|
Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 08 Tháng Hai, 2023, 02:02:18 pm - Tên sách: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ
- Tác giả: Tâm Diệu - Trí Tánh, Nguyên Giác - Nguyễn Minh Tiến - Nhà xuất bản: Liên Phật hội - Năm xuất bản: 2017 - Người số hóa: saoden Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 08 Tháng Hai, 2023, 02:03:42 pm LỜI GIỚI THIỆU Tập sách "Hồ Sơ Mật 1963 - Từ các nguồn Tài liệu của Chính phủ Mỹ" này ra đời có hai mục đích: Thứ nhất là để giới thiệu với quảng đại độc giả một nguồn tài liệu tham cứu của chính phủ Mỹ, ký tự là FRUS, vốn khá quen thuộc với giới nghiên cứu nhưng lại vẫn còn xa lạ với độc giả Việt Nam bình thường khi muốn tìm hiểu về những biến động lịch sử trong thập niên 1960 của nước ta. Thứ nhì là thông qua nguồn tài liệu đó để trình bày một số phát hiện mới, vốn không được đa số giới nghiên cứu người Việt hải ngoại khai thác và phổ biến, thậm chí còn bị một số "nhà bình luận" xuyên tạc và ngộ nhận, về những gì đã thực sự xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong năm 1963. Do đó, từ "mật" trong tiêu đề tập sách chỉ là đối với quảng đại độc giả chưa biết đến, hoặc có biết đến nhưng không chịu sử dụng, nguồn tài liệu này mà thôi. Từ nay, hy vọng rằng mọi độc giả đều có thể tiếp cận trực tiếp nguồn FRUS để bổ túc cho những nhận định của mình được trung thực và chính xác hơn. Tập sách này gồm nhiều bản văn được chuyển dịch và trình bày kèm theo nguyên tác Anh ngữ, là các tài liệu trước đây vốn thuộc loại hồ sơ mật hoặc tối mật, nghĩa là chỉ dành riêng cho những người có trách nhiệm mà hoàn toàn không được phổ biến đến công chúng. Phần lớn các tài liệu đó là của chính phủ Mỹ, như các Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình... Tài liệu có nguồn từ Bộ Ngoại Giao Mỹ được lấy từ FRUS; ngoài ra còn có các tài liệu từ Tòa Bạch Ốc (Cục An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations). Một vài tài liệu không trực tiếp lấy nguồn từ chính phủ Mỹ là: Một bài viết của tác giả Nguyễn Minh Tiến phân tích Phúc trình A/5630 của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc; một số đoạn trong Death of A Generation của Howard Jones vốn là một tác phẩm cũng sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu của chính phủ Mỹ, và một bài Dẫn nhập của tác giả Tâm Diệu, tổng hợp về Phật giáo và cuộc Chính biến 1-11-1963 thông qua các tài liệu của chính phủ Mỹ. Xin được có vài lời về lý do tại sao chúng tôi lại chọn sử dụng rất nhiều tài liệu FRUS của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho tập sách này. FRUS, ký tự viết tắt của cụm từ Foreign Relations of the United States, là một tập hợp các tài liệu lịch sử chính thức liên hệ đến các quyết định quan trọng trong chính sách ngoại giao của Mỹ đã được giải mật và biên tập để công bố1 (The Foreign Relations of the United States series is the official documentary historical record of major U. S. foreign policy decisions that have been declassified and edited for publication). Những tài liệu này do Văn phòng Sử gia (Office of the Historian) thuộc Bộ Ngoại giao soạn thảo và chịu trách nhiệm xuất bản, và do Sở Ấn loát Chính phủ (Government Printing Office) in ấn phát hành. Tập hợp tài liệu đồ sộ này bắt đầu từ các biến cố ngoại giao từ thời chính quyền Tổng thống Abraham Lincoln (1861) cho đến ngày nay. Riêng tài liệu liên hệ đến Việt Nam dưới nhiệm kỳ Tổng thống Kennedy thì gồm 4 tập, phủ dài thời gian 3 năm từ 1961 đến 1963. Hai tập cuối cùng, Tập III và Tập IV, được phát hành vào năm 1991 và được phổ biến online trên Internet vào đầu thiên niên 2000. Độc giả người Việt ở hải ngoại, ngay cả ở Mỹ, cũng ít nghe nói đến kho tài liệu đồ sộ và quý giá đã được giải mật khá đầy đủ và dễ dàng truy cập online này. Chỉ một số nhà nghiên cứu nghiêm túc là biết từ rất sớm về FRUS và đã khai thác rất hiệu quả để tái khẳng định hoặc hiệu đính lại một số biến cố, luận điểm mà trong quá khứ đã không hoặc chưa được biểu đạt rõ ràng. Xin đan cử trường hợp về hai bài viết có liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm chỉ vài năm sau khi FRUS được lên online: Cách đây hơn 10 năm, trong bài viết "Toàn Trị và Ngoại Thuộc" vào tháng 5 năm 2003, giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp đã sử dụng 50 nguồn trích dẫn từ FRUS trong tổng số 53 cước chú của ông1 (Bài được đăng trên Diễn Đàn Forum số 129, xuất bản tại Paris vào tháng 5 năm 2003 và được Thư Viện Hoa Sen đăng lại: http://thuvienhoasen.org/a13482/toan-tri-va-ngoai-thuoc-cao-huy-thuan). Còn trong tiểu luận công phu "'Phiến Cộng’ trong Dinh Gia Long", hoàn thành vào tháng 8 cũng năm 2003, Tiến sĩ Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu ở Mỹ đã sử dụng 49 tham chiếu từ FRUS trong tổng số 149 cước chú của ông2 (Bài được đăng trên Tạp chí Hợp Lưu tại California vào tháng 8 năm 2003 và được Việt-Studies đăng lại). Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 08 Tháng Hai, 2023, 02:05:11 pm Sở dĩ FRUS đạt được độ tin cậy khá cao, do đó mức sử dụng khá nhiều, trong các công trình nghiên cứu là vì ba lý do:
(i) Nói chung, FRUS là những tài liệu mật hoặc tuyệt mật (TOP SECRET) được trao đổi giới hạn giữa một số ít giới chức hành pháp rất cao cấp của Mỹ. Nội dung của những tài liệu này thường được làm cơ sở hoặc công cụ để thiết lập chính sách hoặc kế hoạch hành động cấp quốc gia, nên độ trung thực và tính chính xác của tài liệu, dù có lợi hay có hại cho chính quyền Mỹ, đều luôn luôn được người soạn thảo tài liệu cố gắng giữ ở mức tối đa; (ii) Cơ chế vận hành Check and Balance (Kiểm soát và Quân bình) của chính phủ Mỹ [và sau này với việc ban hành Freedom of Information Act năm 1966 (Đạo luật về Quyền tự do tiếp cận Thông tin)] cho phép hai ngành Lập pháp và Tư pháp cũng như bất kỳ người dân nào, sớm hay muộn, cũng truy cứu được thông tin của chính phủ. Thậm chí nếu cần, có thể xin tòa án can thiệp (subpoena) để được tiếp cận tài liệu. Vì biết rõ và vì làm việc trong khung nguyên tắc đó từ lâu nên trong quá trình hình thành các tài liệu, giới chức chọn lựa và soạn thảo FRUS đã phải cố gắng tránh những sai lầm, sơ hở, tối nghĩa, lạc dẫn, suy đoán, thậm chí dối trá... ở mức tối đa; (iii) Tinh thần và đạo đức học thuật của giới nghiên cứu Mỹ là khá cao, lãnh vực nghiên cứu là khá đa dạng, và tranh chấp học thuật thì gay gắt trên trường quốc tế. Do đó, những học giả luôn đòi hỏi các nguồn cung cấp tài liệu, dù trong hay ngoài chính phủ, dù lãnh vực an ninh quốc gia hay bất kỳ lãnh vực nào, cũng phải duy trì một mức độ chuyên nghiệp trong các tài liệu để họ có thể tin tưởng sử dụng. Trong lãnh vực bang giao quốc tế có liên hệ đến Mỹ, FRUS là công cụ làm việc của giới nghiên cứu nên cũng phải chuyên nghiệp ở mức tối đa. Đó là những lý do ít nhất giải thích vì sao FRUS có độ khả tín khá cao. Do đó, một cách cụ thể, công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về quan hệ Việt-Mỹ trong thập niên 1960’ mà không tham chiếu FRUS thì cũng là điều thiếu sót. Nhưng dĩ nhiên chúng ta cũng không ngây thơ đến độ tin tưởng hoàn toàn bất kỳ thông tin nào của FRUS mà không đối chiếu với các nguồn thông tin khác và/hoặc đặt chúng trước quy trình phân tích chặt chẽ và chọn lọc khắt khe. Dù sao thì FRUS cũng đáng tin cậy và cần tham cứu để sử dụng, nhất là khi so sánh với những "nguồn tài liệu" khác rất đáng nghi ngờ, nhưng lại thường được đa số những "bình luận gia" người Việt cả trong lẫn ngoài nước, nhất là ở hải ngoại, sử dụng để "đầu độc chính trị" nhau nhiều hơn là để trình bày sự thật. Một cách cụ thể, chúng tôi xin cung cấp hai đường link sau đây để độc giả có thể truy cập tất cả tài liệu FRUS liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ trong năm 1963: 1. FRUS 1961-1963, Volume III: Vietnam January - August 1963: http://www.historymatters.com/archive/contents/vietnam/contents_vietnam_frus_61-63_3.htm 2. FRUS 1961-1963, Volume IV: Vietnam August - December 1963: http://www.historymatters.com/archive/contents/vietnam/contents_vietnam_frus_61 -63_4.htm Năm 1963 là năm có đầy đủ triệu chứng của một chế độ toàn trị đang ở hồi cuối cùng của quy trình hủy diệt. Đại sứ Trần Văn Chương, thân phụ của bà Nhu, là người đầu tiên dùng cụm từ "toàn trị" để xác định đặc tính chính trị của chế độ Diệm1 (FRUS 1961-1963, Tập III, Memo của Forrestal gửi Harriman ngày 8-3-1 963) Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 08 Tháng Hai, 2023, 02:06:02 pm Để hiểu rõ hơn về biến cố 1963, ta cần nắm bắt được ba giai đoạn phân chia cuộc đời chính trị của ông Ngô Đình Diệm:
- Trước 1954, ông là một chính khách trôi nổi trong cuộc chiến Pháp-Việt, bị kẹt giữa chính sách của Hội Truyền giáo Hải ngoại (MEP) và truyền thống phục vụ nền đô hộ Pháp của gia đình nên ông đã không xả thân chống Pháp quyết liệt như các nhà cách mạng đương thời. Khi thì làm quan Nam Triều nên Việt Minh ghét ông, khi thì theo Nhật nên Tây muốn bắt ông, khi thì ẩn mình trong tu viện, khi thì "bao năm từng lê gót nơi quê người", không uy tín, không lực lượng ngoại trừ một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo bản địa ủng hộ. Quốc tế không biết đến ông, vốn không có gốc rễ trong quần chúng nên không có một hoạt động nào có tác động đáng kể vào cuộc vận động giải thực gian khổ của toàn dân. Đây là giai đoạn ông Diệm có thể có tâm nhưng chắc chắn không có tài, ai theo ông cũng được, không theo ông cũng chẳng sao. Ông chỉ là một "chính khách sa-lông" như ta thường gọi. - Giai đoạn thứ nhì là từ 1954 đến 1959: Đó là lúc Mỹ thay Pháp tham dự vào thế cờ Đông Dương để xây dựng một tiền đồn chống lại chiến lược bành trướng của Cộng sản Quốc tế tại châu Á. Ông may mắn có hai yếu tố mà các chính khách Việt Nam đương thời không có: Mỹ và Vatican. Ông cũng may mắn có ông anh Giám Mục quen biết với lãnh tụ số một của Công giáo Mỹ trong thời kỳ đó. Cho nên ông được cường quốc Mỹ hỗ trợ thay thế Bảo Đại của Pháp. Ba "bà mụ" chăm sóc để hóa thân ông thành "phép lạ" của Mỹ là Hồng y Francis Spellman, Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, và Ngoại trưởng John Foster Dulles1 (Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History. New York: Frederick A. Prae-ger, 1968). Với hai thế lực quốc tế và bảo chứng của vị vua triều Nguyễn, ông về nước, "phất cờ" và được hầu như toàn dân miền Nam ủng hộ để xây dựng miền Nam mà chống Cộng. Quân viện và kinh viện, nhân sự và văn hóa của Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, giúp ông vượt qua mọi trở ngại để thành lập nền Cộng hòa. Lãnh đạo miền Bắc vừa phải chờ gần hai năm để Tổng tuyển cử, lại vừa bận lo chữa vết thương chiến tranh sau 9 năm đánh Pháp, nên miền Nam được tạm ổn, thanh bình và trù phú. Ông làm Tổng thống của một nền Cộng hòa non trẻ, là một lãnh tụ không giỏi nhưng gặp thời và được hai thế lực đỡ đầu hết lòng yểm trợ, nên thực hiện được nhiều thành tích tại miền Nam. Trong giai đoạn 5 năm này, ông Diệm là người có thể vừa có tâm vừa có tài, nhưng quan trọng hơn cả là ông được thời thế, ai là người muốn xây dựng miền Nam để chống Cộng thì phải ủng hộ ông. Ông là một ông quan phụ mẫu chi dân tuyệt vời trong một chế độ dân chủ khập khiểng. Giai đoạn cuối là từ năm 1960 với những bước ngoặt oan trái, hệ quả của nền cai trị độc tài của ông mấy năm trước và của bản chất phong kiến gia đình trị, tổng hợp chất Thiên Chúa giáo Trung cổ và quan lại Tống Nho của văn hóa gia tộc ông. Năm 1960, chánh sách nội trị của ông phạm nhiều sai lầm nên bị chính quân dân miền Nam chống đối. Từ đầu năm, nhóm trí thức Bắc di cư trong báo Tự Do công khai tố cáo hành động đục khoét miền Nam của gia đình họ Ngô với bức tranh 5 con chuột trên bìa báo Xuân Canh Tý. Tiếp theo là thảm bại của Sư đoàn 13 tại Trảng Sập (Tây Ninh) vào ngày 26/1 dù lực lượng chính phủ đông và mạnh hơn. Đến tháng 4, nhóm 17 nhân sĩ trí thức và một linh mục (trong đó có 11 người đã từng là chiến hữu hoặc cộng tác viên cũ của ông Diệm) thuộc nhóm Tự Do Tiến Bộ ra Tuyên ngôn (tại khách sạn Caravelle) tố cáo tình trạng độc tài, tham nhũng, kém hữu hiệu và đòi ông thay đổi nhân sự cũng như chính sách. Tháng 11, các sĩ quan chỉ huy binh chủng Nhảy Dù cùng nhiều nhân vật đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân Chủ và Mặt trận Quốc gia Đoàn kết đã phát động cuộc binh biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Tháng 12, Hà Nội cho ra đời và công khai hóa Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, làm điểm tụ lực để thu hút quần chúng bất mãn hầu tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, thách thức tính chính thống của Việt Nam Cộng hòa trên cả hai mặt quốc tế và quốc nội. Nhưng 5 biến cố đó cũng không tác hại sâu sắc bằng tình trạng kể từ năm 1960, hai ông bà Ngô Đình Nhu bắt đầu khuynh loát rồi cuối cùng khống chế trung tâm quyền lực quốc gia ở Dinh Gia Long, từ từ đẩy ông Diệm vào vai trò thứ yếu trong công việc quản trị miền Nam. Ông làm Tổng thống như một vua Lê bù nhìn bên (ông bà) chúa Trịnh lộng quyền. Đây là giai đoạn chót, ông Diệm mất đi cả cái tâm lẫn cái tài, nhưng vẫn cùng gia đình cao ngạo bám vào ghế lãnh đạo quốc gia nên hại nước hại dân, vì vậy ai là người có trí và có lòng thì cũng phải chống ông. Từ người hùng của thời thế, ông Diệm trở thành tội nhân của lịch sử. Đó có phải là nhiệm ý Thiên Chúa chăng? Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 08 Tháng Hai, 2023, 02:09:07 pm Vì cái năm bản lề 1960 nhiều biến động đó mà những năm sau, miền Nam bắt đầu suy thoái, chịu đựng hết cuộc khủng hoảng này đến cuộc khủng hoảng khác.
Thật vậy, năm 1961, trong lúc nền kinh tế quốc gia vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào kinh viện Mỹ1 (Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62; và Frances Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 101 -104) thì tình hình an ninh hầu như bị suy sụp một cách đáng quan ngại, nhất là ở nông thôn, nơi Việt cộng kiểm soát 80%2 (Robert Scigliano, Vietnam, A Country At War) đến nỗi ngày 10-10-1961, ông Diệm phải ban bố "tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa"3 (Sắc lệnh số 209-TTP của Tổng Thống Phủ - Đoàn Thêm, "Những ngày Chưa quên" Đại Nam, 1967 - Nam Chi Tùng Thư tái bản). Và hai tháng sau, ngày 7-12-1961, ông Diệm đã gửi thư cho Tổng thống Kennedy xin tăng thêm viện trợ vì "Việt Nam Cộng hòa đang phải đối đầu với một thảm họa lớn nhất trong lịch sử"4 (Marvin E, Cettlemen, Vietnam History, Documents and Opinionsm và Đoàn Thêm, "Những ngày Chưa quên" Đại Nam, 1967 - Nam Chi Tùng Thư tái bản). Qua năm 1962, sáng ngày 27 tháng 2, hơn một năm sau "Đảo chánh Nhảy dù", hai sĩ quan của một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn cử đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc Lập với mục đích tiêu diệt toàn bộ lãnh đạo đầu não của Đệ Nhất Cộng hòa. Trong khi đó thì ngoài chiến trường, các đơn vị vũ trang của Việt cộng bắt đầu thách thức quân lực VNCH trên cả 4 Quân khu, đánh chiếm nhiều đồn bót, pháo kích vào các quận huyện ven thủ đô Sài Gòn. Đặc công của họ còn dám đặt chất nổ tại các thành thị và bắt cóc các viên chức của chế độ5 (Stanley Karnow, Vietnam, A History, New York: King Presss, 1983). Tình trạng an ninh khẩn trương đến nỗi ngày 31-3-1962, ông Diệm đã phải gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ VNCH chống cuộc xâm lăng của Cộng sản1 (Đoàn Thêm, "Những ngày Chưa quên" Đại Nam, 1967 - Nam Chi Tùng Thư tái bản). Như vậy, "Sau sáu năm trời làm một thứ Quốc trưởng không ai lay chuyển nổi, Diệm vẫn bất an. Sự ủng hộ của nhân dân phai lạt, quân đội không thể chiến đấu theo lối chiến tranh cách mạng của Việt cộng, còn kinh tế quốc gia hầu hết hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ"2 (Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62). Và, cuối cùng, năm 1963 định mệnh cũng đến! Trong năm đó, những biến cố dồn dập khuấy động một miền Nam hừng hực lửa. Những biến cố này là do hệ quả tích lũy từ các nguyên nhân các năm trước hoặc được khởi động đột biến ngay trong chính năm 1963: Từ thảm bại Ấp Bắc đến Phúc trình Mansfield (đặt câu hỏi căn bản rằng "Chúng ta có thể thắng Cộng sản với Diệm không?"); từ cuộc đấu tranh rồi bị đàn áp của Phật giáo đến hành động quyên sinh của văn hào Nhất Linh; từ rạn nứt quan hệ với Mỹ đến những tiếp xúc thỏa hiệp với Hà Nội; từ gần 10 âm mưu đảo chánh của các sĩ quan trung cấp ngay đầu năm 1963 đến chính ông Nhu cũng dự định đảo chánh ông Diệm trong kế hoạch Bravo I để thay ông Diệm... Tất cả như những ngọn sóng, trùng trùng điệp điệp đan bện vào nhau đổ ụp xuống chế độ ông Diệm vào ngày 1-11-1963. Và vào sinh mạng hai anh em ông ngày 2-11-1963. Phật giáo hay không Phật giáo, Quân đội hay không Quân đội, Mỹ hay không Mỹ, cuối cùng thì nhân nào quả nấy. Và lịch sử sang trang. Phải sang trang... Nhiều tài liệu đã đề cập đến những ngày sôi động của năm 1963. Trong tập sách này, thông qua các nguồn tài liệu Mỹ mà chủ yếu là từ FRUS, chúng tôi chì muốn cung cấp thêm một số dữ kiện do người Mỹ phát hiện nhưng không được đông đảo người Việt Nam biết đến. Sau đây là vài ví dụ: - Trong vụ nổ súng tại Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963, lúc đầu, binh sĩ chính quy được lệnh đàn áp đám đông Phật tử nhưng họ từ chối. Do đó, cuối cùng, chính Địa phương quân của Thiếu tá Đặng Sỹ đã nổ súng và ném lựu đạn1 (FRUS 1 961 -1963, Vol. III, Doc. 116). - Ngày 3-6-1963, sinh viên và đồng bào tại Huế biểu tình và đã bị quân đội phun hóa chất để giải tán2 (FRUS 1961-1963, Vol. III, Doc. 146 và 147). - Tướng Lê Văn Kim là tướng lãnh đầu tiên đề cập với người Mỹ, ông Rufus Phillips của USOM, về ý định của quân đội sẽ loại bỏ ông Nhu nếu Mỹ có cùng một thái độ cứng rắn như thế. Bộ trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn phòng Phủ Tổng thống Võ Văn Hải cũng muốn Mỹ tỏ thái độ muốn loại bỏ ông Nhu3 (Pentagon Papers trích dẫn FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274). - Tướng Trần Văn Đôn cho người Mỹ biết giữa ông Diệm và bà Nhu không có quan hệ xác thịt nhưng ông Diệm xem bà Nhu như một người vợ lý tưởng thuần khiết (platonic wife) như Hitler đối với Eva Braun, và ông Diệm đã từng thăng chức cho một người làm vườn tại Đà Lạt từ Trung sĩ lên Trung tá chỉ vì người này trắng trẻo đẹp trai1 (FRUS 1961 - 1963, Vol III, Doc. 275). - Việc ông Nhu lừa dối các tướng lãnh khi cho Lực Lượng Đặc Biệt giả danh quân đội tấn công các chùa tại Sài Gòn đêm 20-8-1963 khiến cả Mỹ lẫn dân chúng Việt Nam lên án quân đội, đã là một bước ngoặt mạnh mẽ khiến Quân đội dứt khoát muốn loại bỏ ông Nhu hơn2 (FRUS 1961 - 1963, Vol III, Doc. 274). - Từ năm 1962, sau cuộc đảo chánh của Nhảy Dù và vụ oanh kích của 2 phi công, và trước khi xảy ra vụ biến động Phật giáo, Mỹ đã đánh giá là miền Nam sẽ bị nhuộm máu vì gia đình họ Ngô đa nghi, kém hiệu quả và mất lòng dân3 (FRUS 1961 - 1963, Vol II, 1 962, Doc. 268). - Sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, ngày 25/6, ông Nhu đã nói thẳng với người Mỹ rằng ông chống đối ông Diệm, và chính phủ hiện tại phải bị loại bỏ. Ông Nhu trình bày điều này trong một tình trạng xúc động cao độ4 (FRUS 1961 - 1963, Vol III, Doc. 256). - Một đội cảnh sát đặc biệt của bà Nhu được thành lập và do người em của bà là Trần Văn Khiêm chỉ huy. Ông Khiêm đã cho một ký giả người Úc xem một danh sách các viên chức Mỹ tại Sài Gòn mà ông đang lên kế hoạch ám sát1 (FRUS 1961 - 1963, Vol IV, Doc. 68). - Nhiều quan chức Việt Nam cho biết quyền lực thực sự nằm trong tay ông Nhu; ông Diệm chỉ là "búp bê" của ông Nhu. Cả hai ông Nguyễn Đình Thuần và Võ Văn Hải đều xác nhận ông Nhu hút thuốc phiện từ hai năm rồi. Trạng thái tâm thần hoảng loạn của ông Nhu hiện rõ khi ông tuyên bố chỉ có ông mới cứu được Việt Nam2 (FRUS 1961 - 1963, Vol IV, Doc. 110). Bà Trần Văn Chương, thân mẫu của bà Nhu, gọi bà Nhu là "đồ quỷ" (monster), ông Nhu là "hung nô" (barbare), ông Diệm là "kẻ bất tài" (incompetent). Còn ông Trần Văn Chương, Đại sứ VNCH tại Mỹ, thì bàn thảo với các nhà hoạt động để thành lập một chính phủ lưu vong nhằm lật đổ nhà Ngô3 (FRUS 1961 -1963, Vol IV, Doc. 118). Khoản tiền 42.000 Mỹ kim đã do CIA trao trước đó để dùng mua thực phẩm cho chiến binh VNCH và dùng làm tiền tử tuất cho gia đình tử sĩ trong cuộc binh biến 1-11-1963. Tướng Dương Văn Minh hai lần điện thoại tới ông Diệm, đề nghị hai anh em Diệm-Nhu đầu hàng sẽ được an toàn xuất ngoại. Ông Diệm hai lần từ chối...4 (Phúc Trình Thượng Viện Hoa Kỳ số 94-465). Trên đây cũng chỉ là một số điểm nổi bật. Xuyên suốt tập sách, độc giả sẽ tiếp tục khám phá ra nhiều sự kiện khác nữa trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này. Về hình thức trình bày, để độc giả tiện tham khảo đối chiếu, chúng tôi cố gắng trình bày cả nguyên tác Anh ngữ và các dẫn chú tham chiếu ở bất cứ nơi nào có thể được. Hầu hết các chú thích là của nguyên tác và được chuyển dịch sang Việt ngữ. Tuy nhiên, ở một số nơi cần có sự giải thích rõ hơn của người dịch (ND), chúng tôi sẽ dùng các cước chú bằng chữ số La-mã (i, ii, iii...) để phân biệt. Các thuật ngữ dùng trong các hệ thống văn bản này chưa từng được chuyển dịch nhất quán, do đó chúng tôi sẽ tạm quy ước dùng "điện văn" (telegram, tel) để chỉ các bức điện được trao đổi, "hồ sơ" (document, doc) để chỉ các văn bản đã được hệ thống và đánh số trong kho dữ liệu FRUS. Đối với một số các thuật ngữ khác, chúng tôi cũng sẽ cố gắng chuyển dịch nhất quán trong chừng mực có thể được. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Chính biến 1-11-1963, chúng tôi hy vọng tập sách này sẽ là một nhắc nhở đến những độc giả muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam thời cận đại một điều ai cũng đã biết, rằng trong tình trạng nhiễu loạn thông tin và nhiễu nhương thế sự hiện nay, hiểu và đánh giá đúng một sự kiện thật là khó khăn. Trân trọng, Nhà Xuất bản Thiện Tri Thức (Thien Tri Thuc Publications) Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 08:51:40 pm PHẦN I CUỘC VẬN ĐỘNG BÌNH ĐẲNG TÔN GIÁO NĂM 1963 CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM DẪN NHẬP Tâm Diệu Năm 1963 là năm mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã gặp phải sức phản kháng mạnh mẽ nhất từ mọi thành phần dân chúng. Khởi đầu là cuộc tranh đấu của Phật giáo khởi đầu từ ngày 8-5-1963 và chấm dứt vào đêm 20 tháng 8 năm 1963, và tiếp sau đó là cuộc đấu tranh toàn diện của học sinh, sinh viên, và quân dân Miền Nam Việt Nam. Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ, một thời gian đủ dài để con người có thể lắng dịu tâm tư và các kho lưu trữ tài liệu mật của các bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng, và cục Tình báo Trung Ương Hoa Kỳ cũng đã giải mật cho công chúng tự do vào xem, kèm theo đó còn có một bản Phúc trình của Phái đoàn Liên Hiệp Quốc được thực hiện ngay trước khi Chính phủ Diệm sụp đổ cũng đã lưu hành rộng rãi. Nhờ đó, chúng ta có thể nhìn lại lịch sử ngày 1-11-1963 một cách rõ ràng hơn. Toàn bộ các kho tài liệu trên đều bằng Anh ngữ. Nhưng may mắn thay, chúng ta đã có thể tiếp cận một cách dễ dàng qua những bản dịch Việt ngữ rất nghiêm túc của các dịch giả Nguyên Giác, Trí Tánh và Nguyễn Minh Tiến. Những bản dịch này được các dịch giả tuyển dịch từ tài liệu chính thức có độ khả tín cao và khách quan, vốn từng là những thông tin nội bộ chỉ dùng trong bộ máy điều hành, không có tính cách tuyên truyền, bao gồm các Phúc trình kín, mật và tối mật, biên bản chính thức của những thảo luận nội bộ, điện văn trao đổi giữa Bộ Ngoại Giao, Bộ Quốc Phòng, Tòa Bạch Ốc, Cục Tình báo Trung ương ở Washington và tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng như Lãnh sự quán tại Huế. Những tài liệu này đã được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ giải mật và xuất bản thành 5 tập với tựa đề: Foreign Relations of the United States (FRUS), 1961-1964 (Bang giao quốc tế của Hoa Kỳ, 1961-1964), thường được giới nghiên cứu biết và sử dụng dưới tên gọi tắt là FRUS. Thêm vào đó là hồ sơ tối mật về cuộc chiến Việt Nam "The Pentagon Papers" do Ủy ban Đặc nhiệm Nghiên cứu về Việt Nam của Bộ Quốc Phòng Mỹ nghiên cứu, soạn thảo và xuất bản thành 4 tập. Qua nội dung các bản dịch, chúng ta có thể biết được những gì thực sự đã xảy ra trong những ngày trước và sau cuộc chính biến 1-11- 1963. Trước khi trình bày toàn bộ các bản dịch, chúng tôi mạn phép tóm lược dưới đây vài điểm ghi nhận quan trọng của chính các dịch giả, theo diễn biến sự kiện. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 08:52:59 pm BIẾN CỐ NGÀY 8-5-1963 TẠI HUẾ
Trước hết là các điện văn trao đổi giữa Lãnh Sự quán Mỹ ở Huế, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, và Bộ Ngoại Giao Mỹ ở thủ đô Washington trong đêm xảy ra biến cố 8-5-1963 tại đài phát thanh Huế. Và tiếp theo các điện văn trao đổi là bản Phúc trình của Trung Ương Tình Báo (CIA) ở Washington báo cáo lên Tổng Thống Mỹ về Cuộc Thảm Sát Huế 1963, trong đó ghi rằng, khi giải tán đám đông 3.000 Phật tử, trách nhiệm thảm sát tại Đài Phát Thanh Huế là do lực lượng: cảnh sát, Dân Vệ và quân đội. Hồ sơ CIA nơi đây cũng nói: Chính sách của chính phủ ông Diệm là thiên vị Thiên Chúa giáo, nhưng Phật Từ trước giờ vẫn lặng lẽ chịu đựng, cho tới khi xảy ra biến động Huế. CUỘC TỔNG TẤN CÔNG CÁC CHÙA ĐÊM 20-8-1963 Sự kiện tại Huế ngày 8 tháng 5 năm 1963 - một sự kiện dẫn tới những gì được gọi là cuộc khủng hoảng Phật giáo và khởi sự cho một chuỗi sự kiện cuối cùng dẫn tới việc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm đã xảy ra một cách tình cờ và bất ngờ, theo sự nhận định của 36 nhà phân tích của Mỹ về tình hình Phật giáo Việt Nam trong thời gian từ ngày 8-5-1963 tới ngày 21-8-1963, trong hồ sơ The Pentagon Papers. Cũng theo tài liệu này thì nguyên nhân xảy đến chuỗi sự kiện này là do chính quyền Ngô Đình Diệm đã biệt đãi Thiên Chúa giáo và kỳ thị Phật giáo. Các nỗ lực hòa giải giữa Phật giáo và chính quyền đã không thành công, Thông Cáo Chung 16-6-1963 không được ông Diệm thực thi vì bị ông bà Nhu phá hoại. Cao điểm sự tráo trở của chính phủ Ngô Đình Diệm là cuộc tổng tấn công chùa chiền toàn quốc đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, bắt giam hơn 1.400 tăng ni Phật tử, trong đó có hai vị lãnh đạo Phật giáo cao cấp là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết (Hội chủ của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam) và Thượng Tọa Thích Tâm Châu (Chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo). Điều đáng chú ý là trong suốt năm 1963, chính ông Nhu đã đoạt quyền ông Diệm để đối phó với cuộc khủng hoảng Phật giáo càng lúc càng lan rộng, nhờ có sự ủng hộ từ các lực lượng quần chúng khác. Thậm chí ông Nhu còn cho ông Diệm là người nhu nhược và "đã biểu lộ sự chống đốì mãnh liệt ông Diệm và chính phủ của ông ta" đến mức dự định đảo chánh ông Diệm1 (FRUS 256 - Bản Ghi nhớ của Phó Giám đốc Kế hoạch CIA Helms, ngày 16-8-1963, gửi Phụ tá Ngoại trưởng Hilsman). Ông Nhu đã thăm dò những điều kiện đàm phán sơ khởi với lãnh đạo Cộng sản ở Hà Nội2 (Theo Death of a Generation, Howard Jones, Oxford University Press, 2003), đã từng thiết lập danh sách viên chức Mỹ sẽ bị ông ám sát3 (FRUS 68 - Điện văn của Giám Đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu Thomas Hughes trình lên Ngoại Trưởng Hoa Kỳ ngày 6-9- 1963), đã tuyên bố với nhật báo Ý L’Expresso ngày 3-10-1963 là sẽ "cắt đầu" cha vợ, Đại sứ Trần Văn Chương...4 (FRUS 186 - Điện văn số POL 15S VIET của Đại sứ Cabot Lodge gửi cho Bộ Ngoại Giao ngày 7-10-1963) Lý giải cho những động thái điên cuồng đó của ông Nhu, Đại diện Ba Lan tại Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến (ICC) là Mieczylaw Maneli, Chánh Văn phòng Phủ Tổng thống Võ Văn Hải, Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần đều cho là do ông Nhu bị bệnh tâm thần, ám ảnh bởi bệnh hoang tưởng... "Vào giai đoạn đó, Nhu sa vào vòng nghiện ngập và điều đó đã đẩy ông ta đến những trạng thái cực đoan... Người ta bắt đầu thấy những dấu hiệu điên loạn trên mặt ông ta, nhìn bất động như kẻ mộng du, với một nụ cười lạnh lùng cố hữu..."5 (Theo Roger Hilsman, To Move A Nation, Doubleday Inc. and Co. , New York 1967, trang 480). Không khí chính trị căng thẳng tại Sài Gòn từ ngày Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu đến giữa tháng 8-1963 đã cho các nhà quan sát Hoa Kỳ thấy rằng cuộc tranh chấp giữa Phật giáo và chính quyền đang diễn tiến. Tuy nhiên, khi xảy ra cuộc tổng tấn công đêm 20 rạng ngày 21-8-1963 nhắm vào các chùa với lệnh thiết quân luật trên toàn miền Nam, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã hoàn toàn bất ngờ. Họ cũng nhận định, Quân đội VNCH bất mãn vì bị dân chúng đổ tội tấn công các chùa, trong khi thực tế họ không biết gì về việc ông Ngô Đình Nhu ra lệnh cho Đại Tá Lê Quang Tung dẫn Lực Lượng Đặc Biệt bất ngờ tấn công các chùa và tin tức tình báo cho biết ông Nhu đã gài vũ khí, chất nổ vào các chùa để vu vạ. Chính người Mỹ cũng bất mãn vì ông Diệm không thực tâm tiến hành hòa giải với Phật giáo, và chính trận tổng tấn công các chùa đã xé bỏ bản Thông Cáo Chung 16-6-1963 mang chữ ký của hai nhà lãnh đạo, Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết và Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 08:53:59 pm CUỘC ĐIỀU TRA CỦA PHÁI ĐOÀN LIÊN HIỆP QUỐC
Có ba tài liệu chính thức của Liên Hiệp Quốc và một công trình nghiên cứu đại học liên quan đến cuộc điều tra về đàn áp Phật giáo tại Nam Việt Nam của Liên Hiệp Quốc: - Đề mục Thảo luận số 77 (Agenda Item 77) - là căn cứ để Liên Hiệp Quốc chỉ định các thành viên thành lập Phái đoàn điều tra sự thật về vi phạm nhân quyền tại miền Nam Việt Nam. - Phúc trình mang số hiệu A/5630 - là phúc trình về kết quả điều tra của Phái đoàn Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam, hoàn tất ngày 7-12- 1963. - Biên bản Buổi họp Khoáng đại thứ 1280 của Đại Hội đồng LHQ, Phiên họp thứ 18, ngày 13- 12-1963, là văn bản chính thức tuyên bố việc không cần thiết đưa ra kết luận của Đại Hội Đồng vì đối tượng điều tra là Chính phủ Diệm đã sụp đổ. - Khảo luận in thành sách "Một Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền" (A United Nations High Commissioner For Human Rights) của Giáo sư Roger Stenson Clark, do Martinus Nijhoff (Hòa Lan), xuất bản năm 1972. Các văn bản trên đều sẽ được trích dịch và phân tích chi tiết trong tập sách này, để mang đến cho độc giả một cái nhìn sáng tỏ hơn về vấn đề đàn áp Phật giáo trước và trong năm 1963. CUỘC CHÍNH BIẾN 1-11-1963 Điểm quan trọng trong các tài liệu nói về cuộc chính biến 1-11-1963 là: Ai đã khởi xướng và lập kế hoạch đảo chánh? Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge, cơ quan tình báo CIA của Mỹ, hay chính các Tướng lãnh dưới quyền ông Diệm? Và liệu Phật giáo có vai trò gì trong cuộc chính biến này hay không? Theo điện văn 243 của Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball gửi ông Lodge ngày 24-8-1963, Washington đã chỉ thị cho Đại sứ Lodge phải gây áp lực buộc ông Diệm gạt bỏ ông bà Nhu ra khỏi chính phủ, nghĩa là vẫn duy trì Chính phủ với ông Diệm làm Tổng Thống, và nếu điều này không được thực hiện thì cần hiểu là Mỹ đồng ý một "sự thay thế" lãnh đạo tại miền Nam. Theo Bản Ghi Nhớ do William P. Bundy1 (William P. Bundy là sĩ quan CIA, Phụ Tá Ngoại Trưởng về Viễn Đông Á Vụ, cũng là cố vấn đối ngoại cho các Tổng Thống Kennedy và Johnson) soạn ngày 30-7-1966 theo yêu cầu của Bill Moyers2 (Trưởng Phòng Thông Tin của Tổng Thống Johnson) thì vào thời điểm trước đảo chánh, Mỹ nhận thấy không thể cản nổi cuộc đảo chánh vốn đã manh nha từ trước ngày ông Nhu hạ lệnh tổng tấn công các chùa đêm 20- 8-1963. Trung Tá Đỗ Khắc Mai, Tham Mưu Trưởng Không Lực VNCH, đã bày tỏ ý định vận động một cuộc lật đổ nhà Ngô; ý định này được ghi lại trong điện văn 165, đề ngày 11-6-1963, do Tòa Đại Sứ Mỹ gửi về Bộ Ngoại Giao; và theo Bản Ghi Nhớ số 118 đề ngày 16-9-1963, viết bởi Paul M. Kattenburg, Phó Giám ĐỐC Đông Nam Á Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, thì đã có ít nhất là 10 âm mưu đảo chánh khác, vận động từ phía các sĩ quan cấp tá và nhiều lãnh tụ đảng phái, kể cả những cộng sự viên thân tín của ông Diệm. Trong những người tham dự âm mưu lật đổ nhà Ngô có cựu Đại sứ Trần Văn Chương, thân phụ của bà Ngô Đình Nhu. Ngoài ra Tướng Lê Văn Kim ngày 23-8-1963, đã gặp Rufus Phillips, Giám đốc USOM Rural Affairs, và nói rằng quân đội VNCH đã sẵn sàng đảo chánh để lật đổ chế độ nhà Ngô vì đó là cách duy nhất để giữ lòng dân - vì quân đội và dân chúng đều bất mãn tột độ. Như thế, qua các tài liệu đã giải mật, người đọc có thể thấy rõ rằng cuộc đảo chánh 1-11-1963 nhằm lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm không khởi nguồn từ xúi giục của bất kỳ ngoại nhân nào, kể cả từ Hoa Kỳ. Có thể nói, cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 là một chuyển biến tất yếu của lịch sử, mà những nguyên nhân tiềm ẩn cũng như động lực thúc đẩy nó xét cho cùng đều được sản sinh từ chính sách cai trị do Chính phủ Diệm-Nhu áp đặt lên người dân, trong đó phần quan trọng nhất chính là sự đàn áp kéo dài đối với người Phật tử, chiếm hơn 80% dân số vào lúc đó. Và người dân Sài Gòn đã xác nhận điều này không phải bằng bất kỳ một văn bản hay phúc trình nào trên giấy trắng mực đen, mà bằng những nụ cười rạng rỡ khi họ chứng kiến sự sụp đổ của chế độ. Trong sách này, chúng tôi kính mời quý độc giả theo dõi các diễn biến lịch sử qua những văn bản một thời từng được xem là tối mật và chỉ dành riêng cho các cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước, Việt Nam cũng như Hoa Kỳ. Chúng tôi hy vọng đây sẽ là những thông tin khách quan và thuyết phục nhất để giúp quý độc giả tìm hiểu sâu hơn về một giai đoạn đầy biến động của dân tộc với rất nhiều đau thương mất mát, nhưng quan trọng hơn hết là hiện vẫn còn tồn tại quá nhiều những cách hiểu và nhận thức sai lầm về giai đoạn lịch sử này, không đúng thật như đã từng diễn ra. Mong rằng với nỗ lực lần này của những người thực hiện tập sách, những nhận thức và định kiến sai lầm sẽ được xua tan. Trân trọng, Tâm Diệu Trưởng Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 08:55:54 pm CÁC ĐIỆN VĂN TRAO ĐỔI GIỮA TÒA TỔNG LÃNH SỰ HUẾ, TÒA ĐẠI SỨ MỸ TẠI SÀI GÒN VÀ BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ TẠI WASHINGTON VỀ BIẾN CỐ ĐÊM LỄ PHẬT ĐẢN 8-5-1963 TẠI ĐÀI PHÁT THANH HUẾ Lời dẫn Có ba biến cố cao điểm của phong trào tranh đấu Phật giáo năm 1963 - cái chết của 8 Phật tử đêm 8/5/1963 tại đài phát thanh Huế cuộc tự thiêu của HT. Quảng Đức ngày 11/6/1963 tại Sài Gòn và chiến dịch "nước lũ" tổng tấn công chùa chiền toàn quốc đêm 20 rạng ngày 21/ 8/1963. Ba biến cố lịch sử quan trọng này dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng kéo dài nửa năm và kết thúc bằng cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Dưới đây là các điện văn trao đổi giữa Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, và Bộ Ngoại Giao Mỹ ở thủ đô Washington trong đêm xảy ra biến cố 8/5/1963 tại đài phát thanh Huế. Điểm quan trọng trong biến cố này là ai đã bắn súng và ném lựu đạn vào đám đông trước đài phát thanh đêm 8/5/1963. Theo điện văn số 4 báo cáo về Washington, Dân vệ dưới quyền Thiếu tá Phó Tỉnh Trưởng Đặng Sỹ đã nổ súng và ném lựu đạn (Hồ sơ số 116). Tuy nhiên, trong một điện văn khác ông Đại sứ Nolting, sau khi hội kiến với TT Ngô Đình Diệm cho biết ông Diệm vẫn cho rằng Việt cộng hoặc thành phần bất đồng chính kiến đã ném lựu đạn vào đám đông. (Hồ sơ số 131) 112. ĐIỆN VĂN TỪ TÒA LÃNH SỰ TẠI HUẾ GỬI VỀ BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ1 (Nguồn: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Hồ sơ trung ương, POL 25 S VIET. Mật. Xem xét tức khắc. Nhận lúc 8:33 giờ sáng. (Foreign Relations of the United States, 1961-1963 Volume III, Vietnam, January-August 1963, Document 112... - ND)) Huế, ngày 9 tháng 5-1962 - lúc 3 giờ chiều Điện văn số 4. Đại Lễ Phật Đản tại Huế ngày 8 tháng 5 đã trở thành một cuộc biểu tình lớn ở Đài Phát Thanh Huế từ 8 giờ tối đến 11 giờ 30 tối, giờ địa phương. Vào lúc 11 giờ 45, khoảng 3.000 người tụ tập và bị canh gác bởi 8 xe thiết giáp, một đại đội Dân vệ, một đại đội thiếu quân số của Quân đội VNCH, xe bọc sắt của cảnh sát, và một số súng carbine bắn chỉ thiên để giải tán đám đông, rõ ràng không hỗn loạn nhưng lại có vẻ đe dọa dưới mắt nhà cầm quyền. Lựu đạn nổ ở thềm đài phát thanh làm chết 4 trẻ em, một phụ nữ. Các chuyện khác xảy ra, có lẽ vì hốt hoảng, làm chết thêm 2 trẻ em và một người không rõ tuổi. Tổng cộng thương vong đêm này là 8 người chết và 4 bị thương2 (Lúc 7 giờ tối, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Còn gửi bản Phúc trình thứ nhì vụ này về Washington, nói rằng có 7 người chết và 7 người bị thương. Tòa Đại Sứ ghi nhận rằng lính VNCH có thể đã bắn vào đám đông, nhưng hầu hết thương vong, theo Tòa Đại Sứ báo cáo, là từ một quả bom, một loại lựu đạn sát thương, "từ đám đông quần chúng". Tòa Đại Sứ thấy rằng mặc dù khỗng có dấu hiệu Việt cộng liên hệ tới vụ này, VC có thể dự kiến sẽ khai thác các cuộc biểu tình tương lai. (Điện tín 1005 từ Sài Còn, ngày 9-5-1963; nguồn như trên, SOC 14-1 S VIET). Thiệt hại trong ngày 8-5-1963 tại Huế thường được ghi là 9 người chết và 14 người bị thương. (United States-Vietnam Relations, 1945-1967, Sách 3, trang 5; Hilsman, To Move a Nation, tr. 468; Mecklin, Mission in Torment, tr. 153). Trong một lượng định chi tiết về biểu tình của Phật tử tại Huế các ngày 8-10 tháng 5-1963, Lãnh Sự Helble báo cáo rằng 7 người chết trong đêm 8-5, và một trong số bị thương sau đó đã chết, ông ghi nhận rằng có thểm khoảng 1 5 người biểu tình bị thương, nhưng thêm rằng con số chính xác khó biết. Có 2 người trong số bị giết là trẻ em, chết vì bị xe thiết giáp cán chết. (Điện văn A-20 từ Huế, ngày 3 tháng 6-1963; Bộ Ngoại Giao, Central Files, SOC 14-1 S VIET)). Nguyên nhân phía sau của vụ này bắt nguồn từ ngày 7 tháng 5, khi cảnh sát cố thi hành luật cấm treo cờ, trừ quốc kỳ1 (Luật hạn chế treo cờ tôn giáo đưa ra theo Nghị Định 189/BNV/ NA/P5, hiệu lực từ ngày 12 tháng 5-1958. Theo luật, cờ tôn giáo có thể treo riêng ở lễ hội tôn giáo ở nơi thờ phượng hay nhà riêng với sự cho phép của chính quyền địa phương. Trong điện văn A-20, dẫn ở chú thích 2 nêu trên, Helbe ghi nhận rằng luật này "chưa bao giờ được tôn trọng" cho tới khi có nỗ lực thi hành tại Huế, hiển nhiên là do lệnh từ Tổng Thống Diệm, vào ngày lễ Phật giáo quan trọng nhất trong năm. (Bản văn quy định trong Nghị Định 189 nằm trong bản văn ban hành bởi Thị Trưởng Đà Nẵng ngày 8-4-1963, đã được chuyển về Washington trong phụ lục 6 của điện văn A-20.)) cảnh sát đã gặp phải sự đối kháng khắp nơi khi hàng ngàn lá cờ Phật giáo đã treo lên. Theo yêu cầu của cảnh sát, đêm 7 tháng 5, Tỉnh Trưởng [Nguyễn Văn] Đẳngi (Điện văn viết tắt là Dang, trong khi Tỉnh Trưởng lúc đó là Nguyễn Văn Đẳng, và Phó Tỉnh Trưởng Nội An là Thiếu Tá Đặng Sỹ - chữ Dang có thể dễ gây nhầm lẫn giữa tên ông Tỉnh trưởng và họ của ông Phó. - (Chú thích của người dịch - ND)) rút lại lệnh cấm. Sáng ngày 8 tháng 5, một cuộc biểu tình nổ ra tại chùa Từ Đàm vì thầy Hội trưởng [Hội Phật giáo Trung phần], với sự hiện diện của Phật tử Đẳng,ii (Có lẽ muốn nói Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Đẳng là Phật tử - (ND)) đã đọc diễn văn chỉ trích việc chính phủ VNCH đàn áp tự do tôn giáo trong khi ưu đãi Thiên Chúa giáo. Các biểu ngữ tuần hành chống chính phủ VNCH được giương lên. Các bản dịch sẽ được chuyển tới [Washington] ngay khi chuẩn bị xong. Đêm 8 tháng 5, đám đông tập họp ở đài phát thanh, nơi Thượng tọa Hội trưởng [Hội Phật giáo Trung phần] theo dự tính sẽ có bài diễn văn được phát sóng. Giờ chót, chính quyền từ chối không cho phép. Các vị tăng sĩ ở đó kêu gọi dân chúng bình tĩnh. Vòi rồng và lệnh thúc giục giải tán của Tình Trưởng không giải tán được đám đông. Quân đội kéo đến và ra lệnh giải tán. Các tu sĩ Phật giáo kêu gọi đứng yên, đừng chống đối. Phía chính quyền nói là có một số người ném đá vào đài phát thanh, mặc dù có dấu hiệu cho thấy nói thế không đúng. Rồi có tiếng súng nổ. Lúc 11 giờ trưa ngày 9 tháng 5, Tình Trưởng nói chuyện trước khoảng 800 người biểu tình trẻ, giải thích rằng phản ứng của đám đông [lúc đó] bị thúc đẩy bởi những kẻ đối nghịch kích động nên quân đội buộc phải hành động để giữ trật tự. Vị Thượng tọa Hội Trưởng kêu gọi đám đông giải tán êm thắm và nộp các lá cờ. Có tiếng một số người trong đám đông hô khẩu hiệu "Đả đảo Thiên Chúa giáo". Lúc đó, Huế yên tĩnh. Không thấy có việc động binh khác thường và kiểm soát quần chúng. Tuy nhiên, tình hình rất dao động và có tin cuộc biểu tình của Phật tử sẽ xảy ra vào chiều ngày 9 tháng 5. Phật tử rất phẫn nộ. Cộng đồng người Mỹ được cảnh báo Tình trạng Khẩn Cấp Bậc 2, nhưng không thấy đe dọa nào cho người Mỹ lúc này. Ký tên: Helblei (Tổng Lãnh Sự ở Huế vào thời điểm đó) Nguồn: http://thientrithucvn.blogspot.com/2013/01/no-o-hue-ngay-9thang-5-1963-nguon.html Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 08:59:42 pm 112. TELEGRAM FROM THE CONSULATE AT HUE TO THE DEPARTMENT OF STATE1 (Source: Department of State, Central Files, POL 25 S VIET. Secret; Operational Immediate. Received at 8:33 a.m)
Hue, May 9, 1963, 3 p. m. Buddha Birthday Celebration Hue May 8 erupted into large-scale demonstration at Hue Radio Station between 2000 hours local and 2330 hours. At 2245 hours estimated 3,000 crowd assembled and guarded by 8 armored cars, one Company CG, one Company minus ARVN, police armored cars and some carbines fired into air to disperse mob which apparently not unruly but perhaps deemed menacing by authorities. Grenade explosion on radio station porch killed four children, one woman. Other incidents, possibly some resulting from panic, claimed two more children plus one person age unknown killed. Total casualties for evening 8 killed, 4 wounded2 (At 7 p.m. the Embassy in Saigon sent a second report of the incident to Washington, listing seven dead and seven injured. The Embassy noted that Vietnamese Government troops may have fired into the crowd, but most of the casualties resulted, the Embassy reported, from a bomb, a concussion grenade, or "from general melee". The Embassy observed that although there had been no indication of Viet Cong activity in connection with the incident, the Viet Cong could be expected to exploit future demonstrations. (Telegram 1005 from Saigon, May 9; ibid., SOC 14-1 S VIET) Subsequent accounts of the May 8 incident in Hue have generally listed the casualties as nine killed and fourteen wounded. (United States-Vietnam Relations, 1945-1967, Book 3, p. 5; Hilsman, To Move a Nation, p. 468; Mecklin, Mission in Torment, p. 153) In a detailed assessment of the Buddhist demonstrations in Hue May 8-10, Consul Helble reported that seven people died on the evening of May 8, and one of those injured subsequently died. He noted that approximately 15 additional demonstrators were injured, but added that exact figures were difficult to determine. Two of those killed, both children, died from being crushed by armored vehicles. (Airgram A-20 from Hue, June 3; Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET)) Background this incident started May 7 when police attempted enforce law that no flags other than Viet- Namese to be flown1 (The law limiting the use of religious flags was established by Decree 189/BNV/NA/P 5, which became effective on May 12, 1958. According to the law, religious sect flags could be flown only on religious holidays at places of worship or private homes with the permission of the local authorities. In airgram A-20, cited in footnote 2 above, Helble noted that the law was "never observed" until the attempt to enforce it, apparently on orders from President Diem, at Hue on the most important Buddhist holiday of the year. (The text of the regulations outlined in Decree 189 is contained in a communique issued by the Mayor of Danang on April 8, 1963, which was transmitted to Washington as enclosure 6 to airgram A-20)). Police apparently encountered popular resistance to enforcement of law as thousands Buddhist flags publicly displayed. At police request evening May 7 Province Chief Dang reportedly rescinded order. Morning May 8 demonstration at large Tu Dam Pagoda resulted in speech by Chief Bonze in presence Buddhist Dang criticizing GVN suppression freedom religion, favoritism of Catholics. Parade banners during day anti-GVN orientated. Translations of same will be forwarded when available. Evening May 8 crowd gathered at radio station where Head Bonze scheduled broadcast speech. Permission refused at last minute by GVN. Bonzes on scene urged people remain peaceful. GVN fire hoses and exhortations of Province Chief unsuccessful in dispersing crowd. Troops arrived and ordered dispersal. Bonzes said stand still, do not fight, GVN claims some threw rocks at radio station, although indications are this not true. Firing then broke out. 1100 hours May 9, Province Chief addressed estimated 800 youth, demonstrators, explained crowd actions spurred by oppositionist agitators had necessitated troop action to maintain order. Head Bonze requested crowd disperse peacefully and turn in flags. Some of crowd heard chanting "down with Catholicism". At moment Hue quiet. Population controls and unusual troop deployment not observed. However, situation very fluid and reports of Buddhist demonstration to occur afternoon May 9 flowing in. Buddhists very upset. American community on Emergency Phase II Alert but no threat to Americans apparent at present. Helble Source: www.history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/dl12 Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 09:03:19 pm 115. ĐIỆN VĂN TỪ BỘ NGOẠI GIAO MỸ GỬI TỚI TÒA ĐẠI SỨ MỸ Ở VIỆT NAM1 (Nguồn: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Hồ Sơ Trung Ương, SOC 14-1 S VIET. Mật; Tức khắc giải quyết. Soạn thảo bởi Heavner và thông qua bởi Rice. Gửi lại tới Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ vùng Thái Bình Dương, dành cho các cố vấn Chính sách. (CINPAC là viết tắt của Commander-in-Chief, Pacific, Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ vùng Thái Bình Dương; POLAD là viết tắt của Policy Advisors, Cố Vấn Chính Sách - ND))
Từ Washington, ngày 9-5-1963 - lúc 3 giờ 24 phút chiều Điện văn số 1066. [Liên quan đến:] Điện văn số 4 từ Huế gửi về Bộ Ngoại Giao2 (Hồ sơ số 112) - Tòa Đại Sứ được toàn quyền hành động theo hướng khuyến cáo là hãy thúc giục chính phủ Nam VN đừng đưa ra các biện pháp đàn áp Phật tử, hãy bày tỏ thương cảm và giúp chi phí tang lễ cho các gia đình nạn nhân cuộc biểu tình, hãy thực hiện bất kỳ hành vi thích hợp nào để tái lập trật tự và quan hệ thân hữu giữa các nhóm tôn giáo. Ký tên: Ruski (Ngoại trưởng Hoa Kỳ vào thời điểm đó. (ND)) 115. TELEGRAM FROM THE DEPARTMENT OF STATE TO THE EMBASSY IN VIETNAM1 (Source: Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET. Secret; Operational Immediate. Drafted by Heavner and cleared by Rice. Repeated to CINCPAC for POLAD) Washington, May 9, 1963, 3:24 p. m. 1066. Hue 4 to Dept2 (Document 112). At your discretion suggest you urge GVN take no repressive measures against Buddhists, offer sympathy and funeral expenses to families of demonstration victims, make any other appropriate gestures toward restoration of order and amity between religious groups. Rusk Source: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961 -63v03/d115Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 09:07:26 pm 116. ĐIỆN VĂN TỪ LÃNH SỰ QUÁN Ở HUẾ GỬI VỀ BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ1 (Nguồn: Bộ Ngoại Giao, Hồ sơ Trung ương, SOC 14-1 S VIET. Mật; Xử lý tức khắc. Cũng gửi về Saigon)
Huế, ngày 10 tháng 5-1963 - lúc 2 giờ sáng Điện văn số 5. Sáng sớm ngày 10 tháng 5, Huế yên tĩnh. Lệnh giới nghiêm từ 9 giờ tối đã hiệu lực. Ngày 9 tháng 5, đám đông 3.000 người tụ tập trước đài phát thanh lúc 5 giờ chiều, giờ địa phương. Vị Thượng tọa Hội Trưởng Hội Phật giáo Trung phần là Thích Trí Quang kêu gọi dân chúng giải tán ôn hòa. Thượng tọa hứa sẽ tổ chức hội họp vào ngày sau. Yêu cầu của Thượng tọa được tuân theo. Thượng tọa Trí Quang đến lúc này đã có ít nhất ba lần chứng tỏ khả năng điều hành được tín đồ. Rõ ràng ông được tôn trọng như một tăng sĩ độc lập, không lệ thuộc chính quyền. Các xe loa di động của chính phủ VNCH chạy quanh đường phố đêm 9-5, kêu gọi dân chúng bình tĩnh, tránh tụ tập nơi công cộng, tôn trọng lệnh giới nghiêm. Phong Trào Cách Mạng Quốc Giai (National Revolutionary Movement, viết tắt trong điện văn là NRM. (ND)) bảo trợ cho một cuộc tụ tập dân chúng lúc 15:00 giờ chiều ngày 9 tháng 5, để lên án "Việt cộng khủng bố trong đêm 8 tháng 5" đã không được dân chúng tham dự và [thế là] không thấy có diễn văn nào. Theo báo cáo, một đám đông hầu hết là giới trẻ đã diễu hành quanh một phần cổ thành Huế trong nhiều giờ từ sáng sớm ngày 9 cho tới 4 giờ, hô khẩu hiệu đả đảo chính phủ ông Diệm. Theo tường thuật thì các biểu ngữ Phật giáo ngày 8-5 trước đó kêu gọi bình đẳng tôn giáo. [Họ] phản đối lệnh hạ cờ tôn giáo, thúc giục sẵn sàng hy sinh cho chính nghĩa Phật giáo. Hình ảnh do BPAO của Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ (USIS) chuyển đến có nội dung phù hợpi (Điện văn số 4 (Hồ sơ số 11 2) trước đó nói rằng các biểu ngữ có nội dung chống chính phủ VNCH. Đoạn này có nội dung đính chính. (ND)). Có tin Thượng tọa Thích Trí Quang kêu gọi tất cả Phật tử miền Trung VN nếu có thể hãy đến Huế vào ngày 10 tháng 5 để tham dự tang lễ tập thể các nạn nhân chết ngày 8 tháng 5. Có tin Thượng tọa cũng đã yêu cầu Phật tử xuống đường ở tất cả các tỉnh. Vào trưa ngày 8 tháng 5, trước cuộc thảm sát, có tin Thượng tọa đã gửi điện văn đến Tổng Thống Diệm và tổ chức Phật giáo ở Rangoon để phản đối lệnh cấm treo cờ. Lệnh này có tên là Nghị Định Số 101 (Đúng ra là Nghị Định 189. Xem ghi chú 3 của hồ sơ 112. Dụ Số 10, điều trở thành vấn đề trung tâm trong khủng hoảng Phật giáo, nguyên ban hành bởi Hoàng Đế Bảo Đại ở Vichy, Pháp Quốc, ngày 6 tháng 8-1950. Qua sự diễn dịch bởi chính quyền Diệm, luật này chi phối hoạt động của Phật giáo, cũng như các đảng phái chính trị, hội nghề nghiệp, và hội thể thao. Tuy nhiên, luật này đã trao cho "một vị thế đặc biệt sẽ được mô tả sau giành cho các hội truyền giáo Công Giáo và Tin Lành và cho các bang hội Hoa Kiều". (Bản văn, xin đọc ở Journal officiel de la République du Viêt-Nam, Số 34, ngày 26 tháng 8-1 950, các trang 434-437; bản Anh dịch, được bổ túc bởi sắc Lệnh số 6, ngày 3 tháng 4-1954, in làm bản bổ sung Annex XV to U. N. doc. A/5630, ngày 7 tháng 12, 1963).) ban hành bởi Bộ Nội Vụ Sài Gòn hồi năm ngoái. Tiểu đoàn lính dù người Nùng đã tới Huế ngày 9 tháng 5. Tất cả chứng cớ cho thấy khi các chiến binh VNCH trong đêm mồng 8 từ chối lệnh đàn áp đám đông, [thì] lực lượng Dân vệ dưới quyền Thiếu Tá Phó Tình Trưởng Đặng Sỹ đã nổ súng. Đến lúc này thì không nghi ngờ gì nữa, chính một người trong nhóm này đã ném lựu đạn. Tình Trưởng [Nguyễn Văn] Đẳng có vẻ như được thêm uy tín qua các diễn biến này, còn Đặng Sỹ đang bị xem là kẻ xấu. Em trai của Tổng thống, ông Ngô Đình Cẩn, theo tường thuật là đã được thông báo đầy đủ mọi diễn biến, nhưng không biết rõ được ông ta nghĩ gì trước tình hình này. Lễ tang tập thể vào ngày 10 tháng 5 có lẽ sẽ diễn ra ôn hòa, mặc dù Việt cộng đã có đủ thời gian để phản ứng và có thể sẽ cố tìm cách kích động một điều gì đó ngay sau lễ tang, một sự kiện rất có thể sẽ được nhiều ngàn người tham dự. Các công sở ở Huế đã nhận lệnh từ chính quyền vùng duyên hải Trung Phần phải túc trực 24/24 để "đề phòng sự xâm nhập của Việt cộng" và luôn trong tình trạng sẵn sàng vũ khí tác chiến. Tình hình có thể sẽ xấu đi. [Tâm trạng] người dân phải nói là đang căng thẳng. Sự kéo dài và tăng thêm cường độ khủng hoảng là khác thường xét theo bản tính nói chung thường thụ động của người Việt Nam đối với các cuộc biểu tình công khai. Người dân dường như chịu tác động rất mạnh từ bài diễn văn của thầy [Hội trưởng] vào buổi sáng ngày 8 với câu "đã đến lúc phải đấu tranh". Tuy rằng từ ngữ "đấu tranh" có thể là cường điệu hóa, nhưng người dân dường như quả thật có sự khao khát mong đợi một biến cố nào đó sau những năm dài nhiều bất mãn của người Phật tử. Biểu ngữ của sinh viên sáng ngày 9 ghi rằng: "Hãy giết chúng tôi đi!" Những người xuống đường bày tỏ mong muốn mãnh liệt cho cả thế giới đều biết về vụ thảm sát ngày 8-5. Mặc dù chính phủ VNCH quy trách nhiệm cho Việt cộng, người dân chang ai tin vào điều này. Ký tên: Helble Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 10 Tháng Hai, 2025, 09:08:19 pm 116. TELEGRAM FROM THE CONSULATE AT HUE TO THE DEPARTMENT OF STATE1 (Source: Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET. Secret; Operational Immediate. Also sent to Saigon)
Hue, May 10, 1963, 2 a. m. 5. Early AM May 10 Hue quiet. 9 PM curfew now in effect. May 9 crowd of 3,000 gathered radio station 1700 hours local. Chief Bonze Central Vietnam Tri Quang called on people disperse quietly. He promised call meeting later date. His request obeyed. Quang has now demonstrated on at least three occasions his ability handle his followers. He apparently respected as independent, non-GVN Bonze. GVN mobile loudspeakers roamed streets evening May 9 calling on population stay calm, avoid public assemblies, respect curfew. NRM sponsored public meeting at 1500 hours May 9 for purpose condemnation "Viet Cong terrorist act evening May 8" drew no audience whatsoever and speeches never came off. Large group mostly youths, reported to have marched around old citadel part of Hue several hours early 9th until 0400 hours chanting down with Diem government. Theme Buddhist banners May 8 reported earlier called for equality of religion. Protested order take religious flags down, urged no refusal sacrifice for Buddhist cause. USIS BPAO forwarding photographs same. Bonze Quang has reportedly called upon all Buddhist followers in Central Vietnam who can come to Hue May 10 do so for mass funeral victims evening May 8. Reportedly he also has ordered meetings of Buddhists in all provinces. At noon May 8, prior killings, he reportedly sent telegrams to President Diem and Buddhist organization Rangoon protesting order take down flags. This order here known as Decree Number 101 (The correct reference is to Decree 1 89; see footnote 3, Document 112. Decree 10, which became a central issue in the Buddhist crisis, was issued by Emperor Bao Dai at Vichy, France on Augustô, 1950. It established regulations governing the creation and functioning of associations in Vietnam. As interpreted by the Diem government, the law governed the functioning of the Buddhist religion, as well as political parties, trade unions, and sports associations. The law provided, however, that "a special status shall be prescribed later for Catholic and Protestant missions and for Chinese congregations". (For text, see Journal officiel de la Republique du Viêt-Nam, No. 34, August 26, 1950, pp. 434-437; the English language text, as amended by Ordinance No. 6 of April 3, 1 954, is printed as Annex XV to U. N. doe. A/5630, December 7, 1963).) issued by Minister Interior Saigon last year. Nung battalion paratroops arrived Hue May 9. All evidence indicates ARVN present incident evening 8th refused take action against population, CG under Deputy Province Chief Major Sy unit which fired. Little question now that one of these threw grenade. Province Chief Dang apparently has gained stature during developments, Sy being considered villain. Brother of President, Ngo Dinh Can, reportedly informed of all developments, but not clear as to his feelings re situation. Mass funeral May 10 probably will be peaceful, although VC have had sufficient time to react and may attempt touch off something following funerals which likely be attended by thousands. Government offices in Hue ordered now by government delegate CVN lowlands to have all personnel remain in office 24 hours a day to "prevent VC infiltration" and have available all possible weapons. May aggravate situation. Population must be judged as tense. Duration and intensity of crisis unusual in view generally passive nature Vietnamese in terms public demonstrations. People seem to have taken seriously Bonze speech morning 8th "now is time to fight". While word fight perhaps overemphatic, desire of people seems to be to have some sort of showdown following years of frustration for Buddhists. Student banner morning 9th "please kill us". Man on street expressing great desire for world to know of killings on 8th. While GVN line is VC responsible, no credibility this among population. Helble Source: https://history.state.gov/ historicaldocuments/frus1961 -63v03/dl 16 Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Bảy, 2025, 07:57:38 pm 118. BẢN TUYÊN NGÔN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM1
(Nguồn: Bộ Ngoại Giao, Hồ sơ Trung ương, POL 13-6 S VIET. Chưa phân loại; Bản dịch. Được chuyển về trong hồ sơ phụ đính A của điện văn A-781 gửi từ Sài Còn, ngày 10 tháng 6. Một bản dịch hơi khác biệt của tuyên ngôn này đã được chuyển về trong phụ kiện số 5 của điện văn A-20 gửi từ Huế, ngày 3 tháng 6. (Ibid., SOC 14-1 S VIET) Tuyên ngôn này được công bố trong một cuộc họp mở rộng của Tăng Ni và Phật tử tại chùa Từ Đàm, Huế, vào ngày 10 tháng 5. Năm yêu cầu được đưa ra trong tuyên bố này sau đó được nêu rõ trong một số văn bản đề cập đến việc giải quyết cuộc khủng hoảng Phật giáo và được chuyển đến chính phủ của ông Diệm vào ngày 13 tháng 5. (Tham chiếu Hilsman, To Move a Nation, trang 469; Mecklin, Mission in Torment, trang 154) Huế ngày 10 tháng 5 năm 1963 Đã từ nhiều ngàn năm, tăng ni và tín đồ Phật giáo trên thế giới cũng như trong nước vẫn trung thành với tôn chỉ: Từ bi, Vị Tha và Như Thật của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni. Do đó, Phật giáo đến đâu đều đem lại một không khí an lành ở đó. Điều ấy lịch sử đã chứng minh một cách rõ ràng. Dù vậy, đã từ nhiều năm nay Phật giáo đồ bị khủng bố, đàn áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục, đương nhiên không phải hèn yếu mà vì ý thức được những nỗi đau khổ, tang tóc của hoàn cảnh dân tộc ta hiện tại. Nhưng đau đớn thay, một số người đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc đối với tăng ni và tín đồ Phật giáo khắp nước, đối xử một cách bất công với một tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Từ hành động này đến hành động khác, thậm chí đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng nhất của Phật giáo đồ: Cờ Phật giáo quốc tế bị triệt hạ. Quyết định này đã trái hiến pháp và ngang nhiên vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Trước những hành động bất công đó, bắt buộc tăng ni và tín đồ khắp trong nước chúng tôi phải đứng dậy tranh đấu cho lý tưởng của mình. Sự kiện xảy ra 3 ngày nay chính là phản ánh tinh thần đó. Máu đã chảy, nhân mạng đã bị hy sinh, một lần nữa, chúng tôi cương quyết đề đạt những nguyện vọng dưới đây lên chính phủ, yêu cầu thực thi 5 điểm: 1. Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của phật giáo. 2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các Hội Truyền Giáo Thiên Chúa đã được ghi trong Đạo dụ số 101 (Xem ghi chú 2, hồ sơ 116) 3. Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo. 4. Yêu cầu cho Tăng ni, tín đồ Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo. 5. Yêu cầu Chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ bị chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền tội đúng múc. Những điều trên đây là những nguyện vọng tôi thiểu và thiết tha nhất của toàn thể tăng ni và tín đồ Phật giáo trong cả nước. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến khi nào những nguyện vọng hợp lý trên được thực hiện1 (Vào ngày 13 tháng 5, một đại diện của Chính phủ Diệm đã có cuộc gặp với một phái đoàn lãnh đạo Phật giáo để xem xét những yêu cầu được vạch ra trong Tuyên bố ngày 10 tháng 5. Quan chức chính phủ này cho rằng hầu hết các mối lo ngại của Phật tử đều là vô căn cứ, nhưng cũng nói rằng chính phủ sẽ xem xét đến những điều đó. Tuy nhiên, ông ta cũng nói thêm rằng, Tuyên bố của Phật giáo đưa ra có ngôn từ quá đáng và có vẻ như một tối hậu thư. Ông ta cho rằng phương cách như như thế là sai lầm. Biên bản cuộc thảo luận giữa quan chức Chính phủ Việt Nam không rõ tên này và phái đoàn Phật giáo đã được chuyển về trong phụ kiện số 1 của điện văn A-20 gửi đi từ Huế. Vào ngày 15 tháng 5, một phái đoàn các lãnh đạo Phật giáo đã đề đạt các yêu cầu của Phật tử lên Tổng thống Diệm, trong một cuộc gặp mặt với ông ta tại Dinh Tổng thống ở Sài Còn. Về tường thuật nội dung cuộc họp này, xem hồ sơ số 1 29). Phật lịch 2507 Ngày 10 tháng 5 năm 1963. Hòa thượng Tường Vâni (Tức Hòa thượng Tịnh Khiết. (ND)) Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt nam Thượng tọa Mật Nguyện Ban Trị sự Giáo hội Tăng-già Trung phần Thượng tọa Mật Hiển Ban Trị sự Giáo hội Tăng-già Thừa Thiên Thượng tọa Trí Quang Ban Trị sự Hội Phật giáo Trung phần Thượng tọa Thiện Siêu Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật giáo Thừa Thiênii (Nội dung điện văn có sự nhầm lẫn không phân biệt được hai tổ chức Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên và Giáo hội Tăng-già Thừa Thiên nên ghi giống nhau. Toàn bộ nội dung văn bản được chúng tôi trích lại từ nguồn văn bản tiếng Việt, bản dịch sang tiếng Anh trong điện văn có đôi chỗ không hoàn toàn chính xác. (ND)) Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Bảy, 2025, 07:58:53 pm 118. MANIFESTO OF VIETNAMESE BUDDHIST CLERGY AND FAITHFUL1
(Source: Department of State, Central Files, POL 13-6 S VIET. Unclassified; Translation. Transmitted as attachment Atoairgram A-781 from Saigon, June 1 0. A slightly variant translation of this manifesto was transmitted as enclosure 5 to airgram A-20 from Hue, June 3. (Ibid., SOC 14-1 S VIET) The manifesto was issued at a mass meeting of Buddhist clergy and faithful at Tu Dam Pagoda in Hue on May 10. The five demands put forward in this declaration are those which have been described in some of the memoir accounts dealing with the Buddhist crisis as having been addressed to the Diem government on May 13. (Hilsman, To Move a Nation, p. 469; Mecklin, Mission in Torment, p. 154)) Hue, May 10, 1963. For many thousands of years the Buddhist clergy and faithful throughout the world as well as within the country have been loyal to the principles of benevolence, altruism and honesty espoused by Buddha. Because of this, Buddhism has gradually evolved an atmosphere of tranquillity. History has clearly proven this point. Thus, for many years Buddhists have been terrorized and repressed everywhere. Because of our conscience, we are still resigned, although not cowardly so, in the face of the suffering and mourning of our present national circumstances. But our sorrow has been taken advantage of by the authorities to cause untold mourning among the Buddhist clergy and faithful in the country. Buddhism has been condemned in a manner unjust to a religion which has existed in the country for thousands of years. From these actions we can perceive the bad intention of the authorities. They even have smashed the most sacred symbol of the Buddhists by taking down the International Buddhist flag. This decision is contrary to the Constitution and brazenly violates the freedom of religious worship. In the face of these unjust actions, the monks and faithful throughout our country must rise up and struggle for their ideals. The incident which occurred three days ago really affected morale. Blood flowed and human lives were once again sacrificed, so we are now determined to place our hopes before the government and to request the following points: 1. To request that the Government of the Republic of Vietnam permanently retract the official cable repressing the Buddhist religious flag. 2. To request that Buddhists be allowed to enjoy a special regime such as that allowed to Catholics according to Decree 101 (See footnote 2, Document 116) 3. To request the government to stop arrests and terrorization of Buddhist followers. 4. To request that Buddhist bonzes and faithful be allowed freedom to preach and observe their religion. 5. To request that the government make worthwhile compensation for those innocent persons who were killed, and mete out proper punishment to the instigators of the murders. The points mentioned above express the most ardent hopes of Buddhist bonzes and followers in the entire country. We are prepared to make sacrifices until such time as the reasonable aspirations mentioned above are realized1 (On May 13 a representative of the Diem government met in Hue with a delegation of Buddhist leaders to consider the demands outlined in the May 10 declaration. The government official suggested that most of the Buddhist concerns were groundless, but indicated that the government would consider them. He added, however, that the Buddhist declaration was extreme in language and appeared to be an ultimatum. Such an approach, he indicated, was a mistake. A memorandum of the discussion between an unnamed Vietnamese Government official and the Buddhist delegation was transmitted as enclosure 1 to airgram A-20 from Hue. On May 15 a delegation of Buddhist leaders took up the Buddhist demands with President Diem in a meeting with him at the Presidential Palace in Saigon. For a report of that meeting, see Document 129). Buddhist Year 2307* (Điện văn ghi nhầm là 2307, đúng ra là 2507) Hue, 10 May 1963 Bonze Tuong Van President, Vietnam General Association of Buddhists Bonze Mat Nguyen Board of Directors of the Central Vietnam Bonze Association Bonze Mat Hien Board of Directors of the Thua Thien Bonze Association Bonze Tri Quang Board of Drectors of the Central Vietnam Buddhist Association Bonze Thien Sieu Board of Directors of the Thua Thien Bonze Association Source: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961 -63v03/dl 18 Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Bảy, 2025, 07:59:41 pm 131. ĐIỆN VĂN TỪ TÒA ĐẠI SƯ MỸ Ở VIỆT NAM GỬI VỀ BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ1 (Nguồn: Bộ Ngoại giao, các tập tin Trung ương, SOC 14-1 SVIỆT. Bí mật; Ưu tiên. Lặp đi lặp lại CINCPAC. (Foreign Relations of the United States, 1961-1963 Volume III, Vietnam, January- August 1963, Document 131. - ND))
Sài Gòn, ngày 22 tháng năm 1963, lúc 2 giờ chiều Điện văn số 1050. [Liên quan đến:] Tư lệnh Quân lực Thái Bình Dương, dành cho các Cố vấn Chính sách. Điện văn số 11172 (Xem chú thích 3, hồ sơ 129) từ Bộ Ngoại giao. - Trong cuộc họp với ông Diệm vào ngày 18 tháng Năm, ông ấy đã dành khoảng hai giờ cho những câu hỏi về Phật giáo. Tôi đã tìm cách gây ấn tượng với ông ấy về sự cần thiết phải có thểm hành động từ Chính phủ Việt Nam và đặc biệt đề nghị ông tuyên bố công khai và/hoặc bổ nhiệm một ủy ban theo nội dung Điện văn số 10383 (Hồ sơ 129) từ Tòa Đại sứ. Ông Diệm đã không cam kết gì về chuyện ủy ban này và nêu quan điểm rằng một tuyên bố công khai như thế cần được hoãn lại cho đến khi mọi người có đủ thời gian để hiểu rõ được nhiều tuyên bố khác nhau đã được đưa ra, đặc biệt là tại cuộc họp báo được tổ chức bởi các lãnh đạo Phật giáo sau cuộc họp với ông ấy. Từ những nhận xét mở rộng của ông Diệm, tôi thấy khá rõ ràng ông ấy tin rằng (a) biến cố ở Huế đã được kích động bởi các lãnh đạo Phật giáo, (b) các trường hợp tử vong là do một trái hay nhiều trái lựu đạn ném bởi VC hoặc những thành phần bất đồng chính kiến và không phải do Chính phủ Việt Nam, và (c) một số nhà lãnh đạo Phật giáo nào đó đang tìm cách sử dụng biến cố Huế này như là phương tiện nâng cao vị trí của mình trong phong trào Phật giáo tranh đấu. Cuối cùng, Diệm dường như cảm thấy rằng toàn bộ sự việc này ít nghiêm trọng hơn là chúng ta nghĩ. Tôi đã nói, tôi hy vọng ông ấy đã không đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng của tình hình, và rằng những thông tin của chúng ta là những dữ kiện thật và thái độ của dân chúng hoàn toàn khác với ông ấy. Liên quan đến đề nghị của Bửu Hội,1 (Trong bức điện văn số 1117 gửi đến Sài Còn, Bộ Ngoại giao cũng lưu ý rằng, trong chuyến thăm hiện tại đến Washington, Đại sứ Bửu Hội đã bày tỏ ý tưởng rằng chính phủ Diệm nên bổ nhiệm một quan chức cấp nội các chịu trách nhiệm về các vấn đề tôn giáo. Bửu Hội cho rằng Đại sứ Nolting có thể chuyển ý tưởng này đến với Diệm) việc thiết lập một cơ quan chính quyền cấp bộ lo cho các vấn đề tôn giáo có lẽ là điều tốt. Tuy nhiên, tôi không thấy rằng đây là thời điểm thuận lợi để đề xuất, và tôi thành thật nghĩ rằng, dù là lúc nào thì đề nghị này cũng sẽ có nhiều khả năng được chấp thuận hơn nếu được người Việt Nam đưa ra thay vì người Mỹ. Chúng tôi sẽ tạo điều kiện này khi có cơ hội thích hợp. Nolting (Đại sứ Mỹ tại Việt Nam vào thời điểm đó) Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Bảy, 2025, 08:00:15 pm 131. TELEGRAM FROM THE EMBASSY IN VIETNAM TO THE DEPARTMENT OF STATE1 (Source: Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET. Secret; Priori-ty. Repeated to CINCPAC)
Saigon, May 22, 1963, 2 p. m. 1050. CINCPAC for POLAD. Deptel 1117.2 (See footnote 3, Document 1 29) During meeting with Diem May 18, he devoted about two hours to Buddhist questions. I sought to impress on him need for further GVN action and specifically suggested public declaration by him and/or appointment commission along lines Embtel 1038.3 (Document 129) Diem was non-committal re commission and took position that declaration should be deferred until people had had time to reflect on various statements which have been made, particularly at press conference held by Buddhist leaders following meeting with him. From Diem’s extensive remarks to me, it was quite clear that he is convinced that (a) Hue incident was provoked by Buddhist leaders, (b) deaths were caused by grenade or grenades thrown by VC or other dissidents and not by GVN, and (c) certain Buddhist leaders are seeking to use Hue affairas means of enhancing theirown positions within Buddhist movement. Finally, Diem appears to feel that whole affair is far less serious matter than we do. I said I hoped he had not underestimated seriousness of situation; that our information re facts and attitude of people was considerably different from his. With regard to Buu Hoi’s suggestion,1 (In telegram 111 7 to Saigon, the Department of State also noted that, during his current visit to Washington, Ambassador Buu Hoi had expressed the idea that the Diem government should appoint a cabinet level official responsible for religious affairs. Buu Hoi suggested that Ambassador Nolting might take up the idea with Diem) there might be merit in creation of Cabinet-level post for religious affairs. I do not feel, however, that this is propitious moment to propose it, and I frankly think that at any time, proposal would have far better chance of acceptance if made by Vietnamese rather than American. We will work toward this at suitable opportunity. Nolting Source: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d131 Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 11 Tháng Bảy, 2025, 08:01:22 pm CIA BÁO CÁO TỔNG THỐNG MỸ
VỀ CUỘC THẢM SÁT HUẾ 1963 BẢN PHÚC TRÌNH Tình Báo Trung ương [Central Intelligence Bulletin) Central Intellỉgence Agency ICIAI United States of America Phúc trình ngày 11 tháng 5 năm 1963 Đã duyệt bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Chấp thuận giải mật ngày 17 tháng 4 năm 2003 Tên hồ sơ: CIA-RDP79T00975A007000150001-7.pdf LỜI DẪN Chỉ mấy ngày sau cuộc thảm sát ở Đài phát thanh Huế (8-3-1963), bản Phúc trình này đã được sở Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ trình lên các cấp cao nhất trong chính phủ Mỹ - trong đó có Tổng Thống, Phó Tổng Thống, nhiều Bộ Trưởng trong Nội các chính phủ, và các cấp cao nhất về quốc phòng và tình báo. Danh sách các nơi nhận có ghi nơi trang áp chót hồ sơ PDF này. Bản Phúc trình tình báo này thuộc loại tối mật (Top Secret), và sau khi được giải mật, trong nội dung vẫn còn một trang và một số câu bị xóa trắng để giữ bí mật. Các chỗ chưa giải mật trong hồ sơ PDF này có ghi mã số kế bên là 25X1, để biết là có những chữ được xóa trắng. Hồ sơ gồm 6 phần, mỗi phần một trang: phần 1 nói về Haiti, phần 2 về Lào Quốc, phần 3 về Nam Việt Nam, phần 4 còn xóa trắng, phần 5 về Indonesia; phần 6 là Ghi chú về Liên Bang Sô Viết, Argentina và Peru. Nơi đây sẽ dịch riêng phần về Việt Nam, trong đó ghi rằng, khi giải tán đám đông 3.000 Phật tử, trách nhiệm thảm sát tại Đài Phát Thanh Huế là do 3 lực lượng: cảnh sát, dân vệ và quân đội. Hồ sơ CIA nơi đây cũng nói: chính sách của chính phủ ông Diệm là thiên vị Thiên Chúa giáo, nhưng Phật tử trước đến giờ vẫn lặng lẽ chịu đựng, cho tới khi xảy ra biến động Huế. Kèm theo bản dịch sẽ là ảnh chụp trang 3 hồ sơ, tức phần có nội dung được dịch. Nguyên bản Anh ngữ cũng được trình bày song song để tiện đối chiếu. Tựa đề "CIA Báo Cáo Tổng Thống Mỹ về Cuộc Thảm Sát Huế 1963" là của người dịch ghi vào, để khỏi nhầm với các hồ sơ CIA khác đã dịch. Bản Việt dịch của Cư Sĩ Nguyên Giác. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:38:02 am [PHÚC TRÌNH NGÀY 11-5-1963 VỀ] NAM VIỆT NAM
Một sự bùng phát thái độ chống chính phủ trong các Phật tử ở thành phố Huế vào ngày 8 tháng 5 năm 1963 có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng. Phật tử chiếm khoảng 80% dân số, nhưng trước đây ít bày tỏ bất mãn đối với chính sách thiên vị Thiên Chúa giáo của chính phủ ông Diệm. Bất ổn tại Huế hiển nhiên khởi lên từ một lệnh của chính quyền - sau đó đã bị hủy bỏ - ngăn cấm treo cờ Phật giáo trong lễ hội mừng Phật Đản. Một diễn giả Phật giáo đã làm sôi sục đám đông nhiều người khi lên án chính quyền đàn áp tự do tôn giáo,i (Trong điện văn số 4 (Hồ sơ 112) đề cập đến bài nói chuyện này của Thượng tọa Hội trưởng Thích Trí Quang tại chùa Từ Đàm vào sáng ngày 8 tháng 5) và một số người biểu tình đã trưng lên các biểu ngữ chống ông Diệm và chống Thiên Chúa giáo. Những nỗ lực của cảnh sát, dân vệ, và quân đội khi giải tán đám đông khoảng 3.000 người ở Đài phát thanh đã làm chết ít nhất 7 người. Các sự kiện tiếp theo có thể phát triển do tác động từ lời kêu gọi của các lãnh đạo Phật giáo về việc biểu tình ủng hộ ở các tình khác và do việc chính quyền Huế thực hiện các biện pháp an ninh chặt chẽ hơn. Có tin là một số nhóm Phật tử và những người dân tộc chủ nghĩa chống chính phủ đã có kế hoạch sẽ công bố những tấm ảnh chụp được trong cuộc hỗn loạn, đặc biệt là ở các quốc gia Phật giáo khác. SOUTH VIETNAM An outburst of antigovernment sentiment among Buddhists in the major northern city of Hue on 8 May could have serious repercussions. Buddhists comprise about 80 percent of the population, but there has previously been little manifestation of their resentment against the Catholic orientation of Diem’s government. The trouble in Hue apparently arose over a government order - later rescinded - which would have prevented the display of Buddhist flags during the celebration of Buddha’s birthday. A Buddhist spokesman aroused crowds by charging the government with suppressing religious freedom, and some demonstrators carried anti-Diem and anti- Catholic banners. The efforts of police, Civil Guardsmen, and army troops to disperse a crowd of about 3,000 at the radio station resulted in the death of at least seven persons. Further incidents could develop as a result of the call by Buddhist leaders for sympathy demonstrations in other provinces and of heightened security measures taken by the government in Hue. Some Buddhist circles and other antigovernment nationalists reportedly plan to publicize photographs taken during the disturbance, particularly in other Buddhist countries. ẢNH CHỤP TRANG 3 TRONG TÀI LIỆU PDF (https://iili.io/CTcT3Ab.jpg) Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:41:09 am TẤN CÔNG HÓA HỌC Ở HUẾ Tâm Diệu Lời dẫn: Lễ Phật Đản năm 2013 là kỷ niệm đúng 50 năm xảy ra cuộc vận động của Phật giáo 1963, bắt đầu ở Huế với cái chết của 8 Phật tử đêm 8/5/1963 tại Đài phát thanh, rồi cuộc tự thiêu của HT. Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 tại Sài Gòn và chiến dịch "nước lũ" tổng tấn công chùa chiền toàn quốc đêm 20 rạng ngày 21/8/1963. Ba biến cố lịch sử quan trọng của phong trào Phật giáo tranh đấu này dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng kéo dài nửa năm và kết thúc bằng cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Bài viết dưới đây kể lại diễn tiến sự kiện lịch sử xảy ra ngày 3/6/1963 tại Huế, trước ngày Hòa Thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân, theo các điện văn báo cáo của Toà Đại Sứ Mỹ đã được bạch hóa. Sau biến cố đẫm máu xảy ra tại đài phát thanh Huế vào buổi tối ngày lễ Phật Đản 8/5/1963, khắp các nơi tại miền Nam Việt Nam, từ Sài Gòn đến Quảng Trị, chư Tăng ni hưởng ứng lời kêu gọi của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đã đồng loạt tuyệt thực tại chùa 48 tiếng đồng hồ kể từ 2 giờ chiều ngày 30/5/1963 để cầu nguyện cho những người đã tử nạn và đòi hỏi quyền bình đẳng tôn giáo. Trong khi đó, quần chúng Phật tử tại gia cũng đồng loạt xuống đường biểu tình khắp nơi để ủng hộ chư Tăng ni. Riêng tại thành phố Huế, vào lúc 1 giờ chiều ngày 3 tháng 6 năm 1963, khoảng 500 thanh niên, sinh viên và học sinh Phật tử đã biểu tình ngồi trước trụ sở Tòa Đại biểu Chánh phủ Trung Nguyên Trung Phần, đối diện trước một đội quân đông đảo 300 người, bao gồm cảnh sát dã chiến, lính nhảy dù và biệt kích quân, trang bị súng ống, lưỡi lê và lựu đạn cay đứng dàn chào. Bên chính quyền, qua loa phóng thanh cho biết là trong đám đông người biểu tình có trà trộn các phần tử Việt cộng đang gây khích động và yêu cầu tất cả giải tán1 (Tham chiếu: Foreign Relations of the United States (FRUS), 1961 - 1963 Volume III, Vietnam, January-August 1963, Document 144, PP. 343-344. (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/pg_343)). Khi đám đông biểu tình đáp trả lại, cũng qua loa phóng thanh cầm tay, gọi những người lính là "những kẻ giết người ngu xuẩn", thế là cả đội quân lập tức ráp lưỡi lê vào súng và đeo mặt nạ phòng hơi độc rồi đồng loạt bắn lựu đạn cay vào đám đông. Đồng bào la hét vang trời. Một số người biểu tình bỏ chạy, trong khi những người khác vẫn ngồi yên cầu nguyện. Một vị lãnh đạo Phật giáo (Thượng tọa Thích Trí Thủ) kêu gọi đồng bào hãy trở về nhà hay về chùa Từ Đàm để được điều trị y tế cho người bị hơi cay. Thật may mắn là không có ai chết hoặc bị thương2 (Tham chiếu: Foreign Relations of the United States (FRUS), 1961 - 1963 Volume III, Vietnam, January-August 1963, Document 144, pp. 343-344. (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/pg_343) và FRUS, 1961-1963 III, Document 146, pp. 346-347 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/pg_346)). (https://iili.io/CTcROfp.jpg) Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:43:04 am QUANG CẢNH TẠI ĐÀI PHÁT THANH HUẾ NGÀY 8/5/1963 Đoàn người biểu tình tháo chạy về hướng chùa Từ Đàm, nhưng khi tới Bến Ngự thì bị chặn lại lại bởi dây thép gai. Họ ngồi xếp bằng ngay trên mặt đường và tiếp tục cầu nguyện. Lúc này (3 giờ chiều) dân chúng khắp nẻo đường thành phố tụ tập về đây hợp cùng đoàn biểu tình, đông đến 1500 người. Một cuộc đối đầu xảy ra khi đoàn người biểu tình cố gắng vượt qua hàng rào kẽm gai băng qua cầu Bến Ngự. Nhiều đợt phóng hơi cay của đội quân chống biểu tình và đội quân khuyển (chó nghiệp vụ) tấn công nhằm giải tán đám đông, nhưng đều thất bại. Một quan chức chính phủ đứng trên xe vận tải, sử dụng loa phóng thanh kêu gọi quần chúng Phật tử, mà phần đông là học sinh trung học và sinh viên đại học, giải tán. Lời kêu gọi được đáp trả lại bằng những tiếng la hét khi người phát ngôn chính phủ đổ lỗi cho tình trạng bất ổn này là do Việt cộng gây nên1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 146, pp. 346- 347 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/pg_346)). Sau một thời gian dài bế tắc, vào khoảng 6 giờ 30 chiều, đội quân hỗn hợp chống bạo động đeo mặt nạ quyết định giải tán đoàn biểu tình bằng cách phun một loại chất lỏng màu đỏ nâu lên trên đầu những người biểu tình đang ngồi cầu nguyện. Dân chúng la hét, chạy tứ tung, người thì ôm đầu quằn quại, kẻ thì ngã gục, giày dép vứt ngổn ngang. Kết quả không có người chết, nhưng có 67 Phật tử phải nhập viện vì thương tích hóa học với các triệu chứng bao gồm phồng rộp nghiêm trọng trên da và các bệnh về đường hô hấp2 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 146, pp. 346- 347 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961 - 63v03/pg_346)). Đoàn biểu tình đã kịch liệt phản đối việc sử dụng các khí độc và việc này đã trở thành một thảm họa cho ông Ngô Đình Diệm trong quan hệ với công chúng và với Mỹ3 (Tham chiếu: Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978-01 95052862, trang 261 -262 & 263-264). Đến nửa đêm, tình trạng căng thẳng lên cao độ. Lệnh giới nghiêm và thiết quân luật của Đại tá Đỗ Cao Trí được ban hành và đọc nhiều lần trên đài phát thanh. Tin tức lan truyền rằng có 3 người đã chết và phóng viên Newsweek cho hay cảnh sát đã triển khai súng phóng khí blister gas vào đám đông biểu tình. Báo cáo trích dẫn nguồn tin đáng tin cậy từ văn phòng Cố vấn Ngô Đình cẩn cho biết ông Diệm không thỏa hiệp và đã lập kế hoạch cho một thách thức bằng quân sự1 (Nguyên văn: a military showdown) chống lại các Phật tử2 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 146, pp. 346-347 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/ pg_346) và Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978-95052862, trang 261 -262 & 263-264) Tham tá lãnh sự Mỹ John Helble, thường trú ở Huế, trong một báo cáo về Tòa Đại Sứ ở Sài Gòn nói rằng quân đội Nam Việt Nam đã sử dụng hơi cay và "có thể là một loại khí gây mụn nước ngoài da" để giải tán đoàn người biểu tình của Phật giáo3 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 147, pp. 348 https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961 -63v03/ pg_348). Helble báo cáo rằng chất này, mặc dù chưa được xác định, đã dấy lên mối lo ngại của Bộ Ngoại giao Mỹ rằng khí độc đã được sử dụng, vì các triệu chứng không phù hợp với tiêu chuẩn hơi cay4 (Tham chiếu: Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978-01 95052862, trang 261 -262 & 263-264). Sau khi nhận được các báo cáo, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk đã hai lần chỉ thị ông William Trueheart, người xử lý thường vụ Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn "yêu cầu ông Diệm nên hoà giải với Phật giáo và báo cáo rõ hơn về khói hóa học đã sử dụng để đàn áp Phật tử". Điện văn của ông Rusk nói thêm: "Ông Diệm nên đích thân ra Huế gặp các nhà lãnh đạo Phật giáo, nói chuyện với họ và rút quân đội ra khỏi Huế, thay thế bằng lực lượng Cảnh sát. Chuyện ông Quang (Thích Trí Quang) và các nhà lãnh đạo Phật giáo không thực là Việt cộng. Chính quyền Việt Nam cần phải tránh những sai lầm trong việc xác định một cách tự động những người biểu tình và các nhà lãnh đạo của họ là Việt cộng, nếu muốn thành công trong nỗ lực kiểm soát tình hình"1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 147, pp. 348 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/ pg_348)). Ông Trueheart đến phủ Tổng thống gặp ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm An ninh Quốc phòng, vào trưa ngày 4/6/1963. Ông Trueheart cho ông Thuần biết là các triệu chứng của các nạn nhân phù hợp với những khí mù tạt và hội đủ yếu tố để Hoa Kỳ tố cáo chế độ VNCH thực hiện các cuộc tấn công hóa học2 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 149, pp. 349-351 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d149) và Hammer, Ellen J. (1987). A Death in November: America in Vietnam, 1963. New York City, New York: E. p. Dutton. ISBN: 978-0195052862, trang 136). Sau buổi họp, ông Nguyễn Đình Thuần đồng ý mở cuộc điều tra về việc quân đội sử dụng vũ khí hóa học đàn áp người biểu tình do Tướng Trần Văn Đôn đứng đầu. Ủy ban này cũng bao gồm Quân Y trưởng và Trung tá Liêm Trưởng ban Quân Dụng, thuộc cấp của ông Thuần1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 151, pp. 352-353 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/dl 51)). Khác với chủ trương mềm mỏng của Đại sứ Nolting đang tạm nghỉ phép, Trueheart cảnh cáo chính quyền Diệm rằng Mỹ có thể ngưng viện trợ nếu chính quyền còn tiếp tục đàn áp Phật giáo2 (Nguyên văn: U. S. support for CVN could not be maintained in face of bloody repressive action at Hue). Ông Thuần cho ông Trueheart biết Hội đồng Bộ trưởng chính phủ đã đề nghị thành lập một Ủy Ban Liên Bộ để cứu xét các đòi hỏi của Phật giáo như ông Trueheart yêu cầu từ ngày 1/6/1963, và ông Diệm đã chấp thuận3 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 149, pp. 349-351 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/ d149) và FRUS, 1961-1963 III, Document 151, pp. 352-353 (https:// history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d151)). Nhưng khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, Bộ Tư lệnh Quân viện Mỹ tại Việt Nam xin ý kiến ông Trueheart về việc Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội yêu cầu Mỹ giúp không vận 300 cảnh sát từ Vũng Tàu ra Huế để dập tắt các cuộc biểu tình tại đây. Ông Trueheart đã từ chối4 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 150, pp. 351-352 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d150)). Kết quả cuộc điều tra của tướng Đôn sau đó được báo cáo về Washington vào ngày 06/06/1963 cho biết hơi cay được sử dụng trong ống thủy tinh là thành phần hoá lỏng sẽ biến thành khí khi sử dụng. Hơi cay này lấy từ kho vũ khí cũ còn lưu lại của người Pháp. Vào ngày 18/6/1963, các nhà hóa học của quân đội Mỹ tại Edgewood Arsenal, Maryland, xác nhận từ mẫu cung cấp rằng chất khí được sử dụng là một loại hơi cay từng được sử dụng bởi người Pháp trong Thế chiến thứ nhất1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 151, pp. 352-353 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d151) và Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978- 0195052862, trang 261-262 & 263-264). Lời Kết Năm mươi năm trôi qua, một thời gian đủ dài để chúng ta nhìn lại lịch sử. Chúng ta đã thấy rằng chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã không giải quyết khủng hoảng bằng phương pháp hoà bình mà dùng giải pháp vũ lực bằng cách đem binh sĩ tấn công, phong toả các chùa chiền, bắt các nhà sư và các đại diện của đảng phái, đàn áp những người dân biểu tình vô tội với cả vũ khí hóa học do quân đội Pháp để lại và quy tội cho họ có liên hệ với Cộng sản. Các hành động này không những không làm êm dịu được tình hình mà còn làm khủng hoảng đi đến bùng nổ, tự làm mất sự ủng hộ của quần chúng và của các quốc gia trên thế giới. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:44:20 am CHIẾN DỊCH TỔNG TẤN CÔNG CÁC CHÙA ĐÊM 20-8-1963 VÀ CÁC HỆ QUẢ Lời dẫn Nội dung phần này căn cứ theo Hồ sơ mật của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam, được giải mật từ ngày 13-6-2011. Văn bản tiếng Anh chúng tôi sử dụng được lấy từ trang nhà của Đại Học Mount Holyoke College1 (https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon2/pent7.htm). The Pentagon Papers (Hồ Sơ Ngũ Giác Đài) là tên gọi tắt một hồ sơ tối mật của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam. Theo Wikipedia, hồ sơ này tên chính thức là "United States - Vietnam Relations, 1945-1967: A Study Prepared by the Department of Defense" (Quan Hệ Mỹ-Việt, 1945-1967: Nghiên Cứu của Bộ Quốc Phòng). Hồ sơ này được giải mật và phổ biến công khai từ năm 2011. Chúng tôi chỉ chuyển dịch và sử dụng một phần nội dung liên quan chứ không phải toàn văn hồ sơ. Nội dung phần này sẽ cho biết về tình hình diễn biến sau khi ông Ngô Đình Nhu chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt và cảnh sát dã chiến tổng tấn công các chùa đêm 20-8 rạng ngày 21-8-1963, bắt giam hơn 1.400 Tăng Ni Phật tử. Một số ghi nhận về các nội dung nổi bật trong hồ sơ này như sau: - Mỹ bất mãn vì ông Diệm không hòa giải với Phật giáo, và trận tổng tấn công các chùa đã xé bỏ bản Thông Cáo Chung 16-6-1963 mang chữ ký Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết và Tổng Thống Ngô Đình Diệm. - Quân đội VNCH bất mãn vì bị dân chúng đổ tội tấn công các chùa, trong khi thực tế quân đội không biết gì về việc ông Ngô Đình Nhu ra lệnh cho Đại Tá Lê Quang Tung dẫn Lực Lượng Đặc Biệt bất ngờ tấn công các chùa. - Tự ý các tướng lãnh, đầu tiên là Tướng Lê Văn Kim, cụ thể dò ý người Mỹ về nhu cầu loại trừ ông bà Nhu ra khỏi chính phủ. Tướng Kim nói quân đội không muốn bị dân chúng đổ tội là đàn áp Phật giáo và nói quân đội sẵn sàng đoàn kết để đảo chánh. - Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống Võ Văn Hải đều nói với Mỹ là cần loại ông bà Nhu ra khỏi chính phủ. - Bộ Trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu từ chức Ngoại Trưởng, và cạo đầu như một nhà sư để phản đối tấn công chùa. - Thân phụ bà Nhu là Luật sư Trần Văn Chương từ chức Đại sứ VN ở Hoa Kỳ, thân mẫu bà Nhu là bà Thân Thị Nam Trân từ chức Quan sát viên VNCH ở Liên Hiệp Quốc để phản đối chế độ ông Diệm. - Sinh viên và học sinh từ đệ nhất cấp trở lên đã biểu tình, xuống đường đông đảo, phản đối chế độ ông Diệm. - Ông Cabot Lodge tới VN, nhận chức Đại sứ Mỹ tại VN, tiến hành kế hoạch theo dõi và ủng hộ các tướng lãnh Việt Nam đảo chánh, muốn giữ ông Diệm trong khi loại trừ ông bà Nhu. - Phật giáo hoàn toàn đứng ngoài các kế hoạch đảo chánh; trong khi cả ngàn vị sư bị giam, một số vị lãnh đạo thoát được, trong đó Thầy Thích Trí Quang vào được Tòa Đại Sứ Mỹ để tỵ nạn. Độc giả có thể đối chiếu với nguyên bản Anh ngữ được trình bày song song. Bản Việt dịch của Cư sĩ Nguyên Giác. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:46:13 am HỒ SƠ NGŨ GIÁC ĐÀI ẤN BẢN GRAVEL1 - TẬP 2, CHƯƠNG 4: "SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM" TỪ THÁNG 5 ĐẾN THÁNG 11 NĂM 1963 TRANG 201 - 276 (Hồ sơ này có nhiều ấn bản đã được lưu hành. Ấn bản Gravel (Gravel Edition), gọi theo tên người chủ trương thực hiện là Mike Gravel, được Noam Chomsky và Howard Zinn biên tập và thêm các chú giải, đồng thời kèm theo một phụ lục gồm các bài phân tích về nguyên nhân và diễn tiến của cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng do Chomsky and Zinn biên tập. Do đó, đây được xem là ấn bản đầy đủ nhất) PHẦN 2, TRANG 232 - 276 III. CABOT LODGE CHỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM: TỪ NGÀY 20 THÁNG 8 ĐẾN NGÀY 2 THÁNG 10 A. Chiến Dịch Tấn Công Các Chùa và Hậu Quả Không lâu sau thời điểm nửa đêm ngày 21-8, vừa sáu ngày sau khi Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Nolting bực dọc rời Việt Nam, ông Nhu đã đập tan bất kỳ ảo vọng còn sót lại nào về một phương cách hòa giải của chính phủ ông Diệm với người Phật tử, và cũng phản bội lời cam kết của ông Diệm với Nolting khi ông đại sứ này rời Việt Nam, bằng việc tổ chức một trận tổng tấn công các ngôi chùa Phật giáo. Tại Sài Gòn, Huế và các thành phố ven biển khác, đội quân xung kích riêng của chế độ - Lực Lượng Đặc Biệt do Hoa Kỳ huấn luyện - và cảnh sát dã chiến đã xông vào các ngôi chùa và bắt hàng trăm vị sư, và như thế đã phá hủy chính sách Hoa Kỳ và ghi dấu điểm khởi đầu sự cáo chung của chế độ ông Diệm. Vào ngày 18-8, mười tướng lãnh cao cấp đã họp với nhau và quyết định sẽ yêu cầu ông Diệm tuyên bố thiết quân luật để cho phép họ đưa các vị sư từ ngoại ô Sài Gòn trở về lại tỉnh và chùa riêng của họ, với hy vọng giảm căng thẳng ở thủ đô. Trong những tướng dự buổi họp có Tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô và là Tư Lệnh Quân Khu 3, và Tướng Huỳnh Văn Cao, Tư Lệnh Quân Khu 4, cả hai tướng này được giữ các chức vụ đó vì trung thành với chế độ. Có lẽ một trong hai, hoặc cả hai vị tướng này đã báo cáo kết quả buổi họp lên ông Diệm và Nhu. Nhưng dù sao thì ông Nhu cũng đã quyết định xóa sổ sự chống đối của Phật giáo và muốn đặt Hoa Kỳ vào chuyện đã rồi khi tân Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge đến. Ông tin là Mỹ sẽ phải bực dọc chấp nhận, như họ đã luôn làm thế trong quá khứ. Chiều ngày 20-8, ông Nhu gặp một số ít tướng lãnh, trong đó có các tướng Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm và Tôn Thất Đính, những người đã đề nghị thiết quân luật với ông. Với kế hoạch tấn công các chùa đã [bí mật] chuẩn bị xong, ông Nhu bảo các tướng này hãy đề nghị lệnh thiết quân luật lên ông Diệm. Sau đó, trong buổi họp ngay trong đêm ấy, ông Diệm chấp thuận kế hoạch của các tướng lãnh, và vào nửa đêm sắc lệnh ban hành với chữ ký của Tướng Đôn, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội. Trong khi các tướng lãnh hoàn toàn không biết gì thì trước đó ông Nhu đã có lệnh cho Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung và cảnh sát dã chiến. Một khi lệnh thiết quân luật đang có hiệu lực, quân đội sẽ do đó bị quy trách về những vụ càn quét. Khi ấy, Nhu ra lệnh xuất trận và chiến dịch tấn công chùa bắt đầu. Để đẩy xa hơn việc làm cho quân đội bị liên lụy, một số cảnh sát dã chiến còn mặc quân phục lính nhảy dù. Các chùa bị lục soát, quậy phá tại tất cả các thành phố lớn ở Nam VN, và hơn 1400 người của Phật giáo đã bị bắt, chủ yếu là các vị sư. Trong trận tấn công vào Chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, có khoảng 30 vị sư bị thương, và nhiều vị sau đó được xem như mất tích; số thương vong chính xác chưa bao giờ được xác định. Ông Diệm đã chấp thuận lệnh thiết quân luật mà không tham khảo nội các của ông, nhưng vẫn không rõ là ông có biết và chấp thuận kế hoạch tấn công các chùa của ông Nhu hay không. Đáng chú ý là sau đó ông Diệm cũng không bao giờ tìm cách tách biệt bản thân ông với ông Nhu hay là với sự kiện tấn công các chùa. Trong khi sắc lệnh thiết quân luật cho Tướng Đôn quyền chỉ huy tất cả binh chủng, thì trong thực tế Tướng Đính và Đại Tá Tung đã nhận lệnh trực tiếp từ Dinh Tổng Thống. Do vậy, khi những trận tấn công chùa diễn ra, Tướng Đôn ở văn phòng Tham Mưu Trưởng không biết gì cả. Trong cuộc nói chuyện kéo dài hôm 23-8 với một viên chức tình báo CIA1 (Nguyên tác dùng CAS, viết tắt của Saigon Office of the U.S. Central Intelligence Agency (Văn phòng CIA tại Sài Còn)), Tướng Đôn nói rằng lệnh thiết quân luật chỉ là giai đoạn đầu trong một kế hoạch lớn hơn của các tướng lãnh. Tuy nhiên, họ bị bất ngờ vì những trận tấn công vào các chùa và vì việc Tướng Đính nhanh chóng kiểm soát được địa phương Sài Gòn theo thiết quân luật. Khi chuẩn bị kế hoạch tấn công các chùa, ông Nhu đã cực kỳ cẩn trọng, không để lộ ra lời nào cho các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ (mặc dù phía Phật tử và truyền thông Hoa Kỳ trước đó đã có tin rò rì từ những nguồn tin riêng của họ). Vào buổi sáng sau vụ tấn công, Richardson, trưởng phòng CIA và là dân sự Hoa Kỳ cao cấp ở Sài Gòn, nói rõ và nhấn mạnh với phóng viên Halberstam1 (Phóng viên của báo New York Times) rằng ông không hề biết trước trận tấn công chùa. Để cô lập thêm phía Hoa Kỳ trong việc lượng định chính xác khi chiến dịch tiến hành, ông Nhu đã cho cắt đường dây điện thoại ở Tòa Đại Sứ Mỹ cũng như ở nhà của tất cả các viên chức Mỹ cao cấp ngay sau khi chiến dịch bắt đầu. Nỗ lực của Nhu đã có hiệu quả như ông muốn. Phải nhiều ngày sau đó, các viên chức ngoại giao Mỹ tại Sài Gòn và các viên chức ở thủ đô Washington mới có thể liên kết được các sự kiện đã xảy ra. Tại Washington, Harriman2 (Vào lúc đó là Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ phụ trách Chính Trị Vụ) và Michael Forrestal, một thành viên trong ban tham mứu của McGeorge Bundy3 (Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ) tại Tòa Bạch Ốc, soạn thảo một bản tuyên bố để Bộ Ngoại Giao sẽ phổ biến vào lúc 9 giờ 30 sáng hôm sau. Bản văn lên án trận tấn công các chùa là "sự vi phạm trực tiếp của chính phủ VN đối với những cam kết theo đuổi chính sách hòa giải với người Phật tử". Nhưng các báo cáo tình báo đầu tiên của phía Mỹ, dựa vào thông tin từ ông Nhu, đã cho rằng quân đội chịu trách nhiệm về những vụ tấn công này, và xem việc xảy ra trùng hợp với lệnh thiết quân luật về bản chất là một mưu toan của quân đội. Trong văn bản ngày 21-8-1963 gửi lên Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Giám Đốc sở Quân Báo DIA, Tướng Carroll, đã viết: "Mặc dù hành động của quân đội được cho là theo lệnh Tổng Thống, nhưng về cơ bản các tướng lãnh hắn nhiên phải nắm toàn quyền kiểm soát". Khi trận tấn công xảy ra, Lodge1 (Người sẽ là tân Đại sứ Mỹ), Nolting2 (Cựu Đại sứ Mỹ) và Roger Hilsman, Phụ tá Ngoại trưởng về Viễn Đông, đang họp nhau ở Honolulu. Lodge tức khắc được lệnh tới Sài Gòn. Sau khi tạm dừng ở Tokyo, Lodge đến Sài Gòn lúc 9 giờ 30 tối 22-8, trong bầu không khí căng thẳng và và mù mờ thông tin về phía Mỹ. Chờ đợi ông là một điện văn từ Hilsman yêu cầu thông tin rõ ràng về tình hình. Liệu có phải quân đội đã nắm quyền và ông Diệm chỉ còn là hư vị? Hay ông Diệm đã củng cố được vị trí qua việc triệu tập quân đội? Hay ông bà Nhu đã thực sự nắm toàn quyền? Trong vòng 24 giờ đồng hồ, Lodge gửi một điện văn trả lời sơ khởi: Không có đảo chánh, nhưng có vẻ như ông bà Nhu cũng không hề suy giảm quyền lực, mặc dù vẫn chưa thật rõ ràng những thế lực nào nắm quyền điều hành. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:47:40 am Cùng ngày đó3 (Tức là ngày 23 tháng 8. Theo Điện văn số 265 (FRUS, 1961- 1963 III, Document 275) do CAS gửi về cho Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), thì cuộc gặp đã kéo dài khoảng 3 tiếng đồng hồ. Nội dung Điện văn được sử dụng trong tài liệu này), những biểu hiện đầu tiên từ phía các tướng lãnh VN được đưa ra để xác định xem liệu phía Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào với một cuộc đảo chánh quân sự. Tướng Đôn, vị Tư Lệnh các lực lượng quân đội theo hiệu lực của lệnh thiết quân luật, đã có một cuộc nói chuyện dài và lan man về nhiều chủ đề với một viên chức CIA4 (Nguyên bản dùng CAS để chỉ văn phòng CIA tại Sài Còn). Trước tiên ông vạch rõ vai trò thực sự của quân đội trong các sự kiện ngày 20 và 21 tháng 8, và chất vấn tại sao người Mỹ đổ trách nhiệm cho quân đội trong chiến dịch tấn công vào các chùa:
Chính Tướng Đôn đã nghe công luận Việt Nam quy trách quân đội trong việc tấn công các ngôi chùa. Ông nói rằng chính phủ Mỹ có lỗi về sự ngộ nhận đó vì đài VOA loan tin rằng quân đội VNCH tấn công các chùa. Đôn chất vấn tại sao đài VOA không nói rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát đã thực hiện việc này? Tướng Đôn tin rằng như vậy sẽ giúp ích cho quân đội trong thời điểm này. Tướng Đôn nói, người Mỹ nên nói rõ lập trường của mình1 (Chúng tôi tìm thấy đoạn này (do chúng tôi cố ý in nghiêng) được trích nguyên văn trong Điện văn số 265 vừa dẫn trên, phân đoạn số 10, nhưng trong hồ sơ không thấy dẫn chú. Điện văn này cũng sẽ được chuyển dịch toàn văn trong một phần sau). Trong một cuộc nói chuyện cùng ngày với Rufus Phillips của Đoàn Ngoại giao Hoa Kỳ2 (Nguyên tác dùng USOM, viết tắt của U.S Operation Mission, cơ quan được người Mỹ đặt ở Việt Nam để phụ trách các vấn đề liên quan đến viện trợ kinh tế), Tướng Lê Văn Kim, Tham mưu phó của Tướng Đôn, đã cay đắng chỉ trích ông Nhu, quy trách nhiệm ông ta về chiến dịch tấn công vào các chùa, và chỉ trích vai trò khuynh loát của ông ta trong chính phủ3 (Ở đây, tài liệu đã sử dụng nội dung từ Điện văn số 320 (FRUS, 1961-1963 III, Document 274). Độc giả có thể xem đầy đủ nội dung tại địa chỉ: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d274). Tướng Kim nói rằng trừ phi ấn tượng của dân chúng về việc quân đội tấn công các chùa được cải chánh, quân đội sẽ bó tay trong cuộc chiến chống Việt cộng. Ông tuyên bố rằng, sự ủng hộ mạnh mẽ của phía Mỹ đối với việc loại bỏ ông bà Nhu sẽ giúp đoàn kết quân đội và tạo điều kiện để quân đội chống lại ông bà Nhu. Hai đòi hỏi trực tiếp và minh bạch muốn Mỹ ủng hộ hành động quân sự để lật đổ ông bà Nhu đã ghi dấu sự khởi đầu chính thức cho việc Mỹ can dự vào việc soạn thảo kế hoạch lâu dài chống lại chế độ ông Diệm. Hai nhân vật dân sự cao cấp trong chính phủ, Chánh Văn Phòng Tổng Thống Phủ Võ Văn Hải và Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần đồng thời nói với phía Mỹ rằng việc loại bỏ ông Nhu ra khỏi chính phủ là cần thiết và rằng Mỹ nên có lập trường kiên quyết chống lại ông Nhu. Ngày 24-8, Lodge gửi điện văn ước lượng tình hình về Washington, dựa trên những cuộc nói chuyện này. Lodge viết: "Ông Nhu có lẽ được ủng hộ hoàn toàn từ ông Diệm và đã chủ động phần lớn, nếu không phải là toàn bộ, trong kế hoạch tấn công người Phật tử. Ảnh hưởng của ông ta đã tăng thêm đáng kể." Ông Nhu đã tận dụng hoàn toàn lợi thế về sự quan ngại của một số tướng lãnh, có thể đã không thông báo đầy đủ cho quân đội về chiến dịch tấn công các chùa. Tuy nhiên, trong các tư lệnh quân sự quan trọng của khu vực Sài Gòn (Đôn, Đính và Tung) hiện nay không có ai bất mãn với chế độ. Hơn thế nữa, đối với một hành động chống lại ông bà Nhu mà không có các chỉ huy quân sự nắm quyền rõ rệt cũng như sức mạnh quân đội tại Sài Gòn, thì sự ủng hộ của Mỹ sẽ là một cuộc mạo hiếm đầy rủi ro. Đối với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, vấn đề làm sáng tỏ trước công chúng và quy trách nhiệm rõ ràng về chiến dịch tấn công vào các chùa đã trở nên gay gắt vào ngày 24 tháng 8. Các bản tin báo chí từ Sài Gòn ngay từ đầu đã quy trách nhiệm ông Nhu về các vụ tấn công các chùa, nhưng đài VOA, với một lượng thính giả đông đảo tại Việt Nam, vẫn tiếp tục loan tin rằng lập trường chính thức Hoa Kỳ là trách nhiệm thuộc về quân đội. Chứng cớ ngày càng nhiều thêm cho thấy Nhu chủ mưu và rất có thể sẽ thiệt hại lớn lao cho tinh thần quân đội nếu VOA không đưa ra một bản tin cải chánh minh bạch. Vấn đề thứ nhì đối với Washington là Nhu, về cơ bản, các tướng lãnh đã yêu cầu Hoa Kỳ bật đèn xanh để họ lật đổ Nhu, nhưng Lodge còn dè dặt về việc này. Hilsman báo cáo rằng trong khi ông cùng với Harriman, Forrestal và Ball bàn về việc thảo ra bản trả lời vào sáng thứ Bảy đó, lời tuyên bốcủa ông Thuần với Phillips rằng "trong bất kỳ trường hợp nào, Mỹ cũng không nên cho qua những gì ông bà Nhu đã làm", đã được cân nhắc cẩn trọng. Đô Đốc Felt điện thoại về Washington từ Phòng Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương (CINCPAC) để ủng hộ lập trường kiên quyết của Mỹ chống lại ông bà Nhu. Tất nhiên, câu hỏi chưa có lời đáp là liệu có thể loại bỏ ông bà Nhu mà không cần phải hy sinh cả ông Diệm hay không, và nếu điều đó là không thể, thì liệu sự bất Ổn chính trị [sau khi mất ông Diệm] có gây ra hậu quả tai hại cho nỗ lực chiến tranh [chống Cộng] hơn là duy trì ông Diệm? Những chỉ thị cho Lodge trong điện văn ngày 24-8 là kết quả của những bàn luận trên, vạch ra một chính sách tiếp cận mới, quan trọng và sau đó cũng gây nhiều tranh cãi, của Hoa Kỳ tại Nam VN. Đoạn văn đầu tiên nêu rõ chi tiết về quan điểm mới của Hoa Kỳ: Giờ đây đã quá rõ, cho dù lệnh thiết quân luật có phải do quân đội đề nghị hay do ông Nhu lừa dối đưa họ vào bẫy, thì ông Nhu cũng đã lợi dụng hiệu lực của lệnh đó để tấn công vào các chùa bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của ông Tung, trung thành với Nhu, và do đó đổ trách nhiệm cho quân đội trong mắt thế giới và dân chúng VN. Cũng thấy rõ rằng ông Nhu sắp xếp để tự mình giữ vị trí chỉ huy. Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận tình trạng quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải được trao cho cơ hội để loại bỏ ông Nhu và bè phái, thay thế họ với các nhân sự chính trị và quân sự xuất sắc nhất hiện có. Trong trường hợp ông1 (Tức Đại sứ Lodge) đã hết sức thuyết phục mà ông Diệm vẫn cứng rắn và từ chối, thì chúng ta buộc phải đối diện với thực tế là rất có thể không giữ ông Diệm được nữa." [Hồ sơ 126]2 (Trong hệ thống hồ sơ FRUS, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963, chúng tôi tìm thấy nội dung này trong điện văn số 243, hồ sơ 281 (Doc 281). Có lẽ điện văn này đã được Pentagon Papers trích từ một nguồn khác nên dẫn chú là Hồ sơ 1 26. Các trích dẫn tiếp theo cũng vậy). Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:49:15 am Lodge được chỉ thị nói với chính phủ Việt Nam rằng Hoa Kỳ không chấp nhận những hành vi đàn áp Phật tử, và nhất thiết phải thực hiện ngay những giải pháp để điều chỉnh tình hình. Các lãnh đạo quân sự then chốt đã được thông báo riêng tư rằng:
... Hoa Kỳ nhận thấy không thể tiếp tục ủng hộ chính phủ VN về mật quân sự và kinh tế trừ phi có những bước thay đổi tức khắc, mà theo nhận thức của chúng tôi là phải loại ông bà Nhu ra khỏi chính trường. Chúng tôi muốn tạo cho ông Diệm cơ hội hợp lý để loại bỏ ông bà Nhu, nhưng nếu ông Diệm vẫn cứng rắn, thì chúng tôi sẵn sàng chấp nhận hệ quả tất nhiên là chúng tôi không hỗ trợ ông Diệm nữa. Ông3 (Theo nội dung điện văn thì ở đây đang nói với Đại sứ Logge) cũng có thể nói với những tướng lãnh nào thích hợp, rằng chúng ta sẽ hỗ trợ trực tiếp cho họ trong thời kỳ chuyển tiếp khi phá võ cơ chế chính phủ trung ương. " [Hồ sơ 126] Cuối cùng, điện văn công nhận cần phải công khai làm rõ việc quân đội VNCH không liên hệ gì đến cuộc tổng tấn công các chùa, và yêu cầu Lodge chấp thuận loan một bản tin VOA để đạt kết quả đó1 (Nội dung trích dẫn ở đây có phần thiếu chính xác. Nguyên văn trong Điện văn 243 là: We recognize the necessity of removing taint on military for pagoda raids and placing blame squarely on Nhu. You are authorized to have such statements made in Saigon as you consider desirable to achieve this objective. We are prepared to take same line here and to have Voice of America make statement along lines contained in next numbered telegram whenever you give the word, preferably as soon as possible. (Chúng tôi thừa nhận sự cần thiết phải xóa bỏ vết nhơ cho quân đội về chiến dịch tấn công các chùa và quy trách nhiệm trực tiếp về ông Nhu. Ông được toàn quyền đưa ra những tuyên bố như thế tại Sài Còn sao cho đạt được mục đích này. Chúng tôi ở Washington sẵn sàng có động thái tương tự và sẽ cho đài VOA loan tin phù hợp với nội dung trong bức điện sắp tới ngay khi ông gửi về, nên cố gắng càng sớm càng tốt.) Như vậy, không phải Lodge chấp thuận cho đài VOA loan tin (điều này vô lý), mà phía Washington hứa sẽ cho đài VOA phối hợp loan tin hỗ trợ cho Lodge theo nội dung do chính ôngnày cung cấp). Ngoài ra, Lodge cũng được yêu cầu khảo sát khẩn cấp về bộ máy lãnh đạo thay thế. Việc thông qua nội dung điện văn bị phức tạp hóa vì ngẫu nhiên rơi vào cuối tuần, nên hầu hết giới chức cao cấp trong chính phủ vắng mặt ở Washington. Tổng Thống lúc đó ở Hyannis Port; Rusk đang ở New York; còn McNamara và McCone đang nghỉ phép. Tuy nhiên, cả Tổng Thống và Ngoại Trưởng đều tiếp cận được và cả hai đã chấp thuận nội dung điện văn. Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Roswell Gilpatric cũng chấp thuận thay mặt Bộ Quốc Phòng, và Tướng Taylor cũng chấp thuận từ phía JCS (Phòng Tổng Tham Mưu). Schlesinger2 (Schlesinger là Trợ lý Đặc biệt của Tổng thống Kennedy (Special Assistant to the President)) khi nhớ lại việc này nói rằng bức điện văn đã được soạn thảo vội vã và chưa cân nhắc kỹ, Tổng Thống thoạt tiên đã không tán thành. Hôm sau, Lodge trả lời ủng hộ lập trường cứng rắn nhưng cho rằng việc tiếp cận với Diệm là vô ích, thay vì vậy chỉ nên nói rõ lập trường của Mỹ với các tướng lãnh VNCH, nghĩa là chúng ta nghiêng hẳn về việc đứng sau một cuộc đảo chánh. Bức điện văn viết: "Hãy tin rằng cơ hội để Diệm đáp ứng những đòi hỏi của chúng ta kể như là số không. Cùng lúc, khi đưa ra các đòi hỏi đó, chúng ta đã cho Nhu cơ hội để chận trước hay khóa chặt hành động từ phía quân đội. Chúng tôi tin rằng, không đáng phải chấp nhận rủi ro khi Nhu đang kiểm soát lực lượng tác chiến ở Sài Gòn. Do vậy, tôi đề nghị là chúng ta nên yêu cầu trực tiếp đến các tướng lãnh mà không báo cho Diệm biết. [Tôi] sẽ nói với các tướng lãnh rằng chúng ta sẵn sàng giữ ông Diệm khi không còn ông bà Nhu, nhưng về căn bản là tùy thuộc vào họ có giữ lại ông ta hay không." (Hồ sơ 127)1 (Điện văn này mang số 292, được gửi từ Sài Còn qua kênh thông tin giữa CAS về CIA nên mang số hiệu CAS 292 và không được đưa vào hồ sơ FRUS. Tuy nhiên, chúng tôi có tìm được hình chụp bản gốc điện văn trong thư viện dữ liệu hồ sơ Tổng thống Kennedy. Nội dung cũng đề nghị việc yêu cầu các tướng lãnh có biện pháp để trả tự do cho các vị lãnh đạo Phật giáo đang bị giam giữ) Hilsman khắng định rằng điện văn cũng cho thấy quan điểm của Lodge rằng bởi vì ai cũng biết việc Hoa Kỳ không chấp nhận hành động của chính phủ VNCH [đàn áp Phật giáo], nên việc người Mỹ đến với ông Diệm sẽ không thích hợp, mà chính ông Diệm phải tìm đến người Mỹ. Trong một điện văn của trụ sở CIA Sài Gòn trong cùng ngày, Richardson, Trưởng Phòng CIA ở Sài Gòn, báo cáo rằng trong một buổi gặp gỡ với Lodge và Harkins, mọi người đồng ý rằng Diệm sẽ không chịu loại trừ Nhu, và do vậy, xem như các chỉ thị của điện văn ngày 24-8 [Hồ sơ 126] của Bộ Ngoại Giao Mỹ đã đưa ra chính sách căn bản của Washington [về việc này], quan điểm chung của mọi người là nên liên lạc ngay với các tướng lãnh như Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh để đánh giá mức độ đoàn kết và quyết tâm của các sĩ quan cao cấp. Minh được xem là lãnh tụ tốt nhất trong giai đoạn chuyển tiếp, với Phó Tổng Thống [Nguyễn Ngọc] Thơ là ứng viên nổi bật nhất trong nhóm dân sự để làm Tổng Thống. Điện văn kết luận với quan điểm rằng một nhóm quân sự sẽ có thể điều hành sau hậu trường trong trường hợp đảo chánh thành công, và Mỹ nên để chiến thuật đảo chánh cụ thể cho các tướng lãnh quyết định1 (Đoạn này có phần tối nghĩa, vì nếu là Điện văn số 243 đang được đề cập thì hoàn toàn không có nội dung này, vì chúng tôi hiện có phóng ảnh toàn văn bức điện. (ND)). Có một khoảng ngưng trong lưu lượng điện văn vào lúc đó, nhưng Hilsman nói rằng Hoa Kỳ đã quyết định vào hôm Chủ Nhật 25-8 là hoãn việc tiếp xúc trực tiếp tới Diệm cho tới khi tình hình được biết rõ hơn. Trong phần trả lời của Lodge, ông cũng cho thấy tán thành bản tin đề nghị đưa lên đài VOA để nói rõ việc quân đội VNCH không liên hệ trận tổng tấn công các chùa. Hilsman nói với giới truyền thông dựa vào bản thảo đã chấp thuận trước đó vào ngày 25-8. Bản văn bày tỏ lập trường Hoa Kỳ mạnh mẽ chống lại việc tấn công các chùa do ông Nhu thực hiện. Khi tường thuật bản tin, giới truyền thông suy đoán rằng một tuyên bố phản đối mạnh mẽ như thế có thể hàm ý về những biện pháp [mạnh] đang được cân nhắc, chẳng hạn như ngưng viện trợ. VOA đã được chỉ thị chỉ loan tin theo nội dung bản tuyên bố của Chính phủ Mỹ đã cung cấp trong thông cáo báo chí, không được nói gì thêm. Không hiểu sao chỉ thị này lại bị bỏ sót đi, và vào sáng thứ Hai, 26-8, chỉ mấy tiếng đồng hồ trước khi Lodge trình ủy nhiệm thư lên Diệm, đài VOA phát đi đầy đủ một bài từ UPI1 (Nguyên tác dùng UPI, viết tắt của United Press International - Liên hiệp Báo chí Thế giới) trong đó khẳng định thẳng thừng rằng "Mỹ có thể giảm mạnh sự trợ giúp đối với VN trừ phi Tổng Thống Diệm dẹp bỏ các viên chức cảnh sát mật chịu trách nhiệm về những vụ tấn công [vào các chùa]." Thật dễ hiểu là Đại sứ Lodge rất lúng túng. Ông đã gửi một điện văn bực dọc, chất vấn rằng liệu có đúng ông thực sự là người đang chịu trách nhiệm các bước chiến lược [ở VN] như ông đã nhận hiểu? Rusk gửi điện văn riêng xin lỗi Lodge, và VOA tức khắc loan tin bác bỏ ý định cắt viện trợ của Mỹ, nhưng đã không ngăn được những thiệt hại sơ khởi. Phản ứng của người Việt Nam đối với trận tổng tấn công các chùa hết sức mạnh mẽ. Tại Hoa Kỳ, cha của bà Nhu là Đại sứ VN tại Mỹ, và mẹ bà Nhu là quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc, đều từ chức và đưa ra những tuyên bố công khai lên án vụ tấn công này2 (Thân phụ của bà Nhu là Luật Sư Trần Văn Chương, và thân mẫu là bà Thân Thị Nam Trân. (ND)) Tại Nam Việt Nam, Bộ Trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu từ chức và cạo đầu y như một vị sư để phản đối [vụ tấn công các chùa]. Vào ngày 23-8, sinh viên khoa Y và khoa Dược của Đại học Sài Gòn tổ chức những cuộc biểu tình đông đảo để ủng hộ Phật giáo. Chính phủ dường như chỉ biết phản ứng bằng một cách duy nhất là bắt giam hàng loạt. Nhưng những cuộc biểu tình vẫn tiếp tục, và khi Đại học Sài Gòn bị đóng cửa, những cuộc phản kháng được tiếp nối bởi các học sinh trung học đệ nhị cấp và đệ nhất cấp. Đó thực sự là những chứng cớ hết sức mạnh mẽ về mức độ bất mãn chế độ, bởi vì hầu hết những sinh viên học sinh này là từ các gia đình trung lưu, thành phần làm nên giới lãnh đạo quân đội và công chức. Sinh viên học sinh ở VN không có truyền thống hoạt động chính trị như các nơi khác ở Châu Á, chẳng hạn như Hàn quốc. Tiếp sau đó, một số vị lãnh đạo Phật giáo đã thoát được sau các trận tấn công các chùa, đã biến vào bí mật rồi không bao lâu lại tiến hành rải truyền đơn trên đường phố. Vào ngày xảy ra các trận tấn công các chùa, hai vị sư đã vào xin tỵ nạn trong Trụ sở Ngoại giao đoàn Hoa Kỳ (USOM)1 (Nguyên tác dùng USOM, viết tắt của United States Operations Mission) kế bên chùa Xá Lợi. Vào ngày kế tiếp, ba vị sư khác, trong đó có vị sư lãnh đạo trẻ Thích Trí Quang, xin vào tỵ nạn trong Tòa Đại Sứ Mỹ, và được Lodge tiếp đón nồng nhiệt. Họ đã ở lại đó cho tới khi cuộc đảo chánh tháng 11-1963 thành công. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:50:46 am THE PENTAGON PAPERS GRAVEL EDITION VOLUME 2 CHAPTER 4, "THE OVERTHROW OF NGO DINH DIEM, MAY-NOVEMBER, 1963, " PP. 201-276. SECTION 2, PP. 232-276 III. LODGE VS. DIEM: AUGUST 20-OCTOBER 2 A. THE PAGODA RAIDS AND REPERCUSSIONS Shortly after midnight on August 21, six days after Nolting’s frustrated departure, Nhu, shattering any remaining illusions about the GVN’s conciliatory approach to the Buddhists, and betraying Diem’s parting pledge to Nolting, staged a general assault on Buddhist pagodas. In Saigon, Hue, and other coastal cities, the regime’s private shock troops-the U. S. - trained Special Forces-and the combat police invaded the pagodas and arrested hundreds of Buddhist monks, effectively destroying an American policy and marking the beginning of the end of the Diem regime. On August 18, ten senior generals had met and decided that they would ask Diem for a declaration of martial law to permit them to return Buddhist monks from outside Saigon to their own provinces and pagodas, hopefully reducing tensions in the capital. Among those in attendance at the meeting were General Ton That Dinh, military governor of Saigon and commander of III Corps suirounding it, and General Huynh Van Cao, IV Corps commander, both of whom owed their positions to their loyalty to the regime. Either or both of them probably reported the outcome of this meeting to Diem and Nhu. In any case, Nhu had decided to eliminate the Buddhist opposition, and to confront the U. S. with a fait accompli on Lodge’s arrival; he assumed the U. S. would protestingly acquiesce, as it always had in the past. On the afternoon of the 20th, Nhu met with a small group of generals, including Don, Khiem, and Dinh who presented the martial law proposal to him. Nhu, his own plans for the raids now far advanced, told them to take their proposal to Diem. At a meeting later that evening, Diem acquiesced in the generals’ plan and at midnight the decree was published under the signature of General Don, Chief of the Joint General Staff. Meanwhile, unbeknown to the generals, Nhu had already alerted Colonel Tung’s Special Forces and the combat police. Once the facade of martial law was in place, so the army would be blamed forthe raids, Nhu gave the word and the crackdown began. To further implicate the army, some of the combat police wore paratroop uniforms. Pagodas were ransacked in all the major South Vietnamese cities, and over 1400 Buddhists, primarily monks, were arrested. In the raid on Xa Loi pagoda in Saigon about thirty monks were wounded or injured, and several were subsequently listed as missing; exact casualties were never established. Diem had approved the martial law decree without consulting his cabinet, but it was never established whether he knew of and approved Nhu’s plans for the pagoda raids. Significantly, he never subsequently sought to dissociate himself from Nhu or the raids. While the martial law decree gave General Don command of all troops, in fact, General Dinh and Colonel Tung took their orders directly from the palace. Thus, when the raids came, General Don was at JGS unaware. In a long discussion on August 23 with a CAS officer, he suggested that the martial law decree was only phase one of a larger Generals’ plot. They were thrown off balance, however, by the raids and by General Dinh’s rapid assumption of local control of martial law in Saigon. In planning the raids, Nhu had been extremely careful not to have word leak to the U. S. mission (although the Buddhists and the U. S. press corps had been tipped off by their own informants). On the morning after the attack, Richardson, the CIA chief and the senior American civilian in Saigon, emphatically denied to Halberstam any foreknowledge of the plan. To further isolate the U. S. from an accurate assessment during the operation, Nhu had the telephone lines to the Embassy and the homes of all senior U. S. personnel cut shortly after the raids got underway. His efforts had the desired effect. It was several days before the U. S. mission in Saigon and officials in Washington could piece together what happened. In Washington, Harriman and Michael Forrestal, a member of McGeorge Bundy’s staff at the White House, drafted a stiff public statement that was released by the State Department at 9:30 the following morning. It deplored the raids as "a direct violation by the Vietnamese Government of assurances that it was pursuing a policy of reconciliation with the Buddhists." But the first U. S. intelligence reports, based on information from Nhu, accepted army responsibility for the raids, and treated their coincidence with the martial law decree as, in effect, a military coup. In an August 21 memorandum for the Secretary of Defense, the Director of DIA, General Carroll, wrote, "Although the military moves are based on an alleged presidential proclamation, the military leaders have, in effect, assumed full control." When the raids occurred, Lodge, Nolting, and Roger Hilsman, the Assistant Secretary of State for the Far East, had been conferring in Honolulu. Lodge was immediately instructed to proceed to Saigon. After a brief stop in Tokyo, Lodge touched down in Saigon at 9:30 p. m. on August 22, in an atmosphere charged with tension and official U.S. confusion. Awaiting him was a cable from Hilsman asking for a clarification of the situation. Had the military taken over and retained Diem as a figurehead; had Diem strengthened his own position by calling in the military; or were the Nhus really calling the shots? Wthin twenty-four hours, Lodge had sent a preliminary reply: there had been no coup, but there seemed also to be no diminution in the roles of the Nhus, although the power roles within the regime were unclear. That same day, the first military feelers had been put out from the Vietnamese generals to determine what the U. S. reaction would be to a military coup. General Don, the commander of the armed forces under the martial law decree, had a long, rambling conversation with a CAS officer. He first outlined the true role the army had played in the events of August 20-21 and then inquired why the U. S. had blamed the army for the raids on the pagodas: General Don has heard personally that the military is being blamed by Vietnamese public for the attack on the pagodas. He said that the US Govt is at fault for this misconception because VOA announced that the military took action against the pagodas. Don queried why VOA did not admit that Colonel Tung’s Special Forces and the Police carried out the action. Don believes this would help the military at this point. Don stated that the USA should now make its position known. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:51:33 am In a conversation the same day with Rufus Phillips of USOM, General Kim, deputy to General Don, bitterly attacked Nhu, charging him with responsibility for the raids, and deploring his dominant role in the government. He said that unless the popular impression that the army was responsible for the raids were corrected, the army would be handicapped in its fight against the VC. He stated that a firm U.S. stand for the removal of the Nhus would unify the army and permit it to act against them. These two direct and obviously reinforcing requests for U. S. support for military action aimed at Nhu’s ouster marked the formal beginning of the U. S. involvement in the protracted plotting against the Diem regime.
Two senior civilians in the government, Diem’s chef de cabinet, Vo Van Hai, and Secretary of State, Nguyen Dinh Thuan, were simultaneously telling U. S. contacts that Nhu’s elimination from the government was vital and that the U. S. should take a strong stand against him. On August 24, Lodge cabled his appraisal of the situation to Washington, based on these conversations. "Nhu," he reported, "probably with full support of Diem, had a large hand in planning of action against Buddhists, if he did not fully master-mind it. His influence has also been significantly increased." Nhu had simply taken advantage of the concern of certain generals, possibly not fully informing the regular army of the planned action. Nonetheless, none of the important Saigon area troop commanders (Don, Dinh, and Tung) were presently disaffected with the regime. Furthermore, absence of clear-cut military leadership and troop strength in Saigon for a move against the Nhus would make U. S. support of such an action a "shot in the dark." For the State Department, the problem of clarifying the public record about the raids and affixing responsibility for them had become acute by August 24. The press reports emanating from Saigon had from the outset blamed Nhu for the raids, but VOA, with a large audience in Vietnam, continued to report the official U. S. position that the army was culpable. The accumulating evidence against Nhu and the likelihood of severe damage to army morale if VOA did not broadcast a clarification seemed to call for retractions. The second issue for Washington was Nhu. The generals had asked, in effect, for a green light to move against him, but Lodge had cautioned against it. Hilsman reports that as he, Harriman, Forrestal, and Ball deliberated over the drafting of a reply on that Saturday morning, the statement of Thuan to Phillips that "under no circumstance should the United States acquiesce in what the Nhus had done," was given great weight. Admiral Felt telephoned Washington from CINCPAC to support a strong U. S. stand against the Nhus. The unanswered question, of course, was whether the Nhus could be removed without also sacrificing Diem, and if not, whether the resulting political instability would not have an even more detrimental effect on the war effort than maintaining Diem. The August 24 cable of instructions to Lodge resulting from these deliberations outlined an important, and subsequently controversial, new policy approach for the U. S. in South Vietnam. Its opening paragraphs crisply set forth the new American view: It is now clear that whether military proposed martial law or whether Nhu tricked them into it, Nhu took advantage of its imposition to smash pagodas with police and Tung’s Special Forces loyal to him, thus placing onus on military in eyes of world and Vietnamese people. Also clear that Nhu has maneuvered himself into commanding position. US Government cannot tolerate situation in which power lies in Nhu’s hands. Diem must be given chance to rid himself of Nhu and his coterie and replace them with best military and political personalities available. If, in spite of all your efforts, Diem remains obdurate and refuses, then we must face the possibility that Diem himself cannot be preserved. [Doc. 126] Lodge was instructed to tell the GVN the u. s. could not accept the actions against the Buddhists and that prompt dramatic steps to redress the situation must be taken. The key military leaders were to be privately informed that, .... US would find it impossible to continue support GVN militarily and economically unless above steps are taken immediately which we recognize requires removal of Nhus from the scene. We wish give Diem reasonable opportunity to remove Nhus, but if he remains obdurate, then we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem. You may also tell appropriate military commanders we will give them direct support in any interim period of breakdown central government mechanism. [Doc. 126] Finally, the message recognized the need to publicly exonerate the army from the raids and asked Lodge to approve a VOA broadcast to that effect. Lodge was requested, as well, to survey urgently for alternative leadership. Clearance of the draft message was complicated by the coincident week-end absence from Washington of most of the top level members of the Administration. The President was in Hyannis Port; Rusk was in New York; and McNamara and McCone were away on vacation. Both the President and the Secretary of state were reached, however, and approved the draft. Deputy Secretary of Defense Roswell Gilpatric approved for Defense, and General Taylor for the JCS. Schlesinger, in his account of the incident, suggests that the cable was hasty and ill-considered, and that the President immediately began to back away from it. Lodge replied the following day endorsing the strong position but proposing to forego a futile approach to Diem and to state our position instead only to the generals, thus throwing all our weight behind a coup. The cable stated: Believe that chances of Diem’s meeting our demands are virtually nil. At the same time, by making them we give Nhu chance to forestall or block action by military. Risk, we believe, is not worth taking, with Nhu in control combat forces Saigon. Therefore, propose we go straight to Generals with our demands, without informing Diem. Would tell them we prepared have Diem without Nhus but it is in effect up to them whether to keep him. [Doc. 127] Hilsman asserts that the cable also reflected Lodge’s view that since our disapproval of GVN action was well known, it was not fitting for the U.S. to go to Diem, it was Diem who should come to us. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 23 Tháng Sáu, 2026, 09:53:13 am (https://iili.io/CTcU8Mb.jpg) Một phần cắt từ phóng ảnh nguyên bản Điện văn 292 (trả lời điện văn 243) In a separate CAS cable the same day, Richardson, the CIA Chief of Station in Saigon, reported that at a meeting with Lodge and Harkins it had been agreed that Diem would not remove Nhu and that therefore, assuming State’s cable of instructions on 24 August [Doc. 126] represented Washington’s basic policy, the consensus was that contact should be immediately made with generals such as Minh and Khanh to assess the degree of unity and determination of senior officers. Minh was considered the best possible interim leader, with Vice President Tho as the most attractive candidate for President among the civilians. The cable concluded with the view that a junta would probably operate behind the scenes in the event of a successful coup, and that the U.S. should leave the specific tactics of a coup up to the generals. There is a hiatus in the available cable traffic at this point, but Hilsman indicates that Washington decided on Sunday, August 25, to defer a direct approach to Diem until more was known about the situation. In Lodge’s reply, he had also apparently approved the proposed VOA broadcast to exonerate the army. Hilsman briefed the press on the basis of a previously approved draft statement on August 25. The statement expressed strong U.S. disapproval of the raids, which were attributed to Nhu. In reporting the story, the press speculated that such a strong statement probably indicated that measures such as aid suspension were being considered. VOA had been instructed to broadcast only the substances of the U.S. statement as provided in the press guidance and nothing more. The instructions somehow got mislaid; and on Monday morning, August 26, just several hours before Lodge was to present his credentials to Diem, VOA broadcast in full a UPI story which flatly asserted that "the US may sharply reduce its aid to Vietnam unless President Diem gets rid of secret police officials responsible for the attacks." Lodge was understandably upset, and sent a testy cable rhetorically inquiring whether he really was in charge of tactics as he had been given to understand. Rusk sent a personal cable of apology to Lodge, and VOA promptly broadcast a denial of U.S. intent to cut aid, but the initial damage had been done. The Vietnamese reaction to the attack on the pagodas during this time had been dramatic. In the United States, Mme. Nhu’s father and mother, respectively the Vietnamese Ambassador to the U.S. and the Vietnamese observer at the UN, had both resigned, making bitter public statements denouncing the raids. In South Vietnam, the Foreign Minister, Vo Van Mau, had resigned and shaved his head like a Buddhist monk in protest. On August 23, students at the faculties of medicine and pharmacy at the University of Saigon turned out to stage mass demonstrations on behalf of the Buddhists. The GVN reacted in the only way it seemed to know, with massive arrests. But the demonstrations continued, and when the university was closed, the protest was taken up by high school and junior high school students. These were dramatic evidences indeed of the degree of disaffection with the regime, since most of these students were from the middle class families that formed the bureaucracy and the army leadership. Students in Vietnam had no substantial record of political activism as was the case with their counterparts in other parts of Asia, like Korea. Furthermore, some of the Buddhist leadership had survived the raids and gone underground and were soon passing out leaflets on the streets again. On the day of the raids, two monks had taken refuge in the USOM building next door to Xa Loi pagoda. The following day, three others, including the militant young leader Thich Tri Quang, took refuge in the U.S. Embassy, where they were warmly received by Lodge and remained until the successful November coup. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:12:23 pm CIA: CUỘC NÓI CHUYÊN BÍ MẬT CỦA TƯỚNG TRẦN VĂN ĐÔN1 (Nguồn: Foreign Relations of the United States, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963, Document 275 - Điện văn số 265) Cư sĩ Nguyên Giác dịch LỜI NGƯỜI DỊCH: Điện văn này do CIA từ Sài Gòn gửi về Hoa Kỳ, kể lời Tướng Trần Văn Đôn vài ngày sau trận tổng tấn công các chùa do ông Ngô Đình Nhu thực hiện. Vài điểm ghi nhận từ lời của Tướng Đôn trong điện văn: - Nhiều lính đào ngũ, tinh thần binh sĩ suy sụp vì bất mãn khi Phật tử bị đàn áp; - Ông Diệm nắm quyền xuyên qua ông Nhu; - Ông Diệm xem Bà Nhu như người vợ tinh thần; - Ông Diệm đã thăng chức một trung sĩ trẻ, đẹp trai lên chức Trung Tá; - Đôn nói ông sắp xếp giai đoạn đầu của kế hoạch đảo chánh ông Diệm; - Đôn có vẻ muốn giữ ông Diệm ở ghế Tổng Thống, trong khi phải gạt bỏ ông bà Nhu và rất nhiều Bộ Trưởng ra ngoài quyền lực; - Đôn không muốn Nguyễn Tôn Hoàn về nước thay thế ông Diệm; - Đôn kể tên một số tướng lãnh trong kế hoạch đảo chánh, nhưng không nhắc tên Tướng Tôn Thất Đính, lúc đó là Tổng Trấn Biệt Khu Sài Gòn/Gia Định. Đôn nhắc tới cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 của các đại tá, và nói kế hoạch của các tướng sẽ rất hoàn hảo. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:14:08 pm 275. ĐIỆN VĂN TỪ VĂN PHÒNG CIA TẠI SÀI GÒN GỬI VỀ SỞ TÍNH BÁO TRUNG ƯƠNG CIA1 (Nguồn: Library of Congress, Harriman Papers, Vietnam Policy. Bí mật. Cũng đã gửi tới Honolulu. Bản văn nguồn là phó bản do CIA gửi về Bộ Ngoại Giao cho Hilsman (Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu) và Hughes (Phó Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu); cũng gửi tới Bạch Ốc cho Bundy (Cố vấn An ninh Quốc gia) và tới JCS (Bộ Tổng Tham mưu Quân Lực Mỹ) cho Tướng Krulak (Phụ tá Đặc biệt về Chống Phiến Loạn). Theo một ghi chú về bản văn nguồn, điện văn này phổ biến theo phân loại TDCS. Bản Phúc trình đó ghi mã số "TDCS DB-3/656, 252, August 24, " đã in trong Hồ sơ giải mật, 1977, 93C)Sài Gòn, ngày 24-8-1963, lúc 6:45 giờ chiều ĐIỆN VĂN SỐ 0265. 1. [Ít hơn một dòng không giải mật] đã có buổi nói chuyện khoảng ba giờ đồng hồ với Tướng Trần Văn Đôn2 (Để biết những gì Tướng Đôn hồi tưởng về cuộc nói chuyện này, xem Trần Văn Đôn, Our Endless War, trang 90-91. (ISBN: 978-0891410195 - ND)) vào đêm 23-8-1963 tại văn phòng Tướng Đôn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Sau đây là tóm lược cuộc nói chuyện. 2. Tướng Đôn được hỏi là ai đang nắm quyền, và đã trả lời rằng Tổng Thống Diệm nắm quyền thông qua Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Tất cả các tướng lãnh phải qua sự kiểm soát của Nhu trước khi gặp ông Diệm. Giải thích điều này, [Tướng Đôn] nói rằng Diệm sử dụng Nhu như "lý thuyết gia" và cố vấn, nhưng không phải luôn luôn nghe lời khuyên của Nhu. Tổng Thống Diệm ghen tỵ với thẩm quyền và khả năng của Nhu. Tướng Đôn [trang 615]3 (Bản điện tử cung cấp các số trang theo bản in đã phát hành) cho một thí dụ. Vào nửa đêm 22-8, Tướng Đôn cùng Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm đến gặp Nhu về chuyện các sinh viên, đề nghị nên đóng cửa toàn bộ các trường ở Sài Gòn bằng cách thiết quân luật, bởi vì có nguồn tin rằng vào các ngày 23, 24 và 25 tháng 8 sinh viên sẽ biểu tình ở Sài Gòn. Nhu đồng ý với đề nghị của các tướng lãnh, bảo họ phải xin phép Tổng Thống. Nhu và các tướng lãnh đến gặp ông Diệm và đề nghị đóng cửa các trường. Ông Diệm nói: "Không. Giới trẻ nhất thiết phải có những phương cách để tự bày tỏ." Tướng Đôn lặp lại rằng, ông Diệm là người ra quyết định cuối cùng. 3. Tướng Đôn tiếp tục giải thích về các quan hệ trong Phủ Tổng Thống. Ông nói, phải nhớ là trong nhiều năm, Tổng Thống từng là người kêu gọi chống chế độ thực dân. Trong thời gian đó, Diệm đã tự suy nghĩ rất nhiều để vạch ra đường lối lý thuyết. Sau khi nắm chính quyền từ năm 1954, Diệm nhận ra sự khác biệt và ông cần có những người thân cận giúp việc phác vạch lý thuyết. Ông hướng đến người em là Nhu, một lý thuyết gia sẵn có những lý thuyết, triết lý. Dần dần, Diệm đã cho phép Nhu thực hiện hầu hết công việc phác vạch đường lối lý thuyết. Nhưng điều này không có nghĩa là Tổng Thống luôn luôn nghe theo sự cố vấn của Nhu. Diệm thích việc Nhu thay ông viết các bản tuyên bố, diễn văn. Ông Diệm thích tự mình gặp gỡ, nói chuyện với dân chúng. Do vậy, Nhu có được quyền lực đặc biệt của một lý thuyết gia phục vụ Tổng Thống. 4. Mô tả về mối quan hệ của bà Nhu trong Tổng Thống Phủ, Tướng Đôn nói rằng, trong lòng ông Diệm thì bà Nhu có vị trí như "vợ" ông. Tổng Thống chưa bao giờ lập gia đình và không quen sống bên cạnh đàn bà. Trong 9 năm qua, ông Diệm có bà Nhu an ủi sau một ngày làm việc hoàn tất. Bà Nhu có sức quyến rũ, thường trò chuyện và làm giảm căng thắng cho ông, tranh luận với ông, châm chọc ông, và giống như mọi người vợ Việt Nam, bà quán xuyến mọi việc trong nhà. Tổng Thống và bà Nhu sống cách biệt nhau. Không có quan hệ tình dục giữa ông Diệm và bà Nhu. Theo ý kiến của Tướng Đôn, Tổng Thống chưa từng có quan hệ tình dục. Tướng Đôn so sánh tình trạng đó y hệt như giữa Hitler và Eva Braun. Đôn cũng nói, Tổng Thống thích sống gần những người đàn ông đẹp trai. Đôn dẫn ra trường hợp một trung sĩ trẻ, đẹp trai, phụ trách làm vườn công cộng ở Đà Lạt. Tổng Thống đã hỏi xem ai chăm sóc vườn đó, và khi được báo cáo, ông cho gọi viên trung sĩ kia tới Dinh Tổng Thống rồi tức khắc thăng chức người này lên Trung Tá và giao nhiệm vụ quản trị nông nghiệp quân sự. Ông Diệm có lối cảm xúc cực đoan. Khi ông thích ai, dù thế nào ông cũng thích; và khi ông ghét ai, ông ghét toàn diện. Không có trạng thái lưng chừng. Bà Nhu đã sử dụng vị trí đặc quyền của bà với Tổng Thống để khiến ông phải đồng thuận những khi ông muốn chống lại, nhưng ông Diệm đã khuất phục trước sức quyến rũ của Bà Nhu. Tướng Đôn nói: "Theo tôi biết thì bà Nhu cực kỳ quyến rũ." Đôn nói, trên thực tế không thể loại bỏ ông bà Nhu vì những vị trí đặc biệt của họ; Ngô Đình Nhu là lý thuyết gia của Tổng Thống và bà Nhu là người vợ tinh thần của ông ta1 (Nguyên tác dùng "platonic", có nghĩa là thân thiết, gắn bó về mặt tinh thần nhưng không có quan hệ xác thịt). 5. [Trang 616] Quyết định hành động ngày 20- 21/8 đạt được bởi 10 tướng lãnh vào đêm 18- 8: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, [ít hơn một dòng không giải mật]2 (Ở đây kể tên thiếu một người, như vậy có một vị tướng được quyết định giữ kín), Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Kim, và Dương Văn Minh. Theo lời Đôn, ông Nhu không khuyến khích họ đạt đến quyết định này. Chỉ có lần Nhu nói chuyện về việc dự trù kế hoạch nào đó là trong buổi họp ngày 11 tháng 7, với sự hiện diện của tất cả tướng lãnh. Tướng Đôn không nói rõ ai đã triệu tập các tướng họp đêm 18-8. Kế hoạch này bao gồm việc ban lệnh thiết quân luật và tiếp theo đó đưa những nhà sư từ các tình đã vào Sài Gòn trở về chùa của họ ở các tình. Kế hoạch này do các tướng lãnh trình lên ông Nhu vào ngày 20-8. Ông Nhu bảo họ thảo luận kế hoạch này với Tổng Thống. Khi các tướng lãnh trình kế hoạch lên Diệm thì ông Nhu không có mặt. Các tướng có mặt lúc đó là: Khiêm, Trí, Khánh, Đính, [ít hơn một dòng không giải mật], Kim và Đôn. Tướng Đôn đứng đầu nhóm tướng lãnh trình kế hoạch lên Tổng Thống. 6. Các tướng lãnh nói với ông Diệm rằng tinh thần binh sĩ đang suy giảm, và trong thực tế họ đã lo sợ khi thấy một đồn lính đào ngũ đến mức gần hết sạch. Các tướng nói rằng, những người vợ lính và các sĩ quan cấp thấp đang hoang mang. Họ giải thích với Tổng Thống về tình hình khi quân đội phải đối đầu trực diện với Phật tử. Tướng Đôn xác nhận ông đã nói với ông Diệm rằng vấn đề ngày 8-5 tại Huế lẽ ra có thể đã giải quyết được, nhưng vì Việt cộng đã trà trộn vào Phật tử tại Chùa Xá Lợi. Đôn mô tả những sự khéo léo được sử dụng trong các cuộc biểu tình ngày 11 tháng 8, khi Thượng tọa Thích Tâm Châu diễn thuyết gay gắt trước một đám đông ở Chùa Xá Lợi. Thượng tọa đã thu hút hoàn toàn sự chú ý của đám đông bằng những câu hỏi như "Chúng ta sẽ xuống đường chứ?" Đám đông hô to đáp lại: "Có, có..." Đột nhiên, Thượng tọa cắt ngang: "Không, chúng ta sẽ không xuống đường. Khi quý vị nói rằng 'chúng ta sẽ xuống đường' thì điều đó cũng giống như đã xuống đường rồi." Tướng Đôn cho rằng vị Thượng tọa biết tiếng Anh, Thích Đức Nghiệp, là rất nguy hiểm và các tướng lãnh sợ rằng nếu những lãnh đạo Phật giáo quy tụ một đám đông đủ lớn, họ có thể hướng đoàn biểu tình đến Dinh Gia Long và quân đội có thể sẽ không ngăn cản họ. 7. Đôn nói rằng Tổng Thống Diệm ra quyết định thiết quân luật sau khi các tướng đề nghị như thế. Diệm ra quyết định đưa quân đội trấn giữ các điểm chiến lược ở Sài Gòn và Chợ Lớn, và chấp thuận đề nghị đưa các nhà sư đã vào Sài Gòn về lại các chùa của họ ở tình. Tuy nhiên, Tổng Thống căn dặn không được gây thương tổn cho các vị sư. Tướng Đôn nói điều đó làm ông rất cảm động khi Tổng Thống yêu cầu họ không làm hại các Phật tử. Diệm bổ nhiệm Tướng Đôn tạm thời kế nhiệm Tướng Lê Văn Tỵ. Diệm giao cho Đôn quyền chỉ huy tất cả quân đội Nam VN, thực hiện lệnh thiết quân luật, và áp dụng các biện pháp cần thiết. Tướng Tôn Thất Đính được bổ nhiệm làm Tổng Trấn Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn/Chợ Lớn. Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung vẫn dưới quyền Tổng Thống Phủ. Đôn chỉ ra rằng Đính không chỉ huy lính của Tung, mặc dù Đính là Tổng Trấn Quân Khu Thủ Đô. [trang 617] Đính trong cương vị Tổng Trấn có phối hợp với Đôn, nhưng Đôn không chỉ huy Đính. Đính có xin lệnh Bộ Tổng Tham Mưu về các chỉ dẫn, nhưng Đính không thực hiện tất cả các lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu. Đính, trong cương vị Tổng Trấn, cũng nhận lệnh từ Tổng Thống Phủ giống như Đại Tá Tung. Đôn nói Đại Tá Tung là kẻ nguy hiểm vì ông ta không do quân đội kiểm soát và chỉ thi hành lệnh duy nhất từ Tổng Thống Phủ. Đôn cũng nói rằng các tướng lãnh rất ghét tính bướng bình của Tung. Tung nhận lệnh của cả Diệm và Nhu. Tung hợp tác với Nhu, nhưng khi cần thì quyết định là từ Tổng Thống. Tướng Đôn nói rằng các tướng lãnh khác ủng hộ Đôn, chỉ trừ một số tướng lãnh trẻ. Những tướng trẻ này ghen tỵ việc Đôn nắm quyền tư lệnh của Tướng Tỵ. Nhưng Đôn không kể tên tướng trẻ nào. Đôn bị chỉ trích bởi các tướng trẻ này vì đã có hành động đàn áp Phật giáo. Đại đa số tướng lãnh VN đều là Phật tử. Đôn đưa ra dẫn chứng: "Khi tôi muốn bảo Tướng Trần Tử Oai điều gì, Oai nói với tôi rằng ông ta là dân sự; ông ta có trách nhiệm dân sự." Khi được hỏi cụ thể là Tướng Nguyễn Khánh có ủng hộ Đôn hay không, Đôn trả lời rằng Khánh ủng hộ Đôn 100%. Đôn cũng nói rằng Dương Văn Minh, Trần Văn Minh, các tướng Trí, Khiêm, Kim và "ngay cả Tướng Xuân" cũng ủng hộ Đôn. Khi được hỏi về Tướng Văn Thành Cao, Dân biểu, có nằm trong kế hoạch không, Đôn nói rằng Văn Thành Cao hoàn toàn ngoài cuộc. Các tướng khác nhìn Văn Thành Cao như là dân sự. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:23:16 pm 8. Tướng Đôn nói ông không biết rằng Phật giáo đồ sắp bị tấn công bởi cảnh sát và Lực lượng Đặc biệt (LLĐB). Tướng Đính, trong cương vị Tổng Trấn, nhận lệnh từ Tổng Thống Phủ và được cho biết là lực lượng của Đại Tá Tung sẽ được dùng hỗ trợ cho cảnh sát, vì LLĐB có những "phương tiện đặc biệt. "
Đôn ám chỉ nhưng không nói rõ rằng lệnh [tấn công] đưa ra từ ông Nhu. Dấu hiệu đầu tiên giúp Tướng Đôn biết về việc các chùa bị tấn công là khi ông nghe từ sóng truyền thanh bộ chỉ huy. Các Tướng Khiêm và Đôn có mặt ở Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) khi nghe rằng các chùa đã bị tấn công. Tướng Đôn lập tức đi từ văn phòng BTTM tới Chùa Xá Lợi. Giám đốc Cảnh sát Trần Văn Tư đang chỉ huy trận tấn công tại Chùa Xá Lợi, yểm trợ bởi LLĐB của Đại tá Tung ở vòng quanh khu vực. cảnh sát là những người đầu tiên tiến vào chùa. Khi Đôn tới Chùa Xá Lợi, một trung úy cảnh sát đang chỉ huy một đơn vị bên trong Chùa Xá Lợi. Các vị sư trong chùa đã bị bắt đưa đi trước khi Đôn tới. Trong toàn bộ chiến dịch ở đây, tổng cộng 30 người bị thương, trong đó có 5 người nguy kịch; những con số này bao gồm cả nhân viên công lực và Phật tử. Không có vị sư nào bị giết ở Chùa Xá Lợi. Vào lúc 4 giờ 30 sáng ngày 21-8, chiến dịch quân sự hoàn tất; nhiều điếm chiến lược đã được trấn giữ. Đôn nói rằng có 1.420 nhà sư bị bắt khắp miền Nam VN. 9. Tướng Đôn rất tự hào về việc các tướng lãnh đã có thể giữ bí mật trước khi khởi động chiến dịch [đảo chánh]. Đôn cũng tự hào về kỹ thuật áp dụng bởi quân đội và ông nói [trang 618] "mọi người luôn nói về các đại tá, những người sẽ tổ chức đảo chánh. Họ không có khả năng đó. Chúng tôi đã chứng minh điều này bằng kế hoạch và kỹ thuật của chúng tôi." Ông dẫn ra một thí dụ về cuộc đảo chánh ngày 11-11- 1960, là kế hoạch của các đại tá, đã thất bại. Tướng Đôn không bày tỏ phản ứng cá nhân về trận tấn công các chùa. Đôn có nói rằng ông muốn thực hiện theo kế hoạch ban đầu của ông là thanh lọc tất cả những nhà sư [từ các tỉnh vào Sài Gòn] và đưa trả về chùa của họ ở các tỉnh. Đôn cũng nói rằng Mỹ đang giữ sư Thích Trí Quang ở Trụ sở Ngoại giao đoàn (USOM). Đôn thêm rằng sư Thích Trí Quang là một trong những người kích động chính, và Chính phủ VNCH muốn bắt giam vị sư này. (Nhận xét: Tướng Đôn lộ vẻ tin rằng sư Trí Quang là một trong hai nhà sư đang tỵ nạn trong Trụ sở Ngoại giao đoàn. Nhưng một viên chức CAS1 (CAS là văn phòng tình báo CIA ở Sài Còn. (ND)), biết rõ thầy Trí Quang, đã nhìn thấy cả 2 vị sư đó vào ngày 24-8 và xác nhận không có ai trong số họ là thầy Trí Quang.) 10. Chính Tướng Đôn đã nghe công luận Việt Nam quy trách quân đội trong việc tấn công các ngôi chùa. Ông nói rằng chính phủ Mỹ có lỗi về sự ngộ nhận đó vì đài VOA loan tin rằng quân đội VNCH tấn công các chùa. Đôn chất vấn tại sao đài VOA không nói rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát đã thực hiện việc này? Tướng Đôn tin rằng như vậy sẽ giúp ích cho quân đội trong thời điểm này. Tướng Đôn nói, người Mỹ nên nói rõ lập trường của mình. Tướng Đôn không muốn ông Diệm bị thay thế, chẳng hạn bởi một người lưu vong như Hoan (có lẽ Đôn muốn nói đến Nguyễn Tôn Hoàn), người hiện đang có mặt ở Hoa Kỳ. Đôn nói rằng trong quân đội hiện nay không ai thay được ông Diệm. Đôn đơn cử trường hợp chính ông như một thí dụ. Ông nói: "Tôi không đủ thông minh, cũng không có tham vọng. Tôi chỉ làm công việc liên kết các tướng lãnh với nhau." 11. Đôn ngụ ý rằng ông nhận thức được những diễn tiến tương lai theo kế hoạch. Ông nói: "Đây là bước đầu tiên, còn bí mật về những gì sắp xảy đến thì không phải việc của tôi để nói ra." Khi được hỏi thiết quân luật sẽ kéo dài bao lâu, Đôn nói sẽ tùy theo tình hình. Khi được hỏi liệu cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 31-8 có được tổ chức hay không, Đôn nói có thể sẽ hoãn lại, nhưng sẽ có sự nới lỏng thiết quân luật vào ngày 24-8 trong mức độ lệnh giới nghiêm được suy tính. 12. Tướng Đôn không nói gì về việc để ông Diệm tiếp tục nắm quyền hay thay thế người khác tại Nam VN, ngoại trừ ông nói rằng ông không muốn một trong các chính khách lưu vong về nắm quyền, và rằng không nhân vật quân sự nào có thể thay thế Tổng Thống. Viên chức CAS có ấn tượng, và chỉ là ấn tượng thôi, rằng Tướng Đôn và nhóm của ông muốn giữ ông Diệm tiếp tục nắm quyền trong giai đoạn hiện nay theo kế hoạch của họ. 13. Đôn cũng nói ông nhận thức rằng ông rất có thể sẽ bị "hy sinh" do kết quả của việc thực hiện thiết quân luật, nhưng điều này không quá quan trọng, bởi vì có những lãnh đạo quân sự khác sẽ thay vị trí của ông. Đôn không nêu tên ai. Đôn cho ấn tượng rằng ông không phải người đứng sau mọi chuyện. Ong không thực sự nắm quyền. Ong chịu trách nhiệm giai đoạn đầu tiên. Sẽ có những người khác trong nhóm nhận lãnh thực hiện các giai đoạn tiếp theo. Những lời Đôn nói không hề ám chỉ một hay một số người nào [trang 619] sẽ đứng ra thực hiện các giai đoạn khác. Đôn nhắc đến sự kiện VOA đang nhấn mạnh bản tin về việc Đại sứ Trần Văn Chương từ chức1 (Ông Chương là cha ruột của bà Nhu, từ chức Đại sứ VN ở Hoa Kỳ để phản đối nhà Ngô đàn áp Phật tử). Đôn lặp lại rằng các bản tin VOA làm tổn thương quân đội. Ông nói, không có gì tích cực khi nói rằng quân đội VN đàn áp Phật tử và chính phủ Mỹ lên án việc này, rồi cùng lúc lại nói rằng Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ. Đôn không mở rộng vấn đề đê nói đến những gì người Mỹ nên làm. 14. Đôn không nhắc tới Phó Tổng Thống Thơ hay bất kỳ Bộ Trưởng nào. 15. Đôn nói rằng sau giai đoạn đầu tiên này, mọi việc không thể đảo ngược để trở lại như trước đó. Khi được hỏi có phải ông nói về chính phủ, Đôn trả lời, "Vâng, tôi đang nói chuyện về chính phủ. Tổng Thống phải thay đổi một số Bộ trưởng." Đôn không kể tên bất kỳ Bộ trưởng nào cụ thể. Đôn nói các sự kiện đang quyết định tình hình. Đôn nói nếu ông phải chọn giữa Tổng thống Diệm và Nhu, ông sẽ chọn Tổng thống. Đôn không nói gì về chuyện các sĩ quan khác có thể nghĩ gì về Nhu. Khi được hỏi nếu có chuyện xảy ra, và Tổng Thống Diệm không còn giữ quyền lực, Đôn có sẽ làm việc với Nhu không, Đôn nói: "Nếu tôi phải lựa chọn giữa Tổng Thống Diệm và Nhu, người phải ra đi là Nhu." Đôn không muốn Nhu. 16. Viên chức tường trình nhận ra ấn tượng từ Đôn rằng mặc dù Tổng thống vẫn nắm quyền lực nhưng mọi diễn biến tình hình đang do Nhu kiểm soát. Có ấn tượng mạnh mẽ rằng Tướng Đôn không hoàn toàn nhận thức được đầy đủ mọi việc đang diễn ra quanh ông. Từ những phát biểu của Tướng Đôn, có vẻ như một thành phần trẻ trong các tướng lãnh đang gây rắc rối cho ông. Đôn ám chỉ rằng ông muốn có sự bảo đảm cách này hay cách khác từ phía chính phủ Mỹ. Ông có vẻ không biết phải làm gì kế tiếp. Đôn hoàn toàn bị kiểm soát bởi các sự kiện và phản ứng chứ không [chủ động] lên kế hoạch cho hoạt động kế tiếp. Có vẻ như bản thân Đôn cảm thấy ông không đủ quyền lực ảnh hưởng đến các tướng lãnh để lật đổ Tổng Thống. Tuy nhiên, Đôn không tạo ra ấn tượng rằng ông có ý muốn lật đổ Tổng thống. Ông rõ ràng muốn hòa giải với các Phật tử và nói rằng quân đội nên khôi phục lại các chùa và các pho tượng đã bị phá hủy ở một số chùa. Đôn không nói gì về giai đoạn thứ nhì của kế hoạch. Đôn không nói rõ giai đoạn đầu sẽ kéo dài bao lâu, nhưng có nói rằng sẽ kéo dài tới sau cuộc bầu cử Quốc Hội như đã định. 17. Ấn tượng của chúng tôi là trong những lời của Tướng Đôn có ý nghĩa đáng kể rằng đây chỉ là giai đoạn đầu, và bí mật của các giai đoạn tương lai không phải ông là người nói ra được . Chúng tôi không thể xác định liệu có phải ý Đôn muốn nói rằng các giai đoạn tương lai bao gồm "sự bí mật" sẽ được kiểm soát từ bên trong quân đội, hoặc là bởi Nhu, hoặc các nhân vật dân sự khác chẳng hạn. Đôn [trang 620] không nêu nhận xét đích danh bất kỳ nhân vật dân sự nào. Đôn nói, mục tiêu chính của quân đội là chiến đấu chống Việt cộng. Đôn cũng nói rằng không hề có buổi họp ngày 10 tháng 8 giữa các tướng với Ngô Đình Nhu. 18. Đã gửi thông tin về cuộc nói chuyện này tới Đại sứ Lodge và Tướng Harkins (Tư lệnh Quân viện Hoa kỳ tại VN). Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:24:27 pm 275. TELEGRAM FROM THE CENTRAL INTELLIGENCE AGENCY STATION IN SAIGON TO THE AGENCY1 Source: Library of Congress, Harriman Papers, Vietnam Policy. Secret. Also sent to Honolulu. The source text is a copy sent by the CIA to the Department of State for Hilsman and Hughes; also sent to the White House for Bundy and to JCS for Krulak. According to a note on the source text, TDCS dissemination of this cable would follow. That report, TDCS DB-3/656,252, August 24, is published in Declassified Documents, 1977, 93C Saigon, August 24, 1963, 6:45 p.m. 0265. 1. [less than 1 line not declassified] had almost three hour meeting with General Tran Van Don2 (For Don's recollections of the discussion, see Tran Van Don, Our Endless War, pp. 90-91) evening 23 August in Don’s office at General Staff. Following summarizes discussion. 2. Don was asked who was in control and replied President Diem is in control through Counselor Ngo Dinh Nhu. All the Generals check with Nhu prior to seeing Diem . Explained this by saying Diem uses Nhu as his "thinker" and advisor but does not at all times follow Nhu’s advice. President is jealous of his authority and prerogatives. Don [Page 615] gave an example. At midnight on 22 Aug, Generals Don, Ton That Dinh and Tran Thien Khiem went to see Nhu about the students, recommending that schools all be closed in Saigon by the martial law, because they had information that on 23, 24, and 25 Aug there would be student demonstrations in Saigon. Nhu concurred with Generals’ recommendation, told them he had to check with the President. Nhu and Generals went to see Diem recommending closing of schools. Diem said "no. The young people must have means of expressing themselves." Don repeated that Diem is the man who makes final decisions. 3. Don went on to explain relationships in the Palace. Said it must be remembered that for years President has been agitator against colonialist regimes. During this time Diem did a lot of thinking himself. When he took over govt in 1954 he found it was different and he would have to have people around him who think. He turned to his brother Nhu who is a thinker, an individual who has theories, a philosophy. As time went on, Diem has allowed Nhu to do most of the thinking. This does not mean President will take all of Nhu’s advice. Diem likes Nhu to write presidential proclamations, speeches. Diem prefers himself to meet the people and talk to people. In this way Nhu has special power as a thinker for the President. 4. In describing relationship of Madame Nhu in the Palace, Don said that in Diem’s mind Madame Nhu has status of being Diem’s "wife". President has never married and not used to having women around him. For past nine years Diem has Madame Nhu to comfort him after day’s work is done. She is charming, talks to him, relieves his tension, argues with him, needles him and, like a Vietnamese wife, she is dominant in the household. President and Madame Nhu live two apartments apart. There are no sexual relations between Diem and Madame Nhu. In Don’s opinion, President has never had sexual relations.He likened the situation to that of Hitler and Eva Braun. Don also said, the President likes good looking men around him. Don cited the case of handsome young sergeant who planted a public garden in Dalat. President asked who had planted the garden and when informed, called the sergeant to the Palace and immediately promoted him to Lt. Colonel and put him in charge of military agriculture. Diem has intense passions. When he likes somebody, he likes them all the way; when he hates someone, he hates completely. There is no in-between. Madame Nhu uses her privileged position with President to make him say yes when he wants to say no, but he is won by her charm. Don said, "as I know, Madame Nhu can be extremely charming." Don said it would be practically impossible to get rid of the Nhus because of special positions they hold; Ngo Dinh Nhu being President’s thinker and Madame Nhu his platonic wife. [Page 616] 5. The decision for the action of 20-21 August was reached by ten Generals during the evening of 18 Aug: Tran Van Don, Ton That Dinh, Do Cao Tri, Tran Thien Khiem, Nguyen Khanh, [less than 1 line not declassified], Mai Huu Xuan, Nguyen Ngoc Le, Le Van Kim, and Duong Van Minh. According to Don, they had not been encouraged to reach this decision by Nhu. Only time Nhu had talked about any planning was at meeting 11 July with all Generals present. Don did not say who brought Generals together 18 Aug. This planning included martial law and eventual taking of bonzes who came from outside Saigon and returning them to their own provinces and pagodas. Plan was presented by Generals to Nhu on 20 Aug. Nhu told them to discuss plans with President. Nhu was not present when Generals presented their plan to Diem . Generals present were: Khiem, Tri, Khanh, Dinh, [less than 1 line not declassified], Kim and Don. Don headed the group that presented the plan to the President. 6. Generals told President that morale of troops was deteriorating, and in fact they feared that one military post was near state of desertion. Generals said that wives of soldiers and junior officers were getting upset. They explained to President the situation as the military saw it vis- a-vis the Buddhists. Don claims he told Diem that 8 May affair in Hue could have been settled but that the VC had penetrated Buddhists in Xa Loi Pagoda. Don described tactics used in demonstrations on 11 Aug when bonze Thich Tam Chau was haranguing the crowd at Xa Loi. Chau held crowd spellbound with questions like "are we going to march in streets"? Crowd would call back "yes". Suddenly Chau would say "no, we will not march in the streets. The fact that you have said we are going to march in streets is same as marching in the streets." Don felt that the bonze who spoke English, Thich Due Nghiep, was very dangerous and the Generals feared that if the Buddhist leaders assembled a large enough crowd they could order a march toward Gia Long Palace and the army would not stop them. 7. Don said the President made decision to establish martial law after the Generals had recommended it. Diem made the decision to bring in troops to occupy strategic points of Saigon/Cholon and approved the recommendation to move bonzes visiting Saigon back to their provinces and their pagodas. President insisted however that none of the bonzes be hurt. Don said this touched him very much that the President should insist on their not harming the Buddhists. Diem appointed General Don as temporary successor to General Le Van Ty. Diem made Don responsible for all troops in SVN, the conduct of martial law, and implementation of necessary measures. General Ton That Dinh was appointed Military Governor of Saigon/Cholon. Colonel Le Quang Tung’s troops of Special Forces High Command remain under the control of the Presidency. Don pointed out that Dinh did not command Tung’s troops even though he is Military Governor of Saigon/ Cholon. [Page 617] Dinh as Military Governor coordinates with Don but Don does not command Dinh. Dinh does ask General Staff for guidance but he does not execute all General Staff orders. He receives his orders as Military Governor from the Presidency just as Colonel Tung does. Don said Col. Tung is dangerous because he is not subject to military control and executes orders only from Presidency. Don also said that the Generals hate Tung’s guts. Tung is responsive to both Diem and Nhu. Tung coordinates with Nhu, but when decision is made, it comes from the President. General Don said that the other Generals support him (Don) except some of the younger Generals. These younger Generals are jealous of Don’s having assumed General Ty’s command. Don did not name any of these younger Generals. Don was criticized by these younger Generals for the action that was taken against the Buddhists. Majority of Vietnamese Generals are Buddhist. For example, Don said, "when I want to tell General Tran Tu Oai something, Oai tells me he is a civilian; he has civilian responsibility". When asked specifically if General Nguyen Khanh supported Don, Don replied that Khanh was 100 percent with him. Don said also that Duong Van Minh, Tran Van Minh, Generals Tri, Khiem, Kim and "even Xuan" were with him. When asked if General Van Thanh Cao, the delegate, was in on any of the planning, Don said Cao was left completely out. He is considered by the other Generals to be a civilian. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:27:36 pm 8. General Don said he was not aware that the Buddhists were going to be attacked by the Police and Vietnamese Special Forces. Dinh, as Military Governor, received his orders from the Presidency and was told Colonel Tung’s troops would be used to reinforce Police because VNSF had "special means".
Don intimated but did not state that the orders came from Nhu. First indication General Don had that pagodas were attacked was when he received call on his command radio. Generals Khiem and Don were at JGS when they heard that pagodas had been attacked. Don went immediately from his command post to Xa Loi. Police commissioner Tran Van Tu was in command at Xa Loi Pagoda backed up by Colonel Tung’s Special Forces in the periphery of the area. The Police were the first to enter the pagoda. When Don arrived at Xa Loi, a police lieutenant was already in charge of a detail inside Xa Loi. The Xa Loi bonzes had already been taken away when Don arrived. In the whole operation a total of thirty people were wounded, five seriously. This figure includes GVN and Buddhist casualties. No bonzes were killed at Xa Loi. At 0430 hours on morning of 21 Aug the military operation had been completed as far as the occupation of the strategic points by the military were concerned. Don said that 1420 bonzes were under detention throughout SVN. 9. General Don was very proud of the fact that the Generals had been able to maintain secrecy prior to initiation of this operation. He was also proud of the technique employed by the troops and he said [Page 618]"everybody always talks of colonels who will pull coups d’etat. They are incapable. We have proven this by our planning and our technique". He cited as an example the 11 November 1960 coup d’etat which was planned by colonels and failed. Don did not express his personal reaction to the attack on the pagodas. Don did say that he wants to carry out his original plan to screen all the bonzes and return them to their provinces and to their pagodas. Don also said that the US is holding Thich Tri Quang in USOM. Don added that Tri Quang was one of the the main agitators and the GVN wants to take him in custody. (Field comment: Don apparently believes Tri Quang is one of the two bonzes taking refuge in USOM. A CAS officer who knows Tri Quang well saw both of the bonzes in USOM on 24 August and confirmed that neither is Tri Quang.) 10. General Don has heard personally that the military is being blamed by Vietnamese public for the attack on the pagodas. He said that the US Govt is at fault for this misconception because VOA announced that the military took action against the pagodas. Don queried why VOA did not admit that Colonel Tung’s Special Forces and the Police carried out the action. Don believes this would help the military at this point. Don stated that the USA should now make its position known. Don does not want Diem replaced, for example, by an exile like Hoan (possibly Nguyen Ton Hoan) who is presently in the US. He admitted that within the military there is no one who could replace Diem. He cited, as an example, himself, saying, "I’m not smart nor am I ambitious. I only took the job to keep the Generals together". 11. Don implied he is aware of planned future developments. He said "This is the first step, and the secret of what is going to happen is not mine to give". When asked how long he thought martial law would last, Don said it depended on what is going to happen. When asked if the National Assembly elections on 31 Aug would be held he said the elections will probably be delayed, but there will be a relaxation of martial law on 24 Aug as far as curfew is concerned. Don did not say anything about keeping Diem in power or replacing him with someone inside SVN beyond his statement that he did not want one of the Vietnamese exile politicians to achieve power and that no military figure could do the job. CAS officer received the impression, and it was an impression only, that Don and his group wished to retain Diem in power for the present phase of their plan. Don also said that he realizes he will probably be "sacrificed" as a result of the martial law action but this is not too important because there are other military leaders who will take his place. He did not name them. Don gave the impression that he is not the man behind the whole thing. He is the figurehead. He is responsible for the first phase. There are others in the group who will take over other phases. Nothing Don said implied who the man or men might be who [Page 619] would take over other phases. Don mentioned the fact that VOA is playing up the resignation of Ambassador Chuong. He repeated that VOA broadcasts are hurting the military. He said it does no good to say that military action has been taken against the Buddhists and that the U.S. Govt deplores this action and at the same time say that the USA continues aid. He did not expand on this to indicate what action the USA should take. 14. Don made no mention of Vice President Tho or of any other Cabinet members. 15. Don said that after this first phase, things cannot revert back to what was before. When asked if he referred to the government, Don said, "yes, I’m talking about the government. The President has got to change some of his Ministers." Don did not name any specific ministers. He said events are controlling the situation. Don said if he had to choose between President Diem and Nhu, he would choose the President. He gave no indication of what other officers might be thinking about Nhu. When asked if something happens, and the President is no longer in power, would Don go with Nhu, Don said "if I have the choice between the President and Nhu, Nhu is going." He doesn’t want Nhu. 16. Reporting officer received the impression from Don that although the President is still in the saddle what is going on now is being controlled by Nhu. The impression is strong that General Don is not completely aware of everything that is going on around him. From Don’s statements it appears that there is a junior element among the Generals causing him trouble. Don indicated that he wants assurances one way or the other from the U.S. Govt. He appears not to know what to do next. He is completely controlled by events and reacts rather than plans next moves. It seems Don himself feels he does not have the power of [or?] enough influence over the Generals to overthrow the President. However Don did not give the impression that he wants by choice to overthrow the President. Don evidently wants to conciliate the Buddhists and said that the military should restore the pagodas and the holy statues that were destroyed in some of the pagodas. Don made no statements on the second phase of the plan. Don did not indicate how long the first phase would last but did indicate it would last beyond the scheduled National Assembly elections. 17. Our impression is that there is considerable significance in Don’s statement that this is only the first phase and the secret of future phases is not his to tell. We cannot determine whether Don means that future phases containing the "secret" will be controlled from within the military or, for example, by Nhu, or by other civilian figures. Don [Page 620] made no comment on any civilians by name. He said the Army’s primary aim is to fight the Viet Cong. Don also said that there was no 10 August Generals’ meeting with Ngo Dinh Nhu. 18. Have disseminated to Lodge and Harkins. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:32:16 pm ĐIỆN VĂN 243 TỐI MẬT NGÀY 24/8/1963 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Cư sĩ Nguyên Giác dịch - Soạn thảo ngày 24/8/1963: Roger Hilsman (Giám đốc Phòng Tình báo và Nghiên cứu) - Thông qua nội dung: Roger Hilsman, Michael Forrestal (Thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia), George Ball (Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) - Chấp thuận chuyển đi và đưa vào phân loại: Averell Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao về Viễn Đông Sự Vụ) - Giải mật ngày 20/4/1998. (https://iili.io/CgdboRp.jpg) PHÓNG ẢNH MỘT PHẦN ĐIỆN VĂN 243 LỜI NGƯỜI DỊCH: Điện văn này trong Tự Điển Bách Khoa Mở Wikipedia gọi bằng nhiều tên khác nhau: DEPTEL 243, Telegram 243, hay August 24 Cable, hay ngắn gọn hơn là Cable 243. Phần lớn nội dung của điện văn này cũng được trích lại trong The Pentagon Papers. Có vài điểm ghi nhận như sau: - Điện văn 243 chỉ gửi tới cấp cao nhất, trong các nhà ngoại giao Mỹ tại VN chỉ gửi riêng tới Đại sứ Henry Cabot Lodge; còn trong giới quân sự Mỹ chỉ gửi riêng tới Đô Đốc Harry Felt, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương. - Chính phủ Mỹ ủy quyền cho Đại sứ Lodge nói thẳng với ông Diệm, rằng Mỹ không đồng ý việc ông Nhu chỉ huy cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt tấn công các chùa. - Ủy quyền cho Lodge đòi ông Diệm trả tự do tức khắc cho tăng ni, và xóa bỏ Dụ Số 10 tức khắc. Nói thẳng, nếu không làm, Mỹ sẽ ngưng mọi viện trợ quân sự và kinh tế. - Ủy quyền cho Lodge nói với các tướng lãnh Việt Nam rằng Mỹ sẽ ủng hộ trong thời gian chuyển tiếp quyền lực để gỡ bỏ ông bà Nhu, và nếu Diệm ngoan cố, sẽ thay thế Diệm luôn. - Cho Đại sứ Lodge toàn quyền soạn kế hoạch, thực hiện. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:33:47 pm 281. ĐIỆN VĂN Bộ NGOẠI GIAO HOA KỲ GỬI TÒA ĐẠI Sứ TẠI VIỆT NAM1 (Nguồn: Bộ Ngoại Giao, hồ sơ Har-Van, Lật đổ Chính phủ Diệm tại miền Nam VN, 1963. Tối mật; xử lý tức thời. Bản in cũng lưu hành trong Quan hệ Mỹ-Việt, 1945-1967, Quyển 12, trang 536-537 và trong Hồ sơ Giải mật, 1975, 321B) Yêu cầu: Chuyển đến Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn - Xử lý tức khắc. Điện văn số 243. Chỉ dành riêng cho Đại Sứ Lodge - Đối với Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương / Cố vấn Chính trị, chỉ gửi riêng đến Đô đốc Harry Felt. Không gửi đến bất kỳ nơi nào khác, về các điện văn CAS 2652 (Tham chiếu FRUS 1961 -1963, Vol III, Hồ sơ 275) gửi từ Sài Gòn báo cáo quan điểm của Tướng Đôn, Điện văn 3203 (Tham chiếu FRUS 1961-1963, Vol III, Hồ sơ 274), Điện văn 3164 (Xem cước chú số 3, FRUS 1961 -1963, Vol III, Hồ sơ 276) và Điện văn 3295 (Tham chiếu FRUS 1961-1963, Vol III, Hồ sơ 276) cũng đều gửi từ Sài Gòn. - Giờ đây đã quá rõ, cho dù lệnh thiết quân luật có phải do quân đội đề nghị hay do ông Nhu lừa dối đưa họ vào bẫy, thì ông Nhu cũng đã lợi dụng hiệu lực của lệnh đó để tấn công vào các chùa bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của ông Tung, trung thành với Nhu, và do đó đã đổ trách nhiệm cho quân đội trong mắt thế giới và dân chúng VN. Cũng thấy rõ rằng ông Nhu sắp xếp để tự mình giữ vị trí chỉ huy. Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận tình trạng quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải được trao cho cơ hội để loại bỏ ông Nhu và bè phái, thay thế họ với các nhân sự chính trị và quân sự xuất sắc nhất hiện có. Trong trường hợp ông đã hết sức thuyết phục mà ông Diệm vẫn cứng rắn và từ chối [nghe theo], thì chúng ta buộc phải đối diện với thực tế là rất có thể không giữ ông Diệm được nữa." Giờ đây chúng tôi tin rằng nhất thiết phải hành động khẩn cấp để ngăn cản không cho Nhu củng cố vững chắc hơn nữa vị trí của ông ta. Do vậy, trừ phi ông tham khảo với Tướng Harkins (Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam - MACV) và nhận được những phản biện quan trọng hơn, nếu không thì ông được ủy quyền tiến hành các việc sau: 1. Trước hết, chúng ta phải tiếp tục áp lực ở các mức độ thích nghi đối với chính phủ VNCH như sau: a. Chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận những hành vi đàn áp Phật tử của ông Nhu và tay chân dưới vỏ bọc thiết quân luật. b. Nhất thiết phải có các hành vi mạnh mẽ tức khắc để điều chỉnh tình hình, bao gồm cả việc gỡ bỏ Dụ số 101 (Về Dụ số 10 ban hành ngày 6 tháng 8 năm 1950, xem cước chú số 2, hồ sơ 116), trả tự do cho các vị sư, các ni cô, vân vân... đã bị bắt giữ. 2. Chúng ta đồng thời cũng phải cho các tướng lãnh then chốt biết rằng, Hoa Kỳ không thể tiếp tục ủng hộ chính phủ VN về mặt quân sự và kinh tế, trừ phi các bước nói trên được thực hiện tức khắc, mà theo nhận thức của chúng ta là phải loại bỏ ông bà Nhu ra khỏi chính trường. Chúng ta mong muốn tạo cho ông Diệm một cơ hội hợp lý để loại bỏ ông bà Nhu, nhưng nếu ông Diệm vẫn cứng nhắc không thay đổi thì chúng ta sẵn sàng chấp nhận kết quả hiến nhiên là không thể ủng hộ ông Diệm được nữa. Ông cũng có thể nói với các tướng lãnh nào thích hợp rằng chúng ta sẽ ủng hộ trực tiếp đối với họ trong bất kỳ giai đoạn chuyên tiếp nào khi cơ chế chính phủ trung ương bị phá vỡ. 3. Chúng tôi thừa nhận sự cần thiết phải xóa bỏ vết nhơ cho quân đội về chiến dịch tấn công các chùa và quy trách nhiệm trực tiếp về ông Nhu. Ông được toàn quyền đưa ra những tuyên bố như thế tại Sài Gòn sao cho đạt được mục đích này. Chúng tôi ở Washington sẵn sàng có động thái tương tự và sẽ cho đài VOA loan tin phù hợp với nội dung trong bức điện sắp tới ngay khi ông gửi về, nên cố gắng càng sớm càng tốt1 (Tham chiếu điện văn 244 gửi đến Saigon ngày 24 tháng 8, lúc 9:37 tối, trong đó Hilsman cung cấp cho Tòa Đại Sứ nội dung thông tin để đồng thời công bố tại Washington và Saigon. Bản thông tin này và bản tin để xuất phát trên đài VOA đều nhằm phân tách cho công luận thấy rõ việc áp đặt lệnh thiết quân của Quân đội Nam VN không liên quan đến chiến dịch tấn công vào các chùa do Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Tung và cảnh sát mật thực hiện, cùng với việc bắt bớ hàng loạt người biểu tình và các nhà lãnh đạo Phật giáo. Bản thông tin này chỉ rõ rằng Lực lượng Đặc biệt không nằm dưới sự chỉ huy của Quân đội. (Nguồn: Department of State, Central Files, soc 14-1 S VIET) về nội dung bản tin thực sự được phát trên sóng VOA, xem Hồ sơ 287)). Cùng với những điều trên, Đại sứ và các viên chức ngoại giao tại VN nên khẩn cấp khảo sát tất cả những khả năng thay thế lãnh đạo hiện có và soạn những kế hoạch chi tiết về việc làm thế nào chúng ta có thể thay thế Diệm nếu điều này trở nên cần thiết. Điều tất nhiên là ông phải tham khảo với Tướng Harkins về bất kỳ biện pháp phòng ngừa cẩn trọng nào cần thiết để bảo vệ nhân viên Hoa Kỳ trong suốt thời gian khủng hoảng. Ông nên biết, từ Washington chúng tôi không thể gửi đến ông những chỉ thị chi tiết về việc nên tiến hành những hoạt động này như thế nào, nhưng ông cũng nên biết rằng chúng tôi luôn ủng hộ hoàn toàn những hoạt động của ông nhằm đạt được các mục tiêu của chúng ta. Điều không cần phải nói là chúng tôi đã giữ kín điện văn này chỉ trong phạm vi những người có liên quan thiết yếu, và tất nhiên ông cũng phải có sự cảnh giác tương tự để tránh việc rò rỉ thông tin quá sớm. BALL Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:35:51 pm 281. TELEGRAM FROM THE DEPARTMENT OF STATE TO THE EMBASSY IN VIETNAM1 Source: Department of State, Har-Van Files, Overthrow of the Diem Government in South Vietnam, 1963. Top Secret; Operational Immediate. Printed also in United States-Vietnam Relations, 1945-1967, Book 12, pp. 536-537 and Declassified Documents, 1975, 321 B. Action: AmEmbassy SAIGON - OPERATIONAL IMMEDIATE 243. Eyes only Ambassador Lodge. For CINCPAC/ POLAD exclusive for Admiral Felt. No furtherdistribution. Re CAS Saigon 02652 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 275) reporting General Don’s views; Saigon 3203 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274) Saigon 3164 (See footnote 3, FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 276) and Saigon 3295 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 276). - It is now clear that whether military proposed martial law or whether Nhu tricked them into it, Nhu took advantage of its imposition to smash pagodas with police and Tung’s Special Forces loyal to him, thus placing onus on military in eyes of world and Vietnamese people. Also clear that Nhu has maneuvered himself into commanding position. US Government cannot tolerate situation in which power lies in Nhu’s hands. Diem must be given chance to rid himself of Nhu and his coterie and replace them with best military and political personalities available. If, in spite of all of your efforts, Diem remains obdurate and refuses, then we must face the possibility that Diem himself cannot be preserved. We now believe immediate action must be taken to prevent Nhu from consolidating his position further. Therefore, unless you in consultation with Harkins perceive overriding objections you are authorized to proceed along following lines: 1. First, we must press on appropriate levels of GVN following line: a. USG cannot accept actions against Buddhists taken by [Page 629] Nhu and his collaborators under cover martial law. b. Prompt dramatic actions redress situation must be taken, including repeal of decree 101 (Regarding Decree No. 10 of August 6, 1950, see footnote 2, Document 116), release of arrested monks, nuns, etc. 2. We must at same time also tell key military leaders that US would find it impossible to continue support GVN militarily and economically unless above steps are taken immediately which we recognize requires removal of the Nhus from the scene. We wish give Diem reasonable opportunity to remove Nhus, but if he remains obdurate, then we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem. You may also tell appropriate military commanders we will give them direct support in any interim period of breakdown central government mechanism. We recognize the necessity of removing taint on military for pagoda raids and placing blame squarely on Nhu. You are authorized to have such statements made in Saigon as you consider desirable to achieve this objective. We are prepared to take same line here and to have Voice of America make statement along lines contained in next numbered telegram whenever you give the word, preferably as soon as possible1 (Reference is to telegram 244 to Saigon, August 24, 9:37 p.m., in which Hilsman provided the Embassy with a guidance for simultaneous play in Washington and Saigon. This guidance and the proposed VOA broadcast were supposed to separate in the public's mind the South Vietnamese Army's press imposition of martial law and the attacks by Tung's Special Forces and the secret police on the pagodas and the large-scale arrests of Buddhist leaders and demonstrators. The guidance pointed out that the secret police and the Special Forces were not under the command of the Armed Forces. (Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET) For text of the VOA guidance as actually broadcast, see Document 287)). Concurrently with above, Ambassador and country team should urgently examine all possible alternative leadership and make detailed plans as to how we might bring about Diem’s replacement if this should become necessary. Assume you will consult with General Harkins re any precautions necessary protect American personnel during crisis period. You will understand that we cannot from Washington give you detailed instructions as to how this operation should proceed, but you will also know we will back you to the hilt on actions you take to achieve our objectives. Needless to say we have held knowledge of this telegram to minimum essential people and assume you will take similar precautions to prevent premature leaks. BALL Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:36:47 pm CHIẾN DỊCH TẤN CÔNG CÁC CHÙA, BẮT 1.426 TĂNG NI CƯ SĨ LỜI NGƯỜI DỊCH Sau đây là bức Điện văn số 320 trong Hồ sơ đã giải mật "Foreign Relations of the United States, 1961- 1963" (Hồ Sơ Đối Ngoại Của Hoa Kỳ, 1961-1963) gửi từ Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge về Bộ Ngoại Giao Mỹ. Điện văn gửi từ Sài Gòn ngày 24-8-1963, mấy ngày sau trận tấn công hàng loạt vào các chùa ở Miền Nam VN. MỘT SỐ ĐIỂM GHI NHẬN TỪ ĐIỆN VĂN 320 - Ông Nhu đã biến sức mạnh Quân đội và Mật Vụ làm thế lực riêng cho gia đình họ Ngô: triệt tiêu quyền lực Quân đội bằng cách tách riêng Lực Lượng Đặc Biệt và cảnh sát Dã chiến làm cánh tay để đàn áp Phật tử. - Các Tướng Lãnh Quân đội không biết gì về chiến dịch tấn công các chùa đêm 20 rạng ngày 21- 8-1963, trong đó lính ông Nhu bắt 1426 Tăng Ni Cư Sĩ, trong đó hầu hết là tu sĩ cấp lãnh đạo của Phật giáo. - Ông Nhu đã gài vũ khí, chất nổ vào chùa để vu vạ. - Dân chúng đổ tội cho Quân đội, và sinh viên tự kêu gọi biểu tình. - Quân đội cảm thấy bị tê liệt và có nguy cơ mất khả năng chống Cộng. Ông Nhu đã biến Quân đội, một lực lượng chống Cộng để bảo vệ miền Nam, thành lực lượng riêng bảo vệ gia đình họ Ngô chống lại dân chúng. - Quân đội đã nghĩ tới giải pháp đẩy ông bà Nhu ra ngoài chính phủ, giữ ông Diệm làm Tổng Thống. Bản Việt dịch của Cư sĩ Nguyên Giác. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 04 Tháng Tám, 2026, 08:38:01 pm 274. ĐIỆN VĂN TỪ TÒA ĐẠI SỨ TẠI VIỆT NAM GỬI VỀ BỘ NGOẠI GIAO1 Nguồn: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Hồ Sơ Trung Ương, SOC 14-1 S VIET. Mật; Xử lý tức khắc; Phổ biến hạn chế. Gửi bản sao tới Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ Thái Bình Dương. Hilsman đã trích dẫn điện văn này trong cuốn To Move a Nation, các trang 484-485, như một phần trong phương pháp các tướng lãnh VNCH tiếp cận với các viên chức Mỹ Sài Gòn, 24-8-1963, lúc 6 giờ chiều Điện văn số 320. Gửi đến Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, cho các Cố vấn Chính trị). Sau đây là bản ghi nhớ cuộc nói chuyện giữa Rufus Phillips, Giám đốc Ủy Ban Hoa Kỳ về Phát Triển Nông Thôn, và Tướng Lê Văn Kim vào ngày 23-8. Bắt đầu văn bản: Sau đây là lời Tướng Lê Văn Kim, người hiện giữ chức Phụ tá Quan hệ Cộng đồng cho Tướng Trần Văn Đôn, trong buổi nói chuyện với tôi vào ngày 23-8. Tướng Kim là một bạn thân cũ của tôi và có yêu cầu cuộc nói chuyện này được giữ bí mật. Tướng Kim mở đầu câu chuyện bằng việc cay đắng nói lên rằng Quân Đội hiện giờ hành động như con rối trong tay Cố vấn Nhu, người đã giăng bẫy để quân Đội rơi vào việc ban hành thiết quân luật. Quân Đội, kể cả các tướng Đính và Đôn, không hề biết gì về các kế hoạch tấn công Chùa Xá Lợi và những chùa khác. Điều này được thực hiện bởi Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát dã chiến theo các mật lệnh của Nhu. Nhu hiện đang nắm quyền kiểm soát và Tướng Đôn nhận lệnh trực tiếp từ ông ta. Theo lời Kim, có 1.426 người (Tăng Ni cư sĩ Phật giáo) đã bị bắt giữ. Tất cả chất nổ và vũ khí tìm thấy trong các chùa chỉ là màn dàn cảnh đổ vạ. Hiện nay dân chúng tin rằng Quân Đội phải chịu trách nhiệm về việc đàn áp Phật tử và quay sang chống đối Quân Đội. Trừ phi có sự cải chính và nói rõ sự thật với công chúng, Quân Đội sẽ mất khả năng chiến đấu chống Cộng một cách nghiêm trọng. Tướng Kim nói, các sinh viên của khoa Y và khoa Dược Khoa thuộc Đại học Sài Gòn đã tổ chức biểu tình vào sáng ngày 23-8. Kim cảm thấy những cuộc biểu tình này sẽ lan rộng, và rằng sinh viên sắp chuyển sang bạo động. Nhật lệnh về kiểm soát bạo động biểu tình đã trao cho các cấp chỉ huy Quân Đội VNCH vào sáng ngày 23, và ông hy vọng xung đột bạo lực giữa Quân Đội và sinh viên có thể tránh được. Tuy nhiên, Nhu đã ra lệnh cho Cao Xuân Vỹ (Tổng Giám Đốc Thanh Niên) phải tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ của Lực Lượng Thanh Niên Cộng Hòa với khoảng hơn 500.000 người vào ngày 25-8. Kim tin rằng một cuộc biểu tình lớn như thế, nếu được tổ chức, sẽ có thể dẫn tới bạo động ở mức không hình dung nổi, và do đó phải cố tránh. Ông ngờ rằng Nhu sẽ không chịu lắng nghe bất kỳ lời khuyên trái ý nào về chuyện biểu tình. Tôi hỏi Tướng Kim về việc Quân Đội có đoàn kết hay không. Ông nói, Nhu đã cố ý phân chia quyền chỉ huy giữa Đại Tá Tung, Tướng Đính và Tướng Đôn, và đang đối phó với từng người một cách riêng rẽ. Tướng Đôn (là [trang 614] anh rể của Kim) không có được nhiều sự ủng hộ tự nhiên trong các sĩ quan, nhưng ông cảm thấy là hầu hết các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp khác có thể liên minh quanh Tướng Đôn. Vấn đề then chốt ở đây là lập trường của Mỹ đứng về bên nào. Nếu Mỹ xác định rõ ràng chống lại ông bà Nhu và ủng hộ việc Quân Đội hành động để loại họ ra khỏi chính phủ, thì Quân Đội (chỉ trừ Đại Tá Tung) sẽ đoàn kết để ủng hộ hành động đó và hẳn là có thể thực hiện được. Mặc dù cá nhân ông không thích Diệm, nhưng ông Kim cảm thấy việc giữ lại ông Diệm làm Tổng Thống hẳn là tốt hơn, miễn là toàn bộ ảnh hưởng của gia đình họ Ngô phải được xóa bỏ vĩnh viễn một cách hiệu quả. Ông nói, không chỉ là vấn đề loại trừ ông bà Nhu, mà còn phải loại bỏ hết bè phái tay chân của họ nữa. Cuối cùng, Tướng Kim nói rằng ông và 7 tướng lãnh khác đã bị ép buộc phải ký vào một tuyên thệ trung thành với Tổng Thống Diệm hôm 22-8, với nội dung hoàn toàn ủng hộ những hành động của chính phủ chống lại Phật giáo. Ông nói, Hoa Kỳ nhất thiết đừng để bị lừa dối bởi văn bản đó, vì đại đa số trong Quân Đội cũng như hầu hết các tướng lãnh đã ký tên vào bản tuyên thệ đều không hề chấp nhận việc đàn áp Phật giáo, nhưng lần này họ buộc phải ký tên vào đó hoặc sẽ trở thành đối tượng bị Cố Vấn Nhu xóa sổ từng người một. Ký tên: Lodge Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 08:44:23 pm CIA: CUỘC NÓI CHUYÊN BÍ MẬT CỦA TƯỚNG TRẦN VĂN ĐÔN1 (Nguồn: Foreign Relations of the United States, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963, Document 275 - Điện văn số 265) Cư sĩ Nguyên Giác dịch LỜI NGƯỜI DỊCH: Điện văn này do CIA từ Sài Gòn gửi về Hoa Kỳ, kể lời Tướng Trần Văn Đôn vài ngày sau trận tổng tấn công các chùa do ông Ngô Đình Nhu thực hiện. Vài điểm ghi nhận từ lời của Tướng Đôn trong điện văn: - Nhiều lính đào ngũ, tinh thần binh sĩ suy sụp vì bất mãn khi Phật tử bị đàn áp; - Ông Diệm nắm quyền xuyên qua ông Nhu; - Ông Diệm xem Bà Nhu như người vợ tinh thần; - Ông Diệm đã thăng chức một trung sĩ trẻ, đẹp trai lên chức Trung Tá; - Đôn nói ông sắp xếp giai đoạn đầu của kế hoạch đảo chánh ông Diệm; - Đôn có vẻ muốn giữ ông Diệm ở ghế Tổng Thống, trong khi phải gạt bỏ ông bà Nhu và rất nhiều Bộ Trưởng ra ngoài quyền lực; - Đôn không muốn Nguyễn Tôn Hoàn về nước thay thế ông Diệm; - Đôn kể tên một số tướng lãnh trong kế hoạch đảo chánh, nhưng không nhắc tên Tướng Tôn Thất Đính, lúc đó là Tổng Trấn Biệt Khu Sài Gòn/Gia Định. Đôn nhắc tới cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 của các đại tá, và nói kế hoạch của các tướng sẽ rất hoàn hảo. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 08:51:14 pm 275. ĐIỆN VĂN TỪ VĂN PHÒNG CIA TẠI SÀI GÒN GỬI VỀ SỞ TÍNH BÁO TRUNG ƯƠNG CIA1 (Nguồn: Library of Congress, Harriman Papers, Vietnam Policy. Bí mật. Cũng đã gửi tới Honolulu. Bản văn nguồn là phó bản do CIA gửi về Bộ Ngoại Giao cho Hilsman (Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu) và Hughes (Phó Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu); cũng gửi tới Bạch Ốc cho Bundy (Cố vấn An ninh Quốc gia) và tới JCS (Bộ Tổng Tham mưu Quân Lực Mỹ) cho Tướng Krulak (Phụ tá Đặc biệt về Chống Phiến Loạn). Theo một ghi chú về bản văn nguồn, điện văn này phổ biến theo phân loại TDCS. Bản Phúc trình đó ghi mã số "TDCS DB-3/656, 252, August 24, " đã in trong Hồ sơ giải mật, 1977, 93C) Sài Gòn, ngày 24-8-1963, lúc 6:45 giờ chiều ĐIỆN VĂN SỐ 0265. 1. [Ít hơn một dòng không giải mật] đã có buổi nói chuyện khoảng ba giờ đồng hồ với Tướng Trần Văn Đôn2 (Để biết những gì Tướng Đôn hồi tưởng về cuộc nói chuyện này, xem Trần Văn Đôn, Our Endless War, trang 90-91. (ISBN: 978-0891410195 - ND)) vào đêm 23-8-1963 tại văn phòng Tướng Đôn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Sau đây là tóm lược cuộc nói chuyện. 2. Tướng Đôn được hỏi là ai đang nắm quyền, và đã trả lời rằng Tổng Thống Diệm nắm quyền thông qua Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Tất cả các tướng lãnh phải qua sự kiểm soát của Nhu trước khi gặp ông Diệm. Giải thích điều này, [Tướng Đôn] nói rằng Diệm sử dụng Nhu như "lý thuyết gia" và cố vấn, nhưng không phải luôn luôn nghe lời khuyên của Nhu. Tổng Thống Diệm ghen tỵ với thẩm quyền và khả năng của Nhu. Tướng Đôn [trang 615]3 (Bản điện tử cung cấp các số trang theo bản in đã phát hành) cho một thí dụ. Vào nửa đêm 22-8, Tướng Đôn cùng Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm đến gặp Nhu về chuyện các sinh viên, đề nghị nên đóng cửa toàn bộ các trường ở Sài Gòn bằng cách thiết quân luật, bởi vì có nguồn tin rằng vào các ngày 23, 24 và 25 tháng 8 sinh viên sẽ biểu tình ở Sài Gòn. Nhu đồng ý với đề nghị của các tướng lãnh, bảo họ phải xin phép Tổng Thống. Nhu và các tướng lãnh đến gặp ông Diệm và đề nghị đóng cửa các trường. Ông Diệm nói: "Không. Giới trẻ nhất thiết phải có những phương cách để tự bày tỏ." Tướng Đôn lặp lại rằng, ông Diệm là người ra quyết định cuối cùng. 3. Tướng Đôn tiếp tục giải thích về các quan hệ trong Phủ Tổng Thống. Ông nói, phải nhớ là trong nhiều năm, Tổng Thống từng là người kêu gọi chống chế độ thực dân. Trong thời gian đó, Diệm đã tự suy nghĩ rất nhiều để vạch ra đường lối lý thuyết. Sau khi nắm chính quyền từ năm 1954, Diệm nhận ra sự khác biệt và ông cần có những người thân cận giúp việc phác vạch lý thuyết. Ông hướng đến người em là Nhu, một lý thuyết gia sẵn có những lý thuyết, triết lý. Dần dần, Diệm đã cho phép Nhu thực hiện hầu hết công việc phác vạch đường lối lý thuyết. Nhưng điều này không có nghĩa là Tổng Thống luôn luôn nghe theo sự cố vấn của Nhu. Diệm thích việc Nhu thay ông viết các bản tuyên bố, diễn văn. Ông Diệm thích tự mình gặp gỡ, nói chuyện với dân chúng. Do vậy, Nhu có được quyền lực đặc biệt của một lý thuyết gia phục vụ Tổng Thống. 4. Mô tả về mối quan hệ của bà Nhu trong Tổng Thống Phủ, Tướng Đôn nói rằng, trong lòng ông Diệm thì bà Nhu có vị trí như "vợ" ông. Tổng Thống chưa bao giờ lập gia đình và không quen sống bên cạnh đàn bà. Trong 9 năm qua, ông Diệm có bà Nhu an ủi sau một ngày làm việc hoàn tất. Bà Nhu có sức quyến rũ, thường trò chuyện và làm giảm căng thẳng cho ông, tranh luận với ông, châm chọc ông, và giống như mọi người vợ Việt Nam, bà quán xuyến mọi việc trong nhà. Tổng Thống và bà Nhu sống cách biệt nhau. Không có quan hệ tình dục giữa ông Diệm và bà Nhu. Theo ý kiến của Tướng Đôn, Tổng Thống chưa từng có quan hệ tình dục. Tướng Đôn so sánh tình trạng đó y hệt như giữa Hitler và Eva Braun. Đôn cũng nói, Tổng Thống thích sống gần những người đàn ông đẹp trai. Đôn dẫn ra trường hợp một trung sĩ trẻ, đẹp trai, phụ trách làm vườn công cộng ở Đà Lạt. Tổng Thống đã hỏi xem ai chăm sóc vườn đó, và khi được báo cáo, ông cho gọi viên trung sĩ kia tới Dinh Tổng Thống rồi tức khắc thăng chức người này lên Trung Tá và giao nhiệm vụ quản trị nông nghiệp quân sự. Ông Diệm có lối cảm xúc cực đoan. Khi ông thích ai, dù thế nào ông cũng thích; và khi ông ghét ai, ông ghét toàn diện. Không có trạng thái lưng chừng. Bà Nhu đã sử dụng vị trí đặc quyền của bà với Tổng Thống để khiến ông phải đồng thuận những khi ông muốn chống lại, nhưng ông Diệm đã khuất phục trước sức quyến rũ của Bà Nhu. Tướng Đôn nói: "Theo tôi biết thì bà Nhu cực kỳ quyến rũ." Đôn nói, trên thực tế không thể loại bỏ ông bà Nhu vì những vị trí đặc biệt của họ; Ngô Đình Nhu là lý thuyết gia của Tổng Thống và bà Nhu là người vợ tinh thần của ông ta1 (Nguyên tác dùng "platonic", có nghĩa là thân thiết, gắn bó về mặt tinh thần nhưng không có quan hệ xác thịt). 5. [Trang 616] Quyết định hành động ngày 20- 21/8 đạt được bởi 10 tướng lãnh vào đêm 18- 8: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, [ít hơn một dòng không giải mật]2 (Ở đây kể tên thiếu một người, như vậy có một vị tướng được quyết định giữ kín), Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Kim, và Dương Văn Minh. Theo lời Đôn, ông Nhu không khuyến khích họ đạt đến quyết định này. Chỉ có lần Nhu nói chuyện về việc dự trù kế hoạch nào đó là trong buổi họp ngày 11 tháng 7, với sự hiện diện của tất cả tướng lãnh. Tướng Đôn không nói rõ ai đã triệu tập các tướng họp đêm 18-8. Kế hoạch này bao gồm việc ban lệnh thiết quân luật và tiếp theo đó đưa những nhà sư từ các tình đã vào Sài Gòn trở về chùa của họ ở các tình. Kế hoạch này do các tướng lãnh trình lên ông Nhu vào ngày 20-8. Ông Nhu bảo họ thảo luận kế hoạch này với Tổng Thống. Khi các tướng lãnh trình kế hoạch lên Diệm thì ông Nhu không có mặt. Các tướng có mặt lúc đó là: Khiêm, Trí, Khánh, Đính, [ít hơn một dòng không giải mật], Kim và Đôn. Tướng Đôn đứng đầu nhóm tướng lãnh trình kế hoạch lên Tổng Thống. 6. Các tướng lãnh nói với ông Diệm rằng tinh thần binh sĩ đang suy giảm, và trong thực tế họ đã lo sợ khi thấy một đồn lính đào ngũ đến mức gần hết sạch. Các tướng nói rằng, những người vợ lính và các sĩ quan cấp thấp đang hoang mang. Họ giải thích với Tổng Thống về tình hình khi quân đội phải đối đầu trực diện với Phật tử. Tướng Đôn xác nhận ông đã nói với ông Diệm rằng vấn đề ngày 8-5 tại Huế lẽ ra có thể đã giải quyết được, nhưng vì Việt cộng đã trà trộn vào Phật tử tại Chùa Xá Lợi. Đôn mô tả những sự khéo léo được sử dụng trong các cuộc biểu tình ngày 11 tháng 8, khi Thượng tọa Thích Tâm Châu diễn thuyết gay gắt trước một đám đông ở Chùa Xá Lợi. Thượng tọa đã thu hút hoàn toàn sự chú ý của đám đông bằng những câu hỏi như "Chúng ta sẽ xuống đường chứ?" Đám đông hô to đáp lại: "Có, có..." Đột nhiên, Thượng tọa cắt ngang: "Không, chúng ta sẽ không xuống đường. Khi quý vị nói rằng 'chúng ta sẽ xuống đường' thì điều đó cũng giống như đã xuống đường rồi." Tướng Đôn cho rằng vị Thượng tọa biết tiếng Anh, Thích Đức Nghiệp, là rất nguy hiểm và các tướng lãnh sợ rằng nếu những lãnh đạo Phật giáo quy tụ một đám đông đủ lớn, họ có thể hướng đoàn biểu tình đến Dinh Gia Long và quân đội có thể sẽ không ngăn cản họ. 7. Đôn nói rằng Tổng Thống Diệm ra quyết định thiết quân luật sau khi các tướng đề nghị như thế. Diệm ra quyết định đưa quân đội trấn giữ các điểm chiến lược ở Sài Gòn và Chợ Lớn, và chấp thuận đề nghị đưa các nhà sư đã vào Sài Gòn về lại các chùa của họ ở tỉnh. Tuy nhiên, Tổng Thống căn dặn không được gây thương tổn cho các vị sư. Tướng Đôn nói điều đó làm ông rất cảm động khi Tổng Thống yêu cầu họ không làm hại các Phật tử. Diệm bổ nhiệm Tướng Đôn tạm thời kế nhiệm Tướng Lê Văn Tỵ. Diệm giao cho Đôn quyền chỉ huy tất cả quân đội Nam VN, thực hiện lệnh thiết quân luật, và áp dụng các biện pháp cần thiết. Tướng Tôn Thất Đính được bổ nhiệm làm Tổng Trấn Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn/Chợ Lớn. Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung vẫn dưới quyền Tổng Thống Phủ. Đôn chỉ ra rằng Đính không chỉ huy lính của Tung, mặc dù Đính là Tổng Trấn Quân Khu Thủ Đô. [trang 617] Đính trong cương vị Tổng Trấn có phối hợp với Đôn, nhưng Đôn không chỉ huy Đính. Đính có xin lệnh Bộ Tổng Tham Mưu về các chỉ dẫn, nhưng Đính không thực hiện tất cả các lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu. Đính, trong cương vị Tổng Trấn, cũng nhận lệnh từ Tổng Thống Phủ giống như Đại Tá Tung. Đôn nói Đại Tá Tung là kẻ nguy hiểm vì ông ta không do quân đội kiểm soát và chỉ thi hành lệnh duy nhất từ Tổng Thống Phủ. Đôn cũng nói rằng các tướng lãnh rất ghét tính bướng bình của Tung. Tung nhận lệnh của cả Diệm và Nhu. Tung hợp tác với Nhu, nhưng khi cần thì quyết định là từ Tổng Thống. Tướng Đôn nói rằng các tướng lãnh khác ủng hộ Đôn, chỉ trừ một số tướng lãnh trẻ. Những tướng trẻ này ghen tỵ việc Đôn nắm quyền tư lệnh của Tướng Tỵ. Nhưng Đôn không kể tên tướng trẻ nào. Đôn bị chỉ trích bởi các tướng trẻ này vì đã có hành động đàn áp Phật giáo. Đại đa số tướng lãnh VN đều là Phật tử. Đôn đưa ra dẫn chứng: "Khi tôi muốn bảo Tướng Trần Tử Oai điều gì, Oai nói với tôi rằng ông ta là dân sự; ông ta có trách nhiệm dân sự." Khi được hỏi cụ thể là Tướng Nguyễn Khánh có ủng hộ Đôn hay không, Đôn trả lời rằng Khánh ủng hộ Đôn 100%. Đôn cũng nói rằng Dương Văn Minh, Trần Văn Minh, các tướng Trí, Khiêm, Kim và "ngay cả Tướng Xuân" cũng ủng hộ Đôn. Khi được hỏi về Tướng Văn Thành Cao, Dân biểu, có nằm trong kế hoạch không, Đôn nói rằng Văn Thành Cao hoàn toàn ngoài cuộc. Các tướng khác nhìn Văn Thành Cao như là dân sự. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 08:53:16 pm 8. Tướng Đôn nói ông không biết rằng Phật giáo đồ sắp bị tấn công bởi cảnh sát và Lực lượng Đặc biệt (LLĐB). Tướng Đính, trong cương vị Tổng Trấn, nhận lệnh từ Tổng Thống Phủ và được cho biết là lực lượng của Đại Tá Tung sẽ được dùng hỗ trợ cho cảnh sát, vì LLĐB có những "phương tiện đặc biệt. "
Đôn ám chỉ nhưng không nói rõ rằng lệnh [tấn công] đưa ra từ ông Nhu. Dấu hiệu đầu tiên giúp Tướng Đôn biết về việc các chùa bị tấn công là khi ông nghe từ sóng truyền thanh bộ chỉ huy. Các Tướng Khiêm và Đôn có mặt ở Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) khi nghe rằng các chùa đã bị tấn công. Tướng Đôn lập tức đi từ văn phòng BTTM tới Chùa Xá Lợi. Giám đốc Cảnh sát Trần Văn Tư đang chỉ huy trận tấn công tại Chùa Xá Lợi, yểm trợ bởi LLĐB của Đại tá Tung ở vòng quanh khu vực. cảnh sát là những người đầu tiên tiến vào chùa. Khi Đôn tới Chùa Xá Lợi, một trung úy cảnh sát đang chỉ huy một đơn vị bên trong Chùa Xá Lợi. Các vị sư trong chùa đã bị bắt đưa đi trước khi Đôn tới. Trong toàn bộ chiến dịch ở đây, tổng cộng 30 người bị thương, trong đó có 5 người nguy kịch; những con số này bao gồm cả nhân viên công lực và Phật tử. Không có vị sư nào bị giết ở Chùa Xá Lợi. Vào lúc 4 giờ 30 sáng ngày 21-8, chiến dịch quân sự hoàn tất; nhiều điếm chiến lược đã được trấn giữ. Đôn nói rằng có 1.420 nhà sư bị bắt khắp miền Nam VN. 9. Tướng Đôn rất tự hào về việc các tướng lãnh đã có thể giữ bí mật trước khi khởi động chiến dịch [đảo chánh]. Đôn cũng tự hào về kỹ thuật áp dụng bởi quân đội và ông nói [trang 618] "mọi người luôn nói về các đại tá, những người sẽ tổ chức đảo chánh. Họ không có khả năng đó. Chúng tôi đã chứng minh điều này bằng kế hoạch và kỹ thuật của chúng tôi." Ông dẫn ra một thí dụ về cuộc đảo chánh ngày 11-11- 1960, là kế hoạch của các đại tá, đã thất bại. Tướng Đôn không bày tỏ phản ứng cá nhân về trận tấn công các chùa. Đôn có nói rằng ông muốn thực hiện theo kế hoạch ban đầu của ông là thanh lọc tất cả những nhà sư [từ các tỉnh vào Sài Gòn] và đưa trả về chùa của họ ở các tỉnh. Đôn cũng nói rằng Mỹ đang giữ sư Thích Trí Quang ở Trụ sở Ngoại giao đoàn (USOM). Đôn thêm rằng sư Thích Trí Quang là một trong những người kích động chính, và Chính phủ VNCH muốn bắt giam vị sư này. (Nhận xét: Tướng Đôn lộ vẻ tin rằng sư Trí Quang là một trong hai nhà sư đang tỵ nạn trong Trụ sở Ngoại giao đoàn. Nhưng một viên chức CAS1 (CAS là văn phòng tình báo CIA ở Sài Còn. (ND)), biết rõ thầy Trí Quang, đã nhìn thấy cả 2 vị sư đó vào ngày 24-8 và xác nhận không có ai trong số họ là thầy Trí Quang.) 10. Chính Tướng Đôn đã nghe công luận Việt Nam quy trách quân đội trong việc tấn công các ngôi chùa. Ông nói rằng chính phủ Mỹ có lỗi về sự ngộ nhận đó vì đài VOA loan tin rằng quân đội VNCH tấn công các chùa. Đôn chất vấn tại sao đài VOA không nói rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát đã thực hiện việc này? Tướng Đôn tin rằng như vậy sẽ giúp ích cho quân đội trong thời điểm này. Tướng Đôn nói, người Mỹ nên nói rõ lập trường của mình. Tướng Đôn không muốn ông Diệm bị thay thế, chẳng hạn bởi một người lưu vong như Hoan (có lẽ Đôn muốn nói đến Nguyễn Tôn Hoàn), người hiện đang có mặt ở Hoa Kỳ. Đôn nói rằng trong quân đội hiện nay không ai thay được ông Diệm. Đôn đơn cử trường hợp chính ông như một thí dụ. Ông nói: "Tôi không đủ thông minh, cũng không có tham vọng. Tôi chỉ làm công việc liên kết các tướng lãnh với nhau." 11. Đôn ngụ ý rằng ông nhận thức được những diễn tiến tương lai theo kế hoạch. Ông nói: "Đây là bước đầu tiên, còn bí mật về những gì sắp xảy đến thì không phải việc của tôi để nói ra." Khi được hỏi thiết quân luật sẽ kéo dài bao lâu, Đôn nói sẽ tùy theo tình hình. Khi được hỏi liệu cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 31-8 có được tổ chức hay không, Đôn nói có thể sẽ hoãn lại, nhưng sẽ có sự nới lỏng thiết quân luật vào ngày 24-8 trong mức độ lệnh giới nghiêm được suy tính. 12. Tướng Đôn không nói gì về việc để ông Diệm tiếp tục nắm quyền hay thay thế người khác tại Nam VN, ngoại trừ ông nói rằng ông không muốn một trong các chính khách lưu vong về nắm quyền, và rằng không nhân vật quân sự nào có thể thay thế Tổng Thống. Viên chức CAS có ấn tượng, và chỉ là ấn tượng thôi, rằng Tướng Đôn và nhóm của ông muốn giữ ông Diệm tiếp tục nắm quyền trong giai đoạn hiện nay theo kế hoạch của họ. 13. Đôn cũng nói ông nhận thức rằng ông rất có thể sẽ bị "hy sinh" do kết quả của việc thực hiện thiết quân luật, nhưng điều này không quá quan trọng, bởi vì có những lãnh đạo quân sự khác sẽ thay vị trí của ông. Đôn không nêu tên ai. Đôn cho ấn tượng rằng ông không phải người đứng sau mọi chuyện. Ong không thực sự nắm quyền. Ong chịu trách nhiệm giai đoạn đầu tiên. Sẽ có những người khác trong nhóm nhận lãnh thực hiện các giai đoạn tiếp theo. Những lời Đôn nói không hề ám chỉ một hay một số người nào [trang 619] sẽ đứng ra thực hiện các giai đoạn khác. Đôn nhắc đến sự kiện VOA đang nhấn mạnh bản tin về việc Đại sứ Trần Văn Chương từ chức1 (Ông Chương là cha ruột của bà Nhu, từ chức Đại sứ VN ở Hoa Kỳ để phản đối nhà Ngô đàn áp Phật tử). Đôn lặp lại rằng các bản tin VOA làm tổn thương quân đội. Ông nói, không có gì tích cực khi nói rằng quân đội VN đàn áp Phật tử và chính phủ Mỹ lên án việc này, rồi cùng lúc lại nói rằng Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ. Đôn không mở rộng vấn đề đê nói đến những gì người Mỹ nên làm. 14. Đôn không nhắc tới Phó Tổng Thống Thơ hay bất kỳ Bộ Trưởng nào. 15. Đôn nói rằng sau giai đoạn đầu tiên này, mọi việc không thể đảo ngược để trở lại như trước đó. Khi được hỏi có phải ông nói về chính phủ, Đôn trả lời, "Vâng, tôi đang nói chuyện về chính phủ. Tổng Thống phải thay đổi một số Bộ trưởng." Đôn không kể tên bất kỳ Bộ trưởng nào cụ thể. Đôn nói các sự kiện đang quyết định tình hình. Đôn nói nếu ông phải chọn giữa Tổng thống Diệm và Nhu, ông sẽ chọn Tổng thống. Đôn không nói gì về chuyện các sĩ quan khác có thể nghĩ gì về Nhu. Khi được hỏi nếu có chuyện xảy ra, và Tổng Thống Diệm không còn giữ quyền lực, Đôn có sẽ làm việc với Nhu không, Đôn nói: "Nếu tôi phải lựa chọn giữa Tổng Thống Diệm và Nhu, người phải ra đi là Nhu." Đôn không muốn Nhu. 16. Viên chức tường trình nhận ra ấn tượng từ Đôn rằng mặc dù Tổng thống vẫn nắm quyền lực nhưng mọi diễn biến tình hình đang do Nhu kiểm soát. Có ấn tượng mạnh mẽ rằng Tướng Đôn không hoàn toàn nhận thức được đầy đủ mọi việc đang diễn ra quanh ông. Từ những phát biểu của Tướng Đôn, có vẻ như một thành phần trẻ trong các tướng lãnh đang gây rắc rối cho ông. Đôn ám chỉ rằng ông muốn có sự bảo đảm cách này hay cách khác từ phía chính phủ Mỹ. Ông có vẻ không biết phải làm gì kế tiếp. Đôn hoàn toàn bị kiểm soát bởi các sự kiện và phản ứng chứ không [chủ động] lên kế hoạch cho hoạt động kế tiếp. Có vẻ như bản thân Đôn cảm thấy ông không đủ quyền lực ảnh hưởng đến các tướng lãnh để lật đổ Tổng Thống. Tuy nhiên, Đôn không tạo ra ấn tượng rằng ông có ý muốn lật đổ Tổng thống. Ông rõ ràng muốn hòa giải với các Phật tử và nói rằng quân đội nên khôi phục lại các chùa và các pho tượng đã bị phá hủy ở một số chùa. Đôn không nói gì về giai đoạn thứ nhì của kế hoạch. Đôn không nói rõ giai đoạn đầu sẽ kéo dài bao lâu, nhưng có nói rằng sẽ kéo dài tới sau cuộc bầu cử Quốc Hội như đã định. 17. Ấn tượng của chúng tôi là trong những lời của Tướng Đôn có ý nghĩa đáng kể rằng đây chỉ là giai đoạn đầu, và bí mật của các giai đoạn tương lai không phải ông là người nói ra được . Chúng tôi không thể xác định liệu có phải ý Đôn muốn nói rằng các giai đoạn tương lai bao gồm "sự bí mật" sẽ được kiểm soát từ bên trong quân đội, hoặc là bởi Nhu, hoặc các nhân vật dân sự khác chẳng hạn. Đôn [trang 620] không nêu nhận xét đích danh bất kỳ nhân vật dân sự nào. Đôn nói, mục tiêu chính của quân đội là chiến đấu chống Việt cộng. Đôn cũng nói rằng không hề có buổi họp ngày 10 tháng 8 giữa các tướng với Ngô Đình Nhu. 18. Đã gửi thông tin về cuộc nói chuyện này tới Đại sứ Lodge và Tướng Harkins (Tư lệnh Quân viện Hoa kỳ tại VN). Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 09:00:11 pm 275. TELEGRAM FROM THE CENTRAL INTELLIGENCE AGENCY STATION IN SAIGON TO THE AGENCY1 Source: Library of Congress, Harriman Papers, Vietnam Policy. Secret. Also sent to Honolulu. The source text is a copy sent by the CIA to the Department of State for Hilsman and Hughes; also sent to the White House for Bundy and to JCS for Krulak. According to a note on the source text, TDCS dissemination of this cable would follow. That report, TDCS DB-3/656,252, August 24, is published in Declassified Documents, 1977, 93C Saigon, August 24, 1963, 6:45 p.m. 0265.1. [less than 1 line not declassified] had almost three hour meeting with General Tran Van Don2 (For Don's recollections of the discussion, see Tran Van Don, Our Endless War, pp. 90-91) evening 23 August in Don’s office at General Staff. Following summarizes discussion. 2. Don was asked who was in control and replied President Diem is in control through Counselor Ngo Dinh Nhu. All the Generals check with Nhu prior to seeing Diem . Explained this by saying Diem uses Nhu as his "thinker" and advisor but does not at all times follow Nhu’s advice. President is jealous of his authority and prerogatives. Don [Page 615] gave an example. At midnight on 22 Aug, Generals Don, Ton That Dinh and Tran Thien Khiem went to see Nhu about the students, recommending that schools all be closed in Saigon by the martial law, because they had information that on 23, 24, and 25 Aug there would be student demonstrations in Saigon. Nhu concurred with Generals’ recommendation, told them he had to check with the President. Nhu and Generals went to see Diem recommending closing of schools. Diem said "no. The young people must have means of expressing themselves." Don repeated that Diem is the man who makes final decisions. 3. Don went on to explain relationships in the Palace. Said it must be remembered that for years President has been agitator against colonialist regimes. During this time Diem did a lot of thinking himself. When he took over govt in 1954 he found it was different and he would have to have people around him who think. He turned to his brother Nhu who is a thinker, an individual who has theories, a philosophy. As time went on, Diem has allowed Nhu to do most of the thinking. This does not mean President will take all of Nhu’s advice. Diem likes Nhu to write presidential proclamations, speeches. Diem prefers himself to meet the people and talk to people. In this way Nhu has special power as a thinker for the President. 4. In describing relationship of Madame Nhu in the Palace, Don said that in Diem’s mind Madame Nhu has status of being Diem’s "wife". President has never married and not used to having women around him. For past nine years Diem has Madame Nhu to comfort him after day’s work is done. She is charming, talks to him, relieves his tension, argues with him, needles him and, like a Vietnamese wife, she is dominant in the household. President and Madame Nhu live two apartments apart. There are no sexual relations between Diem and Madame Nhu. In Don’s opinion, President has never had sexual relations.He likened the situation to that of Hitler and Eva Braun. Don also said, the President likes good looking men around him. Don cited the case of handsome young sergeant who planted a public garden in Dalat. President asked who had planted the garden and when informed, called the sergeant to the Palace and immediately promoted him to Lt. Colonel and put him in charge of military agriculture. Diem has intense passions. When he likes somebody, he likes them all the way; when he hates someone, he hates completely. There is no in-between. Madame Nhu uses her privileged position with President to make him say yes when he wants to say no, but he is won by her charm. Don said, "as I know, Madame Nhu can be extremely charming." Don said it would be practically impossible to get rid of the Nhus because of special positions they hold; Ngo Dinh Nhu being President’s thinker and Madame Nhu his platonic wife. [Page 616] 5. The decision for the action of 20-21 August was reached by ten Generals during the evening of 18 Aug: Tran Van Don, Ton That Dinh, Do Cao Tri, Tran Thien Khiem, Nguyen Khanh, [less than 1 line not declassified], Mai Huu Xuan, Nguyen Ngoc Le, Le Van Kim, and Duong Van Minh. According to Don, they had not been encouraged to reach this decision by Nhu. Only time Nhu had talked about any planning was at meeting 11 July with all Generals present. Don did not say who brought Generals together 18 Aug. This planning included martial law and eventual taking of bonzes who came from outside Saigon and returning them to their own provinces and pagodas. Plan was presented by Generals to Nhu on 20 Aug. Nhu told them to discuss plans with President. Nhu was not present when Generals presented their plan to Diem . Generals present were: Khiem, Tri, Khanh, Dinh, [less than 1 line not declassified], Kim and Don. Don headed the group that presented the plan to the President. 6. Generals told President that morale of troops was deteriorating, and in fact they feared that one military post was near state of desertion. Generals said that wives of soldiers and junior officers were getting upset. They explained to President the situation as the military saw it vis- a-vis the Buddhists. Don claims he told Diem that 8 May affair in Hue could have been settled but that the VC had penetrated Buddhists in Xa Loi Pagoda. Don described tactics used in demonstrations on 11 Aug when bonze Thich Tam Chau was haranguing the crowd at Xa Loi. Chau held crowd spellbound with questions like "are we going to march in streets"? Crowd would call back "yes". Suddenly Chau would say "no, we will not march in the streets. The fact that you have said we are going to march in streets is same as marching in the streets." Don felt that the bonze who spoke English, Thich Due Nghiep, was very dangerous and the Generals feared that if the Buddhist leaders assembled a large enough crowd they could order a march toward Gia Long Palace and the army would not stop them. 7. Don said the President made decision to establish martial law after the Generals had recommended it. Diem made the decision to bring in troops to occupy strategic points of Saigon/Cholon and approved the recommendation to move bonzes visiting Saigon back to their provinces and their pagodas. President insisted however that none of the bonzes be hurt. Don said this touched him very much that the President should insist on their not harming the Buddhists. Diem appointed General Don as temporary successor to General Le Van Ty. Diem made Don responsible for all troops in SVN, the conduct of martial law, and implementation of necessary measures. General Ton That Dinh was appointed Military Governor of Saigon/Cholon. Colonel Le Quang Tung’s troops of Special Forces High Command remain under the control of the Presidency. Don pointed out that Dinh did not command Tung’s troops even though he is Military Governor of Saigon/ Cholon. [Page 617] Dinh as Military Governor coordinates with Don but Don does not command Dinh. Dinh does ask General Staff for guidance but he does not execute all General Staff orders. He receives his orders as Military Governor from the Presidency just as Colonel Tung does. Don said Col. Tung is dangerous because he is not subject to military control and executes orders only from Presidency. Don also said that the Generals hate Tung’s guts. Tung is responsive to both Diem and Nhu. Tung coordinates with Nhu, but when decision is made, it comes from the President. General Don said that the other Generals support him (Don) except some of the younger Generals. These younger Generals are jealous of Don’s having assumed General Ty’s command. Don did not name any of these younger Generals. Don was criticized by these younger Generals for the action that was taken against the Buddhists. Majority of Vietnamese Generals are Buddhist. For example, Don said, "when I want to tell General Tran Tu Oai something, Oai tells me he is a civilian; he has civilian responsibility". When asked specifically if General Nguyen Khanh supported Don, Don replied that Khanh was 100 percent with him. Don said also that Duong Van Minh, Tran Van Minh, Generals Tri, Khiem, Kim and "even Xuan" were with him. When asked if General Van Thanh Cao, the delegate, was in on any of the planning, Don said Cao was left completely out. He is considered by the other Generals to be a civilian. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 09:00:51 pm 8. General Don said he was not aware that the Buddhists were going to be attacked by the Police and Vietnamese Special Forces. Dinh, as Military Governor, received his orders from the Presidency and was told Colonel Tung’s troops would be used to reinforce Police because VNSF had "special means".
Don intimated but did not state that the orders came from Nhu. First indication General Don had that pagodas were attacked was when he received call on his command radio. Generals Khiem and Don were at JGS when they heard that pagodas had been attacked. Don went immediately from his command post to Xa Loi. Police commissioner Tran Van Tu was in command at Xa Loi Pagoda backed up by Colonel Tung’s Special Forces in the periphery of the area. The Police were the first to enter the pagoda. When Don arrived at Xa Loi, a police lieutenant was already in charge of a detail inside Xa Loi. The Xa Loi bonzes had already been taken away when Don arrived. In the whole operation a total of thirty people were wounded, five seriously. This figure includes GVN and Buddhist casualties. No bonzes were killed at Xa Loi. At 0430 hours on morning of 21 Aug the military operation had been completed as far as the occupation of the strategic points by the military were concerned. Don said that 1420 bonzes were under detention throughout SVN. 9. General Don was very proud of the fact that the Generals had been able to maintain secrecy prior to initiation of this operation. He was also proud of the technique employed by the troops and he said [Page 618]"everybody always talks of colonels who will pull coups d’etat. They are incapable. We have proven this by our planning and our technique". He cited as an example the 11 November 1960 coup d’etat which was planned by colonels and failed. Don did not express his personal reaction to the attack on the pagodas. Don did say that he wants to carry out his original plan to screen all the bonzes and return them to their provinces and to their pagodas. Don also said that the US is holding Thich Tri Quang in USOM. Don added that Tri Quang was one of the the main agitators and the GVN wants to take him in custody. (Field comment: Don apparently believes Tri Quang is one of the two bonzes taking refuge in USOM. A CAS officer who knows Tri Quang well saw both of the bonzes in USOM on 24 August and confirmed that neither is Tri Quang.) 10. General Don has heard personally that the military is being blamed by Vietnamese public for the attack on the pagodas. He said that the US Govt is at fault for this misconception because VOA announced that the military took action against the pagodas. Don queried why VOA did not admit that Colonel Tung’s Special Forces and the Police carried out the action. Don believes this would help the military at this point. Don stated that the USA should now make its position known. Don does not want Diem replaced, for example, by an exile like Hoan (possibly Nguyen Ton Hoan) who is presently in the US. He admitted that within the military there is no one who could replace Diem. He cited, as an example, himself, saying, "I’m not smart nor am I ambitious. I only took the job to keep the Generals together". 11. Don implied he is aware of planned future developments. He said "This is the first step, and the secret of what is going to happen is not mine to give". When asked how long he thought martial law would last, Don said it depended on what is going to happen. When asked if the National Assembly elections on 31 Aug would be held he said the elections will probably be delayed, but there will be a relaxation of martial law on 24 Aug as far as curfew is concerned. Don did not say anything about keeping Diem in power or replacing him with someone inside SVN beyond his statement that he did not want one of the Vietnamese exile politicians to achieve power and that no military figure could do the job. CAS officer received the impression, and it was an impression only, that Don and his group wished to retain Diem in power for the present phase of their plan. Don also said that he realizes he will probably be "sacrificed" as a result of the martial law action but this is not too important because there are other military leaders who will take his place. He did not name them. Don gave the impression that he is not the man behind the whole thing. He is the figurehead. He is responsible for the first phase. There are others in the group who will take over other phases. Nothing Don said implied who the man or men might be who [Page 619] would take over other phases. Don mentioned the fact that VOA is playing up the resignation of Ambassador Chuong. He repeated that VOA broadcasts are hurting the military. He said it does no good to say that military action has been taken against the Buddhists and that the U.S. Govt deplores this action and at the same time say that the USA continues aid. He did not expand on this to indicate what action the USA should take. 14. Don made no mention of Vice President Tho or of any other Cabinet members. 15. Don said that after this first phase, things cannot revert back to what was before. When asked if he referred to the government, Don said, "yes, I’m talking about the government. The President has got to change some of his Ministers." Don did not name any specific ministers. He said events are controlling the situation. Don said if he had to choose between President Diem and Nhu, he would choose the President. He gave no indication of what other officers might be thinking about Nhu. When asked if something happens, and the President is no longer in power, would Don go with Nhu, Don said "if I have the choice between the President and Nhu, Nhu is going." He doesn’t want Nhu. 16. Reporting officer received the impression from Don that although the President is still in the saddle what is going on now is being controlled by Nhu. The impression is strong that General Don is not completely aware of everything that is going on around him. From Don’s statements it appears that there is a junior element among the Generals causing him trouble. Don indicated that he wants assurances one way or the other from the U.S. Govt. He appears not to know what to do next. He is completely controlled by events and reacts rather than plans next moves. It seems Don himself feels he does not have the power of [or?] enough influence over the Generals to overthrow the President. However Don did not give the impression that he wants by choice to overthrow the President. Don evidently wants to conciliate the Buddhists and said that the military should restore the pagodas and the holy statues that were destroyed in some of the pagodas. Don made no statements on the second phase of the plan. Don did not indicate how long the first phase would last but did indicate it would last beyond the scheduled National Assembly elections. 17. Our impression is that there is considerable significance in Don’s statement that this is only the first phase and the secret of future phases is not his to tell. We cannot determine whether Don means that future phases containing the "secret" will be controlled from within the military or, for example, by Nhu, or by other civilian figures. Don [Page 620] made no comment on any civilians by name. He said the Army’s primary aim is to fight the Viet Cong. Don also said that there was no 10 August Generals’ meeting with Ngo Dinh Nhu. 18. Have disseminated to Lodge and Harkins. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 09:05:17 pm ĐIỆN VĂN 243 TỐI MẬT NGÀY 24/8/1963 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Cư sĩ Nguyên Giác dịch - Soạn thảo ngày 24/8/1963: Roger Hilsman (Giám đốc Phòng Tình báo và Nghiên cứu) - Thông qua nội dung: Roger Hilsman, Michael Forrestal (Thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia), George Ball (Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) - Chấp thuận chuyển đi và đưa vào phân loại: Averell Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao về Viễn Đông Sự Vụ) - Giải mật ngày 20/4/1998. (https://iili.io/CbokFO7.jpg) PHÓNG ẢNH MỘT PHẦN ĐIỆN VĂN 243 LỜI NGƯỜI DỊCH: Điện văn này trong Tự Điển Bách Khoa Mở Wikipedia gọi bằng nhiều tên khác nhau: DEPTEL 243, Telegram 243, hay August 24 Cable, hay ngắn gọn hơn là Cable 243. Phần lớn nội dung của điện văn này cũng được trích lại trong The Pentagon Papers. Có vài điểm ghi nhận như sau: - Điện văn 243 chỉ gửi tới cấp cao nhất, trong các nhà ngoại giao Mỹ tại VN chỉ gửi riêng tới Đại sứ Henry Cabot Lodge; còn trong giới quân sự Mỹ chỉ gửi riêng tới Đô Đốc Harry Felt, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương. - Chính phủ Mỹ ủy quyền cho Đại sứ Lodge nói thẳng với ông Diệm, rằng Mỹ không đồng ý việc ông Nhu chỉ huy cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt tấn công các chùa. - Ủy quyền cho Lodge đòi ông Diệm trả tự do tức khắc cho tăng ni, và xóa bỏ Dụ Số 10 tức khắc. Nói thẳng, nếu không làm, Mỹ sẽ ngưng mọi viện trợ quân sự và kinh tế. - Ủy quyền cho Lodge nói với các tướng lãnh Việt Nam rằng Mỹ sẽ ủng hộ trong thời gian chuyển tiếp quyền lực để gỡ bỏ ông bà Nhu, và nếu Diệm ngoan cố, sẽ thay thế Diệm luôn. - Cho Đại sứ Lodge toàn quyền soạn kế hoạch, thực hiện. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 09:06:53 pm 281. ĐIỆN VĂN BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ GỬI TÒA ĐẠI SỨ TẠI VIỆT NAM1 (Nguồn: Bộ Ngoại Giao, hồ sơ Har-Van, Lật đổ Chính phủ Diệm tại miền Nam VN, 1963. Tối mật; xử lý tức thời. Bản in cũng lưu hành trong Quan hệ Mỹ-Việt, 1945-1967, Quyển 12, trang 536-537 và trong Hồ sơ Giải mật, 1975, 321B) Yêu cầu: Chuyển đến Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn - Xử lý tức khắc. Điện văn số 243. Chỉ dành riêng cho Đại Sứ Lodge - Đối với Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương / Cố vấn Chính trị, chỉ gửi riêng đến Đô đốc Harry Felt. Không gửi đến bất kỳ nơi nào khác, về các điện văn CAS 2652 (Tham chiếu FRUS 1961 -1963, Vol III, Hồ sơ 275) gửi từ Sài Gòn báo cáo quan điểm của Tướng Đôn, Điện văn 3203 (Tham chiếu FRUS 1961-1963, Vol III, Hồ sơ 274), Điện văn 3164 (Xem cước chú số 3, FRUS 1961 -1963, Vol III, Hồ sơ 276) và Điện văn 3295 (Tham chiếu FRUS 1961-1963, Vol III, Hồ sơ 276) cũng đều gửi từ Sài Gòn. - Giờ đây đã quá rõ, cho dù lệnh thiết quân luật có phải do quân đội đề nghị hay do ông Nhu lừa dối đưa họ vào bẫy, thì ông Nhu cũng đã lợi dụng hiệu lực của lệnh đó để tấn công vào các chùa bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của ông Tung, trung thành với Nhu, và do đó đã đổ trách nhiệm cho quân đội trong mắt thế giới và dân chúng VN. Cũng thấy rõ rằng ông Nhu sắp xếp để tự mình giữ vị trí chỉ huy. Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận tình trạng quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải được trao cho cơ hội để loại bỏ ông Nhu và bè phái, thay thế họ với các nhân sự chính trị và quân sự xuất sắc nhất hiện có. Trong trường hợp ông đã hết sức thuyết phục mà ông Diệm vẫn cứng rắn và từ chối [nghe theo], thì chúng ta buộc phải đối diện với thực tế là rất có thể không giữ ông Diệm được nữa." Giờ đây chúng tôi tin rằng nhất thiết phải hành động khẩn cấp để ngăn cản không cho Nhu củng cố vững chắc hơn nữa vị trí của ông ta. Do vậy, trừ phi ông tham khảo với Tướng Harkins (Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam - MACV) và nhận được những phản biện quan trọng hơn, nếu không thì ông được ủy quyền tiến hành các việc sau: 1. Trước hết, chúng ta phải tiếp tục áp lực ở các mức độ thích nghi đối với chính phủ VNCH như sau: a. Chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận những hành vi đàn áp Phật tử của ông Nhu và tay chân dưới vỏ bọc thiết quân luật. b. Nhất thiết phải có các hành vi mạnh mẽ tức khắc để điều chỉnh tình hình, bao gồm cả việc gỡ bỏ Dụ số 101 (Về Dụ số 10 ban hành ngày 6 tháng 8 năm 1950, xem cước chú số 2, hồ sơ 116), trả tự do cho các vị sư, các ni cô, vân vân... đã bị bắt giữ. 2. Chúng ta đồng thời cũng phải cho các tướng lãnh then chốt biết rằng, Hoa Kỳ không thể tiếp tục ủng hộ chính phủ VN về mặt quân sự và kinh tế, trừ phi các bước nói trên được thực hiện tức khắc, mà theo nhận thức của chúng ta là phải loại bỏ ông bà Nhu ra khỏi chính trường. Chúng ta mong muốn tạo cho ông Diệm một cơ hội hợp lý để loại bỏ ông bà Nhu, nhưng nếu ông Diệm vẫn cứng nhắc không thay đổi thì chúng ta sẵn sàng chấp nhận kết quả hiến nhiên là không thể ủng hộ ông Diệm được nữa. Ông cũng có thể nói với các tướng lãnh nào thích hợp rằng chúng ta sẽ ủng hộ trực tiếp đối với họ trong bất kỳ giai đoạn chuyên tiếp nào khi cơ chế chính phủ trung ương bị phá vỡ. 3. Chúng tôi thừa nhận sự cần thiết phải xóa bỏ vết nhơ cho quân đội về chiến dịch tấn công các chùa và quy trách nhiệm trực tiếp về ông Nhu. Ông được toàn quyền đưa ra những tuyên bố như thế tại Sài Gòn sao cho đạt được mục đích này. Chúng tôi ở Washington sẵn sàng có động thái tương tự và sẽ cho đài VOA loan tin phù hợp với nội dung trong bức điện sắp tới ngay khi ông gửi về, nên cố gắng càng sớm càng tốt1 (Tham chiếu điện văn 244 gửi đến Saigon ngày 24 tháng 8, lúc 9:37 tối, trong đó Hilsman cung cấp cho Tòa Đại Sứ nội dung thông tin để đồng thời công bố tại Washington và Saigon. Bản thông tin này và bản tin để xuất phát trên đài VOA đều nhằm phân tách cho công luận thấy rõ việc áp đặt lệnh thiết quân của Quân đội Nam VN không liên quan đến chiến dịch tấn công vào các chùa do Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Tung và cảnh sát mật thực hiện, cùng với việc bắt bớ hàng loạt người biểu tình và các nhà lãnh đạo Phật giáo. Bản thông tin này chỉ rõ rằng Lực lượng Đặc biệt không nằm dưới sự chỉ huy của Quân đội. (Nguồn: Department of State, Central Files, soc 14-1 S VIET) về nội dung bản tin thực sự được phát trên sóng VOA, xem Hồ sơ 287)). Cùng với những điều trên, Đại sứ và các viên chức ngoại giao tại VN nên khẩn cấp khảo sát tất cả những khả năng thay thế lãnh đạo hiện có và soạn những kế hoạch chi tiết về việc làm thế nào chúng ta có thể thay thế Diệm nếu điều này trở nên cần thiết. Điều tất nhiên là ông phải tham khảo với Tướng Harkins về bất kỳ biện pháp phòng ngừa cẩn trọng nào cần thiết để bảo vệ nhân viên Hoa Kỳ trong suốt thời gian khủng hoảng. Ông nên biết, từ Washington chúng tôi không thể gửi đến ông những chỉ thị chi tiết về việc nên tiến hành những hoạt động này như thế nào, nhưng ông cũng nên biết rằng chúng tôi luôn ủng hộ hoàn toàn những hoạt động của ông nhằm đạt được các mục tiêu của chúng ta. Điều không cần phải nói là chúng tôi đã giữ kín điện văn này chỉ trong phạm vi những người có liên quan thiết yếu, và tất nhiên ông cũng phải có sự cảnh giác tương tự để tránh việc rò rỉ thông tin quá sớm. BALL Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 09:08:09 pm 281. TELEGRAM FROM THE DEPARTMENT OF STATE TO THE EMBASSY IN VIETNAM1 Source: Department of State, Har-Van Files, Overthrow of the Diem Government in South Vietnam, 1963. Top Secret; Operational Immediate. Printed also in United States-Vietnam Relations, 1945-1967, Book 12, pp. 536-537 and Declassified Documents, 1975, 321 B. Action: AmEmbassy SAIGON - OPERATIONAL IMMEDIATE 243. Eyes only Ambassador Lodge. For CINCPAC/ POLAD exclusive for Admiral Felt. No furtherdistribution. Re CAS Saigon 02652 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 275) reporting General Don’s views; Saigon 3203 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274) Saigon 3164 (See footnote 3, FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 276) and Saigon 3295 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 276). - It is now clear that whether military proposed martial law or whether Nhu tricked them into it, Nhu took advantage of its imposition to smash pagodas with police and Tung’s Special Forces loyal to him, thus placing onus on military in eyes of world and Vietnamese people. Also clear that Nhu has maneuvered himself into commanding position. US Government cannot tolerate situation in which power lies in Nhu’s hands. Diem must be given chance to rid himself of Nhu and his coterie and replace them with best military and political personalities available. If, in spite of all of your efforts, Diem remains obdurate and refuses, then we must face the possibility that Diem himself cannot be preserved. We now believe immediate action must be taken to prevent Nhu from consolidating his position further. Therefore, unless you in consultation with Harkins perceive overriding objections you are authorized to proceed along following lines: 1. First, we must press on appropriate levels of GVN following line: a. USG cannot accept actions against Buddhists taken by [Page 629] Nhu and his collaborators under cover martial law. b. Prompt dramatic actions redress situation must be taken, including repeal of decree 101 (Regarding Decree No. 10 of August 6, 1950, see footnote 2, Document 116), release of arrested monks, nuns, etc. 2. We must at same time also tell key military leaders that US would find it impossible to continue support GVN militarily and economically unless above steps are taken immediately which we recognize requires removal of the Nhus from the scene. We wish give Diem reasonable opportunity to remove Nhus, but if he remains obdurate, then we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem. You may also tell appropriate military commanders we will give them direct support in any interim period of breakdown central government mechanism. We recognize the necessity of removing taint on military for pagoda raids and placing blame squarely on Nhu. You are authorized to have such statements made in Saigon as you consider desirable to achieve this objective. We are prepared to take same line here and to have Voice of America make statement along lines contained in next numbered telegram whenever you give the word, preferably as soon as possible1 (Reference is to telegram 244 to Saigon, August 24, 9:37 p.m., in which Hilsman provided the Embassy with a guidance for simultaneous play in Washington and Saigon. This guidance and the proposed VOA broadcast were supposed to separate in the public's mind the South Vietnamese Army's press imposition of martial law and the attacks by Tung's Special Forces and the secret police on the pagodas and the large-scale arrests of Buddhist leaders and demonstrators. The guidance pointed out that the secret police and the Special Forces were not under the command of the Armed Forces. (Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET) For text of the VOA guidance as actually broadcast, see Document 287)). Concurrently with above, Ambassador and country team should urgently examine all possible alternative leadership and make detailed plans as to how we might bring about Diem’s replacement if this should become necessary. Assume you will consult with General Harkins re any precautions necessary protect American personnel during crisis period. You will understand that we cannot from Washington give you detailed instructions as to how this operation should proceed, but you will also know we will back you to the hilt on actions you take to achieve our objectives. Needless to say we have held knowledge of this telegram to minimum essential people and assume you will take similar precautions to prevent premature leaks. BALL Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 09:08:51 pm CHIẾN DỊCH TẤN CÔNG CÁC CHÙA, BẮT 1.426 TĂNG NI CƯ SĨ LỜI NGƯỜI DỊCH Sau đây là bức Điện văn số 320 trong Hồ sơ đã giải mật "Foreign Relations of the United States, 1961- 1963" (Hồ Sơ Đối Ngoại Của Hoa Kỳ, 1961-1963) gửi từ Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge về Bộ Ngoại Giao Mỹ. Điện văn gửi từ Sài Gòn ngày 24-8-1963, mấy ngày sau trận tấn công hàng loạt vào các chùa ở Miền Nam VN. MỘT SỐ ĐIỂM GHI NHẬN TỪ ĐIỆN VĂN 320 - Ông Nhu đã biến sức mạnh Quân đội và Mật Vụ làm thế lực riêng cho gia đình họ Ngô: triệt tiêu quyền lực Quân đội bằng cách tách riêng Lực Lượng Đặc Biệt và cảnh sát Dã chiến làm cánh tay để đàn áp Phật tử. - Các Tướng Lãnh Quân đội không biết gì về chiến dịch tấn công các chùa đêm 20 rạng ngày 21- 8-1963, trong đó lính ông Nhu bắt 1426 Tăng Ni Cư Sĩ, trong đó hầu hết là tu sĩ cấp lãnh đạo của Phật giáo. - Ông Nhu đã gài vũ khí, chất nổ vào chùa để vu vạ. - Dân chúng đổ tội cho Quân đội, và sinh viên tự kêu gọi biểu tình. - Quân đội cảm thấy bị tê liệt và có nguy cơ mất khả năng chống Cộng. Ông Nhu đã biến Quân đội, một lực lượng chống Cộng để bảo vệ miền Nam, thành lực lượng riêng bảo vệ gia đình họ Ngô chống lại dân chúng. - Quân đội đã nghĩ tới giải pháp đẩy ông bà Nhu ra ngoài chính phủ, giữ ông Diệm làm Tổng Thống. Bản Việt dịch của Cư sĩ Nguyên Giác. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 26 Tháng Tám, 2026, 09:09:59 pm 274. ĐIỆN VĂN TỪ TÒA ĐẠI SỨ TẠI VIỆT NAM GỬI VỀ BỘ NGOẠI GIAO1 Nguồn: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Hồ Sơ Trung Ương, SOC 14-1 S VIET. Mật; Xử lý tức khắc; Phổ biến hạn chế. Gửi bản sao tới Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ Thái Bình Dương. Hilsman đã trích dẫn điện văn này trong cuốn To Move a Nation, các trang 484-485, như một phần trong phương pháp các tướng lãnh VNCH tiếp cận với các viên chức Mỹ Sài Gòn, 24-8-1963, lúc 6 giờ chiều Điện văn số 320. Gửi đến Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, cho các Cố vấn Chính trị). Sau đây là bản ghi nhớ cuộc nói chuyện giữa Rufus Phillips, Giám đốc Ủy Ban Hoa Kỳ về Phát Triển Nông Thôn, và Tướng Lê Văn Kim vào ngày 23-8. Bắt đầu văn bản: Sau đây là lời Tướng Lê Văn Kim, người hiện giữ chức Phụ tá Quan hệ Cộng đồng cho Tướng Trần Văn Đôn, trong buổi nói chuyện với tôi vào ngày 23-8. Tướng Kim là một bạn thân cũ của tôi và có yêu cầu cuộc nói chuyện này được giữ bí mật. Tướng Kim mở đầu câu chuyện bằng việc cay đắng nói lên rằng Quân Đội hiện giờ hành động như con rối trong tay Cố vấn Nhu, người đã giăng bẫy để quân Đội rơi vào việc ban hành thiết quân luật. Quân Đội, kể cả các tướng Đính và Đôn, không hề biết gì về các kế hoạch tấn công Chùa Xá Lợi và những chùa khác. Điều này được thực hiện bởi Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát dã chiến theo các mật lệnh của Nhu. Nhu hiện đang nắm quyền kiểm soát và Tướng Đôn nhận lệnh trực tiếp từ ông ta. Theo lời Kim, có 1.426 người (Tăng Ni cư sĩ Phật giáo) đã bị bắt giữ. Tất cả chất nổ và vũ khí tìm thấy trong các chùa chỉ là màn dàn cảnh đổ vạ. Hiện nay dân chúng tin rằng Quân Đội phải chịu trách nhiệm về việc đàn áp Phật tử và quay sang chống đối Quân Đội. Trừ phi có sự cải chính và nói rõ sự thật với công chúng, Quân Đội sẽ mất khả năng chiến đấu chống Cộng một cách nghiêm trọng. Tướng Kim nói, các sinh viên của khoa Y và khoa Dược Khoa thuộc Đại học Sài Gòn đã tổ chức biểu tình vào sáng ngày 23-8. Kim cảm thấy những cuộc biểu tình này sẽ lan rộng, và rằng sinh viên sắp chuyển sang bạo động. Nhật lệnh về kiểm soát bạo động biểu tình đã trao cho các cấp chỉ huy Quân Đội VNCH vào sáng ngày 23, và ông hy vọng xung đột bạo lực giữa Quân Đội và sinh viên có thể tránh được. Tuy nhiên, Nhu đã ra lệnh cho Cao Xuân Vỹ (Tổng Giám Đốc Thanh Niên) phải tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ của Lực Lượng Thanh Niên Cộng Hòa với khoảng hơn 500.000 người vào ngày 25-8. Kim tin rằng một cuộc biểu tình lớn như thế, nếu được tổ chức, sẽ có thể dẫn tới bạo động ở mức không hình dung nổi, và do đó phải cố tránh. Ông ngờ rằng Nhu sẽ không chịu lắng nghe bất kỳ lời khuyên trái ý nào về chuyện biểu tình. Tôi hỏi Tướng Kim về việc Quân Đội có đoàn kết hay không. Ong nói, Nhu đã cố ý phân chia quyền chỉ huy giữa Đại Tá Tung, Tướng Đính và Tướng Đôn, và đang đối phó với từng người một cách riêng rẽ. Tướng Đôn (là [trang 614] anh rể của Kim) không có được nhiều sự ủng hộ tự nhiên trong các sĩ quan, nhưng ông cảm thấy là hầu hết các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp khác có thể liên minh quanh Tướng Đôn. Vấn đề then chốt ở đây là lập trường của Mỹ đứng về bên nào. Nếu Mỹ xác định rõ ràng chống lại ông bà Nhu và ủng hộ việc Quân Đội hành động để loại họ ra khỏi chính phủ, thì Quân Đội (chỉ trừ Đại Tá Tung) sẽ đoàn kết để ủng hộ hành động đó và hẳn là có thể thực hiện được. Mặc dù cá nhân ông không thích Diệm, nhưng ông Kim cảm thấy việc giữ lại ông Diệm làm Tổng Thống hẳn là tốt hơn, miễn là toàn bộ ảnh hưởng của gia đình họ Ngô phải được xóa bỏ vĩnh viễn một cách hiệu quả. Ông nói, không chỉ là vấn đề loại trừ ông bà Nhu, mà còn phải loại bỏ hết bè phái tay chân của họ nữa. Cuối cùng, Tướng Kim nói rằng ông và 7 tướng lãnh khác đã bị ép buộc phải ký vào một tuyên thệ trung thành với Tổng Thống Diệm hôm 22-8, với nội dung hoàn toàn ủng hộ những hành động của chính phủ chống lại Phật giáo. Ông nói, Hoa Kỳ nhất thiết đừng để bị lừa dối bởi văn bản đó, vì đại đa số trong Quân Đội cũng như hầu hết các tướng lãnh đã ký tên vào bản tuyên thệ đều không hề chấp nhận việc đàn áp Phật giáo, nhưng lần này họ buộc phải ký tên vào đó hoặc sẽ trở thành đối tượng bị Cố Vấn Nhu xóa sổ từng người một. Ký tên: Lodge Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 09:53:03 pm CIA: CUỘC NÓI CHUYỆN BÍ MẬT CỦA TƯỚNG TRẦN VĂN ĐÔN1 (Nguồn: Foreign Relations of the United States, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963, Document 275 - Điện văn số 265) Cư sĩ Nguyên Giác dịch LỜI NGƯỜI DỊCH: Điện văn này do CIA từ Sài Gòn gửi về Hoa Kỳ, kể lời Tướng Trần Văn Đôn vài ngày sau trận tổng tấn công các chùa do ông Ngô Đình Nhu thực hiện. Vài điểm ghi nhận từ lời của Tướng Đôn trong điện văn: - Nhiều lính đào ngũ, tinh thần binh sĩ suy sụp vì bất mãn khi Phật tử bị đàn áp; - Ông Diệm nắm quyền xuyên qua ông Nhu; - Ông Diệm xem Bà Nhu như người vợ tinh thần; - Ông Diệm đã thăng chức một trung sĩ trẻ, đẹp trai lên chức Trung Tá; - Đôn nói ông sắp xếp giai đoạn đầu của kế hoạch đảo chánh ông Diệm; - Đôn có vẻ muốn giữ ông Diệm ở ghế Tổng Thống, trong khi phải gạt bỏ ông bà Nhu và rất nhiều Bộ Trưởng ra ngoài quyền lực; - Đôn không muốn Nguyễn Tôn Hoàn về nước thay thế ông Diệm; - Đôn kể tên một số tướng lãnh trong kế hoạch đảo chánh, nhưng không nhắc tên Tướng Tôn Thất Đính, lúc đó là Tổng Trấn Biệt Khu Sài Gòn/Gia Định. Đôn nhắc tới cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 của các đại tá, và nói kế hoạch của các tướng sẽ rất hoàn hảo. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 09:57:48 pm 275. ĐIỆN VĂN TỪ VĂN PHÒNG CIA TẠI SÀI GÒN GỬI VỀ SỞ TÌNH BÁO TRUNG ƯƠNG CIA1 (Nguồn: Library of Congress, Harriman Papers, Vietnam Policy. Bí mật. Cũng đã gửi tới Honolulu. Bản văn nguồn là phó bản do CIA gửi về Bộ Ngoại Giao cho Hilsman (Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu) và Hughes (Phó Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu); cũng gửi tới Bạch Ốc cho Bundy (Cố vấn An ninh Quốc gia) và tới JCS (Bộ Tổng Tham mưu Quân Lực Mỹ) cho Tướng Krulak (Phụ tá Đặc biệt về Chống Phiến Loạn). Theo một ghi chú về bản văn nguồn, điện văn này phổ biến theo phân loại TDCS. Bản Phúc trình đó ghi mã số "TDCS DB-3/656, 252, August 24, " đã in trong Hồ sơ giải mật, 1977, 93C) Sài Gòn, ngày 24-8-1963, lúc 6:45 giờ chiều ĐIỆN VĂN SỐ 0265. 1. [Ít hơn một dòng không giải mật] đã có buổi nói chuyện khoảng ba giờ đồng hồ với Tướng Trần Văn Đôn2 (Để biết những gì Tướng Đôn hồi tưởng về cuộc nói chuyện này, xem Trần Văn Đôn, Our Endless War, trang 90-91. (ISBN: 978-0891410195 - ND)) vào đêm 23-8-1963 tại văn phòng Tướng Đôn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Sau đây là tóm lược cuộc nói chuyện. 2. Tướng Đôn được hỏi là ai đang nắm quyền, và đã trả lời rằng Tổng Thống Diệm nắm quyền thông qua Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Tất cả các tướng lãnh phải qua sự kiểm soát của Nhu trước khi gặp ông Diệm. Giải thích điều này, [Tướng Đôn] nói rằng Diệm sử dụng Nhu như "lý thuyết gia" và cố vấn, nhưng không phải luôn luôn nghe lời khuyên của Nhu. Tổng Thống Diệm ghen tỵ với thẩm quyền và khả năng của Nhu. Tướng Đôn [trang 615]3 (Bản điện tử cung cấp các số trang theo bản in đã phát hành) cho một thí dụ. Vào nửa đêm 22-8, Tướng Đôn cùng Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm đến gặp Nhu về chuyện các sinh viên, đề nghị nên đóng cửa toàn bộ các trường ở Sài Gòn bằng cách thiết quân luật, bởi vì có nguồn tin rằng vào các ngày 23, 24 và 25 tháng 8 sinh viên sẽ biểu tình ở Sài Gòn. Nhu đồng ý với đề nghị của các tướng lãnh, bảo họ phải xin phép Tổng Thống. Nhu và các tướng lãnh đến gặp ông Diệm và đề nghị đóng cửa các trường. Ông Diệm nói: "Không. Giới trẻ nhất thiết phải có những phương cách để tự bày tỏ." Tướng Đôn lặp lại rằng, ông Diệm là người ra quyết định cuối cùng. 3. Tướng Đôn tiếp tục giải thích về các quan hệ trong Phủ Tổng Thống. Ông nói, phải nhớ là trong nhiều năm, Tổng Thống từng là người kêu gọi chống chế độ thực dân. Trong thời gian đó, Diệm đã tự suy nghĩ rất nhiều để vạch ra đường lối lý thuyết. Sau khi nắm chính quyền từ năm 1954, Diệm nhận ra sự khác biệt và ông cần có những người thân cận giúp việc phác vạch lý thuyết. Ông hướng đến người em là Nhu, một lý thuyết gia sẵn có những lý thuyết, triết lý. Dần dần, Diệm đã cho phép Nhu thực hiện hầu hết công việc phác vạch đường lối lý thuyết. Nhưng điều này không có nghĩa là Tổng Thống luôn luôn nghe theo sự cố vấn của Nhu. Diệm thích việc Nhu thay ông viết các bản tuyên bố, diễn văn. Ông Diệm thích tự mình gặp gỡ, nói chuyện với dân chúng. Do vậy, Nhu có được quyền lực đặc biệt của một lý thuyết gia phục vụ Tổng Thống. 4. Mô tả về mối quan hệ của bà Nhu trong Tổng Thống Phủ, Tướng Đôn nói rằng, trong lòng ông Diệm thì bà Nhu có vị trí như "vợ" ông. Tổng Thống chưa bao giờ lập gia đình và không quen sống bên cạnh đàn bà. Trong 9 năm qua, ông Diệm có bà Nhu an ủi sau một ngày làm việc hoàn tất. Bà Nhu có sức quyến rũ, thường trò chuyện và làm giảm căng thẳng cho ông, tranh luận với ông, châm chọc ông, và giống như mọi người vợ Việt Nam, bà quán xuyến mọi việc trong nhà. Tổng Thống và bà Nhu sống cách biệt nhau. Không có quan hệ tình dục giữa ông Diệm và bà Nhu. Theo ý kiến của Tướng Đôn, Tổng Thống chưa từng có quan hệ tình dục. Tướng Đôn so sánh tình trạng đó y hệt như giữa Hitler và Eva Braun. Đôn cũng nói, Tổng Thống thích sống gần những người đàn ông đẹp trai. Đôn dẫn ra trường hợp một trung sĩ trẻ, đẹp trai, phụ trách làm vườn công cộng ở Đà Lạt. Tổng Thống đã hỏi xem ai chăm sóc vườn đó, và khi được báo cáo, ông cho gọi viên trung sĩ kia tới Dinh Tổng Thống rồi tức khắc thăng chức người này lên Trung Tá và giao nhiệm vụ quản trị nông nghiệp quân sự. Ông Diệm có lối cảm xúc cực đoan. Khi ông thích ai, dù thế nào ông cũng thích; và khi ông ghét ai, ông ghét toàn diện. Không có trạng thái lưng chừng. Bà Nhu đã sử dụng vị trí đặc quyền của bà với Tổng Thống để khiến ông phải đồng thuận những khi ông muốn chống lại, nhưng ông Diệm đã khuất phục trước sức quyến rũ của Bà Nhu. Tướng Đôn nói: "Theo tôi biết thì bà Nhu cực kỳ quyến rũ." Đôn nói, trên thực tế không thể loại bỏ ông bà Nhu vì những vị trí đặc biệt của họ; Ngô Đình Nhu là lý thuyết gia của Tổng Thống và bà Nhu là người vợ tinh thần của ông ta1 (Nguyên tác dùng "platonic", có nghĩa là thân thiết, gắn bó về mặt tinh thần nhưng không có quan hệ xác thịt). 5. [Trang 616] Quyết định hành động ngày 20- 21/8 đạt được bởi 10 tướng lãnh vào đêm 18- 8: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, [ít hơn một dòng không giải mật]2 (Ở đây kể tên thiếu một người, như vậy có một vị tướng được quyết định giữ kín), Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Kim, và Dương Văn Minh. Theo lời Đôn, ông Nhu không khuyến khích họ đạt đến quyết định này. Chỉ có lần Nhu nói chuyện về việc dự trù kế hoạch nào đó là trong buổi họp ngày 11 tháng 7, với sự hiện diện của tất cả tướng lãnh. Tướng Đôn không nói rõ ai đã triệu tập các tướng họp đêm 18-8. Kế hoạch này bao gồm việc ban lệnh thiết quân luật và tiếp theo đó đưa những nhà sư từ các tình đã vào Sài Gòn trở về chùa của họ ở các tình. Kế hoạch này do các tướng lãnh trình lên ông Nhu vào ngày 20-8. Ông Nhu bảo họ thảo luận kế hoạch này với Tổng Thống. Khi các tướng lãnh trình kế hoạch lên Diệm thì ông Nhu không có mặt. Các tướng có mặt lúc đó là: Khiêm, Trí, Khánh, Đính, [ít hơn một dòng không giải mật], Kim và Đôn. Tướng Đôn đứng đầu nhóm tướng lãnh trình kế hoạch lên Tổng Thống. 6. Các tướng lãnh nói với ông Diệm rằng tinh thần binh sĩ đang suy giảm, và trong thực tế họ đã lo sợ khi thấy một đồn lính đào ngũ đến mức gần hết sạch. Các tướng nói rằng, những người vợ lính và các sĩ quan cấp thấp đang hoang mang. Họ giải thích với Tổng Thống về tình hình khi quân đội phải đối đầu trực diện với Phật tử. Tướng Đôn xác nhận ông đã nói với ông Diệm rằng vấn đề ngày 8-5 tại Huế lẽ ra có thể đã giải quyết được, nhưng vì Việt cộng đã trà trộn vào Phật tử tại Chùa Xá Lợi. Đôn mô tả những sự khéo léo được sử dụng trong các cuộc biểu tình ngày 11 tháng 8, khi Thượng tọa Thích Tâm Châu diễn thuyết gay gắt trước một đám đông ở Chùa Xá Lợi. Thượng tọa đã thu hút hoàn toàn sự chú ý của đám đông bằng những câu hỏi như "Chúng ta sẽ xuống đường chứ?" Đám đông hô to đáp lại: "Có, có..." Đột nhiên, Thượng tọa cắt ngang: "Không, chúng ta sẽ không xuống đường. Khi quý vị nói rằng 'chúng ta sẽ xuống đường' thì điều đó cũng giống như đã xuống đường rồi." Tướng Đôn cho rằng vị Thượng tọa biết tiếng Anh, Thích Đức Nghiệp, là rất nguy hiểm và các tướng lãnh sợ rằng nếu những lãnh đạo Phật giáo quy tụ một đám đông đủ lớn, họ có thể hướng đoàn biểu tình đến Dinh Gia Long và quân đội có thể sẽ không ngăn cản họ. 7. Đôn nói rằng Tổng Thống Diệm ra quyết định thiết quân luật sau khi các tướng đề nghị như thế. Diệm ra quyết định đưa quân đội trấn giữ các điểm chiến lược ở Sài Gòn và Chợ Lớn, và chấp thuận đề nghị đưa các nhà sư đã vào Sài Gòn về lại các chùa của họ ở tình. Tuy nhiên, Tổng Thống căn dặn không được gây thương tổn cho các vị sư. Tướng Đôn nói điều đó làm ông rất cảm động khi Tổng Thống yêu cầu họ không làm hại các Phật tử. Diệm bổ nhiệm Tướng Đôn tạm thời kế nhiệm Tướng Lê Văn Tỵ. Diệm giao cho Đôn quyền chỉ huy tất cả quân đội Nam VN, thực hiện lệnh thiết quân luật, và áp dụng các biện pháp cần thiết. Tướng Tôn Thất Đính được bổ nhiệm làm Tổng Trấn Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn/Chợ Lớn. Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung vẫn dưới quyền Tổng Thống Phủ. Đôn chỉ ra rằng Đính không chỉ huy lính của Tung, mặc dù Đính là Tổng Trấn Quân Khu Thủ Đô. [trang 617] Đính trong cương vị Tổng Trấn có phối hợp với Đôn, nhưng Đôn không chỉ huy Đính. Đính có xin lệnh Bộ Tổng Tham Mưu về các chỉ dẫn, nhưng Đính không thực hiện tất cả các lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu. Đính, trong cương vị Tổng Trấn, cũng nhận lệnh từ Tổng Thống Phủ giống như Đại Tá Tung. Đôn nói Đại Tá Tung là kẻ nguy hiểm vì ông ta không do quân đội kiểm soát và chỉ thi hành lệnh duy nhất từ Tổng Thống Phủ. Đôn cũng nói rằng các tướng lãnh rất ghét tính bướng bỉnh của Tung. Tung nhận lệnh của cả Diệm và Nhu. Tung hợp tác với Nhu, nhưng khi cần thì quyết định là từ Tổng Thống. Tướng Đôn nói rằng các tướng lãnh khác ủng hộ Đôn, chỉ trừ một số tướng lãnh trẻ. Những tướng trẻ này ghen tỵ việc Đôn nắm quyền tư lệnh của Tướng Tỵ. Nhưng Đôn không kể tên tướng trẻ nào. Đôn bị chỉ trích bởi các tướng trẻ này vì đã có hành động đàn áp Phật giáo. Đại đa số tướng lãnh VN đều là Phật tử. Đôn đưa ra dẫn chứng: "Khi tôi muốn bảo Tướng Trần Tử Oai điều gì, Oai nói với tôi rằng ông ta là dân sự; ông ta có trách nhiệm dân sự." Khi được hỏi cụ thể là Tướng Nguyễn Khánh có ủng hộ Đôn hay không, Đôn trả lời rằng Khánh ủng hộ Đôn 100%. Đôn cũng nói rằng Dương Văn Minh, Trần Văn Minh, các tướng Trí, Khiêm, Kim và "ngay cả Tướng Xuân" cũng ủng hộ Đôn. Khi được hỏi về Tướng Văn Thành Cao, Dân biểu, có nằm trong kế hoạch không, Đôn nói rằng Văn Thành Cao hoàn toàn ngoài cuộc. Các tướng khác nhìn Văn Thành Cao như là dân sự. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:00:53 pm 8. Tướng Đôn nói ông không biết rằng Phật giáo đồ sắp bị tấn công bởi cảnh sát và Lực lượng Đặc biệt (LLĐB). Tướng Đính, trong cương vị Tổng Trấn, nhận lệnh từ Tổng Thống Phủ và được cho biết là lực lượng của Đại Tá Tung sẽ được dùng hỗ trợ cho cảnh sát, vì LLĐB có những "phương tiện đặc biệt. "
Đôn ám chỉ nhưng không nói rõ rằng lệnh [tấn công] đưa ra từ ông Nhu. Dấu hiệu đầu tiên giúp Tướng Đôn biết về việc các chùa bị tấn công là khi ông nghe từ sóng truyền thanh bộ chỉ huy. Các Tướng Khiêm và Đôn có mặt ở Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) khi nghe rằng các chùa đã bị tấn công. Tướng Đôn lập tức đi từ văn phòng BTTM tới Chùa Xá Lợi. Giám đốc Cảnh sát Trần Văn Tư đang chỉ huy trận tấn công tại Chùa Xá Lợi, yểm trợ bởi LLĐB của Đại tá Tung ở vòng quanh khu vực. cảnh sát là những người đầu tiên tiến vào chùa. Khi Đôn tới Chùa Xá Lợi, một trung úy cảnh sát đang chỉ huy một đơn vị bên trong Chùa Xá Lợi. Các vị sư trong chùa đã bị bắt đưa đi trước khi Đôn tới. Trong toàn bộ chiến dịch ở đây, tổng cộng 30 người bị thương, trong đó có 5 người nguy kịch; những con số này bao gồm cả nhân viên công lực và Phật tử. Không có vị sư nào bị giết ở Chùa Xá Lợi. Vào lúc 4 giờ 30 sáng ngày 21-8, chiến dịch quân sự hoàn tất; nhiều điếm chiến lược đã được trấn giữ. Đôn nói rằng có 1.420 nhà sư bị bắt khắp miền Nam VN. 9. Tướng Đôn rất tự hào về việc các tướng lãnh đã có thể giữ bí mật trước khi khởi động chiến dịch [đảo chánh]. Đôn cũng tự hào về kỹ thuật áp dụng bởi quân đội và ông nói [trang 618] "mọi người luôn nói về các đại tá, những người sẽ tổ chức đảo chánh. Họ không có khả năng đó. Chúng tôi đã chứng minh điều này bằng kế hoạch và kỹ thuật của chúng tôi." Ông dẫn ra một thí dụ về cuộc đảo chánh ngày 11-11- 1960, là kế hoạch của các đại tá, đã thất bại. Tướng Đôn không bày tỏ phản ứng cá nhân về trận tấn công các chùa. Đôn có nói rằng ông muốn thực hiện theo kế hoạch ban đầu của ông là thanh lọc tất cả những nhà sư [từ các tỉnh vào Sài Gòn] và đưa trả về chùa của họ ở các tỉnh. Đôn cũng nói rằng Mỹ đang giữ sư Thích Trí Quang ở Trụ sở Ngoại giao đoàn (USOM). Đôn thêm rằng sư Thích Trí Quang là một trong những người kích động chính, và Chính phủ VNCH muốn bắt giam vị sư này. (Nhận xét: Tướng Đôn lộ vẻ tin rằng sư Trí Quang là một trong hai nhà sư đang tỵ nạn trong Trụ sở Ngoại giao đoàn. Nhưng một viên chức CAS1 (CAS là văn phòng tình báo CIA ở Sài Còn. (ND)), biết rõ thầy Trí Quang, đã nhìn thấy cả 2 vị sư đó vào ngày 24-8 và xác nhận không có ai trong số họ là thầy Trí Quang.) 10. Chính Tướng Đôn đã nghe công luận Việt Nam quy trách quân đội trong việc tấn công các ngôi chùa. Ông nói rằng chính phủ Mỹ có lỗi về sự ngộ nhận đó vì đài VOA loan tin rằng quân đội VNCH tấn công các chùa. Đôn chất vấn tại sao đài VOA không nói rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát đã thực hiện việc này? Tướng Đôn tin rằng như vậy sẽ giúp ích cho quân đội trong thời điểm này. Tướng Đôn nói, người Mỹ nên nói rõ lập trường của mình. Tướng Đôn không muốn ông Diệm bị thay thế, chẳng hạn bởi một người lưu vong như Hoan (có lẽ Đôn muốn nói đến Nguyễn Tôn Hoàn), người hiện đang có mặt ở Hoa Kỳ. Đôn nói rằng trong quân đội hiện nay không ai thay được ông Diệm. Đôn đơn cử trường hợp chính ông như một thí dụ. Ông nói: "Tôi không đủ thông minh, cũng không có tham vọng. Tôi chỉ làm công việc liên kết các tướng lãnh với nhau." 11. Đôn ngụ ý rằng ông nhận thức được những diễn tiến tương lai theo kế hoạch. Ông nói: "Đây là bước đầu tiên, còn bí mật về những gì sắp xảy đến thì không phải việc của tôi để nói ra." Khi được hỏi thiết quân luật sẽ kéo dài bao lâu, Đôn nói sẽ tùy theo tình hình. Khi được hỏi liệu cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 31-8 có được tổ chức hay không, Đôn nói có thể sẽ hoãn lại, nhưng sẽ có sự nới lỏng thiết quân luật vào ngày 24-8 trong mức độ lệnh giới nghiêm được suy tính. 12. Tướng Đôn không nói gì về việc để ông Diệm tiếp tục nắm quyền hay thay thế người khác tại Nam VN, ngoại trừ ông nói rằng ông không muốn một trong các chính khách lưu vong về nắm quyền, và rằng không nhân vật quân sự nào có thể thay thế Tổng Thống. Viên chức CAS có ấn tượng, và chỉ là ấn tượng thôi, rằng Tướng Đôn và nhóm của ông muốn giữ ông Diệm tiếp tục nắm quyền trong giai đoạn hiện nay theo kế hoạch của họ. 13. Đôn cũng nói ông nhận thức rằng ông rất có thể sẽ bị "hy sinh" do kết quả của việc thực hiện thiết quân luật, nhưng điều này không quá quan trọng, bởi vì có những lãnh đạo quân sự khác sẽ thay vị trí của ông. Đôn không nêu tên ai. Đôn cho ấn tượng rằng ông không phải người đứng sau mọi chuyện. Ong không thực sự nắm quyền. Ong chịu trách nhiệm giai đoạn đầu tiên. Sẽ có những người khác trong nhóm nhận lãnh thực hiện các giai đoạn tiếp theo. Những lời Đôn nói không hề ám chỉ một hay một số người nào [trang 619] sẽ đứng ra thực hiện các giai đoạn khác. Đôn nhắc đến sự kiện VOA đang nhấn mạnh bản tin về việc Đại sứ Trần Văn Chương từ chức1 (Ông Chương là cha ruột của bà Nhu, từ chức Đại sứ VN ở Hoa Kỳ để phản đối nhà Ngô đàn áp Phật tử). Đôn lặp lại rằng các bản tin VOA làm tổn thương quân đội. Ông nói, không có gì tích cực khi nói rằng quân đội VN đàn áp Phật tử và chính phủ Mỹ lên án việc này, rồi cùng lúc lại nói rằng Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ. Đôn không mở rộng vấn đề đê nói đến những gì người Mỹ nên làm. 14. Đôn không nhắc tới Phó Tổng Thống Thơ hay bất kỳ Bộ Trưởng nào. 15. Đôn nói rằng sau giai đoạn đầu tiên này, mọi việc không thể đảo ngược để trở lại như trước đó. Khi được hỏi có phải ông nói về chính phủ, Đôn trả lời, "Vâng, tôi đang nói chuyện về chính phủ. Tổng Thống phải thay đổi một số Bộ trưởng." Đôn không kể tên bất kỳ Bộ trưởng nào cụ thể. Đôn nói các sự kiện đang quyết định tình hình. Đôn nói nếu ông phải chọn giữa Tổng thống Diệm và Nhu, ông sẽ chọn Tổng thống. Đôn không nói gì về chuyện các sĩ quan khác có thể nghĩ gì về Nhu. Khi được hỏi nếu có chuyện xảy ra, và Tổng Thống Diệm không còn giữ quyền lực, Đôn có sẽ làm việc với Nhu không, Đôn nói: "Nếu tôi phải lựa chọn giữa Tổng Thống Diệm và Nhu, người phải ra đi là Nhu." Đôn không muốn Nhu. 16. Viên chức tường trình nhận ra ấn tượng từ Đôn rằng mặc dù Tổng thống vẫn nắm quyền lực nhưng mọi diễn biến tình hình đang do Nhu kiểm soát. Có ấn tượng mạnh mẽ rằng Tướng Đôn không hoàn toàn nhận thức được đầy đủ mọi việc đang diễn ra quanh ông. Từ những phát biểu của Tướng Đôn, có vẻ như một thành phần trẻ trong các tướng lãnh đang gây rắc rối cho ông. Đôn ám chỉ rằng ông muốn có sự bảo đảm cách này hay cách khác từ phía chính phủ Mỹ. Ông có vẻ không biết phải làm gì kế tiếp. Đôn hoàn toàn bị kiểm soát bởi các sự kiện và phản ứng chứ không [chủ động] lên kế hoạch cho hoạt động kế tiếp. Có vẻ như bản thân Đôn cảm thấy ông không đủ quyền lực ảnh hưởng đến các tướng lãnh để lật đổ Tổng Thống. Tuy nhiên, Đôn không tạo ra ấn tượng rằng ông có ý muốn lật đổ Tổng thống. Ông rõ ràng muốn hòa giải với các Phật tử và nói rằng quân đội nên khôi phục lại các chùa và các pho tượng đã bị phá hủy ở một số chùa. Đôn không nói gì về giai đoạn thứ nhì của kế hoạch. Đôn không nói rõ giai đoạn đầu sẽ kéo dài bao lâu, nhưng có nói rằng sẽ kéo dài tới sau cuộc bầu cử Quốc Hội như đã định. 17. Ấn tượng của chúng tôi là trong những lời của Tướng Đôn có ý nghĩa đáng kể rằng đây chỉ là giai đoạn đầu, và bí mật của các giai đoạn tương lai không phải ông là người nói ra được . Chúng tôi không thể xác định liệu có phải ý Đôn muốn nói rằng các giai đoạn tương lai bao gồm "sự bí mật" sẽ được kiểm soát từ bên trong quân đội, hoặc là bởi Nhu, hoặc các nhân vật dân sự khác chẳng hạn. Đôn [trang 620] không nêu nhận xét đích danh bất kỳ nhân vật dân sự nào. Đôn nói, mục tiêu chính của quân đội là chiến đấu chống Việt cộng. Đôn cũng nói rằng không hề có buổi họp ngày 10 tháng 8 giữa các tướng với Ngô Đình Nhu. 18. Đã gửi thông tin về cuộc nói chuyện này tới Đại sứ Lodge và Tướng Harkins (Tư lệnh Quân viện Hoa kỳ tại VN). Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:05:10 pm 275. TELEGRAM FROM THE CENTRAL INTELLIGENCE AGENCY STATION IN SAIGON TO THE AGENCY1 Source: Library of Congress, Harriman Papers, Vietnam Policy. Secret. Also sent to Honolulu. The source text is a copy sent by the CIA to the Department of State for Hilsman and Hughes; also sent to the White House for Bundy and to JCS for Krulak. According to a note on the source text, TDCS dissemination of this cable would follow. That report, TDCS DB-3/656,252, August 24, is published in Declassified Documents, 1977, 93C Saigon, August 24, 1963, 6:45 p.m. 0265. 1. [less than 1 line not declassified] had almost three hour meeting with General Tran Van Don2 (For Don's recollections of the discussion, see Tran Van Don, Our Endless War, pp. 90-91) evening 23 August in Don’s office at General Staff. Following summarizes discussion. 2. Don was asked who was in control and replied President Diem is in control through Counselor Ngo Dinh Nhu. All the Generals check with Nhu prior to seeing Diem . Explained this by saying Diem uses Nhu as his "thinker" and advisor but does not at all times follow Nhu’s advice. President is jealous of his authority and prerogatives. Don [Page 615] gave an example. At midnight on 22 Aug, Generals Don, Ton That Dinh and Tran Thien Khiem went to see Nhu about the students, recommending that schools all be closed in Saigon by the martial law, because they had information that on 23, 24, and 25 Aug there would be student demonstrations in Saigon. Nhu concurred with Generals’ recommendation, told them he had to check with the President. Nhu and Generals went to see Diem recommending closing of schools. Diem said "no. The young people must have means of expressing themselves." Don repeated that Diem is the man who makes final decisions. 3. Don went on to explain relationships in the Palace. Said it must be remembered that for years President has been agitator against colonialist regimes. During this time Diem did a lot of thinking himself. When he took over govt in 1954 he found it was different and he would have to have people around him who think. He turned to his brother Nhu who is a thinker, an individual who has theories, a philosophy. As time went on, Diem has allowed Nhu to do most of the thinking. This does not mean President will take all of Nhu’s advice. Diem likes Nhu to write presidential proclamations, speeches. Diem prefers himself to meet the people and talk to people. In this way Nhu has special power as a thinker for the President. 4. In describing relationship of Madame Nhu in the Palace, Don said that in Diem’s mind Madame Nhu has status of being Diem’s "wife". President has never married and not used to having women around him. For past nine years Diem has Madame Nhu to comfort him after day’s work is done. She is charming, talks to him, relieves his tension, argues with him, needles him and, like a Vietnamese wife, she is dominant in the household. President and Madame Nhu live two apartments apart. There are no sexual relations between Diem and Madame Nhu. In Don’s opinion, President has never had sexual relations.He likened the situation to that of Hitler and Eva Braun. Don also said, the President likes good looking men around him. Don cited the case of handsome young sergeant who planted a public garden in Dalat. President asked who had planted the garden and when informed, called the sergeant to the Palace and immediately promoted him to Lt. Colonel and put him in charge of military agriculture. Diem has intense passions. When he likes somebody, he likes them all the way; when he hates someone, he hates completely. There is no in-between. Madame Nhu uses her privileged position with President to make him say yes when he wants to say no, but he is won by her charm. Don said, "as I know, Madame Nhu can be extremely charming." Don said it would be practically impossible to get rid of the Nhus because of special positions they hold; Ngo Dinh Nhu being President’s thinker and Madame Nhu his platonic wife. [Page 616] 5. The decision for the action of 20-21 August was reached by ten Generals during the evening of 18 Aug: Tran Van Don, Ton That Dinh, Do Cao Tri, Tran Thien Khiem, Nguyen Khanh, [less than 1 line not declassified], Mai Huu Xuan, Nguyen Ngoc Le, Le Van Kim, and Duong Van Minh. According to Don, they had not been encouraged to reach this decision by Nhu. Only time Nhu had talked about any planning was at meeting 11 July with all Generals present. Don did not say who brought Generals together 18 Aug. This planning included martial law and eventual taking of bonzes who came from outside Saigon and returning them to their own provinces and pagodas. Plan was presented by Generals to Nhu on 20 Aug. Nhu told them to discuss plans with President. Nhu was not present when Generals presented their plan to Diem . Generals present were: Khiem, Tri, Khanh, Dinh, [less than 1 line not declassified], Kim and Don. Don headed the group that presented the plan to the President. 6. Generals told President that morale of troops was deteriorating, and in fact they feared that one military post was near state of desertion. Generals said that wives of soldiers and junior officers were getting upset. They explained to President the situation as the military saw it vis- a-vis the Buddhists. Don claims he told Diem that 8 May affair in Hue could have been settled but that the VC had penetrated Buddhists in Xa Loi Pagoda. Don described tactics used in demonstrations on 11 Aug when bonze Thich Tam Chau was haranguing the crowd at Xa Loi. Chau held crowd spellbound with questions like "are we going to march in streets"? Crowd would call back "yes". Suddenly Chau would say "no, we will not march in the streets. The fact that you have said we are going to march in streets is same as marching in the streets." Don felt that the bonze who spoke English, Thich Due Nghiep, was very dangerous and the Generals feared that if the Buddhist leaders assembled a large enough crowd they could order a march toward Gia Long Palace and the army would not stop them. 7. Don said the President made decision to establish martial law after the Generals had recommended it. Diem made the decision to bring in troops to occupy strategic points of Saigon/Cholon and approved the recommendation to move bonzes visiting Saigon back to their provinces and their pagodas. President insisted however that none of the bonzes be hurt. Don said this touched him very much that the President should insist on their not harming the Buddhists. Diem appointed General Don as temporary successor to General Le Van Ty. Diem made Don responsible for all troops in SVN, the conduct of martial law, and implementation of necessary measures. General Ton That Dinh was appointed Military Governor of Saigon/Cholon. Colonel Le Quang Tung’s troops of Special Forces High Command remain under the control of the Presidency. Don pointed out that Dinh did not command Tung’s troops even though he is Military Governor of Saigon/ Cholon. [Page 617] Dinh as Military Governor coordinates with Don but Don does not command Dinh. Dinh does ask General Staff for guidance but he does not execute all General Staff orders. He receives his orders as Military Governor from the Presidency just as Colonel Tung does. Don said Col. Tung is dangerous because he is not subject to military control and executes orders only from Presidency. Don also said that the Generals hate Tung’s guts. Tung is responsive to both Diem and Nhu. Tung coordinates with Nhu, but when decision is made, it comes from the President. General Don said that the other Generals support him (Don) except some of the younger Generals. These younger Generals are jealous of Don’s having assumed General Ty’s command. Don did not name any of these younger Generals. Don was criticized by these younger Generals for the action that was taken against the Buddhists. Majority of Vietnamese Generals are Buddhist. For example, Don said, "when I want to tell General Tran Tu Oai something, Oai tells me he is a civilian; he has civilian responsibility". When asked specifically if General Nguyen Khanh supported Don, Don replied that Khanh was 100 percent with him. Don said also that Duong Van Minh, Tran Van Minh, Generals Tri, Khiem, Kim and "even Xuan" were with him. When asked if General Van Thanh Cao, the delegate, was in on any of the planning, Don said Cao was left completely out. He is considered by the other Generals to be a civilian. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:07:07 pm 8. General Don said he was not aware that the Buddhists were going to be attacked by the Police and Vietnamese Special Forces. Dinh, as Military Governor, received his orders from the Presidency and was told Colonel Tung’s troops would be used to reinforce Police because VNSF had "special means".
Don intimated but did not state that the orders came from Nhu. First indication General Don had that pagodas were attacked was when he received call on his command radio. Generals Khiem and Don were at JGS when they heard that pagodas had been attacked. Don went immediately from his command post to Xa Loi. Police commissioner Tran Van Tu was in command at Xa Loi Pagoda backed up by Colonel Tung’s Special Forces in the periphery of the area. The Police were the first to enter the pagoda. When Don arrived at Xa Loi, a police lieutenant was already in charge of a detail inside Xa Loi. The Xa Loi bonzes had already been taken away when Don arrived. In the whole operation a total of thirty people were wounded, five seriously. This figure includes GVN and Buddhist casualties. No bonzes were killed at Xa Loi. At 0430 hours on morning of 21 Aug the military operation had been completed as far as the occupation of the strategic points by the military were concerned. Don said that 1420 bonzes were under detention throughout SVN. 9. General Don was very proud of the fact that the Generals had been able to maintain secrecy prior to initiation of this operation. He was also proud of the technique employed by the troops and he said [Page 618]"everybody always talks of colonels who will pull coups d’etat. They are incapable. We have proven this by our planning and our technique". He cited as an example the 11 November 1960 coup d’etat which was planned by colonels and failed. Don did not express his personal reaction to the attack on the pagodas. Don did say that he wants to carry out his original plan to screen all the bonzes and return them to their provinces and to their pagodas. Don also said that the US is holding Thich Tri Quang in USOM. Don added that Tri Quang was one of the the main agitators and the GVN wants to take him in custody. (Field comment: Don apparently believes Tri Quang is one of the two bonzes taking refuge in USOM. A CAS officer who knows Tri Quang well saw both of the bonzes in USOM on 24 August and confirmed that neither is Tri Quang.) 10. General Don has heard personally that the military is being blamed by Vietnamese public for the attack on the pagodas. He said that the US Govt is at fault for this misconception because VOA announced that the military took action against the pagodas. Don queried why VOA did not admit that Colonel Tung’s Special Forces and the Police carried out the action. Don believes this would help the military at this point. Don stated that the USA should now make its position known. Don does not want Diem replaced, for example, by an exile like Hoan (possibly Nguyen Ton Hoan) who is presently in the US. He admitted that within the military there is no one who could replace Diem. He cited, as an example, himself, saying, "I’m not smart nor am I ambitious. I only took the job to keep the Generals together". 11. Don implied he is aware of planned future developments. He said "This is the first step, and the secret of what is going to happen is not mine to give". When asked how long he thought martial law would last, Don said it depended on what is going to happen. When asked if the National Assembly elections on 31 Aug would be held he said the elections will probably be delayed, but there will be a relaxation of martial law on 24 Aug as far as curfew is concerned. Don did not say anything about keeping Diem in power or replacing him with someone inside SVN beyond his statement that he did not want one of the Vietnamese exile politicians to achieve power and that no military figure could do the job. CAS officer received the impression, and it was an impression only, that Don and his group wished to retain Diem in power for the present phase of their plan. Don also said that he realizes he will probably be "sacrificed" as a result of the martial law action but this is not too important because there are other military leaders who will take his place. He did not name them. Don gave the impression that he is not the man behind the whole thing. He is the figurehead. He is responsible for the first phase. There are others in the group who will take over other phases. Nothing Don said implied who the man or men might be who [Page 619] would take over other phases. Don mentioned the fact that VOA is playing up the resignation of Ambassador Chuong. He repeated that VOA broadcasts are hurting the military. He said it does no good to say that military action has been taken against the Buddhists and that the U.S. Govt deplores this action and at the same time say that the USA continues aid. He did not expand on this to indicate what action the USA should take. 14. Don made no mention of Vice President Tho or of any other Cabinet members. 15. Don said that after this first phase, things cannot revert back to what was before. When asked if he referred to the government, Don said, "yes, I’m talking about the government. The President has got to change some of his Ministers." Don did not name any specific ministers. He said events are controlling the situation. Don said if he had to choose between President Diem and Nhu, he would choose the President. He gave no indication of what other officers might be thinking about Nhu. When asked if something happens, and the President is no longer in power, would Don go with Nhu, Don said "if I have the choice between the President and Nhu, Nhu is going." He doesn’t want Nhu. 16. Reporting officer received the impression from Don that although the President is still in the saddle what is going on now is being controlled by Nhu. The impression is strong that General Don is not completely aware of everything that is going on around him. From Don’s statements it appears that there is a junior element among the Generals causing him trouble. Don indicated that he wants assurances one way or the other from the U.S. Govt. He appears not to know what to do next. He is completely controlled by events and reacts rather than plans next moves. It seems Don himself feels he does not have the power of [or?] enough influence over the Generals to overthrow the President. However Don did not give the impression that he wants by choice to overthrow the President. Don evidently wants to conciliate the Buddhists and said that the military should restore the pagodas and the holy statues that were destroyed in some of the pagodas. Don made no statements on the second phase of the plan. Don did not indicate how long the first phase would last but did indicate it would last beyond the scheduled National Assembly elections. 17. Our impression is that there is considerable significance in Don’s statement that this is only the first phase and the secret of future phases is not his to tell. We cannot determine whether Don means that future phases containing the "secret" will be controlled from within the military or, for example, by Nhu, or by other civilian figures. Don [Page 620] made no comment on any civilians by name. He said the Army’s primary aim is to fight the Viet Cong. Don also said that there was no 10 August Generals’ meeting with Ngo Dinh Nhu. 18. Have disseminated to Lodge and Harkins. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:11:39 pm ĐIỆN VĂN 243 TỐI MẬT NGÀY 24/8/1963 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Cư sĩ Nguyên Giác dịch - Soạn thảo ngày 24/8/1963: Roger Hilsman (Giám đốc Phòng Tình báo và Nghiên cứu) - Thông qua nội dung: Roger Hilsman, Michael Forrestal (Thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia), George Ball (Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) - Chấp thuận chuyển đi và đưa vào phân loại: Averell Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao về Viễn Đông Sự Vụ) - Giải mật ngày 20/4/1998. (https://iili.io/nFXdCL7.jpg) Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:17:56 pm PHÓNG ẢNH MỘT PHẦN ĐIỆN VĂN 243 LỜI NGƯỜI DỊCH: Điện văn này trong Tự Điển Bách Khoa Mở Wikipedia gọi bằng nhiều tên khác nhau: DEPTEL 243, Telegram 243, hay August 24 Cable, hay ngắn gọn hơn là Cable 243. Phần lớn nội dung của điện văn này cũng được trích lại trong The Pentagon Papers. Có vài điểm ghi nhận như sau: - Điện văn 243 chỉ gửi tới cấp cao nhất, trong các nhà ngoại giao Mỹ tại VN chỉ gửi riêng tới Đại sứ Henry Cabot Lodge; còn trong giới quân sự Mỹ chỉ gửi riêng tới Đô Đốc Harry Felt, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương. - Chính phủ Mỹ ủy quyền cho Đại sứ Lodge nói thẳng với ông Diệm, rằng Mỹ không đồng ý việc ông Nhu chỉ huy cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt tấn công các chùa. - Ủy quyền cho Lodge đòi ông Diệm trả tự do tức khắc cho tăng ni, và xóa bỏ Dụ Số 10 tức khắc. Nói thẳng, nếu không làm, Mỹ sẽ ngưng mọi viện trợ quân sự và kinh tế. - Ủy quyền cho Lodge nói với các tướng lãnh Việt Nam rằng Mỹ sẽ ủng hộ trong thời gian chuyển tiếp quyền lực để gỡ bỏ ông bà Nhu, và nếu Diệm ngoan cố, sẽ thay thế Diệm luôn. - Cho Đại sứ Lodge toàn quyền soạn kế hoạch, thực hiện. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:20:20 pm 281. ĐIỆN VĂN Bộ NGOẠI GIAO HOA KỲ GỬI TÒA ĐẠI SỨ TẠI VIỆT NAM1 (Nguồn: Bộ Ngoại Giao, hồ sơ Har-Van, Lật đổ Chính phủ Diệm tại miền Nam VN, 1963. Tối mật; xử lý tức thời. Bản in cũng lưu hành trong Quan hệ Mỹ-Việt, 1945-1967, Quyển 12, trang 536-537 và trong Hồ sơ Giải mật, 1975, 321B) Yêu cầu: Chuyển đến Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn - Xử lý tức khắc. Điện văn số 243. Chỉ dành riêng cho Đại Sứ Lodge - Đối với Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương / Cố vấn Chính trị, chỉ gửi riêng đến Đô đốc Harry Felt. Không gửi đến bất kỳ nơi nào khác, về các điện văn CAS 2652 (Tham chiếu FRUS 1961 -1963, Vol III, Hồ sơ 275) gửi từ Sài Gòn báo cáo quan điểm của Tướng Đôn, Điện văn 3203 (Tham chiếu FRUS 1961-1963, Vol III, Hồ sơ 274), Điện văn 3164 (Xem cước chú số 3, FRUS 1961 -1963, Vol III, Hồ sơ 276) và Điện văn 3295 (Tham chiếu FRUS 1961-1963, Vol III, Hồ sơ 276) cũng đều gửi từ Sài Gòn. - Giờ đây đã quá rõ, cho dù lệnh thiết quân luật có phải do quân đội đề nghị hay do ông Nhu lừa dối đưa họ vào bẫy, thì ông Nhu cũng đã lợi dụng hiệu lực của lệnh đó để tấn công vào các chùa bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của ông Tung, trung thành với Nhu, và do đó đã đổ trách nhiệm cho quân đội trong mắt thế giới và dân chúng VN. Cũng thấy rõ rằng ông Nhu sắp xếp để tự mình giữ vị trí chỉ huy. Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận tình trạng quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải được trao cho cơ hội để loại bỏ ông Nhu và bè phái, thay thế họ với các nhân sự chính trị và quân sự xuất sắc nhất hiện có. Trong trường hợp ông đã hết sức thuyết phục mà ông Diệm vẫn cứng rắn và từ chối [nghe theo], thì chúng ta buộc phải đối diện với thực tế là rất có thể không giữ ông Diệm được nữa." Giờ đây chúng tôi tin rằng nhất thiết phải hành động khẩn cấp để ngăn cản không cho Nhu củng cố vững chắc hơn nữa vị trí của ông ta. Do vậy, trừ phi ông tham khảo với Tướng Harkins (Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam - MACV) và nhận được những phản biện quan trọng hơn, nếu không thì ông được ủy quyền tiến hành các việc sau: 1. Trước hết, chúng ta phải tiếp tục áp lực ở các mức độ thích nghi đối với chính phủ VNCH như sau: a. Chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận những hành vi đàn áp Phật tử của ông Nhu và tay chân dưới vỏ bọc thiết quân luật. b. Nhất thiết phải có các hành vi mạnh mẽ tức khắc để điều chỉnh tình hình, bao gồm cả việc gỡ bỏ Dụ số 101 (Về Dụ số 10 ban hành ngày 6 tháng 8 năm 1950, xem cước chú số 2, hồ sơ 116), trả tự do cho các vị sư, các ni cô, vân vân... đã bị bắt giữ. 2. Chúng ta đồng thời cũng phải cho các tướng lãnh then chốt biết rằng, Hoa Kỳ không thể tiếp tục ủng hộ chính phủ VN về mặt quân sự và kinh tế, trừ phi các bước nói trên được thực hiện tức khắc, mà theo nhận thức của chúng ta là phải loại bỏ ông bà Nhu ra khỏi chính trường. Chúng ta mong muốn tạo cho ông Diệm một cơ hội hợp lý để loại bỏ ông bà Nhu, nhưng nếu ông Diệm vẫn cứng nhắc không thay đổi thì chúng ta sẵn sàng chấp nhận kết quả hiến nhiên là không thể ủng hộ ông Diệm được nữa. Ông cũng có thể nói với các tướng lãnh nào thích hợp rằng chúng ta sẽ ủng hộ trực tiếp đối với họ trong bất kỳ giai đoạn chuyên tiếp nào khi cơ chế chính phủ trung ương bị phá vỡ. 3. Chúng tôi thừa nhận sự cần thiết phải xóa bỏ vết nhơ cho quân đội về chiến dịch tấn công các chùa và quy trách nhiệm trực tiếp về ông Nhu. Ông được toàn quyền đưa ra những tuyên bố như thế tại Sài Gòn sao cho đạt được mục đích này. Chúng tôi ở Washington sẵn sàng có động thái tương tự và sẽ cho đài VOA loan tin phù hợp với nội dung trong bức điện sắp tới ngay khi ông gửi về, nên cố gắng càng sớm càng tốt1 (Tham chiếu điện văn 244 gửi đến Saigon ngày 24 tháng 8, lúc 9:37 tối, trong đó Hilsman cung cấp cho Tòa Đại Sứ nội dung thông tin để đồng thời công bố tại Washington và Saigon. Bản thông tin này và bản tin để xuất phát trên đài VOA đều nhằm phân tách cho công luận thấy rõ việc áp đặt lệnh thiết quân của Quân đội Nam VN không liên quan đến chiến dịch tấn công vào các chùa do Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Tung và cảnh sát mật thực hiện, cùng với việc bắt bớ hàng loạt người biểu tình và các nhà lãnh đạo Phật giáo. Bản thông tin này chỉ rõ rằng Lực lượng Đặc biệt không nằm dưới sự chỉ huy của Quân đội. (Nguồn: Department of State, Central Files, soc 14-1 S VIET) về nội dung bản tin thực sự được phát trên sóng VOA, xem Hồ sơ 287)). Cùng với những điều trên, Đại sứ và các viên chức ngoại giao tại VN nên khẩn cấp khảo sát tất cả những khả năng thay thế lãnh đạo hiện có và soạn những kế hoạch chi tiết về việc làm thế nào chúng ta có thể thay thế Diệm nếu điều này trở nên cần thiết. Điều tất nhiên là ông phải tham khảo với Tướng Harkins về bất kỳ biện pháp phòng ngừa cẩn trọng nào cần thiết để bảo vệ nhân viên Hoa Kỳ trong suốt thời gian khủng hoảng. Ông nên biết, từ Washington chúng tôi không thể gửi đến ông những chỉ thị chi tiết về việc nên tiến hành những hoạt động này như thế nào, nhưng ông cũng nên biết rằng chúng tôi luôn ủng hộ hoàn toàn những hoạt động của ông nhằm đạt được các mục tiêu của chúng ta. Điều không cần phải nói là chúng tôi đã giữ kín điện văn này chỉ trong phạm vi những người có liên quan thiết yếu, và tất nhiên ông cũng phải có sự cảnh giác tương tự để tránh việc rò rỉ thông tin quá sớm. BALL Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:21:43 pm 281. TELEGRAM FROM THE DEPARTMENT OF STATE TO THE EMBASSY IN VIETNAM1 Source: Department of State, Har-Van Files, Overthrow of the Diem Government in South Vietnam, 1963. Top Secret; Operational Immediate. Printed also in United States-Vietnam Relations, 1945-1967, Book 12, pp. 536-537 and Declassified Documents, 1975, 321 B. Action: AmEmbassy SAIGON - OPERATIONAL IMMEDIATE 243. Eyes only Ambassador Lodge. For CINCPAC/ POLAD exclusive for Admiral Felt. No furtherdistribution. Re CAS Saigon 02652 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 275) reporting General Don’s views; Saigon 3203 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 274) Saigon 3164 (See footnote 3, FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 276) and Saigon 3295 (FRUS 1961-1963, Vol III, Doc. 276). - It is now clear that whether military proposed martial law or whether Nhu tricked them into it, Nhu took advantage of its imposition to smash pagodas with police and Tung’s Special Forces loyal to him, thus placing onus on military in eyes of world and Vietnamese people. Also clear that Nhu has maneuvered himself into commanding position. US Government cannot tolerate situation in which power lies in Nhu’s hands. Diem must be given chance to rid himself of Nhu and his coterie and replace them with best military and political personalities available. If, in spite of all of your efforts, Diem remains obdurate and refuses, then we must face the possibility that Diem himself cannot be preserved. We now believe immediate action must be taken to prevent Nhu from consolidating his position further. Therefore, unless you in consultation with Harkins perceive overriding objections you are authorized to proceed along following lines: 1. First, we must press on appropriate levels of GVN following line: a. USG cannot accept actions against Buddhists taken by [Page 629] Nhu and his collaborators under cover martial law. b. Prompt dramatic actions redress situation must be taken, including repeal of decree 101 (Regarding Decree No. 10 of August 6, 1950, see footnote 2, Document 116), release of arrested monks, nuns, etc. 2. We must at same time also tell key military leaders that US would find it impossible to continue support GVN militarily and economically unless above steps are taken immediately which we recognize requires removal of the Nhus from the scene. We wish give Diem reasonable opportunity to remove Nhus, but if he remains obdurate, then we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem. You may also tell appropriate military commanders we will give them direct support in any interim period of breakdown central government mechanism. We recognize the necessity of removing taint on military for pagoda raids and placing blame squarely on Nhu. You are authorized to have such statements made in Saigon as you consider desirable to achieve this objective. We are prepared to take same line here and to have Voice of America make statement along lines contained in next numbered telegram whenever you give the word, preferably as soon as possible1 (Reference is to telegram 244 to Saigon, August 24, 9:37 p.m., in which Hilsman provided the Embassy with a guidance for simultaneous play in Washington and Saigon. This guidance and the proposed VOA broadcast were supposed to separate in the public's mind the South Vietnamese Army's press imposition of martial law and the attacks by Tung's Special Forces and the secret police on the pagodas and the large-scale arrests of Buddhist leaders and demonstrators. The guidance pointed out that the secret police and the Special Forces were not under the command of the Armed Forces. (Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET) For text of the VOA guidance as actually broadcast, see Document 287)). Concurrently with above, Ambassador and country team should urgently examine all possible alternative leadership and make detailed plans as to how we might bring about Diem’s replacement if this should become necessary. Assume you will consult with General Harkins re any precautions necessary protect American personnel during crisis period. You will understand that we cannot from Washington give you detailed instructions as to how this operation should proceed, but you will also know we will back you to the hilt on actions you take to achieve our objectives. Needless to say we have held knowledge of this telegram to minimum essential people and assume you will take similar precautions to prevent premature leaks. BALL Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 09 Tháng Chín, 2026, 10:24:02 pm CHIẾN DỊCH TẤN CÔNG CÁC CHÙA, BẮT 1.426 TĂNG NI CƯ SĨ LỜI NGƯỜI DỊCH Sau đây là bức Điện văn số 320 trong Hồ sơ đã giải mật "Foreign Relations of the United States, 1961- 1963" (Hồ Sơ Đối Ngoại Của Hoa Kỳ, 1961-1963) gửi từ Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge về Bộ Ngoại Giao Mỹ. Điện văn gửi từ Sài Gòn ngày 24-8-1963, mấy ngày sau trận tấn công hàng loạt vào các chùa ở Miền Nam VN. MỘT SỐ ĐIỂM GHI NHẬN TỪ ĐIỆN VĂN 320 - Ông Nhu đã biến sức mạnh Quân đội và Mật Vụ làm thế lực riêng cho gia đình họ Ngô: triệt tiêu quyền lực Quân đội bằng cách tách riêng Lực Lượng Đặc Biệt và cảnh sát Dã chiến làm cánh tay để đàn áp Phật tử. - Các Tướng Lãnh Quân đội không biết gì về chiến dịch tấn công các chùa đêm 20 rạng ngày 21- 8-1963, trong đó lính ông Nhu bắt 1426 Tăng Ni Cư Sĩ, trong đó hầu hết là tu sĩ cấp lãnh đạo của Phật giáo. - Ông Nhu đã gài vũ khí, chất nổ vào chùa để vu vạ. - Dân chúng đổ tội cho Quân đội, và sinh viên tự kêu gọi biểu tình. - Quân đội cảm thấy bị tê liệt và có nguy cơ mất khả năng chống Cộng. Ông Nhu đã biến Quân đội, một lực lượng chống Cộng để bảo vệ miền Nam, thành lực lượng riêng bảo vệ gia đình họ Ngô chống lại dân chúng. - Quân đội đã nghĩ tới giải pháp đẩy ông bà Nhu ra ngoài chính phủ, giữ ông Diệm làm Tổng Thống. Bản Việt dịch của Cư sĩ Nguyên Giác. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 08:51:50 pm 274. ĐIỆN VĂN TỪ TÒA ĐẠI SỨ TẠI VIỆT NAM GỬI VỀ BỘ NGOẠI GIAO1 Nguồn: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Hồ Sơ Trung Ương, SOC 14-1 S VIET. Mật; Xử lý tức khắc; Phổ biến hạn chế. Gửi bản sao tới Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ Thái Bình Dương. Hilsman đã trích dẫn điện văn này trong cuốn To Move a Nation, các trang 484-485, như một phần trong phương pháp các tướng lãnh VNCH tiếp cận với các viên chức Mỹ Sài Gòn, 24-8-1963, lúc 6 giờ chiều Điện văn số 320. Gửi đến Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, cho các Cố vấn Chính trị). Sau đây là bản ghi nhớ cuộc nói chuyện giữa Rufus Phillips, Giám đốc Ủy Ban Hoa Kỳ về Phát Triển Nông Thôn, và Tướng Lê Văn Kim vào ngày 23-8. Bắt đầu văn bản: Sau đây là lời Tướng Lê Văn Kim, người hiện giữ chức Phụ tá Quan hệ Cộng đồng cho Tướng Trần Văn Đôn, trong buổi nói chuyện với tôi vào ngày 23-8. Tướng Kim là một bạn thân cũ của tôi và có yêu cầu cuộc nói chuyện này được giữ bí mật. Tướng Kim mở đầu câu chuyện bằng việc cay đắng nói lên rằng Quân Đội hiện giờ hành động như con rối trong tay Cố vấn Nhu, người đã giăng bẫy để quân Đội rơi vào việc ban hành thiết quân luật. Quân Đội, kể cả các tướng Đính và Đôn, không hề biết gì về các kế hoạch tấn công Chùa Xá Lợi và những chùa khác. Điều này được thực hiện bởi Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát dã chiến theo các mật lệnh của Nhu. Nhu hiện đang nắm quyền kiểm soát và Tướng Đôn nhận lệnh trực tiếp từ ông ta. Theo lời Kim, có 1.426 người (Tăng Ni cư sĩ Phật giáo) đã bị bắt giữ. Tất cả chất nổ và vũ khí tìm thấy trong các chùa chỉ là màn dàn cảnh đổ vạ. Hiện nay dân chúng tin rằng Quân Đội phải chịu trách nhiệm về việc đàn áp Phật tử và quay sang chống đối Quân Đội. Trừ phi có sự cải chính và nói rõ sự thật với công chúng, Quân Đội sẽ mất khả năng chiến đấu chống Cộng một cách nghiêm trọng. Tướng Kim nói, các sinh viên của khoa Y và khoa Dược Khoa thuộc Đại học Sài Gòn đã tổ chức biểu tình vào sáng ngày 23-8. Kim cảm thấy những cuộc biểu tình này sẽ lan rộng, và rằng sinh viên sắp chuyển sang bạo động. Nhật lệnh về kiểm soát bạo động biểu tình đã trao cho các cấp chỉ huy Quân Đội VNCH vào sáng ngày 23, và ông hy vọng xung đột bạo lực giữa Quân Đội và sinh viên có thể tránh được. Tuy nhiên, Nhu đã ra lệnh cho Cao Xuân Vỹ (Tổng Giám Đốc Thanh Niên) phải tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ của Lực Lượng Thanh Niên Cộng Hòa với khoảng hơn 500.000 người vào ngày 25-8. Kim tin rằng một cuộc biểu tình lớn như thế, nếu được tổ chức, sẽ có thể dẫn tới bạo động ở mức không hình dung nổi, và do đó phải cố tránh. Ông ngờ rằng Nhu sẽ không chịu lắng nghe bất kỳ lời khuyên trái ý nào về chuyện biểu tình. Tôi hỏi Tướng Kim về việc Quân Đội có đoàn kết hay không. Ong nói, Nhu đã cố ý phân chia quyền chỉ huy giữa Đại Tá Tung, Tướng Đính và Tướng Đôn, và đang đối phó với từng người một cách riêng rẽ. Tướng Đôn (là [trang 614] anh rể của Kim) không có được nhiều sự ủng hộ tự nhiên trong các sĩ quan, nhưng ông cảm thấy là hầu hết các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp khác có thể liên minh quanh Tướng Đôn. Vấn đề then chốt ở đây là lập trường của Mỹ đứng về bên nào. Nếu Mỹ xác định rõ ràng chống lại ông bà Nhu và ủng hộ việc Quân Đội hành động để loại họ ra khỏi chính phủ, thì Quân Đội (chỉ trừ Đại Tá Tung) sẽ đoàn kết để ủng hộ hành động đó và hẳn là có thể thực hiện được. Mặc dù cá nhân ông không thích Diệm, nhưng ông Kim cảm thấy việc giữ lại ông Diệm làm Tổng Thống hẳn là tốt hơn, miễn là toàn bộ ảnh hưởng của gia đình họ Ngô phải được xóa bỏ vĩnh viễn một cách hiệu quả. Ông nói, không chỉ là vấn đề loại trừ ông bà Nhu, mà còn phải loại bỏ hết bè phái tay chân của họ nữa. Cuối cùng, Tướng Kim nói rằng ông và 7 tướng lãnh khác đã bị ép buộc phải ký vào một tuyên thệ trung thành với Tổng Thống Diệm hôm 22-8, với nội dung hoàn toàn ủng hộ những hành động của chính phủ chống lại Phật giáo. Ông nói, Hoa Kỳ nhất thiết đừng để bị lừa dối bởi văn bản đó, vì đại đa số trong Quân Đội cũng như hầu hết các tướng lãnh đã ký tên vào bản tuyên thệ đều không hề chấp nhận việc đàn áp Phật giáo, nhưng lần này họ buộc phải ký tên vào đó hoặc sẽ trở thành đối tượng bị Cố Vấn Nhu xóa sổ từng người một. Ký tên: Lodge Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 08:54:02 pm 274. TELEGRAM FROM THE EMBASSY IN VIETNAM TO THE DEPARTMENT OF STATE1 Source: Department of State, Central Files, SOC 14-1 S VIET. Secret; Operational Immediate; Limit Distribution. Repeated to CINCPAC. Hilsman cites this telegram in To Move a Nation, pp. 484-485, as part of an approach by Vietnamese Generals to American officials Saigon, August 24, 1963, 6 p.m. 320. CINCPAC for POLAD. Following is memorandum of conversation between Rufus Phillips, Director of USOM Rural Affairs, and General Le Van Kim held on August 23: Begin Text: Following are statements made to me by General Le Van Kim, currently acting as Deputy for Public Relations to General Don, during course of a conversation with him on 23 August 1963. General Kim is an old personal friend and asked that this conversation be kept in closest personal confidence. General Kim opened conversation by saying, bitterly, that Army is now acting as puppet of Counselor Nhu, who tricked it into establishing martial law. The Army, including Generals Dinh and Don knew nothing of plans to raid Xa Loi and other pagodas. This was carried out by Colonel Tung’s Special Forces and combat police on Nhu’s secret orders. Nhu is now in control and General Don is taking orders directly from him. According to Kim, 1426 people (Buddhist monks and laymen) have been arrested. All of explosives and arms found in pagodas were planted. Now the population believes the Army was responsible for repression of Buddhists and is turning against Army. Unless this situation is corrected and people are told truth, Army will be seriously handicapped in its fight against Communists. General Kim said students from Faculties of Medicine and Pharmacy had held demonstrations on morning of 23rd. Kim felt these demonstrations were bound to spread, that students were on verge of violence. Riot control briefings had just been given toARVN unit leaders on morning of 23rd and he hoped violence between Army and students could be avoided. However, Nhu had ordered Cao Xuan Vy (Director General of Youth) to organize a massive demonstration of Republican Youth involving over 500,000 people for 25th of August. Kim believes that such a demonstration, if it could be organized, would produce a riot of unimaginable proportions and, therefore, must be avoided. He said he doubted that Nhu would listen to any contrary advice about demonstrations. I asked Kim if the Army was united. He said that Nhu had deliberately split the command between Colonel Tung, General Dinh and General Don and was dealing with each separately. Don (who is [Page 614]his brother-in- law) does not command much natural support among officer corps but most of other Generals and senior officers, he felt, could be rallied around him (Don). Key question was where did US stand. If US took clear stand against Nhus and in support of Army action to remove them from government, the Army (with exception of Colonel Tung) would unite in support of such an action and would be able to carry it out. He felt that retaining President, even though he personally did not like him, would be preferable providing all Ngo family influence could be permanently and effectively eradicated. It was not just a question of getting rid of Nhus, he said, but of also removing their followers from scene. Finally, Kim said that he and seven other general officers had been obliged on 22 August to sign an oath of loyalty to President Diem which fully supported actions taken by government against Buddhists. He said US must not be fooled by this document, that vast majority of Army and most of Generals who signed document, did not approve of repression of Buddhists but had to sign at this time or expose themselves to individual elimination by Counselor Nhu. Lodge Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 08:57:21 pm BẢN PHÚC TRÌNH A/5630 CỦA PHÁI ĐOÀN ĐIỀU TRA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO TẠI NAM VIỆT NAM - NĂM 1963 Nguyễn Minh Tiến Lời dẫn Phúc trình mang số hiệu A/5630 là báo cáo của Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam (Report of the United Nation Fact-Finding Mission to South Viet-Nam) được soạn thảo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, là kết quả của một cuộc điều tra khách quan do Liên Hiệp Quốc tiến hành thông qua việc chỉ định các đại diện từ 7 quốc gia thành viên cùng một số nhân viên chuyên môn để hỗ trợ hoạt động điều tra. Phái đoàn điều tra này đã đến Nam Việt Nam ngày 24-10-1963 và đến sáng ngày 1-11 thì dự kiến sẽ hoàn tất công việc vào cuối ngày 3-11. Tuy nhiên, cuộc chính biến diễn ra trong ngày 1-11 đã làm thay đổi phần cuối kế hoạch, cũng như có thể là nguyên nhân khiến cho Phái đoàn không nhận được những tài liệu quan trọng mà Chính phủ ông Diệm đã hứa sẽ cung cấp. Ngoài ra, để chuẩn bị các phương thức và chương trình hành động sao cho khách quan và hiệu quả, trước đó phái đoàn cũng đã có 4 phiên họp trong thời gian từ ngày 14-10 đến 21-10-1963 tại New York. Bản Phúc trình A/5630, chỉ riêng phần Anh ngữ dài 93 trang khổ lớn, gồm 4 Chương với 191 phân đoạn (paragraphs) và 16 Phụ lục (Annexes), được phái đoàn trình lên Kỳ họp thường niên lần thứ 18 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, là tài liệu quan trọng để Đại Hội Đồng thảo luận và xem xét trong phạm vi Đề mục 77 (Item 77) theo Nghị trình Kỳ họp (Agenda) đã được Đại Hội Đồng thông qua trước đó, với tiêu đề chính là "Vi phạm nhân quyền ở Việt Nam" (The violation of human rights in South Viet-Nam). Trong thực tế, Đại Hội Đồng đã không tiến hành việc thảo luận Đề mục 77 như trong Nghị trình đã định. Lý do đơn giản là vì đối tượng bị cáo buộc vi phạm nhân quyền, tức Chính phủ Ngô Đình Diệm, đã sụp đổ sau cuộc đảo chính của Quân Đội ngày 1-11- 1963. Mặc dù vậy, Phúc trình này đã được chính thức công bố và có thể xem là một văn kiện lịch sử quan trọng, bởi đây là sự ghi nhận khách quan và khoa học của một tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh về những gì Chính phủ Ngô Đình Diệm đã làm tại miền Nam Việt Nam, trong phạm vi liên quan đến cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo Việt Nam. Một số luận điệu bóp méo và nhào nặn lịch sử với ý đồ xuyên tạc sẽ bị vạch trần thông qua chính những ghi nhận trung thực từ Phúc trình này. Bản Phúc trình được thực hiện đúng vào thời điểm căng thẳng nhất của các diễn biến liên quan, khi mà trong tâm tưởng những người chứng kiến vẫn chưa hết sự bàng hoàng, căm phẫn, và khi những dòng máu đỏ trong các chiến dịch đàn áp của Chính phủ Ngô Đình Diệm vẫn còn chưa kịp khô hắn đi trên thân thế những học sinh, sinh viên và tăng ni cư sĩ hoàn toàn vô tội. Một số lớn các vị vẫn còn đang trong vòng tù tội khi Phái đoàn tiến hành cuộc điều tra. Thông qua những nội dung ghi nhận trong bản Phúc trình, chúng ta thấy được tư tưởng và cảm xúc của chính những nhân chứng vào thời điểm ngay trước khi Chính phủ Diệm sụp đổ, và cũng thông qua bản Phúc trình, chúng ta thấy được những biện pháp dối trá mà Chính phủ Diệm đã áp dụng đê cố làm sai lệch kết quả điều tra. Và bất chấp những đề xuất có chủ ý cũng như những cản trở ngầm từ phía Chính phủ Diệm, Phái đoàn Điều tra của Liên Hiệp Quốc đã hết sức khéo léo trong các quyết định hành động của họ, dẫn đến kết quả là một nội dung Phúc trình vô cùng phong phú và đầy đủ cũng như đảm bảo tính chính xác và khách quan. Những lập luận sai lệch nhằm ý đồ "chạy tội" cho Chính phủ Diệm khi cho rằng "không có đàn áp Phật giáo" sẽ hoàn toàn bị phá vỡ khi chúng ta đối chiếu với những nội dung thực tế được ghi lại trong Phúc trình này. Với các ý nghĩa nêu trên, sự xem xét của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về vấn đề này hoàn toàn không cần thiết nữa, bởi không còn bất kỳ biện pháp trừng phạt nào đối với một chế độ có thể xem là nghiêm khắc nặng nề hơn là sự sụp đổ của chính nó. Trong khi đó, tính chất khách quan và trung thực cộng với phương pháp làm việc khéo léo và khoa học mà Phái đoàn điều tra đã áp dụng, tự nó đã là một sự đảm bảo chắc chắn để người đọc bản Phúc trình hoàn toàn có thể tự mình rút ra kết luận. Khi chọn đưa nội dung giới thiệu bản Phúc trình A/5630 vào tuyển tập này, chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp cho độc giả một nguồn tư liệu quý giá và khách quan để hiểu đúng và hiểu rõ về cuộc vận động bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo Việt Nam. Toàn văn Phúc trình bằng Anh ngữ (và 5 ngôn ngữ khác là tiếng Á Rập, tiếng Hoa, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha) có thể tìm đọc trên Internet1 (http://www.un.org/ga/search/viewm_doc.asp?symbol=A/5630). Tuy nhiên, trong phần giới thiệu này, ở một số nội dung quan trọng, chúng tôi sẽ in nghiêng và dẫn kèm theo nguyên tác Anh ngữ. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 09:00:20 pm I. THÔNG TIN SƠ LƯỢC
Biến cố đàn áp Phật giáo tại Đài phát thanh Huế ngày 8-5-1963 làm chết 8 Phật tử có thể xem là "giọt nước tràn ly" làm bùng vỡ và vượt quá giới hạn nhẫn nhục chịu đựng của Phật tử đối với sự bất công của Chính quyền Ngô Đình Diệm từ nhiều năm trước đó. Nhiều cuộc biểu tình và các hình thức phản đối khác nhau đã liên tục diễn ra trên phạm vi toàn miền Nam, mà chủ yếu và sôi động nhất vẫn là ở hai thành phố lớn: Huế và Sài Gòn. Sau cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn vào ngày 11-6-1963 làm rúng động lương tâm nhân loại, chính quyền Ngô Đình Diệm, hay chính xác hơn là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, đã quyết định dùng vũ lực đập tan phong trào đòi bình đẳng tôn giáo của Phật giáo, bất chấp bản Thông cáo chung ngày 16-6-1963 do ủy ban Liên bộ của Chính phủ cùng ký kết với úy ban Liên phái Phật giáo, có chữ ký duyệt khán của chính ông Tổng thống Ngô Đình Diệm, đã cam kết giải quyết thỏa đáng các nguyện vọng chính đáng của Phật giáo. Đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, ông Nhu ra lệnh cho Lực Lượng Đặc Biệt của Đại tá Lê Quang Tung và Cảnh sát Dã chiến tổng tấn công các chùa trên toàn quốc. Chỉ trong mấy giờ đồng hồ thực hiện chiến dịch, chính quyền đã bắt giam 1.426 Tăng Ni và cư sĩ Phật giáo trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam1 (Xem lại trang 140, Điện văn số 320 (Hồ sơ 274) của Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Còn gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 24-8, với lời tự bạch của chính Tướng Lê Văn Kim). Toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo chỉ trong một đêm đã bị khống chế bằng bạo lực, giam cầm và khủng bố. Với những hành vi bất chấp đạo lý cũng như công lý, thách thức lương tri loài người khi sử dụng đến các lực lượng vũ trang tinh nhuệ nhất chỉ để đàn áp, vô cớ bắt giam hàng loạt những con người không có khả năng tự vệ, không có vũ khí trong tay, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tự dựng lên bức tường ngăn cách giữa họ với phần còn lại của nhân loại. Do đó, hàng loạt các hành động phản đối đã liên tục diễn ra ở cả trong và ngoài nước. Đặc biệt, trong số những người công khai phản đối mạnh mẽ nhất có cả thân phụ và thân mẫu của bà Nhu là Luật sư Trần Văn Chương (Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ) và bà Thân Thị Nam Trân (Quan sát viên thường trực của Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hiệp Quốc). Những tin tức không tốt đẹp về sự đàn áp Phật giáo của chính quyền ông Diệm đã lan truyền nhanh chóng ra khắp thế giới, nhất là sau khi những bức ảnh cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức được công bố trên báo chí. Vào ngày 4-9-1963, đại diện của 14 nước thành viên Liên Hiệp Quốc bao gồm Afghanistan, Algeria, Cambodia, Ceylon, Guyana, India, Indonesia, Mông cổ, Nigeria, Pakistan, Rwanda, Sierra Leone, Somalia, Trinidad and Tobago (sau đó có thêm hai nước khác nữa là Mali và Nepal) đã cùng gửi một Thỉnh nguyện thư lên Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, yêu cầu đưa thêm vào Nghị trình Kỳ họp thường niên thứ 18 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc một nội dung thảo luận với tiêu đề "Sự vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam" (The violation of human rights in South Viet-Nam). Thình nguyện thư này mang số A/5489, được gửi đến cho tất cả các nước thành viên Liên Hiệp Quốc vào ngày 9-9-1963. Một văn bản giải thích về việc này cũng được chuyển đến tất cả các nước thành viên vào ngày 13-9-1963, sau đó đưa vào thành Phụ lục số 1 của Thình nguyện thư nói trên (A/5489/Add.1). Thỉnh nguyện thư A/5489 đưa ra các cáo buộc cụ thể về sự vi phạm nhân quyền của chính phủ Ngô Đình Diệm, trong đó các sự kiện quan trọng vừa diễn ra tại Việt Nam đều được đề cập đến. Về biến cố ngày 5-1963 và hệ quả sau đó, thỉnh nguyện thư nêu rõ: "Nine persons were killed when troops fired on the orders of the Government on the participants. This incident resulted in a request for redress of grievances and the acceptance of responsibility for the killings by the Government. Neither was done, resulting in an increased demand for remedial action. The intensity of feeling against the injustices done by the Government was such that five monks and a nun immolated themselves - a course of action unusual to the followers of the faith." "Chín người đã bị thiệt mạng khi quân Đội nổ súng vào đám đông theo lệnh của Chính phủ. Sự cố này đòi hỏi phải có sự giải quyết thỏa đáng và nhận trách nhiệm về hành vi dẫn đến chết người của Chính phủ. Nhưng cả hai đòi hỏi này đều không được giải quyết thỏa đáng, kết quả là càng tăng thêm sự phản kháng đòi hỏi phải có hành động khắc phục hậu quả. Sự phản đối những bất công của Chính phủ đã gia tăng đến mức độ có 5 tăng sĩ và một sư cô đã tự thiêu - vốn là một động thái ứng xử không bình thường đối với các tín đồ Phật giáo." Và cuộc tấn công thô bạo vào các chùa trên khắp phạm vi miền Nam Việt Nam vào đêm 20-8-1963 cũng được ghi nhận chính xác và cụ thể trong bức thỉnh nguyện thư: "The appeal for justice from their subjects was met by threats and ridicule and was followed by an attack, a little after midnight on Tuesday, 20 August 1963, on the venerated Xa-Loi Pagoda, the chief shrine in Saigon of the majority faith. Hordes of armed police equipped with machine-guns and carbines entered the precincts of the pagoda and carried away hundreds of monks and nuns to prisons, after inflicting injury on them. This action was repeated in the early hours of the same day in a number of other pagodas throughout the country. At least 1,000 monks are estimated to be incarcerated at present. The death toll is not known." "Sự đòi hỏi công bằng của các công dân [Việt Nam] được đáp lại bằng sự đe dọa và thô bạo, tiếp theo là một cuộc tấn công vào chùa Xá Lợi, ngôi chùa tôn nghiêm nhất Sài Gòn, lúc vừa quá nửa đêm ngày thứ Ba, 20 tháng 8, 1963. Nhiều toán cảnh sát trang bị súng máy và súng trường đã xâm nhập khuôn viên chùa và bắt đi hàng trăm tăng ni, đưa vào các nhà tù sau khi đã gây thương tích cho họ. Hành động này cũng được thực hiện cùng lúc ở nhiều ngôi chùa khác trong cả nước. Hiện nay, ước tính ít nhất đã có đến 1.000 nhà sư bị bắt giam. Số người chết vẫn chưa được rõ." Cuộc biểu tình của sinh viên học sinh và phản ứng đàn áp của Chính phủ ông Diệm cũng được ghi nhận: "Students of Saigon University demonstrating against these arbitrary actions of the Government were arrested by the hundreds on Sunday, 25 August 1963." "Các sinh viên trường Đại học Sài Gòn đã biểu tình phản đối những hành vi độc đoán của Chính phủ và bị bắt giam lên đến nhiều trăm người vào ngày Chủ nhật, 25-8-1963." Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 09:02:02 pm Trước những cáo buộc cụ thể và rõ ràng như thế, tại cuộc họp lần thứ 153 của ủy ban Thường trực (General Committee) Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc vào ngày 18-9-1963, ủy ban đã quyết định đề nghị Đại Hội Đồng đưa Đề mục số 77 vào Nghị trình Kỳ họp thường niên lần thứ 18 với tiêu đề là "Sự vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam" (The violation of human rights in South Viet-Nam).
Đáp lại những cáo buộc của các nước thành viên Liên Hiệp Quốc, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thể im lặng. Vào ngày 4-10-1963, họ đã gửi thư lên Đại Hội Đồng, mời đại diện các nước thành viên Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam để tìm hiểu sự thật. Bằng cách này, Chính phủ ông Diệm đã quyết định "tiên hạ thủ vi cường" để chứng tỏ mình "trong sạch". Hẳn ông đã phải rất tự tin với các chiêu thức để che đậy những việc đã làm, mà trong số đó thì việc kiểm soát chặt các thành phần chính phủ để họ nói theo ý ông cũng như chuẩn bị các nhân chứng giả là điều chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra qua thực tế. Tại phiên họp thứ 1232 vào ngày 7-10-1963, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã chấp thuận đề nghị của Ủy ban Thường trực, đưa Đề mục 77 vào Nghị trình Kỳ họp Thường niên lần thứ 181 (Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc họp thường niên mỗi năm một lần kể từ năm 1945. Kỳ họp thường niên năm 1963 là lần thứ 18). Đại diện của Costa Rica, mặc dù không ký tên trong Thỉnh nguyện thư trước đó, nhưng đã đề xuất trước Đại Hội Đồng là nên chấp nhận lời mời của Việt Nam Cộng Hòa để "có sự khảo sát hết sức nghiêm túc và cẩn trọng về tất cả những dữ kiện có thể thu thập được" (very serious and careful examination of all the available facts). Trong phiên họp khoáng đại lần thứ 1234 của Đại Hội Đồng, vị Chủ tịch đã công bố việc chỉ định đại diện của 7 nước thành viên để thành lập một Phái đoàn điều tra, bao gồm: Afghanistan, Brazil, Ceylon, Costa Rica, Dahomey, Morocco và Nepal. Đại diện của Afghanistan là ông Abdul Rahman Pazhwak sẽ giữ cương vị Trưởng đoàn. Đáng chú ý là Chủ tịch Đại Hội Đồng đã xác định nhiệm vụ của phái đoàn một cách cụ thể hơn, đó là "đến Việt Nam Cộng Hòa để tìm hiểu sự thật về tình trạng thực tế ở nước này trong phạm vi mối quan hệ giữa Chính phủ và cộng đồng Phật tử Việt Nam" (to visit the Republic of Viêt-Nam so as to ascertain the facts of the situation in that country as regards relations between the Government of the Republic ofViet-Nam and the Viet-Namese Buddhist community). Như vậy, mục tiêu điều tra về vi phạm nhân quyền đã được khoanh vùng một cách cụ thể hơn là những vi phạm nhắm vào Phật giáo. Hơn thế nữa, Đại Hội Đồng cũng thúc giục "phái đoàn phải lên đường càng sớm càng tốt để có thể kịp báo cáo kết quả lên Kỳ họp thường niên đang diễn ra" (The mission will have to leave as soon as possible so that its report can be submitted to the General Assembly at the present session.) Kỳ họp thường niên của Đại Hội Đồng khai mạc từ tháng 9 và thường sẽ kéo dài đến giữa tháng 12. Vì thế, Đại Hội Đồng đã quyết định sẽ xem xét và cho ý kiến về sự việc này ngay trong Kỳ họp thường niên của năm 1963. Về các thành viên, Chủ tịch Đại Hội Đồng đã đích thân chỉ định 7 quốc gia và Chính phủ của mỗi quốc gia tự đề cử người đại diện tham gia. Ngoài ra, Đại Hội Đồng cũng cử thêm một số thành viên chuyên môn để đảm bảo hiệu quả hoạt động tốt nhất cho phái đoàn, bao gồm một Chánh thư ký (John P. Humphrey) và hai phụ tá (Ilhan Lutem phụ trách điều hành và Alain L. Dan-geard phụ trách tài chánh), một Tùy viên Báo chí (Valieri J. G. Stavridì). Cơ quan thường trực của Ủy ban Kinh tế Á châu và Viễn Đông thuộc Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan đã cung cấp một trợ lý phụ trách thông dịch Anh-Việt (ông The Pha Thay Vilai-hongs) và một người thông dịch Anh-Pháp (cô G. Bazinet). Kinh phí dành cho phái đoàn là khoảng 33.600 đô-la Mỹ, do Liên Hiệp Quốc đài thọ. Tại New York, từ ngày 14 đến ngày 21 tháng 10 năm 1963, Phái đoàn Điều tra này đã tổ chức 4 cuộc họp chuẩn bị trước khi lên đường, để xác định các nguyên tắc làm việc cũng như phác thảo ra kế hoạch hành động. Những chuẩn bị này đã được các thành viên trong đoàn thảo luận kỹ lưỡng và đi đến thống nhất. Mục đích chính cũng được xác định một cách chi tiết và cụ thể tại Nguyên tắc số 12 trong các nguyên tắc đã được Phái đoàn thông qua: "Phái đoàn này là một tổ chức chuyên trách điều tra, được thành lập tìm hiểu sự thật về tình trạng thực tế liên quan đến các cáo buộc vi phạm nhân quyền của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong mối quan hệ giữa Chính phủ này với cộng đồng Phật tử tại Việt Nam." ("The Mission is an ad hoc fact-finding body and has been established to ascertain the facts of the situation as regards the alleged violations of human rights by the Government of the Republic of VietNam in its relations with the Buddhist community of that country.") Nhằm đảm bảo tính trung thực cho hoạt động thu thập thông tin, Phái đoàn đã thảo luận với Chủ tịch Đại Hội Đồng và quyết định giữ kín các nguyên tắc làm việc cũng như kế hoạch hành động. Tuy nhiên, mục đích khái quát sẽ được Chủ tịch Đại Hội Đồng truyền đạt đến đại diện của Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hiệp Quốc, để bảo đảm Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nhận thức đầy đủ về điều này. Về tiêu chí điều tra, căn cứ vào các cáo buộc đã nhận được, Phái đoàn đã vạch ra những tiêu chí, văn bản pháp lý cần dựa vào để làm căn cứ kết luận về vi phạm nhân quyền. Trong bản Phúc trình, các đoạn văn từ 66 đến 71 đã được dành trọn để nêu rõ các văn bản pháp lý và điều khoản liên quan. Trong số đó, các văn bản sau đây được nhấn mạnh: - Bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc (Charter of the United Nations), ban hành ngày 26-6-1945. - Bản Tuyên ngồn Quốc tế về Nhân quyền (the Universal Declaration of Human Rights), ban hành ngày 10-12-1948. - Nghị quyết số 1779 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, ban hành ngày 7-12-1962. Bản Phúc trình trích dẫn Điều 1, khoản 3 trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, nhấn mạnh sự "tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo" (respect for human rights and for fundamental freedoms for all without distinction as to race, sex, language, or religion). Và trích dẫn nguyên văn Điều 18 trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền nói rằng: "Everyone has the right to freedom of thought, conscience and religion; this right includes freedom to change his religion or belief, and freedom either alone or in community with others and in public or private, to manifest his religion or belief in teaching, practice, worship and observance "Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tri và tín ngưỡng, bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc niềm tin, và tự do bày tỏ tôn giáo hoặc niềm tin của mình bằng các hình thức như thuyết giảng, thực hành, thờ cúng và thực hiện nghi lễ, dù chỉ riêng một mình hay cùng chung với cộng đồng, tại những nơi công cộng hoặc riêng tư. " Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 09:03:34 pm Về ý nghĩa của cuộc điều tra, Phái đoàn nêu căn cứ ở Điều 13, Đoạn 1, phần b của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và trích dẫn nguyên văn:
1. The General Assembly shall initiate studies and make recommendations for the purpose of: a. ... b. promoting international co-operation in the economic, social, cultural, educational, and health fields, and assisting in the realization of human rights and fundamental freedoms for all without distinction as to race, sex, language, or religion. 1. Đại Hội Đồng [Liên Hiệp Quốc] có quyền tiến hành nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị cho các mục đích: a. ... b. Thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế và hỗ trợ trong việc thực hiện các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo. Các văn bản khác cũng được trích dẫn từng phần để nhấn mạnh và làm rõ các yêu cầu của cuộc điều tra. Đặc biệt, trong Phúc trình còn "đề nghị tham chiếu đến các điều số 2, 9, 20, 21, 29 và 30 của Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền" (Reference should also be made to articles 2, 9, 20, 21,29 and 30 of the Universal Declaration). Sau quá trình chuẩn bị thận trọng, Phái đoàn chính thức lên đường ngày 21 và đến Phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 0 giờ 30 sáng ngày 24-10. Phía Chính phủ Việt Nam Cộng hòa có ông Phạm Đăng Lâm và các quan chức Bộ Ngoại giao ra đón. Trả lời phóng viên báo chí Việt Nam và quốc tế ngay khi đến phi trường, vị Trưởng đoàn đã xác định rằng "mục đích của phái đoàn là tiến hành những cuộc điều tra tại chỗ, lắng nghe các nhân chứng và tiếp nhận các thỉnh nguyện’ (its intention to carry out on-the-spot investigations, to hear witnesses and to receive petitions). Phái đoàn về đến chỗ nghỉ là khách sạn Majestic lúc 2 giờ sáng cùng ngày và vị Trưởng đoàn ngay lập tức mở cuộc họp để xem xét đề nghị của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về chương trình làm việc của Phái đoàn. Theo đề nghị này, Phái đoàn sẽ ở lại Sài Gòn 3 ngày, sau đó đi Vũng Tàu thăm một ngôi chùa "và tiếp tục đi Đà Lạt để viếng một số chùa, cùng với các cơ sở giáo dục và các trung tâm du lịch" (... then to Dalat where visits of pagodas, as well as educational establishments and tourist centres). Trong chương trình cũng dự kiến Phái đoàn sẽ đến thăm Huế, Phan Rang, Phan Thiết, Ba Xuyên1 (Tỉnh Ba Xuyên cũ ngày nay gần như trùng khớp với địa phận tỉnh Sóc Trăng), Vĩnh Bình, và tất nhiên "củng bao gồm trong chương trình việc viếng thăm các chùa cùng với một số địa điểm du lịch" (also included in the programme with visits to pagodas and some tourist places). Ý đồ đánh lạc hướng điều tra của Chính phủ Diệm gần như đã lộ rõ trong chương trình do họ đề xuất. Do đó, sau khi xem xét, phái đoàn chỉ chấp nhận duy nhất đề xuất của ngày đầu tiên, 24-10, bao gồm việc viếng thăm mang tính nghi thức đến Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ, sau đó là nói chuyện ở Bộ Nội vụ về vấn đề Phật giáo Việt Nam, hội đàm với Tổng thống Ngô Đình Diệm và cuối cùng ăn tối ở Bộ Nội Vụ. Về tất cả những ngày còn lại trong chương trình do Chính phủ Việt Nam đề xuất, Phái đoàn trả lời là cần có thêm thời gian để cân nhắc trước khi chấp nhận. Chính phủ Việt Nam cũng ngay lập tức đề xuất chi trả mọi chi phí ăn ở và đi lại cho Phái đoàn trong suốt thời gian lưu trú tại Việt Nam, và đề nghị tiếp một bữa tiệc chiêu đãi khác ở Bộ Ngoại giao vào buổi tối hôm sau, 25-10. Phái đoàn đã từ chối đề nghị của Chính phủ Việt Nam và nói rằng họ sẽ tự lo mọi chi phí. Phía Việt Nam sau đó nêu lý do an ninh để đề nghị Phái đoàn sử dụng phương tiện đi lại do họ cung cấp. Cuối cùng, Phái đoàn đồng ý với đề nghị này nhưng yêu cầu chỉ sử dụng một lá cờ của Liên Hiệp Quốc kèm theo cờ Việt Nam ở xe hơi đi đầu, thay vì cắm cờ của các nước thành viên tham gia trong phái đoàn như bố trí của phía Việt Nam khi đón đoàn tại sân bay. Khi giải thích về quyết định này, vị Trưởng đoàn nhấn mạnh rằng họ đến Việt Nam với tư cách đại diện cho Liên Hiệp Quốc chứ không phải với tư cách đại diện cho quốc gia của họ. Trong buổi họp ngày 24-10, phái đoàn tiếp tục xem xét bản chương trình đề xuất của Việt Nam và chấp nhận các đề xuất cho 2 ngày tiếp theo sau đó, 25 và 26 tháng 10, trong đó bao gồm một buổi nói chuyện với Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, một cuộc hội kiến Cố vấn Ngô Đình Nhu, và sau đó là viếng thăm ngôi chùa tại Sài Gòn để tiếp xúc trực tiếp với nhiều tổ chức Phật giáo. Riêng về bữa tiệc chiêu đãi tối 25- 10 ở Bộ Ngoại Giao, Phái đoàn đã khéo léo từ chối và đề nghị hoãn lại cho đến ngày cuối cùng khi Phái đoàn hoàn tất công việc và sắp rời Việt Nam. Phái đoàn cũng chấp nhận lời mời đến xem một cuộc diễu binh nhân ngày Quốc khánh 26-10 của Việt Nam Cộng Hòa1 (Ngày ban hành Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa được chọn làm ngày Quốc khánh). Tuy nhiên, Phái đoàn đã yêu cầu phía Chính phủ phải bảo đảm là trong bất kỳ diễn văn, phát biểu nào tại buổi lễ cũng không được đề cập đến sự hiện diện của Phái đoàn. Phái đoàn cũng thông báo với Chính phủ rằng họ muốn hạn chế đến mức ít nhất các sự kiện mang tính xã hội và sẽ không tham dự các hoạt động du lịch đơn thuần chỉ để giải trí. Phái đoàn cũng nói rõ rằng, khi tiếp xúc với các thành viên Chính phủ trong 2 ngày đầu theo đề xuất của phía Việt Nam, phái đoàn sẽ chủ động về các nội dung và phương thức trao đổi, thảo luận nhằm phục vụ cho mục đích điều tra. Phái đoàn cũng báo cho Chính phủ Việt Nam biết là họ sẽ tự quyết định chương trình làm việc trong những ngày sau đó. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 09:08:20 pm II. TIẾN TRÌNH ĐIỀU TRA
Trước khi phái đoàn chính thức tiến hành các hoạt động tiếp xúc, điều tra, Chính phủ ông Diệm đã nhiều lần "hứa sẽ làm tất cả mọi việc để tạo sự dễ dàng cho nhiệm vụ điều tra sự thật của phái đoàn" (promised to do everything to facilitate the Mission’s task of finding the facts). Tuy nhiên, ngay hôm sau đó (25-10-1963), khi phái đoàn tiến hành việc thăm viếng các chùa Xá Lợi, Ân Quang và Giác Lâm theo lịch trình do chính phía Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đề xuất thì thực tế đã cho thấy điều ngược lại. Theo lịch trình, chuyến thăm chùa Ân Quang "ban đầu được sắp xếp sớm hơn vào buổi chiều, nhưng phía Việt Nam đã hoãn lại, tự thay đổi thời biểu mà không hề hỏi ý Phái đoàn" (originally arranged for earlier in the afternoon, was delayed by the Government which had changed the schedule without consulting the Mission). Tệ hơn nữa, "vào phút cuối thì chuyến thăm chùa Ân Quang đã bị hủy bỏ" (At the last minute the visit to the An-QuangPagoda was cancelled) và khi phái đoàn yêu cầu một lời giải thích chính thức về sự thay đổi này, phía Việt Nam đã nói rằng do Sư cô Diệu Huệ và Hòa thượng Thích Tịnh Khiết "bị mệt vào chiều hôm đó" (were tired in the late afternoon). Tuy nhiên, sau đó thì phái đoàn đã tìm hiểu được rằng trong thực tế Sư cô Diệu Huệ và Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đã chờ suốt buổi chiều hôm ấy để tiếp đón phái đoàn. Sự dối trá này quả thật là một khởi đầu không mấy tốt đẹp cho hình ảnh của Chính phủ ông Diệm. Sau đó, Phái đoàn cũng nhận được thông tin từ chùa Ân Quang đoan chắc rằng phái đoàn có thể đến thăm chùa bất kỳ lúc nào, tốt hơn là vào buổi sáng, và cả hai người (Sư cô Diệu Huệ và Hòa thượng Thích Tịnh Khiết) sẽ có mặt ở chùa. (the Mission was assured that it could visit the pagoda at any time, preferably in the morning, and that these two personalities would be there). Từ thực tế này, ngày 26-10-1963, Phái đoàn đã gửi đến Chính phủ một văn bản nói rõ dự trù chương trình sắp đến của Phái đoàn, trong đó có những điểm đáng lưu ý là: - Hủy bỏ toàn bộ các hoạt động do Chính phủ đề xuất trong 3 ngày 27, 28 và 29 tháng 10. Thay vào đó, Phái đoàn sẽ tùy ý đến thăm các trại giam thanh thiếu niên, các vị tăng sĩ còn bị giam trong tù, đồng thời tự đến viếng thăm chùa Ấn Quang. - Phái đoàn sẽ đến Huế vào ngày 30-10-1963 như chương trình đề xuất của Chính phủ, nhưng sẽ dành thời gian viếng thăm chùa Từ Đàm cùng một số chùa khác sau khi tiếp xúc với các đại diện của chính quyền tại Huế. Phái đoàn cũng sẽ tiếp xúc, phỏng vấn trực tiếp một số nhân chứng tại Huế nhưng danh sách những người này sẽ gửi đến Chính phủ sau. - Phái đoàn quyết định hủy bỏ tất cả các sự kiện có tính giao tiếp xã hội và các đề xuất du lịch ở Huế. Những ngày còn lại trong tuần sẽ được dành trọn để lắng nghe các nhân chứng. Phái đoàn cũng cho biết là họ hy vọng có thể hoàn tất nhiệm vụ và rời khỏi Việt Nam trước ngày thứ Hai, 4-11-1963. Điều tất nhiên là Chính phủ trả lời đồng ý với các dự tính và quyết định của Phái đoàn. Tuy nhiên, Chính phủ cũng đề nghị thêm là phái đoàn nên viếng thăm tỉnh Vĩnh Bình, nơi có nhiều Phật tử gốc Khmer. Phái đoàn trả lời là tạm thời chưa quyết định việc này. Ngay trong buổi chiều ngày 26-10, Phái đoàn chính thức đưa ra một thông cáo báo chí, mời gọi tất cả những ai quan tâm đến nội dung điều tra của Phái đoàn đều có thể đến gặp họ để trình bày trực tiếp hoặc trao các kiến nghị, thỉnh nguyện. Các thành viên cùng đồng ý là thông cáo này sẽ cùng lúc đưa ra cho giới báo chí địa phương cũng như quốc tế, đồng thời gửi đến Bộ Ngoại giao VNCH kèm theo một ghi chú bên ngoài cho biết là thông cáo này đã được phổ biến. Phái đoàn đã thực hiện việc này trong phạm vi chức năng của mình và muốn có được sự hợp tác từ Chính phủ trong việc phổ biến rộng ra công chúng. Mặc dù vậy, sau khi nhận được thông tin này từ phái đoàn, "đại diện Chính phủ tỏ ra ngạc nhiên và thất vọng" (the Government’s representative expressed surprise and disappointment) vì việc này đã được thực hiện mà "không có sự tham khảo trước ý kiến của Chính phủ" (without prior consultation with the Government). Đại diện Chính phủ cũng nói thêm rằng, lẽ ra trong thông cáo phải nhắc đến việc Chính phủ VNCH đã chủ động mời phái đoàn của Liên Hiệp Quốc đến. Sau khi thảo luận về việc này, Phái đoàn tuyên bố họ không phản đối việc đưa thêm các thông tin như thế vào khi phổ biến, miễn là phần nội dung chính của bản thông cáo phải được đặt trong ngoặc trích hoàn toàn chính xác như đã được Phái đoàn đưa ra. Bản thông cáo này sau đó đã xuất hiện trên cơ quan truyền thông chính thức của Chính phủ Việt Nam, bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Báo chí địa phương cũng đăng tải lại toàn văn bằng tiếng Anh và tiếng Pháp một ngày sau đó. Trên một vài tờ báo địa phương, Phái đoàn cũng xác nhận bản thông cáo đã được loan tải bằng tiếng Việt. Mặc dù có cáo buộc từ một số nguồn tin quốc tế rằng bản thông cáo không được loan tải đầy đủ trên các báo tiếng Việt, nhưng Phái đoàn đã không có đủ điều kiện để khảo sát một cách hệ thống về điều này, và vẫn cảm thấy đã nhận được sự hợp tác hợp lý từ giới truyền thông địa phương trong việc thông tin đến với công chúng, để những ai muốn làm nhân chứng hay đệ trình thỉnh nguyện đều được biết. Sau đó, Phái đoàn đã soạn thảo một danh sách các nhân chứng mà họ muốn phỏng vấn, sử dụng tất cả những nguồn thông tin có được nhưng hoàn toàn không tham khảo gì từ phía Chính phủ VNCH, rồi chuyển danh sách này đến cho Chính phủ vào ngày 27-10-1963. Sau đó còn có thêm 2 bản danh sách nữa tiếp tục được chuyển đến Chính phủ1 (Nội dung này được ghi nhận trong phụ lục VII của Phúc trình). Trong ngày 28-10-1963, phái đoàn cũng chuyển đến cho Chính phủ một bản liệt kê các cáo buộc đối với Chính phủ mà phái đoàn quan tâm và muốn có được những câu trả lời hay giải thích từ phía Chính phủ. Một bản cáo buộc thứ hai dựa trên các thông tin mà phái đoàn nhận được tại Việt Nam được tiếp tục chuyển đến cho Chính phủ vào ngày 31-10-19632 (Nội dung này được ghi nhận trong phụ lục VIII của Phúc trình). Ngày 28-10-1963, phái đoàn nhận được một văn thư từ phía Chính phủ, hồi đáp về danh sách các nhân chứng cũng như bản liệt kê các cáo buộc mà Chính phủ đã nhận được. Điểm đáng chú ý là trong nội dung văn thư có đoạn nêu rõ: "Những thông tin cáo buộc Chính phủ" (communication of charges made against the Government) cần phải được chuyển đến cho Chính phủ để "so sánh với những dữ kiện và chứng cứ mà Chính phủ Việt Nam có quyền trưng dẫn" (compare them with the facts and evidence which the Viet-Namese Government is entitled to present). Nội dung văn thư này nhấn mạnh: ‘Nếu không thì những cáo buộc hay chứng cứ được đưa ra đó sẽ không có giá trị gì cả." (Otherwise these allegations or testimonies would have no validity whatsoever.) Bằng lập luận này, rõ ràng Chính phủ ông Diệm từ một đối tượng của cuộc điều tra đã muốn tham gia vào ngay cả tiến trình điều tra đó với tư cách của một thành viên có quyền thay đổi kết quả. Trong buổi làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao ngày 10-19631 (Nội dung buổi làm việc được ghi nhận trong Phụ lục X của Phúc trình), vị Trưởng đoàn Điều tra đã hết sức khéo léo khi trả lời về điểm này. Ông nói, tất cả các cáo buộc sẽ được chuyển đến cho Chính phủ, "nhưng sẽ không có thông tin về nguồn cáo buộc" (would not, however, contain any references to the sources from which the accusations came), nghĩa là về những ai đã đưa ra các cáo buộc đó. Vị Trưởng đoàn cũng nhấn mạnh, "phái đoàn mong muốn tìm ra sự thật và phải tự mình tiếp cận với mọi quan điểm" (the Mission wanted to find the facts and had to acquaint itself with all points of view). Về danh sách các nhân chứng mà Phái đoàn muốn gặp để phỏng vấn, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH nói rằng: "Chính phủ không thể ép buộc các nhân chứng đến gặp Phái đoàn, nhưng sẵn sàng mời những người ấy đến gặp nếu họ muốn. " (The Government was in no position to force them to appear before the Mission, but it offered to invite them to do so if they wished.) Đáp lại điểm này, vị Trưởng đoàn đồng ý rằng không nên ép buộc bất kỳ nhân chứng nào. Tuy nhiên, nếu một nhân chứng nào đó không đến gặp phái đoàn sau khi Chính phủ đã có lời mời, thì "Phái đoàn có thể sẽ cố tìm cách đến gặp họ để xác nhận việc họ không muốn làm nhân chứng". (The Mission would try to get in touch with them and obtain confirmation of their desire not to testify). Cuối cùng, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH truyền đạt rằng Chính phủ VNCH sẽ không đáp ứng đối với một số nhân chứng "được xem là đối lập chính trị" (considered as political opponents). Như vậy, từ ngày 24-10 đến 28-10-1963, Phái đoàn điều tra đã xác lập rõ ràng phương thức làm việc độc lập, khách quan, né tránh được mọi tác động từ phía Chính phủ VNCH. Phái đoàn cũng đã chuẩn bị xong danh sách các nhân chứng cần phỏng vấn và hệ thống tất cả các cáo buộc đã nhận được từ nhiều nguồn khác nhau. Ngày 27-10, Phái đoàn tự tìm đến chùa Ân Quang để tiếp xúc và phỏng vấn một số các vị lãnh đạo Phật giáo tại đó. Bất chấp sự ngăn trở cố ý của Chính phủ như vào ngày 25-10, Phái đoàn cuối cùng cũng đã tìm gặp được những nhân vật quan trọng mà họ cần gặp. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 09:10:41 pm Ngày 28-10-1963, Phái đoàn đến gặp và phỏng vấn 17 sinh viên đang bị tạm giam ở Trại Lê Văn Duyệt, thông qua sự chọn lựa ngẫu nhiên giữa tất cả những sinh viên họ được gặp.
Ngày 29-10, các cuộc phỏng vấn được thực hiện ở trại giam của Trung tâm Thẩm vấn Nha Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, nơi có nhiều vị tăng sĩ mà phái đoàn muốn phỏng vấn hiện vẫn còn bị giam giữ. Thời gian còn lại trong ngày, Phái đoàn đã tiếp đón và phỏng vấn 3 nhân chứng tại khách sạn Majestic, nơi phái đoàn đang tạm trú. Hai người trong số này tự nguyện tìm đến và người thứ ba đã nhận lời mời từ Chính phủ chuyển đến theo yêu cầu của Phái đoàn. Cũng trong ngày 29-10, Phái đoàn ra thông cáo báo chí nhắc lại lời mời gọi những người quan tâm hãy tìm đến để cung cấp thông tin cho phái đoàn. Phái đoàn cũng thông tin đến báo chí về chương trình làm việc chi tiết tại Việt Nam. Căn cứ vào khối lượng công việc cần xử lý tại Sài Gòn, Phái đoàn đã quyết định vào ngày 30-10-1963 chỉ cử 3 thành viên ra Huế, các thành viên còn lại tiếp tục công việc tại Sài Gòn. Trong ngày này, Phái đoàn đã phỏng vấn một số thành viên Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ, Phủ Tổng Thống và Bộ Quốc Phòng, với tư cách họ là những thành viên của ủy ban Liên bộ trong cuộc đàm phán với ủy ban Liên phái của Phật giáo. Cũng trong ngày 30-10, Phái đoàn phỏng vấn 2 nhân chứng khác, một người do Phái đoàn mời và một người tự nguyện tìm đến. Sáng ngày 31-10, Phái đoàn tiếp tục phỏng vấn thêm 2 nhân chứng khác trước khi các thành viên ở Huế quay về. Về chuyến đi Huế, các thành viên đã tiếp xúc với đại diện Chính phủ tại miền Trung, Tư lệnh Quân đoàn 1, các quan chức đầu ngành của Chính quyền Tỉnh, Hiệu trưởng và Khoa trưởng trường Đại học. Sau khi nghe trình bày sơ lược về vấn đề Phật giáo, Phái đoàn đã chủ động đặt câu hỏi với cá nhân các vị này. Tiếp đó, Phái đoàn yêu cầu được tiếp xúc với các nhân chứng đã được nêu tên trong danh sách gửi đến Bộ Ngoại giao trước đó. Tuy nhiên, các viên chức Chính phủ cho biết trong số này có một nhân chứng được xem là "đối lập chính trị" và vì thế không được phép tiếp xúc với Phái đoàn. Khi viếng thăm chùa Từ Đàm, Phái đoàn đã phỏng vấn 3 tăng sĩ và 1 sư cô, là những người đã được nêu tên trong danh sách trước đó. Ngoài ra còn có một vị tăng sĩ tự nguyện đến gặp. Khi về nghỉ tại khách sạn, Phái đoàn gặp và phỏng vấn tiếp nhân chứng thứ 5 trong danh sách, là một tăng sĩ. Có ba nhân chứng khác đã chuẩn bị thỉnh nguyện thư trình lên Phái đoàn và cũng được phỏng vấn. Sau đó, Phái đoàn tiếp tục phỏng vấn thêm 2 nhân chứng khác có tên trong danh sách yêu cầu. Phái đoàn trở về Sài Gòn bằng máy bay vào sáng ngày 31-10-1963 với tiền vé do họ tự chi trả. Cũng trong ngày 31-10, Phái đoàn viếng thăm Bộ Ngoại giao và lặp lại đề nghị phỏng vấn Thượng tọa Thích Trí Quang, mặc dù trước đó Chính phủ Việt Nam đã từ chối. Phản ứng của Bộ Ngoại giao là vẫn giữ nguyên quan điểm, rằng Phái đoàn không thể tiếp xúc với một người đang ở tình trạng "tỵ nạn" trong Tòa Đại sứ Mỹ. Cách "duy nhất để cuộc tiếp xúc có thể tiến hành là Thượng tọa Thích Trí Quang phải được giao cho phía Chính phủ Việt Nam" (it could only agree to such contact if the monk was delivered to the authorities). Tuy nhiên, phía Mỹ không chấp nhận. Một số người đã liên lạc với phái đoàn qua điện thoại và trình bày rằng họ không dám đến khách sạn Majestic để gặp phái đoàn, bởi có nhiều cảnh sát thường xuyên canh giữ ở đó. Phái đoàn đã đề nghị họ có thể gửi các cáo buộc qua thư. Trong thực tế, phái đoàn đã nhận được rất nhiều cáo buộc được gửi qua đường bưu điện. Một nhân chứng đề nghị được gặp người của phái đoàn và cho điểm hẹn tại một nhà hàng. Phái đoàn đã cử một thành viên đến gặp đúng hẹn nhưng không hiểu lý do vì sao người này đã không đến. về trường hợp của Thượng tọa Thích Trí Quang, phái đoàn đã quyết định ghi nhận thái độ của Chính phủ Việt Nam và không làm gì thêm nữa. Một điều đáng chú ý là vào hôm 29-10-1963, Bộ Nội vụ Việt Nam thông báo với phái đoàn rằng có 10 vị sư đã lên kế hoạch tự thiêu trong thời gian phái đoàn hiện diện tại Việt Nam. Trong thực tế, có một người đã tự thiêu trong ngày 27-10-1963, 5 người khác đã bị Chính phủ phát hiện và bắt giữ trước khi họ thực hiện việc tự thiêu. Phái đoàn yêu cầu được gặp 5 người bị bắt này và chiều 30-10, Chính phủ đã thu xếp để phái đoàn phỏng vấn một người trong số đó. Cũng trong chiều hôm đó, phái đoàn đã viếng thăm Bệnh viện Duy Tân, nơi nạn nhân của các vụ đàn áp trước đó đã được đưa vào điều trị. Phái đoàn cũng phỏng vấn thêm một nhân chứng khác tại khách sạn Majestic. Cuộc họp cuối cùng giữa phái đoàn với các đại diện Chính phủ trước khi cuộc đảo chính diễn ra là để thu xếp một chuyến viếng thăm thứ hai đến Trại giam thuộc Trung tâm Thẩm vấn của Nha Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Sau khi thu thập thêm nhiều chứng cứ mới ở Sài Gòn và Huế, phái đoàn thấy rằng việc quay trở lại nơi này là cần thiết. "Buổi sáng ngày 1-11, phái đoàn đã thực hiện cuộc viếng thăm và phỏng vấn thêm một số các vị tăng sĩ tại đây." (where the Mission went on the morning of 1 November to interview some more monks.) Phái đoàn cũng "quyết định gửi một số thành viên đến Vĩnh Bình trong ngày 2-11 để tiếp xúc với cộng đồng Phật giáo gốc Khmer, thuộc hệ phái Tiểu thừa." (decided to send a delegation to Vinh-Binh on 2 November to visit the religious community of Khmer origin, belonging to the "Lesser Vehicle) Phái đoàn cũng đã quyết định sẽ hoàn tất nhiệm vụ vào buổi tối ngày 3-11 và rời khỏi Sài Gòn cùng ngày. Sau đó, tất cả thành viên đồng ý sẽ có mặt tại New York chậm nhất là vào thứ Bảy, 9-11-1963, để Phái đoàn có thể tổ chức buổi họp toàn thể vào ngày thứ Hai, 11-11-1963, lúc 3 giờ chiều. Trong thực tế, sau buổi phỏng vấn sáng ngày 1-11-1963, Phái đoàn trở về khách sạn Majestic và chỉ đến 2 giờ chiều họ mới nhận được thông tin đầu tiên để biết về cuộc đảo chánh đang diễn ra. Đại diện Chính phủ lúc đó đề nghị họ ở yên trong khách sạn, vì đã xảy ra giao tranh ở một số nơi trong thành phố. Kể từ lúc đó cho đến sáng ngày 2-11-1963, Phái đoàn hoàn toàn không thể liên lạc với phía Chính phủ. Sáng sớm ngày 2-11-1963, Đại diện đặc biệt của Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, ông Bửu Hội, đến gặp Phái đoàn tại khách sạn Majestic để chuyển lời của Hội đồng Quân nhân Cách mạng lúc đó vừa lên nắm quyền. Hội đồng này muốn gửi lời chào đến Phái đoàn và có lời mời Phái đoàn có thể tiếp tục ở lại Việt Nam bao lâu tùy thích, đồng thời cũng bày tỏ mong muốn được tiếp đón Phái đoàn vào chiều hôm đó. Vị Trưởng đoàn hồi đáp rằng Phái đoàn đã có quyết định rời Việt Nam vào ngày 3-11-1963 và sẽ đánh giá cao sự trợ giúp của Hội đồng Quân nhân Cách mạng để Phái đoàn có thể ra đi dễ dàng. Chiều hôm đó, 2-11-1963, vị Trưởng đoàn đã thay mặt Phái đoàn đến thăm xã giao các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim. Tướng Minh đã nhắc lại lời mời rằng Phái đoàn có thể ở lại tùy ý để hoàn tất nhiệm vụ. Trưởng đoàn cho biết nhiệm vụ của Phái đoàn đã hoàn tất và ngày ra đi đã được quyết định. Ngày 3-11-1963, Phái đoàn ra thông cáo báo chí trước khi rời Sài Gòn và có đề cập đến cuộc viếng thăm Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Trong thông cáo báo chí này, Phái đoàn đã công khai cho biết một số lãnh đạo Phật giáo mà họ đã phỏng vấn, bao gồm các vị Thích Trí Thủ, Thích Quảng Liên, Thích Tam Giác, Thích Tâm Châu, Thích Đức Nghiệp, Thích Tiến Minh và Cư sĩ Mai Thọ Truyền. Phái đoàn rời Sài Gòn lúc 6 giờ chiều ngày 3-11- 1963, có tướng Lê Văn Kim, đại diện Hội đồng Quân nhân Cách mạng và ông Phạm Đăng Lâm, đại diện Bộ Ngoại giao, cùng ra đưa tiễn. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 09:14:29 pm III. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
Như đã nói, kết quả điều tra của Phái đoàn được ghi nhận đầy đủ trong bản Phúc trình mang số hiệu A/5630 để chuẩn bị trình lên Kỳ họp thường niên lần thứ 18 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, do đối tượng cáo buộc là Chính phủ Ngô Đình Diệm đã sụp đổ, nên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thấy rằng việc xem xét vấn đề này không còn cần thiết nữa. Tuy nhiên, trong phần này chúng ta sẽ xem xét các kết quả điều tra được ghi nhận trong bản Phúc trình, không nhằm mục đích đưa ra bất kỳ kết luận nào, mà là để nhận hiểu rõ ràng và chính xác hơn về những gì đã diễn ra trong năm 1963 tại miền Nam Việt Nam, được phản ánh rất trung thực và chính xác trong bản Phúc trình này. 1. Hợp tác điều tra từ phía Chính phủ Bản Phúc trình cho biết, trong suốt quá trình điều tra, phía Chính phủ VNCH nhiều lần nhắc lại cam kết sẽ tạo mọi điều kiện dễ dàng cho công việc điều tra của Phái đoàn. Trong buổi họp đầu tiên của Phái đoàn với Bộ Ngoại giao VNCH vào ngày 24-10, đại diện Chính phủ đã "cam kết là Phái đoàn có thể tự do đi đến bất cứ nơi đâu tùy ý và hứa sẽ làm tất cả mọi việc để tạo điều kiện dễ dàng cho nhiệm vụ điều tra sự thật của Phái đoàn" (assured the Mission that it would be free to go anywhere it wished and promised to do everything to facilitate the Mission’s task of finding the facts). Tuy nhiên, song song với cam kết này là một số hạn chế mà Phái đoàn đã thực sự vấp phải trong thực tế như được ghi nhận sau đây: - Ngày 25-10-1963, chuyến viếng thăm chùa Ân Quang bị hoãn lại và sau đó hủy bỏ, với lý do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Sư cô Diệu Huệ "không được khỏe". Tuy nhiên, sau đó sự thật được biết rõ là cả hai vị đều đã chờ suốt buổi chiều 25-10 để tiếp đón Phái đoàn. - Chính phủ từ chối việc tiếp xúc của phái đoàn với các nhân chứng được xem là "đối lập chính trị" (political opponent), nhưng tiêu chí để phân loại không được xác định rõ. Vì thế, chính phủ có thể dựa vào lý do này để ngăn cản sự tiếp xúc của Phái đoàn với bất cứ ai. Trong thực tế, một số nhân chứng tại Huế và Sài Gòn đã không được Chính phủ cho phép tiếp xúc dựa vào lý do này. - Chính phủ nhiều lần từ chối việc Phái đoàn tiếp xúc Thượng tọa Thích Trí Quang với lý do đang trong tình trạng "tỵ nạn chính trị" (asylum). Ngoài việc lên tiếng đòi hỏi quyền bình đẳng tôn giáo theo một phương thức ôn hòa, bất bạo động, Thượng tọa Thích Trí Quang chưa hề tham gia bất kỳ hoạt động chính trị, đảng phái nào và cũng chưa chính thức bị kết án bởi bất kỳ tòa án nào. Việc Thượng tọa vào tỵ nạn trong Tòa Đại sứ Hoa Kỳ là kết quả của cuộc truy bắt, bố ráp hoàn toàn vô cớ của Chính phủ trong đêm 20- 8-1963, chứ không phải do hoạt động đấu tranh chính trị. Một số vị tăng sĩ ở chùa Xá Lợi cũng phải trốn vào Trụ sở Ngoại giao đoàn Hoa Kỳ trong khi họ không có tội gì cả. Như vậy, lý do từ chối của Chính phủ là không chính đáng. - Chính phủ nhấn mạnh việc tiếp xúc với Thượng tọa Thích Trí Quang chỉ có thể thực hiện nếu Tòa Đại sứ Mỹ "giao nộp Thượng tọa cho Chính quyền" (if the monk was delivered to the authorities). Trong khi "chiến dịch tấn công các chùa" đêm 20-8 đang là một trong các mục tiêu điều tra của Phái đoàn, thì Chính phủ cho thấy họ không hề thay đổi quan điểm, không hề thừa nhận hành vi vô cớ bắt giữ tăng ni và Phật tử là sai trái, mà vẫn tiếp tục giữ ý định bắt giam Thượng tọa Thích Trí Quang. - Việc Chính phủ công khai cho cảnh sát vũ trang bảo vệ quanh khách sạn Majestic, nơi Phái đoàn cư ngụ, có thể là ý tốt để bảo vệ an ninh cho Phái đoàn, nhưng đã là rào cản khiến cho rất nhiều nhân chứng e ngại không dám đến gặp. Trong thực tế, các lực lượng canh gác có vũ trang của Chính phủ đã chặn lại và xét hỏi tất cả những ai đi vào khách sạn trong thời gian Phái đoàn hiện diện ở đó. Ngoài những điều kể trên, việc đề xuất chương trình làm việc của Chính phủ ngay khi Phái đoàn vừa đến Sài Gòn cũng là một điểm đáng chú ý. Phụ lục V của bản Phúc trình ghi lại chi tiết chương trình đề xuất do Chính phủ gửi đến (kèm theo đề nghị chi trả mọi chi phí ăn ở, đi lại), được ghi nhận chi tiết như sau: - Sau 2 ngày làm việc với các bộ ngành của Chính phủ (kể cả ngày vừa đến: 24 và 25), ngày 26 được đề xuất dự lễ Quốc khánh và sau đó nghỉ trọn ngày. - Ngày 27-10-1963 đi Vũng Tàu, thăm Chùa Mới và các điểm du lịch trong vùng (Visit to Chua Moi Pagoda and to tourist spots in the region), sau đó ăn trưa với Tình trưởng và trở về Sài Gòn, dự tiệc chiêu đãi buổi tối ở Bộ Ngoại giao. Ngoài ra không có hoạt động nào khác. - Ngày 28-10 đi Đà Lạt bằng máy bay đặc biệt (special plane), dự lễ khai trương Viện Nghiên cứu ứng dụng hạt nhân. 3 giờ chiều nghe báo cáo ngắn gọn về tình hình Phật giáo. 5 giờ đi thăm một ngôi chùa và tiếp xúc với Phật tử. 8 giờ dự tiệc tối do Thị trưởng Đà Lạt chiêu đãi. - Ngày 29-10 viếng thăm đập Đa Nhim (du lịch) trọn ngày. Không có hoạt động nào khác. - Ngày 30-10 đi Huế bằng máy bay đặc biệt. Thăm xã giao (courtesy call on) các đại diện Chính phủ tại Huế. 3 giờ chiều nghe báo cáo ngắn gọn về Phật giáo. 5 giờ thăm chùa Từ Đàm. 8 giờ dự tiệc buổi tối do đại diện Chính phủ chiêu đãi. Ngoài ra không có hoạt động nào khác. - Ngày 31-10 viếng thăm Hoàng thành và các điểm du lịch (Visit to the Imperial City and to tourist sites) gồm có chùa Thiên Mụ, Văn miếu, Lăng Tự Đức, Lăng Minh Mạng. Buổi tối đi dạo ven bờ sông Hương. Ngoài ra không có hoạt động nào khác. - Ngày 1-11, đi Phan Rang bằng máy bay đặc biệt. 10 giờ sáng nghe trình bày ngắn gọn về tình hình chung và Phật giáo. 12 giờ bay đi Phan Thiết, ăn trưa với Tình Trưởng. 3 giờ chiều viếng thăm một ngôi chùa và tiếp xúc Phật tử. 5 giờ 30 bay về Sài Gòn. Buổi tối nghỉ. - Ngày 2-10 đi Ba Xuyên và Vĩnh Bình bằng máy bay. 9 giờ sáng nghe báo cáo ngắn gọn về tình hình chung và Phật giáo. 12 giờ 30 dùng cơm trưa do Tình trưởng Ba Xuyên chiêu đãi, kết hợp tiếp xúc với tăng ni Phật tử gốc Khmer. 5 giờ bay về Sài Gòn. Buổi tối giải trí tại Nhà hàng vũ trường Anh Vũ. - Ngày 3-11 - Nghỉ trọn ngày. - Ngày 4-11 - Buổi sáng thăm Ấp chiến lược Củ Chi, chiều gặp gỡ chia tay với Tổng thông. 8 giờ tối lên đường về New York. Trong toàn bộ chương trình này, dự kiến chỉ có 4 lần nghe báo cáo ngắn gọn về tình hình Phật giáo, mỗi lần không quá 2 giờ đồng hồ. Ngoài ra đều là các hoạt động du lịch, chiêu đãi, thăm viếng, giải trí và... nghỉ trọn ngày. Các ngày 27, 29, 31 tháng 10 và ngày 3, 4 tháng 11 hoàn toàn không có hoạt động nào liên quan đến công việc điều tra của Phái đoàn. Nếu chấp nhận chương trình đề xuất này, chắc chắn Phái đoàn sẽ chẳng ghi nhận được bất kỳ một kết quả điều tra trung thực nào. Rất may là Phái đoàn điều tra đã nhận ra ngay điều đó và có 2 quyết định sáng suốt. Thứ nhất, không chấp nhận đề nghị chi trả mọi phí tổn ăn ở và đi lại từ phía Việt Nam. Thứ hai, không chấp nhận bản chương trình đề xuất này mà tự nghiên cứu đưa ra chương trình làm việc chi tiết và phù hợp. Chỉ riêng điểm này cũng đã cho chúng ta thấy được tính khách quan và đáng tin cậy của hoạt động điều tra. Với chương trình làm việc thực tế đã được Phái đoàn áp dụng, chúng ta thấy rõ những hoạt động điều tra, tiếp xúc, phỏng vấn, thu thập thông tin đã diễn ra liên tục. Thậm chí phái đoàn còn quyết định chia đôi nhân sự để cùng lúc thu thập thông tin ở Huế nhưng vẫn tiếp tục hoạt động điều tra tại Sài Gòn. 2. Thu thập thông tin từ phía Chính phủ Thông tin từ phía Chính phủ được cung cấp qua hai nguồn chính: một văn bản Chính thức do Thiếu tướng Trần Tử Oai trực tiếp trao cho Phái đoàn và các buổi tiếp xúc tuần tự được ghi nhận nội dung với Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cố vấn Ngô Đình Nhu, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng Phủ Tổng thống Nguyễn Đình Thuần, các thành viên Đại diện Chính phủ tại Huế, Tư lệnh Quân đoàn 1 và một số quan chức khác. Riêng cuộc tiếp xúc với Bộ trưởng Ngoại giao nhằm mục đích thu xếp một cuộc phỏng vấn với Thượng tọa Thích Trí Quang, được vị Trưởng đoàn kể lại nội dung trong một báo cáo riêng. Tiêu đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ Gửi bởi: saoden trong 14 Tháng Mười, 2026, 09:16:19 pm VĂN BẢN CHÍNH THỨC
Văn bản do Thiếu tướng Trần Tử Oai chuyển đến Phái đoàn thể hiện quan điểm chính thức của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Vì thế, trong các buổi phỏng vấn trực diện với những thành viên cao cấp khác trong Chính phủ, nội dung ghi nhận hầu như cũng đều xoay quanh những quan điểm này. Một số điểm nổi bật được nêu ra là: - Vấn đề bất ổn giữa Chính phủ và Phật giáo Việt Nam "bắt nguồn từ các sự kiện xảy ra ở Huế vào đầu tháng 5-1963" (originated in the incidents which occurred in Hue at the beginning of May 1963). Nói cách khác, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phủ nhận những cáo buộc về phân biệt đối xử với Phật giáo trước thời điểm này. - Những người chết và bị thương trong sự kiện ở Huế là do "Cộng sản đã lợi dụng cơ hội cho nổ 2 quả mìn plastic làm 8 người chết" (Communist elements took advantage of it to explode two plastic charges which caused the death of eight persons), và do đó không có sự đàn áp của quân Đội bằng súng máy, xe tăng và lựu đạn như các nguồn tin loan truyền. - Phong trào đấu tranh Phật giáo không hoàn toàn do người Phật tử đứng lên, mà có sự núp bóng xúi giục của "những kẻ đối lập chính trị và Việt cộng" (with the co-operation of political adventurers and of Communists). - Do sự kích động của Việt cộng nên những cuộc biểu tình dần phát triển vượt quá giới hạn cho phép của luật pháp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội và nhất là làm suy giảm khả năng của Chính phủ trong cuộc chiến tranh chống Cộng. "Trong giai đoạn từ ngày 8-5 đến 19-8-1963, có 159 cuộc biểu tình đã diễn ra: Huế: 25, Sài Gòn: 32, Đà Nẵng: 10, Quảng Trị: 8, Quảng Nam: 7, Quảng Ngãi: 18, Nha Trang: 13, v.v... " (during the period from 8 May to 19 August 1963, 159 demonstrations were staged: 25 in Hue, 32 in Saigon, 10 in Tourane, 8 in Quang-Tri, 7 in Quang-Nam, 18 in Quang-Ngai. 13 in Nha-Trang, etc.), Có sự trợ giúp của bộ máy tuyên truyền khoa học khổng lồ của cộng sản (supported from both within and without by the huge and scientific communist propaganda machinery), được đẩy lên đến đỉnh điểm vào ngày 18-8-1963 khi các lãnh đạo Phật giáo đưa ra tối hậu thư yêu sách đối với Chính phủ trước một đám đông 20.000 người tụ tập trước chùa Xá Lợi. Mặt khác, theo một kế hoạch định trước thì các lãnh đạo Phật giáo sẽ tổ chức những cuộc biểu tình đẫm máu với một tốc độ phát triển khá nhanh tiếp nối trên các địa phương từ Huế đến Sài Gòn, như Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận (according to a definite plan, the Buddhist leaders would stage bloody demonstrations, which were to take place at a rather fast pace successively in various provinces and main localities from Hue to Saigon, namely in Danang, Quang- Nam, Khanh-Hoa, Binh-Thuan). Để đối phó với nguy cơ này, các tỉnh miền Trung đã yêu cầu Sài Gòn tăng viện (Central Viet-Nam provinces would have to request Saigon to send in police reinforcements). Nguy cơ bị Việt cộng tấn công ngay tại Sài Gòn lên cao do thiếu lực lượng bảo vệ. - Trước tình hình nguy hiểm đến an ninh quốc gia, ngày 20-8-1963, các tướng lãnh đã đồng tâm nhất trí đề nghị và thúc ép Tổng thống ban hành tình trạng thiết quân lực, giao cho Quân Đội trách nhiệm bảo vệ nền Cộng hòa và đất nước (the President would entrust to it for the defence of the Republic and the country). Trong khi đó, Cộng sản đã sẵn sàng tấn công Sài Gòn để lật đổ chế độ ngay khi phong trào đấu tranh của Phật giáo tạo thành một sự hỗn loạn lan rộng. Họ dự kiến điều này sẽ diễn ra vào cuối tháng 8-1963. (The Communists were ready for a drive on Saigon to overthrow the Government when the Buddhist movement would degenerate into popular riots. They expected this to take place by the end of August 1963.) - Những lý do nêu trên buộc Chính phủ phải đồng ý cho Quân Đội tiến hành chiến dịch đêm 20-8-1963. "Quân Đội đã khám phá được trong nhiều ngôi chùa một số lượng lớn vũ khí và tài liệu quan trọng, thêm một lần nữa chứng tỏ rằng các nhà sư quá khích đang theo đuổi một mục đích chính trị với sự trợ giúp của một bên là Việt cộng và một bên khác nữa là các nhóm đối lập chính trị." (The Army had discovered in several pagodas an important lot of weapons and documents which demonstrated once more that the extremist bonzes were pursuing a political goal with the support of the Viet-Cong on one hand, and of political opposition groups on the other hand). - Mặc dù chiến dịch được tiến hành quyết liệt nhưng không hề gây đổ máu và thương vong. (although they were drastic, resulted in no bloodshed or loss of life). Qua đó, quân Đội đã thành công trong việc tái lập trật tự, mang lại sự bình yên cho các chùa, giải phóng tăng ni Phật tử thuần thành khỏi sự khống chế của các nhà sư cực đoan (the Army had successfully restored security, brought back calm in the pagodas, and liberated the bonzes, nuns and Buddhist faithful from the grip of the extremist bonzes). - Trên khắp nước có hàng loạt những cuộc biểu tình, tụ tập của Phật tử, các tầng lớp trí thức và bình dân, các giai tầng xã hội khác nhau, bày tỏ niềm tin và sự ủng hộ Chính phủ (Throughout the country demonstrations had been organized by Buddhist groups, professional and popular groups, and by all the social classes to express confidence and support for the Government), lên án những kẻ phản quốc (to denounce the traitors to the nation). Cụ thể là ở Huế có hơn 80.000 người, ở Sài Gòn có hơn 120.000 người, và ở các tỉnh thành khác đều có nhiều chục ngàn người. (In Hue, more than 80,000 people, in Saigon more than 120,000 people, and in the provincial capitals, tens of thousands of people). - Cuối cùng, nhờ các biện pháp sử dụng quân Đội như đã trình bày trên, Chính phủ đã tái lập được trật tự, giải quyết mọi bất ổn, và do đó Chính phủ đã cho phép mở cửa lại những chùa chiền bị phong tỏa, trả tự do cho tất cả các tăng sĩ bị bắt, đưa trả các sinh viên học sinh bị bắt giữ về với gia đình. (The Government has ordered the reopening to worship of the pagodas, which had been under temporary surveillance ; it has authorized the arrested monks to go back to the places of worship and it has returned the detained students to their parents.) Văn bản của Chính phủ được kết luận một cách lạc quan và phủ nhận hoàn toàn những bất ổn đang tồn tại: The Government deems itself entitled to hope that the nations friendly to Viet-Nam will help it enlighten the public opinion of the Free World on this affair which it considers already settled. Chính phủ [Việt Nam Cộng Hòa] tự xét thấy có quyền hy vọng rằng các quốc gia thân thiện với Việt Nam sẽ giúp làm sáng tỏ công luận trong Thế giới Tự do về vấn đề này, vì Chính phủ xem như đã giải quyết xong. Bản văn do ông Trần Tử Oai trực tiếp trao cho Phái đoàn dài hơn 5.000 chữ, có nhiều đoạn trình bày chi tiết về các sự kiện, biện pháp xử lý bất ổn v.v... Tuy nhiên, nội dung chính yếu có giá trị bác bỏ những cáo buộc mà Phái đoàn của điều tra Liên Hiệp Quốc đã ghi nhận và chuyển đến cho Chính phủ thì không ngoài các ý chính đã được chúng tôi tóm lược như trên. Trong thực tế, nếu Chính phủ có khả năng chứng tỏ một cách khách quan những gì trình bày trên đây là đúng thật, thì cuộc điều tra của Phái đoàn hẳn không cần phải tiếp tục nữa. Tuy nhiên, hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, những gì Chính phủ nêu ra đều chỉ có giá trị một chiều, tự biện và không có bất kỳ một chứng cứ cụ thể nào. Giả thuyết về sự can thiệp của Việt cộng là một ví dụ. Chính phủ không xem đây là một giả thuyết, mà xác quyết như vậy, nhưng lại không đưa ra bất kỳ chứng cứ nào. Khi Chính phủ nói rằng theo kết quả giám định của các chuyên gia y tế thì các nạn nhân [của sự kiện Đài Phát thanh Huế] bị chết do chất nổ plasstic [của Việt cộng] (to the findings of the medical experts, all the wounds on the victims' bodies were caused by the explosion of plastic charges) thì Phái đoàn đồng thời cũng nhận được các cáo buộc ngược lại từ phía các nhân chứng là Chính phủ đã bỏ tù Bác sĩ Lê Khắc Quyến chỉ vì ông từ chốỉ không chịu ký vào các biên bản giám định không đúng sự thật được làm sẵn. (Dr: Le Khac Quyen of the Hue Hospital, was subsequently imprisoned for refusing to sign a medical certificate prepared by Government authorities). Câu hỏi đặt ra ở đây là, cáo buộc của các nhân chứng có thể thiếu chứng cứ là điều dễ hiểu, nhưng tuyên bố chính thức của Chính phủ tại sao không kèm theo chứng cứ xác nhận (chẳng hạn như biên bản giám định) khi họ có thừa khả năng làm điều đó? Chính phủ cũng có sự mâu thuẫn khi cáo buộc các cuộc biểu tình ôn hòa của Phật giáo là "gây rối loạn trật tự", trong khi tự cung cấp thông tin là có biểu tình ủng hộ Chính phủ lên đến 120.000 người ở Sài Gòn (gấp 6 lần số người họ cho là đã tụ tập trước chùa Xá Lợi vào thời điểm căng thẳng nhất) nhưng lại không ảnh hưởng gì đến trật tự trị an. Sự cường điệu của Chính phủ về con số người ủng hộ đã lộ rõ khi cuộc đảo chính diễn ra thành công ngay sau đó và điện văn số 875 của Đại sứ Cabot Lodge gửi về Bộ Ngoại Giao Mỹ ngày 2 tháng 11 năm 1963 đã mô tả không khí Sài Gòn như sau: "Believe the very great popularity of this coup should be stressed. Every Vietnamese has a grin on his face today. Fm told that the jubilation in the streets exceeds that which comes every new year. " "Hãy tin rằng cần nhấn mạnh đến sự ủng hộ của dân chúng đối với cuộc đảo chính này. Hôm nay, mọi người Việt Nam đều tươi cười. Người ta bảo tôi rằng, niềm hân hoan được thấy trên đường phố còn vượt hơn cả niềm vui ngày Tết." Và sau khi cái chết thê thảm của hai anh em ông Diệm và ông Nhu được xác nhận có cả hình ảnh, ngày 4-11-1963, Cabot Lodge gửi điện văn số 917 trả lời Bộ Ngoại giao Mỹ về tình trạng ông Ngô Đình Cẩn như sau: "On the question of Ngo Dinh Can, they said that their General in Hue had just telephoned that there was a very large and hostile crowd around the house where Can lives with his mother and that he was obviously thoroughly loathed for all his many cruelties in the past and that the crowd wanted his skin..." "Về vấn đề ông Ngô Đình Cẩn, tướng lãnh Việt Nam ở Huế vừa điện báo rằng một đám đông rất lớn và đầy thù nghịch đang vây quanh ngôi nhà ông Cẩn sống với người mẹ, rõ ràng ông ta bị căm thù vì sự tàn ác của ông trong quá khứ và đám đông này đang muốn lột da ông..." Cáo buộc về những cuộc "biểu tình đẫm máu" cũng hoàn toàn vô căn cứ vì trong thực tế tuy đã có rất nhiều cuộc biểu tình xảy ra khắp nơi, nhưng tất cả đều ôn hòa và chỉ có thương vong khi bị Chính phủ đàn áp, còn tự thân những người tham gia biểu tình chưa từng có hành vi bạo động. |