Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 06 Tháng Năm, 2023, 08:21:18 am



Tiêu đề: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Năm, 2023, 08:21:18 am
- Tên sách: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
- Tác giả: Nhiều tác giả
- Nhà xuất bản: Tp Hồ Chí Minh
- Năm xuất bản:
- Người số hóa: giangtvx, ptlinh, chuongxedap

 

MƯỜI VỊ
ĐẠI TƯỚNG TRUNG QUỐC

NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT







Chủ biên: Hà Di Minh
Tác giả: Vương Quân Vĩ, Lý Lệ Na, Lưu Đông Vân, Lôi Hải Thu, Vu Hải Dương
Người dịch: Phong Đảo






Lời giới thiệu


Ngày hai mươi bảy tháng chín năm 1955, các tướng lãnh của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tề tựu đông đảo. Những ngôi sao vàng trên bâu áo của họ lấp lánh chóa mắt. Trong hàng tướng lãnh này, người được chú ý nhất là các tướng Túc Dụ, Từ Hải Đông, Huỳnh Khắc Thành, Trần Canh, Đàm Chánh, Tiêu Kình Quang, Trương Vân Dật, La Thụy Khanh, Vương Thụ Thanh, Hứa Quang Đạt. Mười vị tướng ấy, có người xuất thân từ Trường Quân sự Hoàng Phố, ngôi trường hợp tác giữa Quốc Cộng trước đây, có người xuất thân từ mặt trận của cuộc bạo động phía Nam Hà Nam, và cũng có người xuất thân từ những cuộc khởi nghĩa đa dạng của nhân dân Trung Quốc... Vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc, họ đã dấn thân vào khói lửa, và đã trải qua trăm trận chiến đấu với quân thù. Họ đứng cùng một chiến tuyến với nhân dân, và với cây súng trong tay, họ xây dựng một xã hội mới rực rỡ.

Người xưa nói: "Nhất tướng thành danh vạn cốt khô" (một tướng công thành muôn xương trắng). Đến nay, tất cả các vị tướng này đều đã thành người thiên cổ. Vậy, họ làm thế nào để từ một người lính thường, trở thành một đại tướng, thống lĩnh hàng nghìn, hàng vạn binh mã để chiến đấu? Họ làm thế nào tạo được những kỳ tích trong lịch sử quân sự của Trung Quốc, thậm chí trong lịch sử quân sự của cả thế giới, bằng lòng dũng cảm và trí tuệ của mình? Khí chất cá nhân của họ, và bối cảnh gia đình của họ như thế nào? Bao nhiêu sự tích trong đời họ ra sao? Tất cả những vấn đề đó rất ít người được biết. Nay, để tiếp nối quyển "Thập đại nguyên soái chi mê" (Mười vị đại nguyên soái, những điều chưa biết) các tác giả lại sưu tập tài liệu và viết quyển "Trung Quốc thập đại tướng chi mê” (Mười vị đại tướng Trung Quốc, những điều chưa biết). Qua quyển sách này, các tác giả sẽ công bố cho bạn đọc biết một số vấn đề về mười vị đại tướng mà trong lịch sử chưa từng công bố. Từ đó, các bạn sẽ thấy rõ được sự thật về con người của mười vị đại tướng lỗi lạc mà các tác giả nói tới.



Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Năm, 2023, 08:24:12 am

  I. NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ
ĐẠI TƯỚNG TÚC DỤ



1. XẾP BÚT NGHIÊN LÊN ĐƯỜNG TRANH ĐẤU

Đại tướng Túc Dụ là người đứng hàng đầu trong mười vị đại tướng mà chúng tôi nói đến. Chiến công hiển hách của ông ai nấy trong xã hội đều biết. Đại tướng Túc Dụ xuất thân từ một gia đình tiểu địa chủ, thuộc dân tộc Đồng ở phía Tây tỉnh Hồ Nam. Phụ thân của ông hy vọng ông sau khi học được chút đỉnh chữ nghĩa, thì ở nhà lo nối nghiệp gia đình. Nhưng, năm hai mươi tuổi, Túc Dụ lại "xếp bút nghiên lên đường tranh đấu", bỏ nhà đi đến Vũ Hán, tham gia "Quân Cách mạng Bắc phạt". Trong quá trình đó, có biết bao nhiêu chuyện gay go xảy ra trong cuộc đời ông.

Ngày mồng hai tháng bảy âm lịch năm 1907, Túc Dụ chào đời tại gia đình một địa chủ ở thôn Phong Mộc Cước, thuộc làng Phục Long, huyện Hội Đồng. Cha ông tên gọi Túc Gia Hội, là một vị tú tài thi rớt, tính tình trung hậu, chất phác. Ông không biết cày ruộng, cũng không biết mua bán, chỉ sống nhờ vào trên mười mẫu ruộng của ông bà để lại. Hằng ngày, ông đọc sách, làm thơ để tiêu khiển. Có lẽ vì cả đời ông lo học hành, mà không lập được công danh gì, nên đối với chuyện học của con ông cũng không coi là chuyện quan trọng.

Huyện Hội Đồng là một địa phương nằm về phía Tây của tỉnh Hồ Nam, giáp ranh với tỉnh Quới Châu của Trung Quốc. Nơi này núi cao, rừng rậm, cách xa tỉnh thành, nên về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa đều hết sức lạc hậu. Phong tục của người dân ở đây vẫn giữ theo nếp cổ, sống rất mộc mạc, nhưng cũng cứng rắn, dũng cảm. Thời thơ ấu, Túc Dụ là một thiếu niên hoạt bát, lúc nào cũng thích chạy nhảy, hoạt động. Mặc dù thôn Phong Mộc Cước rất lạc hậu, nhưng phong cảnh lại rất đẹp. Gia đình Túc Dụ có hai dãy nhà, trước và sau nhà đều là cây cao to, lại có cả những cây ăn quả, như cây giẻ, cây cam, cây lê. Cứ đến mùa là những cây ăn quả này trái sai trĩu cành. Giữa hai dãy nhà lại có một dòng suối nhỏ, nước trong veo, chảy róc rách suốt năm. Cứ đến mùa hè, Túc Dụ luôn trầm mình dưới nước suối. Có khi ông thả một chiếc bè kết bằng tre nứa nổi trên mặt nước, rồi lên nằm trên đó, vừa để cho làn nước mát chảy nhẹ qua thân thể, vừa đưa mắt nhìn lên mây trắng trôi trên bầu trời xanh, và nhớ lại những câu chuyện cổ tích mà các anh làm công hằng năm trong gia đình đã kể.

Hằng năm cứ cuối hè, đầu thu, khi các loại trái cây đá chín, Túc Dụ lại có dịp để sống vui vẻ, thoải mái. Chàng hái trái lê, trái dẻ, hái những quả cam chín đỏ ửng, và bao giờ cách hái trái của chàng cũng tỏ ra rất thành thạo. Điều lý thú nhất là Túc Dụ tìm một cái sào trúc dài, sau đó trèo lên cây, tìm tới những chạc hai chắc chắn, nằm dựa lưng vào đó, dùng cái sào trúc để thọc cho những quả cam chín trên cao rơi xuống, rồi thò tay ra chụp lấy, và thong thả bóc ăn những múi cam ngọt ngào. Muốn làm được chuyện đó, vừa phải gan dạ, lại vừa phải khéo tay. Cuộc sống như vậy của thời thơ ấu đối với Túc Dụ là một cuộc sống vui vẻ không thể nào quên. Cho nên mấy mươi năm sau, khi ông đã trở thành Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân, trong những bài viết của mình, ông vẫn nhắc tới cuộc sống thời thơ ấu đó một cách đầy hào hứng.

Khung cảnh thiên nhiên đặc thù ấy, với một phương thức độc đáo của nó, đã hun đúc cho chàng thiếu niên Túc Dụ một tâm hồn và một năng lực đấu tranh để sinh tồn.

Hồi năm sáu tuổi, gia đình Túc Dụ đưa anh đến học tại một trường tư thục ở trong thôn. Ông giáo là người bác ruột, tuổi đã cao. Năm đó đã là năm thứ hai Dân Quốc (1912), ở các thành phố lớn, cũng như ở nơi tiếp cận với nền văn minh, người ta đã bắt đầu mở những trường tiểu học kiểu mới, chuyên dạy những môn học theo các nước phương Tây. Nhưng tại vùng nông thôn phía Tây Hồ Nam hẻo lánh này, người ta vẫn giữ nội dung giáo dục, cũng như phương thức giáo dục theo lối cũ. Ông thầy giáo già luôn dùng cách dạy theo phương pháp truyền miệng, rồi bắt buộc học sinh phải học thuộc lòng. Tài liệu để dạy thường là "Tam tự kinh", "Trung Dung", "Thi Kinh", tức những loại sách giáo khoa truyền thống của Trung Quốc. Đối với trẻ con, những quyển sách này có thể ví như là "Sách trời", chúng học chẳng hiểu gì, và cũng không thể cảm thấy thích thú được.

Tuy nhiên, Túc Dụ có nỗi đam mê riêng của mình. Ấy là nghe mấy anh làm công hằng năm trong gia đình kể lại những chuyện cổ tích.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Năm, 2023, 08:24:56 am

Nhà Túc Dụ có thuê hai tá điền làm công hàng năm. Túc Dụ không có kiểu cách của bọn công tử con nhà giàu, mà lúc nào cũng thích chơi đùa, gần gụi mọi người. Cho nên đối với hai tá điền này, chàng tỏ ra rất ưa thích. Nhất là đối với một trong hai người này, tên gọi A Đà, lúc nào cũng gắn bó không rời. A Đà là một thanh niên hai mươi tuổi, trong "bụng" anh ta có vô số truyện cổ tích dân gian. Những truyện cổ tích ấy đều có những chủ đề nói về những anh hùng hào kiệt đã đứng lên trừ bạo an dân, cướp của kẻ giàu cứu tế cho kẻ nghèo. Người dân ở vùng phía Tây tỉnh Hồ Nam xem những người anh hùng này là những bậc "kiếm hiệp". Thật ra, những truyện cổ tích loại ấy chẳng qua là để an ủi tâm hồn đau khổ của người bần cố nông, luôn luôn chịu sự áp bức và hà hiếp của bọn quan quyền, và những gia đình giàu có nhiều thế lực mà thôi.

Nhưng, những câu chuyện này đối với thời thiếu niên của Túc Dụ có một ảnh hưởng thật to tát. A Đà tuy là một nông dân, không có trình độ văn hóa, nhưng lại là một người có tài kể chuyện rất hay. Anh ta đã kể lại những anh hùng kiếm hiệp trong những truyện cổ tích đó rất sinh động, rất hấp dẫn. Túc Dụ hình dung lại sự cảm thụ của mình lúc đó như thế này: "Lúc bấy giờ, nghe A Đà kể lại những truyện cổ tích về những anh hùng hảo hán, tôi cảm thấy cũng vui, buồn, giận, tức, giống như là nhân vật chính trong truyện. Có lẽ sự vui, buồn, giận, tức, của tôi còn hơn cả nhân vật chính nữa. Qua các truyện cổ tích, tôi hết sức đồng tình với những người bị áp bức và bị đau khổ, và cũng hết sức căm tức những kẻ áp bức người khác. Đối với những vị hiệp khách anh hùng đó, tôi cũng hết sức sùng bái họ. Tuy lúc bấy giờ, tôi chỉ là một đứa trẻ, chưa biết chi nhiều, nhưng trong lòng tôi đã nảy sinh một mầm mống: Khi lớn lên, tôi phải làm một kiếm khách để đi trừ bạo giúp đời!

Để khi lớn lên có đủ điều kiện trở thành một kiếm khách, Túc Dụ hằng ngày bắt đầu luyện võ công. Qua sự giúp đỡ của A Đà, Túc Dụ làm ra hai bao cát, đặt lên hai đùi để luyện sức mạnh. Cậu ta lại nhờ A Đà làm cho mình một cây côn để luyện võ. Trong nhà có những món ăn gì ngon, Túc Dụ thường lấy ra để cùng ăn chung với A Đà. Trong tâm hồn thơ ngây, trong trắng của Túc Dụ, từ đó bắt đầu nảy nở ý nghĩ đồng tình với người yếu thế, và chống lại những người áp bức kẻ khác.

Nhưng, cuộc sống vô tư lự và đày thơ mộng như trong truyện cổ tích đó lại qua đi rất nhanh. Năm Túc Dụ mười một tuổi, thổ phỉ bắt đầu quấy phá khắp nơi, làm cho gia đình Túc Dụ rất lo lắng. Vì để bảo vệ sự an toàn cho bản thân, gia đình Túc Dụ bắt buộc phải dời lên huyện lỵ Hội Đồng. Riêng những người tá điền làm công thì vẫn ở lại dưới quê.

Hoàn cảnh sống tại huyện hoàn toàn khác hẳn với vùng quê. Từ một trường tư thục dạy sách vở theo truyền thống cổ, Túc Dụ bắt đầu vào một ngôi trường tiểu học theo dạng mới. Và sau đó, lại bước chân vào trường cao đẳng tiểu học. Được tiếp xúc với giáo trình mới mẻ, chưa từng biết, như toán, hội họa, thể thao, âm nhạc v.v... làm cho Túc Dụ cảm thấy đầy hứng khởi trong việc học tập. Thành tích học tập của Túc Dụ cũng rất khả quan. Sau ba năm học liên tục, Túc Dụ bắt đầu lên năm thứ hai cao đẳng tiểu học. Trong thời gian này, trở lực đối với việc học của Túc Dụ đã xuất hiện từ phía gia đình. Cha Túc Dụ thấy con mình đã được học tương đối rồi nên thường bảo Túc Dụ ở nhà phụ giúp công việc gia đình, như lo sổ sách chẳng hạn. Ông thấy mình học suốt cả đời, mà chẳng có được công danh gì, nên đối với chuyện học hỏi của con cũng không xem trọng. Do vậy, ông thường làm cho Túc Dụ phải gián đoạn việc học hành, và thành tích cũng kém dần đi.

Giữa lúc Túc Dụ không thể thỏa mãn khát vọng của mình trong vấn đề học vấn, thì gia đình cậu lại bắt đầu lo việc mai mối để tính chuyện hôn nhân cho con trai. Người con gái được gia đình chọn là một cô gái con nhà phú nông. So với Túc Dụ cô ta lớn tuổi hơn, và hai bàn chân được bó thật nhỏ theo lối cổ. Đối với một chàng thiếu niên đã tiếp thu nhiều tư tưởng mới như Túc Dụ, tất nhiên không thể chịu cho người khác can thiệp vào việc hôn nhân của mình như vậy.

Để có thể được tiếp tục đi học, và cũng để có thể tạo điều kiện cho mình trở thành "kiếm khách", trừ bạo an dân, đồng thời, cũng để trốn chạy cuộc hôn nhân theo lối cũ. Túc Dụ có ý nghĩ rời bỏ quê hương, đi ra ngoài để học hỏi thêm.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Năm, 2023, 08:25:37 am

Lúc bấy giờ tại huyện lỵ xẩy ra hai sự kiện thúc đẩy Túc Dụ càng quyết tâm rời nhà ra đi, cũng như tạo điều kiện cho Túc Dụ thực hiện được ý nghĩ đó.

Việc thứ nhất là binh đội trú phòng tại địa phương có sự xung đột với học sinh. Lúc bấy giờ, số quân trú phòng tại huyện lỵ Hội Đồng đều là binh sĩ thuộc "Bắc Dương quân phiệt", về quân phong quân kỷ rất kém. Các binh sĩ thường đi ra đường phố quậy phá, hà hiếp dân nghèo. Tất nhiên, thái độ ngông nghênh của họ không bao giờ được những người trẻ tuổi chuộng công bằng tán thành. Cho nên học sinh tại địa phương bắt đầu can thiệp vào những hành động vô kỷ luật của quân đội ở đó. Do vậy, đôi bên đã có mối thù với nhau. Một hôm, vì giành giật nhau ghế ngồi trong rạp hát, học sinh đã xúm lại vây đánh một binh sĩ. Bọn lính trú phòng cho rằng học sinh làm như vậy là mất mặt họ, nên rêu rao sẽ đánh giết học sinh để trả thù. Học sinh cảm thấy sự an toàn của mình bị uy hiếp. Dù về sau được sự giàn xếp của quận trưởng, binh sĩ trú phòng hứa không làm gì thiệt hại cho học sinh, nhưng lời hứa đó lấy gì để bảo đảm? Học sinh muốn được an toàn, chỉ còn cách phải đi nơi khác để tiếp tục việc học hành. Túc Dụ chụp lấy cơ hội đó, đề xuất với gia đình việc mình muốn đi ra một thành phố lớn hơn, để tiếp tục học hỏi.

Lúc bấy giờ, có đại diện trường Sư phạm số hai của tỉnh Hồ Nam đặt tại huyện Thường Đức, tới huyện Hội Đồng để chiêu sinh. Trong huyện này sẽ chọn ra hai thí sinh để tham gia cuộc thi tuyển tại huyện Thường Đức. Nếu những thí sinh này trúng tuyển, thì được kể là học sinh chính thức, và sẽ được miễn phí về ăn uống và được nội trú tại trường.

Túc Dụ bèn tham gia cuộc thi tuyển tại huyện, và may mắn trở thành một trong hai thí sinh được chọn để đi thi. Túc Dụ đem tin này nói lại cho mẹ nghe, mà không dám nói với cha, vì sợ cha cản trở. Sau đó, âm thầm ra đi một mình để dự thi tuyển.

Lần đầu tiên Túc Dụ ra đi xa nhà. Dù mới mười bảy tuổi, Túc Dụ tỏ ra rất gan dạ. Giữa lúc thổ phỉ nổi lên khắp nơi, vậy mà cậu dám đi bộ một mình suốt quãng đường dài hơn một trăm dặm để tới bến tàu Hồng Giang. Đáng lý khi tới đây rồi, Túc Dụ có thể bước xuống tàu để đi tới huyện Thường Đức, nhưng trong túi lại không đủ tiền lộ phí. Do vậy, bèn vào trọ tại một quán trọ, rồi viết thư về nhà, khẩn cầu gia đình gửi tiền tới Hồng Giang, để cậu đi thi. Vì không có tiền, thì sẽ không có lộ phí để đi tới huyện Thường Đức được.

Bức thư đã đạt được hiệu quả tốt. Cha của Túc Dụ vội vàng viết một bức thư trả lời với lời lẽ ôn tồn, hứa chắc chắn sẽ lo đủ lộ phí và học phí cho Túc Dụ. Tuy nhiên, với hoàn cảnh gia đình hiện nay, nhất thời khó có thể có đầy đủ ngay số tiền đó. Cho nên cha cậu bảo cậu hãy trở về nhà chờ đợi ít hôm. Khi có đủ tiền rồi sẽ lên đường cũng không muộn.

Sau khi Túc Dụ nhận được thư của cha, lại đi bộ trở về nhà. Tuy nhiên, Túc Dụ không về thẳng nhà, mà ghé nhà một người bà con ở tạm, cách nhà mình ngoài mười dặm đường. Túc Dụ sợ cha bắt mình ở nhà không cho đi, nên mới ở tạm nhà bà con, rồi viết thư về báo cho gia đình biết, yêu cầu gia đình đưa tiền tới. Cha Túc Dụ liền phái người anh của cậu đến tiếp xúc, hứa hẹn sẽ không bao giờ cản trở việc đi học của cậu, chừng đó, cậu mới chịu trở về nhà mình.

Gia đình Túc Dụ phải chạy chọt rất khó khăn mới có đủ mấy chục đồng bạc để cho cậu đi học. Gia đình còn bày tiệc, mời bà con bạn bè đến dự để tiễn chân cho con trai đi học xa. Gia đình Trung Quốc chịu ảnh hưởng Nho giáo rất sâu, nên thường có câu: "Phụ mẫu tồn, bất viễn du" (Cha mẹ còn, không đi xa). Cho nên, mọi gia đình đều xem việc con rời gia đình đi xa, là một chuyện rất buồn thảm. Cha Túc Dụ mặc dù rất nghiêm khắc, nhưng lúc bấy giờ cũng tỏ ra thương con, rơi lệ để tiễn biệt con lên đường. Mọi người vừa dùng tiệc, vừa dặn dò, khuyến khích Túc Dụ ráng chăm học. Thế là Túc Dụ đã rời khỏi gia đình ra đi trong một bầu không khí thật là buồn tẻ. Phía trước một chàng thanh niên mười bảy tuổi này sẽ ra sao, lúc bấy giờ cũng không ai rõ.

Túc Dụ ở chờ tại bến tàu Hồng Giang hơn một tháng mới có một đoàn thuyền ra đi. Tháng ba năm 1924, Túc Dụ đến Thường Đức. Đây là một thành phố hoàn toàn xa lạ. Theo kế hoạch đã định, Túc Dụ muốn thi vào trường Sư phạm số hai, nhưng vì hành trình chậm trễ, ngày thi đã qua. Cũng may, cậu gặp một người bà con xa giúp đỡ, xin vào học lớp luyện thi tại Trường Sư phạm số hai Thường Đức, để chờ kỳ thi năm sau. Ở đấy học một thời gian, Túc Dụ lại chuyển sang học trường trung học bình dân cũng tại thành phố này.

Không có sự ràng buộc của gia đình, và cũng không còn chuyện gì quấy rầy, Túc Dụ đem hết sức mình ra lo ăn học. Có thể nói, Túc Dụ là một học sinh chuyên cần nhất trong lớp. Mỗi ngày, ngoài thì giờ ăn cơm và làm vệ sinh, Túc Dụ không rời khỏi bàn học. Do gắng sức quá độ, lại ít vận động, ăn uống thiếu dinh dưỡng, nên sau hai tháng, Túc Dụ bị một trận bệnh, khá nặng, suýt nữa bị mất mạng. Qua trận bệnh này, Túc Dụ bắt đầu chú ý tới việc luyện tập thân thể.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Năm, 2023, 08:26:27 am

Hoàn cảnh sống khó khăn lắm lúc có thể làm thay đổi tính cách của con người. Trong thời gian theo học tại Trường Trung học Bình dân Thường Đức, Túc Dụ chẳng những có thành tích tốt trong học hỏi, mà tính tình cũng thay đổi theo. Trước đây, Túc Dụ là một thiếu niên háo động, thích chơi, thích chạy nhảy, thì nay Túc Dụ đã trở thành một thanh niên trầm mặc, thích suy tư. Bao nhiêu vấn đề như vận mệnh của quốc gia, hiện trạng của xã hội, ý nghĩa về nhân sinh, trách nhiệm của mình trước xã hội... thường đến khuấy động tâm hồn của người thanh niên trẻ tuổi này. Nhưng lúc bấy giờ có ai giải đáp nổi cho cậu bao nhiêu vấn đề phức tạp như vậy? Trong không khí buồn bã hoang mang đó, Túc Dụ chỉ một mình đi thẩn thơ trong khuôn viên nhà trường. Có khi cậu ôm cây nguyệt cầm để khảy lên vài bản, ký thác tâm tư của mình vào tiếng đàn réo rắt...

Mùa xuân năm 1925, Túc Dụ thi vào lớp hai mươi bảy Trường Sư phạm nam số hai của tỉnh Hồ Nam, khiến bao nhiêu ước nguyện của cậu đều được thỏa mãn. Việc đầu tiên là giúp cậu vượt ra khỏi khu vực phía Tây quê mùa hẻo lánh của tỉnh Hồ Nam, để nhìn ra một thế giới ở bên ngoài hoàn toàn mới mẻ và xa lạ.

Lúc bấy giờ, ở miền Bắc Trung Quốc, các nhóm quân phiệt chia vùng đánh nhau liên miên, chính phủ thay đổi như đèn cù, nhân dân vô cùng đau khổ và hết sức bất bình. Ở miền Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng bắt tay lần thứ nhất, đôi bên cùng hợp tác xây dựng và củng cố căn cứ địa của mình, lấy Quảng Châu làm trung tâm.

Không khí cách mạng ở tỉnh Quảng Đông đang sôi sục, và chẳng khác gì một ngọn lửa đang cháy hừng hực, tiếp tục tràn về phía Bắc. Hồ Nam là một tỉnh tiếp giáp với Quảng Đông, tất nhiên nó trở thành mục tiêu phát triển lực lượng cách mạng ở miền Nam.

Trước tình hình như vậy, mặc dù Thường Đức chỉ là một huyện lỵ bé nhỏ, nhưng tổ chức cách mạng cũng bắt đầu xuất hiện và hoạt động mạnh, tạo ra một ảnh hưởng không nhỏ đối với địa phương.

Tại Trường Sư phạm số hai, Đảng Cộng sản và Đoàn Thanh niên Cộng sản đã trở thành một tổ chức có lực lượng vững mạnh. Lúc bấy giờ, trong trường học này có hai khuynh hướng chính trị hoàn toàn đối lập nhau cùng tồn tại. Đó là hội học sinh do Đảng Cộng sản lãnh đạo, những người tham gia hầu hết là các học sinh thuộc thành phần nghèo. Một tổ chức khác nữa là "Hội thể thao", những người tham gia hầu hết là con nhà khá giả, do "Tỉnh Sư Phái" (Phái Sư Tử Thức), có khuynh hướng quốc gia chủ nghĩa lãnh đạo. Vì chính quyền nhà trường lúc bấy giờ nằm trong tay của những người theo chủ nghĩa quốc gia, nên Hội thể thao tuy số người tham gia ít, nhưng hoạt động rất mạnh. Trái lại, hội học sinh do Đảng Cộng sản lãnh đạo, cũng tích cực tuyên truyền những tư tưởng tiến bộ, và chuyền tay nhau xem những sách báo tiến bộ lúc bấy giờ. Hai khuynh hướng chính trị lúc đó đã trở thành đối chọi nhau, và đấu tranh với nhau rất quyết liệt.

Chỉ trong chớp mắt đã đến mùa xuân năm 1926. Quân đội Bắc phạt từ tỉnh Quảng Đông chuẩn bị tiến quân về tỉnh Hồ Nam. Những học sinh có tư tưởng tiến bộ ở trường này đều sôi sục, chờ đón quân đội Bắc phạt kéo tới. Trong bầu không khí đó, phong trào cách mạng bùng nổ tại Trường Sư phạm số hai.

Nguyên do xảy ra sự kiện là vì hằng năm tại Trường Sư phạm nữ số hai của tỉnh có dành hai học bổng cho hai nữ sinh ưu tú nhất của hai mươi chín huyện trong tỉnh. Mùa xuân năm ấy, vị hiệu trưởng trường nữ sinh này đã chọn hai nữ sinh ở huyện mình, mà không chọn ở huyện khác. Việc tuyển chọn không công bình đó làm cho các nữ sinh ở Trường Sư phạm nữ số hai rất bất bình. Họ bắt đầu bãi khóa để phản đối vị hiệu trưởng.

Học sinh ở Trường Sư phạm nam số hai rất chú ý tới phong trào đấu tranh của các nữ sinh ở Trường Sư phạm nữ số hai trong cùng một thành phố. Hội học sinh bèn phái một đại biểu và là đảng viên Đảng Cộng sản, tên Đằng Đại Viễn (sau giải phóng, ông từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Đường sắt), đến tiếp xúc để tỏ lòng ủng hộ và an ủi nữ sinh ở Trường Sư phạm nữ số hai.

Do lãnh đạo hai trường này đều nằm trong tay của những người theo chủ nghĩa quốc gia, nên họ quyết định tấn công Đằng Đại Viễn, xem như giết một để răn trăm. Hội thể dục liền mở đại hội, và lấy danh nghĩa đại hội học sinh, khai trừ học tịch của Đằng Đại Viễn. Hội học sinh ở trường cho rằng đó là một quyết định phi lý. Họ liền dán bích chương và tuyên bố phải mở đại hội học sinh trình bày rõ chân tướng của sự kiện này, và đòi phải khôi phục lại học tịch cho Đằng Đại Viễn.

Cuộc đại hội học sinh được triệu tập tại phòng học lý hóa của nhà trường. Tất cả học sinh trong hội thể dục và trong hội học sinh đều tới tham dự đầy đủ. Ngoài ra, họ còn bí mật chuẩn bị hèo, gậy, gạch, đá, súng lục để nếu cần, thì đánh nhau. Hội nghị vừa mở màn thì đôi bên tranh luận thật là gay gắt, không ai nhường ai, và kết quả tất nhiên là dẫn tới một cuộc xô xát. Gạch đá được ném lung tung, gậy gộc súng ống cũng được sử dụng. Trong cuộc hỗn chiến đó có một học sinh trong hội thể dục muốn xâm nhập vào phòng làm việc của hội học sinh, bị một học sinh khác chận lại và lỡ tay đánh chết. Sự việc trở thành nghiêm trọng, đương cục của nhà trường bèn đổ lỗi cho Đảng Cộng sản đã sách động phong trào học sinh, và đi tới đánh chết người. Do vậy, họ đã đóng cửa phòng làm việc của hội học sinh, và lục soát lấy được danh sách bốn mươi mốt người thuộc đảng viên và đoàn viên của Đảng Cộng sản. Thế là đương cục nhà trường tuyên bố khai trừ học tịch của toàn bộ số học sinh này. Không khí cách mạng tại Trường Sư phạm nam số hai do vậy mà sôi nổi lên một cách dữ dội.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:03:15 am

Trong khi phong trào đấu tranh xảy ra. Túc Dụ do chỉ mới tham gia vào hội học sinh, chứ chưa chính thức tham gia vào Đoàn Thanh niên Cộng sản, nên may mắn không bị nhà trường đuổi học. Nhưng, cuộc đấu tranh này đã rèn luyện ý chí đấu tranh của cậu, và nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của cậu lên thêm một bước. Qua cuộc đấu tranh, cũng làm cho Túc Dụ có kinh nghiệm hơn trong nghệ thuật đấu tranh cách mạng. Vào tháng mười một năm đó, giữa một khung cảnh chính trị đầy nguy hiểm, Túc Dụ đã chính thức gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc.

Sau khi vào đoàn, Túc Dụ đã học hỏi lý luận và tri thức của chủ nghĩa Mác, như một người đang khát nước gặp được dòng nước trong, uống không biết chán. Những hoài bão trở thành "hiệp khách" lúc tuổi trẻ, giờ đây nếu đem so sánh với lý tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Cộng sản, nhằm xây dựng một xã hội mới, cậu cảm thấy nó thực là ấu trĩ đáng thương. Túc Dụ phủ định con người mình trước kia, và tư tưởng của cậu đã bước vào một thế giới hoàn toàn mới mẻ. Kể từ đó, Túc Dụ cương quyết tiến lên con đường cách mạng Cộng sản chủ nghĩa một cách vững vàng.

Sau khi quân Bắc phạt đánh vào tỉnh Hồ Nam, thì khắp vùng nông thôn và thành thị ở tỉnh này - không khí cách mạng bừng lên như một đám lửa cháy to. Tại Thường Đức đã công khai thành lập những cơ cấu làm việc của Đảng Cộng sản, và đã đuổi người hiệu trưởng ngoan cố ở Trường Sư phạm nam số hai, đưa một Đảng viên Cộng sản lên giữ chức hiệu trưởng trường này. Do vậy, phong trào hoạt động cách mạng ở trường cứ mỗi ngày một phát triển mạnh hơn. Những học sinh tiến bộ đua nhau góp tiền lại để tìm mua súng ống đạn dược, chuẩn bị nghênh đón đoàn quân Bắc phạt tiến vào Thường Đức.

Nào ngờ đạo binh Bắc phạt tiến vào Thường Đức, mà học sinh ở đây trông đứng trông ngồi, không phải quân đội do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mà chính là quân trung ương của Quốc Dân Đảng Trung Quốc. Tiếp theo đó, Tưởng Giới Thạch lại phát động cuộc chính biến ngày mười hai tháng tư năm đó tại Thượng Hải. Sau chính biến, họ thẳng tay giết chóc những đảng viên Cộng sản, và nhận chìm phong trào cách mạng đang sôi sục vào vũng máu tanh.

Lúc bấy giờ, Hứa Khắc Tường là một quân phiệt phản động, đồng thời là người đại diện cánh hữu của Quốc Dân Đảng tại Trường Sa, đã dẫn đầu cuộc đán áp phong trào cách mạng ở Hồ Nam. Tên tướng này đã vận dụng tất cả những thủ đoạn tàn bạo nhất để trấn áp lực lượng cách mạng tiến bộ. Đạo quân trú đóng tại Thường Đức đã dùng thủ đoạn dụ dỗ hèn hạ để giết chết người hiệu trưởng Trường Sư phạm nam số hai rồi sau đó, lại đưa hơn một nghìn quân đội tới bao vây khuôn viên nhà trường, chuẩn bị tàn sát học sinh!

Trước tình hình gay gắt như vậy, nếu lấy rắn chọi rắn với kẻ thù, thì rõ ràng là một sự manh động thiếu sáng suốt. Cho nên tổ chức Đảng đã quyết định: mấy mươi đảng viên và đoàn viên Cộng sản tại Trường Sư phạm nam số hai phải tìm cách rút lui ra ngoài, để bảo tồn lực lượng, chuẩn bị đấu tranh sau này.

Quân đội phản động bao vây chặt chẽ khuôn viên nhà trường, vậy phải làm sao để thoát thân được? Trong nguy cấp, mọi người bỗng nảy ra một ý hay. Ấy là tất cả cùng chui xuống ống cống của nhà trường để đi ra ngoài. Khu vực Thường Đức là nơi thường mưa to, nên ống cống ở đây thường được làm rất lớn, một người có thể chui xuống dưới để đi dễ dàng. Thế là mấy mươi học sinh ở Trường Sư phạm nam số hai ở Thường Đức bèn thừa đêm tối lần lượt chui xuống ống cống đầy nước bẩn và hôi thối, để vượt ra khu ngoại thành của thành phố Thường Đức. Xong, họ lên một chiếc thuyền câu của ngư dân ở đây, bơi thẳng vào khu vực Động Đình Hồ nước mênh mông và vắng vẻ.

Thành phố Thường Đức ngày một xa, nhưng sự nguy hiểm thì chưa chắc đã thoát khỏi. Tất cả học sinh đều đang sống trong không khí căng thẳng, chưa ai dám nghĩ là mình đã thoát khỏi bàn tay của kẻ thù. Chiếc thuyền nhỏ tiếp tục đi về hướng Nhạc Dương ở Động Đình Hồ. Khi tới gần Nhạc Dương, chiếc thuyền đậu lại để mọi người lên bờ. Tất cả số học sinh này đã tới một ga tàu hỏa để mua vé đi tàu đêm. Trời sáng dần, bình nguyên phía Bắc tỉnh Hồ Nam đang trải rộng mênh mông, phong cảnh tươi đẹp. Nhưng lúc bấy giờ không ai có tâm trí nào để thưởng ngoạn phong cảnh tươi đẹp đó. Tất cả mọi người đều trầm mặc, suy tư: ta có thể thoát khỏi sự truy lùng của kẻ thù hay không? Có thể tìm được tổ chức của Đảng hay không? Từ đây về sau phải chọn đi con đường nào?

Thời gian đã trôi qua theo dòng suy tư của mọi người. Hơn một tiếng đồng hồ sau, đoàn tàu hỏa đã bắt đầu tiến vào khu vực tỉnh Hồ Bắc. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Vì khi đã vào khu vực Hồ Bắc thì cũng có nghĩa là họ đã thoát khỏi thế lực của quân phiệt ở Hồ Nam, và sự nguy hiểm đang rình rập họ xem như không còn nữa.

Đến trưa ngày hôm ấy, đoàn tàu hỏa tiến vào thành phố Vũ Xương. Lúc bấy giờ cánh hữu của Quốc Dân Đảng tại thành phố Vũ Xương vẫn chưa công khai bội phản cách mạng. Những người Đảng viên Cộng sản và cánh tả của Quốc Dân Đảng ở đây vẫn đang làm chủ thành phố này. Trên đường to, hẻm nhỏ, đâu đâu cũng tràn ngập không khí cách mạng. Cho nên, nhóm học sinh cách mạng từ Hồ Nam chạy tới vừa xuống khỏi tàu hỏa đã cảm nhận được một bầu không khí ấm áp và sự quan tâm của Đảng đối với mình. Lúc bấy giờ, để thu nhận những thanh niên và những cán bộ nông dân bị kẻ thù trấn áp phải bỏ chạy ra khỏi hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc, lực lượng quân sự của Đảng Công sản có xây dựng một đại đội huấn luyện do Diệp Đĩnh thuộc sư hai mươi bốn chỉ huy, để huấn luyện quân sự cho số người này.

Sự thật về việc bọn quân phiệt phản cách mạng đã dùng bàn tay đẫm máu trấn áp những người cách mạng tiến bộ, đã giáo dục một cách đích thực cho Túc Dụ. Chính người thanh niên này đã nhận thức được một chân lý bất di bất dịch: Kẻ thù phản động dùng vũ lực để trấn áp cách mạng, thì cách mạng cũng phải dùng vũ lực để đối kháng, thì mới giành được thắng lợi về cho mình. Do vậy, sau khi tới Vũ Xương, Túc Dụ hoàn toàn không do dự, đến thẳng đại đội quân sự ghi danh học tập. Lúc bấy giờ, Túc Dụ đã hai mươi tuổi, và bắt đầu gia nhập chính thức đoàn quân cách mạng vinh quang, để cầm súng chiến đấu. Giấc mơ trở thành "kiếm hiệp" thời thơ ấu, giờ đây đã thành hiện thực trong cuộc đời.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:03:48 am

Xếp bút nghiên theo đường tranh đấu là một giai đoạn mới trong cuộc đời mới của Túc Dụ.

Đời sống trong đại đội huấn luyện thật là gian khổ. Đảng đã đặt rất nhiều hy vọng nơi những học viên đến từ các địa phương này. Đảng Cộng sản hy vọng thông qua sự huấn luyện có hệ thống, chẳng những nghiêm khắc về mặt quân sự mà cả về mặt chính trị, có thể bồi dưỡng được một nhóm đông những cán bộ Đảng, để lo cho sự nghiệp của Đảng trong tương lai.

Họ phải là những cán bộ văn võ song toàn, và từ đó có thể xây dựng và nắm chắc được lực lượng vũ trang của Đảng.

Sư trưởng Diệp Đĩnh là một tướng Bắc phạt, tiếng tăm nổi như cồn khắp toàn quốc. Diệp Đĩnh chẳng những có một trình độ chính trị và quân sự rất cao, mà đối với cấp dưới của mình cũng đòi hỏi rất cao, và rất nghiêm khắc. Ông vẫn thường mời những nhân vật quan trọng của Đảng tại Vũ Xương, như Châu An Lai, Uẩn Đại Anh v.v... đến để báo cáo chính trị trước học viên, từ đó nâng cao trình độ giác ngộ của toàn thể học viên. Đồng thời, ông cho thi hành một chương trình huấn luyện quân sự thật nghiêm khắc, có thể nói là tàn nhẫn nữa là khác, để đào tạo các học viên thành những con người cứng như sắt thép.

Lúc bấy giờ, việc huấn luyện trong những đội quân chính quy thường áp dụng chế độ "ba tập hai giảng" tức sớm, trưa, và tối thi tập quân sự. Buổi sáng và buổi chiều thì lên lớp chính trị. Nhưng ở đại đội huấn luyện lại thực hành chế độ "bốn tập ba giảng”, tức sáng sớm thức dậy thì chạy bộ, buổi sáng và buổi chiều thì huấn luyện quân sự, buổi tối lại tập thể thao quân sự. Và mỗi buổi sáng và buổi chiều đều lên lớp chính trị. Đến tối còn tới hội trường để nghe chỉ huy nói chuyện. Yêu cầu huấn luyện về mặt quân sự rất cao, mỗi buổi sáng học viên phải chạy bộ hơn mười cây số, và tất cả động tác đều là động tác toàn thân. Nếu ai thực hiện không đúng thì phải tập đi tập lại. Vũ Hán có thể nói là một lò lửa. Lúc bấy giờ tuy là tháng năm, tháng sáu, nhưng không khí hết sức nóng bức. Thế mà tại đại đội huấn luyện, việc tập dượt không bao giờ gián đoạn. Ngoài tập luyện về quân sự, học viên còn phải tham gia nhiều hoạt động về lao động.

Trong một hoàn cảnh gian khó như thế, có một số ít người không chịu đựng nổi, nên phải tìm cớ để lẩn tránh huấn luyện. Tuy nhiên, đại đã số học viên vẫn tiếp tục nhận sự huấn luyện một cách kiên trì. Do vậy, về mặt chất lượng chính trị, cũng như chất lượng quân sự, họ đều được nâng cao một cách rõ rệt. Sau này, qua cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, hầu hết họ đều trở thành cán bộ cốt cán rất kiên cường.

Đến cuối tháng sáu, tình hình ở Vũ Hán bỗng khẩn trương lên. Vì nhóm người theo chủ nghĩa hữu khuynh đầu hàng, do Trần Độc Tú làm đại biểu, đã bị Uông Tinh Vệ dùng thủ đoạn uy hiếp và mua chuộc, trao cho chúng lực lượng vũ trang trong giới công nhân, mà Đảng đã khó nhọc đào luyện nên. Những nhóm quân đội phản động còn rục rịch muốn tước khí giới quân đội của Diệp Đĩnh. Để bảo toàn thực lực, chuẩn bị đấu tranh, đại đội huấn luyện được lệnh rời khỏi Vũ Xương, để chuyển về Nam Xương.

Uông Tinh Vệ đã tự gỡ bỏ chiếc mặt nạ "cách mạng" của mình, phát động cuộc chính biến phản cách mạng ngày mười lăm tháng bảy, hò hét một khẩu hiệu phản động là: "thà giết lầm ba nghìn, chứ không bỏ sót một người". Trước tình thế không còn có thể nhẫn nhịn được nữa, vì nếu nhẫn nhịn, thì sẽ bị kẻ thù tiêu diệt, cho nên Đảng Cộng sản đã quyết tâm vũ trang phản kháng, và phát động cuộc khởi nghĩa tại Nam Xương.

Cánh quân mà Túc Dụ đang tham gia, được bố trí thành đội cảnh vệ cho Ủy ban Cách mạng trù bị khởi nghĩa Nam Xương.

Vào đêm ba mươi mốt tháng bảy năm 1927, cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ. Giữa tiếng súng đại bác ì ầm, đội cảnh vệ tiến thẳng vào trong thành, trực tiếp tham gia chiến đấu.

Qua sự phản kích mạnh mẽ của một cánh quân phản động mạnh hơn, quân khởi nghĩa tại Nam Xương bắt buộc phải bỏ thành này di chuyển về tỉnh Quảng Đông. Lúc đó, họ đang chuẩn bị xây dựng lại căn cứ địa cách mạng ở tỉnh Quảng Đông, để bắt đầu cuộc bắt phạt mới. Bộ đội khởi nghĩa rút lui ra khỏi Nam Xương, đi bộ suốt mấy nghìn dặm đường, phải sau một tháng mới tới được Triều Sơn của tỉnh Quảng Đông. Nhưng, họ chưa kịp nghỉ ngơi chỉnh đốn hàng ngũ, thì do cuộc khởi nghĩa tại Quảng Châu thất bại, bắt buộc họ phải rút về tỉnh Giang Tây. Khi cánh quân này tiến vào phía Nam tỉnh Hồ Nam, thì với hai ba vạn người xuất phát từ Nam Xương, giờ đây chỉ còn lại hơn bảy trăm người. Có những đồng chí đã hy sinh, cũng có những người bị thương và rơi rớt lại trên đường rút lui, cũng có nhiều người vì mất niềm tin nơi tiền đồ của cách mạng, nên đã tự bỏ ngũ. Số người còn lại, gần như đều là những chiến sĩ Cộng sản kiên cường, từng được trui luyện trong lò và cứng rắn như gang thép. Một nhúm lửa nhỏ đó sẽ trở thành một ngọn lửa to của chủ nghĩa Cộng sản, bốc cháy khắp nơi trên toàn quốc.

Dưới sự chỉ huy của Chu Đức và Trần Nghị, đạo binh chưa đầy một nghìn người này, đã kiên trì đấu tranh tại vùng biên giới của ba tỉnh Giang Tây, Quảng Đông, và Hồ Nam. Qua cuộc đấu tranh gian khó và căng thẳng này, Túc Dụ đã dần dần bộc lộ rõ tài năng quân sự của mình, và ngày một trưởng thành hơn.

Lúc khởi nghĩa tại Nam Xương, Túc Dụ chỉ là một chiến sĩ cảnh vệ thường, nhưng trên đường rút quân về Quảng Đông, ông đã lần lượt được đề cử làm tiểu đội trưởng, trung đội trưởng. Về sau, trong nhiều lần chỉnh đốn quân đội, một số cán bộ không đủ tiêu chuẩn bị đào thải, và đây là một cơ hội để Túc Dụ vươn lên. Mặc dù toàn quân chỉ có được một ngàn người, số cán bộ tất nhiên cũng giảm bớt xuống, nhưng Túc Dụ nhờ sự thể hiện về khả năng chính trị và quân sự của mình, nên về sau được đề bạt lên chức chỉ đạo viên đại đội.

Sau ngày hội sư tại núi Tỉnh Cương, hồng quân chính thức biên chế thành "Hồng Tứ Quân". Về sau lại thu hẹp thành một sư. Trong thời gian đó, chức vụ của Túc Dụ luôn thay đổi do nhu cầu thực tế. Một số bộ đội mới thành lập, cần tăng cường huấn luyện chính trị, thường điều động Túc Dụ đến làm chỉ đạo viên. Khi những bộ đội này cần tăng cường huấn luyện quân sự, thì điều động Túc Dụ đến làm đại đội trưởng. Trong những ngày chiến đấu đầy máu lửa, Túc Dụ luôn luôn chú ý học tập tư tưởng quân sự và nghệ thuật chỉ huy của Mao Trạch Đông và Chu Đức. Ông cũng luôn luôn chú ý học tập trong thực tế chiến tranh. Đến năm 1930, mở đầu trận đánh phá vòng vây của địch lần thứ nhất thì người quân nhân trẻ tuổi này đã trở thành vị sư trưởng của quân đoàn một Hồng quân.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:05:40 am

2. BA NĂM KHỔ CHIẾN TẠI TRIẾT NAM

Múa hè năm 1934, quân đội Tưởng Giới Thạch bao vây tấn công căn cứ địa cách mạng của trung ương lần thứ năm đã được hơn một năm. Do cơ quan lãnh đạo trung ương mà người đại biểu là Mao Trạch Đông, bị chống đối, nên đường lối mà người đại biểu là Vương Minh đã chiếm cương vị lãnh đạo. Dưới sự chỉ huy của họ, các tuyến phòng ngự của hồng quân, đã thi hành một chiến lược, chiến thuật đánh mạnh, đánh thắng với quân địch, trên một chiến tuyến dài trên một ngàn dặm, đưa đến thương vong nặng nề, hao binh tổn tướng, mất đất căn cứ. Do vậy, căn cứ địa của trung ương bị thu hẹp, chỉ còn hơn ba trăm dặm. Tình thế lâm vào hoàn cảnh hết sức nguy cấp.

Trước tình thế nguy cấp này, hồng quân đã tự tìm cho mình một con đường sống. Chủ lực của hồng quân cấp trung ương, chuẩn bị thay đổi hoàn toàn chiến lược đang thi hành. Để phối hợp với chủ lực của Hồng quân, cần phái một cánh quân đội vượt ra khỏi vòng vây của địch, tiến sâu vào địch hậu, để chia bớt hỏa lực đối với cánh quân đang bao vây căn cứ trung ương.

Nhiệm vụ này đã được giao cho quân đoàn 7 của hồng quân. Lúc bấy giờ, Túc Dụ đang giữ nhiệm vụ tham mưu trưởng của quân đoàn 7 này. Tháng bảy năm 1934, toàn quân đoàn gồm có hơn sáu ngàn người, xuất phát từ Thoại Kim, và bắt đầu một cuộc trường chinh lâu dài.

Để tranh thủ quần chúng, bộ đội đã đề ra khẩu hiệu Bắc tiến để kháng Nhật. Tại sao lại lấy khẩu hiệu đó? Vì ngày mười tám tháng chín năm 1931, quân phiệt Nhật đã ngang nhiên xâm chiếm Trung Quốc. Chúng chiếm một vùng đất đai lớn ở vùng Đông Bắc, rồi xây dựng một lực lượng thân Nhật, chống Hoa là "Mãn Châu Quốc". Hành động xâm lược của giặc Nhật đã làm cho toàn thể nhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ đều phẫn nộ. Thế nhưng, Tưởng Giới Thạch vẫn xem lợi ích của dân tộc không ra gì, mà cương quyết thực hiện phương châm phản động của mình là "trước khi chống ngoại xâm, phải bình định nội bộ". Do vậy, Tưởng Giới Thạch đã nhượng bộ giặc Nhật từng bước. Trái lại, đối với quốc nội thì tiến hành trấn áp bằng vũ lực càng thêm mạnh mẽ. Hành động ngược đời đó đã bị toàn thể nhân dân trong nước phản đối kịch liệt. Trong hoàn cảnh như vậy, dùng khẩu hiệu "Hồng quân Bắc tiến kháng Nhật" để tuyên truyền và tranh thủ quần chúng, là chắc chắn có hiệu quả. Đặc biệt là hướng tiến quân của hồng quân đều nhằm vào vùng hậu phương của giặc Nhật. Như vậy, đối với những người chưa hiểu hồng quân, thấy họ trương cao lá cờ kháng Nhật, chắc chắn là sẽ đồng tình và ủng hộ.

Tuân theo mệnh lệnh của Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương, Quân đoàn 7 hồng quân nhắm thẳng ý đồ là: chụp lấy cơ hội mấy huyện ở phía Nam tỉnh An Huy đang bạo động vũ trang đứng lên làm cách mạng, để xây dựng căn cứ địa cách mạng tại Nam An Huy

Nhưng muốn thực hiện chiến lược này, thật là muôn vàn khó khăn. Trước tiên, là chỉ đạo tư tưởng không rõ ràng, quân ủy trung ương không giao rõ nhiệm vụ cho bộ đội là phải kềm chế quân địch để yểm trợ cho chủ lực của hồng quân di chuyển. Sau khi quân đoàn 7 ra đi, thì lại không ngớt thay đổi kế hoạch, để cho bộ đội tấn công vào những thành phố phòng thủ vững chắc của địch, và chỉ đạo cho bộ đội xây dựng căn cứ địa tại hậu phương vững mạnh của địch một cách không thiết thực, làm cho bộ đội không thể thực hiện được kế hcạch đó.

Ngoài ra, binh lực của bộ đội lại không đủ, nên khó đảm nhiệm trọng trách trong việc tác chiến mà trên giao. Quân đoàn 7 thành lập tương đối muộn, toàn quân đoàn chỉ có hơn sáu ngàn sĩ quan và binh sĩ, trong đó có hai ngàn người là lính mới, trình độ huấn luyện chưa thật hoàn chỉnh, kinh nghiệm chiến đấu còn non nớt. Cả quân đoàn lúc ấy chỉ có hơn một ngàn khẩu súng, còn đa số chiến sĩ đều chiến đấu bằng đại đao và giáo dài.

Hơn nữa, cơ cấu lãnh đạo của quân đoàn lại đầy rẫy mâu thuẫn. Quân đoàn trưởng Tầm Hoài Châu là một chiến sĩ kỳ cựu, xuất thân từ cuộc khởi nghĩa mùa thu, vừa dũng cảm lại vừa đầy đủ mưu trí, được sĩ quan và binh sĩ tin yêu. Chính ủy là Lạc Thiếu Hoa, một sĩ quan xuất thân từ Trường võ bị Matxcơva trở về. Còn đại biểu trung ương Tăng Hồng Dịch là một viên tướng tả khuynh hoàn toàn, đối với áp lực mạnh của địch, lại sợ hãi, ý chí dao động, tư tưởng bi quan. (Về sau hắn đã đi vào con đường phản Đảng xấu xa). Người nắm quyền lãnh đạo quân đoàn thực sự là Tăng Hồng Dịch và Lạc Thiếu Hoa. Do vậy, bộ đội rất khó thoát khỏi đường lối tả khuynh.

Đứng trước muôn vàn khó khăn, bộ đội hoàn toàn dựa vào ý chí ngoan cường của sĩ quan và binh sĩ, tiếp tục giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, như chiếm Hạ Thủy Khẩu, bao vây Phúc Châu, đánh chiếm La Nguyên, tiến vào phía Tây Triết Giang, rồi đánh thốc vào vùng núi non ở Tây Bắc Triết Giang, cách Nam An Huy không xa. Do phải đánh nhau liên tiếp, lại không có hậu phương, nên bộ đội bị tiêu hao qua việc tử thương rất nhiều. Đạn dược cũng không làm sao cung cấp được. Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức nhiều vụ bạo động ở phía Nam tỉnh An Huy đã bị thất bại mấy tháng qua. Trước tình trạng cần phải được chấn chỉnh hàng ngũ, nên quân đoàn đánh điện thẳng về Trung ương, yêu cầu Trung ương phê chuẩn cho họ được xây dựng căn cứ địa ở vùng biên giới hai tỉnh An Huy và Giang Tây. Vì địa hình ở đây rất có lợi, sản vật lại phong phú, cơ sở quần chúng tương đối khá, lại có thể uy hiếp được trung tâm thống trị của địch ở những vùng Lư Ninh Hàng. Nhưng Trung ương đã bắt buộc quân đoàn đi đến vùng Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Tây, và Giang Tô. Có thể nói từ vùng biên giới hai tỉnh An Huy và Giang Tây đi tới vùng Phúc Kiến, Triết Giang, và Giang Tây là hết sức gay go, vì quân địch đã lập nhiều phòng tuyến phong tỏa. Thế nhưng, vì tuân theo lệnh Trung ương, binh sĩ và sĩ quan trong quân đoàn sẵn sàng lấy máu của mình để mở một hành lang, đến được địa điểm chỉ định.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:10:51 am

Kể từ ngày xuất phát tại Thoại Kim cho đến nay, đã trải qua bốn tháng và vượt qua hành trình ba nghìn dặm, khắc phục thiên nan vạn khổ, quân số của quân đoàn đã mất đi một nửa. Tuy nhiên, sự chiến đấu anh dũng của quân đoàn 7 đã chia sẻ lực lượng của địch về phía mình rất đáng kể, lại tiêu diệt được một số lớn sinh lực địch, nhất là đối với khẩu hiệu tuyên truyền tiến về phía Bắc để kháng Nhật càng sáng tỏ. Quân đoàn 7 cũng đã xây dựng nhiều khu căn cứ du kích, và nhen thêm ngọn lửa cách mạng ra khắp nơi. Công lao của họ không thể phủ nhận được.

Chiến khu "Mân Triết Cán Tô" (Mân là Phúc Kiến, Triết là Triết Giang, Cán là Giang Tây, Tô là Giang Tô) do Phương Chí Mẫn xây dựng và lãnh đạo. Nó là một khu Xô Viết cũ. Cho nên, khi quân đoàn 7 kéo tới, được họ hết sức hoan nghênh. Theo chỉ thị của Trung ương, quân đoàn 7 và Hồng Thập Quân (quân mười Hồng quân) họp lại biên chế thành Hồng Thập Quân Đoàn (Quân đoàn mười Hồng quân). Túc Dụ được lệnh rời bộ đội chủ lực đến quân khu Mân Triết Cán Tô để làm tham mưu trưởng. Đó là vào tháng mười một năm 1934. Lúc đó, quân chủ lực hồng quân tại khu Xô viết Trung ương kéo về phía Tây, nên địch rảnh tay, tập trung bao vây tấn công dữ dội khu Xô viết Mân Triết Cán Tô.

Lúc bấy giờ, con đường chọn lựa đúng đắn nhất là phân tán bộ đội để lên núi đánh du kích, bảo toàn thực lực, chờ ngày tập trung tiêu diệt địch. Nhưng quân khu trung ương được giữ lại để bảo vệ căn cứ địa trung ương, chỉ thị cho quân đoàn mười tập trung lực lượng chuẩn bị tiêu diệt quân địch sắp tới tấn công, xây dựng căn cứ Xô viết mới.

Để chấp hành mệnh lệnh của quân khu Trung ương, quân đoàn mười Hồng quân chấn chỉnh lại lực lượng lãnh đạo. Túc Dụ được điều về quân đoàn và được giữ chức tham mưu trưởng. Toàn quân gồm có ba sư, kéo vào khu vực được Trung ương chỉ định là Đàm Gia Kiều, thì đụng lực lượng địch. Trận đánh đầu tiên bất lợi. Tầm Hoài Châu bị hy sinh, bộ đội lâm vào cảnh nguy khó cực kỳ. Do vậy, bộ đội bắt buộc chạy vòng khu vực phía Nam An Huy, cũng như những khu vực trong tỉnh An Huy, Triết Giang, và Giang Tây. Một đạo binh to lớn đã trở thành mục tiêu tấn công, truy kích của quân địch. Mặc dù họ cũng đánh được nhiều trận thắng lợi, nhưng quân địch tập trung quân số ngày càng đông, làm cho sức chiến đấu của bộ đội ngày càng yếu kém. Nếu ngay lúc đó, kịp thời chỉ đạo phân tán lên núi đánh du kích, thì vẫn còn có thể cứu vãn được một phần bộ đội. Nhưng những người lãnh đạo vì sợ mệnh lệnh của quân khu trung ương, không dám thay đổi chiến thuật, vẫn hy vọng vào lối đánh chính quy để thủ thắng.

Khi bộ đội tiến đến vùng Hóa Vụ Đức thuộc tỉnh Triết Giang thì bị quân địch kéo tới bao vây. Túc Dụ đề xuất với các thủ trưởng quân đoàn là thời cơ không thể bỏ lỡ, phải tức khắc di chuyển bộ đội ra khỏi vòng phong tỏa của địch, để tránh bị bao vây rất nguy hiểm. Kiến nghị này được Phương Chí Mẫn đồng ý, nhưng lại bị một số thủ trưởng quân đoàn phản đối. Họ cho rằng quân địch không thể kéo tới bao vây nhanh như vậy, bộ đội đã hành quân qua một đoạn đường dài, đang mỏi mệt, cần nghỉ ngơi một đêm, rồi sẽ di chuyển. Túc Dụ cho rằng tình hình rất khẩn cấp, không thể chờ đợi thêm một ngày mà phải di chuyển ra khỏi vòng vây của địch ngay đêm nay. Trong khi còn đang tranh chấp, thì đôi bên thỏa hiệp một quyết định tạm, tức Túc Dụ dẫn một số bộ đội đi ngay trong đêm, còn chủ lực thì vẫn ở yên tại chỗ. Túc Dụ dẫn một cánh bộ đội hành quân nhanh, và chỉ trước nửa đêm là đã vượt qua khỏi phòng tuyến bao vây của địch, thoát được những cánh quân truy kích của chúng. Riêng quân chủ lực, vì chậm trễ, bỏ mất thời cơ nên bị địch bao vây tại vùng Hoài Ngọc Sơn, và trải qua một cuộc chiến đẫm máu, địch đông ta ít, hoàn toàn bị thất bại. Ngoài một số ít phá vòng vây chạy thoát được, còn số đông thì bị hy sinh, hoặc bị bắt làm tù binh. Riêng Phương Chí Mẫn, Lưu Trù Tây, là những người trong ban lãnh đạo quân đoàn thì bị địch bắt sống. Mấy tháng sau, họ bị địch hành quyết tại Nam Xương.

Đến đây, cánh quân Bắc tiến kháng Nhật xem như hoàn toàn bị thất bại.

Sau khi Hồng quân Trung ương rút đi thì vùng đất rộng lớn ở Giang Nam xem như hoàn toàn nằm dưới sự khống chế của Quốc Dân Đảng. Phân cục Trung ương còn ở lại để giữ khu Xô viết Giang Tây đã thống nhất chỉ huy những cánh quân còn tác chiến được ở vùng này. Sau khi học được những bài học thất bại liên tiếp, mọi người mới nhận thấy, nếu đánh mạnh, đánh thẳng vào quân thù, chính là con đường bị tiêu diệt. Chỉ có phân tán quân lực ra, tiến hành chiến tranh du kích, thì mới có thể bảo tồn lực lượng cách mạng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:11:23 am

Đội quân Bắc tiến kháng Nhật đầu tiên, sau khi bị thất bại ở vùng Hoàng Ngọc Sơn còn được hơn bốn trăm người. Theo chỉ thị của phân cục Trung ương, số bộ đội trên tổ chức thành sư đoàn mũi nhọn của tỉnh Triết Giang, để tiến vào tỉnh này, phát triển du kích chiến. Túc Dụ được phái làm sư trưởng cánh quân đó.

Sau khi nhận mệnh lệnh, Túc Dụ phân tích toàn diện tình hình. Ông cho rằng, Triết Giang là một vùng đất mà sự thống trị của quân thù tương đối hoàn chỉnh, muốn xây dựng căn cứ địa ở đây là chuyện khó, nhưng không phải là không thể tiến hành được. Có mấy điều kiện thuận lợi là về mặt tư tưởng chỉ đạo nếu đã xác lập được phương châm du kích chiến thì có thể dựa vào vùng Tây Nam của tỉnh Triết Giang, là nơi có núi cao rừng rậm, dễ hoạt động kín đáo, lại có một số cơ sở quần chúng nhất định. Vậy, nếu có được một cánh quân gan dạ và kiên cường, cộng thêm điều kiện chỉ huy chính xác, thì vẫn có thể duy trì được lực lượng vũ trang ở đây.

Tháng hai năm 1935, sư đoàn mũi nhọn từ khu vực Phúc Kiến, Triết Giang và Giang Tây xuất phát, tiến về vùng đất được chỉ định. Căn cứ theo kế hoạch dự kiến, bộ đội trước tiên đến vùng phía Bắc tỉnh Phúc Kiến để tiến hành việc liên hệ với tổ chức Đảng địa phương, rồi mới lại tiến quân về phía Tây Nam tỉnh Triết Giang. Chính vì vậy mà họ phải thông báo cho phân quân khu ở phía Bắc tỉnh Phúc Kiến biết trước ý đồ tác chiến của mình. Nào ngờ viên tư lệnh ở đây là Lý Đức Thắng, do không chịu nổi sự thử thách trong gian khổ, đã làm kẻ phản bội một cách nhục nhã, bán rẻ đồng chí của mình cho kẻ thù. Vì vậy, khi sư đoàn mũi nhọn vừa tiến vào vùng đất phía Bắc tỉnh Phúc Kiến thì đi tới đâu cũng bị địch đón đánh tới đó. Cho nên họ phải hủy bỏ kế hoạch cho quân nghỉ ngơi và chỉnh đốn tại vùng đất này, mà tiến quân thẳng về hướng Tây Nam tỉnh Triết Giang.

Vùng đất Tây Nam tỉnh Triết Giang là biên giới giao tiếp giữa ba tỉnh, đứng về mặt chiến lược hết sức quan trọng. Cho nên địch đã tổ chức rất nhiều đội bảo an ở khu vực này, để làm lực lượng phòng thủ địa phương. Muốn xây dựng căn cứ ở đây, việc đầu tiên là phải tiêu diệt lực lượng vũ trang địa phương rất ngoan cố của địch. Túc Dụ bèn xuất lĩnh cánh quân ít ỏi của mình, trải qua bốn tháng chiến đấu, xây dựng được một vùng căn cứ du kích có chiều rộng và chiều ngang hơn một trăm dặm.

Việc xây dựng căn cứ du kích tại quê hương của Tưởng Giới Thạch đã làm cho Quốc Dân Đảng tỉnh Triết Giang hết sức hốt hoảng. Họ vội vàng tập hợp bốn mươi sư đoàn binh lực, tiến về căn cứ du kích mới này, bao vây tảo thanh. Đứng trước tình hình địch mạnh ta yếu, Túc Dụ quyết định để lại một bộ phận chủ lực tiếp tục chiến đấu, chia sẻ hỏa lực của địch, còn đại bộ phận thì nhanh chóng chuyển về biên giới Triết Giang và Phúc Kiến, để mở một chiến trường mới.

Lúc bấy giờ ở phía Đông và phía Bắc tỉnh Phúc Kiến, đều có lực lượng võ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo đang hoạt động. Họ cũng xây dựng được một số vùng du kích. Túc Dụ cho rằng, nếu ba lực lượng võ trang này cùng hoạt động liên kết, hỗ tương với nhau, vẫn hay hơn là một cánh hoạt động riêng. Do vậy, sau khi thương lượng với người phụ trách ủy ban đặc biệt vùng Đông Phúc Kiến là Diệp Phi, các bên quyết định thành lập tỉnh ủy và quân khu Đảng Cộng sản Trung Quốc tại khu vực biên giới Phúc Kiến và Triết Giang, do Lưu Anh làm bí thư tỉnh ủy kiêm chính ủy quân khu. Riêng Túc Dụ làm trưởng ban tổ chức tỉnh ủy, kiêm tư lệnh viên quân khu.

Trong lúc cánh quân Bắc tiến kháng Nhật đầu tiên bị thất bại, thì một điện đài duy nhất của quân đội đã bị địch phá hủy. Kể từ đó, họ không còn phương tiện nào để liên lạc được với trung ương. Họ hoàn toàn không hay biết trung ương sau một cuộc hội nghị, đã thay đổi hoàn toàn phương châm sai lầm trước đây, và kiên trì phương châm du kích chiến tranh. Cho nên họ chỉ dựa vào sự mò mẫm của mình. Và từ đó không tránh khỏi có những sự bất đồng với trung ương.

Với vai trò là người thủ trưởng cao nhất về mặt quân sự, Túc Dụ đối với những chuyện thất lợi trước đây, đã tiến hành một sự nhận xét chín chắn, và từ đó, xây dựng thành một hệ thống tư tưởng cơ bản. Ông cho rằng ở căn cứ địa mới, nếu dùng biện pháp như trước đây một cách mù quáng, hoạt động công khai, tiến hành đánh thổ hào, phân chia điền địa, tuy có thể được sự khoái chí nhất thời nhưng nó sẽ đưa đến nhiều cái bất lợi to tát lâu dài. Thứ nhất là không tranh thủ được sự đồng tình, cũng như sự trung lập của tầng lớp trung và thượng trong xã hội. Thứ hai, là để lộ lực lượng và đồng chí của mình, không thể đấu tranh lâu dài. Sau khi căn cứ địa phía Tây tỉnh Triết Giang bị mất, cán bộ địa phương vì hoạt động nhiều, mục tiêu to, nên hầu hết bị kẻ địch sát hại. Cách suy nghĩ của Túc Dụ đã bị Lưu Anh với tư cách lãnh đạo Đảng phản đối. Lưu Anh cho rằng nhận định như vậy là phủ nhận công tác của Đảng ở tại vùng phía Tây Triết Giang.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:12:08 am

Sau khi căn cứ địa phía Tây Nam Triết Giang bị mất, kẻ địch đã chiếm đóng các thành phố chủ yếu và đường giao thông chính trong khu vực này. Lưu Anh không cần biết tình hình thực tế không cho phép, mà ép Túc Dụ dẫn sư đoàn mũi nhọn đi khôi phục lại căn cứ địa đã mất. Túc Dụ dẫn bộ đội đến vùng ngoại vi căn cứ địa, và sau khi cho trinh sát tìm hiểu địch tình, thấy rằng nếu bộ đội đi vào khu vực mà kẻ thù đang mai phục, và sẵn sàng bao vây, thì chỉ là một con đường chết. Do vậy, Túc Dụ không chấp hành mệnh lệnh của Lưu Anh, mặc dù Lưu Anh đã lấy mệnh lệnh của tỉnh ủy để chỉ đạo. Từ đó, Lưa Anh càng không ưa Túc Dụ, và đã công khai hóa sự chia rẽ trong ý kiến lãnh đạo của nơi này.

Giữa hai căn cứ phía Nam Triết Giang và phía Đông Phúc Kiến, cũng tồn tại một sự mâu thuẫn. Lưu Anh muốn thống nhất căn cứ phía Đông tỉnh Phúc Kiến, nên ra lệnh cho Diệp Phi dẫn bộ đội rời khỏi căn cứ phía Đông Phúc Kiến, để đến phía Tây Triết Giang, tiến hành đánh du kích. Diệp Phi cho rằng nếu bộ đội rời khỏi căn cứ địa, thì Phúc Kiến sẽ không giữ được, đồng thời, nếu bộ đội rời khỏi quần chúng, thì như cá rời khỏi nước, khó mà sinh tồn. Do vậy, Diệp Phi khống muốn chấp hành chỉ thị của Lưu Anh, làm cho Lưu Anh rất tức giận, cho là Diệp Phi chống lãnh đạo, nên ra lệnh cho Túc Dụ bắt Diệp Phi.

Lúc bấy giờ Túc Dụ đang chỉ huy bộ đội đánh giặc, khi nhận được mệnh lệnh của Lưu Anh, không biết chân tướng của sự việc này ra sao. Mặc dù trong lòng Túc Dụ cảm thấy thật khó hiểu đối với việc bắt Diệp Phi, nhưng khi đã nhận được mệnh lệnh, thì phải chấp hành. Túc Dụ mời Diệp Phi tới gặp mình. Diệp Phi rất vui vẻ, vì đây là một cơ hội để gặp Túc Dụ, cùng nhau bàn bạc, đánh giá tỉnh ủy lâm thời là thế nào. Cho nên Diệp Phi đã dẫn một trung đội tới gặp Túc Dụ. Đêm hôm đó, Túc Dụ mở tiệc khoản đãi Diệp Phi. Sau ba tuần rượu, Túc Dụ ném ly để làm ám hiệu, tức thì những nhân viên bảo vệ ào ra bắt trói Diệp Phi. Các cảnh vệ của Diệp Phi bèn rút súng chiến đấu, chạy thoát khỏi bữa tiệc, rồi hợp cùng một trung đội theo bảo vệ, kéo trở về căn cứ địa phía Đông Phúc Kiến. Túc Dụ sai người áp giải Diệp Phi tới tỉnh ủy lâm thời.

Số người áp giải Diệp Phi đi nửa đường, gặp phục kích của lính bảo an Quốc Dân Đảng. Giữa lúc cập rập, số binh sĩ áp giải Diệp Phi bèn bắn vào đùi ông ta một phát súng, rồi bỏ ông ta ở đó mà chạy. Diệp Phi chẳng kể gì vết thương, lăn cho mình rơi xuống một cái hố. Cũng may, ông rơi vào chạc ba của một cành cây, nên không bị chết. Sự kiện này đã gây thành một sự chia rẽ to tát giữa hai căn cứ địa. Tại căn cứ du kích phía Tây Nam tỉnh Triết Giang, Lưu Anh cho rằng Túc Dụ tham gia với Diệp Phi để "chia rẽ tỉnh ủy", cho nên mới không bắt Diệp Phi theo lệnh của mình, vậy cần phải tiến hành đấu tranh. Lưu Anh phái một toán binh sĩ canh giữ Túc Dụ, đồng thời mở cuộc đấu tranh nội bộ Đảng. Lúc bấy giờ, rõ ràng căn cứ địa này đứng trước tình hình Đảng và quân đội chia rẽ với nhau, nhưng với Túc Dụ, vì lợi ích của Đảng, đã nén lòng tự nhận mình là "có lỗi", và viết kiểm thảo, mọi việc xem như được giải quyết.

Sau khi đấu tranh xong, Túc Dụ dẫn sư đoàn mũi nhọn của mình đến vùng phía Nam Triết Giang và Giang Nam để hoạt động, còn Lưu Anh thì vẫn kiên trì tại vùng phía Nam Triết Giang. Mặc dù khi đấu tranh với địch, hai lực lượng này đều phải kết hợp với nhau, nhưng trong lòng họ, bóng đen của sự chia rẽ vừa qua vẫn không xóa được. Hai vị lãnh đạo ít khi muốn gặp mặt nhau, khi cần thiết phải gặp, thì đôi bên đều đem theo rất nhiều tùy tùng để tự bảo vệ. Mãi đến cuối năm 1937, qua sự sắp xếp của cấp ủy Đảng cấp trên, hai lực lượng này mới họp nhất lại làm một.

Tại căn cứ du kích ở phía Đông Phúc Kiến, hầu hết các cán bộ và chiến sĩ đều bực tức Lưu Anh, đã tự ý bắt giam lãnh tụ của mình, nên đua nhau chủ trương dùng võ lực để thanh toán. Giữa lúc tình hình đang căng thẳng đó, thì Diệp Phi may mắn thoát được hiểm nguy trở về, và đã khuyên ngăn bộ đội ở căn cứ địa phía Đông Phúc Kiến phải dừng tay. Nhưng, kể từ đó, hai căn cứ địa này không còn hợp tác chặt chẽ với nhau như trước kia. Mãi đến khi quân kháng chiến ngày một đông đảo, phong trào phát triển rộng hơn, họ mới thống nhất trở lại. Mọi sự hiểu lầm đã được xóa đi. Túc Dụ và Diệp Phi cùng nhau cộng tác tại Tân Tứ Quân, và tỏ ra rất vui vẻ với nhau.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:12:41 am

Trong ba năm đấu tranh lại phía Nam tỉnh Triết Giang, cơ bản là không có sự lãnh đạo của cấp trên, mà cũng không có nơi nương tựa của hậu phương, không có tiếp tế bổ sung quân trang quân dụng. Tình hình khó khăn này, nếu là người không từng trải, thì thật khó mà hình dung ra được. Nhất là lúc nào họ cũng bị quân đội của Quốc Dân Đảng bao vây tấn công, luôn luôn sống trong hoàn cảnh nguy hiểm. Đã mấy lần Túc Dụ suýt nữa bị mất mạng.

Có một lần, Túc Dụ trên đường hành quân bị quân địch bao vây giữa hai con sông. Lúc bấy giờ trời đang mưa to, đường đi hết sức lầy lội, nhất là nước mưa từ trên núi đổ xuống, thành những cơn lũ rất mạnh, khiến dòng sông tràn ngập lên bờ. Phía trước, phía sau, đều bị sông chặn đường. Bên tả, bên hữu, lại có quân địch truy kích. Tình hình hết sức nguy hiểm, chẳng khác nào như chỉ mành treo chuông. Trong tình thế bất đắc dĩ, Túc Dụ phải cùng các binh sĩ chui vào các rừng rậm đầy gai góc để trốn. Bọn lính địch cũng đã đuổi kịp tới nơi, và chia nhau lục tìm chung quanh. Nếu bị kẻ địch phát hiện, thì chỉ có một con đường duy nhất, là cùng chết với chúng mà thôi. Các chiến sĩ đều lên đạn, tuốt dao găm, sẵn sàng để hy sinh trong một trận đánh tuyệt vọng. Trời mưa mỗi lúc mỗi to, đứng trước những lùm mênh mông, bọn lính địch không đủ can đảm xông xáo vào những bụi rậm để lục soát, vì chúng đâu dại chi đem sinh mạng của mình ra để làm trò đùa? Cho nên, chúng chỉ đứng ở ngoài kêu réo quân cách mạng đầu hàng. Nhưng tất cả binh sĩ đều im lặng, sẵn sàng chờ đợi chiến đấu nếu bị chúng phát giác.

Trời mỗi lúc càng tối dần, quân địch do sợ bóng tối, nên cùng rút đi đến cạnh bờ sông để đóng chốt mai phục. Túc Dụ liền âm thầm dẫn chiến sĩ của mình mò ra tới bờ sông, rồi tìm những chỗ địch sơ hở, cùng nhau lội qua sông, thoát khỏi vòng vây của địch.

Lại có một lần, sau khi đánh một trận đối đầu với địch, vì địch đông ta ít, nên bắt buộc phải rút lui. Nhưng quân địch vẫn bám sát theo sau để truy kích. Khi bộ đội tiến vào một khe núi, thì họ nhận ra mình đã lọt vào một địa hình rất nguy hiểm. Vì hai bên khe núi là vách đá cao, không tài nào trèo lên được. Còn đầu kia của khe núi, có một đồn giặc đứng cao sừng sững. Nếu đánh thẳng vào đồn, thì chẳng những sự hy sinh rất lớn, mà cũng chưa chắc có thể hạ được đồn để thoát đi. Cuối cùng, vì quân địch truy kích sát quá, nên Túc Dụ nghĩ ra một kế hay. Do lúc bấy giờ, binh sĩ hồng quân hầu hết đều ăn mặc y phục đoạt được từ quân địch, giữa hồng quân và quân địch chỉ khác nhau ở bên trên chiếc mũ có gắn ngôi sao mà thôi. Do vậy, Túc Dụ ra lệnh cho tất cả binh sĩ đều lột mũ cầm tay, quạt phe phẩy rồi tiếp tục đi tới một cách bình tĩnh. Khi họ đi tới sát cạnh đồn địch, bọn đứng gác trên đồn quả không làm sao ngờ được, chiến sĩ hồng quân lại cả gan bình tĩnh đi vào đồn như thế này, nên hỏi binh sĩ hồng quân là cánh quân nào? Từ đâu tới? Bây giờ muốn đi về đâu? Các chiến sĩ hồng quân bình tĩnh trả lời, và đã giải tỏa mọi sự thắc mắc của quân địch trong đồn. Do vậy, chúng mở cửa đồn cho hồng quân đi thẳng vào bên trong, rồi lại mở cửa sau cho hồng quân bình tĩnh bước ra ngoài. Chờ khi quân truy kích kéo tới nơi, bọn lính trong đồn mới biết mình đã bị lầm mưu của hồng quân. Thế là chúng lại tổ chức một đợt truy kích khác, nhưng hồng quân đã thoát ra khỏi vùng sơn cốc chật hẹp, biến mất giữa núi cao rừng rậm mênh mông rồi.

Lần thứ ba lại càng nguy hiểm hơn. Có một bữa nọ, sau khi hành quân tác chiến liên tục, các binh sĩ đều rất mỏi mệt, nên khi tới một sườn núi, thì họ hạ trại để ngủ. Trước khi ngủ, họ cho đặt nhiều trạm gác xung quanh, nhưng quân địch rất tinh ranh, chúng đã bám sát theo từng bước tiến của hồng quân, và đi vòng qua các trạm gác để vượt lên ngọn núi cao hơn, rồi từ trên đó bắn xuống hồng quân. Cũng may các chiến sĩ hồng quân mặc dù ngủ, nhưng không cởi y phục và vẫn ôm vũ khí trong lòng, khi nghe động, tất cả đều bừng tỉnh, và bắt đầu chiến đấu ngay. Do quân địch chiếm được địa hình có lợi hơn, nên hồng quân bắt buộc phải vừa đánh vừa rút lui xuống chân núi. Khi tới chân núi, họ lại gặp một con sông chắn ngang. Chẳng biết làm sao đây? Nếu vượt, qua sông, thì rõ ràng là phơi lưng cho địch bắn mình. Vậy cách duy nhất là họ phải chạy theo bờ sông mà thoát đi. Lúc bấy giờ, quân địch cũng xuống tới chân núi và đuổi theo. Khi hồng quân chạy tới một khúc sông hẹp, Túc Dụ bèn ra lệnh vượt qua sông để thoát khỏi sự truy kích của địch. Túc Dụ là người đầu tiên nhảy xuống nước, không ngờ sông hẹp, nhưng nước sâu, chảy rất xiết. Chỉ trong nháy mắt, Túc Dụ bị nước cuốn vào vòng xoáy, xem ra sẽ bị nước nhận chìm xuống đáy sông. Cũng may là chiến sĩ còn ở trên bờ thấy vậy liền thò ra một cây dù cho Túc Dụ nắm lấy, rồi kéo ông trở vào bờ. Vì chậm trễ, nên quân địch cũng truy đuổi tới nơi. Mọi người bất đắc dĩ phải nép sát vào vách núi, im lặng không lên tiếng. Nhờ bóng tối che chở, quân địch không phát giác được cánh quân của họ, mà nhanh chóng vượt qua khỏi nơi họ ẩn mình. Túc Dụ chờ cho quân địch đi qua hết, mới bắt đầu từ sau lưng nã súng vào chúng, khiến chúng hốt hoảng bỏ chạy thục mạng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:13:18 am

Do phải chiến đấu liên tiếp, nên số thương bệnh binh ngày một đông, trong quân đội lại không có đủ thầy thuốc, thiếu thốn thuốc men, mà còn phải tiếp tục đánh giặc. Vậy làm thế nào để an trí thương bệnh binh? Gởi vào nhà quần chúng chăng? Như vậy thật không ổn, vì kẻ thù đang tiến hành khủng bố trắng, làm như thế sẽ liên lụy tới quần chúng. Có thể cho họ vào hang núi để cứu chữa chăng? Ban đầu hồng quân đã làm như vậy, nhưng về sau thấy cách đó không ổn, vì mỗi lần bao vây lục soát, quân chính quy của địch luôn sử dụng đến quân bảo an, và số quân này hiểu biết địa hình tại địa phương rất rõ, và hang núi chính là nơi mà chúng lục soát kỹ nhất. Trước tình hình như vậy, hồng quân đành phải nghĩ ra cách mượn "nhà" của người chết. Phong tục của dân chúng ở vùng Triết Giang, thường chôn người chết ở lưng chừng núi. Những nơi đó mộ phần rất nhiều. Hồng quân bền moi một cái mộ, rồi dời quan tài ra chỗ khác, lấy nơi đó làm chỗ nằm điều trị cho thương bệnh binh. Họ chỉ cần ngụy trang lại là quân địch không tài nào biết được hồng quân lại nghĩ ra cách giấu thương bệnh binh của mình như thế này.

Ngoài ra, lại còn những khó khăn khác, như thường xuyên không có cơm ăn, không có thời giờ để ngủ (trong một trường hợp dài nhất, Túc Dụ không ngủ ba ngày ba đêm), không có những tin tức của thượng cấp, cũng như những tin tức từ bên ngoài, gây ra một sự cô lập rất đáng sợ.

Trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy, Túc Dụ và các chiến hữu của ông đã kiên trì giữ vững địa bàn. Họ trở thành những người chiến binh được tôi luyện cứng rắn như thép, và đã đi ở hàng đầu của cuộc chiến tranh để bảo vệ dân tộc.

Năm 1935, bắt đầu từ phong trào mười hai tháng chín, toàn quốc kêu gọi đình chỉ nội chiến, cùng nhau đoàn kết để chống ngoại xâm, đã mau chóng lan tràn khắp nơi trên toàn quốc. Lúc bấy giờ, cuộc trường chinh của Trung ương đã thắng lợi. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xây dựng được căn cứ tại miền Bắc tỉnh Thiểm Tây, và nắm lấy cơ hội này, đề ra một loạt chủ trương và kiến nghị để thúc đẩy chính phủ Quốc Dân Đảng chuyển họng súng từ nội chiến quay về chống xâm lăng. Các đảng phái, các tầng lớp trong nước, nhanh chóng hưởng ứng mặt trận thống nhất dân tộc kháng Nhật, để cứu nguy cho dân tộc sắp bị diệt vong. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chủ trương như thế, chẳng những được các đảng phái dân chủ các đoàn thể nhân dân ủng hộ, mà còn được những phần tử có lòng yêu nước nhiệt tình, am hiểu đại nghĩa của dân tộc trong Quốc Dân Đảng tán thành, cổ súy. Nhờ đó mà hồng quân đã thương nghị đi tới đình chiến với "Đông Bắc quân", và "Tây Bắc quân" của chính phủ Quốc dân đảng.

Nhưng, Tưởng Giới Thạch có cách suy nghĩ riêng của ông ta. Ông ta muốn xây dựng tại nước Trung Quốc một quốc gia, một chính đảng, một chủ nghĩa, một lãnh tụ. Nói cho cùng, tức là ông ta muốn xây dựng nền độc tài chuyên chế tại Trung Quốc. Cho nên ông ta đặt vấn đề đó lên cao hơn vấn đề cứu nguy cho dân tộc. Do vậy, ông ta đã hoàn toàn đi ngược lại nguyện vọng của dân tộc, tiếp tục mở những cuộc hành quân ở khắp các địa phương. Việc làm đi ngược trào lưu đó của ông ta, cuối cùng đã dẫn tới sự biến tại Tây An, ngày mười hai tháng mười hai năm 1936.

Sự biến ở Tây An được giải quyết hòa bình, từ đó nêu ra những điều kiện để xây dựng sự hợp tác lần thứ hai giữa hai đảng, là Đảng cộng sản và Quốc dân đảng Trung Quốc. Căn cứ vào hiệp nghị mà hai đảng đã thỏa thuận, hồng quân các địa phương sẽ lần lượt biên chế thành "Quốc dân cách mạng quân", và đưa ra tiền tuyến để kháng Nhật. Nhưng với thói quen dùng thủ đoạn, Tưởng Giới Thạch không cam tâm ngưng cuộc bao vây để tiêu diệt hồng quân một cách dễ dàng như vậy. Ông ta vừa ngồi vào bàn họp để thương lượng vừa rêu rao cần phải đoàn kết để kháng Nhật, nhưng một mặt khác ông ta ra lệnh cho quân đội của mình bao vây tấn công để tiêu diệt các căn cứ du kích của hồng quân ở phía Nam. Ông ta hy vọng trước khi đạt được hiệp nghị, thì đã tiêu diệt được toàn bộ các đội du kích của hồng quân. Sư đoàn mũi nhọn của Túc Dụ đã kiên trì chiến đấu tại phía Tây Nam tỉnh Triết Giang suốt ba năm qua, lại đứng trước một cuộc thử thách ác liệt. Đây là bóng tối trước khi bình minh. Thứ bóng tối này còn dày đặc và ngột ngạt hơn cả loại bóng tối bình thường.

Đến khi cuộc kháng chiến xảy ra tại Lư Câu Kiều ngày bảy tháng bảy, và cuộc kháng chiến bùng nổ tại Thượng Hải ngày mười ba tháng tám, đã hoàn toàn phá vỡ giấc mộng đẹp của Tưởng Giới Thạch, muốn nhân nhượng quân Nhật để tiếp tục cuộc đàn áp hồng quân trong nước. Đứng trước dã tâm muốn diệt vong nước Trung Quốc của quân phiệt Nhật, Quốc dân đảng không thể không tạm thời dẹp bỏ khẩu hiệu phản động "Muốn chống ngoại xâm, phải dẹp yên trong nước trước" của mình, và tiếp nhận chủ trương hợp tác của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Các đội du kích ở các tỉnh phía Nam, sẽ cải biên thành "Quốc dân cách mạng quân", và được xây dựng thành Tân Tứ Quân.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Năm, 2023, 09:13:49 am

Cánh quân của Tức Dụ từ bấy lâu nay do mất liên lạc với Trung ương Đảng, nên không được biết những sự thay đổi lớn lao đó. Mãi tới tháng chín năm 1937, Túc Dụ mới nghe đồn, bảo là "Đảng Cộng sản đã đầu hàng rồi, hồng quân đã được biên chế vào quân Quốc dân đảng rồi"... Tất nhiên Túc Dụ và các tướng chỉ huy thân cận không bao giờ tin những lời đồn đãi như vậy, nhưng không có lửa làm sao có khói? Cần phải đi tìm hiểu tình hình bên ngoài cho rõ ràng mới được. Dựa vào quá khứ của lịch sử mà xét, Túc Dụ phán đoán việc này có thể là sự hợp tác lần thứ hai giữa Quốc Cộng để kháng Nhật. Muốn chứng thực sự phán đoán của mình, Túc Dụ bèn phái một phân đội nhỏ đi tìm hiểu sự thật. Phân đội này gọn nhẹ, nên ngụy trang thành bảo an đoàn của Quốc dân đảng, rồi chễm chệ đi thẳng tới công sở một làng nọ, yêu cầu viên trấn trưởng gọi ngay điện thoại đến viên huyện trưởng hỏi tình hình. Viên huyện trưởng giới thiệu việc hợp tác giữa Quốc Cộng và việc hồng quân biên chế thành "Quốc dân cách mạng quân" để kháng Nhật, nói rõ cho viên trấn trưởng nghe. Tiểu đội này sau khi lấy được tin tức cụ thể, và gom được một số báo chí, mới ung dung trở về căn cứ địa của mình.

Túc Dụ nhận được báo cáo, liền tiến hành ngay việc họp bàn để thích ứng với tình hình, chuẩn bị xuống núi kháng Nhật.

Việc trước tiên là Túc Dụ tiến hành động viên chính trị trong toàn bộ đội. Tiền thân của sư đoàn mũi nhọn này là hồng quân công nông, được lệnh tiến về phía Bắc chống Nhật. Nhưng do nhiều lý do khác nhau, mãi tới bây giờ vẫn còn lưu lại tại tỉnh Triết Giang, không thể tiếp tục đi lên phía Bắc. Nay tình hình đã thay đổi, bộ đội có thể chẳng bao lâu nữa sẽ ra tiền tuyến kháng Nhật, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Nghe được tin tức này nhiều sĩ quan và binh sĩ rất phấn khởi, sĩ khí lên rất cao, nhưng Túc Dụ kịp thời nhắc nhở mọi người: mặc dù Quốc dân đảng bằng lòng hợp tác chống Nhật, nhưng với tính gian xảo thành thói quen của họ, trong quá trình cải biên bộ đội, xem chừng họ lại có những mưu gian, cần phải đề cao cảnh giác, để tránh bị thiệt thòi. Về sau, đã chứng minh lời tiên đoán của Túc Dụ quả là sáng suốt, vì ở tám tỉnh phía Nam, có những đội du kích hồng quân trong quá trình cải biên, đã bị quân đội Quốc dân đảng xem là "thổ phỉ", và đã bị giải giới. Sư đoàn mũi nhọn Triết Giang do có sự đề phòng sẵn, nên không có vấn đề gì xảy ra.

Sau đó, Túc Dụ viết một bức thư cho nhà đương cục Quốc dân đảng tại huyện Toại Xương thuộc tỉnh Triết Giang, yêu cầu họ dựa vào những hiệp nghị mà hai đảng Quốc Cộng đã thỏa thuận, gấp rút phái đại biểu tới nơi đóng quân của hồng quân, để đàm phán việc hợp tác. Huyện trưởng Toại Xương nhận được thư, không dám chậm trễ, phái ngay một đại biểu tới chỗ Túc Dụ để tiến hành đàm phán. Trong quá trình đàm phán, Túc Dụ đã nghiêm chỉnh đưa ra ba điều kiện.

1. Cánh quân mũi nhọn của Túc Dụ sẽ kéo tới tập trung nơi căn cứ địa ở phía Nam Triết Giang. Dọc đường hành quân, chính phủ Quốc dân đảng và quân đội không được cản trở, gây khó khăn.

2. Do sự thỏa thuận giữa đôi bên, từ nay hồng quân không đánh thổ hào, nên không có nguồn cung cấp lương thực. Vậy chính phủ Quốc dân đảng cần phải dựa vào tiêu chuẩn của quân đội chính quy mà cung cấp đạn dược, lương thực, và quân phí cho hồng quân.

3. Hợp tác không phải là đầu hàng, cải biên không phải là thu biên, cho nên quân đội giữa hai đảng Quốc Cộng đều bình đẳng nhau. Sau khi hồng quân được cải biên, vẫn duy trì tính độc lập về mặt quân sự của mình.

Nhà đương cục Quốc dân đảng tại huyện Toại Xương sau khi thương nghị, đã hoàn toàn chấp nhận ba điều kiện của Túc Dụ.

Tháng chín năm 1937, Túc Dụ dẫn binh sĩ của mình tới trấn Bình Dương, tại phía Nam Triết Giang, hồng quân từng kiên trì chiến đấu khắp nơi trong tỉnh Triết Giang, cũng lục tục kéo về tập trung tiến hành huấn luyện chính trị và quân sự, chuẩn bị cho việc đưa ra tiền tuyến kháng Nhật.

Cuộc chiến tranh du kích được duy trì trong ba năm tại phía Nam tỉnh Triết Giang. Cuối cùng kết thúc thắng lợi như thế. Họ có thể kiên trì chiến đấu trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như vậy, quả là một kỳ tích trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:26:42 pm

3. BÁCH CHIẾN BÁCH THẮNG

Trên thân thể của Túc Dụ có tất cả sáu chỗ bị thương và đã trải qua hàng trăm trận chiến đấu. Đặc biệt Túc Dụ giỏi chỉ huy những trận đánh tiêu diệt trên quy mô lớn. Ông được khen là một tướng quân bách chiến bách thắng. Do đâu mà ông được mọi người đánh giá cao như vậy?

Cuối xuân đầu hè năm 1938, quân đội xâm lược Nhật sau khi chiếm lĩnh được Thượng Hải, thì quân đội Quốc dân đảng đã bị đánh bại và rút lui một cách dễ dàng. Các thành phố lớn như Hàng Châu, Nam Kinh đều lần lượt bị thất thủ. Hàng triệu "Quốc quân" được trang bị đầy đủ, gần như không có sức đề kháng nào đáng kể. Bao nhiêu đất đai ở vùng Giang Nam đều bị họ dâng cho quân đội xâm lược Nhật Bản. Đứng trước sự thắng lợi quá dễ dàng, quân đội Nhật vốn đã kiêu căng hung ác, lại càng kiêu căng hung ác hơn, xem mình là kẻ không ai chiến thắng nổi. Nơi nào bọn chúng kéo đến, là nơi đó bị phóng hỏa thiêu hủy, sát hại dân lành, cướp đoạt tài sản, không có điều ác độc nào mà chúng không làm. Một số bọn xấu người Trung Quốc đã biến tiết, đầu hàng quân Nhật, giúp chúng thành lập chính phủ ngụy quyền, và các tổ chức ngụy khác. Ở nhiều địa phương, một số lưu manh lấy danh nghĩa kháng Nhật, tự võ trang và đi cướp bóc khắp các nơi ở miền quê. Vùng Giang Nam nguyên là một vùng trù phú nhất của Trung Quốc, giờ đây đã trở thành một địa ngục trần gian.

Căn cứ theo chỉ thị của Trung ương, "Tân Tứ Quân" đang đóng tại phía Nam An Huy, phái một đạo quân tiên phong, vượt sông tiến thẳng về phía Nam, để chuẩn bị tạo căn cứ kháng Nhật ở vùng này. Túc Dụ nhận được mệnh lệnh làm tư lệnh cho cánh quân này.

Đây là lần đầu tiên "Tân Tứ Quân" sau khi tổ chức lại đã phái một cánh quân của mình tiến về địch hậu. Cánh quân này cần phải tìm hiểu địch tình, mở rộng ảnh hưởng của "Tân Tứ Quân", đánh thẳng vào sự kiêu căng ngạo mạn của giặc Nhật. Nó đảm nhiệm một nhiệm vụ có ý nghĩa thật là trọng đại. Cho nên toàn quân đều được tổ chức chặt chẽ, thành viên lấy từ tiểu đội trưởng trở lên, nên sức chiến đấu của cánh quân này hết sức mạnh mẽ.

Tháng tư ở vùng Giang Nam, mưa nhỏ liên miên, những quả mai chín thơm phức nơi nơi. Nếu là ngày thường, thì người đi du sơn ngoạn thủy sẽ đông nghẹt, đầy đường sẽ vang tiếng nói, tiếng cười. Nhưng nay, dưới gót sắt giày xéo của quân Nhật, đâu đâu cũng thấy cảnh tàn phá chết chóc, người chạy nạn lang thang lếch thếch đầy đường. Các chiến sĩ do Túc Dụ chỉ huy, sau khi đến đất Giang Nam, đều không nén được lòng căm phẫn đối với kẻ thù. Họ liền tiến vào những thôn làng mà quân Nhật chưa chiếm đóng, để nhanh chóng mở những đợt tuyên truyền kháng chiến chống Nhật.

Do "Tân Tứ Quân" mới thành lập chưa bao lâu đã phái một cánh quân vào Giang Nam, chưa trải qua một trận đánh nào, nên dân chúng đối với họ vẫn còn một thái độ hoài nghi. Vì dân chúng chính mắt trông thấy các cánh quân của chính phủ Quốc dân đảng trung ương, quân số đông, trang bị tốt, thế mà vẫn không đánh thắng được giặc Nhật ngoại xâm, ở đây chỉ có hơn một trăm người, áo quần lôi thôi lếch thếch, trang bị kém cỏi mà hôm nay mới kéo tới đây, làm sao thắng được quân Nhật?

Có một đêm nọ, Túc Dụ dẫn quân đội của mình đến ngủ qua đêm tại quê hương của một vị nguyên trước đây làm thứ trưởng Bộ Tài chính của Quốc dân đảng. Người này đang sống an nhàn tại nhà, và đã nói với Túc Dụ:

— Các vị tuyên truyền kháng Nhật tỏ ra rất có nhiệt tình, nhưng đó chỉ là tuyên truyền thôi. Quân đội của chánh phủ trung ương, đứng trước quân đội Nhật không đánh đã lùi, vậy với một ít quân đội của các vị, có thể đứng vững được để chống Nhật hay không?

Túc Dụ đã trả lời một cách kiên định là chỉ cần có sự lãnh đạo đúng đắn, được quần chúng ủng hộ, thì nhất định cánh quân của ông sẽ tạo được cuộc diện mới, trong cuộc chiến tranh chống Nhật tại Giang Nam này.

Để đánh tan sự hoài nghi của dân chúng, để hạ uy thế của quân xâm lăng Nhật, xây dựng uy thế cho "Tân Tứ Quân" mới thành lập của mình, Túc Dụ định sẽ tìm đến vùng lân cận Nam Kinh, đánh quân xâm lược Nhật. Đây là trận đánh đầu tiên sau khi "Tân Tứ Quân" được thành lập, vậy chỉ có thể thắng, chứ không có thể bại.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:27:53 pm

Tối ngày mười bốn tháng sáu năm 1938, Túc Dụ dẫn hơn một trăm binh sĩ đội mưa xuất phát. Những cơn mưa ở vùng Giang Nam rất dai, mưa to đã kéo dài hơn mười ngày rồi, làm cho đường đi lầy lội trơn trợt. Túc Dụ và các chiến sĩ đều cột chặt đôi giày chống trượt dưới chân, tay cầm gậy, lần mò đi trong đêm tối, đến địa điểm đã chọn sẵn.

Ở vùng Giang Nam, hầu hết là ruộng lúa nước, đường đi vừa trơn lại vừa hẹp. Trong những đêm mưa, mọi người không làm sao thấy đường đi, nhưng cần phải đi tới mục tiêu cho nhanh, họ bao giờ cũng giữ tư thế hành quân cấp tốc. Đi suốt một đêm, mọi người đã té không biết bao nhiêu lần, khắp thân mình đều dính bùn sình, vừa mệt mỏi lại vừa buồn ngủ. Nhưng vì muốn tỏ rõ khí thế của quân đội mình, nên không ai cất tiếng than một lời. Đến tối ngày hôm sau, quân đội đã tiến tới khu vực gần thị trấn Hạ Thục, nằm giữa Nam Kinh và Trấn Giang. Con đường sắt từ Nam Kinh đi Thượng Hải đã chạy ngoằn ngoèo qua gần thị trấn này. Các chiến sĩ không hề nghỉ ngơi, lập tức tiến hành phá hoại đường sắt. Đến khi trời sáng thì họ đã hoàn thành nhiệm vụ.

Túc Dụ bèn cho quân đội chuyển đến một sườn núi ở bên cạnh, để cho các chiến sĩ được nghỉ ngơi trong giây lát. Riêng Túc Dụ thì không hề biết mệt mỏi, triệu tập ngay cán bộ để hội nghị và bố trí kế hoạch tác chiến.

Dựa vào quân trinh sát, được biết phía trước mặt không xa là quốc lộ từ Trấn Giang đến Câu Dung. Hằng ngày, quân địch có nhiều chiến xa di chuyển trên đường này. Do từ trước tới nay chưa hề bị tập kích, nên quân Nhật hoàn toàn không phòng bị. Hơn nữa, quốc lộ này có một đoạn đi qua giữa hai trái núi cao, địa hình rất thuận lợi để phục kích. Trận chiến đầu tiên được chọn làm chiến trường đánh quân Nhật khi xuống Giang Nam của "Tân Tứ Quân" đã diễn ra ở một địa phương nhỏ, có tên Vệ Cương này.

Trong cuộc họp, Túc Dụ đã lặp đi lặp lại nhiều lần ý nghĩa quan trọng của trận đánh, và yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật khi hành quân vào nơi mai phục. Tối ngày mười lăm, bộ đội đã lặng lẽ tiến vào trận địa.

Vùng Vệ Cương là nơi có nhiều đồi núi nhấp nhô, cỏ cây thưa thớt, các chiến sĩ đều lên đạn, đao tuốt khỏi vỏ, lặng lẽ tiến vào vị trí mai phục để chờ quân địch.

Trời vừa tờ mờ sáng, đã nghe từ phía xa có tiếng động cơ xe hơi truyền lại. Sau đó, mọi người thấy rõ một chiếc xe ca từ Trấn Giang đang chạy tới. Tất cả binh sĩ đều nín thở; chờ đợi mệnh lệnh nổ súng. Khi chiếc xe của quân địch chỉ còn cách nơi phục kích chừng mấy mươi mét nữa, thì tay giữ súng trung liên liền nổ giòn, bắn chết tên địch cầm lái, khiến chiếc xe chúi đầu vào lề đường, và ngưng lại. Không chờ kẻ thù kịp trở tay, nào đạn từ súng trường, và cả lựu đạn vẫy ra như mưa. Bao nhiêu quân địch trên xe đều bị tiêu diệt hết. Xong, lại nghe tứ phía Trấn Giang có tiếng xe hơi chạy tới. Đó là một cỗ xe du lịch sơn màu vàng, kiểu nhà binh rất bóng láng. Sau một loạt đạn liên thanh, chiếc xe du lịch đâm đầu xuống vũng nước và đứng yên. Cửa xe mở toang, có hai sĩ quan Nhật Bản từ trong xe vừa bò vừa lăn ra ngoài. Trong số này có một tên vừa ra khỏi cửa xe là đã bị quân phục kích bắn chết, còn tên sĩ quan kia mang giày ống thực cao, cạnh sườn có đeo gươm dài, liền rút súng lục ra hung hăng tiến thẳng về nơi phục kích của "Tân Tứ Quân". Hắn vừa xông lên vừa bắn, đến khi bắn hết đạn, hắn vẫn tiếp tục lao về phía viên tham mưu trinh sát của hồng quân. Viên tham mưu này tuy có thân hình nhỏ thó, nhưng hoàn toàn không tỏ ra sợ hãi trước hắn. Đôi bên bắt đầu vật nhau. Dưới chân họ đất vừa nhão lại vừa trơn, hai người té lăn quay xuống đất, và tiếp tục vật lộn rất dữ dội. Tên sĩ quan Nhật vì ăn mặc không thuận tiện cho cử động, nên sau mấy lần lăn lộn, hắn bèn tuốt gươm ra nhắm chém viên tham mưu quân du kích. Nhưng viên tham mưu này hoàn toàn không mất bình tĩnh, chờ cho lưỡi gươm Nhật Bản từ trên cao chém xuống vừa tầm thì anh nhảy phốc tới, đánh thẳng vào hai cổ tay của tên sĩ quan Nhật, đoạt lấy thanh gươm của hắn, rồi chém liên tiếp ba nhát vào hắn, khiến hắn té lăn xuống đất. Về sau, xem kỹ giấy tờ, mới biết tên sĩ quan Nhật Bản này chính là một viên thiếu tá phụ trách quân nhu của quân đội Nhật Bản.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:29:15 pm

Vừa thanh toán quân địch xong, thì lại thấy có ba cỗ xe ca từ phía Trấn Giang lao tới. Do quân địch đã nghe tiếng súng, nên chúng vừa chạy nhanh tới vừa mở súng liên thanh bắn liên hồi. Túc Dụ tay cầm súng ngắn, tiếp tục ra lệnh chiến đấu. Dưới sự chỉ huy của Túc Dụ, các chiến sĩ anh dũng xung phong về phía địch. Trên những cỗ xe này, có tất cả ba mươi tên địch, chúng vừa chạy vừa ném xuống mặt đường nhiều thùng gỗ to để làm chướng ngại vật, rồi nhanh nhẹn nhảy xuống núp vào thành xe, vào những chiếc thùng gỗ có sẵn trên mặt đất để chiến đấu, hy vọng viện binh tới cứu.

Quốc lộ từ Trấn Giang đi Câu Dung, chính là con đường chủ yếu để đi Nam Kinh. Hàng ngày xe cộ của quân địch luôn luôn di chuyển tới lui không ngừng, cho nên chiến trường này không thể đánh kéo dài, mà phải tốc chiến tốc thắng, để tránh những khó khăn có thể xảy ra. Túc Dụ biết rõ điều này, nên liền ra lệnh nổ súng, rồi dẫn hơn một trăm binh sĩ thuộc đội cảnh vệ của mình xung phong ào ra mặt đường như một bầy cọp dữ.

Túc Dụ đi trước cả binh sĩ. Lúc bấy giờ, có một đại úy của quân đội Nhật, tên là Mai Trạch Võ Tứ Lang, đang trầm mình dưới một hồ nước cạnh đấy. Hắn chờ cho Túc Dụ tới gần, bèn bất thần từ dưới nước nhảy lên, tay cầm lưỡi kiếm Nhật Bản, nhắm ngay đầu Túc Dụ bổ xuống. Giữa giây phút hiểm nguy như chỉ mành treo chuông đó, các thành viên cảnh vệ liền kịp thời nổ súng, kết thúc cuộc đời xâm lăng nhục nhã của tên sĩ quan xâm lược. Binh sĩ trông thấy tư lệnh của mình gan dạ, không kể chi chết sống, xung phong diệt địch như vậy, đều phấn khởi và can đảm hẳn lên. Cho nên cuộc chiến đấu trên mặt đường kéo dài chưa quá một tiếng đồng hồ, tất cả binh sĩ trên bốn cỗ quân xa của Nhật Bản đều bị tiêu diệt. Khi trận đánh kết thúc, mặt trời ở tận chân trời vẫn chưa lên khỏi mây mù. Vừa lúc đó, có một cỗ xe địch lại chạy tới. Chúng trông thấy phía trước mặt một số xe ca bị đốt cháy, biết có quân phục kích, nên hối hả quay đầu xe chạy trở về.

Trận đánh này tổng cộng đã giết chết ba mươi hai tên lính Nhật, phá hủy bốn cỗ xe, thu được mười hai súng trường, hai súng ngắn, gươm và cờ mỗi thứ một cây, ngoài ra, lại còn quân trang, quân dụng, một số tiền giấy của Nhật Bản. Trong số này có cả thuốc lá thơm, đồ hộp của quân Nhật. Trên mỗi điếu thuốc lá thơm, đều có in hai chữ "Ngự Tứ" (Vua ban)!

Trận đánh Vệ Cương đã mở màn cho những trận đánh vào quân Nhật sau này. Nó chẳng những chứng minh cho nhân dân ở vùng Giang Nam biết sức chiến đấu của "Tân Tứ Quân", mà còn là một bài học nặng nề cho quân xâm lược Nhật, đang kiêu căng ngang tàng. Đồng thời, cũng làm cho quân đội của Quốc dân đảng đang nằm yên ở chung quanh, cảm thấy tự xấu hổ.

Túc Dụ là người chỉ huy trực tiếp trận đánh này, tỏ ra rất hài lòng đối với kết quả của trận đánh, nên ông có viết một bài thơ ngũ ngôn để kỷ niệm:

Tân Biên Tân Tứ Quân,
Tiên Khiển xuất Giang Nam.
Vi Cương trảm Sĩ Tĩnh,
Xứ nữ tấu khải hoàn.


Dịch:

Tân Tứ Quân mới lập,
Phái trước vào Giang Nam.
Vi Cương chém Sĩ Tĩnh,
Lần đầu được khải hoàn.


Trần Nghị, một viên tư lệnh của một cánh quân được phái tới để tiếp ứng cho Túc Dụ, nghe Túc Dụ đắc thắng, hết sức vui mừng, bèn làm một bài thơ để chúc mừng như sau:

Loan cung xạ Nhật đáo Giang Nam,
Chung dạ tuyên hô dịch đảm hàn,
Trấn Giang thành hạ sơn tao ngộ,
Thoát thủ trảm đắc Tiểu Lâu Lan.


Dịch:

Cung thần xạ Nhật đến Giang Nam,
Đêm vắng hò reo giặc nát tan.
Trấn Giang đường nhựa vừa tao ngộ.
Một kiếm trừ xong tiểu Lâu Lan
1
______________________________________
1. Dựa theo sự tích Phó Giới Tử giết vua Lâu Lan hồi năm Nguyên Phượng thứ tư, triều nhà Hán ở Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:32:09 pm

Cuộc chiến tranh kháng Nhật tiến vào giai đoạn giằng co, phái ngoan cố trong Quốc Dân Đảng lại muốn tiến hành chống cộng. Cuối năm 1939, họ phát động một cao trào chống cộng mới, mặc dù "Bát Lộ Quân" và "Tân Tứ Quân" phản kích, nhưng quân ta lâm vào một tình thế rất nguy hiểm. Vì để phá vỡ sự bao vây phong tỏa của địch, phải cấp tốc có một hành động quả đoán về mặt quân sự. Do vậy, chánh phó chỉ huy Tân Tứ Quân ở Giang Nam là Trần Nghị và Túc Dụ bèn đề nghị với trung ương tiến về phía Bắc tỉnh Giang Tô, để mở căn cứ địa mới cho cuộc kháng chiến chống Nhật. Kiến nghị này có một ý nghĩa hết sức trọng đại về mặt chiến lược.

Phía Bắc tính Giang Tô có một vùng đất rộng mấy vạn cây số vuông, sản xuất nhiều lương thực, bông vải, muối, là những vật tư chiến lược của quân đội. Nhân khẩu ở vùng này có đến hai chục triệu người. Nếu có thể đứng chân được tại đây, thì cũng có thể liên kết được các căn cứ kháng Nhật ở vùng Giang Nam, Hoa Bắc, và Lưỡng Hoài, và có thể dấy lên một cao trào chiến tranh kháng Nhật mới ở vùng Trường Giang, và sông Hoài. Nơi đây có rất nhiều điều kiện, sông ngòi, ao hồ chằng chịt, tiện đánh du kích. Lương thực, bông vải lại đầy đủ, có thể giải quyết được vấn đề cấp dưỡng cho quân đội. Ở đây lực lượng của quân Nhật cũng tương đối yếu, và cơ sở quần chúng lại tương đối vững mạnh.

Nhưng, trên quãng đường xây dựng căn cứ kháng Nhật tại phía Bắc Giang Tô, lại gặp một viên đá cản đường vừa rắn vừa thối, đó là tên chủ tịch tỉnh Giang Tô của Quốc dân đảng là Hàn Đức Cần và số quân đội ngoan cố dưới sự chỉ huy của ông ta. Hàn Đức Cần là một tay chống cộng khét tiếng, trong con mắt của người dân ở vùng phía Bắc tỉnh Giang Tô, thì quân đội của ông ta là "thấy giặc thì chạy, thấy bá tánh thì uy hiếp". Hầu hết những địa bàn lớn ở vùng phía Bắc Giang Tô, đều nằm trong tay của hắn. Trong cao trào chống Cộng lần thứ nhất, chính hắn đã gây ra nhiều vụ án tàn sát đảng viên Cộng sản đẫm máu.

Ngoài Hàn Đức Cần, ở phía tỉnh Giang Tô còn có hai toán võ trang của Quốc Dân Đảng cần phải lưu ý. Một toán gọi là "Tổng chỉ huy du kích Lổ, Tô, Hoản" (tức Sơn Đông, Giang Tô và An Huy) trú đóng tại Thái Châu, do Lý Minh Dương và Lý Trường Giang chỉ huy. Và, một cánh nữa là "Tổng đoàn cảnh sát thuế" của bộ tài chánh Quốc dân đảng. Hai cánh võ trang này có sự mâu thuẫn với Hàn Đức Cần, có thể lợi dụng được. Nhưng một khi đụng chạm tới quyền lợi thuộc địa bàn của họ, thì họ có thể đánh nhau chết sống.

Lực lượng võ trang của ba người này cộng lại ước chừng mười sáu vạn người.

Đến tháng bảy năm 1940, quân chủ lực bộ chỉ huy của Tân Tứ Quân vượt sông Trường Giang, tiến vào phía Bắc tỉnh Giang Tô, hội nhập cùng với chi đội Giang Tô và An Huy, cũng như "tung đội"1 đã chiến đấu kiên trì tại phía Bắc Giang Tô từ lâu, thành lập bộ chỉ huy Bắc Giang Tô do Trần Nghị làm tư lệnh, Túc Dụ làm phó tư lệnh. Đồng thời, họ bắt đầu sắp xếp lại bộ đội, chia thành ba tung đội, chín đoàn, toàn quân gồm hơn bảy nghìn người.

Căn cứ vào phương châm trung lập thế lực trung gian, cô lập thế lực ngoan cố, mà trước kia đã định Trần Nghị và Túc Dụ xây dựng căn cứ địa làm trung tâm chỉ huy tại Huỳnh Kiều.

Trấn Huỳnh Kiều nằm tại khu trung tâm các huyện Thái Hưng, Thái Huyện, Hải An, Như Hạo, Tịnh Giang, là trục giao thông chủ yếu, mà cũng là nơi tập kết lương thực. Nếu khống chế được địa điểm này, thì có thể cắt đứt được sự liên hệ giữa Hàn Đức Cần với quân Nhật, và quân của Lý Minh Dương, Lý Trường Giang và Tổng đoàn cảnh sát thuế vụ, lại giúp cho quân ta có căn cứ để tiến thoái. Vùng đất này thuộc quyền cai quản của lữ thứ tư Bảo An của họ Hàn, chiếm nó, không gây ra sự xung đột đối với thế lực của Quốc dân đảng. Nhất là chiếm được Huỳnh Kiều thì sẽ buộc Hàn Đức Cần lật ngửa ván bài của hắn ra, tiện việc sớm giải quyết vấn đề ở phía Bắc Giang Tô. Dựa vào tình hình địch đông ta ít, thì cuộc diện này không thể tiếp tục kéo dài nữa.
______________________________________
1. Đơn vị tương đương quân đoàn cơ động đánh địch trong thời kỳ đầu của Hồng quân Trung Quốc (N.D).


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:32:59 pm

Một khi đã hạ quyết tâm, thì tức khắc thi hành liền. Trong tình trạng trung lập được Lý Minh Dương và Lý Trường Giang, vào ngày hai mươi tám tháng bảy năm 1940, sau một đêm chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt được hai nghìn quân ngoan cố chiếm giữ vùng đất này và đoạt lấy Huỳnh Kiều. Hành động quân sự vừa kết thúc, liền triển khai đấu tranh chính trị, phái năm vị huyện trưởng mới đến nắm quyền tại năm huyện chung quanh, xây dựng cơ quan hành chánh, đặt trạm thu thuế, mở rộng quân đội v.v... Trong một thời gian ngắn, một huyện mới bắt đầu hình thành và căn cứ địa kháng Nhật đã chào đời. Đồng thời, cũng ngỏ ý với Hàn Đức Cần là sẵn sàng chia khu để phòng thủ, và đoàn kết để kháng Nhật.

Hàn Đức Cần làm thế nào chịu ngồi yên mà nhìn Tân Tứ Quân phát triển mạnh lớn lên? Ông ta một mặt hứa hẹn sẽ đàm phán, một mặt phái bộ đội đi thăm dò thực lực của Tân Tứ Quân, bằng cách tấn công một vài nơi. Nhưng kết quả, họ bị thiệt hại to trên chiến trường.

Qua đó, Hàn Đức Cần thấy không thể hành động liều lĩnh, nên ông ta bèn thay đổi sách lược, một mặt tích cực tập trung quân đội lại để chuẩn bị bao vây tấn công, một mặt khác ra lệnh cho các địa phương chung quanh Huỳnh Kiều phong tỏa không cho lương thực, bông vải vận chuyển tới nơi này có ý đồ cô lập kinh tế, để Tân Tứ Quân không thể sống nổi.

Tiết trời đã sắp vào thu, mấy nghìn người đang cần lương thực và đang cần bông vải để làm áo ấm. Đồng thời, chung quanh đang bị địch bao vây, tình hình rất nguy cấp. Nếu kéo dài tình trạng này, đối với ta là hoàn toàn bất lợi. Cho nên Tân Tứ Quân vì muốn thoát khỏi cục diện bất lợi đó, bèn cử binh đánh chiếm trấn Khương Yến. Đây là một thị trấn giàu có ở vùng phía Bắc Giang Tô. Người ở địa phương này thường gọi Khương Yến là: "Khương Yến Vàng". Qua trận đánh nói trên, chẳng những phá vỡ được kế hoạch bao vây của Hàn Đức Cần, mà còn chiếm được rất nhiều vật tư quân dụng khác.

Để chứng tỏ quân ta có thành ý đoàn kết kháng chiến, nên sau khi chiếm được trấn Khương Yến, bèn xuống lệnh cho bộ đội ngưng tấn công, đồng thời phát động các giới nhân sĩ có tinh thần dân chủ, đứng ra kêu gọi đình chiến để đàm phán.

Trong lòng Hàn Đức Cần rất oán hận Tân Tứ Quân, cho rằng mình đang chiếm ưu thế tuyệt đối về mặt quân sự, nên tất nhiên là ông ta không bao giờ chịu đình chiến để đàm phán. Nhưng qua lời kêu gọi của các nhân sĩ yêu nước, ông ta không thể không tỏ ra là người có tinh thần đoàn kết. Do vậy, ông ta đặt điều kiện tiên quyết rất cao. Ấy là: Tân Tứ Quân phải trả thị trấn Khương Yến lại cho ông ta, thì mới ngồi vào bàn đàm phán. Theo ý ông ta thị trấn này mỗi tháng thu được năm vạn đồng tiền thuế, vậy Tân Tứ Quân sẽ không bao giờ chịu giao trả. Một khi Tân Tứ Quân cự tuyệt, thì ông ta sẽ có cớ để tiến quân đánh Tân Tứ Quân.

Nào ngờ Trần Nghị và Túc Dụ đã tương kế tựu kế, đi một ván cờ thật cao. Họ bằng lòng điều kiện của Hàn Đức Cần, rút Tân Tứ Quân ra khỏi Khương Yến, nhưng đồng thời họ lại thông báo cho Lý Minh Dương và Lý Trường Giang tiến chiếm thị trấn này. Trên danh nghĩa Lý Minh Dương và Lý Trường Giang đều thuộc quyền chỉ huy của Hàn Đức Cần, nên việc họ tiến chiếm Khương Yến là hoàn toàn hợp lý.

Với kế một mũi tên bắn được hai con nhạn, đã chứng tỏ Trần Nghị và Túc Dụ là người có trí tuệ rất cao:

Thứ nhất, là thấy việc ác chiến với quân đội của Hàn Đức Cần là chuyện không thể tránh khỏi, vậy cần phải thu quân về, và chuẩn bị đối phó.

Thứ hai, là đã chấp nhận điều kiện của Hàn Đức Cần, thì phải thực hiện. Nên ông ta xua quân tấn công, là ông ta đã thua lý.

Thứ ba, Lý Minh Dương và Lý Trường Giang bỗng không lại được một vùng đất phì nhiêu nên hết sức cảm kích đối với Tân Tứ Quân. Như vậy, sau này nếu Tân Tứ Quân ác chiến với Hàn Đức Cần, thì họ có thể đứng trung lập.

Hàn Đức Cần vừa tức vừa giận. Lúc bấy giờ, bộ đội của Huỳnh Khắc Thành thuộc Bát Lộ Quân được lệnh Nam tiến cũng đã đến vùng Liên Thủy, Bảo Ứng, và tạo thành một sự uy hiếp nghiêm trọng đối với Hàn Đức Cần. Nếu không nhanh chóng giải quyết Tân Tứ Quân ở vùng Huỳnh Kiều, một khi hai cánh quân của Bát Lộ Quân và Tân Tứ Quân họp lại, thì thế lực của Hàn Đức Cần tại vùng phía Bắc Giang Tô sẽ sụp đổ. Vì bảo vệ lợi ích và địa bàn, ông ta nhất định phải giải quyết hai cánh quân này trước khi họ hợp lại với nhau. Nếu đem ra so sánh, thì Tân Tứ Quân người ít, lại yếu, dễ giải quyết hơn. Cho nên ông ta đưa ra phương châm "Nam trước Bắc sau, mỗi nơi đều phá vỡ". Và, vào ngày ba mươi tháng chín năm 1940, ông ta đã chỉ huy bộ đội tinh nhuệ của mình gồm hai mươi sáu đoàn, tổng số hơn hai vạn quân, tiến đánh vào Huỳnh Kiều. Chiến lược này của ông ta có thể nói là rất sáng suốt. Vì nếu ông ta thực hiện được ý nguyện của mình, thì tình hình ở phía Bắc tỉnh Giang Tô sẽ rất bất lợi cho quân ta.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:33:47 pm

Một trận đánh quyết định cho Tân Tứ Quân xây dựng căn cứ ở phía Bắc Giang Tô, hay là chết, đã mở màn như thế đó. Một sự thử thách gay gắt, đang đặt trước mặt Trần Nghị, Túc Dụ. Trần Nghị và Túc Dụ phân tích tình hình trước mắt, và so sánh lực lượng giữa ta và địch. Xong, họ quyết định đánh nhau chứ không né tránh. Vì, trận giặc này sớm muộn gì cũng phải đánh, nếu không đánh, thì không còn có cách nào đứng chân được ở vùng phía Bắc tỉnh Giang Tô.

Nhưng, muốn đánh sớm hay muộn không phải do ta quyết định, vì Hàn Đức Cần đã đưa cao ngọn đao của mình lên, thì không ứng chiến cũng không thể được.

Lúc bấy giờ, nếu quyết chiến rõ ràng là có nhiều nhân tố bất lợi. Tuy Bát Lộ Quân tiến xuống phía Nam đã đến được Liên Thủy, nhưng bộ đội ở miền Bắc đối với một địa hình có nhiều sông ngòi, hồ ao như miền Nam, họ chiến đấu cũng như tiến quân rất chậm chạp, khó bề phối hợp nhịp nhàng trong một chiến dịch như thế này. Nếu quyết chiến thì chỉ có thể dựa vào bảy nghìn người có trong tay của mình mà thôi. Nguyên tắc nhất quán của Hồng quân trong chiến lược, thường lấy ít thắng nhiều. Nhưng trong chiến thuật thì phải lấy nhiều thắng ít. Nếu so sánh lực lượng giữa địch và ta, thì là ba vạn đối với bảy nghìn. Như vậy, trận giặc này làm sao đánh được? Trận giặc này, đặc biệt là một khi quyết chiến, thì phải tiến hành tiêu diệt chiến. Vậy, lấy bảy nghìn người để nuốt chửng ba vạn người, có được không?

Trải qua một sự nghiên cứu rất kỹ, Túc Dụ đề ra một phương án vừa táo bạo lại vừa chu đáo. Trước tiên, ông ta phân tích cách tiến quân của địch. Hàn Đức Cần sẽ áp dụng chiến thuật tiến công ba đường. Thứ nhất là ông ta sẽ dùng chủ lực do Lý Thủ Duy chỉ huy, đó là quân tám mươi chín để tấn công tuyến phía Đông của Huỳnh Kiều. Một toán chủ lực khác do Ông Đạt chỉ huy, gồm lữ sáu độc lập, sẽ tiến công tuyến Bắc của Huỳnh Kiều. Hai tuyến này hợp lại thành ra cánh trung lộ. Đó là lực lượng uy hiếp chủ yếu. Kế đó, Hàn Đức Cần lại dùng Lý Minh Dương và Lý Trường Giang để tấn công phía Tây Huỳnh Kiều, xem là lộ quân phía hữu, và lấy lữ đoàn bảo an của năm địa phương hợp lại tiến vào phía Đông Nam Huỳnh Kiều, xem là lộ quân phía tả.

Túc Dụ cho rằng, quân địch bố trí tấn công như vậy là muốn tiêu diệt chủ lực của ta. Do vậy, triệt thoái khỏi Huỳnh Kiều, hoặc cố thủ nơi đó đều không phải là thượng sách, mà nên lấy Huỳnh Kiều làm trục trung tâm, dùng một bộ phận bộ đội giữ chắc để dụ địch đi sâu, rồi sau mới đánh gãy từng cánh quân để tiêu diệt chúng.

Tiếp đó, Túc Dụ lại đề xuất một phương án táo bạo ngoài sức tưởng tượng của mọi người: ấy là trước tiên tiêu diệt lữ sáu độc lập của Ông Đạt. Những lữ này được trang bị rất đầy đủ, và có chất lượng cao, toàn bộ đều dùng súng bộ binh bảy mươi chín, và mỗi một tiểu đội đều có một khẩu trung liên kiểu Tiệp Khắc. Các sĩ quan chỉ huy đều xuất thân từ Trường Võ bị chính quy, và binh sĩ gồm có hơn ba nghìn người. Cánh quân này chính là gạo cội của Hàn Đức Cần, là vốn quý nhất của hắn. Muốn gặm cục xương này đầu tiên, không biết có bị gãy răng hay không? Nhưng, Túc Dụ lại có kiến giải độc đáo của mình. Ông chỉ rõ, nguyên tắc tác chiến thông thường của ông ta là trước đánh vào nơi yếu của địch, nhưng lần này chúng ta lại xuất kỳ binh, đánh trước vào đơn vị mạnh nhất của địch. Điều đó ngoài sự bất đắc dĩ ra, còn dựa vào lòng quyết thắng của toàn quân, nên có thể nói là có căn cứ, chứ không phải phiêu lưu.

Nói là bất đắc dĩ, vì hai cánh quân gồm lữ sáu độc lập và quân tám mươi chín đều là chủ lực để tiến công vào Huỳnh Kiều, nếu không tiêu diệt hai cánh quân này, thì bản thân sẽ khó thoát khỏi cảnh khốn đốn. Trong khi khó nuốt chửng được quân tám mươi chín, thì chọn lựa lữ sáu độc lập là hay nhất. Hơn nữa, hai cánh quân của họ Lý đều giữ thái độ trung lập, nhưng họ có trở mặt bất tử hay không, là điều không thể khẳng định được. Một khi họ trở mặt, một vạn quân của họ sẽ ập tới, thì Huỳnh Kiều không làm sao trở tay kịp. Nếu chúng ta chỉ trong một trận đánh mà tiêu diệt được lữ sáu độc lập, thì hai họ Lý sẽ không dám liều lĩnh tấn công ta. Sau cùng, mục tiêu của Hồng quân là tiêu diệt chiến, vậy chỉ cần tiêu diệt lộ quân cánh phía Bắc, thì có thể giúp cho bộ đội tiến thoái tự do, và hình thành sự bao vây quân tám mươi chín của địch.

Còn nói về cơ sở của sự tất thắng, ấy là trận giặc này đã vượt ra ngoài dự liệu của địch, nó có tính bất ngờ nên địch không kịp phòng bị. Hồng quân có thể tập trung hơn địch gấp đôi, để hình thành ưu thế cục bộ trên chiến trường. Từ đó, chiến thắng được lữ sáu độc lập là đơn vị rất tự cao tự đại. Đội hình tiến công của họ thường kéo dài đến mấy cây số, sẽ bị Hồng quân cắt đứt từng đoạn để bao vây tiêu diệt. Binh sĩ và sĩ quan của Hồng quân có kinh nghiệm tác chiến phong phú, hoàn toàn có thể nuốt chửng được cục xương này!

Sự phân tích của Túc Dụ được Trần Nghị ủng hộ. Thủ trưởng của các tung đội đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu được giao. Theo sự sắp đặt của Túc Dụ, sẽ tập trung hai tung đội một và hai đơn vị chủ lực, gồm sáu nghìn người, phục kích tại tuyến phía Bắc Huỳnh Kiều, và lấy "tung đội ba" trên một nghìn người sẽ cố thủ Huỳnh Kiều, thu hút cánh quân tám mươi chín của địch, khiến chúng không thể chia quân đi tăng viện nơi khác.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:34:26 pm

Then chốt của chiến trường này là xem có giữ được Huỳnh Kiều hay không. Chỉ cần Huỳnh Kiều còn nằm trong tay Hồng quân, thì cánh quân tám mươi chín của địch không thể chia quân đi tăng viện. Trái lại, nếu thất thủ, thì hai cánh quân của địch cách nhau không hơn mười cây số, chỉ cần mười phút sau là họ có thể kéo tới chiến trường để tăng viện, và cánh quân phục kích của ta sẽ trở thành cánh quân bị họ bao vây.

Dùng một nghìn người để cố thủ, đánh lui quân địch gần một vạn người, thử hỏi nhiệm vụ đó khó khăn tới chừng nào? Sau khi đã bàn bạc xong, Trần Nghị trú đóng tại mặt Tây Huỳnh Kiều là Nghiêm Từ Trang, để chỉ huy toàn cục. Túc Dụ sẽ tọa trấn tại Huỳnh Kiều, và trực tiếp chỉ huy các cánh quân tại chiến trường này.

Sau khi bố trí đâu vào đấy, các bộ đội đều nhanh nhẹn tới các địa điểm chỉ định, để chuẩn bị nghênh đón một trận ác chiến sắp xảy ra. Trận đánh này là một trận đánh sống chết giữa ta và địch, thành bại ra sao thật khó ai đoán trước. Bộ chỉ huy cũng thanh lý hết tất cả các văn kiện và sẵn sàng chiến đấu tới giọt máu cuối cùng.

Túc Dụ tọa trấn tại Huỳnh Kiều, đã bố trí phòng ngự thật chu đáo. Căn cứ vào tình huống tuyến phía Tây và phía Nam sẽ không phái một binh sĩ nào tới tiếp ứng, và chỉ để cho nhân viên hậu cần đảm nhiệm công việc cảnh giới. Còn về phía Bắc, thì chỉ để một tiểu đội quan sát địch tình. Ngoài ra, tất cả chủ lực đều tập trung vào cửa phía Đông.

Buổi sáng ngày bốn tháng mười, cánh quân tám mươi chín gồm ba mươi ba sư của địch kéo tới dưới thành Huỳnh Kiều, và cuộc chiến đã mở màn. Một khi tiếng súng đã bắt đầu nổ giòn, thì tất cả những tia mắt của mọi người ở phía Bắc Giang Tô đều tập trung vào trận đánh nhau tại Huỳnh Kiều.

Cánh quân "Đệ Bát Lộ Quân" Nam tiến đang đóng tại Liên Thủy cách đó khá xa, vì không biết thủy chiến, nên không có cách nào tăng viện được. Họ có sức mạnh, nhưng lại không sử dụng được sức mạnh của mình, mà chỉ đóng yên tại chỗ để chờ nghe tin chiến thắng. Riêng cánh quân trung lập của Lý Minh Dương thì tuyên bố không đón bất cứ người khách nào tới thăm, và ra lệnh cho quân báo cáo về tình hình chiến sự ở ngoài mặt trận từng giờ từng phút, để họ quyết định xem chừng nào bỏ rơi thái độ trung lập. Ngoài ra, một cánh quân trung lập khác là binh đoàn số tám du kích (tức Tổng đoàn cảnh sát thuế vụ) thì cũng phái người đến sát bờ sông, để theo dõi tình hình chiến sự bên kia sông. Riêng quân ngụy cũng phái trinh sát đến gần Huỳnh Kiều, để theo dõi chiến sự của đôi bên.

Đúng là hai người đánh nhau, bao nhiêu người vây quanh để nhìn. Một khi Hồng quân bất lợi, thì trước tiên là hai cánh quân trung lập sẽ ào tới tiến công, và ngụy quân của Nhật Bản cũng thừa gió bẻ măng. Như vậy, tình hình ở phía Bắc Giang Tô sẽ trở thành nguy kịch chưa từng có.

Giữa khói súng mù mịt, giữa sự thay đổi không ngừng ngoài chiến trường, với tư thế của một vị chỉ huy, cần phải hết sức bình tĩnh để tính toán. Trong khi tại phía Đông thị trấn Huỳnh Kiều đánh nhau bất phân thắng bại, thì Túc Dụ được tin báo cánh quân của Ông Đạt đã tiến về phía Huỳnh Kiều, và yêu cầu cho lệnh nổ súng. Túc Dụ trong lòng đã hiểu, trận đánh này bắt đầu nổ súng, là phải vận dụng toàn lực mới thành công. Thời cơ phải thực ăn khớp, nếu sớm quá, thì kẻ địch sẽ thối lui mà chạy thoát, trái lại, nếu chậm quá, thì kẻ địch sẽ tới sát chân thành Huỳnh Kiều. Túc Dụ không chú ý đến đạn pháo đang bay vèo vèo trong không khí, nhanh nhẹn lên lầu cao trên đầu thành để dùng kính viễn vọng nhìn kỹ cánh quân của địch.

Túc Dụ phán đoán cánh quân đi đầu của địch còn cách Huỳnh Kiều ba cây số, ông tính nhẩm trong đầu: giữa hai tên lính đi cách nhau một mét rưỡi, vậy ba ngàn tên địch, sẽ đi trên một con đường dài là tám cây số. Từ Huỳnh Kiều đến nơi trú đóng của lữ độc lập số sáu là hai mươi kilômet. Như vậy, quân địch đã hoàn toàn lọt vào vòng phục kích của Hồng quân rồi. Đây chính là thời điểm nổ súng. Túc Dụ bèn dùng điện thoại trưng cầu ý kiến của Trần Nghị, và được Trần Nghị đồng ý. Thế là ông bèn quả quyết ra lệnh nổ súng!
Tung đội số một và số hai đang mai phục hai bên đường, đã sẵn sàng chờ lệnh tác chiến. Cho nên, vừa được lệnh là họ chẳng khác chi một bầy cọp dữ, từ trên núi lao xuống, cắt đứt hơn ba ngàn quân của địch ra thành mấy đoạn, rồi bắt đầu hỗn chiến tiêu diệt. Sau ba tiếng đồng hồ đánh nhau, họ đã hoàn toàn tiêu diệt lữ đoàn độc lập số sáu của địch. Tướng chỉ huy lữ này quá tuyệt vọng, nên dùng súng tự sát.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:35:06 pm

Đoàn quân tám mươi chín của địch được tin lữ đoàn độc lập số sáu bị bao vây thì hết sức kinh hoàng. Vì họ biết rõ tình hình trước mắt: chỉ cần lấy được Huỳnh Kiều, thì chẳng những giải vây được cho lữ đoàn độc lập số sáu, mà còn có thể bao vây chia cắt để tấn công căn cứ quân địch. Do vậy, họ không kể chi tất cả, tập trung sức mạnh của toàn quân xung phong tiến lên và nã pháo dữ dội. Tất cả công sự của Hồng quân gần như bị phá hủy, quân giữ Huỳnh Kiều phải động viên mọi lực lượng để chiến đấu: quân sĩ làm vệ sinh, làm bếp, tải thương, đều phải cầm vũ khí đánh nhau. Cuộc chiến đấu đã tiến tới mức quyết liệt chưa từng có bao giờ. Quân địch đã đột phá được một vài trận địa, và xông thẳng vào cửa Đông, tình thế hết sức nguy cấp.

Túc Dụ đang chỉ huy tại tiền tuyến, bèn la to lên:

— Hỡi các đồng chí! Bộ đội Giang Nam tăng viện đã đến rồi kia!

Kỳ thực thì bộ đội Giang Nam chỉ đưa đến có một tiểu đoàn, và hãy còn cách xa đến hai mươi dặm. Nhưng, qua tiếng la to đó, chẳng những trấn tĩnh được tinh thần của toàn quân, mà còn làm cho sĩ khí tăng cao lên bội phần. Viên tư lệnh "tung đội ba" và Đào Dũng, tham mưu trưởng là Trương Chấn Đông, đều cởi bỏ áo ngoài, tay cầm đại đao, dẫn binh sĩ xung phong vào toán địch đã tiến được vào thành chém giết. Sau mộl lúc sát phạt, họ đã đẩy lui được toán quân sĩ này trở ra ngoài.

Thế là thành Huỳnh Kiều rắn như đá, vẫn đứng vững như đồng.

Quân địch sau mấy đợt xung phong vô hiệu, đã bắt đầu hoang mang. Lúc bấy giờ đã là sáu giờ chiều, màn đêm bắt đầu buông xuống. Hai tung đội số một và số hai tiêu diệt xong lữ đoàn độc lập của Ông Đạt, bèn phi ngựa nhanh như gió, bất kể đêm khuya, tiến tới bao vây đoàn quân tám mươi chín của địch. Lý Thủ Duy thấy vậy, bắt buộc phải triệt thoái. Nhưng thời gian đã quá chậm, Hồng quân đã bao vây được quân địch, và qua suốt một đêm chiến đấu, đã tiêu diệt được lực lượng chủ lực của địch là sư đoàn ba mươi ba, và lữ đoàn 349, Lý Thủ Duy trên đường bỏ chạy, đã bị rơi xuống hố nước sâu hơn ba mét, và bị chết đuối.

Hồng quân thừa thắng truy kích, tiến chiếm luôn Hải An và một số địa điểm chiến lược. Hàn Đức Cần chẳng những bị thua, mà lại lỗ cả vốn liếng, dẫn hơn một ngàn tàn binh, chạy tuốt về hang ổ của mình và Hưng Hóa để thủ.

Cuộc quyết chiến tại Huỳnh Kiều đã dẫn tới sự thắng lợi toàn diện của "Tân Tứ Quân", và sự thất bại triệt để của quân Quốc dân đảng ngoan cố, xem như đã kết thúc. Trận đánh này đã đặt nền tảng vững chắc cho địa vị lãnh đạo kháng Nhật của Đảng Cộng sản ở Giang Tô, củng cố căn cứ địa kháng Nhật tại phía Bắc Giang Tô, làm cho sự liên hệ giữa các căn cứ địa kháng Nhật tại Giang Nam, Hoa Bắc, Lưỡng Hoài, đều được chặt chẽ hơn, đồng thời, dấy lên một cao trào kháng chiến mới tại vùng Hoa Trung. Trong không khí đại thắng lợi này, Trần Nghị đã cao hứng làm một bài thơ như sau:

Thập niên chinh chiến kỷ nhân hồi,
Hựu kiến đồng sài tính mã quy.
Giang Hoài Hà Hán kim thùy thuộc?
Hồng kỳ thập nguyệt mãn thiên phi.


Dịch:

Mười năm chinh chiến mấy ai về,
Lại thấy bọn mình hồi mã kia.
Giang Hoài, Hà Hán nay ai giữ?
Tháng Mười cờ đỏ rợp trời khuya.


Là một viên chỉ huy trong trận quyết chiến kinh hồn này, Túc Dụ đã trù hoạch thật thích hợp, chỉ huy kịp thời, dụng binh như thần, bộc lộ rõ ràng nghệ thuật chỉ huy quân sự cao siêu của ông.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Năm, 2023, 12:36:07 pm

Có một chiến dịch, mà sau đó mấy mươi năm những người từng tham gia tác chiến, những người nghiên cứu lịch sử quân sự, những đồng bào từng có mặt tại chiến trường, đều nhắc nhở mãi không biết chán. Đó là chiến dịch tại miền trung tỉnh Giang Tô, từng làm cho quân địch kinh hồn khiếp đảm, xảy ra hồi thời kỳ chiến tranh giải phóng. Chỉ trong vòng một tháng rưỡi ngắn ngủi, Túc Dụ đã chỉ huy ngoài ba vạn quân dã chiến tại Hoa Trung của ta, chống lại mười hai vạn quân Quốc dân đảng bao vây tấn công. Ông đã dùng một thứ chiến thuật xuất quỷ nhập thần, qua bảy trận đánh đều thắng đủ bảy trận, giết địch hơn năm vạn người. Chiến dịch miền trung tỉnh Giang Tô, là trận đại thắng quan trọng thứ nhất của giải phóng quân trên chiến trường toàn quốc sau khi cuộc nội chiến bùng nổ toàn diện. Nó chiếm một địa vị quan trọng trong cuộc chiến tranh giải phóng của Trung Quốc.

Bây giờ chúng ta hãy đưa ánh mắt nhìn về trận tuyến đầy máu lửa lúc bấy giờ...

Tháng sáu năm 1946, quân đội của Tưởng Giới Thạch mở cuộc tấn công vào Quân giải phóng tại vùng Trung Nguyên, gây ra một cuộc nội chiến toàn diện. Chiến trường Trung Nguyên sau những trận đánh mà quân giải phóng đã đột phá vòng vây thoát ra, thì lắng dịu trở lại.

Như vậy, khu giải phóng tại miền Trung Giang Tô đã trở thành một điểm nổi bật. Vì, vùng này gần biển, trực tiếp uy hiếp tới thủ đô Nam Kinh của chính phủ Quốc dân đảng, cũng như uy hiếp tới trái tim kinh tế là Thượng Hải. Đồng thời, nó cũng uy hiếp luôn đường vận tải ở hạ lưu sông Trường Giang, và các thành phố ở vùng này. Tân Tứ Quân đã xây dựng khu giải phóng ở đó qua nhiều năm, có các cơ sở Đảng, chính quyền, quân đội, dân sự, tài chính đầy đủ. Quả chẳng khác gì một cây đinh trước mắt của Quốc dân đảng. Tất nhiên quân Tưởng Giới Thạch phải xem đó là trọng điểm tấn công của mình. Bắt đầu từ tháng bảy năm 1946, dưới quyền chỉ huy của Thang Ân Bá (về sau đổi tướng chỉ huy là Lý Mặc Am), quân Tưởng đã tập trung năm sư đoàn hoàn chỉnh, bao gồm mười hai vạn binh mã mở cuộc đại tấn công vào miền Trung tỉnh Giang Tô.

Lúc bấy giờ, miền Trung tỉnh này lực lượng của quân giải phóng rất mỏng. Ba sư của Tân Tứ Quân đã kéo về phía Đông Bắc, đó là sư 2, sư 4 và sư 7 chủ lực. Họ phải đến Sơn Đông để bù vào chỗ trống sau khi quân chủ lực ở vùng Đông Bắc rút đi. Như vậy, số quân còn ở lại miền Trung tỉnh Giang Tô chỉ có một sư, đó là sư 6 và mấy bộ đội địa phương, gồm chung chừng ba vạn người. Trong số binh sĩ này, hầu hết cũng như vũ khí còn kém cỏi, không như những sư chủ lực đã rút đi.

Về phần lãnh đạo cũng rất thiếu thốn, Trần Nghị đã đi Sơn Đông để tổ chức Quan Đông Cục, và ở lại vùng Trung Giang Tô và Bắc Giang Tô là Hoa Trung Phân Cục, trú đóng tại Hoài An, Hoài Dương. Tư lệnh chỉ huy quân dã chiến ở Hoa Trung là Trương Đỉnh Thừa, phó tư lệnh là Túc Dụ. Chỉ huy chiến trường do Túc Dụ đảm trách.

Lúc đó, quân ủy trung ương yêu cầu các đội quân dã chiến phải ra khỏi căn cứ địa nhỏ hẹp của mình, tiến sâu vào vùng Quốc Dân Đảng kiểm soát, để tác chiến bên ngoài chiến khu. Túc Dụ xuất phát từ miền Trung tỉnh Giang Tô, và ông cho rằng cần phải lợi dụng những lợi thế của căn cứ địa, đánh mấy trận thắng, để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, rồi mới tiến hành những trận tác chiến ở ngoại tuyến, sẽ có lợi hơn.

Ông đánh điện nói rõ ý kiến của mình cho Quân ủy Trung ương và Trần Nghị biết. Quân ủy Trung ương rất xem trọng những kiến nghị của Túc Dụ. Sau khi nghiên cứu thận trọng, đã đồng ý cho Túc Dụ đánh ở bên trong khu giải phóng, để giành mấy trận thắng lợi đúng theo yêu cầu của ông.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:49:18 pm

Trong khi chọn lựa địa điểm để mở chiến trường, Túc Dụ có một tầm nhìn rất đặc biệt. Ông cho rằng phía Nam của căn cứ địa miền Trung tỉnh Giang Tô, là vùng có nhiều lùm cây, lại sát ven sông Trường Giang, rất thuận lợi cho việc tác chiến của quân giải phóng. Vì, sự chọn lựa chiến trường như vậy, hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc nhất quán từ trước tới nay của Quân giải phóng, trong đó có phần sáng tạo hợp lý và táo bạo. Trong trận đánh này, quân ta sẽ áp dụng chiến thuật dụ địch vào sâu, rồi tiêu diệt gọn toàn bộ. Túc Dụ cho rằng, việc chọn lựa chiến trường nằm sát căn cứ địa như vậy, là có lý, có lợi.

Cái lý của nó là: khu giải phóng miền Trung tỉnh Giang Tô là do xương máu của quân dân cùng tạo lập, nếu bây giờ không đánh mà buông bỏ cho kẻ địch tiến vào, đối với dân tâm cũng như sĩ khí đều hết sức bất lợi. Trái lại, nếu đánh một vài trận thắng lớn, thì có thể cổ vũ cho nhân tâm và sĩ khí ở đây để tiếp tục chiến đấu lâu dài. Hơn nữa, công tác chuẩn bị bên trong khu giải phóng chưa hoàn bị, nếu để cho quân địch xâm nhập vội vàng, sẽ làm cho binh sĩ trở tay không kịp, và chịu đựng nhiều thiệt hại không đáng có. Sau hết, là đứng trước thái độ kiêu căng ngạo nghễ, hành động ngang tàng của địch, Hồng quân cần phải có sự nghiên cứu về ý đồ chiến lược và sức chiến đấu của chúng. Muốn vậy, cần phải tiến hành trinh sát chiến lược cho kỹ, để tích lũy kinh nghiệm chiến đấu lâu dài cho các khu giải phóng bạn.

Còn điều kiện có lợi là: thứ nhất, quân dân khu giải phóng đã trải qua cuộc chiến tranh kháng Nhật đầy gay go, nên có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Mối quan hệ giữa quân dân tốt đẹp, bộ đội am hiểu địa hình. Thứ hai, vùng này nếu so với phía Bắc và miền Trung Giang Tô thì kinh tế phì nhiêu hơn, lương thảo đầy đủ, công việc chi viện cho tiền tuyến được triển khai tốt. Thứ ba, mặc dù địch quân đông, nhưng họ mới bước chân tới khu giải phóng, chưa thể triển khai toàn diện để phát huy toàn bộ ưu thế của chúng. Địch đang ngông nghênh, cho rằng ta không dám đánh chúng, nhưng ta lại làm trái với ý nghĩ đó, xuất kỳ bất ý mà đánh chúng, thì chắc chắn chúng sẽ hết sức bất ngờ. Tóm lại, bất luận về mặt thiên thời, địa lợi, nhân hòa, đều rất có lợi cho quân dã chiến ở miền Hoa Trung. Thời cơ này không thể bỏ lỡ.

Sau khi xác định được khu vực tác chiến, thì bộ chỉ huy lại đứng trước vấn đề thời cơ tác chiến ra sao?

Lúc đó, quân Tưởng đang tiến đánh dữ dội khu giải phóng ở Trung Nguyên, còn ở khu giải phóng miền Trung tỉnh Giang Tô, thì chúng lại đang ở trong giai đoạn điều binh khiển tướng. Nhân cơ hội địch chưa bố trí hoàn chỉnh, ta chuẩn bị xuất kích, có thể thu được hiệu quả không ngờ. Nhưng, làm như vậy có bị động về mặt chính trị hay không? Túc Dụ cho rằng: quân địch tiến công Trung Nguyên, cũng có nghĩa là họ xé hiệp định đình chiến. Cho dù ở miền Trung tỉnh Giang Tô, trước và sau khi đình chiến, họ cũng đã dùng chính sách tằm thực (tằm ăn lá dâu) khu giải phóng ở đây. Nếu địch xâm phạm ta, thì ta tất nhiên phải xâm phạm địch. Chủ động xuất kích chính là ta tự vệ đó. Để giảm thiểu tối da sự tuyên truyền của địch về mặt chính trị, thì những trận đánh đầu tiên phải nhằm đánh vào những địa điểm mà địch đã chiếm trước đây, như Tuyên Gia Bảo, Thái Hưng, chẳng hạn. Tuyên Gia Bảo và Thái Hưng là địa bàn hoạt động của hai đoàn của sư 83 hoàn chỉnh. Nhóm quân địch này là quân chính quy thiện chiến của Tưởng Giới Thạch, toàn bộ được trang bị bằng vũ khí của Mỹ, do sĩ quan Mỹ huấn luyện. Họ từng viễn chinh Miến Điện trong thời kỳ kháng Nhật. Qua những trận giao phong với quân Nhật, họ đã giành được một số thắng lợi. Tân Tứ Quân của ta từ trước tới nay chưa hề giao phong với đạo binh tinh nhuệ như thế. Lúc bấy giờ, chẳng riêng miền Trung Giang Tô, mà binh sĩ ở các đơn vị quân giải phóng khác, đối với những đơn vị của Tưởng Giới Thạch được Mỹ trang bị, đều có vẻ e dè thận trọng. Túc Dụ cho rằng, nhóm binh sĩ địch này mới tới vùng Tuyên Gia Bảo và Thái Hưng chưa bao lâu, công sự phòng ngự còn thô sơ, đối với đường sá, dân tình, đều chưa hiểu rõ nhiều. Hơn nữa, vị trí của chúng lại xa những chủ lực của địch, vậy có thể tiêu diệt hoàn toàn chúng trong một trận đánh duy nhất. Để đảm bảo cho trận tiêu diệt chiến có hiệu quả, Túc Dụ bèn sử dụng tới mười hai đoàn binh lực, tức lấy sáu đoàn để bao vây một đoàn của địch, tạo thành ưu thế tuyệt đối trên chiến trường.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:50:07 pm

Trận đánh đã bùng nổ vào đêm mười tháng bảy năm 1946.

Cuộc chiến đấu tiến triển hết sức thuận lợi. Quân địch đầy kiêu hãnh này đã bị ta đánh bất ngờ, làm cho chúng trở tay không kịp. Trước sức tấn công tuyệt đối ưu thế của binh lực ta, chỉ trong vòng một đêm tác chiến, hai đoàn của địch bị tiêu diệt hầu hết, chỉ còn lại một đại đội và thiểu số tàn binh ở Thái Hưng, đang dựa vào vách thành kiên cố để chống trả. Trong trận đánh này, quân ta đã diệt địch được ba nghìn tên. Túc Dụ ra lệnh, ngoại trừ một thiểu số bộ đội vây đánh địch, nghi binh là chủ lực của ta vẫn còn ở lại Thái Hưng, còn chủ lực thật sự thì nhanh chóng di chuyển, đánh tiếp vào kẻ địch chưa kịp đề phòng.

Túc Dụ yêu cầu bộ đội ta tiếp tục phát huy đánh tốt, đi tốt, chịu đói tốt, là những ưu điểm truyền thống của mình. Và, sau khi kịch chiến, không kể tới sự mệt mỏi, cấp tốc hành quân nhắm Nhự Hạo xuất phát. Từ Tuyên Gia Bảo và Thái Hưng đi tới Như Hạo, xa hơn một trăm cây số. Quân dã chiến đi một đêm và nửa ngày là tới nơi. Cánh quân địch kéo tới định tấn công Như Hạo là sư 49. Chúng không tài nào ngờ được bộ đội chủ lực của ta ngày hôm qua còn ở cách xa đó một trăm cây số, mà nay lại âm thầm trở vào thành Như Hạo, tạo một miệng túi để chờ chúng chui vào. Bọn địch tưởng rằng toán quân giải phóng giữ Như Hạo, chỉ là một số bộ đội nhỏ nhoi, không chịu đựng nổi một cú đánh đầu tiên của chúng. Cho nên chúng đang mơ một giấc mơ ngồi trên lưng ngựa, ngạo nghễ tiến vào chiếm đóng Như Hạo. Chờ cho quân địch hoàn toàn lọt vào ổ mai phục, thì trận chiến bắt đầu khai diễn. Bọn địch hốt hoảng quay đầu định chạy tháo lui, nhưng đâu còn đường tháo lui cho chúng nữa? Sau hai ngày truy kích tiêu diệt, sư 49 và một lữ rưỡi của địch, gồm hơn một vạn tên, đã bị tiêu diệt dưới chân thành Như Hạo. Tiếp đó, trận đánh còn kéo dài liên tục tới mười hôm, chủ lực ta mới rút ra khỏi thành Như Hạo, chuyển về Hải An để nghỉ ngơi và chỉnh đốn hàng ngũ. Quân chủ lực liên tục tác chiến đã rất mệt mỏi. Vậy bây giờ nên tử thủ Hải An hay là tạm thời buông bỏ, tùy thời cơ mà diệt địch? Túc Dụ bắt đầu do dự. Đứng về mặt chiến lược mà nói, Hải An là ngã tư đường giao thông ở vùng miền Trung tỉnh Giang Tô, là hậu phương chiến lược mà Hồng quân đã trường kỳ xây dựng. Một khi Hải An thất thủ, thì quân địch có thể hình thành một tuyến phong tỏa bắt đầu từ Thái Châu tới Hải An, hạn chế rất nhiều hành động của Hồng quân.
Túc Dụ suy nghĩ kỹ thêm, cảm thấy vấn đề không phải là nên hay không nên giữ Hải An, mà chính là có thể giữ được hay không?

Nếu sử dụng một đạo quân của chủ lực đã mệt mỏi để giữ Hải An, sau khi thắng thì quân đội kế tiếp của địch có thể lại tiến tới tấn công, để cầm chân Hồng quân. Trái lại, nếu bị bại, thì chủ lực sẽ hoàn toàn tan rã. Bất luận thắng hay bại, đối với ta đều bất lợi. Quân ủy Trung ương đã nhiều lần nhấn mạnh, không phải giữ được đất hay không là chính, mà phải tiêu diệt được sinh lực địch mới là chính. Nếu quân chủ lực ta rút khỏi Hải An và tìm một vùng phụ cận để nghỉ ngơi, xây dựng lực lượng, dù trước mắt tỏ ra yếu thế hơn địch, nhưng ta vẫn bảo tồn được thực lực của mình. Nhờ đó mà về sau chúng ta mới sáng tạo được nhiều cơ hội mới để tiêu diệt địch.

Thế nhưng, lúc bấy giờ trong quân đội số người muốn tiếp tục đánh nhau với địch rất đông, sĩ khí rất cao. Do sau hai trận chiến thắng lớn, trong quân đội đã xuất hiện tư tưởng khinh địch. Một số sĩ quan và binh sĩ cho rằng, sức đề kháng của quân địch rất yếu, vậy có chi đáng sợ. Nếu nay ta không đánh mà rút bỏ Hải An, quả là có lỗi đối với quần chúng, nhất là ý nghĩa của hai trận thắng vừa qua, sẽ không còn được củng cố nữa?

Lúc đó, người lãnh đạo Hoa Trung Phân Cục ở Hải An, chỉ còn một mình Túc Dụ. Đứng trước tinh thần quá cao của binh sĩ, Túc Dụ cũng không thể quyết định được dứt khoát. Sau khi suy nghĩ, ông quyết định đi ngay tới Hoài An để thỉnh thị Phân Cục Hoa Trung và quân khu Hoa Trung xem thế nào.

Từ Hải An tới Hoài An xa ba trăm dặm, tình hình quân địch đang nguy cấp, không cho phép Túc Dụ đi lâu. Trước tiên, Túc Dụ dùng xe mô tô để di chuyển, về sau tới vùng có nhiều sông rạch, ông bỏ mô tô đi xe kéo, rồi lại đi xe đạp, và cuối cùng phải đi thuyền. Sau một ngày một đêm ông đã tới được Hoài An. Thường vụ Phân Cục Hoa Trung liền mở hội nghị khẩn cấp nghe Túc Dụ báo cáo tình hình. Hội nghị đã quyết định: đồng ý phương châm tác chiến của Túc Dụ đề ra, tức lấy một bộ phận binh lực để phòng ngự cơ động tại Hải An, dựa vào đó, vừa sát thương quân địch, vừa chận bước tiến của chúng. Riêng chủ lực thì rút khỏi Hải An để nghỉ ngơi chỉnh đốn hàng ngũ, chờ cơ hội diệt địch. Sau khi uống thuốc an thần tại Hoài An, Túc Dụ lại đi ngay trong đêm để trở về Hải An. Dưới sự bố trí của ông, quân chủ lực gồm sư 6, rút khỏi Hải An về phía Đông Bắc để nghỉ ngơi và chỉnh đốn hàng ngũ, chỉ còn tung đội số 7 ở lại để đánh phòng ngự. Tung đội này giao chiến với năm vạn quân địch kéo tới tấn công, thế mà họ chỉ có ba trăm người, cùng đánh địch với sự đầy mưu trí và cơ động, giữ được Hải An suốt bốn ngày, giết được ba ngàn tên địch. Riêng phe ta, chỉ bị thương vong hai trăm người, sáng tạo được kỷ lục chưa từng có về việc giữ thành, cũng như tỉ lệ thương vong so sánh giữa đôi bên.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:51:34 pm

Sau khi quân địch chiếm xong Hải An, chúng tuyên truyền khoác lác về thành quả của trận đánh. Chúng tuyên bố là đã tiêu diệt được ba ngàn binh sĩ Cộng sản. Do vậy, chúng cho rằng bộ đội chủ lực ở vùng Hoa Trung của ta đã hoàn toàn bị tiêu diệt, không còn khả năng mở được những chiến dịch lớn nữa. Nhưng chúng nào ngờ trong khi đó, tại một vùng nông thôn chỉ cách xa Hải An chừng năm cây số, ba vạn quân chủ lực của ta đang nghỉ ngơi chỉnh đốn, và có thể xuất kích tiêu diệt chúng bất cứ lúc nào.

Sau mười ngày nghỉ ngơi của bộ đội chủ lực, cơ hội tác chiến lại đến. Quân địch sau khi chiếm được Hải An, tiếp tục tiến chiếm một số địa phương về phía Đông. Trước tiên, chúng tiến chiếm mấy thương trấn và đến ngày tám tháng tám năm này, Túc Dụ tiếp được tin tình báo cho biết, địch điều lữ đoàn số 7 mới thành lập đi Hải An, để từ đó tiến về thị trấn Lý Bảo tại phía Đông, để thay thế cho lữ đoàn 105 đóng ở đây từ trước. Khi hai lữ đoàn của địch bàn giao và tiếp nhận, tất nhiên tình hình sẽ hỗn loạn. Túc Dụ bèn ra lệnh cho bộ đội mình lợi dụng thời cơ đó tiêu diệt quân địch tại Lý Bảo.

Tám giờ tối đêm mười tháng tám, chủ lực giải phóng quân gồm sư 6 và tung đội 7, lữ đoàn 5 Hoài Nam, và đặc vụ đoàn quân khu, tiến về phía thị trấn Lý Bảo Trấn và mở trận công kích chớp nhoáng. Lúc bấy giờ, địch có hai lữ đoàn ở bên trong Lý Bảo, việc phòng thủ chưa hoàn chỉnh, biên chế hãy còn rất hỗn độn. Khi tiếng súng nổ, thì mạnh ai nấy chạy, chúng không tài nào liên lạc và chỉ huy được nhau. Lữ đoàn 105 của địch vì phải rút đi nên đã tháo gỡ hết hệ thống điện báo và điện đài, trong khi lữ đoàn bảy mới tới, chưa kịp đặt xong điện thoại và điện đài của mình, nên muốn đánh điện xin tiếp viện cũng không làm sao đánh đi được. Chúng như rắn không đầu, mặc tình cho quân giải phóng tiêu diệt.

Trận đánh Lý Bảo chỉ diễn ra trong vòng hai mươi tiếng đồng hồ, quân giải phóng đã tiêu diệt được chín ngàn quân Tưởng Giới Thạch, tạo được một thành tích sáng chói.

Trong khi những trận đánh giữa Tưởng Giới Thạch và giải phóng quân đang còn giằng co tại miền Trung tỉnh Giang Tô, thì kẻ địch lại cử binh đoàn lớn tiến chiếm khu giải phóng Hoài Nam. Nếu chỉ có quân giải phóng tại Hoài Nam chống đỡ, thì rõ ràng là không cân sức. Trần Nghị đứng trên cơ sở muốn bảo vệ Hoài Nam, ra lệnh cho Túc Dụ cấp tốc đưa binh tới viện trợ cho cánh quân giải phóng này.

Sau khi nhận được mệnh lệnh, Túc Dụ cảm thấy rất lúng túng. Vì theo ông, khu giải phóng Hoài Nam đất hẹp người ít, không có lợi cho việc tác chiến bằng binh đoàn to. Từ miền Trung Giang Tô muốn kéo quân tới Hoài Nam, thì trên đường hành quân phải phá vỡ mấy phòng tuyến phong tỏa của địch, chắc chắn sẽ bị hao binh tổn tướng. Quân địch đang tập kết trọng binh tại Hoài Nam, nhất thời sẽ khó đánh thắng chúng, và sẽ tạo ra thế giằng co kéo dài. Một khi chủ lực bị giằng co tại Hoài Nam, thì khu giải phóng tại miền Trung tỉnh Giang Tô chắc chắn sẽ bị rơi vào tay giặc.

Tại khu giải phóng miền Trung Giang Tô, Hồng quân đánh bốn trận đều toàn thắng, sĩ khí rất cao. Nơi đây lương thực và đạn dược rất dồi dào, hậu cần bảo đảm, vậy có thể càng đánh sẽ càng mạnh. Quân địch bị thua mấy keo, sĩ khí tụt giảm, đã co cụm để giữ thế thủ. Có mấy nơi thị trấn bị cô lập đã trở thành nơi thuận lợi cho quân ta bao vây tiêu diệt.

Sau khi suy nghĩ kỹ, Túc Dụ bèn đánh điện cho quân ủy và Trần Nghị, nói rõ sự phân tách như trên, yêu cầu khoan đưa quân chủ lực về Hoài Nam, mà tiếp tục ở lại miền Trung Giang Tô để tiêu diệt sinh lực dịch.

Quân ủy và Trần Nghị đều đồng ý với ý kiến của Túc Dụ.

Bắt đầu từ ngày hai mươi tháng tám, Túc Dụ dẫn ba vạn quân chủ lực, âm thầm trở vào "bao tử” của quân địch, rồi liên tiếp đánh Đinh Lâm, Huỳnh Kiều và Thiệu Bá, đều giành được thắng lợi. Nếu cộng chung bốn trận đánh trước, thì ông đã đánh bảy trận, thắng bảy trận, và tiêu diệt địch quân, uy danh rung chuyển cả nước Trung Hoa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:52:23 pm

Chiến dịch tại miền Trung tỉnh Giang Tô đối với cuộc chiến tranh giải phóng, có một ảnh hưởng rất quan trọng. Vì, nó chứng minh tác chiến trong nội tuyến, là có thể thực hiện, và nó đã thúc đẩy chiến lược tác chiến ngoại tuyến của Hồng quân, chuyển thành tác chiến nội tuyến. Đồng thời, nó cũng chứng minh những đạo binh được võ trang bằng vũ khí Mỹ không có chi đáng sợ. Lần đầu đánh nhau với hai đoàn của sư 83 chủ lực địch, và tiêu diệt chúng, Mao Trạch Đông đã đích thân gửi điện thăm hỏi, và đặt vấn đề đó có phải là sư 83 không? Như vậy, đủ thấy Mao Trạch Đông quan tâm đến chiến quả này như thế nào.

Nó còn chứng minh, người chỉ huy cần phải giỏi trong việc đề ra quyết sách đúng đắn, dựa vào tình hình của từng chiến trường cụ thể, không thể câu nệ vào những kinh nghiệm của quá khứ. Qua bảy trận đánh thắng, cho thấy trận nào cũng đặc biệt không giống trận nào, làm cho địch không thể dự kiến trước được.

Bảy trận chiến thắng tại chiến trường miền Trung tỉnh Giang Tô, đã tạo ra một tác dụng quan trọng. Về mặt chuyển biến, nó đã từ thế bất lợi của chiến trường phía Nam, chuyển thành thế có lợi cho cuộc chiến tranh giải phóng ở đây. Túc Dụ với tư cách là người chỉ huy cao nhất, đã chứng tỏ rằng sự quả đoán, quyết sách linh hoạt của mình, là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định sự thắng lợi của chiến dịch.

Sau nửa năm tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, Tưởng Giới Thạch bị hao binh tổn tướng, nên không thể không buông bỏ chiến lược tấn công toàn diện, chuyển thành "tiến công trọng điểm" vào hai khu giải phóng ở Thiểm Bắc và Sơn Đông.

Quân lực mà kẻ địch dùng để tấn công vào khu giải phóng Sơn Đông, gồm có tất cả hai mươi bốn sư, sáu mươi lữ, tổng cộng trên bốn mươi lăm vạn người. Trong số năm sư chủ lực lớn của họ, thì hiện diện ở tại trận đánh này là ba: tức sư 74, sư 11 và quân đoàn năm, đều lao vào chiến trường Sơn Đông.

Về mặt chiến thuật của quân Tưởng Giới Thạch, sau nhiều lần thất bại, họ đã học được những bài học đau đớn, nên thay đổi cách đánh thốc quy mô, thành cách đánh dè dặt, chậm chạp, ăn chắc. Các cánh quân của họ, đều tiến song song, sát nhau, rất chậm vào khu giải phóng. Như vậy, mật độ giữa các cánh quân địch rất cao. Cho nên Hồng quân khó chia cắt bao vây để tiêu diệt họ.

Đứng trước việc địch thay đổi chiến lược, chiến thuật, các thủ trưởng chỉ huy những đoàn quân dã chiến ở vùng Hoa Trung của ta, cũng phải tích cực tìm đối sách. Một ngày nọ, Trần Nghị và Túc Dụ dẫn một số bộ đội cảnh vệ đến vùng phụ cận, nơi bộ tư lệnh đóng quân để cùng nhau săn bắn. Trong đầu óc Túc Dụ lúc nào cũng chập chờn những ý nghĩ về đối sách, để có thể thắng địch. Sau một tiếng "đoành”, một con thỏ rừng bị Trần Nghị bắn hạ. Ông ta bèn quay đầu lại hỏi:

— Này Túc tư lệnh, con thỏ này làm sao để ăn đây?

— Đây là thứ khó chơi, nuốt đại. Thử hỏi có nuốt được không?

Túc Dụ trả lời lạc đề, làm cho mọi người chung quanh đều cười ồ. Trần Nghị đoán biết trong đầu óc của Túc Dụ đang nghĩ tới việc "nuốt chửng" sư 74 của địch.

Mặc dù nói như thế, chứ thật sự muốn nuốt chửng sư 74 của địch, nào phải dễ? Vì đây là một trong năm cánh quân chủ lực quan trọng nhất của Tưởng GiớiThạch. Chẳng những quân số đầy đủ, mà còn trang bị toàn vũ khí tốt. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, nó còn viễn chinh tới tận Miến Điện, và đã giành được nhiều thắng lợi. Bất luận về sức chiến đấu, về sĩ khí, về chiến thuật chỉ huy, đạo binh này đều có một trình độ cao. Mấy tháng đầu khi chiến tranh giải phóng mở màn, đạo binh này đã đánh thốc trước tiên vào quân giải phóng của ta. Mặc dù nó từng bị Hồng quân đánh nhiều trận tại các chiến khu Hoài Bắc, Tô Bắc, Lỗ Nam, nhưng nó hoàn toàn không bị thiệt hại gì lớn. Sư trưởng của nó là Trương Linh Phủ, một tướng chỉ huy rất xảo quyệt, và phản động.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:53:37 pm

Chỉ trong nháy mắt, đã tới tháng năm năm 1947.

Suốt một tháng qua, do đội hình của quân địch quá dày đặc, Hồng quân không tìm được một cơ hội tốt nào để chiến đấu. Do vậy, bộ đội ta đã dẫn quân địch chạy lòng vòng trong rừng núi kéo dài một lộ trình dài trên một ngàn cây số. Hành động này làm cho địch có một cảm giác sai lầm, là chừng như Hồng quân sau khi trải qua một số chiến dịch, chạm trán với địch, và đã sợ hãi không còn dám đánh với chủ lực của chúng nữa. Tưởng Giới Thạch và Cố Chúc Đồng..., đều ra lệnh cho chủ lực của họ bám sát theo ta để truy kích. Chúng có ý đồ muốn đẩy quân ta về phía Bắc sông Hoàng Hà.

Không sợ kẻ địch tấn công, mà sợ kẻ địch nằm yên. Một khi chúng xuất động, thì cơ hội sẽ đến. Tất nhiên, nếu không có một tháng vừa đánh vừa chạy lòng vòng của ta, thì kẻ địch cũng không dám to gan kéo tới tấn công ta ngày mười một tháng năm. Sư 7 của địch vượt qua Đóa Trang, tiến về phía Bắc Mạnh Lương Cố, để tấn công vào tung đội 9 của ta. Qua trinh sát, phát hiện được mưu đồ của địch quân, là dùng sư đoàn chủ lực 74 tiến theo trung lộ, và lấy sư đoàn 25, sư đoàn 83 làm hai cánh quân trái và phải. Chúng lại dùng sư đoàn 65 và sư đoàn 48 quân đoàn số 7, để làm tả dực và hữu dực cho sư đoàn 25 và sư đoàn 83. Ý đồ của chúng là sẽ đánh thẳng vào bộ tư lệnh quân dã chiến ở Hoa Đông, đang đóng tại Thản Phụ, vào ngày mười bốn tháng năm tới.

Đứng trước tình hình quân địch kéo tới tấn công, lãnh đạo quân dã chiến Hoa Đông quyết định dời đi để né tránh. Mệnh lệnh đã ban xuống. Tư lệnh các Trung đội đã trở về đội ngũ của mình để chấp hành mệnh lệnh. Các cơ quan tổng bộ đều thu thập hành lý, để chuẩn bị hành quân.

Vừa lúc ấy, Túc Dụ từ tiền tuyến hối hả trở về tổng bộ. Ông đặt ngay vấn đề, và kiến nghị với Trần Nghị: Lợi dụng cơ hội này để tiêu diệt sư 74!

Túc Dụ bèn trình bày rõ với các thủ trưởng dự hội nghị về ý nghĩ của mình: Sư 74 của địch hiện đang rất kiêu căng ngông cuồng, nếu có thể tiêu diệt được nó, sẽ đập tan được kế hoạch địch tiến công vào trọng điểm khu giải phóng Sơn Đông. Trước đây, ông vẫn thường tấn công vào hai cánh quân địch đi hai bên vì những cánh quân này thường yếu kém. Do vậy, Trương Linh Phủ tuyệt đối không sao dám nghĩ rằng, ngày nay ta lại nhắm ngay hắn để hạ sát thủ, và sẽ thu được hiệu quả của cách đánh "xuất kỳ chế thắng". Mặc dù đội hình của quân đội địch rất dày đặc, nhưng do sư 74 đi tiên phong, nên bản thân nó có đi trước hơn hai cánh quân kia. Cho nên Hồng quán sẽ phái năm tung đội đánh chính diện với hắn. So sánh lực lượng giữa đôi bên là năm: một, tức ta chiếm ưu thế tuyệt đối. Địa hình tại chiến trường này là rừng, vũ khí nặng sẽ không hoạt động được. Thông thường hai cánh quân hai bên của địch bị tiến công, chúng cũng không bao giờ đem hết sức mình ra cứu viện.

Túc Dụ chỉ rõ thêm: trong chiến dịch này, có hai điều chủ yếu. Một là bộ đội bao vây địch phải tiêu diệt cho được sư 74. Hai là, bộ đội ngăn chặn tiếp viện, phải chặn đứng được viện binh của địch. Sư 74 có khoảng cách với hai cánh quân hai bên của chúng, từ bốn đến sáu cây số, và cách một số đơn vị khác của địch chỉ một ngày đường. Trong khung cảnh lực lượng địch dày đặc như vậy, mà muốn tách sư 74 ra để tiêu diệt nó, cần phải dũng cảm và có quyết tâm cao, về mặt chỉ huy càng không được có sai sót.

Nghe xong lời phân tách của Túc Dụ, tất cả các thủ trưởng đều cúi đầu suy nghĩ. Đột nhiên, Trần Nghị vỗ mạnh tay xuống mặt bàn, nói:

— Phải! Chúng ta phải có khí khái là dám lấy đầu thượng tướng của địch, giữa hàng triệu binh mã của chúng!

Trần Nghị ném mạnh chiếc mũ xuống mặt bàn, nói tiếp:

— Không rút lui nữa!

Thế là các đơn vị bộ đội lại nhận được lệnh mới, là không di chuyển. Việc thay đổi như vậy, khiến cho một số đơn vị cuống cuồng cả lên.

Sự bố trí cụ thể của Hồng quân là: lấy năm tung đội số 1, 4, 6, 8, 9 để bao vây sư 74 của địch. Lấy bốn tung đội 2, 3, 7, 10 để chặn viện binh. Ngoài ra, còn tập kết những tung đội đặc chủng, xem là đội dự phòng.

Để che giấu ý đồ Hồng quân bao vây tiêu diệt sư 74 của địch, các tung đội đã thi hành nhiều diệu kế tuyệt vời. Hai tung đội 4 và 9 chong ngay mặt chiến đấu với sư 74. Vừa đánh họ vừa thối lui, nhử cho sư 74 xa dần hai cánh quân hai bên của nó. Hai tung đội 1 và 8, chia ra nhiều nhóm nhỏ, tấn công thẳng vào sư 25 và 83 của địch, để cho chúng co cụm lại, không dám tiến lên một cách ngang tàng. Trong khi đó, thì chủ lực nhanh nhẹn chen vào khe trống của hai cánh quân địch, rồi từ hai bên bao vây lấy sư 74. Tung đội 6 ở tận phía Nam Sơn Đông, cách xa chiến trường ba trăm dặm, đã hành quân cấp tốc ngày đêm, đến chiếm lấy Đóa Trang, trước khi tướng Trương Linh Phụ kịp hiểu ra, là hồng quân đã cắt đứt ngõ rút lui của sư 74.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:54:40 pm

Hừng sáng ngày mười lăm tháng năm, các cánh quân bao vây đã liên hệ được với nhau, và họ đã bao vây sư 74 kín mít như chiếc thùng sắt.

Thông thường, trong một chiến dịch mà Hồng quân bao vây địch như vầy, là kể như địch bị tiêu diệt chắc. Nhưng giờ đây, Trần Nghị, Túc Dụ, và các cấp chỉ huy trên chiến trường không ai dám thở phào cả. Vì có thể nuốt chửng sư 74 hay không? Có thể chận đứng được quân tiếp viện kề cận nó hay không? Vẫn là những đáp số chưa lộ ra. Mặc dù ta có năm tung đội bao vây lấy sư 74, nhưng địch lại có thể dùng mười sư hoàn chỉnh để bao vây chín tung đội của ta kia mà!

Như vậy, ai thắng ai bại, còn phải chờ trận quyết chiến này ra sao rồi mới hiểu được.

Tưởng Giới Thạch cho rằng sư 74 thu hút được chủ lực của Hồng quân đến vùng Mạnh Lương Cố, thì sẽ là dịp tốt để chúng quyết chiến với ta. Tưởng Giới Thạch một mặt đánh điện cho Trương Linh Phủ, an ủi và khích lệ, xem như lên gân cho tướng này. Một mặt khác, ông ta lại xuống lệnh cho các cánh quân khác phải hỏa tốc tiến vào tấn công Hồng quân, với ý đồ đánh kẹp ta vào giữa, và chỉ một trận đánh thôi, là đoạt được thắng lợi. Trương Linh Phủ ỷ sư 74 là đơn vị có sức chiến đấu mạnh, lại chiếm được địa hình có lợi hơn ta, nên khoác lác đủ điều, tỏ ra sẵn sàng cố thủ để chờ viện binh tới.

Một giờ chiều ngày mười lăm, Hồng quân phát lệnh tổng tấn công.

Mỗi một đỉnh núi, mỗi một trận địa, mỗi một tấc đất, đều là nơi đọ súng đẫm máu. Sư 74 quả nhiên danh bất hư truyền, cực lực phản kích. Trình độ chiến đấu của nó, có thể nói từ ngày tiến hành chiến tranh giải phóng cho tới nay, chưa từng thấy. Sĩ quan và binh sĩ trong các tung đội của ta, với ý chí quyết thắng kẻ thù, không kể hy sinh, xung phong từ đợt này tới đợt khác, và chiếm lĩnh từng ngọn núi một, từng trận địa một. Ngay đêm hôm đó, quân địch đã bị đồn vào một vùng núi không rộng quá sáu cây số vuông.

Sang ngày mười sáu, trận đánh mỗi lúc càng ác liệt thêm. Toàn bộ Hồng quân tổng công kích vào sư 74. Đứng trước ngày tàn, Trương Linh Phụ quá tuyệt vọng nên tự sát. Phó sư trưởng là Thái Nhân Kiệt bị bắn chết giữa mặt trận. Các tung đội ta hội quân tại Mạnh Lương Cố, tiếng hò reo mừng chiến thắng vang dậy tới tận trời xanh.

Giữa lúc trận đánh "công kiên" (đánh vào chỗ có phòng thủ kiên cố) đang diễn ra hết sức ác liệt, thì những cánh quân chặn tiếp viện cũng bị thử thách một cách nặng nề. Tưởng Giới Thạch dùng lời lẽ nghiêm khắc để cảnh cáo binh đội của họ: "Nếu do dự không chịu tiến lên, nếu không dốc hết lòng can đảm để cứu viện, đi giữa đường dừng lại... thì sẽ xem như tội theo phỉ. Quyết không dung tha". Ông ta uy hiếp bộ đội của mình, để buộc những cánh quân đó đi tiếp viện cho sư 74. Riêng Thang Ân Bá, cũng gửi điện tới các cánh quân, bảo Trương Linh Phụ đang "chiến đấu trong cô độc, đang lâm vào tình huống rất nguy cấp", vậy các cánh quân phải "nhanh chóng tiếp cứu đồng đội của mình ra khỏi cơn nguy khốn", "không thể thấy chết mà không cứu". Bất luận là uy hiếp, hay là nài nỉ, những cánh quân của địch, bị Hồng quân chận đứng trước hỏa lực của mình, như thành đồng vách sắt, không thể nào tiến lên được. Đôi bên chỉ cách nhau từ bốn đến sáu cây số thôi, thế mà nó xa như nghìn dặm, chúng chỉ đứng đó đưa mắt nhìn sư 74 hoàn toàn bị tiêu diệt!

Trong khi các tung đội vô cùng phấn khởi, thì Túc Dụ, trái lại, rất bình tĩnh. Mặc dù đã suốt mấy ngày qua, ông không ngủ một giấc nào cho ngon, cơ thể mệt mỏi, đầu đau nhức, nhưng ông vẫn chú ý tới những chi tiết nhỏ nhặt xảy ra trên chiến trường. Khi ông nắm được tổng số quân địch bị tiêu diệt, nhận ra nó còn chênh lệch với quân số thật sự của sư 74 đến mấy nghìn người, bèn ra lệnh cho bộ đội lục soát ngay trong núi, nhất định không để cho một tên địch nào chạy thoát. Lúc đó, trên trời mây đen đã vần vũ, sắp đổ một trận mưa núi lớn. Tại một hẻm núi kín đáo, quả nhiên Hồng quân ta phát hiện có bảy nghìn quân địch đang tập kết, chuẩn bị mở đường máu để thoát ra. Thế là các tung đội không còn nhớ đến sự mệt nhọc của mình, lập tức hành động, và đã tiêu diệt hoàn toàn số tàn quân đó.

Đến đây, thì sư 74 với quân số ba vạn hai nghìn người, trên từ sư trưởng, dưới từ giữ ngựa, không một tên nào chạy thoát. Riêng Hồng quân cũng phải trả một giá đắt, thương vong lên đến một vạn hai nghìn người.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:55:43 pm

Tin chiến thắng tại Mạnh Lương Cố loan ra, gây thành một sự cổ võ lớn lao cho quân dân trong khu giải phóng. Việc Tưởng Giới Thạch định tấn công tiêu diệt khu giải phóng Sơn Đông, xem như hoàn toàn bị sụp đổ.

Tưởng Giới Thạch nói: "Sự thất bại ở Mạnh Lương Cố là một việc đáng tiếc và đau đớn nhất từ khi ta mở đợt bao vây tiêu diệt phỉ cho tới nay" "Làm cho mọi người đều đau đớn". Chủ tịch tỉnh Sơn Đông của Quốc Dân Đảng là Vương Diệu Võ nói: "Việc mất sư 74 cũng đau như ta bị mất cha". Các tướng Thang Ân Bá, Huỳnh Bá Thao, Lý Thiên Hà do chi viện vô hiệu, đều bị Tưởng Giới Thạch xử phạt.

Riêng Túc Dụ không bị chiến thắng làm cho quay cuồng đầu óc. Ông ta vẫn bình tĩnh để suy nghĩ, trù hoạch mục tiêu sẽ tấn công sắp tới...

Với một cá tính luôn luôn quả cảm và thành thật, Túc Dụ hôm nay bỗng tỏ ra trầm tư và do dự. Nguyên nhân đưa tới tình trạng tinh thần này, là do Túc Dụ vừa mới nhận được một tờ mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương.

Ngày mười bảy tháng giêng năm 1948, vừa đánh xong chiến dịch Xa Thổ Tập, diệt địch hằng vạn tên và hoàn toàn chiến thắng, Túc Dụ chưa kịp nghỉ ngơi, thì đã nhận được mệnh lệnh của Quân ủy: Dùng các đội dã chiến số một, bốn, sáu của Hoa Đông, tổ chức thành binh đoàn số một, vượt sông Trường Giang, để mở khu giải phóng "Mân Triết Cán" (tức Phúc Kiến, Triết Giang và Giang Tây), rồi tiến tới xây dựng thành một cánh quân dã chiến ở Đông Nam.

Đây quả là một kế hoạch lớn lao, nếu thành công, thì chẳng khác gì Tôn Ngộ Không chui được vào bụng của Thiết Phiến công chúa trong truyện Tây Du, sẽ làm cho nền thống trị của Tưởng Giới Thạch ở địa phương một phen trời long đất lở, khiến quân Tưởng phải rút từ Trung Nguyên trở về bố phòng. Qua đó, sẽ giảm nhẹ áp lực quân sự của chúng đối với giải phóng quân tại Trung Nguyên, và cũng là cơ hội chia cắt địch để tiêu diệt chúng.

Quân ủy muốn biết ý kiến của Túc Dụ trong vấn đề này. Riêng Túc Dụ đối với ý đồ chiến lược của Quân ủy, cũng đoán biết rất rõ ràng. Nhưng, Túc Dụ lại có cách suy nghĩ riêng của mình.

Ba tung đội bao gồm mười vạn đại quân, nếu vượt qua sông Trường Giang xong, thì hoàn toàn không còn hậu phương nữa. Như vậy, lương thực, đạn dược, khí giới, thương bệnh binh, cũng sẽ không có chỗ nào để cung cấp và nương tựa. Chui vào quả tim thống trị của địch để tác chiến, chắc chắn sẽ bị địch vây đuổi như điên cuồng, và không lúc nào buông tha. Trước đây, khi đưa một cánh quân kháng Nhật đầu tiên lên phía Bắc để tác chiến, Túc Dụ đã từng chịu đựng đủ thứ khổ sở trong hoàn cảnh mất hậu phương. Nay kéo binh từ khu giải phóng đi thẳng xuống đại hậu phương của địch, để mở khu giải phóng "Mân Triết Cán", chắc chắn đi đến nơi là đã tiêu hao mất phân nửa quân số rồi. Như vậy, mười vạn quân chỉ còn năm vạn, lại không có hậu phương, không có chi viện, thì làm cách nào để đánh được những trận lớn đây? Nếu không thể đánh vào địch những trận trí mạng, thì tự mình hàng ngày sẽ bị quân địch truy đuổi ráo riết, và mỗi lúc càng suy yếu thêm mà thôi.

Có thể do vậy mà địch phải điều động quân đội của chúng ở Trung Nguyên trở về tiếp ứng không? Tưởng Giới Thạch có bốn cánh chủ lực ở Trung Nguyên, đó là đạo quân số năm mới thành lập, và đạo quân mười tám có sẵn từ lâu, đều là những đạo quân được trang bị khí giới tối tân của Mỹ. Chúng sử dụng cơ giới để tiện việc cơ động tiến công. Ở Trung Nguyên là vùng bình nguyên, mặt đất bằng phẳng, chúng cơ động tác chiến dễ dàng. Trái lại, ở Giang Nam núi nhiều, sông nhiều, thì chúng đâu còn đất dụng võ nữa. Quân đoàn bảy và quân đoàn bốn mươi tám của Tưởng Giới Thạch, đều lấy quân số ở vùng Quảng Tây, chúng phải khó khăn lắm mới đưa được hai quân đoàn này vượt sông Trường Giang lên phía Bắc. Vậy nay chúng dại gì lại cho hai quân đoàn đó trở về phía Nam. Như vậy, chẳng hóa ra thả cọp về rừng hay sao?

Dựa vào đó mà xét, thì chắc chắn Tưởng Giới Thạch chỉ điều động một số quân đội không phải tinh nhuệ và không đáng kể, do vậy, áp lực của chúng ở Trung Nguyên cũng không suy giảm nhiều. Nếu ba tung đội của ta gồm mười vạn tinh binh, không điều động xuống Giang Nam, mà vẫn ở chiến trường Trung Nguyên tác chiến, thì sẽ có cách đánh nhiều trận tiêu diệt chiến lớn.

Ba tung đội của ta vẫn để lại Trung Nguyên, có Khu giải phóng làm chỗ tựa, thì giữa Giang Hoài, Hà Nghị, có thể mở được những chiến trường rộng, tiến hành nhiều trận tiêu diệt chiến, để tiêu hao sinh lực địch, rõ ràng là có lợi lớn.

Túc Dụ suy nghĩ như vậy, nên cảm thấy nếu đưa ba tung đội của mình xuống Giang Nam, thì chi bằng để ở lại chiến trường Trung Nguyên vẫn hay hơn.

Vậy, mình nên phản ánh ý kiến này lên quân ủy Trung ương hay không? Nguyên nhân làm cho Túc Dụ do dự chính là ở vấn đề này.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:56:48 pm

Không phải Túc Dụ không dám trình bày thẳng ý kiến của mình. Trong Đảng cũng như trong quân đội, ông được xem là người dám nói thẳng, có những tư duy độc lập. Nhưng bây giờ ông do dự là vì ông suy nghĩ nếu mình không chịu rời khỏi chiến trường Trung Nguyên, phải chăng là do không nhìn thấy toàn cục? Trung ương có đôi mắt nhìn rộng, tính toán chu đáo, vậy nếu mình đưa ý kiến này ra, phải chăng sẽ làm rối sự tính toán của Trung ương một cách không cần thiết?

Từ tháng giêng cho tới tháng tư, Túc Dụ đã suy nghĩ và do dự mãi, không thể quyết định được phải hành động ra sao?

Tuy nhiên, công tác chuẩn bị cho bộ đội tiến vào Hoa Nam vẫn không giờ phút nào ngơi nghỉ. Một khi Trung ương quyết định rồi, thì ba tung đội của ông có thể lên đường ngay.

Vào ngày mười tám tháng tư, Túc Dụ đã hạ quyết tâm một cách dứt khoát, là người chỉ huy viên của một chiến dịch, ông phải có trách nhiệm trình bày thẳng với thượng cấp ý kiến của mình. Còn ý kiến đó đúng hay sai, còn phải do thượng cấp phán đoán. Ngày hôm ấy, ông đánh điện về Quân ủy Trung ương, ngỏ ý đưa ba tung đội về phía Nam, là không bằng để họ ở tại chỗ để tiêu diệt địch.

Sau khi Mao Trạch Đông tiếp được bức điện, tỏ ra hết sức trọng thị, bèn triệu tập ngay Ban bí thư Đảng để cùng các đồng chí lãnh đạo thảo luận về ý kiến của bức điện đó. Ngày hôm sau, ông ra lệnh cho Trần Nghị và Túc Dụ rời tiền tuyến, đi đến Tây Bách Ba, thuộc vùng Bình Sơn, Tây Bách Ba, tỉnh Hà Bắc, nơi Trung ương trú đóng để trực tiếp báo cáo cụ thể.

Kể từ năm 1934 khi rời khỏi Trung ương để tiến lên phía Bắc, đã là mười bốn năm dài, Túc Dụ chưa bao giờ tới nơi trú đóng của Trung ương và chưa gặp mặt các thủ trưởng ở Trung ương lần nào. Nay có cơ hội tiếp xúc với Mao Trạch Đông và những người lãnh đạo Trung ương để bàn về tình hình và nhiệm vụ, khiến Túc Dụ hết sức xúc động. Ông chuẩn bị đề cương báo cáo một cách hết sức đầy đủ.

Ngày năm tháng năm năm 1948, năm vị Bí thư Trung ương là Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Châu Ân Lai, Chu Đức, Nhiệm Bậc Thời đã cùng ngồi nghe Trần Nghị và Túc Dụ báo cáo tình hình quân đội dã chiến ở Hoa Đông, và nhất là chú ý lắng nghe ý kiến của Túc Dụ, đối với việc đưa đại quân xuống phía Nam có lợi, hay là giữ ở lại Trung Nguyên có lợi.

Túc Dụ đã thận trọng và chu đáo phân tích việc đó trước mặt Ban bí thư Trung ương, và được họ tán thành. Ban bí thư bèn quyết định trong vòng từ bốn tới tám tháng, tạm thời không vượt sông Trường Giang để xuống Hoa Nam, mà tập trung quân lực để tác chiến tại Trung Nguyên.

Sau buổi báo cáo kết thúc, Mao Trạch Đông mời riêng Túc Dụ cùng ăn cơm. Trong bữa ăn, ông nói với Túc Dụ: "Trung ương đã quyết định điều Trần Nghị trở về Trung Nguyên Cục để công tác, và nhiệm vụ lãnh đạo dã chiến ở Hoa Đông sẽ giao cho đồng chí".

Túc Dụ bao giờ cũng trân trọng và ủng hộ công tác của Trần Nghị. Nay nghe quyết định này cảm thấy hơi bất ngờ, bèn nói với Mao Trạch Đông: "Công việc lãnh đạo quân dã chiến ở Hoa Đông, không thể tách rời được với Trần quân trưởng".

Trung ương đã quyết định rồi, vậy không thể thay đổi được nữa. Mao Trạch Đông vẫn kiên trì quyết định của mình.

Túc Dụ suy nghĩ chốc lát, nói:

— Nếu vậy, Trần tướng quân có thể đi về Trung Nguyên cục để làm việc, nhưng vẫn kiêm chức lãnh đạo quân dã chiến ở Hoa Đông.

Cách giải quyết phân hai đó, cũng làm cho Mao Trạch Đông rất tán thưởng. Ông cao hứng vỗ nhẹ xuống một bàn, nói:

— Thôi, cứ quyết định như thế. Đồng chí Trần Nghị trở về Trung Nguyên Cục, nhưng vẫn bảo lưu chức tư lệnh quân dã chiến, kiêm chính ủy Hoa Đông, còn đồng chí thì làm quyền tư lệnh, và quyền chính ủy.

Với sự tín nhiệm của Trung ương, Túc Dụ hết sức cảm động, đồng thời, cũng hiểu được đây là một trách nhiệm nặng nề. Nếu trong vòng từ bốn tới tám tháng tới, không tạo được những chiến quả huy hoàng để trả lời với Trung ương, thì rõ ràng là phụ lòng tín nhiệm của Trung ương.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:57:57 pm

Túc Dụ đã trở về đến bộ tư lệnh quân dã chiến ở Hoa Đông. Quân dã chiến tại Trung Nguyên do sự phối hợp toàn lực, vào ngày mười bảy tháng sáu đến ngày sáu tháng bảy, đã đại thắng tại phía Đông tỉnh Hà Nam, giết địch được chín vạn tên, lập được một kỷ lục mới về tiêu diệt chiến.

Từ mười sáu đến hai mươi bốn tháng chín, quân giải phóng lại chiếm được Tế Nam, và tiêu diệt địch mười ngàn tên. Ngày hai mươi bốn tháng chín, sau khi giai phóng Tế Nam, Túc Dụ liền kiến nghị với Quân ủy, mở chiến dịch Hoài Hải.

Cách suy nghĩ của Túc Dụ như sau: Quân dã chiến Hoa Đông từ phía Nam Sơn Đông kéo xuống, giai đoạn thứ nhất, lấy thêm ở binh đoàn phía Bắc Giang Tô một tung đội, để tấn công chiếm Lưỡng Hoài (Hoài Âm, Hoài An). Rồi thừa cơ thắng lợi đó chiếm luôn các địa phương khác như Bảo Ứng, Cao Bưu, và lấy sức mạnh toàn quân của quân dã chiến Hoa Đông, kéo thẳng tới phục tại hai bên đường gần ga xe lửa Vận Hà, để tiêu diệt quân tiếp viện của địch kéo tới, nếu có. Trái lại, quân địch nếu bị chặn và không tiếp viện, mà lại đưa quân từ phố Khẩu ở Trường Giang và Dương Châu tiến về phía Bắc để cứu viện, thì ta sẽ đón đánh chúng tại Lưỡng Hoài và kết thúc chiến dịch. Sau đó sẽ tiến tới bước hai của chiến dịch, là lấy ba tung đội đánh chiếm Hải Châu, Liên Vận Cảng và kết thúc chiến dịch Hoài Hải. Sau đó, toàn quân sẽ kéo về một căn cứ để nghỉ ngơi và chỉnh đốn.

Quân ủy Trung ương rất trọng thị kiến nghị của Túc Dụ. Ngày hôm sau đánh điện trả lời và chỉ thị thêm: "Chúng tôi thấy mở chiến dịch Hoài Hải là rất cần thiết". Đồng thời lại chỉ thị: "Mở đầu chiến dịch phải lấy tiêu diệt binh đoàn của Huỳnh Bá Thao làm mục tiêu".

Lúc đó, quân địch lấy Từ Châu làm trung tâm, tập kết chung quanh bốn binh đoàn lớn (Huỳnh Bá Thao, Lý Di, Khâu Thanh Tuyền, Tôn Nguyên Lương) gồm sáu chục vạn binh. Về phía ta cũng có sáu chục vạn binh, là các bộ đội của quân dã chiến Hoa Đông và quân dã chiến Trung Nguyên. Sáu chục vạn quân này chia ra đóng ở Sơn Đông và Hà Nam. Nếu muốn nuốt trọn số quân địch ở Từ Châu, là điều chưa dám nghĩ tới. Nhưng, nếu muốn tiêu diệt mười hai vạn quân của Huỳnh Bá Thao là chuyện có thể làm được.

Về sau, chiến dịch Hoài Hải từ từ phát triển thành cuộc quyết chiến chiến lược giữa hai đảng Quốc Cộng, đó là sự phát triển lên từng bước một.

Túc Dụ đã cống hiến nhiều công lao trọng đại trong quá trình phát triển đó.

Ngày tám tháng mười một, sau khi bộ đội vừa hoàn thành việc chia cắt bao vây quân đoàn của Huỳnh Bá Thao, thì Túc Dụ đứng liên danh với tham mưu trưởng Thương Chấn, đề xuất với Quân ủy Trung ương là trong chiến dịch Hoài Hải, phải tiêu diệt toàn bộ quân địch tập kết tại Từ Châu. Đó là một kiến nghị hết sức trọng đại.

Trong bức điện này, hai người đã phân tích hai khả năng mà địch có thể thực hiện: hoặc dựa vào chủ lực tại Từ Châu, cộng thêm một số quân đội tăng viện khác, tiếp tục quần thảo với Hồng quân ta tại Giang Bắc, để tranh thủ thời gian bố trí phòng tuyến tại sông Trường Giang. Hoặc nhanh chóng từ Giang Bắc, triệt thoái về phía Nam để củng cố phòng tuyến tại sông Trường Giang, với ý đồ lấy sông Trường Giang làm con sông phân chia ranh giới, rồi củng cố phía Nam, chờ cơ hội để tấn công lên phía Bắc.

Túc Dụ và Trương Chấn cho rằng, bất luận quân địch dùng một trong hai phương châm nào, đều có chỗ lợi và chỗ hại. Nếu so sánh, thì khu giải phóng cũ có thể tiếp tục ủng hộ cho các hoạt động chiến tranh, nên kéo địch ra chung quanh vùng Từ Châu, rồi tiêu diệt tại chỗ, là rất có lợi cho mình. Bức điện này được Trung ương khẳng định. Mao Trạch Đông trong bức điện phúc đáp nói: "Cần phải tích cực tiêu diệt địch tại chung quanh vùng Từ Châu, đừng để cho chúng vọt được về phía Nam".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Năm, 2023, 02:58:31 pm

Giai đoạn một của chiến dịch tiến hành được thuận lợi. Binh đoàn của Huỳnh Bá Thao bị bao vây tại vùng Niễn Trang ở phía Đông Từ Châu, và bị tiêu diệt toàn bộ. Binh đoàn của Huỳnh Duy từ Vũ Hán xa xôi kéo tới chi viện, bị bao vây tại vùng Đôi Tập, và không thể thoát đi đâu được.

Dưới cờ của Đỗ Duật Minh, có các binh đoàn của Khâu Thanh Tuyền, Lý Di, Tôn Nguyên Lương, đang tập kết tại ngôi thành Từ Châu cô lập. Hướng di động của họ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với việc tác chiến bước tới của quân ta.

Túc Dụ lại chứng tỏ trí tuệ tuyệt vời, hơn hẳn mọi người của mình. Ông đã dự kiến một cách chính xác tập đoàn Đỗ Duật Minh sẽ hành động ra sao? Ông phán đoán:

"Nếu tập đoàn Đỗ Duật Minh cố thủ Từ Châu, thì cũng không tạo được sức uy hiếp nào đối với quân giải phóng. Vì trong tay của Tưởng Giới Thạch không còn đội binh cơ động nào đưa tới chi viện. Như vậy, giữ Từ Châu là con đường dẫn vào cửa tử. Đỗ Duật Minh rõ ràng không bao giờ làm như vậy.

Nếu ông ta muốn tháo chạy, thì chỉ có ba con đường để chọn lựa:

Con đường thứ nhất là theo đường Lũng Hải ở phía Đông, từ đó rút xuống Liên Vận Cảng, rồi lên tàu để chạy về phía Nam. Nhưng Hồng quân đã tập kết chủ lực mạnh mẽ ở tại đó rồi. Nếu ông ta tháo chạy bằng con đường này, sẽ bị chủ lực đánh chặn hoặc truy kích. Cho dù có tháo chạy được tới Liên Vận Cảng cũng không có cách nào tìm đủ tàu thuyền để chở hết hai chục vạn quân chạy về phía Nam, mà chỉ có cách duy nhất là dựa lưng vào biển để đánh một trận sau cùng với quân ta. Như vậy cũng là con đường chết.

Con đường tháo chạy thứ hai có thể hướng về phía Đông Nam, chạy tới Hoài An, Hoài Âm, rồi xuống trung bộ tỉnh Giang Tô mà chạy về Nam. Con đường này có tránh được chủ lực của ta, nhưng toàn bộ đều là sông ngòi, hồ ao, nếu không có thuyền thì không thể di chuyển được. Quân địch toàn bộ được trang bị cơ giới, tới vùng này tất cả cơ giới đều vô dụng. Hơn nữa, ở đây thuộc vùng giải phóng khu cũ của ta, quân dân địa phương sẽ không bao giờ cho chúng chạy qua một cách dễ dàng, mà họ sẽ lợi dụng địa hình này để ngăn chặn, vây đánh, chờ chủ lực ta tới tiêu diệt.

Con đường tháo chạy cuối cùng có thể men theo cạnh phía Tây tuyến đường Tân Phủ mà đi về hướng Nam. Khu vực này là vùng bình nguyên, mặt đất bằng phẳng lại rộng rãi, tiện cho địch sử dụng cơ giới để hành quân. Nơi đây, lại tiếp cận với binh đoàn của Huỳnh Duy đang trú đóng. Đồng thời, cũng có thể liên hệ với binh đoàn của Lý Diên Niên đóng cách đó không xa. Chắc chắn Đỗ Duật Minh sẽ chọn con đường này. Hắn tìm đường tháo chạy, mà lại muốn cứu cả Huỳnh Duy, và thuận tiện còn bố trí lại phòng tuyến sông Hoài. Như vậy, một mũi tên của hắn sẽ bắn được một lúc ba con nhạn, quả là sáng suốt.

Túc Dụ chỉ rõ: Những sự tính toán của Đỗ Duật Minh là không thể thực hiện được. Vì quân đoàn dã chiến Trung Nguyên, quân đoàn dã chiến Hoa Đông, là hai cánh quân chủ lực của La, đã chuẩn bị sẵn sàng rồi. Nơi đây, có địa thế bằng phẳng, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt địch tại một chiến trường thuận lợi.

Theo sự phán đoán như thế, Túc Dụ bèn ra lệnh: Tại Lưỡng Hoài, tại phía Đông Từ Châu, bố trí lực lượng chủ lực. Phải tập trung các tung đội chủ lực, bố trí dài từ Từ Châu cho tới Trúc Viện, quyết không để cho Đỗ Duật Minh và Huỳnh Duy được kết hợp với nhau. Phải bao vây chia cắt họ trước khi họ kết hợp, để hoàn toàn tiêu diệt họ.

Về sau, tình thế hiện thực của chiến dịch Hoài Hải, hoàn toàn khớp với những dự kiến và phán đoán của Túc Dụ. Trận đánh nhau tại Hoài Hải, Hồng quân với sáu chục vạn quân đã quyết chiến với địch tám chục vạn binh, và tiêu diệt được năm mươi lăm vạn binh trong số này, làm cho các khu giải phóng của Sơn Đông, phía Bắc tỉnh Giang Tô, và Trung Nguyên hợp nhất lại làm một. Vấn đề ở phía Bắc sông Trường Giang xem như đã giải quyết về cơ bản. Trong tay của Tương Giới Thạch không còn binh đội nào để điều động nữa. Nó đã tạo ra điều kiện tốt để mở chiến dịch vượt Trường Giang sau này.

Mao Trạch Đông từng nói: "Chiến dịch Hoài Hải là một nồi cơm sống, quân ta đã cố nuốt trôi tất cả".

Trong những thời khắc then chốt của chiến dịch này, Túc Dụ đã sử dụng nhiều mưu kế tuyệt vời, lập công to lớn.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 11:20:54 am

4. LÀ MỘT “NHO TƯỚNG"

Trong hàng tướng lãnh của Trung Quốc, về mặt học lực, văn bằng của Túc Dụ không kể là cao, nhưng ông lại được mọi người tặng cho biệt hiệu là "Nho Tướng". Vậy, ông dựa vào đâu, để có được một cái biệt hiệu trang nhã như thế?

Nói về trình độ học vấn, Túc Dụ chỉ mới học được ba năm rưỡi tại Trường Sư phạm số hai tỉnh Hồ Nam đặt tại Thường Đức, chưa lấy được bằng tốt nghiệp. Do cách mạng thất bại, ông bị cánh hữu của Quốc Dân Đảng truy nã, buộc phải bỏ dở việc học, trốn tới Vũ Hán, gia nhập hàng ngũ quân đội nhân dân.

Từ đó trở đi, Túc Dụ không có cơ hội nào để vào trường học chính quy, tiếp nhận sự giáo dục chính thống nữa. Nhưng, ông không hề buông bỏ việc học tập. Việc học tập của ông được tiến hành bất luận là ở đâu, khi ở trong quân đội tác chiến, hoặc ở trong thời kỳ hòa bình xây dựng. Cũng như trong lúc bản thân gánh lấy trọng trách là người lãnh đạo, hoặc trong những trường hợp bị hãm hại, đả kích, ông không bao giờ buông lơi việc học.

Dựa vào tính tự giác và kiên trì học tập đó, ông đã tìm được sự tiến bộ cho mình. Chẳng những ông học từ trong sách vở, mà càng chú trọng học từ trong thực tế, từ trong đấu tranh.

Trong thời kỳ ở Tỉnh Cương Sơn, ông chỉ là người chỉ huy bình thường, thuộc cấp cơ sở (cán bộ đại đội), là đã chú ý học tập tư tưởng của Mao Trạch Đông về xây dựng quân đội, xây dựng căn cứ địa, và tư tưởng chỉ đạo tác chiến, cũng như kỹ thuật tác chiến.

Khi vào bộ đội của Diệp Đĩnh, Túc Dụ mới bắt đầu được huấn luyện về quân sự. Nhưng sự huấn luyện đó là theo lối cũ. Khi lên Tỉnh Cương Sơn, cách huấn luvện theo lối cũ không còn thích ứng với tình thế đã thay đổi, không còn thích ứng được yêu cầu của Hồng Quân. Cho nên bắt buộc ông phải học lại từ đầu. Đối với hàng loạt những nguyên tắc về xây dựng quân đội do Mao Trạch Đông đề xướng, như Đảng chỉ huy quân đội, dân chủ trong quân sự, bình đẳng giữa sĩ quan và binh sĩ, ông tỏ ra hết sức ủng hộ, và bản thân cũng nghiêm túc thực hành.

Túc Dụ rất chú trọng về mặt dân chủ trong quân sự. Ông chỉ huy tác chiến, bao giờ cũng làm cho người chung quanh có một ấn tượng là ông dự đoán sự việc như thần, và lúc nào cũng có những mưu kế tuyệt diệu để đánh địch. Có ai biết được ông đã bỏ ra bao nhiêu thì giờ để đi điều tra, nghiên cứu, thảo luận. Lúc ở phía Bắc tỉnh Giang Tô, để chỉ huy tác chiến, ngày ngày ông đều phải hành quân đánh giặc, đâu có nhiều thì giờ để điều tra, nghiên cứu. Cho nên ông thường cưỡi ngựa mà ngồi quay mặt ra sau, để vừa đi vừa thảo luộn với các sĩ quan cùng hành quân chung. Khi hành quân kết thúc, thì vấn đề cũng đã thảo luận ngã ngũ. Dần dần ông trở thành người có kỹ thuật cưỡi ngựa ngồi quay mặt ra sau lưng rất cao, ít ai sánh kịp.

Ông còn biết học tập trong những sự sai lầm của mình. Như lúc ở Tỉnh Cương Sơn, Túc Dụ có một binh sĩ thông tin rất thích đánh bạc. Dù bị phê bình nhiều lần, nhưng binh sĩ này không sửa đổi. Túc Dụ giận quá, bèn phạt anh ta đứng nghiêm, hai tay đưa thẳng lên trời, đầu gối cong xuống nửa chừng. Đây là cách phạt trong quân đội cũ. Dù người có sức khỏe tới đâu, cũng không chịu đựng được bao lâu. Ông tưởng mình trừng trị người lính thông tin như vậy là sau này anh ta sẽ bỏ thói cờ bạc. Nào ngờ không phải như vậy, qua một thời gian sau, người lính này lại đi đánh bạc như thường.

Việc đó làm cho Túc Dụ phải nghiêm túc suy nghĩ. Nếu chỉ phê bình, trừng phạt, thì xem ra không có hiệu quả chi mấy, vậy cần phải thay đổi phương thức, Túc Dụ tìm anh ta và nói chuyện với anh ta thực lâu. Túc Dụ dẫn chứng nhiều cái hại của cờ bạc, phân tích phải trái, chịu khó giảng giải rất chân thành cả nửa ngày trời, rốt cục đã thuyết phục được người lính thông tin. Anh ta rơi lệ và thề sẽ không cờ bạc nữa. Về sau, quả nhiên anh ta đã thay đổi hẳn.

Từ việc trên, Túc Dụ có được một kinh nghiệm: đối với đồng chí của mình, cái lưỡi quan trọng hơn quả đấm. Công tác tư tưởng là trọng yếu nhất.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 11:22:16 am

Lúc từ tỉnh Phúc Kiến kéo lên Hàng Châu, Túc Dụ đảm nhiệm công tác cảnh vệ cho Mao Trạch Đông. Lúc bấy giờ, chung quanh quân địch dày đặc, Mao Trạch Đông lại đang bị bệnh. Thế nhưng ông ấy lúc nào cũng đọc sách và viết lách. Trong phòng gần như ánh đèn thắp thâu đêm. Việc siêng năng học hỏi và khổ luyện của Mao Trạch Đông đã làm cho Túc Dụ học được một bài học lớn, và cảm thấy rất kinh ngạc.

Trong cuộc chiến tranh chống bao vây tiêu diệt căn cứ trung ương của địch, Túc Dụ đã cố gắng thực hành đúng ý đồ chỉ huy của Mao Trạch Đòng. Đối với chiến lược chiến thuật, linh hoạt và cơ động của Mao Trạch Đông, Túc Dụ học thấu đáo đến tinh túy của vấn đề. Từ đó về sau, trong việc tác chiến độc lập của ông, bao giờ ông cũng sử dụng linh hoạt những điều ông đã học tập. Những trận đánh đắc ý của ông, như là trận đánh Huỳnh Kiều, đánh thẳng vào chỗ địch mạnh trước, cũng như bảy trận đánh bảy trận thắng, và trong những trận tiêu diệt địch ở ngoài biên căn cứ địa, trận đánh Mạnh Lương Cố, không đánh vào một cánh quân địch yếu, mà đánh thẳng vào trung ương với lực lượng quân địch mạnh. Tất cả chiến lược, chiến thuật đó, đều được ông sử dụng một cách linh hoạt và đã thành công trong thực tiễn.

Vùng hoạt động của Tân Tứ Quân là Giang Tây, Triết Giang, Thượng Hải. Nơi đây trình độ giáo dục văn hóa đều rất phát triển. Những hành động bạo ngược của quân Nhật đã kích động lòng yêu nước của các thanh niên trí thức, nên họ ùn ùn chạy vào căn cứ địa để kháng Nhật, tham gia công tác.

Phải đối đãi với những người học sinh, sinh viên đầy nhiệt tình yêu nước này như thế nào đây? Đó quả là một vấn đề nan giải.

Do nguyên nhân lịch sử, lúc bấy giờ trong Đảng và trong quân đội, thành phần công nông chiếm đa số. Nhất là vì chịu ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh, mọi người đối với những phần tử trí thức có ý xem thường và không tín nhiệm.

Nhưng Túc Dụ không nghĩ như vậy, ông cho rằng quân sự là một môn khoa học có tính tổng hợp rất cao. Chỉ dựa vào lòng gan dạ, dũng cảm không chưa đủ, mà cần phải có trình độ văn hóa cao. Nay có nhiều thanh niên trí thức gia nhập, đối với việc nâng cao sức chiến đấu trong quân đội là có lợi, chứ không có hại. Do vậy, ông yêu cầu tất cả những người dưới quyền chỉ huy của ông, phải quán triệt phương châm đúng đắn đối với những phần tử trí thức, đó là: nhiệt tình hoan nghênh, dùng lễ đối xử, trao cho nhiệm vụ quan trọng, bảo hộ và quan tâm, để họ đi đứng tự do.

Trong Tân Tứ Quân, Túc Dụ còn kiêm nhiệm một sư trưởng. Cán bộ ở cấp đại đội chiếm sáu mươi phần trăm là trí thức. Sư này có sức chiến đấu mạnh nhất, có chiến công cao nhất, đó là điều không thể tách rời với thái độ là cách biết dùng người trí thức của Túc Dụ.

Túc Dụ hết sức chú trọng đến việc xây dựng binh chủng kỹ thuật. Trong một thời gian dài, quân đội nhân dân chỉ có bộ binh và một số pháo binh rất hạn chế. Nhưng theo đà tiến lên của cuộc chiến tranh giải phóng, quân đội lần lượt chiếm được nhiều trang bị khí tài của giặc. Túc Dụ với một tư tưởng nhạy bén, đã nhận thức rằng, lợi dụng trang bị lấy được của địch để xây dựng các binh chủng kỹ thuật, đối với việc phát triển về lâu về dài của quân đội ta, là rất quan trọng. Cho nên quân đội dã chiến ở Hoa Đông, không chỉ có bộ binh, pháo binh, mà còn xây dựng được công binh, thiết giáp, xe tăng, quân đo đạc, trinh sát kỹ thuật v.v...

Sau ngày nước Trung Quốc mới được thành lập, Túc Dụ đã lần lượt đảm nhận các chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng, Tổng tham mưu trưởng, Viện trưởng Học viện Khoa học quân sự v.v... Ông đã cố gắng xây dựng bộ đội hiện đại. Ông chủ trương, lục quân cần phải giảm bớt quân số, và tập trung tài lực, vật lực để phát triển pháo binh, thiết giáp binh, công binh, truyền tin binh, đội ra-đa, đội phòng chống chiến tranh hóa học. Ngay từ hồi thập niên năm mươi, mà ông đã dự đoán từ nay về sau, chiến tranh sẽ từ chỗ đấu nhau bằng súng trường, chuyển sang đấu nhau bằng đại bác, bằng tên lửa là chính. Cho nên, việc khống chế bầu trời, khống chế mặt biển là rất quan trọng trong chiến tranh tương lai.

Sức khỏe của Túc Dụ không tốt lắm. Trong những năm chiến tranh, ông trước sau bị thương sáu lần, đặc biệt là có hai lần bị trúng đạn vào đầu, nay vẫn còn để lại di chứng đau đầu, chóng mặt, không thể chữa dứt. Nhưng, khi ông làm việc, thì một người thanh niên khỏe mạnh cũng không theo kịp. Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng, ông thường đội một chiếc nón làm mát đầu để chỉ huy tác chiến. Sau khi giải phóng, ông giữ nhiều chức vụ lãnh đạo cao cấp, theo quy định, ông có thể làm việc tại nhà, nhưng ông vẫn kiên trì mỗi ngày đi làm tại công sở, và lại thường làm thêm ca, thêm giờ.

Trong thời gian "Đại cách mạng Văn hóa", ông đang chủ trì tại Học viện Khoa học quân sự, và đã bị bọn tạo phản tấn công. Học viện Khoa Học quân sự là nơi tập trung rất đông những nhân tài khoa học, là kho tồn trữ về tư tưởng, để xây dựng quân đội hiện đại hóa. Vì để bảo vệ những người giỏi khoa học kỹ thuật này, Túc Dụ không sợ đắc tội với bọn tạo phản dù chúng tự cho mình là đỏ đến phát tía. Ông sẵn sàng vượt lên những nguy hiểm, để bảo vệ cho tất cả những cán bộ ở đây.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 11:22:55 am

Tháng Giêng năm 1976, "Tứ Nhân Bang" đã dấy lên một phong trào "phê Đặng và phản kích cánh hữu khuynh lật lọng". Túc Dụ lúc đó tuổi đã cao, lại thường bệnh hoạn, cảm thấy hết sức buồn khổ, tức giận. Ông quyết định viết một cuốn hồi ký, để thông qua những ngày chiến đấu của mình, phân tách sâu sắc quy luật và đặc điểm chiến tranh chống xâm lược trong tương lai. Sau ngày đập tan "Tứ Nhân Bang", quyển hồi ký đó được chỉnh lý thành hai quyển sách "Thiên vạn lý chuyển chiến" (Đánh xoay vòng nghìn vạn dặm) và "Túc Dụ chiến tranh hồi ức lục" (Hồi ký chiến tranh của Túc Dụ). Hai quyển sách này, không phải đơn thuần hồi ức về lịch sử, mà trong đó có rất nhiều đoạn phân tích sâu sắc, cụ thể, chứng tỏ tác giả đối với chiến tranh có một sự nhận xét giàu lý trí, nên nó rất đáng đọc, có tính tư tưởng rất cao.

Nói đến sở thích của Túc Dụ, thì đầu tiên phải nói đến "súng". Điều đó có lẽ do nửa đời dấn thân trong chiến tranh, nên ông có sở thích đó chăng? Trong thời kỳ chiến tranh, tất nhiên súng không bao giờ rời khỏi người. Sau giải phóng, ông vẫn có hứng thú sưu tập các loại súng. Những súng mà ông sưu tập, gồm có những thứ súng lấy được của địch, cũng có những thứ súng do Trung Quốc tự thiết kế chế tạo, mà cũng có những thứ súng do bạn bè người nước ngoài tặng cho. Ông rất trân trọng những thứ súng mà ông sưu tập được. Là một quân nhân, ông hiểu rất rõ, trong những cuộc chiến tranh xâm lược sắp tới, chỉ có tự mình tự lực cánh sinh thì mới không bị đánh bại mà thôi. Năm 1960, bộ đội nghiên cứu và chế tạo được loại súng bán tự động kiểu 56. Súng này có xạ trình xa, bắn chuẩn, giá trị thực dụng rất tốt. Túc Dụ rất yêu thích loại súng này. Ông lấy cây súng bộ binh mà bộ đội đã tặng cho ông, làm thêm một cái cán cầm phía dưới bá gỗ. Như vậy tuy tay trái của ông bị tàn phế, mà vẫn có thể thao tác được như thường. Cây súng này đã trở thành vật yêu thích nhất của ông. Khi đi săn ông vẫn dùng nó.

Sự yêu thích súng của ông, chẳng những phản ánh lòng mến tiếc từng niên đại trong thời kỳ chiến tranh, mà với tư cách là một người lính già, giây phút nào ông cũng sẵn sàng vì dân tộc, vì quốc gia, mà trở ra chiến trường để giữ nước.

Yêu thích thứ hai của ông là sưu tập bản đồ. Trong phòng làm việc và trong phòng ngủ của ông, phàm những nơi nào có thể lợi dụng được, ông đều treo đầy bản đồ. Ông thường lấy kính lúp để soi kỹ từng điểm trên bản đồ, và xem đó là một cách nghỉ ngơi tốt nhất của ông. Đối với ông, nếu không biết xem trọng bản đồ, không biết về bản đồ, thì không đủ tư cách để làm một người chỉ huy.

Có một hôm, con gái ông gọi ông ăn cơm, trong khi ông đang tập trung nghiên cứu bản đồ, nên không trả lời. Con gái ông hỏi ông có thể nhớ được bao nhiêu địa danh đó không? Ông tươi cười gật đầu, và chỉ cho con gái thấy nhiều điểm chi li trên bản đồ. Rốt cục, ông chẳng những đối đáp đúng hoàn toàn những câu hỏi do con gái đặt ra về các địa phương, dù nó rất hẻo lánh, mà có những con sông nhỏ, quả núi nhỏ, cầu, trên bản đồ không có ghi rõ, ông vẫn biết rõ mồn một.

Đối với đường lớn, hẻm nhỏ ở Bắc Kinh, ông hiểu rõ như lòng bàn tay của mình. Ông thường ngồi xe hơi công cộng, đi từ điểm khởi đầu cho tới điểm cuối cùng để khảo sát. Thậm chí, ông đi bộ vào các ngõ hẻm nhỏ để tìm hiểu. Một số đường xe công cộng mới mở, ông cũng thường đi và biết rõ thứ tự từng trạm một. Những lúc cao hứng, Túc Dụ thường hát những bài ca hoặc những trích đoạn của những vở hát. Những bài đồng dao mà ông học hồi còn nhỏ, suốt đời ông không bao giờ quên. Ông thích hát nhất, tất nhiên là "Bài ca Tân Tứ Quân". Cứ mỗi lần ông hát tới câu "Tiến về Đông! Chúng ta là Tân Tứ Quân rắn như sắt thép!" thì giọng hát của ông rất hùng hồn, tinh thần của ông rất chuyên chú. Có lẽ lúc đó tâm hồn ông lại trở về chiến trường xưa, đầy khói súng và đầy tiếng nổ...


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 11:24:20 am

Túc Dụ chẳng những có nghệ thuật chỉ huy quân sự rất cao siêu, mà lại có thể làm thơ, đề từ rất hay, đó là điều hiếm thấy trong các tướng lãnh cao cấp của Trung Quốc. Ông có một bài thơ như thế này:

 
Bán thế sinh nhai nhung mã gian,
Nhất sinh hệ đắc kỷ nguy an.
Sa trường bách chiến đàm tiếu quá,
Tế ngộ số phiên lịch tân gian.
Tùng thương cảm hướng vân tranh lập,
Thảo kình khỉ cụ tật phong hàn.
Sinh tử trầm phù tầm thường sự,
Lạc tương hoằng nguyện phó thanh sơn.


Dịch:

Nửa đời sống giữa binh nhung,
An nguy âu chuyện bình thường xẩy ra.
Sa trường bách chiến kể qua,
Bao phen gian khó mà ta vẫn thường.
Tùng xanh mây trắng cố vươn,
Cỏ già trước gió xem thường sợ chi?
Phù trầm sinh tử lạ gì,
Núi xanh ta gửi chí to cho tròn.


Ý thơ bộc lộ tâm hồn cao rộng của người làm tướng, thái độ không hề biết sợ gian nguy, và luôn luôn lạc quan của một người được trui rèn trong chiến đấu.

Sưu tập bưu hoa cũng là một sở thích nghiệp dư của Túc Dụ. Trong "Đại cách mạng văn hóa" thế lực cực tả đã miệt thị nghệ thuật sưu tập bưu hoa, bảo đó là "tác phong của giai cấp tư sản", và có một thời gian bị hạn chế. Năm 1971, Túc Dụ được giao trách nhiệm là thành viên của tổ nghiệp vụ thuộc Quốc vụ Viện, và được phân công lo về giao thông bưu chính. Khi nghe việc sưu tập bưu hoa bị cấm chỉ, thì ông vừa tức cười lại vừa tức giận. Sưu tập bưu hoa là một thú chơi mà trẻ già đều thích hợp, từng được đông đảo quần chúng tham gia, vậy làm sao bảo nó là "Tứ cựu" (bốn cái cũ) được? Ông bèn chỉ thị cho Bộ Bưu điện phải khôi phục lại hoạt động sưu tập bưu hoa, và tiến hành xuất khẩu bưu hoa ra nước ngoài.

Đứa con trai đầu lòng của Túc Dụ sinh ra trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật đầy máu lửa. Cậu bé sống tại nhà ông ngoại ở Dương Châu đến hai tuổi. Từ đó trở đi, cậu bé tên gọi Nhung Sinh này được sống bên cạnh cha và theo bộ đội hành quân đánh giặc.

Đời sống trong bộ đội hết sức gian khổ, thế mà cậu bé hai tuổi, vẫn phải chịu đựng giống y như người lớn. Kẻ thù phong tỏa, càn quét, dẫn tới bao nhiêu khó khốn. Ăn uống không được chọn lựa, đói rét không được kêu ca, ban đêm không được la khóc.

Đề rèn luyện tính can đảm cho con trai, dù nó mới hai tuổi, ông đã dạy cho nó bơi lội. Cách dạy bơi lội của ông rất đặc biệt: Ông bảo con trai ôm lấy một ống tre to, rồi nhảy xuống dòng suối. Đứa bé còn quá nhỏ, tất nhiên là không đủ can đảm để nhảy. Túc Dụ liền bồng con trai lên, và ném nó xuống nước. Chỉ sau mấy lần, đứa bé đã dám tự nhảy, và đã biết bơi.

Cách làm như vậy, thoạt nghe như có vẻ quá nhẫn tâm, nhưng điều đó, lại ngầm chứa tình yêu con hết sức thâm trầm của một người cha. Là quân nhân, là cha, Túc Dụ hy vọng con trai mình khi lớn lên, sẽ trở thành một chiến sĩ dũng cảm. Năm Nhung Sinh sáu tuổi, Túc Dụ cho con trai mình một món quà đặc biệt, quý giá: một khẩu súng lục lấy được của quân địch. Nguyện vọng của Túc Dụ đối với con trai, là lớn lên nó sẽ làm lính, để hiến thân cho nhân dân và Tổ quốc.

Nhung Sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Đó là những năm sáu mươi, tập đoàn Tưởng Giới Thạch đang hò hét "phản công đại lục" rất dữ dội. Nhung Sinh với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, muốn gia nhập quân đội, nhưng Túc Dụ dạy con phải học tập thêm về khoa học kỹ thuật hiện đại, thì mới có thể cống hiến cho Đảng, cho nhân dân và quân đội được nhiều hơn. Lời giáo dục của cha làm cho ý tưởng của Nhung Sinh thay đổi, và cậu đã thi được vào trường bách khoa của thành phố Cáp Nhĩ Tân.

Năm 1966, Nhung Sinh đã tốt nghiệp trường này.

Là con em của một tướng lãnh cao cấp, là một học sinh Trường Võ bị có phẩm chất và thành tích tốt, Nhung Sinh vốn có thể ở lại thành phố lớn để làm việc. Nhưng cậu không hề đề ra một yêu cầu nào cho mình, mà vui vẻ nhận sự phân phối chung, đến biên cương miền Nam của Tổ quốc để làm một chiến sĩ bình thường.

Nhung Sinh đã trưởng thành trong một trường đại học quân đội. Sự thể hiện tài năng ưu việt của cậu, khiến cậu đã đi từng bước một từ tiểu đội trưởng, lên trung đội trưởng, và sau này đảm trách những chức vụ lãnh đạo cao hơn, trở thành một người chỉ huy quân đội. Điều kiện khó khăn ở biên cương miền Nam tổ quốc, là một bài học tốt để Nhung Sinh tiếp tục rèn luyện.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 11:25:25 am

Năm 1969, Túc Dụ, một tướng lãnh cả đời liêm khiết, lần đầu tiên đã mở "cửa sau".

Năm ấy, Nhung Sinh được lệnh điều động từ đơn vị cũ, trở về nội địa để tiếp tục công tác trong quân đội. Đời sống và những điều kiện sinh hoạt khác, đều được cải thiện rất tốt. Nhưng, Túc Dụ thông qua "quan hệ" của mình, yêu cầu điều động Nhung Sinh từ đơn vị đang phục vụ, đến biên cương phía Bắc đầy tuyết giá.

Lúc bấy giờ, suốt dọc biên giới Trung-Xô, chuyện đổ máu vẫn thường xảy ra. Tình thế ở biên giới phía Bắc có thể bùng nổ chiến tranh bất cứ lúc nào. Một số người tham sinh úy tử, đã nghĩ đủ cách chạy chọt để được điều từ tiền tuyến về hậu phương, làm ảnh hưởng tới tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Giữa giây phút gay go đó, người lão quân nhân Túc Dụ, lại đi “cửa sau" để điều động con trai mình, từ nội địa trở ra tiền tuyến!

Ông không thương con trai mình sao? Nhưng, ông biết có làm như vậy mới thực sự là thương con. Ông không xem con trai của mình là tài sản riêng, mà xem con mình cũng như lớp con cháu sau này, phải gắn liền với vận mạng của dân tộc và tổ quốc.

Chiều ngày năm tháng hai năm 1984, Túc Dụ qua đời vì bệnh.

Trước khi tắt thở, Túc Dụ đã dặn đi dặn lại: không cử hành lễ viếng di thể, không cử hành lễ truy điệu. Ông chỉ có một lời yêu cầu là đem tro cốt của ông rải khắp nơi trên những miền chiến trường mà ông đã đánh nhau với kẻ thù, ở tại các tỉnh Giang Tây, Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Tô, An Huy, Sơn Đông, Thượng Hải, Hà Nam v.v... Ông muốn mình sẽ mãi mãi ở bên cạnh những chiến sĩ đã nằm xuống trên khắp các chiến trường này và không được thấy ngày thắng lợi.

Ngày một tháng tư, chiếc xe chở tro cốt của người tướng lãnh ấy lần lượt chạy về khắp tất cả các vùng mà trước đây ông từng chiến đấu...

 

Tiếng súng ở Nam Xương đã mở ra một chương mới trong lịch sử Trung Quốc.

Trong lều cỏ tại Tỉnh Cương Sơn, một chàng quân nhân đã lần lượt trưởng thành.

Trong các trận đánh trên khắp miền Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Nam, với hành trình nghìn dặm, Túc Dụ lần đầu tiên phát triển tài hoa của mình.

Tại Vị Cương, "Một kiếm trừ xong tiểu Lâu Lan", đã đốt cháy ngọn lửa chiến tranh kháng Nhật, ở hai bên bờ sông Trường Giang.

Qua trận huyết chiến tại Huỳnh Kiều, bình định được phía Bắc tỉnh Giang Tô, rồi tiến vào phía Nam Triết Giang để phá khuấy địch, người anh hùng dân tộc Túc Dụ, đã lập được công lớn trong sự nghiệp giải phóng đất nước.

Bảy trận đánh bảy lần thắng, đã xây dựng cơ sở đầu tiên cho người tướng quân, và làm cho nhuệ khí của địch bị tụt xuống. Sau đó, trong các trận chiến tại Túc Bắc, Lỗ Nam, Mạnh Lương Cố, Sa Thổ Tập, Khai Phong, Túc Dụ đã chiến thắng liên tiếp. Rồi lại đánh chiếm Lạc Dương, Khai Phong, Tế Nam, Từ Châu của địch, cũng như giành đi giành lại với địch những nơi đó. Qua trận đánh Hoài Hải, Túc Dụ là người đã có công bình định được Trung Nguyên.

Hằng triệu hùng binh vượt qua sông Trường Giang, Túc Dụ là một trong những vị thống soái. Ông và bao nhiêu anh hùng trong quân đội đã cắm lá cờ đỏ lên nóc "phủ tống thống” tại Nam Kinh, và cũng đã cắm lá cờ đỏ bay tung nơi ven sông Hoàng Phố.

Trong nửa đời chinh chiến, ông đã có trên mười mấy vạn chiến hữu, đã vĩnh viễn nằm xuống trên con đường đi tới thắng lợi.

Hôm nay, Túc Dụ đã đến thăm các chiến hữu của mình, và vĩnh viễn không bao giờ xa rời họ nữa!

Cây cỏ núi sông nhuộm máu đào, hương hồn của người chiến sĩ trung liệt bay cao tận mây xanh.

Chỉ là một hạt "Túc" (bắp) trong biển cả, mà tên tuổi của ông sống mãi mãi với đời.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:26:12 pm

NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ
ĐẠI TƯỚNG TỪ HẢI ĐÔNG



1. ANH THỢ GỐM ĐỎ

Ai có đọc quyển "Tạp ghi trong chuyến đi về phía Tây" của một ký giả ngoại quốc, ông Edgar Parks Snow sẽ không quên dòng chữ "Từ Hải Đông, người thợ gốm đỏ". Trong mười năm nội chiến và chiến tranh kháng Nhật, dưới mắt của các ký giả ngoại quốc, Từ Hải Đông là một nhân vật thần bí "danh tiếng lẫy lừng". Ngoài việc ông từng làm công nhân gốm ở Hồ Bắc ra, thì mọi người ở bên ngoài biết rất ít về ông. Ấn tượng mà Từ Hải Đông gieo vào lòng những ký giả ngoại quốc đã từng gặp ông, là "người lãnh tụ đảng Cộng sản có ý thức giai cấp mạnh mẽ nhất mà tôi được gặp - bất luận về mặt thái độ, về ngoại hình, về cách ăn nói, về bối cảnh của cuộc đời, đều như vậy cả", "Là một người thuộc giai cấp vô sản thuần túy". Từ Hải Đông không bao giờ giấu mình là "công nhân lò gốm", là "cu li". Ông từng nói: "Nếu không có Đảng, không có Chủ tịch Mao, đến nay tôi vẫn là một anh công nhân lò gốm". Nguyện vọng to nhất của anh, là sau khi cách mạng thành công, sẽ trở về làm một anh thợ xây lò gốm. Vì anh xây rất nhanh và rất khéo. Vậy, một công nhân lò gốm, làm thế nào để trở thành danh tướng một thời. Đó là tất cả những sự truyền kỳ về cuộc đời của Từ Hải Đông.

Một nhà tâm lý nước ngoài là ông Sigmund Freud có lý luận như thế này: "Những từng trải của một con người trong thời thơ ấu sẽ quyết định một phần lớn nội dung tính cách và hành vi của người đó suốt cả cuộc đời. Nó cũng quyết định phương hướng phát triển trong sự nghiệp của người đó về sau này". Tác giả Châu Lạp Ba sau khi gặp mặt Từ Hải Đông, có ghi vào sổ nhật ký của ông những dòng chữ như sau: “Tính ông rất thành thực, rất thuần hậu và ôn hòa, mà cũng rất dũng cảm". Ký giả nước ngoài nói trên cho Từ Hải Đông là "thuần túy giai cấp vô sản", có tính chân thành, nhưng lại cố chấp. Tất cả những điều đó, đều bắt nguồn từ điều kiện xuất thân của Từ Hải Đông.

Ở vùng núi Đại Biệt thuộc tỉnh Hồ Bắc, mỗi nhà dù nghèo hay giàu, đều có những thứ đồ sành, gốm trong nhà để dùng, như lu, hũ, chậu, chai. Những thứ đó đều được dùng đất sét vàng nung thành. Nó là sản phẩm từ xã hội nguyên thủy, cho đến xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân của Trung Quốc cũ, đều có sản xuất. Cũng không biết từ thời đại nào, những người nung đồ sành gốm đều được gọi là "Nê ba nhân" (Người bùn), "Giao hoa tử" (thợ gốm). Năm 1900, Từ Hải Đông đã chào đời trong một gia đình làm thợ gốm ở tại huyện Hoàng Bì, tỉnh Hồ Bắc.

Quê hương của Từ Hải Đông, "Hoàng gia lão dao" (lò gốm cũ nhà họ Hoàng), là một thôn trang nhỏ, không thể tìm thấy trên bản đồ. Ở phía Tây thôn trang này có một lò gốm, do một nhà họ Hoàng xây dựng, nên nó mới có tên như vậy. Về sau, do tổ tiên của Từ Hải Đông đời đời nối tiếp nhau làm gốm, nung gốm ở đây, nên người ta lại gọi nơi này là “Từ Gia Lão Dao” (lò gốm cũ họ Từ). Nhà họ Từ sáu đời đều làm nghề gốm, không có ruộng cày, chỉ có hai mảnh đất giồng nhỏ. Ông có hai người chị, năm người anh, ngoài ra, lại còn bốn người anh họ nội và một người chị họ nội. Kể luôn cả cha mẹ, chú thím, cháu trai, cháu gái, cả nhà ông có tất cả ba mươi hai nhân khẩu. Cha, chú và mấy người anh của Từ Hải Đông đều là thợ gốm. Ngay từ lúc nhỏ, họ đã gắn liền với bùn đất. Mẹ Từ Hải Đông họ Ngô, được mọi người thường gọi là Thím Ngô.

Năm Từ Hải Đông chào đời, thím Ngô đã bốn mươi sáu tuổi. Trong thôn có câu tục ngữ: "Bốn mươi chín phải nín đẻ". Thím Ngô tuy chưa tới bốn mươi chín, nhưng với một người đàn bà lớn tuổi như vậy mà còn sanh con, bị người chung quanh xem như là chuyện xấu. Hơn nữa, bà đã có tới chín người con trai, con gái. Đứa con mới sanh này, nếu so với mấy đứa cháu do mấy người chị dâu lớn sinh ra, thì nó còn nhỏ tuổi hơn nhiều. Do vậy, thím Ngô và chồng đều cảm thấy xấu hổ. Năm Từ Hải Đông chào đời. là năm gặp nạn đói kém, trong nhà không có tồn trữ lương thực, lại không được bên ngoài tiếp tế, đời sống thực khó khăn. Mẹ Từ Hải Đông lại thiếu sữa, nên cha ông muốn đem nhận nước đứa con làm "mất mặt" gia đình này, cho chết đuối đi. Nhưng, người làm mẹ không nỡ vứt bỏ hòn máu của mình, nên cứ ôm con khư khư ngồi bên ao nước, mà không nỡ buông tay cho đứa con trai mình rớt tõm xuống nước. Cũng may, có mấy người chị dâu lớn thấy vậy, cũng tội nghiệp cho Từ Hải Đông, nên thường san sẻ một số sữa tuy rất ít cho đứa em trai út bú. Nhờ vậy mà Từ Hải Đông mới sống và lớn lên được.

Cho dù Từ Hải Đông khi lớn dần lên, có đôi mắt tròn xoe, sáng quắc, đôi má phúng phính, không cười cũng lồ lộ hai lúm đồng tiền, khi cười, hai lúm đồng tiền càng lộ rõ ra, khiến ai thấy cũng yêu thích, thế mà cha cậu vẫn chưa bao giờ bồng bế cậu lần nào và trong lòng cũng không thích chi cậu. Đến năm ba tuổi, mà cha cậu vẫn chưa hề bồng cậu một lần. Từ Hải Đông sống trong ngôi chòi tranh "Người bùn" như thế, chẳng khác chi một con người dư thừa. Chỉ riêng có má cậu là vẫn chăm chút thương yêu cậu. Nhưng, có điều bất hạnh, là đôi mắt của má cậu bỗng bị bệnh. Vì không tiền để chạy chữa, chẳng bao lâu sau, bà không còn thấy đường. Thế là Từ Hải Đông, luôn luôn được dùng một sợi thừng, cột lên cháng hai cành cây du, để cậu tha hồ bò, lăn, nhào lộn chung quanh đó. Và, đông qua xuân lại, thu đến hạ về, cậu không hề bị bệnh hoạn chi cả, mà dần dần lớn lên.

Thuở còn bé, Từ Hải Đông chưa bao giờ được mặc một bộ đồ mới. Vì trong nhà không ai ở không để chăm sóc cho cậu. Sang mùa hè, cậu ở trần ở truồng suốt ngày, và thường lăn chơi dưới đất, nên khắp người dính đầy bùn đất, từ đầu cho tới chân. Mấy người chị dâu thường nói đùa với cậu: "Trông kìa, cậu chẳng khác chi một ống "đậu hũ thối"!”. Từ Hải Đông nghe vậy cảm thấy rất thích, nên ré lên cười. Về sau, mấy người chị dâu của cậu, khi cần tắm rửa cho cậu, đều gọi cậu là "đậu hũ thối". Hễ gọi là cậu chạy tới ngay để cho mấy chị dâu tắm rửa giúp. Đối với mấy bà chị dâu, cậu tỏ ra rất tôn trọng, không kêu chị dâu, mà kêu chị, như chị ruột. Cho nên mấy chị dâu gọi cậu là "đậu hũ thối", cậu không cảm thấy bất bình, mà lại cảm thấy rất thân mật, nên kêu là cậu chạy tới ngay. Về sau, những đứa bé trong thôn xóm cũng kêu cậu như vậy. Vì mọi người cho rằng người cậu rất bẩn, nhà lại nghèo, và khi giận lên thì không sợ ai cả. Những đứa trẻ chung quanh, tuy nhiều lúc bị cậu giận, đấm đá bất kể, nhưng lại luôn luôn thích chơi với cậu, không bao giờ chịu xa rời. Đúng là "Ngửi thì thối, ăn thì thơm". Đặc biệt là những đứa bé có tánh rụt rè nhát gan, thường bị người ta ăn hiếp, thấy cậu dám bênh vực qua những điều bất bình, nên xem cậu như là người đỡ đầu cho mình. Dần dần ba tiếng "đậu hũ thối" trở thành biệt hiệu của Từ Hải Đông. Tên thật của cậu người ta không chú ý, mà chỉ gọi như thế cho đến khi cậu trưởng thành. Đến ngày cậu tham gia cách mạng, mà mọi người cũng vẫn gọi thân mật như vậy.

Sau khi Từ Hải Đông làm quân trưởng quân đoàn 25 Hồng quân, có một lần cậu dẫn bộ đội đi ngang quê hương mình, gặp một người bạn cũ có biệt hiệu là "Xác đậu". Người này trông thấy cậu đã làm quan to, nên rất cung kính, gọi cậu là "Từ quân trưởng". Nhưng, cậu thò tay chụp lấy người bạn của mình, nói đùa "Cậu quên rồi sao? Chúng mình là anh em chí cốt kia mà. Cậu là "xác đậu", còn mình là "đậu hũ", vậy không phải là bạn chí cốt hay sao?". Hai người đều cười xòa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:27:11 pm

Do Từ Hải Đông đánh giặc rất dũng cảm, lại thiện chiến, nên quân đội phản động Quốc dân Đảng rất sợ ông. Cứ mỗi khi nghe biệt hiệu "đậu hủ thối" thì cảm thấy "thứ này" không thể chọc tới được. Nếu chọc nó thì không sao chạy thoát đâu. Do vậy, ba tiếng "đậu hũ thối" đối với quân địch, lại có một ý nghĩa đặc biệt khác.

Thuở nhỏ Từ Hải Đông rất lanh lợi và hiếu học. Năm chín tuổi cậu được đưa tới một trường học của một người cậu ruột để học. Trong trường con em nhà nghèo ít, con em nhà giàu đông. Những con em nhà giàu thường kết bè với nhau để ăn hiếp con em nhà nghèo. Từ Hải Đông do vậy dần dần không chơi với họ nữa. Cả lớp có hơn ba mươi học sinh, nhưng chỉ có bốn năm người là chơi thân với cậu. Trong số đó, có một học sinh con nhà giàu, tên Lận Tích Đường.

Từ Hải Đông có sự tự trọng rất cao, trong việc học hành rất nghiêm túc, chẳng hơn một tháng, là cậu đã học thuộc quyển "Bách gia tính", chẳng những có thể nhận ra mặt chữ, mà còn có thể viết cả chữ. Kế đó, cậu học sang "Tam tự kinh", "Giáo nhi kinh", và "Tứ thư". Thầy dạy thường khen cậu trước mặt các bạn cùng lớp. Nhưng, Từ Hải Đông ngay lúc nhỏ đã quen tánh tự do phóng túng, hiếu động, nên bất luận đọc bao nhiêu sách của "Thánh hiền" tánh đó cũng không thay đổi. Có một lần, sau khi tan học, cậu lấy một chiếc ghế ở trong lớp, để tới nhà thờ họ bắt tổ chim. Không ngờ hai tay cậu vừa thò tới tổ chim, thì thanh gỗ mục nơi đó bị gãy và rơi xuống. Từ Hải Đông không kể chi tới chuyện đó, chỉ lo hai tay ôm lấy tổ chim có mấy con chim chưa biết bay, bỏ chạy ra khỏi nhà thờ. Về sau, chuyện này thấu tai mấy cụ già trong thôn. Leo phá làm hư hỏng nhà thờ, làm ô uế nơi thờ cúng tổ tông, là chuyện không phải nhỏ. Người thầy dạy của Từ Hải Đông sợ các bô lão làm ra to chuyện, nên đích thân gọi Từ Hải Đông đến đánh cho một trận nên thân, rồi lại đích thân đi xin lỗi, bỏ tiền ra làm lại chỗ hư hỏng trong nhà thờ. Như vậy, mọi việc mới kể là được giải quyết ổn thỏa. Nhưng từ đó, ông ta đối với Từ Hải Đông tỏ ra lạnh nhạt, vì cho rằng đứa cháu trai này rõ ràng quá hư hỏng, không thể dạy dỗ được. Bọn con em nhà giàu thấy thế, đều xúm lại ăn hiếp Từ Hải Đông. Nhưng Từ Hải Đông không xem chuyện đó ra gì, nên ba năm sau, cậu lại gây ra một tai họa lớn khác.

Có một hôm, một đứa trẻ con nhà địa chủ, ăn mặc sang trọng, cố tình tới gây sự với Từ Hải Đông, trêu chọc cậu là "miếng đậu hũ thối, chó không thèm ăn", rồi lại kéo bè kéo cánh với một số con em nhà giàu khác, tới vây đánh Từ Hải Đông. Vì tự vệ, Từ Hải Đông đã lấy nghiên mực ném thẳng vào đầu đứa học sinh con nhà giàu nọ, khiến nó bị vỡ trán chảy máu. Đám học sinh này lên méc với thầy giáo, rồi lại chạy về nhà khóc la với cha mẹ. Trong khi thầy giáo chưa kịp xử trí, thì cả nhà người địa chủ này đã kéo tới. Không cần biết phải quấy chi, xúm nhau đánh đá Từ Hải Đông, và bảo thầy giáo phải đuổi Từ Hải Đông ra khỏi trường, nếu không, thì họ sẽ mời thầy khác về dạy. Thầy giáo do sợ mất chén cơm, nên không cần biết phải trái chi cả, lấy thước bảng đánh Từ Hải Đông. Vì quá oan ức, không thể nói được với ai, Từ Hải Đông bèn chụp lấy cây thước bảng ném ra khỏi cửa, và ôm mớ sách của mình, đi thẳng ra ngoài, không quay đầu ngó lại. Thế là, Từ Hải Đông với số tuổi mới mười hai, đã không còn được vào trường học nữa.

Ba năm học hỏi ở trường, khiến Từ Hải Đông thu thập được một số tri thức về văn hóa, nhưng cũng cho cậu thấy những nỗi bất bình của xã hội. Trong tâm hồn non dại của cậu, đã cảm thấy sự chênh lệch, sự bất công giữa giàu nghèo, và ngọn lửa phản kháng đã bắt đầu nhen nhóm trong lòng cậu.

Sau khi Từ Hải Đông bỏ học bèn theo mấy người anh để học nghề làm đồ gốm, xem như đó là "Người bùn" thế hệ thứ bảy của nhà họ Từ. Ban đầu cậu là người học việc, nên phải làm tất cả những công việc lặt vặt, rồi mới lần lần học chế tác những chậu gốm, hũ gốm. Lúc đó, cậu cũng như lớp cha anh mình, từ sáng sớm cho tới chiều tối, lúc nào cũng làm quần quật. Cậu thường ở trần trùi trụi dưới ánh nắng mặt trời, lo nhào đất, móc đất, gánh nước, bổ củi, nên da cậu ngăm đen. Nhất là gương mặt tròn với đôi má phúng phình, đã bị khói trong lò nung làm đen hắc như than đá. Chỉ có hai hàm răng là trắng tinh.

Trong những tháng năm làm lụng cực nhọc như thế, đối với Từ Hải Đông, thì lò gốm là nhà, nhà là một chiếc lò gốm cũ kỹ. Cả nhà cậu đều dốc hết sức mình ra để làm gốm, nhưng vẫn không thể cải thiện được đời sống. Trái lại, ngay như mức sống tối thiểu cũng thành vấn đề. Có một năm nọ tuyết rơi quá nhiều, trong thôn không còn lương thực, cả nhà đều vì đời sống mà ủ rũ buồn lo. Từ Hải Đông bèn gánh một gánh đồ gốm đi ra ngoài để rao bán. Cậu dầm sương chảy tuyết, bôn ba suốt một ngày, mà số tiền bán được không đủ ăn một bữa cơm. Quá đói, không chịu đựng nổi, cậu đã ngất xỉu, té xuống trước một nhà nọ. Cũng may, cụ già trong nhà là người lương thiện, mở cửa trông thấy thế, vội vàng khiêng "anh thợ gốm" vào nhà, rồi cho ăn một chén cháo nóng, anh mới tỉnh dần lại.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:28:28 pm

Từ Hải Đông đã sống liên tiếp chín năm với nghề làm gốm nghèo khó như ăn mày. Trong vòng chín năm đó, đất nước Trung Quốc đã xảy ra biết bao nhiêu sự biến. Cách mạng Tân Hợi, nước Trung Hoa Dân Quốc ra đời, Viên Thế Khải lại lên ngôi làm vua, quân phiệt đánh nhau khắp nơi... Trong lúc đó, chỉ có những người có học, những nhà giàu, mới quan tâm tới chuyện triều đại thay đổi. Còn Từ Hải Đông là một anh thợ gốm nghèo kiết, đối với những chuyện như thế, cũng không hiểu rõ ra sao. Anh chỉ biết người thợ gốm quá nghèo khó. Mùa hè, ai cũng ở trần trùi trụi, suốt ngày ở sát cạnh lò nung, chịu ngửi khói, chịu lửa nóng. Qua mùa đông, họ chỉ có thể nằm co ro trong một ngôi chòi tranh rách nát, không đủ điều kiện để che gió lạnh, tuyết rơi... Thế mà, còn phải cắn răng chịu đựng sự hiếp đáp của địa chủ, thổ hào.

Nhà họ Từ nung gốm liên tục, khiến cho một địa chủ họ Hoàng ở láng giồng cũng làm nghề gốm, thấy vậy sanh ganh tị, bèn kiếm chuyện để làm khó dễ. Ông ta bảo lò gốm nhà họ Từ nguyên trước đây có tên là "Hoàng Gia Lão Dao", vậy miếng đất này chính là miếng đất của tổ tông nhà họ Hoàng, và vu cáo nhà họ Từ đã chiếm đoạt đất của nhà họ Hoàng, buộc nhà họ Từ phải dọn đi. Nếu nhà họ Từ không chịu dọn đi, thì ông ta sẽ đến cào nhà, đập phá đồ đạc. Cha Hải Đông thấy địa chủ họ Hoàng có thế lực lớn, không dám chống cự, mà buộc lòng phải bày một bữa tiệc, mời mấy bô lão có chức vụ trong thôn xóm tới ăn, để nài nỉ họ giúp đỡ, rồi lại lấy ra một món tiền để mua quà biếu, tặng cho gã địa chủ họ Hoàng. Nhờ vậy mà mọi việc mới êm.

Nhưng việc này vừa mới êm thì việc khác lại xảy đến. Tháng ba năm đó, người anh thứ tư của Từ Hải Đông đi trẩy hội đình miếu, nghe có vợ bé của Lê Nguyên Hồng cũng đến xem hát, nên bọn thợ gốm, nông dân, đều vây lại để xem một người đàn bà giàu sang phú quí. Không ngờ, bọn thân sĩ cho rằng nông dân vây xem như vậy, là làm mất thể thống của phu nhân, nên sai gia đinh vác hèo đánh đập đuổi đi. Người anh thứ tư của Từ Hải Đông do chậm chân, bị họ tóm lấy, đánh cho một trận, rồi lại ra lệnh phải xuất tiền đãi tiệc cho các bô lão có chức tước trong làng, xem như để xóa đi sự sợ hãi cho "phu nhân". Thế là, gia đình của Từ Hải Đông lại phải chi ra một số tiền oan ức.

Đứng trước thái độ hống hách của nhà giàu, và bao giờ lớp người nghèo cũng bị nhục, Từ Hải Đông hết sức bực tức. Đã mấy lần anh định ra mặt đấu lý với bọn nhà giàu, nhưng đều bị người nhà ngăn cản không cho. Nhưng Từ Hải Đông suy nghĩ mãi, vẫn không thể hiểu được, tại sao đều là con người, mà người nghèo lại bị người giàu hiếp đáp? Sự hống hách của người giàu có từ đâu? Tại sao người nghèo chỉ căm giận người giàu mà không dám phản kháng? Anh cảm thấy người nghèo quá thực thà. Anh nói với mấy anh em của mình: "Về sau đối với người giàu đừng có nhân nhượng. Càng nhân nhượng thì họ càng hiếp đáp chúng mình".

Năm Từ Hải Đông hai mươi ba tuổi, nhà anh lại gặp phải một chuyện bị ức hiếp. Nguyên do câu chuyện là ở huyện Hiếu Cảm, có một tên chuyên buôn bán người. Hắn gạt một người phụ nữ đến lò gốm nhà họ Từ, để bán cho người anh thúc bá của Từ Hải Đông là Từ Nguyên Lượng. Nhưng Từ Nguyên Lượng không có tiền mua. Trong khi đó, người phụ nữ này lại thích Từ Nguyên Lượng, nên không chịu đi đâu nữa. Tên buôn người thấy vậy, bèn liên hệ với một tên nhà giàu xấu họ Lý ở trong thôn, bắt người anh thứ năm của Từ Hải Đông lên huyện đường để xét xử. Từ Hải Đông nghe câu chuyện đó, bèn cương quyết không chịu nhân nhượng bọn xấu. Chủ trương phải đi cướp người anh thứ năm trở về. Thế là Từ Hải Đông tự đứng ra lo mọi việc, lôi kéo một số cháu cùng tới ngã ba đường đi lên huyện, để đón đường giật lại người anh thứ năm bị bắt. Tới đây, Từ Hải Đông đem chuyện này nói lại cho một lão già tại địa phương nghe. Nghe xong, lão già rất đồng tình và ủng hộ Từ Hải Đông, bèn kêu gọi mấy mươi anh em nữa, phụ giúp để chận đường cướp người anh lại giúp cho Từ Hải Đông. Thế là họ đã cướp được người anh thoát khỏi tay bọn xấu. Về sau, tên nhà giàu họ Lý biết được chuyện này, nhưng cũng không có lý do gì để gây sự, nên đành bỏ qua. Sau cuộc đấu tranh thắng lợi, đã giúp cho Từ Hải Đông thấy được một vấn đề, bọn nhà giàu, bọn quyền quý trong thôn ấp, không có chi đáng sợ. Chỉ cần nhà nghèo đoàn kết lại, để đối phó với họ, thì họ phải nhượng bộ thôi. Thời kỳ đó, Từ Hải Đông từ cuộc sống đau khổ của mình, đã có một đòi hỏi phải làm cách mạng, và bất mãn với xã hội cũ, hy vọng thay đổi chế độ người bóc lột người. Nhưng đó chỉ là những ý thức cách mạng tự phát, còn mơ hồ chưa rõ ràng. Dù vậy, ngọn lửa chống lại chế độ cũ trong lòng anh, đã bắt đầu bùng cháy.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:30:13 pm

Nhưng tất cả mọi sự chuyến biến đã bắt đầu từ một buổi chiều mùa hè năm 1924. Lúc đó, Từ Hải Đông đang ngồi trước từ đường đọc sách, thì người bạn thân trước kia là Lận Tích Đường từ Võ Xương trở về triển khai công tác tại địa phương. Anh này biết Từ Hải Đông là con nhà nghèo, lúc đi học lại tỏ ra căm ghét bọn người hống hách, ỷ quyền làm bậy, và đối với địa chủ cường hào, có một ý chí phản kháng rất mạnh, nên tìm gặp Từ Hải Đông để giác ngộ anh. Hai người bạn thân gặp nhau, nói chuyện đủ điều, và cuối cùng cánh cửa cách mạng đã rộng mở để đón tiếp Từ Hải Đông.

Lận Tích Đường nói cho Từ Hải Đông nghe đời sống của mình kể từ ngày xa nhau, và những điều nghe thấy của anh ở thành phố Vũ Hán. Từ Hải Đông kể lại cho Lận Tích Đường biết về cuộc sống cực khổ của nghề làm gốm, và khi nói tới cường hào địa chủ hiếp đáp người nghèo, thì anh nói như khẩn cầu:

— Anh là người có học, vậy hãy nói cho tôi nghe thử những "người bùn" chúng tôi đây, muốn thay đổi vận mệnh của mình, thì phải làm sao?

— Phải làm cách mạng!

Lận Tích Đường nhìn thẳng vào đôi mắt Từ Hải Đông. Và, giọng nói của anh hết sức cương quyết.

— Cách mạng? Đó là cái quái gì?

Từ Hải Đông lại hỏi. Từ nhỏ tới lớn, anh chỉ nghe người ta nói sống chết do trời, giàu nghèo do mạng, chứ chưa bao giờ nghe nói tới hai tiếng "Cách mạng".

Lận Tích Đường thấy Từ Hải Đông muốn tìm hiểu tới nơi tới chốn, bèn mỉm cười rồi vui vẻ nói đến cách mạng Nga, và Lênin đã làm thế nào lãnh đạo thành công Cách mạng tháng Mười, lật đổ Sa Hoàng, xây dựng nên Xô Viết, do nhân dân làm chủ. Từ Hải Đông nghe những câu chuyện đó, cảm thấy nó vừa viển vông, vừa xa lạ, nên bỗng đưa cánh tay đen thui của mình lên, khoát một cái, để cắt đứt lời nói của Lận Tích Đường, và nói:

— Anh nói chuyện đó là chuyện của người ngoại quốc, của người Tây, tôi nghe không hiểu. Anh biết không? Ngay như Vũ Xương tôi cũng chưa đi đến bao giờ? Vậy, anh hãy nói cho tôi biết về câu chuyện của những "người bùn" chúng tôi đây!

Lận Tích Đường bèn xoay đầu đề câu chuyện, nói sang vấn đề địa chủ bóc lột người nông dân thế nào, người nghèo tại sao phải chịu khổ, và ở Trung Quốc đã có Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản đang lãnh đạo người nghèo đứng lên làm cách mạng, lật đổ đế quốc chủ nghĩa, đã đảo địa chủ, quân phiệt, quan liêu v.v...

— Những việc đó tôi hiểu rồi, địa chủ thổ hào là bọn xấu, cần phải đả đảo. Ngay như con cháu của chúng, nhất nhất cũng phải đập chết hết!

Từ Hải Đông liên tưởng đến lúc mình còn nhỏ, cắp sách đi học, bị con cháu địa chủ hiếp đáp đủ thứ, nên vừa nói vừa nghiến răng:

— Những lời nói của anh là những lời nói của những "người bùn" - Lận Tích Đường tươi cười rồi nói tiếp.

— Địa chủ, ác bá bóc lột hiếp đáp nông dân, có nợ máu, nên phải giết! Còn con cháu của họ, nếu không tham gia vào những chuyện làm đó, thì giết làm chi? Nếu họ đứng về phía người nghèo, phản đối việc bóc lột, việc gia đình họ hà hiếp nông dân, thì phải xem họ là người có công. Cái đạo lý đó tôi thong thả sẽ nói cho anh rõ.

Từ Hải Đông nghe những lời nói của Lận Tích Đường, trong lòng cảm thấy hết sức ấm áp. Tuy nhiên đối với cách mạng, anh vẫn còn ít nhiều hoài nghi: đời đời kiếp kiếp nhà ta làm nghề gốm, vậy cái "mạng" đó có thể thay đổi được sao? Kể từ đó, Từ Hải Đông thường đi tìm Lận Tích Đường để nói chuyện và mượn một số sách cách mạng để xem. Do vậy, trong đầu óc anh đã nảy sinh ra một ý nghĩ, là đi tìm cách mạng. Anh bảo Lận Tích Đường cùng anh đi tới Vũ Hán để tìm Đảng Cộng sản. Lận Tích Đường thấy Từ Hải Đông cương quyết đòi ra đi, trong lòng rất vui mừng, nhưng còn sợ người nhà của anh trì kéo lại, bèn nói:

— Người quân tử chỉ nói một lời, nói rồi về sau đừng hối hận đấy!

Từ Hải Đông trả lời một cách cương quyết:

— Quân tử một lời, ngựa giỏi khó đuổi. Nếu cần đi, thì phải đi liền, không để quá mùng tám. Theo tôi, chúng ta ăn tết xong, thì mùng tám tháng Giêng ra đi. Vậy, anh thấy thế nào?

Người ở miền quê bao giờ cũng thích xem lịch để tìm ngày tốt khi có việc đi xa. Từ Hải Đông lần này ra đi, trong đầu óc anh cũng tồn tại ít nhiều tư tưởng mê tín, nhưng anh vẫn cương quyết ra đi. Lận Tích Đường thấy được điều đó, hy vọng nếu anh ra đi, thì sau này sẽ còn tiến bộ hơn nữa. Cho nên hai người cùng hẹn đến ngày mùng tám tháng ba, tức ngày trẩy hội đình miếu ở địa phương, thì cùng nhau lên đường.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:32:09 pm

Từ Hải Đông và Lận Tích Đường đã đi bộ suốt quãng đường dài hai trăm bốn mươi dặm đến Vũ Xương. Lận Tích Đường đang dạy học ở một ngôi trường tiểu liọc nhỏ. Từ Hải Đông đến nơi, bèn lấy việc gánh nước thuê để mưu sinh. Sông Trường Giang chảy thao thao bất tận, ngang qua thành phố Vũ Xương, là nguồn nước mà mọi nhà phải dùng đến, không bao giờ hết, không bao giờ cạn. Tuy nước sông có đục, nhưng gánh đổ vào lu rồi dùng phèn đánh lên một chốc, sẽ trở thành nước trong. Từ Hải Đông ngày ngày sáng sớm thức dậy, là trên vai gánh liên tiếp những đôi nước nặng đến một trăm sáu mươi bảy cân. Anh lên lên xuống xuống sáu mươi bậc đá ngoài đường, và không ngày nào ngưng nghỉ. Đôi vai anh do vậy đã sưng lên. Sau mười ba hôm, vì quá mệt mỏi nên anh ngã bệnh. Lận Tích Đường thấy thế rất lo sợ, ngày nào cũng ở bên cạnh chăm sóc cho anh. Trong hoạn nạn, Từ Hải Đông càng cảm thấy người bạn học cũ của mình thật có tình bạn sâu xa, lại thành thật. Một hôm, Từ Hải Đông kéo lấy bàn tay của Lận Tích Đường nói:

— Này Tích Đường, anh cư xử với tôi thật chẳng khác gì anh em ruột thịt!

— Chúng ta vừa là bạn học, vừa là đồng chí, tất nhiên cũng như anh em ruột thịt vậy!

Từ Hải Đông biết được ý nghĩa của hai tiếng "đồng chí", đồng thời cũng biết Lận Tích Đường đã là đảng viên Cộng sản. Anh trầm ngâm một lúc, nói:

— Tôi thật muốn làm đảng viên Cộng sản, chỉ có điều là năng lực tôi kém, không biết ăn nói, lại không biết viết lách.

Cánh cửa của Đảng bao giờ cũng rộng mở trước những người thành tâm làm cách mạng. Đơn xin gia nhập Đảng của Từ Hải Đông đã được tổ chức phê chuẩn. Tháng tư năm 1925, Từ Hải Đông đã dùng số tiền gánh nước có được, để đóng đảng phí lần đầu tiên.

Lúc bấy giờ, bọn quân phiệt Bắc Dương đang chiếm cứ Vũ Hán. Từ Hải Đông có một người bà con đồng hương, làm việc tại bộ đội của Lưu Tá Long tại Vũ Hán. Tổ chức Đảng bèn cử Từ Hải Đông vào làm lính cho Lưu Tá Long. Lận Tích Đường thay mặt cho Đảng nói với anh:

— Tương lai cách mạng cần đánh nhau bằng vũ lực với địch. Vậy, anh hãy học hỏi quân sự để đánh giặc.

Từ đó, Từ Hải Đông chuyên cần học tập về quân sự, cũng như kỹ thuật trong quân đội.

Viên tiểu đội trưởng của Từ Hải Đông, là một người lính già, nhưng từng chịu sự huấn luyện trong quân đội chính qui. Về mặt quân sự, ông ta xem như rất khá. Từ Hải Đông lúc nào cũng học hỏi đủ điều. Người này rất khắc bạc, thường vơ vét lương hướng của binh sĩ, nên số tiền trợ cấp hàng tháng của Từ Hải Đông, tuy chẳng bao nhiêu, nhưng cũng bị ông ta vét hết. Nhưng, muốn được học tập quân sự và kỹ thuật tác chiến, Từ Hải Đông không nề hà chi việc đó. Chỉ nửa năm sau, trong cuốn sổ tay của Từ Hải Đông đã ghi chép dày đặc những kỹ thuật quân sự, mà anh đã học được. Và đến kỳ sát hạch trong quân đội, anh đã đứng hạng nhất trong toàn đại đội, và được thăng cấp làm trung sĩ tiểu đội trưởng.

Tháng bảy năm 1926, quân Quốc dân Cách Mệnh bắt đầu Bắc phạt. Tin tức đó truyền đến Vũ Hán, Từ Hải Đông bèn lập tức tìm gặp Lận Tích Đường để thương lượng. Họ cho rằng đây là thời cơ để góp sức với cách mạng, nên quyết định đi tới Quảng Đông để tham gia quân Bắc phạt. Sau khi được sự đồng ý của tổ chức Đảng, họ bèn cùng đi xuống phía Nam. Khi họ đi tới gần Thiều Quang, thì gặp quân đội Quốc dân Cách Mạng thuộc sư mười hai, quân đoàn bốn của Trương Phát Khuê. Hai người bèn gia nhập đội quân này. Sau khi Từ Hải Đông tham gia quân Bắc phạt, tác chiến hết sức dũng cảm, và được giao cho chức quyền trung đội trưởng. Chẳng bao lâu sau, quân Quốc dân Cách Mạng tấn công cầu Đinh Tứ. Chính Từ Hải Đông dẫn trung đội của mình, dùng chiến thuật vu hồi, đánh lén vào quân "Bắc dương quân phiệt", và đã tiêu diệt hoàn toàn bốn trung đội pháo binh của Ngô Bội Phù, lấy được mười hai khẩu đại bác. Anh được tuyên dương toàn sư đoàn, và chính thức thăng làm thiếu úy trung đội trưởng. Về sau, anh tham gia nhiều chiến dịch nổi tiếng, và trong những trận đánh oanh liệt, anh đã từng bước một, rèn luyện kỹ thuật chỉ huy tác chiến của mình.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:32:52 pm

Cuộc Bắc phạt đang tiến hành ồ ạt, thì Tưởng Giới Thạch làm chính biến ngày mười hai tháng tư. Kế đó, Hứa Khắc Tường lại phát động sự biến "Mã Nhật" tại Trường Sa. Tin chẳng lành cứ nối tiếp nhau bay tới. Cuộc cách mạng oanh liệt xem ra sắp thất bại tới nơi. Tổ chức Đảng liền ra thông tri, khẩn cấp yêu cầu tất cả đảng viên trong quân đội Bắc phạt, hãy nhanh chóng phân tán, tự mình tìm nơi lẩn trốn. Từ Hải Đông cũng rời khỏi doanh trại của quân đội Bắc phạt, trở về quê hương. Lúc bấy giờ, ở phía Đông Bắc tỉnh Hồ Bắc, cuộc vận động nông dân đang lên cao, huyện ủy Hoàng Bì sau khi tìm hiểu hoàn cảnh của Từ Hải Đông, bèn nhiệt tình mời anh đảm nhiệm đội trưởng tự vệ của nông dân. Dưới cờ của anh có mười ba người, vũ khí gồm một khẩu súng ngắn, có mười bốn viên đạn, ngoài ra, các chiến sĩ khác đều dùng đao, giáo, và súng lửa.

Lực lượng vũ trang cách mạng bao giờ cũng bắt đầu từ mấy người, mấy cây súng, mà phát triển lên. Dưới sự tổ chức và lãnh đạo của huyện ủy Hoàng Bì, Từ Hải Đông chỉ huy đội nông dân tự vệ của mình, từ một cây súng lục với mười bốn viên đạn dần dần phát triển lên được bảy cây súng trường, và hơn ba trăm chiến sĩ. Nhưng chẳng bao lâu sau, phái phản động Quốc dân đảng kết hợp với địa chủ, thổ hào tại địa phương, bắt đầu mở cuộc phản công. Đội tự vệ của Từ Hải Đông do không có kỷ luật nghiêm minh, việc huấn luyện quân sự không tới nơi tới chốn, tư tưởng tổ chức cũng còn yếu kém, nên đứng trước sự phản công của "Hoàn hương đoàn" (Đoàn trở về làng) và "Hồng Thương hội" (hội súng đỏ), đã bị tan rã rất nhanh. Từ Hải Đông tìm cách giữ lại bảy cây súng của mình, rồi trở về quê hương. Hai tháng sau, lực lượng võ trang phản động rút đi, Từ Hải Đông với bảy cây súng làm vốn, lại tổ chức đội nông dân tự vệ, và dẫn binh sĩ của mình tham gia cuộc khởi nghĩa Hoàng An.

Sau khi khởi nghĩa Hoàng An bị thất bại, Từ Hải Đông lại trở về lò gốm của mình, bí mật tổ chức đội võ trang. Sự tàn khốc trong đấu tranh, giúp cho Từ Hải Đông nhận thức được, muốn sinh tồn thì phải có khẩu súng trong tay. Chỉ có khẩu súng, mới bảo vệ được người nghèo khổ. Anh bắt đầu bôn ba khắp nơi, bí mật tổ chức đội võ trang. Đến mùa thu 1928, huyện ủy Hoàng Bì quyết định "bạo động ngày tết", nhưng kết quả bị thất bại. Người chiến sĩ trẻ tuổi Từ Hải Đông qua thất bại lần này, lại nhận thức rõ rằng cách mạng không phải là trò chơi của con nít, bạo động không phải để đùa bỡn. Vô số máu tươi của các đồng chí đã đổ, khiến cho anh hiểu được rõ ràng cách mạng chẳng những cần đến cây súng, mà còn phải học cách sử dụng súng, biết đánh du kích, thì mới là con đường sinh tồn duy nhất của cuộc cách mạng võ trang nhân dân.

Phái phản động đã dùng máu và lửa để trấn áp tàn nhẫn phong trào cách mạng. Họ đã đốt, đã giết không nương tay tại khu vực Đại Biệt Sơn. Nhưng "trong lửa đỏ mới biết vàng thiệt, trong vũng máu mới thấy anh hùng". Từ Hải Đông vẫn kiên trì đánh du kích tại khu núi ở Đông Bắc tỉnh Hồ Bắc. Anh đã lăn lóc trong máu lửa để trưởng thành.

Sau lần thất bại "Bạo động ngày tết" năm 1928, Từ Hải Đông lại có thêm một biệt hiệu, đó là "Từ Lão Hổ" (Cọp họ Từ). Người ở quê hương anh thường dùng tiếng "cọp" để hình dung hành động cách mạng của anh, ban ngày thì ẩn núp, ban đêm thì hành động, lấy núi làm nhà. Trái lại, địa chủ và dân đoàn dùng tiếng "cọp" để nói lên sự lợi hại, đáng sợ của anh. Trong bầu không khí khủng bố trắng, Từ Hải Đông chỉ huy một toán du kích nhỏ thiện chiến, ngày đêm quần thảo với địch. Khi thấy một cánh quân lớn của địch đến, họ vội vàng lẩn tránh vào núi rừng. Nhưng nếu một cánh quân nhỏ của địch đến, thì họ nhắm đúng thời cơ, đánh cho nó một trận đích đáng, bắt mấy tên tù binh, rồi nhanh chóng di chuyển đi nơi khác. Từ Hải Đông rút được những bài học trong thất bại đối với chiến tranh du kích, tổng kết thành hai câu: "Người đông không bằng người ít, người ít phải lựa người giỏi". Anh không còn say mê kéo cả đại đội người, và không hành động mạo hiểm như trước. Qua kinh nghiệm thiết thân của anh, thấy rằng trong hành động quân sự, tất nhiên cần phải mạo hiểm, vì không mạo hiểm thì không thể đánh giặc. Suy nghĩ cho kỹ, thì nếu hành động lỗ mãng, thiếu mưu lược, thì không phải là người anh hùng. Tất cả hành động, cho dù thượng cấp của Đảng có chỉ thị đi nữa, thì bản thân mình cũng giống như đứa bé mới học đi, mẹ chỉ có thể chăm lo mặt nào đó, con bước từng bước đi một, phải do chính mình. Từ Hải Đông quyết tâm bỏ rượu, đó là một tập quán xấu mà anh đã có trong thời kỳ còn làm thợ gốm ở quê hương. Cứ đến mùa đông lạnh, là anh phải mượn rượu để làm cho ấm. Nhưng khi anh chỉ huy toán du kích quần thảo với dân đoàn của địch, có lần anh vì uống rượu nhiều, nên bị bọn dân đoàn bao vây trong thôn, cũng may là ở góc nhà phía Đông, người chị dâu có để một đống rơm to, anh chui vào đó trốn, địch mới không phát giác được. Sau chuyện này, huyện ủy đã nghiêm khắc phê bình anh, bảo nếu anh vẫn thích uống rượu như vậy, thì có ngày sẽ làm hỏng chuyện lớn. Từ đó trở đi, Từ Hải Đông quyết tâm bỏ rượu. Qua sự huấn luyện của quân đội kiểu cũ, anh tuy học được kỹ thuật quân sự, nhưng cũng tiêm nhiễm một số tập quán không tốt của quân đội cũ, đó là tính nóng nảy, thường mắng chửi người dưới quyền. Trong hoàn cảnh gian khó, Từ Hải Đông phải kiên quyết từ bỏ những tập quán xấu như trên. Anh thường nhân lúc rảnh rang, nhắm hai mắt lại trầm tư suy nghĩ, để tìm cách từ bỏ cái xấu và phát huy cái tốt.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:33:46 pm

Trải qua ba mùa đông, cũng như trải qua bao màn đêm tối tăm mịt mờ, rốt cục, vùng núi Đại Biệt Sơn đã bắt đầu bình minh. Năm 1930, Biên đặc ủy Đảng Cộng sản Trung Quốc Ngạc Dự được thành lập (tức ủy khu vực biên giới Hồ Bắc, Hà Nam), từng cánh quân du kích một đã nhanh chóng phát triển lên. Tháng ba năm 1931, đội cảnh vệ do Từ Hải Đông chỉ huy đã phát triển thành đoàn ba mươi tám, sư mười ba, quân đoàn bốn hồng quân. Từ Hải Đông đã đánh du kích suốt ba năm, nay đã cởi bỏ chiếc áo dài mà đội lên chiếc mũ bát giác. Cho dù trên người anh chưa có một bộ quân trang đường hoàng, vẫn còn mặc áo vải đen, quần vải lam, nhưng đã quấn xà cạp, và mang dây nịt da, trông rất giống một quân nhân cách mạng.

Đứng trước bao nhiêu cuộc bao vây tấn công của kẻ địch, Từ Hải Đông đã chiến đấu hết sức dũng cảm, trông anh như một con hổ vồ mồi. Bao giờ anh cũng xuất hiện ở phía trước toán binh sĩ của mình. Có một lần, tay áo của anh bị hai viên đạn xuyên qua, làm thủng hai lỗ, và trên vai anh bị một viên đạn xẹt qua, chỉ xước qua da chứ không chảy máu. Qua cái may mắn đó, anh nói với một người cán bộ:

— Ái dà! Những viên đạn bay tới tôi, đều là những viên đạn ăn chay!

Lời nói đó được truyền tới tai sư trưởng Trần Canh. Một hôm, Trần Canh gặp Từ Hải Đông, bèn hỏi anh:

— Nghe nói những viên đạn bay về phía anh, đều ăn chay cả, phải không?

Từ Hải Đông cười, đáp:

— Đấy là tôi nói chơi!

Trần Canh biết Từ Hải Đông đánh giặc rất dũng cảm, khi gặp những tình huống khẩn cấp, bao giờ anh cũng xung phong đi đầu, nên bèn khuyên Từ Hải Đông:

— Anh là một con cọp, không bao giờ biết sợ chết, nhưng phải cẩn thận!

Từ Hải Đông vẫn trả lời câu thường nói của mình:

— Con người tôi mạng to lắm, đạn đến trước mặt tôi, thì nó tránh đi chỗ khác!

Trần Canh cười, nói:

— Ôi chao! Họ Trần tôi không tin số mạng, mà tôi chỉ tin Các Mác, và chỉ tin đạn có thể giết chết người. Nó bay đến trước mặt tôi, chắc chắn là không bao giờ đứng thẳng người rồi chào đâu!

Cho dù Từ Hải Đông nhận lời nói của sư trưởng là đúng, nhưng mỗi lần ra chiến trường thì anh lại quên mất đi. Anh cho rằng một người chỉ huy không thể chỉ ra lệnh xung phong là kể như xong, mà phải dũng cảm đi phía trước binh sĩ, thì mới động viên được binh sĩ của mình. Anh yêu cầu tiểu đoàn trưởng phải tiếp cận đại đội, đại đội trưởng phải tiếp cận trung đội, trung đội trưởng phải tiếp cận tiểu đội. Sự yêu cầu đó đúng ra là không có chi quá đáng. Vì với tư cách là một đoàn trưởng như anh, vẫn thường vượt qua vị trí của tiểu đoàn trưởng để chỉ huy tác chiến.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 02:34:32 pm

Tháng mười một năm 1931, hồng quân bắt đầu chỉnh biên. Từ Hải Đông được cử giữ chức đoàn trưởng đoàn ba mươi sáu, thuộc sư mười hai. Một hôm, tổng chỉ huy "Tứ phương diện quân đỏ" là Từ Hướng Tiền đến đoàn ba mươi sáu. Mùa thu năm 1929, sau khi ông đến vùng Ngạc Dự Hoãn (tức Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy) chẳng bao lâu, thì nghe đồn trong hồng quân có một "Hổ đoàn trưởng" xuất thân là công nhân, tên gọi Từ Hải Đông, biệt hiệu "Từ Lão Hổ". Cho nên sau khi chỉnh biên xong, Từ Hướng Tiền bèn cố ý tới đây để một mặt được gặp "Hổ đoàn trưởng", một mặt xem qua người chỉ huy nổi tiếng của mình.

Thực tiễn, chính là một bộ sách giáo khoa thư của cách mạng.

Từ Hải Đông mặc dù không có học ở trường quân sự nào, là một người "dốt", nhưng khi giữ nhiệm vụ một người chỉ huy được tôi luyện trong lò lửa cách mạng, ông đã không ngớt tìm tòi học hỏi, nên đã liên tục tiến bộ.

Đầu tháng hai năm 1932, trời đổ tuyết to, Từ Hải Đông đang xuất lĩnh một đoàn hành quân, bất ngờ tao ngộ với hai mươi đoàn của địch. Đôi bên đánh nhau suốt một ngày một đêm. Tới khi trời sáng, thì có nhiều trận địa đã bị địch đánh thủng, một tiểu đoàn bị thương vong rất nhiều. Hầu hết một tiểu đoàn và đại đội đều bị thương. Từ Hải Đông bèn từ phía sau chạy lên phía trước, rồi cởi bỏ chiếc áo bông, chỉ mặc một chiếc áo trắng phong phanh, chạy bay giữa tuyết. Các chiến sĩ trông thấy đoàn trưởng đã cởi bỏ áo bông, đoán biết đoàn trưởng quyết tử chiến với địch, nên các đồng chí vốn đã rút lui, cũng lại kéo trở lên. Những người bị thương đang nằm trong tuyết, cũng cầm súng đứng dậy tiếp tục chiến đấu.

Trên chiến trường là một cuộc so tài giữa súng đạn, đại bác, và lòng dũng cảm. Đứng trước địch quân trang bị hoàn chỉnh, và dù tình thế đang nguy cấp, hồng quân lúc nào cũng lấy tinh thần để áp đảo địch. Lần này có sự xuất hiện của Từ Hải Đông, lại một phen làm cho tất cả chiến sĩ trong đoàn phấn chấn trở lại. Hãy lắng nghe tiếng la gần như khàn lại của Từ Hải Đông vang lên từ tuyết giá:

— Hỡi các đảng viên Cộng sản! Hỡi các đồng chí thân yêu! Cho dù có hy sinh, cũng phải ngã trên tiền tuyến!

Thế là, toàn thể quân đội dưới sự chỉ huy của Từ Hải Đông, đã xông ra giữa tuyết trắng, tiến lên ác chiến với quân thù. Những quả đạn đại bác của địch đã làm nổ tung trận địa đầy tuyết trắng của hồng quân, đào xới đất đen từ dưới lên, pha lẫn với tuyết trắng. Người lính giữ cờ lệnh của đoàn bộ đã hy sinh. Người cảnh vệ binh cũng đã bị trọng thương. Từ Hải Đông bèn vác lấy cây cờ, tay cầm cây súng lục, đứng ngạo nghễ giữa trận tiền. Những lời hiệu triệu của anh, chính là mệnh lệnh thiêng liêng nhất. Sau ba ngày ba đêm, địch mở trên hai mươi lần xung phong lớn nhỏ, đều không thể vượt qua được trận địa của đoàn ba mươi sáu. Trần Canh từng ba lần cho người truyền lệnh: "Nhất định phải cố thủ!", "Phải thu hút quân địch về phía mình". Từ Hải Đông luôn luôn trả lời chỉ gọn lỏn trong hai câu: "Thủ trưởng an lòng! Chúng tôi nhất định chận được địch, người còn thì trận địa còn!"

Một cuộc liều chết quyết chiến tiến hành cho đến buổi chiều ngày thứ tư, thì quân địch không còn chịu đựng nổi nữa. Lúc bấy giờ, Tổng chỉ huy của hồng quân bèn hạ lệnh toàn bộ xuất kích. Tức thì, hồng quân từ bốn mật tràn ra tấn công ào ào. Họ xung trận giữa chính diện, bao vây tiêu diệt hai cánh hai bên, khiến trên hai mươi quân đoàn của địch, đều ùn ùn tháo chạy. Trên hai nghìn tên vì không tháo chạy kịp, đều bị hồng quân bắt làm tù binh. Trong số tù binh, có một viên đoàn trưởng, đã thán phục nói:

— Trước đây tôi chỉ biết hồng quân giỏi đánh du kích, nhưng bây giờ tôi mới được nếm mùi trận đánh chính quy của hồng quân. Các vị có thể thủ mà cũng có thể công!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:17:25 pm

2. HẠ BÁ DƯƠNG CỦA TRUNG QUỐC

Từ Hải Đông là người lãnh đạo quân sự trác tuyệt của Đảng và của Quân Giải Phóng Trung Quốc. Ông xuất thân hàn vi, tác chiến dũng cảm, từng lập nhiều kỳ công, khiến địch nghe tên phải kinh hãi. Ông đã trải qua trên một trăm trận đánh lớn, bị thương chín lần, trên mình hãy còn lưu lại mười bảy vết thương. Ông là người có đạo đức cao thượng, tính cách rộng rãi, thành thật, khoan hậu, chính trực. Mọi người đều gọi ông là "Hạ Bá Dương" của Trung Quốc.

Tháng mười năm 1932, khi chủ lực của "Phương diện quân bốn Hồng quân" rút khỏi khu Ngạc Dự Hoản Tô (tức khu Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy, Giang Tô) thì Tưởng Giới Thạch cho trên hai mươi vạn quân kéo đến tấn công khu căn cứ địa cách mạng của ta. Ý đồ của họ là tiêu diệt số hồng quân còn ở lại, và thanh toán tất cả những cơ sở cách mạng trong khu căn cứ địa. Đứng trước tình thế này, tỉnh ủy Ngạc Dự Hoản quyết định xây dựng quân hai mươi lăm, Từ Hải Đông được cử làm sư trưởng sư bảy mươi bốn. Trong hai năm chiến đấu bảo vệ vùng đất Ngạc Dự Hoản, cho dù gặp gian khổ như thế nào, gặp trở lực to tát tới đâu, ông vẫn quyết tâm chiến đấu, và vững một niềm tin tất thắng. Với sự vận dụng linh hoạt chiến lược, chiến thuật, ông đã đánh được nhiều trận thắng nổi tiếng.

Tháng mười năm 1932, Từ Hải Đông dẫn một đoàn đánh yểm trợ. Lúc đó, bỗng chủ lực phương diện quân bốn Hồng quân kéo đi về phía Tây. Do vậy, Từ Hải Đông bị mất liên lạc với bộ đội chủ lực. Ông đã đánh yểm trợ suốt hai ngày tại phía trước và phía sau vùng núi Anh Sơn, và khi không còn thấy chủ lực đâu nữa, thì ông chỉ huy binh sĩ của mình vượt đèo, vượt núi, tiếp tục đánh du kích, để thoát khỏi những cánh quân địch truy đuổi theo sát phía sau. Về sau, Từ Hải Đông gặp được Quách Thuật Thân là bí thư đảng ủy khu vực Tây Bắc tỉnh An Huy, và cùng tìm được bộ tư lệnh du kích. Qua đó, họ tổ chức bộ tư lệnh du kích Đông lộ để kiềm chế địch. Thượng cấp ủy nhiệm cho Từ Hải Đông làm tư lệnh phó du kích Đông lộ, kiêm sư trưởng. Lúc bấy giờ tình hình địch uy hiếp rất nặng nề, nội bộ lại rối loạn, về mặt lãnh đạo không nhất trí nhau. Từ Hải Đông đã gắng sức chống trả quân địch, trong khi chúng bám theo bao vây và tấn công. Sau cùng, Từ Hải Đông đã dẫn bộ đội của mình về khu Xô viết. Ngày đêm hành quân chiến đấu cực khổ, Từ Hải Đông rất ít khi được nghỉ ngơi. Lưng ngựa chính là "giường" ngủ của ông. Đôi mắt của ông lúc nào cũng như nhướng không lên, và khi mệt mỏi quá, ông mới leo lên lưng ngựa để ngủ một chốc. Nhưng sau đó, thì ông lại nhường ngựa cho thương bệnh binh. Đôi mắt vốn sáng ngời và lóng lánh có vẻ nhanh nhẹn của ông, lúc nào cũng nổi nhiều sợi gân máu đỏ.

Từ Hải Đông và Quách Thuật Thân cùng xuất lĩnh một cánh bộ đội nhỏ, hoạt động liên tục trong lòng địch. Cứ ban ngày tìm chỗ ẩn nấp, ban đêm xuất hiện hoạt động. Họ chiến đấu như thế hơn một tháng, và đã đi trên một đoạn đường dài hơn một nghìn dặm. Dọc đường hành quân, họ thu nhận thêm những toán du kích lẻ tẻ, những thương bệnh binh, nên đội ngũ của họ ngày càng lớn và bắt đầu thay đổi phiên hiệu, gọi là quân đoàn hai mươi bảy Hồng quân. Kẻ địch nhất thời hoang mang, không biết từ đâu lại chui ra một quân đoàn Hồng quân như thế này. Dĩ nhiên, chúng không bao giờ chịu buông tha, liền phái một lữ bám sát theo để truy kích.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:18:10 pm

Hạ tuần tháng chín, bộ đội của Từ Hải Đông bắt đầu đánh nhau với lữ đoàn bám theo của địch. Sau hai ngày đêm đánh nhau, lữ đoàn địch bị đánh tan, buộc phải rút chạy. Đến chừng đó, Từ Hải Đông mới thở phào nhẹ nhõm. Anh và bao nhiêu đồng chí khác đều mệt mỏi kiệt sức. Tới chạng vạng tối, tiếng súng ngưng hẳn, nhiều chiến sĩ nằm xuống là ngủ say. Ty Vụ trưởng ra lệnh dọn cơm, nhưng kêu đến khàn tiếng mà cũng không ai chịu thức dậy. Từ Hải Đông muốn để cho binh sĩ của mình được nghỉ ngơi một vài hôm, nhưng ông biết quân địch vừa bị đánh tan, vẫn có thể tổ chức đội ngũ rồi kéo trở lại, vì đó là một chuyện rất dễ xảy ra, nên ông định thừa cơ thắng địch, rút quân đi để thoát khỏi sự bám theo của chúng. Những người cùng lãnh đạo như Quách Thuật Thân, sau một tháng hành động và chiến đấu chung với Từ Hải Đông, biết về mặt quân sự ông rất túc trí đa mưu, nên bằng lòng nghe theo kiến nghị của ông. Vì Từ Hải Đông có nhiều kiến nghị vừa táo bạo lại vừa thận trọng, vừa giải quyết cấp thời, nhưng cũng vừa nghĩ tới lâu dài. Do vậy, họ đều đồng ý với Từ Hải Đông là phải cấp tốc hành quân ngay trong đêm để thoát khỏi sự bám theo của giặc.

Vừa mới đánh lui được kẻ thù, tất cả cán bộ và chiến sĩ, ai ai cũng muốn được nghĩ ngơi. Nhưng họ lại được lệnh phải hành quân ngay trong đêm, nhiều người không hiểu vì lý do gì. Nhưng quân nhân lúc nào cũng phải tuân theo mệnh lệnh của cấp trên, nên họ vừa ngủ vừa đi. Họ đi như thế liên tiếp ba đêm liền, mới thực sự thoát khỏi kẻ địch bám theo để truy kích. Lúc bấy giờ Từ Hải Đông cảm thấy nặng ngực, không muốn nói một câu nào. Dù đang hội họp, nhưng Từ Hải Đông bỗng nhắm nghiền đôi mắt ngủ thiếp. Quách Thuật Thân thấy vậy, bảo binh sĩ khiêng ông lên giường để ông ngủ. Nhưng ông cố nhướng mắt lên lẩm nhẩm nói:

— Tôi... tôi ngủ một chốc... quân địch tới, hãy kêu tôi... tôi...

Chiến sĩ cảnh vệ thấy sắp đến bữa ăn, nên nói nhỏ với Từ Hải Đông:

— Xin ông hãy ăn một tí gì rồi hãy ngủ. Để tôi đi làm ngay.

— Tôi không ăn đâu!

Từ Hải Đông từ chối không ăn cơm, nhưng miệng vẫn lẩm bẩm: "Kẻ thù tới, thì hãy gọi tôi..."

Khi chiến sĩ cảnh vệ bưng tới một chén cháo, thấy Từ Hải Đông ngủ như người say rượu, dù lay gọi, dù kêu réo chi, ông vẫn không thức. Vì, đã suốt hai mươi ba ngày đêm, ông chưa hề được cởi áo lên giường ngủ đường hoàng. Ông cảm thấy quá mệt mỏi rồi...

Nhưng rốt cục, Từ Hải Đông cũng thức dậy. Ông từ từ mở mắt ra, nhìn đồng hồ, thấy đã hơn năm giờ chiều. Ông nhớ mình ngủ hồi bảy giờ sáng, nên nói với người cảnh vệ bên cạnh:

— Sắp ăn tối rồi hả? Không ngờ tôi đã ngủ suốt một ngày!

— Cái gì một ngày? Ông đã ngủ hai ngày một đêm rồi - Người cảnh vệ tặc lưỡi nói tiếp - Ông ngủ hồi sáng hôm qua cho tới bây giờ đó!

— Nói nhảm!

Từ Hải Đông không khỏi ngạc nhiên và nạt người cảnh vệ. Nhưng đến khi ông thấy nét mặt của người cảnh vệ có vẻ rất nghiêm túc, chân thành, thì mới tin lời nói của anh ta.

Người cảnh vệ vừa vui mừng, vừa có vẻ kinh ngạc, nói với giọng đầy sùng bái:

— Sư trưởng ơi! Tôi sợ sư trưởng không thể thức dậy được nữa! Ông ngủ lâu quá, ngay đến trở mình cũng không trở lần nào!

Từ Hải Đông cảm thấy bán tin bán nghi, vội vàng bước ra ngoài. Ông thấy bao nhiêu đồng chí đều đổ dồn tia mắt kinh ngạc nhìn mình. Có một thằng ranh nhỏ, còn thè lưỡi ra rồi nói lén:

— Thế là ông ấy đã dậy!

Từ Hải Đông bước đi ra ngoài tản bộ một vòng, vừa mới định trở về nhà, thì cảm thấy trong ngực có một vật gì đó trào lên, và ông bất giác khạc mạnh ra ngoài. Không ngờ vừa khạc ra, thì người cảnh vệ khi nãy liền la to lên:

— Sư trưởng thổ huyết rồi!

Từ Hải Đông sợ việc này bị nhiều đồng chí biết, sẽ phân tâm vì sức khỏe của mình, nên chặn ngay lời người cảnh vệ lại, nói:

— Đừng có ngạc nhiên quá! Đánh giặc, ngày nào mà không có đổ máu. Khạc ra một tí máu như thế có hại gì đâu. Hãy mau lấy đất lấp nó lại, đừng nói cho ai biết nhiều đấy nhé!

Nói xong, Từ Hải Đông lại bước tới trước giường ngủ, nằm xuống và ngủ thiếp đi! Chiến tranh đã làm cho "con cọp" vốn không biết thế nào là mỏi mệt này, cũng phải đi tới mệt đuối và ngã quỵ.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:18:56 pm

Sau khi xây dựng quân đoàn đỏ số hai mươi lăm, Ngô Hoán Tiên được cử làm quân đoàn trưởng. Khi ông này nghe tin Từ Hải Đông từ Đông Lộ du kích trở về, bị mệt đến thổ huyết, thì khuyên Từ Hải Đông nên nghỉ ngơi vài hôm. Từ Hải Đông đáp:

— Chỉ đáng tiếc, bây giờ không phải là lúc nghỉ ngơi. Bình sinh tôi có một cái tật, không đánh giặc là bệnh, mà đánh giặc là khỏe ngay!

Nghe qua câu nói đó, Ngô Hoán Tiên cười, đáp:

— Nếu một người như anh, cứ khi nào bệnh thì đi đánh giặc, khỏi phải tìm thầy thuốc làm gì!

Thực ra, Ngô Hoán Tiên cũng hiểu, Từ Hải Đông chẳng qua khi nghe tiếng súng nổ thì dù có bệnh gì cũng quên đi tất cả mà thôi.

Đầu nửa năm 1933, quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân, Lần lượt đánh thắng mấy trận lớn ở Quách Gia Hà, Phan Gia Hà, Dương Tứ Trại v.v... tiêu diệt được hơn mấy nghìn địch, lấy được một số lớn vũ khí, làm cho thái độ ngông nghênh hống hách của quân giặc bị đập tan, tạm thời chúng co cụm lại để thủ.

Lúc đó, con đường của chủ nghĩa cơ hội tả khuynh vẫn đang tiếp tục phát triển trong Đảng. Tỉnh ủy nhận được lệnh của Trung ương, làm cho đầu óc một số đồng chí lãnh đạo cũng phát nóng lên. Sau khi chiến thắng Quách Gia Hà, họ lại kêu gọi, lại ra thông báo, bảo là căn cứ địa Ngạc Dự Hoãn đã đến thời kỳ "đại phản công". Họ còn bảo phải "tiêu diệt kẻ thù nội bộ", "thúc đẩy thanh trừng", còn nói đâu đâu cũng đều là "Phái cải tổ", "Phái thủ tiêu", "Đệ tam đảng", "AB đoàn"...

Một hôm, chính ủy sư đoàn đi họp về, vừa ăn cơm vừa dùng giọng điệu giáo dục, nói với Từ Hải Đông:

— Hiện nay, chúng ta không thể chỉ lo đánh giặc, mà phải xem lại nội bộ của chúng ta đang không thuần khiết một cách nghiêm trọng!

Từ Hải Đông không thích người chính ủy này, vì cảm thấy ông ta thường khoác lác, lại ưa ngả theo chiều gió, cho nên trả lời một câu hơi chỏi lại:

— Làm lính, thì chỉ nên nghĩ tới chuyện đánh giặc thôi!

— Đánh giặc, chuyện đó tôi không phản đối - Người chính ủy sư đoàn này nói tiếp - nên biết, nội bộ của chúng ta không thuần khiết, thì bọn phản cách mạng sẽ nổ súng từ phía sau lưng ta đấy!

— Tại sao nội bộ không thuần khiết? Tôi không nhận ra điều đó!

Từ Hải Đông lại phản bác ý kiến của viên chính ủy. Nét mặt của ông ta sa sầm, nghiêm giọng nói:

— Này đồng chí! Hãy để ý đến bọn phản cách mạng!

Từ Hải Đông cất tiếng cười, có vẻ châm biếm, nói:

— Có phản cách mạng mới hay, nếu không có phản cách mạng thì những người cách mạng như chúng ta dùng để làm gì?

Câu nói qua tiếng cười đó, chứng tỏ trong lòng Từ Hải Đông có điều bất mãn.

Viên chính ủy vẫn giữ giọng nghiêm túc:

— Tôi không phải nói đùa với anh. Hiện nay, trong nội bộ có rất nhiều phần tử phản cách mạng, tỉnh ủy đang cương quyết thanh trừng - Kế đó, ông ta lại nói với Từ Hải Đông - trong hồng quân cũng như trong khu Xô viết, có nhiều đảng viên từ bạch khu (khu của Tưởng Giới Thạch) chạy về. Những đảng viên đó đa số không đáng tin cậy. Đặc biệt là trong số họ, nhiều người xuất thân từ thành phần giai cấp bóc lột. Họ chỉ cần nghe thấy tiếng gió thổi mạnh, cây cỏ chao đảo, là họ cũng chao đảo theo!

Từ Hải Đông nghe đến hai tiếng "thanh trừng" thì rất khó chịu. Một người đảng viên Cộng sản không thể không có quan niệm về tổ chức kỷ luật, nên Từ Hải Đông suy nghĩ, nếu là quyết định của tỉnh ủy, thì mình phải phục tùng. Tuy nhiên, trong lòng anh cảm thấy nó làm sao ấy. Anh cảm thấy nội bộ không phải đều là phản cách mạng. Thế là ông chính thức đưa ý kiến với viên chính ủy, qua giọng rất xúc động:

— Có phản cách mạng thì bắt, nếu không có thì chúng ta không thể bắt bừa bãi được.

— Ai lại bắt bừa bãi! - viên chính ủy có vẻ bất bình nói tiếp - Người tốt thì không bao giờ bắt, nhưng người xấu thì chạy không khỏi đâu!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:19:34 pm

Không bao lâu sau, bộ đội đã bắt đầu triển khai việc thanh trừng đại qui mô. Chính ủy đích thân chỉ huy cuộc thanh trừng, đã cho bắt một chính ủy cấp đoàn, một tham mưu trưởng, và bốn mươi chín cán bộ đảng đoàn. Từ Hải Đông hết sức kinh ngạc, hỏi:

— Tại sao vậy? Họ đã phạm sai lầm gì?

Chính ủy đáp:

— Đây là thanh trừng, chứ làm gì!

Việc bắt người không cho Từ Hải Đông biết, việc thẩm vấn cũng không cho ông tham gia. Một đêm nọ, Từ Hải Đông nghe nói chính ủy đang thẩm vấn ở phòng bên cạnh, thì đi thẳng vào phòng. Lúc bấy giờ, Tiểu Chu là chỉ đạo viên của trung đội đặc vụ đoàn bảy mươi chín, đang bị treo trên xà nhà. Người thẩm vấn đang đánh để tra hỏi anh ta. Chính ủy sư đoàn cũng có mặt ở đấy. Đối với Tiểu Chu, Từ Hải Đông biết khá rõ. Ông còn nhớ Tiểu Chu năm vừa mới mười bảy tuổi, đã tham gia vào hàng ngũ cách mạng, từng làm trưởng ban tuyên truyền của đặc ủy phía Tây An Huy, và đoàn thiếu niên Cộng sản chủ nghĩa. Anh ta là một người thông minh, trung thực, ý chí cách mạng hết sức kiên cường. Suốt thời gian qua, anh không chứng tỏ có sai lầm chi cả. Vậy anh ta làm thế nào phản cách mạng được? Từ Hải Đông đứng trong bóng tối và tự đặt câu hỏi cho mình. Khi viên chính ủy đánh đập khảo tra, và không thể lấy được một lời khai báo nào, thì lại ra lệnh cho người cảnh vệ của ông ta, dẫn Tiểu Chu đi bắn. Từ Hải Đông quýnh quá, lên tiếng nói:

— Thưa chính ủy, không lấy được một tí khẩu cung nào, thế tại sao bắn người ta?

Viên chính ủy đáp:

— Anh không biết chuyện thanh trừng, kẻ không cung khai, chứng tỏ hắn là phần tử phản cách mạng kiên quyết nhất, không muốn để lộ tổ chức của họ!

— Anh ta tham gia tổ chức gi? - Từ Hải Đông hỏi vặn lại.

— Phải cải tổ!

Viên chính ủy sư đoàn thấy Từ Hải Đông vẫn cật vấn, bèn cười nhạt, nói:

— Thanh trừng là quyết định của Trung ương và tỉnh ủy, vậy anh đừng có chen vào! Tôi là tỉnh ủy viên, là chính trị viên, chuyện này do tôi chịu trách nhiệm.

Rốt cuộc, Tiếu Chu bị bắn. Và bốn mươi chín người khác cũng bị bắn. Tin tức này truyền đến tai Từ Hải Đông, anh cảm thấy hết sức đau lòng. Anh thấy lúc còn ở du kích Đông Lộ. phía trước nếu gặp địch chặn thì quân đoàn của bốn mươi chín người này đều tiến lên tấn công. Phía sau nếu có địch truy kích, thì cũng quân đoàn của họ chặn đánh. Nay lại bảo cán bộ từ cấp trung đội trở lên, đều có người phản cách mạng, vậy Từ Hải Đông này cũng là phản cách mạng nữa sao?

Lúc đó hồng quân, dưới sự lãnh đạo sai lầm, đang bao vây tấn công Thất Tinh Bình. Sau khi bộ đội chiếm lĩnh trận địa chưa tới mười ngày, thì bị cắt đứt lương thực. Đói kém và khủng bố đang uy hiếp toàn thể hồng quân tại vòng vây Thất Tinh Bình. Trong khi đó, việc thanh trừng cũng tiếp tục mở rộng trong quân đoàn hai mươi lăm. Trong những ngày đó, Từ Hải Đông cảm thấy rất bất bình, đau khổ, buồn nản. Từ sáng đến tối ông ít khi nào nói chuyện. Ông cũng bị xem là "người có tư tưởng hữu khuynh nghiêm trọng". Để giải quyết vấn đề lương thực, mỗi ngày Từ Hải Đông phải dẫn binh sĩ đi tải lương. Cứ mỗi một hạt lương, là một hạt máu đổi lại. Từ Hải Đông tính toán và thấy rằng, gần như cứ một bao lương thực, thì phải đổi chín chiến sĩ thương vong. Trong bốn mươi ba ngày vây hãm đánh địch, rốt cục địch không bị hại qua việc vây hãm, mà trái lại, quân đoàn hai mươi lăm đang bị điêu đứng - thương vong, tổn thất ba nghìn người, và tình thế bắt buộc tỉnh ủy phải quyết định mở vòng vây Thất Tinh Bình để rút lui.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:21:00 pm

Sau khi mở vòng vây rút lui, trong một cuộc hội nghị cốt cán, Từ Hải Đông đau đớn nói:

— Quân đoàn số hai mươi lăm đang là một đội ngũ tốt của giai cấp, thế mà lại làm cho nó hư hỏng đi. Vậy lãnh đạo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Những người lãnh đạo xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản, chỉ biết lo cho mình ăn no, chứ không nghĩ gì tới bộ đội!

Lời nói chưa dứt, thì viên bí thư tỉnh ủy đã dùng chiếc tẩu đang ngậm trên miệng, chỉ thẳng vào mặt Từ Hải Đông, nói:

— Này Hải Đông! Ai là người xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản? Quan điểm đó của anh có vấn đề đấy. Anh không có tư cách để tham gia hội nghị!

Từ Hải Đông bước ra khỏi cuộc họp, cảm thấy đầu nặng chân nhẹ. Anh bị đuổi ra khỏi cuộc họp của Đảng, đấy là lần đầu tiên trong suốt chín năm qua, sau khi được kết nạp vào Đảng, Từ Hải Đông mới gặp trường hợp này. Đừng nói chi anh đã từng gặp một trường hợp như vậy, mà ngay đến người khác ở vào trường hợp đó, anh cũng chưa bao giờ thấy. Anh nhớ lại mấy hôm trước, ủy ban thanh trừng bắt anh phải điền một tờ biểu mẫu, dặn dò anh phải nói rõ sau khi đại cách mạng thất bại, anh từ Vũ Xương chạy đi, đã được ai giới thiệu vào Đảng, và nơi vào Đảng là đâu, đều phải viết cho cụ thể. Anh lại suy nghĩ thêm nhiều vấn đề khác, mới bừng hiểu: thì ra, mình cũng bị hoài nghi nốt!

Sống giữa làn tên mũi đạn, sống trong một bầu không khí khủng bố trắng, Từ Hải Đông từ trước tới nay vẫn gan lì, chưa bao giờ biết sợ sệt. Thế mà giờ đây trong lòng anh bắt đầu sợ hãi. Trong những ngày đó, có không ít cán bộ sư đoàn bị chết dưới tay của người mình một cách không minh bạch. Nay người giới thiệu mình vào Đảng, thì một đã hy sinh, còn một thì ở đâu không rõ. Xem ra, bây giờ không còn ai chứng minh tình trạng vào Đảng của mình, vậy biết tính sao đây? Bây giờ chờ bị bắt, hay là tìm một con đường thoát thân khác? Trước đây mấy hôm, có một cán bộ bị hoài nghi, đã thừa đêm tối bỏ trốn mất. Nhưng mình có thể làm được như vậy không? Quân đội cách mạng, chính là nhà của anh. Anh suy tới nghĩ lui, tự nhiên âm thầm rơi nước mắt. Anh đang nằm trên giường nghĩ ngợi lung tung, thì bỗng người trung đội trưởng trung đội đặc vụ vào báo cáo:

— Kẻ địch đánh đến nơi rồi kia!

Từ Hải Đông nghe vậy, vội vàng nhảy xuống giường. Tiếng súng từ phía Đông Bắc vẳng lại, cách xa chừng hai ba dặm. Anh đoán rằng đó là sư đoàn ba mươi và sư đoàn ba mươi mốt của địch tấn công tới, bèn nhảy ra khỏi cửa và to tiếng bảo người cảnh vệ:

— Mau đi báo cáo với tỉnh ủy, phải di chuyến cấp tốc…

"Hay lắm, chúng bay đến thật đúng lúc" - vừa đi ông vừa nghĩ "Nhân cơ hội này, ta đánh một trận giặc cuối cùng, chết thì thôi, bị địch giết chết vẫn hay hơn là mang cái danh phản cách mạng xấu xa".

Từ Hải Đông vừa ra khỏi thôn, thì hai quân đoàn trưởng 202 và 222 cùng chạy tới. Họ vừa thở hổn hển vừa nói:

— Thưa phó quân trưởng, không xong rồi. Quân địch...

— Hãy tổ chức rút lui mau... mà không phản kích!

Từ Hải Đông ra lệnh rất quả quyết. Ông liền giao nhiệm vụ cho hai người đoàn trưởng, là đánh bọc hậu hai bên hông cánh quân của chúng.

— Thế còn mặt chính diện thì sao? - một viên đoàn trưởng lên tiếng hỏi lại.

— Hãy chấp hành mệnh lệnh!

Từ Hải Đông chỉ trả lời ngắn gọn, rồi ra lệnh cho đội giao thông, trung đội đặc vụ, cùng tấn công vào chính diện của địch.

Hai người đoàn trưởng có vẻ do dự. Họ không hiểu tại sao phó quân trưởng hôm nay quá lạ. Trước đây hễ nghe tiếng súng nổ, thì đôi mắt ông ấy trợn to, ai hành động chậm một tí thì bị ông ấy mắng vào mặt. Thế nhưng hôm nay...


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:21:44 pm

Tiếp theo đó là những tràng súng bắn dữ dội. Quân địch đã dàn trận, hai cánh quân hai bên của chúng dàn rộng ra đông nghẹt. Chúng di chuyển chậm chạp như một con ốc sên, từ từ tiến công về phía Từ Hải Đông. Từ Hải Đông dẫn trung đội đặc vụ, đứng sừng sững trước mặt quân địch. Chờ khi quân địch tới gần, ông bỗng cởi bỏ áo ngoài, rồi thò tay vào túi, lấy một văn kiện đưa cho viên cảnh vệ bên cạnh, dặn:

— Phải giữ gìn cho kỹ!
 
Kế đó, ông lại lột bỏ chiếc mũ, rồi lại cởi bỏ chiếc quần lính, toàn thân chỉ còn lại chiếc quần đùi trắng. Ông chụp lấy thanh đao của người cảnh vệ đứng bên cạnh, nói:

— Anh em đứng yên tại chỗ, không được hành động!

Dứt lời, ông bèn hướng về đội giao thông khoát tay, và dẫn đầu xung phong về phía trước.

Các chiến sĩ trong trung đội đặc vụ không hiểu ý nghĩ của viên phó quân trưởng ra sao. Thấy ông ấy cởi bỏ cả áo, chỉ mặc quần đùi và không chờ tiếng kèn xung phong, là đã gào lên: "Sát!..." Do vậy, họ cũng ào ào tràn tới theo phó quân trưởng. Các chiến sĩ khác thấy vậy, cũng không ai bảo ai, ùn ùn tràn lên. Nào ngờ hành động quả cảm của họ, làm cho địch quân hoảng hốt, lúng túng cả tay chân. Từ Hải Đông do bốn lần bị thương ở đùi phải, nên không thể chạy nhanh được như những chiến sĩ trẻ tuổi. Phía trước mặt lại mù mịt khói súng, đi đôi với tiếng nổ của súng bộ binh, kèm theo những tiếng nổ của tạc đạn. Dần dần Từ Hải Đông bị rơi lại phía sau. Một lữ của địch đã bị hồng quân xung phong đánh tan tác, và hơn hai chục người đã bị bắt làm tù binh. Hai sư của địch thấy vậy, liền ngưng ngay cuộc tấn công.

Rời khỏi chiến trường, tuy đánh thắng trận, nhưng Từ Hải Đông vẫn ở trong một tâm trạng buồn khổ. Ông vốn muốn tìm cái chết giữa rừng gươm lửa đạn vừa rồi, nhưng không ngờ lại đánh thắng trận, và vẫn còn sống nhăn. Ông cảm thấy thái độ xông ra tác chiến rất lỗ mãng vừa rồi của mình, không phải là thái độ đáng có của người đảng viên Cộng sản, huống gì, ông lại là một phó quân trưởng? Không thể lỗ mãng như vậy được. Cũng may là đánh thắng trận, nếu bị thất bại, bộ đội bị tổn thất, thì làm sao ăn nói được với Đảng? "Không nên như vậy! Không nên như vậy!". Ông đã tự trách mình.

Sáng ngày hôm sau, bí thư tính ủy đi thăm Từ Hải Đông, và nói với ông:

— Này, đồng chí Hải Đông, về mặt quân sự thì anh dũng cảm như thế, nhưng tại sao về mặt chính trị anh lại không tiến bộ?

Từ Hải Đông không biết trả lời thế nào. Người bí thư liền cho anh biết, tỉnh ủy đã mấy lần gửi thư mời anh đi họp, nhưng anh không đến. Đó là không tiến bộ về mặt chính trị. Từ Hải Đông nghe thế, rất giận. Mỗi lần có họp, viên chính ủy đều bảo mình là tỉnh ủy viên, chỉ cần mình đi họp về truyền đạt lại là đủ. Đến lúc này, viên bí thư tỉnh ủy mới biết được sự thật.

Lại mấy hôm sau, Từ Bảo San là bí thư của Đông Đạo Ủy Hồ Bắc vừa gặp Từ Hải Đông bèn vòng tay nói:

— Hải Đông, trận đánh vừa rồi anh chỉ huy rất xuất sắc.

— Hôm đó, tôi muốn đánh một trận với địch, để chết cho xong! - Từ Hải Đông tươi cười nói tiếp - Bây giờ nghĩ lại, thấy thật có lỗi với Đảng!

— Tại sao?

— Lúc đó tôi nghĩ: Nếu chết oan thì chi bằng chết ngoài chiến trường! - Từ Hải Đông dùng tay chỉ vào đầu mình, nói tiếp - Xem ra, nơi đây đang có vấn đề!

Từ Bảo San nghe qua lời nói của anh, tất nhiên là hiểu rõ nguồn gốc, bèn thở dài nói:

— Thanh trừng! Thanh trừng! Không thanh trừng được kẻ phản cách mạng, mà lại thanh trừng chính mình! Điều đó, cho chúng ta một bài học quá sâu sắc. Kẻ phản cách mạng thực sự hiện nay là có, như bọn bị Từ Hải Đông anh đánh đó, là bọn phản cách mạng chứ gì? Vậy, làm sao lại nghi ngờ chính anh được? Hôm qua, bí thư tỉnh ủy Thẩm Trạch Dân có nói với tôi: "Này Bảo San, khi tôi chưa chết, thì tôi không cho phép ai nói đồng chí Từ Hải Đông là người có vấn đề. Ai nói anh ấy có vấn đề, thì chính người ấy có vấn đề". Vậy anh hãy an lòng đi. Tôi cũng có ý nghĩ như vậy."

Kể từ đó trở đi, Từ Bảo San mới chứng minh với tổ chức của Đảng là ngay từ năm 1928, mình đã biết Từ Hải Đông là một đồng chí tốt. Thẩm Trạch Dân và Từ Bảo San khẳng định về mặt chính trị của Từ Hải Đông, nên sinh mạng của Từ Hải Đông mới được bảo đảm. Trong thời gian làm phó quân trưởng kiêm sư trưởng, ông luôn luôn bị đả kích, bị chèn ép. Đánh giặc và hành quân thì có phần của ông, nhưng những quyền lợi khác thì không có. Từ Hải Đông vì đại cuộc, vẫn cố nhẫn nhịn để duy trì sự đoàn kết trong bộ đội.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:22:43 pm

Sau ngày rút lui tại Thất Tinh Bình, bộ đội hơn một tháng phải đi vòng vo để tránh địch, và đến đầu tháng Chín, mới kéo tới vùng Nam Khê, nằm về phía Tây tỉnh An Huy, và hội họp được với sư đoàn đỏ hai mươi tám của Quách Thuật Thân chỉ huy. Từ Hải Đông bị sốt cao. Ngay sức khỏe để cưỡi ngựa cũng không còn. Ông được khiêng trên cáng và đưa thẳng vào bệnh viện. Ngày mười tháng chín, quân địch kéo bảy sư đoàn binh lực tới bao vây bốn phía. Hồng quân ngày ngày phải đánh nhau với dịch. Quân trưởng biết Từ Hải Đông đang bị sốt cao, nên không đem sự thật nói cho ông nghe. Tình hình bị địch bao vây ngày một nguy cấp. Quân trưởng Ngô Hoán Tiên quyết định di chuyển về phía Đông An Huy, và sắp xếp cho Từ Hải Đông đang bị bệnh được nằm trên cáng, theo sau với quân hậu cần và quân tạp vụ để rút lui. Đồng thời, cho một trung đội đặc vụ theo bảo vệ ông.

Sau năm đêm hành quân liên tiếp, bộ đội bắt đầu vượt qua công lộ Hoàng Ma. Bỗng đâu tiếng đại pháo, tiếng súng nổ liên hồi, Từ Hải Đông đang nằm trên cáng, nghe tiếng pháo và tiếng súng nổ dữ dội, bèn choàng dậy, nhảy xuống ra lệnh:

— Dừng lại!

Chẳng mấy chốc sau, trinh sát viên chạy về báo cáo:

— Đội ngũ đã bị đánh tan, bộ đội ở phía trước đã vượt qua công lộ rồi, chúng ta và cánh ở phía sau đã mất liên lạc.

Nhờ vào ánh sáng bình minh, Từ Hải Đông đưa mắt nhìn thấy cạnh đấy có một ngọn núi. Ông bèn ra lệnh cho đội đặc vụ chiếm lĩnh đầu ngọn núi cao. Ngọn núi này bên trên có một ngôi miếu thờ Tề Thiên, được dân chúng gọi là Hầu Tử Sơn (núi con khỉ), trên bản đồ không có tên của nó. Từ Hải Đông được hai người đỡ đi một bước thì thở một hơi, đến được trước ngôi miếu. Ông lấy ống nhòm ra nhìn bốn bên, và lắng nghe hướng có tiếng súng nổ. Rõ ràng quân trưởng Ngô Hoán Tiên đã dẫn cánh quân phía trước, vượt qua được tuyến phong tỏa của địch, và có lẽ đã đi xa ngoài mười dặm rồi. Riêng trung đội đặc vụ và toán hậu cần, thì bị công lộ cắt đôi, nên vẫn còn ở lại bên này. Ông nhìn thấy những người gánh hành lý trong toán hậu cần, và có một số chiến sĩ đang ở dưới cánh đồng, đi tới đi lui, tìm chỗ ẩn nấp. Pháo binh của địch bắn không có mục đích, chứng tỏ họ không biết tình huống của hồng quân thế nào.

Khi trời sáng tỏ, tình cảnh hỗn loạn của bộ đội vẫn như trước. Có người chạy lên núi, có người chạy xuống đồng hoang. Chỉ riêng có tung đội đặc vụ là còn nguyên vẹn, và ở sát bên cạnh Từ Hải Đông. Viên trung đội trưởng tung đội đặc vụ tỏ ra rất cuống quít, bèn thỉnh thị Từ Hải Đông:

— Thưa phó quân trướng, ta làm sao bây giờ?

— Làm sao bây giờ? - Từ Hải Đông lặp lại câu hỏi của viên trung đội trưởng, trong lòng đang tính toán. Ông đưa mắt nhìn quanh, thấy có một người lính kèn đứng cách đó không xa, bèn quay sang trung đội trưởng trung đội đặc vụ nói - Hãy mau bảo thổi kèn tập hợp! Người lính kèn tuân lệnh của viên trung đội trưởng, bèn thổi kèn tập hợp vang lên. Tiếng kèn vừa dứt, thì dưới cánh đồng hoang nơi chân núi, bỗng thấy có mấy tiểu đội xuất hiện, và chạy về hướng có tiếng kèn tập hợp. Từ Hải Đông thấy vậy rất mừng, bèn ra lệnh bảo người lính thổi kèn:

— Hãy thổi tiếp đi!

Người lính kèn hiểu được ý của phó quân trưởng, bèn đứng lên một tảng đá cao, lấy sức thổi những tiếng kèn vang rền, và số người chạy đến tập họp mỗi lúc càng đông. Từ Hải Đông quay sang người lính kèn nói:

— Hãy thổi tiếp, thổi mãi không dừng!

Thế là tiếng kèn tập họp vang rền trong khu núi. Vầng thái dương đỏ ửng cũng từ mặt đất nhô cao lên...

Sau một tiếng đồng hồ, qua tiếng kèn tập họp. Đã có sáu đại đội xây dựng, và hơn hai trăm lính chạy lạc được tập họp một nơi. Bọn địch đứng ở ngoài công lộ nghe tiếng kèn thổi không dứt, nhưng vì chúng không rõ tại núi con khỉ này có bao nhiêu hồng quân, nên không dám liều lĩnh xông vào càn quét. Chúng chỉ nhắm ngọn núi bắn súng và nã pháo


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Năm, 2023, 06:23:43 pm

Từ Hải Đông có trong tay mấy đại đội, trong lòng đã vững bụng, bèn ra lệnh cho các đại đội trưởng đến. Chẳng mấy chốc, có mười mấy cán bộ đại đội tới nơi. Họ cùng họp nhau trong một khu rừng nhỏ. Mọi người trông thấy Từ Hải Đông rất tiều tụy, nhưng đôi mắt vẫn sáng suốt tinh anh. Một trận pháo kích lại bay tới, làm cho mọi người đều mất bình tĩnh, nhưng họ thấy viên phó quân trưởng vẫn bình thản như thường, nên trong lòng dần dần cũng bình tĩnh trở lại. Vì mọi người đều biết, nếu được cùng đánh giặc với Từ Hải Đông, thì không bao giờ bị thua đâu mà sợ. Tuy nhiên, họ thấy Từ Hải Đông bệnh nặng, ngay đến đứng cũng không vững, nên trong lòng ai nấy đều lo lắng.

— A ha! Chúng ta có đông người như thế này kia mà! - Từ Hải Đông vừa cười vừa nhìn qua tất cả cán bộ đại đội, nói tiếp - Hãy ngồi xuống cả đây. Tình huống này mọi người đều đã biết rồi. Chúng ta bị địch cắt đứt ở bên này công lộ, vậy nếu tiếp tục đi tới, thì đó là tự dâng mình vào hang cọp. Muốn thoát khỏi kẻ địch truy kích, chúng ta chỉ còn con đường là rút lui về phía sau. Vậy ý kiến các anh thấy thế nào?

— Đội ngũ quá rối loạn, không cách nào chỉ huy được! - Có người nói như nhắc nhở!

— Trước mắt, chúng ta chỉ nên giữ người và súng, còn tất cả gồng gánh thì vứt bỏ đi! - Có người cuống quít đề nghị!

— Phải! - Người thì không thể thiếu một ai, súng cũng không thể bỏ một cây. - Từ Hải Đông nói một cách quả quyết - Bây giờ sắp xếp những người tản mát lại thành một đại đội, những người gánh gồng thành một đại đội, lấy số súng đang gánh gồng vác trên vai, như vậy chúng ta có tất cả chín đại đội. - Từ Hải Đông đưa cao ba ngón tay rồi nói tiếp - Vậy ta có thể tổ chức ba tiểu đoàn đấy! Chúng ta còn người đông đảo như vậy, cũng kể là có một đội ngũ lớn!

Các đồng chí nghe phó quân trưởng nói thế đều phấn khởi cả lên. Từ Hải Đông nghiêm sắc mặt, nói tiếp:

— Chúng ta đã tách rời bộ đội chủ lực, lực lượng tất nhiên là yếu hơn. Nhưng chúng ta không bị cô lập, vì chúng ta còn có quần chúng ở khu Xô viết, còn nước thì cá không thể nào chết được đâu!

Giọng nói của Từ Hải Đông rất thành khẩn, rất thân thiết, làm cho tất cả cán bộ đều phấn chấn, và lòng tin ở chiến thắng lại được củng cố. Thế là mọi người ai làm nhiệm vụ nấy, lo chỉnh đốn lại đội ngũ, và tình hình rối loạn đã được khắc phục ngay.

Lúc đó có một toán quân địch đang di chuyển ở dưới chân núi, rõ ràng là chúng đang lục tìm hồng quân để tiêu diệt. Từ Hải Đông bình tĩnh nhìn xuống chân núi nói:

— Đừng thấy bọn chúng hò hét như thế mà sợ. Thực ra chúng phô trương thanh thế đó thôi. Đêm qua đôi bên đánh nhau, kẻ địch vẫn không hiểu rõ lực lượng của ta, nên không dám manh động.

Quả nhiên, mọi việc đúng như Từ Hải Đông tiên liệu. Kẻ địch tuy đông như kiến, bao vây hết cả chân núi, nhưng không dám tấn công vào Hồng quân. Sau khi trời tối, Từ Hải Đông bèn tìm chỗ sơ hở để vượt vòng vây của địch thoát ra ngoài, rồi kéo quân tới hợp điểm với sư tám mươi hai của cánh quân phía Tây tỉnh An Huy, xây dựng thành quân đoàn hai mươi tám, do Từ Hải Đông làm quân đoàn trưởng.

Quân đoàn hai mươi tám lại xây dựng căn cứ hoạt động tại phía Tây Bắc An Huy, quân số không đến hai ngàn, nhưng quân bao vây tấn công của Quốc dân đảng đông đến mười sư, không dưới mười vạn người. Dựa theo kiến nghị của Từ Hải Đông, quân đoàn hai mươi tám xây dựng phương châm hành động chính xác, không đánh những trận bị tiêu hao, không chọi thẳng với địch, mà cứ tiếp tục đánh du kích ngoại tuyến. Cứ tìm cơ hội mà tiêu diệt địch, để lấy lương thực, quân trang quân dụng, và khí giới. Nhờ vậy mà đạn dược đầy đủ, binh lính ăn no mặc ấm. Lúc bấy giờ quân lực giữa đôi bên ở tại đây chênh lệch nhau rất xa, nhưng nhờ Từ Hải Đông chỉ huy đúng cách, khi thì phân tán, khi thì tập trung, rồi lại phân tán. Với cách đánh như vậy, ông có thể dẫn bộ đội của mình len vào giữa vòng vây của địch để đánh, rồi lại kéo ra bên ngoài để đánh. Có khi phá hoại đường giao thông địch, có khi phục kích cánh quân nhỏ của chúng. Họ đánh càng ngày càng hay, càng ngày càng lớn. Với cách đánh dương Đông kích Tây của du kích, Từ Hải Đông vận dụng rất nhuần nhuyễn, rất mát tay, chỗ nào dễ đánh thì ông đánh, chỗ nào dễ đi thì ông đi, làm cho địch không thể làm gì ông được, đối phó hết sức mệt nhọc. Bọn chúng thốt lên: "Từ Hải Đông quả là một con rồng, không thể tóm nó được!"


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:14:41 am

Từ Hải Đông đã kiên trì đánh với địch tại phía Tây An Huy trên nửa năm, trước sau ông đã đánh nhiều trận tuyệt đẹp. Trận thứ nhất đánh tại Thạch Môn Khẩu, bộ đội của ông đã đánh giáp lá cà với lữ ba mươi bốn độc lập của địch, đánh bại được lữ đoàn này, và đã tiêu diệt được một đoàn đi đầu, bắt sống được hơn một ngàn tên. Trận thứ hai tiêu diệt hơn một đoàn thuộc sư bốn mươi lăm. Chỉ riêng hàng binh được thả tại chỗ, lên đến tám trăm người. Trận thứ ba xảy ra gần Toàn Gia Trại, đánh tan lữ đoàn năm độc lập của địch, diệt được hai tiểu đoàn. Tên lữ đoàn trưởng địch bị thương, quay đầu bỏ chạy. Tên huyện trưởng dẫn đầu bị bắn hạ tại chỗ. Trận thứ tư đánh tại Cát Đằng Sơn, tiêu diệt hầu hết hai đoàn thuộc sư năm mươi bốn.

Lúc đó, sư năm mươi bốn và một lữ đoàn của địch, kết hợp với sư bảy mươi lăm và một lữ đoàn nữa, chia nhau từ phía Nam và phía Bắc đánh kẹp lại, muốn tiêu diệt hồng quân. Từ Hải Đông sau khi phân tách tình hình địch, đã quyết tâm nuốt trọn sư năm mươi bốn của địch ở phía Nam. Ông ra lệnh cho một tiểu đoàn ngăn địch ở phía Bắc, còn bao nhiêu quân đội thì tập trung vào phía Nam, phục kích và tạo thành một cái túi sẵn, chờ cho quân địch kéo vào.

Chiến trường là nơi so tài giữa sự dũng cảm, trí tuệ của người chỉ huy. Từ Hải Đông nói:

— Chúng ta chẳng những phải chỉ huy bộ đội của mình, mà đồng thời còn phải điều động được cả quân địch!

Trước tiên ông phái hai tiểu đoàn để làm mồi dụ, hấp dẫn sự chú ý của quân địch. Quyền sư trưởng sư đoàn năm mươi bốn của địch là Lưu Thọ Xuân, học sinh tốt nghiệp trường quân sự Bảo Định của Quốc dân đảng. Ông ta đã giữ chức đoàn trưởng mười ba năm, lữ trưởng bốn năm, nay ông ta muốn đánh một trận quyết tử với Từ Hải Đông, để lấy sự thắng lợi đó mà xóa đi cái chữ "quyền" của mình. Nhưng, ông ta nào ngờ được, Từ Hải Đông đã bố trí sẵn mê hồn trận chờ mình. Lưu Thọ Xuân chỉ huy toàn thể đoàn chủ lực ào tới tấn công hồng quân, và bám sát hai tiểu đoàn làm mồi dụ của Từ Hải Đông. Từ đó, chủ lực của Từ Hải Đông bỗng nhiên xuất hiện từ hai bên và phía sau lưng của ông ta. Đôi bên chiến đấu không hơn một tiếng đồng hồ thì bắt sống được Lưu Thọ Xuân, và còn bắt sống được hơn một ngàn sĩ quan và binh lính của địch. Đây là một trận đại thắng của quân đoàn hai mươi tám hồng quân, trong quá trình chống bao vây của địch.

Sau khi trận đánh kết thúc, Lưu Thọ Xuân bị áp giải tới trước mặt Từ Hải Đông. Người sĩ quan tốt nghiệp trường Bảo Định chính hiệu này, gục đầu tiu nghỉu không còn cái vẻ hống hách của bọn sĩ quan Quốc Dân Đảng nữa. Thoạt đầu, hắn ta làm thinh không nói gì, nhưng một lúc sau, như hắn chợt nghĩ ra điều gì, bèn lên tiếng hỏi:

— Từ quân trưởng, ngài đã tốt nghiệp trường Hoàng Phố khóa mấy?

Từ Hải Đông lắc đầu.

— Như vậy ngài là sĩ quan xuất thân từ Bảo Định? – Lưu Thọ Xuân lại tiếp tục hỏi thêm.

Đến đây Từ Hải Đông mới hiểu ra, trong đầu óc của gã sĩ quan này, lúc nào cũng chỉ thấy có "Hoàng Phố” và "Bảo Định". Theo ông ta, nếu không phải là sĩ quan tốt nghiệp trường Hoàng Phố thì không thể chỉ huy quân đội, cũng như không phải xuất thân từ trường sĩ quan Bảo Định, thì không thể chỉ huy để chiến thắng, đừng nói chỉ là có thể đánh bại được một viên sĩ quan Bảo Định chính hiệu như ông ta.

Lưu Thọ Xuân thấy Từ Hải Đông không nói chuyện, cho rằng ông ta là bạn học của trường quân sự Bảo Định, nên bèn hỏi:

— Thưa quân trưởng, ngài là sĩ quan khóa thứ mấy của "Bảo Định"?

Từ Hải Đông nổi nóng, trợn mắt, nói:

— Tôi chưa bao giờ bước chân vào lớp học của "Bảo Định", và cũng chưa bao giờ bước vào cổng của "Hoàng Phố". Tôi là học sinh tốt nghiệp trường "Đại học Thanh Sơn" (đại học núi xanh)!

Lưu Thọ Xuân cúi đầu suy nghĩ một chốc, lại nói:

— Bỉ nhân học thức nông cạn, nên không biết đại học Thanh Sơn ở đâu?

— À, thì ở tại đây này!

Từ Hải Đông chỉ ngọn núi xanh phía xa ngoài cửa, trả lời một cách tự hào.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:15:26 am

Tháng hai năm 1934, quân đoàn hai mươi tám Hồng quân và quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân hợp điểm tại Sài Tử Nham ở huyện Thương Thành, để nhập lại thành quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân. Sự xuất hiện của quân đoàn hai mươi lăm tại vùng Ngạc Dự Hoãn, thật chẳng khác nào cho một nắm muối ném vào chảo dầu sôi, khiến lãnh đạo dân chính của Quốc dân đảng phản ứng một cách quyết liệt. Tưởng Giới Thạch phái mười mấy vạn quân Đông Bắc, tấn công vào căn cứ địa của hồng quân, và rêu rao trong vòng ba tháng sẽ "tiêu diệt triệt để" hồng quân. Để đối phó với tình hình này, Từ Hải Đông đã đề xuất một phương châm tác chiến "Tị thực tựu hư" (tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu) và đã quần thảo với địch để tìm cơ hội diệt địch. Từ đó, ông đã đánh được rất nhiều trận thắng lợi. Trong những năm chiến đấu gian khổ, Từ Hải Đông đã từng chỉ huy những trận mà kẻ địch mạnh, ta yếu, nhưng vẫn giữ được quyền chủ động về phần ta. Ông đã biến bộ đội vốn yếu của mình, trở thành mạnh và giành được thắng lợi cuối cùng. Những điều đó không phải là ngẫu nhiên. Không bao giờ đánh những trận mà không bảo đảm thắng. Mỗi trận đánh ông đều nghiên cứu, phân tích tình hình lúc bấy giờ một cách kỹ lưỡng. Ông phân tích giữa ta và địch, tình hình dân chúng địa phương, tức bao nhiêu điều kiện khách quan cần đến, để định ra một phương án tác chiến hợp lý, và sự chỉ huy chính xác. Trong thời gian ông giữ chức quân trưởng quân đoàn đỏ hai mươi lăm, gần như đánh trận nào cũng thắng. Trận đầu tiên tại Cao Sơn Trại, ông đã tiêu diệt trọn một tiểu đoàn của quân Đông Bắc. Trong khi đó, bên hồng quân chỉ bị thương có năm và chết có hai. Tại Linh Ẩn Trại thuộc vùng huyện Quang Sơn, ông đã đánh tan ba sư đoàn của Quốc dân đảng do Lưu Chấn Hóa chỉ huy truy kích sát theo đuôi hồng quân, giết và làm bị thương trên một ngàn tên địch, trong khi hồng quân chỉ thương vong có hơn một trăm người. Nhất là trong trận đánh Trường Lĩnh Cương, hồng quân chỉ dùng có hai quân đoàn và một quân đoàn “súng ngắn" (thực tế chỉ có chừng một tiểu đoàn), mà tiêu diệt gần hết sư đoàn 115 của địch, trong khi bên hồng quân chỉ thương vong có ba mươi người. Lúc đó, Từ Hải Đông dẫn quân đoàn của mình hành quân cấp tốc trong đêm, và khi đến vùng Trường Lĩnh Cương, thuộc huyện La Sơn, tỉnh Hà Nam, thì bất ngờ đụng đầu với sư một trăm mười lăm, được xem là sư thiện chiến của địch. Sư này mới vừa từ Đông Bắc điều tới, địa hình chưa quen thuộc, nên việc phòng thủ rất sơ hở. Khi hồng quân bí mật tiến sát trận tuyến của địch, mà địch vẫn không biết. Từ Hải Đông sau khi quan sát kỹ lưỡng tình hình, thấy Trường Lĩnh Cương chỉ là một ngọn đồi cô độc, địa hình hẹp nhỏ, tuy địch đóng binh đông, nhưng khó triển khai, nên không thể kháng cự một cách có hiệu quả. Chính vì vậy, ông đã quyết định tiêu diệt địch ở tại đây. Do chỉ huy đúng cách, bố trí hợp lý, tạo được ưu thế cục bộ, sĩ quan và binh sĩ lại phát huy được cách chiến đấu ở vùng núi rừng của hồng quân, động tác chiến đấu kín đáo, nhanh nhẹn, dũng mãnh, nên chỉ trong có ba tiếng đồng hồ, thì cuộc chiến đấu đã kết thúc, lấy được súng máy nhẹ hơn hai trăm cây, súng dài, súng ngắn hơn tám trăm cây. Ngoài ra, lại còn rất nhiều quân trang quân dụng. Phía địch gồm tất cả năm tiểu đoàn, kể cả lính cần vụ và lính giữ ngựa, đều không có tên nào chạy thoát.

Trong bộ đội hồng quân, thường kể cho nhau nghe một chuyện có vẻ thần kỳ như thế này:

Trong thời gian quân đoàn 25 Hồng quân kiên trì chiến đấu tại căn cứ cách mạng Ngạc Dự Hoản, thì thường đánh những trận tao ngộ (gặp nhau bất ngờ) với quân của Quốc dân đảng. Quân ta và quân địch mỗi bên đều chiếm lĩnh một ngọn núi. Quân địch thường hỏi:

— Này! Các anh là bộ đội nào vậy?

— Bọn ông là quân đoàn 25 Hồng quân đấy!

— Các anh đừng có nói dóc nhé!

Lúc đó, Từ Hải Đông đang cưỡi trên lưng một con ngựa kim, bèn kêu một tiểu đội bước ra nói:

— Hãy bắn một loạt đạn cho bọn chúng nghe!

Tiếng súng nổ một loạt. Tuy mười mấy cây súng riêng lẻ bắn ra, nhưng nghe như một tiếng súng, khiến tiếng vang chấn động mãi trong núi. Tiếng súng đó làm cho sĩ khí của hồng quân tăng lên cao. Trái lại, làm cho quân địch khiếp sợ và âm thầm rút lui.

Đó là uy danh hiển hách của Từ Hải Đông, khi ông chỉ huy quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân. Từ Hải Đông trong khi chỉ huy quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân đã chiến đấu với địch không biết bao nhiêu trận đánh anh dũng, nên đã đào luyện được cho quân đoàn một tác phong chiến đấu không hề biết sợ nguy hiểm, dù đánh dằng dai cũng chịu được, dù bị tấn công mãnh liệt cũng không tan rã. Đó là một tinh thần không khiếp sợ địch trong mọi tình huống. Khi tiến công thì họ nhanh nhẹn, có những hành động đột nhiên, dũng mãnh, đánh địch trở tay không kịp, khó mà đỡ gạt, lại can đảm đánh xáp lá cà với địch, nên giải quyết cuộc chiến đấu rất gọn gàng. Khi phòng ngự, thì họ không sợ địch, chống trả ngoan cường, và luôn luôn đánh lui những trận xung phong của địch. Khi địch tới sát bên cạnh phòng tuyến, họ sẵn sàng đánh xáp lá cà, và biết biến "thủ" thành "công" một cách kịp thời, tiêu diệt được đông đảo quân địch. Trong khi hành quân, họ chịu đựng được gian khó, cực nhọc, chiến thắng tất cả những hiểm trở trước mặt, đánh tan được những cánh quân địch bao vây và truy kích. Họ vừa đi vừa đánh, thần tốc và lâu dài, khiến địch không áp đảo được họ, không chận đường được họ. Tóm lại, khi tiến công thì họ có một sức mạnh mẽ phi thường, khi phòng ngự thì họ có một sức kháng kích dẻo dai. Thêm vào đó, còn có sự chỉ huy rất sáng suốt của Từ Hải Đông, nên quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân đã trở thành một đạo binh "sắt".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:16:18 am

Đầu tháng mười một năm 1934, quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân đã bảo tồn thực lực của mình, và phát triển hình thế cách mạng tại căn cứ địa. Họ tiến hành những trận đánh di động từ phía Tây An Huy, đến phía Đông Hồ Bắc, dài trên bốn trăm dặm. Lúc đó, năm sư đoàn của địch truy đuổi để tấn công, và phía trước mặt lại có năm sư đoàn nữa tạo thành một tuyến để chặn hướng đi của Quân Giải phóng. Trước tình hình đó, Từ Hải Đông đã tìm đúng chỗ yếu của địch mà tấn công, xuất kỳ bất ý đánh thủng được những tuyến phong tỏa của chúng. Ngày bảy tháng mười một, bộ đội đã dùng chiến thuật hành quân nhanh, tiến đánh một tiểu đoàn công binh của sư một lẻ chín, tại Nam Thang Trì, thuộc vùng Thương Thành, rồi vượt qua được tuyến phong tỏa của địch tại Thương Thành đến Ma Thành. Kế đó, lại đụng đầu với địch tại Đại Liễu Thọ ở vùng Tây Nam Thương Thành, chiến đấu với hai quân đoàn của sư một lẻ bảy và đã đánh tan lực lượng này. Trên đường tiếp tục đi tới, bộ đội lại đánh tan cánh quân đi đầu để tăng viện của sư một lẻ tám, và vượt qua được tuyến phong tỏa của địch từ Thương Thành đến Tân Tập. Sau đó, Từ Hải Đông chỉ huy bộ đội hành quân đêm, vừa đi vừa đánh, trước sau đã vượt qua được hai công lộ từ Song Liễu Thọ đến Tân Tập, và tuyến phong tỏa trên công lộ Hoàng Ma, để đến được Hộc Sơn Trại thuộc vùng Quang Sơn, tỉnh Hà Nam để nghỉ ngơi. Đó là một trận đánh nổi tiếng của quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân đi một đêm vượt qua được một đoạn đường dài hai trăm dặm, và đánh nhau ba trận với địch. Về sau, câu chuyện này trở thành một giai thoại.

Bộ đội đến Hộc Sơn Trại nghỉ ngơi chưa được hai tiếng đồng hồ, do phân đội cảnh giới quá mệt mỏi, nên chuyện canh gác có sơ hở, không phát hiện kịp thời quân địch kéo tới, nên bị bốn sư đoàn, mười quân đoàn binh lực của địch bám theo sau để truy kích, xuất hiện tới nơi. Chúng từ các mặt Đông, Nam, phát động cuộc tập kích bất ngờ. Tổng chỉ huy quân "bao vây tiêu diệt" của Quốc dân đảng là Thượng Quan Vân Tướng ngồi máy bay trên trời để đốc chiến. Quân địch nhờ bốn chiếc máy bay oanh tạc bắn phá, và dựa vào vũ khí tốt của họ, nên nhất thời tỏ ra rất táo bạo, kiêu căng. Nhưng Từ Hải Đông đứng trước tình thế nguy cấp, vẫn không rối loạn. Ông vận dụng một chiến thuật cho quân chủ lực chiếm giữ các địa hình có lợi, để cầm chân quân chủ lực địch, rồi tập trung chủ lực ta đánh thốc vào hai bên hông của chúng. Ông đã vận dụng rất tài tình sự tiến công và phòng thủ, nên đã chuyển bị động thành chủ động. Cuối cùng, bộ đội của ông đã đánh bại bốn sư đoàn địch, bắt sống trên bốn ngàn người. Tên tuổi của Từ Hải Đông lại một phen làm cho kẻ thù khiếp sợ.

Ngày mười sáu tháng mười một năm 1934, quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân được sự lãnh đạo của tỉnh ủy Ngạc Dự Hoản, xuất phát từ Hà Gia Xung thuộc huyện La Sơn tỉnh Hà Nam bắt đầu cuộc trường chinh của mình. Trong vòng hai tháng, họ đã vượt qua một đoạn đường sáu nghìn dặm, để tiến vào phía Nam Thiểm Tây. Trên đường hành quân, họ gặp rất nhiều sự nguy hiểm. Đặc biệt là trong trận đánh nhau với địch tại Độc Thọ trấn thuộc huyện Phương Thành, tỉnh Hà Nam. Quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân bị địch chặn phía trước lẫn phía sau. Bộ đội chiến đấu gặp khó khăn và rất hỗn loạn. Lúc bấy giờ, người bị thương không ai khiêng. Từ Hải Đông đã suốt một ngày không ăn cơm, đích thân dầm mưa để khiêng thương binh di chuyển từ một địa điểm cách đó năm dặm. Lúc bấy giờ, toàn thể binh sĩ đều mệt mỏi không thể tả. Họ vừa lạnh vừa đói, bèn kéo vào một thôn nhỏ để nghỉ ngơi. Họ vừa nằm xuống là ngủ thiếp đi tất cả. Nhưng đứng trước tình hình quân địch truy kích nguy hiểm, Từ Hải Đông phải cầm một cây hèo, rồi vào từng nhà mà lay gọi, đánh vào những người ngủ say để cho họ tỉnh giấc. Từ Hải Đông nghe nói viên đoàn trưởng và chính ủy đều ngủ say trong nhà, tức giận đi thẳng vào đó, rồi dùng gậy đánh cho viên đoàn trưởng thức giấc trước, mới lay gọi người chính ủy... Chính nhờ vậy mà Từ Hải Đông mới đuổi ra khỏi thôn trang được hơn hai trăm binh sĩ. Qua nhiều năm sau, một cán bộ từng bị Từ Hải Đông đánh để gọi thức dậy trong dịp đó, đã nói qua giọng cảm kích:

— Đêm đó cũng may là có ông ấy, nếu không, chắc là chúng tôi ngủ thiếp đi cả, và chắc chắn bị địch bắt sống toàn bộ.

Nhiều năm sau, Từ Hải Đông trong việc tự kiểm điểm đối với việc làm trên, cho rằng mình còn tiêm nhiễm quá nhiều tác phong quân phiệt.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:17:04 am

Trong quyển lịch sử chiến đấu của quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân có ghi chép về trận đánh tại Độc Thọ Trấn như thế này:

Cánh quân đi đầu của ta do mưa gió mịt mù, nên tầm nhìn không xa, phát hiện quân địch chậm. Hơn nữa, do lạnh nên ngón tay bị cứng đờ, không thể kéo cò súng, bị quân địch tấn công đẩy lui về phía sau. Thấy vậy, quân địch thừa thắng xông lên ồ ạt, và cho hai cánh quân thọc vào hai bên hông ta để bao vây. Trong giờ phút nguy cấp đó, chính ủy Ngô Hoán Tiên la to:

— Hỡi các đồng chí! Nhất định không thể lui! Đây là giây phút chết sống của chúng ta!

Nói dứt lời, chính ủy Ngô Hoán Tiên đưa cao ngọn đại đao, tiếp tục la lớn:

— Hỡi các đồng chí đảng viên Cộng sản, hãy theo tôi đây!

Tức thì, chính ủy Ngô Hoán Tiên dẫn đầu xung phong sát địch. Đôi bên đánh xáp lá cà. Trong khi hai quân đang quần thảo ác liệt với nhau, thì phó quân trưởng Từ Hải Đông nhanh nhẹn chạy bộ tới, tham gia ngay vào cuộc chiến đấu. Trải qua cuộc chiến đấu anh dũng đó, toàn quân rốt cuộc đẩy lui được quân địch, và giữ vững được thôn trang, trong đó có Thất Lý Cương. Sau khi trời tối, quân ta đi vòng qua Bảo An Trấn, thuộc Diệp Huyện, trước tiên đi về hướng Đông, rồi lại chuyển sang hướng Bắc, tiếp tục đi ngang qua Thẩm Trang, rồi lại tiếp tục vượt qua công lộ Hứa Nam...

Sau khi quân ta vượt qua công lộ, thì đi bất kể ngày đêm về phía Tây. Đến tảng sáng ngày hai mươi bảy, trước mặt có mấy ngọn núi xuất hiện lờ mờ giữa sương mù. Lúc bấy giờ, Từ Hải Đông bỗng nói to với mọi người:

— Các đồng chí ơi! Chúng ta có viện binh tới kia rồi, đông đến ba đoàn!

Mọi người vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, hỏi:

— Viện binh ở đâu?

Từ Hải Đông vừa cười vừa chỉ mấy ngọn núi trước mặt, nói:

— Anh em hãy xem, ba ngọn núi đó có khác chi là ba đoàn quân đâu!

Các đồng chí đều cười rộ và tinh thần phấn chấn cả lên, đôi chân đi càng nhanh hơn...

Từ Hải Đông xem ba ngọn núi là ba đoàn quân tiếp viện. Nếu người không hiểu thì cho đấy là lời nói đùa, có tính khôi hài. Trái lại, người hiểu chuyện, đều biết ông là một tướng giỏi đánh nhau ở miền núi, nên lấy lời nói đó thành chiến thuật quân sự. Từ Hải Đông thường nói với cấp dưới:

— Tưởng Giới Thạch thường dựa vào máy bay và đại bác, còn chúng ta dựa vào núi và bá tánh!

Từ Hải Đông là người từng Nam chinh Bắc chiến, vào sanh ra tử, thể hiện đầy đủ yếu tố là một người chỉ huy ưu tú, vừa trầm tĩnh, vừa dũng cảm, lại nhiều đảm lược. Tuy ông đã gặp nhiều trường hợp nguy hiểm, bị trọng thương, nhưng những điều đó hoàn toàn không ảnh hưởng chi tới tinh thần chiến đấu rất cao của ông. Thượng tuần tháng mười hai năm 1934, trong một trận đánh ác liệt với địch tại Sấu Gia Hà thuộc miền Nam tỉnh Thiểm Tây, quân trưởng Trình Tử Hoa bị trọng thương, Từ Hải Đông cũng bị thương nặng trên đầu, phải nằm cáng luôn bốn hôm. Dù bị hôn mê liên tiếp, nhưng đến khi bệnh đã khá hơn, ông không chịu nằm cáng nữa, mà tự mình đi bộ để hành quân. Khi bộ đội hành quân tới Cát Bài Trấn, trời đang đổ mưa to, Từ Hải Đông đang nằm trên giường nghỉ ngơi, bỗng nghe Hồng quân đánh một trận đối đầu với địch. Bộ đội phía trước đánh không tốt, có nguy cơ bị địch tiêu diệt. Từ Hải Đông bảo bốn người đỡ mình bò tới chỗ chỉ huy bộ ở trên núi, rồi hiệp sức cùng các đồng chí ở đây chỉ huy trận đánh. Rốt cục, đã đánh tan trận tấn công của địch, diệt địch được một đoàn và hai tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:17:52 am

Tháng chín năm 1935, quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân đang tập họp tại Bảng Kiều Trấn, thuộc huyện Hợp Thủy, tỉnh Cam Túc để chuẩn bị xuất phát. Bỗng một binh đoàn kỵ binh của địch, nhắm ngay chỗ tập họp của hồng quân đánh thốc vào. Từ Hải Đông ra lệnh cho tham mưu trưởng lập tức chỉ huy chủ lực chuyển đi, còn chính mình thì dẫn mười mấy kỵ binh xông lên chặn đường kỵ binh địch, yểm hộ cho chủ lực rút lui. Vì bị chặn đường, toán kỵ binh địch liền hỗn loạn hàng ngũ. Và do sự hỗn loạn đó, địch không thể phát huy hết khả năng của kỵ binh, mà phải buông bỏ không truy đuổi theo chủ lực hồng quân, cùng quần thảo với toán kỵ binh của Từ Hải Đông. Trải qua một hai tiếng đồng hồ chiến đấu, thấy chủ lực đã đi xa, bèn ra lệnh cho một toán kỵ binh của mình rút lui, chỉ còn lại ông và vài ba chiến sĩ kỵ binh ở lại, quần thảo với địch. Quân địch thấy kỵ binh của hồng quân chỉ còn lại mấy người, nên tên sĩ quan chỉ huy bèn la to:

— Hãy bắt sống lấy nó! Đừng để chúng chạy vuột!

Thế là bọn kỵ binh địch ào ào tràn tới chỗ Từ Hải Đông. Đối với sự bao vây tấn công của địch, Từ Hải Đông hoàn toàn bình tĩnh, chẳng hề lộ sắc sợ hãi, mà càng chiến đấu lại càng dũng cảm. Cuối cùng, đã mở đường máu thoát ra khỏi trùng vây. Trong khi quân chủ lực hồng quân đang lo lắng cho số phận của Từ Hải Đông, thì thấy ông và mấy chiến sĩ kỵ binh nữa đang chạy bay tới và cười ha hả, nói với mọi người:

— Quân địch có làm chi được tôi đâu!

Quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân sau khi rời khỏi khu Xô viết Ngạc Dự Hoản, thì chuyển vào phía Nam tỉnh Thiểm Tây. Trên đường hành quân, quân địch bố trí hết sức dầy đặc nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của Từ Hải Đông, Hồng quân đã khắc phục mọi khó khăn và giành được từng trận thắng lợi một. Từ đó, xây dựng nên căn cứ địa phía Nam Thiểm Tây. Công lao này, không thể không quy về tài chỉ huy tác tuyệt của Từ Hải Đông. Về mặt chỉ huy quân sự, ông luôn căn cứ tình hình địch, luôn căn cứ địa hình khác nhau, để đề ra phương án tác chiến, chứ không đánh liều mạng, không để quân lực bị tiêu hao, và cũng không đánh những trận tiêu diệt chiến. Tất cả những điều đó, đều do Từ Hải Đông mò mẫm từ trong thực tiễn mà có được, nhưng cũng phù hợp với tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông và Từ Hải Đông một người ở từ khu Xô viết Trung ương, một người đang chiến đấu ác liệt với địch ở chiến trường Ngạc Dự Hoàn, lúc nào cũng đối diện với kẻ địch mạnh hơn ta, lực lượng chênh lệch nhau rất nhiều, thế mà ông đã dùng nhiều phương châm chiến lược khác nhau, phù hợp với một câu cổ ngữ của Trung Quốc "Sở kiến của người anh hùng khá giống nhau"!

Bắt đầu từ năm 1935, Từ Hải Đông và các đồng chí trong quân đoàn hai mươi lăm của ông, lại bước lên những đoạn đường vẻ vang trong quá trình cách mạng - phối hợp với chủ lực của hồng quân để Bắc tiến, nghênh tiếp Trung ương Đảng. Hạ tuần tháng bảy, quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân đã tiến gần đến Tây An, và qua báo chí địch biết được rằng Hồng quân Trung ương và phương diện quân số bốn Hồng quân, đã hợp điểm tại phía Tây Tứ Xuyên và cùng nhau Bắc tiến. Từ Hải Đông cảm thấy rất vui mừng, ông cho rằng cần phải phối hợp với hai cánh quân chủ lực lớn này. Ông cần phải cầm chân địch để cho hai cánh chủ lực hồng quân bảo vệ Trung ương tiến lên phía Bắc một cách thuận lợi. Việc làm đó đối với ý nghĩa cách mạng toàn quốc là hết sức trọng đại. Cho dù qua hành động này mà ba nghìn người của quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân có hy sinh tất cả cũng là vinh quang. Từ Hải Đông và các đồng chí lãnh đạo khác đã dũng cảm đưa quân tiến về hướng Tây, rồi vào phía Đông Nam của tỉnh Cam Túc, trước tiên tập kích chiếm lấy huyên lỵ Lưỡng Đương, rồi sau đó lại đánh chiếm Bắc Quan thuộc huyện Thiên Thủy. Tiếp đó, ông lại đưa quân tiến chiếm Tân An, uy hiếp Tĩnh Ninh, và cắt đứt công lộ Tây An - Lan Châu, uy hiếp hậu phương của địch, làm cho Tưởng Giới Thạch hết sức kinh hoảng. Tưởng Giới Thạch phát liền năm bức điện, ra lệnh cho những cánh quân đang chặn đường tiến về phía Bắc của hồng quân, phải rút trở lại để đánh nhau với quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân. Như vậy, đứng về mặt kiềm chế địch, để giảm nhẹ cho hai cánh quân chủ lực của Hồng quân, đang ủng hộ cho Trung ương tiến về phía Bắc là có ý nghĩa hết sức to lớn.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:18:50 am

Sau đó, quân đoàn hai mươi lăm hợp điểm với Hồng quân phía Bắc Thiểm Tây, tại Vĩnh Bình trấn, thuộc huyện Diên Thủy, và cải biên lại thành quân đoàn mười lăm Hồng quân. Từ Hải Đông làm quân đoàn trưởng, Lưu Chí Đơn làm quân đoàn phó kiêm tổng tham mưu trưởng, Trình Tử Hoa làm chính ủy. Để mở rộng và củng cố căn cứ địa phía Bắc Thiểm Tây, đón Trung ương lên vùng phía Bắc, quân đoàn mười lăm tích cực chiến đấu chống bao vây, tảo thanh địch lần thứ ba. Trận đầu đánh ở Lao Sơn, kế đó đánh tại Du Lâm Kiều, diệt địch một sư và một đoàn tăng cường, giết chết sư trưởng và bắt sống đoàn trưởng của địch. Trong chiến dịch Lao Sơn, hồng quân tiêu diệt hoàn toàn hai đoàn và một đội trực thuộc của sư đoàn 110 quân Đông Bắc của địch, bắt sống hơn ba ngàn tên. Trận đánh này, đối với việc đập tan chính sách bao vây tiêu diệt, của địch có ảnh hưởng rất to lớn. Từ Hải Đông về mặt chỉ huy quân sự, đã áp dụng lối đánh phục kích "vây thành đả viện", dụ địch vô sâu. Cách đánh này hoàn toàn phù hợp với tư tưởng của Mao Trạch Đông. Cho nên thương vong rất ít, mà thắng lợi rất to. Sau khi thắng lợi kết thúc, Từ Hải Đông muốn tìm trong đám tù binh, xem có sư trưởng của địch là Hà Lập Trung hay không. Ông cho người tìm kiếm mãi, và phát hiện trong đống xác chết của địch, rõ ràng có xác Hà Lập Trung. Từ Hải Đông nói:

— Đánh thắng giặc không kể là tài cao. Có thể bắt sống được tướng cao cấp của địch mới kể là anh hùng hảo hán.

Thấy Hà Lập Trung đã chết, Từ Hải Đông có vẻ mất hứng, nên đi tới đi lui ngoài mặt trận, chửi thề:

— Mẹ kiếp! Đứa nào mà tay súng của nó bắn chuẩn quá, đã bắn chết ngay Hà Lập Trung!

Các chiến sĩ hồng quân nghe vậy đều tức cười, nhưng không ai dám cười to, và không ai dám nhận mình là tay súng bắn chuẩn nhất.

"Sơn đơn hoa khai hồng hựu hồng,
Hòng thập ngũ quân đoàn xuất liễu chinh.
Từ Hải Đông, Lưu Chí Đơn chỉ huy diệu,
Lao Sơn, Du Lâm đã đắc hảo..."


Dịch:

Núi đỏ ối, hoa nở rộ khắp nơi,
Quân đoàn mười lăm đỏ ra trận tiền.
Từ Hải Đông, Lưu Chí Đơn chỉ huy giỏi,
Lao Sơn, Du Lâm đánh giặc tuyệt vời...


Quân đoàn mười lăm Hồng quân đánh liên tiếp đều thắng liên tiếp, chuẩn bị làm món quà dâng lên cho Trung ương. Sau chiến dịch Du Lâm Kiều, Từ Hải Đông lại cho quân đánh Trương Thôn Dịch. Trong khi đang vây đánh quân địch, thì chính ủy quân đoàn là Trình Tử Hoa phái người đưa thư tới cho Từ Hải Đông, bảo Mao Chủ tịch đêm nay sẽ tới bộ tư lệnh, vậy ông phải về gấp để đón. Từ Hải Đông biết người lãnh tụ mà mình trông đợi bấy lâu nay sắp tới thăm, nên liền trao quyền chỉ huy trận đánh lại cho hai viên đoàn trưởng, rồi lên ngựa chạy như bay trở về bộ tư lệnh. Từ Trương Gia Dịch đến bộ tư lệnh quân đoàn, xa một trăm ba mươi lăm dặm. Từ Hải Đông thúc ngựa chạy nhanh và chỉ có ba tiếng rưỡi đồng hồ là tới nơi. Từ Hải Đông vừa về tới thì Mao Trạch Đông cũng vừa tới thăm. Từ Hải Đông liền báo cáo với Mao Trạch Đông về tình hình đánh ba lần để chống bao vây tiêu diệt địch tại căn cứ phía Bắc Thiểm Tây. Mao Trạch Đông lấy một tấm bản đồ tỉ lệ một phần ba trăm ngàn ra xem tỉ mỉ, nói:

— Tốt! Vậy cần phải đánh chiếm cho được Trương Thôn Dịch.

Sau bữa cơm tối, Chủ tịch lại nói với Từ Hải Đông:

— Đồng chí Hải Đông này, đồng chí còn phải chịu nhiều nhọc nhằn đó. Đêm nay nên xuất phát để đi chỉ huy đánh chiếm Trương Thôn Dịch, rồi sẽ quyết định bước hành động thứ hai.

Mao Trạch Đông đã dùng giọng nói thân thiết, mộc mạc, nói với Từ Hải Đông là người cấp dưới của mình. Giọng nói của vị lãnh tụ tối cao này là giọng nói thương lượng, chứ không phải ra lệnh. Do vậy, đã lưu lại cho Từ Hải Đông một ấn tượng rất sâu sắc. Từ Hải Đông bèn nói với Chủ tịch:

— Đó là trách nhiệm tôi cần phải làm tròn.

Chủ tịch Mao lại nói với giọng thân thiết:

— Hành quân ban đêm không phải rất khổ đó sao?

Trước khi ra đi, Mao Trạch Đông để lại cho Từ Hải Đông một bộ điện đài. Sau khi quân đoàn mười lăm hợp điểm cùng phương diện quân của Hồng quân, thì Từ Hải Đông chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, cụ thể là dưới sự chỉ đạo của Mao Trạch Đông và Chu Đức, tham gia rất nhiều chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược quan trọng. Tháng mười một năm 1935, Từ Hải Đông dẫn quân đoàn mười lăm, và một đoàn quân khác sánh vai tác chiến, và đã tiêu diệt được một sư và một đoàn của địch tại Trực La trấn, trong một chiến dịch ác liệt. Qua lần thắng lợi này, Mao Trạch Đông đã khen tặng bằng cách "cử hành lễ đặt viên đá đầu tiên cho việc xây dựng đại bản doanh của cách mạng tại vùng phía Bắc tỉnh Thiểm Tây". Cuộc đông chinh 1936, Từ Hải Đông dẫn bộ đội theo ý đồ chiến lược của Mao Trạch Đông, tiến hành hàng loạt cuộc chiến đấu, đánh thắng tới Tấn Từ ở ngoại ô thành Thái Nguyên, thuộc tỉnh Sơn Tây. Kế đó, Từ Hải Đông lại dẫn quân đoàn 15 của mình tham gia vào hai chiến dịch, cùng Tả Quyền và Nhiếp Vĩnh Trăng, phối hợp với tả lộ quân của hai tướng này, tấn công chiếm được Diêm Trì, Định Biên, tiêu diệt một phần quân địch của Mã Hồng Quỳ, đánh tan âm mưu bao vây tấn công khu căn cứ địa Thiểm Tây và Cam Túc của quân địch, đón hai phương diện quân số 2 và số 4 của Hồng quân tiến lên phía Bắc.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:21:23 am

Sau "sự biến Tây An", Trương Học Lương và Dương Hổ Thành là hai tướng yêu nước, kiến nghị với Châu Ân Lai, hy vọng điều quân đoàn 15, một quân đoàn mà Tây Bắc quân và Đông Bắc quân của Quốc dân đảng rất "đau đầu" vì nó, để hiệp trợ cùng đánh quân Quốc dân đảng có thể tiến vào Đồng Quan. Sau khi được Trung ương Đảng phê chuẩn, Châu Ân Lai đi cùng Dương Hổ Thành tới gặp thẳng Từ Hải Đông, để trao nhiệm vụ. Từ Hải Đông nhìn thấy Dương Hổ Thành, một tướng cùng đấu súng, đấu pháo với mình trong nhiều năm qua, thì rất bỡ ngỡ, ngồi lặng thinh không biết nói gì. Dương Hổ Thành với giọng bùi ngùi, nói với Từ Hải Đông:

— Ôi chao! Ông là Từ Hải Đông đấy sao? Nếu chúng ta sớm hợp tác với nhau thì hay quá. Nếu biết ngày nay cả ba bên cùng hợp tác để kháng Nhật, trước đây ông đừng tiêu diệt chủ lực của tôi thì hay biết chừng nào!

Từ Hải Đông nghe vậy, càng không biết mở miệng nói gì.

Dương Hổ Thành lại nói:

— Quốc nạn đang ở trước mắt, chúng ta cần phải nắm tay nhau để lo kháng Nhật.

Từ Hải Đông vẫn lặng thinh. Châu Ân Lai thấy vậy mới nói:

— Tục ngữ cổ của Trung Quốc có câu "không đánh nhau thì không biết nhau" đấy mà!

Câu nói của Châu Ân Lai phá tan được bầu không khí ngột ngạt.

Nhiều năm sau, khi Châu Ân Lai và Từ Hải Đông nhắc lại chuyện đó, Châu Ân Lai vẫn cười nói:

— Này anh Hải Đông, anh chỉ biết đánh giặc mà không giỏi ngoại giao. Anh còn nhớ không? Lần đầu tiên gặp Dương Hổ Thành, có đến hai mươi phút, anh ngồi lặng thinh không nói gì cả!

Từ Hải Đông đã dẫn bộ đội của mình tiến vào đóng ở Thương Lạc, rồi phối hợp với lực lượng bạn chung quanh, để xúc tiến giải quyết hòa bình "sự kiện Tây An".

Cuộc kháng chiến chống Nhặt bùng nổ, Từ Hải Đông được cử làm lữ trưởng lữ 344, thuộc sư 115 của Bát lộ quân. Ông dẫn đơn vị của mình tham gia chiến đấu ở Bình Hình Quan, phối hợp cùng các đơn vị bạn đánh sư đoàn Bản Viên, một sư đoàn tinh nhuệ của quân Nhật bị thiệt hại nặng nề. Sau chiến dịch Bình Hình Quan, ông dẫn đơn vị của mình là lữ 344, ngày đêm xoay chuyển tác chiến, kiên quyết chấp hành những phương châm chiến lược của Trung ương Đảng và Mao Trạch Đông đặt ra. Ông đã từ Sơn Tây đánh tới Hà Bắc. Ông vừa di chuyển vừa đánh giặc và đã vượt qua mấy nghìn dặm đường. Năm 1937, Từ Hải Đông với sự chỉ huy trực tiếp của Chu Đức và Bành Đức Hoài, tham gia trận đánh phía Đông Nam đất Tấn, và đã đập tan chín lộ quân của Nhật bao vây tấn công. Ông dẫn hai đoàn quân đánh nhau với Nhật tại Trương Điếm, và Đinh Điếm. Trong cuộc chiến đấu này, ông đã giết và làm bị thương gần một ngàn quân xâm lược Nhật, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của mình.

Đầu năm 1938, một ký giả tiền tuyến phỏng vấn Từ Hải Đông, ký giả sau đó đã viết: "Ngồi bên cạnh lò sưởi ấm giữa một đêm lạnh vào tháng giêng, chính là vị danh tướng mà quân địch nghe tới phải khiếp đảm. Trong lời đồn đại, ông là một người hết sức dũng cảm, và trong sự tưởng tượng, ông phải là một người ít nhiều có vẻ thô lỗ chăng? Nhưng sự thật thì trái ngược. Trông ông giống như một thư sinh nho nhã, ôn tồn. Ông có một khuôn mặt tròn trịa, đôi mắt sáng và lanh lợi, khi cười vết thẹo do bị thương ở phía đuôi mắt trái hiện rõ lên trông duyên dáng như cái đồng tiền ở trên đôi má vậy".

Ký giả hỏi:

— Vũ khí và trang bị của các ông ở đâu mà có?

Từ Hải Đông đáp:

— Binh công xưởng của chúng tôi ở Đông Kinh!

Ký giả lại hỏi:

— Còn nguồn cấp dưỡng của các ông ở đâu?

Từ Hải Đông đáp:

— Ở các hiệu buôn tại Đông Kinh!

Người ký giả viết rõ trong bài phỏng vấn "đây là một con người kỳ dị".

Tháng giêng năm 1940, Từ Hải Đông do trải qua một thời gian lâu dài chiến đấu, ngã bệnh tại nơi làm việc, và từ đấy rời khỏi cương vị lãnh đạo.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:25:45 am

3. "NGƯỜI BÙN" VÀ KÝ GIẢ PHƯƠNG TÂY

Nửa thế kỷ trước, khi thế giới còn hiểu rất mù mờ về cuộc chiến tranh đang xảy ra tại một nước Trung Quốc ở phương Đông, thì có một người ký giả Mỹ, ông Edgar Parks Snow đã mạo hiểm đi sâu vào lòng đất Trung Quốc để "tìm kiếm một Trung Quốc đỏ", và viết ra một quyển sách làm chấn động thế giới. Kể từ đó, từng tốp một những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, có những nét riêng khác nhau, tươi cười đứng trước mặt thế giới. Trong số đó có Từ Hải Đông, một tướng lãnh tiếng tăm lẫy lừng, nguyên là một anh thợ gồm. Nhưng thông qua ngòi bút của người ký giả phương Tây trên, ông đã trở thành một nhân vật nổi tiếng trên thế giới, tất cả những điều đó đã xảy ra như thế nào? Một "người bùn" làm thế nào có thể giao lưu được với một ký giả phương Tây?

Ở cao nguyên phía Bắc Thiểm Tây, đâu đâu cũng là những đồi đất vàng nhấp nhô, và những hố rãnh chạy dài liên miên, cho tới tận chân trời. Năm 1936, trên vùng đất vàng này, bỗng có một người mũi lõ mắt xanh, đầy lòng hiếu kỳ, tìm tới. Ông ta đi đứng khắp nơi, vừa phỏng vấn vừa tham quan. Ông ta chính là ký giả Edgar Parks Snow của Mỹ. Từng ngày một, từng món đồ một, ở vùng phía Bắc tỉnh Thiểm Tây này đối với người ký giả Mỹ, đều gợi được tính hiếu kỳ và sự hưng phấn. Ngay đến những lá truyền đơn do máy bay của Quốc dân đảng rải xuống, ông ta cũng nhặt lên tò mò xem. Trên truyền đơn có in rõ những dòng chữ bảo ai nếu giết chết được Bành Đức Hoài và Từ Hải Đông, rồi đi đầu hàng, thì sẽ được thưởng mười ngàn Mỹ kim. Bành Đức Hoài thì ông có gặp rồi, nhưng người đứng cùng tên với Bành Đức Hoài, mà Quốc dân đảng nói tới, người mà tên tuổi vang dậy, đầy màu sắc thần bí, bị Tưởng Giới Thạch cho là "mối hại to của nền văn minh" là Từ Hải Đông, thì Snow cần phải đi tìm hiểu ngay, và cần phải phỏng vấn ông ấy.

Một buổi sáng nọ, Snow vừa đi tản bộ trên đầu thành trở về, thì đến ngay chỗ Bành Đức Hoài, và nhận ra có mấy vị lãnh tụ hồng quân đang ngồi tại đấy. Những người lãnh tụ này, Snow đều chưa có dịp gặp qua. Chừng như họ đang mở cuộc họp. Trong khi người ký giả Mỹ chuẩn bị bước ra khỏi phòng thì Bành Đức Hoài bỗng vẫy tay, tươi cười nói:

— Lại đây! Ông Snow này, ông đừng đi, chúng tôi đã họp xong rồi. Mọi người hãy ngồi cả vào đây ăn dưa hấu.

Lúc ăn dưa, Snow chú ý một viên chỉ huy trẻ tuổi mà ông chưa được gặp bao giờ. Bành Đức Hoài thấy vậy, bèn nói đùa:

— Đấy là người đầu sỏ "xích phi" (cướp đỏ, tiếng của Quốc dân đảng gọi hồng quân), nổi danh mà ông muốn gặp đấy. Vậy ông có nhận ra ông ấy không?

Người ấy nghe Bành Đức Hoài nói thế, thì khuôn mặt đỏ bừng lên, có vẻ như một cậu bé nghịch ngợm và bướng bỉnh. Ông ta cười gượng và để lộ chỗ trống của hai chiếc răng cửa bị gãy. Mọi người thấy thế cũng đều cười ồ.

Đây là lần đầu tiên Từ Hải Đông tiếp xúc với người nước ngoài. Trông ông ngây thơ ấu trĩ như một đứa bé, lúng túng không biết nói gì với người ký giả nước ngoài này. Khi nghe nói người ký giả nước ngoài muốn phỏng vấn mình, cũng như bộ đội của mình, thì Từ Hải Đông cảm thấy thực lúng túng. Ông lấy tay thúc nhẹ Bành Đức Hoài một cái, mặt đỏ bừng, nói nhỏ:

— Đồng chí giới thiệu người nước ngoài này cho tôi, tôi biết làm sao đây?

Bành Đức Hoài cười to, nói tiếp:

— Làm sao đây? Bành Đức Hoài lại cười to, nói tiếp - Máy bay, đại bác, đồng chí đều không sợ, thế lại sợ một người nước ngoài hay sao?

Từ Hải Đông luống cuống nói:

— Nghe đâu ký giả thì cái gì họ cũng hỏi, vậy tôi biết nói với họ những gì?

Bành Đức Hoài biết Từ Hải Đông tính tình ngay thẳng, hễ nói chuyện thì cứ nói thẳng thừng ra, không quanh co úp mở như người khác, bèn nói:

— Ông ấy là người bạn tốt của chúng ta, vậy ông ấy hỏi gì, thì đồng chí cứ nói nấy thôi!

Snow tỏ ra rất ưa thích người lãnh tụ hồng quân có những nét trẻ con này, ông ta bước tới nắm chặt bàn tay của Từ Hải Đông, rối cao hứng nói:

— Tôi rất vui mừng được gặp ông!

Từ Hải Đông chỉ biết nắm tay của Snow và mỉm một nụ cười đôn hậu, đáp:

— Tôi là một người thô lỗ!

Mọi người nhìn thấy thái độ lúng túng của Từ Hải Đông, lại phá lên cười.

Snow nói với Từ Hải Đông:

— Hôm qua tôi có nhặt một lá truyền đơn từ máy bay rải xuống, thấy Quốc dân đảng treo thưởng mười nghìn đôla Mỹ cho cái đầu của ông. Vậy, ông không sợ chiến sĩ của ông lấy đầu ông để đi lãnh thưởng sao?

Từ Hải Đông há to cái miệng bị mất hai răng cửa ra, cười ha hả, đáp:

— Tôi không sợ! Tôi không sợ! Quốc dân đảng dù có treo thưởng một triệu đôla Mỹ, thì chiến sĩ của tôi cũng không khi nào lấy đầu tôi để đi lãnh thưởng. Trái lại, cái đầu của Tưởng Giới Thạch không ai thưởng một đồng tiền nào, mà chiến sĩ của tôi cũng sẽ tranh nhau mà cắt đấy!

Câu trả lời dí dỏm của Từ Hải Đông làm cho mọi người đều cười to. Snow cảm thấy người "Xích Phỉ" lừng danh này, chẳng những biết đánh giặc giỏi, mà lại biết nói chuyện rất dí dỏm, nên ông ta càng thích Từ Hải Đông.

Từ Hải Đông lại dùng giọng nói đầy khôi hài của mình nói tiếp:

— Nếu Tưởng Giới Thạch bằng lòng trả giá cho cái đầu của tôi mười nghìn Mỹ kim, thì tôi sẽ sẵn sàng bán nó cho ông ta đấy!

Giữa tiếng cười của mọi người, Bành Đức Hoài nghiêm túc nói với Từ Hải Đông:

— Này đồng chí Hải Đông, ông Snow muốn tới quân đoàn mười lăm Hồng quân của đồng chí để tham quan và phỏng vấn, vậy đồng chí có hoan nghênh chăng?

Từ Hải Đông vui vẻ nói:

— Hoan nghênh! Hoan nghênh! Chúng tôi sẽ chuẩn bị một chỗ ở đường hoàng cho ông Snow - Nói tới đây, Từ Hải Đông quay sang ông Snow nói tiếp - Chừng nào ông đến, nên cho tôi biết trước, để tôi phái người đón ông.

Snow tỏ vẻ cảm kích, nói:

— Cám ơn ông!

Đó là lần đầu tiên Snow gặp mặt Từ Hải Đông. Dưới mắt của Snow, Từ Hải Đông là một nhân vật truyền kỳ vừa dí dỏm, dễ thẹn thùng, dễ xấu hổ, có vẻ như trẻ con, nhưng lại là một người ẩn chứa vô số những điều khó hiểu. Cho nên Snow sốt ruột muốn tìm hiểu thân thế và nội tâm của một con người tiếng tăm lừng lẫy mà Tưởng Giới Thạch đánh giá là "mối hại to lớn của thế giới văn minh". Từ Hải Đông đối với người ký giả Mỹ này vẫn có vẻ lúng túng. Nhưng từ nội tâm, cho đến hình thái bên ngoài đòi hỏi ông phải tiếp đón người "điều tra chiến khu đỏ" này một cách vui vẻ. Dù sao đi nữa thì ông ta vẫn từ một nước xa xôi lặn lội tới đây, và thật sự có lòng tốt đối với đám người ở vùng đất vàng phía Bắc Thiểm Tây, mà người đời ít ai biết tới. Cho nên Từ Hải Đông có một sự hợp tác bạn bè khăng khít, với người ký giả Mỹ này. Trong lần gặp mặt đầu tiên, Từ Hải Đông đã quyết định phải quan tâm đến người ký giả cho tốt, và sẽ thỏa mãn những yêu cầu mà ông ta cần đến.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:26:50 am

Tại huyện thành Dự Vượng, Từ Hải Đông dẫn một toán tướng lãnh hồng quân trẻ tuổi đi nghênh đón người ký giả Mỹ đến khảo sát. Từ Hải Đông cũng không quên sắp xếp cho Snow một ngôi nhà trọ rất dễ chịu, và dẫn ông ta đi tham quan huyện thành Hạ Mã Quan được xây dựng khá hùng vĩ. Bức tường thành cao và dày, đều do gạch xây nên. Hào thành cũng rất kiên cố. Trên mặt tường thành và một số kiến trúc khác đầy dẫy những vết đạn. Đó là những vết đạn do hồng quân đánh chiếm thành còn để lại.

Từ Hải Đông giới thiệu việc tấn công chiếm thành, cũng như giới thiệu những quá trình phát triển của bộ đội, và những tướng lãnh các cấp. Snow cảm thấy Từ Hải Đông nói chuyện rất rắn rỏi, không như lần gặp mặt đầu tiên, mặt đỏ vì thẹn, thái độ rụt rè. Hơn nữa, ông là người "ý thức giai cấp" rất mạnh. Từ thái độ, ngoại hình, cách ăn nói, đều cho thấy rõ điều đó. Từ Hải Đông gieo cho Snow một ấn tượng ông ta là một thanh niên nông thôn, chừng như vừa mới ở dưới ruộng lúa nước leo lên bờ, và vừa tuột hai ống quần vốn xắn lên cao trở xuống, tham gia vào một đội quân chí viện đang đi qua đường. Vậy mà Từ Hải Đông đã là một viên đại tướng, tiếng tăm lừng lẫy cả đất nước Trung Hoa. Trong hồng quân có rất nhiều anh hùng và lãnh tụ, được mọi người gọi là "chân bùn", "cu ly", và chẳng hề trải qua sự huấn luyện và giáo dục của một trường quân sự cao đẳng nào. Nhưng trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, họ có kinh nghiệm phong phú về đấu tranh võ trang, và đào luyện họ thành những chỉ huy viên ưu tú, trở thành một tướng quân được hồng quân và nhân dân quần chúng thương yêu. Tên tuổi và sự tích anh hùng của họ được lưu truyền trong dân gian như một câu chuyện thần thoại. Từ Hải Đông chính là đại biểu cho những con người kiệt xuất đó. Snow nghĩ bụng: các tướng quân xuất thân từ nông dân, công nhân, cu ly, trong Đảng Cộng sản, đã đánh tơi bời, tan tác những tướng từng học qua các trường Hoàng Phố của Quốc dân đảng, phải chăng là sự đùa cợt của lịch sử? Không! Đó là một sự thật hoàn toàn, một sự thật trăm phần trăm. Từ trong thâm tâm mình, Snow đã cảm nhận được "ý thức giai cấp" hết sức mạnh, hết sức chân thành, và đầy tự hào, tự tin của Từ Hải Đông.

Mỗi ngày Snow đều bám theo Từ Hải Đông, hỏi ông ta những vấn đề từng trải của cá nhân, về sự phát triển của bộ đội, về sự đấu tranh trước đây tại khu Xô viết Ngạc Dự Hoãn, và tình trạng mà ông ta đang ở tại Tây Bắc hiện nay. Snow là một ký giả nước ngoài đầu tiên phỏng vấn hồng quân Từ Hải Đông đối với những vấn đề của ông ta đề ra đều trả lời một cách chân thành. Từ Hải Đông đã nói về gia thế của mình, đã nói về việc mình tham gia Đảng Cộng sản ra sao, tham gia Bắc phạt, tổ chức nông dân tự vệ quân ra sao, xây dựng khu Xô viết Ngạc Dự Hoãn, và tham gia đập tan những cuộc bao vây càn quét lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư của Quốc dân đảng ra sao. Kế đó, ông cũng nói rõ về quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân do mình xây dựng, và mở cuộc trường chinh như thế nào. Ông cũng nói về quân đoàn mười lăm, nói về việc hợp điểm, nói về chiến dịch Trực La trấn, và nói cho đến những ngày Tây chinh.

Đối với Snow những lời kể như một dòng nước chảy của Từ Hải Đông, đã giúp ông ta hiểu được rất nhiều vấn đề mà trước đây chưa hiểu, đặc biệt là làm cho ông ta lần đầu tiên biết được quá trình xây dựng khu Xô viết Ngạc Dự Hoãn, cũng như sự phát triển của khu Xô viết này. Nhưng có điều làm cho Xìnốp chưa hài lòng, ấy là Từ Hải Đông sau khi nói sơ qua về gia đình của mình, và tham gia hoạt động cách mạng, thì bao giờ cũng nói nhiều về Đảng Cộng sản, về hồng quân, và các đồng chí lãnh đạo khác, mà rất ít nói về bản thân mình. Dưới mắt của Snow, Từ Hải Đông là "một nhân vật đầy bí ẩn". Snow đã chuẩn bị sẵn rất nhiều câu hỏi, nhưng Từ Hải Đông lại không nói tới, đặc biệt là một "người bùn" như ông, làm thế nào để trở thành một tướng quân tiếng tăm lẫy lừng, tức về lịch sử của cá nhân thì ông rất ít nói.

Gương mặt của Từ Hải Đông bỗng lại đỏ lên, và có vẻ thẹn thùng, nói tiếp:

— Thưa ông Snow, tôi là một người thô lỗ, nên tôi không được toàn diện và cụ thể. Nhưng, chúng tôi không có điều gì cần phải giữ bí mật cả. Người Cộng sản chúng tôi đều là những người quang minh chính đại, không có chuyện chi phải giấu người khác. Tất cả những người tôi biết, tôi đã nói cho ông nghe cả rồi đấy.

Snow tươi cười, nói:

— Tôi có nghe rất nhiều chuyện vui, đầy lý thú chung quanh ông, nhưng ông lại không nói. Tôi muốn buổi chiều nay, chúng ta sẽ nói chuyện thêm, vì tôi cần nêu ra một số vấn đề khác để nhờ ông trả lời.

Từ Hải Đông nghe nói người ký giả phương Tây này muốn đặt thêm một số vấn đề cho ông trả lời, thì mặt ông lại bừng đỏ, vội vàng nói:

— Bữa chiều tôi còn phải bận đi họp. Việc trả lời phóng vấn là việc của những văn nhân, vậy để tôi phái mấy viên tham mưu trả lời cho ông được không?

Snow cười ha hả. Ông ta cảm thấy vị tướng quân xuất thân từ anh thợ gốm này rất dễ yêu, bèn nói:

— Tôi muốn ông trả lời những vấn đề thuộc về lịch sử của cá nhân ông kia!

— Cá nhân tôi thì có gì đáng nói? Nếu không có Đảng Cộng sản, nếu không tham gia Hồng quân để làm cách mạng, thì tôi chỉ là một anh thợ gốm không hơn không kém. Không biết chừng tôi đã bị chủ lò gốm bóc lột và áp bức chết từ lâu rồi - Từ Hải Đông mỉm cười và bổ sung - Tôi làm gốm rất nhanh, có thể nói cả nước Trung Quốc không có anh thợ gốm nào tay nghề bằng tôi đâu. Cho nên sau khi cách mạng thắng lợi tôi vẫn sẽ là một công dân hữu dụng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2023, 08:27:56 am

Những ngày sau đó, buổi sáng Snow đi đến các sư đoàn của Hồng quân để tham quan, còn buổi chiều và buổi tối thì đến chỗ ở của Từ Hải Đông. Ông thông qua sự phiên dịch của Hoàng Hoa, và được Từ Hải Đông trả lời từng câu hỏi một. Ngày nào hai người cũng nói chuyện tới khuya. Cứ mỗi một vấn đề nào Snow cũng phải tốn rất nhiều thì giờ, để đặt nhiều câu hỏi, thì mới được Từ Hải Đông nói ra sự thật. Snow cảm thấy viên chỉ huy cao cấp của Hồng quân này, rõ ràng là hết sức thật thà, không biết tuyên truyền ra nước ngoài. Nhưng những lời nói thẳng thừng, chân thành, không hề tô điểm bằng lời lẽ văn chương, đã làm cho Snow hoàn toàn hiểu được nhiều chuyện hết sức mới mẻ, và khiến cho ông ta tin rằng, những lời nói này là hoàn toàn đáng tin cậy.

Nối tiếp ba bốn đêm liền, lúc nào Snow cũng bám sát theo Từ Hải Đông. Ông đi cùng Từ Hải Đông đến xem Hồng quân diễn kịch, cũng như tới tham quan sư đoàn bảy mươi ba, lúc nào người ký giả phương Tây này cũng không chịu rời Từ Hải Đông, mà luôn luôn đặt câu hỏi này, câu hỏi nọ, để tìm hiểu về cá nhân ông. Từ Hải Đông cảm thấy đứng trước việc này mình thật chẳng khác nào một "phạm nhân" đang đứng ở vành móng ngựa bị cáo, còn Snow thì như một "quan tòa”. Đối với từng vấn đề một, Snow đều hỏi tới ngọn nguồn, làm cho Từ Hải Đông cảm thấy lúng túng, khó trả lời, vì ông không muốn nói nhiều về cá nhân của mình, nhưng lại không thể không nói. Snow hỏi tình trạng sinh hoạt của ông lúc còn bé, hỏi ông về đời sống lúc làm gốm, hỏi ông lúc dẫn quân đi đánh giặc, hỏi vợ con, cha mẹ, thân nhân, còn hỏi cả hai cái răng cửa của ông làm sao mà bị gãy?... Đối với mọi việc, không có việc nào lớn, việc nào nhỏ, mà tất cả mọi việc đều hỏi đến. Từ Hải Đông đối với người ký giả bám sát để cật vấn mình, thật không có cách nào chạy trốn được.

— Ông quả là một người ký giả bám sát nhất! Không chuyện gì mà ông không muốn biết cả!

Snow vui vẻ nói:

— Tôi muốn điều tra rõ ràng tình hình chiến khu đỏ, để viết lại cho toàn thế giới biết một cách thiết thực kia mà!

Từ Hải Đông cũng cười, nói:

— Trước đây, tôi vẫn tưởng những người nước ngoài mắt xanh mũi lõ, đều không có ai tốt. Nhưng tôi được sống với ông mấy hôm, thì thành kiến đó của tôi đã thay đổi. Người nước ngoài không phải ai cũng xấu. Như ông là một người phương Tây rất tốt bụng, là một ký giả rất cầu thị!

Sống tại quân đoàn mười lăm được mấy hôm, Snow cảm thấy "giây phút nào cũng đều hết sức có ý nghĩa". Khi ông được điện trở về Bảo An, thì ông vẫn lưa luyến nói:

— Tôi đến với các ông chỉ có năm hôm, còn rất nhiều người tôi vẫn chưa có dịp phỏng vấn, cũng như có mấy doanh trại của sư đoàn tôi chưa được tham quan, thế mà bây giờ phải trở về, thật là đáng tiếc!

Từ Hải Đông tiễn chân Snow, mỗi người dẫn một con ngựa đi bộ xa chừng hai dặm đường. Từ Hải Đông bùi ngùi nói:

— Chúng tôi xuất thân là công nhân, nông dân, đối với thế giới bên ngoài hiểu biết rất ít. Chính ông đã phá vỡ được thành kiến của tôi đối với người phương Tây. Được làm bạn với một người nước ngoài như ông, tôi cảm thấy rất vinh hạnh. Tôi hy vọng sẽ có càng nhiều người phương Tây như ông đến thăm khu Hồng quân của chúng tôi, rồi báo lại với thế giới biết tình hình của chúng tôi. Tôi hy vọng ông sẽ trở lại.

Snow không cầm được sự cảm động trước tấm lòng nhiệt tình của Từ Hải Đông, quyến luyến nói:

— Chúng ta nhất định sẽ gặp lại nhau!

Bỗng Từ Hải Đông thò tay vào túi, móc ra một chiếc bình dùng để hít thuốt lá bột vào mũi, làm bằng ngọc đen, nói:

— Xin ông hãy nhận vật kỷ niệm này của quân đoàn mười lăm đỏ, và của cá nhân tôi. Các đồng chí của tôi nói, nếu trông thấy nó thì ông sẽ không quên chúng tôi. Món vật này nguyên là của một vị vua Mông Cổ. Nông dân ở vùng này xem nó là một thứ đồ vật quý giá. Mang nó theo người, ông sẽ bình an trở về đến nhà.

Nói dứt lời, Từ Hải Đông nhảy lên mình ngựa, quay lại chào Snow một cái chào kiểu quân sự, rồi thúc ngựa chạy như bay.

Snow nhìn theo bóng của Từ Hải Đông, trong lòng cảm thấy kính phục ông ta một cách sâu sắc. Snow cũng cảm thấy vị danh tướng Hồng quân, xuất thân từ công nhân bảy đời làm gốm này, đúng là một con người có sự từng trải đầy truyền kỳ. Ông ta chính là người tiêu biểu cho những lịch trình cách mạng đầy khúc chiết, và đầy gian nan của Hồng quân.

Còn đối với Từ Hải Đông, trong cả cuộc đời của mình đã tiếp xúc với không ít ký giả, nhưng Snow là một ký giả mà ông khó quên nhất. Sau đó nhiều năm, khi nghĩ tới người bạn Snow của mình, và nhìn lại tấm hình mà chính Snow chụp cho mình, ông tươi cười, nói:

— Snow là người bạn Mỹ duy nhất của tôi. Ông ta là một ký giả đeo sát đối tượng phỏng vấn nhất. Gần như ông ta muốn móc cả quả tim của mình ra để xem vậy!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Năm, 2023, 09:44:28 am

4. CÓ PHẢI ĐÃ "QUY ẨN"?

Từ Hải Đông là một tướng lãnh cao cấp, tài ba, "có nhiều công lao lớn đối với cách mạng Trung Quốc” thế tại sao giữa lúc chiến công của ông sáng chói nhất, kinh nghiệm phong phú nhất, thì ông lại biến mất giữa khói lửa của cuộc chiến tranh chống Nhật, đang hồi gay go nhất? Điều đó không phải là một điều lạ lùng sao? Vậy, sau khi ông rời khỏi cương vị lãnh đạo thì đã làm gì? Đó chính là điều mà chúng ta cảm thấy rất tò mò.

Từ Hải Đông là một danh tướng, kể từ năm 1926 tham gia Bắc phạt, cho đến năm 1940, ông đã vì bệnh mà ngã quỵ. Suốt mười bốn năm dài đó, ông luôn sống một đời sống hết sức gian khó. Trong chiến đấu, tuy ông là một người chỉ huy, nhưng ông vẫn thường dũng cảm xông lên trước, để dẫn dắt các chiến sĩ xung phong hãm trận. Do vậy, mà trên người ông đâu đâu cũng có nhiều vết thương. Tất cả quân địch nghe danh ông đều kinh hãi. Từ Hải Đông đã bị thương chín lần ở khắp người, như trên đùi, trên cánh tay, có tất cả mười bảy vết sẹo. Ông bị thương nặng nhất là vào tháng mười hai năm 1934, trong trận kịch chiến tại Canh Gia Hà, nằm về phía Nam tỉnh Thiểm Tây. Một viên đạn đã xuyên qua từ phía sau lỗ tai trái của ông, và phá miệng làm gãy nhiều răng hàm dưới. Chỉ một chút nữa là viên đạn đã xuyên qua óc ông. Ông nằm mê man suốt bốn ngày trên cáng, nhưng cuối cùng, thì ông cũng đã thoát khỏi bàn tay của tử thần.

Suốt mười bốn năm chinh chiến, Từ Hải Đông đã bị trọng thương nhiều lần, và mỗi lần bị thương như vậy, ông đều dùng một nghị lực phi thường để chiến thắng cái chết. Nhưng, trong một đời sống chinh chiến gian khổ, đời sống khó khăn, khiến ông không may bị nhiễm bệnh lao phổi. Đó là vào tháng tám năm 1932, tại khu Xô viết Ngạc Dự Hoãn. Từ Hải Đông phải hành quân tác chiến suốt hai mươi ba ngày liền, không được nghỉ ngơi. Đến khi được nghỉ, thì ông bị lạc huyết lần thứ nhất. Đến năm 1938, sau khi tiến hành chiến dịch Bình Hình Quan, ông dẫn một số người lao vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nhật, đưa cửu lộ quân bao vây tấn công. Trong các chiến dịch cứu viện Thái Nguyên, cũng như Đinh Điếm, ông lại bị lạc huyết lần thứ hai. Chiến tranh vẫn tiếp tục, không có thì giờ nghỉ ngơi chữa trị, cuộc sống lúc nào cũng khẩn trương và gian khó, nên sức khỏe của Từ Hải Đông đã bị suy giảm nhiều hơn. Đến tháng chín năm 1939, Từ Hải Đông theo Lưu Thiếu Kỳ đến vùng Hoa Trung để công tác, trên đường đi ngang Trúc Câu, thuộc tỉnh Hà Nam, thì ông bị lạc huyết nặng. Tháng một năm 1940, sau chiến dịch Châu Gia Cương, ông lại bị lạc huyết nặng một lần nữa, và từ đó ngã bệnh không dậy nổi.

Mặc dù Từ Hải Đông bị bệnh nặng, nhưng ông không giờ phút nào muốn rời bỏ đội ngũ cách mạng mà ông đã hiến thân. Ông luôn luôn muốn mau chóng khôi phục lại sức khỏe để tiếp tục công tác. Dù nằm trên cáng, hay trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Hễ bệnh tình khá lên một chút, là ông lại yêu cầu được trở về bộ đội để chiến đấu. Năm 1940, thì ông bệnh nặng và ngã quỵ. Đứng trước bệnh tình của Từ Hải Đông, Cục Hoa Đông phải báo cáo về Trung ương Đảng. Mao Trạch Đông đối với bệnh tình của Từ Hải Đông, tỏ ra rất quan tâm. Trong bức điện trả lời Từ Hải Đông Mao Trạch Đông viết: "phải bình tâm tĩnh dưỡng, dù trời sập cũng không cần biết". Như vậy, ông mới chịu nằm yên để dưỡng bệnh. Năm năm cuối cùng của cuộc kháng chiến, ông đều nằm trên cáng để sống qua ngày, và thực tế không bao giờ ngưng nghĩ công tác. Ông vẫn tiếp tục chỉ huy tác chiến. Đến thời kỳ cách mạng quốc nội lần thứ ba, Hồng quân triệt thoái khỏi khu Ly Hoa Điện, ông theo các cơ quan hậu phương, di chuyển về tỉnh Sơn Đông. Đến tháng chín năm 1947, Trung ương chỉ thị ông phải rời Sơn Đông đi sang Đại Liên để tĩnh dưỡng (lúc đó Đại Liên đã giải phóng). Đến chừng ấy, bệnh tình của Từ Hải Đông mới được trị liệu có hiệu qua bằng thuốc men.

Khi Từ Hải Đông đến Đại Liên để dưỡng bệnh, lại có một câu chuyện ngộ nghĩnh xảy ra. Cho dù đã mấy năm rồi, ông không còn chỉ huy tác chiến nữa, nhưng cơ quan tình báo cúa địch lúc nào cũng theo dõi tin tức về ông. Để bảo mật, lúc ông lên tàu đi Đại Liên, thì lấy một cái tên nghi trang, gọi là Dư Lập Nhân. Không ngờ sau khi ông đến Đại Liên được ba hôm, thì có một đồng chí trong Sở Công an của thành phố Đại Liên tới báo:

— Sáng hôm nay, đài phát thanh Mỹ có nói: "Một yếu nhân quân sự của Trung Cộng - Từ Hải Đông, đã tới Đại Liên. Ý đồ không rõ".

Từ Hải Đông nghe vậy, cảm thấy rất ngạc nhiên về tình báo của địch theo dõi sát mình đến thế. Ông vừa giận, vừa bực mình, nói:

— Tôi bệnh như thế này, còn có ý đồ gì không rõ? Ý đồ của tôi rất rõ, ấy là dưỡng bệnh!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Năm, 2023, 09:45:07 am

Kẻ thù luôn chú ý tới từng hành động của Từ Hải Đông, điều đó nói lên chúng rất khiếp sợ ông. Và chính điều này làm cho ngọn lửa chiến đấu trong lòng Từ Hải Đông lại cháy bừng lên: Trị bệnh khỏi, ta lại trở ra chiến trường. Nhưng bệnh tình của ông nặng đến mức nào? Trước đây nhiều năm, tuy ở ngoài mặt trận biết ông bệnh, nhưng do không có ai khám nghiêm kỹ, nên cũng không biết bệnh của ông nặng tới mức nào. Sau khi tới Đại Liên, một chuyên gia bệnh phổi từng du học ở Mỹ và một vị thượng tá quân y của Hồng quân Liên Xô, sau khi khám nghiệm đầy đủ, cho biết đại bộ phận hai lá phổi của Từ Hải Đông đã mất công năng. Như vậy, cũng không thể nói được ông bị bệnh phổi vào thời kỳ thứ mấy. Tình trạng bệnh phổi của ông hết sức nặng, vì phổi của ông đã xơ khí quản, lại bị giãn nở, và bị chứng viêm khí quản mạn tính. Công năng của phổi đã bị tổn thương nặng. Hai lá phổi của ông lúc nào cũng có tiếng kêu vang, vì bên trong nó có những bọc nước nhỏ và cứ theo hơi thở mà kêu vang lên. Viên thượng tá quân y Hồng quân Liên Xô, nghe nói dù ông bệnh, nhưng vẫn tiếp tục công tác, đọc sách, xem văn kiện, thì lắc đầu nói:

— Tôi không thể hiểu nổi, sinh lực của ông tại sao lại mạnh mẽ đến thế?

Do bệnh nặng, bắt buộc Từ Hải Đông phải để hết thì giờ nằm trên giường. Mỗi ngày chỉ cho phép ông ngồi dậy hai lần, mỗi lần vài ba tiếng đồng hồ. Do hai lá phổi đã bị tổn thương nghiêm trọng, nên ông gần như không thể xa rời bình dưỡng khí, và đời sống, phải nhờ người khác giúp đỡ hoàn toàn. Bệnh tình không cho phép ông làm việc, thế nhưng mỗi hôm ông đều kiên trì nghe đọc văn kiện và báo chí. Đối với những vấn đề trọng đại, ông còn mời thư ký riêng hoặc những đồng chí có liên quân đến, để nói tường tận cho ông nghe. Lúc nào ông xuất hiện trước mặt y tá, đều làm ra vẻ như tinh thần phấn chấn, cười vui như thường.

Được sự giúp đỡ của cơ quan đảng địa phương và văn phòng của chính phủ tại địa phương, Từ Hải Đông đã nằm dưỡng bệnh ở Đại Liên chín năm. Trong thời gian này, bệnh tình có khi khá, có khi xấu. Lúc bệnh tình khá, mỗi ngày ông được ngồi dậy hai ba tiếng đồng hồ. Và có một lần bệnh tình rất nguy cấp, phải trải qua cấp cứu tận tình, ông mới thoát khỏi cảnh nguy hiểm. Trung ương Đảng và Chủ tịch Mao Trạch Đông rất quan tâm đối với sức khỏe của ông. Ngày hai mươi tháng tám năm 1950, Chủ tịch Mao Trạch Đồng chính tay viết thư thăm Từ Hải Đông, nói: "Bệnh tình có phần khá, tôi rất mừng. Mọi người chúng tôi đều rất quan tâm đến đồng chí. Đồng chí an tâm dưỡng bệnh, để cho khỏi hẳn". Từ Hải Đông rất nôn nóng muốn trở lại làm việc. Đối với vinh dự được Đảng quan tâm, ông rất cảm kích, nhưng trong lòng cũng tự cảm thấy xấu hổ. Đầu năm 1955, Quân Giải phóng tiến hành việc bình nghị quân hàm, và ông được bình nghị hàm đại tướng. Trong lòng ông rất không an tâm. Vừa lúc đó, có Thủ tướng Chu Ân Lai tới thăm, ông bèn nói với Thủ tướng Châu Ân Lai:

— Thưa Thủ tướng, tôi bệnh phải nằm nghỉ lâu dài, công tác cho Đảng rất ít. Vậy ban cho tôi cấp đại tướng là quá cao. Tôi nhận mà cảm thấy xấu hổ.

Châu Ân Lai lúc nào cũng thương yêu viên tướng lãnh xuất thân từ giai cấp công nhân này, nên nắm bàn tay của ông, nói:

— Này, đồng chí Hải Đông, bình nghị đồng chí là đại tướng, không cao cũng không thấp, vừa phải đấy!

Tháng chín năm 1956, sau khi Từ Hải Đông dời đến ở tại chùa Quan Âm số một, thì sức khỏe của ông khá lên một ít. Ông bắt đầu làm những công tác mà ông có thể làm được: Tham gia những phiên họp quan trọng của Đảng, tiếp nhận công việc của Quân ủy Trung ương ủy thác ông làm chủ biên viết cuốn chiến sử của quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân. Ông thường nằm trên giường thảo luận với những người trong ban biên tập, và dặn dò:

— Nhất định phải viết về Đảng, về Mao Chủ tịch, về nhân dân, về tập thể, đừng viết nổi bật về tôi, nổi bật cá nhân.

Đối với công tác, ông không bao giờ câu nệ, mười bức địa đồ chiến trận đều do ông chỉ vẽ từng li từng tí để vẽ ra. Năm 1962, quyển Chiến Sử chào đời, thì ông cũng mệt đuối và bị thổ huyết nặng một lần nữa. Bệnh tình của ông nguy cấp suốt chín hôm. Lúc bấy giờ, không ngày nào ông xa rời bình dưỡng khí. Cho dù vậy, đối với những cuộc họp quan trọng của Trung ương Đảng, ông vẫn tham gia, vẫn đọc sách, vẫn xem văn kiện, vẫn tìm người để nói chuyện, không bao giờ gián đoạn. "Còn hơi thở là còn phải công tác cho Đảng", đó là câu thề mà ông đã khắc vào tim mình.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Năm, 2023, 09:46:42 am

Từ Hải Đông đi suốt cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, bản thân trải qua trăm trận chiến đấu, trên thân thể bị trúng mười bảy vết thương mà không chết. Chính phủ phản động Quốc dân đảng và đế quốc Nhật Bản đã ra giá cao, nhưng vẫn không bắt được ông. Những cơn bệnh kéo dài, cũng không làm ông chết. Nhưng cuối cùng, thì "Cách mạng văn hóa" đã hãm hại ông tới chết!

Vừa bắt đầu cuộc cách mạng văn hóa, thì Lâm Bưu và nhóm "bốn người" đã bịa đặt ra đủ thứ tội danh, vu cáo Từ Hải Đông tham gia cái gọi là "Binh biến tháng hai"1, "Thò bàn tay đen đến toàn quân trong toàn quốc", "Đoạt quyền tổng tham mưu, và các quân binh chủng". Bọn chúng dùng những thủ đoạn đê tiện, như: Ngưng phát văn kiện, cắt điện thoại, giám thị mọi hành động của ông, cấm chỉ ông liên hệ với bên ngoài, đóng cửa để chỉnh Từ Hải Đông. Sau sự kiện Vũ Hán "Hai mươi tháng bảy" năm 1967 xảy ra, bọn họ đặt điều vu khống cho Từ Hải Đông là "chỗ dựa đen" và công khai nêu ra khẩu hiệu "đả đảo Từ Hải Đông", rồi mở cuộc "phê đấu tại giường" hết sức vô nhân đạo. Mấy mươi tên vây xung quanh giường bệnh của Từ Hải Đông, kêu gào đủ thứ, thậm chí dùng quả đấm đè xuống đầu ông để bắt ông thừa nhận cái gọi là "tội trạng". Bọn chúng còn xúi bẩy lục soát tịch thu tài sản của ông, cách ly hai đứa con trai của ông để thẩm vấn. Bọn chúng biết Từ Hải Đông đang bị bệnh tim suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ không thể xa rời bình dưỡng khí. Thế mà chúng lại táng tận lương tâm, cắt đứt sự trị liệu, đình chỉ cung cấp dưỡng khí. Năm 1969, sau đại hội chín của Đảng Cộng sản Trung Quốc, bè lũ Lâm Bưu, lấy cớ "sơ tán chuẩn bị chiến tranh", cưỡng bách Từ Hải Đông đến Hà Nam, rồi ra lệnh cho bọn tay chân của chúng đưa Từ Hải Đông vào tử địa: Cho ông ở một ngôi nhà lạnh lẽo và ẩm thấp, cắt hết tất cả thuốc men. Ngay đến lương thực, dầu ăn, thực phẩm, cũng không cho cung ứng bình thường. Nhất là chúng đã làm một việc mà không ai có thể tha thứ được là trong lúc tính mệnh của Từ Hải Đông nguy cấp, thì Lâm Bưu lại sai bọn tay chân của hắn cấm ngặt không cho hội chẩn, không cho cấp cứu, khiến cho bệnh tình của ông trầm trọng lên, và vào ngày hai mươi lăm tháng ba năm 1970, Từ Hải Đông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm uất hận. Vậy mà bè lũ cùng hung cực ác của Lâm Bưu vẫn chưa chịu buông tha. Chúng hung hăng ra lệnh năm điều không cho phép: "Không cho phép đăng lên nhật báo Nhân Dân, không cho phép đăng hình, không chữ phép tặng vòng hoa, trên hũ cốt không cho phép dán cờ Đảng, không cho phép viết bài đánh giá"!

"Tuyết to đè thân tùng, nhưng tùng càng đứng thẳng hơn". Đối diện với những hoạt động soán Đảng đoạt quyền đầy tội ác của Lâm Bưu và nhóm "bốn người", Từ Hải Đông đã tiến hành một cuộc đấu tranh không khuất phục. Đầu thời kỳ cách mạng văn hóa, Từ Hải Đông đã viết một bức thư kiến nghị với Chủ tịch Mao, "Trong việc chọn người kế nghiệp, nhất định phải phù hợp với năm tiêu chuẩn của Chủ tịch Mao và các lão thủ trưởng đã đề ra. Phải gỡ ngay những quả bom nổ chậm trong Trung ương để phòng hậu hoạ. Truyền thống đấu tranh của Đảng truyền lại cho thế hệ sau, cần phải có một quá trình. Những cán bộ già do Chủ tịch Mao đã đích thân bồi dưỡng không thể thay đổi quá nhiều". Bức thư này đã đối đầu thẳng với luận điệu "đề bạt một số đông, bải nhiệm một số đông". Do vậy, bè lũ Lâm Bưu liền vu cáo bức thư này là "ép Chủ tịch Mao trao quyền lãnh đạo của Trung ương". Có người bịa chuyện, nói Lâm Bưu là người xuất thân từ nhà nghèo. Từ Hải Đông tức giận, nói:

— Nói láo! Hắn xuất thân từ gia đình ác bá, địa chủ, kiêm tư bản. Tôi đã hai lần dẫn người đánh vào Lâm Gia Loan. Mười mấy cỗ máy dệt của nhà hắn, chính tay tôi đã chia cho dân nghèo. Khi được làm phó Chủ tịch, hắn cũng không thể thay đổi thành phần xuất thân. Xuất thân không tốt, chỉ cần cải tạo thế giới quan, thì có thể chống lại giai cấp vốn có của mình, để thành người cách mạng. Người xuất thân tốt, mà không chú ý cải tạo chính mình, cũng có thể trở thành phản cách mạng!

Đối diện với sự hãm hại về chính trị của bọn Lâm Bưu, cơ thể bị đầy đọa, nhưng Từ Hải Đông vẫn không khuất phục, không dao động. Đã mấy lần ông viết thư lên Chủ tịch Mao và Thủ tướng Châu Ân Lai, để giải bày tình trạng của mình, tố giác tội ác của bọn Lâm Bưu. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc sống, ông còn nói:

— Tôi đã bị Lâm Bưu hại chết, tôi tin Mao Chủ tịch, Trung ương Đảng sẽ có ngày nhận diện được chúng.

Những nhà cách mạng lão thành như Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai, đối với Từ Hải Đông đã có một sự hiểu biết và ủng hộ rất to lớn. Khi bọn Lâm Bưu công khai nêu lên khẩu hiệu "đả đảo Từ Hải Đông", thì Diệp Kiếm Anh đã nhờ người nói lại với ông: "Đồng chí Từ Hải Đông, trước đây tôi xem đồng chí thế nào, thì bây giờ cũng xem thế ấy, vẫn không thay đổi!". Trong những lúc hết sức khó khăn, Vương Chấn đã bất chấp sự cản trở, đi vào thăm Từ Hải Đông. Vương Chấn đã khiển trách bọn người đang mưu đồ tìm tài liệu đen về Từ Hải Đông, nói:

— Các anh bảo Từ Hải Đông là phản cách mạng, thì chính tôi đây cũng là phản cách mạng!

Trong khi nhóm Lâm Bưu đang cố sức hãm hại Từ Hải Đông, thì Mao Trạch Đông tự mình đề xuất Từ Hải Đông làm đại biểu của đại hội Đảng lần thứ chín, và là thành viên của chủ tịch đoàn. Khi Thủ tướng Châu Ân Lai truyền đạt đề nghị này của Chủ tịch Mao trước đại hội, thì các đại biểu đều nhiệt liệt vỗ tay. Có những lão đồng chí đã đưa cả hai tay lên để tán thành. Khi Từ Hải Đông ngồi xe lăn tới hội trường, thì Châu Thủ tướng đã ngấn lệ bước xuống, đích thân sắp xếp chỗ ngồi cho Từ Hải Đông, và cũng chính tay Châu Thủ tướng rót trà và đem ống nhổ đến để trước mặt ông. Chủ tịch Mao Trạch Đông đang chủ trì phiên họp, cũng quay lại đưa tay lên để chào ông. Từ Hải Đông cảm động đến nước mắt ngấn quanh tròng:

— Sự thật đã chứng minh Mao Chủ tịch đối với tôi vẫn như nhất, vẫn rõ ràng, tôi cần phải tin ở Mao Chủ tịch, tin ở Trung ương Đảng.

Năm 1975, Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình không cần để ý tới Trương Xuân Kiều, chống lại sự phá rối của nhóm "bốn người" viết một bài bình luận về Từ Hải Đông, khẳng định Từ Hải Đông đối với cách mạng Trung Quốc, có một sự cống hiến trọng đại, và luôn trung thành với Đảng, trung thành với nhân dân, có một phẩm chất cao quý. Và hai vị đã lo việc cử hành nghi thức dời hũ cốt. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đích thân cử hành lễ truy điệu Từ Hải Đông tại Bắc Kinh. Như vậy, Từ Hai Đông có thể ngậm cười nơi chín suối.
_____________________________________
1. Một án oan do nhóm Khang Sinh dựng đứng lên đề hãm hại Hạ Long, Bành Châu v.v... xảy ra tháng 2 năm 1966. Đến năm 1980, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã minh oan phục hồi danh dự cho tất cả những cán bộ bị liên lụy (N.D).


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:31:58 pm

5. GIA ĐÌNH VÀ TÌNH YÊU

Trong cách mạng Trung Quốc, đã xuất hiện vô số gia đình đều là cách mạng; cha mẹ, anh em, chị em, con cái, thân thuộc, đều tham gia cách mạng. Những vị lãnh đạo trong Đảng và trong quân đội, gần như mỗi người đều có thân quyến của mình hy sinh cho cách mạng. Có những người gần như cả nhà hy sinh. Từ Hải Đông chính là một tấm gương như thế.

"Nhà giàu của cải nhiều, nhà nghèo con cháu đông". Trong nhà của Từ Hải Đông anh em chị em gồm tất cả chín người. Riêng bà con gần, bà con xa đông đến hơn tám mươi người. Khi Từ Hải Đông bước vào ngưỡng cửa cách mạng, thì qua ảnh hưởng của ông, người anh thứ tư là Từ Nguyên Hải, anh thứ năm là Từ Nguyên Ba, anh họ nội là Từ Nguyên Hồng, Từ Nguyên Đại, Từ Nguyên Khanh và Từ Nguyên Hưng, và các cháu trai là Từ Văn Sơ, Từ Văn Tài, Từ Văn Giai, Từ Văn Tị, Từ Văn Lang v.v... đều lần lượt giác ngộ cách mạng, dấn thân vào con đường chiến đấu cách mạng. Nhà họ Từ của ông có mấy mươi "người bùn", cứ người này ngã xuống thì người kia tiếp tục tiến lên, cũng giống như Từ Hải Đông vậy. Họ luôn luôn chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng của giai cấp vô sản.

Vận mệnh cá nhân của Từ Hải Đông, cũng như vận mệnh của gia đình ông, bao giờ cũng gắn chặt với vận mệnh của cách mạng. Bất luận ở trong tình huống nào, họ cũng luôn luôn lo cho đại cuộc, biết đến đại thể, không bao giờ chịu lùi bước trước gian khó, mà luôn dũng cảm tiến lên phía trước.

Từ mùa xuân năm 1930, Từ Hải Đông đã là một người lãnh đạo du kích rất dũng cảm, dẫn bộ đội đi tiêu diệt rất nhiều "dân đoàn" của địa chủ. Bọn địa chủ và thân hào căm thù ông đến tận xương tủy. Tên cầm đầu Hiếu Cảm Dân Đoàn, nhân lúc Từ Hải Đông dẫn đội du kích đi đánh ở địa phương khác, bèn tụ tập dân đoàn phản động tiến công vào quê hương của Từ Hải Đông, thực hiện việc trả thù giai cấp. Đảng ủy địa phương được tin tình báo này, bèn dẫn đội Xích vệ đến để yểm trợ cho quần chúng di tản. Kẻ thù không bắt được người, nên chúng bèn nổi lửa thiêu rụi lò gốm của nhà họ Từ, cũng như Từ Gia Điếm. Chúng cũng cướp bóc tất cả những tài sản ở đây, không còn lại vật gì đáng giá. Khi đội du kích trở lại, thì kẻ thù đã bỏ chạy từ lâu. Các chiến sĩ đứng trên đầu núi nhìn xuống phía dưới, thấy quê hương của Từ Hải Đông chỉ còn là một bãi hoang tàn. Mọi người đều lo lắng cho sự khó khăn của gia đình ông. Nhưng Từ Hải Đông cười ha hả, nói:

— Đây là chuyện trong dự kiến của chúng tôi, không có gì ghê gớm lắm đâu!

Từ Hải Đông không vội vàng đi tìm thân quyến, mà trước tiên đi tìm cán bộ nông hội, và an ủi thăm hỏi từng nhà một, rồi sắp xếp chỗ ở cho họ. Sau khi quần chúng bị hại đã có chỗ ở yên ổn, ông mới tìm đến gia đình mình để an ủi mọi người.

Người nhà thấy Từ Hải Đông về, bèn hỏi:

— Nhà bị đốt cả rồi, vậy làm sao bây giờ?

Từ Hải Đông tươi cười đáp:

— Không phải mọi người đã có biện pháp rồi đó sao?

Vợ Từ Hải Đông trách:

— Cả nhà đang hết sức buồn khổ, thế mà anh vẫn cười!

Từ Hải Đông trả lời:

— Chả lẽ buồn thì sẽ có nhà mới cho nhà mình sao? Chúng ta càng buồn càng khổ, rồi đi tới chết, bọn dân đoàn sẽ mừng hơn đấy!

Anh thấy moi người đều ủ rũ mặt mày, bèn nói:

— Tôi biết nếu ở nhờ, ở đậu nhà bà con, thì rất bất tiện. Nhưng bây giờ có đủ sức cất nhà mới không? Nếu cất xong, quân địch chưa bị tiêu diệt, thì có ai bảo đảm chúng sẽ không trở lại đốt nữa? Tôi thấy hiện nay tình thế rất tốt, tuy kẻ địch tạm thời có những hành động ngông cuồng, nhưng chúng càng đốt, càng giết, càng cướp, thì người đứng lên làm cách mạng càng nhiều. Ngày tàn của chúng sẽ đến càng sớm hơn! Chúng ta hãy cứ khắc phục khó khăn, đồng lòng làm cách mạng, chung sức đánh quỵ bọn phản cách mạng sớm ngày nào, thì chúng ta sẽ có ngày vui sớm chừng nấy!

Anh nói rất có lý, nên mọi người quyết tâm khắc phục khó khăn tạm thời, và tích cực ủng hộ cách mạng!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:32:44 pm

Theo đà phát triển của cách mạng, bọn địa chủ phản động đã điên cuồng tấn công vào nhân dân tiến bộ. Gia tộc nhà họ Từ có tất cả ngoài tám mươi người, số người bị sát hại lên tới sáu mươi sáu người. Trong đó có hai mươi bảy người bà con gần với Từ Hải Đông và ba mươi chín người bà con xa. Già trẻ, trai gái, thậm chí đến hài nhi cũng bị chúng giết. Chỉ có Từ Hải Đông và ba người anh ở trong hồng quân, là thoát khỏi tai nạn tàn sát của bọn chúng. Nhưng về sau, người anh của Từ Hải Đông cũng hy sinh ngoài chiến trường.

Chúng ta hãy nghe mẩu đối thoại sau đây giữa Từ Hải Đông và ký giả Snow, sẽ rõ tình trạng gia đình của ông. Khi ký giả Snow hỏi: "người nhà của ông hiện giờ ở đâu?", Từ Hải Đông thản nhiên trả lời như không có chuyện gì xảy ra: "Người nhà của tôi đều đã bị giết chết cả rồi, chỉ còn lại một người anh, hiện ở trong phương diện quân số bốn".

— Ông nói họ chết trong khi đánh nhau phải không?

— Ồ! Không phải! Tôi chỉ có ba người anh ở trong Hồng quân. Số còn lại đều bị tướng Thang Ân Bá và Hạ Đẩu Dần xử bắn. Bọn sĩ quan Quốc dân đảng đã giết người của nhà họ Từ đến sáu mươi người!

— Sáu mươi người? - Snow gần như không tin ở lỗ tai của mình!

— Phải! Chúng đã giết hai mươi bảy bà con gần của tôi, và ba mươi chín bà con xa. Cả huyện Hoàng Bì đều là người họ Từ, già trẻ gái trai, đều bị họ giết. Chỉ còn lại vợ con tôi, ba người anh tôi ở trong hồng quân, và chính tôi nữa. Nhưng về sau, hai người anh tôi cũng đã hy sinh ngoài mặt trận.

— Tôi không biết hiện giờ vợ tôi ở đâu? Năm 1931, khi bạch quân chiếm lĩnh huyện Hoàng Bì, thì vợ tôi bị bắt. Về sau tôi nghe nói vợ tôi bị bán cho một người thương gia ở gần Hán Khẩu để làm vợ bé. Việc này do người anh tôi trốn thoát được, nói lại cho tôi biết. Ngoài ra, những người khác đều bị giết. Trong lần tảo thanh thứ năm của chúng, nhà họ Từ chúng tôi có mười ba người chạy vuột ra khỏi Hoàng Bì, đến huyện Ứng Sơn. Nhưng sau đó, họ cũng bị bắt hết. Đàn ông thì bị chặt đầu, còn phụ nữ và trẻ con thì bị bắn.

Khi Từ Hải Đông nhìn thấy sắc mặt của Snow có vẻ rất kinh ngạc, thì mỉm một nụ cười buồn bã, nói:

— Điều đó cũng không có chi lạ đâu - ông nói tiếp - rất nhiều người chỉ huy của hồng quân, gia đình họ cũng gặp cảnh tượng như thế. Chỉ có điều là nhà tôi bị tổn thất nhiều hơn. Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh cho binh sĩ của ông ta khi chiếm đóng quê hương của tôi, là tất cả người họ Từ đều phải giết sạch, không để ai sống sót.

Đối với việc cả nhà bị hy sinh, Từ Hải Đông chỉ nén sự đau khổ trong lòng mình, và với một sự thù hận tràn ngập, tiếp tục bước lên con đường chiến đấu mới.

Mùa thu năm 1932, khi ông dẫn quân đoàn đỏ hai mươi lăm đánh lưu động xung quanh quê nhà ông, thì người chị dâu ông khóc lóc nói cho ông biết, chuyện mấy mươi người bà con trong gia đình bị giết chết. Ông cảm thấy hết sức căm phẫn, nghĩ bụng: "thân nhân ta đã hy sinh, cách mạng cần ở ta không phải là sự đau buồn, mà là sự chiến đấu. Vậy ta phải thuyết phục những người còn sống trong thân tộc, phải ưỡn ngực lên, nối tiếp chí hướng của những bậc tiên liệt, quyết tâm làm cách mạng tới cùng". Do vậy, ông cố đè nén nỗi xúc động trong lòng, không để rơi một giọt nước mắt, và bình tĩnh an ủi người chị dâu:

— Này chị cả, đừng đau khổ nữa, đó là việc tất nhiên phải xảy ra trong đấu tranh giai cấp rồi. Đấy là một cuộc đấu tranh sống chết với kẻ địch. Nay chúng ta phải ghi nhớ món nợ máu này, để nuôi nấng con cháu trưởng thành cho tốt, rồi trả thù cho những bậc tiền bối của chúng ta.

Lúc đó, người cháu dâu của ông, tức vợ của Văn Trị vừa mới sinh con được một tháng, đề nghị ông đặt cho nó mội cái tên. Ông suy nghĩ một chốc rồi nói:

—  Thì hãy lấy tên nó là "Thủ" vậy!

Người cháu dâu hiểu rõ dụng ý của ông, đặt tên con mình như thế, là muốn gì. Văn Trị đã hy sinh cho cách mạng, vậy cần phải "thủ" (giữ) người con trai này của anh ấy, bèn nói:

— Được, cháu nhất định sẽ nuôi dưỡng cho nó lớn khôn, dù có gặp khó khăn tới đâu, cháu cũng chịu đựng được!

Về sau, quả thật người cháu dâu của ông đã chịu đủ thứ gian truân, nuôi con lớn thành người, rồi để cho nó tham gia vào đội ngũ cách mạng. Chính vì nhà họ Từ có những con người kiên cường như thế, nên gia đình của Từ Hải Đông biết biến đau thương thành sức mạnh, tiếp tục chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:33:36 pm

Từ Hải Đông nói với bà con của mình:

— Giai cấp vô sản muốn lật đổ toàn bộ thế giới cũ, vậy không muốn trả giá nào cả có được không? Ai cũng có cha mẹ, anh em, vợ con, con cái, nếu tất cả đều không muốn cống hiến, thì cách mạng có hy vọng thành công được hay không? Người Cộng sản khi bước vào Đảng, thì đã trao cho Đảng tất cả. Họ chỉ biết có nghĩa vụ phấn đấu vì sự nghiệp chủ nghĩa Cộng sản mà thôi. Họ hoàn toàn không có một chút tư riêng, tư lợi nào. Nếu gặp khó khăn thì quay đầu trở lại, thử hỏi có ai cần đến những người đảng viên như thế?

Chính vì Từ Hải Đông có một tâm hồn cao thượng như vậy, nên mới sẵn sàng cống hiến cả gia đình của mình, trước sau như một, kiên trì phấn đấu và được sự tin yêu ủng hộ của quảng đại quần chúng.

Từ Hải Đông là một danh tướng, tên tuổi lẫy lừng. Mối tình kiên trinh không bao giờ phai nhạt của vợ ông là Châu Đông Bình, cũng đáng nêu gương giống như chiến công của ông vậy. Trong thời kỳ đầu kháng chiến, có rất nhiều nữ học sinh có trình độ văn hóa, từ hậu phương lớn đi vào bộ đội. Có một hôm, một đồng chí vừa nửa đùa nửa thật, nói với Từ Hải Đông:

— Có muốn "cải tổ" hay không? Tôi sẽ giới thiệu cho đồng chí một nữ sinh xinh đẹp!

Từ Hải Đông nghe vậy, lộ vẻ giận dữ, nói:

— Nói bá láp! Đông Bình là người chịu khổ, còn tôi là "người bùn", chúng tôi đã là vợ chồng, lại là chiến hữu, tôi làm sao có thể làm được chuyện đó?

Lời nói thẳng thắn của Từ Hải Đông làm cho người đồng chí này thẹn đỏ mặt. Nếu lấy tình cảm thủy chung đó của Từ Hải Đông để so sánh với rất nhiều cán bộ mấy lần đổi vợ, luôn tìm cái mới lạ, thì thật khác nhau xa.

Thời kỳ đầu kiến quốc, có nhiều cán bộ từ miền Bắc xuống phía Nam, vừa bước chân vào thành phố là đã bị chết bởi những "viên đạn bọc đường". Họ chê những người vợ tao khang, kém sắc đẹp, và tự mình đứng vào "phái cải tổ". Lúc đó, Từ Hải Đông đã bị bệnh nhiều năm, và lúc nào cũng lo lắng cho tư tưởng của các chiến sĩ cách mạng và bộ đội. Cứ gặp chiến hữu cũ tới thăm, là ông bao giờ cũng hỏi ba việc: có phạm sai lầm về chính trị không? Có tham ô về kinh tế không? Có ly hôn với vợ cũ không? Ông luôn luôn chí tình giải thích cho các đồng chí cũ của mình nghe, không bao giờ nên vong bản, mà phải đi theo cách mạng tới cùng.

Từ Hải Đông nguyên có một người vợ trước ở nhà. Người vợ đầu tiên của ông tên gọi là Điền Đức Đới, là một cô dâu mà gia đình ông đã nuôi từ hồi còn bé, và do cha mẹ trước đây đã lo toan cho ông. Sau khi Từ Hải Đông tham gia cách mạng, người anh thứ tư của Từ Hải Đông là Từ Nguyên Hải, giới thiệu vợ ông vào Đảng. Đến năm 1933, Quốc dân đảng tiến hành bao vây càn quét thì bị bắt. Nửa năm sau, do người bên nhà vợ bảo lãnh cho vợ ông được thả ra khỏi ngục, và ép gả cho người khác. Hiện nay, không biết ra sao. Riêng Châu Đông Bình là người Lục An, tỉnh An Huy, nhập ngũ hồi tháng mười năm 1932, lúc nhỏ không có điều kiện học hành, sau ngày tham gia cách mạng mới học biết chữ nghĩa chút đỉnh. Châu Đông Bình là một trong bảy nữ đồng chí đã cùng quân đoàn đỏ hai mươi lăm tham gia "Vạn lý trường chinh". Trong quá trình đó, có người giới thiệu cô biết Từ Hải Đông, và hai người cùng kết hôn. Cùng xuất thân trong hoàn cảnh đau khổ này nên giữa họ có tình vợ chồng rất đậm đà, và bao giờ cũng đặt quyền lợi cách mạng lên trên hết.

Việc Từ Hải Đông bị gãy hai chiếc răng cửa, là bắt đầu từ việc Đông chinh của hồng quân.

Năm 1937, Hồng quân mở cuộc Đông chinh, đã tiêu diệt và đánh tan tất cả ba mươi mốt đoàn của địch, giết chết, làm bị thương, bắt sống, được một vạn bảy nghìn tên. Trên đường trở về, mặc dù mưa to, đường lầy lội, nhưng tất cả chiến sĩ cán bộ ai cũng vui cười phấn khởi. Từ Hải Đông nghe nói thuyền chở lính qua sông Hoàng Hà quá chậm, nên cưỡi ngựa chạy như bay để tới bờ sông, chỗ bến thuyền để quan sát. Khi sắp sửa tới bến thuyền, bỗng có một chiến sĩ từ trong hàng ngũ nhảy ra. Vì con ngựa đang phi, mà người chiến sĩ ấy đã gằn kề nhau, nên Từ Hải Đông vội vàng gò mạnh cương ngựa lại, khiến con ngựa phải quay đầu trở ra sau, và hai chân sau đứng thẳng lên, làm cho Từ Hải Đông bị ném xuống đất, té lăn quay mấy vòng, rồi đụng vào một tảng đá...


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:34:18 pm

"Người chỉ huy dầu giỏi tới đâu, cũng không tránh khỏi có ngày bị bại trận. Cũng như người kỵ mã giỏi tới đâu, cũng không tránh khỏi có ngày bị té ngựa", đó là lời Từ Hải Đông thường nói với người chung quanh. Cái đau khổ của bại trận ông đã nếm qua rồi, nhưng té ngựa là chuyện lần đầu tiên ông mới gặp. Ông bị té ngựa đến vỡ đầu chảy máu, gãy hai chiếc răng cửa. Ông phải nằm trên cáng liên tiếp ba ngày ba đêm, mới tỉnh dậy. Khi vừa tỉnh dậy, ông liền nghe Châu Đông Bình đang ngồi bên cạnh, oán trách con ngựa, oán trách người chiến sĩ nọ đã quá vô ý. Châu Đông Bình suốt mấy ngày qua, luôn ở bên cạnh săn sóc cho Từ Hải Đông, đôi mắt mệt mỏi đỏ ngầu, nên đã có lời oán trách như vậy.

Từ Hải Đông nói:

— Sao em lại cằn nhằn chi thế? Chỉ trách anh quá hối hả đó thôi. Em nên biết, nếu anh để cho con ngựa giẫm phải người chiến sĩ đó, thì anh sẽ bị kỷ luật đấy!

— Theo tôi, người chiến sĩ đó vẫn phải bị kỷ luật! - Người giữ ngựa đứng bên cạnh nói chen vào.

— Nói bậy! - Từ Hải Đông nạt lớn và nói tiếp - Ai cho phép anh làm như vậy? Tôi không để ngựa giẫm chết anh ấy là tốt rồi, vậy còn phạt anh ấy là nghĩa lý gì?

Châu Đông Bình vốn hiểu rõ cá tính của Từ Hải Đông, biết thương người chiến sĩ còn hơn cả bản thân mình, thấy ông quá tức giận, vội vàng giải thích:

— Đó là lời nói khi tức giận thôi, vậy anh hãy nằm yên để dưỡng thương. Khi nào gặp nơi trồng răng, thì trồng lại hai chiếc răng cửa đó thôi.

Với ý chí ngoan cường, với tánh cách không lúc nào chịu nằm yên, Từ Hải Đông lại leo lên mình ngựa đi chiến đấu, nhưng hai chiếc răng cửa của ông, vẫn thường khiến cho mọi người chú ý. Trong cuộc đại hội tổng kết chiến dịch Đông chinh, Mao Trạch Đông khi nói chuyện còn khôi hài:

— Chúng ta mở cuộc Đông chinh, đánh thắng lớn, làm cho quần chúng thức tỉnh, mở rộng được hồng quân, thu được nhiều vật tư nguyên liệu, chỉ có điều là đồng chí Từ Hải Đông bị mất hết hai chiếc răng cửa!

Lời nói của Mao Trạch Đông làm cho cán bộ có mặt đều phá lên cười.

Năm 1938, Từ Hải Đông được điều về Diên An để dưỡng bệnh. Chẳng bao lâu sau, ông được tham gia hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa sáu. Trong khi hội nghị nghỉ xả hơi, Từ Hải Đông trông thấy Mao Trạch Đông và đồng chí Hạ Long, đang đi tản bộ nơi một ngôi nhà thờ thiên chúa giáo, nói cười vui vẻ, nên muốn nhân cơ hội này đề xuất việc xin trở ra tiền tuyến đánh giặc. Từ Hải Đông chưa kịp mở miệng, thì Mao Chủ tịch quay sang đồng chí Hạ Long nói:

— Trung Quốc có ba bộ tiểu thuyết nổi danh: Tam Quốc, Thủy Hử và Hồng Lâu Mộng. Ai chưa xem ba bộ tiểu thuyết đó, thì kể như không phải là người Trung Quốc!

Hạ Long nói lớn:

— Tôi chưa xem! Tôi chưa xem! Nhưng tôi không phải là người nước ngoài.

Chủ tịch Mao Trạch Đông nhìn sang Từ Hải Đông, hỏi:

— Hải Đông, đồng chí có xem qua ba bộ tiểu thuyết đó chưa?

Từ Hải Đông tuy hồi nhỏ có học được ba năm rưỡi ở một trường làng, hoàn cảnh học tập rất khó khăn, nhưng nhờ ông có tinh thần hiếu học, trong những năm làm thợ gốm, ông vẫn đọc không ít sách vở. Từ Hải Đông bèn quay sang Chủ tịch nói:

— Tam quốc tôi đã xem qua, Thủy Hử tôi cũng đã xem qua, còn Hồng Lâu Mộng thì tôi không biết nó là cái gì, vì chưa xem qua.

Mao Chủ tịch cười, nói:

— Nếu vậy, đồng chí chỉ có một nửa là người Trung Quốc!

Những người chung quanh nghe thế đều cười rộ.

Từ Hải Đông đề xuất với Chủ tịch Mao để cho mình ra tiền tuyến tác chiến, nhưng một lần nữa ông bị từ chối. Ông suy nghĩ, nếu không được ra tiền tuyến, thì nên nhân cơ hội này đi học thêm chút đỉnh. Thế là ông yêu cầu Mao Chủ tịch cho ông vào học viện Mác-Lênin để học.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:35:07 pm

Trong những ngày học tại viện Mác - Lênin, Từ Hải Đông luôn nghĩ tới quyển "Hồng Lâu Mộng" mà Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói tới. Ông rất muốn có được quyển sách đó để xem. Khi về nhà, ông hỏi Châu Đông Bình:

— Em có cách nào tìm cho anh quyển Hồng Lâu Mộng không?

Châu Đông Bình có nghe người khác bảo Hồng Lâu Mộng là một loại sách tài tử giai nhân, bèn đáp:

— Sao anh lại rảnh rỗi để xem loại sách đó?

Từ Hải Đông hỏi:

— Em có xem quyển sách đó chưa?

Châu Đông Bình thành thực trả lời:

— Những sách Mác - Lênin em xem còn chưa hết kia, vậy có thì giờ đâu để xem nó!

Từ Hải Đông không khỏi bật cười, nói:

— Anh chỉ được xem là phân nửa người Trung Quốc, còn em thì phân nửa cũng không có!

Từ Hải Đông học ở Học viện Mác - Lênin. Nhưng ngày nào cũng muốn trở ra tiền tuyến để đánh quân thù. Sau nhiều lần yêu cầu, Trung ương Đảng và quân ủy Trung ương quyết định phái ông và Lưu Thiếu Kỳ cùng đi Hoa Trung. Từ Hải Đông hết sức vui mừng, trở về chỗ ở. Vừa bước vào nhà hầm, trông thấy đứa con gái vừa đầy tháng, đang nằm khóc oa oa. Ông bèn đưa tay bồng con lên, nói:

— Con khóc chi vậy? Có phải muốn ra tiền tuyến không?

Đứa bé gái nằm gọn trong lòng cha, đôi mắt hãy còn nhòa lệ, thế mà miệng nó lại nhoẻn cười, Châu Đông Bình thấy vậy cười nói:

— Con bé này khi lớn lên, chắc chắn trở thành một tên lính tốt, anh không thấy đó sao? Anh vừa nói đi tiền tuyến, là nó hết khóc liền. Nhưng theo em, tới chừng nó ra tiền tuyến được, chắc là kháng chiến đã thắng lợi từ lâu rồi.

Từ Hải Đông tát yêu đứa con, nói:

— Nghe đây! Mẹ con cũng là phái tốc thắng đấy! - Ông quay sang Châu Đông Bình nói tiếp - Anh báo cho em một tin mừng, bây giờ chuẩn bị lên đường đây!

Châu Đông Bình tưởng chồng nói đùa, nên cũng nửa đùa nửa thật đáp:

— Lên đường thì lên đường chứ. Nếu ngay hôm nay lên đường, thì em sẽ lo hành trang liền.

Nhưng sau đó, Châu Đông Bình mới biết là thật, nên nhìn chồng mỉm cười nói:

— Em thực muốn ở lại đây để học tập văn hóa. Ngoài tiền tuyến, nào có trường văn hóa để học?

— Bát Lộ Quân, Tân Tứ Quân chính là trường đại học đấy. Học văn hóa ở đâu mà không học được? Học sinh tốt nghiệp trường "Thanh sơn đại học" càng có tiếng hơn. Tuy nhiên, nếu em muốn ở lại Diên An thì cũng được - Từ Hải Đông nói dứt lời, bước ra khỏi nhà hầm và quay đầu trở lại nói tiếp - Theo anh, thì chúng ta nên cùng ra tiền tuyến!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:35:42 pm

Từ Hải Đông rất yêu vợ mình. Châu Đông Bình tuy người không cao, sắc đẹp không có chi nổi bật, nhưng tánh tình chất phác, thuần khiết, dũng cảm, lại có nhiều kinh nghiệm cứu hộ trên chiến trường. Từ năm mười ba tuổi, bà tham gia hồng quân và cùng Từ Hải Đông đồng sinh đồng tử, chia sẻ hoạn nạn. Trong thời kỳ trường chinh, Từ Hải Đông bị thương nặng ở đầu, bà đã từng chăm sóc cho ông. Thời gian Đông chinh, Từ Hải Đông bị té ngựa, hôn mê ba ngày ba đêm, bà vẫn ở bên cạnh chăm sóc.

Bây giờ hai vợ chồng sắp trở ra tiền tuyến. Từ Hải Đông cảm thấy trong những ngày gian khó như thế này, nếu vừa để cho Châu Đông Bình làm chiến sĩ, lại làm mẹ, thì rõ ràng là rất khó khăn. Do vậy, ông có vẻ ái ngại, nói:

— Việc này quả là khó cho em. Chúng ta kết hôn quá sớm, làm cho em phải chịu nhiều cực khổ, không thể tiến bộ nhanh hơn.

Thường ngày, Từ Hải Đông là người ưa nói thẳng, lại nóng nảy, ít khi nói được những lời nói dịu dàng. Nay Châu Đông Bình nghe được lời nói âu yếm và dịu dàng của chồng, nên trong lòng cảm thấy rất vui vẻ và mãn nguyện. Hơn nữa, lợi ích của cách mạng là trên hết, nên bà cũng không oán trách chi chồng, ngày đêm lo giặt giũ quần áo để chuẩn bị hành trang lên đường. Bà quyết định ẵm con gái và dẫn đứa con trai theo chồng tới Hoa Trung, tiến vào địch hậu để kháng Nhật.

Tháng chín năm 1939, hai vợ chồng Từ Hải Đông theo Lưu Thiếu Kỳ lên đường. Họ đi qua Tây An, Lạc Dương, rồi đi về phía Đông tỉnh An Huy, để tới bộ chỉ huy Giang Bắc. Trên đường đi, lúc nào cũng khẩn trương, mệt nhọc, khí trời lại lạnh, nên bệnh phổi của Từ Hải Đông tái phát, ho luôn. Lưu Thiếu Kỳ bắt Từ Hải Đông phải lên nằm cáng. Đầu tháng mười một, đoàn người của họ đã tới bộ chỉ huy Giang Bắc. Lúc bấy giờ, bệnh tình của Từ Hải Đông có vẻ khá hơn, nên nghỉ ngơi vài hôm, thì ông lại lao vào công tác. Châu Đông Bình sợ bệnh cũ của chồng tái phát, khuyên chồng nên nghỉ ngơi thêm ít ngày. Từ Hải Đông giận, trừng mắt, nói:

— Bộ anh nghỉ như thế còn ít sao? Trên đường đi, lại để cho các đồng chí khiêng. Anh sắp thành thần rồi đấy. Ngày mai này, tốt hơn em nên dẫn con trở về hậu phương, để lo học tập văn hóa.

Châu Đông Bình nói:

— Lạ chưa! Em khuyên anh không nghe, chừng ngã bệnh, gọi em, em không tới đấy!

Từ Hải Đông nói:

— Em hãy yên tâm! Anh sẽ không bao giờ gọi em đâu! Con người của anh, một khi ra tiền tuyến thì sẽ hết bệnh ngay. Còn bắt anh nghỉ ngơi, thì con ma bệnh cứ bám sát theo người!

Châu Đông Bình hỏi Từ Hải Đông tình hình Giang Bắc ra sao?

Từ Hải Đông do dự một chút, mới nói:

— Nói chung, tình hình rất căng thẳng. Chỉ một vài câu thì nói không rõ được, vậy chi bằng em hãy trở về hậu phương là tốt hơn.

Châu Đông Bình đã sống chung với chồng nhiều năm qua, biết tánh chồng, phàm chuyện gì mà ông không muốn nói rõ, thì cũng không nên hỏi nhiều. Vì hỏi nhiều, Từ Hải Đông chẳng những không nói, mà lại phê bình vợ là "tò mò". Do vậy, Châu Đông Bình đành phải bồng con thơ đi trở về hậu phương để sống.

Tuy Từ Hải Đông bảo rằng mình khỏi bệnh, nhưng do cơ thể hãy còn yếu, nên sau khi ông chỉ huy Tân Tứ Quân cùng đánh nhau với giặc Nhật, trải qua ba ngày ba đêm kịch chiến, tuy giành được một trong những thắng lợi lớn của chiến dịch chống càn quét ở phía Đông An Huy, nhưng Từ Hải Đông quá mệt nhọc, và bệnh cũ lại tái phát. Ông ngã bệnh tại chiến trường phía Đông An Huy. Do bệnh tình nghiêm trọng, nên chủ tịch Mao Trạch Đông gửi điện bảo: "Dù cho trời sập cũng không cần biết, phải lo an tâm dưỡng bệnh". Từ đó, Từ Hải Đông không ngày nào rời khỏi giường bệnh nữa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:36:29 pm

Sức khỏe đối với mọi người đều là quan trọng số một. Một tướng lãnh chỉ huy tác chiến ngoài chiến trường, càng phải có sức khỏe tốt, và có một tinh thần phấn chấn đầy đủ. Nhưng đáng tiếc, Từ Hải Đông sau ngày ngã bệnh thì đã mất đi tất cả những điều kiện đó. Ông nằm trên giường bệnh, nhưng lòng dạ ông lúc nào cũng ở ngoài chiến trường. Bên cạnh giường bệnh của ông, ban ngày hay ban đêm đều có đểế những tấm bản đồ quân sự, và vẫn thường có người đến nói chuyện công tác với ông, hoặc học tập kinh nghiệm chỉ huy tác chiến của ông. Căn bệnh giày vò, khiến Từ Hải Đông vốn là người có ý chí kiên cường, dần dần sinh ra một thứ tình cảm nóng nảy, khó khống chế. Cho nên ông thường nổi nóng với vợ. Mỗi ngày, ông đều mong mỏi được nghe tin chiến thắng ngoài chiến trường. Mỗi lần nghe tin chiến thắng, thì ông như uống được một liều thuốc hay, tinh thần phấn chấn rõ rệt. Trái lại, nếu nghe tin xấu, thì lòng dạ ông nặng trĩu, bệnh tình như bị trầm trọng hơn. Tin thắng lợi và thất bại ngoài chiến trường, phản ứng đối với ông cũng giống như chiếc hàn thử biểu phản ứng đối với khí hậu chung quanh. Các đồng chí ở chung quanh thấy vậy, nên từ đó, họ chỉ nói cho ông biết những tin tức thắng lợi, còn tin tức bất lợi thì giấu kín. Từ trong tia mắt, từ trong lời nói của mọi người, ông thấy họ chỉ muốn báo tin vui, chứ không muốn báo tin buồn cho ông. Do vậy, ông sinh hoài nghi và tức giận, thường tỏ ra nóng nảy.

Có một hôm, ông gọi Châu Đông Bình tới chất vấn rằng:

— Em có còn là một đảng viên Cộng sản không? Tại sao lại luôn luôn nói dối anh vậy?

— Em không biết cái gì là nói dối cả. - Châu Đông Bình trả lời rất bình tĩnh.

— Em không biết? Hay là em giả vờ không biết? Các người cứ cho tôi đây là một thằng ngốc, một đứa bé lên ba! Tại sao tin tức gì cũng nói toàn tin thắng lợi? Cũng như đồ ăn ngon thì mua riêng cho tôi ăn? Như vậy, em có còn đảng tính nữa hay không? - Thấy Châu Đông Bình không nói gì, ông càng tức giận hơn, nói tiếp - Em biết không? Người đảng viên Cộng sản bao giờ cũng nói thật. Nếu em còn nói dối với anh nữa, thì anh sẽ kiến nghị với Đảng khai trừ đảng tịch của em!

Châu Đông Bình biết Từ Hải Đông không bao giờ nói dối, và cũng không cho phép ai nói dối với mình, cho nên bà bình tĩnh nói với chồng:

— Không ai nói dối với anh đâu. Chẳng qua người ta chỉ nói tin vui cho anh nghe, còn tin không vui thì sợ anh...

— Nói phân nửa, giấu phân nửa, chỉ nói điều tốt, không nói điều xấu, đó là nói dối. Về sau, anh không cho phép ai nói như vậy!

Từ Hải Đông muốn biết sự thật về chiến đấu, về công tác. Đối với thầy thuốc, ông khuyên là không nên can thiệp vào hành động của ông. Thầy thuốc bảo Châu Đông Bình khuyên ông không nên gặp người chung quanh bàn về công tác. Nhưng Châu Đông Bình vừa mở miệng nói, thì Từ Hải Đông đã to tiếng hỏi:

— Em có còn là đảng viên Cộng sản không?

— Còn! Còn!... - Châu Đông Bình trả lời với chồng.

— Một người đảng viên Cộng sản khi còn hơi thở, thì phải công tác cho Đảng! Nếu không công tác cho Đảng, là một điều sỉ nhục, không xứng đáng là một người đảng viên...

Tiếng nói của Từ Hải Đông nghe rõ mồn một trong một ngôi nhà tranh nhỏ.

Có một lần tuyết to phủ kín đường đi, điện thoại thông ra tiền tuyến cũng bị gián đoạn, tin tức không truyền được đến Từ Hải Đông. Ngay đến văn kiện cũng không gửi tới được. Từ Hải Đông cuống cuồng cả lên, ngày đêm có vẻ lo lắng không yên. Ông bèn gọi Châu Đông Bình tới, bảo vợ phải đích thân tới chỗ bộ tư lệnh để nắm tin tức cho ông.

— Chờ sáng ngày mai đi được không? - Châu Đông Bình hỏi chồng rồi nói tiếp - Bây giờ trời tối lắm, tuyết rơi to, không thể tìm đường đi được!

— Không được! Không được! - Từ Hải Đông nghiêm nghị nói tiếp - một chiến sĩ hồng quân kỳ cựu, mà lại sợ trời tối, sợ tuyết to? Đêm nay nếu điện thoại vẫn không thông, không hỏi rõ được tình hình ở tiền tuyến, thì em không xứng đáng là một đảng viên nữa!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:37:19 pm

Châu Đông Bình là một người đàn bà tính tình cứng rắn, là một chiến sĩ hồng quân can đảm, nên liền mặc áo choàng rồi dẫn theo hai người, đạp tuyết đi về phía bộ tư lệnh giữa đêm tối. Không phải bà sợ chồng phát cáu, mà bà cũng như chồng, luôn luôn quan tâm đến chiến sự ngoài mặt trận.

Trời chưa sáng tỏ, Châu Đông Bình đã từ bộ tư lệnh quay trở về, mang theo nhiều văn kiện và báo chí.

Kế đó, đường điện thoại cũng thông trở lại. Từ Hải Đông nghe vợ đọc văn kiện, đọc báo chí, nhìn thấy người vợ của mình đang mặc một bộ đồ hãy còn ướt đẫm tuyết lạnh, bỗng cảm thấy đêm qua mình trách vợ như thế là không thỏa đáng, bèn lên tiếng nhận lỗi:

— Này đồng chí, anh có lỗi với em!

Xuân, hạ, thu, đông đã trôi qua.

Kể từ đó, Từ Hải Đông không bao giờ rời khỏi giường bệnh. Bắt đầu từ tháng giêng 1940, Từ Hải Đông nằm bệnh cho đến tháng ba năm 1970, trước sau ông đã bệnh liên tục hơn ba mươi năm dài. Châu Đông Bình chịu cực chịu khổ, luôn chăm sóc cho chồng, không khi nào xa rời giường bệnh. Bà đã dùng tất cả những thời gian tốt đẹp trong cuộc sống của mình, để lo chăm sóc bệnh tật cho chồng, và hỗ trợ cho chồng đấu tranh với bệnh tật. Bất luận đứng trước sự nóng nảy của chồng, do bệnh kéo dài không thể tham gia công tác gây ra, hoặc những nỗi lo lắng, phập phồng của bản thân khi chăm sóc theo dõi cơn bệnh của chồng, hoặc đứng trước những nỗi oan ức, bất công, mà Từ Hải Đông phải gánh chịu, khi ông bị vu khống bôi nhọ trong "Cách mạng văn hóa", bà đã nhất nhất chịu đựng, và thể hiện rõ nét kiên trinh bất khuất của người phụ nữ Trung Quốc trong tình yêu, sẵn sàng gánh vác những công việc nặng nhọc cho gia đình và xã hội.

Trong bảo tàng quân sự của cách mạng nhân dân Trang Quốc, có giữ một chiếc đồng hồ bỏ túi bị hư, vỏ bằng thép không gỉ. Chiếc đồng hồ này xem rất bình thường, nhưng có ai biết được nó lại là món vật đã kết tụ bao nhiêu tình cảm sâu đậm giữa các nhà cách mạng lão thành với nhau. Chính nó đã khắc ghi những từng trải không tầm thường của Từ Hải Đông và những nhà cách mạng lão thành khác.

Việc này chúng ta hãy nghe Cù Thu Bạch kể lại.

Đó là mùa đông 1920, Cù Thu Bạch là một ký giả của tờ "Báo buổi sáng" (Thần báo), ngồi tàu hỏa từ Trung Đông đến Matxcơva. Lúc đó, nhà nước Xô viết xã hội chủ nghĩa hãy còn non trẻ, và đang đứng trước rất nhiều khó khăn. Để hưởng ứng lời chính phủ Xô viết kêu gọi đồng bào hiến vàng để xây dựng tổ quốc. Cù Thu Bạch trao chiếc đồng hồ vỏ vàng của mình cho chính phủ Liên Xô. Và, chính phủ Liên Xô đã trao tặng lại cho ông một chiếc đồng hồ bỏ túi bằng loại thép không gỉ để kỷ niệm.

Tháng chín năm 1930, Cù Thu Bạch đến Thượng Hải chủ trì kỳ họp Trung ương lần thứ ba, khóa sáu. Hội nghị đã cơ bản kết thúc đường lối tả khuynh chủ nghĩa sai lầm của Lý Lập Tam. Trong việc này, Cù Thu Bạch đã lấy chiếc đồng hồ bỏ túi của mình, tặng lại cho người lão chiến hữu Thẩm Trạch Dân, người đồng chí từng cùng phản đối trước đường lối tả khuynh sai lầm của Lý Lập Tam.

Năm 1931, Thẩm Trạch Dân mang chiếc đồng hồ bỏ túi này đến công tác tại biên khu Ngạc Dự Hoãn. Tháng mười năm 1932, phương diện quân chủ lực số bốn Hồng quân rời khỏi khu Xô Viết Ngạc Dự Hoãn, để lại lực lượng võ trang địa phương tổ chức thành quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân, do Từ Hải Đông làm quân đoàn trưởng. Thẩm Trạch Dân lúc bấy giờ vẫn ở lại khu Ngạc Dự Hoãn để làm bí thư tỉnh ủy. Từ Hải Đông và Thẩm Trạch Dân đồng tâm hợp lực cùng nhau đấu tranh trong một hoàn cảnh hết sức gay go. Do vậy, họ đã trở thành đôi bạn thâm tình. Năm 1933, Thẩm Trạch Dân biếu chiếc đồng hồ bỏ túi này lại cho Từ Hải Đông. Kể từ đó, Từ Hải Đông luôn giữ chiếc đồng hồ để sử dụng trong việc chỉ huy quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân, cùng chiến đấu liên miên, đầy gian khó với hơn hai chục vạn quân Quốc dân đảng ở tại khu vực này, để bảo vệ căn cứ địa Ngạc Dự Hoản. Hạ tuần tháng mười một năm 1933, Thẩm Trạch Dân đang ở tại phía Đông tỉnh An Huy, thì chẳng may lâm bệnh mà chết. Kể từ đó, chiếc đồng hồ bỏ túi này trở thành món quà kỷ niệm quý báu của Từ Hải Đông, để nhớ lại người đồng chí thân thương của mình là Thẩm Trạch Dân.

Chiếc đồng hồ bỏ túi này cùng với Từ Hải Đông, trải qua những chiến trận gay go tại biên khu Ngạc Dự Hoản. Nó theo ông suốt con đường chinh chiến lâu dài. Sau đó, nó lại theo Từ Hải Đông lên chiến đấu với quân thù tại khu vực đồi núi hiểm hóc ở phía Bắc Thiểm Tây, rồi lại theo ông tham gia vào chiến dịch nổi tiếng Trực La Trấn. Sau khi chiến dịch Trực La Trấn kết thúc, Từ Hải Đông thấy chiếc đồng hồ của Bành Đức Hoài đã bị hỏng, bèn trao tặng chiếc đồng hồ quý giá này cho Bành Đức Hoài. Từ đó, Bành Đức Hoài sử dụng nó suốt đoạn đường Nam chinh Bắc chiến, và lập được nhiều chiến công.

Năm 1946, người yêu của Cù Thu Bạch là Dương Chi Hoa vừa ra khỏi ngục thất ở Tân Cương trở về Diên An, Bành Đức Hoài bèn hoàn trả lại cho bà, để lấy đó an ủi bà sau những ngày lao lý. Đó là chiếc đồng hồ đã từng trải bao nhiêu gió mưa, bão táp, xông pha bao nhiêu trận mạc, và đậm đà tình nghĩa của những người bạn cách mạng với nhau.

Sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, Dương Chi Hoa vì để kỷ niệm những đồng chí đã vì Tổ quốc, vì nhân dân mà chiến đấu gian khổ hy sinh, nên đã hiến chiếc đồng hồ này cho Viện bảo tàng quân sự, lấy nó để giáo dục tác phong tốt, truyền thống tốt cho thế hệ trẻ mai sau.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:39:11 pm

Từ Hải Đông xuất thân là một anh thợ gốm, đối với Đảng lúc nào cũng trung thành. Suốt cả cuộc đời vào sinh ra tử, đã thấy quen những đồng chí của mình đã hy sinh giữa rừng súng mưa đạn. Nhưng đối với một người đã hy sinh và làm cho ông đau đớn nhất, đó là vào trung tuần tháng Bảy, năm 1935, Từ Hải Đông và các đồng chí trong quân đoàn hai mươi lăm Hồng quân bắt đầu bước lên những đoạn đường càng vinh quang, phối hợp với chủ lực quân ở cạnh đó để Bắc tiến, nghênh đón Trung ương Đảng và nghênh đón Chủ tịch Mao Trạch Đông. Nhưng không may, trong trận tác chiến tại bến đò Hình Xuyên, Ngô Hoán Tiên bị thương nặng. Từ Hải Đông đang chỉ huy tác chiến, nghe Ngô Hoán Tiên bị thương, liền phái một trung đội đi yểm trợ cho người chính ủy này. Cuộc chiến vừa kết thúc, thì Từ Hải Đông chạy bộ vào Thôn Tứ Ba, trông thấy một đám cán bộ chiến sĩ đang đứng im lặng trong sân một ngôi nhà, giữa lúc trời mưa rả rích. Tất cả mọi người đều cúi đầu rơi lệ. Khi họ thấy Từ Hải Đông chạy tới, mới ngửa mặt nhìn lên, thì nghe có mấy tiếng nói nặng nề thốt ra:

— Chính ủy đã hy sinh rồi!

Từ Hải Đông bước vào trong nhà, thấy chính ủy nằm trên mặt đất im lặng, ông bèn quỳ xuống nắm lấy đôi bàn tay đã lạnh cứng của người chính ủy, kêu to:

— Hoán Tiên!...

Rồi ông òa lên khóc. Bên ngoài mưa vẫn rơi rả rích, mọi người đều ứa lệ trước cảnh đau thương. Từ Hải Đông luôn nói: "Anh hùng đổ máu chứ không đổ lệ”. Nhưng hôm nay thì ông không cầm được dòng nước mắt. Ông đã nhiều lần bị trọng thương, nhưng chưa hề rơi lệ. Trong gia đình mấy mươi mạng người đã bị bọn phản động giết chết, ông chỉ âm thầm nuốt lệ chứ không bao giờ khóc. Nhưng hôm nay chính ủy hy sinh, ông thật tình không làm sao kiềm chế được tình cảm của mình. Từ Hải Đông và Ngô Hoán Tiên là hai chiến hữu thân thiết, đồng sinh đồng tử. Hơn ba năm qua, hai người cùng nhau chỉ huy quân đoàn đỏ hai mươi lăm chiến đấu tại chiến trường Ngạc Dự Hoản, và Tây chinh tới Thiểm Tây, Cam Túc. Một người văn, một người võ, đồng tâm hiệp lực để chỉ huy đạo quân đỏ này. Về mặt quân sự, Hoán Tiên tin tưởng nơi Hải Đông có tài chỉ huy, còn về mặt chính trị, Hải Đông tin tưởng nơi Hoán Tiên là người chững chạc, lão luyện, chẳng những đáng tin cậy, mà còn là một người lèo lái tốt. Hai người đã từng chia nhau sự đau khổ trong thất bại, mà cũng từng chia nhau những nỗi vui mừng trong bao lần chiến thắng. Trong công tác, hai người từng cãi nhau, thậm chí từng vỗ bàn với nhau, nhưng không ai phiền ai trong lòng cả. Phẩm chất cao quý của Hoán Tiên, cũng như tinh thần quên mình của ông ấy, đã làm cho Từ Hải Đông chịu ảnh hưởng rất sâu sắc. Cha ruột, anh ruột, chị dâu, em trai của Hoán Tiên, đều bị bọn phản động giết chết. Mẹ ông phải đi xin cơm ăn, vợ ông bị chết đói, tất cả những điều bất hạnh đó đều không làm cho ông chao đảo, mà quyết tâm làm cách mạng tới cùng. Ông ấy, đúng là một nhà cách mạng chân chính.

Từ Hải Đông băn khoăn không biết phải làm thế nào để đền đáp người chính ủy từng gắn bó bao năm qua, cũng như để an ủi người còn sống và chính mình. Ông gạt lệ, rồi nói với người phụ trách hậu cần:

— Nhất định phải tìm cách mua cho chính ủy một cỗ quan tài tốt!

Đến hoàng hôn, các cấp chính ủy, quân trưởng, tham mưu trưởng và các cấp chỉ huy, đều tới để giã biệt chính ủy lần cuối cùng, rồi cứ hành lễ an táng. Trước khi liệm chính ủy vào quan tài, Từ Hải Đông bảo người ta bưng tới một thau nước, rồi chính tay mình lau sạch vết máu trên mặt, trên người của chính ủy, và thay cho ông chiếc áo màu cỏ úa mà thường ngày ông ưa thích nhất. Sau đó, mọi người mới đặt xác ông vào cỗ quan tài sơn phết đường hoàng, vừa mới mua về tới nơi, Từ Hải Đông và các cán bộ Đảng, lãnh đạo quân ủy, tự khiêng cỗ quan tài chở sang sông, rồi an táng trên một sườn núi...

Liên tiếp hai ngày, Từ Hải Đông chỉ uống nước chín, không ăn được thức ăn gì cả. Cứ khi nhắm mắt lại, là ông nhớ tới Ngô Hoán Tiên, một người đã từng làm cách mạng, chịu nhiều gian khổ hy sinh, thế mà nay lại nhắm mắt ra đi. Ông vừa đau đớn, lại vừa cảm thấy gánh nặng trên vai mình như càng nặng thêm. Sau mấy hôm, Từ Hải Đông phải đè nén sự đau buồn, tiếp tục chỉ huy quân đội, lại bước lên những đoạn đường mới.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2023, 02:39:50 pm

Từ trước tới nay, Từ Hải Đông vẫn là một con người quang minh lỗi lạc, hành động chính trực, biết nghĩ tới đại cuộc. Trong giai đoạn hồng quân mở cuộc trường chinh, để thoát khỏi sự bao vây, ngăn chặn của quân đội Quốc dân đảng, tình hình hết sức khó khăn, ông vẫn nghĩ tới đại cuộc, không bao giờ có ý nghĩ cục bộ. Ông luôn luôn hy sinh quyền lợi của bộ đội mình, để phục vụ cho các bộ đội bạn. Khi Hồng quân hợp điểm tại phía Bắc Thiểm Tây, ông trông thấy Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai, và những người lãnh đạo Trung ương khác, đều mặc áo bông cũ rách, bèn kêu bộ phận cung ứng của bộ đội mình, may sẵn y phục mới để đưa tặng các đồng chí lãnh đạo. Ông thấy họ gầy yếu nên ra lệnh cho bộ phận cung ứng lấy những thức ăn bổ dưỡng như ngân nhĩ, mà ông đã tịch thâu được qua những trận đánh bọn thổ hào tại phía Nam Thiểm Tây, gói mấy gói to, rồi đem tặng cho các đồng chí đó. Con người vốn thô lỗ của ông, đã trở thành tế nhị. Ngay tới vóc dáng cao thấp béo gầy của từng đồng chí lãnh đạo trung ương, ông cũng nhớ rõ, để góp ý may áo bông mới cho họ.

Từ Hải Đông rất thích sống gần Mao Trạch Đông. Ông cảm thấy Mao Trạch Đông không có kiểu cách của người trí thức, và cũng không tỏ vẻ oai phong của người lãnh đạo. Ăn nói rất ôn hòa, sinh hoạt cũng không câu nệ lắm, nếu so với người thô lỗ như mình, thì cũng không có chi là khác. Một đêm nọ, vì khí trời quá lạnh, Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài, và Từ Hải Đông ngồi trên một giường lò (loại giường ở dưới có nơi đốt lửa để sưởi nóng) nói chuyện. Bộ đội cảnh vệ thấy các thủ trưởng có vẻ co ro vì lạnh, nên đem từng bó củi một đốt dưới giường lò để sưởi ấm. Nào ngờ Bành Đức Hoài là người rất sợ nóng, nên đốt một lúc, thì ông kêu to:

— Đừng đốt nữa! Đừng đốt nữa!

Nhưng Mao Trạch Đông thì lại cảm thấy ấm áp dễ chịu, nên nói:

— Đốt nữa đi! Đốt nữa đi!

Tới nửa đêm, bỗng chiếu trải trên giường bị cháy. Bành Đức Hoài vừa dập tắt lửa vừa cười nói:

— Đốt nữa đi! Đốt nữa đi! Đốt cho cháy tiêu mọi người hết đi!

Mao Trạch Đông vẫn cười và nói với người cảnh vệ:

— Đốt nữa đi! Đốt nữa đi!

Thái độ thân mật của các đồng chí làm cho Từ Hải Đông dần dần phá tan được sự ngăn cách giữa mình với Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai, cũng như các đồng chí lãnh đạo khác. Ông sống bên cạnh các đồng chí lãnh đạo không ngớt hấp thu tri thức và sức mạnh tinh thần của họ.

Từ Hải Đông từ một con "người bùn", đi vào quân đội cách mạng, lúc đầu chỉ là một chiến sĩ bình thường, sau đã trở thành người chỉ huy cao cấp, đã trải qua bao nhiêu đoạn đường gay go. Mùa đông năm 1935, khi được sống gần Trung ương Đảng, được gần Mao Trạch Đông, Từ Hải Đông cho rằng đây là một giai đoạn chuyển biến lớn lao trong đời của ông. Ông từng nói như thế này: "Tiến lên được phía Bắc Thiểm Tây, và sau khi được sống gần Chủ tịch Mao, có nhiều vấn đề giúp cho tôi được nâng cao lên. Trong một khoảng thời gian khá dài, tôi theo Chủ tịch Mao hành quân, sống cùng một nơi, cho nên tư tưởng, lời nói, hành động, và tác phong bao giờ cũng lấy mình làm tấm gương cho mọi người chung quanh, cũng như phương pháp làm việc khoa học v.v... của Chủ tịch đã cho tôi một ảnh hưởng rất sâu sắc”.

Có một câu chuyện như thế này. Mùa đông năm 1936, ở phía Bắc tỉnh Thiểm Tây bỗng trời lạnh dữ dội. Quân đoàn mười lăm và hồng quân Trung ương, sau khi hợp điểm thắng lợi, cũng như sau khi đại thắng tại chiến dịch Trực La trấn, tuy không khí vui mừng chiến thắng đó có làm ấm áp lòng người, nhưng kỳ thực thì ai ai cũng không thể chịu đựng nổi trước luồng gió rét dữ dội đưa tới. Sau một trận tuyết rơi to, bầu trời càng lạnh căm căm, các chiến sĩ hồng quân đứng trước cái giá rét chưa từng có, ai nấy chịu không nổi. Các chiến sĩ từ phía Nam vạn lý trường chinh tới đây, thân mình chỉ mặc áo đơn phong phanh, không có đồ rét, làm cho Từ Hải Đông hết sức cuống quít. Nhưng bộ phận cung ứng của quân đoàn bộ, vốn liếng chỉ còn có bảy nghìn đồng. Ông bèn tính toán kỹ lưỡng, giảm bớt những chi dụng khác, và quyết định trích ra hai ngàn đồng đưa xuống cho đoàn cải thiện đời sống.

Vừa lúc đó, Từ Hải Đông nhận được một cái thư tay do Mao Trạch Đông viết, hỏi mượn quân đoàn mười lăm Hồng quân hai ngàn năm trăm đồng, để giải quyết vấn đề ăn uống và áo mặc cho Hồng quân Trung ương. Từ Hải Đông xem qua bức thư tay, trong lòng cảm thấy rất băn khoăn. Sau ngày hợp điểm, Từ Hải Đông chỉ chú ý tới các đồng chí lãnh đạo Trung ương, ăn mặc phong phanh, thân thể gầy yếu, chứ chưa hề nghĩ tới trích một số tiền đem biếu cho họ. Nay Mao Trạch Đông đích thân viết thư mượn tiền, làm ông cảm thấy rất ái ngại trong lòng. Tại sao mình không biết trước điều này? Người đem thư thấy Từ Hải Đông im lặng suy nghĩ, tưởng ông gặp khó khăn, không giải quyết được, bèn nói:

— Các đồng chí đã quần thảo với giặc hơn một năm qua, chắc là có nhiều khó khăn, nếu không làm được thì...

Từ Hải Đông vội vàng nói:

— Sao đồng chí lại nghĩ thế? Chúng tôi vẫn còn tiền kia mà!

Ông bèn cho gọi người phụ trách cung cấp tới, bảo trích năm nghìn đồng trong số bảy nghìn còn lại, để giúp cho Trung ương Đảng. Người phụ trách cung cấp sửng sốt. Qua một đoạn đường dài từ phía Nam trường chinh về phía Bắc, ông ta lúc nào cũng tính toán chi li, ngay như một đồng bạc, ông còn muốn xé nhỏ nó ra để tiêu cho đủ thứ chuyện. Bất kể các đồng chí ở cấp dưới càu nhàu, gọi ông là "đồ giữ của", ông vẫn cứ lì ra, luôn tính toán cẩn thận, chi dùng dè xẻn, không bao giờ dám tiêu pha lớn. Nay thấy quân đoàn trưởng nói như vậy, ông không khỏi lấy làm kinh ngạc, vì chi ra năm ngàn đồng đối với ông thật đau chẳng khác nào cắt da cắt thịt mình. Tuy nhiên, vì ông là một đồng chí già nên đã hiểu được nhanh chóng. Quân đoàn trưởng làm như vậy là chắc chắn đúng. Một người đảng viên cộng sản, một cán bộ Hồng quân, không thể chỉ nghĩ riêng cho đơn vị nhỏ của mình, mà phải nghĩ tới đại cuộc, nghĩ tới đại thể. Chính vì vậy mà ông vui vẻ nói:

— Tôi thi hành ngay!

Bộ đội cách mạng chẳng khác chi một đại gia đình. Nay từ trong nhà mình lấy ra một phần tiền để tặng cho cơ quan lãnh đạo Trung ương, nguyên là một chuyện nhỏ không đáng nói. Thế nhưng, vì bấy giờ chủ nghĩa cục bộ, chủ nghĩa bản vị còn đang rất trầm trọng, cho nên đó là một hành động đáng quý. Các đồng chí lãnh đạo Trung ương như Mao Trạch Đông, Châu Văn Thiên, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài, đều xem việc quân đoàn mười lăm Hồng quân biếu cho năm ngàn đồng, là một cử chỉ giống như "đưa lửa tới hơ giữa vùng tuyết lạnh".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:42:56 pm

NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ
ĐẠI TƯỚNG HUỲNH KHẮC THÀNH


1. THÂN THẾ

Trong số mười đại tướng nói đến trong quyển sách này, Huỳnh Khắc Thành là một trong những nhân vật có sức hấp dẫn nhất. Những sự từng trải lạ lùng, tính cách cứng rắn, và lúc nào cũng chân thành của ông, đã làm cho đời ông ba chìm bảy nổi, đầy rẫy những chuyện lý thú hấp dẫn. Nhưng trước khi chúng ta tìm hiểu những vấn đề đó, cần trước tiên tìm hiểu quá trình trưởng thành của vị đại tướng này đã.

Ngày một tháng mười năm 1902, Huỳnh Khắc Thành chào đời tại thôn Hạ Thanh, thuộc vùng Du Ma Khư, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Hồ Nam.

Sự chào đời của Huỳnh Khắc Thành, không mang đến cho gia đình họ Huỳnh những điều vui vẻ. Vì, chỉ sau đó ít lâu, Thành lại có một người em trai khác chào đời. Do gia đình sinh con quá đông, người cha là Huỳnh Thanh Chủ lúc nào cũng buồn rầu, vì cái ăn cái mặc. Thôn Hạ Thanh là nơi hầu hết các hộ đều mang họ Huỳnh. Huỳnh Thanh Chủ là một gia đình yếu kém trong tộc họ, nhà rất nghèo. Người cha phải làm tất bật để nuôi sống gia đình, suốt ngày phải bôn ba đây đó. Cứ mỗi lúc làm nông có rảnh, thì ông lại đi tận tỉnh Quảng Đông để gánh muối về bán kiếm lời. Có khi còn mua giấy sút về gánh đi bán dạo. Nhưng dù có làm tất bật tới đâu, cả nhà vẫn ăn buổi sáng phải lo buổi chiều.

Huỳnh Thanh Chủ là người chuyên cần, biết làm tròn bổn phận, nhưng do gia đình yếu kém về tiền bạc và thế lực, nên thường bị người trong thôn hiếp đáp. Ông chẳng những không đấu tranh mà còn chịu nhẫn nhục, im hơi lặng tiếng để khỏi xảy ra chuyện rắc rối. Tuy nhiên, trong gia đình, thì ông là một người có quyền uy nhất. Từ trước tới nay, hễ nói một là một, hai là hai, không ai được cãi. Ông thường trút nỗi buồn khổ lên đầu các con. Lúc còn bé, Huỳnh Khắc Thành vẫn bị cha đánh nhiều trận nên thân.

Thời thơ ấu, điều làm cho Huỳnh Khắc Thành xúc động nhất, là cái chết của người chị. Người chị ngay từ lúc nhỏ đã bị bệnh kinh phong, cứ mỗi lần bệnh phát là té xuống đất bất tỉnh, miệng sôi bọt trắng. Người nhà không tiền để lo chữa bệnh cho con, do vậy, Huỳnh Khắc Thành buộc phải luôn luôn lo lắng cho chị. Cứ khi thấy chị bị lên cơn, thì kịp thời báo để người nhà tới chăm sóc. Người chị biết bệnh mình ai cũng không thích, lại không có thuốc gì để chữa trị, nên rất bi quan, suốt ngày im lặng cúi đầu làm việc, buồn bã không khi nào vui. Có một hôm, người chị quá buồn, nên định thắt cổ chết. Cô gái vào trong phòng kín, lấy thừng buộc lên sàn nhà rồi làm một chiếc vòng, thò đầu vào nhưng chưa kịp hất chiếc ghế ở dưới chân. Ngay lúc đó, người cha bước vào, thấy vậy, chẳng những không cứu con, mà còn đá chiếc ghế dưới chân để cho con gái mau chết, rồi bỏ đi ra ngoài. Cũng may có người trông thấy kịp, nên mới cứu cô gái tỉnh lại. Tuy nhiên, qua việc đó cô biết nhà mình đã bị nợ chồng chất, nên về sau nhân lúc không ai để ý, cô lại thắt cổ tự vận chết.

Điều làm cho Huỳnh Khắc Thành đau lòng nhất là cha mẹ đối với cái chết của con gái không tỏ ra đau buồn, mà trái lại, người cha thở phào nhẹ nhõm, xem như trút được viên đá nặng đang đè lên vai mình. Mẹ ông tuy cũng tỏ ra buồn khổ, nhưng vẫn cảm thấy con gái chết như vậy là tốt, nên dặn Huỳnh Khắc Thành và các con trong nhà:

— Các con đi ra ngoài, không nên nói chị treo cổ chết, mà nói bị té chết đấy nhé!

Huỳnh Khắc Thành cảm thấy trong lòng đau nhói và cũng cảm thấy được cái nghèo, đã làm cho cốt nhục tình thâm bị phai nhạt. Cha mẹ đối với con cái trở nên vô tình, vô nghĩa. Ông rất căm ghét cái nghèo.

Do chi phái của Huỳnh Thanh Chủ bị yếu kém trong thân tộc, thường bị hiếp đáp, nên họ bàn bạc với nhau, mỗi người đóng góp một đảm (năm chục ký) lúa để làm học phí và chọn một đứa trẻ thông minh trong chi phái, cho đi học ở trường tư thục. Mọi người chọn tới chọn lui, và Huỳnh Khắc Thành đã được đi học cho chi phái.

Tại tư thục, cậu bé Huỳnh Khắc Thành đã nhanh chóng bộc lộ trí thông minh thiên phú. Sức nhớ của cậu rất tốt, lại chịu khó học hành, nên đã học rất nhanh những bài văn cổ, và học thuộc lòng tất cả. Người thầy dạy ở tư thục rất hài lòng. Người cha, và các bậc chú bác trong chi phái, đều lấy làm kinh ngạc trước sức học tiến bộ nhanh chóng của cậu. Vì từ trước tới nay, trong chi phái này không có người thanh thiếu niên nào học ra gì. Do vậy, họ vui lòng đóng góp để cho cậu học suốt năm năm tại tư thục.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:43:35 pm

Trong thời gian đi học ở tư thục, cậu bé Huỳnh Khắc Thành vừa học, cũng vừa giúp đỡ gia đình làm công việc. Tại phía Tây của thôn có một địa phương tên gọi Mã Điền Khư, cách xa mấy mươi dặm, là nơi chuyên đốt than củi. Trong khi đó ở phía Đông, cũng cách xa mấy mươi dặm, có một địa phương chuyên khai thác mỏ vàng, cần dùng đến than củi. Thế là Huỳnh Khắc Thành trong những ngày không đi học, vai mang một chiếc gùi, rồi đựng than củi từ phía Đông đem bán sang mỏ vàng ở phía Tây, để kiếm chút ít lãi. Cậu lắm khi phai đi sớm về khuya, hết sức nhọc nhằn.

Mặc dầu làm việc cực nhọc, nhưng Huỳnh Khắc Thành tận dụng từng giây phút thời gian để học hỏi. Những đứa trẻ trong thôn thấy vậy, rất tò mò và lạ lùng, nhưng cũng rất khâm phục. Một hôm, khi cậu và một đồng bạn từ xa gùi than củi về đến nơi, để xuống nghỉ chân giây lát, thì người bạn đồng hành này thấy cậu cầm sách lên đọc, bèn hỏi:

— Anh xem sách đó là sách gì? Nó dày đến thế, cầm cũng vuột tay nữa kia!

— Sách gì à? Đây là một quyển từ điển. Vì tôi không tìm được sách khác để xem, nên xem nó cho đỡ ghiền - Huỳnh Khắc Thành vừa xem sách, vừa trả lời cho bạn, nhưng không ngước mặt lên.

— Đúng là một con mọt sách. Thảo nào đôi mắt của anh ngày nào củng đỏ lòm, sắp mù rồi đấy!

— Dù có vậy đi nữa, cũng còn hơn là kẻ mở mắt thao láo mà như mù!

— Đúng thế rồi! - Người bạn đồng hành cũng đồng cảm với cậu, thở ra một hơi dài nói tiếp - Anh thử nói xem, tôi do đâu mà không thể xem sách được?

Huỳnh Khắc Thành suy nghĩ một lúc, nói:

— Đọc sách cũng như uống nước vậy. Khi anh khát, thì anh mới uống một ly nước. Nhưng, nếu không khát thì anh đâu có muốn uống. Sách càng xem thì càng muốn xem nữa. Vì trong một quyển sách, xem qua anh cũng biết được một số sự việc. Nhưng, với những sự việc đó, anh chưa hài lòng, anh vẫn còn muốn biết thêm những sự việc khác. Cho nên, anh lại muốn xem sách.

— Chí hướng anh thật cao, nếu không phải thế thì cha anh đâu có cho anh đi học. Tại sao ông ấy không bảo người anh hoặc người em của anh đi học chứ?

Trở về đến nhà là đã khuya lơ khuya lắc. Huỳnh Khắc Thành cảm thấy đôi vai ê ẩm. Hôm nay anh gùi một mớ than củi từ phía Tây về nhà, rồi ngày mai lại gùi số than củi này đi về phía Đông.

Anh về tới cổng, thấy bà mẹ đang tựa cửa ngóng trông. Vừa trông thấy anh, bà mẹ vội vàng chạy ra. Thấy con quá khó nhọc, lòng mẹ cũng cảm thấy bất nhẫn, nói:

— Con đội sao đi, rồi lại đội trăng trở về, làm sao có thể làm lâu dài được? Thấy chiếc gùi chứa đầy than nặng nề, bà mẹ xót dạ nói tiếp - Mẹ bảo con đừng có gùi quá nặng, thế tại sao vẫn không nghe?

Huỳnh Khắc Thành cố mỉm cười, nhưng không nói lời nào.

Bà mẹ lấy tay phủi bụi than bám trên áo của cậu bé, nói:

— Hãy mau vào nhà rồi ăn cơm. Chắc là con đói lắm rồi phải không? Vào nhà, bà mẹ giở chiếc lồng bàn ra, thấy bên trong có một chén cháo loãng đầy. Huỳnh Khắc Thành nhìn chén cháo loãng, băn khoăn hỏi:

— Má đã ăn chưa vậy?

Bà mẹ bảo mình đã ăn rồi. Nhưng Huỳnh Khắc Thành nhìn thấy sắc mặt của bà mẹ tái nhợt, biết bà chưa ăn, nên buông chén cháo xuống, xô cửa đi ra, nói:

— Má, con đi tới nhà chú ba, chén cháo loãng này má hãy húp hết đi.

Nói dứt lời, Huỳnh Khắc Thành đi nhanh ra khỏi cổng. Bà mẹ đứng ở phía sau gọi:

— Đã tối thế này rồi, chú ba còn cần con đốt lửa nữa sao?

Huỳnh Khắc Thành không để ý, cứ cắm đầu đi thẳng về nhà chú ba. Thì ra, người chú ba của cậu có mở một gian tiệm nhỏ, chuyên bán dầu, mỡ, muối, đường, giấm các loại, hằng ngày cũng tạm sống được. Huỳnh Khắc Thành luôn tới đó để phụ giúp một số công việc, như thổi lửa nấu cơm chẳng hạn, rồi sau đó, ăn được một bữa cơm no. Cũng may là người chú này không so đo kỳ kèo chi về chuyện đó.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:44:14 pm

Đến năm mười tám tuổi, có người đến nhà Huỳnh Khắc Thành động viên người nhà, nên cho cậu tiếp tục lên học ở trên huyện lỵ. Những người học ở tư thục nói chung, khi biết được một chút chữ nghĩa, chút đỉnh văn chương, thì đều cho là đủ, hầu hết đều trở về nhà làm nghề nông. Cho nên, có thể nói lúc bấy giờ Huỳnh Khắc Thành đang đứng trước ngã ba của cuộc đời, cần phải lựa chọn.

Nhưng việc lên học trên huyện lỵ, là một chuyện lớn. Huỳnh Thanh Chủ một mình không thể đảm đương nổi học phí cho con, nên đành phải triệu tập người trong thân tộc lại để bàn bạc. Cha cậu vẫn không có một quyết định nào dứt khoát, còn bà mẹ thì cũng không tán thành lắm. Chỉ riêng có người anh ruột của Huỳnh Khắc Thành là kiên quyết ủng hộ cho cậu đi học thêm. Điều này gieo cho Huỳnh Khắc Thành một ấn tượng sâu sắc suốt đời. Huỳnh Khắc Thành tự cho mình có một người huynh trưởng xứng đáng. Về sau, trong mọi hoàn cảnh nguy hiểm, chính người anh ruột của ông, đã giúp đỡ ông tận tình. Người trong thân tộc cuối cùng cũng đồng ý để cho Huỳnh Khắc Thành tiếp tục lên huyện lỵ để học tiếp. Họ quyết định hằng năm trích một số lúa, lấy từ nhà thờ họ, để cung cấp cho cậu đóng học phí và chi dụng. Trong nhà không đủ sức lo quần áo, người trong thân tộc cũng tiếp tay lo phụ. Sau dịp tết năm 1920, người anh của Huỳnh Khắc Thành đích thân gồng gánh rương sách và hành lý, đưa cậu em đến tận trường cao đẳng tiểu học nơi thị trấn huyện, để lo việc học hành.

Trong những ngày học tại trường cao đẳng tiểu học ở huyện, Huỳnh Khắc Thành lúc nào cũng đứng đầu lớp. Mỗi năm lại được một ít tiền thưởng. Trong những lúc rảnh rỗi, cậu thường giúp người ta viết này nọ, cũng kiếm thêm được ít tiền. Với số tiền đó, cộng thêm số tiền mà cậu mang từ nhà tới, đủ để cho mình học một năm rưỡi ở trường tiểu học.

Mãi cho tới năm học hết bậc tiểu học, Huỳnh Khắc Thành vẫn chịu sự giáo dục theo mẫu truyền thống của Trung Quốc. Tuy lúc bấy giờ đã là thời điểm trước sau "Ngũ tứ vận động", những tư tưởng mới đã du nhập Trung Quốc không ít. Nhưng vì huyện Vĩnh Tân, nơi mà cậu theo học, chỉ là một huyện nhỏ và hẻo lánh, nên những tư tưởng mới này, cũng không có ảnh hưởng tới đây là bao.

Mùa hè năm 1922, Huỳnh Khắc Thành từ huyện Vĩnh Tân đi tới thị trấn lớn Hành Dương ở phía Nam tỉnh Hồ Nam, và vào học tại Trường Sư phạm số ba của tỉnh.

Hành Dương là một thị trấn nằm trên trục giao thông, phàm từ phía Nam đi lên phía Bắc, từ phía Bắc xuống phía Nam, đều phải đi qua địa phương này. Do vậy, thị trấn Hành Dương có thể xem là một nơi đời sống về tư tưởng của nhân dân rất khai phóng. Nhờ đó, tư tưởng của học sinh trong Trường Sư phạm số ba của tỉnh, cũng rất mở mang. Cuối năm 1919, Uẩn Đại Anh mở "Lợi quần thư xã" ở Vũ Hán, thường gửi một số sách báo tiến bộ đến đây. Mùa hè năm 1920, ông còn tới Trường Sư phạm số ba để điều tra, giúp đỡ những thầy trò có tư tưởng tiến bộ ở đây thành lập "Quầy bán sách báo mới". Mùa đông 1920, quầy bán sách báo này liên hệ được với "Tân văn hóa thư xã" do Mao Trạch Đông mở ở Trường Sa, nên đổi tên lại là "Phân xá của văn hóa thư xã". Thư xã này chuyên bán những sách như "Lịch sử xã hội chủ nghĩa", "Lịch sử cách mạng Nga", "Chủ nghĩa Mác giảng giải", "Công xã chủ nghĩa ABC", "Lịch sử phong trào lao động quốc tế" v.v... Và những tờ tạp chí tiến bộ như "Tân Thanh niên", "Giới lao động", "Bình luận hàng tuần", "Tân Trào" v.v... Tư tưởng mới và quan niệm mới, đã tràn vào Trường Sư phạm số ba một dạo.

Tháng 10 năm 1921, Mao Trạch Đông có đến Trường Sư phạm số ba này và mở buổi diễn thuyết với đầu đề "Vấn đề chiến tranh nông dân trong lịch sử Trung Quốc" tại một lớp học. Tháng tư năm 1922, Mao Trạch Đông lại tới Trường Sư phạm số ba để diễn giảng về "Xã hội chủ nghĩa". Mùa thu năm đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn xây dựng ở đây tổ chức cơ sở của mình - chi bộ Đảng sớm nhất tại tỉnh Hồ Nam.

Lúc Huỳnh Khắc Thành bước chân vào Trường Sư phạm số ba cảm thấy ngay không khí ở đây khác hẳn. Nhưng đối với cậu, một học sinh mới, thì Trường Sư phạm số ba hấp dẫn mình, bởi ở đây không thu học phí, cũng không thu tiền ăn trọ, phí giáo trình, mà chỉ thu một ít phí về sách giáo khoa thôi. Cho nên Huỳnh Khắc Thành được bước chân vào một trường học như vậy, quả nhiên là rất vui mừng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:44:55 pm

Nhưng vào học ở đây chẳng bao lâu, thì tình cảm đối với việc học của Huỳnh Khắc Thành bị tụt xuống. Đến một thị trấn huyện khai phóng như thế này, Huỳnh Khắc Thành đầu tiên cảm thấy là mình rất quê mùa. Sau một trận cảm mạo khá nặng, cậu bị chứng viêm phổi mạn tính, thường ho khúc khắc. Những người chung quanh tưởng cậu bị lao phổi, nên ai cũng tránh xa. Ngoài việc đó, điều làm cho việc học tập của cậu bị sa sút, là lúc ở tư thục và tiểu học, cậu chỉ học có văn sử, còn tới Trường Sư phạm số ba này, thì lại chú trọng Anh văn và toán lý hóa. Ưu thế học tập của cậu bị mất, nên thành tích không được xếp ở hàng đầu. Do vậy, đứng về mặt tâm lý, cậu bị mất thăng bằng. Thế là dần dần cậu bị tự ty mặc cảm, và trở thành cô độc, không thích tham gia các mặt hoạt động. Đối với học tập, tính tích cực của cậu cũng bị suy giảm hẳn.

Do mới tới một hoàn cảnh hoàn toàn xa lạ, nên Huỳnh Khắc Thành cảm thấy không thể hòa mình được với mọi người. Vì chưa tiếp xúc với những tư tưởng mới, nếp sống mới, nên cậu cảm thấy xã hội đâu đâu cũng đầy rẫy cái tiêu cực, hoang mang không biết rồi đây tương lai của mình sẽ ra sao. Có thời gian tâm trạng của cậu rất tiêu cực, từng viết những bài thơ:

Nhân sinh tổng cộng hữu kỹ hà?
Hà tất khổ khổ học kỹ hà?
Học liễu kỹ hà nặng kỹ hà?
Bất học kỹ hà hựu kỷ hà?


Dịch:

Đời người tuổi thọ được bao nhiêu?
Hà tất bỏ công để học nhiều?
Học nhiều biết hưởng được bao nhiêu?
Ra sao nếu chẳng được học nhiều?


Xuân hè năm 1923, tại Trường Sư phạm số ba bùng nổ một cuộc đấu tranh. Làm cho Huỳnh Khắc Thành nhận rõ con đường đi của cuộc đời.

Lúc đó, việc ăn uống tại Trường Sư phạm số ba, cũng như việc ký túc của học sinh là không thu phí. Về khẩu phần ăn, mỗi ngày mỗi học sinh được chi một cắc một xu. Nhưng hiệu trưởng Lưu Chí Viễn lại ăn xén ăn bớt, khiến khẩu phần ăn của học sinh dần dần bị tụt xuống không còn tương ứng với một cắc một xu nữa, mà chỉ còn chín xu. Học sinh rất bực tức, nên quyết tâm mở cuộc đấu tranh.

Lãnh tụ học sinh lúc đó là Viên Si, Huỳnh Tịnh Nguyên v.v... Họ phát biểu một bản "Tuyên ngôn cải cách hiệu vụ", đặt vấn đề thẳng với nhà trường về việc học sinh tự lo liệu vấn đề ăn uống, và đi tới thành lập "Ủy ban hỏa thực". Lưu Chí Viễn không thèm để ý, các học sinh liền bãi khóa để đấu tranh, và phái đại biểu đến Trường Sa để thỉnh nguyện, xin đổi hiệu trưởng Lưu Chí Viễn.

Một hôm, nhà trường dán ra một thông báo, buộc học sinh phải trở lại lớp học. Viên Si thấy thế, bèn dẫn mấy người đến xé mấy tờ thông cáo đi. Lưu Chí Viễn từ xa nhìn thấy, giận đến tái mặt, nói:

— Này Viên Si, anh quá ngang tàng đấy! Anh chẳng còn xem kỷ luật nhà trường và phép nước ra gì nữa!

Viên Si cười nhạt, đưa mắt nhìn thẳng vào người hiệu trưởng nói:

—  Cái gì là kỷ luật nhà trường, là phép nước? Tất cả những điều đó đã bị ông chà đạp đi rồi!

Các học sinh bèn đua nhau la lớn:

— Hãy trả lại hai xu cho chúng tôi! Chúng tôi yêu cầu học sinh được tự trị về hỏa thực!

Lưu Chí Viễn rất căm hận, bèn bắt buộc số người của Viên Si phải cấm túc tại trường, để trừng trị. Đồng thời, Lưu Chí Viễn đánh điện báo về ty giáo dục địa phương: "Trong phong trào này, Viên Si, Đường Triều Anh v.v... là những học sinh phạm kỷ luật. Truy ra nguyên nhân, là do giáo viên dạy Anh văn Trương Thu Nhân xúi giục. Trương là người thuộc phái cấp tiến của đảng xã hội. Số người của Viên Si đã say mê học thuyết này, nên mới gây ra chuyên rắc rối" (Đúng ra Trương Thu Nhân lúc bấy giờ là người phụ trách chi bộ đảng Cộng sản tại Trường Sư phạm số ba).

Ty Giáo dục bèn có văn thư quyết định khai trừ học tịch của ba mươi ba học sinh, trong đó có nhóm Viên Si, và ra lệnh buộc Trương Thu Nhân phải từ chức.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:45:43 pm

Trước sự dàn áp của nhà đương cục giáo dục, học sinh phản ứng rất mãnh liệt. Học sinh lại cử người đến Trường Sa một lần nữa, để đưa đơn thỉnh nguyện. Hội liên hiệp học sinh trong tỉnh cũng thực hành bãi khóa hưởng ứng. Công nhân trên Thủy Khẩu Sơn cũng bãi công để ủng hộ học sinh. Trước tình hình đó, ty giáo dục của tỉnh bắt buộc phải thu hồi lệnh đuổi học sinh và bãi chức hiệu trưởng Lưu Chí Viễn.

Trong cuộc đấu tranh này, thoạt đầu Huỳnh Khắc Thành không quan tâm. Vì anh cho rằng "Quân tử quần nhi bất đảng" (Người quân tử đoàn kết với những người chung quanh, nhưng không tham gia đảng phái). Vậy, mình không nên chen chân vào cuộc đấu tranh giữa hai phe, mà giữ thái độ bàng quan thôi. Nhưng khi cuộc đấu tranh của học sinh thắng lợi, mới gây xúc động mạnh cho Huỳnh Khắc Thành. Về sau, ông đã viết hồi ức như thế này:

"Phong trào học sinh tại Trường Sư phạm số ba, là cuộc đấu tranh có tính cách quần chúng mà tôi tiếp xúc lần đầu tiên. Nó có sự giáo dục đối với tôi rất sâu, khiến tôi có nhiều cảm xúc. Mặc dù tôi vẫn chưa biết ý nghĩa của cuộc đấu tranh đó là gì, nhưng tinh thần rủa những người cầm đầu học sinh, không biết sợ cường bạo, không nghĩ tới lợi ích riêng tư, mà đấu tranh cho tập thể, khiến tôi rất khâm phục họ. Sau khi sự việc xẩy ra, tôi tự vấn mình: Sức mạnh nào đã khiến Viên Si và các bạn học khác, dám đấu tranh quên mình như vậy? Tại sao mình lại không có sức mạnh đó? Đáp án tất nhiên là phải chờ về sau tôi mới tìm ra được.

“… Tôi thấy được, chẳng phải riêng tôi là người đang đau khổ, vì không tìm được tương lai, mà cả dân lộc Trung Hoa đều đang ở trong tình cảnh nước sôi lửa bỏng. Một quốc gia, một dân tộc, một xã hội đang đứng trước vấn đề tồn vong, thì cá nhân còn nói gì tới tương lai được nữa? Như vậy, về mặt tư tưởng của tôi, có sự chuyển biến rất to lớn. Tôi bắt đầu vượt qua khỏi cái vòng nhỏ cá nhân, không suy nghĩ tới vấn đề tương lai của cá nhân, mà từ ý nghĩ tìm bước đường tương lai cho cá nhân, tôi lập chí phải tìm đường tương lai cho quốc gia, dân tộc, và xã hội".

Huỳnh Khắc Thành bắt đầu từ chỗ trầm mê, buồn khổ, tỉnh ngộ trở lại. Cậu bắt đầu tiếp xúc rộng rãi và tìm hiểu xã hội, tích cực tham gia những hoạt động chính trị, như tẩy chay hàng hóa Nhật, chi viện cho những cuộc bãi công của công nhân, phong trào chống đạo Cơ Đốc v.v... Đến năm 1924, Huỳnh Khắc Thành có dịp đọc rất nhiều sách báo cách mạng và tiến bộ. Cậu đọc các tờ "Hướng Đạo" và "Tân thanh niên". Cậu đã hiểu bản tuyên ngôn của đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Quốc dân đảng. Dần dần cậu cũng hiểu được: chỉ có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa và quân phiệt, thì nước Trung Quốc mới có tương lai. Muốn cứu Trung Quốc, cần phải làm cách mạng. Muốn làm cách mạng, thì cần phải có đảng cách mạng. Cậu bắt đầu tha thiết muốn gia nhập Quốc dân đảng. Do vậy, vào mùa đông 1924, cậu đã gia nhập Quốc Dân Đảng tại Hành Dương.

Sau khi có một mục tiêu chính trị nhất định, tinh thần của Huỳnh Khắc Thành phấn chấn hẳn lên, rất hăng hái tham gia các hoạt động chính trị. Từ cuối năm 1924, cậu thành lập một hội diễn thuyết ở trong trường và liên hiệp với những học sinh quê ở Vĩnh Hưng thành lập một hội học sinh đồng hương, tổ chức hội tương trợ của học sinh cùng quê Vĩnh Hưng. Tôn chỉ của hội này là giúp đỡ lẫn nhau, cùng đọc sách và cùng thảo luận, cùng học tập tư tưởng mới. Họ gom góp mỗi người một ít tiền, rồi mua những sách báo tiến bộ ở các thành phố lớn về để cùng nhau đọc. Quyển sách mà Huỳnh Khắc Thành ưa đọc nhất là quyển "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản". Quyển sách nhỏ này, đã làm cho tư tưởng cậu dần dần thay đổi. Cậu cảm thấy mình bắt đầu yêu thích tha thiết chủ nghĩa Cộng sản của Các Mác.

Để nâng cao trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác, Huỳnh Khắc Thành đã sưu tầm rất nhiều sách báo loại này. Cậu đọc quyển "Giai cấp đấu tranh" trong tùng thư "Tân thanh niên", và đọc "Sự phát triển xã hội chủ nghĩa từ không tưởng đến khoa học", lại còn đọc nhiều sách báo nói về cách mạng tháng Mười Nga. Trong quá trình đó, cậu cũng nhận thức được chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn, không thể giải quyết căn bản vấn đề xã hội của Trung Quốc. Chỉ có phải học theo Liên Xô, thực hành vô sản chuyên chính, đi lên con đường xã hội chủ nghĩa thì mới có thể cứu nguy triệt để cho nước Trung Quốc.

Đối với Đảng Cộng sản, Huỳnh Khắc Thành tha thiết muốn được gia nhập. Cậu tìm một số bạn học có cùng chí hướng để đi tìm hiểu tổ chức Đảng Cộng sản ra sao. Huỳnh Khắc Thành đã tìm được một người bạn tốt là Huỳnh Đình Phương, động viên cậu ấy đi móc nối với Đảng Cộng sản. Nếu tìm được, thì cả bọn sẽ làm thủ tục xin ra, và xin vào Đảng. Huỳnh Khắc Thành nói với Huỳnh Đình Phương:

— Trong các tổ chức cách mạng tại Hành Dương này, chắc chắn là có Đảng Cộng sản và Đoàn thanh niên. Vậy, anh thường tới lui với họ, cần phải chú ý tìm hiểu và nhất định anh sẽ tìm ra họ.

Huỳnh Đình Phương gật đầu đồng ý. Sau một thời gian, Huỳnh Đình Phương đến gặp Huỳnh Khắc Thành, bảo cho cậu biết là mình đã tìm được Đảng Cộng sản. Huỳnh Đình Phương bèn đem tình trạng tổ chức đảng của hai người nói rõ cho người phụ trách chi bộ Đảng Cộng sản biết, và cũng thay Huỳnh Khắc Thành điền xong tờ đơn xin vào Đảng. Huỳnh Khắc Thành nghe vậy, vừa kinh ngạc vừa vui mừng, siết chặt tay bạn thật lâu không chịu buông ra.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:46:24 pm

Tháng mười năm 1925, Huỳnh Khắc Thành nhận được tờ thông tri, mời cậu và Huỳnh Đình Phương đến một địa điểm đúng thời gian chỉ định, vì người phụ trách khu ủy Đảng Cộng sản về Hành Dương để nói chuyện. Ngày hôm đó, hai người vui vẻ cùng đi tới địa điểm đã hẹn. Người phụ trách Đảng gặp mặt và nói với họ:

— Tổ chức Đảng đã nhận được đơn xin gia nhập Đảng của hai anh, sau khi tìm hiểu và khảo sát, đã chánh thức phê chuẩn nhận hai anh làm đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Huỳnh Khắc Thành hết sức xúc động. Cuối cùng, cậu đã tìm được, nơi gửi gấm cuộc đời của mình. Sau đó mấy mươi năm, khi Huỳnh Khắc Thành nhớ lại ngày tháng đầu tiên đó, vẫn không đè nén được sự xúc động, nói:

— Rốt cục tôi đã tìm được Đảng Cộng sản Trung Quốc, và xin gia nhập tổ chức Đảng. Sự phấn khởi trong lòng tôi, đã khiến tôi gần như một con người khác hẳn. Lúc đó, về mặt tinh thần, tôi thấy, đã có nơi ký thác chân chính, về mặt tư tưởng, tôi được bổ sung thêm những hiểu biết, cần thiết, tâm hồn tôi như mở rộng ra, tôi càng tích cực tham gia vào những phong trào vận động quần chúng. Tôi không còn tham gia các hoạt động xã hội như người mù nữa, mà dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, tôi đấu tranh vì những lý tưởng vĩ đại, đó là một cuộc sống có ý nghĩa biết bao. Kể từ lúc đó, bất cứ giờ phút nào, bất cứ trong tình huống nào, tôi không còn tiêu cực nữa. Thực hiện chủ nghĩa Cộng sản đã thành nguyện vọng theo đuổi suốt đời của tôi. Bất luận gặp phải gian nan trở lực gì, ý chí đó của tôi vẫn không thay đổi.

Một khi đã tìm được mục tiêu của cuộc sống, Huỳnh Khắc Thành liền bước vào giai đoạn trưởng thành trong sinh mệnh của mình. Bây giờ, cậu thanh niên học sinh Huỳnh Khắc Thành chỉ cần đem hết sức lực của mình, nhằm hướng mục tiêu can đảm đi tới.

Tháng mười hai năm 1925, là giai đoạn Quốc Cộng hợp tác, trung ương Quốc dân đảng chấp hành quyết định của Ủy ban trung ương, mở lớp giảng tập chính trị trung ương của Quốc dân đảng để chuẩn bị cho cuộc tiến quân vào Hồ Nam trong đợt Bắc phạt trong tương lai. Trước tình trạng đó, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ đạo cho tổ chức Đảng tại tỉnh Hồ Nam đưa một nhóm người đến Quảng Châu để học tập. Huỳnh Khắc Thành nghe tin đó, liền ghi danh xin đi. Sau một thời gian, cậu được thông báo là Đảng đã chấp thuận.

Tháng giêng năm 1926, Huỳnh Khắc Thành tới Quảng Châu, tham gia lớp học chính trị. Học sinh và thầy giảng của lớp học này, hầu hết đều là người Hồ Nam. Những người như Mao Trạch Đông, Đặng Trung Mạ, Tiêu Sở Nữ, Uông Tỉnh Vệ đều thường tới đó để giảng dạy. Mỗi ngày, ngoài phải lên lớp học tập lý luận quân sự, mỗi người còn được phát một khẩu súng để tiến hành huấn luyện về quân sự. Sinh hoạt rất cực khổ, nhưng Huỳnh Khắc Thành cảm thấy trong lòng rất sung sướng. Tâm trạng vui sướng của Huỳnh Khắc Thành, chẳng bao lâu sau lại bị quấy rầy. Lúc đó, Quốc Cộng đang hợp tác với nhau, nhưng Quốc dân đảng đã bộc lộ tư tưởng chống cộng của mình. Sự kiện hai mươi tháng ba năm 1926, chính là một sự kiện nổi bật về việc này. Sáng sớm ngày hai mươi tháng ba. Huỳnh Khắc Thành đang ngủ ngon giấc, bỗng nghe trên lầu chung quanh có tiếng chân người chạy rầm rập. Cậu vội vàng choàng dậy thì không khỏi kinh hoàng. Vì chung quanh lầu, đang đứng đông nghẹt những binh sĩ vũ trang, chỉa mũi súng về hướng ký túc xá của học sinh đang theo học lớp chính trị giảng tập. Thì ra, ngày hôm ấy, Tưởng Giới Thạch bịa chuyện là chiến hạm Trung Sơn định pháo kích vào trường quân sự Hoàng Phố, nên phái binh sĩ đi bắt bớ đảng viên Cộng sản, và lại phái binh sĩ tới lớp học chính trị này, là chỗ tập trung nhiều đảng viên Cộng sản để giám sát. Hành động này làm cho lớp học tập chính trị không còn tiến hành bình thường được nữa. Bao nhiêu giáo viên đã nhiều ngày không đến lớp. Qua sự kiện này Huỳnh Khắc Thành nhận ra việc đấu tranh cách mạng là rất phức tạp.

Cuối tháng năm năm 1926, đoàn độc lập Diệp Đĩnh do học sinh trường quân sự Hoàng Phố làm cốt cán, và do đảng viên đảng Cộng sản các cấp lãnh đạo làm cán bộ, đã tiến quân vào Hồ Nam, mở màn cho cuộc chiến tranh Bắc phạt. Đến tháng bảy, Quốc dân Cách mạng quân chính thức Bắc phạt. Do nhu cầu của chiến tranh Bắc phạt, lớp giảng tập chính trị trung ương của Quốc dân đảng phải kết thúc sớm hơn, và các học viên được yêu cầu điền vào bản tình nguyện. Huỳnh Khắc Thành đã tình nguyện vào quân đội làm công tác chính trị, và cậu đã đưa thư xin đến tổ chức Đảng, được Đảng đồng ý. Hạ tuần tháng sáu năm 1926, Huỳnh Khắc Thành đến lớp huấn luyện do Cục Chính trị quân Bắc phạt mở, để tiếp nhận sự huấn luyện ngắn hạn đối với công tác chính trị trong quân đội. Kế đó, cậu lại được biên chế vào đội tuyên truyền của bộ phận chính trị quân Bắc phạt.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:47:01 pm

Tháng bảy, quân Bắc phạt chiếm lĩnh Hành Dương, kế đến lại chiếm lĩnh Trường Sa. Huỳnh Khắc Thành và những cán bộ công tác chính trị khác đã làm công tác chính trị trên đường tiến quân đối với dân chúng địa phương. Họ dán biểu ngữ, rải truyền đơn, được quần chúng hai bên đường hành quân đánh trống, đánh phèng la, đốt pháo, để nhiệt liệt nghênh đón quân Bắc phạt.

Quân Bắc phạt tiến lên phía Bắc, và khi đến Nhạc Dương, thì gặp bộ đội của Tiêu Diệu Nam, thủ hạ của Ngô Bội Phù. Đôi bên chạm súng nhau. Khi trận đánh bùng nổ, Huỳnh Khắc Thành đang hành quân theo đoàn mười ba, sư bốn, thuộc quân đoàn số 8. Từ trước tới nay, Huỳnh Khắc Thành chưa ra mặt trận lần nào, nên khi nghe tiếng nổ đì đoành, vẫn cứ tưởng là dân chúng đốt pháo để đón mừng quân đội Bắc phạt. Về sau, nghe tiếng nổ ngày càng dữ dội, và có tiếng đạn rít gió bay ngang qua đầu, ông mới biết là bắt đầu đánh giặc. Lúc đó, trong lòng ông hết sức khẩn trương, bám sát theo những người khác để hành động giống như họ. Cũng may, bên cạnh có nhiều đồng chí có kinh nghiệm già dặn ngoài chiến trường, thấy Huỳnh Khắc Thành lúng túng, bèn dẫn ông đi theo mình, rồi dặn dò bảo phải bình tĩnh, đừng quá hoảng hốt. Khi đạn pháo của địch bay tới, họ đã kéo Huỳnh Khắc Thành cùng nằm mọp xuống đất.

Sau khi trận đánh kết thúc, Huỳnh Khắc Thành lại theo quân đội tiến lên, khi tới vùng Đinh Tứ Kiều và Hạ Thắng Kiều, thấy bộ đội Diệp Đĩnh đã đánh bại bộ đội của Ngô Bội Phù. Khi Huỳnh Khắc Thành đi qua bãi chiến trường, nhìn thấy hai bên đường xác chết nằm la liệt. Do khí trời oi bức, nên xác của binh sĩ bắt đầu sình thối, xông lên một mùi hôi thối khó chịu. Lần đầu tiên, Huỳnh Khắc Thành được mục kích cảnh thực ngoài chiến trường, nên ít nhiều cảm thấy bất nhẫn. Cũng là lần đầu tiên, ông cảm thấy sự tàn khốc của chiến tranh.

Quân Bắc phạt đã chiếm được Vũ Hán, rồi tiếp tục đi lên hướng Bắc, để tiến vào tỉnh Hà Nam. Không bao lâu sau, Tưởng Giới Thạch phát động chính biến ngày mười hai tháng tư, ra tay bắt bớ, chém giết đảng viên Cộng sản. Không khí chống Cộng đã nhanh chóng lan tới quân Bắc phạt ở Vũ Hán. Chính phủ Vũ Hán tuy bề ngoài có vẻ khuynh tả, nhưng thực ra những người cầm đầu các thế lực ở đây, đều quyết tâm chống Cộng, khiến cho những đảng viên cộng sản và những phần tử tiến bộ, đều thấy hết sức nguy hiểm.

Lúc đó, Huỳnh Khắc Thành đang ở tại đoàn bốn, sư hai, quân mười một, và đang tiến về phía Đông. Khi đến vùng Vu Hồ, thuộc tỉnh An Huy, ông cảm thấy tình thế quá nguy cấp, lại mất liên lạc với tổ chức. Cộng thêm đó, đối với quân đội cũ ông đã mất niềm tin, nên quyết định rời khỏi quân đội, tìm về Vũ Hán để liên lạc với tổ chức Đảng.

Tháng mười năm 1927, Huỳnh Khắc Thành trở về Vũ Hán một mình. Lúc đó Vũ Hán đang bao trùm một không khí khủng bố trắng. Trên báo chí ngày ngày đều có đăng tin giết người, cũng như tin tức về những đảng viên Cộng sản tuyên bố rời khỏi Đảng. Ông đi trên đường và tìm kiếm khắp nơi, hy vọng gặp một đồng chí quen thuộc để tìm tới tổ chức Đảng. Vì ông đang mặc một bộ đồ quân phục của quân đội Quốc Dân Đảng Cách mạng, nên không có ai để ý tới ông.

Một hôm, ông đang đi trên đường gần vùng Giang Hán Quan, bỗng trông thấy phía trước mặt có một người quen đi tới. Người này tên gọi Hà Gia Hưng quê Tứ Xuyên, đã vào Đảng khi vừa học vừa làm ở bên Pháp. Huỳnh Khắc Thành quen biết với Hà Gia Hưng khi cùng ở chung tại bộ đội của Đường Sinh Trí trong quân Bắc phạt. Ông đã gặp Hà Gia Hưng nhiều lần và có mối quan hệ tốt. Trông thấy Hà Gia Hưng, Huỳnh Khắc Thành hết sức mừng rỡ, chụp lấy tay của ông ta, rồi nói nhỏ:

— Tôi muốn tìm tổ chức Đảng nên mới về Vũ Hán, vậy anh có biết tổ chức Đảng bây giờ ở đâu không?

Hà Gia Hưng trông thấy Huỳnh Khắc Thành thì trong lòng lo sợ. Không trả lời ngay câu hỏi của ông, mà dẫn ông tới một chỗ vắng vẻ. Huỳnh Khắc Thành lặp lại ý của mình vừa mới nói. Hà Gia Hưng trông thấy không có người, bèn móc từ trong mình ra một quyển sổ nhỏ, xé một trang giấy, rồi hối hả viết vào đấy một địa chỉ, trao tận tay Huỳnh Khắc Thành và quay đầu bỏ đi tuốt. Về sau Huỳnh Khắc Thành không còn gặp lại Hà Gia Hưng, nhưng ông có nghe người ta nói Hà Gia Hưng đã trở thành tên phản bội tại Thượng Hải, và đã bị đặc khoa của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Trần Canh xử tử ông ta. Tuy nhiên, địa chỉ mà ông trao cho Huỳnh Khắc Thành là thật. Có lẽ lúc đó ông ta chưa phản bội.

Huỳnh Khắc Thành theo địa chỉ trên giấy, tìm tới địa điểm chỉ định để liên lạc với tổ chức Đảng, và móc nối với tổ chức Đảng tại đây. Người phụ trách, hỏi rõ địa chỉ của ông đang ở, và sau đó ít hôm, có người tìm tới liên lạc với ông, trao cho ông một phong thư giới thiệu, để ông tự tới Trường Sa tìm tỉnh ủy Hồ Nam, tham gia công tác Đảng tại địa phương.

Huỳnh Khắc Thành tới Trường Sa, trước tiên tới ở trọ tại trụ sở hội đồng hương của những người Vĩnh Hưng, rồi mới đi tìm tỉnh ủy Hồ Nam. Khi ông tìm được đầu mối, thấy có mấy người đang xúm nhau đánh mà chược, ông cũng tới đứng xem một hồi, và sau đó ông dùng mật khẩu để liên lạc nhau, và bắt đầu liên lạc được với tổ chức. Qua mấy hôm, lại có người đưa tới cho ông một bức thư giới thiệu, để ông tới Hành Dương tìm đặc ủy của phía Nam Hồ Nam. Thế là Huỳnh Khắc Thành lại hối hả đi trở lại Hành Dương để tới địa điểm liên hệ. Những người ở đây thấy ông mặc quân phục Quốc dân đảng, nên sinh nghi, không bằng lòng móc nối với ông. Ông quá sốt ruột, năm ba phen đi tìm, nhưng số người này vẫn hoàn toàn không để ý tới ông. Bất đắc dĩ, ông phải trở về quê hương ở Vĩnh Hưng và bắt đầu tham gia hoạt động bí mật tại địa phương.

Qua mấy năm đấu tranh cách mạng, khiến Huỳnh Khắc Thành hiểu sâu sắc là con đường cách mạng luôn luôn gay go, trắc trở. Trong quá trình cách mạng, lại có thể xuất hiện những người phản bội. Lắm khi bị những trở ngại to lớn mà dẫn đến thất bại. Tuy nhiên, đối với những sự thắng lợi của cách mạng, ông chưa bao giờ hoài nghi cả.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:48:38 pm

2. LẶN LỘI BÔN BA

Từ cuối năm 1927, ông trở về quê hương mình là Vĩnh Hưng, cho tới tháng hai năm 1930, ông vào quân đoàn ba Hồng quân, thì trong khoảng thời gian đó, ông đã bôn ba lặn lội khắp các nơi. Ông từ Vĩnh Hưng đi Tỉnh Cương Sơn, lại từ Tỉnh Cương Sơn trở về Vĩnh Hưng. Kế đó lại đi Vũ Hán, Nam Kinh, Thượng Hải, Đường Sơn, Thiên Tân, và cuối cùng lại đánh một cái vòng to, từ trung du xuống đến sông Trường Giang, rồi từ Thượng Hải đi về phía Tây để đi Hồ Bắc. Trong thời gian này, ông đã gặp nhiều sự nguy hiểm ly kỳ trong khu chiếm đóng của Tưởng Giới Thạch.

Mùa thu năm 1927, Huỳnh Khắc Thành trở về đến quê hương của mình. Ông đã xa quê hương mấy năm, nên thân nhân thấy ông trở về đều hết sức vui mừng, hỏi han đủ điều. Mẹ ông vui mừng đến rơi lệ. Bà không biết con trai mình đang làm việc gì, nhưng trong lòng bao giờ cũng lo sợ cho con mình phải rủi ro. Hôm nay, thấy đứa con trai cao lớn đang đứng trước mặt mình, bà không vui lòng sao được? Nhưng Huỳnh Khắc Thành không thể sống yên trong không khí gia đình. Ông tự biết mình còn có sứ mạng rất trọng đại, ấy là chưa tìm ra được những người đảng viên Cộng sản, những đoàn viên thanh niên mà mình đã quen biết trong thời kỳ đại cách mạng. Do vậy, mà ông không có cách nào liên hệ được với tổ chức Đảng, để móc nối hoạt động cho cách mạng.

Sống trong bầu không khí khủng bố trắng, muốn tìm một đồng chí cách mạng đâu phải dễ. Huỳnh Khắc Thành thăm dò khắp nơi, nhưng không biết tung tích của một đồng chí nào cả. Trong lòng ông rất buồn khổ, nhưng lại không thể tiết lộ ra với mọi người trong gia đình. Có một hôm, ông đi vào thị trấn và đang đi trên một phố lớn, bỗng có người ở sau lưng vỗ vai ông. Ông quay lại nhìn, và không khỏi mừng quýnh, gọi:

— Khoáng Chấn Hưng!

Khoáng Chấn Hưng cũng là người Vĩnh Hưng, một bạn học cũ, trước đây cùng học tại Trường Sư phạm số ba ở Hành Dương, và anh cũng là một đảng viên Cộng sản.

Hai người vừa gặp mặt nhau tỏ ra hết sức thân mật. Huỳnh Khắc Thành kéo lấy tay bạn rồi bước đi, nói:

— Chấn Hưng, tôi nhớ anh quá, bây giờ anh ra sao? - Không chờ bạn mình trả lời, ông nói tiếp - Đi, chúng mình hãy tìm một chỗ để nói chuyện.

Hai người cùng đi vào một quán trà và ngồi xuống. Khoáng Chấn Hưng thở dài, nói:

— Ôi! Những bạn học gốc Vĩnh Hưng đi học ở Hành Dương, bọn thì bỏ chạy, bọn thì bị giết chết, nay muốn tìm gặp một người quen thật là khó. Nghe nói anh đã theo quân Bắc phạt rồi, thế tại sao lại trở về?

Huỳnh Khắc Thành nhận thấy người bạn học cũ của mình, muốn thăm dò khuynh hướng chính trị của mình xem ra sao. Đó là việc rất bình thường trong một hoàn cảnh khó khăn và đầy nguy hiểm như hiện nay. Thế là ông bèn đem những việc mình đã kinh qua, nói rõ lại cho Khoáng Chấn Hưng nghe. Sau đó lại nói thêm:

— Sau sự biến ở Mã Nhật, tại Vĩnh Hưng nhiều người bị giết phải không?

— Quả là thê thảm không dám nhìn. Hầu hết đảng viên Cộng sản đều bị bắt và bị giết. Những người bình thường cũng bị hại rất nhiều. Có hai thanh niên học sinh vì ăn mặc đồ Tây, nên đã bị họ bắt, rồi tưới dầu hỏa lên mình, thiêu chết. Từ Trường Sa, có một bài hát truyền về đây, vậy anh biết hát không? Nội dung bài hát đó như thế này: "Áo dài truyền thống là muôn năm, mặc "soọc" theo Tây bị chết đâm. Học sinh nam nữ mở đại hội, xung quanh một đám súng lăm lăm. Tả phái bạo đồ chớ nổi dậy, quân đoàn 23 nã pháo đây. Bọn chuyển đảng kia đừng hung dữ, sĩ quan quân đội lấy đầu bây!". Người trưởng ban nông hội mặc áo sĩ quan, sau khi bị giết thì bị chặt ra làm ba khúc, đựng trong giỏ khiêng đi khắp phố để thị chúng, làm cho mẹ ông ấy đau khổ đến phát điên!

Đôi mắt của Huỳnh Khắc Thành như nảy lửa, nói:

— Hứa Khắc Tường là một tên ác ôn!

Khoáng Chấn Hưng đưa mắt nhìn thẳng vào Huỳnh Khắc Thành, nói:

— Anh bạn học cũ ơi, tôi xem anh, không có gì thay đổi.

— Nếu vậy, anh thay đổi rồi sao? - Huỳnh Khắc Thành hỏi ngược lại.

Hai người chừng như đã thông cảm với nhau, nên không nói gì nữa, mà cùng đi ra.

Chẳng bao lâu sau, họ lại liên lạc thêm với mấy người khác rồi bắt đầu hoạt động bí mật. Tháng mười hai năm 1927, họ đến thị trấn Vĩnh Hưng, tìm được người bí thư chi bộ đặc biệt là Hướng Đại Phục, do đặc khu ủy Hồ Nam phái đến Vĩnh Hưng. Huỳnh Khắc Thành dùng lá thư giới thiệu của tỉnh ủy Hồ Nam, bắt liên lạc được với tổ chức Đảng, đồng thời, ông giới thiệu thêm một số người vốn không phải đảng viên Đảng Cộng sản, để kết nạp vào Đảng. Như vậy, họ thành lập được chi bộ đặc biệt tại Vĩnh Hưng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:49:34 pm

Kế đó, chi bộ đặc biệt của Đảng Cộng sản tại Vĩnh Hưng triệu tập các đảng viên để mở đại hội. Cuộc hội nghị này do Hướng Đại Phục chủ trì. Ông này trước tiên truyền đạt Nghị quyết của Bộ Chỉnh trị lâm thời của Trung ương Đảng Cộng sản qua hội nghị mở rộng hồi tháng mười một. Nghị quyết này phân tích tình thế và nêu ra nhiệm vụ, hiệu triệu toàn thể tổ chức Đảng đứng lên bạo động, cướp chánh quyền, thực hành cải cách ruộng đất, xây dựng quân đội công nông cách mạng. Đồng thời, Nghị quyết này đề ra một số khẩu hiệu không thích hợp, và một chính sách manh động tả khuynh, như, yêu cầu trong cuộc võ trang bạo động của công nông, chẳng những phải thi hành một chính sách trừng trị không thương tiếc đối với bọn thổ hào, bọn quan lại phản cách mạng, mà ngay đến những tầng lớp trên trong thành phần tiểu tư sản, như chủ hiệu, người buôn bán, đều phải thực hành chuyên chính một cách không do dự, và không cho phép cản ngăn những hành động quá khích của quần chúng v.v... Hướng Đại Phục nêu lên với đại hội: "Giết! Giết! Giết hết bọn thổ hào phản cách mạng. Đốt! Đốt! Đốt hết sào huyệt của chúng!".

Lời nói của ông ta vừa dứt, liền có người đứng lên phát biểu, tỏ ra tán đồng:

— Tôi đồng ý quyết nghị này, cần phải tiến hành bạo động tức khắc, để trả thù cho các đồng chí bị tử nạn!

Lại có người đứng lên phụ họa:

— Tôi cũng tán thành. Máu của các đồng chí ta không thể chảy vô ích. Ta phải cho bọn phản động biết tay!

Huỳnh Khắc Thành có hơi do dự. Ông tán thành Nghị quyết của Trung ương, nhưng đối với việc bạo động ngay thì có vẻ nghi ngờ. Do vậy, ông liền phát biểu:

— Thứ nhất, máu của các đồng chí ta không thể chảy vô ích. Thứ hai, tổ chức Đảng phải tiến hành bạo động, điều đó không có vấn đề gì. Nhưng theo tôi, thời cơ hiện nay chưa chín mùi. Ngay đến chúng ta, cũng chưa liên lạc được mấy người. Chỉ có mấy đảng viên, trong tay không có tấc sắt, nếu tức khắc đi dán biểu ngữ, hô khẩu hiệu tấn công thị trấn, thì kết quả sẻ ra sao?...

Người bạn thân của ông là Khoáng Chánh Hưng liền cướp lời:

— Tôi xem anh có tư tưởng hữu khuynh đấy. Chúng ta cảnh giác hữu khuynh. Sau sự biến Mã Nhật, mấy nghìn quân nông dân ở Lưu Dương tấn công Trường Sa, chính do chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh ra lệnh ngưng tấn công, nên mới bị thất bại, làm cho mọi người hết sức đau lòng. Hôm nay chúng ta không nên do dự nữa.

Huỳnh Khắc Thành bác lại, nói:

— Hữu khuynh là một tư tưởng chứng ta phải chống lại, nhưng manh động không dựa vào thực tế, thì chúng ta cũng phải chống. Chúng ta phải coi kỹ thực lực của mình, coi kỹ xem chúng mình có bao nhiêu người ngựa, rồi mới tính toán cho cụ thể.

Nhưng đại đa số người trong chi bộ đặc biệt đều chủ trương bạo động tức thời, họ mở cuộc tranh luận gay gắt với Huỳnh Khắc Thành. Lúc đó, Hướng Đại Phục nêu ra một vấn đề:

— Đặc khu ủy phía Nam Hồ Nam chỉ thị cho chúng ta bạo động, vậy chúng ta phải chấp hành hay không?

Mọi người đều im lặng.

Huỳnh Khắc Thành thấy ai nấy đều không nói gì, bèn lên tiếng:

— Theo tôi, chúng ta có thể làm công tác chuẩn bị xoay quanh vấn đề bạo động, như chỉ định người phụ trách xách động quần chúng, tìm kiếm vũ khí, chờ đợi thời cơ chín muồi sẽ nổi lên bạo động.

Người thầy cũ của Huỳnh Khắc Thành là Doãn Tử Thiếu, một đảng viên Cộng sản, đứng lên nói:

— Tôi đồng ý quan điểm đó. Theo tôi, chúng ta nên cử hai đồng chí Hướng Đại Phục và Huỳnh Khắc Thành phụ trách chuẩn bị cuộc bạo động.

Cuối cùng hội nghị quyết định: Chờ đợi thời cơ để bạo động, công tác chuẩn bị do Hướng Đại Phục phụ trách khu vực phía Đông, còn Huỳnh Khắc Thành phụ trách khu vực phía Tây.

Về sau, trong hồi ức của mình, Huỳnh Khắc Thành có nói, trong lần hội nghị này, lần đầu tiên tôi bị phê phán, là sau khi tham gia cách mạng, tôi có tư tưởng hữu khuynh.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:50:23 pm

Công tác chuẩn bị được tiến hành chừng một tháng, thì có một hôm, mấy người nông dân đi Bình Thạch Trấn, thuộc vùng Lạc Xương ở tỉnh Quảng Đông để gánh muối về bán, có nói lại cho Huỳnh Khắc Thành biết: Hồng quân đã kéo về Bình Thạch, người cầm đầu họ Chu, đã đánh bại quân trắng (chỉ quân phản động Tưởng Giới Thạch) thực hành cải cách ruộng đất. Bình thường một gánh muối bán từ chín tới mười đồng tiền, bây giờ hồng quân quy định, một gánh muối chỉ bán một đồng lẻ một tiền thôi. Nông dân hết sức hoan nghinh và ủng hộ. Huỳnh Khắc Thành nghe được tin đó, trong lòng lấy làm mừng rỡ. Bây giờ Chu Đức, Trần Nghị dẫn lực lượng võ trang còn sót lại sau cuộc khởi nghĩa Nam Xương, từ Quảng Đông chuyển đến biên giới Hồ Nam và Quảng Đông, để phát động cuộc khởi nghĩa phía Nam tỉnh Hồ Nam. Trước tiên họ chiếm lĩnh Nghi Chương và Bình Thạch, thành lập sư một quân cách mạng công nông Trung Quốc. Huỳnh Khắc Thành lúc đó chưa biết Chu Đức và Trần Nghị, nhưng ông ý thức được là thời cơ khởi nghĩa đã tới.

Nhưng, bạo động mà không có vũ khí thì làm thế nào? Giữa lúc Huỳnh Khắc Thành đang băn khoăn về chuyện đó, thì bỗng nghe được một tin tức, là có một đội võ trang phản động bị Hồng quân của Chu Đức đánh bại, đang từ thị trấn Nghi Chương bỏ chạy ra ngoài, và định đến thôn Bảng Lương, để dựa vào một tên đại địa chủ là Lưu Nghiêu Khanh. Thế là, Huỳnh Khắc Thành bèn tổ chức hơn một trăm người, võ trang bằng đại đao, giáo dài, kéo tới bao vây đám tàn quân đó.

Nhóm võ trang phản động này, cơ bản đã không còn tinh thần chiến đấu. Chúng trông thấy có nhiều người xuất hiện, thì hồn phi phách tán, vội vàng ném súng xuống rồi giơ tay đầu hàng.

Huỳnh Khắc Thành đếm số súng thâu được là mười tám khẩu. Như vậy, còn chưa đủ, ông đang suy nghĩ cách gì đó để tìm thêm súng. Bỗng thấy một đội viên võ trang của mình, đưa đại đao lên định giết chết người cầm đầu của toán võ trang phản động là Ngô Quốc Bân, nên vội vàng ngăn lại, nói:

— Khoan đã! Để cho hắn sống, còn có chuyện dùng!

Ngô Quốc Bân vội vàng lạy xin tha mạng.

Huỳnh Khắc Thành nói với hắn:

— Giết anh thì dễ thôi, mà tha anh thì cũng dễ.

Chỉ cần xem anh có làm đúng theo lời yêu cầu của tôi không?

— Xin quan lớn hãy dạy, kẻ tiểu nhân này nhất định làm theo tất cả.

Thế là Huỳnh Khắc Thành ngụy trang thành một tên vệ binh của Ngô Quốc Bân, tay cầm súng lục theo sát bên cạnh hắn, và dẫn theo một số người đi thẳng đến nhà tên đại địa chủ Lưu Nghiêu Khanh. Chẳng mấy chốc, đoàn người của họ đã đến thôn Bảng Lương. Lưu Nghiêu Khanh hoàn toàn không đề phòng để cho họ vào trong nhà. Nhưng, cửa vừa mở, thì có hơn mười người vây lại, và những khẩu súng đen ngòm đều chĩa thẳng vào hắn, nói:

— Không được nhúc nhích!

Lưu Nghiêu Khanh há họng trừng mắt, kinh ngạc.

Huỳnh Khắc Thành dùng súng chĩa vào sọ hắn, nói:

— Đừng giả vờ ngu dại nữa. Bọn chúng ta là quân cách mạng công nông, ra lệnh cho ngươi phải bảo gia đinh nhà ngươi buông súng xuống, rồi bước tới đây tập họp, nếu không thì...

Huỳnh Khắc Thành lên cò súng, khiến Lưu Nghiêu Khanh sợ hãi, cho lệnh gia đinh tập hợp. Chẳng mấy chốc, bọn gia đinh đều có mặt, và ngoan ngoãn giao tất cả súng ống ra.

Sau khi có đầy đủ vũ khí, Huỳnh Khắc Thành bèn động viên cho một số thanh niên cách mạng gia nhập quân đội. Và họ đã tổ chức thành một đội võ trang nhanh chóng. Kế đó, cánh võ trang này đã chính thức trương cao ngọn cờ "sư đoàn đỏ", do Doãn Tử Thiều là sư trưởng, và Huỳnh Khắc Thành làm đại biểu Đảng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:51:03 pm

Vì số người tham gia vào quân đội hầu hết là nông dân, nên Huỳnh Khắc Thành ý thức được cần phải đặt nặng vấn đề giáo dục chính trị. Ông bèn triệu tập tất cả số lính mới này tới, rồi phát biểu với họ:

— Thưa các đồng chí, hôm nay chúng ta cầm súng trong tay, thì chúng ta không còn là những người nông dân bình thường nữa, mà là lực lượng võ trang công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chúng ta cầm súng đây, là vì muốn giải phóng cho chính mình. Vì mục tiêu đó, mà đã có những người đi trước chúng ta, đã chảy đến giọt máu cuối cùng. Nay chúng ta đang còn sống, thì cũng phải chuẩn bị sẵn sàng đổ máu!

Bên dưới im phăng phắc. Huỳnh Khắc Thành hết sức mãn nguyện nói tiếp:

— Đội ngũ của Chu Đức đã chiếm lĩnh được Nghi Chương và Sâm Châu, lại đánh tan sáu đoàn quân của Hứa Khắc Tường, và suýt nữa đã bắt sống được tên này. Chúng ta phải phối hợp hành động với họ, mở rộng đội ngũ võ trang, tiến chiếm thành Vĩnh Hưng.

Bộ đội nghe qua, ai nấy đều vui mừng ra mặt.

Thành Vĩnh Hưng đã bị họ tấn công và chiếm lấy một cách mau chóng, khu Xô viết nông thôn ở khắp huyện, cũng được thành lập mau chóng, nhân dân vui mừng tiếp đón chính quyền mới khai sanh của mình. Trong thị trấn Vĩnh Hưng, đâu đâu cũng nghe tiếng nói cười vui vẻ.

Nhưng ngay lúc đó, người bạn thân của Huỳnh Khắc Thành là Khoáng Chấn Hưng bỗng biến mất. Thì ra, trong quá trình công tác, anh ta bị một số trở lực nên tức giận trốn trong nhà, không chịu ra làm việc. Huỳnh Khắc Thành được biết chuyện đó, bèn đến nhà thăm anh ta, và động viên anh ta nên trở ra công tác.

Khoáng Chấn Hưng vẫn tỏ ra do dự, chưa quyết định dứt khoát. Thế là Huỳnh Khắc Thành bèn nói thẳng:

— Trước đây anh mắng tôi là người có chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, nay cách mạng đã thành công một cách oanh liệt, thì anh trở về ẩn kín trong nhà, vậy đó là chủ nghĩa gì?

Khoáng Chấn Hưng bị lời nói khích của Huỳnh Khắc Thành, nên mới chịu trở ra công tác. Về sau, đồng chí này trong quá trình đấu tranh cách mạng đã hy sinh.

Giữa lúc đó, bỗng lại xuất hiện một mầm mống tả khuynh khác. Đó là người bí thư đặc khu ủy phía Nam Hồ Nam là Trần Hựu Khôi đến Vĩnh Hưng, yêu cầu các huyện tiến hành ngay việc đốt nhà cửa, chém giết. Chẳng những đốt dinh thự của nhà nước, nhà ở của thổ hào ác bá, mà còn đốt luôn cả dãy phố buôn bán trong thị trấn, và cũng đốt luôn một số nhà dân ở nông thôn. Họ muốn lấy đó để ngăn chặn sự tấn công của địch. Nông dân đứng trước việc chém giết đốt phá bừa bãi, tỏ ra hết sức bất mãn.

Người anh ruột của Huỳnh Khắc Thành phản ánh với ông:

— Tại sao các anh lại đốt nhà bừa bãi như thế? Đốt phá nhiều như vậy, không đáng tiếc sao? Những ngôi nhà đó đều là nhà đẹp, cho dù là nhà của thổ hào ác bá, chúng ta cũng không nên đốt, mà có thể phân phối cho người nghèo đến ở.

Huỳnh Khắc Thành nguyên cũng không tán thành đốt nhà bừa bãi như vậy. Bây giờ nghe người anh ruột của mình, nguyên là mội người có tình cảm với cách mạng, cũng nói lên tiếng nói như thế, nên ông kiên định cách suy nghĩ của mình. Thế là khi huyện ủy hội họp để quán triệt chỉ thị của đặc khu ủy phía Nam tỉnh Hồ Nam. Huỳnh Khắc Thành kiên quyết phản đối việc đốt nhà bừa bãi. Và, kết quả là ông lại bị phê bình nghiêm khắc, là có tư tưởng hữu khuynh.

Chẳng những thế, huyện ủy còn chỉ định Huỳnh Khắc Thành phải đi đốt nhà. Huỳnh Khắc Thành cự tuyệt không chấp hành, bí thư huyện ủy bèn lấy danh nghĩa tổ chức ra lệnh cho ông phải đi đốt, bằng không sẽ bị xử phạt nghiêm khắc. Huỳnh Khắc Thành đành phải tuân theo, và ông đã áp dụng một phương pháp trung dung, ấy là chỉ đốt những công thự ở huyện thành, đốt từ đường, đốt đình miếu, và một số hiệu buôn cá biệt, chứ không đốt nguyên cả một dãy phố. Cuối cùng, anh để lại rất nhiều nhà cửa, hiệu buôn. Trong khi đó, thì ở huyện Sâm và Lai Dương thì trong thị trấn đều bị đốt hết sạch, khiến cho nông dân địa phương rất bất mãn.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:51:55 pm

Khoảng tháng tư năm 1928, quân đội của Quốc dân đảng mở cuộc đại tấn công vào phía Nam tỉnh Hồ Nam. Trong khi Chu Đức, Trần Nghị kéo binh về Tỉnh Cương Sơn, thì Huỳnh Khắc Thành cũng kéo bộ đội mình đến đó. Tại đây, lực lượng võ trang của nông dân huyện Vĩnh Hưng, được biên chế thành đoàn 35, sư mười hai, đệ tứ quân, và Huỳnh Khắc Thành làm đoàn trưởng. Nhưng, họ tới Tỉnh Cương Sơn không được bao lâu, thì một đêm nọ, Huỳnh Khắc Thành bỗng nhận được tin tức, thượng cấp quyết định các đội võ trang của các huyện Lai Dương, Vĩnh Hưng, Sâm huyện, Tư Hưng, ở phía Nam tỉnh Hồ Nam, biên chế thành bốn đội du kích, trở về vùng phía Nam tỉnh Hồ Nam để hoạt động du kích tại các huyện. Huỳnh Khắc Thành nghe được tin đó, trong lòng cảm thấy rất băn khoăn. Nhưng vì ông sợ lại bị phê bình là có tư tưởng hữu khuynh, cho nên không dám mạnh dạn nêu ra ý kiến chi cả. Kết quả, lực lượng võ trang của hai huyện Vĩnh Hưng và Lai Dương, sau khi kéo trở về quê hương, thì dọc đường bị một số người sách động, bỏ trốn tứ tán, và bị quân đội của Quốc dân đảng tiêu diệt. Huỳnh Khắc Thành cùng một người nữa, chạy về nhà để ẩn náu.

Đối với việc bạo động ở phía Nam tỉnh Hồ Nam bị thất bại, sau đó mấy mươi năm, Huỳnh Khắc Thành đã nêu rõ ý kiến của mình: "... Tôi trước sau vẫn cho rằng, khi đội ngũ bạo động đã kéo tới Tỉnh Cương Sơn, thượng cấp quyết định đưa họ trở về phía Nam tỉnh Hồ Nam để đánh du kích là quá vội vàng, thiếu suy nghĩ kỹ lưỡng. Lúc đó thượng cấp sở dĩ quyết định như vậy cố nhiên vì trên núi thiếu thốn lương thực, hoàn cảnh khó khăn, nên bắt buộc phải hành động như thế. Nhưng, quyết định đó thực ra không phải là thượng sách... Về sau, đồng chí Trần Nghị cũng từng nói với tôi, là đồng chí Mao Trạch Đông khi nhận được nhiều bài học thất bại của chúng ta, đối với việc đưa lực lượng võ trang trở về phía Nam tỉnh Hồ Nam, tỏ ra kiên quyết phản đối. Nhưng, bộ đội lúc bấy giờ không nghe theo lời khuyên của đồng chí Mao Trạch Đông, cứ cho lực lượng võ trang xuống núi, nên đã bị tổn thất như vậy".

Sau khi lực lượng võ trang ở phía Nam tỉnh Hồ Nam bị đánh tan. Huỳnh Khắc Thành và một người bạn nữa tên gọi Lý Bốc Thành, cùng trở về thôn Hạ Thanh. Lần trở về này không như những lần trước. Họ phải chờ đêm tối vắng người, rồi lần mò tìm tới nhà để gặp anh ruột, chị dâu, và sau đó phải lên ẩn mình trên rừng núi gần đó.

Cứ ban ngày thì hai người rút sâu vào rừng núi để tránh giặc lùng bắt, đến trưa, được người chị dâu hoặc người em mang cơm tới cho ăn. Thông thường, hai người phải chờ đến thật khuya, vắng người, mới mò về trong thôn, rồi đến chỗ chuồng nuôi heo ở phía sau nhà Huỳnh Khắc Thành để ngủ giây lát. Trước khi trời sáng, người chị dâu đánh thức họ dậy, để họ trở lên núi tìm chỗ ấn trốn. Việc làm đó hết sức bí mật, ngay cả cha mẹ ruột của Huỳnh Khắc Thành cũng không được biết.

Có một hôm, Huỳnh Khắc Thành và Lý Bốc Thành chuẩn bị đi ra ngoài. Vì họ luôn ẩn náu trong rừng sâu, không có ánh sáng mặt trời, nên da dẻ của họ vừa trắng lại vừa mét. Họ cảm thấy nếu để vậy đi ra ngoài, thì mọi người sẽ chú ý, cho nên cả hai cùng xuống sườn núi để phơi nắng. Trong khi họ đang phơi nắng, thì em ruột của Huỳnh Khắc Thành đưa cơm tới. Huỳnh Khắc Thành bèn nói với Lý Bốc Thành:

— Mấy ngày nay quân địch hoạt động ráo riết, vậy chi bằng chúng ta mang cơm lên núi mà ăn, sẽ được an toàn hơn ở đây.

Nhưng Lý Bốc Thành còn muốn ở lại phơi nắng một lúc nữa, không bằng lòng nghe theo lời Huỳnh Khắc Thành, cãi lại:

— Anh sợ chi chứ? Chỉ trong thời gian ăn một bữa cơm, mà giặc kéo kịp tới đây hay sao?

Huỳnh Khắc Thanh biết ở đấy rất nguy hiểm, nên không nói gì thêm, chỉ im lặng bưng cơm đi thẳng lên núi. Lý Bốc Thành thấy vậy, cũng đành bưng cơm đi theo, nhưng vẻ mặt rất bất mãn.

Khi hai người vừa lên tới núi, chưa kịp chui vào rừng, thì thấy thôn làng ở dưới núi đang bị bọn dân đoàn của Quốc dân đảng bao vây lục soát. Hai người thấy vậy, vội vàng chui thẳng vào rừng rậm. Lý Bốc Thành vì quá cuống quýt, nên trượt té một keo khá nặng.

Huỳnh Khắc Thành nhìn thấy thái độ sợ hãi của anh ta, rõ ràng khác hẳn với lúc còn ngồi dưới sườn núi vừa rồi, bèn nói đùa:

— Anh sợ chi chứ? Chỉ trong khoảng thời gian ăn một bữa cơm, mà quân địch kéo kịp tới đây sao chứ?

Lý Bốc Thành mắc cỡ, nói:

— Cũng may là chúng ta không ngồi trên sườn núi ăn cơm, bằng không, thì bây giờ không còn trốn kịp nữa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:52:34 pm

Đến tối, hai người lại mò về trong thôn. Sau khi tìm hiểu họ mới biết, hồi sáng này người em của Huỳnh Khắc Thành trên đường đưa cơm trở về, đã bị quân địch bắt được. Quân địch đã dẫn người em của Huỳnh Khắc Thành trở về nhà, rồi lục soát một lúc thật lâu, không thấy Huỳnh Khắc Thành, mới bắt cha anh khảo tra. Nhưng cha anh hoàn toàn không biết việc Huỳnh Khắc Thành có trốn về nhà, nên không khai báo chi cả. Lúc quân địch định rút lui, muốn bắt người cha già của anh mang theo, nhưng có một thân sĩ ở địa phương nói:

— Lão già này chẳng có tiên bạc chi cả, bắt đi cũng vô dụng thôi, mà còn tốn cơm nữa là khác!

Trong khi đó, những bà con trong thôn xóm cũng xúm lại nài nỉ bọn giặc, chúng mới chịu tha cho cha anh ở lại.

Việc kẻ địch lục soát thôn xóm, làm cho Huỳnh Khắc Thành phải cảnh giác. Anh do dự một lúc, bèn chuẩn bị đi Vũ Hán để tìm tổ chức Đảng. Trước khi đi, Huỳnh Khắc Thành không đè nén được, tình cảm gia đình, bèn trở về nhà để gặp mặt cha mẹ một lần.

Cha anh trông thấy anh, vừa kinh ngạc lại vừa tức giận, chỉ thẳng vào mặt anh la mắng anh là đồ bất hiếu, đồ không nên thân. Cha anh mắng mãi cho đến mệt ngất, không còn mắng được nữa. Riêng mẹ anh cũng không hiểu anh. Bà nói:

— Đây là kết quả của những ngày cho nó đi ăn học. Ăn học khá rồi, lại đi làm những việc như vậy!

Huỳnh Khắc Thành thấy không khí gia đình, biết cha mẹ vẫn còn đang rất giận mình, nên không nói lời nào nữa, âm thầm bỏ đi ra khỏi cửa. Đó là đầu tháng mười năm 1928. Huỳnh Khắc Thành sau khi ra đi, thì không còn gặp lại cha mẹ mình lần nào nữa.

Huỳnh Khắc Thành và Lý Bốc Thành đến được Vũ Hán, nhưng không móc nối được với tổ chức Đảng. Thế là họ cùng ngồi thuyền đi xuống Nam Kinh.

Tại Nam Kinh, họ vẫn không liên hệ được với tổ chức Đảng. Lúc đó, tiền lộ phí của họ đã xài cạn, nên định tìm tới một người đồng hương để mượn một ít tiền.

Một hôm, Huỳnh Khắc Thành và Lý Bốc Thành đi tìm một người tên Tào Nhật Huy. Tào Nhật Huy là bạn học cũ của Huỳnh Khắc Thành lúc còn học ở Hành Dương, hiện giờ là một sĩ quan cao cấp trong một trung đoàn của quân đội Quốc dân đảng, có nhà riêng tại Nam Kinh. Khi tới nơi, Huỳnh Khắc Thành chỉ để Lý Bốc Thành đi vào một mình, còn ông ở ngoài để phòng bất trắc.

Tào Nhật Huy vừa trông thấy Lý Bốc Thành thì giật mình đánh thót, mở miệng nói liền:

— Anh to gan quá! Dám đến Nam Kinh này! Ở đây người đồng hương rất nhiều, và họ đang truy nã anh đó. Mấy hôm trước, có một người đồng hương chạy tới Nam Kinh, bị họ tố cáo bắt đi bắn rồi. Cũng may hôm nay ở đây không có người đồng hương nào, xem như anh gặp may mắn. Nếu không thì rất nguy hiểm đó. Vậy anh phải mau mau rời đi, đừng có ở lại Nam Kinh này nữa.

Lý Bốc Thành thấy thái độ của người bạn học cũ như vậy, cũng không dám nói nhiều, chỉ yêu cầu anh ta tiếp tế cho mình một ít lộ phí. Nhưng bị từ chối. Lý Bốc Thành bước ra khỏi nhà riêng của người bạn học, nắm tay Huỳnh Khắc Thành kéo đi trở về chỗ trọ.

Họ thấy không thể ở được Nam Kinh, bèn ngồi xe đi Thượng Hải. Thượng Hải là nơi Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đóng, nhưng do tình hình phức tạp, họ tới Thượng Hải vẫn không móc nối được với tổ chức Đảng.

Hai người cứ đi thẫn thờ trên đại lộ, mong gặp được một đồng chí quen thuộc nào. Lúc quá buồn chán, cả hai đi vào tiệm sách để xem. Thoạt đầu, người bán sách tưởng họ vào để mua sách, nên tiếp đãi rất ân cần. Nhưng về sau, thấy họ chỉ xem mà không mua, bèn sinh nghi họ là những tên ăn cắp, định vào đây trà trộn để ăn cắp sách. Do vậy, người bán sách lúc nào cũng để ý theo dõi họ. Nhưng về sau thấy họ nhiều lần tới đây xem sách rồi ra đi đường hoàng, biết họ tuy không mua, nhưng không phải là bọn trộm cắp, nên cũng không canh chừng họ gắt gao nữa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:53:15 pm

Một hôm, hai người thấy trên báo chí có đăng tên Huỳnh Bích. Huỳnh Bích nguyên là người ở tại Vĩnh Hưng, đi du học Nhật Bản, hiện đang giữ chức chủ nhiệm phân xưởng làm đạn pháo tại Binh công xưởng ở Thượng Hải. Huỳnh Khắc Thành bèn đổi tên là Huỳnh Sở Trân, viết cho Huỳnh Bích một lá thư, nói dối mình là hạ sĩ quan của bộ đội Trình Tiềm, sau khi bị giải giới ở Giang Tây, trôi nổi về thượng Hải, không có công ăn việc làm, nay muốn đi Nam Dương để mưu sinh, và xin ông ta giúp cho tiền bạc.

Chẳng bao lâu sau Huỳnh Khắc Thành nhận được thư phúc đáp. Ông vui mừng ngoài sức tưởng tượng, bèn đi tới Binh công xưởng Thượng Hải, để tới văn phòng tìm gặp Huỳnh Bích. Hai người gặp mặt nhau, ngồi xuống nói chuyện chưa được mấy chốc, thì có người từ bên ngoài bước vào tìm Huỳnh Bích. Huỳnh Bích đi ra, không mấy chốc lại trở vào, bảo là ông ta có việc quan trọng phải đi ngay, không thể nói chuyện tiếp, ủy thác một người bà con đến để nói chuyện với Huỳnh Khắc Thành.

Huỳnh Bích đi chẳng bao lâu, thì có một người bà con của ông ta bước vào. Huỳnh Khắc Thành vừa trông thấy người này, giật mình đánh thót. Thì ra, người này tên là Đặng Phong Lập, là một đại ác bá ở huyện Quý Dương tỉnh Hồ Nam. Trong lần bạo động ở phía Nam tỉnh Hồ Nam, hắn từng sát hại rất nhiều đảng viên Cộng sản và nông dân nổi lên bạo động. Hắn đúng là một tên chống Cộng chánh hiệu. Hồi lúc nhỏ, Huỳnh Khắc Thành đã có dịp gặp mặt hắn mấy lần. Thấy Đặng Phong Lập bước vào, Huỳnh Khắc Thành rất lo sợ, nghĩ bụng: phen này chắc là tiêu đời rồi. Không ngờ, Đặng Phong Lập bước vào, lại ôn tồn nói chuyện với ông. Hắn hỏi tình hình đi lính của Huỳnh Khắc Thành, chứ không nói chi khác. Ngoài ra, hắn không biết mặt Huỳnh Khắc Thành. Huỳnh Khắc Thành cảm thấy đỡ lo, nghĩ rằng có lẽ hắn không để ý tới mình, nên hắn không nhận diện được.

Một lúc sau, Đặng Phong Lập bỗng hỏi Huỳnh Khắc Thành:

— Đứa cháu của Huỳnh Thanh Chánh ở thôn Hạ Thanh, tên gọi Huỳnh Thời Tuyên, anh có biết không?

Huỳnh Khắc Thành giật mình đánh thót, Thời Tuyên là tên của Huỳnh Khắc Thành lúc còn nhỏ. Nhưng ông cố giữ bình tĩnh, đáp:

— Lúc tôi còn ở nhà, có biết hắn.

Đặng Phong Lập lại hỏi:

— Huỳnh Thời Tuyên hiện nay ở đâu, anh có biết không?

Huỳnh Khắc Thành đáp:

— Tôi rời quê hương đi làm lính đã lâu, nên không có dịp liên lạc với anh ta nữa. Không biết hiện giờ anh ta ra sao?

Đặng Phong Lập với sắc mặt hầm hầm, nói:

— Huỳnh Thời Tuyên là một tên Cộng sản giết người, đốt nhà đấy!

Huỳnh Khắc Thành giả vờ kinh ngạc, nói:

— Thế hả? Anh ta như vậy mà là Đảng viên Cộng sản sao? Quả thật bất ngờ!

— Chính anh ta đã cầm đầu nổi lên bạo động chỗ chúng tôi, nhà đương cuộc đang ra lệnh truy nã đấy. Nếu tôi gặp anh ta ở đâu, thì tuyệt đối sẽ không bao giờ buông tha!

Huỳnh Khắc Thành giả vờ thở dài, nói:

— Ôi! Một người như anh ta mà cũng nổi lên bạo động? Quả là một chuyện quá bất ngờ - Kế đó, Huỳnh Khắc Thành đánh trống lảng, nói qua chuyện khác - Huỳnh Bích tiên sinh lúc nào mới trở về?

Đặng Phong Lập đáp, là ngày hôm nay chưa chắc ông ấy trở về kịp.

Nhân đó, Huỳnh Khắc Thành bèn nói:

— Nếu Huỳnh Bích tiên sinh hôm nay không trở về, thì tôi xin cáo biệt, đợi ngày khác sẽ đến gặp lại.

Nói dứt, lời, Huỳnh Khắc Thành đứng lên từ biệt. Đặng Phong Lập đưa tới tận cổng của công xưởng, mới quay vào. Huỳnh Khắc Thành cảm thấy như vừa trút bỏ được một tảng đá đè lên ngực. Và từ đó, ông không còn dám tới tìm Huỳnh Bích nữa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Năm, 2023, 05:53:51 pm

Một thời gian sau, lúc hai người gần như bí lối, thì bỗng gặp Tăng Hy Thánh, và nhờ đó tìm được tổ chức Đảng. Huỳnh Khắc Thành hết sức vui mừng, cảm thấy từ đây mình đã có nơi nương tựa. Nhân dịp này, ông học tập rất nhiều tài liệu. Trong số đó có cả những văn kiện của Đảng Cộng sản quốc tế.

Sau mấy hôm, Quân ủy Trung ương đến tìm gặp ông, cho ông biết hệ thống tổ chức của ông là thuộc hệ thống Quân ủy. Đồng thời, cũng cho ông biết, kinh tế của đảng hiện nay rất khó khăn, chỉ có thể đảm bảo đời sống cho thiểu số những người làm cách mạng chuyên nghiệp, chứ không thể bảo đảm đời sống cho tất cả đảng viên. Vì vậy, Trung ương Đảng mong tất cả đảng viên đều cố tìm chức nghiệp cho mình, để vừa giải quyết được vấn đề đời sống, vừa lấy chức nghiệp đó làm bình phong che chở, để liên hệ quần chúng, triển khai hoạt động cách mạng.

Huỳnh Khắc Thành dựa vào chỉ thị của Trung ương, suy nghĩ thật lâu, quyết định đi Đường Sơn để tìm một người thượng cấp cũ của mình là Lăng Triệu Nghiêu. Tổ chức Đảng đồng ý và ông ngồi tàu tới Đường Cô, rồi mới đi xe tới Đường Sơn.

Lăng Triệu Nghiêu tiếp đón Huỳnh Khắc Thành rất vui vẻ. Người này trước đây là một đoàn trưởng trong đệ bát quân của quân Bắc phạt, có mối quan hệ khá tốt với Huỳnh Khắc Thành. Hiện nay ông ta làm lữ trưởng lữ 158, thuộc sư đoàn 53 quân Quốc dân Cách mạng. Sau khi ông ta sắp xếp cho Huỳnh Khắc Thành ở lại, lúc rảnh thì tìm tới nói chuyện. Ông ta nói từ Quốc dân đảng đến Đảng Cộng sản, đều là những vấn đề thuộc về chính trị. Huỳnh Khắc Thành ý thức được ông ta muốn tìm hiểu tư tưởng của mình, nên cũng bắt đầu cảnh giác. Huỳnh Khắc Thành vốn quen biết nhiều người trong đội quân này, nên có mối quan hệ với các sĩ quan và binh sĩ rất tốt. Ông ta ở lâu, khiến Lăng Triệu Nghiêu sinh nghi, sợ Huỳnh Khắc Thành lật mình, cho nên những hứa hẹn này nọ trước đây, ông ta cũng lờ đi luôn.

Huỳnh Khắc Thành ở chờ một lúc, thấy Lăng Triệu Nghiêu có lòng nghi ngờ, nên không muốn tiếp tục ở lại nữa. Ông đi Thiên Tân, Nam Kinh rồi lại đi Vũ Hán, được một người đồng hương tên Lưu Ất Quang giới thiệu, vào làm thiếu úy tổ viên tổ giám thị, thuộc phòng chính huấn của sư đoàn 2 Quốc Dân Đảng, nhiệm vụ cụ thể là trông nom phòng đọc sách.

Một hôm, Huỳnh Khắc Thành và Lưu Ất Quang cùng đi dạo phố, bất ngờ lại đụng đầu với một tên oan gia tại nơi đó. Tên này gọi là Lưu Hùng, con một đại địa chủ ở huyện Vĩnh Hưng, là bạn học cũ của Huỳnh Khắc Thành lúc còn theo học tại Hành Dương, hiện là học sinh sĩ quan trường Hoàng Phố khóa bốn. Lúc bạo động ở phía Nam tỉnh Hồ Nam, nhà họ Lưu bị quần chúng kéo tới tịch thâu hết gia sản, một người anh em của Lưu Hùng, còn bị quần chúng giết chết. Sau ngày bạo động thất bại, nhà họ Lưu tiến hành việc trả thù thẳng tay. Riêng Lưu Hùng đi khắp các nơi, tìm kiếm đảng viên Cộng sản để sát hại, làm đủ thứ chuyện tàn ác. Trước đây không bao lâu, chính hắn là người đã giết Lý Bốc Thành. Đối với Huỳnh Khắc Thành, hắn biết rõ tất cả, và hắn cũng ngày đêm truy lùng để bắn Huỳnh Khắc Thành.

Huỳnh Khắc Thành không chạm mặt thẳng với hắn, mà đôi bên chỉ đi ngang qua, nên không nhận ra nhau. Dù vậy, Huỳnh Khắc Thành muốn lánh mặt cũng không còn kịp nữa. Giữa lúc nguy cấp, Huỳnh Khắc Thành liền nghĩ ra một kế hay. Bèn bước thẳng tới nắm lấy tay Lưu Hùng giả vờ thân mật nói:

— Ô! ông bạn cũ, đã nhiều năm không gặp nhau, chắc cũng khỏe mạnh chứ?

Lưu Hùng không khỏi ngạc nhiên trước sự việc đang xảy ra. Huỳnh Khắc Thành vừa nói, vừa siết chặt tay Lưu Hùng. Lưu Hùng muốn rút tay trở lại, nhưng không thể rút được, nên cũng luống cuống không biết phải làm gì. Huỳnh Khắc Thành nhân lúc hắn không đề phòng, bèn buông tay hắn và lui thẳng vào đám đông, biến mất. Lưu Hùng đang lúng túng muốn đuổi theo, thì Lưu Ất Quang vội vàng nắm tay hắn lại, tìm lời để giằng co với hắn, hỏi han đủ điều, khiến hắn không làm sao thoát thân được. Chờ khi Lưu Hùng bình tĩnh trở lại, thì hai người cũng đã biến mất.

Do lưu lạc nhiều ngày trong khu Quốc dân đảng chiếm đóng, Huỳnh Khắc Thành đã gặp nhiều trường hợp rất nguy hiểm, khiến ông không muốn ở lại lâu dài nữa. Ông đã ý thức được một cách sâu sắc, nếu vẫn tìm công việc chính trị để làm trong quân đội cũ, mà không nắm được binh quyền, thì chẳng khác nào cá nằm dưới thớt, để người ta muốn làm gì thì làm. Cho nên ông tha thiết muốn trở vào khu du kích, để trở lại hồng quân lo chuyện đấu tranh quân sự. Ông thỉnh thị với Trung ương và nhanh chóng được sự đồng ý. Nhờ vậy, ông kết thúc giai đoạn lưa lạc lâu dài trong khu chiếm đóng của Quốc dân đảng. Tháng hai năm 1930, ông xuất phát từ Thượng Hải, đi thẳng tới phía Nam tỉnh Hồ Bắc, để gia nhập vào quân năm của Hồng quân.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:26:18 pm

3. TẠI QUÂN ĐOÀN BA HỒNG QUÂN

Đời sống của Huỳnh Khắc Thành trong những ngày ở tại quân đoàn ba Hồng quân, rõ ràng là một chuỗi ngày khó quên. Sở dĩ nói như vậy, vì không chỉ trong thời gian này, dưới sự lãnh đạo của Bành Đức Hoài, Huỳnh Khắc Thành đã lập được chiến công hiển hách, mà còn do nhân cách chân thành, bộc trực của ông, trời không sợ, đất không kiêng, dù ai cũng dám đụng thẳng, nên ông trở thành một người rất có tiếng tăm. Qua đó, ông đã viết lên cho mình những trang sử huy hoàng. Trong thời gian này, đôi mắt có bệnh của ông bắt đầu ngày một nghiêm trọng, dẫn đến nhiều chuyện buồn cười và nguy hiểm.

Hạ tuần tháng 2 năm 1930, Huỳnh Khắc Thành dẫn ba người tới Võ Huyệt Trấn thuộc tỉnh Hồ Bắc, chuẩn bị đến huyện Dương Tân để tìm quân 5 Hồng quân. Ba người đi theo ông, đều là người mà ông quen biết tại sư đoàn 2 trước đây. Ba người này đều là đại đội trưởng. Ông thấy cả ba đều có kinh nghiệm tác chiến tốt, nên động viên họ cùng đi ra căn cứ để làm hồng quân. Thế là ba người bèn theo ông cùng đi.

Bốn người đều mặc quân phục của Quốc dân đảng, nên trên đường đi được an toàn. Họ thuê một chiếc thuyền nhỏ, chèo qua bờ sông phía Nam, để liên hệ với đặc khu ủy phía Nam Hồ Bắc. Nhưng do họ mặc quân phục Quốc dản đảng, khiến số người mà họ liên hệ sinh nghi ngờ, không bằng lòng móc nối với họ.

Huỳnh Khắc Tliành dù nói đi nói lại mật khẩu nhiều lần, nhưng người ở trạm giao thông vẫn không chịu móc nối. Bốn người không còn cách nào khác, đành phải trở về Vũ Hán.

Khi tới Vũ Hán, một trong ba viên trung đội trưởng không thể chờ đợi được nữa, nên kiên quyết trở về quê hương ở Hồ Nam. Huỳnh Khắc Thành khuyên ông ta nhiều lần, nhưng không có tác dụng, đành để cho ông ta ra đi.

Huỳnh Khắc Thành đang hết sức sốt ruột, thì bỗng có người chủ động đến liên hệ với họ. Người này hỏi họ có phải từ Thượng Hải tới không, rồi đôi bên nói mật khẩu để móc nối nhau. Mọi việc đều thuận lợi. Huỳnh Khắc Thành bèn lấy bức thư giới thiệu từ Thượng Hải mang đến để trình ra. Thế là ngày hôm sau, người này đã dẫn ba người của Huỳnh Khắc Thành đến căn cứ địa du kích ở phía Nam Hồ Bắc, trong lòng rất phấn khởi, dễ chịu. Đến tháng tư Huỳnh Khắc Thành được sắp xếp về trung đội 5 thuộc quân 5 để công tác. Hai người kia cũng được cử làm đại đội trưởng của hai đại đội khác nhau. Chẳng bao lâu, trung đội 5 đến huyện Bình Giang tham gia trận chiến đấu ở tại dây. Cũng ở tại nơi này, Huỳnh Khắc Thành lần đầu tiên gặp Bành Đức Hoài. Sau khi chiến đấu ở Bình Giang, một trong hai người trung đội trưởng theo Huỳnh Khắc Thành tới, nói:

— Xem ra, chúng ta tới đây, thì đừng mong chi còn sống để trở về.

Huỳnh Khắc Thành hỏi ông ta tại sao, ông ta nói:

— Hồng quân đánh giặc gan dạ như vậy, cán bộ phải dẫn đầu làm gương mẫu, nên chúng ta cần phải chuẩn bị hy sinh mạng sống ở đây.

Thì ra, ông ta khi còn ở trong quân đội cũ, vẫn còn thiếu tinh thần làm cách mạng, nên đối với người chỉ huy của Hồng quân vì dũng cám mà quên sự sống chết, là điều mà về mặt tinh thần, ông ta chưa thích ứng nổi.

Huỳnh Khắc Thành nghe vậy, chịu khó khuyến khích, giúp đỡ ông ta, bảo ông ta nên hạ quyết tâm làm cách mạng tới cùng. Về sau, đồng chí này luôn luôn tỏ ra can đảm, và trong trận tấn công huyện Dương Tân, anh bị thương nặng, khi khiêng trở về hậu tuyến, vết thương của anh không còn băng bó nổi nữa. Huỳnh Khắc Thành vội vàng chạy tới thăm anh, và anh chỉ còn nói được một câu:

— Tôi không thể chịu đựng được nữa!

Dứt lời, anh tắt hơi.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:27:17 pm

Người trung đội trưởng thứ hai theo Huỳnh Khắc Thành tới đây, lúc tấn công Trường Sa cũng bị thương nặng, và được đưa về hậu phương để cứu chữa. Về sau, việc thanh trừng trong đội ngũ mở rộng, anh ta sợ quá bỏ trốn mất. Từ đó, rời khỏi hàng ngũ cách mạng. Đến khi giải phóng toàn quốc, anh tỏ ra rất tích cực trong việc cải cách ruộng đất, nên được làm cán bộ cơ sở tại nông thôn. Lúc bấy giờ, Huỳnh Khắc Thành đã là bí thư tỉnh ủy tỉnh Hồ Nam, nên có liên hệ với chính quyền ở đây, nhờ chú ý tới đời sống của anh. Do vậy, về sau anh lại yêu cầu được gia nhập Đảng, Huỳnh Khắc Thành phái người tới điều tra lý lịch, được biết anh này từ căn cứ trốn về thì tới Hà Nam. Trong thời kỳ kháng chiến, anh tham gia quân đội Quốc dân đảng và làm tiểu đoàn trưởng địa phương quân. Huỳnh Khắc Thành phê bình anh:

— Lúc đó Bát lộ quân ở hậu phương địch, tại sao anh không đi tìm để xin gia nhập?

Người ấy nghẹn lời, nhìn nhận mình đã làm sai. Về sau, khi anh về hưu, chính phủ có tặng cho anh một số tiền nghỉ hưu. Tất nhiên đó là việc sau này.

Tháng sáu năm 1930, đội quân 5 Hồng quân được biên chế mở rộng thành quân đoàn ba, Bành Đức Hoài làm quân đoàn trưởng, kiêm bí thư ban chỉ huy tiền phương. Đằng Đại Viễn làm chính ủy. Lúc đó, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đứng đầu là Lý Lập Tam, đã đưa ra nhiều chính sách, yêu cầu phát động những cuộc bạo động tại thành thị trung tâm, và tập trung hồng quân để vây đánh những thành thị này. Tháng bảy, Trung ương đã bố trí tại các thành phố trọng điểm như Nam Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán.... để chuẩn bị phát động những cuộc bạo động tại đây.

Đồng thời, quy định ba quân đoàn hồng quân cắt đứt đường tàu hỏa Vũ Hán - Trường Sa, tiến vào Vũ Hán. Một quân đoàn hồng quân sẽ tiến công Nam Xương, Cửu Giang, để cắt đứt sông Trường Giang, yểm hộ cho sự thắng lợi của Vũ Hán. Các nơi khác hồng quân cũng phải hỗ trợ.

Khi chỉ thị của Trung ương truyền đạt tới quân đoàn ba Hồng quân được đa số cán bộ ở đây tán đồng. Nhưng Huỳnh Khắc Thành nghe qua, cảm thấy nó làm sao ấy. Ông dự cảm tình hình không phải thuận lợi như đã phân tích. Ông cho rằng, hiện giờ mà tiến hành chiếm lấy những thành phố trung tâm là không thiết Ihực. Cho nên ông đã viết cho Bành Đức Hoài một lá thư, nói rõ những lý do không thể tấn công chiếm những thành phố lớn.

Bành Đức Hoài cũng cảm thấy lực lượng của hồng quân không đủ sức để tiến chiếm Vũ Hán, nên cho quân tiến về phía Nam tỉnh Hồ Nam, chiếm lĩnh Nhạc Dương, Bình Giang. Tại Bình Giang, ban chỉ huy tiền phương của quân đoàn ba Hồng quân, tỉnh ủy Hồ Nam, đặc khu ủy Tương Ngạc Cán (tức Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây) cùng mở hội nghị liên tịch, thảo luận kế hoạch hành động sắp tới. Người trong quân đội hầu hết yêu cầu tấn công Vũ Hán, nhưng một số người ở tỉnh ủy Hồ Nam, thì cho rằng nên đánh lấy Trường Sa trước, rồi mới tiến công Vũ Hán sau. Hai phái giằng co không dứt khoát. Huỳnh Khắc Thành bèn phát biểu tại buổi họp này, phản đối đánh chiếm các thành phố trung tâm. Ông nói, hiện nay nêu lên vấn đề đánh chiếm Vũ Hán là chưa hiện thực, vì trước mắt, chúng la chưa đủ những điều kiện để chiếm đóng Vũ Hán. Ông chỉ rõ thêm, Trường Sa không phải không thể đánh, nhưng không phải dùng bạo lực để đoạt lấy Trường Sa, mà cũng không thể đánh Trường Sa trước, rồi đánh Vũ Hán sau, mà chỉ có thể dùng hình thức hoạt động du kích, để tìm cách hấp dẫn quân đội địch từ trong thành phố Trường Sa kéo ra đánh dã chiến với ta, rồi ta tiêu diệt họ. Nếu thắng được họ, thì thừa cơ đánh chiếm Trường Sa. Như vậy, có thể mở rộng ảnh hưởng chính trị, và mở rộng quân đội, cũng như đạt được mục đích gây quỹ.

Ý kiến của ông làm cho những người dự hội nghị tức giận. Họ đều phê bình một cách nghiêm khắc, quân điểm đó chính là chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh. Kết quả ý kiến của ông không được chấp thuận, và làm cho những người lãnh đạo cho rằng, trạng thái tư tưởng của ông hiện nay không còn thích hợp công tác lãnh đạo quan trọng. Do vậy, ông bị triệt tiêu ý định giao cho ông làm chính ủy của quân đội, mà quyết định ông vẫn tiếp tục làm chính ủy ở chi đội hai, thuộc tung đội ba. Về sau, khi cải biên tại Trường Xuân, ông cũng vì mấy lần phát biểu bị cho rằng là người có ngôn luận hữu khuynh, không thích hợp giữ vai trò lãnh đạo cấp sư đoàn, nên đã điều ông làm chính ủy đoàn ba, thuộc sư bốn của quân tám.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:27:58 pm

Sau hội nghị liên tịch tại Bình Giang, quân đoàn ba Hồng quân thừa cơ địch sơ hở, đánh vu hồi về phía thành phố Trường Sa. Và đã bao vây quân địch tại Tấn Khanh, cách phía Nam Bình Giang hai mươi dặm. Đôi bên đánh nhau từ sáng sớm cho tới chiều tối, Hồng quân mở nhiều đợt xung phong, và cuối cùng đánh bại quân địch.

Trong trận chiến đấu này, Huỳnh Khắc Thành lại gặp một sự nguy hiểm. Đôi kính cận mà ông đeo, suýt nữa đã hại ông. Ngay từ lúc còn đi học tại huyện lỵ, là ông đã mang kính cận rồi. Việc đó rất bất tiện trong khi hành quân tác chiến. Trong trận đánh Tấn Khanh, đôi bên giao phong không bao lâu, thì chi đội trưởng mất liên lạc với bộ đội. Huỳnh Khắc Thành bèn tiến hành chỉ huy một mình. Lúc bấy giờ là mùa hè, trên mặt ông mồ hôi nhễ nhại. Vì vậy, trên đôi kính cũng dính lấm tấm mồ hôi, khiến tầm nhìn của ông bị hạn chế.

Nhưng lúc đó đôi bên đánh nhau đang căng thẳng, Huỳnh Khắc Thành không đủ thời giờ để ý tới mắt kính của mình, cứ chỉ huy bộ đội xung phong về phía trước. Riêng ông cũng lao tới không hề do dự. Và khi đôi bên thấy rõ nhau, ông mới nhận ra bao nhiêu miệng súng đen ngòm đang chĩa về mình, sẵn sàng nhả đạn. Huỳnh Khắc Thành hoảng hốt, ý thức được đó là kẻ dịch. Ông thoáng do dự, rồi quay về phía họ vẫy tay, miệng la lớn:

— Đừng có bắn!

Nhưng lời nói của ông vừa dứt, thì bao nhiêu khẩu súng đều nhất tề nhả đạn. Huỳnh Khắc Thành vội vàng té xuống đất, và lăn tròn theo sườn núi. Ông nghe tiếng đạn rít ngang tai mình vèo vèo, cho rằng phen này chắc chắn sẽ chết. Nhưng khi lăn tới chân núi, ông mới thấy ngoài mắt kính, mũ, và cặp da bị mất hết, bản thân ông vẫn nguyên vẹn không hề bị trúng đạn. Nhưng vì không còn mắt kính, ông nhìn cảnh vật chung quanh đều mơ hồ, không thấy gì rõ ràng nữa, và cũng không nhận ra phương hướng. Ông đành phải sờ soạng để đi tới. Trời cũng sắp tối tới nơi, ông bò ra một bìa rừng sát công lộ, thấy có rất nhiều người đang chạy theo công lộ la ó. Ông định thần nhìn kỹ, thấy những người đó đều đeo băng tay, biết họ là quân đội của mình, nên mới dám leo lên công lộ để tìm bộ đội. Thì ra, quân địch đã bị đánh bại, và Hồng quân đang ra sức truy kích chúng.

Về sau ông mới biết, mình từ trên đỉnh đồi lăn xuống chân đồi, người cảnh vệ cho rằng ông đã trúng đạn hy sinh, nên trở về bộ đội báo cáo. Kịp khi ông lò mò về tới bộ đội, thì mọi người vừa giật mình, lại vừa mừng rỡ.

Chống "AB đoàn" là một sự kiện trọng đại trong thời gian Huỳnh Khắc Thành ở tại quân đoàn ba.

"AB" là từ viết tắt của Anti-Bonchevik. "AB đoàn" là một tổ chức chống cách mạng, do Tưởng Giới Thạch sai Từ Quả Phu gợi ý cho Đoàn Tích Bằng và Trình Thiên Phóng thành lập tại Nam Xương, sau ngày quân Bắc phạt chiếm Nam Xương hồi năm 1926. Mục đích của tổ chức này là chống Đảng Cộng sản, đoạt lại quyền lãnh đạo ở Giang Tây. Đến tháng tư năm 1927, Đảng Cộng sản lãnh đạo quần chúng tấn công vào đoàn thể này, và tự nó đã bị giải thể. Từ đó trở đi, không còn ai nhắc tới nữa. Tuy nhiên, tại căn cứ cách mạng Trung ương, về sau lại xuất hiện vấn đề "AB đoàn". Và bắt đầu có cuộc thanh trừng nội bộ, gây ra một sự tổn thất lớn lao.

Quân đoàn ba sau khi rút khỏi Trường Sa, thì vào tháng tám năm 1930, cùng hợp điểm với quân đoàn một do Mao Trạch Đông và Chu Đức chỉ huy, thành lập phương diện quân một, thuộc Hồng quân công nông của Trung Quốc. Chu Đức được cử làm tổng tư lệnh, Mao Trạch Đông làm tổng chính ủy. Tư lệnh quân đoàn một do tư lệnh phương diện quân kiêm nhiệm. Quân đoàn ba vẫn do Bành Đức Hoài làm quân đoàn trưởng, Đằng Đại Viễn làm chính ủy. Sau khi phương diện quân một thành lập, bèn rút lui ra khỏi trung tâm căn cứ địa của Trung ương. Lúc đó thì xuất hiện vấn đề thanh trừng "AB đoàn".

Tháng mười năm 1930, sau khi quân đoàn một Hồng quân đánh chiếm được Cát An, phát hiện một số tư liệu nói tới "AB đoàn", trong đó có dính líu một số cán bộ thuộc "Tỉnh ủy Giang Tây" và "Đặc ủy phía Tây Nam Giang Tây". Dựa vào đó, bí thư đảng ủy tiền phương của phương diện quân cho rằng tổ chức Đảng ở Tây Nam tỉnh Giang Tây, tồn tại "nguy cơ hết sức quan trọng, cần phải cải tạo căn bản một lần".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:28:36 pm

Đầu tháng mười hai, đảng ủy tiền phương phái Lý Thiều Cửu, trưởng phòng chính vụ của Tổng Cục chính trị, đến tỉnh ủy Giang Tây và chính phủ Xô Viết của tỉnh đóng tại Phú Điền, thực hiện việc thanh trừng, hy vọng "tìm được những đầu mối để phá vỡ tổ chức này". Lý Thiều Cửu đến Phú Điền, liền dùng thủ đoạn ép cung, tiến hành bắt bớ tại tỉnh ủy, và chính phủ Xô viết tỉnh, cũng như tại cơ quan đặc ủy Tây Nam tỉnh Giang Tây. Họ đã khai thác và bức cung những người bị bắt. Sau đó, Lý Thiều Cửu lại dựa vào những tờ cung giả này để bắt người, khiến một số đông cán bộ ưu tú của tỉnh Giang Tây bị bắt bớ, làm cho các cấp trên dưới đều sợ hãi, ai ai cũng cảm thấy mình sắp bị bắt tới nơi.

Lúc đó xảy ra hai sự kiện không vui. Một là có một số cán bộ phụ trách tỉnh ủy Giang Tây, và quân 20 Hồng quân, giả mạo bút tích của Mao Trạch Đông viết thành một bức thư bảo là của Mao Trạch Đông gửi cho bí thư Cỗ Bách, vu cho Chu Đức, Bành Đức Hoài, Huỳnh Công Lực là chủ phạm của "AB đoàn", âm mưu chia rẽ Hồng quân, cũng may Bành Đức Hoài biết được, nên mới ngăn chặn không để xảy ra đại họa này.

Một sự kiện không vui khác, là những người này khích động Hồng quân số hai mươi, bắt giữ Lưu Thiều Cửu, buộc thả ra tất cả những người bị Lưu Thiều Cửu bắt, rồi đưa Hồng quân số hai mươi đến phía Tây Cán Giang, hoạt động tại vùng Vĩnh Tân và Liên Hoa. Họ còn nêu ra khẩu hiệu "đả đảo Mao Trạch Đông, ủng hộ Chu, Bành, Huỳnh". Đó là "sự biến Phú Điền" nổi tiếng.

Sau "sự biến Phú Điền", Đảng ủy tiền phương của phương diện quân hết sức sợ hãi, cho rằng đó là “AB đoàn" nội công ngoại kích, tiến tới công khai phản loạn, do vậy đề ra "sách lược kiên quyết tiến công". Những người phụ trách đảng ủy tiền phương và phương diện quân lần lượt phát biểu tuyên ngôn và thư ngỏ, hiệu triệu phản kích đối với sự biến trên. Mao Trạch Đông còn khởi thảo một bố cáo "thảo nghịch" bằng thể văn sáu chữ như: "Đoàn, Tạ, Lưu, Lý phản nghịch, phản biến nổi tại Phú Điền, đuổi đi Tăng Tam chủ tịch, bắt giữ trung ương ủy viên, phản đối công nông Hồng quân, phản đối chia đất chia ruộng..."

Từ đó trở đi, dưới khẩu hiệu "giai cấp quyết chiến", việc đấu tranh thanh trừng tại căn cứ địa ngày một leo thang. Chẳng những rất nhiều người bị gán là "AB đoàn", mà nhiều cán bộ địa phương ở Giang Tây cũng bị thanh trừng. Như Hồ Xán, Đoàn Khởi Phượng, là những lãnh tụ quần chúng rất được quần chúng tin yêu, đều bị bắt và bị sát hại. Nhất thời, nhân tâm tại tỉnh Giang Tây đều hoang mang, tinh thần chiến đấu tụt xuống hẳn.

Sau đó, Trần Nghị từng nói lại cho Huỳnh Khắc Thành biết, khi giết xong Hồ Xán, thì quần chúng địa phương không ai không rơi lệ, khóc thương, mẹ của Hồ Xán gặp Trần Nghị hỏi thẳng:

— Con trai tôi phạm tội gì? Tại sao các anh giết chết nó?

Câu hỏi này làm cho Trần Nghị phải câm như hến. Riêng trong cuộc thanh trừng này, Lý Thiều Cửu, một cán bộ làm nhiều điều phi pháp, bắt người ta rồi ép cung, khiến Trần Nghị lấy làm căm tức. Chính Trần Nghị đã nói cho Huỳnh Khắc Thành biết, với một giọng nói vẫn còn tức giận: "Đó là một tên bất lương! Sau khi chủ lực của Hồng quân tiếp tục cuộc trường chinh và kéo đi, thì chúng tôi đã xử nó rồi!"

Trong đợt tiến hành đánh "AB đoàn", Huỳnh Khắc Thành cũng phải tuân theo chỉ thị của Trung ương, thanh trừng không ít người trong đoàn ba, sư bốn của mình. Trong số tám chín trăm người của một đoàn, nhất thời đã khử đi hơn một trăm người. Tuy nhiên, như vậy hãy còn là ít. Có nhiều đơn vị, gần như khử hết các chiến sĩ là người gốc Giang Tây. Việc làm đó khiến Hồng quân bị tổn thất rất nghiêm trọng.

Sau mấy mươi năm, nhìn lại giai đoạn lịch sử này, Huỳnh Khắc Thành cảm thấy hết sức đau lòng và xấu hổ:

"Trong hành động sai lầm mở rộng việc thanh trừng "AB đoàn" này, đối với sự nguy hại do "AB đoàn" hiện diện, cũng như đối với khẩu hiệu "giai cấp quyết chiến", và cái gọi là "địa chủ phú nông chui vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại", tôi tin là một sự thật. Không có chi đáng nghi ngờ. Và đối với chỉ thị cũng như sự bố trí của cấp trên, tôi hoàn toàn tự giác tuân hành, do đó, đã tạo ra nhiều sai lầm mà suốt cả cuộc đời mình hãy còn ân hận. Đến nay nhớ lại, trong lòng tôi vẫn còn hết sức đau xót. Nếu tính món nợ này với lịch sử, thì chiếc đầu trên cổ của Huỳnh Khắc Thành tôi, không đủ để trả. Do bài học quá đau thương về sự sai lầm đó, khiến tôi khắc cốt ghi xương, suốt đời không quên được. Cho nên từ đây về sau, nếu gặp những phong trào chính trị kiểu thanh trừng, chỉnh người chẳng hạn, thì tôi không bao giờ nhắm mắt nghe theo".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:29:52 pm

Huỳnh Khắc Thành là một con người đầu đội trời, chân đạp đất, quang minh lỗi lạc. Trong cả cuộc đời của ông, những chuyện đáng hổ thẹn đối với lương tâm không nhiều, nhưng chuyện này, quả là một sự đả kích to tát đối với ông, khiến ông phải suốt đời ân hận.

Quả nhiên ông không xấu hổ với lời hứa của mình. Trước khi xẩy ra việc quân Quốc dân đảng bao vây tảo thanh lần thứ ba, thì lại tiến hành thanh trừng đánh "AB đoàn" lần thứ hai trong Hồng quân. Huỳnh Khắc Thành bắt đầu có ý thức về việc này, nên tiến hành tẩy chay nó. Nhưng quyền lực ủy ban thanh trừng rất lớn, họ thường bắt những chiến sĩ hoặc cán bộ ở bất cứ đơn vị nào mang đi. Có một lần, ủy viên thanh trừng trao cho sư đoàn ba một danh sách, gọi là các phần tử "AB đoàn". Huỳnh Khắc Thành lúc đó là chính ủy của sư đoàn ba, kiên quyết không cho bắt người. Ông nói:

— Trước đây bảo là địa chủ phú nông chui vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại, nên cần phải tiến hành giai cấp quyết chiến, nhưng những người mà các vị đã bắt, không ai là địa chủ phú nông cả, trái lại, họ hoàn toàn là những cán bộ do chúng tôi bồi dưỡng lên. Vậy, tại sao họ lại phản cách mạng?

Ủy ban thanh trừng chỉ vào danh sách nói:

— Đã có người khai ra họ, vậy nhất định phải bắt để thẩm tra.

Huỳnh Khắc Thành nhìn vào danh sách, thấy trong đó hầu hết là cán bộ cấp trung đội. Trong số này lại có hai chính trị viên trung đội, một người tên gọi Thạch Nguyên Tường, một người tên gọi Tăng Bân Nông, bình thường tỏ ra rất đường hoàng, khi đánh giặc lại can đảm xung phong. Thế là Huỳnh Khắc Thành quyết tâm đem giấu họ trên khu núi gần đó, và mỗi ngày cử người đem cơm tới cho họ ăn.

Dù vậy, nhóm người trong ủy ban thanh trừng vẫn phát hiện. Lúc đó đang cần nhiều chiến sĩ chiến đấu, nên Huỳnh Khắc Thành gọi hai người xuống núi để đánh giặc. Ông chuẩn bị đánh giặc xong thì đưa họ lên núi trốn tiếp. Hai người này đều tỏ ra bằng lòng hy sinh ngoài mặt trận, chứ không thể để bị bắt qua cuộc thanh trừng, hoặc làm một tên đào binh. Thái độ của họ khiến Huỳnh Khắc Thành rất cảm động. Ủy ban thanh trừng nhân lúc cuộc chiến đấu vừa kết thúc, liền tới bắt hai người mang đi, và đã nhanh chóng giết chết cả hai.

Huỳnh Khắc Thành hết sức đau đớn, bèn chất vấn ủy ban thanh trừng, tại sao lại giết hại bừa bãi những người vô tội. Ông đã cãi vã với họ rất kịch liệt. Do vậy, số người của ủy ban thanh trừng lại hoài nghi ông có vấn đề chính trị, nên quyết định bắt ông để thẩm vấn.

Bành Đức Hoài biết được tin này, lập tức tới hiện trường hỏi số người đó tại sao bắt chính ủy của mình. Ủy ban thanh trừng không có đủ bằng cớ chứng tỏ Huỳnh Khắc Thành là "AB đoàn", nên bảo Huỳnh Khắc Thành là phần tử có chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh. Bành Đức Hoài tức giận nói:

— Nếu là phần tử có tư tưởng cơ hội hữu khuynh, thì có thể phê bình đấu tranh, chứ làm sao bắt giết người ta được?

Ủy ban thanh trừng đuối lý, đành phải thả Huỳnh Khắc Thành ra. Nhờ đó mà Huỳnh Khắc Thành thoát nạn. Nhưng chức vụ chính ủy sư đoàn ba của ông bị thu hồi (chẳng bao lâu sau, ông lại làm chính ủy sư đoàn một). Không ngờ sự kiện này về sau còn trở thành một công án. Năm 1959, tại hội nghị Lư Sơn, có người bảo Huỳnh Khắc Thành sở dĩ ủng hộ "thư góp ý" của Bành Đức Hoài là vì muốn trả cái ơn cứu mạng. Nhưng, trong hồi ức của Huỳnh Khắc Thành, ông cho biết mãi đến trước khi hội nghị Lư Sơn, ông không hề biết trước đây Bành Đức Hoài đã từng cứu ông.

Đối với những người phụ trách thanh trừng "AB đoàn", Huỳnh Khắc Thành, trong quyển hồi ức của mình, đã chân thành, và công bằng phát biểu cách đánh giá của mình. Ông từng cùng với Hà Đốc Tài, khoa trưởng khoa tuyên truyền của sư đoàn nói chuyện. Hà Đốc Tài tham gia cách mạng rất sớm, nhưng do trong hội nghị Cổ Điền phản đối Mao Trạch Đông, nên từ đó về sau không được trọng dụng. Ông chỉ được giữ chức khoa trưởng tuyên truyền trong sư đoàn. Rõ ràng ông là người điển hình về chức vụ nhỏ mà tài năng lớn. Ông từng nói với Huỳnh Khắc Thành, Mao Trạch Đông là người rất giỏi. Nói về làm việc, thì không ai có thể vượt qua Mao Trạch Đông, nói về chủ trương chính trị, thì Mao Trạch Đông luôn luôn có những chủ trương đúng đắn.

Huỳnh Khắc Thành bèn hỏi, nếu vậy tại sao ông lại đứng về phía người phản đối Mao Trạch Đông?

Hà Đốc Tài cho biết, ông không phản đối đường lối chính trị của Mao Trạch Đông, mà phản đối đường lối tổ chức của ông này.

Huỳnh Khắc Thành có vẻ lấy làm lạ, hỏi:

— Đường lối chính trị đúng đắn, vậy đường lối tổ chức có sai sót chút đỉnh, thì đâu đáng kể?

Hà Đốc Tài nói:

— Không được! Đường lối chính trị và đường lối tổ chức không cho phép có chỗ sai sót, không thể "tả" mà cũng không thể "hữu".

Huỳnh Khắc Thành hỏi:

— Ông cho đường lối tổ chức của Mao Trạch Đông có vấn đề gì?

Hà trả lời:

— Mao Trạch Đông chỉ tin dùng những người phục tùng mình, mà đối với những người có ý kiến khác mình, thì lại không xem như vậy. Ông là người có quyết tâm to, và có bàn tay không tình cảm, cho nên không bằng sự khoan hậu, thành khẩn của Chu lão tổng (muốn nói Chu Đức). Thí dụ con người của Lý Thiều Cửu, có phẩm chất rất xấu, thế mà chỉ biết phục tùng cá nhân, nên dối gạt được sự tín nhiệm, từ đó được trao cho những việc làm quan trọng, và có quyền lực lớn. Kết cục, khi làm hư việc, cũng không bị truy cứu. Đường lối tổ chức như vậy, thì làm sao để người ta phục được?


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:30:41 pm

Huỳnh Khắc Thành cho rằng: Đối với những lời nói đó của Hà Đốc Tài phải một năm sau tôi mới thấy được một phần lý lẽ trong đó. Thì ra, Mao Trạch Đông đối với quân dân trong khu căn cứ địa cách mạng Trung ương, đã có uy tín rất cao, mọi người đều công nhận đường lối chính trị, quân sự của Người là đúng đắn. Thế nhưng, sau khi Trung ương lâm thời từ Thượng Hải vào khu Xô viết Trung ương, thì lại đoạt lấy quyền hành từ trong tay của Mao Trạch Đông một cách quá dễ dàng, và thay vào đó, là đường lối chính trị quân sự sai lầm. Sở dĩ đưa tới như vậy, một nguyên nhân quan trọng, là các đồng chí trong khu Xô viết, tin tưởng ở Trung ương mà ra. Nhưng, nếu không phải Mao Trạch Đông có những sai sót về mặt tổ chức, để mất đi một số nhân tâm, thì muốn Trung ương tại khu Xô viết bài xích Mao Trạch Đông, tất nhiên cũng không phải dễ dàng.

Đồng thời, Huỳnh Khắc Thành đối với Mao Trạch Đông, về sau có sự thay đổi cũng đánh giá rất cao: "Về sau, đồng chí Mao Trạch Đông khi thẩm tra cán bộ tại Diên An, có đề xuất mấy phương châm như "Một người cũng không giết, số đông cũng không bắt", "Chú trọng chứng cứ, không dễ tin khẩu cung", chính là sự tổng kết sâu sắc đối với bài học bi thảm đó. Khi đã có những nguyên tắc như vậy, thì về sau trải qua những cuộc vận động chính trị, sẽ không còn chém đầu, mà lại chừa một con đường, để sau này người bị oan có dịp được minh oan. Như vậy, không thể không nói là một quyết sách trọng đại". Về sau, Trần Nghị cũng từng nói với Huỳnh Khắc Thành: "Chỗ vĩ đại của Mao Trạch Đông là ông không phạm lỗi lầm hai lần".

Theo đà Hồng quân phát triển nhanh chóng tại vùng Giang Tây, Phúc Kiến, Tưởng Giới Thạch đối với căn cứ địa của trung ương, đã phát động hàng loạt cuộc bao vây tảo thanh.

Tháng mười năm 1930, Quốc dân đảng nối tiếp điều động hơn mười vạn quân dùng Lỗ Địch Bình làm tổng chỉ huy, phát động bao vây tảo thanh căn cứ địa của trung ương lần thứ nhất, kết quả bị Hồng quân đánh cho đại bại. Sư trưởng của địch là Trương Huy Toán, bị Hồng quân bắt sống và xử tử.

Sau vụ bao vây tảo thanh thất bại, Tưởng Giới Thạch bèn nghĩ ra một âm mưu, thủ đoạn, mà trước đây đã dùng đối phó với quân phiệt, định đối phó với hồng quân, tức là phái người đi dụ hàng các tướng lãnh cao cấp của Hồng quân, làm cho nội bộ Hồng quân bị chia rẽ, để không cần đánh mà tự Hồng quân cũng phải thua.

Lúc đó, có xảy ra một chuyện như thế này: Một hôm, tại doanh trại của Huỳnh Công Lược, quân trưởng quân ba Hồng quân, có một người anh cùng cha khác mẹ, tới dụ hàng tướng này theo lệnh của Tưởng Giới Thạch, hứa ban cho Huỳnh Công Lược chức tước cao và bổng lộc hậu. Huỳnh Công Lược chẳng những không bằng lòng, mà còn đem việc này báo cáo lại cho Mao Trạch Đông, và Chu Đức nghe. Đồng thời, ông ta đem người anh của mình ra chém chết. Chuyện đó được giữ bí mật, không truyền ra ngoài, nên Tưởng Giới Thạch cho rằng thuyết khách của hắn đã đứng vững chân trong khu căn cứ địa. Thế là, Tưởng Giới Thạch lại phái người chú của Huỳnh Công Lược, vào căn cứ địa với ý đồ dụ hàng Bành Đức Hoài.

Ngày hôm đó, người chú của Huỳnh Công Lược dẫn một tên lính cần vụ, chễm chệ đi vào ngoại ô thành Lê Xuyên, và bị quân tuần tiểu của sư ba bắt được. Hắn bị đưa về đến sư đoàn bộ, nói rõ thân thế của mình, yêu cầu được gặp Bành Đức Hoài, bảo là có chuyện quan trọng cần thương lượng. Huỳnh Khắc Thành lập tức đánh điện cho sư đoàn bộ của Bành Đức Hoài được biết:

— Có một người họ Huỳnh, hiện ở tại sư đoàn bộ của tôi, muốn gặp đồng chí. Tôi thấy người này có vẻ không tốt.

Bành Đức Hoài nghe xong, nói:

— Tôi biết rồi, vậy đồng chí hãy phái người dẫn anh ta tới đây.

Huỳnh Khắc Thành bèn phái người đưa người chú của Huỳnh Công Lược tới quân đoàn bộ. Bành Đức Hoài đã có sự tính toán trước, nên trước tiên khoản đãi rất trọng hậu. Ông bày tiệc để cùng uống rượu với hắn. Trong tiệc, chỉ có hai người ngồi với nhau. Bành Đức Hoài luôn rót rượu mời hắn để tìm hiểu ý đồ của hắn đến đây làm gì. Sau ba tuần rượu, lão già đã ngà ngà say, bèn nói thật mình phụng mệnh Tưởng Giới Thạch, vào đây để dụ hàng. Lão nói nếu Bành Đức Hoài chịu hàng, thì sẽ có chức tước cao, bổng lộc hậu.

Sau tiệc rượu, Bành Đức Hoài đưa hắn ra phía sau để nghỉ ngơi, và phái người canh gác kỹ lưỡng. Đồng thời, ông lại gọi điện cho Huỳnh Khắc Thành, bảo hãy chém đầu tên thuyết khách này, rồi đưa thủ cấp cho tên lính cần vụ mang về.

Huỳnh Khắc Thành thi hành theo lệnh của Bành Đức Hoài, cho người áp giải lão già tới sư đoàn bộ, rồi xử tử. Xong, chặt đầu hắn và dùng vôi bột để muối cho khỏi bị sình thối, để vào một cái giỏ phong kín lại, giao cho tên lính cần vụ đi theo, mang trở về. Tưởng Giới Thạch nhận thủ cấp mới biết mình bị mắc lừa, và nhận ra Hồng quân không phải dễ dụ dỗ như bọn quân phiệt. Do vậy, ông ta bèn phát động những cuộc bao vây tảo thanh lần thứ hai, lần thứ ba...


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:31:45 pm

Trong lần tảo thanh thứ ba, Huỳnh Khắc Thành lại gây ra một trò cười. Vì để giành phần chủ động, dụ địch bám theo mình, nên Hồng quân ở căn cứ địa đã di chuyển lòng vòng rất xa. Việc này làm cho Huỳnh Khắc Thành mệt nhọc, vì phải đi đứng nhiều. Ông đi đến đôi giày cỏ cũng bị rách nát. Cho nên phải đi chân không. Lúc đầu đi chân không, đạp phải ngó tranh đâm rất đau, hoặc đạp phải gai góc, cũng đau thấu tận đầu. Nhưng sau một thời gian, da chân ông chai dần, không còn có cảm giác gì nữa.

Một hôm, Huỳnh Khắc Thành đang hành quân, bỗng thấy trên trời có máy bay địch xuất hiện, thế là ông ra lệnh cho bộ đội của mình tìm chỗ ẩn núp. Máy bay địch ném bom và xạ kích như điên cuồng. Huỳnh Khắc Thành thấy trên đầu mình có một trái bom nặng ký đang rơi xuống, bèn vội vàng bỏ chạy để tránh. Không ngờ, khi ông chạy được chừng bốn mươi mét, quả quả bom lại rơi xuống sát bên cạnh ông, làm ông giật mình đánh thót, trong lòng tự nhủ, phen này là hết mạng rồi. Nhưng không ngờ quả bom ấy vẫn êm ru không nổ. Chừng đó, Huỳnh Khắc Thành mới hú hồn, và cho rằng mạng mình chưa tận số.

Ngoài ra, còn cặp kính quỉ quái của ông nữa. Lúc hành quân, nếu có trăng thì còn đỡ, gặp khi trời tối đen, Huỳnh Khắc Thành cũng giống như một người mù. Lúc đó, ông chỉ còn một biện pháp duy nhất, là lấy khăn cột vào cổ, để cho cảnh vệ kéo mình đi.

Lại một lần nọ, Huỳnh Khắc Thành đang đi, bỗng phát hiện ở phía trước đứng lại, nên vội vàng vỗ vai người bên cạnh, hối:

— Mau đi tới! Mau đi tới!

Chẳng ngờ hành động của ông đã làm cho mọi người cười ồ. Thì ra, ông tưởng mình vỗ vào vai của một binh sĩ, nào ngờ mình đang vỗ vào mông của một con lừa!

Có khi một vài chiến sĩ trẻ, cũng bạo gan đùa giỡn với người chính ủy hiền hòa của mình. Một lần nọ, một chiến sĩ trẻ bước nhanh tới bên cạnh Huỳnh Khắc Thành nói:

— Thưa chính ủy, bây giờ như thế này nhé! Tôi đi trước để hướng dẫn. Tôi đi thế nào, thì đồng chí đi thế ấy. Tôi giống như là con mắt của đồng chí vậy!

Huỳnh Khắc Thành rất cảm động, nên vui vẻ bước theo anh ta. Phía trước rỏ ràng mặt đất bằng phẳng, thế mà anh ta lại nhảy tưng lên, như là nhảy qua một cái khe nhỏ. Huỳnh Khắc Thành thấy vậy, cũng nhảy tưng lên. Một chốc, người lính trẻ cũng đi trên mặt đất bằng, nhưng lại đi vòng tròn như tránh một tảng đá to. Huỳnh Khắc Thành cũng đi vòng tròn với một thái độ nghiêm túc. Các chiến sĩ thấy vậy, đều phá lên cười. Chừng đó, Huỳnh Khắc Thành mới biết anh lính trẻ chọc quê mình, nói:

— Anh là một thằng rắn mắt! Tôi không đi theo anh nữa đâu!

Thế là một trận cười chung quanh lại vang lên.

Sau lần thắng lợi của Hồng quân, qua trận chống bao vây càn quét lần thứ ba, chủ nghĩa tả khuynh mạo hiểm bắt đầu lộ ra về mặt quân sự. Ngày chín tháng Giêng năm 1932, Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Trung Quốc ra quyết nghị, đối với tình hình trước mắt, đánh giá quá lạc quan. Cho nên quyết nghị quy định chủ lực Hồng quân ở phía Nam Trường Giang, phải chiếm lấy những thành phố trung tâm như Cát An, Phủ Châu, Nam Xương v.v... thuộc vùng lưu vực sông Cán Giang. Còn chủ lực Hồng quân ở phía Bắc Trường Giang, thì tấn công, tạo thế uy hiếp Vũ Hán, và vùng hạ du sông Trường Giang, cũng như uy hiếp Bình Hán. Căn cứ chỉ thị của Trung ương, vào tháng hai, Hồng quân bắt đầu tấn công Cán Châu.

Quân đoàn số ba Hồng quân chịu trách nhiệm chủ công trong chiến dịch. Sư đoàn một do Huỳnh Khắc Thành làm chính ủy, chịu trách nhiệm tấn công thành. Ông vốn có thái độ phản đối chiến dịch này, nên khi đến phía dưới chân thành Cán Châu xem qua, thấy địa hình đối với mình thật bất lợi, cảm thấy trận đánh này thật khó tiến hành. Cho nên sau khi tấn công thành gặp trở lực, ông liền báo cáo về quân đoàn mấy lượt bằng thư, yêu cầu rút bỏ vòng vây. Thậm chí, có khi ông còn phê bình Bành Đức Hoài là ba phải, nhưng không ai để ý tới ý kiến của ông.

Sau khi viện binh của địch đến, quân địch từ trong thành nhân đêm tối phản công ra ngoài. Bọn viện binh ở ngoài thành cũng hợp đồng tấn công, làm cho hồng quân trước mặt và sau lưng đều bị địch đánh. Qua tình hình đó, Huỳnh Khắc Thành nhận ra thật là nguy hiểm, nên vội vàng ra lệnh rút lui. Khi ông thấy một tiểu đoàn trưởng không chịu rút lui, bèn nói, anh hãy mau rút lui cho tôi, tất cả mọi chuyện tôi chịu trách nhiệm. Chừng đó, mọi người mới chịu rút lui, và giảm thiểu những tổn thất không cần thiết.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:32:31 pm

Quân đoàn ba lúc đó thấy quyết sách của ông là đúng đắn, nên cũng không trách phạt gì. Nhưng đến tháng ba, Cục chính trị của quân đoàn mở cuộc họp, thì lại tiến hành phê bình Huỳnh Khắc Thành, bảo ông không chịu tấn công thành phố trung tâm, chính là phản đối đường lối Trung ương. Hội nghị lại bảo ông chủ trương đánh những lực lượng nhỏ ở địa phương, để mở rộng căn cứ địa, và việc chống chính sách thổ địa quá "tả" của Trung ương, là chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh. Ông bất phục, liền cãi nhau dữ dội với những người phê bình. Từ đó trở đi, ông lại bị nhiều lần phê phán. Đến tháng mười năm 1932, sau hội nghị Ninh Đô, đường lối chánh trị của Mao Trạch Đông bị phê phán, và Huỳnh Khắc Thành cũng bị tập trung phê phán luôn. Chức chính ủy sư đoàn của ông bị triệt tiêu, và bị phái tới tiểu đoàn huấn luyện để công tác.

Tháng chín năm 1933, Tưởng Giới Thạch điều động một triệu quân đội, để bao vây càn quét Hồng quân Trung ương. Lúc đó, người chỉ huy Hồng quân tại căn cứ địa cách mạng Trung ương là cố vấn quân sự Quốc tế cộng sản Lý Đức. Ông này thích đánh đột kích và diệt nhanh, nên yêu cầu Hồng quân phải đánh theo lối chính qui. Dùng hình thức trận địa chiến để đối đầu với quân Quốc dân đảng. Khi mở màn cuộc bao vây cuộc tấn công lần thứ năm của địch, ông đã đề xuất mấy phương châm sai lầm là "bảo vệ từng tấc đất của khu Xô viết", "chặn địch ở ngoài cổng không cho vào". Phương châm này đã làm cho Hồng quân bị thiệt hại nặng và gặp nhiều khó khăn sau đó. Đối với những phương châm sách lược sai lầm đó, Huỳnh Khắc Thành ý thức được rất nhanh. Việc không hạ được Tiêu Thạch, Hử Loan, đã cho ông thấy tương lai của Hồng quân không sáng sủa. Về sau, qua trận chiến đấu tại Đoàn Thôn nằm về phía Nam Lê Xuyên, càng giúp cho ông kiên định sự nhận thức đó.

Trong cuộc chiến đấu này, Huỳnh Khắc Thành làm chính ủy sư bốn. Khi quân địch kéo từ thành Lê Xuyên tiến về Đoàn Thôn, Hồng quân đã dùng lối đánh thẳng, đánh mạnh, và đánh tan quân địch, rồi bám theo đuôi truy kích. Huỳnh Khắc Thành theo sát sư trưởng Trương Tích Long, xung phong về phía trước. Khi hai người đến trước một doanh trại, bèn đứng lại xem xét địa hình. Lúc đó, hai người đứng trên một vị trí khá cao, và đưa kính viễn vọng để quan sát. Quân địch phát hiện ra họ, và dùng súng máy quét về phía đó. Một viên đạn bay vèo qua, và ghim vào đầu của Trương Tích Long. Sau đó, viên đạn đáng ghét này lại từ đầu của nạn nhân tiếp tục bay ra, đánh rơi chiếc kính của Huỳnh Khắc Thành. Huỳnh Khắc Thành giật mình. Nếu không có kính thì sẽ không thấy chi cả. Ông vội vàng quỳ xuống lấy tay sờ soạng tìm chung quanh. Khi tìm được cặp kính, thì thấy nó đã bị hỏng, vội vàng lấy cặp kính dự phòng ra mang lên. Tới chừng đó, Huỳnh Khắc Thành mới phát hiện, Trương Tích Long đã hy sinh. Ông không còn để ý chi tới việc cặp mắt kính đã cứu mạng mình, mà cảm thấy trong lòng đang hết sức căm thù quân địch, và cảm thấy bất mãn với đường lối sai lầm về quân sự của Trung ương.

Càng lúc Huỳnh Khắc Thành càng cảm thấy trận chiến đấu này quả không thuận lợi tí nào, bèn nói với Bành Đức Hoài:

— Nếu cứ đánh như thế này mãi, thì Hồng quân chắc chắn sẽ bị đánh tan, không còn con đường nào để phát triển nữa. Hiện nay, lời nói của đồng chí còn có tác dụng nhiều, vậy hãy kiến nghị với Trung ương, mời Mao Trạch Đông ra chỉ huy, mới mong có cơ chuyển biến được cục diện đang nguy cấp này.

Bành Đức Hoài cũng có ý nghĩ như vậy, nhưng dường như có ẩn tình chi đó, khó nói ra. Nên việc kiến nghị với Trung ương, rốt cuộc ông không tiến hành.

Về sau, khi đến chiến đấu ở vùng Quảng Xương, Bành Đức Hoài không còn chịu đựng được trước đường lối chính trị sai lầm của Lý Đức nữa, bèn nói thẳng trước mặt ông ta, đường lối của ông ta chính là "nhà chiến thuật trên bàn giấy". Và mắng ông ta là "bán ruộng của cha nên không đau lòng".

Lý Đức nghe vậy nhảy đổng lên, rồi cùng nhau đấu khẩu với Bành Đức Hoài. Hai bên không ai nhường ai, làm cho Lý Đức hết sức giận dữ. Bành Đức Hoài cũng giận không thua chi Lý Đức, và không cho ông này ăn cơm, khiến ông ta giận quá bỏ đi mất.

Do áp dụng phương châm sách lược sai lầm, nên lần chống bao vây tảo thanh thứ năm, Hồng quân bị thất bại toàn diện, buộc phải mở cuộc trường chinh.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:33:00 pm

Bước đường trường chinh về phía Tây rất gian khổ và rất lâu dài. Huỳnh Khắc Thành ban đầu làm chính ủy của sư bốn. Ông đã dẫn bộ đội vượt qua nghìn trùng chông gai, hiểm hóc, tham gia cuộc chiến đấu tại Tương Giang, và chiến dịch Lâu Sơn Quan, lập được chiến công hiển hách. Nhưng vì trông thấy lực lượng cách mạng tổn thất quá lớn, nên đã nóng lòng nói lên mấy câu là cần phải chú ý bảo tồn lực lượng Hồng quân, nên bị cách chức chính ủy, đưa về làm nhiệm vụ khoa trưởng trinh sát. Kế đó, ông lại được điều về làm chính ủy đoàn năm, sư hai.

Sau khi đoàn quân vượt qua khu đồng cỏ, lại xảy ra một chuyện không vui. Kể từ ngày trường chinh đến nay, chỉ huy viên của quân đoàn số ba, luôn ở dưới sự lãnh đạo của Bành Đức Hoài, nên mọi người đều quen sống đơn giản, gian khó không sờn, dù gặp gian truân đến đâu họ cũng bình tĩnh vượt qua. Chính nhờ tác phong đó, mà Hồng quân mới có thể vượt qua được Đại Tuyết Sơn, và vượt qua được đồng cỏ, khắc phục trăm nghìn khó khăn, nguy hiểm, và dần dần khôi phục tinh thần trở lại. Nhưng lúc bấy giờ, Trung ương có phái tới mấy cán bộ lãnh đạo, công tác tại quân đoàn số ba. Những cán bộ này, thường vẫn tụ họp nhau để lo việc cải thiện bữa ăn, không thể cùng các chiến sĩ đồng cam cộng khổ. Việc đó, làm cho hầu hết những người chỉ huy của quân đoàn số ba đều bất mãn. Một số chiến sĩ cũng dùng lời lẽ châm chích để nói về họ.

Có một lần, những cán bộ đó phát hiện có những chiến sĩ cá biệt đã vi phạm kỷ luật quần chúng, lén đánh cắp thức ăn của quần chúng để ăn. Đáng lý trong giai đoạn hết sức khó khăn này, chuyện đó không thể xem là một đại sự. Chỉ cần giáo dục cho họ hiểu rồi cho qua. Nhưng những cán bộ này lại xem trọng sự việc đó, cho rằng hành động của họ là sự biểu hiện mất lòng tin đối với cách mạng, nên đề nghị quân đoàn số ba phải chỉnh đốn kỷ luật, và thẩm tra cán bộ. Đối với những người đã vi phạm kỷ luật quần chúng nói trên, họ xem là một vấn đề nghiêm trọng, thậm chí còn đòi xử tử những người đó.

Huỳnh Khắc Thành đối với cách làm đó, bày tỏ ý kiến phản đối. Ông chỉ rõ, có một số cán bộ chiến sĩ, biểu hiện nhiệt tình không cao, thường càu nhàu gắt gỏng, điều đó có liên quan tới việc giáo dục hằng ngày của cấp lãnh đạo chưa tốt. Nhưng có những cán bộ lãnh đạo trong hoàn cảnh khó khăn, không lấy chính bản thân mình làm gương mẫu, đã gây ảnh hưởng cho cấp dưới. Vậy, không thể hoàn toàn trách cứ các đồng chí ở cấp dưới. Kế đó, có những đồng chí vi phạm kỷ luật, cố nhiên là không đúng, nhưng nên lấy giáo dục làm chính, chứ không thể lấy biện pháp cư xử với địch, để cư xử với mình. Huống chi chúng ta vừa mới đi ra khỏi đồng cỏ, ai nấy đều mệt đến kiệt sức. Trước mắt, tình hình vẫn còn nhiều khó khăn, nếu tiến hành ngay việc chỉnh đốn kỷ luật và thẩm tra cán bộ, là không thích hợp.

Kết quả của ý kiến này, ta có thể tưởng tượng được: lãnh đạo cho rằng ông là người không đáng tin cậy, không xứng đáng làm công tác lãnh đạo, càng không thể chỉ huy quân đội. Thế là ông được sắp xếp đi làm chánh án tòa án quân sự.

Tại tòa án quân sự, Huỳnh Khắc Thành cũng cảm thấy có nhiều chuyện trái tai gai mắt. Hồng quân đi đến Cáp Đạt, nghĩ ngơi và chỉnh đốn hàng ngũ mấy hôm mới tiếp tục tiến quân về phía Bắc Thiểm Tây. Do chiến sĩ quá mệt mỏi, nên việc lạc ngũ ngày càng nhiều. Cơ quan chính trị của bộ đội cho rằng việc lạc ngũ có liên quan tới nhiệt tình bị suy giảm. Cho nên, họ đã thi hành những cách trừng phạt rất tàn bạo.

Nhiệm vụ trừng phạt này đều giao cho tòa án quân sự thực hiện. Nhưng Huỳnh Khắc Thành cảm thấy bất nhẫn, không nỡ ra tay xử tử những đồng chí này, nên thường tỏ ra do dự. Có một lần, bộ đội tóm được viên khoa trưởng quản lý họ Châu. Anh này trước đây trong chiến đấu đã bị kẻ thù bắn cụt một tay, nên khi qua vùng đồng cỏ, anh để rơi lại mấy thương binh, cho nên mới bị bắt. Huỳnh Khắc Thành cảm thấy bất nhẫn, nên tìm tới viên tư lệnh của tung đội là Bành Tuyết Phong để năn nỉ, cho rằng xử tử anh ta là quá nặng. Không may, hai cán bộ lãnh đạo của bộ môn chính trị bắt gặp, nên đã quát nạt Huỳnh Khắc Thành một hồi, nói:

— Đồng chí đã từng làm chính ủy sư đoàn, thế mà một chuyện nhỏ như vầy, cũng không xử lý ổn thỏa, thế là hết xài!

Nói xong, bèn phái người đi bắt viên khoa trưởng họ Châu giải đi xử tử. Sau đó, phàm việc có liên quan đến xử tử các chiến sĩ bị vi phạm chính trị, các cơ quan chính trị đều không đưa về cho Huỳnh Khắc Thành nữa.

Ngày mười chín tháng mười năm 1935. Hồng quân đã tới thị trấn Ngô Khởi ở phía Bắc Thiểm Tây. Lực lượng cách mạng sau một thời gian trường chinh cam go, nay rốt cuộc đã tìm được nơi trú chân cho mình.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:33:50 pm

4. TIẾN VỀ ĐÔNG BẮC

Từ trong đội ngũ trường chinh bước ra, Huỳnh Khắc Thành tiếp tục cuộc sống đầy truyền kỳ của ông. Từ phía Bắc Thiểm Tây tới căn cứ địa Ký Lỗ Dự (Hà Bắc, Sơn Đông, Hà Nam), tức là căn cứ địa Xô Viết phía Bắc, tiến thẳng về hướng Đông Bắc, để nghênh đón cao trào mới trong chiến tranh giải phóng. Nhưng đối với Huỳnh Khắc Thành, một con người mà đời sống đầy tính truyền kỳ, nếu bảo đây là những từng trải, thì chi bằng nói là do tính cách cá nhân của ông thì đúng hơn. Tính cách chân thành, rộng rãi của người quân tử, đã tô điểm ông trong thời gian qua, xây dựng con người ông trong hiện tại, và cũng sẽ diễn biến theo ông trong thời gian tới.

Sau khi kháng chiến bùng nổ, Huỳnh Khắc Thành đi vào địch hậu, làm chính ủy của lữ 344, thuộc sư 115. Tháng tám năm 1940, lữ 344 từ căn cứ địa Ký Lỗ Dự xuất phát, tiến thẳng vào Hoa Trung. Tháng mười, ông tụ hợp với Tân Tứ Quân do Trần Nghị chỉ huy tại phía Bắc tỉnh Giang Tô. Không bao lâu sau, bộ đội của Huỳnh Khắc Thành được cải biên làm sư ba của Tân Tứ Quân. Huỳnh Khắc Thành được bổ nhiệm làm sư trưởng, kiêm chính ủy.

Trong thời gian ở tại phía Bắc Giang Tô, có mấy sự kiện đã phản ánh được cá tính của Huỳnh Khắc Thành. Tháng giêng năm 1942, Nhiêu Thấu Thạch là quyền bí thư Cục Hoa Trung của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì biết Trần Nghị là người có uy tín rất cao trong Tân Tứ Quân, nên đã tìm cách đẩy Trần Nghị rời khỏi Cục Hoa Trung để ông ta tiện nắm cơ cấu này, mà không kể chi tới đại cuộc. Sau khi Trần Nghị ra đi, ông ta còn triệu tập hội nghị mở rộng của Cục Hoa Trung, nói này nói nọ về Trần Nghị. Không ngờ Huỳnh Khắc Thành là người không chấp nhận được thái độ đó. Ông cảm thấy rất chướng mắt, nên liền có ý kiến đối với hành động của Nhiêu Thấu Thạch, ông nói:

— Bất kể thế nào, để Trần tướng quân rời đi khỏi Cục Hoa Trung là một điều tổn thất rất lớn. Nó sẽ bất lợi chung cho cả công tác của Cục Hoa Trung.

Ông còn trực tiếp phê bình Nhiêu Thấu Thạch:

— Hai đồng chí Mao Trạch Đông và Chu Đức cùng công tác với nhau nhiều năm, tuy hai người cũng có những ý kiến khác nhau, nhưng họ vốn đoàn kết, cộng tác chặt chẽ. Nay ông mới vừa tới đây không bao lâu, mà đã tìm cách đẩy đồng chí Trần Nghị ra đi, thật là việc không nên làm.

Nhiêu Thấu Thạch trừng hai mắt nhìn Huỳnh Khắc Thành, nhưng không phản bác lại lời nào.

Khoảng tháng tư, tháng năm, năm 1943, Hoa Trung Cục cùng triệu tập hội nghị với quân bộ của Tân Tứ Quân, bố trí để triển khai "phong trào cấp cứu" (San cứu vận động). Huỳnh Khắc Thành nhớ lại những lệch lạc qua các phong trào thanh trừng mở rộng trước đây, đã nêu lên một cách nhìn khác đối với "phong trào cấp cứu". Ông đề nghị, hiện nay ta đang đứng trước đại địch, ở Hoa Trung không nên phất động "phong trào cấp cứu", để khói làm tổn thương nguy hại tới những đồng chí vô tội. Nhưng, ý kiến của ông không được chấp nhận.

Sau khi hội nghị kết thúc, Huỳnh Khắc Thành đã quyết định không phát động "phong trào cấp cứu". Ông thông báo cho các ủy ban đảng địa phương ở phía Bắc Giang Tô, cũng như bộ đội ở sư đoàn ba, nhất luật không phát động "phong trào cấp cứu". Nếu phát hiện có điều gì nghi ngờ, thì chiếu theo trình tự công tác bình thường, do bộ phận chủ quản giải quyết, xử lý. Nhờ vậy, vùng phía Bắc Giang Tô và sư đoàn ba trong đợt chỉnh phong, không có gì xáo trộn, mọi việc đều bình ổn. Sau đó, cũng không xảy ra vấn đề gì.

Một hôm, Huỳnh Khắc Thành gặp mặt Tăng Hy Thánh, chính ủy của sư bảy, thấy ông này buồn bã không vui, bèn tới hỏi thăm. Qua năm lần bảy lượt, Tăng Hy Thánh mới buồn bã thổ lộ tâm sự của mình cho Huỳnh Khắc Thành nghe. Ông bảo, người yêu của mình có thể là đặc vụ.

Huỳnh Khắc Thành không tin, bèn hỏi tại sao ông ta biết, Tăng Hy Thánh nói tại sư hai có một nữ cán bộ, vốn là bạn học cũ người yêu của mình, nhận cô ta là đặc vụ, và khai chính người yêu của Tăng Hy Thánh cũng là đặc vụ.

Huỳnh Khắc Thành nghe qua, cảm thấy có điều khó hiểu, nên đã thông qua chính ủy sư hai là Đàm Chánh Lâm, để tìm gặp người nữ cán bộ đó, rồi nói chuyện riêng với cô ta, để tìm hiểu tình hình cụ thể.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:34:44 pm

Khi người nữ cán bộ đó gặp Huỳnh Khắc Thành, vẫn tưởng ông này tới để lấy khẩu cung, nên nói huyên thuyên về việc các cô hoạt động cho tổ chức đặc vụ như thế nào, và những lời nói của cô nghe rất sinh động, khiến người nghe không thể phân biệt được thật giả. Nhưng Huỳnh Khắc Thành chừng như đã cảm thấy được điều gì đó, bèn hỏi những lời nói của cô là thật hay giả. Cô gái trả lời dứt khoát là hoàn toàn đúng sự thật.

Huỳnh Khắc Thành lại kiên tâm làm công tác tư tưởng cho cô. Bảo cô phải xóa bỏ những điều lo lắng trong lòng, nói lời thực với tổ chức, không thể có một tí nào giả dối trong đó, bằng không, sẽ rất bất lợi cho sự nghiệp cách mạng, vừa hại mình, mà hại luôn cả đồng chí của mình nữa.

Lúc bấy giờ, người nữ cán bộ ấy mới gục mặt xuống bàn òa lên khóc, bảo là mình đã bịa chuyện nói dối.

Huỳnh Khắc Thành chưa hiểu được ra sao, bèn hỏi cô tại sao phải làm như vậy? Cô ta bảo lúc "phong trào cấp cứu" vừa mở màn, thì cô đều nói thực lòng những gì mình cần nói, nhưng người chung quanh không tin, vẫn tiếp tục tiến hành "cấp cứu" đối với cô. Họ mở đại hội, tiểu hội, để đấu tranh và bức cung. Cô đứng trước việc đó, thật không còn biện pháp nào khác, hơn là bịa chuyện ra để nói dối. Không ngờ nói như vậy, thì lại được biểu dương, hoan nghênh và ưu đãi. Sau đó, cô ta càng bịa chuyện nói dối đủ điều.

Huỳnh Khắc Thành bèn đem chuyện đó nói lại cho Đàm Chấn Long nghe, ông này rất lấy làm lạ. Huỳnh Khắc Thành lại hỏi ở sư hai, đã tìm ra được bao nhiêu đặc vụ? Đàm Chấn Long bảo là mỗi một đoàn đều có hàng trăm! Huỳnh Khắc Thành cả kinh, nói:

— Ối trời! Như vậy là đoàn của ông đều là đặc vụ cả. Bộ đội và địch ở sát kề nhau, ông thẩm tra họ, không bỏ trốn mất hay sao?

Kế đó, Huỳnh Khắc Thành bèn khuyên:

— Này ông anh ơi, hãy mau đi minh oan cho người ta đi. Ông chỉnh người ta như thế, vậy mà không có một ai bỏ trốn, thử hỏi có đặc vụ nào lại như vậy không?

Sau đó, Huỳnh Khắc Thành lại đem chuyện này báo cáo lại với Nhiêu Thấu Thạch, và đề nghị tất cả những cán bộ bị "cấp cứu" đều phải được minh oan. Nhiêu Thấu Thạch suy nghĩ, gật đầu đồng ý.

Trên chiến trường, Huỳnh Khắc Thành luôn luôn dựa vào đặc điểm của chiến tranh, để định ra phương châm chiến lược, vừa có cá tính lại vừa có sức sáng tạo. Tháng mười một năm 1940, khi ông chỉ huy tung đội năm, thuộc lộ quân mười một (do lữ 344 cải biên ra) là cánh quân chủ lực đến vùng Bắc Giang Tô, liền cùng bộ đội của Tân Tứ Quân hợp đồng tác chiến, phát động chiến dịch Tào Điện.

Trước khi cuộc chiến đấu bùng nổ, Huỳnh Khắc Thành tiến hành phân tích và nghiên cứu. Ông dựa vào lịch sử chiến đấu của bộ đội, cũng như những kinh nghiệm tác chiến trước kia, bèn gửi điện về bộ chỉ huy Hoa Trung, kiến nghị về cách tác chiến của chiến dịch này. Ông nói: "Quân ta không có vũ khí công kiên (đánh vào chỗ có công sự chắc chắn), trong lịch sử chỉ có dùng cách tốc chiến tốc quyết, xung phong ào ạt, để đánh vào công sự của địch, nên rất ít khi được thành công... Tào Điện, Xa Kiều là những nơi có công sự kiên cố hơn trước, binh lực cũng nhiều hơn, nếu đánh bằng cách xung phong ồ ạt, chẳng những không có hy vọng thắng lợi, mà còn dẫn tới bị tổn thương nặng nề là khác". Do vậy, ông đề nghị trước tiên hãy tảo thanh vùng ngoại vi của những căn cứ này, rồi đắp lũy đào hào, cho những toán binh nhỏ đi quấy rối. Đó là cách đánh lâu dài với địch.

Nhưng, bộ chỉ huy của Hoa Trung không chấp nhận ý kiến của ông, vẫn áp dụng lối đánh xung phong ồ ạt. Mặc dù lúc đó cũng đánh vỡ được những nơi phòng thủ phía ngoài của địch, nhưng địch lại rút vào chính giữa, nơi có công sự chắc chắn để cố thủ. Kết quả, họ không hạ được Tào Điện, mà bị thiệt hại và thương vong khá nhiều.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:35:28 pm

Chiến dịch Tào Điện đánh không có kết quả tốt, Huỳnh Khắc Thành do vậy bị cho là hữu khuynh, thiếu tinh thần chiến đấu, nên bị triệt tiêu chức vụ tư lệnh của tung đội năm, chỉ giữ chức chính ủy. Về sau, Huỳnh Khắc Thành lại có sự tranh chấp với một số lãnh đạo ở Cục Hoa Trung về "bảo vệ Diêm Thành". Ông cho rằng sự phê bình đối với mình là không chính xác, và tranh luận cùng họ:

— Trước khi tác chiến, tôi đã có nêu ý kiến, và cho tới bây giờ, tôi vẫn nhận rằng ý kiến đó là đúng. Sở dĩ tác chiến không đạt được mục đích như dự kiến, không phải tôi không phục tùng chỉ huy, mà do cấp trên chỉ huy không có hiệu quả.

Tuy nhiên, về sau vì muốn đại cuộc được vẹn toàn, nên ông đã tự kiểm thảo trong hội nghị, để giữ sự đoàn kết trong nội bộ Đảng.

Sau đó, ông cảm thấy bất phục, nên lại tìm đến Trần Nghị, hỏi:

— Đồng chí là thượng cấp cũ của tôi, vậy tôi có chỗ nào gọi là không phục tùng chỉ huy?

Trần Nghị cũng từng chỉ rõ: "Cuộc chiến đấu ở Tào Điện là do chúng ta đi tấn công người ta, thiếu hẳn lý do". "Ta rất khinh địch, hối hả tác chiến, chuẩn bị chưa đủ, biến thành lãng chiến". "Cách đánh của ta là công kiên, như vậy phải chuẩn bị rất tốt, và phải theo nguyên tắc tác chiến mà tiến hành thì mới được. Lúc đó, về mặt này chúng ta rất kém, chỉ biết dựa vào xung phong ồ ạt nên không thể giải quyết được vấn đề. Nếu chúng ta áp dụng cách đánh đường hầm, thì có thể thành công".

Thời gian tám năm kháng chiến trôi qua thật nhanh. Ngày kết thúc kháng chiến chống Nhật, cũng là ngày chia rẽ thêm sâu sắc giữa Quốc Cộng. Tưởng Giới Thạch vì để chuẩn bị nội chiến, độc chiếm Trung Quốc, nên mới bày ra âm mưu hòa đàm, mời Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo trung ương đến đàm phán. Những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản biết rõ âm mưu đó, nên ngày hai mươi tám tháng tám năm 1945, Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai, Vương Nhược Phi đã tới Trùng Khánh tham gia hòa đàm. Trong thời kỳ này, Huỳnh Khắc Thành đặc biệt chú ý tới sự phát triển của tình thế. Ông biết rõ Quốc dân đảng bày chuyện hòa đàm là giả dối, mà chuẩn bị nội chiến mới là thực tâm. Do vậy, ông luôn luôn suy nghĩ phương châm hành quân của quân ta. Ngày mười ba tháng chín, khi ông được tin Liên Xô đã xua quân tiêu diệt cánh quân Quân đông của Nhật, tiến vào vùng Đông Bắc Trung Quốc, thì cho rằng đây là một thời cơ tốt, để quân ta cũng tiến vào Đông Bắc theo chân quân Liên Xô.

Ông phấn khởi tìm tới Cục Hoa Đông, nhưng Nhiêu Thấu Thạch không đồng ý phát điện báo. Thế là Huỳnh Khắc Thành bèn lấy danh nghĩa của mình, thảo ra một bức điện báo, nêu rõ tình hình trước mắt, và cách nhìn của ông về phương châm quân sự hiện nay. Vào ngày mười bốn tháng chín, ông phát bức điện báo đó đi.

Trong bức điện báo, Huỳnh Khắc Thành trước tiên chỉ ra: "Tưởng Giới Thạch đàm phán với Đảng ta, là hoàn toàn không có thành ý, mà đó chỉ là một thủ đoạn dối gạt, làm tê liệt tinh thần chiến đấu của quân ta, và kéo dài thời gian để họ đủ ngày giờ chuẩn bị nội chiến". Trái lại, về mặt quân sự, họ áp dụng một chiến lược tích cực lấn chiếm và tấn công. Do vậy, ông kiến nghị:

1. Khu Đông Bắc hiện nay có thể phái bộ đội tới đó. Vậy nên phái cho thật đông, ít nhất cũng phải có năm vạn người, nếu có mười vạn người càng tốt. Đồng thời, cần phái những nhà lãnh đạo quân sự có uy tín để chủ trì công tác, nhanh chóng xây dựng căn cứ địa, để chi viện cho cuộc đấu tranh ở Quan Nội.

2. Các vùng Tấn, Nhiêu, Sác, là căn cứ địa chiến lược số một ở vùng Quan Nội, nên tập trung mười vạn chủ lực, tiến hành tiêu diệt quân của Phó Tác Nghĩa, Diêm Tích Sơn, Hồ Tông Nam, để tiến lên khống chế toàn bộ vùng Sát, Tuy, và vùng Tây Bắc, cũng như toàn bộ vùng Thái Hành Sơn.

3. Lấy Sơn Đông làm căn cứ địa thứ hai của Quan Nội. Nên tập trung mười lăm vạn chủ lực, chờ sau khi tước khí giới địch xong, thì tiến hành quyết chiến theo đường sắt Tế, Từ, Giao, Hải, tiến đến khống chế toàn bộ Sơn Đông.

4. Các địa khu khác, trở thành vệ tinh của hai căn cứ địa chiến lược lớn, cố tranh thủ thắng lợi trong những trận đánh cục bộ. Nếu khi có khả năng thì lấy chiến tranh du kích để giằng co với địch lâu dài.

Kế đó ông cũng chỉ rõ:

Để chấp hành các phương châm trên, Sơn Đông nên điều từ ba vạn đến năm vạn người đến Đông Bắc. Hoa Trung cần điều từ ba vạn người đến sáu vạn người tới Sơn Đông. Một phần chủ lực của Hà Nam và Bình Nguyên, cần điều đến Sơn Tây. Một sư chủ lực của Giang Nam, nên điều trở về Giang Bắc, chỉ để một bộ phận ở Giang Nam hoạt động thôi. Một sư là đơn vị kiên cường của Tân Tứ Quân, hiện nay đang tác chiến ngoan cường và không có hy vọng, dự kiến trong tương lai, nếu sau khi bị cắt đứt với các nơi, thì đơn vị này buộc phải đánh du kích chiến. Lấy một chủ lực kiên cường để đi đánh du kích chiến là rất bất lợi, nên càng phải cấp tốc điều về phía Bắc.

... Vì đối với tài liệu các mặt, tôi biết rất ít, nên có thể đây là ý kiến phiến diện. Nhưng tôi cho rằng tình hình trước mắt, nếu Đảng ta không có một căn cứ địa chiến lược rộng rãi, thì sẽ không có thắng lợi to lớn. Nếu không có thắng lợi to lớn và quyết định, thì cũng không có một vùng căn cứ địa chiến lược rộng lớn. Cho nên, tập trung binh lực tiến hành quyết chiến, là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Nếu chỉ chờ đợi đàm phán, hoặc quốc tế can thiệp, đều là những tình hình có nhiều nguy hiểm. Ý kiến trên đây phải chăng là đúng, xin xét đoán và chỉ thị."


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:38:42 pm

Lúc đó, Mao Trạch Đông còn ở tại Trùng Khánh. Người chủ trì việc hàng ngày của Trung ương tại Diên An là Lưu Thiếu Kỳ. Huỳnh Khắc Thành điện về Trung ương không bao lâu, thì ngày mười chín tháng chín, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc bèn gửi đến cho các trung ương cục một bản "Chỉ thị về nhiệm vụ trước mắt, và phương châm chiến lược hướng về Nam phòng thủ, hướng về Bắc phát triển và xúc tiến bố trí", xác định phương châm chiến lược toàn quốc của Đảng và quân đội là "phát triển về hướng Bắc, phòng ngự đối với hướng Nam". Chỉ thị nói: "Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của toàn Đảng toàn quân là: tiếp tục đánh vào địch ngụy, hoàn toàn khống chế hai tỉnh Nhiệt Hà và Sát Cáp Nhĩ, phát triển lên Đông Bắc và tranh thủ khống chế Đông Bắc, để tiện dựa vào Đông Bắc và hai tỉnh Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ, tăng cường cho việc đấu tranh của nhân dân ở các khu giải phóng toàn quốc, và các vùng Quốc dân đảng chiếm đóng, tranh thủ hòa bình, dân chủ và địa vị có lợi cho cuộc đàm phán Quốc Cộng".

Ngày mười chín tháng chín và ngày hai tháng mười, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lệnh cho bộ đội chủ lực tại Sơn Đông, và hầu hết cán bộ nhanh chóng tiến về phía Đông và Đông Bắc tỉnh Hà Bắc. Chủ lực Tân Tứ Quân ở Hoa Đông, thì từ Nam di chuyển về Bắc, để tập trung lực lượng, khống chế Đông Bắc, bảo vệ Hoa Bắc, Hoa Trung. Ngày hai mươi ba tháng chín, Huỳnh Khắc Thành tiếp được mệnh lệnh, bảo ông chỉ huy sư đoàn ba chủ lực, gồm ba vạn năm nghìn người kéo về Đông Bắc. Thế là, ông vội vàng lo việc chuẩn bị. Lúc đó, trong bộ đội có lời đồn đại, là ở Đông Bắc vũ khí rất nhiều. Đến Đông Bắc, bộ đội không cần đem theo vũ khí, vì tới đó thì sẽ được phát vũ khí mới, cũng như trang bị mới. Riêng Huỳnh Khắc Thành kỹ lưỡng hơn, vì ông phải đề phòng mọi sự bất ngờ có thể xảy tới, nên yêu cầu bộ đội phải mang toàn bộ vũ khí theo mình, không được tùy tiện để vũ khí ở lại. Hơn nữa, Đông Bắc khí trời rất rét, nên ông bắt tay ngay vào việc lo giải quyết vấn đề áo bông cho bộ đội.

Ngày hai mươi tám tháng chín, Huỳnh Khắc Thành chỉ huy sư ba, từ Hoài Dương ở phía Bắc Giang Tô bắt đầu xuất phát, họ kéo qua Sơn Đông, rồi lại tiếp tục đi thẳng về hướng Đông Bắc. Nguyên Trung ương chỉ thị bảo ông phải dừng chân lại tại Sơn Đông một thời gian, nhưng Huỳnh Khắc Thành suy nghĩ, việc binh quý ở sự thần tốc, bèn đánh điện thỉnh thị Quân ủy Trung ương, cho phép ông chỉ dừng lại ở Sơn Đông một thời gian ngắn, để bộ đội nghỉ ngơi và chấn chỉnh quân ngũ, rồi lập tức tiến về phía Bắc. Ngày sáu tháng mười, Trung ương đánh điện trả lời: "Để nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ chiến lược, sư ba sau khi kéo tới Sơn Đông, cần phải nhanh chóng tiến về phía Bắc, không được ở lại Sơn Đông làm nhiệm vụ chiến đấu". Thế là, sư ba ngày đêm tiến quân, vượt qua Lãnh Khẩu của Trường Thành và ra ngoài quan ải. Đến ngày hai mươi lăm tháng mười một, sư ba kéo tới gần Cẩm Châu, và hoàn thành nhiệm vụ chiến lược của Trung ương giao.

Lúc đó, Trung ương điều chủ lực lên Đông Bắc, gồm có Bát Lộ quân ở Sơn Đông, Tân Tứ Quân ở phía Bắc Giang Tô, và một số quân đội ở phía Đông Hà Bắc. Khi mới kéo đến Đông Bắc, việc chỉ huy thống nhất trong nhất thời chưa xây dựng được, nên việc lãnh đạo có vẻ tản mác và rối loạn. Ý đồ của Trung ương là yêu cầu bộ đội đến Đông Bắc, thì đẩy quân đội của Quốc dân đảng ra ngoài Quan Ngoại, và yêu cầu đánh nhau với địch để "giải quyết vấn đề". Đối với vấn đề hòa đàm với Quốc dân đảng, về mặt nhận thức cũng chưa nhất trí. Trong tình hình đó, Trung ương cũng nhận thức chưa đầy đủ đối với tính chất quan trọng trong việc xây dựng căn cứ địa tại Đông Bắc.

Huỳnh Khắc Thành đang ở vào tình trạng như vậy, nhận thức một cách sâu sắc rằng, việc xây dựng căn cứ địa là hết sức quan trọng. Do mới tới Đông Bắc, chưa quen thuộc với các đồng chí trong Cục Đông Bắc của Đảng Cộng sản Trung Quốc nên ông liền đánh một bức điện về Trung ương, nêu rõ những khó khăn trước mắt của bộ đội, tức là "không Đảng (tổ chức), không quần chúng (ủng hộ), không chánh quyền, không lương thực, không kinh phí, không thuốc men, không quần áo, giày tất, v.v... Sĩ khí trong bộ đội, do vậy bị ảnh hưởng lớn. Những vùng phía Tây Cẩm Châu và Sơn Hải Quan, có rất nhiều thổ phỉ, với đạo binh ít người khó bề đi đứng yên ổn được. Chiến trường hết sức xấu. Trong khi đó, địch đã chiếm lĩnh Cẩm Châu, và sắp kéo đến Trường Xuân”. Căn cứ tình hình trên, ông đề nghị: "Hồng quân tạm thời không tác chiến, tiến hành nghỉ ngơi trong một thời gian ngắn, để khôi phục thể lực. Cùng lúc đó, lấy một bộ phận chủ lực đi chiếm lĩnh các thành phố vừa và nhỏ, để xây dựng căn cứ địa nông thôn, chuẩn bị chiến đấu lâu dài".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:39:23 pm

Ngày hai mươi bảy tháng mười một, Huỳnh Khắc Thành lại đánh điện về quân ủy Trung ương, đề xuất “ở Đông Bắc thổ phỉ rất nhiều, nếu không sớm bắt tay vào việc xây dựng căn cứ địa, thì chủ lực ta ở Đông Bắc cũng khó ứng phó".

Ngày hai mươi chín tháng mười một, Trung ương có điện trả lời: "Về việc biên chế bộ đội của đồng chí, và việc bố trí cán bộ, cũng như địa khu hoạt động, cách tác chiến... đồng chí có thể thành thật bàn thẳng với Lâm Bưu, và do đồng chí cùng Lâm Bưu nói thẳng ý kiến giải quyết với Trung ương".

Huỳnh Khắc Thành là một người nóng tính, khi nhận được điện bèn lập tức tới Cục Đông Bắc, đề xuất rõ ràng kiến nghị xây dựng căn cứ địa của mình. Kiến nghị rất thiết thực và chu đáo:

1. Phải phân chia ngay những địa khu mà quân chủ lực sư đoàn (hoặc lữ đoàn) quen thuộc, để làm căn cứ địa của sư hoặc lữ đó. Mỗi sư hoặc mỗi lữ chia cho từ ba tới năm huyện.

2. Sư hoặc lữ đó, phải phái ngay cán bộ đi tới địa bàn của mình, rồi bắt tay ngay vào công tác xây dựng chính quyền, đảng ủy, phát động quần chúng, xây dựng lực lượng võ trang địa phương.

3. Sư hoặc lữ đó phái những binh đoàn cần thiết, để tảo thanh thổ phỉ, khôi phục lại trật tự xã hội.

4. Sư hoặc lữ đó tiến hành thu gom lương thực, tư liệu trong địa bàn của mình, cũng như lo việc xây dựng y viện, công xưởng, mở rộng thu nạp tân binh, để tạo nguồn bổ sung lâu dài cho bộ đội chủ lực.

5. Tại địa bàn đã quy định, nếu có đảng ủy, quân khu, thì cán bộ phái đi làm việc phải chịu sự lãnh đạo của đảng ủy. Nếu không có đảng ủy, thì do bộ đội phái những cán bộ giỏi, lo tổ chức đảng ủy, chính quyền, phân khu lâm thời, để tiến hành lãnh đạo công tác.

6. Khi bộ đội chủ lực tập kết tác chiến, nếu có thương bệnh binh thì đưa về nơi này để dưỡng bệnh.

Sau khi bức điện phát ra thì không có hồi âm. Thế là ông lại liên tiếp đánh thêm hai bức điện nữa, nhưng vẫn không có tin tức gì. Huỳnh Khắc Thành không ngồi yên được nữa, lập tức đi tìm gặp Lâm Bưu, nói rõ ý kiến về việc xây dựng căn cứ địa của mình. Lâm Bưu cũng tỏ ra đồng ý. Những người có mặt cũng phát biểu ý kiến. Cuối cùng, Huỳnh Khắc Thành khởi thảo một bức điện báo, và đưa cho Lâm Bưu xem qua, mới đánh đi cho Mao Trạch Đông.

Ngày hai tháng mười hai, Mao Trạch Đông trả lời bức điện. Đó chính là "Chỉ thị xây dựng củng cố căn cứ địa Đông Bắc” rất nổi tiếng lúc bấy giờ. Bức điện còn kịp thời đề xuất trọng tâm công tác ở vùng Đông Bắc, là phải chiếm lãnh những thành thị và nông thôn cách xa nơi Quốc dân đảng chiếm đóng, để "mở đường lớn, chiếm lãnh hai bên", tiện việc sau này phát động quần chúng, xây dựng và củng cố căn cứ địa, từng bước xúc tích lực lượng, chuẩn bị tương lai chuyển vào phản công. Trong bức điện này Mao Trạch Đông còn nhắc nhở các đồng chí:

"Cần phải làm cho tất cả cán bộ hiểu rõ, Quốc dân đảng ở Đông Bắc, trong một thời kỳ nào đó, họ sẽ mạnh hơn Đảng ta. Nếu ta không phát động quần chúng đấu tranh, và giải quyết vấn đề giúp cho quần chúng, tất cả đều phải dựa vào quần chúng, đồng thời động viên tất cả các lực lượng, lo việc công tác quần chúng cho chu đáo. Trong vòng một năm, đặc biệt là những tháng gần đây, phải khẩn cấp nắm thời cơ, xây dựng nền tảng vững chắc, nếu không thì chúng ta sẽ bị cô lập ở Đông Bắc, và không thể xây dựng và củng cố được căn cứ địa, không thể tiến hành việc tấn công thắng lợi Quốc dân đảng, mà còn có thể gặp phải khó khăn lớn, thậm chí còn có khả năng thất bại. Trái lại, nếu chúng ta lúc nào cũng biết dựa hẳn vào quần chúng, thì chúng ta sẽ chiến thắng mọi khó khăn, từng bước một đạt đến mục đích của mình.

Từ đó, phương châm chính trị lớn ở Đông Bắc đã được xác định. Huỳnh Khắc Thành dẫn bộ đội chiếm lĩnh thành Thông Liêu, bắt đầu xây dựng căn cứ địa Tây Mãn đầy khó khăn.

Tháng ba năm 1946, quân đội Liên Xô bắt đầu lần lượt triệt thoái ra khỏi vùng Đông Bắc. Ngày mười bốn, quân đội Liên Xô rút ra khỏi thành phố Tứ Bình ở biên cảnh Cát Lâm và Liêu Đông. Lâm Bưu liền phái bộ đội thừa cơ chiếm lĩnh thành phố này. Đồng thời, đưa quân tiến nhanh về phía Bắc chiếm lĩnh các thành phố Trường Xuân, Sát Cáp Nhĩ, v.v... tước được nhiều khí giới do quân địch để lại, và rất nhiều đồ quân dụng vật tư, làm tăng lên sức chiến đấu cho bộ đội của mình.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:40:10 pm

Đến tháng Tư, quân đội Quốc dân đảng chia làm ba lộ tấn công vào Tứ Bình. Quân Đông Bắc tổ chức phòng ngự. Trước khi đánh, Lâm Bưu trưng cầu ý kiến của Huỳnh Khắc Thành. Huỳnh Khắc Thành đề xuất, nên chọn đánh vào một đội quân nào yếu trong ba lộ quân của Quốc dân đảng, thì có thể làm rối loạn được sự bố trí của quân địch. Lâm Bưu nghe có lý, bèn tiến hành sắp xếp bộ đội phòng ngự của mình đúng theo ý kiến của Huỳnh Khắc Thành và rốt cuộc đã đánh bại được kẻ địch.

Nhưng rất nhanh sau đó, quân địch lại mở đợt tấn công dữ dội. Lần này, quân địch tập trung binh lực của tám cánh quân, trong đó có Đệ nhất quân, Tân lục quân, và sư 207 thanh niên, toàn bộ đều được Mỹ trang bị và huấn luyện, nên rất tinh nhuệ. Những cánh quân này từng đi đánh nhau với quân Nhật ở tận Miến Điện, súng ống, trang bị hoàn toàn là của Mỹ, sức chiến đấu rất cao. Nếu so sánh, thì trang bị của Hồng quân đối với họ chênh lệch nhau rất lớn. Hai cánh quân có sự chênh lệch như vậy, lại bắt đầu một cuộc chiến đấu với nhau tại tuyến Tứ Bình.

Huỳnh Khắc Thành nhìn thấy tình thế nguy cấp, bèn đánh cho Lâm Bưu một bức điện, nêu rõ: "Khi quân địch mới bắt đầu tấn công, ta cùng giao phong với chúng, cốt để bẻ gãy nhuệ khí của chúng, là việc hoàn toàn cần thiết. Nay quân địch trút toàn bộ lực lượng ra quyết sống chết với ta. Vậy, nếu ta quyết chiến với chúng, thì trong khi ta tạm thời chưa có đầy đủ các điều kiện quyết chiến, tất sẽ không có lợi. Do vậy, cần phải rút bỏ những thành phố lớn như Tứ Bình, mà chỉ chiếm lấy những thành phố vừa và nhỏ, cũng như vùng nông thôn, để xây dựng căn cứ địa, súc tích lực lượng, chờ cho quân địch phải gánh vác nhiều nhiệm vụ nặng nề trên vai, chúng ta sẽ quay trở lại tiêu diệt chúng cũng không muộn".

Lâm Bưu không đánh điện trả lời, mà cũng không rút quân. Huỳnh Khắc Thành đánh liên tiếp mấy bức diện cho Lâm Bưu, nhưng cũng không có tin tức gì. Ông sốt ruột quá nên vào ngày mười hai tháng năm, bèn đánh điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, góp ý về việc bảo vệ Tứ Bình và tình thế của Đông Bắc hiện nay. Bức điện viết:

1. Bộ đội từ Quan Nội tiến lên Đông Bắc, sau mấy trận đánh lớn, binh sĩ và cán bộ đã bị tiêu hao một nửa. Nay cán bộ các cấp đại đội, trung đội và tiểu đội, đã bị tiêu hao quá nửa. Tuy trước mắt vẫn có thể bổ sung cán bộ mới, nhưng sức chiến đấu do đó đã bị suy giảm.

2. Cánh quân chín mươi ba ngoan cường của địch đã kéo tới nơi. Nếu chúng sử dụng pháo binh và một bộ phận xe tăng để tấn công, thì Tứ Bình khó giữ vững được. Nếu Tứ Bình thất thủ thì Trường Xuân cũng khó bảo vệ.

3. Nếu trong một thời gian ngắn, có thể đi tới đình chiến, thì cho dù tiêu hao chủ lực để tiếp tục giữ vững Tứ Bình, Trường Xuân, cũng là rất cần thiết. Trái lại, nếu đánh lâu dài thì Tứ Bình và Trường Xuân, quân chủ lực sẽ bị tiêu hao tới mức cùng kiệt, không còn có thể chiến đấu được nữa. Do vậy, nếu việc đình chiến không thể đạt được ngay tức khắc, ta nhường thành phố Trường Xuân để đi tới đình chiến, cũng là việc tốt. Vì chúng ta cốt tranh thủ thời gian, để chỉnh đốn chủ lực, tảo thanh thổ phỉ, củng cố căn cứ địa Bắc Mãn, tạo điều kiện ứng phó với việc quyết chiến sau này.

4. Nếu ở Đông Bắc không thể đình chiến, thì cần phải phát động việc đánh quân đội Quốc dân Đảng trong toàn quốc, để kềm chân không cho chúng điều động về phía Đông Bắc. Riêng Đông Bắc, cần phải từng bước tiêu diệt quân lực của Quốc Dân Đảng, để đạt đến mục đích khống chế toàn bộ Đông Bắc.

5. Vì tôi không hiểu được tình hình chung, nhưng hiện nay tôi thấy trong Quan Nội không còn đánh nhau, mà Quan Ngoại thì đơn độc kiên trì việc tiêu hao, nên cảm thấy hết sức bất lợi. Vậy, tôi nêu ra những ý kiến trên, xin xét đoán.

Bức điện đánh đi cho Trung ương cũng không có hồi âm.

Trận đánh bảo vệ Tứ Bình bắt đầu từ trung tuần tháng Tư cho đến trung tuần tháng năm, kéo dài một tháng tròn. Do Hồng quân lúc ban đầu đánh thắng mà không chịu rút lui, nên đã xem Tứ Bình như Madrid mà cố thủ, kết quả bộ đội thương vong tương đối nghiêm trọng. Về sau tình hình rất bị động, nên bắt buộc phải triệt thoái. Huỳnh Khắc Thành không hiểu được, tại sao Lâm Bưu và Trung ương lúc bấy giờ không đánh điện trả lời ông. Với tính cách và tài hoa quân sự của Lâm Bưu, cần phải tử thủ Tứ Binh, vì ông ta giỏi đánh những trận gay go như thế chăng? Nếu không phải vậy, thì tại sao?

Nghi vấn đó mãi cho tới năm 1959, sau ngày hoàn toàn giải phóng, ông mới được giải đáp.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Năm, 2023, 03:40:59 pm

Hội nghị Lư Sơn năm 1959, đối với Huỳnh Khắc Thành rõ ràng là một tai họa. Lúc bấy giờ Trung Quốc đang nổi lên những trận gió khoa trương, mạo tiến, đối với nền sản xuất công nông nghiệp, Trung ương đánh giá quá cao, khiến cấp dưới đua nhau có ý kiến. Huỳnh Khắc Thành thấy được điều đó, cho rằng chính sách của Trung ương quá "tả", nên sau khi Bành Đức Hoài viết thư góp ý cho Mao Trạch Đông, thì ông cũng phát biểu trong thảo luận tiểu tổ, và phê bình chính sách này của Trung ương. Kết quả, sự phê bình của ông đã khiến ông trở thành một "thành viên" trong "Câu lạc bộ quân sự Lư Sơn"!

Huỳnh Khắc Thành là người có cá tính ngay thẳng, trong sáng, nghĩ sao nói vậy, nên kiên quyết không thừa nhận mình và Bành Đức Hoài, cũng như những người khác, có cái chi gọi là "Câu lạc bộ quân sự” cả.

Câu chuyện này lại phải trở về với trận đánh bảo vệ Tứ Bình hồi năm 1946. Sau khi hội nghị Lư Sơn khai mạc chẳng bao lâu, Mao Trạch Đông có hẹn với Huỳnh Khắc Thành tới chỗ ông ấy ăn cơm. Họ vừa ăn vừa tranh luận vấn đề. Khi nói tới trận đánh bảo vệ Tứ Bình, Mao Trạch Đông hỏi Huỳnh Khắc Thành:

— Chả lẽ trận đánh bảo vệ Tứ Bình là sai hay sao?

Huỳnh Khắc Thành đáp:

— Ban đầu kẻ địch tấn công Tứ Bình, chúng ta đánh chúng để chặn đứng sức tiến công của địch, đó là không sai. Nhưng về sau, địch tập trung trọng binh tới tìm chủ lực của ta để quyết chiến, mà ta lại cố thủ Tứ Bình là không nên!

Mao Trạch Đông nói:

— Việc cố thủ Tứ Bình là do tôi quyết định! Chừng đó, Huỳnh Khắc Thành mới biết tại sao trước đây Lâm Bưu không trả lời những bức điện của ông và cũng không rút quân. Nhưng ông vẫn nói:

— Nếu là đồng chí quyết định, cũng vẫn là sai lầm!

Mao Trạch Đông suy nghĩ một chốc, chừng như nói với Huỳnh Khắc Thành mà cũng chừng như nói với mình:

— Điều đó hãy chờ lịch sử và người hậu thế phê phán vậy!

Sau khi toàn quốc được giải phóng, Huỳnh Khắc Thành trước tiên làm bí thư thị ủy thành phố Thiên Tân. Chẳng bao lâu sau, lại làm bí thư tỉnh ủy Hồ Nam kiêm tư lệnh, chính ủy quân khu Hồ Nam. Sau đó ông lại được rút về làm bí thư Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc. Trong hội nghị Lư Sơn, ông bị đả đảo, và trong "Cách mạng văn hóa" bị bức hại. Sau đó, lại trở ra chủ trì công tác của ủy ban kỷ luật kiểm tra Trung ương cho tới ngày tắt thở.

Cuộc đời của Huỳnh Khắc Thành có thể nói là một cuộc đời không oán hận, không hối tiếc. Cả đời ông bao giờ cũng quang minh, lỗi lạc, lòng dạ ngay thẳng, trời không sợ, đất không kiêng, là một người đàn ông đầu đội trời, chân đạp đất. Đặc trưng đó làm ông nổi bật trong những nhà cách mạng vô sản lão thành, mà cũng là điều mà ai cũng nhận thấy.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 02:55:14 pm

NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ
ĐẠI TƯỚNG TRẦN CANH


1. GIA THẾ

Ngày mười sáu tháng ba năm 1961, đại tướng Trần Canh đã vĩnh viễn nhắm đôi mắt sáng ngời của mình, rời bỏ sự nghiệp và thân nhân mà ông lúc nào cũng yêu mến. Ông ra đi, nhưng công lao hiển hách của ông trong đấu tranh cách mạng, thì vĩnh viễn sống mãi trong lòng của nhân dân. Trần Canh - đúng là một nhân vật truyền kỳ.

Một đứa con trai của một gia đình đại địa chủ ở Tương Hương, nhưng về sau lại trở thành một đảng viên cộng sản, đánh đổ địa chủ và giai cấp tư sản. Trong quá trình đó, quả thực có nhiều điều mà ai cũng muốn tìm hiểu.

Cách thị trấn Tương Hương, thuộc tỉnh Hồ Nam về phía Bắc mười lăm dặm, có một thôn trang xinh đẹp, gọi là Liễu Thọ Phố. Nơi này núi xinh nước đẹp, có những khe nước chảy róc rách, những dòng suối nước chảy cuồn cuộn. Ngày hai mươi bảy tháng hai năm 1903, Trần Canh đã chào đời tại đó.

Về thân thế của bản thân Trần Canh có viết trong quyển "Tự Truyện" của mình như sau: "Ông nội tôi xuất thân bần hàn, thậm chí quần áo không đủ che thân, từ nhỏ đi theo trận mạc rồi làm quan, nên trở thành giàu có, rất thiện chiến. Cha tôi thừa kế tổ nghiệp, là người tương đối có tiếng tăm trong thôn làng và đối với cách mạng tỏ ra đồng tình. Ngay từ nhỏ tôi đã chịu ảnh hưởng của ông nội tôi. Lúc nào cũng muốn bỏ đèn sách để theo việc chiến chinh...". Từ đó cho thấy, thời thơ ấy của Trần Canh đã chịu ảnh hưởng của ông nội rất sâu sắc.

Ông nội của ông là Trần Ích Hoài, biệt hiệu Bồi Chi, sinh năm 1846 tại Tương Hương. Lúc nhỏ nhà nghèo; sinh hoạt khó khăn, chỉ biết đến nhà người cậu là một đại địa chủ để làm công dài hạn, chăn trâu cày ruộng, không có việc gì mà không làm. Do hồi nhỏ ông luyện võ công, nên có sức mạnh hơn người, ăn cơm cũng đặc biệt nhiều. Sau khi tới nhà người cậu làm công dài hạn, ban ngày lo việc làm ruộng, ban đêm thường luyện võ tới khuya. Do ăn cơm quá nhiều, nên người cậu vốn đã không thích sức ăn của ông, nay thấy ông luyện công lại càng thêm bất mãn. Cứ mỗi lần bắt gặp, là ông ta lại nói những lời chua chát khó nghe, còn mắng ông là người "không có tương lai lớn”. Một đêm, ông đang luyện võ công thì bị người cậu mắng là “đồ chồn mà muốn bắt chước mèo, dù bắt chước cũng không giống đâu!". Ích Hoài nghe thế rất tức giận, bèn bỏ nhà cậu ra đi, và thề sẽ làm nên danh phận chi đó cho ông cậu thấy. Từ trước tới nay, người ở Hồ Nam thường đi lính cho triều đình. Khi ra bên ngoài, ông thấy rất nhiều chỗ mở quầy chiêu mộ "Tương Quân" (lính Hồ Nam). Ông bèn dựa vào võ nghệ của mình đã học, tới một quầy chiêu mộ ghi danh gia nhập Tương Quân. Lúc mới vào quân ngũ, ông chỉ là một tên "hỏa đầu quân" (lính nấu cơm). Về sau, ông mới dần dần được sử dụng làm binh sĩ chiến đấu. Do nhiều năm tập võ nghệ, nên võ công của ông rất cao, hai tay rất mạnh. Ông có thể đứng trên ba chiếc bàn chồng lên nhau, dùng răng cắn lấy một sợi thừng, ở bên dưới cột dính chùm bốn thùng đựng nước, rồi cất nó lên khỏi mặt đất. Vũ khí mà ông dùng trong quân đội là một ngọn đại đao nặng ngoài tám mươi cân. Chẳng những thế, ông còn dũng cảm và thiện chiến, nhiều lần lập được kỳ công. Cho nên thường được cấp trên tưởng thưởng, từng bước thăng chức không ngừng, "mãi cho đến khi ông thăng lên chức như sư trưởng ngày nay" (lời nói của Trần Canh năm 1944 tại Diên An). Ích Hoài cầm quân đánh giặc chung quanh vùng sông Trường Giang và từng trú đóng tại Vũ Hồ, An Khánh, từng tham gia đàn áp những cuộc nông dân khởi nghĩa. Lúc bấy giờ ông luôn ghi nhớ "Hoàng ân bao la", nên quyết chí tận trung với triều đình. Về sau tuy không có sự bừng tỉnh giác ngộ, nhưng dần dần cảm thấy đối địch với dân, không ích lợi gì cho nước, mà bị muôn dân oán hận. Ông lại thấy triều đình bất lực, nhà Thanh hủ bại, nạn ngoại xâm, nội loạn luôn luôn xảy đến, khiến nhân dân ai ai cũng oán hờn. Cho nên, ông đã kiên quyết rời khỏi Tương Quân, từ quan trở về quê. Do bản tính của ông là người trung hậu giản dị, nên không chú ý tới việc làm tiền, nhưng với chức quan cao trong quân đội của triều đình ông vẫn có sự thu nhập tiêu xài không hết. Nhờ đó mà có phần tích lũy. Sau khi rời quân đội, ông trở về quê tại Dương Cát An là một thôn nhỏ. Ông mua một ngôi nhà bình thường để cho gia đình ở yên. Ngôi nhà này không giống phủ đệ của quan tướng nổi danh lúc bấy giờ, mà chỉ là một ngôi nhà nông thôn như mọi ngôi nhà khác. Sau khi tu sửa lại, Ích Hoài đã an cư tại đây.

Khi đã trở về thôn quê, Ích Hoài bèn mua hai trăm bốn mươi mẫu ruộng, hầu hết đều cho tá điền làm, riêng mình giữ lại ba chục mẫu, thuê hai nhân công làm năm để cày cấy. Do từ nhỏ ông đã sống trong cảnh bần hàn, nay vẫn không quên nỗi nhọc nhằn của mình khi nghèo khó. Cho nên khi đã có tiền trong tay, ông muốn làm một vài việc từ thiện chi đó trong thôn ấp.

Do vậy, những thân bằng ở gần, nếu gặp khi túng bấn khó khăn, mà tìm tới ông nhờ cậy, bao giờ ông cũng tận tình giúp đỡ cho.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 02:55:46 pm

Do bần cùng mà tổ phụ của Trần Canh lập gia đình hơi muộn, mãi tới năm ông ba mươi tuổi, vào làm lính ở Tương Quân, và được giữ chức "Tiêu trưởng" (người chỉ huy canh gác) thì mới kết hôn với một cô gái họ Lưu, nhỏ hơn ông mười tuổi, cũng là người đồng hương. Tổ mẫu sau khi về làm dâu cho nhà họ Trần, chẳng bao lâu hạ sinh được một đứa con trai. Đó là cha của Trần Canh, tên Trần Thiệu Thuần. Năm năm sau, lại hạ sinh chú của Trần Canh là Trần Bích Thuần. Chẳng may, sau khi chú của Trần Canh chào đời chẳng bao lâu thì tổ mẫu của ông bị bệnh qua đời. Đó là năm 1895. Sau khi tổ mẫu chết, cha của Trần Canh mới vừa mười hai tuổi. Tổ phụ đứng là làm chủ hôn, cưới vợ cho cha ông, và bảo cha ông phải quản lý chuyện gia đình. Qua mấy năm sau, tổ phụ của ông lại kết hôn với một người con gái ở tỉnh Tứ Xuyên, trước kia cũng từng đi lính. Vị kế tổ mẫu này không sinh con cái, và đối với con cháu của tổ phụ nhất mực yêu thương. Do vậy, bọn con cháu ai ai cũng hết sức tôn kính và thương yêu vị kế tổ mẫu.

Kế tổ mẫu nguyên là một kỵ sĩ trong quân đội của tổ phụ trước kia, võ công rất giỏi, cưỡi ngựa bắn cung rất tài. Cha và chú của Trần Canh ở nhà thường theo học quyền cước và võ công với kế tổ mẫu. Khi luyện công, bà thường bảo các con trai nhào lộn trên một cây côn của bà giữ trong tay, tỏ ra rất tận tình trong việc dạy võ công cho các con.

Khi kể về phụ thân của mình, Trần Canh thường nói: "Khá có tiếng tăm trong thôn xóm, đối với cách mạng tỏ ra đồng tình". Phụ thân của ông là người ngay thẳng, thích làm điều thiện, thường bố thí cho người nghèo. Ông lấy hình thức tặng gạo ăn tết, hoặc bán gạo với giá rẻ, để cứu tế cho người đồng hương. Đến khi ngọn triều cách mạng ào tới, tiếng hát của quân Bắc phạt vang rền, phong trào nông dân ở tỉnh Hồ Nam sôi sục thì ông tỏ ra đồng tình. Và, những tháng năm sau đó, vì Trần Canh đã trở thành đảng viên Cộng sản, là tướng lĩnh cao cấp lừng danh của Hồng quân, nên từ năm 1927, sau "Mã Nhật sự biến", trải qua những trận khủng bố trắng liên tục trong mười năm nội chiến, gia đình ông thường bị họa lây. Cha Trần Canh đã liên tiếp hai lần bị tội "dạy con không nghiêm", "gia đình xích phỉ", và bị bắt bỏ ngục. Tiếp theo đó, họ lại bị sự bức hại về mặt chính trị của phái phản động, nên kinh tế của gia đình này ngày một xuống dốc. Đến thời kỳ kháng chiến chống Nhật, ngay cả ngôi nhà rách nát tại Dương Cát An, và mấy mẫu ruộng còn sót lại cũng phải đem bán đi. Vậy, cả nhà lớn nhỏ, biết an thân ở đâu bây giờ? Tại vùng Dương Cát An có một ngôi núi nhỏ, nằm về phía Nam chừng năm dặm đường. Trên đó có một ngôi Bảo Hoa Am, gồm có ngoài mười gian nhà, kể cả một ngôi đại điện thờ tượng Thích Ca Mầu Ni Phật. Trước đây, khi xây dựng ngôi am đường này, tổ phụ của Trần Canh là người quyên góp nhiều nhất, cho nên có một thời gian gia đình của Trần Canh đứng ra cai quản ngôi am này. Về sau, trải qua nhiều sự tang thương biến đổi, trong am không còn tăng ni. Lúc đó tuy nhà cửa cũ rách, nhưng nếu tu sửa lại chút ít thì vẫn có thể ở được. Nhờ đó, khi cả nhà của Trần Canh không còn con đường nào để chọn, bèn dời hết lên Bảo Hoa Am để sống yên thân. Do chịu ảnh hưởng tham gia cách mạng của Trần Canh, nên phái phản động của Quốc dân đảng luôn luôn tìm cách hãm hại gia đình, và về mặt kinh tế, ngày một sa sút, đi tới phá sản. Tình hình đó làm cho tư tưởng của Trần Thiệu Thuần bắt đầu phân hóa. Đến sau này, ông chẳng những là một người đồng tình với cách mạng như hầu hết những người khác, mà còn ủng hộ, giúp đỡ Đảng Cộng sản lãnh đạo đấu tranh cách mạng. Ông thường không sợ nguy hiểm, che giấu tổ chức hoạt động bí mật ở địa phương, che giấu nhân viên công tác hoạt động bí mật tại quê nhà. Tổ chức Đảng vẫn thường họp tại nhà ông, và đích thân ông tự nguyện ra canh gác để bảo vệ cuộc họp. Những hành động bức hại của phái phản động ngày một gay gắt, nhưng vẫn không hề khuất phục được ý chí của ông. Ngày mùng bảy tháng giêng năm 1945, cha của Trần Canh từ Bảo Hoa Am đi đến Cốc Thủy để thăm bà con, cách xa đó hơn một trăm dặm. Vì ông bị huyết áp cao, nên đã ngã gục và chết bên cạnh một chiếc cầu đá, tại một địa phương có tên là Nguyệt Sơn Loan.

Mẹ của Trần Canh tên gọi Bành Học Nhàn, xuất thân là người hàn vi. Sau khi bà bước vào ngưỡng cửa gia đình họ Trần, trở thành dâu trưởng của gia đình này, bèn cùng người chồng trẻ tuổi lo liệu, gánh vác mọi việc trong gia đình. Bà cần kiệm siêng năng, chăm sóc con cái. Mẹ của Trần Canh trước sau hạ sinh được mười hai người con (nửa trai nửa gái), Trần Canh nguyên là đứa con thứ hai, nhưng người anh lớn hơn Trần Canh một tuổi, đã yểu tử lúc lên mười, nên Trần Canh trở thành trưởng nam trong gia đình. Ông còn hai đứa em gái, đã yểu tử lúc mới bảy tám tuổi. Người em trai Trần Tôn Tam, đi lính cho quân phiệt và đã bị chết vì bệnh kiết lỵ trong khi vẫn còn ở tại quân ngũ. Đứa em trai thứ tư là Trần Diệc Ngô, cũng đi trong quân đội cũ, và chết tại Hành Dương, tỉnh Hồ Nam. Trần mẫu là một lương thê hiền mẫu điển hình. Cả cuộc đời chỉ biết lo việc nhà, lo nuôi dạy con cái, cần lao tiết kiệm. Tính bà rất trung hậu, tâm địa lương thiện cùng với cha của Trần Canh làm việc từ thiện, cứu tế cho người nghèo.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 02:56:30 pm

Mùa hè năm 1944, giặc Nhật tiến đánh Hồ Nam và Quới Châu, chúng kéo tới quấy phá Bảo Hoa Am, buộc mẹ Trần Canh phái rời ngôi am này đi lánh nạn. Tháng tám âm lịch năm đó, trong khi giặc Nhật đang càn quét lục soát ngọn núi, thì bà bệnh hoạn lại nghèo, không có tiền chạy chữa thuốc men, và quá sợ hãi nên đã từ trần.

Đại tướng Trần Canh, một ngôi sao sáng chói trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc, đã chào đời và trưởng thành trong một gia đình như thế. Không rõ các bạn có thể nhận ra chăng? Về sau Trần Canh đã đi vào con đường binh mã, là có chịu ảnh hưởng của gia đình mình không? Đáp án chắc là phải khẳng định rồi.

Trần Canh thuở nhỏ có nhũ danh là "Phúc Ca". Khi bắt đầu đi học, mới lấy tên là Thứ Khang, tự là Tuyền Cẩn. Còn tên "Trần Canh" là tên được sửa lại sau khi vào làm lính trong Tương Quân, và được mọi người biết tới như hiện nay.

Thuở nhỏ Trần Canh thông minh lanh lợi, lại là cháu trưởng nam đích tôn, cho nên được tổ phụ nuông chiều thương yêu. Tổ phụ là người trải qua nhiều năm chinh chiến, chiến công không kể hết. Trên người tổ phụ còn lưu lại nhiều vết sẹo do dao mác gây ra. Ông thường sờ vào vết sẹo của mình, kể lại cho tiểu Thứ Khang nghe những cuộc đánh nhau trước đây khi ông ở trong quân đội. Ông kể cho cháu mình biết những trận đánh đó diễn biến như thế nào, và ông bị thương ra sao. Ông dạy Thứ Khang lớn lên cũng nên đi làm lính đánh giặc. Tổ phụ là người thích nói chuyện. Một khi kể chuyện gì thì thao thao bất tuyệt. Nói rất hấp dẫn, làm cho một cậu bé như Trần Canh, nghe mê mệt và lưu lại ấn tượng rất sâu sắc trong trí não. Trần Canh xem ông nội mình là một anh hùng đáng sùng bái, trong lòng ước nguyện là khi lớn lên, sẽ giống như ông nội, phóng ngựa ra sa tràng chiến đấu, để xây dựng công danh sự nghiệp.

Lúc còn bé, Trần Canh vẫn thường đi theo người nhà để làm nghề nông. Tính tình Trần Canh hoạt bát, lại thích nghe kể chuyện đời xưa, thích chơi những nhạc cụ như hồ cầm, kèn Sôna. Khi Trần Canh lớn lên, gặp phải thời kỳ xã hội Trung Quốc đang đảo lộn mạnh mẽ. Tuy hồi chuông báo tử của xã hội phong kiến đã điểm, nhưng thế lực phong kiến còn rất ngoan cố. Cũng như những gia đình theo kiểu cũ, gia đình Trần Canh là gia đình vẫn giữ tác phong gia trưởng khống chế của chế độ phong kiến. Cha Trần Canh đối với con cái rất nghiêm khắc, không cho phép bất cứ ai được phát triển theo ý riêng của mình. Kể từ năm sáu tuổi, Trần Canh được gia đình đưa đến học ở một trường tư thục ba năm. Năm chín tuổi đến mười một tuổi, Trần Canh lại đến một trường tư thục tại từ đường họ Đàm ở Thất Lý Kiều để học thêm hai năm nữa. Cách dạy học ở trường tư thục rất cũ kỹ. Hằng ngày ông thầy mặc áo dài kiểu cổ của Trung Quốc, với sắc diện đạo mạo, nhồi vào đầu óc của học trò mình những pho sách cổ như "Tứ Thư", "Ngũ Kinh". Học trò nếu trả thuộc lòng không xong, thì bị khẻ bàn tay hoặc đánh vào mông. Trần Canh là một con người háo động, nên đối với cách học này ông không thích. Tuy không chuyên cần lắm, nhưng nhờ trí tuệ thông minh, Trần Canh có thể trả bài thuộc lòng dễ dàng. Ông lại được tổ mẫu của mình che chở, nên ít khi bị thầy giáo đánh đòn. Nhưng, việc quở trách thì luôn xảy ra. Vì bản tánh Trần Canh nghịch ngợm, nên để trả thù sự quở trách của thầy, ông thường bày những trò chơi quái ác. Có một lần, ông xách cưa đi cưa cây đà ngang ngoài cầu xí một nửa, nếu người có sức nặng đạp lên thì sẽ gãy và sẽ rơi xuống hố xí. Việc làm này, khiến cho thầy giáo suýt nữa bị khổ. Thế là, Trần Canh lại bị thầy giáo quở trách, còn bị cha đánh đập và mắng chửi. Cha ông vì quá tức giận, nên gầm hét lên, nói:

— Đến khi mày mười sáu tuổi, thì tao sẽ tống cổ mày ra khỏi nhà.

Đối với những câu hăm dọa kiểu đó, Trần Canh không biết giả hay thực, nhưng vẫn không để ý. Vì ông cảm thấy một người con trai khi lớn lên, thì nào chịu để cho những quyển sách cũ kỹ đó trói buộc. Về sau, khi ông viết hồi ức có nói: "Lúc còn bé, tôi đi học, nghịch ngợm và quậy phá lung tung", "Tính tôi lôi thôi, nên không chú ý tới việc ăn diện, ngay lúc nhỏ đã như thế rồi".

Năm 1915, khi Trần Canh đã được mười hai tuổi, thì kết thúc những chuỗi ngày học tập ở những lớp tư thục quá nhàm chán, để đến một ngôi trường cao đẳng tiểu học tại huyện Tương Hương, cách quê nhà của ông hơn hai mươi dặm đường. Ngôi trường này tiền thân của nó là Đông Sơn Thư Viện, được xây dựng thành trường tiểu học theo kiểu mới, sau khi triều đình Mãn Thanh phế bỏ khoa cử nhân hồi năm 1890. Trong trường này, ngoài những sách kinh điển cổ, còn dạy thêm các môn khoa học tự nhiên, Anh ngữ, âm nhạc. Trong trường cũng giới thiệu nhiều môn khoa học xã hội của các nước phương Tây tiên tiến. Cách dạy học cũng rất "duy tân". Trước và sau cách mạng Tân Hợi, tư tưởng mới bắt đầu truyền bá tới ngôi trường này, nên nó trở thành ngôi trường có tiếng đối với các huyện chung quanh. Lúc đó, học sinh trong trường có thể xem được sách báo tiến bộ. Hằng ngày sau giờ thể thao sớm xong, hiệu trưởng thường nói chuyện trước học sinh, và đề cập việc Trung Quốc ngày càng nghèo yếu, bị các cường quốc trên thế giới hiếp đáp. Có mấy giáo chức du học Nhật Bản trở về, cũng nói với học sinh sự phú cường của nước Nhật sau ngày Minh Trị duy tân, và việc các cường quốc trên thế giới đã có dã tâm xâm lược Trung Quốc. Họ truyền bá tư tưởng "nước giàu binh mạnh". Đến 1910, Mao Trạch Đông cũng có đến học ngôi trường này."


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 02:57:07 pm

Trần Canh sau khi vào trường tiểu học Đông Sơn, được xếp vào lớp B. Học được một năm, Trần Canh cảm thấy vui thích như cá được nước. So với lúc trước, thì ở đây khác hơn một trời một vực. Do tâm trạng vui thích, nên Trần Canh rất siêng học, thành tích học tập rất tốt. Trần Canh lại có tính bạo dạn, không biết gì thì hỏi thẳng với thầy. Ngoài ra, ông còn có tính nhún nhường, nên được thầy yêu bạn mến. Trần Canh lại có trí nhớ phi thường, phàm những thi, văn, kinh, sách hễ xem qua là ông thuộc làu, như những bộ sách "Xuân Thu", "Cương Giám", mấy mươi năm sau ông vẫn trả làu làu. Ở trường Đông Sơn, Trần Canh từng học qua "Cái lý nước giàu binh mạnh", "Ẩm băng thất hội tập", "Trung Quốc Hồn", v.v... là những sách báo tiến bộ lúc bấy giờ. Việc giống như ông nhìn qua tấm vách kín mít của chế độ phong kiến, có những kẽ hở để thấy được những điều mới lạ ở bên ngoài, mà từ trước tới nay mình chưa hề thấy. Nhờ vậy mà tầm mắt của ông mở rộng thêm, bước đầu biết mơ hồ thế nào là những đạo lý "Các nước mạnh, nước ta yếu, các nước giàu, nước ta nghèo", v.v... Những ý thức tỉnh ngộ về dân tộc đó đang phản ánh vào tâm linh trong trắng của Trần Canh, và sản sinh ra một ý nghĩ thương nước thương dân, muốn trở thành bậc anh hùng hào kiệt, và muốn làm sao cho "nước giàu binh mạnh". Tình hình này hoàn toàn khác hẳn với lúc còn học ở tư thục. Ở đây, Trần Canh tỏ ra rất hoạt bát, quả cảm, thích làm những việc hào hiệp, phản đối sự áp chế của đương cuộc nhà trường, còn tham gia cả bãi khóa nữa.

Ngay năm Trần Canh bước vào tiểu học, thì gia đình lại lo việc hôn nhân cho ông. Cha ông đã bắt buộc ông phải đi kết hôn với một cô gái lớn hơn mình hai tuổi. Cô gái này tên gọi Trần Bích Quân, nhà ở tại thành Tiền Hương, cách Dương Cát An hơn mười dặm đường. Đôi bên "môn đăng hộ đối", cho nên cha Trần Canh hết sức tán thành. Dưới chế độ phong kiến thời xưa, việc hôn nhân do gia đình áp đặt, không cần biết người trong cuộc có bằng lòng hay không, là chuyện thường thấy trong xã hội. Nhưng, đối với Trần Canh là một thanh niên vừa bắt đầu tiếp thu những tư tưởng mới, việc này thật không thể nhân nhượng được. Huống hồ chi tánh tình của ông lại rất bướng, cho nên không chịu nghe theo mệnh lệnh của cha, và lời nói khéo của người mai mối theo kiểu tập quán cũ, mà phản đối kịch liệt cuộc hôn nhân của mình. Trần Canh vốn đối với gia đình có nhiều điều bất mãn, và sự bất mãn đó ngày càng gay gắt hơn. Nay, nhân dịp cuộc hôn nhân này, sự bất mãn đó liền bùng nổ lên như một ngòi pháo. Hơn nữa, trước phong trào "Ngũ Tứ", người Hồ Nam đi lính rất nhiều, hình thành một phong trào trong xã hội. Do chịu ảnh hưởng của ông nội, Trần Canh hồi nhỏ đã có ý chí dũng cảm, nên kết hợp với ý chí cứng rắn bướng bỉnh của mình, từ lúc nhỏ, ông đã có ý nguyện rời đèn sách để theo chiến chinh. Cho nên năm mười ba tuổi, không chờ đến đủ mười sáu tuổi để người cha tống cổ mình ra khỏi cổng như đã hăm, ông tự mình đi tìm một cuộc sống độc lập, quyết không ỷ lại vào gia đình nữa. Trần Canh rời nhà ra đi, và đã đi thẳng tới trại lính xin gia nhập quân ngũ. Sở dĩ Trần Canh rời nhà, không chỉ riêng việc bị cha mình bắt ép cưới vợ, mà vì ông cảm thấy nếu so với nhiều thiếu niên lúc bấy giờ, tâm hồn ông rộng mở hơn rất nhiều. Ông ra đi là để mình có thể sáng tạo một sự nghiệp riêng cho mình, nhất là làm cái gì đó đối với quốc gia và xã hội. Vì tất cả những điều đó là một viễn ảnh rất đẹp, đầy sức thu hút đối với ông. Chính vì những yếu tố như vậy, mà nó đã thúc đẩy ông dám phá vỡ sự ràng buộc của gia đình, ra đi để tìm một thế giới rộng rãi hơn.

Tháng năm năm 1916, tổ phụ của Trần Canh vì bệnh qua đời. Tổ phụ là người được Trần Canh sùng bái nhất, nay bỗng nhiên qua đời, khiến trong lòng ông hết sức đau thương. Tuy nhiên, những lời khuyến khích "phải có tinh thần thượng võ" của tổ phụ, thì lúc nào cũng sống mãi trong lòng Trần Canh. Nay tổ phụ qua đời là dịp thúc đẩy cho Trần Canh phải hành động. Cuối năm đó, ông chưa tốt nghiệp cao đẳng tiểu học, thì đã rời bỏ Đông Sơn học đường, đến chỗ chiêu mộ của Tương Quân tại Dã Miêu Ao, cách nhà ông không xa, để ghi danh, và liền được biên chế vào bộ đội của Lỗ Điều Bình, làm binh nhì tại tiểu đoàn hai thuộc đoàn sáu. Lúc rời khỏi nhà, Trần Canh mặc một chiếc áo da, trông giống như dân "cậu". Nhưng, ngay từ lúc nhỏ tánh tình vốn đã cứng cỏi, Trần Canh cuối cùng chịu đựng được tất cả mọi sự khổ cực, vác cây súng trường Đức cũng cao ngang đầu cậu, suốt trong vòng bốn năm. Sau đó, từ binh nhì Trần Canh lên được thượng sĩ. Có một lần bộ đội bị đánh thua, phải lui về Sâm Châu ở Hồ Nam, đời sống rất kham khổ, nên khắp người ông sinh ghẻ chốc. Gia đình liên tiếp phái người đến đơn vị tìm Trần Canh để đưa về, nhưng ông vẫn cương quyết ở lại, sống qua những ngày gian truân đó. Vì ở nhà trường, Trần Canh đã học qua sách vở, nên tính cách rất dũng cảm, hào phóng. Do vậy, ông được binh sĩ rất kính trọng, binh sĩ nhờ ông viết thư gửi về nhà, còn đại đội trưởng nhờ ông dạy hát, tất cả ông đều làm giúp. Lúc bấy giờ, có thể nói Trần Canh là một người rất hoạt bát.

Lúc đó, Hồ Nam là một địa điểm mà quân phiệt ở phía Nam lẫn phía Bắc đang giành nhau. Họ đánh nhau, giết nhau như là cơm bữa. Trần Canh nhập ngũ qua bốn năm, đã nối tiếp tham gia chiến tranh "hộ pháp". Chiến tranh "đuổi Trương", chiến tranh giữ Hồ Nam và Hồ Bắc v.v... Chính mắt ông nhìn thấy sau những cuộc hỗn chiến, trên chiến trường đầy rẫy xác chết. Nhà cửa dân chúng, mười gian bỏ trống đủ mười, cảnh tượng rất thê thảm, ông cảm thấy hết sức đau lòng, và trong đầu óc liền hiện lên một sự nghi vấn: “Ta làm lính để làm gì?". Ông cảm thấy mình làm lính trong loại quân đội hại nước hại dân này, đối với quốc gia dân tộc, hoàn toàn không có ích lợi chi. Ngoài ra, đã là một người lính, thì không mong gì được thăng lên làm sĩ quan, ngoại trừ có một trường hợp rất đặc biệt nào đó. Vì, sĩ quan trong bộ đội có thiếu, họ thường vẫn lấy học sinh trường võ bị ra để bổ sung. Chính vì vậy, Trần Canh cảm thấy làm lính ở đây không có tương lai. Đặc biệt là có một lần ông muốn thi vào một trường võ bị, nhưng vì bản thân mình là lính, nên không đủ điều kiện thi vào. Điều đó đối với ông là một sự đả kích rất lớn. Ý nghĩ rời bỏ quân đội mỗi lúc lại càng cấp thiết hơn. Mãi đến năm 1921, bỗng một cơ hội thuận tiện tới, khiến cho Trần Canh rời khỏi được quân đội, và trong lòng ôm một ý nghĩ thương nước thương dân. Từ Nhạc Dương trở về tới Trường Sa, ông vừa làm viên chức đường sắt, vừa lo học tập.

Ngày một tháng bảy năm đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời tại thành phố Thượng Hải. Lúc Trần Canh tới Trường Sa thì phong trào công nhân ở Hồ Nam đã rất sôi nổi. Trường Sa là một trong những cái nôi cách    mạng của Trung Quốc. Mao Trạch Đông đến Trường Sa mở "Thư xã văn hóa", “Đại học hàm thụ", "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác", có ảnh hưởng rất lớn trong thanh niên. Lúc đó, Trần Canh và vô số những thanh niên có tư tưởng yêu nước, tiến bộ, ai ai cũng đang băn khoăn trước tổ quốc bị nhiều khó khăn, lâm vào cảnh hèn yếu và nghèo đói, nên muốn tìm một chân lý để cứu nước, và tạo một tương lai xán lạn cho tổ quốc và nhân loại. Trong những năm ở Trường Sa, Trần Canh đọc sách báo tiến bộ như người đang đói khát nhai thức ăn ngấu nghiến. Và, ông cũng chịu ảnh hưởng những tư tưởng mới qua phong trào "Ngũ Tứ”, nên về mặt tư tưởng đã tiến lên vùn vụt. Từ đó hình thành một niềm tin mới. Ông bằng lòng hiến thân mình cho sự nghiệp cải tạo nước Trung Quốc và cho thế giới. Tháng mười hai năm 1922, Trần Canh gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Như vậy là phong trào Cộng sản vào thời kỳ đầu ở Trung Quốc, lại thêm một chiến sĩ kiên cường. Việc này, đã thành một khúc quanh quan trọng trong đời sống của Trần Canh. Năm đó, Trần Canh chỉ mới mười chín tuổi, nên có thể gọi là một thanh niên tuấn kiệt.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:00:50 pm

2. SỐNG GIỮA HANG RỒNG, Ổ CỌP

Cuộc đời của Trần Canh có một sắc thái truyền kỳ lạ lùng. Có lúc ông là một thương gia, nhưng có lúc ông lại là một ông thầy thuốc bắc, và cũng có lúc lại là một nhà thầu ở vùng tô giới. Sự tích của ông thật ly kỳ, hấp dẫn, có nhiều khi rất hiểm nguy. Nhưng những lần gặp hiểm nguy đó đều được bình an vô sự. Tất cả sự tích về ông, kẻ thù mù mờ không biết gì, trái lại, đồng chí của ông ai ai cũng phải tặc lưỡi khen ngợi.

Ngày một tháng mười năm 1925, quân cách mạng Quảng Đông vì muốn đả đảo quân phiệt Trần Quýnh Minh, nên mở đầu cuộc Đông chinh lần thứ hai. Lúc đó Tưởng Giới Thạch giữ chức chủ nhiệm tổng bộ chính trị quân Đông chinh, kiêm quân trưởng đệ nhất quân. Trong khi bao vây hang ổ của Trần Quýnh Minh ở Huệ Châu, Tưởng Giới Thạch và sư đoàn ba đánh kéo dài mà không thể chiến thắng, thương vong nặng nề, khiến ông ta cuống quít cả lên, nhưng vẫn không có biện pháp nào khác, Trần Canh lúc đó được Tưởng sai làm quyền sư trưởng sư ba, thấy Tưởng Giới Thạch bó tay không còn cách nào để thắng địch, tâm trạng lại đang hoảng loạn, thì ông vẫn bình tĩnh, một mặt bố trí cảnh vệ yểm trợ để rút lui, một mặt vừa kéo vừa cõng Tưởng Giới Thạch chạy mấy dặm đường, cho tới khi đến một bờ sông thì cùng lên thuyền. Trần Canh ra lệnh cho cảnh vệ chiếm ngay trận địa, ra sức chặn địch truy kích, rồi yểm trợ Tưởng Giới Thạch qua sông, thoát khỏi cảnh nguy hiểm. Tới chừng đó, mọi người mới thở phào.

Sau khi thoát hiểm, Tưởng Giới Thạch muốn liên lạc với Hà Ứng Khâm ở sư một, nhưng lại không có điện đài, chỉ còn cách phái người cầm thơ mang tới mà thôi. Tưởng Giới Thạch bèn triệu tập một số sĩ quan tới bộ tổng chỉ huy. Ông ta đi tới đi lui trong phòng, rồi bỗng quay phắt lại, nói:

— Tôi cần liên hệ với sư trưởng họ Hà, vậy ai bằng lòng mang thư đi?

Mấy sĩ quan đưa mắt nhìn nhau, không ai nói lời nào.

— Tôi xin đi!

Bỗng mọi người nghe một tiếng nói rất to. Tưởng Giới Thạch đưa mắt nhìn, thấy đó là Trần Canh. Ông ta có vẻ ngần ngại, nói một câu vuốt ve:

— Ông đã mệt nhọc quá rồi!

Trần Canh cải trang thành một nông dân, mang bức thư do chính tay Tưởng Giới Thạch viết, đi Hậu Bộ ở Hải Phong để tìm Châu Ân Lai (lúc đó làm đại biểu đảng tại sư một, quân một), và Hà Ứng Khâm. Thời gian rất cấp bách. Tưởng Giới Thạch yêu cầu Trần Canh phải đưa thư tới nơi trước mười giờ sáng. Từ địa điểm xuất phát tới Hậu Bộ, có một quãng đường xa tới hơn một trăm sáu mươi dặm. Hơn nữa, sau khi qua sông thì thuộc vùng địch chiếm đóng. Giữa đó còn có một dãy núi Liên Hoa Sơn, bên trong có rất nhiều thổ phỉ. Trần Canh lần đầu tiên đi tới nơi này, đường sá xa lạ. Do vậy, nhiệm vụ của ông là một nhiệm vụ khá gay go. Tuy nhiên, với tánh gan dạ, khôn lanh, Trần Canh lại cảm thấy đây là một sự thử thách đầy hấp dẫn, nên quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

Khi Trần Canh lên đường, còn có một sĩ quan đi theo. Nhưng trên đường đi họ gặp thổ phỉ xuất hiện, người sĩ quan đó bỏ trốn mất biệt. Trần Canh chỉ còn lại một mình, không có cách nào đối phó được với toán thổ phỉ này. Nhưng ông lại muốn đi qua trót lọt cho nhanh, bèn lấy ra một trăm đồng mang trong mình, trao hết cho thổ phỉ để làm "tiền mãi lộ". Bọn thổ phỉ đưa mắt nhìn Trần Canh từ đầu tới chân, thấy ông có cử chỉ hào phóng, thân người khỏe mạnh, đoán ông là một quân nhân, bèn hỏi thẳng:

— Anh hãy nói thật tình, anh làm gì trong quân đội của Trần Quýnh Minh, hay làm gì trong quân đội cách mạng ở Quảng Châu?

Trần Canh bình tĩnh mỉm cười, đáp:

— Tôi là quân cách mạng. Vậy các anh định làm gì đây?

Đám thổ phỉ có vẻ ngạc nhiên. Thì ra, họ không phải là những tên cướp tán tận lương tâm, mà chỉ là những người nông dân quá nghèo khổ, không còn đường nào kiếm sống, lại không bằng lòng cam chịu sự áp bức bóc lột của thế lực phản động, cũng như không bằng lòng ngồi yên chịu chết đói, chịu chết lạnh, nên mới buộc phải "lên Lương Sơn". Bọn họ tỏ ra khá có nghĩa khí, nghe qua Trần Canh là quân đội cách mạng, bèn không làm hại ông, mà còn trả lại phân nửa tiền cho ông, rồi thả cho đi. Họ còn báo cho Trần Canh biết, đi tới một đoạn nữa, sẽ gặp thổ phỉ. Còn trong núi sâu thì có cọp, vậy phải cẩn thận đề phòng. Tên cầm đầu toán cướp, còn vẽ ra một phù hiệu chi đó, rồi giao cho Trần Canh, bảo Trần Canh khi gặp bọn anh em của chúng, cứ đưa phù hiệu này ra cho họ xem, thì họ sẽ không gây rắc rối chi nữa. Phù hiệu đó trông thật đơn giản, chỉ vẽ một vòng tròn trên một tấm giấy, rồi lại chấm mấy chấm. Trần Canh đa tạ họ xong, bèn tiếp tục lên đường. Đêm đó khi đi đến chừng mười một giờ khuya, ông gặp thổ phỉ lần thứ hai. Vì tên đầu mục trước đây có vẽ một phù hiệu cho ông, nên bọn cướp chỉ lấy tiền của Trần Canh, chứ không làm hại ông, mà cũng không gây khó khăn gì. Trước khi cho ông đi, chúng lại viết một tấm giấy khác cho Trần Canh mang theo mình. Đến ba giờ khuya đêm đó, Trần Canh lại gặp một toán thổ phỉ thứ ba. Ông bèn đem việc hai lần trước đã gặp thổ phỉ nói cho toán thổ phỉ này nghe, liền được chúng thả cho đi, mà còn phái người đưa Trần Canh xuống núi.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:01:28 pm

Đêm khuya, Trần Canh đi một mình giữa rừng rậm núi hoang, không khỏi lo ngại. Vì bọn thổ phỉ cho biết là trong núi này có cọp. Ông sợ lại xảy ra rắc rối, không làm tròn được nhiệm vụ, nên trong tay luôn giữ chặt một cây côn, và đầu óc cảm thấy thật căng thẳng. Khi đi tới một vùng núi rậm rạp hiểm trở, cứ nghe có tiếng động gì, ông đều cảnh giác, sẵn sàng đối phó. Dưới ánh trăng lờ mờ, bóng cây oặt òa, khiến ông càng sợ cọp từ trong lùm cây nhảy ra, nên nắm cây côn trong tay càng chặt, và sẵn sàng đánh ra bất cứ lúc nào. Trần Canh lúc đó chỉ vừa mới hai mươi hai tuổi, thân người to lớn, khỏe mạnh, tay cầm côn, đi trong núi rừng giữa đêm khuya, thật chẳng khác nào Võ Tòng ngày xưa, một mình đi qua Cảnh Dương Cương, và đã đánh chết cọp vậy.

Do nhiệm vụ trọng đại, thời gian cấp bách, nên Trần Canh cứ men theo đường sơn đạo gồ ghề, hối hả mà đi. Sau một quãng đường, chân ông đã bị phồng, nổi bọc nước, còn bàn chân thì sưng phù, có chỗ rách da lòi thịt, cứ đi một bước lại đau thấu tận tâm can. Nhưng Trần Canh vẫn nghiến răng chịu đựng đi không dám nghỉ. Đến một giờ trưa thì ông tới được Hậu Bộ. Châu Ân Lai xem qua bức thư của Trần Canh mang tới, liền phái bộ đội đi đón Tưởng Giới Thạch về. Ban đầu Tưởng Giới Thạch không biết Trần Canh là đảng viên Đảng Cộng sản nên để tạ ơn cứu mạng của ông, có một dạo Tưởng Giới Thạch điều ông về bên cạnh mình, làm tham mưu tùy tùng. Trần Canh trong thời gian đó, có thể ra vào chỗ ở của Tưởng Giới Thạch một cách tự do. Khi quân Đông chinh đánh xuống Sơn Đầu, bộ tổng chỉ huy đóng tại Kỳ Lư, Tưởng Giới Thạch ở tại lầu một, còn Trần Canh và Châu Ân Lai ở trên lầu hai. Có một hôm, Trần Canh thấy trên mặt bàn của Tưởng Giới Thạch có để một quyển sách học sinh trường Hoàng Phố và người phụ trách các cấp. Ông liền lật ra xem, thấy tên họ của đảng viên Cộng sản đều có đánh vòng tròn đỏ. Và, bên cạnh tên Trần Canh, còn có ghi chú: "Người này là đảng viên Cộng sản, không thể cho chỉ huy quân đội".

Ngày hôm sau, Trần Canh thỉnh thị riêng với Châu Ân Lai, rồi lấy cớ về thăm mẹ bệnh nặng, viết một tờ giấy xin phép nghỉ để về nhà. Tưởng Giới Thạch xem qua, hiểu rõ ý đồ của Trần Canh, nên liền hỏi:

— Chắc không phải thế chứ? Chắc ông đã xem những gì của tôi rồi phải không?

Trần Canh lặng thinh, sau đó một đêm, Tưởng Giới Thạch cho người đi lấy vé tàu thủy, và trao cho lộ phí cùng với một "Ủy nhiệm trạng". Bên trên tờ ủy nhiệm trạng có viết rõ: "ủy nhiệm Trần Canh làm đội trưởng trung đội trường quân sự chính trị trung ương". Trần Canh liền rời khỏi Sơn Đầu, đến Quảng Châu.

Câu chuyện "cứu giá" đó, được đồn đại rộng rãi, trong quân đội Đông chinh cũng như trong trường lục quân Hoàng Phố, ai ai cũng biết, tên tuổi Trần Canh bắt đầu được mọi người chú ý.

Ngày một tháng tám năm 1927, cuộc cách mạng võ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo độc lập - cuộc khởi nghĩa Nam Xương đã bùng nổ. Trần Canh phụ trách công tác bảo vệ tại bộ tổng chỉ huy của quân khởi nghĩa. Khi bộ đội rút lui thì ông đi sau cùng. Ngày hai mươi bốn tháng tám, Trần Canh dẫn một tiểu đoàn đụng địch tại Hội Xương. Do quân địch có uy thế tuyệt đối, còn quân cách mạng đạn dược đã hết, lương thực đã cạn, nên bắt buộc phải rút lui. Trên đường rút lui, đến một giờ trưa thì đùi trái của Trần Canh đã bị trúng đạn, gần đầu gối bị đứt, xương đùi và xương sườn bị gãy, không còn đi được nữa. Ông thấy quân địch đuổi tới, vội vàng cởi y phục trên người vứt đi, rồi lăn xuống sườn núi và té vào một khe nước có cỏ mọc rậm rạp. Máu trên đùi ông vẫn tiếp tục chảy ra, làm cho khe nước đỏ ngầu. Lúc bấy giờ, viên phó của ông là Lư Đông Sinh cũng vội vàng nhảy xuống để chăm sóc cho ông. Không mấy chốc, từ trên núi có mấy tên lính địch đi xuống, Trần Canh không còn cử động được, nên khuyên Lư Đông Sinh hãy mau rút lui. Lư Đông Sinh vẫn không chịu rời bỏ Trần Canh, chỉ tìm một lùm cỏ khác để ẩn mình cho kín đáo. Trần Canh vội vàng lấy bàn tay chấm máu trên vết thương, rồi bôi đầy mặt đầy mình. Ông suy nghĩ, bộ đội của ta đã rút đi xa, nay địch kéo tới chắc là sẽ chết. Nhưng một chốc sau, ông lại suy nghĩ, ta còn trẻ tuổi, con đường tương lai còn dài, vậy chắc đây chỉ là một sự thử thách... Chờ khi mấy tên địch tới gần, Trần Canh bèn nhắm mắt nín thở, giả vờ như đã chết. Một tên địch lấy chân đá vào mình ông, thấy ông không có phản ứng gì mà vẫn nằm ngay đơ, nên tưởng ông chết rồi, bèn bỏ đi.

Ba tiếng đồng hồ sau, quân cách mạng do Diệp Dĩnh chỉ huy, đã phản công trở lại. Trần Canh nghe trên núi có tiếng ngựa hí người reo, tưởng là quân địch bị đánh thối lui trở về, nên vẫn nằm yên không dám nhúc khích. Vì lúc đó trên người Trần Canh chỉ còn mặc có một chiếc áo thun lá, và một chiếc quân đùi, bộ đội cách mạng đi lục tìm thương binh, tưởng ông là lính địch, bèn nện cho một báng súng, Trần Canh lén hí mắt nhìn, thấy trên cổ của họ đều có quấn khăn đỏ, biết đây là quân đội của mình, vui mừng ngồi dậy. Lư Đông Sinh cũng từ trong lùm cỏ chui ra. Lúc đó Hồng quân đã đánh chiếm được Hội Xương, nên Trần Canh được họ khiêng về trong thành để gặp lại Châu Ân Lai, Hạ Long, Diệp Đĩnh, Nhiếp Vĩnh Trăng, và nhiều đồng chí khác. Trong không khí trùng phùng bất ngờ, mỗi người đều cảm thấy càng thân thiết.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:02:20 pm

Sau trận đánh Hội Xương, Trần Canh do bị thương quá nặng, nên phải đi thuyền xuôi theo dòng sông Cống Thủy để tới Đinh Châu. Vừa mới lên thuyền, quân địch lại kéo tới tấn công, và chúng đã tới sát ven sông. Con thuyền của Trần Canh ngồi, bị trúng nhiều vết đạn, tình hình rất nguy cấp. Cũng may lúc đó Châu Sĩ Đệ dẫn sư hai mươi lăm, kịp thời tới nơi, phản công và đánh bại chúng. Trần Canh lại được cứu nguy. Khi tới Đinh Châu, Trần Canh và những thương binh trong cuộc khởi nghĩa đều được đưa tới bệnh viện Tin Lành để trị liệu. Y viện này do Phó Liên Chương xây dựng. Khi ông gặp Trần Canh, và nghe nói đây là một tiểu đoàn trưởng nghĩa quân bị địch bắn gãy xương đùi trong trận đánh Hội Xương, bèn bố trí cho ông nằm tại Tân An Lầu gần bệnh viện, rồi sau đó đích thân ông dẫn y tá đến chữa trị. Lúc đó vì Trần Canh bị chảy máu quá nhiều, lại không được trị liệu kịp thời, nên sắc mặt xanh như tàu lá, thân thể rất yếu ớt. Phó Liên Chương giở nhẹ chiếc mền đắp ra, thấy đùi của Trần Canh sưng to, vừa đỏ vừa bóng láng, thế mà Trần Canh lại không rên rỉ một tiếng nào. Phó Liên Chương hết sức khâm phục. Trong khi ông chữa trị vết thương cho Trần Canh, thì Trần Canh chẳng những không kêu đau, mà lại nói cười vui vẻ với y tá. Trong trại bệnh, tiếng nói cười của Trần Canh nghe như người bình thường. Phó Liên Chương áp dụng "bảo thủ liệu pháp", mỗi ngày dùng "dầu tố” để tẩy độc vết thương, rồi dùng thẻ tre kẹp cứng đùi bệnh nhân lại, đồng thời, cho uống nhiều sữa bò tươi, để cho cơ thể bệnh nhân có đủ sức đề kháng. Tóm lại, ông đã tận dụng mọi phương pháp để tránh khỏi phải cưa chân Trần Canh. Đối với việc trị liệu của Phó Liên Chương, Trần Canh hết sức cảm kích. Rất lâu về sau, cứ mỗi lần nhắc đến chuyện đó, Trần Canh đều nói: "Ông ấy là một vị bác sĩ tôi gặp lần đầu tiên, đã tỏ ra đồng tình với tôi. Nhờ sự tận tình trị liệu của ông ấy, mà cho tới nay, tôi vẫn hết sức cảm kích".

Với sự trị liệu tận tình, vết thương trên đùi của Trần Canh rốt cuộc rồi cũng lành, khỏi phải cưa chân.

Sau đó, bộ đội tiến quân về Đông Giang. Mặc dầu vết thương trên đùi của Trần Canh chưa lành hẳn, nhưng vì tình thế bắt buộc, ông phải hành quân theo bộ đội. Lần đầu, ông ngồi thuyền xuôi xuống phía Nam Hàn Giang. Trên đường đi nước chảy rất xiết, dưới sông có đá ngầm, nên có một số thuyền bị lật. Chiếc thuyền của Trần Canh cũng bị đụng đá ngầm, suýt nữa đã gặp tai nạn. Sau khi tới Đại Bộ, các đồng chí thấy đi đứng quá khó khăn, nên có ý bảo ông ở lại nhà của một đảng viên để dưỡng thương, nhưng ông cương quyết không chịu, đòi đi chung với bộ đội. Không có cách nào khác, các đồng chí đành phải khuyên Trần Canh lên thuyền để đi bằng đường thủy. Ngày hai mươi ba tháng chín, hồng quân chiếm lĩnh Triều Châu, Trần Canh được các đồng chí bộ đội khiêng tiến vào thành, ở Triều Châu, bộ tư lệnh sư ba đóng trong một bưu cục. Trần Canh ở tại Trường Tiểu học nơi miếu Hàn Văn Công, cách đó một tấm vách. Nhờ ở nơi này mà sau đó, khi đến Hồng Kông, gặp tình trạng khẩn cấp, bị địch chất vấn, ông đã lấy nơi này để mà bịa chuyện ra đối phó.

Ngày hai mươi bốn tháng chín, cánh quân đầu tiên của bộ đội đã tiến vào Sơn Đầu. Trần Canh và các đồng chí bị thương được đưa vào y viện Bác Thái của người Nhật mở tại Sơn Đầu. Người Nhật biết Trần Canh là sĩ quan khởi nghĩa, nên có thái độ không tốt đối với ông. Quân khởi nghĩa bị thất bại tại Triều Châu và Sơn Đầu đã rút đi hết, thế nhưng Trần Canh hoàn toàn không hay biết. Lúc bấy giờ, thương thế của ông vẫn còn rất nặng, không thể đi đứng. Giữa lúc nguy cấp đó thì người Nhật lại ra lệnh đuổi thương binh của quân khởi nghĩa ra khỏi bệnh viện. Người Nhật chỉ thẳng vào Trần Canh, nói:

— Ông là đảng viên Cộng sản, chúng tôi không chịu trách nhiệm về sự an toàn của ông.

Lúc đó, trong bệnh viện này có một cô y tá họ Lý, và một cô công nhân làm vệ sinh, đều tỏ ra đồng tình với quân cách mạng. Họ tìm cách nói tốt với ông chủ Nhật đủ điều, lại hướng dẫn Trần Canh đưa cho người Nhật một số tiền. Nhưng rốt cuộc vẫn không giải quyết được gì. Thế là họ lén khiêng Trần Canh tới gian phòng của công nhân ở để giấu. Nhờ vậy mà khi quân đội của Quốc Dân Đảng vào lục soát bệnh viện, Trần Canh mới khỏi bị bắt. Về sau, Quốc Dân Đảng trở lại lục soát một lần thứ hai, cô y tá họ Lý đem Trần Canh giấu vào cầu xí, nên Trần Canh đã thoát hiểm một lần nữa. Sau đó, cô nữ y tá họ Lý bèn gọi người cô ruột và em ruột của mình tới, để chăm sóc giúp Trần Canh. Do tình thế ở bên ngoài quá căng thẳng, họ bắt đầu tìm thuyền rồi nói với Trần Canh:

— Bây giờ không khí bên ngoài căng thẳng lắm, vậy ông phải đi mới được!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:03:02 pm

Trần Canh được cô nữ y tá hộ tống, lên được tàu thủy để đi Hồng Kông. Trên tàu, ông lại gặp binh sĩ Quốc Dân Đảng lục soát. Chúng tra hỏi Trần Canh có phải là quân khởi nghĩa bị thương không? Cô nữ y tá hết sức trầm tĩnh, chỉ vào Trần Canh nói:

— Ông ấy là bệnh nhân của bệnh viện chúng tôi, đang bị bệnh nguy cấp, nên tôi phải đưa ông ấy chuyển sang bệnh viện Hồng Kông để trị liệu.

Nhờ đó, Trần Canh lại thoát khỏi nguy hiểm một lần nữa. Khi tàu vừa cập bến, tuần cảnh của Hồng Kông lại xuống tàu lục soát. Chúng thấy Trần Canh đang bị thương nặng, bèn nói:

— Anh chắc là quân Cộng sản, bị thất bại ở Sơn Đầu phải không?

Trần Canh dùng tiếng Triều Châu không được thông thạo lắm, trả lời với chúng mình là người Triều Châu, và làm việc tại bưu điện ở đấy. Ông bảo, vì lúc quân đội hai bên đánh nhau, ông bị lạc đạn khi đang ngồi làm việc trong phòng giấy. Nhưng, vì ở Triều Châu không có bệnh viện, ông phải tới Sơn Đầu để nằm bệnh viện Bác Ái. Bọn lính hỏi ông bưu cục Triều Châu nằm ở đâu, Trần Canh bèn trả lời ngay, nó nằm sát Hàn Văn Công Miếu. Thấy Trần Canh đối đáp suôn sẻ, bọn tuần cảnh Hồng Kông mới để cho Trần Canh và Lư Đông Sinh rời đi.

Sau khi lên bờ, họ không tìm được người quen, Trần Canh và Lư Đông Sinh phải ngồi bên vệ đường để nghỉ chân. Nhưng tuần cảnh không cho ngồi như vậy, lại huơ cây gậy trong tay đuổi họ đi. Hai người đành phải tìm tới một lữ quán gần đó, định vào nghỉ ngơi mấy hôm. Không ngờ, trong lữ quán này người trọ rất đông. Họ nghe nói có một thanh niên bị thương, thì xúm vây lại để xem, và bảo: "Đây là hồng quân ở Sơn Đầu chạy ra". Trần Canh sợ lộ tung tích, tìm cớ cùng Lư Đông Sinh rời khỏi lữ quán. Trần Canh cảm thấy vết thương quá đau, nên Lư Đông Sinh phải đỡ ông đi theo đường dành riêng cho người đi bộ. Nhưng hai người vẫn không thể tìm nơi yên thân. Thế là hai người gọi một chiếc xe kéo, cùng ngồi tới một y viện, muốn nhờ điều trị. Nhưng y viện không thu nhận. Họ định tìm một nơi nào đó để tạm sống yên thân, rồi tiếp tục tìm người quen. Họ bèn tới một phòng trung y lấy thẻ chờ khám bệnh. Một chốc sau thầy thuốc phát hiện Trần Canh bị thương vì súng đạn nên không dám nhận, buộc họ phải rời khỏi phòng đông y. Họ lại trở ra đường, gặp tuần cảnh đuổi đi. Lúc bấy giờ, Trần Canh thấy cạnh đường có một cầu xí, bèn để cho Lư Đông Sinh cõng mình vào đấy ngồi yên một chỗ. Cầu xí này, trở thành nơi họ nghỉ ngơi được hơn nửa tiếng đồng hồ. Trần Canh cảm thấy bụng đói và cũng thấy gần đó có một quán ăn bán cơm tây, bèn nói đùa:

— Hãy vào đấy kêu một phần cơm tây để ăn.

Lư Đông Sinh tưởng thực, đi thẳng vào quán cơm tây kêu một phần. Khi người hầu bàn theo Lư Đông Sinh tới cầu xí, tưởng anh ta đùa cợt mình, bèn mang thức ăn trở về mà còn mắng chửi cho một trận nên thân.

Lúc đó, trong người Trần Canh còn hai mươi đồng, muốn đi Thượng Hải, nhưng không biết đủ tiền không, bèn bảo Lư Đông Sinh đi tìm hiểu về vấn đề này. Sau một tiếng đồng hồ, cả hai quyết định đi Thượng Hải, nên cùng tới bến tàu. Người chủ tàu thấy Trần Canh đánh giặc bị thương, tìm cách làm khó dễ, và đã lấy được của Trần Canh năm đồng. Khi xuống ca nô để ra tàu lớn, họ bị người ngoại quốc trên tàu lớn, nghi Trần Canh đang bị bệnh truyền nhiễm, nên không chịu bán vé. Nhiều người vây quanh Trần Canh để xem, khiến ông hết sức luống cuống, chẳng biết phải làm thế nào. Cũng may, lúc đó có một người mặc y phục công nhân màu lam bước tới, tỏ ra đồng tình, nói với Trần Canh:

— Nếu có ai hỏi, anh bảo mình không phải bệnh truyền nhiễm, mà do té bị thương ở đùi. Mỗi ngày tôi vẫn còn ăn được ba chén cơm kia mà!

Sau đó, người công nhân hướng dẫn họ đi mua vé tàu, rồi lại tìm được một chiếc giường dã chiến, để Trần Canh lên nằm, và cùng Lư Đông Sinh khiêng Trần Canh đi tìm một nơi yên ổn để nằm nghỉ.

Tàu rời khỏi Hồng Kông, lại ghé Sơn Đầu. Trần Canh vừa mới trốn thoát khỏi Sơn Đầu, nay bỗng thấy tàu trở lại đây, trong lòng không khỏi căng thẳng. Tàu mới cập bến, lại có mấy đồng chí trong quân khởi nghĩa lên tàu. Trong số này, có sư trưởng sư ba, quân hai mươi, là Châu Dật Quần, ông ta bị Quốc dân đảng bắt sống, nhưng do không nhận diện được, nên để ông ta trốn thoát. Khi lên tàu, Châu Dật Quần ôm một manh chiếu rách, đi thẳng xuống hầm chứa hàng, thấy không có ai, bèn sờ soạng tìm tới một nơi kín đáo trải chiếu ra ngủ, Trần Canh đang nằm đọc báo, thấy Châu Dật Quần xuống, lấy làm mừng. Nhưng ông bèn bày trò đùa nghịch với Châu Dật Quần, bằng cách vừa xem báo, vừa nói lẩm nhẩm một mình:

— Tờ báo này tin tức thật sốt dẻo. Châu Dật Quần chưa lên tàu, mà nó đã đăng tin ở đây rồi!

Nghe thế, Châu Dật Quần không khỏi giật mình đánh thót. Ông ta cố lắng nghe thêm, và cảm thấy hai lỗ tai nóng bừng. Nhưng, sau khi nghe được tiếng nói của Trần Canh, thì ông ta mới thốt lên:

— Ồ! Té ra là cái thằng quỷ quái này! Ha ha...

Hai người cùng bụm miệng cười. Trong một hoàn cảnh nguy cấp như vậy, mà Trần Canh vẫn còn đùa, đủ thấy tính lạc quan và tính khôi hài của ông là thế nào.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:03:48 pm

Sau những ngày lặn lội đầy nguy hiểm, rốt cuộc Trần Canh đến được Thượng Hải, và bắt liên lạc được với Đảng.

Sau khi tới Thượng Hải, Trần Canh vào y viện Ngưu Huệ Lâm để trị liệu vết thương ở đùi. Đến tháng tư năm 1928, vết thương của Trần Canh chưa lành hẳn, đi đường hãy còn cà nhắc, nhưng ông tuân theo quyết định của Đảng, đổi tên là Vương Dung, đến phụ trách công tác bảo vệ, sưu tập tình báo, và phản gián, một công tác nặng nề tại cơ quan Trung ương Đảng, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Châu Ân Lai.

Thượng Hải là một thành phố bề ngoài thật lộng lẫy, phồn hoa, nhưng bên trong lại là nơi của các thế lực chính trị đấu tranh với nhau một mất một còn. Trên đường phố, cảnh sát của đế quốc, cũng như đặc vụ, những tổ chức điều tra ngầm của Quốc dân đảng, cùng với những băng lưu manh dựa vào họ, lúc nào cũng tạo thành một chiếc lưới khổng lồ, mắt không nhìn thấy, để hỗ trợ họ, khám phá ra những tổ chức bí mật, có hại cho sự thống trị của họ. Cố nhiên, tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là mục tiêu to nhất mà họ cần phải khám phá để tiêu diệt. Đấu tranh trong một hoàn cảnh như vậy, chẳng những phải có lòng can đảm, mà còn phải khôn ngoan và nhạy bén.

Lúc đó, Trần Canh tuy mới có hai mươi lăm tuổi, nhưng ông đã lần lần trưởng thành lên trong cuộc đấu tranh. Giữa sự chiến đấu đặc biệt này, lòng trung thành, ý chí kiên dịnh, lòng quả cảm, tính nhanh nhạy, và bao nhiêu kiến thức khác, và kinh nghiệm khác, ông đã lần lượt được bổ sung và trở thành chững chạc hơn.

Do phải công tác trong hoàn cảnh đặc biệt và đầy nguy hiểm như vậy, Trần Canh phải có gia đình để làm bình phong. Thế là vợ ông là Vương Căn Anh bèn dọn tới cùng ở với ông. Qua năm sau, vợ chồng Trần Canh đã hạ sanh được một đứa con đầu lòng. Họ lấy tên cho đứa con là Tri Phi. Để che mắt bọn cảnh sát, đặc vụ của địch, hai vợ chồng họ luôn phải dời nhà, phải sửa tên đổi họ. Cứ mỗi lần dời nhà, thì luôn chọn căn nhà họ định tới ở, phải có nhiều đường rút lui, và chung quanh không phức tạp. Từ năm 1929 đến 1931, chỉ trong vòng hai năm, họ phải dời nhà đến năm lần. Trước sau, họ đã đến đường Hà Phi, đường Lạt Bùi Đức, đường Bảo Định v.v... để ở. Trong thời kỳ này, Vương Căn Anh tận tình che chở cho chồng, giúp chồng được an toàn để công tác. Do Vương Căn Anh là người sinh đẻ tại Thượng Hải, đối với hoàn cảnh ở đây bà rất quen thuộc, nên hằng ngày lưu ý quan sát đến nhà trước nhà sau xem có động tĩnh chi khác thường không. Bà chú ý tới từng con người một, và lúc nào cũng suy tính cách thoát khỏi những trường hợp bị địch bao vây truy bắt. Bất luận đối với bọn cảnh sát, bọn mật thám đi tới khu phố để dò hỏi, Vương Căn Anh đều bình tĩnh đối phó rất khéo, nên đã vượt qua được bao nhiêu sự nguy hiểm đang rình rập.

Bé Tri Phi dần dần đã lớn, biết đi đứng và nói chuyện. Vương Căn Anh không bao giờ cho con biết nhà ở đường nào, số mấy. Và càng không cho con biết tên thật của Trần Canh và việc làm là gì. Có lúc Trần Canh còn mang súng về nhà, và khi ngủ, thì để súng dưới gối. Tri Phi tuy còn bé, nhưng cũng biết tò mò. Một hôm, nó đi ra phố chơi, thấy tên tuần cảnh người Ấn Độ trong tô giới Anh, đang đứng gác, bên sườn có đeo một khẩu súng lục. Bỗng cậu bé nhớ lại khẩu súng của cha mình giấu ở dưới gối, bèn nói một cách ngây thơ:

— Súng của ông cảnh sát, không đẹp bằng súng của ba tôi đâu!

Tên tuần cảnh nghe thế, bèn nhìn bé Tri Phi rồi theo nó về đến trước cửa nhà. Tên tuần cảnh gặp Vương Căn Anh từ trong nhà bước ra tìm con, bèn hỏi:

— Trong nhà của bà có súng chứ?

Vương Căn Anh đoán biết Tri Phi đã tiết lộ việc này, nên bình tĩnh trả lời ngay với tên cảnh sát Ấn Độ:

— Có! Có một cây súng giả, cha nó đã mua tại Vĩnh An công ty về cho nó chơi đấy mà!

Thấy thái độ của Vương Căn Anh bình tĩnh, lời nói tự nhiên, nên tên tuần cảnh Ấn Độ cho là thật, nên thong thả rời đi!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:04:21 pm

Do yêu cầu giữ bí mật, Trần Canh chẳng những luôn phải dọn nhà, đổi địa chỉ, mà đối với con người mình, cũng phải luôn thay đổi thành những loại người khác nhau. Cũng may là lúc nhỏ, ông giỏi ăn nói lại biết nhiều tiếng địa phương. Khi học trong trường ông còn tham gia diễn kịch, từng đóng nhiều vai khác nhau, nên tài năng nghi trang, đóng kịch của ông trước đây, đã giúp cho ông làm việc thêm đắc lực. Trong mấy năm làm việc ở Thượng Hải, có khi ông mặc đồ Tây, mang giày da, giống như những công chức làm việc cho đế quốc ở tô giới. Có khi ăn mặc quân phục, trông chẳng khác gì sĩ quan cao cấp của Quốc dân đảng. Nhưng có khi lại mặc áo ngắn, váy dài, theo kiểu các thương gia lớn của thành phố này. Và, cũng có khi mặc đồ "soóc" đầu đội kết lưỡi trai, trông giống như những tên do thám của địch. Bình thường, Trần Canh mặc áo dài theo kiểu Trung Quốc, có khi vào xưởng làm việc, thì mặc áo kiểu công nhân. Lúc bấy giờ, Trương Khắc Hiệp là tham mưu trưởng của tướng Trương Trị Trung, thuộc Tây Bắc quân của Phùng Ngọc Tường, trong thiên hồi ký của mình, có viết về ấn tượng khi gặp Trần Canh: "Đồng chí Trần Canh khi đến, là đã hóa trang rồi. Ông mặc một cái quần lụa màu xanh, dưới chân có quần xà cạp đen, trông giống như một viên chức nhỏ ở Thượng Hải. Và vừa bước vào cửa, là ông to tiếng chào hỏi hết sức thân thiết. Với tính tình thích nói chuyện, lại ưa khôi hài, làm cho tôi rất dễ có thiện cảm. Trước đó, tôi nghe nói ông bị thương ở đùi, nên hỏi thăm vết thương phải chăng là nghiêm trọng, và vết thương đã lành chưa? Ông bèn biểu diễn ngay tại chỗ, nào nhảy, nào quỳ, để chứng tỏ rằng vết thương của ông đã hoàn toàn bình phục. Chúng tôi nói chuyện với nhau, tình cảm tỏ ra rất khăng khít".

Trần Canh tuy sống giữa hang rồng ổ cọp, nhưng trong cuộc đấu tranh bí mật đầy phức tạp, gay gắt, tàn nhẫn và nhạy bén này với lòng can đảm và trí thông minh, ông ứng phó với bọn mật thám, đặc vụ của địch một cách dễ dàng. Đó là nhờ tính trầm tĩnh, lanh lợi, nên địch hoàn toàn không nghi ngờ chi ông, mà còn cho ông là người "phe mình" nữa. Chúng gặp mặt ông thường vẫn gọi "Anh Vương", hoặc "Ông Vương". Lúc đó, bất luận là ở trong những cơ quan đặc vụ Quốc dân đảng, hoặc là những bót tuần cảnh của ngoại quốc ở các tô giới, khi cần thiết, Trần Canh đều có thể ra vào được. Có một lần tổ chức Đảng đang họp tại một nhà hát trong tô giới Pháp, không rõ bọn cảnh sát ngoại quốc và bọn đặc vụ Quốc dân đảng làm sao biết được tin, bất thần kéo tới bao vây hiện trường. Tình hình rất khẩn cấp, Trần Canh cũng đang có mặt ở đó, bèn nghĩ ra cách bảo vệ các đồng chí thoát thân. Ông mạnh dạn đi thẳng ra gặp mặt bọn mật thám và tuần cảnh, để cùng "hợp tác" với họ, tự xem mình như là "chỉ điểm" của chúng, nên được chúng giao cho canh giữ một ngõ ra. Nhờ đó, Trần Canh đã để cho các đồng chí đảng viên được thoát ra ngoài, bình yên vô sự. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Châu An Lai, Trần Canh dựa vào tổ chức của Đảng và thông qua mối quan hệ xã hội của mình, nắm được cả những bót cảnh sát trong tô giới địch, và bọn mật thám và đặc vụ của Quốc dân đảng, thậm chí còn nắm được một vài nhân vật to của Tưởng Giới Thạch nữa.

Do biết người biết ta, nắm được những hoạt động của địch tại chỗ, nên Đảng bộ Thượng Hải trong sự hoạt động bí mật của mình, đều được tiến hành thuận lợi. Có một lần, cơ quan đảng suýt nữa bị địch bao vây, nhưng nhờ biết trước tin tức, nên các đồng chí đã kịp thời di chuyển, tránh khỏi cuộc lục soát bắt bớ của địch một cách tài tình. Việc đó, không thể không nói là Trần Canh có công lao một phần. Trong khi Trần Canh quần nhau với địch ở Thượng Hải, thường nhận được chỉ thị của Đảng, đơn thương độc mã xông vào những nơi cực kỳ nguy hiểm. Thậm chí, đi vào đầu não của địch, để trừng trị những bọn phản Đảng, làm hại cách mạng. Hoạt động của Trần Canh làm cho bọn đặc vụ Quốc dân đảng cũng như bọn tuần cảnh ở các tô giới, khi nhắc đến tên đều khiếp sợ và căm ghét. Chúng đã tìm đủ mọi cách để bắt cho được hoặc giết cho được Trần Canh, thậm chí còn treo giải thưởng để lấy đầu ông, nhưng không có cách nào tìm được hình bóng Trần Canh ở đâu. Chúng nào biết "ông Vương" mà chúng thường gặp gỡ, lại chính là người đảng viên Cộng sản Trần Canh, mà chúng ngày đêm nghe đến tên tuổi.

Việc luồn sâu vào những cơ quan trinh thám của địch, là một cuộc đấu tranh gay gắt và đầy nguy hiểm trong bóng tối, để phá vỡ âm mưu của địch muốn diệt trừ các hoạt động của Đảng. Nếu không có cuộc đấu tranh đó, thì Đảng sẽ không thể tồn tại được trong khu thống trị của địch, và chắc chắn sẽ bị chúng tiêu diệt. Muốn luồn được vào những cơ quan trinh sát của địch ở Thượng Hải, lúc đó có hai cách. Thứ nhất là luồn vào cảnh sát, hiến binh và cơ quan đảng của Quốc dân đảng. Thứ hai là luồn vào các cơ quan cảnh sát của đế quốc tại các tô giới. Cho nên Trần Canh sau khi điều tra tìm hiểu kỹ, đã thiết lập được mối quan hệ phản gián tại cơ quan chống Cộng đầu não và chuyên nghiệp của Quốc dân đảng, là tranh thủ được Dương Đăng Doanh, khiến cơ quan trinh thám của địch bị đặt dưới sự khống chế của Đặc khoa Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngoài ra, dưới sự lãnh đạo của Trần Canh, Lý Khắc Nông, Tiền Tráng Phi, Hồ Để, là ba đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã chui được vào cơ quan đặc vụ tối cao của Quốc dân đảng, nắm lấy toàn bộ những cơ quan đặc vụ này. Do có sự cố gắng của Trần Canh và các đồng chí nói trên, cơ quan đặc vụ, cục cảnh sát, bộ tư lệnh cảnh bị, đội hiến binh, đảng bộ của Quốc dân đảng Trung Quốc, cũng như các băng nhóm lưu manh, các tổ chức mật thám, tuần cảnh ở các tô giới đều có người của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hoặc có người đồng tình với Đảng Cộng sản, luôn luôn hoạt động, và giữ liên hệ. Cho nên họ có thể cung cấp cho cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản những tin tức tình báo về chính trị, quân sự, kinh tế, và quốc tế một cách thường xuyên và rất kịp thời. Có một lần, một đồng chí đảng viên Cộng sản đi ra ngoài, có mang theo văn kiện quan trọng trong người. Do bất cẩn, nên lúc đi xe điện người này bị móc túi lấy mất. Đặc khoa liền sử dụng người của mình trong hệ thống băng đảng lưu manh, để đi tìm kiếm. Kết quả, chỉ trong vòng hai ngày, đã lấy lại được văn kiện quan trọng đó trở về.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:05:13 pm

Ngày hai mươi lăm tháng tư năm 1931, Cố Thuận Chương, nguyên là một người phụ trách giải quyết công việc hằng ngày tại Đặc khoa Trung ương, khi đi đến Vũ Hán để chấp hành một nhiệm vụ, lại vi phạm nguyên tắc bí mật, dùng nghệ danh giả là "Hóa Quảng Kỳ" để lên sân khấu một rạp hát nọ biểu diễn ảo thuật. Kết quả, ông ta bị một tên phản bội nhận diện được và bị bắt. Ngay trong ngày bị bắt, ông ta đã phản Đảng. Ông ta bảo là có nhiều tin tức tình báo rất bí mật, muốn tới gặp Tưởng Giới Thạch tại Nam Kinh. Cơ quan của địch tại Vũ Hán, bèn báo về cho Từ Ân Tăng, là người cầm đầu đặc vụ Quốc dân đảng ở Nam Kinh biết việc Cố Thuận Chương đã bị bắt và đã khai báo, nên được lệnh cấp tốc áp giải Cố Thuận Chương về Nam Kinh. Người nhận được điện báo này đầu tiên, chính là Tiền Tráng Phi, người đang giữ chức thơ ký cơ yếu của Từ Ân Tăng. Tiền Tráng Phi giải mã bức điện, rồi lập tức ngồi xe đến Thượng Hải báo cho Trần Canh biết sự việc hết sức cấp bách này. Cố Thuận Chương là người biết nhiều điều bí mật: Ông ta biết hết những người lãnh đạo ở cơ quan lãnh đạo Trung ương, biết địa chĩ của các cơ quan bí mật, biết danh sách những người đang công tác bí mật mà Đảng đã đưa vào các cơ quan của Quốc dân đảng. Hắn lại biết cả những đường giao thông liên lạc và cách móc nối với các đường này... Trần Canh lập tức đi gặp Châu Ân Lai, Nhiếp Vinh Trăn v.v... để cấp tốc thương lượng, quyết định cho dời những người lãnh đạo của Đảng, cũng như cơ quan bí mật của Đảng đi nơi khác. Đồng thời, lập tức hủy bỏ cách liên lạc với các đường giao thông mà Cố Thuận Chương đã biết. Riêng những người thường tiếp xúc với Cố Thuận Chương, thì cho di chuyển ngay đến những nơi khác. Lại cắt đứt tất cả những mối quan hệ quan trọng mà Cố Thuận Chương có thể lợi dụng. Những việc làm trên, được thi hành gấp rút, và chỉ trong một thời gian rất ngắn, tiến hành một cách bí mật, không ai biết. Đến ngày hai mươi bảy tháng tư, quân địch dựa vào lời khai của Cố Thuận Chương, mở những cuộc hành quân lục soát, thì các tổ chức bí mật cũng như nhân viên của các tổ chức ấy đều đã dời đi trước. Nhờ vậy, mà một cuộc bao vây lục soát để tiêu diệt của Quốc dân đảng, hoàn toàn không thu được kết quả gì.

Trước khi Cố Thuận Chương làm phản, người quan hệ mật thiết với Cố Thuận Chương là Trần Canh. Châu Ân Lai khi ra lệnh cho các đồng chí rút khỏi Thượng Hải, đã bảo Trần Canh cũng lập tức rút vào bí mật. Từ đó, vị khoa trưởng tình báo "Vương Dung" không còn tồn tại nữa. Tháng sáu năm đó, Trần Canh và Trần Dưỡng Sơn v.v... rời Thượng Hải, đi Thiên Tân để công tác một thời gian.

Khi Trần Canh rời khỏi Thượng Hải, ông mới có hai mươi tám tuổi. Trong thời kỳ này, Trần Canh đã sống giữa ổ rồng hang cọp, trải qua muôn nghìn nguy hiểm, và được thử thách qua bao nhiêu sự nguy hiểm đó, nên về mặt chính trị đã trưởng thành rất nhanh chóng. Do tính chất công tác của Trần Canh được quyết định trong thời kỳ hoạt động này, nên đến nay nó vẫn còn bao trùm một màn bí mật, mà những gì ta biết được, chẳng qua là một vài việc nhỏ trong đó mà thôi. Nhưng, qua những việc đó, cũng thấy được, Trần Canh là người dũng cảm và mưu trí hơn người.

Tháng chín năm 1931, Trần Canh được Trung ương Đảng phái về khu Xô viết Ngạc Dự Hoản, để giữ nhiệm vụ đoàn trưởng ba mươi tám, sư mười ba, thuộc quân bốn Hồng quân công nông của Trung Quốc. Đến tháng mười hai, khi phương diện quân bốn Hồng quân thành lập, thì ông lại được điều sang làm sư trưởng sư mười hai.

Đến tháng chín năm 1932, Tưởng Giới Thạch bao vây tấn công lần thứ tư khu Xô viết Ngạc Dự Hoản. Trong chiến đấu, Trần Canh lại bị thương nơi đầu gối phía phải. Nhưng, ông không rời khỏi hỏa tuyến, mà vẫn nằm trên cáng để tiếp tục chỉ huy quân đội.

Sau khi đánh tan quân địch bao vây định tiêu diệt phương diện quân bốn, thi đơn vị này bắt đầu di chuyển. Lúc đó, vết thương nơi chân của Trần Canh vẫn còn rất nặng. Trong khi di chuyển, không có điều kiện nằm bệnh viện để trị liệu. Ông luôn nằm trên cáng để hành quân theo bộ đội. Khi bộ đội vượt qua tuyến Kinh Hán để đi về phía Tây, do đường đi không bằng phẳng, chiếc cáng của ông nằm luôn bị xốc, nên vết thương của ông càng nặng thêm. Thấy vậy, tổ chức quyết định để ông tạm rời khỏi bộ đội, để đi Thượng Hải trị liệu.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:06:06 pm

Hạ tuần tháng mười, Trần Canh cải trang thành một thương nhân, chân đi cà xích, rời khỏi bộ đội. Vì hồng quân mới rút đi, nên địa phương này quân địch đề phòng rất nghiêm. Giọng nói của Trần Canh lại không phải là giọng nói của người địa phương, nên ông đi chưa được bao xa, bị mấy tên lính dân đoàn chận lại xét hỏi. Cũng may, Trần Canh có đem theo tiền trong người, nên đã dùng một số tiền hối lộ chúng, và được chúng tha cho đi.

Trần Canh thuê một chiếc xe đẩy để đi về phía Nam. Không ngờ tối đêm đó, khi ông đến trọ ở một quán cơm lại gặp bọn dân đoàn tới xét hỏi. Bọn này nhìn kỹ Trần Canh, rồi hỏi "ông ở đâu đến?".

Trần Canh đáp:

— Tôi ở Phàn Thành đến đây để mua bán dầu trảo.

Chúng lại hỏi Trần Canh ở Phàn Thành, đường nào? Trần Canh chưa bao giờ đi qua Phàn Thành, chỉ biết ở đấy có một con sông chảy ngang, bèn đáp:

— Tôi ở đường mé sông.

Tuy Phàn Thành đúng là có một đường mé sông, và nơi đó lại là nơi tập trung buôn bán dầu trảo, nhưng bọn dân đoàn thấy giọng nói của Trần Canh khác lạ, sinh nghi, chuẩn bị ngày hôm sau sẽ bắt ông ta giải về Nam Dương.

Đêm hôm đó, bốn tên dân đoàn ở lại ngủ tại quán cơm. Chúng nằm bốn góc chung quanh, và bảo Trần Canh nằm ở chính giữa. Trần Canh thấy nguy, bèn lấy ra hai chục đồng tiền giao cho người chủ quán, nói:

— Tôi xin gởi biếu cho ông tám đồng tiền này.

Trần Canh làm như vậy, tức ngầm nói với người chủ quán nên giúp đỡ mình, đồng thời, nhờ ông ta nói với bốn tên dân đoàn, là Trần Canh không bao giờ bỏ trốn. Trần Canh lại ra hiệu bảo là mình cũng có buôn bán thuốc phiện, nên bốn tên dân đoàn không khỏi bán tín bán nghi. Ông chủ quán vốn đã nhận được hối lộ, bèn lên tiếng nhắc nhở:

— Háy hút á phiện chơi cho vui, rồi uống rượu, tôi có sẵn tất cả...

Thế là người chủ quán mua á phiện và rượu về để cho bốn tên dân đoàn dùng. Khi chúng say mèm, người chủ quán mới chỉ cho Trần Canh một con đường đi tắt, thoát khỏi khung cảnh nguy hiểm đó.

Sau mấy hôm, Trần Canh đi khập khễnh, ba bốn ngày đường mới tới được Trịnh Châu. Khi vào trọ một lữ điếm, bỗng thấy một bạn học cũ trước đây ở trường Hoàng Phố đi đến. Người này hiện nay là sĩ quan cao cấp của Hồ Tòng Nam. Vừa thấy mặt Trần Canh, hắn hỏi liền:

— Anh có phải Trần Canh không?

Trần Canh bèn bình tĩnh dùng tiếng Thượng Hải để trả lời. Trước tiên anh lắc đầu, rồi nói như người Thượng Hải:

— Tôi họ Trần, tôi đi buôn bán, trưởng quan đã nhìn lầm người rồi!

Thái độ của Trần Canh rất bình tĩnh, tiếng Thượng Hải lại nói rất rõ ràng, nên đối phương tưởng thật, ngỏ ý xin lỗi:

— Đáng tiếc anh là người Thượng Hải, vì tôi có một người bạn ở Hồ Nam, trông giống hệt như anh. Xin lỗi nhe!

Người ấy bỏ đi xong, Trần Canh thở phào, rồi hối hả rời khỏi quán trọ, ngồi tàu hỏa đi Thượng Hải ngay. Đến tháng mười một năm 1932, Trần Canh với chiếc chân bị thương, đã vượt qua trăm ngàn khó khăn để đến Thượng Hải. Sau khi móc nối được với tổ chức Đảng, ông bèn báo cáo với Trung ương lâm thời về tình hình tại khu Xô viết Ngạc Dự Hoản, và nói rõ Quốc dân đảng đã bao vây tấn công lần thứ tư, cũng như những sai lầm của Trương Quốc Đào.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:06:45 pm

Đến Thượng Hải lần này, Trần Canh ngoài việc báo cáo tình hình với Trung ương lâm thời, còn đi đến Ngưu Huệ Lâm y viện để trị liệu vết thương nơi chân. Sau những ngày trị liệu đầy đủ, vết thương của Trần Canh bình phục rất nhanh. Ông là người không quen ở không, lúc nào cũng thích đi đứng khắp nơi, nên vào tháng ba năm 1933, Đảng quyết định phái Trần Canh đi vào khu Trung ương ở Giang Tây để công tác. Trước khi đi một hôm, tức ngày hai mươi bốn tháng ba, Trần Canh tới rạp chiếu bóng Bắc Kinh tại đường Quới Châu để xem phim. Không ngờ ông lại gặp tên "A Liên", là một tên phản Đảng, cũng ngồi sát bên cạnh ông. Về sau Trần Canh biết được, nơi trọ của mình ở Thượng Hải đã bị địch theo dõi suốt mấy tháng qua. Do vậy, đêm nay tên phản Đảng này ngồi sát bên cạnh mình, chắc cũng không phải là "ngẫu nhiên". Tên phản Đảng nhìn thấy Trần Canh vẫn làm tỉnh bèn nói chuyện với ông như thường. Khi Trần Canh vừa ra khỏi rạp chiếu bóng, muốn đi cho thoát sự theo dõi của tên này, nhưng vì đùi ông mới lành, không thể đi nhanh được, và tên phản Đảng vẫn bám theo sau. Cuối cùng, nó đã bắt ông.

Sau khi Trần Canh bị bắt, được đưa vào phòng tuần cảnh trong tô giới. Cùng giam chung với ông còn La Đan Thuận, Liêu Thừa Chí, và một số đồng chí khác.

Vì từ năm 1928 tới năm 1931, Trần Canh đã làm công tác bí mật tại Thượng Hải, nên luôn giao du với bọn tuần cảnh ngoại quốc, và bọn đặc vụ Quốc dân đảng. Cho nên khi thấy mặt Trần Canh chúng đều hốt hoảng, hỏi:

— Thế nào? Anh là Trần Canh, chứ không phải là "ông Vương" sao?

Trần Canh bị giam trong lao phía Tây của bọn tuần cảnh, và địch bắt đầu dùng sự tra tấn tàn nhẫn để đánh đập ông. Kế đó, chúng lại dùng tới cách tra điện để buộc ông phải khai tên tuổi những đảng viên Cộng sản khác. Do sự tra tấn gây ra đau đớn không thể chịu đựng nổi, nên Trần Canh mua chuộc bọn gác ngục ra ngoài mua giúp cho ông một số thuốc lá thơm. Ông chờ trước khi bị tra tấn thì nhai thuốc lá nuốt vào bụng, để nó gây tê, ít cảm thấy đau đớn hơn. Bọn địch dù tra tấn tàn nhẫn tới đâu, cũng không thể lấy được từ miệng ông một tin tức bí mật nào. Về sau, Tống Khánh Linh, tức phu nhân của Tôn Trung Sơn, biết Trần Canh bị bắt, bèn tìm nhiều cách để cứu ông. Bà còn dẫn một số người nổi tiếng ở Thượng Hải, và một số ký giả vào ngục để thăm Trần Canh. Bà dùng uy tín to lớn của mình, để ngăn không cho địch sát hại Trần Canh.

Địch thấy dùng sự tra tấn không có hiệu quả, bèn thay cây "gậy" bằng chiếc "củ cải đỏ". Trần Canh nhận ra kẻ thù đã thay đổi thủ pháp nên thừa lúc chúng buông lơi, bèn kể chuyện Hồng quân cho bọn giữ ngục nghe. Trần Canh là người giỏi ăn nói, nên những câu chuyện của ông kể, khiến người nghe đều say mê và cảm động. Ngay như một tên cò cảnh sát người Anh, mà cũng mê nghe, xem đó như là chuyện đời xưa lý thú.

Ngày ba mươi mốt tháng ba năm 1933, tòa án đặc khu Thượng Hải mở phiên tòa xét xử. Trần Canh và La Đăng Hiền, Liêu Thừa Chí cùng bị đưa ra trước tòa án để xử. Khi ra giữa tòa án, họ to tiếng hát quốc tế ca, lại to tiếng vạch mặt tội ác của chủ nghĩa đế quốc và phái phản động Quốc dân đảng, tuyên truyền chủ trương cứu nước, cứu dân của Đảng Cộng sản, làm cho quân địch ở đây hết sức lúng túng. Sau mấy hôm, Trần Canh bị giải sang trung ương cục của thành phố Thượng Hải. Như vậy, Trần Canh từ nhà lao Tây của đế quốc được đưa sang nhà lao của phái phản động Quốc dân đảng. Khi số người của Trần Canh được áp giải ra xe, chúng sợ họ lại hô khẩu hiệu cách mạng, nhất là sợ Trần Canh nhảy xe chạy trốn, nên đã dùng còng để còng chân ông vào một thanh sắt. Tại nhà lao của Quốc dân đảng, tên phản đảng Cố Thuận Chương đã mấy lần đến khuyến dụ Trần Canh. Hắn bảo: "Cách mạng Trung Quốc đã bị thất bại rồi", có những người cộng sản "được Tưởng ủy viên trưởng khoan hồng" v.v... Hắn còn nói Tưởng Giới Thạch từ Giang Tây đã đánh về mấy bức điện, bảo "đối xử đặc biệt" với Trần Canh. Cố Thuận Chương nói thêm:

— Anh nghe tin này tất anh sẽ vui mừng đấy.

Nhưng Trần Canh đã mắng thẳng vào mặt hắn là tên phản bội. Ông đưa tay chỉ thẳng mũi hắn, nói:

— Anh là đồ phản bội, tôi không thể vô liêm sỉ như anh được đâu!

Tên phản Đảng câm miệng, không nói gì thêm nữa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:07:24 pm

Ngày một tháng tư, Trần Canh bị giải đi Nam Kinh. Vì ông nổi tiếng là người giỏi vượt ngục, nên từ Thượng Hải đi Nam Kinh, bọn áp giải đã dùng một thanh sắt khóa ông dính chung với Đàm Quốc Phụ, người đã dùng tên giả của em gái ông là Trần Tảo Anh. Họ bị đưa lên một toa xe lửa thiết giáp, chuyên dùng để giải tù, có cửa sổ song sắt, và canh gác nghiêm ngặt suốt đường đi. Trước khi xe lửa rời khỏi Thượng Hải, hai người cùng hát lên bài Quốc tế ca. Suốt đường đi, cứ đến ga nào họ cũng hát, cho mãi đến Nam Kinh. Lời hát của họ rất bi tráng, vượt qua cửa sổ song sắt của toa xe, bay ra ngoài, khiến hành khách đáp tàu hỏa đều được khích lệ tinh thần cách mạng. Bọn đặc vụ áp giải rất hốt hoảng, nhưng không biết phải làm sao. Xe lửa vừa tới Nam Kinh, thì Cốc Phi Luân, tư lệnh trưởng của hiến binh Quốc dân đảng cầm một bức điện của Tưởng Giới Thạch đi ra nhà ga, để "đón tiếp" Trần Canh. Trong bức điện này, Tưởng Giới Thạch đã viết: "Do trong thời kỳ Bắc phạt ở Quảng Đông, Trần Canh đã tham gia quân Quốc Dân Cách Mạng, nên cần phái cư xử "dễ chịu" và "khuyến khích" để ông ấy "sửa lỗi", chịu gia nhập Quốc dân đảng. Bức điện còn nói nếu Trần Canh đồng ý "thề quy thuận Quốc Dân Đảng" thì Tường Giới Thạch sẽ ban cho một chức sĩ quan cao cấp và dành cho một "tương lai" tốt đẹp. Khi Trần Canh bị giải đến bộ tư lệnh hiến binh ở miếu Phu Tử tại Nam Kinh thì Cốc Phi Luận quả thật đã "ưu đãi” ông. Tên này để ông ở một gian phòng rất đẹp. Nhưng, chúng chỉ nhọc công tìm cách dụ hàng mà thôi. Trần Canh vẫn không hề tiết lộ cho chúng biết một điều gì mà chúng sứ dụng được. Thế là bộ mặt giả dối của chúng đã được dẹp bỏ, chúng đưa Trần Canh vào ngục của bộ tư lệnh hiến binh nhốt lại. Nhiều bạn học cũ ở trường Hoàng Phố hiện đang làm sĩ quan cao cấp cho Quốc dân đảng nghe tin, đều "đến thăm" Trần Canh, khuyến dụ ông quy hàng Quốc dân đảng, nhưng ông chỉ đáp lại bằng tia mắt khinh miệt. Cố Thuận Chương gửi đến cho ông nhiều "món quà", nhưng đều bị ông đá bay ra đất, rồi mắng cho một trận.

Ở Nam Kinh thẩm vấn Trần Canh không có kết quả, nên Tưởng Giới Thạch lúc đó đang tọa trấn tại Nam Xương, để trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân bao vây tấn công lần thứ tư vào khu Xô viết Trung ương ở đấy, bèn quyết định gặp gỡ Trần Canh. Tưởng Giới Thạch muốn dụ dỗ và uy hiếp Trần Canh tự thú, và qua Trần Canh, sẽ ảnh hưởng tới cựu học sinh trường Hoàng Phố đang hoạt động trong Hồng quân, nên ra lệnh cho Nam Kinh dùng tàu thủy chở Trần Canh đến Cửu Giang, rồi chuyển đến Nam Xương.

Tưởng Giới Thạch làm như vậy, là muốn lung lạc nhân tâm. Vì như nhiều người đều biết, Trần Canh trong lần Đông chinh thứ hai hồi năm 1925, để đánh quân phiệt Trần Quýnh Minh, từng cứu mạng cho ông ta một lần. Cho nên ông ta muốn làm cho mọi người thấy, là mình định "báo ân", bằng cách đích thân "cảm hóa" Trần Canh.

Trong khi chiếc tàu chở Trần Canh ngược dòng sông đi về phía thượng du, thì "người tù" được Ủy Viên Trưởng đặc biệt quan tâm này, thật khó tìm cách để ứng phó.

Ngoài thời giờ ngủ, trong lòng Trần Canh không có giây phút nào được yên ổn. Bất luận khi lên tàu hoặc khi lên ở lữ điếm, Trần Canh lúc nào cũng to tiếng tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản và Hồng quân, là người muốn cứu dân cứu nước. Mỗi lần nghe ông nói, những người vây quanh đều xúc động. Cho dù xung quanh ông chỉ có một vài tên lính canh gác, ông cũng tuyên truyền không ngừng chủ nghĩa của mình, cũng như những gì mà đời ông đã trải qua. Lúc đó, ông không giống như là một tên tù, mà giống như một ông thầy đang dạy vỡ lòng cho học trò mình, hoặc giống như một nhà diễn thuyết.

Sau khi tàu tới Cửu Giang, kẻ địch đã áp giải Trần Canh lên Nam Tân để chuyển đáp tàu hỏa. Trên tàu hỏa Trần Canh vẫn tiếp tục tuyên truyền Đảng và cách mạng, tuyên truyền thắng lợi của Hồng quân.

Khi tới Nam Xương, không rõ là cố ý hay vô tình, họ đã đem Trần Canh vào ở tại bộ tổng chỉ huy tổng khởi nghĩa Nam Xương trước kia - tức lữ xá Giang Tây. Sau hai ngày, Tưởng Giới Thạch phái thư ký riêng của ông ta là Đặng Văn Nghi mang rất nhiều "lễ vật ra mắt" đến lữ quán để biếu Trần Canh. Nhưng việc làm đó hoàn toàn không có kết quả gì về mặt mua chuộc tình cảm.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Sáu, 2023, 03:07:56 pm

Hai ngày sau, Trần Canh bị áp giải đến gặp Tướng Giới Thạch. Lúc đó Tưởng Giới Thạch đang ở tại phòng dụng cụ khoa học Bá Hoa Châu trong thành phố Nam Xương. Ông ta đang chỉ huy quân Quốc Dân Đảng bao vây tấn công hành dinh của Hồng quân. Trần Canh là người nổi tiếng nhiều râu, nên lúc bị nhốt ở trong ngục, cả mặt mọc râu rất dài, quần áo cũng cũ rách dơ bẩn. Tướng Giới Thạch đã biết được Trần Canh là người kiên trinh bất khuất, nhưng vẫn giả vờ vuốt ve Trần Canh. Tưởng Giới Thạch bảo thư ký riêng của mình là Đặng Văn Nghi, đi lấy một bộ đồ lụa dài sang trọng, có cả mũ lễ, giày vớ đến. Ông bảo Trần Canh hãy cạo râu, tắm rửa để thay quần áo, nhưng Trần Canh làm lơ không để ý. Đặng Văn Nghi nói với Trần Canh:

— Ông đi gặp tiên sinh, nếu ăn mặc quần áo như thế này là thất lễ lắm.

Trần Canh bèn hỏi lại hắn:

— Các anh đã nhốt tôi vào ngục, và làm cho tôi ra nông nỗi này, vậy có thất lễ không?

Câu hỏi đó làm cho Đặng Văn Nghi câm miệng.

Trần Canh được dẫn tới một gian khách sảnh rộng rãi, bên trong bên ngoài đều có vệ binh canh gác. Ở đây, Tưởng Giới Thạch "đến thăm" Trần Canh. Vừa trông thấy Trần Canh, Tưởng Giới Thạch nói:

— Ông là Trần Canh! Ông là Trần Canh! Còn tôi là hiệu trưởng của một người học sinh ngoan ngoãn như ông. Mặc dù ông có sai phạm về mặt chính trị, nhưng tôi vẫn có thể tha thứ cho ông.

Trần Canh không hề nhìn Tưởng Giới Thạch, lạnh lùng đáp:

— Tôi hoàn toàn không cần đến sự tha thứ của ông!

Câu nói đó làm cho Tưởng Giới Thạch rất lúng túng, nên chỉ hỏi thăm không đâu vào đâu một vài lời, rồi hỏi Trần Canh đến đây bằng gì, và có thích địa phương này không?

Trần Canh trả lời, chính ông đã bị Tưởng Giới Thạch bắt và đưa tới đây. Tưởng Giới Thạch nghe câu trả lời đó mặt bừng đỏ, ấp úng đáp:

— Sao ông lại nói như vậy? Chúng ta đều là đồng chí cũ ở trường Hoàng Phố. Mọi người ở trường Hoàng Phố phải đoàn kết để cứu quốc. Hiệu trưởng trường Hoàng Phố không bao giờ giết người Hoàng Phố đâu!

Thấy Trần Canh làm thinh, Tưởng Giới Thạch giả vờ thân mật nói:

— Mọi người đã làm cho quốc gia đến nông nỗi này. Trong một trận bao vây diệt phỉ, đôi bên đã chết đến hơn ba chục vạn. Người Trung Quốc không thể hy sinh vô lý như vậy!

Trần Canh liền phản bác:

— Quốc gia sở dĩ như thế này, là do ông hoàn toàn chịu trách nhiệm. Vì ông đã phản bội lại cách mạng, phát động cuộc nội chiến chống cách mạng, chứ riêng người Cộng sản chúng tôi không có trách nhiệm chi cả.

Lời nói của Trần Canh rất dõng dạc, sắc mặt cũng rất uy nghiêm. Bọn vệ binh đứng chung quanh đều nghe rõ, khiến Tưởng Giới Thạch tức giận đến mặt mày tái xanh, không nói chi nữa, mà chỉ lặp đi lặp lại:

— Thái độ của ông như vậy, thì ông cần phải hối tiếc. Ông cần phải hối tiếc...

Trần Canh không thèm để ý tới câu nói của Tưởng Giới Thạch. Và, thái độ của ông khiến cho Tưởng Giới Thạch hết sức lúng túng, khó có cách nào kết thúc buổi gặp gỡ cho được hay ho.

Thấy không dụ dỗ được, kẻ địch lại áp giải Trần Canh trở về Nam Kinh, và nhốt ông vào một xà lim chật chội. Ở đây, ông lại chịu sự đày đọa hơn một tháng. Kẻ địch tiếp tục ép ông phải tự thú và "hối lỗi"; Trong thời gian này, Tưởng Giới Thạch một mặt bị dư luận thúc ép, một mặt có ảo tưởng dùng cách khoan hồng với Trần Canh, để tác động tới những học sinh Hoàng Phố còn đang sống trong Hồng quân, nên hắn thả Trần Canh ra, và cho ông đến một lữ quán. Mặc dù tại đây vẫn có bốn năm vệ binh canh gác Trần Canh, nhưng ông được phép ra đường phố bình thường. Do vậy, Trần Canh đã có một sự "tự do" ở mức độ nào. Trần Canh thấy tình trạng ở đây có vẻ nới lỏng hơn trong khám, bèn nghĩ tới việc liên lạc với tổ chức Đảng, để tìm cách trốn thoát. Từ đó, ông mới cạo bỏ hàm râu dài, thay đổi y phục sạch sẽ. Rốt cục, có một ngày ông được tổ chức Đảng sắp xếp, dưới sự hỗ trợ của hai đồng chí, giúp ông trốn thoát khỏi lữ quán đã giam lỏng ông.

Cuối tháng năm năm 1933, Trần Canh từ Nam Kinh trốn được về Thượng Hải, và đã liên lạc được với cơ sở Đảng ở đây. Sau đó, Trần Canh nhanh chóng được phân công về công tác tại khu đỏ của Trung ương ở Giang Tây.

Lần bị tù này, Trần Canh đã trải qua hai tháng bị giam cầm. Với hai tháng tù đó, đã làm phong phú hơn những từng trải của Trần Canh, cũng như thêm được nhiều trang gay go khúc chiết trong cuộc đời đày màu sắc truyền kỳ của ông, để lại rất nhiều giai thoại. Năm đó ông vừa đúng ba mươi tuổi.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:24:02 am

3. TRĂM TRẬN TRĂM THẮNG

Trần Canh là một viên tướng sáng chói trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Trong cuộc đời binh nhung, ông đã trải qua bách chiến. Kể từ Nam Xương khởi nghĩa cho đến những ngày đánh nhau với quân Quốc dân đảng ở khu Xô viết Ngạc Dự Hoản, tiêu diệt "Thiên hạ đệ nhất lữ", cho đến vượt qua sông Hoàng Hà, truy kích tiêu diệt địch ở Điền Nam, và cho tới cuộc chiến tranh kháng Mỹ viện Triều... Trong từng trận chiến đấu một, ông bao giờ cũng chiến thắng. Tuy ông bị thương mấy lần, nhưng đều tìm được cái sống trong cái chết. Đó là trời giúp chăng? Hay là do sức của con người?

Tháng mười năm 1935, Hồng quân Trung ương đã trường chinh tới vùng phía Bắc tỉnh Thiểm Tây.

Tháng mười năm 1931, Trần Canh đến khu Ngạc Dự Hoản, và được cử làm sư trưởng sư mười hai, quân bốn Hồng quân.

Tháng sáu năm 1932, phương diện quân bốn Hồng quân quyết định phát động chiến dịch Hoàng Quang, để chiếm lại vùng đất phía Nam Hoàng Xuyên và Quang Sơn.

Ngày mười hai tháng sáu, Trần Canh chỉ huy sư đoàn 12, bao vây sông Liễu Thọ. Sáng sớm ngày mười ba, Trần Canh dùng chiến thuật, tấn công ba mặt, chừa trống một mặt, rồi từ hướng Đông, Nam, Tây, đánh vào một lữ của địch tại sông Liễu Thọ. Ngoài ra, binh lực một đoàn tập kết và ẩn kín tại phía Đông vòng qua phía Bắc sông Liễu Thọ, giả vờ bỏ ngỏ hướng Bắc, để dụ địch phá vòng vây. Đồng thời, chuẩn bị nếu địch phá vòng vây về hướng Bắc, thì quân mai phục sẽ ào ra tập kích. Mỗi lần trước khi chiến đấu, Trần Canh đều đích thân dẫn các đoàn trưởng đi quan sát địa hình, để chọn trận địa, và chỉ dẫn những điều then chốt trong việc tác chiến. Trong tác chiến thì phải tùy tình huống mà kịp thời bố trí, để tạo thuận lợi cho cuộc chiến đấu phát triển.

Khi trận đánh bắt đầu, quân địch phát giác chủ lực Hồng quân gồm bốn sư từ hướng Tây Giang Tây đánh vào, nhưng không dám bao vây. Chúng lại thấy phía Bắc Hồng quân yếu hơn, nên kéo về phía Bắc để phá trùng vây. Trần Canh chỉ huy sư mười hai, công kích thẳng vào doanh trại địch. Sau khi diệt được hai tiểu đoàn, thì bắt đầu truy kích theo bọn bỏ chạy. Số quân mai phục trước tại phía Bắc Hoàng Sơn, nhanh chóng đánh vu hồi về phía trại Diêu An, và đánh thẳng vào địch tại Mã Nghị Điếm, tiêu diệt được mội số quân địch. Số còn lại đều quay về hướng Tây bỏ chạy, Hồng quân bèn truy kích theo đến vùng Tiết Điếm nằm về phía Nam Phó Lưu Điếm và tiêu diệt toàn bộ chúng. Riêng lữ trưởng của địch bị bắn chết. Tướng Hứa Thế Hữu làm đoàn trưởng đoàn thứ ba mươi tư, tham gia trận đánh đó, về sau trong hồi ức có nói: "Qua sự bố trí trận đánh sông Liễu Thọ, chứng tỏ nghệ thuật chỉ huy của đồng chí Trần Canh hết sức khôn ngoan và linh hoạt. Lúc đó chúng tôi có ba đoàn và vây đánh địch hai đoàn. Về mặt quân lực không phải chiếm ưu thế tuyệt đối. Hơn nữa, địch có công sự phòng ngự, nếu đánh thẳng với chúng thì khó thu được thắng lợi. Cho nên dùng cách bao vây ba mặt, bỏ ngỏ một mặt, để dụ địch rời bỏ trận địa của chúng, rồi mới truy kích tiêu diệt là cách đánh cơ bản trong lối vận động để tiêu diệt địch".

Chiến dịch Hoàng Quang chỉ kéo dài có năm hôm là kết thúc thắng lợi. Khiến uy danh của Trần Canh chấn động khắp nơi. Sự chỉ huy linh hoạt của Trần Canh đã được chứng thực qua việc chỉ huy tác chiến.

Tháng mười năm 1935, Hồng quân Trung ương sau khi trường chinh đến phía Bắc Thiểm Tây, thì cùng hợp điểm với đoàn mười lăm khôi phục phiên hiệu phương diện quân một Hồng quân. Mười ba đại hội cũng khôi phục thành đoàn mười ba Hồng quân. Trần Canh được cử làm đoàn trưởng đoàn mười ba Hồng quân. Lúc bấy giờ, Tưởng Giới Thạch phái năm sư đoàn, mở đợt bao vây tấn công lần thứ ba vào căn cứ địa Thiểm Tây, Cam Túc, với ý đồ tiêu diệt Hồng quân, khi Hồng quân chưa đứng vững chân. Mao Trạch Đông đoán biết được ý đồ đó, bèn chọn vùng Trực La Trấn để sáng tạo một chiến trường. Trải qua khảo sát, quyết định để cho địch tiến vào Trực La Trấn rồi mới hai mặt đánh giáp công, tiêu diệt chúng. Sau ba hôm, sư trưởng sư một lẻ chín của địch là Ngưu Nguyên Phong, quả nhiên đã xua quân tiến vào Trực La Trấn.

Lúc đó, vì Trần Canh bị thương hai lần trên đùi nên tham mưu trưởng quân đoàn là Tả Quyền, bảo ông đừng tham chiến, mà ở lại bộ chỉ huy để nghỉ ngơi. Ông ta hứa là mình có thể thay Trần Canh để chỉ huy được. Tả Quyền là chiến hữu kỳ cựu của Trần Canh. Trước kia họ là bạn học cùng khóa thứ nhất nơi "Lục Quân Giảng Võ" học hiệu, và "Hoàng Phố học hiệu" tại Quảng Châu. Về sau họ trở thành tướng lãnh cao cấp của Hồng quân. Tả Quyền thực lòng quan tâm đến Trần Canh, làm ông rất cảm động, nhưng ông vẫn quyết định không chịu ở nhà, còn trách Tả Quyền:

— Người ta mới lên chức đang hăng hái, thế mà anh lại tạt cho người ta một gáo nước lạnh!

Tả Quyền biết bản tánh của Trần Canh, nên phải nhượng bộ. Tả Quyền muốn cấp riêng cho Trần Canh hai con ngựa để khỏi đi bộ. Trần Canh vẫn không tiếp nhận, nói:

— Trên đường trường chinh, tôi đã đi bộ tới đây, chứ không phải cưỡi ngựa.

Không còn cách nào khác, Tả Quyền đành phải cho gọi Âu Chí Phú, đặc phái viên của đoàn tới nơi, bảo ông này phải lập tức chuẩn bị một bộ cáng, và từ đấy trở đi, lúc nào bộ cáng cũng phải giữ bên mình.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:24:47 am

Nhiệm vụ của đoàn mười ba là cảnh giới yểm hộ cho quân đoàn. Trần Canh làm đoàn trưởng, nên luôn chạy tới chạy lui, gần như ông phải đi một đoạn đường gấp đôi mọi người. Trước khi bộ đội chủ lực xuất phát, ông phải phái bộ đội của mình đi theo đường lục soát cảnh giới, và khi bộ đội chủ lực đã đi qua, ông lại kéo bộ đội của mình trở về, để kiểm tra dọc đường và canh gác.

Do bôn ba trên một quãng đường dài, cái chân bị thương của ông lại phát đau, ông phải chỏi gậy, đi khập khễnh, thế mà chiếc cáng dành riêng cho ông vẫn mải ở không. Ai khuyên ông lên nằm cáng, ông cũng không chịu. Lúc nào ông cũng nói cười vui vẻ, và lắm khi một câu nói của ông lại làm cho mọi người xung quanh cười đến vỡ bụng.

Đoàn mười ba kéo tới vùng Đông Thôn, Vĩnh Xuyên đóng yên chờ mệnh lệnh. Có một hôm, quân đoàn phái ngựa đến để cho Trần Canh cưỡi đi xem địa hình. Đến tối trở về, ông tỏ ra rất phấn khởi. Tại cuộc hội nghị về bố trí trận địa, ông cao hứng thí dụ và hỏi:
— Các đồng chí có ai giết "bò" bao giờ chưa? Lần này cần phải giết "bò" rồi đấy! Con "bò" này từ ngày Hồng quân Trung ương kéo tới vùng Thiểm Tây và Cam Túc, thì nó lúc nào cũng theo cắn đít cả. Chúng ta đã chặt đuôi nó mấy lần rồi, nhưng nó vẫn không chừa cái tật đó. Lần này chúng ta phải nện một búa cho thật mạnh vào đầu "bò" của nó, rồi mổ bụng của nó ra!

Trần Canh nói như vậy, mọi người đều hiểu. Đó chính là ông muốn nói đến Ngưu Nguyên Phong, sư trưởng sư một lẻ chín của địch.

Trần Canh lại nói:

— Đoàn mười ba trong cuộc trường chinh, sau khi đánh trận Lâu Sơn Quán, thì vẫn luôn làm hậu vệ, để yểm trợ toàn quân. Lần này tôi đã giành được nhiệm vụ nặng nề, đánh trận đầu, và chận lấy đầu "bò" mà đánh. Nhưng có điều là, mọi người đừng quá hăng say giết địch, mà cần phải chú ý tới chính trị. Ở đây có hai khẩu hiệu mà mọi người đều phải nhớ: một câu là "Đối đãi rộng rãi với Đông Bắc quân", và một câu nữa là "Hoan nghênh Đông Bắc quân quay súng lại bắn Nhật Bản".

Lời nói của Trần Canh làm cho mọi người thấy khó hiểu. Cho nên tiếng nói của ông vừa dứt, thì có một viên tiểu đoàn trưởng buột miệng hỏi:

— Đây là chúng ta đi đánh giặc hay là đi dán khẩu hiệu vậy?

Trần Canh nghiêm sắc mặt, đáp:

— Thế nào? Đánh giặc thì không có thời giờ dán khẩu hiệu sao? Đây là vừa đánh giặc vừa dán khẩu hiệu. Các anh la to khẩu hiệu lên để cho họ buông súng xuống, thì phải là có tài hơn bắn họ không? Mọi người đừng quên quê hương của kẻ thù chúng ta hiện nay đang bị Nhật Bản chiếm đóng!

Người tiểu đoàn trưởng vừa rồi dùng tay đấm vào đầu của mình một đấm, trách đầu óc của mình quá "giản đơn".

Tối ngày hai mươi tháng mười một, phương diện quân ra lệnh: Các bộ đội theo hướng đã chỉ định để bôn tập (tiến quân bằng lối chạy) để tiến lên. Đến sáng sớm thì phải bao vây Trực La Trấn.

Bộ đội đã tích lũy nhuệ khí từ lâu, nên bảo chạy là họ chạy. Mệnh lệnh bôn tập ban ra, là họ chạy tới ào ào. Như vậy, thật là khổ cho Trần Canh. Vì ông ta vừa chỏi gậy vừa chạy trong đêm, chắc chắn không làm sao chạy kịp các anh lính trẻ. Dần dần, sở chỉ huy của đoàn đã cách xa bộ đội. Trong khi đó, giữa Trần Canh và các thành viên trong chỉ huy sở cũng cách xa nhau. Âu Chí Phú trông thấy vậy, không khỏi cuống quít, nghĩ tới lời dặn của Tá Quyền, ra lệnh cho cảnh vệ viên cõng đoàn trưởng mà chạy. Trần Canh cũng sợ làm trở ngại cho việc chỉ huy, nên đành phải để cho hai cảnh vệ viên luân phiên nhau cõng mình. Sau đó, ông lại phải ngồi cáng, như vậy mới theo kịp bộ đội.

Sau một đêm bôn tập, đoàn mười ba đã đến được vị trí chỉ định đúng giờ, và đã bao vây quân địch kín mít, dù có cánh cũng không bay thoát được. Trận chiến đấu này chỉ diễn ra hai tiếng đồng hồ, là binh lực của Ngưu Nguyên Phong cơ bản đã bị tiêu diệt. Ngưu Nguyên Phong dẫn hơn một tiểu đoàn tàn binh, chạy về phía những đồi đất chập chùng. Hồng quân chiếm lĩnh Trực La Trấn thì Châu Ân Lai tới quan sát trận địa. Ông nhiệt tình hỏi thăm Trần Canh và chúc mừng sự thắng lợi, rồi sau đó mới hỏi kỹ tình huống tác chiến. Trần Canh cố ý nói:

— Các bé và tôm tép thì bắt không ít, nhưng còn "bò" thì không bắt được, vậy đồng chí hãy cho phép đoàn của chúng tôi tiếp tục đi giết "bò"!

Châu Ân Lai tươi cười đáp:

— Đồng chí sao lại tỏ ra "hiếu chiến" đến như vậy? Đồng chí chỉ biết đoàn mười ba giỏi đánh sáp lá cà, và đã giành được mỹ danh là "Hầu tử binh" (binh con khỉ), chạy bộ để đánh viện binh địch rất giỏi. Vậy các đồng chí hãy tiến quân về phía Trương Gia Loan, để tiêu diệt viện binh địch thì tốt hơn!

Nghe Châu Ân Lai nói thế. Trần Canh cũng không tiện nài nỉ. Chuyện binh không thể chậm trễ, Trần Canh bèn ra lệnh thu gom bộ đội, rồi nhắm hướng Tây kéo đi. Trên đường, bộ đội của ông đã phối hợp với các bộ đội bạn, tiêu diệt viện binh địch, khiến cho kế hoạch bao vây tấn công của địch bị đập tan. Âm mưu tiêu diệt Hồng quân của Tưởng Giới Thạch xem như không thực hiện được.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:25:45 am

Trong trận tác chiến tại Trực La Trấn, Trần Canh lại bị thương lần thứ ba. Ngón tay cái của ông đã bị một viên đạn bắn vỡ.

Sau khi chiến tranh kháng Nhật bùng nổ, Trần Canh chỉ huy lữ 386 thuộc sư 128, theo đại quân vào chiến trường Sơn Tây, để triển khai chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa kháng Nhật. Dựa vào dãy núi Thái Hành Sơn, trong chiến tranh kháng Nhật, Trần Canh với sự dũng cảm và trí khôn ngoan của mình, chẳng khác gì một vị thần cầm giáo để chiến đấu cho dân tộc. Ông vừa đi, vừa đánh, xuất quỷ nhập thần, trước mặt quân xâm lược Nhật, ông là một tướng quân "hiếu chiến". Ông luôn nói: "Nếu ngày nào không đánh giặc, thì tôi đứng ngôi không yên, bực bội khó chịu". Đúng vậy, trong thời gian kháng chiến chống Nhật, ông đá dẫn bộ đội đi vòng khắp cả một vùng đất rộng rãi, thuộc khu Tấn Ký Lỗ Dư (tức các tỉnh Sơn Tây, Hà Bắc, Sơn Đông, và Hà Nam). Đâu đâu cũng để lại dấu chân chinh chiến của ông. Trong chiến tranh kháng Nhật, ông rất sở trường về lối đánh du kích. Đối với chiến thuật du kích, ông có một sự lý giải rất sâu. Ông nói: "Thực chất của du kích chiến, chính là mạnh dạn tiến thẳng tới trước, mạnh dạn rút lui ra sau. Có khi đi đại lộ, có khi đi tiếu lộ, có khi phân tán, có lúc tập trung, phải vừa đi vừa đánh. Nếu đi mà không đánh, thì sẽ bị đối phương đánh mình".

Chính ông có sự lý giải sâu sắc về du kích chiến, nên mới chỉ huy được bộ đội của mình, đánh thắng từ trận này đến trận khác.

Sau đây là mấy trận đánh điển hình của ông:

Trận đánh thứ nhất: Vào tháng mười năm 1939, quân Nhật tiến vào Kỳ Khẩu, và uy hiếp Nương Tử Quan, tình hình rất nguy cấp. Trần Canh bèn chỉ huy lữ ba tám sáu để tăng viện cho Nương Tử Quan. Ngày hai mươi mốt tháng mười, ông chỉ huy bộ đội của mình đánh vu hồi ngày đêm với địch ở vùng Tỉnh Hình, Trường Sinh. Với trận đầu tiên ông chỉ huy lữ ba tám sáu, đánh thắng Nhật, tiêu diệt được một trung đội công binh. Việc thắng lợi này có một ý nghĩa cổ vũ lớn đối với bộ đội, nhưng Trần Canh nhận thấy bộ đội hành quân ban đêm không thật yên lặng, động tác du kích còn bỡ ngỡ, và không dám sử dụng binh lực lớn, ông bèn nói với bộ đội của mình, yêu cầu cấp dưới phải giữ đầu óc cho tỉnh táo, chú ý tổng kết kinh nghiệm, sau khi đánh thắng một trận, thì phải tiến bộ một bậc.

Sau một thời gian ngắn tiến hành du kích trinh sát, tìm hiểu địch tình, địa hình, đường đi, những điều cơ bản đã nắm rõ, bộ đội cũng được thể nghiệm chiến đấu bước đầu. Lúc đó, quân Nhật cho một cánh quân tiến theo đường sắt Chính Thái để tiến công về phía Nam, với ý đồ sẽ đánh vu hồi về phía Tây và thọc thẳng vào Bình Định, rồi theo chính diện đánh hạ Nương Tử Quan, cắt đứt đường rút lui về Nương Tử Quan của Hồng quân. Lưu Bá Thừa, Trần Canh đều biết rõ ý đồ của địch, nên quyết định cho mai phục tại vùng núi gần con đường phải đi qua, là Thất Hằng Thôn, chờ tập kích địch.

Kết quả, Trần Canh đã chỉ huy bộ đội của mình, với binh lực một tiểu đoàn đã tiêu diệt địch hơn bốn trăm tên, bắt được hơn bốn trăm lừa, ngựa, và nhiều quân trang quân dụng khác. Qua thực tiễn chứng minh, chiến tranh du kích là có thể thực hiện được.

Trận đánh thứ hai: Vào tháng hai năm 1938, quân Nhật bắt đầu tấn công vào đoạn phía Nam của con đường Đồng Bồ. Trần Canh phụng mệnh giao nhiệm vụ đánh du kích ở đường Chính Thái cho đơn vị bạn, rồi dẫn lữ ba tám sáu vào phía Đông Nam tỉnh Sơn Tây để tác chiến. Tháng ba, sư trưởng Lưu Bá Thừa vận dụng cách đánh "công kỳ sở cứu, tiêm kỳ cứu giả" (đánh vào chỗ địch phải tự cứu, rồi tiêu diệt quân tới cứu viện) trong Tôn Tử Binh Pháp, quyết định tập kích Lê Thành, để hấp dẫn quân địch từ hai mặt Lô Thành và Thiệp Cụ đến cứu viện, rồi đặt mai phục tiêu diệt chúng. Lưu Bá Thừa ra lệnh cho lữ ba tám sáu đảm nhiệm việc tiêu diệt địch. Trần Canh quyết định đặt ổ mai phục tại Thần Đầu Lĩnh. Qua quan sát, Trần Canh thấy công lộ này từ trên đầu núi thông qua, không tiện chiếm những địa thế cao để tấn công xuống. Do vậy, Trần Canh dũng cảm quyết định lợi dụng những công sự cũ hai bên đường lộ, rồi ngụy trang thật khéo làm cho địch không thể tưởng tượng được là ta có thể phục kích quá gần chúng. Có người lo ngại làm như vậy rất nguy hiểm. Nhưng Trần Canh nói khôi hài rằng:

— Đánh giặc thì ít nhiều phải mạo hiểm chứ! Có những lúc không thể mạo hiểm, nhưng có những lúc nhất định không mạo hiểm thì không được. "Không thành kế" của Gia Cát Lượng không phải mạo hiểm đấy sao? Nếu ông ta không dám mạo hiểm, thì chỉ còn có nước làm tù binh của Tư Mã Ý, và ngày nay mình đâu có những tuồng hát hay đó để xem?

Bộ đội mai phục trong công sự rất kín đáo, Trần Canh nói với các chiến sĩ:

— Cho dù vó ngựa của địch có giẫm lên bàn tay mình, nhưng chúng không phát hiện mình, thì cũng không được cử động. Điều đó thật chẳng khác nào đánh lộn trên một cây cầu độc mộc - tay nhanh đánh tay chậm. Chỉ cần chúng ta ngụy trang khéo thì sẽ phát huy được tính bất ngờ của nó.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:26:24 am

Sáng sớm ngày mười sáu tháng ba, cuộc chiến bùng nổ tại Lê Thành. Từ Lộ Thành có một nghìn năm trăm quân địch, theo đường vượt qua Thần Đầu Lĩnh để tới tiếp viện. Tuy chúng có lục soát hai bên đường, nhưng lại không phát hiện được quân mai phục bên dưới lỗ mũi của chúng. Hồng quân chỉ một tiếng ra lệnh, đồng loạt nổ súng, khiến quân Nhật người ngựa ngã lăn. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, cuộc chiến đã được giải quyết xong. Đúng là một trận đánh phục kích gọn gàng hết sức. Qua cuộc phục kích nhanh như điện chớp đó, làm cho quân Nhật tan hồn lạc phách, hết sức kinh hoàng. Sau đó, chúng còn bảo trận chiến đấu ấy là "một trận đánh du kích điển hình".

Cứ mỗi lần có nhiệm vụ chiến đấu, Trần Canh bao giờ tinh thần cũng sung mãn, chỉ huy chiến đấu giữa trận chiến, và tâm hồn ông luôn rất vui vẻ. Ông đã ghi lại trong nhật ký của mình những chuyện xảy ra và những cảm xúc của mình trong nhiều trận chiến đấu. Như ngày mười lăm tháng ba, ông đã ghi lại cảnh tượng hành quân giữa đêm tối rất sinh động như sau: "Chín giờ tối thì bắt đầu đụng địch. Mọi người rất phấn khởi, tâm trạng đều hăng hái. Tất cả ai ai cũng quyết tâm chiến thắng. Trăng sáng treo trên đầu, chiếu rọi vạn vật như ban ngày, chừng như nó chuẩn bị để phục vụ cho cuộc hành quân đêm của quân ta. Ban đêm hành quân rất yên lặng, không nghe có tiếng nói xầm xì, cũng như không nghe có tiếng ho, mà chỉ nghe tiếng của chân bước, tiếng vó ngựa đạp trên sỏi đá, và tiếng thở hào hển khi vượt lên núi. Đây là một đoàn anh hùng dân tộc, không kể mệt nhọc, chuẩn bị hy sinh một cách oanh liệt, bôn tập ra tiền tuyến để diệt giặc Nhật”.

Sau đó khá lâu, khi đề cập đến lần đánh này, Trần Canh còn vui vẻ nói:

— Trận đánh này bộ đội phục kích thật tuyệt vời. Trước đó bá tánh quanh vùng cũng hoàn toàn không hay biết. Nếu nhìn thấy cảnh tượng hùng tráng lúc bấy giờ, mới hình dung được trận đánh oanh liệt như thế nào. Sau một tiếng kèn lệnh, binh sĩ bỗng ào ra, khiến cho bọn xâm lược không trở tay kịp. Chỉ trong vòng bốn tiếng đồng hồ, là kết thúc trận đánh. Trên chiến trường xác giặc nằm ngổn ngang khắp núi đồi. Có những xác bị lưỡi lê đâm thủng ngực, có những xác đầu bị thủng to, toàn là do lựu đạn đã sát thương. Trận đánh này, địch phải dùng hơn một trăm chiếc xe hơi để chở xác suốt hai ngày mới hết.

Trận đánh thứ ba: vào ngày ba mươi mốt tháng ba năm 1938, tức sau trận đánh Thần Đầu Lĩnh nửa tháng, Trần Canh lại dẫn bộ đội tinh nhuệ của mình, đến phục kích tại Đường Phố, nằm giữa Lê Thành và Thiệp Huyện, để chận đánh đoàn xe vận tải của Nhật.

Sáng sớm ngày ba mươi mốt tháng ba, hai đội xe vận tải của Nhật, gồm một trăm lẻ tám chiếc chở bộ đội yểm trợ một trăm bảy chục người từ Lê Thành vượt qua Đông Dương Quan chạy tới. Do đoàn xe chạy dưới đáy hố, và vượt qua bãi cát, mặt đường không vững chắc, nên chúng phải bò từ từ. Chờ cho cả đoàn xe của địch lọt trọn vào ổ phục kích, Trần Canh mới xuống lệnh nổ súng. Tức thì, tiếng súng cối, tiếng súng máy, súng bộ binh cùng nổ giòn, tạo thành một hỏa lực trùm kín cả đoàn xe địch. Sau đó, các chiến sĩ lại nhảy phóc lên xe đánh giáp lá cà với địch. Tay chân của chiến sĩ ta đều nhanh nhẹn, còn địch bị phục kích bất ngờ nên đang lúng túng hốt hoảng. Có một chiến sĩ đang vật lộn với địch, vũ khí trên tay bị rơi xuống đất, nhưng lúc đó không thể buông bỏ tên địch được. Anh này bèn dùng răng của mình cắn lấy mặt tên địch, và khi tên địch quá đau đớn, anh liền dùng tay bóp cổ giết chết nó, còn mình thì bị gãy hết ba chiếc răng cửa!

Sau hai tiếng đồng hồ kịch chiến, hơn một trăm bảy mươi tên địch đi trên xe, ngoài ba mươi tên thừa sơ hở theo đường cái chạy về núi đồi ở phía Nam thoát chết, còn tất cả đều bị tiêu diệt. Một trăm tám mươi xe hơi đều bị thiêu hủy.

Trong khi cuộc chiến đang xảy ra, thì Chu Đức, Bành Đức Hoài cố tình mời một số sĩ quan cao cấp của Quốc dân đảng đến xem trận đánh. Trận đánh tuyệt đẹp này, đã làm cho các tướng lãnh cao cấp của Quốc dân đảng, đối với chiến thuật đánh du kích của Bát Lộ Quân, đều khen ngợi không tiếc lời.

Hơn một năm sau đó, bộ đội của Trần Canh đã đánh vòng quanh theo các tuyến đường Bình Hán và Đạo Thanh. Đối với những con đường bị địch ngụy khống chế, ông đã liên tiếp giáng cho chúng nhiều trận đích đáng, khiến địch bị hao quân tổn tướng, phối hợp với chiến trường chính diện, mở được căn cứ địa dân chủ kháng Nhật ở hậu phương dịch. Ông còn đánh vòng qua phía Tây Bắc Sơn Đông và bình nguyên phía Nam Hà Bắc. Tại Hương Thành thuộc Uy huyện, ông dụ được đoàn xe cơ động mô tô gồm một trung đội của Nhật để tiêu diệt. Và sáng tạo được lối đánh phục kích và dụ địch rất đẹp.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:27:11 am

Kể từ khi lữ ba tám sáu của Trần Canh tiến vào chiến trường kháng Nhật, đã liên tiếp đánh thắng quân địch, trở thành cây đinh trước mắt của chúng. Chúng vừa sợ, vừa căm ghét người đối thủ này. Cho nên, có nhiều lúc chúng tìm Bát Lộ Quân để càn quét phục thù. Nhưng chỉ chuyên chú tìm lữ ba tám sáu để diệt. Cho dù có những cánh quân khác của Trung Quốc ở gần đấy chúng cũng không thèm để ý. Lữ ba tám sáu đi thẳng tới một địa điểm nào đó đóng quân, thì qua ngày hôm sau, giặc Nhật, liền cho máy bay tới oanh tạc, rồi lại pháo kích và bao vây tấn công. Trên xe thiết giáp của chúng, có dán khẩu hiệu "chuyên đánh lữ ba tám sáu". Nhưng mỗi lần địch tấn công, chúng đều chụp hụt vào khoảng trống. Vì quân ta tuy đi bộ, nhưng lại dám đua nhau với cơ giới. Mỗi lần đến một địa phương đóng quân, thì ngay đêm đó, liền di chuyển đi nơi khác. Cho nên, giặc Nhật vẫn không làm sao chụp được lữ ba tám sáu, mà chỉ có căm hận rồi đi trở về thôi.

Trận đánh thứ tư:

— Sau cuộc đại chiến Bách Đoàn, quân địch càng mở nhiều cuộc càn quét vào căn cứ địa du kích. Chỉ trong năm 1942, địch đã phát động ba lần càn quét đại quy mô vào khu Thái Nhạc, và xây dựng một "khu thực nghiệm Tảo Công Sơn Nhạc", dụ những quần chúng từ căn cứ địa ra để "duy trì".

Đảng ủy khu Thái Nhạc và quân khu Thái Nhạc dựa vào tình hình mới của giặc, và căn cứ tình hình khó khăn của địa phương, định ra phương châm chiến đấu lâu dài, tức toàn diện phát động quần chúng, lấy đấu tranh quân sự làm chính, bao vây trường kỳ quân địch, để cho chúng phải mệt mỏi, phải bị tiêu hao rồi bị kiệt sức mà chết.

Trần Canh đã nhiều lần thâm nhập vào tuyến thứ nhất khu bao vây địch, để điều tra với cán bộ, chiến sĩ và quần chúng về tình hình trong lúc quân ta bao vây, xem có khó khăn gì, có vấn đề gì. Ông nói một cách hình tượng rằng: bao vây lâu dài quân địch, là một sự so tài xem ai ngoan cường hơn ai. Kẻ nào dẻo dai thì kẻ đó sẽ chiến thắng. Kẻ nào ngoan cường nhất, thì kẻ đó sẽ giành được thắng lợi cuối cùng. Ông chỉ rõ "nhiệm vụ của việc bao vây là phong tỏa, cắt đứt, đánh tiêu diệt những toán địch nhỏ, chặn không cho bọn đặc vụ ra vào, tuyệt đường lương thực và nước uống, khiến cho địch có một cọng củi, một cọng rơm, đều phải lấy sinh mạng ra để đổi". Đứng về mặt quân sự, sử dụng lối đánh địa lôi rộng rãi và phát huy lối đánh ban đêm, không ngừng triển khai lối bắn sẻ, hình thành lưới bắn sẻ rộng rãi để giữ chặt địch ở bên trong. Trong cuộc chiến tranh này, quần chúng đã sáng tạo ra nhiều cách đánh du kich, như mùa hè, các tiểu tổ du kích lấy xác mèo, xác chó chết ném vào chân lô cốt của địch, để cho mùi hôi thối xông lên, buộc địch phải ra khỏi lô cốt tìm kiếm, và do đó, dạp phải địa lôi, hoặc bị bắn sẻ mà chết.

Tại Tẩm Nguyên gồm có tám vạn nhân khẩu, được quân địch vây thành chiến lũy không sao hạ được. Nhưng qua thời gian ba mươi tháng đấu tranh bao vây, rốt cuộc quân địch ngày càng mệt mỏi, không thể đi đâu, buộc phải giết chiến mã mà ăn thịt cho đỡ đói. Tháng tư năm 1945, quân địch bắt buộc phải rút khỏi Tẩm Nguyên. Đó là một cuộc bao vây chiến nổi bật nhất trong lịch sử kháng chiến của Trung Quốc, là một khúc hát khải hoàn vang dội của chiến tranh quân dân. Năm đó, Trần Canh đã điều tra và viết quyển nhật ký của mình đến mấy vạn chữ, để lưu lại những trang ghi chép hết sức sinh động về cuộc đấu tranh lạ lùng này. Qua đó, có thể hiểu được những tính toán công phu, những vận trù gian khó trong chỉ huy của quân du kích.

Trong thời kỳ kháng Nhật, Trần Canh đã vận dụng du kích chiến một cách linh hoạt, và sở trường về phục kích để thắng địch. Những trận phục kích chiến của ông bất luận là trận Thất Hằng Thôn, trận Thần Đầu Lĩnh, trận Hương Thành Cố, hay là trận Hàn Lược, đều có một điểm giống nhau, đó là: che giấu được hành động và ý đồ của Hồng quân, chọn được địa hình để phục kích một cách có lợi và chính xác, nắm được quy luật hành động của địch, lợi dụng được tính kiêu ngạo, khinh địch của kẻ thù. Trước khi đánh, ông biết động viên chính trị toàn quân, nói rõ phương pháp tác chiến, để người chỉ huy cấp dưới nắm vững và đánh một cách kiên quyết. Chính nhờ vậy mà Trần Canh mới trở thành là vị thần du kích chiến, làm cho quân Nhật nghe tên phải khiếp đảm.

Tháng bảy năm 1946, Quốc Dân Đảng chính thức mở màn cuộc nội chiến chống Cộng, chống nhân dân, cử đại binh tiến đánh vùng phía Nam tỉnh Sơn Tây là bộ đội của Hồ Tông Nam, tư lệnh trưởng đệ nhất chiến khu của Quốc dân đảng. Hồ Tông Nam là người có nhiều tham vọng, chí to nhưng tài mọn, tính tình sâu độc, nham hiểm, được xem là "tướng quân thường bại trận". Tướng này là đối thủ từ lâu của Trần Canh, nhưng cũng là bại tướng dưới tay của Trần Canh!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:27:54 am

Trong quân đội của Quốc dân đảng, Hồ Tông Nam là lãnh tụ của thái thực lực "Hoàng Phố”, và cũng là cây bài sáng giá cuối cùng của Tưởng Giới Thạch. Ngay từ khi chiến tranh cách mạng trong nước, Hồ Tông Nam còn là học viên khóa một của trường Hoàng Phố, thì đã trở thành kẻ tử thù với Trần Canh. Lúc bấy giờ, Trần Canh thường chỉ trích thẳng thừng những luận điệu phản cách mạng của Hồ Tông Nam. Nay, oan gia lại gặp nhau trên đường hẹp phía Nam Sơn Tây!

Quân đội của Hồ Tông Nam được trang bị toàn bộ bằng vũ khí Mỹ, đặc biệt là đệ nhất lữ của ông ta, xếp theo thứ tự, nó đứng đầu tiên. Nếu xét về trang bị, thì nó được trang bị tốt nhất của Mỹ, xét về huấn luyện, thì nó cũng là một lữ đoàn được huấn luyện kỹ càng nhất. Lữ trưởng của đệ nhất lữ là trung tướng Huỳnh Chánh Thành, người có quân hàm cao nhất trong cấp sĩ quan chỉ huy lữ đoàn. Tướng này từng được tu nghiệp tại trường quân sự của Hítle. Lữ đoàn này rất kiêu ngạo, trên đường hành quân, bộ đội của các tướng khác nếu gặp nó thì cũng phải nhanh nhẹn nhường đường cho nó đi. Hồ Tông Nam rất kiêu hãnh bởi lữ đoàn này, và gọi nó là "Thiên hạ đệ nhất lữ".

Tháng tám năm 1946, Hồ Tông Nam sử dụng lữ đoàn số một của hắn để tiến vào phía Nam Sơn Tây, muốn từ đó tiến lên khu Thái Nhạc ở phía Bắc. Nhắm đúng vào hướng di động của địch, và căn cứ vào chỉ thị của quân ủy trung ương, vị tư lệnh quân khu Thái Nhạc lúc bấy giờ là Trần Canh, đã có sự bố trí như sau: tại vùng giữa Lâm Phàn và Phù Sơn, ông đã lựa sẵn chiến trường, lấy một bộ phận binh lực giả vờ tấn công kẻ địch ở Phù Sơn, còn chủ lực thì che giấu tập kết nơi phía Bắc công lộ Phù Sơn, có địa hình tương đối bằng phẳng và rộng rãi, một địa điểm kẻ địch hoàn toàn không ngờ, để hấp dẫn đệ nhất lữ yên tâm xua quân đi Phù Sơn tăng viện, rồi dùng vận động chiến tiêu diệt nó.

Trung tuần tháng chín, chủ lực của Hồ Tông Nam đến vùng Lâm Phần, và đã ngoan ngoãn đi vào túi phục kích của hồng quân. Đúng như Trần Canh dự liệu trước: địch thấy tình hình không hay, sẽ tức khắc phái đệ nhất lữ theo đường sắt Lâm Phù đi tiếp viện. Đoàn hai của lữ này, tiến lên vùng Quan Tước với sát khí đằng đằng, và bị bộ đội của Trần Canh bám lấy.

Trần Canh đã hạ quyết tâm từ lâu, phải đánh lữ đoàn số một của địch. Ông đã tiến hành việc bố trí một cách táo bạo, dùng hai lữ do Châu Hy Hán và Lý Thành Phương chỉ huy, để bao vây tiêu diệt lữ đoàn này. Đó là cách đánh tập trung ưu thế tuyệt đối của Mao Trạch Đông đã đề ra (dùng binh lực gấp đôi, gấp ba, gấp bốn, thậm chí có lúc gấp năm hoặc gấp sáu để tiêu diệt địch). Như vậy, hồng quân đã dũng cảm phát động cuộc bao vây tiêu diệt "Thiên hạ đệ nhất lữ", trong chiến dịch Lâm Phù.

Chỉ trong vòng một ngày một đêm, trận đánh tại Lâm Phù đã tiêu diệt được toàn bộ chủ lực lữ đoàn một của địch, và gây tổn thất nặng cho lữ 27 và lữ 167 của chúng. Trong trận đánh này, đã giết được hơn hai nghìn tên địch, bắt sống hai nghìn năm trăm tên. Con số địch chết cũng như con số địch bị bắt sống gần như cũng tương đương nhau. Đó là một trận đánh hiếm thấy trong chiến tranh giải phóng. Qua trận đánh này cũng thấy được sức chiến đấu mánh liệt cũng như sức chống cự ngoan cường của địch, nhưng cũng chứng minh được Hồng quân là một đạo quân anh dũng, không có sức mạnh nào mà không đập tan. Cho dù đó là một đạo quân "tinh nhuệ" như lữ đoàn một, thường tự xưng là "Thiên hạ đệ nhất quân" cũng không thoát khỏi số phận bị tiêu diệt của nó.

Sau đó rất lâu, viên lữ trưởng lữ 13 của Trần Canh, trong hồi ức về chiến dịch này có nói: "Đồng chí Trần Canh hoàn toàn nắm được tình huống của kẻ địch, nắm được quy luật hành động của Hồ Tông Nam. Trận đánh này đối với việc phân tích địch tình là hoàn toàn đúng đắn. Lúc đó đã tiên đoán một khi nổ súng tại Quan Tước, thì địch có thể từ hai nơi kéo tới chi viện. Do vậy, Trần Canh ra lệnh cho lữ 13 chận đánh quân tiếp viện ở phía Đông, và bảo tôi phải giữ vững trận địa được mấy ngày, để cho lữ 11 tiêu diệt địch tại Quan Tước. Riêng lữ 10 thì đánh viện binh ở phía Tây, tiêu diệt toàn bộ lữ đoàn một và một đoàn của nó. Trong vận động sẽ giải quyết gọn chủ lực của địch. Trận đánh này khá lý tưởng, đánh thật ngoạn mục, tiêu diệt triệt để cánh quân địch mà chúng thường rêu rao là "đệ nhất trong đời".

Trận đánh tiêu diệt toàn bộ "Thiên hạ đệ nhất lữ" này, chính là Trần Canh dựa vào chỉ thị của Mao Trạch Đông, lấy việc tiêu diệt sinh lực địch làm mục tiêu chính, không kể đến việc được hay mất một ngôi thành, một vùng đất. Phải mạnh dạn sử dụng binh lực địch là chính. Trước sự tấn công điên cuồng của địch, ba mặt đều bị địch tiến công, thế mà Trần Canh đã biết lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Hồ Tông Nam và Diêm Tích Sơn, dùng vận động chiến kết hợp với du kích chiến tranh, chỉ huy bộ đội chiến đấu một cách thích hợp, để đạt đến kết quả thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:29:42 am

Mở đầu cuộc chiến tranh giải phóng được ba tháng, Trần Canh đã giành được thắng lợi qua các chiến dịch Văn Hạ, Đồng Bồ, Lâm Phù ở tại phía Nam tỉnh Sơn Tây. Cứ một tháng là ông đánh thắng một trận, và mỗi trận thắng đều có tác dụng dập tắt ngọn lửa hung hăng của địch, nêu cao uy phong của hồng quân, và cũng bộc lộ hoàn toàn tài năng chỉ huy xuất sắc của Trần Canh.

Ngày hai mươi sáu tháng chín, báo "Giải phóng" ở Diên An, đã viết một bài xã luận ca ngợi tung đội Thái Nhạc, và đã đánh giá cao mấy trận thắng lợi nói trên. Xã luận viết: "Tung đội Thái Nhạc thắng từ trận này đến trận khác, không phải là ngẫu nhiên. Nguyên nhân thứ nhất là do tung đội này có sự gắn liền máu thịt với nhân dân địa phương... Nguyên nhân thứ hai là tung đội Thái Nhạc có những chiến đấu viên trầm tĩnh và kiên định, anh dũng lại thiện chí... Nguyên nhân thứ ba là do Trần Canh và Vương Tận Đình là hai tướng chỉ huy giỏi, biết tác chiến cơ động, không chú ý đến chuyện được hay mất một thành phố, mà chuyên tâm tiêu diệt sinh lực của địa phương, giỏi đánh vào chỗ không ngờ của địch, đánh vào chỗ không đề phòng của địch".

Đêm ba mươi tháng sáu năm 1947, đại quân của Lưu Đặng đã vượt sông Hoàng Hà, đập tan thần thoại "địa hình hiểm yếu thiên nhiên của Hoàng Hà, cũng bằng với bốn mươi vạn đại quân" của Tưởng Giới Thạch rêu rao, mở màn cho quân giải phóng nhân dân tiến công về phía Nam. Để phối hợp tác chiến với quân của Lưu Đặng, Trung ương quyết định phái Trần Canh vượt sông Hoàng Hà, tiến về phía Nam. Đại quân của Lưu Đặng đánh thốc vào Đại Biệt Sơn, là đã chém vào giữa ngực của Tưởng Giới Thạch một dao. Trần Canh vượt qua sông Hoàng Hà tiến về phía Nam, thọc thẳng vào phía Tây Hà Nam, là đã chém thêm cho hắn một dao nữa. Riêng đội quân của Trần Nghị, Túc Dụ, tiến vào phía Tây Nam Sơn Đông, rồi thọc thẳng vào phía Đông Hà Nam, là chém thêm một dao thứ ba. Cả ba đạo đại quân này, đã hình thành thế chân vạn trên chiến trường, tương trợ với nhau, phối hợp với nhau. Họ đã mở cuộc tấn công đại quy mô với địch trên một chiến trường rộng lớn mà phía Nam là Trường Giang, phía Bắc là Hoàng Hà, phía Tây là Hán Thủy, và phía Đông là Hoàng Hải.

Trần Canh sau khi nhận được nhiệm vụ trên giao, liền thảo kế hoạch quân sự để vượt sông Hoàng Hà, tiến thẳng về phía Tây sông Hà Nam.

Trong khi bộ đội chuẩn bị vượt sông, thì mực nước sông Hoàng Hà bỗng thay đổi một cách đột ngột. Mực nước sông dâng lên cao hai ba trượng. Trần Canh được tin này, trong lòng rất lo lắng, bèn phái khoa trưởng tình báo của bộ tư lệnh quân đội đến bờ sông Hoàng Hà theo dõi tình hình. Nơi mà Hồng quân chọn để làm điểm vượt sông là Sơn Hiệp. Ở đây sông hẹp nước chảy rất xiết. Bọn quân lính thủ ở phía Bắc sông Hoàng Hà, kể từ khi bộ đội Lưu Đặng tiến xuống phía Nam, thì chúng cấp tốc chỉnh đốn công sự, và đặt hệ thống điện thoại đến các thôn xóm. Chúng tập trung tất cả ghe thuyền để vượt sông, đốt sạch, rồi ra lệnh cho binh sĩ ngày đêm phòng thủ trên bờ sông. Chúng còn bắt ép nhân dân phía Nam sông Hoàng Hà phải tổ chức đội phòng sông, và đội theo dõi mực nước. Có những địa phương chúng còn tập trung tất cả chó lại, để theo với binh sĩ đi tuần rõn, được dân chúng gọi một cách khinh miệt là "binh chó". Sự cảnh giới của địch rõ ràng đang tăng cường. Công cụ vượt sông của binh đoàn do Trần Canh chỉ huy chỉ có cách đốn gỗ đóng thuyền nhỏ để vượt sông. Nước sông đang dâng cao, chảy thật xiết, khó bề vượt qua được nhanh nhẹn. Sau khi phân tích tình hình này, Trần Canh quyết định phải hạ quyết tâm vượt sông mà không để cho quân địch được biết. Ngày mười hai tháng tám, Trần Canh dẫn những binh sĩ giỏi rời khỏi vùng phía Nam Hà Nam, nơi mà họ đã chiến đấu đẫm máu với địch, tiến về phía bờ sông Hoàng Hà.

Trên đường hành quân của bộ đội, gặp phải mùa mưa liên miên. Trong sơn cốc đâu đâu cũng thấy mây mù che phủ, nước lũ tràn ngập. Bộ đội đi trên đường mòn giữa núi đầy bùn sình, các chiến sĩ ai ai cũng ướt đẫm bởi những trận mưa nối tiếp nhau. Đến đêm, khắp trên đỉnh núi, bên đường mòn, bên thôn ấp, đâu đâu cũng thấy những đống lửa đốt lên để hơ quần áo. Giữa đêm khuya, nếu từ xa nhìn thấy lửa sáng từng đốm một, trông chẳng khác gì một thế giới thần thoại.

Giữa khuya ngày hai mươi hai tháng tám, dưới sự che chở của màn đêm, bộ đội đã đến mấy bến thuyền nằm giữa phía Tây Tế Nguyên, và phía Đông Bình Lục để vượt sông. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, họ đá phá vỡ sự nguy hiểm thiên nhiên của sông Hoàng Hà, để đổ bộ lên bờ Nam. Do thuyền bè thiếu, nên chiến sĩ và dân công đã dùng vải đầu, kết hợp với rơm và bông gòn, để tạo thành những chiếc bè có chiều dài chín mét, trông như một cái ống, để liên kết lại với nhau thành một chiếc bè to, giống như một con rồng dài, để chở bộ đội vượt sông. Hình ảnh này thực chẳng khác gì một toán binh thần, từ trên trời sa xuống, đánh địch không kịp trở tay. Qua vụ vượt sông của Trần Canh, chẳng khác nào đâm bồi thêm vào tim của Tưởng Giới Thạch một nhát dao nữa. Cuộc vượt sông này, đã làm chấn động dư luận hai bên bờ sông Hoàng Hà, nên nhân dân đã có lời truyền tụng: "Trần tướng quân cưỡi rồng vượt sông", chẳng khác gì một câu chuyện thần thoại.

Nhân dân trong vùng sau đó cứ thêm nhân thêm nhụy để mô tả câu chuyện thần thoại này:

"Hôm đó trời tối, Trần tướng quân dẫn mười vạn đại quân vừa tới bờ sông, thì bỗng mây đen kéo tới, gió to thổi ào ào, cát đá trên bãi sông đều bị gió cuốn bay, nước sông gào thét như sấm động. Tức thì thấy có một con giao long màu vàng, từ giữa sóng dữ nổi lên, hướng về phía Trần tướng quân vẫy đuôi gật đầu, gầm to ba tiếng, ngỏ ý kính nể. Trần tướng quân bèn hạ lệnh, tức thì mười vạn binh hùng của ông nhảy lên lưng con rồng, và con rồng khổng lồ này đã bay bổng lên mây, chở toàn bộ binh sĩ của Trần tướng quân vượt sông, sang bờ phía Nam. Cảnh tượng này làm cho quân Tưởng đóng giữ bờ phía Nam kinh ngạc đến trố mắt, và tất cả đều bị bắt sống làm tù binh".

Câu chuyện thần thoại này sở dĩ truyền mãi về sau là do nhân dân đã bị quân Tưởng Giới Thạch áp chế quá lâu, trong lòng luôn ao ước được giải thoát, nên đã có sức tưởng tượng phong phú như thế. Câu chuyện này phản ánh sự kính nể, yêu mến của nhân dân đối với Trần tướng quân, người đã bao phen lập chiến công hiển hách.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:30:47 am

Tháng mười một năm 1947, để phối hợp với đại quân Lưu Đặng, mở cuộc đấu tranh chống bao vây càn quét, Trần Canh chỉ huy bộ đội theo đường Lũng Hải tiến về phía Nam. Để đối phó với việc binh đoàn số năm của Lý Thiết Quân bám theo đuôi, Trần Canh bèn tự mình xây dựng kế hoạch "dẫn bò về phía Tây Hà Nam". Kế hoạch đó là: lấy lữ 13 và lữ 25 giả làm chủ lực, hấp dẫn Lý Thiết Quân bám theo đến vùng Đại Sơn, ở chỗ giáp giới Hà Nam. Trong khi đó thì chủ lực triển khai về phía Đông chân núi Phục Ngưu Sơn, một nơi có đất rộng, để phát động quần chúng, xây dựng lực lượng võ trang địa phương, và tạo nên một căn cứ địa mới.

Ngày mười bốn tháng mười một, bộ đội "dẫn bò" từ Lý Thanh Điếm ở Nam Chiêu bắt đầu lên đường. Trần Canh được điện của Trung ương gửi tới, chỉ định làm người chỉ huy của cánh quân này. Trước khi xuất phát, Trần Canh đã dặn dò kỹ lưỡng Trần Khang:

— Các đồng chí nhất định phải nghĩ ra biện pháp dẫn kẻ địch tiến về hướng phục Ngưu Sơn. Các đồng chí phải dẫn sao cho con "bò" đó bị mệt mỏi, bị gày yếu, rồi bị sụm luôn tại chỗ, để tranh thủ thời giờ cho chủ lực hoạt động. Đồng thời, cũng phải chuẩn bị tốt các điều kiện giết "bò". Hai lữ của các đồng chí chẳng qua có năm sáu nghìn người, còn đại quân của Lý Thiết Quân đông tới ba vạn, và toàn bộ lại được trang bị bằng vũ khí Mỹ. Như vậy, khó khăn không nhỏ đấy! Để nhử cho Lý Thiết Quân cắn câu, các đồng chí có thể áp dụng nhiều thủ đoạn nghi binh, phô trương thanh thế. Các đồng chí còn nhớ câu chuyện về Tôn Tẫn giảm bớt số bếp nấu, để dụ Bàng Quyên vào Mã Lăng Đạo để rồi bắn chết hắn, mà tôi kể cho các đồng chí nghe đấy không? Bây giờ các đồng chí có thể nghi binh bằng cách thêm bếp nấu, để làm cho quân địch bị đánh lạc hướng!

Trần Canh đem những biện pháp hành quân nói rõ cho các đồng chí của mình nghe. Bộ đội "dẫn bò" sau khi xuất phát, bèn tạo thanh thế để lừa dối kẻ địch. Họ chia làm nhiều lộ, ồ ạt kéo đi và triển khai theo thế hình rẻ quạt. Đường lớn đường nhỏ đâu đâu cũng có tiếng nói ồn ào của bộ đội. Đến đêm, khác hẳn những cuộc hành quân bình thường, phải giữ im lặng. Đằng này, họ nói chuyện to tiếng, cán bộ phổ biến cho các chiến sĩ, là để địch nhìn thấy mục tiêu, chiến sĩ có thể to tiếng ca hát, hoặc to tiếng nói chuyện. Mỗi lần đi ngang qua một thôn trang, họ còn nhận được mệnh lệnh: "Nói truyền ra phía sau phải kéo dài đội hình, và đi chậm lại". Lúc đó, ngay như những chiến sĩ thường ngày không thích nói chuyện, bây giờ cũng nói rất hăng. Thậm chí có người còn hát ca đủ thứ điệu hát quê hương của mình. Giọng Nam giọng Bắc, làm rung chuyển cả một khu vực. Những con ngựa kéo đại bác, dường như cũng phụ họa theo. Chúng vươn dài cổ ra và hí lớn giữa đêm khuya. Hồng quân đã hành quân đến giữa đêm, vượt qua hơn bốn mươi dặm đường, mà vẫn không thấy binh của Lý Thiết Quân có động tĩnh gì. Trần Khang bèn dựa theo biện pháp của Trần Canh, phái một cánh Hồng quân đi trở lại phía sau, và xây nhiều bếp nấu dọc theo đường hành quân. Cứ một trung đội là xây mấy cái bếp, có những bếp dùng nấu cơm, có những bếp dùng nấu nước. Nếu không nấu nước thì họ cũng đốt lên chỗ đó một đống lửa. Do vậy, chỉ trong nháy mắt, cả vùng thôn trang đâu đâu cũng khói lửa bốc cao. Chỉ một đại đội mà họ đóng binh dài hơn một trăm bộ, khói nấu bốc cao, lửa cháy chập chờn giữa đếm tối.

Qua ngày hôm sau, các phụ lão trong xóm đi đâu cũng nói "Bát lộ quân vừa đi qua, chỉ riêng lừa ngựa thôi, cũng đi suốt nửa đêm dài". Có người nói: "Ở thôn tôi có mấy nghìn quân dừng lại nghỉ chân, bên ngoài cổng làng đâu đâu cũng là bếp để nấu nướng". Tin đó cứ một truyền mười, mười truyền một trăm, càng truyền càng nhanh, càng truyền càng xa, càng truyền càng có vẻ thần bí.

Chiều ngày mười lăm, bộ đội của Lý Thiết Quân đã kéo tới. Các chiến sĩ vui mừng, vừa nhảy vừa gõ nhịp hát vang:

Lý Thiết Quân, quả to gan,
Nhất quyết bám theo tưởng ăn dễ dàng.
Mưu kế Trần Canh rõ ràng,
Dần "bò" chờ theo vào Phục Ngưu San
Nó đi kiệt sức, hoang mang.
Chọc tiết bày tiệc cả làng ăn chung


Khi có tiếng súng nổ đánh địch, có người còn làm một bài vè rằng:

Xênh xang bước đi từng bước,
Theo sau một chú bò tơ.
Con bò quả thật quá khờ,
Dây dàm khỏi cần xỏ mũi.
Ngoan ngoãn bước đi thui thủi,
Chẳng cần ai đánh rơi nào



Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:31:18 am

Nhưng trong thực tế thì mọi việc không phải đều thuận lợi như mọi người đã mong. Lý Thiết Quân và Trần Canh là bạn học đồng song một khóa ở trường Hoàng Phố, nên đã biết Trần Canh hành quân rất lợi hại, và từ trước tới nay vẫn lấy làm khâm phục Trần Canh. Trong quân ngũ Lý Thiết Quân thường gọi Trần Canh là "Trần đại ca", cho nên hôm nay đưa quân Nam tiến, lúc nào Lý Thiết Quân cũng cẩn thận, dè dặt không khi nào dám hành động liều.

Trần Canh thấy "dụ tướng" không được, bèn quyết định "mời tướng". Ông hạ lệnh chiếm lấy Trấn Bình, uy hiếp Nam Dương, là nơi địch đang chiếm giữ.

Thế là dây dàm đã xỏ được vào mũi "bò". Quân ở Trấn Bình cấp tốc cầu viện với Lý Thiết Quân, và Lý Thiết Quân đã xua quân tây tiến, rơi vào mê hồn trận của Hồng quân. Thế mà chúng vẫn tưởng Hồng quân sợ chúng. "Công ty nói dối" Trung ương của Quốc dân đảng là Trung ương xã, còn khoác lác: "Đã đẩy chủ lực quân của Trần Canh vào trong núi sâu".

Lúc đó, trong bộ đội lại xuất, hiện một bài vè mới:

Lý Thiết Quân,
Quả là ngu
Đoán địch tình,
Như mây mù.
Hồng quân chiếm.
Trấn Bình huyện.
Hắn được tin,
Vỗ xuống bàn,
Trừng hai mắt,
Quát ra lệnh:
Bây trúng kế.
Còn hung hăng?


Bắt đầu từ đó, quân địch bám sát theo quân đội "dẫn bò", khi tiến, khi dừng, khi dừng, khi tiến. Lúc nào cũng giữ khoảng cách giữa hai bên nửa ngày đường. Khi gần nhất không quá ba mươi lăm dặm, có khi chỉ cách nhau một con sông, chẳng khác nào đôi bên chơi ú tim, làm cho địch nhìn thấy mà không chụp được.

Để đánh lạc hướng sự trinh sát trên không của địch, quân đội "dẫn bò" sau khi xuất phát từ Trấn Bình, cứ đi giữa ban ngày thành đội hình kéo dài như một con rồng. Khi dừng lại nghỉ ngơi, các chỉ huy bèn ra lệnh cho binh sĩ đốt nhiều đống lửa. Như vậy, nếu ban ngày thì nhìn thấy nơi đóng quân của họ khói bốc lên mù mịt, còn ban đêm, thì thấy lửa đỏ rực khắp nơi.

Qua mấy mươi hôm, lữ 13 của Trần Canh đã từ Bắc kéo tới Nam, từ Đông kéo sang Tây, và chứng tỏ hoàn toàn không có định hướng. Qua hành động đó, làm cho đại quân của địch phải bám theo đi thành một vòng tròn to. Đến chừng đó, Lý Thiết Quân mới nhận ra chủ lực của Trần Canh đang ở phía Đông, nên hối hả dẫn trọn ba sư của mình đi cứu viện. Và kết quả họ đã bị Hồng quân tiêu diệt toàn bộ tại Toại Bình. Khi Lý Thiết quân đã cùng đường, giận dữ đấm vào ngực thật mạnh, rồi dùng một giọng hết sức bi thương, nói với viên tham mưu trưởng Lý Anh Tài rằng:

— Đáng tiếc là thanh danh nửa đời của ta đã bị Trần Canh hủy đi trong chốc lát!

Lý Anh Tài sau khi bị bắt làm tù binh, có thừa nhận "quý quân dụng binh thật chẳng khác nào thần xuất quỷ nhập, chúng tôi tưởng lầm chủ lực của quý vị ở phía Tây, nhưng rốt cục lại ở phía Đông. Làm chúng tôi bị quý vị cho đi theo một cái vòng tròn lớn, làm cho binh sĩ đều kiệt sức, và sau đó mới tiêu diệt toàn bộ".

Chiến tích trên đây, lại thêm những dòng chữ sáng chói trong một chiến sử hiển hách của Trần Canh.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:31:57 am

4. HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Là một chàng trai đầy nhiệt huyết, tất nhiên Trần Canh cũng từng yêu tha thiết. Nhưng tình yêu của ông lại đi đôi với trách nhiệm nặng nề trên vai, nên khiến ông không thể cùng người yêu của mình sống mãi cạnh nhau. Đó là điều mà ông cảm thấy đáng tiếc. Cả đời Trần Canh có ba cuộc hôn nhân, nhưng ông chỉ nhìn nhận có hai lần. Tại sao vậy?

Cuộc hôn nhân đầu tiên của Trần Canh diễn ra hồi ông mới mười bốn tuổi. Như trên đã nói, vào năm 1917, cha mẹ ông theo tập tục cổ truyền của tổ tiên để lại, cho rằng con trai cần phải lấy vợ sớm, sinh con sớm, thì mới là việc tốt của gia đình. Cho nên đã chọn cho ông một cô gái lớn hơn ông hai tuổi, để làm người bạn trăm năm cả đời cho ông. Cô gái ấy tên gọi Trần Bích Quân, là con một gia đình giàu có. Thuở ấy, người con gái không ra khỏi cổng, không biết chi bên ngoài. Cho nên tất nhiên cô gái ấy không biết được cái chờ đợi mình là hạnh phúc hay bất hạnh.

Đối với cha mẹ Trần Canh mà nói thì cuộc hôn nhân này là "môn đăng hộ đối" không còn chi lựa chọn nữa. Cho nên cha mẹ ông hoàn toàn không cho phép một sự thương lượng nào khác, mà bắt con mình phải chấp nhận cuộc hôn nhân này mà thôi. Trái lại, đối với Trần Canh, một người đã học ở Đông Sơn thư viện, đôi mắt có dịp nhìn ra ngoài, không bao giờ cam tâm chịu sống yên tại một sơn thôn nhỏ như Dương Cát An này. Ông cũng như một con chim đại bàng tung cánh bay xa, cho nên sau khi cha mẹ bắt buộc ông cưới vợ, và với tính cách cứng cỏi, sẵn sàng phản kháng như ông, đá khiến ông phải phản ứng mạnh. Sau khi hôn lễ xong, Trần Canh cảm thấy mình càng phải học theo người tổ phụ của mình, bỏ nhà ra đi. Việc ra đi của ông, theo thời bấy giờ cũng không phải là chuyện ghê gớm gì, nhưng ở một sơn thôn nhỏ như Dương Cát An, thì lại là một chuyện to tát. Ông đã để lại cho cha mẹ mình một việc khó xử. Sau khi rời khỏi nhà, Trần Canh đã tuyên bố là không bao giờ trở về nữa. Từ trong quân ngũ ông viết thư yêu cầu gia đình mình nên đưa Trần Bích Quân trở về nhà cha mẹ của cô. Đứng trước tình cảnh đó, cha ông thấy để kéo dài cũng vô ích, nên phải thỏa hiệp với ông. Cha ông tìm một số người tai mắt ở địa phương, đứng trung gian làm hòa giải, rồi biếu cho nhà gái một ít tiền, và đưa nàng dâu trở về nhà cha mẹ ruột, kết thúc một chuyện rắc rối do chính mình tạo ra. Cuộc hôn nhân này, cũng giống như những bi kịch đã xảy ra trong nhiều gia đình thời đó, khởi đầu là bất hạnh, và kết cục cũng là bất hạnh.

Lần hôn nhân thứ nhất của Trần Canh đã kết thúc như thế. Cuộc hôn nhân này, đã thúc đẩy ông xa rời gia đình, và có thể nói, đã tạo một bước ngoặt trong cuộc sống của ông.

Nếu nói, cuộc hôn nhân thứ nhất của Trần Canh là theo mệnh lệnh cha, theo lời người mai mối, thì cuộc hôn nhân thứ hai của ông là sự hiểu nhau giữa đôi bên, và sự thương yêu tự nguyện. Người vợ thứ hai của ông tên gọi là Vương Căn Anh.

Vương Căn Anh chào đời năm 1906 tại khu ngoại ô Thượng Hải, trong một nhà nông dân nghèo, mười một tuổi, cô phải đi làm thợ vị thành niên cho xưởng kéo sợi Hàng Phong của người Nhật. Cô đã tích cực tham gia cách mạng. Năm 1925 khi cô mười chín tuổi, gia nhập Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Tháng ba năm 1927 công nhân Thượng Hải võ trang khởi nghĩa lần thứ ba thành công. Đặc biệt tại Thượng Hải, Vương Căn Anh đắc cử vào thị ủy của Thượng Hải, với chức vụ là thị ủy viên. Sau chính biến mười hai tháng tư, vì phải trốn tránh sự lùng bắt của mật thám Quốc dân đảng và bọn tuần cảnh ngoại quốc tại tô giới, Vương Căn Anh phải rút vào công tác bí mật.

Vương Căn Anh và Trần Canh biết nhau tại Thượng Hải. Họ vừa gặp nhau là đã yêu nhau ngay, vì đôi bên đều ngưỡng mộ nhau. Vương Căn Anh có vóc người mảnh khảnh xinh đẹp, Trần Canh tuấn tú cao lớn. Cả hai vì đều bận rộn công tác, nên chưa có dịp để kết hợp với nhau.

Năm 1927, đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ năm triệu tập tại Vũ Hán, Vương Căn Anh là đại biểu của Thượng Hải đến dự đại hội. Trong thời gian này, cô đã kết hôn với Trần Canh. Sau khi hôn lễ xong, hai người chưa hưởng tuần trăng mật thì Vương Căn Anh phải hối hả trở về Thượng Hải, để lo cho sự nghiệp của Đảng. Cả hai người đều không có sự hờn trách chi trong việc này.

Sau khi giã từ Vương Căn Anh tại Hán Khẩu, Trần Canh đã mất liên lạc với vợ. Trần Canh chiến đấu ngoài tiền tuyến, còn Vương Căn Anh hoạt động bí mật tại Thượng Hải, lúc nào cũng lo lắng cho chồng, mong mỏi được tin của chồng. Khi Vương Căn Anh thấy tin tức đăng trên báo, ngày một tháng tám Nam Xương khởi nghĩa, thì hết sức phấn khởi. Chẳng bao lâu sau, Vương Căn Anh lại được tin tức quân đội khởi nghĩa tiến xuống phía Nam, và bị thất lợi tại Sơn Đầu, nên càng lo lắng cho chồng nhiều hơn. Mãi đến khi Trần Canh xuất hiện trước mắt Vương Căn Anh, với vết thương trên đùi, thì cô mới bớt một phần nào lo lắng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:32:31 am

Đến khi Trần Canh hoạt động công tác bí mật tại Thượng Hải, vì trong một hoàn cảnh mà sự nguy hiểm luôn luôn rình rập, buộc phải có gia đình để làm bình phong, Vương Căn Anh dọn tới ở chung một nhà với Trần Canh, và đã dùng sự thông minh của mình giúp cho Trần Canh vượt qua nhiều tình huống nguy hiểm. Hai vợ chồng lại là đồng chí với nhau, nên tình cảm lúc nào cũng hòa hợp, cuộc sống thật là êm ấm.

Năm 1933 Trần Canh bị bắt ở Thượng Hải, và khi ra khỏi ngục, ông liền vào khu Xô viết của Trung ương, và để Vương Căn Anh ở lại Thượng Hải một mình. Đến tháng mười hai năm đó, Vương Căn Anh cũng bị bắt, và sau một thời gian bị đưa vào nhốt tại "Nhà giam mô phạm số một Giang Tô" ở Lão Hổ Kiều. Vương Căn Anh bị giam chung với Soái Mạnh Kỳ, Hạ Chi Hử. Trong thời kỳ bị giam cầm, Vương Căn Anh tỏ ra là một người Cộng sản kiên trinh bất khuất, nhưng có điều là không lúc nào cô không nghĩ tới người chồng của mình.

Khi sự kiện Tây An được giải quyết hòa bình, nhờ sự cứu nguy của Châu Ân Lai, Vương Căn Anh mới được ra khỏi ngục.

Giữa lúc Hồng quân được cải biên thành Bát lộ quân, Trần Canh với chức vụ một tướng chỉ huy, sắp sửa ra tiền tuyến kháng Nhật, thì một tin mừng truyền đến ông. Đó là Vương Căn Anh đã từ Tây An đến Tổng bộ Chính trị Bát lộ quân vào ngay mười sáu tháng tám. Trần Canh vừa nhận được điện thoại từ tỉnh bộ chính trị gọi đến, hối hả đến ngay văn phòng của Tổng bộ chính trị Nhạc Dương Trấn. Một cặp vợ chồng trải qua biết bao tang thương biến đổi, nay lại trùng phùng, họ hết sức vui mừng. Trong nhật ký ngày hai mươi bảy tháng tám, Trần Canh có viết: "Hôm qua Căn Anh đã từ Tây An đến tổng cục Chính trị tại Vân Nam. Đồng chí Tiểu Bình đã thêm thức ăn để ăn mừng việc chúng tôi được trùng phùng. Đồng thời đồng chí có dành riêng một phòng đặc biệt cho chúng tôi nói chuyện với nhau suốt đêm hôm đó.

Đôi bên cùng kể cho nhau nghe những chuyện xảy ra trong những ngày xa cách. Nói chuyện mãi cho tới khuya, mà chưa thấy buồn ngủ. Niềm vui của hai người còn hơn cả đêm tân hôn tại Vũ Hán hồi năm 1927. Căn Anh đã ngồi tù bốn năm, trải qua đủ sự gian khổ, cũng như trải qua bao nhiêu sự uy hiếp, mua chuộc của địch, nhưng cô vẫn giữ vững lập trường của người đảng viên Cộng sản, không hề dao động, càng làm cho tôi thêm khâm phục cô hơn. Từ đây, tình cảm giữa hai chúng tôi sẽ ngày càng vững chắc, và sẽ tuyệt đối không có gì lay chuyển được".

Sau những ngày sum họp ngắn ngủi, lại là những ngày ly biệt thật dài. Vương Căn Anh ở lại Vân Dương chỉ mấy hôm thì Trần Canh với chức vụ là lữ trướng lữ 386, thuộc sư 129 Bát lộ quân, phải lên đường đi kháng Nhật. Vương Căn Anh lại rời chồng đến vùng thánh địa của cách mạng là Diên An, một nơi mà trong lòng bà đã ngưỡng mộ từ lâu.

Khi đến Diên An, trước tiên Vương Căn Anh được đưa vào Trường Đảng ở biên khu để học tập. Về sau bà được điều về tòa báo "Tân Trung Hoa" để công tác. Đến tháng sáu năm 1938, tổ chức Đảng đã giải quyết theo nguyện vọng của bà, khiến bà vui vẻ lên đường đi đến căn cứ địa kháng Nhật ở Tấn Ký Lỗ Dự (tức Sơn Tây, Hà Bắc, Sơn Đông, Hà Nam), và đến công tác tại sư đoàn bộ sư 129. Vương Căn Anh đến địa điểm đóng quân của lữ 386 sống chung với Trần Canh được mấy ngày, thì lại đến sư đoàn bộ để nhận công tác. Bà được giao nhiệm vụ chỉ đạo viên chính trị Trường Cán bộ Tài chính Kinh tế do bộ phận cung cấp của sư đoàn bộ chủ trì.

Ngày tám tháng ba năm 1939, quân Nhật tiến công vào cơ quan cung cấp của sư đoàn, nơi Vương Căn Anh làm việc. Bà không kể chi đến sự an nguy của cá nhân đã trao con lừa mà trước đây bà được phân phối để cho các đồng chí khác dùng. Còn mình đi bộ theo đội cảnh vệ để thoát khỏi trùng vây của quân Nhật. Nhưng sau đó Vương Căn Anh phát hiện thấy chiếc túi đựng công văn và tiền bạc của cơ quan mà bà giữ, không có mang theo. Thế là bà không nghe lời khuyên của các đồng chí ngăn cản, cương quyết trở về chỗ đóng quân cũ. Kết cục, bà gặp địch và đã hy sinh.

Ngay ngày hôm đó, Trần Canh nhận được tin buồn. Ông không làm sao nén được một sự đau khổ cực độ trong lòng, nên trong nhật ký ông chỉ viết có một câu: "Ngày tám tháng ba là ngày ta không thể quên, mà cũng là ngày ta đau đớn nhất". Suốt cả tháng về sau, vì sự đau khổ đè nén tâm hồn của ông nên ông không viết thêm một dòng nhật ký nào. Mãi đến ngày mười bảy tháng tư ông mới viết trong nhật ký: "Hơn một, tháng nay ta không viết nhật ký, chủ yếu là do ta lười. Cái tang của Căn Anh cũng có sự quan hệ đến điều đó". Sự hy sinh của Vương Căn Anh, gây ra mối đau đớn lâu dài trong lòng của Trần Canh. Ông hoài niệm Căn Anh và cũng luôn thương nhớ tới đứa con của hai người - Tri Phi. Đó là đứa con trai duy nhất của họ. Trước kia, vì công tác nên Tri Phi được để ở lại Thượng Hải. Mãi đến khi kháng chiến thắng lợi, nhờ sự giúp đỡ của tổ chức Đảng bí mật tại Thượng Hải, Trần Canh mới tìm được Tri Phi đang làm công tại một nhà hàng tây. Cha con được gặp mặt nhau vào năm 1946.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 06:33:10 am

Sau khi Vương Căn Anh chết, Trần Canh thế là phải "Thủ tiết ba năm" với nàng. Điều đó cho thấy một vị tướng quân hùng dũng như Trần Canh, mà vẫn có một mối tình mềm yếu như tất cả những người con trai khác. Như vậy, mới thật là "đa tình diệc thị chân hào kiệt" (người đa tình mới đúng là một người hào kiệt).

Ngày hai mươi lăm tháng hai năm 1943, Trần Canh kết hôn với Phó Nhai. Khoảng thời gian này, vượt hơn "ba năm thủ tiết" mà ông đã tâm nguyện với Vương Căn Anh. Phó Nhai là một cô gái có nước da trắng trẻo, thân người mảnh khảnh, hát hay, múa giỏi, lại bắn súng tài tình. Cô được vinh hạnh cử giữ chức tiểu đội trưởng tiểu đội thiện xạ. Trần Canh yêu thích cô, nhưng thể hiện tình yêu của mình bằng một thứ tình yêu cao thượng, biết tôn trọng sự nghiệp và sở thích của vợ, không bao giờ buộc chặt vợ bên mình. Sau khi cưới nhau, hai người thường ở hai nơi. Có khi, Phó Nhai công tác ở thôn Tây, còn bộ tư lệnh thì đóng ở thôn Đông. Cho dù họ rất thương nhớ nhau, nhưng Trần Canh vẫn không chịu giữ Phó Nhai ở bên cạnh mình. Lúc sống ở Diên An, họ thường sống cách nhau một con sông, nên các đồng chí trêu họ là "Ngưu Lang Chức Nữ". Cứ cuối tuần thì họ gặp nhau một lần, chẳng khác nào vượt qua "Ngân Hà" vậy. Các đồng chí thường tạo điều kiện để cho hai vợ chồng họ đoàn tụ với nhau. Mỗi lần đến cuối tuần, thì các đồng chí đều tập trung ở ven sông, to tiếng gọi qua phía bên kia sông:

— Bớ Phó Nhai, mau về bên này!

Chừng như họ còn sốt ruột hơn cả Trần Canh nữa.

Năm 1945, đứa con trai đầu lòng của họ chào đời. Trần Canh chỉ có thể cung cấp cho Phó Nhai một ít sữa bò và đường cát trắng mà mình có được. Ông còn đích thân đi thổi than đá để nấu cháo cho vợ. Có khi ông còn phải đi cầu viện với các bà chị nấu bếp, "đánh cắp" của họ một chai mật nhỏ, hoặc cái gì đó. Cuộc sống rất khó khăn, nhưng tình yêu cúa họ lại thăng hoa trong cái khó khăn đó.

Đôi vợ chồng thương yêu nhau tha thiết như Trần Canh và Phó Nhai, sống giữa cuộc chiến đấu vẫn là đoàn tụ ít hơn ly biệt. Trong những năm đó, Trần Canh mới hiểu "Thư nhà còn quý hơn nghìn vàng". Cứ mỗi lần nhận được thư của vợ gởi đến, thì ông vui mừng như bắt được của quý. Năm 1949, trong khi ông chỉ huy quân đội, vượt sông tiến xuống phía Nam, "ngửa mặt lên nhìn trời, nhớ lại mẹ con còn ở nơi đất Bắc, bùi ngùi cảm xúc biết bao". Năm 1951, ngoài mặt trận tại Triều Tiên, ông bất ngờ nhận được một bức thư của vợ nhờ người quen đưa tới. Ông vui mừng như điên, và đọc đi đọc lại ba lần, nói:

— Ai cười tôi si tình thì tôi chịu, nhưng tôi cảm thấy vui thích làm sao! Nỗi lo âu trong nửa tháng qua, bây giờ đã tiêu tan hết!

Tình cảm của ông đối với vợ con, bộc lộ ra từng cử chỉ và từng lời nói.

Mãi cho đến năm 1952, sau khi Trần Canh từ Triều Tiên trở về nước, họ mới có được một gia đình cố định. Nhưng Trân Canh vẫn thường đi công tác xa. Cứ mỗi lần đi xa, thì họ giao kết với nhau là đến một địa phương nào thì phải gửi thư, hoặc cứ nửa tháng gửi thư một lần. Trần Canh đã giữ đúng "thỏa thuận" đó, và không bao giờ làm sai. Những bức thư từ hai nơi gửi cho nhau đó, đã thể hiện tình cảm của đôi vợ chồng khăng khít thương yêu này.

Trần Canh có thể nói là một người chồng biết lo cho vợ, thậm chí có thể nói là một người chồng si tình với vợ. Nhưng, có khi ông cũng rất "vô tình", đó là vào năm 1948, khi Trần Canh đang đóng quân ở Đổ Phủ, thuộc Hà Dương. Những ngày đó, họ vừa mới kết hôn xong là đã chia tay nhau, cho nên vợ ông tất nhiên là rất thương nhớ chồng. Phó Nhai đã lặn lội đường xa đến tận chỗ đóng quân của bộ đội để thăm chồng. Nhưng bộ đội tức khắc phải rời đi vì có nhiệm vụ trọng đại, nên Trần Canh quyết không cho Phó Nhai ở lại, mà bảo vợ phải nhanh chóng trở về. Vì ông sợ "đàn bà ở trong quân ngũ, làm sĩ khí không lên cao". Phó Nhai cũng hiểu được nỗi khổ tâm đó của chồng, nên rất vui vẻ trở về phía Bắc sông Hoàng Hà.

Đối với con cái, Trần Canh vừa hiền hòa lại vừa nghiêm khắc. Trong khi công tác của quân đội rất cấp bách, ít khi ông được cùng đoàn tụ với người nhà. Như lúc Tri Kiến vừa chào đời, thì chiến dịch Thương Đảng cũng vừa mở màn. Và, khi ông phải lên đường sang tác chiến ở Triều Tiên, thì đứa con gái Tri Tiến cũng vừa chào đời. Ông thương yêu con cái, nhưng luôn đặt lợi ích của Đảng lên trên. Trong thư gửi riêng cho Phó Nhai hoặc trong nhật ký, ông thường tỏ ra thương nhớ con cái của mình, thậm chí nhớ đến "phát sốt", nhưng ông không bao giờ nuông chiều con cái. Thời giờ gần con cái rất ít, nhưng nếu được gần, thì ông vẫn kiểm tra tình hình học tập của chúng, cũng như tìm hiểu thái độ của chúng khi đến trường. Ông cũng cương quyết không cho dùng xe hơi để đưa con đi học.

Những ngày chiến đấu cam go, gian khổ, làm cho sức khỏe của Trần Canh ngày một suy sụp. Ông đã mấy lần bị nhồi máu cơ tim, và ông dự cảm cuộc đời mình đã sắp đến giai đoạn chót. Nhưng ông vẫn thương yêu người vợ trẻ và những con cái của ông biết bao. Ngày mười lăm tháng ba năm 1961, Phó Nhai vừa bước vào cửa, Trần Canh liền nói:

— Hôm nay là sinh nhật của anh, vậy em hãy nấu một ít mì cho anh ăn nhé!

Từ trước tới nay, ông chưa bao giờ nói tới ngày sinh của mình, cũng chưa bao giờ làm thọ. Nhưng lần này, có lẽ là lần sau cùng nên ông mới nhắc tới chăng?

Đến khuya ngày hôm ấy, ông cố đè nén cơn bệnh đang dày vò, nhìn đăm đăm vào người vợ yêu. Cái nhìn của ông hết sức chuyên chú, hết sức lâu, và cũng hết sức thâm tình. Ông muốn mang ký ức tốt đẹp này để bay đến một cực khác của vũ trụ. Phó Nhai không để ý đến điều đó, và đang chuẩn bị công tác ngày mai của mình.

— Phó Nhai, sao em không tới đây với anh?

Trần Canh không nén được sự xúc động, nên cất tiếng khe khẽ gọi vợ. Dù sao, đây cũng là những giây phút cuối cùng sắp vĩnh biệt nhau.

Phó Nhai không ngờ được tâm trạng đó của chồng, nên bước đến khuyên chồng hãy nghỉ ngơi cho sớm.

Tám giờ bốn mươi lăm phút sáng sớm ngày mười sáu tháng ba, Trần Canh đã vĩnh viễn rời xa người thân của mình. Bàn tay của ông nằm trong bàn tay của Phó Nhai dần dần lạnh đi. Người vợ yêu của ông dù có kêu gào thế nào, ông cũng không dừng bước của mình lại được.

Ngôi sao to lớn và sáng ngời này, đã dốc hết năng lượng của mình ra cống hiến cho nhân dân, bây giờ lại ra đi một cách hối hả.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 04:59:45 pm

5. VÕ TƯỚNG MÀ LÀM TRƯỜNG HỌC

Là một võ tướng thành tích chiến đấu lẫy lừng, Trần Canh đi lại tự nhiên trên sa trường và uy danh xa gần ai cũng biết, làm cho kẻ địch nghe đến đều khiếp đảm. Thế nhưng, ông cũng hai lần đứng ra làm trường học, và được gọi là "hiệu trưởng" và "viện trưởng". Võ tướng mà làm trường học, phải chăng cũng có những thành tích huy hoàng như ở ngoài chiến trường?

Cuối tháng năm năm 1933, Trần Canh vừa rời khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch tại Thượng Hải, thì nhanh chóng được phái đến khu Xô viết Giang Tây, và đến làm hiệu trưởng trường bộ binh Bành Dương của Hồng quân. Ngôi trường này chuyên đào tạo cán bộ quân sự cấp trung, đại đội. "Bành Dương" là ghép hai họ của hai liệt sĩ Bành Bái, và Dương Lan đã hy sinh tại Thượng Hải năm 1929. Nhà trường ghép hai họ của hai liệt sĩ này lại để làm tên trường, là muốn nêu cao tinh thần hiến thân cho cách mạng của họ để kỷ niệm lâu dài. Với sự từng trải của Trần Canh ở Trường Quân sự Hoàng Phố, ông hoàn toàn có thể có đủ kinh nghiệm để làm trường học. Nhưng dù sao, ông cũng luôn chú ý đào tạo chủ lực của nhà trường, là xây dựng một đội ngũ giáo viên giỏi, và một tác phong tốt cho cả trường.

Theo hồi ức của Lưu Thanh Minh, là trung đội trưởng, đại đội ba, tiểu đoàn một quân sự, thì vào buổi sáng tháng giêng năm 1934, khi Lưu Thanh Minh đang lên lớp dã ngoại cho học sinh tại sườn núi, thì Trần Canh cũng tới hiện trường.

— Báo cáo Trần hiệu trưởng, khoa mục tôi đang huấn luyện là: tiểu đội bộ binh chiếm lĩnh trận địa để tấn công địch khi đánh dã chiến, phương pháp thực thi là giàng giải, luyện tập, và rút kinh nghiệm.

Lưu Thanh Minh nhanh nhẹn báo cáo với Trần Canh và không biết do đâu mà thái độ của ông ta có vẻ rất căng thẳng.

Trần Canh bèn gọi Lưu Thanh Minh đến một nơi, nói nhỏ rằng:

— Đồng chí đừng có hốt hoảng. Khi giảng bài, thì đồng chí phải xem như tôi không có mặt ở đây.

Sau khi giảng bài xong, chờ tất cả học viên đi khỏi, Trần Canh từ nãy giờ vẫn im lặng đứng nghe Lưu Thanh Minh giảng bài, mới lên tiếng hỏi Lưu Thanh Minh, phải chăng là lần đầu tiên giảng bài cho học viên nghe? Lưu Thanh Minh trả lời với Trần Canh rằng đây là lần thứ hai. Đồng thời, ông cũng cho biết mình là học viên tốt nghiệp khóa quân sự của Hồng quân tại Trường Thượng Giới, chỉ học trong vòng bốn tháng, thì lại đến đây giảng bài.

Trần Canh nghe xong, không ngớt khen ngợi:

— Ồ! Đồng chí chỉ học có bốn tháng mà có thể lên lớp giảng bài như vậy? - Ông lại nói tiếp - Hôm nay đồng chí giảng bài rất tốt. Tất nhiên là còn phải tiếp tục học tập, không thể hài lòng với hiện trạng trước mắt. Tôi nghĩ rằng các đồng chí có thể nhận thấy được: khi giảng bài, thì cũng là quá trình học tập. Trước khi giảng bài thì phải chuẩn bị giáo án, phải giảng thử, phải tham khảo một số tài liệu cần thiết. Một trung đội trưởng lên lớp thì chính là mình tự đào luyện cho mình. Đồng thời, cũng là một cách để bồi dưỡng giáo viên. Khóa mục hôm nay được thực thi cũng rất khá, có thể liên hệ được với thực tế. Từ nay về sau nếu có thời giờ thì nên tiến hành tổng diễn tập, để học viên thay phiên nhau giữ nhiệm vụ tiểu đội trưởng, để họ được đào luyện năng lực chỉ huy trong thực tế.

Lưu Thanh Minh đáp:

— Theo kế hoạch đã định của chúng tôi, sẽ dành một ngày để làm việc đó.

— Như vậy là rất tốt. Về sau có dịp diễn tập thì phải đặc biệt nhấn mạnh trong lúc xung phong, tất cả đều phải có sức chiến đấu ngoan cường, phải rất kiên quyết, phải rất dũng cảm, không sợ chết. Vì đó là một khâu then chốt trong quá trình chiến đấu - Trần Canh đã dặn dò như vậy.

Trong một bầu không khí thoải mái, Trần Canh đã giảng giải tỉ mỉ cách dạy cho giáo viên, và đem những kinh nghiệm về dạy học của mình truyền đạt cho giáo viên tiếp nhận, và gây cho họ một ấn tượng rất sâu.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 05:00:18 pm

Một hôm, Trần Canh đến đại đội bộ của đại đội tám, thuộc tiểu đoàn chính trị, nói với người chỉ đạo viên tên Ngụy Hồng Lượng:

— Chốc nữa đây đồng chí lên lớp, vậy hãy nói cho tôi nghe công tác chính trị trước khi chiến đấu, sau khi chiến đấu, và trong lúc chiến đấu là thế nào?

Ngụy Hồng Lượng tuy giữ chức chỉ đạo viên đại đội, nhưng chẳng qua là một cậu bé chỉ mới mười bảy mười tám tuổi, người bé gầy, bị một số đông đội nói lén sau lưng là "trói gà không chặt", cho nên cậu ta từ chối liên tiếp:

— Thưa hiệu trưởng, tôi không làm được đâu! Tôi không làm được đâu!

Trần Canh hoàn toàn không chấp nhận lời nói như vậy của cậu ta, bèn vỗ nhẹ vào vai Ngụy Hồng Lượng, cười nói:

— Hãy chuẩn bị giáo án cho kỹ, rồi đặt vấn đề ra, tôi sẽ phản bác lại với anh, và ta cùng nhau thảo luận.

Ngụy Hồng Lượng đành phải thi hành nhiệm vụ của mình. Trần Canh đã hết lòng giúp đỡ cậu ta xây dựng giáo án, nắm những vấn đề trung tâm, để cậu ta có thể tự kết hợp kinh nghiệm chiến đấu của mình thành lý luận, rồi mạnh dạn đứng lên bục giảng để thuyết trình. Về sau, sự thật đã chứng minh, Ngụy Hồng Lượng, một người được xem là "chỉ đạo viên con nít", lại có thể hoàn thành được nhiệm vụ giảng dạy của mình. Cho nên, chẳng những cậu ta đã tự vứt bỏ được chiếc mũ "trói gà không chặt" mà còn trở thành một giáo viên tốt trong lực lượng giáo viên của nhà trường. Lúc đó Tưởng Giới Thạch đang mở những đợt bao vây càn quét những căn cứ địa của Trung ương, nên chiến sự liên tiếp xảy ra. Do vậy, việc học ở đây phải là cái học áp dụng ngay vào thực tế. Cho nên Trần Canh đối với bài giảng cũng như đối với đời sống của học viên, hoàn toàn sắp xếp theo nhu cầu thực tế của chiến cuộc. Ông thường nói:

— Học cũng là đánh giặc, nếu dạy không tốt, học không tốt, thì đánh giặc sẽ không tốt.

Cho nên, ông rất chú ý việc kết hợp thực tế với lý luận, để tiến hành việc huấn luyện.

Tháng ba năm 1934, Trần Canh nhận được chỉ thị của cấp trên, dẫn toàn bộ học sinh của trường đến tảo thanh "Nghĩa dũng đội chống Cộng" tại huyện thành Hội Xương. Ông bèn dựa vào trình tự chiến đấu của ba tiểu đoàn, để biên chế gọn lại, và không để mất thời cơ dạy học. Trên đường hành quân, ông vẫn cho diễn tập nhiều khoa mục của nhà trường.

Hôm ấy, trời trong gió mát, khi bộ đội đi được ngoài mười dặm, đến một con đường rẽ về phía Đông Thanh Sơn Tử, và phía Tây của Tân Khang, thì có kèn thổi báo hiệu dừng lại nghỉ ngơi. Theo thói quen, đó là nghỉ ngơi tại chỗ. Trần Canh và mấy cán bộ lãnh đạo bèn cưỡi ngựa đi tuần tra, phát hiện trung đội mũi nhọn và một tiểu đoàn không chọn địa hình thuận lợi để nghỉ, mà cứ nghỉ ngơi tại chỗ như những trung đội khác.

Sau khi phát hiện điều này, Trần Canh đã nghiêm khắc chỉ rõ: "Phàm nhiệm vụ của tiểu đội mũi nhọn là chuẩn bị bất cứ lúc nào cũng có thể triển khai chặn địch. Bất cứ lúc nào cũng có thể lợi dụng địa hình để ngăn địch, yểm trợ cho chủ lực an toàn, và có thể triển khai tác chiến. Vậy các đồng chí hãy xem, phía trước mấy mươi mét, ấy là Yên Sơn, mới là địa hình đáng cho các đồng chí chọn lựa, phù hợp với nguyên tắc chiến thuật và là vị trí chính xác theo yêu cầu thực tế chiến đấu.

"Vì để đánh thắng địch, nên chúng ta trong việc huấn luyện cần phải có yêu cầu nghiêm khắc. Phải từ thực tế chiến đấu mà xuất phát..."

Trần Canh đã nhấn mạnh và tha thiết nói với các học viên.

Qua sự nghiên cứu, lãnh đạo của nhà trường quyết định cảnh cáo hành chánh người trung đội trưởng này và lập tức cho toàn thể học viên được biết. Sự kiện trên, như gióng lên một tiếng chuông vang rền để cho tất cả học viên đều phải chú ý. Tất cả những cán bộ trung đội khác cũng tự hỏi mình xem có những lỗi lầm gì không?

Hằng ngày, cứ tiếng kèn thức dậy vừa thổi dứt, thì Trần Canh bao giờ cũng có mặt trên thao trường hoặc trước cửa ký túc xá của học viên, trong khi bầu trời mới vừa hừng sáng. Nếu gặp những học viên trốn thao luyện thì bất cứ là cán bộ hay chiến sĩ, ông cũng đích thân gạn hỏi rất kỹ lưỡng.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 05:01:07 pm

Một hôm, trời vừa hửng sáng, Trần Canh đã đứng trên thao trường, dùng tia mắt sắc bén của mình, theo dõi một bóng người từ ký túc xá của đại đội tám, một tiểu đoàn chính trị chạy ra sau cùng, và nghiêm giọng quát:

— Hãy đứng lại! Hãy chạy tại chỗ!

Ông bèn móc đồng hồ bỏ túi ra để trước mặt, nói rõ từng tiếng một:

— Đồng chí đã ra trễ ba mươi lăm giây!

Trần Canh lại quay về toàn đội nói:

— Đã là quân nhân, thì phải có quan niệm về thời gian rất nghiêm khắc. Trong trận chiến đấu, nếu chậm trễ ba mươi lăm giây, cũng có thể tạo thành một tổn thất lớn.

Sau khi bộ đội tập xong, Trần Canh bảo Ngụy Hồng Lượng đi kiểm tra vệ sinh bên trong với mình. Khi kiểm tra xong đại đội bộ, Trần Canh thấy trên giường lò của Ngụy Hồng Lượng có một mảng ướt to, bèn hỏi:

— Đái dầm hả?

— Dạ!

— Chỉ đạo viên mà còn đái dầm thì làm sao giáo dục người ta?

— Vì tôi không thể kềm được...

Ngụy Hồng Lượng ấp úng trả lời.

— Nếu vậy, thì từ nay về sau đồng chí cứ đái dầm đi. Cứ mỗi đêm mỗi đái đi!

Trần Canh nổi nóng, và lúc đó bỗng thấy ngoài cửa sổ có bóng người đi qua, nên liền im lặng không nói gì nữa. Chờ một chốc, khi bóng người đã đi khỏi, Trần Canh mới đến sát bên cạnh Ngụy Hồng Lượng nhìn kỹ sắc mặt của cậu ta, nói:

— Sắc mặt anh không tốt, có thể anh bị giun sán. Như vầy nhé, anh hãy đến đội vệ sinh trị liệu một thời gian - Nói tới đây, Trần Canh to tiếng gọi - Nào, thông tín viên đâu, hãy đi gọi đại đội trưởng Dương tới đây.

Trần Canh không để ý tới lời thối thoái của Ngụy Hồng Lượng, to tiếng gọi một người thông tín viên tới. Trần Canh bèn bảo Dương phái hai người đưa Ngụy Hồng Lượng đến đội vệ sinh.

Sau mấy hôm, Ngụy Hồng Lượng đang nằm điều trị tại đội vệ sinh, thì nhận được một bức thư tay và hai con gà. Trong thư viết: "Đồng chí Ngụy Hồng Lượng, hôm nay tôi mua hai con gà để biếu đồng chí dùng nó mà tẩm bổ thân thể. Vì trong tay tôi chỉ có đủ tiền mua hai con gà thôi... Trần Canh".

Nắm bức thư tay vắn tắt, Ngụy Hồng Lượng cảm thấy cơ thể vốn yếu đuối của mình, bỗng như có một luồng sức mạnh ấm áp truyền vào. Cậu ta đã hiểu rõ, Trần Canh cũng như mọi người, mỗi ngày một cân gạo, không khi nào được ăn gà và thịt, có khi cả muối và mỡ cũng không có.

Ngụy Hồng Lượng cũng như tất cả học viên đang theo học Trường Bộ binh Bành Dương, đều trưởng thành và phát triển dưới sự dạy dỗ nghiêm khắc, nhưng đầy nhân ái, luôn được quan tâm của Trần Canh. Từng toán một các chiến sĩ dũng cảm, từ ngôi trường này đã bước ra trận địa, để chiến đấu chống những cuộc vây ráp của Quốc dân đảng. Trước khi rời trường, gần như ai ai cũng cảm thấy lưu luyến và đều gạt lệ để giã từ người hiệu trưởng Trần Canh. Hơn nữa, trong lòng họ vĩnh viễn khắc ghi những ngày tháng đã giúp họ tiến bộ ở đây.

Tháng sáu năm 1952, Trần Canh đang ở chiến trường Triều Tiên thì được Trung ương cấp tốc gọi trở về. Thì ra, Trung ương lại giao cho ông một nhiệm vụ nặng nề khác.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, đứng trước tình hình quốc tế đặc biệt lúc bấy giờ, và trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã cho thấy rõ, về kỹ thuật và trang bị rất là quan trọng, khiến Trung ương cảm thấy cần phải xây dựng một nền quốc phòng hiện đại hóa, nhanh chóng đào tạo ra một số lớn cán bộ quân sự có kỹ thuật. Đó là chuyện rất cấp bách, nên Trung ương quyết định cần phải mở một học viện công trình về quân sự, để đào tạo nhân tài khoa học kỹ thuật của quân đội giải phóng nhân dân.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 05:01:51 pm

Qua sự so sánh của Chủ tịch Mao, Trần Canh được xác định là người có đủ tài năng để làm hiệu trưởng ngôi trường cao đẳng đầu tiên của Quân Giải phóng Nhân dân này.

Sự chọn lựa của Chủ tịch Mao không phải là ngẫu nhiên, vì Trần Canh là một tướng bách chiến bách thắng. Ngoài kinh nghiệm tác chiến phong phú, còn là người có trình độ chính trị cao và tri thức văn hóa khá. Đặc biệt là Trần Canh đã từng sang Việt Nam, sang Triều Tiên, từng thử sức với quân đội của chủ nghĩa đế quốc và tạo được nhiều chiến tích lừng lẫy. Đối với địch thủ trong tình hình mới này, ông đã có nhận thức về cảm tính cũng như lý tính sâu sắc. Đối với việc chênh lệch nhau khá xa về kỹ thuật của đôi bên, ông cũng từng hiểu rõ. Hơn nữa, ông cũng đã làm hiệu trưởng một trường quân sự bộ binh, và tỏ ra là một người làm tròn trách nhiệm.

Nhưng, dù ông đã từng ở nhà trường, đã từng làm trường học, vẫn không phức tạp và khó khăn như việc xây dựng một học viện công trình quân sự trước mắt.

Giữa lúc ngoài tiền tuyến đang chờ đợi nhân tài, thì Trần Canh từ chiến trường Triều Tiên mang khói súng và bụi bặm trở về, để đảm trách lãnh đạo một học viện, quả là một công tác nặng nề. Vì, trong tay ông không có cán bộ, không có thầy, không có học sinh, không có trường sở, không có thiết bị. và cũng không có cả kinh nghiệm xây dựng một trường học về kỹ thuật. Ngay đến kế hoạch về đào tạo như thế nào, ông cũng chưa hiểu.

— Tôi không biết kỹ thuật, e là làm không tốt!

Khi Chủ tịch Mao đề xuất nhiệm vụ này với Trần Canh, thì ông đã trả lời như vậy.

— Điều trước tiên là đồng chí hãy nghĩ xem, xây dựng một học viện như vậy là cần thiết không? - Mao Trạch Đông hỏi ngược lại Trần Canh.

— Tất nhiên là rất cần thiết!

Mao Trạch Đông nửa đùa nửa thật, nói:

— Nếu là cần thiết, thì phải có người đi xây dựng. Tôi nghĩ rằng đồng chí đi làm chuyện đó là thích hợp nhất. Nếu đồng chí sáng suốt hơn tôi, thì xin đồng chí hãy giới thiệu cho tôi một người!

Thế là một người thân trải trăm trận như Trần Canh, từng là người anh hùng vô địch ngoài chiến trường, đành phải toàn tâm toàn ý nhảy vào xây dựng một học viện theo ý của Trung ương thôi.

Trần Canh động viên những nhân viên công tác quanh mình:

— Quân Giải phóng Nhân dân là một con cọp dữ, nay xây dựng một học viện công trình quân sự, chính là mình thêm cánh cho con cọp dữ đó. Tất nhiên, xây dựng cái gì cũng khó cả. Nhưng tất cả cái gì của cách mạng, cũng từ cái không tới có, học viện công trình quân sự này, cũng có thể từ không đi đến có. Người Cộng sản chúng ta bao giờ cũng có tài khắc phục những khó khăn. Những khó khăn ở trên thế giới này, đều không thể hù dọa được ta phải thối lui. Trước đây, trong cách mạng, có biết, bao nhiêu khó khăn đều bị chúng ta khắc phục. Vậy, sự khó khăn ngày nay, chỉ là sự khó khăn trong phát triển và trong thắng lợi, vậy chả lẽ chúng ta không khắc phục được hay sao? Trần Canh tôi, nếu không làm tốt được một học viện công trình quân sự, thì thề sẽ không làm người nữa!

Ông cũng hành động y như khi mình chỉ huy ngoài mặt trận. Trước tiên ông điều tra, nghiên cứu, rồi mới bố trí cách tác chiến. Sau một tháng nỗ lực, ông đã đề ra được một phương án xây dựng học viện, quy định một cách rõ ràng tính chất, nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, thiết trí chuyên nghiệp, sĩ số cần chiêu sinh, hướng phục vụ sau khi tốt nghiệp của học viện công trình quân sự. Kể cả vấn đề chọn lựa địa chỉ của nhà trường, cơ cấu tổ chức và thầy dạy, giáo trình, nguồn cung cấp thiết bị, ông đều đề xuất một cách rõ ràng, chính xác. Ông cũng nêu rõ tư tưởng xây dựng nhà trường là "lấy dạy học làm trung tâm", và phương châm xây dựng là "vừa xây dựng vừa dạy, vừa học".

Công tác xây dựng được tiến hành một cách khẩn trương. Trần Canh với chức vụ chủ nhiệm của ủy ban trù hoạch, đã dùng một thái độ như đang lâm chiến ngoài mặt trận, chủ động gánh lấy hai nhiệm vụ nặng nề nhất, là "tóm người" (tìm giáo viên), và "xây tổ" (xây dựng trường sở).


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 05:02:46 pm

Trần Canh lúc nào cũng rất xem trọng những người trí thức, và cư xử tốt với người hiền tài. Vậy, biện pháp "tóm người" của ông sẽ có hai cách: một là mời dạy, hai là bồi dưỡng và huấn luyện.

Trước tiên Trần Canh mời chuyên gia về đạn đạo là giáo sư Trương Thuật Tổ v.v... để dựa vào phương án xây dựng trường, cũng như xác định về mặt chuyên nghiệp, khởi thảo một bản danh sách mời các giáo sư và chuyên gia. Xong, đích thân ông cầm bản danh sách đó đi tìm thủ tướng Chu Ân Lai để phê duyệt. Vì Thủ tướng Châu Ân Lai công việc rất bề bộn, hằng ngày giải quyết không biết bao nhiêu là công việc quan trọng, nên trong giờ hành chánh không thể gặp được Thủ tướng. Thế là Trần Canh bèn đón vào đầu giờ buổi sáng, hoặc cuối giờ buổi chiều, để gặp Châu Ân Lai.

Có một buổi sáng, Trần Canh đến Tây Hoa Sảnh của Quốc vụ viện, để chờ gặp Châu Ân Lai. Hôm đó, Thủ tướng bận tiếp kiến các nhân sĩ dân chủ. Danh sách tiếp kiến đã sắp xếp xong, trong khách sảnh đông nghẹt là người. Trần Canh thấy không tiện vào, nên phải đứng ngoài chờ. Vừa lúc đó Trần Canh thấy Thủ tướng bước vào phòng vệ sinh, thì cũng đi theo ngay. Thủ tướng thấy Trần Canh có vẻ hối hả đi theo mình, bèn hỏi:

— Đồng chí Trần Canh, đến đây có việc gì vậy?

Trần Canh bèn đưa bản danh sách ra, nói:

— Đây là danh sách mấy vị giáo sư, xin đồng chí xem qua.

Thủ tướng bảo Trần Canh chờ một chốc, Trần Canh bèn nói:

— Nếu tôi chờ một chốc thì đồng chí sẽ đi mất.

Cho nên, Trần Canh đứng đó chờ đợi Thủ tướng phê duyệt xong, ông mới yên tâm ra về.

Đế giải quyết vấn đề điều động giáo sư ở các trường đại học. Thủ tướng đã nhiều lần chỉ thị cho tổ chức Đảng tại Bộ Giáo dục giúp đỡ giải quyết. Thủ tướng còn hai lần đích thân chủ trì hội nghị để giải quyết vấn đề thầy dạy cho Học viện công trình quân sự. Ngoài ra, để mời chuyên gia, giáo sư, giảng viên, Trần Canh còn tìm đến Hạ Long, Trần Nghị, Tập Trọng Huân, An Tử Văn, Dương Tú Phong v.v...

Do Trần Canh chịu khó bôn ba cực nhọc, nên trong khoảng thời gian không dài, bảy mươi tám vị giáo sư và chuyên gia nối tiếp nhau từ các vùng Hoa Đông, Trung Nam, Tây Nam, Bắc Kinh, Thiên Tân đã tới Cáp Nhĩ Tân. Và, hội các giáo sư mười bảy khoa cơ bản, và hội các giáo sư hai mươi ba chuyên nghiệp đã hình thành.

Cùng một lúc đó, Trần Canh sau khi được Trung ương Đảng phê chuẩn, lại từ các quân khu lớn chọn lấy ba trăm quân nhân ưu tú đã tốt nghiệp đại học, để thành lập đội trợ giáo. Họ được các chuyên gia và giáo sư chỉ đạo, với ý định bồi dưỡng họ thành lực lượng cốt cán trong việc dạy học và nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cho trường.

Qua sự năng nổ đó, chỉ trong vòng một năm, Trần Canh đã tổ chức được một đội ngũ gồm có năm trăm giáo sư và ba trăm nhân viên thực nghiệm. Lưu Bá Thừa đã ví von tài năng của Trần Canh:

— Cánh tay của anh dài quá!

Trong khi bận rộn lo chuyện "tóm người", Trần Canh cũng không buông lơi việc "xây tổ".

Trần Canh thông qua Thủ tướng Châu Ân Lai, đã tiếp nhận được trường sở của Đại học Y khoa Cáp Nhĩ Tân, rồi lại thu nhận thêm một số nhà cửa trong tô giới cũ, để sắp xếp nơi ăn chốn ở ổn định cho tất cả nhân viên nghiên cứu, giáo sư giảng dạy.

Ngày hai mươi lăm tháng tư năm 1953, trong khi tuyết chưa hoàn toàn tan hết tại thành phố băng giá này, thì Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân đã bắt đầu lo việc xây cất và sửa chữa trường sở.

Để kiểm tra và đôn đốc tiến độ và chất lượng của việc thi công, Trần Canh gần như mỗi ngày đều tới công trường để xem xét. Cả một mùa hè năm đó, ông luôn đội nắng đi tới đi lui ngoài công trường, và đã ba lần trèo lên giàn giáo rất cao. Có một tháp nước cao hơn năm chục mét xây dựng chưa xong, Trần Canh nhất định đòi lên đó để xem qua. Vì tháp nước quá cao, nhiều người tuổi trẻ lên tới phân nửa, là đã cảm thấy choáng váng, thế mà Trần Canh nhất định đòi trèo lên trên đó. Ông nói:

— Trước đây đánh giặc còn không sợ, vậy trèo lên tháp nước có chi mà sợ chứ?

Ông kiên quyết phải trèo lên tháp nước để xem và không cho cảnh vệ theo đỡ tay đỡ chân ông. Ông trèo lên rồi dừng lại, dừng lại rồi lại trèo lên. Chẳng mấy chốc đã lên đến đỉnh tháp. Mọi người đứng xung quanh đều toát mồ hôi giúp cho ông. Nhưng ông vẫn bình tĩnh, vui vẻ nói:

— Địa thế của học viện cao, nên đứng ở đây trông thấy tất cả mọi nơi!

Chỉ tốn một thời gian có bảy tháng mà tòa nhà xinh đẹp của học viện đã từ mặt đất vươn lên cao, giống như một thành phố vệ tinh mới toanh vừa xuất hiện tại ngoại ô phía Nam của thành phố Cáp Nhĩ Tân.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 05:03:35 pm

Ngày một tháng chín năm 1953, một học viện công trình quân sự đâu tiên trong lịch sử nước Trung Quốc đã được thành lập. Hiệu trưởng kiêm chính ủy Trần Canh chủ trì lễ khai mạc. Chủ tịch Mao Trạch Đông trong lời huấn từ đối với học viện có nói: "Việc xây dựng Học viện Công trình quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, có một ý nghĩa hết sức trọng đại đối với sự nghiệp quốc phòng của nước ta".

Với tinh thần tôn sư trọng đạo, dùng lễ đãi hiền sĩ, trong thời gian ông làm hiệu trưởng học viện, đã tỏ ra hết sức ưu ái những giáo sư và chuyên gia mà phải khó khăn lắm ông mới mời họ tới được. Ông gọi họ là "Tài sản quý báu nhất của quốc gia".

Xin các bạn nghe một vài mẩu chuyện sau đây:

Trần Canh lúc nào cũng xem những phần tử trí thức là "người nhà". Ông không bao giờ xem mình là người cải tạo, là người giáo dục, là người lãnh đạo, mà cư xử bình đẳng với tất cả những người trí thức, tin yêu họ hoàn toàn, và thân mật với họ như tay chân.

Về mặt chính trị, ông đối với những giáo sư chuyên gia hết sức tin dùng. Đối với tình huống của họ, ông cũng hiểu hết sức rõ ràng, và thể hiện là người lãnh đạo khi đã dùng ai, thì không bao giờ nghi ngờ người đó.

Lúc ấy có một nữ giáo viên là em gái của một nhân vật quan trọng trong Quốc dân đảng tại Đài Loan. Phòng bảo vệ của học viện phản ánh việc này với Trần Canh, và đề nghị ông không nên lưu giữ cô này ở lại làm giáo viên.

Trần Canh nói:

— Các đồng chí chỉ biết cô ấy có một người anh là nhân vật quan trọng trong Quốc dân đảng ở Đài Loan, nhưng không biết cô ấy lại có một người anh là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản của chúng ta. Cô ấy không theo người anh ở Đài Loan để chạy sang đó, mà lại theo người anh đảng viên Cộng sản ở lại lục địa của Tổ quốc. Như vậy, không phải chứng minh cô ấy là người tiến bộ hay sao?

Có rất nhiều chuyên gia giáo sư nhận thấy được những đức tính cao đẹp của người đảng viên Cộng sản qua con người của Trần Canh, nên họ đua nhau xin gia nhập Đảng Cộng sản. Trần Canh nói với họ, cánh cửa của Đảng bao giờ cũng rộng mở và lúc nào cũng hoan nghênh những người con của dân tộc bước vào cánh cửa đó của Đảng.

Đứng về mặt công tác, đối với chuyên gia, giáo sư, Trần Canh tỏ ra hết sức tôn trọng. Trong khi sắp xếp công tác cho họ, bao giờ ông cũng nói: "Đã trao công tác cho họ làm, thì phải cho họ có chức, có quyền, để họ mạnh dạn mà làm". Ông luôn luôn khích lệ các giáo sư già, nên an tâm công tác, đừng có tư tưởng "làm khách", mà phải có tư tưởng làm chủ. Ông nói với các giáo sư: "Tôi đứng ra xây dựng trường học, chẳng qua là tạm thời phải làm thế, còn về sau, ngôi trường tôi phải giao lại cho các ông, để các ông làm tốt hơn". Trần Canh còn nói thêm: "Bản lãnh gì khác thì tôi không có, nhưng bản lãnh ủng hộ các vị làm khoa học thì tôi có. Để có thể thực hiện các hoạt động khoa học kỹ thuật tốt, tôi sẽ không kể chi tất cả, để ủng hộ các vị. Phàm các vị muốn làm gì, tôi cũng sẽ tích cực ủng hộ hết mình".

Để phát huy tốt tác dụng của những phần tử trí thức, giúp cho họ có chức, có quyền, Trần Canh đã quyết định về các mặt nghiệp vụ, đều bố trí các chuyên gia, các giáo sư làm cán bộ lãnh đạo. Đứng về mặt đời sống. Trần Canh rất quan tâm tới các giáo sư và các chuyên gia. Với khả năng tối đa, ông luôn luôn hậu đãi họ để giải tỏa những băn khoăn trong tương lai của họ. Lúc đó về nhà ở rất khó khăn, Trần Canh đã lấy một ngôi lầu đẹp nhất trong Học viện, để làm chỗ ở cho các giáo sư già, còn mình thì ở tại một dãy nhà trệt, bình thường với cán bộ lãnh đạo của trường. Trần Canh đã lo lắng cho từng nhóm chuyên gia và giáo sư, xây cất nhà ăn cho họ, và mời một đầu bếp giỏi từ Hồ Nam lên để nấu thức ăn cho các chuyên gia và giáo sư. Lúc bấy giờ, có rất nhiều giáo sư và chuyên gia không muốn công tác tại Cáp Nhĩ Tân, vì thứ nhất, họ chê ở đấy khí hậu khắc nghiệt, quá lạnh. Thứ hai, họ sợ sinh hoạt trong một Học viện quân sự có nếp sống mà họ không quen. Nhưng khi họ tiếp xúc với Trần Canh rồi, thấy ông quan tâm hết mình đối với mọi người, tính chất lại bình dị dễ gần, hoàn toàn không có vẻ "nhân vật lớn" chi cả, nên cảm thấy hết sức ấm áp. Do vậy, những chuyên gia và giáo sư vốn không có ý định ở lâu dài tại đó, liền thay đổi ý định của mình.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Sáu, 2023, 05:04:05 pm

Người trí thức Trung Quốc có một ý thức truyền thống về đạo đức là "sĩ vi tri kỷ giả tử” (Người trí thức bằng lòng chết cho người hiểu mình). Thái độ cư xử chân thành của Trần Canh đã làm cho người trí thức thực sự xúc động. Nhờ đó, mà ông đã phát huy được tính tích cực rất to lớn của họ. Các chuyên gia, các giáo sư đều xem Trần Canh là người hiểu lòng mình, nên gọi ông là "Người chấp hành chính sách trí thức của Đảng trung thực nhất. Đó là người bạn tri kỷ của chúng tôi". Giáo sư Châu Minh Khê nói: "Trần Canh là một trong những người thân, được tôi yêu thích và tôn kính nhất".

Ngoài việc trọng thị các giáo sư, Trần Canh cũng đặc biệt quan tâm, yêu mến các học viên: "Học viên là của quý của chúng ta. Sự nghiệp của chúng ta có hy vọng hay chăng, và các bộ môn công tác của chúng ta sau này đều phải nhờ các học viên phục vụ".

Mỗi lần có sinh viên mới vào học, Trần Canh đều đến tiếp xúc thẳng với họ, để vừa thăm, vừa dẫn dắt cho họ có một động cơ đúng đắn trong việc học hành, khuyến khích họ cố gắng đạt đỉnh cao trong khoa học kỹ thuật.

Để bảo đảm sức khỏe cho học viên, ông đặc biệt điều động mấy người nấu bếp giỏi trong quân đoàn ba của chí nguyện quân về học viện, lo chuyện nấu ăn cho học viên. Ông còn yêu cầu họ mỗi tháng đều phải báo cáo cho ông một lần về tình hình cải thiện bữa ăn. Ông chủ trương học viên phải ăn no, ăn ngon, và phản đối một phòng ăn chỉ có hình thức, mà không có nội dung.

Ngoài việc ăn uống, Trần Canh còn nhân lúc học viên sắp tới giờ ngủ, đi thẳng vào ký túc xá của họ để xem tình hình vệ sinh và trật tự, ông sờ vào mền đắp của học viên xem có đủ ấm hay không. Cho nên tất cả học viên Viện công trình quân sự đều xem người hiệu trưởng già của mình như bậc trưởng thượng và có một cảm tình rất sâu sắc.

Tháng ba năm 1961, khi tin đồng chí Trần Canh qua đời truyền tới Học viện, thì Lưu Chi, một sinh viên tốt nghiệp khóa hai và ở lại công tác cho nhà trường, đã đau đớn nhắc:

— Năm 1953, một buổi chiều sau khi tôi vừa về học viện, bỗng thấy có một người "lính già" đến ký túc xá của chúng tôi. Người "lính già" này mặc quân phục bằng vải. Trước ngực có đeo một tấm phù hiệu "Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc". Ông vừa vào cửa là thân mật hỏi chúng tôi: "Từ địa phương nào đến? Tên gọi là gì? Có nhớ mẹ không?...”. Chúng tôi nhất nhất trả lời từng câu, khi nghe ông hỏi tới mẹ, tôi không còn cảm thấy một sự gượng gạo nào nữa. Mặc dù chúng tôi thấy sau lưng của người "lính già" này còn cả đội trưởng của chúng tôi, nên đoán biết ông hẳn là một vị thủ trưởng, nhưng chúng tôi vẫn nói năng tự nhiên trước mặt người. Sau khi người "lính già" ấy đi khỏi, chúng tôi mới biết đó chính là Viện trưởng Trần Canh thân ái của chúng tôi.

Dưới sự quan tâm như vậy của Trần Canh, từng toán một các công trình sư đỏ của Giải phóng quân Nhân dân cứ nối tiếp nhau mà xuất hiện và trưởng thành.

Năm 1954, Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân đã có qui mô bước đầu, nhưng những cơn nhồi máu cơ tim cứ luôn xảy ra với Trần Canh. Thế nhưng, ông vẫn ngoan cường nói:

— Tôi còn sống là tôi phải tiếp tục làm!

Vì để được làm mà sống, nên ông đã đấu tranh mãnh liệt với cơn bệnh. Nhưng, do cuộc sống vật chất thiếu thốn, do nhiệm vụ nặng nề luôn gánh vác trên hai vai, nên sức khỏe của ông ngày một suy giảm. Với quả tim nhiệt thành của mình, ông vẫn kiên nghị đấu tranh với tử thần.

Khi còn sống, Trần Canh luôn luôn bôn ba, chịu nhọc để xây dựng Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân, nhằm đẩy mạnh việc hiện đại hóa nền quốc phòng... Và, ông đã luôn thách thức với tử thần.

Ngày hai mươi lăm tháng ba năm 1958, Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân cử hành lễ tốt nghiệp cho học viên khóa một. Những mầm cây nhỏ được Trần Canh tưới bằng tâm huyết của mình, nay đã trưởng thành và kết quả. Nhưng ông đang bệnh nặng, không thể đích thân đến Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân, để dự lễ tốt nghiệp của những học viên mà ông đã đổ mồ hôi đào tạo. Ông chỉ có thể gửi thư đến chúc mừng các học viên tốt nghiệp:

"Việc đào tạo hằng loạt các sĩ quan của nhiều loại quân chủng, binh chủng, có trí thức cao và có kỹ thuật mới như thế này, là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự của chúng ta".

Việc này, đủ làm cho vị hiệu trưởng già của Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân mỉm một nụ cười mãn nguyện.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:50:51 pm

NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ
ĐẠI TƯỚNG ĐÀM CHÁNH



1. ĐÀM CHÁNH VÀ TRẦN CANH

Trong phong trào Thái Bình Thiên Quốc có Dương Tú Thanh và Tiêu Triều Quí là hai người cùng chung một làng, lớn lên cùng nhau tham gia Thái Bình Thiên Quốc, làm nên những sự nghiệp hiển hách, sống chết có nhau. Đàm Chánh và Trần Canh cũng thế, giữa họ với nhau có một mối tình bè bạn rất khăng khít, mọi người đều truyền tụng và đều cảm phục.

Đàm Chánh nguyên có tên là Đàm Thế Danh, hiệu Cử An. Ông chào đời tại một làng miền núi có tên Nam Trúc, thuộc vùng Tương Hương, tỉnh Hồ Nam, vào ngày mười ba tháng sáu năm 1906, trong một gia đình thân sĩ phong kiến.

Cha ông là Đàm Nhuận Khu; đối với người con trưởng nam của mình, cha ông ký thác rất nhiều hy vọng.

Đàm Thế Danh vừa sáu tuổi, được Đàm Nhuận Khu xem là người con trưởng nam sẽ nối dõi tông đường. Đàm Thế Danh do vậy, được đưa ngay vào Mông Quán (trường tư thục vỡ lòng thời xưa). Điều đó, làm cho Đàm Thế Danh cảm thấy mình hơn mọi người nhiều.

Sau khi vào Mông Quân để học, Thế Danh quen biết với nhiều bạn bè cùng lứa tuổi. Chẳng riêng gì những bạn bè ở cùng thôn, mà ở những thôn bên cạnh cũng có. Thế Danh quen biết với Trần Canh (nguyên có tên là Trần Thứ Khang), đó là người con cả của Trần Thiệu Thuần, bạn thân của cha Thế Danh, ở Liễu Thọ Phố, thuộc vùng Nhị Đô.

Năm đó, Thứ Khang chín tuổi, lớn hơn Thế Danh ba tuổi. Hai người cùng học chung một Mông Quán, và Thứ Khang luôn xem mình như người anh, lúc nào cũng chiếu cố và bảo vệ cho Thế Danh.

Nào ai ngờ, hai người bạn học thời thơ ấu này về sau lại trở thành hai vị đại tướng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, tiếng tăm lẫy lừng.

Tính tình của Trần Thứ Khang hoạt bát vui vẻ, có năng lực tự lập rất cao. Liễu Thọ Phố thuộc vùng Nhị Đô cách Thất Tinh Kiều sáu bảy dặm đường, nên cậu ta ít khi về nhà, mà ở lại Mông Quán. Việc ăn uống có khi không ngon, nên cậu thường dỗ dành Thế Danh:

— Để bữa khác đi học, anh sẽ mang theo đồ ăn ngon cho!

Tất nhiên Thế Danh bao giờ cũng nghe theo lời chỉ dẫn của Trần Thứ Khang.

Có khi Thế Danh tan học buổi trưa thì dẫn Thứ Khang cùng về nhà mình ăn cơm, rồi mới trở lại trường học.

Do vậy, Đàm Thế Danh và Trần Thứ Khang ngay từ lúc nhỏ đã có tình bằng hữu sâu sắc. Mỗi khi tư thục có lễ nghỉ, thì Thế Danh theo Thứ Khang về Liễu Thọ Phố ở Nhị Đô để chơi.

Người thầy họ Phan dạy ở Mông Quán tại Thất Tinh Kiều là bạn đồng song của Đàm Nhuận Khu, cha của Thế Danh, là người có tính tình rất độc đáo. Lúc Đàm Nhuận Khu làm thầy dạy học, thường tỏ ra yêu thích những học sinh có tính trung thành, thật thà, biết chăm lo việc học. Còn ông thầy họ Phan thì trái lại, rất yêu thích những học sinh đầu óc thông minh, lanh lợi, phá phách, to gan, và có tính tình rộng rãi, dám nghĩ dám làm. Ông cho rằng những học sinh như thế sau này mới có thể làm nên chuyện.

Sau khi Thế Danh vào học ở Mông Quán, ông thầy họ Phan đã cố gắng tạo gạch nối giữa Thế Danh và Thứ Khang, muốn dần dần thay đôi tính cách nhu nhược của Thế Danh, do xuất thân từ một gia đình phong kiến thân sĩ tạo nên. Về sau, mỗi chặng đường lịch sử mà Đàm Chánh đi qua đều đã chứng tỏ dụng tâm của ông thầy họ Phan, rõ ràng là có ảnh hưởng rất tốt đến Thế Danh.

Đàm Nhuận Khu đưa Thế Danh vào học ở Mông Quán, hy vọng sau này con học thành tài, trở về nhà sẽ giúp cho mình cai quản sự nghiệp. Hy vọng đó ông hoàn toàn ký thác vào đứa con trai trưởng nam. Thế nhưng, chuyện đời vẫn thường xảy ra khác hơn nguyện vọng của mình. Trong khi Thế Danh được cha đưa vào Mông Quân để học, thì ngay năm đó cách mạng Tân Hợi đã bùng nổ tại mảnh đất Trung Quốc này.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:51:31 pm

Làn sóng "cách mạng Tân Hợi" ào ào cuốn tới. Tôn Trung Sơn với chức vụ Tổng Thống lâm thời đã phát lệnh đi khắp các nơi, phế trừ tất cả những luật lệnh bất hợp lý trước đây của triều đình Mãn Thanh. Những tập quán, phong tục phong kiến, bị thanh trừ khắp trong toàn quốc, xem như là rác rưởi phải quét ra khỏi nhà.

Thế nhưng, tẩy chay phong trào này quá nửa là những người còn tư tưởng phong kiến lạc hậu, nhất là những thân sĩ ở thôn quê như Đàm Nhuận Khu, cha của Thế Danh. Họ trở thành những nhân vật tiêu biểu cho nhóm người duy trì văn hóa phong kiến, bảo vệ cho chế độ giáo dục cũ kỹ. Như việc "cắt bỏ bím tóc", lớp người trẻ tuổi như Thế Danh, nghe "cắt bỏ bím tóc" thì cắt ngay tức khắc. Nhưng trái lại, đối với lớp già có đầu óc phong kiến, thì xem việc đó còn đau đớn hơn là cắt đầu mình nữa!

Đối với việc cải cách giáo dục, như đổi Mông Quán thành trường tiểu học, đổi cổ văn thành văn bạch thoại, thêm các khoa mục đối với nền giáo dục quốc dân như môn sử, môn địa lý, môn khoa học, môn thể dục, v.v... Đàm Nhuận Khu là người phản đối một trăm phần trăm.

Nhưng dù sao, ngọn sóng của phong trào cách mạng mới của giai cấp tư sản, cũng giống như một cơn lũ khổng lồ quét tới khắp cả địa phương trong tỉnh Hồ Nam, mà nơi bị cơn lũ đó quét mạnh nhất là Mông Quán của tông tộc họ Đàm tại Thất Tinh Kiều, thuộc Trúc Sơn thôn. Cho dù Đàm Nhuận Khu là người đang nắm quyền từ đường của tông tộc họ Đàm, vẫn còn có một chút quyền thế và uy danh trong gia tộc, nhưng cũng không thể không phục tùng theo phép lệnh cải cách của đại Tổng thống Tôn Trung Sơn.

Mông Quán ở Thất Tinh Kiều do đó được đổi làm trường tiểu học. Còn về thầy dạy, cũng đổi một giáo viên họ Hoàng, nguyên là học sinh tốt nghiệp trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn của huyện Tương Hương.

Thầy giáo họ Hoàng tên gọi Đốc Trực, tóc cắt ngắn, chải rẽ bảy ba, đeo một cặp mắt kính rất tân thời, mình mặc áo dài truyền thống, trông rất uy nghiêm. Trước đây, người giáo viên này cùng học chung với Mao Trạch Đông tại trường Đông Sơn. Cả hai đều thuộc thành phần cấp tiến, ủng hộ cuộc cách mạng của giai cấp tư sản.

Hoàng tiên sinh khi lên lớp dạy học, thường kết hợp với bài dạy, nói cho học sinh nghe nhiều chuyện rất lý thú. Học sinh nghe đến say mê. Đàm Thế Danh về sau nhớ lại khung cảnh học hành ở trường tư thục cũ, mới thấy suốt ngày chỉ lo học thuộc lòng, ê a những bài trong "Thiên Tự Văn", "Tam Tự Kinh”, "Bách Gia Tính", "Tứ Thư”, "Ngũ Kinh", chứ đâu được nghe những chuyện của thầy Hoàng kể như thế này.

Đàm Thế Danh khi học lớp sơ tiểu học, rất thích nghe thầy họ Hoàng nói về những bài học trong lịch sử. Ông đã dựa vào câu chuyện Nghĩa Hòa Đoàn nổi dậy, nói cho học sinh mình nghe việc tám nước liên minh xâm nhập vào Trung Quốc, chiếm lãnh thổ của Trung Quốc, giết nhân dân Trung Quốc, và cũng nói cho học sinh nghe sự chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ Nghĩa Hòa Đoàn, chống lại bọn xâm lăng.

Từ chuyện từng anh hùng dân tộc, được kể rất hấp dẫn, khiến Đàm Thế Danh nghe đến mê mệt. Cậu ta có thể không ngủ, có thể không ăn cơm, nhưng không thể không nghe thầy Hoàng nói chuyện về các vị anh hùng dân tộc được!

Cứ mỗi ngày đến giờ tan học, là các em trai, em gái của Thế Danh đứng xếp hàng chờ anh mình ngoài cổng. Cô em gái nhỏ tuổi nhất cũng được anh cả yêu mến nhất, có đôi mắt rất nhạy bén. Khi anh cả vừa xuất hiện ở cuối đường, là cô bé đã trông thấy trước tiên. Không cần ai ra lệnh, tất cả những em trai, em gái, đều đồng loạt la lên:

— Anh cả về kia rồi!

Thế là cả bọn ùa tới, cùng kéo lấy tay anh đi vào nhà. Vừa đi chúng vừa hỏi:

— Này anh, hôm nay anh có học được bài hát mới chưa vậy?

Nhưng riêng cô em gái bé nhỏ thì khăng khăng nói:

— Kể từ hôm nay, không nghe anh hát nữa, mà để cho anh nói chuyện đời xưa nghe!

Đàm Thế Danh học lớp tiểu học chỉ mới hai năm, thế mà biết rất nhiều chuyện trong đời. Cậu kể thao thao cho các em nghe, không biết bao nhiêu là chuyện cổ tích.

Đặc biệt là khi cha vắng nhà, anh em họ chẳng khác chi một bầy chim sẻ, lúc nào cũng ríu rít nghe thật vui tai. Nhưng cha về, thì khắp cả trong nhà đâu đâu cũng im phăng phắc. Cha Đàm Thế Danh thường dùng giọng nói trách cứ, hỏi cậu:

— Lại là ông thầy họ Hoàng đó nói chuyện đời xưa để thu hút chúng bay chứ gì?

Thế Danh không nói ra, nhưng trong lòng cậu hiểu rõ cha mình vẫn còn đầu óc thủ cựu, luôn luôn muốn khôi phục trở lại Mông Quán, mà không tin rằng trường tiểu học có thể đào tạo ra những học sinh tốt. Cho nên, cứ mỗi lần tan học trở về nhà, Thế Danh bao giờ cũng đem chuyện mình biết được ở trường học, nói lại cho mẹ nghe.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:54:47 pm

Một hôm, thầy họ Hoàng nói về cuộc cách mạng Tân Hợi của Tôn Trung Sơn, và cho biết Tôn Trung Sơn đã ban lệnh bỏ tục lệ "bó chân" ở phụ nữ1. Khi tan học về nhà, Đàm Thế Danh bèn đem câu chuyện đó kể lại cho mẹ nghe:

— Bắt đầu từ hôm nay, Tôn đại Tổng thống đã có lệnh, phụ nữ không được bó chân nữa!

Thế Danh chỉ vào chiếc chân bé nhỏ của mẹ, nói:

— Nếu sớm có lệnh cấm của Tôn Trung Sơn tiên sinh, thì đôi bàn chân của mẹ đâu có bé nhỏ đến như thế này!

Bà mẹ nghe qua, cười một cách hiền hòa, nói:

— Lớp người của mẹ gặp vận không may. Chính vì việc bó chân mà khổ sở không biết bao nhiêu. Từ đây về sau sẽ tốt đẹp rồi. Các em của con, sẽ không còn bị cái khổ của tệ bó chân nữa.

— Nói cho cùng, sự cải cách của Tôn Trung Sơn tiên sinh vẫn là tốt! - Thế Danh tuy mới chín tuổi, nhưng cũng biết nói một câu phụ họa theo lời của mẹ.

Bà mẹ không khỏi cảm động trước thái độ hiếu kính cha mẹ của con trai, nên gật đầu rồi nói với Thế Danh:

— Danh nhi, lời con nói rất phải.

Riêng phụ thân của Thế Danh thì khác. Ông chẳng những phản đối việc cải cách giáo dục, nhưng không biết làm cách nào hơn vì không dám phản đối ra mặt. Ông vẫn không tin "trường học kiểu Tây", trường sơ cấp tiểu học, sơ đẳng tiểu học, không cho học sinh học kinh sách, thay đổi cổ văn, mà chỉ toàn dạy những gì là chính trị, lại tuyên truyền "cách mạng", học tập anh hùng dân tộc. Nếu cứ dạy như thế, thì những học sinh không phải sẽ đều trở thành "ma vương" trong thời loạn hay sao? Con em của những gia đình khác thì không nói chi, nhưng Thế Danh nhà này, thì không thể đi theo con đường đó được.

Trước khi tốt nghiệp tiểu học, Thế Danh đã thương lượng với cha, yêu cầu được tiếp tục đi học ở trường cao đang tiểu học Đông Sơn. Ban đầu, cha cậu không tỏ thái độ gì, nhưng về sau lấy cớ kinh tế gia đình đang suy thoái, không đủ sức cung cấp tiền cho cậu đi học, và cự tuyệt việc cậu đi dự thi tuyển.

Thực ra, Đàm Nhuận Khu đối với việc học của con trai đã có ba sự tính toán từ trước. Một là, không cho thi vào trường cao đẳng tiểu học của huyện. Hai là, không cho lên tỉnh thi vào trung học. Ba là, phải tìm một ông thầy dạy tư thục để về dạy cho con. Ông vì "tương lai" của con, mà phải bôn ba khắp nơi, tìm kiếm cho được một tư thục chưa chịu tiến hành cải cách ở thôn bên cạnh.

Đàm Nhuận Khu đối với việc cải cách giáo dục, cảm thấy thật nhức đầu. Nhất là khi ông nhận thấy Thế Danh đã học được những gì trong hai năm qua, thì lại càng sợ hãi: "Nếu không chặn đứng lại, thì thằng bé này e là sẽ giống như những nhân vật trong truyện kể của ông giáo họ Hoàng, chắc chắn sẽ bỏ nhà ra đi, và sẽ trở thành một người anh hùng trong thời loạn".

Do vậy, ông phải đi tìm kiếm khắp nơi, và rốt cục đã tìm được một ngôi tư thục chưa bị đóng cửa, vẫn còn dạy học trò ở Liễu Thọ Phố thuộc vùng Nhị Đô. Ông quyết định đưa Thế Danh đến đó để tiếp tục học tư thục. Ông nghĩ rằng chỉ có làm như vậy, thì mới có thể cách ly được Thế Danh với cuộc đời.

Liễu Thọ Phố ở vùng Nhị Đô chính là quê hương của Trần Canh. Hai người họ đã là bạn thân từ bấy lâu nay. Một điều thật lý thú là tổ phụ của Đàm Thế Danh khi còn sinh tiền, có mối quan hệ rất tốt với tổ phụ của Trần Thứ Khang. Hai cụ già này có sự giao du rất mật thiết. Tổ phụ của Đàm Thế Danh nay đã qua đời. Mối quan hệ giữa hai gia đình này được tiếp nối bằng mối quan hệ của Đàm Nhuận Khu, phụ thân của Đàm Thế Anh, và Trần Thiệu Thuần, phụ thân của Trần Thứ Khang.

Trần Thiệu Thuần năm đó bốn mươi hai tuổi, nối tiếp cha mình để lo quản lý sự nghiệp của gia đình. Ông là người tính tình ngay thẳng, lòng dạ rộng rãi, thích làm chuyện thiện. Hai nhà lại là chỗ có mối giao du lâu đời, nên khi Đàm Nhuận Khu biết được tin ở Liễu Thọ Phố còn có tư thục, bèn đi thẳng tới gặp Trần Thiệu Thuần để nhờ giúp đỡ một tay, đưa con mình vào học nơi tư thục đó. Tóm lại, Đàm Nhuận Khu nhất định phải cho con mình học theo con đường cổ văn mới được.
______________________________________
1. Chú thích: Tục lệ bó chân của chế độ phong kiến Trung Quốc bắt buộc các cô gái thuộc các gia đình tầng lớp trên đều phải bó chân cho nhỏ lại.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:55:39 pm

Một hôm trời nắng ráo, Đàm Nhuận Khu đi bộ đến Liễu Thọ Phố ở Nhị Đô, và tìm tới trước cổng nhà của Trần Thiệu Thuần. Sau khi ông gõ mạnh vào cánh cửa cổng, bên trong có tiếng người hỏi:

— Tìm ai vậy?

Khi cánh cổng mở ra thì thấy đó là cô con gái thứ tư của nhà họ Trần, tên Thu Quỳ.

Thu Quỳ dẫn khách vào trong sân.

Nhất cử nhất động của Thu Quỳ đều gieo cho Đàm Nhuận Khu những ấn tượng rất sâu sắc. Ông buột miệng nói:

— Cô bé này tuổi hãy còn nhỏ, thế mà rất có lễ phép, đúng là con nhà gia giáo! Con nhà gia giáo!

— Nhuận Khu huynh quá khen thôi. Nhuận Khu huynh dạy con mới thật là chu đáo. Cậu Thế Danh còn ngoan ngoãn hơn Thu Quỳ nhiều.

— Lúc cha anh còn sống, hai anh em chúng tôi thường đàm đạo với nhau. Cha anh qua đời nay ít nhất cũng mười năm rồi chứ? - Câu hỏi của cụ Trần Hoài Ích đã đưa Đàm Nhuận Khu vào chính đề của buổi gặp gỡ hôm nay.

— Thưa phải! Thưa đại thúc, Thế Danh năm nay vừa tốt nghiệp tiểu học... Đàm Nhuận Khu đã đi vào chính đề - Sau khi tốt nghiệp, nó làm được gì đâu? Tuổi hãy còn bé, nếu cho lên học ở trường tiểu học huyện, hoặc trung học ở tỉnh, thì cháu cũng không được yên lòng. Nên cháu muốn cho nó đến vùng Nhị Đô này để tiếp tục học thêm tư thục mấy năm nữa.

— Được đấy! Được đấy! Tổ phụ của Thế Danh đã qua đời, vậy chuyện học hành của cháu ông ấy, ta đây có thể lo được chăng? - Cụ già Trần Hoài Ích lại quay sang con trai mình - Này Thiệu Thuần, nếu Nhuận Khu bằng lòng cho Thế Danh sang đây học, thì hãy để nó ở nhà chúng ta vậy.

— Được! Được! - Trần Thiệu Thuần đáp lại câu nói của cha già, rồi lại quay sang Đàm Nhuận Khu nói tiếp - Nhuận Khu huynh, nếu vậy thì hãy đưa cháu Thế Danh sang đây. Tôi mặc dù con cái đông, nhưng thêm một miệng ăn là Thế Danh nữa, cũng chẳng sao. Có thêm một đứa bé, thì nhà lại càng vui nhộn.

Những lời đối thoại trong gian phòng Thu Quỳ đều nghe rõ tất cả. Thu Quỳ cũng đã biết Đàm Thế Danh, vì trước đây người anh cả Thứ Khang có dẫn Thế Danh về nhà chơi. Sau khi cô bé đưa Đàm Nhuận Khu đại thúc ra khỏi cổng, bèn gài cổng lại, rồi hối hả quay vào nói với mẹ:

— Mẹ ơi! Mẹ ơi! - Cô bé gọi mẹ liên tiếp mấy lần.

— Có chuyện gì vậy? Mẹ xem con có vẻ vui mừng quá vậy?

Thu Quỳ đem việc vừa rồi nói lại cho mẹ nghe, và vui vẻ cười không dứt.

— Được đấy! Được đấy! Như vậy là mẹ sẽ có thêm một đứa con nữa!

Bà mẹ hiền lành Bành Học Nhàn này lại phụ họa với nỗi vui mừng của con gái.

Năm Đàm Thế Danh đến Liễu Thọ Phố ăn ở tại nhà Thu Quỳ để đi học, thì Trần Canh đã mười ba tuổi, và đã kết thúc việc học tư thục tại thôn nhà, đi đến huyện Tương Hương, cách đó hai mươi dặm, để tiếp tục học ở Trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn. Ngôi trường này khá có tiếng tăm trong những huyện lân cận, cho nên rất nhiều thanh niên có chí hướng đều đua nhau tới để dự thi tuyển. Nhà trường, ngoài việc dạy văn hóa, còn phổ biến cho những tư tưởng yêu nước, như làm thế nào để "nước giàu binh mạnh" v.v...

Thu Quỳ năm đó đã bảy tám tuổi, mặc y phục bằng vải thô của vùng thôn quê tỉnh Hồ Nam. Cô bé rất giỏi giang, làm việc gì cũng gọn gàng. Phía sau ót của cô bé là một chiếc bím tóc nhỏ, trông rất dễ thương. Cô bé giúp mẹ làm việc nhà, trông nom các em, việc gì làm cũng nhanh, cũng gọn. Hình dáng cô bé trông cũng đẹp, có đôi mắt to, có khuôn mặt trái xoan, chiếc mũi dọc dừa, chiếc miệng nhỏ màu anh đào tươi thắm, trông rất xinh. Cô bé vừa thông minh lanh lợi, tính tình lại trong sáng, lúc nào cũng vui vẻ lạc quan, điềm tĩnh. Cô bé luôn gần tổ phụ của mình, và bằng lòng làm tất cả những việc khi mà tổ phụ cần đến. Vì mỗi khi có rảnh, tổ phụ thường kể cho cô nghe nhiều chuyện truyền kỳ trong đời mình. Anh cả của cô bé đi học xa, nên cô có nhờ anh mình viết cho một số chữ để học. Khi rãnh rỗi thì cô bé lại học thuộc lòng và xếp sách lại viết những chữ đó. Bây giờ, người anh cả đã đi xa, mấy tháng mới về chơi một lần, nhưng Thế Danh lại sắp đến đây ở trọ, nên cô bé luôn luôn trông chờ, để lại nhờ Thế Danh dạy cho mình học chữ.

Thu Quỳ là một cô bé mà người trong thôn ai ai cũng mến.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:56:23 pm

Cứ mỗi lần phụ thân của Thế Danh là Đàm Nhuận Khu tới gia đình họ Trần, thì Thu Quỳ mở cổng, đón khách, bưng trà, và làm tất cả những việc gì cần làm một cách có lễ phép. Cho nên từ đó, Đàm Nhuận Khu bèn nhờ người làm mai mối, để tính chuyện hôn nhân sau này giữa Thế Danh và Thu Quỳ.

Sau mấy hôm, Đàm Thế Danh với tuổi lên mười, theo ý nguyện của cha, quảy hành lý đơn giản và một số áo quần vừa đủ thay đổi đến nhà Thu Quỳ. Thu Quỳ quan tâm đến Thế Danh cũng như là đối với anh cả của mình. Mẹ Thu Quỳ đã cho người nhà dọn sẵn một gian phòng nhỏ, bên trong có đầy đủ đồ đạc. Thế Danh vừa bước vào nhà họ Trần, thì người đón tiếp cậu chính là Thu Quỳ. Cô bé lấy nước cho Thế Danh rửa mặt, rồi mang hành lý của Thế Danh vào phòng. Khi bước, vào gian "tiểu thư phòng” mới dọn sạch sẽ, cô bé lên tiếng hỏi:

— Anh Thế Danh, anh xem gian phòng nhỏ này thế nào?

Câu hỏi đó làm cho Thế Danh bừng đỏ cả mặt, nhưng Thu Quỳ thì không để ý, vừa lo dọn giường, vừa nói tiếp:

— Sống trong gian phòng này có lẽ không được rộng rãi bằng ở nhà anh. Nhưng nó nằm ở vào một góc của chiếc sân rộng, nên rất yên tĩnh. Anh đến đây không phải để học hay sao? Gian phòng này dùng làm nơi học hành là rất tốt... Chính mẹ em đã cho người nhà dọn sẵn để đón anh đấy.

Thu Quỳ vừa nói chuyện với Thế Danh, vừa dọn giường cho người bạn mới đến. Thế Danh không biết phải nói gì với cô bé, chỉ đưa mắt nhìn cô bé thu xếp chiếc giường thật gọn gàng. Những y phục dùng để thay đổi của Thế Danh, được cô bé xếp kỹ nơi một góc giường, đâu ra đấy. Trước khi bước ra khỏi phòng, cô bé còn nói:

— Anh Danh, sống ở nhà em, anh đừng ngại chi cả. Anh muốn ăn gì, uống gì, cứ nói thẳng. Tổ phụ, phụ thân và mẫu thân em đều là người tốt. Họ xem anh như là cháu ruột, con ruột vậy. Anh cả em bận đi học tại Đông Sơn, thỉnh thoảng cũng có về... Sau này, anh em chúng em có thêm được anh ở trong nhà thì cuộc sống sẽ càng vui vẻ hơn.

Lời nói và cử chỉ của Thu Quỳ khiến cho một cậu bé ít nói như Thế Danh cũng cảm thấy hết sức thân thiết. Trần Thế Danh sau mấy năm học tiểu học, nay bỗng chuyển sang học tư thục, nhai lại mớ cổ văn, cảm thấy thật vô vị. Nhưng dù sao, mình cũng có một cơ hội để học tập thêm, lại có sự quan tâm giúp đỡ của chú Trần và thím Bành, và được cô em Thu Quỳ, hằng ngày bưng cơm, bưng trà, lại mang quần áo dơ đi giặt sạch sẽ, rồi xếp ngay ngắn, để sẵn bên góc giường, khiến Đàm Thế Danh cảm thấy rất an tâm.

Thế Danh tỏ ra rất chịu khó học hỏi. Khi ăn cơm mà quyển sách cũng không rời tay, nếu cần viết bài vở, Thế Danh ở luôn tại tư thục để có người thầy hướng dẫn viết cho xong rồi mới về nhà. Cho nên, cậu vẫn thường về nhà trễ, không thể cùng ngồi vào ăn chung cơm với mọi người. Bà mẹ của Thu Quỳ vốn có lòng từ thiện, bao giờ cũng bảo Thu Quỳ để dành lại một mâm cơm riêng, lấy nắp dậy kín để cho khỏi nguội, rồi chờ Thế Danh về nhà ăn cho ngon miệng. Cuộc sống như thế kéo dài được hai năm. Có khi các em trai, em gái của Thu Quỳ trêu chị, bảo cô bé đặc biệt lo lắng cho anh Thế. Thu Quỳ bừng đỏ cả mặt, giải thích:

— Anh Danh là khách kia mà!

Thế Danh sống trong nhà Thu Quỳ, anh chị em cùng sinh hoạt chung, cảm thấy thật là vui vẻ. Thời niên thiếu của Thế Danh, xem như có được thêm nhiều bạn bè.

Anh cả Thứ Khang thỉnh thoảng từ trường tiểu học Đông Sơn trở về nhà để thăm cha mẹ, bao giờ cậu ta cũng quan tâm đến sự trưởng thành của các em. Cậu biết rõ tính chất của Thế Danh và lại càng yêu thích cô Tư Thu Quỳ. Cho nên, đã vui miệng nói đùa:

— Tốt đấy! Cô Tư ạ, anh phải đi học ở thị trấn rồi, ở nhà đã có con mọt sách Thế Danh làm bạn với em, nên cũng quên mất anh cả rồi!

Thứ Khang lại nói:

— Thế Danh học hành rất siêng năng, bài vở làm rất tốt, vậy có thể giúp cho cô Tư học chữ và viết chữ đấy.

Đối với Thế Danh, thì đó là một việc làm không thể từ khước được.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:57:17 pm

Tổ phụ Trần Hoài Ích là người đã nửa đời sống trong quân đội, trải qua bao nhiêu cuộc chinh chiến gian truân. Ông là một kỵ sĩ trong Tương Quân, có tánh hào hiệp, võ công thâm hậu, riêng kế tổ mẫu Hùng Thị là người cũng biết cưỡi ngựa bắn tên. Cứ mỗi khi rảnh rỗi, là họ lại kể chuyện chinh chiến lúc còn ở Tương Quân cho con cháu nghe, lại truyền dạy cho con cháu môn võ công mà mình am hiểu. Khi luyện võ, kế tổ mẫu thường lấy một cây côn, bảo các cháu nhỏ nhào lộn trên thân côn để tập luyện. Thế Danh là người khách nhỏ trong gia đình họ Trần, không cùng luyện công với anh chị em của Thu Quỳ, chỉ ngồi bên cạnh để xem, nhưng cảm thấy hết sức vui vẻ.

Các cậu bé trong nhà thích nhất là nghe ông nội kể lại những câu chuyện chứng tỏ triều đình Mãn Thanh bất tài, vô dụng, cũng như chuyện hủ bại trong Tương Quân, bị những cuộc khởi nghĩa của nông dân đánh cho bươu đầu vỡ trán. Tâm hồn của những đứa trẻ cũng như một tờ giấy trắng, nên khắc ghi rất sâu sắc những câu chuyện của ông nội và bà nội kể cho nghe. Chúng thường đặt câu hỏi:

— Thưa ông, tại sao ông không tiếp tục làm quan to để sống một cuộc đời sung sướng, mà lại trở về quê hương để làm nghề nông?

Tổ phụ nói thẳng cho các cháu nghe, không cần giấu giếm:

— Có một lần, Tương Quân đánh nhau với quân của nông dân, thì viên quan đốc chiến của triều nhà Thanh, không phải ra lệnh cho lính xung phong, mà lại ra lệnh cho lính thối lui. Họ lại dựa lưng vào sông Trường Giang để tác chiến, bị quân khởi nghĩa nông dân lùa xuống dòng nước sông như lùa một đàn cừu vậy!

— Vậy ông chỉ huy đánh giặc ngoài chiến trường, cũng bị đánh thua tơi bời thế sao?

Nghe bọn cháu truy hỏi, ông cụ đáp:

— Lúc ông còn nhỏ, võ nghệ rất cao, sức mạnh cũng hơn người, khi ông ở trong Tương Quân, dùng một cây đại đao nặng tới hơn tám mươi cân. Cho nên lúc đánh giặc, ông múa đao ào ào như gió. Ông cũng tham gia trấn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân. Ông dùng cây đại đao của mình giết rất nhiều người vô tội. Bây giờ nhớ lại, thật rất hối hận, là đã làm một tướng đánh giặc cho triều nhà Thanh, để giết hại bá tánh. Khi nhớ lại những chuyện đau lòng đó, ông mới từ chức quan mà trở về quê nhà như thế này.

Thế Danh và Thu Quỳ cùng nghe ông nội kể từng chuyện một trong quá khứ. Cho nên trong đầu óc họ đã chất chứa vô số câu chuyện quý giá này. Tính cách hào hiệp, rộng rãi của ông nội và kế tổ mẫu trong đời chinh chiến đã gợi ý cho Thế Danh sau này rất nhiều.

Cha của Thu Quỳ là Thiệu Thuần, không phải tú tài, mà cũng không phải thân sĩ, quan lại địa phương, nhưng là người có lòng dạ ngay thẳng, hiền lành, thích bố thí. Mẹ của Thu Quỳ là Bành Học Nhàn, xuất thân bần hàn, tâm hồn trong trắng, lương thiện, đối với con của bạn bè cũng xem như con cái ruột thịt của mình. Do vậy, Thế Danh đã được sự quan tâm của cha mẹ Thu Quỳ. Tuy học tư thục, giảng dạy theo lối cổ, nhưng cũng ít nhiều tiếp nhận được những tư tưởng sơ khởi về dân chủ.

Cha của Thu Quỳ cứ mỗi lần đi đâu về nhà cũng luôn đem những tin tức mới thu được, nói cho các con biết. Nào là chuyện Viên Thế Khải giở trò soán đoạt quyền hành của Tôn đại Tổng Thống, rồi lại bán nước cầu vinh, ký với Nhật Bổn hai mươi bốn điều ước bất bình đẳng,... Trần Thiệu Thuần nói:

— Viên Thế Khải đã quên ông ta cũng là hậu duệ của dân tộc Trung Hoa!

Những câu chuyện đó, những lời lẽ đó, Thế Danh không bao giờ nghe được từ miệng của cha mình, nên cậu ta cảm thấy thật là ấm áp.

Thời thơ ấu của Thế Danh còn có nhiều chuyện khó quên nữa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:58:16 pm

Đó là hồi năm 1915, Thứ Khang đang học ở trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn trở về nhà. Thư Khang rất hiểu nỗi lòng của người bạn trẻ Thế Danh, cho nên Thứ Khang lúc nào cũng muốn tìm cách để giúp đỡ cho Thế Danh. Trái lại, trong lòng Thế Danh thì lúc nào cũng muốn đi vào trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn. Cho nên, Thế Danh lúc nào gặp Thứ Khang cũng hỏi tình hình nơi đó.

— Này anh Khang, tôi muốn thi vào trường Đông Sơn lắm, nhưng cha tôi không cho, lại bắt tôi phải tới đây để học sách cổ, viết văn cổ!

— Thế Danh này, chuyện đó cũng đừng sốt ruột quá. Muốn thuyết phục phụ thân cần phải chờ đợi một thời cơ thuận tiện.

Tiếp đó, Thứ Khang bèn đem tình hình ở Trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn, nói rõ tất cả cho Thế Danh nghe. Thứ Khang và Thế Danh là hai anh em bạn học, là hai người bạn thời thơ ấu, xem nhau như ruột thịt, nay mỗi người học một nơi, lâu không gặp mặt nhau, nên khi nói chuyện thì gần như nói hoài không hết.

Thư Khang luôn nghĩ rằng bé Tư Thu Quỳ của mình và Thế Danh đúng là một đôi trời định, cho nên cứ gặp họ là luôn có những lời tác hợp, để cho hai người khăng khít nhau hơn.

Thấy Thu Quỳ bưng chén canh đã nguội đi hâm lại cho nóng, Thứ Khang bèn nói với Thế Danh:

— Thế Danh, em có thấy Thu Quỳ đặc biệt quan tâm đối với em không? Nó chiếu cố thật là chu đáo!

Đôi má của Thu Quỳ cảm thấy nóng bừng, đưa mắt liếc nhanh về phía Thế Danh.

— Này anh Khang, lời nói của anh hoàn toàn đúng. Tôi đến Nhị Đô này để học, được chú Trần và thím đối xử như con ruột, luôn quan tâm yêu quý, rồi lại được cô em Thu Quỳ giúp đỡ cho...

Thế Danh lớn hơn Thu Quỳ mấy tuổi, nên có vẻ là một người huynh trưởng. Riêng Thu Quỳ do chịu ảnh hưởng của nề nếp gia đình, nên xử lý việc gì cũng tỏ ra rất quả đoán, lại biết nhìn xa. Thế Danh ở tại nhà Thu Quỳ đi học ba năm, nay Thu Quỳ cũng lớn hơn nhiều. Vóc dáng của Thu Quỳ càng mảnh mai yểu điệu, khuôn mặt càng xinh đẹp hơn xưa. Cô tuy có theo học một ít chữ nghĩa, nhưng những chữ mà cô biết, hầu hết là do Thế Danh viết trên giấy, dạy cô đọc, rồi cô học thuộc lòng, và không nhìn chữ mà viết ra.

Có một lần, Thu Quỳ nói với Thế Danh:

— Anh có lần nói Tôn Trung Sơn tiên sinh lãnh đạo cách mạng lật đổ triều đình Mãn Thanh, xây dựng nước Trung Hoa dân quốc. Trên đời này, cứ mỗi lần thay đổi triều đại, lại có nhiều cải cách mới. Như cho phép nam nữ được bình đẳng, bọn đàn bà con gái chúng em chẳng phải có thể cũng đi học được như con trai hay sao? Tuy nhiên, điều may mắn nhất là không giống như mẹ lúc còn nhỏ, phải bó chân cho nhỏ xíu.

Nói tới đây, Thu Quỳ bèn tuột chiếc giày màu đỏ có thêu hoa, đưa bàn chân bình thường của mình ra, nói tiếp:

— Hãy xem! Có thích không?

— Thích lắm! Thích lắm! - Thế Danh vừa nói, vừa có vẻ e thẹn, nói thêm - Sau này anh còn phải nhờ em về làm nội trợ trong gia đình, lo việc nấu nướng, và chăm sóc nhà cửa nữa!

Thu Quỳ cúi mặt thẹn thùng, không nói gì.

Thời gian học ba năm tại tư thục đã hết, Thế Danh sắp sửa trở về quê hương mình ở Nam Trúc. Việc Thế Danh phải ra đi, không còn lý do gì giữ lại được.

Người đầu tiên không muốn Thế Danh ra đi, chính là nội tổ Trần Ích Hoài. Ông cụ cho gọi Thế Danh đến trước mặt mình, rồi vừa vuốt đầu Thế Danh, vừa nói:

— Tổ phụ cháu lúc còn sinh tiền, từng nói với ta, hy vọng có được một đứa cháu đích tôn. Nhưng đáng tiếc ông ấy đã ra đi sớm, nay ta thay cho ông ấy nhận được đứa cháu này. Cháu ở nhà ta chỉ có ba năm, nhưng ta thấy cháu càng ngày càng chứng tỏ là một con người tốt, phẩm hạnh tốt, học hành giỏi, không phụ lòng tổ phụ của cháu lúc sinh tiền. Chỉ đáng tiếc là cháu ở gần ta quá ngắn, vì cháu là cháu đích tôn của tổ phụ của cháu, là trưởng nam của Đàm Nhuận Khu, tương lai sẽ thay gia đình cai quản sự nghiệp, nên ta cũng không thể giữ cháu ở lại đây được lâu - nói tới đây, cụ già có vẻ rất xúc cảm, nói tiếp - Cháu về đến nhà, đừng quên ở Nhị Đô này hãy còn một người ông đấy nhé!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:58:57 pm

Ông cụ Trần Ích Hoài sau khi gặp Thế Danh, lại tìm gặp Thu Quỳ. Ông cụ đã chín mươi tuổi, nhưng vẫn còn rất minh mẫn. Ông cụ nhận ra tình ý của Thu Quỳ. Vì chưa có sự đồng ý của cha mẹ Thế Danh, nên Thế Danh chỉ là ý trung nhân của Thu Quỳ, chứ chưa thể đề cập vấn đề thành nhân trong lúc này. Tuy nhiên, cụ già rất chú trọng tới tình cảm giữa hai bạn trẻ là Thế Danh và Thu Quỳ. Do vậy, cụ tìm gặp Thu Quỳ rồi nhân dịp này thay mặt cho cha mẹ của cô bé, bảo Thu Quỳ lo việc tiễn biệt Thế Danh.

Thu Quỳ ngồi bên cạnh ông nội, ông nội nói:

— Này Thu Quỳ, con hãy nói cho cha mẹ con biết, rồi đến tiệm bán thịt mua một cân thịt về chuẩn bị làm thức ăn để tiễn biệt Thế Danh.

Ngày Thế Danh phải rời xa nhà họ Trần đã đến.

Thu Quỳ vốn đang rất đau khổ trong lòng, nghe ông nội nhắc đến tên "Thế Danh", đôi mắt đã ứa lệ. Ông cụ nhìn thấy Thu Quỳ cúi đầu không nói gì, bèn an ủi:

— Sau này ông nội sẽ lo việc tác hợp cho hai cháu.

Vừa nói, cụ già vừa kéo bàn tay bé nhỏ của Thu Quỳ, rồi dùng tay áo chậm nước mắt cho cô bé.

Đến ngày Thế Danh sắp sửa ra về, nhà họ Trần tuân theo ý muốn của ông cụ, bày tiệc để mọi người cùng chung vui một lần. Hai bàn tiệc đã ngồi chật người. Thế Danh trước tiên rót rượu cho tổ phụ và tổ mẫu, rồi lại rót cho chú Trần và thím Bành. Trần Ích Hoài là người nửa đời sống trong cảnh chiến tranh, ít khi nào có được những giây phút đậm đà tình cảm như vầy, nên cầm ly rượu trong tay run run nói:

— Thế Danh đến Nhị Đô học đã ba năm, nay phải trở về nhà. Nếu nó không phải là trưởng nam của nhà họ Đàm, thì chúng ta có thể giữ nó ở lại đây lâu hơn.

Sau khi bữa tiệc chấm dứt, Thu Quỳ với đôi mắt ngấn lệ, đi lo sắp xếp hành lý cho Thế Danh. Y phục của Thế Danh đều được Thu Quỳ giặt sạch. Ngay cả mền đắp cũng giặt sạch. Giờ phút chia tay đã đến, có biết bao nhiêu lời muốn nói, và những ngày sống trong một nhà nay sắp không còn nữa.

Mối tình "mai xanh ngựa trúc" thật quyến luyến khó rời.

Theo qui củ truyền thống của một gia đình Trung Quốc, cô gái chưa chồng đưa bạn ra đi, bao giờ cũng không được đưa ra khỏi cổng. Nhưng nay Thế Danh ra về, Thu Quỳ phá vỡ qui củ thường lệ đó, đưa bạn ra đến tận cổng làng.

Đàm Nhuận Khu vẫn luôn luôn tin rằng: Con chim nhà thả ra, thì nó sẽ không bao giờ bay trở về nữa!

Cho nên, Thế Danh đã bao lần xin cha cho mình đi thi vào Trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn, nhưng người cha vẫn khư khư trả lời mãi một câu:

— Con không thấy sao? Gia cảnh nhà ta ngày một suy sụp, vậy đâu còn tiền để cho con đi học nữa?

Trong thời gian này, Thế Danh và Thu Quỳ vẫn có thư qua lại với nhau. Cứ cách mấy hôm, Thu Quỳ nhờ em trai mình đưa thư đi và lấy thư về. Qua đó, Thu Quỳ biết Thế Danh nay vẫn còn ở nhà, chưa làm gì.

Sau khi đọc qua bức thư của Thế Danh, Thu Quỳ hiểu được Thế Danh không thể đi học tiếp, nên rất buồn lo cho chàng.

Thu Quỳ bèn viết thư nói với Thế Danh:

— Anh hai Thứ Khang đã mạnh dạn ghi tên đi lính rồi, đồng thời, đã đổi tên lại là Trần Canh. Anh hai Thứ Khang luôn quan tâm đến việc anh thi vào cao đẳng tiểu học Đông Sơn, nên trước khi rời đi, đã nhờ một người bạn tốt của cha, là vị thầy giáo đảng viên dạy ở trường Đông Sơn, giúp anh ghi tên và làm thủ tục để thi vào trường.

Chính vì việc này mà Thế Danh lại viết cho Thu Quỳ một bức thư, nhờ người em trai của Thu Quỳ là Trần Vân Tâm đến mang thư về cho chị.

Thu Quỳ vội vàng xé thư ra xem, thấy những dòng chữ viết rất nắn nót, cô bé bèn đọc lẩm nhẩm: "Anh vẫn quyết tâm đi thi vào Trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn, nhưng phụ thân lúc nào cũng bảo gia cảnh khó khăn, nên không bằng lòng..."

Cậu út Trần Vân Tâm đứng bên cạnh nhìn thấy rõ, khi chị Thu Quỳ đọc tới câu đó thì hai mày cau chặt. Nhưng, khi Thu Quỳ đọc tiếp thì mới lộ sắc vui. Cô đọc nho nhỏ: "Có một chuyện quan trọng muốn cho em biết, có lẽ em sẽ vui mừng đấy. Phụ thân anh muốn trói anh ở nhà, và chuẩn bị nhờ người làm mai mối, để lo việc hôn nhân giữa hai chúng ta".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 08:59:50 pm

Lễ đính hôn giữa Thu Quỳ và Thế Danh được tiến hành vào tháng năm dương lịch năm đó. Tổ phụ của Thu Quỳ vì bệnh nặng đã qua đời. Nhưng đối với chuyên hôn nhân đại sự của Thu Quỳ và Thế Danh, cụ Trần Hoài Ích trong khi còn sống, đã hoàn toàn tán thành, cho nên hôm nay cụ cũng an tâm nhắm mắt ra đi. Riêng việc Thế Danh đi học Trường Đông Sơn, khi lâm chung cụ có trối lại với con trai đang đứng bên cạnh:

— Này Thiệu Thuần, Thế Danh là thằng bé tốt, mai sau nó và Thu Quỳ sẽ thành một cặp vợ chồng khắng khít bên nhau. Nhưng, việc Thế Danh đi học thêm, con cần phải nhúng tay vào để lo liệu. Mấy năm nay, gia đình của Nhuận Khu có phần sa sút. Vậy con và ông ta đã là chỗ thân gia với nhau rồi, con có thể giúp đỡ cho ông ta về mặt kinh tế, để Thế Danh có thể đi học được dễ dàng. Con phải lo hết chuyện chi phí ăn học cho nó.

Nhân dịp đến dự lễ tang của cụ Trần Hoài Ích, Đàm Nhuận Khu được Trần Thiệu Thuần nói lại lời trối trăn cuối cùng của ông cụ cho nghe. Theo truyền thống phong kiến, việc tuân thủ lời nói trối người trưởng bối cũng là một qui phạm phải giữ. Cho nên Đàm Nhuận Khu đối với lời nói này, không thể không suy nghĩ chín chắn.

Riêng Trần Thiệu Thuần tuân thủ lời trối của phụ thân, đích thân đến Trường tiểu học Đông Sơn để gặp người thầy dạy tại đây, đồng thời ông ta cũng là đảng viên Đảng Cộng sản, một bạn học từ thuở nhỏ của mình, để nói chuyện con rể tương lai là Đàm Thế Danh, muốn vào học ở trường và xin ông giúp đỡ.

Trần Thiệu Thuần quan tâm đến tương lai của Thế Danh, cũng như tương lai của con gái mình. Chuyện đó đã làm cho Đàm Nhuận Khu phải xúc động và bằng lòng để cho Thế Danh thi vào Trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn. Và trước khi chính thức vào học, ông cũng bằng lòng để Thế Danh đến đó tìm hiểu tình hình nhà trường một lần.

Một hôm, Đàm Thế Danh, một cậu bé chưa từng đi xa nhà, tự đi tới thị trấn Tương Hương, cậu nghỉ ngơi một chốc tại đây, rồi đi ra cửa phía Đông, lội ngang một con sông cạn nhỏ, tiếp tục đi thêm hai ba dặm, thì tới bờ phía Đông, có mặt đất bằng phẳng. Nơi đây, chính là khuôn viên Trường tiểu học cao đẳng Đông Sơn do huyện Tương Hương xây dựng.

Trăm nghe không bằng một thấy, tuy cảnh ở đây thật là xinh đẹp, lại tĩnh mịch, có thể xem ngôi trường này là một ngôi trường đẹp nhất ở trong vùng.

Ông giáo đảng viên của nhà trường tiếp đón Đàm Thế Danh, ông dẫn cậu bé lên tòa nhà cao nhất của nhà trường, nhìn thấy phía sau lưng là Đông Đài Sơn nguy nga xinh đẹp, và nhìn ra xung quanh là một vùng bình nguyên rộng rãi, có suối nhỏ, nước chảy ào ào, ánh sáng lấp lánh... Ông giáo đảng viên hỏi Đàm Thế Danh:

— Cậu có biết năm 1921, Đảng Cộng sản đã thành lập không? Mao Trạch Đông, một trong những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, trước đây cũng học tại ngôi trường này. Ông đã một thời lãnh đạo phong trào học sinh ở đây. Người em trai của ông là Mao Trạch Đàm cũng là học sinh tốt nghiệp lớp mười một của ngôi trường này.

... Thế Danh rời nhà đến Đông Sơn một lần, tư tưởng của cậu chừng như được mở rộng ra hơn.

Tất nhiên là việc Thế Danh đi học Trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn phải kể có một phần công lao của Thu Quỳ. Thế Danh từ thị trấn trở về, đi ngang qua Liễu Thọ Phố, thuộc Nhị Đô, thấy trời đã sắp tối. Thu Quỳ lúc nào cũng nhìn ra cổng, trông mong Thế Danh sớm trở về đến đây.

Thế Danh và Thu Quỳ lại được gặp nhau, cả hai cười nói huyên thuyên. Thế Danh bình thường vốn rất ít nói, nhưng nay ở bên cạnh Thu Quỳ, thì lời nói thao thao bất tuyệt, cứ y như dòng nước sông Tương Giang, chảy mãi không cạn vậy. Thế Danh đem lời nói của ông giáo đảng viên, nói lại tất cả cho Thu Quỳ nghe.

Lúc bấy giờ Thu Quỳ chỉ mới mười bốn tuổi, nhưng tình cảm hết sức kiên trinh, bèn nói với Thế Danh:

— Chỉ cần anh Danh có thể học lên nữa, thì bảo Thu Quỳ này làm gì, em cũng chịu hết!

Thế Danh nói:

— Hôm ấy, khi chú Thiệu Thuần bàn với cha anh về việc đi học ở Đông Sơn, thì cha anh có nêu ra một điều kiện tiên quyết... - Thu Quỳ lắng tai chờ, nghe Thế Danh nói tiếp - Trước khi đi học, phải tổ chức đám cưới cho chúng ta!

— Ồ! Té ra là như vậy - Thu Quỳ nói tiếp - Chỉ cần anh được đi học ở Trường Đông Sơn, thì chuyện gì em cũng bằng lòng hết!

Nói dứt lời, Thu Quỳ thẹn thùng quay mặt đi nơi khác.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Sáu, 2023, 09:00:24 pm

... Việc đi học Trường cao đẳng Đông Sơn đã có hy vọng. Thế Danh và Thu Quỳ cùng nhau đón tiếp hai việc mừng, có thể nói đó là song hỉ lâm môn rồi!

Để giữ con ở lại quê hương, Đàm Nhuận Khu đi tìm người bạn thân của mình là Trần Thiệu Thuần để thương lượng:

— Này anh Thiệu Thuần, tôi đã lo xong đầy đủ học phí cho Thế Danh đi học ở Đông Sơn rồi, nhưng tốt nhất, là nên tổ chức đám cưới cho hai trẻ trước, rồi mới để Thế Danh đi học sau.

— Được mà!

Vợ chồng Trần Thiệu Thuần tỏ ra ủng hộ ý kiến của Đàm Nhuận Khu. Thế là đôi bên cùng chọn ngày lành tháng tốt, để tổ chức hôn lễ. Năm đó, Đàm Thế Danh mười sáu tuổi, chính thức se duyên kết tóc với Thu Quỳ, để trở thành đôi vợ chồng tốt đẹp.

Nhưng gia đình trong thời đó, mẹ chồng đối với nàng dâu rất khắt khe. Nhất là Thu Quỳ lại là dâu cả, chẳng những cần phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, mà còn phải chăm lo cho đàn em thơ dại của chồng, cho đến ngày khôn lớn.

Lời tục thường nói, làm dâu lâu ngày sẽ trở thành bà già. Mẹ chồng đối với nàng dâu trong gia đình phong kiến thường có một gia quy nhất định. Thu Quỳ mới vừa mười mấy tuổi đầu, nay về nhà chồng làm dâu, gánh một gánh nặng của gia đình như thế, làm cho Thế Danh không khỏi xót xa. Trong khi chuẩn bị đi thi, Thế Danh an ủi vợ:

— Mẫu thân dựa vào qui củ từ xưa để lại, mà đặt ra những yêu cầu nặng nề đối với em, vậy em cứ nghe theo đó mà làm, anh rất thông cảm nỗi nhọc nhằn của em!

— Em vì anh, vì việc tiếp tục học lên của anh, dù có mệt nhọc đến đâu đi nữa, em cũng chịu được. Chỉ cần em có thể giúp được đến đâu, làm được đến đâu, thì điều đó là điều an ủi to lớn nhất đối với em.

... Thế Danh đã nhận được tờ thông tri chấp thuận cho nhập học của Trường cao đẳng tiểu học Đông Sơn. Hai vợ chồng rất vui mừng. Thu Quỳ vừa lo thu xếp hành lý để chồng tới ở nội trú, vừa ngâm nga nho nhỏ trong miệng bài hát dân ca của vùng Hồ Nam:

— "Trào lưu mới, tư tưởng mới, không ai ngăn được... Vợ đưa chồng đi vào nhà trường! Đi vào nhà trường"

Đàm Thế Danh gánh một gánh hành lý, vui vẻ lên đường để đến trường Đông Sơn...

Đàm Thế Danh học ba năm ở trường Đông Sơn, còn hơn cả học mười năm ở tư thục và trường sơ cấp tiểu học. Chính anh phải đi qua những đoạn đường gay go, nên đã rèn luyện được cho mình một ý chí đấu tranh không bao giờ chùn bước.

Cứ mỗi một học kỳ xong, Thế Danh trở về nhà một lần.

Nhà của Thu Quỳ ở tại Liễu Thọ Phố, thuộc vùng Nhị Đô, trên đường đi lên thị trấn Tương Hương phải đi ngang qua đó, Thế Danh trở về trường, tất nhiên bao giờ cũng ghé lại để thăm nhạc phụ, nhạc mẫu, và những người bạn lúc thiếu thời.

Trần Thiệu Thuần nói với con rể:

— Thế Danh này, con có biết Mao Trạch Đông không? Đúng như lời thầy con là Bích Thuần đã nói, con người này có chí lớn lắm. Ông ta nguyên là người Cương Đàm Thiều, nhưng nghe ở Tương Hương có thư viện Đông Sơn, thay đổi thành "học đường", bèn tới Tương Hương để học. Ông ấy nguyên là học sinh ở lớp "Mậu" của nhà trường. Đứa em trai của ông ấy là Mao Trạch Đàm, về sau cũng đến học tại trường Đông Sơn. Ông ấy học dưới anh Thứ Khang của con một lớp. Mao Trạch Đông khi còn là học sinh, cũng không phải là một người "an phận thủ kỷ", mà thường "đấu" với các thầy giáo có tư tưởng thủ cựu. Các thầy đều nói bất cứ lúc nào, Mao Trạch Đông cũng có nhiều lý lẽ hơn những người khác. Có nhiều khi, Mao Trạch Đông không thể ở tại trường, thì thầy Bích Thuần lại dẫn Mao Trạch Đông đến nhà cha để "tạm lánh" một thời gian.

Đàm Thế Danh nghe đến quên ăn cơm. Cậu hỏi nhạc phụ:

— Nếu vậy, giữa cha và Mao Trạch Đông quen thân nhau lắm?

— Phải! Nhưng cha thì tay lười, miệng cũng lười, nên ít khi viết thư liên lạc với ông ấy. Trái lại, Mao Trạch Đông về sau làm gì, cũng thường viết thư báo tin cho cha biết. Như lúc Mao Trạch Đông phát động phong trào nông dân tại tỉnh Hồ Nam, lại làm điều tra chi đó, cũng viết thơ tới để trưng cầu ý kiến của cha. Có lần, Mao Trạch Đông trên đường đi ngang qua vùng Nhị Đô này, có ghé vào nhà cha để chơi.

Trần Thiệu Thuần lại từ trong tủ lấy ra một phong thơ của Mao Trạch Đông, đưa cho Thế Danh xem.

Hai cha con càng nói chuyện, càng tỏ ra hợp ý nhau.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Sáu, 2023, 01:20:15 pm

2. XẾP BÚT NGHIÊN THEO VIỆC KIẾM CUNG

Đàm Chánh nguyên là một con người trầm lặng ít nói, chỉ biết cắm đầu vào việc học hành, nên bị Trần Canh gọi đùa một cách đầy thiện chí là "con mọt sách". Nhưng, đứng trước cơn lũ của thời đại. Đã làm cho Đàm Chánh từ chủ quan khẳng định được mình, và giúp mình chọn được con đường đi đứng đắn. Nhưng cũng từ đó, Đàm Chánh bị mất đi người thân yêu nhất đời của mình.

Đàm Chánh, sau ba năm học tại Trường Đông Sơn, tốt nghiệp ra, cố tìm một việc gì để mưu sinh. Lúc đó, ông đang đứng trước ngã ba đường, định tìm cho mình một con đường đi thích hợp.

Trong thời gian Thế Danh còn đi học, vẫn thường liên lạc bằng thơ tín với Trần Canh. Trần Canh biết Thế Danh là "con mọt sách" đúng nghĩa của nó, nên trong thư thường khuyến khích Thế Danh tham gia những cuộc đấu tranh cách mạng, để rèn luyện mình. Thế Danh còn nhớ rõ Trần Canh viết trong thư: "Việc cứu Trung Quốc, không thể chỉ đấu tranh bằng chánh trị suông, vì kẻ thù của chúng ta có cây súng trong tay. Vậy muốn cách mạng thành công, thì nhân dân làm cách mạng còn phải có lực lượng vũ trang của mình".
Thế là, Thế Danh muốn đi học quân sự. Cậu đem việc này bàn với Thu Quỳ và ngỏ ý muốn đi theo con đường của người anh vợ là Trần Canh, xin thi vào Trường Hoàng Phố.

Chính vì chuyện này, hai vợ chồng đã viết cho Trần Canh một bức thư, hỏi thăm ngày giờ thi tuyển sắp tới của trường Hoàng Phố, cũng như địa điểm thi.

Lúc đó, phong trào công nhân ở Trường Sa đang hết sức sôi nổi. Vậy đi Trường Sa chăng? Không có người dẫn dắt, nhất là từ ngày tham gia tuần hành của học sinh tại Đông Sơn, Thế Danh chưa bao giờ bước vào công xưởng lần nào, cơ bản không hiểu rõ tình huống của công nhân, cho nên Thế Danh bèn nói với Thu Quỳ:

— Không có những mối quan hệ đáng tin cậy, thì không thể đi được Trường Sa.

— Nếu thế thì làm sao? - Người vợ trẻ cũng đang lo rầu về tương lai của chồng, nói tiếp - Vậy hãy viết thư cho anh Hai Trần Canh, để đến Quảng Châu thi vào Trường Hoàng Phố được không?

— Không, này Thu Quỳ, do em ở nhà làm nội trợ, nên không rõ tình hình ở bên ngoài. Trước đây, anh có đến chỗ thầy giáo dạy tiểu học trong thôn, được xem tờ báo gần đây có đăng tin học sinh Hoàng Phố ủng hộ việc Tôn Trung Sơn tiên sinh khởi binh đánh quân phiệt Trần Quýnh Minh. Có lẽ anh Trần Canh đã tham gia vào đội quân đánh Trần Quýnh Minh rồi. Nếu không, anh ấy nhất định sẽ viết thư cho mình.

Trong việc chọn lựa con đường tương lai, hai vợ chồng trẻ bàn tới bàn lui, và quyết định đến khi có người đáng tin cậy giúp đỡ, thì cứ nhận một chân làm giáo viên tiểu học, như ý của cha muốn.

Năm 1926, Đàm Thế Danh mười chín tuổi, nhận chức giáo viên tiểu học, đó là điều mà cha cậu, ông Đàm Nhuận Khu mong muốn. Nhưng đối với Thế Danh mà nói, thì việc này lại càng phiền não hơn. Vì hoài bão của Thế Danh, đâu phải là làm một chức giáo viên như vầy, mà cần phải đáp lời kêu gọi của tổ quốc, hoạt động ở một nơi rộng rãi hơn.

Vì chờ đợi mục tiêu đó sớm đến, Đàm Thế Danh một mặt dạy học, một mặt chú ý trên báo chí. Một ngày vào tháng bảy, chánh phủ quốc dân đã phát biểu "Tuyên ngôn Bắc phạt". Thế Danh thấy tin này, vỗ bàn mừng rỡ. Ngày hôm đó, Thế Danh gom hết những tờ báo có tin Bắc phạt mang về nhà, giấu cha, chờ đến đỏ đèn, mới trao cả cuốn báo cho Thu Quỳ xem.

— Quân Bắc phạt gồm mười vạn người, từ Quảng Đông tiến về phía Bắc.

— Cái chỉ là Bắc phạt, Nam phạt? Không rõ nội dung nó nói gì?

— Trước đây, không phải anh Hai Trần Canh có nói là đã tham gia vào đạo binh thảo phạt Trần Quýnh Minh, do Tôn Trung Sơn lãnh đạo đấy sao? Sau khi tiêu diệt Trần Quýnh Minh, thì quân chủ lực lần này mở cuộc Bắc phạt quy mô so với việc đánh Trần Quýnh Minh còn lớn hơn nhiều. Đạo binh này chẳng những diệt hết bọn quân phiệt ở Quảng Đông, mà họ còn tiến lên Hồ Nam, Hồ Bắc, Hà Nam nữa. Quân phiệt ở vùng này do Ngô Bội Phù chỉ huy, đông tới hơn hai mươi vạn người. Quân Bắc phạt trước tiên tấn công vào khu vực này, tiêu diệt hơn hai chục vạn quân phiệt của Ngô Bội Phù. Vậy, em nói không phải là một tin vui lớn sao?

Quả nhiên, đoàn độc lập của Diệp Đĩnh, lộ quân phía Tây của quân Bắc phạt, đã kéo tới Hồ Nam. Quân Bắc phạt là một đạo quân nhân nghĩa, khi họ kéo quân ngang qua sơn trang Nam Trúc, thì thầy giáo Đàm Thế Danh liền dẫn học trò ra đứng hai bên đường để nghênh đón.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Sáu, 2023, 01:20:55 pm

Thế Danh thu lượm truyền đơn và tư liệu tuyên truyền của quân Bắc phạt, mang về để hai vợ chồng cùng ngồi xem dưới ngọn đèn dầu một cách say mê. Chỉ đáng tiếc là anh Trần Canh không có trở về quê hương Hồ Nam, nên Thế Danh không thể theo anh ấy để rời bỏ quê hương ra đi.

Về sau, họ mới biết Trần Canh nguyên đã tham gia vào phương diện quân số bốn của quân quốc dân để bắc phạt, nhưng xuất quân không bao lâu thì Trần Canh được thông tri của Trung ương Đảng Cộng sản cho anh đi học Liên Xô. Trần Canh chỉ đi học ở Liên Xô có nửa năm, thì trở về Tổ quốc, đó là tháng hai năm 1927. Quân Bắc phạt đã tấn công và chiếm lưu vực sông Trường Giang, khống chế ba trận thuộc Võ Hán. Lúc đó, chính phủ quốc dân ở Quảng Châu cũng dời về Vũ Hán. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ Thượng Hải cũng dời về Vũ Hán. Sự cộng tác mới giữa Quốc Cộng lại được hình thành. Trần Canh được phái đi làm tiểu đoàn trưởng đoàn đặc vụ quốc dân quân số 8 của quân quốc dân cách mạng "Phương diện quân số 4 của quân quốc dân cách mạng do Đường Sinh Trí chỉ huy, chính là bộ đội mà trước đây Trần Canh đã tuyên thệ trước khi Bắc phạt". Thế Danh nhận được bức thơ của Trần Canh từ Vũ Hán gửi về cho mình và cho Tư Thu Quỳ, thì vui mừng ngoài sức tưởng tượng. Thu Quỳ nói với chồng:

— Anh Danh! Hãy mau viết thư trả lời cho anh Trần Canh, nói rõ việc anh muốn đi tham gia vào quân Bắc phạt cho anh ấy biết.

— Như vậy là anh sắp đi rồi. Sau khi anh đi, em ở nhà sống như thế nào đây? Thế Danh biết, nếu mình ra đi thì Thu Quỳ ở nhà sẽ sống một cuộc sống rất khó khăn, nên lo lắng hỏi vợ.

Thu Quỳ đã hiểu lòng dạ của chồng. Thật ra, đối với việc chồng ra đi, Thu Quỳ cũng không an tâm chút nào. Vì Thế Danh là một thư sinh chính hiệu, nay muốn thành một con nhà võ, tất nhiên phải trải qua sự trui rèn. Vạn nhất có điều gì không hay xảy ra, thì việc Thu Quỳ ủng hộ Thế Danh ra đi, biết lấy gì để đền bù?

Nhưng, là một đứa em gái ruột của Trần Canh, người vợ hiền của Đàm Thế Danh - Thu Quỳ, tuy là một cô gái bình thường, nhưng cũng hết sức vĩ đại!

Thu Quỳ đã suy đi nghĩ lại: "Nếu trong giờ phút này mà mình nắm lấy chân Thế Danh, thì Thế Danh làm sao vượt ra khỏi một gia đình phong kiến cổ truyền như vầy được? Tâm nguyện của anh ấy là muốn xung phong hãm trận, làm thế nào thực hiện được?".

Thu Quỳ đã quyết tâm, bèn nói với chồng:

— Nếu nói thực lòng, thì em cũng đâu muốn xa anh, nhưng nghĩ đến tương lai, thì anh nên rời đi khỏi gia đình, ra ngoài để xây dựng sự nghiệp, vẫn hay hơn là chết rũ ở trong nhà. Đừng xem thường một người ít nói, thích trầm mặc như anh. Em biết anh đang muốn gì. Vậy, nên hy sinh một em, chứ đừng để hy sinh cả hai, cùng nhau chết rục trong một gia đình như vầy!

Những lời nói của vợ làm cho Thế Danh không khỏi kinh ngạc: Thu Quỳ quả là một cô gái không phải tầm thường!

— Thôi đừng nói nhiều, hãy viết thư trả lời cho anh Trần Canh đi. Trong thư anh nên viết một câu, là hành động của anh đã được cô Tư Thu Quỳ ủng hộ!

Việc Thế Danh và Thu Quỳ viết thư cho Trần Canh, được giấu kín cha mẹ ruột của Thế Danh. Nhưng họ biết, cha mẹ ruột của Thu Quỳ, nhất định sẽ ủng hộ việc làm này, nên trong thư họ dặn: "Nếu có kết quả, thư trả lời hãy gửi về Nhị Đô".

Bức thư gửi cho Trần Canh đã được gửi đi. Thu Quỳ cớ về nhà cha mẹ ruột để chờ.

Trong khi Thu Quỳ về nhà cha mẹ ruột, thì ngôi trường của Thế Danh đang dạy cũng nghỉ mùa đông. Thế Danh nguyên muốn xin nghỉ dạy tại trường này ngay từ đầu năm, nhưng cha Thế Danh nhất quyết không bằng lòng:

— Làm thầy dạy học, không phải đi xa nhà, tại sao lại không chịu dạy?

Đàm Nhuận Khu muốn tìm hiểu ý nghĩ của con. Ông tự đặt câu hỏi: "Ngay lúc này, con dâu lại về nhà cha mẹ ruột, không hiểu chúng định làm cái trò gì?".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Sáu, 2023, 01:22:04 pm

Một hôm trời sắp tối, Thế Danh ôm một chồng bài làm của học sinh về nhà. Vừa vào tới cửa, ngước đầu lên đã thấy chuyện vui. Thì ra, vợ Thế Danh là Thu Quỳ đã từ bên nhà cha mẹ ruột trở về. Nhưng, Thế Danh bỗng lo ngại, nếu việc không thành thì thật là uổng công.

Đêm hôm đó, Thu Quỳ đem thư của Trần Canh từ Vũ Hán gửi về, đưa cho Thế Danh xem, Thế Danh hết sức vui mừng, suốt cả đêm đó không ngủ được. Thu Quỳ nói với chồng:

— Anh như một con chim ở trong lồng, bấy lâu chảng phải muốn được bay bổng ra ngoài sao? Bây giờ thời cơ đến rồi đấy!

— Anh đi rồi em sẽ thành con chim tương tư ở trong chiếc lồng này, cứ nhảy tới nhảy lui mà sốt ruột, mà nhớ mong đấy!

Lời tục nói: Giấy không gói được lửa. Cha của Thế Danh, tức cha chồng của Thu Quỳ đã nhận ra giữa hai người họ có điều gì muốn giấu mình, nhưng tuyệt đối không thể nghĩ tới một chuyện tày trời sắp xảy ra. Một hôm, vào tháng 3 năm 1927, mấy em trai, em gái của Thế Danh đang chơi trước cổng, bỗng có hai người lính trông thật oai vệ, xuất hiện trước mặt chúng.

Hai người này đều là lính của Quốc dân cách mạng. Một người là sĩ quan họ Trâu, còn người kia là tùy tùng. Việc này đúng như trong thư Trần Canh đã cặn: "Ít hôm nữa, sẽ có hai quân nhân về đây chiêu mộ lính mới, thuận tiện họ sẽ ghé đón em rể Thế Danh đi đầu quân. Mong chờ đợi".

Lúc đó, Đàm Thế Danh hãy còn dạy ở trường học chưa về. Các em của Đàm Thế Danh liền to tiếng gọi:

— Cha ơi! Có khách đến!

— Có cha đây!

— Khách đến đây để tìm anh hai!

Phụ thân của Đàm Thế Danh từ trong nhà bước ra đón khách. Vừa nhìn thấy hai người khách mặc quân phục theo kiểu "Trung Sơn", lại đeo phù hiệu "Thanh thiên bạch nhật" trên nón, lưng thắt dây nịch da, đùi quấn xà cạp, nên biết đây là quân Quốc dân cách mạng. Tại sao hai quân nhân này lại đến tìm Thế Danh? Đàm Nhuận Khu cảm thấy thực khó hiểu, nhưng người ta là khách, nên không thể không đón tiếp một cách niềm nở.

Thu Quỳ bưng trà ra mời khách. Lai lịch của những vị khách này, trong lòng Thu Quỳ đã đoán biết, nhưng mình là dâu của một gia đình lớn, đâu thể hỏi thăm tin tức anh Trần Canh trước mặt cha chồng được. Hơn nữa, Thu Quỳ thấy anh mình phái người đến rất đột ngột, chắc là mọi việc sẽ bị lộ thôi, nên trong lòng không khỏi lo lắng.

— Xin trưởng quan cho biết, đến đây tìm con trai tôi là Thế Danh có chuyện gì?

— Bản quan đến đây để chiêu mộ lính và được lệnh của Trần quan trưởng, tới đây đón người em rể là Đàm công tử đi Hán Khẩu.

Cha của Thế Danh đã hiểu tất cả. Ông cố nén cơn giận xuống, rồi sai người đến trường học gọi Thế Danh về để tiếp khách, và sắp xếp việc ăn uống nghỉ ngơi cho hai quân nhân. Qua ngày hôm sau, người sĩ quan họ Trâu và người tùy tùng cùng đi đến thị trấn Tương Hương. Họ hẹn ngày giờ trở lại để đón Thế Danh đi thị xã Trường Sa, rồi sau đó sẽ đi Hán Khẩu. Viên sĩ quan này còn nhấn mạnh:

— Đây là mệnh lệnh của Trần quân trưởng bảo chúng tôi làm, nếu không hoàn thành được, thì không cho phép trở về tiểu đoàn!

Hai người khách đã ra đi, sự giận dữ trong lòng Đàm Nhuận Khu bắt đầu bùng nổ!

Thu Quỳ vừa rơi lệ vừa đi lo thu xếp hành lý cho chồng, để chuẩn bị lên đường đúng hẹn. Trong khi Đàm Nhuận Khu to tiếng trách mắng con:

— Mày vứt bỏ tổ tông, để đi khỏi nhà hay sao?

Dù cho cha quát mắng đến đâu Thế Danh vẫn một mực làm thinh, vì anh đã quyết định: "Cho dù gia đình có từ mình, mình cũng phải ra ngoài xã hội tham gia cách mạng".


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Sáu, 2023, 01:22:57 pm

Đàm Nhuận Khu thấy không còn cách nào giữ chân con lại được, bèn đi thẳng tới Liễu Thọ Phố ở Nhị Đô, để trách móc sui gia Trần Thiệu Thuần. Ông bảo con trai của Trần Thiệu Thuần là Trần Canh, đã "rủ rê" Đàm Thế Danh bỏ nhà ra đi.

Thoạt đầu, Đàm Nhuận Khu hãy còn nóng giận, trách móc một cách vô lý Trần Thiệu Thuần:

— Con anh không nên thân, không ra gì, nó không chịu ở nhà lo học hành, mà lại bỏ đi lính. Nay rể anh đang dạy học đường hoàng, thế mà nó lại "rủ rê" bỏ nhà ra đi lính, để tìm cái chết! Như vậy là có ý gì! Có ý gì?

Trần Thiệu Thuần vẫn giữ bình tĩnh, nói rất ôn tồn:

— Hãy uống! - Hai sui gia lại bắt đầu đối ẩm với nhau. Kế đó, Trần Thiệu Thuần đi thẳng vào vấn đề. Ông dựa vào tư tưởng mới, quan niệm mới, rồi kết hợp với tình trạng cuộc sống của thế hệ mai sau giữa hai nhà họ Trần và họ Đàm, phân tích tỉ mỉ từng vấn đề, làm cho Đàm Nhuận Khu không khói gật đầu công nhận, trong lòng thầm nghĩ: "Lời nói của Thiệu Thuần câu nào cũng có lý". Thế là ông ta dần dần bớt giận.

Khi Đàm Nhuận Khu từ Liễu Thọ Phố ở Nhị Đô trở về nhà, thì không còn oán trách chi con nữa, mà chuẩn bị một tiệc rượu để tiến hành.

Riêng Thu Quỳ cảm thấy rất khâm phục lòng tin của chồng. Bây giờ Thu Quỳ mới thấy chồng mình đúng là một bậc tu mi nam tử. Dẫu sao Thu Quỳ vẫn cố nén sự đau đớn trong lòng, dặn dò Thế Danh:

— Đi ra ngoài, không còn như ở nhà nữa, vậy anh phải chú ý bảo trọng thân thể, phải giữ mình cho tốt.

— Riêng em cũng phải giữ gìn tấm thân thường hay bệnh hoạn của mình nhé.

— Anh đừng nhớ đến em nhiều. Có anh Trần Canh giúp đỡ thì em cũng yên lòng lắm rồi.

Đàm Thế Danh sắp rời nhà đi xa, nên cha vợ, mẹ vợ, cũng sang dự tiệc tiễn hành, khuyên lơn ông bà sui trai nên bảo trọng, đừng quá buồn rầu. Hai người còn gửi một bức thư cho Trần Canh, dặn dò Trần Canh phải quan tâm đến Thế Danh cho nhiều.

Đến ngày ra đi, các anh, các chị dâu, các em trai, các em gái, và bao nhiêu bạn thời thơ ấu của Thế Danh, đều tới để tiễn biệt. Thu Quỳ đi theo sau Thế Danh... rồi phải có giờ phút chia tay thôi! Thu Quỳ lấy tay nải đựng quần áo đeo lên vai cho Thế Danh. Cô ta quay mặt để gạt lệ, rồi đứng giữa đám đông đưa mắt nhìn theo từng bước chân của chồng. Tình cảnh này giống như hồi Thu Quỳ đưa Thế Danh trở về nhà trước đây vậy. Dù Thế Danh đã đi xa, không còn trông thấy nữa, nhưng Thu Quỳ vẫn không chịu trở về nhà. Thế Danh đâu hiểu được, chia tay với Thu Quỳ lần này, lại là một lần vĩnh biệt!

Mùa xuân năm 1927, Đàm Thế Danh đã đến Hán Khẩu - trung tâm cách mạng của Trung Quốc thời bấy giờ. Trần Canh, người bạn thuở thiếu thời, người bạn học, người anh vợ của Đàm Thế Danh, đang ở tại tiểu đoàn bộ tiểu đoàn đặc vụ của phương diện số bốn quân Quốc dân cách mạng, chờ đợi Đàm Thế Danh đến.

Trần Canh là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đặc vụ, khi phái lính đi về Hồ Nam để đón người em rể, đã nghĩ tới việc đổi tên cho người em rể của mình là Đàm Chánh. Cho nên Trần Canh đã thay cho Đàm Thế Danh, điền vào phiếu lý lịch với cái tên là Đàm Chánh.

Trần Canh đã đón Đàm Chánh một cách nồng nhiệt, lại thường nói đùa:

— Một con mọt sách, một công tử của một gia đình thân sĩ như chú, mà có thể thoát ra khỏi cánh cổng của gia đình, đã là một cuộc đại cách mạng rồi!

Đàm Chánh cũng đem chuyện xảy ra trước khi mình rời nhà đi Hán Khẩu, nói rõ lại cho Trần Canh nghe. Sau cùng, anh nói thêm:

— Bất luận thế nào, tôi cũng thoát ra khỏi gia đình, thoát ra khỏi cửa ải của một gia đình phong kiến. Bây giờ, điều mà tôi không an tâm, chính là Thu Quỳ vẫn còn bị nhốt, trong lao lung của một gia đình phong kiến.

Nói đến đây, Đàm Chánh cảm thấy mủi lòng, nên hai dòng lệ tuôn rơi lả tả. Trần Canh thấy vậy, bèn ngắt lời, nói nửa đùa nửa thật.

— Trước đây chú là một thư sinh, còn bây giờ làm lính thì chú là một võ sĩ. Làm lính thì không bao giờ khóc. Chú ra đây không phải để làm lính hay sao? Vậy chú hãy đến đại đội làm một thư ký văn thư trước, chú thấy thế nào?


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Sáu, 2023, 01:23:31 pm

Đàm Chánh nhập ngũ, và vào công tác tại đại đội. Anh đã bắt đầu nhận sự huấn luyện một cách có hệ thống, để trở thành một chiến sĩ sẵn sàng hy sinh vì quốc gia. Đàm Chánh vẫn còn nhớ một câu của Trần Canh: "Phải trở thành một chiến sĩ thật sự, đúng nghĩa của nó, và sẵn sàng ra trận để đánh giặc".

Đàm Chánh tới tòng quân tại Hán Khẩu được một tháng, mà chưa viết thư về nhà. Hôm nay vừa thao luyện xong, anh bèn viết hai bức thư gửi về nhà. Một bức gửi cho cha mẹ, có nội dung như sau: "Kính thưa cha mẹ, con đã tới Hán Khẩu, thị xã của tỉnh Hồ Bắc. Trần huynh đã giúp con gia nhập quân Quốc dân cách mạng. Con bất hiếu xa rời cha mẹ, nhưng là con trai thì trước phải lo việc giữ nước, để cho Tổ quốc ta không bị lũ giặc lùn hiếp đáp, rồi sau đó mới phụng dưỡng cha mẹ được. Đó là trách nhiệm của con dân. Con đi lính, suốt ngày phải thao luyện. Ban đầu cảm thấy không quen, nhưng về sau thì cuộc sống trong quân đội dần dần trở thành bình thường. Mong cha mẹ đừng quá thương con. Con: Thế Danh".

Bức thư thứ hai của Đàm Chánh là gửi cho người vợ yêu dấu của mình: "Em Quỳ, anh đã đi tới Hán Khẩu, một cách thuận lợi, và hiện đang ở tại quân ngũ của anh Trần Canh. Anh Trân Canh đã chiều theo ý muốn của anh, đưa anh về trung đội hai làm văn thư. Vừa tới Hán Khẩu, người cũng lạ mà đất cũng lạ. Vì từ trước tới nay, anh chưa bao giờ rời khỏi nhà. Nhưng, cũng may là được Trần huynh chiếu cố, lại được Trần huynh luôn hỏi thăm về em. Biết sức khỏe của em không tốt, nên Trần huynh hết sức lo ngại, trước khi nhập ngũ, anh đã có bàn với Trần huynh là đổi tên thành Đàm Chánh, nên đã dừng tên này ghi vào lý lịch. Từ đây, tên anh sẽ là Đàm Chánh, chứ không còn giữ cái tên của chủ nghĩa phong kiến Đàm Thế Danh nữa, tốt không? Sau khi nhập ngũ, ngày ngày phải thao luyện, ban đầu chưa quen với cuộc sống ở trong quân đội, nhưng tiểu đoàn đặc vụ có khác hơn những tiểu đoàn khác. Ở đây báo chí rất đầy đủ, có các tờ báo như "Hướng Dạo", "Thanh niên Trung Quốc”, "Công Sản Đảng A B C". Những tờ báo này anh chưa từng thấy bao giờ, nên hôm nay anh đọc ngấu nghiến như kẻ đang đói bụng vậy. Sau khi đi, anh luôn lo ngại sức khỏe của em không tốt, vậy mong em đừng làm công việc quá mệt nhọc, mà phải chú ý giữ gìn sức khỏe. Anh: Đàm Chánh."

Sau khi Đàm Chánh từ trong quân ngũ gửi bức thư đầu tiên về cho vợ, thì Tưởng Giới Thạch đã phát động cuộc chính biến mười hai tháng tư...

Những cán bộ của Đảng cộng sản phái vào Quốc dân cách mạng quân, đều bị giám sát. Trần Canh bị cất chức tiểu đoàn trưởng. Trong thời gian nguy cấp đó, Đàm Chánh không gởi thư về nhà nữa, để vợ khỏi phải lo ngại cho hoàn cảnh nguy hiểm của mình.

Khi Đàm Nhuận Khu biết tin "sự biến Mã Nhật", thì không khỏi toát mồ hôi, buột miệng kêu: "Thật đáng sợ! Thật đáng sợ!”.

Thế Danh khi tới Hán Khẩu, gửi thư về nhà không phải cho biết là đã nhập ngũ nơi tiểu đoàn đặc vụ của Trần Canh hay sao? Trần Canh là đảng viên Cộng sản, vậy nếu bị người ta bắt giết, thì Thế Danh không phải chịu chung số phận với Trần Canh hay sao?

Trong khắp cả nước, liên tiếp xảy ra chuyện chém giết đảng viên Cộng sản, khiến cho Đàm Nhuận Khu hết sức lo lắng. Về tới nhà là ông kiếm đủ thứ chuyện để gây gổ và tự trách mình: "Lúc đó, tại sao không kiên quyết ngăn chặn lại, để xảy ra chuyện đáng sợ như ngày hôm nay?".

Sự trách móc của Đàm Nhuận Khu và bà vợ về việc Thế Danh đi tòng quân, tất nhiên là sau cùng quy vào Thu Quỳ:

— ... Thế Danh nếu không cưới cô vợ này, thì đâu có đi lính như vậy!

Thu Quỳ trong những ngày Uông Tinh Vệ hoành hành ở Vũ Hán, không thấy tin tức của chồng gửi về, nên lặn lội trở về bên cha mẹ ruột để hỏi thăm tin tức của Trần Canh. Thu Quỳ hết sức lo âu cho chồng và cho anh ruột của mình. Nếu chồng mình có bề nào, thì một người ủng hộ việc chồng ra đi tòng quân như mình, chắc chắn sẽ không làm sao chịu đựng được nổi những lời oán trách của nhà chồng.

Nguyện vọng của chồng đã được Thu Quỳ ủng hộ một cách vô tư. Sống ở nhà chồng, Thu Quỳ phải lo liệu tất cả chuyện ăn mặc của cả em chồng, và phải luôn luôn vâng lời cha mẹ chồng. Mọi việc trong nhà từ lớn tới nhỏ, đều trút hết lên vai của Thu Quỳ... Trong khi đó, tin tức của chồng vẫn vắng bặt. Thu Quỳ biết chồng mình đang ở trong một hoàn cảnh xung phong hãm trận đẫm máu, nên luôn luôn lo lắng không giây phút nào quên.

Thu Qùy trăn trở không sao ngủ được... có lẽ bây giờ chồng mình là Đàm Chánh, đang xung phong giết giặc với anh Hai Trần Canh. Đàm Chánh bây giờ không còn là một thư sinh nữa, mà là một võ sĩ dũng cảm, một chàng trai chân chính, bước tới đâu là vô địch đến đấy, và luôn luôn hướng về mục tiêu cao cả xông tới trước... Khuôn mặt xúc động của Thu Quỳ hiện lên một nụ cười hạnh phúc. Đôi mắt của nàng cũng trào ra những dòng lệ đầy hạnh phúc.

Những tháng ngày như vậy, cứ lần lượt trôi qua, thực một ngày dài như một năm!

Một tháng đã qua, hai tháng lại qua, ba tháng, năm tháng lại trôi qua!

Nhưng, với thân thể yếu đuối của Thu Quỳ, rốt cuộc rồi cũng phải bị bệnh mà nằm bẹp. Cơn bệnh này không cho phép Thu Quỳ đứng lên được nữa. Trong giây phút hấp hối, Thu Quỳ hai tay cầm bức thư chồng áp vào ngực, nghĩ rằng, người chồng mà mình chọn, là hoàn toàn đúng, cũng như người anh Trần Canh của mình vậy, cả hai đều là người tốt nhất trong đời... Thu Quỳ mỉm một nụ cười, rồi đôi mắt xinh đẹp từ từ khép lại, hai khóe mắt vẫn còn ánh lên long lanh. Tất cả những điều đó, Đàm Chánh làm sao biết được?

Sau khi cả nước được giải phóng, người nhà kể lại tình cảnh Thu Quỳ lúc làm chung, Đàm Chánh đau đớn khóc không thành tiếng!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:04:35 pm

3. ĐÀM CHÁNH VÀ VẠN LÝ TRƯỜNG CHINH

"Hồng quân nào sợ trường chinh khó, thiên sơn vạn thuỷ vẫn xem thường". Sau khi tham gia cuộc vạn lý trường chinh nổi tiếng, trên thân thế của Đàm Chánh còn giữ lại một món quà kỷ niệm không sao mất được. Đến ngày xây dựng đất nước Đàm Chánh còn bùi ngùi nói: "Bàn chân của tôi có lúc đau đớn không chịu nổi, nhưng mỗi lần đau như vậy lại làm tôi nhớ lại con đường trường chinh gian khổ thuở xưa".

Tháng mười năm 1934, phương diện quân thứ nhất của Hồng quân rút ra khỏi khu Xô viết Trung ương, thực hành một cuộc di chuyển chiến lược - trường chinh.

Lúc đó, Đàm Chánh với chức vụ chính ủy sư một, quân đoàn một Hồng quân, làm sao giữ được tâm trạng bình tĩnh?

Từng mảnh đất một đổi bằng máu đào, làm sao có thể vứt bỏ được, bao nhiêu quần chúng đã từng chung sống với mình, làm sao có thể bỏ rơi họ được?

Nhưng mệnh lệnh từ quân đoàn một đã ban ra, làm sao có thể án binh bất động?

Đàm Chánh đã trải qua một cuộc đấu tranh kéo dài năm năm, để xây dựng khu Xô viết Trung ương này, từng băng rừng, lội suối, rách nát biết bao nhiêu đôi giày cỏ? Trong chiến đấu, đã có bao nhiêu đồng chí, chiến hữu vì sự nghiệp của cách mạng, đã hy sinh mạng sống quý báu của mình, xa rời nhân gian? Tất cả những việc đó, ông chưa bao giờ than khổ, cũng chưa bao giờ rơi một giọt lệ. Nhưng hôm nay, sắp sửa chỉ huy sư một rời khỏi khu Xô viết Trung ương này, ông lại rơi lệ đầm đìa. Trước kia, khi ông xếp bút nghiên lên đường chinh chiến, rời khỏi quê hương ở Hồ Nam, và từ giã người thân trong gia đình, cũng không cảm thấy đau đớn như ngày hôm nay.

"Cuộc hội nghị cán bộ cấp tiểu đoàn trở lên sắp khai diễn rồi, nếu với những dòng nước mắt như thế này thì làm sao động viên chính trị cho cán bộ rời khỏi khu Xô viết được?" Khi nghĩ như vậy, Đàm Chánh liền trấn tĩnh trở lại, lau khô nước mắt, sửa lại bộ quân phục màu xám đã giặt sạch bóng, đi thẳng tới hội trường.

Tất cả cán bộ đều tập trung tại một gian phòng to rộng. Người nào người nấy đều cúi gầm đầu. Đàm Chánh nhìn qua không khỏi giật mình: "Cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên, mà đều như thế này cả, thì tâm trạng của chiến sĩ còn sa sút đến mức nào? Một đạo binh như vầy, thì làm sao đánh giặc được?". Đàm Chánh liền dẹp bỏ sự bi thương trong lòng, và đã trở thành một viên mãnh tướng, ưỡn ngực đi thẳng vào giữa những cán bộ quen thuộc của mình, nói:

— Các đồng chí, hãy ngẩng mặt lên!

Từng người một vẫn cúi mặt nhìn xuống.

— Tại sao vậy? Đều bị bệnh cả rồi sao?

Tất cả cán bộ có mặt đều cảm thấy rất bất ngờ. Chính ủy Đàm Chánh từ trước đến giờ đâu có khi nào lại nóng giận tới thế? Nhưng sự nóng giận của ông đâu bằng sự nóng giận đang tích chứa trong lòng của bao nhiêu cán bộ có mặt ở đây? Trong bụng họ đều gần như có chứa chất nổ cho nên một khi ngòi nổ đã bùng cháy, thì tất cả đều đua nhau phát ngôn:

— Thưa Đàm chính ủy, cho phép chúng tôi nêu lên một vấn đề!

— Đồng chí cứ nói! - Đàm Chánh bình tĩnh trả lời.

— Tôi không hiểu tại sao, trong khi đạn đại bác của giặc đã liên tiếp nã vào khu Xô Viết, thế mà sư một của chúng ta tiếp được mệnh lệnh không phải đi tiền tuyến để đánh kẻ địch đang tấn công ta, mà lại là chuẩn bị "rời đi"?

— Tại sao thế? Chúng tôi xin ủng hộ câu hỏi đặt ra của tiểu đoàn trưởng Lưu Đắc Thắng, vậy xin Đàm chính ủy hãy trả lời!

Mấy cán bộ nữa phụ họa theo câu hỏi của Lưu Đắc Thắng.

— Thưa các đồng chí, câu hỏi của các đồng chí đặt ra là đúng... - Không khí trong hội trường nhao nhao lên. Đàm Chánh đi thẳng vào vấn đề và bắt đầu trả lời câu hỏi - Tôi cũng xin đặt một câu hỏi với các đồng chí: Chúng ta cần bảo vệ mầm sống của Hồng quân này, hay là cứ để cho địch tiến đánh, rồi nuốt chẳng từng cánh quân của ta? Và do đó, đầu của chúng ta đều phải lìa khỏi cổ?

Câu hỏi ngược lại của Đàm Chánh vừa đặt ra, làm cho không khí ở hội trường liền lắng dịu trở xuống.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:05:16 pm

Tất cả các cán bộ có mặt tại hội trường đều là những cán bộ cốt cán của sư một Hồng quân. Họ là những người chỉ huy trung cao cấp. Đối với việc chỉ huy bộ đội phản kích quân địch bao vây càn quét, họ đều có kinh nghiệm. Họ đã có nhiều ý kiến đối với cách dùng trận địa chiến để chống lại cuộc bao vây càn quét của địch hiện nay, nhưng vì quân lệnh thì không thể cãi được, nên họ đành phải chịu. Đối với chiến cuộc trước mắt, họ có cách nhìn riêng của họ. Nếu cứ đối đầu thẳng với địch trong một cuộc chiến như thế này, trong khi quân địch nhiều, súng ống nhiều, đạn dược đầy đủ, thì Hồng quân sẽ ra sao? Qua một tháng chống bao vây càn quét, binh sĩ đã bị tiêu hao, những người bị thương bị bệnh không có nơi chữa trị, đạn dược cũng không có nguồn bổ sung. Thêm vào đó, địch phong tỏa ngày càng chặt, khiến cho khu Xô viết ngày càng khốn đốn. Nhất là địch tiến tới đâu, thì củng cố công sự tới đó, siết chặt vòng vây, làm cho khu Xô viết của Hồng quân ngày càng nhỏ lại. Nếu không mở đường máu để phá vòng vây của địch, tự tìm một đường thoát cho mình, thì tương lai của Hồng quân quả không ai dám tưởng tượng.

Vì toàn thể Hồng quân ai ai cũng nghĩ tới "tiền đồ", cho nên khi Đàm Chánh nêu vấn đề ra, làm cho tư tưởng của tất cả mọi người được sáng tỏ? Không cần phải nói nhiều lời nữa, tất cả cán bộ đang cúi đầu suy nghĩ tại hội trường đều nhất loạt ngước đầu lên, và tinh thần phấn chấn hẳn.

Nét lo buồn trên mặt Đàm Chánh đã biến mất. Đôi mắt vốn đỏ ngầu vì xúc động của ông, cũng liền thấy tươi vui hẳn lên. Hai khóe miệng ông cũng hiện một nụ cười thỏa mãn.

— Thưa các đồng chí, sau khi họp xong, các đồng chí phải chia nhau đi kiểm tra việc chuẩn bị của mình - Đàm Chánh nhấn mạnh thêm - Không, thưa các đồng chí, chúng ta không phải chỉ chuẩn bị "chạy", mà còn phải chuẩn bị "đánh"! Đó là điều tối quan trọng! Nên biết, kẻ thù của chúng ta không phải là sắt là đá, mà cũng không phải là một miếng đậu hũ. Chúng ta một khi phá vòng vây của chúng để vượt ra, thì chúng sẽ tổ chức truy kích. Cho nên, hành động tác chiến của chúng ta không những phải nhanh nhẹn, mà còn phải như một cái thoi dệt vải, di chuyến khắp nơi để đánh bại những sự ngăn chặn của chúng!

Cuộc hành quân chưa từng có của Hồng quân lần này, quần chúng ở trong khu Xô viết Trung ương cũng bắt đầu nhận thấy được.

Khi Hồng quân bắt đầu xuất chinh, quần chúng ở khu Xô viết bao gồm già trẻ nam nữ, như hội phụ nữ, đội thiếu niên đỏ, đoàn nhi đồng, đều tự động kéo ra trước cổng làng. Các bà cụ xách một cái giỏ trong tay, bên trong nào là trứng gà, nào là bánh tét, và những trái cam trái quít vừa hái trên cây xuống.

Bộ đội Hồng quân vừa ra khỏi thôn trang, quần chúng từ bên ngoài ào tới. Các cụ già thì cố nhét vào túi các chiến sĩ Hồng quân những thứ thức ăn. Đôi mắt họ ràn rụa nước mắt, còn mếu máo dặn dò: "Các con ơi, các con đánh bại quân thù xong, thì sẽ trở lại đây nữa nhé". Họ vừa khóc vừa lặp đi lặp lại câu nói ấy mãi. Riêng đoàn nhi đồng thì hô khẩu hiệu "Đả đảo phái phản động Quốc dân đảng", "Đánh lui trận tấn công của địch, bắt sống lão Tưởng!". Đoàn thanh niên, phụ nữ, kết đội hát những bài sơn ca, để tiễn đưa Hồng quân.

Cảnh tượng khó quên này, khiến ai cũng phải ứa lệ!

Cũng như mọi khi, cứ lúc bộ đội rời khỏi nơi đóng quân, thì Đàm Chánh luôn dẫn mấy cán bộ chính trị ở lại sau, để đi điều tra tình hình kỷ luật của bộ đội, và đền bù những tổn thất do bộ đội gây ra cho quần chúng. Cho nên, ông rời khỏi thôn trang muộn nhất. Bộ đội đã đi hết, nhưng quần chúng vẫn chưa chịu tan, cứ đứng đó chờ đợi. Khi nhóm người của Đàm Chánh rời khỏi thôn trang, họ còn dặn dò: "Đánh bại lão Tưởng xong, các anh sẽ trở lại đây nhé!"

— Chúng tôi nhất định sẽ trở lại quê hương Giang Tây này! - Đàm Chánh gạt lệ trả lời quần chúng.

Từ đây, Đàm Chánh bước một bước đầu tiên trên đoạn đường trường chinh dài hai vạn năm nghìn dặm.

Đoạn đường dài đó, nào phải đi bộ suông - Tưởng Giới Thạch với dụng tâm tiêu diệt Hồng quân, đã xây dựng nhiều tuyến phong tỏa khu Xô viết, mà trung tâm là Thoại Kim.

Khi xuất chinh, sư một Hồng quân đảm nhiệm vai trò tiền phong của tả lộ. Khi họ bắt đầu hành quân, thì mục tiêu địch cần đánh đầu tiên là cứ điểm Tân Điền.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:05:50 pm

Tại Tân Điền, quân địch đã xây một quần thể lô cốt, kết hợp với bến đò Ngũ Mẫu nằm về phía Bắc đầu từ Đào Giang, vượt qua cứ điểm Đại Phụ, cấu thành tuyến phong tỏa thứ nhất. Tuyến phong tòa này nhằm chặn không cho Hồng quân Trung ương tiến vào Quảng Đông. Trong trận đánh này, sư một Hồng quân đảm nhiệm việc tấn công quân địch tại cứ điểm Tân Điền. Đây là nước cờ thứ nhất, trong quá trình trường chinh của Hồng quân Trung ương. Nếu trận đánh Tân Điền có kết quả tốt, thì toàn bộ Hồng quân Trung ương sẽ phá vỡ được tuyến phong tỏa thứ nhất của kẻ địch. Trái lại, nếu đánh thua, thì sẽ bộc lộ ý đồ chiến lược chung của bộ chỉ huy Hồng quân, kẻ địch sẽ gia tăng hành động bao vây càn quét, và Hồng quân Trung ương có thể gặp nguy hiểm, là bị tiêu diệt toàn bộ tại khu Xô viết này.

Sư trưởng sư một Hồng quân là Lý Tụ Khuê, và chính ủy Đàm Chánh sau khi tiếp nhận nhiệm vụ, cảm thấy đấy là một gánh nặng đè lên hai vai. Hơn nữa, hiện giờ bộ đội đang tập trung tại vùng gần Hưng Quốc, một vị trí nằm ở tận cùng phía Bắc của khu Xô viết. Trong khi đó, Hồng quân Trung ương lại di chuyển về phía Tây Hồ Nam, để đột phá cứ điểm đã chọn là Tân Điền và Kim Kê. Vì mặt này là tuyến phòng thủ phía Nam, do quân đội Quảng Đông của Trần Tế Đường đóng giữ. Đảng Cộng sản Trung quốc đã bí mật đàm phán với tướng này, và được ông ta hứa sẽ "nhường đường" một cách thích đáng. Nhưng, điều đó không thể tin tưởng hoàn toàn. Đối với cứ điểm Tân Điền vẫn phải đánh là chính. Sư trưởng và chánh ủy của sư một Hồng quân, đều có nhận định như vậy.

Sư một Hồng quân từ phía Bắc khu Xô viết tiến về phía Nam khu Xô viết, đi ngày đêm không nghỉ, để đánh kẻ địch tại cứ điểm Tân Điền, nổ súng mở đường cho chủ lực của Hồng quân Trung ương đột phá đường phong tỏa thứ nhất của kẻ thù. "Nhiệm vụ này, khác hẳn với nhiều nhiệm vụ trước đây" - sư trưởng và chính ủy đều cau mày suy nghĩ - "trận đánh này" phải đánh như thế nào đây?

Sau khi suy tới, nghĩ lui, cuối cùng đã hạ lệnh tác chiến như thế này:

Giao cho Dương Đắc Chí, một vị chỉ huy dũng cảm và thiện chiến, chỉ huy một đoàn làm đội tiên phong, sử dụng chiến thuật bôn tập cự ly dài, và đánh vào ban đêm, để cho địch không kịp đề phòng. Đánh giặc không thể chỉ nghĩ tới thành công, mà cũng phải nghĩ tới trong lối đánh bôn tập gấp rút, có thể bị trở lực. Nếu vạn nhất bị trở lực, thì sẽ do đoàn hai Hồng quân nối tiếp dùng chiến thuật đánh mạnh để tấn công cứ điểm.

Sư một Hồng quân, trải qua hai ngày hành quân cấp tốc, lặn lội đường xa, tập kết vào một khu vực kín đáo, tiện tấn công Tân Điền.

Giữa ban ngày, trong thôn trang hoàn toàn không thấy một binh, một mã nào của Hồng quân. Tiết trời cuối thu của vùng phía Nam Hồ Nam, đồng ruộng rộng rãi, không khí tươi mát, mọi người dân đều bình thản đi ra cày ruộng, thả bò, cắt cỏ. Dựa vào sự che giấu đó, bộ đội được dịp nghỉ ngơi. Nhìn bề ngoài, cảnh tượng ở đây thật là êm ả, hòa bình. Nhưng Hồng quân ở trong thôn xóm không hề ngủ. Các đại đội, các trung đội, các tiểu đội, dựa vào sự phân công chiến đấu đêm nay, cùng ngồi túm tụm dưới mái hiên nhà, một góc sân phơi thóc, để mở "Hội nghị Gia Cát Lượng", bàn cãi thật hăng say.

... Trận đánh đêm vào Tân Điền đã thành công mỹ mãn. Tất cả những lô cốt chận các đường đi của địch, cũng như một đoàn binh lực đóng ở đây vừa chạm súng với Hồng quân, là bị đánh tan. Tiếp đó, Hồng quân chiếm lĩnh luôn Kim Kê, và mở toang tuyến phong tỏa thứ nhất. Bộ đội theo kế hoạch đã định, tiếp tục đánh lên. Hồng quân với thế mạnh như một cơn lũ, đã cuốn trôi tất cả những chướng ngại vật trên đường, và nhanh nhẹn phá tan tuyến phong tỏa thứ hai của địch. Sau đó, Hồng quân tiếp tục đánh về tuyến phong tỏa thứ ba là huyện Nghi Chương, mà địch phong tỏa rất chặt chẽ.

Hồng quân trung ương đã phá vỡ hai tuyến phong tỏa vào ngày hai mươi lăm tháng mười, và ngày tám tháng mười một, chuẩn bị phá vỡ tuyến phong tỏa thứ ha, thì Tưởng Giới Thạch mới đoán được ý đồ của Hồng quân Trung ương.

Thế là Tưởng Giới Thạch cũng hối hả bố trí việc bao vâv tấn công Hồng quân Trung ương đang muốn đột phá tuyến phong tỏa của mình.

Lúc đó, để yếm hộ cho chủ lực Hồng quân tiến gần về phía Tây Hồ Nam, sư một chủ lực hồng quân phái hai đoàn chịu sự chỉ huy của quân đoàn trưởng quân đoàn ba Hồng quân là Bành Đức Hoài, làm nhiệm vụ hậu vệ, giữ chặt bờ Tây Tiêu Thủy, để cho địch phải vượt qua sông, đánh Hồng quân đang ở bờ Tây Tiêu Thủy. Trận chiến này đánh rất đẹp. Lúc. đó, Đàm Chánh dẫn mấy cán bộ ở Cục chính trị của sư đoàn, ra tại mặt trận chính, để động viên chiến sĩ, cổ vũ sĩ khí quyết tâm chiến đấu không cho địch lên bờ, và kiên quyết tiêu diệt địch ở dưới dòng sông Tiêu Thủy.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:06:52 pm

Hồng quân đóng giữ trên bờ Tây sông Tiêu Thủy, trước mặt là dòng nước chảy xiết. Quân địch tổ chức tiến công, dưới sự yểm trợ của hỏa lực, chúng dùng thuyền để vượt sông. Hồng quân dùng súng máy, súng bộ binh, pháo hạng nhẹ để xạ kích. Làm cho thuyền của địch bị chìm, xác địch bị trôi nổi trên dòng sông. Địch tổ chức liên tiếp mấy đợt tấn công đều bị Hồng quân đẩy lui. Chúng ngồi thuyền bị đánh đắm, lại bơi qua sông để tái chiến.

Hồng quân nằm yên không động tĩnh, chờ cho quân địch lội gần tới bờ, thì súng máy mới khạc lửa, lựu đạn mới tung ra. Tất cả quân địch bơi qua sông đều bị hạ từng toán một, xác trôi theo dòng nước chảy. Đoàn một, đoàn ba của sư một Hồng quân, phòng thủ hai bên bờ sông đã kiên trì chiến đấu suốt hai ngày hai đêm, gần như không ăn một bữa cơm nào. Chỉ chờ khi quân địch ngưng cuộc tấn công, thì họ mới được uống nước. Đàm Chánh chia sẻ nỗi nhọc nhằn khổ sở với các chiến sĩ Hồng quân, cùng chịu hoạn nạn, cùng chung chiến đấu. Ông đã viết lại những sự tích chiến đấu anh dũng này của binh sĩ, để báo cáo về Nhiếp Vinh Trăng, chính ủy quân đoàn một Hồng quân. Ngoài ra, ông còn viết thành bản tin gửi về đăng lên báo "Sao Đỏ", do Đặng Tiểu Bình chủ biên.

Ngày hai mươi tám tháng mười một năm 1934, sư một Hồng quân rút khỏi bờ Tây Tương Thủy, đi nhanh bất kể ngày đêm để đuổi theo chủ lực của Hồng quân. Sư này lại tham gia chiến dịch Tương Giang, phá vỡ tuyến phong tỏa thứ tư của giặc. Chiến dịch Tương Giang là một trận đánh hết sức quyết liệt trong các trận đánh phá vỡ vòng vây của địch. Sự chiến đấu ác liệt chưa từng có. Hồng quân chiến đấu trong vòng năm hôm, đã phá tan được sự ngăn chặn và sự truy kích của một đạo quân lớn gồm bốn mươi vạn người của địch.

Nhưng về mặt Hồng quân Trung ương, cũng bị tổn thất nặng nề.

Kể từ mười tháng mười mở đầu cuộc trường chinh, cho đến một tháng mười hai, Hồng quân từ tám vạn sáu nghìn quân tinh nhuệ, đã giảm xuống chỉ còn ba vạn người. Tức đã có năm vạn Hồng quân hy sinh trong vòng hai tháng này.

Sư một Hồng quân trong những trận quyết chiến này, đã tỏ ra một sức chiến đấu ngoan cường đáng kể. Điều đó hoàn toàn không thể tách rời được với công tác chính trị vững vàng của Đàm Chánh.

Ở đại đội bốn, thuộc đoàn ba Hồng quân, có một chiến sĩ tên gọi Đới Hữu Tiêu, khi thao luyện tiến công, làm động tác không tốt, đại đội trưởng bèn bảo anh ta làm lại. Anh ta bất bình nói:

— Thao dượt làm quỷ gì! Thao dượt rồi lại không đánh! Trông thấy địch rồi lại rút vào khu Xô Viết!

Đến lúc chấm dứt cuộc thao dượt, đại đội trưởng đứng trước mặt đại đội điểm danh và phê bình:

— Hôm nay trong đại đội có binh sĩ Đới Hữu Tiêu lúc thao dượt không tỏ ra cố gắng, vậy mọi người thấy có được không?

— Không được! - Toàn thể đại đội đồng thanh trả lời.

Kế đó, đại đội trưởng kêu đích danh anh lính này, bảo anh ta bước ra khỏi hàng để kiểm thảo.

— Nếu bắt tôi kiểm thảo, thì hãy lấy dao chém tôi đi - Người chiến sĩ Hồng quân này cự tuyệt, không chịu kiểm thảo.

Khi trở về trung đội, trung đội trưởng phạt anh ta đứng ngay thẳng dưới bóng mặt trời. Anh ta không làm. Viên trung đội trưởng tức giận đánh anh ta, và nhân lúc đại đội lên lớp chính trị, anh ta lấy cớ đi ra nhà bếp uống nước, rồi dùng súng tự sát. Chuyện đó xảy ra sau khi "hội nghị Cổ Điền" Hồng quân đã quán triệt nghị quyết khắc phục chủ nghĩa quân phiệt. Đàm Chánh tới đoàn ba, tiến hành công tác điều tra tường tận tại đại đội bốn, nơi xẩy ra vụ tự sát của chiến sĩ Đới Hữu Tiêu. Rõ ràng đồng chí đại đội trưởng và trung đội trưởng đối với những sai lầm của chiến sĩ, không chịu kiên tâm thuyết phục, giáo dục, mà lại đứng trước toàn đội khiển trách, châm biếm. Riêng trung đội trưởng còn ra tay đánh người. Đó chính là chủ nghĩa quân phiệt lại trỗi dậy trong Hồng quân. Đàm Chánh hoàn toàn không nương tay, ông đứng trước đại đội bốn nói chuyện, phê bình chủ nghĩa quân phiệt là điều nguy hại to đối với việc xây dựng Hồng quân, và công bố trước mặt toàn thể cách xử phạt đối với đại đội trưởng và trung đội trưởng.

Tìm hiểu tác dụng đầu tàu của một chi bộ trong đại đội, là phải xem đảng viên, đoàn viên trong hoàn cảnh nguy hiểm khó khăn, đã mô phạm dẫn đầu như thế nào. Đàm Chánh khảo sát trong một cuộc tác chiến, thấy đảng, đoàn viên, đều dẫn đầu xung phong, giết địch một cách dũng cảm.

Trong cuộc chiến đấu này, có một trung đội của Hồng quân bị địch bao vây. Địch lấy binh lực một tiểu đoàn xung phong tấn công ba lần, nhưng không chiếm được đỉnh núi do một đại đội của Hồng quân cố thủ. Trung đội thuộc đoàn một Hồng quân này, đã chiến đấu bảo vệ đỉnh núi suốt bảy tiếng đồng hồ, và kết cục đã thoát được sự nguy hiểm là bị tiêu diệt. Nguyên nhân chính của thành quả này là do đảng, đoàn viên, trong chiến đấu, đều nêu được tác dụng cốt cán, gương mẫu.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:07:41 pm

Nghị quyết của "hội nghị Cổ Điền" đã quán triệt xuống tận các trung đội trong sư một Hồng quân. Công tác chánh trị trong bộ đội thật liên tục, đưa tới có nhiều nhân vật anh hùng xuất hiện liên tiếp.

Trong chiến dịch chống bao vây càn quét lần thứ năm, sư một Hồng quân đã quần thảo liên tục với địch trong những điều kiện hết sức gian khổ. Có một lần, trong một cuộc chiến đấu giằng co với địch, đoàn hai Hồng quân có một chiến sĩ tên gọi Long Thiện Đức, vừa bị bệnh, vừa bị đói, nên đã lạc bộ đội của mình. Sau khi bộ đội đã kéo đi hết, mà anh ta còn rơi lại trong vòng vây của địch. Chiến sĩ này đã chịu đói, chịu rét kéo dài suốt sáu ngày, chờ cho địch tự tháo vòng vây, mới tìm trở lại được đơn vị.

Trong chiến dịch Tân Phong Nhai và cuộc chiến đấu ở Đại Hùng Quan, sư một Hồng quân có mấy chiến sĩ bị thương không thể khiêng ra khỏi chiến trường. Trong số họ, có người gặp địch và thà chết chứ không hàng, cũng có người cắn răng chịu đựng sự đau đớn của vết thương, cảnh giác tìm cách vượt ra khỏi vòng vây của địch, và trải qua nhiều gian nan mới tìm được trở về đơn vị của mình. Trong cuộc chiến đấu tại Tân Phong Nhai, đoàn một Hồng quân đã dùng số ít quân để phá vỡ được mấy trận địa quan trọng của địch. Chẳng bao lâu sau, địch dùng hỏa lực mãnh liệt yểm trợ để bộ binh xung phong tiến chiếm trở lại. Trong Hồng quân có một ít người bắt đầu dao động, quay đầu định rút lui. Nhưng có một đảng viên thấy thế, to tiếng gào lên:

— Ai rút lui người đó sẽ chết!

Trong giờ phút quyết định đó, người đảng viên đã giữ vững được tinh thần chiến đấu của tất cả chiến sĩ. Kết quả, họ đã đánh lui được những đợt xung phong của địch, và giữ được trận địa của mình.

…

Tháng giêng năm 1935, hội nghị Tôn Nghĩa đã được triệu tập trên đường trường chinh.

Trong chiến dịch Tứ Độ Xích Thủy, sư một Hồng quân sau khi hoàn thành được nhiệm vụ ngăn chặn địch tại Hoàng Ba Động, và lúc chuẩn bị qua sông tại bến đò Viên Hầu Trường, Mao Trạch Đông phái tham mưu đến bến đò tìm gặp lãnh đạo của sư một, trong đó có Đàm Chánh, nói cho họ biết trong cuộc hội nghị mở rộng của Cục chính trị tại Tôn Nghĩa, đã giải quyết xong vấn đề lãnh đạo của quân ủy. Đồng thời, Mao Trạch Đông còn nói tới vấn đề chiến lược, chiến thuật cơ động linh hoạt. Mao Trạch Đông nói thẳng với sư một Hồng quân, là trên đường trường chinh, tình huống tác chiến của sư này đã thể hiện sự chiến đấu ngoan cường:

"Trên đường trường chinh, các đồng chí đã tám lần bị địch đánh vào sườn, và đều biết ứng biến một cách linh hoạt, xử lý tình huống rất tốt. Các đồng chí đã tránh được mũi nhọn của địch, và theo ý đồ của quân ủy, quyết đoán một cách nhanh nhẹn. Đó chính là đã chấp hành mệnh lệnh của quân ủy một cách chính xác. Từ nay về sau, tình huống đó sẽ còn gặp lại nhiều nữa, vậy nên phát huy phương pháp tác chiến cơ động và linh hoạt".

Đàm Chánh nghe những lời nói đó, xúc động đến trào nước nước mắt, cũng như trước khi rời khỏi Tỉnh Cương Sơn, hay lúc khai diễn "hội nghị Cổ Điền", đã hiệp trợ với Mao Trạch Đông để khởi thảo nghị quyết của hội nghị Tôn Nghĩa, đã củng cố niềm tin thắng lợi trên đường trường chinh của Hồng quân. "Không đến được Trường Thành, thì không phải hảo hán". Cuộc trường chinh của Hồng quân vẫn tiếp tục đi tới. Và trên những bước đường tiến tới đó, họ luôn gặp những khó khăn này tới những khó khăn khác.

Sau khi chiến dịch "Tứ độ Xích Thủy” thắng lợi, thì trước mặt Hồng quân là Ô Giang. Sau khi vượt qua được Ô Giang, thì gặp phải Kim Sa Giang, là một dòng sông nước chảy rất xiết. Sau khi Hồng quân vượt qua Kim Sa Giang đầy nguy hiểm, thì nhanh chóng tiến về phía Bắc, và đã vào khu dân tộc người Di.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:08:10 pm

Tổng tham mưu trưởng của Hồng quân là Lưu Bá Thừa, cùng cắt máu ăn thề với thủ lãnh của dân tộc Di là Diệp Đơn. Nhưng, khi đoàn một của sư Hồng quân đi tiên phong vào khu dân tộc Di, vẫn có rất nhiều bộ lạc tay cầm giáo mác kéo ra chặn đường. Do trước khi tiến vào khu dân tộc, bộ đội có giáo dục chính sách dân tộc của Đảng tại khu dân tộc người Di, nên lúc đó hai bên đã chung sống với nhau được an toàn, và đã đi qua khu vực này một cách thuận lợi.

Sông Đại Độ Hà lại chắn ngang trước mặt Hồng quân nước chảy cuồn cuộn, sóng nổi ào ào. Đoàn trưởng của đoàn một thuộc sư một là Dương Đắc Chí, đến ven sông Đại Độ Hà chỉ huy một cánh quân tiên phong vượt sông để tác chiến. Tổ chức đội quân dũng cảm này, gồm có một đại đội trưởng, một trung đội trưởng, bốn tiểu đội trưởng và tiểu đội phó, và mười một chiến sĩ cùng tham gia. Mười bảy chiến sĩ trên cùng ngồi một chiếc thuyền và đã vượt qua sông dưới sự yểm trợ của hỏa lực súng máy nhẹ. Họ đổ bộ được lên bờ sông bên kia, và thừa thế chiếm lĩnh những trận địa quan trọng, rồi mới yểm hộ cho chủ lực vượt qua Lư Định Kiều.

Hồng quân vượt qua Đại Độ Hà bằng sức mạnh của mình đã thành công.

Con đường trường chinh là một con đường đầy gian truân, nào leo núi cao, nào vượt sông chảy xiết, không cơm ăn, không áo mặc, lại còn phải chiến đấu với bọn địch ngoan cố trên hai năm trường, vượt qua hành trình hai vạn năm nghìn dặm.

Khi Hồng quân tiến vào khu vực canh nông và mục súc của dân tộc Tạng, đúng vào tháng chín, tức mùa bò ngựa đều khỏe, đều béo, lương thực mùa thu đang thu hoạch. Do Hồng quân có kỷ luật nghiêm minh, biết tôn trọng phong tục tập quán của người địa phương, nên được người dân tộc Tạng ủng hộ. Trên một cánh đồng cỏ rộng mênh mông, trời xanh không hề có một áng mây, họ đã chiêu đãi Hồng quân theo quy cách cao nhất - nắm cơm nếp nấu theo kiểu người Tạng.

Đàm Chánh đã được mời dự buổi tiệc này. Trong nhiều tháng qua, Hồng quân chỉ biết lấy rau rừng, rễ cỏ ăn cho đỡ đói, gạo và mì chưa bao giờ được dính môi. Nay được ăn cơm nếp nắm theo kiểu người Tạng, Đàm Chánh thấy rất ngon miệng, và ăn luôn bảy, tám nắm mà vẫn thấy chưa no bụng. Về sau, khi nhớ lại những ngày tháng này, Đàm Chánh vẫn không quên khi vào được khu vực của dân tộc Tạng: "Lúc đó, tôi cảm thấy nắm cơm nếp của người Tạng thật thơm ngon, nhưng tôi không thể ăn nữa. Vì, chúng ta đã giáo dục bộ đội, trong khi đói quá nếu ăn nhiều thì sẽ phát ách mà chết. Cho nên tôi ăn xong tám nắm cơm nếp của người Tạng, thì tự khắc chế mình, không ăn tiếp nữa. Cho dù lúc đó bụng tôi vẫn còn rất đói. Dù sao mình cũng là cán bộ lãnh đạo của Hồng quân kia mà. Nếu cứ ăn cho thẳng tay, thì ngay như đồng bào Tạng vốn là một dân tộc nghèo khó, cũng sẽ cười Hồng quân chúng ta là những người đói kém...".

Tham gia cuộc trường chinh của Hồng quân. Trên thân thể của Đàm Chánh còn lưu lại những vật kỷ niệm không thể xóa được. Đó là trên gan bàn chân của ông xuất hiện rất nhiều mắt cá, bước đi rất đau đớn. Nó cứng ngắc như là đã "hóa đá". Khi bước đi, thì những mắt cá cứng như đá đó đâm vào da thịt, đau thốn khó chịu.

Trong những ngày ở Diên An, ông phải tiến hành phẫu thuật, mổ lấy những mắt cá đó ra. Phẫu thuật tuy không lớn, nhưng rất phức tạp, nên không thể lấy hết tất cả ra được. Vào thời kỳ xây dựng đất nước, có điều kiện trị liệu tốt, nhưng ông vẫn không tiến hành. Kết quả của chẩn đoán là: có một cây gai nằm sâu trong da bàn chân và da thịt đã bao cứng nó lại. Thầy thuốc bảo, vì trên đường trường chinh, bàn chân bị gai đâm mà ra. Đàm Chánh nghe vậy, bùi ngùi nói:

— Nếu thế thì không cần mổ nữa, cứ để nó tồn tại vĩnh viễn, trên bàn chân của tôi đi. Đó là kỷ niệm cuộc trường chinh ấy mà. Khi tôi cảm thấy bàn chân tôi bước đi bị đau, thì tôi sẽ nghĩ tới con đường trường chinh khổ ải năm xưa.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:09:41 pm

5. ĐÀM CHÁNH VÀ MAO TRẠCH ĐÔNG

Tháng mười năm 1960, La Vinh Hoàn từng dùng giọng khó hiểu nói rằng:

— Ông ấy (chỉ Đàm Chánh) đã công tác với Chủ tịch nhiều năm qua, vậy làm thế nào lại có thể xảy ra vấn đề chống lại Chủ tịch được?

Cũng vào năm đó, Đàm Chánh bị phê phán và giáng chức.

Năm 1928, cuộc đấu tranh tại Tỉnh Cương Sơn đã kiên trì hơn một năm rưỡi qua. Vào tháng ba, tháng tư, núi lại xanh, cây cỏ khoác màu lục, mùa xuân đã tới. Chủ lực Hồng quân lại một lần nữa chiếm Toại Xuyên, căn cứ địa Tỉnh Cương Sơn lại được mở rộng về một phía.

Đêm tối đã trôi qua, trời bắt đầu rạng sáng, vầng thái dương đỏ ối đang từ hướng Đông dần dần nhô lên. Nhưng, tại một ngôi nhà to ở Lung Thị, ánh đèn vẫn còn sáng. Các chiến sĩ cảnh vệ đội đều biết, kể từ ngày đánh chiếm được Trà Lăng không bao lâu, lại chiếm Toại Xuyên lần thứ hai, mở rộng căn cứ địa, tin thắng lợi nối tiếp bay tới, làm cho người chủ căn nhà này chong đèn thức thâu đêm, không ngủ được. Người chủ gian nhà này, khác hẳn với mọi người, tuổi ngoài ba mươi, để một mái tóc rậm và dài, thân thể cao lớn. Có lẽ vì làm việc quá mệt nhọc, nên thân thể ông hiện rõ nét tiều tụy. Ông đã gò lưng trên bàn giấy, viết bản thảo suốt một đêm qua, và đang hút thuốc lá, trầm tư.

"Cộp! Cộp!" một người trẻ tuổi mặc quân phục sạch sẽ, bước tới gõ nhẹ vào cánh cửa. Người thanh niên này mới hai mươi hai tuổi, tức nhỏ hơn người chủ của ngôi nhà tròn một con giáp (mười hai năm).

— Xin mời vào!

Có tiếng người từ bên trong nói vọng ra, và cánh cửa phòng mở toang. Người đó cũng bước ra để đón khách:

— Đồng chí Đàm Chánh! Đồng chí vừa từ Cách Lâm trở về đấy à?

— Vâng, thưa đồng chí Mao Trạch Đông!

Qua lời dối thoại của hai người, chứng tỏ họ không xa lạ gì nhau. Có thể họ là những người bạn thân của nhau.

— Lão nhạc phụ của đồng chí là Trần Thiệu Thuần tiên sinh, vẫn còn khỏe mạnh chứ

Đàm Chánh ngạc nhiên, trước đây Đàm Chánh nghe nhạc phụ mình có nói, là ông ấy quen với Mao Trạch Đông. Nhưng Mao Trạch Đông làm thế nào hiểu được mình lại là con rể của ông ấy? Hơn nữa, hiện giờ mình đã thay đổi tên tuổi rồi kia mà?

Mao Trạch Đông thấy Đàm Chánh có vẻ ngạc nhiên, nên không chờ ông trả lời, liền giải thích trước:

— Đồng chí không phải nguyên có tên là Đàm Thế Danh đấy sao? Đó là tôi đã qua đơn xin gia nhập Đảng của đồng chí mà biết được. Nhạc phụ của đồng chí đối với xã hội, đối với cách mạng, là người có nhiều cống hiến đấy! Đầu năm qua, tôi có trở về quê hương của mình là tỉnh Hồ Nam, để khảo sát phong trào nông dân, thuận tiện có đến Tương Hương, và gặp mặt Trần Thiệu Thuần tiên sinh. Ông ấy nói chuyện rất thấu tình đạt lý. Phải qua một cuộc tao loạn cực kỳ, mới biết ai cao ai thấp, mới biết ai tốt ai xấu. Trần tiên sinh có nói với tôi, là ông ấy đã bảo con trai trưởng của mình là Trần Canh, thoát ly khỏi nhà đi tham gia cách mạng. Con trai thứ hai, thứ ba cũng đi làm cách mạng. Ngoài ra, con rể là Đàm Thế Danh, gần đây cũng vừa lên Hán Khẩu để gia nhập quân Quốc dân cách mạng rồi!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:10:19 pm

Mao Trạch Đông nói chuyện với Đàm Chánh và đã để cập chuyện gia đình. Lần nói chuyện đầu tiên đó làm cho hai người cảm thấy thật thân thiết. Lúc đó Đàm Chánh tỏ ra rất gò bó, có lẽ vì tâm trạng đang quá kích động chăng?

— Từ đó trở đi, tôi đã chú ý tới hành động của đồng chí - Mao Trạch Đông nói tiếp - Khi cuộc khởi nghĩa thu hoạch mùa thu bùng nổ, tôi đã tìm trong danh sách đoàn cảnh vệ ở Vũ Xương cái tên Đàm Thế Danh, nhưng tôi chỉ gặp tên Đàm Chánh. Không ngờ Đàm Chánh lại chính là Đàm Thế Danh... Tôi gặp được đồng chí, thì cũng nghĩ ngay tới nhạc phụ của đồng chí... Ha ha!

— Thưa đồng chí Mao Trạch Đông, hôm nay tôi đến Đảng ủy tiền phương để trình diện. Vậy xin hỏi Đảng ủy tiền phương ở đâu?

— Đảng ủy tiền phương chính là ở đây - Mao Trạch Đông lặp lại câu nói đó một lần nữa, rồi nói tiếp - Đảng ủy tiền phương chính là ở đây, tôi là một bí thư, cộng thêm một thư ký, vậy nhân viên công tác thực tế ở đây chỉ có hai ta!

Nhưng, Mao Trạch Đông không giới thiệu cho Đàm Chánh biết tình trạng công tác tại Đảng ủy tiền phương từ bấy lâu nay, mà nói:

— Các đồng chí mở khu giải phóng mới tại Thảo Lâm Bình, công việc đó rất hay. Vậy đồng chí hãy nói cho tôi nghe trước, tình hình ở đấy đi.

Đàm Chánh bèn đem việc dẫn đội công tác đi đánh thổ hào, chia điền địa, phát động quần chúng, và xây dựng chính quyền Xô viết, báo cáo tổng quát và sơ lược cho Mao Trạch Đông nghe. Mao Trạch Đông cười ha hả và nói:

— Tốt! Làm rất tốt! Làm rất tốt!

— ... Chúng tôi đã lấy được tiền bạch của thổ hào, xem như tiền phát và mang cả về đây!

Đàm Chánh cảm thấy sự kiện này xử lý chưa hẳn đúng, nên đem tất cả ra để báo cáo lại cho Mao Trạch Đông biết.

— Tốt! Tốt! Nếu vậy, mỗi người chúng ta đều có thể lãnh được hai đồng bạc tiền lương đấy! - Mao Trạch Đông nói.

Đàm Chánh bước vào ngôi nhà ở của Mao Trạch Đông, nhìn thấy trên mặt bàn đầy sách vở, còn có cả những bản thảo văn kiện vừa thảo xong. Trên nghiên mực còn gác một cây bút lông. Những bản thảo viết rồi thì để trên giường. Những văn cảo đang viết được một nửa, thì chồng một chồng ở trên bàn. Đèn dầu mới vừa tắt. Nhìn Mao Trạch Đông, thấy ngay suốt đêm qua ông đã thức, không ngủ.

... Hiện nay đội công tác đã làm việc xong chưa? - Mao Trạch Đông lại hỏi Đàm Chánh.

— Vừa về tới là chúng tôi đã báo cáo qua. Một toán bộ đội nhỏ mà tôi dẫn theo, cũng trở về đầy đủ rồi! - Đàm Chánh trao cho Mao Trạch Đông một tờ báo cáo, được viết thành hai bản qua giấy lọ - Đây là báo cáo công tác của tôi, có chỗ nào chưa thỏa đáng, xin đồng chí Mao Trạch Đông chỉ dẫn!

Mao Trạch Đông nhận lấy báo cáo để một bên, nói:

— Vậy đồng chí hãy mang hành lý vào đi. Đồng chí sẽ ở phòng ngoài của gian nhà này. Đồng chí tới đây thật là tốt. Tôi rất cần sự giúp đỡ của đồng chí. Đồng chí hãy xem - Mao Trạch Đông đưa tay chỉ mớ bản thảo chồng chất trên mặt bàn, nói tiếp - Tất cả những bản thảo này, chính là tôi chuẩn bị cho đại hội đại biểu lần hai của liên khu Tương Dự (tức Hồ Nam), nhưng chưa có ai chép sạch lại. Đồng chí tới đây cốt để làm giúp cho công việc này.

Trong những ngày đấu tranh tại Tỉnh Cương Sơn, Đàm Chánh đã học được rất nhiều tri thức mà trong sách vở không có. Hôm nay, Mao Trạch Đông mời Đàm Chánh chép lại giùm phần "nghị quyết". Đó chính là bản thảo của tư liệu "Tại sao chính quyền đỏ của Trung Quốc tồn tại" rất nổi danh sau này.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:11:01 pm

Căn cứ địa Tỉnh Cương Sơn khi mới thành lập, các chiến sĩ cách mạng đấu tranh trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Trong đội ngũ cách mạng, mỗi người đều cố gắng thể hiện bản thân mình. Có người là người trung thành đối với sự nghiệp cách mạng, nhưng cũng có người là kẻ phản bội cách mạng. Sau khi bộ đội khởi nghĩa mùa thu kéo lên Tỉnh Cương Sơn không bao lâu, thì "Đảng ủy tiền phương" quyết định đưa một đoàn bộ đội quân cách mạng công nông, do đoàn trưởng là Trình Hạo, phó đoàn trưởng là Hàn Tráng Kiếm, tham mưu trưởng là Từ Thứ, đi đánh Trà Lăng. Lần này, Mao Trạch Đông không theo bộ đội xuống núi, nên trong khi đến Trà Lăng, thì đoàn trưởng Trình Hạo và một số người khác, đã "liên lạc" được với bộ đội Quốc dân đảng, nên họ chuẩn bị trở về Tỉnh Cương Sơn, sẽ kéo luôn số bộ đội còn ở đấy cùng nhau đi đầu hàng Quốc dân đảng.

Đó là một sự kiện đáng sợ biết bao. Nhưng Mao Trạch Đông xử lý việc này hết sức bình tĩnh, và đầy đủ bản lĩnh. Ông không bứt mây động rừng, giả vờ như không biết gì cả, rồi đích thân dẫn một cánh bộ đội khác xuống tiếp ứng với bộ đội chuẩn bị đánh Trà Lăng, trở về Tỉnh Cương Sơn, để ổn định tinh thần bộ đội, và điều tra cho rõ mọi việc đã xảy ra.

Tiếp theo, cuộc hội nghị Đảng ủy tiền phương tại Lung Thị được triệu tập, để thảo luận xem phải xử trí thế nào đối với những phần tử phản bội trong hàng ngũ cách mạng, và lại triệu tập đại hội cán bộ để công khai vạch trần tội lỗi của Trình Hạo và đồng bọn. Có làm như vậy, mới giáo dục được toàn thể bộ đội.

Tại đại hội cán bộ triệu tập ở Lung Thị, Mao Trạch Đông tổng kết bài học kinh nghiệm đánh Trà Lăng, và tuyên bố trước mặt mọi người mười tội trạng của Trình Hạo và đồng bọn. Trong đó có một điều là mưu phản biến đầu hàng giặc. Trong buổi nói chuyện, Mao Trạch Đông hỏi:

— Mọi người hãy cho biết, biện pháp đối với Trình Hạo, Hàn Tráng Kiếm, Từ Thứ phải thế nào?

Mấy chiến sĩ bèn bước tới trói Trình Hạo và đồng bọn, rồi dẫn đi.

Mao Trạch Đông cũng tại đại hội cán bộ này, tuyên bố đoàn trưởng, đại biểu đảng, tham mưu trưởng mới cho mọi người được biết.

Đây là việc Mao Trạch Đông đã xử lý một cách quả đoán một vụ án quan trọng trong bộ đội. Đối với Đàm Chánh điều này có một tác dụng giáo dục rất lớn. Trong thời kỳ Đàm Chánh làm thư ký Đảng ủy tiền phương, lại trực tiếp tham gia xử lý vụ án Trần Bá Quân, vì cướp cò súng mà bắn chết người.

Đó là vào một ngày hồi năm 1929, có một viên sĩ quan trẻ bị trói gô lại, đưa tới phòng làm việc của "Đảng ủy tiền phương".

— Ồ! Đó là Trần Bá Quân! - Đàm Chánh chưa hỏi tỉ mỉ liền báo cáo cho Mao Trạch Đông biết.

Mao Trạch Đông bình tĩnh bước ra, bảo mở trói cho Trần Bá Quân, nói:

— Các anh hãy vào phòng bên cạnh nghỉ ngơi trước đi.

Số người của Trần Bá Quân liền bước vào gian phòng bên cạnh. Đàm Chánh bèn phụng mệnh thông báo cho những Đảng ủy tiền phương viên khác, đến chỗ Mao Trạch Đông ở để họp.

Tại hội nghị Đảng ủy tiền phương, đối với sự kiện Trần Bá Quân để cướp cò súng bắn chết người huấn luyện mình là Trưởng Lữ, mọi người tranh luận không ngừng. Có người nói, súng họ cướp cò tuy là chuyện nội bộ của Hồng quân, nhưng cũng phải bị trừng trị nghiêm khắc. Đa số người nói bắn chết người thì phải đèn mạng. Trần Bá Quân phải được đem đi xử tử!

Đàm Chánh dự phiên họp với nhiệm vụ làm thư ký ghi chép biên bản. Ông nghe nói "xử tử" Trần Bá Quân thì không khỏi giật mình. Bàn tay đang cầm viết của ông cũng run lên, thầm nghĩ: "Trần Bá Quân, tại sao anh lại sơ ý đến thế! Như vậy, không phải là anh tự sát hay sao?".

Theo thông lệ, vấn đề được đưa ra thảo luận tại Đảng ủy tiền phương, thì bao giờ thiểu số cũng phải phục tùng đa số. Hôm nay, ngoài Mao Trạch Đông là người chưa phát biểu ý kiến, toàn thể đại biểu đều đồng ý xử tử Trần Bá Quân. Như vậy, không phải là đã tuyên bố án "tử hình" cho anh ta rồi sao?

Mao Trạch Đông nghe xong ý kiến của mọi người, bình tĩnh nói:

— Đã chết một người rồi, bây giờ còn chết thêm người thứ hai nữa sao?

Lời nói của Mao Trạch Đông thật có lý. Đàm Chánh nghe án "tử hình" của Trần Bá Quân đã toát mồ hôi lạnh. Giờ đây ông mới thở phào. Nhưng chắc, bị tù là cái chắc rồi.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:12:04 pm

Đảng ủy tiền phương lại thảo luận qua một lượt, đồng ý giảm nhẹ tội của Trần Bá Quân, nhưng đề xuất: "Có thể không xử tử, nhưng phải đánh đòn".

Mao Trạch Đông cười, nói một cách hài hước:

— Đánh đòn cũng khỏi cần luôn. Nếu đánh, thì bắt hắn xòe bàn tay ra mà đánh vậy!

Trần Bá Quân bước ra khỏi cửa, đi thẳng tới chính giữa các ủy viên Đảng ủy tiền phương, rơi hai dòng lệ, quay về hướng mọi người xá một xá thật sâu, nói:

— Tôi thật có lỗi với Lữ đồng chí!

Trần Bá Quân đôi mắt vẫn ứa lệ, xòe bàn tay đưa thẳng về phía đồng chí Mao Trạch Đông, nói:

— Thưa đồng chí Mao Trạch Đông, xin hãy đánh vào tay tôi đi!

Mao Trạch Đông vỗ nhẹ vào vai Trần Bá Quân, nói:

— Đồng chí Trần Bá Quân, hãy nhận lấy bài học bằng máu ấy đi. Còn việc đánh bàn tay thì cũng tha nốt!

Trần Bá Quân siết chặt lấy bàn tay của Mao Trạch Đông, òa lên khóc. Mọi người thấy Trần Bá Quân đã nhận ra sai lầm của mình, đều mỉm cười vui vẻ.

Việc xử lý sự kiện Trần Bá Quân đã giáo dục cho rất nhiều đồng chí, trong đó có cả Đàm Chánh.

“… Ngoài lương thực, mỗi người mỗi ngày chỉ có được năm xu để mua mắm muối, rau cải, quả thực là khó khăn. Chỉ với một số tiền ít ỏi đó, mà mỗi tháng phải chi ra hàng vạn đồng. Số tiên này phải hoàn toàn dựa vào việc đánh thổ hào mà có. Nay năm nghìn binh sĩ lại không có áo mặc mùa đông. Có người đã có bông, lại thiếu vải may. Trời đã lạnh thế này, mà nhiều binh sĩ chỉ mặc áo đơn hai lớp. Nhưng may là mọi người chịu khổ đã quen, nhất là ai ai cũng khổ như vậy, từ quân trưởng cho tới anh đầu bếp, ngoài lương thực, mỗi ngày chỉ có năm xu đồ ăn".

Những lời lẽ trên đây, là lời trích lục bản báo cáo của Mao Trạch Đông gửi Trung ương ngày hai mươi lăm tháng mười năm 1928. Bản báo cáo này có tên là "Việc đấu tranh tại Tỉnh Cương Sơn", cũng là một văn kiện nổi tiếng.

Phàm những Hồng quân có tham gia cuộc chiến đấu tại Tỉnh Cương Sơn, đều đã vượt qua những tháng năm gian khổ như thế đó. Khi Mao Trạch Đông viết bản báo cáo này, thì Đàm Chánh đang làm thư ký tại Đảng ủy tiền phương.

Lúc đó, Tỉnh Cương Sơn đang ở vào mùa đông, đời sống rất khắc khổ. Thông thường, bộ đội vừa đánh giặc, Mao Trạch Đông vừa ngồi viết. Bộ đội di chuyển tới một địa phương, thì ông đã viết được một phần. Sau khi viết xong một phần, Đàm Chánh lại dùng chữ của mình, chép sạch lại. Có khi, Mao Trạch Đông viết nửa chừng, bỗng dừng bút, bước tới gian phòng bên ngoài, và ngồi xuống chiếc giường ngủ của Đàm Chánh, trao cho Đàm Chánh một điếu thuốc lá, và hai người hút từng hơi dài, để phấn chấn tinh thần, rồi cùng thảo luận vấn đề với nhau. Trong thời kỳ này, họ cùng chiến đấu chung một nơi, sinh hoạt chung một chỗ. Khi bộ đội dựng lều trại lộ thiên, thì một người ở phía trong, một người ở phía ngoài. Đàm Chánh bao giờ cũng ở phía ngoài, để lo giải quyết những chuyện sự vụ về hành chánh. Cho nên, những vấn đề gì họ cần thảo luận, họ đều bàn cãi với nhau một cách tự nhiên, không hề bị gò bó. Có một vấn đề khó hiểu, giải đáp không thông, Đàm Chánh thường đề xuất và thỉnh giáo nơi Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông đã kiên nhẫn giải thích cặn kẽ cho Đàm Chánh nghe.

Có một lần, Mao Trạch Đông và Đàm Chánh nói tới những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển và củng cố căn cứ địa cách mạng ở Tỉnh Cương Sơn, Mao Trạch Đông nói với Đàm Chánh:

— ... Đồng chí còn nhớ, sau khi bộ đội cách mạng công nông chiếm được Trà Lĩnh, thì không tiến hành công tác quần chúng, không tiến hành đánh thổ hào để gây quỹ, là sai lầm đó không? Họ không hiểu quân đội cách mạng công nông, ngoài đánh giặc tiêu diệt địch, còn phải đánh thổ hào, để gây quỹ và làm công tác quần chúng. Bảo đó là công việc của chính phủ địa phương, thì chính phủ cấp huyện mà ta thành lập lúc đó, rõ ràng là không làm hết trách nhiệm của mình. Họ vẫn theo nề nếp cũ của chính phủ Quốc dân đảng, là thu thuế, xử kiện, tức là những công việc quan liêu cũ kỹ, mà không chịu nói thay lời cho quần chúng, không ủng hộ quần chúng để làm mọi công việc. Vậy, không thất bại sao được? Nhưng có thất bại thì mới có thành công. Đồng chí tin lời nói đó không?

Đàm Chánh gật đầu, nhưng vẫn chưa hiểu một cách sâu sắc lời nói đó.

Mao Trạch Đông bèn giải thích thêm:

— Đồng chí còn nhớ cuộc khởi nghĩa trong dịp thu hoạch mùa thu, kéo quân đánh vào thị trấn, rồi còn chuẩn bị đánh cả Trường Sa, và đã bị thất bại, cho nên người nào người nấy đều thối chí, chán chường đó sao? Nếu không có sự thất bại đó, thì mọi người vẫn chưa nhận thức được, phương châm đánh thành thị lớn là một sai lầm. Cũng chính vì có sự thất bại đó, có trở lực to lớn đó, mới buộc chúng ta phải lên Tỉnh Cương Sơn. Đồng chí bảo có phải không?

Đàm Chánh nghĩ thầm: Lời nói của đồng chí Mao Trạch Đông thực là sâu sắc!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:12:36 pm

Mao Trạch Đông vừa hút thuốc, vừa hỏi Đàm Chánh:

— Nếu không có sự tổng kết việc quân đội cách mạng công nông đánh Trà Lăng, để sửa chữa những sai lầm của chính phủ mới thành lập ở đó, thì Đàm Chánh anh, có tiến hành được việc đánh thổ hào ở Toại Xuyên, và mang tiền về để làm quân phí đó không?

Tiếp đó, Đàm Chánh lại nêu ra hàng loạt vấn đề, và hai người cùng thảo luận. Kể từ ngày Đàm Chánh gia nhập Hồng quân, vẫn chưa bao giờ nhận được một sự giáo dục nào sâu sắc đến như thế này.

Ở trong nhà, Mao Trạch Đông và Đàm Chánh thảo luận vấn đề một cách say sưa, trong khi ở ngoài sân, thì những phiên gác của vệ binh đã thay đổi mấy lần.

— Ồ, trời đã sáng rồi!

Mao Trạch Đông vươn vai, còn Đàm Chánh thì vội vàng đi thu dọn mặt bàn, quét đi những bụi thuốc lá. Ngay lúc đó, bên ngoài bỗng có tiếng người nói lớn:

— Báo cáo!

Vệ sĩ trưởng dẫn theo một người ăn mặc theo lối nông dân. Trước tiên, vệ sĩ trưởng chào Mao Trạch Đông theo cách chào quân sự, rồi giới thiệu người "nông dân" đến với ngụ ý gì.

— Được rồi! Tôi đang muốn biết tình hình quân đội của Chu Đức và Trần Nghị, vậy hãy ngồi xuống cùng nói chuyện.

Đàm Chánh cũng có mặt, ngồi bên cạnh để ghi chép.

— Này, vệ sĩ trưởng, hãy mang tới cho tôi một ít thức gì ăn được không?

Mao Trạch Đông đã đón tiếp người liên lạc của Chu Đức và Trần Nghị phái tới một cách nồng nhiệt.

Người vệ sĩ trưởng bưng cháo nấu lẫn với bí ra.

— Hãy cùng ăn chung vậy!

Đàm Chánh, vệ sĩ trưởng cùng dùng cơm chung với Mao Trạch Đông và người khách. Mao Trạch Đông hỏi:

— ... Chu Đức, Trần Nghị và quân khởi nghĩa ở phía Nam Hồ Nam các anh sống ra sao? So với Tỉnh Cương Sơn này khá hơn không?

Người liên lạc đáp:

— Khi hai đồng chí Chu Đức và Trần Nghị dẫn số quân khởi nghĩa ở Nam Xương về phía Nam tỉnh Hồ Nam, lúc đầu tình hình rất khó khăn, rất nguy ngập. Nhưng về sau, khi phát động võ trang khởi nghĩa, tình hình bỗng khá hẳn lên. Chẳng những đoạt được nhiều súng ống, đạn dược của bộ đội quân phiệt, mà qua đánh thổ hào, mở được kho lương thực, nên Hồng quân đối với việc cơm ăn cũng không còn khó khăn nữa...

— Tình hình sau này lại diễn biến như thế nào nữa? - Mao Trạch Đông lại hỏi tiếp.

— Về sau, do đặc ủy ở phía Nam Hồ Nam theo chính sách sai lầm tả khuynh, giết người đốt nhà bừa bãi, làm cho bộ đội thoát ly với quần chúng cách mạng, nên ảnh hưởng tới sự phát triển của căn cứ địa cách mạng ở đây. Chu Đức, Trần Nghị bèn phái tôi đến liên lạc với Tỉnh Cương Sơn và chỉ huy nghĩa quân sau khi thất bại ở phía Nam Hồ Nam cùng di chuyển về phía Tỉnh Cương Sơn này.

Mao Trạch Đông nghe người liên lạc nói Chu Đức và Trần Nghị đang kéo bộ đội về Tỉnh Cương Sơn, vừa vui mừng lại vừa cuống quít. Ông bèn nói với khách:

— Cơm tuy không ngon, nhưng phải ăn no.

Bản thân Mao Trạch Đông chưa ăn xong bữa cơm, bèn hối Đàm Chánh phụ với mình lo việc tiếp đón.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:13:13 pm

Cuối tháng tư năm 1928, bầu trời trong sáng, hoa đỗ quyên nở rộ khắp nơi, làm cho cả vùng Tỉnh Cương Sơn đều đỏ rực. Ngày hai mươi tám tháng tư là một ngày không phải tầm thường. Ngày hôm nay, Mao Trạch Đông và Chu Đức gặp nhau tại thư viện Lung Thị. Đàm Chánh đứng một bên với đám đông, đưa mắt nhìn hai vị lãnh tụ vĩ đại, bắt tay nhau có tính cách lịch sử.

Năm 1929, Hồng quân bốn thắng trận liên tiếp, mở rộng được khu căn cứ địa cách mạng, xây dựng được lực lượng võ trang lớn mạnh hơn, khiến cho mọi người đều phấn khởi. Nhưng trong bộ đội của Hồng quân, lại bộc lộ rất nhiều khuynh hướng sai lầm. Những cuộc chiến đấu thất lợi, cứ lần lượt xuất hiện. Trong giờ phút quan trọng này, Mao Trạch Đông lại bị bệnh kéo dài chưa khỏi hẳn, tạm thời xa rời bộ đội, cùng vợ là Hạ Tử Trân ở tại Tô Gia Ba thuộc huyện Vĩnh Định.

Đàm Chánh cũng hết sức lo ngại cho tương lai của bộ đội Hồng quân.

Cuối tháng mười một năm đó, khu vực phía Tây tỉnh Phúc Kiến đã bước vào tiết đông lạnh. Cơ quan làm việc của quân ủy Hồng quân bốn, được đặt tại phủ Đinh Châu. Thư ký quân ủy là Đàm Chánh, đang ở trong một gian phòng tại đây. Bên ngoài mai đã bắt đầu chớm nở.

Đàm Chánh trước tiên tiếp đón Trần Nghị, một trong những người lãnh đạo quân bốn từ Thượng Hải về Đinh Châu. Trần Nghị nói đơn giản với Đàm Chánh:

— Lần này tôi đến Thượng Hải tìm Trung ương, báo cáo với đồng chí Châu Ân Lai tổng quát về tình trạng của quân bốn. Châu Ân Lai với tư cách là người phụ trách quân sự Trung ương, đã chỉ thị tôi phải mời đồng chí Mao Trạch Đông trở về quân bốn, để giữ nhiệm vự bí thư Đảng ủy tiền phương. Ngày mai tôi sẽ đi, vậy đồng chí hãy chuẩn bị để tôi đi tới Tô Gia Ba ở huyện Vĩnh Định, gặp đồng chí Mao Trạch Đông.

Kế đó, Trần Nghị lại giao nhiệm vụ cho Đàm Chánh, nói:

— Người đi không nên quá đông, chỉ cần một tiểu đội cảnh vệ là được rồi.

Đàm Chánh được biết Mao Trạch Đông sắp trở về Hồng quân bốn để chủ trì công tác Đảng ủy tiền phương thì trong lòng hết sức vui mừng. Trước mắt bao nhiêu vấn đề chồng chất trong bộ đội Hồng quân bốn rất cần đồng chí Mao Trạch Đông về để sắp xếp lại mọi công việc quan trọng.

Khi Trần Nghị dẫn một đội cảnh vệ đi hội kiến Mao Trạch Đông, thì Đàm Chánh bèn ra lệnh cho cán bộ ở phòng quản lý thu xếp cho hai vợ chồng Mao Trạch Đông và Hạ Tử Trân một gian phòng rộng rãi để ở. Đồng thời, nhanh chóng chuẩn bị tài liệu xây dựng đề cương báo cáo để phản ánh cho Mao Trạch Đông nắm được tình hình bộ đội, và từ đó sẽ có ý kiến về công tác chính trị trong bộ đội sắp tới.

Kể từ ngày khởi nghĩa mùa thu ở vùng biên khu Tương Dự, cũng như cuộc "cải biên ở Tam Loan" và cùng lên Tỉnh Cương Sơn để xây dựng căn cứ địa cách mạng, Đàm Chánh luôn theo sát Mao Trạch Đông. Hai người hoạn nạn có nhau. Nhất là khi Mao Trạch Đông giữ chức vụ bí thư Đảng ủy tiền phương tại Tỉnh Cương Sơn, và Đàm Chánh giữ chức thư ký của Đảng ủy tiền phương, thì việc Mao Trạch Đông xử lý hàng loạt những vấn đề phức tạp, rắc rối ở trong Đảng, cũng như ở ngoài Đảng, trong quân đội, cũng như ở ngoài quân đội, giúp cho Đàm Chánh học hỏi được rất nhiều. Đồng thời, đối với tất cả các hoạt động của Mao Trạch Đông đã lãnh đạo đấu tranh tại Tỉnh Cương sơn, Đàm Chánh cũng biết hết sức rõ ràng.

Lúc Mao Trạch Đông và Hạ Tử Trân lấy nhau đã cử hành hôn lễ một cách đơn giản. Đàm Chánh cũng là người có tham gia hôn lễ này. Trong những tháng năm khó khăn, họ không cử hành những nghi thức phiền toái, và càng không có bày tiệc để ăn uống. Lúc đó, Đàm Chánh với chức thư ký Đảng ủy tiền phương, đã giúp Mao Trạch Đông thu dọn hành lý, thu dọn sơ qua một gian phòng, để cặp vợ chồng mới ở, rồi mọi người cùng bày tiệc đơn giản chi đó, kể là xong.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:13:49 pm

... Mao Trạch Đông đã trở về.

Mao Trạch Đông và Hạ Tử Trân mỗi người cưỡi một con ngựa, đi đến vùng doanh trại của quân ủy hồng quân bốn. Chiến hữu được trùng phùng, ai nấy đều cảm thấy hết sức thân thiết.

Mao Trạch Đông đến để chủ trì công tác của Đảng ủy tiền phương, nên muốn biết rõ tình trạng thực tế của bộ đội. Trong khi Hạ Tử Trân đang thu dọn hành lý và Mao Trạch Đông vừa mới ngồi yên, thì đã bảo Đàm Chánh báo cáo tình hình cho ông nghe.

Đàm Chánh bèn nói thẳng tất cả những tư tưởng sai lầm trong bộ đội mà không hề che giấu. Ông đã nói một hơi:

— Trong cán bộ đang nảy sinh tư tưởng không chú ý xây dựng căn cứ địa ở vùng nông thôn, mà chỉ khư khư muốn chiếm lấy nhiều châu, nhiều phủ. Trong bộ đội đang xuất hiện tư tưởng hưởng lạc, không nói tới chính sách, không giữ kỷ luật, đi tới đâu thì bày ăn uống tới đó. Khi thu nhận không ra biên lai. Không trả tiền mặt để bồi thường khi làm hư hao tài sản của nhân dân. Càng tệ hơn nữa, là bắt đầu ngược đãi tù binh, lục ví của tù binh để lấy tiền, lại còn trêu chọc cả phụ nữ. Tóm lại, trong bộ đội đã xuất hiện tư tưởng "giặc cỏ" rất nghiêm trọng.

"Trong bộ đội Hồng quân bốn, có một số cán bộ lãnh đạo không bằng lòng sự lãnh đạo của Đảng, ở cơ sở không củng cố xây dựng chi bộ, và chỉ nói thao thao về dân chủ, về chủ nghĩa tự do, đại đội thì như một nắm cát rã rời.

"Họ có một tư tưởng đơn thuần quân sự, bảo là "quân sự tốt thì chính trị tự nhiên sẽ tốt", "bộ tư lệnh chủ trì đối ngoại", và bài xích những cán bộ làm công tác chính trị.

"Chủ nghĩa quân phiệt đang phát triển một cách nghiêm trọng. Cán bộ tùy tiện xử phạt binh lính, đánh đập binh lính, chủ trương xử bắn đào binh. Dưới sự ảnh hưởng của tác phong đó, lính cũ cũng bắt đầu ăn hiếp lính mới.

"... Với đủ thứ "bệnh tật" như vậy đang hoành hành trong bộ đội của Hồng quân bốn!

"Đó là một thứ bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm, nếu không đem hết sức ra phòng trị, thì bộ đội Hồng quân bốn sẽ mất đi sức chiến đấu".

— Ồ! Chỉ trong một thời gian ngắn mà trong bộ đội đã xuất hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng như thế!

- Mao Trạch Đông nói tiếp lời Đàm Chánh - Trước đây mấy hôm, trong cuộc hôi nghị mở rộng của Đảng ủy tiền phương đã có quyết định, chuẩn bị triệu tập đại hội đại biểu lần thứ chín của Đảng trong Hồng quân bốn. Trước khi đại hội khai mạc, xin đồng chí tổ chức giúp cho tôi một cuộc tọa đàm, bao gồm có nhiều loại cán bộ và chiến sĩ tham gia. Thời gian, địa điểm do đồng chí tự sắp xếp.

Lúc đó Hạ Tử Trân cũng bước tới, đứng bên cạnh, nghe Mao Trạch Đông sắp xếp thời dụng biểu làm việc. Mao Trạch Đông bèn nói với Đàm Chánh:

— Mở tọa đàm không phải gọi người ta tới quân ủy, mà phải xuống dưới các đại đội, trung đội của Hồng quân để mở. Người đến tham dự phải rộng rãi, có cán bộ, có chiến sĩ, có người chỉ huy quân sự, có đại biểu Đảng, có chiến sĩ làm công tác chính trị, và cũng phải có cả chiến sĩ hậu cần, các chiến sĩ lo hỏa thực. Phải gồm đủ tất cả các đại biểu, để có thể nghe được nhiều thứ ý kiến... Đến lúc đó, tôi hy vọng đồng chí sẽ cùng tôi đi tham dự. Vậy đồng chí nên có sự chuẩn bị trước.

Hạ Tử Trân tuy mới hai mươi tuổi, nhưng văn võ song toàn, bà rất quan tâm đến sức khỏe của chồng mới vừa khỏi bệnh. Nhân lúc Mao Trạch Đông bước đi vào một gian phòng khác, bà bèn dặn dò Đàm Chánh:

— Đồng chí chắc biết rõ tính nết của Mao Trạch Đông. Khi ông ấy làm việc, thì bất kể chi tới sức khỏe, không có ngày mà cũng không có đêm Vậy đồng chí nên quan tâm đến ông ấy một tí.

Đàm Chánh lớn hơn Hạ Tử Trân ba tuổi, không biết xưng hô với bà ta bằng gì, bèn nói:

— Chúng ta đều là người cùng quê Hồ Nam. Cho nên tập quán sinh hoạt của đồng chí ấy tôi biết rất rõ, vậy xin đồng chí hãy an tâm.

Trước khi Đàm Chánh rời đi, Mao Trạch Đông lại dặn dò Đàm Chánh:

— Còn có việc này, đồng chí có thể tìm đồng chí La Vinh Hoàn đến quân ủy được không? Xin đồng chí và La Vinh Hoàn giúp cho tôi một tay, làm một số công tác điều tra nghiên cứu, cũng như giúp tôi khởi thảo dự thảo quyết nghị cho đại hội lần thứ chín của Hồng quân bốn.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:14:33 pm

Mao Trạch Đông trở lại Đảng ủy tiền phương của hồng quân bốn công tác được một tháng, thì Cổ Điền đang ở vào mùa đông giá rét. Trên đồng ruộng có kết một lớp băng mỏng, và thỉnh thoảng tuyết lại bay lất phất. Mao Trạch Đông ở trong một ngôi nhà giành riêng cho mình, các đại biểu đến để tham dự đại hội Đảng của Hồng quân bốn, cùng vây quanh lò sưởi tạm để báo cáo, phân tích, nghiên cứu và thảo luận với ông tất cả những tư tưởng và khuynh hướng sai lầm.

— Các đồng chí đã nêu lên những vấn đề đó, thì mọi người hãy cùng nhau phân tích những căn nguyên của những tư tưởng sai lầm đó, cũng như sự nguy hại của nó, rồi mọi người cùng đề xuất biện pháp để giải quyết! - Mao Trạch Đông dùng giọng nói Hồ Nam của mình, để đặt ra yêu cầu trước các đại biểu.

— Mọi người nói rất hay. Thảo luận như vậy, chỗ nào sai lầm? Chỗ nào đúng đắn, tất nhiên chúng ta đều rõ cả! - Sau khi trải qua thảo luận Mao Trạch Đông dùng mấy câu nói để xem như kết luận buổi tọa đàm.

Công tác trù bị cho đại hội đại biểu Đảng lần thứ chín của Hồng quân bốn đang được tiến hành khẩn trương. Mao Trạch Đông giữ Đàm Chánh ở lại, giao cho nhiệm vụ, nói:

— Này đồng chí Đàm Chánh, trong thời gian gần đây, khi đi xuống bộ đội để điều tra, để triệu tập cán bộ dự tọa đàm, đồng chí đều có tham gia cả. Vậy đồng chí thấy cần gom các vấn đề mà mọi người đã vạch ra, cũng như các biện pháp mà mọi người đã đề xuất, thêm vào ý kiến của đồng chí, chỉnh lý nó thành tài liệu, rồi chia ra từng loại một mà quy nạp được không? Ta phải tranh thủ kỳ đại hội đại biểu Đảng lần thứ chín này để đưa ra nghị quyết thì bộ đội mới có thể quán triệt được đấy.

Việc Đàm Chánh giúp Mao Trạch Đông khởi thảo các văn bản, đâu phải chỉ có ở nghị quyết của hội nghị Cổ Điền này thôi? Lần này, cũng như mọi lần trước, Đàm Chánh đã tập trung tất cả ý kiến qua tọa đàm, qua điều tra, rồi chỉnh lý nó thành tài liệu hoàn chỉnh. Cứ mỗi lần điều tra thì từng xấp tài liệu một, được Đàm Chánh sắp xếp trật tự rõ ràng, và để ngay ngắn trên bàn viết, trong phòng ngủ của Mao Trạch Đông.

Đại hội đại biểu Đảng lần thứ chín của Hồng quân bốn đã khai mạc một cách thuận lợi. Đây chính là "Hội nghị Cổ Điền" trứ danh trong lịch sử quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đàm Chánh đã có mặt tại cuộc hội nghị đại biểu này với tư cách là đại biểu chính thức, và giơ tay thông qua nghị quyết.

Ngày hai mươi ba tháng giêng năm 1942, Mao Trạch Đông trong thư gửi cho Đàm Chánh có nói:

"Hãy cho in nghị quyết của đại hội lần thứ chín Hồng quân bốn thành mấy nghìn bản, rồi gửi đến tận các bộ đội bảo vệ căn cứ, các bộ đội ở vùng Tây Bắc Sơn Tây, và gửi đến tận cấp đại đội trưởng. Cứ mỗi người giữ một bản, và viết một tờ thông tri, bảo họ phải học thuộc lòng như là bài học (cán bộ các cấp đều học thuộc lòng).

Nghị quyết "Hội nghị Cổ Điền" là tư tưởng chỉ đạo công tác chính trị trong quân đội, cũng như việc xây dựng Hồng quân, đó là một văn kiện mang tính lịch sử rất trọng đại.

Năm 1942, toàn Đảng đã tiến hành chỉnh phong.

Năm đó, là một năm mất mùa. Từ biên khu Thiểm Cam Ninh đến các căn cứ kháng Nhật trong toàn quốc, việc thu lương thực không nhiều. Thêm vào đó, quân Nhật lại thi hành chính sách "ba sạch" (tức đốt sạch, giết sạch, giật sạch") cũng như sự phong tỏa của phái ngoan cố của Quốc dân đảng, khiến Đảng Cộng sản Trung Quốc phải động viên toàn quân, toàn dân trong biên khu, tiến hành một phong trào sản xuất lớn.

Lúc đó, vở kịch dân ca "Huynh muội khai hoang", "Quân dân đại sinh sản", cũng như Quách Lan Anh đã diễn xướng bài "Nam Nê Loan", đều là sản phẩm do phải khắc phục khó khăn về tài chính mà có.

Trong phong trào sản xuất tại Diên An, Đàm Chánh cũng thường dẫn cán bộ ở cơ quan Tổng cục Chính trị đi lên núi khai hoang, và thường đến Nam Nê Loan, để kiểm tra công tác sản xuất của lữ 386 do Vương Chấn chỉ huy. Vương Chấn cũng thường nói đùa với Đàm Chánh:

— Nếu các đồng chí ở Bộ Chính trị ăn không no, thì có thể đến Nam Nê Loan, vùng Giang Nam của chúng tôi đây mà "tránh đói“!


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:15:48 pm

Trong khi tình hình khó khăn về kinh tế bắt đầu tạm thời khá lên, thì Mao Trạch Đông lại suy nghĩ và tìm ra cách giải quyết một số vấn đề xuất hiện trong quân đội.

Vấn đề chủ yếu trong quân đội là chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa giáo điều.

Trong khi vùng phía Bắc Thiểm Tây đang giá rét, bên ngoài những nhà hang, cát vàng theo gió Tây Bắc cuốn bay mù mịt, nhìn không thấy trời, mà cũng không thấy đất, chỉ thấy từng cụm bụi đất vàng bay tung theo gió, Mao Trạch Đông đang ở trong nhà hang, vẫn để tóc dài, mặc một bộ áo bông cũ có vá vài chỗ, chân mang một đôi giày bông, đang chắp tay ra sau lưng đi tới đi lui trên mặt đất. Ông đang suy nghĩ quyết sách chiến lược gì, hay là chờ đợi ai sẽ đến?

Từ phía xa có một người mặc quân phục màu xám, kiểu Bát lộ quân, đi giữa gió cát tung bay mịt mù, nhắm hướng nhà ở của Mao Trạch Đông đi tới. Người đó chừng ba mươi bảy, ba mươi tám tuổi, thân hình không cao, dáng đi nho nhã. Phía sau người đó không có vệ sĩ, nhưng khi cảnh vệ của Mao Trạch Đông đang gác trước cửa, thấy người đó đi tới thì không chặn lại chất vấn gì, mà còn đưa tay lên chào kiểu nhà binh, rồi cho phép ông ta đi vào.

Người mà Mao Trạch Đông chờ đợi đã tới. Mao Trạch Đông mỉm một nụ cười rất tự nhiên, để nghênh đón vị khách.

— Xin mời ngồi, đồng chí Đàm Chánh!

— Vâng!

Mao Trạch Đông và Đàm Chánh ngôi quanh một cái chậu có than cháy đỏ, rồi bắt đầu nói chuyện với nhau.

Lửa trong chậu cháy đỏ rực, làm ấm cả gian nhà hầm, và ấm cả lòng của người đang nói chuyện. Họ đang trao đổi nhau về vấn đề xây dựng quân đội, để cho lực lượng quân sự mạnh hơn lên, trong giai đoạn chuyển biến của lịch sử, là trước khi đại phản công trong cuộc kháng chiến chống Nhật.

— Này đồng chí Đàm Chánh, không rõ đồng chí có nghĩ đến không, trong cuộc hội nghị chỉnh phong của liên khu Thiểm Cam Ninh, cán bộ cao cấp của Đảng, chánh, quân, dân, đã vạch ra và phê bình mấy vấn đề nghiêm trọng của quân đội. Nhất là bản thân quân đội có khuynh hướng chủ nghĩa quân phiệt, và những căn bệnh trầm kha khác như các thứ mâu thuẫn giữa sĩ quan và binh sĩ, giữa quân đội và nhân dân...

Đàm Chánh cúi đầu không nói gì, trong lòng ông đang tự trách là mình đã không hoàn thành được trách nhiệm công tác chỉ huy ở tuyến một.

— ... Báo cáo của đồng chí trong hội nghị kiểm thảo cán bộ cao cấp quân đội, về mặt khuynh hướng chủ nghĩa quân phiệt, tôi có xem qua, và thấy phương châm và yêu cầu sửa đổi đều rất tốt... Thông qua đại hội kiểm tra dân chủ đã vạch rõ, từ đó công việc sửa chữa đã có hiện tượng tốt hơn. Đã khôi phục được tinh thần thân ái, đoàn kết trong quân đội, xóa được tâm lý bất mãn, phát huy được tính tích cực của sĩ quan và binh sĩ, nâng cao sức chiến đấu, để sẵn sàng nghênh đón cao trào đại phản công sắp tới nơi.

— Thưa Chủ tịch phải đấy! Về mặt lãnh đạo chính trị trong quân đội, tôi có nhiều thiếu sót. Trong công tác chỉ thấy một chiều, chỉ thấy một khuynh hướng xuất hiện. Chỉ có thể suy nghĩ cách giải quyết và điều chỉnh một khuynh hướng nào đó, mà chưa thể trông thấy mối tương quan giữa khuynh hướng này với khuynh hướng khác, cũng như chưa thấy được căn nguyên của sự sai lầm.

Qua gợi ý của Mao Trạch Đông, Đàm Chánh bắt đầu suy nghĩ đến các vấn đề, trong các mặt công tác chính trị trong quân đội.

— Nhưng, này đồng chí Đàm Chánh, đồng chí chớ nên cảm thấy mình bị áp lực - Mao Trạch Đông nói tiếp - Công tác quân đội, có một thời gian tôi nắm không đủ. Vậy, nếu bảo trong công tác chính trị, có xuất hiện sự lệch lạc nào đó, thì người quyền chủ nhiệm Tổng cục chính trị như tôi, chịu trách nhiệm trước nhất. Đồng chí nghĩ có phải không?

Hai người nói chuyện tình cảm rất dạt dào, và cả hai đều nở một nụ cười.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:16:24 pm

— Này, đồng chí Đàm Chánh, đồng chí còn nhớ cây gậy đánh đít ở trên Tỉnh Cương Sơn, định đánh vào đít đồng chí Trần Bá Quân đó không?

— Còn nhớ, lần đó, tôi còn nghĩ là đồng chí Trần Bá Quân sẽ bị đánh vào đít thật sự rồi đấy chứ?

— Nói thì nói thế, chứ làm sao có thể đánh thật được? - Mao Trạch Đông nói tiếp – Điều đáng mừng, là thông qua phong trào chỉnh phong, phong trào dân chủ đã vạch trần được những vấn đề ra, nên những khuyết điểm trong công tác của chúng ta, cũng được sáng tỏ. Đó là chuyện tốt, đó là một thu hoạch lớn của phong trào chỉnh phong. Phong trào dân chủ trong bộ đội đã bắt đầu khai triển, những khuynh hướng sai lầm đều bộc lộ cả ra. Điều đó, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức nó, giải quyết nó. Đồng chí thấy đó, không phải là một chuyện hay, to bằng trời đấy sao?

— Phải đấy! - Đàm Chánh như bừng tỉnh ra.

— Nếu vậy, thì đồng chí Đàm Chánh này, đồng chí hãy đi làm một số công tác chuẩn bị, như chỉnh lý những ý kiến được nêu ra đối với quân đội trong phong trào chỉnh phong, cũng như trong hội nghị cán bộ cao cấp, rồi triển khai phong trào dân chủ trong quân đội, để vạch trần những sai lầm trong các cấp lãnh đạo trong bộ đội. Đồng chí nên dẫn theo mấy cán bộ cơ quan thâm nhập vào bộ đội để điều tra nghiên cứu, viết thành báo cáo, đề xuất biện pháp cải tiến.

— Ồ! Các đồng chí bàn bạc với nhau xem ra thật đầy nhiệt tình!

Châu Ân Lai đã đến chỗ Mao Trạch Đông ở. Mao Trạch Đông, Đàm Chánh đều đứng lên bắt tay Châu Ân Lai. Mao Trạch Đông nói với Châu Ân Lai:

— Tôi và đồng chí Đàm Chánh đang trao đổi với nhau, để đồng chí ấy khởi thảo "Báo cáo về vấn đề công tác chính trị trong bộ đội", để báo cáo trước đại hội cán bộ cao cấp của Cục Tây Bắc, từ đó giải quyết những vấn đề lịch sử, mà bộ đội đã bộc lộ ra trong thời kỳ lịch sử này!

— Tôi rất tán thành. Tôi cũng chính vì vấn đề đó mà tới đây. Này đồng chí Đàm Chánh, trong bản dự thảo báo cáo của đồng chí, có thể dựa theo nghị quyết của "Cổ Điền hội nghị" tại đại biểu đại hội lần thứ chín của Đảng trong Hồng quân bốn năm 1929, mà khởi thảo. Cần phải phân tích các hiện tượng, sự nguy hại và nguyên nhân của các tư tưởng sai lầm, và còn phải đề ra phương châm và yêu cầu sửa chữa. Như vậy, thì mới hình thành được nghị quyết có tính lịch sử, như nghị quyết của "Hội nghị Cổ Điền".

Châu Ân Lai phụ họa theo lời của Mao Trạch Đông, và bổ sung một số chỉ thị về vấn đề này.

— Đúng vậy! Đừng có gấp gáp quá, mà cần phải tốn một số thì giờ để suy nghĩ cho kỹ. Trước tiên, nên viết một bản dự thảo, rồi trưng cầu ý kiến nhiều mặt, sửa chữa nhiều lần, thì sẽ thành công. Đồng chí Châu Ân Lai chủ trì công tác ở Ban bí thư Trung ương, khi bản thảo viết xong, thì đưa cho đồng chí Châu Ân Lai thẩm định trước, rồi trao cho Ban bí thư thảo luận.

— Không được! Này đồng chí Đàm Chánh, khi bản thảo viết xong, nên mời đồng chí Chủ tịch tu sửa trước, rồi mới đưa sang Ban bí thư - Châu Ân Lai vội vàng tiếp lời Mao Trạch Đông và nói tiếp - Nếu "Báo cáo vấn đề công tác chính trị trong bộ đội" do đồng chí Đàm Chánh khởi thảo, và xác định do đồng chí Đàm Chánh viết bản báo cáo này, thì tôi xin đi trước, để các đồng chí tiếp tục bàn vậy.

Đàm Chánh tiếp nhận nhiệm vụ viết "Báo cáo về vấn đề công tác chính trị trong bộ đội", cảm thấy trách nhiệm rất nặng nề. Ông đề xuất với Mao Trạch Đông nhiều vấn đề khác, và cùng thương thảo với Mao Trạch Đông mọi quyết sách. Sau khi Châu Ân Lai ra về, Mao Trạch Đông lại tiếp tục cùng bàn với Đàm Chánh nhiều vấn đề khác.

Than hồng trong chậu than đã dần dần biến thành tro trắng, Đàm Chánh lấy kẹp lửa để kẹp than, rồi hai người lại ngồi xuống nói chuyện.

— Đồng chí Đàm Chánh này, đồng chí đang nghĩ gì thế? - Mao Trạch Đông lên tiếng trước - Tại sao tâm trạng bỗng biến thành tư lự?

— Thưa Chủ tịch, những vấn đề mà chúng ta thảo luận hôm nay, khiến tôi nhớ lại mười ba năm trước, tức năm 1929, cũng vào một mùa đông, hai đồng chí chúng ta ngôi quây quần bên chậu than hồng để nói chuyện. Chúng ta đã nói suốt cả ngày, rồi lại nói suốt luôn cả đêm. Về sau, đồng chí đã chấp bút khởi thảo và tôi đã chép sạch lại bản thảo đó, để trở thành nghị quyết của "Hội nghị Cổ Điền", bảo đảm cho Hồng quân phát triển lớn mạnh lên, lại xây dựng được cục diện mới qua kháng chiến như ngày hôm nay. Ôi! Quả là không phải dễ!

— Tôi cũng nhớ lại tình hình ở Cổ Điền tại Phúc Kiến thuở đó. Hai đồng chí chúng ta lại nghĩ về một vấn đề rồi.


Tiêu đề: Re: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2023, 01:18:02 pm

Người cảnh vệ đã đưa cơm tới.

— Hãy ăn một tí đã, nếu nói chuyện không thì bụng rỗng đấy! - Mao Trạch Đông nói một cách dí dỏm.

— Có món gì ăn ngon không? - Đàm Chánh vừa bước tới bàn vừa hỏi.

— Ngon lắm! Ngon lắm! Ớt xào khổ qua, đó là món ăn quê hương của chúng mình - Món Hồ Nam. - Mao Trạch Đông gắp một miếng thức ăn vừa bỏ vào miệng nhai vừa nói.

— Bây giờ đang giữa mùa đông giá rét, làm sao lại có khổ qua?

— Chẳng phải là những thành quả thu hoạch được trên miếng đất trồng rau quả của chúng ta sao? Mùa thu chúng ta đã hái, và lão Vương đầu bếp đã cất nó vào hầm đất. Ông ấy biết có người quê hương Hồ Nam tới kia mà, nên đã xào món này cho chúng ta ăn! - Mao Trạch Đông trả lời câu hỏi của Đàm Chánh.

— Khi chúng ta bắt tay làm việc thì sẽ ăn no mặc ấm mà! - Đàm Chánh lặp lại ý của Mao Trạch Đông.

— Điều kiện lịch sử đã thay đổi rồi! Tình hình đã khác rồi, đồng chí Đàm Chánh ạ! - Mao Trạch Đông lại nói tiếp - Nếu cần dựa vào tình hình thay đổi của lịch sử để giải quyết vấn đề xuất hiện lúc bấy giờ, thì danh từ triết học gọi là thực sự cầu thị, vậy đồng chí còn nhớ không? Năm 1929, chúng ta có thảo luận qua vấn đề của Hồng quân bốn, là giải quyết tư tưởng không trọng thị việc xây dựng căn cứ địa, mà chỉ nhằm quan điểm quân sự đơn thuần, và tư tưởng "giặc cỏ". Và đã quét sạch chủ nghĩa quân phiệt cũ trong quân đội. Bây giờ chẳng những phải tiếp tục khắc phục khuynh hướng chủ nghĩa quân phiệt, mà còn phải giải quyết mối mâu thuẫn chủ yếu đang căng thẳng giữa sĩ quan và binh sĩ. Có người khi được làm quan, thì không còn nghĩ tới nỗi nhọc nhằn của binh sĩ nữa. Binh sĩ đề xuất ý kiến, thì bị họ áp chế dân chủ, đả kích để trả thù.

Dừng lại một chốc, Mao Trạch Đông lại tiếp tục nói:

— Ngoài ra, trong thời kỳ ở Tỉnh Cương Sơn, khi mở đầu, chúng ta không biết phát động quần chúng, và cũng không duy trì kỷ luật bộ đội, làm cho mối quan hệ giữa bộ đội và quần chúng xấu đi, dẫn tới không có lương thực để ăn, đồng chí còn nhớ không? Hai chúng ta ngày ngày cùng ngồi trong phòng húp canh bí rợ đó?

— Còn nhớ! Lúc đó suốt đêm viết văn chương, nếu được uống một tô canh bí rợ có vị mặn, là đã cảm thấy quý rồi!

— Vừa thiếu lương thực, lại vừa thiếu muối nữa!

- Mao Trạch Đông nói tiếp - Còn bây giờ, hai chúng ta ăn gì đây? - Mao Trạch Đông dùng đôi đũa gõ nhẹ lên miệng chén, nói tiếp - Bây giờ chúng ta ăn tiểu mễ (gạo kê). Đồng chí nghĩ, nếu chúng ta không quan tâm tới quần chúng, không phát động bộ đội khai hoang sản xuất, thì chúng ta có được áo ấm cơm no như thế này không?

— Hả hả! - Đàm Chánh cười to, Mao Trạch Đông cũng cười to - Cho nên, báo cáo của đồng chí tại hội nghị cao cấp lần này, chẳng những phải giải quyết mối tương quan giữa sĩ quan và binh sĩ, mà còn phải giải quyết mối tương quan giữa dân và quân, cần phải kiểm thảo mối tương quan giữa quân đội và dân địa phương, cũng như chính phủ địa phương...

Đàm Chánh và Mao Trạch Đông bắt tay từ biệt.

Mao Trạch Đông đưa Đàm Chánh ra cửa. Chừng như nghĩ ra được việc gì, bỗng ông đứng lại trước sân, hỏi Đàm Chánh:

— Đồng chí năm nay được bao nhiêu tuổi rồi?

— Ba mươi tám tuổi rồi - Đàm Chánh trả lời, nhưng không hiểu tại sao Mao Trạch Đông lại hỏi đột ngột thế.

— Khổng Phu Tử có nói "Tam thập nhi lập", còn đồng chí thì là người đã sắp bốn mươi rồi, vậy cần phải sớm "lập" đi?

— Ồ! - Đàm Chánh tưởng Mao Trạch Đông khích lệ mình lo khởi thảo "Báo cáo vấn đề công tác chính trị trong bộ đội", nên chỉ "ồ" một tiếng để đáp lại, chứ không biết phải nói gì. Nhưng Mao Trạch Đông đã dùng ngón tay trỏ bên phải, viết vào lòng bàn tay trái, cho nên Đàm Chánh phải đứng lại để chờ xem Mao Trạch Đông muốn hỏi gì.

— Đồng chí có nhớ tên cũ của đồng chí là Đàm Thế Danh không? Và đồng chí có chú ý, cái tên hiện giờ - Đàm Chánh không? - Mao Trạch Đông lại hỏi.

— Chuyện đó tôi không để ý lắm.

— Đồng chí hãy đếm xem hai chữ Đàm Chánh có tất cả bao nhiêu nét?

Đàm Chánh cũng dùng một ngón tay viết lên lòng bàn tay để đếm nét chữ, và đáp:

— Hai mươi tám nét!

— Nếu thế đồng chí hãy đếm ba chữ "Mao Trạch Đông", tên tôi, có bao nhiêu nét?

Đàm Chánh lại dùng ngón tay viết lên lòng bàn tay để đếm nét ba chữ "Mao Trạch Đông" rồi đáp:

— Cũng hai mươi tám nét!

— Hai chúng ta đã từng ở Tỉnh Cương Sơn, rồi cùng trường chinh đến tận Diên An. Trước sau đã sống và làm việc với nhau ngoài mười lăm năm rồi. Có lẽ đồng chí không bao giờ nghĩ tới những số nét chữ hết sức giản dị đó chứ? Thôi được, hai mươi tám nét đó không phải bình thường đâu nhé!

Đàm Chánh đứng yên chờ nghe Mao Trạch Đông giảng giải thêm:

— Đồng chí xem chứ "cộng" trong Đảng Cộng sản và chủ nghĩa Cộng sản không phải là hai mươi tám nét đó sao? (chữ cộng theo chữ Hán, nếu tách ra thì phía trên là chữ hai mươi, và phía dưới là chữ tám).

— Như vậy, chúng ta đều là họ “Cộng” cả. Khi đã làm người Đảng viên Cộng sản thì ai cũng tin vào chủ nghĩa Cộng sản và phải đấu tranh thực hiện chủ nghĩa Cộng sản đó!

… Với một chữ “Cộng”, đã gắn chặt Đàm Chánh và Mao Trạch Đông lại làm một!


HẾT TẬP I