|
Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Ba, 2023, 08:08:51 am - Tên sách: Ký ức công binh Trường Sơn
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Giao thông Vận tải - Năm xuất bản: 2010 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory LỜI GIỚI THIỆU Mỗi thế hệ, mỗi đơn vị, mỗi con người trong cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc đều có những ký ức đặc biệt sâu lắng cho riêng mình và có thể cho cùng cả đồng đội của mình. Càng khó khăn, càng gian khổ trong chiến đấu, cái sống gắn liền không ranh giới với sự hy sinh không thể dự đoán trước, lại càng làm cho những ký ức đặc biệt nổi trội không thể nào quên. Cán bộ, chiến sĩ Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, biên chế ở cơ quan nhưng lại có đặc thù riêng, suốt cả hai mùa mưa nắng đều cùng các đơn vị mở đường, bảo đảm giao thông, nghiên cứu thử nghiệm rà phá, vô hiệu hoá bom mìn địch, bảo đảm vật tư khí tài, giữ gìn kho tàng, đến sửa chữa tái tạo xe máy công binh... Trong nhiều công việc chuyên môn khác nhau đó, các anh đã lăn lộn trên hệ thống đường Trường Sơn nay đã thành kỳ tích lịch sử, có chiều dài hơn 20.000 ki lô mét trên 5 trục dọc, 21 trục ngang, một con đường đã thành hệ thống mạng đường đa hình, đa dạng: đường núi, đường đèo, đường dọc, đường ngang, hẹp, rộng..., toả khắp Trường Sơn vào sâu tận chiến trường. Có con “đường hở" vận chuyển ban đêm trong cả 10 năm thành trọng điểm địch trút đủ các loại bom đạn, lại có hệ thống "đường kín” chạy ngày trong suốt 4 năm, dù có thiết bị thám sát, trinh sát hiện đại kẻ địch cũng phải bó tay, không thể phát hiện được. Hàng trăm con sông lớn nhỏ đều có ngầm, có phà, có cầu nổi, khoang thuyền bằng sắt thép được chi viện, lại có loại khoang gỗ bằng vật liệu tại chỗ tự chế. Đầu mùa khô, các anh lên đường công tác, tận cuối mùa mưa mới có thể được gặp lại nhau, có anh ra đi... đã không trở về! Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã hoàn toàn thắng lợi, đơn vị cũ giải thể, tổ chức mới được hình thành. Đến nay nhiều anh em đã ra quân, chuyển đơn vị, chuyển ngành, đã về nghỉ hưu, nghỉ mất sức, muôn vẻ bộn bề với cuộc sống đời thường. Tuy nhiên, hàng năm gặp nhau trong các cuộc sinh hoạt truyền thống của đơn vị, hàn huyên ôn lại chuyện xưa, chuyện chiến trường gian khổ thấm đậm tình cảm thân thương, ký ức đó mỗi năm như lại càng đầy ắp dồn nén. Chủ trương của Ban Liên lạc Cục Tham mưu Công binh viết lại ký ức của mình, cùng hình thành một “tác phẩm” để cùng hoài niệm, cùng hiểu nhau hơn, thương nhau hơn, quý nhau hơn, thông cảm nhau hơn được anh em tán đồng thực hiện. Cũng như các binh chủng khác, đã có nhiều trung đoàn, sư đoàn công binh Trường Sơn, các binh chủng bộ đội Trường Sơn khác viết ký ức, cuốn "Ký ức Công binh Trường Sơn” của đồng đội công tác tại cơ quan, các đơn vị trực thuộc Cục Tham mưu Công binh được các bạn ngoài binh chủng tham gia không phải là cuốn đầu tiên trong nhiều cuốn sách đó, nhưng có lẽ cũng chưa phải đã là cuốn cuối cùng. Ban liên lạc Cục Tham mưu Công binh Trường Sơn xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Công binh, Ban Quản lý dự án 47 - Bộ Quốc phòng và các cựu chiến binh Cục Tham mưu Công binh, các tập thể và cá nhân đã đóng góp bài viết và kinh phí cho việc xuất bản cuốn sách này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn “Ký ức Công binh Trường Sơn”. Ban Liên lạc Cục Tham mưu Công binh 559 Bộ đội Trường Sơn Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:31:12 am (https://i.imgur.com/Fpxpo4t.jpg) Đại tá - Tiến sĩ Đặng Văn Phúc Sinh năm: 1941 Quê quán: Lê Lợi, Kiến Xương, Thái Bình Thường trú: Nhà 1008, Đường Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 04. 37540403 - 0903. 406510 Cán bộ Kỹ thuật Bộ GTVT chuyển sang Quân đội Nguyên Thượng uý, Trợ lý Phòng Bảo đảm Giao thông, Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Tư lệnh binh chủng Cổng binh NHỮNG THÁNG TƯ KHÔNG BAO GIỜ QUÊN Tháng 4 năm 1965 - chuyến công tác đầu tiên trên Trường Sơn Lúc đó tôi là cán bộ kỹ thuật của Ban Kiến thiết 201 cầu Hàm Rồng Thanh Hoá, đang đi công tác tại Lạng Sơn thì nhận được quyết định ngày 01 tháng 4 phải có mặt tại Văn phòng Bộ Giao thông vận tải để nhận nhiệm vụ mới. Về đến Bộ, tôi được quán triệt đi làm nhiệm vụ đặc biệt vào Đoàn 559 mở đường Trường Sơn, nơi chính Bộ trưởng Giao thông vận tải, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ. Đoàn đầu tiên của Bộ vào Trường Sơn được biên chế 10 người do anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng Viện Thiết kế Giao thông làm Trưởng đoàn. Trong đoàn hầu hết là những cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm ở cơ quan Bộ, chỉ có 3 cán bộ kỹ thuật trẻ được điều động từ các công trường về, đó là kỹ sư Nguyễn Văn Lạng, quê Cổ Đô, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), anh Lê Doãn Hoàng, quê Quảng Nam và tôi. Cuộc họp chuẩn bị rất khẩn trương để lên đường ngay. Ngày 03 và 04 tháng 4 năm 1965, không quân Mỹ đánh cầu Hàm Rồng thì đến ngày 05 tháng 4, đoàn chúng tôi xuất phát từ Hà Nội bằng xe ôtô. Qua cầu Hàm Rồng vào ban đêm, một xúc cảm tự nhiên dâng tràn trong tôi. Tôi đã có 3 năm góp công sức xây dựng nên cây cầu nay đang bị không quân Mỹ tập trung đánh phá, nơi đây có đơn vị tôi đang công tác và người tôi yêu đang sống, bây giờ không biêt họ sơ tán nơi đâu? Tôi chỉ còn biết gửi lời chào tạm biệt qua lá thư viết vội, khi xe nghỉ tại Rừng Thông, Thanh Hoá. Vào đến Quảng Bình, chúng tôi được đồng chí Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Đoàn 559, Phụ trách Công binh đón tại Sở chỉ huy Hậu phương và giao nhiệm vụ cụ thể là đi khảo sát trước, tiếp đó chuẩn bị đón lực lượng thi công vào mở đường 128 nối từ đường 12 vào đường số 9. Tại đây chúng tôi phải để lại giấy tờ sinh hoạt Đảng, giấy tuỳ thân và quần áo, trang bị cá nhân để nhận quân trang mới gồm ba lô, 2 bộ quân phục bộ đội Pa Thét Lào, tăng võng, bi đông nước, gạo, muối, mắm kem, xoong nồi nấu ăn và mỗi người một khẩu súng trường, riêng anh Nam Hải có một khẩu súng ngắn. Đoàn được bổ sung hai đồng chí bộ đội. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường sau một ngày chuẩn bị. Theo đường 12, vượt biên giới, đến một khu rừng săng lẻ thuộc đất Lào thì xe không còn đường để đi tiếp nữa, phải dừng lại. Sau khi nghiên cứu địa hình, thống nhất hướng tuyến và các điểm khống chế trên bản đồ, chúng tôi bắt đầu đi bộ bám địa hình để xác định hướng tuyến. Lúc này, phía tây Trường Sơn, đất Lào đang là mùa khô, không quân địch chưa đánh phá, nhân dân các bộ tộc Lào đang sống yên bình tại các bản dọc tuyến đường sẽ mở. Đoàn chúng tôi được nhân dân Lào nhiệt tình giúp đỡ, cử người thông thạo địa hình dẫn đường mời ngủ trên nhà sàn, buổi sáng còn cho mỗi người một tuýp xôi ăn đường. Cứ như thế chúng tôi đi qua các bản Tha Pa Chôn, Lùm Pùm, Cốc Mạc, bản Bung, bản Noọng Kà Deng... để thị sát tuyến đường. Đến bản Bung, một bản dân tộc Lào Lum khá đẹp, có nhiều nhà sàn lớn, nhiều cây xoài cành trĩu quả chín vàng, chúng tôi gặp đoàn của đồng chí Lê Nghĩa Sỹ, cán bộ Cục Chính trị Đoàn 559 trên đường đi ra. Đêm đó, ngồi gác với anh Cam, một cán bộ của phòng Bảo vệ vào tuyến đã lâu, anh cho biết phía trong đường số 9 cũng đang có một trung đoàn công binh mở đường cơ giới. Tình hình rất khẩn trương, đoàn chúng tôi miệt mài tìm đường, ngày đi rừng vạch tuyến, đêm nghỉ tại các bản dân dọc tuyến, nhưng phải tổ chức canh gác đêm, đề phòng địch mặt đất. Đến gần cuối tháng 4 thì xác định xong hướng tuyến đường 128 theo nhiệm vụ được giao. Đường được xác định từ Xóm Péng đến Na Bo trên đường số 9 dài khoảng 130 ki lô mét, nửa phía ngoài tương đối bằng phẳng, qua những cánh rừng già kín đáo, nửa phía trong qua hai đoạn đèo có độ dốc lớn, đó là Cốc Mạc và Vang Mu. Nhiều con suối lớn nhỏ cắt ngang tuyến đường. Cùng với việc xác định xong tuyến đường, đoàn cũng dự kiến kế hoạch vừa khảo sát thiết kế vừa thi công, dự kiến vị trí Công trường bộ 128, các trọng điểm phải tập trung lực lượng thi công. Kết thúc việc thị sát xác định tuyến đường, vào cuối tháng 4 năm 1965 chúng tôi đón Công trường bộ 128 do anh Nguyễn Lang, Cục phó Cuc Công trình 1 Bộ Giao thông vận tải làm Chỉ huy trưởng vào triển khai công tác chuẩn bị; và giữa tháng 5, lực lượng thi công đầu tiên hơn 1.000 công nhân, 20 máy húc do anh Lam Chi chỉ huy vào thực hiện nhiệm vụ thi công. Đây là lực lượng thi công cơ giới lớn nhất của Bộ Giao thông vận tải đang thi công tại đường số 6 được điều vào chiến trường. Chuyến công tác đầu tiên trên đường Trường Sơn của chúng tôi đã hoàn thành. Hầu hết anh em trong đoàn ở lại bổ sung cho Công trường 128. Với tôi, cuộc chiến đấu mới vô cùng ác liệt, gian khổ kéo dài 8 năm trên đường huyền thoại bắt đầu. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:32:47 am Tháng 4 năm 1973 - chuyến đi công tác cuối cùng trên đường Trường Sơn
Đầu tháng 4 năm 1973, Bộ Tư lệnh 559 tổ chức đoàn công tác kiểm tra đường phía tây Trường Sơn do Chính uỷ Đặng Tính (mật danh 602) dẫn đầu. Đoàn gồm đủ các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tư lệnh: Cục Chính trị, Bộ Tham mưu, Cục Tham mưu Công binh, Cục Vận tải, Cục Hậu cần. Anh Nguyễn Thúc Yêm, mới được điều động giữ nhiệm vụ Cục phó Cục Tham mưu Công binh, và tôi - Trợ lý phòng Bảo đảm giao thông cùng tham gia đoàn. Đi cùng xe Cục Công binh còn có nhà thơ Chế Lan Viên, nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, là những văn nghệ sĩ từ Hà Nội vào thực tế chiến trường. Là lần đầu đi công tác với Chính uỷ Đặng Tính, nên tôi chuẩn bị rất kỹ trước khi lên đường. Tôi đã làm việc với các đơn vị nắm kỹ lại tình hình đường sá, các đơn vị công binh trên hành trình đường đi. Tôi mang theo bản đồ có vẽ đủ các tuyến đường phía tây, bản đồ chi tiết các trọng điểm lớn nơi địch đã tập trung đánh phá để sẵn sàng báo cáo Đoàn trên đường công tác. Lúc này đang là mùa khô, sau hiệp nghị Paris về Việt Nam đã ký kết ngày 07 tháng 01 năm 1973, địch đã phải ngừng đánh phá bằng không quân ở Việt Nam và Lào. Đoàn xuất phát từ sở chỉ huy lúc này ở Quảng Bình, đi theo đường 20 vào đường 128. Đây là lần đầu tiên cả một đoàn công tác lớn của Bộ Tư lệnh được đi ban ngày, được ngắm nhìn khung cảnh hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn và những con đường đã thâm bao máu xương của các lực lượng xây dựng và bảo vệ nó để vận chuyển và chi viện cho các chiến trường miền Nam. Đến Phu La Nhích, đứng ban ngày trên đỉnh đèo mới thấy hết sự đánh phá tàn ác khủng khiếp của không quân Mỹ trên cả vùng tập đoàn trọng điểm ATP. Hàng chục ki lô mét vuông, hố bom chằng chịt, không còn một bóng cây ngọn cỏ. Đến nơi đây tôi đã báo cáo với Đoàn về sự sáng tạo và ý chí kiên cường dũng cảm của bộ đội công binh, thanh niên xung phong trong xây dựng thế trận cầu đường vững chắc, liên hoàn với 5 đường vượt trọng điểm, có đường đi đội hình nhỏ, có đường cả tiểu đoàn xe chở hàng đội hình vận chuyển lớn, có đường kín xe chạy ban ngày, với các phương thức vượt sông bằng ngầm, bằng phà, có năm tranh thủ giao mùa bằng cầu cáp, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống. Đứng trên đỉnh đèo Phu La Nhích, bỗng nhiên tôi nhớ đến hai người bạn cùng trong đoàn vào Trường Sơn với tôi tháng tư năm ấy, kỹ sư Nguyễn Văn Lạng và anh Lê Doãn Hoàng, cán bộ kỹ thuật trung cấp cầu đường, đã hy sinh trong trận đánh bom đầu tiên khi các anh đang tìm đường tránh Phu La Nhích đầu năm 1966. Tôi nhớ đến kỹ sư Phan Vũ Trang, người bạn trong đội bóng đá của công trường Hàm Rồng cùng tôi năm xưa đã hy sinh khi đang chỉ đạo thi công cầu cáp vượt sông Ta Lê năm 1967, và biết bao đồng chí đồng đội ngã xuống ở trọng điểm nổi tiếng ác liệt này. Đi trên đường 128 đoạn Lùm Pùm vào đến đường số 9, tôi đã kể cho các anh văn nghệ sĩ ngồi cùng xe nghe về những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn khi mở tuyến đường này trong mùa mưa khốc liệt năm 1965. Năm ấy, mùa mưa đầu tiên mở đường cơ giới trên Trường Sơn, mưa rất lớn kéo dài liên tục, nước các sông dâng cao đường bị ngập, bị nước lũ tàn phá. Công trường 128 phải lát đến 40 ki lô mét đường rông đanh, mỗi ki lô mét khoảng hơn 3.000 cây gỗ dài khoảng 3 mét, đường kính 10 đến 15 cen ti mét để chống lầy. Nhưng tiếp tế vật chất đảm bảo rất khó khăn, gạo không đủ ăn, phải giảm khẩu phần vốn đã ít ỏi của mình. Hơn 2.000 các bộ chiến sĩ, công nhân giao thông, thanh niên xung phong vẫn quyết tâm vượt mọi khó khăn để mở đường. Khó khăn nhất vẫn là với chị em thanh niên xung phong, quần áo chỉ có hai bộ, lao động đầm mưa ướt sũng cả ngày, tối về có cô không còn quần áo khô, đành chui vào chăn chờ bạn đốt lửa hong khô quần áo mới có mặc. Ghẻ lở, chấy rận, tóc rụng, bệnh phụ khoa phát triển, ốm yếu, sốt rét nẩy sinh, nhưng chị em vẫn làm việc quên mình. Với quyết tâm đó của cán bộ chiến sĩ, đầu tháng 11 năm 1965, đường đã thông, những chuyến xe đầu tiên đã bắt đầu chở hàng cho chiến trường, mở ra thời kỳ vận chuyển cơ giới trên Trường Sơn. Đến trọng điểm Tha Mé, gặp tổ công binh chốt bảo đảm giao thông trên đèo, trong lúc nghỉ hỏi chuyện anh em, Chính uỷ Đặng Tính đã tự tay cắt tóc cho một chiến sỹ. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp, giữa nơi từng đã là trọng điêm bị đánh phá ác liệt còn chằng chịt hố bom đỏ ngầu, Chính uỷ chiến trường, mái đầu điểm bạc ung dung cắt tóc cho người chiến sĩ công binh trẻ giữa bầu trời vờn đám mây xám... - “Chính uỷ thật bình dị thương lính...” - nhà thơ Chế Lan Viên bình phẩm. - "Chính uỷ còn làm thơ hay nữa” - tôi bổ sung. Thật thế, khi đến Binh trạm 34, Chính uỷ nói chuyện với cán bộ Binh trạm, buổi nói chuyện vui vẻ thân tình, đầm ấm, Chính uỷ còn đọc mấy bài thơ do mình sáng tác rất hay về Trường Sơn. Đoàn về chỉ huy sở Sư đoàn 471, đồng chí Vũ Quang Bình, Chính uỷ Sư đoàn 968 mời Chính uỷ Đặng Tính vào thăm đơn vị. Chính uỷ cùng một số ít cán bộ trong Đoàn cùng đi, còn đại bộ phận ở lại tiếp tục làm việc với Sư đoàn 471. Đoạn đường vào Sư đoàn 968 do đơn vị tự quản lý đảm bảo. Một xe tải đi đầu có cán bộ của Trung đoàn sở tại thuộc Sư đoàn 968 và bí thư của Chính uỷ Đặng Tính, xe Chính uỷ Đặng Tính đi thứ hai và những cán bộ khác đi xe thứ ba. Ngày 04 tháng 4 năm 1973, xe của Chính uỷ trúng mìn trên đường vào chỉ huy sở Sư đoàn 968, cả 6 đồng chí trên xe hy sinh. Thi hài các đồng chí được đưa về bệnh xá Sư đoàn 471, chúng tôi thay nhau túc trực để quân y xư lý chuyên môn chuẩn bị đưa 3 đồng chí cán bộ cao cấp ra Bắc an táng. Ba đồng chí còn lại được an táng tại một cánh rừng gần chỉ huy sở Sư đoàn 471. Chính uỷ Đặng Tính được đưa về Hà Nội mai táng tại nghĩa trang Mai Dịch, đồng chí Chính uỷ Sư đoàn 968 được mai táng tại Quảng Bình và đồng chí Cục phó Cục Tham mưu Công binh được đưa về quê Hà Tĩnh. Bộ đội Trường Sơn đau đớn chịu tang, một mất mát lớn đến nay không thể nào quên được. Với tôi đó là chuyến đi công tác cuối cùng trên chiến trường Trường Sơn, chuyến đi gợi nhớ biết bao kỷ niệm với đồng chí đồng đội trong 8 năm chiến đấu. Chuyến đi có tổn thất nặng nề, mất người Chính uỷ mà toàn thể cán bộ chiến sỹ Trường Sơn quý mến. Ngay sau chuyến đi đó, tôi đã nhận được quyết định đi đào tạo tại nước ngoài. Ngày 30 tháng 4 năm 1973, tôi tạm biệt đồng đội, tạm biệt Trường Sơn để bắt đầu một giai đoạn mới, giai đoạn 8 năm học tập, nghiên cứu khoa học quân sự tại Mạc Tư Khoa, thủ đô Liên Xô. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:40:25 am (https://i.imgur.com/4NxqKMh.jpg) Đại tá ĐẶNG HƯƠNG Sinh năm: 1931 Quê quán: Trà Lý, Đông Quý, Tiền Hải, Thái Bình Thường trú: Nhà 14, Ngách 102/25, đường Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38691865 - 0953 177559 Từ Bộ Tư lệnh công binh vào Đoàn 559 Nguyên Trưởng phòng Vật tư, Xe máy Cục TMCB, Bộ Tư lệnh Trường Sơn Nguyên Phó Tư lệnh Binh đoàn 12 ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH, VỚI CÔNG BINH TRƯỜNG SƠN TRONG NHỮNG NĂM ĐÁNH MỸ Tôi có may mắn trờ thành chiến sĩ công binh từ năm 1951 trong đội hình Trung đoàn Công binh duy nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp: Trung đoàn Công binh 151. Một may mắn nữa là đơn vị tôi, Đại đội 53, Tiểu đoàn “em út” 106 thuộc Trung đoàn 151 được cùng Trung đoàn tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử ngay từ cuối năm 1953, sau khi cả Tiểu đoàn đã tham gia mở đường qua đèo Lũng Lô. Riêng Đại đội 53 chúng tôi từ tháng 11 năm 1953 đã được giao nhiệm vụ bảo đảm giao thông từ Sơn La lên tới Chiềng Pấc thuộc huyện Thuận Châu, ngày đó còn gọi là đường 41, nay là quốc lộ số 6. Tiếp đó là các Đại đội 52, 54 cùng trong Tiểu đoàn 106 bảo đảm giao thông từ Thuận Châu qua Tuần Giáo. Riêng Đại đội 52 còn đặc trách đèo Pha Đin lịch sử. Ngày ấy trên đường ra trận, Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã vượt qua Lũng Lô và Pha Đin nên càng có điều kiện hiểu rõ hơn vai trò của công binh trong chiến tranh. Có lẽ vì thế trong lễ duyệt binh tại Điện Biên, ngay sau ngày đại thắng, Tổng Tư lệnh đã có một đánh giá nổi tiếng "Không có những con đường ấy, không thể có chiến thắng này..." Chắc chắn ý Đại tướng muốn nhắc tới con đường dài hàng ngàn ki lô mét từ hậu phương ra tiền tuyến, đặc biệt là những con đường kéo pháo vào trận địa tạo ra những đòn sấm sét xuống đầu giặc Pháp ở Điện Biên Phủ ngày ấy. Tất cả những con đường đó đều do lực lượng công binh chủ trì phối hợp với các lực lượng khác của quân đội, thanh niên xung phong và dân công tạo ra trong một thời điểm lịch sử. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ tôi lại có thêm vận may nữa là được làm một cán bộ công binh ở Bộ Tư lệnh Trường Sơn - Đoàn 559, có điều kiện tham gia nhiều sự kiện quan trọng của một đơn vị công binh trên một chiến trường đặc biệt. Trong thời gian phục vụ ở Trường Sơn với hậu phương là tỉnh Quảng Bình, tôi đã được gặp gỡ nhiều đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Bình, quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Từ đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương đều đánh giá cao vai trò và tầm nhìn chiến lược, sự chỉ đạo của Đại Tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với Quảng Bình, đặc biệt là đối với hệ thống đường sá giao thông, và công tác chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ sớm muộn cũng sẽ xảy ra. Sau này trong tập hồi ký "Tuyến lửa, những năm tháng sôi động" do sở Giao thông vận tải Quảng Bình phối hợp với Nhà xuất bản GTVT xuất bản và phát hành năm 1993, đồng chí Lại Văn Ly, nguyên Phó Chủ tịch uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình, nguyên Trưởng ty Giao thông vận tải Quảng Bình, nguyên Trưởng ban Đảm bảo giao thông vận tải Quảng Bình, đã có dòng tâm sự sâu sắc: "Tháng 3 năm 1961, trong một chuyến vào thăm Quảng Bình, với tầm nhìn xa chiến lược của một nhà quân sự tài ba, Đại tướng đã nghĩ đến những phương án chủ động đảm bảo giao thông sắp tới, trong đó ý định trước hết là các tuyến đường mới vượt Trường Sơn...”. Đại tướng đã nhận định: "Sắp tới đường 15A thông xe rồi, địch sẽ khống chế mạnh, ta phải có đường vượt qua Trường Sơn đi xuống đường 9... Trên cơ sở đó Đại tướng đã có một số chỉ thị và gợi ý cho Quảng Bình chuẩn bị sẵn sàng những phương án trước". Vì thế không phải ngẫu nhiên mà Quảng Bình đã có những đóng góp to lớn vào hệ thống đường Hồ Chí Minh ở khu vực biên giới mà lính Trường Sơn quen gọi là khu vực vượt khẩu ác liệt nối hậu phương với tiền tuyến; từ đường 12 ở phía Bắc đến đường 16 ở phía Nam, đặc biệt là đường 20A nối Phong Nha - Quảng Bình với Lùm Bùm trên đất Bạn. Tất cả những tuyến đường đó đều có sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Đại tướng Tổng Tư lệnh như các đồng chí lãnh đạo Quảng Bình và Bộ Tư lệnh 559 đã xác nhận tại nhiều văn kiện lịch sử. Trong suốt 16 năm tồn tại, đường Hồ Chí Minh lịch sử, một tuyến vận tải chiến lược vĩ đại nhất không chỉ trong lịch sử chiến tranh Việt Nam mà cả trong lịch sử chiến tranh thế giới, năm nào đoàn cán bộ 559, gồm tư lệnh, Chính ủy và các cán bộ chủ chốt đầu ngành từ vận tải, bộ binh, công binh, phòng không cao xạ, thông tin, hậu cần... cũng được gọi ra Hà Nội báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ mới. Đặc biệt Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp luôn dành thời gian trực tiếp chỉ đạo cơ quan Bộ làm việc với Đoàn và cá nhân Đại tướng thường có những buổi làm việc riêng với tư lệnh và Chính uỷ Đoàn. Tuy nhiên không ít năm, Đại tướng đã trực tiếp gặp gỡ và động viên cả đoàn mà tôi cũng có may mắn được tham dự. Đặc biệt khi có chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn từ Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đến Chơn Thành, Lộc Ninh, Tây Ninh nhằm chuẩn bị cho chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Mặc dù đang an dưỡng tại Đồ Sơn, Đại tướng đã triệu tập cả đoàn cán bộ 559 do Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên dẫn đầu xuống Đồ Sơn làm việc và kết thúc bằng một buổi chiêu đãi lịch sử khiến ai được dự đều không thể quên. Chính những tình cảm sâu đậm với đường Hồ Chí Minh, với bộ đội Trường Sơn mà ngay sau khi Hiệp định Paris vừa có hiệu lực, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với cương vị uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã về dự Đại hội tổng kết của bộ đội Trường Sơn được tổ chức vào đầu tháng 3 năm 1973 ngay trên đất Quảng Bình. Đây là lần thứ 3 Đại tướng tới dự hội nghị tổng kết của bộ đội Trường Sơn. Rồi ngay sau khi hội nghị tổng kết và đại hội mừng công vừa kết thúc, Đại tướng đã cùng Chính uỷ Đặng Tính và Tư lênh Đồng Sĩ Nguyên đi thị sát chiến trường Trường Sơn. Đại tướng đã dừng lại nghiên cứu các trọng điểm địch đánh phá ác liệt trước đây. Tiêu biểu là trọng điểm Lùm Bùm, Ka Tốc, Chả Là, đặc biệt là cụm trọng điểm ATP (cua Chữ A, ngầm Ta Lê đèo Phu La Nhích) trên đường 20 Quyết Thắng. Hôm ấy công binh vừa bắc cầu phao qua Ta Lê vì nước sông còn lớn, Đại tướng đã bước xuống cầu phao, khoả tay vào dòng nước sông Ta Lê đã qua mấy ngàn ngày, suốt từ năm 1966 đến năm 1972, chịu đựng đủ loại bom đạn Mỹ ném xuống với đủ loại máy bay cường kích phản lực, B52 của không quân Mỹ, mà ngầm Ta Lê vẫn hiên ngang tồn tại cùng với cua Chữ A, đèo Phu La Nhích bảo đảm cho xe ta ngày đêm đưa hàng vào chiến trường. Có lẽ vì những chiến công hiên hách của lực lượng công binh ở cụm trọng điểm ATP này mà Đại tướng đã dừng lại cả buổi và đêm đó bên ngầm Ta Lê, Đại tá Nguyễn Việt Phương, một cán bộ lão thành năm xưa là Chỉ huy trưởng Sư đoàn 571 binh chủng hợp thành đã có vinh dự phục vụ Đại tướng ở khu vực này. Trong một bài ký viết vào tháng 3 năm 1999 với bút danh Khổng Phương Việt, anh Việt Phương đã cho chúng ta thấy được chuyến đi lịch sử của vị Tổng Tư lệnh huyền thoại, đặc biệt là những phân tích vừa thân tình vừa lôgíc của Đại tướng trong cuộc toạ đàm bên dòng sông Ta Lê khiến tác giả bài ký bữa đó... "cảm thấy ngợp trước những lời đánh giá và phương hướng mới của tuyến chi viện...". Tôi rất đồng tình với những đánh giá, nhận xét của Nguyễn Việt Phương về chuyến đi lịch sử này của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp như trong bài ký của anh, đã nói trên. Trong những năm gần đây, sau khi về hưu, tôi lại may mắn nhờ có anh bạn thân là đồng đội cũ, Đại tá Nguyễn Huyên, Thư ký của Đại tướng, nên thỉnh thoảng được phép cùng các đoàn cựu chiến binh công binh vào thăm sức khoẻ Đại tướng. Trong nhiều cuộc gặp, Đại tướng thường hỏi thăm các cán bộ lão thành công binh đã từng có dịp gặp gỡ và làm việc với Đại tướng. Đặc biệt Đại tướng hỏi nhiều về bác Nguyễn Văn Nhạn, một lão thành công binh đã gần 90 tuổi, một kỹ sư công chính của chế độ cũ đã gia nhập quân đội trên cương vị Trưởng phòng Chính trị Văn phòng Bộ Quốc phòng đầu tiên do ông Phan Anh làm Bộ trưởng. Năm 1946 với trình độ chuyên môn về cầu đường, bác Nhạn đã chuyển về công binh và là 1 trong 2 Tiểu đoàn trưởng công binh đầu tiên (người thứ hai là bác Đinh Khang, phu quân của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình) đã tham gia các hoạt động công binh tại Hà Nội trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Bác Nguyễn Văn Nhạn cũng là một trong những cán bộ công binh đầu tiên tham gia khảo sát và xây dựng đường Trường Sơn trên cương vị Tham mưu phó Đoàn 559 phụ trách công binh. Chắc chắn sự đóng góp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam vào quá trình hình thanh và trưởng thành của đường Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ còn nhiều hơn những điều tôi vừa kể trên. Nhưng chỉ với bấy nhiêu điều mà tôi thu lượm được cũng đã nói lên những cống hiến của "Anh Văn" với đường Hồ Chí Minh lịch sử trong những năm đánh Mỹ và thắng Mỹ trên Trường Sơn. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:42:50 am HỒI ỨC TRƯỜNG SƠN Đại tá Đặng Hương Đó lẽ kẻ thù đáng sợ nhất trên Trường Sơn chính là mùa mưa dai dẳng, liên miên, mưa đến thối đất, thối trời suốt từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và có thể dài hơn. Với lượng mưa lớn đến mức mọi con sông, suối đều trở thành những dòng thác hung dữ thì giao thông vận tải đành phải bó tay và việc chi viện cho các chiến trường hết sức khó khăn, phải tranh thủ từng ngày từng giờ mưa rút, tạnh ráo. Nhưng mỗi khi mưa vừa dứt, có chút nắng hửng lên thì máy bay thám thính của Mỹ lại vè vè trên bầu trời Trường Sơn, ngó nghiêng tìm kiếm những sơ hở của chúng ta để chỉ điểm cho lũ máy bay cường kích đến đánh phá. Khi mùa khô tới, đường sá được sửa chữa, khôi phục để phục vụ các chiến dịch vận chuyển lớn thì cũng là lúc không quân địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, vừa đánh ngăn chặn trên các trọng điểm, vừa đuổi đánh theo các đội hình xe trên đường. Qua con số thống kê của cơ quan tác chiến mặt trận Trường Sơn ngày đó, chắc chắn là chưa đầy đủ thì trong mùa khô năm 1965-1966, địch mới chỉ huy động không đến 12 ngàn lượt/chiếc máy bay đánh phá đường Trường Sơn cả ngày lẫn đêm, nhưng đến mùa khô năm 1968-1969, địch đã dùng tới gần 170 ngàn lượt/chiếc máy bay, có nghĩa là tăng gần 15 lần. Tiếp đến mùa khô năm 1969-1970, trong số gần 150 ngàn lượt/chiếc máy bay Mỹ đánh phá dọc Trường Sơn đã có gần 5 ngàn lượt/chiếc máy bay B52. Cao điểm nhất là mùa khô năm 1970-1971, trong số 126.643 lượt/chiếc máy bay Mỹ bắn phá đường Trường Sơn, đã có tới 9.810 lượt/máy bay B52. Và tổng số bom dạn của Mỹ ném xuống Trường Sơn, dù chưa thống kê hết cũng đã cho ta những con số khủng khiêp: hơn 7,5 triệu quả bom phá nổ, gần 45 ngàn quả bom từ trường, hơn 22 ngàn quả bom nổ chậm, hơn 17 ngàn quả bom cháy, gần 70 ngàn quả bom bi và gần nửa triệu loạt đạn rốc két. Tính trung bình mỗi năm 1 ki lô mét đường Trường Sơn phải chịu gần 5 nghìn quả bom và loạt đạn rốc két, cũng có nghĩa là mỗi mét dài đường Trường Sơn phải hứng chịu 5 trái bom và loạt dạn rốc két trong một năm. Với những ai chưa trải qua chiến tranh thì những con số trên có thể chỉ là những con số thống kê tham khảo, nhưng với những người đã từng chiến đấu trên Trường Sơn trong những năm đánh Mỹ, hoặc chỉ một lần đã đi qua Trường Sơn trong những năm chiến tranh ác liệt nhất, hẳn không bao giờ quên được những quang cảnh tàn phá, chết chóc suốt dọc tuyến đường dài hàng ngàn ki lô mét. Ta thử hình dung vào cuối năm 1966, khi địch mới chỉ bắt đầu đánh phá tuyến đường 20, một tuyến đường ngang vào chiến trường bắt đầu từ Phong Nha - Bố Trạch - Quảng Bình, thì hai bên bờ sông Ta lê, cách Phong Nha chưa đầy 80 ki lô mét còn xanh um những tán rừng săng lẻ, có cây gốc vài người ôm, thân trắng xoá tựa cây bạch dương của nước Nga xa xôi. Thế mà chỉ hai năm sau, năm 1969, những cánh rừng săng le bạt ngàn trên cụm trọng điểm ATP (cua Chữ A - ngầm Ta Lê - đèo Phu La Nhích) gần như đã biến mất, chỉ còn lại những gốc cây tướp túa, đen sạm bị bom Mỹ đánh bật khỏi mặt đất và những hố bom nối tiếp hố bom nham nhỏ, loang lổ... Tháng 3 năm 1969, trên đường từ A sầu - A Lưới, Thừa Thiên Huế trở về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi ngồi trong ca bin một chiếc xe vận tải vượt qua ngã ba La Hạp, một ngã ba nổi tiếng bởi sự đánh phá ác liệt của địch, mà như đi giữa biển lửa, vì những cánh rừng còn lại hai bên đường đang rừng rực bốc cháy do bom napan của Mỹ vừa mới ném xuống. Suốt các tuyến đường ngang, dọc Trường Sơn còn biết bao trọng điểm khác đã bị kẻ thù tập trung đánh phá ác liệt. Thế mà cuộc chiến đấu của bộ đội Trường Sơn đã kéo dài tới 16 năm liền, từ năm 1959 đến năm 1975. Những năm đầu rất gian khổ, nhưng âm thầm, lặng lẽ bởi phương thức vận chuyển còn là gùi, thồ với khẩu hiệu “Đi không để dấu, nấu không để khói, nói không thành tiếng”. Từ năm 1965 trở đi, đã chuyển mạnh sang vận chuyển bằng cơ giới với lực lượng xe ô tô vận tải ngày càng lớn, với nhiều tuyến đường mới được mở và có cả một tuyến đường ống dẫn xăng dầu thì cuộc chiến giữa ta và địch ngày càng trở nên ác liệt, một mất, một còn... Nhưng cuối cùng thì đường Trường Sơn, con đường Hồ Chí Minh lịch sử trong chiến tranh chống Mỹ, đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình đảm bảo cho các chiếc trường ngày càng đánh lớn, dẫn đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 kết thúc vào ngày 30 thang 4 năm ấy. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:44:03 am KỂ LẠI CHUYỆN LÀM CẦU CÁP TA LÊ NHÂN ĐỌC BÀI BÁO “MỘT CHIẾN CÔNG CHƯA MẤY AI BIẾT ĐẾN” Đại tá Đặng Hương Báo Nhân dân cuối tuần số ra ngày 23 tháng 4 năm 1995 có đăng bài "Một chiến công chưa mấy ai biết tới" nói về sự ra đời của cầu dây cáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của chúng ta. Với tư cách là một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được cấp trên giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí tổ chức nghiên cứu, thiết kế và gia công, rồi đưa đi thực nghiệm cầu dây cáp hai sợi trên sông Nhuệ đoạn đầu cầu Diễn, bên cạnh chùa Thị Cấm thuộc xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, tôi xin được phép nói rõ hơn, nhằm đóng góp vào việc ghi lại thật đầy đủ lịch sử ra đời của cầu dây cáp, một công trình do quân đội khởi xướng và tổ chức thực nghiệm đầu tiên trên sông Nhuệ. Lúc đó vào nửa đầu năm 1965, chúng tôi, một số cán bộ Cục Nghiên cứu kỹ thuật trực thuộc Tổng cục Hậu cần, nay là Viện Kỹ thuật Quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng, được triệu tập lên Bộ Tham mưu Tổng cục để nghe anh Trần Hiếu Tâm, bây giờ là Tham mưu phó Tổng cục, giới thiệu một dạng cầu dây cáp hai sợi cho xe ô tô của quân đội nước Bạn. Nội dung giới thiệu rất sơ lược, không có tài liệu bản vẽ thiết kế tính toán, mà chỉ bằng hình vẽ mô tả qua trí nhớ của anh Tâm vừa đi tham quan, học tập ở nước Bạn về. Nhưng từ đó, một chủ trương của Tổng cục Hậu cần đề ra là Cục Nghiên cứu kỹ thuật phải phối hợp với các cơ quan Tổng cục nghiên cứu, thiết kế bằng được cầu dây cáp cho xe ô tô vượt sông nhằm phục vụ yêu cầu bào đảm giao thông trên chiến trường, đặc biệt là cho tuyến đường Trường Sơn đang chuyển mạnh sang vận chuyển bằng ô tô. Rất may là sau đó, qua Tạp chí Kỹ thuật và trang bị của quân đội Liên Xô lúc bấy giờ, chúng tôi đọc được một mẩu tin nhỏ giới thiện biện pháp vượt sông tương tự của quân đội Anh đã áp dụng ở rừng núi Malaysia để chống quân du kích địa phương. Có thể nói đó là tất cả cơ sở đầu tiên để tập thể chúng tôi bắt tay vào nghiên cứu, thiết kế. Chỉ một thời gian sau, vào mùa hè 1965, chúng tôi gồm một số cán bộ, chiến sĩ của Cục Nghiên cứu kỹ thuật và Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần đã kéo nhau xuống sông Nhuệ, ở khu vực đã nói trên để bắt tay vào thực nghiệm. Kết cấu của cầu quả là đơn giản, chỉ gồm có hệ thống hố thế ở hai bờ sông để neo giữ hai sợi dây cáp ở thượng, hạ lưu và hệ thống tăng đơ để điều chỉnh độ võng và cân bằng hai dây cáp. Cơ sở tính toán ban đầu của chúng tôi chỉ dựa vào những bài toán sức bền vật liệu của dây cáp, chưa nghĩ tới và cũng chưa tính được tính ổn định của đây đàn hồi. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự cố lật xe ô tô do thượng uý, trợ lý kỹ thuật Nguyễn Trọng Quyên thuộc Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần, được giao lái xe thực nghiệm. Rất may là gần mặt nước và anh Quyến đã thoát ra an toàn. Chiếc ô tô bị lật 360 độ, sau đó được kéo lên bảo dưỡng và lại tiếp tục hoạt động. Điều chúng tôi muốn khẳng định là lúc bấy giờ, trên sông Nhuệ, chỉ mới có duy nhất công trình thực nghiệm cầu dây cáp hoàn toàn do quân đội chủ trì mà trực tiếp là Tổng cục Hậu cần và Cục Nghiên cứu kỹ thuật tổ chức thực hiện. Để bảo đảm bí mật, bấy giờ trong điều kiện địch có những phương tiện trinh sát hiện đại từ trên không, quân đội chủ trương chỉ nghiên cứu loại hình cầu dây cáp hai sợi. Lúc đầu, theo kinh nghiệm của quân đội Bạn, chúng tôi dùng xe Giải phóng Trung Quốc (CA 10) đảo hai bánh trước biến thành hai pu-li chạy trên hai dây cáp, hàng bánh sau là bánh kép thì cho đây cáp trượt giữa hai bánh. Qua thực hiện, chúng tôi nhận thấy phương pháp này không ổn, vì quá phức tạp (xe trước khi xuống cầu phải tháo hai banh trước, lật phía trong ra phía ngoài, qua sông, phái tháo bánh xe ra đảo lại. Mặt khác do giãn cách giữa hai dây cáp quá hẹp, dễ gây sự cố lật xe), vì thế, chúng tôi đã nghiên cứu, thiết kế một loại pu-li lắp ngoài bánh xe để chạy, trên dây cáp, nhưng chỉ áp dụng được cho xe Gatz 63 của Liên Xô và Vọt tiến của Trung Quốc. Tuy nhiên, biện pháp này cũng có những phức tạp do phải lắp pu-li cho xe trước khi xuống cầu và tháo pu-li ra khi xe đã qua cầu mà tính ổn định của cầu cũng chưa thật bảo đảm. Từ thực tiễn thí nghiệm và qua gợi ý của tập thể, chúng tôi đã chuyển sang nghiên cứu loại phà treo trên hai sợi dây cáp bằng hệ thống pu-li và dùng động lực trên bờ kéo phà qua sông. Biện pháp này cũng có những bất tiện, cho nên chúng tôi đã nghiên cứu dùng ngay động lực của ô tô thông qua hàng bánh sau làm quay hệ thống ru-lô đặt trên phà và truyền lực làm quay hệ thống pu-li treo trên dây cáp đẩy phà qua sông. Phương pháp này được đặt tên là “phà treo tự hành” đã tỏ ra có hiệu quả, bảo đảm an toàn cho xe và đã được ứng dụng vượt sông Ta Lê trên đường 20 (trong cụm trọng điểm ATP nổi tiếng - cua Chữ A - sông Ta Lê - đèo Phu La Nhích) vào đầu mùa khô 1967 khi nước sông còn lớn chưa vượt ngầm được. Qua thực tiễn, chúng tôi thấy triển vọng úng dụng rộng rãi “phà treo tự hành” là rất lớn vì tính ổn định cao, ít phức tạp trong gia công, lắp ráp, đảm bảo được bí mật, bất ngờ nếu ta giữ kín được khu vực bến trượt, chủ yếu là hai đường vào cầu ở hai bờ sông. Tất nhiên biện pháp vượt sông này cũng còn một số nhược điểm cần được tiếp tục nghiên cứu, khắc phục. Rất tiếc là sau đó vì hoàn cảnh chiến trường ở xa hậu phương, vả lại cũng không có những đòi hỏi bức bách, cho nên chúng tôi không có điều kiện hoàn thiện và phát triển một biện pháp vượt sông khá độc đáo do Cục Nghiên cứu kỹ thuật thuộc Tổng cục Hầu cần lúc bây giờ đã dày công nghiên cứu và mạnh dạn đưa vào chiến trường thử nghiệm. Trong quá trình nghiên cứu loại cầu đây cáp hai sợi nói trên, chúng tôi đã hết sức tranh thủ và nhận được sự công tác chặt chẽ, tận tình, có hiệu quả của tập thể Viện Kỹ thuật Giao thông, đứng đầu là đồng chí Viện trưởng Đặng Văn Thông. Nhiều anh chị em cán bộ, nhân viên và công nhân của Viện đã sớm gắn bó với chúng tôi ngay từ những ngày đầu như anh Phan Cháu, Trưởng phòng Cơ khí, các anh chị An, Hưng, Tùng v.v... Có lúc chúng tôi đã sử dụng cơ quan Viện làm hậu cứ để triển khai việc thiết kế và gia công cơ khí. Chúng tôi cũng không quên sự giúp dỡ đầy nhiệt tình của Cục Cơ khí Bộ Giao thông vận tải lúc đó đã cử một số cán bộ kỹ thuật, đứng đầu là đồng chí Trịnh Xương, tham gia cộng tác trong giai đoạn đầu. Chúng tôi đặc biệt trân trọng sự đóng góp quý báu về mặt tính toán lý thuyết giúp giải quyết bài toán ổn định cầu dây cáp hai sợi của đông đảo các cán bộ giảng dạy bộ môn cầu, khoa Xây đựng, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trong đó có phó tiến sĩ Nguyễn Văn Hường, kỹ sư Lều Thọ Trình và nhiều anh em khác nữa, ngay sau khi xảy ra sư cố lật xe trên sông Nhuệ, đã tới tham gia, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tiếp tục nghiên cứu thí nghiệm, không những trên công trường cầu Diễn, mà còn ở phòng thí nghiệm của Trường. Cũng cần nói thêm là sau khi quân đội tổ chức công trường thí nghiệm loại cầu dây cáp hai sợi được một thời gian, vào cuối năm 1965, đầu năm 1966, cũng trên sông Nhuệ, đã xuất hiện một công trường nghiên cứu loại cầu dây cáp nhiều sợi lát ván lên trên cho xe đi qua của Bộ Giao thông vận tải, nơi phó tiến sĩ Nguyễn Văn Hường đã có nhiều đóng góp. Theo tôi biết, loại cầu dây cáp nhiều sợi nói trên đã được áp dụng khá rộng rãi tại nhiều điểm vượt sông ở hậu phương miền Bắc, có thể từ cầu Cà Tang, Hà Tĩnh trở ra và đến thời kỳ năm 1968 - 1969 được áp dụng ở Ta Lê trên đường 20 Quyết Thắng. Đến ngày hôm nay, đã hơn 30 năm sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, và cũng hơn 40 năm ngày ra đời chiếc cầu dây cáp dầu tiên do quân đội thiết kế và thi công thử nghiệm trên sông Nhuệ. Nhiều nhân chứng góp phần tích cực vào công trình đó đã qua đời, như các anh Trần Đức Minh, Ngô Đình Liễu đều là những chuyên gia kĩ thuật rất năng nổ, xông xáo của Cuc Nghiên cứu kỹ thuật lúc bây giờ; đồng chí Nguyễn Quang Lanh, lúc đó là Trưởng phòng Kỹ thuật của Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần. Nhưng số nhân chứng còn sông hiện ở Hà Nội cũng không ít như đồng chí Nguyễn Văn Mai ở Cục Quản lý xe quân đội, đã ngoài 70 tuổi, hiện đang sống ở K95 Phúc Xá; đồng chí Nguyễn Trọng Quyến, cán bộ lái xe thực nghiệm bị lật xuống sông Nhuệ, nay là đại tá về hưu, đã 75 tuổi, đang sông ở ngõ 190 Lò Đúc... Nhân đọc bài báo Một chiến công chưa mấy ai biết tới, nhiều anh đã đến gặp tôi bồi hồi ôn lại những kỷ niệm sâu đậm của đời lính khi tham gia nghiên cứu cầu dây cáp hai sợi với quyết tâm tiến quân vào khoa học - kỹ thuật, cố gắng tìm ra một giải pháp vượt sông độc đáo trên tinh thần đoàn kết, hợp đồng nội bộ quân đội và giữa quân đội với các nhả trường, cơ quan, xí nghiệp ngoài quân đội. Điều mong ước nhất của chúng tôi là công trình nghiên cứu và ứng dụng cầu dây cáp hai sợi và nhiều sợi dù rất nhỏ bé, nhung vẫn mang một ý nghĩa cả về chính trị, quân sự và khoa học trong sự nghiệp cách mạng nói chung của nhân dân ta đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian nan, thử thách, nhưng đã giành chiến thắng oanh liệt của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quang vinh. Vì thế, cần được tổng kết, đánh giá đúng đắn và đầy đủ, để có thể rút ra những bài học về nhiều mặt, phục vụ sự nghiệp giáo dục con người và xây dựng đất nước trong tình hình hiện nay. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:45:10 am THÁNG BẢY VỀ CÀNG THÊM NHỚ CÁC ANH Đại tá Đặng Hương Năm 1967, tôi được lệnh đưa gấp một số thiết bị từ Hà Nội vào nghiên cứu vượt sông Ta Lê, một con sông nhỏ nhưng lại nằm trên một cửa khẩu vượt Trường Sơn vào loại quan trọng bậc nhất và lúc đó và đang bị địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt. Sau hàng tháng trời chờ đợi hành quân nhập tuyến, khi chúng tôi vào đến địa điểm tập kết thì mùa mưa Trường Sơn đã bắt đầu. Phần lớn các cơ quan và đơn vị đã lục tục rút ra hậu phương để củng cố và chuẩn bị cho mùa khô tới. Để giúp chúng tôi triển khai nhiệm vụ được thuận lợi, cơ quan Bộ Tư lệnh 559 đã cử các cán bộ kỹ thuật xuống hỗ trợ. Người thứ nhất là Phan Vũ Trang, một kỹ sư ngành cầu, trẻ, đẹp trai, mới ra trường năm 1965 đã vào ngay chiến trường. Người thứ hai là Nguyễn Văn Thềm, một tay nghề cơ khí có hạng, lại thạo công việc cầu đường, được Bộ Giao thông vận tải biệt phái vào Đoàn 559 cũng thời gian đó. Lúc này bom đạn Mỹ ném xuống Trường Sơn rất nhiều, lại kèm theo những trận mưa chất độc hoá học hòng khai quang rừng Trường Sơn. Nhưng cả hai anh sống rất lạc quan và tỏ ra dày dạn với bom đạn cùng những gian khổ của chiến tranh trên Trường Sơn. Vì thế công việc của chúng tôi tiến hành khá thuận lợi, bất chấp mưa lũ và con mắt nhòm ngó liên tục của lũ máy bay trinh sát Mỹ kèm theo những trận đánh vu vơ của bọn máy bay AD4. Đến tháng 9 năm 1967 thì công trình vượt sông Ta Lê của chúng tôi đã cơ bản hoàn thành và sẵn sàng phục vụ cho hoạt động vận tải đầu mùa khô 1967-1968. Lúc đó trung đội công binh phối hợp với chúng tôi được lệnh tranh thủ củng cố hệ thống đường phía bắc Ta Lê, chủ yếu là đoạn cua Chữ A bị sụt lở nhiều trong mùa mưa. Tuy không phải nhiệm vụ của mình, Phan Vũ Trang và Nguyễn Văn Thềm vẫn tình nguyện ra mặt đường giúp đỡ bộ đội công binh về mặt kỹ thuật nhằm nhanh chóng đẩy nhanh tiến độ. Mấy ngày trôi qua công việc khôi phục và nâng cấp đoạn cua Chữ A tiến triển tốt đẹp. Đến một ngày, trời có lúc hửng nắng, mưa đã giảm hẳn, trung đội công binh được lệnh sửa gấp một số cống, kè đòi hỏi sự chỉ đạo về mặt kỹ thuật. Theo đề nghị của đồng chí Binh trạm phó, hai đồng chí Trang và Thềm lại xin phép tôi ra mặt đường giúp đỡ bộ đội buổi cuối cùng. Quá trưa hôm đó, khi công việc đã gần xong, bỗng máy bay địch kéo đến đánh phá suốt đoạn đường đơn vị vừa khôi phục. Đã quen với thủ đoạn đánh của địch, cả trung đội công binh cùng hai đồng chí Trang và Thềm bình tình rút xuống ẩn nấp đọc đoạn suối nhỏ gần dó. Bỗng một loạt bom toạ độ rơi lạc, trúng giữa đội hình của trung đội đang ẩn nấp. Nhận được tin báo về chúng tôi tổ chức ngay lực lượng bơi qua sông, nước đang dâng to, để kịp thời cấp cứu những anh em bị thương và tìm kiếm tử sĩ. Thông tin đầu tiên là đồng chí trung đội trưởng công binh hy sinh và hai đồng chí Trang, Thềm chưa tìm thấy. Tôi trực tiếp chỉ huy anh em đào bới và phân công một số đồng chí đi sục sạo, tìm kiếm ở khu vực xung quanh. Trời đã về chiều, lại đổ mưa lớn, chúng tôi cũng vừa kịp đưa hết thương binh, tử sĩ ra khỏi khu vực nguy hiểm còn có bom chờ nổ. Bỗng một đồng chí phát hiện những mảnh áo sơ mi quen thuộc của Thềm và Trang còn mắc trên mấy cành cây sót lại gần đó. Thế là rõ, Phan Vũ Trang và Nguyễn Văn Thềm đã bị bom Mỹ huỷ hoại hoàn toàn, không thể tìm thấy thi thể. Nhiều đồng đội trên chiến trường mỗi khi bị bom Mỹ đánh trúng đội hình cũng hy sinh trong hoàn cảnh như thế này. Chúng tôi đành lặng lẽ phân công nhau, cố tìm kiếm và thu thập những gì còn lại của tử sĩ đưa về chỗ trú quân. Suốt đêm hôm đó, tôi không thể chợp mắt vì hơn mười cán bộ, chiến sĩ đã đột ngột ra đi không một lời trăng trối, trong đó có hai người bạn thân thiết của tôi. Phan Vũ Trang vốn quê ở Khánh Hoà, tập kết ra miền Bắc trong diện con em cán bộ, bố mẹ có nhiệm vụ ở lại miền Nam. Dù rất nhớ thương bố mẹ và quê hương nhưng anh luôn phấn đấu học giỏi và tốt nghiệp kỹ sư ngành cầu khi mới ngoài hai mươi tuổi. Ra trường Trang xung phong vào bộ đội và được điều ngay vào Đoàn 559. Lúc rảnh rỗi Trang thường tâm sự với tôi nhiều ước mơ của tuổi trẻ và những dự định trong tương lai: Nào đánh Mỹ xong, Trang sẽ xin học thêm về chuyên môn và mong được về xây cho quê hương những cây cầu thật đẹp, nào trong mùa khô sắp tới nếu có điều kiện Trang sẽ tìm cách ra gặp cô bạn gái đồng hương đã có nhiều hò hẹn nhưng mới chỉ trên tình bạn cùng quê. Còn Nguyễn Văn Thềm, có vợ rồi nhưng vẫn chưa có con. Vợ Thềm lúc đó đang là công nhân trong một xí nghiệp của ngành Giao thông vận tải. Thỉnh thoảng anh em ở Hà Nội vao lại mang cho Thềm những lá thư kèm theo túi quà, gói ghém tất cả tình cảm của người vợ sống đơn chiếc ở hậu phương. Thềm thường nói với tôi: đánh Mỹ xong anh sẽ đưa vợ về công tác ở Bắc Giang đế có điều kiện chăm sóc bố mẹ già ở quê. Tôi biết có nhiều đêm dù rất yên tĩnh, hầu như vắng hẳn tiếng máy bay Mỹ nhưng Thềm vẫn trằn trọc. Tôi cũng không ngủ được. Thế là hai anh em thức dậy, kéo nhau ra cửa hang đá để tâm sự. Thềm lại kể cho tôi nghe hoàn cảnh khó khăn của gia đình và những dự định khi trở về sau chiến tranh. Thế mà giờ đây cả Trang và Thềm đều không còn nữa. Thật đau xót! Đầu mùa khô năm ấy, tôi cũng bị thương trong khi làm nhiệm vụ và được chuyển về hậu phương điều trị. Một thời gian sau dù vết thương chưa lành hẳn nhưng theo yêu cầu của chiến trường tôi lại quay vào Trường Sơn cho đến khi chiến tranh kết thúc. Đến nay đã hơn 30 năm trôi qua nhưng hình ảnh Phan Vũ Trang vả Nguyễn Văn Thềm vẫn luôn in đậm trong tôi cùng hình ảnh nhiều đồng đội Trường Sơn khác mà tôi đã được chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của họ. Tự nhiên tôi nhớ lại con đường đã đi qua suốt hai cuộc kháng chiến và thấy mình thật may mắn là vẫn còn sống dù có đôi lần bị thương và nhiều phen chết hụt. Có người bảo tôi: đó là số mệnh, nhưng tôi vẫn cứ thấy ân hận khi nhớ tới những đồng đội của mình không còn nữa. Tôi thường băn khoăn tự hỏi: mình may mắn còn sống, nhưng liệu mình hôm nay đã xứng đáng với những hy sinh to lớn của bao bạn bè đồng đội đã khuất. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:46:19 am THÁNG NĂM VỀ NHỚ RỪNG SĂNG LẺ TA LÊ Đại tá Đặng Hương Tôi không có may mắn được sống ở Trường Sơn trước khi xuất hiện những con đường cơ giới vượt Trường Sơn chi viện cho các chiến trường miền Nam. Nghe đồng bào các dân tộc bản địa kể lại là ngày ấy rừng già đủ loại còn phủ kín cả hai sườn đông, tây Trường Sơn. Đến năm 1967, khi đường 20 Quyết Thắng từ Phong Nha - Quảng Bình vươn lên đỉnh Trường Sơn thì tôi mới có mặt ở đầu nguồn sông Ta Lê, nơi đường 20 cắt ngang dòng sông này với cụm trọng điểm giao thông nổi tiếng ATP. Năm 1967, đường 20 đã bị máy bay xăm soi suốt ngày đêm và đánh phá tơi bời mà cụm trọng điểm ATP là mục tiêu số 1 của chúng. Nhưng thật kỳ lạ, suốt năm đó, bất chấp bom đạn Mỹ đổ xuống đây không ít, những cánh rừng săng lẻ dọc đôi bờ con sông nhỏ Ta Lé gập ghềnh thác đá vẫn thản nhiên tồn tại, xanh rì, tươi tốt. Sở dĩ tôi cứ nhớ mãi cánh rừng săng lẻ nơi đây vì nó đẹp quá, thơ mộng, hùng vĩ quá. Quanh chỗ chúng tôi ở có những gốc săng lẻ to nhỏ đủ loại, những thân cây người ôm không xuể, đã mốc thếch trắng xoá từ gốc đến ngọn, gợi nhớ trong tôi hình ảnh những cây bạch dương nơi đất Nga mà tôi từng tận mắt nhìn nhiều năm trước đó. Chính giữa dải rừng săng lẻ còn um tùm, kín đáo này ở thượng nguồn con sông Lê, cách đường 20 chừng vài ki lô mét, chúng tôi đã cho ra đời một cây cầu treo bằng dây cáp phục vụ tuyến giao liên, đã phát huy hiệu quả trong mùa mưa năm 1967. Cuối năm 1967 tôi bị thương, suýt mất một bàn chân, đành phải luyến tiếc chia tay đồng đội công binh anh hùng, chia tay cánh rừng săng lẻ đã đùm bọc, chở che mình trong mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Đến giữa năm 1968, theo yêu cầu của cấp trên, tôi lại quay vào Trường Sơn trên một chiếc xe tải đầy ắp những bao gạo. Khi xe băng qua trọng điểm ATP, dù chân còn đau, tôi cũng cố nhổm dậy trên bao gạo để ngắm nhìn cảnh cũ thân quen. Trời tối quá, đêm lại không ánh trăng, không một chùm pháo sáng vu vơ từ máy bay Mỹ phóng ra soi đường vì đang mùa mưa, tôi chỉ thấy nham nhở những hố bom, không còn gặp được tán săng lẻ nào... Năm 1972, tôi có dịp quay lại Ta Lê, khi kẻ thù đã bắt đầu chuyển làn, tập trung đánh phá vào phía trong, có phần buông lỏng trọng điểm ATP. Nhớ lại những ngày còn lặn lội dọc con sông bờ đầy săng lẻ 5 năm về trước, tôi không thê ngờ được địa hình, địa mạo nơi đây lại thay đổi đến thế! Còn đâu nữa những mỏm đá tai mèo chênh vênh nhô ra sát mép nước cuồn cuộn chảy. Còn đâu nữa những chiếc hang lớn, nhỏ mà chúng tôi đã trú quân, đã cất giấu phương tiện vượt sông làm đường... Còn đâu những cô, chú lính Trường Sơn khôn ngoan rất mực, vui đùa quấn quýt, trêu ghẹo chúng tôi. Còn đâu nữa những chú vẹt má xanh, mỏ đỏ véo von suốt ngày trong lùm cây trên những mỏm đá tai mèo... Tôi cảm tưởng cả dãy núi đá vôi thân thuộc năm xưa đã sập xuống cùng với sự tiêu vong của dãy rừng săng lẻ xanh tốt bên dòng sông Lê năm nào. Trước mắt tôi lúc này là những hố bom chi chít, nhiều hố chồng chất lên nhau với làn nước trong veo không có một sinh vật, thực vật nào tồn tại. Đây là hậu quả đánh phá liên tục nhiều năm của không quân Mỹ với đủ loại máy bay, từ B.52 đến "thần sấm", "con ma", “giặc nhà trời"... Đồng chí Nguyễn Văn Tiến, một sĩ quan công binh can trường nhiều năm bám trụ nơi đây, dẫn tôi đi thăm lại nơi tôi đã sống và làm việc 5 năm trước. Tiến vốn là một chiến sĩ của đại đội mà tôi chỉ huy trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Tình cờ gặp lại nhau trên Trường Sơn, Tiến muốn đưa tôi đi để có dịp cùng nhau ôn lại nhiều kỷ niệm cũ. Vẫn cái dáng người gầy gầy, nước da đen nhẻm và nụ cười thường trực trên môi, Tiến chỉ những hố bom to quá cỡ, giải thích cho tôi biết đây là kết quả của những trận đánh bom lađe của không quân Mỹ với hy vọng "chặn đứng cuống họng vận tải của Việt Cộng”. Nhưng chúng đâu có biết ta đã bỏ ngầm A, xây dựng những ngầm B, C, D... trên một chính diện tới vài chục ki lô mét dọc con sông Lê này. Bỗng tiếng chép miệng giọng đầy luyến tiếc: “Chỉ buồn là những cánh rừng săng lẻ mà anh tâm sự với em không còn nữa... Chúng đã gục ngã vì các loại bom phát quang và những bom tấn, bom la de, chất độc hoá học của không quân Mỹ. Biết đến bao giờ những cánh rừng đẹp như mơ mà anh vừa kể được hồi sinh nhỉ? Có lẽ phải hàng thẾ kỷ, khi ngang dọc Trường Sơn này đan xen những con đường lụa phẳng lì đẹp đẽ, thì những thế hệ hậu sinh mới có may mắn được gặp lại những cánh rừng săng lẻ, những gốc bạch dương Việt Nam” của anh. Đến ngày ấy, cả tôi và anh đều đã là người thiên cổ rồi..." Đã 37 năm trôi qua, kể từ ngày tôi quay lại Ta Lê lần cuối và gặp được Tiến. Cũng đã hơn 40 năm "1967-2009" đã lùi vào dĩ vãng kể từ lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng những cánh rừng săng lẻ Ta Lê. Năm nay dù đã gần 80 tuổi, tôi vẫn ước mong có một ngày được quay trở lại Ta Lê, được tìm về những kỷ niệm của quá khứ dưới tán cây săng lẻ bên dòng Nậm Lê xinh đẹp. Tháng năm đã về, tháng của truyền thống bộ đội Trường Sơn. Ôi! Nhớ vô cùng những cánh rừng săng lẻ Ta Lê! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:47:45 am NHỮNG CHIẾN SĨ KHẢO SÁT ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN - ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH NĂM XƯA Đại tá Đặng Hương Sách báo đã viết nhiều về lực lượng quân đội trên đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ: từ anh chiến sĩ lái xe ô tô, đoàn quân giao liên gùi, thồ, vận tải đường sông, anh bộ đội công binh, anh lính cao xạ, đến người chiến sĩ thông tin, quân y, hậu cần... Cũng không ít bài viết ca ngợi các lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến đã góp phần làm nên tuyến đường lịch sử. Tất cả những gì các ký giả đã viết về Trường Sơn những năm đánh Mỹ đều thật đáng hoan nghênh, nhưng rõ ràng vẫn còn chưa thể nào đủ, bởi quy mô và sự tích anh hùng của con đường mà trước hết là những tấm gương của những con người chiến đấu trên đường Hồ Chí Minh vĩ đại, thật đáng khâm phục. Trong bài viết ngắn này tôi hy vọng khắc hoạ thêm đôi nét chân dung những con người mà tôi hằng kính trọng và quý mến. Đó là lực lượng khá đông đảo những cán bộ quản lý, cán bộ nhân viên kỹ thuật đủ các ngành nghề của ngành Giao thông vận tải Việt Nam, đã hăng hái tham gia chiến đấu, xây dựng và bảo vệ tuyến đường Trường Sơn trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Phải chăng những tuyến đường 15, 16... từ hậu phương miền Bắc đến vĩ tuyến 17 do lực lượng ngành Giao thông vận tải mở trước năm 1965 có thể coi như khúc nhạc dạo đầu của bản trường ca “đường Hồ Chí Minh đánh Mỹ” những năm sau này? Tuy nhiên phải đến năm 1965, khi địch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tập trung đánh phá hệ thống cầu, đường hòng chặn đứng sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam thì mặt trận giao thông vận tải trên Trường Sơn mới thực sự chuyển mạnh sang giai đoạn: lấy vận tải cơ giới là chủ yếu và yêu cầu phát triển mạng đường ô tô càng trở nên cấp bách. Đến lúc này những lực lượng tinh nhuệ của ngành Giao thông vận tải Việt Nam xung trận ngày càng mạnh mẽ hơn cùng với sự xuất hiện của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính uỷ Đoàn 559. Thời gian đồng chí Phan Trọng Tuệ ở Đoàn 559 không dài chủ yếu là trong năm 1965 đến đầu năm 1966, nhưng có thể nói đó là một năm quyết liệt trên mặt trận cầu đường Trường Sơn, và theo suy nghĩ của cá nhân tôi, đó cũng là năm có tính chất quyết định đối với sự nghiệp mở đường ô tô trên Trường Sơn. Bởi vì vào lúc này quả thật ta còn hiểu biết quá ít về thời tiết, thuỷ văn và đặc điểm khí hậu Trường Sơn, ta đã không lường hết những khó khăn, phức tạp do mưa lũ gây ra đối với hệ thống cầu đường và cả với con người. Trong tình hình đó, với kinh nghiệm tích luỹ được trong những năm phụ trách ngành Giao thông vận tải ở hậu phương, cộng với tác phong xông xáo, sâu sát của một chỉ huy quân sự tài ba thời đánh Pháp, tướng Phan Trọng Tuệ đã nhận trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo rất cụ thể việc thi công đường 128, con đường huyết mạch Trường Sơn sau này, và chiến dịch: “Vượt túi nước Seng Phan" trong mùa mưa năm 1965 để đáp ứng bằng được những nhu cầu tối thiểu cho chiến trường phía trong. Năm đó, trên cương vị của mình, bằng tinh thần trách nhiệm cao và sự năng động không mệt mỏi, Bộ trưởng - Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đã đi gặp nhiều cá nhân, nhiều cơ quan đơn vị trong, ngoài quân đội và Bộ Giao thông vận tải để huy động kịp thời nguồn nhân tài, vật lực phục vụ cho việc phá thế độc đạo của tuyến vượt khẩu, kéo dài con đường về phía Nam tiếp cận các hướng chiến trường mà khởi đầu là đường 128, đến đường 20 và sau đó kéo dài đường 128 vượt sông Bạc vào tận cùng đến biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Những ai từng ở Trường Sơn ngày ấy chắc hẳn đã được chứng kiến cảnh hàng đoàn quân kĩ thuật ngành Giao thông có tay nghề lão luyện từ khảo sát, thiết kế đến thi công nối nhau vào Trường Sơn. Tiếp đó là các đoàn xe, máy hùng hậu những tài sản, thiết bị rất quý ở hậu phương lúc đó được ưu tiên huy động vào Đoàn 559, mở ra một cách làm mới trong sự nghiệp đường Trường Sơn. Tiếp bước Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ là Thứ trưởng Nguyễn Tường Lân trên cương vị Phó Tư lệnh Đoàn 559 đặc trách khâu cầu đường, người thường đùa vui với anh em: mình là “Tư lệnh - binh ba”. Với trách nhiệm được giao anh Nguyễn Tường Lân thường ít khi có mặt ở chỉ huy sơ mà thường trực tiếp đi chỉ đạo các đơn vị mở đường mới, bảo đảm giao thông ngay trên thực địa. Năm 1967 ta và địch đang giành giật nhau ở vùng núi A Sầu - A Lưới thì Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân cùng với Tham mưu phó Công binh Nguyễn Nam Hải đã có mặt ngay trong vùng chiến sự trực tiếp chỉ đạo khảo sát và thi công tuyến đường vận tải phục vụ mặt trận Thừa Thiên Huế và chiến trường Khu 5. Bên cạnh Thứ trưởng Nguyễn Tường Lân người ta còn bắt gặp nhiều cán bộ ngành Giao thông trên những cương vị khác nhau từ cấp vụ, cấp cục, đến cấp phòng và chuyên viên kỹ thuật đủ ngành nghề đã tham gia khảo sát, thiết kế và thi công đường 128, đường 20 và sau này được tổ chức thành Ban 67 quản lý và đảm bảo giao thông mạng đường Tây Nam Quảng Bình tiếp giáp hệ thống đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Và còn cả một đội ngũ đông đảo các kỹ sư, kỹ thuật viên của ngành Giao thông vận tải từ nhiều cơ quan, đơn vị và các địa phương được biệt phái vào Đoàn 559. Họ có mặt ở khắp nơi từ các cơ quan Cục Tham mưu Công binh 559 đến các đội khảo sát, các đơn vị công binh và bộ binh trên đường vào chiến trường được lệnh dừng lại tham gia mở đường và trở thành các đơn vị công binh chủ lực thuộc Bộ Tư lệnh 559 như các Trung đoàn 4, 5 và 10 v.v... Tôi vốn là một chiến sĩ công binh từ thời đánh Pháp, sau năm 1954 có may mắn được qua đào tạo tại một học viện công binh nước ngoài, rồi về phục vụ ở cơ quan Cục Tham mưu Công binh 559, nên biết rõ ngày đó bộ đội công binh nói chung mới chỉ quen với khái niệm đường quân sự làm gấp phục vụ tác chiến của bộ binh và các binh chủng trong một chiến địch nhất định. Nhưng ở Trường Sơn, không phải là đường quân sự làm gấp mà cũng chưa phải là đường xây dựng cơ bản như ở hậu phương. Đây là một hệ thống đường vận tải ô tô thời chiến phải thi công đảm bảo đáp ứng được yêu cầu vận tải phục vụ các binh chủng vào chiến trường một cách kịp thời và kéo dài cả một giai đoạn từ năm nọ sang năm kia, đồng thời lại phải đối phó được những thủ đoạn đánh phá của không quân Mỹ đang chiếm ưu thế trên không. Quả là chưa có sách nào dạy mà phải đưa vào tình hình thực tế để vận dụng các lý thuyết về bán kính đường vòng, về tốc độ yêu cầu, về nền, mặt đường cho phù hợp. Chính trong lúc này những đóng góp của đội ngũ cán bộ kỹ thuật ngành Giao thông vận tải trên Trường Sơn là vô cùng quý giá. Để có một con đường mới trước hết phải có một chuyên gia hoạch định các phương án dự kiến theo ý đồ của Tư lệnh, một lực lượng kỹ thuật đi khảo sát, cắm tuyến xác định phương án tối ưu, thực hiện các bước ngoại nghiệp, đo đạc, tính toán sơ bộ trên thực địa rồi làm nối nghiệp, lập bản vẽ, tính toán chi tiết khối lượng và đề xuất các phương án thi công, sử dụng lực lượng v.v... để có tài liệu báo cáo cấp trên và giao cho đơn vị thi công. Nói thì đơn giản vậy, nhưng để đảm bảo được toàn bộ các việc trên, đội ngũ khảo sát, thiết kế Trường Sơn phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, thậm chí phải đổ máu mới có được kết quả. Bởi quá trình đi tìm tuyến đường mới, người lính khảo sát phải trèo đèo lội suối, băng qua những khu rừng già nhiều khi chưa có dấu chân người, đầy rắn rết, thú dữ, chưa kể những đàn vắt đen, vắt xanh luôn rình rập bám người, lại còn bom, mìn do máy bay địch cố ý hoặc vô tình thả vào rừng, rồi bọn biệt kích, thám báo có thể bất ngờ chạm trán. Ngày nay nhìn trên bản đồ hoặc trên sa bàn ở các bảo tàng ta thấy dọc ngang đường Trường Sơn chi chít những con đường với tổng chiều dài cả trên hai chục ngàn ki lô mét. Đó là công lao của những lực lượng mở đường, mà trước hết là những tổ, đội khảo sát ở các cấp từ Cục Tham mưu Công binh 559 đến các binh trạm, các trung đoàn, thậm chí các tiểu đoàn công binh. Nòng cốt của lực lượng khảo sát đó chính là những kỹ thuật viên dày dạn kinh nghiệm do Bộ Giao thông vận tải cử vào biệt phái. Ngay từ buổi đầu tiếp xúc, tôi đã hết sức khâm phục các anh. Chỉ với cái thước đo độ dốc đơn giản và những cuộn dây đo độ dài, cùng với vài dụng cụ cần thiết khác, cùng với ít lương thực thực phẩm trên vai, các anh đã vạch ra những tuyến đường trên thực địa khá hợp lý để từ đó hình thành “một trận đồ bát quái xuyên rừng rậm” như một nhà báo nước ngoài đã ca ngợi. Tôi còn nhớ trong những năm đầu mở đường cơ giới trên Trường Sơn số sĩ quan quân đội có trình độ chuyên môn cao về cầu đường chưa nhiều, do đó số kỹ thuật viên và kỹ sư cầu đường mà ngành Giao thông vận tải biệt phái vào chiến trường lúc đó thật đáng quý. Sau này phần lớn các anh đã chuyển sang quân đội trở thành những sĩ quan trên nhiều cương vị khác nhau ở cơ quan Bộ Tư lệnh, các binh trạm và các đơn vị. Khi đất nước thống nhất, tuyệt đại đa số các anh vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội và nhiều anh đã được Đảng và quân đội tín nhiệm giao cho những trọng trách. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ đã trở thành huyền thoại và giờ đây với truyền thống của cha, anh lớp trước trên Trường Sơn chúng ta đang xây dựng đường Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đường cao tốc Hồ Chí Minh xuyên suốt từ Pắc Bó đến đất Mũi Cà Mau. Với tư cách một cựu chiến binh Công binh Trường Sơn, một chứng nhân của một thời kỳ lịch sử, bằng tất cả những suy nghĩ và hiểu biết có thể còn chủ quan và chưa đầy đủ nhưng rất chân thành và trung thực, tôi muốn được khẳng định một lần nữa những đóng góp rất đáng trân trọng của lực lượng cán bộ kỹ thuật, công nhân Giao thông vận tải đối với đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trong những năm tháng chiến tranh ác liệt rất đỗi tự hào của dân tộc Việt Nam... Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Bảy, 2023, 07:49:45 am ĐOÀN THƯƠNG BINH ĐẶC BIỆT TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN Đại tá Đặng Hương Đầu năm 1967, tôi được giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí nghiên cứu làm một cây cầu bằng dây cáp vượt sông Ta Lê trên đường 20 Quyết Thắng để chuẩn bị cho chiến dịch vận tải lớn mùa khô 1967-1968. Cũng vì thế tôi có may mắn được tham gia thiết kế và thi công một chiếc cầu treo cũng bằng dây cáp trên tuyến giao liên song song với đường 20 cùng các chiến sĩ Trung đội 4 thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 25 công binh anh hùng. Chúng tôi đã làm nên một cây cầu vắt vẻo ngang lưng trời, cách mặt nước chừng vài chục mét. Cây cầu thi công xong, cấp trên lại giao cho chúng tôi tạm thời quản lý để duy tu, bảo dưỡng, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho những đoàn quân ra vào mặt trận suốt ngày đêm. Đang mùa mưa Trường Sơn, có nhiều thời gian rảnh, tôi thường cùng anh em ra trực cầu để theo dõi độ an toàn của công trình. Ngày 07 tháng 6 năm 1967, trời không mưa, nắng sớm vừa le lói trên những ngọn cây đã thấy tàu càng (loại máy bay L19) của Mỹ vè vè trên đầu nhòm ngó khu vực ngầm Ta Lê, trong đó có nơi đóng quân của chúng tôi. Đêm hôm trước, tôi vừa nhận lệnh: sáng 07 tháng 6 năm 1967 ra trực cầu sớm, chuẩn bị an toàn cho đoàn khách đặc biệt từ phía trong hành quân ra Bắc. Từ rất sớm, tôi đã có mặt cùng anh em chuẩn bị lán trại để đón đoàn khách này trước khi họ qua cầu. Mọi người đang tíu tít chuẩn bị thì bóng một cô giao liên quen thuộc đã xuất hiện ngay sườn đồi sau nhà đón tiếp, đằng sau là tiếng lao xao của trẻ em. Tôi ngạc nhiên chạy vội ra thì gặp ngay một ông già tóc bạc trắng, trông khá quắc thước. Ông già vui vẻ ôm chầm lấy tôi, tự giới thiệu mình là Tuyết, cán bộ kháng chiến Thừa Thiên - Huế, 52 tuổi, thương tật đầy người. “Bị cả Pháp lẫn Mỹ mấy lần tống khám hành hạ tới số, vì mình hoạt động du kích mà! Lần này cấp trên bắt mình ra Bắc chữa thương, chữa bệnh, kết hợp làm nhiệm vụ dẫn đoàn thương binh nhỏ này ra Hà Nội giao cho Ban Thống nhất Trung ương". Bác Tuyết vừa nói xong, tôi đã thấy lố nhố những cái đầu, những khuỷu tay cuốn băng trắng đang thận trọng bám nhau tụt dốc xuống nhà đón khách của chúng tôi. Bác Tuyết lại giới thiệu: “Toàn con em cách mạng cả đấy. Cháu lớn nhất chưa quá 14 tuổi, có cháu mới 8, 9 tuổi nhưng dũng cảm, gan lì dễ sợ, coi thường mấy chú “Mèo” lơ mơ vào xóm bị mấy cháu lừa cho một vố ớn thấy mồ... Thế là bọn tề ngụy vồ trọn các cháu, đánh đập tới số. Nhiều cháu hôm nay chân vẫn phải bó bột nằm cáng hoài”. Bỗng bác Tuyết trầm ngâm: “Trên đường đi mình càng rõ, thì ra bọn nhỏ ngày nay ghê thật, chúng nói với mình: “Cháu Bác Hồ không sợ Mỹ - ngụy, phải như anh Kim Đồng ở Cao Bằng chứ!”. Chúng nói được và chúng làm được. Từ bữa rời chiến khu Thừa Thiên - Huê tới đây đã gần nửa tháng có lẻ, đi đường khó nhọc lắm mà chúng cứ vui như sáo. Đường dốc quanh co, lắm suối, nhiều đèo mà chúng cứ động viên nhau, dìu nhau đi băng băng, khiến mình cũng phải cố gắng đi theo cho kịp chúng”. Lúc bác Tuyết đang tâm sự với tôi thì mấy chú công binh tre đã tổ chức một cuộc liên hoan nhỏ ngay bên lèn đá cạnh dòng Ta Lê. Hình như tiệc liên hoan chỉ là mấy phong lương khô của lính và ít chùm quả rừng hái vội. Tôi chợt nhìn thấy mấy bó hoa rừng đỏ rực xếp ngổn ngang, có lẽ dùng làm quà tặng. Bỗng một giọng hò Huế trẻ thơ của một cháu gái vút lên khiến cả bác Tuyết và tôi phải dừng câu chuyện để sang tham gia liên hoan với các cháu. Tôi hỏi chuyện các cháu. Thật ra, tới ngày hôm đó, tôi vẫn chưa có may mắn được đặt chân lên đất cố đô mà chỉ mới biết Huế qua sách vở và những câu chuyện của mấy cháu thương binh “nhí" kể về những trận càn của Mỹ - ngụy quanh kinh thành và các cháu đã cùng cha mẹ, bà con chòm xóm đánh Mỹ ra sao. Các cháu không đả động gì đến các vết thương đang mang trên mình. Còn cô giao liên đồng hương cùng đi theo đoàn thì kể vanh vách từng cháu bị thương ở đâu, trong trận nào, ngày tháng năm nào... Mang trên mình những vết thương nặng nhẹ khác nhau lại đi bộ ròng rã hàng chục ngày trời, thế mà các em chẳng có chút gì bi lụy. Phải chăng cái vô tư của tuổi thơ, hay chính là dòng máu anh hùng đang kết tinh trong đường gân, thớ thịt khiến các cháu không chỉ khi chiến đấu thì dũng cảm, kiên cường, khi bị thương không ngại ngần đau đớn. Tất cả các cháu đều xứng đáng là những anh hùng nhỏ tuổi của dân tộc Việt Nam thời chống Mỹ, cứu nước. Giờ phút chia tay cũng đã đến. Tôi và những anh lính trẻ công binh bịn rịn dắt tay từng cháu lên chiếc cầu treo trong nắng sớm cùng với bó hoa rừng hái vội làm quà. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:02:38 pm (https://i.imgur.com/JWbb0SD.jpg) Đại tá Mai Sơn Sinh năm: 12-1928 Quê quán: Liên Phương, Tiên Lữ, Hưng Yên Thường trú: P.105. G6. Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 043. 8544879 Thiếu tá, nguyên Trưởng phòng Tác huấn Cục TMCB. Hiệu trưởng trường Quân chinh BTL 559 Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Đường lối Quân sự, Học viện Quốc phòng CÁI CÁN MÁC TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN "Công binh là cán mác, Bộ binh là lưỡi mác, cán mác có chắc thì mũi mác mới đâm thẳng được vào quân thù" (Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh) Mùa hè năm 1969, một bộ phận lớn của Đoàn 559 rút quân về Thanh Hoá chuẩn bị cho chiến địch mùa khô năm 1969-1970. Vào khoảng tháng 6 năm 1969, hội nghị tổng kết của Đoàn 559 tổ chức tại Sầm Sơn để bàn kế hoạch cho chiến dịch, có đại biểu của các cơ quan Bộ Quốc phòng cùng tham dự. Năm 1969 cũng là năm đánh dấu 10 năm hoạt động của Đoàn 559 (1959-1969) trên tuyến đường Trường Sơn. Hội nghị mới bắt đầu thì Chính uỷ Vũ Xuân Chiêm đến thông báo chiều nay Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ đến thăm. Nhưng chỉ ít phút sau, Chính uỷ lại quay vào hội trường vội vã nói: "Đại tướng muốn đến gặp anh em cán bộ ngay buổi sáng nay mà không phải là buổi chiều". Vừa dứt lời thì Đại tướng đã bước vào hội trường. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên chưa kịp làm nghi lễ, thì Đại tướng đã hướng về phía các cán bộ và hỏi ngay là đồng chí nào đã công tác tại Đoàn 559 được 10 năm. Một vài cánh tay giơ lên, sau đó Đại tướng lần lượt đi xuống từng bàn, ân cần hỏi ai đã ở Đoàn được 9 năm, 8 năm, 5 năm... rồi 3 năm. Vừa đi vừa nhìn khắp lượt cán bộ một cách trìu mến đến tận dãy bàn ở cuối hội trường rồi mới quay lên, Đại tướng tiến đến tấm bản đồ kế hoạch vận chuyển mùa khổ 1969-1970, chỉ tay vào tấm bản đồ vui vẻ nói: - Chúc cho “cái này” thành công! Nói xong, Đại tướng quay về phía anh em cán bộ, nháy mắt cười hóm hỉnh: - “Bem" mà1 (Bem = B.M = Bí mật). Sau đó Đại tướng điểm danh các cơ quan trên Bộ đến dự tổng kết cùng Đoàn. Khi nói đến Công binh, Đại tướng hỏi: - Bộ Tư lệnh Công binh có đồng chí nào dự đây không? Đồng chí Nguyễn Ngọc Thành, cán bộ Bộ Tư lệnh Công binh đứng lên báo cáo. Với vẻ mặt hơi không vui, Đại tướng nhắc đồng chí Thành về báo cáo với Bộ Tư lệnh Công binh phải tăng cường giúp đỡ cho Đoàn trong chiến dịch tới. Mùa khô năm ấy, chúng tôi được đón nhiều cán bộ từ Bộ Tư lệnh Công binh, từ Viện Kỹ thuật Quân sự vào cùng phối hợp với chúng tôi đi suốt tuyến đường nghiên cứu quy luật đánh phá của địch và tìm biện pháp khắc phục. Đó là các anh Lê Trung, Hoàng Công Quang ở Bộ Tư lệnh Công binh; các anh Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng, Nguyễn Văn Nghênh, Trần Văn Dần, Vũ Văn Thái... ở Viện Kỹ thuật Quân sự. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ đi đọc tuyến đường Tây Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ thuộc Binh trạm 12 đến đường 49, từ Phi Hà đi Tà Ngâu thuộc binh trạm 37 (giáp với Campuchia). Đến Binh trạm 44 (đường B.46 Chà Vằn đi Lan Tôn) tôi bị thương khi đi tiếp đến Binh trạm sau, nên phải quay về cơ quan Đoàn, kết thúc một chuyến đi dang dở. Đến binh trạm nào, tôi cũng đều muốn ở cùng ban công binh để thuận tiện cho công việc nhưng các thủ trưởng binh trạm lại ưu ái để tôi ở cùng, chẳng hiểu có phải vì một lý do tế nhị nào đó không! Với các thủ trưởng tôi đã gặp, họ đều tỏ ra là những người mến khách và khiêm tôn. Hôm đến Binh trạm 12, tôi gặp anh Cao Đôn Luân, Binh trạm hưởng để trình bày kế hoạch phổ biến kinh nghiệm chống bom mìn. Anh rất sốt sắng cho tổ chức lớp và nói với tôi là “các anh phải dạy cho cả chúng tôi nữa!” Đến Binh trạm 32, gặp anh Đặng Văn Ngữ, Binh trạm trưởng, trước kia cùng ở cơ quan Cục Công binh với nhau, nên anh hăng hái giúp đỡ chúng tôi cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng khi tôi vác ba lô đi xuống trọng điểm Lùm Bùm thì anh Phan Hữu Đại - Chính uỷ Binh trạm cứ băn khoăn là chúng tôi đã có đủ những thứ cần thiết chưa, kể cả thuốc lá. Đến Binh trạm 34, làm việc với Công binh xong, tôi đang ngồi suy tư thì anh Phạm Thái, Chính uỷ Binh trạm đến động viên: “Anh lại đằng kia chơi đi!”, vừa nói anh vừa chỉ tay về phía anh chị em thông tin và công vụ đang tập trung ở đó. Tôi cười, trả lời một cách tự nhiên: “Tôi mới đến chưa quen ai cả”. Cuộc chiến của Công binh trên tuyến đường này là ác liệt và cũng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Nhưng nếu có ai hỏi tôi: "Biểu tượng chiến đấu của Công binh trên đường Trường Sơn là gì?" thì tôi sẽ trả lời: "Đó là các đài quan sát và các trọng điểm”. Các đài quan sát ngày đêm bền bỉ bám sát hành động của địch là cơ sở quyết định biện pháp chống phá bom mìn. Nhờ đó các trọng điếm được bảo vệ vững chắc, thể hiện sức sống mãnh liệt của con đường. Thời gian đi nghiên cứu của chúng tôi từ cuối năm 1969 đến giữa năm 1970 chia thành từng đợt, không liên tục. Có lần đang đi công tác đến các Binh trạm, tôi được gọi quay ra, từ Lùm Bùm vượt qua Ta Lê, qua rất nhiều trọng điểm trên đường 20. Đi ngày, đi đêm để kịp đến Cổ Giang, Quảng Bình - nơi Trường 69 mới thành lập, để ngày hôm sau lên lớp (thật là quan trọng quá!). Lần khác, tôi cũng phải đến Km 18 đường 10 để giảng bài và đến cuối năm 1970 thì được về hẳn nhà trường. Đến Tiểu đoàn 2 Công binh thuộc Binh trạm 12 đang chốt giữ trọng điểm Seng Phan, tôi gặp các anh Cao Xuân Thung, Tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Độc Lập, Chính trị viên Tiểu đoàn đều là cán bộ thuộc Trung đoàn 152 Quân khu IV mà trước đây tôi làm Trung đoàn trưởng. Anh em gặp lại nhau nên rất vui mừng, anh Thung cho chúng tôi biết tình hình đơn vị rồi dẫn chúng tôi đến sở chỉ huy tiền phương của Tiểu đoàn ở sát trọng điểm trong một hang đá tương đối rộng và cao hơn mặt đường đến vài mét. Khi gần tới Sở chỉ huy thì một tốp máy bay ập đến thả bom từ trường. Chúng tôi kịp chạy về đến cửa hang, quay lại nhìn thấy bom từ trường đã bung cánh rơi xuống. Trước cửa hang có một khoảng đất rộng vài mét vuông, tôi đứng đó như trên ban công, nhìn cuộc chiến đang diễn ra ở dưới thấp, thấy rõ mồn một các chiến sỹ trực chiến ở đài quan sát đã lao ra dưới những làn bom đang dội xuống để đánh dấu điểm bom rơi. Tôi nhìn mà không phản ứng kịp, nên đã lúng túng không lôi được chiếc máy ảnh trong ba lô để chụp một cảnh thật hiếm có này. Nói cho đúng, chúng tôi mang theo máy ảnh chỉ để chụp những cảnh tĩnh cần thiết, chứ đâu phải là nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp hay phóng viên chiến trường, lúc nào máv ảnh cũng đeo lủng lẳng trước ngực để khi cần là sẵn sàng chớp lấy thời cơ bấm được những cảnh “thật 100%" như thế này mà chẳng cần phải bài binh bố trận gì cả. Trong thời gian ở Seng Phan, anh em kể cho tôi nghe một câu chuyện về một nhà quay phim đến nhờ đơn vị giúp đỡ cho quay cảnh trọng điểm Seng Phan. Tuy đơn vị đã cử người đi theo bảo vệ và chọn thời điểm theo quy luật địch sẽ không đánh phá để nhà quay phim có thể yên tâm tác nghiệp. Nhưng có lẽ do quá choáng trước cảnh hoang tàn nơi trọng điểm, nên nhà quay phim đã quay về mà không thể quay được một thước phim nào. Mọi người hỏi tại sao không quay mà lại trở về sớm thế, thì nhà quay phim nói tránh đi là “máy không lắp phim”. Anh em động viên cứ lắp phim vào rồi đơn vị lại cử người đưa đồng chí ra trọng điểm quay lại, nhưng nhà quay phim nọ không trở lại trọng điểm để quay phim nữa. Có phải anh em sáng tác câu chuyện này để đùa trêu tôi đã chụp “hụt" một cảnh chiến đấu ở nơi đây chăng? Còn tôi, sau đợt nay, đã để máy ảnh lại đơn vị vì mấy lần phải qua nơi có bom từ trường, đã vi phạm nguyên tắc để vật bằng kim loại trong ba lô. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:03:48 pm Ở trọng điểm Seng Phan một tuần lễ, chúng tôi sống cúng với anh em những giờ phút căng thẳng, lo âu, hồi hộp, vui có, buồn có,... Ban ngày nghỉ ngơi, tranh thủ ngủ, chuẩn bị cho trận chiến đấu trong đêm, nào thuốc nổ, khung đây, nào xẻng nào cuốc,... Cũng có nhóm tranh thủ đánh vài ván "tiến lên". Còn cán bộ chỉ huy như anh Thũng và các chỉ huy phân đội thì mắt lúc não cũng đỏ ngầu hay thâm quầng vì thiếu ngủ.
Ban ngày, tôi đi quan sát được gần như toàn cảnh trọng điểm này. Trọng điểm bị đánh tan hoang, không còn một tí màu xanh của cỏ cây, chỉ còn vài gốc cây cháy dở đang đen sì. Mỗi khi có cơn gió thổi qua thì bụi, đất, đá bay mù mịt. Đường sá nham nhở, đất đá, cây cối đổ ngổn ngang. Những lèn đá cạnh đường bị nứt toác, bom phạt nham nhở như vạc. Đứng giữa cảnh hoang tàn này, ngay cả lúc yên ắng cũng vẫn cảm thấy rợn người. Trong sự im lặng ghê người ấy, vẫn như luôn cảm thấy những con mắt rình mò nào đó ở xung quanh để bất thần ập đến những tai hoạ. Khi chiều tà buông xuống cũng là lúc công tác chuẩn bị chiến đấu trong sở chỉ huy diễn ra rất khẩn trương nhưng vẫn trong một không khí bình thản. Tiếng máy bay gầm rú trên nóc hang như xé toạc bầu trời. Những tiếng nổ chát chúa của bom, mìn, đạn, bộc phá,... đã tạo nên một thứ âm thanh khủng khiếp mà tôi không biết gọi nó là gì? Trong cái âm thanh hỗn độn khủng khiếp trộn với thứ không khí đặc quánh các loại khói bụi ùa vào trong hang, vẫn vang lên giọng chỉ huy dõng dạc của anh Cao Xuân Thung với các phân đội trực chiến ứng cứu, lúc nói bằng bộ đảm, lúc báo cáo bằng điện thoại, vẫn rõ ràng, mạch lạc tuy có lúc tiếng anh đã khản đặc vì bụi khói. Chúng tôi chỉ ở có vài ngày với đơn vị nên không hiểu hết cuộc chiến đấu diễn ra ngày lại ngày của anh em. Nhưng với cuộc chiến của đơn vị trên trọng điểm này, có thể khẳng định một điều: “Dù con đường có bị đánh phá tan tành, hình dạng có thể bị thay đổi nhiều lần, vị trí bị chuyển dịch bao nhiêu bận thì con đường vẫn không hề mất đi mà sẽ tồn tại cho đến ngày chiến thắng”. Và Tiểu đoàn 2 chốt giữ tại đây đã hai lần được phong danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Nghiên cứu quy luật đánh phá của địch không gì tốt hơn là xông thẳng vào các trọng điểm, vì ở đó sẽ phơi bày tất cả các thủ đoạn của chúng cùng những phương tiện vũ khí hiện đại luôn được cải tiến và sử dụng một cách tối đa. Dùng thô sơ để thắng hiện đại thì Công binh cũng đáng mặt “chiếu trên". Việc phá bom từ trường cũng từ phương pháp “cuốc cùn, xẻng cụt” rồi đến khung dây, đến xe phóng từ cũng thô sơ như vậy. Nói đến khung dây phá bom từ trường thì không thể không nhắc đến các anh em Viện Kỹ thuật Quân sự: Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng, Nguyễn Văn Nghênh,... những người đầu tiên đưa khung dây vào chiến trường Trường Sơn và đã phát huy tác dụng mà chính tôi cũng đã được chứng kiến mấy lần. Hôm chúng tôi đi đến Binh trạm 31, giữa đường gặp một tổ công binh ngăn lại không cho đi vì có bom từ trường. Tôi nói với anh em: "Sao lại phải dừng, quàng cổ nó cho nó nổ mà đi chứ". Hai anh Lê Trung, Hoàng Công Quang cùng đi với tôi đã giúp anh em bố trí dây và kiểm tra tác nghiệp. Một tiếng nổ “oành” vang lên nhanh như chớp. Tuy đã biết trước kết quả mà tôi vẫn thấy ngỡ ngàng. Với loại mìn vướng nổ hiện đại, nguyên lý vận chuyển phức tạp, rất nhạy nổ thì Công binh đã trị nó bằng phương pháp rất thô sơ: dùng sào tre để chọc, dùng chổi cán dài quét như quét rác. Anh Vũ Sơn là người đã tháo được quả mìn vướng nổ ra để nghiên cứu nguyên lý cấu tạo của nó. Nói đến vấn đề nghiên cứu bom mìn thì không thể quên được công lao của các anh ở phòng Tác huấn Cục Công binh như: Nguyễn Đình Phơ, Nguyễn Thời Đại, Vũ Sơn, Nguyễn Ngọc Biên,... đã một thời gắn bó với cái nghiệp đầy bất trắc này. Anh Nguyễn Ngọc Biên đã hy sinh bởi bom từ trường trên đường đi công tác, anh Nguyễn Đình Phơ bị thương ở Ka Tốc, về nghỉ hưu tại Hà Nội, anh vẫn còn di chứng của bom, có lần động kinh, lăn đùng trước cửa hiệu bách hoá tổng hợp. Va chạm với bom mìn như vậy, thương vong luôn rình rập, buộc lòng ai cũng phải thận trọng, không được phép một chút chủ quan. Ấy vậy mà sự lơ là coi thường sinh mạng vẫn cứ xảy ra. Đi bộ cả ngày, tối hôm đó chúng tôi vào nghỉ với tổ công binh trực chiến ở sát đường. Hầm chữ A chắc chắn, căng ni lông sạch sẽ. Một ngọn đèn dầu bằng vỏ quả bom dứa đặt lên cái hộp các tông để trong hốc tường hầm. Liếc nhìn cái hộp, tôi hỏi anh em: “Hộp gì đây?” Một đồng chí nói: “Hộp đựng kíp mìn". Tôi hỏi: “Hộp không chứ?”. Đồng chí đó nói cứ như không có chuyện gì: “Hộp vẫn còn kịp". Tôi yêu cầu mở hộp ra, bên trong đầy ắp kíp mìn vàng choé! Tôi toát mồ hôi hột, tóc gáy như muốn dựng ngược. Điều gì sẽ xảy ra khi hộp kíp mìn nổ tung trong cái hầm kín với những mái đầu đang chụm vào cây đèn? Và tôi bỗng nhớ một câu nói cảnh báo đối với Công binh mà dẫu có nhắc đi nhắc lại cũng không bao giờ cũ: “Trong nghiệp bom mìn, Công binh chớ có phạm sai lầm. Nếu pham sai lầm thì đó là sai lầm đầu tiên và cũng là sai lầm cuối cùng trong đời”. Một lần chúng tôi đang đi trên đường B46, từ Chà Vằn đến Lan Tôn thuộc Binh trạm 44, tôi thấy chiếc máy ủi đất đang san lấp hố bom. Đó là chiếc máy ủi của Mỹ, anh em nói là lấy được của địch ở sân bay Khâm Đức. Đúng là lấy vũ khí địch để đánh địch. Ngày hôm sau, chúng tôi theo xe tải của binh trạm đến Tiểu đoàn 21 Công binh, đơn vị đã mang chiếc máy ủi ở sân bay Khâm Đức về. Tôi hôm đó, tôi nghe đồng chí tiểu đoàn trưởng Công binh kể chuyện. Đúng là một kỳ tích, một cuộc đấu trí giữa ta và địch. Hàng ngày máy bay địch vẫn rà soát canh giữ chiếc máy ủi còn ở sân bay. Ta làm máy ủi giả, cũng nguỵ trang cẩn thận, lừa cho chúng tưởng máy ủi vẫn ở đó. Máy ủi thật được chuẩn bị đầy đủ, bí mật cho chạy vào ven rừng rồi phát rừng cho máy đi theo đường rừng ra đường B46 dưới sự lùng sục gắt gao của địch. Tôi đã đi bộ, đi xe, đi ban ngày, đi ban đêm trên tuyến đường này. Tôi cũng đã lên một vài đài quan sát, đến đôi ba trọng điểm và rút ra được những điều bổ ích. Nhưng so với các anh trong phòng Bảo đảm giao thông mà hồi đó anh Nguyễn Văn Kỷ1 (Sau đó là Phó Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh) là Trưởng phòng, thì những chuyến đi ấy của tôi cũng chẳng thấm tháp gì. Nhất là với anh Phan Công Khang, người nắm rất chắc tuyến đường này. Tôi hỏi đâu anh nói đó, sẵn sàng vẽ ngay sơ đồ trọng điểm mà tôi cần một cách khá chi tiết làm tôi phải phục lăn và trong thâm tâm đã coi anh như nhà “bách khoa toàn thư” về con đường chiến lược này. Khối lượng hiểu biết về con đường tỉ lệ thuận với những lần anh đặt dấu chân mình lên khắp ngả đường trong vị thế của người cán bộ bình thường phải ăn nhờ, bám xe đi ghé, chứ chưa phải là cán bộ tầm cỡ, có xe đưa người đón, tiền thưa hậu gửi. Năm 1968, có việc đến Binh trạm 33, tôi giữ lễ đến trạm khách mà không vào thẳng thủ trưởng Binh trạm, lúc đó anh Nguyễn Huệ là Binh trạm trưởng, anh Nguyễn Linh Anh là Chính uỷ. Trạm khách là cái nhà thùng, cũng có hầm chữ A sơ sài cạnh đó. Một cái sạp nứa nằm vừa hai người. Lúc đó trên sạp có một người nằm đắp miếng vải dù hoa. Thấy tôi vào người đó vùng dậy. A! Hóa ra là Phan Công Khang. Anh Khang trước kia cùng ở cơ quan Tác chiến Cục Công binh Bộ Quốc phòng với tôi. Mấy năm mới gặp lại nhau trong chiến trường nên tôi mừng rỡ vì đã có bạn tâm tình trong lúc còn lạ nước lạ cái: Đến bây giờ mới thấy đây Mà lòng chắc đã những ngày một hai. Cuối cùng, tôi cũng xin hé lộ là tại sao lại lấy tựa đề cho câu chuyện này như trên. Tôi có một người bạn chiến đấu từ hồi “9 năm" là anh Nguyễn Văn Thuận - hiện là giáo sư - tiến sỹ, công tác ở Học Viện Kỹ thuật Quân sự. Trong một buổi giao lưu với các bạn trẻ trước khi nghỉ hưu, có người hỏi anh đang làm nghề gì? Anh Thuận đã trả lời đầy tự hào: “Từ khi vào bộ đội đến nay, tôi vẫn làm nhiệm vụ cái cán mác!”. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:06:50 pm VÀO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN Đại tá Mai Sơn Đầu tháng 12 năm 1964, tôi đi theo đoàn cán bộ do anh Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Cục Công binh Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn sang tây Trường Sơn nắm tình hình công tác của Trung đoàn 98. Đoàn có đủ thành phần Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Riêng anh Đinh Bờn và tôi có quyết định vào nhận công tác tại Trung đoàn 98. Anh Đinh Bờn nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, tôi là Tham mưu phó Trung đoàn. Tháng 12 năm 1964 cũng là mốc thời gian tôi bắt đầu vào Trường Sơn. Không thể so sánh với những người đi tiên phong mở đường theo dãy Trường Sơn được tôn vinh là “Những người vạch lá soi đường" cùng những nguyên tắc, hành động bất đi bất dịch mà người đời không bao giờ quên: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" nhưng tôi lại là người vô cùng may mắn được đi cùng đoàn và gặp dịp được đi thử một chặng đường ôtô mà Trung đoàn 98 vừa làm xong từ Mường Noòng đến Bạc trên hai chiếc xe vận tải loại Gatz-63 một cầu, cũ kỹ, của Tổng cục Hậu cần, mở đầu thời kỳ xây dựng đường vận chuyển bằng cơ giới phía tây Trường Sơn của Đoàn 559. Tuy là cán bộ đi công tác ngắn ngày, nhưng chúng tôi cũng được trang bị như cán bộ đi B. Chỉ có điều không có thời gian bồi dưỡng sức khoẻ và rèn luyện thô lực. Có lệnh là tập trung tại nhà anh Nhạn, 12A Lý Nam Đế, xe đã trực sẵn, chỉ chờ chúng tôi đến là lên đường. Chiếc Gatz - 69 đít vuông bịt kín, dọc đường không tạt ngang, rẽ dọc. Tới Vinh chúng tôi nghỉ lại trong trạm, không được ra ngoài phố. Trên đường vào Làng Ho, đến ngầm Bang trên đường Thạch Bàn - Làng Ho1 (Sau này là một trục ngang quan trọng có tên gọi là đường 16) gặp nước to, xe con không qua được, phải nhờ chiếc xe tải cho vượt qua ngầm. Mặt ngầm quá gập ghềnh, đá xếp lổn nhổn, xe đi nghiêng ngả, chồm lên gục xuống, người tưởng như muốn văng ra khỏi xe. Đề tài “Đi theo đường giao liên" tôi đã nghe mấy lần, đến bây giờ mới thực sự được đi trên con đường này với biết bao bỡ ngỡ ban đầu nên nhất nhất làm theo sự hướng dẫn của các đồng chí giao liên. Đoàn chúng tôi chỉ có dăm người, nhưng nhờ cái "uy” của anh Nhạn nên được ăn ở trong trạm không phải ra “bãi khách". Nhờ được rèn luyện, chiến đấu gian khổ trong kháng chiến chống Pháp, nên dù đã gần chục năm hưởng cuộc sống hoà bình ở miền Bắc, nhưng khi trở lại chiến trường, chúng tôi đã nhanh chóng thích nghi và sẵn sàng đón nhận sư ác liệt của chiến hanh đang chờ mình. Vượt qua mấy trạm giao liên, lương thực đù đã tiêu hao dần, nhưng có cảm giác ba lô lại càng thêm nặng. Khi tới Mường Noòng, đoàn được thông báo là sẽ đi thử bằng xe cơ giới, chặng đường do Trung đoàn 98 mới làm xong đến sông Bạc. Hôm đó là một ngày nắng ráo trung tuần tháng 12 năm 1964, Tổng cục Hậu cần cho hai chiếc xe Gatz 63 một cầu, không mui, chở chúng tôi. Một chiếc do cán bộ Tổng cục điều khiển có cán bộ của Trung đoàn 98 đi cùng, một chiếc cho đoàn chúng tôi do anh Nhạn chỉ huy. Xe đi ban ngày, tôi thấy rõ con đường mới mở và nhận ngay ra hai điều thật giá trị: - Thế nào là con đường quân sự làm gấp. - Thế nào là như bị “rang cà phê”, ruột gan chúng tôi cứ như muốn lộn tùng phèo lên. Xe đi tới đâu, dân bản gần đó chạy theo xem một cách thích thú. Gặp một dốc cao đường trơn, chúng tôi ra hiệu nhờ họ kéo lên. Đông đảo mọi người xúm vào, nắm lây dây “cáp”, lôi phăng xe lên, mạnh hơn cả kéo “tời”. Cuối cùng chúng tôi cũng đi tới Bạc, vượt qua đoạn đường cheo leo, lắm dốc cao. Nhiều đoạn xe lao xuống dốc như không phanh, cây cối ngụy trang hai bên đường, mặc sức quật vào đầu và người chúng tôi. Còn chúng tôi cứ ôm đầu lăn như mõ trong thùng xe mà cảm nhận về con đường thử nghiệm này bằng cả năm giác quan! Cuối tháng 12 năm 1964, tôi đến Trung đoàn bộ 98 và ngày 01 tháng 01 năm 1965 đã đi trinh sát từ Bạc vào phía trong cùng các anh Hoàng Tiến Vinh, Trưởng tiểu ban tác huấn; Nguyễn Văn Bảy, Hoàng Quỳnh, Trợ lý tác huấn; Nguyễn Xuân Quang, Trung đội trưởng Trinh sát và mấy đồng chí trinh sát. Trên đường đi, chúng tôi đã chạm ngay hai cái dốc lớn: Bô Phiên và Sê Ka Mán. Vượt sông Sê Ka Mán, ở Hạ Lào trời vân nóng, tuy luc này đã là đầu tháng 12 âm lịch năm Giáp Thìn. Người dân nơi đây có tục xăm mặt, xăm môi để trang điểm. Cái lỗ tai to tướng chảy xệ xuống để đeo cái khuyên bằng tre, đường kính có đến 3 cen ti mét. Người “cà răng” tôi đã gặp nhiều lần, những người “căng tai” thì đây là lần đầu tiên tôi mới gặp. Thấy khách đến nhà, cô gái vội lấy chiếc khuyên tre ở trong bọc vừa nhét vào lỗ tai vừa liếc nhìn khách, vẻ e thẹn. Trở về Trung đoàn bộ, tôi tranh thủ phổ biến kinh nghiệm trinh sát cầu đường cho anh em trinh sát, bổ sung một số kiến thức về chất độc đi-ô-xin và cách phòng tránh. Anh Phan Quang Tiệp, Trung đoàn trưởng rất quan tâm đến tôi, một phần vì tôi mới đến đơn vị, một phần trước đây chúng tôi ở cùng cơ quan Tham mưu Cục Công binh. Anh kéo tôi đi xem xét đường bộ và đường sông từ Bạc đến Pắc Ca Don. Một cán bộ của Tiểu đoàn 3 đưa tôi đi xem các thác Hạt Vi, Chặc Cầu, Keng Lê Cao... Đó là những thác dữ, nhất là Keng Lê Cao. Muốn khai thông đường sông phải phá nhiều thác. Liệu nơi đây, trên con sông Sê Kông này, có lặp lại hình ảnh người anh hùng phá thác trên sông Nậm Na trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa? Chuyến đi với anh Phan Quang Tiệp lần này có một kỷ niệm khó quên. Một buổi chiều tối, chúng tôi đến một bản vắng tanh, không một bóng người, nhưng lợn vẫn kêu dưới sàn nhà, gà vẫn vỗ cánh trên cành cây. Soi đèn thấy một mảnh giấy cài ở cổng bản. Nhưng chẳng ai đọc được chữ Lào nên không dám vào vì sợ bị bắt vạ. Anh Tiệp cùng một trinh sát đi tìm dân để hỏi. Hơn một tiếng sau, anh trở về thở phào và thông báo: mảnh giấy đó ghi là “Bộ đội Pathét Lào cứ vào bản nghỉ". Thế là chúng tôi yên tâm vào bản nghỉ ngơi. Qua sự việc trên tôi nghĩ: Mình phải tìm cách học chữ Lào. May mắn là hôm đến Bản Chinh, tôi nhờ được một chuyên gia Việt Nam dạy chữ Lào. Chỉ trong hai tiếng buổi trưa tôi đã đọc được chữ. Nhưng “văn ôn võ luyện” không dùng, nên cũng chóng quên. Tết Ất Tỵ, ngày 02 tháng 02 năm 1965, chúng tôi theo anh Tiệp sang chúc tết Tỉnh uỷ Ta Vên Oọc1 (Tiếng Lào - Ta Vên Oọc có nghĩa là mặt trời mọc, tiếng Việt gọi là tỉnh Miền Đông nay là tỉnh Se Kong). Dự liên hoan xong, tôi mệt nên về trước, mọi người nhảy “lăm vông” đến tận khuya. Sau Tết, tôi cùng một tổ tiếp tục đi trinh sát. Chúng tôi đi lại các bản Tà Un, Sa Khôn, Chà Rế, Bản Lôi, Bản Chinh... Có hôm chỉ hai anh em, tôi và đồng chí Diệu, tới đâu trời tối thì vào bản xin ngủ nhờ. Một lần vào bản Sa Khôn, dân sơ tán dưới khe sâu. Đêm nằm thấp thỏm nghe họ nói mà không thể hiểu được, cứ nhìn nhau bằng một thứ ngôn ngữ riêng. Chẳng ai đoán được điều gì sẽ xảy ra với mình. Sáng dậy ra khỏi bản lại nghĩ rằng có khi chạm trán với biệt kích tối qua cũng ngủ nhờ trong bản mà không biết lại còn “sa ma khi”2 (Samakhi: Đoàn kết) cũng nên. Một lần khác, trời tối chúng tôi tạt vào vạt rừng mắc võng ngủ, suýt nữa toi mạng với mấy chú voi. Những ngày ở Trung đoàn 98 là một chuỗi ngày đi trinh sát. Chỉ gần ba tháng trời tôi đã gặp rất nhiều gian nan, trắc trở. Có lúc thấy lẻ loi trên đường, nhưng so với những đội trinh sát đi trước của các anh Nguyễn Văn Bền, Trần Minh, nhất là đội của anh Hoàng Đình Luyến1 (Trung đoàn trưởng Trung đoàn Rạng Đông) đã đi trinh sát từ Bản Đông đến Bạc làm cơ sở mở đường của Trung đoàn cuối năm 1964, thì tôi là người may mắn được thừa hưởng thành quả của người đi trước và có một hậu thuẫn lớn cho công việc của mình, đó là cả một trung đoàn đang thi công ở phía sau. Tôi đang trên đường đi công tác thì có lệnh gọi về Cục Công binh Bộ Quốc phòng viết tổng kết. Đầu tháng 6 năm 1965, đang ngồi viết tổng kết "Bảo đảm công trình trong chiến dịch Biên giới năm 1950 thì tôi nhận được lệnh sang Đoàn 559, trụ sở tại 63 Lý Nam Đế, để nhận nhiệm vụ. Tôi được xung ngay vào đoàn công tác đi thị sát đường từ Phong Nha đến Vin Kà Roòng lên biên giới Việt - Lào. - Anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng Viện Thiết kế, Bộ Giao thông vận tải làm Trưởng đoàn. - Anh Phi Đình Tuân2 (Sau này anh Nam Hải là Thứ trưởng, Phi Đình Tuấn là Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Giao thông vận tải) người có nhiều kinh nghiệm khảo sát đường vùng Tây Bắc phụ trách kỹ thuật cùng một số cán bộ khác. - Tôi, Mai Sơn, được Cục Công binh cử sang cùng đi, nhưng tôi được tổ chức giao làm Bí thư Chi bộ của đoàn công tác. Cũng vì thế mà nhiều lúc cao hứng, nổi máu “hài” lên, Phi Đình Tuân lại "phang” cho tôi một “nhát” là Chính uỷ, một chức danh mà sau này khó tìm ra xuất xứ trong tổ chức nửa quân nửa dân lúc bây giờ. Cầm mảnh bản đồ 1/100.000, loại bản đồ cũ của Pháp in, tôi nhận ra ngay một vùng đá vôi hiểm trở, không thể hiện đường đồng mức, chỉ có đường sông núi và những điểm cao đặc biệt. Vì có thời gian làm nhiệm vụ trinh sát công trình nên tôi cũng biêt: Đó là vùng đá vôi Kẻ Bàng, một vùng các-x-tơ (karst) điển hình nhất của miền Bắc Việt Nam, không có dòng chảy trên mặt, nhiều hang động ngầm, nổi tiếng là động Phong Nha. Nơi đây dân cư thưa thớt, có nơi từ xưa không một bóng người. Ở cửa rừng gần động Phong Nha, số dân Arem ta mới tìm được, quy tụ tại bản Tân Trạch. Cuộc sống của họ vẫn như còn ở trong hang, dùng cây que gác vào vách đá để che mưa nắng, tránh thú dữ, cứ như người nguyên thuỷ. Đoàn chia làm hai mũi đi trinh sát: - Một mũi đo anh Nam Hải phụ trách đi từ Khe Nét - Đoòng - Khe Tum lên biên giới Việt - Lào. - Một mũi do anh Phi Đình Tuấn phụ trách đi từ Khe Nét - Cù Mạ - U Bò - Kà Roòng lên biên giới Việt - Lào, triển khai từ ngày 07 tháng 7 năm 1965, ngày 17 tháng 7 năm 1965 đến Vin Kà Roòng, rồi quay lại động Phong Nha. Tôi tham gia mũi trinh sát này. Dựa vào loại bản đồ có trong tay, loại bản đồ vùng núi đá vôi không thể hiện đường đồng mức để vạch tuyến đường trước đã khó khăn, căn cứ vào đó mà xem xét trên thực địa cũng chăng dễ dàng gì. Kinh nghiệm khảo sát đầy người như anh Tuấn còn phải chật vật với dãy núi đá vôi hiểm trở, chẳng có người dẫn đường, cùng những địa danh còn lạ lẫm Ba Thang, Cù Mạ, U Bò…” đã phải lắc đầu lè lưỡi mà kêu là “con đường hóc búa”. Trong thời gian ngắn ngủi trên đường trinh sát, gặp hai sự kiện làm tôi liên tưởng ngay đến sự gian khổ sau này các anh trong tổ anh Tuấn sẽ phải chịu đựng: - Duy nhất một lần gặp người dân đóng khố cởi trần len lỏi trên con đường mòn gập ghềnh đến đồn biên phòng nhờ y tá đến cấp cứu cho ông trưởng bản bị ngã trên cây xuống. Nhưng không kịp, ông đã chết trước khi y tá đến. - Chúng tôi phải gạn nước ở một khe cạn, túm vào ni lông vác lên Cù Mạ để nấu cơm ăn tối. Ấy vậy mà sự liên tưởng của tôi còn xa với thực tế mà các anh đã phải gồng mình lên chịu đựng trong các lần đi trinh sát tiếp theo. Nhưng các anh đã được đền bù, tư liệu các anh thu thập được đã có sức thuyết phục, góp phần quyết định việc chọn tuyến đường này mà tác dụng to lớn của nó trong cuộc chiến chi viện cho miền Nam ruột thịt đã rất rõ ràng. Không những thế, con đường 20 Quyết Thắng đó, ngày nay còn là điểm nhấn lịch sử trong quần thể di tích của khu du lịch sinh thái Phong Nha - Kẻ Bàng. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:09:06 pm NỮ TƯỚNG PHÀN LÊ HOA Ở TRƯỜNG SƠN Đại tá Mai Sơn Thân mến tặng anh chị em Thanh niên Xung phong quê Hưng Yên Cuối năm 1970, tôi về phụ trách trường Huấn luyện của Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Một hôm, sau cuộc họp, trở về phòng làm việc, tôi thấy một phong thư trên bàn. Bì thư trịnh trọng nắn nót đề tên tôi, có cả cấp bậc, nhưng lại không có tên người gửi. Đôi khi tôi nhận những lá thư như thế, nhưng thư riêng mà ghi cả cấp bậc như thế này thì đây là lần đầu. Nhìn nét chữ chân phương, mềm mại nhưng lạ lẫm, tôi không đoán được là của ai. Mở ra xem mới hay đó là thư của Phàn, Phạm Thị Phàn1 (Phạm Thị Phàn, thôn Đại Nại, xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, đi thanh niên xung phong năm 1965) - cô gái lái xe đồng hương mà tôi gặp ở Cổng Trời hồi cuối năm 1969. Trong thư Phàn cho tôi hay là cô không ở binh trạm nữa mà đã về công tác tại xưởng sửa chữa của đoàn. Cô kể về quê nhà, về công việc và cả về người yêu cô... Vừa lúc đó, đồng chí Trợ lý xe máy của Trường đến báo cáo: - Hôm đến xưởng sửa chữa nhận xe, tôi gặp một cô gái lái thử xe trên bãi. Cô ta lái "khiếp" lắm. Khi biết thủ trưởng ở đây, cô ấy vội vào nhà xe, viết thư này, nhờ tôi mang về và nhắn khi nào thủ trưởng có điều kiện, rẽ qua xưởng, sẽ nói chuyện nhiều. Nhớ lại một ngày cuối tháng 10 năm 1969, tôi cùng Lê Văn Trung và Hoàng Công Quang1 (Lê Văn Trung là PTS về phá nổ, nhà ở phố Đốc Ngữ, Hà Nội; Hoàng Công Quang là kỹ sư hoá nổ, hiện ở 302/G3B Thành Công, Hà Nội), hai cán bộ Ban Nghiên cứu của Bộ Tư lệnh Công binh vào Trường Sơn nghiên cứu quy luật đánh phá của địch, đồng thời phổ biến kinh nghiệm khắc phục bom mìn địch cho các đơn vị trên tuyến... Chiếc Gatz-69 đưa chúng tôi đến ngã ba Khe Ve, rời đường 15A rẽ vào đường 12 đi Mụ Giạ. Đèo Mụ Giạ nằm trên biên giới Việt - Lảo, ở độ cao hơn 400 mét so với mặt nước biển, là một trong những đèo vắt qua đỉnh dãy Trường Sơn để sang nươc bạn Lào. Đường Khe Ve đi Mụ Giạ dài 45 ki lô mét, quanh co, khúc khuỷu, lắm đèo dốc, có dốc ngoằn ngoèo mang cái tên rất hình tượng: dốc Ruột Gà. Với tôi, đường 12 này khá quen thuộc, vì có thời gian tôi đã chỉ huy trung đoàn hỗn hợp công binh - cao xạ bảo đảm vận chuyển ở đây. Sáng hôm đó, sương mù dày đặc, cách 10 mét đã không rõ mặt người. Lưng sườn núi và dưới vực sâu chỉ thấy một biên sương mù trắng xoá. Ai đã từng đi xe trong sương mù giữa ban ngày mới thấy hết giá trị của bức màn ngụy trang thiên nhiên hết sức lý tưởng này. Dạo ấy dù đêm tối đen như mực, xe chạy hay thậm chí chỉ mới nổ máy, cũng vẫn bị máy bay C130 của địch có kính hồng ngoại phát hiện và bắn trúng liền. Nhưng sương mù dày đặc và ẩm đã bịt chặt những con mắt cú vọ của máy bay địch. Xe chúng tôi leo gần đến Cổng Trời thì gặp một chiếc xe tải chạy cùng chiều, đang đỗ lại bên đường. Vượt lên quá một đoạn chúng tôi cũng dừng lại. Qua cửa xe, một cô gái mặc thường phục dáng quen quen, đứng cạnh kho hàng tay chỉ trỏ. Khi cô quay lại, tôi chợt nhận ra và reo lên: - Phàn! Phàn ngẩng lên. Nhận ra tôi, cô lao nhanh đến bên xe mừng rỡ. Cô rối rít hỏi han đủ chuyện rồi kể: sau khi Trung đoàn Công binh 251 vào chiến trường thì nhiều anh chị em thanh niên xung phong cũng vào bộ đội. Một số nữ được đi học lái xe. Học xong, phần lớn chạy xe ở tuyến sau. Riêng Phàn và một số chị em phục vụ tại Binh trạm 12 - binh trạm tiền phương. Giơ chiếc đồng hồ đeo tay, Phàn khoe: - Lái xe qua trọng điểm địch đánh phá nên em được thưởng đấy! Tôi thấy vui lây niềm vui của em và cứ để Phàn kể mọi chuyện, không chêm vào câu nào. Thực ra cũng không xen vào đâu được, vì hình như Phàn lo không có đủ thời gian để nói... Nhớ lại hồi Trung đoàn 251 chúng tôi cùng anh chị em thanh niên xung phong xây dựng sân bay Yên Bái, có lần tôi nói đùa là “phải cho em đi học lái máy xúc”, tôi hỏi: - Thế em không đi học lái máy xúc à? Phàn cười giòn tan: - Nếu thế thì làm sao em lại đứng ở đây được! Ngoái lại phía xe của Phàn, tôi hỏi: - Ai đi cùng xe với em thế? - Cái Tiếp anh ạ! Anh không biết nó đâu! Nó bị thương, điều trị chưa khỏi hẳn mà đã đòi về, tiếp tục đi với em đây! Rồi cũng đến lúc phải chia tay. Tôi chỉ kịp ghi số hòm thư của Phàn vào cuốn sổ tay. Nhanh như sóc, Phàn chạy về xe mình và lập tức đã nghe tiếng máy nổ. Đến lúc này đồng chí cán bộ của Binh trạm đi cùng chúng tôi mới kịp lên tiếng như khẳng định những chiến công của Phàn: - Ở đây mọi người vẫn thường nhắc đến thành tích lái xe qua trọng điểm của cô ấy đấy! Xe chúng tôi sắp chuyển bánh thì Phàn - vẫn cái kiểu tinh nghịch - cho xe mình vượt lên trước và vẫy tay chào. Chỉ loáng một cái, xe em đã mất hút trong màn sương dày. Với tôi, lần gặp này, em hiện ra rồi biến đi, y như một nàng tiên trong truyện cổ tích thời ấu thơ... Đến chỗ rẽ vào Binh trạm, chúng tôi xuống đi bộ. Nắng xuống, sương lan rất nhanh. Mặt trời đã lên cao. Khi những tia nắng rọi chiếu tới mặt đường thì chúng tôi đã khuất vào những lùm cây rậm rạp. Tối hôm ấy, nói chuyện với anh Bạch Quyền, Phó Binh trạm trưởng Binh trạm 12, anh kể cho nghe nhiều chuyện về Phàn rồi kết một câu: Ở đây người ta gọi nó là “Phàn Lê Hoa” đấy! Nói đến Phàn Lê Hoa - một nữ tướng xông xáo trong truyện Chinh Đông Chinh Tây, đọc từ hồi nhỏ, tôi thấy thích thú và hình dung ra rất rõ nét tính cách của Phàn. Nhưng tôi vẫn nói lên nỗi băn khoăn của mình: - Nữ lái xe bây giờ không hiếm. Nhưng lái xe ở tuyên lửa thì quá nguy hiểm, gian nan, vất vả,... Lại còn phải vượt qua trọng điêm địch đánh phá... thì đến lúc này tôi chỉ mới thấy có một! Ngẫm nghĩ một lát, tôi khẽ nói như tự hỏi mình: - Có nên để phụ nữ làm cái công việc nguy hiểm và căng thẳng quá không nhỉ? Anh Quyền cũng trầm ngâm: Đúng là đang có cuộc tranh luận quanh vấn đề này. Chiến tranh ác liệt quá! Lái xe qua trọng điểm, tinh thần rất căng thẳng, dễ ảnh hưởng đến tâm sinh lý con người. Thế mà nhiều cô gái gan dạ quá. Cứ cười nói vui đùa như đi chơi ấy thôi! Nhưng dầu sao cũng phải bố trí công tác khác, thích hợp hơn cho chị em. Trong số chị em làm việc gần đơn vị xe máy của Trung đoàn 251 trên công trường xây đựng sân bay Yên Bái ngày ấy tuy không gặp Phàn nhiều, nhưng cô để lại những hình ảnh rất đậm nét bởi cái tác phong nhanh nhẹn, tính cách nghịch ngợm vui nhộn và nét mặt lúc nào cũng như đang cười. Một lần Phần cùng mấy chị em đang xúc đất. Xúc chưa đầy chiếc xe cải tiến mà đã định tránh thủ đẩy ào đi. Tôi cau mày nhắc khéo: - Đến phải cho em đi học lái máy xúc1 (1) thôi! Lập tức, Phàn đứng nghiêm, áp xẻng sát vào người giả làm cây súng, miệng dõng dạc: Máy xúc khi đào đất có vận chuyển muốn tăng năng suất thì phải đổ đất thật đầy từng chuyến xe vận chuyển. - Báo cáo thủ trưởng! Em xung phong! Tôi bật cười. Tính cách của Phàn là như thế. Em đi học lái xe, tôi không lạ. Nhưng hơi ngạc nhiên và rất mến phục khi biết em dám lái xe qua trọng điểm mà nhiều nam lái xe sừng sỏ, cự phách, đôi lúc cũng phải chờn! Tôi đã nhiều lần đi xe qua trọng điểm nên càng rõ sự nguy hiểm ở đây. Bầu không khí luôn luôn căng thẳng, kể cả khi địch không bắn phá. Trong ánh sáng vàng khè của đèn ôtô đã được ngụy trang hoặc dưới ánh trăng mờ, quang cảnh thật hoang tàn... Đường sá nham nhở, đất đá ngổn ngang, cây cối trơ trụi... Những gốc cây cháy dở sau trận bom na pan còn để lại những hòn than đỏ rực. Gặp đợt địch đang đánh phá thì khi pháo sáng trên không vừa tắt là lúc đạn pháo 20 ly từ máy bay C 130 vãi xuống như trâu. Bom bi, mìn vướng nổ, bom từ tường chưa dẹp hết, cũng nổ bất thần. Nếu lúc đó đường tắc, mà việc nảy rất dễ xảy ra, thì hàng loại xe dồn ứ lại, nằm chết cứng một chỗ, tiến thoái lưỡng nan, đành giơ lưng chịu đòn... Điều gì cũng có thể xảy ra! Ngày mai chúng tôi sẽ đi bộ dọc tuyến đường phía tây Trường Sơn. Cái nghề công binh cứ phải đi ban ngày mà quan sát, nghiên cứu. Và phải nhằm những trọng điểm mà đến. Ở đấy mới phơi bầy tất cả những thủ đoạn đánh phá của địch cũng như đầy đủ các phương tiện giết người mà chúng sử dụng. Thời gian đi công tác sẽ khá lâu. Chưa biết hôm nào trở lại. Tôi lấy giấy viết thư, nhờ anh Quyền chuyển cho Phàn. Sau đợt ấy, Phàn được điều về Xưởng sửa chữa của Đoàn 559 công tác. Đêm đã khuya mà tôi cứ ngồi suy nghĩ miên man về Phàn. Từ một cô gái đẩy xe đất còn lặc lè, hôm nay đã là cô gái lái xe chững chạc dũng cảm. "Công trường năm ấy em vừa tới Đây xe cải tiến đất còn vơi Đường vào tiền tuyến hôm nay gặp Em đã lái xe vượt Cổng Trời? Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, ta dốc toàn lực để đánh bại kẻ thù. Biết bao cô gái đang tuổi thanh xuân đã tự nguyện hiến dâng tuổi trẻ, xông pha nơi chiến địa, gánh vác trên vai những nhiệm vụ nặng nề tưởng chừng như không thể chịu đựng được. Câu chuyện nhỏ này xin được coi như niềm cảm thông và lòng mến phục gửi đến chị em thanh niên xung phong “quê đất nhãn lồng" đã một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:12:33 pm BỨC TRANH PHẢN DIỆN Đại tá Mai Sơn Trong chuyến đi nghiên cứu thủ đoạn đánh phá của địch trên tuyến đường Trường Sơn cuối năm 1969, tôi cùng hai đồng chí cán bộ Ban Nghiên cứu Bộ Tư lệnh Công Binh Lê Văn Trung, Hoàng Công Quang có dừng lại trọng điểm Seng Phan một tuần lễ để theo dõi hoạt động của địch. Chúng đánh phá rất ác liệt và xảo quyệt với đủ loại bom nổ ngay, nổ chậm, từ trường, bom bi, mìn nổ chậm... Trọng điểm Seng Phan nằm trên đường 128 cách đèo Mụ Giạ hơn 30 ki lô mét về phía Nam do Tiểu đoàn 2 Công binh1 (Tiểu đoàn 2 về sau được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang) thuộc Binh trạm 12 đảm nhiệm. Chúng tôi đến sở chỉ huy tiền phương của Tiểu đoàn cùng Tiểu đoàn trưởng Cao Xuân Thung, sở chỉ huy tiền phương được bố trí trong hang đá tương đối rộng, chỉ cách mặt đường vài mét. Tuy ngày đêm bị đinh tai, nhức óc vì tiếng bom mìn, nhưng lại rất tiện cho việc chỉ huy, lực lượng cơ động tới nơi cần ứng cứu cũng rất nhanh chóng. Khi im ắng tiếng bom mìn, xe chạy thông suốt thì lính ta tán như khướu, mấy tay lái xe phóng từ1 (Xe phát ra từ trường để kích bom từ trường nổ; bom từ trường là một loại bom nổ chậm rất ác hiểm của địch, sau khi được ném xuống thì nằm chờ bao giờ có xe, hay sắt thép đi tới gần mới nổ) trực tại đó cũng góp chuyện khá rôm rả. Họ kháo nhau cánh lái xe vận tải mà có ra công tác ngoài hậu phương thì không mấy tay là không tranh thủ "vô nguyên tắc" dăm hôm, rẽ về thăm nhà, bởi một lẽ rất đời thường “vợ ở mô là Thủ đô ở đó”, có chuyện gì sẽ tính sau. Còn cứ vào đến đơn vị mà hai tay ôm lấy cái “vô lăng” vượt qua trọng điểm, nhất là lại vào đợt vận chuyển hàng đặc biệt cho chiến trường thì mọi tội "tụt”, “tạt” đều được xóa sạch. Bỗng có tiếng nói phát ra từ góc hang như phản đối: - Thế mà có lần chở hàng đặc biệt lại bị trực trạm “barie” mắng cho mất mặt đấy! Rồi vẫn tiếng anh chàng đó, đằng hắng giọng tiếu lâm, kể: “Như thường lệ, xe chở hàng đến trạm barie thì dừng lại để kiểm tra. Trực barie hỏi: - Chở hàng gì? Lái xe thản nhiên trả lời: - Chở con c...! Lái xe nói tếu cũng là chuyện thường tình. Trực barie tuy rất bực, nhưng cũng cố dằn giọng hỏi lại: “Thế này thì quá lắm!”, trực barie quát: - Đừng có mà nhảm nhí! Làm việc cho nghiêm túc! Chiến trường chứ không phải trò đùa ở nhà đâu! Lái xe vẫn bình thản nói như đinh đóng cột: - Đúng là xe chở con c...mà! C...của ông Đ.Đ.T vãi cùng đường, nhặt được đầy xe đây này!" Nghe chuyện lính ta cười phá lên tưởng có thể sập hầm. Mẩu chuyện này cánh lái xe thích nhắc tới như một giai thoại văn học dân gian. Tôi cũng được nghe đôi ba lần, nhưng lần này có hư cấu thành chuyện có đầu có cuối hẳn hoi. Tôi cũng cười theo, gật gù hưởng ứng, nhưng tâm trí lại hồi tưởng về một câu chuyện xảy ra cách đây hai chục năm về trước... Đầu năm 1950, tôi được lệnh đưa Trung đội 3 của Đại đội Công binh 250, do đồng chí Võ Bảo làm Trung đội trưởng, lên Cao Bằng phối thuộc với Cục Vận tải chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới. Lần đầu tiên được đi chiến dịch, ngày ấy thường gọi cho ra vẻ bí mật là “đi Xê Zét”, lại được đến cái vùng nổi tiếng “gạo trắng nước trong”, “Noọng slao Cao Bằng đây lai"1 (Em gái Cao Bằng đẹp lắm!) nên anh em rất phấn khởi. Có đồng chí đang ốm cũng không chịu ở lại, nhất định đòi đi. Tới Quảng Uyên, tôi gặp anh G, Cục phó Cục Vận tải, nhận nhiệm vụ. Công việc tiến triển sau đó khá thuận lợi. Một hôm, tôi đến cơ quan để đề nghị giải quyết một số việc, nhưng anh G đi vắng. Tôi định ra về, nhưng lại thấy anh N ở đó. Anh N trước đó là Cục phó Giao thông Công binh, khi ấy cũng là Cục phó Vận tải, tôi mừng quá chạy vào nói chuyện. Ôi! Thật là định mệnh! Tôi cứ đứng đó nói chuyện với anh N một cách thích thú mà không lưu ý đến thái độ dè dặt của anh, khác hẳn với tác phong giản dị, gần gũi anh em trước đây. Mải nói chuyện, tôi không chú ý tới một người đứng tuổi, mặc quần bà ba nâu, áo sơ mi trắng đài tay, ngồi xổm trên ghế tựa. Người đó làm như không theo dõi cuộc chuyện trò. Còn tôi cứ tưởng đại loại đó là khách đến cơ quan làm việc. Và đấy chính là điều không may cho tôi. Khi tôi xin phép anh N ra về, thì lập tức người đó nhướn người lên hỏi anh N: - Anh này có phải là Đại đội trưởng Công binh đến phối thuộc cho ta không? - Vâng! Anh N vừa dứt lời thì người đó nhìn tôi quát: - Tại sao anh không đến báo cáo tôi! Tôi ngớ người ra và phản xạ một cách tự nhiên: - Tôi đã báo cáo đồng chí G Cục phó rồi! Tức khắc người đó thả chân xuống đất, tay vung lên, miệng quát: - Tôi là “sếp” của anh mả anh không báo cáo tôi à? Quả thực đến lúc đó tôi vẫn chưa biết người đó là ai mà lại xưng “chef ” với mình hách dịch như vậy. Nếu anh N cho mình biết từ đầu thì đâu đến nông nỗi này! Tôi thấy ức quá, không suy nghĩ gì mà nói ngay: - Tôi chưa biết đồng chí là ai, mà chỉ biết đã báo cáo đồng chí G Cục phó rồi! Đúng là tôi đã rót thêm một gáo đầu vào lửa! Người ấy chồm lên: - À!!! Anh không báo cáo tôi à? Tôi bỏ tù anh bây giờ! Anh G, anh N cũng dưới quyền tôi! Tôi biết đã chạm trán một cấp “côi, hắc xì dầu" mà còn dại dột chọc thêm vào tổ ong bầu. Các bạn thử hình dung xem bộ mặt của tôi mới đáng thương làm sao! Tôi thấy sững sờ, ngớ ngẩn cả người và hoảng hồn thực sự, liền cầu cứu anh N: - Đề nghị anh nói hộ, thực tình tôi không biết đồng chí ấy là thượng cấp. Anh N cũng toát mồ hôi, nói dè dặt: - Báo cáo anh, anh Mai Sơn mới lên đây, không biết anh là Cục trưởng. Nói xong, anh N cũng rút êm re, để lại một mình tôi trước một đối tượng đầy quyền năng, nét mặt sát khí đằng đằng... Trấn tinh lại, tôi biết mình phải làm gì trong tình huống này. Tôi liền đứng nghiêm báo cáo rất đúng tác phong, vì tôi mới học qua lớp bổ túc sĩ quan bộ binh khóa "Rèn cán, chinh quân” mà! Báo cáo đồng chí! Tôi có khuyết điểm là không biết đồng chí là Cục trưởng. Bây giờ tôi xin phép được báo cáo công việc. Nói xong tôi ngồi xuống ghế trước mặt đồng chí đó và báo cáo rất đầy đủ. Nghe đến đâu, đồng chí bảo thư ký ghi cách giải quyết. Có thể nói, mọi yêu cầu đều được thỏa mãn. Lẽ ra thì phải mừng mới đúng, nhưng tôi vừa bị cú "sốc" nên vẫn ấm ức. Tôi nghĩ nhất định phải có ý kiến phê bình ngay sau đây. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:13:47 pm Làm việc xong tôi nói:
- Tôi xin phép có ý kiến! - Được! Anh cứ nói! - Câu trả lời đã trở lại bình thường. Tôi đổi cách xưng hô cho nhẹ nhàng: - Tôi thấy anh quá nóng và cảm thấy không thể làm việc ở đây được! Nói xong, tôi chuẩn bị chịu trận lôi đình giáng xuống đầu mình. Nhưng đồng chí ây lại từ tốn: - Ấy! Anh đừng nói thế! Anh nói là không thể làm việc được ở đây là không nên. Rồi anh xem, anh làm việc với tôi anh sẽ hiểu. Tôi như người anh anh. Về mọi phương diện, au point đe vue de toute forme (đồng chí ấy thêm cả một đoạn tiếng Pháp), tôi đều là anh anh. Về tuổi, tôi là anh anh. Về quân đội, tôi là anh anh. Về đoàn thể, tôi là anh anh... Thì ra một con người dù nóng nảy đến đâu cũng không phải là quá khó phê bình, nhất là những lời phê bình thẳng thắn, không có tâm địa... Chỉ cần mọi người dám phê bình, nhưng đừng có bao giờ phê bình xu nịnh để vụ lợi, bởi vì như thế còn tai hại hơn là không phê bình. Ngừng một lát, đồng chí ây hỏi tôi: - Anh có ở đoàn thể không? Khi ấy tôi chưa phải là đảng viên, nên cũng trả lời rất tự nhiên: - Tôi không ở đoàn thể! Nét mặt ngạc nhiên thực sự, đồng chí bảo: - À, thế thì anh không hiểu rồi! Tôi cũng chẳng hiểu đồng chí ấy bảo mình không hiểu cái gì, nhưng chưa thỏa mãn với cách giải thích trên nên tôi vẫn nói tiếp: - Tôi không biết anh là cấp trên, làm sao tôi đến báo cáo được. Nguyên tắc quân đội, muốn đến gặp cấp trên, tôi phải báo cáo trước xem có được vào "yết kiến"không rồi mới dám đến, làm sao đám tự tiện đến! Tôi dùng từ “yết kiến” một cách ngẫu hứng có vẻ “tuồng”, sau này nghĩ lại cứ tự buồn cười. Vẻ bực bội thoáng trên nét mặt, đồng chí ấy nói: - Tôi không cần anh phải báo cáo trước. Anh cứ đến đây. Ai hỏi, anh bảo: “Tôi làm việc với anh T.” rồi anh vào. Tôi cũng không cần đứng nghiêm báo cáo. Tôi đã nói với anh Văn là tôi không cần đứng nghiêm cúi đầu 15 độ (kiểu chào không đội mũ lúc đó). Đấy anh xem, anh có bao nhiêu việc cần giải quyết mà anh lại không báo cáo với tôi thì có thằng nào giải quyết cho anh không? - Tôi không còn hiểu tâm trạng mình lúc đó ra sao, mà thấy nên rút lui là êm ấm nhất. Sau này nhớ lại, tôi cảm thấy cách phê bình của mình có chỗ nào chưa ổn chăng? Chân bước đi mà lòng buồn rười rượi. Ra đến cổng tôi gặp một người trạc tuổi ba mươi, mặc bộ quân phục bạc màu, đầu đội mũ lá, đứng lại hỏi chuyện tôi rất thân thiện như quen biết từ lâu. Tôi ngớ người ra, người đó nói như thông cảm: - Anh vừa ở chỗ anh Đ.T ra đấy thôi! Chắc người này đã từng nếm trải những sự việc tương tự, nên muốn an ủi tôi như một người cùng hội cùng thuyền. Bỗng có tiếng gọi giật trong nhà: - Giám mã! (chức danh chiến sĩ giữ ngựa thời đó) Người ấy lật đật chạy vào, đứng nghiêm giơ tay chào, miệng lắp bắp: - Báo... báo cáo! Một tiếng quát cắt ngang: - Báo cáo, báo cáo cái gì, ngựa nó đang cắn nhau kia kìa! Đầu tháng 9 năm 1950, Bộ Quốc phòng điều chúng tôi trả về Cục Công binh và tham gia chiến dịch Giải phóng Biên giới trong đội hình của Tiểu đoàn 333. Chuyện không lấy gì làm to tát trên đây, không hiểu sao cứ hằn mãi trong ký ức tôi, bám riết lấy tôi, bao năm qua mà tôi vẫn nhớ như in. Tôi luôn lấy đó để tự răn mình theo cái triết lý "Đừng làm cho ai điều gì mà mình không muốn người khác gây ra cho mình". Khi trở về Cục Công binh, tôi được giao nhiệm vụ làm Đại đội trưởng Đại đội 270. Đại đội 270 được thành lập trong đêm mở màn đánh Đông Khê tại một địa điểm cách cầu phao Phục Hòa vài ki lô mét về phía Đông Khê. Chiến dịch biên giới kết thúc thắng lợi, chúng tôi từ phía đông đường số 4 được lệnh qua đèo Bố Bạch để sang đảm bảo việc chuyển quân trên đường số 4. Đại đội vượt đèo trong một đêm tối trời, mưa dầm dề, dốc trơn như mỡ, lại lổn nhổn những mỏm đá tai mèo cạnh sắc như sao. Xuống tới chân đèo, đêm đã khuya, anh em đều đói vì hành quân từ chiều. Tôi cho nấu cơm, nhưng cậu cấp dưỡng mang nồi xoong còn chưa tới nơi. Tôi bỏ ba lô, cầm đèn pin, quay ngược lên đèo để tìm. Qua ánh đèn pin, tôi thấy đồng chí cấp dưỡng, trên vai hai sọt đầy dụng cụ nấu ăn, đang dò từng bước. Thấy tôi, đồng chí ấy hoảng sợ thật sự, miệng lắp bắp: - Đường trơn, trời tối quá anh ạ! Tôi nhẹ nhàng bảo: - Mình lên soi đường cho cậu đi đây! Cứ từ từ mà xuống! Nhoẻn miệng cười, đồng chí ấy bước từng bước chắc nịch. Đến chỗ dốc dường như dựng đứng, không có một cành cây nào để bấu víu, đi người không cũng khó. Chưa kịp bảo cứ thả quang sọt, dụng cụ xuống trước, rồi người lần xuống sau, thì đồng chí ấy đã ngồi bệt xuống đất, nói to: “Để em tụt xuống!” thế là cả người và gồng gánh trôi tuột xuống. Tôi chỉ kịp kêu “Thủng đít mất thôi!” rồi cũng lao nhanh xuống. Tới nơi, đồng chí ấy cũng đứng đậy an toàn, nét mặt hồn nhiên và tươi rói, hai tay vẫn giữ chặt đôi quang. Bất ngờ thấy một động tác đẹp như làm xiếc, tôi thật thích thú, nhưng vẫn trách yêu: “Cậu liều quá!”. Còn đồng chí ấy thì nhìn tôi miệng toe toét cười. Đúng là “cùng nhau trông mặt cả cười” rồi tiếp tục đi xuống chân đèo. Mấy chục năm trôi qua... tôi lục lọi trong ký ức mà không sao nhớ ra tên đồng chí cáp dưỡng ấy. Nhưng không bao giờ tôi quên được hình ảnh người chiến sĩ trẻ măng, người thấp đậm, mặt bầu bầu, đầu húi “cua”, chân đi phục phịch, trên vai gánh một đôi sọt to đùng, xếp đầy xoong nồi cùng chảo, đang lò dò bước lên lưng đèo Bố Bạch năm xưa... Bởi đó là bài tập vỡ lòng về tình thương yêu chiến sỹ trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Thế rồi bao sự việc diễn ra trên từng nẻo đường chiến dịch, nào mở đường, nào bắc cầu, nào xây đựng trận địa... cho đến chống phá các loại bom mìn hiện đại, ác liệt, luôn luôn đổi kiểu của địch... Từ những việc ây, các chiến sỹ Công binh đã tạo ra biết bao chuyện thần kỳ... đã như một sức mạnh vô hình cứ nâng cao dần trong tôi lòng mến phục và tình thương yêu đồng đội. Cũng trên trọng điểm Seng Phan này, tôi đã sống những giây phút hồi hộp, lo âu, căng thẳng cùng anh em và được chứng kiến những hành động thật bình dị nhưng cũng thật anh hùng trong chiến đấu, khắc phục bom mìn, giành lại sức sống cho con đường huyết mạch này. Trước khi vào trận, họ vừa mặc áo giáp chống mảnh đạn, vừa vui đùa trêu chọc nhau. Trong số này, chỉ ít phút nữa thôi, ai trở về nguyên lành, ai trở về với thương tích, ai vĩnh viễn không trở về! Họ ý thức được điều đó mà cứ thản nhiên đón nhận, như nó vẫn diễn ra hàng ngày. Điều đó lại càng tiếp thêm trí lực cho sự chỉ huy bình tĩnh, gan dạ của Tiểu đoàn trưởng Cao Xuân Thung, đang còn mang trên người những vết thương chưa lành. Bằng những công việc thường nhật trên trọng điểm, tưởng như đơn điệu nhưng rất khẩn trương, căng thẳng và hiểm nguy, những chiến sỹ và cán bộ binh thường đó đã dạy cho tôi hiểu thực sự: thế nào là “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng”, chứ không còn là một câu sáo rỗng trong tiểu thuyết. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:18:17 pm (https://i.imgur.com/9ot1iX4.jpg) Thiếu tướng Tô Đa Mạn Sinh năm: 5-1930 Quê quán: Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình Thường trú: Nhà 20-N3, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.35632535 - 0988 236850 Từ Trung đoàn 83, Cục Công binh, BQP Nguyên Trung tá Phó Cục trưởng Cục TMC8 559 Nguyên Phó Tư lệnh Binh đoàn 12, Thiếu tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, QĐNDVN CÓ MỘT CUỘC GẶP MẶT NHƯ VẬY! Chuyện kể về đồng chí Phan Quang Tiệp chỉ huy Trung đoàn 98 vào tuyến mở đường cơ giới Trường Sơn sớm nhấtTháng 8 năm 1999, cựu chiến binh Trung đoàn 98, Công binh chúng tôi tổ chức cuộc gặp mặt thường niên. Cũng là dịp kỷ niệm 35 năm, ngày Trung đoàn 98 vào tuyến Trường Sơn sớm nhất, nên anh em đến dự đông hơn. Ngoài thành phố Hà Nội, còn có các tỉnh lân cận: Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoa An, Hà Tĩnh. Đặc biệt có mặt đồng chí thiếu tướng Phan Quang Tiệp người chỉ huy trưởng dẫn Trung đoàn mở đường cơ giới đầu tiên trên tây Trường Sơn. Nhiều anh là chỉ huy và cán bộ cơ quan thời đó cũng đến dự như: Trung đoàn phó Hoàng Tiến Vinh, Chính uỷ Phạm Bá Dậu, cùng một số cán bộ tiểu đoàn cán bộ cơ quan Nguyễn Văn Bảy, Hồ Hiệp, Nguyễn Hùng Phong..., các chiến sĩ trinh sát Trần Quốc Tế, Nguyễn Khải... Năm đó, sức khoẻ đồng chí Tiệp đã suy giảm rõ rệt nhưng với lòng nhiệt thành, quý trọng tình đồng chí, tuy từ thành phố Hổ Chí Minh vừa ra, anh vẫn ngồi dự với chúng tôi từ đầu đến cuối. Hàn huyên nhiều chuyện, thăm hỏi sức khoẻ, đời sống gia đình, chuyện thường ngày ở các địa phương nơi sinh sống. Nhưng rôm rả nhất vẫn là những mẩu chuyện xoay quanh thời kỳ đầu tiên Trung đoàn nhập tuyến. Đó là những ngày tháng cùng nhau chịu đựng, khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ, nhưng vẫn vui, vẫn hăng say với nhiệm vụ vì miền Nam ruột thịt. Anh em muốn anh Tiệp kể lại những ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ với cấp trên, ngày xa miền Bắc, đưa đơn vị hành quân vào tuyến, về những giây phút mà Đảng uỷ, chỉ huy chọn ngày khởi công đã đi vào lịch sử, ngày 09 tháng 8 năm 1964, ngày mà sau này ngành Công binh Trường Sơn chọn là ngày truyền thống, về ngày Trung đoàn được mệnh danh là “Trung đoàn thần tốc”... Anh Tiệp suy tư một chút, rồi với thói quen đằng hẵng mấy tiếng, đôi mắt nghiêm nghị như ngày nào, hơi nhoẻn miệng cười, với chất giọng miền Nam trầm ấm, anh tâm sự: Thật vinh dự cho Trung đoàn 98 Đúng ra là mình không được đi cùng Trung đoàn - Anh Tiệp nói. Lúc đầu Bộ đã giao cho đồng chí Quốc Tuyển, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 229 nhiệm vụ này, nhưng cấp trên thay đôi, do đồng chí Quốc Tuyển phụ trách công trình quốc phòng, với tính chất bảo mật, không được phép vào Nam, nên mình được thay thế. Anh em chắc còn nhớ, năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, kéo theo sự phá sản của chiến tranh đặc biệt. Năm 1965, Mỹ ồ ạt kéo quân vào, chúng ta phải đương đầu với một thế lực mạnh hơn rất nhiều, đòi hỏi hậu phương lớn miền Bắc phải chi viện sức của, sức người gấp nhiều lần. Đoàn 559 chúng ta, từ năm 1959 đến năm 1964 chỉ dùng biện pháp thô sơ gùi, thồ để vận chuyển chi viện, đến bây giờ không thể kéo dài được nữa. Với quyết tâm của trên là phải vận chuyển bằng cơ giới. Con đường ô tô đương nhiên đã đến lúc phải xuất hiện, và không ai khác, làm con đường đó đúng là nhiệm vụ của công binh chúng ta. Từ năm 1961 ở nam bắc giới tuyến, đã có một số đoạn đường ô tô và công trình quốc phòng do một số đơn vị công binh Quân khu 4, trong đó có Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 98 thực hiện, nhưng chủ yếu là để phục vụ chiến dịch. Cần nói đầy đủ là khi Trung đoàn 98 công binh công trình, lực lượng dự bị của Bộ vào, mới chính thức mở đường ô tô Trường Sơn thuộc Đoàn 559. Anh Tiệp tâm sự: Cũng là duyên số! Mình ở miền Nam từ đơn vị bộ binh của Quân khu 5, tập kết ra Bắc năm 1954, do biết ít nhiều về công tác trắc địa, xây đựng, nên được chuyển sang binh chủng công binh. Tháng 4 năm 1964, mình đang làm Trưởng ban Huấn luyện Cục Công binh Bộ Quốc phòng do đồng chí Phạm Hoàng làm Cục trưởng. Thời đó, bộ đội ta đang ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, đề phòng địch đánh ra miền Bắc trước hết bằng không quân. Các binh chủng toàn quân, trong đó công binh rất sẵn sàng, đã luyện tập mọi hình thức để đối phó chống trả. Ban huấn luyện cũng bận rất nhiều công việc. Một ngày cuối tháng 5 năm 1964, mình được chỉ thị của Cục chuẩn bị bàn giao công việc huấn luyện cho đồng chí khác, rồi lên Cục Tác chiến nhận nhiệm vụ mới. Khi vào đến Cục Tác chiến gặp ngay anh Phan Hàm - Cục phó, người đã cùng chiến đấu thời chống Pháp ở Khu 5. Anh mời ngồi, hỏi thăm sức khoẻ, gia đình rồi vào việc ngay. Anh Hàm nói: Thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng giao cho công binh cấp tốc vào mở đường cơ giới ở Trường Sơn để hướng tới vận chuyển ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn, tạo điều kiện thời cơ để nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trên tâm bản đồ đã trải rộng trên bàn, anh Hàm chỉ cho mình hướng đường Trường Sơn phải mở, các điểm cần phải đi qua, từ miền Bắc, Quảng Bình, qua đất bạn Lào, đến miền Đông Nam Bộ, một trục dọc đầu tiên của tuyến đường. Nhưng trước mắt phải mở nhanh vào tới Bắc Tây Nguyên, một địa khu chiến lược cực kỳ quan trọng. Công việc khá khó khăn và rất gấp, anh về chuẩn bị. Sắp tới Bộ sẽ trực tiếp giao nhiệm vụ cho anh, anh trực tiếp dẫn một trung đoàn công binh vào trước, đó là Trung đoàn 98. Anh Phan Hàm còn nói vui: bạn được vinh dự trở lại miền Nam trước mình nhé! Rồi chúng tôi tạm chia tay, hẹn ngày gặp lại trên miền Nam khi hoàn toàn giải phóng Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:18:58 pm Nhận nhiêm vụ mở đường thống nhất
Sáng ngày 08 tháng 6 năm 1964, mình và anh Nguyễn Phụ Hồng được Cục Công binh Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng và Chính uỷ đến sở chỉ huy Trung đoàn 229 ở Trung Hà để nhận lệnh - Anh Tiệp tiếp tục kể. Cùng dự có một số cán bộ các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần mà Cục Công binh đã chuẩn bị. Có một số anh em đã có mặt tại đây như: anh Vinh, anh Bảy... Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ. Đồng chí nói: Hôm nay, được uỷ nhiệm của Bộ, tôi giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 98 Công binh đi làm nhiệm vụ mở đường ô tô Trường Sơn. Hướng tuyến, tiêu chuẩn kĩ thuật thế nào, đồng chí Tiệp đã nhận trực tiếp tại Cục Tác chiến, Bộ Tông Tham mưu. Tôi nói thêm một số ý: Trước hết, Trung đoàn cần nhận thức đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Con đường cơ giới mở trên Trường Sơn, dẫn từ miền Bắc vào tận miền Nam, khó khăn gian khổ lắm, nhưng tác dụng của nó thì vô cùng to lớn. Rồi đây khi chiến tranh phát triển, thông qua con đường này, trang bị kỹ thuật, phương tiện, vũ khí cùng các binh chủng của ta sẽ được tăng nhanh và ngày càng nhiều vào chiến trường miền Nam. Quân ta sẽ đánh lớn và chắc chắn sẽ nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trung đoàn 98 là đơn vị đầu tiên của Binh chủng Công binh được nhận nhiệm vụ này. Đây là vinh dự, nhưng trách nhiệm thật lớn lao. Đảng uỷ, thủ trưởng cần lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí Lê Quang Hoà còn nói thêm một số nét cơ bản về công tác Đảng, công tác chính trị. Đồng chí nói về truyền thống Trung đoàn 98 xuất xứ là một trung đoàn bộ binh thành lập ở Quảng Ninh năm 1946. Trong kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn chiến đấu lừng danh ở khu Đông Bắc, đặc biệt là ở chiến trường đường 18 suốt từ Bắc Ninh, Bắc Giang, đến Quảng Ninh, Móng Cái. Đến năm 1951, Trung đoàn 98 về trực thuộc Sư đoàn 316 và chiến đấu ở Tây Bắc, nổi nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trực tiếp đánh đồi C1, mở cửa vào A1, dẫn đến chiến thắng toàn bộ Điện Biên Phủ. Sau hoà bình, Trung đoàn chuyển nhiệm vụ thành Trung đoàn Công binh mở đường ở Tây Bắc và cũng lập được nhiều thành tích. Như vậy truyền thống của Trung đoàn thật sáng chói, vừa mang truyền thống chiến đấu bộ binh, vừa mang truyền thống mở đường thắng lợi của công binh. Các đồng chí hãy phát huy truyền thống đó trên chiến trường mở đường Trường Sơn. Đồng chí Lê Quang Hoà dặn dò và nhấn mạnh rất nhiều điều về công tác chính trị, công tác chính sách, công tác dân vận. Các đồng chí hãy mang lá cờ “mở đường thắng lợi” của Binh chủng Công binh để “mở đường thống nhất”. Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi triển khai một số việc ở cơ quan, và cho anh em 7 ngày phép về thăm nhà và tạm biệt gia đình. Bản thân tôi cũng được phép tranh thủ về Hải Phòng mấy ngày để dặn dò, tạm biệt “bà xã” và 2 cháu: Nhân và Hải còn tuổi thơ ngây đang đi học. Phút chia tay, không khỏi bịn rụi, nhưng cả nhà đều hiểu rõ chuyến đi xa để rồi có ngày được sum họp trở lại khi nước nhà thống nhất. Ngày 19 tháng 7 năm 1964, ban Chỉ huy cùng cơ quan Trung đoàn bộ lên tàu hoả vào Vinh, rồi tiếp tục lên xe phủ bạt kín, vào tới Làng Ho, Lệ Thuỷ, Quảng Bình là nơi chuẩn bị nhập tuyến. Tại đây tôi đã trực tiếp gặp anh Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn 559, nhận nhiệm vụ phối thuộc. Tôi được anh Bẩm dặn dò chỉ dẫn cụ thể tình hình giao liên gùi thồ, tình hình ta, tình hình Bạn, âm mưu và hoạt động của địch, tình hình thời tiết. Anh cũng nói rất kỹ về việc phải tuyệt đối giữ bí mật nhiệm vụ, về tuyến đường sẽ mở. Anh Lê Đức Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn hỏi rõ về tình hình tiếp tế lương thực thực phẩm cho bộ đội và được trả lời là sẽ rất vất vả vì phụ thuộc vào gùi thồ phía sau. Mọi việc chuẩn bị khá nhanh chóng. Cơ quan tham mưu đã bố trí một đồng chí ở lại Làng Ho nhận và trông giữ toàn bộ những hiện vật không được mang theo sang đất Bạn như sổ sách, ảnh, thư từ cùng các tư trang của bộ đội. Và cũng tại đây từ nay trở đi - anh Võ Bẩm vừa nói vừa cười thân mật: Đơn vị được mang mật danh là “Chi hội Bình Minh" thuộc “Hội Lao động Giải phóng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”. Với quân trang quân giải phóng, được trang bị các loại súng nhẹ chiến lợi phẩm đánh Pháp như Sten, Brenô, 7,9 ly, cuộc hành quân nhập tuyến bắt đầu. Những thử thách ban đầu đã tới. Đơn vị chúng ta lúc đó đã âm thầm từ ngọn đồi này qua ngọn đồi khác, vượt núi rùng âm u rậm rạp. Đèo 1001, đỉnh của dãy Trường Sơn sừng sững hiện ra trước mặt nhưng không cản nổi bước chân của anh lính giải phóng. Một vài ngày đầu, vì còn được hơi hướng của miền Bắc, lại ít nhiều bộ đội đã được rèn luyện hành quân mang nặng nên còn khoẻ, nhưng chỉ sau một tuần, sức lực cơ bắp cũng sút giảm dần. Một số anh em đã bắt đầu ốm. Cuộc hành quân đi bộ cũng không vì thế mà sụt hẳn, gần một tháng trời chúng ta đã từ đông Trường Sơn qua tây Trường Sơn đến đường số 9, qua Sê Pôn, tới dốc Thơm, về nơi tập kết. Đó là La Hạp1 (Km 270 đường 128 sau này, ngã ba đường B45 sang Thừa Thiên - Huế) một địa điểm trên đất Lào anh em, một vùng đồi thấp cây cối thưa thớt, cỏ tranh bạt ngàn. Cơ quan Trung đoàn bộ hạ trại ở đó. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:20:24 pm Ngày 09 tháng 8 năm 1964, động thổ mở đường cơ giới Trường Sơn
Những ngày đầu tháng 8 năm 1964, trên đất bạn Lào thuộc tỉnh Sa La Van vừa được giải phóng, thi thoảng từng nơi vẫn còn khét mùi thuốc súng, đồi nương bỏ hoang, cỏ mọc um tùm. Trong các bản làng, những mái nhà lá ọp ẹp, chỉ còn trơ khung gỗ cháy đen. Nhân dân các bộ tộc Lào anh em, lác đác đã trở về bản làng để khôi phục, làm lại nương rẫy. Thấy bộ đội Việt Nam sang, bà con vô cùng phấn khởi, chắc không còn phải sơ tán liên tục như những thời kì trước. Bà con rất nghèo và đói, nhưng tinh thần giúp đỡ bộ đội thì vô cùng quý giá. Tôi nhớ có lần đoàn của cơ quan Trung đoàn bộ chúng ta gặp một tốp người dân nước Bạn già, trẻ, trai, gái, quần áo rách mướp, đang gồng mình trèo đốc, gùi những kiện hàng nặng nề, với những bước đi khó nhọc, chắc là đói lắm. Đồng chí Trần Bá, Chủ nhiệm Chính trị thấy vậy hồi: “Đồng bào gùi gì thế, nặng lắm hay sao mà đi khó khăn vậy, hãy nghỉ và lấy một ít trong gùi để ăn rồi hãy đi”. Một cụ già nói: “Không được đâu! Mình đói khổ nhưng không bằng bộ đội Việt Nam và tha hán Lào còn đói khổ hơn nhiều, lại còn hy sinh nữa chứ! Mình gùi thuốc cho bộ đội để chữa bệnh đây, bộ đội ốm nhiều lắm mà! Mình không đựơc ăn, bộ đội ốm yếu lấy gì chữa bệnh để đánh Mỹ”. Đồng chí Chuẩn, Trợ lý Chính trị đề nghị dành mỗi người một phần cơm nắm cho bà con. Anh em hưởng ứng ngay, các gói cơm nắm ăn trưa đều được bẻ đôi chia sẻ với đồng bào. Những hình ảnh đầu tiên đó đã làm cán bộ chiến sỹ cảm động, một bài học sâu đậm về tình nghĩa anh em Việt Lào. Ngày 02 tháng 8 năm 1964, anh Nguyễn Phụ Hồng, Bí thư Đảng uỷ triệu tập họp Đảng uỷ, cuộc họp đầu tiên thông qua quyết tâm. Mình báo cáo nhiệm vụ của Trung đoàn mà Bộ Quốc phòng giao, các kế hoạch lãnh đạo và đảm bảo, một kế hoạch dài 2 năm đến cuối năm 1965, đường phải thông đến bắc Tây Nguyên, trước mắt đến cuối năm 1964 phải thông đến Bạc (Km 343 đường 128 sau này) bắc sông Sê Kông. Tiếp sau đó, trong hội nghị quân chính, các cơ quan tham mưu, đồng chí Hoàng Tiên Vinh, Tham mưu phó báo cáo tình hình tuyến đường, sử dụng lực lượng kế hoạch khởi công. Đồng chí Lê Đức Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần báo cáo kế hoạch đảm bảo hậu cần. Anh Bảo rất hăng hái, nhấn mạnh, gạo thực phẩm rất ít, có thể sẽ thiếu, nhưng sẽ cấp mỗi tháng mỗi người một cân muối. Anh em ngầm hiểu, có muối sẽ có thêm thực phẩm, rau, đậu, thịt bằng cách đổi cho đồng bào. Đồng chí Nang, Phường, cơ quan khí tài hứa sẽ tìm mọi cách có đủ cuốc xẻng, dao, choòng và nhấn mạnh không có thuốc nổ. Anh Bá, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, lấy ngay hình ảnh vừa gặp nhân dân Lào di trên đường để giáo dục chiến sĩ giữ vững mối quan hệ Việt Lào, giữ vững sinh hoạt Đảng, công tác chính trị, động viên khen thưởng kịp thời v.v... Buổi họp quân chính trên đất bạn Lào đầu tiên, đã có quyết tâm cao như thế! Ngày 03 tháng 8, các cán bộ ra về triển khai tích cực để kịp ngày khởi công: 07 tháng 8 năm 1964. Chắc các đồng chí chúng ta ngồi đây đều còn nhớ: Ngày 05 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ gây sự kiện vịnh Bắc Bộ, đưa hàng chục máy bay bắn phá Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Vinh... Quân dân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, ngày đầu tiên bắn rơi 12 máy bay, bắt sống giặc lái. Dã tâm xâm lược của đế quốc Mỹ đã quá rõ ràng. Nhạy bén với tình hình, đồng chí Chính uỷ Nguyễn Phụ Hồng nhanh chóng hội ý thường vụ Đảng uỷ: chúc mừng chiến công đâu tiên của quân dân miền Bắc, Trung đoàn 98 phải tỏ rõ quyết tâm bằng ngày ra quân đầu tiên trên Trường Sơn phải là ngày thắng lợi đầu tiên trả thù cho đồng bào miền Bắc. Và một ý nghĩ mới vụt đến. Chúng ta sẽ tích cực chuẩn bị thêm, sẽ ra quân lùi lại 2 ngày và lấy đúng ngày 09 tháng 8, con số trùng hợp với tên Trung đoàn 98 để ghi nhớ được lâu. Tất cả chúng tôi hoan nghênh sáng kiến và triển khai theo phương án này. Đồng chí Trung đoàn phó Chu Minh Đông nói: ngày đó chỉ huy và cơ quan chúng ta phân chia xuống các tiểu đoàn để đốc chiến và đề nghị Trung đoàn trưởng và Chính uỷ trực tiếp xuống hẳn một đại đội để dự cùng anh em. Chúng tôi đã chọn Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 là đơn vị được bố trí tốt nhất về nhân sự, vật chất, tinh thần. Một điều thú vị chỉ huy Đại đội 4 là đại diện cho hai miền Nam Bắc. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bộp, quê Bắc Giang, Chính trị viên Đặng Đức Thông quê Quảng Nam. Trong các cán bộ trung đội có Đoàn Ngọc Lập, Vương Thanh Cầm, Nguyễn Tân Đăng đều là cán bộ trẻ, hăng hái, nhiệt tình, được đào tạo cơ bản tại trường Sĩ quan Công binh. Gần 100 chiến sĩ đều là lính nghĩa vụ trẻ, khoẻ. Đúng 5 giờ 30 sáng ngày 09 tháng 8 năm 1964, cán bộ chiến sĩ Đại đội 4 vừa ra tới hiện trường thì một cơn mưa rào ập tới, cơn mưa kéo dài gần 30 phút. Anh em phải tạm trú mưa, thử thách đầu tiên phải vượt qua. Có tiếng xôn xao, ông trời không ủng hộ 98, mưa thế này vỡ kế hoạch ngay từ ngày đầu ra quân! Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bộp vụt đứng dậy ứng xử linh hoạt: “Các đồng chí nhầm rồi. Ở quê ta, mỗi khi đào móng làm nhà gặp được trận mưa to là điềm lành đây. Đây mình sắp “động thổ”, “hên” lắm chứ!” Mọi người cười to đồng tình hưởng ứng. Và đúng như vậy, sau 30 phút mưa nặng hạt, trời bỗng tạnh hắn. Đại đội 4 đã về đúng vị trí của mình, như bài học đội hình vừa làm đường vừa sẵn sàng chiến đấu, có cảnh giới, phòng không, phòng địch mặt đất. Lễ động thổ khởi công tuyến ô tô Trường Sơn bắt đầu! Nghi lễ thật là đơn giản vì điều kiện chiến trường và vì bảo mật. Không có băng rôn lớn, chỉ có khẩu hiệu viết tay cài trên mũ hoặc viết trên ống tre nứa. Cơm nước không bày biện nhưng được ăn nóng ngay trên mặt đường. Chẳng có bộc phá nổ mở màn mà chỉ có mệnh lệnh đơn giản: - “Vì miền Nam ruột thịt, vì đất nước thống nhất! Tất cả bắt đầu”. Tôi vừa ra lệnh, hàng trăm cánh tay giơ cao vung xuống, tiếng cuốc, tiếng xẻng, tiếng dao búa ầm ầm làm mất đi sự tĩnh mịch của không gian buổi sáng sớm. Tất cả lao động liên tục cho đến hết ngày. Buổi đầu năng suất rất cao, toàn Trung đoàn hoàn thành gần 10 ki lô mét đường ô tô. Chúng ta đã đánh thắng trận đầu giòn giã, hưởng ứng ngày chiến thắng của miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ. Nói đến đây, anh Tiệp quay sang phía bên phải hỏi: các đồng chí ngồi đây có đồng chí nào tham gia mở đường ngày đó không? Hơn chục cánh tay giơ lên tự hào: “Có đấy ạ!”. Cuộc họp mặt hôm nay, một số đồng chí Đại đội 4 ngày đó cũng có mặt. Đồng chí Đỗ Phương Tâm lần lượt giới thiệu từng người một và nói: - “Anh em Đại đội 4 hiện ở Cổ Loa, Đông Anh còn hơn 20 đồng chí, thời đó đều là chiến sĩ, chỉ có 2 đồng chí là A trưởng. Đồng chí Ngát, đồng chí Năm, đồng chí Lưu, lần lượt phát biểu đều tỏ ra rất vui mừng, không ngờ được vinh dự sống trong ngày lịch sử động thổ bổ nhát cuốc đầu tiên Trường Sơn năm ấy. Ngày 09 tháng 8 năm 1964 là như vậy! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:21:35 pm Hướng về phía Nam, nhanh chóng đưa đường đến ngã ba biên giới
Ngày 09 tháng 8 đó cũng là mở đầu cho một đợt thi đua “Vì miền Nam ruột thịt”. Tiếp theo, dựa vào tài liệu khảo sát thiết kế của Cục Công binh đã chuẩn bị từ năm 1963, Trung đoàn theo đội hình lúc cuốn chiếu, lúc nhẩy cóc, trong hơn 4 tháng vượt qua mọi địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, thiếu thốn vật chất, đến giữa tháng 12 năm 1964, Trung đoàn đã đến dốc Bạc bên dòng sông Sê Kông. Đúng dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân, Tham mưu phó Cục Công binh Nguyễn Văn Nhạn dẫn 7 chiếc xe Gatz thông đường trong niềm vui tin tưởng. Đúng là dốc Bạc!... Một đoạn đường ngắn có độ dốc quá lớn, lớn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, lại phải qua 12 vòng cua ngược chiều nhau liên tiếp. Cán bộ chiến sỹ chúng ta, vừa mưu trí, vừa lao động vát vả, vật lộn gian khổ với 12 cua dốc trong nhiều ngày đêm mới hoàn thành. Đây là một ky niệm không bao giờ quên, còn đọng lại mãi trong anh em chúng ta, nhưng ai đã một thời mở đường từ Bản Đông đến Bạc. Những năm sau, dốc 12 cua trở thành trọng điểm, máy bay địch đanh phá thường xuyên, nhiều xe bị đổ, bị hỏng ở dốc này. Cũng phải nói là thời kỳ đầu chúng ta chưa triển khai được cầu, phà, nên phải vượt sông bằng ngầm, mà ngâm có yêu cầu kỹ thuật riêng, đường xuống ngầm bị không chế nên khó tránh dốc lớn. Sau này chúng ta có nhiều biện pháp khắc phục: nhiều ngầm, nhiều bến phà, cầu nổi. Vượt qua sông Bạc, chúng ta có thêm bạn đồng hành. Đó là Trung đoàn 279 có mật danh Rạng Đông, do anh Hoàng Đình Luyến làm Trung đoàn trưởng và anh Hoàng Thược, Chính uỷ. Hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông, hai cái tên của hai anh em sinh đôi cùng một binh chủng, cùng bắt tay nhau, đưa tuyến đường hết đoạn này qua đoạn khác. Đường càng vào trong càng khó khăn thêm. Việc đưa lương thực đến phía sau càng gian nan. Trung đoàn Rạng Đông qua 3 tháng liên tục không đưa được nổi 4 máy ủi vượt sông Bạc. Thuốc nổ lại càng khó hơn, Đèo Long1 (Đèo Long: đường lên đốc phía nam ngầm Bạc sau này trở thanh trọng điểm) vừa dốc vừa lắm đá, phải dẫm chân chân tại chỗ khá lâu mới thông xe được. Vượt qua Chà Vằn, dốc Bô Phiên, đèo Sê Ka Mán lại hiện ra trước mặt, quanh co, đá tảng xếp tầng. Chúng ta đã khéo bố trí đội hình, sử dụng hợp lý thuốc nổ ít ỏi để có hiệu suất cao, đã có sáng kiến làm bừa đất bằng gỗ và dây rừng tại chỗ của các đồng chí Đại đội 4, năng suất nâng lên gấp nhiều lần. Toàn đơn vị đã tận dụng mọi thời gian, bất kể mưa nắng, không có ngày nghỉ, một ngày liên tục ở mặt đường từ 6 giờ sáng đến 7 giờ tối. Lao động như vậy, ăn uống lại thiếu thốn. Do gạo và lương thực không vận chuyển vào kịp, chiến sĩ bình quân mỗi ngày chỉ được không quá 3 lạng gạo, có ngày chỉ đủ gạo nấu cháo. Tuy vậy với tinh thần vì miền Nam, Trung đoàn vẫn quyết tâm lao động để đưa nhanh đường về tới đích. Thiếu gạo thì kiếm củ mài, củ rừng, hạt dẻ, hạt gắm bổ sung. Thiếu rau thì có rau tầu bay, rau lá sắn, măng tre thay thế. Thiếu thịt, thỉnh thoảng có chú lợn rừng sa bẫy cung cấp. Đủ các thứ khắc phục nhưng cũng không thể giữ được sức khoẻ cho bộ đội. Thời tiết, muỗi rừng, vắt đen, vắt xanh đua nhau bóc xé da thịt chiến sỹ. Nhiều chiến sĩ bị sốt rét hành hạ. Một loại dịch sốt rét ác tính rất nguy hiểm, dẫn đến tử vong rất nhanh. Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 2 chỉ trong 3 ngày đã có 10 đồng chí hy sinh. Thuốc chống sốt rét rất thiếu. Anh em quân y cũng đã khắc phục, học tập kinh nghiệm địa phương lấy phôi ổ mối sắc với rễ cây ớt, sao vàng, uống nước, nên đỡ được phần nào. Nhiều hôm, đơn vị chỉ còn 50% chiến sỹ ra mặt đường. Chính uỷ Phụ Hồng, đã có buổi sáng nhường lại bát cháo cho đồng chí trợ lý ăn để có sức ra mặt đường. Chiến sỹ khoẻ nhường phần cháo của mình cho chiến sỹ ốm là chuyện bình thường. Kẻ địch trên không, dưới mặt đất luôn gây cho ta nhiều khó khăn. Nhận thấy nguy cơ con đường mòn ngày càng vào sâu, chúng đã dùng mọi phương tiện hiện đại chụp ảnh liên tục cả ngày lẫn đêm hòng phát hiện để bắn phá, ngăn chặn. Tại Pắc Huội, máy bay AD6 đã oanh tạc vào đúng đội hình của Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, làm hai đồng chí hy sinh, 10 đồng chí bị thương. Tiểu đoàn 1 dang trên đường hành quân di chuyển cũng bị máy bay phát hiện và bắn phá. Đã có nhiều lần, chúng ta bắt được các toán biệt kích đóng giả dân trà trộn vào nơi trú quân và thi công của ta. Khó khăn như vậy, nhưng ngày ngày đường vẫn cứ vươn dài. Bình Minh vượt qua Rạng Đông, rồi Rạng Đồng lại vượt qua Bình Minh, "hai anh em sinh đôi” đang cùng nhau chơi tiếp sức, tiếp tục chinh phục con đường phía trong. Suối To, Sê Sụ, Phi Hà rồi Pa Kha và đúng đến ngày 18 tháng 01 năm 1966, Trung đoàn Bình Minh đã tới Tà Xẻng bắc Tây Nguyên. Đây là ngã ba Đông Dương, nơi có câu nói huyền thoại: “Một con gà gáy cả ba nước cùng nghe!”, kết thúc giai đoạn đầu tiên trong mệnh lệnh ban đầu. Cả hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông đã hoàn thành một đoạn đường dài 256 ki lô mét. Và tại đây, chúng ta đã tổ chức cho chiến sỹ ăn cái Tết thứ hai ở Trường Sơn, trong niềm vui chung cùng các chiến thắng trên chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:23:05 pm Đường 49 - Trung đoàn thần tốc
Sáng 24 tháng 01 năm 1966 tức mồng 2 Tết Bính Ngọ, trong một khu rừng tre tương đối kín đáo ở Tây Nguyên, Trung đoàn bộ đang đi chúc Tết vui vẻ. Chính uỷ Nguyễn Xuân Kim đang tâm sự ở cơ quan chính trị, Trung đoàn phó Chu Minh Đông đang khề khà hơi men với cơ quan hậu cần. Tôi cùng cơ quan tham mưu đang ngồi bên chén nước trà còn bốc hơi ấm. - "Báo cáo thủ trưởng, có điện khẩn ở ngoài Đoàn” - chiến sỹ cơ yếu Đoàn Văn Tập vội vã bước vào và trình điện. - "Chắc là điện chúc Tết, động viên anh em mình vừa hoàn thành nhiệm vụ, hẳn lại có thưởng to rồi” - Tham mưu phó Hoàng Tiến Vinh vừa đỡ bức điện vừa nói. Tôi có ý lo ngại có chỉ thị cấp tốc, nhưng trước mặt anh em đang trong không khí nghỉ Tết vẫn cố giữ thái độ ung dung, thư thái, mở bức điện ra xem. Ngay đầu điện đã có chữ “Thượng Khẩn”. Tôi căng mắt đọc từng dòng một: “Mệnh lệnh gửi E 98. Chuyển ngay Trung đoàn sang làm đường 49. Điểm đầu từ ngã ba Phi Hà, qua các điểm Chín Suối, bãi đá Lâm Phu, Lanh Tanh đèo 200, vượt Nậm Công, rồi qua suối Tà Ngâu, điểm nối sang đất bạn Cam pu chia, điểm cuối K20 Siam Pạng. Đường dài khoảng 200 ki lô mét. Yêu cầu thi công thật khẩn trương để chuyển hàng ngàn tấn hàng đang bị ứ đọng. Thời gian khổng quá 4 tháng. Liên hệ chặt chẽ với đồng chí Đức Phương, mật danh là “Ông Chủ”. Triển khai ngay và báo cáo về Đoàn”. Điện còn nói rõ thêm: “Vì ở phía ngoài, địch đánh phá mạnh, nhiều điểm bị tắc, xe hàng không vào được. Đường 49 được mở là một cứu cánh lớn để đưa hàng từ K1 (K: Campuchia) ra nhanh tới các chiến trường, nhất là Tây Nguyên và Khu 5". Chúng tôi rất hiểu điều đó. Từ khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào, chúng mở liên tiếp các cuộc tiến công hòng bình định nhanh, tiêu diệt quân giải phóng, mà muốn thắng chúng phải đánh mạnh tuyến chi viện đường mòn Hồ chí Minh. Các cửa khẩu và các trọng điêm phía bắc đường Trường Sơn đã bị đánh phá rất mạnh như Pha Nốp, Seng Phan, Vang Mu, Thà Khống, Dốc Thơm... có nơi tắc đường 7 ngày, 10 ngày, vận chuyển gặp rất nhiều khó khăn. Với tình hình đó, mệnh lệnh mở đường C41 (Đường 49 mang 2 tên 49, C4. Sau này mở thêm đường 49B, và đường 49 kéo dài thì đường 49 gọi là 49A) nhanh chóng rất có ý nghĩa và Trung đoàn đã triển khai khẩn trương. Cơ quan tham mưu, đồng chí Tô Đa Mạn và đồng chí Nguyễn Văn Bảy đã mở bản đồ, nghiên cứu nhanh địa hình, xác định các điểm khống chế và báo cáo nhanh, đường dài khoảng 200 ki lô mét, thi công nhanh cũng mất 5 tháng, có thể chia làm 2 đoạn: Đoạn 1: Từ Phi Hà đến Tà Ngâu dài khoảng 120 ki lô mét, đường đi dưới rừng cà bông tương đối kín, có một số điểm khó như khu vực Chín Suối dễ lầy lội, bãi đá Lâm Phu dài khoảng 2 ki lô mét đi sát bờ sông Sê Sụ, đèo 200 dài khoảng 5 ki lô mét tương đối trống trải, dốc, đất pha đá, gần địch, địch còn chốt ở Mường Mày. Đoạn 2: Từ Tà Ngâu đi K20 đường dài khoảng 80 ki lô mét, chủ yếu qua rừng khộp, dễ thi công, cần chú ý điểm vượt sông Tà Ngâu. Cơ quan cũng đã sơ bộ đề xuất cách sử dụng lực lượng và biện pháp tác nghiệp. Các cuộc họp Đảng uỷ, họp quân chính khẩn trương, và được khái quát như sau: Tinh thần là phải triển khai như một chiến dịch, thật nhanh trong mọi công việc, từ họp hành đến mọi công tác chuẩn bị. Đội hình chiến dịch là Trung đoàn thành một tuyến, mỗi tiểu đoàn một địa đoạn, mỗi đại đội một phân đoạn, vừa nhảy cóc vừa cuốn chiếu trong từng phân đội. Phương pháp tác nghiệp là thi công trong hành tiến. Trinh sát định tuyến đi trước, đội hình tác nghiệp theo ngay. Thi công liên tục, nhiều giờ trong ngày, kể cả đêm. Công tác bảo đảm, đặc biệt là hậu cần, chiến sĩ phải được ăn no, uống đủ. Khẩu hiệu là thần tốc, thần tốc mở đường. Tuyệt đối giữ bí mật. Quyết tâm hoàn thành trong vòng 3 tháng, vượt kế hoạch 2 tháng. Đúng ngày mồng 02 Tết, chấp hành mệnh lệnh, các tiểu đoàn đã lên đường ngay, thứ tự từ ngoài vào lần lượt là Tiểu đoàn 1, 2, 3. Có một thuận lợi là đã có tuyến đường thồ đi dọc tuyến nên các phân đội triển khai khá nhanh. Lợi dụng đường sông Sê Sụ, chúng ta đã mượn được một số thuyền máy, các thuyền này làm nhiệm vụ rải bộ phận trinh sát và chỉ huy tiểu đoàn ở phía trong. Riêng Trung đoàn bộ, bộ phận đi thuyền máy gồm Trung đoàn phó Chu Minh Đông, đồng chí Tô Đa Mạn, đồng chí Nguyễn Văn Bảy cơ quan tham mưu; đồng chí Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần; đồng chí Bá, Chủ nhiệm Chính trị, cùng một số trợ lý đi thẳng vào phía tuyến trong, sau đó đi ngay vào K20 gặp “Ông Chủ" để quan hệ, báo cáo tình hình triển khai, đặc biệt là công tác đảm bảo lương thực, thực phẩm cho bộ đội. Ngày mồng 03 Tết, 8 giờ sáng, chúng tôi đã có mặt ở K20 trên bờ sông Sê Kông nắng thoáng. Đã từ 2 năm nay, giờ này chúng tôi mới được hưởng một không khí tương đối thanh bình. Cơ quan "Ông Chủ" thật đơn giản, dưới rặng cây cà bông, trông nề nếp nhưng cũng không quên sẵn sàng chiến đấu, phòng không, phòng địch mặt đất. Những dãy kho liên tiếp đầy ắp hàng, phân tán trong khu rừng gần nơi “Ông Chủ” ở. Thuyền máy chạy trên sông liên tục chở đầy hàng cập bến nhanh chóng rồi lại rời bến khẩn trương. Chúng tôi hình dung được hàng hoá có nhiều nên đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thành con đường và thầm nghĩ, ngành hậu cần quân đội ta thật tài giỏi đã thiết lập được con đường vận tải này. Rồi đây các vũ khí, binh khí kỹ thuật từ miền Bắc vào B2 đi qua con đường này cũng rất thuận lợi. Những tâm tư, ý nghĩ trên thoảng qua cũng không làm chúng tôi sao nhãng nhiệm vụ trước mắt. Trong gian phòng nhỏ thông thoáng, trên chiếc bàn dài có bộ ấm chén mầu nâu, hai bộ ghê mây trang nhã, chúng tôi được “Ông Chủ" Đức Phương tiếp. Thật bất ngờ, Ông Chủ không phải dáng nhà tư sản béo mập trắng trẻo như chúng tôi nghĩ. Trông ông cao to, làn da bánh mật, hai con mắt luôn nhấp nháy, nhưng giọng nói lại dễ quyến rũ. Ông vào đề rất nhanh: “Chúng tôi K20 đã nhận được điện của Tổng cục Hậu cần, Đoàn 559 cho biết Trung đoàn 98 đã nhận lệnh vào làm đường ô tô để chở hàng từ đây. Rất mong các đồng chí vào để hợp đồng công việc, yêu cầu làm thật nhanh để rút hàng". Ông khoát tay nhìn vảo các bãi hàng xung quanh nói tiếp: “Đây, các anh nhìn, hàng chất đống, toàn hàng cho chiến trường, nào gạo, thực phẩm, nhu yếu phẩm và cả xăng dầu nữa, có đến hàng vạn tấn, phải có đường ô tô thì mới chuyển nhanh được. Trong này rất mong con đường ô tô của các anh, không phải 5 tháng mới xong, mà cần phải nhanh hơn, nếu không mùa mưa ập đến thì không kịp. Để chiến trường đói thiếu, không mở chiến dịch được, để các anh Đoàn 559 đói thiếu trên đống kho đầy hàng hoá lương thực, thử nghĩ sao đành”. Những lời nói của "Ông Chủ” là lời động viên thiết thực, lời kêu gọi của chiến trường, làm bừng lên một khí thế, một niềm tin, một quyết tâm, con đường nhất định sẽ chóng hoàn thành. Đồng chí Chu Minh Đông phát biểu đề nghị một vài việc, nhất là công tác đảm bảo sức khoẻ, đảm bảo thi công cho bộ đội. “Ông Chủ” lại khoát tay một cái đài và nói: “Các cậu cứ cho bộ đội ăn no để lấy lại sức vì đã 500 ngày liên tục chịu đói chịu khổ trên Trường Sơn rồi, cần thuốc chống sốt rét, không thiêu, cần dụng cụ làm đường, sẽ có đủ”. Anh Đông, anh Bảo nhìn nhau và nói nhỏ điều gì. “Thôi, cho mấy trợ lý quân nhu đến gặp ngay anh Huỳnh Tấn Đại để nhận hàng cho bộ đội”. “Ông Chủ” nói tiếp. Chỉ cần có gạo ăn no thôi, nhưng “Ông Chủ” lại cấp thêm xà phòng, một ít thuốc lá sợi, một số bịch đường. “Ông Chủ” cũng không quên nhắc: - “Nếu gặp lính hoặc dân Cam Pu Chia hỏi thì các cậu cứ nói là “cu li” của “Ông Chủ”, hiểu không, không được nói là bộ đội nhá!” Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 24 Tháng Bảy, 2023, 03:23:38 pm Ra về anh Chu Minh Đông còn nhắc đồng chí trợ lý quân nhu xin “Ông Chủ” ít chè khô để bộ đội uống, đã rất lâu thèm hương vị miền Bắc.
Đến đây anh Tiệp nói, tôi còn nhớ mãi, khi đoàn hậu cần về, tôi rất phấn khởi nhưng vẫn phê bình ông Đông cần lương thực, thuốc men là chính, sao nhận chè làm gì. Tôi nhớ lúc đó anh Đông cứ phàn nàn mãi, đúng là "lập công nên tội". Bộ đội, các đơn vị đã vào vị trí của mình. Những chiếc ba lô được xếp hàng ngay ngắn ở một góc đường, anh em chiến sĩ, người chặt cây, đào rễ, người kéo đất san nền. Đây một tốp ba người đang cùng nhau đào phạt những ổ mối to hàng chục mét khối. Chỗ khác một tốp lại cùng nhau đào những tảng đá hộc chắn ngang đường. Không một tiếng bộc phá, không một tiếng reo hò, chỉ nghe thấy những tiếng dao chắc nịch đẽo cây đánh dấu đường, tiếng cuốc bùng bục, tiếng kéo lá rào rào. Trong những ngày này, lao động kéo dài một ngày từ 15 đến 16 giờ, có một số hôm làm thông đêm, bộ đội chỉ được phép ngủ một giấc ngắn tại chỗ, hoặc tại chiếc võng treo trên hai gốc cây. Tất cả mọi người từ chỉ huy Trung đoàn, văn thư đánh máy, liên lạc, y tá, ai cũng cầm cuốc, xẻng, dao cùng tham gia mở tuyến. Ai cũng muốn góp phần nhỏ bé vào nhiệm vụ thần tốc đặc biệt này. Khó nhất vẫn là mở dốc đá Lâm Phu, đá liền khối, mở sao đủ rộng đưởng và giữ được bí mật. Anh em đã có sáng kiến, đục nhiều lỗ bộc phá nhỏ, tra thuốc, tranh thủ lúc không có máy bay trinh sát cho nổ rồi lại nguỵ trang ngay. Đèo 200 dài, dốc lớn, cua hẹp, có những đoạn lại hướng về phía địch Mường Mày, At Tô Pơ. Đã chỉnh lại từng đoạn tuyến tránh che khuất mắt địch, chọn giờ làm, đặt đài quan sát, đồng thời cử cán bộ dân vận biết tiếng Lào như đồng chí Phong, Lùng, Tế đi vào bản vận động bà con giữ bí mật và không chế những tên địch còn sót lại. Vượt sông Tà Ngâu, bước vào đất Cam Pu Chia, làm sao để con đường vào đó được. Đại đội 7 do đồng chí Nguyễn Đình Tùng làm Đại đội trưởng trong bộ quần áo bà ba đen và mũ lá do “Ông Chủ” cấp phát, với danh nghĩa là “cu li” làm công cho "Ông Chủ". Nguyễn Đình Tùng đóng vai cai do “Ông Chủ” thuê tay cầm ba toong đôn đốc. Bằng cách che mắt như vậy, nhiều người dân cũng chẳng để ý, nhưng cũng có người biết chút ít, tò mò hỏi. Có lần, một ông già người Cam Pu Chia đi qua, thấy đoàn “cu li” đang cặm cụi lao động, thỉnh thoảng lơ là nhìn lên phía trước, nhưng không thấy “ông Cai” đứng đấy nói gì. Ông già thắc mắc tại sao “cu li" làm chểnh mảng, mà “ông Cai" không cho mấy ba toong? “Cai Tùng” nói nhăng nhít vài câu cố tình đánh trống lảng. Ông già nói: "Thôi, tôi biết ông Cai và “cu li” của “Ông Chủ” rồi. Các ông là “cu li” Điện Biên Phủ”, đúng không? Ý nói là lính Điện Biên Việt Nam. Anh em nghĩ, ai biết cứ biết, ta giấu cứ giấu, miễn là không nói, người dân không biết, thế là được. Với lính Cam Pu Chia cũng vậy, một lần đồng chí Mạn, Trưởng ban Tác chiến cùng Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Hoàng Viết Cúc đi trinh sát bên phà Nhăng Xum hữu ngạn sông Sê Kông, phải qua đồn Siêm Pạng, ở đây có lính gác. Làm thế nào để vượt qua trạm gác? Đành phải dở “kịch bản”, nói là “cu li” nhưng họ không hiểu, nên sau đó nói là người của “Ông Chủ”. Họ cười và viết vào một tờ giấy nhỏ cho chúng tôi vào khảo sát! Thế mới biết uy tín “Ông Chủ” lớn biết chừng nào. Thật vậy, trong cuộc chiến đấu, chúng ta đã có nhiều mưu sâu, kế sắc. Anh Tiệp quay lại phía tôi (tác giả bài viết) cười: “Ông Mạn còn nhớ không?” Nhiệm vụ từng phân đội và toàn Trung đoàn diễn biến liên tục ngày này qua ngày khác. Phân đội vượt qua các phân đội, toàn tuyến của Trung đoàn đã được nối liền. Đó là ngày 04 tháng 3 năm 1966, một ngày đáng ghi nhớ! Qua 38 ngày đêm lao động miệt mài liên tục, Trung đoàn đã hoàn thành xong con đường trước thời hạn 4 tháng 22 ngày. Thật là một kỷ lục thần tốc mở đường nói lên một ý chí quyết tâm cao, một tổ chức điều hành giỏi và những kinh nghiệm kĩ thuật tích luỹ trong nhiều năm tháng của cán bộ và chiến sĩ. Hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi điện báo cáo ngay ra Đoàn và Cục Công binh. Được tin này, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 cử đồng chí Hồng Kỳ, Chủ nhiệm Chính trị đến thăm và tặng Trung đoàn lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" cùng tâm Huân chương Quân công hạng Ba. Sau đó Tư lệnh Hoàng Văn Thái đến động viên chiến công Trung đoàn vừa lập, tặng Trung đoàn lá cờ "Mở đường thần tốc”. Và cũng từ ngày đó, Trung đoàn 98 - Chi hội Bình Minh vinh dự mang tên “Trung đoàn mở đường thần tốc". Nhưng niềm vui còn được nhân lên gấp nhiều lần khi đường 49 vừa mở xong, nhiều đoàn xe nối đuôi nhau vào, tranh thủ hai tháng mùa khô còn lại rút lương thực, thực phẩm thuốc men, xăng dầu, hàng vạn tấn còn tồn đọng, kịp cho chiến trường Tây Nguyên, Khu 5 đánh thắng. Từ đường C4 này, Binh trạm 37 được hình thành, địch đã phát hiện, đánh rất ác liêt hình thành các trọng điểm, nhưng vẫn đứng vững mãi mãi trong suốt cuộc chiến như một trong các mũi tấn công chủ yếu để vận chuyển vào chiến trường B2 Nam Bộ. Hoàn thành đường C4, anh Phan Quang Tiệp quay ra miền Bắc chữa bệnh, ba năm sau, năm 1972, anh trở lại Trường Sơn với nhiệm vụ Cục phó, năm 1973 là Cục trưởng Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, gắn bó với tuyến Trường Sơn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Anh là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn với quân hàm thiếu tướng cho đến ngày nghỉ hưu, năm 1989. Anh Phan Quang Tiệp đã vĩnh biệt cuộc đời ngày 30 tháng 7 năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh. Các thế hệ lực lượng Công binh Trường Sơn nói chung, trong đó có Trung đoàn 98 không bao giờ quên hình ảnh người chỉ huy đã từng gắn bó một thời, đầy nhiệt huyết, có dũng khí quyết tâm cao, mẫn cán, nghiêm túc, có tư duy sắc sảo trong lãnh đạo chỉ huy, hoà đồng trong mối quan hệ cán binh. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:19:36 am (https://i.imgur.com/l8BWHOW.jpg) Đại tá TRẦN VĂN PHÚC Sinh năm: 1941 Quê quán: Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ, Thái Bình Thường trú: 459 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 4 năm 1965 Điện thoại: 04.38542368 - 0912.441021 Nguyên Trợ lý Kỹ thuật Ban Công binh Trung đoàn 98, Thương uý Trợ lý phòng Kế hoạch, Cục Tham mưu Công binh 559, Nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn VĨNH BIỆT THIẾU TƯỚNG VÕ BẨM, MỘT TRONG NHỮNG CÔNG THẦN ĐẦU TIÊN MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN Sáng ngày 09 tháng 7 năm 2008, tại Nhà Tang lễ Bộ Quốc phòng ở Hà Nội, từng đoàn người đến viếng và tiễn đưa Thiếu tướng Võ Bẩm về nơi an nghỉ cuối cùng. Bên sắc phục màu xanh của các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, là những cụ già tuổi xưa nay hiếm, nhiều mái tóc bạc phơ, lưng hơi còng, có cụ phải chống gậy. Đó là những cựu chiến binh bộ đội Trường Sơn đã từng một thời được sống, chiến đấu trên đường Trường Sơn năm xưa dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy đầu tiên của Đoàn 559: lúc đó là Thượng tá Võ Bẩm. Mọi người lặng lẽ thì thầm: - Thế lại thêm một trong những công thần mở đường Trường Sơn đã vĩnh biệt chúng ta! Ông sinh ra trong một gia đình nho học, thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ngay từ nhỏ ông đã chịu ảnh hưởng về lòng yêu nước của người cha là cụ Võ Thạc, một trong những yêu nhân của phong trào khởi nghĩa chống Pháp của vua Duy Tân tại Quảng Ngãi vào năm 1916. Mẹ là bà Trương Thị Bằng, con cháu một dòng họ yêu nước cùng quê. Mười lăm tuổi ông đã tham gia Cách mạng. Tháng 8 năm 1934, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhiều lần ông bị giặc Pháp bắt tra tấn dã man và bị giam cầm tại các nhà lao Quảng Ngãi, nhà tù Ba Tơ, nhà tù Lao Bảo, nhà tù Buôn Mê Thuột. Sau khi ra tù, đến tháng 10 năm 1945 ông được Xứ uỷ điều động vào quân đội. Trong kháng chiến chống Pháp ông đã giữ các chức vụ: Trưởng ban Tác chiến - Huấn luyện, kiêm Trưởng ban Du kích chiến tranh Liên khu 5; Chính uỷ Trung đoàn 803, hoạt động mạnh trên các trục đường 14, 19, 21... góp phần đánh bại cuộc hành quân Át Lăng của địch ở Tây Nguyên, phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ. Sau khi hiệp định Giơ ne vơ ký kết, miền Nam tạm thời dưới quyền cai trị của chính quyền Mỹ - Diệm, với luật 10 - 59, Mỹ Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Biết bao chiến sĩ Cộng sản và đồng bào yêu nước đã ngã xuống dưới ách tàn bạo của kẻ thù. Biết bao người con của miền Nam sống trong cảnh ngày Bắc đêm Nam muốn được trở về chiến đấu giải phóng quê hương. Tháng 01 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ướng khoa II đã xác định; "... Con đường cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để đánh đổ ách thống trị của Mỹ -Diệm...”. Ngày 05 tháng 5 năm 1959, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thống nhất Trung - ương đã truyền đạt chỉ thị của Bộ Chính trị và trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Võ Bẩm: Mở một con đường đặc biệt trên dãy Trường Sơn. Nhiệm vụ trong năm 1959 là: Tổ chức thiết lập tuyến hành lang, nối thông liên lạc, vận chuyển gấp một số hàng thiết yếu quân sự cho chiến trường Khu 5 khoảng 7.000 súng bộ binh và bảo đảm đưa 500 cán bộ tăng cường cho chiến trường... Lúc này ông đang là Cục phó Cục Nông trưởng, nên việc đầu tiên là tới các đơn vị có bộ đội miền Nam tập kết để tuyển quân. Tại Sư đoàn 305, Sư đoàn 324, các tập đoàn sản xuất miền Nam, khu công nghiệp Việt Trì, nông trường Việt Lâm, nông trường Đồn Vàng Phú Thọ... theo tiếng gọi của quê hương, các đồng chí đã gạt sang một bên những toan tính của đời thường để lên đường về Nam chiến đấu. Cuối tháng 5 năm 1959, Đoàn 301 được thành lập gồm 440 cán bộ, chiến sĩ, được biên chế thành 11 đội, trong đó có 9 đội làm nhiệm vụ mở đường, giao liên, vận chuyển; 1 đội trinh sát, 1 đội xây dựng hậu cứ. Đoàn 301 chọn Khe Hó ở miền Tây Quảng Trị làm điểm xuất phát cho tuyến giao liên - vận tải quân sự Trường Sơn. Yêu cầu giữ bí mật theo khẩu hiệu: Đi không dấu. Nấu không khói. Nói không tiếng. Từ Khe Hó, Đoàn 301 chọn hướng tuyến qua làng Mít, vượt đỉnh 1001, đỉnh 1600 và đỉnh Voi Mọp - động Hàm Nghi ở cao độ 1701. Lịch sử còn ghi lại: từ hơn một thế kỷ trước vào năm 1885 vua Hàm Nghi hạ chiếu cần Vương chống Pháp, ông Tôn Thất Thuyết cùng nhiều sĩ phu yêu nước và các thuộc hạ hộ giá vua Hàm Nghi rút lên đây lập căn cứ tiếp tục chống Pháp. Biết bao người trong Đoàn 301 vẫn còn nhớ những ngày bám trụ bị sốt rét đã được ăn những múi cam hiếm hoi, uống bát nước chè xanh tươi mát của các bậc tiền nhân trồng để lại, nay đã thành hoang dã. Đầu năm 2003 đoàn cựu chiến binh Trường Sơn về thăm chiến trường xưa đã tới khu vực này thăm Công ty Xây dựng Lũng Lô đang mở đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Đồng chí Trung tá Trương Thiếu Dư tâm sự: Hơn nửa thế kỷ trước các bậc tiền nhân đã tới đây chống Pháp. Cách đây hơn 40 năm bộ đội Trường Sơn đã mở đường chống Mỹ cứu nước thắng lợi. Hôm nay chúng tôi rất tự hào được kế tục truyền thống và đi tiếp con đường của cha anh xây dựng đường Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao đời sống ấm no hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc... Ngày 13 tháng 8 năm 1959, sau tám ngày đêm, chuyến hàng đầu tiên của Đoàn 301 đã vào tới Tà Riệp, bắc A Lưới trực tiếp giao cho đồng chí Nguyễn Vạn, Thường vụ Khu uỷ Khu 5, gồm 40 súng tiểu liên, súng trường, 10 thùng đạn và một số quân dụng. Được tin báo về, mọi người vui mừng khôn xiêt, cảm động nghẹn ngào. Sinh thời, khi đã được nghỉ hưu, Võ Bẩm nhớ lại những ngày đầu nhận nhiệm vụ, chủ trương của trên chỉ cho vận chuyển hàng tới bắc sông Bến Hải. Song với tình hình thực tế của chiến trường, ông đã báo cáo và đề nghị đồng chí Nguyễn Văn Vịnh cho vận chuyển hàng vào sâu qua đường 9, ông sẵn sàng chịu kỷ luật khi phải vượt rào vì cách mạng miền Nam. Sau này được cấp trên chấp thuận, niềm vui ấy như được nhân lên gấp đôi đối với ông và cán bộ chiến sĩ trong Đoàn. Khi vượt đường 9 có biết bao nhiêu khó khăn, địch thường xuyên tuần tra kiểm soát cả ngày lẫn đêm, nhiều toán thám báo đi lẻ và nằm vùng, nhiều tên chỉ điểm, mật vụ cài cắm trong dân bản... Đoàn chỉ còn cách chọn điểm vắng ban đêm để chuyển hàng qua sông Đăkrông. Để xoá dấu vết trên mặt đường khi đi qua, lúc đầu anh em dùng nhiều mảnh gỗ, người đi sau cùng phải thu gom hết. Sau dùng ni lông, người đi sau cùng phải cuộn lại. Một lần đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, sau khi nghe ông báo cáo đã gợi ý: Có thể đào hầm qua đường 9? Từ gợi ý này cán bộ trong Đoàn đã tìm được một cống ngầm, rộng 1 mét, gần đồn Rào Quán, một vị trí chuyển hàng thật lý tưởng, cả một thời gian dài địch không hề hay biết. Tiếc rằng khi nâng cấp đường 9 trong những năm gần đây, chiếc cống đã bị phá huỷ không còn vết tích. Tháng 11 năm 1959, sau khi giao hàng xong, trung đội Trinh sát của đồng chí Nguyễn Minh Thông đã gặp thám báo địch, buộc phải nổ súng chặn địch để đơn vị rút lui an toàn. Thiếu uý Nguyễn Minh Thông, quê Nghệ An đã hy sinh sau khi cùng đơn vị tiêu diệt 4 tên địch. Thượng sĩ Huỳnh Tương, quê Quảng Nam bị giặc bắt, đưa về Đông Hà tra tấn đã man, nhưng anh nhất định không khai báo. Do vết thương nặng và đòn thù tra tấn anh đã hy sinh anh dũng. Đó là những liệt sĩ đầu tiên trên đường Trường Sơn. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:20:41 am Đầu năm 1960 là những ngày khó khăn ác liệt, do những trận càn quét của dịch kéo dài hàng tháng trời, chúng chà đi xát lại, lập vành đai trắng hai bên đường 9. Bà con nhiều bản đã phải chạy lên núi cao tránh địch. Nhiều cơ sơ của ta bị phá vỡ, nhiều cán bộ và đồng bào bị bắt và bị giết...
Qua mùa khô đến mùa mưa, nước dâng đầy các khe suối, hàng không thể nào vận chuyển nổi ở phía Đông, bên đất Việt Nam. Trước tình hình đó, ông đã báo cáo và đề nghị lên cấp trên lật cánh vận chuyển sang phía Tây Trường Sơn, phá thế độc canh ở phía Đông Trường Sơn. Đồng thời xin lực lượng công binh Quân khu 4 mở đường 129 dài gần 140 ki lô mét nối với đường 12 từ Xóm Péng đến Kê Pô đường 9 trên đất Lào. Đề nghị của ông đã được cấp trên chấp thuận. Phương thức vận chuyển cũng được ông cùng tập thể chỉ huy nghiên cứu, thay đổi nhằm nâng cao năng lực đưa hàng ra phía trước để đáp ứng cho chiến trường miền Nam: Từ dùng sức người gùi hàng tiến tới dùng xe đạp thồ và cả một số xe ô tô Gatz 51, Gatz 63 mới được trang bị. Được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Không quân và Công binh Quân khu 4, một khối lượng hàng hóa khá lớn được chuyển bằng máy bay xuống sân bay Thà Khống, ngoài vũ khí đạn dược còn có cả thiết bị toàn bộ để lắp đặt Đài Phát thanh Giải phóng - Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa mới thành lập. Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 96/QĐ-QP, phát triển Đoàn 559 tương đương cấp Sư đoàn, được tổ chức biên chế đồng bộ các cơ quan. Tháng 5 nam 1962, đồng chí Võ Bẩm vinh dự được thay mặt lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 559, trực tiếp báo cáo với Bác Hồ về tình hình mở tuyến vận tải quân sự đặc biệt chi viện cho Cách mạng miền Nam và đời sống đồng bào các dân tộc có tuyến vận tải đi qua. Bác chăm chú nghe đồng chí Võ Bẩm báo cáo. Bác rất xúc động, được biết nhiều bà con dân tộc đã nhường cơm gạo cho bộ đội cách mạng, còn mình lại đào củ rừng để ăn thay cơm. Nhiều đồng bào bị địch bắt tra tấn da man nhưng quyết không khai báo cho địch, rất nhiều người hy sinh anh dũng... Thể hiện tấm lòng của đồng bào dân tộc với cách mạng, với Bộ đội Cụ Hồ, trọn tình vẹn nghĩa. Bác ân cần nói với đồng chí Võ Bẩm: “Các chú mở đường vận chuyển hàng vào miền Nam như vậy là rất tốt. Các chú cần phải khôn khéo hơn, nhanh chóng hơn mở đường vào sâu tới Tây Nguyên, tới Nam Bộ. Đồng thời chú tổ chức chuyển ngay cho đồng bào những nơi tuyến vận tải đi qua 30 tấn muối, 10 tấn vải..." Mặc dù đang mùa mưa nhưng Đoàn 559 đã vận chuyển số hàng trên giao cho chính quyền địa phương để phân phát cho đồng bào. Với thực tế chiến đấu, trải nghiệm trên chiến trường, ông đã báo cáo đề xuất tổ chức thí điểm vận tải cơ giới trên đường 129. Mùa khô năm 1963 - 1964, Đoàn vận tải ô tô 245 của Tổng cục Hậu cần đã tham gia. So sánh 6 tháng đầu năm 1963, cả 2 Trung đoàn 70, 71 chỉ vận chuyển được 94 tấn hàng cho chiến trường, thì 6 tháng mùa khô 1963 - 1964 toàn Đoàn đã vận chuyển cho Khu 5 và Trị Thiên được trên 200 tấn súng đạn và quân dụng. Đó là ưu điểm nổi bật của vận chuyển cơ giới. Trải qua hai mùa khô vận chuyển cơ giới (1964-3 966) với những tổn thất khá nặng nề và vượt qua những cuộc đấu tranh tư tưởng bảo thủ, mới khẳng định được: Vận chuyển cơ giới là phương thức chủ đạo. Trên cơ sở đó ông đã cùng tập thể Bộ Tư lệnh tiếp tục chỉ đạo Trung đoàn 98 Công binh mở tuyến đường Sê Pôn - Mường Noòng - La Hạp - Bạc và tiếp tục cùng Trung đoàn 279 mở tuyến Bạc - Phi Hà - Tà xẻng vào tới Tây Nguyên. Năm 1965, Công trường 128 Bộ Giao thông vận tải phối thuộc mở tuyến đường 128 trong mùa mưa dài 176 ki lô mét từ Mụ Giạ qua Lùm Pùm, Vang Mu, nối với đường 9 tại Na Bo. Ngày 21 tháng 01 năm 1966, đúng sáng mồng một Têt, ông Nguyễn Tường Lân, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Phó Tư lệnh Đoàn 559 phát lệnh khởi công đường 20 Quyết Thắng. Những qủa bộc phá thay cho tiếng pháo, nổ ùng uỳnh vang cả khu rừng đại ngàn. Ngày 14 tháng 5 năm 1966 con đường đã hoàn thành, từng đoàn xe nối nhau chạy từ Phong Nha về Lùm Pùm. Sau này trọng điểm liên hoàn ATP đã để lại dấu ấn lịch sử trên đường Trường Sơn. Trên tuyến đường này có nhiều tập thể và cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có Anh hùng Vũ Tiến Đề, Nguyễn Thị Nhạ và Đỗ Thị Vân Liệu. Một sự trùng hợp kỳ lạ: Năm 1960, ông Võ Bẩm cùng đồng đội đã tới khu vực này tìm mở tuyến giao liên. Sáu năm sau, cũng chính ông được tham gia chỉ đạo thi công tuyến đường này. Nhìn những đoàn xe đang chạy, tâm hồn ông như mơ, như thực... Ngày 27 tháng 01 năm 2008, đồng chí Thiếu tướng Võ sở, cùng một số đồng chí trong Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn dã tới nhầ riêng chúc Tết ông và gia đình. Bà Trần Thị Thứ, vợ ông định đánh thức ông dậy, mọi người ra hiệu để ông nằm nghỉ. Nhìn khuôn mặt ông thanh thản như người nông dân gặt xong vụ mùa bội thu. Chúng tôi không ngờ rằng, đây là lần gặp ông cuối cùng để rồi xa, xa mãi... Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là một chiến công chói lọi, một kỳ tích của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thiếu tướng Võ Bẩm ra đi nhưng mãi mãi để lại dấu ấn lịch sử trên đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh: Người đầu tiên mở đường Trường Sơn. Và các thế hệ sau học tập tấm gương sáng ngời về tư tưởng luôn luôn tẫn công và đạo đức cách mạng của người cộng sản Võ Bẩm. Xin ghi lại nguyên văn bức trướng của nhà văn - nhà báo Nguyễn Trần Thiết tới viếng Hương hồn Công thần đường Trường Sơn Võ Bẩm sáng ngày 09 tháng 7 năm 2008: CÔNG đầu Anh khai phá tuyến Trường Sơn THÂN tượng là Bác Hồ, được Bác quý yêu, tin tưởng VÕ tướng đánh trận nào cũng thắng BẨM báo với đời: sứ mạng đã hoàn thành! Hà Nội, ngày 11 tháng 7năm 2008. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:35:03 am ĐÓN NHÀ THƠ TỐ HỮU TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN Đại tá Trần Văn Phúc Tối ngày 11 tháng 12 năm 2002, một số cựu chiến binh Binh trạm 12, Bộ đội Trường Sơn đang quây quần tại nhà bác Việt Phương, nguyên Chính uỷ Binh trạm 12, xem quyển sách "Vượt Cha Lo" của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành còn thơm mùi mực. Mọi người nhận ra bác Tố Hữu trong tấm ảnh chụp với đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Cùng lúc đó đài Truyền hình Việt Nam đưa tin: “Đồng chí Tố Hữu đã qua đời...” Tất cả chúng tôi đều lặng đi, mỗi người như đang nhớ về những kỷ niệm xưa với bác Tố Hữu. Tôi không thể nào quên những ngày giữa tháng 5 năm 1973, khi Trung đoàn 98, Bộ đội Trường Sơn đang tập trung mở đoạn Trao đi Bến Giàng, một đoạn trên “Đường 14 xây đựng cơ bản” trong không khí thi đua sôi nổi hướng tới kỷ niệm ngày 19 tháng 5. Tôi 10 tháng 5 năm 1973 tại chỉ huy sở Trung đoàn ở Trao, đồng chí Tô Đa Mạn, Trung đoàn trưởng gọi tôi lên giao nhiệm vụ: - Tôi giao cho đồng chí trong 7 ngày phải làm xong 4 nhà tại vị trí X... Chỉ vào tấm bản đồ tỷ lệ 1/100.000, Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng: - Yêu cầu "trên kín dưới quang" - Rồi ông cười nói tiếp: - Nhưng phải đảm bảo đẹp, mỹ thuật, phù hợp với cảnh quan chiến trường. Có yêu cầu gì cứ đề đạt. Tôi đã quen cách giao nhiệm vụ quân sự như thế, nên cũng không đám hỏi làm cho ai ở, cấp nào sẽ đến rồi thận trọng trả lời: - Báo cáo thủ trưởng, tôi sẽ cố gắng, nhưng thủ trưởng cho tôi đủ quân và dụng cụ thi công. - Tất nhiên sẽ đáp ứng. Cần triển khai ngay! Ông trả lời rồi bắt tay tiễn tôi về. Ngay đêm ấy, tôi suy nghĩ thiết kế mẫu nhà, phác thảo, tính toán vật liệu cho một nhà mẫu, khuya lắm mới xong. Sáng sớm hôm sau tôi cùng tổ trinh sát đi chọn vị trí cắm mốc cho từng nhà, rồi san nền ngay. Đây là dãy đồi nằm về phía Tây sông A Vương, cách Trung đoàn bộ khoảng 300 mét. Mỗi dãy dựng hai nhà nằm hai bên con suối cạn nước trong mát, chảy róc rách thơ mộng. Nhà đều dựa lưng vào sườn đồi, cửa trông về hướng Nam, có rừng cây che khuất. Một bộ phận của Đại đội 10, Đại đội 11 đi gần cây số chặt tre nứa, vì quanh khu nhà khách không được chặt cây nào nhằm giữ bí mật. Một bộ phận khác thi công, ba ngày sau các nhà được lắp dựng xong. Tôi và anh em khéo tay cố ý trau chuốt, tỉa tót trang trí các cửa sổ, cửa đi. Chỉ bằng vật liệu tre, nứa, song mây, chỗ thì đan, cài theo kiểu hoa thị, chỗ thì tạo hoa văn theo hình quả trám, hình vuông như hoa văn dân tộc. Các bậc tam cấp làm thấp có cọc tre giữ đất. Tay vịn lan can chọn cây tre nhỏ và đều, trau chuốt tỷ mỉ, nhiều đoạn cũng được trang trí hoa văn. Hai dãy nhà qua lại với nhau bằng chiếc cầu tre nhỏ, bắc qua suối cạn có tạo dáng vòng cong, được chúng tôi đặt tên cầu “Thê Húc Trường Sơn". Từ tay vịn đến trụ, lan can đều trang trí hoa văn, mới trông có vẻ cầu kỳ nhưng lại rất thanh thoát giản đơn, đẹp mắt. Trong mỗi nhà mắc một chiếc võng vi ni lông, một sạp nằm dát bằng toe luồng chẻ nhỏ, ken dầy nằm rất êm. Nửa gian nhà phía bên trái một bộ bàn ghế bằng tre chân chôn xuống nền đất vừa làm bàn ăn, vừa là bàn làm việc. Một căn hầm đủ cho 3 đến 4 người ở. Một bóng điện 40 watts đã phủ "phòng không". Mỗi nhà có mắc điện thoại Liên Xô, liên lạc với Trung đoàn trưởng và Chính uỷ. Để trang trí đẹp mắt, tôi bí mật tuyển chọn và mượn các phòng, ban những giỏ phong lan, nhiều chủng loại mang đến treo ở lan can, ở cửa ra vào, đặc biệt là dọc lan can trên cầu “Thê Húc”. Các giỏ hoa phong lan nhiều chủng loại tươi thắm, khoe sắc vàng, phớt hồng hay màu trắng, tươi mát nổi bật giữa màu xanh của cây rừng... Đến ngày thứ 6 công trình đã xong toàn bộ. Chính uỷ Nguyễn Sĩ Chỉa, Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn và đồng chí Phong, Ban Tuyên huấn, bác sĩ Tuấn ở Bệnh xá đi kiểm tra. Các thủ trướng xem rất kỹ rồi kết luận: - Công trình đạt yêu cầu, cần bổ sung một số điểm... Hôm sau chúng tôi tiếp tục hoàn thiện theo góp ý bổ sung và tổ chức canh phòng tuần tra cân mật. Mấy chú vệ binh bàn tán: - Ông Phúc chỉ vẽ vời, các “cụ Trung đoàn" đến ở thì có gì phải tính kỹ thế! Tôi đứng gần đó nghe thấy chỉ mỉm cười. - Thì các thủ trưởng chứ ai vào đây! Thực tình đến giờ phút ây, tôi cũng chưa biết sẽ đón đoàn khách nào! Về hướng sông Bung, gần một tuần nay Trung đoàn đã lệnh cho Tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Xuân Thu, Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Điềng, Chính trị viên Tiểu đoàn mở gấp đường giao liên dài 5 ki lô mét, rộng từ 1 đến 1,5 mét, hai người đi ngược chiều có thể tránh nhau được. Nhiều đoạn rất dốc phải cuốc thành bậc thang có làm lan can tay vịn, có vài chỗ đốc đứng chân người đi trước ngang đầu người đi sau. Riêng đoạn lên xuống cách hai bờ sông 500 mét và bến thuyền dã chiến tại sông Bung chỉ được làm vào chiều ngày N - 11 (N-1 nghĩa là trước ngày sử dụng 1 ngày) nhằm giữ bí mật tuyệt đối. Lực lượng bảo vệ đã bí mật ém sẵn từ trước, hệ thống phòng không 12 ly 7, đường dây thông tin đã vào trực chiến cấp 1, nhiệm vụ này do đồng chí Đoàn Ngọc Lập, Tham mưu trưởng Trung đoàn chỉ huy. Đúng đêm 17 tháng 5 năm 1973, đoàn cán bộ Trung đoàn đi đón khách do Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn dẫn đầu đã lặng lẽ đên vị trí tập kết. Đêm cuối tháng, ánh trăng vàng đã ngả về tây soi sáng rừng Trường Sơn yên ả. Xa xa có tiếng gà gáy trong bản lẫn với tiếng chim kêu "khó khăn khắc phục" vọng lại. Mọi người căng mắt nhìn về hạ lưu sông Bung... đứng chờ đợi, muỗi, dĩn vùng này nhiều vô kể! Trên bầu trời vọng lại tiếng máy bay ầm ì, nhấp nháy đèn đỏ lao về hướng Đà Nẵng. Rồi những chiếc thuyền nhỏ đã lần lượt xuất hiện với tiếng mái chèo khoả nước nhẹ nhàng. Trung đoàn trưởng bấm đèn pin nhấp nháy ánh sáng lọt qua “lỗ phòng không” chỉ bằng đồng xu nhỏ hướng về đoàn thuyền, ánh đèn pin trên thuyền đi đầu đáp lại. Nhận đúng tín hiệu, từng chiếc thuyền cập bến, những cái bắt tay chào hỏi đủ nghe nhưng không kém phần nhiệt tình mến khách. Bộ phận giao liên Quân khu 5 bàn giao đoàn khách cho Trung đoàn 98 lại xuôi dòng về Hiên, trông rõ trên thuyền xếp những tay lưới đánh cá. Đi bộ theo đoạn đường giao liên 5 ki lô mét nữa thì đoàn khách được mời lên hai chiếc xe Gatz 69 đợi sẵn ở cửa rừng rồi thẳng tiến về Trao. Chính uỷ Nguyễn Sỹ Chia và một số cán bộ, chiến sĩ phục vụ chờ sẵn và hướng dẫn đoàn vào nhà khách. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:38:53 am Khách mặc trang phục giống nhau: quần áo mầu tro, mũ tai bèo, một số người vai đeo cái bòng nhỏ. Tôi nhận ra thủ trưởng Đinh Đức Thiện người đậm đà, cao to, đi lại đĩnh đạc. Một người khác hơi đậm, cao vừa phải, sau này tôi mới biết là bác Nguyễn Thọ Chân, Bộ trưởng Bộ Lao động. Trung đoàn trưởng đi cùng một người khách tầm thước vừa phải, tay cầm máy ảnh vừa đi vừa hỏi thăm mọi người. Khi đến căn nhà trước mặt, Trung đoàn trưởng nói:
- Báo cáo anh, đây là nơi nghỉ của anh. - Nhà đẹp hỉ!... Khách đến ngắm giò phong lan treo trước cửa có bông hoa còn tươi lại thoang thoảng mùi thơm: - Đến đây mình lại nhớ ATK1 (ATK: an toàn khu) Việt Bắc, nhưng Việt Bắc không có nhiều hoa phong lan đẹp thế ni!... Chính uỷ tiếp lời: - Chúng tôi xin tặng anh đem về Hà Nội. Mọi người cùng cười vui vẻ. Anh Phong cán bộ tuyên huấn ghé tai tôi nói nhỏ: - Bác Lành khen công trình của anh đây! - Bác Lành, Nhà thơ Tố Hữu!... Tôi thầm kêu lên. Đến hôm nay tôi mới được gặp lần đầu tiên, nhà thơ lớn được mọi người hâm mộ khác xa với những hình ảnh đã đăng trên sách báo. Trước đây tôi đã đọc nhiều thơ của bác. Bây giờ bác Tố Hữu là Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đi thăm chiến trường miền Nam, nên tôi càng thầm hiểu công tác đón tiếp quan trọng như thế nào. Sau này trong bài thơ "Nước non ngàn dặm" của bác Tố Hữu có đoạn: ... Tới đây tre nứa là nhà Giò phong lan nở nhành hoa nhị vàng Trưa nằm đưa võng thoảng sang Một làn hương mỏng, mênh mang nghĩa tình... Tôi cứ liên tưởng như bác Tố Hữu viết về Trường Sơn khi bác dừng chân ở Trung đoàn 98 và nghỉ trong căn nhà tre nứa ngày ấy ở Trao mà tôi đã góp phần xây dựng. Tối ngày 19 tháng 5 năm 1973, tại hội trường của Trung đoàn, bác Lành nói chuyện với cơ quan Trung đoàn bộ, cán bộ từ trợ lý trở lên. Bác nói về thời cơ lớn của Cách mạng miền Nam, về làm ăn theo kiểu quản lý kinh tế và khoa học kỹ thuật hiện đại, sau cùng bác nói chuyện về thơ. Chúng tôi đề nghị bác ngâm thơ. - Mình chỉ đọc chứ không ngâm được thơ. Với giọng trầm trầm xứ Huế, bác say sưa đọc cho chúng tôi nghe bài thơ "Đường vào". Chúng tôi rât thích đoạn: ... Đường ta đi đẹp vô cùng Ngàn năm luyện bước Anh hùng đây chăng? Đường vui không đợi mùa trăng Ta đi làm ánh sao băng giữa đời! Bác Lành vừa ngừng lời, y sĩ Nguyễn Thị Son quê Hà Tĩnh, cô Hoà, thanh niên xung phong Hà Tây vồn vã chạy lên tặng bác những bó hoa tươi thắm đậm ngát hương rừng. Mọi người đang im lặng, bỗng lại vỗ tay rầm rầm làm rung động cả hội trường. Bác Lành lại đọc tặng chúng tôi một bài thơ nữa, đọc xong bác nói: - Bài thơ mình “nhẩm” trên đường đi công tác lần này, chưa kịp sửa, tạm lấy đề mục "Việt Nam máu và hoa”! Ôi! quả thực là một nhà thơ lớn, nhà thơ cách mạng có tâm hồn. Tôi tâm đắc nhớ kỹ hai câu: ... Sài Còn ơi, Huế ơi xin đợi Tái hợp huy hoàng cả nước non. Hôm sau ngày 20 tháng 5 năm 1973, mãi đến 9 giờ, đoàn khách mới lên đường. Vì chủ khách còn quá lưu luyến và cũng vì đêm hôm qua mưa thượng nguồn đổ về, còn phải chờ nước ngầm A Vương 2 rút bớt. Tháng 3 năm 2000, đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 đi thăm chiến trường xưa được gặp bác Tố Hữu và chị Thanh, phu nhân của bác tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Tôi xin phép được nhắc lại kỷ niệm tháng 5 năm 1973 ở Trường Sơn và nói: - Chúng cháu đọc thơ của bác, vẫn nhớ đêm đón bác khi bác ngồi thuyền trên sông Bung. Rồi tôi đọc: ... Non cao rực rỡ ánh vàng Đêm rằm vằng vặc Bến Giàng trăng lên Con thuyền rời bến sang Hiên Xuôi dòng sông Cái, ngược triền sông Bung... Bác Tố Hữu cười nhẹ: Ừ! Thế mà đã 27 năm rồi đó! Tôi chỉ viết lại, người viết giỏi lắm cũng chỉ nói được một phần sự thực mà thôi! Mọi người lại cùng cười vui... Không thể ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi được gặp bác Lành, nhà thơ lớn Tố Hữu! Những người lính Trường Sơn mãi mãi nhớ ơn và tư hào về những khổ thơ của bác Tố Hữu được ghi tại văn bia Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng Trường Sơn, vượt núi, băng sông Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa Trường Sơn, Đông nắng, Tây mưa Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình Tôi viết những dòng này xin được coi như những nén hương thơm kính dâng, tưởng nhớ hương hồn bác Tố Hữu an nghỉ ở cõi vĩnh hằng. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:49:42 am CÔNG BINH TRƯỜNG SƠN TRONG MÙA XUÂN NĂM 1975 Đại tá Trần Văn Phúc Thực hiện Nghị quyết 81/QUTVV ngày 05 tháng 5 năm 1973 của Quân uỷ Trung ương chuyên đề về Chi viện chiến trường và phát triển tuyến chi viện Trường Sơn trong tình hình mới, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khẩn trương triển khai toàn diện, song vấn đề quan tâm nhất là thế trận cầu đường và lực lượng vận tải cơ giới. Từ tháng 6 năm 1973 tuyến Đông Trường Sơn đã mở thông đoạn Trao - Bến Giàng, nối liền hậu phương miền Bắc với Tây Nguyên. Sư đoàn 473 tập trung mở chiến dịch Đường 9 - Xưởng Giây dài 120 ki lô mét có cả thiết bị làm đường hiện đại của Cu Ba viện trợ. Nhưng vẫn còn những cái chốt của địch trên hành lang phía Đông Trường Sơn là Đắk Pét (Kon Tum), phải mở đường tránh Đắk Tả - Đắk Tùng dài 30 ki lô mét về phía tây Đắk Pét, Sư đoàn 470 mở đường từ Ô Ranh qua Cam Pu Chia để tránh Đắk Min, Đức Lập. Đến giữa năm 1974, lực lượng cầu đường trên tuyến Trường Sơn đã có 4 sư đoàn, 5 trung đoàn công binh, và 4 đoàn thanh niên xung phong với quân số trên 6 vạn người và trên 3.000 xe máy các loại. Theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ, tháng 3 năm 1974 ông Đặng Hữu, Chủ nhiệm khoa cầu đường, trường Đại học Xây dựng và một số thầy hường Đại học Giao thông đưa hàng trăm kỹ sư vào tăng cường cho công binh Trường Sơn. Cảm động biết bao những học trò trường Đại học Giao thông đã đeo mũ sao đang mở đường Trường Sơn được gặp lại các thầy như thầy Nguyễn Quang Chiêu, Nguyễn Văn Định... trên đèo Bù Lạch cao 1020 mét và cùng phóng tuyến tìm đường trong những ngày lịch sử này. Ngày 12 tháng 9 năm 1974, Hội nghị Quân chính bộ đội Trường Sơn được triệu tập tại Bến Tắt để quán triệt Nghị quyết của Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn mùa khô 1974-1975 bao gồm cả Kế hoạch cơ bản vả Kế hoạch thời cơ. Những cán bộ đã gắn bó với Trường Sơn hàng chục năm trời, nhiều người tóc đã điểm sương, trong những phút giải lao ngoài hành lang, tay năm chặt tay, thầm mong kế hoạch thời cơ đến sớm. Đối với Cục Tham mưu công binh do đồng chí Phan Quang Tiệp làm Cục trưởng đã chủ động chỉ đạo các cơ quan triển khai chỉ lệnh cầu đường tới các đơn vị công binh. Đồng chí Đỗ Đức Định, Phó phòng Bảo đảm giao thông được biệt phái xuống Trung đoàn 39 Sư đoàn 968 làm Phó Trung đoàn trưởng cùng cán bộ cầu phà và 6 cán bộ khảo sát thiết kế để mở đường bên Lào ngay trong mùa mưa. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1974 đã mở được 60 ki lô mét đường phục vụ vận chuyển ngay khi mùa khô tới. Cuối tháng 01 năm 1975 Cục phó Đỗ Xuân Diễn đi kiểm tra tuyến Tây Trường Sơn từ Bản Đông qua Xa Ra Van, Bản Phồn, X7, tới At Tô Pơ dài gần 400 ki lô mét. Khi đoàn quay ra, đứng trên đỉnh cao nguyên Bô Lô Ven nhìn xuống, cả tuyến đường chỉ còn là vệt bụi màu vàng khổng lồ kéo dài vô tận, người, xe pháo, tên lửa!.. đi như mắc cửi. Có một số đoạn ùn tắc đoàn phải dừng lại cùng đơn vị khắc phục ngay. Ai cũng vội vàng ra trận, chỉ để lại đằng sau những ánh mắt tin tưởng và nụ cười với hàm răng trắng nổi bật giữa cành lá xanh ngụy trang và áo quần đầy bụi màu vàng sẫm. Các cụm kho dự trữ dọc đường 9 từ Đông Hà đến Tân Lâm cũng như Sa Thầy, Bù Gia Mập... đầy ắp hàng từ quân trang đến đạn dược, lương thực thực phẩm, thuốc quân y, phụ tùng xe máy. Kho K600 của Cục Công binh ở Sa Mưu cũng phải mở rộng để chứa hàng. Các cảng Hòn La, Sông Gianh, Nhật Lệ, Đông Hà ngày đêm tàu vào trả hàng và xuất đi ngay các chiến trường. Ngày 19 tháng 12 năm 1974. Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Tháng 01 năm 1975, Trung đoàn 575 Công binh được thành lập và mở ngay đường chiến dịch. Đến ngày 04 tháng 3 năm 1975, trục đường dài 60 ki lô mét do Trung đoàn 575 thi công cách thị xã Buôn Ma Thuột về phía Bắc 20 ki lô mét, nhưng địch cũng không phát hiện được gì. Sư đoàn 470 có nhiệm vụ bắc cầu phao Sê Rê Pôc và cưa sẵn 2/3 cây trong rùng cao su và đúng 23 giờ ngày 09 tháng 3 năm 1975 công binh chỉ cần gạt nhẹ cây đã tạo thành đường, hộ tống cho xe tăng và pháo tấn công Buôn Ma Thuột. Đó là những yếu tố bất ngờ góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên. Chúng tôi không thể nào quên, ngày 08 tháng 02 năm 1975, sân bóng đá của Cục Công binh bên bờ Nam sông Bến Hải được đón chiếc máy bay trực thăng đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ sáng sớm, cán bộ tác chiến đã ra sân bóng chuẩn bị: 4 đống lửa bốn góc sân được đốt lên, những cột khói mờ xanh cuộn lên không trung. Giữa sân chữ thập bằng vải trắng khô 80 cen ti mét nổi bật trên màu xanh của thảm cỏ. Đúng 8 giờ 30, chiếc trực thăng màu cỏ úa nổi bật ngôi sao vàng trên thân xuất hiện từ phía Đông, ngược sông Bến Hải một đoạn rồi vòng lại và từ từ hạ cánh. Trước khi lên máy bay ra Hà Nội họp, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên xúc động nói với mọi người: Bộ đội Trường Sơn trước đây chỉ có rừng và đêm, giờ đâv chúng ta làm chủ cả mặt đất và bầu trời... Mọi người có mặt cảm thấy như mơ như thực và tự hào, vinh dự được chứng kiến những giờ phút lịch sử đối với cách mạng miền Nam. Và có ai nghĩ rằng sân bóng do Tiểu đoàn 69 Công binh xây dựng lại trở thành sân bay trực thăng như hôm nay. Sau đó, ngày nào sân bay cũng có trực thăng lên xuống, lúc thì háng chục cán bộ dân chính tăng cường cho các vùng mới giải phóng, lúc thì chở khí tài thông tin, quân y lúc thì các đoàn cán bộ quân sự trong ra ngoài vào, rồi có cả những đoàn người, vai lủng lẳng các máy quay phim, chụp ảnh... Ngày 18 tháng 3 năm 1975, địch rút chạy khỏi thị xã Quảng Trị về Huế, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Cục trưởng Phan Quang Tiệp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 99, do đồng chí Vũ Như Thường làm Trung đoàn trưởng, hành quân gấp vào bắc cầu phao Thạch Hãn đủ 2 làn xe, bảo đảm cho bộ đội vượt sông truy kích địch. Tiếp theo Trung đoàn 8 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Việt Phúc chỉ huy đảm bảo giao thông đường B74, 14B để Sư đoàn 324 đánh tràn xuống đường 1 và Huế từ hướng Tây Nam. Trung đoàn 99 tiếp tục bắc cầu phao, cầu be lây trên đường 1 như Thạch Hãn, An Lỗ, Thừa Lưu. Trung đoàn 8 khắc phục các chướng ngại vật, bãi mìn, làm đường vòng tránh, khắc phục cầu Truồi và cầu phao Bến Tuần. Để chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 531 được điều động tiếp theo nhận nhiệm vụ bảo đảm giao thông đường số 1. Sở chỉ huy tiền phương Cục Công binh do Cục phó Đỗ Xuân Diễn chỉ huy có cán bộ các phòng Bảo đảm giao thông, Kế hoạch, Thiết kế... chỉ đạo trực tiếp các đơn vị công binh và phối hợp với các lữ đoàn công binh, các sư đoàn, quân đoàn bảo đảm cầu đường cho các cánh quân cơ động, hành tiến. Theo chỉ thị của tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, ngày 26 tháng 3 năm 1975, một bộ phận cán bộ do Cục phó Cục Công binh Dương Đình Tạ phụ trách bao gồm các cơ quan Tác chiến, Phòng không, Công binh, Vận tải,... có nhiệm vụ trinh sát nắm tình hình cầu đường theo đường 1 từ Quảng Trị trở vào. Theo tài liệu của địch ta lấy được, từ Quảng Trị vào Xuân Lộc dài gần 1000 ki lô mét có tới 569 cầu lớn nhỏ, nhưng chưa rõ cái nào còn, cái nào bị địch phá huỷ khi rút chạy. Riêng từ Đà Nẵng vào Nha Trang dài 640 ki lô mét, địch đã phá hầu hết các cầu lớn như Cao Lâu, Bà Bầu, An Tân... trong khi khí tài vượt sông của các quân đoàn chỉ đủ vài bộ cầu phà. Vì vậy Bộ Tư lệnh Trường Sơn đồng ý với phương án do Cục Tham mưu Công binh đề xuất: điều gấp 3 Trung đoàn Công binh 98, 8, 531 bảo đảm cầu đường cho cánh quân Duyên hải dọc đường 1 từ Huế vào Nha Trang. Sư đoàn 470 đang bảo đảm giao thông đường 14 nay tiếp tục bảo đảm giao thông từ Plâycu xuống Quy Nhơn và từ Quy Nhơn vào Phan Rang. Các cụm kho của địch ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Buôn Ma Thuột... đầy ắp vật tư khí tài, quân trang, quân dụng, lính công binh khoái nhất là dầm cầu be lây, thuyền hợp kim nhôm, thuyền cao su để bắc cầu nổi. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đồng ý cho công binh lấy các khí tài, vật tư vượt sông tại các kho của địch để khắc phục ngay các cầu bị địch phá huỷ. Các đơn vị công binh cũng kêu gọi, trưng dụng và động viên hàng trăm sĩ quan và lính công binh nguỵ tham gia ngay vào việc khai thác các kho và bắc cầu. Họ làm rất thành thạo, bài bản và tích cực như một phần đáo công chuộc tội với cách mạng. Trên hai hướng tiến quân là đường 1 và đường Trường Sơn, lực lượng công binh Trường Sơn đã bảo đảm cùng một lúc cho các quân đoàn, binh chủng hợp thành hành quân thần tốc vào Sài Gòn. Công binh Trường Sơn đã khôi phuc kịp thời 96 cầu dài 4.316 mét, có 68 cầu be lây, 15 cầu dầm thép, 5 cầu phao... Bảo đảm giao thông thông suốt trên các trục đường 1,14, 19, 57... Trung đoàn 99 bắc chiếc cầu be lây cuối cùng là cầu Cỏ May ở Vũng Tàu và dừng chân tại thành phố Biên Hòa trong trụ sở phái đoàn Quốc tế. Bộ phận của đồng chí Dương Đình Tạ dừng chân tại nhà máy đèn phía Tây thành phố Biên Hòa. Sở chỉ huy Tiền phương Cục Công binh của đồng chí Đỗ Xuân Diễn dừng chân tại kho Dục Mỹ, cách ngã ba Ninh Hòa về phía tây khoảng 12 ki lô mét. Trong những ngày chuẩn bị và phát triển của chiến dịch Hồ Chí Minh, mỗi phòng, ban cơ quan Cục Tham mưu Công binh ở Bến Hải chỉ còn vài người, hầu hết cán bộ được cử đi tăng cường cho các mũi tiến quân của công binh. Mỗi buổi sáng giao ban lại thêm một tin thắng lợi mới của quân ta. Ký hiệu cờ đỏ các đơn vị công binh trên sơ đồ mạng đường chiến lược đang từng ngày từng giờ bám sát đại quân tiến về Sài Gòn. Nhiều buổi sau giao ban, Cục trưởng Phan Quang Tiệp còn ngồi lại hàng giờ bên tấm bản đồ 1/100.000 cùng các đồng chí Phạm Văn Thọ, Hoàng Ngọc Châu, Đào Mậu... để tìm các giải pháp vượt sông, bảo đảm vật tư, khí tài cho phía trước. Và giờ phút lịch sử của dân tộc đã tới...! 13 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi được triệu tập gấp lên phòng giao ban. Cục trưởng Phan Quang Tiệp luôn mỉm cười và ân cần đón tiếp mọi người, một cử chỉ rất khác lạ ở người thủ trưởng quê Quảng Ngãi này. Sau khi mọi người đã yên vị, ông đứng lên tay run run rút tờ điện cơ yếu, giọng hơi lạc đi: - Các đồng chí... quân ta đã cấm cờ trên Dinh độc lập ở Sài Gòn lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975... Cả phòng giao ban như bật dậy: Sài Gòn giải phóng rồi. Sài Gòn giải phóng rồi! Chúng tôi ôm lấy nhau, vỗ tay rồi nắm tay nhau chạy ra chạy vô như trẻ nhỏ. Riêng Cục trưởng vẫn ngồi đó, nét mặt đăm chiêu và chúng tôi nhìn thấy hai giọt nước lóng lánh như hai ngồi sao từ khoé mắt ông đang từ từ lăn trên gò má! Ngoài kia các phòng, các ban mọi người chạy ra sân, ra đường cùng vang lên: Sài Gòn giải phóng rồi!... giải phóng rồi... âm thanh ấy như cơn lốc hòa với tiếng vỗ tay vang dội của bà con hai bên bờ sông Bến Hải mãi không dứt. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:52:25 am (https://i.imgur.com/8LVr1JH.jpg) Đại tá PHẠM VĂN THỌ Sinh năm: 1937 Quê quán: Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình Thường trú: 1006 đường Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 04.3762157 Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 6 năm 1965 Nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh tram 14 Thiếu tá Trưởng phòng Kế hoạch. Cục TMCB 559 Nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh NHỚ VỀ NHỮNG NGÀY ĐI MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN Vào tháng 8 năm 1965, tôi đang làm việc tại trường Đại học Giao thông vận tải thì nhận được quyết định vào Công trường 20. Đoàn công tác có 18 người gồm các kỹ sư, trung cấp, y sĩ, thống kê. Lúc bấy giờ địch đã tập trung đánh phá đường, cầu từ Thanh Hoá trở vào. Đoàn hành quân bằng xe đạp, đêm đi ngày nghỉ dọc theo đường 1 vào tới ngã ba Hoàn Lão thuộc Quảng Bình, qua các cầu lớn đều phải đi đường vòng, vượt sông bằng thuyền ở phía thượng lưu. Đoàn có hai cô y sĩ là Băng Trâm và Băng Hồng cũng đi theo đoàn bình thường như các bạn nam, không cần sự trợ giúp gì đặc biệt, qua sông qua đò cũng tự vác xe đạp và ba lô lên xuống, cùng mò mẫm ban đêm. Đến đoạn cầu Vằng cầu Hổ, chúng tôi gặp máy bay thả pháo sáng, sau đó ném bom nhưng không trúng đường. Đi qua cầu lại phải vác xe qua cầu khỉ, còn khét mùi khói bom. Đây là trận bom và pháo đầu tiên trong đời, tôi không thấy ai nói gì, cứ lầm lũi đạp xe, các bạn nữ cũng không tỏ ra hốt hoảng. Tuổi trẻ đi đánh Mỹ có nhiều bất ngờ. Vào đến Phong Nha leo lên hang Cửa Rừng, các thành viên trong đoàn hành quân được phân về các phòng ban của Công trường. Tôi được đồng chí Phan Trầm giao phụ trách một tổ, khảo sát từ Km 0 đến Km 16. - Có máy đo đạc không ạ? Tôi hỏi anh Phan Trầm. - Chỉ huy trưởng Công trường cười trả lời: “Có một địa bàn và một tấm bản đồ 1/100.000, làm như thế nào để có một tuyến đường vận tải quân sự na ná như cấp 5 miền núi là do các cậu tự nghĩ ra”. Tổ chúng tôi có 8 người, tôi là Tổ trưởng, anh Huyền Tổ phó và sáu người nữa làm tất cả mọi việc của một đội khảo sát, máy móc tự sáng tạo bằng các mảnh ván bìa, quả đọi bằng đầu đạn, chúng tôi tiến vào rừng cắm tuyến, vẽ trắc dọc, trắc ngang, bình đồ, đi đường đỏ, tính khối lượng v.v... Nếm trải đầu tiên là rắn và vắt, thung lũng Đồng Tiền cây cối rậm rạp và ẩm ướt. Nơi này sao mà nhiều rắn xanh thế, dân địa phương cho biết loại rắn này độc lắm, cắn người không thể cứu được, cứ dăm ba bước lại gặp một con, những ngày nắng ấm, chúng bò ra sưởi nắng ở những chỗ trống rất nhiều, nhưng loài rắn này lại rất chậm, chân bước có thể tránh được - tạo hoá cũng có những "điều chỉnh” tự nhiên hợp lẽ như vậy.. Còn vắt thì nhiều vô kể, hễ có hơi người qua là chúng ngóc đầu lên tua tủa như chồng dầy dặc, trên cây thì có vắt xanh bám vào cổ lúc nào không biết. Qua thung lũng này căng thăng lắm, phải đi nhanh chạy vắt, đi không khéo dẫm chân phải rắn xanh thì chắc chết. Thế mà cả thời gian khổng có ai bị rắn cắn, còn vắt thì hôm nào cũng bị vài con, sợ nhất là vắt xanh bám vào cổ, vào đầu, chui vào nách... Lại nói về quần áo, giày vải, chúng tôi đi vào chiến trường không được chuẩn bị như các đoàn khác hoặc như bộ đội đi B, có lệnh là lên đường ngay, mỗi người chỉ có hai bộ quần áo, một bộ mặc, một bộ bô ba lô mang từ nhà đi, chỉ được phát một bật lửa và một bi đông, chân đi dép lốp. Chúng tôi cũng không phải là khảo sát chuyên nghiệp nên không được phát bảo hộ lao động, sau 10 ngày đi khảo sát có anh chỉ còn một quần dài và một quần “lửng tự tạo” do quần dài rách cụt mất ống. Thế rồi cũng đã khảo sát thiết kế xong 16 ki lô mét đường và chuẩn bị sang giai đoạn thi công. Từ Ba Thang sang phía tây do đội đồng chí Phi Đình Tuấn khảo sát thiết kế. Chỉ huy trưởng Phan Trầm cho gọi tôi lên lán chỉ huy: - Cậu nghiên cứu phương án kỹ thuật mở đường qua sườn núi đá, với trang bị xẻng cuốc, xà beng, choòng, búa và thuốc nổ. Yêu cầu tốc độ mở đường mỗi tháng 12 - 15 ki lô mét. Nhiệm vụ này đối với tôi là rất xa lạ, chưa được học, chưa được làm bao giờ. Nhưng may mắn được Đoàn 559 cử đại uý Thọ xuống công trường hướng dẫn chúng tôi tính toán lượng nổ và kỹ thuật phá nổ. Sau khi tính toán xong, chúng tôi giao cho Đại đội Thanh niên xung phong 452 Nam - Hà thực hiện thử một quả nổ 1,5 tấn ở đầu dốc Đồng Tiền. Đạt kết quả, mọi người rất phấn khởi, ví von với quả bộc phá trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Hiệu quả đất đá phá nổ được gần như tính toán, nhưng cây cối về phía vực dạt hết, để lại một khoảng trống, như vậy sẽ lộ mục tiêu, đoán chắc chỉ vài ngày sau địch sẽ phát hiện chính xác ta mở đường ở vị trí nào, và sẽ huy động máy bay đến đánh phá. Nghiêm Đình Huyền đứng cạnh tôi hỏi, bây giờ ta làm kiểu gì? Tôi chưa suy nghĩ được gì, nhưng như có phản xạ, tôi nói luôn: - “Nổ to không được thì ta cho nổ nhỏ!” - Huyền nói: "Ta làm thử cái đã". Thế rồi huy động C452 lấy dốc Dồng Tiền làm nơi thử nghiệm, cả Đại đội dùng xà beng, cuốc đào đất ở các hốc đá, tính toán lượng nổ từ 3 đến 5 ki lô gam gói chặt nhét vào khe đá, phía ngoài đắp đất cho nổ một đoạn dài 15 mét. Sau loạt nổ đã hình thành một vệt đường có bề rộng, có ta luy. Cây cối loại đường kính từ 20 cen ti mét trở lên còn đứng nguyên hai bên đường, chỉ rụng ít lá, mọi người nhảy lên vui mừng “thành công rồi". Từ đó phương pháp mở đường bằng bộc phá liên tục ra đời. Anh Phan Trầm cử luôn tôi làm Phó chỉ huy mở đường đoạn đầu tiên. Công trường mở đường đến đoạn đá hoa cương phong hoá thành những tảng lớn, có khối to 4 đến 5 mét khối. Chúng tôi đào lỗ mìn vào gần khối đá, cho nổ bọc phá với lượng nổ 5 -10 ki lô gam, nhưng không đẩy được xuống vực. Khi nổ nhìn rõ hòn đá bị nâng lên rồi lại rơi đúng vị trí cũ, dùng xà beng, cây gỗ làm đòn bẩy cũng không đẩy nổi. Sau khi nghiên cứu tôi nói với anh em, loại đá này tuy rắn nhưng lại dòn, ta thử chơi kiểu "trên đe dưới búa”. Anh em gói lượng nổ 5 ki lô gam đặt lên trên hòn đá rồi đắp đất lên cho nổ, tảng đá vỡ thành năm, sáu phần, dùng xà beng dễ dàng bẩy xuống ven đường. Lại một thành công nữa! Ngày khởi công đồng loạt đã đến. Đúng 17 giờ 30 tết Bính Ngọ đồng chí Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân ra lệnh nổ loạt bộc phá đầu tiên để đón Xuân và mở màn chiến dịch "Chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”. Phương pháp kỹ thuật mở đường bằng bộc phá liên tục được áp dụng cho toàn công trường, sau 77 ngày thi công, công trường hoàn thành nhiệm vụ "chọc thủng Trường Sơn". Đây cũng là một kỷ lục của thời bấy giờ với tốc độ mở đường đá từ 15 - 20 ki lô mét/tháng. Trong quá trình mở đường, tôi được điều sang làm Chủ nhiệm Công binh Trung đoàn 4 bộ binh đang hành quân vào chiến trường dừng lại để mở đường. Nhiệm vụ chủ yếu của tôi là huấn luyện và hướng dẫn bộ đội mở đường. Cuộc sống quân ngũ bắt đầu! Điều thích thú của tôi là được ăn cơm nấu chín, không bị khê sống, làm việc hội họp đúng giờ, chỉ thị phát ra là có người thực hiện nghiêm chỉnh, được phát một bộ quần áo bộ đội và một đôi giày vải của chiến sĩ. Anh em chúng tôi phấn khởi, thoát khỏi cảnh rách rưới, leo núi dễ dàng, không khó như đi dép lốp. Bộ quần áo ấy bây giờ cho không ai mặc, nó giầy và cứng như bạt xe, anh em hậu cần nói là của Triều Tiên viện trợ, khi giặt thì lại cứng như mo nang, nhưng lúc bấy giờ lại quý, được cho là ăn chắc mặc bền. Đường 20 hoàn thành, Công trường 20 giải thể, tôi được chuyển sang quân đội phong quân hàm thượng sĩ, cuộc sống quân ngũ chính thức bắt đầu! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:57:53 am (https://i.imgur.com/DL2mwim.jpg) Đại tá Hoàng Ngọc Châu Sinh năm: 02-1934 Quê quán: Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An Thường trú: Nhà 23/N4, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38531518 - 0123.7561375 Tứ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội năm 1965 Nguyên Trợ lý Phóng Công trình, Đại uý Trưởng phòng Thiết kế Cục TMCB, Bộ Tư lệnh Trường Sơn Nguyên Viện trưởng Viện Khảo sát Thiết kế - Binh đoàn 12 Nghỉ hưu năm 1992 từ Binh đoàn 12 CHUYẾN THỊ SÁT ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN Công tác tại Phòng Công trình, Cục Tham mưu Công binh, tôi thường được giao các nhiệm vụ nghiên cứu trên bản đồ, vạch các tuyến đường theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh, đi thị sát thực địa một số tuyến đường và cũng có thời gian chỉ đạo thi công hiện trường. Tôi nhớ nhất hai chuyến thị sát đầy ấn tượng, chuyến thị sát đường B80 từ Thừa Thiên vào Kon Tum và lần thị sát tuyến đường tránh đèo Đá Đẽo, phà Xuân Sơn, đến đường 16 khu vực Quảng Binh. Tháng 6 năm 1967, không về tập kết tại Hương Đô, Hà Tĩnh để học tập và an dưỡng, tôi được phân công trực chiến mùa mưa tại khu vực Rừng Thông đường B45, dưới sự chỉ huy của Cục phó Tham mưu Công binh Nguyễn Văn Kỷ. Chúng tôi được giao nghiên cứu tuyến đường nối từ đường B45 vào Tây Nguyên với yêu cầu tuyến phải hoàn toàn đi sang vùng giải phóng trên địa phận Việt Nam, không qua đất Lào. Dựa trên bản đồ 1/100.000, tổ kỹ thuật bộ phận trực chiến khẩn trương nghiên cứu hướng tuyến báo cáo bằng điện đài về Cục. Ngay sau đó vài hôm, tôi được đồng chí Cục phó Nguyễn Văn Kỷ giao nhiệm vụ Tổ trưởng tổ thị sát tuyến. Cùng đi có các đồng chí Trần Văn Cư, Vũ Chí Can và y tá Nguyễn Chan. Trung đoàn 10 được lệnh thị sát từ trong ra. Với ý đồ của Bộ Tư lệnh, sau khi mở xong đường B46, Trung đoàn 10 sẽ là đơn vị trực tiếp mở đường này nên Trung đoàn trưởng, thiếu tá Đinh Hào trực tiếp tham gia. Trung đoàn trưởng Đinh Hào muốn nắm toàn tuyến từ đầu nên từ đường B46 theo đường giao liên phía tây Trường Sơn cắt sang phía đông chờ gặp nhau theo toạ độ được xác định tại phía bắc huyện 40 để cùng đi thị sát đoạn tiếp theo. Cùng đi với đồng chí Đinh Hào có các đồng chí cán bộ kỹ thuật đội Khảo sát Công binh đang công tác tại đường B46 và 1 tiểu đội trinh sát của Trung đoàn, có điện đài 15 Watts để giữ liên lạc với các cấp. Thị sát vùng giáp biên Trường Sơn hai nước Việt Lào, chúng tôi chịu khí hậu cả hai miền, lúc nắng gắt, lúc mưa dầm lầy lội, thời tiết trong cả chuyến đi vô cùng khó chịu. Có hôm ban sáng lúc lên đường đi thị sát, trời mưa rất to, gió thôi gẫy cả nhánh cây rừng, ni lông che mưa bay phần phật, đến gần trưa thì trời lại nắng gắt. Vùng đất kỳ lạ, cây xoài mọc đầy rừng. Xoài chín vàng ươm, rụng đầy gốc cây, toả một mùi thơm dịu mát. Ngồi nghỉ chân, chúng tôi đặt mũ cối dưới tán cây, chờ gió thổi, quả nào rơi đúng vào mũ thì mới lấy ăn, của rừng nhiều đến như vậy, "rừng vàng biển bạc” mà! Dân vùng này bị o ép trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nên đời sống quá khó khăn, nhà cửa quá tạm bợ, chật hẹp không thể nhờ vả được. Chúng tôi phân công một nhóm đi trước tìm địa điểm phù hợp, chặt cây que làm lán, tổ chức hậu cần, lúc cả đoàn làm việc ngoài mặt đường đến chỉ cần lợp ni lông tăng cá nhân, là có chỗ ăn nghỉ ngay. Lán tạm mỗi vị trí ở vài ba ngày, đủ thị sát chi tiết một đoạn đường từ 10 đến 15 ki lô mét rồi lại cuốn chiếu chuyến đi. Tuyến đường chúng tôi chọn đi trên phân thuỷ, lán tạm phải chọn nơi có suối nước, nói là suối nước, nhưng trên phân thuỷ nước chỉ có tại các khe nhỏ. Thị sát trong cả mùa mưa không eo hẹp về thời gian, không bị thúc bách, khu vực không bị máy bay địch nhòm ngó, nên chúng tôi thống nhất với nhau thị sát kỹ, chọn hướng tuyến hợp lý ngay từ bước thị sát, tính toán khối lượng cụ thể cho từng cây số, vẽ tuyến đường dự kiến chính xác vào bản đồ, ghi chép tỉ mỉ, nhằm giảm bớt công việc cho giai đoạn định tuyến. Trong đoàn thị sát có đến 4 cán bộ kỹ thuật, nhiều chiến sĩ trinh sát đã có trình độ văn hoá cấp 3, nên đây là điều có thể thực hiện được. Anh Đinh Hào là con người thực tế, rất tán thành cách làm này, là Trung đoàn trưởng, người chỉ huy nhưng anh lại ghi chép rất đầy đủ như một trợ lý. Hướng tuyến được thị sát từ Rừng Thông (Km 34 đường B45), men theo đường phân thuỷ, phía đông Trường Sơn trên đất Việt sát biên giới hai nước Việt Lào. Về cơ quan Cục, chúng tôi mới biết tuyến đường này được tổ chức thị sát theo ý đồ của Đại tướng Tổng Tư lệnh đã chỉ thị. Đại tướng mong muốn phải sớm xây dựng một hướng tuyến xuyên suốt phía đông Trường Sơn nằm hoàn toàn trên đất Việt từ hậu phương qua đường số 9 vào tận cuối Khu 5. Hướng tuyến chúng tôi đã thị sát tranh thủ đi phía tây khá xa đường 14 cũ, được xây dựng thời Pháp để đảm bảo an toàn. Nhằm ít khối lượng đào đắp, thời gian thi công nhanh, tránh khu vực địch đang kiểm soát cố gắng bám đường phân thuỷ. Đúng ý đồ chỉ đạo của cấp trên, tuyến đường đã được thị sát hoàn toàn trên đất Việt Nam. Về đến chỉ huy sở Trung đoàn 10 trên đường B46, tổng hợp hướng tuyến, dự kiến khối lượng toàn tuyến, thống nhất các bước sắp tới, báo cáo về Cục, đoàn thị sát rất phấn khởi vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Cục Tham mưu Công binh điện gọi tôi về báo cáo kết quả. Biết tôi đã trải qua mấy mùa mưa, đang bị sốt rét rừng dày vò đồng chí Đinh Hào cử đồng chí Lương, một chiến sĩ trinh sát thông minh, nhanh nhẹn đã tốt nghiệp cấp 3 phổ thông cùng đi. Chuyến đi rất khẩn trương, tôi phải về kịp báo cáo tình hình, đồng chí Lương phải ra cơ quan Bộ Tư lệnh kịp làm thủ tục ra Bắc nhập học đào tạo cán bộ nguồn. Hai anh em theo bản đồ địa hình, cắt đường rừng về trạm giao liên T55, bỏ qua nhiều trạm giao liên khác nhằm rút ngắn thời gian. Giữa rừng già âm u tĩnh mịch chỉ có hai người dấn bước. Ngày thứ hai, vào lúc xế chiều phải qua một dòng sông rộng, trời lại đang mưa rất to, theo bản đồ địa hình, qua sông còn phải đi khoảng tám cây số nữa mới có một bản dân có thể xin nghỉ qua đêm. Nước sông dâng lên trông thấy mỗi lúc một cao, lội qua sông rất nguy hiểm nhưng không thể ngủ giữa rừng, vì có thể gặp thú dữ, gặp nhiều rủi ro khác, nên phải quyết định nhanh chóng vượt qua sông thì mới kịp đến bản trước khi trời tối. Lũ ống đổ về ào ạt, nước sông dâng quá nhanh, chảy xiết. Phải vượt qua sông lúc này như đã là mệnh lệnh, đồng chí Lương nhanh chóng gói tất cả tư trang hai người vào ni lông làm phao, súng khoác qua vai thả mình xuống dòng nước. Tôi bám vào báng súng của Lương, cố gắng quậy mình theo đồng chí Lương. Vật lộn với dòng nước lũ qua dòng sông nơi đây khá rộng, gần sang bờ bắc, tôi bị trượt tay mất đà, bị nước cuốn trôi một đoạn. Rất nhanh, Lương chạy theo xuôi dòng nước kịp trao nòng súng cho tôi bám, kéo giữ được tôi lại. Thật hú vía, cuối cùng hai anh em cũng đã sang sông. Qua bờ bắc, một con nai ngơ ngác nhìn hai người, Lương giương súng định bắn nhưng tôi ra hiệu không, con nai nhẹ nhàng đi vào rừng. Chuyến trở về cơ quan khá mạo hiểm, một chuyến đi đầy ắp kỷ niệm, tôi không thể nào quên. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:00:11 am Đã hơn 40 năm trôi qua, tôi không còn có liên lạc được với đồng chí Lương, nhưng không bao giờ tôi quên được những chi tiết này.
Lúc này các đường ngang sang chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên đã được mang tên B70, B71, B72, B73. Với ý đồ dành tên đường B74 cho một tuyến đường vùng Quảng Nam đang khảo sát, sau khi báo cáo tổng hợp xong, tôi để nghị đặt tên đường này là B75. Cục trưởng Phạm Văn Diêu cười, tế nhị “sớm giải phóng được đất nước cũng là mong muốn của mọi người, tuy nhiên hãy đăng ký tên đường này là đường B80". Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, chúng tôi đã nghỉ hưu, có lần gặp lại người thủ trưởng cũ, tôi nhắc lại chuyện, “Cụ” cười thân mật vẫn như những năm nào, với giọng Khu 5 “Cậu thế mà tiên tri!” Đầu năm 1968 ta giải phóng Khâm Đức, có cơ hội sử dụng đường 14, do vậy không có kế hoạch khảo sát định tuyến để thi công đường B80 nữa. Cho đến năm 1975, lúc chiến tranh chống Mỹ cứu nước kết thúc, đường B80 cũng chỉ dừng lại là những vạch đỏ đứt đoạn trên bản đồ tham mưu mà thôi. Đồng chí Trần Văn Cư được Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh trực tiếp giao nhiệm vụ theo dõi chỉ đạo công việc của Đại đội Khảo sát 1 đang thị sát đoạn đầu tuyến đường xây đựng cơ bản Nhà nước và Quân đội giao cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn thực hiện từ Troóc trở vào, kết hợp tránh được cả đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn. Tuy nhiên với địa hình vùng núi phức tạp, Đại đội 1 Khảo sát đang gặp nhiều khó khăn trong bước thị sát để định tuyến. Trăn trở nhiều ngày đêm, các cán bộ kỹ thuật Phòng Công trình dày công nghiên cứu trên bản đồ, tham vọng nếu tránh được cả đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn như dự kiến sẽ giảm bớt chiều dài được khoảng 7 ki lô mét, giảm khối lượng thi công không nhỏ. Lúc này, một thúc bách không kém quan trọng là Bộ Tư lệnh đã bố trí Đoàn 67, một công trường của Bộ Giao thông vận tải biệt phái sang Bộ Tư lệnh Trường Sơn, do đồng chí Lê Ngọc Hoàn chỉ huy thi công từ đường 10 trở ra, và đã bố trí 2 đơn vị khác cỡ trung đoàn thi công từ đường 20 trở vào. Hướng tuyến chưa được xác định, trong lúc đó các đơn vị thi công đã tập kết vào vị trí. Đây là một sức ép quá lớn đối với đơn vị khảo sát. Vì thế, Phòng Công trình kiến nghị xin cho thị sát bằng máy bay trực thăng vùng núi phía tây Quảng Bình từ đèo Đá Đẽo dọc Trường Sơn xuống khu vực đường 16 phía nam. Đây là kiến nghị táo bạo, không chắc được chấp nhận, nhưng lại được Bộ Quốc phòng nhanh chóng đồng ý. Tuy vậy, thời điểm này máy bay trực thăng phải hạn chế giờ bay đành cho chiến đấu nên phương tiện có thể đáp ứng được chỉ là máy bay AH2. Đầu tháng 6 năm 1973, chuyến bay thị sát được triển khai. Sau một tuần lễ hợp đồng với địa phương, bố trí, chỉ thị trên bản đồ cho Đại đội Khảo sát 1 đốt lửa, tạo khói dưới mặt đất, đánh dâu toạ độ nhiều điểm khống chế giúp tổ thị sát máy bay dễ quan sát địa hình. Điều quan trọng nữa là phải hợp đồng xác định lộ trình bay với tổ bay thật chu đáo, tuyệt đối tránh những đáng tiếc có thể xảy ra. Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh Phan Quang Tiệp trực tiếp chỉ định tổ thị sát gồm 4 thành viên: Trần Văn Cư; Hoàng Ngọc Châu, Trợ lý phòng Công trình; Nguyễn Đinh Hải, Đại đội trưởng Khảo sát 1 và đồng chí Lê Ngọc Hoàn, Đoàn trưởng Đoàn 67. Đồng chí Trần Văn Cư được giao nhiệm vụ tổ trưởng tổ thị sát. Quan sát địa hình phải qua cửa kính lỗ tròn của máy bay AH2 mặc dù bị hạn chế góc nhìn, nhưng vì được triển khai đủ các điểm dự kiến đúng toạ độ, nhờ khói dưới mặt đất bốc cao nên cũng dễ quan sát. Tập trung vào nhiệm vụ, chúng tôi đã quên đi mọi âu lo ban đầu: máy bay có tốt, tổ lái có giỏi bay sát vào được những nơi đã chỉ định, Đại đội Khảo sát 1 đốt khói có đúng địa điểm, đúng giờ quy định không? Chúng tôi đùa vui với nhau, Mỹ đã buộc phải ký kết hiệp định Paris, miền Bắc không còn bị máy bay Mỹ oanh tạc, nhưng vẫn còn một mối âu lo nữa là các “cụ dân quân Hoằng Hoá vẫn hăng hái bắn rơi máy bay”...! Không biết tỉnh đội, các huyện đội, các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn đã phổ biên đến tận các tay súng chưa? Qua 8 vòng bay, tổ thị sát triệt để tận dụng thời gian quan sát không sót các dự kiến, nhận biết được các núi đá cao, các “sông đá” sâu đúng như báo cáo thị sát đầu năm của Đại đội 1. Ở các vòng bay cuối cùng, tổ quan sát chăm chú, không bỏ sót cơ hội nhưng vẫn không đạt được mong đợi như kỳ vọng. Tổ hội ý chớp nhoáng trên khoang bay và thống nhất: “địa hình khu vực không cho phép đặt tuyến được”, và kết thúc ở vòng bay thứ 8. Ở nước ta trong thời bình dùng phương tiện máy bay thị sát tuyến đường đã là điều hiếm hoi, từ trước tới nay chưa có điều kiện. Đang trong thời chiến, đây quả là một chuyến bay nghề nghiệp lịch sử, có một không hai. Tuy từ phương tiện hiện đại này, ta không vẽ được một nét đỏ đường liền nét trên bản đồ, nhưng đây là một nỗ lực lớn của Bộ Quốc phòng, của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Từ đó cho phép kết luận rằng không cho phép đặt được tuyến trên địa hình trong khu vực, tránh được cả hai trọng điểm đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn. Không đạt được yêu cầu, Cục Tham mưu Công binh phân công Đại đội Khảo sát 2 tiếp tục tổ chức thị sát tìm đường tránh trọng điểm phà Xuân Sơn, không thị sát tuyến tránh đèo Đá Đẽo nữa. Và điểm đầu đường xây dựng cơ bản Bộ Tư lệnh Trường Sơn được giao tính từ Troóc, phía bắc phà Xuân Sơn. Chuyến đi thị sát tuyến đường B80 từ đường B45 đến đường B46 phía đông Trường Sơn trên đất Việt chúng tôi phải thực hiện hoàn toàn thô sơ trong hơn hai tháng, lần thị sát tuyến xây dựng cơ bản đông Trường Sơn trên đất Quảng Bình chỉ vẻn vẹn trong hơn 1 giờ đồng hồ bằng phương tiện hiện đại. Trong chiến tranh gian khổ vẫn đầy ắp những kỷ niệm thú vị, chẳng thể nào quên...! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:02:46 am (https://i.imgur.com/iTxroP9.jpg) Trung tá PHAN ANH SƠN (Phan Duy Hấp) Sinh năm: 1939 Quê quán: Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh Thường trú: 371 Cầu Giấy, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội Chỗ ở hiện nay: P.6, Nhà A, Tập thể Thông tin, ngõ 117 Trần Cung, Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội Điện thoại: 04.37551601 - 0976.787380 Từ nhà máy sửa chữa Rađa 7111 Cục Quân giới, Tổng cục Hậu cần vào đoàn 559 Nguyên Thiếu uý, Trợ lý Phóng Tác huấn Cục TMCB Nguyên Trợ lý kỹ thuật Phòng Công trình, Bộ Tư lệnh Thông tin KHỐNG CHẾ BOM TỪ TRƯỜNG Ở KHO ĐẠN DKB BINH TRẠM 34 Có những chiến công thầm lặng của những người lính kỹ thuật thời chống Mỹ trên tuyến đường Hồ Chí Minh ít được nhắc đến. Phải chăng họ chỉ có một nhóm ít người? Cuối năm 1968 chúng tôi, những người lính kỹ thuật ở nhiều lĩnh vực khác nhau: điện, vô tuyến điện, vật lý, hóa học... được lệnh vào chiến trường để huấn luyện và cùng bộ đội Trường Sơn nghiên cứu rà phá, phá hủy bom mìn, làm tê liệt tất cả những thiết bị điện tử công nghệ hiện đại, các loại bom từ trường, bom điều khiển bằng tia laze, mìn lá, mìn vướng, cây trinh sát tiếng động v.v... Tháng 02 năm 1970, chúng tôi được lệnh vào Binh trạm 34 để khống chế một quả bom từ trường rơi xuống gần cụm kho KG4, tại đó đang bảo quản 10 hầm chứa 1000 quả đạn DKB. Cụm kho nằm trong một thung lũng rừng le, mỗi hầm chứa đạn cách nhau 20 mét có kích thước 10mét x 15mét x 2mét. Mỗi quả đạn đựng trong một thùng gỗ dài khoảng 1,50 mét trọng lượng 60 ki lô gam. Quả bom từ trường rơi xuống gần trung tâm cụm kho. Bom từ trường là loại bom được điều khiển nổ bằng đầu nổ MK-42 ký hiệu ĐST (kẻ hủy diệt). Bom được gây nổ bằng 2 cách: Cách 1: Biến đổi từ trường xung quanh vị trí bom Cách 2: Bởi mạch tự huỷ bên trong quả bom. Thời gian tự huỷ từ 30 phút đến 6 tháng kể từ khi quả bom rơi xuống đất. Đúng là một cái bẫy vô cùng nguy hiểm. Vì theo cách 2, thời gian như vậy không biết lúc nào nó tự nổ. Do đó rất nguy hiểm cho người thao tác. Phải hết sức bình tĩnh, dũng cảm, kiên cường và xác định sẵn sàng hy sinh khi làm nhiệm vụ khống chế hay phá hủy bom. Đoàn chúng tôi gồm đồng chí Nguyễn Thời Đại, cán bộ kỹ thuật Phòng Huấn luyện Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559, đồng chí Nhâm Xuân Coóng và đồng chí Thái, Viện Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Hậu cần biệt phái vào Trường Sơn cùng 30 chiến sĩ của Đại đội kho, 2 đồng chí cán bộ Tiểu đoàn Kho của Binh trạm 34 đến hiện trường thực hiện nhiệm vụ. Đây là những cán bộ, chiến sĩ “cảm tử” đã xác định trách nhiệm và sẵn sàng hy sinh. Mọi người đều biết rằng nếu rủi ro, sự cố không tính trước xảy ra, 1000 quả đạn DKB bị kích nổ thì hậu quả sẽ khó lường. Trong trường hợp cụ thể này “khống chế bom” là làm tê liệt đầu nổ trong một thời gian nhất định theo tính toán để có thể vận chuyển số đạn ra ngoài phạm vi tác động khi bom từ trường nổ. Cụ thể là: Dùng một điện từ trường xung quanh quả bom trên mức gây nổ của bom. Số liệu đó được nghiên cứu tính toán khi rà phá bom. Chúng tôi đã dùng một khung dây đồng bọc nhựa có đường kính 1,5 mi li mét rải quanh kho có chiều dài là chu vi của kho. Số vòng là 6 vòng dây đồng. Nguồn điện cung cấp là một ắc quy 24 vôn. Sau khi rải dây xong nối nguồn điện tạo được một điện trường xung quanh quả bom. Chúng tôi để 15 phút thăm dò xem có động tĩnh gì không. Tất cả bình yên... Nhiệm vụ của chúng tôi lúc đó là trong một thời gian ngắn nhất phải vận chuyển 1.000 quả bom ra khỏi kho khoảng 30 mét. Trước tiên, để kiểm chứng kết quả, hai đồng chí “cảm tử" gồm một chính trị viên đại đội và một đồng chí cán bộ kỹ thuật tình nguyện vào vận chuyển thử một hòm đạn ra xa 30 mét. Cả đơn vị chừng ấy con người và chắc chắn là cả thủ trưởng Binh trạm 34, Cục Tham mưu Công binh hồi hộp chờ đợi... Bước thử nghiệm an toàn. Tiếp theo 30 chiến sĩ tình nguyện đã được giao nhiệm vụ vào vác đạn ra khỏi khu vực đến địa điểm đã được xác định. Một quyết tâm rất cao, chỉ trong vòng 25 phút 1.000 quả đạn tổng trọng lượng 60 tấn được vận chuyển an toàn ra nói quy định. Việc không chế bom từ trường và vận chuyển đạn DKB đã thành công, tuyệt đối an toàn. Tuy nhiên cũng cần kiểm chứng lại kết quả khống chế vì cũng có trường hợp bom "điếc” không nổ. Nếu như vậy thì phương pháp xử lý không thể áp dụng cho các hường hợp tương tự sau đây nếu còn gặp. Chúng tôi quyết cho nổ quả bom. Sau khi toàn đơn vị và 1.000 quả đạn được đưa về vị trí an toàn, chúng tôi cho thực hiện tạo từ trường kích nổ vả cho nổ quả bom. Một tiếng nổ lớn tạo thành một đám khói đen bốc cao. Lập tức máy bay trinh sát OV10 xuất hiện và bắn pháo hiệu. Và cũng ngay sau đó không lâu, một trận B52 giáng xuống... nhưng không trúng vào thung lũng kho. Cụm kho an toàn. Rất may mắn là không ai bị thương, chỉ vì bom nổ quá gần, quá nhiều, quá lâu nên một số đồng chí bị điếc một thời gian, trong đó có Nhâm Xuân Coóng. Việc khống chế bom đã thành công. Một chiến công thể hiện lòng hy sinh, ý chí chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của cán bộ chiến sĩ bộ đội Trường Sơn, trong đó có những người lính kỹ thuật chúng tôi. Một nghìn quả đạn ĐKB được cứu ra khỏi khu vực nguy hiểm an toàn, đã góp phần vào chiến thắng to lớn trong các chiến dịch tại các chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:13:54 am (https://i.imgur.com/cnQmclM.jpg) Kỹ sư PHI ĐÌNH TUẤN Sinh năm: 1937 Quê quán: Thượng Nông, Tam Nông, Phú Thọ Thường trú: Nhà 64, ngõ 177 Phố Định Công, Phường, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội Điện thoại: 04.38554087 - 0983.229637 Từ Bộ GTVT biệt phải sang Quân đội năm 1965 Nguyên Tổ trưởng, Đội Khảo sát 1, Cục TMCB 559, Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ Bộ GTVT, Kỹ sư Trưởng ban TCCB-LĐTL, Thường vụ Đảng uỷ Liên hiệp ĐSVN NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC KHẢO SÁT THIẾT KẾ ĐƯỜNG 20 QUYẾT THẮNG Tháng 4 năm 1965, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ được Bộ Chính trị quyết định tham gia Quân uỷ Trung ương, bổ nhiệm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh 559. Ngay sau khi trực tiếp tổ chức và chỉ đạo Công trường 128 thi công trục đọc từ đường 12 vào đường 9 phía tây Trường Sơn tương đối ổn định, thấy rõ thực tế, Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đề xuất và được Quân uỷ Trung ương nhất trí chủ trương mở tuyến đường ngang để phá thế độc tuyến, tránh được túi nước Seng Phan ngập đoạn đầu đường 128 làm ách tắc không tranh thủ được tháng đầu mùa khô ở Lào. Với cương vị mới, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ quyết định điều động biệt phái chúng tôi từ Viện Thiết kế Giao thông và một số cán bộ các đơn vị trong Ngành thành lập một đoàn khảo sát đặc biệt, có nhiệm vụ khảo sát tuyến này. Đồng chí Nguyễn Nam Hải, sau khi đã tổ chức khảo sát đường 128, được Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ giao làm Đoàn trưởng, thiếu tá Mai Sơn làm Phó đoàn. Tôi được giao làm tổ trưởng kỹ thuật cùng 10 cán bộ công nhân kỹ thuật, một tổ điện đài, được trang bị máy móc thiết bị cần thiết, khảo sát và thiết kế ngay tại hiện trường đáp ứng cho các đơn vị thi công. Trước khi vào chiến trường, chúng tôi được đại tá Vũ Xuân Chiêm, Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh 559 giao nhiệm vụ tại 63 Lý Nam Đế, Hà Nội. Đồng chí xác định rõ nhiệm vụ, động viên chúng tôi có vinh dự được tham gia mở con đường chiến lược từ đông sang tây Trường Sơn cho xe cơ giới vận chuyển hàng hoá, binh khí kỹ thuật vào sâu tận chiến trường miền Nam, điều mà đến nay Trung ương mới có chủ trương. Phó Chính uỷ giao nhiệm vụ phải tiến hành khẩn trương, khảo sát thiết kế nhanh, nhắc nhở phải giữ gùi bí mật. Đồng chí cho biết con đường này có địa hình miền núi phức tạp, hiểm trở, xa dân, đảm bảo hậu cần khó khăn. Do vậy hai Bộ Quốc phòng và Giao thông vận tải chọn đoàn khảo sát mạnh, cán bộ công nhân có tay nghề giỏi, có phẩm chất chính trị và có ý chí quyết tâm. Đồng chí cho biết, tuy đoàn khảo sát nay mới bắt đầu lên đường, nhưng cùng thời gian này đang khẩn trương tuyển quân ở các địa phương. Sau mấy ngày chuẩn bị, ngày 26 tháng 6 năm 1965, trên chiếc xe ôtô tải Gat 63 Liên Xô còn mới do anh Hoà, một thanh niên vừa được đào tạo lái xe đưa đoàn chúng tôi hành quân vào Trường Sơn. Hai trưởng phó đoàn ngồi ca bin xe, chúng tôi ngồi trên hai chiếc ghế dài hạ từ thành xe, ba lô, trang thiết bị khảo sát, điện đài, xoong nồi, lương thực, thực phẩm xếp gọn vào thùng xe bằng một ghế, một số anh em trải bạt nằm ngồi trên đó. Nhiều cầu lớn nhỏ trên đường đi, đã bị máy bay Mỹ đánh phá hư hỏng, cầu Hàm Rồng là trọng điểm bị đánh phá ác liệt thời kỳ này, pháo sáng thả cầm canh, nhưng xe chúng tôi đã chọn được thời cơ thuận lợi lên phà, nên sang được bờ phía nam an toàn. Ngày nghỉ, đêm đi... Có một chuyện nhỏ nhưng lại nhớ lâu. Đến Khe Tang, bỗng nhiên chúng tôi thấy mình như được nâng lên khỏi sàn xe, và nghe một tiếng “ầm", xe từ đỉnh đốc cao lao thẳng xuống ngầm. Anh Hoà đã cho xe lao theo kiểu rơi tự do xuống ngầm Khe Tang, xe đã chết máy. Máy bay Mỹ lượn vòng trên đầu, pháo sáng làm hoa cả mát. Loay hoay xử lý một lúc, xe lại nổ máy được. Hai anh trong đoàn xuống hỗ trợ, yêu cầu cho xe lùi một đoạn mới có thể lên được, nhưng anh Hoà nói “xe không có số lùi". Thời này đào tạo lái xe không kịp, anh Hoà vừa mới được đào tạo cấp tốc hai tháng, tay lái chưa vững, kiến thức và kinh nghiệm chưa có. Lên đường gấp gáp, bản thân anh cũng không có tư trang gì mang theo, đến cả thức ăn cá nhân cũng không chuẩn bị kịp. Nhưng, lái xe Trường Sơn là vậy, họ trưởng thành trong thực tế rất nhanh chóng... Qua phà Xuân Sơn, ngày 05 tháng 7 năm 1965, chúng tôi nghỉ tại một bản người dân tộc A Rem sát cửa rừng Phong Nha. Tiếp đó chúng tôi chia thành hai mũi, thị sát theo hai hướng tuyến để có phương án so sánh: - Một mũi từ Khe Nét, đi phía trái, theo hướng Đoòng lên Khe Tum đến biên giới Việt Lào, hướng này do anh Nam Hải phụ trách. Cùng đi có 2 cán bộ kỹ thuật. - Một mũi từ Khe Nét sang phía phải, qua Tân Trạch, đến Cù Mẹ, U Bò, gặp tuyến phía trái tại Cà Roòng. Anh Mai Sơn phụ trách hướng này, tôi làm công tác kỹ thuật, cùng đi cũng có hai cán bộ kỹ thuât. Hai mũi thị sát xong tuyến, tối 17 tháng 7 trở lại gặp nhau tại Phong Nha đểê xác định tuyến chọn. Có hai ý kiến khác nhau, cuối cùng anh Nam Hải quyết định chọn hướng tuyến qua Đoòng phần lớn đi trên phân thuỷ, đường đất, ít đá, dễ thi công. Trưởng, phó đoàn giao lại công tác khảo sát định tuyến thiết kế kỹ thuật cho anh em thực hiện cụ thể, giao nhiệm vụ cho tôi phụ trách. Thời gian gấp rút, phải hoàn thành giao tài liệu thiết kế và thực địa cho đơn vị thi công từ ngoài vào trong theo yêu cầu của Công trường 20 lúc này đã thành lập, các đơn vị thi công đã vào triển khai nhận nhiệm vụ. Ngày 20 tháng 7 năm 1965, chúng tôi tổ chức thành hai mũi triển khai ngay công tác khảo sát theo hướng đã chọn, và thống nhất xác định giao ngay tài liệu thiết kế khi thi công yêu cầu. Mũi thứ nhất khảo sát từ Khe Nét vào Đoòng lên Khe Tum do Phi Đình Tuấn trực tiếp. Mũi thứ hai do Hoàng Tường, một cán bộ kỹ thuật phụ trách khảo sát từ biên giới về Đoòng quy định gặp mũi thứ nhất tại Khe Tum. Hướng này đường đi trên cao, có chỗ có cao độ 1.000 mét so với mặt biển, bản đồ không thể hiện được đường đồng mức, việc nghiên cứu rất khó khăn, tốn nhiều công sức trên thực địa, có hôm anh em phải tối mịt mới về đến lán. Tìm tuyến đến đâu, chúng tôi đo đạc lấy tài liệu, đêm về thiết kế ngay đến đó, với tư thế chuẩn bị sẵn sàng đối phó cho việc phục vụ đơn vị thi công. Toàn tuyên có hơn 100 cầu cống lớn nhỏ, khối lượng đào đắp bình quân 30.000 - 40.000 m3/km. Nói là tuyến đi trên đường phân thuỷ, nhưng vẫn có nơi ta luy cao đến 20 - 30 mét. Nhược điểm hướng này là khả năng khi thi công xong, tuyến đường nằm trên cao dễ bị lộ, máy bay dễ phát hiện đánh phá ác liệt, giao thông sẽ ách tắc, không hợp lý cho vận tải quân sự. Hơn hai tháng làm việc vất vả, hai mũi vẫn chưa gặp được nhau. Mưa Trường Sơn đã bắt đầu, các con suối đã có lũ to, hành quân di chuyển đã gặp trở ngại. Nhiều hôm, mưa lũ lớn, vận chuyển qua suối rất khó khăn. Vật lộn với núi rừng nguyên sinh mãi trên bốn tháng trời đầy gian khó, sức khoẻ anh em đã giảm sút, tóc đã dài chấm gáy. Nhớ lại trước khi vào nhận nhiệm vụ này, tôi có đến chào thầy Lê Đình Hoè, một lão tướng ngành khảo sát thiết kế giao thông, thầy có nói: “Bản đồ Pháp có thể sai, cần phải thận trọng”. Thực tế ở đây đúng như thế, từ đó gợi mở cho tôi những tư duy tìm tòi mới. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:15:17 am Đúng lúc đó, đồng chí Phan Trầm, Cục phó Cục Kiến thiết cơ bản, Phó Ban Miền Tây Bộ Giao thông vận tải, đang là Chỉ huy phó Công trường 128 trục dọc phía tây Trường Sơn, nay được quyết định là Trưởng ban Chỉ huy Công trường 20 đến gặp chúng tôi nắm tình hình khảo sát thiết kế để bố trí các đơn vị thi công. Chúng tôi báo cáo tình hình cụ thể việc nghiên cứu khảo sát theo phương án tuyến Đoòng, phản ảnh chân thành cuộc họp tối 17 tháng 7 tại cửa rừng Phong Nha, trình bày hai ý kiến khác nhau, trong đó phân tích ý kiến của nhóm Phi Đình Tuấn, Hoàng Tường và một số anh em kỹ thuật về phương án chọn hướng tuyến đá từ Khe Nét theo dãy núi đá thẳng lên U Bò, Khe Tum đến bản Cà Roòng sang biên giới Việt Lào lúc đó theo bản đồ xác định tại Phu La Nhích qua Ta Lê.
Ưu điểm của hướng này ngắn hơn khoảng 30 ki lô mét, đi men dưới chân núi, cầu cống ít hơn, chỉ bằng 1/10 tuyến Đoòng. Đường thi công xong kín đáo, một bên có núi cao che khuất, máy bay khó oanh tạc trúng đường. Nền đường lại là đá tự nhiên, ít phải chống lầy, phù hợp với đường vận chuyển hàng quân sự, tính an toàn cao. Chúng tôi cũng không giấu nhược điểm đường toàn đá, khó trong công tác khảo sát thiết kế, còn khó hơn trong thi công. Trên 40 ki lô mét đoạn đá không có nước, phải đi lấy nước rất xa, đợt thị sát vừa qua, chúng tôi đã phải gạn lấy nước ở núi đá để dùng trong sinh hoạt. Nơi ở của các đơn vị thi công cũng sẽ tìm ra xa mới có nước, việc đi lại hàng ngày để thi công khó khăn vất vả. Sau khi đi nghiên cứu lại thực địa, nghe chúng tôi báo cáo quan điểm kỹ thuật tuyến đá từ Tân Trạch lên U Bò, đồng chí Phan Trầm về báo cáo Bộ Giao thông vận tải và Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh 559 đã xem xét và quyết định chọn tuyến đi theo phương án 2: tuyến đá. Vào khoảng giữa tháng 10, nhận được điện từ Hà Nội bỏ hướng tuyến Đoòng đang khảo sát, trở ra khảo sát tuyến đã thị sát theo phương án 2 phía tay phải, nhưng để phục vụ thi công sẽ dồn dập đến công trường trong thời gian sắp tới nên nhất thiết phải hoàn thành hồ sơ thiết kế trong vòng một tháng cho phép vừa thiết kế vừa thi công, thiết kế đến đâu thi công đến đó. Nhận được lệnh, ngay trong lúc mưa đang rất to, lũ rất lớn, chúng tôi vẫn hành quân di chuyển. Có những nơi chúng tôi phải đi vòng ngược lên thượng lưu, chọn nơi suối hẹp chặt cây cao cho cây đổ qua suối làm cầu tạm để nhanh chóng vượt qua không ngồi chờ nước rút. Tập hợp được anh em, tôi chia đoàn thành 3 mũi, một mũi ra làm đầu tuyến từ A Troóc trở vào, mũi thứ hai làm từ biên giới trở ra, mũi giữa nhận trách nhiệm khảo sát từ giữa ra hai đầu. Sau 45 ngày, chúng tôi đã nối tuyến được với nhau, đã hoàn thành tuyến phía đông đường 20 vượt qua được dãy Trường Sơn nguyên sinh, âm u, huyền bí. Khó khăn về kỹ thuật phải kể đoạn A Troóc vào gần đến dốc Ba Thang, cả lúc khảo sát xác định tuyến, lúc thiết kế và thi công đều rất khó khăn. Đoạn này là một đèo đá vách đứng không thể trèo lên được. Tôi chọn Đặng Xuân Thọ, công nhân khảo sát có kinh nghiệm, đồng hương quê tôi1 (Đặng Xuân Thọ quê xã Tam Sơn, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ - hiện nay cuộc sống gia đình anh còn rất nhiều khó khăn) thân hình rắn chắc, nhanh nhẹn, nhưng lại rất thận trọng, cán bộ kỹ thuật Hoàng Xuân Doãn, một thanh niên sinh sống ở Hà Nội nhưng đầy nhiệt huyết thời “Ba sẵn sàng” cùng tôi thực hiện nhiệm vụ tìm cho được đoạn tuyến cực kỳ khó khăn này! Bản đồ thời đó là những đường vạch “que củi” không có đường đồng mức, chúng tôi phải 3 lần nghiên cứu thực địa vẫn không giải quyết được việc vượt dốc Ba Thang này. Quá tam ba bận, những tưởng đã bó tay, nhưng rất may nhờ được một người dân, lúc này đang sống hoang đã tại một hang động bản Tân Trạch đưa đường1 (Người dân này về sau là Xã đội trưởng Tân Trạch, lâu năm tôi không nhớ được tên ông), ba anh em chúng tôi mới tìm được lối lên dốc Ba Thang để tiếp tục nghiên cứu. Từ nghiên cứu thực địa, tôi phải nâng chân dốc lên 15 mét và thiết kế hạ đèo Ba Thang xuống 7 mét trải dài trên một đoạn đường 500 mét, chịu dốc dọc 12%, tuy nhiên vẫn thiết kế đảm bảo một đoạn nghỉ dốc 3% dài 50 mét. Phía trên đoạn dốc Cù Mẹ, đồng chí Hoàng Tường, một cán bộ kỹ thuật quê Cao Bằng, nhanh nhẹn, năng động, khoẻ mạnh cùng nhóm của mình, trong đó có Cao Trung quê Nghệ An, phải xử lý đến 4 cua tay áo trên cùng một sườn núi để vượt lên biên giới, vừa đi vừa phải nổ mìn phá đá để lấy lối đi tìm tuyến. Đến đây chúng tôi rất mừng được tin hai tổ khảo sát đường 20 phía tây do Công trường 128 phụ trách cũng đã nối tuyến của chúng tôi xuống ngầm Ta Lê, tìm được tuyến vượt đèo Phu La Nhích, một con đèo quái ác nằm song song với dòng sông Ta Lê. Các cán bộ kỹ thuật Nguyễn Tiến Duy, Trần Văn Cư Nguyễn Bỉnh... đã giải quyết rất tốt được hướng này. Cả hai phía đông vả tây đường 20, chúng tôi đã giải bài toán rất hóc búa, thoả mãn 3 chỉ tiêu quan trọng của khảo sát thiết kế đạt yêu cầu kỹ thuật là bình đồ tuyến, trắc dọc và bán kính đường cong của một tuyến đường ôtô vượt dãy Trường Sơn chưa được một lần khám phá. Theo các tài liệu còn lưu trữ, các chuyên gia tầm cỡ thời Pháp khẳng định: “Với địa hình địa thế vùng Quảng Bình ngoài đường 12 không còn nơi nào có thể làm đường ôtô vượt Trường Sơn qua đất Lào được". Đến nay ngẫm nghĩ lại công việc mình đã làm cách đây gần nửa thế kỷ, khó khăn lắm, gian khổ nhiều nhưng với trí thông minh và lòng dũng cảm, thực tế đã chứng minh “không có việc gì khó...” mà có quyền tự hào rằng đã vượt qua được điều khắng định của các chuyên gia. Cũng cần phải nói thêm rằng anh em chúng tôi đã khảo sát thiết kế nhiều tuyến đường ôtô vào loại hóc búa miền Tây Bắc nước ta: Nghĩa Lộ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và cả vùng miền tây Khu 4... nhưng chưa bao giờ gặp những vùng vách đá thẳng đứng chặn đường thăm dò như ở tuyến này. Anh Nguyên Xuân Tiểu, một chuyên gia khảo sát thiết kế cầu đường bộ, nhiều năm làm Trưởng phòng Thiết kế đường ôtô, Viện Thiết kế Giao thông, lúc này đang là chuyên gia cho Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 khi xét duyệt hồ sơ thiết kế đường 20 có nói rằng: “Các cậu đã làm được đường này, đánh xong Mỹ về miền Bắc không còn đường nào mà không làm được”. Đó là một lời khen ngợi không chủ quan, không tô hồng mà rất thực tế. Đã đi khảo sát thiết kế mở đường nhiều nơi, nhưng chưa thấy khu rừng nào lắm hổ, nhiều thú rừng, cá suối như tuyến 20 này. Trên đỉnh hang Đoòng cao hơn mặt nước khoảng 10 mét, có rất nhiêu loài chim sinh sống, nói không ngoa có thể bắt vài trăm con một lúc. Tại một cây gạo, một người dân tộc ở Tân Trạch lấy gần một trăm lít mật ong rừng mỗi mùa. Cá, chim, mật ong là nguồn thực phẩm nuôi sống 30 nhân khẩu dân tộc A Rem sinh sống lâu đời ở khu vực này. Đây là khu rừng nguyên sinh lâu đời, nhiều thú dữ sinh sống. Dân cho biết, “ông Hổ" ở đây đã bắt ăn thịt 2 phụ nữ vì đi kiếm ăn về hang quá muộn vào buổi gần tối. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:16:12 am Đang khảo sát thiết kế, thì có ba trung đoàn bộ đội hành quân vào Nam chiến đấu, được lệnh dừng lại để cùng với hơn 10 đại đội thanh niên xung phong mở đường. Bộ Tư lệnh Đoàn 559 lệnh phải khảo sát thiết kế khẩn trương để có hồ sơ thi công thông xe vào đầu năm 1966. Ngày mồng 1 Tết năm Bính Ngọ (21 tháng 01 năm 1966), đồng chí Nguyễn Tường Lân Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Phó Tư lệnh Đoàn 559 đã phát lệnh nổ loạt bộc phá đầu Xuân hưởng ứng chiến dịch “Chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”. Hưởng ứng phong trảo này, tinh thần làm việc của cán bộ, công nhân, thanh niên xung phong, bộ đội trên toàn công trường rất sôi nổi, tiến độ thi công được đẩy nhanh. Giữa tháng 4 năm 1966 công trường đường phía đông và phía tây Trường Sơn đã thông tuyến từ Phong Nha đến Lùm Pùm. Cũng ngày này, tôi nhận được bức thư gia đình ngoài Bắc gửi vào báo tin em trai tôi đã hy sinh ngày 30 tháng 10 năm 1965 khi đang làm nhiệm vụ tại sân bay Phú Thọ. Thư đến giữa lúc chúng tôi đang ăn cơm tối, tôi nghẹn ngào. Anh em chia buồn cùng tôi, cả đơn vị cùng bỏ bữa!
Chúng tôi được lệnh lên đường đi tiếp vào phía nam. Trên đường hành quân, chiều ngày 17 tháng 4 năm 1966, chúng tôi vượt sông Ta Lê qua đèo Phu La Nhích, nghỉ tại một bản Lào bị bom Mỹ đánh phá, nhà cửa đổ nát mất hẳn nét tin thanh bình êm ả, dân sơ tán vào rừng sâu không còn bóng người, để lại vườn không nhà trống. Chúng tôi hiểu được chiến tranh và thấy trước được những gì ác liệt hơn sẽ còn diễn tiếp. Hạ ba lô vào một nhà sàn lớn nhất bản, phân công nhau người đi lấy củi, người xuống suối vác nước. Tôi đi ra hiên sàn nhà quan sát khu vực, vai vẫn mang chiếc xắc cốt màu vàng đựng bản đồ và tài liệu, ở chiến trường xem là vật bất ly thân, hôm đó ngoài trời đã có mưa bụi. Hai người từ hai phía nhà sàn đi ra hét lớn: - “Đứng im! Các anh là ai, ở đâu đến?” - “Họ là biệt kích à?” Giật mình, bàng hoàng tôi tự hỏi. Tôi tự trấn tĩnh tìm cách ứng phó. Tôi biết trong vùng này tuy có Công trường 128 đang thi công đường 20 phía tây, nhưng cũng đã nghe phổ biến vẫn còn biệt kích hoạt động tìm cách chống phá đường vận chuyển của ta. - "Chúng tôi, bộ đội Đoàn 559 đi khảo sát đường ôtô" - Tôi nói to, dõng dạc, vững vàng, nuôi hy vọng họ là đơn vị bảo vệ nhưng đồng thời cũng để báo động cho anh em. - “Có giấy tờ gì không?” - Họ bước lên sàn nhà, tiến đến gần tôi, hai khẩu AK từ trong áo mưa xuất hiện. - "Có tin báo các anh là biệt kích, có cả điện đài và vũ khí, nếu lúc đó các anh cử động thì chúng tôi nổ súng”, một trong hai người nói tiếp. Anh vỗ tay làm ám hiệu, 5 người cầm súng tiểu liên phục sẵn tiến ra. Vừa sợ vừa mừng, chỉ cần thiếu bình tĩnh xử lý sai thì “quân ta lại bắn quân mình”, và cả số anh em kỹ thuật chúng tôi đã yên giấc ngàn thu, vợ con cha mẹ chẳng thể biết đâu mà tìm. Trên đường hành quân xuống phía nam, chúng tôi bắt gặp nhiều đầu mẩu thuốc lá, vồ đồ hộp của biệt kích Mỹ Nguỵ vứt dọc đường, vỏ hộp còn mới, chắc bọn chúng vừa mới di chuyển. Đến Trạm 5 giao liên, được các đồng chí chỉ huy Trạm cho biết đêm hôm trước, máy bay Mỹ quần đảo thả dù xuống khu vực sáu tên biệt kích, bốn nguỵ, một Mỹ và một nói tiếng Tàu. Lực lượng bảo vệ của ta chiến đấu suốt đêm, đến gần sáng bắt sống được hai tên, bắn chết bốn tên. Lại một lần tự rút được kinh nghiệm trong công tác bảo vệ tại chiến trường. Đêm hôm đó tôi nằm nghĩ suy, nhớ lại chiều ngày 10 tháng 4, khi nhận lệnh xuống Hạ Lào, đồng chí Đào Thanh, Chỉ huy phó Công trường 20 gọi anh em đến nơi làm việc, cho uống cà phê tạm biệt, đồng chí còn tặng một hộp mang đi đường và tâm sự: - “Các cậu đi sâu vào chiến trường, sẽ có nhiều gian khổ, không biết khi nào chúng ta được gặp lại nhau. Nhớ giữ gìn sức khoẻ, nêu cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù.” Tôi nhận gói quà nhỏ đầy tình cảm, nhiều anh em cảm động rơm rớm nước mắt, vì đó là sự thấu hiểu, là tình cảm của người cán bộ lãnh đạo với cán bộ chiến sỹ cấp dưới trong gian nan chiến đấu với kẻ thù chung. Thế đây, chỉ hai tuần sau chúng tôi đã gặp, chứng kiến những điều dặn dò chân tình của đồng chí Đào Thanh. Đến vùng Xa Va Na Khẹt khảo sát thiết kế đường ôtô tại khu vực Mường Noòng về đường số 9 nối với đường Na Va, tạo thêm một nhánh đường Trường Sơn. Đoạn đường này không khó khăn mấy về kỹ thuật, chúng tôi giải quyêt nhanh gọn và giao cho đơn vị thi công. Đường Trường Sơn phần lớn nằm trên đất bạn Lào. Khi chiến tranh xảy ra, nhân dân các bộ tộc Lào trên các bản gần đường đã sơ tán vào rừng, bảo toàn tính mạng, bộ đội Việt Nam quản lý và sử dụng bản làng của họ chiến đấu chống kẻ thù chung. Tiếp đó chúng tôi hành quân về trụ sở Đoàn 559 lúc này đóng quân gần Lùm Pùm. Đó là ngày 01 tháng 5 năm 1966, nhưng chỉ ở đơn vị được vài ngày lại nhận nhiệm vụ mới, vào chiến trường sâu hơn. Chỉ mới cách đây gần một năm, bắt đầu từ khâu khảo sát thiết kế phát lối tìm đường, hàng vạn con người với tinh thần “Vì miền Nam ruột thịt” đã lao động quên mình, không sợ gian kho hy sinh, chăm chỉ đục núi, nhẫn nại làm ngầm, đã tạo ra một con đường có chiều dài đến 123 ki lô mét cho xe cơ giới vận chuyển, đã hoàn thành trong thời gian rất ngắn, nhưng lại có hiệu quả to lớn lâu dài. Mở thành công con đường 20 là chiến công kỳ diệu, từ đông sang tây, xe chạy cả mùa nắng lẫn mùa mưa, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam ruột thịt. Đó là mơ ước từ lâu của cả dân tộc, đó là nguyện vọng khát khao của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Quốc phòng cùng chung một nhiệm vụ chi viện cho miền Nam đánh thắng, là ước mơ của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ, khi được giao kiêm chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ Đoàn 559. Khát khao và ước mơ đó đã thành sự thật. Con đường 20 là kết tinh của trí tuệ, hội tụ tri thức khoa học của ngành đường bộ Việt Nam, biểu lộ sự quyết tâm, tình thần quả cảm hăng say lao động, không sợ khó sợ khổ, sợ hy sinh của mọi lực lượng bộ đội, công nhân giao thông, thanh niên xung phong dưới sư chỉ huy của một tập thể cán bộ lãnh đạo công trường, chỉ huy các đơn vị từ trên xuống dưới đồng lòng nhất trí, dám nghĩ dám làm để có một kỳ tích lịch sử mãi mãi được ghi nhớ: Con đường 20 Quyết Thắng. Năm nay, kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại, lớp người chúng tôi mang quyết tâm cao đi mở đường lúc đó, đến nay đã vào tuổi 70, 80. Người mất, người còn, về đời thường cuộc sống mỗi người một vẻ. Tôi hồi nhớ lại và cố gắng viết những dòng này, chắc chắn chỉ được một phần nhỏ công việc, chỉ ghi được ít nhiều kỷ niệm để thế hệ con cháu mai sau hiểu được phần nào các bậc cha ông mình đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:30:54 am (https://i.imgur.com/7vnFaEG.jpg) Đại tá HOÀNG XIỂN Sinh năm: 1931 Quê quán: Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An Thường trú: 25/N4, Vĩnh Hồ, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.35632562 Nguyên Trợ lý cán bộ Trung đoàn 98, Nguyên Thiếu tá Phó phòng Cán bộ Cục Chính trị 559, Nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng ủy Binh đoàn 12 TRUNG ĐOÀN 98 CHUYỂN BINH CHỦNG Trung đoàn 98 Công binh, nguyên là Trung đoàn bộ binh, thành lập ngày 16 tháng 7 năm 1946 tại Quảng Ninh, một trong những trung đoàn thành lập sớm nhất của quân đội ta. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn đã chiến đấu ngoan cường tại Hồng Quảng, tham gia chiến dịch Đường 18, Dường 4, quân địch phải hoảng sợ. Đồng chí Vũ Mạnh Hùng, Trung đoàn trưởng 98 đã hy sinh anh dũng tại trận Hạ Chiểu tháng 4 năm 1951, được Đảng, Nhà nước truy tăng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân năm 1999. Tháng 5 năm 1951, Trung đoàn 98 trong đội hình Đại đoàn 316, liên tục chiến đấu trong vùng địch hậu Bắc Ninh và các chiến dịch Thượng Lào - Tây Bắc, Điện Biên Phủ, lập nhiều chiến công xuất sác, được Hồ Chủ Tịch tặng cờ "Thành tích đáng khen”. Tỉnh uỷ, Ủy ban Kháng chiến tỉnh Bắc Ninh tặng cờ "Vì nhân dân, vì Tổ quốc" trong chiến dịch Bắc Ninh và có "Quyết chiến Quyết thắng" ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Một trong những cán bộ, chiến sĩ xuất sắc tiêu biểu là Anh hùng Lực lượng vũ trang Đặng Đức Song. Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, nửa nước hoà bình khỏi phục kinh tế, tiến lên chú nghĩa xã hội, quân đội được xây dựngchính quy từng bước hiện đại, trong huấn luyện "Trung đoàn chiến đấu" đạt loại khá giỏi, được giữ cờ luân lưu của Hồ Chủ Tịch "Học tập khá nhất". Năm 1957, Trung đoàn tham gia diễn tập “Sư đoàn chiến đấu" trong đội hình Sư đoàn 312. Đầu năm 1958 sau khi diễn tập xong, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Trung đoàn giữa thao trường dưới chân núi Tam Lộng, Vĩnh Yên. Đại tướng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn: trở lại Điện Biên Phú, vừa xây đựng đơn vị vừa tham gia sản xuất, đưa chiến trường năm xưa thành vùng kinh tế - quốc phòng manh, góp phần nâng cao đời sống vùng các dân tộc Điện Biên, từ nông nghiệp lạc hậu đói nghèo được ấm no, tiến lên theo kịp miền xuôi... Tết Mậu Tuất 1958, Bác Hồ đã đến thăm Sư đoàn và động viên bộ đội trở lại Tây Bắc, Bác nói đại ý: Các chú có công giải phóng Điện Biên, nay tiếp tục được xây dựng Điện Biên mạnh về quốc phòng, vững vàng về chính trị, giàu về kinh tế, văn hoá phát triển, đẩy lùi lạc hậu, đói nghèo, đưa đồng bào Tây Bắc nói chung, Điện Biên nói riêng, theo kịp miền xuôi cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội... Các chú làm tốt năm sau Bác lại sẽ lên thăm. Đồng chí Nguyễn Kiện, Chính uỷ Sư đoàn hứa với Bác: "Chúng cháu sẽ nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Bác, xác định lấy Tây Bắc là quê hương thứ hai, cùng sát cánh với Đảng và chính quyền địa phương, quyết đưa mảnh đất anh hùng này thành khu vực giàu có...". Bộ quyết định chuyển Sư đoàn thành Lữ đoàn 316. Trung đoàn 174 làm nông trường Điện Biên, Trung đoàn 176 xây dựng công nghiệp kiến thiết Điện Biên, Trung đoàn 98 thành Trung đoàn Công binh, mở đường 42 từ Tuần Giáo lên Điện Biên thành đường cấp 4 miền núi. Mùa xuân 1958, Trung đoàn hành quân từ Vĩnh Yên bằng xe lửa lên Yên Bái, vượt sông Đà rồi đi bộ theo đường Lũng Lô năm xưa, qua đèo Chẹn, tiếp tới Phù Yên, nơi đây Trung đoàn đã đánh đồn Bản Mo, được đồng bào Thái vui mừngđón tiếp và đơn vị theo đường 6 qua Yên Châu vượt đèo Pha Đin lên Tuần Giáo. Chỉ huy sở Trung đoàn đặt tại thị trấn Tuần Giáo. Tới đây, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 98 tiếp tục hành quân lên Điện Biên được biên chế vào Lữ đoàn 316. Tiểu đoàn 3 cùng với Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 (thuộc Sư đoàn 312) và Tiểu đoàn 4 (thuộc Sư đoàn 320) tổ chức thành Trung đoàn 98 Công binh cầu đường. Hành quân trong hoà bình, nhưng lãnh đạo tư tưởng trở lại Điện Biên không đơn giản. Sư đoàn 316, Sư đoàn 312 vinh dự được tham gia giải phóng Điện Biên, quen rừng núi nay trở lại coi thường gian khổ. Nhưng lính Sư đoàn 320 từ đồng bằng lên miền núi là một thử thách lớn. Nhiệm vụ chuyển binh chủng của Trung đoàn 98 thật đặc biệt: Cấp trên chỉ đạo Đảng uỷ Trung đoàn phải tổ chức Đại hội Đảng lần thứ 2 nhằm: Xác định nhiệm vụ xây dựng đơn vị trong tình hình mới và quán triệt nhiệm vụ mở đường từ Tuần Giáo đi Điện Biên, Đại hội lần này phải giải quyết được ổn định việc chuyển binh chủng từ đơn vị bộ binh thành Trung đoàn Công binh cầu đường, trực thuộc Quân khu Tây Bắc. Quân đội ta tiến lên chính quy từ bộ binh chuyển binh chủng khác là chuyện bình thường. Nhưng ở đây Trung đoàn 98 phải làm một lúc nhiều việc: Tổ chức đơn vị thành một công trường thi công cầu đường, có đơn vị cầu bê tông, có đơn vị phá đá mở đường, làm mặt đường cấp phối... nhưng đơn vị lại không có một kỹ sư hoặc trung cấp cầu đường, cán bộ đại đội tiểu đoàn, cơ quan tham mưu chưa amhiểu nghiệp vụ cầu đường. Trung đoàn phải gửi Bộ Giao thông mở một lớp bồi dưỡng kỹ thuật và quản lý thi công cầu đường ngắn ngày trong 3 tháng, Trung đoàn mở lớp tập huấn từng khoa mục bồi dưỡng cho cán bộ trung đội, tiểu đội làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó. Công trường 426 biệt phái cho Trung đoàn bốn cán bộ trung cấp cầu đường, trong đó có đồng chí Lê Ngọc Hoàn trung cấp cầu đường khoá 7 (sau này là Bộ trương Bộ Giao thông vận tải) bám sát công trường sinh hoạt như người lính. Mặt khác đưa chiến sĩ đi đào tạo lái xe máy, cử cán bộ đi đào tạo sĩ quan công binh, trung cấp cầu đường và đại học. Tình hình tư tưởng ổn định, phát động thi đua với khẩu hiệu: “bắt núi cúi đầu", "lập công tập thể", phong trào cải tiến kỹ thuật, nuôi quân giỏi, anh nuôi đưa cơm trưa nóng, nước nóng tại mặt đường, khí thế "Thi đua ba nhất" rất sôi nổi. Chỉ tiêu một công đào 0,70 mét khối nhưng có tổ 3 người đã cải tiến kỹ thuật, đào đất đá 24 mét khối, bình quân 8 mét khối một đầu người. Chính những chiến sĩ trước lúc lên đường không yên tâm, nay lại là kiện tướng đào đất đá, sau đó có chiến sĩ được kết nạp vào Đảng. Ngoài nhiệm vụ làm cầu đường, Trung đoàn còn tổ chứcmột đại đội làm tiểu nông trường Mường Ẳng trên đường mới mở, thu hút vợ con cán bộ chiến sĩ lên xây dựng Tây Bắc. Sau này tiểu nông trường này trực thuộc Nông trường Điện Biên, hiện nay phát triển thành thị tứ Mường Ẳng. Một năm sau đã có trên 20 cán bộ chiến sĩ đưa vợ lên công trường, những đôi vợ chồng đó xác định Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình. Trong 3 năm mở xong nền đường, Côngtrường 426 đưa 3 đại đội công nhân nữ lên khai thác cát sỏi, rải cấp phối mặt đường, cả công trường thi đua lao động sôi nổi. Ngày nghỉ chủ nhật, lính ta và chị em công trường có dịp gặp nhau, làm qụen, rủ nhau tới căng tin, may vá, cắt tóc, chụp ảnh, ăn phở, uống trà tại khu vực Trung đoàn bộ. Họ tìm đồng hương, bắt bạn và xuất hiện những cặp trai gái mới yêu nhau và sau đó xây dựng gia đình. Nhà văn Nguyễn Tuân đi thực tế tại công trường, thường nghỉở cơ quan chính trị, cụ hay lang thang xuống công trường, ngắm cảnh đẹp tìm cảm hứng, gặp nhiều cặp tình nhân mộng mơ bên bờ suối, và nhiều cặp đã thành vợ thành chồng, tiếp đó nhiều tiếng trẻ thơ ấm áp cả núi rừng. Cụ Nguyễn đã viết phóng sự, ký sự, sổ tay dày đặc các địa điểm: Tuần Giáo, Xuân Tre, Nả Tấu, Điện Biên,... Cụ đọc nhiều bài viêt cho cán bộ chiến sĩ cùng nghe, lãng mạn từ cảnh đến người, phác hoạ nên viễn cảnh của Tây Bắc trong tương lai. Điện Biên Phủ sẽ là một thành phố tráng lệ, một điểm du lịch hấp dẫn của đất nước, những cháu bé ra đời hôm nay sẽ là cán bộ xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai, ở quê hương thứ hai mà cha mẹ các cháu đã xác định... Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:31:51 am Hai Trung đoàn 831 (Trung đoàn 83, Sư đoàn 335 lảm đường Bản Hoa - Xồm Lồm Mộc Châu) và 98 trực thuộc Quân khu được tổ chức biên chế giống nhau: biên chế thành 3 tiểu đoàn (1, 2, 3), một đại đội cầu, một trung đội xe máy, một trung đội khảo sát. Ban chỉ huy Trung đoàn 98: Đồng chí đại uý Phạm Ngọc Các, Trung đoàn trưởng, thiếu tá Nguyễn Phụ Hồng, Chính uỷ, đại uý Phạm Hữu Trí, Chủ nhiệm chính trị...
Kỹ sư Đỗ Bát, Trưởng ban Chỉ huy Công trường 426, có nhiều năm trong nghề đã từng thiết kế chỉ huy thi công đường Lũng Lô, Đèo Chẹn trong kháng chiến chống Pháp. Ông rất quan tâm giúp đỡ Trung đoàn, thắt chặt đoàn kết giữa đơn vị và công trường để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ ne vơ, mơ rộng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và ở Lào hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng. Ngày 30 tháng 10 năm 1959, Đảng, Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào thoa thuận nhận quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào. Bạn Lào yêu cầu Quân khu Tây Bắc phối hợp cùng quân và dân Bạn giải phóng tỉnh Phông Xà Lì. Quân khu điều động Trung đoàn 98 mở đường quân sự làm gấp từ Nậm Ngà đi Mường Khoa. Trung đoàn được trang bị một số xe Gatz, dụng cụ cầm tay, bộc phá, cấp tốc hành quân. Được phục vụ chiến đấu anh em phấn khởi lên đường. Giữa mùa mưa năm 1961, vào mùa mưa ở Lào. Trung đoàn tập trung về nước củng cố và nhận nhiệm vụ mới. Bộ Quốc phòng cử đồng chí Chu Minh Hương, Chủ nhiệm Chính trị Cục Công binh và một đoàn cán bộ lên làm việc với Quân khu Tây Bắc, nhận hai Trung đoàn 98 và 83 về trực thuộc Cục Công binh - Bộ Quốc phòng. Trung đoàn 98 được phổ biến chủ trương của trên cho một số chiến sĩ phục viên, giải quyết chính sách hoặc chuyển ngành. Cơ quan cán bộ làm việc ngày đêm, sắp xếp cán bộ ổn định cho 3 tiểu đoàn, giải quyết chuyển ngành 30 cán bộ sang Bộ Giao thông vận tải, 22 cán bộ về Tổng cục Địa chất, hơn một chục cán bộ chuyển ngành về khu tự trị Thái Mèo vào các cương vị cấp huyện, cùng với một số chiến sỹ có vợ con tự nguyện ở lại làm công nhân các nông trường và Công trường 426. Cuối tháng 8 năm 1961, Trung đoàn tổ chức hành quân bằng ô tô, chuyển vùng trực thuộc Cục Công binh - Bộ Quốc phòng. Đường 42 mới rải câp phôi chạy êm ru, mọi người tự hào đây là thành quả của Trung đoàn làm nên. Tạm biệt Điện Biên, tạm biệt Tuần Giáo, đơn vị qua đường 6 xuôi đường số 1 đến Nông Công tỉnh Thanh Hoá, nơi tập kết của Trung đoàn. Chỉ huy sở Trung đoàn đóng ở Phố Chuối bên bờ sông Mực, một vùng sơn thuỷ thơ mộng, nhân dân hân hoan đón nhận những người lính về ở nhà mình. Ổn định nơi đóng quân xong, làm một số nhà tạm, chuẩn bị thao trường huấn luyến. Đại uý Chu Minh Đông, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 được bổ nhiệm Tham mưu trưởng, đại uý Trần Lê Vân chính trị viên Tiểu đoàn 2 làm Chủ nhiệm Chính trị, bổ sung 5 cán bộ trung cấp cầu đường Song Hải, Phạm Minh, Nguyễn Đình Tùng, đồng chí Lân, đồng chí An và kỹ sư Nguyễn Xuân Tiếu. Số cán bộ trung đoàn cử đi học năm trước nay về lại đơn vị nhận công tác. Tháng 10 năm 1961, nhận lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Trung đoàn hành quân vào Quân khu 4. Trung đoàn được trang bị thêm một số khí tài, đội ngũ chỉnh tề, hành quân bộ trên đường số 1, dân bảo bộ đội đi dã ngoại. Vào đến Hà Tĩnh ngược lên Hương Khê vào đường 12, dặt chỉ huy sở tiền phương tại Bãi Dinh, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình. Nhiệm vụ được giao là bảo đảm giao thông từ Bãi Dinh vào cổng trời Cha Lo, mở rộng đèo Mụ Dạ sang Ba Na Phào và nâng cấp đường 129 đoạn Lằng Khằng đi Pha Nốp trên đất bạn Lào, kịp thời phục vụ chiến dịch Thà Khống giải phóng 6 huyện dọc biên giới Lào Việt, đồng thời tạo điều kiện cho Đoàn 559 lật cánh sang tây Trường Sơn. Tháng 4 năm 1962, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Trung Lào, Trung đoàn trở về đường 16 mở rộng đường và bảo đảm giao thông từ Thạch Bàn đi Vít Thù Lù, vào Làng Ho tạo điều kiện vượt Trường Sơn sang Lào. Chỉ huy sở tiền phương thời gian này đóng ở Phú Lương. Tuy gặp nhiều khó khăn về thời tiết mưa lũ, sốt rét, thiếu phương tiện thi công anh em vẫn xác định nhiệm vụ: “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", xây dựng con đường chiến lược góp phần chi viện giải phóng miền Nam. Năm 1963, Cục Công binh giao nhiệm vụ: Tiểu đoàn 1 phối thuộc cho Đoàn 559, tiếp tục mở đường Trường Sơn, hai tiểu đoàn mở công trường làm trận địa pháo bờ biên,Tiểu đoàn 2 tại cửa Hội Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Tiểu đoàn 3 và Trung đoàn bộ về Thanh Khê, Quảng Bình. Trung đoàn được bổ sung một số xe ben, máy ép hơi, khoan đá, máy lu và xe tưới nước. Tiểu đoàn cầu, bắc cầu gỗ ở Sa Lung, ở Vĩnh Linh trên đường sắt, đây là công trình thí nghiệm của Cục Công binh đồng thời phục vụ cho quân ta cơ động vào giới tuyến Vĩnh Linh. Tháng 3 năm 1964, Trung đoàn về chỉ huy sở cơ bản ở Phố Chuối, theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu kiện toàn Tiểu đoàn 2 bộ binh làm nhiệm vụ tình nguyện tại Hạ Lào, các lực lượng còn lại do Cục Công binh điều động. Tháng 6 năm 1964, Trung đoàn được kiện toàn, nhận Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 219, cấp trên bổ sung quân số tổ chức Tiểu đoàn 3, cùng với Tiểu đoàn 1 trực thuộc Bộ Tư lệnh 559, mang tên gọi Chi hội Bình Minh hành quân sang Bản Đông - La Hạp, mở đường cơ giới tây Trường Sơn. Và ngày 09 tháng 8 năm 1964, Trung đoàn 98 bổ nhát cuốc đầu tiên thi công đoạn đường này. Ngày 09 tháng 8 trở thành ngày truyền thống của Trung đoàn Công binh 98 mở đường cơ giới Trường Sơn. Với truyền thống từ một trung đoàn bộ binh chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 316 tại chiến dịch Điện Biên Phủ đến xây dựng kinh tế vùng Điện Biên nay trở thành Trung đoàn Công binh Trường Sơn, hơn chục năm chiến đấu ở Trường Sơn, Trung đoàn tham gia mở đường mới, bảo đảm giao thông, mở các đường chiến dịch, tham gia mở đường kín, đường xây dựng cơ bản đông Trường Sơn, nhiệm vụ nào Trung đoàn cũng hoàn thành xuất sắc. Ngày 03 tháng 9 năm 1973, Trung đoàn 98 Công binh được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:35:48 am (https://i.imgur.com/O3dtIWm.jpg) Đại tá NGUYỄN VĨNH Sinh năm: 1934 Quê quán: Phong Chương, Phong Điền, Thừa Thiên- Huế Thường trú: 12, Ngõ 281, Phương Mai, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội Cán bộ Viện Thiết kế Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 5 năm 1965 Điện thoại: 04.38524577 - 0126.6026424 Nguyên Đội trưởng Đội Khảo sát Công binh, Đại uý Phó phóng Thiết kế, Cục TMCB, Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Giám đốc Công ty 98, Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn NHỮNG NGÀY ĐẦU VÀO TRƯỜNG SƠN Tôi đang khẩn trương tham gia khảo sát thiết kế đoạn đường sắt Vinh đi Sa Lung thì có giấy triệu tập về Viện Thiết kế Giao thông. Vừa về đến Viện, anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng gọi lên thông báo cho biết tôi sẽ vào công tác ở Trường Sơn. Tháng 4 năm 1965, tôi cùng một số cán bộ Viện Thiết kế nhận quyết định của Bộ Giao thông vận tải biệt phái vào Bộ Tư lệnh 559, tham gia mở đường Trường Sơn. Đoàn chúng tôi gồm phần lớn là các đồng chí cán bộ kỹ thuật của Viện và một số ít các đồng chí ở đơn vị khác cùng đi. Tôi được giao nhiệm vụ làm trưởng đoàn đẫn cán bộ công nhân vào nhận nhiệm vụ. Đoàn chúng tôi được giao áp tải 12 xe Gatz 63 chở hàng hậu cần giao cho Công trường 128 bên đất Lào. Tôi chỉđịnh các trưởng xe, phổ biến nội quy hành quân, quy định địa điểm trú quân cho mỗi ngày. Được phổ biến địch đã mở rộng đánh phá ra toàn miền Bắc, nhiều cầu phà trên đường số 1 đã bị đánh sập, đoàn xe chúng tôi phải lắp đèn gầm chạy đêm. Ngày nghỉ đêm đi, lấn sáng lấn chiều mà cũng phải mất 7 đêm mới đến “R” tại Khe Ve đầu đường 12, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Vào căn cứ, chúng tôi được Tư lệnh Đoàn 559, thiếu tướng Phan Trọng Tuệ trực tiếp giao nhiệm vụ. Ông nói ý nghĩa chính trị, tầm quan trọng của tuyến đường, động viên chúng tôi cố gắng hoàn thành sớm nhiệm vụ được giao, đồng sức đồng lòng “vì miền Nam ruột thịt". Ông chân tình căn dặn chúng tôi: nhân dân nước bạn còn nghèo nhưng tinh thần chống Mỹ cao, Việt và Lào phải đoàn kết trong nhiệm vụ chung, phải tôn trọng giúp đỡ nhân dân nước Bạn để cùng chung tay đánh Mỹ. Tư lệnh còn dặn dò, chỉ bảo cho chúng tôi các chặng đường đi tới công trường bộ, nhắc nhở qua địa phận Seng Phan phải tranh thủ đi thật nhanh tránh nước lũ, đường ngập không đi được. Tư lệnh dặn dò thật tỉ mỉ, chúng tôi như cảm nhận được rằng ông vừa đi kiểm tra thực tế về. Gần gũi thân tình như không còn khoảng cách. Tôi thay mặt anh em hứa với Tư lệnh sẽ phấn đấu làm tròn nhiệm vụ cấp trên giao. Hôm sau, theo đường 12 đến Cha Lo trời đã có mưa. Vượt đèo Mụ Giạ qua đất Lào mưa to hơn, đường đã trơn trượt, qua Seng Phan đến Xóm Péng thì đường đã lầy lội, xe không đi được. Chúng tôi phải hành quân bộ hơn 20 ki lô mét nữa mới đến được Tha Pa Chôn, nơi công trường bộ đóng quân, bàn giao xe hàng cho hậu cần và nhận nhiệm vụ do công trường giao. Tôi và anh em cán bộ kỹ thuật công nhân Viện Thiết kế cùng đi chuyến xe nhận nhiệm vụ thành lập một tổ khảo sát đoạn từ Xóm Péng đi Tha Pa Chon, tiếp nối với tổ khảo sát anh Trần Văn Cư và tổ anh Nguyễn Tiến Duy đang ở phía ngoài. Đã vào chính mùa mưa. Mưa ở Lào thật khó tả, mưa không giống nơi nào ở đất Việt. Mưa liên tục suốt ngày đêm, vừa mưa to vừa gió lớn. Cành cây khô ải mục, nhiều cành cây tươi vẫn gãy đổ xuống rừng, đã có tai nạn do đổ cây như vậy. Đường sá lầy lội đi lại khó khăn vất vả, nhưng nhờ lời động viên của Tư lệnh, thiếu tướng Phan Thanh Xuân (mật danh của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ ởchiến trường), anh em chúng tôi vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, sớm giao được đồ án cho đơn vị thi công. Khi công trường mở thông đến Lùm Pùm, đạt 2/3 chiều dài đoạn đường Công trường 128 đảm nhận, tôi được gọi lên Phòng Công Binh đoàn 559 nhận nhiệm vụ mới. Thượng tá Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó phu trách công binh giao cho đồng chí Nguyễn Xuân Tiểu, nguyên là Chỉ huy phó Công trường 113, Trưởng phòng kỹ thuật Công trường 128 và tôi có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và trực tiếp giúp đỡ kỹ thuật cho các tổ khảo sát của Công trường 128 và Công trường 20 lúc này gồm 6 tổ rải quân khảo sát từ Phong Nha, Quảng Bình (Việt Nam) đến Lùm Pum, Khăm Muộn (Lào). Đồng chí Nhạn cho chúng tôi biết tuyến đường 20 là tuyến đường khó về mặt kỹ thuật, địa hình phức tạp, nhiều đèo dốc cao, suối sâu, khối lượng đá lớn, nhiều cầu cống. Tư lệnh đã chỉ thị cho cơ quan Tham mưu công binh phải chọn cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm đảm nhiệm việc này. Một lần nữa tôi lại thấy Tư lệnh quan tâm đến cả những vâri đề kỹ thuật cụ thể như vậy. Chúng tôi ra Phong Nha, kiểm tra kỹ thuật khảo sát, duyệt thiết kế từ đông sang tây đường 20. Các tổ khảo sát phía đỏng làm việc rất khẩn trương, không kể mưa gió dốc đèo Địa hình cả 4 tổ khảo sát phía đông rất phức tạp, nhưng phức tạp nhất vẫn là đoạn giữa từ Ba Thang đến Cà Roòng. Hai tổ phía tây, khó khăn nhất vẫn là đoạn cua Chữ A, đường lên xuống ngầm Ta Lê và đèo Phu La Nhích. Nhờ có cán bộ kỹ thuật được lựa chọn từ ban đầu có chất lượng chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm cao, công trình phức tạp khó khăn đến mấy cùng có thể hoàn thành. Hai công trường 20 và 128 đã hoàn thành nhiệm vụ thi công tuyến đường 20, tuyến cửa khẩu thứ hai từ hậu phương sang chiến trường, tránh được túi nước Seng Phan ngập lụt trong nhiều tháng. Những năm sau đó, suốt cả thời gian vận chuyển hậu cần, binh khí kỹ thuật phục vụ cho các chiến trường, đường 128 và đường 20 đã phát huy tác dụng là hai trục tuyến đường, một trục dọc, một trục ngang quan trọng nhất trong hệ thống tuyến đường Trường Sơn. Ngày 25 tháng 11 năm 1965, sau khi hoàn thành khảo sát hai tuyến đường này, Đội Khảo sát Công binh trực thuộc Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559 được thành lập tập hợp được các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật làm công tác khảo sá tthiết kế từ Bộ Giao thông vận tải biệt phái vào Đoàn 559. Sau đó, khi thành lập Cục Tham mưu Công binh Phó Viện trưởng Viện thiết kế Giao thông vận tải Nguyễn Nam Hải chuyển sang làm Phó Cục trưởng, trực tiếp chỉ đạo công tác khảo sát thiết kế và mở đường mới trên khắp chiến trường. Đến năm 1975, mạng đường cơ giới Trường Sơn đã có 5 trục dọc, 21 trục ngang với hơn 20.000 ki lô mét. Như mong ước của Đảng và Nhà nước và Quân đội phải mở tiếp, mở nhiều đường cơ giới thông tuyến vào tận chiến trường mà Tư lệnh Phan Trọng Tuệ được giao trọng trách cùng Bộ Tư lệnh 559 thực hiện từ đầu năm 1965. Từ những chiến tích ban đầu đó, những năm sau bộ đội Công binh Trường Sơn, với nhiều trung đoàn, sư đoàn thiện chiến, có tay nghề cao, đã mở được một hệ thống đường ngang, trục dọc thông suốt để xe vận chuyển vật chất, binh khí kỹ thuật vào chiến trường đánh to thắng lớn. Đặc biệt, mùa xuân năm 1975, đại quân ta, xe tăng, pháo binh từ miền Bắc thần tốc rầm rộ theo con đường Trường Sơn vào giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Giêng, 2024, 07:36:51 am ĐƯỢC THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH - XUÂN 1975 Nguyễn Vĩnh Đường vận chuyển cơ giới của Đoàn 559 đoạn Đắc Lắc đi miền Đông Nam Bộ, trước 1974 phải đi vòng qua địa phận Cam Pu Chia. Đểvận chuyển vũ khí và quân dụng nhanh vào chiến trường B2 phục vụ cho chiến dịch đánh lớn, Bộ Tư lệnh Trường Sơn lệnh cho Công binh Trường Sơn gấp rút mở đường phía đông từ Đắc Lắc vào Bù Gia Mập trên địa phận Việt Nam. Năm 1974, Trung đoàn Công binh 574 được thành lập, di chuyển từ bắc đường 9 vào mở đường này. Đồng thời để chuẩn bị cho chiến dịch, nên giao thêm nhiệm vụ mở các đường chiến dịch, hướng về thị xã Buôn Ma Thuột. Công việc mở đường khẩn trương bí mật, những con đường chiến địch được thi công nhanh trước chiến dịch đánh vào Buôn Ma Thuột vài tháng. Sau khi trinh sát mở các đường đó xong, chúng tôi được lệnh chuyển ra phía ngoài để trinh sát mở đường từ Thừa Thiên Huế vảo Quảng Nam chuẩn bị cho chiến địch đánh Đà Nẵng. Đánh nhanh thắng nhanh, ngày 29 tháng 3 năm 1975 quân ta giải phóng Đà Nẵng. Ngày 23 tháng 4 năm 1975, quân ta tiến đánh vào giải phóng Quảng Nam, tiếp đó giải phóng luôn Quảng Ngãi. Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhanh chóng điều lực lượng các trung đoàn công binh chuyên về quốc lộ 1 bảo đảm giao thông để cho đại quân di chuyển tiến vào giải phóng các tỉnh phía nam. Chúng tôi được điều về đường quốc lộ 1, trinh sát khắc phục cầu đường từ Quảng Trị trở vào. Trên quốc lộ 1, khi quân địch rút chạy đã đánh hỏng một số cầu hòng ngăn chặn quân ta tiến công vào phía trong. Từ Quảng Trị trở vào các trung đoàn công binh đã khắc phục nhanh chóng các cầu bị hư hỏng. Công binh từ Trường Sơn trở về chưa quen lắp nhanh cầu dàn sắt, cán bộ kỹ thuật ít, chúng tôi đã huy động một số nhân viên kỹ thuật công binh địch bỏ về nhà, cùng tham gia với bộ đội ta tiến hành khắc phục những cầu hư hỏng. Ở các chi khu quân sự của địch thường có một tiểu đoàn công binh. Khi quân địch bỏ chạy, kho tàng của chúng có các khí tài và vật tư phục vụ cho cầu đường. Lực lượng công binh ta nhanh chóng chiếm giữ và huy động các kho vật tư đó ra lắp đặt lại các cầu hư hỏng. Các lực lượng công binh Sư đoàn 470, 472 rải ra dọc quốc lộ 1 bảo đảm cầu đường cho lực lượng đại quân từ miền Bắc hành quân vận chuyển vũ khí, đạn dược vào giải phóng miền Nam. Đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ theo sát bộ binh, quân ta đến đâu phải giải quyết thông đường đến đó, bảo đảm cho xe chuyển quân, xe tăng pháo binh hành quân vào chiến dịch nhanh chóng. Nhìn những đoàn xe vận chuyển bộ đội, vũ khí, lương thực từ miền Bắc nối nhau từng đoàn đài tiến vào miền Nam, chúng tôi vô cùng phấn khởi. Lực lượng công binh ta càng hăng hái bảo đảm cho cầu đường luôn luôn thông suốt. Lệnh “thần tốc” của đại tướng Võ Nguyên Giáp được chuyển trực tiếp từ người này đến người khác, từ đoàn này đến đoàn khác, nhanh chóng đến tiền tuyến, chiến đấu và chiến thắng quân địch giải phóng miền Nam. Từ 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Các lộ trên các mũi tiến công Sài Gòn luôn được thông suốt. Xe pháo, đại quân tiến vào Sài Gòn thuận lợi. Tin chiến thắng tới tấp dội về, chúng tôi và các lực lượng công binh rất phấn khởi, tự hào vì đã góp phần cùng các binh chủng chiến đấu thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 08:45:36 pm Đại tá ĐỖ ĐỨC ĐỊNH Sinh năm: 1934 Quê quán: Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Thường trú: 14, Ngõ 64, Phố Võng Thị, Tây Hồ, Hà Nội Điện thoại: 04.37537326-0165.8858230 Cán bộ Kỹ thuật Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 1 năm 1966 Nguyên Trợ lý - Đại uý Phó phòng Bảo đảm Giao thông, Cục Tham mưu Công binh, BTL 559 Nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế, Bộ Quốc phòng ĐƯA QUỐC TRƯỞNG XI HA NÚC VỀ THĂM VÙNG GIẢI PHÓNG CAM PU CHIA Đã hơn 35 năm trôi qua, một thời gian không phải là ngắn đối với một đời người, nhưng tôi không thể nào quên được lần đưa đoàn khách đặc biệt quan trọng năm đó: Đoàn của Quốc trưởng Cam Pu Chia Xi Ha Núc và phu nhân Bà Hoàng Mô Ních, khứ hồi từ miền Bắc Việt Nam về Vương quốc Cam Pu Chia qua tuyến đường Trường Sơn thời chiến tranh chống Mỹ. Bộ Tư lệnh Trường Sơn được Chính phủ, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này. Tôi được Cục Tham mưu Công binh cử tham gia đoán tiền trạm. Vào một buổi chiều cuối tháng 02 năm 1973, đồng chí Phó Tư lệnh Lê Đình Sum, Trưởng đoàn đưa đón đoàn khách triệu tập đoàn tiền trạm phổ biến nhiệm vụ, kế hoạch của Chính phủ mà đồng chí được Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp giao nhiệm vụ. Đồng chí Phó Tư lệnh phổ biến yêu cầu cụ thể của chuyến đi như sau: - Phải đảm bảo bí mật và an toàn tuyệt đối. - Phục vụ sinh hoạt đi lại, ăn ở, làm việc với thái độ tốt nhất, và với vật chất cao nhất. Từng trạm đón tiếp dọc đường phải bố trí phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng làm việc, phòng tắm, buồng ngủ, buồng vệ sinh với trang bị tiện nghi cao cấp như khách của Nhà nước. Những ngày hành quân ban ngày, tại trạm nghỉ trưa, lán trại và tiện nghi cũng phải đầy đủ tương ứng v.v... - Trung ương chỉ đạo đây là chuyến đi đặc biệt, không những chỉ là ngoại giao mà còn mang ý nghĩa chính trị, một dịp để Bạn thấy được cuộc chiến đấu chống Mỹ là cuộc chiến của cả ba nước Đông Dương, Việt Nam luôn mến khách cho dù hậu phương đã yên bình hay ở chiến trường còn gian khổ. - Trung ương cử các cán bộ Bộ Ngoại giao phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư lệnh Trường Sơn thực hiện đạt yêu cầu cao nhất nhiệm vụ này. Phó Tư lệnh cho biết, để đảm bảo bí mật an toàn chuyến đi của gia đình Quốc trưởng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị trên đường đi gọi tên thân mật Việt Nam cho Quốc trưởng là "Anh Thắng", Bà Hoàng Mô Ních là "Chị Lợi, chuyến đi được mang tên "Thắng Lợi", cử chỉ đó như là một lời chúc tụng của Thủ tướng nước ta được Quốc trưởng tán thành, cảm ơn và suốt các chặng đường đi, mọi cuộc chuyện trò, giao tiếp đều được gọi thân mật như thế. Là cán bộ quân sự, lại công tác trên chiến trường lâu năm, mỗi chúng tôi, các thành viên trong đoàn tiền trạm đã hình dung được cụ thể công việc phải làm của mình. Tôi trở về cơ quan Cục Tham mưu Công binh báo cáo xin ý kiến chỉ đạo cụ thể thêm của Cục trưởng. Trước độ một thời gian, Bộ Tư lệnh cũng đã có kế hoạch chuẩn bị đảm bảo tuyến đường lúc đi vào, khi đi ra, chỉ thị cho các binh trạm bố trí làm khu nhà ở đón tiếp, tuy chỉ là nhà gỗ lợp lá nhưng khang trang, ngay ngắn, phù hợp với tiện nghi sinh hoạt định bố trí nhưng bảo đảm tuyệt đối bí mật. Bộ Tư lệnh cũng đã thông báo giờ "G" cho từng binh trạm trên tuyến đường được phân công đón tiếp. Đoàn tiền trạm gồm Trưởng đoàn là đồng chí Tho, Trưởng phòng Bảo vệ thuộc Cục Chính trị, cầm lệnh điều động lực lượng của Bộ Tư lệnh. Các thành viên tham gia đoàn tiền trạm gồm các trợ lý công binh, tác chiến mặt đất, pháo cao xạ, hậu cần, đồng chí Mùi thông tin và 2 vệ binh, tất cả là 8 người. Đoàn xe đưa đón đã chuẩn bị, được lựa chọn xe tốt, đã được củng cố thêm hệ thống giảm xóc, chọn lái xe giỏi nhất, và được bố trí: - Hai xe chở Quốc trưởng và phu nhân, có bảo vệ, phiên dịch là cán bộ của cục Tác chiến và 2 bác sỹ, một nam, một nữ đi cùng. Xe chở Quốc trưởng gọi là xe số 1. - Xe chở trang bị đồ đùng cá nhân và dự phòng của Quốc trưởng và phu nhân. - Xe chở đoàn ngoại giao và một phiên dịch nữ phục vụ Bà Hoàng Mô Ních tại trạm nghỉ. - Xe chở đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh Trường Sơn làm nhiệm vụ tháp tùng. - Xe của Trưởng đoàn, Phó Tư lệnh Lê Đình Sum, được gọi là xe số 2. - Hai xe tải Zin 3 cầu chở máy phát điện, trang bị phục vụ: đệm, chăn màn, thiết bị vệ sinh cá nhân như chậu rửa mặt, bồn tắm có vòi tắm gương sen, thiết bị xí bệt... - Hai xe tải chở đồ đạc cần thiết khác của đoàn khách, trong đó có các thiết bị giải trí: bàn bi a, bàn bóng bàn, bàn cờ tướng... - Xe tải hậu cần thiết yếu phục vụ đoàn. Ngoài ra còn 2 xe con đi trước và sau đoàn cách nhau khoảng một tiếng đồng hồ làm nhiệm vụ thăm đường, dọn đường và bảo vệ. Như vậy đoàn có 8 xe con + 5 xe tải, chưa kể xe của đoàn tiền trạm. Đoàn tiền trạm đi trước đoàn khách 3 ngày, có mục đích kiểm tra công việc chuẩn bị của các binh trạm theo chỉ đạo từ trước của Bộ Tư lệnh về tuyến đường hành quân, công tác bảo vệ, tác chiến phòng không tại những nơi trọng yếu, về nhà ở, hậu cần phục vụ khách. Đoàn trực tiếp làm việc với các đơn vị được giao nhiệm vụ để kịp thời điều chỉnh, đồng thời hàng ngày phải báo cáo tình hình đúng giờ quy định về Bộ Tư lệnh. Lúc đi vào, ta bố trí đi đường "hở" là chủ yếu, có kết hợp một vài đoạn đường kín, lúc đi ra, đi ban ngày hoàn toàn theo đường "kín". Lực lượng được huy động bảo đảm cầu đường là 4 sư đoàn công binh, các đơn vị cầu thuyền đang làm nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn có đủ trang thiết bị thi công cần thiết, được bổ sung thêm xe tưới nước... Ngoài ra còn có lực lượng công binh tại chỗ của các binh trạm phối hợp. Nhiệm vụ của công binh được giao trên các tuyến đường hành quân đã chọn là sửa đường, là đường cho bằng phẳng, dọn cây đổ, xếp đá bổ sung các bến vượt ngầm, khắc phục đường lên xuống ngầm, tưới nước trên đường 30 phút đến 1 giờ trước lúc xe khách đến nhằm đạt được yêu cầu tốc độ, không bị xóc nhiều, giảm bớt bụi đường v.v... Sự tàn phá ác liệt, tàn khốc do bom đạn Mỹ, với âm mưu ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho công cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc của ba nước Đông Dương trên tuyến đường Trường Sơn được diễn ra cụ thể, rõ nét trong con mắt của Quốc trưởng, phu nhân và đoàn Bạn. Qua trọng điểm cua Chữ A, Phu La Nhích, Vang Mu, Đèo Long, đèo 9 cua... một vùng đất đỏ rộng lớn chi chít hố bom cày xới, rừng cây bạt ngàn xưa kia nay trọc trụi vì không quân địch, kể cả máy bay B52 đánh huỷ diệt, và vì chất độc màu da cam... Một dọc dài hai bên thượng và hạ lưu ngầm Ta Lê, ngầm Sê Băng Hiêng, ngầm Bạc, cầu phao sông Sê Ca Mán, sông Sê San... ngoằn ngoèo loang lổ cây cối còn xác xơ. Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua tất cả, khắc phục mọi gian khổ hy sinh để giữ được con đường. Sự sáng tạo, trí thông minh đã giành giật từng phút, từng giây để cho các đoàn xe băng qua, đưa trang bị vũ khí, nhu cầu hàng hoá vào sâu tận các chiến trường. Theo kế hoạch đã dự kiến, tất cả có 9 trạm nghỉ đêm cho cả chuyến đi, có 5 trạm khi hành quân trên tuyến đường "hở" và 4 trạm trên tuyến đường "kín" nằm trong địa giới các Binh trạm 14, 32, 34, 35, 29, 30, 37, 51, 53. Tất nhiên, các trạm nghỉ đều xây dựng trong khu vực tương đối kín. Mỗi Binh trạm đều tìm vị trí đẹp, thơ mộng, có tán cây xanh, có suối nước trong mát, các nhà nghỉ bố trí tương đối gần nhau, vẫn có hầm chữ A trú ẩn, có đường đi lại sạch sẽ, xe con vào sát tận khu vực nhà nghỉ. Nhà nghỉ của Quốc trưởng và phu nhân được bố trí đầy đủ tiện nghi cao cấp ở phòng ngủ, phòng tiếp khách, phòng làm việc, phòng vệ sinh, phòng tắm, phòng ăn. Phòng tắm được trang bị chậu rửa mặt, bồn tắm có vòi gương sen, bình nóng lạnh. Buồng ngủ, buồng làm việc, tiếp khách có mắc điều hoà, tuy nhiên suốt hành trình khí hậu tương đối mát mẻ nên không cần dùng đến. Các trạm nghỉ trưa dọc đường, được xây dựng với quy mô nhỏ hơn trạm nghỉ đêm nhưng vẫn đạt yêu cầu đề ra, thoáng mát, đủ tiện nghi, ngoài ra còn có cả phòng vui chơi giải trí, vì thường nghỉ trưa từ 2 đến 3 tiếng đồng hồ. Những ngày đầu hành quân, bữa ăn bảo đảm thực đơn do yêu cầu của đoàn ngoại giao. Món ăn có trứng ốp lết, xúcxích, lạp xường, bít tết...Đoàn ngoại giao rất lo cho việc phục vụ trong những trạm sau, ngày càng xa hậu phương, thức ăn mang theo cạn dần. Nhưng thực tế thì ngược lại, các món ăn đó vẫn bảo đảm, ngoài ra từ KG4 trên đất Sa Ra Van trở vào còn có món ăn mới, với thực phẩm tại chỗ, đó là món canh me chua nấu với thịt nạc băm. Món canh hấp dẫn này hợp với khẩu vị mọi người, riêng Bà Hoàng thì đặc biệt khen ngợi món ăn tự khai thác này. Từ đó những ngày sau đều có món này, nhất là trong bữa cơm tối. Bác sĩ phục vụ trong đoàn ngoại giao vẫn có trách nhiệm hàng ngày kiểm nghiệm thực phẩm được dẫn đi xem các trại tăng gia, tận mắt thấy có chuồng gà, bầy lợn tự chăn nuôi, có luống rau xanh tự trồng tươi tốt, anh yên tâm về chất lượng thực phẩm. Anh tâm sự: tốt nhất là phải "phòng". Trên đường hành quân, khi thì Quốc trưởng Xi Ha Núc và Bà Hoàng Mô Ních, khi thì Trưởng đoàn, Phó Tư lệnh Lê Đình Sum, khi thì Binh trạm trưởng dọc đường tổ chức các buổi chiêu đãi đặc biệt. Các món ăn, các loại rượu, đĩa, bát, cốc chén v.v... theo phong cách châu Á, châu Âu đo đoàn ngoại giao cùng đi đề xuất đều đáp ứng được đầy đủ trong các bữa tiệc đó. Cán bộ Bộ Ngoại giao cho biết, các anh đã đi nhiều nơi nhưng những bữa ăn chiêu đãi đó ở chiến trường Trường Sơn không kém mấy các bữa tiệc ở một số thành phố lớn các nước châu Âu, châu Á. Đến Tà Ngâu biên giới Lào - Cam Pu Chia. Thời điểm này phía Cam Pu Chia vẫn chưa ngừng bắn. Ngầm Tà Ngâu được tu sửa rất bằng phẳng, để đưa đoàn sang đất Cam Pu Chia nhanh chóng, ta tranh thủ dẫn đoàn lội ngầm sang sông. Sang phía nam ngầm, Quốc trưởng Si Ha Núc nằm xuống ôm hôn mảnh đất thân yêu của Tổ quốc mình sau những năm xa cách. Quốc trưởng, Bà Hoàng Mô Ních nghẹn ngào xúc động đến bắt tay cảm ơn Trưởng đoàn, Phó Tư lệnh Lê Đình Sum, chắp hai bàn tay trước ngực, người hơi nghiêng về phía trước cảm ơn mọi người. Đoàn ta nhanh chóng bàn giao cho bạn Cam Pu Chia đến đón đoàn Quốc trưởng, và trở sang bờ bắc Tà Ngâu, hoàn thành thắng lợi một nửa chuyến đi. Đoàn xe đi thẳng đến bến vượt Sê San mới quay trở lại. Sau này chúng tôi được biết, để giữ bí mật bất ngờ, các bạn Cam Pu Chia dùng xe gắn máy đưa đoàn về hậu cứ nơi đón tiếp. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 08:48:53 pm Sau 3 ngày nghỉ tại Tà Ngâu chờ Quốc trưởng và phu nhân, ta bố trí đưa đoàn khách trở ra theo "đường kín", con đường được mở trong mùa mưa năm 1971 sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đúng kế hoạch Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã giao. Lịch sử chiến hanh chống Mỹ đã xác nhận, đánh giá hiệu quả khôn lường của con đường kín xuyên suốt Trường Sơn nảy. Xe pháo hành quân ban ngày, pháo binh, xe tăng, nhiều binh đoàn hành quân rầm rập, các tiểu đoàn xe chở hậu cần vào sâu đến tận các chiến trường Khu 5, Tây Nguyên Nam Bộ. Không theo đường lúc đi, nhưng các trạm nghỉ vẫn là những trạm cũ. Chắc chắn Quốc trưởng qua thực tế chuyến đi, thấy rõ hơn nhiều điều mà các vị học giả phương Tây đã viết "Đường mòn Hồ Chí Minh, đường Trường Sơn lả cả một hệ thống đường chằng chịt, là một trận đồ bát quái"!
Nơi dừng chân nghỉ trưa, nhất là những chiều hôm mát mẻ, Quốc trưởng thường diễn tả thống nhất lại đoạn đường vừa đi qua với Bà Hoàng và những người cùng đi, khen công binh Trường Sơn khéo chọn tuyến đường hoàn toàn kín đáo, con đường tuy có quanh co, nhiều cua gấp, tuy có nơi chênh vênh,chập chùng nhưng hoàn toàn che mắt được mọi thủ đoạn của địch. Quốc trưởng trầm trồ khen ngợi một đoạn đường trống được nguỵ trang khéo léo bằng dàn cây tre trồng nguyên gốc, phía trên treo nhiều dò phong lan đẹp mắt, nhiều màu. Hoàn toàn ngạc nhiên, ông bà Quốc trưởng được đi nhiều ngày trên "con đường kín" dài đến hàng nghìn cây số, hẳn có một sự so sánh với những ngày vừa qua đi trên "tuyến đường hở" trầm trồ về một chặng đường kỳ lạ, đã "sống được nhiều năm" trong chiến tranh khốc liệt. Quốc trưởng bình luận: thật tuyệt vời, một công trình sáng tạo kỳ diệu, một con đường cụ thể có màu lam xanh dài vô tận bất ngờ che mắt được đối phương nằm trọn vẹn trong rừng thiên nhiên đại ngàn phía tây đất nước Lào, một chiến công chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới. Bàn tay những con người tài hoa đầy lạc quan, đượm chút lãng mạn khéo kết cấu che kín cả tuyến đường. Cái thô sơ đầy sáng tạo của một dân tộc chiến đấu cho chính nghĩa đã chiến thắng cái hiện đại khoa học của đội quân cướp nước hung tàn! Quốc trưởng khen lái xe Trường Sơn dũng mãnh, quả cảm vượt qua bom đạn trên đường "hở" lúc đi chừng nào, thì hơn thế giờ đây lại cảm nhận được sự khéo léo của anh em lái xe an toàn trên đường kín. Dừng chân bên ngầm Sê La Nông, một cây ngầm khá dài trên chặng đường về, người trợ lý của Phó Tư lệnh Lê Đình Sum tranh thủ điện thoại dây trần báo cáo tình hình đến trạm sắp tới, Quốc trưởng lại có dịp bình luận: cái hiện đại và cái thô sơ biết chen lẫn, chiến thắng là tất yếu! Thành thói quen thực hiện đã nhiều ngày, trước giờ xuất phát, theo số hiệu xe đã được xếp hàng đúng thứ tự quy định cho từng ngày trước trạm nghỉ, mọi người đứng gần xe của mình ý như là để chờ Quốc trưởng. Quốc trưởng lần lượt bắt tay từng người, cảm ơn cán bộ chiến sĩ ở trạm ra tiễn và cả những người cùng đi như để chúc hành trình ngày mới đạt thắng lợi, Quốc trưởng nhấn mạnh từ "Thắng lợi" như là một tự hào, một hy vọng, một quyết tâm. Ông bà lên xe thì mọi người cùng đi mới lên xe của mình, chỉ huy đoàn hành quân ra lệnh xuất phát. Khi đến trạm nghỉ tiếp theo, Quốc trưởng lại xuống xe, bắt tay mọi người đến đón, trao quà cho những đồng chí mới quen. Việc làm mặc nhiên đó diễn ra như vậy từ trạm đầu tiên đến trạm cuối cùng. Khách, chủ đều nhận ra đó là lòng tôn trọng quý mến lẫn nhau, không còn phân biệt ngôi thứ, chế độ chính trị, tuổi tác, cái còn lại sự đồng lòng, để đạt được mục tiêu phấn đấu chống đế quốc giành lại độc lập dân tộc. Để tránh nóng, trong cả chuyến đi, có vài ngày phải xuất phát sớm vào lúc 4 giờ sáng. Những ngày này, được thông báo trước, ông bà Quốc trưởng thường dậy trước lúc hành quân khoảng một giờ, nói chuyện trao đổi và cùng chuẩn bị lên đường. Buổi trưa, nghỉ thêm vài giờ, một cơ hội để Bà Hoàng nói chuyện tâm tình với chị em phục vụ tại trạm. Bà vui vẻ trò chuyện, sửng sốt biết nhiều "em gái" đã học xong bậc tú tài, xếp bút nghiên cùng nam thanh niên lên đường đi chiến đấu. Bà ngắm nhìn từng em gái với bộ trang phục màu xanh gọn gàng vừa vặn và chiếc mũ tai bèo mềm mại quàng vai... Bà thường nhắc nhở thân tình với những người cùng đi cũng như những người phục vụ ở các trạm: "Các cô, chú gọi anh chị là anh Thắng, chị Lợi nhé, Bác Phạm Văn Đồng đã dặn rồi mà!" Đúng vậy, đối với chúng tôi, những người lính Trường Sơn cùng đi, cũng có một đôi lần gọi Quốc trưởng và Bà Hoàng, đó là sự tôn trọng thật sự với người đứng đầu một nước anh em. Trên đường đi ra, đoàn khách rẽ vào Sư đoàn 472 lưu lại một ngày, sau đó tiếp tục hành quân về chỉ huy sở của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, thời gian này đóng quân tại xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Một ngày đầu tháng tư nắng ráo, Đoàn về đến chỉ huy sở Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Đông đảo cán bộ các cấp cơ quan cùng Bộ Tư lệnh tề tựu có mặt chào đón Quốc trưởng và phu nhân trước cổng chào rất đẹp dựng sẵn. Hai đội danh dự, bên nam, bên nữ nghiêm trang bồng súng chào. Tươi cười bắt tay Phó Tư lệnh Phan Khắc Hy, người chủ trì cuộc đón tiếp và một số cán bộ cao cấp các cơ quan Bộ Tư lệnh, với động tác quen thuộc, Quốc trưởng chắp tay trước ngực vừa đi vừa chào mọi người. Các cô gái bộ đội Trường Sơn tặng hoa Quốc trương, Bà Hoàng và các thành viên trong đoàn. Đêm hôm đó, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức chiêu đãi Quốc trưởng, phu nhân và những người cùng đi, chúc mừng chuyến trở về thăm Tổ quốc của Đoàn hoàn toàn thắng lợi. Quốc trưởng Xi Ha Núc xúc động phát biểu cảm ơn Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã đảm bảo mọi mặt cho chuyến đi lịch sử của Đoàn thuận lợi, an toàn, với tình cảm anh em thân thiết. Quốc trưởng kể lại, nhờ chuyến đi này, Quốc trưởng năm được tình hình thực tế của đất nước, gặp gỡ nhân dân vùng giải phóng, gặp lại cán bộ chiến sĩ quân đội giải phóng Cam Pu Chia trong khí thế quyết tâm giành lại hoàn toàn độc lập dân tộc cho Tổ quốc mình. Quốc trưởng cảm ơn Phó Tư lệnh Lê Đình Sum cùng đoàn cán bộ của mình đã nhiệt tình tổ chức đưa đón, phục vụ chu đáo suốt cả cuộc hành trình vất vả. Quốc trưởng cho biết cảm nhận tốt đẹp của mình về con đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh, khen ngợi các binh chủng thuộc bộ đội Trường Sơn từ công binh, lái xe, bộ đội phòng không đã dũng cảm, tài giỏi, thông minh với sự chỉ huy tài tình, nhanh nhậy của các cấp, đã góp phần to lớn quyết định cho thắng lợi cách mạng 3 nước Đông Dương. Quốc trưởng tin tưởng vững chắc vào thắng lợi hoàn toàn của cách mạng Cam Pu Chia. Trong thân tình, Quốc trưởng cho biết trong chuyến đi, để cảm ơn bộ đội Trường Sơn, với nhiều cảm xúc thân thương đã sáng tác bài hát mang tên "Biết ơn con đường" diễn tả mối tình cao đẹp Việt Nam - Cam Pu Chia. Về sau tôi còn được nghe kể lại, ngay khi về đến sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, qua điện thoại, Quốc trưởng Xi Ha Núc đã điện đàm với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, không tiếc lời khen ngợi bộ đội Trường Sơn có biệt tài về tổ chức chỉ huy, từ cán bộ đến chiến sĩ thông minh năng động, cảm ơn Chính phủ, quân đội Việt Nam đã tận tình giúp đỡ đoàn của Quốc trưởng hoàn thành tốt đẹp chuyến đi. Còn 1, 2 trạm cuối trước khi về chỉ huy sở, Bà Hoàng nói với Quốc trưởng, ta sắp phải tạm biệt họ, cần phải có chút gì kỷ niệm cho những người bạn Việt Nam cùng chuyến hành trình. Ngay tối hôm đó Quốc trưởng đã điện chuẩn bị đủ số hiện vật máy ảnh, đài bán dẫn, đồng hồ v.v... Trong cuộc họp chia tay, Quốc trưởng đã trực tiếp trao tặng cho các lái xe số 1, số 2 và chỉ vài ngày sau, chúng tôi đã nhận được hiện vật tặng phẩm đầy tình nghĩa đó. Quá khứ đã biến đổi theo thời gian, những cử chỉ, hành động thân thiện, những lời chân tình, thiết tha, tình cảm lúc đó vẫn còn thật sự sâu đậm trong mỗi người có mặt lúc đó. Trong buổi chia tay, Quốc trưởng Xi Ha Núc nói: Kết quả tốt đẹp của chuyến đi vừa qua là kết tinh của trí thông minh, lòng dũng cảm, óc sáng tạo đầy năng động của bộ đội Trường Sơn. Chuyến đi thật tuyệt vời. Tôi không nói lên được điều gì thêm mà chỉ còn biết chân thành cảm ơn Việt Nam, cảm ơn bộ đội Trường Sơn đã sinh ra và bảo vệ một con đường, con đường vĩ đại, con đường Hồ Chí Minh một con đường huyền thoại trong thế kỷ 20, con đường của một dân tộc đang chống lại và nhất định sẽ đánh thắng đội quân xâm lược được trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại vào bậc nhất thế giới. Chính trên con đường này đã đưa tôi về thăm đất nước thân yêu của tôi trong những năm xa cách. Các Bạn đã và đang có những hành động thiết thực xây dựng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Cam Pu Chia và Việt Nam. Cảm ơn và xin chào tạm biệt. Tôi còn nhớ cử chỉ quen thuộc rất thân thiện của Quốc trưởng, hai bàn tay chắp lại trước mặt, người hơi cúi xuống... Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 08:53:19 pm Kỹ Sư NGUYỄN QUỐC KHÁNH Sinh năm: 4/1938 Quê quán và thường trú: Chi Phong, Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình Điện thoại: 030.3621229 Cán bộ Kỹ thuật Viện Thiết kế, Bộ GTVT vào Quân đội Nguyên Chuẩn uý, Tổ trưởng, Đội Khảo sát Công binh, Trợ lý Phóng Công trình Cục Tham mưu Công binh 559, Bộ Tư lệnh 559 Chuyển ngành về lại Viện Thiết kế, Bộ GTVT NHỮNG NGÀY ĐÁNG NHỚ Đại đội phó Khảo sát Nguyễn Vĩnh giao nhiệm vụ cho tôi, Nguyễn Ngọc Sửu và Chu Tân Đạt hành quân về Quảng Nam xuống sát đường 14. Anh bảo lần này các đồng chí đi khảo sát tìm đường phục vụ chiến dịch sẽ gặp nguy hiểm, khó khăn gian khổ. Theo diễn biến của chiến trường, Ban chỉ huy Mặt trận sẽ giao nhiệm vụ cụ thể. Đại đội cũng chỉ biết thông tin tối thiểu. Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ, nhanh chóng trở về đại đội. Tôi thay mặt anh em hứa vượt mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ngay ngày hôm sau, ba anh em đã lên đường. Đường về Quảng Nam tương đối xa, nên đê có mặt đúng ngày hẹn, chúng tôi phải hành quân vượt trạm giao liên. Xuống gần đường 14, không khí chiến trường càng sôi sục, nóng bỏng. Nhiều đơn vị trang bị mạnh, hồ hởi, phấn khởi trùng trùng ra trận. Hoà vào đoàn quân, ba anh em, ba chiếc ba lô, ba dao quắm, ba khẩu súng, hai chiếc nồi và ít gạo cũng... đi chiến dịch. Trên đường đi, chúng tôi gặp đội quân tóc dài chuyên gùi thồ - Tiểu đoàn Nam Hải anh hùng, các chị đều là nữ thanh niên đất Quảng. Vì quá gian khổ nên chị nào cũng xanh xao gầy yếu. Tiêu chuẩn một ngày chỉ hơn một lon gạo, thức ăn chủ yếu là rau rừng và mắm muối. Các cô bị ruồi vàng, muỗi, sâu, vắt cắn, nhiều cô chân tay nổi sần và lở loét. Sức mạnh nào đã thôi thúc để các cô có thể gùi những kiện hàng nặng vượt qua vực sâu, núi cao, bất chấp mưa gió, bom đạn? Thật đáng khâm phục các cô gái đất Quảng kiên cường dũng cảm, có sức chịu đựng phi thường. Những gùi hàng trên lưng các cô là thuốc men, đạn được, sẽ vượt qua đường 14 chuyển xuống đồng bằng. Lúc bình thường các cô gùi hàng, lúc chiến đấu các cô lại là chiến sĩ tải thương, nuôi quân, bên cạnh các đơn vị. Không một trang sách, một bức ảnh, một thước phim nào có thể ghi lại sức chịu đựng phi thường, tinh thần dũng cảm của Tiểu đoàn Nam Hải anh hùng. Tuổi thanh xuân của các cô đã bỏ lại chiến trường, bỏ lại trên rừng núi, tiêu tan trong gian khổ. Hoà bình trở lại yên vui cho mọi người. Đến hôm nay ai mất ai còn, chồng con, gia đình họ ra sao? Ngày 06 tháng 4 năm 1968, đến địa điểm tập kết, liên lạc dân chúng tôi vào sở chỉ huy Trung đoàn 10. Ở đó chúng tôi được gặp Tư lệnh Quân khu 5, Sư đoàn phó Sư đoàn Bộ binh và một số cán bộ cao cấp khác. Tư lệnh trưởng Quân khu trực tiếp giao nhiệm vụ cho chúng tôi cùng Trung đoàn 10 kéo đài đường B46 thọc vào đường 14, và theo toạ độ đánh dấu trên bản đồ, tìm các đường kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa chuẩn bị nhả đạn vào Khâm Đức. Đồn Khâm Đức là một cứ điểm mạnh án ngữ trên đường 14, phía tây tỉnh Quảng Nam, chặn đường vận tải của chúng ta. Cấp trên đã ra lệnh đánh nhổ đồn Khâm Đức. Trước lúc lên đường Tư lệnh còn chỉ thị thêm, đường phải kín, ít khối lượng, loại đường quân sự làm gấp. Vạch tuyến đến đâu trinh sát Trung đoàn 10 nhận đến đó để triển khai ngay. Trong quá trình tìm tuyến, gặp địch đông phải tránh, gặp địch ít, nếu có điều kiện bắt sống về khai thác. Tuyệt đối phải bí mật, cùng đi với các đồng chí có trinh sát Trung đoàn 10. Tìm tuyến là nghiệp vụ thông thường của lính khảo sát. Dẫn tuyến ra sát đường 14, gặp bãi cỏ gianh, định vạch cỏ làm dấu. Bất ngờ ba chiếc trực thăng ào ào bay sát mặt đường, chúng tôi trông thấy lính Mỹ đứng ở cửa máy bay, tay lăm lăm khẩu súng. Chúng bay ra đồn Khâm Đức, bay vòng trở lại bắn mấy loạt đạn rồi hạ cánh. Chúng tôi vào rừng tìm đường kéo pháo. Một cụm pháo là một đường riêng biệt vì vậy cũng khó và tốn nhiều thời gian. Trinh sát Trung đoàn 10 gan lì và rất mạo hiểm, dẫn chúng tôi vào gần đồn, nghe rõ tiếng chó sủa, tiếng vợ lính chửi nhau, tiếng bửa củi và tiếng léo nhéo của bọn con gái. Tôi rất sợ song vẫn bình tĩnh, mọi cử chỉ đều nhẹ nhàng không phát ra tiếng động. Tôi nghĩ nếu gặp bọn thám báo lúc này sẽ nguy hiểm. Tôi nhớ có ngày luồn rừng không thổi cơm được, ăn lương khô, uống nước suối rất xót ruột, nôn nao. Nhớ mãi một đêm không ngủ trong vòng kiểm soát của địch phải chuyển chỗ ở hai lần, trinh sát Trung đoàn 10 canh gác suốt đêm, tôi không tài nào ngủ được, thao thức trăn trở chờ trời sáng, đêm đó sao mà dài. Không ngủ nên nghĩ miên man, nhớ mẹ, nhớ người yêu, nghe rõ tiếng giun dế, tiếng gió, tiếng suối róc rách, đếm được từng loạt đạn. Hoàn thành nhiệm vụ trở về Trung đoàn 10, chúng tôi được lệnh lùi ra xa, chuẩn bị hầm hào đề phòng tình huống xấu nhất. Khi ta đánh đồn Khâm Đức địch có thể đổ bộ, dùng máy bay oanh tạc, dùng B52 rải thảm, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khi cần. Quãng 21 giờ đêm ngày 12 tháng 4 năm 1968 có lệnh phát hoả đánh Khâm Đức. Súng nổ liên hồi rung chuyên núi rừng, máy bay gầm rú xé không khí, bom rung chuyển mặt đất, lửa đạn sáng bầu trời, nhiều tiếng nổ lớn. Chúng tôi thao thức, không tài nào chợp mắt, chờ tin chiến thắng. Vào 18 giờ ngày 13 tháng 4 năm 1968, liên lạc Trung đoàn 10 đưa thư của Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho chúng tôi trinh sát đường 14 từ phía nam vượt qua đồn Khâm Đức về phía bắc đến ngã ba đường 14 và 16, liên lạc với trinh sát trung đoàn quân Giải phóng, địa điểm liên lạc cách cầu Đắc My từ 50 đến 100 mét về phía đông. Suốt cả ngày 13 tháng 4, máy bay quần đảo ném bom B52 rải thảm, sáng ngày 14 tháng 4 năm 1968 đã phải lên đường vào nơi nguy hiểm. Tôi hơi sợ, đúng hơn là bồn chồn, song vẫn to ra cứng rắn bình tĩnh. Tôi viết vài dòng kẹp vào pin đài, rồi gửi lại chiêc đài bán dẫn Standard cho đơn vị. Nếu có mệnh hệ gì thì đồng đội sẽ chuyên chiếc đài về cho mẹ. Sáng 14 tháng 4 trời mưa như trút nước, đoàn chúng tôi gồm ba khảo sát và 6 trinh sát Trung đoàn 10 đội mưa lên đường. Lần mò ra đến bờ sông, nước sông đã lên to, chảy xiết, nhưng dù thế nào cũng phải vượt qua sông. May quá, nhìn về hạ lưu thấy có chiếc bè, bỏ cả súng đạn, ba lô, quần áo lên mặt bè bám vào bè đẩy ra sông. Nước sông chảy xiết quá, người và bè trôi về hạ lưu, gặp chỗ nước cạn, vật lộn với dòng nước chảy xiết, cuối cùng cũng sang được sông. Men theo bờ sông lên đường 14 - hướng về Khâm Đức. Máy bay địch lồng lộn ném bom bắn vu vơ chặn đường, chúng tôi phân tán, vừa đi vừa ẩn nấp. Ngày 14 tháng 4 chỉ ăn lương khô, uống nước suối, mắc võng bìa rừng nằm chờ... Sáng 15 tháng 4 tiếp tục lên đường, quãng 10 giờ, gặp đơn vị công binh, chúng tôi vào bếp nhờ nấu cơm. Đến đây mới biết khi ta đánh Khâm Đức, địch chống cự yếu ớt và dùng trực thăng rút chạy. Mỹ chạy trước, nguỵ chạy sau, cuối cùng là... vợ con lính. Hiện còn một số không chạy kịp đang lẩn trốn trong rừng. Chúng tôi tiếp tuc tiến vào Khâm Đức, cách đồn hơn 1 ki lô mét thì máy bay đến oanh tạc, từng quả bom đen trũi bay qua đầu. Đồn Khâm Đức bốc cháy khói bụi ngút trời, đạn nổ liên tục. Sau đợt ném bom, chúng tôi vào đồn, lúc đó mưa to, sấm sét ầm ầm. Mưa tạnh dần, chúng tôi vào khu gia binh, nhà cửa tan hoang, đồ đạc vứt bừa bãi, ngổn ngang. Quá 13 giờ ngày 15 tháng 4, chúng tôi vào trung tâm đồn Khâm Đức. Đồn rất rộng, có sân bay, nhà thờ, miếu thờ, câu lạc bộ, nhà chứa gái điếm, nhà công chính quản lý đường 14. Trong đồn hầm hào rất kiên cố, chúng tôi như lạc vào một phố nhỏ giữa rừng núi đã tan hoang vì bom đạn. Gặp bộ đội ta đang khẩn trương, vội vã thu dọn chiến trường, thu chiến lợi phẩm. Tàn quân địch lần lượt ra hàng. Bộ đội băng bó, phát thuốc cho lính Ngụy bị thương, phát lương thực, giấy tờ, khuyên họ về nhà làm ăn, bỏ hàng ngũ địch, một số giác ngộ, tự nguyện gia nhập quân Giải phóng. Nhiều nơi trong đồn vẫn bốc cháy, khét lẹt khói bom như còn lẫn mùi tanh của máu. Rút chạy bằng máy bay nên xe pháo địch bổ lại hầu như nguyên vẹn. Mỹ lại dùng máy bay ném bom hòng tiêu huỷ. Trong đồn, hầm hào rất kiên cố. Máy bay ném bom, bộ đội xuống hầm trú ẩn, ngớt tiếng bom lại ra khỏi hầm làm nhiệm vụ. Chúng tôi thấy bộ đội ta nghi binh, rút binh khí kỹ thuật của địch vào rừng, làm binh khí giả lừa địch để khi có điều kiện thì mang ra sử dụng, trong đó có mấy chiếc máy húc, mấy chiếc xe ben, xe lu sơn màu vàng. Hàng chiến lợi phẩm rất nhiều, chúng tôi lấy một ít thuốc lá, cà phê, đường sữa, thịt hộp, bánh kẹo, lương khô, và phải khẩn trương vượt khỏi đồn, tránh máy bay địch đến ném bom. Ra bìa rừng phía bắc, gặp được hầm kiên cố, mọi người xuống hầm nghỉ đêm và nấu cơm chiều, nắm cả cơm sáng. Tôi nhắc anh em, không nên ăn nhiều bánh kẹo, đường sữa, sợ đau bụng ngày mai không đi được. Đang chuẩn bị ăn cơm, 10 máy bay trực thăng ầm ầm bay qua hạ cánh xuống phía bắc, có khả năng địch đã đổ bộ chặn đường 14. Trước tình hình đó tôi họp anh em củng cố tinh thân, quyết tâm tìm phương án vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ. Căn dặn các đồng chí khảo sát, ngày mai dao quắm cầm tay, gặp địch đánh giáp lá cà thì dùng giao để chém. Tôi quan sát thấy đồng chí Sửu sờ vào lưỡi giao xem còn đủ sắc không. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 08:54:46 pm Đêm 15 tháng 4, bộ đội ta đã dùng mìn phá công sự và sân bay, đề phòng địch đổ bộ chiếm lại Khâm Đức, tiếng nổ ầm ầm suốt cả đêm, một đêm chờ đợi... Sáng 16 tháng 4 năm 1968, 9 người chúng tôi chia làm ba tổ đi cách nhau khoảng 20 mét. Tổ đồng chí Sửu đi đầu, tổ tôi đi giữa, tổ đồng chí Đạt đi cuối.
Đường 14 đã được rải nhựa nhưng lau lách mọc sát lề đường. Một số quân địch và gia đình chúng chạy bộ rút về phía Bắc, do chạy vội nên giày dép trẻ em, quần áo, mũ nón, cả đạn dược rơi bừa bãi. Đi được một quãng thì máy bay đến ném bom vào Khâm Đức - B52 rải thảm vào rừng. Máy bay OV10 lượn vòng trinh sát, vừa đi vừa ẩn nấp, vừa cảnh giác đề phòng địch tập kích. Chúng tôi cũng không biết 10 máy bay đã đổ quân ở đâu, dự đoán khả năng trước mặt có địch đang chặn đường. Quãng 15 giờ, đến ngã ba thứ nhất, tôi phán đoán đây không phải ngã ba đường 10 vì sông Đắc My còn ở xa đường 14. Tôi ra lệnh đi tiếp. Đến ngã ba thứ hai, tổ đi đầu dừng lại ẩn vào lề đường cảnh giới. Tôi ra hiệu cho đồng chí Sửu tiến về phía cầu Đắc My. Tổ tôi cũng sẵn sàng chiến đấu yểm hộ khi có tình huống xấu, tổ sau cùng cũng vậy. Nhân lúc máy bay OV10 vòng ra xa, tôi tiến sát ngã ba cùng tổ đồng chí Sửu vượt qua cầu Đắc My. Hai đầu cầu rất trống trải, nguy hiểm. Hai nhóm chúng tôi nhanh chóng vượt qua cầu, tiến về phía đông 30 mét, đã gặp ngay các đồng chí trinh sát Trung đoàn Bình Minh ra đón. Vui mừng phấn khởi đến trào nước mắt. Số còn lại vẫn cảnh giác, lần lượt từng người vượt qua cầu. Cùng lúc đó 10 máy bay trưc thăng hạ cánh hôm qua cất cánh, có lẽ chúng chở tàn quân và vợ con lính lẩn trốn trong rừng. Tôi nhìn lại cầu Đắc My là cầu bê tông còn rất nguyên vẹn. Trinh sát Trung đoàn Bình Minh dẫn chúng tôi về vị trí đóng quân của Trung đoàn. Tôi báo cáo tình hình cầu đường, các vị trí có thể giấu xe máy. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các chiến sĩ khảo sát và trung đoàn quân Giải phóng Quân khu 5. Trung đoàn sắp xếp chỗ ăn ở cho chúng tôi. Sáng 17 tháng 4... vẫn đội hình như cũ, chúng tôi hành quân trở lại Khâm Đức, đến ngã ba suýt nữa thì đồng đội bắn nhầm nhau. Đồng chí Thảng, Tham mưu phó Trung đoàn 10 dẫn bộ đội truy quét vùng ngã ba. Thoáng thấy chúng tôi, đồng chí tưởng là biệt kích, đã bố trí phục sẵn để tiêu diệt gọn, gần đến ngã ba, chờ đến gần hơn, lọt hắn vào vòng vây mới cho nổ súng... Một phút nghi ngờ. Trong giây lát đồng chí Quý nhận ra chúng tôi. Anh hô to cho trinh sát Trung đoàn và các đồng chí khảo sát cùng nghe tiếng. Thủ trưởng Thảng cũng thét lên tất cả dừng tay rời vị trí. Anh nhảy ra ôm lấy tôi. May quá, may quá, suýt nữa bắn nhầm nhau, các đồng chí được nhận mỗi người một giấy báo tử. Bộ đội từ các bụi lau lách cũng nhảy ra đường. Gặp đồng chí Thảng chúng tôi rất yên tâm, vì đã có lực lượng đủ mạnh, có người chỉ huy giỏi. Đi trên đường 14 một quãng, đồng chí Thảng dẫn chúng tôi vào rừng theo đường tắt về lại Trung đoàn. Tôi báo cáo kết quả công việc với thủ trưởng Trung đoàn 10 Đinh Hào. Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng hỏi thêm một số chi tiết. Hình như sau khi gặp chúng tôi Trung đoàn Bình Minh đã báo cáo về Ban chỉ huy mặt trận - hai Trung đoàn cũng đã điện đàm trao đổi những vấn đề cơ bản. Ba anh em chúng tôi được nhận phần thưởng bằng chiến lợi phẩm do Trung đoàn 10 cấp. Sáng 20 tháng 4 năm 1968, chúng tôi trơ về đại đội. Qua đường B46, con đường đã in nhiều vết xe tăng, xe xích, xe vận tải hạng nặng. Trước khi đánh đồn Khâm Đức, công binh đã cấp tốc làm đường. Đánh xong đồn Khâm Đức, ta tổ chức một đợt vận chuyển lớn binh khí, kỹ thuật xuống đường 14 và 16, chuẩn bị cho các trận đánh tiếp theo. Trong chiếc công chung đó, Đại đội khảo sát I Công binh và ba chúng tôi đã có vinh dự đóng góp. Trên đường về chúng tôi gặp tổ khảo sát anh Đinh Kiện đang thị sát đường phía nam sông Bạc. Đồng đội gặp nhau giữa rừng trong gian khổ và bom đạn mừng vui không tả hết. Tôi lấy thuốc lá thơm, chiến lợi phẩm mời các đồng chí, bỏ cà phê hoà tan và đường vào bi đông lắc lắc mời các anh uống. Tôi tặng anh Kiện một chiếc bút bi ba màu. Anh Kiện hỏi: Các cậu lấy đâu ra của này? Tôi trả lời: Đây là chiến lợi phấm chúng em thu được khi trinh sát đường phục vụ chiến dịch đánh đồn Khâm Đức. Tôi kể rành rọt từng chi tiết cho các đồng chí nghe. Anh Đinh Kiện bảo: Các cậu nên ghi những ngày đáng nhớ đó vào nhật ký. Nếu hy sinh, quyển nhật ký đó sẽ được gửi về cho bố mẹ và người thân. Họ sẽ biết những ngày gian khổ chúng ta đã sống ở Trường Sơn, biết được những con đường ta đã khảo sát. Chiến tranh kết thúc, nếu còn sống, con cháu đọc những dòng nhật ký đó, biết ông cha chúng đã cống hiến như thế nào trong chiến tranh chống Mỹ. Về già đọc nhớ lại những ngày sáng chói và vinh quang. Đinh Kiện cười thật thà nhưng hóm hỉnh. Một ngày đầu năm 2005, tôi trông cháu để các con và nhà tôi ra đồng chăm bón lúa. Ông bưu tá xã đến nhà mời tôi nhận quà, ông trao cho tôi một gói nhỏ giống gói bánh quy, tên người gửi là Hoàng Ngọc Châu. Cháu nhỏ đòi bóc ngay, tôi cũng muốn mở ra xem anh Châu gửi cái gì. Gói quà chỉ có lá thư và một quyển sách. Vì không phải bánh kẹo nên cháu bắt vạ đòi ông mua kẹo. Tôi dỗ cháu không nín, đành phải ra quán mua kẹo. Cháu vui vì có kẹo, ông vui đã có quyển "Bước chân vạn dặm" do các đồng chí cựu binh Khảo sát thiết kế Trường Sơn viết. Quyển sách đã khơi dậy trong tôi những ngày gian khổ ở Trường Sơn, nhớ lại những con đường mà tôi cùng đồng đội đã khảo sát, nhớ những trận mưa rừng, nhớ cơn sốt rét rừng, nhớ lại chiến trường xưa. Tôi vô cùng thương tiếc các đồng chí đã hy sinh, nhớ rõ nét mặt và dáng dấp đồng chí Vĩnh, đồng chí Cư, đồng chí Tuân và nhiều đồng đội khác. Tôi bồi hồi nhớ lại bóng dáng tôi cùng đồng chí Sửu, đồng chí Đạt qua cầu Đắc My năm xưa. Lục tìm cuốn nhật ký đã úa vàng còn lưu giữ 40 năm trước đây, thời gian đã qua lâu song còn rõ nét chữ. Những dòng trên đây, tôi rút từ tập nhật ký tôi đã viết theo lời động viên của anh Đinh Kiện. Tôi muốn giữ lời anh Đinh Kiện động viên năm nào, làm đầu đề bài viết: "Những ngày đáng nhớ!". Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 08:59:32 pm Trung tá DƯƠNG CHẤN VƯỢNG Sinh năm: 1940 Quê quán: Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An Thường trú: Nhà số 106/N12, K9, Ngõ 49, đường Nguyễn Khoái, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội Điện thoại: 04.38214533 - 0948 517308 Nguyên cán bộ Viện Thiết kế Bộ GTVT biệt phái Nguyên Tổ trưởng Đội Khảo sát 1, Trợ lý Phòng Thiết kế Cục Tham mưu Công binh Nguyên Trưởng phòng Viện Khảo sát Thiết kế Binh đoàn 12 MỞ TRỤC DỌC ĐƯỜNG KÍN 24 MÙA MƯA NĂM 1971 Chủ trương làm đường kín ô tô chạy ngày của Bộ Tư lệnh Trường Sơn được đánh giá là quyết định thông minh, táo bạo, tổ chức thực hiện kiên quyết, đồng bộ, địch hoàn toàn bị bất ngờ, đã góp phần to lớn vào thắng lợi quyết định ở chiến trường (BBT). Đến hết mùa khô năm 1970 - 1971, mạng đường Trường Sơn đã có 3 trục dọc từ Mụ Dạ vào đến chiến trường, 4 trục vượt khẩu và nhiều trục ngang sang phía đông với khoảng 7000 ki lô mét đường ôtô. Thế trận cầu đường đủ sức cho vận tải chiến lược thời kỳ đó. Địch đã dùng mọi thủ đoạn đánh phá ngăn chặn, tăng cường hỏa lực, cho các loại máy bay cường kích, dùng B52 rải thảm cả vùng đất đai rộng lớn tìm kiếm huỷ diệt kho tàng, sinh lực, dùng trinh sát điện tử phát hiện mục tiêu, thậm chí huy động lục quân, không quân, pháo binh, xe tăng, xe bọc thép mở chiến dịch Lam Sơn - 719 đánh chiếm vùng đường 9 hòng chặt đứt ngang đường tiếp tế của ta. Nhưng tất cả âm mưu của chúng đều bị thất bại thảm hại. Không quân Mỹ cải tiến máy bay C130, trang bị hệ thống khí tài điện tử khuếch đại ánh sáng mờ, máy cảm ứng nhiệt và các máy tính chuẩn xác, có thể phát hiện được phương tiện của ta từ tia lửa điện ở động cơ xe, máy. Chúng dùng AC130 đã cải tiến săn lùng và khi bắt được mục tiêu dùng pháo 20 m/m, sau đó cải tiến thành 40 m/m bắn phá vào các đoàn xe, thậm chí từng chiếc xe chạy ban đêm. Thời gian này chúng gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề về phương tiện, người và hàng hoá, thiệt hại đã tăng gấp 2,5 lần cùng kỳ năm trước. Sau nhiều lần thử nghiệm thực tế, các cấp chỉ huy từ Bộ Tư lệnh đến các cấp, các cơ quan giúp việc cùng đi với lái xe trên đường dài vận tải, đều nhận xét thấy rằng AC130 có trang bị tia hồng ngoại chỉ phát hiện được lúc xe nổ máy chạy ban đêm. Thống nhất được nhận xét quan trọng chính xác đó, dựa vào địa hình, địa vật, địa thế của núi rừng Trường Sơn, tại hội nghị quân chính tháng 4 năm 1971, Bộ Tư lệnh quyết định xây dựng đường kín - đổi mới phương thức vận tải cho xe chạy ban ngày. Công tác chuẩn bị được triển khai khẩn trương: Các binh trạm tìm tuyến đường kín phù hợp trong địa giới mình phụ trách, Cục Tham mưu Công binh nghiên cứu hướng tuyến chung trên bản đồ từ đường 18 tây Quảng Bình đến phía nam Sê San, chỉ đạo các binh trạm những điểm nối tiếp nhau giữa các binh trạm. Nhất thiết phải bảo đảm nguyên tắc toàn tuyến đường phải kín, xe chạy được ban ngày, có vị trí tránh xe, nơi đặt kho tàng, vị trí tập kết xe. Để đảm bảo thời gian hoàn thành, phải huy động lực lượng vừa thiết kế, vừa thi công, trong mùa mưa, đầu mùa khô, vào tháng 10 năm 1971 phải đưa vào sử dụng. Do yêu cầu yếu tố đường phải kín nên chấp nhận tuyến đường có thể vòng vèo dài hơn. Lực lượng gồm tất cả các đơn vị công binh trực thuộc, các tiểu đoàn công binh binh trạm, 10.000 dân công hoả tuyến thời hạn 3 tháng đến 1 năm của các tỉnh miền Bắc, 86 máy ủi, 108 xe ben, máy phát điện... được điều động phục vụ chiến dịch. Bộ Tư lệnh thành lập "Phòng Dân công" thuộc Cục Tham mưu Công binh để quản lý dân công. Công tác khảo sát tìm tuyến đường giao cho đơn vị thi công tự lo trong phạm vi được giao, đội Khảo sát 1 thuộc Cục Tham mưu Công binh bảo đảm cho các đơn vị không có lực lượng khảo sát và những đoạn khó trên toàn tuyến. Dân công hoả tuyến được thành lập cấp tiểu đoàn phối thuộc cho các trung đoàn công binh phía bắc đường 9, có tăng cường sĩ quan công binh chỉ huy, các huyện uỷ viên, chi uỷ viên của địa phương, có dân công được bố trí giữ chức chính trị viên tiểu đoàn, đại đội. Với khí thế được phát động, các đơn vị được phân công vào chiến dịch mở "đường kín 24" như sau: Trung đoàn 6 có đoàn "nữ Thanh niên Xung phong 104 Hai Giỏi tỉnh Quảng Bình" phối thuộc mở đường 69 điểm đầu từ Km 6 đường 18 đến ngã ba Quan Ta Long dài 64 ki lô mét. Đường đảm bảo kín rộng 4 mét, độ đốc dưới 12%, rải đá 47 ki lô mét trên đoạn biên giới Việt - Lào xe chạy được cả hai mùa mưa nắng. Trung đoàn 217 thi công từ Quan Ta Long đến đường 32 dài 90 ki lô mét, thi công từ tháng 7 năm 1971 có máy húc xe ben tăng cường, sau hơn 1 tháng hoàn thành kể cả việc rải đá một số đoạn nền yếu. Đội khảo sát 1 Cục Tham mưu Công binh bố trí lực lượng khảo sát và giao tài liệu cho cả hai Trung đoàn 6 và 217. Trung đoàn 10 mở đường dài 90 ki lô mét từ nam Sê Băng Hiêng đến Lê Tiêng. Đoạn phía nam từ sông Sê La Nông vào Lê Tiêng có khối lượng lớn phải làm 50 ki lô mét đường công vụ qua sông Sê La Nông rộng 180 mét, lòng chủ sâu 2 mét đài 15 mét để đưa hai máy húc sang sông trước mưa lũ lớn nhằm chia ra hai mũi thi công. Sau 5 tháng Trung đoàn đã hoàn thành khối lượng đảm bảo đường kín đủ tiêu chuẩn. Ngày 25 tháng 11 năm 1971, Tư lệnh quân Giải phóng Trần Văn Trà đi ôtô từ bắc vào nam ban ngày thông suốt. Về đến Bộ Tư lệnh Miền, đồng chí đã điện ra Bọ Quốc phòng đề nghị thưởng Huân chương Quân công hạng Ba cho Trung đoàn 10. Sau khi quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Bạn giải phóng Sa La Van, Trung đoàn 10 được giao mở đường kín tiếp từ nam Sa La Van qua Phu Xa Nan, luồn qua khu rừng già tiếp nối với Bản Phồn trên đường 23 dài 41 ki lô mét, có 14 ki lô mét đèo dốc, tuy nhiên vẫn đảm bảo kín đáo. Các binh trạm phía Bắc, những năm trước, khi làm các đường vòng đường tránh các đơn vị công binh đã có ý thức tìm đường kín. Nay được Bộ Tư lệnh giao làm đường kín trong mùa mưa 1971, các binh trạm chấp hành nghiêm túc đã hoàn thành được các tuyến đường sau đây: Binh trạm 14: đường 20K dài 34 ki lô mét nối với đường QZ25 đến Lùm Pùm được rải đá 12 ki lô mét. Binh trạm 31: đường từ kho C2 đến đường 9 dài 126 ki lô mét. Binh trạm 9: đường Pha Băng Nưa dài 9 ki lô mét hoàn thành ngày 20 tháng 10 năm 1971. Các binh trạm khác phía nam đường 9 cũng tự mình làm các đoạn đường kín ngắn nối tuyến kín 24 với các trục dọc 128, 22, và trục 23. Sau khi đường kín hoàn thành, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập thêm 5 binh trạm mới mang phiên hiệu 29, 30,45, 46, 47 để quản lý khai thác và ngay sau đó đã tổ chức lực lượng công binh quản lý đường trong phạm vi phụ trách. Binh trạm 29: Bảo đảm từ Km 0 - Km 140. Tiểu đoàn 69 và một tiểu đoàn dân công tăng cường. Binh trạm 30: Tiểu đoàn 53 bảo đảm từ ngã ba đường 36 đến Km 207 bắc Sê La Nông. Binh trạm 45: Biên chế Tiểu đoàn 162, tăng cường có thời hạn Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 10, bảo đảm bắc Sê La Nông đến Km 299 Lê Tiêng, xây dựng khu trú đậu xe dài 2 ki lô met từ Km 289 đến 291. Binh trạm 46: Tiểu đoàn 161, từ Bản Phồn đến S.9, ngầm 1 đường 22 đến Km 4 Tăng Cát C. Binh trạm 47: Tiểu đoàn 1, từ dường 78 nối đường 22A vào kho K4 và đường 24 từ Keng Xay đến ngã ba đường 24. Các Binh trạm 37, 50, 51, 53 đã thành lập từ trước, quản lý đường kín qua địa bàn của mình. Các đơn vị công binh xây dựng được 5 cầu quân sự trên đường kín để xe chạy lấn mùa: đó là các cầu Nậm Ngo (58E)-tây Seng Phan, Rào Reng, Trà Ôn, Ta Hung, cầu nổi Keng Ly, nhiều cầu gỗ nhỏ cùng hệ thống ngầm đá trên các suối lớn nhỏ. Việc nguỵ trang giữ bí mật cầu, ngầm được xem là công tác thường xuyên. Để đảm bảo vận chuyển đúng cung độ, Bộ Tư lệnh chỉ đạo việc xây dựng khu trú đậu xe. Kích thước khu trú đậu xe dài 1 đến 2 ki lô mét, chiều rộng 1 ki lô mét, tuyệt đối kín đáo, có hầm hào đảm bảo cho 1 tiểu đoàn có biên chế 100 xe trú đậu tập trung. Lấy trục chính làm chuẩn, thiết kế 2 đường vòng hình số 8 để bảo đảm xe không phải quay đầu. Dọc đường vòng số 8 bố trí các đường xương cá cho xe đậu, mỗi xe cách nhau 20 mét. Trong khu trú đậu có trạm quan sát, có nhiệm vụ phát tín hiệu khi có máy bay. Binh trạm 32 xây dựng khu trú đậu xe bắc sông Sê Băng Hiêng, Binh trạm 30 xây dựng khu phía nam ngầm. Mỗi tiểu đoàn công binh có từ 4 đến 6 trạm chỉ huy giao thông tại các ngã ba, bến vượt, nơi ngã tư đường đều phải có bảng chỉ đường, đường không sử dụng phải rào lại. Đường kín có tên gọi là đường 24 điểm đầu từ đường 18, điểm cuối nam Sê San dài 740 ki lô mét. Xe chạy hoàn toàn ban ngày, địch không thể phát hiện được bằng bất cứ một thiết bị điện tử nào, kể cả các thiết bị có tia hồng ngoại hiện đại nhất được trang bị cho AC130. Đường 24 đã vô hiệu hoá hoàn toàn thủ đoạn đánh phá ngăn chặn đội hình xe chạy ban đêm của máy bay AC 130. Các đơn vị vào chiến dịch đúng mệnh lệnh đã giao ngày 15 tháng 5 năm 1971, kết thúc tháng 01 năm 1972. Trên tuyến đường có nhiều bãi trú đậu xe, kho tàng bố trí hợp lý, có đường ngang cơ động, nhiều đoạn có đường kín đôi, đội hình chạy xe liên tục không ách tắc, có trạm nghỉ, tại đây lái xe được phục vụ hậu cần chu đáo, giữ gìn sức khoẻ, tạo tâm lý tốt cho lái xe. Tốc độ xe chạy đảm bảo 15-20 km/giờ, chạy lấn sáng lấn chiều đạt 150-180 km/ngày. Mùa vận chuyển 1971- 1972 đạt thắng lợi đòn dã, vận chuyển được 160.000 tấn, đạt 131% kế hoạch, giao cho chiến trường đạt 120 - 200%, riêng cho Trị Thiên đạt 440%. Phát huy thắng lợi, các đơn vị công binh lại tiếp tục mở đường kín song song, chiều dài toàn hệ thống đường kín đạt được 3.400 ki lô mét vào cuối năm 1972. Đã nhiều năm tham gia mở đường chiến lược vào chiến trường, đến nay công binh Trường Sơn mới được chứng kiến một quang cảnh lý thú: Vào đầu mùa khô cuối tháng 10 năm 1971 tại Tà xẻng, ngã ba ba nước Đông Dương, các đồng chí Lương Tường, Phan Bá Liêm, Lê Đức Thảo khảo sát những đoạn khó giúp Trung đoàn 217 và Trung đoàn 10 phía bắc đã gặp tổ đồng chí Dương Chân Vượng khảo sát đoạn phía nam do Trung đoàn 4 thi công tại toạ độ dự kiến. Từ quân số ban đầu là 32 nay còn lại 14, trong suốt 6 tháng trời mùa mưa, gian khổ lăn lộn trong rừng sâu, phần đông anh em đã bị sốt rét rừng, ốm đau phải quay về đại đội hoặc đang gửi lại các đơn vị thi công phía sau điều trị chăm sóc. Đã nắm chắc tình hình qua các đơn vị thi công, Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh điện cho hai tổ khảo sát rút quân. Vào bản dân đổi được một ít thực phẩm cùng liên hoan, ngày hôm sau hai tổ chia tay. Chỉ cách Tà xẻng vài ki lô mét, các đơn vị thi công đã triển khai, ôtô vận chuyển lương thực thực phẩm tận đơn vị thi công. Lần đầu tiên đi trên chiếc xe Zin 157 trên con đường mình vừa mới khảo sát xong, giờ đây bắt gặp hình ảnh trái ngược thường lệ. Các đơn vị thi công đang hối hả mở đoạn cuối đường, củng cố hoàn thiện đoạn đường đã mở, xe vận tải đi giữa ban ngày, hàng hoá chất đầy kho tạm dọc đường. Bề rộng nền đường chỉ 3,50 mét, các vòm cây được giữ lại cao từ 4 đến 5 mét phủ kín làn đường. Những đoạn trống ngắn đơn vị trồng cây bổ sung, làm dàn mướp treo phong lan, nguỵ trang triệt để. Phong lan khu vực này thích hợp với mọi thời tiết. Những dò phong lan đủ màu sắc nở hoa trên dàn mướp kết bằng tre trồng cả gốc, lá tre còn tươi xanh, trông thật thơ mộng. Chuyến trở về đơn vị, như một truyện cổ tích thần kỳ, mới khảo sát xong tuyến đường ngày hôm trước thì chỉ vài hôm sau lại đã ngồi trên những chuyến xe vận tải trở về chính trên con đường mà mình đã luồn rừng lội suối vừa tìm, dài ngót ngàn cây số. Đường 24 là trục dọc duy nhất trên hệ thống đường Trường Sơn không bị địch phát hiện đánh phá, đã sử dụng trong cả thời gian dài suốt 4 năm phục vụ vận chuyển nhiều binh đoàn, hàng ngàn cán bộ dân chính đảng, vũ khí khí tài có cả xe tăng, trọng pháo... vào các chiến trường đến mùa Xuân năm 1975, góp phần quan trọng cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lợi dụng được yếu tố địa hình địa vật vùng rừng núi, tổ chức mở được trục đường kín dài hàng ngàn ki lô mét từ hậu phương lớn miền Bắc ra tiền tuyến lớn là một chủ trương táo bạo dám nghĩ dám làm của người chỉ huy cao nhất, được sự đồng lòng của cán bộ chỉ huy, chiến sĩ cấp dưới, là sáng tạo chống ngăn chặn thành công nhất của cán bộ chiến sĩ công tác chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 09:04:10 pm ĐƯỜNG 14 XÂY DỰNG CƠ BẢN ĐÔNG TRƯỜNG SƠN (1973 -1975) Hoàng Ngọc Châu - Phạm Thọ Xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn là chiến dịch cuối cùng trong chuỗi chiến dịch mở đường ở Trường Sơn thời chống Mỹ cứu nước. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương xây dựng, hoàn thiện thế trận cầu đường mới, đón thời cơ lớn giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Khác với các chiến địch trước, từ năm 1973 đế quốc Mỹ không đánh phá ngăn chặn bằng không quân trên cả hai chiến trường Việt Lào là thuận lợi lớn cho hoạt động vận chuyển trên địa bàn Trường Sơn và cho cả việc củng cố xây dựng mạng đường đông và tây Trường Sơn. "Xây dựng cơ bản đông Trường Sơn" là chiến dịch xây đựng một tuyến đường có cấp, phải tuân thủ đầy đủ trình tự, quy trình quy phạm kỹ thuật của Nhà nước nhằm bảo đảm chất lượng công trình. Tuyến đường xây dựng xong bảo đảm vận chuyển nhanh hơn do gần chiến trường hơn, nhiều hơn do vận chuyển được cả hai mùa. Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã triển khai chỉ đạo, chỉ huy, điều hành theo mô hình một chiến dịch đặc biệt mang tính chất bài bản về quân sự, bài bản về xây dựng từ công tác chuẩn bị đến công tác thi công. Từ đầu năm 1973, Cục Tham mưu Công binh đã tính toán kế hoạch 5 năm cải tạo, xây dựng mạng đường Trường Sơn, trong đó có kế hoạch xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn. Sau nhiều lần nghe báo cáo và thẩm xét và bằng văn bản số 247/TTg, ngày 17 tháng 11 năm 1973 Chính phủ đã phê duyệt nhiệm vụ thiết kế với những nội dung chính như sau: - Đường Đông Trường Sơn: điểm đầu Tân Kỳ (Nghệ An), điểm cuối Chơn Thành (Bình Phước), có chiều dài 1.200 ki lô mét. - Tiêu chuẩn cấp xây dựng: Cấp 4 miền núi, nền đường 9,00 mét, mặt đường 5,50 mét, cầu cống vĩnh cửu và bán vĩnh cửu. - Bảo đảm cho hành quân cơ giới vận chuyển cả hai mùa tốc độ 60 km/giờ. - Thời gian thi công 3 năm tính từ 01 tháng 01 năm 1974. Bộ Tư lệnh Trường Sơn được Bộ Quốc phòng giao phụ trách xây dựng từ Khe Gát (Quảng Bình) vào đến Chơn Thành, trước mắt tới Bù Gia Mập. Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ Quốc phòng phụ trách toàn bộ từ khảo sát thiết kế, thi công đến nghiệm thu công trình. Các Bộ chức năng của Nhà nước theo trách nhiệm của mình giúp đỡ Bộ Quốc phòng hoàn thành công trình trong thời gian quy định. Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khẩn trương triển khai ngay nhiệm vụ, trước hết là công tác khảo sát thiết kế. Để đảm bảo tiến độ, Bộ Tư lệnh sử dụng 3 lực lượng khảo sát gồm: 4 đại đội của Tiểu đoàn Khảo sát 976 trực thuộc Cục Tham mưu Công binh mới được thành lập; các đơn vị khảo sát trực thuộc các trung đoàn, các sư đoàn thi công và ba đơn vị được Nhà nước tăng cường phối thuộc có thời hạn gồm Đội Khảo sát 31, Đội Khảo sát 8 Viện Thiết kế Giao thông, đội TS - 73 trường Đại học Giao thông vận tải. Các lực lượng khảo sát nói trên được trang bị đồng bộ 130 máy kinh vỹ thuỷ chuẩn, bố trí thực hiện tại các địa đoạn sau: Đại đội 2 - Tiểu đoàn 976 được giao khảo sát đoạn Khe Gát đến U Bò dài 60 ki lô mét. Đây là đoạn khó nhất do địa hình rất phức tạp, phải vượt qua phà Xuân Sơn, mở trọng điểm lớn. Bước thị sát đã phải dùng máy bay trực thăng, dùng thuyền độc mộc len lỏi vào các khe suối để xác định tuyến đường. Đại đội 2 đã khảo sát đoạn này trong 4 tháng. Đội 31 - Viện Thiết kế Giao thông phụ trách từ U Bò đến Rào Reng dài 70 ki lô mét cũng là một trong những đoạn khó nhất. Đội 31 là đội khảo sát có năng lực của Viện Thiết kế Giao thông. Đội Khảo sát 8 khảo sát định tuyến từ nam Đắkrông đến đường B74 đi A Roàng. Đại đội 3 - Tiểu đoàn 976 nhận đoạn Đắkrông đến A Lưới dài 80 ki lô mét. Qua Đăkrông có hai phương án để thị sát so sánh, cuối cùng chọn phương án tuyến vượt qua Đắkrông bằng cầu dây văng, một kiểu cầu hiện đại thời đó. Đoạn này phải qua đèo Pê Ke là một điểm có địa hình, địa chất đều phức tạp, cũng là một đoạn khó khăn trong dự án. Đại đội 3 định tuyến 8 ki lô mét đoạn này, sau đó giao cho Đội Khảo sát 8 để chuyển vào khảo sát từ A Sờ đến cầu Thạnh Mỹ. Đội TS - 73 trường Đại học Giao thông được giao đoạn A Lưới đến A Vương dài khoảng 60 ki lô mét. Đội gồm 16 giáo viên, 4 cán bộ và 99 sinh viên khoá 9 và 10 công tác trong 6 tháng. Nếu đi sang đất Quảng Nam, phải vượt qua vùng núi tây đèo Hải Vân địa hình địa thế rất phức tạp, dài hơn, thi công không bảo đảm thời gian, nên tạm thời mượn 22 ki lô mét đất bạn Lào về phía tây. Đại đội 5 - Tiểu đoàn 976 đoạn A Vương đi A Sờ phải qua các cầu tương đối lớn. Đoạn này rừng núi trùng điệp cũng thuộc loại có địa hình phức tạp. Đại đội 4 - Tiểu đoàn 976 chuyên khảo sát khoan thăm dò địa chất, khảo sát thuỷ văn địa hình các cầu trên đường đông Trường Sơn và khôi phục hệ thống cầu trên đường số 9. Các đơn vị khảo sát của các trung đoàn, sư đoàn thi công chủ yếu khảo sát khôi phục từ Thạnh Mỹ trên đường 14 cũ trở vào phía nam theo địa đoạn đơn vị được giao thi công. Công tác thiết kế do phòng thiết kế Cục Tham mưu Công binh thực hiện. Các đơn vị khảo sát tuyến đường được giao thiết kế bản mộc ngoài hiện trường, tài liệu khảo sát địa chất thuỷ văn cầu được chuyển về phòng thực hiện thiết kế bước kỹ thuật thi công các cầu, dự toán khối lượng và tổ chức can in. Các cầu Bến Tất, Đắkrông công tác thiết kế đã được sự giúp đỡ của Viện Kỹ thuật Giao thông và trường Đại học Xây dựng. Do khối lượng khảo sát thiết kế quá lớn nên đã có lúc cho phép một số đoạn vừa khảo sát thiết kế vừa thi công. Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Tuyến đường trải dài từ Bắc vào Nam qua nhiều tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Đà, Kon Tụm, Gia Lai, Đắc Lắc, Phước Long, có địa hình khác nhau, địa chất phức tạp. Phía bắc qua rừng núi, âm u, nhiều núi đá,nhiều đèo, nhiều sông suối, thi công khó khăn. Từ Đắc Công Tây Nguyên trở vào có địa hình cao nguyên dễ thi công hơn. Khối lượng khá lớn so với đường mở phía tây, thời tiết cũng khá phức tạp, mưa nhiều, nhiều cơn bão trong năm. Mỹ đã rút quân, chỉ còn lại không quân của Nguỵ. Tuy nhiên ta vẫn phải cảnh giác đề phòng. Từ Quảng Nam trở vào, còn nhiều căn cứ gần tuyến đường. Công binh Trường Sơn rất phấn khởi chờ đón lệnh mở đường phía đông, nguyện vọng sâu xa trong nhiều năm nay thành hiện thực. Đã nhiều năm mở đường trong chiến tranh, công binh Trường Sơn hiểu hơn ai hết núi rừng Trường Sơn, biết cách khắc phục khó khăn, nay lại được thi công công khai ban ngày, được đảm bảo đầy đủ hậu cần, xe máy, vật tư, nhất định sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng cầu đường có cấp hạng là nhiệm vụ rất mới mẻ, công binh Trường Sơn chưa bao giờ thực hiện là trở ngại khó khăn lớn nhất đòi hỏi từ người chỉ huy đến chiến sĩ phải đổi mới cách suy nghĩ mới có thể phát huy được sức mạnh của trí tuệ, của trang thiết bị, của sức lao động nhằm đảm bảo được tiến độ yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật của tuyến đường. Nhận rõ đặc điểm tình hình, hiểu rõ đối tượng tác chiến để đánh thắng, biết rõ mạnh yếu của ta, Bộ Tư lệnh đã đặt vấn đề phải xây dựng con người trước hết ngay trong bước chuẩn bị bước vào chiến dịch. Đã mở các đợt tập huấn cho cán bộ, đào tạo huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn cho chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật tại trường lớp, học tập làm mẫu tại hiện trường, và đồng thời xin bổ sung các loại thợ nghề, thợ lái. Nhận rõ cán bộ là khâu quyết định, Bộ Tư lệnh đã tổ chức lớp huấn luyện tại Bang (đường 16) trong một tháng gồm gần 200 cán bộ từ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, các cơ quan của Bộ Tư lệnh. Nội dung cơ bản là thực hiện 3 đổi mới - đổi mới về nhận thức thi công theo hướng sản xuất công nghiệp chuyên sâu đồng bộ - đổi mới về phương thức tác nghiệp 4 sức mạnh: mã lực, thuốc nổ, công cụ cải tiến, thô sơ - đổi mới về tổ chức lấy trung đoàn chuyên sâu từng mặt, trung đoàn nền, trung đoàn móng, trung đoàn mặt đường, trung đoàn cầu, các đại đội có chuyên môn riêng của mình trực thuộc trung đoàn, bỏ cấp tiểu đoàn. Các cán bộ được tập huấn về đơn vị tổ chức truyền đạt và thực hiện trong đơn vị của mình. Về lái thợ yêu cầu cho nhiệm vụ rất lớn. Trường 975 có 5 đại đội được chuyên môn hoá đào tạo, trong 3 tháng đã đào tạo được 308 lái sử dụng các máy san, ủi, lu, máy đào, 34 đội trưởng thi công cơ giới nâng tổng số thợ máy trước khi vào chiến dịch lên 2.478 lái, 704 thợ, 474 nhân viên kỹ thuật. Về đào tạo khảo sát Tiểu đoàn 976 được biên chế Đại đội 6 đào tạo nhân viên khảo sát, đã tổ chức được 4 khoá giảng dạy đào tạo được 200 người có trình độ bậc 3 bổ sung cho các đơn vị. Viện Thiết kế Giao thông đã giúp 8 kỹ sư vào công tác giảng dạy trực tiếp trong 2 năm 1973-1974. Đào tạo bổ túc thợ kích kéo, thợ sắt, thợ bê tông về lý thuyết và thực hành tại Trung đoàn 99 cầu. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 09:06:28 pm Năm 1973, Bộ Tư lệnh đã cử 4 kỹ sư bổ túc sau đại học về kỹ thuật xây dựng cầu đường do trường Đại học Giao thông đào tạo tại Nam Định, nhiều kỹ sư cầu được học tập bồi dưỡng tại các cơ quan của Nhà nước, và tại đơn vị do các thầy, các kỹ sư ở các viện, các trường đại học vào giảng.
Bộ Tư lệnh cũng đã đề nghị bổ sung và đã tiếp nhận hàng trăm kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trung cấp các loại địa chất, thuỷ văn, cơ khí, xe máy, cầu đường,... Như vậy trong gần một năm chuẩn bị, Công binh Trường Sơn đã có một lực lượng khá mạnh, nhân tố quan trọng hàng đầu để vững vàng bước vào chiến dịch. Quân số được Bộ duyệt cho chiến dịch đường Đông Trường Sơn là 37.388 người, chiếm 37% lực lượng toàn tuyến. Hiểu rõ trang thiết bị xe máy và vật tư thi công là điều kiện để con đường thi công đạt tiến độ và chất lượng, Bộ Tư lệnh tìm đủ mọi cách để được đảm bảo: do Quân đội, do Nhà nước cung cấp và xin viện trợ của các nước Bạn. Trong số hơn 300 đầu trang thiết bị có 1.167 xe vận tải, xe ben các loại, có 30 xe 7 đến 14 tấn; 317 xe ủi, có 48 xe ủi 180 CV; 22 cặp chuyển, 25 máy san, 57 xúc E652 và 41 xúc lốp, gần 300 máy các loại máy nghiền sàng, trang thiết bị khoan thăm dò địa chất, xe xét nghiệm công trình lưu động, v.v... Bộ Tư lệnh chia toàn tuyến làm 3 khu vực phân công cho 3 sư đoàn Công binh phụ trách: Khu vực phía bắc giao cho Sư đoàn 473 đảm nhiệm 204 ki lô mét đường mới từ đường 9 đến Trao. Đây là đoạn được xem là trọng điểm của chiến dịch, được ưu tiên về nhân lực, trang bị chất lượng cao. Đoạn giữa do Sư đoàn 472 phụ trách từ Trao, Bung, Giàng, Khâm Đức, Đắc Công chiều dài 230 ki lô mét. Từ Giàng vào là đường cũ phải cải tạo. Khu vực phía nam từ Đắc Công qua các tỉnh Tây Nguyên vào Chơn Thành, địa hình vùng cao nguyên, tương đối bằng phẳng khối lượng không lớn. Bộ chỉ huy chiến dịch tập trung chỉ đạo khu vực phía bắc có khối lượng lớn, địa hình phức tạp, thời gian yêu cầu hoàn thành sớm nhất, lực lượng bố trí theo đơn vị được chuyên môn hoá như sau: Trung đoàn 6 đảm nhiệm đoạn nam cầu Đắkrông đến A Cho, đường đi ven sông Đắkrông là đoạn đường có địa hình phức tạp, ta luy cao vực sâu, được ưu tiên trang bị xe máy công suất lớn 180 mã lực. Khối lượng lớn nhiều đá thi công bằng biện pháp nổ mìn, có đội đục choòng chuyên nghiệp tác nghiệp ban ngày, đến giờ quy định mới được phát hoa đồng loạt, phá nổ theo tầng lớp từ trên cao xuống. Các đơn vị thi công khác đều tuân thủ biện pháp này. Trung đoàn 509 là trung đoàn mặt đường cấp thấp cấp phối sỏi, cống và cầu nhỏ vĩnh cửu. Trung đoàn 529 là trung đoàn chuyên thi công nền móng, thực hiện đoạn từ A Cho đến Tà Rụt, có đoạn đá 10 ki lô mét liền khối tại A Cho, là đoạn có khối lượng lớn theo thiết kế 1.680.000 mét khối, được trang bị một dàn xe máy mạnh, áp dụng biện pháp đánh bộc phá "bung" sau đó dùng xe máy xử lý. Trung đoàn 217 chuyên nền móng đảm nhiệm từ Tà Rụt Pê Ke đến Ha Tia. Điểm khó nhất là đèo Pế Ke, đá granit phong hoá, ta luy cao, được ưu tiên máy ủi, ép hơi khoan đá và bộc phá. Trung đoàn 542 đảm nhiệm từ A Lưới, A Sầu, Bù Lạch. Đoạn này tương đối bằng, chủ yếu đắp nền, làm mặt cấp phối sỏi. Trung đoàn 98 được giao đoạn khó khăn nhiều khối lượng Trao đi Bến Giàng. Ngày 01 tháng 01 năm 1974 chiến địch được mở theo lệnh của Bộ. Đã được chuẩn bị kỹ về mọi mặt, các đơn vị đồng loạt rầm rộ ra quân. Tiếng bộc phá, tiếng xe máy, tiếng còi chỉ huy vang dậy khắp tuyến đường. Với khí thế ngày ra quân, năng suất công tác ở các đơn vị cứ tăng dần từng ngày, từng công việc. Tại Trung đoàn 6 đã có phong trào thi đua của lái máy ủi C180 đuổi kịp năng suất của thợ máy bạn Cu Ba, đạt tới 700 - 800 mét khối/ngày. Trung đoàn 529 đã có biện pháp sử dụng nổ phá lớn kết hợp máy ủi để đục phá trên đoạn đường dài 10 ki lô mét liên tục đá liền khối tại A Cho đạt năng suất cao, đánh bộc phá có kỹ thuật, chủ yếu đá tung khỏi mặt đường. Trung đoàn 217 thi công đèo Pê Ke dài 15 ki lô mét, nhiều đá, đường lượn quanh co khúc khuỷu nhiều tầng. Các kỹ sư đã thiết kế phương pháp nổ vi sai, hiệu suất thuốc nổ đạt cao. Đội hình máy ủi kết hợp máy gạt thực hiện theo tầng, xả ta luy thủ công trên cao hàng chục mét, vẫn an toàn. Trung đoàn 98 những năm trước đã từng bền bỉ chung sống với đèo A Đớt quanh năm mây mù ẩm ướt, nay được tăng cường trang bị máy có công suất lớn, có đủ thuốc nổ đã vận dụng tốt 4 sức mạnh nên cũng nhanh chóng "quét sạch La Hia, đè đầu A Đớt" như khẩu hiệu đã đề ra. Trung đoàn 542 thực hiện đoạn Ha Tia, A Lưới, A Xô khối lượng đắp nhiều hơn, đã biết kết hợp máy ủi đất hai bên đường kết hợp máy san, một phần nhân lực, máy lu lèn theo sơ đồ thiết kế. Đơn vị đã có sáng kiến làm ke xả sỏi, đảm bảo xe ra vào liên tục không phải chờ lâu. Trung đoàn 515 chuyên thi công mặt đường, năm 1974 rải nhựa mặt đường còn lại trên đường số 9 sau đó rải thảm mặt đường bê tông nhựa đường đông Trường Sơn. Rải thảm mặt đường là một công việc mới lạ đối với công binh Trường Sơn, nhưng do có quyết tâm cao, có tinh thần tìm hiểu học hổi nên rất nhanh chóng, Trung đoàn 515 đã làm chủ được công nghệ hoàn toàn mới này. Trung đoàn 509 chuyên thi công mặt đường cấp thấp rải cấp phối sỏi, thi công công vĩnh cửu và cầu nhỏ, việc làm cũng hoàn toàn mới nhưng do được đào tạo, tích cực học tập nên trung đoàn triển khai một cách bài bản, đồng hành kịp thời với các trung đoàn làm nền đường. Trung đoàn cầu 99 triển khai nhanh chóng khôi phục hệ thống cầu trên đường 9, làm cầu treo Bến Tất trên đường 42 và cầu treo Đắkrông. Với sự giúp đỡ về kỹ thuật thi công của Viện Kỹ thuật Giao thông, trường Đại học Xây dựng, Trung đoàn biết tận dụng những dầm thép chiến lợi phẩm. Khi Trung đoàn 99 được điều động phuc vụ chiến dịch Xuân 1975, Trung đoàn 509 tiếp tục nhiệm vụ, cầu treo Đăkrông đã hoàn thành đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật. Trung đoàn 30, Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 472 là những đơn vị cơ động có nhiều kinh nghiệm mở đường trong chiến tranh, nay do được trang bị, được huấn luyện, được chuẩn bị tốt đã nhanh chóng hoà nhập, đã thành công trong việc vừa tự cải tạo xây dựng cơ bản đường 14 vừa đảm bảo vận chuyển đánh địch ở Thượng Đức và giải phóng Đắc Pét. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 470, năm 1974 tuy chưa đảm nhận công tác xây dựng cơ bản nhưng đã làm nền đường đúng tiêu chuẩn, rải cấp phối tại chỗ là cơ sở để những năm tiếp theo nhận công tác xây dựng cơ bản vững chắc hơn. Với khí thế lao động phục vụ chiến đấu năm 1974, giai đoạn đầu của chiến dịch đã thu được kết quả to lớn, từ Đắkrông trở vào, tuyến Đông Trường Sơn đã được chọc thủng và nối liền, các điểm "rắn nhất" A Cho, Pê Ke, A Đớt đã được cơ bản giải quyết. Tuy nhiên thời gian đầu tốc độ thực hiện còn chậm, chưa đồng bộ, chưa thực hiện nhanh chóng yêu cầu thi công dây chuyền. Năng suất máy ủi mới đạt 80% công suất, tai nạn lao động còn khá nhiều gây thiệt hại về người và phương tiện, còn chủ quan, sẵn sàng chiến đấu chưa cao nên để máy bay địch đánh vào đội hình ở Khâm Đức, tỷ lệ sốt rét còn cao 12,7%. Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974, ba cơn bão lớn đổ bộ gây sụt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng tốc độ xây dựng cơ bản. Nhận rõ trách nhiệm trước lịch sử, tháng 7 năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức hội nghị toàn tuyến, trong đó xác định mục tiêu cơ bản của công binh 6 tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975. Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh mở đợt "tổng công kích" từ đường 9 vào Xưởng Giấy. Đợt tổng công kích nhằm mục tiêu đến tháng 3 năm 1975 hoàn thành 75 ki lô mét nền, 102 ki lô mét móng, 6.000 mét cầu cống các loại với gần 2 triệu mét khối đá, 4 triệu mét khối đất, và 645.750 mét khối móng đường. Các đơn vị đã tổ chức làm 3 ca trên hiện trường, xe máy làm 1,5 ca/ngày, hậu cần đảm bảo tăng mức ăn hàng ngày, bảo đảm đủ ấm, chống muỗi, diệt sốt rét. Phong trào thi đua được dấy lên với khí thế mới. Kết quả đầu tháng 12 Trung đoàn 515 đã hoàn thảnh rải đá mặt đường đến tây Rào Quán, giữa tháng 12 Trung đoàn 99 hoàn thành cầu treo Bến Tất, các trung đoàn khác đều nỗ lực vượt qua các điểm rắn, hoàn thiện từng bước móng mặt đường. Cuối tháng 12 năm 1974 các đơn vị đã thực hiện 1.502.700 mét khối đất đá, 22 ki lô mét nền móng đường được hoàn thành, rải đá được 27 ki lô mét. Đầu tháng 3 năm 1975, các khu vực trọng điểm đã được đánh thông đúng với yêu cầu của chiến dịch, cơ bản đã nối liền tuyến Đông Trường Sơn từ phía Bắc trở vào. Đầu năm 1975, thắng lợi chiến dịch Phước Long mở ra một tình thế chiến lược mới có lợi cho ta. Từ 18 tháng 12 năm 1974 đến 08 tháng 01 năm 1975, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng hoạch định phương án tác chiến, tạo ra thời cơ lớn giải phóng miền Nam. Bộ Tư lệnh Trường Sơn động viên các lực lượng công binh đẩy nhanh tốc độ mở đường cơ bản và cải tạo một số trục đường chiến lược nối vào các trục đường Tây Nguyên và Nam Bộ. Chiến dịch xây dựng cơ bản Đông Trường Sơn đi vào giai đoạn quyết liệt, mạnh mẽ hơn, vừa đẩy nhanh việc mở đường theo tiêu chuẩn cơ bản vừa sẵn sàng đảm bảo giao thông phục vụ việc đón các binh đoàn cơ động và binh khí kỹ thuật lớn vào chiến trường. Đến tháng 3 năm 1975, bộ đội ta tiến công Buôn Mê Thuật mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đó mở chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng. Hàng ngày từng đoàn xe dồn dập nối đuôi nhau cơ động các binh đoàn chủ lực, các đoàn binh khí kỹ thuật lớn trên các tuyến đường công binh Trường Sơn bảo đảm. Cán bộ chiến sĩ trên tuyến Đông Trường Sơn vô cùng phấn khởi, trực tiếp vẫy chàohàng ngàn chuyến xe đang băng băng lướt qua ngay trên tuyến đường vừa được xây dựng với tiêu chuẩn quốc gia, tự hào chiến dịch xây dụng cầu đường Đông Trường Sơn đang hoà nhịp với các chiến dịch khác trên chiến trường. Cuối tháng 3 năm 1975, một phần lớn lực lượng xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn đã chuyển sang nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên trục đường 1A, đường 19, 21... đảm bảo cho đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Tuyến đường xây dựng cơ bản phía đông cùng với tuyến đường nâng cấp phía tây Trường Sơn đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình. Xây dựng cơ bản tuyến Đông Trường Sơn chuyển sang một giai đoạn mới để những năm tiếp theo hoàn thành chuyển giao cho lực lượng quản lý của ngành Giao thông vận tải. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 09:22:05 pm Đại tá NGUYỄN ĐÌNH ÁT Sinh năm: 11/1942 Qué quán: Khương Thương, Đống Đa, Hà Nội Thường trú: Nhà 123, ngõ 354, Đường Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.35741735 Từ trường Đại học Bách khoa chuyển sang Đoàn 559 Nguyên Thiếu uý Trợ lý Kỹ thuật phòng Vật tư xe máy Cục TMCB Trung uý, Trạm trường Y2 Binh trạm 32 Nguyên Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 524, Binh đoàn 11 Y2 - NHỮNG NGÀY ĐẦU TIÊN Cuối năm 1967, Đoàn 30, một đoàn sỹ quan trẻ mới ra trường của Phân hiệu 2 Đại học Bách khoa Hà Nộị - tiền thân của Học viện Kỹ thuật quân sự được điều động vào chiến trường. Đây là lớp kỹ sư xe máy đầu tiên vào Bộ Tư lệnh 559, tuy chỉ có 24 kỹ sư sĩ quan nhưng được phân công nhận nhiệm vụ tại 10 đơn vị khắp từ Bắc vào Nam trên tuyến đường Trường Sơn, xa nhất là Binh trạm 8 và chiến trường B5. Bốn chúng tôi, Nguyễn Phạm Tú, Nguyễn Đình Át, Trần Khắc Thiêm, Đặng Đình Viện được nhận nhiệm vụ tại Cục Tham mưu Công binh. Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh trực tiếp giao nhiệm vụ. Anh Thiêm và anh Viện về xưởng sửa chửa xe máy X34, trực thuộc Cục Tham mưu Công binh, Xưởng trưởng là đồng chí Bảy, một công nhân bậc cao có nhiều kinh nghiệm. Tôi và anh Tú được phân công về Phòng Vật tư xe máy, nhận nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phương án xây dựng các trạm sửa chữa xe máy công binh và xây dựng tổ cơ động kịp thời ứng cứu xe máy trên các địa bàn. Đầu mùa khô năm 1968, tôi được phân công dẫn một tổ cơ động vào chốt tại Ka Tốc trên đường 20 cách Lùm Pùm khoảng 14 ki lô mét về phía đông làm nhiệm vụ trung chuyển, lắp ráp máy húc loại C100, T100M nhập tuyến bằng cơ giới, từ đó cho máy tự hành vào giao cho các binh trạm phía trong đồng thời sửa chữa cấp cứu chi viện cho một số cao điểm quanh khu vực đóng chốt Ta Lê, Phu La Nhích, Văng Mu, Tha Mé. Tại đây, tôi được tin đồng chí Ngọ, cùng đồng chí Nguyễn Phạm Tú được cử xuống đồng bằng Quảng Nam công tác, trên đường về bị B52 rải thảm, cả hai hy sinh để lại nhớ thương cho đồng đội. Mùa mưa năm 1969, khi ra an dưỡng tại Sầm Sơn, Cục trưởng Phạm Văn Diêu giao cho Phòng Vật tư xe máy lập phương án xây dựng 4 trạm sửa chữa xe máy chốt tại 4 binh trạm trên cơ sở lực lượng có sẵn tại X34, xưởng sửa chữa của Cục Tham mưu Công binh và Trung đoàn 251 Công binh. Bốn trạm mang tên gọi chiến trường Y1, Y2, Y3, Y4. Đồng chí Lê Kim Thơ, Trần Nguyên và tôi dưới sự chỉ đạo của Phó phòng Đào Mậu, dựa vào thực lực của X34 và trang thiết bị còn lại ở các kho sau 3 ngày đã trình được phương án lên Cục trưởng. Trang thiết bị ban đầu của mỗi Y rất khiêm tốn, chỉ có 1 công trình xa sửa chữa cơ động APM - Liên Xô, 1 cần cẩu 4 - 5 tấn, 3 xe ôtô 2 - 3 cầu, 1 máy phát điện, 1 máy hàn điện, 2 hòm dụng cụ đồ nghề xách tay được bổ sung các loại vam của máy húc, các loại máy cưa v.v... Mỗi Y tương đương đại đội, quân số 32 - 35 người biên chế gồm 4 tổ: 1 tổ sửa chữa máy húc, ôtô và xe phóng từ, 1 tổ gia công cơ khí, 1 tổ lái xe và 1 tổ hậu cần; trạm trưởng, Trạm phó, chính trị viên chỉ huy trực tiếp. Tôi và trung uý Phạm Quất được Cục trưởng giao nhiệm vụ Trạm trưởng và Chính trị viên Trạm Y2. Được sự giúp đỡ của Cục Tham mưu Công binh, của Phòng Vật tư xe máy, chỉ trong vòng một tháng chúng tôi đã có đủ quân số, trang thiết bị và biên chế đội hình hành quân vào tuyến, trước các Y khác. Mới vào đầu mùa khô, chúng tôi phối hợp cùng các đơn vị công binh phát quang đường, chống lầy... vào tuyến an toàn cả đội hình và trang thiết bị. Bác Hồ vừa qua đời, một mất mát lớn lao của toàn dân tộc. Hành quân vào chiến trường nóng bỏng, chúng tôi càng thấy ý nghĩa của lời dạy của Bộ Chính trị "Hãy biến đau thương thành hành động" để nhắc nhở nhau phải công tác chiến đấu sao cho xứng đáng với công lao to lớn của Bác Hồ. Y2 đã hành quân an toàn vào Binh trạm 32 chỉ sau 3 ngày đêm hành quân nhập tuyến. Thống nhất với Binh trạm trưởng Đặng Văn Ngữ về nơi đóng quân, lập trạm. Đó là vùng quanh khu vực Km 45 đường 128B, một mảnh đất tương đối bằng phẳng, rừng cây còn chưa bị bom đạn cày xới như dự kiến của Cục trưởng Phạm Văn Diêu đã khoanh vùng chỉ định khi giao nhiệm vụ cho chúng tôi tại Sầm Sơn ngay sau ngày Bác Hồ đi xa. Nhận điện khẩn của Cục trưởng: "Trạm Y2 tổ chức lực lượng hộ tống đoàn xe đặc biệt hành quân vào tuyến trong...", chúng tôi phải vừa làm lán trại vừa chấp hành nhiệm vụ chiến đấu. Y2 vừa khảo sát xong địa điểm đóng quân tập kết xây dựng trạm, đang mở đường vào các bãi sửa chữa xe máy, vừa xây dựng nơi ăn chốn ở, thì công việc chuyên môn đầu tiên là hộ tống và sửa chữa khắc phục những hư hỏng của xe phá bom từ trường. Quả là một công việc không dễ dàng cho một trạm chỉ có chuyên môn như nhiệm vụ được giao "đảm bảo công tác kỹ thuật xe máy khí tài công binh..." Tại trường Đại học Bách khoa, anh em chúng tôi chưa có hiểu biết về loại xe phá bom từ trường, lại xa hậu phương, không có tài liệu kỹ thuật, chúng tôi đành triệu tập anh em thợ và lái xe phóng từ đến đế tìm hiểu mong tìm được lời giải đáp. -"Là thợ đóng cầu giao, khi máy điện đã hoạt động tốt rồi thì chúng em cứ mấy giây đóng, mấy giây ngắt cầu giao, là lái xe thì quay xe sao cho đúng hướng cần phá, đảm bảo phá được xa nhất, an toàn cho người và trang bị, không có các thông số kỹ thuật...", đó là câu trả lời của các lái thợ. Đành phải xem sổ ghi chép của anh em thợ lái ở lớp đào tạo ngắn ngày, chúng tôi chọn một xe còn hoạt động tốt, trực tiếp đo các thông số kỹ thuật, dùng la bàn kiểm tra độ nhạy của từ trường phát ra từ xe qua các hướng phá bom. Thực hiện bài toán ngược kiểm nghiệm qua thực tế như vậy, chúng tôi quyết định phương án sửa chữa khắc phục động cơ điện của xe, cuốn lại cuộn từ, hoặc tẩm sấy nhằm tăng độ cách điện, gia cố thêm một số bảo hiểm cho cuộn từ, cho người và xe phóng từ để anh em lái xe yên tâm. Anh em đội xe phóng từ lại tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ, thế rồi công việc cứ nối tiếp công việc, Y2 đã vào cuộc góp phần phục vụ chiến dịch vận chuyển mùa khô 1969 - 1970 như thế. Từ đó, như là một nhiệm vụ bổ sung không thành văn, Y2 thực hiện việc đảm bảo sửa chữa trang thiết bị phá bom từ trường như vậy. Từ việc phá bom từ trường rất thô sơ bằng việc rải dây đồng kéo nam châm vĩnh cửu, đến thiết bị cơ giới đầu tiên vào Trường Sơn là xe bọc thép PTR40, có cuộn từ "cuốn bụng" vuông góc với khung xe, nhược điểm dễ bị xây xước; ngấm nước, thường bị chập mạch, do đặt dưới gầm xe bị mảnh bom, gốc cây làm đứt dây khi bị va chạm mạnh. Và đổi mới vẫn là nhiệm vụ khẩn thiết để kịp thời đối phó với các thủ đoạn ngày càng nham hiểm của địch. Từ "cuộn từ cuốn bụng" đến "cuộn từ vành khăn" rồi "cuộn từ đặt gọn trên thùng xe" ATC, ATL, K60, tăng T54... đều là những tìm tòi thích ứng, là kết hợp của trí thông minh, lòng dũng cảm, thực tế, ngày đêm bám đường, bám trang bị, dám nghĩ dám làm, luôn phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Đó còn là sự nhanh nhạy trong các quyết định của cấp trên, sự đáp ứng của các phòng nghiệp vụ vật tư, xe máy, của sự phối hợp rất chặt chẽ, đồng lòng của các binh trạm khu vực, của các đơn vị công binh trên tuyến đường. Đến nay, người lính thợ Y2 trên chiến trường Trường Sơn, người còn người mất, đã từ lâu xa quân ngũ về sống nơi thường trú, tham gia công tác phường xã ở địa phương, nuôi dạy con cháu, được dân tin dân mến vẫn phát huy được bản chất anh bộ đội Cụ Hồ. Gặp lại nhau trong ngày truyền thống hàng năm, không ai có thể tổng kết được bao nhiêu ngàn lần sửa chữa bảo đảm cho bao nhiêu loại xe máy hoạt động trở lại, nhưng chắc chắn cán bộ, chiến sĩ Y2 không ai quên được ngày nhập tuyến lúc đầu mới thanh lập, ngày đó Y2 đã nhận một nhiệm vụ chưa được ghi trong chức trách, nhưng đã thành công tốt đẹp. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Tám, 2025, 09:26:09 pm TRẠM SỬA CHỮA KHU VỰC Y1 CÔNG BINH TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN Kỹ sư Hoàng Đinh Tú Trạm trưởng Trạm sửa chữa Y1 Cục Tham mưu Công binh 559 Sửa chữa Y1 là một trong bốn trạm sửa chữa khu vực trực thuộc Cục Tham mưu Công binh 559, được thành lập giữa năm 1969 tại Sầm Sơn Thanh Hóa địa điểm tập kết mùa mưa của Đoàn 559 để chuẩn bị cho mùa khô 1969 -1970. Bốn trạm khu vực đó mang tên Y1, Y2, Y3 Y4. Mỗi trạm đều có trạm trưởng là kỹ sư xe máy và một chính trị viên chỉ huy. Biên chế ban đầu khoảng 20 người gồm thợ sửa chữa, thợ cơ khí, thợ rèn, thợ nguội, thợ mộc, thợ điện, có biên chế y tá và nuôi quân. Trang bị ban đầu có 2 xe vận tải, công trình xa và các bộ đồ rèn, nguội, mộc, hòm đồ nghề xách tay, trạm nguồn điện. Trạm Y1 ban đầu được biên chế 20 người. Tôi - Hoàng Đình Tú là Trạm trưởng, anh Lê Văn Điềm là Chính trị viên. Tôi tốt nghiệp Khoa Cơ khí Đại học Giao thông vận tải từ năm 1968, sau đó được tập huấn 3 tháng tại Trường Sĩ quan Công binh tại Đáp Cầu, Bắc Ninh. Trước đó tôi công tác tại Trung đoàn Công binh 251 một thời gian tại sân bay Yên Bái rồi vào tăng cường cho Công binh 559 tại Binh trạm 33 và Binh trạm 34. Giữa năm 1969, Trạm Y1 thành lập theo quyết định của Cục Tham mưu Công binh 559. Cán bộ, thợ, lái của trạm Y1 trên cơ sơ lực lượng kỹ thuật của E251 và một số do Cục bổ sung. Trang bị ban đầu của Trạm Y1 có một công trình xa Bucedi Rumani kèm theo đủ trang bị như các trạm khác, một xe Gatz - 63 và một xe Zil- 15 7 đại tu do khối SEV viện trợ. Sau khi hoàn tất cơ bản các công việc chuẩn bị, tháng 12 năm 1969, chúng tôi nhận lệnh hành quân nhập tuyến, vào phục vụ các đơn vị Binh trạm 12 trên tuyến đường 12. Nhiệm vụ Trạm Y1 được giao là sửa chữa xe máy cho các đơn vị Công binh và các lực lượng của Binh trạm 12, thu hồi và tháo gỡ phụ tùng những xe máy bị địch đánh hỏng để sửa chữa phục hồi xe máy cho các đơn vị, đồng thời tận dụng vật liệu tại địa bàn gia công sản xuất dụng cụ công binh để kịp thời cấp cho các đơn vị. Tuyến đường 12 và 20 vào thời điểm này luôn bị kẻ địch đánh phá ác liệt nhất vì đó là hai trục đường chính đưa hàng từ hậu phương vào Trường Sơn rồi chuyển đến các hướng chiến trường miền Nam. Những ngày tháng đầu làm nhiệm vụ, bảo đảm kỹ thuật khu vực trên tuyến Trường Sơn, kinh nghiệm chưa nhiều, nhưng chúng tôi đã cố gắng hoàn thành mọi công việc được giao. Tháng 4 năm 1970, Trạm Y1 kết thúc nhiệm vụ trên tuyến đường 12. Những địa danh luôn ghi đậm trong mỗi cán bộ chiến sĩ Trạm Y1 chúng tôi như Khe Vè, cua Tay áo, Bãi Dinh, Cổng Trời, 050, đèo Mụ Giạ, Na Tông, Seng Phan... Chúng tôi nhận nhiệm vụ vào phục vụ tại Bộ Tư lệnh 470 - Bộ Tư lệnh Khu vực đầu tiên của Đoàn 559, ở cực nam tuyến Trường Sơn. Trạm Y1 đóng quân tại bắc Sê Ca Mán, trong một cánh rừng già để thuận lợi cho việc cơ động bảo đảm kỹ thuật xe máy Công binh phía nam Binh trạm 35, Binh trạm 36 và Binh trạm 37 là ba Binh trạm bảo đảm vận tải đường bộ và cũng đồng thời bảo đảm kỹ thuật cho các Binh trạm vận tải thủy nằm trên đất Cam Pu Chia của Bộ Tư lệnh 470 là các Binh trạm 50, 51,52, 53 và thuận lợi cho việc liên lạc với các cơ quan chức năng của Bộ Tư lệnh 470. Mỗi lần đi sửa chữa xe máy cho các đơn vị, có thể đi bằng xe ô tô. Tổ thợ cơ động thì hành quân bộ là chính vì ở cuối tuyến nên xăng dầu rất hạn chế. Bên cạnh Trạm Y1 là kho của Phòng Công binh Sư đoàn 470 bảo đảm cấp phát vật tư khí tài cho các đơn vị, trong đó có Y1. Nhiệm vụ của Trạm Y1 là không những sẵn sàng ứng cứu sửa chữa xe máy công binh, mà còn cho các phương tiện của các lực lượng vận tải trên đường bộ và cả đường thuỷ thuộc Bộ Tư lệnh 470. Dưới sự chỉ đạo của Phòng Công binh 470, trực tiếp là Ban Khí tài Vật tư Kỹ thuật của Phòng, lúc này trung tá Nguyễn Kỷ Phó Tư lệnh 470 phụ trách Công binh và các ban của Phòng Công binh. Với nhiều kinh nghiệm thực tế, chúng tôi thường xuyên tổ chức các tổ sửa chữa bảo dưỡng cơ động đến các đơn vị làm nhiệm vụ kịp thời và hiệu quả. Ngay năm đầu tiên đã khôi phục được 2 máy ủi 100 mã lực cho Binh trạm 36 và Binh trạm 37 trong hoàn cảnh thiếu phụ tùng và vật tư kỹ thuật. Hai máy này đã hỏng từ lâu, chưa có điều kiện sửa chữa. Đầu năm 1971, Trạm Y1 được Bộ Tư lệnh 470 giao nhiệm vụ khẩn trương khôi phục xe phá bom từ trường BTR-40 có số đăng ký BA-3793 của Công binh Binh trạm 36, bị bom Mỹ đánh hỏng nặng từ lâu. Phải thực hiện bằng được vì lúc này dốc Bô Phiên, ngầm Sê Ca Mán của Binh hạm 36 thường bị đánh phá ác liệt, gây tắc đường, trong đó có cả bom từ trường. Bộ Tư lệnh và Phòng Công binh đã cử kỹ sư Dương Đức Thịnh chịu trách nhiệm tính toán, thiết kế kỹ thuật và lập quy trình sửa chữa, trực tiếp hướng dẫn và cùng với lực lượng kỹ thuật Trạm Y1 tiến hành thực hiện nhiệm vụ này. Trạm Y1 tổ chức thực hiện khẩn trương, với trách nhiệm cao. Mọi nhu cầu vật tư đã được tính toán trên cơ sở thiết kế mẫu và khả năng thực tế của Sư đoàn 470. Chúng tôi đã bố trí kế hoạch chu đáo, chọn thợ có tay nghề khá để thực hiện nhiệm vụ. Sau 1 tuần lễ ở cực nam Trường Sơn, tận dụng vật tư sẵn có, chúng tôi đã khôi phục xong chiếc xe phá bom từ trường BTR-40 của Binh trạm 36, đã tính toán chu đáo, quấn lại hoàn toàn khung dây phá bom từ trường, thử nghiệm hoàn chỉnh các thông số kỹ thuật bằng phương tiện kiểm tra kỹ thuật đạt yêu cầu và bàn giao xe cho đơn vị lên đường làm nhiệm vụ. Rất vui mừng, khi thử nghiệm báo cáo kết quả có lãnh đạo Bộ Tư lệnh và các cơ quan chức năng của Sư đoàn 470 chứng kiến. Anh em chúng tôi ai nấy đều vui mừng hồ hởi vì đã thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Mùa khô Trường Sơn - mùa vận chuyển hậu cần, vũ khí đạn dược cho các hướng chiến trường, đó là những ngày tháng chúng tôi rất bận rộn phục vụ trên các trọng điểm ứng cứu, phục vụ các đơn vị. Những trọng điểm, những địa danh nổi tiếng khu vực 470 chúng tôi vẫn còn ghi nhớ mãi, đó là đèo Bô Phiên, ngầm Sê Ca Man, cua Ba Đổ, dốc Trực, dốc Công Binh, Tà Ngâu v.v... Ngoài nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật, ứng cứu xe máy các đơn vị công binh, các đơn vị vận tải thường xuyên và cấp cứu, Trạm Y1 còn chủ động thu hồi vật liệu từ thùng phuy hỏng, nhíp xe... để sản xuất rất nhiều dụng cụ công binh như dao, cuốc, xẻng, thuổng và dụng cụ khác phục vụ các đơn vị trên tuyến. Số lượng, trọng lượng dụng cụ sản xuất được quả thật không còn nhớ được. Chỉ nhớ là lúc nào cũng có dụng cụ đơn giản cung cấp cho các đơn vị. Đây là niềm vui của anh em Y1. Mùa mưa Trường Sơn, Trạm Y1 được giao nhiệm vụ sửa chữa bảo dưỡng xe máy công binh, xe vận tải, ca nô và nhiều phương tiện khác của các đơn vị trong khu vực để sẵn sàng có trang bị phương tiện làm nhiệm vụ ngay đầu mùa khô. Mọi nhiệm vụ cụ thể chúng tôi đã thực hiện tốt ngay trong mùa mưa. Mỗi lần từ trạm Y1 đến Phòng Công binh Sư đoàn 470 làm việc và báo cáo tình hình, phương án tốt nhất được chọn là đi bộ, leo đèo, vượt suối, vượt qua núi "ông Già", với chiếc "gậy Trường Sơn" chỉ sau nửa ngày là đến nơi. Phương án này có hiệu quả, tình cảm lại gắn bó, đậm đà. Năm 1972, Trạm Y1 được lệnh chuyển về đóng quân gần cơ quan Bộ Tư lệnh 470. Ngoài nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị công binh, các đơn vị vận tải, phải đặc biệt bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị vận tải đường sông, kể cả việc sửa chữa ngay tại kho bãi, bảo đảm sửa chữa xe máy cho các đơn vị cao xa để phục vụ nhiệm vụ giai đoạn mới. Năm 1973, lực lượng Công binh 470 được tăng cường lực lượng theo nhiệm vụ, có hai Trung đoàn Công binh là E4, E51 và nhiều tiểu đoàn công binh độc lập. Thời gian này, sau hiệp định Paris, đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá phía nam tuyến Trường Sơn, khu vực 470 và 471. Các trọng điểm đèo Bô Phiên, ngầm Sê Ca Mán, dốc Trực, dốc Công binh, Tà Ngâu v.v... bây giờ bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt gấp bội so với những năm 1971 - 1972. Anh em Trạm Y1 vẫn làm tốt nhiệm vụ được giao. Năm 1974, nhiệm vụ của 470 tăng lên. Lúc này có đến bốn trung đoàn công binh, đó là các Trung đoàn 4, 5, 10 và 30 cùng nhiều tiểu đoàn công binh độc lập. Chúng tôi, những cán bộ chiến sĩ Trạm Y1 đù trang bị, quân số chưa được tăng cường nhiều, năm 1970 chỉ được bổ sung 8 thợ sửa chữa, nhưng qua thực tế và trách nhiệm đã luôn bám sát các đơn vị, phục vụ kịp thời ở mọi nơi mọi lúc. Tháng 3 năm 1975, trong chiến dịch Xuân 1975 giải phóng miền Nam, Trạm Y1 đã cử nhiều tổ cơ động bám sát các Trung đoàn 4, 574, 551 đi phục vụ chiến dịch trên các trục đường 14,19, 7, 20, 21. Sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975, Trạm Y1 được đổi tên thành Xưởng 35 trực thuộc Bộ Tư lệnh Sư đoàn 470, đóng quân tại Buôn Mê Thuột. Quân số lúc này là 40 người. Kỹ sư Nguyễn Viết Giảng là Xưởng trưởng. Tôi được Sư đoàn 470 điều về Bộ Tư lệnh đảm nhiệm Phó Ban Vật tư và sau đó là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật. Tôi còn nhớ Y1 và sau này là Xưởng 35, được giao nhiệm vụ phải thu hồi phụ tùng linh kiện, trang thiết bị, khí tài xe máy công binh của Mỹ - Ngụy để khôi phục sửa chữa xe, tăng cường khả năng cơ giới của Sư đoàn. Có nhiều khó khăn vì vừa kết thúc chiến tranh, bom mìn vẫn còn đó, tình hình chưa ổn định. Nhưng mọi việc vẫn được khắc phục. Từ một trạm sửa chữa khu vực phát triển thành Xưởng sửa chữa xe máy Công binh 559 trên mọi nẻo đường Trường Sơn, trải qua những năm tháng Trường Sơn, Trạm Y1 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao tại địa bàn cực nam Trường Sơn. Sau khi Đoàn 559 - Bộ Tư lệnh Trường Sơn kết thúc nhiệm vụ trong hơn 16 năm bảo đảm cho các chiến trường, chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế - quốc phòng, tháng 4 năm 1976, chúng tôi chia tay nhau nhận nhiệm vụ mới, cương vị mới tại các đơn vị khác nhau. Bây giờ cứ vào tháng 12 hàng năm, anh em Trạm Y1 - Xưởng 35 công binh thuộc Sư đoàn 470 tổ chức gặp mặt tại Hà Nội đê ôn lại những kỷ niệm Trường Sơn năm xưa. Rau rừng, cơm muối, bom đạn địch, ứng cứu, sửa chữa khôi phục xe máy, sản xuất khí tài công binh, nước lũ và sốt rét Trường Sơn... Mỗi lần gặp mặt là cả một niềm vui lớn, xúc động, tự hào của những cán bộ chiến sĩ thuộc ngành bảo đảm kỹ thuật xe máy Công binh Trường Sơn năm xưa và cùng nhau chia sẻ những năm tháng đời thường. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:25:33 pm Đại tá DƯƠNG ĐỨC THỊNH Sinh năm: 10/1939 Quê quán: Nhã Nam, Tiên Yên, Bắc Giang Thường trú: Nhà 12, Phố Hoa Bằng, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 04.38348428 Từ Bộ Tư lệnh Công binh chuyển sang BTL 559 Nguyên Thượng uý, Trợ lý Kỹ thuật Xe máy, Phòng Tiếp nhận Cục TMCB - Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Phó Trưởng phòng Cục Vật tư, Bộ Quốc phòng TRƯỜNG SƠN VIỆT NAM - LA HA BA NA CUBA SÂU ĐẬM TÌNH ĐỒNG CHÍ Với danh nghĩa là đoàn Kỹ thuật Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, một đoàn cán bộ chiến sĩ đượccử đi học tập, nghiên cứu, tiếp thu kỹ thuật xây dựng cầu đường cấp cao, tổ chức quản lý, sử dụng khai thác trang thiết bị thi công hiện đại do Chính phủ và Nhân dân Cuba anh em tặng Việt Nam. Đoàn có 48 người gồm 4 sĩ quan, kỹ sư và 40 hạ sĩ quan, lái xe, thợ của Công binh 559, 2 sĩ quan, kỹ sư của Bộ Tư lệnh Công binh và 2 sĩ quan phiên dịch tiếng Tây Ban Nha của Bộ Quốc phòng. Thiếu tá Liễu Văn Thăng là Trưởng đoàn. Cả đoàn vừa mừng vừa lo về nhiệm vụ được giao, mặc dù các sĩ quan và chiến sĩ đều có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm. Các sĩ quan đều tốt nghiệp Đại học Bách Khoa HàNội, Đại học Kỹ thuật Quân sự, Học viện Cubưsép Liên Xô từ những năm 1963, 1965. Còn số anh em lái, thợ đều được đào tạo chu đáo từ các trường dậy nghề của Quân đội, đã trải qua những năm tháng công tác làm việc thực tế trên đường Trường Sơn. Trong hơn một tháng học tập và chuẩn bị ở Hà Nội, anh Đặng Hương, Trưởng phòng Tiếp nhận Cục Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn thường đến thăm hỏi động viên và phổ biến những kinh nghiệm khi học tập ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Phần học cấp tốc tiếng Tây Ban Nha và phong tục tập quán Cuba do hai sĩ quan phiên dịch đảm nhiệm. Ngày xuất phát hoãn đến 04 tháng 01 năm 1974 thay cho ngày dự kiến trước đó ngày 01 tháng 01, ngày Quốc khánh Cuba. Chiếc IL - 18 Liên Xô đưa chúng tôi bay theo tuyến Hà Nội - Viêng Chăn (Lào) - Bom Bay (Ấn Độ) - Karasi (Pakistan) - Tasken (Uzơbêkistan) đến Matxcơva (Liên Xô) sau 23 tiếng bay. Khi quá cảnh Karasi Pakistan, không một ai được ra khỏi máy bay vì lý do an ninh đặc biệt. Đến Matxcơva, chúng tôi được Phòng Tùy viên quân sự, Đại sứ quán nước ta tại Liên Xô đón tiếp thân mật, thăm hỏi ân cần vui vẻ. Trời lạnh giá, nhưng ấm áp làm sao! Chúng tôi1 (Liễu Văn Thắng, Phạm Hồng Tương, Dương Đức Thịnh, Phạm Kim Hải (Công binh 559) Hồ Quốc Tín, Nguyễn Văn Thanh (Bộ Tư lệnh Công binh). Hai phiên dịch Nguyễn Quang Xá và Nguyễn Văn Nhậm (Bộ Quốc phòng)) tranh thủ đi tham quan Quảng trường Đỏ, Lăng Lênin, tham quan Trường Đại học Lômônôxốp trên đồi Lênin, và cũng không quên đến Gum, Xum ở trung tâm Matxcơva. Rời Matxcơva đi La Habana Cuba trên chiếc IL-76 bay qua Địa Trung Hải - An Giê (Angiêri) - Ra Bát (Marôc), vượt Đại Tây Dương mênh mông. Sau hơn 17 tiếng bay, chậm hơn lịch trình 4 tiếng vì lý do kỹ thuật phải chờ tại sân bay Ra Bát Ma Rốc, chúng tôi đến sân bay Quốc tế Jose Marti, thủ đô La Habana của Cuba. Đất nước Cuba tràn ngập ánh nắng và gió lộng, nhộn nhịp, sôi động và vui tươi. Khi rời Matxcơva nhiệt độ dưới 10°c, giờ đây đang là 27°c lúc 11 giờ trưa (ở Việt Nam chắc còn đang là 23 giờ đêm hôm trước), chúng tôi đã đi cách Hà Nội nửa vòng trái đất. Đoàn chia làm hai nhóm vì giai đoạn đầu nội dung học tập khác nhau, số 40 anh em học lái thợ về Trung tâm Đào tạo kỹ thuật Quốc gia cách La Habana 60 ki lô mét, còn 6 sĩ quan chúng tôi ở National Hotel ngay cạnh bờ biển La Habana. Chúng tôi đến chào và thăm Đại sứ quán, Phòng Tùy viên Quân sự nước ta tại Cuba. Lúc này đại tá Hà Văn Lâu là Đại sự Đặc mệnh toàn quyền, đồng chí Lập thượng tá, đồng chí Đồn trung tá phụ trách Phòng Tùy viên quân sự. Chúng tôi vừa từ chiến trường sang đây, gặp các đồng chí ở bên này có nhiều chuyện để tâm sự. Chuyện Trường Sơn, chuyện chiến trường, chuyện miền Bắc, chuyện các vùng giải phóng và cả chuyện những vùng chúng tôi vừa đi qua, thân mật, đầm ấm và chân tình! Đại sứ tặng mỗi sĩ quan chúng tôi một món quà rất có ý nghĩa, đó là cuốn từ điển Tây Ban Nha - Việt Nam để có thêm điều kiện tiếp xúc học hỏi kỹ thuật tiên tiến trên đất Bạn. Biết chúng tôi là đoàn kỹ thuật của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang học hỏi nên Bạn tổ chức cho học tập, sinh hoạt rất chu đáo. Nội dung chương trình rất khoa học và đầy đủ, phong phú, cụ thể và thiết thực. Bộ Phát triển Nông nghiệp (D.A.P) cùng với Bộ Quốc Phòng Cuba, trực tiếp là Cục Công binh bố trí đội ngũ cán bộ kỹ thuật và chuyên gia cầu đường, kỹ sư xe máy Cuba có nhiều kinh nghiệm để giảng dạy, giúp đỡ. Đó là những kỹ sư đã tốt nghiệp ở Liên Xô, Italia và nhiều nước khác, đã có nhiều năm kinh nghiệm thực tế xây dựng cầu đường trên mọi miền đất nước và nhiều kinh nghiệm khai thác, sử dụng quản lý các loại trang thiết bị thi công tiên tiến nhất của những nước có nền kỹ thuật tiên tiến. Không thấy có những loại trang thiết bị lạc hậu chắp vá nào trong các đơn vị thi công cầu đường và ỏ các nhà máy sản xuất cấu kiện bê tông của Bạn. Bộ Quốc Phòng Cuba bố trí cán bộ thường xuyên đi cùng chúng tôi để giúp đỡ về học tập và sinh hoạt. Đó là hai đại úy Công binh J.J.L.Chacon và Colon, một sĩ quan bảo vệ và hai lái xe cùng hai xe chỉ huy Gatz-69A Liên Xô. Đồng chí Phó Cục trưởng Cục Công binh Bộ Quốc Phòng Cuba, trung tá P.R.G.Lon thường đến thăm hỏi tình hình ăn ở, học tập của chúng tôi. Sau mỗi bài giảng, Bạn tổ chức cho chúng tôi đi quan sát nghiên cứu thực tế ở những đội xây dựng cầu đường trên suốt tuyến đường cao tốc 8 làn xe xuyên Tây - Đông từ Thủ đô La Habana đến căn cứ địa cách mạng Siera Mestra nơi nghĩa quân của Fidel Castro hoạt động trước khi về giải phóng La Habana, các tuyến đường khác, cấp thấp hơn tại các bến cảng, các tuyến đường các khu công nghiệp, nông nghiệp trồng lúa, trồng mía và cây ăn quả, đường các khu kỹ thuật nghiên cứu, đường các khu y tế, trường học và du lịch, danh lam thắng cảnh v.v... Chúng tôi được tham quan, học hỏi thực địa mọi trạng thái của nhiều loại đường và các công trình trên đường: đoạn thì đang thi công móng, đoạn đang làm nền, đoạn đang làm mặt, đoạn đang hoặc đã hoàn thiện, taluy, rãnh, cầu, cống. Những con đường, những công trình cầu cống đều hoàn hảo, kỹ thuật tiên tiến, lâu bền không thể chê vào đâu được. Lúc đó, chúng tôi mong ước chúng ta có những con đường chỉ cần như đường Nông nghiệp ở cách xa các trung tâm lớn như ở đây. Bạn còn bố trí cho chúng tôi đi thực tế các xí nghiệp sản xuất cấu kiện bê tông, các đội làm đường. Mọi công việc được cơ giới hóa cao độ, kỹ thuật tiên tiến, phương tiện thi công, sản xuất hiện đại, sản phẩm đạt chất lượng cao, kỷ luật lao động nghiêm, năng suất cao. Bạn còn giới thiệu tỉ mỉ những kinh nghiệm tổ chức quản lý lao động, chỉ huy thi công và quản lý công trình, đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật, kinh nghiệm khai thác quản lý sử dụng các trang thiết bị thi công, sản xuất. Tất cả rất bổ ích và quý báu. Xen kẽ với việc học tập, Bạn tổ chức cho chúng tôi tham quan các khu di tích lịch sử cách mạng và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Viện Bảo tàng Cách mạng, Viện Hàn lâm, Trại Môncađa, bãi biển Hirông, nơi nghĩa quân Cuba đổ bộ bằng con tàu Granma giải phóng đất nước, khu căn cứ địa cách mạng Siêra Mestra, bãi biển nổi tiếng Cuba Varađêrồ,khu nghỉ mát Trung ương Guama và đặc khu Guantanamo cách đất Mỹ chỉ hơn 90 dặm. Tại đặc khu, chỉ huy Lữ đoàn đặc trách khu vực cho chúng tôi đến tận các trạm tiền tiêu quan sát khu Mỹ chiếm đóng. Bằng phương tiện quan sát hiện đại, trong giao thông hào, chúng tôi có thể nhìn rõ từng cử chỉ của lính Mỹ trong căn cứ này. Cả nhân dân Cuba rất ưa chuộng và tự hào về bài hát Guantanamera của mình. Nhiều người thuộc bài hát này và chúng tôi cũng rất xúc động tự hào cùng các bạn Cuba hát vang bài ca bất hủ đó. Còn có hôm Bạn cử 3-4 sinh viên giỏi đi làm phiên dịch cho chúng tôi tại những buổi tiếp xúc với Trường Đại học Quốc gia La Habana, Trường Cuhai, Trường Đại học Tổng hợp Orienté, thăm Trường Tiểu học vùng Nông nghiệp Miền Đông Orienté. Khi được thăm một hang động đẹp nổi tiếng trên đất Cuba, tôi liên tưởng đến: "Quảng Bình có động Phong Nha Có đèo Đá Đẽo, có phà Xuân Sơn." Đó là những địa danh nổi tiếng và ác liệt trong chiến tranh chống Mỹ, nơi chúng tôi đã từng làm nhiệm vụ những năm qua. Động Phong Nha còn là nơi Cục Công binh Đoàn 559 tổ chức cất giấu khí tài vượt sông khi làm nhiệm vụ trên tuyên Trường Sơn. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:28:19 pm Trước khi Đoàn "Xây dựng Hồ Chí Minh" của Cuba sang Việt Nam xây dựng đường Xuân Mai, Sơn Tây và Bệnh viện Đồng Hới, Quảng Bình chúng tôi được mời dự buổi gặp mặt thân mật tổ chức tại Versalles Motel ở Orienté. Nhiều nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cuba, nhiều đồng chí lãnh đạo và cán bộ cấp cao Bộ Xây dựng Cuba cũng có mặt.
Khi trở về nước, tôi gặp nhiều đồng chí Cuba đang làm việc miệt mài hăng say trên hai công trình này, trong đó được gặp lại anh Raun, thật mừng vui và xúc động. Ở mọi nơi chúng tôi đến, các bạn Cuba đều dành cho Việt Nam nói chung và đoàn chúng tôi nói riêng tình cảm tốt đẹp không thể quên. Trên đường từ thủ đô La Habana đi miền đông Orienté, Bạn đặt một tấm biển rất trang trọng "Venida Delegación Vietnamita ai Plan Arroz de Orienté", tạm dịch là: "Chào mừng Đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm vùng lúa Orienté". Thật sự là xúc động, thực tế chúng tôi chỉ là một bộ phận nhỏ của Quân đội nhân dân Việt Nam đến Cuba học tập về để xây dựng đất nước! Trong bất kỳ buổi gặp gỡ nào, các bạn Cuba đều nói: "Việt Nam - Cuba, đoàn kết nhất định thắng! Vì Việt Nam chúng tôi sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!". Thời gian này, vào cuối tháng 4 năm 1974, Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Cuba. Sau buổi mít tinh chào mừng tại quảng trường cách mạng José Marti La Habana trong hơn 5 tiếng đồng hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gặp mặt các cán bộ và lưu học sinh Việt Nam đang công tác học tập tại Cuba. Thủ tướng ân cần hỏi thăm và căn dặn mọi người phải công tác tốt, học tập tốt, đoàn kết tốt. Một buổi gặp mặt khó quên nữa là ngày 08 tháng 3 năm 1974, đại diện Cục Công binh, Bộ Phát triển Nông nghiệp và Hội Liên hiệp Phụ nữ thủ đô La Habana tổ chức đến thăm sĩ quan chúng tôi tại khách sạn National. Buổi gặp thân mật, đâm âm, chân tình và rất Việt Nam. Các chị trẻ trung năm đó giờ đây chắc hẳn cũng đã là bà nội, bà ngoại cả rồi. Đêm giao thừa Tết cổ truyền Việt Nam, Bạn đến thăm và chúc tết chúng tôi. Có đại diện của D.A.P (Bộ Phát triển Nông nghiệp), Cục Công binh. Đặc biệt hơn là có cả "phu nhân" các đồng chí thường làm việc với chúng tôi cũng đến dự. Đơn giản, nhưng đậm đà tình nghĩa, mãi đến gần 2 giờ sáng mới tạm gọi là kết thúc, chia tay tại National Hotel. Hạ tuần tháng 4 năm 1974 số sĩ quan chúng tôi kết thúc đợt I học tập, rời La Habana về Trung tâm Quốc gia đào tạo kỹ thuật ở cùng với 40 anh em lái thợ đang học tập tại đây. Nhà trường rất chính quy, nghiêm túc và chu đáo. Khi nhập trường, có lẽ bất kỳ ai cũng phải nghĩ ngay đến kỷ luật, nội quy và phải thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Số anh em lái thợ đã được bạn Cuba huấn luyện đạt kết quả tốt thực tế trên những loại hàng thiết bị Cuba mua của Nhật Bản tặng Việt Nam sẽ cập bến Hải Phòng đầu tháng 9 10 năm 1974. Bạn còn tổ chức cho anh em đi tham quan thực tế ở các đội làm đường cơ giới và nhiều cơ sở bảo dưỡng sửa chữa thiết bị thi công. Bạn rất khen ngợi tinh thần học tập và khả năng tiếp thu, thực hành của số anh em lái thợ của ta. Số sĩ quan chúng tôi được lãnh đạo Nhà trường bố trí nghiên cứu thêm công tác đào tạo, giảng dạy của Trường, công tác tổ chức, quản lý, khai thác các phương tiện thi công cơ giới, công tác đảm bảo kỹ thuật xe máy và chỉ huy thi công cơ giới. Đây là những nội dung và biện pháp Bạn đã thực hiện thành công và có hiệu quả cao trong cả nước. Ngoài 2 sĩ quan phiên dịch của đoàn, nhiều lúc còn huy động thêm 3-4 sinh viên Việt Nam đang học tại La Habana để hỗ trợ phiên dịch. Đội ngũ cán bộ nhà trường từ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn, các trợ giáo, đội ngũ cán bộ nhân viên thư viện, hậu cần, y tế đều thành thạo, trách nhiệm cao, toàn tâm toàn ý vì nhiệm vụ và rất có cảm tình với học viên quân sự Việt Nam. Điều này cũng giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình. Thầy dạy tốt, trò học tốt, đạt kết quả cao. Đó là những điều bạn Cuba và chúng tôi mong muốn đã đạt được. Ai cũng vui mừng. Khi kết thúc khóa học, Nhà trường cùng Đoàn chúng tôi ra tờ báo tường "Đoàn kết". Trong phạm vi có hạn, với 21 bài báo chúng tôi đã bày tỏ lòng biết ơn Nhân dân Cuba anh em, Nhà trường đã dành và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện tốt nhiệm vụ học tập. Trong buổi lễ bế mạc, tất cả chúng tôi đều mặc bộ quân phục mới nhất đem theo từ Việt Nam. Toàn thể cán bộ lãnh đạo Nhà trường, Hiệu trưởng kỹ sư Amando Lopez Nùnez, toàn bộ cán bộ công nhân viên của Trường gần 100 người đều có mặt. Đại diện của Bộ Phát triển Nông nghiệp D.A.P, Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng, đại diện Bộ Quốc phòng Cuba, tất cả các chuyên gia của D.A.P đã giảng dạy, các sĩ quan của Bộ Quốc phòng đã thường xuyên công tác với chúng tôi đều có mặt đầy đủ. Đặc biệt dự lễ bế giảng còn có bà Melba Hemalđer, sau là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cuba tại Việt Nam. Cả hội trường vang lên bài "Guantanamera" bài hát mà mọi người đều ưa thích. Các bạn Cuba đã làm tất cả để giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Cho đến nay, đã nghỉ hưu nhưng những tình cảm cao đẹp đó còn in sâu đậm mãi trong mỗi chúng tôi. Đã đến lúc chia tay các bạn Cuba sau 5 tháng học tập, chúng tôi trở về nước. Nhiệm vụ còn nặng nề ở phía trước trên tuyến chiến lược Trường Sơn đang chờ. Chúng tôi biết rằng, khoảng tháng 10, 11 năm 1974 sẽ có một Đoàn chuyên gia Cuba sang tuyến Trường Sơn công tác cùng với bộ đội Công binh Trường Sơn. Sáng 11 tháng 5 năm 1974, tạm biệt các bạn Cuba, tạm biệt La Habana, chúng tôi trở lại Matxcơva trên chiếc IL-76 của Hãng Hàng không Aeroflot. Riêng tôi mang theo trên vai tài liệu kỹ thuật của tất cả các loại thiết bị thi công Cuba tặng Việt Nam. Chuyến về, nguyện vọng của chúng tôi là được đi xe lửa từ Matxcơva qua Mông cổ và Trung Quốc. Đại sứ quán ta tại Liên Xô đã đáp ứng. Đúng 20 giờ ngày 13 tháng 5 năm 1974, chúng tôi rời ga trung tâm Matxcơva. Một cơ hội may mắn, chúng tôi được ngắm nhìn đất nước Xô Viết mênh mông từ Tây sang Đông. Tuyết đã bắt đầu tan. Những cánh đồng xanh tươi, những công trình đồ sộ, những thành phố, những kim công nghiệp rồi những cánh rừng taiga vùng Siberi trải dài hầu như vô tận. Đường xe lửa hai chiều đi sát ngay hồ Baikan huyền thoại. Chỉ có ngắm nhìn và yên lặng chiêm ngưỡng. Chỉ mất mười phút làm thủ tục khi qua ga biên giới Liên Xô - Mông Cổ vì hai đất nước này cùng sử dụng một loại đường sắt khổ 1,600 mét. Khi đến Ulanbato, thủ đô Mông Cổ, có dịp ngắm cảnh đất nước"đại thảo nguyên". Bên cạnh những tòa nhà và khuphố hiện đại, xa xa lại là những cụm lều bạt truyền thống Mông Cổ, thanh nhã, không chút ồn ào. Ngắm nhìn thảo nguyên mênh mông với những đàn gia súc khổng lồ mới hiểu vì sao người Mông Cổ lại có những bài hát vang xa như thế binh mã của Thành Cát Tư Hãn ngày xưa lại có thể trở thành những siêu kỵ sĩ đến vậy! Ga biên giới Mông Cổ - Trung Quốc trên tuyến đường sắt phía tây là ga Nhị Liên. Bây giờ trời đã tối, mất khoảng 40 phút thay bánh xe từ 1,600 mét sang 1,435 mét và làm các thủ tục quá cảnh. Đất nước Trung Hoa bao la đây rồi! Vùng phía bắc thuộc tỉnh Hà Bắc còn khá lạnh. Những ngôi nhà đất truyền thống được người dân xây cất rất cẩn thận. Những khu ruộng bậc thang mới đẹp mắt làm sao! Người nông dân chắc hẳn phải mất rất nhiều công sức để tạo dựng nên. Những viên đá ba lát được xếp gắn thẳng thắn, công phu, kỳ công và đẹp mắt nói lên sự nghiêm túc của ngành đường sắt tạo dựng cho hành khách lòng tin tưởng trong chuyến đi an toàn. Đến chân dãy Vạn lý Trường thành, xe lửa dừng lại 30 phút để khách chiêm ngưỡng công trình có một không hai của Trung Quốc và của cả nhân loại này. Đến Bắc Kinh, Đoàn chúng tôi được Đại sứ quán ta bố trí nghỉ ở khách sạn Bắc Vĩ hai ngày. Thế là có dịp tham quan Thiên An Môn, Di Hòa Viên và một vài nơi khác trong thành phố, vẫn tiếc là không đủ thời gian để đi thăm được nhiều nơi. Đến Bằng Tường đoàn tàu dừng lại đổi bánh xe từ 1,435 mét sang 1,000 mét và làm các thủ tục quá cảnh. Sau gần 2 tiếng chúng tôi lên đường về Hà Nội. 20 giờ 30 ngày 27 tháng 5 năm 1974, Đoàn về đến ga Hàng Cỏ, sau gần một ngày từ ga biên giới Bằng Tường. Thế là sau 12 ngày rời ga Trung tâm Matxcơva, chúng tôi đã về đến Hà Nội, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới sau hơn 5 tháng học tập tại Cuba. Khi trở về Cục Công binh Bộ Tư lệnh 559, chúng tôi nhận nhiệm vụ bắt tay ngay vào việc tổ chức tiếp nhận và chuyển vào Trường Sơn số trang bị làm đường Nhật Bản do Đảng Nhà nước và nhân dân Cuba tặng Việt Nam. Đã qua hơn 35 năm, nhưng tất cả những hình ảnh, những tình cảm mà Đảng, Chính phủ Nhân dân Cuba anh em nói chung và Đoàn chuyên gia cầu đường Cuba nói riêng đã dành cho Việt Nam - cho Trường Sơn luôn luôn in đậm trong mỗi chúng tôi - những cán bộ chiến sĩ Công binh 559 Bộ đội Trường Sơn anh hùng. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:32:24 pm TẤM LÒNG NHỮNG NGƯỜI BẠN THỤY ĐIỂN VỚI TRƯỜNG SƠN Kỹ sư Dương Đức Thịnh Thụy Điển ở Bắc Âu, là nước có nền kinh tế phát triển rất cao, ở cách xa Việt Nam hàng vạn dặm. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng đất nước của dân tộc ta, Chính phủ và Nhân dân Thụy Điển đã dành cho nhân dân Việt Nam tình cảm đặc biệt và sự giúp đỡ quý báu, có hiệu quả. Sau khi hoàn thành chu đáo việc tổ chức tiếp nhận, vận chuyển vào tuyến Trường Sơn bộ trang thiết bị và vật tư kỹ thuật cho bốn đội làm đường do Đảng, Chính phủ và Nhân dân Cuba anh em tặng, tháng 11 năm 1974, trung tá Đặng Hương, Trưởng phòng Tiếp nhận Cục Tham mưu Công binh 559 được giao nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận và chuyển vào Trường Sơn số trang thiết bị hiện đại thi công đường cấp cao của Chính phủ và Nhân dân Thụy Điển viện trợ không hoàn lại. Số trang bị vật tư quý giá này nước bạn Thụy Điển viện trợ cho Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để xây dựng mạng cầu đường, phục vụ nhiệm vụ giải phóng miền Nam và góp phần xây dựng đất nước sau ngày giải phóng. Phía Thụy Điển, cơ quan Viện trợ "SIDA" trực tiếp tổ chức thực hiện. Phía Việt Nam, cơ quan chủ quản là ủy ban Thống nhất Trung ương, trụ sở tại 19, 21 Hai Bà Trưng, Hà Nội (sau này là trụ sở Cơ quan Thường trực của ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, tiếp đó là trụ sở Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam), Cục Quản lý Viện trợ thuộc ủy ban Thống nhất Trung ương trực tiếp thực hiện. Bộ Quốc Phòng ủy nhiệm Bộ Tư lệnh Trường Sơn, trực tiếp là Cục Tham mưu Công binh tổ chức tiếp nhận với chức năng là một bộ phận của quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Sau khi được giao nhiệm vụ, Trưởng phòng Đặng Hương tổ chức triển khai một loạt công việc cần thiết: chuẩn bị lực lượng tiếp nhận gồm có cán bộ kế hoạch, kỹ sư, lái, thợ, hậu cần, lực lượng bảo vệ tại tổ chốt ở sân bay Cát Bi, Hải Phòng quan hệ với Phòng Nhập 6, Tổng công ty Xuất Nhập khẩu Thiết bị Kỹ thuật toàn bộ, Bộ Ngoại thương, về kế hoạch tàu vào các cảng biển Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh, quan hệ với Cục Vật tư và các đoàn tiếp nhận của Tổng cục Hậu cần được Bộ Quốc phòng giao làm nhiệm vụ tại các cảng biển này. Chúng tôi còn quan hệ với Công an để có được sự hỗ trợ bảo vệ khi nhận và đưa hàng từ các cảng về nơi tập kết. Các cơ quan đều tận tình giúp đỡ, là điều kiện đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp nhận số hàng viện trợ quý giá này. Vào thời điểm này, Phòng Tiếp nhận Công binh Trường Sơn cũng đang tiếp nhận trang thiết bị của Liên Xô cho bốn đội làm đường do Nhà nước cấp tại cảng Hải Phòng, theo quyết định số 628-VP9 ngày 16 tháng 3 năm 1974, trang thiết bị Nhà nước cấp qua Bộ Vật tư theo quyết định 17/CP ngày 17 tháng 01 năm 1975 và trang thiết bị vật tư kỹ thuật Bộ Quốc Phòng cấp cho Công binh Trường Sơn nhận tại Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Tây, Kiến An - Hải Phòng. Khối lượng tổng cộng đến 1.700 xe máy và hơn 550 tấn vật tư khí tài Công binh và vật tư kỹ thuật thi công đường. Từ tháng 3 năm 1975, Phòng Tiếp nhận thực hiện triển khai nhiệm vụ nhận 69 đầu xe máy và 4,2 tấn dầu mỡ chuyên dụng tại 3 cảng Hải Phòng, Đà Nẵng và Cam Ranh. Cụ thể gồm có: - 5 máy xúc bánh lốp LM16413,2m3/gầu, Thụy Điển sản xuất. - 30 máy ủi 180 mã lực KOMMATSU D85AI2 Nhật Bản. - 4 xe vận tải 14 tấn NISSAN Nhật Bản. - 30 máy hàn diêden di động ESAB Thụy Điển. - 4,2 tấn dầu mỡ chuyên dụng Nhật Bản. - Kèm theo 71 hòm dụng cụ đồ nghề và 301 kiện phụ tùng thay thế. Số trang thiết bị, vật tư kỹ thuật này vào thời điểm 1975 trị giá khoảng gần 3 triệu đô la Mỹ. Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1975, đã tiếp nhận tại cảng Hải Phòng và chuyển về sân bay Cát Bi 3 máy xúc, 30 máy ủi, 30 máy hàn, cùng với số dụng cụ đồ nghề phụ tùng kèm theo và 4,2 tấn dầu mỡ chuyên dụng, loại dầu mỡ "tư bản". Cục Tham mưu Công binh 559 phối hợp với Cục Quản lý xe máy Tổng cục Kỹ thuật tổ chức lớp tập huấn, bổ túc về kỹ thuật xe máy mới Việt Nam chưa có, Thuỵ Điển cử chuyên gia trực tiếp giảng dạy. Lớp học ngắn ngày được tổ chức chỉ một tuần lễ từ 19 tháng 5 đến 26 tháng 5 năm 1975 trong mấy chiêc nhà bạt Liên Xô đủ chỗ cho 22 người ăn ngủ, học tập tại đường băng sân bay Cát Bi, Hải Phòng, 13 học viên là của Công binh 559 và 9 học viên của Cục Quản lý xe máy. Ông Akselson, chuyên gia của cơ quan viện trợ Thụy Điển SIDA trực tiếp giảng dạy. Rất khẩn trương, ông đến Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 1975, ngày 17 tháng 5 năm 1975 đến Hài Phòng và ngày 19 tháng 5 đã bắt đầu lên lớp. Học viên Việt Nam là kỹ sư xe máy đã nhiều năm công tác thực tế, lái xe và thợ sửa chữa cũng đều có tay nghề khá, số cán bộ, lái xe ở Công binh 559 đã có thời gian được tiếp xúc với xe máy các nước tư bản Nhật Mỹ. Bảy ngày đêm dưới cái nắng hè nóng như lửa đốt tại sân bay Cát Bi nhưng chuyên gia Akselson đầy đủ nhiệt huyết với Việt Nam đã chỉ bảo tận tình, chu đáo, toàn diện từ việc lên lớp lý thuyết để thực hành trên xe máy. Ông là một chuyên gia mẫu mực cả về kỹ thuật và phong cách làm việc, mặc dù ông là người ở xứ lạnh Bắc Âu, một đất nước nhiệt đới cách xa Việt Nam hàng vạn dặm. Nghỉ giải lao giữa hai giờ học, ông tâm tình: được giúp đỡ Việt Nam anh em trong công cuộc đấu tranh giành độc lập thống nhất là vinh dự lớn cho ông, không phải ai cũng có được. Khó khăn lúc này không nhỏ. Học viên ăn ở ngay tại những chiếc nhà bạt dã chiến trên đường băng sân bay Cát Bi. Việc ăn nghỉ của chuyên gia và phiên dịch do Cục Quản lý Viện trợ Trung ương bảo đảm. Công việc quản lý hậu cần của lớp học do Công binh Trường Sơn lo liệu. Được chuyên gia Thụy Điển Akselson truyền đạt những kiến thức về tổ chức quản lý, khai thác sử dụng và bảo đảm kỹ thuật số trang thiết bị Thụy Điển viện trợ, chúng tôi thấy dễ tiếp thu, rất bổ ích và hỗ trợ tốt cho nhiệm vụ của mình. Lớp học chỉ kéo dài 1 tuần nhưng đạt kết quả tốt. "Thầy" nhiệt tình truyền đạt kiến thức, "trò" hết sức chăm chú lắng nghe. Lớp học kết thúc, thầy, trò lưu luyến chia tay. Việc còn lại của chúng tôi là tiếp nhận đủ, đồng bộ theo danh sách trang thiết bị vật tư Thụy Điển viện trợ. Hàng vào trên nhiều chuyến tàu biển, nhận tại 3 nơi: cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh, vào những thời điểm khác nhau, không liên tục, do đó đòi hỏi cán bộ phải năng động, nhiệt tình, và có kiến thức thực tế. Đến tháng 10 năm 1975 chúng tôi nhận số thiết bị vật tư còn lại của Thụy Điển gồm 4 xe tải 14 tấn Nissan Nhật Bản, 2 máy xúc Volvo M1461. Phụ tùng máy ủi Nhật có 240 kiện, tháng 5 đến tháng 10 năm 1975 đã nhận tại Hải Phòng 160 kiện, tháng 10 đến tháng 11 năm 1975 nhận 80 kiện tại cảng Cam Ranh. Riêng 1 kiện hàng đặc biệt nặng 42 kilôgam Bạn gửi qua đường hàng không, được tiếp nhận tại sân bay quân sự Gia Lâm vào tháng 4 năm 1975. Ngoài ra Cục Công binh 559, với danh nghĩa là Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam nhận 2 máy xúc lật TM - 157 Liên Xô có đủ phụ tùng dự trữ và dụng cụ đồ nghề kèm theo tại khu vực Núi Bò. Vì trời mưa, lầy lội nên sau 2 ngày mới nhận xong. Số trang thiết bị, vật tư kỹ thuật Thụy Điển viện trợ nhận ở cảng Hải Phòng được đưa về tập kết tại kho trung chuyển sân bay Cát Bi, được sắp xếp chu đáo, bảo vệ nghiêm ngặt. Ông Akselson khi đến "lớp học" cũng cảm thấy hài lòng về công tác tiếp nhận, bảo quản và bảo vệ trang thiết bị. Toàn bộ số trang thiết bị và vật tư kỹ thuật làm đường do Chính phủ và nhân dân Thụy Điển viện trợ được tổ chức chuyên vào đường Trường Sơn an toàn, kịp thời cấp phát cho các đơn vị làm nhiệm vụ, lúc này đang còn rất cần. Tình cảm của nhân dân Thụy Điển và ông Akselson đối với Việt Nam, với Trường Sơn là dấu ấn rất tốt đẹp còn in sâu đậm mãi đến nay trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Công binh 559. Ông Akselson làm việc ở Việt Nam trong thời gian rất ngắn, nhưng đã để lại một ấn tượng đậm nét với học viên, với cán bộ tiếp nhận thiết bị của nhân dân Thuỵ Điển chi viện cho nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:36:09 pm Kỹ sư TRẦN Y VINH Sinh năm: 1943 Quê quán: Đại Đồng, Thạch Long, Thạch Hà, Hà Tĩnh Thường trú: Đại Đồng, Thạch Long, Thạch Hà, Hà Tĩnh Điện thoại: 0396.518492 - 0919.786552 Cán bộ Ban Kiến thiết 206 Bộ GTVT chuyển sang Quân đội Nguyên Cán bộ Kỹ thuật Đội Khảo sát 1, Trung uý Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Trưởng phòng sở GTVT Hà Tĩnh ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN Đầu năm 1965, miền Bắc đang sống những ngày hoà bình, nhưng không yên ả. Gần như mọi người dân miền Bắc đã ngửi thấy mùi thuốc súng. Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, ngày 05 tháng 8 năm 1964, không ai nói với ai nhưng chắc sẽ có những sự chia tay giữa bạn bè, người thân, những người trong gia đình đã ngấm ngầm xuất hiện. Mà cũng phải thế! Phải chia tay tạm thời để sớm có ngày sum họp vĩnh viễn. Ngày đó đã đến với tôi và rất nhiều người, kể cả ở nông thôn, thành thị và những cán bộ đang ở các cơ quan nhà nước. 9 giờ sáng ngày 29 tháng 5 năm 1965, máy bay điên cuồng đánh phá ga Vinh. Lúc này tôi đang công tác ở Ban Kiến thiết1 (Nay gọi là Ban Quản lý dự án) 206, Cục Kiến thiết Cơ bản, Bộ Giao thông vận tải. Cơ quan ở gần ga Vinh, sau bệnh viện Quân khu 4 cũ, cách cơ quan tôi khoảng 500 mét. Thật là lạc quan và bình thản, tan khói bom, còi báo yên, mấy anh em tôi dắt nhau ra ga Vinh xem hiện trường. Cũng may, trận bom đó chỉ làm một người dân quê ở Hưng Lợi, huyện Hưng Nguyên đi qua bị thương, thiệt hại không có gì đáng kể. Cái nắng miền Trung, nhất là thành phố Vinh quả thật vô cùng khắc nghiệt. Gió Lào quật về nóng không chịu nổi. Tại cơ quan, chúng tôi phải quét nhà sạch, dội nước mới nghỉ trưa được ít phút. Nói là nghỉ chứ thực ra nóng quá có ngủ được đâu! Khoảng 13 giờ, một chiếc xe Gatz 69 đến cơ quan, xe của Cục Kiến thiết Cơ bản vào làm việc. Đúng 14 giờ, Trưởng ban Kiến thiết triệu tập họp cơ quan. Đây là một cuộc họp đột xuất, không ai đoán ra nội dung. Anh Phan, Cục phó Cục Kiến thiết cơ bản vào "đề" ngay: - Thưa các đồng chí! Hôm nay tôi chủ trì cuộc họp cơ quan của các đồng chí, kể cũng hơi lạ, nhưng không sao! Vì thời gian có hạn nên tôi muốn vào "cuộc" ngay. Nghe nói đến dây mọi người như nín thở, chờ đợi, pha lẫn ít nhiều lo lắng. Anh Phan nói một số tình hình thời sự tổng quát trong nước và trên thế giới. Đặc biệt anh nhấn mạnh việc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, tình hình có nhiều thay đổi. Ngừng một lát, anh Phan nói tiếp: Không còn nhiều thời gian, bây giờ tôi xin đọc quyết định của Bộ điều một số đồng chí đi công tác đột xuất. Đồng chí nào vướng víu gia đình, vợ con thì có ý kiến ngay, Bộ sẽ điều người khác. Nếu không, các đồng chí có tên trong danh sách khẩn trương chuẩn bị thu xếp, đúng 18 giờ 30, có xe đến cơ quan đón các đồng chí đi làm nhiệm vụ. Nghe xong, mọi người trong cơ quan đều im phăng phắc. Một giây lát, một trong 6 người được điều động, trong đó có tôi phát biểu: - "Thưa Cục phó! Anh em chúng tôi đã sẵn sàng nhận nhiệm vụ". Anh Phan vả Thủ trưởng cơ quan nở một nụ cười mãn nguyện. Anh Phan nói: Thay mặt lãnh đạo Cục, tôi chúc các đồng chí mạnh khoẻ, lên đường làm nhiệm vụ. Còn nhiệm vụ gì đến nơi tập kết các đồng chí sẽ rõ. Hẹn ngày gặp lại! Xe của Cục chuyển bánh, cơ quan tiếp tục họp ngay, anh Hoan, anh Trà trưởng phó ban một chút lúng túng pha lẫn ngậm ngùi khi phải chia tay với cán bộ của mình đi làm nhiệm vụ. Rồi đây ai còn, ai mất, dễ gì có ngày gặp lại. Chiến tranh đã bước vào thời kỳ ác liệt. Thử thách đầu tiên Đúng 18 giờ 30 phút ngày 29 tháng 5 năm 1965, một chiếc xe Gatz 63 tiến thẳng vào cơ quan. Sáu anh em có danh sách được điều động đi làm nhiệm vụ đã sẵn sàng. Bước xuống xe, tôi thấy một người thấp, đậm, nước da bánh mật, trạc khoảng 35 - 38 tuổi, bắt tay anh em rồi bước vào phòng đồng chí Trưởng ban Kiến thiết 206 nói một vài điều gì đó, sau quay ra với tác phong "rất quân sự": - "Xin mời các đồng chí lên xe". Ổn định chỗ ngồi rồi tôi mới biết đó là anh NguyễnHùng, quê Phú Thọ, trưởng đoàn chuyến đi. Trên xe đã sẵn có gạo, thực phẩm, súng CKC, đường, sữa và 24 cán bộ khác cũng thuộc ngành Giao thông. Mỗi người một cơ quan nên hầu hết chưa biết nhau. Tôi chỉ biết anh Nguyễn Vũ Trụ học trước tôi 2 khoá, và mấy anh em ở Ban Kiến thiết 206. Mùa hè ở thành phố Vinh nóng như nung mà xe phải bịt kín bạt. Không ai trong chúng tôi rõ mình được đi đâu và làm nhiệm vụ gì. Xe chạy lòng vòng gần 40 phút mới đến cầu phao Bến Thuỷ. Tôi đoán: "Các cụ nghi binh". Qua cầu phao Bến Thuỷ xe chạy theo quốc lộ 1, rẽ lên đường 8 và sang đường 15. Lúc này tôi nói với anh em: "Đi Nam rồi các ông ơi". Gần sáng thì đến xã Hương Thuỷ, Hương Khê, Hà Tĩnh. Nghỉ tại Hương Thuỷ một ngày. Lợi dụng đường rừng, vả lại thời kỳ này từ Hương Khê đến ngã ba Khe Ve máy bay đánh phá còn ít nên anh Hùng cho xe xuất phát lúc 17 giờ. Xe chạy suốt đêm, vượt đèo Mụ Dạ, qua cổng Trời đến đồn công an Cha Lo khoảng 4 giờ sáng, cả đoàn nghỉ lại, đến 16 giờ anh Hùng cho họp tổ và phân công các nhóm để làm nhiệm vụ. Lúc này toàn đoàn mới vỡ nhẽ: khảo sát và thi công đường quân sự. Tôi được phân vào tổ gồm có: anh Nguyễn Hùng, anh Đinh Kiện, anh Nguyễn Vũ Trụ, anh Kính công nhân khảo sát, anh Việt y tá và 2 đồng chí người dân tộc, quê ở Cao Bằng, vừa làm công nhân khảo sát vừa bảo vệ. Đêm đầu tiên, và cũng là lần đầu tiên chúng tôi ngủ ở đất bạn Lào, cách đồn Cha Lo khoảng 500 mét. Vào đầu mùa mưa ở đất Bạn, địa điểm chúng tôi trú đêm nằm vào "vùng đệm" giữa biên giới Lào - Việt. Bầu trời trong xanh! - "Không mưa đâu, đêm nay anh em ta nghỉ tại suối cạn, chặt cây đường kính 8-10 cen ti mét bắc ngang qua suối, dưới trải lá, trên trải chăn, ngày mai ta tìm vị trí đóng quân". - Anh Hùng nói. Cả nhóm chấp hành nhanh chóng và đi chặt cây làm giường. Đến khoảng một giờ sáng, bất thình lình một trận mưa ào ạt đổ về. Tất cả ngồi nhổm dậy, dùng đèn pin le lói kiểm tra mức nước suối. Quái lạ, nước về rất nhanh, đến khi gần mấp mé sạp ngủ, anh Hùng mới vội vã cho anh em chuyển lên sườn núi. Mưa ngàn, gió núi ào ạt đổ về, 30 phút sau toàn bộ sạp "giường" bắc qua suối cạn đã bị cuốn trôi. Thế là đêm đầu tiên trên đất Bạn, chúng tôi phải thức trắng, mỗi người lấy ni lông che mưa và ôm lấy một gốc cây. Tuy nhiên, chúng tôi là "lính cậu" nay gặp rừng, ngủ suối lại rất lạc quan, thậm chí còn thích thú, thoả mãn tính tò mò của tuổi trẻ. Ngày hôm sau cả tổ khảo sát cùng đi tìm vị trí đóng quân. Một cái hang đá thật lý tưởng, có thể chứa được 30 người, nấu ăn an toàn, không sợ khói. Kiểm lại quân số, tư trang còn đầy đủ, anh Hùng nói: - "Thế là yên tâm rồi!" Tổ khảo sát chúng tôi có nhiệm vụ khảo sát đường tránh 050. Đường này nối từ đường 12 đến ngã ba Lằng Khằng, đi Pha Nốp. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:38:02 pm Tháng 6 năm 1965, một tháng không thể nào quên ở trận đất Bạn. Mưa liên miên suốt ngày đêm, mưa trọn 30 ngày. Mưa dầm dề, tê tái, sên vắt được dịp hoành hành. Tổ chúng tôi ngày đầu xuất quân, chỉ để lại hang đá 2 đồng chí làm nhiệm vụ hậu cần, bảo vệ.
Anh Hùng nói: "Mình có kinh nghiệm ở Điện Biên rồi, các cậu yên tâm! Chúng tôi lần theo bản đồ dùng địa bản tìm hướng, vừa đi vừa dừng lại xem bản đồ. Khoảng 2 giờ chiều đến ngã ba Lằng Khang, anh em đùa tếu: "ngà ba lằng nhằng", hai từ đùa tếu này còn mãi đến nhiều năm sau. Mưa càng ngày càng nặng hạt, nước suối dội vềào ào. Anh Hùng động viên, không sao, hãy dũng cảm vượt qua sông Pha Nốp. Lúc này, đứng trên bờ sông, nhìn nước nguồn về ngày càng lớn, nước sông đục ngầu, chảy như thác, cả tổ khảo sát không thể qua được sông, đành quay lại cách đó khoảng 1 cây số để tìm hang đá trú ẩn. May sao tìm được một hang đá khá đẹp, có thể chứa được 20 người. Trong hang đã có sẵn sạp ngủ, chỉ cần củng cố, đỡ mất công. Anh em đoán đây là một chỗ trú quân của Pa thét Lào trước đây. Mặc! Trời đã tối! mưa càng ngày càng to, nước dâng cao. Vừa phân công nhau canh gác, số còn lại tranh thủ ngủ. Tối đó bọn tôi chỉ ăn nắm cơm buổi sáng mang theo, lúc trưa chưa kịp ăn. Ngày sau mưa càng nặng hạt hơn. Lương thực chỉ dự kiến mang đi có hai ngày. Mưa liên miên, ngày này qua ngày khác, nước chỉ cách cửa hang khoảng 1 mét. Sang ngày thứ tư hết lương thực, loanh quanh chỉ đi hái măng, luộc chấm muối. Sang ngày thứ 5, nguồn măng xung quanh hang đá cùng đã cạn, nước lại rút rất chậm. Thoáng thấy lo lắng! May sao, anh em cầm đèn pin rọi khắp hang đá thấy một bao tải muối và một chú lợn con khoảng 3 cân. Đói, mệt, ở trong hang đá thấm lạnh; anh em xin ý kiến anh Hùng cho bắt con lợn làm thịt Lúc đầu anh Hùng không đồng ý, nhưng sau nghe anh em nói có lý, anh Hùng cũng chấp nhận. Mấy anh em chạy đuổi con vật quanh hang đá mãi mà không thể bắt được, hang đá có nhiều ngóc ngách, đá tai mèo lởm chởm. Dùng súng bắn thì dễ nhưng cũng sợ vì mới một vài ngày chưa rõ địch tình ở vùng này. Loay hoay mãi rồi cũng tóm được chú lợn làm thịt. Anh Hùng phải chia phần: Làm xong lợn thì lòng, thủ, 4 chân ta liên hoan, còn lại thái nhỏ, kho muối bỏ vào ống pháo sáng. Mỗi bữa chỉ có măng luộc và mỗi người được hai miếng thịt nhỏ. Sang ngày thứ 6 nước đã rút khá mạnh nhưng chưa thể đi được. Đêm nằm trong hang đá lạnh, tôi ngủ miên man, tỉnh dậy thấy quần áo ướt đẫm, đói lại càng lạnh. Tôi vội gọi anh Hùng: - Anh Hùng ơi? Hang đá dột, em ướt hết cả rồi. Anh Hùng dậy soi đèn pin kiểm tra, tất cả đều an toàn, hang đá không hề có rò rỉ. - Không việc gì đâu! Em đói quá thôi, cố mà chịu, ngày mai ta lui quân... Trời tạnh mưa, nước lũ đã lùi về các con sông, con suối nhưng cũng đang còn nhiều đoạn trũng bị ngập. Có đoạn đường, chúng tôi phải lội nước quá đầu gối. May sao về đến "đại bản doanh" không ai việc gì. Cuối tháng 7 năm 1965, chúng tôi được lệnh rút về Đoàn bộ 559, lúc này Bộ Tư lệnh đang đóng quân ở R - một căn cứ của Đoàn 559 đóng ở Tuyên Hoá, Quảng Bình. Chúng tôi ở lại được 2 hôm, ngày thứ 3 lên đường nhận nhiệm vụ mới. Thử thách mới Qua ba đêm hành quân, chúng tôi đến Làng Ho, trên đường 16 để khảo sát và thi công tuyến xe thồ. Anh Đinh Kiện dạn dày kinh nghiệm được phân công chỉ đạo khảo sát đoạn tránh đèo 1001, chọc đường qua Cù Bai để đi về Sê Băng Hiêng. Tôi được phân công C phó kỹ thuật, một C thanh niên xung phong hầu hết người Quảng Bình, do anh Hỷ, người làng Bảo Ninh huyện Lệ Thuỷ làm C trưởng và một đồng chí C phó phụ trách hậu cần cũng người Quảng Bình. Đơn vị chúng tôi đảm nhận thi công đoạn đầu mối từ Làng Ho trở vào. Đường vừa khảo sát vừa thi công, cái khó nhất là trong tay không có một dụng cụ cần thiết đáng kể ngoài cuốc chim, xẻng, dao tông và lòng dũng cảm. Đường khảo sát đến đâu, thi công đến đó. Thi công đường không khó cho dù vách núi có chỗ dốc 60°. Cái khó nhất của đơn vị chúng tôi là phải giữ bí mật tuyệt đối, vì đường đầu mối không để máy bay phát hiện. Khó thứ hai là bắc một cầu treo qua suối Xa Rắc, ngay gần đầu mối dài hơn 40 mét. Tìm được vị trí đặt 2 mố cầu phù hợp là rất khó. Yêu cầu là mỗi bên suối phải có 2 cây cổ thụ cách nhau 4 - 5 mét, ở vị trí qua suối ngắn nhất, bởi vì nguồn vật liệu hoàn toàn do rừng cung cấp: gỗ, mây, song. Vấn đề quan trọng thứ hai là phải tìm bằng được 8 –10 dây song, mỗi dây dài 60 mét trở lên làm dây chủ. Song song với việc bố trí người xuyên rừng, lội suối tìm song thì một bộ phận làm đường, một bộ phận chặt cây để lát mặt cầu, mỗi cây dài 3 mét, đường kính 10 - 12 cen ti mét. Một bộ phận khác làm tời quay tự tạo để căng "cáp song". Qua 3 ngày lặn lội không quản khó khăn vất vả, thú rừng và máy bay rình rập (đã có một đêm bộ phận tìm song ăn cơm nắm, ngủ lại trong rừng để mai đi tiếp), cuối cùng cũng đã tìm được đủ số lượng song để căng "cáp" bắc cầu. Sau 7 ngày vật lộn với thời gian, mưa nắng, cầu treo Xa Rắc đã hoàn thành như kế hoạch dự kiến 10 ngày, rút ngắn được 3 ngày. Cầu treo rộng 1,8 mét, có 6 dây song làm "cáp" chủ, mỗi dây cách nhau 0,36 mét; phía trên mỗi bên 2 đây song và có làm lan can phòng hộ. Sau khi thử tải trọng tĩnh an toàn, rồi đến từng tốp thanh niên xung phong đi qua cầu đều cảm thấy thích thú và tự hào, lực lượng thanh niên xung phong đầy lòng nhiệt huyết, rất quả cảm. Tất cả cho miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tuyến đường 16 này có 2 cầu treo bằng song, mỗi cầu dài hơn 40 mét. Đây là 2 điểm chốt vượt sông cực kỳ quan trọng. Sau hơn 4 tháng thi công, đường xe thồ từ làng Ho, Lệ Thuỷ, Quảng Bình đến đường 9 Quảng Trị đã hoàn thành. Gian khổ, sốt rét hoành hành và tuy đã có bom đạn địch thăm dò nhưng với lòng quyết tâm vì miền Nam ruột thịt nên các cán bộ, thanh niên xưng phong đã vượt qua tất cả để hoàn thành nhiệm vụ. Một chiến công mà không có lòng yêu nước, không dễ gì có được. Đường đã hoàn thành. Một buổi chiều, tôi gặp anh Đinh Kiện từ tổ khảo sát "mũi nhọn" trở về. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi. Hai anh em, mới có mấy tháng mà thân hình đã gầy guộc, da vàng như nghệ vì sốt rét và gian khổ. Ăn cơm tôì xong, tôi và anh Kiện rủ nhau ra đường chơi. Đứng trên một chiếc cầu gỗ mới xây dựng, gió ngàn thổi vi vu, vọng lại tiếng hú của con khỉ lạc đàn, nghe giọng hót của con chim "khó khăn khắc phục" lúc xa, lúc gần, nghe mà buồn và nhớ nhà đến não ruột. Tôi thì chưa có vợ, còn anh Kiện lúc ra đi đã có một con nhỏ. Hai anh em cùng quê Hà Tĩnh, cùng một cơ quan ra đi! Lặng một lát, anh Kiện đột nhiên hỏi: - Vinh ơi! Đến khi nào hoà bình? Đến ngày đó ta cùng về quê". Tôi hơi ngạc nhiên nhưng cũng trả lời anh gọn lỏn: - "Trời mà biết được!" Anh Kiện nói với tôi, một ý nghĩ đùa vui mà lãng mạn: - Đến ngày hoà bình ta về qua thị xã Đồng Hới, mua một chiếc xe đạp rẻ tiền không chuông, không gác đờ bu. Hai anh em đạp thay nhau, về đến Hà Tĩnh, ông về nhà ông, còn tôi đạp xe về Đức Thọ thăm nhà. Sau đó tôi lại đạp xe vào nhà ông, bán xe đạp và mua rượu, thịt chó ta ăn mừng. Tiếc thay ước vọng đó không thành; xong Công trường 16, mỗi người đi một nơi. Mãi đến năm 1976 tôi mới gặp lại anh Đinh Kiện tại công trường cầu Thăng Long, Hà Nội. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:39:46 pm Xong Công trường đường xe thồ 16, từ Lệ Thuỷ, tôi được điều về đội khảo sát, lúc này Đoàn bộ 559 đóng ở Hạ Lào. Cùng đi với tôi có 5 thanh niên xung phong và anh Việt y tá;Hành quân cách Hoàn Lão, Quảng Bình 5 cây số, lúc này khoảng 17 giờ, thì bị một loạt bom toạ độ, tất cả bị vùi lấp. Tan khói bom, đi tìm nhau thì cô Ninh thanh niên xung phong, quê ở huyện Quảng Trạch hy sinh chỉ cách nhà cô khoảng 5 cây số, anh Việt y tá thì bị thương nặng, đến trạm xá tiền phương mới biết anh bị thủng 7 khúc ruột.
Tổ hành quân có 7 người thì một người hy sinh, một người bị thương nặng. Trời chập choạng tối, máy bay địch vẫn gầm gừ đâu đó. Thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng bom từ xa vọng lại. Quả thực năm anh em còn lại rất lúng túng. Tôi lấy súng bắn chỉ thiên 3 phát báo cho dân quân địa phương gần đó ra ứng cứu. Khoảng 5 phút sau thấy 10 dân quân vừa nam vừa nữ kịp thời đến địa điểm bom vừa dội. Tôi báo cáo tổng quát cho cán bộ địa phương, dân quân du kích và nhờ mai táng cô Ninh và bàn giao tư trang, giấy tờ cần thiết. Đồng thời xin 4 dân quân cáng anh Việt bị thương đến làng Cự Nẫm. Chúng tôi cùng hành quân về Cự Nẫm ngay đêm đó. Không một chút đắn đo chần chừ, tốp dân quân chấp nhận ngay. Thế đấy, cuộc chiến tranh nhân dân của ta thật là kỳ lạ sự kỳ lạ vĩ đại. Ở đâu cũng là tiền tuyến, ở đâu cũng là hậu phương; một người dân là một người lính, một người lính cũng là một người dân. Hợp tác giữa quân chính quy, bộ đội địa phương, dân quân du kích và mọi người dân thật là chặt chẽ. Ai ai cũng một lòng, một dạ dốc sức cho tiền tuyến. Không ai so đo, tính toán thiệt hơn, không ai sợ gian khổ, hy sinh. Mỗi người dân, mỗi người lính, mỗi cán bộ ở hậu phương cũng như ngoài mặt trận chỉ tập trung vào một mục đích, một quyết tâm: Tất cả để đánh thắng Mỹ Nguỵ, giành lại độc lập thống nhất nước nhà. Sau hai ngày hành quân, vượt đốc Ba Thang, khập khiễng đi trên đường 20 lúc này đang thi công, tuy rất mệt nhưng lại rất vui. Vui vì gặp được nhiều cô thanh niên xung phong đang thi công trên đường hóm hỉnh, vui tính, yêu đời. - Các chú bộ đội ơi! Ở đâu ra mà vàng vọt, xanh xao thế, chúng em thương quá! Các cô nhao nhao đùa. - Các chú ở "trong nớ" ra đây, các cháu có mệt không? Tôi hóm hỉnh trả lời. Một cô cười và nói: - Ơ! Cái anh này, bọn em hỏi đường thẳng mà anh lại bắt cong. Tôi nói tiếp: - Vẫn thẳng đấy chứ? Khéo thế! Mới chào chú xong lại chuyển sang chào anh. Hay thật! Vui với các cô thanh niên xung phong Diễn Châu rất bạo dạn ít phút, xong lại tiếp tục hành quân về Ban Chỉ huy Công trường 20. Mấy anh em chúng tôi đến công trường bộ khoảng 18 giờ, đúng vào tối 29 tết âm lịch năm 1965. Đến đây tôi gặp lại anh Cao Xuân Can, cùng cơ quan cũ sau gần 1 năm xa cách. Tết 1965 -1966, chúng tôi ăn Tết ở Công trường 20. Chiến tranh ác liệt, công việc khẩn trương, vất vả nhưng chúng tôi đón một cái Tết ở rừng Trường Sơn khá thịnh soạn. Ngày mồng 02 âm lịch, Tết năm 1966, chúng tôi tiếp tục hành quân về Lùm Pùm để nhận nhiệm vụ. Lúc này đường 20 đang thi công từ phà Xuân Sơn qua dốc Ba Thang, đường còn nham nhở đá và gốc cây, còn lại chúng tôi phải luồn rừng, lội suối tìm đường về Lùm Pùm. Đến địa điểm ít hôm, tôi được anh Phan Văn Kiến, quê Khu 5, Chính trị viên Đội Khảo sát phân công về nhóm cùng anh Bùi Quang Cảnh, anh Trần Quốc Dần, hai anh cán bộ kỹ thuật khoá trước, lại là đồng hương. Chúng tôi được nhận nhiệm vụ khảo sát đường tránh ngầm Tha Mé và đăng ký đường từ Lùm Pùm đi Tha Mé đến Si dài 62 ki lô mét. Vào thời điểm này, cả 3 anh em chúng tôi rất ốm yếu, sốt rét hoành hành liên miên. Đi công tác lẻ nên hậu cần rất khó khăn. Thời này phần lớn anh em ở tuyến đường Trường Sơn rất vất vả về hậu cần. Hàng vận chuyển từ ngoài Bắc vào đến Vĩnh Linh và sang đường 12, đến Khăm Muộn hầu như chỉ còn 30% để chuyển vào tiền tuyến, ở trung tuyến hậu cần rất khó khăn. Cũng may mà lính khảo sát đường Trường Sơn tuy vất vả, gian khổ, công việc lại rải khắp miền, mỗi nhóm chỉ 3-5 người nhưng anh em chịu khó học tiếng Lào, đầu tiên phải học tiếng bồi với mục đích để hỏi đường, chào hỏi ngoại giao và trao đổi trong sinh hoạt hàng ngày, nên cũng thuận lợi hơn. Những năm tháng chúng tôi ở Khăm Muộn và Xa Va Na Khẹt, gặp được đồng bào Lào rất khó, thậm chí còn hiếm, bởi vì máy bay Mỹ tàn phá hầu hết các bản Lào, dân phải vào sơ tán thành từng nhóm trong rừng sâu. Nhà dân là những túp lều nhỏ dựng tạm, rất cơ động. Trong điều kiện lương thực, thực phẩm rất khó khăn, lại ốm yếu do sốt rét rừng. Mùa mưa ở rừng Trường Sơn thì thật khủng khiếp. Mưa liên miên, mưa ngày này qua ngày khác, mưa tuần này sang tuần khác, mưa 3-4 tháng liền. Trong điều kiện địa hình và thời tiết như vậy nhưng chúng tôi vẫn làm việc, kịp số liệu để cuối mùa mưa, đầu mùa khô, bộ đội công binh và thanh niên xung phong tiếp tục mở đường ra mặt trận. Khảo sát xong tuyến tránh ngầm Tha Mé, 3 anh em Bùi Quang Cảnh, Trần Quốc Dần và tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ đăng ký đường từ Lùm Pùm đi S1. Việc đăng ký đường đã thi công, có một số nhiệm vụ chính: - Đo chiều dài đường để có số liệu tính toán cung độ vận tải. - Điều tra tài nguyên, chủ yếu là vật liệu gỗ, đá trên từng đoạn đường để có phương án đảm bảo giao thông trong mùa mưa. - Khảo sát kỹ những trọng điểm địch có thể đánh phá, từ đó có phương án tìm đường tránh thích hợp. Mới nghe qua thì đơn giản, thực tế lại vô cùng khó khăn và phức tạp, nguy hiểm. Hàng ngày phải có mặt trên đường để đo và đếm. Đo từng mét đường, đếm từng loại cây có khả năng dùng để đảm bảo giao thông, trong khi đó địch đánh phá thường xuyên. Có những đoạn đường, B52 đánh huỷ diệt với chiều dài hàng cây số, rộng hàng trăm mét. Những chỗ ấy muốn đi qua phải dùng đất hố bom trát vào mũ tai bèo và quần áo để nguỵ trang. Nếu không rất dễ bị máy bay L19 phát hiện. Chúng tôi đi lại trên đường thường xuyên nên rất sợ loại máy bay trinh sát này. Bao giờ cũng có 2 chiếc bay rất thấp theo hình số 8. Đang làm việc trên đường mà gặp loại máy bay trinh sát này là phải lùi vào rừng để tránh. Khi đã nghi ngờ một vùng nào đó, thường nó bay đi bay lại hàng giờ đồng hồ, nghe tiếng "vè vè" mà sốt cả ruột. S1 là điểm cuối đường chúng tôi đăng ký. Đến ngã ba đường, anh em thở phào: Hoàn thành nhiệm vụ và có đầy đủ số liệu. Nghỉ trưa, ba anh em ăn cơm nắm, nắm cơm chỉ bằng quả cam và một viên "ma di cô" mang theo. Vui và phấn khởi vì hoàn thành nhiệm vụ trước kế hoạch 7 ngày. - "Cần gì phải đi đâu xa, ngồi ngay trọng điểm "đàng hoàng" mà ăn!" Anh Dần vẫn lạc quan. - "Xin hai ông anh, em thì ngại lắm, mất "gáo" như chơi". Tôi nói. Thế là cả 3 anh em lùi vào rừng khoảng 500 mét vừa mát vừa kín đáo. Đang ăn dở thì ầm, ầm, ầm! Một loạt bom toa độ đánh ngay vào trọng điểm. Tôi thở phào, nói: "Biết mà? Thánh không? Nếu ngồi nghỉ ngoài đó thì "xong" hết cả rồi. Em thì không sao, chưa vợ con còn các ông anh thì vợ con lại khổ". Về đến chỗ đóng quân các ông phải khao em một "chầu" thuốc lào đấy nhé? Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:42:36 pm Chiến tranh còn tiếp diễn, ngày càng gay go và quyết liệt; hết đường này chúng tôi lại ba lô con cóc, đôi hài vạn dặm, súng, bản đồ, địa bàn đi tìm đường khác.
Đầu tháng 10 năm 1966, tôi và anh Trần Quốc Dần nhận nhiệm vụ: về đường xe thồ 16, bổ sung cho tổ khảo sát do anh Vi Văn Miết làm tổ trưởng làm đường tránh hai trọng điểm. Cuộc hành quân của hai anh em tôi tìm tổ khảo sát anh Miết cực kỳ khó khăn. Cung đường đi bộ theo bản đồ 1/100.000 khoảng 4 ngày đường. Trong tay chỉ có bản đồ và lương thực đủ ăn trong 5 ngày. Cái khó ở chỗ là đi theo bản đồ, qua các làng bản nhưng vì bản đồ có tỷ lệ khá nhỏ, mặt khác bản đồ này xuất bản trước 1940 nên qua nhiều làng bản có ghi trên bản đồ thì: một là, làng bản chuyển sang vị trí khác, hai là làng bản cũng đổi tên nên rất khó xác định. Chiều ngày thứ 5, chúng tôi đến gần Bản Đông, cạnh sông Sê Pôn thì trời vừa tối. Hai anh em phải ngủ tại một cái chòi canh lúa của nông dân Lào. Đêm đó nằm trong chòi trên đồi cao chúng tôi lấy rơm rạ chất ba phía làm "công sự", chỉ để một cửa nhỏ ra vào. Đêm đó thật đáng sợ, hai anh em súng đạn đã lên nòng, để song song với người đề phòng bất trắc. Khoảng 9 giờ đêm, dưới ánh trăng bàng bạc, nghe tiếng máy bay mỗi lúc một gần. Đầu tiên là C130 rải pháo sáng dọc sông Sê Pôn và Bản Đông (sau này chúng tôi mới biết đây là "Bản Đông nhạy - Bản Đông lớn", tiếng Lào). Một lúc sau, một tốp AD6 đến rải bom và bắn 20 ly xuống Bản Đông. Ngồi trên đồi cách đó khoảng 1 cây số, mỗi lần máy bay AD6 lao xuống bắn, chúng tôi thấy cả lưng máy bay. Vào thời điểm này toàn bộ dân bản đã sơ tán. Một đêm có chỗ nằm "thiên đường" nhưng không sao ngủ được vì nghe tin vùng này còn quân Phu Mi hoạt động. Ngày hôm sau hai anh em lại ba lô lên đường, đến Bản Đông không còn một ngôi nhà nào trọn ven. Gặp sông Sê Pôn là yên tâm lắm rồi. Theo bản đồ thì chỉ một ngày đường nữa là gặp được tổ anh Vi Văn Miết. Trời mưa rả rích, đứng trên bờ nhìn nước sông Sê Pôn đục ngầu, nước chảy cuồn cuộn. Suy đi tính lại, hai anh em quyết định dùng ni lông làm phao bơi qua sông. Nhưng nước sông chảy xiết, người ốm yếu, lại đói, nên không đủ sức vượt sông, mặc dầu biết qua được sông thì bên kia là đường số 9. Chúng tôi quay lại dừng dưới chân đồi 660, nhìn quanh thấy một con đường mòn nhỏ lên núi, tìm mãi không thấy dấu dày. Chúng tôi đoán trên đồi có bộ đội mình đóng quân. Đi được một quãng khá xa, đói, mệt, càng đi càng thấy vắng vẻ, lại xuống núi, mở bản đồ ra xem. Tính cung độ tỷ lệ trên bản đồ thì khoảng hơn 10 cây số có đánh dấu bản làng. Đọc kỹ thì thấy Bản Đông noi (Bản Đông nhỏ), cạnh sông Sê Pôn, cách đường 9 khoảng gần 2 cây số. Chúng tôi quyết định đi về bản đó để tìm phương tiện vượt sông. Một ngày đường trèo đèo, lội suối, gần tôi, chúng tôi đến được Bản Đông noi. (Đồi 660 chính là nơi năm 1972 quân ta bắt đại tá Thọ, ngụy quân Sài Gòn). Đến nơi, vào gặp phó bản, đầu tiên ông ta hăng hái nói: - Bản có thuyền độc mộc, để phó bản chở ta hán1 (Ta hán = Bộ đội) Việt Nam sang sông. Bên kia sông có một đơn vị ta hán Việt mới về đóng quân hôm qua. Súng nhiều lắm! Ta hán đông lắm. Lúc này trời đã tối hẳn. Nghe phó bản nói chúng tôi hơi ái ngại: Không hiểu "lão" này có theo Pha Thét Lào không? Bên kia có một đơn vị, có súng ống, có phải bộ đội của ta ngoài Bắc mới vào hay là một đơn vị của nguỵ (vì bản này cách Lao Bảo và đồn Huội San không xa). Một phút lưỡng lự, chúng tôi quyết định nghỉ lại Bản Đông noi. Phó bản một mực từ chối. Chúng tôi nói: "Phó bản không cho ngủ nhà sàn thì "mình" mắc võng ngoài cây mít. Và xin báo trước, đêm ai đến cách 20 mét phải lên tiếng, nếu không "mình" bắn". - "Ngủ ngoài rừng muỗi lắm, không chịu được mô. Mời Palangan (cán bộ) về nhà tôi mà ngủ". Chúng tôi cũng hạ giọng và theo phó bản lên nhà sàn. Vừa mới đặt ba lô xuống, mồ hôi ướt đẫm, tôi liếc nhìn qua bếp thấy mấy bó rau cải dựng xung quanh. Gần hai năm rồi có biết rau cải là gì đâu; chỉ ăn rau tàu bay, môn thục và cây chua ở suối. Nhìn thấy rau cải, tôi đã thèm chảy nước miếng. Tôi liếc mắt qua anh Dần và nói tiếng "lóng" của Việt Nam (để phòng phó bản biết - vì ông này cũng biết một ít tiếng Việt) để anh Dần "ra tay", anh Dần biết khá nhiều tiếng Lao. Anh quay sang tôi và nói: cứ để mặc anh, rồi quay sang pho bản, chỉ vào bó rau: - Phắc nhăng? Anh Dần hỏi (rau gì?). - Phắc cạt! Mường Việt gọi phắc nhăng? phó bản hỏi: - Mường Việt bò mi phắc cát (Việt Nam không có rau cải). Phắc ni kin đạy bọ? (Rau này ăn được không?). Anh Dần hỏi. - Kin đạy! Kin đạy! Chốp lai, (ăn được, ăn được, tốt lắm). Tà hán Việt Nam kin bừng (ăn thử) - phó bản nói. - Bò kin (khồng ăn). Anh Dần trả lời. Phó bản sợ bộ đội không tin nên lây ngay một lá rau lớn, đập đập bụi và bỏ vào nhai ngấu nghiến. Lúc này anh Dần cũng giả vờ lấy một cọng và nhấm nháp... Sau đó, phó bản nói đại ý: Bộ đội Việt lấy rau cải luộc mà ăn, ở đây nhiều lắm. Anh Dần quay sang tôi cười. - Chú lấy một ít, rửa và luộc chấm muối, thử coi! Lính khảo sát ngoại giao khá tốt! Rất may, sau này chúng tôi mới biết một nửa thanh niên bản này còn đi lính Phumi. Sáng sớm hôm sau, phó bản dẫn chúng tôi ra một chiếc thuyền độc mộc, tự chèo đưa chúng tôi sang sông. Chúng tôi hơi yên tâm. Lên bờ, phó bản chỉ cho chúng tôi chỗ đóng quân của một đơn vị bộ đội, nhưng chúng tôi vẫn cảnh giác, tìm đường đến đường 9. Đi ngược đường 9 gần đến Bản Đông, tìm đường rẽ vào đường 16, tìm tổ anh Vi Văn Miết. Mãi tới gần 4 giờ chiều, đi trên đường giao liên, nghe lao xao ở sườn núi, chúng tôi đành liều và gọi hờ: - "Anh Miết ơi? Anh Miết? Vinh, Dần đến đây rồi". Dưới sườn đồi nghe vọng lại: "Chờ tý, lên ngay". Ôi chao ơi! Ba anh em gặp nhau mừng không kể xiết. Một lúc, anh Miết giọng Khu 5: - "Các cậu về trước đi, theo lối này, rồi rẽ trái sẽ gặp một bản không có dân, có một cậu ở nhà đang nấu ăn". Tôi và anh Dần tìm đường về "bản quán". Tối đó, 9-10 anh em rất vui, quây quần bên mâm cơm có cá suối nâu lá chua ở rừng, một ít cơm và một ít rau tàu bay luộc. Xong hai tuyến đường tránh đường xe thồ 16, chúng tôi trở về Đoàn bộ Bộ Tư lệnh 559, Đội Khảo sát cũng ở gần đó. Lại một chuyến chia tay. Tôi, anh Miết, anh Dần trở về Đội Khảo sát. Số anh em còn lại đi làm nhiệm vụ khác. Ba anh em Miết, Dần, Vinh lại hành quân qua Quảng Bình. Không may, đến trạm Mai Thuỷ, Quảng Bình, anh Miết sốt rất cao. Qua một ngày một đêm mà anh vẫn sốt dữ dội. Sang ngày thứ hai, trạm trưởng giao liên Mai Thuỷ nói: Hai đồng chí cứ hành quân theo kế hoạch; anh Miết không đi nổi, chúng tôi lo sau. Chia tay anh Vi Văn Miết lòng chúng tôi tràn đầy lo lắng, xúc động. Nếu anh bị một cơn sốt ác tính thì vĩnh viễn anh em xa nhau và chúng tôi sẽ vô cùng ân hận. Dù vậy, theo kế hoạch, thực ra là lệnh, chúng tôi phải hành quân. Ngày sau, tôi và anh Dần về đến xã Đại Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, gần cầu Chánh Hoà. Nghỉ một ngày chúng tôi lại hành quân, sang đất Bạn, nơi bản doanh của Đội Khảo sát... Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:44:23 pm Đón xuân Đinh Mùi 1967
Về tới Đội Khảo sát Cục Tham mưu Công binh. Lúc này, tóc tôi hoe vàng, Cục trưởng Phạm Văn Diêu, gọi đùa tôi là: "Xuân tóc đỏ" - một nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Tôi chỉ cười... Gần Tết rồi mà anh em chẳng thấy gì. Anh Kiến, Chính trị viên nói: "Các cậu yên tâm, có hết, có mọi thứ. Tết này tôi giao cho đồng chí Vinh làm bếp trưởng". Tôi hoảng quá vì tôi mới vẫn là "lính cậu", chưa từng tổ chức "cỗ bàn" lần nào. - "Xin thủ trưởng! Em không làm được đâu!" - Tôi nói. - Anh Kiến cười nói: "Cứ làm đi, có gì tôi giúp. Mà có gì đâu, hái hoa dân chủ, cơm muối, măng rừng và dăm bảy hôp thịt. Có vậy mà không làm được à!". Khoảng hơn 5 giờ chiều, rừng Trường Sơn đã tối lắm rồi, nghe tiếng chuông điện thoại: rèng! rèng! rèng! Anh Kiên Cầm ống nghe: - "Trạm xá phải không? Cái gì đấy? Sao! Sao! Thịt nai à?Bao nhiêu ký?". Anh Kiến cười: "Ít quá, quân tôi tết này về đông lắm". Bỏ máy xuống. Anh Kiến nói to: - "Các cậu ơi? Lại có món thịt nai, tuyệt vời. Tết này thế mà khá". Anh Kiến quay sang tôi nói: - "Vinh ơi! Cậu quản lý thật tốt đấy, nếu không sáng mai mồng một Tết chỉ còn lại miếng da thôi! Lính khảo sát khiếp lắm!". Tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng vì có thêm chất tươi, lo vì không khéo lại như anh Kiến dự đoán. Giờ đón giao thừa xuân Đinh Mùi (1967) sắp đến, chúng tôi ớ dưới hầm ngầm với ngọn đèn dầu hoả leo lét, vài ba gói chè Hồng Đào và mấy gói thuốc lá Tam Đảo, mấy gói thuốc lào. Chỉ vậy thôi nhưng anh em rất vui. Riêng tôi khá bận rộn việc "bếp núc". Thỉnh thoảng lại có cậu ghé tai tôi nói nhỏ: "Tao miếng thịt nai, nhỏ thôi, tao nướng"... Đến mờ sáng ngày mồng một Tết, tôi xuống kiểm tra bếp thì đúng như anh Kiến dự đoán, 5 ki lô gam thịt nai chỉ còn lại da và một ít thịt lằng nhằng. Ngày đầu xuân khá yên bình, không nghe tiếng bom rơi, đạn nổ, máy bay chiến đấu cũng im tiếng, chỉ vè vè tiếng máy bay trinh sát L.19 ở miệt rừng xa. Đúng 15 giờ, tiếng chuông điện thoại réo rắt, anh Kiên cầm ống nghe, chúng tôi ngồi bên chỉ nghe anh Kiến trả lời: - "Vâng! Vâng! Báo cáo thủ trưởng, xin tuân lệnh. Mấy giờ lên đường?" - "Đúng 17 giờ 30', đi cùng đồng chí Hà Kỳ Thự, đại uý. Vâng, vâng!" Anh Kiến nhắc lại. Chiều mồng một Tết, đơn vị hội ý đột xuất, anh Kiến nói: - "Báo cáo với các đồng chí, đầu năm đơn vị ta "mở hàng" sớm. Cục đã điện thoại trao đổi và giao nhiệm vụ cho đội khảo sát chúng ta cử 3 đồng chí đi làm nhiệm vụ. Chúng tôi đã hội ý trong ban chỉ huy cử đồng chí Thương, đồng chí Hùng và đồng chí Vinh đi công tác đợt này. Đúng 17 giờ các đồng chí sang Bộ Tư lệnh gặp đồng chí Hà Kỳ Thự cùng đi. Nhiệm vụ cụ thể đồng chí Thự sẽ trao đổi...". Đúng 17 giờ 30' chúng tôi xuất quân. Tiết xuân trời dìu dịu mát. Hoàng hôn xuống, rừng Trường Sơn phủ một màu bàng bạc. Chúng tôi ngồi trên một chiếc u-oát, anh Thự ngồi trước, anh Thương ngồi sau lái xe, anh Hùng, quê Hưng Yên ngồi ghế giữa, tôi ngồi sau anh Thự. Xe bắt dầu xuống dốc Vang Mu thì C.130 đã giăng đầy pháo sáng. Anh Thự nói: - "Tăng ga, vượt ngầm, lợi dụng pháo sáng mà chạy". Xe lao xuống được 2/3 ngầm thì ầm ầm, một tốp A.D6 bay ngược chiều và lao xuống nhả đạn 20 ly. Tôi thoáng thấy chớp nhoáng trước đầu xe, xe khựng lại, đồng chí lái xe bảo: - "Xe trúng đạn rồi thủ trưởng ạ!". Tất cả nhìn ra sau, anh Thương quê Thừa Thiên đã gục xuống ghế, anh Hùng bị một viên 20 ly xuyên qua đùi ở phần mềm. Máy bay chỉ nhả một loạt 20 ly rồi đi, pháo sáng đã tắt ngỏm. Kiểm tra kỹ thì anh Thương bị một viên 20 ly xuyên qua tim và hy sinh ngay, anh Hùng bị thương. Anh Thự quyết định cho xe quay lại bệnh viện 59. May mà xe hỏng nhẹ, còn đi được. Về đến đơn vị chúng tôi dự đoán: Đáy là kiểu bắn "cầm canh" của máy bay Mỹ qua các trọng điểm, chứ không phải phát hiện được mục tiêu... Mọi chuyện lại thay đổi... Sau một thời gian, tôi được phân công cùng một nhóm làm tài liệu từ Binh trạm 7 chuyển ra... Và thế là sau cái tết Đinh Mùi đáng nhớ, tôi làm bếp trưởng, được xuất quân đầu năm và được chứng kiến sự hy sinh, mất mát và đau thương của đồng đội, đồng chí. Tôi viết những dòng này như một nén tâm nhang tưởng nhớ đến vong linh của đồng chí Nguyễn Ngọc Thương và các đồng đội đã ngã xuống ở chiến trường. Chúng tôi những người còn lại sẽ mãi mãi không bao giờ quên các Anh. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:53:29 pm Đại tá ĐẶNG VĂN NGỮ Sinh năm: 1928 Quê quán: An Tảo, Kim Động, Hưng Yên Thường trú: Nhà 14-N2, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38536626 Từ Bộ Tư lệnh Công binh chuyển vào Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Binh trạm trưởng Binh trạm 32, Trưởng phòng Bảo đảm Giao thông Cục Tham mưu Công binh Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 565 MỞ ĐƯỜNG CẤP TỐC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG TRỊ THIÊN VÀ ĐƯA ĐOÀN THÂN SĨ YÊU NƯỚC MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG THEO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN RA HẬU PHƯƠNG Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, thành phố Huế vẫn đang kiên cường tiếp tục chống giữ, giành giật của hai bên trở nên ác liệt. Địch đã nống ra A Sầu, A Lưới đổ bộ quân bằng trực thăng xuống chiếm giữ vùng núi Con Mèo ngã ba đường đi Nam Đông Khe Tre, đi A Lưới, A Sầu. Địch đã phải trả giá bằng 34 trực thăng bị bắn rơi trong một ngày, nhưng vẫn không chịu từ bỏ ý định chiếm giữ dốc Con Mèo. Việc tuyên chi viện Trường Sơn với chiến trường Trị Thiên bị chia cắt đang giằng co quyết liệt giữa ta và địch, buộc Binh trạm 42 phải bằng mọi cách nối thông đường vận chuyển đưa hàng vào chiến trường. Sau buổi giao ban căng thẳng, một đoàn đốc chiến của Bộ Tư lệnh được thành lập khẩn trương vào giúp Binh trạm 42, binh trạm sát nách chiến trường để thực hiện nhiệm vụ đó. Phó Tư lệnh Lê Đinh Sum cùng một số sĩ quan các ngành chính trị, tác chiến, pháo binh, hậu cần, vận tải, công binh, trên hai xe Gatz 69, chạy lấn sáng lấn chiều, vượt qua ngã ba La Hạp đi thẳng vào chỉ huy sở Binh trạm 42, tại khu vực Động Con Tiên cách dốc Con Mèo không xa. Binh trạm trưởng Hoàng Huyềnh đã có mặt đón đoàn tại địa đạo trung tâm, và dẫn khách về nhà nghỉ, ăn sáng. Nhà khách của Binh trạm là những nhà hầm nửa âm nửa dương, đào dựa vào sườn đồi, nguỵ trang rất khéo, mái lợp cỏ tranh, có hầm chữ A liền kề, cửa hầm bố trí thuận tiện. Mỗi nhà có 2 hoặc 3 giường nằm chân thấp, dát giường ken nứa bằng phẳng, có chăn đơn, màn đơn sạch sẽ gọn gàng. Một chiếc bàn tre nhỏ, thường trực chiếc đèn bão dầu ma zút cài một miếng bìa che ánh sáng, đề phòng máy bay địch phát hiện cạnh đó một chiếc ca Trung Quốc pha nước, 4 chiếc chén trong đĩa men sắt. Có ai nghĩ rằng ở đây ngày đêm đang đối mặt với chiến trường? Trong buổi làm việc đầu tiên với Binh trạm, Phó Tư lệnh Lê Đinh Sum nói rõ nhiệm vụ, phân công từng mảng công việc. Việc phải triển khai hết sức cấp bách là trong 10 ngày phải nối thông đoạn đường tránh dốc Con Mèo đến Sông Bồ gặp đường 12 sẵn có để chi viện hàng trực tiếp vào Huế. Lực lượng nòng cốt thi công đường là công binh Binh trạm 42, một tiểu đoàn của Trung đoàn 7 công binh do đồng chí Lê Văn Xương, Trung đoàn trưởng chỉ huy trực tiếp, Trung đoàn 4 của đồng chí Tạ Viết Quý, 2 máy ủi đã bố trí tại nam A Lưới. Ngoài ra còn huy động thêm 4 tiểu đoàn đi B dừng lại tham gia mở đường. - "Bộ Tư lệnh đã giao cho đồng chí Đặng Văn Ngữ, Trưởng phòng Bảo đảm giao thông chịu trách nhiệm chung, đồng chí Bùi Đức Tạm, Phó Chủ nhiệm Chính trị giúp đồng chí Ngữ công tác chính trị, và vào họp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại địa đạo trên đường 12" - đồng chí Phó Tư lệnh kết thúc buổi làm việc. Công việc triển khai rất khẩn trương, việc đầu tiên là bố trí cán bộ công binh làm nòng cốt giúp đỡ các tiểu đoàn quân đi B biết cách tổ chức thi công. Trên đường, vừa đi vừa giao nhiệm vụ cho từng đơn vị về khối lượng và mệnh lệnh, về thời gian hoàn thành. Hiểu rất rõ nhiệm vụ phục vụ chiến trường, các đơn vị phấn khởi hứa quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Đúng đến ngày thứ 10, Chính uỷ Vũ Xuân Chiêm trực tiếp gọi thắng điện thoại cho tôi: - "Sống chết gì, vào ngày hôm nay đồng chí vẫn phải cho xe vận chuyển hàng vào đường 12!" Những đoạn dốc còn cao trên tiêu chuẩn, chúng tôi đã kịp thời huy động cả nhân lực và máy húc bảo đảm. Mặt trận đã huy động một đại đội dân công người Vân Kiều gùi sắn, bột bống báng bổ sung khẩu phần lương thực hiện đã thiếu thốn, cạn kiệt. Đoạn đường đã được khai thông. Một đoàn xe Gatz 69 chở chuyến hàng thiết yếu đầu tiên vào đến Sông Bồ giao cho chiến trường. Công việc tạm ổn, đồng chí Thế, Binh trạm phó tác chiến truyền đạt chỉ thị của Tư lệnh giao bảo đảm an toàn cho một đoàn thân sĩ của Mặt trận ra hậu phương. Đoàn gồm Thượng toạ Thích Đôn Hậu, Phó Chủ tịch liên minh các lực lượng dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam, cụ Nguyễn Văn Đoá, giáo sư trường Đồng Khánh, bả Tuần Chi và chú tiểu lái xe của Thượng toạ lúc còn ở Huế. Đồng chí Thế, Binh trạm phó tác chiến, được giao tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ này và tôi, Trưởng phòng Bảo đảm giao thông Cục Tham mưu Công binh tham gia. Chúng tôi xem lại toạ độ nơi đón đoàn, nghiên cứu điện của Bộ Tư lệnh và tổ chức thực hiện ngay. Hoàng hôn đã buông xuống miền Tây Huế. Một đêm mới sang xuân, trời mưa phùn nhẹ hạt, se lạnh. Trong thời điểm cuộc chiến đang trong thế giằng co ác liệt, không gian cứ trầm trầm, ẩn ẩn, họ đã gặp nhau, hai trưởng đoàn trao đổi mật hiệu, tay bắt mặt mừng. Một tập thể tổ chức quân đội miền Bắc ở chiến trường có sĩ quan, chiến sĩ, quân y đi theo đón một đoàn các nhân sĩ, các phật tử sống trong vùng địch hậu gần suốt cả cuộc đời, khác nhau cả về cuộc sống vật chất đến phong cách tập quán, nhưng tất cả đồng nhất một nguyện vọng độc lập dân tộc, thống nhất: đất nước. Mới lần đầu gặp nhau trong ánh sáng mờ ảo, sao như đã quen nhau từ lâu! Thượng toạ Thích Đôn Hậu có thân hình tầm thước, dáng đi đạo mạo, vẻ mặt đượm chút tư lự đăm chiêu, hai tay chắp vào nhau có chút gì vừa cung kính vừa thân tình gọi mọi người bằng đồng chí. Đã biết trước trong đoàn có bà "Tuần Chi1 (Vợ Tuần phủ Nguyễn Đình Chi)", Binh trạm bố trí 2 nữ quân nhân phục vụ. Bằng giọng Huế ngọt ngào, bà trìu mến nắm tay, vỗ vai, xoa đầu khen ngợi các cô gái dịu hiền, khoẻ khoắn, rắn rỏi. Bà đăm chiêu nhìn xa xăm, có lẽ bà đang liên tưởng nghĩ đến các cô gái con bà. Cụ Đốc Đoá, một nhà giáo nổi tiếng ở nội đô thành phố Huế, đã lớn tuổi, dáng không được khỏe, anh Thế đề nghị mời cụ lên võng nhưng cụ nhất quyết không chịu. Một tay cầm gậy, một tay cầm chiếc đèn pin đã bọc "mùi xoa" che mờ ánh sáng, đi hàng dọc giữa anh Thế và tôi, vừa đi vừa trao đổi chuyện trò. Cụ Đốc Đoá là nhà trí thức Huế, hoạt động cách mạng đã khá lâu, am hiểu nhiều mặt, từ vùng giải phóng đến miền Bắc, cụ lại vui tính, cởi mở, nói chuyện râm ran dọc đường với anh chị em như đã thành người bạn đường thân thiết. Đến trạm tiền phương Binh trạm 42, trăng lên quá đỉnh đầu, đã "nửa đêm, canh ba, giờ tý"- cụ Đốc Đoá nói vui như vậy. Sương đêm về sáng nhỏ giọt, rừng khuya trải dài bàng bạc. Giá như không có tiếng OV10 rè rè bền bỉ, tiếng bom toạ độ xa xa, tiếng pháo cầm canh điểm đều đều, quay vòng một bán kính mà tâm của nó đâu đó từ thành phố Huế nổ vu vơ thì cảnh quan đất trời với núi non Trường Sơn trùng điệp nơi đây cũng đã khẳng định một cảnh đẹp u tịch thần tiên hiếm có. Đây là chặng nghỉ chân, nói là "tiền phương dã chiến" nhưng đoàn cũng được tiếp đón khá chu đáo, có nước nóng rửa chân tay, có bát cháo khuya ăn tạm, mắm muối đậm đà. Bên hầm chữ A tiền phương nhường cho khách, ánh pháo sáng lập loè khi vơi khi đầy, đủ giúp họ sắp xếp một chỗ ngả lưng tạm thời nhưng thật thú vị. Lo cho các vị phật tử cao niên, tạm an tâm, anh Ngữ, anh Thế và đoàn phục vụ, rất quen thuộc động tác tự phục vụ mình, đã nhẹ nhàng treo xong chiếc võng vi ni lông, không quên vắt lên đoạn dây dù dọc võng mảnh ni lỏng màu xám che sương đêm. Cả đoàn chủ, khách đà im lặng trong không gian tĩnh mịch. Một giấc ngủ ngon lành hiếm có ngay tại chiến trường. Cả cuộc đời đã xế bóng của 3 vị khách cao niên chắc chắn chưa có được một lần mà có lẽ cũng khó có được lần thứ hai. Trưa ngày hôm sau, đoàn đến Binh trạm bộ 42. Thượng toạ, bà Tuần Chi, cụ Đốc Đoá nắm chặt tay Binh trạm trưởng Hoàng Huyềnh và Chính uỷ Binh trạm xúc động trầm trồ khen ngợi, thán phục việc tổ chức tiếp đón nhiệt tình, đã thắng lợi ở chặng đầu tiên. Chỉ huy Binh trạm cùng dùng cơm trưa chiêu đãi khách. Các vị không khỏi ngạc nhiên với bữa cơm chiêu đãi này. Giữa rừng núi âm u xung quanh dầy bom đạn, đoàn phật tử từ cố đô Huế lên, lại có một bữa "cơm chay" thật sự. Giữa bàn, hai đĩa đậu phụ được đơm đầy. Anh nuôi bày rất khéo, nhưng không hoa lá, hai bát tương, đĩa rau cải tăng gia đĩa nộm hoa chuối trộn vừng, cụm rau sống, và khá nhiều loại rau bày gọn trên hai chiếc lá dong rừng xếp ngược đầu nhau được cắt ghép thành hình bầu dục đặt ở hai đầu bàn, mặt bàn trải tấm ni lông vuông vắn màu cánh dán. Bà Tuần Chi, đời thường chắc hẳn là một nữ tướng nội trợ. Bà nhìn chăm chú một lượt khắp bàn ăn khen: - "Chà! Anh em giỏi quá, các cháu gái nấu ăn giỏi quá, lãnh đạo cũng quá chu đáo, bộ đội đánh giặc giỏi, ngoại giao giỏi, nội trợ cũng tài." Thượng toạ Thích Đôn Hậu đăm chiêu suy nghĩ, chậm rãi tán thành ý kiến bà Tuần. Bữa cơm chay đơn sơ, có bình phẩm, có ngợi khen thật tình, người dùng bữa thấy thật sự ngon miệng, người phục vụ vui vẻ lấy thêm thức ăn, mang thêm bát canh chua rau rừng, xới thêm bát cơm cho khách, được tiếp thêm sự hào hứng phấn khởi. Thực tình tôi cũng không khỏi ngạc nhiên, rỉ tai Binh trạm trưởng thì được biết Chính uỷ Bộ Tư lệnh đã có thông báo và chỉ đạo từ trước nên cũng có sự chuẩn bị. Bỗng cụ Đốc Đoá cởi mở: "Với đôi dép hạ, dày bata, chúng tôi đang dùng, đi đường mòn Hồ Chí Minh có lẽ không phù hợp, muốn xin các đồng chí cho chúng tôi đôi dép cao su được không? Đôi dép Bác Hồ, tôi đã được biết đến từ hồi chống Pháp, đôi dép Bình Trị Thiên, lợi hại lắm, dùng vừa bền, vừa rất thuận tiện." Binh trạm trưởng thông cảm, cười: "Xin hoàn toàn nhất trí và xin có ngay, thưa Cụ!" Hậu cần đã mang dép cao su lên, chẳng biết có phải đã chuẩn bị trước, một lần nữa tôi cũng phải ngạc nhiên. - "À, còn phải dự bị vài quai dép thay thế" - Anh Thế rút sau túi quần dụng cụ là chiếc kẹp sắt dùng để xâu quai và làm động tác thay quai. Không hiểu có phải mới được thấy lần đầu không, Thượng toạ và bà Tuần quan sát rất chăm chú. Trong tâm tư của họ đã hết nỗi lo âu là lấy gì để bảo vệ đôi chân sẽ còn phải bước chắc là rất nhiều ngày trên đường mòn Hồ Chí Minh vạn dặm này. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Tám, 2025, 08:55:16 pm Ba chiếc xe con Gatz - 69 đã sẵn sàng. Xe được ngụy trang cẩn thận, đầu quay về hướng Tây. Cụ Đốc Đoá và bà Tuần Chi đi xe đầu, Thượng toạ Thích Đôn Hậu và chú tiểu ngồi xe thứ hai, tôi cùng hai cán bộ của Binh trạm ngồi xe sau cùng, có nhiệm vụ hộ tống khách. Tất nhiên, mỗi xe của các vị khách đều có quân y Binh trạm đi theo đề phòng bất trắc rủi ro có thể xảy ra trên dường đi. Xe đi theo đường B45 về ngã ba La Hạp, một ngã ba trọng điểm bom đạn nổi tiếng ác liệt, đến Binh trạm 33 nghỉ một ngày theo kế hoạch, hôm sau mới vể Đoàn bộ ở K1.
Đến Binh trạm bộ 33 mới phát hiện được chiếc ví đầm bằng da màu đen bà Tuần Chi luôn cầm tay bị rơi lúc nào không hay biết. Bà Tuần băn khoăn trao đổi với Thượng toạ rồi cho Binh trạm biết là trong ví còn có giấy tờ của Mặt trận, từ lúc ra đi bà xem là vật tuỳ thân của cả cuộc đời còn lại, cùng một số vật kỉ niệm quý mà bà mang theo ra Bắc. Trong tình huống đặc biệt này thật khó tìm ra giải pháp xử lí. Suốt gần trăm ki lô mét, xe không có sự cố, không phải dừng lại dọc đường. Đường đất đá gồ ghề, xe di có xóc, nhưng vẫn chạy đều đều, xe không bị máy bay săn đuổi. Người nữ quân y đi theo ngồi cạnh bà cho biết bà rất tỉnh táo, không say xe, vẫn trò chuyện trao đổi... Đã có phương án của Binh trạm 33 phải thông báo cho các đơn vị bảo đảm giao thông sáng sớm mai tổ chức đi tìm lại, hy vong ban ngày dễ phát hiện hơn. Tôi có chút suy tư, bình tĩnh nghĩ lại chặng đường đã đi qua và quả quyết: Khi đi qua dốc Ông Đời, ánh pháo sáng đã làm cho tôi nhìn thấy hai đốm tròn xoe, long lanh sáng chóingờ ngợ đôi mắt của thú rừng, lúc đó tôi đã nghĩ chắc là con thú nhỏ bị chẹt xe chết về phía phải đường. Đang làm nhiệm vụ hộ tống đoàn khách không có thời gian dừng xe lại. Nghe bà Tuần kể sự việc, tôi liên tưởng đến đó là hai khuy cài tròn bằng đồng của chiếc ví. Binh trạm tán thành ngay ý kiến của tôi, điện thoại hướng dẫn cho trực barie ở đốc Ông Đời xuống dốc về phía bắc khoảng 50 mét tìm chiếc ví và mang ví ngay về Binh trạm bộ. Cán bộ Binh tram không quên dặn không được mở ví ra, phải giữ nguyên dạng. Hơn 30 phút sau, cũng vừa mới kịp lau rửa chân tay, nhấm nháp miếng lương khô cùng chén trà hồng đào ấm áp thì một chiến sĩ công binh trực trạm barie dốc Ông Đời đã mang ví giao trả. Chiếc ví màu đen dính đất đổ đã bị biến dạng, vẹt đi một phía. Nét mặt bà Tuần lộ rõ sự vui mừng nhưng sợ ngộ nhận, chưa dám cầm lại. Chính uỷ Binh trạm hiểu được tâm lí đó, khẳng định với bà Tuần mấy hôm nay chỉ có đoàn này ở phía Nam đi ra, còn bộ đội Trường Sơn, kể cả các cháu gái cũng không ai có ví này. Tay run run, bà Tuần mở ví. Chiếc đèn pin hiệu "con cọp" bị bật vỡ kính, bà cười vui và cho biết giấy tờ, vàng bạc mang theo không hề suy suyển. Bà đã kịp thăm hỏi nói lời cảm ơn với người chiến sĩ đã tìm trả lại bà chiếc ví trước khi anh trở lại vị trí chiến đấu của mình trước lúc trời sáng hẳn. Bà trầm trồ: - "Hôm qua người nữ y tá cũng đã tốt nghiệp lớp 10, nay anh bộ đội trẻ này vào chiến trường đã 2 năm, cũng đã học xong lớp 10, họ có bằng tú tài cả rồi đó." Chiều tối hôm sau, đoàn rời Binh trạm 33 để về chỉ huy sở Bộ Tư lệnh. Đội hình vẫn giữ nguyên, thêm một cán bộ Tiểu đoàn 35 công binh dẫn theo con đường mới mở vượt ngầm Tha Mé, địch chưa phát hiện, bảo đảm an toàn hơn. Nhưng đến phía nam ngầm Tha Mé thì mới hay nước ngầm còn sâu, xe con không qua được, phải quay lại theo đường xuống hạ lưu sông Sê Băng Hiêng qua cầu nổi Bản Khốc. Nhưng phà lại đang còn sự cố. Tôi nhảy lên cầu, quan sát cụ thể, nêu giải pháp tháo rời phà hàn khẩu, cho từng thuyền một vào tạm neo giữ, sau đó mới lắp dẩm và ván mặt cầu. Sau 15 phút, chiếc cầu nổi đã lắp xong nối thông hai bờ Nam Bắc. Đây là chiếc cầu nổi tự tạo bằng gỗ đầu tiên trên dòng sông Sê Băng Hiêng. Ở nơi tạm lánh, anh Kiểm, chính trị viên phó Đại đội kể với đoàn khách tóm tắt bộ cầu nổi Bản Khốc do các sĩ quan tổ vượt sông Phòng Công trình cùng đại đội vượt sông của anh tổ chức chế tạo. Các sĩ quan Phòng Công trình còn rất trẻ, đã tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, ở lại Trường Sơn suốt cả mùa mưa Lào tầm tã. Công việc thi công bộ cầu nối này cũng không đơn giản, phải qua nhiều công đoạn: chọn, đẵn, xẻ gỗ, đốt uốn cong, lắp chàm xảm... chất liệu chàm xảm phải mua từ hậu phương mang vào. Thuyền gỗ đủ để lắp ghép cầu có chiều dài hàng trăm mét trên sông này. Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên tiếp đoàn tại chỉ huy sở ở K1, ngay sau buổi giao ban thường ngày điều hành công việc của mấy chục đơn vị đầu mối cấp dưới và khi đã giải quyết các quan hệ nóng bỏng với các chiến trường. Tư lệnh nói những lời chân tình hỏi thăm qua 3 chặng đường và vui mừng cho biết trong buổi giao ban sáng nay đã nghe việc đảm bảo cho đoàn khách qua 2 binh trạm và câu chuyện chiếc ví. Nhìn gương sắc vui vẻ, phấn chấn của các vị khách, Tư lệnh cũng đã thầm hiểu, đánh giá được trình độ "ngoại giao" mà thêm tin tưởng khả năng cán bộ cấp dưới của mình. Trưởng đoàn, Thượng toạ Thích Đôn Hậu nhỏ nhẹ, tế nhị hỏi: - "Xin đồng chí Tư lệnh cho chúng tôi rõ thêm bao giờ được đến đường mòn Hồ Chí Minh, và từ đó ra Bắc bao xa?". Tư lệnh cười, cởi mở chậm rãi nói: "đường mòn Hồ Chí Minh đến nay đã thành nhiều trục ngang dọc nối từ hậu phương vào đến chiến trường Khu 5, Nam Bộ, chính là con đường các vị vừa đi 3 đêm qua, và còn đi tiếp dăm đêm nữa thì mới đến hậu phương". Các vị khách đã hiểu, cùng cười vui sung sướng vì vẫn nghĩ rằng đường mòn Hồ Chí Minh chỉ là một con đường mòn đi bộ. Đêm nay, cũng trong gian hầm nhỏ nửa âm nửa dương, khác một chút là xung quanh có phên nứa đan che tránh đất đổ, mái nứa băm, lợp kéo sát xuống một rãnh nhỏ được khơi xung quanh để thoát nước mưa, cụ Đốc Đoá ngồi trầm ngâm ghi chép gì đó bên ngọn đèn điện rất sáng, ánh sáng chum lại qua một miếng vải xanh vừa vặn trên trang giấy. Thượng toạ Thích Đôn Hậu đứng ngoài sân, một mảnh đất nhỏ tương đối bằng phẳng trước nhà, tay chắp sau lưng ngắm nhìn những vì sao len lỏi trong lá cây. Hình ảnh một nhà sư với bộ thiền phục rộng rãi thoải mái đang nghĩ về thế sự, cầu mong Trời Phật phù hộ cho những điều tâm đắc đoạn tuyệt được nỗi khô của chiến tranh, đem lại cho phía chính nghĩa, cho dân tộc Việt Nam sớm được hoà bình, độc lập, tự do, thống nhất. Đêm tối mênh mông, xa xa phía đường số 9, pháo sáng địch vẫn toả chiếu, đẫn đường cho các đoàn xe hối hả vận chuyển hảng hoá đến các chiến trường. Trên đường mòn Hồ Chí Minh, chiến sĩ lái xe Trường Sơn đang xung trận! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:21:55 pm CẦU CAO SA LUNG, MỘT CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ CỦA TUYẾN ĐƯỜNG 559 Kỹ sư Nguyễn Xuân Trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm, cha ông chúng ta đã có nhiều hình thức đánh lừa kẻ địch. Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhiều chiến thuật nghi binh cũng đã được tiến hành đạt hiệu quả. Trong bài viết ngắn này, tôi xin kể câu chuyện nghi binh làm cầu Sa Lung, Vĩnh Linh để bộ đội ta mở đường vào phía tây tỉnh Quảng Bình vượt dãy Trường Sơn. Tóm tắt sự kiện như sau: 1. Giữa năm 1962, theo yêu cầu của Cục Tác chiến Cục Công binh, Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Trần Tất Thắng, Tham mưu trưởng và một số trợ lý Ban Nghiên cứu đi khảo sát giới tuyến phía Bắc. Rất tiếc cho đến nay, tôi vẫn không rõ trên Bộ, vị tướng nào đã chỉ đạo việc này. Đoàn hành quân theo đường sắt, tiếp đó đi bộ vào phía nam, gặp một con sông trên bản đồ có tên gọi sông Bến Xe, một nhánh của sông Bến Hải, có một cầu sắt bị phá hoại, chỉ còn lại hai mố cầu, bản đồ ghi tên là cầu Sa Lung. Đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến quyết định giao nhiệm vụ cho công binh nghiên cứu bắc một cây cầu qua sông với điều kiện: - Vật liệu bằng gỗ - Tải trọng cho xe 10 tấn - Thời hạn sử dụng từ 2 đến 3 năm - Yêu cầu phải giữ bí mật ý định làm cầu. 2. Triển khai của Cục Công binh: Cục giao nhiệm vụ cho Ban Nghiên cứu làm cầu theo dạng cầu quân sự của quân đội Liên Xô trong đại chiến thứ hai. Hai cán bộ được Cục trực tiếp giao nhiệm vụ là Phan Thanh Vân, trung uý chịu trách nghiệm các quan hệ; và tôi - Nguyễn Xuân, kỹ sư thiết kế và tổ chức thi công. Cục Công binh đã điều động một tiểu đoàn của Trung đoàn 98, trực thuộc Cục Công binh gồm 2 đại đội phục vụ thi cóng cầu. Cục cấp đủ các máy móc thi công cầu và dụng cụ làm mộc tốt nhất lúc đó như: máy phát điện 50 kw, máy Pec 15 làm mộc, máy cưa IFA của Đức để xẻ gỗ, máy đầm, máy đóng cọc C254... 3. Thông qua phương án và tổ chức thi công: Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi đã thiết kếhai phương án: - Phương án 1: Làm cầu quân sự nhịp đơn giản phải đóng xuống sông 15 hàng cọc để bắc các dầm cầu, phương án này bất lợi là khi có lũ về thì sông bị tắc dòng chảy, nguy hiểm cho cầu. - Phương án 2: Thiết kế kiểu cầu dàn, nhịp dài, nhưng kích thước cầu lại rất lớn, khó giữ bí mật. Sông rộng 60 mét, chia thành 3 nhịp, mỗi nhịp 20 mét thiết kế với trục xe 10 tấn và xe xích 30 tấn. Khối lượng gỗ thành khí 150 mét khối. Trình phương án thiết kế lên Cục Tác chiến, phương án 2 được phê chuẩn, với yêu cầu thi công nhanh, giữ bí mật ý định làm cầu đến phút cuối cùng. 4. Tổ chức thi công: Với lực lượng 2 đại đội, chia làm 2 mũi. Một mũi chuyên khai thác gỗ trong rừng Bãi Hà, tây Vĩnh Linh. Số lượng 300 cây gỗ lim, đường kính từ 20 đến 40 cen ti mét, dài 4 đến 5 mét, tự vận chuyển ra khỏi rừng. Mũi thứ hai dùng cưa EFA xẻ gỗ và tổ chức chế biến thành các thanh dầm cầu theo thiết kế, thời gian trong 3 tháng. Chúng tôi chọn vị trí tổ chức công trình ở thượng lưu cầu chừng 3 ki lô mét trong một khu rừng kín, máy bay địch không thể phát hiện được. Chọn ngày N chính thức khởi công, đóng cọc chân cầu. Đó là một ngày thời tiết mưa dầm, mây mù. Dùng búa đóng cọc C254 nhiên liệu diezel, có khối lượng quả búa 600 ki lô gam, tổ chức đóng 24 cọc trên sông trong hai ngày. Từ ngày N+3 thì dùng thuyền gỗ vận chuyển các nhịp cầu xuôi theo dòng sông trôi về đến cầu. Dùng giá búa tời của máy đóng cọc, kéo nhịp cầu bắc lên trụ cầu. Ngày N+5 đã bắc xong 3 nhịp cầu. Sau đó công binh Lữ đoàn 341 đóng tại Vĩnh Linh cho lắp đặt hai đầu cầu và cho xe chở vật liệu qua cầu sang xây dựng công trình tại cao điểm 74 ở bờ Nam. Thời gian sử dụng cầu từ tháng 9 năm 1962 đến cuối năm 1965, khi đế quốc Mỹ dùng máy bay đánh phá Vĩnh Linh thì cầu bị hỏng. Sau đó, công binh Quân khu 4 đã tranh thủ tháo dỡ phần gỗ đưa ra xây dựng cống sự tại đảo Cồn Cỏ. Cấp trên tuyên bố: cầu cao Sa Lung đã hoàn thành nhiệm vụ. Chấp hành nghiêm túc lệnh của trên, Ban Nghiên cứu Cục Công binh đã thí nghiệm một kiểu cầu theo kiểu cầu cao của Liên Xô, nhưng lại chọn địa điểm gần địch và cầu được sử dụng một thời gian. Kẻ địch bên kia giới tuyến tập trung quan sát, theo dõi các hành động của ta. Trong lúc đó, ta bí mật theo đường phía tây Quảng Bình Bang, Làng Ho,... sang phía tây Trường Sơn. Khi địch phát hiện thì ta đã mở sâu được hàng trăm ki lô mét đường, địch chỉ còn cách rải chất độc lảm trụi lá cây để tìm đường đi của quân ta. Việc làm cầu cao ở Sa Lung là một hình thức nghi binh chiến lược rất khôn khéo, khoa học, rất hiện đại. Tôi nghĩ cũng cần tổng kết và ghi vào lịch sử của tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:26:34 pm Kỹ sư NGUYỄN CÔNG NGHỆ Sinh năm: 1935 Quê quán: Thái Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh Thường trú: Nhà số 35/ngõ 91, phố Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38314544 - 0167.7219755 Cán bộ kỹ thuật Bộ GTVT biệt phái tháng 4 năm 1965 Nguyên Cán bộ kỹ thuật Công trường 128, Đội Khảo sát 1 Công binh Nguyên Quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào (1953) Nguyên Chuyên viên Uỷ ban Nhân dân Tp. Hà Nội LÍNH KHẢO SÁT THIẾT KẾ ĐƯỜNG 559 - TRƯỜNG SƠN Tháng 4 năm 1965, nhận quyết định của Bộ Giao thông vận tải "Đi công tác đặc biệt". Chỉ có gia đình được biết, không được mang theo các giấy tờ có chữ Việt. Thời ấy tôi là cán bộ trung cấp cầu đường, chuyến đi nghiên cứu khảo sát thiết kế các tuyến đường Tây Bắc, Việt Bắc. Lệnh đi công tác chỉ báo trước hai ngày, tối 17 tháng 4 năm 1965 phải có mặt tại 80 Trần Hưng Đạo để nghe Bộ trưởng dặn dò trước khi lên đường. Đoàn chúng tôi gồm 21 anh em. Cùng cơ quan Viện Kỹ thuật Giao thông với tôi có đồng chí Trần Quốc Dần, Lê Xuân Nhâm và Vi Văn Miết, số còn lại đa phần ở Viện Thiết kế Giao thông. Đoàn được bố trí chiếc xe ô tô của Liên Xô do đồng chí Đẩu lái. Cứ xem cung cách chuẩn bị tư trang, máy móc thiết bị khảo sát thiết kế,mỗi người một khẩu K44 chưa bóc tem, hẳn chúng tôi biết là đi mặt trận khảo sát đường quân sự rồi. Mười giờ đêm ngày 17 tháng 4 năm 1965, xe xuất phát tại trụ sở Bộ Giao thông vận tải 80 Trần Hưng Đạo - Hà Nội theo hướng nam tiến, ngày nghỉ, đêm đi để tránh máy bay địch phát hiện. Đến đêm thứ bảy thì xe rẽ phải theo hướng tây qua Cha Lo; 8 giờ sáng 24 tháng 4 năm 1965, tại một địa điểm thuộc bản Tha Pha Chon, huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muộn, cả đoàn có mặt tại địa đầu của tuyến đường an toàn, khoẻ mạnh. Nhớ lại, ngay từ khi đặt chân đến bản Tha Pha Chon buổi tiếp xúc đầu tiên giữa đoàn quân đi trước, lính khảo sát 559 với nhân dân và chính quyền địa phương có phần hấp dẫn kì lạ về tình quân dân Việt - Lào. Trưởng bản, các ông "phò", bà "me"1(Phò, me: dịch sang tiếng Việt lả bố, mẹ) và các em nhỏ đến chào đón, họ mang theo xôi để trong "tip", thịt thú rừng, các loại hoa quả như xoài, chuối, dừa... để chung vui cùng bộ đội Việt Nam. Thấy tôi nói tiếng Lào thành thạo, họ bắt chuyện rất đỗi thân mật. Nhiều anh em hỏi tôi vốn tiếng Lào có tự bao giờ. Tuổi thơ của tôi gắn liền với một thành phố bên sông Mê Kông thành phố Thà Khẹc, tỉnh Khăm Muộn, đối diện với bên kia sông là thành phố Na Khon của Thái Lan. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, giặc Pháp gồm bộ binh từ ngoài và máy bay ồ ạt ném bom đánh chiếm thành phố. Trận ấy, Việt kiều ta có trên 2.000 người ngã xuống, máu đổ loang cả khúc sông, xác người trôi lềnh bềnh. Số còn lại vượt sông lánh nạn sang Thái Lan, tôi theo cha mẹ vượt sông thoát chết, năm ấy tôi mới 11 tuổi. Với lòng căm thù giặc khôn nguôi, tuy nhỏ tuổi nhưng tôi đã theo cha anh hoạt động bí mật, một lòng hướng về Bác Hồ, mong đợi ngày trở về trả thù giặc và tôi đã tình nguyện vượt sông tham gia bộ đội giải phóng Thà Khẹc, giải phóng Trung Lào 1953-1954. Cái duyên tiếng Lào đã theo tôi suốt những năm tháng cuộc đời kể từ độ ấy. Và chính tại Công trường 128, Đoàn 559 này, tôi là phiên dịch duy nhất của Ban chỉ huy. Năm tháng trôi đi, anh lính khảo sát kiêm phiên dịch ngày ấy còn lăn lộn với đoàn khảo sát thiết kế của Bộ Giao thông vận tải Việt Nam giúp Lào khảo sát thiết kế tuyến đường sắt thông ra biển chạy dọc quốc lộ số 9, nối liền cảng Đà Nẵng Việt Nam và thành phố Sa Va Na Khẹt - cũng là thành phố bên sông Mê Kông - sự việc đó xảy ra cách đây cũng đã 30 năm rồi. Sau buổi tiếp xúc giữa anh em khảo sát và nhân dân địa phương, đồng chí Hồ Sĩ Dậu, trưởng đoàn bàn giao quân số với Bộ Tư lệnh 559, nhận nhiệm vụ trực tiếp tại Công trường 128, đã phân công anh em tiến hành ngay công việc. Hướng tuyến đã được trên duyệt, từ rừng Trường Sơn đại ngàn nay biến thành đường cho xe cơ giới chạy. Các đơn vị thi công cơ giới và công nhân các công trường thuộc Bộ Giao thông vận tải từ ngoài Bắc vào, các đơn vị thanh niên xung phong biên chế cấp tiểu đoàn lần lượt tập kết quân sẵn sàng chờ lệnh. Trước tình hình khẩn trương, đội khảo sát thiết kế phải phân đoạn chia nhau làm để có tài liệu bàn giao cho các đơn vị thi công. Việc đi tuyến, cắm mốc, phát tuyết thật vất vả, phải chọn địa hình địa vật thích hợp vừa rút ngắn cự ly, vừa giảm được khối lượng đào đắp, ít cầu cống. Nhiều lý trình phải làm đi làm lại, cây rừng nào phải chặt, cây nào giữ lại che chắn để máy bay khó phát hiện. Trèo đèo, lội suối, luồn rừng, lên dốc lại xuống dốc. Mưa như trút, quần áo ướt sũng, ướt rồi lại tự khô, dày dép rách bươm, tất chống vắt thiếu, anh em phải cắt ống quần ra tư khâu mà dùng. Vắt nhiều đến nỗi không kịp phát hiện, khi thấy máu thấm đỏ áo quần thì chứng đã hút màu mình căng tròn và tự rơi. Còn vô tình dẫm phải tổ ong là chúng bổ vào đốt cho bươu đầu, phát sốt. Ngày làm vất vả, tối phải căng võng ngủ rừng thì vắt và muỗi cũng không tha. Những đoạn tuyến đi gần bản có thể mượn nhà sàn để anh em ngả lưng khi mệt mồi, nhưng cũng là mối nguy hiểm nếu không phòng tránh máy bay như nấu ăn, phơi phóng để lộ màu sắc khác thường hoặc đi lại thành đoàn đông người là máy bay đến bắn phá tan tành cả bản. Tuyến dài trên 100 ki lô mét nhưng anh em phải đi đi lại lại cả ngàn ki lô mét mới quyết định được. Lính khảo sát thiết kế chúng tôi thường đi trước, đến trước và biết trước nhưng, chưa ai hiểu sự "trước" ấy mà anh lính phải tự lực cánh sinh mọi mặt sinh hoạt giữa nơi rừng thiêng nước độc chưa có dấu chân người. Cũng may mà cứ đến mỗi bản, chính quyền địa phương lại chọn cử một người am hiểu địa hình địa vật đi theo anh khảo sát, cũng chui rừng lội suối, cũng chịu vắt bâu bám khắp người, máu thẫm đẫm áo quần mà vẫn lặn lội cùng khảo sát, kể cả việc dìu bước anh em khi bị lên cơn sốt dọc đường, khênh cáng thương binh. Cùng vì sự "trước" ấy mà nhiều ngày anh em phải nhịn cơm ăn cháo, thiếu thuốc men, quân trang, quân dụng vì tác nghiệp cuối tuyến mà kho cấp phát đầu tuyến, vì trời mưa úng ngập cả khu rừng... Tình hình khẩn trương nên Bộ Tư lệnh, cán bộ lãnh đạo phải theo sát từng lý trình, xuống tận nơi thị sát thực tế để chỉ đạo, động viên kịp thời. Những tưởng sau khi bàn giao xong tài liệu toàn tuyến, anh em được xả hơi. Nhưng không, họ phải chia nhau bám sát các trọng điểm địch đánh phá tắc đường. Ở đâu cần lại có khảo sát, họ lại luồn rừng băng qua bom đạn để tìm tuyến tránh. Khi bên thi công thiếu cán bộ, trên lại điều anh em làm cán bộ kĩ thuật. Lính khảo sát 559 lúc ban đầu như thế đó. Tháng 5 nắng đã nhạt, báo hiệu mùa mưa bắt đầu, mưa Trường Sơn thật khủng khiếp, mưa như trút, không có ánh nắng 5, 6 tháng liền. Tiếng sét đánh, tiếng máy bay nhào lộn thả bom bắn phá suốt ngày đêm, toàn bộ cây rừng trước xanh tươi nay chất độc đã làm rụng, hết lá, bom phạt đổ ngổn ngang. Chúng thả cả những thiết bị điện tử phát hiện xe máy của ta, thả cả mìn nom như cục đá dăm để sát thương bộ đội. Cứ 6 giờ tối, loại máy bay C130 đi thả pháo sáng, sáng đến mức có thể đọc được báo; pháo sáng soi bước tiến của bộ đội Trường Sơn đang ngày đêm đào núi mở đường. Tiếng máy thi công, tiếng mìn phá đá chặt cây át cả tiếng bom đạn của kẻ thù. Không khí một đại công trường thật hối há, náo nức, tất cả vì tuyến đường quyết thắng làm cho tâm hồn mọi người cũng cảm thấy phấn chấn, quên cả lo âu gian khổ, dám xả thân vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Từng ngày, từng ngày, con đường cho xe cơ giới cứ tiến dài lên phía trước hướng vào miền Nam. Tôi nhớ cuối mùa mưa 1965, khi tôi đang là Tiểu đoàn phó kỹ thuật Tiểu đoàn 4 thanh niên xung phong Thanh Hoá (đồng chí Hoàng Đạc là Tiểu đoàn trưởng), Bộ Tư lệnh điều về Phòng tham mưu Công binh của đồng chí Nam Hải để chuẩn bị đón Tư lệnh 559 Phan Trọng Tuệ sang thăm Công trường 128. Tin bay đi toàn công trường, nhờ đó báo cáo với Tư lệnh những thành quả phi thường về tiến độ hoàn thành công việc trước sự đánh phá khốc liệt của kẻ thù, đồng thời để Tư lệnh biết đến khó khăn thiếu thốn và những cực nhọc của anh em kể cả hy sinh tính mạng khi đang tác nghiệp. Suốt dọc đường, ở đâu có anh chị em đang làm việc, Tư lệnh dừng lại động viên, thăm nơi ăn nghỉ, dặn dò việc phơi phóng, nhất là chị em nữ, không để máy bay phát hiện, thăm bếp ăn không khói. Đến thăm một đoạn đường "rông đanh" thấy anh em dùng dây rừng neo buộc, đồng chí chỉ thị cho hậu cần cấp dây thép, gợi ý cách nêm cài sao cho khi xe đi qua không bọng bật. Đến đoạn đường trống trải, đồng chí yêu cầu trồng cây, cỏ nguỵ trang để hạn chế máy bay đánh phá. Đến thăm bệnh xá, đồng chí biết rằng sau mùa mưa tỉ lệ sốt rét, ốm đau lên đến 50-60 phần trăm. Chuyến thăm của Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đến Trường Sơn đã để lại ấn tượng trong anh em về một thủ trưởng có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, thoăn thoắt như ẩn hiện sâu sát tình hình. Sau chuyến thăm của Tư lệnh Phan Trọng Tuệ, Công trường 128 phát động thi đua nước rút, tranh thủ mùa khô đẩy nhanh tiến độ thi công. Và thật bất ngờ, tháng 5 năm 1966, Công trường đã hoàn thành tuyến đường 128 dài 176 ki lô mét. Để đánh giá thành quả đạt được, các đơn vị đều được cử đại biểu về dự tổng kết trong hai ngày 24 và 25 tháng 5 năm 1966 tại bản Na Cha Ling. Trên đỉnh Trường Sơn từ nay ghi dấu một con đường vì miền Nam ruột thịt, đường Trường Sơn quyết thắng. Hòa chung niềm vui của Công trường, tôi cũng thật vui vì được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, được công trường tặng giấy khen hai lần. Và đặc biệt được Chính uỷ 559 Vũ Xuân Chiêm tặng bằng khen. Lễ kết nạp Đảng của tôi đã được tổ chức tại công trường bộ, tại khu rừng Na Cha Ling, dưới ảnh Bác Hồ, Đảng kỳ và hoa phong lan rừng rực rỡ do anh em khảo sát hái về. Niềm vui chung và vui riêng thật ấn tượng, sâu sắc nhất đời tôi, người cán bộ kỹ thuật cầu đường, lính khảo sát thiết kế 559 - Trường Sơn. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:36:13 pm Đại tá PHẠM NGỌC VŨ Sinh năm: 1944 Quê quán: Tiến Thuỷ, Quỳnh Lưu, Nghệ An Thường trú: Nhà 30, H3A, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 04.38543239 - 0983.341502 Cán bộ Kỹ thuật Bộ GTVT chuyển sang Quân đội Nguyên Thiếu uý, Đại đội trưởng Cầu phà Binh trạm 14 Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Phó Giám đốc Công ty Tư vấn và Xây dựng Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐI TÌM HƯỚNG TUYẾN VƯỢT HẢI VÂN Ngày 26 tháng 6 năm 1997, khi đang chỉ đạo khảo sát Dự án 3 xa lộ Bắc - Nam (sau này là đường Hồ Chí Minh) ở khu vực Thừa Thiên - Huế, tôi nhận được lệnh phải tổ chức ngay một tổ thị sát để tìm hướng tuyến không đi chung qua hầm Hải Vân, theo chỉ đạo của Đặc phái viên Chính phủ Đồng Sỹ Nguyên và Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc - Nam. Hải Vân là một phần của giải Trường Sơn trùng điệp với các đỉnh núi cao hàng ngàn mét sừng sững án ngữ suốt chiều dài 70 ki lô mét từ biên giới Việt Lào đến bờ biển, chia cắt Thừa Thiên - Huế với Quảng Nam - Đà Nẵng. Hiện tại, hai tuyến giao thông xuyên Việt là quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Thống Nhất đều tập trung ở điểm nút Hải Vân. Đây là điều bất lợi về mặt quân sự, cần phải tìm con đường khác cho đường Hồ Chí Minh. Liệu có đưa hướng tuyến của Xa lộ Bắc - Nam lên phía tây để dãn nút Hải Vân? Đây là câu hỏi đặt ra cho tư vấn Trường Sơn phải trả lời trước Bộ Giao thông vận tải trong thời gian ngắn nhất. Để giải đáp câu hỏi này, tôi tổ chức một tổ thị sát gồm ba người: tôi, anh Phan Bá Liêm, anh Phạm Văn Đăng và bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị. Việc đầu tiên là nghiên cứu các phương án tuyến trên bản đồ. Chúng tôi đưa ra ba phương án vượt Hải Vân, cách nhau khoảng 10 - 15 ki lô mét: - Phương án 1: qua Bạch Mã - Mũi Trâu - Phương án 2: qua đèo 900 ở khoảng giữa - Phương án 3: qua đèo 880 ở phía tây Để thị sát 2 phương án đầu, chúng tôi dùng xe ô tô kết hợp với đi bộ, lội suối, cắt rừng. Bằng mọi cách, mọi hướng để tiếp cận, quan sát cho được các điểm không chế, xác định, vẽ lên bản đồ. Để thị sát phương án thứ 3, chúng tôi chọn hướng đi từ Hiên ra Nam Đông. Ngày 01 tháng 7 năm 1997, từ Nam Đông xe quay ra Đà Nẵng để lên Hiên theo Tỉnh lộ 604. Đến Trung Mang thì xe bị hỏng. Lái xe khắc phục đến tối mịt vẫn không được. Đêm ấy, 4 anh em căng màn ngủ trước nhà Bưu điện Trung Mang. Nửa đêm, trời đổ mưa, mọi người lục tục soi đèn căng áo mưa che chắn. Cô nhân viên bưu điện phát hiện, bật đèn mời vào nhà nhưng thấy bất tiện, cánh lính từ chối. Sáng hôm sau, tôi quyết định thay đổi phương án: Anh Đăng cùng cậu Khoái - lái xe, ở lại tìm cách khắc phục rồi quay ra Nam Đông chờ. Tôi cùng anh Liêm bắt xe ngoài lên thị trấn Trao. Buổi chiều, chúng tôi vào làm việc với UBND huyện Hiên để báo cáo về mục đích chuyến đi và xin được sự giúp đỡ của địa phương. Chúng tôi tìm hiểu địa hình và lên kế hoạch thị sát. Huyện đội cử đại uý Hùng cùng đi. Đêm ấy hai anh em ngủ lại nhà khách uỷ ban, chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho chuyến đi bộ ngày hôm sau. Sáng 03 tháng 7 năm 1997, chúng tôi lên đường. Văn phòng uỷ ban huyện cho một chuyến xe U-oát để đỡ quãng đường phải đi bộ. Đây là con đường Trường Sơn năm xưa, từ Trao đi A Tép và vòng qua đất Lào về Bù Lạch - A Đớt của huyện A Lưới. Đi được 9 ki lô mét thì xuống xe, bắt đầu đi bộ. Lội qua sông A Vương theo đứng con đường mòn và các vật chuẩn mà anh Chánh văn phòng UBND huyện đã chỉ dẫn, chúng tôi tìm vào được UBND xã A Vương. Lúc này là 9 giờ. Văn phòng UBND xã A Vương là một căn nhà tranh ba gian hoang vắng, nằm trơ trọi bên sườn đồi. Không một bóng người. Cạnh hồi nhà buộc một con trâu đang thở phì phò. Ngó qua phên nứa, phía trong có một tủ đứng, một chiếc bàn rộng với hai ghế băng dài mốc meo bụi bặm. Ở gian trái, treo một chiếc sàn bằng nứa, trên úp vài cái nồi, mươi bộ bát đĩa. Tất cả những vật đụng đó coi như đủ "tiện nghi" cho vài người làm việc và ăn ngủ qua đêm. Đây là Văn phòng của UBND xã A Vương, huyện Hiên. Có đến đây mới thấy cơ sở vật chất của một xã miền núi còn đơn sơ và thiếu thốn biết chừng nào! Chẳng biết hỏi ai, và cũng chẳng có ai mà hỏi. Đến 10 giờ 15 phút thì một phụ nữ người dân tộc khoác chiếc gùi sau lưng bước vào. Chị có dáng người đậm và đen. Không biết nên đoán tuổi chị khoảng 30 hay 40 từ khuôn mặt khắc khổ của người phụ nữ. Chị nhìn chúng tôi bình thản như người không có cảm xúc, nhưng chúng tôi thì mừng hẳn vì ít ra cũng có người để hỏi. Đoán là khách đến làm việc, chị tự giới thiệu chị là Chi hội trưởng phụ nữ xã, hôm nay đến phiên trực. Chị bảo vừa phải đi bộ hơn 10 cây số từ nhà đến đây, mệt lắm! Không ai khác, chị chính là người chúng tôi đã gặp trên đường đi khi vừa ra khỏi thị trấn Trao được vài cây số. Lúc gặp xe, chị có vẫy xin đi nhưng hình như lái xe không để ý. Giá như biết chị đi trực thì chúng tôi đã mời lên xe. Đại uý Hùng giới thiệu với chị về đoàn công tác. Tôi báo cáo mục đích chuyến đi và xin phép được hoạt động trên địa bàn của xã. Chị viết cho tôi mấy chữ, giá trị như giấy giới thiệu để liên hệ khi vào bản. Rồi chị hướng dẫn đường đi, dặn vào bản gặp ai... Lúc này cái chất cán bộ của chị mới được bộc lộ. Chia tay chị, chúng tôi mang theo ấn tượng về một cán bộ phụ nữ miền núi thầm lặng, chân thật và thiệt thòi. Đội hình hành quân lúc này gồm bốn người: cậu thanh niên địa phương mà chúng tôi vừa gặp nhờ dẫn đường, khoác ba lô đầy chăn màn và lương thực đi trước. Anh Liêm cầm địa bàn và dao phát đi sau. Tiếp đến là tôi với tấm bản đồ thường trực trên tay và chiếc máy ảnh đeo lủng lắng bên hông. Đại uý Hùng mang khâu AK đi sau cùng. Vừa đi vừa quan sát địa hình, đối chiếu với hướng tuyến đã vạch trên bản đồ. Đi được khoảng 5 ki lô mét, tôi bắt đầu thấy đau khớp gối chân phải. Sợ mọi người lo lắng, tôi lặng lẽ chặt một cây rừng làm gậy, tiếp tục đi. Đến bờ suối, có bãi đá mát mẻ, cả đoàn nghỉ ăn trưa, chớp nhoáng rồi lại hành quân. Kinh nghiệm đi đường cho thấy càng nghỉ nhiều càng ngại đi. Khoảng 5 giờ chiều thì gặp một bà cụ đang lom khom mò cá dưới suối, biết là sắp đến bản. Đi thêm chừng vài cây số thì tới một bản nhỏ có 6, 7 nóc nhà. Đang ngồi trong nhà trưởng bản thì cụ già mà chúng tôi vừa gặp ngoài suối đi qua, ông trưởng bản bô bô một tràng bằng tiếng dân tộc. Chúng tôi không hiểu gì, chỉ đoán chắc ông hỏi về chuyện mò cua bắt cá. Rồi ông quay sang nói với chúng tôi bằng tiếng Kinh không sõi: - "Nó là dũng sĩ diệt máy bay Mỹ ngày trước!". Thế nó bao nhiêu tuổi ?" - Tôi hỏi. "Năm mươi, bằng mình thôi mà" - ông trưởng bản đáp. Hoá ra chưa bằng cái tuổi 53 của tôi. Bất chợt tôi nghĩ đến "năm tuổi" của mình. Hồi Tết, tôi tự nhủ là năm nay sẽ không đi đâu xa cả. Năm 49 tuổi, tôi phụ trách thi công trên đường Bắc Thăng Long - Nội Bài. Ngồi trên chiếc Bò Ma chở cát, cậu Cường lái xe không quan sát, giương thùng Bel lên, móc vào đường cáp điện mà không biết, cứ thế vừa đổ cát vừa chạy làm đứt cáp nổ toé lửa, khiếp mãi... Từ đó, tôi tự dặn mình nhớ để đến tuổi 53 mà phòng. Thế mà bây giờ lại đang ở đây, chân đang đau! Nghe ông trưởng bản nói mà tôi không thể nào tin nổi. Một bà già lam lũ, gầy khô như que củi thế kia lại có một thời oanh liệt - dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ! Đúng là dân tộc Việt Nam, ra ngõ gặp anh hùng! Lúc này, sau một ngày lặn lội, cả bốn chúng tôi đều thấm mệt. Chặng đường còn lại hơn 30 ki lô mét, chắc chắn không thể đi trong một ngày. Đại uý Hùng, người của huyện đội cử đi xin được quay lại với lý do là chặng đường ngày mai năm ngoài địa bàn quản lý, không thuộc đường đi. Cậu thanh niên dẫn đường cũng bỏ cuộc vì kêu mệt, mặc dù chúng tôi đã động viên và hứa sẽ cho đi thăm quan cố đô Huế khi về đến Nam Đông. Đang lo lắng thì may sao được một thanh niên có tên Châu Văn Mười nhận sẽ đi dẫn đường. Mười nói là có biết con đường mòn từ đây đi Nam Đông, lâu ngày không ai đi, chắc đã lấp khuất nhưng có thể vẫn còn dấu vết. Tìm hiểu, biết cách đây khoảng 3 ki lô mét trên đường đi còn có hai nóc nhà của người cùng bản, tôi quyết định đi lấn, đêm nay sẽ ngủ ở đó. 3 cây số đối với chúng tôi lúc này phải lê từng bước, thế mà một lũ trẻ con lít nhít, đầu trần chân đất, có đứa chỉ mỗi cái quần xà lổn, mũi thò lò, người đen thui thủi, bám theo chúng tôi đến tận bản trong. Rồi chúng lại mò mẫm quay về trong màn đêm chập choạng. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:37:26 pm Mờ sáng, lại cơm đùm, cơm vắt, tiếp tục chặng đường thứ hai. Vẫn là công việc nghiên cứu, đối chiếu địa hình, chấm từng chặng đường hành quân lên bản đồ. Nhích dần từng tí, từng tí một. Đường mòn rậm rạp, đôi chỗ còn dấu vết nhưng phải phát hoặc cứ vạch lá, xô ào mà đi. Khổ nhất là gặp đám cây gai, áo quần, khăn mũ cứ bị níu giật lại. Những bụi lách, cỏ gianh sắc lẹm, sơ ý một chút là đứt tay chảy máu hoặc bị cứa vào cổ buốt lạnh, gai cả người.
Xế trưa thì đến một thung lũng nhỏ. Bắt gặp dấu vết của một bãi đóng quân. Rất nhiều hố cá nhân đã bị phủ lấp, vỏ hộp han gỉ vất ngổn ngang. Hố bom và mảnh đạn dọc đường đi. Châu Văn Mười bảo đây là địa bàn ém quân của Sư đoàn ông Nguyễn Chơn ngày trước! Khoảng 4 giờ chiều thì gặp con suối. Mé bờ suối là một cái lán sơ sài, không còn mái lợp, chắc là của dân đi rừng.Lúc này cả ba đã thấm mệt nên quyết định nghỉ lại. Tôi đau khớp chân đã đành, anh Liêm cũng khó mà đi tiếp bới từ trưa đã phải cởi bỏ quần dài để đi cho dễ vì không chịu được cọ xát vào đùi. Đặt ba lô, cởi bỏ hết những gì vướng víu trên người, nghỉ một lát rồi cả ba bắt tay vào công việc. Tôi và Châu Văn Mười lo cơm nước, anh Liêm chuẩn bị chỗ nằm. Lán là cái khung lều có sẵn, chỉ sửa lại và che ni lông. Còn chỗ nằm là lá chuối rừng xếp thật dày, vừa chống ẩm, vừa dễ chống vắt. Ăn cơm xong cũng vừa 6 giờ. Giờ này ở trong rừng đã âm âm tối. Cả nhóm chia nhau đi lấy thêm củi, chất đầy bếp mà đốt, vừa ấm, vừa sáng, lại nóng đất, vắt không vào. Tất cả đều từ kinh nghiệm đi rừng mà có. Không biết làm gì, cả ba đi nằm sớm. Anh Liêm mang được cái đài Trung Quốc, bắt sóng yếu nhưng cũng có còn hơn không. Chuyện tào lao một lát rồi lần lượt lịm dần lúc nào không biết. 3 giờ sáng tôi tỉnh dậy. Cái đài hết chương trình nhưng ngủ quên không tắt, cứ lạo xạo, lạo xạo. Bầu trời đầy sao. Gió nhẹ nhưng cũng đủ gây cảm giác rờn rợn khi nghĩ đến một cành mục không may rơi trúng lán! Ngủ rừng sợ nhất là nằm dưới cành khô. Rồi lại nghĩ nhỡ có con hổ nào đó đi ăn đêm.... Bất chợt tôi lại nhớ đến chuyến đi bộ trên đất Lào cách đây 22 năm. Hồi ấy, vào tháng 4 năm 1983, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ đi thị sát để lập dự án xây dựng cho nước bạn Lào tuyến đường ô tô từ Phôn Xa Vẳn đến Khăm Cớt, nối quốc lộ 7 với quốc lộ 8. Tôi phụ trách đoạn đầu. Theo lịch trình phải đi bộ theo tuyến đường ôtô cũ trong vùng rừng hẻo lánh từ Xiêng Khoảng đến Tha Thôm dài 110 ki lô mét. Đoàn gồm 7 người: Tôi, anh Phạm Văn Đăng - thủy văn, anh Võ Thắng - địa chất và anh Cao Đình Hòa - khảo sát kiêm phiên dịch. Tỉnh đội Xiêng Khoảng cử hai sĩ quan cấp úy, súng đạn đầy đủ làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn và một người Lào dẫn đường. Hồi ấy, bên Lào, phỉ hoạt động rất mạnh, thoắt ẩn thoắt hiện, phỉ lẫn vào dân, ban đêm muốn đi ngoài phải mang cả súng ngắn và không dám bật đèn pin. Ngày thứ nhất đi được hơn 20 ki lô mét thì hạ trại giữa rừng. Bếp được đặt ngay trên đoạn rãnh dọc, đấy được coi là sáng kiến của Cao Đình Hòa. Nhưng khi cơm vừa cạn thì bất ngờ gặp cơn mưa rào, nước ào qua rãnh, bếp tắt ngấm, phải che áo mưa để đốt lửa. Đêm ấy, thay vì hai sĩ quan Lào thay nhau canh gác, bảo vệ như nhiệm vụ được giao thì họ lại ngủ "khì" từ chập tối. Thế là bộ đội Việt Nam đành phải chia nhau gác thay vậy. Đến ngày thứ 3, chân anh Đăng bị phồng rát, chống gậy lê từng bước. Tôi bảo cứ nằm lại bản, tuần sau đoàn quay ra sẽ đón nhưng anh Đăng không dám ở một mình, phải lẽo đẽo đi theo. Hôm nay thì đến lượt tôi đau khớp. Tôi đi bộ nhiều nhưng chưa từng đau như thế này bao giờ. Đến 5 giờ sáng thì khua nhau dậy. 6h30 lên đường. Đây là chặng cuối, địa hình còn khó khăn gấp bội. Gần trưa thì tới chân đèo. Bắt đầu từ đây đường dốc ngược. Anh Liêm trèo lên cây cao quan sát, xác định được yên ngựa đèo 880. Thế là tập trung phát, mở lối lên. Trời nắng ong ong. Rừng im phăng phắc, không một ngọn gió. Cái nóng mới oi ả làm sao. 12h trưa thì tới đỉnh đèo. Đây là ranh giới 2 tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. Từ đây nhìn xuống chỉ thấy nhấp nhô bạt ngàn rừng núi. Dãy núi cao lờ mờ xa xa phía Tây kia lả biên giới Việt - Lào. Còn đám bãi bằng trước mặt, như Châu Văn Mười nói là nơi trú quân của Sư đoàn Nguyễn Chơn... Nhìn đoạn đường đi qua mà sợ. Nhìn đoạn đường phía trước còn sợ hơn. Tôi tranh thủ ghi vải kiểu ảnh, nơi mà cả đời người chỉ đến được một lần, đánh dấu đỉnh đèo và hướng tuyến lên bản đồ. Xong, lại tiếp tục hành quân. Sườn phía Đông dốc ngang hun hút. Lúc này, khớp gối phải của tôi đau nhói tưởng không thể đi tiếp, có thể do thay đổi tư thế từ leo lên sang leo xuống. Chiếc gậy mòn vẹt đầu, mỗi lần trượt chân, cả người lao dúi dụi. Loay hoay mãi mới chọn được tư thế đi dễ chịu: tôi ngồi xuống, nghiêng người thả từng bước, theo kiểu sâu đo. Chậm nhưng chắc và đỡ đau. Khi đang lên dốc thì thở cả bằng tai, cứ nghĩ là xuống dốc sẽ đỡ... Đi mãi rồi cũng xuống được chân đèo, triền núi thoải hơn và gặp ngay con suối A-Ro. Những tảng đá to trơn lỳ chồng gối lên nhau, chứng tỏ mùa lũ ở đây nước đổ ầm ào. Đây là một nhánh thượng nguồn sông Hương. Dòng sông Hương hiền hoà và thơ mộng được tiếp nước từ những dòng thác hung dữ thế này đây. 5 giờ chiều, trời mưa tầm tã, cũng là lúc quãng đường còn lại dễ đi hơn, lác đác đã gặp dân đi nương rẫy. Chập tối thì về đến đội 9 của Nông trường Nam Đông. Vừa hỏi thăm tìm được vào nhà ông Trưởng thôn, chưa kịp rửa chân tay thì nghe nói, cách đây 2 ki lô mét có chiếc xe con của bộ đội đang chờ, thế là chúng tôi chào gia đình đi luôn. Ra đến nơi thì đúng là xe anh Đăng chờ sẵn. Lúc này là 8 giờ tối ngày 05 tháng 7 năm 1997. Bây giờ mới biết, để đưa được xe vào đây, anh Đăng đã bị dân quân chặn hỏi nhiều chặng. Chả là những ngày này các địa phương đang bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. An ninh nghiêm ngặt lắm, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Lấy thế là quân đội, anh Đăng tìm vào nhà đồng chí Chủ tịch xã xin được ở nhờ cho yên tâm. Sáng hôm sau, chúng tôi chia tay Châu Văn Mười tại ngã ba La Sơn trên quốc lộ 1A. Cảm ơn người thanh niên Kà Tu tốt bụng! Tôi bắt xe cho anh vào Đà Nẵng, để lên Hiên và sau đó sẽ lủi thủi cuốc bộ về nhà. Nghĩ đến quãng đường anh quay về mà thấy ái ngại. Nghĩ đến những bản làng mà chúng tôi đã đi qua, mới thấy dân mình, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã chịu nhiều hy sinh mất mát, một lòng đi theo cách mạng. Vậy mà hơn 20 năm sau ngày miền Nam giải phóng, cuộc sống của đồng bào tuy đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn vất vả quá! Giá như có được con đường cho đồng bào đỡ khổ! Thế là sau 10 ngày vất vả, chúng tôi đã thị sát xong ba phương án tuyến. Ngày 20 tháng 7 năm 1997, tư vấn Trường Sơn báo cáo với Bộ Giao thông vận tải về kết quả thị sát ba phương án tuyến không đi chung hầm Hải Vân, với kết luận: ý tưởng mở con đường thứ hai nối huyện Nam Đông của Thừa Thiên - Huế với huyện Hiên của Quảng Nam về phía tây Hải Vân là phù hợp với lợi ích quốc phòng. Tuy nhiên, do địa hình hêt sức khó khăn, không nên xây dựng tuyến xa lộ Bắc - Nam qua đây, trước mắt chỉ nên nâng cấp tuyến đường cũ qua Bạch Mã, đèo Mũi Trâu để hỗ trợ cho tuyến phía Đông qua khu vực hầm Hải Vân. Sau này, anh Hà Đình Cẩn - Tổng Giám đốc Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh (nay đã nghỉ hưu) nghe loáng thoáng ở đâu câu chuyện về chuyến đi thị sát của chúng tôi, ngỡ ba con người: chị Chi hội trưởng phụ nữ xã, dũng sỹ diệt máy bay Mỹ và người dẫn đường cho chúng tôi đi tìm tuyến là một, nên đã điện thoại cho tôi, nhờ liên lạc tìm lại nhân vật đó để anh chắp nối cho Đài truyền hình Việt Nam thực hiện cầu truyền hình trưc tiếp trong dịp Tết Ất Dậu. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:40:18 pm DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH KHẢO SÁT TRƯỜNG SƠN TRÊN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH Đại tá Phạm Ngọc Vũ Công ty Tư vấn và khảo sát thiết kế - xây dựng, Bộ Quốc phòng, còn có tên gọi là Viện Khảo sát thiết kế - Binh đoàn 12, tiền thân là lực lượng khảo sát thiết kế đường Trường Sơn năm xưa, được thành lập ngày 25 tháng 11 năm 1965. Tuy là đơn vị quân đội, nhưng do có bề dày truyền thống, có lực lượng đông đảo, lại quen thuộc địa hình rừng núi nên khi Đảng và Nhà nước có chủ trương xây dựng đường Hồ Chí Minh, lực lượng này đã nhanh chóng lọt vào tầm mắt của Lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải để rồi sau này trở thành một trong những tư vấn thiết kế chủ chốt. Cũng từ đây, xuất hiện cái tên Tư vấn Trường Sơn. Tôi thuộc số ít những người có mặt đầu tiên đi mở đường Trường Sơn thời kỳ đánh Mỹ, nay lại được tham gia xây dựng đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa. Sinh 1944, học Trung cấp Giao thông đường bộ khoá 13 (1961-1964). Ra trường đúng vào thời kỳ đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc. Ngày 01 tháng 8 năm 1964 gia nhập Quân đội. Tháng 6 năm 1965 tham gia khóa đào tạo sĩ quan Công binh tại Bắc Ninh. Mười năm tiếp sau (1966-1976) phục vụ chiến đấu trên tuyến đường 20 Quyết Thắng - một cửa khẩu ở phía tây Quảng Bình. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi chuyển về công tác tại Viện Khảo sát thiết kế - Binh đoàn 12. Năm 1978 được quân đội cử đi học Đại học Giao thông vận tải, lớp chuyên tu khoá 18 (1978-1981). Ra trường về đơn vị cũ. Với đường Hồ Chí Minh, tôi được giao chủ trì thực hiện Dự án 3 xa lộ Bắc - Nam đoạn Vĩnh Khê - Thạnh Mỹ, Dự án 10, tức toàn bộ nhánh tây Khe Gát - Khe Sanh - Thạnh Mỹ và một số đoạn khác. Tôi có nhiều duyên nợ với đường Hồ Chí Minh, đặc biệt là với đoạn A Đớt - A Tép. Trong 500 ki lô mét nhánh tây đường Hồ Chí Minh thì đoạn A Đớt - A Tép là đoạn khó khăn và quyết định nhất. Tại đây đã hội tụ đầy đủ tính khắc nghiệt của thời tiết và hiểm trở về địa hình của đông và tây Trường Sơn, của nam và bắc Hải Vân. Và một lần nữa, tư vấn Trường Sơn được Bộ Giao thông vận tải tín nhiệm giao thực hiện. Ngày 17 tháng 6 năm 1999, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải giao cho Tư vấn Trường Sơn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi phương án sử dụng hầm trên đoạn A Đớt - A Tép. Ngày 11 tháng 7 năm 1999, tôi cùng anh Phan Bá Liêm và tổ khảo sát do anh Nguyễn Duy Hiên phụ trách lên đường vào A Lưới. Ngày 13 tháng 7 năm 1999, chúng tôi được hai người dân địa phương dẫn đường, bắt đầu trèo đèo lội suối đi tìm vị trí đặt hầm. Rừng rậm, đường trơn, dốc đựng, cả đoàn gần chục người theo hàng dọc vừa đi vừa phát cây mở lối. Người đi trước phát vài cành định hướng để lách, người đi sau tiếp tục phát thêm. Đến người sau cùng đi qua đã thành lối đi rộng rãi. Đây sẽ là đường mòn để đội quân tiếp tế lương thực, thực phẩm đi lại sau này. Một vùng rừng nguyên sinh còn đầy dấu tích bom đạn của một thời chiến tranh ác liệt. Đến ngày thứ hai thì chúng tôi chọn được vị trí đặt hầm, đó là một sống núi có độ cao hơn 900 mét so với mặt nước biển. Tôi cùng anh Liêm cân nhắc phóng một cánh tuyến không chế trên đỉnh hầm. Tổ khảo sát chia đôi, đo về hai phía. Sườn hai bên dốc và trơn khủng khiếp, phải căng dây rừng bám chặt mà leo. Những con vắt từ dưới đất ngo ngoe như một cần ăng-ten dò tìm hướng có hơi người, bám vào giầy, vào quần áo, bắt không kịp. Những con vắt xanh từ cành lá câu vào người từ lúc nào, bậu đầy cổ, chui vào lưng lành lanh, rờn rợn. Sau này, các chuyên gia của trường Đại học Xây dựng vào thực địa, khi nghe kỹ sư Nguyễn Tuấn Anh giới thiệu về ý tưởng thiết kế, các anh đã ghi nhận và đánh giá cao tuyến hầm đã chọn. Lần đó khi leo dốc, thấy Tuân bị ngất, tưởng phải khiêng về. Còn thầy Tâm, tuổi cao, sợ ngã nên phải chấp nhận cho buộc dây song ngang bụng để 3 người hỗ trợ kéo từ vị trí cửa hầm lên. Chúng tôi đặt tên là hầm A Roàng 1 bởi đây thuộc xã A Roàng của huyện A Lưới. Sau này, tìm thêm một hầm nữa cách đó hơn 7 ki lô mét, đặt tên A Roàng 2. Việc thông tuyến, xác định vị trí hầm và so sánh chọn phương án tuyến cho đoạn A Đớt - A Tép là nhiệm vụ trọng tâm của nhánh Tây lúc đó, được Lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải đặc phái viên Chính phủ Đồng Sỹ Nguyên và Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh rất quan tâm, theo dõi, chỉ đạo hàng ngày. Ngày 20 tháng 8 năm 1999, khi nhận được báo cáo ban đầu là vị trí hầm A Roàng đã được xác định, các đồng chí lãnh đạo Bộ, đặc biệt là Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn và Thứ trưởng Phạm Quang Tuyến rất phấn khởi. Chiều 23 tháng 8 năm 1999, đặc phái viên Chính phủ Đồng Sỹ Nguyên điện thoại gọi anh Văn Thái Bình - Giám đốc, và tôi đến nhà riêng để nghe báo cáo chi tiết. Bây giờ, khi đi trên con đường này, qua hai cái hầm ẩn hiện dưới vòm cây, ai cũng có thể nói rằng, cái hầm A Roàng đương nhiên là phải nằm ở đấy, phải thiết kế như thế... Con đường phải vòng vèo uốn lượn như thế... cứ như nó đã được định sẵn từ thời xa xưa vậy. Nhưng mấy ai biết, để có được "như thế", những người lính Trường Sơn đã phải gian nan vất vả như thế nào. Một đoạn đường gần 50 ki lô mét, không dân cư, không đường mòn. Thời tiết khắc nghiệt sáng nắng chiều mưa. Địa hình thì khó khăn đến mức không bút nào tả nổi. Một lính khảo sát đi trước, hai người dân gùi thồ đi sau. Một cân gạo cõng được lên đây, giá đội gấp 2, 3 lần. Bao nhiêu chuyện buồn vui, mất mát... cũng đã diễn ra trên đoạn đường này: hai đồng chí khảo sát lạc rừng, ca đội tỏa đi tìm, mãi không thấy. Rồi đột nhiên cả hai lại lò dò tìm về. Một đêm trời nổi gió, mấy cành khô trên đầu gẫy răng rắc rơi trúng lán. Mọi người bừng tỉnh dậy, loạn xạ trong đêm. Một dàn máy vi tính tan tành, thế mà người chỉ bị xây xát. Thương nhất là anh Liêm, đi khảo sát mấy tháng trong rừng ở nhà mẹ mất. Đường xa cách trở, liên lạc khó khăn, khi nhận được tin buồn thì mẹ anh đã về nơi yên nghỉ. Đơnvị cử người từ Hà Nội vào Nghệ An đưa tiễn cụ, còn anh đành cam phận là đứa con bất hiếu. Mãi đến khi thông tuyến, anh mới về, lên mộ thắp nén nhang cho mẹ. Bao giờ cũng vậy, sau gian nan vất vả là niềm vui và hanh phúc. Thì ra cuộc đời vẫn công bằng với những người biết hy sinh chịu đựng. Đó là lúc hai đại cánh quân khảo sát, một từ A Đớt vào, một từ A Tép ra, gặp nhau ở lưng đèo lộng gió. Hai cánh quân gặp nhau, nghĩa là hai cánh tuyến khớp nhau. Thử hình dung, giữa đại ngàn Trường Sơn, hai cánh quân lầm lũi phát cây mở lối, mò mẫm nhích dần từng bước theo hướng tuyến đã vạch trên bản đồ, để rồi gặp nhau, khớp nhau một cách chính xác. Đấy thực sự là hạnh phúc lớn lao nhất của người khảo sát. Cũng như sau này, khi được tin lưỡi ben của hai chiếc máy húc cũng từ hai hướng của đại công trường thi công, trong ra và ngoài vào, đã chạm nhau giữa đỉnh Trường Sơn, thì cả hội trường giao ban của Bộ Giao thông vận tải đồng loạt vang lên tràng vỗ tay kéo dài. Niềm vui đến dâng trào nước mắt, mặc dù biết rằng điều đó sẽ phải đến. Thế là đoạn A Đớt - A Tép đã được khai thông, có đoạn mới chỉ vừa đủ cho bánh xe con. Bộ Giao thông vân tải tổ chức ngay đoàn xe đi kiểm tra thông tuyến. Anh Phạm Quang Tuyến - Thứ trưởng thường trực dẫn đầu, đi từ Hiên ra. Hơn chục chiếc xe con nối đuôi nhau bò lên con đường hẹp và ngoằn ngoèo còn nguyên màu đất đỏ. Xe của Tư vấn Trường Sơn có anh Văn Thái Bình và tôi. Đến A Tép dừng lại, anh Tuyến vẫy tôi lên xe đầu ngồi cùng anh để vừa đi đường vừa giới thiệu tuyến. Tôi thuộc tuyến và giới thiệu vanh vách là nhờ được đi với anh em khảo sát và nghiên cứu rất kỹ khi kiểm trahồ sơ thiết kế. Ngồi trên xe mà lòng bồi hồi xúc động, nhớ đến ngày xưa, ngày 19 tháng 5 năm 1966, ba chiếc xe Gatz đầu tiên chạy thử trên đường 20 Quyết Thắng - một trục ngang trong hệ thống đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh năm xưa. Hồi đó, trong chiến tranh, con đường 20 Quyết Thắng dài 123 ki lô mét, từ Phong Nha đến Lùm Pùm được mở thông chủ yếu bằng thủ công và bộc phá chỉ trong vòng 4 tháng. Bây giờ mở đường Hồ Chí Minh, chúng ta có lực lượng thi công hùng hậu, với dàn xe máy hiện đại vào bậc nhất. Chuyến đi kiểm tra thông tuyến thành công tốt đẹp. Từ lãnh đạo Bộ đến các lực lượng tham gia xây dựng tuyến đường, ai cũng mừng vui khôn xiết. Nghĩ đến một ngày không xa nữa, con đường Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn huyền thoại được nối thông từ Bắc vào Nam mà lòng tràn đầy quyết tâm và hạnh phúc. Về sau, tôi còn tham gia trong nhiều chuyến đi, với chức danh là tư vấn thiết kế, khi con đường vào giai đoạn hoàn tất. Có lần theo đoàn của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi đứng trên hầm, quan sát con đường, ông cứ tấm tắc: Đã quá! Đã quá! Sau này, mỗi lần gặp lại, nhắc đến chuyện cũ, anh Phạm Quang Tuyến vẫn thường nói với chúng tôi: "Cái đúng đắn nhất của Bộ Giao thông vận tải là đã giao cho Tư vấn Trường Sơn khảo sát đoạn A Đớt - A Tép. Đây là đoạn quyết định thành bại của tuyến phía Tây. Chỉ có quân đội mới đủ dũng cảm, quyết tâm và chịu được gian khổ. Anh Hà Đình Cẩn - Giám đốc Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh cũng có suy nghĩ tương tự. Đó là những nhận xét chân thành của một cán bộ lão thành tâm huyết với Ngành. Chính nhờ sự tin tưởng, sự quan tâm và những tình cảm đó mà tư vấn Trường Sơn đã trưởng thành. Thương hiệu của Tư vấn Trường Sơn được xây dựng và khẳng định, gắn liền với những năm tháng xây dựng đường Hồ Chí Minh. Rồi đây, mọi chuyện sẽ qua đi. Có người đã bắt đầu quên quá khứ. Cũng phải thôi, bởi cuộc sống hiện tại bộn bề có bao điều cần phải nhớ. Mười năm sau. Năm mươi năm sau. Rồi một trăm năm sau nữa... Nơi đây chỉ để lại một con đường vắt qua đỉnh núi. Trên bản đồ Việt Nam, người ta thấy nó ngoằn ngoèo lân sâu vào nội địa mà không biết tại làm sao? Khi đó hầm A Roàng có thể được mở thêm một làn nữa. Tuyến đường có thể được cải tạo nâng cấp hiện đại như những con đường ta đã gặp ở Trung Quốc, ở các nước Nam Á... Cũng có thể nơi đây sẽ mọc lên nhiều cụm dân cư thấp thoáng ven rừng, những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn du khách... Tất cả, tất cả những cái đó đều là hiện thực. Chỉ có Dấu chân của người lính khảo sát Trường Sơn là đi vào lịch sử. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:42:47 pm Kỹ sư NGUYỄN LỘC Sinh năm: 1934 Quê quán: Đức Hòa, Đức Thọ, Hà Tĩnh Thường trú: P.406 - K1, Thành Công, Ba Đình, Hà Nội Điện thoại: 04. 35632562 Nguyên CBKT Viện Thiết kế GTVT Nguyên CBKT công trường biên phòng Lệ Thuỷ, Quảng Bình (đường 16) Nguyên Trưởng ban chỉ huy Công trường 71A Tân Kỳ HIỆN THỰC MỘT GIẤC MƠ! Đó là những năm của thập kỷ 60, thế kỷ trước, cả nước sục sôi, miền Bắc rùng rùng chuyển động theo nhịp đập trái tim miền Nam. Các đồng nghiệp miền Nam tập kết ra Bắc lần lượt được gọi về. Hai từ "Đi B" nửa bí mật, nửa công khai, thiêng liêng và trân trọng! Rồi những cán bộ kỹ thuật ở cơ quan tôi, Viện Thiết kế Giao thông 278 Hàng Bột cũng được gọi đến, nối tiếp nhau rời nhiệm sở, ngày hôm sau đã mất hút, không còn gặp, chỉ để lại những lời tán tụng trong các câu chuyện thời sự nóng bỏng diễn ra thường nhật ở cơ quan, ở khu tập thể, rất lãng mạn, đã đi vào giấc mơ của ai đó về hình ảnh một con đường Trường Sơn chập chùng, trùng điệp đang thẳng tiến vào Nam. Họ: Nguyễn Tiến Duy, Nguyễn Vĩnh, Trần Văn Cư, Đinh Kiện, Hồ Sỹ Dậu... đã đi rồi, còn mình bao giờ mới đến lượt? Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Câu thơ đầy tự hào có sức lay động, giục giã, tự hào nhưng lại khiến chúng tôi có chút chạnh lòng, ghen tỵ! Nhưng rồi cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ đã thực sự lan rộng ra miền Bắc. Những con đường hứng chịu trước tiên, ngành Giao thông trở nên bận rộn, nếp sống và làm việc hoàn toàn thay đổi. Tôi đang ở phía Bắc phụ trách thiết kế cải tạo, mở rộng ga Đồng Đăng để đáp ứng việc tiếp nhận hàng hoá viện trợ thì được gọi về đi làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông đường sắt tuyến Hà Nội - Vinh. Thoạt đầu chỉ mới ra quân hai nhóm khảo sát thiết kế. Vừa mới ngày hôm trước được Bộ trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ, thì mấy ngày sau đã gặp thứ trưởng đến duyệt tại chỗ phương án cứu chữa cầu Hoàng Mai rồi! Tình thế rất khẩn trương. Các lực lượng ngành Giao thông vận tải dồn dập đổ vào tuyến phía Nam. Nếu không có tiếng gầm rú của máy bay Mỹ thì chẳng khác gì ngày hội, luôn gặp các đồng nghiệp đi vào, vẻ vội vã và lo âu. Trong bài thơ đầu tiên hồi đó, tôi đã viết: Giữa đổ nát tan hoang bề bộn Những con tàu chẳng lỡ hẹn với miền Nam Và đêm đêm, hàng vẫn chuyển vào trong. Rồi cuộc kháng chiến chuyển sang bước ngoặt mới. Địch phải ném bom hạn chế. Đơn vị tôi cùng một số đơn vị khác được giao nhiệm vụ mở Công trường 71. Đơn vị tôi mang tên Công trường 71A thi công 60 ki lô mét đầu tiên từ Tân Kỳ - Sông Rộ (Nghệ An), tiếp theo là hai Công trường 71B, 71C xuyên qua vùng tây Hà Tĩnh vào Quảng Bình. Ý nghĩa chiến lược của công trình được quán triệt bằng cách dẫn lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại ý: Từ Bắc vào Nam, hiện chỉ duy nhất có đường 1A như là một đường du lịch. Đây mới là đường quân sự, kinh tế, phải làm ngay. Mọi lực lượng được gấp rút huy động và triển khai như một mệnh lệnh chiến đấu. Chỉ hơn một năm, công trường tôi đã thực hiện được một khối lượng khá lớn phần nên đường từ Tân Kỳ đi Tri Lễ (Nghệ An). Nhưng tình thế biến chuyển quá mau lẹ. Cả 3 công trường đều phải đình hoãn để nhận nhiệm vụ cấp bách hơn, trọng đại hơn. Lực lượng lao động và xe máy hầu hết được điều động biệt phái, còn lại bộ máy công trường và một ít lao động, được đưa vào Đồng Hới ém quân chờ ngày nối lại đường sắt Bắc Nam. Yên bình trở lại! Có biết bao cuộc hội ngộ. Với tôi, những cuộc hội ngộ với các bạn ở Trường Sơn ra là ấn tượng nhất, bởi hai câu thơ của Tố Hữu bấy lâu đã gieo vào lòng tôi một nỗi niềm khắc khoải: Trường Sơn đông nắng, tây mưa Ai chưa đến đó như chưa rõ mình! Trên đường ra Bắc, mỗi bạn trong một trạng thái khác nhau. Tôi vô tình như một kẻ được cắt cử đón đợi họ ở tuyến lửa miền Trung, nơi cũng vừa dứt tiếng bom và tiếng gầm rú của máy bay Mỹ. Khi thì dưới tán cây xơ xác bụi bặm bên hố bom, khi thì cạnh một quán nước vừa mọc lên bên vệ đường, khi trên một chuyến tàu, hoặc một chuyến phà ì ạch giữa đêm khuya. Gặp Hoàng Văn Đại ở Diễn Châu, trên đường ra Bắc người còn vương "bụi trường chinh", gặp Nguyễn Tiến Duy ở 278 Hàng Bột, đang đợi nhận lại công tác, còn tạm nghỉ ở ngay phòng làm việc, gặp Cù Xuân Hoài tại Khe Nét trên đường 15, gặp Đinh Kiện với chức danh Phó ban Kiến thiết đường sắt Vinh... Tôi vồ vập, háo hức, lắng nghe và nhập tâm tất cả những gì họ kể về Trường Sơn, vơi dần đi những tiếc nuối để thăng hoa niềm tự hào về những cống hiến của "lính" giao thông trong sự nghiệp vĩ đại của dân tộc, đến hôm nay đang lắng đọng, trầm tích và hoá thạch. Mấy năm trước, có dịp cùng tham gia biên tập cuốn "Ký ức Khoá 6" của anh em đồng môn Khoá 6 trường Cao đắng Giao thông Công chính Việt Bắc, được hiểu thêm ít nhiều về đường Trường Sơn qua bài viết của đồng hương Trần Xuân Tiếu, đồng môn Nguyễn Văn Phụng, Cù Xuân Hoài... Nhưng, chỉ có cuộc hội ngộ tuy muộn hơn, nhưng lại kéo dài mãi tới nay với những câu chuyện luôn luôn mới chính lại là với Hoàng Ngọc Châu. Theo dòng tâm sự, Châu minh họa trên bản đồ, tấm bản đồ khung kính treo trân trọng trên tường nhà: - Đây! Đoạn đầu của con đường mang tên số 16 trên hệ thống chằng chịt của tuyến đường Trường Sơn, đoạn Thạch Bàn - Bang - Vít Thù Lù - Làng Ho mà 36 anh em đồng môn Khoá 6 chúng ta được Bộ điều động vào giúp Ty Giao thông Quảng Bình khảo sát, thiết kế và chỉ đạo thi công năm 1959. Còn đoạn Tân Kỳ - Rộ mà công trường cậu thi công hồi đó,lại chính là địa danh đã từng được coi như điểm đầu trục dọc phía Đông của hệ thống đường Trường Sơn đấy! - À ra thế!... Rõ rồi. Ccảm ơn Châu đã hiện thực cho mình một giấc mơ! Bây giờ, cứ đến ngày kỷ niệm về đường Trường Sơn hàng năm, cho dù tuổi đã cao, nhưng tôi không thể bỏ sót một chi tiết nào trong những buổi truyền hình đặc biệt về con đường huyền thoại này vì trong đó có các bạn đồng môn, đồng niên, đồng nghiệp của tôi, và còn chứa đựng cả giấc mơ đẹp một thời của chính mình nữa. Tháng 5 năm 2009. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:50:48 pm Đại tá ĐỖ ĐỨC DƯƠNG Sinh năm: 1945 Quê quán: Hà Đông, thành phố Hà Nội Thường trú: Nhà số 3, ngách 31, Ngõ 69B, đường Hoàng Văn Thái, Quận Thanh Xuân, Hà Nội Điện Thoại: 043. 5659.286 - 098 8671599 Nguyên Kỹ sư từ Bộ GTVT chuyển vào Quân đội Nguyên trợ lý phòng Công trình Cục Tham mưu Công binh Nguyên Trưởng phòng Xây dựng cơ bản, Trưởng phòng Kỹ thuật Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn - Binh đoàn 12 CÓ MỘT CƠ QUAN CỤC THAM MƯU CÔNG BINH NHƯ THẾ! Đầu Xuân Canh Dần, mấy anh em chúng tôi, trợ lý Cục TMCB BTL 559 thời chống Mỹ có dịp găp nhau tại nhà anh Nguyễn Văn Nền ở Như Quỳnh, Hưng Yên, nhân anh từ thành phố Vũng Tàu về quê ăn Tết. Là đồng đội nhiều năm sống chết có nhau trên chiến trường, lâu lắm mới có dịp gặp nhau nên câu chuyện tưởng không thể dứt được. - "Tôi may mắn hơn các anh, sau năm 1976 là thư ký của thủ trưởng Phạm Văn Diêu cho đến ngày Cụ về nghỉ hưu. Tôi nhớ hồi đó "Cụ" có kéo cả anh Châu sang Tổng cục Dầu khí nữa nhưng nghe nói anh không chịu sang, Nguyễn Văn Nền mở đầu câu chuyện. Anh Châu phản ứng: - "Đâu có, thế ra mình mắc oan từ đó đến nay! Được làm viêc với cụ Diêu còn gì bằng! Với công việc thì nhiệt tình, quyết đoán, với cấp dưới thì thương yêu, đùm bọc, cởi mở. Anh Đỗ Đức Định bổ sung: - Anh Châu còn nhớ không, mùa khô năm 1969, mấy anh em mình cùng vào tuyên trước với Cụ trên một xe con Gatz "đít vuông", một xe Gatz 63 chở khí tài đi hộ tống do Lê Kim Thơ phu trách qua Diễn Châu, Cụ bảo vào nhà anh thăm ông già. - Ôi sao quên được! Mình ngủ gà ngủ gật, Cụ hỏi, mắt nhắm mắt mở, không nhận định được lối rẽ từ đường số 1 vào làng mình ở đầu xã. Đành đi qua một đoạn, rẽ vào cuối xã nhưng xe lại không qua được kênh Nhà Lê vì cầu đã bị đánh sập. Nhìn đồng hồ đã 3 giờ sáng. Đành mượn nhà ở làng cuối xã cho đoàn nghỉ, mình nhờ chiếc xe đạp, vác qua chiếc cầu tre bắc tạm cho người đi bộ về nhà. Chưa đến nhà thì pháo bờ biển câu qua làng. Mình hốt hoảng quay trở lại xem làng dưới có việc gì không... Cụ mà có sao thì mình ân hận suốt đời mà. Rồi mình bị Cụ mắng cho về cái việc quay trở lại đó! Anh Phạm Trần Hồng mới từ Nam Định lên sáng nay bổ sung: - "Hay mắng khi chưa vừa lòng, thường kèm theo chùm từ "dở ẹec" nhưng lại là thương trợ lý. Một chuyện tôi còn nhớ cái đêm anh Nguyễn Ngọc Biên hy sinh vì bom từ trường, Cụ đến từng hầm báo tín dữ. Đến nay vẫn như còn nghe tiếng ủng bước hối hả quen thuộc của Cụ. Cả cơ quan Cục đêm hôm đó thức dậy bồi hồi. Cô Liên, cô Đoàn sụt sùi, thương nhớ. Anh Biên đang dạy các cô bài hát Đèo Long - Sông Bạc anh mới sáng tác. Từ năm 1965-1966 cụ Nguyễn Văn Nhạn làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 559 phụ trách Công binh. Lúc đó cụ Phạm Văn Diêu, cụ Nguyễn Nam Hải là Trưởng, Phó phòng Công binh còn gọi là Phòng Thiết kế Thi công. Bộ ba phối hợp làm việc với nhau quá nhịp nhàng ăn ý một thời khi đường 128 mới mở đường 129 mới cải tạo và đường 20 mới bắt đầu thi công. Có lẽ một trong các yếu tố chủ yếu tác động chính là cả ba Cụ đều là con người làm kỹ thuật, hai học thời Tây và một học thời Tàu. Tôi, Đỗ Đức Dương bổ sung: "Còn nhớ có một hôm anh Phan Văn Kiến, chính trị viên đội Khảo sát được gọi lên nghe cụ Diêu "quạt" về cái tội chỉ huy mà để lính đẵn cả cây gỗ to chặt cả cây bống báng, cây đóoc như thế là "vừa làm trống trải lộ bí mật cho ta vừa phá hoại rừng của Bạn". Tết năm 1967, Cục phó Nguyễn Nam Hải vào điều động hai tổ Nguyễn Tiến Duy và Đoàn Văn Đạt sang Binh trạm 42, lúc này đang khảo sát đường 22, đóng quân tại Bản Kăng, tỉnh Sa La Van. Đang nghe ca nhạc đầu xuân Đinh Mùi năm đó, công vụ Hoàng Văn Thắng xin đi săn cải thiện. Nửa tiếng sau, anh trở về hể hả báo tin: "Một nai mẹ gục tại chỗ, còn chú nai con bị thương chạy vào cánh rừng". Cục phó cau mày: "lần sau không được như vậy, chỉ được bắn một con thôi, Thắng nhé!" Thời đó chẳng ai giáo dục cấm phá rừng đầu nguồn gây lũ lụt, cấm săn bắn thú rừng hoang dã gìn giữ môi trường thiên nhiên, nhưng trong ý thức sao nghiêm ngặt như vậy! Cụ Hoàng Đình Luyến từ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 229 về đảm nhiệm Trưởng phòng Công trình, sau đó ít lâu nhận nhiệm vụ Cục phó; cụ Lê Văn Phan, Phó phòng thay. Tết năm 1969, Trưởng phòng Hoàng Đình Luyến cùng anh em tổ chức cái Tết "tinh thần" có một không hai thời đó, Cụ nói ở chiến trường vật chất hiếm, bánh chưng thịt mỡ dưa hành chắc gì đã có! Cả phòng nhất trí làm tập san "Tết Đinh Mùi trên đỉnh Trường Sơn theo sáng kiến của Trưởng phòng. Không "bổ nhiệm" chức vụ Tổng biên tập, không có chế bản, không in ấn. Các trợ lý đều tự biên tập bài của mình, xin pơ luya của Nguyễn Thị Đoàn, nhân viên văn thư, và tự "chế bản". Trợ lý vượt sông Nguyễn Trọng Thoại cao tuổi nhất có bài thơ "gặp em trên đỉnh Trường Sơn" khá tình cảm, Trưởng phòng có bức tranh với bút danh "Lư Yên" còn Trần Trọng Thảo trang trí bìa, dán gáy. Có đến vài chục bài thơ, văn, có người viết đến 3 bài. Tuy nhiên số lượng xuất bản chỉ một tập. Sáng mồng một Tết, trước cửa các hầm chữ A của Phòng Công trình đều có cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa mai vàng được cắt rất khéo bằng giấy nhuộm nhiều màu sắc. Chính trị hiệp lý viên Lê Hữu Khuyên thấy như đã đảo lộn trật tự hàng ngày ông đang quản lý, tần ngần lẩm nhẩm buông một câu giọng đặc xứ Thanh: "Rứa đó, "hấn" đều Tạch Tạch Sè2 (2) cả ấy mà!", cả phòng bấm bụng không dám cười to. Cụ Nguyễn Văn Kỷ giao chức Trưởng phòng Bảo đảm giao thông cho cụ Đinh Hào, cụ Cấn Hoàng Dụ, cụ Phan Công Khang để đảm nhiệm Cục phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Cục. Cụ Kỷ dáng cao lớn có giọng cười rất vang. Cụ thương anh em, thương nhất Phạm Thái Chi, một kỹ sư cầu khá giỏi dang năng động, nhưng hoàn cảnh gia đình eo le hạn chế sự phát triển của bản thân. Về những năm sau còn có các thủ trưởng vốn là chỉ huy các trung đoàn, các binh trạm được bổ nhiệm Cục phó Tham mưu Công binh. Cục phó Lê Trung Ngôn, nói năng nhẹ nhàng, điềm đạm, mang vẻ một vị giáo sư hơn là người tướng trận mạc. Tuy nhiên trong chiến dịch Đường Chín - Nam Lào năm 1971, cụ lại xông pha, chỉ huy hợp đồng giữa các đơn vị công binh chiến trường, bộ binh xe vận tải rất có hiệu quả. Cục trưởng Phạm Văn Diêu phân công thật rất hợp lý: Cục phó Lê Trung Ngôn phụ trách tác chiến và huấn luyện. Cụ Bùi Quốc Ủy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 bộ binh chuyển binh chủng từ năm 1965, chỉ huy Binh trạm 7 (sau là BT 42) sát chiến trường Trị Thiên khét tiếng ác liệt. Cụ chỉ huy quân chiến đấu tại chỗ đánh thắng "kỵ binh bay", bắn rơi hàng mấy chục trực thăng đổ bộ bộ binh xuống Động Cồn Tiên, A Sầu, A Lưới trong những năm 1966, 1967... để những năm sau đó đường B45 vượt chỉ tiêu vận tải vào chiến trường Trị - Thiên - Huế và cho Khu 5 lúc đó còn rất gian khổ. Cụ Nguyễn Thúc Yêm từ Trung đoàn 10 Công binh được cử đi công tác tháp tùng Chính uỷ Bộ Tư lệnh, hy sinh cùng ngày, cùng giờ với Chính uỷ Đặng Tính tại cao nguyên Bô Lô Ven. Dáng thư sinh, trắng trẻo, quê Đức Thọ Hà Tĩnh, mới nhận nhiệm vụ chỉ vài ngày nhưng đã nắm đầy đủ công việc phục vụ cho chuyến đi định mệnh đó. Tại Quảng Xá, xã Hiền Ninh nơi đóng quân, tháng 3 năm đó, cán bộ chiến sỹ Cục Tham mưu Công binh, cả nhân dân địa phương bùi ngùi xúc động thương tiếc các liệt sỹ. Chúng tôi - những trợ lý thời đó, những cựu chiến binh Công binh 559 Trường Sơn nay đã trên dưới 70 tuổi không thể quên được người Cục phó mới bổ nhiệm đầy năng lực, nhiều hứa hẹn đã phải đi xa khi đất nước còn chưa thống nhất. Cụ Phan Quang Tiệp được bổ nhiệm Cục trưởng thay cụ Pham Văn Diêu về Bộ nhận nhiệm vụ mới, giai đoạn xây dựng cơ bản đường 14 Đông Trường Sơn xuyên Việt. Đây là một nhiệm vụ rất mới mẻ, phải giải quyết nhiều khâu từ khảo sát thiết kế, khí tài vật tư, cán bộ kỹ thuật, tổ chức chỉ huy. Thực sự đây là một chiến dịch cầu đường rất lớn, một đại công trường trải dài ngót ngàn ki lô mét trên một địa bàn rừng núi mới ngớt tiếng bom đạn, còn sát nách đối phương, không ít khó khăn phức tạp. Cụ Tiệp hội đủ tiêu chuẩn của người cán bộ chỉ huy: điềm tĩnh, quyết đoán, phục tùng cấp trên nhưng lại rất tôn trọng ý kiến cấp dưới. Các Cục phó Dương Đình Tạ, Trần Đình Cầu, Trần Danh Hòa, Tô Đa Mạn, Đỗ Xuân Diễn một thời giúp Cục trưởng Phan Quang Tiệp chỉ huy thi công đường 14 xây dựng Cơ bản và đảm bảo giao thông các tuyến đường cho các chiến dịch giải phóng Tây Nguyên 10/3, chiến dịch giải phòng Huế 25/3, Đà Nẵng 29/3... chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn thắng. Cục phó Dương Đình Tạ say mê với cây cầu treo dây văng hiện đại nhất Đông Nam Á thời điểm đó, được thi công tại Đăkrông trên tuyến đường 14 lúc đó. Các cộng tác viên trường Đại học Xây dựng, giáo sư Lê Văn Thưởng, Nguyễn Như Khải, Lê Đình Tâm là chuyên gia kỹ thuật; kỹ sư Nguyễn Trọng Thoại, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 509 đảm nhiệm xây dựng công trình hiện đại nay. Trước đó Cụ đã cùng kỹ sư Mai Tây Lộ biệt phái từ Bộ Giao thông vận tải các trợ lý Mai Văn Tâm, Phạm Thái Chi chỉ đạo thiết kế và thi công cầu treo Bản Đông và Bến Tất trên các trục đường xây dựng cơ bản. Ít khi thấy Cục phó Tô Đa Mạn ở cơ quan, Cụ thường xuyên có mặt tại hiện trường nơi có dàn Komatsu của các Trung đoàn 6 do Trung đoàn trưởng Đinh Toàn chỉ huy, Trung đoàn 529, Trung đoàn 217 hoạt động trên đoạn đường đang mở từ Đăkrông, A Cho, Tà Rụt, qua Pê Ke, Ka Tia vào tận Trao đến Bến Giàng... hoặc nơi Trung đoàn 515 của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thăng, người chỉ huy năng động sâu sát những năm làm đường kín 24 nay đang thi công mặt đường thảm nhập nhựa, một công việc hoàn toàn mới mẻ có yêu cầu kỹ thuật hiện đại. Sang tháng 3 năm 1975, khi Tây Nguyên được giải phóng, các Cục phó Dương Đình Tạ, Đỗ Xuân Diễn, Trần Đình Cầu, Trần Danh Hoà có các kỹ sư các phòng thiết kế, thi công, vật tư: Nguyễn Vĩnh, Hoàng Thung, Nguyễn Văn Khải, Huỳnh Bá Sâm, Trần Văn Nguyên... giúp việc rong ruổi trên đường thiên lý - con đường số 1, chỉ đạo kỹ thuật, điều phối vật tư để đơn vị vượt sông do đồng Nguyễn Hữu Soát chỉ huy bắc cầu phao Thạch Hãn; Vũ Như Thường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 chỉ huy khôi phục hàng chục cây cầu trên đường số 1 đã bị địch phá hoại trong khi rút chạy để ngăn bước truy kích của quân ta. Đồng chí Trịnh Thanh Liêm, một cán bộ khí tài rất năng động đã cho đơn vị tìm kiếm khí tài vượt sông trong các kho công binh của địch, mầy mò gia công tại chỗ nhanh chóng bắc cầu nối tuyến, động viên các trung đoàn bảo đảm giao thông để nhiều quân đoàn; sư đoàn bộ binh, pháo binh, xe tăng của ta 55 ngày đêm liên tục hành quân cơ giới thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn. Chỉ huy Tham mưu Công binh trong 10 năm thời chiến tranh thực sự đã gắn bó với nhau, động viên các phòng, các ban trong cơ quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, cả 10 năm không có một trợ lý, một nhân viên thoái thác bỏ nhiệm vụ dù phải làm việc trong điều kiện hết sức gian khổ, ác liệt Bác Hồ, Đảng đã ta có tầm nhìn sâu rộng đã đào tạo đươc những cán bộ cho dù họ ở tầng lớp nào cũng đều quyết tâm, chung lòng đóng góp sức mình cho công cuộc giải phóng dân tộc. Họ đã là những tâm gương sáng chói cho thế hệ các trợ lý của mình phấn đấu trưởng thành. Đến nay, trong hàng ngũ trợ lý thời đó đã có vài chục đồng chí là sỹ quan cao cấp của quân đội. Đồng chí Đặng Phúc trở thành Tư lệnh, Phạm Thọ làm Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh, đồng chí Đặng Hương, Trần Văn Phúc la Phó Tư lệnh, Phó Tổng Giám đốc Binh đoàn 12 - Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn. Nhiều đồng chí chuyên ngành thành cán bộ cấp cục, vụ, chánh, phó tổng giám đốc các tổng công ty, giám đốc, phó giám đốc các sở thuộc Bộ Giao thông vận tải. Thế hệ trợ lý, cán bộ nhân viên thời đó tự hào đã một thời công tác, chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn dưới sự chỉ huy, dìu dắt của một tập thể lãnh đạo sáng tạo, tài năng, đức độ - sống, công tác và chiến đấu vì nhiệm vụ cao cả được giao, thực sự thương yêu cấp dưới hết mình...góp phần rất quan trọng cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của bộ đội Trường Sơn anh hùng. Có một cơ quan Cục Tham mưu Công binh thuộc Bộ Tư lệnh 559 - Trường Sơn thời chống Mỹ như thế! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:52:23 pm Chỉ huy Cục Tham mưu Công binh 559 thời kỳ 1965-1976 - Đại tá Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 559 phụ trách Công binh - sinh năm 1921. - Đại tá Phạm Văn Diêu, Cục trưởng, Phó chủ nhiệm Tổng cục XDKT, PCN Tổng cục Dầu khí. - Thiếu tướng Phan Quang Tiệp, Cục trưởng, Tư lệnh Binh đoàn 12. - Công trình sư Nguyễn Nam Hải, Phó Cục trưởng, Thứ trưởng Bộ GTVT. - Thiếu tướng Lê Trung Ngôn, Phó Cục trưởng, Tư lệnh Binh đoàn 11. - Đại tá Hoàng Đình Luyến, Phó Cục trưởng, Viện trưởng Viện Thiết kế Bộ Quốc phòng. - Đại tá Nguyễn Văn Kỷ, Phó Cục trưởng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 473. - Trung tá liệt sỹ Nguyễn Thúc Yêm, Phó Cục trưởng. - Đại tá Bùi Quốc Ủy, Phó Cục trưởng Cục TMCB. - Đại tá Dương Đình Tạ, Phó Cục trưởng TMCB, Cục trưởng Cục cầu đường Tổng Cục XDKT. - Đại tá Trần Đình Cầu, Phó Cục trưởng, Sư đoàn trưởng 334, Binh đoàn 12. - Thiếu tướng Tô Đa Mạn, Phó Cục trưởng, Phó Tư lệnh Binh đoàn 12, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (sinh năm 1930). - Thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn, Phó Cục trưởng, Tư lệnh Binh đoàn 12, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (sinh năm 1932). - Đại tá Trần Danh Hoà, Phó Cục trưởng (sinh năm 1930). - Trung tá Đinh Hào, Trưởng phòng Bảo đảm Giao thông. - Đại tá Cấn Hoàng Dụ, trưởng phòng Đảm bảo giao thông, Tham mưu phó Binh đoàn 12 (mất năm 2010). Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:52:51 pm Kính gửi mẹ Trường Sơn KS. Phi Đình Tuấn Các con gian khổ, đói cơm, thiếu muối... Mẹ nghèo Trường Sơn cho cây rừng bao la che chỏ, cho nguồn thực phẩm tới vô cùng, để đàn con đi đánh Mỹ... Quá lâu, con không về thăm Mẹ Nhớ xưa, những tháng năm dài, Chiếntranh chống Mỹ Được Mẹ Nghèo đùm bọc chở che Nuôi chúng con bằng nắm rau rừng Củ sắn, lá me, con cá, con cua Từ bao la lòng Mẹ. Cả đàn con khi đó còn rất trẻ Mẹ nuôi con đâu kể đến tháng ngày Bọn độc ác, dập vùi, bắn phá rừng cây Chúng xé rách tan áo Mẹ Mẹ lại vá khâu... lại âm thầm đùm bọc... Tình Mẹ ấm êm đã dạy chúng con Làm nên Chiến thắng... Đường Hồ Chí Minh gọn trong lòng Mẹ Đường Hồ Chí Minh, con đường bất tử Mẹ và Đường Lại ngọt ngào viết nên dòng lịch sử Mãi mãi cho ngàn đời Con ơn mãi Mẹ Trường Sơn ơi! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Tám, 2025, 08:53:30 pm Bên tượng đài liệt sĩ Trường Sơn Trần Y Vinh Tôi xin gửi tâm tôi vào cõi lặng Đứng suy tư bên nấm mộ Anh nằm Tôi gom góp ánh trăng vàng rụng xuống Phủ Hồn Người ấm mãi mãi ngàn năm. Hội ngộ Trần Y Vinh Mỗi năm đồng đội tôi ở Trường Sơn có một ngày hội ngộ. Rừng Trường Sơn trẻ mãi Lính Trường Sơn đã già Những mái đầu trắng xoá Hội tụ từ bao la. Chạm ly nào đồng đội Bốn phương tụ về đây Thương các Anh nằm lại Dưới mảnh đất cao dày. Chạm ly nào cáấc Bác, Tuổi già vẫn hăng say Đời cho ta gặp lại Xin một lần ngất ngây Chạm lỵ! Nào! Chạm ly.... Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 07:59:52 pm Một thời chiêm bao Trần Y Vinh Vô tình nhặt mảnh kính trong Tráng gương thế kỷ soi chung cho đời Qua gương rõ mặt, rõ người Bạc đầu suy nghĩmột thời đạn bom. Guồng quay, méo đã hoá tròn Cười ra nước mắt, hãy còn thơngâỵ Nhớ khi tay nối vòng tay Thương người lính cũ dạn dày đạn bom Bao nhiêu năm tháng Trường Sơn Gót chân sỏi đá chẳng sờn lòng trai Gió mùa đông bắc thổi dài Khói bom, mảnh đạn đau thời chiến tranh Đất thanh bình, nước thanh bình Phố cao, nhà rộng, thênh thênh mặc người Ngắm gương thếkỷmà coi, Nghiêng nghiêng bỗng thấy... một - thời - chiêm - bao. Viếng nghĩa trang Trường Sơn Trần Y Vinh Những năm tháng Trường Sơn Mưa ngàn và gió núi Tôi làm sao nhớ nổi Bao cơn sốt đi qua Bao núi đèo đã vượt Bao trận đánh diễn ra Nhưng đã qua trong tôi Là rất nhiều đồng đội Vì Tổ quốc nằm lại Trên cánh rừng không tên Nghe lời ru của gió Ngọt ngào và dịu êm Nghe ùng oàng súng nổ Suối ngày đêm trong miền Hôm nay trở lại đây Vẫn các Anh nằm đó Hoa trên mồ cứ nở Hương ngạt ngào bay bay. Nghiêng mình trước mộ Anh Thắp nén hương khấn vái Khói bay lên trời xanh Trọn vòng tay nhân ái Trong tôi còn giữ mãi Trường Sơn - Trường Sơn xanh. Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn, tháng 4 năm 2004. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:00:37 pm Nhớ các anh Trần Y Vinh Tôi trở lại Trường Sơn Ba mươi năm xa cách Vẫn rậm rì lau lách Văng vẳng tiếng từ quy Bước chân trên đại lộ Ngỡ mình đang trong mơ Thương các Anh nằm lại Dưới đất lạnh sương mờ Nghe lòng đất thổn thức Văng vẳng tiếng ầu ơ Rưng rưng hái bông hoa Cắm lên mồ Anh đó Linh hồn Anh thấu tỏ Tình đồng đội năm xưa Có biết đến bao giờ Gặp lại Anh lần nữa? Anh nhé! Không bao giờ Không bao giờ Tôi quên! Quảng Trị tháng 3 năm 2005 Trước tượng đài Đồng Lộc Trần Y Vinh Thắp hương đứng trước tượng đài Bùi ngùi nhớ lại một thời xa xưa Mười em gái trẻ măng tơ Cơm chiều để đó đếm chờ bom rơi Khói bom trùm xuống ngọn đồi Các em ngã xuống tuổi đời còn xanh Bức thư gửi mẹ chưa thành Còn nhòe nét mực, vẫn xanh tóc người Bốn mươi năm ấy đã trôi Các em ở lại không rời Ngã ba Mộ em nắng trải thành hoa Thoảng hương bồ kết vỡ òa giọt sương Tượng đài dựng giữa quê hương Ngàn thông vi vút rưng rưng lên trời. Tháng 7 năm 2008 Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:03:26 pm Đại tá PHẠM HẢI Sinh năm: 1934 Quê quán: Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định Thường trú: Nhà 49, ngõ 408, đường Ngô Gia Tự, Quận Long Biên, TP. Hà Nội Điện thoại: 04.36522765 Nguyên Đại uý, Phó phòng Thiết kế, Cục TMCB, BTL 559 Nguyên Sư đoàn phó Tham mưu trưởng Sư đoàn 472, Binh đoàn 12 Mừng rỡ Tôi rất xúc động, sau một thời gian khỏi bệnh được đồng đội Cục Tham mưu Công binh đến thăm nhà. Ngày vui được buổi đẹp trời Hôm nay bầu bạn ghé chơi chan hòa Gợi bao kỷ niệm đã qua Nhớ người và cảnh đậm đà thân thương. Nhớ ngày bám trụ chiến trường Mùa mưa đói rét tìm đường... kiếm măng Rau tàu bay... cũng sạch quang Ta đi kiếm sắn... để tăng khẩu phần Vàng Khoai bom địch lấn dần1 (Bản Vàng Khoai cạnh đường 128A, gần đường số 9 phía Lào) Cụ Diêu2 (Thượng tá Cục trưởng Phạm Văn Diêu) thương lính thấy cần ngăn đi Nhớ ngày địch đánh Na Hi Khói bom mù mịt đen xì cơ quan Quai bom gần đó văng sang Anh em vỡ lẽ địch đang soi tìm Ta còn nấn ná ở thêm Bê năm hai (B52) địch cũng tìm đến nơi Trút bom bốn đợt liên hồi Chết nhiều, đợtcuối ta hơi bất ngờ Ta sơ tán đến Na Bo Để anh Phúc lại chẫm lo việc nhà Nhớ ngày địch đánh nống ra Ta đi công tác xông pha trên đường Người đi người ở kiên cường Cho xe vượt tuyến, chiến trường thắng to. Ngày 18 tháng 6 năm 2004. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:04:00 pm Gặp gỡ Kính tặng đồng đội Phòng Công trình Cục TMCB. Phạm Hải Tôi vui chào đón thiết tha Những người xưa cũ vẫn là quen thân Đã cùng lặn lội khó khăn Vào Nam ra Bắc, góp phần chiến công Bây giờ ngơi nghỉ thong dong Thảnh thơi tuổi tác ta cùng nhớ nhau Giữ cho trọn nghĩa trước sau Mối tình đồng chí, dãi dầu tháng năm Quý nhau còn chút thiện tâm Dựng xây tình nghĩa, hiến dâng phong trào Tuổi cao mà chí cũng cao Sống vui sốngkhỏe dạt dào niềm tin Ta còn vững bước đi lên Phát huy bản chất, vững bền từ xưa Rạng danh người lính Cụ Hồ Sức tuy đã giảm nhưng thừa quyết tâm Sống chan hòa suốt tháng năm Gia đình Văn hóa ta chăm luyện rèn Luôn luôn xứng với lời khen Lớp người đi trước, giữ bền núi sông Bây giờ vẫn chẳng quản công Đời thường mẫu mực ta không chịu lùi Gặp nhau cởi mở vui cười Nhớ tính xưa cũ, vẫn người anh em. Ngày 14 tháng 6 năm 2004. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:04:45 pm Gặp nhau Phạm Hải Những người bạn lính năm xưa Tình thân ái chẳng bao giờ nhạt phai Đã cùng nếm mật nằm gai Tháng năm lăn lộn, miệt mài lập công Bây giờ nhiệm vụ đã xong Về vui chốn cũ mà lòng thảnh thơi Sống chan hòa với mọi người Giữ bền phong cách của người chiến binh Bạn bè gắn bó chân tình Cùng nhau xây dựng quê mình mạnh lên Phố vui rực sáng ánh đèn Đường ta rộng mở ngày đêm xe tàu Trường ta xây mới mái lầu Trạm ta nhộn nhịp máy vào làm ca Nhà ta cũng đã tiến xa Ti vi, xe máy, bỏ qua đói nghèo Làm ăn chăm chỉ sớm chiều Gia đình Văn hóa là điều soi gương Bỏ công góp với phố phường Cũng là tiếp tục chặng đường đã qua Hôm nay gặp bạn gần xa Nói lên thành tựu, làm quà tặng nhau. Ngày 12 tháng 7 năm 2004. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:05:22 pm Chốn xưa Phạm Hải Mậu Thân đóng chốt Na Hy Chiến trường thắng lớn, rộn về chiến công Năm nay tiền tuyến đồng lòng Quyết tâm vận chuyển, khai thông hai mùa Nhưng rồi thời tiết nhiều mưa Máy bay bắn phá ngăn ngừa thông xe Lương ăn ngày một cạn đi Đường Trăm hai tám, A, B, đầy bùn1 (Bản Vàng Khoai canh đường 128A, gần đường 9) Sốngười sốt rét tăng hơn Nước sông suối ngập cao hơn cản đường Lấy măng cũng đổ máu xương Máy bay phát hiện chặn đường Vàng Khoai Chẳng đành xương máu phí hoài Cụ Diêu ngăn lính ra ngoài kiếm rau Do nơi ta đã ở lâu Còn đang kiếm chỗ để mau chuyển vùng Bê năm hai đội tứ tung Trận đầu bốn đợt, ta không có ngờ Thương vong nhiều, đợt thứ tư Có ông bác sỹ cũng vừa "bị" luôn Tới Na Bo lòng đượm buồn Nhớ chiều sốt rét, cuốc nương gần nhà Đêm đầu tạm lánh ngoài xa Để anh Phúc lại vào ra coi Phòng1 (Anh Phúc lúc đó là thống kê phòng Công trình. Sau khi đi học về được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Công binh) Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:07:58 pm Đại tá NGUYỄN VĂN TOÀN Sinh năm: 3-1928 Quê quán: Tam Nghĩa, Núi Thành, Quảng Nam Thường trú: Nhà 10 - N2, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38535039 Nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 5 Bộ binh chuyển sang 559 Nguyên Chính Uỷ Binh trạm 42, Phó Chính Uỷ Sư đoàn 471 - BTL 559 Nguyên Chính Uỷ Sư đoàn 391 - Binh đoàn 12 Binh đoàn 42 Đường lên Binh trạm thật cheo leo! Cao vút tầng mây một đỉnh đèo Xe chạy chưa quên ngầm "Mẹ Khỉ"1 (Địa danh thuộc Binh trạm 42 do bộ đội đặt tên) Người đi vẫn nhớ dốc "Con Mèo"2 (Địa danh thuộc Binh trạm 42 do bộ đội đặt tên) Nắng mưa năm tháng đầy gian khổ Bom đạn ngày đêm lắm hiểm nghèo Binh trạm Bốn hai! Tiền tuyến gọi sẵn sàng đứng dậy phất cờ theo. Đường lên Tây Bắc Những năm sau năm 1975, lên Tây Bắc làm đường 279 Nguyễn Văn Toàn Đường lên Tây Bắc xa xôi Yêu quê góc biển chân trời cùng đi Sông Đà muốn nói điều chi Mà nghe sông nước thầm thì dưới chân Sangphà bước tới Chiềng Ơn Tưởng như đi giữa Trường Sơn năm nào Cũng vực thẳm, cũng đèo cao Một vùng trời đất biết bao nghĩa tình Lên đây ta lại gặp mình Núi rừng ơi! Cuộc trường chinh còn dài Đường đi Hát Lót, Hát Lay Dốc kia ai hạngầm này ai tôn? Nhớ xưa cỏ ngập lối mòn Đêm trăng lạc mẹ nai con ngỡ ngàng Bây giờ đường rộng thênh thang. Ngã ba em xếp đầy hàng chờ anh Đường vòng xe tải lượn quanh Mỗi ngày mấy chuyến bụi hồng cuộn bay Ô kìa! Khóm mía gió lay Ai xui ta đến chốn này Pác Ma Ung dung gặm cổ trâu nhà Tiếng chày thẩm thịch suối xa vọng về Đường lên Bản Trúc, Bản Le Hai bên rừng nứa, rừng tre vẫy chào Ngước nhìn chót vót đồi cao Bóng ai chặt nứa lẩn vào bóng cây. Ngã ba Bản Tẩu là đây Rượu chưa cạn chén đã say hỡi người? Con đường màu đất đỏ tươi Em đi trong nắng tiếng cười dòn tan Ngựa thồai đó hý vang Có về Hát Lót, Chiềng Ơn thì về Rộn ràng vó ngựa, còi xe Xe lên Bản Cút, ngựa về Pác Uôn Đường em như dải lụa hồng Anh đi thoang thoảng hương rừng đâu đây Phải em cô gái Hà Tây? Bàn tay dệt lụa, bàn tay mở đường. Yêu sao quê ngọt nhãn lồng Tay em vác đá látngầm xe qua Lời em hay suối ngân nga Chưa leo tới dốc lòng đã vấn vương. Đỉnh cao Nà Cút mờ sương Nắng nghe con sáo trên nương gọi bầy Lên đây thì ở lại đây Thiết tha lời hát người ơi đừng về Ta đi trên những Dặm Hồng Hồn thơ trỗi dậy mênh mông núi rừng! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:09:29 pm Trung tá NGUYỄN NGỌC MINH Sinh năm: 1947 Quê quán: Nông Cống, Thanh Hóa Thường trú: N616-G16, Tổ 27, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội Điện thoại: 04.36406952 - 0986802649 Kỹ Sư trường Đại học Kỹ thuật quân sự vào Cục TMCB Thiếu uý, Trợ lý Phòng Kế hoạch, Cục TMCB Nguyên Trung đoàn Phó Tham mưu trưởng E35 Những đôi gót vẹt mòn bán đảo 1. Những tướng lĩnh, sỹ quan và hạ sỹ quan Gót mòn bán đảo Đậm đặc thời gian, Trong suốt không gian Gặp nhau Nỗi nhớ dâng tràn. Nhớ mưa Trường Sơn Nhớ căn hầm đưa võng Nhớ nhịp đập con tim khát khao giải phóng Mơ khúc hát ru thống nhất hai miền Vi vút đại lộ Hồ Chí Minh Mà mạng giao liên vẫn nghiêng nỗi nhớ! 2. Ngày ấy Trường Sơn không xanh Cuộc chiến quay tròn thác lửa Lịch sử chọn Trường Sơn làm điểm tựa Kháng chiến cần Một Cục Tham mưu Công binh. Như mắt xích trong đội hình Như một tế bào của bộ não Một trung tâm phát thu, một cơ quan chỉ đạo Một cái then cài, đan bao ý đồ táo bạo. Những đôi gót vẹt mòn Khắp miền bán đảo Trí tuệ, mồ hôi và máu Kiến tạo mùa xuân Kiến tạo chiến công... 3. Rồi mai này những ngọn núi dòng sông Và cuộc chiến dẫu có bề quên lãng Trận địa xưa sẽ thay hình đổi dạng Trường Sơn lấp lánh sắc màu. Những người lính bạc đầu Vẫn nói với nhau về một thời thắp lửa Ngọn lửa trái tim tươi trẻ Tạc vào tâm linh Một Trường Sơn yên bình Một Trường Sơn khói lửa Hai mái Trường Sơn vẫn bao dung nỗi nhớ Trong phút êm đềm, dù là ở vườn sau. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:10:17 pm Ngày tôi thành cảm tình của Đảng Nguyễn Ngọc Minh Nhân ngày nhận Huy hiệu 40 tuổi Đảng. Ngày ấy Trường Sơn giăng mưa Ngày ấy quê hương bão lửa Ngày ấy tôi còn rất trẻ Mới quen bom đạn chiến trường. Tôi thành người trai phong sương Tôi thành người trai trận mạc Bị thương phần mềm, vẫn gắng Cùng anh em giữ chắc kiềng. Bí thư cho đón tôi về Nhập môn: đường xa, nghĩa lớn... Lại có tin về: địch nống Anh em xốc sung lên kiềng... Từ bấy hiểu lẽ chung riêng Từ bấy hồn mang lý tưởng Từ bấy những gì gờn gợn Tan cùng lửa luyện trong tim. Chiến trường không phút dịu êm Đạn bom bộn bề sống chết Tôi cùng niềm tin mãnh liệt Qua bao năm với mất còn. Sau ngày đại thắng mùa xuân Đất nước gồng mình gây dựng Nhiệm vụ trên giao dù nặng... Gắng cùng làn gió đổi thay. Bao nhiêu cảm xúc hôm nay Hơn bốn mươi năm theo Đảng Niềm tin mỗi ngày một sáng Nâng dìu tôi tiếp chặng đường... Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tám, 2025, 08:11:42 pm Thượng úy NGUYỄN VĨNH THỜI Sinh năm: 12-1947 Quê quán: Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Thường trú: Nhà 99 Đào Duy Từ, Phường Ba Đình, TP. Thanh Hoá Điện thoại: 0373. 856924 - 0976 580352 Nhập ngũ năm 1965, tại Trung đoàn 4 thi công đường 20 Tiểu đội trưởng Trinh sát công binh Trung đoàn 4 Nguyên Trợ lý Tuyên huấn Trung đoàn 576 Công binh Nghỉ chế độ bệnh binh năm 1984 Đồng đội ơi! Chúng tôi về chiến địa cũ Trường Sơn Thăm lại con đường, những địa danh máu lửa Đến viếng Nghĩa Trang để làm tròn lời hứa Với đồng đội sau chiến tranh. Có các em cùng đi với các anh Những cô gái miền quê mở đường năm ấy Ai cũng thấy một quãng đời sống dậy Của một thời đầy khói lửa, đạn bom. Ôi đồng đội ta ai mất ai còn Hàng bia mộ cứ đầu trần im lặng Đồng đội ơi lòng chúng tôi đau thắt Nước mắt trào tuôn; rớt xuống lưng đồi. Bao nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi Xin thắp nén hương giữa đất trời cầu nguyện Xin nghiêng mình trước những người lính chiến Đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước tươi xanh. Hoa cỏ mùa xuân em muốn gửi cho anh Cùng với hương lòng hòa trong ngọn gió Những cọng cọ mềm và những bông hoa nhỏ Như cùng sụt sùi trong gió rung rinh. Tình nghĩa đậm sâu là những cựu chiến binh Sống chết một thời đạn bom nghiêng ngả Nay lại về đây vuốt nhẹ từng cọng lá Nhưnụ hôn nồng làm dịu nỗi xót xa. Kỷ niệm ùa về lại tháp sáng trong ta Những ngày hào hùng của tháng năm đánh Mỹ Ôi ánh mắt thiết tha của bao người đồng chí Như nhắn nhủ điều gì trong mỗi bước đi. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:07:42 pm NGUYỄN XUÂN TÌNH Sinh năm: 12/1951 Quê quán: Quảng Thạch, Quảng Xương, Thanh Hóa Thường trú: Số 5, Ngách 69A/16, Hoàng Văn Thái, Quận Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 04.38536335 - 0987 899098 Nguyên chiến sỹ Đại đội 1, Tiểu đoàn 34, Trung đoàn 591, Bộ Tư lệnh 559 Thắng trận Bản Đông Nguyễn Xuân Tình Rừng Bản Đông vào giữa mùa khô Tháng hai đó không bao giờ ta quên được Xe chạy bon bon vì miền Nam tuyến trước Nòng pháo vươn dài cùng tuyến đường xa! Sông Sê Pôn nước chảy hiền hòa Hương thơm thoảng những bông hoa rừng mới nở. Đồng đội tôi ơi! Muôn đời sau còn nhớ Mùng tám tháng hai xuất trận ở nơi đây Đen đặc trời xanh, trực thăng Mỹ từng bầy Bay vào đây đánh phá Đổ quân các điểm cao, ngã ba Chặn đường chi viện của ta đêm, ngày. Rừng le tan tác chim bay Tiếng bom nổ, tiếng đạn cày đó đây Lửa thù thiêu cháy rừng cây Quân ta xuất kích diệt bầy xâm lăng Đêm về sáng bóng chị Hằng Đạn phòng không đỏ, lửa giăng kín trời Đánh cho Mỹ Ngụy tơi bời Bản Đông, đường Chín sáng ngời chiến công! Mỹ - Ngụy thất thủ Bản Đông. Long - Bình - Điền - Chúc đã không trở về Các anh đã trọn lời thề Chưa hết giặc Mỹ-chưa về quê hương Nằm đây giữa chốn chiếntrường Dõi theo đơn vị bước đường tiến quân! Nhớ về em cô gái giao liên Nguyễn Xuân Tình Nhớ Trường Sơn, Anh lại nhớ về Em Cô gái giao liên trên đường đi đánh giặc Đường Trường Sơn hút xa ngoài tầm mắt Em đi theo tiếng gọi chiến trường xa Ngày đón quân vào, ngày đưa quân ra Trên triền núi cao, vực sâu mất lối Gạt giọt mồ hôi trên đườngEm bước vội Đưa đoàn quân đi kịp chặng đường. Đến nơi rồi bãi khách chiến trường Nơi đón đoàn quân đến, quân đi không nghỉ Vượt Trường Sơn bằng quyết tâm và ý chí Của lớp người đi đánh Mỹ tuổi hai mươi. Hỏi tên Em, Em chỉ nhoẻn miệng cười Cơn sốt rét rùng làm da người xanh tái Nhiệm vụ trên giao, Em đâu quản ngại Tất cả cho giải phóng miền Nam Em hăng say với công việc Em làm Như cánh chim trời bay không biết mỏi. Cuộc sống chiêh trường bữa no bữa đói Em có cần đòi hỏi gì đâu. Ngày tiếp ngày vượt đèo cao suối sâu Trên những chiếc cầu treo bắc ngang lưng chừng dốc Qua cánh rừng máy bay Mỹ vừa rải độc Em "lệnh" đi nhanh! Đảm bảo an toàn Cả đoản quân hiểu công việc Em làm Công việc giao liên thật là cao cả Súng trên vai trên đường Em hối hả Đưa đoàn quân ra trận hôm nay Để mai ngày cờ Tổ quốc tung bay Trên Quảng trường Ba Đình trời xanh cao đầy nắng Tổ quốc Việt Nam đã hoàn toàn chiến thắng Có thể vắng Anh và Em trong ngày hội lớn... Em ơi! Song! Ước mơ chúng ta đạt được rồi Đêm pháo hoa sáng bầu trời Tổ quốc Chúng ta vẫn đi tronghàng quân quen thuộc Của lớp người đi đánh Mỹ, tuổi như Em! Hành quân trên đường 16 Nguyễn Xuân Tình Trường Sơn mây núi mờ xa Vượt qua Dốc Khỉ rừng già vờn mây Xe bon trên tuến đường này Suối sâu nhường bước, dốc này ta qua Nghỉ chân cây số bốn ba Đường mười sáu đó để ta gặp mình Đến nơi thấy rõ sự tình Vi đây anh ạ! Ơ xinh thế này Đóng quân ở cánh rừng đây Những người con gái, đêm ngày vào ra Hỏi rằng quê ở đâu ta? Quảng Bình đấy, Đây ra cũng gần Cô gái hỏi rất ân cần Các anh nay đã hành quân bao ngày? Lòng vui câu chuyện càng say Trường Sơn đó! Đêm ngày gặp nhau Ăn cùng nhau, công tác cùng nhau Tuy không đơn vị sao giàu lòng tin Ngẩn ngơ ra ngắm vào nhìn Nhả hầm rộng đó còn in bao ngày Chia tay buổi sáng mưa bay Em còn ở lại rừng này anh ơi Các anh sẽ vượt cổng trời Mây bay gió thổi đôi nơi một màu Chúng ý nghĩ hẹn cùng nhau Khi xong chiến dịch mùa sau anh về Nắng Trường Sơn đậm tình quê Khi xong chiến dịch; anh về thăm em Trường Sơn đó bước chân quen Nắng in lưng núi, má em ửng hồng Bao ngày, tháng, em đợi trông Các anh đang ở Bản Đông Nam Lào Thắng trận rồi lòng vui sao Xong chiến dịch đấy, anh nào đã qua Chắc rằng anh đã đi xa Hẹn cùng anh nhé, bài ca diệt thù. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:08:11 pm Người trong huyền thoại Phạm Ngọc Vũ Từ trăm miền đổ về đây Năm mươi năm có gặp nhau một ngày Mừng mừng tay nắm chặt tay Rưng rưng ôn lại những ngày Trường Sơn Những ngày nhạt muối đói cơm Tấm chăn nặng, giữ chặt cơn sốt rừng Những ngày đạn xé bom rung Giữ đường bám trụ quyết không chịu rời. Đi qua cuộc chiến một thời Vẫn còn hơn nửa cuộc đời cho nhau Thương người nằm lại rừng sâu, Người về ai mất, ai đau, ai còn? Ai vui với cháu, với con, Nổi đau ngày ấy ai còn đến nay? Từ trong "Huyền thoại" về đây Gặp nhau soi lại những ngày làm nên... Những con - người - của - Trường - Sơn Ra đi gửi trọn tuổi xuân cho rừng Mất đi cái mất để còn Còn, cao quý nhất là còn Nước Non. Bảo tàng đường Hồ Chí Minh, 16 tháng 5 năm 2009. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:09:19 pm Thiếu tá - Kỹ sư ĐỖ VĂN Ư Sinh năm: 1937 Quê quán: Hồng Thái, Lạc Hồng, Văn Lâm, Hưng Yên Thường trú: Hồng Thái, Lạc Hồng, Văn Lâm, Hưng Yên Điện thoai: 0321.3982106 Từ Bộ GTVT biệt phái sang Quân đội năm 1965 Nguyên Trung uý, Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn Khảo sát 976, Cục Tham mưu Công binh Nguyên Thiếu tá Viện Khảo sát thiết kế Bộ Quốc phòng Nguyên Trưởng phòng Kho hàng Cảng Khuyến Lương Bộ GTVT Xuân Mậu Thân - 1968 Ta hát lên mừng xuân sáu tám Xuân của ta, xuân của lòng dũng cảm Xuân của ta, xuân chiến thắng cả hai miền Đang vùng lên, từ Trị Thiên... ... đến Tây Nguyên Nam Bộ Xuân của ta, xuân cờ hồng bay trên thành Huế Anh giải phóng ơi! Anh mừng xuân trên pháo đài diệt Mỹ Anh công binh ơi! Anh mừng xuân trên trận tuyến mở đường Anh pháo binh ơi! Anh mừng xuân cất cao nòng pháo Bắn tan đàn quạ sắt, để bảo vệ mùa xuân Anh lái xe ơi! Anh mừng xuân trên chuyến hàng thắng Mỹ Tất cả chúng ta con người dũng sĩ Hãylàm nên lịch sử của thế kỷ hai mươi. Huyện 40 - Kon Tum, tháng 02 năm 1968. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:10:18 pm Kỹ sư ĐINH KIỆN Sinh năm: 1931 Quê quán: Đức Lâm, Đức Thọ, Hà Tĩnh Thường trú: Nhà 14, Tổ 43, ngách 207, ngõ 281, Trương Định, Hoàng Mai, Hà Nội Điện thoại: 04.36623981 Kỹ sư Bộ GTVT biệt phái sang Đoàn 559 tháng 5 năm 1965 Nguyên Thiếu uý, Tổ trưởng Đội Khảo sát 1, Cục TMCB Nguyên Chuyên viên Tổng Cục Đường sắt Việt Nam Đường 20 Về thăm Quảng Bình xuân 61 Đại tướng vạch một tuyến đường Vượt Trường Sơn chở hàng chi viện Đường Hai mươi như bảy sắc cầu vồng Ấm nồng tình Lào - Việt. Qua gian lao vất vả Leo vách đá rừng cây Theo dấu vết cha anh thuở trước Đã chọn được tuyến đường Từ động Phong Nha qua Khe Gát Leo dốc Ba Thang nhìn thấy đỉnh Ba Rền Đến A Ki - Phu La Nhích Cua Chữ A xuống Nậm Ta Lê Đường Hai mươi hơn nửa chiều dài đi trên đá. Hơn ba ngàn thanh niên, bộ đội Đã tiến vào đây Không sợ khổ, chẳng quản nắng, chẳng sợ mưa Bắt đá hóa mềm Bắt núi cúi đầu Biến rừng cây thành đường xe chạy. Hơn hai trăm ngày vất vả Mười chín tháng năm, năm sáu sáu Đường đã thông xe Xe qua cổng trời, mây bay buồng lái Qua A Ki hoa nỏ đỏ rừng Xe đi qua tiếng cười, tiếng hát Xe qua rừng cây lá vẫy như triệu bàn tay Xuống Nậm Ta lê suối nước trong xanh Có bầu trời long lanh dưới nước. Biết con đường ra trận Mỹ điên cuồng đánh phá Cả tuyến đường như lửa cháy Cua chữ A thành sa mạc Phu La Nhích rừng xanh thành đất đỏ Pháo ta bắn lưới lửa kín trời cao Nhiều con ma thần sấm đã lao đầu xuống đất Xe ta vào rung đất chuyển rừng Pháo ra trận cả trời sao xao xuyến Quyết bảo vệ tuyến đường Dù thương vong gian lao vất vả. Mỹ đã dùng kỹ thuật hiện đại Rải chất độc hóa học Dùng tia hồng ngoại bắn chặn đoàn xe Ném bom bi, bom phá, bom sát thương, bom từ trường Pháo ta bắn cả trời cao hoa nở Xe ta vào trong mưa bom bão đạn Phu La Nhích - cua ChữA - Nậm Ta Lê Ba trọng điểm đã thành huyền thoại. Hơn hai ngàn năm trăm ngày đánh phá Thả hơn chục vạn quả bom Đường vẫn thông, xe vẫn vào Công binh rất kiên cường dũng cảm Tan khói bom đã hát trên đường Đường Hai mươi là đường "Quyết Thắng’’. Vinh dự quá, Đại tướng đã về thăm Xe qua cổng trời, nòng pháo cao, mây bay hối hả Xe lượn tròn cua Chữ A Đường vẫn còn một chút khói bom Xe xuống Nầm Ta Lê nước đã trong xanh. Đi dọc tuyến đường Đại tướng đã biểu dương Đường Hai mươi là kỳ tích, kỳ công, kỳ quan Do ý chí vì độc lập tự do Của thanh niên và chiến sĩ làm nên. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:11:23 pm Thượng tá VƯƠNG NGỌC CHẤT Sinh năm: 1950 Quê quán: Cộng Hòa, Quốc Oai, Hà Nội Thường trú: Cộng Hòa, Quốc Oai, Hà Nội Điện thoại: 04.33946042 - 0985 790655 Nguyên Chiến sĩ Công binh Trường Sơn Nguyên Cán bộ trường Trung học Xe máy Tổng cục Kỹ thuật Nhớ về Trường Sơn Sang Thu - Hà Nội - 2008! Nhớ người con gái TNXP Vĩnh Phú -1973. Anh đi tìm Em - Em ở nơi đâu? Câu hát ấy cứ theo tôi suốt một thời trai trẻ Nhớ về Trường Sơn - Những tháng năm chống Mỹ Nhớ về Em - Cô thanh niên xung phong. Buổi dầu gặp Em - giữa đèo A Pông Đất Thừa Thiên - mùa mưa Đông Trường Sơn Núi rừng trắng xóa Tóc ướt, vai gầy chỉ có ánh mắt, nụ cười là lạ Em cùng đồng đội chống lầy cho xe anh qua. Đông Trường Sơn nắng - tây Trường Sơn mưa Mỗi lần xe anh qua lại gặp Em Với ánh mắt nụ cười Với hẹn hò, mong lần gặp lại Với tâm hình kỷ niệm anh còn giữ mãi Với một niềm tin, một hy vọng ở tương lai... Chiến tranh đi qua - Cuộc sống cứ dần trôi Ngoái nhìn lại đã ba lăm năm có lẻ Ôi Trường Sơn - nhớ một thời trai trẻ Và nhớ về Em - Những năm tgáng đất Thừa Thiên Em Ở đâu? Hỡi em cô gái của hồn tôi Có lúc nào nhớ tới Anh - Người trai đất Hà Tây - Quê lụa Có nhớ về đèo A Pông - Một thời gian nan vất vả Và một mối tình - Những năm tháng ở Trường Sơn! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:12:49 pm Kỹ sư NGUYỄN BÁ THANH Sinh năm: 1940 Quê quán: Bồi Sơn, Đô Lương, Nghệ An Thường trú: 19-33/219 Định Công Thượng, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội Điện thoại: 043. 5594552 - 0912 986903 Từ Viện Thiết kế Bộ GTVT vào Quân đội Nguyên cán bộ kỹ thuật Đội khảo sát Công binh Cục TMCB Nguyên Trưởng phòng Công ty Tư vấn XDCT 2 Bộ GTVT Mong một ngày trở lại với... Tà Bôi! Bên dòng Ta Lê Bản Tà Bôi1(Tà Bôi: một bản làng thuộc huyện Khăm Muộn, Lào, tây Trường Sơn) - năm đó, cuối hè Hành quân đến đây, chúng tôi nghỉ lại Chục dãy nhà sàn trên bãi cao bình dị... Trăm ngọn dừa tán lá xum xuê Rực rỡ vườn ai, cải vàng, ngát hoa thơm Nương rẫy trải dài, đây con suối lượn vòng. Cánh cửanhà bên, em gái bản ngập ngừng Ôi đẹp biết bao! Việt Lào tình nghĩa. Bản làng vui trong câu ca tiếnghát Điệu lâm vông sáng tỏ những đêm trăng Tình cảm Việt Lào, chungniềm vui chan chứa Cuộc sông êm đềm giữa thiên nhiên cây cỏ. Chân chất hiền khô. Hôm sau những con người Bản đó Dẫn chúng tôi đi, vượt núi băng rừng Ngày lại ngày qua tìm những tuyến đường. Rồi một đêm cả núi rừng tiếng rền vang mìn nổ Đất đá tung lên, khói bụi mịt mù Và sáng hôm sau một tuyến đường đã mở Vượt dòng Ta Lê, trườn mình qua núi Trèo ngọn Phu La Nhích vời vợi bên kia Cả dân làng, cả chúng tôi sung sướng hả hê... Nhưng, có điều mà ai cũng nghĩ Ngay hôm nay bọn giặc trời sẽ tới Mọi nhà tản nhanh vào rừng, xuống suối Và ngay trưa hôm ấy Bắt đầu những trận mưa bom Quả phá dòng sông, quả cắt nát tuyến đường Quả bay lạc vào rừng, vào núi Quả dội xuống bản làng ngút trời lửa khói Cháy những nhà sàn vô tội Bao thân dừa gục gãy ngổn ngang Những mảnh vườn hoa cải tan hoang Và chết những trâu bò, gà lợn... Thầm thươngđau xót vô cùng Đành gồng mình chấp nhận hy sinh Bởi biết ngày mai sẽ vĩnh viễn thanh bình. Đã hơn bốn mươi năm rồi Nhớ lại đầy vơi bao kỷ niệm Về bản Tà Bôi, về một thời rất đỗi hào hùng Trong miên man, mơ màng tôi suy nghĩ Bản làng hôm nay phải đẹp hơn ngày ấy Trẻ đông vui, bao gốc dừa trĩu trái Hoa cải lại nở vàng hai bên bờ suối Em gái Lào, tay xinh xinh thu hái... Trường Sơn nay Một màu xanh ngút mắt Giữ mãi trong lòng lịch sử những địa danh Và Ta Lê hẳn lại trong xanh Đàn cá động quẫy mình trong vũng thẳm Tôi say sưa đắm mình trong tưởng mộng Mong một ngày trở lại với Tà Bôi!... KS. Nguyễn Bá Thanh Tôi vẫn nhớ KS. Nguyễn Bá Thanh Những ngày chui rừng tìm lối Phát tuyến qua rừng giang Vắt đen bám chân, vắt xanh đeo cổ. Tôi vẫn nhớ Những ngày sốt rét rừng... nằm đó Mong cắt cơn cùng tổ lại lên đường. Tôi còn nhớ Những đêm mưa rừng nằm trong lán nứa Nghe nước về ào ào như thác đổ. Tôi không quên Tôi không quên giữa bom rền đạn nổ Sống, chết hề chì! Chỉ một niềm say mê Tìm tuyến nhanh, đường mở. Tỏi không quên Tôi không quên, những địa danh nơi đó Bạn bè tôi, đồng đội tôi Rầt nhiều Anh đã hoá mình vào cây cỏ Để lại cho tôi, để lại cho anh Cho con cháu mai sau Một màu xanh muôn thuở. Tôi vẫn nhớ, tôi không quên Trường Sơn, Trường Sơn Những tháng, ngày, năm đó...! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:15:44 pm Đại tá - Thạc sỹ - Dược sỹ CAO HƯNG Sinh năm: 1948 Quê quán: Quảng Tân, Quảng Xương, Thanh Hoá Thường trú: P304, Tập thể Quân dược, số 80 đường Kim Giang, Tổ 34, Đại Kim, Hoàng Mai Hà Nội Điện thoại: 043.8550161 - 0982 261075 Chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị năm 1972 Nguyên Chuyên viên Cục Quân y - Bộ Quốc phòng Hoa đất Kẻ Bàng Hỡi em: Hoa đất kẻ Bàng Hát chi rứa để xốn xang đất trời Nước sông Son, nước ngừng trôi Khoang thuyền đầy nắng, quyện lời gió ru. Thưa rằng: Em nhớ lời ca Một thời chống Mỹ, giữ phà Xuân Sơn Nắng mưa thân gái mở đường Cho xe thông tuyến tiền phương thuở nào. Phong Nha trời nước xôn xao Theo em, anh nỡ lạc vào thiên cung Đạn bom ngày ấy đã từng Càng yêu hoa đất - hương rừng quê em! Phong Nha, Quảng Bình, hè 2000. Âm dương giao cảm Cao Hưng Cây bồ đề tỏa lá xanh Như hình bóng mẹ che anh tháng ngày Trăm miền hội tụ về đây Vẫn nghiêm đội ngủ như ngày chiến tranh Dâng hương kính viếng các anh Mắt rưng rưng lệ, lòng thành quặn đau Lặng im một chút gần nhau Âm dương giao cảm đôi câu ân tình Quê hương muôn thuở thái bình Nhớ ơn các Chị, các Anh đời đời Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn tháng 5 năm 2000. Nếp cái hoa vàng Cao Hưng Chọn toàn rơm nếp cái hoa vàng Em tết thành đôi mũ xinh xinh Một cho em, một để tặng anh Ta cùng đội sớm chiều đi học. Che đạn bom, nắng mưa khó nhọc Bền bỉ cùng ta năm tháng đến trường Mũ bên mình ngào ngạt thơm hương Át bớt mùi lửa bom, khói đạn. Đời chiến chinh trải dài năm tháng Gặp lại em nơi trọng điểm mở đường Đâu rồi suối tóc thân thương Thoang thoảng mùi hương nếp mới Mái tóc em sém vàng lửa khói Cầu mong ngày thống nhất gần thôi! Bạn bè bảo dù di chuyển nhiều nơi Em vẫn hái lá cơm xôi cài lên mái tóc Để nhớ thuở đội mũ rơm đi học Cho không quên hương nếp cái hoa vàng. Nơi gió Lào cát bỏng đất miền Trung Giữa chát chúa, đạn bom cày xới Chia tay nhau, anh phải đi rất vội Miền Nam đang gọi phía chân trời. Em chỉ kịp trao anh một lá cơm xôi Ép vào sổ để nhớ về quê Mẹ Nhì nnhau qua chớp bom sáng lóe Ta hẹn thầm mùa nếp ở quê hương Ngày hòa bình anh trở lại QuảngXương Mong được gặp em như lời hẹn ước Đau xé lòng anh, không thể nào tin được Em đã hy sinh, nơi chốt lửa Trường Sơn Nén lòng mình bớt khắc khoai cô đơn Mỗi mùa gặt anh lại về quê Mẹ Để được tết hoa rơm như năm nào thời trẻ Dâng hương nếp nồng nàn thơm thơm mãi hồn em! Lưu Vệ, mùa nếp mới 1976. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:17:41 pm Trở lại Trường Sơn Trần Văn Phúc Chiều nay trở lại Trường Sơn Trời xanh như thể xanh hơn mọi chiều Rừng nghiêng theo đợt gió Lào Thương đàn bướm trắng đậu vào ngầm khô Đường này đi tới Làng Ho Còn in dấu vết xe thồ Trường Sơn? Nơi nào bãi khách giao liên Dừng chân mắc võng giữa đêm rừng già Thương người dẫn khách vào ra Tuổi Xuân em đã đi qua chiến trường. Dọc ngang biết mấy cung đường Mỗi bước đi một tấm gương anh hùng. Dù nay xanh lại lá rừng Bao người nằm xuống, xin đừng quên nhau Nghĩa trang bia trắng một màu Thắp hương tưởng niệm cúi đầu rưng rưng. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 08:19:36 pm Kỹ sư TRƯƠNG ĐÌNH MINH Sinh năm: 1940 Quê quán: Phù Ninh, Phong An, Phong Đién, Thửa Thiên - Huế Thường trú: Phương Nhị, Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội Điện thoại: 043. 8613575 - 0987 472684 Nguyên Trợ lý cầu đường Sư đoàn 15 - BTL Công binh Thiếu tá Viện Khảo sát thiết kế Binh đoàn 12 Chuyển ngành về lại Bộ Giao thông vận tải Tìm lại bóng xưa Qua sông trăng lãnh - chèo khua sóng Con thuyền xé nước bóng nghiêng chao Em cười - ấm cả đồi áo lính Bộ đội lên bờ trăng níu chân theo. Pháo địch ình oàng, bom ào, lửa táp Thuyền em lao như mũi tên xanh Nối đôi bờ thượng nguồn Tả Trạch1(1) Mai! Huế giải phóng rồi... Có gặp em không? Một nhánh Hương giang. Hành quân qua trăm bến ngàn sông Bão táp thuyền xô bóng hình em khôngxoá nổi Bốn mươi hai năm... người lính năm xưa trở lại Khắc khoải tìm em - thấp thoáng vầng trăng. Thoang thoảng đâu đây, thơm mát hương rừng... Lá me chua Trương Đình Minh Lán dựng bìa rừng Đơn vị mở đường - tựa lưng sườn dốc Sau cơn sốt, người xanh xao vàng vọt Biết tôi thèm lá chua me Em vào rừng, men suối Về - nấu bát canh chua. Xa Trường Sơn, thấm thoát đã bao năm Gặp lại em một chiều Hồ Gươm hoa phượng đỏ Hai mái đầu giờ tóc đã hoa râm Nhắc chuyện ngày xưa... Em đưa mắt nhìn tôi - Buồn. Ơi cô gái nuôi quân Đã nhen trong tôi ban đầu ngọn lửa Bây giờ mỗi bữa cơm ăn Nhấm bát canh chua Tôi thấy lòng xao xuyến xốn xang. Nhật ký một đoạn đường Trương Đình Minh Hôm qua qua đây Con đường còn tươi màu đất đỏ Mấy cô gái làm dân nguỵ trang Che mắt quân thù nhòm ngó Đưa mắt cười, tay vẫy vẫy theo Hoa phong lan thơm ngát rừng chiều. Chiều - qua đây Trời vừa sẩm tối Có ánh lửa lập loè, có tiếng người vọng lại. Thấy chúng tôi vào mừng như gặp người thân O xách nước rửa rau, o giành vo gạo... Thương các anh nhiều vất vả ngày đêm. Cái bắt tay lên đường, dù chỉ mới quen Nhưng ở đất Trường Sơn Đã thành thân thiết Những đôi mắt cứ nhìn nhau Xoáy vào đôi mắt rất thương. Chiều nay qua đây Bom đạn cày loang lổ Cây đổ ngổn ngang Bãi đất dạm bầm đen, máu ứa. Đoàn xe đi qua - đi qua lặng nhìn Mặt trời chiếu đỏ rực sau lưng Như ánh đèn ô tô giục xe sau, xe trước. Đêm nay, Vĩnh biệt các em lên đường Mang theo một mảng trời bầm đỏ, Những đôi mắt hiền thương Trên những con đường Có máu em tôihoà thành chất nổ... Đèo 1001 -1972. Tiêu đề: Re: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tám, 2025, 09:55:27 pm Đại uý ĐẶNG THỊ HOA Sinh năm: 1955 Quê quán: Hòa Bình, Vũ Thư, Thái Bình Thường trú: Nhà 38, Ngõ 64/55 Kim Giang, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 04.38550364 - 0983 976420 Học sinh phổ thông nhập ngũ tháng 7 năm 1973 Nhân viên Phòng Thiết kế - Cục Tham mưu Công binh 559 Nguyên Trợ lý Phòng Tài chính Viện Khảo sát Thiết kế BĐ12 Mở đường Trường Sơn huyền thoại Kính tặng những người lính KSTK đường Trường Sơn trước và sau chiến tranh. Ta gặp nhau kể về nổi nhớ Đường Trường Sơn một thuở máu xương Tình yêu chiến sĩ mơ đường Quyết chi viện tới chiến trường Miền Nam. Đế quốc Mỹ dã man gây chiến Mạch giao thông phát triển càng mau Khảo sát mở lối đi đâu Trèo đèo lội suối rừng sâu đại ngàn. Nói sao hết gian nan ngày ấy Đầu đội bom chống gậy mở đường Quân vào rầm rập chiến trường Gùi hàng, xe pháo coi thường hiểm nguy. Giặc bắn phá tìm đi đường khác Ngầm Ta Lê, Đá Bạc, ChữA Nhánh ngang, đường dọc, vươn xa Đèo Phu La Nhích, Chà Là, túi bom.: Hai vạn cây, kỳ công, kỳ tích Hơn trăm người1 (Biên chế Đội Khảo sát Công binh Trường Sơn năm 1967 có 106 cán bộ chiến sĩ),tránh địch tìm đường Đã từng mất mát đau thương Vẫn nay Đông, lại mai Trường Sơn Tây. Đường trăm ngả, một ngày tới đích Tổng tiến công, chiến dịch thần kỳ Năm mươi năm đã qua đi Khảo sát mở lối vẫn ghi công đầu. Đường Trường Sơn, nay mang tên Bác Trải dặm dài từ Bắc vào Nam Con đường huyền thoại vinh quang Nhớ sao! Suối hát, nai vàng Trường Sơn! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Tám, 2025, 07:58:20 pm BÙI CỘNG HÒA Sinh năm: 1941 Quê quán: Liêm Chính, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Thường trú: P201, ngõ 7, Tổ 19B, Phố Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04. 35370619 - 0984 920410 Từ Sư đoàn 472 chuyển về Cục TMCB, Bộ Tư lệnh 559 Thương binh, chuyển ngành năm 1975 Đường Mang tên Bác Kính dâng hương hồn các liệt sĩ Kính tặng cán bộ chiến sĩ Binh trạm 14 Binh trạm AHLLVTND Nhớ ngày mồng sáu tháng tư Binh trạm 14 "bây chừ" sinh ra Đường"Quyết Thắng" cây nở hoa Quân, công, bộ, pháo, xe ra chiến trường. Thủ đô "Troóc" thành hậu phương Dân quân -"Ba sẵn" chẳng nhường nhịn ai Cùng nhau đua sức đua tài Chuyển hàng vạn tấn, đường dài lập công "Hai mươi"1 (Đường 20 Quyết Thắng) đường đó đồng lòng Từ trên xuống dưới như dòng sông Son Ngày đêm nước chảy đá mòn Hàng chưa vào được héo hon lòng người Chín năm tuổi trẻ đẹp tươi Quyết giành tấc đất, bầu trời Việt Nam. "Haimươi" nghĩa nặng tình thâm Phong Nha, Cù Lạc mưa dầm ai lo? Ba Thang tới đỉnh U Bò Trọng điểm sáu tám, ai dò mìn bom Không đèn, không kính chạy đêm Phát động chiến dịch lấn thêm ban ngày "Pháo, Công" cùng chống tàu bay "Xung phong" em đến lấp đầy hố bom Để tất cả vì miền Nam Giữ vững mạch máu cho đoàn quân đi A.T. P có sá gì Dòng người quyết đứng, làm ghi chắn đường Cho xe chở đến chiến trường Nhữnggì trong ấy, người thương đang cần Chào anh, anh đếntrongXuân Binh trạm mười bốn1 (Binh trạm 14), hành quân vươn dài Nào "Bẩy Tám Mốt","Năm Haỉ"2 (Các Tiểu đoàn xe vận tải 781, 52) "Chín sáu" năm ấy, anh tài lập công Chín năm vận tải, giữ đường Lập bao thành tích cùng Trường Sơn Đông Được phong Binh trạm anh hùng Hiên ngang đứng dưới cờ hồng Việt Nam. Quảng Bình quê ta đó Bùi Cộng Hoà Em theo anh về Sơn Trạch đây Thăm chiến trường xưa tại nơi này Cổ Giang, Cù Lạc, Phong Nha nhớ Xuân Sơn bến cũ bao đổi thay. Năm xưa trên tuyến đường này, Mặc bom Mỹ chặn, hàng đầy xe đi. Khương Hà, Cự Nam sá chi Túi bom Thọ Lộc ngại gì gian lao C21 chí khí cao Cùng Công ty Tám tạo bao chân hàng Vượtphà Long Đại đưa sang "Mười Sáu", "Hai Bảy" đón mang vào Miền Tiếp tế lương thực thuốc men Với bao súng đạn lại thêm cây trồng. Chiến trường rực bóng cờ hồng Bay nhăm, giải phóng để lòng dân vui. Về quê từ đấy lâu rồi Phần tư thế kỷ - anh, tôi mới vào Thăm quê Mẹ Suốt tự hào Quảng Bình ta đó biết bao anh hùng Hôm nay đất nước vui chung Về đây dự lễ khởi công đường này Xuân Sơn cửa tử nơi đây Là nơi động thổdựng xây hoà bình Đường mang tên Hồ Chí Minh Thấm vào trí tuệ tâm linh bao người Ngày 05 tháng 4 năm 2000 nhân ngày được cùng đoàn CCB Trường Sơn vào tham dự Lễ khởi công đường Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Tám, 2025, 07:59:18 pm Đại tá NGUYỄN HOÀNG MINH Sinh năm: 1954 Quê quán: Xã Trung Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Thường trú: xã Thọ Tân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Điện thoại: 0122.7841954 Nhập ngũ: tháng 3 năm 1975 Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc Công ty Xây dựng 98 (Trung đoàn 98 AHLLVT Bộ đội Trường Sơn) Tiếp bước cha anh Năm mươi năm rồi từ ấy các anh đi Để lại phía sau mình một Trường Sơn vinh quang và gian khổ Để lại phía sau mình một trời đạn lửa Giấc mơ giờ còn vọng tiếng bom rung. Những dãy núi Trường Sơn Những người lính Trường Sơn điệp điệp trùng trùng Lá rừng Trường Sơn nhuộm xanh màu áo Trường Sơn, như Con Đê - Bán Đảo Một thời rung lên theo nhịp bước quân hành. Những người lính Binh đoàn đi qua chiến tranh Thắp vội nén hương cho bao đồng đội Cùng đất nước vào mùa xây dựng mới Khúc hát Trường Sơn, nay hát tiếp ởtrăm miền. Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Đrây Linh Những người lính hát sao trời - sáng bừng mặt đất Rừng cà phê xanh bạt ngàn, ngút ngát Bỗng nhớ Trường Sơn một thuở nao lòng. Những cây cầu nối những bờ mong Những cung đường nới rộng dải đất nước Năm mươi năm bao lớp người nối bước Làm rạng danh trang sử Binh đoàn. Chúng tôi, người lính trẻ Trường Sơn So với Cha, Anh những năm tháng Trường Sơn đâu có gì để nói Lịch sử như rừng cây, có nguồn có cội Chúng tôi tự nhủ lòng: Hãy góp sức mình tô thắm thêm trangsử Đâu chỉ biết vin cành hái những chùm thơm. Thật tự hào người lính Trường Sơn! Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Tám, 2025, 07:59:48 pm Màu hoa và nỗi nhớ Nhạc và lời: Trương Đình Minh Anh chưa kịp sắm cho em chiếc áo màu em mơ ước. Em chưa kịp nói cùng anh chia tay lời dã biệt. Chiều ấy, máy bay địch bổ nhào. Em ngã xuống bên sườn đồi không tên. Để thắp sáng trong anh ngọn đèn màu tím hoa sim. Trên những mỏm đồi nắng vàng lấp lánh đẹp mãi bóng hình em dáng thu về. Sớm nay, sáng những vì sao ánh đêm về. Sớm nay, trên chuyến bay Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh. Có người con gái ôm chùm lay ơn màu tím. Tiễn người yêu lên đường xa. Anh đứng lặng người chơi vơi nỗi nhớ. Có phải em về cùng với màu hoa. Có phải em về cùng với màu hoa. Có phải em về cùng với màu hoa. (Xôn) xang màu tím hoa mua, em đi chiều sương đẫm lá. Nhanh tay cào lấp đạn bom băng qua ngàn gian khổ, chiều ấy máy bay địch bổ nhào. Em ngã xuống khi tuổi đời trăng lên. Người em gái xuân xanh đẹp tựa những cánh phong lan, trên những cánh rừng hương tràm ngát rực sáng những vì sao ánh đêm về. Sớm nay, trên chuyến bay Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh. Có người con gái ôm chùm lay ơn màu tím. Tiễn người yêu lên đường xa. Anh đứng lặng người chơi vơi nỗi nhớ. Có phải em về cùng với màu hoa. Có phải em về cùng với màu hoa. Có phải em về cùng với màu hoa. Tiêu đề: Ký ức công binh Trường Sơn Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Tám, 2025, 08:00:26 pm LỜI CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP1 (Trích trong cuốn "Lịch sử Công binh Trường Sơn", NXB Quân đội nhân dân, trang 9, năm 1999) Con đường chiến lược Trường Sơn là một công trình vĩ đại góp phần cực kỳ quan trọng vào thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bộ đội Công binh Trường Sơn đã kiên cường vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, chiến đấu, lao động dũng cảm, sáng tạo, bền bỉ trong nhiều năm, góp phần quan trọng cùng các binh chủng bạn và dân công, thanh niên xung phong xây dựng nên mạng đường chiến lược, từ những con đường mòn gùi, thổ thành hệ thống đường giao thông cơ giới và đánh thắng mọi thủ đoạn ngăn chặn hết sức ác liệt của địch, bảo đảm tuyến đường vận tải chiến lược từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn thường xuyên thông suốt. Bộ đội Công binh Trường Sơn xứng đáng là người mang lá cờ "Mở đường thắng lợi" được Bác Hồ trao tặng cho Công binh trong cuộc kháng chiến chống Pháp cùng quân và dân ta đi "Mở đường thống nhất" đất nước - "Con đường Hồ Chí Minh" trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Cuốn "Lịch sử Công binh 559 - đường Trường Sơn" do Bộ Tư lệnh Công binh tổ chức biên soạn khá công phu, với sự tham gia của nhiều cán bộ công binh Trường Sơn là một cuốn sách quý, nhất định sẽ góp phần giáo dục truyền thông cho bộ đội công binh cũng như cho quân đội và nhân dân ta. Tôi mong rằng Binh chủng Công binh không ngừng phát huy truyền thống vẻ vang của mình, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp |