|
Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:09:04 am Tên sách: Tiếng súng 40 năm - Hồi ký (Kỷ niệm 40 năm toàn quốc kháng chiến)
Nhà xuất bản: Hà Nội Năm xuất bản: 1986 Số hóa: macbupda Biên tập : LÊ BẦU Biên tập : TRẦN NGỌC QUÝ Trình bày : NGUYỄN HUỲNH MAI Sửa bản in : LÊ BẦU Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:11:24 am HÀ NỘI TRƯỚC VÀ SAU GIỜ NỔ SÚNG Trung tướng TRƯƠNG CÔNG CẨN Sau Tết Bính Dần, vài chục anh chị em vốn là cán bộ chiến sĩ trung đoàn Thăng Long, tổ chức họp mặt, cùng ôn lại quãng ngày chiến đấu bảo vệ Thủ Đô với hy vọng sẽ giúp dựng phần đầu cuốn sử của Trung đoàn. Đã hẹn, đã chờ đợi ngày hẹn, thế rồi vẫn bàng hoàng xúc động lặng nhìn nhau không nói được với nhau những lời chào hỏi tình cảm nhất như từng người đã dự định. Nhiều giọt nước mắt lăn trên má không chỉ những người từng được gọi là "các cô em gái của Trung đoàn". Bốn mươi năm không phải ngắn ngủi với đời một con người càng không phải ngắn đối với đời những người lính "3 thời kỳ" như nhiều anh chị em chúng tôi trong cuộc họp. Giờ đây địa vị xã hội, hoàn cảnh công tác, cuộc sống riêng tư, sức khỏe, tuổi tác từng người chúng tôi không giống nhau. Đôi ba anh chị em đã gánh chịu những éo le của số phận. Song những cách biệt ấy tiềm ẩn một sức mạnh gắn bó chúng tôi như những năm còn trai trẻ. Chúng tôi ôn lại đủ mọi thứ chuyện: chiến đấu, riêng tư… trong tiếng cười vui thoải mái tâm tình. Câu chuyện giữa chúng tôi trầm xuống phảng phất không khí thiêng liêng, khi chúng tôi nhắc đến những đồng chí đã hy sinh. Tiễn đưa một số anh em ra về, đi qua các đầu ô, trong cái rét ngọt còn vương hương vị Tết, tôi nhớ không khí của Hà Nội những ngày trước và sau giờ nổ súng. Cuối năm 1945, như mọi chiến sỹ giải phóng quân đắm mình trong khí thế bừng bừng chống bọn thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, tôi lại xin Bộ chỉ huy khu XI, còn gọi là khu đặc biệt Hà Nội, được lên đường Nam tiến. Nhưng rồi tôi nhận được quyết định: về khu bộ phụ trách phòng chính trị. Bâng khuâng, tôi tạm biệt các đồng chí tiểu đoàn 101 – sau này là tiểu đoàn 54 thuộc trung đoàn Thủ đô – Tiểu đoàn 101 là một bộ phận của "công nhân xung phong đoàn" thành Hà Nội, thêm đại đội Mộng–Hùng quân giải phóng thuộc chi đội Quang Trung từ chiến khu về. Từ những buổi đầu tiên "Hà Nội đỏ sao cờ" tôi đã là người lính của đơn vị đang giữ nhiệm vụ bảo vệ khu vực Bắc Bộ phủ nơi làm việc của Cụ Hồ và Chính Phủ dân chủ cộng hòa của nước việt Nam. Từ đơn vị này, tôi được anh em bầu dần lên từng cấp: tiểu đội, trung đội, đại đội, cuối cùng được cấp trên cử làm chính trị viên tiểu đoàn ngay tại chính đơn vị đã nhận tôi vào đội ngũ. Khi tôi về phòng chính trị, khu bộ khu XI đóng trong trại vệ quốc đoàn Trung ương giữa phố Hàng Bài trước cửa rạp Ma-jes-tic một rạp chiếu bóng sang trọng bậc nhất Hà Nội. Ở giữa lòng Hà Nội, hàng ngày Bộ chỉ huy khu, ngoài các nguồn tin được thông báo, còn tận mắt chứng kiến không ít sự kiện căng thẳng. Choáng váng sửng sốt trước tin cách mạng tháng 8 đã nổ ra thành công nhanh chóng ở Hà Nội, Xanh-tơ-ny tên cáo già thực dân Pháp chỉ huy "phái bộ 5" đại diện cơ quan tham mưu quân đội Pháp ở bên cạnh Bộ tham mưu Đồng Minh ở Côn minh (Vân Nam Trung Quốc), cầu xin được "bám càng" máy bay Mỹ liều lĩnh đến Hà Nội chiều ngày 22-8-1945. Bắc bộ đang lụt to, đêm 24-8-1945 đê Đông Lao ở Hà Đông vỡ! Bức điện đầu tiên, y báo cáo về cấp trên của y đóng ở Săng-đéc-ma-go thuộc địa cũ của Pháp ở Ấn Độ: "Tôi thấy Hà Nội chỉ treo toàn cờ Việt Minh" Y không biết nạn đói khủng khiếp vừa làm chết 2 triệu người ở miền Bắc, nạn đói mới càng đe dọa chúng ta? Y không biết chính quyền ta còn non trẻ gần như trắng tay với bao nhiêu khó khăn chồng chất? nhưng cái làm cho y sợ nhất, lo lắng nhất: "lá cờ đỏ sao vàng". Trong cuộc đời, có những giờ phút làm cho con người ta vụt lớn hẳn lên. Hà Nội ngày Tổng khởi nghĩa cờ đỏ đỏ rực phố phường Hà Nội đón Cụ Hồ và đoàn quân giải phóng ở chiến khu về. Hà Nội đêm trung thu đầu tiên ở Hồ Gươm, cùng tiếng trống ếch khắp nơi. Hà Nội ngày Tuyên ngôn Độc lập ở Ba Đình. Hà Nội ngày tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử đất nước. Hà Nội ngày phản đối quân đội Pháp xâm lược Sài Gòn với một cuộc biểu tình khổng lồ hơn 1.000.000 người! Hà Nội tiễn đưa con em mình Nam tiến v.v… Hà Nội – Thủ Đô đã vụt lớn lên gấp bội cả tầm cao và sức mạnh. Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ cùng một lúc có nhiều kẻ thù như năm 1945 – 1946. 23-9-1945 quân đội Anh giúp quân đội Pháp đánh chiếm lại Sài Gòn. Hà Ứng Khâm, Tổng tham mưu trưởng quân đội Tàu Tưởng, chớp thời cơ này bay sang Hà Nội thực hiện kế hoạch lật đổ ta, đưa bọn "Việt Quốc" "Việt Cách" lên nắm chính quyền. Nhưng trước sức mạnh đoàn kết, ý chí quyết không chịu làm nô lệ một lần nữa, Khâm ta đành chịu giao thiệp với chính quyền ta, để rồi tiếp tục thực hiện kế hoạch đó bằng thủ đoạn khác. Tại các cuộc họp của ban cán sự Đảng quân khu Hà Nội – tôi là một ủy viên – chúng tôi được đồng chí Trần Độ bí thư Ban cán sự, chính trị ủy viên khu phổ biến các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Tôi nhớ nhất, sau khi phân tích âm mưu từng kẻ thù Anh, Pháp, Mỹ, Tưởng, mâu thuẫn giữa chúng, những thắng lợi và khó khăn của ta, Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh Pháp là kẻ thù chính, Pháp sẽ tìm mọi cách chiếm lại Đông Dương, điều mà Đảng ta đã nói trong nghị quyết ngày 13-8-1945 quyết định tổng khởi nghĩa toàn quốc: phải biết lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù mà tồn tại và phát triển; cách duy nhất để chống lại được âm mưu của kẻ thù là dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân phải gấp rút xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang… Để động viên quân khu, tôi nhớ có lần anh Độ đã mời anh Lê Đức Thọ bí thư xứ ủy Bắc Kỳ xuống dự họp Ban cán sự Đảng. Trong 2 lần đó sau khi phân tích nghị quyết của Đảng, anh Lê Đức Thọ đã nói: "Nền độc lập mới giành được có thể bị thủ tiêu, nguy cơ nhân dân ta phải sống lại cuộc đời nô lệ là một nguy cơ có thật. Thực tế chứng tỏ giữ chính quyền còn khó hơn giành chính quyền. Cần nói rõ điều đó với anh em bộ đội và nhân dân…". Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:14:32 am Chiều chiều, nhiều người dân Hà Nội quây chung quanh các bản tin cuối cùng được dán trước các báo "Cờ Giải phóng", "Cứu Quốc", "Dân Thanh", "Đông Pháp"… Tại miền Nam lúc này, quân Pháp đã vào Nha Trang, tiến lên Đà Lạt. Từ rừng rậm biên giới Việt Trung, Việt Lào, bọn tàn binh Pháp thua trận ngày 9-3-1945 đã bò ra chiếm thị xã Lai Châu rồi về Sơn La. Bọn "Việt Quốc", "Việt Cách" "bám chân" 20 vạn quân Tàu Tưởng, chiếm một số thị xã thị trấn Lào Kay, Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái.
Bọn Tưởng đã ép chúng ta nhượng cho "Việt Quốc" "Việt Cách" 72 ghế trong quốc hội không qua bầu bán gì. Bọn "Việt Quốc", "Việt Cách" cướp của, giết người, tống tiền, bắt cóc… Nhân dân Hà Nội rất căm tức, khinh bỉ chúng. Bọn lãnh tụ của chúng đi đâu, đều có 2 tên vệ sỹ nằm dài ở đầu xe, từ 1 đến 2 tên nữa nằm ở cuối xe; tay giơ súng "Pạc hoọc". Bọn "Tàu trắng" vơ vét bất kể cái gì có thể vơ vét được, cướp giật ở các chợ búa, phố phường. Chúng chết la liệt ở Hà Nội, có hôm tôi đi qua ngã tư Giám, gò Đống Đa, tôi thấy chúng để xác của đồng bọn trương phình ra, ruồi nhặng kinh khủng. chúng rắc bệnh sốt định kỳ, sốt vàng da, một số người Hà Nội cũng bị lây và chết sau khi đã qua được nạn đó khủng khiếp. Để Pháp vào được Đông Dương, Mỹ ép Pháp và Tưởng ký hiệp ước Pháp-Hoa ngày 28-2-1946. Bản hiệp ước này là sự ngã giá của 2 kẻ trục lợi sau một cuộc mặc cả gay go ở Trùng Khánh, nhưng hoàn toàn không bất ngờ với Đảng ta. Ngay từ khi Nhật đầu hàng, Xanh-tơ-ny (Sainteny) đã cuống quýt xoay xở một chiếc máy bay định nhảy dù xuống ngay trước phủ toàn quyền Đông Dương cũ, nhanh chóng xông vào dinh toàn quyền cũ cắm lá cờ tam-tài lên đó để chứng tỏ với nhân dân Việt Nam và khối Đồng Minh rằng Đông Dương vẫn là của Pháp!1 (Theo sách: "Lịch sử của một nền hòa bình hụt" của Xanh-tơ-ny (Histoire d'une paix manquée)). Không có máy bay riêng, Xanh-tơ-ny đến Hà Nội chậm hơn sự mong muốn của hắn nhiều (22-8-1945) Chậm chân nhưng hắn vẫn ráo riết hoạt động. Hắn cho cắm trước mũi xe ô-tô một lá cờ Pháp phóng trên phố phường Hà Nội. Lực lượng vũ trang và công an ta được lệnh bắt giữ cả Xanh-tơ-ny và chiếc xe. Bọn Mỹ và tàu Tưởng dù sao cũng không để cho ta giam giữ đồng minh của chúng một tội phạm. Hồi đó ta cũng không thể trục xuất tên khách không mời mà đến này, nhưng về phía hắn, hắn đành theo luật lệ của chính quyền ta. Cờ Pháp chỉ được kéo lên ở Hà Nội sau ngày 6/3 nhưng cũng lẻ loi so với cả rừng cờ đỏ Hà Nội. Ký xong hiệp ước Pháp – Hoa, sự tình sẽ ra sao nếu "Việt Minh" tổ chức kháng chiến, khi quân đội Pháp đặt chân lên Hải Phòng, nói gì kéo đến Hà Nội? Nam Bộ mới cướp chính quyền có mấy ngày chưa kịp làm được gì mấy, Pháp đã nhờ Anh và Nhật giúp đánh ngay, thế mà Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã giáng trả cho Pháp khá đau. Trước một thực tế quá hiển nhiên đó, thực dân Pháp đành tính toán: để chiếm lại Việt Nam cần có 30 vạn quân viễn chinh. Lúc đó, nếu nhờ một phép lạ mà có được số quân ấy, lấy gì mà chở số quân đó sang Việt Nam, chưa kể sẽ vận chuyển bổ xung quân số, và hậu cần cho chiến tranh chắc chắn là dài ở nơi xa nước Pháp: Nước Pháp tuy về danh nghĩa được đứng trong phe Đồng Minh, nhưng đã thua phát xít Đức, hạm đội Pháp đã bị phát xít Đức tiêu diệt gần hết, ảnh hưởng Đảng cộng sản Pháp lại rất cao; ở Đông Dương Pháp lại 2 lần đầu hàng Nhật. Nước Pháp đã suy yếu nhiều, cần có một bước đi thận trọng, phải chấp nhận sự vòng vèo. Ký hiệp ước 6-3 với ta, Pháp toan tính cốt đưa được quân đội Pháp ra miền bắc yên ổn, trước hết là Hà Nội, Hải Phòng, chờ viện binh rồi sẽ lấn dần, bao vây bóp nghẹt rồi kết thúc ở Hà Nội: đảo chính lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh. Pháp buộc phải công nhận "Việt Nam là một quốc gia tự do, có quân đội, tài chính riêng, nằm trong liên bang Đông Dương và khối liên hiệp Pháp". Với bản hiệp ước này, ta tận dụng được thời gian, tăng cường lực lượng để làm cho mình mạnh lên. Ai nấy đều tin chắc thời gian lại ủng hộ chúng ta như chỉ thị "Hòa để tiến" của Đảng đã chỉ rõ. Xuống công tác tại các đơn vị, tôi đem chuyện Hồ Chủ tịch khuyên nhủ, bảo ban, chăm sóc bộ đội ra sao kể lại. Tôi tin với những mẩu chuyện ấy, dù người kể không có duyên, cũng đủ sức hấp dẫn người nghe; hơn thế nữa, qua những mẩu chuyện ấy, sẽ để cảm nhận tình hình địch, ta, xu thế của tình hình, dễ dàng cảm nhận họ sẽ phải làm gì? … Một trung đội đóng ngay tầng dưới nơi Bác làm việc, vừa đi tập về. Bác từ trên gác xuống, tôi vừa kịp hô bộ đội đứng nghiêm chào bác, Bác đã tươi cười ra lệnh cho bộ đội nghỉ, rồi quay lại hỏi đồng chí Quang Trung1 (Hồi đó đồng chí Quang Trung chỉ huy 1 chi đội ở khu giải phóng về, đặc trách bảo vệ Bắc Bộ phủ và Bác.): - Sao không huấn luyện cho anh em chiến đấu mà chỉ có đi đều, quay trái, quay phải? Phải bày cho anh em biết đánh du kích, biết đánh trong thành phố. Một lần khác, cũng mới đi tập về, quần áo anh em lấm lem vì lăn lê bò toài, tập vượt tường, Bác lại xuống thăm. Bác hỏi: "Các chú có mệt không?" rồi Bác đi thẳng đến 1 khẩu súng "mút-cơ-tông" của 1 đồng chí vừa dựng vào giá súng. Bác ngoáy vào nòng súng, đưa cho chúng tôi xem, ngón tay út của Bác đầy mỡ pha lẫn bụi cát. - Thế này là không biết giữ gìn vũ khí. Muốn chiến đấu tốt, các chú phải yêu vũ khí như bản thân mình. Có lần, vào 1 buổi chiều, Bác lại xuống thăm đơn vị. Bác bảo chúng tôi dẫn Bác đi xem nhà bếp, nhà xí. Nhà bếp nhà xí đều không sạch! Bác nhẹ nhàng nhắc chúng tôi, rồi Bác đi vào trung đội do đồng chí Đặng Tý đại đội phó phụ trách. Bác thấy trung đội gọn gàng ngăn nắp, nhìn lên tường thấy ghi những điều kỷ luật của đội viên du kích mà tôi học được trong tù, Bác hài lòng nói: - Bộ đội cần tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm. Có tổ chức chúng ta sẽ không sợ bất cứ kẻ thù nào. Chúng tôi vô cùng súng ướng vì thấy Bác vui, chúng tôi càng thương Bác vì chúng tôi biết mấy hôm đó Bác đang mệt, càng ân hận vô cùng vì đã không kiểm tra để cho nhà bếp và nhà xí không sạch! Mỗi lần được gặp Bác, chúng tôi luôn thấy ấm cúng tình người, tình đồng chí, tình cha con. Vào một buổi trưa trời nói, vài anh em trong ban chỉ huy đại đội chúng tôi mở quạt chạy hết tốc độ rồi ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên, tôi thấy có ai vỗ vào vai, nhỏ nhẹ: - Để quạt trần chạy to quá dễ bị cảm. Phải giữ gìn sức khỏe mới chiến đấu được. Chúng tôi đều thức dậy xúc động nhìn Bác, Bác đã hãm quạt trần chạy chậm lại, rồi Bác hỏi: "Lâu nay, các chú ăn uống ra sao?" Không biết cậu nào nhanh nhẩu: - Dạ thưa Cụ, lâu lắm mới có một bữa cá, cá lại hơi lắm xương! - Thế các chú có biết cá gì không có xương không nào? Anh em chúng tôi đang ngơ ngác suy nghĩ, Bác trả lời ngay: - "Cá gỗ" Tất cả cùng bật lên cười vui với Bác. Những lời bảo ban chí tình, những cử chỉ chăm sóc của Bác, khiến chúng tôi thấy được tình thế trước mắt rất dễ biến động và phải chuẩn bị thật đầy đủ để ứng phó khi biến động xảy ra. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:18:33 am Những lời bảo ban chí tình, những cử chỉ chăm sóc của Bác, khiến chúng tôi thấy được tình thế trước mắt rất dễ biến động và phải chuẩn bị thật đầy đủ để ứng phó khi biến động xảy ra.
Hầu hết người Hà Nội đồng tình ủng hộ việc ký hiệp ước 6-3-1946 với Pháp. Lòng tin đó không phải là một tín ngưỡng có sẵn. Ai đã tổ chức công cuộc cứu đói chống lụt khi mới giành được chính quyền? Ai lo cho dân nghèo từng bơ gạo, từng tờ giấy để vượt qua nạn đói mới đang đe dọa miền Bắc và nạn mù chữ lâu đời? Ai lo việc tổ chức kháng chiến ở miền Nam và gửi con em miền Bắc vào miền Nam cũng chiến đấu? Ai tổ chức cho dân chọn đại biểu của mình vào Quốc Hội bàn việc nước? Câu trả lời thật quá rõ ràng. Bọn "Việt Quốc" "Việt Cách" la lối om sòm "Việt Minh cộng sản mở đường cho Pháp chiếm miền Bắc". Những từ ngữ "đánh đến cùng" được mạ kền đánh bóng bằng mấy tiếng "ái quốc ái quần" không đánh lừa được ai. Người lao động Hà Nội vừa qua nạn đói, còn xanh xao vàng vọt, nhưng chẳng ai thèm nhận 5 đồng bạc Đông Dương cùng một gói cơm tiền công chúng trả cho một buổi đi biểu tình chống tổng tuyển cử, "chống Việt Minh cộng sản rước Tây ra miền Bắc"… Để cho rõ hơn về chúng, chúng ta chú ý Nguyễn Tường Tam lãnh tụ của chúng đã bí mật gặp Xanh-tơ-ny ở Côn Minh bàn về "Hợp tác Pháp – Việt" sau khi Nhật đầu hàng!1 (Theo sách: "Lịch sử của một nền hòa bình hụt" (Histoire d'une paix manquée, Sainteny)) những tên "Việt Cách" – "Việt Quốc" là những tay sai đắc lực mà sau này Mỹ, Diệm đã dùng trong các chiến dịch "tố cộng diệt cộng" đẫm máu ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và một số nơi khác ở miền Nam. Riêng việc 20 vạn quân Tàu hàng ngày ngốn mất hàng chục tấn gạo, phá phách chúng ta chưa biết đến bao giờ, phải cút về nước, thay vào đó chỉ có 15.000 quân Pháp được phép đóng trong thời hạn 5 năm tại Hà Nội, Hải Phòng và một vài tỉnh khác, đã cho thấy nên hay không nên ký hiệp định 6-3. Chỉ sau đó ít lâu, thắng lợi của việc ta ký kết bản hiệp định, đã khiến cho một số người trước đây ít nhiều hoài nghi đã phải thán phục. Họ nói: "Cụ Hồ thánh thật!". Họ chơi chữ theo cách nói lái: "Đúng là một đòn mác xít"2 (Mác-xít nói ngược thành "Xít-mác" - tiếng Pháp nghĩa là mồng 6 tháng 3) Bọn "Việt Quốc", "Việt Cách" càng ra sức phá chúng ta, cho đến khi âm mưu giúp Pháp gây "màn đảo chính" đánh úp chính phủ ta nhân ngày quốc khánh Pháp 14-7-1946 bị chúng ta lật tẩy, chúng vội vàng vơ vét tiền của chạy theo quan thầy Tàu Tưởng. Nhân đấy, chúng ta quét sạch bọn phản động, đánh giải phóng luôn những nơi mà bọn chúng chiếm đóng Chính quyền ta được củng cố vững chắc hơn, kể cả ở các vùng bị tạm chiếm ở miền Nam, không gian ta được mở rộng ra. Vốn không là dân Hà Nội gốc nên khi trên đường xuống các đơn vị công tác, tôi thường ngắm nhìn phố phường, quan sát tình hình xã hội, để hiểu thêm yêu thêm mảnh đất ngàn năm văn vật, mảnh đất rồi đây chắc chắn, tôi sẽ cùng đồng bào của mình chiến đấu bảo vệ nó. Bản tạm ước 14-9-1946 Hồ Chủ tịch vừa ký ở Pháp đã được Đảng giải thích là một biện pháp tranh thủ thời gian thêm nữa. Thời gian đối với cách mạng lúc này là vàng, nếu như vàng là một vật quý nhất trên thế giới không có gì đánh đổi được. Giờ đây thời gian là lực lượng chính trị được mở rộng và củng cố; thời gian là lực lượng vũ trang rộng khắp, là nhanh chóng tổ chức các đơn vị chủ lực tập trung; ở Hà Nội đợt tuyển quân đầu năm 1946 lấy từ các đoàn thể quần chúng mà ra, bổ xung củng cố 5 tiểu đoàn và một số đơn vị trực thuộc khác. Thời gian để củng cố chính quyền, thời gian để đào tạo gấp cán bộ, để phát triển Đảng ăn sâu bám rễ vào quần chúng, trong mọi tổ chức. Thời gian để tăng thêm thóc gạo, để xóa thêm nạn mù chữ, tăng thêm ý thức làm chủ cho dân, thời gian để chuẩn bị mọi mặt cho công cuộc kháng chiến khi chúng ta không thể nhịn được nữa với một lực mới, một thế mới. Đi trên hè phố Hà Nội, đôi lúc tôi chợt rùng mình nhớ lại những ngày tôi cùng một trung đội ở Bắc bộ phủ giúp anh Phan Mỹ thu nhặt xác chết đói tại gầm cầu Long Biên, bãi Phúc Xá chợ Đồng Xuân, chợ Hôm và một số nơi khác ở Hà Nội. Ở các đầu ô, ở các chợ, ở vài phố vẫn còn những hàng bán cơm nắm, bán cháo, lúc nào cũng đông người đói; tôi không nhớ rõ hồi đó đến lúc nào những cửa hàng bi thảm đó mới không còn nữa. Nạn đói đã qua đi, nhưng trước mắt tôi Hà Nội còn không ít nghịch cảnh. Bọn lính ngoại bang da vàng, da trắng đã tạo nên trong thành phố một lớp người chỉ biết tiền, chúng lao vào các "áp phe" đấu thầu đủ mọi thứ, buôn đủ mọi thứ, trong lúc công nhân, viên chức, học sinh sinh viên, dân nghèo lăn vào cáng đáng mọi việc của cách mạng, góp từng bơ gạo, quyên từng tờ giấy để chống giặc đói, chống giặc dốt. Hầu hết thanh niên trai, gái Hà Nội hồi ấy đã là tự vệ, hoặc ở các đội cứu thương, đội tiếp tế v.v…. Hiếm hoi lắm, mới có trung đội "xoay" được một khẩu súng trường cho 10 đội viên, trong khi lính Pháp treo đầy các-bin Mỹ, thom-xơn Mỹ, côn-bát Mỹ, ngồi trên xe díp Mỹ, xe cơ giới Mỹ phóng như điên trên các đại lộ, chẹt chết người cốt để ra oai, đe dọa, khiêu khích. Đi trên hè phố ngày nào còn bỡ ngỡ nay đã gần gũi thân thiết, tôi chợt nhớ Huế, nhớ Đà Nẵng, nơi tôi sinh ra, nơi tôi lớn lên. Hơn 2 năm trước, trời rét thâm dai tím ruột, từ trên toa tầu chở hàng, đen như một khối than khổng lồ, tôi bước xuống sân ga Hàng Cỏ. Thầy quyền với quần "soóc", áo sơ mi lính ngắn tay đi giải tù, khoác súng đế quốc trên vai, nhưng thầy vẫn lẩy bẩy rét run không khác hai người tù bị còng tay đi trước. Tôi sinh ở Huế, nhưng ở Đà Nẵng từ bé, lấy giấy khai sinh ở Đà Nẵng, đất nhượng địa của Pháp, lại hoạt động ở Đà Nẵng, cho nên chiếu theo luật khủng bố của Pháp hồi đó; mọi hoạt động "trên đất Pháp" phải do tòa án binh Pháp xử: từ Đà Nẵng trở ra Bắc do tòa án binh Hà Nội phụ trách. Tôi ra Hà Nội là do đo3 (Hoạt động chống Pháp). Bước vào phố, thầy quyền càng ngượng với dân Hà Nội, càng giục chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn cố kéo dài: mỗi bước đi về phía nhà lao là một bước mất đi ánh sáng mặt trời và tự do. Chúng tôi đi về phía hỏa lò trong ánh mắt đồng cảm của phố phường Hà Nội. Với người cách mạng, nhà tù là 1 trường học. Tôi đã tiếp thu câu nói khô khan ấy bằng cả cuộc sống của mình trong 2 năm tù, bằng tất cả tình cảm của tôi. Trong tù tôi đã thấy cuộc sống vốn như nó là của một xã hội thuộc địa. Tôi đã học được nhiều điều về ý nghĩa cuộc sống, về con đường đi tới một ngày mai tươi đẹp, không chỉ cho riêng ai, không chỉ cho 1 dân tộc nào! Không phải tôi chỉ được học A – B – C của chủ nghĩa cộng sản, về "cách mạng tư sản dân quyền" (nay gọi là cách mạng dân chủ mới) về đường lối, chính sách của Đảng, học công tác vận động quần chúng v.v… Tôi theo các đông chí đàn anh đi tới những bến lạ, bờ xa trên trái đất, uống từng lời các anh kể về những năm tháng hoạt động cách mạng, bôn ba hải ngoại, như thuở ấu thơ nghe bà kể chuyện cổ tích. Anh Bùi Lâm kể về phong trào công nhân Pháp, đặc biệt say sưa kể rất nhiều về cách mạng Tháng 10 Nga vĩ đại, về thủ đô của những người đã làm nên cuộc cách mạng ấy, về những nông trường, những nhà máy về những con người Liên Xô bạn bè của anh. Trí tưởng tượng của tôi theo lời kể vượt tường đá của nhà pha đến nước Nga xa xôi của Lê nin. Tôi đã học như một học trò chăm chỉ, với tất cả tâm hồn rộng mở. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:20:10 am Nhật đảo chính Pháp. Ban lãnh đạo nhà tù đã bàn những chủ trương biện pháp đối phó với tình huống xấu nhất: Nhật có thể thủ tiêu hết tù cộng sản, hoặc đầy đi xa rồi cũng thủ tiêu sau. Chính phủ Trần Trọng Kim lên không hề nới tay với tù cộng sản. Tuy nhiên, tài liệu của cách mạng vẫy bay lọt qua cửa sắt nhà tù đến với chúng tôi. Trước tình hình ngày càng có lợi cho cách mạng, Đảng đã bố trí cho một số đảng viên vượt ngục.
Ngày 15-8-1945 Nhật đầu hàng vô điều kiện trước sức mạnh tấn công vũ bão của Hồng Quân Liên Xô. Phong trào cách mạng lên cao như thác lũ, triều dâng, tin tức quân giải phóng trên chiến khu thắng lợi ở nhiều nơi vang về, trước sức ép của phong trào quần chúng, ngày 17-8-1945, chính phủ Trần Trọng Kim buộc phải trả lại tự do cho tù chính trị tại Hà Nội. Chúng tôi say sưa cùng bước qua khung cửa nhà tù, ngước nhìn khoảng không xanh vời vợi trên cáo, căng ngực hít làn không khí thoáng đãng. Lúc đó, tôi mới có thể nhìn kỹ tòa nhà đồ sộ, cái gọi là "bên kia tòa án, bên này nhà lao". Từ cây cổ thụ lảnh lót tiếng chim đang hót. Ở Hà Nội lúc này, chính quyền đế quốc và tay sai rệu rã lắm rồi, nhưng chính quyền cách mạng chưa được thiết lập. Anh em Đà Nẵng chúng tôi đoán rằng cách mạng sắp cướp chính quyền đến nơi rồi. Về Đà Nẵng hay ở lại tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội đây? Tôi đến nhà anh Vũ Kỳ ở 72 phố Thuốc Bắc. Ở trong tù, anh Vũ Kỳ rất thương tôi. Qua anh, gia đình anh giúp đỡ tiếp tế cho tôi rất nhiều. Anh Vũ Kỳ đi vắng! Trở lại Cửa Nam gặp anh em Đà Nẵng, tim tôi đập mạnh, mỗi lúc mỗi mạnh, mạnh hơn cả khi bọn mật thám xích tay tôi bằng còng số 8 năm nào – Cờ đỏ, cờ đỏ, cờ đỏ và sao vàng! Cờ đỏ tràn qua các phố như một đám cháy bốc cao, bốc cao mãi. Chúng tôi mừng tưởng hét lên được khi gặp Lê Trọng Nghĩa, đồng chí cùng tù và được Đảng chỉ định vượt ngục. Nháy mắt với chúng tôi, Lê Trọng Nghĩa như muốn nói: "Sắp rồi!" Không khí Hà Nội càng cuốn hút chúng tôi không thể nào cưỡng lại được. Ngay ngày hôm sau tôi được gặp anh Trần Tử Bình, người chiến sỹ cộng sản lão thành đã giương lá cờ đỏ ở đồn điền Phú Riềng năm 1927, người anh mà tôi rất quý mến ở trong tù. Anh khuyên tôi ở lại, và đưa tôi đến gặp anh Khang, xứ ủy viên Bắc Kỳ phụ trách Hà Nội. Tôi được giới thiệu vào "Công nhân xung phong đoàn thành Hoàng Diệu". Phố phường Hà Nội ngày nay đã đẹp hơn xưa, nhưng Hà Nội trong những ngày cách mạng Tháng 8 năm 1945, đẹp hơn tất cả, đẹp hơn bao giờ hết! Thất bại trong việc âm mưu dùng Việt Quốc, Việt Cách, tổ chức một cuộc đảo chính, bọn thực dân Pháp chuẩn bị những bước lấn tới chắc chắn hơn. Chúng cho trẻ con, người già yếu của chúng tản cư vào Sài Gòn, hoặc về Pháp, phát súng cho bọn Pháp kiều ở lại, bí mật xây dựng các ổ chiến đấu chiến lược cắm quanh các mục tiêu trọng yếu trong thành phố, kết hợp với các vị trí của quân Pháp nhằm đánh úp ta khi có lệnh. Lúc này ngoài 9 điểm đóng từ 300 quân trở lên như thành Hà Nội, trường Bưởi, trường An-be Xa-rô, nhà thương Đồn Thủy, sân bay Gia Lâm v.v… chúng còn chia quân đóng trên 40 điểm xung yếu khác trong thành phố. Nhìn cách bố trí của chúng, không cần phải có trình độ quân sự uyên thâm cũng có thể thấy được đòn hiểm của quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương do tướng Móc-li-e chỉ huy, dự định đánh ta khi cơ thời cơ: Dùng chủ lực cơ giới ở trong thành vòng ra, phối hợp và dựa vào các cứ điểm mạnh đã bố trí sẵn, tiêu diệt ngay cơ quan đầu não của ta (Bắc Bộ phủ); tiêu diệt ngay các vị trí của ta cùng đóng quân với Pháp; nhanh chóng chiếm các đầu ô, chốt chẹn Hà Nội rồi sau đó sẽ tiêu diệt các lực lượng vũ trang của ta còn lại, đánh thông nối liền các tỉnh v.v… Bọn tướng tá Pháp tin chắc sẽ nhanh chóng làm chủ Hà Nội, tiêu diệt đại bộ phận lực lượng bộ đội ta. Ở khách sạn Mê-tơ-rô-pôn1 (Nay là khách sạn Thống Nhất) sang trọng, luôn luôn có người ngoại quốc trú ngụ, hai trăm sỹ quan và binh lính Pháp được ém sẵn. Đây là mũi đột kích nhằm phối hợp với chủ lực trong thành ra có nhiệm vụ tiêu diệt Chính Phủ ta. Khi bọn Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Móng Cái, Hà Nội thưa dần tiếng nhạc từ các phòng trà vọng ra. Đêm đêm, đèn điện vẫn tỏa sáng lòng đường. Gió lạnh đưa tiếng giày đinh của các đội tuần tra Pháp vang xa. Pháp bất ngờ đổ bộ lên Đà Nẵng. Tin ấy làm cho người tôi nóng ran. Không biết Đà Nẵng có kịp chuẩn bị không? Tôi muốn viết thư về trong ấy, cho Huế, cho Đà Nẵng. Đâu có phải ở hai nơi đó không đủ đất cho tôi "vẫy vùng" như cô bạn tôi đã trách tôi. Hà Nội trong biển cờ đã vẫy gọi tôi. Tôi tin nếu cô bạn tôi có mặt ở Hà Nội trong những giây phút ấy, cũng sẽ xử sự như tôi. Đó là điều khiến chúng tôi, tuy xa nhau mà vẫn trọng nhau cho mãi đến sau này. Tháng 11-1946, đồng chí Vương Thừa Vũ về làm chỉ huy trưởng khu Hà Nội. Gặp tôi, anh thân mật hỏi: "Theo đồng chí, tình hình này sắp đến độ bùng nổ chưa?" Cảm thấy trong câu hỏi của anh hình như đã có sẵn câu trả lời, tôi cười tỏ ra không đủ trình độ đoán định một vấn đề nghiêm trọng đến thế. Quả nhiên ngay ngày hôm đó, tôi được nghe phổ biến nhận định của hội nghị quân sự toàn quốc: "Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình nhất định cũng phải đánh Pháp". Ở Hải Phòng Pháp đã không chịu ngừng bắn, còn đánh rộng ra Cầu Rào – Cầu Niệm. Nơi nóng của cuộc chiến tranh không tránh khỏi đang nóng dần lên. Các trường học, công sở lần lượt đóng cửa rời khỏi thành phố. Hà Nội bắt đầu tản cư. Hà Nội vắng hẳn tiếng trống ếch của hàng trăm đội thiếu niên Măng Mọc Thẳng. Hà Nội mọc lên các chiến lũy lầm lì chắn ngang các đầu ô. Đêm đến Hà Nội ầm ầm tiếng búa đục tường thông từ nhà nọ sang nhà kia. Một Hà Nội xa hoa lùi nhanh vào quá khứ, một Hà Nội tự vũ trang cho mình xuất hiện lẫm liệt, đường hoàng. Công việc của cơ quan khu bộ lúc này nhất là cơ quan tham mưu, bận rộn suốt từ sáng đến khuya. Lo nắm tình hình địch để không bị bất ngờ, kiểm tra công việc chuẩn bị của các tiểu đoàn, nắm lực lượng tự vệ chiến đấu, lực lượng cứu thương, tiếp tế ở các nơi, nắm lực lượng hậu cần của ta, bố trí lại hệ thống tiếp tế, thông tin liên lạc v.v… không ai còn biết gì chuyện nhà cửa, mặc dầu nhiều đồng chí có gia đình ở ngay Hà Nội. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:26:03 am Không phải so sánh chi li, ai nấy đều biết Pháp hơn hẳn ta tuyệt đối về trang bị, vũ khí, trong đó đáng chú ý nhất là xe tăng và cơ giới. Ta hơn hẳn địch về ý chí quyết tâm và sức mạnh đoàn kết. Quân đội Pháp là quân đội chính quy nhà nghề, quân đội ta còn non trẻ, cán bộ ta chưa qua tác chiến, nhưng ta hơn hẳn địch về thế trận lòng dân, cán bộ chỉ huy của ta sẵn sàng xả thân vì nước.
Vấn đề chính trong kế hoạch tác chiến của Hà Nội: đánh xe tăng và cơ giới của địch, nếu làm việc đó tốt sẽ tạo thuận lợi nhiều để thực hiện nhiệm vụ mà Trung Ương Đảng giao cho: Hà Nội phải tiêu hao, tiêu diệt địch, giam chân địch một thời gian để chuyển toàn quốc vào kháng chiến. Trong điều kiện mỗi tiểu đội chỉ có 3 – 4 khẩu súng trường cũ kỹ đủ các loại, còn là mã tấu, lựu đạn Phan Đình Phùng tự tạo, cả một đại đội may lắm có vài ba tiểu liên và 1 khẩu súng máy cào cào1 (Súng máy của Pháp giống con cào cào. Từ chiến tranh thế giới thứ nhất), cách đánh xe tăng và cơ giới địch tốt nhất là dùng con người dám lao vào xe tăng và cơ giới địch. Theo đề nghị của đồng chí Trần Độ, Đảng ủy Mặt trận đồng ý tổ chức các đội "Quyết Tử quân". Công binh xưởng được đi về Hà Đông ngày đêm lo sản xuất bom ba càng, quả bảo toàn2 (Đạn pháo 105 kháp tre bên ngoài dùng để lao vào xe tăng địch), chai xăng "cờ-rếp", lựu đạn. Làm sao tiêu diệt bọn địch ở khách sạn Mê-tờ-rô-pôn, ở rạp Ma-giéc-tích, và phá sập cầu Long Biên giam chúng ở Hà Nội. Anh Trần Cư công binh được giao nghiên cứu toàn bộ đường cống ngầm thành phố nhưng chỉ chôn được 1 quả bom ở rạp Ma-giéc-tích, chuẩn bị sẵn bom thả trôi sông với nụ xòe giật sẵn hướng vào trụ cầu, nhưng sau cũng không thành công. Không tự giới hạn vào 1 khuôn sáo, một định mức nào cả, ý chí quyết đánh, quyết thắng bắt ta phải làm tất cả, có khi phải làm cả những việc không thể làm được. Phòng tham mưu lo tăng cường cho pháo đài Láng xây dựng thêm 2 trận địa pháo mới Thủ Khối và Xuân Tảo, dựa vào pháo mà cách mạng đã tịch thu được của Pháp Nhật. Trong so sánh lực lượng, thường hay sai lầm là ít chú ý đến mặt chất lượng của các yếu tố, ít chú ý đến mức mạnh tổng hết, trước hết là mặt tinh thần chính trị. Hà Nội sau ngày tổng khởi nghĩa đã tiến "1 ngày bằng 20 năm", đế quốc Pháp không tính ra là phải. Công tác của phòng chính trị lúc này tập trung chủ yếu kiểm tra giúp đỡ các đơn vị quán triệt chủ trương chính sách của Đảng: Pháp nhất định gây chiến tranh chiếm lại Đông Dương, ta phải sẵn sàng nhưng phải nín nhịn đợi lệnh, không được manh động; kiểm tra việc phát triển các tổ trung kiên, phát triển đảng viên; huấn luyện cán bộ chính trị. Lẻ tẻ đôi nơi, anh em tự vệ đã cáu tiết dùng dao găm tỉa dăm ba thằng lính Lê dương được thả rong như những con chó "béc-giê" với "24 giờ ngoài luật pháp"3 (Vingf quatre heures hora de la loi). Phải nín nhịn lòng căm thù thiêng liêng trước những cảnh đó thật là khó. Nhưng anh em bộ đội rất tin tưởng Đảng ta và Cụ Hồ. Sau vụ thảm sát Hàng Bún 16-12. Anh Nguyễn Văn Trân phó bí thư thành ủy, phó bí thư Đảng ủy mặt trận đến nơi động viên, an ủi đồng bào trong khói thuốc súng còn nồng khét. Bộ chỉ huy khu dời về Bạch Mai. Ta không thể nín nhịn được nữa rồi! Bộ tổng chỉ huy đã thông qua và lúc này lại kiểm tra, trực tiếp giúp Hà Nội thực hiện kế hoạch chuẩn bị tác chiến. Đồng bào tiếp tục tản cư từ sáng đến khuya. Tạm biệt Hồ Gươm, tạm biệt phố phường, tạm biệt các hàng cây xanh, đã từng ấp ủ bao chuyện vui buồn từ tấm bé ra đi. Tạm biệt công việc làm ăn từ bao đời cùng cơ nghiệp, tạm biệt tiện nghi sinh hoạt thị thành, tạm biệt chồng con thân yêu ở lại chiến đấu, "cam chịu sống lênh đênh vất vả chứ không chịu ở lại hợp tác với giặc" (thư Hồ Chủ tịch gửi đồng bào tản cư). Tản cư là kháng chiến khi không có điều kiện ở lại chiến đấu. Tản cư là nhiệm vụ. Ngày nay khó mà hình dung được cảnh tượng đó. Các đội tự vệ, cứu thương, tiếp tế, các đội công an xung phong, tuyên truyền xung phong đông thêm, và lại chuyện phải giải thích: không ai chịu thua kém ai. Bọn "lính mũ đỏ" dùng xe tăng húc sạt các chiến lũy buổi sáng, buổi trưa lại lực lưỡng hơn, vững chắc hơn. Đêm đêm, các phố phường tính toán việc cưa cây, dựng chướng ngại vật dọc ngang, tập luyện tiếp tế tải thương… vui như hội. Tự vệ chiến đấu đã canh gác kiểm tra nghêm ngặt ở các đầu ô và hầu khắp thành phố. Đi công tác về đêm qua Ngã Tư Sở, chúng tôi ngại nhất khi gặp phải phiên gác của các chị em. Sử dụng vũ khí chưa thạo, có cô thấy "lính cậu" lại vặn vẹo đủ trò. Bộ chỉ huy khu XI lúc này đã về làng Mọc Chính Kính. Anh Trần Độ và tôi có đi gặp hết các tiểu đoàn. Đến đâu anh Độ cũng gặp cán bộ, chiến sỹ nói chuyện, động viên anh em. Anh Độ có tài nói chuyện, không khí chuẩn bị căng thẳng đến thế mà anh đã làm cho anh em cười vui thoải mái bất chấp tất cả! Cho tới hôm nay, tôi vẫn nhớ khuôn mặt, giọng nói của các đồng chí đóng chung với lính Pháp ở nhà máy đến Bờ Hồ. Trước cửa ra vào nhà máy, hai bên là 2 vọng gác, một của ta, một của nó. Một khẩu 12,7 ly đặt trên bao cát bên cạnh một thằng lính mũ đỏ, tiểu liên "thom-xơn" Mỹ treo trước ngực, súng lục bên hông! Đồng chí gác của hai tay không, lưng đeo đến 7 – 8 quả lựu đạn Phan Đình Phùng, một con dao găm ở thắt lưng, đứng ở ngoài vọng gác hiên ngang, mặt lạnh như tiền! Tôi hỏi đồng chí tiểu đoàn trưởng: "Sao để anh em gác không súng?" Đồng chí tiểu đội trưởng hình như chỉ chờ có thế, trả lời tôi bằng giọng diễn giải cốt để người nghe phải đồng tình: - Thưa anh, nó mới đưa khẩu 12,7 ly đến, chúng nó đưa nhiều thứ nữa đến, chúng nó bắt lính gác của nó trang bị thế để dọa tụi tôi. Đúng là "vũ trang đến tận răng" anh ạ! Nó tưởng phô vũ khí của nó nhiều mà nạt nổi tụi tôi. Đã vậy, chúng tôi không gác với khẩu "mút cờ tông" cũ của Pháp nữa, xem kẻ nào yếu bóng vía! Quả nhiên thằng hạ sỹ quan của nó chờn, nhờ một nhân viên trong nhà máy hỏi chúng tôi: "Việt Minh chuẩn bị đánh úp bằng một trận giáp lá cà?" Tôi trả lời thẳng thừng nhờ anh nhân viên nhà máy dịch hộ cho thật đúng: "Trước khẩu 12,7 ly vừa mới bày ra kia… khẩu "mút cơ tông" hóa thừa!". Tôi bật cười giục: " – Thế rồi sao nữa" - Báo cáo anh; thằng hạ sỹ quan nhún vai, thanh minh nó không có quyền. Sau đó, để tỏ nó không muốn uy hiếp chúng tôi, nó tháo băng đạn 12,7 ly ra khỏi súng. Biết vậy! nó sợ mình chứ anh, chúng tôi cứ đứng gác như anh đã thấy đấy! - Các cậu coi chừng, nó vồ cho lúc nào không biết đấy. – Khẩu 12,7 ly đó đã không kịp lên tiếng đêm 19-12, tiểu đội của ta gác ở nhà đèn đã "vồ" nó và cả bộ phận lính gác của Pháp khi pháo đài Láng nổ, đèn điện thành phố vụt tắt. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:29:45 am 20 giờ, 19 tháng 12 năm 1946. Pháo đài Láng, Xuân Tảo, Thủ Khối nhằm vào thành, vào phủ toàn quyền cũ, mà nhả đạn. Tiếng súng Hà Nội nổ ran! "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu làm nô lệ" Tiếng loa của các đội tuyên truyền xung phong vang lên khắp nơi. Đó là lời của bác Hồ, là mệnh lệnh của Tổ quốc, là lương tâm phẩm giá con người Việt Nam, con người Hà Nội. Anh Trân, anh Trần Duy Hưng, anh Vương Thừa Vũ đều có mặt khi ra lệnh cho đồng chí Phạm Văn Đôn đại đội trưởng và Tô Na chính trị viên đại đội pháo ở Láng. Tôi nhìn các anh khi đó thấy các anh vui nhưng cũng đầy lo âu. Cuộc kháng chiến toàn quốc đã bắt đầu. Bất chợt, tôi nhớ người lính gác ở nhà máy đèn Bờ Hồ.
Nén cái lò xo hết mức, và thả nó bật lên đúng lúc tự nó đã tạo nên một sức mạnh ghê gớm. Tuy trình độ chúng tôi hồi đó còn thấp, nhưng tiến hành công tác Đảng công tác chính trị thuận lợi lắm. Uy tín ảnh hưởng của Đảng và Bác Hồ tuyệt đối trong nhân dân, vai trò cán bộ đảng viên luôn hăng hái xung phong; nhân dân sẵn sàng hy sinh tất cả cho đất nước; sống trong không khí đó, ai cũng chỉ cho phép mình làm hết sức mình, mỗi ngày một tốt hơn mà thôi. Công việc của chúng tôi xoanh quanh "Lời kêu gọi kháng chiến" của Hồ Chủ tịch mà giáo dục phổ biến sâu rộng trong bộ đội, trong nhân dân, kiểm tra giúp đỡ các đơn vị trong những ngày đầu của kháng chiến, phổ biến kinh nghiệm chiến đấu và công tác, tuyên truyền gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu của bộ đội và nhân dân v.v… Mờ sáng ngày 20, tại chỉ chỉ huy sở, đồng chí Hoàng Văn Khánh, tham mưu phó khu, ủy viên ban cán sự Đảng khu đã tổng hợp xong kết quả của đêm chiến đấu đầu tiên. Thành cửa Bắc trúng nhiều đạn đại bác của ta. Tấn công nhà Móc-li-e1 (Nhà Móc-li-e: nay là trụ sở báo Nhân Dân).Tên này xổng. Xanh-tơ-ny kẻ gửi tối hậu thư buộc ta phải giải giáp các lực lượng vũ trang của ta ít may mắn hơn. Hắn bị thương. Xe tăng đã kịp cứu hai tên này. Nhưng xe tăng địch không xông vào được Bắc Bộ phủ. Địch vẫn đang cố chiếm cơ quan của Chính Phủ. Chúng tôi được lệnh đi nắm tình hình tại những điểm "nóng" nhất. Qua một đêm chiến đấu, đường phố trước mắt tôi thật khác lạ, đoạn quanh vắng như chiều ba mươi tết, gió cuốn lá khô bay khắp mặt đường xám lạnh, đoạn khác tấp nập người xuôi kẻ ngược có thể tưởng quanh đây đang mùa hội hè. Người rút khỏi Hà Nội vẫn là các cụ già, đàn bà và các em nhỏ. Người kéo vào Hà Nội toàn là thanh niên, trai trái ở các làng ngoại thành. Anh chị em kéo đi như đi gặt, đi cấy, đinh ninh mặt trận có việc đang cần đến mình. Việc đó là việc gì, chưa biết. Điều quan trọng trước hết là có mặt ở nơi súng nổ. Suốt ngày 20 quân đội viễn chinh chưa mở được dòn tấn công nào đáng kể. Chúng vẫn chưa chiếm được Bắc Bộ phủ. Thắng lợi này rất cần cho "Đài Con Nhạn" của quân đội Pháp. Một lần nữa, chúng đã bị bất ngờ như đã bị bất ngờ trước cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam. Tôi được tin ở cả ba liên khu I, II, III các đơn vị tự vệ đã phối hợp với những đơn vị nhỏ vệ quốc đoàn nhổ hầu hết những ổ tác chiến ngầm của Pháp cắm trong các khu phố. Tư dinh tên quan năm La-mi2 (Nay là tòa nhà đại sứ quán Pháp) kẻ lật lọng trong cuộc đàm phán ngừng bắn tại Hải Phòng, bị một trung đội thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 77 tấn công và chiếm giữ sau khi tiêu diệt và bắt sống toàn bộ hai tiểu đội, (trung đội trưởng là đồng chí Quý) tên quan năm vắng mặt. Như vậy là các đơn vị đóng trong trại Vệ Quốc đoàn trung ương đã được bảo vệ sườn bên phải phái đường Găm-bét-ta3 (Nay là đường Trần Hưng Đạo).Tiếc nhất là quả bom được bí mật đặt dưới móng rạp chiếu bóng Ma giéc tích khi giật đã không nổ. Một đồng chí được lệnh theo đường hầm kiểm tra lại kíp bom. Kíp bom lâu ngày đã bị rỉ. Nếu muốn bom nổ, tiêu diệt bọn đóng trong rạp chiếu bóng, chỉ còn một cách: đập kíp bom bằng một vật nặng. Không xin lệnh, nghĩ sao làm vậy, đồng chí được phái đi kiểm tra quả bom đã đập mạnh vào ngay chính giữa ngòi nổ của quả bom. Đập một lần không nổ, đập hai, ba lần không nổ. Về báo cáo lại sự tình, theo mình là đáng buồn đó, đồng chí thở dài: cái kíp ấy khốn nạn thật! Cuối cùng, một đơn vị từ trại vệ quốc đoàn được lệnh xông sang tiêu diệt tiểu đội Pháp đóng trên quả bom không nổ. Khi bị bắt, và biết có quả bom đó, mặt mũi bọn tù binh tái hơn cả khi phải giơ tay hàng "Việt Minh". Nhưng quả bom ở Bắc Bộ phủ đã nổ, khi xe tăng địch mở đợt xung phong quyết liệt sau nhiều lần bị đánh bật ra. Trước tình thế gần hết đạn, bị địch tấn công dồn dập, để bảo toàn lực lượng kéo dài cuộc chiến đấu như mệnh lệnh đã nhận được, chính trị viên Lê Gia Định kiên quyết lệnh cho những đồng chí còn lại rút sang phía khu nhà Bưu Điện. Một mình ở lại chờ cho xe tăng địch húc đổ cổng sắt, và bộ binh địch ùa vào các gian tiền sảnh, Lê Gia Định bình tĩnh giật kíp bom. Người đảng viên cộng sản, chính trị viên đại đội hy sinh, nhưng anh đã tiêu diệt thêm hơn mười tên giặc. Sự có mặt các cán bộ chỉ huy cao cấp tại ngay chiến lũy, nơi đang phục sẵn một tổ quyết tử quân lăm lăm bom ba càng, đón chờ xe tăng địch, không phải là điều hiếm thấy, hoặc chỉ xuất hiện trong một thoáng. Suốt hai tháng chiến đấu, Hà Nội luôn luôn nhận được, không chỉ những mệnh lệnh, chỉ thị mà cả những lời dặn dò góp ý trực tiếp của nhiều đồng chí ở cấp cao nhất. Ngay sáng 20, đồng chí Vương Thừa Vũ đã đưa đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trần Quốc Hoàn đến thăm một đơn vị đóng giữa ô Chợ Dừa và Khâm Thiên. Đại bác địch bắn khá mạnh vào khu vực trọng yếu này. Chúng thấy cần ngăn cản quân ta tập trung tấn công vào nhà dầu Xen hoặc ga Hàng Cỏ. Giữa tiếng súng, ba đồng chí Tổng chỉ huy, bí thư thành ủy, chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội đã cùng một số chiến sĩ chụp ảnh, kỷ niệm. Hơn tháng sau trong một đêm giá rét, đồng chí bí thư thành ủy đã vượt qua vòng vây địch chăng quanh, vào liên khu 1, kiểm tra nắm tình hình, truyền đạt nghị quyết của Đảng, và ra những chỉ thị cần thiết để liên khu I tiếp tục sừng sững giữa lòng Hà Nội, buộc địch phải đối phó, không rảnh tay dồn quân đánh ra các cửa ô, bứt khỏi thế bị bao vây. Chúng cố nống khỏi Hà Nội, không phải để tiêu diệt "Việt Minh" như chúng tuyên bố. Cấp thời, chúng cầu cứu đồng đội đang bị vây hãm khốn khổ tại nhà băng Nam Định, và nhiều nơi khác. Có thể nói, chúng đã bị các đơn vị bộ đội và tự vệ Hà Nội túm gáy, không cho ngang dọc. Chính từ tư thế ấy, khái niệm "bị vây" là một khái niệm không được những người đang chiến đấu tại Hà Nội chấp nhận, kể cả những đơn vị nằm trong liên khu I, thực sự bị cắt rời khỏi toàn mặt trận. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:31:24 am Ở ô Cầu Dền tôi được nghe một cuộc cãi cọ vì hai tiếng bị vây. Đó là vào ngày thứ năm hoặc thứ sáu của cuộc chiến đấu, lúc tiểu đoàn 77 do đồng chí Hoàng Kiện chỉ huy từ các khu phố Hàng Bài, Bà Triệu, Hàm Long, Chợ Hôm, Nhà Rượu được lệnh lui về giữ ô Cầu Dền và ngã tư Trung Hiền.
Một đồng chí tiểu đội trưởng hí hửng xuýt xoa: – Chậm tí tẹo nữa là bọn mình bị vây. Một đồng chí tiểu đội trưởng khác cau mày: – Vây thế nào? – Còn thế nào! Nó bít ngã tư Chợ hôm – Nhà Rượu, ngã tư Bà Triệu – Vân Hồ là xong một vòng vây chứ gì? – Đầu óc cậu chứa chấp nhiều chữ bị vây quá đấy! – Cậu cho thằng này dát chứ gì? Nhưng nói lên một sự thực, đâu phải là thái độ hèn yếu. Nó bít được hai ngã ấy, có đúng là chúng ta bị vây không? – Không, mình không nói liều đâu. Đây là Hà Nội, và ta đang vây nó. Tất nhiên ở liên khu I nó vây ta. Nhưng đấy là một vòng vây nhỏ do từ ta đặt trong vòng vây lớn, vòng vây này do chính ta chăng và ở Hà Nội đâu phải chỉ có các ngã ba, ngã tư. Hà Nội còn các mái nhà liền nhau, các lỗ đục tường nối nhà này, nhà khác, còn những cống ngầm nối liền các phố. Đêm đến, Tây có dám liều cho xe tăng án các ngã ba, ngã tư không? Hà Nội là của dân Hà Nội cơ mà. Giọng đồng chí tiểu đội trưởng đã nói bị vây vẫn hài hước: – Lý sự như cậu, ai dám bạo phổi cãi lại kia chứ! Nhưng xin thưa rằng, nói bị vây không có nghĩa là sợ. Cậu lo xa cho anh em quá đấy! – Tớ không có nhiệm vụ lo lắng phần hồn của cậu. Hai tiếng bị vây của cậu, tớ không đồng ý. Có thế thôi! Cuộc tranh cãi nho nhỏ thoáng qua ấy, có thể nói, phản ánh một sự thực lớn lao. Theo tôi biết, trong suốt hai tháng chiến đấu tại Hà Nội, không một người nào, một tổ chiến đấu nào, chưa nói một tiểu đội, khi bị địch vây chịu hạ vũ khí. Tất nhiên không phải trong bất cứ trường hợp nào, khi bị vây, các đơn vị cũng đều dễ dàng vượt qua mạng lưới giăng bủa, không tổn thất. Đã có lúc, không nhẩy được từ mái nhà này sang mái nhà khác, không có đường cống ngầm để xuyên qua vòng vây. Trận Giảng Võ là một trận như thế. Qua tin tức của quân báo, Bộ chỉ huy mặt trận đoán địch sẽ đánh chiếm làng Giảng Võ, để từ đó tấn công pháo đài Láng vẫn hàng ngày bắn vào khu thành cửa Bắc. Đại đội 134 đang hoạt động theo kiểu du kích đánh tỉa địch trên các phố Huế, phố Minh Khai, Lê Bình, Huyền Trân công chúa, những phố về "danh nghĩa" đã bị địch chiếm. Được lệnh rút ra, tập họp lại, sau một đêm, đại đội 134 đã đến bố trí tại Giảng Võ. Ngay mờ sáng hôm sau, xe tăng địch dẫn đầu cuộc tấn công, áp sát lũy tre làng. Cuộc chiến đấu không cân sức bắt đầu. Xung phong bị đánh bật ra, lại xung phong tiếp đợt khác, địch quyết chiếm bằng được Giảng Võ. Đại đội trưởng Vũ Công Định, rồi chính trị viên Lê Chí Thực lần lượt ở lại, cản địch, không cho chúng truy đuổi đơn vị mang theo thương binh, rút về phía Nam Vũ Công Định, Lê Chí Thực chiến đấu không phải đến viên đạn cuối cùng, mà là đến quả lựu đạn cuối cùng. Những quả lựu đạn nổ trên tay hai anh, đã khiến những kẻ xô đến định bắt sống "Việt Minh" phải gục ngã. Gương chiến đấu ấy lan nhanh khắp mặt trận. Một đồng chí phóng viên báo Thủ Đô – tờ báo in và phát hành ngay tại Hà Nội rền tiếng súng – Tìm gặp tôi, hỏi tên người nữ cứu thương đã ở lại bên cạnh đại đội trưởng Vũ Công Định, và liệu có thể nghĩ rằng ngoài tinh thần chiến đấu, còn có một lý do tế nhị và đặc biệt nào đó, giữ chị không rời người đại đội trưởng trong tình thế rõ ràng là vô cùng nguy hiểm, để rồi cuối cùng chia sẻ với anh cái chết. Tôi thú thực với đồng chí phóng viên, không biết gì nhiều hơn. Chỉ biết khi từ các phố bị địch chiếm rút ra, đại đội 134 được bổ sung gần một tiểu đội nữ cứu thương, phần lớn quê tại làng hoa Ngọc Hà. Người nữ cứu thương ở lại bên đồng chí đại đội trưởng – theo tôi nghĩ – vì lúc đó anh đã bị thương nơi đầu gối. Chắc chắn anh đã hạ lệnh cho người nữ cứu thương rút cùng đơn vị. Nhưng với nhiệm vụ của mình, người nữ cứu thương có lý để không chịu nghe theo lệnh đó. Đồng chí phóng viên quả quyết với tôi rằng: "Đây là một chiến công của những tâm hồn quả cảm và lãng mạn". Rồi như sợ tôi hiểu hai tiếng lãng mạn theo một nghĩa không đúng anh nhắc lại: "Một chiến công bất tử vì tinh thần quên mình, lãng mạn cách mạng!". Cuộc chiến đấu tại các đường phố, đặc biệt sau đó, tại các cửa ô, với tất cả sức nặng của nó, đã khiến tôi không có điều kiện gặp lại đồng chí phóng viên, hỏi xem anh đã thu lượm được gì thêm về sự hy sinh của hai cán bộ chỉ huy đại đội 134 và người nữ cứu thương! Tháng 8-1947, quân khu ủy quân khu II mở một lớp đào tạo bí thư chi bộ và chính trị viên đại đội. Lớp học được mang tên Vũ Công Định – người đảng viên cộng sản – trên cương vị chỉ huy đại đội 134, đã chiến đấu bằng tính mạng mình, đã bảo vệ đơn vị rút khỏi vòng vây. Mãi sau này tôi mới biết thêm, người nữ cứu thương hy sinh cùng Vũ Công Định là làng Lai Xá, Năm đó chị vừa tròn hai mươi tuổi. Ngày chị hiến dâng cuộc đời cho Tổ Quốc, là ngày 6 tháng 1, đúng ngày một năm trước đó, trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên nhân dân bỏ phiếu tổng tuyển cử bầu ra Quốc Hội của mình! Được Bộ Tổng chỉ huy tăng cường cho hai tiểu đoàn 45 và 64, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội có thêm lực lượng thực hiện nhiệm vụ: Giam chân địch lâu hơn nữa, tạo điều kiện để toàn quốc có thời gian chuẩn bị đi vào cuộc kháng chiến chắc chắn lâu dài. Trừ tiểu đoàn 101 vẫn ở lại trong các phố liên khu I, các tiểu đoàn khác lần lượt rút về trấn giữ các cửa ô, không để địch vọt ra khỏi Hà Nội đánh chiếm các đường chiến lược như đường số 1, đường số 6. Hồi đó đồng chí Vương Thừa Vũ hay dùng cách đánh "trùng độc chiến". Địch tập trung quân đánh rộng ra các cửa ô thì bị "cái gai" liên khu một hãm lại; dồn sức tiêu diệt liên khu I đã khó lại còn bị các tiểu đoàn từ các cửa ô tung quân vào đánh phá các cứ điểm trong nội thành, ngăn chặn từ cuộc chuyển quân nhỏ nhất đến bất ngờ xông ra tấn công xe tăng, xe cơ giới bằng bom ba càng và chai ét-xăng cờ-rếp. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:33:08 am Kế hoạch đánh chiếm Hà Nội bất ngờ và chớp nhoáng của Bộ Tham mưu Pháp, tiêu ma ngay từ khi các xe tăng xông lên vấp phải những chiến lũy trán ngang cửa ô, bị đánh đứt xích, bốc cháy. Địch buộc phải ngừng những đòn vỗ mặt. Để làm kiệt sức các đơn vị phòng ngự cửa ô, ngày đêm địch nã đủ các loại đạn đại bác, súng cối xuống những khu vực rộng hẹp không quá năm trăm thước vuông. Những chiến lũy bị bắn sụt lở ban ngày, đã lại vạm vỡ lực lưỡng ngay tối hôm đó, tiếp tục đương đầu với địch suốt ngày hôm sau. Vòng vây quanh Hà Nội vẫn ghì lấy địch không buông. Chúng lại dùng máy bay. Ngã Tư Sở, ngã tư Trung Hiền, phố Khâm Thiên, Việt Nam học xá lần lượt bị tấn công bằng bom. Tôi nhớ ngày pháo đài Láng bắn rơi máy bay địch. Hôm ấy chúng bay đến không bổ nhào, cứ từ từ trút bom, bất ngờ bị pháo của ta hướng nòng lên bắn trả. Từ Mọc qua Ngã Tư Sở theo đường "Tàu Bay"1 (Nay là đường Chiến Thắng B.52) tin "ta hạ máy bay nó" truyền tới ngã tư Trung Hiền, truyền sang Vĩnh Tuy, truyền lên ô Cầu Dền. Nhiều khuôn mặt ngước nhìn vòm trời xám tạnh như thể trên đó còn tiếng máy bay địch bị thương đang rút rít sắp lao xuống đâu đây. Tiếng bom, tiếng đại bác không ngừng dội tới chỉ huy sở, khiến nhiều đồng chí đứng ngồi không yên, khi thì nì nèo "nói khó", khi thì nằng nặc đòi lên "trên ấy". Để bảo đảm công tác và "công bằng" chúng tôi luân phiên chia nhau "trực ở nhà" và "lên trên ấy" nắm tình hình, giúp đơn vị tất cả những gì cần giúp, có thể giúp. Nhiều cán bộ phòng chính trị đã cùng các chiến sĩ đánh địch ngay khi chúng bất ngờ tấn công. Tại đê Thanh Nhàn, về phía mạn Lò Lợn, một hôm đồng chí Vương Thừa Vũ đang nghe một cán bộ đại đội báo cáo tình hình, thì địch từ phía nhà thương Đồn Thủy theo đường đê Vĩnh Tuy, tiến xuống. Như một đội viên, đồng chí Vũ rút súng lục cùng anh em xông ra phản xung phong. Một đồng chí đi với đồng chí Vũ, phải chạy theo giữ chỉ huy trưởng lại: "Ấy sao anh lại thế". Nếu tôi nhớ không nhầm, trận đánh giáp lá cà ấy, đại đội trưởng Như Trang đã bắn hạ tám tên địch bằng khẩu "côn bát" của anh.
Thường có mặt ở những điểm căng thẳng, trực tiếp nhìn nhận và xem xét tình hình, rồi so sánh các báo cáo, trước khi hạ quyết tâm bằng những mệnh lệnh hoặc chỉ thị ngắn gọn rõ ràng, có thể nói đó là những điều tôi học được ở đồng chí Vương Thừa Vũ. Nghiêm khắc nhưng bao dung anh được hầu hết cấp dưới tín phục yêu mến. Khi mặt trận Hàng Bột xuất hiện dấu hiệu địch chuẩn bị thọc một mũi nhọn sau lưng các đơn vị của ta ở phía Khâm Thiên, đồng chí Vương Thừa Vũ lập tức đến tận nơi xem xét, đồng chí đại đội trưởng phụ trách phòng ngự khu vực này, từ tốn trải bản đồ lên mặt một bể nước mưa, báo cáo những vị trí của địch đang được bố trí thêm súng máy. Theo đồng chí đại đội trưởng, đồng chí đã kiểm tra, trước mặt đại đội không có biệt kích, không có gì mới. Một loạt đạn bay xé không khí lướt qua tóc, qua mày chúng tôi mọi người vội vàng ngồi thụp xuống. Đồng chí Vương Thừa Vũ hai môi mím chặt hạ lệnh cho đồng chí đại đội trưởng vào một căn nhà bên, tiếp tục báo cáo và nhận những mệnh lệnh cần thiết. Trước khi ra về, đồng chí Vũ nghiêm khắc, mắt như bốc lửa nói với đồng chí đại đội trưởng: "– Nó hơi hấp tấp. Hôm nay gặp thằng bình tĩnh hơn thì chính đồng chí nộp mạng mình, nộp cả mạng chúng tôi cho chúng. Chỉ huy phải thường xuyên nắm tình hình địch". Chúng tôi rời khỏi điểm "nóng", ra đến đường cái anh Vũ dặn anh em chúng tôi: "Xoay cho trưởng phòng chính trị một cái mũ sắt khi xuống các đơn vị đang đọ súng với địch. Các đồng chí chớ nên bốc. Nhiệm vụ của các đồng chí là nắm tình hình, làm tham mưu cho lãnh đạo và chỉ huy sát hơn, toàn diện hơn" Trong buổi gặp mặt nhân ngày đầu xuân như tôi đã kể, nhiều đồng chí đề nghị đồng chí An Giao và tôi thuật lại hay nói cho đúng: xác nhận chiến công của các đội Quyết Tử quân trong hai liên khu II và Liên khu III thuộc mặt trận Hà Nội. Theo các đồng chí đó, không hiểu vì lẽ gì, nhưng hình như, khi nói đến Quyết Tử quân, nhiều người chỉ nghĩ đến liên khu I. Sẽ sai lầm khi đánh giá liên khu nào của Hà Nội đã anh dũng nhất, quyết tử nhất, xứng đáng nhất với lời động viên của Bác Hồ: "Các chú quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh". Lễ thành lập đội Quyết Tử quân đầu tiên tổ chức tại làng Mọc Quan Nhân, từ đó lần lượt nhiều đội được thành lập trong tất cả ba liên khu, vào những thời điểm khác nhau. Vũ khí của đội thô sơ nhưng gây cho cơ giới địch nhiều thảm bại. Bom ba càng, bom "bảo toàn" và chai xăng cờ-rếp, có thể nói đó là ba loại vũ khí chính của đội Quyết Tử, ngoài một vài khẩu súng trường và lựu đạn, chỉ dùng khi cần yểm hộ những người đánh bom ba càng xông ra chặn đánh xe tăng. Trong hồi ký "Hà Nội 60 ngày đêm khói lửa", đồng chí Vương Thừa Vũ đã tỏ ý tiếc, hồi ấy nếu biết tập trung lực lượng đầy đủ hơn, nhằm vào những điểm nhất định, tấn công địch, chắc chắn sẽ còn thu nhiều thắng lợi. Tất nhiên qua thời gian, cùng với những kinh nghiệm và kiến thức thu nhận được, khi quay nhìn lại quá khứ, dễ phát hiện ra những điểm yếu hồi đó. Cũng như đồng chí Vũ và nhiều đồng chí khác, khi nhớ lại những ngày chiến đấu tại Thủ Đô, tôi bâng khuâng với nỗi tiếc nuối có thể nói, đôi lúc xót xa. Sao ngày ấy, không nghĩ ra, không tìm cách lưu giữ lại tên những đồng chí đã đánh bung những xe tăng địch. Không phải chỉ bằng bom ba càng mà bằng chính cả tính mạng mình. Giờ đây, tôi chỉ còn nhớ được đồng chí Trần Thành, người đã đâm bom ba càng trúng thành chiếc xe tăng ở ngã năm Hàng Kén. Còn bao đồng chí khác, tên tuổi nằm sâu trong trí nhớ đồng đội chưa được ghi lại xứng đáng trên những trang sử dù của địa phương. Hiện nay, theo tôi chưa tìm được tên thật của em bé đánh giầy có tên là Gầy, người đã nhặt quả bom ba càng từ tay một anh vệ quốc đoàn bị đạn gục xuống khi đang lao ra toan đâm xe tăng địch xông lên ụ cửa ô Cầu Dền. Quả bom ba càng trong tay em Gầy đã hất nghiêng chiếc xe tăng, và khẩu ba-dô-ka độc nhất của mặt trận Hà Nội lúc đó nổ phát đạn đầu tiên trong tổng số bốn phát đạn của nó, thiêu cháy chiếc Ran-tờ-rắc từ góc đường Đại Cồ Việt xông ra, định cùng một lúc phá vỡ ụ đất chắn ngang cửa ô, lao thẳng xuống ngã tư Trung Hiền qua suốt phố Bạch Mai. Mũi nhọn địch dụng công tổ chức đã bị ta bẻ gẫy. Chúng phải phái thêm xe tăng, liều thân lôi hai chiếc bị hỏng quay trở lại chợ Hôm. Còn có thể kể thêm nhiều trường hợp, khi lao bom ba càng vào xe tăng địch, bom không nổ, các quyết tử quân đã không ngần ngại ôm quả bom tịt ngòi ấy lăn vào xích xe tăng. Khối thuốc trong bom bị ép mạnh đã bùng nổ. Xe tăng bị đánh bằng kiểu ấy không đứt xích, cũng bốc cháy. Chính vì những tổ Quyết Tử quân, địch phải hoạt động một cách dè dặt gần như đầy sợ hãi ngay trong các khu vực chúng vừa chiếm. Một nhà báo Pháp buộc phải nói lên một sự thật khi có mặt ở Hà Nội trong những ngày đó: "Trong cuộc chiến tranh kỳ dị này, người ta có thể chết một cách dễ dàng ở bất kỳ nơi nào, lúc nào mà người ta không thể biết!" Nhận xét ấy chứng minh vì sao, có lúc các sĩ quan quân đội viễn chinh đã phải xích chân các lính lái xe tăng vào ngay dưới ghế ngồi, để buộc bọn này phải thi hành lệnh tiến quân. Chuyện ấy làm chúng ta nhớ đến loại máy bay được mang tên "Thần Phong" của quân đội phát xít Nhật xuất hiện vào màn cuối của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Những chiếc "Thần Phong" được chất đầy thuốc nổ, khi bay khỏi mặt đất, hai bánh xe lập tức rơi xuống. Viên phi công hết đường hạ cánh, chỉ còn biết lái máy bay theo lệnh lao xuống các chiến hạm, hoặc một căn cứ của đối phương trên mặt đất. Những viên phi công này trước khi lên máy bay, được chơi bời, ăn uống thỏa thích trong một số ngày, kể cả được quyền "yêu" bất kể cô gái nào anh ta ham muốn. Bọn phát xít gọi đó là những anh hùng "võ sĩ đạo". Còn các đồng chí Quyết Tử quân của chúng ta? Các đồng chí ấy đã phải tranh nhau từng quả bom ba càng và trong những trận đánh lớn, nhỏ, đều không nhận được một mệnh lệnh nào buộc phải đánh bằng đổ xe tăng địch, nếu không đừng trở lại đơn vị! Chưa ai hề nghe các đồng chí khi nhận nhiệm vụ nói đến hai tiếng anh hùng hoặc một danh từ nào như vinh quang, chiến công. Các đồng chí Quyết Tử quân chỉ hứa với cấp trên và đồng đội: "Các đồng chí tin ở tôi. Chúng ta đã thề sống chết với Thủ Đô". Nhớ đến những Quyết Tử quân, đôi khi tôi băn khoăn, sao Hà Nội chưa dựng ở đâu đó trên đường phố của mình, tượng đài kỷ niệm người chiến sĩ mang quả bom ba càng rướn người, lấy thế đâm thẳng quả bom hình phễu vào xe tăng địch? Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 07 Tháng Năm, 2023, 09:36:14 am Để tránh thiệt hại khi phải đánh vượt qua các cửa ô, địch tổ chức một gọng kìm bao vây phía nam Hà Nội, từ mũi xe tăng băng qua Vĩnh Tuy, Quỳnh Lôi, ập đến tận ngã tư Trung Hiền, họp với mũi từ ga Hàng Cỏ thẳng đường số 1 xuống nhà thương Cống Vọng rồi quặt sang. Vòng vây địch được khép lại sau những trận đánh ác liệt. Suốt một ngày, không chiếm xong nhà thương Vọng, địch đánh liều, đưa xe tăng ném giữa ngã tư đường ngay trước đài vô tuyến điện Bạch Mai. Để chặn đường rút của những đơn vị quân ta nằm trong vòng vây, địch tưới ét xăng đốt làng Quỳnh Lôi, đốt các khu nhà lá quanh chợ Mơ. Lửa cháy đỏ một góc trời Hà Nội. Ban chỉ huy các tiểu đoàn 77, 64 để tránh thế hợp vây của địch ngay đêm đó cử liên lạc mang lệnh tìm đến các đơn vị hướng dẫn đường rút, và phương án tác chiến khi chưa thoát vây. Đơn vị trấn giữ cửa ô Cầu Dền, lúc này phải chống đỡ địch từ phía sau đánh thốc lên, cần rút vào các ngôi nhà kiên cố của khu Việt Nam học xá nên một rồi hai ngày sau, cả phía nam Hà Nội vẫn diễn ra những trận đánh tranh chấp từng ngôi nhà, góc phố. Xe tăng địch chạy trên đường Ngã Tư Sở qua sân bay Bạch Mai, nhưng bộ binh của chúng vẫn chưa dám đóng hẳn ở sân bay, vì sợ những đòn đột kích. Máy bay địch ném bom Việt Nam học Xá để bộ binh quét quân ta ra khỏi khu vực này. Nhưng cuối cùng, chúng không chiếm được ngôi nhà nào trong khu học Xá, đêm phải rút về ngã tư Trung Hiền, chịu để quân ta vượt qua đường bao quanh thành phố lui về Giáp Bát, Giáp Tứ.
Vòng vây quanh Hà Nội tuy có dãn ra nhưng địch chưa phá vỡ được cái đai bao bọc chúng. Không tiến xuống được Văn Điển, vì bị chặn lại ở làng Sét, không vượt qua Cầu Mới sao có thể tiến tới Hà Đông. Phải đi xa hơn một hai cây số, nhưng đêm đến các đơn vị cỡ từ một đến hai trung đội vẫn được tung vào những trận tập kích nhà Diêm, khu nhà Đỏ đê La Thành, đình Vĩnh Tuy. Nếu tôi nhớ không nhầm, do được du kích chỉ dẫn, Hồ Đệ một cán bộ đại đội tốt nghiệp trường Lục quân Quảng Ngãi được điều về nhân dịp tăng cường cán bộ cho mặt trận Hà Nội, đã dẫn hơn hai trung đội đánh tiêu diệt năm mươi tên địch đóng ở đình làng Vĩnh Tuy. Đó là trận đánh đêm diệt được nhiều địch, thu được nhiều vũ khí kể từ đêm 19-12. Đại đội trưởng Bảo Cường được lệnh của ban chỉ huy tiểu đoàn 77 tập kích nhà sữa Minh Ngọc ngay tại cửa ô Cầu Dền. Đây là một vị trí cản đường quân ta vào Hà Nội. Nhổ bọn địch ở đây không dễ. Dựa vào tòa nhà hai tầng, đã hai lần chúng đánh bật quân ta, và tiếp tục khống chế một đầu mối giao thông khá quan trọng. Đại đội trưởng Bảo Cường hỏi ý kiến cấp dưới và anh em đội viên. Phải đánh vỡ một mảng tường rộng lấy lối xung phong, nhưng đại đội không có mìn. Một đội viên xin đánh bằng bom ba càng. Mọi người bàng hoàng trước ý kiến chưa hề được nghĩ tới. Về nguyên tắc, bom ba càng cấu tạo theo lý thuyết đạn lõm, nghĩa là khi nổ sức mạnh hất về phía trước, nhưng đó là những quả bom được chế tạo có độ chính xác cao, với những quả bom thủ công nghiệp của ta sai số rất lớn, chính vì vậy nhiều đồng chí đã hy sinh ngay cả khi bom nổ, xe tăng địch bị diệt, nhưng người đâm bom cũng bị sức ép ép vỡ mạch máu. Nay đem bom ba càng phá vị trí địch! Bom nổ, tường đổ, người đánh bom cầm chắc cái chết không khác gì lao cả người vào xe tăng? Câu hỏi đó được đặt ra. Và câu trả lời lập tức được đáp lại, đơn giản như một cái gật đầu: "Thì thế chứ sao?". Người đề nghị đánh bom xác nhận thắc mắc của đồng đội, nhưng không lấy đó làm điều phải tính toán suy nghĩ. Nhiều ý kiến tán thành. Nếu đã có đồng chí hy sinh khi đánh xe tăng bằng bom ba càng, sao lại không khi cần đánh một vị trí? Cái vị trí kia đáng giá như cái xe tăng chứ. Mọi người đi đến quyết định: tán thành đánh bom ba càng mở cửa xung phong. Đồng chí có ý kiến về việc này được quyền thực hiện ý kiến của mình. Trước khi vào trận, đồng chí ấy bí mật dặn đồng chí tiểu đội trưởng của mình: "Anh cho buộc vào người tôi một sợi dây thừng loại tốt và dài dài một chút. Để làm gì à? Còn để làm gì nữa? Tôi đâm bom xong, các đồng chí cứ thế kéo dây lôi tôi ra. Dù chết, tôi cũng muốn được các đồng chí chôn cất cẩn thận. Lỡ đánh không thắng, bỏ xác tôi lại, không có lợi, địch sẽ tuyên truyền giết được hàng mấy tá Việt Minh, bằng cái xác của tôi!" Đồng chí tiểu đội trưởng thấy không có lý gì để phản đối đề nghị bất ngờ kia. Quả bom ba càng trong trận đánh đêm ấy nổ khá to. Một mảnh tường sụp xuống. Quân ta xung phong qua đột phá khẩu. Bị choáng váng vì tiếng nổ lộng óc, địch chưa kịp trấn tĩnh, đã bị quân ta băng lên thang gác. Người đội viên được giao nhiệm vụ kéo sợi dây thừng "thu" lại xác chết của đồng đội bỗng thấy đầu dây phía bên kia giật giật, sau đó như có ai lôi lại. Đoán bạn chưa chết anh vội bò ngay đến và được nghe một câu phê bình lạ tai nhưng rất vui: "Lôi gì lôi khiếp thế? Ngực người ta bị sái hết vì cậu cứ cố lôi. Đã giật rồi mà còn cứ lôi!". Hai người cùng bò ra, khi trên gác, đã kết thúc trận đánh do một đội viên đã dùng chai xăng cờ-rếp đốt vị trí địch. Cả ngay khi rút về Văn Điển, và địch đã chiếm được thị xã Hà Đông, quân ta vẫn băng qua các làng ngoại thành, tiến vào đánh phá các vị trí địch, rồi lại rút ra, chỉ trong một đêm, không kể những tổ được phái vào hoạt động đánh tỉa, lúc chỗ này lúc chỗ khác hàng tuần lễ ngay trong Hà Nội được địch tuyên bố: Đã hoàn toàn làm chủ. Trong gần hai tháng chiến đấu tại Hà Nội, tôi đã thức nhiều đêm suốt sáng không thấy mệt. Nhưng có lẽ đêm đáng nhớ nhất, chưa hẳn là đêm 30 tết, để kỷ niệm một cái tết đầu tiên của cuộc kháng chiến, nhiều đơn vị đã "ra quân" giữa giao thừa bằng cách "kéo lên phố" tập kích các cứ điểm địch. Tất nhiên đêm đầu tiên nổ súng bao giờ cũng lưu lại trong ký ức người trong cuộc những hình ảnh và cảm giác không dễ gì quên. Nhưng đối với tôi, và chắc với nhiều đồng chí khác, đêm tổ chức những trận đánh tạo cơ hội để trung đoàn Thủ Đô rút khỏi liên khu I là đêm hồi hộp, căng thẳng nhất. Cân nhắc tình hình, căn cứ vào nhiệm vụ của mặt trận Hà Nội, ngày 17-2-1947 Bộ tổng chỉ huy ra lệnh: trung đoàn Thủ Đô rút khỏi Hà Nội. Cố thủ thêm nữa, không lợi gì hơn, trái lại còn có thể tiêu hao phần lớn lực lượng cần bảo vệ. Các tiểu đoàn thuộc liên khu II, liên khu III tấn công nhất loạt vào những cửa ô đã giành giật quyết liệt cách đó 1 tháng: ô Cầu Dền, ô Cầu Giấy, một dọc đường phố Huế, Hàng Bột sang Kim Mã, Nhà Tiền. Nhiều đại đội trưởng nhận được lệnh, sung sướng tưởng được phản công chiếm lại Hà Nội. Tất nhiên vì nguyên tắc bí mật, đành phải để những đồng chí "hăng hái" ấy mừng hụt. Trung đoàn thủ Đô có an toàn rút được? Dù sao không thể coi thường vòng vây của địch; nhất là khi phải chấp hành mệnh lệnh "rút ra để bảo toàn lực lượng, tiếp tục cuộc kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng". Đêm đó, vừa lắng nghe tiếng súng nổ rền trong Hà Nội, vừa chờ đợi trời mau sáng, để nhận được những tin tức cuối cùng của cuộc hành quân vượt qua vòng vây, địch đã tuyên bố siết chặt chim bay không lọt. Toàn thể mọi người có mặt ở chỉ huy sở mặt trận như cùng một lúc reo lên: Xong rồi! Trung đoàn Thủ Đô đã hoàn thành cuộc rút lui thần kỳ của mình với sự yểm hộ bằng mưu trí và cả xương máu của đơn vị tự vệ Phúc Xá. Đài Con Nhạn1 (Đài Con Nhạn: đài phát thanh của quân đội Pháp) lại đưa tin vịt: "Việt Minh ở liên khu I chỉ còn một con đường: đầu hàng, nếu không muốn bị tiêu diệt"!! Hà Nội Tổng khởi nghĩa sáng tạo, nhanh gọn, đã thôi thúc cổ vũ toàn quốc mở đầu kháng chiến toàn quốc. Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ mà Trung Ương Đảng và Bác Hồ đã giao. Hà Nội đã lớn lên với lòng tin sắt đá ở Đảng và Bác Hồ, với lòng "tự tôn, tự lập của dân tộc" Để cho phù hợp với yêu cầu kháng chiến trong tình hình mới, theo quyết định của trên, Thành ủy Hà Nội, Đảng ủy mặt trận, Bộ chỉ huy mặt trận quyết định thành lập trung đoàn 80 gồm 3 tiểu đoàn trước trực thuộc khu: 823, 77, 145 bố trí đánh địch ở Hà Nội và trên đường Hà Nội – Nam Định, Hà Nội – Hà Sơn Bình. Khi tiểu đoàn 145 đi Tây tiến cùng với tiểu đoàn 212, trung đoàn được bổ sung 2 tiểu đoàn: 185 ở Sơn Tây, phụ trách tác chiến phía Tây Hà Nội, tiểu đoàn Hà Nam, phụ trách Nam Hà Nội. Trung đoàn được thành lập một ngày trong dịp tết âm lịch năm 1947 tại làng Đại Mỗ Hà Đông. Năm 1947, Trung đoàn được Trung Ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy tặng danh hiệu Trung đoàn Thăng Long. Tôi may mắn được cấp trên cử làm chính trị viên Trung đoàn cùng với đồng chí An Giao là chỉ huy trưởng đầu tiên. 40 năm đã trôi qua. Trung đoàn Thăng Long đã có mặt ở hầu hết các chiến dịch lớn, trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trung đoàn Thăng Long đã có mặt trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhưng những người con trai, con gái Hà Nội không chỉ có mặt trong 2 trung đoàn Thủ Đô và Thăng Long. Họ đi Tây tiến, đi hầu hết các chiến trường, chịu đựng mọi gian khổ, khó khăn, có lúc chia nhau 1 đại đội 4 viên thuốc ki-na-rô-rin chống sốt rét hòa loãng với lá rừng. Họ ra đi lòng dạ đinh ninh "sẽ trở về chiếm lại quê hương". Mong ước ấy từ lâu đã thành hiện thực. Nhưng nhiều người không trở lại. Chính vị vậy, Tổ Quốc và người còn sống hôm nay mãi mãi được khích lệ vì những tâm hồn cao cả ấy, không ngừng dấn mình lên phía trước. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 18 Tháng Năm, 2023, 07:29:12 am CON ĐƯỜNG NHỎ CỦA TÔI CAO BÍCH THU Ở Hà Nội, gia đình tôi có thể nói là một gia đình khá giả. Tôi đi học bao giờ cũng có kẻ đón người đưa, thậm chí có cả ô tô nữa. Song không hiểu vì sao tôi vẫn không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, bên cạnh đó mẹ tôi lại là người sùng đạo Phật nên những khi mẹ con tụng kinh niệm Phật, người thường bảo tôi ngồi bên cạnh cùng nghe, rồi nhiều khi mẹ lại bảo tôi đọc với người những bài kinh đã được dịch và in bằng chữ quốc ngữ sau những giờ phút tụng kinh niệm Phật như thế mẹ tôi còn thường giảng giải cho tôi nghe bằng những câu chuyện về cuộc đời từ bi, đức độ, chuyên lòng vào việc thiện, mong cứu vớt được chúng sinh ra khỏi biển trầm luân, để siêu sinh tịnh độ lên được cõi Niết bàn của Thích Ca Mâu Ni, của Phật tổ Như Lai… Tất cả những cái đó như một chất men vô hình, thấm đượm vào cuộc đời tẻ nhạt của tôi làm tôi choáng váng và cũng chính cái chất men vô hình ấy đã dẫn tôi tới một hành động không lấy gì làm lạ vào thời buổi bấy giờ là tôi cắt tóc đi tu, quy y đầu phật. Tôi ở chùa, sống cuộc đời khổ hạnh như trăm ngàn người tu hành khác, nhưng trong lòng lại thấy thảnh thơi, nhẹ nhõm trước con đường (lầm lạc) mà tôi đã chọn. Năm đó là năm tôi vừa ở tuổi dậy thì, mười sáu mười bảy tuổi. Nhưng rồi một chuyện khác hoàn toàn vô tình và bất chợt đã kéo tôi trở lại cuộc đời thường. Câu chuyện khởi đầu bằng một hôm có một đoàn hướng đạo sinh đến cắm trại ở gần ngôi chùa tôi tu hành và có một hướng đạo sinh đi vào chùa. Gặp tôi anh bắt chuyện làm quen, anh hỏi tôi nhiều chuyện và tôi cũng nói cho anh nghe nhiều điều. Anh tỏ vẻ tiếc cho tôi rằng một cô gái khỏe mạnh, có được học hành chữ nghĩa mà lại từ bỏ mọi thứ, cắt tóc đi tu, tách mình ra khỏi cuộc sống, bỏ mặc cho đất nước trong vòng chìm nổi lênh đênh, trong lúc đáng ra phải góp một tay vào việc xây dựng lại nó. Câu chuyện tưởng như vui mồm bất chợt hôm đó đã để lại cho tôi nhiều suy nghĩ. Và những câu chuyện sau buổi đầu tiên đó của anh còn để lại cho tôi nhiều điều đáng suy nghĩ hơn. Rồi anh đã bắt đầu tin tôi và đưa sách báo cách mạng cho tôi đọc. Quả thực là qua anh tôi đã biết những điều sơ đẳng nhất về phong kiến, đế quốc, về Các Mác, Lê nin, về cách mạng, về thực dân Pháp và về những người dân mất nước sống cuộc đời nô lệ… Và rồi cuối cùng nghe theo anh, tôi phá giới, bỏ chùa để trở lại cuộc đời thường. Tôi từ bỏ cuộc đời tu hành cũng dễ dàng như khi tôi đến với nó, bởi lẽ tôi thấy cái ánh sáng dù chỉ là le lói trên con đường tôi mới chọn rõ ràng là sáng sủa hơn con đường cũ mà tôi đã lầm lạc bước vào. Đó là năm 1943. Tôi phá giới nhưng tôi không trở lại sống với gia đình. Tôi xin vào làm nữ hộ sinh trong nhà thương tư của bác sĩ Đặng Vũ Lạc ở 92 phố Trần Hưng Đạo bây giờ. Tôi đã làm hết tất cả mọi việc cần thiết của một nữ hộ sinh cần làm để được bác sĩ yêu mến mà truyền nghề cho. Tôi ở luôn trong bệnh viện và ăn ở tại đó để có nhiều thì giờ hơn chăm sóc sản phụ và cũng chẳng bao lâu tôi trở thành một cô gái đỡ đẻ có nghề. Cũng trong thời kỳ này tôi kết hôn với người bạn trai đầu tiên của tôi, anh Nguyễn Bá Khoán người đã lôi kéo được tôi ra khỏi ngôi chùa khổ hạnh và dẫn tôi đến với cách mạng, vì chính anh cũng là một trong những người hoạt động cách mạng ở Hà Nội thời đó. Anh là một nhiếp ảnh viên có tài, với chiếc máy ảnh cũ kỹ cỡ 6×6 cộng với lòng nhiệt thành cách mạng anh đã chụp được nhiều ảnh tư liệu quý ngay từ những ngày đó và cho đến ngày Cách mạng thành công kể cả những ngày nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp tại Hà Nội. Cho đến nay nhiều ảnh đó của anh đã được để trong viện bảo tàng và vẫn được sử dụng trên báo chí. Chính tôi là người in tráng những phim ảnh ấy cho anh và giữ gìn bảo quản những phim ảnh ấy suốt trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Anh là người hoạt động cách mạng và anh cũng đã không ngần ngại lôi kéo tôi vào những công việc. Về công khai, tôi tham gia vào việc dậy "truyền bá quốc ngữ" ở An Dương, về bí mật, tôi tham gia vào công việc tuyên truyền, đi dán truyền đơn, biểu ngữ kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh và tham gia vào Việt Minh để chuẩn bị cướp chính quyền. Cũng chính vào cái năm 1945 đó, do Nhật Pháp thi nhau vơ vét thóc gạo của nông dân để đổ vào cuộc chiến tranh nên đã gây ra một nạn đói khủng khiếp cho dân ta. Cái nạn đói ấy những người thuộc vào tuổi tôi bây giờ không ai là không nhớ, người chết đói đầy đường đầy chợ, không chỗ nào là không gặp cảnh chết ấy. Người ta đem quẳng cả những người con đang sống ngắc ngoải lên xe bò đem đi chôn một thể trong những hố chung. Hai vợ chồng tôi được đoàn thể giao cho một nhiệm vụ có thể gọi là quan trọng lúc bấy giờ là đứng ra lập một trại cứu đói ở Giáp Bát để "cấp cứu" đồng bào mình. Đứng ra lập trại nhưng đoàn thể chẳng có tiền và bản thân chúng tôi cũng chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng một khi đoàn thể đã giao nhiệm vụ và chúng tôi đã nhận nhiệm vụ thì chúng tôi làm. Trại cứu đói là những gian nhà bỏ hoang đã từ lâu, vẫn không hề được sửa chữa lại mà chỉ được quét dọn cho sách những rác rưởi, bùn nước lưu cữu ứ đọng từ lâu để cho nạn nhân tạm thời tránh nắng tránh mưa thôi vì điều cốt yếu lúc bấy giờ là làm sao mỗi ngày mỗi người có được bát cháo cố sống cho qua được những ngày đói kém. Để có được bát cháo bát cơm ấy chúng tôi phải đến những nhà giàu có, còn được bát ăn bát để, kêu gọi lòng từ nghĩa, nghĩa đồng bào với những lời lẽ của cha ông để lại như: Một miếng khi đói bằng một gói khi no, như là lá lành đùm lá rách, như nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng, như thương người như thể thương thân vân vân, để cho họ ít gạo, ít tiền làm phúc, đem về duy trì mức sống thoi thóp cho những người bị đói bỏ làng mạc quê hương đến trú chân tại đó. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 18 Tháng Năm, 2023, 07:31:11 am Trong những ngày ở trại cứu đói mà lúc bấy giờ nhiều người thường quen miệng gọi là "Trại Ăn mày" ấy tôi làm việc không nề hà giờ giấc. Cứ chạy được gạo là về tôi lại quay ra nấu cháo ngay. Đối với những người mới đến trại, đói lả sắp chết, tôi kiên nhẫn bón từng thìa nước cháo cho từng người một. Đối với người sức khỏe còn khá hơn tôi giúp họ bắt chấy bắt rận nhung nhúc trên đầu và xếp thành hàng dài dọc theo mép những chiếc bao tải rách mà họ khoác trên người. Ngày ấy, một phần do sức khỏe tôi và phần quan trọng hơn là tôi đã được giác ngộ về tình máu mủ đồng bào cũng là máu đỏ da vàng với nhau nên tôi làm việc không biết mệt mà không hề sợ hãi trong khi bệnh chấy rận đang hoành hành ở khắp nơi.
Trại cứu đói Giáp Bát của chúng tôi đã kéo dài được tới gần ngày Tổng khởi nghĩa, khi ấy nạn đói cũng đã qua khỏi và công việc cách mạng trước mặt đòi hỏi ở chúng tôi nhiều thời gian hơn vì nhà riêng của vợ chồng tôi đã trở thành cơ sở cho một số cán bộ bí mật đi về. Ở nhà tôi luôn luôn được các đồng chí đó tổ chức những cuộc họp và những lớp huấn luyện cấp tốc, khi ấy tôi trở thành người canh gác, bảo vệ cho những cuộc họp và những lớp huấn luyện được trọn vẹn an toàn, tôi chưa hề để xẩy ra một việc đáng tiếc nào cho các đồng chí ấy ở lại nhà tôi. Lúc đó vợ chồng tôi đã sinh được một cháu gái đầu lòng, tuy bận con mọn, nhưng tôi vẫn không hề sao nhãng công việc của đoàn thể. Dưới nôi của con gái tôi, bao giờ tôi cũng cất giấu những lá cờ, những tập truyền đơn chuẩn bị cho ngày Tổng khởi nghĩa. Về những ngày tiền khởi nghĩa này, đồng chí Hoàng Mười cán bộ của Bộ Ngoại Giao đã ghi cho tôi những dòng sau đây vào ngày 29-3-1977 để kèm theo hồ sơ hưu trí của tôi vì ngày đó tôi làm việc trực tiếp với đồng chí ấy: "… Tháng 3 năm 1945, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Hà Nội, tôi có liên lạc với gia đình chị Thu, đã giác ngộ và kết nạp chị vào tổ chức Thanh Niên cứu quốc. Lúc này tôi làm bí thư thanh niên của thành phố. Chị Thu cùng chồng làm việc trực tiếp với tôi. Ngoài những công việc bình thường của một quần chúng cứu quốc, chị đã dành nhà riêng của mình, tổ chức, bố trí canh gác cho một số buổi họp và lớp huấn luyện ngắn ngày. Trong những ngày khởi nghĩa, chị Thu cũng có phần đóng góp của mình. Khi cách mạng thành công, tôi đã chuyển chi qua sinh hoạt với hội Phụ Nữ…" Và một đồng chí khác cũng ghi cho tôi những dòng sau: "… tôi là Lê Đình Thi, cán bộ tòa án Nhân dân tối cao chứng nhận chị Cao Bích Thu là gia đình cơ sở cách mạng thời kỳ bí mật (từ tháng 3 năm 1944 Cách mạng tháng Tám đã hoạt động trong đội Tuyên truyền xung phong, phát báo Cứu Quốc, báo cờ Giải Phóng cho mặt trận Việt Minh thời kỳ chống Pháp Nhật. Sau cướp chính quyền, chị được bầu làm Ủy viên lâm thời huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Đông. Từ năm 1946, Toàn quốc kháng chiến, chị Thu tham gia công tác y tế ở mặt trận Thủ Đô và liên tục làm công tác y tế ở hậu phương Liên Khu 3 cho đến ngày hòa bình lập lại…" Hà Nội ngày 6 tháng 4 năm 1977 Được phép Chính Phủ ta, Pháp đưa quân vào Hà Nội và được đóng quân trên một số địa điểm nhất định để thay thế quân Tưởng đồng minh, nhưng với âm mưu chiếm lại thủ đô, chiếm lại đất nước ta nên bọn lính mũ đỏ được bọn chỉ huy của chúng bật đèn xanh tràn ra phố gây những vụ khiêu khích đổ máu để lấy cớ châm ngòi lửa chiến tranh. Hà Nội vô cùng nhộn nhạo. Đàn bà con trẻ và những người không có nhiệm vụ gìn giữ thủ đô được sơ tán. Trong tình hình đó, vừa là để giữ an toàn vừa là để thêm có thì giờ hoạt động tôi cũng đã gửi đứa con gái đầu lòng duy nhất lúc đó của chúng tôi về quê nhờ bác cháu nuôi hộ. Nhưng rồi một hôm chồng tôi bàn: - Tình hình hiện nay rất không an toàn, chiến tranh không biết sẽ nổ ra lúc nào, hay là bây giờ em về quê nuôi con, để mình anh ở lại Hà Nội tham gia chiến đấu là đủ. Nghe anh nói vậy, tôi hoàn toàn thông cảm với anh, tôi biết xưa nay anh không bao giờ có chuyện bàn lùi, và anh cũng hiểu tôi vốn không phải là người nhút nhát nhưng anh nói thế là anh chỉ nghĩ đến sự an toàn của tôi và tình hình sức khỏe của đứa con đang ở xa, thêm vào đó, tất cả đàn bà con trẻ ra khỏi thành phố thì tôi có về quê với cũng là hợp lẽ, hơn nữa khi đã có tôi bên cạnh cháu anh sẽ yên lòng để tham gia chiến đấu hơn. Và chính tôi cũng hiểu rằng, không có một người mẹ nào lại muốn sống xa con cái mình nhất là khi đứa trẻ còn măng sữa rất cần đến hơi ấm của bầu ngực mẹ mình. Song tôi cũng từng được các đồng chí hoạt động cũ kể cho nghe rằng: Trong những ngày chưa cướp được chính quyền, có một đồng chí nữ giao liên đã cắn răng đem cho đứa con mình vừa rút ruột đẻ ra để bảo đảm công tác của đoàn thể. Còn tôi mới chỉ phải xa con quả thật nhiều lúc tôi đã thấy lòng dạ bồi hồi, ngồi đứng không yên, mỗi khi như vậy tôi lại cố nghĩ về chị nữ giao liên ấy, lấy chị làm tấm gương sáng cho mình và lại thêm một lần nữa thán phục tinh thần quả cảm của chị, biết cọn lấy lợi ích cao nhất trong nhiều lợi ích đang bầy ra trước mắt mình bắt mình phải lựa chọn, chỉ lấy một chứ không được phép lấy hai. Nghĩ vậy, nhưng tôi chỉ nói với chồng tôi: - Em phải thú nhận với anh rằng, không có một người mẹ nào muốn xa con dù một bữa hay một ngày, nhưng như anh đã biết đấy, em bé nhà mình ở với bác, được bác nó chăm sóc nuôi nấng thật tận tình, chu đáo cho nên em rất yên tâm về con. Bởi thế em nghĩ anh để em ở Hà Nội để cùng tham gia chiến đấu với anh. Em có nghề thuốc, em có thể làm cứu thương… Tôi nói vậy và chồng tôi cũng không cản tôi nữa. Tôi tham gia hội Chữ Thập đỏ Việt Nam (ngày ấy còn gọi là hội Hồng Thập Tự) rồi tham gia Trung đoàn Thủ Đô. Tôi được cử đi học lớp cứu thương đầu tiên của ta chỉ có 6 học viên do bác sĩ Tôn Thất Tùng trực tiếp hướng dẫn. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 18 Tháng Năm, 2023, 07:32:58 am Lúc này cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta đã bùng nổ và tôi được điều về bệnh viện Bạch Mai. Ở đây tôi tham gia điều trị cho các chiến sĩ bị thương từ mặt trận chuyển về. Song không phải tôi chỉ làm việc ở bệnh viện mà cứ mỗi khi có một cuộc chiến đấu nổ ra, và khi ngớt tiếng súng, nhiều khi tiếng súng vẫn nổ ròn thì tôi đã lần tới đó để tiến hành sơ cứu và chuyển các chiến sĩ bị thương trở về.
Thực tình, cho đến bây giờ nhiều khi tôi vẫn cứ ngỡ ngàng tự hỏi, ngày ấy tôi nhờ được sức mạnh nào mà tôi ôm chầm lấy một chiến sĩ vừa bị thương trước mặt tôi rồi cùng với anh, tôi lăn đi nhiều vòng dưới làn pháo đạn của địch để đưa được anh an toàn trở về bệnh viện, và không biết nhờ được sức mạnh nào mà một người con gái Hà Nội như tôi có thể đi qua mỗi chiếc cầu chỉ được bắc bằng một thanh ray tàu lửa, trơ trọi không tay vịn để sang mặt trận Việt Nam học xá thăm thương binh và chiến sĩ trong khi trên đó đang bị đốt cháy, lửa khói bốc ngút trời. Không biết nhờ được sức mạnh nào mà người con gái e lệ, nhút nhát bỗng trở nên hoạt bát tìm ra được hàng trăm thứ chuyện để hỏi, để nói với người chiến binh nằm trên bàn mổ để quên đau, quên sợ khi bác sĩ Tôn Thất Tùng mổ cho anh không có thuốc mê và không có cả thuốc tê? Phải chăng đó là lòng căm thù trước những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra cho đồng bào tôi trước mắt tôi. Tôi đã từng chứng kiến cảnh giặc tàn sát đến bảy người trong gia đình, cảnh chúng nhằm súng vào bụng bắn chết một chị phụ nữ có mang tám tháng sắp đến ngày sinh nở, và cảnh trước đó, trong trận đói một đứa trẻ gầy guộc như que củi khô bò ngều ngào trên bộ ngực trơ tóp đã trở thành xám xịt, lạnh cứng, nhay mút bầu vú của người mẹ đã chết đói từ lâu? Phải chăng sức mạnh ấy đã lấy được từ lời kêu gọi kháng chiến của Cụ Hồ trong khi chăm sóc thương binh giữa chiến hào và cùng ăn với các anh một nắm cơm, mà giữa ruột đã có sẵn một dúm muối vừng rang mặn? Có thể là tất cả, tất cả! Chỉ sau năm ngày chiến đấu, bệnh viện Bạch Mai hồi đầu bị giặc bắn phá mặc dù đó là điều cấm trong luật lệ chiến tranh. Bệnh viện và bệnh nhân buộc phải rút ra ngoài. Tôi được giao đi làm tiền trạm với hai nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm mới và xin dân quân đi cáng thương binh, bệnh binh, vì lúc đó giao thông vận tải hoàn toàn tê liệt, không còn xe cộ gì hết. Một mình tôi đi từ Phương Liệt theo đường số Một về Văn Điển với hai bàn tay trắng, cùng chiếc túi nhỏ trên vai trong đó có một tờ giấy giới thiệu một cách chung chung do đồng chí Đào ký (Đồng chí Đào nguyên là thứ trưởng bộ Ngoại thương nay đang làm việc tại Ban Kinh Tế thuộc Trung Ương Đảng). Tờ giấy giới thiệu ấy tôi vẫn còn giữ được tới bây giờ nguyên văn như sau: Hoàng Diệu ngày 26-12-1946 Giấy giới thiệu Ủy Ban Kháng chiến Hành chính khu II thành Hoàng Diệu trân trọng giới thiệu bà Cao Bích Thu, 23 tuổi, trong hội Hồng Thập tự Việt Nam đã được bác sĩ Quân cục trưởng đề cử phụ trách, việc trông nom các chiến sĩ bị thương ở bệnh viện Bạch Mai và tổ chức việc cứu chữa các chiến sĩ từ tiền tuyến về hậu phương điều trị. Ủy ban Kháng chiến Hành chính bảo vệ thành Hà Nội trân trọng giới thiệu bà Cao Bích Thu với U.B.KC.H.C các khu hết sức giúp đỡ bà Cao Bích thu về mọi phương tiện để bà thi hành nhiệm vụ được dễ dàng Chủ tịch UBKCHC khu II Ký tên: Đào Chỉ với tờ giấy giới thiệu ấy tôi đi đến đâu cũng được các đồng chí ở địa phương tiếp đón niềm nở, giúp đỡ nhiệt tình, ngay cả chuyện ăn uống cũng không phải lo gì hết. Tôi được các đồng chí ở Văn Điển giao cho một ngôi trường để làm địa điểm tạm trú cho thương binh bệnh binh. Khi đã có địa điểm rồi tôi lại đi xin dân quân ở các xã xung quanh đem võng, đem cáng lên tận bệnh viện Bạch Mai khiêng các chiến sĩ về Văn Điển. Hiện nay tôi vẫn còn giữ được một trong những tấm ảnh chụp những cảnh tải thương này. Nhìn tấm ảnh ghi cảnh đoàn dân quân tải thương đang đi ngang qua đường phố Văn Điển sang phía đường sắt tôi không còn nhận ra những người trong đó có ai vào với ai nữa nhưng lòng kính trọng và sự mến phục các chiến sĩ thương binh nằm trên cáng và các dân quân đi khiêng cáng trong tôi vẫn còn nguyên vẹn, bởi tôi vẫn nhớ ngày đó là những ngày mưa phùn gió bấc, rét thấu thịt xương, bầu trời luôn xám xít lạnh ngắt mà mỗi người chỉ mặc trên người một bộ quần áo mỏng manh, hơn thế, không it người chỉ mặc có một chiếc quần đùi nhưng lại khoác thêm lên người một chiếc chăn Nam Định mỏng. Trong ảnh duy nhất có hai người là được mặc ấm bằng hai chiếc áo pa đờ suy cũ của lính khố đỏ còn lại. Bệnh viện di chuyển và đã trở thành bệnh viện lưu động, trong điều kiện ấy thuốc men không còn được nhiều và đầy đủ như những ngày đầu còn ở trong thành phố. Thuốc mê và thuốc tê thì đã không có từ lâu, nên bác sĩ Tôn Thất Tùng một ngày đêm mổ hàng trăm ca cấp cứu vẫn đều không có những thứ thuốc tối cần thiết đó, bởi vậy tôi cứ phải đứng bên bàn mổ cạnh bác sĩ và thương binh thông báo cho anh những tin chiến thắng mới nhất để anh thêm phấn khởi và tìm cách nói mọi thứ chuyện với anh để anh quên đau, quên sợ trong khi bác sĩ đang mổ cho anh. Và cũng bên bàn mổ đó tôi đã chứng kiến được biết bao nhiêu gương dũng cảm, chịu đựng không rên la, không kêu gào, để khỏi làm ảnh hưởng tới tay dao của bác sĩ. Trong khi mồ hôi anh chảy đầm đìa trên mặt, và anh chỉ nghiến răng thêm chặt lại, hoặc cố gắng nói chuyện với tôi hay trả lời những câu hỏi của tôi để quên đau và cũng để làm tôi vui lòng. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 18 Tháng Năm, 2023, 07:35:45 am Tình trạng thiếu thuốc men kể cả bông băng ngày càng nghiêm trọng, tôi bỗng nghĩ đến những kho thuốc còn đầy ắp trong bệnh viện Bạch Mai khi rút lui còn chưa mang ra kịp. Bác sĩ Vũ Đình Tụng cũng đã nghĩ tới những kho thuốc này và bác sĩ đã giao nhiệm vụ đó cho tôi bằng một giấy Ủy nhiệm đánh máy, không có dấu, trên một mảnh giấy chỉ to bằng nửa bàn tay vừa đủ vài dòng chữ và chỗ để ký tên đóng dấu, mà đến nay tôi vẫn còn giữ được nguyên bản, nguyên văn như sau:
Bệnh viện lưu động Bạch Mai Giấy ủy nhiệm Bác sĩ Giám đốc Y tế Bắc Bộ kiêm Trưởng ban giải phẫu khu 3 ủy nhiệm cho chị Cao Bích Thu lên bệnh viện Bạch Mai đưa một số dụng cụ về b.v. Lđ. Văn Điển Văn Điển ngày 28-12-46 Bác sĩ Võ Đình Tụng (Ký tên đóng dấu) Tôi được giao nhiệm vụ đó vì trước hết muốn hoàn thành công việc cần phải có dân quân hoặc dân công đi gánh bộ từ trên bệnh viện về, mà trước đây việc đưa thương binh về tôi cũng đã từng đi xin du kích dân quân, đó là việc quen, tôi đã từng làm. Hơn nữa sự nhiệt tình xuất phát từ lòng yêu nước, lòng căm thù giặc xâm lược của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là những nông dân nghèo luôn luôn sẵn sàng làm bất cứ công việc gì mà kháng chiến đòi hỏi. Tôi đến các cơ quan và chính quyền địa phương đề nghị giúp cho người đi gánh thuốc, và tôi đã nhận được sự giúp đỡ nồng nhiệt của mọi người vì chỉ cần nói đến việc đi lấy thuốc cho các chiến sĩ là mọi người đều hăng hái lên rồi. Trên những mảnh giấy chỉ to bằng bang tay hoặc chỉ bằng nửa bàn tay xé từ phần cuối của một tờ công văn còn trắng; hoặc xé từ một cuốn sổ tay nhỏ của các đồng chí phụ trách cơ quan, với vài ba dòng chữ ngắn gọn được viết bằng bút chì, bút mực tím cho các đồng chí cấp dưới, hoặc những đơn vị trực thuộc, nhiều khi chỉ ký tên mà không ghi chức vụ, không đóng dấu đều là những mệnh lệnh được thi hành ngay tức khắc. Một số trong những tờ giấy quý báu đó hiện nay tôi vẫn còn giữ được ví dụ như những tờ sau đây, tôi xin sao lại nguyên văn: Ủy ban phá hoại Việt Nam dân chủ cộng hòa phủ Thường Tín Độc lập tự do hạnh phúc Ủy nhiệm 70 đồng chí bộc phá đi giúp việc mang thuốc ở nhà thương Bạch Mai về Văn Điển đến 6 giờ chiều phải trả lại. Ủy viên quân sự Phùng Văn Sức Ký Số người này giao bà phụ nữ Cao Bích Thu quân y viên phụ trách các chiến sĩ bị nạn. Mảnh giấy này được viết bằng bút chì xanh chỉ ghi tên, ký tên và không đóng dấu. Hay những giấy sau đây của đồng chí Đại ở Pháp Vân (Thanh Trì). Nguyên Văn: Đ.C. Trạch Đ.C. thảo luận với Đ.C. Chính hay Sơn viết giấy ra Yên Mỹ và Đại Lan lấy 200 người đủ quang gánh ra Văn Điển giao sang nhà thương và nói rõ rằng hôm nào cũng phải đi bao giờ hết mới thôi. Pháp Vân 7-1-47 F.T.T.B.Q.S. Giao người cho bà Cao Bích Thu (Ký tên) Đại Và ngay sau đó đồng chí Đại viết cho tôi một mảnh giấy nữa để lấy người. Nguyên văn như sau: Đ.C. Khuyếch Đ.C. giao 40 người nên tôi hôm qua cho chị Cao Bích Thu để mang đi lấy thuốc về rất cần. Xin Đ.C. làm ngay, mang theo cả thúng Pháp Vân 7-1-47 F.T.F.H. (Ký tên) Đại Mảnh giấy dưới này có đóng dấu Ủy ban xã còn mảnh giấy trên không được đóng dấu. Trong số những giấy tờ thuộc về công việc này tôi cũng còn giữ được một "tờ mệnh lệnh" viết bằng mực tím trên một mảnh giấy pơ luya đỏ vuông vức với nét chữ rắn rỏi dễ đọc trông có vẻ một tờ lệnh hơn cả nguyên văn như sau: Mệnh lệnh Ủy ban Kháng Chiến khu Đề Thám giao 100 dân quân của UBKC Thanh Trì thuộc quyền bà Cao Bích Thu để chuyên chở vật liệu của bệnh viện Bạch Mai xuống Văn Điển. Đề Thám ngày 31 tháng 12 năm 1946 Ủy viên y tế UBKC Đề Thám Ký tên (Không ghi họ tên và không đóng dấu) UBKC Phương Liệt chịu tiếp tế cho số người này Chuẩn y (Ký tên, đóng dấu Ban Bảo vệ xã Phương Liệt nhưng không ghi rõ tên và chức vụ) Văn Điển ngày 28-12-46 Bác sĩ Võ Đình Tụng (Ký tên đóng dấu) Tất cả những giấy tờ đó đã giúp tôi nhanh chóng có được những người đầu tiên với đầy đủ quang gánh thúng mủng xuất phát từ bệnh viện Văn Điển lên bệnh viện Bạch Mai với đoạn đường bộ mười cây số để lấy thuốc. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 18 Tháng Năm, 2023, 07:36:49 am Tôi lại gặp lại những dáng dấp cũ của những dân quân du kích trước đó ít hôm đã cùng tôi khiêng cáng đưa thương binh từ Bạch Mai về. Vẫn những người chân đất đúng theo nghĩa đen của nó và cũng vẫn vào những ngày mùa đông, gió bấc, rét như cắt da, cắt thịt, mà mỗi người chỉ phong phanh một bộ quần áo mỏng và cũng vẫn có người chỉ mặc một chiếc quần đùi, mình khoác thêm một tấn chăn Nam Định mỏng và trên đầu vẫn chiếc nón mê hoặc chiếc mũ cát tàng tàng bật vải. Nếu gặp những ngày mưa thì mọi người còn vất vả hơn, hai vai gánh nặng, đôi bàn chân đất phải đi trên con đường vừa phá hoại để cản giặc vừa lổn nhổn những tảng đất ướt trơn như đổ mỡ và đã có không ít người bị trượt chân vấp ngã.
Đoàn người quang gánh đó có hôm lên tới 200 cứ sớm sớm ra đi từ lúc chưa rõ mặt người phải phân tán thành những nhóm nhỏ để tránh máy bay địch thỉnh thoảng lại vè vè bay lượn bắn phá trên đầu hoặc chỉ mục tiêu cho đạn pháo của địch từ xa bắn tới. Chúng tôi lên tới bệnh viện, càng gần địch hơn, trong khi chúng tôi phá kho xếp thuốc và dụng cụ y tế vào quang gánh thì đạn pháo của địch ở những nơi chúng đã chiếm lĩnh được bắn về bệnh viện càng dữ dội hơn, nhưng thật lạ kỳ, chúng tôi không một ai thoái chí, không một ai bỏ dở nhiệm vụ của mình. Riêng tôi, tôi cũng có được sự bình tĩnh đến lỳ lợm đó. Tôi đã thu xếp cho anh em dân quân mang đến cả những bàn tán thuốc rất nặng đi vì tôi nghĩ rằng kháng chiến rồi ra sẽ rất cần đến cái dụng cụ nặng nề ấy. Tôi cũng đã gặp đây đó một vài tử thi của những anh bộ đội, những anh tự vệ hy sinh trong khi chiến đấu với giặc còn sót lại, và cả những người dân, tôi đã đề nghị với các anh em dân quân mai táng mồ yên mả đẹp cho tất cả. Tôi cũng còn nhớ hôm đầu tiên lên bệnh viện lấy thuốc sau khi thu xếp cho anh em quang gánh lần lượt ra đi hết cả rồi tôi bỗng nghe thấy tiếng người kêu gào ở phía nhà điên, tôi đứng nán lại và lần mò về phía đó xem sao, thì ra trong khu bệnh thần kinh này vẫn còn lại một số bệnh nhân bị khóa trong nhà mà trong lúc vội vã rút lui họ đã bị bỏ quên. Tôi nghĩ thả hay không thả họ ra? Thả ra, họ đi lang thang rất có thể sẽ bị dính những viên đạn pháo bắn vu vơ của địch, mà mang họ đi theo, một mình tôi làm sao có thể điều khiển được những người thần kinh ấy. Nhưng nếu không thả họ ra thì cái chết chắc chắn sẽ đến với tất cả mọi người đó là chết đói. Thả ra họ vẫn còn có nhiều hy vọng sống sót, nhất là đối với những người ở thể nhẹ, họ có thể tự lần về được gia đình hoặc những vùng an toàn hơn. Không có nhiều thì giờ suy nghĩ thiệt hơn nữa, tôi đã quyết định chọn lấy cách thả họ ra mà tôi cho là tốt hơn cả. Thế là tôi đi kiếm một thanh sắt, lần lượt đi phá các ổ khóa… Sau đó và cho tới tận bây giờ, tôi cũng không biết được số phận của họ ra sao. Trong những ngày đầu đi lấy thuốc ở Bạch Mai thì theo như mệnh lệnh của Ủy Ban Kháng Chiến khu Đề Thám xã Phương Liệt (Bệnh viện Bạch Mai nằm trong xã Phương Liệt) sẽ chịu trách nhiệm tiếp tế cho những người này, nhưng rồi một hôm tôi bỗng nhận được mẩu giấy viết tay của anh Vẽ người trong ban bảo vệ xã Phương Liệt gửi cho nguyên văn như sau: Chị Cao Bích Thu Nể lời chị, chúng tôi đã hết lòng tiếp tế cho số 100 người ở Văn Điển lên Phương Liệt lấy thuốc. Vì chúng tôi thiếu gạo, để tiếp tế cho dân quân và bộ đội, – tôi còn phải lấy ở Giáp Tứ lên, – nên chị trù tính ngay việc tiếp tế một trăm người ấy ở xã khác. Vậy xin báo trước chị biết. Phương Liệt ngày 31-12-46 Chào quyết thắng Nguyễn Gia Vẽ. (Ký tên đóng dấu Ban Bảo Vệ). Đối với chúng tôi ngày ấy những khó khăn đột ngột như thế vẫn thường xẩy ra luôn, và trước mỗi khó khăn bao giờ tôi cũng tìm ra một giải pháp cụ thể tuy chưa phải là tối ưu nhưng cũng tạm thời ổn thỏa, mà sự ổn thỏa ấy chính là do tinh thần yêu nước quên mình của mọi người. Trong trường hợp ấy tôi chỉ còn có một cách là sớm sớm trước khi ra đi để anh em dân quân ăn thật no, rồi nhịn xuông cho đến tối khi gánh thuốc và y cụ trở về. Thực tế trong những ngày ấy càng ngày bệnh viện Bạch Mai càng bị địch bắn phá dữ dội hơn, nên khi tới nơi mọi người chỉ chăm chăm xếp quang gánh cho thật nhanh để trở về, chẳng còn thì giờ và lòng dạ nào mà nghĩ đến chuyện ăn uống nữa. Tuy làm việc hết sức mình như thế nhưng hôm nào cũng phải tối mờ tối mịt đoàn người gồng gánh ấy mới lần về tới được Văn Điển. Tôi nhớ hôm đầu tiên đi lấy thuốc về, về đến nơi trời cũng đã tối lắm rồi, những người ở nhà sốt ruột ra tận đường cái chờ đợi chúng tôi, khi thấy mọi người đã trở về đầy đủ với những gánh thuốc nặng chĩu trên vai, ai cũng phấn khởi reo hò, và khi thấy tôi là người cuối cùng trở về thì không biết một đồng chí nào đó đã reo to lên một cách vui vẻ: – Tổ quốc ghi công chị Thu! Lời khen vô tình và bất chợt đó làm tôi cảm động rưng rưng nước mắt. Và cũng chính điều đó đã thúc đẩy tôi cố gắng khắc phục mọi gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ, không phải chỉ ngay lúc đó mà mãi mãi về sau này, trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp của dân tộc. Và cho tới ngày nay tôi vẫn cứ coi lời khen bằng miệng, không biết của đồng chí nào đó, còn hơn cả các thứ bằng khen và phần thưởng vật chất khác. Sau đó tôi còn được giao nhiệm vụ đi tiền trạm di chuyển bệnh viện đến những địa điểm xa mặt trận hơn thuộc vùng Cự Đà, Khúc Thủy, và cuối cùng tôi dính đạn địch bị thương. Tôi được lệnh rời mặt trận và được điều về báo Cứu Quốc vào tổ phóng viên chiến tranh nơi chồng tôi vẫn làm phóng viên nhiếp ảnh chiến tranh ở đó. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 18 Tháng Năm, 2023, 07:37:22 am Số phim mà báo Cứu Quốc và chồng tôi mang theo từ khi báo tản cư khỏi Hà Nội đã cạn dần rồi hết hẳn. Tôi được giao nhiệm vụ mới là vào nội thành mua phim ảnh đem ra.
Sau khi nhận nhiệm vụ tôi liền nhớ tới cô Đức, mà vừa mới rồi đây tôi gặp ở chợ Đại, hôm đó cô Đức có cho tôi biết cô đã sơ tán từ Hà Nội về quê cô ở gần Cống Thần, làng cô đã lập tề nhưng là tề cứu quốc, tất cả mọi người trong ban tề đều là người của mình và cán bộ ra vào Hà Nội vẫn thường dừng lại ở đấy trước khi vào thành. Hội ở Hà Nội cô Đức cũng ở với tôi trong nhà thương Đặng Vũ Lạc, cô ít tuổi hơn tôi nhiều, nhà cô rất nghèo, bố cô phải đi đạp xích lô để kiếm sống. Trong những ngày ấy, tôi đã giúp đỡ cô rất nhiều cả về tinh thần lẫn vật chất, bởi vậy tình cảm của cô đối với tôi rất khăng khít, thành thật. Tôi tin vào tình cảm ấy của cô đối với tôi, nên theo địa chỉ cô đã dặn tôi lần mò tới tìm cô. Gặp tôi, cô đưa ngay tôi xuống hầm để bảo vệ rồi sau đó cô lại đưa tôi đến gặp các đồng chí của ta để xin giấy tờ hợp pháp. Một buổi sáng tôi rời nhà cô Đức nhập vào với những người đi chợ. Ngay từ lúc ra đi tôi đã tìm cách chuyện trò thân mật với mọi người để hòa vào với họ, để phòng khi gặp chuyện bất trắc như bị khám xét hỏi giấy tờ thì tôi không đến nỗi trở thành lạc lõng giữa mọi người và trước mắt địch. Tôi rất yên tâm khi sắp chạm bốt địch đầu tiên, cho nên khi bọn gác ách lại để xét hỏi giấy tờ tôi vẫn bình tĩnh không hề tỏ vẻ lo sợ bối rối. Nhưng thật không may cho tôi, hôm đó không hiểu chúng có lệnh gì từ cấp trên của chúng, hoặc chúng định săn bắt một người nào đó nên chúng thu hết giấy tờ của chúng tôi lại và đưa tất cả vào trong bốt và ngay lập tức chúng lấy cung từng người và chúng cũng chỉ hỏi những điều thường lệ không thể thiếu đó là tên, tuổi, nguyên quán, trú quán, nghề nghiệp, đi đâu, làm gì? Tôi lần lượt trả lời mọi câu hỏi đúng như tôi đã chuẩn bị và đã được ghi trên giấy tờ. song có một điều tôi không giấu chúng được, đó là nước da trắng trẻo của tôi, chúng nghi tôi là người Hà Nội và bây giờ có thể đúng như lời tôi khai là đi buôn bán kiếm ăn và cũng có thể tôi là cán bộ đi vào vùng bị chiếm đóng để làm một công tác nào đó, song chúng không có một bằng chứng nào về việc này cả. Tuy vậy, chúng cũng lạp tức đưa tôi về Hà Nội. Thế là tôi về Hà Nội không phải lẩn tránh mà là bằng con đường "công khai" với ô tô chạy trên đường quốc lộ hẳn hỏi. Nhưng con đường ấy đã dẫn thẳng tôi tới sở mật thám của giặc. Ở sở mật thám, chúng lại bắt đầu hỏi lại tôi từ đầu cùng với sự đe dọa và cả đánh đập nữa. Nhưng trước sau như một tôi chỉ có một lời khai hoàn toàn giống nhau: Tôi đi buôn bán, qua bốt các ông bắt đưa về đây, chứ tôi không còn biết gì khác. Trong nhiều ngày bị giam giữ ở đây, mỗi ngày một lần chúng bắt tôi viết một bản khai để chúng đối chiếu so sánh xem tôi có điều khai nào không ăn khớp với nhau không. Nhưng tất cả các bản khai của tôi đều giống nhau như hệt. Cuối cùng chúng đành chịu vừa đưa tôi nhập vào với những người tù mà chúng thường bắt đi quét rác ngoài phố. Tôi biết như vậy là trước sau chúng cũng phải thả tôi ra vì trong tay chúng chẳng có chứng cứ gì để làm án tôi cả. Nhưng cứ đi quét rác như thế biết đến bao giờ chúng mới thả tôi ra, trong khi tôi biết chắc rằng ở tòa soạn, chồng tôi cùng các đồng chí khác đang từng giờ từng phút mong sao tôi mua được phim về. Tôi biết số phim ở nhà đã không còn một cuốn nào nữa. tôi quyết định nếu tìm được cơ hội thích hợp tôi sẽ bỏ trốn, tôi ra sớm được ngày nào hay ngày đó. Và rồi một hôm nhân lúc mọi người không ai chú ý đến tôi, tôi liền bỏ trốn. Tôi đi thẳng đến nhà người cô chồng tôi, như tôi đã định trước. Bà giục tôi phải ra ngoài vùng tự do ngay để tránh sự truy tìm, lùng sục của địch. Tôi giải thích cho bà biết rằng, chúng sẽ chẳng để thì giờ vào việc truy lùng tôi làm gì vì tôi chẳng phải là một tên tù quan trọng đối với chúng. Hơn nữa công việc tôi vào trong này là mua phim ảnh thì vẫn chưa mua được, nên tôi nhất quyết không chịu ra không. Vài hôm sau tôi đã kiếm mua được đủ số phim ảnh cần thiết và đến lúc ấy tôi mới chuẩn bị để a ngoài. Tôi đi mua về một đỉnh vàng giấy thật to, tôi đem tất cả những thoi vàng nằm ở trong ruột ra thay vào đó là những cuộn phim mà tôi vừa mua được. Hôm ra đi tôi làm như người đi lễ với đầy đủ vàng hương hoa vàng nến và lần này tôi tìm mọi cách để tránh những đồn bốt địch cố gắng để khỏi phải chạm trán với chúng lần nữa… Và tôi đã thành công, tôi đã đem được phim ảnh về đến tòa soạn báo Cứu Quốc một cách an toàn. Sau một thời gian công tác ở báo Cứu Quốc, tôi được cơ quan cử đi học một lớp y sĩ của bộ Y tế mở, sau ba năm học tôi về công tác tại ty y tế Thanh Hóa và sau này tôi lại được đi học tiếp để trở thành bác sĩ sản khoa, phụ trách phòng đẻ cấp cứu ở bệnh viện Đông Anh Hà Nội. Đến nay tôi đã về hưu sau bốn mươi năm trong nghề, bốn con tôi cũng đều đã trưởng thành. Cô con gái cùng tuổi với cách mạng tháng Tám của tôi năm 17 tuổi học hết lớp mười thi đỗ vào đại học văn và có tên trong danh sách những học sinh được đi nước ngoài nhưng cháu đã từ chối tất cả xung phong vào bộ đội chống Mỹ nay đã trở về công tác tại sở Văn Hóa thông tin Hà Nội. Con trai thứ hai của tôi đang là giáo viên ở trường Trung cấp kỹ thuật Hà Nội cũng xung phong đi bộ đội giữa những ngày giặc Mỹ đánh phá ác liệt Hà Nội, ngay trong năm thứ nhất ở bộ đội cháu được tặng danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ và năm thứ hai cháu được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cháu cũng có mặt trong những ngày lịch sử giải phóng, thống nhất miền Nam. Hiện nay cháu đang công tác ở trong đó. Chồng tôi sau nhiều năm bị hiểu lầm vì những tin tức sai lạc nay cũng đã được xác minh, phục hồi và đã được công nhận làm tham gia hoạt động cách mạng từ trước cách mạng Tháng Tám. Cuối cùng tôi chỉ còn có thể nói được một câu rằng: Nhờ cách mạng tôi mới có được ngày nay. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:46:52 am LẤY ĐỘC TRỊ ĐỘC VIẾT LINH Thật ra thì trước khi bọn Nhật vào Đông Dương ra sức tuyên truyền cho chủ nghĩa Đại Đông Á, trong một số học sinh, thanh niên đã nghe nói về đảng Hắc Long, với nữ đảng trưởng Cao Lan Thiên Trường, một tuyệt thế giai nhân, thâu tóm trong tay một màng lưới gián điệp của Nhật Bản tỏa rộng khắp thế giới, những đảng viên đảng Hắc Long với hành tung bí mật có tài xuất quỷ, nhập thần. Đồng chí Nguyễn Tạo khẽ mỉm cười khi giở một tập hồ sơ vô tình để rơi tấm ảnh Oa-ta-na-bê, trùm Hắc Long của Nhật ở Đông Dương, hiện nay vẫn đang làm cố vấn cho bọn Đại Việt. Vừa lúc ấy, chuông điện thoại reo vang, đồng chí Tạo cầm ống nghe: - A-lô… Doãn đây, đúng Nguyễn Phủ Doãn1 (Bí danh của đồng chí Nguyễn Tạo lúc đó) đây. Ừ! Tiếc nhỉ! Cứ tiếp tục nhé… có gì báo tin gấp nhé! Tin điện từ Thái Nguyên báo về cho biết: Trinh sát ta bắn hụt Phi Hùng ở khách sạn, sau đó hắn lại biệt vô âm tín. Ở Đông Dương, hãy gạt bỏ tấm màn huyền thoại của đảng Hắc Long ra, thì Oa-ta-na-bê là con người bằng xương, bằng thịt. Đối tượng đồng chí Tạo đang xem xét là Phi Hùng. Với cái vỏ bọc: phiên dịch cho Oa-ta-na-bê, Phi Hùng là một sản phẩm của Hắc Long, con đẻ của Oa-ta-na-bê. Ảnh hắn đây! Một con người nhỏ nhắn, mắt sáng, trán trao, mũi dọc dừa, có thể gọi là đẹp trai được. Phi Hùng nói tiếng Nhật vào loại có tay nghề. Có em là ủy viên trung ương đảng Đại Việt, lại là chó săn trung thành của phát-xít Nhật nên Phi Hùng sớm biết số phận mình ngay từ khi Cách Mạng Tháng Tám thành công. Hắn lẩn như chạch, lúc nào cũng kè kè khẩu súng ngắn giấu kỹ trong người, hầu như không để lộ một dấu vết gì ở những nơi hắn đến. Tên này sống độc thân. Hắn có thể đứng ra hô hào một số người giàu, nhẹ dạ hùn vốn vào mở công ty kinh doanh của hắn rồi sau đó, có thể hủy ngay chứng từ trước mặt và sẵn sàng dùng vũ lực để áp đảo đối phương. Trước khi bỏ Hà Nội trốn lên Thái Nguyên, Phi Hùng đem theo một cô nhân tình, đội một cái tên giả, vào thuê trọ đàng hoàng ở khách sạn. Cho đến bây giờ, tên cáo già này vẫn nằm ngoài tầm tay của công an. Thi hành bản án với hắn, không phải chuyện ngày một ngày hai. Nhưng… Đồng chí Nguyễn Tạo đưa mắt nhìn qua cửa sổ, có tiếng kêu ngoài phố: - Cướp! Cướp! Người mất chiếc cặp da vừa kêu lên như vậy, hàng phố chưa kịp đổ ra thì kẻ gian đã chạy tót vào cái trại Tàu Tưởng gần đấy Thế là xong! Lại bọn Đại Việt hoặc Quốc Dân đảng. Còn bọn phản động đó thì việc duy trì trật tự an ninh trong nhân dân còn khó khăn! Phải trừng trị bọn này bằng được. Hay là… "Lấy độc trị độc". Ngày xưa, các cụ đã dạy như vậy. Tự nhiên đồng chí Tạo lại nghĩ đến Phi Hùng. Con bài của Oa-ta-na-bê hiện nay ở trong Đại Việt một số hoạt động của tên trùm Đại Việt Trương Tử Anh, bọn đầu sỏ Quốc Dân đảng, mọi liên hệ giữa bọn phản động với bọn tướng Mỹ Mác-san ở Trung Quốc trước đây và hiện nay, Phi Hùng có thể nắm được những đầu mối này. Nhưng dùng Phi Hùng chính là dùng một con dao hai lưỡi, nếu không khéo cũng dễ bị đứt tay như chơi. Có tiếng mô-tô nổ to phía ngoài cổng Nha Công An. Một chiến sĩ trinh sát, mồ hôi nhễ nhại, quần áo dính đầy bụi, bước vào phòng đồng chí Nguyễn Tạo: - Báo cáo anh, em đã bắt được Phi Hùng ở Vĩnh Yên. - Tốt lắm! Đồng chí ngồi xuống đây. Chiến sĩ trinh sát vẫn đứng yên, hai chân chụm vào nhau. - Báo cáo anh, anh cho lệnh thi hành bản án tên này chứ ạ! - Chưa! - Đồng chí Nguyễn Tạo tự tay rót nước mời chiến sĩ nọ và mỉm cười nói – Anh em cứ đưa nó về đây cho tôi. - Thưa đồng chí, đưa Phi Hùng về đây ạ? Trước vẻ mặt ngạc nhiên của anh chiến sĩ trẻ, đồng chí Tạo gật đầu đáp: - Đúng thế! - Trời! – Chiến sĩ trinh sát tiếc rẻ – Chúng em mất bao công phu mới bắt được nó. - Được rồi, đồng chí cứ yên tâm, đưa nó về đây. Nằm trong phòng giam, Phi Hùng mới có dịp ngẫm nghĩ về cuộc đời. Theo hắn, đời con người ta đều có số cả. Nếu số chưa chết thì dù có đập đầu vào tường, tường cũng đổ. Còn nếu số chết thì nằm trong phòng khóa trái cửa lại vẫn cứ "tịch" như thường. Sáng hôm sau, Phi Hùng được dẫn ra xe ô-tô. Hắn vô cùng ngạc nhiên khi thấy chiến sĩ công an dẫn hắn đi khá trẻ. Chính tự tay anh cởi trói cho hắn. "Không hiểu liệu anh ta có biết là mình lái ô tô rất cừ và bắn cả hai tay rất giỏi không?". Chỉ qua ánh mắt thôi, Phi Hùng hiểu rõ: Anh ấy biết hết và vẫn cứ để cho hắn ung dung ngồi trong xe. Từ trước đến nay, trong con mắt của Phi Hùng thì những điệp viên lừng danh của đảng Hắc Long hoạt động ở Thượng Hải, Hồng Công, Thiên Tân giống như những "thiên thần" ở trên trời. Còn như ở mặt đất thì hắn biết rõ tài bắn của đội danh dự Việt Minh. Ngay cả cái việc hắn bị tóm tóc ở đất Vĩnh Yên này, nếu Việt Minh không có "con mắt thần" chưa chắc hắn đã việc gì. Nếu hắn thoát chết chuyến này thì tài đoán số của Oa-ta-na-bê vẫn đáng được xếp vào loại "Quỷ cốc tử" và trong lòng Phi Hùng này Oa-ta-na-bê vẫn là một thần tượng không thể phai mờ. Mãi gầy đây, trong tiệc rượu trên lầu cao một biệt thự heo hút nọ, Oa-ta-na-bê mới lộ hẳn cho Phi Hùng rõ về cửa hiệu tạp hóa của hắn ở phố Hàng Bồ, hiệu kem Nhật Ô-sa-ka, người mua ra vào tấp nập, khác hẳn với cửa hàng đồ cổ vắng tanh, vắng ngắt gần Bờ Hồ đều là những cơ sở tình báo với những nhiệm vụ khác hẳn nhau. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:48:54 am Theo lời Oa-ta-na-bê thì ngành tình báo Nhật đã bắt đầu từ thế kỷ XVI với "thủ lĩnh" Tô-i-ô-tô-mi.
Những thiên anh hùng ca trong lịch sử Nhật Bản, sự phồn vinh của đất nước Phù Tang trong tương lai đều gắn bó với ngành tình báo. Câu chuyện về chuyến đi của Phu-ku-si-ma đến Vơ-la-đi-vô-xtốc, rồi đại tá A-ka-si với đảng Hắc Long… cùng với hình ảnh "chủ" hiệu tạp hóa ngù ngờ Oa-ta-na-bê bỗng như hiện rất rõ trong đầu Phi Hùng. Phi Hùng nhìn hai giọt nước mắt long lanh của Oa-ta-na-bê mà không nén nổi xúc động. Không hiểu sao đêm nay hắn lại cảm thấy cuộc đời hắn lúc nào cũng phải gắn với một thần tượng nào đó, nói là gắn không đúng – hắn phải sống nương nhờ dưới bóng một con người nào đó. Một cú xóc đột ngột làm hắn bừng tỉnh. Chiếc ô-tô lại rú ga lao đi. Có tiếng gõ cửa khẽ khàng. Khách lặng lẽ bước vào, đầu hơi cúi xuống như người có lỗi. – Báo cáo anh… Z27 – bí danh người khách vừa bước vào, khẽ lắc đầu – Thú thật với anh, tôi không làm sao "quản lý" được hắn ạ! Vừa nóm thấy hắn đây, thoắt cái, nó đã "lặn" một hơi biệt tăm! Đồng chí Tạo mỉm cười. Anh đã phải cử hẳn một đồng chí cỡ trưởng phòng để chuyên theo dõi Phi Hùng sau khi giao việc, thế mà kết quả lại như vậy. – Hắn không bao giờ để lại một dấu vết gì. Mọi giấy tờ dùng xong, hủy ngay. Qua Z27 báo cáo lại, đồng chí Tạo cũng biết rõ Phi Hùng như vậy: trừ bản báo cáo phải tự tay viết ra, không bao giờ Phi Hùng để lại bất cứ một tí bút tích gì. Bắt tay đồng chí trưởng phòng xong, đồng chí Tạo nghĩ thầm trong bụng; "Cho đến bây giờ, tất cả những tin tức Phi Hùng báo cáo đều chính xác cả. Nhưng… vẫn cứ phải có người giám sát". Anh nhớ lại trước đây ta có bắt Sáu, một đảng viên Đại Việt, có vợ khóc lóc xin tha cho chồng và đề nghị được "lập công chuộc tội". Hay là ta nhờ cô Sáu vậy. Sáu vốn quen biết một số người trong Đại Việt. Hơn nữa ta chỉ đặt yêu cầu thấp: thẩm tra xem tin tức Phi Hùng báo về có thực hay không. Thế thôi! Thoáng nhìn qua tấm ảnh cũng có thể biết ngay đó là một cô gái đẹp với cái tên khá dài: Thanh Dương Thiên Niên. Cô gái có mắt một mí, mặc áo ki-mô-nô Nhật, tay cầm dù hình như đang e ấp cười với ai. Rõ ràng cô đứng trên cầu Thê Húc đằng sau là đền Ngọc Sơn mà ven hồ lại có liễu rủ và quanh cô là những cành hoa anh đào chúm chím. Đúng đấy là một tấm ảnh ghép. Cô gái tên thật là Thanh – đã có thời làm ở quán Thiên Nga – sau đích thân Oa-ta-na-bê xin chuyển cho cô ra làm việc khác ở cửa hàng bán đồ cổ, trong thâm tâm Oa-ta-na-bê rất muốn tác thành cho Phi Hùng. Và không hiểu sao, thoáng gặp Thanh Dương Thiên Niên lần đầu, Phi Hùng đã cảm thấy trái tim mình rung động tha thiết. Từ dáng đi, nụ cười, khóe mắt, từ cách pha trà, cắm hoa, tất thẩy ở Thanh Dương Thiên Niên đều toát ra một cái gì đấy rất kiều diễm kiểu Phù Tang. Lần đầu gặp cô ta ở nhà Oa-ta-na-bê, đêm về Phi Hùng không có thói quen ghi nhật ký nhưng trong tim hắn đã hằn dòng chữ "Thanh Dương Thiên Niên" – Ta sẵn sàng chết vì "biển xanh ngàn năm" (nghĩa của Thanh Dương Thiên Niên). Sau đó, nàng biến mất. Phi Hùng không dám hé răng hỏi lại quan thầy. Hắn phỏng đoán: có thể nàng đã về Nhật theo một võ quan nào đó. Thế mà tối nay, Oa-ta-na-bê lại cho mời hắn đến hẹn hò với một cô gái Đông Kinh; Thanh Dương Thiên Niên. Phi Hùng bàng hoàng sung sướng. Cuộc đời hắn tưởng như đã "tắt nắng" rồi, không ngờ lại… "lên mây". Tối nay mình sẽ mặc bộ gì cho hợp với thời tiết nào? Phải có món quà cho nàng sau bao năm xa cách. Phải chuẩn bị rượu, mấy món ăn nguội chứ, xem chừng túi tiền Oa-ta-na-bê dạo này cũng lép kẹp rồi. Phi Hùng mở ngăn kéo lấy tiền, ra phố. Chiếc ô-tô của hắn lao đi rất nhanh. Phố Hàng Buồm đây rồi! Chim quay, ngỗng quay, táo tươi, nho khô… đủ các loại rượu trên đời. Mua xong, Phi Hùng giơ tay xem đồng hồ. Còn những hơn một tiếng nữa, hắn còn thừa thì giờ để về nhà thay quần áo rồi đến nhà Oa-ta-na-bê. Không hiểu Thanh Dương Thiên Niên có thay đổi nhiều không? Chặng đường đã qua của nàng ra sao? "Biển xanh mãi mãi không già". Núi, biển và Thanh Dương Thiên Niên chắc cũng vậy thôi. Ô-tô vừa xịch đỗ, Phi Hùng giật mình để ý tới cái hộp thư đã từ lâu không có ai gửi tới, thế mà hôm nay lại có một phong thư lạ. Phi Hùng nhận ra chiếc phong bì quen thuộc của ông Doãn, hắn mở vội ra xem và thốt lên: "Trời, thế có ác không chứ!" 19 giờ 15 phút Phi Hùng phải đến một điểm hẹn để nhận nhiệm vụ mới. Sau cuộc hẹn với Oa-ta-na-bê 15 phút, không hiểu sao Phi Hùng vẫn cảm thấy trong cuộc hội ngộ này với Oa-ta-na-bê, rất có thể hắn được nhận một nhiệm vụ mới từ Tô-ki-ô đưa sang, qua Thanh Dương Thiên Niên – con sư tử Phù Tang đâu đã chịu khuất phục đồng minh. Hay là ta cứ tới Oa-ta-na-bê rồi quay lại điểm hẹn của ông Doãn? Không được. Tô-ki-ô! đảng Hắc Long cách xa hàng ngàn ki-lô-mét còn các ông Việt Minh thì lại ở ngay cạnh đây. Nếu cái đầu mình không có thì còn đâu đôi mắt mà ngắm "biển xanh ngàn năm" nữa. Phi Hùng cất tất cả các món ăn vào tủ. Hắn mặc một bộ quần áo giản dị, ăn uống qua loa rồi đến điểm hẹn của ông Doãn. Từ ngày làm việc với ông Doãn, đã năm lần hắn đều chấp hành nghiêm chỉnh và hoàn thành công việc. Và cả lần này nữa… Trước đây Phi Hùng có nghe nói "Sao Đỏ" là một cán bộ cao cấp của Việt Minh đã từng hoạt động ở hải ngoại, nay được tin bọn Đại Việt định ám sát. Phi Hùng thấy ngay đây là dịp tốt để lập công với ông Doãn. Hắn còn báo cáo rõ tên người thi hành vụ này là Nghiêm Xuân Chi. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:50:04 am Theo đồng chí Nguyễn Tạo và các anh em ở Nha Công An thảo luận thì thấy tin này là xác thực, vì dạo này bọn Đại Việt điên cuồng khiêu khích, ám sát Pháp kiều để Pháp có cớ gây hấn, lật đổ chính quyền cách mạng.
Vừa lúc đó, một nhân mối trong Đại Việt cũng báo tin như vậy. Trong hàng ngũ phản động, tài bắn súng của Nghiêm Xuân Chi đã được thổi phồng lên rất to. Vốn quen với công việc của mình, trước lúc hành động, bao giờ Chi cũng lau lại súng, xem xét kỹ từng viên đạn, lắp đầy ắp. Chiếc cặp da mở toang đặt trên dóng xe đạp, hai khẩu súng đặt ở hai ngăn trên phủ sơ sài hai mảnh vải. Thỉnh thoảng Chi lại giơ tay xem đồng hồ. Đã 4 giờ chiều. 4 giờ 15 phút. 4 giờ 30 phút. Nghiêm Xuân Chi bước ra xe, đạp từ phố Huế về phía Bờ Hồ. Tất cả mọi hành động của hắn không thoát khỏi những cặp mắt của một tổ trinh sát công an. Chưa đầy năm phút sau, Nghiêm Xuân Chi đã bị bắt. Được làm việc với ông Doãn, Phi Hùng mới cảm thấy công an cách mạng quả là có "con mắt thần" ở khắp nơi. Nếu mình không báo, trước sau họ cũng biết. Cho nên tốt nhất vẫn là báo sớm. Có những tin Phi Hùng mới báo cáo nửa chừng, hắn đã cảm thấy họ biết rồi. Nhưng có điều hắn thán phục là họ giỏi và biết người, biết của. Có những vụ hắn được ông Doãn thưởng cho hẳn ba trăm. Hắn biết rõ: công quỹ Nhà Nước rất nghèo, đời sống các chiến sĩ công an cũng chẳng có gì. Ông Doãn và các đồng chí của mình đã khéo thu xếp cho hắn đủ tiền tiêu sài và nếu cần chi dùng cho cả quan thầy Oa-ta-na-bê. Hôm nay Phi Hùng lại đến xin gặp ông Doãn để báo một tin tuyệt mật: bọn Đại Việt âm mưu lật đổ chính quyền. Truyền đơn đang in suốt mấy ngày đêm ở trụ sở 132 Đuy-vi-nhô (nay là phố Bùi Thị Xuân). Kế hoạch của chúng là sẽ ném lựu đạn khiêu khích vào binh lính Pháp đang diễu binh ở Hà Nội nhân kỷ niệm cách mạng Pháp. Quân Pháp sẽ vin cớ đó để tấn công ta. Đại Việt sẽ đứng ra hô hào nhân dân lật đổ chính quyền. Qua một số nguồn tin khác xác minh lại: Ngày 12-7-1946, một tiểu đội công an xung phong đã tấn công vào trụ sở Đại Việt này, bắt gọn toàn bộ lũ phản động với đầy đủ tang chứng. Rồi tiếp đến vụ Ôn Như Hầu, Phi Hùng cảm thấy mình có đóng góp chút ít công sức vào việc truy quét bọn Đại Việt. Hôm nay, một đơn vị công an vào trụ sở bọn Quốc Dân đảng ở Đỗ Hữu Vị và bắt được một số tên như Tú Khôi, Nguyễn Minh, chánh văn phòng trung ương Quốc Dân đảng kèm theo một cặp trong có tiền và một cuốn sổ tay. Theo lệnh trên, ta vừa quét xong vụ Ôn Như Hầu và có thể tha những tên này ra được. Khi có lệnh tha, trời đã xẩm tối, cả Tú Khôi lẫn Nguyễn Minh đều sợ ta, trên đường về, thủ tiêu ngay đêm nay nên vội nói: – Xin các ông cho chúng tôi ngủ lại đây, ở ngay ngoài hành lang cũng được. Sáng mai, chúng tôi xin về… Biết thóp bọn này sợ chết và hay "suy bụng ta ra bụng người", đồng chí tạo chỉ cười. Chiếc cặp của tên chánh văn phòng Quốc Dân đảng còn nằm trên bàn, xấp tiền vẫn bó nguyên, duy có cuốn sổ tay thì… anh Tạo chợt nảy ra một kế cho gọi Phi Hùng đến và bảo: – Về báo cho bọn Đại Việt biết là sáng mai công an sẽ cho thả Tú Khôi và Nguyễn Minh ra nhé! Phi Hùng vâng dạ, hí hửng lấy ô-tô phóng đi luôn. Ít lâu nay, qua cô Sáu, đồng chí Tạo biết rõ: Phi Hùng tung tin cho bọn "trung ương" Đại Việt biết là hắn đã cài được người của hắn vào làm "loong toong" cho Nguyễn Phủ Doãn và đêm nay chính là tin do người "loong toong" đó mật báo ra. Trước tin này, Trương Tử Anh và đồng bọn có chút nghi vấn: tại sao số "chiến hữu" Quốc Dân đảng này vừa bị bắt lại được thả ngay, ít nhất cũng phải đợi thẩm vấn chứ! Hay là… Sáng hôm sau, một giờ sau khi Nguyễn Minh được thả thì tại trụ sở đảng Đại Việt, cuốn sổ tay của hắn đã nằm gọn trên bàn Trương Tử Anh. Qua một lần i-ốt, dòng chữ bí mật viết bằng nước cơm đã hiện ra rất rõ nét trên trang giấy: Thân gửi các đồng chí … Các đồng chí đã báo cáo cho chúng tôi biết về việc chuẩn bị bạo động 14-7 hợp tác với Pháp, chúng tôi đã khám phá và bắt được bọn phản động. Các đồng chí có yêu cầu chúng tôi giúp 50 vạn đồng, chúng tôi đã gửi 20 vạn, còn 30 vạn sẽ gửi sau. Đã biết rõ địa điểm bọn phản động chạy trốn chúng tôi sẽ cho bắt dần. Về việc này các đồng chí yêu cầu để cho Việt Nam Quốc Dân đảng ra công khai, đành phải chờ diệt xong bọn Đại Việt, lúc đó sẽ bàn tiếp Nguyễn Phủ Doãn Trương Tử Anh tái mặt đi, sau khi đọc xong "mật thư". Như vậy là từ trước đến nay các "chiến hữu" Quốc Dân đảng vẫn liên hệ với công an và nhận cả tiền nữa. Thì ra vụ chuẩn bị bạo động vỡ lở cũng là do bên đó báo… Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:50:59 am Một cuộc họp chớp nhoáng trong trung ương Đại Việt đi tới một đề xuất: mời một số "lãnh tụ" Quốc Dân đảng đến họp rồi khóa trái cửa lại, dùng lựu đạn thủ tiêu.
Khi Phi Hùng thông báo lại tin tức này cho Oa-ta-na-bê thì "ngài cố vấn" của đảng Đại Việt có ý kiến luôn: – Trong Quốc Dân đảng có thể có một số đầu hàng công an nhưng không phải là tất cả. Do đó, không nên dùng lựu đạn để sát hại nhau. Tin tức đến tai Quốc Dân đảng, sau đó dù bên Đại Việt có mời họp khẩn cấp, bọn này cũng từ chối không đến sự. Trị Trương Tử Anh lúc này, có lẽ tiện nhất là dùng bàn tay Phi Hùng. Ngay từ năm 1939, Trương Tử Anh đã tập hợp một số tên thuộc Việt Nam Quốc Dân đảng và những phần tử trí thức phản động như đốc tờ Chương (tức Chương vịt), đốc tờ Mão… để thành lập Đại Việt Quốc Dân đảng, do hắn làm đảng trưởng. Bọn này có xu hướng thân Nhật khiến bọn Pháp phải gờm. Chúng hoạt động rất xảo quyệt. Để tránh đòn Pháp, Trương Tử Anh không bao giờ công khai ra mặt liên lạc với Nhật mà chỉ cử bọn Chương vịt, đốc tờ Mão ra tiếp xúc. Nhật hất cẳng Pháp, bọn này mới xuất hiện công khai. Biết bọn Đại Việt quốc dân Đảng chẳng được tín nhiệm gì trong nhân dân, phát xít Nhật bèn tập hợp bọn này, cùng một số đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng ở trong nước như Nguyễn Ngọc Sơn và một số đảng viên Đại Việt duy tân lập ra Đại Việt quốc gia liên minh làm tay sai và ra sức tuyên truyền cho nền độc lập giả hiệu của Nhật. Suốt thời kỳ tiền khởi nghĩa, bọn Đại Việt Trương Tử Anh đã trổ tài chó săn, dốc sức phá hoại cách mạng. Phát xít Nhật bị thua trận, bọn Đại Việt hoảng sợ, cử đại biểu sang Trung Quốc gặp bọn Việt Nam Quốc Dân đảng để điều đình ôm chân lũ Tầu Tưởng vào giải giáp quân đội Nhật. Vốn xảo quyệt, thủ lĩnh Trương Tử Anh tránh tiếp xúc với bọn Việt Nam Quốc dân đảng. Nguyên là một giáo viên Anh văn ở Nha Trang, Trương Tử Anh bề ngoài chống Pháp để đi theo Nhật chống phá cách mạng. Mặc cho bọn Quốc Dân đảng tham gia chính phủ liên hiệp, Trương Tử Anh vẫn đứng ngoài. Hắn ra sức phá mọi chủ trương chính sách của ta. Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 được ký kết, hắn tìm mọi cách để phá, ngoài việc ám sát cán bộ cách mạng, hắn còn ra lệnh cho bọn tay sai ám sát Pháp kiều để bọn Pháp có cớ gây hấn với ta. Trương Tử Anh là nhân vật cầm đầu chủ trương bắn vào lính Pháp trong cuộc duyệt binh để đứng ra hô hào nhân dân lật đổ chính quyền. Nếu Pháp hoặc bất cứ bọn xâm lược nước ngoài nào quay lại Việt Nam, chắc chắn Trương Tử Anh sẽ đứng ra cầm đầu bọn phản động tay sai chống phá cách mạng. Với tên trùm Việt gian đầu sỏ, sẵn nuôi ý thức chống phá cách mạng đến cùng, giờ chính là lúc nên xóa sổ hắn để cảnh cáo lũ đàn em và trừ hậu họa sau này. Qua vụ bắt nhầm Trương Tử Anh, đồng chí Nguyễn Tạo càng thấy rõ: Việc này giao cho Phi Hùng là thuận nhất, mặt khác vẫn giăng rộng mẻ lưới của ta, đặc biệt quanh hang ổ của kẻ bị truy tầm. Trời hơi lạnh, Phi Hùng giở tủ lấy chai rượu Xa-kê rót ra cốc. Mỗi lần nhấp chút rượu này, Phi Hùng cảm thấy mình đã trở thành một keimpeitai (hiến binh) của Nhật. Hòm rượu Oa-ta-na-bê cho từ lâu, mãi hôm nay mới có dịp dùng đến. Phi Hùng nhận được lệnh bắt sống Trương Tử Anh. Chắc "thượng cấp" đã thấy rõ con bài này của bọn Đại Việt đã đến lúc phải xóa sổ. Nếu muốn khử hắn, chỉ cần một quả lựu đạn, một băng đạn hoặc một chiếc ô tô không biển số lao vút qua là xong. Đằng này, lại "bắt sống" đúng là một vấn đề hắc búa. Trương Tử Anh đã quá quen thuộc với bộ mặt Phi Hùng, những khi đến xin ý kiến cố vấn Oa-ta-na-bê, cho nên việc tiếp cận với hắn không phải là dễ nếu hắn biết trước đề phòng. Hơn nữa Trương Tử Anh có một đội bảo vệ đặc biệt luôn bám sát với mấy tay súng cừ như Tiến xếc, Bình Phệ… Bao giờ Trương Tử Anh cũng đem theo vũ khí trong người, ngay cả khi ngủ cũng để súng dưới gối. Hằng ngày, đi đâu về thấy bóng "đội bảo vệ đặc biệt" là Phi Hùng biết ngay Trương Tử Anh đang lăng xăng gần đó. Phi Hùng nhấp thêm một cốc rượu nữa, người hắn ấm hẳn lên và tỉnh ra. Hắn nhớ lại thời gian gần đây, không gặp Trương Tử Anh ở Hà Nội. Rất có thể tên này đã đánh hơi thấy một nguy cơ bị trừng phạt nên núp vào một cái hang kín nào đó chăng? Nhưng với cương vị "đảng trưởng" nắm cả một đường dây Đại Việt, hắn không thể nằm mãi trong bọc được. Phi Hùng coi việc bắt sống Trương Tử Anh là một thử thách của "thượng cấp" muốn dùng làm thước đo sự trung thành của hắn với cách mạng. Trước đây đã nhiều lần, chính hắn xun xoe trước mặt "đảng trưởng" nhưng giờ đây cần phải thí mạng một trong hai người, dĩ nhiên người đáng sống phải là hắn. Và điều đó cũng phù hợp với luật sống hiện hành của hắn. Phi Hùng lấy hai khẩu súng ra xem lại. Hắn giơ tay xem đồng hồ. 9 giờ 300. Vào cái giờ này có lẽ tốt nhất là lượn quanh Hà Nội một vòng, sau đó lên Mỹ Kinh làm món tỉu sắm bánh bao thì tốt. Chỉ một lát sau, chiếc Pho Vê-uýt đã từ từ lăn banh. Tấm biển số tuy không tháo ra nhưng Phi Hùng đã cố ý quết bùn vào để có ai nếu muốn theo dõi cũng khó Hà Nội vẫn tấp nập đông vui, người nào người nấy hối hả với biết bao công việc mới mẻ. Qua tấm cửa kính, Phi Hùng vẫn đưa mắt quan sát dọc hai đường phố, chợt hắn thấy một bóng người đeo cặp kính râm khá to, tay cầm tờ báo, tay chống can lững thững đi, bước chân hơi vòng kiềng. Thỉnh thoảng người đó lại rút khăn mùi xoa trong túi, nhấc mũ cát-két ra lau trán. Phi Hùng cho xe vượt lên trên rồi khẽ vòng lại qua mặt khách bộ hành: đúng Oa-ta-na-bê! Tối hôm kia mới chỉ qua ánh mắt, Phi Hùng đã cảm thấy hình như Oa-ta-na-bê có đánh hơi thấy việc này, nhưng hắn không dám nói ra. Nếu biết chuyện, liệu lão ta sẽ nghĩ gì? Ở địa vị mình, chắc Oa-ta-na-bê cũng tặc lưỡi một cái là xong. Phi Hùng rú ga cho xe lao đi. Hàng Ngang, Hàng Đào… Hàng Buồm đây rồi. Qua cửa kính, một hàng ăn, mấy khúc giò lụa phơi bầy ra thật hấp dẫn. Khác với dự kiến từ trước, Phi Hùng không tạt lên Mỹ Kinh mà lại rẽ vào một hàng cơm tám giò chả. Hắn nhớ có lần đã dẫn Oa-ta-na-bê vào đây. Lại một ngày nữa trôi qua vô ích. La cà một số quán giải khát nữa, Phi Hùng cũng không dò la được tin tức gì về Trương Tử Anh cả. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:52:07 am Đêm hôm đó, xe ô tô về đến nhà, đồng hồ đã điểm mười một tiếng, cứ thế Phi Hùng lăn ra giường ngủ.
Có tiếng náo động ngoài phố. Phi Hùng choàng tỉnh dậy, giơ tay xem đồng hồ. Chín giờ, muốn biết hang ổ của Trương Tử Anh có lẽ phải lần ngược đầu mối từ bọn trung ương "Đại Việt". Quả nhiên đến chiều, Phi Hùng đã nắm vững: Từ ngày "có động", Trương Tử Anh không dám ở Hà Nội nữa mà về sống ở Gia Lâm, địa chỉ cụ thể không nắm được, vì dạo này hắn thường hay thay đổi chỗ ngủ ban đêm. Dù sao vẫn còn dấu vết mà lần. Hắn tự an ủi: "Mình còn thế này thì người khác đừng hòng tìm ra tên "đảng trưởng Đại Việt". Để đảm bảo đường dây "đơn tuyến" Trương Tử Anh, trường hợp cần thiết – thường xuất hiện một mình, không có bảo vệ đi kèm. Hắn sợ chính cái đuôi đó, đôi khi lại dễ làm lộ. Phi Hùng moi trong túi ra quân xúc xắc gieo thẻ. "Lục, à có thể gặp may hôm nay đây". Nhưng quân xúc xắc lại nằm nghiêng hơi lệch vào cái tách đựng chén. Hắn gieo lại quân xúc xắc: tứ. Không thật là hoàn toàn nhưng vẫn còn may. Hắn bước ra ô tô, mang theo một lọ ê-te, dây thừng và bao tải. Ô tô từ từ lăn bánh tới Bờ Hồ. Phi Hùng cho xe quặt ra nhà hát thành phố chạy men theo bờ sông quan sát rõ người từ bên kia cầu sang. Có lúc ôtô đi rất chậm, có lúc rú ga phóng thật nhanh y như tâm trạng nôn nóng thất thường hiện nay của hắn vậy. Tới phía cầu Đu-me (tức cầu Long Biên), Phi Hùng cho xe đi từ từ rồi dọc theo bến Nứa, xe hắn phóng thẳng lên đường Cổ Ngư. Gió hồ Tây mát rượi làm cho đầu óc hắn tỉnh táo. Hắn cởi khuy áo ngực lao đi rất nhanh, qua đền Quan Thánh, Cửa Nam rồi Tràng Thi. Bỗng tim hắn đập nhói một cái. Ai như Trương Tử Anh nhỉ? Nhìn cái dáng phía sau quen quen… Mỗi lần hắn đến gặp Oa-ta-na-bê xin ý kiến cố vấn, Phi Hùng thường tiễn Trương Tử Anh ra cửa. Cái dáng hơi kềnh càng đặc biệt đó không sao lẫn được với người khác, dù hắn có để tóc dài, chụp cái mũ "phở" bạc phếch lên đầu. Trương Tử Anh đi xe đạp một mình, đằng sau buộc mấy mớ rau. Chiếc xe Pơ-giô đã cũ. Thỉnh thoảng hắn lại ngoái cổ lại, làm ra vẻ như chú ý đến mấy bó rau, nhưng thật ra là quan sát xem có ai theo dõi mình không Phi Hùng nhận rõ bộ mặt Trương Tử Anh dù hắn để râu, đeo kính khá to và kéo cái bo mũ sụp xuống che gần kín mặt. Phi Hùng cho xe chạy rất êm, sờ vào khẩu súng giắt dưới bụng. Vấn đề đặt ra bây giờ là bắt hắn ở đoạn đường nào cho thuận tiện nhất. Kế hoạch của Phi Hùng sẽ là: khi đỗ xe, mở sẵn cửa sau dí súng ép đối phương phải lên xe, tước vũ khí. Điều hắn rất gờm là mấy bó rau nhìn sau, thế nào cũng có ít nhất hai "quả na" (lựu đạn) nằm trong đó. Phi Hùng đưa mắt nhìn ra phía trước thấy thấp thoáng bóng anh Vệ quốc đoàn đứng gác sau cái ụ cao. Tuyệt quá rồi! thế là có người hỗ trợ. Phi Hùng vòng tay lái, rú ga cho xe lao lên ép dần Trương Tử Anh vào vỉa hè bên trái. Hình như nghe thấy tiếng rú ga phía sau, linh tính cho biết sắp xẩy ra điều gì không may, Trương Tử Anh khẽ quay đầu nhìn sang phải. Chiếc ô tô đã ép sát lại gần, hắn thoáng nhận ra khuôn mặt Phi Hùng. Vừa lúc đó, ôtô phanh kít lại, cánh cửa bật mở, Phi Hùng rút súng nhảy ra. Trương Tử Anh quay lại gần như vồ lấy bó rau phía sau xe. Phi Hùng vội đứng lại. Đúng lúc đó, Trương Tử Anh đẩy chiếc xe về phía Phi Hùng. Rất sợ lựu đạn trong bó rau, Phi Hùng vội co cẳng chạy lùi ra sau xe kêu ầm lên: – Phản động! bắt lấy tên phản động. Người đi đường đổ xô ra, chưa biết đầu đuôi ra sao thì anh Vệ quốc đoàn đã xách súng chạy ra bảo Phi Hùng: – Phản động cái gì? Đứng gác đây tôi biết hết. Người ta đang đi, chính anh lái xe đến ép người ta vào vỉa hè mà lại còn to mồm kêu phản động à? Bà con nghe câu nói của anh Vệ quốc đoàn đứng gác tỏ vẻ đồng tình và tin ngay. Phi Hùng chưng hửng, cảm thấy đứng lại lúc này thật nguy hiểm, hắn vội lên xe đóng sập cửa lại phóng đi. Nhân lúc lộn xộn, Trương Tử Anh lủi vào đám đông chuồn mất. Nhẩy lên tàu điện tới đầu Bạch Mai, hắn bước xuống chui vào một quán cà phê kiếm một xó, gần tối mới đi ra, gọi xe tay làm ra vẻ như lên hóng mát hồ Tây rồi chuyển xe về Chèm, thuê thuyền sang bên kia sông, lộn lên Yên Viên chứ không về nhà ngay. Bữa cơm thập cẩm ở quán Hồng Việt vẫn nổi tiếng từ xưa mà Phi Hùng ăn không thấy ngon, nhai như nhai rơm vậy. Thế là xểnh mất Trương Tử Anh. Giờ biết về báo cáo với ông Doãn như thế nào? Từ ngày được lập công chuộc tội với cách mạng, những tin tức Phi Hùng báo cáo với ông Doãn, dù cơ mật đấy cũng chỉ có tính chất thông tin. Hắn cho rằng trước sau công an cũng biết, vì họ có "con mắt thần". Nhưng việc bắt Trương Tử Anh là một công việc cụ thể trên giao phó, nếu không hoàn thành rất có thể bị đánh giá sai về lòng trung thành. Hắn hiểu rõ: cuộc đời hắn chỉ cần một sơ xuất nhỏ là bị xóa sổ dễ như không. Liệu "thượng cấp" có hiểu rõ hắn không? Có nên gặp lại ông Doãn báo cáo, hay là… mà biết đi đâu bây giờ? Phi Hùng quyết định chiều nay sẽ đến Nha Công An gặp ông Doãn báo cáo lại thật tường tận, còn xử lý thế nào là tùy thuộc ở ông ấy. Nhìn bộ mặt rầu rĩ của Phi Hùng, Nguyễn Tạo biết ngay những tin tức do chị Sáu báo cáo là chính xác. – Thưa anh – Phi Hùng cúi đầu nói – Về việc anh giao cho bắt Trương Tử Anh… – Chính đồng chí Vệ quốc đoàn đứng gác đã nói: "Người ta đang đi, chính anh lái xe dồn ép người ta vào vỉa hè". Nghe thượng cấp nói, Phi Hùng sung sướng reo lên. – May quá, anh đã biết chuyện và thấu rõ cho em. – Anh cứ yên tâm, tất cả những việc làm của anh không thể qua mắt chúng tôi đâu. Chuyện này không cần phải thanh minh. Sau vụ bị bắt hụt ở phố Hàng Gà, Trương Tử Anh vô cùng hốt hoảng. Hắn chui tọt vào một cái "hang" nhưng hắn vẫn cảm thấy ngay cái "hang" này cũng không đảm bảo, dù hắn suốt ngày ru rú trong nhà. Đường dây liên lạc giữa Trương Tử Anh và các "trung ương" Đại Việt được xem xét và kiểm tra lại rất kỹ. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:53:26 am Sáng nay cho liên lạc vào một hòm thư "mật" ở Khâm Thiên thì buổi tối, Trương Tử Anh nhận được một bức thư có nét chữ khá quen, hắn vội mở ra xem:
Kính gửi "đảng trưởng" Tôi là Hai ở Ninh Bình – Chắc "đảng trưởng" còn nhớ Hai Còm – Biết tin "đảng trưởng" đang gặp nhiều khó khăn, theo ý tôi, Ninh Bình hiện nay vẫn là cơ sở của ta, anh em Đại Việt có trại ở trong núi. Tôi xin đón "đảng trưởng" về Ninh Bình. Địa điểm liên lạc: Hòm thư 001 – KT vào 9 giờ. Nay kính thư NGUYỄN VĂN HAI Gấp bức thư lại, Trương Tử Anh cố nhớ xem Nguyễn Văn Hai là ai? À, hắn nhớ ra rồi! Hồi hắn về kiểm tra mấy cơ sở đảng Đại Việt ở Ninh Bình, có một đảng viên Đại Việt ra đón về tận nhà cơm nước chu đáo. Hôm về Hà Nội, hắn còn được Hai biếu một chai mật ong. Sau đó, không có dịp trở lại Ninh Bình nên hắn cũng chẳng rõ giờ Hai làm gì. Nhưng rõ ràng cái hoàn cảnh "cá nằm trong rọ" ở đây rất nguy hiểm, không thể kéo dài mãi được. Rút khỏi nơi này càng sớm càng tốt. Xa Hà Nội một thời gian là kế đắc sách nhất. Trương Tử Anh thu xếp ít quần áo bỏ vào chiếc cặp, rồi lên xe, sau nghĩ thế nào lại thôi. Nguyễn Tạo nhớ lại: trước khi đặt cái bẫy này, anh đã phải tìm công an viên Hai, vốn đã là đảng viên Đại Việt từ năm xưa. Thấy thượng cấp cho gọi điện lên Nha Công An, Hai rất sợ có chuyện gì xảy ra do lý lịch đen ngòm của mình. Nhưng nhận được lệnh đặt bẫy bắt Trương Tử Anh, Hai vội vàng làm theo đúng kế của trên: tự tay viết thư mời Trương Tử Anh về… nộp mạng. Nguyễn Tạo còn nhớ lại trước đây, ta đã dùng kế "điệu hổ ly sơn" định tóm Trương Tử Anh, cũng viết thư giả, người đóng giả như thật nhưng rồi không thành. Vì con cáo già này rất tinh khôn, chỉ cần quay về "hang", thoáng ngửi mùi khác lạ, hắn đã chuồn đi thẳng. Lần đó, Trương Tử Anh cứ để cho khách thao thao bất tuyệt say mê kể lại đoạn hồi ký đã qua đó chứng minh mình vốn quen biết chủ thực sự, rồi hắn đột nhiên hỏi: – Đúng như anh nói: hôm đó trời rét thật, liệu anh còn nhớ tôi mặc áo gì không? Trước đó khách đã trót kể: "Tôi nắm lấy áo anh mà cười rũ ra", giờ bỗng trở nên lúng túng, dù chỉ thoáng qua nhưng không thoát khỏi đôi mắt rất tinh của Trương Tử Anh. Khách đáp bừa đi: – Màu nước biển sẫm. – Đúng rồi! Trí nhớ của anh cừ thật! Anh kể tiếp đi. Từ đó Trương Tử Anh cứ ngồi yên, thỉnh thoảng lại gật gù, tỏ vẻ tâm đắc. Tiễn khách ra về, hắn hứa sẽ đến điểm hẹn đúng giờ. Nhưng khác và một đội trinh sát đã mỏi mắt trông chờ vì Trương Tử Anh đã đánh hơi thấy cái vỏ của khác – Thật ra ngày đó hắn mặc chiếc áo len màu ghi nhạt. Điều này thì chính xác tuyệt đối vì Trương Tử Anh có một trí nhớ khá tốt. Tất cả câu chuyện này, Nguyễn Tạo đã dặn kỹ anh Hai và để anh Hai nghỉ hẳn một ngày trước đó, cố nhớ lại tất cả các chi tiết chính xác về Trương Tử Anh hồi tiếp xúc ở Ninh bình. Hơn nữa cái thế của Trương Tử Anh, nhất là tâm trạng hắn lúc này – dù cảnh giác mấy – nếu kiểm tra hết thảy đều chính xác thì vẫn có khả năng hắn sẽ tự đút đầu vào rọ. Từ trước tới nay, Trương Tử Anh rất tin vào tài hóa trang của mình. Hắn vẫn thường tự nhủ: trừ Oa-ta-na-bê ra không một ai có thể nhận ra hắn, thoáng gặp phút đầu ở ngoài đường. Hôm đó, hắn đóng vai một bác bếp đi làm về, ghi đông xe đạp có một cà mèn đựng súp thừa. Loại xúp bui-a-bét ngoài thịt bò và xương hầm, còn có cả cua lẫn cá lổn nhổn, một gói thịt đề-sê – loại bạc nhạc bã súp chỉ dành cho chó béc-giê, một nửa tảng bánh tây. Hắn cũng đánh chiếc sơ-mi cổ cồn, quần áo sạch sẽ là cẩn thận, thoang thoảng mùi thơm của bếp núc. Còn mấy mớ rau đằng sau chẳng qua là bác bếp trên đường đi làm, tiện thì mua về nhà ăn, nhưng thật ra chủ yếu là để ngụy trang hai trái lựu đạn. Thế mà thật không ngờ: Phi Hùng lại nhận ra hắn. Nhưng nghĩ kỹ lại thì cũng dễ hiểu: Phi Hùng rất quen biết hắn và cũng thuộc loại sừng sỏ trong nghề. Trương Tử Anh rít một hơi thuốc lá. Đêm khuya, trong căn phòng tối om chỉ có một điểm nhỏ đang lóe sáng. Công an đã phải dùng đến con bài Phi Hùng có nghĩa là: cuộc đời hắn ngàn cân treo sợi tóc. Sau vụ bị bắt hụt vừa rồi, Trương Tử Anh không qua lại bất cứ một cơ sở cũ nào và không trực tiếp nói chuyện với ai cả. Không đêm nào hắn ngủ một nơi cố định, ban ngày cũng có lúc di chuyển địa điểm. Việc nhận được lá thư mật của Hai ở phố Khâm Thiên cũng làm cho Trương Tử Anh suy nghĩ. Liệu đây có phải là cái bẫy của công an để chộp mình không? Theo kinh nghiệm bản thân, bất cứ một bức thư nào – dù do một người khác viết, có tài bắt chước mấy đi chăng nữa – thế nào cũng có chỗ sơ xuất. Nhưng đặc biệt qua bức thư của Nguyễn Văn Hai, dĩ nhiên có đối chiếu với một số thư, báo cáo khác của hắn – Trương Tử Anh có thể khẳng định là: đúng thư do Nguyễn Văn Hai viết. Liệu Hai có thay lòng, đổi dạ hoặc viết dưới một sức ép khác không? Trong lòng Trương Tử Anh ngổn ngang trăm mối tơ vò và chính lúc này cả vùng Gia Lâm biết đâu chẳng như một màng lưới công an đang thít dần lại. Rừng núi Ninh Bình đúng là một nơi cư trú lý tưởng. Cùng lắm, xuống thuyền lênh đênh giữa biển, xuất dương sang Trung Quốc. Có lẽ đó là thượng sách nhất. Hắn vững tin ngày một ngày hai, chắc chắn bọn Pháp sẽ quay lại và con bài trùm Đại Việt này lại xuất đầu lộ diện trên sân khấu chính trị ở Việt Nam. Giá có cách nào thẩm tra lại xem đúng Nguyễn Văn Hai hắn đã gặp thì tốt quá. Trương Tử Anh nhớ lại diện mạo anh này. Trí nhớ hắn khá tốt, không thể quên được. Hai đưa chai mật ong cho mình. Hai mặc chiếc áo ka-ki Ăng-lê còn mới, mình mặc chiếc sơ-mi trắng đúp măng-sét, khuy mạ vàng, hằn lên một bông hoa. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:54:50 am Giờ thì không thể đích thân đến hộp thư mật để kiểm tra Hai, cũng không thể dùng cách mời hắn đến một điểm hẹn nào đó để kiểm tra được. Thời gian gấp lắm rồi!
Đêm qua, đúng lúc thức giấc, hắn cảm thấy không phải tiếng lá rơi ngoài đầu hè mà hình như có tiếng bước chân người lạ mặt đang rình mò đâu đây. Ba giờ sáng, Trương Tử Anh đã lẻn đi ngủ ở một nơi khác. Điếu thuốc lá tắt ngấm. Trương Tử Anh dụi hẳn điếu thuốc vào cái gạt tàn. Chợt hắn nghĩ đến Lẫm. Lẫm là một bác phó cạo thật thà, hơi chậm chạp là khác. Bác cắt tóc chịu cho trẻ con trong làng, đến mùa bố mẹ lũ trẻ mới trả thóc, hoặc ngô. Hầu như bác không ra Hà Nội. Dĩ nhiên trẻ con nhà nghèo mới đến nhà bác Lẫm để cắt tóc, thường là ba kiểu: ca-rê, móng lừa, nồi úp… các chú bé thường không nói gì vì có bố mẹ dắt con đến dặn bác: – Bác húi sao cho cháu để lâu lâu mới phải cắt. Thế là bác Lẫm đưa tông-đơ theo kiểu "nồi úp". Qua thời kỳ "thực hành" ở đầu trẻ em, tay nghề đá kha khá rồi, bác Lẫm mới quay sang cắt cho người lớn. Lần đầu đến bác Lẫm cắt tóc, Trương Tử Anh rất thú vị khi nhìn vào gương thấy bác Lẫm có khuôn mặt hao hao giống mình. Khác hẳn với các tay thợ cạo khác, luôn luôn kháo chuyện trong lúc làm việc, bác Lẫm rất ít nói. Khách hỏi thì trả lời, không thì thôi. Chiều qua tình cờ đi qua nhà bác Lẫm, Trương Tử Anh mới biết bác vừa ốm khỏi, sắp trở lại cắt tóc. Một tia sáng chợt lóe lên trong đầu Trương Tử Anh. Sau khi thẩm tra thật kỹ, Trương Tử Anh vào nhà bác Lẫm. Chủ nhà rất mừng khi gặp một ông khách cũ, chỉ nhìn quan thần sắc mình đã đoán trúng bệnh. Ông Vận – tên người khách – còn hứa: tối mai sẽ đèo bác đến tận nhà cụ lang Vạn – người Cầu Bảy – hiện đang mở hiệu bốc thuốc xem mạch ở phố Khâm Thiên. Theo lời khách thì cụ lang Vạn bốc thuốc mát tay, chuyên làm phúc, thường chữa khỏi mới lấy tiền, muốn trả bao nhiêu cũng được. Khách còn dặn kỹ: nhà cụ lang ngay cả đêm hôm cũng có lắm con bệnh đến mời, do đó khách sẽ chờ ở đầu phố để bác Lẫm đưa thư vào, nếu cụ có nhà, khách sẽ vào sau. Trước khi ra về, khách còn dặn bác Lẫm kỹ càng: – Bác hơn tuổi là anh, tôi làm em. Dù là chỗ quen biết, cũng phải đóng vai thế để cụ lang dốc lòng chữa bệnh cho mình. Trời khá rét lại lất phất mưa. Hai chiếc kim đồng hồ chỉ chín giờ mười lăm phút. Người qua lại trên cầu đã vắng. Long – chiến sĩ công an trực đêm – đã toan khép cánh cửa trạm kiểm soát lại, sau nghĩ đến công văn của đồng chí trạm trưởng mới phổ biến mấy hôm nay, anh lại hé mở, chặn một mảnh gạch vỡ cho gió đỡ đập vào cửa. Từ phía dốc Gia Lâm, hai người đang đẩy một chiếc xe đạp chất cồng kềnh mấy đùm xôi to đôi gà sống thiến phủ sơ sài tàu lá chuối rách bươm. Có lẽ vì cái lồng quá chật nên đôi gà thỉnh thoảng lại giãy loạt soạt, vẻ khó chịu. Nghe giọng nói lè nhè của người dắt xe, mồm sặc mùi rượu cũng có thể dễ dàng đoán ra được hai người này vừa ăn cỗ ở quê lên. Long vẫn cẩn thận xem kỹ giấy tờ. Gió mạnh từ mặt sông thổi lên như muốn dập tắt ngọn đèn, khiến Long phải dí sát tờ giấy vào đèn mới nhìn rõ chữ. – Bác về đâu bây giờ? Nghe anh công an hỏi, người đùn xe phía sau vội đáp luôn: – Chúng tôi về cuối phố Khâm Thiên, gần lối đi Ngã Tư Sở ấy. Long hơi cau mặt lại, khẽ lẩm bẩm: – Khâm Thiên, Khâm Thiên… Khẽ đưa mắt nhìn hai người khách một lần nữa, anh trả lại giấy, gật đầu cho đi. "Không biết Trương Tử Anh là cái tên phản động mức nào mà "thượng cấp" lại có lệnh truy tìm khiếp thế". Khuya rồi, chắc chẳng còn ai qua cầu nữa. Long cúi xuống vớ lấy hòn gạch quăng đi định khép cửa lại thì hai ông khách nữa dắt xe lên cầu. Long dễ dàng nhận ra người đi đầu đúng là cai thợ nề, không phải vì cái bay và tay thước kè kè bên mình hoặc chiếc áo vét-tông ka-ki cùng cái mũ cát-két còn dính vết vôi và chủ yếu là từ người ông toát ra một mùi vôi vữa rất "thợ nề". Người đi sau nom nho nhã hơn nước da hơi xanh, cho dù người đó mặc chiếc áo dạ cũ màu ghi đầu đội chiếc mũ phớt cũ, quấn khăn mặt, Long vẫn cảm thấy nét mặt hơi quen, hình như đã gặp ở đâu đôi lần. – Đêm hôm khuya khoắt thế này, hai bác còn vào thành phố làm gì? Bác cai thợ nề vội xun xoe đáp: – Đồng chí tính, các cụ xưa đã dạy "cứu bệnh như cứu hỏa". Ông anh tôi đây bị ốm nặng, tôi vừa đi làm trên Bắc Giang về, nghe tin vội đưa bác ấy đi luôn. Long nhìn người bệnh bằng con mắt ái ngại: – Sao không chờ đến mai? Trời rét thế này cảm lạnh là nguy đấy. Phiền các bác cho tôi xem giấy tờ. Liếc qua tờ giấy thông hành của người ốm thấy đề rõ Nguyễn Văn Lẫm, thợ cắt tóc Phú Thụy, Gia Lâm. Long hơi băn khoăn một điều: nhà bác này, mặt mũi sáng sủa thế mà chịu làm thợ cạo ở thôn quê thì lạ thật! Khi trả lại giấy cho bác thợ cạo, Long quay ra thì không thấy ông thợ nề đâu cả. Long bước ra cửa, chợt nhận ra một bóng đen đang ôm bụng ngồi thụp xuống sát thành cầu: – Làm sao thế? Bác đau bụng à? Vào đây ngồi cho ấm cái đã! Nghe anh công an trẻ vừa hỏi vừa dìu mình dậy, người cai thợ nề nhăn nhó lê bước vào trạm. Phía ngoài hai chiến sĩ công an đang đi tuần tra trên cầu. "Chẳng lẽ lại là người trong ảnh"? Long đưa hộp dầu xoa cho bác cai thợ nề, rồi quay sang hỏi bác thợ cắt tóc: – Em bác đau bụng thế, chưa đi được đâu, cứ ở trạm nghỉ cho ấm cái đã! Vừa lúc đó hai chiến sĩ công an từ ngoài cầu đi vào, Long nói luôn: – Các cậu cứ để cho hai bác nghỉ tạm, để tôi chạy ra ngoài phố gọi cụ xếp Lăng vào nhé! – Xếp Lăng nào nhỉ? Nghe bạn hỏi, Long vội đáp luôn: – Cụ "anh-phiếc-mê" (y tá) ở nhà thương Rô-banh (Bệnh viện Bạch Mai ngày nay) nhà ở ngay cạnh cầu đây này. Nghe nói đi gọi "anh-phiếc-mê" bác cai thợ nề cứ rối rít xua tay: – Không cần, đau bụng vặt thôi mà! – Thì hai bác cứ nghỉ ở đây cái đã – Long khẽ đưa mắt cho hai bạn rồi quay ra, tự tay khép cửa lại. Sau khi kiểm tra kỹ, Long biết rõ: Ở Khâm Thiên không có một ông lang nào tên là Vạn cả, người ở Cầy Bảy lại càng không có. Khi Long quay về trạm thì bác thợ cắt tóc mà anh nghi ngờ đã tựa đầu vào tường ngáy khò khò. Bác cai thợ nề thì đứng dậy nóng ruột, hỏi: – Khuya rồi, có lẽ hai anh em chúng tôi xin phép quay về nhà vậy! Bác cai thợ nề định lay ông anh dậy thì Long đã ngăn lại: – Cứ để bác ấy nghỉ. Bác thợ nề xốc lại áo, luống cuống thế nào để rơi chiếc mũ cát-két và làm bay xuống đất một lá thư gấp tư. Long liếc rất nhanh dòng chữ: "Kính gửi đảng trưởng, tôi là Hai ở Ninh Bình", anh vội khẽ giẫm lên bức thư, nhân lúc bác cai thợ nề đang cúi về phía trước nhặt mũ. – Bây giờ thì các anh phải ở lại đây chờ đến sáng! Long nói như ra lệnh trong lúc bác cai thợ nề hơi tái mặt thì bác phó cúp vẫn ngủ ngon giấc. Nguyễn Tạo giơ tay xem đồng hồ: 19 giờ 30. Thế mà vẫn không có tin tức gì từ "hòm thư mật" ở phố Khâm Thiên đưa về. Chẳng lẽ có động, Trương Tử Anh lọt lưới? Một ngày trôi qua, tổ công tác vẫn nằm ở "hòm thư mật" nóng ruột chờ đợi. Tối hôm sau, tại Nha Công An, Nguyễn Tạo thỉnh thoảng vẫn giơ tay xem đồng hồ: đã 22 giờ 15, chưa có tin tức gì ở tổ công tác "hòm thư mật". Thế là thế nào nhỉ? Đúng 22 giờ 25, có điện từ đồn công an cầu Long Biên báo về cho biết: bắt được một người có lá thư khả nghi. Đọc tới đây, Nguyễn Tạo hạ lệnh: – Các đồng chí giữ người đó lại. Thì ra trên đường đến "hòm thư mật" ở Khâm Thiên hôm sau, Trương Tử Anh đã bị anh em công an bắt được trên cầu. Tin Trương Tử Anh bị bắt – đối với Phi Hùng có nghĩa là Việt Minh có con "mắt thần", không một tên phản động nào lọt lưới nổi với họ. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 06:58:28 am CÔ TÔI TẠ VŨ Nhà tôi liền bờ sông Kim Ngưu. Con sông đó từ lâu làm nhiệm vụ chứa nước thải của thành phố. Dòng chảy đặc sệt lừ đừ. Vào mùa mưa sông đầy ắp nước, đen màu mực tàu được pha loãng, ồn ào, phóng túng, nước xô vào những vạt rau, cá rô quẩy mình đanh đách. Ngay từ trên đê, mắt tôi đã nheo lại vì những tia phản quang của nắng trời dọi xuống vô vàn mảnh chai, mảnh kính vỡ, nằm linh tinh ở những đám đất bồi giữa lòng sông, lắc rắc bụi trong những bãi cỏ của đôi bờ. Ngay từ lúc bắt gặp những tia sáng ấy, lòng tôi đã bồi hồi, xúc động. Cái dáng người cô tôi dong dỏng, mảnh mai, khuôn mặt hơi cúi xuống, đôi mắt ánh lên long lanh rồi lại thanh thản trong veo. Cô tôi bước xuống ghế và dẫn tôi vào nhà. Chú tôi mái đầu trắng xóa, trắng không còn sót một sợi tóc đen nào, nhưng người còn tráng kiện. Hai cánh tay còn to hơn cánh tay tôi. Chú tôi đã bật lửa châm vào chiếc bếp dầu rồi đặt một siêu nước lên. Chú tôi châm điếu thuốc, rồi vẫn cái giọng khàn khàn: – Hút thuốc lá đi Khiêm (Khiêm là bí danh của cô tôi hoạt động thời bí mật vào thời Hà Nội còn tạm bị chiếm. Cô tôi nhìn chú tôi, chỉ có tôi là người thứ hai biết cái nhìn của cô tôi mênh mông và sâu lắng đến thế nào. Một ánh nhìn tưng bừng, gửi gắm cả một cuộc đời từng trải, sôi nổi. – Hôm nay Khiêm lại ho. Rồi cô tôi quay sang tôi: – Hút thuốc đi "Gà Gáy". Cô ho. Chú tôi bị thực dân Pháp bắt, một lần tù Hỏa Lò và hai lần tù nhà Tiền. Cô tôi chỉ bị một lần tù nhà Tiền thôi. Nhìn cái bề ngoài của hai ông bà đã về hưu, không ai biết đấy là hai chiến sĩ biệt động nội thành. Chú tôi đã thực hiện bản án xử tử một thằng Việt gian ở phố Hàng Gà ngay giữa ban ngày. Còn cô tôi là đầu mối đường dây, rồi tổ chức học sinh sinh viên, tổ chức chị em em tiểu thương đấu tranh, tham gia những lần bố trí cho các đồng chí ta vượt ngục trở về vùng tự do. Tôi còn nhớ như in, một ngày trời hãy còn lạnh. Cuối mùa xuân hay đầu mùa đông Hà Nội có những ngày đẹp đến nỗi chỉ có Hà Nội mới có những ngày thời tiết tuyệt đẹp đến thế. Trời không cao quá và cũng không ẩm ướt thấp tè. Một mảng mây xanh nổi bật trên nền mây trắng đục. Nắng hoe mà có gió lạnh. Vài ba chiếc lá vàng, khô cong lăn xào xạc dọc bờ đê. Cô tôi mặc chiếc áo măng tô màu mận chín, bước lên một chiếc xe kéo. – Cô thằng Hàm trông như quận chúa. Tụi bạn cùng chơi, huých vào người tôi và giọng nói thì thào kính nể. Tôi và tụi bạn của tôi có biết đâu, cô tôi đang làm nhiệm vụ liên lạc cho một chi bộ của Đảng Cộng Sản Đông Dương… … Ngày cô tôi bị thực dân Pháp bắt, một cơ sở kháng chiến bị lộ, một nữ sinh chỉ nhìn thấy dụng cụ tra tấn đã khai cô tôi ra, nhà tôi biết tin cô tôi bị bắt giam ở nhà Tiền, cậy cục chạy chọt làm đơn xin tụi chúng nó cho gia đình được vào thăm. Đơn gửi đầu tuần này, thì đến tuần sau gia đình mới được phép vào thăm cô tôi vào sáng một ngày chủ nhật. Cả một tuần bà tôi chuẩn bị. Bà cặm cụi giã muối vừng. Bà tôi bảo phải rang cho kỹ và đừng cho lạc vào, dù cô tôi rất thích ăn cơm nguội với muối vừng giã với lạc, vì như thế muối vừng chóng chảy nước. Cẩn thận hơn bà tôi lại mua một chiếc bị cói to đựng ba bốn gói muối vừng còn lèn thêm nửa cân đường kính trắng tinh. Những ngày ấy bà tôi bồn chồn lo lắng. Bà tôi thường lẩm bẩm nói một mình, tôi nghe được loáng thoáng: – Không biết có được ăn không đây. Mỡ treo miệng mèo. Một phần muốn bà tôi vui, một phần cũng để bà tôi yên tâm, tôi nói: – Tây nó không biết ăn muối vừng đâu bà ạ! – Mày lại muốn dỡn bà phỏng. Cái giống chúng nó không được ăn thì chúng đạp đổ. Mà tao còn muốn gửi cho cô mày vài cái bánh giò. – Bà ơi, Tây nó biết ăn bánh giò đấy, bà ạ. – Cô mày chỉ có thèm bánh giò từ bé. Thôi cũng đành. Sáng hôm ấy mày phải nhắc bà dậy cháu nhớ. Bà tôi mong mãi rồi cũng đến sáng hôm ấy. Tôi dẫn bà tôi đến cổng nhà Tiền từ tinh mơ. Bà cháu tôi đợi chán chê. Mặt trời đã lên cao. Nắng bắt đầu gắt. Bà tôi ngồi ôm chiếc bị gọn thỏm trong lòng, thở dài thườn thượt. Hai bàn chân bà tôi cứ nhấp nha nhấp nhổm. Nghe thấy tên cô tôi, bà giật thót mình, đứng phắt lên, hai tay nâng bổng chiếc bị và ghì vào ngực. Tôi nhẹ nhàng đỡ lấy chiếc bị, rồi dắt bà tôi qua chiếc cổng con. Bà cháu tôi đi giữa lối đi hẹp, một bên là chiếc tường bao, một bên là hàng rào dây thép gai lởm chởm. Bà tôi ngơ ngác nhìn chiếc sân rộng, tít xa là ngôi nhà hai tầng, tầng trên thấp nhỏ, những nữ tù nhân đứng nhìn xuống. – Đẻ! Côi tôi đây rồi, tôi chỉ kịp kêu: – Ôi trời ơi… cô… Cô tôi tươi cười đến gần bà tôi từ lúc nào. Một tay cô ôm choàng lấy lưng bà tôi, một tay bỏ ra ngoài áo quấn băng to xù. Và được treo lên cổ bằng một đoạn băng bẩn. – "Gà Gáy"! Cô tôi vẫn cười. Hàm răng trắng bóng. Cô tôi hỏi bà tôi tíu tít. Thỉnh thoảng cô lại trêu tôi, hay lấy khuỷu tay đau hích khẽ vào sườn tôi. Trước khi bà tôi gặp cô tôi, tôi đã lo đến phút này thế nào bà tôi cũng khóc òa. Mà bà tôi khóc thì cô tôi sẽ thế nào? Nhất định cô tôi sẽ khóc theo. Còn tôi, tuổi 15, lớn thì chưa đến tuổi lớn, bé thì đã qua rồi. Không hiểu lúc ấy tôi sẽ "xoay xở" ra sao. Cô tôi cứ hỏi, bà tôi trả lời hết câu này đến câu khác. Sắc mặt bà tôi không còn hốt hoảng, đã bình tĩnh lại, rồi bà tôi bất ngờ nói đùa với cô tôi. Tôi dẫn bà tôi trở ra bến tàu điện, trong lòng tôi nhẹ nhõm. Chính lúc ấy, bà tôi mới lấy một đầu thắt lưng bao lên chấm chấm mắt, nói nghẹn ngào: – Cha con đẻ mẹ nhà nó. Cô mày làm tao lú lẫn hết. Định cho nó mấy chục cũng quên. Định hỏi lần sau "tiếp tế" gì vào cho nó cũng quên. Không biết cô mày có được ăn lấy một chiếc bánh giò không cháu nhỉ? Cô tôi một thiếu nữ mặc chiếc áo măng tô mầu mận chín. Một cán bộ hoạt động nội thành phải treo cánh tay bị tra điện bằng băng bẩn lên cổ. Nhưng chỉ có tôi mới nhận cái dáng phảng phất của hai cô gái ấy trên khuôn mặt cô tôi. Bây giờ cô tôi mảnh mai vóc hạc, mặc chiếc áo cánh bằng vải mền mầu tím hoa cà nền nã. Cô tôi cử động thong thả đến chậm chạp. Chỉ có đôi mắt vẫn mênh mông và thoáng một nét buồn. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 07:00:13 am Ra tù cô tôi dẫn chú về giới thiệu với gia đình. Nhà tôi thuê ở tầng hai có lối đi riêng, nhưng có một điều không thuận tiện là cái sân phơi là sân chung. Người ở dưới nhà muốn ra sân phơi phóng phải đi qua nhà tôi. Hôm cô tôi dẫn chú tôi về, nhà tôi vừa vui vừa sợ. Bà tôi bèn làm một mâm cơm cúng gia tiên, nói tránh với hàng xóm là ngày kị cụ ngoại. Và mỗi lần nghe tiếng giầy, tiếng guốc lọc cọc ở chân cầu thang, chú tôi lại chui vào trong gian bàn thờ. Thật ra bà tôi quá cẩn thận chứ gia đình nhà dưới là một gia đình rất tốt. Người chồng làm thợ mộc đóng "mớp" ở nơi cửa hiệu phố Phan Thanh Giản (bây giờ là phố Nguyễn Hữu Huân). Người vợ ở nhà bếp núc. Cô gái lớn có một tủ hàng đặt trước cửa rạp chiếu bóng bán thuốc lá và kẹo nu-ga. Hôm ấy bà ở dưới nhà bưng lên một mâm trên đặt một chai rượu vang bán ê hề ở phố Hàng Buồm, một miếng thịt quay to tướng và một hộp thuốc lá ca-ra-ven nhãn hiệu con mèo, 50 điếu nói là để lễ cụ. Bà tôi từ chối thế nào cũng không được. Ngay cả cái việc "lễ cụ" ở với nhau bao nhiêu năm chưa từng có này, chúng tôi hiểu ngay đấy là tấm lòng của người dân trong thành đối với những người tham gia kháng chiến. Ông bà ở nhà dưới biết cô tôi về, lên hỏi thăm không tiện, lại có phần sợ nữa, đành lấy ngay cái việc "lễ cụ" biếu quà khéo. Tuy vậy cô chú tôi vẫn thấp thỏm không yên. Bữa cơm "liên hoan"" ăn vội vàng. Trước khi chia tay, bà tôi dúi vào tay chú tôi hộp thuốc lá và nói:
– Tôi bằng từng này tuổi, tôi chưa thấy ai tự đi hỏi vợ như anh, và cũng chưa thấy ai gả con gái như tôi. Nhưng anh là Việt Minh, thế là được rồi, thế là tôi tin rồi. Thỉnh thoảng anh chị cũng nhắn nhe cho tôi biết. Cháu bà nội, tội bà ngoại, tôi cũng muốn chăm bẵng thằng cu hay con hĩm đây. Anh chị không lo, tôi còn khỏe chân, mạnh tay, cứ gửi về đây tôi trông cho. Chú tôi đang nghe, hai tai đỏ lừ. Cô tôi tủm tỉm cười nói với bà tôi: – Chúng con còn lâu mới đẻ ạ! – Ừ, tôi cũng "mơ màng" thế thôi. Hai năm sau điều ước "mơ màng" của bà tôi đã trở thành sự thật. Côi tôi từ vùng tự do vào với một cái "các tơ đi đăng ti tê" giả. Cô tôi ở cữ ở một nhà hộ sinh tư. Những ngày ấy gia đình tôi vừa hồi hộp vừa lo lắng. Cứ chập tối, tôi lại dẫn bà tôi đến thăm cô tôi. – Thằng cu, thằng cu… cha đẻ mẹ mày… âu âu… Bà tôi vừa mừng cháu ngoại vừa dân dấn nước mắt. Tôi nghe giọng bà tôi nói nghẹn ngào. Thương bà tôi quá và trọng cô tôi quá. Tôi định tìm một lời nói nào để an ủi bà tôi, mà không sao nghĩ ra được, thì vừa may tiếng chuông tàu điện leng keng báo tàu đến bến. Tôi loay hoay đỡ bà tôi trèo lên chiếc bục lên toa mắt bà tôi đã kém lắm rồi. Tay bà tôi nắm lấy tay tôi run run… Ở cữ được ba ngày, cô tôi không về nhà mà bế con lên thẳng một cơ sở gần thị xã Hà Đông. Thằng cu Tân – tên đứa con đầu lòng của cô tôi – được hai tháng, cô tôi gửi về chỗ bà tôi, nói là phải ra gấp ngoài tự do để công tác. Thằng cu Tân được nuôi bằng sữa bò, nó là nguồn vui của bà tôi, là nguyên nhân cho những sự bận bịu tíu tít của cả nhà tôi Cu Tân lớn bổng lên trong sự chiều chuộng. Còn cô tôi vắng bặt tin tức. Mồng 10 tháng mười giải phóng thủ đô, ngày 12 cô chú tôi mới về nhà. Cô chú tôi về lúc buổi sáng, lúc bất ngờ nhất. Mãi sau này tôi mới biết thời gian vắng bặt tin tức cô chú tôi là một khoảng thời gian rất nhiều biến động đối với cô chú. Cô tôi ra vùng tự do rồi lại quay vào thành ngay. Nhiều lần cô tôi đi qua nhà, nhớ con, nhớ bà tôi, nhưng sợ lộ, cô tôi đã phải nghiến răng đi thẳng Một đồng chí ở tổ công tác khác, bị bắt và được tụi chúng nó cho đi chữa bệnh (đúng hơn là đi chữa những vết đòn tra tấn do chúng nó gây ra) ở bệnh viện nhà binh Đồn Thủy, móc nối được với cô tôi và đề nghị cô tôi tổ chức vượt ngục. Cô tôi báo cáo với tổ chức của mình, đồng chí lãnh đạo nói: – Việc của Khiêm không phải là đã rảnh rang đâu. Khiêm làm được càng tốt. Đồng chí của mình mà. Tôi đồng ý, còn tùy ở sức cô. Cơ sở của cô tôi đưa được cô tôi gặp người thầy thuốc. Cô tôi đón ngay ở cửa xà lim nhốt bệnh nhân. Khi nghe cô tôi trình bày nguyện vọng, người thầy thuốc nhìn cô tôi, một lát sau ông nói: – Tôi bằng lòng, chỉ mới là người yêu thôi hở cô gái xinh đẹp. Tôi cũng là người chống phát xít Đức, mà tôi lại là người Đức… Tôi… à… nhưng mà mau mau lên… – Tôi xin cảm ơn ông lắm. Cô tôi trả lời. Người lính da đen đứng sau cô tôi từ lúc nào, vừa nghe xong người thày thuốc nói là đã mở khóa đến tách một cái. Người lính lùi lại một bước và cười với cô tôi. – Em mang quà đến anh đây. Sức khỏe của anh… – Cảm ơn em. – Phòng phát thuốc ở gần cổng. Bệnh nhân chỉ tự do những lúc ấy. Có thể được đi một mình. Bệnh nhân nằm đây không bị tụi mật thám làm phiền. Chúng tin hệ thống canh phòng, nhưng tụi lính rất lơ là. – Cô có cơ sở ở đây không? – Có. – Gặp hộ Rô-sa bắt liên lạc với tổ chức của tôi. – Mẹ ở nhà rất lo sức khỏe của anh. Cửa hàng cậu mợ em dạo này bận nên em không thường xuyên đến an ủi mẹ được. Anh… – Bây giờ anh chỉ còn biết trông mong ở em. Chào bác sĩ, tôi rất cảm ơn bác sĩ cho tôi gặp người thân. Người thầy thuốc vừa bước vào vừa nói: – Không sao… Không sao, tôi rất không vui phải cắt ngang những phút tình cảm của hai người. Anh biết đấy, anh là người của đối phương, bất cứ sự gặp gỡ nào cũng phải có sự hiện diện của chúng tôi. Mà tôi thì không muốn mời giám thị tới. Còn nếu cô muốn, cô có thể ở đây xem những vết thương của anh ta, và tôi sẽ là điện vết thương ấy. – Cảm ơn ông lắm. Nhưng ông cho phép tôi được không có mặt ở những phút xúc động. Thật tôi không chịu nổi. Bởi vì anh ấy bao giờ cũng nguyên vẹn trong tôi. – À à… Thế thì tôi xin phép ra ngoài 1 phút, tôi sẽ trở lại ngay để bắt tay vào công việc. – Rô-sa ở ngõ chợ Ngọc Hà… số nhà… chỗ làm việc nhà khiêu vũ Li-đô. – Anh sẽ nhận được tin qua cơ sở ở đây. – Nhưng điều cơ bản là cô giúp tôi "vượt" ra ngoài – Anh hoàn toàn tin tưởng chứ. – Tôi hoàn toàn. – Tôi sẽ gặp Rô-sa… – Anh cố gắng để hồi phục sức khỏe nhớ. – Hãy làm cho mẹ yên tâm, em hãy thu xếp giúp đỡ mẹ anh và vào thăm anh. Bây giờ anh chỉ có em… – Tôi… anh, cứ yên tâm. Khi người thầy thuốc quay trở lại, cô tôi day đầu khăn tay đã tưới đẫm nước hoa vào đầu một bên mắt, cho con mắt đỏ hoe lên rồi chắp hai tay trước bụng, cúi chào rất lịch sự lại mang phong cách cổ truyền dân tộc. Người thầy thuốc nói với bệnh nhân! – Thật tuyệt vời. Tôi thấy ghen với hạnh phúc tuyệt vời của anh. Trên cảnh mảnh đất này tôi đã trông thấy, đã nghe thấy, và bây giờ nữa… Ồ chẳng có gì mà khó hiểu… Tôi kính trọng con người này và các anh… các anh có biết không… các anh thật hạnh phúc. – Chúng tôi biết và hết sức cảm ơn bác sĩ. – Ồ… à à… thôi chúng ta bắt đầu làm việc. Công việc vẫn là công việc. Đó là cuộc đời! Theo cô tôi kể, Rô-sa là một người đàn bà đẹp, rất đẹp là đằng khác. Rô-sa tên thật là Thơm. Cuộc đời của Thơm, cô tôi không tìm hiểu kĩ, nhưng một cô Thơm đã trở thành Rô-sa và làm nghề vũ nữ đã khẳng định một cuộc sống sóng gió, lắm thác nhiều ghềnh. Rô-sa là cơ sở của một đồng đội của cô tôi, cô tôi không có quyền nghi ngờ khi cô tôi cho biết tình hình của anh ta, thì khuôn mặt Rô-sa sáng bừng lên rồi lại sa sầm xuống như một tia lửa diêm cháy một lần cuối cùng tắt ngấm. – Anh ta chưa chết hở chị. Từ khi anh ta bị bắt, em cũng mất liên lạc. Chị bảo anh ta ở đâu kia. – Ở nhà Tiền, mà tôi cũng được tin anh ta bị đánh nặng lắm, có thể chúng nó sẽ đưa anh sang nhà thương Bạch Mai. – Ở tù hay anh ta ở nhà thương nào, em cũng không đến thăm được. Em đã bị mất liên lạc, em giúp anh ta được gì? Chỉ đến thăm anh ta thôi nếu mụ chủ biết, thì em lại bị đuổi "Ba" này làm được tiền lắm chị ạ. Em thì còn biết làm gì? Nếu chị có vào thăm cho em gửi ít tiền vào để anh ta tiêu pha thì hay quá. Cô tôi đứng lên từ biệt Rô-sa. Cô tôi biết rất rõ quan hệ giữa anh ta và Rô-sa sâu hơn tình đồng đội. Anh đã tin rất tin Rô-sa anh ta gặp được cô tôi cũng chỉ qua cô tôi để gặp Rô-sa rồi móc nối lại với tổ chức. Bây giờ Rô-sa chỉ còn làm được mỗi việc là gửi tiền vào cho anh ta. Cô tôi lắc đầu cười nhạt. Chính vì không muốn để anh ta buồn, cô tôi đã gửi thư vào là không gặp Rô-sa và anh ta cứ theo kế hoạch của cô tôi… như thế… như thế sẽ có người đón… anh ta rất tin đường dây này… một đường dây an toàn tuyệt đối. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 09 Tháng Sáu, 2023, 07:01:37 am Vượt được nhà thương Đồn Thủy trước khi đến chỗ hẹn mà cô tôi đã dặn, anh ta đến Bar Li-đô tìm Rô-sa. Đấy là một hành động hết sức sai lầm của anh ta, hay anh ta muốn thử thách một tình yêu và sự liều lĩnh đã phải trả giá.
Anh đã chọn một giờ mà nhà khiêu vũ còn vắng khách, 20 giờ, hai mươi giờ Hà Nội đã lên đèn một lúc lâu. Một tối mùa đông, mà ở những đầu ngõ vắng, than đã hồng trong chiếc nồi đất của bà quạt ngô nướng, nhưng ở những phố lớn, những nơi ăn chơi đàng điếm, đèn nê-ông đã nhấp nháy, tiếng kèn tiếng trống đã hắt ra đường một mớ tạp âm, nghe như trong một chuồng thú, hổ báo tranh ăn loạn xạ. Trong nhà hàng Li-đô, các nhạc công vừa chơi xong bài nhảy thứ nhất, sàn nhẩy thưa thớt, vì đây là quán nên các vũ nữ đưa những khách nhẩy về bàn, chèo kéo, đồng tình, sàm sỡ để đợi bài nhẩy thứ hai. Đúng lúc ấy Rô-sa hốt hoảng, hấp tấp bước ra. Không may cho anh ta, khách nhẩy của Rô-sa tối ấy là một tên cai lê dương già đang muốn cặp kè với Rô-sa, nhìn thấy thái độ lúng túng của Rô-sa, nó nổi máu hoạn thư cũng đứng lên theo. Thằng lính tẩy già này, con cáo già tinh quái đi vòng ra cửa trước đón mồi. Rô-sa đã nói được với anh ta vài câu, cô quay lại bước sang đường về nhà hàng. Rồi cô ta lại đứng lại, nghĩ ngợi thế nào Rô-sa lại gọi khẽ anh ta. Anh ta cũng đã đi nghe tiếng gọi của Rô-sa anh đứng lại, cô ta chạy tới… Một bàn tay lông lá nắm lấy vai áo anh, giật anh xoay nghiêng người lại, một quả đấm phóng giữa mặt anh ta. Một tiếng kêu "thằng ăn cắp". Anh ta cúi đầu xuống tránh quả đấm thẳng tay trái dơ lên đón quả đấm thứ hai, tay phải đánh mạnh đúng bụng tên cắn trộm. Nó hự rống như bò. Cứu tao với. Quân giết người! Tụi chúng nó ùa ra. Giấy xăng đá lộp cộp, rồi còi cảnh sát inh hỏi. Nhưng vết thương vì đòn tra tấn chưa khỏi, sức lực của anh còn bao lăm? Thế là anh bị bắt lại. Bị bắt lại trong một trường hợp thật vô lý! Một đồng chí khác từ phòng giam bị giản lên phòng tra tấn trên đường gặp anh ta từ phòng tra tấn về. Anh ta bị chúng nó đánh lần này đau lắm, mặt bê bết máu nhưng anh ta cố gắng thì thào: – Tôi bị bắt lại vì không tin Khiêm Những tiếng đầu anh ta nói khẽ quá chỉ có ba tiếng sau mới nghe được. Đồng chí gặp anh ta sau này vượt được ra ngoài tự do. Đồng chí rất trung thực, báo cáo với tổ chức những lời anh ta nói. Nhưng đồng chí cũng không thể nào tin được là cô tôi có thể phản bội được đồng đội. Dù sao cô tôi đã là đối tượng có nghi vấn. Trong lớp học chỉnh huấn, những thành tích của cô một quá trình công tác của cô tôi đều phải xem xét lại, nó bị mờ nhạt, lùi lại phía xa xăm và cái sự kiện Không tin Khiêm nổi bật, lù lù che chắn. Vấn đề của cô tôi được hai quan niệm đánh giá trái chiều nhau. Một là từ những kết quả của hành động của cô tôi đến sự kiện này, hai là từ sự kiện này quay ngược lại và rút ra những kết luận cho những hiệu quả của công tác từ trước của cô tôi. Điểm mấu chốt là cái sự kiện này chưa có đầy đủ tài liệu, nó lại bao che qua một màn sương mỏng. Lúc thì nó như là chính xác, lúc thì nó như là không chính xác. Vậy là điểm nào là điểm xuất phát Đồng chí tổ trưởng học tập mời cô tôi lên: – Chị có biết đồng chí… Cô tôi choáng váng. Tiếng xưng hô đã đổi khác. Cái trực giác ám ảnh cô tôi từ hôm về học đã trở thành sự thật. Một phản ứng muốn nổ bùng trong người cô tôi, nhưng cô tôi đã nén lại. Cô tôi trả lời rắn rỏi: – Tôi có biết – Đồng chí ấy đã gặp anh ta ở Hỏa Lò – Thế thì hay quá… việc của tôi… Đồng chí tổ trưởng cắt ngang: – Không hay như chị tưởng đâu. – Thế nghĩa là – Nghĩa là bản kiểm điểm của chị không trung thực. – Lúc tôi… tôi – Chúng tôi chưa kết luận, những công hoặc tội của chị là do chị quyết định. – Sao lại tôi. – Tổ đồng ý để chị 3 ngày suy nghĩ và viết lại bản kiểm thảo – Tôi đề nghị đưa việc của tôi lên ban lãnh đạo học tập. – Chưa cần, lúc nào đưa chúng tôi sẽ đưa. Chị không chấp hành tổ chức của tổ, chị đánh giá thấp khả năng của tổ. Chị tưởng dựa vào các đồng chí ấy để xóa việc này… chị… – Tôi không nghĩ thế, và việc này làm sao phải xóa. – Thôi chị có chấp hành hay không, chị nói đi. – Tôi chấp hành. Về tới phòng mình, cô tôi nằm vật xuống, úp mặt vào gối mà khóc. Khủng khiếp quá có thể từ bỏ một cuộc sống tương đối yên ổn, vượt qua những thành kiến, để bước vào cuộc sống của một người chiến sĩ hoạt động trong hoàn cảnh đất nước đang chiến đấu giành độc lập tự do. Có thể ngay gia đình cũng không thông hiểu, ban đầu phải đi làm chị hai cho Tây, hàng phố, và bạn bè dè bỉu khinh bỉ. Người hàng phố: – Con bà ấy… gia đình ấy… không đến nỗi nào mà bây giờ… bây giờ. Bạn bè: – Nó trông thấy tao, nó cúi gằm mặt xuống. Ngày xưa chị em ai cũng ghen với cái sắc đẹp của nó, phục cái tính tình của nó. Có cháy nhà mới ra mặt chuột. Nó lấy chồng người tử tế thì làm gì có cửa để nó ăn diện. Bây giờ làm đồ chơi cho Tây, thật nhục hơn con chó. Chịu được, chịu được hết, chịu được tất, ngay cả đối với kẻ thù… đòn mật thám… còn nữa… còn nữa… Chịu được tất… Vì vì… tổ chức hiểu mình, cụ thể những đồng chí hiểu mình, như thế là đất nước… Tổ quốc… con… con… Nhưng không thể sống, không thể khắc phục, không thể trấn tĩnh được, khi xung quanh mình là những ánh mắt nhìn nghi ngờ của đồng đội. Khủng khiếp quá cô tôi như bị rơi xuống vực thẳm, mà rơi, rơi mãi vẫn chưa tới đáy. Ôi! giá đây chỉ là giấc mơ, giá xóa được thời gian, giá cô tôi trở lại những ngày xưa, những ngày vui tươi nhí nhảnh của một cô gái đẹp, không có những ngày hoạt động… Không! Không… không thể thế được… Nếu trở lại những ngày của cô thiếu nữ, cô tôi cũng sẽ chọn con đường của một người hoạt động… không thể khác được, không thể khác được. Cơn đau nén lại, chiếc gối xê dịch đi, một cuốn sổ nhỏ chép bài hát văng ra giường. Bàn tay cô tôi lật nhanh. Dân Liên xô vui hát trên đồng hoa… Si bê ri ngàn ánh dương… Tay lao động vui đắp xây cuộc đời… Tay ta cuốc… cày… Một nong tằm là ba nóng kén. Cô tôi dừng lại ở giữa cuốn sổ. Cô tôi đặt cuốn sổ xuống, cầm bức ảnh giơ lên, ảnh Bác. Đôi mắt Bác nhìn cô tôi đôn hậu. Hình như cô tôi nghe được từng lời bác dạy: Nếu lòng con trong sáng và hai bàn tay con trong sạch, thì thử thách nào con cũng vui vượt qua. Con hãy tin đồng chí như tin mình. Tâm hồn cô tôi như một cánh đồng khô nứt nẻ, bỗng mông mênh nước mắt tràn về. Cô tôi thanh thản chịu đựng, trong ba ngày cô tôi viết xong bản kiểm thảo. Vẫn căn phòng ấy, vẫn đồng chí tổ trưởng ấy, cô tôi bước vào dù sao dáng điệu cũng không được tự nhiên… Côi tôi cũng không nhận ra ngay vẻ mặt sởi lởi của đồng chí tổ trưởng. – Bản kiểm thảo của đồng chí căn bản giống như bản kiểm thảo lần trước, có khác là đồng chí sẽ phê bình tổ ta không sát phải không. Căn phòng, tràn lan ánh sáng. Cô tôi ngơ ngác. – Nó giống như lần trước, nhưng không có đoạn sau đâu đồng chí ạ. – Việc của chị đã được xác minh. Anh ta đã theo một đường dây báo cáo tất cả sự việc của mình, có gửi lời cảm ơn chị và nhận kỷ luật với tổ chức. – Chị không giận tôi chứ. – Sao lại giận anh. Tôi biết là phải bảo vệ tổ chức của chúng ta được trong sạch. – Tổ có thể báo chị ngừng làm kiểm điểm từ hôm qua. Nhưng qua thái độ của chị, chúng ta có thể thấy ngay trường hợp của chị để cùng rút kinh nghiệm. Ban lãnh đạo gửi lời biểu dương thái độ tích cực và tinh thần chấp hành tổ chức của chị. – Có gì đâu anh, trong mục nguyện vọng: tôi đã đề nghị được chuyển ngành về địa phương để góp phần xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. – Chị đã bàn với anh ấy chưa? – Chúng tôi thường nói chuyện nhiều đến ngày hôm nay. Trước lá quốc kỳ và chân dung Bác, chúng ta đã chẳng tuyên thệ: "Chiến đấu để trở thành một công dân của một nước Độc Lập" đó sao. Anh lưu ý, báo cáo với tổ chức hộ tôi. Còn nhà tôi có thể cùng nguyện vọng như thôi hay nhà tôi sẽ xét đến khả năng của mình phục vụ nhiều nhất cho đất nước. Chúng tôi bao giờ cũng tôn trọng nhau… Cô chú tôi về Hà Nội sau 2 ngày quân ta tiếp quản Thủ đô. Sau khi thử tay nghề, chú tôi được công nhận thợ nguội bậc 4 và cô tôi vào làm nhân viên Công ty phục vụ! Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 06:58:32 am MỘT NGƯỜI DÂN NGUYỄN THỊ KIM kể PHAN HÀ ghi Tôi vốn là người làng Hòa Mục bên xã Trung Hòa, năm 17 tuổi về làm dâu bên Nhân Chính này, đến nay, đã hơn bẩy mươi, ấy là tính cả tuổi mụ. Khi lấy chồng, tôi kém ông Toàn nhà tôi hai tuổi. Nhà chồng tôi vốn là nhà có ruộng đất, những tám chín mẫu ruộng chứ có phải ít đâu, nhưng gặp phải ông anh là người tham ông có nhà ở Hà Nội, nhưng vẫn giữ cả ruộng đất, chỉ để ra cho vợ chồng tôi chừng bẩy, tám sào, cho nên ông Toàn nhà tôi cũng lại là người vất vả, hồi trẻ cũng phải đi lang thang khắp các tỉnh kiếm công ăn việc làm, cuối cùng quay về Hà Nội kiếm được chân cảnh sát. Còn tôi, người con gái vừa chợt lớn đã đi lấy chồng, và cũng như tất cả những người con gái thời ấy, đi làm dâu, thì cũng chỉ biết lo làm lo ăn, ruộng đất, chợ búa, đẻ con cho chóng, nuôi nấng con cái thế thôi, ngoài ra chẳng còn biết gì đến chuyện khác. Việc làng xóm, việc quốc gia xã hội đâu có đến phận mình. Cho nên thật ra cũng chẳng có chuyện gì đáng nói. Nếu như có tí chuyện gì đáng nói thì cũng phải chờ đến ngày trước cuộc cách mạng Tháng Tám ít lâu. Khi ấy cán bộ Việt Minh trong làng tôi nổi dậy, các anh các chị đi tuyên truyền cách mạng cũng có ra vào nhà tôi, cho nên biết Việt Minh thì có biết, nhưng hiểu Việt Minh cho đến nơi đến chốn thì thật là chưa hiểu. Ngay đến ông Toàn các cháu cũng vậy, các anh ấy bảo tham gia Việt Minh ông cháu trả lời: – Tham gia thì tôi không tham gia, nhưng ủng hộ các anh thì tôi ủng hộ. Các anh cứ đi lại đây, các anh bảo làm gì chúng tôi làm… Các anh cũng chẳng ép, và vẫn đi lại ra vào như cũ. Một hôm anh Đa đến bảo tôi: – Chị ơi bảo bà con sắp sẵn quang gánh thúng mủng đúng tám giờ tối nay ra đình rồi sẽ có người đến gặp và có công việc cần tới. Đúng như lời anh Đa dặn, tám giờ tối chúng tôi đầy đủ quang gánh thúng mủng tập trung ở đình. Đến lúc ấy chúng tôi mới biết các anh cán bộ Việt Minh phá kho thóc của Nhật để ở làng, chia cho dân, cứu đói. Năm ấy dân mình đang bị đói to, người chết đói đầy đường đầy chợ, dọc đường tôi đi chợ, từ đây vào Hà Đông chỗ nào cũng thấy xác người chết nằm co quắp chỉ còn cái xương bọc cái da, dân làng tôi cũng đói, gánh thóc thúng lúa quý hóa thật không biết bao nhiêu mà nói. Tối hôm phá kho thóc, tôi thấy đủ các cán bộ Việt Minh lúc bấy giờ, anh Đa, anh Thê, cô Chỉnh, bà Đỗ, sau này khi tổng khởi nghĩa xong bà Đỗ làm chủ tịch xã tôi đấy. Trước khi phá kho thóc các anh ấy cho người đi tìm lý Vũ, bắt đem chìa khóa ra, tự tay mở kho cho dân lấy thóc. Lý Vũ mở kho xong chuồn thẳng. Giả dụ lý Vũ chốn mất hoặc không mở khóa chúng tôi cũng phá kho ra mà lấy. Mở kho xong, ai gánh, đội được bao nhiêu mặc sức mà lấy. Cả làng ồn ào, rầm rập vui như mở hội… Phá kho thóc đêm hôm trước thì ngay sáng hôm sau mấy thằng Nhật cưỡi ngựa về làng. Chúng hùng hổ, hoạnh họe, dọa nạt cho gọi lý Vũ tới rồi cho gọi cả dân lại. Lý Vũ khai là Việt Minh mang súng ống về lấy, còn chúng tôi, người thì bảo đi vắng không biết chuyện gì, người thì bảo là thóc của các quan lớn, mà các quan lớn thì đóng ngay ngoài cống Mọc lại đóng cả ở bốt đầu cầu Mới nên có cho cũng không dám động đến. Cũng có người khi thấy bọn Nhật hoạnh: Đã biết là thóc của các quan sao không giữ? Họ trả lời ngay rằng đến quan lớn có võ lại có đầy đủ súng ống mà họ còn chả sợ liệu loại dân chúng tôi chân yếu tay mềm lại chẳng có lấy tấc sắt trong tay hỏi làm gì được với súng ống của họ. Chúng bắt lý Vũ với vài người lên bốt Đầu cầu nhưng hôm sau rồi cũng phải cho về. Những lời đối đáp với thằng Nhật lúc đó đều là những lời anh em cán bộ Việt Minh dặn dò cho trước cả. Đối với bọn Nhật lùn tôi không còn lạ gì chúng. Có lần tôi đã lần lên tận bóp Hàng Đậu để đòi lại cái xe đạp, và đòi chúng phải thả ông nó nhà tôi ra. Chuyện nó như thế này: Đêm mồng chín tháng ba Nhật đảo chính Tây, nhà tôi là cảnh sát nên mất việc, về làng làm ruộng, nhưng đến ngày hai mươi tháng ba chả biết đứa nào nó báo biếc là theo Việt Minh hay chuyện gì tôi không biết, thế là có hai thằng Nhật về tận nhà bắt đi, tôi dò được tin là chúng giam ở bóp Hàng Đậu, lại được các anh cán bộ bảo phải lên đòi cho nhà tôi về, thế là tôi đi. Lúc ấy tôi lại đang có mang cháu thứ sáu ỷ vào cái bụng to nên tôi đi tôi chẳng sợ. Đến nơi nhìn vào thấy hai thằng Nhật, một thằng đang ngồi gác ở bàn ngoài nhưng nó lại đang ngủ gà ngủ gật thế là tôi cứ đi thẳng vào bàn giấy bên trong rồi cho là thằng ngồi bên trong phải là thằng to hơn. Thằng ngồi trong đang chăm chú ghi ghi chép chép gì đấy không để ý đến tôi, đến khi ngẩng lên, thấy tôi nó hơi giật mình, nó đập bàn quát tháo ầm ĩ, thằng thông ngôn chạy tới. Nó vẫn đập bàn quát hỏi: – Tại sao lại vào đây? Vào đây làm gì? Sao vào mà không hỏi cái thằng ngoài kia? Tôi trả lời: – Tôi vào, nhưng không thấy ông ấy hỏi gì, nói gì, tôi cho rằng thế là vào được nên tôi vào. – Thế lúc ấy nó đang làm gì: Tôi nói: – Ông ấy gục xuống bàn không biết có phải ngủ hay không. Thế là nó gọi ngay thằng Nhật ở bên ngoài vào, chẳng nói chẳng rằng nó giơ tay tát thằng kia một cái thẳng cánh, chẳng biết nó tát thế nào mà thằng kia ngã dúi ngã dụi vào tận góc tường.. Đến lúc ấy, tôi mới bắt đầu sợ, bụng bảo dạ, nó mà tát mình một cái như thế cứ gọi là chết cả mẹ lẫn con. Nhưng cũng lạ khi đánh thằng kia xong nó quay lại hỏi tôi một cách mềm mỏng: – Thế nào, chị kia vào đây có việc gì? Lúc ấy tôi mới chợt nhớ tới lời mọi người ở nhà dặn là phải gọi chúng nó là quan lãnh sự chúng nó mới thích. Tôi nói: – Bẩm quan lãnh sự, chồng tôi ở nhà làm ruộng tự nhiên có hai người về bắt đem giam ở đây, bây giờ tôi lên xin quan lãnh sự cho tôi mang cái xe đạp của chồng tôi về và xin quan lãnh sự thả chồng tôi ra, vì chồng tôi bị bắt oan. Nó không hỏi tôi nữa mà quay ra quay cái máy điện thoại ở trên bàn nói ý ới gì đó một lúc rồi sau đó bảo tôi: – Chồng mày có là Việt Minh không? Chồng mày có dán truyền đơn, có treo cờ trong làng ngoài làng không? Nó hỏi câu đó thật là ngu, dù có làm cũng chẳng ai nhận là có. Tôi trả lời là không và lại kêu oan: – Thật tình là chồng tôi bị bắt oan. Chồng tôi chỉ biến chân chỉ làm ăn, hôm ấy vừa đi cày về thì các ông đến bắt. Xin quan lãnh sự tha cho chồng tôi về làm ăn nuôi con, nhà tôi năm con còn nhỏ, lại bụng mang dạ chửa, mà chồng tôi bị bắt oan uổng, mẹ con tôi biết dựa vào ai… Nó lại hỏi: – Thế mày có biết Việt Minh làng mày nó ở những nhà ai không? – Bẩm quan lãnh sự, con suốt ngày cái đòn gánh trên vai hết chợ này đến chợ kia sáng sớm đã ra khỏi làng đến tối mờ tối mịt mới về nhà còn biết ai là Việt Minh, ai không là Việt Minh nữa ạ. Cuối cùng nó nói: – Thôi được mày cứ đi về rồi các quan lớn xét. Khi đưa tôi ra cửa anh thông ngôn bảo tôi: – Cũng thật may cho nhà chị, không có giấy tờ gì cả mà dám sồng sộc vào đây, nó không đánh cho là khá đấy. Bận sau có lên nhớ xin ông lý cái giấy… Tôi về được ba hôm thì chúng thả nhà tôi ra. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 06:59:30 am Và dăm tháng sau, cách mạng Tháng Tám thành công ông các cháu tham gia ngay vào tự vệ giữ làng tuần tra canh gác.
Còn tôi vẫn như xưa vừa trông nom ruộng nương vừa chạy chợ kiếm thêm nuôi các cháu, chứ cũng chưa tham gia gì vào các công tác xã hội được. Đến ngay chuyện các anh ấy vận động đi học bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ mà lúc đầu tôi cũng còn chốn nhưng chốn mãi cũng không được, bởi vì ngày ấy ban bình dân học vụ người ta hoạt động rất ráo riết, ngoài việc vận động mọi người đi học các anh ấy còn bầy cái trò ngăn đường hỏi chữ vào các phiên chợ, ai biết chữ mới được đi đường cái, đường thẳng, ai không biết chữ đều phải đi đường vòng, lội ruộng hoặc phải chui cống mù… Tôi còn nhớ hôm ấy là phiên chợ Hà Đông, họ ngăn đường hỏi chữ ở khắp các ngả, cổng trước, cổng sau làng, rồi lại cả ở ngoài đường nhựa nữa. Hồi ấy ở làng tôi có hai bà đều là vợ các ông giáo cùng đi chợ với tôi là bà giáo Phú, chị dâu tôi, cùng bà giáo Nấm là người làng, thấy người ta hỏi chữ lại thấy hai bà là vợ ông giáo chắc các bà phải biết chữ, thế là tôi liền đi kèm vào với hai bà định để là nếu người ta hỏi chữ, thấy hai bà đọc thế nào tôi cũng sẽ cứ bắt chước như thế mà đọc là xong, nhưng có ai ngờ, mang tiếng là bà giáo mà cũng không biết một chữ mù tịt nào như mình. Đến lúc người ta hỏi, hai bà ngớ ra chẳng nói được chữ nào thế là cả hai bà đành mang quang gánh lội ruộng, đi đường vòng. Còn tôi vì cố tình đi sau để nghe lỏm nên chưa bị hỏi đến, thấy vậy tôi liền lùi lại chờ nghe lỏm người khác vậy. Lúc ấy tôi mới thấy một anh đi xe đạp đến, anh em người ta liền ngăn lại hỉ, thấy anh ta nói: – Lờ bờ (L. B.). Anh ta lại lên xe phóng đi, thế là tôi đi lên nói luôn. – Lờ bờ… Nói xong, tôi gánh gánh hàng tất tả đi ngay, và thế là tôi thoát. Vào đến chợ Hà Đông một lúc mới thấy hai bà giáo nhà tôi vào đến nơi, người lấm lem đầy bùn đất, tôi cười nói: – Trông bùn đất thế kia có khổ thân tôi không phải gió nhà các chị, các chị cứ theo tôi có phải là xong mà đỡ khổ không nào… Nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy tức lắm, mà càng nghĩ lại càng tức, tôi bảo hai chị: – Như như hai chị còn khổ hơn tôi mang tiếng là bà giáo mà lại không biết chữ thì tức thật. Về nhà phen này chị em mình phải bảo nhau mà đi học, cho khỏi khổ thân lội ruộng bùn, đi đường vòng… Mà lại bị trưa cả buổi chợ. Lần ấy về chúng tôi bảo nhau đi học thật. Ngày ấy đã làm gì có điện về làng như bây giờ, tối tối mấy chị em mỗi người một ngọn đèn dầu gọi nhau đến lớp. Nghĩ như cái anh giáo Hồi dậy học chúng tôi cũng thật là tốt, chăm nom chỉ bảo từng chữ từng người, mưa gió bão bùng thế nào cũng có mặt ở lớp học. Cái lớp tôi học có gần ba chục chị em chuyên đi chợ như tôi đều không biết chữ, nhưng học hành có phải ai cũng như ai được đâu, có người học nhanh, có người học chậm. Lại có chuyện bà giáo Phú chị dâu tôi đi học thì chăm nhưng chẳng nhớ được chữ nào. Thầy giáo có gọi đến hỏi chữ cứ run như cầy xấy. Có lần thầy giáo gọi lên hỏi hai chữ gờ đơn (g) và gờ kép (gh) vừa học xong mà cũng không thuộc. Khi thầy giáo chỉ vào chữ gờ đơn hỏi: – Chữ gì đây? Bà giáo Phú đứng ngây ra không trả lời được, giữa lúc ấy có người nào đó nhắc nhỏ là gờ đơn nhưng bà ấy nghe không rõ, song đã được nhắc, chắc là đúng nên bà đáp liến thoắng: – Cờ đen… Toàn lớp cười ồ cả lên. Đến khi thầy giáo hỏi chữ gờ kép tiếp theo thì không hiểu sao bà ấy lại nói ráo hoảnh: – Cờ đỏ… Chuyện học chữ cờ đen với cờ đỏ của bà giáo Phú làm chị em chúng tôi cười suốt không biết bao nhiêu hôm mỗi khi đi cấy, đi gặt hay đi chợ với nhau. Thế đấy, năm ba mươi mốt tuổi, có đến sáu đứa con rồi tôi mới được đi học vỡ lòng… Về sau này, hồi năm năm tư khi hòa bình lập lại, tôi có chân trong ban vận động bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, tôi lại đem những chuyện cái thời ấy nói lại với mọi người để thấy được cái khổ của sự mù chữ, nên ai cũng chịu khó đến lớp. Nhiều cô còn trẻ hiện giữ nhiều chức vụ quan trọng trong xã cũng bắt đầu học chữ từ những lớp học bình dân này thí dụ như cô Nở bây giờ là thủ kho, cô Xâm đã làm chủ nhiệm khi hợp tác xã mới lên hợp nhất, rồi cô Viễn làm thủ quỹ kiêm bí thư chi bộ, cô Tình làm chủ tịch Ủy Ban (cô chẳng may bị ô tô cán, sức khỏe yếu đi nhiều, nên nay làm thường trực ủy ban). Còn các cụ vào tuổi tôi bây giờ cũng có được trình độ lớp hai, biết đọc biết viết, khi gửi, khi rút tiền tiết kiệm cũng viết được ký được… Cách mạng Tháng Tám thành công được ít lâu thì cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp lại nổ ra. Lúc ấy ông Toàn nhà tôi đã được tuyển vào công an ngoài Hà Nội liền đi theo cơ quan ra ngoài vùng tự do công tác. Tôi và sáu cháu nhỏ cũng lếch thếch đi tản cư ở những nơi gần gần với cơ quan nhà tôi đóng. Nhưng rồi nhà tôi lại chuyển đi xa hơn, giữa lúc ấy ông bố đẻ tôi cho người đi tìm mẹ con tôi về. Tôi nghĩ ông bố tôi nói đúng: Mình là nông dân, bỏ ruộng đất sao được. Đành phải về mà bám ruộng đất để sống… Hơn nữa đi tản cư sáu bảy mẹ con chả biết làm gì, nên lại càng túng bấn. Thế là năm 1947 bảy mẹ con giắt díu nhau về làng theo lời ông ngoại các cháu. Về đến làng, hoàn cảnh lúc ấy kể cũng thật gay go, nay vây mai càn, nay bắt bớ mai khám xét. Bọn phản động trong làng dựa vào thế Tây nhoi lên, nhà cửa của cán bộ Việt Minh phần bị Tây phá ra lấy gạch xây bốt, phần bị bọn phản động dỡ về xây cất nhà mình, trông thật tan hoang sơ xác. Ngay nhà nhà tôi đây cũng đã có người tự tiện dọn đến ở, họ đun nấu ngay ở nhà trên, bây giờ cột kèo vẫn còn đen nhẻm cả ra kia, nhà có bếp đấy nhưng họ không đun, bếp họ phá ra làm củi, nấu dần. Tuy vậy cán bộ ta như anh Đa, anh Thê, cô Chỉnh, bà Đỗ vẫn nằm lỳ ở xã từ ngày bùng nổ bám đất bám dân tổ chức kháng chiến, giữ vững tinh thần nhân dân. Các anh ấy thường hay ở trên ngôi nhà gần ngay nhà tôi đây. Có lần Tây về không biết, chúng từ bên nhà ông anh tôi vạch rào chui sang sân nhà tôi, đuổi bắt người ý ới, lúc này, các anh mới biết, mới vội vàng tuồn vội ra đồng, cũng may ngoài đồng lúa đang tốt nên các ấy chỉ nấp ở bờ mà chúng cũng không biết, không bắt được. Cũng có lần không chạy kịp, chú Mồm phải cởi quần áo, lội xuống ao, giả vờ bắt cá, bắt tôm, nhưng chúng có chỉ điểm nên chúng đã bắn chết chú Mồm ngay dưới ao… Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:00:29 am Không phải là dân ở đây không có hầm bí mật cho các anh các chị ấy, nhưng vì chúng đến bất chợt nên không kịp xuống hầm đấy thôi, ngay quanh đây tôi cũng đã biết ba nhà có hầm bí mật – ngày đó gọi là cái "bem" – một cái ở nhà bà Thành (Tựu), một cái ở nhà bà Tý Chuột, còn một cái ở nhà ông Quang… Ngay ở ngoài chùa sư Tỵ cũng làm cho các anh ấy một cái "bem" bên dưới tòa Phật. Cái hầm ấy bị lộ, không biết lộ từ đâu, chỉ biết rằng thằng con nhà trưởng bạ chỉ cho Tây biết ở dưới bệ tòa Phật có hầm chứa Việt Minh, thế là bọn Tây kéo nhau về chùa. Lúc đó trong hầm có hai anh cán bộ, biết bị vây, sư Tỵ rất bình tĩnh, trước khi ra mở cửa chùa cho chúng vào để đề phòng bị vây, bị khám lâu, sư tỵ còn đưa vào hầm cho hai anh mỗi anh một đĩa xôi và một bát chè.
Vừa ập vào một cái chúng hỏi sư Tỵ ngay: – Trong chùa có chứa Việt Minh không? – Một Phật, đây là nơi thờ cúng, tôi ngày đêm đèn nhang thờ Phật, tôi còn biết Việt Minh là ai mà các ông hỏi đây có chứa Việt Minh không… Thằng Tây căn vặn: – Mày có cam đoan là trong chùa không có Việt Minh không? – Mô Phật trong chùa tôi chỉ có Phật chứ không có Việt Minh. Còn các ông nói có cũng được, nói không cũng được, đó là quyền của các ông… Hắn thúc ép sư Tỵ bắt cam đoan: – Mày có cam đoan là không có Việt Minh không? Nếu có Việt Minh thì tao bắn chết mày nhé. – Bắn hay không cũng lại là quyền của các ông thôi. Các ông lúc nào chả có súng trong tay các ông bắn ai mà chả được. Nhà chùa chúng tôi là người hiếu sinh, chứ không phải là người hiếu sát… – Thế mày có cam đoan không? Giọng sư Tỵ vẫn bình thản, chậm rãi rành rẽ như lúc đầu: – Các ông bắt cam đoan, tôi cũng phải cam đoan… Sư Tỵ bỗng đổi giọng nói to hơn đầy vẻ kiên quyết: – Nhà chùa chúng tôi không chứa Việt Minh. Có điều các ông đừng có lợi dụng để phá chùa, dân chúng người ta sẽ lên tận bốt người ta bắt đền các ông đấy. Bọn Tây gạt sư Tỵ sang một bên đi thẳng vào tòa Phật nơi chúng đã được tên chỉ điểm chỉ cho. Chúng lôi hai anh cán bộ Việt Minh ra bắn chết ngay tại chỗ, không hề hỏi han một câu. Sau đó chúng quay lại, cũng không nói không rằng chĩa thẳng súng vào người sư Tỵ và bóp cò. Sư Tỵ ngã vật ra sau một hồi quằn quại thì tắt thở. Đến lúc ấy bọn Tây mới biết rằng sư Tỵ không phải là một sư nam như chúng vẫn tưởng từ đầu, sư tỵ là một sư nữ. Thằng Tây trợn tròn mắt nhìn xác người sư nữ mà chính nó vừa bắn chết. Hắn lắc đầu, buông rơi khẩu súng còn chưa nguội, chụp hai tay lên mặt rồi lầm lũi quay ra… Nhà tôi tuy không có hầm bí mật cho các anh nhưng cũng là một cơ sở, để các anh đi về cơm nước. Thổi cơm, nắm cơ, đều phải giấu các con, chỉ sợ chúng ra đường bép xép rồi chết cả mình cả cán bộ. Ấy tôi cũng tưởng rằng giấu giếm được con, nhưng thực ra các cháu lớn đều biết, mà cũng mãi mãi về sau này tôi mới hay là các cháu biết nhưng được cái các cháu cũng giữ mồm giữ miệng nên không lộ chuyện ra ngoài. Ở làng tôi tuy có một số là tề hai mang, ngày làm cho nó đêm làm cho ta, nhưng cũng có một số tên phản động, chỉ điểm vì thế mà sư Tỵ mới bị bắt chết. Ngay chuyện ông nó nhà tôi làm công an cho ta ngoài kháng chiến cũng có đứa nó bán tín bán nghi nên nhiều đêm chúng đến nấp sau đống rơm, đống rạ rình mò xem nhà tôi có lẻn về để liên lạc hay lấy tiếp tế hay không. Đã có lần bọn Tây đi kiểm tra hộ khẩu, chúng xem sổ sách, giấy tờ rồi nó hỏi vặn con cháu lớn lúc đó mới khoảng 15, 16 tuổi: – Sao hộ khẩu lại đứng tên mẹ mày? – Mẹ cháu là chủ gia đình. – Thế bố mày đi đâu mà không đứng tên lại để mẹ mày đứng? – Bố cháu chết từ lâu rồi còn đâu – Có thật là chết rồi không hay là đi làm cán bộ Việt Cộng mà chúng này nói dối. – Chúng cháu không dám nói dối ạ. Mả bố cháu ở ngoài đồng kia. Các quan có ra xem chị em cháu xin đưa ra… Ấy đấy phải đến như thế chúng mới hết căn vặn. Nghĩ cũng tội, bố còn sống sờ sờ ra đấy, vẫn cứ phải nói là bố chết từ lâu. Mà không nói thế, cả nhà cũng khổ với nó… Cũng đã có lúc có anh gợi ý cho tôi tham gia hoạt động trực tiếp, nhưng tôi xét hoàn cảnh tôi không có thể tham gia trực tiếp các công tác được nên tôi cũng thật thà nói lại với anh ấy như thế này: – Cái hoàn cảnh tôi nó còn gay go lắm, một nách sáu đứa con đứa nào cũng còn nhỏ dại cả, tôi mà đi như các anh chúng nó trông cậy vào ai? Ở cái thế tôi không thể hở các cháu mà đi được. Nhà tôi cũng lại khá túng bấn. Có lúc không nuôi nổi con đã phải cho bớt thằng lớn sang ở chăn trâu cắt cỏ cho ông anh nhà tôi mà cũng không xong. Cái trò trẻ con lấy đâu ra lắm sức lực mà ngày làm quần quật cả ngày, đêm đêm lại cứ phải ngồi quạt hầu bác ngủ. Quạt mãi mỏi tay, rồi mệt, đâm ra ngủ gật thế là bác cứ đầu cháu mà cốc. Đau quá, khổ quá, cháu bỏ về bảo tôi – Thôi mẹ cho con ở nhà cứ ở bên ấy, bác đánh khổ lắm. Ngủ gật bác ấy cốc, rời tay quạt bác ấy cốc. Tôi đành phải để cháu ở nhà và tự bảo mình: Thôi thì dù có chết đói cũng cố gắng mà nuôi con, mẹ sống thì con sống, mẹ chết thì con chết… Các anh xem như vậy bảo tôi hở các cháu cho ai được. Bố cháu ở tận ngoài kia, có về được cũng phải đến kháng chiến thành công, nước nhà được độc lập. Các anh ấy nghe tôi nói vậy nên cũng thôi không nói gì nữa, nhưng vẫn đi lại lấy tiếp tế như trước. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:01:32 am Giữa lúc đó tôi nghe tin nhà tôi ở ngoài kia ốm nặng. Chính bà Chỉnh báo tin cho tôi biết tin ấy, bà Chỉnh lúc đó đang giữ chức Quyền chủ tịch xã xã Nhân Chính này. Tôi nói với bà Chỉnh là tôi muốn ra thăm nhà tôi ngoài đó vài hôm bà liền đồng ý ngay, bà Chỉnh vẫn thường ra ra vào vào công tác luôn nên bà bảo tôi:
– Được, chị cứ thu xếp, rồi đi với tôi. Tôi biết chỗ anh ấy ở, tôi sẽ đưa chị đến tận nơi… thế nào cũng gặp… Tôi biết mỗi lần bà Chỉnh ra vào công tác đều có liên lạc đưa đón, nên tôi yên tâm chuẩn bị đi thăm chồng. Tôi giao công việc cửa nhà và các em cho con cháu lớn, dặn cháu rằng nếu ai hỏi cứ bảo mẹ cháu đi chợ xa. Ngày hẹn đã tới, chuyến đi ấy ngoài bà Chỉnh và cô Hậu dẫn đường còn có tôi với bà giáo Nấm – bà giáo Nấm cũng mù chữ như tôi mà tôi đã nói đến ở trên kia đấy – bà cũng đi thăm chồng lúc đó đang làm chánh văn phòng cho ông Hiếu ở Sở giáo dục. Lúc đi bà Chỉnh giao cho tôi bốn con ngỗng, diều con nào con ấy cứ căng chặt cả ra. Bà Chỉnh bảo tôi: – Ngỗng này để làm thực phẩm tiếp tế cho cơ quan đóng ngoài kháng chiến, nhưng cũng chính là để che mắt thằng Tây mỗi khi phải đi qua đồn qua bốt của chúng nó. Cho nên khi đi đường, gánh nó đi cho nhanh, khi qua đồn qua bốt, thả nó xuống lùa nó đi, mình giả như người chăn ngỗng mà vượt qua mắt địch. Nghe bà Chỉnh nói thế tôi cũng cho là phải, phục sát bà ấy là người lắm mưu mẹo, đúng là người đã nhiều lần ra vùng tự do và vào vùng địch. Chúng tôi đi mỗi người cách nhau một đoạn… Đường đi phải vượt qua ba bốt giặc là bốt chợ Tia, bốt Vân Đình và bốt Cời. Khi qua bốt chợ Tia, bốt Vân Đình tôi làm đúng như lời bà Chỉnh dặn, nghĩa là tôi thả ngỗng xuống kiếm một tàu lá chuối lùa đàn ngỗng đi trước còn mình theo sau. Cũng có nơi chúng ngứa mồm hỏi: – Con mẹ kia đi đâu? Tôi trả lời đúng như bà Chỉnh dặn: – Thưa quan lớn con đi chăn ngỗng… Chúng cũng cho là thật, hơn nữa thấy tôi ăn mặc xuềnh xoàng, cái áo bạc, cái váy mốc – cái váy tôi mượn của mẹ để tôi trông nhếch nhác đúng là một con mẹ "nhà quê" đi chăn ngỗng thật cho nên chúng cho đi… Nhưng khi đến bốt Cời, không biết từ đâu một thằng Tây say, da đỏ như da gà chọi, với một thằng thông ngôn lù lùi đi tới ngăn chúng tôi lại và hỏi: – Hai đứa đi đâu? Tôi lại đáp: – Bẩm quan lớn chúng con đi chăn ngỗng. Thằng Tây say liền túm ngay lấy một con ngỗng, ôm lên trên tay và bảo thằng thông ngôn bảo tôi: – Quan lớn muốn mua một con ngỗng đực với một con ngỗng cái về chơi. Mày lấy bao nhiêu tiền quan lớn trả. Tôi nghĩ bụng thế này là chúng nó muốn cướp không của mình hai con ngỗng này đây, tôi đâm tiếc của thay cho bà Chỉnh cho nên tôi tìm cách chống chế. Tôi nói: – Anh ạ, tôi ở ngay trong làng Cời đây thôi, tôi biết trong làng có một nhà nuôi rất nhiều ngỗng đẹp ngỗng quý, nếu quan lớn muốn nuôi chơi tôi chỉ vào đó mà mua, chứ mấy con ngỗng này của tôi xấu lắm. Thằng thông ngôn lại nói: – Quan lớn muốn mua con ngỗng đực và con ngỗng cái này, ngỗng này cũng đẹp rồi. Tôi vẫn cố giữ: – Tôi đã nói tôi biết trong làng có nhà có nhiều ngỗng đẹp mà. Anh cứ đi vào làng đến chỗ cái quán nước hỏi thăm vào nhà cụ Bếp cứ gọi là tha hồ mà chọn. Hơn nữa mấy con ngỗng này của tôi đang đẻ, nó gầy và lại mẹ chồng tôi sai tôi đi chăn mấy con ngỗng mà tự tiện bán đi, về mẹ chồng đánh chết tôi mất, xin quan lớn thương cho… Nghe tôi nói thế có lẽ nó thấy xuôi tai nên nó thả trả con ngỗng và cho chúng tôi đi. Sang sông xong chúng tôi mới thấy mừng, ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Cho tới khi đến cơ quan bà Chỉnh, anh Đa cán bộ cũ của xã ra đón chúng tôi. Tô giúp anh Đa đem ngỗng làm thịt, mổ ngỗng ra tôi với anh Đa mới biết thêm một mưu mẹo nữa của bà Chỉnh: trong những chiếc diều căng phồng của các con ngỗng, cái nào bà Chỉnh cũng nhồi đầy chặt thuốc tây. Bà đem ra tiếp tế cho anh em ở cơ quan đang ốm. Anh Đa thấy thế cũng phải hốt hoảng kêu lên: – Chết thôi! Các chị mang thuốc theo thế này, nó mà khám thấy là nó bắn ngay tức khắc chứ không thèm hỏi han gì thêm đâu… Mang thuốc ra vùng tự do chỉ có tiếp tế cho Việt Cộng, tội tầy đình đấy. Bà Chỉnh bảo: – Thì chính là tiếp tế cho Việt Cộng chứ còn gì nữa… Còn tôi nghe anh Đa nói tôi cũng hết cả hồn, tôi nghĩ ngay đến cái đận gặp thằng Tây say ở bốt Cời, may mà nó chỉ ôm con ngỗng lên tay chứ nó lại sờ sờ nắn nắn cái diều thì thật mất mạng. Tôi trách bà Chỉnh: – Chị làm thế sao chị không bảo tôi để tôi liệu trước. Bà Chỉnh cười: – Nói trước với chị, để khi gặp nó, chị cuống queo lên, có khi lại còn dễ lộ hơn… Trong chuyến đi ấy tuy bọn Tây không bắt được chúng tôi mang thuốc tiếp tế cho kháng chiến, nhưng chúng cũng đã cướp đi của chúng tôi mất một người. Ấy là khi đi đến chợ Bến thì thấy dân chúng người đánh trâu bò, người khênh lợn gà, bồng bế gánh gồng chạy tản cư, Tây đang đi càn, mấy người đi trước chúng tôi bảo khau nhanh chân để vượt ra ngoài vòng vây thì thoát còn riêng bà giáo Nấm lếch thếch đi ở phía sau bị trúng đạn đại bác của Tây chết cùng với một số người ở đó… Chúng tôi ngậm ngùi thươngg mãi bà giáo Nấm, lặn lội đi thăm chồng, chồng chưa được gặp mà đã chết bỏ xác dọc đường. Sau đấy bà Chỉnh còn đưa tôi đi nữa, lên đến phố Mít (Ba Vì) nơi nhà tôi đóng vừa mất bốn ngày bốn đêm. Ở được với chồng hai ngày, tôi lại tất tả sửa soạn ra về. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:02:30 am Về đến nhà tôi lăn ra ốm ngã nước chả là vì suốt những ngày đi đường chăn màn chẳng có, đến cái chiếu cũng không, toàn phải giải lá chuối khô ra mà nằm. Tuy vậy tôi cũng chả ân hận vì dù sao cũng đã được trông thấy mặt chồng, đã yên tâm được về công việc và sức khỏe của ông ấy.
Khi nhúc nhắc dậy được tôi lại đi chợ, khi công việc đồng áng đã rỗi đi chợ vừa là để kiếm thêm nuôi các cháu, vừa để làm liên lạc cho các anh ở đây với bên ngoài. Cứ đến phiên chợ Chuông là tôi gánh một gánh thúng, mủng, dần, sàng, cùng rổ rá đi chợ. Các anh ở ngoài cũng cứ phiên chợ Chuông là vào tìm tôi, trong này có gì nhắn ra, tôi nói lại, ngoài ấy có gì nhắn vào, tôi cũng nhớ về nói với các anh các chị ở nhà. Đôi khi có giấy tờ gì đấy, tôi buộc vào giữa những mớ rau rồi tồng teng gánh đi gánh về… Công việc tội làm người làng không ai biết, nên trước sau đều thông đồng bén giọt. Tôi cũng chỉ mong được đóng góp phần nhỏ sức lực của mình vào công cuộc kháng chiến như thế để chờ đợi ngày độc lập, chờ đợi ngày bố các cháu về… Nhưng ông anh ruột nhà tôi vốn giàu có và hách dịch đâu có để cho tôi yên. Ông ấy cho người gọi tôi sang và đột ngột hỏi: – Tao thương mày tao bảo thật, mang ba đứa con sang đây tao nuôi cho, còn ba đứa đem về nhờ ông bố đẻ mày nuôi nốt, rồi mà đi lấy chồng. Tôi đã nói ông ấy vốn hách dịch tham lam, tham lam như tôi đã nói bố mẹ để lại cho tám chín mẫu ruộng mà ông chỉ cho vợ chồng tôi có bẩy tám sào, đến khi thấy vườn nhà mình chưa vuông ông lại bảo tôi: – Vườn nhà tao chưa vuông cho tao ít đất cho nó vuông vắn gọn mắt. Nhà tôi cũng đồng ý cắt thêm đất cho ông ấy. Còn hách dịch thì đối với anh em con cháu bao giờ ông ấy cũng gọi là mày tuốt và xưng tao, đối với ông, ông buộc mọi người phải thật có lễ độ. Cho nên tôi phải đáp lại lời ông đúng như một người bề dưới: – Dạ thưa bác, bác thương bác dậy thế, em biết thế và em xin cảm ơn bác, chứ riêng em, em không muốn đưa các cháu cho ai nuôi hộ cả dù là bác bên này hay bố mẹ em bên kia. Cái sức em còn cố gắng được, em còn cố nuôi các cháu cho khôn lớn thành người. – Thế là mày vẫn muốn chờ chồng mày chứ gì? – Thưa bác, bác tính em không chờ chồng em thì còn chờ ai. Ông ấy chỉ chỉ ngón tay vào mặt tôi nói: – Này tao nói cho mà biết, thằng chồng mày ấy, đi theo Việt Minh, chỉ có họa mà ăn cứt. Nó chết mất xác ở bờ rừng khe suối nào rồi mày có biết không. Nghe tao, về mà đi lấy chồng cho nó yên thân đi… Nghe vậy tôi vẫn phải giữ gìn nói năng thật lễ phép: – Thưa bác giả dụ như nhà em có chẳng may mệnh hệ nào đi rồi, em cũng xin bác được ở vậy một lòng nuôi con thôi chứ em không thể bước đi bước nữa được ạ! Thấy tôi nói thế, ông ấy nổi cáu lên quát: – A con này cứng đầu cứng cổ thật! Không cứng đầu làm sao mà sống trong vòng kìm kẹp của bọn địch này được. Tôi sống cứng đầu, tôi sống kiên trì đợi ngày kháng chiến thành công, ngày nhà tôi trở về… Rồi ngày ấy cũng phải đến. Ở trong này chúng tôi nghe tin là chiến thắng lớn ở Điện Biên Phủ, rồi nghe tin ta họp hội nghị ở Giơ-ne và rồi cụ thể nhất là bọn tây đang đóng đồn bốt ở Cầu Mới rút đi sạch, cả bọn ở ngay đầu cống Mọc cũng biến hết. Tiếp theo là ngày mồng mười tháng Mười ta tiếp quản Thủ Đô. Nhà tôi về vẫn tiếp tục công tác ngoài Hà Nội. Cán bộ cũ bị lộ phải ra ngoài cũng trở về, cán bộ bí mật ra công khai, lại đông vui, lại tấp nập lại học tập chính sách, học tập văn hóa. Xã tôi bước vào cải cách ruộng đất, ông anh nhà tôi là địa chủ, người ấy không là địa chủ còn là ai? Sau cải cách ruộng đất là học tập thành lập hợp tác xã. Lúc đầu cả hợp tác xã mới có ba mươi nhăm gia đình nộp đơn, ấy là vận động, rồi học tập hai ba lần rồi đấy. Bà con bầu tôi làm chủ nhiệm, nhưng tôi thấy công việc mới mẻ, mình chưa hiểu biết gì nhiều, trình độ văn hóa lại quá thấp, nên tôi đề nghị nhường chân chủ nhiệm cho ông Ba Tý, tôi chỉ xin giữ nhiệm vụ đội trưởng cho vừa với sức mạnh. Ngày ấy đồng ruộng đâu đã có mương máng thuận lợi như bây giờ nên vụ đông xuân đầu tiên của hợp tác xã cũng gặp khó khăn, mỗi công lao động chỉ được cân rưỡi thóc, quy thành tiền chỉ được đâu có mấy hào. Vụ mùa tiếp theo thật là khá, mỗi công lao động được nâng lên bốn cân rưỡi thóc. Thấy hợp tác xã thu nhập cao, những nhà còn ở ngoài làm đơn xin vào tất. Bấy giờ phong trào hợp tác xã mới lên được. Tôi làm đội trưởng chín mười năm liền và giữ được mức thu nhập ấy cho xã viên… Từ ngày ấy tôi được bà con tín nhiệm. Nghĩ lại cũng thật là lạ, ngày ít tuổi, còn mạnh chân, khỏe tay, chả làm được bao nhiêu công việc cho xã hội, bây giờ về già, mỗi ngày lại nhận thêm một nhiều công tác lên. Tính ra được ngần này công việc: làm đội trưởng sản xuất chín năm, rồi ban quản trị, ban quản lý hợp tác xã tín dụng, ban quản lý hợp tác xã mua bán, hội trưởng hội Mẹ chiến sĩ, chấp hành phó bí thư hội Phụ Nữ xã. Còn thêm tổ trưởng tổ hòa giải nữa… Có lần tôi đã nói với chị Nhâm chủ tịch: – Tôi già rồi, các anh các chị còn giao cho tôi lắm công việc thế, tôi đang sao nổi, tôi trả bớt công việc cho chị đấy. Chị Nhâm cười và bảo tôi: – Nói thật với cụ nhé, con sống được đến bằng tuổi cụ, xã có giao cho con ngần ấy công việc con thật cũng không thể đương nổi… Nhưng thôi, cụ còn mạnh chân khỏe tay, các anh các chị ấy đã trưởng thành cả rồi, cụ cứ cố gắng, cố gắng được bao nhiêu, dân xã nhờ cụ được bấy nhiêu. Có có biết ở xã này có bao nhiêu gia đình nhờ công cụ mà được êm ấm hạnh phúc đấy không? Chị Nhâm nói thế là có ý nhắc tôi cái công việc tổ trưởng tổ hòa giải của tôi. Trong ngần ấy công việc mà tôi làm, chỉ có cái anh Tổ hòa giải này là lắm chuyện rắc rối, lôi thôi, nó làm tôi tốn đã lắm mồ hôi, nước bọt, và thì giờ, có việc lằng nhằng suốt ba năm giời mới gọi là xong xuôi, ổn thỏa. Thì cái sự đời nó vẫn thế, vợ chồng con cái người ta sống vui vẻ, thuận hòa, họ chẳng biết mình là ai, nhưng hễ cứ động một cái to tiếng, lục đục, cơm chẳng lành canh chẳng ngon là y như người ta gọi đến mình. Có khi họ chẳng gọi, mình cũng phải mò tới xem sự thể thế nào. Mà cái nhẽ, đã gọi là chuyện đánh nhau, cãi nhau có bao giờ lại là chuyện vui? Ít năm gần đây ngoài xã hội sinh ra lắm chuyện gọi là tiêu cực, trong đó có chuyện vợ lẽ con thêm, chuyện nhân tình nhân bánh rồi về nhà đầy vợ đầy con. Ở xã tôi cũng vậy, ông này anh kia phải lòng gái, rồi tấp tểnh lấy vợ hai, sinh ra khối chuyện mà trong số những người ấy, dân có, cán bộ nhà nước có, thậm chí đảng viên cũng có… Nhưng thôi đấy là chuyện bây giờ, nói cũng chẳng hết được… Tôi chỉ biết rằng, trước đây cũng như bây giờ, tôi chỉ là một người dân, một người phụ nữ trong gia đình, tôi mang trên người ba chức năng: Người vợ, người mẹ, người bà. Tôi cứ cố làm tròn cho được ba chức năng ấy cũng đã có thể gọi là có góp sức mình với dân với nước. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:08:28 am Ở LIÊN KHU II LÊ TUẤN Mới ở Lào về, trên người còn vương bụi đường và những nỗi gian khó ở chiến trường xa. Ăn bát cơm tẻ. Vẫn thấy nhạt mồm, mà lại nhớ nắm xôi nếp Lào thơm, dẻo, chấm với "chéo" (Món ăn thông dụng ở Lào: muối rang ớt, tỏi, ba thứ giã nhỏ trộn vào nhau để chấm thịt.) cay đến chảy nước mắt. Nhất là tôi lại bị ký sinh trùng A-nô-phen hành hạ. Vài ba ngày lại lên cơn sốt rét, run cầm cập, tét từ trong lòng rét ra. Thân hình cân đối của tôi do luyện tập thể thao nay ngược lại: ngực lép kẹp, bụng lại nở to ra với cái báng số 2. Anh em đùa gọi tôi là "hình thang lộn ngược". Tôi chỉ cười trừ và cũng buồn cho sức khỏe của mình. Sau những cơn "nhớ rừng" như vậy, người tôi ngày càng xanh xao và gầy guộc hẳn đi. Bộ quần áo Tàu Tưởng mà Bộ Quốc Phòng phát cho khi ở Lào về tôi mặc vào trông lụng thụng càng thêm ốm yếu. Hết hạn nghỉ một tháng trời sống ở Hà Nội, một sáng trước khi lên đường, tôi đến thăm những anh em thanh niên cứu quốc cũ trong các tổ Việt Minh đang công tác ở Sở công an Bắc Bộ, thì anh Quý (Hồng Hà) đã giới thiệu tôi với anh Hoàng Mỹ (Anh Trần Hiệu Cục trưởng Cục tình báo) Thấy tôi xanh xao không còn chút máu mặt lại sắp về đơn vị, anh Hoàng Mỹ đã bảo tôi: – Cậu yên tâm, ở lại đây công tác với bọn mình. Công tác công an cũng hợp với kiểu thanh niên Hà Nội như cậu. – Em phải về đơn vị, vì em là cán bộ phụ trách. – Nếu cậu đồng ý ở lại mình sẽ sang gặp anh Lê Giản để đề nghị với anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) về việc chuyển công tác của cậu… Ở bên này mình cần những thanh niên xông xáo như cậu. Được không? – Xin tùy ở các anh, nếu anh thấy em ở lại là cần. – Được rồi, ngày mai cậu sẽ đến làm việc chỗ cụ Minh nhé (Chủ sự phòng Chính trị). Tôi chuyển công tác từ quân đội sang công an cũng nhẹ nhàng chẳng cần thủ tục giấy tờ hành chính gì, mà chỉ là câu chuyện trao đổi bằng miệng giữa các anh ấy mà thôi. Gia đình được biết tôi sẽ ở lại công tác ở Hà Nội liền tích cực đi kiếm thuốc chống sốt rét của hiệu "Phúc Đình cha" ở cuối phố Gia Long (Bà Triệu bây giờ) cho tôi uống. Tôi công tác ở phòng Chính trị Sở Công An Bắc Bộ chỉ có nhiệm vụ đọc hết báo cáo hàng ngày để nắm tình hình xã hội chung, chủ yếu là nắm rõ các hành động khiêu khích gây hấn của Pháp và những vụ bắt cóc, tống tiền, giết người cướp của bọn phản động Quốc Dân đảng, Đại Việt để làm tổng kết tình hình hàng tuần, hàng tháng các vụ việc xảy ra. Có những lúc xem sách báo chán tôi lại ra đường dạo quanh các phố để thấy trực tiếp các việc gây rối, cướp giật, bóc lột người đi đường thường xuyên của lính Pháp mà Ban Liên Kiểm Việt – Pháp không thể nêu hết và đưa vào biên bản. Mỗi lần đi phố như vậy, lâu không thấy tôi về là anh Hoàng Mỹ lại bảo anh Phú hay Hồng Hà đi tìm tôi, vì anh biết tôi vẫn còn giữ khẩu súng ngắn và vẫn mang cái tính nóng ở chiến trường rừng. Anh sợ tôi lại gây rắc rối với bọn lính Pháp, và cũng đúng thế thật… Một lần tôi đang đi trên hè phố dưới mái hiên cửa hiệu Gô-đa (Bách hóa tổng hợp bây giờ) thì gặp hai tên lính Pháp mũ đỏ, loại lính lê dương đánh thuê ngổ ngáo. Chúng thấy tôi mặc bộ quần áo lính Tàu Tưởng và người xanh dớt còm nhom, liền chống tay nạnh sườn, xoạc cẳng chắn đường nghiêng nghẹo cái đầu nhìn tôi cười khẩy chế nhạo. Tôi né tránh bọn chúng không phải vì sợ mà vì giữ kỷ luật không để gây ra việc đụng độ với chúng. Lúc bấy giờ nhân dân, bộ đội và cán bộ Việt Minh được lệnh của Chính Phủ Cụ Hồ phải hết sức nhịn nhục tránh gây ra đổ máu. Hai tên lính Pháp tưởng tôi sợ chúng nên há mồm ra cười hô hố. Một tên xông đến bàn thuốc lá của một chị đứng gần đấy, cướp vội lấy bao Đô-mi-nô đỏ, dứ dứ trước mặt tôi. Tôi vẫn dè chừng theo dõi hành động của chúng đề phòng chúng đánh trộm như chó cắn lén, nên khi thấy chúng giở trò cướp bóc và chị bán thuốc lá kêu lên tôi không kìm mình được nữa liền một tay rút súng ngắn cài giấu trong bụng, chân nhẩy tránh một bước tiến lên và dùng sức quật mạnh nòng súng vào cổ tay tên cướp giật làm nó bỏ rơi bao thuốc xuống đất, kêu rống lên, ôm lấy cổ tay nhăn nhó. Chị bán hàng nhặt vội bao thuốc, cắp bàn đựng thuốc bỏ chạy. Tôi đưa nhanh mắt xem tình thế và nhẩy lùi lại nấp sau cột hàng hiên, gằn giọng quát: – Vas t'en, si non je le tue! (Cút ngay, nếu không tao giết mày!) Tên bạn hắn gườm gườm, mắt nhìn quanh để tìm xem có bọn chúng đi qua đây không, nhưng lúc ấy trên đường phố vắng mặt bọn lê dương mũ đỏ, hắn lại nhìn thấy khẩu súng của tôi vẫn chĩa nòng về phía chúng, nên hai tên đành rút lui và làu bàu: – Cochon! Tu nous verras! (Đồ con lợn. Mày sẽ biết tay chúng tao). Những người bộ hành sợ có đụng chạm nổ súng nên rạt cả lên hè đường bên kia, nấp sau các gốc cây và các cửa hàng nhìn sang. Khi thấy hai tên lính Pháp lùi lũi đi, một tên vẫn ôm cổ tay, mồm méo xệch, họ khoái chí cười vang. Không khí mùa đông se lạnh. Nhưng Hà Nội thì cứ hừng hực khí thế chiến đấu. Đi trên đường phố nào, tôi cũng gặp những nam nữ thanh niên hồng hào khỏe mạnh, chiếc mũ ca lô đội nghiêng một cách hờ hững, duyên dáng trên đầu, có gắn ngôi sao vàng trong hình kim loại vuông, bước chân rắn rỏi, nét mặt tươi tỉnh, bình thản, với cái dáng hào hoa đáng yêu của người Hà Nội. Anh chị em sôi nổi bàn tán những câu chuyện hàng ngày trên đường phố và trong báo chí. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:10:45 am Trong một buổi đêm trực ở Sở Công An Bắc Bộ, vừa mới chập tối, tôi đang ngồi xem báo thì chuông điện thoại réo hối hả. Biết là có chuyện, tôi cầm lấy ống nghe chăm chú theo dõi câu chuyện, hỏi lại vài điều cho rõ. Sau đấy tôi vội vàng gọi điện báo cáo sang chỗ anh Lê Hữu Qua chủ sự phòng trinh sát và phụ trách đội Công An xung phong, rồi lại gọi dây nói báo cáo cho anh Hoàng Mỹ và anh Lê Giản biết tình hình mới xẩy ra. Tội gọi dây nói sang Ban Liên Kiểm Việt – Pháp hẹn cử phái đoàn tới phố Pôn-be (Tràng Tiền) vì có việc lính Pháp bắn chết và bị thương nhân dân.
Tôi thắt lưng súng ngắn vào người, nhẩy vội qua cầu thang xuống sân đã thấy xe ô tô đang nổ máy sẵn. Đầu mũi xe có cắm lá cờ hiệu của Công An xung phong. Tôi ngồi trong xe với anh Lê Hữu Qua và mấy đồng chí dáng người cao lớn đứng ghếch chân lên mũi xe hiên ngang, tay nắm khẩu tiểu liên Mỹ tôm-sơn băng đạn tròn, sẵn sàng đối phó với tình huống xấu. Xe phóng đến trụ sở Ban Liên Kiểm Việt – Pháp ở đầu đại lộ Gia Long (Bà Triệu, bây giờ là cơ quan Đảng ủy quận Hoàn Kiếm). đã thấy xe của Ban Liên Kiểm đang nổ máy chờ xe chúng tôi tới là bám ngay phía sau. Hai xe rẽ vào phố Pôn-be, đến dãy nhà bên số chẵn gần ngã ba phố Nguyễn Khắc Cần bây giờ thì đỗ lại. Anh em tự vệ khu phố đã canh gác bí mật, thấy xe chúng tôi tới liền chạy ra kể lại tình hình sự việc. Anh Qua cử hai đồng chí công an xung phong gác ở ngoài cửa. Chúng tôi cùng cán bộ Ban Liên Kiểm và tên sĩ quan Pháp vào trong nhà. Ngay trên nền nhà gần cửa ra vào một người đàn ông bị trúng đạn vào ngực nằm trên vũng máu đã chết. Còn người bị thương ở ngoài hè đã được xe chữ thập đỏ đem đi nhà thương cấp cứu ngay. Hơn một giờ sau, Ban Liên Kiểm lập xong biên bản, tên sĩ quan Pháp phải nhận sai lầm về phía chúng gây ra. Trước khi hắn ký vào biên bản còn làm điệu nhún vai, nghẹo đầu. Anh Qua và tôi chỉ ký vào biên bản theo danh nghĩa cơ quan pháp luật chứng kiến sự việc. Trên đường về, tôi có hỏi đồng chí sĩ quan Dương Văn Đàm, thiếu tá phụ trách Ban Liên Kiểm Việt – Pháp về những vụ gây hấn như thế này mà đại diện bên Pháp đã phải ký nhận lỗi thì chúng có đền bù gì cho gia đình thân nhân bị hại không. – Ban Liên Kiểm Việt – Pháp chỉ là tổ chức hình thức. Bọn tôi đã lập hơn 200 biên bản từ những vụ chó của Pháp cắn mèo của nhân dân, từ vụ lính Pháp cướp thuốc lá, ăn quịt tiền xe v.v… đến những vụ nổ súng bừa bãi sát hại nhân dân ta, có chữ ký của chúng đàng hoàng. Nhưng bọn chúng nhận lỗi chỉ là để biết lỗi, chứ có đền bù gì cho ai. Ngược lại, biên bản cứ lập và cứ ký, những vụ khiêu khích cứ tăng với sự việc ngày càng trầm trọng hơn. Bọn chúng lấy lý do là lính lê dương say rượu nên không quản được chúng nó… Có thế thôi!... Rồi anh khẽ nói với tôi: "Nói chuyện với bọn lính Pháp bằng giấy tờ không xong được đâu, trước sau cũng phải là cái này… (Anh cong ngón tay làm hiệu bóp cò súng). Nhưng chúng ta cứ phải kiên trì mà chịu nhịn để tranh thủ thời gian hòa hoãn". Bọn lính Pháp được chỉ huy khuyến khích càng lộng hành. Ban ngày chúng phóng xe díp khắp các phố phường, sục sạo cả vào những ngõ nhỏ và nổ súng uy hiếp tinh thần nhân dân. Các đội tự vệ khu phố được lệnh đắp ụ đất cản xe ở các đầu ngõ. Anh chị em tự vệ cắt nhau thường xuyên canh gác. Mỗi lần xe díp của lính Pháp xộc đến, anh chị em lại rút lui vào trong nhà. Lính Pháp không đi xe được phải vòng ngay mũi xe nên chúng tức tối xả súng bắn hàng tràng dài vào các ụ đất lạnh lùng mà mỗi ngày chúng lại thấy mọc lên thêm nhiều ở các đường phố Hà Nội. Ở các nơi công sở có Vệ Quốc quân canh gác đều phải che chắn bao cát vì đã có lần lính Pháp bắn cả vào đồng chí đứng gác ở phố Lò Đúc làm anh bị thương nặng. Bước sang đầu tháng 12, không khí chiến đấu đã bao trùm khắp cả thành phố, nhân dân đã tản cư về vùng quê nên thưa thớt, phố xá im lìm nặng nề, vắng vẻ. Lúc này ở Sở Công An cũng không có việc gì làm khác ngoài việc chuẩn bị chiến đấu. Mấy anh em chúng tôi ở phòng chính trị đều được phân về tiểu khu mình ở để tham gia tác chiến chung với lực lượng tự vệ và Vệ Quốc đoàn. Tôi, anh Nguyễn Văn Hùng, anh Lê Tuấn em và anh Hồng Hà lại về tiểu khu 6 phố Chợ Hôm để giúp anh chị em tự vệ tổ chức chiến đấu. Ở tiểu khu 6 tội lại gặp anh Ngô Tất Oánh tức Lê Thanh Quang (tư lệnh phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Sơn Bình, đại tá đã về hưu) một đồng chí thanh niên cứu quốc hoạt động hồi bí mật trong tiểu tổ do tôi phụ trách. Ngoài ra còn một số đồng chí khác nữa. Chúng tôi tập hợp nhau ở nhà anh Hùng (hiệu sách anh Phương số 108 phố Huế) để bàn cách chiến đấu. Ai cũng tươi tỉnh phấn khởi vui nhộn như sắp đến giờ đi dự hội. Một đêm anh Oánh thì thào bảo tôi như có vẻ bí mật: "Tuấn này, mình thấy anh em tự vệ xì xào cho biết mấy đêm nay quân ta ở ngoại ô kéo vào nội thành cứ rầm rập suốt đêm, đủ cả súng to súng nhỏ… Chuyến này quân Pháp biết nhau". Tôi nghe tin này cũng mừng nhưng sau đó lại nghĩ ngay: "Cũng có thể lại là mẹo nghi binh của anh Vương Thừa Vũ như khi hồi mình hành quân quanh vùng Ba Thả, Miếu Môn, Xuân Mai trước khi sang Lào chỉ cốt để hư trương thanh thế…" Nhưng dù sao cũng khích lệ anh em càng thêm hăng hái chờ lệnh chiến đấu, điều đó là tốt nhất. Ở tiểu khu 6 có anh Sắc là chủ tịch ban Bảo Vệ (Ban chuẩn bị chiến đấu thay cho Ủy ban Kháng Chiến sau này), anh Phụng tức Kim Tân làm phó chủ tịch. Nhưng mọi việc đều do chi bộ tiểu khu lãnh đạo mà anh Hồng Hà làm bí thư. Phụ trách về Đảng chung cho Liên khu 2 là anh Dao (Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại Thương) phó bí thư là anh Tích (Anh Trần Vĩ), về chính quyền có anh Hồng Cơ lãnh đạo. trong một cuộc họp chi bộ tiểu khu 6 cùng với anh Hồng Hà và tôi còn có chị Trinh (Vợ phó Chủ Tịch Nguyễn Lương Bằng), chị Hải (Vợ đồng chí Bùi Lâm nguyên đại sứ ở Liên Xô) và mấy đồng chí nữa. Lúc đầu tôi gặp chị Hải cũng dè dặt vì chị là đầm lai, nhưng sau thấy chị cởi mở vui vẻ hòa nhã với mọi người và nhất là tinh thần hăng hái của chị đã xóa bỏ khoảng cách nghi ngại của tôi với chị. Chị đã đảm đang việc tổ chức cứu thương trong đội tự vệ của tiểu khu. Chị Trinh, một công nhân nhà máy Rượu nhận phụ trách việc tiếp tế và hỏa đầu quân (nhà bếp). Tôi và đồng chí Hùng phụ trách đội tự vệ khu phố. Đồng chí Hồng Hà tổ chức các lực lượng phối hợp chiến đấu… Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:12:16 am Một lần tôi đang luồn nhà nọ thông sang nhà kia để kiểm tra việc đục tường có được thông suốt không và cũng muốn thăm các đường lối để khi chiến đấu không bị lúng túng. Trong khi đang đi khắp nơi thì thấy hai đồng chí bộ đội đem giấy giới thiệu đến gặp tôi để bàn cách phối hợp hành động. Một trong hai đồng chí ấy là Lê Ngọc Tấn (Đại tá Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần đã về hưu), chính trị viên đại đội 3 do đồng chí Bảo Cường là đại đội trưởng. Đồng chí Tấn gặp tôi đã thân thiết ngay vì tác phong dứt khoát và quyết định công việc nhanh chóng. Có thể cũng vì tôi đã là Giải Phóng quân nên dễ thông cảm với nhau. Từ đấy tôi và đồng chí Tấn luôn đi cùng với nhau, bàn bạc mọi cách chiến đấu khi xẩy ra chiến sự. Hôm đi điều tra nhà dầu Sen (UBKHKT bây giờ) tuy không thuộc phạm vi tác chiến của tiểu khu 6 chúng tôi, nhưng đồng chí Tấn muốn tôi đi cùng để trực tiếp thấy tình hình địch và lên phương án chiến đấu. Hai chúng tôi ăn mặc bình thường nhưng đều giắt súng ngắn trong người. Chúng tôi đi bên này đường nhìn sang và quanh quẩn ở gần đấy để tìm hiểu lực lượng của quân Pháp đóng ở đây. Tên lính gác nghi ngờ vì thấy hai chúng tôi cứ nhìn sang vị trí của chúng nên nó nói gì với một tên lính khác rồi cả hai tên cắp súng ngang trong tay lùi lũi đi sang hè đường, mỗi tên đi một phía như muốn chặn đường chúng tôi. Đồng chí Tấn bấm tay vào tôi ra hiệu, tôi cũng đã nhận thấy ý định của chúng định bao vây hai chúng tôi nên kéo tay đồng chí Tấn đi nhanh vượt trước khi chúng sang đường, lên phố Găm-bét-ta (Trần Hưng Đạo) rồi rẽ lối khác về phố Lò Đúc (Arnamd Rousseau). Đồng chí Tấn kéo tôi vào căn nhà gác ở ngay góc phố nhìn ra ngã năm nơi một tiểu đội vệ quốc quân đóng bí mật. Đồng chí Tấn cho tôi biết là các anh đã đào một đường hầm thông ra giữa ngã năm và có đặt một quả bom sẵn sàng cho nổ khi giặc dùng xe thiết giáp đánh xuống Lò Đúc. Anh còn cho tôi biết ở ngay dưới rạp chiếu bóng Ma-giéc-tích (Tháng Tám) khách sạn Mê-trô-pôn (Thống Nhất) ngã năm Cửa Nam đều cũng được đặt bom ngầm trong đường hầm cả rồi.
Sáng hôm 16-12, tôi đến Sở Công An làm việc thấy các phòng vắng vẻ, tưởng là mình đến sớm, định lấy báo ra xem thì anh Hồng Hà đã ló đầu vào cửa vẫy gọi tôi đi họp. Trong phòng đầy đủ mọi người, ai nấy im lặng không đùa cười như mọi khi, tất cả anh em chúng tôi ở phòng chính trị đều có mặt và còn nhiều đồng chí công an xung phong và trinh sát. Anh Lê Hữu Qua là ủy viên trong Ủy ban Bảo Vệ Thành phố đang phổ biến tình hình địch và cách chuẩn bị chiến đấu của công an. Trước hết đội công an xung phong phải bố trí tác chiến bảo vệ cơ quan Sở và Tổng Nha. Một tiểu đội sẽ sang đóng ở nhà Đấu Xảo (Cung Văn hóa Công Nhân) phối hợp với lực lượng tự vệ thành làm thế tựa chi viện cho nhau. Còn chúng tôi, anh em trong phòng chính trị, thì được phân công về tiểu khu mình ở để phụ trách các đội tự vệ chiến đấu ở đường phố. Trong tình hình chiến sự, phải rút lui thì địa điểm tập hợp là chùa Vân Hồ nơi anh Lê Hữu Qua đặt trụ sở chỉ huy tác chiến ở đấy. Chùa Vân Hồ ở trong làng có lũy tre um tùm và phải qua nhiều ao hồ, ruộng rau muống… Nhưng thực tế khi chiến đấu, cũng chẳng ai nghĩ đến tập hợp ở địa điểm này mà còn lo bám sát mặt trận để càn quân địch. Tôi là bộ đội giải phóng quân cũ, nên được các anh giao cho khẩu súng trường của kỵ binh Nhật, ngắn, nhẹ hơn và bắn cũng êm hơn khẩu mút-cơ-tông. Khi nhận đạn, tôi chọn toàn loại đạn xuyên và đạn cháy. Xếp đạn vào trong súc-giơ tôi đặt viên đạn xuyên có sơn đen ở đầu đạn, rồi đặt đến viên đại cháy có sơn đỏ ở đầu đạn để đánh xe hắp-tờ-rác và xe díp. Ngoài ra, tôi còn được các anh giao cho bảo quản chiếc máy chữ kiểu Baby để làm tài sản của cơ quan khi phải rút về vùng nông thôn. Anh Lê Tuấn em được giao một bọc tiền lẻ… Nhưng ngay từ điểm đầu nổ súng tôi cũng không rõ mình đã quẳng chiếc máy chữ ở đâu mà chỉ mải mê với chiến trận… Tất cả chúng tôi đều ngây thơ nghĩ rằng đã đánh nhau còn ai buôn bán gì mà phải dùng đến tiền, bỏ đi cho nhẹ… Việc ăn uống đã có chị Trinh và tổ hỏa thực nấu cơm của chị lo liệu cung cấp cho mình rồi… Trong khi cuộc họp đang bàn tán thì chợt nghe nhiều tiếng súng nổ ran ở mạn phố trên. Chúng tôi nghĩ là đã đến lúc xẩy ra chiến đấu nên cuộc họp được giải tán ngay. Anh Qua cử trinh sát đi thăm dò tình hình. Tôi xách súng và máy chữ chạy bộ về nhà và dọc đường nghe được lõm bõm tin tức của người đi đường là quân Pháp đang nổ súng khiêu khích đánh vào phố Hàng Bún và ngõ Yên Ninh… Từ ngày hôm ấy, tôi không đến Sở làm việc nữa mà lo nhiệm vụ ở tiểu khu. Đến chiều tin tức đã rõ: quân Pháp gây hấn ở phố Hàng Bún và ngõ Yên Ninh giết hại hơn 40 người dân và tự vệ. Sau đó chúng còn bắn pháo vào nơi này làm đổ nhiều nhà cửa và giết hại thêm một số người khác. Có súng trường, tôi đi đến các nhà đội viên tự vệ, huấn luyện cấp tốc cho anh em các sử dụng, cách ngắm bắn, cách chạy nấp và lợi dụng địa hình như hàng cây, cột mái hiên để tránh địch. Tôi đi suốt ngày không kịp về nhà ăn uống mà tiện bữa ở nhà nào, ăn ở đấy. Đến tận chiều, thấy anh Tuấn em tìm tôi đưa cho một gói nặng và bảo ở trên thành phát cho đấy. Tôi dở gói ra, toàn là mìn thỏi kíp và dây mìn. "Các anh bảo chúng mình đục thân cây, nhét thỏi mìn rồi cho nổ kíp đánh gục các cây cối đổ chặn ngang đường làm thêm chướng ngại vật". Về khoản này, tôi đã biết sử dụng và còn theo lời những đồng chí giải phóng quân người Thổ khi chúng tôi sang Lào cho biết là mìn dẻo của Nhật ngọt lắm, ai đau bụng uống một tí là khỏi ngay. Tôi véo một tí nhấm cũng thấy ngọt thật, nhưng sợ độc nên không dám phổ biến cho ai biết như vậy. Ngay tối hôm ấy, vì sự kiện căng thẳng ở Hàng Bún và Yên Ninh, nhiều nhà dân đã tản cư, chỉ khép cửa để cho chúng tôi ra vào tự do. – Chúng tôi về quê đây, ở lại thêm vướng chân anh em. Nhà cửa, tài sản đấy, xin giao lại tất cả cho các anh tự vệ. – Cố diệt hết chúng nó, dăm ba bữa nửa tháng cho chúng tôi về nhà nhé… Tại nhà anh Hùng, nơi chúng tôi lập ban chỉ huy tự vệ chiến đấu, suốt đêm hôm ấy, anh chị em tự vệ đến xin ghi tên nhận nhiệm vụ. Ai có vũ khí dù là dao kiếm gậy gộc thì vào lực lượng chiến đấu. Các chị vào đội cứu thương họp ở một nhà khác do chị Hải phụ trách. Các anh chị hỏa thực (nhà bếp) và hỏa đầu quân (nấu cơm) do chị Trinh phụ trách họp riêng ở một nơi… Không khí chiến đấu đã sôi sục và khẩn trương. Chúng tôi phân công nhau đưa từng tốp tự vệ đi đục các thân cây một lỗ nhỏ đủ nhét thỏi mìn dẻo về phía mặt nhà để khi mìn nổ sẽ hắt thân cây đổ xuống mặt đường. Anh Oánh đưa một tổ đi điều tra lại ổ tác chiến của Pháp ở phố Giắc-canh (Ngô Thời Nhiệm) chúng đóng cửa suốt ngày và còn có ba tên vẫn ở trong nhà đó. Anh Tuấn em dẫn một số anh em khác đi điều tra ổ tác chiến của Pháp ở phố Nguyễn Chế Nghĩa. Trong nhà này chúng còn có 4 tên lập vị trí để bảo vệ cho bọn lính đóng ở nhà dầu Sen. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:13:12 am Gần sáng chúng tôi về cả nhà anh Hùng, ai nấy mệt nhoài, đã thấy bà mẹ anh Hùng luộc một rá cà cuống thịt và trên bàn để một đống bánh mỳ nóng vàng rộm mới lấy ở hiệu bánh "Bu-lăng dơ-ri Mô-đec" bên kia đường (bây giờ là rạp Đại Nam).
– Anh em ăn đi cho đỡ mệt. Bà cụ vẫn tươi cười thản nhiên và lại có vẻ mừng vui như nhà đang có việc, khi thấy chúng tôi tập hợp đông đủ. – Thưa cụ chưa đi tản cư ạ? – Vội gì, các cậu còn ở cả đây. Bao giờ đánh nhau rồi đi cũng vừa. Chúng tôi vừa ăn bánh vừa nhằn cà cuống, nói chuyện râm ran, anh Phong, anh ruột anh Hùng vứt ra bàn một túi thuốc Đô-mi-nô bao giấy đỏ. Nhưng chúng tôi chỉ cầm lên xem vì có ai biết hút thuốc lá đâu. Đang ăn, anh Hồng Hà đến, chiếc kính cận cứ tụt xuống mũi làm anh thỉnh thoảng lại lấy ngón tay đẩy nó lên. Anh triệu tập chi bộ họp khẩn cấp. Chúng tôi kéo nhau lên gác nhà anh Hùng, nghe anh Hồng Hà phổ biến tình hình riêng trong Đảng, sau đó phát cho mỗi người một tấm thẻ Đảng in trên bìa học sinh to bằng ba bốn bao diêm, có đánh số thẻ và do đồng chí Lê Quang Hòa, bí thư Thành ủy ký. Anh Hồng Hà cho biết trong trường hợp thất tán mỗi người một nơi, ai đến đâu nếu gặp đảng viên có thẻ như thế này thì tập hợp nhau lại để tổ chức lãnh đạo chiến đấu. Chúng tôi cẩn thận cất thẻ Đảng vào túi áo ngực vì trong người anh em chúng tôi chẳng ai có giấy tờ gì cần phải giữ. Chỉ có các công chức đi làm mới có ví đựng tiền, còn trước đấy thanh niên ra đường ngoài chiếc khăn tay nhỏ, bỏ ít tiền lẻ vào túi là đủ. Ngay hôm ấy, các đội viên đã tập hợp theo đúng nhiệm vụ. Về chiến đấu, tôi và anh Oánh chỉ huy tự vệ đánh bọn Pháp ở phố Giắc-canh, anh Hùng và anh Tuấn em dẫn một số anh em đánh ổ tác chiến của Pháp ở phố Nguyễn Chế Nghĩa. Anh Hồng Hà lo tổ chức các đội tiếp viên bổ sung. Anh em chúng tôi lại tiếp tục tản ra các nhà trong phố để vận động bà con đi tản cư cho hết. Trong khi đi từng nhà để xem xét, tôi gặp rất nhiều chuyện cảm động: có gia đình ở gần ngã tư phố Huế và phố Séc-giăng Lu-ri-vê (Nguyễn Công Trứ) khi chúng tôi đến cả nhà đã khăn gói gọn gàng. Nhưng bà mẹ thì cứ khóc lóc, nấn ná mãi không đi được vì khi gọi cậu con trai nhỏ lại không thấy đâu cả. Hóa ra chú bé trốn ở dưới gầm tủ không chịu đi tản cư mà cũng quyết ở lại sống chết với Thủ Đô. Cuộc giằng co giữa hai mẹ con vừa xúc động, vừa buồn cười. Bà mẹ, một tay túm lấy con lôi kéo, một tay cứ phát vào người cậu ta mà mắng. Cậu nhỏ cứ gào lên ầm ĩ: "Con không đi tản cư đâu. Con ở lại với các anh tự vệ cơ… Con trai phải ở lại đánh Pháp, đi tản cư xấu lắm!" Cô chị đã đeo khăn gói cũng đùng đùng tự ái: – Mày bảo ai xấu, mày biết ở lại đánh giặc, tao lại sợ hay sao! Tao cũng ở lại đây… Bố mẹ cứ về quê trước đi, chúng con đánh nhau xong sẽ về… Và thế là cả hai chị em cứ túm lấy chúng tôi năn nỉ: – Anh cho em làm liên lạc nhé. Tên em là Lương… – Anh cho em vào đội cứu thương hay làm gì cũng được. Em là Tuyết Lan. Bà mẹ chỉ biết khóc và kêu khổ. Ông bố lúng túng thở dài: – Thôi… Tôi cũng đành gửi hai em để các anh bảo ban giúp cho. Rồi ông quay lại dặn hai con: "Các con có đánh nhau thì khéo khéo rồi về nhé. Bố mẹ ở quê mong đấy" Bà mẹ, tay xách va li, lau nước mắt, giúi vào tay hai chị em ít tiền rồi bảo chúng tôi: – Gạo nước, củi lửa trong nhà còn đủ cả, các anh chị cứ dùng đừng ngại gì… Tôi thầm nghĩ: "Chuyện đánh giặc mà nhân dân mình coi như một cuộc đi vắng nhà ít lâu nhẹ nhàng, đơn giản như vậy." Từ hôm ấy em Lương không rời tôi nửa bước. Có nhà khi chúng tôi đến đã thấy chủ nhà đặt cả thùng gạo và thức ăn lên một bàn giao cho chúng tôi rồi mới ra đi. Bà chủ nhà còn cẩn thận gỡ lấy chiếc chìa khóa trong chùm đưa cho tôi: – Anh giữ lấy chìa khóa này để ra vào nhà cho tiện. Chúng tôi đi ít hôm nếu thấy tình hình yên ổn thì sẽ trở về ngay. Chỉ mong các anh đánh chết hết chúng đi để bà con hàng phố trở về sống yên vui… Có ai biết đâu ngay cả chúng tôi cũng chưa nghĩ tới mình sẽ đi vào cuộc kháng chiến của toàn dân lâu đến 8 năm kém hai tháng 9 ngày mới lại trở về Thủ Đô. Trong những ngày đầu kháng chiến ấy, biết bao nhiêu người con gái, con trai của Hà Nội đã vĩnh viễn nằm lại với đường phố thân yêu của mình. Ngày 17-12, giặc Pháp tăng cường gây hấn, chúng đổ quân bao vây trụ sở công an Hàng Đậu, bắn phá khiêu khích dọc phố Hoàng Khoai và trong chợ Đồng Xuân, cho xe ủi đến phá ụ đất của Vệ Quốc quân ở phố Lò Đúc nổ súng bắn lung tung vào hai dãy nhà phố Hàng Bột (Sơ Ăng-toan). Tình hình càng trở nên ráo riết luôn trong tình trạng sẵn sàng tác chiến. Các đội viên tự vệ, cứu thương, hỏa thực, tiếp tế đều đã sống tập trung tại địa điểm với mọi thứ vũ khí của mình: súng, lựu đạn, đao kiếm, gậy gộc, giáo mác, chai xăng cờ-rếp, túi cứu thương và cả quang gánh… Nhìn anh chị em nào cũng thấy nét mặng trang nghiêm, với đủ loại vũ khí dụng cụ đánh giặc, tôi xúc động muốn trào nước mắt. Nhất là khi thấy các em nhỏ liên lạc, ca lô đội lệch, quần áo gọn gàng, chiếc chăn dạ hay chăn len cuộn tròn buộc chéo qua vai, nét mặt nghiêm trang một cách ngây thơ đáng yêu. Các chị vận áo dài mầu tha thướt, nhưng không son phấn, vai đeo túi cứu thương tay cầm kiếm sẵn sàng xông ra trận. Những đội viên nam nhà nghèo một chút thì chỉ mặc áo lương, áo kép, đi guốc cầm gậy, đội viên nhà giàu có của thì mũ dạ, mũ len, áo dạ, đi giày da, đeo lựu đạn và chai xăng tự trang bị quanh thắt lưng. Đội tiếp tế của chị Trinh đã đi gom tất cả lương thực, thực phẩm cất vào mấy căn nhà kiên cố ở ngoại ô để dự trữ. Đội còn thu nhặt tất cả mâm đồng, nồi đồng, đỉnh đồng v.v… để chuyển giao cho xưởng quân giới đóng ở làng Vạn Phúc, Hà Đông đúc đạn. Đội cứu thương của chị Hải, người nào cũng túi xách đựng chủ yếu là bông băng và thuốc đỏ, còn ngoài ra chẳng có thuốc gì khác. Đội tự vệ chiến đấu bảo cho nhau biết cách sử dụng lựu đạn và cách dùng chai xăng cờ-rếp… Lúc này các nhà giàu có cũng không còn nấn ná tiếc của được nữa. họ khóa cửa, cài chốt và ra đi với các tài sản quí, quần áo, chăn màn v.v… Phố xá tự nhiên như rộng hẳn ra hơn trước, không còn xe và người đi lại trên đường, chỉ thỉnh thoảng lắm mới có chiếc xe đạp của người nào đấy hối hả gò lưng đạp nhanh. Gió rét thổi ù ù, mấy chiếc lá bàng cuối cùng đã trút hết xuống mặt đường hoang vắng. Bầu trời xám xịt in hình những cành bàng khẳng khiu thành những nét đậm trên nền trời. Loa thông tin đã công khai thông báo những tin tức quân Pháp gây hấn và những mệnh lệnh của Ủy ban Bảo Vệ thành pố để các lực lượng chiến đấu ở lại Hà Nội theo dõi sát sao từng ngày, từng giờ sự việc tất yếu sẽ phải xẩy ra. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 19 Tháng Sáu, 2023, 07:14:33 am Ngày 18-12, các đội viên tuyên truyền cổ động lại vác loa "a-lô" báo tin quân Pháp đã chiếm Nha Tài Chính (Bộ Ngoại Giao bây giờ) chiếm Bộ Giao Thông Công Chính và hồi 21 giờ tối đã gửi cho Chính Phủ một tối hậu thư đòi phải giải tán các đội viên tự vệ, công an và vệ quốc đoàn, giao nộp vũ khí cho chúng, nếu không đến ngày 20-12 chúng sẽ hành động.
Cũng tối hôm 18-12, chúng tôi truyền tay nhau xem "Mệnh lệnh chuẩn bị gửi Vệ Quốc đoàn, Công An xung phong và Dân Quân Tự vệ thành" do anh Nguyễn Văn Trân chủ tịch Ủy ban Bảo Vệ thành phố ký. Riêng trong nội bộ Đảng, được phố biến bí mật là vào khoảng 8 giờ tối ngày 19-12 Chính phủ đã quyết định hành động trước thời gian hạn trong tối hậu thư của giặc Pháp. Có nghĩa là chiến tranh chắc chắn vào tối ngày 19-12 rồi. trong người chúng tôi nôn nao khó tả, chờ giây phút bùng nổ mà sao thấy dài như vô tận. Thời gian chỉ còn một đêm nay và ngày mai nữa, chúng tôi còn phải làm gấp một số việc chưa xong như kiểm tra lại các nhà giàu chưa cho đục tường sớm, phải tiếp tục đục tường nhà ở phố này thông sang phố khác, đào những đường hào ngang đường để qua lại tránh đạn địch, xem xét vị trí để lập chướng ngại vật… Những nhát cuốc bổ vào đường nhựa, chạm vào đá tảng bật những tia lửa nhấp nhoáng. Những tiếng búa đục tường trầm trầm vang vọng suốt dọc các dãy phố. Ánh đèn điện vẫn tỏa rộng một vầng sáng trên mặt đường vắng lặng. Các nhà trong phố đều mở toang cửa, nhưng không có người, chỉ có bóng các đội viên tự vệ chạy đi chạy lại, hối hả làm việc trong im lặng và trong gió rét ào ào như cầm dao lóc từng miếng da mặt. Các thân cây đều đã được nhồi mìn và kíp sẵn sàng cho nổ… Chợt mọi người ngừng tay cuốc vì tiếng chuồng tàu điện leng keng đã báo cho anh em chú ý. Đến chỗ đào đường tầu chạy từ từ. – Ôi! Tầu điện vẫn chạy. – Ta vẫn sinh hoạt bình thường như mọi ngày, việc gì mà sợ chúng. Một giọng nam cao vút cất lên: "Bao chiến sĩ anh hùng" tất cả anh em tự vệ cùng hòa giọng hát theo: "Lạnh lùng vung gươm ra sa trường" Tầu điện chạy ra ngoại ô. Trên toa hầu hết là người đi tản cư, cũng lấy tay vỗ nhịp vào thành tầu và ló đầu ra vẫy gọi: – Ở lại chiến đấu nhé! Chúng tôi chờ tin thắng trận của các anh. – Bà con đi mạnh khỏe, yên tâm, chúng tôi quyết giữ vững Thủ đô… Tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray ríu rít xa dần, quầng sáng đèn đi mãi về phía ngã tư Trung Hiền. Anh em tự vệ lại tiếp tục công việc. Thế là qua một đêm rồi, còn ngày hôm nay nữa thôi… Ngày 19-12, trời vừa hửng sáng, phố xá còn chìm ngập trong sương trắng đục, đồng chí Tấn đã đến gặp tôi, kéo riêng ra một chỗ hỏi nhỏ: – Cậu biết tin gì chưa? – Rồi! Trong Đảng cũng đã phổ biến trước. Bọn mình đã bí mật chuẩn bị đâu vào đấy chờ đêm nay là nổ súng. – Mình điều quân lên đóng ở các địa điểm sát vị trí địch rồi. Nhớ phối hợp chặt chẽ với bọn mình nhé. – Anh chị em tự vệ đã thề sống chết với Thủ Đô. Chỉ tiếc là bọn mình ít vũ khí quá, không biết đánh đấm được bao lâu… – Bọn mình sẽ cung cấp cho các cậu ít lựu đạn. – Mỗi người được một quả cũng là tốt. Trước mắt bọn mình phải diệt xong mấy cái ổ tác chiến chết tiệt của địch đã. – Bộ đội có mục tiêu khác. Đánh xong, bọn mình sẽ cùng với các cậu bố trí bảo vệ từng đường phố. Chắc chắn địch sẽ tung quân bao vây diệt lực lượng của ta ở Liên Khu I là chính. Chúng mình ở vòng ngoài sẽ tấn công mạnh để đỡ đòn cho các đồng chí ấy. Nội công, ngoại kích mà. Trụ sở của các cậu đóng ở đâu? – Bây giờ tạm thời là nhà số 108 phố Huế. Còn sau này tùy theo tình hình chiến sự, nhưng nói chung bọn mình sẽ bám sát đường phố Huế để chiến đấu. Cậu cần tìm mình, cứ tìm đến tuyến đầu giáp ranh với địch. Còn muốn cần gì về tổ chức, liên lạc với Hồng Hà, cậu ấy đóng tạm thời ở nhà Bùi Duy Dân. Vả lại chúng mình ở đâu, cứ hỏi anh chị em tự vệ thì biết ngay. Trước khi tôi chia tay với đồng chí Tấn, em Lương đã kéo tôi cúi xuống nói thì thầm một chuyện khẽ vào tai tôi – Chú bé liên lạc của cậu nói chuyện gì thế? – Em Lương nói với anh Tấn đi – Em chịu thôi, anh nói hộ em. – Chú muốn gì nào, anh giúp được anh sẽ sẵn sàng. – Em Lương thấy quả lựu đạn Mỹ mỏ vịt của cậu thích quá nên muốn xin mà lại sợ. Đồng chí Tấn cười thân mật, vuốt má em Lương bảo – Anh tặng chú bé để đánh Pháp đấy. Chú biết cách sử dụng chưa? – Em nhờ anh Tuấn bảo giúp em, em xin cảm ơn anh… Được quả lựu đạn đẹp, Lương hí hửng đeo ngay vào thắt lưng và em nhìn tôi hãnh diện tưởng chừng như em đã lớn hẳn lên mấy tuổi. Khi đồng chí Tấn đi rồi, chúng tôi lại tiếp tục công việc. Cả ngày hôm ấy, không thấy bọn lính Pháp phóng xe díp trên đường, và bọn lính mũ đỏ cũng không thấy nghênh ngang trên hè phố. Chúng nó có lệnh cắm trại để chuẩn bị đấy. Anh em tự vệ đàng hoàng làm việc ban ngày nên các đường hào chạy ngang qua đường nhựa nhanh chóng thành hình một liên hoàn căn cứ chiến đấu. Đến quá trưa, mọi việc chuẩn bị đã hoàn thành tốt. Chúng tôi chỉ mong ngóng đến giờ phút lịch sử vào buổi tối hôm nay. Chiều hôm ấy ăn cơm xong, đội quân của chị Trinh còn phát cho chúng tôi mỗi người một nắm cơm và miếng thịt kho mặn với lý do là để thức đêm, nhưng trong nội bộ Đảng chúng tôi rõ là cả đêm nay chắc chắn không ai ai có thể ngủ được. Đến ngày mai, chưa ai biết là sẽ thay đổi ra sao... Trong nơi nhà tập trung anh chị em tự vệ và cứu thương chỉ nghe thấy các bài hát vang lên và tiếng cười sảng khoái, hết Bao chiến sĩ anh hùng đến Diệt phát xít, rồi Nhớ chiến khu v.v… Tiếng hát xen lẫn tiếng đàn ghi ta đệm làm không khí náo nhiệt và đầm ấm vui vẻ. Tôi ghé qua thăm anh chị em đứng ngắm các khuôn mặt trẻ trung và đẹp một dáng vóc hào hùng, thầm nghĩ "Trước lúc bước vào trận đầu quyết liệt mà anh chị em vui vẻ như thế này, lo gì về mặt tinh thần sa sút nữa…" Vả chăng những người nhút nhát hay vì một lý do gia đình nào đấy không ở lại chiến đấu được, đã đi tản cư cả rồi. Những anh chị em còn ở lại đến bây giờ đều là những chiến sĩ đáng tin cậy… Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:34:01 am Tôi nhớ lại trong những buổi sinh hoạt chi bộ, anh Hồng Hà vẫn nhắc chúng tôi phải chú ý phát triển đảng viên trong anh chị em tự vệ và anh có hỏi tôi về tính cách của anh Oánh và Tuấn em.
– Anh Oánh thì tôi tin tưởng lắm vì chính anh đã được tôi tuyên truyền vào tổ chức Việt Minh từ đầu năm 1943. Trong khi hoạt động cách mạng, anh tỏ ra gan dạ và bình tĩnh. Anh cũng đã tham gia vào việc chiếm trại Bảo An binh thời kỳ tổng khởi nghĩa. Tuấn em thì còn sốc nổi cần phải có thời gian tuyên truyền chủ nghĩa Mác-xít chín hơn nữa… Nghĩ vậy, tôi liền đi tìm anh Oánh để tâm sự với anh và nói thêm về chủ nghĩa cộng sản. Anh chăm chú nghe tôi và mãi sau mới nói thủ thỉ: – Mình cũng biết, mình vẫn mong được như thế… Thế là rõ, anh Oánh đang có nguyện vọng được gia nhập Đảng cộng sản Đông dương. Trong dịp chiến đấu này chỉ cần anh tỏ rõ phẩm chất cách mạng kiên quyết của mình là tôi đề nghị anh Hồng Hà kết nạp anh vào Đảng được… Trời đã tối, đèn thành phố vừa bật sáng, chúng tôi biết là sắp đến giờ nổ súng, nên tất cả; tôi, anh Hùng, anh Oánh và Tuấn em cùng nhiều anh em khác đổ cả ra đường. Tự nhiên tôi thấy người rét run, tay cầm cái gì cũng lóng ngóng. Có lẽ tôi cảm động không giữ được bình tĩnh nữa sao… Đây có phải là trận đầu tôi giáp mặt với quân thù đâu. Có thể lần thứ nhất vào trận khi còn ở Sầm Nưa, tôi còn lo lắng và run tay, nhưng giờ đây… và chỉ ít phút sau tôi biết là cơn "nhớ rừng" đã nổi lên hành hạ tôi rồi. Tôi quay lại nhờ anh Hùng kiếm cái áo vét-tông dạ mặc vào người, nhưng vẫn thấy run lên cầm cập. Anh Hồng Hà nhìn tôi ái ngại: "Cậu Tuấn lại lên cơn sốt rét rồi phải không?" – Mình chỉ rét một lúc thôi, rồi mới sốt nóng. Qua cơn ấy là lại khỏi. Anh Hồng Hà bảo chị cứu thương đưa cho một mấy viên thuốc ký ninh. Tôi đỡ lấy mấy viên thuốc ở tay chị, cho vào miệng, nuốt chửng ngay, rồi mới kịp để ý đến chị đang chăm chú nhìn mình. – Anh bị sốt rét từ bao giờ thế? – Chị Tuyết Lan đấy à? – Anh đi nằm một lát đi. Em Lương đâu hở anh? Vừa lúc ấy Lương chạy xộc vào thở hổn hển: "Anh sang ngay phố Giắc-canh (Ngô Thời Nhiệm) đi, các anh ấy đang chờ anh đấy". Rồi không để tôi kịp nói gì, em cứ lôi tay tôi kéo bừa ra cửa. Tôi còn kịp nghe tiếng anh Hồng Hà nói: – Anh ấy mới ở chiến trường bên Lào, đánh Pháp về đấy. Từ nhà anh Hùng sang phố Giắc-canh có một quãng, nhưng tôi và em Lương vừa qua một đoạn phố Hác-măng (Trần Xuân Soạn) một tiếng nổ vang ầm từ phố trên vọng lại. Đèn điện phụt tắt. Tôi vừa chạy, vừa bảo em Lương: – Đánh nhau rồi đấy! Em cứ bình tĩnh đi với anh. – Em không sợ đâu… Bây giờ làm gì hở anh? – Em chạy về tìm anh Oánh nói là anh hãy cho các tổ tự vệ nổ mìn đánh đổ các cây, cột đèn điện và vất tất cả đồ đọc trong các nhà làm chiến lũy nơi có đường hào chạy ngang qua phố, rồi em quay lại đây với anh ngay nhé. Anh đánh bọn Pháp ở ổ tác chiến này. Các anh khác đã được phân công nhiệm vụ cụ thể cả rồi. Nhanh lên! Lúc ấy tôi nói mà phải như hét lên em Lương mới nghe rõ vì quanh chúng tôi trời đất tối om, những tiếng mìn nổ vang, tiếng súng to, nhỏ, tiếng tự vệ reo hò, tiếng đồ đạc đủ cả giường tủ, bàn ghế, đồ thờ, chăn màn hòm xiểng, chậu hoa cây cảnh… nghĩa là tất cả đồ dùng lớn bé của các nhà trong phố, đều được anh em khiêng vứt chắn ngang đường lập chướng ngại vật. Những tiếng động ấy vang rền như lay động cả vòm trời đã đỏ rực vì những đám cháy. Thật là cảnh tượng trời long, đất lở. Tiếng loa của các anh chị em tuyên cổ (tuyên truyền cổ động) đủ cả giọng kim, giọng trầm, giọng the thé, đi khắp dọc phố: "A lô! A lô! Thưa toàn thể đồng bào, giặc Pháp đã nổ súng tấn công ta. Giờ cứu nước đã đến, toàn thể đồng bào hãy đứng lên…" Tôi chưa hiểu động đất như thế nào, chỉ thấy người cứ lâng châng, chao đảo chập choạng như dơi ban ngày, chạy vài bước lại vấp ngã, người vẫn còn rét run. Đến chỗ ổ tác chiến của giặc, thấy anh em tự vệ đang reo hò vây xung quanh, nhưng chưa ai nổ súng vì cũng chưa biết cách tấn công vào vị trí nhà gác. Trong cái ồn ào hỗn hoạn của mọi tiếng động, tôi bảo anh em không hò hét làm gì cho thêm huyên náo làm lộ mình. Tôi cử một tổ ba người lặng lẽ men theo tường các nhà bên cạnh đến chỗ hàng rào sắt phia cổng để anh em tiếp cận vào sân cho dễ. Bọn địch trong nhà chắc hẳn là những tên quen giữ vị trí nên chúng chỉ im lặng, thỉnh thoảng thấy động lại bắn ra qua các khe cửa sổ. Bên ngoài nhìn vào trong nhà không được, nhưng địch ở trong nhà nhìn ra đường có ánh lửa soi mập mờ bóng người nên chúng chủ động nổ súng. Tôi cầm súng trường chăm chú xem tia lửa nòng súng ở chỗ nào thì bắn ngay vào nơi đó. Một lúc lâu thấy tiếng lựu đạn nổ rồi ba anh tự vệ chạy vội lại chỗ tôi: "Tí nữa chết anh ạ. Chúng tôi đang định phá khóa, còn gỡ dây xích tiếng loảng xoảng làm địch tung lựu đạn trên gác xuống. Vừa thấy tiếng động, chúng tôi nhẩy vội chạy sang bên này nên kịp tránh, nếu không thì…" Các anh vừa nói vừa cười khúc khích như mình vừa làm một việc đùa nghịch vụng trộm bị lộ. Thì ra có một tên ở trên gác canh chừng cho 2 tên ở dưới nhà giữ cửa. Tôi đưa súng trường cho một anh tự vệ lớn tuổi: – Anh cầm khẩu súng này nhằm vào chỗ cửa sổ khi nó hé mở để ném lựu đạn thì cứ bắn vào đấy yểm hộ cho tôi sang phá khóa. Tôi dùng khẩu Chiêu Hòa của mình, bí mật tiếp cận cổng sắt, sờ tay lần chỗ có khóa đưa nòng súng gần sát ổ khóa nổ một phát, làm chiếc khóa gãy tung. Tôi vội đạp cánh cổng sắt rồi chạy rạt về một bên tránh luồng đạn của chúng bắn trong nhà ra chíu chíu. Vừa lúc ấy bốn, năm anh tự vệ đã xông vào trong sân. Tôi chỉ kịp hét lên: "Nép sát vào tường, chú ý địch ném lựu đạn xuống sân…", thì đã nghe tiếng lựu đạn nổ vang mảnh gang đập vào song sắt hàng rào, rồi lại đập vào tường làm vôi vữa bắn tung cả vào người tôi. Dứt tiếng nổ mấy bóng anh tự vệ chạy ra khiêng theo một người. – Anh Bảo chết rồi. Tôi chạy theo sang bên kia đường hỏi lại mới biết Bảo hăng hái quá vừa vào đến sân thấy địch ở trên gác bắn xuống bèn ném lựu đạn lên nhưng lựu đạn không trúng cửa sổ, đập vào tường lại rơi xuống sau mới nổ sát hại chính người sử dụng nó. Cả đêm hôm ấy, mấy lần chúng tôi dùng chai xăng cờ-rếp và cả rơm để đốt cánh cửa xong được vào tầng dưới, nhưng địch ở trên gác chặn đóng cầu thang và thả lựu đạn xuống làm chúng tôi lại phải nhảy ra ngoài. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:35:41 am Loay hoay mãi vẫn chưa diệt được ổ tác chiến này. Đến gần sáng, tôi để lại một toán tự vệ độ 6, 7 anh trụ ở các nhà xung quanh bao vây ổ tác chiến địch, canh phòng chúng ló ra là diệt.
Tôi quay trở lại phố Huế, quang cảnh thật khác lạ. Chỉ qua một đêm mà đường phố ngổn ngang cây đổ, cột đèn gãy, hai toa tầu điện nằm nghiêng trên đường và mấy chiến lũy chướng ngại vật cao sừng sững, che chắn cả tầm mắt. Dây điện loằng ngoằng đứt ngang dọc mặt trên đường. Muốn đặt một bước chân đi thoải mái cũng khó. Tôi hình dung ra cảnh gần 100 đội viên tự vệ trong một đêm đã tạo ra cảnh này thật hết sức phi thường. Các nhà trong phố gần như trống trơn toang hoác vì đến cả cánh cửa cũng bị tháo rồi vứt ra ngoài lập chiến lũy. Có chỗ các anh còn lấy chăn, chiếu trải ra vắt ngang trên dây điện lòng thòng để ngăn tầm mắt địch. Một lúc sau, anh Hùng và anh Tuấn em cũng về cho biết ổ tác chiến của địch ở phố Nguyễn Chế Nghĩa chưa diệt xong mà chỉ mới phá được tầng dưới. Địch vẫn cố thủ ở tầng trên lại được súng của bọn lính Pháp đóng ở nhà dầu Sen chi viện nên đánh chúng cũng vất vả. Chúng tôi bàn nhau đêm nay sẽ thu thập các đồ gỗ vào tầng dưới đốt để diệt chúng. Kế hoạch được bàn kỹ và phân công anh em tự vệ đi gom các vật dụng dễ cháy, kiếm xăng và dầu hỏa để tẩm đốt… chuẩn bị sẵn tối là lại tấn công ngay. Đứng ở gác nhà bên cạnh nhìn sang đối diện cửa sổ căn nhà của địch, tôi nghĩ lúc này có được một khẩu súng trường phóng lựu đạn (Tromlbon VB) thì phá vỡ được cánh cửa sổ sẽ ném lựu đạn và chai xăng cờ-rếp sang tiêu diệt chúng dễ dàng hơn. Đang lúc ấy tôi nghe thấy tiếng xe háp-tờ-rắc và súng đại liên của địch nổ ràn rạt. Em Lương hét to: "Địch tấn công anh Tuấn ơi!" Tôi và em nhẩy đại xuống cầu thang vòng ra phố Giắc-canh. Tổ tự vệ chốt canh gác căn nhà của địch cũng đã nổ súng bắn vào chiếc xe cứ xông bừa đến, đỗ trước cửa ổ tác chiến này. Tôi nghĩ là chúng viện trợ súng đạn và lương thực cho bọn cố thủ trong nhà, nhưng cũng có thể là chúng đón bọn này rút chạy, liền bảo em Lương xuống cuối phố luồn sang đường báo cho các anh tự vệ đừng bắn vào xe nữa mà nhằm bắn vào những tên địch chạy ra hay ở trên xe xuống. Em Lương thoắt chạy ra ngay. Còn mình tôi, tôi cầm lựu đạn đã rút sẵn chốt an toàn, tay cầm súng ngắn nhằm bắn vào bọn chúng khi chạy ra xe. Nhìn chiếc xe lù lù đỗ ngay ở hè nơi mình đứng trông thật là ngon, tôi muốn quẳng ngay cho chúng quả lựu đạn, nhưng không có chai xăng ném kèm theo thì cũng chưa chắc phá được xe của chúng. Diệt được phương tiện này thì chúng tôi lại cầm chân được mấy tên trong xe buộc chúng phải trụ lại ổ tác chiến làm mồi thêm cho chúng tôi tiêu diệt đêm nay. Nhưng tôi chỉ có mỗi quả lựu đạn ném vào xe chưa ăn chắc nên đành chờ khi địch ra khỏi xe hay bọn trong nhà chạy ra sẽ ném lựu đạn diệt chúng và cả xe. Tiếng súng bên tổ tự vệ im được một lúc, một tên địch nhô ra khỏi cửa xe, tôi liền nhằm bắn ngay. Hắn kêu rống lên ngã thụt vào trong xe. Liền lúc ấy địch quay khẩu đại liên bắn rát vào chỗ cửa sổ nơi tôi vừa đứng làm cánh cửa gỗ nát vụn tung ra tơi tả. Tôi đang định trèo lên gác để tìm thế cao đánh xuống thì nghe tiếng em Lương: – Anh Tuấn ơi, anh Oánh đến đây rồi. – Đừng trèo lên gác nữa, cứ nấp vào sau cửa sổ này lừa lúc nó im nổ súng thì đánh… – Địch rút chạy rồi các anh ơi. Tôi và anh Oánh cùng một lúc tung lựu đạn ra chỗ cổng sắt nơi địch trong nhà đang chạy ra. Anh Oánh ném theo chai xăng cờ-rếp nhưng chỉ trúng vào sườn xe. Cùng lúc ấy bên kia đường có mấy bóng tự vệ lao ra ném lựu đạn sang. Tiếng nổ ầm ầm. Bọn địch trong nhà có 3 tên dìu nhau vừa ra đến cổng thì gục xuống vì loạt lựu đạn của chúng tôi và anh em tự vệ tới tấp ném sang. Hai tên lính Pháp trên xe nhẩy xuống xốc bọn kia lên và xe rồ máy chạy. Súng đại liên trên xe quét ràn rạt vào hai bên dãy nhà trong phố. Tôi chỉ kịp nhìn thấy lửa xăng lem lém bám ở thành xe thì chúng đã thoát được ra đến đầu phố và chạy mất. Tất cả chúng tôi nhẩy ào vào trong nhà chỉ thấy từng đống đạn và vỏ đạn, đồ đạc lộn xộn. Trên gác thức ăn và đồ hộp, bánh mỳ, sữa chúng bỏ lại bừa bãi trên bàn. Góc nhà có một đám bông băng lẫn máu. Xuống đến đường chỗ xe đỗ chúng tôi cũng thấy vệt máu loang lổ nhưng không rõ số phận của địch ra sao. Cuộc chiến đấu diệt ổ tác chiến của địch không đạt kết quả, nhưng cũng làm cho chúng phải rút ngay không trụ lại được lâu để quấy rối hậu phương ta. Về đến trụ sở em Lương đưa khoe tôi một vốc đạn cỡ 9 ly, tôi mừng quá vì số đạn này dùng được cho khẩu Chiêu Hòa mà tôi đang lo sắp hết. Anh em tự vệ cũng kéo về đông đủ đang nhận phần cơm, vừa ăn vừa kể chuyện râm ran việc của mình làm. Ai nói người ấy nghe vì tiếng ồn ào xen lẫn tiếng cười của các anh chị cứu thương, của đội tiếp tế hỏi thăm tình hình chiến sự. Tôi chạy sang nhà biệt thự của Vũ Đình Tụng ngay cạnh chợ Hôm gặp anh Lê Ninh1 (Tức Lê Khởi Nghĩa, nguyên cán bộ thư ký riêng của Chủ tịch Phạm Văn Đồng hồi kháng chiến chống Pháp, nay đã về hưu ở số 62 Hàng Bồ) một học sinh đã tốt nghiệp tú tài phần thứ nhất, hiền lành, củ mì, một tri thức nhưng lại tình nguyện xung vào đội hỏa thực (đầu bếp) đang khư khư trong tay khẩu súng trường đứng co ro canh gác kho thực phẩm và vật dụng quý để trong nhà ga ra ô tô mà đội đã thu được. – Còn cơm không, anh Ninh? Nghe tiếng tôi hỏi, chị Trinh ở trong nhà đang chỉ huy anh chị em nấu nướng vội chạy ra. Trông chị gọn gàng trong bộ cánh bông trần, chị cười để lộ hai hàm răng đen nhưng nhức đều đặn: – Anh em có ai việc gì không hở Tuấn? – Có một anh bị dính mảnh lựu đạn đã được các anh chị cáng thương đem đi rồi… Chị còn cơm nắm không? Anh em tự vệ còn đang bố trí trong khắp các nhà ở trên mạn đầu phố. – Có nhiều người không? – Em cũng chẳng nắm được số lượng đâu. Nhưng qua nhà nào các anh chị cũng cứ gọi to lên, có khi anh chị em bố trí ở trên tầng gác hay sân thượng ở cả hai bên dãy phố. Anh Hùng và Tuấn em còn đang bố trí đánh địch ở góc phố Nguyễn Chế Nghĩa… – Tôi xin đi! Anh Ninh vừa nói vừa quàng súng qua vai và khẩn trương xếp cơm nắm vào đáy rá. Một số anh chị em trong đội hỏa thực cũng làm theo anh. Trông dáng anh cao lêu đêu đi đầu với vẻ xăng xái, chị Trinh nhìn theo cười bảo tôi: – Anh ấy hăng hái và chịu khó lắm. Chỉ phải cái tội người cao quá khổ mà luồn qua các lỗ đục tường cũng khá vất vả. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:42:38 am Ăn cơm xong, tôi và anh Oánh sắp xếp lại các đội tự vệ và đưa anh em lên bố trí dọc hai bên nhà hè phố. Lúc này địch chưa tấn công được đến đây, nên chúng tôi còn ung dung đi lại trên đường. Đến gần chiều, anh Tấn tìm gặp tôi.
– Có chiến lợi phẩm tặng cho cậu đây. Anh rút trong túi ra một vốc đồng hồ đeo tay nữ chừng độ 10 chiếc và lấy chiếc ống nhòm dùng trong rạp hát khảm xà cừ rất đẹp đưa cả cho tôi. – Khi có lệnh chiến đấu, bộ đội mình giật bom ở dưới rạp Ma-giéc-tích (Tháng Tám) nhưng không nổ. Có đồng chí xung phong chui vào hầm để dùng búa đập kíp bom. Mình thấy hy sinh như thế vô ích nên cho bộ đội tấn công xung phong ngay vào rạp chiếu bóng. Bọn Tây, đầm chủ quan vẫn đi xem phim bị chúng mình tiêu diệt và bắt sống tất cả. Khốn nạn nhất là bọn đầm, chúng mất hết cả vẻ kênh kiệu khinh bỉ dân Việt Nam xưa nay, chui rúc cả vào nhà vệ sinh, tự lột trần truồng để… chống đỡ với anh em mình. Có đồng chí đã định sọc lưới lê vào cái bụng trắng lốp của bọn nó, nhưng mình ngăn kịp được sự bùng nổ căm hờn của anh em. Còn khi đánh sang nhà tên Sanh-tơ-ni thì tên trùm thực dân này đã biến mất từ sáng, chỉ còn một tiểu đội lính Pháp canh giữ sở bị anh em vệ quốc tiêu diệt ngay. Mình vào phòng tên Sanh-tơ-ni thu được số đồng hồ này, chắc là của tên thực dân dùng để làm quà tặng cho các cô gái đến ăn ngủ với nó… Đồng hồ đâu ra mà lắm thế, đầy một hộp vải to tướng… Mình chỉ kịp lấy một nắm cho cậu. Tôi cầm lấy nắm đồng hồ nữ có đủ cả dây đeo, quàng chiếc ống nhòm vào cổ, cảm ơn đồng chí Tấn. – Bây giờ mình cho bộ đội về đóng ở trong phố phối hợp với tự vệ của các cậu để chặn đánh địch. – Anh chị em đang ở trong các căn nhà dọc hai bên dãy phố từ đầu ngã tư Du-đa dơ La-gơ-rê trở xuống (Hàm Long) cậu bố trí bộ đội xen kẽ với tự vệ để hỗ trợ cho anh em… Em Lương sẽ đưa cậu đi quan sát các vị trí nhà nào tiện thì đóng quân. – Rồi tôi quay lại bảo em Lương: – Anh thưởng trước cho em chiếc đồng hồ chiến lợi phẩm đầu tiên đấy. Em Lương thích thú đeo ngay vào cổ tay và cứ ngắm nghía mãi chưa chịu đi, còn chần chừ muốn nói điều gì. – Em còn yêu cầu gì nữa nào. Đưa anh Tấn đi nhanh lên rồi về đây vì còn nhiều việc đấy. – Em đề nghị anh, nhưng thôi anh ạ! Lương định chạy đi tôi đã giữ được em lại: – Đề nghị gì thì nói luôn đi thế mới là tác phong quân sự. – Em… Em định cho chị Lan em. – Anh biết rồi. Thôi cứ đi đi. Anh về trụ sở sẽ đưa cho chị ấy một chiếc và nói là của em cho chứ gì. –Không! Nếu anh cho em thì để em đưa chị ấy tận tay cơ… – Đồng ý, nhưng chú phải nói là chiến lợi phẩm của chú đấy nhé. Em Lương cười tỏn tẻn, cẩn thận cất chiếc đồng hồ vào túi rồi kéo tay anh Tấn đi luôn. Quay về trụ sở, tôi thấy anh Hồng Hà đang bàn với chị Trinh về việc thu vét gấp các loại thực phẩm còn lại. – Ngày mai đến lượt tự vệ chiến đấu đấy chị ạ. Chắc địch sẽ tấn công vào phố Huế đầu tiên. – Mình cũng dự đoán như vậy nên tối hôm nay tạm thời cậu chỉ cắt số ít canh gác ở đầu phố, còn huy động tất cả anh chị em giúp đội chị Trinh chuyển hết thực phẩm xuống cửa ô để rồi chuyển dần ra ngoài. Chủ yếu là thủ bằng hết gạo, thực phẩm, đồ đồng, tiền và đồng hồ. Cả đêm hôm ấy, phố Huế nhộn nhịp người đi lại, mang vác những bọc to, nhỏ nặng nề đi xuống mạn phố dưới. Gần sáng, tôi vẫn ngồi ở ghế tràng kỷ ngủ gà ngủ gật, thì anh Oánh xộc vào gọi tôi: – Tuấn ơi, lên chỗ cậu Tấn để bố trí lực lượng chuẩn bị chiến đấu. Tôi choàng dậy cố mở mắt nhưng hai mí cứ dính chặt vào nhau vì có đầy dử. – Mình đau mắt rồi, để mình cạy xong dử mới nhìn thấy được. Mọi người cười ẩm cả lên trêu chọc tôi, một anh nào đấy nói ỏn ẻn: – Đằng ấy hãy hoãn một tý. Tớ cạy dử mắt xong hãy đánh nhau cũng không muộn. Chị Lan nhanh tay đã lấy khăn mới đắp lên mắt cho tôi rồi chị lấy thuốc nhỏ luôn vào đấy hai mắt. Cạy xong dử mắt, thuốc ngấm vào trong làm tôi sót cứng cả mắt một lúc, xong tôi vội vàng thắt lưng súng và lựu đạn, quàng túi dết vào người bước ra cửa. Em Lương cũng đã gọn gàng với chiếc chăn dạ trọn quàng chéo qua vai, quả lựu đạn mỏ vịt lủng lẳng ở thắt lưng. Thấy tôi, em cũng chạy theo và giúi vào tay tôi chiếc bánh mì còn nóng. Tôi cũng không rõ em kiếm ở đâu ra lúc này chiếc bánh ấy, nhưng cứ cầm lấy ăn ngay vì bụng đã cồn cào lắm rồi. Chúng tôi bố trí ở mấy nhà gác đầu, cứ 2 vệ quốc quân thì có 1 tự vệ vì vệ quốc có đầy đủ súng đạn. Còn tôi xuống một quãng thì vài ba tự vệ người có 1 vệ quốc quân, dặn dò các anh em cách nổ súng chi viện cho nhau. Ngoài ra chúng tôi còn bố trí hai cánh có đầy đủ vũ khí mạnh hơn và cả bom "Ba càng" và đạn "Bảo toàn"1 (Đạn Bảo toàn là đạn 75 hoặc 57 ly có cán tre dài để lao đi) ở trường Hàm Long và mấy căn nhà gác nhìn sang hiệu thuốc tây Bông sơ-cua. Các anh Hùng, anh Oánh, anh Tuấn em đều nằm bố trí ở các tổ mũi nhọn mà chắc chắn sẽ phải đương đầu với địch ngay lúc chúng tấn công xuống phố Huế. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:44:05 am Việc bố trí đã xong, anh em tự vệ có người vừa nhấm nháp cơm nắm vừa thổi kèn ác-mô-ni-ca chờ địch.
Đến gần 10 giờ thì hai cánh bố trí ở phố ngang đã thấy súng nổ vang. Ai nấy đều chạy ra nấp bên cửa sổ hay hàng hiên vì bọn lính mũ đỏ đang bắn liên thanh rào rào vào hai dãy bên phố. Chúng nấp sau các cây cụt, vọt tiến từng đoạn. Súng của anh em vệ quốc quân và tự vệ cùng điểm từng phát nhằm vào những tên ngổ ngáo nhất… Địch chững lại, cũng vào chiếm các nhà gác bắn trả, nhưng chúng cũng không tiến sâu được nên sau hơn một giờ chiến đấu địch phải rút lui. Vị trí đầu phố Huế vẫn giữ được nguyên vẹn. Tôi và đồng chí Tấn ở trong ngôi nhà của một ông bác sĩ ngay góc phố quan sát cách đánh của địch và thấy trận này chúng tấn công như muốn thăm dò lực lượng của mình, chứ đánh đấm kiểu như dọa nhau thì không có kết quả gì… Ngày mai hay ngày kia mới là cuộc chạm trán nẩy lửa và địch chỉ dám đánh ban ngày, còn ban đêm lo giữ vị trí là chính vì chúng sợ lực lượng ta ở mọi ngóc ngách các nhà trong phố, mà chúng không thể nào biết rõ được, sẽ tấn công tiêu diệt chúng bất ngờ ở cả bốn phía. Vì vậy, ban đêm chúng tôi thấy chỉ cần cắt một vài tổ luân phiên canh gác địch, còn tự vệ và vệ quốc được tìm nơi tập trung nghỉ. Nếu có báo động thì các tổ ở vị trí nào cứ theo liên lạc mà triển khai chiến đấu. Anh em vệ quốc còn có nhiệm vụ tác chiến của đơn vị, tối đến lại lên quấy rối tiêu hao địch ở các vị trí chúng đã đóng quân như ở nhà dầu Sen trại Bảo An binh… Tảng sáng ngày 22-12 tôi ngủ dậy, chuẩn bị đi xem lại các nơi tự vệ bố trí thì thấy đạn moóc-chi-ê nổ ầm ầm. Mọi người tưởng địch tấn công nên tất cả anh chị em tự vệ chỉ một loáng sau đã ra vị trí hết. Địch vẫn bắn moóc-chi-ê vung vãi xuống tận dưới chợ Đức Viễn. Chúng tôi đang căng mắt chờ đợi thì thấy mấy bóng người ung dung đi trên hè phố, tiến tới nơi chúng tôi đang bố trí. Mọi người chăm chú theo dõi và đã nhận ra là anh em tự vệ nhà mình nên dáng điệu đàng hoàng, vừa đi vừa cười nói với nhau. Tôi luồn qua các nhà ra gặp số anh em này, nhận ra anh Tuấn em và mấy người nữa, ai nấy mặt mũi đều đen nhẻm. Thấy tôi các anh cười chỉ để lộ hai hàm răng trắng lóa… – Làm sao mà mấy cậu bẩn thế này? – Đêm hôm qua, chúng tôi đến trinh sát tình hình địch ở nhà dầu Sen, lần mò vào từng nhà ở phố Nguyễn Chế Nghĩa. Vào đến một căn biệt thự thì anh em phát hiện có tên lính gác đang hút thuốc lá. Anh em bí mật tiếp cận và hạ sát nó rất gọn. Tôi mò vào trong nhà đến chỗ cầu thang sờ thấy đống đạn và chiếc mũ sắt liền lấy mũ sắt vơ tất cả đạn vào trong, nhưng vô ý để đạn kêu loảng xoảng đánh động bọn địch ở trên gác chúng thả lựu đạn xuống, anh em rút ra ngoài kịp. Dọc đường về đến chỗ tràn than thì bị quả đạn moóc-chi-ê của địch bắn trúng vào đấy nên anh nào cũng bị bụi than phủ đầy người. Anh nói xong đưa cho tôi chiếc mũ sắt đựng đầy đạn súng các-bin và đạn súng 9 ly kiểu ổ quay Smít. Một anh tự vệ gỡ trên vai khẩu các-bin đưa cho tôi. – Các anh lấy được của địch thì cứ giữ lấy mà dùng. Tôi có súng ngắn rồi, chỉ xin các anh số đạn 9 ly này thôi. Tôi trả lại súng các-bin cho anh tự vệ và chiếc mũ sắt cho anh Tuấn em. Tin tổ tự vệ của anh Tuấn em lấy được súng của địch làm các anh em tự vệ ở các tổ khác xôn xao, ai cũng muốn có dịp cướp được súng địch để dùng, gây một không khí phấn chấn và lạc quan trong chiến đấu. Khi địch ngừng bắn moóc-chi-ê, tôi và anh Tấn luồn qua lỗ đục tường đến các nhà có vệ quốc và tự vệ bố trí để kiểm tra lại việc sẵn sàng chiến đấu thì thấy bên kia đường, đạn 12 ly 7 ở góc phố Rây-nách (Trần Quốc Toản) nổ từng loạt 3 viên ở một đầu đạn. Tôi tưởng là súng của bộ đội nhưng đồng chí Tấn cho biết là đơn vị anh chưa được phân loại súng đại liên. Hai chúng tôi kéo thêm một tổ tự vệ bí mật băng qua đường hào và chiến lũy bất chợt xông vào nhà Xương Hòa bán thuốc lào ở ngay góc phố. – Ngồi im, giơ tay lên. Đồng chí Tấn vừa quát lớn thì những họng súng đã lăm lăm chĩa cả vào 4, 5 người đang túm tụm ngồi trên giường tập hút thuốc lào và nói chuyện. Bọn họ hoảng sợ vội nhẩy cả xuống đất giơ thẳng hai tay lên trời. Nhìn thấy chúng tôi mặc quần áo bộ đội và mấy anh tự vệ cũng đeo sao vàng trên mũ ca-lô, họ tươi ngay nét mặt. Chúng tôi cũng đã thấy họ đeo sao vuông nên đều hạ nòng súng xuống. – Các anh là tự vệ ở khu phố nào lên đây? Một anh chừng là chỉ huy tốp này nên đứng nghiêm nói dõng dạc như học trò được gọi lên bảng: – Thưa các anh, chúng tôi là sinh viên Đông Dương đại học xá muốn được lên đánh địch ở mặt trận. Tôi tên là Hồng Quân phụ trách tổ súng máy này. Tôi thầm nghĩ: "Tên hay quá!" – Sao các anh không bắt liên lạc với chúng tôi mà cứ đặt ở tuyến sau nã vào lưng chúng tôi à? Cách anh lấy súng này ở đâu? Một anh đội viên nhanh nhẩu trả lời: – Anh em sinh viên chúng tôi nhịn ăn dành dụm chung nhau mua khẩu súng 12 ly 7 này của bọn Tầu Tưởng. Anh Hồng Quân có sáng kiến cài một que tre cật vào chỗ cò súng nên nó cứ tự động nổ vài phát lại im. – Chúng tôi còn bố trí lực lượng ở cả trên đó. Các anh muốn đánh giặc thì chúng tôi sẽ bố trí cài vào các tổ ở đầu phố. – Thưa các anh, chúng tôi đi lên thử sức, còn phải đưa súng về bảo vệ khu Đông Dương học xá. – Quân Pháp chưa tấn công xuống đấy ngay được đâu. Hôm qua nó mới đánh kiểu thăm dò. Nay mai sẽ diễn ra những cuộc chạm trán quyết liệt. Các anh muốn đánh địch ở lại đây với chúng tôi càng tốt. Anh Tấn muốn gạ số anh em này ở lại để có thêm lực lượng vũ khí mạnh, chiến đấu có kết quả hơn. Nhưng họ bàn nhau thầm thì một lúc rồi anh Hồng Quân lại dõng dạc: – Thưa các anh, chúng tôi phải đem súng về báo cáo lại với ban chỉ huy tự vệ của trường mới dám quyết định ở lại với các anh hay không. Tự vệ trường chúng tôi cũng có nhiệm vụ phòng thủ mạn đường số 1 xuống nhà thương Cống Vọng (Bệnh viện Bạch Mai). Biết là không kéo họ ở lại được, anh Tấn để họ rút và còn dặn lại: – Lần sau các anh có muốn lên đánh giặc, nhớ liên hệ với chúng tôi kẻo lại đâm lưng nhau đấy. Họ nháy nhau ra khiêng súng đạn rút về trường. Tổ tự vệ sinh viên này rút được một lúc lâu thì địch bắt đầu tấn công. Tôi nghe tiếng đạn nổ cứ "tắc bọp" râm ran khắp nơi trong phố. – Chúng bắn súng loại đạn gì thế nhỉ? – Đạn "đum-đum" đấy. Tiếng nổ đầu nòng súng và viên đạn bay đi, chạm vào vật rắn lại nổ một lần nữa để sát thương ta. Cậu ở mặt phố chính này, mình lên chỗ đơn vị đóng ở Hàm Long đây. Nơi này kẻ địch ở nhà dầu Sen nống ra chắc có lực lượng mạnh hơn cả. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:45:59 am Chúng tôi chia tay nhau đi chỉ huy tự vệ và vệ quốc đoàn. Súng địch và súng ta nổ vang, tiếng nổ lại dội vào hai dãy nhà của khu phố nên càng thêm ầm. Mấy lần địch tấn công xuống đều bị ta bắn mãnh liệt và tung từng loạt lựu đạn đánh bật chúng trở lại vị trí cũ.
Nhưng ở mạn trường Hàm Long súng vẫn nổ ráo riết, rồi một tiếng nổ lớn vang vọng mãi kết thúc trận đánh. Khói đen cuồn cuộn theo gió Bắc tạt xuống nơi chúng tôi bố trí. Kẻ địch ngừng tấn công. Lát sau đồng chí gặp tôi mặt sạm khói súng, cười để lộ hai hàm răng hơi vẩu: – Bọn mình bắn cháy một xe Háp-tờ-rác của địch ngay đầu ngõ Nguyễn Chế Nghĩa. Mặt trận vẫn giữ vững. Từ ngày hôm ấy cho đến tối, địch cũng không tấn công nữa, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi qua đường mà không theo đường hào lại thấy súng nổ "tắc bọp". – Địch đã cài được quân ở các nhà gác để bắn tỉa mình đấy. – Vừa qua bọn mình đánh lính Pháp còn thấy bọn lính khố đỏ đội mũ chào mào và bọn Việt gian, thổ phỉ ăn mặc thường phục theo chúng. Bọn này mới gây phiền phức cho mình vì phát hiện ra chúng càng khó, nó dễ lẫn với anh em tự vệ. – Ta cứ phân biệt tiếng súng là được. Hơn nữa anh em tự vệ có dáng điệu đàng hoàng nên phân biệt được ngay. – Cậu chú ý phổ biến cho anh chị em tự vệ đề phòng bọn này bắn lén. Tôi về gặp anh Hoàng Hà để báo cáo cho anh rõ tình hình địch ở lại trụ sở đã chuyển sang đóng ở nhà Bùi Duy Dần. Ở đây tôi lại gặp tất cả các anh Oánh, anh Hùng và Tuấn em. Ban bảo vệ chỉ thấy anh Phụng, còn anh Sác đã bị hi sinh ngay hôm địch bắn moóc-chi-ê bừa bãi xuống khu phố. Anh Phụng đi cùng với anh Hồng Hà để lo việc tổ chức lực lượng tự vệ chi viện cho chúng tôi và việc tiếp tế. Mọi người đều thấy hiện tượng các nhà gác quanh các phố gần đấy đều có bóng người lạ và thỉnh thoảng súng "tắc bọp" lại nổ nhắm vào những anh em tự vệ đi qua đường mà không ẩn nấp. Tin này được báo cho toàn lực lượng từ nay không đi ngoài hè mà phải xuyên qua các lỗ đục tường mà đi. Khi qua đường phải theo đường hào hay nấp ven các chướng ngại vật để tránh việc hy sinh vô ích. Buổi chiều anh Hồng Hà gọi tôi và anh Oánh vào trong bếp nhà Bùi Duy Dần. Nhìn nét mặt anh trang nghiêm tôi đã đoán ra việc gì rồi, nên khẽ bấm tay anh Oánh và liếc nhìn anh thấy anh tỏ vẻ cảm động. Vào đến trong bếp, anh Hồng Hà hỏi thăm qua gia thế nhà anh Oánh rồi đi vào vấn đề ngay: – Được đồng chí Tuấn giới thiệu và đảm bảo phẩm chất cách mạng của đồng chí. Chúng tôi đã tìm hiểu lý lịch và sự hoạt động của đồng chí trong thời kì bí mật trước ngày Cách mạng Tháng Tám thành công. Nay chúng tôi càng đánh giá thêm về ý thức cách mạng của đồng chí và xét nguyện vọng của đồng chí muốn gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương để đem hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp cao cả của Đảng. Thay mặt chi bộ Đảng tiểu khu 6, hôm nay tôi tuyên bố chính thức kết nạp đồng chí Ngô Tất Oánh là đảng viên dự bị của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Trong thời kỳ dự bị, đồng chí Tuấn sẽ giúp đỡ đồng chí hiểu sâu thêm về cương lĩnh của Đảng và chúc đồng chí mau chóng trở thành người đảng viên chính thức và xứng đáng. Đồng chí Oánh im lặng một lúc như muốn kìm sự xúc động của mình sau đó đồng chí mới nói: – Được đồng chí Tuấn tuyên truyền cách mạng từ thời kỳ bí mật, tôi đã nguyện đem cả cuộc đời của mình đi theo con đường vinh quang của Đảng. Đến nay tôi vinh dự được đứng chung trong hàng ngũ với các đồng chí, tôi nguyện đem hết sức mình phục vụ cách mạng, phục vụ mục đích chân chính của Đảng và trong cuộc chiến đấu của toàn dân, tôi xin thề luôn luôn trung thành với Đảng và luôn đứng ở hàng đầu của đội ngũ tiên phong. Tôi cũng phát biểu một số ý kiến để khẳng định lại tinh thần và ý chí của đồng chí Oánh trước đồng chí bí thư. Sau đấy chúng tôi bắt tay nhau thật chặt mà không nói thêm được gì. Đêm ấy chúng tôi ngủ lại ở trụ sở. Tôi và em Lương kiếm thêm được chiếc chăn bông nên hai anh em tìm chỗ hàng hiên rộng, cái trải, cái đắp, nằm ngay trên sàn đá hoa ôm nhau ngủ. Tôi đang mơ màng trong giấc ngủ chỉ thấy những cảnh chiến đấu lúc ban ngày, thì có người tung chăn ra làm tôi lạnh quá, cố kéo để đắp lại. – Dậy! Dậy! Cậu Tuấn Anh em bộ đội lên đông đề nghị phối hợp với tự vệ bố trí đánh trận ngày mai đấy. Mắt nhắm, mắt mở, nhìn ngọn đèn dầu le lói cũng thấy chói, ngơ ngác một lúc mới tỉnh hẳn. Thấy anh Hồng Hà, tay cầm đèn, đang đứng nhìn tôi cười, cặp kính lấp lánh như cười theo. Anh Tích đứng bên cạnh, mặt cũng đỏ gay hấp hím: – Tỉnh ngủ hẳn chưa? Dậy đưa bộ đội lên vị trí đi. Mình đã điều thêm lực lượng tự vệ viện trợ cho cậu đấy. Thấy đồng chí Phó bí thư liên khu 2 nói như vậy, tôi liền kéo em Lương đang cố rúc trong chăn ấm với mấy người nữa đã chui vào chỗ nằm của chúng tôi từ lúc nào không rõ. Phải gọi mãi em Lương mới tỉnh hẳn, tôi nghĩ càng thương các em nhỏ, đang tuổi ăn học và làm nũng mẹ, mà nay theo tiếng gọi cứu nước, cũng xông pha lửa đạn, chịu đựng gian khổ nguy hiểm như người lớn. Đang nằm trong chăn ấm, trở dậy tôi thấy người nóng ran, nhưng cũng cài khuy áo chặt lại, thắt lưng súng và lựu đạn ra ngoài áo. Còn đôi giầy của tôi thì gần một tuần nay chưa cởi ra bao giờ, ngay cả khi tôi nằm ngủ và rúc vào chăn ấm, để luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Cùng em Lương xuống đến đường tôi đã thấy lố nhố đến một trung đội tự vệ có đủ súng trường, lựu đạn và chai xăng cờ-rếp. Nhưng đa số vẫn là dao, kiếm và lựu đạn. – Các anh ở phố nào đấy? – Chúng tôi ở mấy phố quanh đây cũng thuộc tiểu khu 6. – Ngày mai chắc là địch sẽ tấn công xuống tiểu khu mình mạnh đây. Hôm qua nó mới đánh thăm dò thôi. – Tất cả sẵn sàng rồi. Anh cứ bố trí chúng tôi ở mặt nào cũng được… Buổi sáng thấy mặt phố Hàm Long là nặng hơn cả nên tôi bố trí các anh có súng và lựu đạn ở mạn ấy nhiều hơn. Số còn lại tôi giao cho anh Oánh đưa anh em sang bố trí bên dãy phố số nhà chẵn. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:47:39 am Tảng sáng vừa bố trí xong lực lượng, anh Ninh cao trong đội hỏa thực đã lên phân phát cơm nắm cho tất cả chúng tôi và anh em vệ quốc đoàn. Nhìn người anh cao lêu đêu, chiếc thắt lưng cài hai quả lựu đạn na lủng lẳng, tay ôm rá cơm, quần áo lấm lem vôi gạch, càng thấy tinh thần chịu thương, chịu khó chăm sóc chúng tôi. Có được số cơm nắm nhiều như vậy, chắc chắn cả đêm hôm qua các anh chị hì hụi thức suốt đêm thổi cơm, kho thịt nắm lại từng phần cho chúng tôi ăn no đánh giặc.
Anh em tự vệ vừa ăn cơm, vừa chỉ bảo cho các bạn chiến đấu mới bổ sung biết rõ các vị trí địch và hướng tấn công. Đúng lúc ấy, súng địch bắt đầu nổ dữ dội. Có anh cẩn thận cất nắm cơm dở vào túi, có anh vứt bỏ cầm vội lấy vũ khí của mình chạy lên vị trí ở sát ngay chân bức tường của nhà trường. Qua hàng song sắt bờ rào, tôi thấy bọn lính mũ đỏ hô lớn: "En avant, À l’assaut!" (Tiến lên! Xung phong) và xen lẫn trong những tiếng nổ đanh gọn là tiếng nổ ầm vang có uy thế của những quả đạn "Bảo toàn" do các anh vệ quốc quân lao ra đường. Bọn lính địch bị ngã gục nhiều tên nên khựng lại, chạy lùi về nấp về các nhà bên kia đường. Lúc này toàn mặt trận liên khu II đều ầm ầm trong tiếng súng. Tôi không nắm được tình hình ở mặt phố Huế mà chỉ biết trước mắt chiến sự ở đường Hàm Long này thôi. Em Lương vẫn bám sát tôi, lăm le chỉ muốn xông ra đường để nhặt súng của bọn địch đã bỏ xác lại. Tôi phải kìm em lại và quát mắng không cho em liều lĩnh như vậy. Em Lương phụng phịu với tôi rồi cứ quay mặt đi… Tiếng súng cua hai bên vẫn nổ chát chúa. Chúng tôi ở vào địa thế thấp trong sân trường còn địch đã chiếm các căn nhà gác cao bắn xuống nên chiến đấu một lúc lâu rồi anh em tự vệ và vệ quốc phải rút cả vào trong các lớp học. Địch được lợi thế tràn qua đường đến át chân tường của nhà trường, chúng ném lựu đạn vào trong sân làm khói và đất bốc lên mù mịt. Chúng tôi thỉnh thoảng mới ném lựu đạn ra chặn đứng bọn muốn xông vào sân trường. Hai bên cầm cự nhau chỉ cách có khoảng đất hẹp. Địch muốn nhảy vào sân, nhưng hễ tên nào vừa nổ lên hàng rào song sắt là bị trúng đạn ngã lộn ra ngoài, nên sau một hồi ráo riết xung phong địch vẫn không vào được trong sân trường. Chợt một chùm lựu đạn địch ném vào sát lớp học nổ làm bốc lên một làn khói đỏ như bụi gạch. Anh em hít phải hơi khó đó thấy cay sè, mũi và phổi nóng như bị hun lửa, nước mắt nước mũi chảy ràn rụa, ho sặc sụa. Anh em không biết là loại vũ khí gì, không còn ai nổ súng được mà chỉ ôm ngực ho rồi ào ào tháo lui. Tôi cũng hít phải hơi khói ấy, nước mắt, mũi ràn rụa, biết là địch tung lựu đạn cay nên lấy vội chiếc khăn tay bịt chặt mồm mũi rồi chạy nhanh qua lỗ đục tường trước để nhắc anh em: – Địch ném lựu đạn cay. Ai có khăn tay, nếu không xé vạt áo bịt chặt mồm mũi lại rồi trèo lên cao mà đánh và tránh làn khói độc. Không được rút lui. Không ai được rút lui! Tôi gào lên như vậy, nhưng chắc không có ai nghe rõ lời tôi vì tôi đã bịt chặt mồm mũi lại rồi. Tôi chặn ngay lối tường đục nắm lấy từng người chỉ lên gác cao để chặn đánh địch. Tôi vừa ho sặc sụa, vừa cắt hai anh có lựu đạn, súng trường chắn ở lối tường đục đề phòng địch chui sang rồi ôm lấy ngực dựa vào chân tường để thở. Khói lựu đạn tan dần theo chiều gió Bắc thổi mạnh, em Lương và các chị cứu thương đã xuống sân để cứu nhưng anh bị thương. Thấy tôi ngồi dựa vào tường em Lương cuống quít: – Anh Tuấn, anh Tuấn làm sao thế? – Anh bị tức ngực vì hít phải nhiều khói độc. Làn khói cay đã tan hết, các anh tự vệ và vệ quốc lại ổn định tinh thần lần lượt chui qua tường lên phía trên. Địch cũng không dám xông vào các căn nhà có chúng tôi vì chúng cũng sợ không rõ chúng tôi trụ lại ở đâu. Thỉnh thoảng súng và lựu đạn lại nổ. Anh em nhằm vào các toán địch lăm le định vượt qua lỗ tường để đánh xuống. Đồng chí chỉ huy vệ quốc đi thu thập từng người, lại dẫn anh em về vị trí cũ. Tiếng súng ở mặt này tạm im, nhưng ở mấy phố xung quanh thì vẫn nổ ran, xen kẽ những tiếng "tắc bọp" rất khó chịu và nguy hiểm. Lúc tôi đỡ tức ngực, thấy đồng chí Tấn đưa thêm lực lượng bộ đội lên. Nhìn thấy tôi nằm ở sàn nhà bên cạnh có chị cứu thương, anh chạy vội lại: – Tuấn bị thương à? Mình thấy mặt trận này thưa tiếng súng, sợ bị vỡ nên điều thêm quân lên tiếp viện đây – Mình bị tức ngực vì hít phải nhiều khói độc, nhưng không sao. Lúc nãy anh em chưa biết là loại khói gi nên có hoang mang, bây giờ lại về vị trí cũ rồi. Địch chưa dám tràn xuống đây, nhưng chúng mình phải rút khỏi trường Hàm Long. – Cậu về dưới ấy nghỉ một lát đi. Mình sẽ ở lại đây với anh em. Ở mạn phố dưới cậu cần chú ý địch ở hai cánh bên phố Sa-rông và Giắc-canh nó đánh thọc sang đây. Mặt phố chính này cũng chưa gay lắm. Tôi và em Lương khó nhọc mới lần xuống được qua các nhà đến mặt phố La-vê-ran (Lê Văn Hưu). Tôi ngồi lại căn nhà sát đường bảo em Lương theo đường hào xuống phố dưới xem tình hình chiến sự ra sao. Khi em Lương vừa ló ra khỏi tường tụt xuống đường hào thì tiếng "tắc bọp" ở ngoài phố Huế và Giắc-canh đã nổ tới tấp… – Bọn thổ phỉ đã lấn sâu được xuống mạn dưới này rồi. Phải quét sạch được chúng nếu không thì rất phiền… Tôi nghĩ như vậy liền lấy ống nhòm quan sát các nhà gác cao, nhưng chỉ thấy nhà nào cũng đóng cửa sổ kín mít. Bọn thổ phỉ cũng ẩn mình kỹ lắm. Tôi đang ngồi nghe tiếng súng nổ ở các phố, dự đoán tình hình chiến sự thì em Lương đã quay trở lại. – Anh Oánh và các anh tự vệ đang bố trí ở phố dưới đến chợ Hôm. Anh cho biết là quân Pháp ở đường Gia Long (Bà Triệu) đánh quật sang phố Ri-ki-ê (Nguyễn Du) đang tiến xuống cuối phố Sa-rông (Mai Hắc Đế). Còn ở phố Giắc-canh chúng cũng tung quân ở nhà dầu Sen đánh thẳng xuống, đã chiếm đoạn phố La-vê-ran, tới ngã năm A-măng Rút-sô (Lò Đúc). Anh Tuấn em đang đưa lực lượng đánh chặn địch ở phía ấy. Anh Oánh nhận đánh địch ở phố Huế, còn ở bên Mai Hắc đế chưa có lực lượng của địch. Tôi và em Lương cẩn thận qua đường hào gặp anh Oánh. – Tuấn sang dãy phố bên kia chỉ huy anh em đánh mặt sau vì địch đang định cắt đuôi chúng mình đấy. Mình ở mặt này rồi. Tuấn em đang đánh ác liệt không cho chúng hậu mình. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:49:58 am Tôi thống nhất kế hoạch với anh Oánh. Tôi và em Lương phải lần xuống cuối chợ Hôm để theo chướng ngại vật vượt qua đường cho an toàn. Nhưng vừa đến giữa chợ Hôm thì địch đã phát hiện nổ súng bắn sang. Chúng tôi nấp sau những hàng cột tròn. Một viên đạn bắn trúng cột nơi tôi đứng nấp. Tôi nhìn thấy đầu viên đạn trượt vào cạnh tường còn xoáy tít như con quay. Em Lương tò mò cúi xuống nhặt xem đã vội buông tay và suýt xoa mãi.
– Bỏng lắm đấy. Chú dại thật… Địch đang bắn vào anh em mình còn nghịch làm gì. Chờ lúc ngớt tiếng súng, tôi kéo em Lương chạy nhanh qua con hào ngang phố Hác-măng (Trần Xuân Soạn) chui ngay vào căn nhà đầu, rồi luồn tường qua các nhà đến phố có chiến lũy mới qua đường sang bên số nhà chẵn. Vào được trong nhà tôi đi tìm các anh tự vệ thấy một tổ có 4 người đang canh giữ mặt đường. – Địch đánh ta ở mặt sau phố. Chúng đã đưa xe tăng án ngữ ở ngã tư phố Mi-ri-ben (Trần Nhân Tông) và Sa-rông (Mai Hắc Đế). – Chúng mình bị địch cắt phía dưới rồi hở anh? – Nó chặn xe mặc nó, còn sục vào từng căn nhà thì chưa dám đâu… tôi ở bên này với các anh, sẽ tìm cách đẩy được xe nó đi. Chỉ phiền là bọn mình có khi phải nhịn ăn vì anh chị em tiếp tế chưa lên được. – Khoản ấy không lo anh ạ… Chúng tôi mới thu được gần chục hộp sữa "Con chim" đây… Anh và em dùng tạm cũng đỡ đói… Chúng tôi nhận mỗi người một hộp của anh em đưa cho. Một anh dùng lưỡi lê chọc thủng một lỗ để cho chúng tôi hút dần ít một. – Anh nào có lựu đạn đi với tôi xuống chỗ xe tăng đi. Có một anh đeo hai quả lựu đạn và hai chai xăng cờ-rếp đứng ra xin đi cùng. – Bọn mình có 3 người, các anh có 3 người cứ giữ mặt ngoài phố này nhé. Chú ý cắt người canh chừng địch cũng sục qua lỗ tường đục xuống đấy. Bọn thổ phỉ ở ngay đoạn trên đây một quãng thôi. Chúng vừa bắn tôi và em Lương khi chạy sang bên này với các anh. Nói xong, tôi đưa em Lương và anh tự vệ luồn lên nhà anh Hùng ở 108 phố Huế vì tôi biết nhà anh ăn thông sang tận phố Mai Hắc Đế. Đứng nấp ở cổng, tôi nhìn rõ chiếc xe tăng địch lù lù chặn ngay ngã tư. Mấy tên lính Pháp nghênh ngang đi lại quanh chiếc xe mà không cần nấp. Tôi ước lượng thấy còn xa địch quá nên lại kéo anh tự vệ luồn sâu xuống phía dưới sát cuối phố. Chúng tôi vào trong sân một căn nhà thận trọng trèo lên gác nhìn rõ mồn một chiếc xe tăng địch ở ngay dưới chân mình. Bọn lính Pháp đứng tựa người vào thành xe hút thuốc lá. – Chúng mày cũng anh hùng gớm nhỉ! Đánh nhau mà cứ như là đi dạo phố. Chờ đấy rồi sẽ biết nhau… Tôi bàn với anh tự vệ ném lựu đạn và hai chai xăng cờ-rếp xuống xe địch, tôi sẽ nhằm bắn mấy tên lính xong phải tụt ngay xuống dưới nhà vì địch quay nòng súng kịp bắn thì anh em mình tung cả lên trời. Em Lương còn một quả lựu đạn làm vốn cũng lăm le xin được ném vì ngon ăn quá. Chúng tôi nhẹ nhàng lên gác, nhìn qua khe cửa sổ khẽ đẩy chốt cửa thật êm rồi tôi ra hiệu cho anh tự vệ chuẩn bị. Bất thần tôi đẩy tung cánh cửa sổ, anh tự vệ chỉ việc tung chai xăng và ném liền hai quả lựu đạn gần như cùng một lúc. Tôi chĩa nòng súng ngắn bắn cả một băng vào tụi đang xúm lại hút thuốc. Em Lương cũng vung cánh tay nhỏ bé ném quả lựu đạn mỏ vịt của mình xuống đường. Tôi nhìn kỹ 3 tên ngã gục xuống lòng đường, chai xăng chỉ cháy ở thành xe, nòng đại bác địch đang quay lại phía chúng tôi, tôi kéo em Lương tụt xuống cầu thang như tụt cầu trượt rồi cùng anh tự vệ luồn rõ nhanh lên mấy nhà phía trên vừa qua được một quãng thì tiếng đại bác nổ chói tai. Em Lương nhìn tôi lè lưỡi: – Chậm một tí nữa thôi anh nhỉ. Có lẽ anh em mình đang bay trên trời. Sau phát đại bác bắn nát căn nhà gác ấy, tôi nghe tiếng súng xe tăng địch gầm lên rồi rút chạy ra xa. – Mới có 3 quả lựu đạn và chai xăng mà đã làm cho địch hoảng sợ, tưởng là chúng tôi có đông người tấn công nên chúng phải rút xe về gần ngã tư Lê Lợi (Bà Triệu dưới). Tiếng súng ở mạn này đột nhiên im lặng hẳn. Chúng tôi quay lại nhà cũ. Anh tự vệ phấn khởi kể lại chuyện đánh xe cho các anh khác nghe: – Xe của nó chỉ bị cháy gọi là thôi, nhưng bộ binh địch thì chết mấy đứa… Thế là mình hết vốn. Đánh nhau bằng gì bây giờ!... – Em cũng như anh, có mỗi quả lựu đạn cũng tiêu hết. Nhưng em vẫn làm liên lạc cho anh Tuấn. – Anh cũng đành quanh quẩn ở đây với anh bạn này. Tiếc thật! Lúc nãy không làm sao lấy được súng của bọn bị trúng đạn. Lấy được một khẩu thì đời tươi quá… Nếu không lại tìm cách đánh nhau khác vậy. Cụ Hồ bảo là: ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, nếu không có nữa thì dùng cuốc xẻng… mà đánh địch. Chúng tôi vừa nói chuyện vừa hút hộp sữa. Đang ăn có liên lạc của anh Oánh sang báo tin là anh Tuấn em và một số tự vệ đang bị địch bao vây trong căn nhà ở đầu phố Pê-sca-đo (Phù Đổng Thiên Vương). Anh Hồng Hà và anh Phụng đã điều thêm được 19 anh tự vệ ở phố dưới lên giúp sức. Tôi nhìn 4 anh tự vệ như muốn hỏi ý kiến vì không muốn bỏ lại các anh ở lại bên này, mấy anh đã giục tôi: – Anh cứ đi sang bên đó đánh giải vây cho anh em. Bên này cũng tạm yên rồi. Chúng tôi sẽ bám chặt đường phố này. Tôi kéo em Lương chạy sang hiệu bánh mì Bu-lăng-giơ-ri Mô-đee (rạp Đại Nam bây giờ) thấy một tiểu đội tự vệ có 4, 5 tay súng còn đều là kiếm và dao. Một chị cứu thương, tóc uốn, áo dài mầu be sẫm, cũng đứng nghiêm trong hàng ngũ. – Ta đi đánh giải vây cho anh em chứ? – Sẵn sàng. – Bây giờ chúng mình chia đôi số người và súng. Một nửa luồn sang phố Lô-giê-rô (Phùng Khắc Khoan) đánh vòng lên. Một nửa theo tôi luồn lên mạn trên đánh xuống. Giải được vây lại về tập hợp ở đây. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:51:42 am Tất cả nhanh chóng chia người đi ngay. Chị cứu thương theo toán sang phố Lô-giê-rô. Chúng tôi lại sang chợ Hôm, luồn qua xóm Đức Viễn vào căn nhà gác của cụ Vũ Đình Tụng lấy địa thế cao để bắn vào bọn địch ở phố Hác-măng. Chỉ một lát sang, súng ở hai cánh đã nổ kéo làn súng của địch về phía chúng tôi. Trong căn nhà đầu phố, nơi tổ của anh Tuấn em bị vây, cũng thấy lựu đạn tung ra và rồi mấy bóng người chí chạy sang phố Lô-giê-rô. Tôi nhìn thấy bóng chiếc mũ sắt biết là Tuấn em đã thoát vây liền thôi nổ súng, tìm lối về địa điểm đã hẹn.
Đến nơi thấy anh em đã tập hợp đông đủ cả 3 người trong tổ anh Tuấn em, nhưng tôi thấy anh cứ lom khom ôm bụng. – Cậu bị thương rồi phải không? – Đầu đạn còn nằm ở bụng, may nó chưa chui vào trong ruột! Chị cứu thương băng bó tạm cho anh. Tự vệ tìm ván gỗ định khiêng anh ra ngoài cửa ô để bác sĩ mổ gấp lấy đầu đạn, nhưng anh đã gạt đi: – Mình còn đi được. Cứ lom khom thế này luồn tường càng dễ. Anh Tuấn em vừa nói vừa cười để lộ hai hàm răng nhỏ xít, trắng bóng. Chị cứu thương đi theo anh về tuyến sau, còn mấy anh tự vệ xin được ở lại chiến đấu. Đi được một quãng, Tuấn em quay lại, lột chiếc mũ sắt trên đầu đưa cho tôi. – Anh giữ lại mà dùng có đội cái bê-rê tàng ấy mãi… Tôi cầm lấy chụp vào đầu em Lương. – Phải bảo vệ cái đầu xanh xinh này trước. Em Lương cũng thích lắm cười tít mắt: – Em mất lựu đạn lại có mũ sắt. Thế nào em cũng phải cướp được khẩu súng các-bin thật nhẹ. – Chú cứ theo anh rồi còn nhiều dịp lấy súng địch. – Em đợi đến khi nào gặp chị Lan, em lại cho chị ấy chiếc mũ này. Của Tây chính cống đấy anh nhỉ! – Đúng rồi. Ta chưa có mũ sắt. Vài anh tự vệ có thì lại là mũ của Nhật cứ tròn ung ủng, úp sụp xuống cả mắt. Chú lại muốn tặng bà chị chiến lợi phẩm này à? Của anh Tuấn em lấy được trong ổ tác chiến địch đấy. – Em có mũ ca lô rồi. Để cho chị ấy là con gái xông pha trên mặt trận tốt hơn. – Tùy chú Cả ngày hôm ấy súng địch im ắng. Chỉ thỉnh thoảng tiếng súng tắc bọp của bọn Việt gian thổ phỉ vang lên khắp các phố nghe rất khó chịu, mà chúng tôi cũng chưa diệt được tên nào. Tìm một người ẩn náu kỹ trong những phố rộng, nhà cửa đông đúc thế này không phải là dễ. Có khi chúng ở ngay trên trần nhà nơi anh em tự vệ bố trí, và khi anh em rút là chúng lại hoạt động bắn lén ngay. Chiều hôm ấy, tôi và em Lương lần tường quay về phố A-mi-ran Sơ-nét (Hòa Mã) là nơi nhà tôi ở. Tôi phá khóa cửa vào trong nhà thấy vắng lặng, buồn tênh, đồ đạc được thu xếp gọn gàng nhưng phủ đầy bụi. Tôi lục chiếc hòm da sơn đen tìm mấy bộ quần áo để thay và tháo đôi giầy cũ đã gần rách, lấy đôi giầy của anh tôi để đi. Khi ra đến nhà ngoài, tôi thấy trong tủ kính còn lọ đường nên lấy đổ tất cả vào gói giấy cho vào túi dét. Nhìn lại lần cuối căn nhà với những đồ đạc quen thuộc của mình tôi không biết những người thân hiện nay đã tản cư về tận nơi nào vì quê tôi cũng vẫn là ở Hà Nội. Nhà tôi ở là phố vắng bên kia đường là bức tường chạy dài của nhà máy rượu nên anh em tự vệ không lấy đồ đạc lập chiến lũy, vì thế mà nhà nào cũng vẫn còn nguyên vẹn không suy suyển gì. Vừa ra đến đầu phố, chỗ trụ sở Cao Đài phổ độ, tôi gặp anh Phước, trinh sát của anh Lê Hữu Qua. Tô hỏi thăm tình hình các anh ở Sở Công An, được anh cho biết anh Qua đã về đóng ở trại ông Hoàng Xuân Hãn ở đường Minh Khai bây giờ. Cả anh Hùng cũng đã về đấy rồi. Anh Qua cử anh Phước lên trinh sát tình hình chiến sự trên này. Tôi cũng kể cho anh biết qua vài nét về các cuộc chiến đấu và tình hình địch đóng quân hiện nay ở đâu… Đang đi có tiếng súng tắc bọp nổ ngay sát tường nơi chúng tôi vừa qua. – Bọn mình phiền nhất về lũ thổ phỉ bắn lén này. Nó bắn tồi đấy, nếu không thì mình và cậu thế nào cũng có người bị với nó rồi. Tôi liền kéo anh Phước vào căn nhà của một chủ cho thuê xe xích lô, lên sân thượng nhà ấy, đưa ống nhòm quan sát các nhà xung quanh đây. Chợt tôi thấy thoáng một người trên sân thượng ở một ngôi nhà gác phố Hê-ren đơ Bri-dít (Thi Sách), liền kín đáo chỉ cho anh Phước thấy: – Căn nhà gác có sân thượng kia kìa, vừa thoáng có bóng người, mình không rõ là tự vệ hay địch. Nếu là tự vệ thì anh em thường ở vài ba người một nhà đàng hoàng. Cậu lưu ý nhé. – Anh cứ về trụ sở đi. Tôi đi gặp nó bây giờ… Nói xong anh Phước bí mật lần đi ngay. Tôi và em Lương trở về căn nhà ngay đầu phố Hòa Mã và phố Huế, gặp anh Oánh và anh em tự vệ đang ăn cơm. – Ăn chưa hở Tuấn? – Từ sáng đến giờ chưa có hột cơm nào vào bụng. – Đội hỏa thực và tổ của anh Ninh cao đang luồn tường lên phía trên phát cơm cho tự vệ. Anh em cũng còn độ hơn 20 người. Phần lớn hết vũ khí chỉ còn tay không, nên mình để anh em ra ngoài hậu phương tham gia công tác kháng chiến khác. Mình thu gọn lực lượng bố trí ở mấy nhà đoạn trên đây một quãng thôi. – Trên phố Hàm Long ra sao rồi? – Bộ đội của cậu Tấn cũng không đủ người rải quân nên bố trí ở quanh đây. Ban đêm họ lại lên quấy rối địch ở các vị trí tập kết. Anh em tự vệ cũng muốn đi lắm nhưng chỉ có dao kiếm thì làm được gì. Anh Oánh bẻ nửa nắm cơm đưa cho tôi và em Lương. Đang ăn tổ hỏa thực của anh Ninh cao quay trở về, trong rá vẫn còn hơn 10 nắm cơm. Anh lấy đưa cả cho chúng tôi giữ lại và cho biết đội tiếp tế của chị Trinh đang đóng ở chùa Đồng Nhân rồi anh bùi ngùi nhìn chúng tôi nói thầm thì: – Lực lượng tự vệ còn ít quá, hy sinh nhiều đến thế à? – Không phải là hy sinh nhiều đến thế đâu mà phần lớn anh em chiến đấu dũng cảm đánh hết vũ khí nên đành rút về tuyến sau tham gia các công việc khác. Có hy sinh và bị thương cũng chỉ dăm bẩy anh, trong đó có anh Tuấn em đã được đưa ra ngoài ấy rồi. Anh nói với chị Trinh cũng lưu ý vì địch đã chiếm được đầu phố Lò Đúc rồi đấy, chúng có thể bất ngờ thọc sâu xuống mạn dưới, rồi đánh quặt sang đây để bọc hậu anh em chúng tôi còn đang trụ ở phố Huế. Mấy ngày tới chiến sự còn gay go, các anh chị phát cơm cho cả ngày thì tiện hơn. Hiện nay còn có 27 người tất cả, trong đó có hai chị cứu thương quyết theo anh em sống chết với Thủ Đô. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:53:14 am Đến sẩm tối, tôi thấy anh Phước mò mẫm trở về tủm tỉm cười, tay xách một bọc nặng và tay cầm khẩu các bin còn mới. Một chị cứu thương đã tìm được chiếc đèn dầu hỏa châm lửa đốt sáng và đưa cho anh suất cơm nắm.
– Cậu có tìm đúng tên thổ phỉ ấy không? – Đúng! Tôi lôi nó về đây rồi. – Đâu, đâu, xem mặt mũi nó một tí… Mấy anh tự vệ nhao nhao đứng dậy định chạy ra ngoài sân. – Cứ thong thả, đâu còn có đấy… Anh vừa nói vừa đặt bọc vải lên bàn và cả khẩu súng các-bin, rồi anh cởi chiếc thắt lưng đeo đầy túi đựng sác-giơ đạn đưa cho tôi: – Ủng hộ các anh tặng phẩm này để thêm vũ khí mà chiến đấu. Em Lương láu táu đỡ lấy khẩu súng vuốt ve nòng thép mãi: – Nhẹ quá anh ạ! Còn bọc này chắc là lựu đạn. Em nói xong tiện tay cởi tung bọc ra. Chị cứu thương kêu thét lấy hai tay úp vào mặt. Em Lương cũng ú ớ, nép vào sau lưng tôi. Thì ra trong bọc vải là chiếc đầu người, tóc rối bù, râu mọc tua tủa quanh hàm như râu Trương Phi trong tranh vẽ của Tầu. Anh Phước kể lại: – Mình bí mật tiếp cận mấy căn nhà góc phố Hê-ren, leo lên nằm phục trên tầng một nhà, lâu lắm mới thấy tiếng động lịch kịch ở nhà bên, chưa rõ địch hay ta, nên cứ im lặng chờ đợi. Một lúc lâu lại thấy tiếng động rõ hơn và đúng là có người đang đi lại trong nhà làm gì đấy. Mình hé cửa ghé mắt nhìn sang ban công nhà bên cạnh muốn nhẩy sang ngay nhưng như vậy lại lộ mình trước nên kiên nhẫn phục kích. Mãi đến lúc chiều gần tối vừa rồi, mình thấy một người ở ban công bên ấy nhẩy sang bên này. Hắn ngơ ngác nhìn trước sau… Đúng là thổ phỉ rồi! Mình chuẩn bị bắn thì vừa lúc nó đẩy mạnh cửa xông vào nhà. Tên thổ phỉ tay xách các-bin, tay xách bọc đồ nặng. Thấy mình ở trong nhà, nó đứng há mồm ra chưa kịp phản ứng, đã xơi ngon hai phát đạn vào giữa ngực. Nó ngã vật ra ban công, mình giật vội lấy khẩu súng, cởi dây thắt lưng đạn của nó thắt vào người đàng hoàng rồi xuống bếp tìm được con dao phay đưa cái đầu nó về để anh coi… Chị cứu thương cứ nhắm mắt thét lên: – Vứt đi! Vứt đi! Ghê quá! Anh Phước túm bọc vải lại: – Mình đề nghị anh Qua cho đội trinh sát như cậu lên tìm diệt bọn thổ phỉ này thì tốt quá. – Đồng ý! Anh nói xong gật đầu chào chúng tôi ra cửa đi ngay. Mấy anh tự vệ bàn tán cả vẻ khâm phục cái đức tính gan dạ đến lì lợm của anh Phước và hỏi lại tôi: – Anh ấy ở đâu thế hở anh? Trông người trắng trẻo thư sinh mà gan cóc tía. – Anh ấy là trinh sát của công an Sở Công An có một đội trinh sát đặc biệt gồm toàn những anh gan lì tướng quân và giỏi võ nữa. Tôi nhìn em Lương thấy em còn nép người vào chị cứu thương. Hai chị em cứ ôm lấy nhau kêu khe khẽ "Khiếp quá! Khiếp quá! Thế mà anh ấy xách như bọc hành lý…" – Em Lương giữ lấy khẩu súng ấy mà dùng. Đúng mong muốn của chú nhé… Toàn là đạn đum-đum. – Đạn đum-đum là gì hở anh? – Là đạn tắc bọp đấy. Đầu đạn chạm vào vật cản lại nổ một lần nữa. Em ra ngoài sân bắn thử mà xem, nhưng phải cẩn thận kẻo mảnh đạn lại bắn vào mình đấy. Tôi và anh Oánh theo các lỗ đục tường bố trí lại vị trí, cắt người canh gác để anh em thay nhau ngủ. Xong đấy anh Oánh ở lại bên này và bảo tôi sang nhà bên kia đường để ngủ và để san lực lượng đánh địch hỗ trợ cho nhau vì tôi và em Lương đều có súng và đạn khá dồi dào. Hai chị cứu thương cũng theo tôi sang bên kia đường. Tôi bảo hai chị tìm chỗ mà đi ngủ trước, rồi kéo em Lương xuống mạn dưới mấy nhà một quãng để xem địa thế. Đến đình Đông Hạ ngay đầu ngõ Séc-giăng Giắc-cơ (Ngõ Huế) tôi lại gặp anh Tấn và một số đội viên vệ quốc. – Bọn mình giữ ngã tư này. Có thể ngày mai địch sẽ đánh xuống Nhà máy Rượu và Nhà máy Diêm. Hai nơi ấy, mình đã bố trí bộ đội trấn giữ. Chiến thuật của địch là thọc sâu hai cánh, cho xe tăng án ngữ để cắt đường lui của chúng mình rồi tung quân ra tiêu diệt dần lực lượng của mình. Chúng tôi trao đổi với nhau cách phối hợp tự vệ và vệ quốc, trường hợp phải lui quân, trụ lại ở đoạn nào, rồi tôi và em Lương về gác của mình để nghỉ. Hai chị cứu thương còn ngồi bó gối quàng chăn trên vai mà chưa đi ngủ. – Các chị ngủ đi chứ. Ngày mai sẽ ác liệt đấy. Tôi định để các chị về chùa Đồng Nhân trước cho đỡ nguy hiểm. – Các anh còn ở lại, chúng em cũng ở lại. Anh cứ yên tâm, chúng em không thể bỏ các anh được, nhỡ ra có anh nào bị thương, lấy ai băng bó. Chúng em không xuống dưới ấy đâu. – Thế thì các chị phải đi ngủ cho khỏe người. – Tại nhà vắng, chúng em thấy sợ… Ở đây gần nghĩa địa quá… Em Lương cười khanh khách: – Ê, ê, chị Vân lại sợ ma rồi. Em cóc sợ nó đâu nhé. Bọn Tây em cũng còn chả sợ nữa là… Thật là con gái… Em Lương vừa nói, hai tay đút túi quần đi đi, lại lại ra vẻ oai lắm, làm tôi bật cười nhưng cũng mắng em không được trêu các chị nữa. Chị Vân nói ngay: – Em là bạn con Lan, chị nó đấy. Mỗi lần đến nhà nó chơi là thằng nhóc lại trêu chọc hai chị em em tức đến phát khóc lên được. Hai chị em nó cứ chủng chẳng với nhau suốt ngày, nhưng con Lan vẫn quý thằng bé hơn cục vàng… – Quanh khu vực này còn đầy cả anh em tự vệ và vệ quốc, các chị còn sợ gì. – Nhưng ở đây vẫn vắng vẻ im lặng… – Bây giờ có thêm người rồi. Hai chị lên gác mà ngủ. Tôi và em Lương nằm ở chân cầu thang canh gác ma cho. Hai chị cười tỏ vẻ thẹn, rồi vác chăn đi lên gác. Tôi và em Lương lấy chiếc chiếu của chủ nhà, trải ra sân gạch, vừa nằm ấm chỗ, hai anh em đã ngủ say tít. Một đêm qua trong giấc ngủ ngon lành và yên tĩnh kể từ mấy hôm nay rồi. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 27 Tháng Sáu, 2023, 08:54:47 am Sáng hôm 25-12, tội dậy sớm gọi em Lương cuộn chăn cho gọn buộc vào người, đạn cho vào dây sác-giơ rồi xuống đình Đông Hạ gặp anh Tấn.
– Như kế hoạch phối hợp nhé. Quyết liệt đây. – Anh em tự vệ sẵn sàng cả rồi. Cho mình thêm vài quả lựu đạn. Vừa lúc ấy chúng tôi nghe tiếng xe tăng và háp-tờ-rắc ầm ì từ phố Lò Đúc vẳng lại. – Đến lúc rồi đây, mình về với tự vệ đây… Tới căn nhà, tôi thấy hai chị cũng đã cuộn chăn quàng chéo qua vai, túi cứu thương đeo bên mình và đang soi gương chải tóc. Tôi đưa nắm cơm cho hai chị và cả gói đường tây từ nhà mang đi. – Chúng em không ăn được đâu. – Hai chị cố mà ăn kẻo ngày hôm nay có khi phải nhịn đói đấy. Tôi và em Lương cũng cố nuốt hết nắm cơm này… Chúng tôi vừa ăn vừa kể chuyện gia đình, nhà cửa cho nhau nghe. Ăn cơm xong không có nước uống lại đành ra bể nước khỏa váng bụi, súc miệng tạm vậy. Tôi bảo em Lương báo cho anh Oánh biết tin về dự kiến địch tấn công. Một lát sau em Lương quay trở lại cho biết anh em trên ấy cũng đã nghe tiếng xe tăng lăn xích, và sẵn sàng chiến đấu. Ở căn nhà góc phố này vừa có cửa sổ nhìn ra phố Hòa Mã vừa có ban công nhìn ra phố Huế, tôi và em Lương cắt nhau canh chừng cả hai mặt. Được một lúc thì súng nổ ran ở mạn cuối phố Hòa Mã và cả phố Séc-giăng La-ri-vê (Nguyễn Công Trứ). – Bộ đội anh Tấn nổ súng đấy. Liền lúc ấy tiếng trung liên quét một tràng dài dọc con đường phố Huế, nhìn lên quãng đầu phố thấy bóng lính Pháp đang theo nhau men hàng hiên nhà kéo xuống. Súng tự vệ nổ cũng ác liệt và dãy bên địch đang tiến cũng thấy lựu đạn và chai xăng tung ra đường làm chúng phải xúm vào nhau, tạt vào trong nhà chiếm lĩnh gác cao bắn trả lại chúng tôi. Lúc này ở tất cả mọi phía đều thấy súng nổ không ngớt. Khói súng mù mịt theo làn gió Bắc nhiều lúc như cuộn lại xoáy tít rồi mới bay tản rộng khắp mặt đường phố. Mặt phố Huế nhiều chướng ngại vật nên xe tăng địch không tiến xuống được, còn bộ binh cũng chỉ đành cầm cự với ta, mà không tiến xuống sâu được, nhưng hai cánh đều có xe địch chạy ầm ầm. Tôi nóng lòng vì ở quá sâu nên kéo em Lương chạy sang bên kia đường. Hai chị cứu thương cũng theo sau: – Cho chúng em đi với… Sang được đến đoạn đầu phố trên tôi thấy vắng lặng, tưởng là anh em đã rút đi rồi, nhưng nghĩ lại còn có anh Oánh, chưa chắc anh em đã rút nhanh đến thế. Chúng tôi cứ luồn tường mà tiến, đến hiệu bánh mì lại gặp các anh đang động viên nhau nhằm bọn lính Pháp ở bên kia dãy phố mà bắn. Tôi gặp anh Oánh ở ngay tận nhà đầu cùng. – Dãy phố bên kia lực lượng yếu lắm nên bọn Pháp đã lấn xuống. Mình ở bên ngày có thể giữ vững được… Tôi bàn với anh Oánh về âm mưu địch chỉ đánh cầm chừng có vẻ thu hút giữ chân anh em tự vệ ở mặt này, chúng sẽ cho lực lượng tấn công từ hai cánh phố bên để bọc chúng ta lại mà tiêu diệt vì vậy cần chú ý đến tình hình ở hai phố bên. Đang bàn với nhau về nhận định địch tình thì em Lương kéo tay tôi nói: – Hình như địch đang phá tường bên chợ Hôm. Tôi lắng nghe thấy đúng tiếng động đục tường, liền hỏi anh Oánh xem mạn trên còn lực lượng tự vệ hay vệ quốc không. – Tất cả tự vệ đều ở cả dưới phố này vì bọn mình cũng chẳng còn bao nhiêu người. – Chúng mình phải đánh bật bọn này lên rồi chia nhau sang viện trợ cho bên kia. Tôi, anh Oánh, một anh tự vệ và em Lương theo đường hào sang chợ Hôm. Đạn nổ líu ríu phía sau nhưng không trúng ai. Chúng tôi thận trọng đến sát bức tường giáp với ngõ vào xóm Đức Viên, nghe rõ ràng có tiếng đục tường, nhưng vẫn còn phân vân chưa rõ địch hay ta. Anh Oánh ra hiệu cho tôi canh chừng rồi anh đi mất. Tôi biết nhà anh ở trong xóm Đức Viên, thông thuộc từng ngõ ngách, căn nhà nên muốn đi kiểm tra lại cụ thể xem những người đục tường là tự vệ hay địch. Được một lúc lâu, chỗ tường bị đục đã rạn nứt, tôi ra hiệu cho anh tự vệ nấp kín, chĩa nòng súng về phía đó. Chợt anh Oánh đã hiện ra đằng sau tôi: – Địch đấy! Để mình cho nó xơi quả lựu đạn. Anh tự vệ cũng lấy quả lựu đạn lọ mực rồi cả hai cùng rút chốt và đập kíp tung nhẹ sang bên kia tường. Hai tiếng nổ đanh gọn ở bên kia rồi tất cả im lặng. Chúng tôi nghe rõ tiếng người rên la và sau đấy cả bốn chúng tôi lại băng qua đường về với anh em tự vệ. Đột nhiên súng moóc-chi-ê địch nổ làm sụt mái nhà căn gác, hai anh tự vệ bị thương. Cứu thương băng bó cho hai anh và có 4, 5 anh khác chỉ còn kiếm, mã tấu nên tôi bảo các anh chịu khó làm cáng khiêng hai anh về mạn cửa ô, ở đó còn có tự vệ và vệ quốc đang bố trí giữ mặt trận phía dưới. Lực lượng chúng tôi còn lại hơn 10 người, chia nhau ở hai căn nhà cách nhau một quãng. Súng moóc-chi-ê địch vẫn nổ lần lượt quét dọc phố làm đổ nhiều nhà cửa. – Địch muốn truy ta đây. Lúc này có mấy anh tự vệ xôn xao muốn rút. Tôi bàn với anh Oánh để anh em rút xuống mạn dưới qua phố Hòa Mã kết hợp với vệ quốc của anh Tấn đang chốt ở đình Đông Hạ. Được lệnh rút, các anh hấp tấp định luồn tường đi ngay, nhưng tôi đã ngăn lại. – Địch đang bắn moóc-chi-ê dọc dãy phố bên này, anh em mình cứ đi xuống phố thế nào cũng bị trúng đạn địch. Bây giờ phải sang phố Lô-dơ-rô mà đi. Nhưng ở căn nhà này lại không có lỗ đục tường thông sang phố sau, súng địch vẫn nổ mạnh, những tiếng nổ lớn cộng với những tiếng mái nhà sàn gác sụt đổ ầm ầm làm có người đã luống cuống. Hai chị cứu thương cũng tái mặt nhìn tôi và anh Oánh. – Các anh chị đừng lo, cứ tản ra ở các chân tường mà nấp. Anh Oánh về tìm cách đục tường sang phố sau. Tôi trấn giữ mặt phố không để bộ binh địch tràn xuống được. Vừa nói tôi vừa kéo em Lương ra đứng nép sát cửa nhìn ra đường. – Hai anh em mình có hai súng còn sợ gì, nhỉ! Tôi nói vậy, nhưng trong lòng nghĩ: "Mình phải thật bình tĩnh, lúc này mà tỏ ra lúng túng, anh em sẽ mất tinh thần bỏ chạy lung tung làm cho mình sợ lây…" Vì vậy tôi lấy trong túi dết ra nắm cơm còn lại, bẻ một miếng ăn, rồi đứa cả nắm cơm cho em Lương để cho những anh chị nào đói thì ăn. Tôi làm ra vẻ thản nhiên, đứng nép sát cửa như người ngắm cảnh phố xá, miệng nhấm nhám từng miếng cơm nắm. Tôi đưa mắt nhìn khắp lượt mấy anh đã chụp lại chia nhau nắm cơ, thầm nghĩ: "Yên tâm rồi!" Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 04 Tháng Bảy, 2023, 07:03:12 am Cùng lúc anh Oánh tìm được chiếc búa và khúc gỗ lớn. Anh cất súng ngắn vào bao, sắn tay lấy búa đập cho vỡ lần vữa ngoài rồi tiếp tục đập thủng viên gạch. Anh bảo mấy anh tự vệ cầm khúc gỗ lao mạnh vào tường vài cái đã thấy thủng một lỗ to. Các anh tiếp tục làm đến khi lỗ tường vỡ đủ người chui lọt. Một anh định đi sang trước, nhưng anh Oánh đã ngăn lại rồi anh chạy vào trong nhà kiếm được chiếc tải cuộn tròn ném sang chỗ tường thủng thấy yên tĩnh mới chui sang trước rút súng đứng bảo vệ cho tất cả mọi người lần lượt chui sang. Lực lượng chúng tôi còn hơn 10 người khỏe mạnh, không kể hai chị cứu thương. Chúng tôi cứ luồn tường bên phố Lô-dơ-rô mà đi, trong khi đó ngoài mặt phố Huế đạn địch vẫn tiếp tục làm đổ nhiều nhà cửa.
Địch đã căn sẵn nên cứ thả moóc-chi-ê dọc bên mặt ngoài, chúng mình đi bên này song song với đường đạn địch đấy. Mấy anh tự vệ đã bình tĩnh, vừa đi vừa bàn tán với nhau: – Nó bắn pháo tiễn anh em mình. – Tại vướng nhà chứ không thì mình cũng gay với chúng nó… Qua đường Hòa Mã sang được an toàn bên kia phố chúng tôi kéo cả xuống gặn anh Tấn ở đình Đông Hạ. Anh Tấn bàn với chúng tôi chia quân sang bố trí ở ngõ Séc-giăng Giắc-cơ để yểm hộ cho vệ quốc đoàn ở mặt đường sang phố Nhà Rượu. Lúc này nơi nào cũng thấy súng địch nổ loạn xạ. Xe tăng địch chạy trên đường Vi-en-lê (Thái Phiên) bắn vào nhà máy Diêm (Nhà máy Trần Hưng Đạo) ở đấy có anh em vệ quốc đang đánh trả quyết liệt. Mạn nhà máy Rượu, súng địch cũng nổ khắp bốn phía. Tôi chia cho anh Oánh 10 người trụ lại mấy nhà trong ngõ, còn tôi đem theo 6 người trong đó có hai chị cứu thương luồn tường sang bố trí ở trong nghĩa địa Sài Gòn (công ty xe khách) để phối hợp với anh em vệ quốc trấn giữ lấy nhà máy Rượu. Chúng tôi vừa nấp sau các ngôi mộ mới xây thì thấy mấy anh vệ quốc băng bó đẫm máu rút qua đường chui vào nghĩa địa Sài Gòn với chúng tôi. – Địch chiếm được nhà máy Rượu rồi. Một số các anh chạy tạt sang bên kia đường chặn địch. Chúng tôi sang đây cùng với các anh giữ mặt phố Giắc-canh. Tôi thấy mình ở vào thế bất lợi vì không nhìn rõ địch mà đánh. Nếu chiếm các căn gác thì lại không ở sát mặt đường được, nên đành bố trí anh em đứng sát tường chĩa súng ra mặt đường mà bắn địch. Lính Pháp chiếm được nhà máy Rượu, định tràn sang đường, nhưng bị chúng tôi bắn chặn, địch trụ lại trong nhà máy, dùng súng moóc-chi-ê bắn vào nghĩa địa, dọc ra tận ngõ Huế. Tiếng đạn nổ đinh tai nhức óc. Đang lúc ấy thì lại thấy mấy anh tự vệ chỗ anh Oánh chạy sang. Tôi tưởng là bên đó bị vỡ rồi nên cũng lo lắng. – Anh Oánh đâu? – Đang cùng với anh em vệ quốc giữ mặt phố. – Sao các anh lại sang đây. – Thấy súng địch nổ nhiều ở mặt sau này, anh Oánh bảo chúng tôi rút bớt người sang đây chi viện cho anh. – Tập trung đông người ở đây bất lợi lắm. Địch đang nã moóc-chi-ê vào nghĩa địa, vì chúng biết là có ta đang chặn chúng. Các anh tản ra xung quanh các bờ tường ở hai mặt phố canh chừng bọn bộ binh. Đúng là chúng tôi ở trong cái túi vẻn vẹn độ 1000 mét vuông mà địch cứ rót rải đạn vào nghĩa địa. Gạch đá đất và cả gỗ áo quan bật tung lên trời rơi xuống rào rào. Đã có nhiều nhiều tiếng người rên la. Hai chị cứu thương cứ lăn mình từ mộ này sang mộ khác băng bó cho các anh. Bông băng đã hết, hai chị đã phải xé cá vạt áo dài để thay làm băng. Một tiếng nổ lớn bắn sạt bức tường của nghĩa địa mặt phố Séc-giăng La-ri-vê. Khói vàng đen kịt cuồn cuộn bốc lên cao từ mặt phố Huế bay tạt về chỗ chúng tôi bố trí, phủ kín cả một vùng nghĩa địa. Tôi lo sợ để anh chị em hy sinh dần ở đây, và bản thân cũng thấy thất vọng không biết mặt phố Huế anh em Vệ quốc còn giữ được không. Tôi ra chỗ bờ tường bị bắn lở, ló đầu ra quan sát bên ngoài, đã thấy chiếc xe tăng địch lù lù đỗ ngay ở ngã tư phố Huế và Séc-giăng La-ri-vê. Chiếc này đã bắn viên đạn đại bác vào tường nghĩa địa. – Địch chặn đường rút của chúng ta rồi. Chỉ còn một cách bất ngờ chạy sang phía nghĩa địa Tây (khu tập thể Nguyễn Công Trứ) rồi theo bãi tha ma, đầm lầy về chùa Đồng Nhân. Nhưng phải có người thu hút hỏa lực trên xe địch. Tôi nghĩ như vậy liền bàn với mấy anh tự vệ và Vệ quốc để làm theo cách đó. Mấy anh vệ quốc tình nguyện bắn vào chỗ xe địch đỗ để thu hút hỏa lực súng máy của địch về phía các anh. Tôi bảo anh em tự vệ anh nào có súng sang trước để chia lực lượng nấp trong nghĩa địa Tây mà đánh, cho anh chị em bên này rút sang bên đó. Mấy anh còn ngần ngừ vẫn sợ súng địch bắn chặn. Tình thế không thể chần chừ được lâu, tôi liền bảo các anh chị cứ nấp ven tường đề phòng địch xông vào nghĩa địa, tôi sẽ sang trước, xin được tự vệ sẽ đưa quân lên đánh giải vây, nhất định không bỏ rơi các anh các chị ở lại đây. – Có chị nào theo tôi và em Lương rút ra không? – Chúng em chạy chậm lắm. Anh sang trước đi, rồi đem tự vệ lên đánh cứu chúng em. Tôi buộc túi dết chặt vào người, quàng lại chiếc chăn dạ của em Lương che phía tim cho em rồi hai anh em chuẩn bị. – Chạy cho nhanh theo sát anh nhé. – Em sẽ theo kịp anh Tôi ló đầu ra ngoài tường thấy nòng súng máy của địch trên xe tăng chĩa thẳng dọc đường phố, liền vẫy em Lương cùng chui ra khỏi tường, chạy băng qua đường. Một tràng liên thanh bắn đuổi theo, nhưng tôi đã kịp nhoài người vào chân bức tường của nghĩa địa Tây. Em Lương chạy sau loạng choạn mấy bước rồi ngã xuống chân tôi. Nhìn thấy bụng em đã loang đỏ máu, nhìn sang bên kia đường chỗ tường thủng, thấy lấp ló mấy bóng tự vệ, tôi xua tay ra hiệu cho các anh đừng sang vì địch đã chú ý bắn chặn. Chờ lúc địch im tiếng súng tôi nhoài người bế thốc em chạy vào sau bức tường, vết đạn ở bụng đã làm cho một khúc ruột em phòi ra ngoài, tôi ấn đoạn ruột vào bụng em, lấy vạt áo buộc chặt lại, rồi bế em theo bãi tha ma và mấy đầm lầy về phía Đồng Nhân. Tôi cứ loạng choạng đi vài bước lại thụt ngã vì bế em đằng trước nên không nhìn được lối đi. Súng địch vẫn nổ ngang dọc trên đầu nhưng đường đạn đi cao, xé không khí vun vút. Tôi đặt em xuống bãi cỏ, rồi cõng em lên lưng đi cho dễ. Em Lương chỉ khò khè thở nói khẽ: – Em chết mất… Anh đừng nói cho cậu mợ1 (Bố, mẹ) và chị Lan em biết tin nhé… – Em yên tâm. Đến chùa Đồng Nhân có các anh chị cứu thương chữa cho em ít lâu là khỏi, rồi em lại đi với anh… Lúc này tiếng súng đã thưa dần, tôi vừa đi vừa khóc thương em và trong lúc hoang mang tôi đã nẩy ra ý định rút lui thẳng. Cõng em được đến chùa Đồng Nhân, tôi thấy đông đủ người cả cứu thương, đội hỏa thực, anh em tự vệ và vệ quốc quân, có một số ít nhân dân vẫn chưa đi tản cư. Thấy tôi cõng một em nhỏ trên lưng máu me đầy người, mọi người xô đến đỡ em ở trên lưng tôi xuống. – Em bị đạn vào bụng, ruột đã lòi ra rồi. Các chị nhẹ nhàng đặt em nằm ở hiên chùa, cởi mảnh áo ra xem xét vết thương. Em Lương nhìn tôi khẽ gật đầu như muốn nói câu gì. Tôi ghé sát vào mặt em nghe em thều thào dứt quãng: – Em không sống được nữa… Anh lấy chiếc đồng hồ… ở tay em… đưa cho chị Lan… để biếu mợ em… Còn chiếc mũ sắt và súng… anh lấy mà dùng. Tôi làm theo lời em và ra ngồi một góc sân chùa, hai tay ôm lấy đầu khóc thảm. Chợt tôi thấy anh Ninh cảo đến bên tôi và hỏi: – Có thể đưa cơm lên cho anh chị em tự vệ được không? – Nguy hiểm lắm… Anh chị em đang bị vây ở nghĩa địa Sài Gòn. – Nguy hiểm cũng đi… Không thể bỏ anh chị em đói được… Lời nói chí tình của anh Ninh làm tôi bừng tỉnh: Đói còn không bỏ huống chi bỏ chết được sao?... Tôi nhớ lại lời hứa của mình không bỏ rơi các anh chị và lời chị cứu thương văng vẳng tha thiết: "Anh sang trước rồi đưa tự vệ lên cứu chúng em…" "Lên cứu chúng em…" Đây là lời kêu gọi khẩn thiết của hơn 10 mạng người… Tôi vùng ngay dậy, đội mũ sắt vào đầu, khoác các-bin vào vai, đến chỗ em Lương, mấy anh cáng thương đã đem em đi rồi. Một chị cứu thương mắt còn đỏ hoe: – Em liên lạc của anh chết rồi. Suýt nữa tôi òa lên khóc, nước mắt, nước mũi cứ ràn rụa trên hai má. Tôi quay mặt đi bảo anh Ninh: – Anh đưa tổ hỏa thực lên chờ anh em ở nghĩa địa Tây, đến tối sẽ vượt qua đường mới được. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 04 Tháng Bảy, 2023, 07:05:47 am Nói xong tôi cắm đầu đi như chạy trốn khỏi hình ảnh đau thương của em Lương. Quay trở lại đến nghĩa địa Tây, tôi thấy xe tăng địch đã lùi ra ngã tư, đang nổ súng vào chỗ 24 gian. Ở đây có lực lượng tự vệ phố dưới đang đánh trả địch ác liệt. Tôi dùng khẩu các-bin của em Lương, tiến sát ra ngã tư nổ súng bắn vào bọn bộ binh để tiếp tay với các anh tự vệ mà sau lúc này tôi thấy quí mến vô cùng. Đang mải bắn địch, tôi thoáng thấy bóng người ở sau lưng liền quay lại. Một anh tự vệ tiến đến hỏi tôi:
– Anh ở đâu đấy? – Tự vệ tiểu khu chợ Hôm. – Các anh đâu cả rồi? – Tất cả đang bị vây trong nghĩa địa Sài Gòn. – Yên trí! Chúng tôi sẽ đánh giải vây cho các anh. Trung đội của tôi chịu trách nhiệm giữ ngã tư này. Vừa trao đổi câu chuyện, chúng tôi vừa ngắm bắn vào bộ binh địch đang lùi dần. Đến gần chiều, tiếng súng im hẳn, tôi chạy sang nghĩa địa Sài Gòn kêu lớn gọi các anh chị còn đang nấp ở đây. Mọi người vui mừng chạy lại chỗ tôi, quần áo anh chị nào cũng lấm láp, tả tơi. – Các anh, chị còn đủ cả không? – Anh em vệ quốc chết một người, bên mình mất ba… – Anh Oánh đâu rồi? – Chúng tôi không rõ, không thấy anh sang chỗ này… Tôi nghĩ thương anh Oánh, sợ anh cũng bị hy sinh nên lúc này mà vẫn không thấy anh đâu. Anh vừa được kết nạp vào Đảng mấy hôm nay, mà bây giờ… Chúng tôi vẫn cẩn thận chia thành từng tốp nhỏ chạy băng qua đường sang tập trung ở khu vực nghĩa địa Tây. Tổ hỏa thực của anh Ninh cao vẫn kiên nhẫn chờ. Khi thấy anh chị em sang được an toàn, anh liền phát cơm, thịt cho mọi người. – Em Lương đầu rồi hở anh. Mà sao quần áo anh dây nhiều máu đến thế. Chị Vân cứu thương hỏi câu ấy rồi chị tưởng tôi bị thương cứ bắt tôi cởi áo để chị xem vết thương. Nhưng tôi không trả lời được, chỉ quay mặt đi khẽ nấc lên. – Khổ con Lan rồi… Em nó chết thì nó sống sao được. Rồi chị Vân cũng òa khóc nức nở như trẻ em bị đòn. Các anh chị vừa ăn cơm vừa hỏi tôi: – Bây giờ đi đâu hở anh? – Các anh chị ở đơn vị phố nào cứ về phố ấy… Còn ai muốn theo tôi cũng được… Chúng mình phải rút, nhưng không phải là chạy trốn, mà sẽ lại bám chặt đường phố chiến đấu. Tôi sẽ đưa anh em xuống đầu phố Bạch Mai, lợi dụng con đê Bình Lao và con mương để bố trí chặn địch. Tôi chắc ở trại Hàn Lân vẫn còn người của chúng ta. – Chúng tôi là tự vệ ở các xóm Trại Găng, xóm Tô Hoàng, chúng tôi sẽ theo anh. Tôi quay lại hỏi chị cứu thương: – Các chị có sợ lắm không? – Lúc anh đi rồi, chúng em cũng sợ. Thấy anh lâu quay trở lại có người bảo là anh đã rút ra. Em không tin… Vì anh có một mình còn phải đi xin tự vệ mới lên đánh tiếp được chứ. – Thế mà lúc em Lương mất, tôi cũng có ý định bỏ các anh chị đấy. – Nhưng thực tế là anh vẫn lên giải vây cho chúng em. Chị vừa nói, mặt cữ bẽn lẽn xắn mãi vạt áo dài nâu đã rách bươm như muốn che dấu tôi mà không được1 (Trước đây phụ nữ ra khỏi nhà là phải mặc áo dài. Ngay cả các chị buôn thúng bán mẹt cũng mặc áo nông Đông Lâm dài tứ thân thả vạt. Chỉ có chị em lao động chân tay nặng mới mặc áo cánh). – Chị chẳng việc gì mà xấu hổ về chiếc áo này. Tôi lại nghĩ nếu sau đây tiểu khu mình có triển lãm hiện vật kháng chiến thì chiếc áo dài nâu của chị phải được đặt ở vị trí xứng đáng. Chị cứu thương chỉ cười, mặt đỏ lên vì ngượng nghịu. Ăn cơm xong, chúng tôi tìm đường xuống phía dưới. Qua chỗ mấy anh tự vệ chiến đấu lúc này, tôi lại gặp anh đã nói chuyện với mình: – Bọn tôi xuống bố trí ở đầu phố Bạch Mai đây. Các anh ở lại hay đi cùng. – Chúng tôi ở lại đây, khi nào phải rút cũng trụ ở đầu phố ấy thôi. Địch đã rút hết quân, nhưng ngày mai chắc sẽ lại có cuộc chạm súng dữ dội đấy. Chúng tôi chia tay nhau rồi đi xuống trại Hàn Lân. Đến nơi thì trại đã vắng tanh, cửa khép kín. Thế là tôi mất hết liên lạc cả với anh Hồng Hà, anh Hùng, anh Oánh… Lực lượng tự vệ chính của tiểu khu 6 chẳng còn ai. Số anh chị em này ở các phố khác ghép lại mà thôi. Tôi đẩy cửa, bảo anh chị em vào trong nhà mà nghỉ ngơi, đến sáng sẽ đi tìm liên lạc với anh em vệ quốc. Tối hôm ấy, tôi không thể nào ngủ được, phần vì thương em Lương, phần nghĩ đến chiến sự ngày mai sẽ đánh đấm ra sao, phần lo cho anh Oánh và anh Tấn, giờ này cũng chưa gặp được nhau… và cũng vì tối rét quá không có chăn đắp. Chiếc chăn dạ em Lương mang theo, đã dùng để gói em rồi… Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 04 Tháng Bảy, 2023, 07:07:08 am Ngày 26-12, vừa tảng sáng, tôi đã đưa các anh tự vệ ra bố trí tuyến phòng thủ bên cạnh con mương để chặn địch ở đường Đại Cồ Việt. Tôi bảo hai chị cứ thương về Đông Dương học xá tìm đội cứu thương của chị Hải để tiếp tục nhận nhiệm vụ, vì hai chị cũng đã hết cá bông băng, nên có ở lại cũng không giải quyết được việc gì mà lại thêm lo cho hai chị đó.
Tôi đang loay hoay ở mấy nhà đầu phố, lại gặp anh Tấn. Hai chúng tôi nhìn nhau chỉ cười mừng rỡ thấy nhau còn yên ổn. – Các cậu bị vây ở nghĩa địa Sài Gòn phải không? Bọn mình cũng bị chúng vây ở đình Đông Hạ, chúng phun cả xăng để đốt đình. Anh em có hy sinh nhưng chúng mình vẫn đánh địch không cho chúng lại gần. Đến tối bọn mình thoát ra và về đây bố trí dọc con đê Bình Lao này. – Mình hết cả quân rồi, còn ít tự vệ ghép cũng đang bố trí dọc con mương… Đêm tối quá nên không tìm thấy cậu. – Tuấn ở luôn với bọn mình nhé. – Còn cậu Oánh đâu. – Cậu ấy cũng ra thoát vòng vây cùng với bọn mình, đã đi xuống mạn dưới tìm cậu đấy. – Rồi cũng lại gặp thôi. Tự vệ của mình ghép luôn vào đơn vị cậu để cùng chiến đấu. – Càng tốt, quân số bọn mình có hao hụt mà chưa được bổ sung. Cũng từ hôm ấy tôi đi liền với anh Tấn. Để ngăn xe địch, bộ đội và tự vệ đã lấy nhiều rơm trải khắp mặt đường. Anh em còn tìm kiếm ống bơ, nồi niêu đem úp la liệt trên đường. Nhưng thỉnh thoảng cũng cài xen kẽ mìn và lựu đạn đập để lừa địch. Lúc này tiểu đoàn 77 do anh Hoàng Kiện làm tiểu đoàn trưởng đã đưa bộ đội lên bám vành đai nội thành. Tôi gặp anh đang chỉ huy bộ đội dùng dây dài buộc vào khẩu súng ba-dô-ka (súng bắn đạn lõm chống xe tăng) kéo dài đến 100m về phía sau. Tổ vệ quốc bắn ba-dô-ka nằm phục vụ ở một vị trí tiền tiêu thuận tiện cho việc bắn xe địch. Tổ súng máy có 5 quả đạn trông như cái hoa chuối có cán dài. Dây buộc vào súng để phòng xạ thủ có bị hy sinh thì đằng sau kéo súng về, vì lúc đầu kháng chiến khẩu súng này quý hơn vàng và cả người. Tôi đứng xem anh vệ quốc chuẩn bị mà thấy tin tưởng trận này xe địch có xuống cũng không làm mưa làm gió như trước được nữa, vì chúng tôi chỉ có chai xăng cờ-rếp, có bén cháy chúng cũng dập tắt được ngay. Buổi sáng vẫn yên tĩnh, nhưng đến 10 giờ, địch kéo quân xuống, từ nhà máy Rượu đánh vào phố Lê Bình từ phía Vân Hồ đánh dọc lại đường Đại Cồ Việt với âm mưu quét sạch lực lượng tự vệ và vệ quốc ở trên phố và ở nhà máy Diêm. Khói đạn mù mịt, chúng tôi ở đê Đại Cồ Việt cũng đánh trả không kém. Địch không thực hiện được ý định nên lại bắn moóc-chi-ê bừa bãi xuống vùng sau lưng quân ta. Xe tăng và hác-tơ-rắc của chúng cũng tiến đến nhưng thấy bên đường đầy rơm và nồi úp chúng chững lại nã đạn đại bác vào phòng tuyến của ta. Tổ ba-dô-ka lần qua các chướng ngại vật đến sát chiếc xe tăng đậu ở giữa đường, nơi tầu điện tránh nhau. Chiếc dây buộc súng vẫn lòng thòng ở phía sau. Chợt tôi nghe mấy tiếng nổ liền và trên đầu ô khói bốc đen kịt một vùng. Tiếng đạn trong xe địch nổ liên hồi như bắp rang. Anh em khoái quá reo hò hoan hô tổ ba-dô-ka khi các anh xách súng trở về an toàn và còn lại hai quả đạn. Ta mới bắn ba phát đã hạ một xe tăng và một háp-tờ-rắc. Quân Pháp bị mất hai xe nên phải rút lui và chỉ tiếp tục bắn pháo và moóc-chi-ê vào dọc phố, trong ngõ Quỳnh và Tô Hoàng. Sau trận 26-12, Pháp ngừng tấn công ít hôm. Bộ đội và tự vệ được nghỉ ngơi, có thời gian điều chuyển và bố trí lại lực lượng. Có hôm tôi và đồng chí Tấn đang đi trong ngõ Tô Hoàng thì nghe tiếng đạn pháo lạch sạch trên đầu chúng tôi nhẩy nấp vào trong nhà nghe đã có một tiếng bịch lớn, nhìn ra sân thấy quả đạn pháo không nổ chui sâu vào đất giữa sân gạch. Cùng lúc đó có tiếng lợn hộc lên, phá chuồng chạy ra. Chúng tôi định bắn chết con lợn để anh em vệ quốc làm thịt, nhưng không kịp vì chú ỉn chạy thục mạng qua hàng giậu găng biến mất vào trong xóm. Hàng ngày chúng tôi ra bãi tha ma sát vệ đê Đại Cồ Việt thăm anh em đang phục kích rải rác sau các gò đống và dưới lòng mương. Đường Đại Cồ Việt chỉ có mấy căn nhà gạch nối tầng ở gần phía đầu ô, còn là đầm lầy, lũy tre làng Vân Hồ rồi đến hồ Bẩy Mẫu trải rộng mênh mông đến giáp Kim Liên. Địch cho một xe háp-tờ-rắc đỗ ngay ở chỗ bến xe bây giờ thỉnh thoảng lại bắn 12 ly 7 xuống nơi chúng tôi bố trí để uy hiếp mà chẳng tác động gì. Tối đến anh em vệ quốc và tự vệ lại tổ chức những đội quân lên nội thành quấy rối đánh địch ở ngay các vị trí chúng đóng quân. Có lần tôi và đồng chí Tấn xuống Đông Dương đại học xá và thấy đông người tấp nập nhộn nhịp. Những gia đình nhân dân ở Trại Găng hay Tô Hoàng tản cư về đây để tránh đạn pháo địch, nhóm bếp thổi cơm khói um. Trẻ em chạy nhẩy đùa nghịch lên gác lại xuống nhà. Anh em vệ quốc và tự vệ thay nhau ra vị trí ngoài đê rồi về đây nghỉ ngơi. Tôi lên gác một căn nhà của trường thấy đông người đang đứng xem khẩu trọng liên 12 ly 7, ba chân sãi choãi rộng, nòng súng vươn dài về phía Kim Liên. Tôi cũng lại gần xem thì ra khẩu súng này đúng của anh Hồng Quân, tổ tự vệ sinh viên bây giờ đã sát nhập vào tiểu đoàn 212 do anh Hồng Kỳ là tiểu đoàn trưởng. Tôi bàn với anh Tấn đề nghị trên cho nhân dân đi tản cư, không tập trung đông ở đây vì mặt trận có thể lan đến không biết ngày nào. Để nhân dân ở đông chỉ thêm vướng víu và nguy hiểm cho bộ đội. Thời gian yên tĩnh khá lâu, không có chiến sự nào đáng kể. Ban ngày, chúng tôi lên sát tuyến đầu, dùng ống nhòm phát hiện thấy bóng địch thấp thoáng ở mấy căn nhà trên phố Đại Cồ Việt là nổ súng. Súng các-bin bắn rất nhẹ và chính xác, nên việc bắn tỉa cũng là điều thích thú. Tuy vậy sau đó phải di chuyển vị trí ngay, nếu không sẽ phải hứng hàng tràng đạn liên thanh các cỡ bắn nát chỗ mình vừa nấp. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 04 Tháng Bảy, 2023, 07:09:55 am Một hôm tôi gặp anh Nguyễn Vũ (đại tá, nay là Phó chủ nhiệm Công ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh) ở ngay tuyến bố trí tiền tiêu. Chúng tôi đang đứng nói chuyện thì đạn nổ chíu chíu cắm phập vào đất và thân cây ngay cạnh chúng tôi. Tôi kịp kéo anh ngồi thụp xuống và ra chỗ khác để nói chuyện tiếp.
– Cũng khá nguy hiểm đấy nhỉ! – Hai bên cách nhau độ 100 mét, nhìn thấy nhau rõ lắm. – Cậu có chỉ huy tự vệ không? – Còn lại rất ít sát nhập vào đơn vị bộ đội rồi. Mình cũng đi với đại đội 3. – Đánh nhau trận này xong, cậu tìm anh Qua đang đóng ở trại Hoàng Xuân Hãn trông xế sang chợ Mơ lối đi về Quỳnh Lôi. Cả Hồng Hà và Hùng đều ở đấy. – Rồi mình cũng sẽ tìm về đấy. Tôi vẫn ở lại trên tuyến phòng thủ mấy hôm nữa cũng chẳng thấy địch đánh lấn xuống nên tìm về chỗ anh Qua. Trong trại của ông Hoàng Xuân Hãn thật yên tĩnh. Anh Qua, anh Hùng, anh Hồng Hà, anh Cao Phi và mấy anh nữa, một em nhỏ liên lạc và chị cứu thương sống bình thản ở ngay gần mặt trận. Thấy tôi về, các anh em săn sóc hỏi thăm: – Cậu còn sống à? Tuấn em đã được bác sĩ Hoàng Đình Căn mổ gắp lấy viên đạn trong bụng ra và cũng khỏi rồi. Cậu về nghỉ ngơi, nhận công tác cũ của công an thôi. Thấy quần áo tôi rách nát và bẩn thỉu, anh Hùng kiếm cho tôi mấy bộ, cái rộng cái chật, nhưng cũng tạm được… trong trại của ông Hoàng Xuân Hãn có cái ao đầy nước trong phẳng lặng, thềm gạch xây ngay cạnh nhà xuống mặt nước. bên kia bờ ao là lũy tre rồi đến cánh đồng chạy mãi về tận trường bắn Bạch Mai. Tôi sống êm ả ở đây, ngày hai bữa ăn đầy đủ và ngủ liên miên có chăn gối và màn nên chóng hồi sức. Nhà ông Hãn có một thùng ton-nô rượu vang và chiếc đàn dương cầm, nhưng chúng tôi không ai biết uống rượu và chơi đàn dương cầm, chỉ thỉnh thoảng ra vào bấm mấy phím cho đỡ buồn. Thấy thời gian im ắng, đã hơn một tuần, tôi liền trở lên khu phố xem tình hình. Đến trại Hồng Bích, lại gặp anh Tấn và đang lúc địch tấn công. Chúng kéo một cánh từ bãi rác Lò Đúc đánh xuống ngõ Quỳnh. Một cánh khác từ đường Đại Cồ việt đánh vào Đông Dương học xá. Tôi và anh Tấn lại bước vào chiến trận suốt cả ngày hôm ấy và đến gần chiều tối thì chúng rút về trụ lại ở một nhà gác rộng (Nhà máy Điện Thông bây giờ). Địch cũng đánh xuống rồi lại rút lên phố ngay. Buổi tối tôi trở về báo cáo lại tình hình chiến sự để anh Qua biết. Thấy địch đã bắt đầu rục rịch hoạt động anh qua dặn chúng tôi phải lưu ý các mặt khác… Sáng 15-1-47, chúng tôi vừa ăn cơm xong, tiếng súng ở mạn Vĩnh-Tuy, Mai Động đã nổ vang. Dọc đường Bạch Mai cũng thấy bộ đội chặn đánh địch ráo riết. Em liên lạc chạy về báo tin: "Các anh ơi địch tấn công xuống đây rồi!" Nghe tin đấy tôi xách súng nhào ra cửa còn thấy anh Cao Phi nhẩy lên chiếc đàn dương cầm dẫm cho gẫy nát các phím rồi anh đạp thùng rượu xuống ao: "Không cho kẻ địch dùng được thứ gì. Phải phát hết!" Tôi không để ý đến việc này chỉ chạy nhanh ra ngoài ngã tư Trung Hiền, nấp sau chiến lũy đắp bằng đất bên cạnh gốc đa to, cao sừng sững chắn hẳn con đường xuống Hoàng Mai. Thấy bọn địch thấp thoáng trên hè, lẩn vào các hàng hiên tiến xuống, tôi vừa nổ được mấy phát súng mấy anh công an xung phong chạy lại bảo tôi: – Anh Tuấn, chúng mình ra chặn địch phía nhà thương Cống vọng đi. Chúng đang cho xe tăng đánh xuống. Chúng tôi cứ luồn qua mấy dãy nhà lá đến trại lơ Vũ Tạo trụ lại vì trên đường ra ngã tư Vọng có chiếc cầu sắt nhỏ, đường cũng đã bị đào phá chỉ còn một lối đi. Hai bên đều là ao hồ không lội được. – Bố trí ở đây tốt lắm. Bộ binh địch không quan nổi đoạn đường nhỏ hẹp này. Vài tay súng chúng mình đủ chặn nó. Còn xe tăng không qua được chiếc cầu sắt mỏng manh ấy đâu. Đứng trong nhà lơ Vũ Tạo đưa ống nhòm nhìn ra ngã tư, tôi thấy bọn địch chỉ nấp ở mấy căn nhà gần đấy bắn vu vơ về phía chúng tôi. Chúng không dám ló mặt trên đường vì sẽ bị đạn bắn tỉa của chúng tôi hạ ngay. Chiếc xe tăng tiến đến đây cũng đỗ lại, nã súng đại bác vào dãy phố, phá đổ mấy ngôi nhà gạch và đốt cháy mấy ngôi nhà lá. Đang mãi giữ địch ở mặt này bỗng có anh công an xung phong chạy đến nói to: "Địch từ làng Hoàng Mai đánh ngược lên. Anh em vệ quốc ở ngã tư bị tập hậu nên cũng rút rồi." Nói xong anh cũng chạy mất. Sợ bị bao vây ở khu đất nhỏ hẹp này không có địa thế vững chắc nên tôi và mấy anh công an xung phong phải quay về ngã tư, tiếng súng chỉ còn thưa thớt. Chiến lũy vắng vẻ. Tôi thận trọng tiến lại gần vì sợ cái bề ngoài im lặng này là vòng vây của địch. Đứng nấp trong một căn nhà tôi nhìn sang bên kia đường thấy ở ngoài hiên một anh vệ quốc trúng đạn hy sinh ở trong tư thế ngồi, khẩu súng trường vẫn cầm ở tay. Tôi định chạy sang giúp anh thì nghe tiếng hát: "Bao chiến sĩ anh hùng…" và bóng mấy người mặc quần áo mầu xanh của công an xung phong. Tôi lại tưởng lực lượng này ở dưới lên tiếp viện nên còn nghiêm chỉnh và lạc quan vừa đánh vừa hát như vậy, liền đứng ra ngoài hè hét to: – Các anh ra kéo xác anh bộ đội vào và thu lấy khẩu súng. Bọn người này dừng lại vì thấy tiếng tôi hét lớn, nhưng họ không làm như tôi nói mà xúm vào nấp sau bức tường bắn sang. Tôi chỉ kịp "Ơ!" một tiếng rồi nhẩy vội vào nấp sau thân cây đa. – À ra đây là bọn phỉ đang ăn mặc giả công an xung phong, chúng theo giặc đánh từ Hoàng Mai lên bọc sau lưng mình… Tôi cũng nhằm vào chúng bắn trả. Một lúc thấy bọn chúng chạy cả ra ngoài ngã tư, liền tung theo quả lựu đạn. Tiếng nổ vang ngay giữa mặt đường. Mảnh gang bay rào rào chém gãy các cành đa làm tôi cũng phải cúi nấp để tránh. Khi ngửng đầu lên bọn này đã giạt đi đâu hết cả. Tôi chờ một vài phút, liền chạy sang bên kia đường chỉ kịp nhặt lấy khẩu súng trong tay anh bộ đội hy sinh rồi cũng rút lui xuống mạn dưới. Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 04 Tháng Bảy, 2023, 07:12:02 am Trong làng Hoàng Mai lác đác vài ngôi nhà đang cháy, tàn gianh và khói bốc lên phủ kín cả ngõ xóm. Tôi cứ lần theo đường làng đi xuống mãi. Đến cuối làng Sét lại gặp anh em bộ đội đang bố trí lập phòng tuyến mới chặn địch. Tôi trả lại cho các anh khẩu súng nhặt được của anh bộ đội đã hy sinh và vì là số bộ đội chưa quen biết nên tôi cứ lần đi xuống dưới nữa. Mãi tận cuối làng, tôi lại gặp đơn vị anh Tấn. Tôi kể lại chuyện về địch cho anh nghe và dặn chú ý đến việc địch cũng giả danh công an xung phong để lừa ta.
Cả đêm hôm ấy tôi lại cùng bộ đội của anh Tấn bố trí ngoài bãi tha ma bên rìa làng. Trời rét buốt và thoảng trong làn gió Bắc có mùi hương thơm, tôi chợt nghĩ có lẽ đến Tết rồi thì phải. Nhưng rồi cũng chẳng chú ý đến nữa vì còn đang lo đánh nhau, bụng dạ nào nghĩ đến Tết. Suốt đêm, chúng tôi nằm phục trong sương lạnh vì đề phòng địch tấn công xuống sớm. Mấy ngày hôm sau bộ đội anh Tấn rút về đường số 1, đóng ở Pháp Vân Đuôi Cá. Tôi và anh Tấn ngày ngày lên đường tàu vắng lặng heo hút nhìn về phía làng Lâm im lìm, nhìn xa về phía Hà Nội thấy vật vờ vài đám khói, lòng nôn nao khó tả. Lời thề: "Quyết giữ vững Thủ Đô???" Làm tôi day dứt, vì giờ này trong tay không còn lực lượng tự vệ, mình phải rút ra tận đây và đằng sau tôi là cánh đồng mênh mông xa tắp. Đóng mấy ngày ở Pháp Vân trong ngôi nhà gạch độc nhất ven đường số Một, tôi được tin anh Qua đã về làng Đại Từ ở nhà anh Mão . Tôi liền tìm vào gặp anh. Nhà anh Mão là căn nhà đất ở tận cuối làng, qua cánh đồng là trường bay Bạch Mai, địch cũng đã chiếm đóng. Trong nhà anh đã đào một đường hào giao thông qua chân tường ra tận lũy tre. Ở làng Đại Từ, tôi còn gặp đội hỏa thực của chị Trinh đóng trong ngôi nhà gạch to và kiên cố. Thấy tôi đến bất ngờ, chị ở trong nhà chạy vội ra ôm lấy tôi vồ vập: – Tuấn đấy à! Chị tưởng em đã hy sinh rồi. Hồng Hà và cả Hùng đã về đây mà không biết tin gì về em. Em gầy nhiều quá, Tuấn ạ… Thôi, ở lại chỗ chị vài ngày để nghỉ ngơi đã… Tôi còn lưỡng lự, chị kéo tôi vào nhà, hối hả bảo mấy anh chị giết gà nấu cháo cho tôi ăn, đun nước cho tôi tắm. Đến tối hai chị em ngồi nói chuyện bên ngọn đèn dầu kể về tình hình từ tối hôm 19-12 đến bây giờ… Các anh chị trong đội hỏa thực ngồi nghe tôi nói chuyện mới nắm rõ sự việc của chiến sự trong phố. Cuối cùng tôi hỏi chị Trinh: – Anh Ninh cao và tổ hỏa thực của anh đâu rồi? em gặp anh lên tiếp tế lần cuối khi vừa thoát vây ở nghĩa địa Sài Gòn. – Anh Ninh đã được kết nạp Đảng và chuyển sang công tác tuyên huấn bên Thành ủy rồi. À… Chị có món quà này dành cho em… Chị nói xong vào trong buồng một lúc quay ra, trong tay cầm một gói giấy nhỏ. – Chị tưởng em đã hy sinh, nhớ đến đồng chí trong cùng chi bộ, mới sinh hoạt với nhau vài buổi, nên chị thêu chiếc khăn này để giữ kỷ niệm về em. Nhưng bây giờ em còn sống và chị được gặp em ở đây, chị trao cho em đây. Tôi mở gói giấy ra, thấy chiếc khăn quàng lụa đỏ, góc khăn có thêu hàng chữ: Cảm tử quân Lê Tuấn. – Ồ! Chị phong cho em danh hiệu này à? Ngoài em ra còn biết bao nhiêu anh chị em tự vệ cũng gan dạ dũng cảm đánh địch, chứ có mình em đâu… – Thì tất cả các anh chị tự vệ đều là những chiến sĩ cảm tử. Nhưng chị chỉ biết có em vì qua nhiều anh chị em tự vệ, cứu thương ở mặt trận về qua đây kể lại chuyện em. Em xứng đáng! Chị vừa nói vừa quàng khăn vào cổ cho tôi. Tôi cũng thấy sung sướng nhưng chợt lại thấy bùi ngùi nhớ đến anh Bảo, em Lương và một số anh chị em tự vệ khác mà tôi không được biết hết tên, đã đổ máu xuống đường phố khu chợ Hôm, giữ trọn vẹn lời thề: "Sống chết với Thủ Đô!..." Hai hôm ở với chị, được chị chiều chuộng săn sóc chu đáo. Tôi giữ chiếc khăn quàng của chị cho mãi đến ngày tôi đóng cơ quan ở làng Bồ Nâu, Ước Lễ, thuộc huyện Thanh Oai, bị địch nhảy dù bao vây quanh làng, chỉ ra thoát được người còn đành bỏ lại mọi tư trang, trong đó có chiếc khăn quàng đỏ của chị Trinh và chiếc ống nhòm, chiến lợi phẩm của đồng chí Tấn tặng ngay hôm đầu kháng chiến toàn quốc. Ít lâu sau tôi được anh Qua nhắn tin phải tìm về chỗ anh Hoàng Mỹ đang đóng ở làng Tây Mỗ, bên kia thị xã Hà Đông. Tôi lên Pháp Vân từ biệt anh Tấn để về nhận nhiệm vụ mới. chúng tôi chia tay nhau hẹn gặp lại sau này. Trên đường đi Tây Mỗ, qua làng Cự Đà, tôi được tin đội cứu thương của chị Hải đóng ở đây liền rẽ vào thăm các chị. Đến đây tôi cũng được chị Hải cưng chiều như chị Trinh. Chị tự tay gội đầu, giặt giũ, may vá lại quần áo cho tôi lành lặn. Ở đây tôi cũng đã gặp các chị cứu thương quen biết cũ như chị Nghiêm, sau này là vợ anh Tài, Tổng cục trưởng Hải quan, chị Duyên, sau này là vợ anh Xuân Oanh, tổng thư ký Ủy ban Bảo Vệ Hòa Bình thế giới của Việt Nam, chị Lan v.v… Các chị chăm sóc tôi từ cái tóc, cái ăn, cái mặc và cả đôi dép, thay cho đôi giầy tôi lấy ở nhà đi, nay đã há mõm và mòn vẹt đế rồi. Hôm từ biệt các chị để sang chỗ anh Hoàng Mỹ, anh thấy tôi ở mặt trận về mà trông gọn gàng sạch sẽ chỉ cười bảo: – Tuấn đánh nhau thế đủ rồi… Bây giờ trở về nhiệm vụ cũ đi… Tiêu đề: Tiếng súng 40 năm Gửi bởi: kevin trong 04 Tháng Bảy, 2023, 07:12:49 am Tôi ở Tây Mỗ được chị Tâm "lồi" (sau chuyển sang xưởng phim truyện và nay chuyển vào xưởng phim thành phố Hồ Chí Minh) luôn luôn ép tôi phải uống thuốc bổ trước khi ăn cơm. Và cũng lạ thật, gần hai tháng trời cơn sốt rét như bỏ quên không hành hạ tôi lần nào. Có thể vì chiến sự liên miên và tôi chỉ có thời giờ lo chiến trận mà quên cả những cơn "nhớ rừng" Nhiều đêm tôi nằm ngủ, nghe tiếng động mạnh lại choàng tỉnh dậy, vơ lấy súng tưởng đâu như địch đang tấn công gần đây. Anh Hoàng Mỹ cũng biết những lần giật mình thức giấc của tôi như thế, và anh đã phát cho tôi bộ quần áo nâu mới, cho khẩu súng côn bát "Ngựa bay" đủ cả bao da và thắt lưng với túi da đựng hai sác-giơ đạn đầy ắp.
– Cậu Tuấn mê súng… Mình cho cậu khẩu súng này của Mỹ đấy. Khẩu súng của cậu sắp hết đạn rồi thì phải. Bây giờ phải hòa mình vào nông thôn, tắm sương, gội gió, chịu nắng mưa cho bớt cái làn da trắng như con gái của cậu… Ngày 3-3-1947, địch chiếm được thị xã Hà Đông, từ làng Tây Mỗ, chúng tôi chuyển lên Thanh Quang rồi, So, Sở, Dương Các, Bương Cấn, cho đến một hôm anh Hoàng Mỹ gọi tôi lại bảo: – Mình phải lên Việt Bắc thành lập cơ quan mới. Các cậu lui mãi không được, phải trở lại bám lấy địa bàn, dựa vào nhân dân mà chiến đấu ở ngay đường phố Thủ Đô chứ không đi đâu xa nữa. Rồi anh chia người ra đi: Tuấn em và anh Nguyễn Vũ lên Việt Bắc với anh thành lập Cục Tình Báo. Tôi, anh Tài và Hồng Hà ở lại Hà Nội làm cán bộ thuộc quyền anh Lê Giản… Bước vào đầu mùa hạ năm 1947, tôi nhận nhiệm vụ của mình và lại tiếp tục chiến đấu theo nghề nghiệp cũ đi sâu vào nội thành Hà Nội. 40 năm đã qua có thể nói hơn một nửa đời người đến nay ngồi nghĩ lại những ngày rực lửa, sôi sục ý chí quyết tử, sống chết với Thủ Đô, ôn lại các trận chiến đấu, nhớ lại từng gương mặt các đồng chí của mình: – Chị Trinh, vợ cố Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng sống thanh thản với cháu gái ở phố Thuyền Quang. – Chị Hải, vợ cố đại sứ Bùi Lâm ở Liên Xô sau là Phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, là bác sĩ quân y 108, đang vui với đàn cháu con êm ấm lúc về già. – Anh Lê Ninh tức Lê Khởi Nghĩa, nguyên thư ký riêng của Chủ Tịch Phạm Văn Đồng thời kỳ 8 năm kháng chiến, nay đã về hưu, là ông già râu dài vẫn hăng hái tham gia công tác ở đường phố, nhận nhiệm vụ kèm cặp lớp thanh niên trong phường. – Anh Ngô Tất Oánh tức Lê Thanh Quang, đại tá phó tư lệnh Ban chỉ huy quân sự tỉnh Hà Sơn Bình đến nay đã được hơn 30 năm tuổi quân và trên 40 năm tuổi Đảng, đã về hưu, sống trong căn nhà nhỏ ven bờ sông Nhuệ thuộc xã Hà Cầu, vui thú với mấy luống rau, bồn hoa, cây cảnh. – Anh Hùng, công tác ở công an sau chuyển sang Ban thanh tra, nay cũng đã về nghỉ hưu. – Anh Lê Ngọc Tấn, đại tá cục Chính Trị tổng cục Hậu cần nay đã về hưu vẫn ở thủ Đô. Và còn biết bao anh chị em, nay giữ cương vị này cương vị khác của cơ quan chính quyền và quân sự mà trong tầm mắt của tôi, chỉ là một cán bộ phụ trách tự vệ của tiểu khu, trong các trận chiến đấu lại chỉ biết có mũi tấn công của mình, nên không thể nhìn hết mọi sự việc, mọi hành động dũng cảm đến lãng mạn của các anh chị tự vệ tiểu khu chợ Hôm. Nắm được cuộc chiến đấu phải là anh Nguyễn Văn Đào, nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại thương lúc ấy là bí thư Đảng của liên khu II, và anh Tích tức Trần Vĩ, là chủ tịch Ủy ban Nhân Dân thành phố, lúc đó là phó bí thư liên khu II. Nhưng tôi cũng lạm quyền, xin vượt qua mặt các anh, ghi lại một vài hình ảnh chiến đấu trong phạm vi của tiểu khu 6, và cũng có thể là tiểu khu tiêu biểu cho cả Liên khu II. Những gương hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho đất nước được như ngày nay, đã để lại đến bây giờ và mai sau mãi mãi tinh thần: "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" Kỷ niệm 40 năm KC. |