cứu nắm bắt tình hình địch và khả năng của bộ đội ta, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định cách đánh chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện"; kết hợp đánh địch trong công sự với đánh phục kích, đánh địch càn quét hoặc tăng viện, ứng cứu bằng đường bộ, đường sông hoặc đường không2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 127-128)...; khoét sâu khó khăn của địch về vận tải, tiếp tế, dồn địch vào thế bị bao vây, cô lập; tổ chức, sử dụng lực lượng thích hợp, bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày trên phạm vi chiến trường rộng lớn... Về vận dụng chiến thuật, các đơn vị chủ lực đã vận dụng đúng nguyên tắc tập trung binh lực ở một điểm để tiến công, đồng thời bố trí lực lượng hai đến ba mặt để bao vây, tiêu diệt địch; phát huy lối đánh gần để hạn chế ưu thế hỏa lực pháo binh, máy bay của địch và khoét sâu chỗ yếu về mặt tinh thần của chúng. Trên hướng chính diện Mặt trận Hòa Bình, ngoài đánh công kiên và đánh chính diện như các chiến dịch trước, lần này bộ đội phát triển nhiều cách đánh mới như đánh địch vận chuyển trên sông, dùng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao và trận địa pháo của địch... Riêng với hình thức chiến thuật công kiên đã khẳng định qua Chiến thắng Tu Vũ, mở ra khả năng đánh tiêu diệt quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc với hình thức cụm cứ điểm cỡ tiểu đoàn tăng cường có xe tăng, pháo binh chi viện, tạo điều kiện cho các trận công kiên lớn trong các chiến dịch sau này. Ở hướng phối hợp, các đơn vị thực hiện "đánh điểm, diệt viện", "vây điểm, diệt viện"kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, tiến công và nổi dậy của quần chúng. Đặc biệt, nổi lên cách đánh tập kích sâu vào lòng địch, đánh công sự mới, để lại nhiều kinh nghiệm về vận dụng các hình thức chiến thuật cho các chiến dịch sau này. Có thể nói, diễn tiến Chiến dịch Hòa Bình đã khẳng định thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, là nguyên nhân quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, trải qua 3 đợt tiến công (10.12.1951 - 25.2.1952), tại Mặt trận Hòa Bình, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Tại mặt trận địch hậu, quân và dân ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 quân địch, thu 6.000 súng các loại, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hòa Bình giành thắng lợi. Sự chỉ đạo phối hợp có hiệu quả giữa hai mặt trận là yếu tố quyết định trực tiếp thắng lợi của chiến dịch1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Hòa Bình). Cuộc giao tranh giữa ta và địch tại Đường 9 - Nam Lào thực sự là một cuộc đấu trí, đấu lực đầy cam go, thử thách. Đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đưa quân sang vùng Nam Lào là thử thách sức mạnh cuối cùng của quân đội Sài Gòn trước khi quân Mỹ rút về nước. Thắng hay thua trong cuộc hành quân này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong của"Học thuyết Níchxơn (R.Nixon)" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ,cũng như uy tín của Tổng thống Mỹ Níchxơn. Và, mặc dù đặt hy vọng vào cuộc hành quân, nhưng giới quân sự Mỹ không giấu được những băn khoăn: "Đối với quân đội Việt Nam cộng hòa, mặc dù trước đây họ từng tham gia nhiều cuộc hành quân tìm diệt, nhưng cuộc hành quân Lam Sơn 719 mới thực sự là cuộc đọ sức trong một cuộc chiến tranh quy ước. Về phương diện này, không ai có thể phủ nhận quân đội Sài Gòn đã có sự chuẩn bị kém hơn nhiều so với quân đội Bắc Việt Nam"1 (History of the Joint Chiefs of Staff (Willard J. Webb and Walter S. Poole), The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam 1971-1973, ...,p. 2). Về ta, tiến hành chiến dịch phản công tường chừng như là sự bị động chống đỡ với cuộc tiến công của đối phương. Tuy nhiên, ta đã chủ động chuẩn bị trước một chiến dịch phản công quy mô lớn. Về mặt chiến lược, ta nắm chắc toàn bộ âm mưu, kế hoạch hành binh đánh ra Đường 9 - Nam Lào của địch ngay từ đầu nên đã chủ động chuẩn bị và điều địch vào phương án chọn sẵn. Về chiến dịch, ta cũng hoàn toàn chủ động nên địch không phát huy được sức mạnh các binh chủng kỹ thuật như tăng, thiết giáp, không quân, pháo binh chi viện cho bộ binh2 (Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng - thiết giáp (177, 297, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38,45, 84), 4 trung đoàn pháo phòng không (230, 237, 241, 491), 3 trung đoàn công binh (7, 83,219), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Quân khu Trị - Thiên (B4), Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5). Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyên 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào). Quá trình bố trí lực lượng và tạo thế, ta đã giữ bí mật mọi ý định và chặt chẽ mọi hành động. Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa nghi binh và kế hoạch tác chiến chiến dịch nên thế trận của ta càng kín và vững chắc, cho phép đánh vào toàn bộ đội hình hành quân tiến công của địch bằng việc sử dụng lực lượng, binh chủng thích hợp, đồng thời bảo đảm cho việc tập trung lực lượng mạnh đánh những trận then chốt quyết định, những khu vực, mục tiêu trọng điểm của chiến dịch. Đó là một thế trận sâu hiểm và kín, có khả năng phá thể của địch và điều khiển địch theo ý định của mình. Thế trận của ta ờ Đường 9 - Nam Lào là một thế trận hoàn chỉnh, tạo điều kiện phối hợp tác chiến giữa các binh chủng, có thể chuyển hóa theo sự phát triển của chiến dịch, do đó, ta luôn nắm quyền chủ động chiến trường, chủ động trong chiến đấu... Nhờ nắm quyền chủ động, bộ đội ta đã bình tĩnh tìm mọi cách phát huy các cách đánh của mình, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta và cuối cùng, ta đã điều địch vào khu vực Bản Đông, đánh trận then chốt quyết định, giành thắng lợi cho chiến dịch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nạm, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 675-676). Sau 3 đợt tiến công, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã giành thắng lợi giòn giã. Quân ta đã tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn và 5 tiểu đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn tăng - thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác; loại khỏi vòng chiến đấu hơn 21.000 quân địch (bắt 1.142); bắn rơi, phá hủy 556 máy bay 1.138 xe quân sự, 112 pháo, cối; thu 2 máy bay trực thăng,24xe quân sự, 78 pháo, cối, 2.268 súng2 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào). Kết quả của 2 chiến dịch là minh chứng sống động khẳng định tính hiệu quả, hiệu lực của việc chỉ đạo, chỉ huy và thực hành chiến dịch; là yếu tố tiên quyết quyết định đến việc tiêu diệt nhiều sinh lực và trang bị chiến tranh của địch. Nói cách khác, thắng lợi to lớn của quân và dân ta đã thể hiện rõ nét trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam, biết đánh và biết thắng địch bằng "thế, thời, mưu". Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:06:33 pm 3.Tác động to lớn đến cục diện chiến tranh
Chiến dịch Hòa Bình và Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đều ở vào thời điểm quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có giá trị về mặt tác chiến chiến dịch và có ý nghĩa quan trọng chiến lược. Nếu như thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã góp phần quan trọng làm thất bại mưu đồ của thực dân Pháp hòng củng cố phòng tuyến (hệ thống boongke), tiến công ra vùng tự do của ta và giành lại quyền chủ động thì Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào làm thất bại âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn hòng chặn cắt, phá hủy tuyến chi viện chiến lược và hệ thống kho tàng chiến lược của ta, thực hiện mục tiêu của cuộc "chiến tranh bóp nghẹt" (đối với cách mạng miền Nam)... Sâu xa hơn là toan tính của thực dân Pháp "dùng người Việt trị người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và của đế quốc Mỹ là "thay màu da trên xác chết", "thử nghiệm quân đội Sài Gòn" thay thế quân Mỹ trong vai trò đối đầu với Quân giải phóng miền Nam - mục tiêu chủ yếu trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"... Một cách cụ thể hơn, Chiến thắng Hòa Bình đã đáp ứng kịp thời yêu cầu bức thiết về mặt chiến lược của cuộc kháng chiến lúc bấy giờ phá thế giằng co giữa ta và địch, đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta phát triển lên một bước mới, tiếp tục giữ vững quyền chủ động chiến lược, buộc thực dân Pháp phải chuyển dần vào thế phòng ngự bị động. Cuộc kháng chiến của ta chuyển từ hình thái chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn. Trong khi đó, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với quy mô sử dụng lực lượng, chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn nhất cuộc kháng chiến chống Mỹ tính đến thời điểm đầu năm 1971 giành thắng lợi mang ý nghĩa to lớn, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường 3 nước Đông Dương; tạo cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một tình thế thuận lợi mới để quân và dân ta có điều kiện kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, tiếp tục phát huy quyền chủ động tiến công, giành thắng lợi mới có ý nghĩa chiến lược to lớn hơn trong năm 1972. Đánh giá về cuộc đọ sức giữa quân ta và quân Pháp trên chiến trường Hòa Bình, nhà sử học người Pháp Bécna Phôn (Bernard Fall) cho rằng: "Chiến dịch Hòa Bình đối với quân đội Pháp cũng tổn thất về sinh mạng và trang bị nhiều không kém gì Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Điện Biên Phủ sau này"1 (Bernard B. Fall, Street without Yoy, Indochina at war, 1946-54, The Stackpole Company, Harrisbarg, Pennsylvania 1961, p. 55). Đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, thất bại tại Đường 9 - Nam Lào đầu năm 1971 chỉ ra rằng "Việt Nam hóa sẽ không bao giờ thành công nếu không có một số lớn quân của Mỹ"2 (Dẫn theo: Maicơn Mắclia (Michael Maclear), Việt Nam: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày (Vietnam: The Ten Thousand Day War), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 193). Như vậy, Chiến thắng Hòa Bình báo trước thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, còn Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào thì cắm cột mốc đánh dấu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" tất yếu sẽ bị phá sản hoàn toàn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:11:05 pm CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT CHỈ HUY ĐIỀU HÀNH TÁC CHIẾN CHIẾN DỊCH Đại tá, TS PHẠM ĐÌNH BÁCH Phó Chủ nhiệm Khoa Chiến lược, Học viện Quốc phòng Nghiên cứu thực tiễn Chiến dịch tiến công Hòa Bình cho thấy: Chiến dịch phải giải quyết một loạt các vấn đề lớn, quan trọng, trong đó, vấn đề quan trọng nhất là nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch. Đó là tổng thể các chủ trương, biện pháp của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, trực tiếp là Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong việc nhận định, đánh giá tình hình, xây dựng quyết tâm, tổ chức chuẩn bị chu đáo, bố trí sử dụng lực lượng phù hợp, phối hợp hoạt động của các lực lượng giữa Mặt trận Hòa Bình và mặt trận vùng sau lưng địch chặt chẽ, chỉ huy xử lý tốt các tình huống. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia chiến dịch, đánh bại các biện pháp, thủ đoạn tác chiến của địch, hoàn thành thắng lợi mục tiêu chiến dịch, cùng với những thắng lợi tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952, phá tan âm mưu đánh chiếm vùng tự do, giành lại quyền chủ động chiến lược và chiến dịch trên chiến trường Bắc Bộ của địch. Ở bài viết này, tác giả tập trung trao đổi một số nội dung chủ yếu về "sự phát triển của nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch" - một nhân tố giữ vai trò quyết định làm nên chiến thắng trong chiến dịch này. Sau hơn 1 năm đối phó bị động với những cuộc tiến công liên tiếp của ta trên các mặt trận kể từ sau những thất bại ở biên giới năm 1950, với âm mưu giành lại thế chủ động trên chiến trường, "từ ngày 14 đến 16 tháng 11 năm 1951, quân Pháp đã dùng 20 tiểu đoàn tinh nhuệ bộ binh và quân nhảy dù phối hợp hoạt động, tấn công chiếm đóng Hòa Bình"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu, Hà Nội, 1959, tr. 13) nhằm mở rộng khu Chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam của ta; đồng thời, xây dựng "Xứ Mường tự trị" để thực hiện "Da vàng hóa chiến tranh", dùng các lợi ích về kinh tế chính trị để thuyết phục người dân tộc thiểu số đi lính cho Pháp. Trước những âm mưu và hành động của Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp bàn, thống nhất đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng; xác định Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng Quân ủy họp bàn và nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy, quyết định mở một cuộc tiến công lớn đánh địch trên cả hai mặt trận: "Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hòa Bình và mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào trong địch hậu đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình, đẩy mạnh chiến tranh du kích"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 9). Chiến dịch diễn ra qua 3 đợt tác chiến: Đợt 1 (10 - 26.12.1951), đợt 2 (27 - 31.12.1951), đợt 3 (7.1 - 25.2.1952). Sau gần 3 tháng chiến đấu liên tục, ta đã phá tan kế hoạch chiếm đóngHòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà, phá tan ý định giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, đảm bảo đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4. Đồng thời, đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch, thể hiện trên một số nét chính sau: Một là, bước phát triển về tổ chức chỉ huy và nghệ thuật tạo lập thế trận tác chiến chiến dịch Trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân ta đã tiến hành một số chiến dịch với các quy mô khác nhau, trên nhiều chiến trường. Các chiến dịch chủ yếu do bộ tư lệnh khu và liên khu đảm nhiệm, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch từng bước phát triển, đến Chiến dịch Biên Giới năm 1950 đã phát triển lên một bước cao hơn, cơ cấu tổ chức chỉ huy tương đối hoàn chỉnh, có Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch; tuy nhiên, về quy mô chỉ huy điều hành tác chiến mới chỉ giới hạn trên một hướng, một khu vực nhất định. Trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy đã sớm thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo. Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, Phó Bí thư; đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Việc chỉ huy điều hành tác chiến không chỉ giới hạn trên một khu vực (hướng) chiến trường mà đã mở rộng trên một quy mô rộng lớn hầu hết chiến trường Bắc Bộ và có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ với các lực lượng và nhân dân, huy động được mọi khả năng về sức người, sức của đáp ứng đủ, cung cấp kịp thời cho chiến dịch. Chính nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành tập trung, thống nhất mà ta đã có những nhận định, đánh giá đúng tình hình về địch, về ta, hạ quyết tâm, tổ chức chuẩn bị, tạo lập thế trận và nắm bắt đúng thời cơ, chỉ huy điều hành các lực lượng tiến công tiêu diệt địch, thực hiện thắng lợi mục đích chiến dịch. Tạo lập thế trận là một trong những nội dung cơ bản góp phần quyết định tới việc thực hiện thành công phương pháp tác chiến chiến dịch. Thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, ta đã tiến hành một số chiến dịch; việc chỉ huy điều hành hoạt động tạo lập thế trận cho các chiến dịch cũng đã được thực hiện tốt. Tuy nhiên, hầu hết các chiến dịch đều được dự kiến và có kế hoạch từ trước nên có nhiều thời gian chuẩn bị cho tạo lập thế trận. Chiến dịch Hòa Bình đã đánh dấu một bước phát triển cao hơn các chiến dịch trước đó về nghệ thuật chỉ huy điều hành hoạt động tạo lập thế trận. Mặc dù không được xây dựng kế hoạch từ trước, khi địch đánh ra Hòa Bình, ta mới hạ quyết tâm mở chiến dịch, tổ chức mở chiến dịch trong điều kiện chưa có chuẩn bị, phạm vi chiến trường rộng. "Khi trên quyết định mở chiến dịch thì Bộ Tổng Tham mưu mới bắt tay vào làm mọi công tác chuẩn bị. Mọi việc phải tiến hành gấp rút vừa điều tra trinh sát bám địch, vừa chuẩn bị chiến trường, vừa điều động bộ đội, vừa tổ chức chỉ huy sở tiền phương, vừa dự kiến bố trí lực lượng, bố trí kho tàng, lương thực, đạn dược, vừa dự kiến kế hoạch tác chiến"1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 414). Chúng ta không có thời gian chủ động chuẩn bị trước, mọi công tác chuẩn bị phải chạy đua với thời gian, khối lượng cung cấp lớn, đường giao thông bị gián đoạn, nhưng do biết tận dụng được khả năng của các địa phương, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và nhân dân cùng tham gia nên mọi công tác chuẩn bị vẫn được Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ huy điều hành bảo đảm chu đáo, toàn diện. Hoạt động tạo lập thế trận tác chiến chiến dịch phải tiến hành trong điều kiện thời gian gấp, tiềm lực quân sự còn nhiều hạn chế, nhưng do ta có chủ trương đúng nên quá trình lập thế trận đã tổ chức các hoạt động tác chiến tạo thế và bố trí triển khai lực lượng hợp lý. Ngay trong khi chờ đợi trên quyết định cho mở chiến dịch, Bộ Tổng Tham mưu đã lệnh cho Đại đoàn 312 cơ động xuống gần Hòa Bình bảo vệ căn cứ tiếp tế, bảo vệ đường vận chuyển, điều Trung đoàn 209 cơ động bám sát địch, tác chiến tiêu diệt địch, giúp địa phương phân tán kho tàng. Đồng thời, chỉ thị cho Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3 lợi dụng địch sơ hở, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tích cực hoạt động tác chiến tạo thế. Sau khi có chỉ thị của trên, Bộ Tổng Tham mưu bắt tay ngay vào xây dựng kế hoạch tác chiến, triển khai cơ động lực lượng và bố trí các đại đoàn 308, 312, 304 trên hướng chủ yếu Hòa Bình; ở đồng bằng Bắc Bộ, ta bố trí các đại đoàn 320, 316 cùng với lực lượng vũ trang tại chỗ đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ tiêu diệt sinh lực và phá vỡ hệ thống phòng ngự địch, mở rộng vùng giải phóng, biển hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các chiến trường từ Bình - Trị - Thiên trở vào Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động tác chiến để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ; tổ chức hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau gây cho địch nhiều thiệt hại, buộc chúng phải kéo bớt lực lượng cơ động về đối phó với ta ở đồng bằng, tạo điều kiện cho tác chiến giành thắng lợi quyết định trên hướng chủ yếu Hoà Bình. Đây là một bước phát triển rất quan trọng về nghệ thuật chỉ huy điều hành hoạt động tạo lập thế trận tác chiến chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:12:50 pm Hai là, bước phát triển về nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến mở đầu chiến dịch
Mở đầu chiến dịch là giai đoạn rất quan trọng, có ý nghĩa nền tảng cho toàn bộ chiến dịch, nếu mở đầu thắng lợi có thể sẽ phá vỡ thế trận chiến dịch, chiến lược của địch, tạo ra đột biến về chiến lược ngay từ đầu. Để mở đầu thắng lợi, cần lựa chọn mục tiêu mở đầu hiểm yếu, có tác động lớn đến toàn bộ quá trình tác chiến chiến dịch; tích cực tạo thế, tạo thời cơ và lựa chọn phương pháp mở đầu hợp lý; thường xuyên nắm chắc tình hình địch chỉ huy tập trung, kiên quyết, linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ, bảo đảm chu đáo. Trong đó, cần tập trung chỉ huy lực lượng tác chiến phù hợp, đủ sức, tạo ưu thế sức mạnh càn thiết, bảo đảm mở đầu chắc thắng. Thực tiễn, ngay từ đầu trước khi mở đầu Chiến dịch Hòa Bình, thực hiện chỉ thị của Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu đã tổ chức nắm vững tình hình địch ở Bắc Bộ, đặc biệt trên Mặt trận Sông Đà; trong trận đánh mở đầu chiến dịch, tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ và các mục tiêu tuyến phòng ngự Sông Đà của địch Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã rất sâu sát, điều hành tác chiến linh hoạt, sáng tạo, xử lý tốt các tình huống chỉ huy đánh trận then chốt mở đầu thắng lợi; đồng thời, chỉ huy điều hành một số đơn vị chủ lực của Đại đoàn 320, Đại đoàn 316 tiến sâu vào sau lưng địch phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu hao sinh lực địch. Thắng lợi ở Tu Vũ mở ra khả năng 1 trung đoàn bộ binh của ta hoàn toàn có đủ khả năng đánh thắng 1 tiểu đoàn Pháp có xe tăng, thiết giáp phòng ngự cứ điểm có công sự vững chắc với hỏa lực pháo binh chi viện mạnh. Đây cũng là trận đánh cung cấp kinh nghiệm quý về chiến thuật công kiên và nghệ thuật chỉ huy điều hành đánh trận then chổt mở màn chiến dịch lớn. Mở đầu Chiến dịch tiến công Hòa Bình trong điều kiện nhiều khó khăn, tiềm lực quân sự còn nhiều hạn chế, nhưng do ta có chủ trương đúng, chỉ huy điều hành tác chiến tập trung, thống nhất nên mở đầu đã giành được thắng lợi ngoài dự kiến, để lại nhiều bài học co giá trị về công tác chỉ đạo, chỉ huy điều hành tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh vừa kịp thời, vừa cụ thể; ta đã lựa chọn hướng, mục tiêu, phương pháp mở đầu chính xác. Quá trình mở đầu đã tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, phát triển phong phú và sáng tạo các hình thức tác chiến. Chiến tranh chính quy kết hợp chặt chẽ với chiến tranh du kích, các hoạt động tác chiến nhỏ lẻ rộng khắp kết hợp chặt chẽ vớitiến công đánh chiếm mục tiêu hiểm yếu đầu tiên. Giữa các chiến trường (chiến trường chính Bắc Bộ và các chiến trường phối hợp Trị - Thiên, Liên khu 5, Nam Bộ), các mặt trận (mặt trận chính Hoà Bình và mặt trận phối hợp vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ của chiến trường chính Bắc Bộ) đã phối hợp hiệp đồng gắn bó, hỗ trợ được cho nhau, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, đã gây cho địch nhiều thiệt hại, buộc chúng phải kéo bớt lực lượng cơ động về đối phó ở đồng bằng, tạo điều kiện cho Mặt trận Hoà Bình giành thắng lợi quyết định ở các đợt tiếp sau. Đây là một bước phát triển rất quan trọng về nghệ thuật chỉ huy điều hành mở đầu tác chiến chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ba là, bước phát triển mới về nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận chỉnh diện và mặt trận sau lưng địch, liên tục tiến công tiêu diệt địch Trước Chiến dịch Hòa Bình, ta thường chỉ huy điều hành tác chiến đánh địch trên một hướng, sự phối hợp các hướng khác không chặt chẽ. Chiến dịch tiến công Hòa Bình, ta đánh địch ở nhiều hướng trên khắp chiến trường Bắc Bộ, phạm vi chiến dịch rộng lớn, có sự phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận chính diện với các hướng trung du, hữu ngạn, tả ngạn, dưới sự chỉ huy điều hành tác chiến thống nhất trên toàn chiến trường Bắc Bộ. Trong các chiến dịch trước đó, ta cũng phối hợp nội ngoại tuyến, song lực lượng tác chiến sau lưng địch thường chỉ là lực lượng vũ trang địa phương, nếu bộ đội chủ lực có vào thì cũng chỉ vào một bộ phận nhỏ và vào trong thời gian ngắn, vì vậy thế phối hợp nội ngoại tuyến về chiến dịch của ta thường yếu. Đánh ra Hòa Bình, địch đã gây cho ta nhiều khó khăn, chúng đã chiếm được một số vị trí chiến lược quan trọng, đường giao thông trọng yếu, cắt đứt liên lạc của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và miền Nam, nhưng cũng tạo ra nhiều sơ hở ở chính diện và nhất là ở trong vùng địch hậu. Do đó, Bộ Tổng Tư lệnh có điều kiện thực hiện đầy đủ nhất ý định của trên là chỉ huy điều hành tác chiến đánh địch trên hai mặt trận chính diện và vùng địch hậu bằng hai phương thức tác chiến kết hợp với nhau chặt chẽ là chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích. Ngay từ đầu chiến dịch, một mặt Bộ Tổng Tư lệnh đã cho chuẩn bị tác chiến ở chính diện, một mặt ra chỉ thị phát triển chiến tranh du kích, đưa chủ lực vào địch hậu. Trên mặt trận chính diện, ta tập trung lực lượng chủ lực tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ - các trọng điểm án ngữ con đường vận chuyển huyết mạch trên sông Đà - kết hợp với đánh địch từ nhiều hướng. Do sợ mất 2 cứ điểm này, địch buộc phải điều quân từ phía sau lên, tạo điều kiện cho ta tiếp tục tiêu diệt địch ứng cứu. Chớp thời cơ, mặt trận phía sau lưng địch đẩy mạnh hoạt động tác chiến ở Phát Diệm, Hà Nam và một số địa phương đồng bằng Bắc Bộ, diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng đất đai, cùng với bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh phong trào cách mạng. Trong chỉ huy điều hành tác chiến, ta đã chỉ huy phối hợp chặt chẽ hai mặt trận; lúc chỉ huy bộ đội tiến công tiêu diệt địch ở Tu Vũ thì ở địch hậu ta đưa lực lượng tấn công Phát Diệm; lúc địch tập trung ở chính diện, thì ta điều chủ lực tiến mạnh sang tả ngạn, buộc địch phải điều 2 trung đoàn ở chính diện về đối phó; lúc địch từ Hòa Bình rút quân về đối phó với ta trong địch hậu thì ta chủ trương kiềm chế giữ địch ở Hòa Bình, còn địch hậu thì tiếp tục hoạt động mạnh, đồng thời chuẩn bị chống càn quét. Như vậy, sự chỉ huy phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp trong hoạt động tác chiến của các lực lượng ở mặt trận chính diện với các lực lượng mặt trận sau lưng địch khiến chúng bị động buộc phải điều lực lượng cơ động giữa hai chiến trường, không phát huy được hiệu quả của vũ khí, bị tổn thất lớn, mất thế chủ động, chấp nhận "một thất bại kép" trên cả hai chiến trường. Đây là bước phát triển mới về nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Mặc dù các chiến dịch trước đó, ta cũng có sự chỉ đạo phối hợp giữa nội tuyến và ngoại tuyến, song chưa nhịp nhàng, ăn khớp ở phạm vi chiến dịch và từng trận đánh, vì thế chưa đạt được mục tiêu làm đảo lộn thế trận của địch. Trong chỉ huy điều hành tác chiến Chiến dịch Hòa Bình, ta đã chỉ huy lực lượng chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tạo sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi. Về nghệ thuật chỉ huy điều hành các lực lượng liên tục chiến đấu, tiến công tiêu diệt địch cũng có bước phát triển quan trọng. Từ Chiến dịch Biên Giới năm 1950, ta đã xây dựng các phương án liên tục chiến đấu. Trong các chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, ta thực hiện chỉ huy các lực lượng tiến công liên tục mấy trận trong thời gian ngắn. Chiến dịch Hòa Bình, ta đã tiến hành đánh liên tiếp nhiều trận trong thời gian ngắn rồi tạm dừng để củng cố và chấn chỉnh, rồi lại đánh tiếp..., liên tục tiến công địch trong một thời gian tương đối dài "trước đây, địch tường ta chỉ có thể tác chiến trong một thời gian ngắn, lần này nhiều lúc địch cho là ta đã kết thúc chiến dịch, nhưng rồi lại thấy ta hoạt động, chúng bị bất ngờ vì sự chiến đấu dẻo dai bền bỉ của ta"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 107). Để chỉ huy bộ đội thực hiện "liên tục chiến đấu", Bộ Tổng Tư lệnh đã rất linh hoạt trong chỉ huy điều hành tác chiến, không sử dụng toàn bộ lực lượng ngay một lúc mà sử dụng lần lượt từng đơn vị, để các đơn vị có thể thay nhau tác chiến và nghỉ ngơi chấn chỉnh, lúc thì thay đổi từng đại đoàn, lúc thì thay đổi từng trung đoàn; trong địch hậu, khi bộ đội chủ lực nghỉ thì bộ đội địa phương hoạt động. Thực tế trong quá trình diễn ra chiến dịch, "các trung đoàn 88, 209 đánh địch trong đợt 1, sau đó được nghi ngơi, chấn chỉnh, thay bằng các trung đoàn 102, 141 và 165 đánh địch trong đợt 2, do vậy đến đợt 3 các trung đoàn 88, 209 lại có thể tiếp tục tham chiến được"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Sđd, tr. 51). Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh rất chú trọng chỉ đạo công tác bảo đảm, chấn chỉnh tổ chức, chuẩn bị kế hoạch tuyển mộ tân binh và các trang bị vũ khí, khí tài sẵn sàng bổ sung cho chiến dịch để bảo đảm cho bộ đội liên tục chiến đấu... Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta trong chỉ đạo tác chiến chiến dịch và đưa Quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chỉ huy điều hành chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp; tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến, mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta, góp phần giành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng thời, để lại cho chúng ta những bài học quý về nghệ thuật quân sự, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai. Tuy nhiên, trong điều kiện tác chiến mới hiện nay, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) sẽ có những phát triển mới cả về ta, về địch. Để chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch (chiến lược) có hiệu quả cần chuẩn bị chu đáo, tiến hành chiến dịch đúng thời cơ có lợi, luôn nắm chắc tình hình, xử lý có hiệu quả các tình huống chiến dịch, chiến lược. Trong các thời điểm quan trọng, cần có các quyết định chính xác và quyết đoán, phát triển thế và lực của ta, hạn chế chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu của địch, thúc đẩy tác chiến chiến dịch, chiến lược phát triển theo hướng càng đánh càng mạnh. Bên cạnh đó, cần kết hợp chặt chẽ với các hoạt động tác chiến khác, như: Tác chiến của khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, tác chiến phòng thủ quân khu, tác chiến của các chiến trường phối hợp, cũng như các hoạt động đấu tranh chính trị, kinh tế, ngoại giao tạo sức mạnh tổng hợp, giành thắng lợi. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:14:44 pm VẬN DỤNG SÁNG TẠO PHƯƠNG CHÂM "ĐÁNH ĐIỂM, DIỆT VIỆN" VÀ "LIÊN TỤC CHIẾN ĐÂU" GIÀNH THẮNG LỢI TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, PGS, TS HOÀNG XUÂN NHIÊN Khoa Chiến lược - Học viện Quốc phòng Chiến dịch tiến công Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến dịch lớn nhất kể từ khi ta mở đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (12.1946) đến cuối năm 1951. Thắng lợi của chiến dịch có vai trò quan trọng trong việc phá tan âm mưu giành lại quyền chủ động của quân Pháp trên chiến trường Bắc Bộ, đẩy địch vào tình thế ngày càng khó khăn hơn. Đặc biệt, trong chiến địch, ta đã có chủ trương đúng và vận dụng tốt hai phương châm tác chiến chiến dịch: "Đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu". Đây là hai điểm đặc sắc của phương pháp tác chiến chiến dịch và cũng là một trong những nguyên nhân rất quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch tiến công Hòa Bình. Thứ nhất, về vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện " Thực ra, "đánh điểm, diệt viện" là một trong những cách đánh sở trường đã được bộ đội ta vận dụng sớm và có hiệu quả ngay ở giai đoạn đầu chiến tranh, cũng như trong suốt quá trình chiến tranh. Phương pháp tác chiến này được vận dụng khi ta chưa đủ khả năng đột phá tiêu diệt lớn địch phòng ngự trong công sự và chủ trương lấy tiêu diệt sinh lực địch là chính; hoặc khi ta có lực lượng mạnh nhưng tránh phải đột phá không cần thiết, giảm được tiêu hao về lực lượng, phương tiện; nhất là, ta có thể thực hiện "lấy ít địch nhiều" theo tư tưởng tác chiến "công ở chỗ không có thành, đánh ở chỗ không có luỹ, chiến ở nơi không có trận", tiêu diệt địch, bồi dưỡng phát triển lực lượng ta... Trong đó, "đánh điểm" là tạo ra tình huống và thời cơ, tạo phản ứng dây chuyền để thực hiện mục đích chiến dịch, chiến đấu; còn "diệt viện" chỉ được tiến hành sau khi "đánh điểm" có kết quả, nhưng lại là mục đích chủ yếu của chiến dịch và cũng là nội dung căn bản khi vận dụng cách đánh này. Trong Chiến dịch Hoà Bình, Đờ Lát đờ Tátxinhi đã huy động một lực lượng cơ động lớn ra phân tán trên một chiến trường đột xuất ở rừng núi1 (Từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 11 năm 1951, địch đã dùng 20 tiểu đoàn tinh nhuệ bộ binh và quân nhảy dù phối hợp hoạt động, tấn công chiếm đóng Hòa Bình). Khu Hòa Bình địch bố trí 4 tiểu đoàn trong thị xã và hình thành 6 cứ điểm nhỏ, phân tán theo Đường số 62 (Theo phân tích của Tổng Quân ủy, (trong thời điểm đó), nếu ta tác chiến lớn ở khu Hòa Bình thì việc cung cấp khó khăn và không tranh thủ được thời gian)... Khu sông Đà địch bố trí 5 tiểu đoàn chiếm đóng, gần đó còn có 2 tiểu đoàn của Trung đoàn cơ động số 4. Địch chia lực lượng thành hai khu then chốt phòng ngự (La Phù - Đan Thê và Tu Vũ - Núi Chẹ), mỗi nơi chúng bố trí 2 tiểu đoàn bộ binh, ngoài ra còn có tiểu đoàn nhảy dù ở Đá Chông. So sánh hai khu then chốt phòng ngự của địch ở khu sông Đà, Tổng Quân ủy nhận thấy: Địch ở khu then chốt La Phù - Đan Thê mạnh hơn; địch ở khu then chốt Tu Vũ - Núi Chẹ tương đối yếu hơn do các vị trí bố trí của chúng tương đối cô lập, cách xa nhau và ở khá xa căn cứ Sơn Tây - Trung Hà; nhất là từ căn cứ của địch đến khu then chốt này chỉ có một đường giao thông thủy là sông Đà và một đường giao thông bộ là đường Đá Chông - Núi Chẹ... Căn cứ vào sự phân tích tình hình địch - ta, với những thuận lợi và khó khăn nói trên, Tổng Quân ủy quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ và bên hữu ngạn sông Đà... Thực hiện chủ trương đó, Tổng Quân ủy đã chỉ đạo bộ đội chủ lực áp dụng phương châm đánh điểm diệt viện (tùy theo điều kiện cụ thể, có thể vây điểm, diệt viện); đồng thời, nhấn mạnh: Trong đánh điểm, ta phải hết sức tranh thủ đánh sớm để giải quyết xong cuộc chiến đấu trong 1 đêm và phải chuẩn bị đánh địch ban ngày, cũng như hết sức tạo cơ hội diệt viện ban đêm; trong đánh viện, ta phải chuẩn bị tiêu diệt viện đường thủy, đường bộ, cơ giới, nhảy dù. Phương châm tác chiến của ta là: "Đánh điểm, diệt viện, tranh thủ diệt viện"; cách đánh có thể là: Phục kích, tập kích, kỳ tập, quấy rối, phá hoại, đánh sâu vào địch hậu, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, vận động tiêu diệt địch đi càn quét hoặc tuần tiễu và sẵn sàng chuẩn bị để khi có điều kiện thì đánh điểm lớn vả diệt viện lớn... Triển khai ý định đó, trong kế hoạch tác chiến của ta xác định: Ở mặt trận chính diện ta đồng thời đánh địch cả trên Đường số 6 và khu vực Ba Vì, sông Đà. Trên chiến trường Đường số 6 thì đánh điểm, diệt viện, phá giao thông tiếp vận của địch; trên chiến trường Ba Vì, sông Đà thì tập kích pháo, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, chặn hoặc diệt viện lớn; đồng thời cho một bộ phận hoạt động sâu vào địch hậu, giúp đỡ bộ đội địa phương, dân quân du kích Sơn Tây, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu Sơn Tây... Chủ trương vận dụng phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện" của Tổng Quân ủy trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình là hoàn toàn đúng đắn, bởi vì: Chủ lực của ta lúc đó chưa đủ điều kiện và khả năng tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch; do đó, ta đã chủ trương (và đủ khả năng) đánh một số điểm để khêu ngòi, tạo điều kiện tiêu diệt quân viện là chủ yếu. Ở đây "đánh điểm" chỉ là thứ yếu, nên ta không đánh tất cả các cụm cứ điểm, các cứ điểm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm địch, mà chỉ đánh một số cứ điểm, tạo điều kiện buộc địch phải đi viện... Như vậy, nhận thức về "đánh điểm" của ta có "mở rộng" hơn trước; "điểm"có thể là tiến công diệt gọn cứ điểm, cụm cứ điểm, cũng có thể là vây hãm, bức hàng, bức rút cứ điểm, cụm cứ điểm của địch... Việc đánh địch ra viện trong Chiến dịch Hòa Bình cũng có nét mới và phức tạp, khó khăn hơn đánh địch viện trong Chiến dịch Biên Giới (cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1950), vì địch ra viện đường bộ ở Hòa Bình trong thể liên hoàn của tập đoàn cứ điểm, nên chúng phát huy được ưu thể cả về hỏa lực, xung lực và cơ động trên địa hình trống trải (sát liền với các căn cứ hậu phương của chúng). Mặc đù vậy, sự phát triển của nghệ thuật "đánh điểm, diệt viện" trong Chiến dịch Hòa Bình biểu hiện rõ, ở chỗ: Ta đã tận dụng địa hình của dãy núi Ba Vì, mạnh dạn đưa một số đại đoàn chủ lực vào sâu bên trong "phòng tuyến Sông Đà" của địch để thực hiện đánh viện. Tận dụng chỗ yếu của địch là chưa tổ chức kiểm soát được chặt chẽ địa bàn chúng mới đánh chiếm, ta ém quân ở những nơi địch sơ hở, bất ngờ để thực hiện những trận đánh vận động hết sức táo bạo như ở Ninh Mít và trên Đường số 87. Đặc biệt, trong chiến dịch này ta đã thực hiện tốt một số trận đánh viện đường thủy trên sông Đà, trong đó có trận Lạc Song, quân ta đã nhấn chìm cả đoàn ca nô, tàu chiến của địch. Nhiều đơn vị đã vận dụng linh hoạt chiến thuật tập kích, tiêu diệt những cụm quân địch lâm thời phòng ngự ở bình độ 600 và 400 Ba Vì, tập kích sâu vào trận địa hỏa lực trong thị xã Hòa Bình... Đồng thời, nắm vững phương châm "đánh điểm, diệt viện", Đại đoàn 304 tích cực đánh địch tăng viện tiếp tế trên Đường số 6, bao vây uy hiếp địch trong thị xã, buộc chúng phải "bung ra" giải toả để ta tiêu diệt. Cũng trong chiến dịch, ta còn kết hợp tích cực diệt viện nhỏ và đánh càn để giữ thế, tạo thế và thời cơ cho những trận đánh viện vừa, đó là một phát triển mới... Tuy nhiên, về đánh điểm trong chiến dịch này vẫn còn bộc lộ một số thiếu sót. Trong các trận đánh điểm quan trọng, chỉ có trận Tu Vũ là giành thắng lợi, còn trận Pheo và Đầm Huống đã không thành công. Cũng dokhông dứt điểm hai trận đánh này, nên ta không cắt được Đường số 6, dẫn đến kết quả đánh địch rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình đat kết quả thấp. Ngoài ra, ở mặt trận vùng địch hậu, lúc đầu các đơn vi có khuynh hướng đánh những cứ điểm quan trọng để giải phóng đất đai, để mở rộng khu Căn cứ (Phố Mới, Nam Trực...), vì vây mà "không chắc thắng". Khi đó, Tổng Quân ủy đã giải thích rõ phương châm và chỉ thị là phải đánh "điểm nhỏ, viện nhỏ"... về sau, những cứ điểm nhỏ của địch tập trung thành cứ điểm tương đối lớn, Tổng Quân ủy chỉ thị phải áp dụng phương châm "vây điểm, diệt viện"... Nói chung, ở địch hậu ta nắm phương châm tương đối vững hơn ở mặt trận chính diện, vì vậy, hiệu quả đánh địch ở mặt trận địch hậu ngày càng cao hơn. Từ thực tế vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" trong chiến dịch, đã cho ta những kinh nghiệm quý, đó là: Muốn tiêu diệt sinh lực địch phải "đánh điểm, diệt viện", chủ yếu là "diệt viện". Nếu không có điều kiện diệt viện thì phải cố gắng dùng mọi phương pháp (nghi binh, lừa địch...), dụ địch ra viện để đánh; bất đắc dĩ mới "đánh điểm" và nếu có "đánh điểm" thì cũng nhằm mục đích tạo cơ hội cho "diệt viện". Vì vậy, khi định đánh một điểm phải nghiên cứu xem đánh điểm đó có giúp gì cho việc diệt viện không và đi đôi với kế hoạch đánh điểm, cần phải có kế hoạch "diệt viện". Đồng thời, khi áp dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" cần bảo đảm chắc thắng (nhất là trong trường hợp đánh điểm). Muốn đánh "chắc thắng", vấn đề là không nhất thiết phải "đánh nhỏ", càng không phải là chỉ căn cứ vào truyền thống của đơn vị, mà phải nghiên cứu tình hình thật cụ thể, phân tích lực lượng, so sánh giữa ta và địch, phải bảo đảm cho ta có ưu thế binh lực, phải có kế hoạch giải quyết các khó khăn. Đối với những đơn vị khá, đã có nhiều thành tích, cấp trên cần chú trọng kiểm tra chu đáo để tránh chủ quan, khinh địch. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:16:09 pm Thứ hai, về vận dụng phương châm "liên tục chiến đấu "
Từ Chiến dịch Biên Giới năm 1950, ta bắt đầu có quan niệm về liên tục chiến đấu. Tuy nhiên, trong các chiến dịch trước, ta có đề ra phương châm liên tục chiến đấu và khi thực hiện thì ta đánh liên tiếp liền mấy trận trong một thời gian ngắn rồi nghỉ (nói chung, ta chỉ thực hiện liên tục chiến đấu trong thời gian ngắn...). Trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình, Trung ương đề ra phương châm "liên tục chiến đấu" trong thời gian dài là vì âm mưu của địch rất thâm độc, chúng ta không thể phá âm mưu đó một cách nhanh chóng trong thời gian ngắn được. Hơn nữa, trình độ bộ đội ta còn kém, chưa có thể đánh lớn để thu những thắng lợi lớn ngay, vi thế ta cần hoạt động trong một thời gian dài để cộng nhiều thắng lợi nhỏ thành thắng lợi lớn, như vậy mới có thể phá được âm mưu của địch. Mặt khác, phương châm "liên tục chiến đấu" trong thời gian dài có thể thực hiện được, vì ta đánh địch trên hai mặt trận, phối hợp cả ở nội tuyến và ngoại tuyến, làm cho địch lúng tàng, do đó ta có thể duy trì được thế sơ hở của địch trong thời gian dài... Nhất là, ở Chiến dịch Hòa Bình, quan niệm về "liên tục chiến đấu" của ta khác trước, ta đánh liên tiếp mấy trận trong thời gian ngắn rồi nghỉ để củng cố và chân chỉnh; nghỉ rồi ta lại đánh, rồi lại nghỉ, cứ như vậy trong một thời gian tương đối dài... Tác dụng của phương châm này rất lớn, vì trước đây, địch cứ tưởng ta chỉ có thể tác chiến trong một thời gian ngắn và lần này, nhiều lúc địch cũng "cho là" ta đã kết thúc chiến dịch, nhưng rồi lại thấy ta hoạt động, chúng bị bất ngờ vì sự chiến đấu dẻo dai bền bỉ của bộ đội ta. Đặc biệt, muốn đánh địch liên tục dài ngày, điều quan trọng nhất là ta phải có kế hoạch sử dụng lực lượng luân phiên tác chiến, chấn chỉnh bổ sung kịp thời. Thực hiện yêu cầu đó, khi sử dụng lực lượng ở mặt trận chính diện, Tổng Quân ủy không sử dụng toàn bộ lực lượng ngay một lúc, mà có kế hoạch sử dụng lần lượt từng đơn vị, luân phiên tác chiến và nghỉ ngơi (lúc thì thay đổi từng đại đoàn, lúc thì thay đổi từng trung đoàn...), điển hình như: Các trung đoàn 88 và 209 đánh địch trong đợt 1, sau đó được nghỉ ngơi chấn chỉnh, thay bằng các trung đoàn 102, 141 và 165 đánh địch trong đợt 2, do vậy, đến đợt 3, các trung đoàn 88 và 209 lại có thể tiếp tục tham chiến được. Trong vùng địch hậu, khi bộ đội chủ lực nghi thì bộ đội địa phương hoạt động... với cách làm đó, các đơn vị có thể thay nhau tác chiến, chấn chỉnh, học tập, rút kinh nghiệm, bổ sung quân số, trang bị và nghỉ ngơi để tăng cường sức chiến đấu. Mặt khác, trong Chiến dịch Hòa Bình, địch đã sử dụng khối lượng lớn binh khí và máy bay, từ đó trong bộ đội phát sinh tư tưởng ngại thương vong; ở một số đơn vị, qua thắng lợi bước đầu, nảy sinh tư tưởng chủ quan tự mãn, muốn nghỉ ngơi... Lúc đầu Tổng Quân ủy cũng chưa phổ biến được kỹ phương châm "liên tục chiến đấu" nên ở đơn vị cơ sở có những biểu hiện nhận thức tư tưởng chưa đúng đắn, nhưng sau đó, Tổng Quân ủy đã kịp thời động viên chính trị, lãnh đạo tư tưởng, kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện không phù hợp với phương châm "liên tục chiến đấu", từ đó bộ đội có ý chí quyết tâm cao và tinh thần chiến đấu bền bỉ dẻo dai. Cũng trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình, ta đã phải chuẩn bị hậu cần trong điều kiện hết sức gấp rút, nhất là chiến dịch lại diễn ra trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc, việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến rất khó khăn, song Tổng Quân ủy đã kiên quyết cùng các cấp lãnh đạo, dân, chính, đảng ở cả Trung ương và địa phương, huy động nhân vật lực cho chiến dịch; đồng thời chú trọng chấn chỉnh tổ chức, tăng cường lãnh đạo quân y để đảm bảo việc săn sóc thương binh và tuyển mộ tân binh để bổ sung quân số cho các đơn vị. Nhìn chung, Tổng Quân ủy đã thực hiện được phương châm "liên tục chiến đấu"; nhưng vì không có kế hoạch toàn diện nên phải giải quyết từng vấn đề và cũng gặp rất nhiều khó khăn. Việc điều động và sử dụng lực lượng cũng có lúc không hợp lý nên bộ đội bị mệt mỏi; giải quyết vấn đề cán bộ và vấn đề tân binh cũng có lúc chậm trễ, lãnh đạo tư tưởng và lãnh đạo cung cấp nhiều khi không cũng kịp thời. Nhất là, về động viên chính trị, lãnh đạo tư tưởng, lúc đầu Tổng Quân ủy không phổ biến kỹ phương châm "liên tục chiến đấu" nên dưới có một số tư tưởng sai lầm; có những đơn vị lập được công thì sinh ra tự mãn, muốn nghỉ ngơi; có đơn vị lo ngại mệt mỏi, thương vong, chất lượng bị sút..., song, Tổng Quân ủy đã kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm đó. Vì vậy, trong Chiến dịch Hòa Bình, bộ đội ta đã chiến đấu liên tục tới hơn 100 ngày đêm, thời gian dài nhất của một chiến dịch từ trước tới lúc bấy giờ. Từ thực tiễn quán triệt phương châm "liên tục chiến đấu" trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình, cho ta những kinh nghiệm bổ ích, đó là: Nếu ta biết động viên và có kế hoạch chu đáo thì bộ đội có thể liên tục chiến đấu trong nhiều tháng, có khi lâu hơn nữa. Đồng thời, muốn chiến đấu liên tục thì phải có dự kiến, có kế hoạch toàn diện và đặc biệt chú trọng vấn đề sử dụng lực lượng và điều động bộ đội ngay từ khi bắt đầu chuẩn bị chiến dịch và cả trong quá trình thực hành tác chiến. Trong quá trình liên tục chiến đấu, vấn đề phổ biến phương châm và lãnh đạo tư tưởng cũng luôn có vai trò cực kỳ quan trọng. Nếu phương châm được thấu triệt, tư tưởng được thông, thì khả năng khắc phục khó khăn của quần chúng rất lớn (vấn đề cải tạo địa hình ở Đường số 6 để tránh máy bay, pháo binh địch; vấn đề bình thường hóa sinh hoạt, cải tiến cấp dưỡng... trong quá trình chiến dịch đã cho thấy rõ điều đó)... Qua những dẫn giải ở trên, cho thấy: Việc xác định đúng phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" của Tổng Quân ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch là một trong những nguyên nhân quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi và cũng là hai điểm đặc sắc trong Chiến dịch tiến công Hòa Bình; đồng thời để lại những kinh nghiệm quý về phương pháp tác chiến chiến dịch tiến công. Mặc dù, trong các chiến dịch tiến công ở thế kỷ XXI về sau (nếu xảy ra ở nước ta), các yếu tố về địch, về ta và môi trường tác chiến ngày càng có sự thay đổi rất nhiều so với thời kỳ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ ở thế kỷ XX; kẻ thù xâm lược có thể vẫn có ưu thế hơn ta về nhiều phương diện, nhất là vũ khí trang bị và phương tiện cơ động... do đó, ta vẫn phải quán triệt tốt quan điểm "công ở chỗ không có thành, đánh ở chỗ không có luỳ, chiến ở nơi không có trận", vận dụng sáng tạo phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" nhằm tiêu diệt địch, bồi dưỡng phát triển lực lượng ta... Vì vậy, những kinh nghiệm được đổi bằng xương máu của bộ đội trong chiến dịch tiến công Hoà Bình không chỉ góp phần làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta, mà vẫn còn nguyên giá trị trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở hiện tại và tương lai. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:19:19 pm ĐÁNH PHÁ GIAO THÔNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tá, ThS CÔNG PHƯƠNG KHƯƠNG Phó Trưởng phòng Lịch sử Nghệ thuật quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Thực hiện kế hoạch giành lại thế chủ động trên chiến trường, cuối năm 1951, thực dân Pháp sử dụng 20 tiểu đoàn bộ binh cùng nhiều phương tiện chiến tranh chia thành 4 mũi mở cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) tiến đánh Hòa Bình. Mục tiêu của giới hiếu chiến Pháp trong cuộc hành quân nhằm thu hút, tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, nối lại hành lang Đông - Tây, khôi phục lại "tam giác sắt" Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình; chặn đứng con đường vận chuyển, tiếp tế của ta lên căn cứ địa Việt Bắc. Để duy trì sức chiến đấu cho hàng vạn quân đóng trên địa bàn rộng, xa hậu phương, trong đó có 6 tiểu đoàn bị cô lập trong thị xã Hòa Bình, ngay từ đầu quân Pháp đã đánh giá đúng vai trò, tầm quan trọng của các tuyến vận tải trọng tâm là sông Đà đối với tuyến đường thủy và Đường số 6 đối với tuyến đường bộ. Bảo vệ "cuống họng ướt" và "cuống họng khô" trở thành vấn đề có ý nghĩa sinh tử đối với quân Pháp trong cuộc hành binh lên Hòa Bình. Về phía ta, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, chủ động bám sát thực tiễn Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã nắm bắt thời cơ, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, sớm phát hiện điểm yếu chí tử của địch. Cùng với các đợt tiến công vào các mục tiêu then chốt, nhiệm vụ đánh phá và khống chế các trục vận tải đường bộ và giao thông đường thủy được xác định là hướng hoạt động quan trọng nhằm không ngừng khoét sâu vào khó khăn của địch. Phương châm của chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện", kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân Pháp đi càn quét sục sạo, quân nhảy dù hoặc quân ứng cứu giải tỏa. Về tuyến đường bộ, trên địa bàn chiến dịch có 3 trục đường lớn, phương tiện cơ giới có thể hoạt động. Đường số 89 chạy dọc theo sông Đà từ Trung Hà tới Hòa Bình; Đường số 87 nối thông Sơn Tây với Đường số 89 tại Đá Chông; Đường số 6 nối thông tuyến Đường số 21 với Đường số 89 qua Xuân Mai. Ngoài ra còn có tuyến Đường số 21 song song với Đường số 89 từ Sơn Tây về Xuân Mai. Trong hệ thống giao thông huyết mạch trên địa bàn chiến dịch, Đường số 6 được xác định là tuyến chính, ven đường có nhiều núi rừng xen kẽ đồi gianh. Để giành quyền kiểm soát tuyến đường trọng yếu, trên Đường số 6 quân Pháp bố trí lực lượng chiếm đóng gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 trận địa pháo binh và 1 tiểu đoàn thiết giáp. Các cứ điểm đóng theo trục đường độc đạo, có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh chiếm giữ. Lực lượng đồn trú tại những vị trí hiểm yếu như Pheo, Đồng Bến, An Trạch, Chẹ, Đá Chông... thường có 3 đại đội bộ binh được tăng cường 1 trung đội xe tăng và một đại đội pháo. Trên tuyến Đường số 89 từ Trung Hà đến Hòa Bình, địch đã xây dựng và củng cố hình thành tuyến phòng thủ dài khoảng 40km gồm các cứ điểm La Phù, Đan Thê, Đá Chông, Thủ Pháp, Chẹ, Tu Vũ... Trên tuyến đường thủy, sông Đà rộng từ 400-500m, sâu 5-8m, nước chảy mạnh, các tàu nhỏ có thế di chuyển thuận lợi. Nắm chắc tư tưởng chỉ đạo tác chiến, các lực lượng tham gia chiến dịch đã tích cực, chủ động, tạo thời cơ, nắm thời cơ, tranh thủ thời gian, lợi dụng sơ hở của địch kiên quyết chia cắt địch ra từng bộ phận, kết hợp chặt chẽ đánh giao thông trên bộ, trên sông với diệt xe cơ giới, pháo binh và quân nhảy dù. Xác định việc Pháp tiến công lên Hòa Bình là một "cơ hội rất tốt để mình đánh giặc"1 (Những lài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 55), Bộ Chỉ huy Chiến địch quyết định tranh thủ thời gian địch mới chiếm đóng, công sự chưa kịp củng cố, lập trung bình hỏa lực đột phá khu phòng ngự sông Đà, đánh trận mở màn quyết định, tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, mở đường giao thông, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Ngay khi quân Pháp thực hiện kế hoạch triển khai lực lượng, các đơn vị trên địa bàn đã chủ động tổ chức các trận đánh ngăn chặn. Đại đội 16 bộ đội địa phương huyện Kỳ Sơn, du kích xã Mông Hóa chặn đánh tiêu diệt một số quân dù. Đại đội công pháo thuộc Đại đoàn công pháo 351 và du kích xã Yên Mông tổ chức phục kích đánh địch trên các tuyến đường quân Pháp hành quân lên Hòa Bình. Tại tả ngạn sông Đà, ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 36 và 8 khẩu sơn pháo 75mm cùng 1 đại đội súng phòng không 12,7mm tiến công làm chủ cứ điểm Tu Vũ, sau đó tổ chức đánh quân địch tăng viện trên Đường số 89, đoạn từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình2 (Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 99). Ở hữu ngạn sông Đà, Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Chẹ, phục kích trên Đường số 87 khu vực từ Sơn Tây đi Đá Chông và trên Đường số 89 đoạn từ Đá Chông đến Chẹ3 (Sư đoàn 312, Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.tr. 100). Các lực lượng của Đại đoàn 312 tham gia chiến dịch cơ động vào vùng Ba Trại hoạt động trên Đường số 87 và phía Bắc Ba Vì đánh xe cơ giới, phá câu, tiêu diệt sinh lực địch, ngăn chặn các cuộc hành quân của quân Pháp từ Sơn Tây ứng cứu cho Chẹ và Tu Vũ. Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 tổ chức lực lượng tiêu diệt một số điểm cao, cắt đường vận chuyển của quân Pháp trên Đường số 6. Đoạn đường từ Xuân Mai đến Bến Ngọc dài chưa đầy 50km, địch bố trí 11 đại đội Âu - Phi thuộc Trung đoàn bộ binh Marốc và bán lữ đoàn lê dương chiếm giữ cùng một số đại đội bộ binh người Việt đóng xen kẽ. Ở mỗi điểm cao địch đóng thành từng cụm từ 1 - 2 đại đội bộ binh. Các căn cứ thiết lập ở Xuân Mai, Ao Trạch, Gò Bùi, Đồng Bái, Đồng Bến và Thịnh Long ngoài lực lượng đông đảo còn được trận địa pháo yểm trợ. Trên phía Đường số 21, từ Xuân Mai đến Chợ Bến địch cũng tổ chức các cụm cứ điểm chiếm giữ các điểm cao, trong đó Gò Mối và Đồng Tâm là những vị trí có giá trị chiến thuật. Bộ Tư lệnh Đại đoàn 304 nhận định "ngoài tuyến vận chuyển trên sông Đà, Đường số 6 là tuyến huyết mạch duy nhất nối Hà Nội với Hòa Bình, nên địch sẽ giữ con đường này bằng mọi giá"1 (Sư đoàn 304, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập I (1950 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 56). Đại đoàn chủ trương sử dụng lực lượng trong đó Trung đoàn 66 đảm nhiệm từ Chuộm đến Dốc Động, chú trọng vùng từ Đầm Huống về Đồng Bái, Trung đoàn 9 chặn viện, tiêu diệt lực lượng tuần tiễu, càn quét từ Chợ Bờ đến ngã ba Chăm. Trung đoàn 57 đảm nhiệm đánh địch trên Đường số 21 từ Chợ Bến đến Xuân Mai bảo đảm cạnh sườn phía Nam của mặt trận. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:20:58 pm Đầu tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 304 đã cơ động tới phía Nam Đường số 6, sẵn sàng tổ chức tấn công địch, vây ép các vị trí trên đường. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 66 Đại đoàn 304 phục kích trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, cách Hòa Bình 15km về phía Đông Bắc. Do địch phát quang hai bên đường, nên phần lớn lực lượng tham gia chiến đấu phải giấu kín đội hình cách đường 500m. 11 giờ 45 phút, đoàn xe gồm 34 chiếc, trong đó có 30 xe từ Xuân Mai lên và 4 xe từ Hòa Bình xuống lọt vào trận địa. Bộ đội ta nổ súng tiêu diệt lực lượng đi đầuvà phía sau. Toàn bộ đội hình bị chặn lại ở khu vực Cầu Dụ. Dưới sự chi viện của hỏa lực, bộ đội vận động đánh thẳng vào đoàn xe. Sau 20 phút chiến đấu, 34 chiếc xe và toàn bộ quân địch trên xe bị tiêu diệt1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 374).
Sau trận đánh mở đầu thắng lợi, quân Pháp trên Đường số 6 liên tục bị uy hiếp. Do nắm vững quy luật hoạt động của địch trên 2 tuyến Đường số 6 và Đường số 21, Bộ Tư lệnh Đại đoàn chủ động xây dựng và triển khai nhiều phương án tác chiến. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, các đơn vị của Đại đoàn 304 tổ chức 3 trận phục kích ở cầu Mè, cầu Vai Cời và Giang Mỗ. Tiểu đoàn 353 Trung đoàn 9 được tăng cường Đại đội 157, 1 trung đội SKZ, 1 trung đội thông tin, tiểu đội trinh sát, 1 trung đội địa phương tỉnh Hoà Bình phối hợp thực hiện trận phục kích ở làng Giang Mỗ, đoạn từ Hòa Bình đi Chợ Bờ. Khi quân Pháp lọt vào trận địa phục kích, các lực lượng tham gia chiến đấu đồng loạt nổ súng. Sau 30 phút, ta tiêu diệt 153 tên, bắt 71 tên, phá hủy hoàn toàn đoàn xe gồm 6 GMC, 2 MA, 1 Háptơrắc, 1 xe tăng, thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự2 (Sư đoàn 304, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập I (1950 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011.tr. 61). Trong quá trình thực hành chiến đấu, Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan đã dũng cảm, mưu trí sử dụng lựu đạn tiêu diệt xe tăng địch. Thắng lợi trong trận then chốt Tu Vũ đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông Đường số 89, mở rộng tuyến vận chuyển chiến lược, tiếp tục uy hiếp tuyến phòng thủ Đường số 6, tạo thế cho chiến dịch tiếp tục phát triển. Trên mặt trận Đường số 87, sáng ngày 11 tháng 12 năm 1951, 2 tiểu đoàn địa phương vận động phục kích diệt 2 đại đội bộ binh và 1 trung đội cơ giới địch ở Trung Thượng - Hạm Giá. Các trọng điểm án ngữ trên đường vận chuyển huyết mạch trên địa bàn chiến dịch lần lượt bị tiêu diệt. Trên Đường số 6 và Đường số 21, tính từ ngày 3 đến ngày 13 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 304 đã tiêu diệt 4 đoàn xe phá hủy hơn 60 xe vận tải và thiết giáp, diệt hơn 3 đại đội lính Âu - Phi Thắng lợi đó đã "làm cho việc giao thông, tiếp tế của địch trên đường bộ gặp nhiều khó khăn"1 (Thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi khen Đại đoàn 304 trong chiến dịch Hòa Bình ngày 24 tháng 12 năm 1951. Dẫn theo Sư đoàn 304, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập I (1950 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 62), góp phần tạo thế bao vây cụm cứ điểm sông Đà - Hòa Bình, uy hiếp địch từ phía Nam. Sau thất bại ở Tu Vũ, sáng 11 tháng 12 năm 1951, địch cố mở thông tuyến sông Đà. Một đoàn canô từ phía Trung Hà tiến lên, bị Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 phục kích ở Đoan Hạ, bắn chìm 1 chiếc, bắn bị thương 2 chiếc, số còn lại buộc phải rút chạy về Trung Hà. Chiều cùng ngày, một đoàn canô từ thị xã Hòa Bình xuống bị Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141 phục kích ở Lạc Song, bắn chìm 1 chiếc, bắt 15 tù binh. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 66 tổ chức trận địa phục kích dài 6km từ Lạc Song đến Đông Việt, cách thị xã Hòa Bình 10km. Khi đoàn tàu của địch từ Bến Ngọc xuôi Trung Hà lọt vào trận địa. Với sự chi viện của pháo binh, Trung đoàn 66 nổ súng diệt 4 canô và 1 tàu chiến, làm tê liệt tuyến vận tải đường sông của địch2 (Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 100). Tuyến cơ động trên sông Đà của quân Pháp bị ta cắt đứt3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 -2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 24). Sau kết quả của đợt 1 và đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định để tiếp tế cho Hòa Bình, quân Pháp phải cố giữ bằng được tuyến vận tải trên sông Đà và Đường số 6. Khi các cứ điểm then chốt của Phân khu Sông Đà - Ba Vì bị tiêu diệt, dẫn tới tuyến vận tải sông Đà bị tê liệt thì Đường số 6 càng trở thành đầu cầu "yết hầu" của địch. Chính vì vậy, các lực lượng tham gia chiến dịch được lệnh tiếp tục phát huy đánh vận động; đẩy mạnh đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ ở khu vực thị xã Hòa Bình và vùng phụ cận. Đêm ngày 29 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 16 thuộc Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 bí mật tập kích địch ở các điểm cao 600, 165 và 400. Chỉ sau 10 phút chiến đấu ta đã làm chủ Điểm cao 400, đánh sập sở chỉ huy, trung tâm điện đài, diệt 1 đại đội, bắt 20 tên. 3 giờ 30 phút ngày 30 tháng 12 năm 1951, quân ta làm chủ Điểm cao 600, diệt 120 tên địch, bắt 136 tên1 (Sư đoàn 312, Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2010), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 113). Phòng tuyến sông Đà của quân Pháp mất thêm một điểm dựa vững chắc. Hoang mang trước các hoạt động tác chiến của ta, quân Pháp tăng cường củng cố phòng thủ các cứ điểm trên Đường số 6. Lực lượng chiếm đóng được tăng cường từ 1 đến 2 đại đội Âu - Phi, nhiều vị trí có xe tăng, pháo binh như Đầm Huống, Pheo, Gò Bùi, Đồng Bái, Ao Trạch. Cây cối hai bên đường được phát quang, những đoạn đường thường bị phục kích được rải quân canh gác nghiêm ngặt, việc vận chuyển tiếp tế được tổ chức thành đoàn lớn, có máy bay, xe tăng, thiết giáp hộ tống và pháo binh dọn đường. Quán triệt mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Đại đoàn 304 quyết định lấy Đường số 6 làm hướng chính, các Trung đoàn 9 và Trung đoàn 57 tiếp tục tổ chức đánh một số cứ điểm dọc tuyến Đường số 6. Trên Đường số 6, ngày 29 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 418 Trung đoàn 57 và Đại đội 91 pháo 75mm Đại đoàn 304 tiến công vị trí Đồi Mồi. Đó là một mỏm núi hình yên ngựa án ngữ trên Đường số 21, cách Xuân Mai 15km. Từ đây địch có thể kiểm soát ngã ba Vai Cời, khống chế thôn Mô và đường xuôi Chợ Bến do 1 đại đội Âu - Phi chiếm giữ với sự yểm trợ của pháo binh từ Chợ Bến - Miếu Môn. Hai ngày sau, đêm 31 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 400 Trung đoàn 9 tiến công cao điểm Hàm Voi, tiêu diệt 1 trung đội Âu - Phi. Mắt Đồi Mồi, Hàm Voi, hệ thống kiểm soát Đường số 6 của địch bị uy hiếp mạnh. Đêm 7 tháng 1 năm 1952 Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Pheo, một cứ điểm then chốt giữa thị xã Hòa Bình và hành lang bảo vệ Đường số 61 (Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 101). Cũng trong đêm, Đại đội 41 Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 tiếp cận trận địa pháo của địch ở khu Kiểm Lâm nằm sâu trong thị xã. Các đại đội 61 và 62 của Tiểu đoàn 80 áp sát Đồi Cháy, Đồi Dè. Đại đội 42 và Đại đội 43 thuộc Tiểu đoàn 84 áp sát vị trí Khuỷu, Dậm. Cùng lúc đó trên Đường số 6, Tiểu đoàn 265 thuộc Đại đoàn 304 phục kích ở Nước Vải, tiêu diệt 6 xe; Tiểu đoàn 400 tiêu diệt địch ở Gò Cuồn, Tiểu đoàn 782 Trung đoàn 66 tiêu hao địch ở vị trí Đầm Huống... Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 26 Tháng Chín, 2025, 07:22:53 pm Cũng trong thời gian này, ngày 11 tháng 1 năm 1952, Đại đội 59 thuộc Trung đoàn 57 phục kích diệt gọn 2 đại đội địch ờ Ao Trạch, Gò Bùi, bắt 40 tên, trong đó có tên quan hai Lơ Blăng và tên quan một Boagiê. Ngày 12 tháng 1 năm 1952 Tiểu đoàn 375 Trung đoàn 9 phục kích diệt 2 trung đội địch, phá hủy 8 xe ở cầu Cụt Tai. Sáng ngày 14 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 418 phục kích đoạn giữa 2 cứ điểm Đồng Bái - Đồi Chum, phá hủy 5 xe. Liên tiếp trong 2 ngày 17 và 18 tháng 1 năm 1952, các đơn vị của Đại đoàn 304 đánh địch ở Đồi Hầu, đánh bại đợt phản kích của binh đoàn cơ động số 1, giữ vững điểm cao Đồi Mè. Đặc biệt, trong trận chiến dịch ngày 18 tháng 1 năm 1952 Đại đội 115 Tiểu đoàn 495 Trung đoàn 66 trên Điểm cao Đồi Mè đã đánh tan nhiều đợt xung phong của Binh đoàn cơ động số 1 của địch buộc chúng phải tháo chạy.
Đường bộ bị chia cắt, đường sông bị khống chế, uy hiếp buộc thực dân Pháp phải triển khai kế hoạch lập cầu hàng không chi viện cho Hòa Bình. Trong khi đó, sau đợt tiến công lớnngày 7 tháng 1 năm 1952 ta chủ trương tiếp tục cắt đứt Đường số 6, bao vây thị xã Hòa Bình, đưa thêm pháo khống chế thị xã và sân bay, cắt đứt đường hàng không. Sáng ngày 8 tháng 1 năm 1952, 3 khẩu pháo của Đại đội 755 nã đạn vào sân bay, bắn cháy chiếc Đacôta vừa hạ cánh. 10 giờ sáng cùng ngày, Đại đội 752 bắn rơi 1 chiếc khu trục. Đêm 10 tháng 1, tổ 3 người của Đại đội 43 Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 bí mật lọt vào sân bay dùng bộc phá đánh hỏng chiếc Dăngcơ (Junker). Kể từ giờ phút này, không một chiếc máy bay nào dám hạ cánh xuống Hòa Bình. Tuyến đường không đến Hòa Bình của quân Pháp bị khống chế. Sau những nỗ lực mở thông tuyến Đường số 87 và Đường số 89 thất bại, quân Pháp buộc phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hoà Bình. Ngày 6 tháng 1 năm 1952, Raun Xalăng quyết định rút toàn bộ lực lượng trên tuyến sông Đà (chỉ để lại cụm cứ điểm Đan Thê - La Phù) về được tăng cường cho tuyến phòng ngự thị xã Hòa Bình - Đường số 6, chuẩn bị cho cuộc rút lui. Bám sát diễn biến chiến dịch, từ ngày 27 đến ngày 29 tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy họp, nhận định: "Theo thế chung thì muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hòa Bình"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 186). Căn cứ vào ý định của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch đánh quân Pháp rút chạy. Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) được phối thuộc Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 phụ trách khu vực từ thị xã Hòa Bình tới Ao Trạch. Đại đoàn 312 được phối thuộc Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 phụ trách đoạn từ Pheo tới Ao Trạch. Đại đoàn 304 phụ trách đoạn từ Ao Trạch tới Xuân Mai và đưa một trung đoàn vào chuẩn bị hoạt động ở vùng Chợ Cháy, Xuân Mai, Mai Lĩnh. Lực lượng pháo binh tổ chức hệ thống đài quan sát bám địch trên các điểm cao, quan sát rõ các khu vực Pheo, Bến Ngọc, An Trạch, Đồng Ben và thị xã Hòa Bình. Trung đoàn 675 đưa 3 đại đội sơn pháo, 1 đại đội súng cối 120mm, bố trí trên dãy điểm cao 140, 128 sát bờ tả ngạn sông Đà, sẵn sàng đánh địch rút chạy. Phương châm hoạt động của ta là triệt để phá hoại cầu cống, đường sá; luôn luôn quấy rối, phá kho tàng, phục kích đội tuần tiễu sửa đường; sẵn sàng diệt một bộ phận sinh lực địch rát lui. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình. 17 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1952, 5 tiểu đoàn Pháp ở thị xã lặng lẽ vượt sông Đà. Trung tá Ducunoa (Ducoumeau) và Đại tá Gin (Gilles) chỉ huy cuộc triệt thoái. Hơn 1.000 dân Mường, 20.000 binh sĩ cùng các chiến cụ, đạn dược khí giới vượt qua sông, tiến về Hà Nội trên Đường số 6. Đại bộ phận quân Pháp đã qua sông, chỉ còn Tiểu đoàn 2 dù (2e BEP) và Tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn lê dương thứ 13 (3/13e DBLE) đang được máy bay và đại bác bảo vệ chặt chẽ, tiếp tục qua sông. Phát hiện hoạt động của địch. Trung đoàn 36 lập tức sử dụng pháo đồng loạt bắn vào đội hình Pháp ở cả hai bên bờ sông Đà. Một chiếc ca nô bị bắn chìm, một số xe cơ giới bị phá huỷ. Từ 3 giờ ngày 23 tháng 2 năm 1952, Đại đoàn 351 tập trung 2 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu sơn pháo, 10 súng cối bắn cháy, bắn hỏng 23 xe, trong đó có 2 xe tăng ở Phương Lâm, Bến Ngọc và Cầu Phao1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Tư lệnh Pháo binh, Lịch sử nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch (1945 -1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.45). Máy bay Pháp nối nhau trút bom, bảo vệ cho binh lính rút chạy trên Đường số 6. Ngày 24 tháng 2 năm 1952, quân Pháp ở Ao Trạch tiếp tục rút về Đồng Bãi nhưng bị Trung đoàn 9 Đại đoàn 304 chặn đánh gây thiệt hại nặng. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, quân Pháp tiếp tục rút khỏi Đồng Bãi về Xuân Mai. Tính chung trong 3 ngày đánh địch rút lui, bộ đội ta đã tiêu diệt 6 đại đội địch phá hủy 23 xe quân sự, thu trên 100 tấn đạn dược và quân trang quân dụng1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 442). Cùng với tấn công vào các cứ điểm trọng yếu, quân ta trên khắp các mặt trận liên tục mở đợt phục kích tấn công, tiêu diệt sinh lực địch đồn trú trên các tuyến giao thông. Tiểu đoàn 161 đơn vị nòng cốt của Trung đoàn 12 cùng du kích xóm Chăm, thị xã Hòa Bình tổ chức phục kích, tiêu diệt 10 tên địch, phá hủy 1 xe quân sự trên đường từ thị xã vào dốc Cun. Đại đội 16 Kỳ Sơn và 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 616, Trung đoàn 12, phối hợp với 2 tiểu đoàn bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 66, Liên khu 3 phục kích địch trên quốc lộ 6, tiêu diệt 34 xe của địch tại khu vực cầu Mè (Mông Hóa). Bộ đội địa phương, du kích xã Bình Thanh phối hợp cùng Đại đội 12 Tiểu đoàn 353 thuộc Trung đoàn 9 Đại đoàn 304 chặn đánh địch tại Giang Mỗ, phá 10 xe quân sự, trong đó có 1 xe tăng, tiêu diệt 153 tên, bắt 71 tên lính Âu - Phi... Tham vọng bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam bị phá sản khiến quân Pháp "chẳng những chúng không giành lại được quyền chủ động mà lại trở thành bị động hơn trước"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13 (1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 46). Thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Trong quá trình thực hành chiến đấu, Bộ Chỉ huy Chiến dịch liên tục có sự điều chỉnh thế trận và sử dụng lực lượng. Sau khi quân Pháp bị tiến công trên khắp các mặt trận, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định điều chỉnh thế trận, chuyển hướng hoạt động của chiến dịch xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình, Đường số 6 là hướng chính. Theo đó, ta vừa tập trung lực lượng đánh mạnh vào thị xã Hòa Bình, cắt Đường số 6, vừa đẩy mạnh tác chiến vùng địch hậu, chống địch càn quét. Đây là sự chuyển hóa thế trận rất linh hoạt, kịp thời, phù hợp với sự biến chuyển nhanh của tình hình; đồng thời, tạo sức ép lớn từ nhiều phía, buộc địch phải rút chạy mà không cần phải tổ chức các trận công kiên quy mô lớn. Thực hiện chủ trương đó, cùng với tổ chức các trận đánh xung quanh thị xã, chiến dịch tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên Đường số 6, đẩy mạnh đánh phá giao thông, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Chỉ tính riêng Sư đoàn 304, trong 17 ngày đã đánh 10 trận trên Đường số 6, diệt 7 đại đội Âu - Phi tinh nhuệ, phá hủy 26 xe cơ giới, 5 khẩu pháo 105mm, làm chủ nhiều đoạn đường đây quân Pháp rơi vào tình thế bị động, lúng túng và rối loạn1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 439). Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã vận dụng sáng tạo phương châm "đánh điểm, diệt viện" phù hợp với điều kiện cụ thể và đạt mục đích, yêu cầu. Trên cơ sở nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch, ta và địa bàn, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định: Đánh điểm phải tranh thủ đánh sớm, giải quyết trận đánh trong một đêm, đánh viện, phải đồng thời đánh địch cả đường thủy, đường bộ, lực lượng cơ giới và quân dù; không kéo dài trận đánh mà cố gắng giải quyết ngay trong đêm. Các trận đánh điểm, diệt viện trong chiến dịch đều được chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, đạt hiệu quả chiến đấu cao. Lực lượng tham gia chiến dịch liên tục tổ chức các trận đánh nhỏ, diệt viện nhỏ tiến công vào một số căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để tiêu hao, tiêu diệt lớn lực lượng địch; đồng thời, kết hợp chặt chẽ với các lực lượng đánh cắt giao thông, khống chế hoàn toàn các tuyến giao thông nối Hòa Bình với các vùng phụ cận. Rút quân khỏi Hòa Bình không chỉ là thất bại về chiến thuật và chiến dịch mà còn là một "thiệt hại nặng nề về chiến lược"1 (Henri Nava, Thời điểm của những sự thật, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 43-44) của giới hiếu chiến Pháp. Chủ trương tập trung mọi nỗ lực đánh mạnh vào tuyến giao thông đường thủy, đường bộ và đường không đã góp phần hình thành thế trận bao vây chia cắt, tiêu diệt địch. Quân Pháp ngày càng bị dồn vào tình thế nguy khốn trên khắp các chiến trường, 6 tiểu đoàn trong thị xã Hòa Bình chỉ còn trông chờ vào những chuyến máy bay tiếp tế nhỏ giọt. Bằng những trận tiến công cứ điểm trên các trục đường giao thông, phục kích trên bộ, trên sông và trên không kết hợp với các hoạt động phá hoại cầu cống đường giao thông, ta đã uy hiếp và cắt đứt nguồn tiếp tế của địch, cô lập tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Sau khi Tu Vũ, một cứ điểm được Bộ Chỉ huy quân Pháp tập trung phòng ngự bị tiêu diệt, các tuyến Đường số 6, 21, 87, 89, một trong hai cái "ống thực quản" nối đến "dạ dày" thị xã Hòa Bình bị chặn đứng, từng bước vô hiệu hóa ngay trong đợt 1 chiến dịch. Các trận đánh trên sông của ta không những đã cắt đứt "cuống họng ướt" của địch, mà còn tạo điều kiện cho bộ đội đánh địch vận động ở khu vực Ba Vì. Tuyến giao thông cả đường thủy, đường bộ và đường không bị chia cắt và khống chế, các cứ điểm nhỏ xung quanh thị xã Hòa Bình liên tục bị tiến đánh, lực lượng ngày càng bị tiêu hao buộc quân Pháp phải kết thúc cuộc hành quân Lôtuýt. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 08:35:50 pm KINH NGHIỆM TÁC CHIẾN TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH VỚI CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN, ĐÀO TẠO CÁN BỘ Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 HIỆN NAY Trung tướng, PGS, TS ĐỖ VIẾT TOẢN Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 Từ sau thất bại ở biên giới 1950, để cố gắng giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, vào cuối năm 1951, chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định tập trung lực lượng lớn đánh chiếm Hòa Bình, nhằm bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam; bảo vệ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, lập lại "Xứ Mường tự trị" để mở rộng phạm vi thực hiện chính sách "Dùng người Việt đánh người Việt". Thực hiện kế hoạch đó, sau một thời gian củng cố thế phòng ngự và tăng cường lực lượng, ngày 14 tháng 11 năm 1951, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi - Tổng Chỉ huy quân viễn chinh, kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương đã sử dụng một lực lượng quân cơ động chiến lược, bao gồm 20 tiểu đoàn bộ binh của các binh đoàn cơ động (GM) 1, 2, 3, 4, 7 và 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 2 đại đội xe tăng và nhiều tàu thuyền, phương tiện cùng lực lượng quân dù tiến công Hòa Bình với 4 cánh quân, hình thành 2 gọng kìm, từ phía Sơn Tây - Trung Hà xuống và từ Xuân Mai lên thị xã Hòa Bình. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, địch tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà và Ba Vì (phía Bắc). Phân khu Hòa Bình và Đường số 6 (phía Nam), riêng ở thị xã Hòa Bình,quân Pháp tiến hành xây dựng cụm cứ điểm lớn, vững chắc gồm nhiều cứ điểm lớn, nhỏ khác nhau với lực lượng lớn gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng do Đại tá Clêmăng chỉ huy, Sở Chỉ huy địch đặt tại thị xã Hòa Bình. Trên cơ sở bám sát diễn biến chiến trường, nắm chắc âm mưu thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh đã sớm nhận định tình hình, phán đoán đúng ý đồ hành động của địch, chủ động, kịp thời xác định biện pháp đối phó. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định tình hình địch khi chúng tiến chiếm Hòa Bình. Trên cơ sở đó, quyết định mở Chiến dịch tiến công Hòa Bình, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch bình định của quân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, Đại đoàn 304 cùng các đơn vị binh chủng. Với tinh thần quyết chiến, chủ động, sáng tạo, các đơn vị tham gia chiến dịch đã vận dụng linh hoạt, hiệu quả phương thức tác chiến "đánh điểm, diệt viện"; chỉ đạo các lực lượng ở mặt trận chính diện phối hợp chặt chẽ với mặt trận phía sau ở đồng bằng Bắc Bộ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch tiến tới bao vây, cô lập hoàn toàn tập đoàn cứ điểm địch tại thị xã Hòa Bình, buộc chúng phải rút chạy trong thế bị động, tạo thuận lợi cho ta giành quyền chủ động về chiến lược. Trải qua hơn 2 tháng hoạt động tác chiến vô cùng gian khổ, ác liệt (10.12.1951 - 25.2.1952) với 3 đợt tác chiến liên tục, Chiến dịch Hòa Bình đã kết thúc thắng lợi vang dội. Ta đã đánh thiệt hại nặng lực lượng địch, phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà với diện tích khoảng 2.000km2; tiêu diệt hơn 6.000 tên địch; thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 17 canô, tàu, xuồng, phá hủy 246 xe quân sự1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến côngHòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39). Ở mặt trận địch hậu (Trung du, Liên khu 3), chúng ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 tên, thu 6.000 súng các loại2 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư Quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân Sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167), làm cho thực dân Pháp càng lún sâu trong thế bị động chiến lược. Tại hướng đồng bằng (hướng phối hợp), chúng ta đã chủ động tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, loại khỏi vòng chiến đấu trên 10 nghìn quân, bức hàng và bức rút khoảng 1.000 đồn bốt, tháp canh. Sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực trên hướng chủ yếu với lực lượng vũ trang trên hướng phối hợp làm phong phú thêm nghệ thuật tác chiến chiến dịch. Đồng thời, thắng lợi này đánh bại âm mưu của địch chiếm vùng tự do của ta kể từ sau Chiến thắng Biên Giới 1950, phá được ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, đảm bảo đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4, phá tan âm mưu lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu thành công của Đảng ta trong việc chỉ đạo chiến dịch và ghi dấu bước tiên mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật về khả năng chiến đấu liên tục, dài ngày của Quân đội ta trên 2 mặt trận rộng lớn và phức tạp. Đồng thời, thắng lợi đó tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công tiêu diệt địch, phát triển lực lượng kháng chiến, mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta. 70 năm nhìn lại, chúng ta có điều kiện để nghiên cứu và nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại những bài học kinh nghiệm tác chiến quý báu, đó là: Thứ nhất vận dụng phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện " Trên cơ sở nắm bắt đúng tình hình địch, ta, điều kiện các mặt cùng kinh nghiệm từ các chiến dịch trước đó, Tổng Quân ủy và Bộ Chỉ huy Chỉ huy chiến dịch đã vận dụng linh hoạt phương châm tác chiến "đánh điểm diệt viện". Đây là một phương châm rất đúng đắn, sáng tạo nhờ đó ta đã phát huy được điểm mạnh, sở trường, hạn chế được những điểm yếu về lực lượng, phương tiện để giành thắng lợi Các trận đánh trong chiến dịch đều được Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, nên đạt hiệu quả chiến đấu cao. Điển hình như trận đánh cứ điểm Tu Vũ, trong đêm 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 tiến hành đánh chiếm Tu Vũ, buộc địch phải điều lực lượng từ Trung Hà lên chi viện, ta đã sử dụng Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 phục kích ở Đoan Hạ, bắn chìm 1 canô bắn hỏng 2 chiếc, số còn lại phải rút chạy về Trung Hà. Địch chưa từ bò ý định cứu viện, tiếp tục điều lực lượng từ thị xã Hòa Bình xuống và bị Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141 phục kích ở Lạc Song bắn chìm 1 canô, bắt 15 tù binh, buộc chúng phải rút chạy về thị xã Hòa Bình. Trận đánh cứ điểm Tu Vũ kết thúc, ta đã tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn lê dương địch được tăng cường xe tăng, pháo binh yểm trợ và tiêu diệt một số quân chi viện trong ngày 11 tháng 12 năm 1951. Thắng lợi của các trận đánh thể hiện sự phát triển về nghệ thuật "đánh điểm, diệt viện" của chiến dịch, không những thế, phương châm đó còn được thể hiện ở việc đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, liên tục đánh địch. Do chưa đủ lực lượng và các yếu tố bảo đảm để đánh tập đoàn cứ điểm có công sự vững chắc như hình thức tập đoàn cứ điểm địch ở thị xã Hòa Bình nên ta đã liên tục tổ chức các trận đánh nhỏ, tiến công vào các căn cứ xung quanh thị xã Hòa Bình để buộc địch phải điều lực lượng ứng cứu, tạo điều kiện cho ta phục kích tiêu diệt. Đồng thời, trong quá trình tiến công các cứ điểm địch, các đơn vị chủ lực đã kết hợpchặt chẽ với các lực lượng địa phương đánh cắt giao thông, khống chế hoàn toàn tuyến sông Đà và Đường số 6; các đường vận tải chi viện bị cắt, các cứ điểm nhỏ xung quanh thị xã Hòa Bình liên tục bị đánh, lực lượng bị tiêu hao, tinh thần hoang mang cực độ, quân Pháp buộc phải rút lui, không thực hiện được ý đồ chiếm đóng Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 08:36:29 pm Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến trên mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch
Sau khi tập trung quân đánh chiếm Hòa Bình, thực dân Pháp đã gây khó khăn cho ta về quân sự, chính trị và kinh tế, nhưng chúng cũng đứng trước mâu thuẫn gay gắt khi quân số có hạn mà phải căng kéo đối phó với nhiều nơi. Trong tình thế đó, nếu ta tổ chức tiến công trên nhiều mặt trận sẽ khiến địch bị động, cùng lúc phải đối phó trên nhiều hướng. Từ nhận định này, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ động nghiên cứu tìm chỗ sơ hở để tiêu diệt địch ở chiến trường Hòa Bình, kết hợp với đẩy mạnh tác chiến ở vùng sau lưng địch, khiến chúng "đầu đuôi không cứu được nhau", dẫn đến thất bại. Đây là quyết định đúng đắn, sáng tạo, vừa thể hiện tư tưởng chiến lược tiến công, vừa phát huy được cách đánh của ta trong thế trận chiến tranh nhân dân. Thực hiện chủ trương đó, tại mặt trận chính diện, ta tập trung tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ, các trọng điểm án ngữ tuyến vận chuyển huyết mạch trên sông Đà, kết hợp với đánh địch từ nhiều hướng. Do sợ mất 2 cứ điểm này, địch buộc phải điều quân từ phía sau lên, tạo điều kiện cho ta (mặt trận chính diện) tiếp tục tiêu diệt địch ứng cứu. Nắm thời cơ, mặt trận phía sau của ta đẩy mạnh hoạt động tác chiến ở Phát Diệm, Hà Nam và một số địa phương đồng bằng Bắc Bộ, diệt nhiều địch, giải phóng đất đai, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động... Như vậy, sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp trong hoạt động tác chiến của các lực lượng ở mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch khiếnchúng luôn bị dộng, buộc phải nhiều lần điều lực lượng cơ động giữa hai chiến trường, không phát huy được hiệu quả của vũ khí, bị tổn thất lớn, mất the chủ động, chấp nhận "một thất bại kép" tròn cả 2 chiến trường. Sự kết hợp giữa tác chiến trên mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch trong nghệ thuật tác chiến chiến dịch của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã tạo nên súc mạnh tồng hợp để giành thắng lợi. Thứ ba, chuyển hóa thế trận linh hoạt; triệt để khai thác thế trận và hoạt động của các lực lượng trên địa bàn Nhờ có ưu thế về hỏa lực và sức cơ động, quân Pháp nhanh chóng chiếm được thị xã Hòa Bình và chuyển ngay sang trạng thái phòng ngự. Chúng cũng xác định 2 tuyến vận tải chủ yếu đảm bảo cho quân chiếm đóng, đó là tuyến sông Đà và Đường số 6. Nhưng khi các cứ điểm then chốt của Phân khu Sông Đà - Ba Vì bị tiêu diệt, tuyến vận tải sông Đà bị tê liệt, thì Đường số 6 trở thành "yết hầu" cuối cùng của địch. Trong tình thế ấy, nếu ta tiếp tục uy hiếp mạnh, rất có thể địch sẽ dồn quân về thị xã Hòa Bình và tập trung lực lượng càn quét, bảo vệ hành lang Đường số 6 (đoạn phía Nam thị xã). Từ nhận định đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định điều chỉnh thế trận, chuyển hướng hoạt động của chiến dịch xuống phía Nam, lấy vùng Hòa Bình, Đường số 6 là hướng chính, ta vừa tập trung lực lượng đánh mạnh vào thị xã Hòa Bình, cẳt Đường số 6, vừa đẩy mạnh tác chiến vùng địch hậu, chống địch càn quét. Đây là sự chuyển hóa thế trận rất linh hoạt, kịp thời, phù hợp với sự biến chuyển nhanh của tình hình; đồng thời, tạo sức ép lớn từ nhiều phía, buộc địch phải rút chạy mà chúng ta không cần phải tổ chức các trận công kiên quy mô lớn. Cùng với đó, việc khai thác thế trận và hoạt động của các lực lượng trên địa bàn và công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tác chiến cũng được ta thực hiện hiệu quả, kịp thời. Đặc biệt, Bộ Chỉ huy Chiến dịch kiên quyết cùng các cấp lãnh đạo dân, chính, đảng ở cả Trung ươngvà địa phương huy động nhân lực, vật lực, khu vực phòng thủ địa phương và chủ trương đưa một bộ phận lực lượng chủ lực tiến vào vùng địch hậu, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các căn cứ, khu du kích; trong khi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương phối hợp tiêu diệt những đồn bốt của địch. Nhờ triệt để khai thác thế trận và hoạt động của các lực lượng trên địa bàn nên ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, dồn quân Pháp ở Hòa Bình vào tình thế nguy khốn, buộc phải rút chạy, chấp nhận thất bại. 70 năm đã trôi qua, đến nay, những bài học kinh nghiệm về tác chiến trong Chiến dịch Hòa Bình có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đối với Trường Sĩ quan Lục quân 1, trong suốt 76 năm xây dựng, đào tạo, chiến đấu và trưởng thành, quá trình huấn luyện và đào tạo cán bộ, Nhà trường luôn quan tâm, chú trọng đến việc truyền thụ truyền thống tốt đẹp của dân tộc và kinh nghiệm chiến đấu của Quân đội ta cho người học, trong đó có những bài học kinh nghiệm tác chiến quý báu của Chiến dịch Hòa Bình. Trong điều kiện tác chiến mới, nhất là trong giai đoạn hiện nay, các vấn đề về địch, về ta đã có những thay đổi và phát triển, về địch, tổ chức biên chế, vũ khí trang bị hiện đại, thường xuyên được bổ sung, nâng cấp; khả năng tác chiến ở trình độ cao, có ưu thế về hỏa lực không quân, pháo binh; sức cơ động nhanh, tác chiến điện tử rộng rãi. Về ta, vũ khí trang bị tuy đã có sự đầu tư nâng cấp, trình độ tác chiến đã có sự phát triển, song vẫn còn những hạn chế nhất định... Để đánh thắng kẻ thù xâm lược trong mọi điều kiện hoàn cảnh, chúng ta cần phải tiếp tục bổ sung, nghiên cứu toàn diện các vấn đề, trong đó, nghiên cứu, vận dụng những bài học kinh nghiệm tác chiến của Chiến dịch Hòa Bình vào công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường, cấp ủy, chỉ huy các cấp đặc biệt chú trọng việc nghiên cứu,vận dụng những bài học kinh nghiệm tác chiến đó vào quá trình giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ của Nhà trường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 08:39:12 pm Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, Nhà trường đã và đang không ngừng nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học; đào tạo cán bộ theo hướng "cơ bản hệ thống, thống nhất, chuyên sâu"; xây dựng, rà soát điều chỉnh, bổ sung, chuẩn hóa chương trình, nội dung đào tạo cho các đối tượng, đáp ứng nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cũng như sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam; gắn lý thuyết với thực hành, coi trọng bồi dưỡng, phát triển năng lực thực hành, kỹ năng chỉ huy và tư duy sáng tạo cho người học. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 86-NQ/ĐUQSTW ngày 29 tháng 3 năm 2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục và đào tạo trong tình hình mới, trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống, nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung, những bài học kinh nghiệm tác chiến của Chiến dịch Hòa Bình nói riêng, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, tiếp tục bổ sung, chuẩn hóa mục tiêu, yêu cầu đào tạo cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của Nhà trường trong tình hình mới Trên cơ sở vận dụng linh hoạt, sáng tạo nghệ thuật quân sự được đúc rút từ các trận đánh, các chiến dịch, trong đó có các bài học kinh nghiệm tác chiến tiêu biểu của Chiến dịch Hòa Bình vào chuẩn hóa mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bảo đảm tốt việc kết hợp giữa truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, trang bị kiến thức quân sự cơ bản với tổ chức cho học viên thực hành từ cương vị tiểu đội trưởng đến trung đội trưởng kiêm chức ở Nhà trường và thực tập ở các đơn vị trong toàn quân. Đội ngũ cán bộ được đào tạo ở Nhà trường khi về các đơn vị công tác, bước đầu đã khẳng định được năng lực, trình độ quản lý, chỉ huy, huấn luyện, rèn luyện bộ đội, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trước yêu cầu nhiệm vụ, sự phát triển của khoa học nghệ thuật quân sự và yêu cầu ngày càng cao của tác chiến hiện đại. Trên cơ sở những kết quả đạt được đó, Nhà trường được Bộ Quốc phòng tiếp tục tin tưởng, giao nhiệm vụ đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành nghệ thuật quân sự để kịp thời cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho toàn quân, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong điều kiện mới. Hiện nay, mục tiêu, yêu cầu, chương trình, nội dung đào tạo của Nhà trường ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, chuẩn hóa theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực, tự giác của người học trên cơ sở xác định nội dung, kiến thức chuyên ngành phù hợp. Về nội dung các môn học khoa học xã hội và nhân văn quân sự, chú trọng bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận, xây dựng lập trường giai cấp, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xác định tốt trách nhiệm chính trị, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đối với nội dung các môn khoa học quân sự và các môn khoa học khác, Nhà trường tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh kịp thời vừa đáp ứng được yêu cầu cấp bách mà hoạt động quân sự đặt ra, vừa trang bị kiến thức cơ bản, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu với tăng cường huấn luyện khả năng thực hành đế người học phát triển toàn diện. Hai là, xây dựng, bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện nội dung, chương trình kế hoạch đào tạo phù hợp với điều kiện phát triển mới ở Nhà trường Trong những năm qua, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã chỉ đạo các cơ quan, khoa, đơn vị phối hợp nghiên cứu, cập nhật những phát triển mới về địch, ta, môi trường tác chiến, nghệ thuật quân sự, cách đánh của chiến thuật cấp phân đội, trên cơ sở nội dung,chương trình đào tạo đã có sự chuẩn hóa, tiếp tục rà soát, bổ sung từng bước hoàn thiện nội dung, chương trình theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa gắn với mục tiêu, yêu cầu đào tạo, thực tiễn ở đơn vị cơ sở và của đối tượng đào tạo; bảo đảm tính hệ thống, thống nhất; giảm tỷ lệ khối lượng kiến thức giáo dục đại cương, tăng tỷ lệ khối kiến thức, thời gian huấn luyện chuyên ngành; chú trọng huấn luyện ban đêm; cập nhật nội dung mới, như tác chiến an ninh mạng. Điều chỉnh, bổ sung nội dung, chương trình phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của Nhà trường, đối tượng huấn luyện, cơ sở vật chất, vũ khí trang bị và sự phát triển của nghệ thuật quân sự. Đồng thời, trang bị cho học viên những quan điểm tư tưởng của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; những phát triển mới của học thuyết quân sự, nghệ thuật quân sự và kỹ thuật quân sự; nội dung các hình thức chiến thuật cấp phân đội vận dụng trong điều kiện tác chiến hiện đại, chiến tranh công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức với truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu; bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống; nâng cao năng lực thực hành theo chức vụ đảm nhiệm. Điều chỉnh, cắt giảm những nội dung không phù hợp, tăng thời lượng huấn luyện kỹ thuật hỏa khí đi cùng; giảm thời gian huấn luyện lý thuyết, tăng thời gian huấn luyện và ôn luyện thực hành; diễn tập tổng hợp; bổ sung huấn luyện tin học, ngoại ngữ, công nghệ thống tin; bồi dưỡng kỹ năng chỉ huy, quản lý, huấn luyện bộ đội, kỹ năng tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho người học. Nội dung, chương trình đào tạo của Nhà trường phải được xây dựng chặt chẽ, khoa học, đúng chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo; bảo đảm cân đối về cơ cấu giữa các khối kiến thức khoa học quân sự, khoa học xã hội nhân văn theo từng chuyên ngành đào tạo; gắn lý thuyết với thực hành, hài hòa giữa trí lực và thể lực cho người học sát thực tế chiến đấu; đồng thời, phải bảo đảm tính đồng bộ, chuyên sâu từ khâu lập kế hoạch, xác định nội dung, đối tượng, tổ chức, biên chế, trang bị đến công tác bảo đảm. Coi trọng huấn luyện chuyên sâu kết hợp với rèn luyện học viên sát với yêu cầu, nhiệm vụ của từng cơ quan, khoa, đơn vị; duy trì và thực hiện tốt kế hoạch hoạt động "tiết thứ 9 và giờ thể thao buổi chiều" để bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hành, rèn luyện thể lực, sức chịu đựng cho học viên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong môi trường khắc nghiệt của hoạt động quân sự. Ba là, coi trọng công tác giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm tác chiến trong Chiến dịch Hòa Bình vào quá trình đào tạo cán bộ ở Nhà trường trong giai đoạn hiện nay Giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu là nội dung quan trọng trong huấn luyện quân sự nói chung, huấn luyện chiến thuật nói riêng, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở Nhà trường. Những bài học kinh nghiệm chiến đấu nói chung và những bài học kinh nghiệm trong Chiến dịch Hòa Bình nói riêng và đang được tiếp tục nghiên cứu để vận dụng hiệu quả vào quá trình đào tạo cán bộ ở Nhà trường. Hiện nay, số cán bộ trực tiếp kinh qua thực tiễn chiến đấu ngày một ít, do tuổi tác, sức khỏe, do đó ảnh hưởng lớn đến quá trình giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu cho người học. Vì vậy, trong thời gian vừa qua, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã thường xuyên thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu những bài học kinh nghiệm được đúc kết trong các trận chiến đấu, để bổ sung vào quá trình chuẩn bị và thực hành huấn luyện, bảo đảm sự gắn kết giữa lý luận với thực tiễn; giữa nhà trường với chiến trường. Trong điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc nghiên cứu, vận dụng bài học kinh nghiệm tác chiến trong lịch sử vào công tác huấn luyện, đào tạo ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay càng có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, trong quá trình huấn luyện, đào tạo ở Nhà trường cần nghiên cứu, vận dụng những bài học kinh nghiệm tác chiến này với từng nội dung giảng dạy và hướng dẫn cho học viên biết vận dụng linh hoạt vào giải quyết các tình huống thực tiễn trong huấn luyện, chiến đấu; thường xuyên giáo dục cho học viên nhận rõ âm mưu thủ đoạn của địch; đặc điểm, tính chất của cuộc chiến tranh trong tương lai nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, trình độ, năng lực xây dựng bản lĩnh vững vàng cho người học, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Những bài học kinh nghiệm từ Chiến dịch Hòa Bình còn được tiếp tục nghiên cứu cụ thể, tỷ mỷ để phục vụ thiết thực cho quá trình biên soạn giáo trình, tài liệu huấn luyện và đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử Đường lối quân sự ờ Nhà trường, củng cố niềm tin của người học vào vũ khí trang bị cách đánh và các hình thức chiến thuật của Quân đội ta. Quá trình giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu bước đầu đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, hệ thống giáo trình, tài liệu, các công trình tổng kết lịch sử qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ thường xuyên được Nhà trường cập nhật, bổ sung, làm mới. Để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo cán bộ, Nhà trường càn coi trọng việc nghiên cứu, lựa chọn những bài học kinh nghiệm chiến đấu và nghệ thuật quân sự cho phù hợp; thông qua tư liệu lịch sử của từng trận đánh, từng chiến dịch để giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu và nghệ thuật quân sự cho học viên về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, bảo đảm tính toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đối tượng, thiết thực, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ vận dụng. Chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm tác chiến quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào công tác đào tạo cán bộ của Nhà trường, giúp người học hiểu rõ mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn; nguyên tắc và các tình huống cơ bản trong huấn luyện với thực tiễn chiến đấu để học viên có nhận thức đúng, tổng quan về các chiến lệ, kinh nghiệm chiến đấu, biết vận dụng vào thực tiễn huấn luyện, giảng dạy, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Chiến dịch tiến công Hòa Bình diễn ra cách đây 70 năm, những bài học kinh nghiệm tác chiến của chiến địch có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc, chúng ta cần tiếp tục tập trung đi sâu nghiên cứu, phân tích, luận giải những vấn đề mới, nhất là loại hình chiến dịch tiến công làm cơ sở cho việc vận dụng trong công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 nói riêng và trong xây dựng các phương án, kế hoạch, tổ chức lực lượng, huấn luyện của Quân đội ta nói chung, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 08:48:51 pm CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - BÀI HỌC TRONG HUẤN LUYỆN, ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY Thiếu tướng, PGS.TS NGUYỄN HÙNG OANH Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị Bộ Quốc phòng Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952 trên địa bàn Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6. Chiến dịch có sự phối hợp chặt chẽ với "chiến trường sau lưng địch" ở trung du, đồng bằng Bắc Bộ và là một hướng tiến công quan trọng trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952 của quân dân ta. Thực hiện tốt phương châm tác chiến "đánh điểm diệt viện, liên tục chiến đấu, kiên quyết tích cực kiềm chế và diệt pháo địch", trải qua hơn 2 tháng chiến đấu liên tục, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà với diện tích khoảng 2.000km2; tiêu diệt được hơn 6.000 tên địch, thu 24 khẩu pháo các cỡ, 788 súng các loại, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 17 canô, tàu, xuồng, phá hủy 246 xe quân sự1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39). Với thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, ta đã đánh bại âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do của ta, phá tan ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, đảm bảo đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4; đồng thời, phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của Pháp. Chính tướng Nava sau này đã phải thừa nhận: Chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó đã tạo thế lợi cho đối phương đưa được các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng1 (Henri Navarre, Đông Dương hấp hối (Hồi ký), Nxb Công an, Hà Nội, 2004, tr. 45.). Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình được tạo nên từ nhiều yếu tố, trong đó có đóng góp quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Trong suốt chiến dịch, công tác đảng, công tác chính trị đã phát huy vai trò đảm bảo cho đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, của Tổng Quân ủy đến từng cán bộ, đảng viên, quần chúng và biến đường lối, chủ trương, chính sách ấy thành sức mạnh trên chiến trường; biến quyết tâm của Trung ương Đảng, của Tổng Quân ủy thành quyết tâm của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Từ những đóng góp của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng: Một là, thường xuyên nêu cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp gắn với phát huy trí tuệ tập thể trong tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến đấu Đây là bài học quý báu thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng trong những nhiệm vụ gian khó, phức tạp. Trước sự thay đổi về hình thức tác chiến theo phương châm mới, đồng thời do sự chênh lệch về quân số, vũ khí trang bị giữa ta và Pháp nên ngay từ khi thực dân Pháp đánh ra Hòa Bình, Tổng Quân ủy đã đề ra chủ trương tiến hành công tác chuẩn bị cho chiến dịch. Trong đó, yêu cầu quan trọng là cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị phải quán triệt sâu sắc nhận định của Trung ương và quyết tâm của Tổng Quân ủy,từ đó xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu được giao. Trong trận tiến công cứ điểm Tu Vũ, Đảng ủy các tiểu đoàn và chi bộ các đại đội bộ binh đã làm tốt công tác sinh hoạt chi ủy, họp chi bộ để lãnh đạo nhiệm vụ. Các đại đội trên hướng chủ yếu như Đại đội 217 đã tập trung quán triệt mục đích, ý nghĩa trận đánh, vị trí của Tu Vũ trong phòng tuyến Sông Đà của địch và địa bàn để triển khai lực lượng chiến dịch của ta. Nhờ bàn bạc, đánh giá chính xác về địa hình, nhất là những khó khăn mà Đại đội phải khắc phục như dễ lạc hướng, khó lợi dụng để tránh pháo và đạn bắn thẳng... và chỉ ra những điểm mạnh của địch trong lô cốt mà ta phải tiêu diệt, hội nghị Chi ủy đã thông qua phương án bố trí và sử dụng lực lượng của Đại đội trưởng, đây là điểm then chốt trong chiến đấu tiến công địch phòng ngự. Bên cạnh đó, việc phát huy tốt trí tuệ tập thể đã giúp các đơn vị có được cách đánh phù hợp, hiệu quả và khơi dậy được tinh thần đoàn kết lập công trong toàn đơn vị. Các đại đội đã làm tốt việc tổ chức hội nghị dân chủ quân sự với những phương pháp duy trì linh hoạt, sáng tạo. Trong đó, chú trọng việc nêu ý kiến của cán bộ chủ trì, cán bộ biết lắng nghe ý kiến của chiến sĩ, khơi gợi thảo luận và nắm chắc những vướng mắc trong nhận thức bộ đội để thống nhất kết luận. Nhờ vậy, việc thống nhất và triển khai chủ trương, biện pháp lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu tiến công của cấp ủy, tổ chức đảng được triển khai thông suốt từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp ủy, tổ chức đảng đến từng đảng viên và quần chúng. Hai là, thực hiện toàn diện, đồng bộ các nội dung hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, trọng tâm là công tác tư tưởng, công tác địch vận Đây là bài học kinh nghiệm nổi bật của Quân đội ta trong Chiến dịch Hòa Bình. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành đồng bộ, toàn diện đã trực tiếp góp phần xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội và nhân dân, thúc đẩy sự tan rã trong nội bộ đối phương. Cụ thể, nhận rõ âm mưu thâm độc của địch và so sánh lực lượng giữa hai bên, quá trình tác chiến, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch và Phòng Chính trị Mặt trận liên tục có các chỉ thị chỉ đạo công tác tư tưởng giữ vững ý chí quyết tâm liên tục chiến đấu cho bộ đội. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, quân ta nổ súng tiến công cứ điểm Tu Vũ, mở màn chiến dịch. Sau những thắng lợi đầu tiên, ngày 18 tháng 12 năm 1951, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị số 4/H3 "Công tác chính trị đợt 2 Chiến dịch Hòa Bình" nêu rõ 7 vấn đề phải lãnh đạo đảm bảo thực hiện thắng lợi đợt 2 của chiến dịch, trong đó nhấn mạnh phải làm cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt sâu sắc những nhận định về thắng lợi, tình hình và những chủ trương nhiệm vụ đợt 2 của Tổng Quân ủy và thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với chỉ thị trên, Tổng cục Chính trị liên tiếp có các chỉ thị, hướng dẫn từng mặt cụ thể như: "Thư gửi các đồng chí chính ủy, chủ nhiệm chính trị sư đoàn, trung đoàn", "Chỉ thị giữ bí mật trên đường hành quân và nơi trú quân", "Chỉ thị gửi các chính ủy, chủ nhiệm chính trị sư đoàn và trung đoàn: Nắm kịp thời cơ, ra sức tăng cường địch vận"... để lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị nắm chắc tình hình tư tưởng bộ đội, cổ vũ động viên tinh thần phấn khởi thi đua lập công đối với cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, công tác địch vận cũng được xác định là một trong những công tác trọng tâm. Trên cơ sở nắm, phân tích tình hình tâm lý binh lính địch, nhất là tư tưởng của lực lượng ngụy binh, nội dung của công tác địch vận tập trung tuyên truyền làm cho dân chúng và binh lính địch hiểu rõ tính chất của cuộc chiến tranh mà thực dân Pháp phát động là chiến tranh xâm lược, phi nghĩa; đồng thời, cũng làm cho họ nhận thức được cuộc chiến đấu mà nhân dân ta tiến hành là chiến đấu chống xâm lược, chiến tranh chính nghĩa. Mặt khác, làm cho binh lính địch nhận thức được trong chiến dịch này, sự thất bại của họ là tất yếu. Thông qua công tác địch vận làm cho binh lính địch hiểu rõ chính sách khoan hồng, nhân đạo của ta để họ quay súng, về với nhân dân. Đây chính là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để làm cho binh lính và tà binh giác ngộ quay sang hàng ngũ ta, làm tan rã hàng ngũ địch, giảm sức chiến đấu của chúng. Chỉ thị về công tác chính trị đợt 3 chiến dịch ngày 2 tháng 1 năm 1952 của Tổng cục Chính trị nhấn mạnh: "Đặc biệt mở rộng địch vận, tiến công mạnh mẽ địch về tinh thần, kết hợp với tranh thủ thời gian liên tục diệt địch để khuếch trương chiến quả thu thêm nhiều thắng lợi mới"1 (Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 -1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 122-123). Ba là, chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, nêu cao tinh thần đoàn kết cán binh, đoàn kết quân dân, nhất là trong những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ Xác định rõ tính chất, yêu cầu của Chiến dịch Hòa Bình Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh luôn chú trọng phát huy tốt vai trò của các lực lượng, nhất là vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp. Cán bộ không chỉ là những người thấm nhuần phương châm tác chiến mà còn là lực lượng nòng cốt, thường xuyên sâu sát bộ đội, kịp thời nắm bắt tâm tư, suy nghĩ của chiến sĩ để kịp thời động viên, khích lệ bộ đội. Trong các nhiệm vụ khó khăn, những trận chiến đấu gian khổ, hy sinh, đội ngũ cán bộ các cấp đã thực sự đi đâu và trở thành tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Tinh thần đoàn kết "cán - binh" cũng được khơi dậy và phát huy thường xuyên; qua đó đã giúp mỗi đơn vị tham gia chiến dịch thực sự trở thành một khối thống nhất, luôn đoàn kết, đồng lòng cùng quyết tâm đánh bại đối phương. Đặc biệt, công tác dân vận được tập trung thực hiện có hiệu quả nhằm hai mục đích: Một là, huy động nhân lực, vật lực của nhân dân trong vùng tự do để phục vụ chiến dịch; hai là củng cố đoàn kết quân dân, giải phóng nhân dân thoát khỏi sự kìm kẹp của kẻ thù tại Hòa Bình. Thực hiện chủ trương này, các đơn vị chủ lực trên địa bàn đã làm tốt việc phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích khu vực Hòa Bình tăng cường giáo dục, động viên nhân dân, sẵn sàng đánh địch càn quét ra vùng tự do, điển hình như Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang quần chúng và các địa phương trung du, tả hữu ngạn sông Hồng, chủ động tích cực tiêu diệt địch, phá tề, trừ gian, tổ chức nhân dân chống càn để phối hợp chặt chẽ với chiến dịch. Do đó, khi bước vào đợt 3 của chiến dịch, trong vùng địch hậu, chiến tranh du kích của nhân dân phát triển mạnh mẽ, nhiều căn cứ được phục hồi và mở rộng, nhân dân Hòa Bình vùng dậy giải phóng, tích cực tham gia kháng chiến, buộc địch phải điều bớt lực lượng ở Hòa Bình, tạo thuận lợi cho quá trình tác chiến của ta. Có thể khẳng định, thành công của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình. Cùng với thắng lợi to lớn tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Chiến thắng Hòa Bình tạo nên một bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ta tiếp tục giữ quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính và làm cho hệ thống kìm kẹp của địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ tan ra từng mảng lớn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 08:50:59 pm Hiện nay, yêu cầu xây dựng Quân đội ngày càng "tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân... cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 158) đang đặt ra đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sức mạnh, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội, nhất là ở đơn vị cơ sở. Trường Sĩ quan Chính trị Bộ Quốc phòng là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn có nhiệm vụ cung cấp đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhà trường luôn chủ động quán triệt, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong đấu tranh cách mạng nói chung, trong Chiến dịch Hòa Bình nói riêng vào thực tiễn hoạt động của Quân đội và huấn luyện, đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Chính trị. Để thực hiện tốt yêu cầu đó, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, chú trọng đổi mới chương trình, nội dung, nhất là môn học công tác đảng, công tác chính trị đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội Trong đổi mới chương trình, nội dung, phương thức đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị ờ Trường Sĩ quan Chính trị, cần nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả phương hướng, nhiệm vụ "Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo... Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Sđd, tr. 232). Do vậy, căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu, đối tượng và thời gian đào tạo để đổi mới chương trình đào tạo cán bộ chính trị theo hướng "... chuẩn hóa, hiện đại hóa, sát thực tế và yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới"2 (Tổng cục Chính trị, Tài liệu học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 40), Trường Sĩ quan Chính trị chủ trương giảm lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu tìmhiểu của học viên; kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học và truyền thụ kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị lần thứ X nhiệm kỳ 2020 - 2025 nhấn mạnh: "Chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo được đổi mới, chuẩn hóa, hiện đại hóa theo hướng lấy người học làm trung tâm; khắc phục cơ bản sự trùng lặp về nội dung giữa các bậc học, môn học"1 (Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hànhĐảng bộ khóa IX tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ X nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội, 2020, tr. 3). Theo đó, chương trình, nội dung đào tạo nhất là nội dung chuyên ngành công tác đảng, công tác chính trị phải bảo đảm toàn diện, cơ bản, hệ thống nhưng không dàn đều mà có tính chuyên sâu phù hợp với trình độ nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động quân sự của từng đối tượng học viên. Yêu cầu chung đối với việc đổi mới nội dung đào tạo cán bộ chính trị là không hạ thấp yêu cầu, vừa tiếp cận với trình độ khoa học tiên tiến, vừa coi trọng kinh nghiệm truyền thống của Quân đội ta, đồng thời phải thích ứng yêu cầu thực tiễn xây dựng Quân đội, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị hiện nay. Đặc biệt, phải bám sát sự phát triển của lý luận chính trị quân sự và cập nhật quán triệt các quan điểm, đường lối mới nhất của Đảng, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, chỉ thị, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị và những kinh nghiệm tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị vào nội dung đào tạo. Thứ hai, đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảo dục, đào tạo theo hướng tích cực, gắn người học vào thực tiễn đơn vị cơ sở Thực tiễn chiến đấu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của bộ đội ở đơn vị cơ sở luôn vận động, phát triển liên tục đòi hỏi hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cũng phải thường xuyên bám sát với sự phát triển ấy. Điều này đòi hỏi người cán bộ chính trị phải có đủ phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác đủ sức đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ ở các đơn vị cơ sở trong toàn quân. Muốn vậy trước hết ngay trong quá trình đào tạo tại trường, học viên phải được trang bị phẩm chất, tri thức và kỹ năng cần thiết. Những phẩm chất, tri thức và kỹ năng này phải mang "hơi thở" của đơn vị sát với yêu cầu hoạt động của cán bộ chính trị nhưng cũng phải phù hợp với trình độ nhận thức của người học. Cách thức xác định lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị gồm: Cách thức truyền thụ hệ thống kiến thức khoa học; phương pháp trang bị kinh nghiệm thực tiễn, kỹ xảo, kỹ năng công tác đảng, công tác chính trị; bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận khoa học; phương pháp giáo dục, rèn luyện hình thành phẩm chất nhân cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ chính trị. Phương pháp huấn luyện, đào tạo phải theo hướng tích cực, khai thác tối đa khả năng tự học, tự nghiên cứu. Chú trọng các phương pháp mang tính trực quan, trực tiếp đưa người học vào các hoạt động thực hành công tác đảng, công tác chính trị để bồi dường kỹ năng nghề nghiệp. Kết hợp chặt chẽ huấn luyện trên lớp với tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan, thực tập để nâng cao hiệu quả đào tạo. Đội ngũ học viên đào tạo cán bộ chính trị phải tự quán triệt, xác định rõ ý thức trách nhiệm, yêu mến, gấn bó với nghề nghiệp, thấy rõ sự cần thiết phải học tập, rèn luyện, coi việc học tập, rèn luyện là một nhu cầu, là trách nhiệm, là nghĩa vụ và quyền lợi của mình. Từ nhận thức đúng đắn và tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện, từng học viên cụ thể hóa nó thành mục đích, kế hoạch tự đào tạo, bồi dưỡng rõ ràng và thiết thực. Thứ ba, thường xuyên bồi dưỡng tinh thần đoàn kết "cán - binh", đoàn kết"quân - dân" cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội Đoàn kết cán - binh, đoàn kết quân - dân là truyền thống quý báu gắn liền với lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Đoàn kết chính là nguồn gốc động lực để Quân đội có được sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Thực tiễn trong Chiến dịch Hòa Bình nói riêng và xuyên suốt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, xây dựng tinh thần đoàn kết cán - binh, đoàn kết máu thịt quân - dân luôn là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của Quân đội. Cán bộ chính trị là người "trực tiếp chỉ đạo và tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong đơn vị"1 (Quân ủy Trung ương, Điều lệ Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 93); là hạt nhân đoàn kết trong đơn vị, trực tiếp chỉ đạo và tiến hành công tác dân vận, củng cố vững chắc mối quan hệ đoàn kết máu thịt Quân đội với nhân dân. Do đó, quá trình đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội cần thường xuyên bồi dưỡng tinh thần đoàn kết cho học viên. Hoạt động bồi dưỡng phải bám sát tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, tầm quan trọng của đoàn kết nội bộ; về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; luôn quán triệt và vận dụng sâu sắc các quan điểm, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác dân vận. Trên cơ sở đó xác định nội dung và hình thức bồi dưỡng tinh thần đoàn kết cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội bảo đảm phù hợp, hiệu quả. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 09:00:17 pm PHỐI HỢP GIỮA MẶT TRẬN CHÍNH DIỆN HÒA BÌNH VỚI MẶT TRẬN SAU LƯNG ĐỊCH BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP GIÀNH THẮNG LỢI Thiếu tướng, TS ĐỖ HỒNG LÂM Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân Sau một thời gian tiến hành "chiến tranh tổng lực" cao độ tại chiến trường Việt Nam, với những kết quả đã giành được, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng "cán cân đã nghiêng về Pháp" và đã đến lúc Pháp phải từ bỏ thái độ phòng ngự, chuyển sang thế tiến công. Theo đó, tháng 11 năm 1951, quân Pháp tập trung phần lớn lực lượng, phương tiện "đánh đòn quyết định" ở Mặt trận Hòa Bình. Giành thắng lợi, quân Pháp mở rộng khu vực chiếm đóng, tăng cường phòng ngự khu vực phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, giảm nhẹ sự cô lập của Tây Bắc, đồng thời uy hiếp vùng tự do của ta ở Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa... và ngăn chặn, cắt đứt đường liên lạc, vận chuyển giữa Liên khu 3 với Việt Bắc. Ngoài ra, việc chọn Hòa Bình làm chiến trường một cách có chủ định, quân Pháp hy vọng sẽ phá hỏng sự chuẩn bị và "nghiền nát" chủ lực đối phương, ổn định ngụy quân, ngụy quyền, làm yên lòng chính phủ Pháp, đồng thời xây dựng "xứ Mường tự trị", từ đó chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc, tạo thế, tạo bàn đạp tiến công Tây Bắc. Sau khi đánh chiếm được Hòa Bình, quân Pháp tập trung binh lực, hỏa lực xây dựng khu vực này thành cụm cứ điểm mạnh, gồm 2 phân khu: Sông Đà - Ba Vì và Hòa Bình - Đường số 6 - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn, lần đầu xuất hiện ở chiến trường Đông Dương. Nghiên cứu tình hình địch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Việc quân địch tổ chức tiến công và chiếm đóng tại Hòa Bình khiến chúng phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, khu vực có địa hình đột xuất, núi rừng hiểm trở, giao thông không thuận lợi, công sự, trận địa phòng ngự chưa được chuẩn bị, củng cố vững chắc. Mặc dù gây cho ta nhiều khó khăn nhưng đây cũng là một cơ hội hiểm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Chính vì vậy, theo đề nghị của Tổng Quân ủy, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương mở cuộc tiến công lớn, đánh địch trên hướng chính là Hòa Bình và đưa các đơn vị chủ lực vào hoạt động ở mặt trận sau lưng địch nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực chủ yếu của chúng, tiến tới đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình. Quyết định trên thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình nhận định, đánh giá, phân tích tình hình, so sánh tương quan lực lượng, đồng thời thể hiện tư tưởng tiến công, khả năng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân cũng như nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân độc đáo, sáng tạo. Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn với hướng tiến công chủ yếu là cụm cứ điểm Tu Vũ - núi Chẹ. Bộ Tổng Tư lệnh đã sử dụng Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở bên tả ngạn sông Đà tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh địch chi viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình; Đại đoàn 312 ở bên hữu ngạn sông Đà tiêu diệt cứ điểm núi Chẹ, đánh địch chi viện đường bộ từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến núi Chẹ; Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch làm nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6; Trung đoàn 102 là lực lượng dự bị của chiến dịch. Cùng với việc tập trung lực lượng, phương tiện tiến công địch trên mặt trận chính diện, tại mặt trận sau lưng địch, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Đại đoàn 316 (được tăng cường Trung đoàn 246) phối hợp với bộ đội địa phương và lực lượng dân quân Bắc Ninh, Bắc Giang đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng căn cứ; Đại đoàn 320 phối hợp với chủ lực Liên khu 3, các trung đoàn 42, 46 bộ đội địa phương và dân quân du kích giúp các huyện Duy Tiên Bình Lục, Lý Nhân (Hà Nam), Kim Sơn, Phát Diệm (Ninh Bình) củng cố lực lượng, chống càn, bảo vệ và xây dựng cơ sở chính trị. Quán triệt phương châm đánh điểm, diệt viện, kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông tiêu diệt quân viện, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân địch càn quét, sục sạo, quân dù và quân ứng cứu giải tỏa, các đơn vị tham gia chiến dịch đã làm tốt công tác chuẩn bị về lực lượng, phương tiện, chủ động xây dựng phương án, kế hoạch, xác định quyết tâm, sẵn sàng đánh địch. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, sau hơn nửa tháng chiến đấu mưu trí, dũng cảm, kiên cường, ta đã kết thúc thắng lợi đợt 1 chiến dịch, làm chủ cứ điểm Tu Vũ, phá sản kế hoạch càn quét của địch ở Ba Vì, uy hiếp mạnh Đường số 6, cắt đứt phòng tuyến Sông Đà. Cùng với đó, trên mặt trận sau lưng địch, các đại đoàn chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch rộng khắp và giành thắng lợi lớn, buộc quân địch phải điều quân từ mặt trận chính diện về đối phó. Tuy nhiên, khi ta uy hiếp mạnh ở Hòa Bình, chúng buộc phải bỏ dở các cuộc càn, điều lại quân ứng cứu cho sông Đà, Ba Vì, điều đó thể hiện sự lúng túng, bị động của quânđịch. Thắng lợi của các trận đánh tại cứ điểm Tu Vũ, sông Đà cùng với thắng lợi ở Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình khẳng định sự chỉ đạo đánh địch của Trung ương trên mặt trận chính diện và vùng sau lưng địch là sáng suốt và đạt hiệu quả cao. Triệt để tranh thủ sự lúng túng, bị động, giằng xé trong điều động lực lượng của quân địch, bước vào đợt 2 và đợt 3 của chiến dịch, Trung ương Đảng cùng Tổng Quân ủy chủ trương đẩy mạnh các hoạt động quấy rối, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, phá giao thông, chặn tiếp tế của địch; đồng thời lợi dụng sự sơ hở, phân tán trong bố trí lực lượng, phương tiện của địch để tổ chức tiêu diệt một bộ phận sinh lực chủ yếu và khống chế đường vận chuyển trên sông Đà, bám sát, vây chặt quân địch trong các cứ điểm ở Hòa Bình. Theo đó, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo Đại đoàn 308 tiến hành đánh địch ở Đá Chông, Ba Vì, diệt quân viện trên sông Đà và Đường số 87; Đại đoàn 312 diệt địch ở cứ điểm 600, núi Chẹ đánh quân viện trên đường Mỹ Khê - Ba Vì; Đại đoàn 304 tiếp tục hoạt động trên Đường số 6. Ở vùng sau lưng địch, các đại đoàn 316,320 tiếp tục phối hợp với các lực lượng dân quân du kích giúp địa phương củng cố và bảo vệ cơ sở chính trị. Phát huy thắng lợi, các đại đoàn chủ lực trên mặt trận chính diện chủ động, sáng tạo, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến đấu, tiến hành bao vây, cô lập cụm cứ điểm Hòa Bình, chặn cắt các trục đường giao thông thủy, bộ và tiêu diệt quân viện đã khiến tinh thần chiến đấu của quân địch sa sút. Cùng với đó, ở vùng sau lưng địch, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ, lực lượng vũ trang, bán vũ trang, cơ sở chính trị được củng cố và mở rộng làm cho tình thế, cục diện thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Nhận thấy cụm cứ điểm trên mặt trận chính diện Hòa Bình gặp khó khăn trong tiếp tế, chi viện; các vị trí chiếm đóng trên trục Đường số 6 liên tục bị chia cắt và tấn công; ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có "những khoảng trống lớn" do lực lượng cơ động tăng cường cho mặt trận chính diện nên trung tuần tháng 2 năm 1952, quân địch đã quyết định thực hiện Kế hoạch "Cầu vồng", rút quân khỏi cụm cứ điểm Hòa Bình. Dưới sự yểm trợ của không quân, pháo binh, ngày 25 tháng 2 năm 1952, quân địch rút toàn bộ lực lượng, phương tiện khỏi Hòa Bình, kết thúc cuộc hành quân chiếm đóng tại nơi đây. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 09:02:34 pm Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy trong nhận định đánh giá tình hình, xác định phương thức, phương châm đánh địch; sự thành công trong chỉ đạo đánh địch trên 2 hướng chiến lược là mặt trận chính diện và vùng sau lưng địch; minh chứng sự phát triển lớn mạnh của các đại đoàn chủ lực; sự phối hợp hiệu quả giữa hoạt động tác chiến với công tác dân vận, địch vận. Đồng thời, thắng lợi còn có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị và quân sự, làm phá sản âm mưu chia rẽ tình đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc và chính sách dùng người Việt đánh người Việt của địch, đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng, tạo ra thế trận mới trong chiến cục Đông - Xuân 1951 - 1952.
Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Trong nước, cùng với những thời cơ, thuận lợi, đất nước ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh chống phá Đảng và Nhà nước ta bằng những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt. Thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, gây ra nhiều hệ lụy, nhiều khó khăn mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "từ sớm, từ xa", bằng các biện pháp hòa bình, đồng thời tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả phương châm: "Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đào, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 48) mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định, gắn với giữ gìn và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với Quân đội trong thực hành tác chiến chiến dịch Thực tiễn thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cho thấy, trong thời điểm khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định, phân tích, đánh giá đúng tình hình các mặt, tương quan lực lượng. Theo đó, trên cơ sở báo cáo, đề xuất của Tổng Quân ủy, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 22-CT/TƯ "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Việc ban hành Chỉ thị khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nói riêng, đồng thời thể hiện tư duy nhạy bén, sáng tạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi khi quân địch chọn Hòa Bình để chiếm đóng, chúng sẽ tập trung bố trí binh lực, hỏa lực, phi cơ, pháo binh trên tuyến phòng ngự chủ yếu và hình thành cụm cứ điểm liên hoàn. Song, địch cũng sẽ bị phân tán lực lượng, phương tiện trên mặt trận chính diện và các nơi khác. Chúng có thể gây cho ta những khó khăn nhất định, nhưng đó cũng là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Có thể khẳng định, việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với Quân đội trong thực hành tác chiến chiến dịch, chiến lược là bài học kinh nghiệm có giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vì vậy, các cấp, các ngành, các lực lượng cần chủ động, nhạy bén, nắm, dự báo sớm, đánh giá đúng tình hình, làm cơ sở để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước ban hành những đối sách chiến lược, cách xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh linh hoạt, sáng tạo, không để bị động, bất ngờ. Cùng với đó, theo thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước các chủ trương, xem xét quyết định, sửa đổi, ban hành một số luật, văn bản quy phạm pháp luật nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng như: Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Quản lý các công trình quốc phòng, Luật Động viên công nghiệp quốc phòng..., tạo cơ sở, hành lang pháp lý vững chắc trong thực hiện sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Ngoài ra, phải tích cực thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, chuẩn bị các tiềm lực quốc gia đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện để thực thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước. Hai là, coi trọng công tác giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho bộ đội Thực tiễn trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã chứng minh có nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm nên thắng lợi vẻ vang, song qua thực tế chiến đấu và công tác, yếu tố quan trọng nhất để làm nên chiến thắng chính là "Sức mạnh chính trị, tinh thần". Sức mạnh đó được kết tinh trong mỗi cán bộ, chiến sĩ, là động lực thôi thúc họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, không quản ngại hy sinh, mưu trí, dũng cảm, tạo nên những chiến công chói lọi. Trong Chiến dịch Hòa Bình, để cổ vũ động viên tinh thần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị chủ lực và dân quân du kích: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cũng ra huấn lệnh, kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1963, tr. 73). Đây chính là minh chứng sinh động, bài học kinh nghiệm quý trong công tác giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chúng ta cần tập trung giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoạt động nhằm giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, lòng yêu nước, danh dự và khát khao cống hiến cho Tổ quốc; chuyển hóa mục tiêu, lý tưởng thành suy nghĩ và hành động, thành niềm tin chiến thắng trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; nhận thức rõ đối tác, đối tượng, xử lý hài hòa những diễn biến, tình huống phức tạp,những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc, giữ vững lập trường, quan điểm, đổi sách. Tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; củng cố vững chắc trận địa tư tưởng, xứng đáng với phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới. Để công tác giáo dục chính trị đạt kết quả cao, chúng ta phải tiến hành với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, đặc biệt phải coi trọng việc nêu gương những cán bộ, chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 09:03:41 pm Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng "thế trận lòng dân " vững mạnh
Hiện nay, bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa" đặt ra nhiều yêu cầu mới cao hơn, do đó, vận dụng bài học kinh nghiệm trong Chiến dịch Hòa Bình về phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững mạnh có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Theo đó, chúng ta cần đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân, "thế trận lòng dân", từ đó làm chuyển biến tư tưởng và hành động trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách về xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, "thế trận lòng dân" vững chắc. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn; các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, vì vậy chúng ta càng phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, củng cố "thế trận lòng dân" nói riêng; phải làm cho ý Đảng về "thế trận lòng dân" thấm sâu vào mỗi người, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng "thế trận lòng dân" thời kỳ mới. Cùng với đó, tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên với coi trọng công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình làm cho từng tổ chức đảng và đảng viên thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo xây dựng "thế trận lòng dân". Tích cực củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng "thế trận lòng dân" làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bốn là, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, phát huy kinh nghiệm xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang địa phương trong Chiến dịch Hòa Bình, các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững chắc, trong đó cần tập trung thực hiện có hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia và các quy định của Luật Quốc phòng... Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bộ, ban, ngành Trung ương, bảo đảm cho các quyết sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng, củng cố quốc phòng được thực hiện với quyết tâm cao, đạt hiệu quả thiết thực. Cùng với đó, các bộ, ban, ngành Trung ương, các địa phương, nòng cốt là Bộ Quốc phòng cần chủ động nắm chắc tình hình, phân tích, nhận định, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước những kế sách, chiến lược nhằm ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; không để bị động, bất ngờ. Tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có cơ cấu, số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu; nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu từ cơ sở bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ tinh thông về nghiệp vụ, giỏi chuyên môn, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, có khả năng hiệp đồng chiến đấu cao; dũng cảm, mưu trí, ứng phó linh hoạt, xử lý thắng lợi các tình huống tác chiến. Bên cạnh đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, vai trò của từng cán bộ, chiến sĩ trong từng nhiệm vụ, hoạt động công tác. Xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội thực sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu đủ sức lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, các tỉnh, thành phố cần quan tâm xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện, có chất lượng và sức mạnh tổng hợp ngày càng cao, thực sự là lực lượng nòng cốt, là công cụ sắc bén bảo vệ cấp ủy, chính quyền và nhân dân từ địa phương, cơ sở và đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Hòa Bình là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc và Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây cũng là dịp để cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói riêng, lực lượng vũ trang cả nước nói chung tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 09:16:41 pm CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC Thiếu tướng NGUYỄN QUỐC TUẤN Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3 Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm đô hộ của thực dân, phát xít. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được sự hậu thuẫn của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta lần thứ hai, mở đầu là tiến công vào các tỉnh Nam Bộ. Năm 1946 chúng gây hấn đánh ra Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc, ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngay sau đó, ta mở nhiều chiến dịch lớn, tiêu biểu như: Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông (1947), Chiến dịch Biên Giới (1950), Chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952). Trong Chiến dịch Hòa Bình, do làm tốt công tác dân vận, ta đã huy động được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân ở các địa phương tham gia chiến dịch, hình thành được 3 tuyến vận chuyển để phục vụ công tác hậu cần, tiếp chuyển lương thực từ các nơi như: Phú Thọ, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình, Liên khu 4 chuyển đến. Tại tỉnh Hòa Bình đã vận động đồng bào các dân tộc ủng hộ gần 6.500 tấn lương thực, thực phẩm và hàng trăm tấn vật chất hậu cần khác; hàng nghìn dân công; hàng chục nghìn cây tre, nứa; hàng nghìn cây gỗ để làm cầu, bè mảng, dựng lán trại. Nhiều nữ thanh niên hăng hái xung phong vào các đội tải thương, phục vụ trong các trạm quân y. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ở Mặt trận Hoà Bình, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 khẩu pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 khẩu pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, tập I: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167). Hoà Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp; buộc quân Pháp phải rút khỏi địa bàn tỉnh Hòa Bình. Hành lang Đông - Tây của địch bị phá vỡ, âm mưu giành thế chủ động của thực dân Pháp không còn, cục diện chiến trường Bắc Bộ đã thay đổi có lợi cho ta, địch bị dồn vào thế bị động, đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt từng mảng lớn. Thắng lợi này còn có ý nghĩa lớn về chính trị: Ta đã giải tán được nhiều tổ chức ngụy quyền và mở rộng được vùng tự do. Âm mưu lập lại "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp và bọn phản động bị thất bại hoàn toàn. Thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều bài học quý báu về công tác dân vận của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cụ thể: Một là, luôn dựa vào lực lượng, sức mạnh của nhân dân, lấy dân làm gốc, gắn bó mật thiết với nhân dân Trong Chiến dịch Hòa Bình, để huy động sức người, sức của phục vụ cho chiến dịch, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành có hiệu quả công tác dân vận trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch cho nên đã huy động được đông đảo quần chúng đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình hưởng ứng ủng hộ kháng chiến. Từng địa phương, bản làng, thôn xóm, đến từng gia đình, mọi tầng lớp nhân dân đã chung sức, đồng lòng quy tụ thành một khối thống nhất, sẵn sàng hy sinh tính mạng, tài sản phục vụ kháng chiến. Mỗi người dân dù trực tiếp cầm súng chiến đấu hay phục vụ chiến đấu đều có chung ý chí quyết tâm đánh giặc. Tiêu biểu như mế Thành 80 tuổi, người Cao Phong, Kỳ Sơn thiết tha yêu cầu chính quyền địa phương cho gia nhập đoàn dân công phục vụ chiến dịch, tình nguyện đi nấu cơm phục vụ bộ đội. Nhiều gia đình tự nguyện nhường nhà cho bộ đội, đón thương binh về chăm sóc, giữ bí mật bảo vệ mọi hoạt động cho bộ đội. Phát huy bài học trong Chiến dịch Hòa Bình, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn xác định "Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân... Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân" (Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng). Đồng thời, trong tình hình mới phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho uy tín, vị thế của đất nước trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra nhiệm vụ của công tác dân vận là củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", "dân giám sát, dân thụ hưởng". Điều đó thể hiện nền dân chủ xã hội ngày càng được mở rộng, đi vào nền nếp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Với quan điểm xuyên suốt: Nước lấy dân làm gốc. Để thêm "dân giám sát, dân hưởng thụ" là một quá trình hơn 35 năm đổi mới đất nước, được trải nghiệm, chứng minh qua thực tiễn cuộc sống của người dân. Hai là, xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến hành chiến tranh cách mạng Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện sinh động trong Chiến dịch Hòa Bình, là sự tiếp nối tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc ta. Sức mạnh đó trước hết từ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là một là nét độc đáo của Đảng ta về tổ chức tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng Hòa Bình thể hiện sự thành công của Đảng về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với đường lối đúng đắn, Đảng đã phát động và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh đoàn kết để đẩy mạnh kháng chiến; Chiến dịch Hòa Bình không chỉ có Quân đội lực lượng vũ trang đánh giặc mà toàn dân Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái đều tham gia cuộc kháng chiến toàn diện. Trong giai đoạn hiện nay, lợi dụng quá trình mở cửa, hội nhập các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động "diễn biến hòa bình" kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ dân tộc, gây thù hằn tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta; khoét sâu các mâu thuẫn, gây xung đột xã hội, kích động biểu tình, bạo loạn làm mất ổn định chính trị - xã hội. Âm mưu "diễn biến hòa bình" và các nguy cơ đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là giữ vững chủ quyền biển, đảo và an ninh quốc gia đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải đồng lòng, chung sức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Khắc phục những hạn chế trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời gian qua, đồng thời để giải quyết hiệu quả những vấn đề mới nảy sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định: "Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Đại hội XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ và cũng là những quan điểm chỉ đạo công tác dân vận của Đảng: "Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm "dân là gốc", là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường". Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là bài học của quá khứ mà tiếp tục là động lực chủ yếu, nhân tô có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2025, 09:18:10 pm Ba là, tiến hành có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong tiểu hành chiến dịch
Đây là bài học thể hiện nguyên tắc, nghệ thuật tài tình trong công tác lãnh đạo của Đảng ta về công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vị trí vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, do vậy đề huy động, phát huy sức mạnh của nhân dân trong chiến dịch, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành hưởng ứng, triển khai thực hiện. Các cấp từ tỉnh, huyện, xã đều có cơ quan chuyên trách về công tác tuyên truyền, vận động nhân dân gồm các thành phần bộ đội, công an, dân quân du kích, mặt trận, hội phụ nữ, thông tin... do một cấp ủy viên phụ trách. Nhiều hình thức, biện pháp được tiến hành hiệu quả, có tính thuyết phục cao, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân để tham gia và phục vụ chiến dịch. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, Đảng ta tiến hành công tác tuyên truyền, vận động nhân dân với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân trên từng địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc. Thường xuyên sâu sát, gần gũi nắm bắt tình hình, những vấn đề bức xúc trong nhân dân để có nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp, kịp thời, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; chủ động dự báo, đánh giá xu hướng của dư luận xã hội; vận động nhân dân nhận thức đúng, phối hợp để phản bác các thông tin không đúng, luận điệu xuyên tạc, chia rẽ, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Cùng với đó là tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo. Tiếp tục đổi mới công tác dân vận ở vùng khó khăn, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, giữ vững quốc phòng an ninh. Phát huy vai trò người có uy tín trong tuyên truyền, giải thích, vận động đồng bào trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả vận động nhân dân bằng chính sách hợp lòng dân, đảm bảo hài hòa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân; bằng sự gương mẫu chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu và bằng những hành động cụ thể, những hình ảnh đẹp của cả hệ thống chính trị chúng ta chăm lo cho dân. Bốn là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức quần chúng theo hướng sát cơ sở, thực chất, hiệu quả hơn Thực hiện chủ trương của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chỉ đạo kháng chiến, các tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể đã vận động nhân dân các dân tộc trên địa bàn đóng góp to lớn sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Quân và dân tỉnh Hòa Bình đã đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống địch tiến công, phá hoại giao thông, ngăn chặn các bước tiến công, vận chuyển của địch; cất giấu của cải, triệt để thực hiện "vườn không nhà trống", tránh sự cướp phá của kẻ thù. Trong đợt quân ta tập kích, vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và Đường số 6A, từ Thịnh Lang đến Quỳnh Lâm, nơi nào cũng có cán bộ, có cơ sở kháng chiến hoạt động, bám sát địch và vận động ngụy binh đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến; liên hệ chặt chẽ với bộ đội, cung cấp tình hình hoạt động của địch, dẫn đường cho bộ đội, làm công tác địch vận, kết quả đã có trên 50 tên lính lê dương và ngụy quân bỏ đồn chạy ra đầu hàng. Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài; chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với biến đổi cơ cấu xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, thực hiện tốt hơn tính minh bạch và thông tin cho nhân dân và xã hội các vấn đề nguồn lực, sử dụng nguồn lực và kiểm soát tính hiệu quả của sử dụng các nguồn lực xã hội. Tăng cường công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội với các cơ quan Nhà nước trong lắng nghe, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân; kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến đời sống nhân dân, giải quyết kịp thời, hiệu quả những điểm nóng, phức tạp trong cộng đồng dân cư. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ làm công tác dân vận. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong cuộc sống. Theo đó, cần "Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự gần dân, tin dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân", luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết, kiên quyết phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đặc biệt, cần quan tâm lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách chăm lo, động viên đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, Mặt trận và các tổ chức thành viên; kiên quyết không bố trí cán bộ vi phạm kỷ luật, thiếu gương mẫu, đạo đức kém làm công tác dân vận. Những bài học về công tác dân vận của Chiến dịch Hòa Bình khẳng định trong thực tiễn lịch sử 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và mang ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiếp tục phát huy hơn nữa những giá trị của những bài học kinh nghiệm về công tác dân vận trong thời kỳ kháng chiến và thực tiễn hiện nay, đòi hỏi các cấp ủy Đảng phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận; phải không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng, gần dân, lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng và ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng. Những bài học trên đây cần được tiếp tục vận dụng sáng tạo, hiệu quả để công tác dân vận của Đảng ngày càng cỏ thêm nhiều kết quả và thành tích mới, góp phần củng cố vững chắc mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:26:42 pm BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU CẦN NHÂN DÂN TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Trung tướng TRẦN DUY GIANG Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Sau những thất bại liên tiếp từ năm 1947, nhất là thất bại nặng nề ở biên giới trong Thu - Đông 1950, địch tăng cường củng cố hệ thống phòng thủ, lập vành đai trắng, hòng ngăn chặn chủ lực của ta tiến công; đồng thời, ra sức càn quét vùng chiếm đóng, tập trung quân cơ động, dùng máy bay, pháo binh tăng cường đánh phá vùng tự do, vùng căn cứ kháng chiến hoặc chúng nghi có bộ đội trú ẩn gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất. Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương mở đợt hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952 trên chiến trường chính là trung du, đồng bằng sông Hồng với phương châm: Những nơi địch kiểm soát chặt, lấy đấu tranh kinh tế và chính trị là chính, kết hợp xây dựng, phát triển cơ sở; ở các vùng tranh chấp, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, xây dựng và mở rộng các khu du kích. Chuẩn bị cho đợt hoạt động này, Tổng cục Cung cấp gấp rút triển khai làm đường ôtô từ Phú Thọ qua Đồn Vàng, Hòa Bình vào các liên khu 3 và 4; tranh thủ chở vũ khí, đạn về Liên khu 3 và tiến hành các mặt công tác chuẩn bị hậu cần. Nhằm thu hút chủ lực và phá sự chuẩn bị của ta, sau khi đánh chiếm các vị trí then chốt khu vực Hòa Bình - Đường số 6, sông Đà - Ba Vì, Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam), theo hình thức kiểu tập đoàn cứ điểm. Ngoài ra, địch còn tổ chức phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông nhằm bảo vệ thị xã Hòa Bình. Lực lượng gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 165). Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: Cuộc tiến công ra Hòa Bình của địch "gây cho ta những khó khăn, nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực địch". Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng ra Chỉ thị về "Nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hòa Bình của địch" trên các mặt. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình, căn dặn: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng thì ta phải tích cực, chủ động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 242). Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng và Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Hòa Bình, lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh: 304, 308 và 312 phản công địch ở Mặt trận Hòa Bình; 2 đại đoàn 320, 316 vào vùng sau lưng địch - đồng bằng Bắc Bộ, phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phá bình định, phát triển chiến tranh du kích3 (Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 182). Để bảo đảm cho các lực lượng chiến đấu ở cả 2 mặt trận Bắc - Nam Hòa Bình và sâu trong vùng địch hậu, Tổng cục Cung cấp thành lập 2 ban cung cấp tiền phương, gồm cán bộ cung cấp và cán bộ Đảng, chính quyền địa phương. Ban Cung cấp Mặt trận Bắc Hòa Bình bảo đảm cho các đại đoàn 308, 312 và một số đơn vị binh chủng do đồng chí Trần Quyết - Khu ủy viên Liên khu ủy Việt Bắc làm Trưởng ban, đồng chí Nguyễn Hữu Chỉnh - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Phú Thọ và đồng chí Vũ Xuân Chiêm - Cục phó Cục Chính trị Tổng cục Cung cấp làm Phó ban. Các đồng chí Trần Minh Tước - Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc và Phạm Ngọc San - Phó Văn phòng Tông cục Cung cấp làm ủy viên. Ban Cung cấp Mặt trận Nam Hòa Bình bảo đảm cho Đại đoàn 304 đánh địch trên Đường số 6, Nam Hòa Bình và Đại đoàn 320 hoạt động ở vùng địch hậu đồng bằng sông Hồng do đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đại diện Tổng cục ở Liên khu 3 và Liên khu 4 làm Trường ban, các đồng chí khu ủy viên liên khu 3, 4 làm ủy viên. Các cơ quan Tổng cục ở hậu phương trực tiếp bảo đảm cho Đại đoàn 316 hoạt động ở vùng trung du1 (Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 183). Khi bộ đội bắt đầu hành quân đi chiến dịch, các lực lượng hậu cần mới chuẩn bị theo kế hoạch được hơn 4.000 tấn thóc ở các địa phương thuộc Phú Thọ và một số gạo ở Nho Quan (Ninh Bình), nên phải huy động lực lượng nhân dân chuyển gấp lương thực, thực phẩm từ Thanh Hóa ra, chuyển đạn từ Việt Bắc về Liên khu 3. Địch đánh ra Hòa Bình, đường giao thông vận tải bị cắt, ta phải mở lại con đường vận tải bộ phía Tây thị xã Hòa Bình qua Tu Lý, Hiền Lương xuống Mãn Đức. Ban Cung cấp Mặt trận phía Bắc tập trung khai thác lương thực, thực phẩm tại chỗ ở khu vực bộ đội tập kết. Cán bộ các đoàn thể, sở kho thóc, quân nhu đơn vị xuống tận các xã vận động nhân dân thu hoạch vụ mùa, nộp thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã và gấp rút vận chuyển gạo đến trung tuyến để kịp phục vụ bộ đội. Ban Cung cấp Mặt trận phía Nam, tập trung lực lượng cùng nhân dân chuyển gạo từ Thanh Hóa ra, cung cấp cho lực lượng chiến đấu ở mặt trận chính diện và lập một số kho trung tuyến ở hữu ngạn sông Đáy, bảo đảm cho mặt trận vùng địch hậu. Đồng thời, tổ chức chuyển vũ khí, đạn từ Đồn Vàng qua Tu Lý đến Mãn Đức và từ Nho Quan qua Chi Nê, Đầm Đa đến Bãi Khoai bảo đảm cho các đơn vị. Các kho, trạm trung tuyến sử dụng dân công vận chuyển theo dây chuyền, kết hợp dùng thuyền chuyển theo đường sông từ Nho Quan đi Chi Nê, Đầm Đa, đã chuyển nhanh được khối lượng lớn vũ khí, trang bị phục vụ chiến đấu. Chiến dịch Hòa Bình diễn ra 3 đợt. Đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá tuyến sông Đà: Đánh địch càn quét ở Nam Ba Vì, tiến công diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh nhiều trận phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6, đồng thời đánh mạnh ở vùng địch hậu Bắc Ninh. Pháp rút bớt lực lượng cơ động từ Hòa Bình về Bắc Ninh để đối phó, nhưng ngay sau đó phải đưa quân trở lại cứu nguy cho Hòa Bình. Ở hướng Đường số 6 và Đường số 21, ngày 2 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 66, Đại đoàn 304 tiêu diệt đoàn xe vận tải 34 chiếc cùng 1 đại đội hộ tống và đánh nhiều trận phục kích trên Đường số 6, nổi bật là trận Giang Mỗ (Tây thị xã Hòa Bình 8km), diệt 200 tên địch, phá hủy 10 xe, có cả xe tăng và thiết giáp. Trong trận này, Cù Chính Lan đã dùng lựu đạn diệt xe tăng địch. Ta hình thành thế trận bao vây thị xã và uy hiếp địch ở phía Bắc Đường số 6. Lực lượng hậu cần đã mở đường đưa ôtô vận tải lên phía trước tiếp cận thị xã Hòa Bình và làm cầu phao vượt sông bám sát đội hình chiến đấu phục vụ bộ đội. Ở hướng phối hợp, Đại đoàn 316 hoạt động ở Nam Bắc Ninh, tiêu diệt các mục tiêu Thứa, Bốt Dầu, Vệ Linh. Đại đoàn 320 hoạt động ở Hà Nam, Ninh Bình diệt các mục tiêu Ngô Khê, Phát Diệm, Yên Mô Thượng, cầu Xanh... Đợt 1 ta giành được thắng lợi lớn, tạo thế uy hiếp mạnh với địch, làm cho hậu phương địch mất ổn định, phải bị động đối phó. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:27:54 pm Đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập kích tiêu diệt địch ở các điểm cao 600,400 và 165; trên hướng Đường số 6, tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi, diệt được một bộ phận địch.
Để bảo đảm sức khỏe bộ đội chiến đấu liên tục dài ngày, Tổ trưởng cấp dưỡng Hoàng Cầm (Đội điều trị Đại đoàn 308) đã dựa vào thực tế hun bắt chuột ở cánh đồng khi còn nhỏ tuổi, sáng tạo ra kiểu bếp nấu ăn đơn giản, vừa che được ánh lửa khi nấu ban đêm, vừa làm cho khói lan tỏa rộng và thấp khi nấu ban ngày, máy bay địch không phát hiện được. Sáng kiến có ý nghĩa lớn này, nhanh chóng được phổ biến trên toàn mặt trận, nhờ vậy bộ đội được ăn, uống nóng, sức khỏe nâng lên rõ rệt. Đồng chí Hoàng Cầm đã được thưởng Huân chương Chiến công và được tuyên dương danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc lần thứ nhất (5.1952). Nhằm tăng thêm hỏa lực đánh địch, Tổng cục Cung cấp giao Xưởng quân giới Lê Tổ sửa chữa gấp 3 khẩu pháo 105mm thu được của địch trong Chiến dịch Biên Giới. Cục Vận tải đã tổ chức kéo pháo từ Cao Bằng về. Cục Quân khí chuẩn bị đạn. Do không đọc được tiếng Anh và ký hiệu ghi trên hộp đạn thu được của địch, không phân biệt được các loại đạn, lực lượng vận tải đã chuyển đến mặt trận một số đạn khói. Pháo ta bắn, không diệt được địch lại tạo màn khói cho chúng rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Đây là một bài học sâu sắc đối với các chiến sĩ Hậu cần trong việc vận chuyển đạn cho bộ đội chiến đấu. Ở mặt trận phối hợp, Đại đoàn 320 hoạt động mạnh ở Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình; Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động ở Nam Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên... trong hơn 3 tháng liền. Biến hậu phương địch thành hậu phương của ta, Tổng cục Cung cấp đã tích cực chuẩn bị cơ sở từ trước, tổ chức một số tuyến vận tải vào vùng địch hậu Bắc Bộ, tiếp tế đạn cho bộ đội địa phương và dân quân du kích, lập một số kho nhỏ dự trữ mìn, lựu đạn sẵn sàng bổ sung cho các đơn vị. Nhân dân vùng địch hậu, luôn bị địch uy hiếp, càn quét, phá hoại nên đời sống rất khó khăn, nhưng vẫn bí mật hăng hái đi dân công, đóng thuế nông nghiệp phục vụ chiến dịch, ở vùng Phát Diệm (Ninh Bình), để giữ bí mật tác chiến, quân nhu cùng cán bộ địa phương đến từng gia đình vận động, gửi thóc nhờ nhân dân cất giữ, khi đơn vị chuẩn bị nổ súng, nhân dân xay giã, tiếp tế cho bộ đội. Vì vậy, chỉ trong một đêm bảo đảm đủ gạo cho bộ đội và một phần để dự trữ cho đợt hoạt động sau. Hoạt động trong vùng địch hậu, các đơn vị đã tổ chức cứu chữa, điều trị thương binh rất linh hoạt: Tiểu đoàn tổ chức đội phẫu thuật nhỏ, còn đội phẫu thuật trung đoàn được tăng cường bảo đảm cứu chữa và lưu giữ thương binh trong thời gian tương đối dài. Việc chăm sóc, bảo vệ và chuyển thương binh ra vùng tự do hoàn toàn dựa vào nhân dân. Từ vùng địch hậu Bắc Bộ ra vùng tự do phải vượt các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Cầu, sông Thương trong điều kiện địch kiểm soát gắt gao. Để bảo đảm an toàn khi chuyển thương binh, cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương đã tổ chức nhiều cung chặng, tìm lúc địch sơ hở và thời cơ thuận lợi, chuyển từng chuyến. Tuy nhiên, khi vây đánh cụm cứ điểm thị xã Hòa Bình (khoảng 8 tiểu đoàn địch) và Đường số 6 với nhiều trận đánh công kiên, thương vong cao, việc cấp cứu và chuyển thương binh về phía sau trong một số trận (không tìm kiếm hết được) còn bỏ sót thương binh, tử sĩ khi rút quân. Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Mặt trận nghiêm khắc kiểm điểm rút kinh nghiệm, sau đó giao cho chính trị viên phó các đại đội, tiểu đoàn và phó chính ủy trung đoàn quay lại phối hợp với chính quyền địa phương, cùng nhân dân tìm kiếm, giải quyết chính sách. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình: Tập kích tiêu diệt trận địa pháo và 4 vị trí địch ở trung tâm và ngoại vi thị xã; đánh cắt giao thông, làm tê liệt vận chuyển của địch trên Đường số 6. Hậu cần chiến dịch đã bảo đảm kịp thời nhu cầu hậu cần cho các đơn vị, trong đó có 83 tấn vũ khí, đạn dược. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 năm 1952, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình, chiến dịch kết thúc. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ở Mặt trận Hoà Bình ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167); giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân các địa phương, hậu cần chiến dịch đã huy động và cung cấp kịp thời cho các đơn vị 6.275 tấn gạo, hơn 200 tấn thực phẩm, 280 tấn đạn, cứu chữa 6.390 thương binh; huy động trên 330.400 lượt dân công phục vụ chiến dịch với 11.914.000 ngày công2 (Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 187-188)... góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Các lực lượng hậu cần đã tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm về bảo đảm cho chiến dịch tiến công quy mô lớn (5 đại đoàn) trong điều kiện chưa có chuẩn bị trước, tác chiến ác liệt, dài ngày cả trên mặt trận chính Hòa Bình và mặt trận phối hợp trong vùng địch hậu; nhu cầu vật chất, cứu chữa thương binh số lượng lớn trong khi nguồn lực của đất nước còn hạn chế, viện trợ quốc tế mới có rất ít. Mặt khác, các chiến trường bị chia cắt, vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm xen kẽ, đường vận chuyển không thuận lợi, việc huy động nhân vật lực gặp nhiều khó khăn. Dựa chắc vào dân, phát huy sức mạnh của hậu cần nhân dân; cùng sự giúp đỡ của cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, cơ quan cung cấp chiến dịch đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong huy động nhân lực, vật lực tại chỗ và ở hậu phương chuyển đến cùng với khả năng bảo đảm của trên bảo đảm cho chiến đấu ở tiền tuyến, hoàn thành tốt nhiệm vụ hậu cần đã trở thành bài học vô cùng quý giá. Những bài học đó đã được kế thừa, vận dụng, phát triển mạnh mẽ trong chiến tranh giải phóng, góp phần cùng toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng, giành độc lập, tự do cho dân tộc và thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngày nay vẫn vẹn nguyên giá trị đối với ngành Hậu cần Quân đội. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:28:53 pm Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đặt ra những nhiệm vụ, yêu cầu cao đối với Quân đội nói chung, công tác hậu cần nói riêng, trong đó có hậu cần nhân dân. Kế thừa, vận dụng, phát triển các bài học kinh nghiệm hậu cần trong chiến tranh vào điều kiện mới, đòi hỏi công tác hậu cần phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp, nhất là hậu cần nhân dân phải được xây dựng vững mạnh toàn diện, thực sự là nền tảng của hậu cần khu vực phòng thủ và quốc phòng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc. Trong đó cần tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:
Một là, quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện sáng tạo, hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, hậu cần toàn dân của Đảng trong xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức hậu cần nhân dân các cấp, gắn với xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững mạnh toàn diện. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, cả nước và từng địa phương đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - nền tảng của tiềm lực và thế trận hậu cần quốc phòng toàn dân. Hậu cần nhân dân địa phương là lực lượng rộng khắp hình thành trong các tổ chức kinh tế - xã hội tỉnh (thành phố), huyện (quận), cơ sở (xã, phường, nông lâm trường, doanh nghiệp). Cùng với sự phát triển nhanh, mạnh về lực lượng do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần thường xuyên coi trọng củng cố, phát triển hệ thống tổ chức hậu cần nhân dân các cấp đủ mạnh; trước hết là cấp cơ sở, huyện (quận), nhất là trong các doanh nghiệp (tỉnh, thành phố, kể cả doanh nghiệp trung ương) trên địa bàn để làm nền tảng xây dựng hậu cần khu vực phòng thủ vững mạnh cả về thế trận và tiềm lực theo phương châm ở đâu có tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức quần chúng, ở đó có tổ chức hậu cần nhân dân tương ứng vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Mặt khác, cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp cần quan tâm nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao sức sản xuất, hiệu quả kinh tế, tạo điều kiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và tiềm lực hậu cần tại chỗ dồi dào ngay từ cơ sở. Đẩy mạnh việc thu hút nguồn lực của các thành phần kinh tế Nhà nước, địa phương và của tư nhân (cả đầu tư nước ngoài) phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường quốc phòng, an ninh và nâng cao khả năng bảo đảm của hậu cần tại chỗ. Hai là, đổi mới tư duy hậu cần, nghiên cứu đề xuất với Chính phủ thành lập các hội đồng bảo đảm quốc phòng từ cấp tỉnh, thành phố đến cơ sở với mô hình tổ chức phù hợp, có quy chế hoạt động chặt chẽ, hiệu quả giúp cấp ủy và chính quyền các cấp trong xây dựng và huy động các nguồn lực (trong đó có hậu cần - kỹ thuật) trong xây dựng và tác chiến của khu vực phòng thủ. Bởi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh địa phương các cấp là nhiệm vụ cơ bản, yêu cầu ngày càng cao, đa dạng, nhu cầu về quốc phòng nói chung, hậu cần nói riêng rất lớn; hiện nay hệ thống tổ chức gồm nhiều hội đồng (Hội đồng Nghĩa vụ quân sự, Hội đồng Hậu cần - kỹ thuật...) cồng kềnh về tổ chức, nhiệm vụ, chức năng thiếu liên kết, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, nhất là khi có tình huống. Ba là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách có hình thức hợp lý huy động có hiệu quả nguồn lực của hậu cần nhân dân trong xây dựng khu vực phòng thủ; chú trọng kết hợp giữa xây dựng với huy động. Trên cơ sở Kết luận số 64-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Bộ Chính trị trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X, đẩy mạnh xây dựng hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh toàn diện, đi vào chiều sâu; Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ, cần nghiên cứu vận dụng sáng tạo phù hợp với từng địa phương. Đồng thời, kế thừa, phát triển sáng tạo kinh nghiệm đã có với các hình thức: Trưng dụng, trưng thu, trưng mua, thuê mướn, vay, ứng trước trừ thuế... phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa phương. Chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa huy động sức dân với bồi dưỡng sức dàn; sử dụng tiết kiệm, minh bạch và hiệu quả nguồn lực nhân dân đóng góp. Các đơn vị quân đội phải tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, trước hết là nâng cao hiệu quả các dự án kinh tế - quốc phòng, hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa - địa bàn chiến lược nhưng có nhiều khó khăn. Bốn là, phát huy vai trò nòng cốt của hậu cần quân sự địa phương trong xây dựng hậu cần nhân dân các cấp, đáp ứng yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ. Cơ quan hậu cần quân sự địa phương các cấp định kỳ rà soát, hoàn thiện các kế hoạch bảo đảm,xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần... Trọng tâm là tổ chức dự trữ vật chất, phương tiện; phương án huy động hậu cần nhân dân trong các tình huống; phòng thủ dân sự và duy trì sản xuất thời chiến đảm bảo cân đối giữa nhu cầu quốc phòng và dân sinh, nâng cao khả năng hậu cần tại chỗ đáp ứng kịp thời mọi tình huống. Đặc biệt, chú trọng kết hợp chặt chẽ dự trữ trong dân, trong các ngành kinh tế - xã hội với dự trữ quốc gia trên các địa bàn chiến lược theo các phương án của khu vực phòng thủ và cấp trên, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu hậu cần trong các tình huống và hạn chế tối đa cơ động từ xa đến, vừa tiết kiệm, vừa tránh được tổn thất trong quá trình vận chuyển. Hậu cần cấp chiến lược và cấp quân khu phải phân công cán bộ chuyên trách giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng, củng cố, duy trì hoạt động của hậu cần nhân dân. Đồng thời, cần đưa nội dung công tác hậu cần nhân dân nói chung, hậu cần nhân dân địa phương nói riêng vào giáo dục quốc phòng để mọi công dân nắm được ý nghĩa, vị trí, vai trò và nội dung của hậu cần nhân dân, xác định và làm tròn trách nhiệm của mình trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói chung và hậu cần nhân dân nói riêng. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:32:46 pm CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG QUYẾT TÂM, Ý CHÍ QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG Thiếu tướng NGUYỄN VĂN ĐỨC Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của Pháp. Kết quả, ta đã loại khỏi chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 khẩu pháo, hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo1 (Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 176); giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình phản ảnh sức mạnh tổng hợp trên các mặt công tác quân sự, chính trị, hậu cần-kỹ thuật và để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị. Thành công trong xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội là bài học có ý nghĩa to lớn, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch, được thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau: Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, Đảng ủy Chiến dịch, cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đã tập trung tuyên truyền giáo dục, quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng về mở chiến dịch Hòa Bình. Qua đó, cán bộ, chiến sĩ nắm vững nhiệm vụ, xác định: "Đây là cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt sinh lực địch trên cả chiến trường phía trước và vùng địch hậu. Mọi nỗ lực của ta phải được tập trung vào đánh bại cuộc hành binh của địch chiếm đóng Hoà Bình"1 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 359,365); nhận thức sâu sắc về tính chất, đặc điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm tác chiến chiến dịch và cách đánh, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng lực lượng. Trên cơ sở đó nắm chắc ý nghĩa, mục đích, tầm quan trọng của chiến dịch, xác định những thuận lợi, khó khăn, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm chiến đấu cao, lòng căm thù giặc sâu sắc, không sợ hy sinh, có ý thức kỷ luật nghiêm, thực hiện chính sách tốt, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, tiến công với tinh thần dũng cảm, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ. Tuyên truyền, giáo dục cho bộ đội nhận thức đầy đủ âm mưu, thủ đoạn của địch, những nhược điểm và khó khăn của địch, đánh giá đúng chỗ mạnh, yếu của chúng, nhất là kịp thời chống lại luận điệu tuyên truyền của địch "về căn bản địch vẫn ở trong thế phòng ngự"2 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 359,365). Đặc biệt, các đơn vị đã tổ chức cho bộ đội sinh hoạt, quán triệt, học tập kinh nghiệm chiến đấu và lấy thắng lợi từ những trận đánh, chiến dịch trước đó, điển hình là Chiến dịch Việt Bắc (1947), Chiến dịch Sông Thao (1949), Chiến dịch Lê Hồng Phong I (1950), Chiến dịch Biên Giới (1950)...; tôn vinh, học tậpcác gương điển hỉnh trong chiến đấu của toàn quân làm nội dung giáo dục sống động, liên tục cổ vũ, động viên tinh thần quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội, khắc phục tâm trạng băn khoăn, ngại ác liệt, hy sinh. Các cuộc vận động lập công được phát động nhằm tạo không khí thi đua sôi nổi tới từng đơn vị, từng bộ phận, trong đó chú trọng vào các đơn vị đảm nhiệm chiến đấu trên hướng, mũi chủ yếu, thực hiện nhiệm vụ khó khăn, phức tạp; từng cán bộ, chiến sĩ đều xây dựng kế hoạch lập công, nỗ lực phấn đấu vượt bậc để tạo ra sức chiến đấu mới, khí thế mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Những nội dung cơ bản trên đã được các cơ quan, đơn vị tiến hành một cách sâu rộng, làm đi làm lại nhiều lần, với nhiều hình thức, phương pháp phong phú, thấm nhuần tới từng cán bộ, chiến sĩ, từng đảng viên, biến ý chí của lãnh đạo thành ý chí của quần chúng. Nhờ đó, toàn Mặt trận trên dưới một lòng, đoàn kết trong cấp ủy, trong cán bộ, giữa cán bộ với chiến sĩ. Mọi người, mọi lực lượng đều đồng tâm nhất trí, với tinh thần "tất cả để chiến thắng"; các đơn vị nhận nhiệm vụ đều phấn khởi, tin tưởng và ra sức chấp hành. Trong trận Hòa Bình "Việc phổ biến giáo dục nhiệm vụ trong chi bộ đặc biệt được coi trọng, vai trò lãnh đạo của chi bộ đã nổi bật và là yếu tố bảo đảm chính cho thắng lợi. Trong trận Đồi Mồi, công tác quán triệt, giáo dục nhiệm vụ được tiến hành kỳ trong đội ngũ cán bộ. Trận Tu Vũ, công tác quán triệt, giáo dục nhiệm vụ được tiến hành chu đáo, tỷ mỷ với nhiều hình thức sinh động, phù hợp theo điều kiện hoàn cảnh nên đã chuẩn bị tốt tư tưởng cho bộ đội, tinh thần quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng được nâng lên cao độ, sự chủ động, linh hoạt của bộ đội được phát huy là yếu tố căn bản của thắng lợi Tu Vũ"1 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Sđd, tr. 367-368). Hai là, thường xuyên tiến hành tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, cổ động chiến trường, giữ vững và củng cốý chí quyết tâm liên tục chiến đấu cho bộ đội Nắm vững tư tưởng chỉ đạo, phương châm tác chiến chiến dịch và bám sát diễn biến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết tư tưởng một cách kịp thời, kiên trì, bền bỉ liên tục ở tất cả các đơn vị và các lực lượng tham gia chiến dịch. Các nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác tư tưởng đã được Đảng ủy Chiến dịch, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp tiến hành chặt chẽ, chủ động, liên tục, kịp thời ở tất cả các đơn vị, các cấp ngay trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến đấu; vận dụng linh hoạt, sáng tạo, đa dạng và phong phú, phù hợp với điều kiện chiến đấu và thực tiễn các đơn vị, đặc điểm của bộ đội. Do vậy, mọi chủ trương, quyết tâm của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy - Tổng Tư lệnh, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, nhiệm vụ chiến đấu đều được nhanh chóng quán triệt đến bộ đội. Tư tưởng ngại khó khăn, gian khổ, sợ hy sinh, tổn thất từng bước được giải quyết. Cán bộ, chiến sĩ bước vào chiến dịch với một sự thôi thúc hăm hở, với tư thế chủ động cả về lực lượng, phương tiện, cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; với niềm tin chiến thắng và tâm lý vững vàng. Trong quá trình thực hành chiến đấu, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch và Phòng Chính trị Mặt trận liên tục chỉ đạo công tác tư tưởng, trong đó hướng vào xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ ý chí quyết chiến, quyết thắng không hề lay chuyển trước những khó khăn, thử thách khốc liệt, sẵn sàng hy sinh vì thắng lợi của cuộc kháng chiến. Trong các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ đều hừng hực khí thế cách mạng hào hùng, tinh thần lạc quan, niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi của chiến dịch. Cổ động chiến trường là một nghệ thuật được tiến hành linh hoạt, sáng tạo, sát với thực tiễn. Trong suốt chiến dịch, tày theo tình huống và diễn biến trận đánh, các đơn vị đã vận dụng phong phú, sinh động các biện pháp cổ động chiến trường. Những bức thư, điện biểu dương khen ngợi, động viên, thăm hỏi của cấp trên nhất là của Bộ Tổng Tư lệnh được cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp kịp thời tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu rộng đến cán bộ, chiến sĩ, góp phần cổ vũ, động viên, mài sắc ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Thư khen của Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi đơn vị diệt Điểm cao 400 đã kịp thời cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 312 tiến công làm chủ Điểm cao 600. Trong trận Tu Vũ, Đồi Mồi, thư khen của đảng ủy, chỉ huy trung đoàn đã có tác dụng khích lệ, cổ vũ rất lớn đối với bộ đội, tạo thành phong trào thi đua giết giặc lập công sôi nổi. Việc khêu gợi lòng căm thù giặc tàn phá mùa màng, cướp của giết người, đốt phá nhà dân đã khơi dậy lòng căm thù giặc, xây dựng quyết tâm ý chí chiến đấu trả thù cho cán bộ, chiến sĩ trong trận Lai Đồng, Kiệt Sơn. Trong nhiều trận đánh, nhất là vào những thời điểm gay go, ác liệt, tin chiến thắng của các đơn vị, gương chiến đấu anh dũng của bộ đội thường xuyên được cập nhật, phổ biến. Bộ đội cũng có nhiều khẩu hiệu và những lời động viên. Trong trận Tu Vũ, khi pháo binh ta được lệnh rút lui, tinh thần cán bộ, chiến sĩ nảy sinh dao động, một đồng chí đã hô to: "Tạm thời rút lui để hoàn thành nhiệm vụ, rút lui không phải là chạy dài" đã ổn định ngay được tinh thần của cả khẩu đội. Trong trận Đồi Mồi, bộ đội ta vừa đánh, vừa hô: "Noi gương Cù Chính Lan"; khi đại đội trưởng và chính trị viên đại đội hy sinh, bộ đội ta đã tự động viên, cổ vũ nhau bằng khẩu hiệu: "Quyết tâm vào trận nội, trả thù cho đại đội trưởng và chính trị viên"1 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Sđd, tr. 380). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:34:20 pm Ba là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực chỉ huy; phát huy vai trò của chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và cán bộ Chính trị các cấp trong xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội Với vai trò là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở các cơ quan, đơn vị, nên việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực chỉ huy các cấp có tác động trực tiếp đến việc xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội. Thực tiễn cho thấy, trong suốt quá trình tham gia chiến dịch, Đảng ủy Mặt trận, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp luôn bám sát diễn biến của chiến trường, cùng người chỉ huy thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trong mọi tình huống; kịp thời phân tích, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, nắm chắc diễn biến của cả địch và ta trên chiến trường để đề ra các biện pháp lãnh đạo đúng đắn, xử trí linh hoạt, chính xác các tình huống xảy ra, nhất là vào những thời điểm đơn vị gặp khó khăn, chiến đấu ác liệt. Chủ động bám sát từng nhiệm vụ, từng lực lượng, con người, trận địa, trên từng hướng và từng trận đánh cụ thể; nắm chắc diễn biến tình hình mọi mặt của đơn vị, bộ phận, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, chấn chỉnh kịp thời mọi hiện tượng lỏng lẻo về tư tưởng, tổ chức, kỷ luật, cổ vũ, động viên, khích lệ tinh thần khắc phục khó khăn, củng cố niềm tin, tâm lý vững vàng, xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, chiến thắng cho bộ đội.
Đặc biệt, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy tốt vị trí, vai trò, trách nhiệm trong xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội. Thường xuyên bám sát đơn vị, nắm chắc diễn biến tư tưởng của bộ đội, phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong chiến đấu ác liệt, nhất là những biểu hiện chủ quan, coi thường địch; kịp thời cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên, chiến sĩ không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy và kỷ luật chiến trường, nêu cao tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, tìm ra cách đánh địch có hiệu quả nhất. Chủ động xây dựng kế hoạch, hướng dẫn các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trước, trong và sau chiến dịch, qua đó xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm chiến đấu vững chắc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Coi trọng việc chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị quán triệt sâu sắc tinh thần nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh, nhiệm vụ của cấp trên và cấp mình đến mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và tổ chức phát động cuộc vận động lập công, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong các đơn vị. Duy trì các đơn vị hoạt động có nền nếp, chế độ công tác đảng, công tác chính trị; tăng cường công tác kiềm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm và nâng cao chất lượng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, nhất là đã chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt công tác tuyên truyền cổ động trên chiến trường, công tác thi đua - khen thưởng trong chiến đấu, công tác bảo vệ an ninh, công tác dân vận, địch vận và công tác chính sách, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị. Bốn là, bám sát diễn biến chiến đấu, kịp thời phát hiện, đấu tranh khac phục mọi biểu hiện tư tưởng tiêu cực, giữ vững quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội Trong chiến dịch, bộ đội ta phải chiến đấu liên tục, dài ngày nên không tránh khỏi xuất hiện tư tưởng tiêu cực, nhất là tư tưởng chủ quan, coi thường địch khi bộ đội ta đánh thắng hoặc quá trình chiến đấu gặp nhiều thuận lợi và tư tưởng hữu khuynh, bi quan, dao động, ngại hy sinh, gian khổ, đánh giá cao về địch, thiếu lòng tin vào vũ khí, trang bị và thắng lợi cuối cùng của chiến dịch. Trong báo cáo tại Hội nghị tổng kết Mặt trận Hòa Bình (3 - 15.4.1952), Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã khẳng định thành công chung của các mặt hoạt động đều lớn, nhưng cũng còn nhiều khuyết điểm làm hạn chế thắng lợi, trong đó có tư tưởng tiêu cực xuất hiện ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, nhất là tư tưởng chủ quan, khinh thường địch. Đại tướng đã chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên là do: "Trong chiến dịch này, cán bộ phạm nhiều khuyết điểm hơn chiến sĩ. Nói như vậy, không có nghĩa là cán bộ kém hơn chiến sĩ và cũng không sợ chiến sĩ tự mãn rồi coi thường cán bộ. Lẽ tất nhiên là cán bộ vẫn hơn và phải hơn chiến sĩ. Nói cán bộ có nhiều khuyết điểm hơn chiến sĩ nghĩa là cán bộ chưa thật xứng đáng với cương vị của mình, với trách nhiệm của mình, trách nhiệm độ nặng nề hơn trách nhiệm người chiến sĩ. Cán bộ có nhiều khuyết điểm hơn là vì trách nhiệm cán bộ nặng nề hơn, tư tưởng cán bộ còn phức tạp hơn; chiến sĩ có ít khuyết điểm hơn là vì trách nhiệm chiến sĩ nhẹ hơn và tư tưởng chiến sĩ đơn giản hơn"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 130). Chiến dịch Hòa Bình đã để lại kinh nghiệm quý về công tác đấu tranh chống tư tưởng tiêu cực, giữ vững quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội, nhất là trong cấp ủy và chỉ huy đơn vị. Trong trận Tu Vũ, khi bộ đội ta hành quân vào chiếm lĩnh trận địa bị địch phát hiện và bắn phá mãnh liệt nên gặp nhiều thương vong. Phát hiện kịp thời tư tưởng tiêu cực "lui quân", Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 đã nhanh chóng nhận định, đánh giá tình hình và khẳng định: Khả năng đánh thắng địch vẫn còn, lui quân lúc này càng thêm tổn thất và ảnh hưởng đến tư tưởng bộ đội. Trên cơ sở nhận định đó, Thường vụ Đảng ủy quyết định: "Tiếp tục lãnh đạo Trung đoàn thực hiện nhiệm vụ tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh thắng trận mở màn chiến dịch. Biện pháp khắc phục: Nhanh chóng củng cố tổ chức, chấn chỉnh đội hình, đưa bộ đội vào tiếp cận sát hàng rào để tránh pháo địch sát thương, khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị, sẵn sàng nổ súng khi có lệnh"1 (Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ (1945 -1975), Tập III, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992, tr. 52). Đồng thời, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn phân công cán bộ trực tiếp xuống từng đơn vị tiến hành sinh hoạt chính trị tư tưởng để kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kịp thời động viên bộ đội vượt mọi khó khăn, thử thách, không sợ hy sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Nhờ nắm vững tư tưởng bộ đội, dự kiến và có hướng giải quyết đúng, bộ đội ta đã dũng cảm, ngoan cường chiến đấu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ. 70 năm đã trôi qua, bài học về xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội trong Chiến dịch Hòa Bình đã được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ, trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc, động lực thôi thúc cán bộ, chiến sĩ khắc phục khó khăn, gian khổ, sẵn sàng xả thân hy sinh vì thắng lợi của chiến dịch và nền độc lập dân tộc. Ngày nay, bài học kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở thực tiễn quan trọng để cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân tiếp tục kế thừa và vận dụng sáng tạo trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:40:43 pm ẢNH HƯỞNG CỦA CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH ĐẾN CỤC DIỆN CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG DƯƠNG VÀ CHÍNH TRƯỜNG NƯỚC PHÁP PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ Nguyên Viện trường Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Xung quanh cuộc tiến công của quân Pháp ra Hòa Bình Sau thất bại nặng nề ở mặt trận biên giới Đông Bắc Bắc Bộ cuối năm 1950, đạo quân viễn chinh Pháp buộc phải rút bỏ một loạt vị trí, địa bàn quan trọng dọc Đường số 4 từ thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập, dài hàng trăm kilômét; phải rút bỏ cả thị xã Lào Cai, thị xã Hòa Bình. Thậm chí, Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương lúc đó là tướng Cácpăngchiê (Carpentier) còn nêu ý định rút bỏ cả Hà Nội, lui về phòng giữ Hải Phòng. Tình hình hoảng loạn trong hàng ngũ quân viễn chinh đã buộc Chính phủ Pháp phải gấp rút cử một phái đoàn do Lơtuốcnô (Letoumeau), Bộ trưởng Bộ Các quốc gia liên kết, còn gọi tắt là Bộ Thuộc địa, và tướng Gioăng (Juin) đứng đầu sang Đông Dương để tìm cách ngăn chặn cuộc tháo chạy này. Tiếp đó, Chính phủ Pháp quyết định cử tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) sang làm Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương thay cho Cácpăngchiê và Cao ủy Pinhông (Pignon). Đây là lần đầu tiên có một nhân vật cùng lúc nắm cả hai chức vụ cao nhất về chính trị, quân sự của Pháp ở Đông Dương. Sau khi tìm hiểu tình hình, tướng Đờ Lát đã mau chóng vạch ra một kế hoạch tổng quát về chính trị và quân sự nhằm giành lại quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, đảo ngược chiều hướng thất bại của quân Pháp. Nội dung chủ yếu của kế hoạch này gồm những điểm: Xây dựng cấp tốc các binh đoàn cơ động (Groupement Mobile - GM) để đối phó với các đơn vị chủ lực của Việt Minh; tập trung bắt lính, xây dựng đạo quân tay sai người Việt cho Chính phủ Quốc gia của Bảo Đại nhằm chia sẻ trách nhiệm và tiếp tục thực hiện chủ trương"Dùng người Việt đánh người Việt"; xây dựng một phòng tuyến bê tông với khoảng 1.200 lô cốt bao quanh đồng bằng Bắc Bộ nhằm ngăn chặn chủ lực đối phương tiến công; tăng cường xin viện trợ của Mỹ để đối phó với "làn sóng đỏ" từ Trung Quốc tràn xuống... Ngay khi đến Việt Nam đầu tháng 12 năm 1950, tướng Đờ Lát đã phải đối phó với 3 chiến dịch của chủ lực ta liên tiếp đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ trong nửa đầu năm 1951, đồng thời triển khai các nội dung của kế hoạch đã đề ra. Việc đối phó có kết quả các chiến dịch tiến công của ta, xây dựng được các binh đoàn cơ động, xây dựng được phòng tuyến bê tông, tăng thêm quân số cho đội quân bản xứ... đã đưa Đờ Lát đến một quyết định mạo hiểm là tung quân ra đánh chiếm khu vực Chợ Bến - Hòa Bình, mở đầu cho việc giành lại quyền chủ động chiến lược. Ngày 9 đến ngày 10 tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động lực lượng mở cuộc hành binh Hoa Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Ngày 14 đến ngày 15 tháng 10, quân Pháp tiếp tục mở cuộc Hành binh Hoa Sen - Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm khu vực Hoà Bình - sông Đà - Ba Vì. Có 3 lý do chính giải thích cho hành động quân sự nêu trên của Bộ Chỉ huy quân Pháp. Một là, Đờ Lát cho rằng sau khi không đạt được mục tiêu và bị tổn thất trong các chiến dịch đánh vào trung du và đồng bằng, chủ lực của ta dường như đã từ bỏ ý định tổ chức tác chiến ở khu vực có địa hình trống trải đề tránh thương vong, nên đã mở Chiến dịch Lý Thường Kiệt trên địa bàn Nghĩa Lộ (9 - 10.1951). Sau trận chiến tại Nghĩa Lộ, với việc các đơn vị và các vị trí quân Pháp chiếm giữ vẫn được bảo toàn, Bộ Chỉ huy quân Pháp quyết định đánh ra Hòa Bình để buộc chủ lực của ta phải tham chiến và tin tưởng rằng sẽ đánh bại đối phương. Nếu giành được thắng lợi quân sự ở Hòa Bình sẽ giải toả sức ép của dư luận chính giới Pháp đòi hỏi phải có thắng lợi trên chiến trường, qua đó sẽ xin được thêm lực lượng và kinh phí của chính phủ Pháp và của Mỹ. Hai là, Hoà Bình là địa bàn giáp với đồng bằng, là nơi quân Pháp có thể phát huy được thế mạnh về hoả lực, về vận chuyển đường bộ, đường sông. Nếu đứng vững được tại Hoà Bình, quân Pháp sẽ cắt đứt được đường liên lạc của cuộc kháng chiến giữa Việt Bắc với Thanh Hoá và Khu 4. Ba là, việc chiếm đóng Hoà Bình sẽ chứng tỏ với Chính phủ Pháp và Chính phủ của Bảo Đại cam kết và khả năng của đạo quân viễn chinh sẽ từng bước chiếm lại những địa bàn đã phải rút bỏ trước đó, tiến tới sẽ chiếm đóng cả Thanh Hoá, khẳng định việc giành được thế chủ động chiến lược. Như vậy, hơn 20.000 quân đã được huy động cho 2 cuộc tiến công chiếm đóng Chợ Bến, Hoà Bình. Ngày 15 tháng 10, Đờ Lát tổ chức cuộc họp báo tại Hà Nội thông báo chiến thắng. Đờ Lát tuyên bố: "Hôm nay với trận tiến công Hoà Bình, ta đã gây khó khăn lớn cho đối phương. Tiến công Hoà Bình có nghĩa là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hoà Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018.tr. 772). Đánh giá về sự kiện này, nhà sử học quân sự Pháp là tướng Yvơ Gra (Yves Gras) viết: "Việc chiếm đóng Hòa Bình đi trước chiến cuộc của Việt Minh. Nó làm đảo lộn các kế hoạch của họ. Sự có mặt của các binh đoàn cơ động Pháp ở trung tâm xứ Mường uy hiếp các đường cơ động của các lực lượng chiến đấu. Sự uy hiếp ấy, tầm quan trọng mà tướng Đờ Lát đưa lại cho Hòa Bình và sự tuyên truyền xung quanh nó, phải kích thích Việt Minh có sự phản ứng quy mô"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 - 1954, Nxb Plông, Pari, 1979, tr. 769, Bản dịch tiêng Việt của Hoàng Thanh Quang và Nguyễn Huy Cầu). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:43:51 pm Về phía ta, việc quân Pháp đánh ra Chợ Bến, Hoà Bình đưa lại mấy điểm có lợi cho ta.
Thứ nhất, sau ba chiến dịch mở vào đầu năm 1951 không thành công, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu chưa xác định rõ hướng hoạt động tiếp theo cho phù hợp với khả năng tác chiến của các đơn vị chủ lực. Bộ Tổng Tư lệnh cho rằng bộ đội chủ lực chưa đủ điều kiện tiến công vào những nơi địch tập trung đông lực lượng, có công sự vững chắc ở vùng Đông Bắc và trung du. Đối với Tây Bắc thì địa bàn rộng, đi lại, vận chuyển khó khăn, hạn chế việc sử dụng binh lực lớn và thắng lợi ở chiến trường Tây Bắc không gây được ảnh hưởng lớn đến cục diện chung. Vì thế, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chọn địa bàn hữu ngạn sông Hồng thuộc Liên khu 3 để tiếp tục mở chiến dịch nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá bình định, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển. Trong lúc bộ đội ta đang chuẩn bị mở Chiến dịch Liên khu 3 thì quân Pháp đánh ra Hoà Bình. Bộ Tổng Tư lệnh quyết định dừng việc chuẩn bị chiến dịch, tập trung cho Mặt trận Hoà Bình. Quyết định đánh ra Hoà Bình của Bộ Chỉ huy quân Pháp về khách quan đã gỡ được sự lúng túng cho ta trong chọn hướng mở chiến dịch và trên thực tế đã hạn chế được khó khăn, tổn thất nếu ta vẫn tiếp tục mở chiến dịch ở đồng bằng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: "Đờ Lát đã cho ta những cơ hội bằng vàng để tiêu diệt sinh lực địch và cứu vãn tình hình địch hậu"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi kýy Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 773). Trong báo cáo gửi Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận định: Với cuộc tiến công ra Chợ Bến, Hoà Bình, địch đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, cố gắng giành lại quyền chủ động, gây cho ta những khó khăn mới về chính trị, quân sự, kinh tế. Nhưng việc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải sử dụng một bộ phận lực lượng cơ động để mở rộng phạm vi chiếm đóng, khiến quân số bị phân tán, đã tạo điều kiện cho chiến tranh du kích ở đồng bằng phát triển, đồng thời là cơ hội tốt cho ta đánh địch do chúng phải phân tán bố trí trên một địa bàn rộng, giao thông dễ bị chia cắt, công sự phòng ngự chưa được củng cố vững chắc. Tổng Quân ủy đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cho mở Chiến dịch Hoà Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Hoà Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 774). Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hoà Bình của địch, coi đây là cơ hội tốt để quân và dân ta tranh thủ tìm những chỗ sơ hở để đánh địch trên các mặt trận Hoà Bình và vùng địch đang chiếm đóng ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Thứ hai, các đơn vị chủ lực của ta sẽ có địa bàn tác chiến thuận lợi hơn, dễ dàng cơ động, đảm bảo hậu cần, kỹ thuật hơn là ở đồng bằng. Bộ đội sẽ phát huy được sở trường đánh trên địa hình rừng núi, hạn chế được thương vong. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để đưa một số đơn vị chủ lực vào hoạt động ở đồng bằng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp tác chiến giữa mặt trận phía trước và mặt trận phía sau khiến cho quân địch phải bị động đối phó. Nếu chủ lực giành được thắng lợi trong Chiến dịch Hoà Bình thì ta vẫn giữ được quyền chủ động chiến lược, bảo vệ được đường liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4, khẳng định sở trường và khả năng tác chiến của bộ đội ở địa bàn rừng núi. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích tham gia chiến dịch: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội tốt cho ta"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 776). Sau khi thành lập Bộ Chỉ huy, Đảng ủy Chiến dịch Hoà Bình, gấp rút chuẩn bị lực lượng, vũ khí, đạn dược, trang bị, đảm bảo hậu cần và cách đánh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định nổ súng tiến công quân địch cùng lúc trên cả 2 mặt trận Hoà Bình và trong vùng địch chiếm đóng. Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 nổ súng đánh chiếm cứ điểm Tu Vũ nằm bên bờ hữu ngạn sông Đà, mở màn chiến dịch. Cùng ngày, các đơn vị của Đại đoàn 320 nổ súng tiến công thị trấn Phát Diệm (Ninh Bình). Tiếp sau đó, quân ta tổ chức các trận đánh trên khu vực sông Đà, Ba Vì, Đường số 6 và thị xã Hoà Bình. Đại đoàn 316 tiến vào hoạt động ở khu vực địch chiếm đóng thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh. Đại đoàn 320 thâm nhập hoạt động ở Hà Nam, Nam Định, sau đó vượt sông Hồng sang đất Thái Bình, phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương tiến công các vị trí địch, chống càn quét, phá chính quyền cơ sở của địch, xây dựng cơ sở, các đội du kích, các căn cứ du kích và khu du kích. Sự phối hợp chiến đấu giữa 2 mặt trận đã khiến các binh đoàn cơ động vốn đã ít ỏi của địch buộc phải căng ra, phân tán lực lượng đối phó; lúc thì cơ động ra Hoà Bình, lúc thì phải quay trở lại đồng bằng để đối phó. BỊ đánh mạnh trên cả 2 mặt trận, lực lượng bị tổn thất, vùng chiếm đóng bị uy hiếp nghiêm trọng, cộng với cái chết vì bạo bệnh của tướng Đờ Lát (1.1.1952), nội bộ chính giới Pháp bất đồng sâu sắc về cuộc chiến tranh... đã đẩy quân Pháp vào tình thế ngày càng khó khăn, buộc Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải quyết định rút khỏi Hòa Bình bắt đầu từ ngày 5 tháng 2, kết thúc vào ngày 25 tháng 2 năm 1952. Cuộc tiến công chiếm đóng Hòa Bình của quân Pháp thất bại. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:45:48 pm Ảnh hưởng của cuộc chiến Hoà Bình Đông - Xuân 1951 - 1952.
Đối với chiến trường Việt Nam, Đông Dương. Về cục diện chiến lược: Đối với cuộc kháng chiến, Chiến dịch tiến công Hoà Bình kết thúc thắng lợi càng củng cố thế chủ động chiến lược quân và dân ta giành được từ Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950. Quyết định mở ngay chiến dịch tiến công sau khi quân địch đánh ra Hoà Bình thể hiện sự chủ động và kiên quyết giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh khi cuộc kháng chiến đã chuyển sang giai đoạn phản công và tiến công. Đối với quân Pháp, quyết định chủ động chọn địa bàn giao chiến, Tổng Chỉ huy Đờ Lát tin tưởng sẽ giành được thắng lợi dựa vào ưu thế về lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh. Sự tính toán chủ quan của Bộ Chỉ huy quân Pháp đã không tính đến sự bất lợi khi phải chiến đấu trên một chiến trường mà chủ lực đối phương có sở trường, có thể cơ động và ẩn nấp, hạn chế được thương vong. Trong khi đó, quân Pháp bộc lộ sơ hở khi phải phân tán đóng giữ trên một địa bàn rộng, tuy có cả đường bộ, đường sông nhưng rất dễ bị chặn đánh, cắt đứt; trong khi đó lại thiếu hụt lực lượng để bảo vệ đồng bằng. Việc một lần nữa phải rút chạy khỏi Hoà Bình sau hơn 3 tháng chiếm giữ đã cho thấy quân Pháp ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự, lúng túng đối phó. Các binh đoàn cơ động của Pháp phải chạy như con thoi giữa Mặt trận Hoà Bình và Mặt trận đồng bằng đã thể hiện rõ điều đó. Về địa bàn hoạt động: Đối với ta, địa bàn hoạt động của bộ đội chủ lực ngày càng mở rộng và rất linh hoạt. Lần đầu tiên một đại đoàn chủ lực chủ động tiến vào hoạt động tác chiến trong một thời gian dài trên đất Thái Bình, nằm sâu trong vùng quân Pháp chiếm đóng, điều đó chứng tỏ không còn địa bàn nào là an toàn với quân Pháp. Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 vừa phối hợp tác chiến với Mặt trận Hoà Bình, vừa gây dựng cơ sở, đánh phá đồn bốt, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển, làm ruỗng nát hậu phương của địch. Hậu phương địch thực sự đã trở thành tiền phương của ta và đang trở thành hậu phương của cuộc kháng chiến. Đối với quân Pháp, địa bàn chiếm đóng không những không mở rộng được mà còn tiếp tục bị thu hẹp. Tác giả Yvơ Gra phân tích:"Một cuộc rút lui vẫn cứ mãi mãi là một cuộc rút lui... Sự thực hiện cuộc rút lui khỏi Hoà Bình một cách hoàn hảo không che giấu được tất cả những gì tiêu cực của bản tổng kết chiến dịch... Dư luận công chúng chỉ thấy thắng lợi hay thất bại dưới dạng duy nhất của việc chiếm được đất hay bị mất đất. Theo cách nhìn này, thông cáo về việc rút lui khỏi Hoà Bình đã gây nên một cảm giác buồn nản, thậm chí thảm hại. Mưu toan duy nhất chuyển sang tiến công Việt Minh đã kết thúc bằng một cuộc rút lui. Mưu toan này đã gây nên bao nhiêu hy vọng thì nay sự thất vọng càng lớn bấy nhiêu"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 -1954, Sđd, tr. 813). Về chỉ đạo chiến tranh. Đối với ta, chỉ đạo chiến tranh của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong Chiến dịch Hoà Bình đã có sự tiến bộ vượt bậc. Đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến, ta đã đề ra và chỉ đạo thành công chủ trương điều động lực lượng và phối hợp tác chiến trên cả 2 mặt trận, khiến Bộ Chỉ huy quân Pháp càng thêm lúng túng đối phó, bộc lộ điểm yếu, sơ hở trong sử dụng lực lượng và bảo vệ địa bàn. Nếu trong cuộc tiến công quy mô lên Việt Bắc, do phần nào bị bất ngờ về phương thức tiến công và địa bàn tiến công, nên Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy chủ trương tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu, chia thành 3 mặt trận (Đường số 4; Đường số 3; Sông Lô - Đường số 2), sử dụng phương thức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung tác chiến du kích trong vùng quân Pháp chiếm đóng, càn quét, thì trong Chiến dịch Hoà Bình, Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh đã xác định ngay từ đầu việc chia ra 2 mặt trận phía trước ở Hoà Bình và phía sau trong vùng địch chiếm đóng, sử dụng lực lượng cấp đại đoàn để đánh địch. Chiến dịch Hoà Bình đã chứng tỏ khả năng, sở trường và hiệu quả tác chiến trên vùng rừng núi của bộ đội ta. Đây là cơ sở để sau đó Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chọn hướng một cách chính xác, phù hợp, mở Chiến dịch tiến công Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952), giành thắng lợi. Đối với Pháp, cuộc tiến công và rút lui khỏi Hoà Bình đã bộc lộ sự tiến thoái lưỡng nan, bất lực của Bộ Chỉ huy đạo quân viễn chinh khi không dự tính được sự phản ứng và cách đánh của đối phương khiến cho vừa không giữ được khu vực mới chiếm đóng vừa làm cho vùng đồng bằng trở nên nguy cấp. Tác giả Yvơ Gra viết: "Các lực lượng Pháp - Việt Nam (quân đội của Bảo Đại) vẫn bị giam giữ trong miền đồng bằng, tại đó họ buộc phải chiến đấu chống sự xâm nhập ồ ạt của quân Việt Minh. Trong những điều kiện như vậy, phải chăng không bao giờ có thể thắng được Việt Minh. Phải chăng nước Pháp đã lâm vào ngõ cụt?"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954, Sđd, tr. 813). Bình luận của sử gia Yvơ Gra cho thấy một sự thật hiển nhiên: Tình thế của quân Pháp ở Việt Nam ngày càng bế tắc, bi đát và tuyệt vọng, càng cố hoạt động, vẫy vùng, thì càng lún sâu vào thất bại. Đối với chính trường nước Pháp Một là, cuộc tiến công ra Hoà Bình thất bại càng làm cho chính giới Pháp nhận thức rõ hơn khả năng có hạn của đạo quân viễn chinh đồng thời cũng thấy rõ thêm chiều hướng thất bại của cuộc chiến ở Đông Dương. Cuộc tiến công ra Hoà Bình ban đầu đã giải toả được áp lực phải có một chiến thắng quân sự, nhưng sự rút lui ngay sau đó lại mang đến sự thất vọng lớn khi mà quân Pháp phải giữ bí mật, bất ngờ, rút quân vào đêm tối để tránh bị phục kích. Điều đó làm cho chính giới Pháp hoài nghi về thắng lợi của cuộc tiến công ra Hoà Bình không giống như Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương thông báo. Giới chức quân sự Pháp cho rằng mặc dù đã có những thay đổi, lực lượng, kinh phí và phương tiện chiến tranh được tăng thêm nhưng đạo quân viễn chinh Pháp vẫn chỉ là một đạo quân thích hợp với chiến trường châu Âu về tổ chức và phương pháp tác chiến vì vẫn dựa chủ yếu vào sức mạnh của phương tiện, lực lượng cơ động, phụ thuộc nhiều vào đường sá và sự phục dịch nặng nề để đảm bảo hậu cần. Vì thế, đạo quân này không phù hợp đánh ở chiến trường rừng núi. Điều đó trái ngược với sự chủ động, linh hoạt thích ứng của chủ lực Việt Minh. Quân Pháp kéo ra một chiến trường được lựa chọn nhưng không thuận lợi để chờ cho chủ lực của đối phương tiến công một khi đối phương thấy có thời cơ và điều kiện hành động. Đây là điều bất lợi và sai lầm khi chủ lực Việt Minh đã trưởng thành nhiều sau 7 năm xây dựng và tác chiến. Hai là, việc quân Pháp đánh ra Hoà Bình đã làm cho vùng đồng bằng bị sơ hở và đã bị đối phương tranh thủ khoét sâu vào sơ hở đó khiến hậu phương của quân Pháp trở thành chiến trường diễn ra các trận đánh trực tiếp giữa hai bên. Công cuộc bình định bị đe doạ bởi chiến tranh du kích phát triển, nhiều làng chiến đấu, khu du kích, căn cứ du kích hình thành, tồn tại khiến vùng Pháp chiếm đóng "giống như một bản đồ lên sởi". Thực tế đó lại làm bùng lên cuộc tranh cãi trong Quốc hội Pháp về cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Nước Pháp tham gia Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), buộc phải đóng góp 12 sư đoàn cho công cuộc phòng thủ châu Âu, trong khi đó vẫn phải tăng viện quân số và tiền bạc cho Đông Dương, nên cuộc chiến này ngày càng trở thành gánh nặng cho Chính phủ, Quốc hội Pháp và ngày càng phải phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ. Tổng thống Pháp Vanhxăng Ôriôn (Vincent Auriol) thất vọng đặt câu hỏi: "Chúng ta làm gì ở đó? Tôi thấy không thể có giải pháp quân sự mà chỉ có một giải pháp chính trị, cần phải sớm đình chiến với Việt Minh"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 -1954, Sđd, tr. 780). Cuộc tranh luận gay gắt về ngân sách chiến tranh tại Quốc hội Pháp ngày 28 tháng 12 năm 1951, trong lúc cuộc chiến ở Hoà Bình đang diễn ra, đã cho thấy sự chia rẽ nghiêm trọng trong chính giới Pháp. Ngân sách được đề nghị tăng từ 261 tỷ phơrăng vào năm 1951 lên tới 326 tỷ phơrăng vào năm 1952 (chỉ tính riêng cho lục quân), tương đương gần 1 tỷ mỗi ngày, ngày càng trở thành gánh nặng quá sức với nước Pháp. Trong khi những đại biểu cộng sản Pháp trong Quốc hội công kích kịch liệt chi phí chiến tranh, yêu cầu rút quân về nước, thì một số đại biểu của các đảng phái như: Phong trào Cộng hoà bình dân, Tập hợp vì nền Cộng hoà, Xã hội... lại phê phán cách điều hành chiến tranh của Chính phủ; tranh luận về vai trò, tầm quan trọng của Nam Kỳ hay Bắc Kỳ; đề nghị quốc tế hoá cuộc chiến tranh; đề nghị đàm phán để chấm dứt chiến tranh... Nhà sử học Yvơ Gra viết: "Tất cả các tham luận này được đăng tải rộng rãi trên báo chí, đã phản ảnh sự mệt mỏi của công luận Pháp đối với Đông Dương. Sau một thời gian dài thờ ơ, dư luận Pháp bây giờ nhận thấy cuộc chiến tranh này kéo dài mãi và tốn kém rất nhiều cho đất nước... Vậy là, khi thấy Đờ Lát vừa mất đi, các nhà lãnh đạo Pháp đã không còn giấu giếm rằng,đối với họ, một giải pháp quân sự ở Đông Dương là không thể thực hiện được"1 (Yvơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 - 1954, Sđd, tr. 781 -782). Chính phủ Pháp tiếp tục bị chia rẽ về cuộc chiến tranh Đông Dương. Sự bất lực vì không đề ra được một chiến lược thực sự cho Đông Dương là nguyên nhân chính dẫn tới sự sụp đổ của Chính phủ do Thủ tướng Rơnê Plêven (Réne Pléven) đứng đầu (8.1.1952). Ngày 18 tháng 1 năm 1952, Chính phủ mới của Thủ tướng Étga Phô (Edgar Faure) lên thay, tuyên bố tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương. Nước Pháp lại tiếp tục lún sâu vào cuộc chiến tranh hao người, tốn của và vô vọng ở Việt Nam và Đông Dương. Sự thất bại của quân Pháp trong cuộc tiến công ra Hoà Bình đã minh chứng cho chiều hướng đó. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:49:41 pm CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH BÀI HỌC VỀ SỰ NHẠY BÉN, SÁNG TẠO, ĐOÀN KẾT Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG Nguyên Phó Viện trường Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Vào những ngày này 70 năm về trước (1951), trên trang nhất của một số tờ báo lớn xuất bản ở Hà Nội và Pari xuất hiện dòng tít lớn chạy dài: Chiến dịch Hòa Bình là canh bạc lớn, là khẩu súng ngắn của De Lattre de Tassigny ngắm thẳng vào tim quân thù. Một sự trùng hợp khá lý thú là vào ngày 14 tháng 11 năm 1951 Tướng Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) tổ chức họp báo khuếch trương cái gọi là "Chiến thắng Hòa Bình" và sáng ngày 15 tháng 11, ông cùng với tướng Xalăng đích thân bay lên Hòa Bình để "úy lạo binh sĩ" thì cũng đúng vào buổi sáng hôm đó, tại "đại bản doanh" kháng chiến ở Việt Bắc cũng diễn ra một cuộc họp quan trọng của Tổng Quân ủy đưa ra quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Và điều làm nhiều người ngạc nhiên hơn là tin thị xã Hòa Bình cùng nhiều vị trí quan trọng khác dọc hai bên bờ sông Đà và Đường số 6 rơi vào tay quân Pháp dội về căn cứ địa Việt Bắc không làm cho Bộ Tổng Tư lệnh của ta bất ngờ và lo lắng, mà ngược lại nó khuấy động bầu không khí tại cơ quan "Tổng hành dinh" thêm hào hứng và sôi nổi lạ thường. Từ vị Tổng Tư lệnh cho đến các cán bộ tham mưu, ai cũng cảm thấy nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng trăn trở đènặng bấy lâu. Điều mà Bộ Tổng Tư lệnh cũng như cơ quan tham mưu băn khoăn, trăn trở ấy đã được giải tỏa mà theo như cách nói của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp thì: "Với việc cho quân đánh chiếm Hòa Bình, Đờ Lát đã cho ta cơ hội bằng vàng để tiêu diệt sinh lực địch và cứu vãn tình hình vùng địch hậu"1 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011,tr. 773, 774). Tại Hội nghị này, Tổng Quân ủy đã đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở Chiến dịch Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp... Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích"2 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011,tr. 773, 774). Tại cuộc họp ngày 23 tháng 11 năm 1951, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, Bộ Chính trị đã nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy: Chuyển hướng chiến lược về Hòa Bình. Trên tinh thần đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", trong đó khẳng định rằng đây là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có thư gửi cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch, trong đó Người chỉ rõ: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh..."3 (Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện quân sự (1919 - 1969) Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 347). Có thể nói, hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở Hòa Bình là một quyết định sáng suốt và hết sức nhạy bén của các cơ quan chỉ đạo chiến lược, chiến dịch. Sự nhạy bén và sáng suốt đó được biểu hiện trên một số vấn đề sau: Về mặt chỉ đạo chiến lược, sau thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới 1950, ta mở liên tiếp 3 chiến dịch ở trung du và đồng bằng, song cả 3 chiến dịch đều không thu được kết quả khả quan, "không hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược đặt ra. Kết quả đó bắt nguồn từ những hạn chế về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật điều hành chiến dịch"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 123). Bước vào Thu - Đông 1951, trong khi việc xác định hướng tiến công chiến lược của ta đang là một trăn trở lớn đối với Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh thì việc quân Pháp nhảy vào Hòa Bình được coi là một sai lầm chiến lược của Bộ Chỉ huy quân Pháp và là cơ hội tốt cho ta. Điều đáng nói ở đây là ta đã triệt để tận dụng sai lầm đó để chuyển hướng tiến công chiến lược một cách kịp thời và linh hoạt để tiêu diệt khối chủ lực cơ động của chúng. Tuy nhiên, việc thay đổi hướng tiến công chiến lược lúc này, nhất là việc dừng ngay chiến dịch ở Liên khu 3 khi mà kế hoạch đã được phê duyệt và đang được triển khai để chuyển về mở Chiến dịch Hòa Bình là một vấn đề không hề đơn giản. Tại Hội nghị Tổng Quân ủy (15.11.1951), đa số ý kiến đều cho rằng, chuyển hướng tiến công chiến lược từ đồng bằng về vùng núi, dừng chiến dịch ở đồng bằng Liên khu 3 để tập trung lực lượng mở Chiến dịch Hòa Bình lúc này là hợp lý. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến tỏ ra băn khoăn vì cho rằng việc Bộ Chỉ huy quân Pháp dám bung lực lượng ra đánh chiếm Hòa Bình chứng tỏ chúng đang rất mạnh và ở thể chủ động. Ta không nên chạy theo địch khi mà kế hoạch tác chiến Đông - Xuân đã được phê duyệt và đang được triển khai một cách tích cực ở vùng đồng bằng, địch hậu Liên khu 3. Trong khi đó thì ngay cả đoàn cố vấn của Trung Quốc cũng khuyên ta: "Tốt nhất là quay về chiến tranh du kích, tiến hành chiến tranh nhân dân thật rộng rãi để hạn chế những chỗ mạnh của địch"2 (Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 250-260), cố vấn về tham mưu Mai Gia Sinh (Trung Quốc) cũng khuyên Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái rằng: Không nên bị động chạy theo địch ra hướng chiến trường do chúng đã lựa chọn, khi chúng chủ động giăng bẫy để thu hút chủ lực của ta1 (Trần Trọng Trung, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 516) thậm chí, ông Mai Gia Sinh còn cảnh báo: "Tôi biết trong chiến dịch này sẽ không có mặt các cố vấn. Các đồng chí lo trách nhiệm của mình nếu ta gặp khó khăn khi tiếp tục lao vào những trận đánh lớn. Đây là điều lo ngại chính đáng mà ta cần chú ý trong quá trình chỉ đạo tác chiến"2 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr. 775). Trước một số ý kiến còn tỏ ra băn khoăn như vậy, để tạo được sự đồng thuận về ý đồ chuyển hướng tiến công chiến lược, Hội nghị Tổng Quân ủy đã thảo luận, trao đổi rất thẳng thắn, dân chủ, cởi mở và cuối cùng cũng đi đến được sự thống nhất về việc chuyển hướng tiến công chiến lược. Đề nghị của Tổng Quân ủy đã được trình lên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh và được chuẩn y ngay sau đó. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Mười, 2025, 08:51:20 pm Quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình là một quyết định kịp thời, nhạy bén và sáng suốt của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Nó được đưa ra trên cơ sở phân tích một cách khoa học và biện chứng, bám sát tình hình thực tiễn lúc bấy giờ. Rõ ràng là việc quân Pháp đánh chiếm được Hòa Bình cho thấy địch đang ở thế mạnh và chủ động. Kết quả khả quan của hành động quân sự này đã giúp quân Pháp mở rộng được phạm vi chiếm đóng, giành quyền kiểm soát được một số vị trí quan trọng và nguy hiểm hơn là cô lập căn cứ địa Việt Bắc với chiến trường Liên khu 3 và các mặt trận ở phía Nam; gây không ít khó khăn cho ta không chỉ về quân sự, mà cả về chính trị và kinh tế. Tuy nhiên, việc một lực lượng lớn binh lực của địch bị hút về Hòa Bình và Đường số 6 vô hình chung để lộ ra những khoảng trống và sơ hở ở vùng địch hậu, nếu ta biết khoét sâu "khoảng trống" này, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu sẽ tạo được nhiều bất ngờ và lợi thế để phát triển thế và lực trên địa bàn này. Vả lại, việc địch tập trung một số lượng binh lực lớn lên chiến trường rừng núi - nơi vốn điều kiện địa hình không mấy thuận lợi, giao thông đi lại khó khăn, không phù hợp với tác chiến quy mô lớn, binh chủng hợp thành sẽ giảm thiểu rất nhiều ưu thế về trang bị, phương tiện và sức cơ động của quân Pháp. Quân địch lại vừa mới đứng chân ở Hòa Bình, chưa kịp làm quen với chiến trường mới và củng cố trận địa... Đây là những điểm yếu chí tủ' của quân Pháp mà ta có thể khai thác để nhân cơ hội này tiêu diệt được nhiều sinh lực của chúng. Trong mệnh lệnh tác chiến giao nhiệm vụ cho các đại đoàn trên hướng trung du và Mặt trận Hòa Bình, Bộ Tổng Tư lệnh đã xác định rất rõ chủ trương chuyển hướng tiến công, mở Chiến dịch Hòa Bình, đó là tranh thủ thời gian tiêu diệt lực lượng địch mới chiếm đóng, tiến tới giải phóng Hòa Bình. Lợi dụng lúc quân địch đang sơ hở, tranh thủ thời gian đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển cơ sở, mở rộng căn cứ, phá kế hoạch Bộ Chỉ huy quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng, tranh thủ vơ vét nguồn lực của ta trong vùng tạm chiếm.
Sự linh hoạt, sáng tạo của các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy cả ở cấp chiến lược và chiến dịch được biểu hiện ở cả ngay trong quá trình chuẩn bị mở chiến dịch. Trong khi chờ đợi quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh phê chuẩn, Bộ Tổng Tham mưu đã chủ động lệnh cho Đại đoàn 312 cơ động từ Tây Bắc xuống gần Hòa Bình để bảo vệ các căn cứ tiếp tế và tuyến đường vận chuyển; giám sát mọi động thái của địch tại đây. Song song với đó, Bộ Tổng Tham mưu cũng chỉ thị cho quân và dân các tỉnh đồng bằng Liên khu 3, lợi dụng triệt để sơ hở của địch ở vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích; đồng thời chỉ thị cho Tổng cục Cung cấp chuẩn bị các kho hậu cần đủ bảo đảm tối thiểu cho 2 đại đoàn hoạt động. Trong quá trình chờ sự chuẩn y, để có sự chủ động và công tác chuẩn bị được chu đáo, Bộ Tổng Tham mưu đã giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đại đoàn chủ lực, Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3. Cả Bộ Tổng Tham mưu, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp... đều thân chinh ra mặt trận trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các mặt hoạt động, bảo đảm có được sự chuẩn bị tốt nhất cho chiến dịch quan trọng này. Trong quá trình diễn ra chiến dịch, cùng với chỉ huy đánh địch trên mặt trận chính (Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6), Bộ Chỉ huy Chiến dịch còn đưa 2 đại đoàn luồn sâu vào vùng địch hậu phối hợp với quân và dân các địa phương đánh địch rộng khắp. Đây lại thêm một đòn hiểm buộc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải căng kéo lực lượng cùng lúc đối phó với ta ở cả phía trước và phía sau. Điều này đã làm giảm áp lực đáng kể cho mặt trận chính. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa 2 mặt trận mà chỉ mới sau đợt 1 của chiến dịch, Bộ Chỉ huy quân Pháp đã bị đặt vào tình huống giằng xé giữa tập trung và phân tán lực lượng, do thiếu lực lượng cơ động để ứng cứu nên đối phó lúng túng, bị động. Hay nói một cách khác là ta đã buộc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải chấp nhận một thất bại kép về chiến lược, thất bại trên cả 2 mặt trận. Sự nhạy bén và sáng tạo trong Chiến dịch Hòa Bình không chi được biểu hiện ở việc chuyển hướng tiến công chiến lược từ địa bàn trung du, đồng bằng lên chiến trường rừng núi; mà còn ở chỗ ta đã kịp thời chuyển từ ý định chiến dịch phản công sang chuẩn bị và tiến hành chiến dịch tiến công quân địch đã chiếm đóng một cách linh hoạt1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 128). Ý định ban đầu của Bộ Chỉ huy Chiến dịch là lợi dụng khi quân địch vừa mới chiếm đóng, các vị trí chưa kịp củng cố, ta tranh thủ tổ chức tiến hành chiến dịch phản công, song do công tác chuẩn bị không triển khai kịp nên đã quyết định chuyển hình thái chiến dịch. Thực tế diễn biến và kết quả của Chiến dịch Hòa Bình cho thấy quyết định đó là phù hợp. Vấn đề lựa chọn cách đánh trong Chiến dịch Hòa Bình cũng rất sáng tạo, phù hợp với đặc điểm chiến trường và khả năng, trình độ tác chiến của bộ đội ta lúc bấy giờ. Trong chiến dịch này, ta đã vận dụng thành công phương châm "tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu". Cái hay, cái sáng tạo của Bộ Chỉ huy chiến dịch biểu hiện ở chỗ ta không vội vàng tiến công thẳng vào thị xã Hòa Bình - nơi đã được Bộ Chỉ huy quân Pháp xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm và đang chủ động "chờ Việt Minh tới" để tiêu diệt, mà chọn sông Đà và dọc Đường số 6 làm mục tiêu chủ yếu để tiến công. Với cách đánh này, chúng ta vừa tránh được việc "húc đầu" vào những cứ điểm vững chắc, hạn chế được thương vong, tổn thất cho bộ đội... vừa có điều kiện để khoét sâu thêm điểm yếu chí từ của địch, đó là buộc chúng phải bung lực lượng ra cơ động trên hai trục giao thông chính là sông Đà và Đường số 6 để giải quyết vấn đề tiếp tế, tăng viện cho tập đoàn cứ điểm Hòa Bình. Hơn nữa, việc quân Pháp bung lực lượng ra đã cho ta thêm cơ hội để tiêu diệt chúng ngoài công sự, thực hiện có hiệu quả chủ trương đã được xác định ngay từ lúc bước vào chiến dịch, đó là "lấy tiêu diệt địch ngoài công sự làm chính". Ngay từ đầu, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã xác định "Nơi nào địch sơ hở thì ta đánh, nơi nào có điều kiện tiêu diệt nhiều sinh lực địch thì ta đánh, không nhất thiết là đánh Hòa Bình"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 -1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 136) và suốt trong cả quá trình diễn ra chiến dịch các hướng tiến công của ta vẫn kiên trì với điều đó. Việc Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương tập trung binh hỏa lực đột phá tuyến sông Đà - Ba Vì, bắt đầu bằng trận tiến công cụm cứ điểm Tu Vũ - núi Chẹ chứng minh cho thấy sự sắc sảo trong điều hành chiến dịch vì tiến công trên hướng này ta sẽ có điều kiện tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn. Đòn tiến công này không chỉ là một sự bảo đảm cho thắng lợi của trận mở màn chiến dịch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi; mà còn giúp cho việc mở hành lang vận chuyển hậu cần của chiến dịch được hanh thông. Việc tập trung lực lượng đánh giao thông trên sông Đà và Đường số 6 cũng là một biểu hiện của sự sắc sảo trong điều hành chiến dịch. Tập đoàn cứ điểm Hòa Bình tồn tại được là dựa chủ yếu vào 2 tuyến giao thông huyết mạch này. Chính vì vậy, việc ta tập trung nỗ lực phong tỏa 2 trục giao thông quan trọng này ngay từ đầu chiến dịch đã góp phần cô lập tập đoàn cứ điểm Hòa Bình, gây cho quân Pháp rất nhiều khó khăn, mà như tướng Xalăng (Raoul Salan) sau này tiết lộ: "Đối phương muốn đẩy mạnh cuộc tiến công của họ và dốc mọi sự cổ gắng vào Đường số 6 và sông Đà khiến cho sự đi lại của chúng ta trên con đường này gặp rất nhiều khó khăn. Tôi tuyệt đối cần có nó. Khốn nỗi, việc duy trì tuyến đường đã chôn chân 16 tiểu đoàn. Đó là điều quá đáng..."1 (Hồi ký của Raoul Salan, Tập 2, Presses de la Cite, Paris, 1971, tr. 287). Trong Chiến dịch Hòa Bình, mặc dù còn có một số trận đánh chúng ta chưa thể dứt điểm được, thương vong bộ đội còn cao, thực hiện "đánh điểm" có trận chưa thành công, song nhìn một cách toàn cục, chủ trương đề ra và chỉ đạo thực hiện nhất quán phương châm "đánh điểm, diệt viện" trong suốt cả 3 đợt của chiến dịch là một chủ trương hợp lý. Nó phản ảnh sự lựa chọn, cân nhắc sắc sảo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong quá trình điều hành chiến dịch. Tựu trung lại, từ Chiến dịch Hòa Bình có thể rút ra bài học về chỉ đạo chiến lược, đó là bản lĩnh và tính quyết đoán chuyển hướng tiến công chiến lược một cách kịp thời, là sự chỉ đạo phối hợp có hiệu quả giữa mặt trận chính với mặt trận sau lưng địch. Trong bối cảnh vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang ta còn hạn chế, sức mạnh của các đại đoàn chủ lực mới chỉ là sức mạnh có điều kiện. Sức mạnh đó chỉ có thể được nhân lên tại chiến trường rừng núi - nơi địch khó phát huy ưu thế về trang bị và khả năng ứng cứu, trong khi bộ đội ta lại có thể phát huy được sở trưởng, sở đoản của mình. Chính vì vậy, vấn đề chọn hướng tiến công chiến lược đúng có thể được coi là mang ý nghĩa quyết định thắng lợi của chiến dịch này. Sự chỉ đạo, điều hành chiến dịch, đó là kiên quyết chuyển loại hình chiến dịch sao cho phù hợp với tình hình thực tế của chiến trường; là chọn hướng tiến công chủ yếu và kịp thời chuyển hướng tiến công chủ yếu giữa các đợt của chiến dịch một cách linh hoạt và sáng tạo; là lựa chọn phương thức tác chiến phù hợp với đặc điểm chiến trường và trình độ tác chiến của bộ đội; là nghệ thuật triệt đường tiếp tế, tiến tới bao vây, cô lập... cuối cùng buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình; là thấu triệt và kiên định với phương châm "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu", hạn chế ưu thế của địch, khoét sâu sai lầm và yếu điểm của chúng, lấy tiêu diệt địch ngoài công sự làm chính... Đó còn là lựa chọn phương châm tác chiến phù hợp với so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch; nhằm đạt hiệu suất chiến đấu cao, đồng thời hạn đến mức thấp nhất thương vong của bộ đội... Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cùng với kết quả của các chiến dịch sau hai năm "chuyển lên đánh lớn", bước vào mùa khô năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược lên chiến trường Tây Bắc. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 08:35:56 pm CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - NHÌN NHẬN TỪ ĐỐI PHƯƠNG Đại tá, TS TRƯƠNG MAI HƯƠNG Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam 70 năm trôi qua (1951 - 2021) kể từ khi dân tộc Việt Nam chiến thắng thực dân Pháp ở Hòa Bình, những ô tư liệu dần được mở khóa, những bí mật sẽ không còn bí mật, nhưng tác động của Chiến dịch Hòa Bình còn mãi, vẫn cần được khám phá. Tại Pháp và các nước phương Tây còn có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh Chiến dịch Hòa Bình. Trong suốt những năm qua, có nhiều nhà nghiên cứu về sử học quân sự đã đưa ra bình luận với những chiều cạnh khác nhau kể từ trước, trong và sau khi Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. Thậm chí là cả tướng lĩnh, sĩ quan, binh sĩ Pháp trực tiếp tham chiến đã trả lời phỏng vấn báo chí cũng như thể hiện trong hồi ký của mình. Phần đông trong số họ đều công nhận thắng lợi của Việt Minh; đánh giá cao quân đội của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các mặt từ tổ chức ký luật, trình độ chiến đấu đến sự phối hợp không chỉ của chủ lực mà cả các lực lượng khác trong thời gian diễn ra chiến dịch. Và đương nhiên là còn có ý kiến đổ lỗi cho nhau, biện minh cho sự thất bại của Pháp. Về phía Pháp, bước sang năm 1951, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương gặp nhiều khó khăn, nội các lục đục liên tiếp, Chính phủ Pháp gửi công văn mật từ Pari sang Hà Nội với nội dung"Cần phải tiến công!". Tuy nhiên viện trợ từ chính quốc không được Quốc hội Pháp phê duyệt để bổ sung sang chiến trường Đông Dương kịp thời. Điều đó làm cho Đờ Lát đờ Tatxinhi (Jean de Lattre de Tassigny) - Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương rất bực bội, ông đã nói: "Pari chẳng hiểu gì cả! Họ cho rằng tôi án binh bất động, không có tinh thần tiến công và bỏ phí thì giờ, không biết kết thúc sớm chiến tranh". Sang tháng 9 và tháng 10 năm 1951, Đờ Lát công du sang Anh xin thêm viện trợ. Lúc này Mỹ đã cam kết gửi sang chiến trường Đông Dương 9.000 súng tiểu liên, 500 súng máy, 5.000 xe vận tải... Tuy nhiên, những cam kết trên đã không đáp ứng được yêu cầu của Đờ Lát, chưa kể Mỹ ra điều kiện phần lớn hàng viện trợ phải được sử dụng vào tổ chức trang bị cho lực lượng tay sai Quân đội Quốc gia Bảo Đại. Vậy nên, Đờ Lát đã gấp rút thực hiện việc đánh chiếm Hòa Bình, hy vọng bằng thắng lợi này sẽ kích thích Anh, Mỹ tăng cường viện trợ như đã hứa hẹn. Thực hiện kế hoạch trên quân Pháp tiến hành đánh chiếm Hòa Bình vào ngày 9 tháng 11 năm 1951 với mong muốn rằng việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ là "Khẩu súng ngắn chĩa thẳng vào tim quân thù..."1 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 356). Đến ngày 15 tháng 11 năm 1951, địch chiếm được Hòa Bình hòng bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặt đứt đường giao thông giữa căn cứ địa Việt Bắc với Nam Liên khu 3 và vùng tự do Liên khu 4. Chỉ tính riêng trên đoạn Đường số 6 dài chưa đầy 50km từ Xuân Mai đến Bến Ngọc, địch rải 11 đại đội Âu - Phi thuộc Trung đoàn bộ binh Marốc và bán Lữ đoàn lê dương chiếm giữ, ngoài ra còn một số đại đội bộ binh ngụy đóng xen kẽ. Trong bối cảnh đó, sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 10 tháng 12 năm 1951, Quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch tiến công nhằm giành lại Hòa Bình. Khu vực phòng ngự Tu Vũ - Chẹ, vị trí phòng ngự then chốt của phân khu sông Đà cách thị xã Hòa Bình 30km về phía Bắc được lựa chọn là mục tiêu tiến công mở màn Chiến dịch Hòa Bình. Cứ điểm này do Tiểu đoàn Marốc số 1, một đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6, với xe tăng, xe thiết giáp chốt giữ. 20 giờ ngày 10 tháng 12, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được tăng cường 7 khẩu sơn pháo 75mm, cùng đại đội súng máy phòng không 12,7mm chia thành 3 mũi tiến công, đến 5 giờ sáng hôm sau, ta đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm Tu Vũ. Ngay lập tức, tin thất bại từ trận đầu bay về Hà Nội, Pari... Phòng Nhì như ngồi trên đống lửa, liên tục bị gọi và hòi về thực tế diễn biến ngày càng xấu của chiến dịch. Chỉ hai ngày sau khi bại trận, tờ Lơ Phigarô đã đăng tải "Thật khủng khiếp, Việt Minh chiến đấu hăng say không lúc nào ngưng. Rồi thất bại đến nhanh quá. Người Pháp cũng phải suy nghĩ lại việc chinh phục Đông Dương và đối phó với Việt Minh"1 (Báo Lơ Phigarô, số ra ngày 12 tháng 12 năm 1951, lưu tại Thông tấn xã Việt Nam). Còn tờ "Nước Pháp buổi chiều" thì đưa tin "Việt Minh đã làm chủ ngay từ đêm đầu tiên rồi. Tình hình binh lính Pháp và Âu - Phi rất đáng ngại. Từng đoàn quân lê lết trở về trước sức mạnh của Việt Minh"2 (Báo Nước Pháp buổi chiều, số ra ngày 15 tháng 12 năm 1951, lưu tại Thông tấn xã Việt Nam)... Trên cương vị chỉ huy Tiểu đoàn dù số 6, Mácsen Bigia (Marcel Bigeard) sau này mới sang Đông Dương nhưng đã viết trong hồi ký của mình nặng lời chỉ trích Đờ Lát: "Sang Đông Dương cùng với một ngàn người, chỉ huy họ chiến đấu trong hai năm trời trong điều kiện ngày càng bi thảm hơn, ở đó chúng tôi biết rằng ngài Đờ Lát vĩ đại, xuất sắc của chúng tôi bị sa lầy, bất chấp tính hung hăng của ông"3 (Marcel Bigeard, Lời thú nhận muộn mằn, Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr. 109). Đúng vậy, sau trận mở màn kết thúc nhanh chóng, trang sử Tu Vũ được đặt ra trong bầu không khí căng thẳng, lo âu ở cả Hà Nội và Pari. Đờ Lát lúc này lâm bệnh trọng, cùng với việc con trai duy nhất chết trận hồi tháng 3 năm 1951, cũng như các cuộc gọi điện thoại tới tấp từ chính quốc... làm cho sức khỏe của ông đã yếu và rồi gần như không thể chống lại được nữa với bệnh ung thư ngày càng nặng, buộc ông phải quay về Pháp điều trị vào ngày 19 tháng 11 năm 1951. Chính phủ Pháp cử người kế nhiệm là Raun Xalăng (Raoul Salan), tiếp tục thực hiện kế hoạch. Nhận nhiệm vụ được giao, Xalăng khẩn trương bố trí lại lực lượng trên địa bàn. Các điểm cao 564,400, 600 trên dãy núi Ba Vì được Pháp cho quân đóng giữ nghiêm ngặt. Ngoài ra, còn có GM1 làm nhiệm vụ bảo vệ từ Đường số 6 đến sông Đà. Những ngày tiếp theo của chiến dịch, tình hình quân Pháp càng trở nên bi thảm. Quân số hao hụt lớn do chết và bị thương, hàng tiếp tế khó khăn và thiếu, binh lính gần như bị kẹt cứng, nên tinh thần cả chỉ huy cũng rất hoang mang, lo sợ. Tờ Action dẫn rằng "Quân Việt tấn công dữ dội trận địa của chúng tôi. Họ xung phong nhiều đợt. Quân sĩ của chúng tôi nấp kín trong hầm hào, được bảo vệ bởi mìn, dây thép gai, lưới mắt cáo, nổ súng ở khoảng cách 40 mét... những gì sẽ diễn ra là rõ, chỉ sau ít giờ chiến đấu, các điểm cao đã thuộc về Việt Minh rồi"1 (Báo Action, số ra ngày 18 tháng 12 năm 1951, lưu Thông tấn xã Việt Nam). Trong báo cáo gửi Bộ Tham mưu quân viễn chinh Pháp tại Hà Nội chỉ rõ: "Quân của ông Giáp ở đâu ra ùn ùn, họ không chỉ chủ lực, họ có các tầng lớp khác là nhân dân cùng chiến đấu ác liệt, cần tăng viện binh, sức khỏe binh lính giảm sút. Trong khi quân Việt đánh rất quyết liệt. Chúng tôi cần sự hỗ trợ ngay..."2 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Pháp (1951 - 1952), lưu Thư viện Trung ương Quân đội). Nhưng rồi, tại Pari hầu như chỉ nghe ngóng thông tin từ Hà Nội chứ không có động thải trả lời. Thực tế đó làm cho Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội rất lo lắng, không có phương sách nào cứu vãn, tình hình vẫn rất bi thảm, quân ngụy chán nản dẫn đến hạn chế về mọi mặt, không còn khả năng chiến đấu dài ngày trong điều kiện thiếu thốn. Lúc này, Xalăng nhận thấy không đủ lực lượng để tiếp tục bảo vệ phòng tuyến sông Đà nên đã cố gắng xin tăng viện, nhưng bất thành. Đồng thời, ông tổ chức họp bàn với các tướng lĩnh, nhằm phán đoán về lực lượng và cách đánh của Việt Minh tiến hành trong những ngày tiếp theo. Thế nhưng, tất cả chỉ dừng lại ở sự thất vọng. Cuối cùng, Xalăng quyết định chỉ để lại cụm cứ điểm Đan Thê - La Phù, tất cả lực lượng còn lại được rút về tăng cường cho tuyến phòng ngự tại thị xã Hòa Bình. Qua trinh sát nắm rõ tình hình suy yếu của địch, vào đêm mùng 7 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 102 tiến công thị xã Hòa Bình và hành lang bảo vệ Đường số 6 do Tiểu đoàn bộ binh số 2 thuộc bán Lữ đoàn lê dương số 13, cùng 4 khẩu pháo 105mm và1trung đội xe tăng chiếm giữ. Tại đây, do ta chưa nắm chắc địch, công tác chuẩn bị chiến trường, tổ chức chiến đấu còn đơn giản do thời gian gấp nên khi tổ chức tiến công đã bị địch phản pháo quyết liệt, bộ đội ta bị thương vong nhiều và ngay từ đầu không phát triển được. Nhân đà này, địch đã tung hô chiến thắng và báo cáo gửi về Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội và Pari rằng, "Việt Minh đã bại trận, chúng ta đã xốc lại lực lượng và rồi chúng ta sẽ tiếp tục chiến thắng không lâu nữa"1 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Pháp (1951 - 1952), tài liệu lưu Thư viện Trung ương Quân đội). Còn Hãng tin AFP thì dẫn rằng "Phần thắng lại thuộc về phía Pháp. Quá rõ rồi! Vài ngày qua Việt Minh dồn lực lượng nhưng không chiến thắng nổi vũ khí hiện đại..."2 (Theo Tin tức thế giới, tài liệu lưu Thư viện Trung ương Quân đội). Vậy là từ ngày 11 đến ngày 31 tháng 1 năm 1952, viên Phó Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ớ Đông Dương vét hết lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ giao cho Đại tá Gin chỉ huy thực hiện cuộc hành binh "Cái phễu soi" (Spéculum) nhằm đẩy bộ đội ta ra xa Đường số 6. Tiếp đó, chúng cử Trung tá Đuycuốcnô nhảy dù xuống Hòa Bình, thay Đại tá Clêmăng, ngườiđã mất tinh thần từ sau cuộc tấn công của bộ đội ta vào thị xã Hòa Bình. Mặc dù vậy, theo tin tức tình báo thu thập được, địch biết rõ lợi thế của ta và yếu thế của chúng. Nếu không chủ động rút quân nhanh ra khỏi Hòa Bình thì tình hình chiến sự sẽ càng khó khăn cho Pháp. Qua tính toán, Xalăng đã âm thầm chuẩn bị kế hoạch rút quân mang tên "Cầu vồng" (Opération Arcenciel). Đến ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch bắt đầu rút quân khỏi Hòa Bình. Các trung đoàn 36, 209 tổ chức truy đuổi, diệt một số địch. Trên Đường số 6, ta bắn rơi tại chỗ 1 máy bay Bearca của Pháp. Dù Xalăng cố tình gửi báo cáo với nhiều nội dung thuận lợi trên chặng đường rút quân, song không thể giấu giếm được. Tin tức được loan ra nhanh chóng và sự thật được phơi bày không chỉ ở Hòa Bình, Hà Nội mà cả ở Pari. Làn sóng biểu tình, đấu tranh buộc Chính phủ Pháp phải chấm dứt ngay cuộc chiến hao người, tốn của tại Đông Dương diễn ra mạnh mẽ. Tờ Nhân đạo chỉ rõ "Quân Việt đuổi theo rất quyết liệt, đối phương rất đông và có kỹ thuật. Quân Pháp hành quân trong đêm và hai bên đường đều có lính Âu - Phi nằm gục"1 (Báo Nhân đạo, số ra ngày 28 tháng 1 năm 1952, lưu Thông tấn xã Việt Nam). Còn tờ Thế giới thì ca ngợi Quân đội Việt Minh "Quân Việt đã có một trận thắng lớn, đè bẹp đối phương. Bởi vì họ thông thạo địa hình, họ đi len lỏi vào con đường nhỏ, hẹp rồi từ đó túa ra không biết là mấy trăm con người, họ ở thế áp đảo"2 (Báo Thế giới, số ra ngày 27 tháng 1 năm 1952, lưu Thông tấn xã Việt Nam). Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 08:38:21 pm Trong quá trình rút quân, Bộ Chỉ huy quân Pháp tại Hà Nội luôn nín thở để theo dõi đoàn quân bại trận. Tuy nhiên, họ tỏ ra tức giận và hối thúc các tướng lĩnh chỉ huy trên đường rút chạy. Sau cùng, họ không kìm chế được đã gọi điện thoại chỉ trích cả chỉ huy và binh lính không quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ và thốt ra rằng "Bọn họ hỏng hết rồi". Và như bị đổ thêm dầu vào lửa khi mà đồng loạt tại Pari, các trang báo giật tít trên trang nhất "Họ từ địa ngục trở về"; "Trang sử bi thảm"; "Cuộc rút quân đầy gian khó"... Nội dung các bài báo miêu tả rất kỹ về nỗi khổ cực trên đường rút chạy khỏi Hòa Bình của binh lính Pháp, đã bị Việt Minh truy đuổi và tiêu diệt. Tờ Paris Match thì miêu tả rất cụ thể: "Cảnh khốn quẫn của quân đội Pháp bị truy đuổi quyết liệt, gần như Việt Minh muốn trói chặt quân Pháp tại đất Hòa Bình này. Việt Minh đã dùng lối đánh ác hiểm để tiêu diệt chúng ta. Và đúng như dự đoán chúng ta đã thua rất đau. Tin tức này làm xé lòng các bà mẹ tai chính quốc có con đi lính tại chiến trường Đông Dương"1 (Báo Paris Maích, số ra ngày 18 tháng 12 năm 1951, lưu Thông tấn xã Việt Nam). Để hỗ trợ cho đợt rút quân này, quân Pháp đã bắn hơn 30 nghìn viên đạn pháo huy động hàng trăm lượt máy bay yểm trợ. Thế nhưng chi trong 3 ngày địch rút quân, bộ đội ta đã tiêu diệt 6 đại đội địch, phá hủy 23 xe quân sự, thu trên 100 tấn đạn dược và quân trang, quân dụng. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, địch rút quân về đến Xuân Mai, kết thúc cuộc hành binh đánh chiếm Hòa Bình đầy tham vọng.
Bị thua đau tại Hòa Bình, Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội rối ren khi Pari chỉ trích và Quốc hội quay lưng. Tại buổi họp báo, Lơtuốcnô (Letoumeau) - Cao ủy Pháp tại Đông Dương, ngồi bên cạnh là tướng Xalăng, tướng Linarét và nhiều quan chức cao cấp khác đã trầm ngâm. Và rồi trước những câu hỏi của phóng viên, các tướng lĩnh chỉ trả lời chung chung, đổ lỗi cho thời tiết, khí hậu, địa hình rừng núi... không nghĩ đến nguyên nhân thất bại thê thảm ngày từ trận đầu là do sức ép quá lớn đối với binh lính không chi Pháp mà cả lính Âu - Phi và ngụy Việt. Đồng thời, là do đi những nước cờ sai lầm từ kế hoạch hành quân đánh chiếm lâu dài Hòa Bình của Pháp; cùng với đó là sự lớn mạnh của Việt Minh mà họ nhận ra nhưng vẫn cố tình bào chữa cho chủ quan của mình. Đối với ta, sự thật chỉ ra rằng, Chiến dịch Hòa Bình đã góp phần tạo nên bước ngoặt của cuộc kháng chiến, đánh dấu bước trưởng thành về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và điều hành chiến tranh của Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh. Ngay tại thời điểm này, khi đánh giá tình hình hai bên, các học giả nước ngoài đều thống nhất nhận định "Trong trận này, Việt Minh cho thấy họ bắt đầu lớn mạnh và có thể đánh lớn với Pháp... từ trận Hòa Bình, người Pháp bắt đầu tuyệt vọng, hoàn toàn hết hy vọng đánh thắng ông Hồ Chí Minh"1 (Maicơn Mắc Clia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Thư viện Trung ương Quân đội dịch, tr. 92). Với thất bại tại Hòa Bình, tướng H. Nava (Henri Navarre) tuy không trực tiếp chỉ huy, điều hành, nhưng sau này cũng phải cay đắng thừa nhận trong cuốn hồi ký "Đông Dương hấp hối" rằng: Chúng ta đã bị thiệt hại nặng về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó, đã tạo lợi thế cho đối phương đưa các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng. Điều cần nói đến nữa chính là cuộc chiến tại Đông Dương đã không được lòng nhân dân Pháp, làn sóng dư luận bất bình lên cao độ, như quan điểm của nhà nghiên cứu sử học người Nhật Singô Sibata là: Sự kiện người Việt Nam kháng Pháp thời điểm diễn ra Chiến dịch Hòa Bình không chỉ tác động sâu sắc tới tinh thần của nhân dân Pháp mà cả nhân loại tiến bộ trên thế giới2 (Singô Sibata, Y nghĩa lịch sử thế giới của thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong Thế giới bàn về Việt Nam, Hà Nội, 1978). Một nguyên nhân nữa dẫn đến thất bại của Pháp chính là đánh giá thấp đối phương, ỷ vào phương tiện chiến tranh hiện đại, có sự viện trợ của Mỹ. Và ngay khi thất bại tại Tu Vũ, Đại tá Clêmăng đã báo cáo từ Mặt trận Hòa Bình về Hà Nội cho tướng Xalăng rằng "Ngay sau trận Tu Vũ, đối phương đang dồn lực lượng đánh mạnh trên các trục giao thông thủy bộ thuộc phân khu sông Đà"3 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đôi nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 360). Tờ Chiến đấu của Pháp dẫn rằng "Ông Giáp có phương pháp riêngcủa mình... ông đã điều gần hết quân chính quy ra mặt trận Hòa Bình với một sự nhanh chóng kinh khủng"1 (Báo Chiến đấu, số ra ngày 2 tháng 6 năm 1952, Lưu Thông tấn xã Việt Nam). Còn, Tập san Quốc tế thì bình luận một cách thẳng thắn: Đối phương luôn vượt quân Pháp về tốc độ! Họ lợi dụng địa hình quen thuộc, lợi dụng thời cơ khi các cứ điểm của ta đứng chân chưa vừng để tiêu diệt binh lưc ta... việc tiêu diệt lực lượng ta là nhân tố quan trọng trong chiến lược dẫn đến chiến thắng về phía đối phương. Trong bản báo cáo của Bộ Tham mưu quân Pháp tại Hà Nội gửi về Pari đã nêu rõ "Không những đối phương đã điều 3 sư đoàn chủ lực lên mặt trận Hòa Bình mà 2 sư đoàn khác "coi như không có phòng tuyến Đờ Lát", đã tiến vào đồng bằng để giúp đỡ cho các đội du kích đang kiên trì hoạt động nay trong những vùng mà quân Pháp vừa càn quét"2 (Dẫn theo Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 358). Sự thật không chỉ dư luận tiến bộ Pháp đánh giá sai lầm của cuộc chiến tranh Đông Dương này mà cả Bộ Chỉ huy quân ngụy cũng lên tiếng chỉ trích Đờ Lát, cho rằng ông đã khinh thường đối phương, không lường định được sức mạnh của họ; rằng ông đã đưa quân lính của mình vào chốn rừng núi Hòa Bình để tự chuốc lấy cuộc sống kham khổ, bị cô lập, trong khi địa hình này là sở trường của đối phương. Không cần bàn gì hơn nữa, sự thật Việt Minh giành thắng lợi tại Hòa Bình đã thúc đẩy phong trào cách mạng của ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ tại chính nước Pháp cũng như trên thế giới. Từ đó, buộc Pháp phải đối phó với đối phương để lọt vào vùng đồng bằng; và rồi mọi cố gắng, nỗ lực bình định trong cả năm 1951 của Pháp bị xóa số hoàn toàn. Tuy nhiên, phải đến 20 năm sau, khi viết tập 2 cuốn hồi ký, Raun Xalăng mới cay đắng thốt lên rằng "Phải coi việc quân Pháp rút chạy và để mất vùng đất Hòa Bình là một thất bại thảm hại". Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 08:41:30 pm CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ Đại tá, TS VŨ TANG BỒNG Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, những hoạt động quân sự lớn hằng năm của ta và địch thường bắt đầu khi mùa khô đến. Chuẩn bị cho mùa khô 1951 - 1952, từ ngày 27 tháng 9 đến ngày 5 tháng 10 năm 1951, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp, đánh giá tình hình và đề ra nhiệm vụ, phương châm kháng chiến cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trung ương Đảng nhận định: Từ sau Chiến dịch Biên Giới - 1950, ta vẫn giữ được quyền chủ động trên chiến trường chính, liên tiếp mở 3 chiến dịch lớn ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nhưng chưa làm thay đổi được tình thế vì chưa có ưu thế quân sự hơn địch. Chiến tranh du kích của ta tuy vẫn tiếp tục phát triển nhưng hiện nay đang trài qua thời kỳ khó khăn, nhất là ở Bắc Bộ, Nam Bộ do địch tăng cường càn quét, bình định, đưa chiến tranh tổng lực lên mức độ cao. Các mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng của ta phối hợp với nhau còn chưa chặt chẽ; cuộc đấu tranh toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế ở các vùng địch tạm chiếm còn chưa được coi trọng đúng mức. Quán triệt, cụ thể hóa nhiệm vụ quân sự do Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra, ngày 9 và ngày 10 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định sử dụng một số đại đoàn luân phiên hoạt động phân tán ở trung du và hữu ngạn Liên khu 3 để thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, mở "Chiến dịch Liên khu 3" tiến công địch ở đồng bằng. Trong khi ta đang chuẩn bị mở Chiến dịch Liên khu 3 thì tình hình lại nhanh chóng thay đổi do những động thái mới của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau gần 1 năm ra sức củng cố, tăng cường xây dựng khối chủ lực cơ động, xây dựng phòng tuyến boongke bằng bê tông cốt sắt (Pháp gọi là Phòng tuyến Đờ Lát), gồm 113 vị trí, 1.200 lô cốt và hệ thống công sự nửa chìm nửa nổi chạy từ Hải Ninh, Hòn Gai, Quảng Yên qua Bắc Giang, Bắc Ninh sang Phúc Yên, Sơn Tây, Hà Đông xuống Hà Nam, Ninh Bình nhằm bao vây chia cắt đồng bằng Bắc Bộ, địa bàn chiến lược mà Pháp luôn coi là "then cửa của Đông Dương"1 (Đây là phòng tuyến nổi tiếng tốn kém. Riêng số xi măng để xây dựng là 51 triệu mét khối). Đến cuối năm 1951, Đờ Lát đờ Tátxinhi (viên tướng 5 sao, được Chính phủ Pháp bổ nhiệm làm Tổng Chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương từ ngày 15 tháng 12 năm 1950) cho rằng tình hình quân sự "nhìn chung cán cân đã nghiêng về phía Pháp... đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã phải chịu đựng từ năm 1948, nhất là từ cuối năm 1950 để chuyển sang thế tiến công"2 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plon, Pari, 1979, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Từ đánh giá trên, tháng 10 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động 10 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn dù cùng nhiều máy bay, tàu chiến mở cuộc tiến công vào Thanh Hóa nhằm thọc sâu vào vùng tự do của ta, phá hậu phương quan trọng của cuộc kháng chiến, buộc chủ lực ta phải giao chiến ở địa bàn mới, xa căn cứ địa Việt Bắc. Nhưng do trên đường hành quân (chủ yếu xuất phát bằng đường biển từ Hải Phòng) gặp bão lớn nên cuộc tiến công của Pháp buộc phải bỏ dở. Ngay sau đó, Đờ Lát đờ Tátxinhi huy động phần lớn các binh đoàn cơ động hiện có ở Bắc Bộ mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình - tỉnh tự do duy nhất còn lại của Liên khu 3. Đây là địa bàn quân Pháp buộc phải rút bỏ sau thất bại ở biên giới, Thu - Đông 1950. Mục tiêu của Đờ Lát đờ Tátxinhi là nhằm kéo chủ lực của ta vào nơi mà Bộ Chỉ huy quân Pháp sẽ bày sẵn thế trận để tiêu diệt; nối lại hành lang Đông - Tây; ngăn chặn giao thông tiếp tế và mọi hoạt động của ta từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4 và các liên khu, chiến trường phía Nam; bịt kín một cửa ngõ quan trọng tiến lên Tây Bắc, sang Thượng Lào; gây ảnh hưởng chính trị để củng cố tinh thần ngụy quân, ngụy quyền; tranh thủ viện trợ của Mỹ. Cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình được Đờ Lát đờ Tátxinlii giao cho tướng Xalăng chỉ huy chia làm 2 đợt: Đợt 1, từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, địch huy động 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích (tổng cộng hơn 10 tiểu đoàn), được không quân, pháo binh chi viện mở Cuộc hành quân Tuylíp đánh chiếm khu vực chợ Bến (bao gồm huyện Lương Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình và một phần huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông - nay thuộc thành phố Hà Nội). Sau 4 ngày, địch đã thiết lập được 20 vị trí dọc theo Đường số 21 từ Xuân Mai tới chợ Bến và từ Ba Thá đến Miếu Môn, hình thành tuyến phòng thủ Đường số 21 ở phía Nam Hòa Bình. Đợt 2, trong 2 ngày 13 và 14 tháng 11, địch mở Cuộc hành quân Lôtuýt, sử dụng 5 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3, GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù (tổng cộng 20 tiểu đoàn), hơn 700 xe cơ giới, nhiều xe tăng, tàu chiến, máy bay theo Đường số 6 và sông Đà đánh chiếm thị xã Hòa Bình và khu vực dọc theo hai bên bờ sông Đà thuộc 2 huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình)cùng các vị trí La Phù, Đồng Luận, Yến Mao, Tu Vũ (thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ). Sau khi đánh chiếm Hòa Bình, Bộ Chỉ huy quân Pháp tổ chức thành 2 phân khu: Phân khu Bắc (sông Đà - Ba Vì) có 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo, 1 trung đội xe tăng. Phân khu Nam (Hòa Bình - Đường số 6) có 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn xe tăng. Phân khu Nam trở thành 1 tập đoàn cứ điểm với 28 vị trí lớn nhỏ - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn, lần đầu tiên xuất hiện ở chiến trường Đông Dương1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 421, 422). Về phía ta, ngay từ cuối tháng 10 năm 1951, khi xây dựng kế hoạch tác chiến Đông - Xuân, Bộ Tổng Tư lệnh đã dự kiến tình huống phải đối phó với các cuộc tiến công của địch ra vùng tự do, nhất là hướng Lạng Sơn, Hòa Bình. Ngày 15 tháng 10, nhận được tin địch đánh ra Hòa Bình, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh lập tức chỉ thị cho các địa phương, đơn vị đình chỉ công tác chuẩn bị Chiến dịch Liên khu 3. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, trong báo cáo gửi Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh nhận định: "Cuộc tiến công ra Hòa Bình của địch sẽ gây cho ta những khó khăn, nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực của chúng do chúng đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ ra bố trí phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi. Vì phần lớn lực lượng cơ động đã tập trung vào mặt trận Hòa Bình nên lực lượng của chúng ở vùng địch hậu đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng hữu ngạn, tả ngạn (Liên khu 3) đến trung du đều sơ hở hơn trước, khiến cho chiến tranh du kích ở đồng bằng có điều kiện phát triển"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 34). Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh kiến nghị: Mở chiến dịch tiến công địch ở Hòa Bình. Hòa Bình sẽ là hướng chính, trung du và đồng bằng Liên khu 3 là hướng phối hợp quan trọng1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 3 (1945 - 1955), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 299). Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị hoàn toàn nhất trí với nhận định và kiến nghị của Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Trung ương chỉ rõ: Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch... ta phải nắm cơ hội tốt này tiêu diệt sinh lực địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng sau lưng địch2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 3 (1945 - 1955), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 299). Theo chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, trong chiến dịch, quân và dân ta sẽ thực hiện đánh địch trên cả hai mặt trận: Mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo toàn chiến dịch và mặt trận chính diện. Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch. Đối với mặt trận sau lưng địch, Trung ương Đảng chỉ thị tổ chức Ban Chỉ huy Mặt trận gồm các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 3 và đồng chí Văn Tiến Dũng - Chính ủy kiêm Tư lệnh Đại đoàn 320. Đồng chí Lê Thanh Nghị - Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 được chỉ định tham gia Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đồng thời trực tiếp làm Trưởng ban Chỉ đạo Mặt trận sau lưng địch. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 08:46:21 pm Trên mặt trận chính diện, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304), 1 trung đoàn pháo cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tổ chức phục kích, tập kích tiêu diệt quân cơ động của địch trên cả hai tuyến giao thông thủy - bộ (theo Đường số 6 và sông Đà), đồng thời tiến hành vây hãm, tiêu hao khối quân cơ động của địch trong các cứ điểm ở thị xã Hòa Bình. Ở mặt trận sau lưng địch, Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 được lệnh luồn sâu vào vùng địch hậu phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân đẩy mạnh các hoạt động tập kích, phục kích, phá tề, trừ gian, phát triển chiến tranh du kích nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, biến hậu phương của địch thành hậu phương của ta.
Cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch đều có sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương tới các liên khu, tỉnh, huyện. Cuối tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Người chỉ rõ: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 341). Trước đòn tiến công của ta, ngày 23 tháng 2 năm 1952, Pháp buộc phải cho quân vội vã rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Trải qua hơn 2 tháng chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), quân và dân ta đã giành được thắng lợi ngoài dự kiến ban đầu. Trên mặt trận chính diện, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà2 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1 : Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167), làm chủ hoàn toàn khu vực phía Tây đồng bằng Bắc Bộ, bảo vệ an toàn tuyến hành lang chiến lược của kháng chiến từ Việt Bắc đến Nam Bộ. Ta không chỉ đánh thiệt hại nặng các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược của địch màcòn phá được thế kìm kẹp của địch ở vùng tạm bị chiếm. Phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ các dân tộc và chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của địch. Phối hợp nhịp nhàng với mặt trận chính diện, ở mặt trận sau lưng địch, quân dân ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu 6.000 súng các loại. Các căn cứ du kích của ta được mở rộng, tạo thành thể liên hoàn từ Bắc Giang, Bắc Ninh qua Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông và Sơn Tây. Chiến thắng Hòa Bình đã góp phần tạo nên bước ngoặt của cuộc kháng chiến, đánh dấu bước trưởng thành về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và điều hành chiến tranh của Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh. Đánh giá tình hình hai bên trong Chiến dịch Hòa Bình, các học giả nước ngoài đều thống nhất cho rằng: "Trong trận này, Việt Minh cho thấy họ bắt đầu lớn mạnh và có thể đánh lớn với Pháp... Từ trận Hòa Bình, người Pháp bắt đầu tuyệt vọng, hoàn toàn hết hy vọng đánh thắng ông Hồ Chí Minh. Và tình hình còn xấu đi nữa..."1 (Maicơn Mắc Clia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Thư viện Quân đội dịch, tr. 92). Thắng lợi trên chủ yếu là do ta có chủ trương đúng, cùng một lúc triển khai tiến công địch trên cả hai mặt trận (mặt trận ngoại tuyến - mặt trận chính và mặt trận nội tuyến - sau lưng địch). Trong suốt quá trình chiến dịch, hai mặt trận này đã gắn bó hữu cơ với nhau, cùng tạo cho nhau giành thắng lợi. Và đã trở thành bài học quý về sự phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận chính và mặt trận sau lưng địch trong các hoạt động tác chiến chiến lược sau này. Thắng lợi của ta cũng do địch có phần chủ quan, nóng vội. Sau khi đối phó với các đòn tiến công của chủ lực ta trong Xuân - Hè 1951, gây cho ta khá nhiều khó khăn qua việc thiết lập phòng tuyến Đờ Lát, qua các cuộc càn quét, bình định khốc liệt, Đờ Lát đờ Tátxinhi và giới hiếu chiến Pháp - Mỳ đều cho rằng đến lúc cỏ thẻ tiến công lại để đánh bại các đại đoàn chủ lực ta, giành lại thế chủ động chiển lược trên chiến trường chính nên đã đưa quân vào vùng rừng núi nhằm mục đích nghiền nát chủ lực ta, biến Hòa Bình thành "cối xay thịt Việt Minh". Bài học cần rút ra ở đây không chỉ ở phía địch mà cả ở phía ta là khi giành được thắng lợi lớn, dễ sinh ra chủ quan. Lần đầu tiên trong một chiến dịch có quy mô chiến lược, lại không có sự tham gia của cố vấn Trung Quốc (trong Chiến dịch Hòa Bình, đoàn cố vấn Trung Quốc không tham dự do bận chỉnh huấn), ta đã phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, trí thông minh sáng tạo, kiên quyết, táo bạo cùng một lúc mở nhiều đòn tiến công khác nhau; chỉ đạo các đòn tiến công đó phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển, giành thắng lợi. Đây là một bước phát triển rất quan trọng về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam; đồng thời là một bước tiến mới trong hạ quyết tâm, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tác chiến. Có thể nói thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã thực sự mở ra tiền đề về chỉ đạo chiến lược, làm cơ sở cho chỉ đạo chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954. Chiến thắng Hòa Bình khẳng định chủ trương đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trực tiếp là của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Đó là trong khi đẩy mạnh vận động chiến vẫn phải phát triển du kích chiến rộng khắp. Khẳng định chiến tranh nhân dân của ta luôn cần có sự phối hợp chặt chẽ với tác chiến của các binh đoàn chủ lực. Chiến tranh nhân dân càng phát triển càng tạo điều kiện thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực giành thắng lợi lớn. Thắng lợi của các binh đoàn chủ lực lại trực tiếp thúc đẩy chiến tranh nhân dân địa phương phát triển lên trình độ cao hơn. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về quy mô tác chiến chiến lược (bộ đội chủ lực hoạt động mạnh ở chiến trường chính và chiến trường sau lưng địch; chiến tranh nhân dân địa phương phát triển cao với các hình thức chiến thuật phong phú, sáng tạo). Việc chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh cũng được nâng lên một trình độ mới, vừa bao quát, vừa cụ thể ở cả chiến trường chính và chiến trường phối hợp. Về chỉ đạo chiến thuật, Chiến dịch Hòa Bình xuất hiện nhiều cách đánh phong phú, sáng tạo như coi trọng đánh địch ngoài công sự, đánh địch trên đường hành quân... Khi đánh địch trong công sự vững chắc đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức tác chiến. Lúc thì đột phá từ ngoài vào (công kiên), khi thì bí mật luôn vào trong trận địa địch, kết hợp đánh từ ngoài vào và từ trong đánh ra (tập kích). Lần đầu tiên một lực lượng lớn bộ đội chủ lực đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm với đặc điểm đồng bằng sông nước, đồng ruộng trống trải nhưng đã vận dụng sáng tạo cách đánh kết hợp giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng nên đã tạo được sức mạnh tổng hợp to lớn, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân địch, giải phóng nhiều vùng đất đai, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, thành hậu phương của ta. Ngoài tác chiến, ta đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân, tăng cường đoàn kết quân dân, đoàn kết lương - giáo, làm that bại âm mưu chia rẽ và chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Có thể khẳng định, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã tạo đà cho quân dân ta giữ vững quyền chủ động chiến lược, tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 08:49:39 pm TRẬN CÔNG KIÊN TIÊU DIỆT CỨ ĐIỂM TU VŨ MẤY BÀI HỌC KINH NGHIỆM Đại tá, ThS NGUYỄN KHẮC BÌNH Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sau thất bại ở biên giới Thu - Đông 1950, do bị ta đánh liên tiếp ở trung du và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đã đẩy quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để giành lại quyền chủ động, mùa Đông năm 1951, chúng mở cuộc tiến công ra Hòa Bình, lập phòng tuyến sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung du, sông Đáy nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc của ta giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Với vị trí hiểm yếu là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ sông Đà, Tu Vũ (nay thuộc xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) được quân Pháp xây dựng thành cứ điểm phòng ngự then chốt "bất khả xâm phạm" của phân khu sông Đà, khống chế cả một vùng rộng lớn, bảo vệ tuyến giao thông vận chuyển đường sông quan trọng nổi Hòa Bình với hậu phương của chúng. Quân Pháp bố trí lực lượng gồm Tiểu đoàn bộ binh Marốc số 1 (1/2 er RTM) và 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường thứ 6 cùng xe tăng, xe thiết giáp chiếm giữ. Trong quá trình phòng ngự, cứ điểm Tu Vũ được hỏa lực pháo binh từ các cứ điểm Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp và không quân chi viện, tổ chức phòng ngự thành 3 khu (khu A, khu B ở Đông Bắc ngòi Lát, khu C ở Tây Nam ngòi Lát). Sau khi địch tiến công ra Hòa Bình, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Đây là cơ hội tốt cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch và hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công quân địch ở Hòa Bình. Trong chiến dịch này, Trung đoàn 88 thuộc Đại đoàn 308 được Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch ở cứ điểm Tu Vũ, mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình với quyết tâm "trận đầu phải thắng, chỉ được phép thắng". Thực hiện nhiệm vụ được giao, Trung đoàn 88 khẩn trương hoàn thành mọi công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu. 17 giơ ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn thực hành cơ động chiếm lĩnh trận địa và nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Sau hon 7 giờ chiến đấu quyết liệt (từ 23 giờ 5 phút ngày 10 tháng 12 đến 4 giờ ngày 11 tháng 12 năm 1951), quân ta đã giành được thắng lợi, tiêu diệt 159 tên địch, bắt 12 tên; bắn cháy 1 xe tăng, 2 xe thiết giáp; thu và phá hủy một số khẩu súng, pháo các loại. Chiến thắng Tu Vũ minh chứng bước trưởng thành lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, khả năng đánh thắng địch phòng ngự trong công sự vững chắc với lực lượng cỡ tiểu đoàn tăng cường, có xe tăng, thiết giáp và hỏa lực pháo binh chi viện mạnh, tạo tiền đề cho các trận công kiên lớn sau này trong các chiến dịch Tây Bắc, Điện Biên Phủ1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, Tập III, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1992, tr. 58). Với thắng lợi này, trận Tu Vũ đã để lại những bài kinh nghiệm quý về nghệ thuật chiến đấu công kiên, đó là: 1.Nắm chắc và đánh giá đúng về địch là cơ sở để xác định quyết tâm chiến đấu chính xác và xử trí đúng mọi tình huống trong quá trình chiến đấu Tu Vũ là một trong những cứ điểm trên hệ thống phòng tuyến sông Đà của quân Pháp, hệ thống vật cản đã hoàn chỉnh với 4 lớp hàng rào kẽm gai (đơn, mải nhà, cũi lợn, bùng nhùng), có chiều sâu từ 40 - 80m, xen kẽ giữa các lớp hàng rào là các bãi mìn chống bộ binh. Cây cối xung quanh được phát quang thành vành đai trống trải, rộng khoảng 300m. Hệ thống công sự bố trí hình vòng, được xây dựng bằng gỗ, đất, nửa chìm nửa nổi, liên kết với nhau bằng giao thông hào. Cứ điểm được chia làm 3 khu, giữa các khu Có hàng rào bùng nhùng ngăn cách. Trong mỗi khu Có 1 lô cốt chính 2 tầng, cao 5m, tường dày 0,8m, hào chiến đấu, giao thông hào nối liền các lô cốt, hầm ngầm, ụ chiến đấu, tạo thành thế liên hoàn vững chắc. Cứ điểm Tu Vũ nằm ở ven sông Đà về phía tả ngạn nên 3 mặt còn lại của cứ điểm địch phòng ngự chắc, buộc đối phương khi tiến công phải đánh vào chỗ mạnh. Tuy vậy, Tu Vũ lại ở thế thấp hơn so với địa hình xung quanh, ta có điều kiện quan sát địch từ xa được. Mặt khác, cứ điểm bị ngòi Lát chia cắt nên thế liên hoàn, vững chắc trong phòng ngự của địch bị hạn chế. Lực lượng địch chốt giữ trong cứ điểm là 1 tiểu đoàn lính Âu - Phi thiện chiến, có trang bị mạnh, ngoài ra còn được tăng cường một đại đội ngụy Mường, 1 xe tăng, 2 xe bọc thép và được một lực lượng lớn hỏa lực pháo binh (khoảng 19 đến 20 khẩu) chi viện từ các cứ điểm lân cận. Thủ đoạn đối phó của địch là sử dụng lực lượng nhỏ tuần tra ban ngày, tổ chức các toán phục kích ban đêm trên các đường mòn quanh cứ điểm nhằm phát hiện sớm lực lượng tiến công của ta, sử dụng pháo binh bắn ngăn chặn từ xa. Khi bị tiến công, địch dựa vào hệ thống công sự, vật cản chống trả quyết liệt, sử dụng pháo binh ở Đá Chông, Thủ Pháp, Chẹ chi viện; cần thiết có thể yêu cầu cơ động lực lượng tăng viện từ Hòa Bình lên hoặc từ Chẹ sang ứng cứu. Có nguy cơ bị tiêu diệt, địch có thể lội sang cồn cát giữa sông Đà rồi dùng thuyền rút chạy sang cứ điểm Chẹ. Do ở vị trí cô lập, xa các cứ điểm lân cận nên dễ bị bao vây, khả năng tăng viện ứng cứu khó khăn, tinh thần binh lính dễ bị giảm sút khi bị tiến công. Về phía ta, qua trinh sát nắm địch, ta đã nắm được tổ chức bố trí phòng ngự của địch trong cứ điểm, các thủ đoạn hoạt động của chúng, nhất là các thủ đoạn phục kích, tập kích bằng hỏa lực của địch, cơ sở để Trung đoàn 88 xác định cách đánh đúng, bí mật tiếp cận triển khai lực lượng, hình thành thế bao vây, cắt gỡ một phần hàng rào; đột nhiên dùng hỏa lực chế áp quân địch, mở cửa bằng bộc phá liên tục, nhanh chóng đánh chiếm đầu cầu, thọc sâu, chia cắt tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch, làm chủ trận đánh. Đối phó với pháo binh địch, Trung đoàn nhận định ta không đủ khả năng để kiềm chế các trận địa pháo binh địch cả trong và ngoài căn cứ, nên biện pháp duy nhất là bảo đảm giữ bí mật hành động trong giai đoạn cơ động, triển khai lực lượng tiến công. Đối phó với địch, tuần tiễu, phục kích trên đường cơ động tiếp cận triển khai tiến công, Trung đoàn đã có phương án sử dụng lực lượng trinh sát bám nắm địch, tìm đường vòng tránh hoặc bao vây tiêu diệt gọn địch khi bị lộ. Nhưng trên thực tế ta lại chưa nắm được đối tượng này, do đó khi cơ động vào đã bị địch phát hiện, đội hình của Trung đoàn 88 bị lộ khi chưa vào đến vị trí xuất phát tiến công, Tiểu đoàn sơn pháo 75mm và bộ phận súng cối gặp địch phục kích, Tiểu đoàn 322 gặp địch tuần tra gần cứ điểm. Sau khi dùng hỏa lực pháo binh bắn vào đội hình cơ động triển khai tiến công của ta và khi ta tiến công vào khu C lúc 23 giờ. Trong lúc khu A, khu B chưa bị tiến công, địch sai lầm chủ quan cho rằng lực lượng tiến công của ta vào khu A, khu B đã bị hỏa lực pháo binh sát thương nên không còn sức chiến đấu. Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy Trung đoàn 88 đã đánh giá đúng tình hình, kịp thời ra lệnh nổ súng tiến công khu A và khu B khiến địch bị bất ngờ. Nhận thấy có nguy cơ bị tiêu diệt, số quân địch còn sống sót trong cứ điểm rút chạy ra cồn cát giữa sông Đà, nhưng do ta vận dụng chưa tốt thủ đoạn chiến đấu (bao vây đón lõng) nên đã bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Như vậy, nắm và đánh giá đúng về địch là một yêu cầu quan trọng liên quan đến kết quả của trận chiến đấu. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 08:52:35 pm 2. Quán triệt sâu sắc vị trí, ý nghĩa của trận đánh, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, chuẩn bị chu đáo là yếu tố quyết định thắng lợi
Quán triệt nhiệm vụ là một bước trong công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu của cấp ủy và người chỉ huy các cấp. Hiệu quả của việc quán triệt nhiệm vụ phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của người chỉ huy, khả năng giáo dục thuyết phục của đội ngũ cán bộ, đảng viên và trình độ giác ngộ của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Trong trận Tu Vũ, do tính chất quan trọng của trận đánh nên chỉ huy Trung đoàn 88 được Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp giao nhiệm vụ. Đại tướng chỉ rõ: "Trung đoàn 88 đánh có thể thuận lợi, nhưng cũng có thể phải trả giá đắt; một trung đoàn không xong thì ta dùng hai trung đoàn, dù phải hy sinh bộ phận cho toàn bộ cũng phải làm..."1 (Chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi giao nhiệm vụ cho Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 Vương Thừa Vũ và Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Thái Dũng. Dẫn theo: Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ (1945 - 1975), Tập III, Sđđ, tr. 47). Quán triệt nhiệm vụ được giao, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 88 nhận rõ trận đánh mở màn chiến dịch có vị trí, ý nghĩa rất quan trọng, tạo thế cho lực lượng chiến dịch vào triển khai đội hình tiến công quân địch ở thị xã Hòa Bình. Tu Vũ là một vị trí then chốt trong phòng tuyến sông Đà của địch nên trận chiến đấu ở đây sẽ diễn ra vô cùng ác liệt. Nhận thức đầy đủ vị trí, ý nghĩa, tính chất ác liệt của trận đánh, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 88 đã tập trung lãnh đạo tư tưởng, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ nhiệm vụ, đoàn kết nhất trí, quyết tâm đánh thắng, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cấp trên tin tưởng giao phó, đồng thời lấy lại niềm tin cho bộ đội sau trận đánh Chùa Cao không thành công. Trên cơ sở làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm, Trung đoàn 88 bắt tay vào công tác chuẩn bị chiến đấu với tinh thần "tất cả để chiến thắng". Mặc dù thời gian tổ chức chuẩn bị chiến đấu gấp và ngắn, bộ đội vẫn được huấn luyện bổ sung về cách đánh bộc phá, cách tháo gỡ mìn, cách cắt hàng rào, cách đánh ụ súng, lô cốt...; Trung đoàn 88 tổ chức đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường về số lượng, thành phần, nội dung, thời gian hợp lý. Đã nắm chắc được địa hình, tình hình địch, đường hành quân cơ động chiếm lĩnh; bố trí đội hình chiến đấu, hướng đột kích chủ yếu, thứ yếu... nên giai đoạn thực hành chiến đấu thuận lợi, đúng như phương án tác chiến. Trong Hội nghị dân chủ quân sự, thảo luận về phương án tác chiến trên sa bàn, đã phát huy được trí tuệ tập thể tìm ra cách đánh hay nhất. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1521 (Có tài liệu nói là Đại đội 225) (Tiểu đoàn 29) đã thảo luận sôi nổi về cách đánh mở cửa và đánh chiếm đầu cầu, đề ra giải pháp phải đánh chiếm các ụ súng vệ tinh và lô cốt E cùng một lúc mới bảo đảm giữ được đầu cầu; đánh chiếm đầu cầu phải đúng thời cơ ngay sau khi mở thông cửa mở. Nhiều đồng chí xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn phức tạp về mình, dành thuận lợi cho đồng đội. Nhờ chuẩn tốt công tác tư tưởng, quá trình hành quân chiếm lĩnh, bị địch phát hiện dùng hỏa lực bắn ngăn chặn, bộ đội bị thương vong, có đơn vị mất liên lạc, tình huống diễn biến phức tạp nhưng toàn đơn vị vẫn quyết tâm chiến đấu. Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 đã nhanh chóng hội ý, thống nhất nhận định: Khả năng đánh thắng địch vẫn còn; do đó đã kịp thời động viên bộ đội giữ vững quyết tâm "Đánh thắng Tu Vũ, dù phải hy sinh như thế nào cũng đánh thắng"2 (Nguyễn Quốc Dũng, Ý nghĩa lịch sử và mấy vấn đề nghiên cứu về chiến thắng Tu Vũ, Kỷ yếu Hội thảo Chiến thắng Tu Vũ 10.12.1951, tr. 23). Mặc dù bị thương vong do pháo địch bắn nhưng cán bộ, chiến sĩ sau phút đầu lúng túng đã bình tĩnh lợi dụng địa hình tránh pháo binh địch sát thương, vận dụng kỹ thuật chiến đấu để vượt qua làn hỏa lực đày đặc của địch vào vị trí triển khai tiến công, với tinh thần "địch bắn là việc của nó, tiến lên an toàn là việc của ta"1 (Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, Tập III, Sđd, tr. 62). Trong tình huống pháo binh của ta gặp khó khăn, không chi viện được cho bộ binh mở cửa, đột phá, Tiểu đoàn 29 nêu khẩu hiệu "có gì đánh nấy" và đã chủ động bí mật cắt gỡ hàng rào của địch (được 60m trên tổng số 80m), giảm bớt thời gian bộc phá của phân đội mở cửa. Trong chiến đấu công kiên, rút ngắn được thời gian mở cửa là yếu tố rất quan trọng, bảo đảm cho đột phá nhanh, hạn chế thương vong cho bộ đội, địch không kịp đối phó. Trong chiến đấu ở tung thâm, địch sử dụng xe thiết giáp và bộ binh ra phản kích ngăn chặn, khẩu đội ĐKZ đi cùng Đại đội 213 (Tiểu đoàn 23) kịp thời bắn cháy xe thiết giáp, cùng với bộ binh đẩy lùi các đợt phản kích của địch. Trong chiến đấu, các đơn vị đã chủ động chi viện cho nhau như Đại đội 152 bị hỏa lực địch ngăn chặn không phát triển tiến công được, chỉ huy Tiểu đoàn 29 lệnh cho Đại đội 1542 (Có tài liệu nói là Đại đội 217) tiến qua cửa mở của Đại đội 152 vào chiến đấu, kiên quyết đánh chiếm các mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, mưu trí, chủ động, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ như Tiểu đội bộc phá của Đại đội 217 đánh 9 quả, tiêu diệt nhiều tên địch, tuy nhiên 12 đồng chí anh dũng hy sinh; chiến sĩ thông tin hữu tuyến điện bị thương vong nhưng kiên quyết nối thông đường dây bị đứt do pháo địch bắn, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt; chiến sĩ Hảo, Đại đội 152 ôm bộc phá 20kg lao lên đánh sập hầm ngầm, diệt toàn bộ quân địch và đã anh dũng hy sinh. Hành động dũng cảm của đồng chí Nghĩa liên lạc đi về như "con thoi" giữa chỉ huy Trung đoàn và các phân đội, đã bảo đảm cho chỉ huy được kịp thời. Đây là kết quả của công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng của Trung đoàn 88, đã xây dựng tinh thần đoàn kết gắn bó giữa cán bộ và chiến sĩ; dũng cảm, dám xả thân vì thắng lợi của đơn vị 3. Chủ động hiệp đồng, chỉ huy mưu trí, linh hoại, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch Trận tiến công cứ điểm Tu Vũ gặp khó khăn ngay từ khi Trung đoàn 88 đang hành quân tiếp cận địch, do trinh sát không nắm được lực lượng địch tuần tra, phục kích nên đội hình của Trung đoàn 88 bị lộ khi chưa vào đến vị trí xuất phát tiến công, bộ phận của ta trên hướng chủ yếu gặp địch buộc phải nổ súng, yếu tố bí mật không còn, pháo binh địch bắn mạnh vào đội hình quân ta, Sở Chỉ huy Trung đoàn 88 cũng bị pháo địch bắn, buộc phải di chuyển ra ngòi Lát, bộ đội thương vong nhiều, Trung đoàn mất liên lạc với các đơn vị, nhất là với Tiểu đoàn 322. Trong điều kiện đó, việc chỉ huy hiếp đồng rất khó khăn. Do đã dự kiến trước được tình huống nên các đơn vị đã tích cực khắc phục khó khăn, chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao theo kế hoạch, chỉ huy bộ đội vượt qua làn hỏa lực bắn chặn của pháo địch vào vị trí triển khai. Tiểu đoàn 322 vào chiếm lĩnh trận địa xong đúng giờ quy định; Tiểu đoàn 29 và Tiểu đoàn 23 sau khi vào vị trí triển khai đã nhanh chóng chỉ huy lực lượng mở cửa lên cắt gỡ hàng rào của địch; Thường vụ Đảng ủy Tiểu đoàn 29 họp đánh giá tình hình và hạ quyết tâm ngay dưới làn đạn pháo của địch. Khi đã quá thời gian nổ súng theo kế hoạch, không liên lạc được với chỉ huy Trung đoàn, Tham mưu trưởng Trung đoàn đã nhanh chóng chỉ huy Tiểu đoàn 322 nổ súng đánh địch ở khu C, thu hút sự tập trung của địch về hướng này, tạo điều kiện cho lực lượng tiến công khu A và khu B vào triển khai được thuận lợi. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, các tiểu đoàn 29 và 23 vẫn kiên quyết chỉ huy bộ đội tiếp cận địch, bí mật cắt gỡ hàng rào. Nhờ công tác chuẩn bị chu đáo, ý thức chấp hành mệnh lệnh chiến đấu nghiêm, kế hoạch hiệp đồng chặt chẽ, chỉ huy mưu trí linh hoạt nên Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 88 có cơ sở để hạ quyết tâm chính xác: Tiếp lục chỉ huy bộ đội tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Tuy yếu tố bí mật không còn nhưng Trung đoàn 88 đã đánh giá đúng khả năng của ta, tinh thần quân địch, kiên quyết hạ lệnh tiến công nên khi ta nổ súng địch vẫn bị bất ngờ, bị động đối phó. Chiến thắng Tu Vũ là trận công kiên lớn nhất mở đầu thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Những bài học về nghệ thuật tác chiến công kiên đúc rút từ thực tiễn đã góp nhiều kinh nghiệm quý cho các trận đánh, chiến dịch tiếp sau. Những kinh nghiệm đó đến nay vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng vào công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, xây dựng Quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 09:00:26 pm BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, ThS ĐỖ VĂN HÌNH Trưởng phòng Lịch sử Hậu cần - Kỹ thuật quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Để giành thể chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, ngày 9 và ngày 14 tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn tiến công đánh chiếm Hòa Bình. Đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch đánh chiếm Hoà Bình của địch. Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có sự tham gia của các đại đoàn bộ binh 312, 316, 308, 304, 320, Đại đoàn Công pháo 351 và bộ đội địa phương của các tỉnh Hòa Bình, Sơn Tây... hoạt động trong phạm vi rộng trên nhiều hướng khác nhau, trong đó có 2 đại đoàn luồn sâu vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm. Vì vậy, công tác bảo đảm kỹ thuật hết sức nặng nề, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, kiên quyết vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Mặt khác, với việc đánh ra Hòa Bình, địch đã khống chế gắt gao tuyến giao thông huyết mạch của ta từ Việt Bắc xuống Liên khu 3 và Liên khu 4, trực tiếp uy hiếp căn cứ hậu phương của Liên khu 3, làm cho công tác bảo đảm kỹ thuật của ta càng thêm khó khăn, phức tạp. Để bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi, Tổng cục Cung cấp đã sử dụng nhiều biện phápnhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các lực lượng tham gia chiến dịch. Công tác bảo đảm kỹ thuật đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, qua đó đã để lại những bài học kinh nghiệm quý. Một là, chủ động làm tốt công tác chuẩn bị vũ khí, trang bị kỹ thuật nhanh chóng, kịp thời đáp ứng nhu cầu của chiến dịch Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu hậu cần - kỹ thuật của toàn bộ chiến dịch, Tổng Quân ủy và Tổng cục Cung cấp quyết định thành lập 2 ban cung cấp tiền phương. Ban Cung cấp Mặt trận Bắc Hòa Bình bảo đảm cho 2 đại đoàn 308, 312 và một số đơn vị binh chủng. Ban Cung cấp Mặt trận Nam Hòa Bình bảo đảm cho Đại đoàn 304 đánh địch trên Đường số 6, Nam Hòa Bình và Đại đoàn 320 hoạt động ở vùng địch hậu. Các cơ quan Tổng cục ở hậu phương trực tiếp bảo đảm cho Đại đoàn 316 hoạt động ở vùng Trung du. Ngay sau khi nhận được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, mặc dù đang phải chuẩn bị cho kế hoạch Thu - Đông 1951 - 1952, nhưng Tổng cục Cung cấp đã chỉ thị cho các đơn vị trực tiếp liên hệ với các địa phương để giải quyết vấn đề bảo đảm kỹ thuật và tiến hành sử dụng ngay số cán bộ đang làm nhiệm vụ chuẩn bị cho Thu - Đông chuyển sang phục vụ cho kế hoạch tác chiến mới. Số vũ khí, đạn dược đang trên đường vận chuyển cho Chiến dịch Liên khu 3 được lệnh chuyển về kho dự trữ ở Đồn Vàng (Phú Thọ) để cung cấp kịp thời cho các đơn vị khi chiến dịch bắt đầu. Thực hiện công tác bảo đảm vũ khí, đạn dược cho Chiến dịch Hòa Bình, Tổng cục Cung cấp chủ trương tranh thủ khả năng phương tiện cơ giới, tận dụng ưu thế vận chuyển bằng tàu thuyền để giảm số lượng dân công vận tải bộ, sử dụng xe ôtô chuyển vũ khí, đạn dược đến Đoan Hùng, sau đó chuyển tiếp đến Phú Thọ. Ban Cung cấp Tiền phương có nhiệm vụ tiếp nhận và vận chuyển vũ khí, đạn dược theo yêu cầu của các mặt trận trên địa bàn được phân công phụ trách. Ban tổ chức bảo đảm kỹ thuật trên 3 tuyến vận chuyển cơ giới. Do quãng đường từ Đoan Hùng đến Đồn Vàng dài 80km bị pháo địch đánh phá liên tục nên chỉ sử dụng được 12 xe ôtô vận chuyển những loại vũ khí, đạn dược thật cần thiết cho các mặt trận. Trên tuyến vận chuyển đường thủy, ta lợi dụng những đoạn sông Hồng, sông Bứa (dài khoảng 50km), huy động 100 tàu thuyền của nhân dân có trọng tải khoảng 500kg/chiếc để vận chuyển vũ khí, đạn dược cho bộ đội. Lực lượng dân công vận chuyển vũ khí, đạn dược được tổ chức theo dây chuyền. Để giảm bớt thời gian và tổn thất trong quá trình vận chuyển, Ban Cung cấp Tiền phương bố trí các trạm, kho phù hợp với cung đường vận chuyển và đủ sức của dân công đi và về trong 1 ngày. Nhờ có sự chuẩn bị vũ khí, trang bị kỹ thuật tương đối tốt ở Đông Xuân 1951 - 1952 nên lực lượng kỹ thuật của Cục Quân giới, Cục Vận tải và các đại đoàn trong Chiến dịch Hòa Bình được tổ chức gọn, cơ động và triển khai công tác nhanh nhóng, kịp thời. Mặt khác, do nắm được tình hình khả năng bảo đảm vận tải ở địa phương nên ta đã khắc phục khó khăn về việc vận chuyển vũ khí, trang bị kỹ thuật được nhanh chóng bảo đảm cho bộ đội chiến đấu. Ở Mặt trận Nam Hòa Bình, do đường giao thông với Việt Bắc bị địch đánh phá nên vũ khí, đạn dược không chuyển về được. Vì vậy, sau khi tiến hành bổ sung cho các đơn vị, các kho thiếu nghiêm trọng đạn dự trữ; nhất là đạn cối, đạn pháo và bộc phá. Trước tình hình đó, Ban Quân khí Tiền phương đề nghị với Đảng ủy Mặt trận chỉ thị cho các đơn vị tiết kiệm đạn, đồng thời giao cho Quân giới Liên khu 3 và Liên khu 4 gấp rút nhồi lắp một số đạn cối 81 mm để kịp thời cấp phát cho các đơn vị. Ban còn cử cán bộ nghiên cứu, tổ chức đường vòng tránh, phối hợp với Ban Cung cấp Tiền phương Mặt trận Bắc Hòa Bình vận chuyển vũ khí đạn từ căn cứ địa Việt Bắc vòng qua thị xã Hòa Bình xuống Liên khu 3. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, do địch đánh phá ác liệt nên đến cuối đợt 2 của chiến dịch (27 -31.12.1951), tuyến đường này mới được đưa vào sử dụng. Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu chiến dịch, vũ khí, đạn dược ở mặt trận Nam Hòa Bình không bảo đảm được. Trước tình hình trên, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhanh chóng chỉ thị cho các đơn vị hoạt động ở khu vực Ba Vì chuyển một phần đạn của mình tiếp tế cho các đơn vị ở phía Nam Đường số 6. Trong Chiến dịch Hòa Bình, mặc dù Tổng cục Cung cấp, Ban Cung cấp Tiền phương ở Mặt trận Nam Hòa Bình và Mặt trận Bắc Hòa Bình đã hết sức cố gắng nhưng vẫn còn một số hạn chế xảy ra trong quá trình bảo đảm kỹ thuật. Điển hình như: Kế hoạch hoặc các đề xuất, dự kiến về nhu cầu thực tế về vũ khí, đạn dược của từng đơn vị chưa được tính kỹ nên nhiều nơi còn lúng túng trong quá trình bảo đảm; dầu mỡ bảo quản thiếu nhiều. Việc bảo đảm đồng bộ cho vũ khí, đạn dược chưa được chú ý ngay từ đầu như các loại ngòi nổ, vỏ đạn, liều phóng không phù hợp với đạn cối; kíp nổ, dây mìn, nụ xùy không đồng bộ với thuốc nổ; ngòi đạn pháo không đi theo với đạn pháo... Trong đợt 1 (10-26.12.1951), khi lực lượng ta tiến công Tu Vũ, rất nhiều thuốc nổ không sử dụng được vì thiếu nụ xùy... Các cấp chưa phổ biến những kiến thức cơ bản cũng như kinh nghiệm bảo quản vũ khí, đạn dược cho dân công nên trong quá trình vận chuyển đã để xảy ra nhiều lỗi kỹ thuật, ảnh hưởng đến chất lượng của vũ khí, đạn dược, gây lãng phí. Trình độ năng lực của cán bộ, nhân viên chuyên môn còn yếu, cấp nhầm đạn cối thành đạn khói, nhầm ngòi nổ đạn cối 81mm của Pháp bằng ngòi đạn pháo 75mm nên không sử dụng được... Vì vậy, để bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược đáp ứng yêu cầu chiến đấu của bộ đội, phải luôn có một lượng dự trữ ở căn cứ hậu phương, bố trí kho tàng ở các khu vực cơ động, khi cần thì phải bổ sung được ngay. Quá trình diễn biến chiến dịch, vũ khí, đạn dược ở Việt Bắc tuy có sẵn và đủ, nhưng ở 2 liên khu 3 và 4 là nơi dễ bị cắt đứt đường vận chuyển, lượng dự trữ lại quá ít. Khi chiến dịch diễn ra mới bắt đầu vận chuyển xuống thì địch đã phá đường nên Mặt trận Liên khu 3 gặp nhiều khó khăn về cung cấp đạn dược. Các loại đạn cối, lựu đạn và bộc phá thiếu nhiều. Sau đó, ta phải tổ chức đường vận chuyển đạn ở phía Tây thị xã Hòa Bình nên gặp rất nhiều khó khăn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 09:02:00 pm Hai là, linh hoạt bảo đảm vũ khí, đạn dược đầy đủ cho bộ đội tác chiến liên tục, dài ngày, ngay trong lòng địch; sử dụng vũ khí của địch để đánh địch
Trong điều kiện chiến đấu liên tục, dài ngày, đòi hỏi phải có kế hoạch cung cấp đầy đủ và vận chuyển nhanh chóng, kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật theo nhu cầu chiến đấu của bộ đội. Trong Chiến dịch Hòa Bình, mặc dù địch chiếm đóng thị xã Hòa Bình, cắt đường vận chuyển xuống Liên khu 3, ta vẫn tìm được cách vận chuyển đạn dược từ Việt Bắc xuống để tiếp tế cho các mặt trận. Ở giai đoạn đầu chiến dịch, đường vận chuyển đi vòng qua phía Tây Hòa Bình chưa được thông suốt nên ta phải điều chuyển đạn dược của các đơn vị ở phía Bắc Đường số 6 cho Mặt trận Nam Hòa Bình. Ở vùng địch tạm chiếm, tuy vận chuyển rất khó khăn nhưng ta vẫn bảo đảm tiếp tế đạn dược liên tục cho các đơn vị; đồng thời, đề ra phương châm lấy vũ khí, đạn thu được của địch bổ sung cho ta, nhưng vẫn coi nguồn tiếp tế ở hậu phương là rất quan trọng và không thể thiếu. Diễn biến của chiến dịch đã chứng tỏ: Ở vùng địch tạm chiếm, ta thu được nhiều vũ khí, đạn, không chỉ bổ sung kịp thời phần lớn các loại đạn con cho chiến dịch mà còn thừa để cung cấp cho bộ đội địa phương; tuy nhiên, các loại đạn cối, đạn pháo, lựu đạn, mìn, bộc phá thì vẫn phải tiếp tế từ hậu phương vào. Ngoài ra, để bảo đảm vũ khí đầy đủ cho bộ đội tác chiến liên tục, dài ngày, điều quan trọng, cần thiết là phải kịp thời sửa chữa số vũ khí hư hỏng và cung cấp đầy đủ nhiên liệu, vật liệu cần thiết cho bộ đội bảo quản vũ khí trong chiến dịch. Trong Chiến dịch Hòa Bình, ta không dự kiến trước là chiến dịch kéo dài nên thiếu vật tư, phụ tùng cho bộ đội tiến hành công tác bảo quản, sửa chữa số vũ khí hư hỏng chưa được khắc phục kịp thời. Đặc biệt, do bị địch đánh phá hoặc cắt đứt đường vận chuyển, dự kiến việc tiếp tế vũ khí, đạn dược từ vùng tự do vào vùng địch gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, trước khi vào vùng địch, cần phải trang bị các loại vũ khí có thể sử dụng được đạn chiến lợi phẩm. Đồng thời, cần phát động tinh thần tích cực lấy vũ khí, đạn dược của địch bổ sung cho ta, giảm được lượng lớn đạn phải chuyển từ vùng tự do vào, nhưng cũng phải coi trọng việc tiếp tế các loại đạn dược cần thiết như đạn cối, đạn pháo, mìn, lựu đạn, bộc phá... cho mặt trận trong lòng địch. Ở mặt trận trong lòng địch, Tổng cục Cung cấp xây dựng kế hoạch bảo đảm vũ khí đạn cho 7 trung đoàn chiến đấu trong vòng 4 tháng. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn vì dễ bị địch đánh phá hoặc cắt đứt đường tiếp tế. Do đó, phải giải quyết những vấn đề khó khăn về cung cấp vũ khí, đạn dược trong lòng địch. Lực lượng kỹ thuật đã bảo đảm tương đối đầy đủ đạn dược cho bộ đội chiến đấu liên tục, dài ngày là nhờ trước khi vào vùng địch, một số đơn vị ta đã thay đổi trang bị, sử dụng các loại súng mà quân địch đang dùng để có thể tận dụng đạn dược chiến lợi phẩm; đồng thời, tập trung vận chuyển các loại đạn dược cần thiết cho các đơn vị chiến đấu. Căn cứ vào tình hình thực tế của từng địa phương, Tổng cục đã quyết định lấy hậu phương địch làm hậu phương ta, lấy vu khí, trang bị của địch bổ sung cho ta. Bên cạnh đó, Tổng cục cũng tổ chức hệ thống kho tàng ở ngay sát vùng địch tạm chiếm, tranh thủ mọi khả năng tiếp tế, bổ sung vũ khí, đạn dược cho bộ đội. Ban Cung cấp Tiền phương dựa vào các kho ở Nho Quan (Ninh Bình)tổ chức ra các kho dự trữ đạn trên đường vào vùng địch tạm chiếm như Cốc Thông, Thung Mật, Bồng Lạng, Trường Yên... Ban Cung cấp Tiền phương chủ trương tận dụng triệt để vũ khí, đạn dược chiến lợi phẩm thu được của địch, đồng thời tích cực bổ sung từ vùng tự do để bảo đảm cho chiến đấu. Chỉ đạo cho các đơn vị trang bị cho bộ đội trước khi hành quân vào vùng tạm chiếm bằng các loại vũ khí mà địch đang sử đụng để tận dụng hết chiến lợi phẩm thu được sau mỗi trận đánh. Thực hiện chủ trương này, các đơn vị đã tích cực thu hồi vũ khí, đạn chiến lợi phẩm và đưa vào sử dụng ngay một số loại, nhất là loại đạn con. Tuy nhiên, các loại đạn dược hỏa lực mạnh như đạn cối, đạn pháo, lựu đạn, mìn và bộc phá vẫn phải tiếp tục tiếp tế từ hậu phương. Trên hướng vận chuyển từ Đồng Cốc đi Chợ Bờ, đến cuối tháng 1 năm 1952, Ban Cung cấp đã sử dụng dân công vận chuyển 2.000kg thuốc nổ, 1.600kg quả đạn cối. Trên hướng từ Đồng Cốc đi Tu Vũ, lực lượng vận chuyển cơ giới đã sử dụng 4 xe ôtô chuyển được 7,59 tấn vũ khí giao cho kho quân khí tại chân đèo Mòn1 (Quân đội nhản dân Việt Nam, Công tác hậu cần Chiến dịch Hoà Bình (Đông Xuân 1951 -1952), Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1978, tr. 132). Để bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu ở cà mặt trận chính diện và trong lòng địch, cùng với sự giúp đỡ của nhân dân, ngoài số đạn được đã cấp theo quy định, Tổng cục Cung cấp còn cấp bổ sung cho các đơn vị gần 280 tân vũ khí, đạn dược2 (Tổng cục Kỹ thuật, Lịch sử ngành Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 136), góp phần bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi. Ba là, xây dựng lực lượng bảo đảm kỹ thuật có bản lĩnh chính trị vững vàng, tổ chức phù hợp với nhiệm vụ của chiến dịch Để bảo đảm kịp thời vũ khí, đạn dược cho chiến dịch trong điều kiện phạm vi hoạt động rộng, lại thường xuyên bị địch đánh phá Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo cho lực lượng bảo đảm kỹ thuật làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi quân nhân thấu suốt đường lối quân sự, chính trị của Đảng; nhận rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo đảm kỹ thuật phục vụ chiến dịch; động viên cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Qua đó, xây dựng được tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trách nhiệm chính trị cho cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, hy sinh, thử thách để bảo đảm kịp thời vũ khí, trang bị cho chiến dịch. Bên cạnh đó, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng cơ quan kỹ thuật các cấp như: Cơ quan kỹ thuật tiền phương, tổng kho, kho trung chuyển, kho dự trữ tạm thời vũ khí, trang bị kỹ thuật, bộ phận thu dọn chiến trường, bộ phận đi cùng cơ quan hậu cần theo dõi tình hình các đơn vị. Trong Chiến dịch Hòa Bình, thời gian đầu, Cơ quan Quân khí Tiền phương chưa thành lập được nên công tác bảo đảm kỹ thuật quân khí mới chỉ đảm nhiệm được việc theo dõi nắm tình hình thực lực và công tác bảo quản vũ khí, đạn dược. Sau đó, Ban Quân khí Tiền phương được hình thành, có Tổng kho quân khí, Kho trung tuyến, các kho tạm được lực lượng quân khí phối hợp theo dõi, bảo quản và cấp phát khi cần. Ngoài ra, đã tổ chức lực lượng kỹ thuật cơ động để sửa chữa vũ khí hỏng tại các kho, sửa chữa các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hư hỏng nhẹ kịp thời cung cấp cho đơn vị. Ở Mặt trận Bắc Hoà Bình, trên cơ sở nghiên cứu tình hình chiếm đóng và âm mưu của địch cũng như ý định tác chiến của ta, Ban Cung cấp Tiền phương đã xây dựng hệ thống kho tàng ở2tuyến. Tuyến thứ nhất được tổ chức dọc theo đường vận chuyển từ Thục Luyện (Thanh Sơn - Phú Thọ) đến Đồng Cốc làm nhiệm vụ tiếp tế cho các đơn vị hoạt động từ Tu Vũ đến Đoan Hạ và ở phía Bắc Ba Vì. Tuyến thứ hai được xây dựng ở Bản Thôn làm nhiệm vụ bảo đảm cho các đơn vị hoạt động ở Mặt trận Bắc Hoà Bình và hữu ngạn sông Đà. Để kịp thời nắm bắt tình hình hoạt động cung cấp vũ khí, ngay thời gian đầu Chiến dịch Hòa Bình, đã có một số bộ phận nhỏ theo dõi và tổ chức bảo quản vũ khí, đạn được vận chuyển trên đường từ Đoan Hùng đi Yến Mao. Ngày 28 tháng 12 năm 1951, Ban Quân khí Tiền phương được thành lập, biên chế gồm Trưởng ban và 11 cán bộ chuyên môn, 1 cán bộ phụ trách công tác chính trị, 9 bảo quản viên, 5 liên lạc viên và một số nhân viên hành chính. Ban bố trí Tổng kho quân khí ở Đồn Vàng (có trữ lượng 50 tấn với 3 bảo quản viên), Kho trung tuyến ở đèo Luồng và 2 kho tạm ở Đoan Hùng và Đồng Cốc (mỗi kho có trữ lượng 30 tấn với 2 bảo quản viên). Kho trung tuyến và Tổng kho do Ban trực tiếp phụ trách, còn các kho tạm do lực lượng vận tải quản lý nhưng được quân khí phối hợp theo dõi, bảo quản và cấp phát khi cần. Ngoài ra, Ban còn tổ chức Bộ phận thu dọn chiến trường và bộ phận cơ quan (gọi là Ban Bộ) đi cùng Ban Cung cấp Tiền phương để theo dõi tình hình các đơn vị. Bộ phận thu dọn chiến trường gồm 3 cán bộ chuyên môn, 2 bảo quản viên và 3 liên lạc, với nhiệm vụ thu dọn vũ khí, đạn dược trên dọc Đường số 6 (dài trên 20km), Xuân Mai và thị xã Hòa Bình. Bộ phận Ban Bộ gồm có Trưởng ban Quân khí Tiền phương, 1 cán bộ chính trị, 3 phái viên chuyên môn, 1 thống kê, 1 kế toán tổng hợp, 1 y tá, 3 liên lạc và 1 cấp dưỡng, với nhiệm vụ theo dõi tình hình vũ khí, trang bị kỹ thuật của các đơn vị1 (Tổng cục Hậu cần, Công tác hậu cần Chiến dịch Hoà Bình (Đông Xuân 1951 - 1952), Sđd, tr. 257 - 260). Với thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, ta đã đánh bại âm mưu của thực dân Pháp đánh chiếm vùng tự do của ta kể từ sau Chiến thắng Biên Giới (1950), phá được ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, bảo đảm đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4. Thắng lợi đó có một phần đóng góp quan trọng của công tác bảo đảm kỹ thuật, đồng thời cũng đã để lại những kinh nghiệm quý có thể vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay và tương lai. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 09:04:48 pm BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT CÔNG KIÊN TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, ThS PHẠM ANH TUẤN Trưởng phòng Lịch sử Nghệ thuật quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình trong chiến cục Đông - Xuân 1951 - 1952, cùng với thắng lợi lớn tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tạo nên bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong Chiến dịch Hòa Bình, nghệ thuật chiến dịch đã giải quyết thành công nhiều vấn đề mới, đó là vận dụng tốt phương châm tác chiến chiến dịch "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu". Đây là hai điểm đặc sắc của cách đánh chiến dịch và là nguyên nhân quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của Chiến dịch. Trong đó "đánh điểm" bằng chiến thuật công kiên có bước phát triển, được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau: 1. Chọn khu vực tác chiến chủ yếu, mục tiêu đánh trận công kiên mở màn chiến dịch chính xác Trong hầu hết các chiến dịch tiến công của ta, chọn mục tiêu mở màn chiến dịch thường là tiến công cứ điểm hoặc cụm cứ điểm địch bằng chiến thuật công kiên (tiến công địch trong công sự vững chắc). Vấn đề đầu tiên của nghệ thuật chiến dịch tiến công là chọn đúng mục tiêu mở màn, phù hợp với khả năng trình độ của ta, bảo đảm đánh thắng trận đầu, tạo đà phát triển chiến dịch. Trong những chiến dịch thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, cómột số chiến dịch chọn mục tiêu mở màn chiến dịch chưa phù hợp nên trận đánh không thành công, do chọn mục tiêu quá lớn như đồn Phủ Thông trong Chiến dịch Đường số 3 ( 1948); Phân khu An Châu trong Chiến dịch Đông Bắc 1 (1948) và đồn Phố Lu, Nghĩa Đô trong Chiến dịch Lê Hồng Phong (1950), ta không đủ sức dứt điểm hoặc thời gian trận đánh kéo dài, dẫn đến thương vong nhiều, không đánh được lực lượng ứng cứu của địch, ảnh hưởng đến quá trình phát triển cũng như kết quả chiến dịch. Đến Chiến dịch Biên Giới 1950, ta chọn cụm cứ điểm Đông Khê để đánh trận then chốt mở màn chiến dịch là phù hợp. Mặc dù cụm cứ điểm Đông Khê không lớn nhưng ở vị trí hiểm yếu, có nhiều sơ hở, vừa đảm bảo chắc thắng trận đấu để khêu ngòi, thu hút và kéo viện binh của địch, ta có điều kiện tiêu diệt lớn quân địch ngoài công sự. Rút kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công trong chọn mục tiêu mở màn trong các chiến dịch trước đó. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình rất chú trọng việc chọn khu vực tác chiến chủ yếu, mục tiêu mở màn. Qua quá trình nghiên cứu, đánh giá tình hình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận thấy: Sau khi đánh chiếm thị xã Hòa Bình, sông Đà và Đường số 6, địch tổ chức phòng ngự quy mô lớn, với những cứ điểm mạnh. Toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch được chia thành 2 phân khu: Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam) và sông Đà - Ba Vì (khu Bắc). Ở phân khu sông Đà - Ba Vì, địch tổ chức 2 tuyến phòng ngự then chốt (hai tiểu khu): La Phù - Đan Thê và Tu Vũ - Núi Chẹ. Tiểu khu La Phù - Đan Thê, địch mạnh hơn vì các vị trí gần nhau có thể yểm hộ lẫn nhau dễ dàng, đồng thời gần các căn cứ Trung Hà, Sơn Tây và có nhiều đường giao thông thủy, bộ, thuận lợi cho việc chi viện, ứng cứu. Tiểu khu Tu Vũ - Núi Chẹ, địch yếu hơn, nhiều sơ hở hơn, lại ở vào thế cô lập, có sông ngăn cách, xa các căn cứ Trung Hà, Sơn Tây. Muốn ứng cứu cho tiểu khu này, địch chỉ có một đường thủy (sông Đà)và một đường bộ (Đường số 87). Căn cứ vào tình hình ta - địch, sau khi thảo luận, cân nhắc, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ - Núi Chẹ, đồng thời đánh địch vận chuyển trên sông Đà. Trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, địch phát hiện chủ lực ta vượt sông sang hữu ngạn, nên đã điều Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) càn quét phía Tây Nam Ba Vì, đồng thời tăng cường cho Núi Chẹ một trung đội xe tăng. Mặt khác, sau trận đánh địch càn quét, Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 không kịp đánh vị trí Núi Chẹ theo kế hoạch. Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định hoãn đánh vị trí Núi Chẹ, nhưng vẫn quyết tâm tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ mở màn chiến dịch theo kế hoạch. Từ những đánh giá toàn diện tình hình địa hình, tình hình địch và khả năng của ta, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết tâm tập trung binh, hỏa lực tiến công cứ điểm Tu Vũ bằng chiến thuật công kiên, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, vừa triệt đường tiếp tế chủ yếu của địch trên sông, vừa mở đường giao thông vận chuyển chiến dịch của ta, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Mười, 2025, 09:06:50 pm 2. Tổ chức, sử dụng lực lượng bảo đảm chắc thẳng trận công kiên mở màn chiến dịch
Tổ chức, thực hành trận đánh mở màn trong chiến dịch tiến công của ta thời kỳ này thường là trận công kiên (tiến công vào cứ điểm địch có công sự vững chắc), nhằm thực hiện phương châm "đánh điểm, diệt viện". Đây là trận đánh có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm tạo ra chuyển biến có lợi hoặc quyết định thắng lợi của chiến dịch. Để giành thắng lợi trận công kiên mở màn, phải vận dụng tổng hợp nhiều biện pháp, thủ đoạn tác chiến, giải quyết nhiều nội dung, trong đó một nội dung quan trọng là tổ chức, sử dụng lực lượng tiến công, bảo đảm chắc thắng. Trong Chiến dịch Hòa Bình, để tiêu diệt cứ điểm cấp tiểu đoàn địch tăng cường (cứ điểm Tu Vũ), trong đợt 1, ta sử dụng một trung đoàn được tăng cường. Các trận đánh công kiên tiếu diệt cứ điểm cấp tiểu đoàn địch (Pheo, Đầm Huống) trong đợt 3, ta thường sử dụng lực lượng một trung đoàn bộ binh. Trận công kiên tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là một điển hình. Tu Vũ là một cứ điểm đột xuất nằm bên tả ngạn sông Đà thuộc xã Tu Vũ, huyện Tam Thanh tỉnh Phú Thọ. Vị trí này trải đài 250m trên bờ sông Đà, chiều rộng khoảng 100m, địa hình tương đối bằng phằng, được chia làm 3 khu; A, B,C, riêng khu C độc lập ở phía Nam, ngăn cách với khu A, khu B bằng ngòi Lát rộng 6m. Cứ điểm Tu Vũ do Tiểu đoàn 1 bộ binh thuộc Trung đoàn 1 bộ binh Marốc và 1 đại đội thuộc tiểu đoàn ngụy Mường số 6 và 1 phân đội xe tăng (3 chiêc) chiếm đóng. Khu A có sở chỉ huy tiểu đoàn, 2 đại đội bộ binh, 6 ụ chiến đấu bao quanh một lô cốt lớn, được trang bị hỏa lực mạnh (súng máy 12,7mm, ĐKZ 57mm, cối 81mm). Khu B có 1 đại đội bộ binh được trang bị ĐKZ 57mm, pháo 37mm, có một lô cốt lớn và nhiều ụ chiến đấu. Khu C có 1 đại đội bộ binh một lô cốt lớn và 7 ụ chiến đấu. Cứ điểm được xây dựng khá kiên cố, các lô cốt chính cao 5m, có 2 đường hầm, tường dày 0,8m, các lô cốt, hầm ngầm, ụ chiến đấu được nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, tạo thành khu vực phòng ngự vững chắc. Xung quanh cứ điểm có 6 hàng rào dây thép gai (kiểu mái nhà, cũi lợn, bùng nhùng) dày 80m, giữa các hàng rào là bãi mìn. Cứ điểm Tu Vũ được 19 khẩu pháo từ Đá Chông, Chẹ, Thủ Pháp yểm trợ. Để bảo đảm chắc thắng trận công kiên tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, mở đầu chiến dịch. Ta sử dụng Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 được tăng cường Tiểu đoàn 80, Trung đoàn 36, 8 khẩu sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Trong kế hoạch chiến đấu, Trung đoàn 88 sử dụng Tiểu đoàn 29 được tăng cường 1 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu badôca, được hỏa lực Trung đoàn 88 chi viện, tổ chức 2 mũi đột phá, đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 1 và lực lượng địch tại khu A. Tiểu đoàn 23 được tăng cường 1 khẩu đội ĐKZ 57mm, 2 đại liên, được pháo binh của Trung đoàn 88 chi viện, tổ chức 2 mũi đột phá, đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở khu B. Tiểu đoàn 322 được lãng cường 1 đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 80, hai khẩu đội ĐKZ 57mm, 2 cối 82mm, 2 đại liên, 1 sơn pháo 75mm, tổ chức 2 mũi đột phá, đảm nhiệm hướng tiến công phối hợp, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở khu C. Tiểu đoàn 80 (thiếu) làm lực lượng dự bị của Trung đoàn. Tiểu đoàn pháo binh 75mm có nhiệm vụ bắn trực tiếp tiêu diệt các hỏa điểm, các lô cốt, ụ súng của địch, yểm trợ cho bộ binh trên các hướng và tổ chức một bộ phận kiềm chế pháo binh địch ở Núi Chẹ và sẵn sàng bắn chặn địch ứng cứu bằng đường sông. Bộ phận cối 82mm (7 khẩu) chi viện cho Tiểu đoàn 29 đột phá. Trận địa phòng không bảo vệ đội hình chiến đấu của Trung đoàn. Theo kế hoạch, đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, các đơn vị của Trung đoàn 88 chiếm lĩnh trận địa và nổ súng tiến công, ngay từ đầu, trận đánh diễn ra rất ác liệt dưới hỏa lực của pháo binh địch, đến 4 giờ 30 phút ngày 11 tháng 12 năm 1951, sau 5 giờ 30 phút chiến đấu, Trung đoàn 88 hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tu Vũ. Trận Tu Vũ là trận công kiên lớn trong Chiến dịch Hòa Bình, có bước phát triển mới trong tổ chức, sử dụng lực lượng, khẳng định khả năng một trung đoàn bộ binh của ta được tăng cường có thể đánh thắng một tiểu đoàn địch được tăng cường xe tăng, thiết giáp, phòng ngự cứ điểm có công sự vững chắc, được hỏa lực pháo binh chi viện mạnh. Sau trận đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen ngợi: "Nó chứng tỏ bước tiến bộ nhanh của quân ta trong thời kỳ chỉnh huấn vừa qua về chiến thuật, kỹ thuật cũng như về tư tưởng"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 347). Đây cũng là trận đánh thể hiện bước phát triển trong nghệ thuật đánh trận then chốt mở đầu chiến dịch bằng hình thức chiến thuật công kiên của bộ đội ta. 3.Tổ chức chỉ huy kiên quyết, chặt chẽ, vận dụng linh hoạt chiến thuật, thủ đoạn tác chiến, nhanh chóng tiêu diệt địch, giành thắng lợi. Trong các chiến dịch từ đầu năm 1948 đến năm 1950, ta nhận thấy, địch thường dựa vào hệ thống cứ điểm, cụm cứ điểm, kết hợp với lực lượng ứng cứu giải tỏa. So sánh lực lượng giữa ta và địch còn rất chênh lệch, kinh nghiệm đánh công kiên (đánh địch trong công sự vững chắc) của bộ đội ta còn hạn chế, ta lựa chọn cách đánh phù hợp thời kỳ này là "đánh điểm, diệt viện", "đánh địch ngoài công sự là chủ yếu". Mặc dù trong đợt 3, trận công kiên tiêu diệt cứ điểm Pheo của Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 và vị trí Đầm Huống của Trung đoàn 66, Đại Đoàn 304 không thành công do trình độ chỉ huy của cán bộ ta còn hạn chế, nắm địch không chắc, sử dụng lực lượng không phù hợp. Nhưng ngay ở đợt 1, trận tiến công cứ điểm Tu Vũ, trận then chốt mở đầu Chiến dịch Hòa Bình là trận công kiên lớn đã giành thắng lợi. Những thành công trong vận dụng chiến thuật công kiên tiêu diệt cứ điểm độc lập của địch ở đồng bằng là do cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 88 và các đơn vị đã làm tốt công tác chuẩn bị, có quyết tâm chiến đấu cao. Điểm nổi bật về vận dụng chiến thuật trong trận chiến đấu là chỉ huy trung đoàn đã chọn điểm đột phá chính xác, tập trung binh, hỏa lực vào hướng chủ yếu, sử dụng lực lượng trên hướng thứ yếu và hướng phối hợp hợp lý. Ngay từ đầu khi nổ súng, Trung đoàn 88 nhanh chóng phá sự liên kết phòng thủ của địch, tạo điều kiện cho các mũi đột phá, thọc sâu phát triển chiến đấu, chia cắt, tiêu diệt địch. Trong thực hành chiến đấu, mặc dù yếu tố bí mật không còn do những thiếu sót trong quá trình tổ chức chuẩn bị chiến đấu nên bị địch phát hiện dùng pháo binh và sử dụng lực lượng đánh chặn, gây cho Trung đoàn 88 khó khăn khi tiếp cận, nhưng chỉ huy trung đoàn đã kịp thời củng cố đơn vị, tổ chức cho đội hình phía sau vượt lên áp sát hàng rào địch (sang hai bên sườn của xung kích 1) để tránh hỏa lực của địch ngăn chặn sát thương phía sau đội hình, không cho chúng phân tuyến. Trong điều kiện thực tế địa hình, Trung đoàn 88 đã tổ chức đột phá và phát triển chiến đấu hợp lý thành 6 mũi đột phá cùng một lúc nên đã hạn chế thương vong, vừa phân tán được sự đối phó của địch, vừa nhanh chóng hình thành được nhiều mũi chia cắt, phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, từng bước tiêu diệt toàn bộ quân địch. Cứ điểm Tu Vũ bị san bằng, địch phải thú nhận: "Rất khó lý giải cho sự sụp đổ ở Tu Vũ. Phải chăng là do thiếu xây dựng công sự? Hay là do chuẩn bị phòng thủ kém? Phải chăng là do hỏa lực kém chính xác mặc dù pháo binh đã bắn đến 5.000 viên đạn trong đêm đó? Hay là do sự yếu ớt, bắt buộc của đội quân đồn trú? Người ta không biết một trận tiến công như trận mà đồn này phải gánh chịu, thật là một thách thức đáng sợ"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Tập 1, Sđd, tr. 348). Cứ điểm Tu Vũ được Bộ Chỉ huy quân Pháp coi là "vững như bàn thạch" bị tiêu diệt, đồng thời quân Pháp bị phục kích liên tục ở Ninh Mít, Đường số 87, Lạc Song... Đường vận chuyển trên sông Đà, một trong hai "cái ống thực quản" nối đến "dạ dày" là thị xã Hòa Bình bị chặn đứng, phòng tuyến phòng thủ sông Đà của địch bị lung lay, buộc địch phải điều gấp hai binh đoàn cơ động số 1 và số 4 đang càn quét ở Bắc Ninh về vùng Ba Vì. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), đối tượng tác chiến của ta đã có nhiều thay đổi cả về tổ chức biên chế, có vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại, hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, tác chiến mạng, tác chiến điện tử rộng rãi. Các chiến dịch tiến công được tiến hành dù ở môi trường tác chiến nào, vào thời gian nào, với loại hình và quy mô nào, đều nằm trong thế phòng thủ chung của đất nước, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao và dựa vào các khu vực phòng thủ địa phương để đánh địch. Thế phòng thủ chung của đất nước đã được chuẩn bị và xây dựng từ thời bình, là điều kiện cơ bản tạo nên thế trận đánh địch rộng khắp, căng kéo, thu hút, giam chân, phân tán lực lượng và sự đối phó của địch, bảo đảm cho chiến dịch có điều kiện, thời cơ tập trung mọi nỗ lực giành thắng lợi. Ta đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng; kết hợp tác chiến chính quy với tác chiến du kích, đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Kết hợp lực, thế và thời cơ để tạo ưu thế hơn địch trong những thời điểm quyết định, giành thắng lợi. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, với điều kiện vũ khí, trang bị và phương tiện của ta còn nhiều hạn chế so với đối tượng tác chiến. Do đó, ta vẫn phải "lấy nhỏ đánh lớn", "lấy ít địch nhiều", lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy tiêu diệt sinh lực địch ngoài công sự là chính. Việc lựa chọn mục tiêu "đánh điểm", bằng chiến thuật công kiên thường chọn nơi địch có vị trí hiểm yếu, nếu bị ta tiến công sẽ ảnh hưởng lớn hoặc phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, buộc địch phải ứng cứu giải tỏa bằng đường bộ hoặc đổ bộ đường không vào khu vực ta đã dự kiến và được chuẩn bị sẵn để ta có điều kiện tiêu diệt lớn quân địch ngoài công sự. Vận dụng chiến thuật công kiên, đặc điểm nổi bật là địch phòng ngự trong công sự vững chắc và đã có những thay đổi so với trước đây, lô cốt, hầm hào, ụ súng được xây vững chắc hơn, hệ thống vật cản phức tạp và kiên cố hơn. Để bảo vệ, chi viện cho các cứ điểm, cụm cứ điểm, địch sử dụng hỏa lực không quân, pháo binh với cường độ mạnh hơn, đòi hỏi ta phải vận dụng linh hoạt chiến thuật, thủ đoạn tác chiến. Ngoài việc tập trung ưu thế lực lượng, ta cần phải chọn đúng điểm đột phá, nơi địch yếu và hiểm yếu; sau khi đột phá qua cứ điểm vòng ngoài, nhanh chóng thọc sâu đánh vào mục tiêu chủ yếu bên trong, từng bước chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận địch; kết hợp đột phá chính diện với tiến công bên sườn, vừa tiến công vừa củng cố lực lượng trong quá trình phát triển chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, nhất là giữa bộ binh với pháo binh. Sự phát triển chiến thuật công kiên trong Chiến dịch Hòa Bình vẫn còn có giá trị cả lý luận và thực tiễn, cần được kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mới, trong điều kiện mới để phát triển lên một trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 08:22:30 pm VỀ MỘT SỐ TRẬN ĐÁNH KHÔNG THÀNH CÔNG TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá PHẠM HỮU THẮNG Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Nghệ thuật quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Đầu tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn đánh chiếm Hoà Bình nhằm mục đích mở rộng khu Chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, ngăn chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3, đồng thời tiêu diệt một bộ phận sinh lực, phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Trước tình hình trên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch và chủ trương mở một cuộc tiến công lớn đánh địch trên cả hai mặt trận: Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hoà Bình và mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hoà Bình của chúng, đẩy mạnh chiến tranh du kích (trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ). Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, qua hơn 2 tháng chiến đấu liên tục, bộ đội ta vận dụng tốt 2 phương châm tác chiến chiến dịch: "Đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" thực hiện thành công nhiều trận công kiên, vận động, tập kích bằng lực lượng tinh nhuệ vào sâu hậu phương địch, đánh địch vận chuyển trên sông... diệt nhiều sinh lực, cứ điểm, phương tiện vũ khí của chúng, góp phần rất quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch. Tuy nhiên, do nhiều lý đo (cả khách quan và chủ quan), ở một số đơn vị đà có các trận đánh không thành công, không thực hiện được mục tiêu đề ra, bộ đội thương vong nhiều, ảnh hưởng đến kết quả chiến dịch như các trận Đồi Mồi (28 - 29.12.1951), Hàm Voi (30.12.1951), Pheo (7 - 8.1.1952), Đầm Huống (8.1.1952). Ở mặt trận sau lưng địch, có trận Phát Diệm (9 - 10.12.1951) cũng không thành công. Bài viết này, tác giả đề cập đến 2 trận tiêu biểu không thành công đã được tổng kết để thấy rõ kết quả và nguyên nhân không thành công của các trận đánh. 1. Trận Đồi Mồi (28 - 29.12.1951) Đầu tháng 12 năm 1951, Đại đoàn 304 đã tới phía Nam Đường số 6 và nhanh chóng triển khai lực lượng đánh địch trên Đường số 6. Ngày 12 tháng 12, Trung đoàn 66 của Đại đoàn phục kích trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, diệt 34 chiếc xe quân sự và toàn bộ quân địch trên xe. Ngày 13 tháng 12, Tiểu đoàn 352 thuộc Trung đoàn 9 cùng 1 trung đội bộ đội địa phương Hoà Bình phục kích ở làng Giang Mỗ, đoạn từ Hoà Bình đi chợ Bờ, diệt 5 xe GMC và xe tăng cùng 1 đại đội Âu - Phi. Trong trận này, Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan đã dũng cảm, mưu trí tiếp cận dùng lựu đạn diệt xe tăng địch, mở đầu cách đánh xe tăng bằng lựu đạn của bộ đội ta. Bước vào đợt 2 của chiến dịch, Đại đoàn 304 tiếp tục được giao nhiệm vụ đánh địch trên hướng Đường số 6 và phân khu ngoại vi chợ Bến - Đường số 21. Đêm 28, rạng sáng ngày 29, Tiểu đoàn 418 thuộc Trung đoàn 57 tiến công cứ điểm Đồi Mồi và đêm 30 tháng 12, Tiểu đoàn 400 thuộc Trung đoàn 9 tiến công vị trí Hàm Voi. Cả 2 trận đều không thành công, bộ đội thương vong nhiều. Cứ điểm Đồi Mồi thuộc xóm Lộc Môn, xã Trung Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình1 (Năm 2009, xã Trung Sơn có 5 xóm (Chũm, Bến Cuối, Lộc Môn, Đồng Lạt và Tân Thành), số dân hơn 4.200 người, chủ yếu dân tộc Mường (chiếm hơn 90%), diện tích đất tự nhiên 1.269,33ha, diện tích đất canh tác 230ha) do 1 đại đội lính Âu - Phi chiếm giữ. Cứ điểm nằm trên đồi cao khống chế trục Đường số 21, đoạn từ Xuân Mai đến Chợ Bến, có công sự bằng gỗ đất, hệ thống giao thông hào khép kín, 5 lớp rào kẽm gai, một số mìn chống bộ binh, mìn phát sáng; có 2 trận địa súng cối 81mm và được các trận địa pháo binh từ Đa Sĩ, Miếu Môn, Xuân Mai chi viện. Tiểu đoàn 418 (có 3 đại đội bộ binh 54, 59 và 60) là đơn vị chủ công của Trung đoàn 57. Khi tiến công cứ điểm Đồi Mồi, Tiểu đoàn được tăng cường đại đội trợ chiến của Trung đoàn (súng cối 81 và 82mm), 1 trung đội súng máy 12,7mm và 1 đại đội sơn pháo 75mm. Trong đợt 1 của chiến dịch, Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57 liên tục đánh địch trên trục Đường số 21, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, lực lượng, vũ khí, trang bị của đơn vị bị tổn thất, tiêu hao chưa được bổ sung đầy đủ. Sau một thời gian làm công tác chuẩn bị chiến đấu, đúng 18 giờ ngày 28 tháng 12, từ khu vực trú quân, Tiểu đoàn 418 bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa. Đến 21 giờ, bộ đội triển khai chiếm lĩnh trận địa, làm công sự trận địa, sẵn sàng nổ súng tiến công quân địch. Tiểu đoàn 418 triển khai tiến công theo 3 hướng: Hướng tiến công chủ yếu, từ hướng Đông đánh vào vị trí chỉ huy, trận địa súng cối và 1 trung đội bộ binh địch, do Đại đội bộ binh 60 đảm nhiệm (được tăng cường trung đội súng máy 12,7mm, được đại đội trợ chiến súng cối (81 và 82mm) và đại đội sơn pháo 75mm (2 khẩu) chi viện trực tiếp); hướng tiến công thứ yếu 1, từ hướng Tây Bắc đánh vào 2 trung đội bộ binh địch; hướng thứ yếu 2, hướng Tây Nam do Đại đội bộ binh 54 (thiếu 1 trung đội) làm nhiệm vụ kiềm chế hoả lực và nghi binh. Theo quy định, Tiểu đoàn nổ súng tiến công vào 0 giờ 30 phút ngày 29 tháng 12, nhưng do đại đội sơn pháo và trung đội súng máy 12,7mm triển khai chậm nên Tiểu đoàn phải lùi thời gian nổ súng thêm 30 phút. Đúng 1 giờ, Tiểu đoàn đồng loạt nổ súng mở cửa mở, tiến công cứ điểm. Do bộ phận hỏa lực bố trí không phù hợp nên hiệu quả chi viện không cao. Trong khi đó, địch trong cứ điểm được sự chi viện của pháo binh ở các cứ điểm lân cận chống trả quyết liệt nên bộ đội mở cửa mở và xung phong đánh chiếm đầu cầu gặp rất nhiều khó khăn. Trên hướng chủ yếu, Đại đội 60 chiếm được một phần mỏm A, nhưng bộ đội thương vong gần hết. Trên hướng thứ yếu 1, Đại đội 59 đánh chiếm được một vài đoạn chiến hào dài khoảng 20m, phát triển lên đỉnh mỏm A nhưng bị quân địch dùng hoả lực mạnh chặn lại, bộ đội thương vong lớn nên không tiếp tục phát triển được (đại đội trưởng và chính trị viên hy sinh, chính trị viên phó bị thương nặng; các cán bộ trung đội 1 và 2 đều bị thương vong). Tiểu đoàn đưa trung đội dự bị và lực lượng trên hướng thứ yếu 2 vào tăng cường cho hướng chủ yếu, song do hỏa lực địch khống chế mạnh nên bộ đội không phát triển thêm được và tiếp tục thương vong thêm. Sau 3 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 418 bị thương vong nhiều nhưng chỉ chiếm được một phần cứ điểm nên buộc phải lui quân. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 lính Âu - Phi nhưng bộ đội thương vong, mất tích gần 200 người1 (Tiểu đoàn 418: Hy sinh 41, trong đó có 5 cán bộ đại đội (1 đại đội trưởng, 2 đại đội phó, 2 chính trị viên), 1 trung đội trưởng, 2 trung đội phó, 4 tiểu đội trưởng, 3 tiểu đội phó; bị thương 130, trong đó có 1 đại đội trưởng, 1 đại đội phó, 3 trung đội trưởng, 7 trung đội phó, 8 tiểu đội trưởng, 10 tiểu đội phó; mất tích 16 người, trong đó có1 trung đội trưởng, 7 tiểu đội trưởng. Đại đội trợ chiến: Hy sinh 2, bị thương 1. Đại đội sơn pháo: Hy sinh 5 (có 1 đại đội phó, 1 khẩu đội trưởng); bị thương 12, mất tích 1) (trong đó nhiều cán bộ đại đội, trung đội), vũ khí tiêu hao lớn. Trận đánh không thành công một phần do địch ở địa thế có lợi, hỏa lực mạnh, song về chủ quan, Tiểu đoàn có nhiều hạn chế màsau đó trong tổng kết trận đánh đã chỉ ra, đó là: Trinh sát nắm tình hình địch, địa hình còn sơ sài nên phương án chiến đấu không sát thực tế. Trong triển khai đội hình chiến đấu, nhiều bộ phận còn ỷ lại thời gian gấp, đất đá cứng nên chưa tích cực đào công sự ẩn nấp, làm trận địa cho hoả lực, hố bắn cho xung lực, nên bộ đội thương vong cao ngay khi bộ đội còn ở khu vực triển khai. Bố trí binh lực còn phân tán, chưa thực sự ưu tiên cho hướng chủ yếu. Công tác hiệp đồng chiến đấu giữa hoả lực và xung lực chưa tốt nên hoả lực chi viện chưa hiệu quả cho bộ binh mở cửa mở và đánh địch ở tung thâm; công tác tổ chức chỉ huy của cán bộ các cấp còn nhiều hạn chế. Khi Đại đội 60 và Đại đội 59 đã có một bộ phận đánh chiếm được một phần trận địa địch, chỉ huy chưa kịp thời đưa lực lượng từ bên ngoài vào, nhất là các khẩu đội hoả lực để tăng cường sức tiến công cho các đơn vị bên trong, phát huy thành quả. Khi được lệnh của Tiểu đoàn 418 di chuyển bộ đội từ Tây Nam mỏm B sang phía Đông mỏm A, Đại đội 54 chỉ có 6đồng chí tới đúng vị trí, còn lại là bị thương và thất lạc. Như vậy, trận Đồi Mồi không thành công nguyên nhân có một phần do địch có lợi thế về địa hình và hỏa lực. Song, về chủ quan, trong chuẩn bị cũng như thực hành chiến đấu, Tiểu đoàn 418 còn có nhiều khuyết điểm nghiêm trọng dẫn đến hiệu quả chiến đấu của bộ đội không cao, thương vong lớn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 08:24:22 pm 2. Trận Pheo (7-8.1.1952)
Bước vào Đợt 3 của Chiến dịch Hòa Bình, Tổng Quân ủy quyết định chuyển hướng chính của chiến dịch sang tuyến thị xã Hoà Bình - Đường số 6 nhằm cắt Đường số 6, tiêu diệt sinh lực địch, tiếp tục kiềm chế quân cơ động địch tại Hòa Bình để các mặt trận phối hợp và vùng sau lưng địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động. Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận thấy một số trung đoàn mạnh của ta vẫn còn sung sức nên chủ trương tổ chức một số trận đánh lớn trên Đường số 6, đoạn kế cận với Hòa Bình nhằm tiếp tục uy hiếp quân địch không cho chúng rút lực lượng cơ động về tăng cường cho đồng bằng. Nhưng 2 trận đánh đồn Pheo và Đầm Huống đều không thành công. Đồn Pheo, trọng điểm của đợt tiến công, là cụm cứ điểm được xây dựng ở khu vực làng Pheo, huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình, trên trục Đường số 6, cách thị xã Hoà Bình 10km về phía Đông Bắc. Cụm cứ điểm gồm 3 cứ điểm bố trí thành thế chân kiềng: Cứ điểm A (đồn Pheo) xây dựng trên quả đồi cao từ 30 - 40m; cứ điểm B xây dựng ngay trong làng Pheo (cách đồn Pheo khoảng 100m) và cứ điểm C (đồn Miều) cũng được xây dựng trên quả đồi cao 25m, cách cứ điểm A khoảng 500m. Các cứ điểm có hệ thống công sự dã chiến tương đối vững chắc, xung quanh có từ 2 - 4 lớp hàng rào. Hoả lực trong các cứ điểm khá liên hoàn và có khả năng chi viện được cho nhau. Địa hình xung quanh khu vực phức tạp, có lợi cho trận địa phòng ngự của địch. Cụm cứ điểm do Tiểu đoàn 2 thuộc bán Lữ đoàn lê dương thứ 13 chiếm giữ. Riêng cứ điểm B có 2 đại đội bộ binh, 1 đại đội pháo 105mm, 1 trung đội xe tăng và Sở Chỉ huy Tiểu đoàn. Lực lượng ta tiến công Pheo là Trung đoàn 102 của Đại đoàn 308 (có các tiểu đoàn 18, 54, 79 và các đại đội trực thuộc) được tăng cường Tiểu đoàn 23 của Trung đoàn 88, Tiểu đoàn sơn pháo 75mm (6 khẩu) và 2 đại đội súng máy phòng không 12,7mm (12 khẩu). Trung đoàn là một đơn vị có kinh nghiệm trong đánh công kiên, nhưng ít kinh nghiệm và kỹ thuật đánh xe tăng, nhiều chiến sĩ mới chưa tận mắt nhìn xe tăng địch. Ngày 4 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn tổ chức đi trinh sát thực địa, do gặp địch nên bộ đội không vào được cứ điểm, kết quả trinh sát chưa cụ thể. Tuy vậy, do thời gian gấp, Trung đoàn vẫn quyết tâm đánh Pheo theo kế hoạch của trên. Trung đoàn chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt cứ điểm A và B, sau đó diệt cứ điểm C. Nhiệm vụ các đơn vị như sau: Tiểu đoàn 54 là hướng chủ yếu tiến công cứ điểm A từ hướng Đông Bắc; Tiểu đoàn 79 (được tăng cường 1 đại đội của Tiểu đoàn 23) là hướng thứ yếu, tiến công cứ điểm B từ hướng Tây Bắc; Tiểu đoàn 18 bao vây, kiềm chế cứ điểm C; Tiểu đoàn 23 là lực lượng dự bị. Chiều ngày 7 tháng 1, Trung đoàn 102 hành quân chiếm lĩnh trận địa. Do Đại đoàn thống nhất lại giờ nổ súng vào 24 giờ nên lúc 21 giờ các đơn vị của Trung đoàn được lệnh dừng lại cách cứ điểm từ 500 - 700m. Đúng 24 giờ, các đơn vị của toàn mặt trận bắt đầu nổ súng, Trung đoàn 102 cũng lập tác phát lệnh nổ súng, song một số bộ phận còn ở cách cứ điểm trên 200m nên các hướng mở cửa đều không đúng ý định. Sau khoảng 30 phút chiến đấu, cả 2 hướng chủ yếu và thứ yếu đều mở được cửa mở và đưa lực lượng vào chiến đấu trong tung thâm, song do bộ đội ùn tắc ở tiền duyên, đột phá không kiên quyết và không có hoả lực đi cùng nên các mũi đều bị địch ngăn chặn, không phát triển được. Hướng thứ yếu đánh vào cứ điểm B, bộ đội ta còn bị xe tăng địch đánh bật ra ngoài. Trong khi đó, pháo binh địch ở thị xã Ao Trạch bắn mạnh vào các khu vực xung quanh cứ điểm, nhất, là dọc Đường số 6, phía Bắc cứ điểm A, làm cho cuộc chiến đấu của Trung đoàn càng khó khăn. Khoảng 4 giờ ngày 8 tháng 1, trên hướng chủ yếu (cứ điểm A), Tiểu đoàn 54 đang kiên cường chiến đấu giành giật với địch thì 3 xe tăng từ làng Pheo cơ động sang phản kích, bộ đội ta không có vũ khí chống tăng, bị đánh bật ra khỏi cứ điểm. Đến 5 giờ 30 phút, thấy không còn khả năng tiến công, Trung đoàn 102 tổ chức rút quân. Do kế hoạch rút quân không chặt chẽ, bộ đội ta bị hoả lực địch phong toả thương vong rất lớn. Riêng Đại đội 213 và một bộ phận của Đại đội 277 bị địch bao vây không rút ra được, bộ đội phải chiến đấu đơn độc đến gần trưa, phần lớn cán bộ, chiến sĩ bị hy sinh, một số đồng chí bị bắt làm tù binh. Kết quả, Trung đoàn 102 không diệt được cụm cứ điểm địch, chỉ diệt khoảng 90 tên địch, nhưng ta bị hy sinh 262, bị thương 318, bị bắt 261 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 1.042). Trận Pheo không thành công dẫn đến dự kiến đánh viện của Chiến dịch Hòa Bình cũng không thành. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác điều tra cứ điểm sơ sài, không nắm chắc địch; sử dụng binh hoả lực dàn đều, không tập trung cho hướng chủ yếu; chỉ huy, hiệp đồng không chặt chẽ; khu vực tiền duyên lộn xộn, ùn tắc, đột phá không kiên quyết táo bạo. Nói về trận đánh này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Pheo vẫn nằm trong khả năng tiêu diệt của 102, một trung đoàn công kiên dày dạn kinh nghiệm, từ đầu chiến dịch vẫn được để dành cho nhiệm vụ quan trọng... Thắng lợi của các đơn vị bạn trong những trận công kiên trước đó đã làm cho 102 chủ quan. Công tác điều tra cứ điểm quá sơ sài. Khi phổ biến kế hoạch tác chiến, bàn cát của Trung đoàn không thể hiện rõ sự bố phòng cẩn mật của địch. Cấu trúc phòng ngự của trung tâm đề kháng Pheo sau này được chọn làm thí dụ giảng dạy trong nhà trường quân sự của Pháp. Lực lượng tiến công của ta bị sử dụng phân tán, chia đều làm ba tiểu đoàn đánh ba nơi. Tư tưởngchủ quan của cán bộ truyền sang chiến sĩ. Đơn vị trợ chiến khi ra trận không mang theo cơ số đạn dự trữ, vì anh em cho rằng: "Đánh một loáng là xong, mang làm gì cho nặng!... Đại đoàn cũng chịu trách nhiệm một phần vì nắm tình hình không sát, không phát hiện kịp thời những sai lầm về tư tưởng và tổ chức của cấp dưới... Thất bại này cũng có phần trách nhiệm của Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Trong quá trình chuẩn bị, chúng tôi chú ý tới trận biệt kích pháo nhiều hơn"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 308). Sau khi chiến dịch kết thúc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi thăm thị xã Hòa Bình và khu vực Đồng Bến, đồn Pheo đã nhậnthấy: "Một hình thái phòng ngự mới của quân Pháp ở miền rừng núi. Nó hoàn toàn khác với các cứ điểm của địch trước đây. Khi tiến đánh một cứ điểm nằm trong một hệ thống, bộ đội ta lúc nào cũng bị đạn bắn thẳng của địch đe dọa từ nhiều phía, có khi từ cả bốn phía. Thất bại trong trận Đồn Pheo không phải không có những lý do mới"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 327). Có thể khẳng định, những trận công kiên không thành công trong Chiến dịch Hòa Bình (Đồi Mồi, Hàm Voi, Pheo, Đầm Huống...), tiêu biểu là 2 trận Đồi Mồi và Pheo như đã trình bày đều có nguyên nhân chủ quan là chính. Các cứ điểm ở Hòa Bình tuy đã được củng cố nhưng vẫn còn là công sự dã chiến, chúng liên kết với nhau thành một hệ thống, nhưng vẫn nằm rải trên những tuyến dài, trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. về nguyên nhân khách quan: Pháo địch vẫn là trở ngại lớn nhất trong những trận công kiên của ta. Khi tiến công, bộ đội ta không chỉ bị sát thương bởi hỏa lực mạnh của địch từ trong căn cứ mà còn bị sát thương lớn bởi hỏa lực chi viện từ xa của những trận địa pháo được tính toán kỹ lưỡng. Những hoạt động kiềm chế sức mạnh pháo địch của ta lúc đó vẫn chưa hiệu quả. Chúng ta chưa có khả năng dùng pháo binh tiêu diệt những trận địa pháo của địch. Dùng súng cối để kiềm chế pháo địch không dễ dàng. Những trận công kiên thành công và không thành công trong Chiến dịch Hoà Bình đã giúp bộ đội ta rút ra kinh nghiệm để ngày một tiến bộ trong những trận công kiên tiếp theo. Để rồi đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta đã thực hiện thành công những trận công kiên Him Lam, Độc Lập, đồi A1, đồi C1... không chỉ lớn về quy mô mà đã có nội dung của những trận chiến đấu hiện đại. Rõ ràng những thành công trong những trận công kiên ở Điện Biên Phủ đều có những dấu ấn từ những kinh nghiệm rút ra từ các trận đánh ở Hòa Bình cũng như các chiến dịch khác. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 08:44:03 pm MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐÁNH ĐỊCH RÚT CHẠY TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá NGUYỄN ÁNH NGỌC Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 3 Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về quân sự và chính trị, đây quân Pháp vào thế lúng túng, bị động về chiến dịch, dẫn đến phòng ngự bị động về chiến lược, chấm dứt thời kỳ địch có thể dễ dàng thực hiện các cuộc hành quân đánh chiếm sâu vào vùng giải phóng; đồng thời mở ra vùng căn cứ du kích, khu du kích liên hoàn, rộng lớn ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ. Chiến dịch cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý, trong đó có vấn đề đánh địch rút chạy cho lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Hòa Bình diễn ra dài ngày và trên địa bàn rộng. Ở mặt trận chính, lực lượng tham gia có các đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, Đại đoàn công pháo 351. Ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, các đại đoàn 316, 320 tiến sâu vào vùng sau lưng địch, cùng lực lượng vũ trang của Liên khu 3 và các địa phương tiến công địch, phát động nhân dân nổi dậy diệt tề, trừ gian, nhanh chóng mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, tạo thế mới cho ta trong vùng địch tạm chiếm và phối hợp với chiến trường chính. Sau khi đánh chiếm các vị trí then chốt, quân Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu là sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam); trong đó thị xã Hòa Bình được xây dựng theo hình thức tập đoàn cứ điểm với 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 165). Trong đợt 1 Chiến dịch Hòa Bình (10-26.12.1951), trên mặt trận chính, ta tập trung đột phá phòng tuyến Sông Đà, trước hết là đánh địch càn quét ở phía Nam Ba Vì, tiến công diệt cứ điểm Tu Vũ, phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6. Đồng thời, ở mặt trận địch hậu, các đại đoàn 320, 316 phối hợp với lực lượng vũ trang Liên khu 3 và các địa phương, tiến công địch liên tục, rộng khắp, nhất là ở Ninh Bình, Bắc Ninh, khiến quân Pháp phải điều quân từ Hòa Bình về đối phó, sau đó lại cơ động quân từ Bắc Ninh lên ứng cứu cho khu vực sông Đà, Ba Vì. Trong đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập trung tiêu diệt địch ở các điểm cao 400, 600. Trên hướng Đường số 6, ta tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi. Quân Pháp cố gắng tăng viện cho Hòa Bình nhưng không thể đánh thông được tuyến Sông Đà, phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hòa Bình. Ngày 7 tháng 1 năm 1952, ta tiến công các cứ điểm Pheo, Đầm Huống, mở đầu đợt 3 của chiến dịch. Trong giai đoạn này, ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình, đã tập kích tiêu diệt trận địa pháo và 4 vị trí địch ở thị xã, đánh cắt giao thông, làm tê liệt tuyến vận chuyển của chúng trên Đường số 6. Tình hình chiến trường có những chuyển biến nhanh chóng, các binh đoàn cơ động của địch đều bị thiệt hại nặng, không còn khả năng tổ chức một trận đánh quy mô lớn với ta. Với lực lượng rút về từ phòng tuyến Sông Đà, hệ thống phòng ngự của địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6 được củng cố chặt chẽ, đặc biệt là hỏa lực pháo binh. Ở đồng bằng, địch không còn đủ lực lượng cơ động đối phó với những hoạt động ngày càng mạnh của ta. Cũng trong thời gian này, tướng Đờ Lát - Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tác giả của kế hoạch tiến công ra Hòa Bình bị bệnh chết, làm cho quân Pháp trên chiến trường rất hoang mang, dao động, đồng thời tác động mạnh đến hy vọng giành chiến thắng ở Đông Dương trong chính giới Pháp. Cùng với chi phí tốn kém cho cuộc chiến tranh, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) yêu cầu nước Pháp phải bổ sung lực lượng tham gia phòng thủ châu Âu, khiến nội bộ Chính phủ Pháp bất đồng gay gắt. Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: Địch đang có dấu hiệu chuẩn bị rút quân nên đã hạ quyết tâm: Vận dụng linh hoạt nhiều thủ đoạn tác chiến, tích cực tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ quân địch, tác chiến kết hợp với phá hoại, chuẩn bị tiêu diệt một bộ phận quân địch khi chúng rút lui. Trên cơ sở đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã giao nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch cho các đơn vị với phạm vi, địa bàn hoạt động cụ thể. Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) được phối thuộc Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), có nhiệm vụ tiêu diệt quân địch từ thị xã Hòa Bình tới Ao Trạch, trong đó tập trung ở khu vực phía Bắc. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 209) được phối thuộc Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308), phụ trách từ Xóm Pheo đến Ao Trạch, trong đó tập trung ở phía Nam, sẵn sàng tiêu diệt địch từ Phương Lâm tới Xóm Pheo và phối hợp với Đại đoàn 304 ở khu vực Đồng Bái. Đại đoàn 304 đảm nhiệm từ Ao Trạch đến Xuân Mai, có nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân địch. Ta cũng điều động một trung đoàn chuẩn bị vào hoạt động ở vùng Chợ Cháy, Xuân Mai và Mai Lĩnh. Từ ngày 9 tháng 1 năm 1952, lực lượng ta bát đầu hoạt động mạnh trên Đường số 6, trong đó tập trung đánh phá giao thông. Cũng trong giai đoạn này, quân Pháp mở cuộc hành binh "Cái phễu soi" (Speculum) nhằm đẩy ta ra xa Đường số 6, mở đầu cho cuộc rút quân1 (Thời điểm này, thị xã Hòa Bình và Đường số 6 đang nằm trong vòng vây của 3 đại đoàn ta). Tướng Xalăng đã huy động hầu hết lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ, gồm Binh đoàn cơ động số 1, nhiều tiểu đoàn dù vào cuộc hành binh. Kế hoạch nít lui của quân Pháp mang tên "Cuộc hành binh Cầu vồng" (Opération Arcenciel) được hoạch định hết sức thận trọng và tuyệt đối bí mật, gồm 5 "pha" với 5 màu khác nhau, tương ứng với 5 cung độ được chia ra trên đoạn đường từ thị xã Hòa Bình tới Xuân Mai. Pha màu trắng là khởi đầu cuộc rút quân ở thị xã Hòa Bình, pha màu đỏ là từ Bến Ngọc tới xóm Pheo, pha màu lam từ giữa Đồng Bến đến Ao Trạch, pha màu vàng từ Đèo Kẽm tới Mộ Thôn, pha màu lục là đoạn cuối cùng từ Mộ Thôn tới Xuân Mai. Thực hiện kế hoạch, địch tập trung một lực lượng lớn quân cơ động và quân dù ở Xuân Mai, sau đó tiến về phía Ao Trạch. Để bảo đảm bí mật, việc chuẩn bị cho "Cuộc hành binh cầu vồng" được che giấu dưới hình thức hoạt động tăng cường chung cho các vị trí. Quân Pháp tổ chức chiếm đóng các điểm cao hai bên trục Đường số 6, phát quang các bụi rậm đề phòng lực lượng ta phục kích; cho máy bay bắn phá nhiều điểm dọc đường nhằm bảo vệ cho lực lượng công binh sửa chữa cầu, đường... Khi bị ta chặn đánh, địch nhanh chóng tìm nơi ẩn nấp, gọi máy bay, đại bác bắn phá, oanh tạc dữ dội vào đội hình ta. Tới Ao Trạch, quân Pháp xây dựng nơi đây thành một "thị xã Hòa Bình mới" với 13 cụm pháo binh. Trên đường tới thị xã Hòa Bình, địch bị Đại đoàn 304 tổ chức đánh chặn, khiến nhiều tiểu đoàn dù bị thương vong, phải quay trở lại Ao Trạch. Địch đưa Binh đoàn cơ động số 1 lên thay thế. Đến ngày 13 tháng 1 năm 1952, địch mới tới gần thị xã Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 08:45:08 pm Cuối tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy nhận định: "Theo thế chung, dù muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hòa Bình"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 37). Đầu tháng 2 năm 1952, những biểu hiện của cuộc rút quân ngày càng rõ hơn. Ngày 13 tháng 2, quân Pháp rút pháo binh thương binh và các cơ quan chỉ huy từ thị xã Hòa Bình qua Bến Ngọc. Tiếp đó, chúng chiếm thêm một số điểm cao nhằm bảo vệ lực lượng từ thị xã Hòa Bình khi qua sông. Quá trình rút lui, địch thực hiện rất thận trọng, có các đội tuần tiễu bảo vệ và xe tăng pháo binh đi kèm.
Đêm 16 tháng 2, một số đại đội thuộc Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiến công cứ điểm Chung Minh nhưng không thành công. Ngày 22 tháng 2, bộ đội địa phương đánh một số trận vận động phục kích nhỏ ở Nam Bến Ngọc, Phương Lâm. Ta cũng pháo kích vào đoạn đường từ Bến Ngọc đến xóm Pheo, diệt 2 đại đội phá hủy 23 xe quân sự. Ngày 23 tháng 2, địch rút khỏi thị xã Hòa Bình, Trung đoàn 36 xuất kích, diệt 2 đại đội địch ở Thịnh Lang. Do có phi pháo yểm trợ, quân địch rút từ Bến Ngọc về Chung Minh, xóm Pheo, Đầm Huống rồi về Ao Trạch, ta không tổ chức được các trận đánh hiệu quả. Ngày 24 tháng 2, Trung đoàn 9 thuộc Đại đoàn 304 chặn đánh địch ở Đá Lỗ, Ao Trạch, diệt gần 2 đại đội địch, Trung đoàn 57 dùng hỏa lực bắn đuổi diệt một số quân địch. Đến ngày 25 tháng 2, quân địch rút khỏi Đồng Bái về Xuân Mai kết thúc cuộc hành quân chiếm đóng Hòa Bình. So sánh với việc rút quân khỏi Cao Bằng, cuộc rút lui của quân Pháp khỏi Hòa Bình đã thành công. Địch dùng tới 30.000 viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút quân. Ta chỉ tiêu diệt được khoảng 6 đại đội địch, phá hủy khoảng 20 xe cơ giới, thu vài trăm tấn đạn... Việc rút lui khỏi Hòa Bình được xem "là "chiến công lớn" duy nhất của đội quân viễn chinh Pháp trong Đông Xuân 1951 - 1952"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 804). Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Cùng với loại khỏi vòng chiến đấu hàng vạn quân địch, thu, phá hủy lượng lớn vũ khí và trang bị kỹ thuật, giải phóng hàng nghìn kilômét vuông, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, chiếm đóng "xứ Mường", chia cất chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Sự phối hợp giữa chiến trường chính và địch hậu đã khiến quân Pháp phải chấp nhận "một thất bại kép về chiến lược", thất bại trên cả 2 mặt trận. Từ thực tiễn nghiên cứu quá trình đánh địch rút chạy, rút ra một số vấn đề cơ bản như sau: Một là, cần nắm chắc và dự báo, đánh giá đúng tình hình địch, ta; thực hành bao vây, chia cắt nhanh; xây dựng phương án tác chiến phù hợp. Nắm chắc và dự báo, đánh giá đúng tình hình của đối tượng tác chiến chiến dịch là công việc rất khó khăn. Thực tế, trong Chiến dịch Hòa Bình, ta đã dự đoán khá sát về địch. Ngay từ khi mở chiến dịch, trong xác định cách đánh, ta đã đề ra nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch rút chạy. Trong đợt 2, khi Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu xuống Đường số 6, khống chế vận chuyển trên sông Đà, vây chặt địch trong thị xã Hòa Bình, ta tiếp tục đề ra phương án đánh địch rút chạy. Giữa tháng 2 năm 1952, ta phán đoán địch sẽ rút khỏi Hòa Bình vì tác giả của việc đưa quân lên Hòa Bình là Đờ Lát bị bệnh, phải trở về Pháp và đã chết, trong khi đó, chúng không thế bỏ vùng đồng bằng đang bị ta đánh mạnh. Trên cơ sở đánh giá tình hình và phán đoán các dấu hiệu từ phía địch (án binh bất động ở thị xã Hòa Bình, tổ chức khai thông Đường số 6, chốt thêm một số điểm cao khống chế...), Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã sớm dự báo việc quân địch sẽ rút lui, từ đó chỉ đạo tăng cường trinh sát, đồng thời xây dựng kế hoạch, bố trí lực lượng đánh địch rút chạy, trong đó tập trung vào hướng tiến công chủ yếu ở khu vực phía Bắc Đường số 6. Tuy nhiên, quá trình đánh địch rút chạy, ta cũng bộc lộ những hạn chế. Đó là còn máy móc, chưa linh hoạt như trong đợt 3, khi chuyển ra đánh nhỏ ở Hòa Bình và Đường số 6, ta đã mất nhiều thời gian, không thực hiện được đầy đủ kế hoạch, ảnh hưởng đến việc đánh địch mở đường và rút lui. Một số đơn vị hoạt động ở mặt trận chính chưa nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của mặt trận địch hậu. Do đó, khi quân Pháp mở Đường số 6 để rút quân khỏi Hòa Bình, chưa nhận thức hết chủ trương đánh nhỏ, kiềm giữ địch ở Hòa Bình là mục đích phối hợp với địch hậu nên đã không tích cực hoạt động. Trong trận đánh căn cứ Chung Minh (10.2), ta chưa phán đoán đúng tình hình địch, quá trình tiến công việc bố trí và sử dụng lực lượng chưa tập trung. Ta cũng chưa thực hiện được chiến thuật đánh cắt Đường số 6 nhằm chia cắt triệt để giữa thị xã Hòa Bình và Xuân Mai, do đó không chặn được quân địch rút lui khỏi thị xã Hòa Bình và tiêu diệt chúng. Quá trình truy kích địch, Trung đoàn 9 và Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) bố trí trận địa xuất kích xa, lại bị pháo binh và máy bay địch ngăn cản, nên có mặt muộn trên Đường số 6. Sáng ngày 24 tháng 2, Trung đoàn 9 mới bắt kịp quân địch ở phía đông Đèo Kẽm... Hai là, kịp thời cơ động lực lượng, tiến hành truy kích địch bằng nhiều mũi, hướng; bám sát địch, đánh mạnh liên tục vào đội hình địch. Trong đợt 3 của Chiến dịch Hòa Bình, ta đã đẩy mạnh các hoạt động đánh nhỏ ở mặt trận chính, đồng thời phát động rộng rãi chiến tranh du kích ở vùng địch hậu. Để chuẩn bị đánh địch rút chạy, ta đã bố trí lực lượng ở nhiều hướng nhằm tổ chức đánh địch, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt lực lượng rút chạy. Khi quân địch rút chạy, ta đã tổ chức đánh địch từ nhiều hướng, mũi và liên tục bám sát địch. Đêm 22 tháng 2 năm 1952, trước những dấu hiệu bắn phá ác liệt của pháo binh địch (nhằm tiêu thụ hết đạn pháo, không để rơi vào lực lượng ta), ta đã theo dõi sát tình hình, sẵn sàng xuất kích tiêu diệt địch. Trung đoàn 36 ở phía Bắc thị xã Hòa Bình, do cả những yếu tố chủ quan và khách quan, mãi khi trời sáng mới tới thị xã, một bộ phận quân địch đã qua sông, bộ phận còn lại được máy bay, đại bác bảo vệ; tuy nhiên, với tinh thần kiên quyết tiến công, ta đã bắn chìm 1 canô, phá hủy một số xe cơ giới. Trung đoàn 209 tiến công địch ở xóm Pheo bị máy bay bắn phá ác liệt nhưng đã bám sát đội hình phía sau của chúng, bắn cháy 1 máy bay. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 08:45:59 pm Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong dân chủ, kiên quyết, cụ thể; làm tốt công tác bảo đảm về mọi mặt.
Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch; sự dũng cảm, hy sinh của mỗi cán bộ, chiến sĩ và sự góp sức của người dân trên cả mặt trận chính và mặt trận địch hậu. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, trong đánh địch rút chạy, một số cán bộ có tác phong thiếu sâu sát, cụ thể trong trận Hàm Voi (23.2.1952), đơn vị báo cáo đã tiêu diệt hoàn toàn 2 đại đội địch nhưng thực tế chỉ diệt được 2 trung đội... Trong việc đánh địch rút lui, Tổng Quân ủy nhận định đó là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch, tuy nhiên vẫn có một số cán bộ cho rằng "không thể đánh được", nên chưa quán triệt sâu sắc quyết tâm chiến đấu tới cán bộ cấp dưới và chiến sĩ, làm ảnh hưởng đến trận đánh, bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt sinh lực địch. Trong những ngày cuối cùng của chiến dịch, quá trình truy kích địch, lực lượng ta đã cơ động đến muộn do trời tối và sự đánh phá ác liệt của pháo binh, không quân địch (Trung đoàn 36), khi trời sáng mới tới thị xã, phần lớn quân địch đã qua sông, nên ta chỉ tiêu diệt được rất ít sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng. Cùng với đó, công tác bảo đảm cũng có những hạn chế như việc chuẩn bị đạn pháo không đúng chủng loại, lẫn nhiều đạn khói, gây khó khăn trong quá trình chiến đấu. Bốn là, xây dựng tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết, bền bỉ cho cán bộ, chiến sĩ, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật chiến trường. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch cũng như trong đánh địch rút chạy, các đơn vị đã giáo dục cho bộ đội tinh thần chiến đấu dũng cảm theo phương châm tiêu diệt sinh lực địch, chiến đấu liên tục, dẻo dai, bền bỉ. Qua đó, đã động viên bộ đội nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, chiến đấu liên tục trong thời gian dài. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy: "Công tác chính trị chưa làm tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, sự kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức trong cán bộ chưa chặt chẽ, nên tác phong và tư tưởng cán bộ trong lãnh đạo, chỉ huy còn bộc lộ nhiều sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, dẫn đến kết quả chiến dịch bị hạn chế thắng lợi"1 (Tổng cục Chính trị, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 127). Một số đơn vị xảy ra tình trạng có cán bộ, chiến sĩ chưa chấp hành nghiêm kỷ luật chiến trường. Khi xác định kế hoạch đánh địch rút lui khỏi Hòa Bình, một số cán bộ tỏ ra lo ngại, do dự, cho là không đánh được. Tổng Quân ủy đã triệu tập cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên để nhận định tình hình, phán đoán kế hoạch rút lui của địch rồi mới xác định cách đánh. Từ đó, xây dựng kế hoạch chiến đấu cụ thể, đồng thời giúp bộ đội thêm tin tưởng vào kế hoạch đánh địch. Chiến dịch Hòa Bình là thắng lợi lớn của ta, đánh dấu những bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý trên nhiều phương diện cho chiến tranh nhân dân Việt Nam. Những vấn đề về đánh địch rút chạy đã cung cấp cho lực lượng vũ trang những cơ sở thực tiễn quan trọng để nghiên cứu, vận dụng cho những chiến dịch tiếp theo, góp phần nâng cao hiệu suất chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sớm đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 08:50:52 pm PHÁT HUY GIÁ TRỊ CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH TRONG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, CÁCH MẠNG CHO THÊ HỆ TRẺ TỈNH HÒA BÌNH Đồng chí QUÁCH THẾ NGỌC Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình Cách đây 70 năm, Chiến dịch Hòa Bình đã nổ ra và giành thắng lợi vang dội. Đó là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Liên Khu ủy 3 và của cấp ủy địa phương, là sự chiến đấu dũng cảm, hy sinh của bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân trên địa bàn diễn ra chiến dịch cũng như trong các hoạt động phối hợp. Thắng lợi đó có giá trị và ý nghĩa to lớn, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đất nước và địa phương hiện nay, trong đó có công tác giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ tỉnh Hòa Bình. Khi Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hoà Bình; Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hoà Bình của địch Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hoà Bình. Tháng 11 năm 1951, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoà Bình đã họp và đề ra nhiệm vụ trọng tâm, đó là: Tận dụng mọi khả năng, mọi lực lượng tuyên truyền, phân tích âm mưu tái chiếm Hoà Bình của địch, triển vọng chiến thắng của ta, động viên nhân dân đóng góp sức người, sức của phục vụ nhiệm vụ chiến đấu. Đẩy mạnh công tác địch vận, coi đây là một trọng tâm công tác. Vạch rõ âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" thâm độc của giặc, nêu bật chính sách khoan hồng của Đảng, Chính phủ; bộ đội, du kích phải giữ nghiêm kỷ luật đối với tù, hàng binh, phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với địch ngụy vận nhưng tránh hữu khuynh. Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Mặt trận Liên Việt các cấp trong tỉnh đã tổ chức hội nghị nhân dân bàn về công tác chống giặc. Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy đã ban hành tài liệu "Tình hình mới, công việc mới" để tuyên truyền giải thích về tình hình, nhiệm vụ của Đảng bộ, quân dân địa phương trong Thu - Đông, quyết tâm đập tan âm mưu chiếm đóng Hoà Bình của địch. Đặc biệt là công tác giữ gìn bí mật được tuyên truyền sâu rộng. Nhờ vậy, đã có sức cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của quân dân trong toàn Đảng bộ. Toàn dân hăng hái tham gia giúp đỡ bộ đội, phục vụ chiến trường. Một khí thế sôi động khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch diễn ra nhưng tuyệt đối bí mật. Trong lúc quân và dân ta giành thắng lợi liên tiếp trong Chiến dịch Hoà Bình, từ tháng 1 năm 1952, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoà Bình quyết định hằng tháng ra tờ Toàn Thắng, số lượng phát hành 2.000 tờ/kỳ. Tờ báo được giao cho Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy biên tập, phát hành và hướng dẫn sử dụng làm tài liệu tuyên truyền trong Đảng bộ và nhân dân nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, động viên, giáo dục nhân dân đoàn kết đấu tranh chống giặc. Đồng thời, các hoạt động địch vận được Tỉnh ủy Hoà Bình tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện mạnh mẽ. Ban Địch vận các cấp đã phối hợp với các đoàn thể, các lực lượng thực hiện in và phát hành hàng nghìn bức thư kêu gọi của Bác Hồ, thông báo của ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh về việc thi hành chính sách khoan hồng của Chính phủ, Bác Hồ đối với những ngụy binh lầm đường lạc lối theo giặc nay trở về với nhân dân. Cán bộ địch vận đến từng gia đình có con em đi lính cho giặc giải thích vận động, khuyên nhủ gia đình họ vận động, kêu gọi họ trở về quê hương làm ăn sinh sống... Nhờ đẩy mạnh công tác chính trị, tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục, động viên, toàn Đảng bộ, quân dân trong tỉnh đã ra quân với tinh thần phấn khởi, khí thế khẩn trương, sôi động chưa từng có, thể hiện tinh thần không tiếc sức người, sức của để chiến thắng. Trước những thất bại liên tiếp trên chiến trường chính Hoà Bình và các nơi khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thực dân Pháp buộc phải rút quân khỏi Hoà Bình. Tỉnh Hoà Bình được giải phóng lần thứ 2. Ngay sau đó, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Hoà Bình, ngành Tuyên huấn đã tham gia tích cực giúp Tỉnh ủy chỉ đạo rút kinh nghiệm về công tác chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch Hoà Bình của các cấp ủy, các chi bộ, cơ quan. Đây là đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình sâu sắc, kịp thời khen thưởng, động viên những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc; đồng thời có biện pháp giáo dục, xử lý những tập thể, cá nhân còn thiếu sót, khuyết điểm. Đối với những tổ chức đảng bộc lộ sa sút, yếu kém tập trung chỉ đạo củng cố tổ chức, kiện toàn. Những biện pháp đó góp phần chỉnh đốn một bước tư tưởng, tinh thần để cán bộ, đảng viên và nhân dân tập trung lao động sản xuất, củng cố hậu phương. Vận dụng những bài học kinh nghiệm từ Chiến dịch Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã đề ra nhiều biện pháp linh hoạt, sáng tạo để giáo dục truyền thống yêu nước cách mạng cho thanh niên, đáp ứng với đòi hỏi của tình hình cách mạng đặt ra ở mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên về phát huy vị trí, vai trò, tầm quan trọng của Chiến thắng Hòa Bình được nâng cao, đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, các phương tiện thông tin đại chúng, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý nghĩa, giá trị của chiến thắng, qua đó phục vụ tốt cho công tác giáo dục chính trị, tư tưởng truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần quan trọng vào xây dựng, củng cố niềm tin, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị của địa phương. Phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong Chiến dịch Hoà Bình, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Trung ương Đảng, Chính phủ giao trong việc phục vụ xây dựng công trình Thủy điện Hoà Bình trên sông Đà. Tại lễ Khánh thành Nhà máy Thủy điện Hoà Bình ngày 24 tháng 12 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã biểu dương sự đóng góp, hy sinh to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình, đồng thời khẳng định: "Thủy điện Hòa Bình mãi mãi là niềm tự hào của đất nước", là bản hùng ca về tri tuệ con người, về tinh thần lao động sáng tạo, kiên cường, dũng cảm, bền bỉ vượt qua muôn vàn gian khổ, là nơi hội tụ và rực sáng tinh thần quốc tế vô sản. Sau khi công trình Thủy điện Hoà Bình hoàn thành, tỉnh tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ thi công, bảo vệ an toàn đường dây tải điện 500kV, một công trình tải điện lớn cung cấp điện cho cả ba miền đất nước. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 08:58:25 pm Trong thời kỳ đổi mới, phát huy giá trị Chiến dịch Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã tổ chức giáo dục truyền thống cách mạng, tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử Đảng bộ địa phương; hướng dẫn các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm của đất nước, của địa phương. Trong các ngày lễ lớn của dân tộc, tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên các cấp và các cơ quan thông tin đại chúng, trong đó chủ lực là Báo Hoà Bình, Đài Phát thanh truyền hình tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, xây dựng các chuyên trang chuyên mục, các buổi tọa đàm. Trong đó, tập trung làm nổi bật ý nghĩa lịch sử, vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thành tựu to lớn mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; những thành tựu to lớn của địa phương trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng trong đó có Chiến thắng Hòa Bình.
Tỉnh Hòa Bình đã đẩy mạnh tuyên truyền cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và phát triển đất nước, tạo không khí phấn khởi sự đồng thuận cao trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và các nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Kết quả và sức lan toả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị đã góp phần đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, tạo thành động lực thúc đẩy việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tỉnh ủy lãnh đạo việc tăng cường triển khai thực hiện chính sách, pháp luật đối với thanh niên và công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh; qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới của tỉnh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và hành động của thanh niên trong tỉnh. Tiếp tục phát huy giá trị Chiến thắng Hòa Bình trong giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ, tỉnh Hòa Bình tăng cường chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền tập trung đẩy mạnh một số giải pháp sau: Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hoà Bình, trong đó tập trung tuyên truyền về truyền thống và các bài học kinh nghiệm lịch sử để thế hệ trẻ hiểu rõ về giá trị của các bài học kinh nghiệm lịch sử nói chung, giá trị của Chiến dịch Hoà Bình nói riêng, vận dụng, phát triển các bài học kinh nghiệm, nhất là bài học về sự kiên định đường lối lãnh đạo của Đảng, thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng trong điều kiện mới. Thứ hai, tiếp tục tuyên truyền giáo dục cho thế trẻ phát huy bài học về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân vào công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, ngày càng hiện đại. Ngày nay, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, càn tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về chiến tranh nhân dân, vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới. Thứ ba, tăng cường hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị, truyền thống cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức tuân thủ pháp luật cho thanh niên theo tinh thần Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng "về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030" Đây là biện pháp quan trọng có ý nghĩa hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh, thiếu nhi về các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, nhiệm vụ chính trị của đoàn thanh niên, trong rèn luyện đạo đức cách mạng. Các cấp bộ Đoàn phải tích cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền tăng cường sự lãnh đạo và đầu tư nguồn lực cho công tác giáo dục thanh, thiếu niên; đồng thời xây dựng kế hoạch, giải pháp, chủ động phối hợp với các cấp, các ngành liên quan thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Thứ tư, hình thành cho thanh, thiếu niên tinh thần tự giác, tích cực học tập, tu dưỡng với nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên lự khẳng định mình; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho thanh niên; quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực, nguyện vọng, sở trường, năng khiếu. Giúp thanh niên nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân; tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để từng bước khẳng định bản thân và đóng góp cho gia đình, xã hội, quê hương, đất nước theo gương các chiến sĩ đã hy sinh trong Chiến dịch Hòa Bình. Thứ năm, tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, ý thức độc lập, tự cường của dân tộc và khát vọng phát triển của con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Quán triệt quan điểm của Đảng về giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại các khu vực phòng thủ. Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Thứ sáu, tăng cường công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thứ bảy, đẩy mạnh công tác học tập, nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chuyên đề toàn khoá đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân; lựa chọn hình thức tổ chức học tập, tuyên truyền, triển khai thực hiện sáng tạo, hiệu quả, phát huy được tiềm năng, lợi thế của địa phương, đơn vị, cá nhân. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, góp phần hiện thực hoá mục tiêu phát triển đã được xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Thứ tám, tăng cường công tác lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các lực lượng; tập trung giải quyết xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí tại các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền hướng về cơ sở đưa thông tin đến các vùng sâu, vùng xa, các xã khó khăn. Tăng cường cán bộ cho các xã kho khăn chậm phát triển. 70 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi vang dội và những bài học kinh nghiệm từ Chiến thắng Hòa Bình vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục phát huy, vận dụng sáng tạo trong giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 09:01:19 pm BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Thượng tá, ThS LÊ VŨ HUY Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam Chiến thắng của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) mang ý nghĩa chiến lược về quân sự và chính trị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần đánh tan phòng tuyến sông Đà, tiêu diệt sinh lực địch và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích của ta ở đồng bằng Bắc Bộ. Với ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử này, việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trong Chiến dịch Hòa Bình là việc làm có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng niềm tin, lòng biết ơn đối với thế hệ đi trước, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trở về truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, đồng thời tuyên truyền đấu tranh với các tư tưởng xuyên tạc, phủ nhận lịch sử. Để khẳng định tầm vóc của Chiến thắng Hòa Bình, chỉ ra thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị những di tích lịch sử của Chiến dịch Hòa Bình, đề xuất, gợi mở những giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị các di tích lịch sử về Chiến dịch Hòa Bình. 1.Chiến thắng Hòa Bình và những chứng tích lịch sử Sau thất bại ở biên giới Thu - Đông (1950), trên chiến trường Bắc Bộ, thực dân Pháp rơi vào thế bị động và chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Để giành lại quyền chủ động trên chiến trường, quân Pháp mở cuộc tiến công ra Hòa Bình vào mùa Đông năm 1951, lập phòng tuyến sông Đà nổi liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "hành lang Đông - Tây" thực hiện khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Ở Hòa Bình, địch thành lập các "Xứ Mường tự trị" để thực hiện "Da vàng hóa chiến tranh", dùng các lợi ích về kinh tế, chính trị để thuyết phục người dân tộc thiểu số đi lính cho Pháp. Giữa tháng 11 năm 1951, quân Pháp đánh ra Chợ Bến rồi tiến chiếm Hòa Bình. Tuy nhiên, ngay khi mới tiến ra, quân Pháp đã bị ta tiêu diệt một phần sinh lực ờ Chợ Bến, Thu Cúc - Lai Đồng. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta ra Chỉ thị "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Theo đó, quân và dân ta mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt sinh lực địch ở chiến trường Hòa Bình, phá kế hoạch bình định của quân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích. Chiến dịch Hòa Bình mở màn với chiến thắng Tu Vũ đã làm lay chuyển phòng tuyến sông Đà của địch. Tiếp đó, quân ta tiến công tiêu diệt địch ở Ba Vì, tiêu diệt đoàn tàu trên sông Đà, cắt đứt tuyến tiếp tế đường thủy của địch. Trong khi đó, chiến tranh du kích bắt đầu phát triển khá mạnh ở vùng hữu ngạn và tả ngạn sông Hồng. Tháng 2 năm 1952, trong khi địch sửa soạn rút phòng tuyến sông Đà và Hòa Bình, quân ta chuyển hướng tiến công Hòa Bình qua Đường số 6, quân Pháp chỉ kịp nít phòng tuyến sông Đà tiếp ứng cho Đường số 6 (đã bị ta cắt đứt) và thị xã Hòa Bình (vốn đã bị bao vây). Cùng với chiến trường chính, ta còn tiến công quân Pháp trên nhiều địa bàn khác như vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh trung du phía Bắc (như Bắc Ninh, Bắc Giang)... tiêu diệt nhiều vị trí và quân tiếp viện của địch, mở ra nhiều căn cứ dukích, nhờ đó, cao trào du kích chiến tranh phát triển mạnh mẽ, đẩy quân địch vào thể bị cô lập trên chiến trường. Bị tổn thất liên tiếp và thiệt hại nặng nề trên các mặt trận, ngày 23 tháng 2 năm 1952 quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình và Đường số 6. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công xuất sắc của Đảng ta trong chỉ đạo chiến lược, chiến dịch, trong đó có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật; về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp. Kết quả này tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Chiến dịch Hòa Bình gắn liền với những địa điểm quan trọng như: Di tích địa điểm chiến thắng Tu Vũ (thuộc xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) - nơi ghi dấu trận đánh mở màn, làm nên chiến thắng lớn nhất của Chiến dịch Hòa Bình; di tích này gồm: Khu C, sân bay, Sở Chỉ huy Trung đoàn, mộ các liệt sĩ hy sinh tại Tu Vũ; dốc Giang Mỗ (xã Bình Thanh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình) - nơi lưu dấu chiến công oanh liệt của Anh hùng Cù Chính Lan và các chiến sĩ Tiểu đoàn 353 Trung đoàn 66 đã diệt xe tăng Pháp, mở đầu phong trào đánh xe tăng địch bằng vũ khí thông thường. Những địa điểm này không chỉ là những chứng tích lịch sử mà còn là nguồn sử liệu có giá trị trực quan sinh động, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào về dân tộc. 2.Hoạt động bảo tồn và phát huy những di tích lịch sử trong Chiến thắng Hòa Bình hiện nay Nhằm tôn vinh và tưởng nhớ công lao và sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ trong Chiến dịch Hòa Bình, những địa điểm tiêu biểu trong các đợt tiến công đã được công nhận là di tích lịchsử quốc gia. Cụ thể: Di tích địa điểm Chiến thắng Tu Vũ được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 3211-QĐ/BT ngày 12 tháng 12 năm 1994; dốc Giang Mỗ - nơi lưu dấu chiến công của Anh hùng Cù Chính Lan được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993. Trên cơ sở những di tích còn lưu lại cùng với sự xếp hạng của Nhà nước, chính quyền và nhân dân đã có nhiều hoạt động nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị. Năm 2017, công trình tượng đài Chiến thắng Tu Vũ là công trình văn hóa, nghệ thuật mang đậm giá trị lịch sử, nhân văn sâu sắc được tỉnh Phú Thọ phê duyệt và đầu tư xây dựng trên diện tích 5.213m2, với tổng mức đầu tư trên 36 tỷ đồng. Cụm tượng đài Chiến thắng Tu Vũ được thiết kế với nhóm tượng ở tư thế bay, chiều cao hệ kết cấu tượng đài 19,2m, tổng khối lượng 28 tấn. Bức phù điêu đại cảnh mô tả diễn biến trận đánh Tu Vũ và quá trình xây dựng quê hương, đất nước, phía trên là hình tượng những chiến sĩ xung kích trong tư thế tiến công và chiến thắng. Công trình thể hiện sự tri ân với những công lao, sự hy sinh của các thế hệ cha anh đi trước, góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống và khơi dậy niềm tự hào về truyền thống cách mạng. Công trình tượng đài Chiến thắng Tu Vũ còn là địa điểm để thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử dân tộc thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhà trưng bày hiện vật Chiến thắng Tu Vũ cũng được khánh thành và đưa vào hoạt động, các hiện vật tiếp tục được sưu tầm, bổ sung thêm hiện vật tại Nhà trưng bày nhằm làm phong phú nội dung; địa phương có bố trí người quản lý, bảo vệ, cán bộ hướng dẫn, giới thiệu về di tích phục vụ tham quan, nghiên cứu nhằm phát huy giá trị của công trình phục vụ cho phát triển du lịch, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương. Để ghi nhớ chiến công oanh liệt tại dốc Giang Mỗ của người Anh hùng Cù Chính Lan và các chiến sĩ Tiểu đoàn 353, Trung đoàn 66, năm 1994, tỉnh Hòa Bình đã khởi công xây dựng khu di tích, dựng Đài tường niệm Anh hùng diệt xe tăng tại dốc Giang Mỗ. Vì lý do di tích được xây dựng trong không gian, địa thế hẹp trải qua thời gian công trình đã xuống cấp, năm 2008, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và tỉnh Hòa Bình đã thống nhất quyết định di dời Đài tưởng niệm về cơ sở mới khang trang hơn tại xóm Mỗ I, xã Bình Thanh. Công trình được xây dựng trên tổng diện tích 3.638m2. Tượng và bệ tượng được chế tác từ nguồn nguyên liệu đá xanh Thanh Hóa có chiều cao 8,5m, tổng thể tích 160,4m3. Đài tưởng niệm là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, phấn đấu, rèn luyện trở thành người chủ xây dựng quê hương, đất nước. Hiện nay, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trong Chiến dịch Hòa Bình còn những hạn chế. Việc đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử quân sự Chiến thắng Hòa Bình chưa có sự đồng bộ. Các di tích lịch sử quân sự về Chiến thắng Hòa Bình đã không còn nguyên vẹn mà được xây dựng mới thành các cụm tượng đài mang tính tri ân, tưởng nhớ và giáo dục truyền thống. Chiến dịch Hòa Bình chưa có nhà trưng bày riêng. Khu vực di tích Chiến thắng Tu Vũ đã có nhà trưng bày song tổ chức và chất lượng hiện vật còn hạn chế. Khu vực trưng bày còn sơ sài, chưa kiểm kê được tổng số các hiện vật về chiến dịch, nhiều tài liệu, hiện vật sau thời gian dài đã xuống cấp nghiêm trọng. Khu vực di tích Anh hùng Cù Chính Lan mới chỉ xây dựng tượng đài. Bên cạnh đó, các hoạt động gắn kết di tích với các điểm văn hóa, du lịch trên địa bàn còn nhỏ lẻ, chưa tương xứng với tiềm năng. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục tại các di tích này còn hạn chế, làm cho các di tích chưa phát huy hết giá trị của mình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 09:04:39 pm 3.Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bào tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trong Chiến thắng Hòa Bình
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Chiến dịch Hòa Bình, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đề xuất một số giải pháp sau: Một là, nghiên cứu xây dựng, nâng cấp, chỉnh lý nhà trưng bày phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống tại chỗ song song với các cụm di tích Trong xây dựng bảo tàng (nhà trưng bày) tại di tích lịch sử quân sự, cần lưu ý rằng, một di tích quy mô lớn đến đâu cũng không thể thay thế được bảo tàng (nhà trưng bày). Chỉ có bảo tàng (nhà trưng bày) mới có thể trưng bày một cách hệ thống và toàn diện quá trình lịch sử, xã hội, sự kiện... Nhiều di tích lịch sử quân sự khi tiến hành bảo tồn, tôn tạo thì đồng thời xây dựng bảo tàng (nhà trưng bày) như là một trường học giáo dục lịch sử đích thực. Vì vậy, trong thời gian tới, chính quyền địa phương có thể nghiên cứu xây dựng, nâng cấp, chỉnh lý nhà trưng bày phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống tại chỗ song song với các cụm di tích theo cấu trúc 3 phần như sau: Phần thứ nhất: Lịch sử hình thành, các đặc trưng về văn hóa - xã hội, truyền thống yêu nước của nhân dân địa phương. Khái quát các tư liệu, hiện vật lịch sử thể hiện bối cảnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình. Phần thứ hai: Phần trọng tâm của nhà trưng bày, chiếm 60% diện tích; thể hiện chủ trương, diễn biến, kết quả của Chiến dịch Hòa Bình, trong đó có thể hiện sa bàn chiến dịch. Chú trọng giới thiệu các trận đánh tiêu biểu như trận Tu Vũ, trận tiêu diệt xe tăng địch của Anh hùng Cù Chính Lan. Khẳng định Chiến thắng Hòa Bình là bước ngoặt quan trọng về chính trị và quân sự trên chiến trường, tạo thời cơ để Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết tâm mở Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Phần thứ ba: Trưng bày tài liệu, hiện vật thể hiện tinh thần phát huy truyền thống của nhân dân địa phương, kết quả phát triển kinh tế và các mặt đời sống văn hóa - xã hội. Để có thêm nguồn tài liệu, hiện vật phục vụ trưng bày, địa phương cần tiếp tục kêu gọi xã hội hóa trong hoạt động sưu tầm tài liệu, hiện vật, bảo vệ và phát huy giá trị di tích nhằm khơi dậy trách nhiệm, ý thức của nhân dân địa phương đối với di sản của các thế hệ đi trước để lại. Bên cạnh đó, có thể phục chế các tư liệu, hiện vật về Chiến thắng Hòa Bình đang lưu giữ tại các bảo tàng như Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (khoảng 40 hiện vật, tư liệu), Bảo tàng Hậu cần, Bảo tàng Quân khu 2, Bảo tàng tỉnh Hòa Bình... Thông qua đó, góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo tồn các di tích liên quan tới Chiến thắng Hòa Bình, đồng thời thu hút sự tham gia đóng góp của các tổ chức, cá nhân để bảo vệ di sản của địa phương. Hai là, liên kết các điểm di tích về Chiến thắng Hòa Bình với các di tích trên địa bàn hoặc khu vực có liên quan Những di tích về Chiến thắng Hòa Bình trải dọc trên cửa ngõ vùng Tây Bắc ở các tỉnh Phú Thọ và Hòa Bình. Những nơi này có điều kiện thiên nhiên, lịch sử văn hoá và con người đã tạo nên tiềm năng du lích phong phú, hấp dẫn, gây được những ấn tượng sâu sắc với bạn bè trong nước và quốc tế. Vì vậy, việc liên kết các điểm di tích về Chiến thắng Hòa Bình với các di tích khác trên địa bàn nhằm thúc đẩy phát triển du lịch là điều cần thiết. Di tích Chiến thắng Tu Vũ thuộc trên địa bàn huyện Thanh Thủy (tỉnh Phú Thọ) có ví trí thuận lợi, gần với các điểm du lịch danh lam thắng cảnh như suối khoáng nóng, Đảo Ngọc Xanh, Đền Lăng Xương... Di tích Anh hùng Cù Chính Lan thuộc địa bàn huyện Cao Phong (tỉnh Hòa Bình) có vị trí gần với các điểm du lịch văn hóa tâm linh như Đền Bồng Lai, Chùa Khánh, Núi Đầu Rồng, Đền Bà chúa Thác Bời Thung Nai, Bản Mường Giang Mỗ... Với thuận lợi trên, các cụm di tích có thể liên kết, xây dựng thành tuyến tham quan mang ý nghĩa giáo dục truyền thống và thuận lợi cho hành trình khám phá thiên nhiên, văn hóa địa phương của khách tham quan. Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền về Chiến thắng Hòa Bình thông qua hoạt động báo chí, truyền hình, cổng thông tin điện từ địa phương Trước hết, thường xuyên tuyên truyền các hoạt động trên các báo, đài từ Trung ương đến địa phương. Định kỳ hằng tháng, hằng quý, di tích phải thường xuyên cập nhật thông tin, hoạt động tiêu biểu tại di tích trên các phương tiện truyền thông đại chúng của địa phương như báo, truyền hình của tỉnh. Thường xuyên cập nhật thông tin di tích trên cổng thông tin điện tử của các cấp chính quyền từ tỉnh, huyện là biện pháp không tốn kém nhưng có hiệu quả cao. Nội dung đăng tải có thể giới thiệu các hiện vật, tư liệu đang lưu giữ về Chiến thắng Hòa Bình, hoạt động các đoàn tham quan, sinh hoạt truyền thống, giới thiệu di tích hoặc những câu chuyện của nhân chứng lịch sử. Bên cạnh đó, nếu có nguồn lực phù hợp có thể mở thêm các kênh thông qua mạng xã hội nhằm tăng hiệu quả tuyên truyền. Ngoài ra, tại các nhà trưng bày nên có ấn phẩm, tờ rơi, sổ tay, đĩa DVD được trình chiếu trực tiếp giới thiệu về di tích hoặc sự kiện lịch sử tiêu biểu gắn liền với Chiến thắng Hòa Bình nhằm phục vụ công tác tuyên truyền. Giải pháp truyền thống này vẫn rất hiệu quả với khách tham quan trực tiếp, giúp cung cấp thông tin một cách đầy đủ hơn. Bốn là, tổ chức các hoạt động "Uống nước nhớ nguồn ", giáo dục lịch sử truyền thống, chương trình học tập gắn với các di tích về Chiến thắng Hòa Bình Các tổ chức đoàn thể, quần chúng của địa phương tổ chức các hoạt động mang ý nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" như thăm viếng, kể chuyện truyền thống, thi tìm hiểu về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của anh hùng, liệt sĩ, nhân chứng lịch sử. Các tổ chức đoàn thanh niên, hội phụ nữ, trường học... tham gia các hoạt động bảo tồn tôn tạo di tích, chương trình "Trường học thân thiện học sinh tích cực" với nhiều hoạt động thiết thực gắn với các di tích Chiến thắng Hòa Bình. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, việc học tập Online (trực tuyến) đang được ưu tiên nên các hoạt động tham quan trực tiếp bị hạn chế, ngành văn hóa - du lịch của địa phương có thể phối hợp với các nhà trường, xây dựng các nội dung học tập có liên quan đến các di tích lịch sử về Chiến thắng Hòa Bình, sử dụng các tư liệu, hiện vật lịch sử cụ thể tại nhà trưng bày di tích nhằm đưa vào nội dung các tiết học làm phong phú, hấp dẫn các giờ học trực tuyến để giới thiệu tới đối tượng học sinh, sinh viên. Việc đưa các tư liệu, hình ảnh chân thực về di tích, sự kiện lịch sử cũng là một giải pháp giáo dục hiệu quả, thu hút các em quan tâm hơn khi chưa có điều kiện tham quan trực tiếp. Năm là, xây dựng mạng lưới các đơn vị lữ hành, nhà trường, tổ chức đoàn thể thường xuyên đưa khách tham quan đến di tích Các cụm di tích tượng đài Chiến thắng Tu Vũ và Anh hùng Cù Chính Lan đều có thể trở thành điểm dừng chân lý tưởng đối với khách du lịch trên hành trình tham quan vùng Tây Bắc. Đối với những đơn vị lữ hành, nhà trường đưa khách tham quan đến với di tích, địa phương cần có chính sách phối hợp chặt chẽ, gắn bó lâu dài. Hằng năm tổ chức hội nghị nhằm lắng nghe, đánh giá ý kiến của các đơn vị về kết quả phục vụ khách tham quan nhằm rút kinh nghiệm, phải có giải pháp khắc phục, đổi mới trong năm tiếp theo. Để duy trì nguồn khách tham quan đều đặn nhằm phục vụ tốt nhất, cần có kế hoạch đón khách tham quan từ sớm, dự báo và phân chia lượng khách phù hợp với khả năng phục vụ trên cơ sở nhân lực hiện có. Phối hợp với các nhà trường tổ chức tham quan,trải nghiệm các chương trình giáo dục di sản để vừa tuyên truyền, giáo dục hiệu quả. 70 năm đã trôi qua, Chiến thắng Hòa Bình trở thành một bản hùng ca trong dòng chảy lịch sử của dân tộc thời đại Hồ Chí Minh. Việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử quân sự hiện nay cũng chính là góp phần tiếp tục tôn vinh, bảo vệ và lưu truyền các thế hệ giá trị lịch sử của Chiến thắng Hòa Bình, đặc biệt là góp phần giáo dục lịch sử dân tộc, về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần tự tôn của dân tộc. Để làm tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích một cách bền vững trong bối cảnh hiện nay, trong các chương trình, kế hoạch hoạt động cần kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử quân sự gắn với phát triển du lịch địa phương. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:24:02 pm TỔNG HỢP THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC "CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - THÀNH CÔNG XUẤT SẮC VỀ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ" Thiếu tướng, TS NGUYỄN HOÀNG NHIÊN Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng! - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhản dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện các ban, ngành của tỉnh Hòa Bình và các tỉnh, thành phố! - Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan! - Kính thưa các nhà khoa học, các quý vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí! Đông - Xuân 1951 - 1952, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội trong Chiến dịch Hòa Bình. Chiến thắng Hòa Bình đã trở thành một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới, tiếp tục thế tiến công chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến lên giành những thắng lợi quyết định. 70 năm qua, Chiến thắng Hòa Bình đã được các cơ quan, đơn vị, các vị tướng lĩnh, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm và làm sáng tỏ ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau tại nhiều công trình lịch sử. Song, với tầm vóc và ý nghĩa to lớn, với độ lùi thời gian và dựa trên nhiều nguồn tư liệu, với cách tiếp cận mới, chiến thắng đó vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, luận giải đề vận dụng, phát huy hon nữa những kinh nghiệm và bài học lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Hòa Bình, lần đầu tiên, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Hòa Bình tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ với chủ đề: "Chiến thắng Hòa Bình - Thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng và bài học lịch sử". Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được gần 90 báo cáo, tham luận của các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; lãnh đạo các cơ quan Trung ương và địa phương; các quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng; các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu, các nhân chứng lịch sử, tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội... Mỗi tham luận là một công trình nghiên cứu độc lập, luận giải từng nội dung cụ thể, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về thành công xuất sắc trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng và những bài học lịch sử được rút ra qua thắng lợi của chiến dịch. Điều đó được thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, Chiến thắng Hòa Bình khảng định tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950, Trung ương Đảng chủ trương nhân lúc địch chưa kịp củng cố thế phòng ngự chiến lược của chúng ở đồng bằng, ta nhanh chóng khuếch trương thắng lợi, giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, liên tục tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ. Tuy nhiên, cả ba chiến dịch tiến công vào hướng trung du và đồng bằng Bắc Bộ (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung) đều không đạt mục tiêu chiến lược đề ra; quân và dân ta trong vùng địch tạm chiếm, vùng du kích vẫn gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, trong Đông - Xuân 1951 - 1952, Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương điều động một số trung đoàn vào hoạt động vùng sau lưng địch ở trung du và đồng bằng sông Hồng; đồng thời xúc tiến công tác mở chiến dịch ở Liên khu 3. Trong khi ta đang triển khai kế hoạch hoạt động trong Đông - Xuân 1951 - 1952 thì quân Pháp bất ngờ đánh chiếm Hòa Bình. Đánh giá tình hình và âm mưu của địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy nhận định địch đánh ra Hoà Bình là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hoà Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Thực hiện quyết tâm giành thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch do Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng Chiến dịch. Như vậy, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Quốc phòng - Bộ Tổng Tư lệnh đã được Bộ Chính trị cử trực tiếp chỉ huy, điều hành Chiến dịch Hòa Bình. Từ các vấn đề trên, nhiều tham luận đã khẳng định: Mặc dù khi địch tiến công chiếm đóng Hòa Bình, ta không kịp tiến hành ngay chiến dịch phản công, nhưng với nhãn quan sắc sảo, nhạy bén, quyết đoán; đồng thời trên cơ sở phán đoán và xác định được mục tiêu cuộc hành quân của địch, Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã nhanh chóng nắm bắt thời cơ, kịp thời hoạch định kế hoạch tác chiến sát thực tế chiến trường, quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, liên tục tiến công địch trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, nên đã đánh bại cuộc hành quân của địch, buộc đối phương phải rút khỏi Hòa Bình, đồng thời làm phá sản âm mưu bình định đồng bằng Bắc Bộ theo Kế hoạch Đờ Lát. Đây chính là nguyên nhân đầu tiên, lớn nhất và quyết định đưa đến thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:25:04 pm Hai là, Chiến thắng Hòa.Bình khẳng định sự phát triển vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam và nghệ thuật quân sự Việt Nam
Chiến thắng Hòa Bình là kết quả quá trình thử thách và đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về lực lượng và trình độ tác chiến tập trung quy mô ngày càng lớn dưới sự lãnh đạo hết sức tài tình, sáng suốt của Đảng ta, trực tiếp là của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh. Nhiều tham luận đã đi sâu phân tích làm rõ và khẳng định: Từ nhận thức đúng đắn vai trò của các đại đoàn chủ lực trong cuộc kháng chiến, nên chỉ sau 2 năm thành lập Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, đại đoàn chủ lực đầu tiên (8.1949), đến trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã xây dựng được 5 đại đoàn bộ binh chủ lực (308, 304, 312, 320, 316) và Đại đoàn công pháo 351. Đây là "những binh đoàn cơ động - quả đấm chiến lược" đổ thực hiện các chiến dịch lớn, các đợt hoạt động mang tầm chiến lược, tạo chuyển biến trên chiến trường có lợi cho ta, bất lợi cho đối phương. Tổng quân số chủ lực của ta tính đến cuối năm 1951 là 253.270 người1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 308). Bên cạnh các đại đoàn chủ lực còn có các trung đoàn, tiểu đoàn bộ đội địa phương của các liên khu, các tỉnh. Qua sự chỉ đạo, chỉ huy và thực hành Chiến dịch Hòa Bình, có thể thấy rõ bước phát triển vượt bậc về nghệ thuật quân sự. về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã đánh giá đúng âm mưu và hành động của địch, chọn hướng tiến công chính xác, kịp thời chuyển hướng phù hợp với tình hình mới, đồng thời luôn lãnh đạo sâu sát trong toàn bộ chiến dịch. Trên cơ sở đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã xác định và vận dụng chính xác phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong suốt quá trình tổ chức chỉ huy thực hành chiến dịch, đó là: Nắm vững và kiên trì vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện", tập trung đánh giao thông trên sông, trên bộ, khoét sâu khó khăn của địch về vận tải tiếp tế, dồn địch vào thế bị bao vây, cô lập; tổ chức, sử dụng lực lượng thích hợp, bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày trên phạm vi chiến trường rộng lớn. Đó là những nét tiêu biểu, là thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, đồng thời là nguyên nhân quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi chiến dịch. Về vận dụng chiến thuật, các đơn vị chủ lực đã vận dụng đúng nguyên tắc tập trung ưu thế về binh lực, thực hiện bao vây chia cắt, tiêu diệt địch. Tập trung binh lực ở một điểm để tiến công, đồng thời bố trí lực lượng hai đến ba mặt để bao vây, tiêu diệt địch. Phát huy lối đánh gần để hạn chế ưu thế hỏa lực pháo binh, máy bay của địch và khoét sâu chỗ yếu về mặt tinh thần của chúng. Trên hướng chính diện Mặt trận Hòa Bình, ngoài đánh công kiên và đánh chính diện như các chiến dịch trước, lần này bộ đội phát triển nhiều cách đánh mới như đánh địch vận chuyển trên sông, dùng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao và trận địa pháo của địch... Riêng với hình thức chiến thuật công kiên, Chiến thắng Tu Vũ đã khẳng định bước trưởng thành lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, mở ra khả năng đánh tiêu diệt quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc với hình thức cụm cứ điểm cờ tiểu đoàn tăng cường có xe tăng, pháo binh chi viện, tạo điều kiện cho các trận công kiên lớn trong các chiến dịch sau này. Ở hướng phối hợp, các đơn vị thực hiện "đánh điểm, diệt viện", "vây điểm, diệt viện" kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, tiến công và nổi dậy của quần chúng. Đặc biệt, nổi lên cách đánh tập kích sâu vào lòng địch, đánh công sự mới, để lại nhiều kinh nghiệm về vận dụng các hình thức chiến thuật cho các chiến dịch sau này. Tuy nhiên, trong tổ chức, điều hành chiến dịch cũng bộc lộ những nhược điểm, thiếu sót, nổi lên là tác phong chỉ huy có lúc thiếu chu đáo, cụ thể, khiến một số trận đánh điểm không thành công, thương vong cao, bỏ lỡ nhiều thời cơ đánh địch vận động và không thực hiện được ý định tiêu diệt lớn quân địch rút chạy. Mặc dù vậy, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là hết sức to lớn, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ có lợi cho ta và đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật chiến dịch phát triển lên một bước mới. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:27:01 pm Ba là, Chiến thắng Hòa Bình thể hiện bản lĩnh, ý chí, quyết tâm giành thắng lợi của quân và dân ta
Nhiều tham luận đã đi sâu phân tích, làm rõ: Với bản chất và truyền thống tốt đẹp của một đội quân "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu", cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, tìm mọi cách vượt qua những tình huống khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhằm bảo đảm các yếu tố giành thắng lợi, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh đã có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, trong đó sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng được đặc biệt chú trọng. Tổng Quân ủy xác định "Nắm vững và kịp thời lãnh đạo tư tưởng bộ đội, làm cho toàn quân nhận rõ cơ hội thuận lợi và nhiệm vụ quan trọng lần này để nâng cao quyết tâm chiến đấu"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, Tập 1, tr. 26-27). Thực hiện chủ trương này, công tác lãnh đạo tư tưởng, động viên chính trị đã tập trung quán triệt, giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc nhiệm vụ chiến dịch, củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu, để cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc ý định của cấp trên, ý nghĩa quan trọng chiến lược của chiến dịch; nhận định đúng về địch, ta, thuận lợi, khó khăn, phương châm tác chiến, qua đó phát huy cao độ tinh thần khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, củng cố niềm tin vào thắng lợi của chiến dịch. Do làm tốt công tác chính trị, tư tưởng nên trong những tình huống khó khăn, phức tạp suốt quá trình thực hành chiến dịch, tinh thần, quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ luôn được giữ vững, không dao động, nản chí trước bất cứ tình huống khó khăn nào. Đặc biệt, trước khi diễn ra chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh có "Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình", chỉ rõ thời cơ và cô vũ, động viên kịp thời cán bộ, chiến sĩ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Thành công của các trận đánh Tu Vũ, Đồi Mồi, Điểm cao 600 Ba Vì...; những tấm gương chiến đấu kiên cường, anh dũng như Cù Chính Lan và biết bao đồng chí, đồng đội ở cả mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch... là do bộ đội ta có tinh thần quyết tâm, ý chí quyết chiến quyết thắng, chủ động, linh hoạt khắc phục khó khăn, tìm ra cách đánh phù hợp, tạo thành sức mạnh to lớn đưa chiến dịch đến thắng lợi. Có thể khẳng định, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng của Quân đội ta chính là điểm mạnh cơ bản, là ưu thế tuyệt đối của ta so với thực dân Pháp, là một trong những nguyên nhân quyết định thắng lợi của chiến dịch. Bốn là, Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của nghệ thuật chiểu tranh nhân dân đặc sắc Việt Nam Chiến dịch Hòa Bình có đặc điểm hết sức quan trọng, khác biệt so với các chiến dịch trước đây. Đó là, trong chiến dịch này, bên cạnh tập trung bộ đội chủ lực (4 đại đoàn) ở mặt trận chính diện, 2 đại đoàn chủ lực khác của Quân đội nhân dân Việt Nam còn được điều đi sâu hoạt động trong vùng địch hậu ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, thực hiện nội, ngoại tuyến phối hợp một cách rất chặt chẽ trên toàn chiến trường Bắc Bộ cũng như ờ mỗi mặt trận; từ đó, phối hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích trên một quy mô rộng lớn. Cả ba thứ quân đã đồng loạt tiến công, liên tục chiến đấu dài ngày trên một chiến trường rộng lớn, có sự phối hợp, hỗ trợ rất lớn của đông đảo quần chúng nhân dân với nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Nếu như trong các chiến dịch trước đây, địch thua ở mặt trận chính diện, nhưng củng cố được vùng địch hậu, thì lần này, địch thất bại cả ở mặt trận chính diện và vùng địch hậu. Đó là một hiện tượng mới, một thất bại mới của địch. Thắng lợi to lớn ở mặt sau lưng địch đã "làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, đã có ý nghĩa quyết định thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hòa Bình"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 459). Cùng với các hoạt động tác chiến, với quy mô chiến dịch rộng lớn, thời gian tác chiến kéo dài, tính chất, vai trò của hậu cần nhân dân được thể hiện rõ nét. Trên cả hai hướng chính diện và sau lưng địch, hậu cần chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 6.275 tấn gạo, 70 tấn muối, 70 tấn thịt, hơn 60 tấn thực phẩm khác, điều trị và phục vụ 6.390 thương binh. Nhân dân đã đóng góp 333.400 dân công với 11.914.000 ngày công1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Công tác hậu cần Chiến dịch Hòa Bình Đông Xuân 1951 - 1952, Tổng cục Hậu cần, Ban Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh, 1978, tr. 56). Đây là chiến dịch sử dụng nhiều dân công nhất tính từ đầu kháng chiến đến lúc bấy giờ. Thắng lợi và những đóng góp to lớn của đông đảo nhân dân trong Chiến dịch Hòa Bình có được là nhờ sức mạnh của chiến tranh nhân dân, một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Các tham luận đã đi sâu phân tích, làm rõ những nội dung trên và khẳng định: Chiến thắng Hòa Bình là thắng lợi chung thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó chặt chẽ của quân và dân cả nước, ở cả mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Đó là minh chứng khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối kháng chiến của Đảng ta. Tiêu đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:28:48 pm Năm là, Chiến thắng Hòa Bình có tầm vóc và ý nghĩa to lớn trong tiến trình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, để lại nhiều kinh nghiệm và bài học lịch sử có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc
Trên cơ sở trình bày toàn diện những nội dung lịch sử có liên quan, đặc biệt là kết quả to lớn và ý nghĩa của chiến dịch, nhiều tham luận đi đến khẳng định: Trải qua hơn 6 năm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, đến đầu năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình đã gây cho địch tổn thất lớn nhất cả về binh lực, phương tiện chiến tranh, vị trí đóng quân ở cả mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Quân và dân Việt Nam "đã giành nhiều thắng lợi cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất, giải phóng dân,đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta trong vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Ha Nội, 1991, tr. 6). Thắng lợi đó có tác động sâu sắc, đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: "Chiến thắng Hòa Bình đã củng cố niềm tin: Với chiến tranh toàn dân, dù lực lượng vũ trang ta còn có hạn, ta vẫn có thể giành quyền chủ động trên chiến trường chính để đi tới chiến thắng"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 805). Về phía quân Pháp, bị thất bại ở Hòa Bình, một lần nữa chúng phải quay về phòng ngự chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Kế hoạch Đờ Lát nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược cơ bản bị phá sản. Cùng với khẳng định ý nghĩa chiến lược quan trọng của Chiến dịch Hòa Bình, các tham luận đã đi sâu phân tích nguyên nhân thắng lợi và rút ra những kinh nghiệm và bài học lịch sử sâu sắc. Đó là các bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch; về phát huy sức mạnh của cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch cũng như sức mạnh các chiến trường phối hợp trong cả nước để làm nên chiến thắng; về công tác bảo đảm, huy động hậu cần nhân dân, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; về bước phát triển khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam, phát huy sức mạnh chính trị tinh thần... Những bài học từ Chiến thắng Hòa Bình không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có giá trị hiện thực sâu sắc, góp phần vận dụng hiệu quả vào hoạt động xây dựng Quân đội, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Kính thưa các đồng chí! Nhân kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Hòa Bình, nhìn một cách tổng thể, Hội thảo khoa học lần này khẳng định, làm sâu sắc hơn các vấn đề về sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt, tầm nhìn chiến lược của Đảng; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện; tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí của các lực lượng vũ trang; sự phát triển vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam và nghệ thuật quân sự Việt Nam; nêu bật tầm vóc, ý nghĩa và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời, Hội thảo khoa học lần này tiếp tục tôn vinh, tri ân những công lao, đóng góp của những người con ưu tú của dân tộc đã góp phần làm nên chiến thắng; khơi dậy lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, niềm tự hào dân tộc cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Trân trọng cảm ơn! |