Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Hồi ký - Hồi ức => Tác giả chủ đề:: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:44:33 am



Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:44:33 am
- Tên sách: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
- Tác giả: Phạm Trùng Dương
- Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
- Năm xuất bản: 2015
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


Lời nhà xuất bản


Tập hồi ức "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" của tác giả Phạm Trùng Dương được chính tay ông mang đến chi nhánh Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh đúng vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm ngày Hội quốc phòng toàn dân (22.12.1944- 22.12.2014). Có thể nói, đọc bản thảo được viết bằng nét chữ viết tay rất đẹp của tác giả Phạm Trùng Dương, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân rất trân trọng những trang viết chân thực, giản dị của một người từng là chiến sĩ giải phóng quân.


Cuốn sách như những thước phim về một thời thị xã Hải Dương được giải phóng, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bằng không quân và bước chân đầu tiên, cảm xúc đầu tiên khi tác giả nhập ngũ... cho đến khi vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, cứ thế cuốn hút, lôi cuốn người đọc hết từ bất ngờ này đèn bất ngờ khác.


Tác giả Phạm Trùng Dương sinh năm 1948, tại Ngọc Uyên - Ngọc Châu, thành phố Hải Dương. Hiện ông đang sống tại phường 10 quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố mà ông đã vinh dự có mặt vào thời khắc đặc biệt để tiếp quản trong niềm vui và nước mắt dâng tràn.


Năm 1966, trong lúc cuộc chiến tranh vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông đã cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Đông Nam Bộ đánh Mỹ, con đường hành quân đầy gian khổ, ác liệt đã đưa ông trở thành một chiến sĩ giải phóng quân tại chính mảnh đất bom đạn một thời khói lửa bên dòng sông Chiêu.


Người lính trẻ Phạm Trùng Dương sinh ra trên đất Bắc đã hòa vào dòng chảy của biết bao thế hệ người Việt Nam lên đường đánh Mỹ. Thế hệ đã làm nên lịch sử hào hùng của một dân tộc anh hùng mà nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai". Chính khát vọng và với quyết tâm đánh tháng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã giúp ông cùng đồng đội vượt qua biết bao khó khăn, của sốt rét, của rắn cắn, của chất độc hóa học để đi đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một dải.


Trang hồi ức "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" giàu chi tiết, hình ảnh xúc động chân thực, có con người, sự kiện lịch sử cụ thể, qua đó khắc họa được chân dung của một người lính Phạm Trùng Dương. Cuốn sách kể lại cho độc giả hiểu hơn về những cơn sốt rét đến mức sức trai tráng như ông không thể theo đơn vị hành quân được, tác giả phải lùi lại phía sau đi "thu dung", một từ rất quen thuộc của một thời khói lửa mà bạn trẻ ngày nay không thế hiểu được. Bản thân người chiến sĩ trẻ Phạm Trùng Dương bị nhiễm chất độc hóa học đến mức cả hai mắt không nhìn thấy đường hành quân, đồng đội đã dắt tay ông vượt núi, băng rừng để đến đích vào căn cứ Tây Ninh nơi Trung ương Cục miền Nam.


Phần đầu của tập hồi ức là những trang văn thấm đẫm chất thơ, chất nhân văn với nụ cười của mẹ nét phúc hậu của bà với những kỷ niệm về thời thơ ấu của tác giả trên mảnh đất quê hương Hải Dương địa linh, nhân kiệt. Tuổi ấu thơ ấy ông được sinh ra và chứng kiến những sự kiện lịch sử đổi thay của đất nước. Rồi những trang hồi ức ảm ánh người đọc về năm tháng nhọc nhằn mà chính tác giả đã phải trải qua, chống chọi lại với bệnh tật để sự sống của mình được hồi sinh. Ai có thể tưởng tượng ông đã phải vượt qua sự khắc nghiệt như thế nào thì mơi yêu mình, yêu sự sống đến thế.


Thuở nhỏ, cậu học trò Phạm Trùng Dương bị mắc một căn bệnh mà ngày ấy khoa học không thể chữa được bây giờ có tên gọi là "thương hàn". Sau bao nhiều năm tháng chữa trị tại bệnh viện cuối cùng bác sĩ trả về, nói không thể sống được bao lâu, mẹ ông khóc cạn nước mắt trong lo âu. Nhưng với tình yêu thương của mẹ, của bà, ông đã được cứu sống. Trong tình huống "hiêm nghèo" một người hàng xóm tốt bụng đã đóng cho ông một chiếc quan tài nhưng cuối cùng chiếc quan tài đó phải đốt đi. Đồng hành theo thời gian của "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" là biết bao những chi tiết của một thời ác liệt được chính tác giả là một nhân chứng lịch sử kể lại sống động, hấp dẫn bạn đọc và đôi chỗ làm người đọc không cầm được nước mắt.
   

Cũng như biết bao đồng đội của ông biền biệt ra đi cầm súng chiến đấu, người còn, người mất, những năm tháng ấy xa quê nhà, xa bạn bè, xa mẹ già, xa người thân mãi sau cuộc chiến ông mới về thăm gia đình, cảm xúc đó "thăng hoa" để ông thể hiện trong trang sách xúc động lòng người: "Dắt xe vào tới sân, hàng xóm và họ hàng đã ào tới, tất cả vây quanh. Trong lòng tôi nao nao sung sướng. Mẹ tôi lao ra khóc, rồi túm lấy tôi, bà chẳng nói được điều gì, cứ khóc hoài.

- Nó đã về! Nó sống đây rồi! Việc gì mà chị khóc dữ vậy!

Mấy bà dì: bà Tụng, bà Tích, bà Nhận rồi mấy ông cậu cùng các em, họ hàng vây lấy xung quanh. Tôi buông tay, chiếc xe đạp đổ kềnh xuống. Bước vào nhà, chiếc ba lô tuột khỏi vai lúc nào không biết, tôi đứng lặng đi nhìn mọi người. Cái sung sướng nghẹn ngào làm tôi như mất trí. Mọi người coi tôi như "người từ cõi chết trở về". Không khí trong nhà như một buổi liên hoan đầy tiếng cười nói và xen lẫn tiếng khóc cùng nước mắt rơi.


Tôi ngồi xuống ngắm nhìn bộ tràng kỷ có từ dạo mới đi bộ đội. Rồi ngước mắt lên tường thấy bằng "Tổ quốc ghi công liệt sĩ Phạm Văn Hải". Lòng tôi đau quặn, người xìu xuống, hai tay ôm mặt nức nở khóc. Trong đầu tôi chập chờn hiện lên hình ảnh anh vẫy tay tiễn đưa tôi lên đường vào Nam ở ga Cẩm Giàng... Anh đã hy sinh, xương cốt anh đã nằm sâu vĩnh viễn dưới chân dồi Chóp Nón ở tây nam thành phố Huế mà gia đình đã nhiều lần tìm không được..."1 (Đoạn trích trong chương ba "Trở về quê mẹ", tr.125, 126)


Cuốn sách giúp người đọc bắt gặp lại một không khí vô cùng khẩn trương của những ngày đầu quân giải phóng miền Nam tiếp quản thành phố Sài Gòn vô cùng tưng bừng. Hình ảnh Sài Gòn rợp bóng cờ hoa và niềm vui trào nước mắt trong ngày gặp lại của đồng bào và chiến sĩ cả hai miền Nam - Bắc. Đó là thời khắc ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông trực tiếp tham gia tiếp quản thuộc Cục Hậu cần miền Nam - Quân giải phóng. Làm nhiệm vụ tiếp quản Căn cứ 10 - Trung tâm sản xuất quân trang của chế độ cũ Sài Gòn - ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.


Rồi đến khi đất nước hòa bình bước vào xây dựng sau chiến tranh, tiếp quản Sài Gòn với những công việc ngổn ngang và những suy tư một thời gian khó mà tác giả từng sống làm doanh nghiệp từ ngày đầu mới giải phóng không ít những khó khăn, bỡ ngỡ. Cũng như rất nhiều người lính khác khi hoàn thành nhiệm vụ cầm súng của mình, ông ở lại mảnh đất Sài Gòn như là một công dân hăng hái xây dựng lại thành phố với bao cảm xúc, tư duy, vượt qua cơ chế mà hôm nay thế hệ sinh sau 1975 không thể hình dung nổi. Rồi một ngày tác giả nghỉ hưu ở tuổi 43 để lao vào sản xuất kinh doanh bằng chính nghị lực, trái tim của một người chiến sĩ giải phóng quân.


Đây là một cuốn hồi ức của cá nhân có giá trị tham khảo, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xin trân trọng và giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài quân đội tập hồi ức "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" của tác giả Phạm Trùng Dương rất mong độc giả đón dọc.

NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:45:01 am
Lời tác giả


Cuốn sách này của tôi kể về thời niên thiếu khắc nghiệt mà tôi đã vượt qua để giành sự sống. Những thăng trầm và những chứng kiến lịch sử như: giải phóng thị xã Hải Dương, chiến tranh phá hoại của Mỹ bằng không quân và những năm tháng của ngày đầu nhập ngũ. Đặc biệt là một chặng đường hành quân đi bộ hăng ngàn cây số, vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam chống Mỹ. Quyển sách đã kể về cuộc đời hoạt động của một chiến sĩ giải phóng quân mà tôi đã trải qua. Kế tiếp là tôi đã chứng kiến sự giải phóng của đất nước Chùa Tháp Carnpuchia, và giai đoạn hào hùng lịch sử, nhất là chứng kiến Đại thắng mùa xuân 1975 - Giải phóng Sài Gòn (30-4), chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tôi cũng kể về những ngày tháng tiếp quản Sài Gòn, rợp trời cờ hoa và niềm vui trào dâng nước mắt. Sau đại thắng, hàng triệu người lính giải ngủ, tiếp tục trở về xây dựng làng xôm quê hương. Còn tôi vẫn ở lại quân đội để xây dựng xí nghiệp quốc phòng, xây dựng ngành hậu cần quân đội. Những thành tích và trưởng thành trong xây dựng, những bông hoa mình hái đã đưa tôi đến đất nước Liên Xô vĩ đại. Tôi sung sướng, hạnh phúc đến vô bờ khi đi trên cánh đồng tuyết, cánh đồng táo thơm ngon đầy sắc lạ. Tôi ước mơ khi trở về sẽ xây dựng nhiều xưởng sản xuất giầy cho quân đội và thành phố mang tên Bác Hồ - xứng đáng như người chiến sĩ giải phóng quân năm xưa. Ước mơ thì bát ngát bao la... Nhưng hoàn cảnh và môi trường đã bảo tôi dừng lại ở tuổi 43 đúng vào ngày sinh nhật 14 tháng 4 năm 1991, để chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn tự xóa nghèo của bản thân. Tôi thầm cảm ơn cách mạng, cảm ơn Đảng và quân đội đã khéo dẫn dắt tôi đi một cách vô hình, cho tôi sang chân trời mới.


Toàn bộ nội dung quyển sách hoàn toàn dựa một cách trung thực vào các trang nhật ký của tôi. Những trang nhật ký ấy tôi đã viết nó từ tuối thơ cho đến hôm nay. Có quyển nhật ký vẫn còn lung linh trong tủ kính, nhưng có quyển đã mất trong trận càn mà tôi phải hồi tưởng lại, bởi nó không thể nào quên và chẳng bao giờ quên.


Khi viết quyển sách này tôi mong muốn lưu truyền cho con cháu mai sau. Để chúng hiểu hơn về thời kỳ lịch sử của đất nước mà tôi đã từng gắn bó với bao mồ hôi cùng máu và hoa. Chúng sẽ tự hào và noi theo gương ông cha để trở thành người có ích cho xã hội.


Quyển sách xin tình nguyện làm một hạt cát trong sự nghiệp trồng người và tư liệu vườn hoa của chiến sĩ giải phóng quân.


PHẠM TRÙNG DƯƠNG
30-10-2014


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:46:12 am
Chương một
THỜI THƠ ẤU


Ngồi ở mũi thuyền gỗ, nhìn thấy mấy bông hoa bèo màu tím đẹp quá. Bé cúi người với tay lấy. Thùm một cái xuống ao, con thuyền chòng chành. Mẹ tôi quay lại thấy mất con. Bà nhìn xuống ao bọt tăm nổi liên tục trên mặt nước. Nhào xuống, một tay bám mạn thuyền, một tay khua khoăng túm được đầu bé. Bà túm tóc lôi bé lên, vừa bám thuyền vừa kéo vào bờ và kêu thất thanh:

- Có ai không cứu tôi với! cứu tôi với!

Mọi người trong nhà ông bà ngoại ở gần đó hốt hoảng chạy ào ra, xốc lấy bé lên bờ làm các động tác cứu người đuối nước. May quá có cả ông Vỵ (cậu ruột tôi) đã học y tá ba tháng. Cuối cùng mọi người và ông đã cứu được bé:

- Nó thở được rồi! nó mở mắt rồi kìa!

Niềm vui này, sung sướng này đã hiện rõ trên khuôn mặt mẹ tôi và mọi người, nguồn vui giàn nước mắt.

Sau ngày tôi thoát chết đuối, ba mẹ con tôi dọn về ở bên nội ông bà Đoan số 95 phố Tam Giang thị xã Hải Dương. Đầu tháng 9 năm 1954, tôi được ông Phạm Văn Đoan dắt đến "trường con gái" (giờ là Trường Võ Thị Sáu) mặt tiền đường Trần Hưng Đạo để học lớp vỡ lòng. Thời đó giáo dục thuộc Pháp ở thị xã Hải Dương có hai trường Nam và Nữ (gọi là con trai, con gái). Không biết dạo đó tôi có biết hát và hát hay hay không? Cũng không nhớ rõ, nhưng được thầy giáo chỉ định là quảng ca của lớp. Lớp vỡ lòng dạo chưa giải phóng thị xã gọi là lớp 5, lớp 1 là lớp 4... cứ thế lớp 4 là lớp cuối của bậc tiểu học. Từ ngày đó hôm nào tôi cũng được ông đưa đón đi học.


Trưa ngày 30 tháng 10 năm 1954 hai ông cháu đang đi trên đường Trần Hưng Đạo về nhà thì thấy tiếng còi ở rạp chiếu bóng Hòa Bình hú vang lên liên tục không ngớt. Tiếp theo là dọc đường tất cả mọi người đổ ra đầy: reo hò, hát vang bài: "Sòn sòn sòn đô sòn, sòn sòn sòn đô rê... dân Liên Xô, vui hát trên đồng hoa, dân Nam ta tranh đấu cho Hòa Bình"... Mọi người ai cũng gõ trống, chiêng, thậm chí lấy chậu thau, xoang nồi ra để gõ, nét mặt hân hoan vui mừng không sao tổ xiết. Tôi ngước mắt lên hỏi ông:

- Ông ơi! Có gì mà mọi người vui vậy?

Ông cùng vui cười giòn giã và nói:

Giải phóng thị xã rồi! Hòa Bình về rồi đấy cháu ạ! Thế là hai ông cháu vừa đi vừa như chạy về nhà. Ngày đó tôi ở với mẹ và anh Phạm Văn Hải tại số nhà 97 phố Tam Giang, thị xã Hải Dương. Đó là căn nhà của một gia đình di cư vào Nam đang bỏ trống, ở bên trong chiếc giường tre dài suốt cả gian nhà. Một hiện vật còn sót lại của bọn Tàu Tưởng thay mặt đồng minh đến ở tiếp quản, mà dân ta phải làm phục vụ chúng dạo chưa giải phóng thị xã. Ở trong căn nhà trông chỉ có vạt giường tre nên ba mẹ con vẫn sinh hoạt ăn uống bên nhà ông bà ở bên cạnh. Còn anh Hải, anh trai tôi đang học nghề may ở nhà may Tân Đức. Anh học gần hai năm rồi mà vẫn chưa ra nghề vì bị "bệnh tâm thần". Mỗi lần lên cơn, anh cầm đòn gánh, gậy phang bừa bãi rồi hô to: "Hung thần! Hung thần! nó là hung thần đấy!". Mẹ tôi, ông bà hoang mang vô cùng đưa anh đi bệnh viện chữa chạy khoảng nửa tháng thì hết bệnh. Mẹ tôi đi xem thầy, thầy nói nhà đó có ma nên cả nhà, không dám ngủ ở căn nhà đó nữa.


Hòa bình được lập lại, tôi chuyển về học ở trường tiểu học Tô Hiệu, cuối đường Quang Trung, thị xã Hải Dương. Đang học lớp 2 lại bị một trận ốm rất nặng (lúc đó gọi là bệnh thương hàn), mẹ đưa tôi đi chữa ở bệnh viện thị xã, điều trị sáu tháng nhưng không khỏi. Bác sĩ nói:

- Chị ơi! Đằng nào cháu cũng qua khỏi, chị nên đưa cháu về nhà chăm sóc, cho đỡ tốn kém. Cháu sống được ngày nào hay ngày đó. Mẹ khóc và buồn vô cùng, sau đó mẹ cũng quyết định đưa tôi về nhà. Tôi ở trong gian nhà nhỏ khoảng mười sáu mét vuông. Trước đây ông bà dùng làm bếp. Nằm trên một cái giường gỗ nhỏ và tôi ở đó một mình. Một năm trời rồi, một thằng bé bảy tuổi không được ăn cơm, cháo, mà chỉ uống nước cơm, sữa. Bác sĩ nói nếu ăn cơm hoặc đồ cứng sẽ thủng ruột chết luôn. Tôi nằm bất động, người chỉ còn da bọc xương, không được tắm, da xám xịt sần sùi như da cóc. Có một hôm bà Ba Được hàng xóm bên cạnh nhà làm nghề thợ mộc và buôn bán tre nứa, nói với mẹ tôi:

- Lúc nó còn là đứa trẻ khỏe mạnh, ngoan dễ thương, tôi không giúp gì được cho cháu, nay nó sắp đi rồi, tôi tặng cháu bộ quan tài tốt. Mẹ tôi xót xa ứa nước mắt.

Ngày 7 tháng 5 năm 1955 là ngày tổ chức đám cưới của ông chú Phạm Văn Hân, mọi người ra vào tấp nập, vui nhộn, ăn uống tưng bừng lắm. Mà tôi nằm liệt một mình trong phòng tôi, như ở dưới nhà xác. Bà Hoàng Thị Thu (bà nội) vì thương thằng cháu bé nhỏ bị bệnh nặng, đến cạnh giường nét mặt rầu rĩ nói:

- Cháu thèm ăn gì không bà cho? Hay bà cho cháu ăn xôi gà nhé!

Tôi bất động không nói được, mà chỉ gật nhẹ!
   
Sau đó bà mang cho tôi một cái đùi gà, góc đĩa xôi. Tôi há mồm nhai ngon lành, đang ăn được một nửa thì chú ập vào hét lên:

- Bà định giết nó hay sao? Chị Phòng mà biết thì chết thôi!

Bà nói:

- Đằng nào nó cũng chết, đừng để nó thèm, nó đói! Chú nói vậy thôi, nhưng bà vẫn lờ đi cho tôi ăn, vì biết rằng thằng cháu chẳng còn sống được bao lâu nữa.

Sau ngày đó bà cứ cho tôi ăn, thấy tôi ăn được bà cho ăn đồ mềm và cả cơm nữa. Kỳ lạ thay tôi không chết như lời bác sĩ dặn trước khi ra viện, mà lại khỏe ra. Từ cái bụng đen xì to như cái thúng con, bao ngày không đi đại tiện được, thì giờ đây tôi đi xôi xả, liên tục mấy ngày.


Cái bụng cóc đã xẹp đi. Tôi ăn rất nhiều, lúc nào cùng thèm và đói. Mẹ tôi mừng lắm, lo cho ăn và bồi dường cho tôi. Sức khỏe khá dần, tôi đã nói được, nhưng chưa thể tự ngồi dậy. Mẹ đã mua ba lạng cao hổ cốt cho tôi ăn để mau phục hồi sức khỏe. Tôi được bà giúp tập ngồi, tập đứng, tập đi, đã có da, có thịt hơn trước nhiều. Khi đã ngồi, đứng được tôi tỉ mỉ bóc từng lớp da khô đen xì, lớp da trắng được lộ dần khắp cơ thể. Không ngờ rằng di chứng và hậu quả để lại là tôi đã mắc bệnh da khô, vì lớp mỡ giữ ẩm dưới da bị teo lại, ăn bệnh này nó đã hành hạ, đeo đuổi tôi mãi đến khi vào miền Nam chống Mỹ. Đặc biệt là khi trời lạnh hanh khô của miền Bắc.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:47:48 am
Ở bếp nhà có treo một bị hành giống để trồng, không hiểu sao tôi thèm hành sống lạ kỳ, thế là lấy trộm ăn hết. Khi mẹ cần hành giống để trồng thì chỉ còn bị hành không treo lủng lẳng.

Bà Ba Được hàng xóm, người đã cho cỗ quan tài nói với mẹ tôi:

- Chị nói thằng Dương đốt cái quan tài ấy đi!

Thế là với sự hỗ trợ của hai lít dầu lửa, tôi đã đốt nó sau nhà ông Đoan. Nhìn ngọn lửa cháy bừng bừng mà đầu tôi chao đi như một cánh diều trên bầu trời mùa thu đầy nắng ấm. Như vậy là sau gần hai năm vật lộn với bệnh tật và thần chết, tôi đã khỏe và học lại lớp 2 của trường tiểu học Tô Hiệu. Còn ông nội vẫn hàng ngày còng lưng với mái đầu bạc trắng cuốc đất trồng rau ở bờ sông con, bên kia đê trước cửa nhà. Mảnh vườn nhỏ khoảng hơn trăm mét vuông đầy sỏi đá đã phủ màu xanh của các loại rau, nguồn sống chính của ông bà lúc đó. Mẹ của tôi thì buôn bán ngược xuôi để nuôi hai con ăn học. Lúc thì buôn cá, buôn rươi, mua vải thiều đi Hà Nội, Hải Phòng bán. Long đong cả cuộc đời, chồng thì mất tích ở miền Nam. Các con thì thay nhau đau ốm. Mẹ kiếm được đồng nào cũng nuôi bệnh viện và bác sĩ hết sạch. Mỗi khi nhớ lại, hình ảnh mẹ đã in đậm trong ký ức của tôi, bà là người phụ nữ rất Việt Nam, rất đúng với câu ca dao quen thuộc của người Việt: "Gánh cực mà vực nên non / Còng lưng mà chạy cực còn theo sau".


Tôi đã ghi nhận mình được cứu sống là nhờ đám cưới của chú Hân, đặc biệt là bà Hoàng Thị Xuyến đã cứu tôi. Bây giờ ảnh của bà được tôi phóng to đưa lên bàn thờ cùng với mẹ tôi ở tại căn nhà: đường Nguyễn Oanh, phường 7, quận Gò vấp, Thành phỏ Hồ Chí Minh. Tôi mãi nhớ ơn bà, người phúc hậu, nhân từ. Con người ta sau thời gian đi xa trở về, bỗng cảm thấy lớn thêm lên và sáng dạ ra là thế! Còn tôi sau lần thoát cửa tử thần đã chai sạn, không bao giờ còn sợ chết và càng yêu cuộc sống này đến lạ lùng.


Sau lần thoát chết, ba mẹ con tôi về ở nhờ ông bà ngoại trong Ngọc Uyên, cách phố Tam Giang gần hai cây số. Dọc đường đi ôi chao! Rợp trời cờ đỏ sao vàng. Cờ to thì treo ở đền chùa trụ sở, cờ nhỏ in bằng giấy phấp phới trên tay tất cả mọi người, trẻ già, trai gái. Khắp hai cánh đồng sau, trước cửa đình làng Ngọc Uyên là rợp bóng cờ đuôi nheo. Mỗi thửa ruộng đều có cắm tấm biển tên chủ đất, bên trên là cờ đỏ bay bay theo chiều gió. Thế là bà con nông dân bần cố đã có trâu cày ruộng cấy rồi! Đội cải cách ruộng đất đã về làng ngày nào cũng họp với nông dân. Cảnh bà con bần cố nông đấu tố, kế khổ cuộc đời với đội cải cách, trước mặt địa chủ đã diễn ra khắp nơi trong làng xã. Theo tôi được biết thời cải cách ruộng đất, đã mang lại nhiều niềm vui cho bà con nông dân, thực hiện công bằng xã hội.


Cải cách ruộng đất xong là đến phong trào hợp tác xã nông nghiệp, vì neo người gia đình tôi xung phong vào hợp tác xã đầu tiên.

Năm 1958 là năm đầu thi hành luật nghĩa vụ quân sự của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước khi anh tôi đi bộ đội, mẹ quyết định lấy vợ cho anh. Anh Hải lúc đó hai mươi mốt tuổi, còn chị tên là Chu Thị Dứa mười chín tuổi, con một ông địa chủ làng Nhân Nghĩa, ở bên kia sông Thái Bình, đối diện làng Ngọc Uyên. Chẳng có mối lái gì! Bởi anh học phổ thông cùng với anh Chu Văn Nha là anh trai của chị dâu tôi.


Mẹ tôi có bàn chuyện cưới xin với ông bà Đoan bên nội, ở 95 Tam Giang, thị xã Hải Dương và xin được đưa cả nhà ra ở cùng với ông bà sau đám cưới. Ông, bà, chú thím Hân đã nhất trí. Vậy là đầu năm 1958, ca nhà tôi đã về ở lại với ông bà nội, đám cưới anh tôi đã diễn ra. Sau một tháng anh Hải lên đường nhập ngũ.


Anh đi bộ đội, gia đình chỉ còn lại ba mẹ con, ăn chung một bếp, ông bà, chú thím Hân ăn riêng. Tôi thì đang học lớp ba trường Tô Hiệu ở thị xã. Có một nghịch cảnh là: nhà tôi ở phố, nhưng lại làm ruộng có trâu bò, thóc lúa, rơm rạ phơi phóng với lại ở chung với chú thím, ông bà nên chật chội, bất tiện đủ thứ, nhiều sự việc đã phát sinh.


Để giải quyết những mâu thuẫn đó, mẹ tôi đã quyết định làm nhà riêng ở mảnh vườn đã được đội cải cách chia trong làng Ngọc Uyên. Dạo đó làm nhà khó khăn lắm, cái gì cũng thiếu, nhưng được họ hàng giúp đỡ, mỗi người một tý nên cũng ổn thỏa. Chú Hân ở ngoài phố giúp nửa mái nhà lợp bằng cọ (mà ông mua cung cấp của Nhà nước). Các cậu dì thì giúp công thợ... Mẹ và chị dâu tôi tất bật lo cơm nước phục vụ.


Đang làm nhà thì anh Hải khoác ba lô giải ngủ về nhà vào mùa hè năm 1961. Cánh đồng đang khô cạn thì gặp phải mưa rào, mừng quá! Vừa có thêm nhân lực, vừa có sổ tiết kiệm mà anh chắt chiu mấy năm về đưa cho mẹ. Cả nhà phấn khởi tăng tốc, vậy là căn nhà lá, gỗ xoan đã hoàn thành. Còn tôi đang tung tăng đi học ở lớp 5 trường Ngô Gia Tự, năm đầu của cấp hai.


Sang năm 1962, chị dâu tôi sinh được cháu gái đầu lòng là Phạm Thị Huyền, cả nhà vui rộn hẳn lên, vì bấy lâu nay nhà toàn người lớn. Những ngày đầu năm 1964, tôi đang học lớp bảy, năm cuối của cấp hai. Không khí chiến tranh đã lan ra cả nước. Mỹ tiến hành bắn phá miền Bắc bằng không quân. Trẻ em đến trường phải đội mũ rơm, nam nữ thanh niên, dân quân đi làm đồng phải mang theo súng đạn. Mọi nẻo đường trường học, nhà ở có hầm trú bom đạn, máy bay nhà nọ sang nhà kia, cả làng kết nối bằng hệ thống giao thông hào. Tiếng loa, kẻng báo động máy bay đến diễn ra hàng ngày.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:49:54 am
Chương hai
CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG QUÂN


Lên đường nhập ngũ   

Vào lúc này thanh niên nam nữ, lớp lớp lên đường nhập ngũ và đi thanh niên xung phong. Khắp nơi rộn ràng không khí tòng quân chống Mỹ, lên đường giải phóng miền Nam. Tôi đã lớn thấy tưng bừng khí thế như vậy nên "chán học".


Học hết cấp hai tôi và thằng Kỷ (em họ) cùng lớp chạy một mạch ra hồ bơi đầu vườn hoa Con Cóc, đầu phố Tam Giang nhảy thùm xuống nước lặn ngụp sung sướng. Cuộc đời được tự do "thoát khỏi cảnh học trò".


Năm đó tôi mười sáu tuổi, cao 1 mét 67, nặng 50 kilôgam, rất khỏe mạnh nên giúp được nhiều việc cho gia đình. Ngoài đi làm hợp tác xã, dân công đắp đê, tôi về cùng thanh niên rủ nhau kéo và đắp ụ pháo cao xạ giúp bộ đội. Các em thiếu nhi hái lá cây, từng đoàn theo nhau đi ngụy trang trận địa, không khí nhộn nhịp vui như hội.


Vào một buôi sáng sớm tôi giúp mẹ gánh nước tưới rau ở bờ sông Thái Bình. Vừa cúi xuống múc nước thì có tiếng kẻng báo động máy bay Mỹ vang liên hồi ba tiếng một. Hàng đàn quạ sắt lao đến nhào lộn trên bầu trời cầu Phú Lương.


Cầu Phú Lương trên đường 5 bắc qua sông Thái Bình, con đường huyết mạch nối từ Hà Nội - Hải Dương đến cảng Hải Phòng. Vị trí của nó cực kỳ quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ cảng vào miền Bắc. Máy bay nhiều quá tôi đếm không xuể. Nó lao lên, bổ nhào xuống, lật qua, lật lại rơi tự do rồi nhào lộn như biểu diễn, mục đích là để phân tán hỏa lực của ta. Chỉ có mấy chiếc lao về phía cầu bỏ bom bắn phá, nhìn những cột nước bùng lên cao vút, cá trôi nổi trắng xóa cả mặt sông. Những con rồng lửa bay vút lên (tên lửa), đạn pháo của ta nổ như sét đánh nhằm vào lũ quạ mà bắn. Mặt đất rung chuyển, trên bâu trời đã có chiếc máy bay nổ tung, cháy đỏ rực. Mới đầu tôi chẳng sợ gì cả, cứ ngửa mặt lên xem. Nhưng đã có mảnh đạn rơi gần mấy mét, tôi sợ nép mình vào hốc đất ven bờ, căng mắt nhìn về phía cầu: Trời ơi! Hai nhịp cầu từ từ võng oằn xuồng chìm ập xuống lòng sông. Tôi nổi gai gà khắp người, bủn rủn tay chân, trong lòng xót xa, tim như thắt lại. Đau xót quá trời ơi! Căm thù sôi sục trong lòng. Lũ quạ biến mất. Tiếng súng pháo lặng im. Tôi lao nhanh về nhà, cả hợp tác xã, dân quân, bộ đội pháo binh dội lên lòng căm thù sôi sục. Tất cả chuẩn bị lao vào trận chiến đấu mới dồn ra bờ sông để ngày mai thêm hai cầu phao nữa thay thế ra đời.


Tháng 6 năm 1965, khi tôi đang cắt lúa ở đầu làng thì đòn sóc của ông bạn tên là Ly (Vũ Đình Liệu) lao đúng giữa bàn chân trái. Máu trào ra, tôi quỵ ngay tại chỗ, mấy em: Vịnh (con cậu Huy), Thi (Hồng) nhai cỏ, cởi xà cạp quần, băng bó rồi khênh tôi về nhà. Anh Hải ngay lập tức mượn xe đạp nhà anh Thập đưa tôi đi bệnh viện cấp cứu. Do nhiễm trùng nên đau đi, đau lại mất gần năm trời mới khỏi. Tính đùa dai hăng máu của thanh niên là thế đấy! Hậu quả khôn lường.


Buổi sáng ngày 20 tháng 4 năm 1966, khi đang cùng thanh niên hợp tác xã đào mương dẫn nước, thì một tin vui ập đến, giấy gọi nhập ngũ đã đến với tôi.

Chờ đợi ngày này bấy lâu nay, bởi vì đã đi khám nghĩa vụ quân sự đạt loại A1 (cả xã chỉ có mình tôi là A1). Tôi lại được kết nạp Đoàn viên thanh niên, không đi bộ đội thì chỉ có trong chuyện lạ của làng.

Nhận được tin nhập ngũ, tôi reo hò bỏ ngay về nhà khoe với mẹ. Những ngày chờ nhập ngũ tôi chập chờn khó ngủ, đêm thức dậy viết mấy dòng thơ:

"Thật vui biết mấy tự hào,
Mang niềm vinh dự bước vào tuổi xuân.
Gọn gàng sách bút xếp ngăn,
Tạm xa phượng đỏ vây quanh mái trường.
Tạm xa tất cả tình thương,
Bước đi không nổi vấn vương trong lòng.
Trái tim yêu đã rực hồng,
Máu yêu ơi! Đã như dòng suối reo.
Nhanh chăn cất bước vượt đèo,
Con đường giải phóng Đảng giao cho mình"
1 (Bài thơ "Con đường giải phóng" viết tháng 4-1966)


Bảy giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1966, anh Hải mượn xe đạp nhà anh Thập (hàng xóm) chở tôi đến Huyện đội Nam Sách tập trung nhập ngũ. Ở nhà tôi được chuẩn bị hai bộ quần áo, một đôi dép lốp cao su và một mũ cát (giống như mũ cối bây giờ nhưng làm bằng cây dút). Hai anh em đến một sân hợp tác xã rất lớn, thấy thanh niên tập hợp rất đông. Tôi được gọi nhập vào danh sách đơn vị mới, đồng thời nhận cấp phát: mũ cối, chăn, màn, chiếu, ba lô. Tôi ở lại, chia tay anh ra về, hai người nghẹn ngào rơi nước mắt.


Thế là từ hôm nay cuộc đời tôi đã được sang trang mới, luôn xác định quyết tâm phân đấu thật cao, sẵn sàng thích nghi với cuộc sống, công tác của người chiến sĩ trong quân đội.

Toàn bộ danh sách tập trung dưới sự quản lý của Sư đoàn 320B (Sư đoàn huấn luyện bộ đội đi B - vào Nam). Quân số hôm đó khoảng 500 người, tạm thời biên chế: mỗi xã một trung đội, cả huyện một tiểu đoàn.


Ngay trưa hôm đó, sau khi ăn cơm xong, chúng tôi hành quân liên tục, đến đêm thì nghỉ ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà. Tại đây đơn vị được cấp phát bổ sung thêm quân tư trang đầy đủ. Lính mới chưa bao giờ đi bộ bốn, năm chục cây số, thì đây là lần thử thách đầu tiên. Chân tay rã rời, mệt mỏi, bàn chân phồng rộp, nhưng ai cũng vui vẻ hăng hái. Dừng chân nghỉ hành quân là phân công mỗi người một việc, rất chu đáo đối với dân địa phương.


Hôm sau ăn sáng xong đoàn lại hành quân tiếp tục, nửa đêm thì đến một khu rừng Nho Quan, Ninh Bình, bên cạnh là một bản dân tộc Mường rất lớn. Đêm hôm nay chúng tôi được ngủ ở nhà sàn của đồng bào dân tộc, phải dựa vào dân để làm doanh trại. Khu rừng Nho Quan có các địa danh: Ba Dốc, rừng Lim, có con sông Đáy chảy ngang thị xã Phủ Lý. Dân tộc ở đây cũng đông, chủ yếu là người Mường. Chúng tôi làm lán trại hôm nay là ngày thứ hai, tất cả tài năng, trí tuệ và sự khéo léo của anh bộ đội được phát huy cao độ.


Mỗi người được cấp phát một con dao phát nhọn đầu, một cái xẻng cá nhân, cả tiểu đội được trang bị thêm hai cái búa chim. Mọi việc như chặt cây, đẽo gỗ, cắt cỏ tranh, mổ gà, heo, tất cả đều bằng dao. Suốt hai ngày trời mỗi tiểu đội đã hoàn thành xong một cái lán để ở, một giếng nước và một bếp Hoàng Câm. Ngoài ra ai cũng phải có hố cá nhân (có nắp) để trú bom đạn. Đây cũng là thử thách thứ hai của các chiến sĩ trong những ngày đầu quân ngũ. Đêm đầu tiên các anh bộ đội đã có nhà và cuộc sống độc lập riêng biệt.


Chúng tôi được biên chế chính thức vào đơn vị Đại đội 3, Trung đoàn 4, Sư đoàn 320B. Lán trại của đơn vị quay lưng dựa vào vách núi, trước mặt là rừng cây Ba Gạc thưa, một loại cây cao trên ba mét, lá giống như bàn tay người. Sau này ai cũng bị ghẻ ngứa, lấy lá nấu nước tắm và sát vào da là khỏi.


Hôm nay tuần đầu tiên chúng tôi được học đội ngũ, điều lệnh nội vụ, tiếp theo học các nội quy, quy định, chế độ, đường lối chính sách của Đảng về sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nói tóm lại là học chính trị và quân sự. Các tuần tiếp theo học sử dụng, tháo lắp các loại súng bộ binh: súng ngắn, súng CKC AK, trung liên, đại liên, B40, B41, các loại lựu đạn, thủ pháo, mìn, đánh bộc phá. Học kỹ thuật lăn, lê, bò nhoài, đào giao thông hào, làm hầm hố, đánh lô cốt, vượt phá dây thép gai, kỹ thuật đánh trận ban ngày, ban đêm.


Cuối cùng là kiểm tra bắn đạn thật, ném lựu đạn, bộc phá thật. Kết quả bắn đạn thật tôi được 28 điểm, ai đạt 30 điểm thì được thưởng một tuần về phép thăm gia đình.

Thời gian biểu sinh hoạt buổi tôi của đơn vị như sau:

Thứ hai: sinh hoạt Tiểu đội.

Thứ ba: sinh hoạt Trung đội.

Thứ tư: sinh hoạt Đại đội.

Thứ năm: sinh hoạt Đảng, Đoàn.

Thứ sáu: tất cả đi lấy gạo.

Thứ bảy: sinh hoạt văn hóa, văn nghệ.

Chủ nhật: nghỉ tự do trong đơn vị.


Ban ngày sáng, chiều ra bãi đồi tập quân sự từ thứ hai đến thứ bảy. Sáng chủ nhật thường là nghe thời sự, học chính trị hoặc là sinh hoạt tiểu đoàn, buổi chiều đi lấy cui, giúp anh nuôi, củng cố công sự... giờ giấc của đơn vị cũng rất chặt chẽ.


Buổi sáng báo thức 5 giờ hoặc 5 giờ 30 phút tùy theo mùa, vệ sinh cá nhân, 15 phút thể dục, 15 phút ăn sáng, sau đó tập hợp hành quân ra bãi đồi (thao trường) luyện tập quân sự. Việc sinh hoạt được quy định rất nền nếp:

- Cách buộc giày, mắc màn đi ngủ, cách gấp chăn gối, phải xếp vuông vắn thẳng tắp như se chỉ. Súng đạn phải để thống nhất đều tăm tắp. Nói tóm lại mọi vật dụng phải rất gọn gàng, để thống nhất có hàng có lối, thực hiện dễ lấy, dễ thấy, dễ kiểm tra, đồng thời phải mỹ quan, đẹp mắt. Lễ nghi, xưng hô phải đúng quy định, gặp nhau ở ngoài đường cấp dưới chào cấp trên trước, cũng phải học cả cách chào.


Tất cả cán bộ, chiến sĩ phải thuộc lòng ít nhất năm bài hát: Quốc ca; Quốc tế ca, lãnh tụ ca; Kết đoàn; Vì nhân dân quên mình.

Đặc biệt là phải thuộc mười lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội muốn đánh thắng kẻ thù phải kỷ luật như thế đó! "Kỷ luật là sức mạnh của quân đội", tính thống nhất phải rất cao, muôn người như một.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:51:21 am
Sau năm tháng liên tục ngày đêm học tập chính trị, quân sự, lăn lộn vất vả trên thao trường, huấn luyện đã hoàn tất chương trình. Đơn vị đứng trước nhiệm vụ mới: rèn luyện thể lực, bồi dưỡng sức khỏe để vào chiến trường miền Nam. Chúng tôi có một tháng cán bộ, chiến sĩ ăn bồi dưỡng, chế độ được tăng lên gần gấp đôi. Mọi người được ăn no, ăn ngon, ăn xong có trái cây tráng miệng. Ngày nào tiểu đoàn cũng giết bò, mổ lợn, quản lý dùng cả xe ô tô để đi chợ. Rèn luyện sức khỏe là: đan sọt tre để đeo đá (đeo ba lô sợ rách), ngày nào cũng tập đeo đá, hành quân, leo đèo, lội suối tám đến mười giờ mỗi ngày. Đợt cuối cùng thử thách: mỗi người đeo 30kg kèm súng đạn hành quân một tuần liền đi qua năm tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Thái Bình. Ai vượt qua chặng đường này, không ốm đau, nghỉ lại là đủ tiêu chuẩn vào Nam. Tất cả anh em, đồng đội giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt là quyết tâm rất cao, vì vậy 100% đạt tiêu chuẩn lên đường nhận nhiệm vụ.


Trước khi vào Nam chúng tôi được cấp trên cho về phép thăm gia đình một tuần.

Ngày 5 tháng 10 năm 1966, toàn tiểu đoàn hành quân về phép, tất cả đều quê ở Hải Dương (gọi là tiểu đoàn Hải Dương). Chúng tôi đi bộ từ Ba Dốc, Nho Quan, Ninh Bình một mạch đến Phủ Lý.

Được về thăm gia đình nên tinh thần ai cũng phấn khởi, hăng hái, đi như chạy, tốc độ 13km một giờ, vượt qua chặng đường 50km.

Khi đến Phủ Lý, một cảnh tượng nhà cửa bị san phẳng ngổn ngang, bao la là đổ vỡ vì bom Mỹ. Cầu Phủ Lý bị bom Mỹ đánh sập, mọi người qua sông bằng cầu phao của công binh. Đến ga Phủ Lý đã có sẵn đoàn tàu hỏa chờ đón chúng tôi, cả đơn vị lên tàu nhanh chóng, lúc này là 9 giờ tối.


Đoàn tàu lăn bánh xình xịch... chạy băng qua ga Hà Nội về thẳng Hải Dương. Sư đoàn 320B đã giao quân về phép cho Huyện đội Nam Sách. Huyện đội có trách nhiệm quản lý quân số và giao trả Sư đoàn đầy đủ theo hợp đồng đã ký kết.


Nhà cách ga Hải Dương khoảng hai cây số, nên tôi khoác ba lô đi bộ băng qua thị xã.

Tháng 8, tết Trung thu, trăng tròn vành vạnh sáng tỏa khắp quê hương. Thị xã vắng không bóng người vì dân đi sơ tán, chỉ còn một số tự vệ ở lại quản lý và trực bắn máy bay. Không gian êm đềm tĩnh mịch, bóng tôi đi nhanh, cứ dài ra rồi tròn lại rồi dài ra dưới ánh đèn điện trên phố. Mới xa quê hương có mấy tháng mà cảm thấy như đã từ lâu rồi. Tôi thật sự thấy trong lòng lâng lâng cảm xúc khi trên đường trở về.


Khoảng hơn 1 giờ đêm tôi có mặt ở nhà. Một giấc ngủ ngon lành mà mẹ đã ban cho tôi sau sáu tháng đi xa, rèn luyện trong quân ngũ. Giấc ngủ ở nhà trong gia đình đầm ấm yêu thương, sao mà nó sâu và đẹp đến thế. Tôi mơ về miền Nam bao la đồng lúa, hát ngát rừng dừa trong buổi sáng bình minh gió lộng.


Sáng hôm sau tin bộ đội về phép lan ra rất nhanh. Tôi thức dậy, bà con, cô dì, anh em, bạn bè đã đến chơi chật nhà. Suốt mấy ngày đi thăm bà con lối xóm và các bạn thanh niên.

Dạo đó, hợp tác xã (thôn, làng) là một pháo đài, có đại đội dân quân đầy đủ súng đạn, và trung liên để bắn máy bay tầm thấp. Ngoài đồng ruộng từ cửa đình đến cầu Phú Lương, pháo cao xạ 37, 57 ly giương cao nòng quân lá ngụy trang khắp nơi sẵn sàng nhả đạn. Giao thông hào được đào nối từ nhà này sang nhà khác, chạy chằng chịt khắp làng. Nhà nào cũng có hầm trú ẩn chữ A nửa nổi, nửa chìm.


Khí thế thanh niên nam nữ sôi sục lao động sản xuất, phục vụ bộ đội.

Hậu phương lớn của miền Nam là như vậy đó!

Anh em chúng tôi về phép mà lòng cứ nao nao, sốt ruột, muốn nhanh chóng được vào miền Nam ngay để tham gia chiến đấu.

Chi đoàn thanh niên tổ chức liên hoan nhẹ, chia tay sáu anh em chúng tôi. Trên bàn chủ tọa có anh: Phạm Văn Hải (anh trai tôi), Bí thư xã đoàn, anh Vỳ, anh Vĩnh Bí thư và Phó bí thư chi đoàn cùng rất đông nam nữ đoàn viên có mặt ở chùa Ngọc Uyên.


Thay mặt sáu anh em, tôi lên phát biểu ý kiến chia tay chi đoàn để ngày mai lên đường. Một cảm giác tự hào trào dâng, cùng với niềm vui sướng hân hoan, phấn khởi, rạo rực trong lòng.

Buổi chiều cuối cùng trước khi vô Nam, tôi bách bộ một mình trên mặt đê quanh làng. Đến góc cua cuối cùng tôi dừng lại ngắm ngã ba sông Thái Bình và dòng sông Con (Kẻ Sặt). Hai dòng sông ôm ấp vây quanh tạo thành bán đảo Ngọc Uyên, phía bắc là giáp đường 5, góc phía đông là cầu Phú Lương đã bị trọng thương vì bom Mỹ. Mặt ngã ba sông mênh mông cuộn chảy, những dòng phù sa nâu sẫm đang về.


Mặt trời hoàng hôn đỏ rực từ từ khuất dần, trời không một gợn mây, trong xanh tĩnh lặng... Quay về phía xóm làng: Cánh đồng lúa xanh non mơn mởn bao la, đàn chim đang rập rờn vỗ cánh bay về nơi trú ẩn. Những cây cau cao vút xen lẫn những rặng tre quanh làng, vươn lên dưới những làn khói tỏa chuẩn bị cho bữa cơm chiều tối. Bất giác tôi nhớ đến tiếng kẻng ngân vang giục giã hàng đoàn người dắt trâu bò, vác cày bừa, cuốc ra đồng làm việc trong nắng sớm ban mai của hợp tác xã. Rồi nhớ đến tiếng trống rộn ràng trong những ngày khởi công đắp đường đào mương, cờ bay phấp phới với hàng trăm bạn thanh niên lao động tâp nập rộn rã tiếng cười.


Ngọc là viên ngọc quý, uyên là thâm, thâm là sâu. Viên ngọc nằm ở dưới sâu lòng đất. Đó là Ngọc Uyên. Không biết có tự bao giờ cái tên Ngọc Uyên ấy! Chắc là có từ khi hai ông: Lê Viết Hưng, Lê Viết Quang, hai tướng lĩnh nhà Đinh có công dẹp loạn 12 sứ quân rồi về đây lập nghiệp xây dựng làng. Nên dân làng đã xây dựng Đình Ngọc Uyên để tưởng nhớ hai người. Tượng hai ông, hồn hai ông vẫn còn đó trong đình.


Viên ngọc nay đã nổi lên trên mặt đất bao la đẹp thế kia - Viên ngọc tan biến thành đình, chùa, miếu, quán, thôn xóm dân làng, lũy tre, đường sá và những cánh đồng phù sa màu mỡ.

Trong lòng tôi nặng trĩu, thẫn thờ, lưu luyến trước cảnh quê hương, xóm làng êm đềm xanh tươi.

Mặt trời đã lặn, hoàng hôn tan biến, nhường cho màn đêm tĩnh mịch, để chuẩn bị cho một bình minh rạng rỡ. Nước mắt tôi tuôn rơi khi cúi chào quê hương làng xóm yêu dấu để ngày mai cất bước lên đường.


Buổi sáng ngày 10 tháng 10 năm 1966 trả phép, trở về đơn vị. Tiễn sáu người chúng tôi (Dương, Trác, Đức, Quảng, Phao, Hào) hôm đó có rất đông người có mặt tại ga Cẩm Giàng. Nhưng tôi nhớ rất rõ hai người: anh Phạm Văn Hải và Phạm Thị Bảo (chị thằng Đức - cũng họ hàng với tôi).


Đoàn người đã khoác ba lô lên tàu, tay vẫy tay. Nước mắt của anh Hải và cô Bảo giàn giụa trong giọng nói nghẹn ngào, làm cho tôi như muốn vỡ tim.

Tàu chuyển bánh, tiếng còi hú vang. Đoàn người đưa tiễn xa dần rồi mất hút. Nước mắt chúng tôi lăn trên má. Tạm biệt quê hương đối với tôi, nhưng với rất nhiều người khác là một ngày vĩnh biệt, không bao giờ trở về.


Đây là lần cuối cùng gặp mặt và cũng là ngày cuối cùng vĩnh viễn xa anh Hải... Thật đau buồn... Nỗi đau này mãi mãi không nguôi.

Gần nửa đêm chúng tôi về tới doanh trại của đơn vị, được vài ngày nghỉ ngơi chuẩn bị tinh thần.

Núi rừng Nho Quan như im lìm, bình lặng, một mùa thu mát mẻ. Nhưng cả nước, nhất là miền Nam đang dội vang khí thế tiến công Mỹ - ngụy.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:54:09 am
Chặng đường hành quân lịch sử

Sáu giờ tối ngày 16 tháng 10 năm 1966, tại một bãi trống ở gần khu rừng thuộc huyện Nho Quan, Ninh Bình, đơn vị chúng tôi được tập trung dưới lá cờ đỏ sao vàng và quân kỳ.

Theo công bố đơn vị tên là: Đoàn 741, đồng chí Củng là Đoàn trưởng, đồng chí Sa là Chính ủy. Quân số đoàn là 500 cán bộ, chiến sĩ. Vũ khí trang bị là tiểu liên AK, trung liên RBD cùng đầy đủ cơ số đạn. Mỗi người được trang bị nửa kilôgam muối, một kilôgam bột ngọt, hai hộp ruốc thịt, một hộp thuốc cá nhân, mỗi người trang bị một cái xẻng nhỏ, dao dài. Về tư trang, ngoài ba lô quần áo, tăng che võng, võng kaki hai lớp, mùng (màn) còn có hai đôi giày vải cao cổ, một đôi dép cao su đúc (có một cuộn dây dép dự phòng), một mũ tai bèo1 (Mũ tai bèo, quần áo bà ba đen để trang bị cho Quân giải phóng miền Nam - mũ tai bèo còn gọi là mũ giải phóng) và một bộ quần áo bà ba đen. Mỗi tiểu đội được trang bị đèn pin, bật lửa, búa chim. Mỗi tiểu đội được trang bị đèn pin, bật lửa, búa chim, một nồi nấu cơm, một nồi nấu canh. Nói chung trang bị rất đầy đủ đến từng cái nhỏ nhất như: thuốc chống vắt muỗi, thuốc khử trùng, v.v... và một miếng lân tinh (dạ quang) dẫn đường được gắn trên mũ giải phóng.


Toàn đơn vị xếp hàng thẳng tắp, một tiêng hô "Nghiêm" vang lên để nghe quân lệnh và lời kêu gọi:

- Hỡi cán bộ, chiến sĩ Đoàn 741! Đảng, Chính phủ, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam giao nhiệm vụ cho các đồng chí hành quân cấp tốc vào chiến trường để giải phóng miền Nam, các đồng chí có quyết tâm không?

Tiếng hò vang dậy núi rừng:

- "Quyết tâm, quyết tâm"!

Cả đơn vị rạo rực, sục sôi khí thế lên đường. Khu rừng như rung chuyển. Mệnh lệnh hành quân được đoàn trưởng công bố cho toàn đơn vị, theo thứ tự và hướng xuất phát. Hướng đi bám theo dọc quốc lộ 1 vào Nam, để giữ bí mật chỉ được hành quân ban đêm, ban ngày nghỉ trong nhà dân.


Có một đêm đơn vị hành quân gần đến huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Con đường nhỏ khoảng một mét giữa cánh đồng lúa mênh mông. Trời tối mờ, mọi người nối theo nhau nhìn vào ánh dạ quang sau mũ. Đoàn quân đang chạy đến một ngã ba đường thì tôi bị đau bụng và buồn đi đại tiện. Nhanh như cắt, không kịp báo cáo, tôi ngồi lại ngay bờ lúa ven đường. Đơn vị vẫn hành quân chạy, khi tôi đứng dậy thì bị mất hút đoàn người.


Hoảng quá! Tôi cứ chạy trên con đường mà hai bên là những ruộng lúa trải dài tít tắp. Mọi người có hiểu chăng con chim lạc đàn thì nó như thế nào không? Nó kêu thất thanh rồi bay hoảng loạn, còn tôi thì không thể kêu mà cứ cắm cổ chạy tìm đơn vị. Lúc đó gà đã gáy đổ hồi, văng vẳng có tiếng chó sủa ở xa xa... Vậy la tôi cứ nhăm theo hướng chó sủa và gà gáy mà chạy. Tôi đã chạy vào tới làng rồi, gặp mấy anh dân quân đi tuần tra, tôi mừng quá, trình bày sự việc và kể tên đơn vị để được trợ giúp. Các đồng chí dân quân dã dẫn tôi đến nhà xã đội trưởng. Mọi người nên hiểu rằng đi B (miền Nam) là trong người không có bất kỳ một loại giấy tờ nào, lý lịch trích ngang là do chính ủy nắm giữ. Tôi trình bày hoàn cảnh và kể lại sự việc với đồng chí xã đội trưởng. Đồng chí ấy động viên tôi hãy bình tĩnh, xếp sắp ngủ tạm, đến sáng sẽ dẫn về đơn vị. Vì trời vẫn còn tối. Tôi nằm mà không sao chợp mắt được, trong lòng lo lắng hồi hộp và rất nhớ đơn vị. Trời vừa sáng là bật dậy đi theo đồng chí xã đội trưởng ngay.


Qua cánh đồng đến thôn bên kia là tôi vui mừng vì loáng thoáng thấy bộ đội đi lại.

Đơn vị đây rồi! Tôi sung sướng ôm hôn mọi người và cám ơn xã đội trưởng. Như con chim non ríu rít được gặp bầy đàn. Tiểu đội trưởng nói:

- Đơn vị tưởng đồng chí đảo ngũ rồi đây!

Tôi nói:

- Đảo ngũ thế nào được, dẫu thế nào tôi cũng phải tìm bằng được đơn vị.

Một kỷ niệm nhớ đời của tôi ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Cuộc hành quân vào Nam vẫn tiếp tục ngày nghỉ, đêm đi. Trong tay mỗi người tự tìm kiếm, trang bị một chiếc gậy, nó không thể thiếu trên chặng đường hành quân. Đó là "chiếc gậy Trường Sơn" mà đúng như bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết, bây giờ mỗi khi nghe lại vẫn thấy nôn nao trong lòng.


Khi đến nhà dân (trạm dừng chân) là tiểu đội trưởng phân công nhiệm vụ cho các chiến sĩ. Đào hầm trú ẩn là việc đầu tiên phải làm ngay, sau đó là tìm việc giúp đỡ dân địa phương. Chúng tôi nhường cơm sẻ áo, nhận ăn sắn, ăn khoai để cho trẻ em được ăn cơm. Bộ đội lúc đó thật tuyệt vời làm sao! Không một việc gì là chúng tôi không biết làm: đi cày, cấy, nhổ mạ, gánh phân, làm nhà, đào giếng, tắm rửa cho em bé, nghĩa là tất cả mọi việc to, nhỏ mà dân cần, chúng tôi đều có mặt. Còn ngược lại dân thương yêu bộ đội vô cùng, các chàng trai trẻ, mặt còn "búng ra sữa" mà cần cù dũng cảm. Dân chia sẻ mọi thứ mà bộ đội thiếu và cần: như chỗ ăn, chỗ ở, chỗ nấu cơm... Đi đến đâu là chúng tôi giúp dân hoàn thiện hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn đến đấy. Kỷ luật dân vận thật nghiêm khắc, không tơ hào cái kim sợi chỉ của dân, luôn lễ phép đúng mực trong quan hệ.    Đây là sức mạnh của quân đội, nó đã góp phần quan trọng vào chiến thắng của cách mạng.


Khi chia tay ra đi, nhiều người buồn phát khóc, buồn vì phải xa các anh quá tốt, khóc vì các anh phải ra đi để nhận phần hy sinh mất mát, cũng như tất cả chồng và con em họ.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:55:22 am
Trong quá trình hành quân, bí mật là cực kỳ quan trọng. Phải nhẹ nhàng nhưng rất khẩn trương, thần tồc, luôn ngụy trang thật kín đáo, không được phép sai lầm, sai lầm là đổ máu. Trên đường đi chúng tôi luôn quan sát, thấy có củi khô là kiếm, có lá xanh là hái bổ sung cho ngụy trang bản thân.


Tháng đầu hành quân đi bộ, ai cùng mệt nhoài, chân xưng vù, đỏ ửng. Đến trạm dừng chân ngoài lo nhiệm vụ chung, mọi người còn lo ngâm chân bằng nước muối ấm.

Các trạm dừng chân, từ trạm này sang trạm kia cách nhau khoảng bốn, năm mươi cây số, tùy theo đường khó hay dễ. Có giao liên dẫn đường, có lương thực và thực phẩm bổ sung cho bộ đội.

Dọc đường hành quân, nhân dân các tỉnh miền Trung tuy nghèo khổ, nhưng tinh thần cách mạng rất cao. Họ một lòng theo cách mạng, rất yêu quý bộ đội, bởi vì không phải họ lo chỗ ăn ở cho bộ đội một vài ngày đêm, mà là lo trường kỳ suốt cuộc kháng chiến. Nghĩa là ngày nào cũng có bộ đội sinh hoạt, ăn, ở trong nhà. Chính quyền, các đoàn thể, nhất là thanh niên, phụ nữ luôn có nhiều hình thức hoạt động phong phú, như gặp gỡ giao lưu, văn nghệ để động viên bộ đội. Trong thâm tâm họ nghĩ rằng: các anh đi miền Nam là không có ngày quay trở lại... Nghĩ vậy nên họ thương lắm... Dạo đóng quân nghỉ lại Quảng Trạch, Quảng Bình mười ngày, khi đi các cô gái nhớ thương chúng tôi vô cùng. Họ đã sáng tác ra bài hò xứ Nghệ trèo lên cây cao hát vọng xuống đoàn quân:

   Anh đi mà giải phóng miền Nam,
   Ở nhà em sẽ lo toan ruộng vườn.
   Anh đi gìn giữ quê hương,
   Ở nhà em sẽ chín thương mười chờ.
   Bao giờ thống nhất nước nhà,
   Anh về em sẽ hát ca đón chào.


Nghe tiếng văng vẳng của bài hát mà nước mắt chúng tôi giàn giụa, cổ vũ đoàn quân xốc tới.

Cuối tháng 12 năm 1966, chúng tôi đã đến làng Ho, Kim Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Đó là địa danh cuối cùng của đồng bằng miền Trung, đơn vị phải chia tay để lên dãy Trường Sơn.

Làng Ho bị bom đạn Mỹ - ngụy (chính quyền Sài Gòn) san phẳng không còn nóc nhà nào, làng xóm đã biến thành cánh đồng dày đặc hố bom đạn. Còn dân làng Ho đã vào chân núi làm nhà, đào hầm, họ biến thành "làng chiến sĩ" để ngày đêm phục vụ chiến đấu. Chao ôi! Xúc động vô cùng khi nghe thấy cảnh này - nó đã thôi thúc chúng tôi xông lên phía trước.


Từ đây đến sông Bến Hải là vành đai chết. Đêm qua ở làng Ho chúng tôi thấy hàng trăm xe thồ bị bom pháo bắn gãy nát tan hoang. Xương thịt, xác người còn phơi tơi tả trên mặt đất, cành cây. Một mùi tanh hôi, gây gây lan tỏa nồng nặc. Đồng chí giao liên kể lại rằng: "Hôm qua có một đoàn xe đạp thồ vận tải bị máy bay B52 Mỹ rải thảm bom trúng đội hình". Mọi người xót xa vừa đi vừa mặc niệm các đồng chí đã hy sinh. Đồng chí giao liên còn cho biết hàng trăm người đã chết mà chưa kịp được thu dọn, chôn cất.


Đoàn quân chúng tôi đã đi vào dãy Trường Sơn hùng vĩ của Tổ quốc Việt Nam.

Càng vào sâu trong rừng thì càng thèm khát ánh nắng và bầu trời trong xanh. Trời mưa tầm tã, nên chúng tôi hành quân rất gian khổ. Đi trong rừng nên được đi ban ngày, vì vậy mới có điều kiện vượt nhiều núi cao, thác sâu và những con suối dài.


Đoàn đã đi qua con suối bảy ngọn (bảy dòng), đó là thượng nguồn sông Bến Hải. Nghe giao liên nói đang đi qua sông Bến Hải mà trong lòng ai cũng nặng trĩu, xót xa. Con sông chia cắt hai miền Nam - Bắc nghe mà vừa giận lại vừa thương nhưng sao nó thiêng liêng và đáng yêu đến thế!


Đêm nằm trên võng mà nghe văng vẳng bài hát: "Trông qua rặng Trường Sơn, miền quê xa tít chân trời, mây đen lặng lờ trôi, mây đen lặng lờ trôi..."1 (Lời trong bài hát "Câu hò trên bên Hiền Lương" - Nhạc: Hoàng Hiệp, lời thơ: Đằng Giao).


Đoàn người đi men theo sườn núi, dốc đá cheo leo qua những cây cầu "khỉ" chênh vênh giữa hai vách núi. Cầu khi nghĩa là chỉ khỉ đi được thôi, vậy mà dùng để ngươi đi thì gian nan lắm. Dòng người ùn lại kẹt cứng, chúng tôi phải đứng nghỉ giải lao và lúc này cây gậy có nhiệm vụ chống đỡ ba lô cho đôi vai bớt nặng.


Từng người một vịn tay trên dây song (mây), rón rén từng bước thận trọng, nó mà trượt chân thì lao xuống vực, người nát như cám.

Chính vì thế qua cầu khỉ phải mất hàng giờ, nó chỉ là cây gỗ bắc ngang, chứ đâu phải là cầu. Có hôm hành quân suốt ngày, cứ lên, xuống, vòng qua vòng lại mà chỉ qua được một ngọn núi.

Khổ nhất là đến trạm nghỉ phải nấu cơm. Cả tiểu đội quây lại chỉ nấu nổi một nồi cơm, mà phải mất cả giờ. Nấu cơm phải nấu ban đêm, mà nấu ban đêm thì không được phát ra ánh sáng.

Chúng tôi phải dùng bốn, năm cái tăng (tấm ni lông to che võng ngủ) để che mưa và quây quanh che ánh sáng? không cho lọt ra ngoài.

Xuống suối lấy nước rất gian nan, nước chỉ có ở mãi dưới chân núi sâu, lấy được bọc ni lông nước về tới nơi là chảy mất một nửa.

Cơm nấu xong rồi ăn cũng vất vả, khổ với muỗi và vắt, muỗi nhiều vô kể, vắt thì sờ đâu cũng thấy. Không cẩn thận trong khi nhai cơm vắt nó búng vào mồm, thế là nhai luôn cả vắt.

Mọi người biết không? Vắt là con đỉa rừng, nó như con đỉa dưới nước, nhưng chỉ to hơn cái tăm, dài chừng 3cm, sống ở trên cạn. Nó co lại và nhảy (chúng tôi gọi là búng) từ cành cây này sang cành cây khác, từ người này sang người khác. Ở đâu có hơi người là nó đến, vắt có thể chui rúc như con sâu. Sáng dậy sờ dưới võng, dưới chân, vắt lổn nhổn, mềm nhũn, máu dính đầy tay... nghĩ mà ghê cả người.


Những ngày hành quân như thế cứ lặp đi lặp lại trên dãy núi Trường Sơn. Đó là chặng đường gian khố vất vả nhất, nhưng cuối cùng chúng tôi đã vượt qua và sang đất nước Lào.

Sang đất Lào là sang một đất nước khác hẳn. Chúng tôi đã thoát từ rừng núi hiểm trở âm u, mưa dầm ướt át, sang đất Lào khô cháy rộng bao la.

Đi trên đất Lào vừa khô, vừa nóng, rừng lá vàng úa phủ mênh mông. Nước rất khan hiếm. Đồi núi tương đối bằng phẳng, đi cả ngày không thấy dân, cũng chẳng có nước. Khi đến được suối là mọi người lao xuống lấy bi đông đựng nước, tha hồ uống cho đã khát. Thuốc sát trùng mọi người tiết kiệm, chỉ pha diệt khuẩn khi nước suối đục mà thôi.


Sang đất Lào bộ đội được thoải mái hơn, vì không có máy bay, biệt kích xuất hiện dọc đường.

Sang đất Lào được hai ngày, đang hành quân thì mọi người nhận được lệnh từ trên xuống: "Nghỉ giải lao tại chỗ một giờ". Lệnh còn truyền thêm: Mỗi người được trích một lạng gạo rang, tiểu đội được một lạng thuốc lá rời (lấy gạo vào dân đổi) cùng nhau liên hoan đón mừng năm mới, năm 1967. Mừng đón năm mới nhưng cấm hát hò, vẫn phải lặng yên giữ bí mật.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Năm, 2023, 07:56:13 am
Cái tết dương lịch đầu tiên của những người lính trẻ xa nhà. Mọi người hạ ba lô, tìm gốc cây mát ngả lưng ngồi. Tiểu đội cử người vào bản đổi thuốc lá, xuống suối lấy nước. Thế là cùng nhau quây lại vừa ăn gạo rang, vừa hút thuốc, uống nước, âm thầm liên hoan mừng năm mới.


Trên nét mặt từng người hiện lên nỗi buồn nhớ nhà, nhớ quê nhưng trong lòng khí thế tiến quân vào chiến trường vẫn ngùn ngụt trào dâng. Và rất vui vì đã trải qua một chặng đường dài thành công, chưa tổn thất hy sinh mất mát.


Đi trên đất Lào khoảng hơn mười ngày là chúng tôi lại trở về đất Việt - tới Tây Nguyên. Chặng hành quân này có lúc băng qua hoặc đi dọc quốc lộ 9 nối liền hai nước Việt Nam - Lào.

Như vậy là Đoàn 741 đã đặt chân lên đất miền Nam thân yêu. Nhưng mới là Kon Tum, Gia Lai, chưa phải đích cuối cùng. Đồng bào miền Nam, rừng dừa, cánh đồng của vựa lúa mênh mông, Sài Gòn hoa lệ vẫn còn chờ, vẫy gọi chúng tôi ở phía trước.


Hành quân trên đất Tây Nguyên khác hẳn trên đất Lào. Trên đường thường xuyên gặp quân giải phóng mặc quần áo bà ba, đội mũ tai bèo, gặp nhau là vẫy chào, không khí rộn ràng hẳn lên. Tiếng bom đạn râm ran suốt ngày đêm, trên trời máy bay trực thăng, phản lực liên tục gầm rú bắn phá. Dưới mặt đất xuất hiện nhiều biệt kích và mìn gài dọc đường mòn.


Toàn đoàn nghỉ một ngày để học tập chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và các quy định của quân giải phóng.

Kể từ nay chúng tôi mặc quần áo bà ba, đội mũ tai bèo. Đơn vị cũng được quán triệt về tình hình địch và các yêu cầu đặt ra trong thời kỳ hành quân mới, luôn cảnh giác cao độ.

Sẵn sàng tinh thần vừa hành quân vừa chiến đấu. Vũ khí trang bị được bổ sung thêm đầy đủ. Nhiệm vụ đơn vị chưa phải tìm địch diệt, mà vòng tránh để kịp đến đích cuối cùng mà cấp trên giao. Tuy nhiên, nếu cần vẫn chiến đấu mở đường để tiến lên phía trước.


Đơn vị đã lác đác có người bị bệnh sốt rét khi đi qua sân bay Bù Gia Mập (gần như bị bỏ hoang) gần trạm T41, phía nam Tây Nguyên.

Đêm nay đơn vị nghỉ tại trạm T41 vì bộ đội sốt rét tràn lan nhiều quá. Tôi vừa đặt ba lô xuống đất là mắc võng nằm ngay. Người bị sốt rét run cầm cập, bên trong lạnh thấu xương, đồng thời khát nước vô cùng.


Mấy anh em cùng tiểu đội và cũng là cùng quê lao đến giúp đỡ tôi căng bạt, xếp ba lô. Tôi run lên rung cả võng và hét rất to:

- Nấu nước lá tre đi Đức, Phao ơi! Tao khát gần chết rồi (không hiểu sao tôi thèm nước lá tre đến thế!).

Thế là mấy đứa nấu khẩn cấp một nồi nước lá tre cho tôi uống. Nồi nước vừa nguội là tôi bật dậy lấy bát sắt múc uống liên tục cạn hết cả nồi nước uống hết nồi nước là tôi lên võng nằm vật ra bất tỉnh.

Sáng sớm hôm sau tiểu đội phải khiêng cáng tôi vào trạm xá T41 cấp cứu.

Vào trạm xá tôi không biết gì hết! Gần như bị điên, cởi sạch quân áo vứt đi, chạy khắp rừng, cả tuần liền sốt rất cao. Ở trạm xá đa số là con gái Tây Nguyên làm y tá, hộ lý đã chạy đuổi theo tôi trói lại đưa về giường, lán điều trị. Người ta cho uống một bát gì đó mát lạnh sau đó tôi ngủ thiếp đi. Tỉnh dậy tôi nghe thằng Đức nói:

- Em cũng bị sốt rét nhưng nhẹ và thường thôi! Còn anh là sốt nặng, bác sĩ nói là sốt rét ác tính đấy!

Tôi hỏi:

- Thế đơn vị và anh em cùng làng đâu rồi?

Thằng Đức trả lời:

- Ông Trác, Phao, Hào, Quảng cùng đơn vị hành quân đi tiếp rồi!

- Vậy là anh em mình phải ở lại, không theo đơn vị à?

- Anh và em vẫn còn sốt, nhất là anh bị sốt ác tính, đầu rụng hết tóc rồi kìa! Sao mà đi được, phái ở lại điều trị thêm ít ngày nữa, sau đó đi thu dung.

Đi thu dung là những người bị ốm không theo đơn vị được, phải nằm viện, sau khi hết bệnh, trạm sẽ tổ chức gom lại khoảng vài chục người đi theo đoàn nhỏ.

Một buổi sáng tôi dậy sớm xuống suối rửa mặt, khi đứng dậy mắt cứ mờ dần, thấy hơi sốt sốt trong mắt, mọi người đưa tôi đi gặp bác sĩ, tôi lo sợ khóc ầm lên. Sau khi khám, bác sĩ kết luận mắt tôi bị nhiễm độc.


Toàn trạm xá và các đơn vị xung quanh được lệnh báo động, cảnh giác phòng nhiễm độc nước suối. Còn tôi mắt đã không nhìn thấy chữ và đường đi. Ngày nào bác sĩ cũng cho thuốc nhỏ, rửa mắt, đồng thời phát dầu cá cho tôi ăn.


Một tuần sau không còn sót, đau nhưng tôi không nhìn thấy đường. Thằng Đức nó quyết định dắt tôi đi thu dung để hành quân vào đích cuối cùng. Vậy là anh em tôi rời trạm T41 lên đường đi tiếp. Tôi may mắn có thằng em họ, đồng cam cộng khổ, giúp đỡ tôi trong suốt chặng đường còn lại. Cuộc đời đi thu dung như bầy én bị lạc đàn, hồi hộp lo lắng, tuy được ưu tiên không phải mang vác súng đạn, nhưng vì sức còn yếu nên đi chậm và gặp nhiều khó khăn. Anh em chủ động bảo nhau lo trên dọc đường đi, độc lập về mọi mặt, tốp năm, tốp ba, trông nhếch nhác và lếch thếch lắm.
Nhờ có giao liên phụ trách tận tình nên khoảng hơn một tháng chúng tôi đến trạm K9.


Trạm K9 là trạm tập kết cuối cùng ở B2 (miền Đông Nam Bộ) thuộc tỉnh Tây Ninh, nằm sát thượng nguồn sông Sài Gòn. Rừng chủ yếu là cây le, tre và cây buông. Cây le giống như cây trúc nhưng rất dài, cây buông rất to, đường kính thân khoảng 50cm, lá giống lá cọ nhưng to gần bằng cái nong. Quân giải phóng thường chặt lá buông để lợp nhà, còn gốc buông là nơi chắn bom, pháo rất tốt.


Đến trạm K9 sức khỏe tôi khá nhiều, tuy mắt vẫn mờ nhưng hồng hào, nhanh nhẹn hẳn ra. Còn thằng Đức nó lại suy sụp, ngày nào cũng sốt, không dậy được, cứ ngủ li bì trên võng.

Ăn uống ở trạm khá tốt, thịt rau đầy đủ, mọi người thay nhau giúp đỡ anh nuôi hái măng, chặt củi để chờ ngày bổ sung đi chiến trường. Đoàn xung kích 1, do vợ chồng ca sĩ Tô Lan Phương làm nòng cốt đã đến phục vụ cán bộ, chiến sĩ mới ở miền Bắc vô. Tôi nhớ mãi bài ca vọng cổ: "Bài ca Đồng Tháp gửi anh chiến sĩ giải phóng quân". Một bài hát có sức lôi cuốn, động viên mãnh liệt, rất hợp với hoàn cảnh của chúng tôi lúc đó: "Thương các anh, đường xa mang nặng, đói cơm thiếu muối, gặp quân thù anh chắng sợ hy sinh, thề quyết chiến đến thắng lợi cuối cùng" và "Gặp nhau đây ta nhớ nhau nhiều, mai anh ra chiến trường có tiếng hát của em theo".


Bài hát này tôi đã phải đi tìm 47 năm mới thấy và được nghe lại, nó vẫn ngọt ngào và tha thiết biết bao, gợi lại cho mình chặng đường gian lao nhưng đầy kiêu hãnh.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:47:11 am
Người chiến sĩ giải phóng quân - Xuân 1968

Trong thời gian nằm ở trạm K9, Tây Ninh đang diễn ra một trận càn Gian-xơn Xi-ty lớn nhất từ trước đến nay, nhằm tiêu diệt Trung ương Cục, cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam.

Với một lực lượng 45.000 quân Mỹ, 1.300 xe thiết giáp, 162 máy bay ném bom, 300 máy bay lên thẳng 67 máy bay vận tải và trinh sát, 306 pháo đại bác.

Phía ta có: 16.000 tay súng mà nòng cốt là Sư đoàn 9 chủ lực, lúc đó ta đã có pháo cao xạ 12,7 ly, cối 82 ly, B40, B41 dưới sự chỉ huy của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Địch dùng B52 rải thảm bom napan, chất độc làm trụi lá rừng Dương Minh Châu.

Sau 53 ngày đêm (từ 22-2 đến 15-4-1967) kiên cường dũng cảm chiến đấu, địch đã thiệt hại nặng nề, phải rút lui và kết thúc trận càn. Cơ quan đầu não của Trung ương Cục và Giải phóng quân vẫn an toàn.


Kết quả ta đã diệt 7.614 tên địch, bắn cháy 558 xe tăng, xe quân sự các loại, phá hủy và thu 109 đại bác, bắn rơi 42 máy bay. Đây là thất bại trực tiếp, nặng nề nhất, làm rung chuyển nước Mỹ.

Vào một buổi sáng trung tuần tháng 3 năm 1967, có đơn vị cử cán bộ đến nhận quân bổ sung. Anh em chúng tôi vẫn ngồi trên võng để nghe trạm trưởng K9 và đồng chí cán bộ phát biểu quán triệt tinh thần bộ đội.

Đồng chí cán bộ nói:

- Xin chào các đồng chí! Các đồng chí đã dũng cảm vượt qua bao gian lao vất vả để vô với đồng bào và Quân giải phóng miền Nam. Đồng bào, quân giải phóng chúc mừng các đồng chí. Bây giờ có một nhiệm vụ "đặc biệt" chúng tôi cần tinh thần xung phong của năm đồng chí! Yêu cầu phải có sức khỏe, trình độ văn hóa, có quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.


Nhìn vào đoàn thu dung còn ốm yếu, mệt mỏi thấy có sáu người xung phong đứng dậy trong đó có tôi. Số còn lại đang bị sốt rét chưa đứng dậy được.

Đồng chí cán bộ đến gặp sáu người, nói chuyện và phỏng vấn. Cuối cùng có ba người được công nhận đủ tiêu chuẩn đi làm nhiệm vụ "đặc biệt" gồm hai người ở Hà Tây và tôi.

Tôi mừng lắm nhưng cũng rất buồn vì phải chia tay thằng Đức, người anh em gắn bó bấy lâu nay. Tôi tới chỗ võng thằng Đức đang nằm nói:

- Suốt chặng đường gian lao, khổ cực, hàng ngàn cây số sống chết có nhau, giờ đây người đi, người ở, anh đi không đành. Nhưng hiện anh đã khỏe, không xung phong đi không được.

Đức nghẹn ngào nói:

- Em vừa hết sốt, vẫn phải ăn cháo, đi còn run chưa theo anh được anh à!

Tôi ngồi xuống võng vỗ vai Đức:

- Vậy anh đi trước xem thế nào! Sau đó quay lại đón em nhé! Nhưng em phải cố gắng ăn uống, dậy đi lại, tập cho nhanh khỏe đấy!

Thế là anh em lăn tăn nước mắt chia tay nhau.

Tôi khoác ba lô cùng hai người nữa đi theo anh cán bộ nhận nhiệm vụ "đặc biệt". Đi loanh quanh qua mấy con suối cạn và khu rừng là đã đến nơi.

Tôi nghĩ bụng và xì xào với hai anh em đi cùng:

- Sao đi nhanh quá vậy, mười lăm phút đã tới rồi! Chả nhẽ đây là nhiệm vụ "đặc biệt" sao?

Đồng chí cán bộ nói:

- Tới nơi rồi các đồng chí à!

Rồi đồng chí ấy dẫn ba anh em vào một căn nhà lá buông chỉ:

- Đây là nhà và hầm ở của các đồng chí! Mọi người tranh thủ sửa sang, vệ sinh, nạo vét hầm cho sạch sẽ.

Sau khi chúng tôi xếp ba lô xong, đồng chí dẫn ba người đi tiếp 50 mét tới căn nhà to và rộng lợp bằng lá trung quân1 (Lá trung quân là loại lá cây rừng to bằng nửa lá bàng nhưng hơi dài, quân giải phóng gập và đan gài thành từng tấm dài 2 mét để lợp nhà, nó không cháy được) - trong nhà có bốn, năm người nói:

- Đây là đồng chí Nguyễn Chí Trung, tôi giao ba người này cho đồng chí để sử dụng.

Tôi mạnh dạn hỏi:

- Thế còn đồng chí là...

Anh Trung nói luôn:

- Đây là đồng chí Ba Thuật, phó ban quân nhu Đoàn 85, Cục Hậu cần miền Nam.

Sau thời gian tìm hiểu tôi được biết: chỗ chúng tôi đang làm việc là Ban quân nhu Đoàn 85, vừa mới được thành lập sau trận càn Gian-xơn Xi-ty. Anh Trung là trợ lý quân nhu tổng hợp, người phụ trách trực tiếp chúng tôi.


Ngày hôm sau ba người được anh Trung thử việc. Mỗi người được giao một quyển sổ 100 trang, một cây bút bi, thước và mấy tờ giấy trắng. Chúng tôi được viết lý lịch tự truyện, muốn viết gì thì viết, đồng thời kẻ mỗi người một mẫu biểu theo hướng dẫn. Sau khi xem "bài thử việc" của mọi người, đồng chí ấy khen tôi:

- Đồng chí Dương viết chữ khôn và đẹp, mẫu biểu vuông vắn, chữ số viết chuẩn dễ đọc.

Vậy là chỉ một mình tôi được ở lại Ban quân nhu làm thống kê, còn hai đồng chí kia chuyển đi đơn vị khác.

Tôi thầm nghĩ chả lẽ đây là nhiệm vụ "đặc biệt" sao? Và tôi không ngờ rằng nhiệm vụ này nó đã theo tôi suốt những năm tháng dài đằng đẵng.

Anh Nguyễn Chí Trung hơn tôi sáu tuổi, quê ở xóm Ao Gừa, ấp Đông Nhì, xã Tân Thanh, quận Cần Đước, tỉnh Long An. Tính tình anh nhân hậu, mềm mỏng, ở gần anh tôi học được rất nhiều điều.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:48:10 am
Về Ban quân nhu được một thời gian, tôi sốt rét trở lại, người xanh xao, yếu đi, mắt lại mờ nữa. Công việc chuyên môn chưa làm được gì, anh Trung bảo tôi hàng ngày đi hái măng, kiếm củi, xách nước giúp anh nuôi. Cách nhà tôi và anh Trung đang ở có một tổ may đo quần áo cho cán bộ, do chị Tư Điệp phụ trách, trong tổ có anh Huỳnh Văn Lợi, anh A và hai người nữa.


Hàng ngày lấy măng hay đi qua tổ may đo, mọi người thấy tôi trẻ (mới 19 tuổi), ốm yếu cứ nhìn theo xì xầm với nhau, tôi nghe lỏm được:

- Thằng này trông xanh xao quá, cứ sốt, ra vào bệnh viện hoài thế này liệu có qua khỏi không đây!

Vừa đi vừa nghe mà tôi thấy rờn rợn.

Sau đó tôi lại nhập viện K70, gần cầu 48, thượng nguồn sông Sài Gòn. Ở bệnh viện tôi vẫn sốt rét liên miên, rụng gần hết tóc, chị bác sĩ Phù Dung hay đến tiêm thuốc và động viên tôi, chị rất tốt, vui tính chăm sóc tôi như em út trong nhà.


Suốt cả năm 1967 tôi chẳng làm được gì cả, liên tục ra rồi vào viện.

Ở ngoài kia quân giải phóng đang tiến công địch dồn dập khắp nơi, chiến thắng liên tiếp bay về. Tôi sốt ruột quá mong cho mình khỏe mạnh, nhanh khỏi bệnh để đóng góp cho sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam. Trong khi đó thời gian đã trôi nhanh, năm 1967 sắp đi qua rồi!


Tôi vừa xuất viện về tới đơn vị thì thấy tình hình có gì đó đang chuyến biến lớn, không khí nhộn nhịp khác thường, thủ trưởng Ba Thuật họp Ban quân nhu phổ biến, quán triệt tình hình nhiệm vụ mới!

Sau cuộc họp cả đơn vị chuẩn bị di chuyển. Anh Nguyễn Tự Cử được phân công ở lại căn cứ cùng với tôi. Trong lúc tất bật lo nhiều việc, thì anh Trung gọi:

- Dương ơi! Cậu có điện thoại ai gọi nè!

Tôi giật mình ngỡ ngàng, hồi hộp không biết ở đây còn có ai gọi mình nhỉ? Tay cầm điện thoại mà cứ run cầm cập - Từ bé đến giờ có được cầm điện thoại bao giờ đâu?

Đầu bên kia gọi:

- Có phải anh Dương ở Ngọc Uyên không? Em là Phao ở Ngọc Uyên đây!

Tôi mừng quýnh reo ầm lên:

- Mày là Phao hả, đang ở đâu vậy?

- Em đang ở tổ thông tin thuộc Ban tham mưu của Đoàn 85 đây!

- Vậy đến gặp anh đi, anh đang ở Ban quân nhu Đoàn 85 nè!

- Em chỉ gọi điện thăm anh được thôi, bây giờ bận lắm, không có thời gian đến gặp anh được, hẹn lúc khác.

Thế là chúng tôi chào nhau, hẹn gặp lại.

Sau gọi điện thoại tôi mừng quá! Cảm nhận tình cảm quê hương đang rất gần gũi quanh đây! Nhưng vẫn thắc mắc sao nó biết được tôi về đây chứ! Đơn vị đã hành quân di chuyển bằng xe đạp thồ và xe tải GMC. Đoàn xe và người cứ xa dần mà tôi cũng chưa biết họ đi về đâu?


Anh Nguyễn Tự Cử và tôi được phân công ở lại trông căn cứ và kho bột ngọt của đơn vị. Cả khu rừng rộng lớn mà chỉ có hai người thật là buồn vắng. Anh Cử tâm sự cho tôi biết: Đoàn Hậu cần 85 có quyết định giải thể để thành lập Đoàn hậu cần 50, vẫn trên cơ sở đoàn cũ, nhưng quy mô rộng lớn hơn, Đoàn bộ được bố trí gần đồng bằng. Theo anh Cử phán đoán thì từ đây tới đó khoảng tám giờ đi xe đạp. Kho bột ngọt chỉ còn năm tấn, nếu cấp phát hết thì anh em tôi rút đi theo đơn vị luôn.


Vào một ngày cuối mùa mưa năm 1967, sau khi nghe điện thoại xong, anh Cử quay lại nói với tôi:

- Anh em mình chuẩn bị tư trang để đi theo đơn vị.

Tôi hỏi anh:

- Thế còn bột ngọt thì sao?

Anh Cử nói:

- Sẽ có đơn vị đến nhận theo phiếu cấp phát của Ban quân nhu.

Khoảng ba mươi phút sau đã có đơn vị cầm phiếu đến nhận hết bột ngọt. Vậy là hai anh em tôi khoác ba lô, lấy xe đạp chở nhau lên đường. Anh Cử khỏe nên chở tôi, mỗi người khoác theo hai tiểu liên AK. Lúc đó là 10 giờ sáng.


Chiếc xe đạp thồ Đại Ngạch chạy lọc cọc, lúc thì bon bon trên đường mòn phẳng lỳ, lúc thì chạy trên đường o tô toàn đất đá và nước vũng vãnh


Xe đạp thồ Đại Ngạch là loại xe được nhập khẩu ở Campuchia, đưa qua biên giới, nó được đặt hàng của một hãng sản xuất ở Pháp, nên rất tốt. Gác-ba-ga to khung gia cố thêm hai cọc thép rất cứng, chuyên dùng để thồ gạo, vũ khí, đạn dược.


Chiếc xe lao lên, lao xuống, băng qua những triền đồi tháp thoai thoải, hai bên là những trảng thưa trống vắng. Cỏ gặp mưa xuống mọc xanh rì. Tình hình khá yên tĩnh, rất ít máy bay, gần như không có tiếng bom, pháo. Hai anh em đi qua các địa danh của quân giải phóng theo anh Cử giới thiệu:

- Đồi Tư Dư (kho Tư Dư).

- Cầu 48, đồi Năm Bích (kho Năm Bích).

Tôi chỉ ngồi sau mà cùng mệt, đau cả lưng nữa, còn anh thì ướt đẫm mồ hôi ra áo. Hai người dừng xe nghỉ ngơi uống nước. Tôi ngồi tựa vào gốc cây nuốt từng ngụm nước ở bi đông mà đầu óc miên man nghĩ về căn cứ và đơn vị mới! Nghĩ về anh Cử đang ngồi trước mặt, anh lớn tuổi hơn nên dày dạn, từng trải, chỗ nào anh cũng biết. Anh người đậm, thấp, da trắng, rất đẹp trai và khỏe mạnh. Tôi ước gì được khỏe mạnh như anh, để xông xáo, lao vào nhiệm vụ mà đơn vị đang cần.


Hai anh em đứng dậy lên xe đi tiếp, đường đi bằng phẳng và dễ dàng hơn trước nhiều, đi qua toàn rừng thưa trảng trống... Đến tối mịt thì đã đến đơn vị mới.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:49:45 am
Tối hôm đó, hai anh em ngủ ở Ban quân nhu Đoàn 50, Cục Hậu cần Miền. Nhưng cũng chẳng ngủ được, chỉ mong trời sáng xem đơn vị mới thế nào? Bảy giờ sáng họp đơn vị để nghe trưởng ban quán triệt tình hình và phân công nhiệm vụ. Tôi được tạm phân công phụ việc chị nuôi, vì mới hết sốt người còn yếu.


Qua cuộc họp tôi được biết công tác tổ chức như sau:

- Trưởng ban: đồng chí Nguyễn Văn Bảo.

- Phó ban: đồng chí Ba Thuật (quê Bến Tre).

Có bốn tổ: quân lương, quân trang, cấp dưỡng may đo.

Các trợ lý đầu ngành gồm: anh Trung, anh Nhật, anh Cử, anh Vọng... quân số khoảng 40 người.

Một tuần sau, đồng chí trưởng ban gọi tôi lên bàn làm việc hỏi:

- Đồng chí quê ở đâu?

- Dạ tôi quê ở Ngọc Uyên, Ngọc Châu, Nam Sách, Hải Dương.

- Thế à!

Đồng chí vê vê điếu thuốc lá, bật lửa châm hút rồi cười:

- Vậy đồng hương với tôi rồi đấy! Tôi quê ở Gia Lộc, Hải Dương.

Tôi mừng quá, ớ giữa miền Nam mênh mông này mà lại có người thủ trưởng là đồng hương, thì không vui sao được!

Đồng chí trưởng ban nói tiếp:

- Đồng chí cố gắng rèn luyện nâng cao sức khỏe, nay mai tôi sẽ bố trí nhiệm vụ mới!

- Dạ, vâng! Thưa thủ trưởng!

Tết Mậu Thân 1968 đã đến, mấy anh em ngồi trước đài radio để đón giao thừa và nghe thơ xuân chúc Tết của Bác Hồ:

   "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
   Thắng lợi tin vui khắp nước nhà.
   Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
   Tiến lên!
   Toàn thắng ắt về ta!"
1 (Thơ chúc mừng năm mới - Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12. H.2002, Nxb Chính trị quốc gia, tr.327).


Tiếng pháo giao thừa nổ giòn trên đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, đồng thời cũng là tiếng súng đồng loạt khắp miền Nam, tổng tấn công Mỹ - ngụy.

Tổng tấn công và nổi dậy trên khắp miền Nam, đúng như thơ xuân của Bác. Bọn Mỹ - ngụy đã bất ngờ và choáng váng, quân ta tấn công dồn dập, đồng loạt vào trung tâm đầu não của địch ớ Sài Gòn và các thành phố lớn.


Ngay sau giao thừa, toàn Ban quân nhu đã ra quân phục vụ bộ đội ở chiến trường. Tôi được phân công cùng với ba nữ Việt kiểu ở Campuchia mới nhập ngũ đi đón thương binh từ Sài Gòn chuyển về.

Tôi và mấy chị em vui quá hăng hái chuẩn bị lên đường.

Không ngờ rằng bài thơ xuân của Bác Hồ lập tức đã trở thành mệnh lệnh tổng tấn công và nổi dậy của quân dân miền Nam.

Suốt cả năm 1968, quân và dân miền Nam liên tục tiến công, quân Mỹ - ngụy đã rơi vào thế bị động chống đỡ, bất ngờ và lúng túng. Địch hoang mang, đứng trước nguy cơ thất bại chiến lược.

Về phía ta tuy tấn công mạnh mẽ, nhưng trải rộng, quân tiếp viện đến chậm, nên cũng bị thương vong nhiều. Đêm nào chúng tôi cũng đón cả trăm thương binh ở Nha Thức (hướng đi Bến Cát, Thủ Dầu Một).


Nhiệm vụ của tổ phục vụ là pha đường, sữa đón đường các anh đi qua (khiêng bằng võng cáng xe đạp thồ) cho các anh uống mỗi người một bát đường sữa để lại sức. Mấy tổ quân y thì chăm sóc, băng bó lại các vết thương đã bị bung, rơi băng gạc.


Việc đón, chăm sóc thương binh diễn ra hoàn toàn vào ban đêm, trên đường về chiến khu để có điều kiện chữa trị.

Trời vừa tối thì tôi nhận được lệnh phải về ngay đơn vị. Đúng ra là phải có người dẫn đường, nhưng chờ thì chậm, nên tôi quyết định khoác súng AK cắt đường rừng thẳng hướng về Ban quân nhu ngay trong đêm. Tôi không dám đi theo đường mòn vì sợ có biệt kích và mìn gài. Đi suốt đêm đến gần sáng thì về tới đơn vị, rất may tối hôm đó trời có trăng sáng. Cả đơn vị giật mình với hành động của tôi vì từ Nha Thức đến Ban quân nhu vừa xa, vừa có biệt kích hoạt động rất nguy hiểm.


Tôi nói:

- Có sá chi đâu, mình vừa tập cắt rừng để định hướng cho nó quen các anh à!

Đồng chí trưởng ban quân nhu khoảng 50 tuổi, người trắng trẻo, nhanh nhẹn, cao khoảng 1 mét 65, trong đơn vị vẫn thường gọi là anh Hai Bảo.

Anh Hai gọi tôi lên nói:

- Cánh Bẩy1 (Cánh Bẩy là đơn vị cấp dưới của Đoàn 50 - tương đương cấp tiểu đoàn) Đoàn 50 mới thành lập, quân số thiếu, ban điều cậu về làm thống kê, phụ giúp đồng chí Du trợ lý quân nhu cánh. Cậu cố gắng làm tốt và thường xuyên báo cáo về ban theo quy định.

Tôi hớn hở nói:

- Báo cáo thủ trưởng, em sẽ phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Ngày hôm sau tôi được liên lạc dẫn đường (đi bằng xe đạp), nhận nhiệm vụ mới! Tôi theo đồng chí liên lạc đạp băng qua K9 suốt cả ngày mới tới nơi.

Cánh Bẩy là cánh hậu cần trực thuộc Đoàn 50, phụ trách thu mua hàng hóa, lương thực, thực phẩm, tồn trữ kho tàng và tiếp nhận hàng A (hàng của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ). Các đơn vị của cánh nằm dọc bờ sông Chiêu (phía tây bắc của Đoàn 50), có nơi cắm sâu vào đất Campuchia mấy cây số.


Cánh trưởng là đồng chí Bẩy Sinh, chính trị viên đồng chí Bảy Minh (bị chột mắt), hai cánh phó là đồng chí Bảy Hiệp, Huỳnh Ảnh, tất cả đều quê ở miền Nam.

Anh Du (quê ở Long An) với tôi ở chung một nhà. Tất cả nhà ở đây đều lợp bằng lá buông, xung quanh cánh bộ toàn rừng le xen lẫn những cây buông to cao xanh mát. Ban đêm khá yên tĩnh, không có máy bay và bom pháo.


Cứ tối đến cửa khẩu ở gần cánh bộ rất nhộn nhịp. Hàng đoàn xe đạp thồ hàng hóa của dân địa phương nôi đuôi nhau chở lương thực, thực phẩm (cá khô, đậu xanh, bột ngọt, bí đỏ...) đến bán cho quân giải phóng, đây là cửa khẩu Tiểu Ngạch. Còn có một cửa khẩu nữa là cửa khẩu Đại Ngạch, chuyên tiếp nhận vũ khí của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, đi qua cảng Xihanúc Vin của Campuchia vào biên giới miền Nam (Việt Nam) mà chúng tôi phải tiếp nhận.


Hàng vũ khí đến muộn hơn, cứ khoảng hơn 10 giờ là hàng đoàn xe tải nhà lầu (10 đến 20 tấn) mang lệnh của Quốc trưởng Xihanúc chạy một mạch từ cảng về biên giới. Hàng vũ khí về là toàn bộ lực lượng tập trung bốc vác, xuống hàng khẩn trương để giải phóng xe.


Ban đêm hai cửa khẩu nhộn nhịp sôi động nhưng rất bí mật, khẩn trương. Đến sáng ra tất cả lại im lìm chỉ có rừng, cây lá và tiếng suối chảy róc rách.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:50:36 am
Ở chiến trường miền Nam, ban đêm là của ta, ban ngày là của địch. Hàng hóa về nhiều như vậy nên tôi và anh Du khá vât vả: kiểm tra, theo dõi, cấp phát, làm sổ sách mà phải làm vào ban đêm, ban ngày thì đạp xe đi nắm tình hình.


Những ngày tháng công tác ở Cánh Bẩy, tôi nhận thấy cách mạng miền Nam được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế to lớn như thế nào? Vũ khí, đạn dược ngày đêm tuôn vào như thác lũ, không phải chỉ ở Cánh Bẩy không đâu, mà còn nhiều nơi khác như thế nữa!


Các đội chế biến tiền A xuất hiện ở nhiều điểm, để đổi đô la Mỹ ra tiền chế độ Sài Gòn, tiền Campuchia. Tiền đô la ấy cũng là chuyển từ miền Bắc vào. Ở Cánh bộ Cánh Bẩy tôi có chơi thân với một người tên là Hiệp, ít hơn tôi hai tuổi, là Việt kiều ở Phnôm Pênh, mới nhập ngũ về làm phiên dịch tiếng Khơme.


Hiệp và tôi ngủ chung nhà hầm, thỉnh thoảng những buổi tối hàng chưa về, hai đứa rủ nhau ra trảng trống ngắm trăng, tâm sự. Đó là những lúc yên lành ngắn ngủi của chúng tôi.

Những ngày tiếp nhận hàng Đại Ngạch, Tiểu Ngạch, như thế này hẳn là máy bay trinh sát Mỹ để ý, chúng rè rè ở trên rất cao quần đảo. Vì vậy chúng tôi được lệnh phải ngụy trang và hết sức giữ bí mật.


Campuchia tuy là quốc gia trung lập, nhưng trong những năm kháng chiến chống Mỹ, quốc vương Xihanúc đã ngầm ủng hộ cách mạng miền Nam. Cách mạng miền Nam được sử dụng đất đai, cảng biển, giao thông để vận chuyển hàng viện trợ quốc tế.


Trên lảnh thổ đất Chùa Tháp này có một ông trùm tư bản giàu có bậc nhất, thế lực nhất, đó là ông Tư Võ. Nói đến ông tất cả các quan chức Campuchia phải xanh mặt. Không những ông cực giàu, mà còn có một đội quân lính kín (tình báo), vừa buôn bán, vừa sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù, là chỗ dựa cho cách mạng.


Thực chất là Đoàn 17 do quân giải phóng xây dựng thành một mạng lưới rộng khắp trên đất Khơme do đồng chí Tư Võ, Cục phó Cục hậu cần Miền kiêm đoàn trưởng. Ông nắm một đội quân tình báo trên đất Campuchia, có thể vận động cả bộ máy Khơme phục vụ cho cách mạng.


Nói đến đây chúng ta mới thấy con người Việt cách mạng siêu đẳng làm sao?

Tất cả những điều tôi nói ở trên không phải Mỹ - ngụy không biết gì! Chúng đang có kế hoạch đối phó. Ta cũng đang có phương án chuẩn bị. Còn tôi đang chuẩn bị sang một thời kỳ mới! Đón nhận một trận càn khốc liệt nhất trong cuộc đời giải phóng của tôi. Để triệt phá đường dây vận chuyển, tiếp tế của quân giải phóng trên đất Campuchia.


Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Mỹ đã giật dây quốc hội lật đổ quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc của Campuchia, trong lúc ông đang ở Pháp. Mỹ đã dựng lên một chế độ Xi-rích Ma-tắc thân Mỹ ở Phnom Pênh, nhằm chống phá cách mạng miền Nam Việt Nam.


Thời vận lịch sử lại sang trang, quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã hưởng ứng lời kêu gọi của quốc trưởng Xihanúc và Mặt trận dân tộc cứu quốc Campuchia (do ông sáng lập), cùng quân giải phóng Campuchia tiến hành chiến tranh chống Mỹ và chính quyền Lon Non Xi-rích Ma-tắc ở Phnôm Pênh, nhằm giải phóng Campuchia. Như vậy, lực lượng của cách mạng miền Nam tràn sang giải phóng Campuchia. Rất nhanh, vùng giải phóng được mở rộng mênh mông.


Lúc này, tỏi được chỉ huy Cánh Bẩy điều đi tiếp quản khu giải phóng mới là thị trấn Sa-Nua, phía đông bắc Campuchia. Sa-Nua nằm trên quốc lộ 7 gần biên giới với tỉnh Bình Phước của Việt Nam. Một thị trấn xinh đẹp xung quanh bạt ngàn là rừng cao su xanh biếc.


Hội Việt kiều Campuchia bố trí tôi ở nhà bà hội trưởng tại Sa-Nua. Nhiệm vụ của tôi lúc này là cùng với phía Campuchia tiếp quản các chiến lợi phẩm của chế độ cũ Lon Non Xi-rích Ma-tắc tháo chạy để lại.


Tôi được bà hội trưởng rất quý mến vì tính tình hiền lành chịu khó và dũng cảm nữa. Bà nói tôi dũng cảm vì bất kỳ chỗ nào được dẫn đi tiếp quản, dù có một mình cũng không ngần ngại. Bà tên là Hạnh, có hai cô con gái, một tên là Hiền, còn một tên là Hòa. Hai con gái bà đều trắng trẻo và xinh đẹp. Mỗi lần tôi đi công tác về được bà lo cơm nước chu đáo, các em Hiền, Hòa còn mang trái cây cho tôi ăn, mở đài đĩa cho tôi nghe. Tình cảm đó cứ thắm thiết dần lên.


Đã có lần bà Hạnh ngỏ ý bàn với anh Du (phu trách quân nhu cánh) tạo điều kiện cho tôi lấy em Hiền con gái bà. Đó là khoảng thời gian êm đềm hạnh phúc ngắn ngủi, chỉ diễn ra hơn một tháng trong cuộc đời quân giải phóng của tôi. Sau đó là một sự đảo lộn không ngờ, nhanh chóng, chiến tranh đã ập đến trên đất Chùa Tháp xinh đẹp này.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:52:42 am
Trận càn Moóc Câu, sông Chiều khói lửa

Cuối tháng 4 năm 1970, cánh trưởng và viên vừa đi họp ở Đoàn 50 về để chuẩn bị chống càn, thì bầu trời Cánh Bẩy đã đầy máy bay gầm rú. Tình hình cực kỳ nguy hiểm và khẩn trương. Ban chỉ huy cánh đã quyết định tổ chức cho đơn vị đi sơ tán theo kế hoạch của cấp trên. Việc sơ tán diễn ra ngay trong đêm, bao gồm Cánh Bộ, Trung đội Cảnh vệ, Bệnh viện, các đơn vị kho tàng, v.v...


Tôi được lãnh đạo giao nhiệm vụ ở lại căn cứ. Tổ ở lại căn cứ gồm:

1. Phạm Trùng Dương làm tổ trưởng (lúc đó là A bậc trưởng).

2. Chiến sĩ Ngư quê ở Hải Phòng.

3. Chiến sĩ Sắn quê ở Hải Phòng.

4. Chiến sĩ Đào quê Hà Bắc.

5. Chiến sĩ Hiệp quê Long An.

Trước khi dẫn Cánh Bộ đi sơ tán, lãnh đạo cánh đã quán triệt nhiệm vụ cho chúng tôi và dặn:

- Nếu có tình hình nguy cấp thì cắt rừng đi về phía tây bắc Campuchia là gặp đơn vị, đồng thời trao cho tôi một cái la bàn bỏ túi.

Sáng sớm cả tổ năm người thức dậy bắt gà nuôi trong chuồng làm thịt. Tôi và anh em đứng hàng giờ để mổ hàng chục con gà dưới bờ sông Chiêu1 (Sông Chiêu là một con suối rộng ở thượng nguồn sông Sài Gòn - đây là tên do dân và quân địa phương gọi). Đang ở dưới bờ sông thì đột nhiên pháo bắn dồn dập vào căn cứ, đất đá bắn tung tóe, cành cây đổ răng rắc.

Tôi hô to:

- Tất cả xuống hầm trú ẩn mau lên! Năm anh em xuống hầm, trên mặt đất tiếng nổ rền vang nghe choáng tai suốt 15 phút liên tục. Tiếp theo là tiếng máy bay trực thăng gầm rú, bắn phá, ném đạn cối xuống chúng tôi, căn hầm được làm rất vững chắc nhưng cũng bị chao đảo, rung chuyển. Cũng may chưa có quả bom pháo nào trúng hầm. Sau mười phút tình hình yên tĩnh đến ghê sợ. Tôi ra lệnh cho mọi người lên khỏi hầm, chuẩn bị ba lô, súng đạn di chuyển sang căn cứ dự phòng theo kế hoạch, vì căn cứ đã bị lộ.


Tôi khoác ba lô, súng đạn, dẫn mọi người chạy theo đường mòn dọc bờ sông về hướng bắc. Vừa xuống lòng suối cạn là đạn bắn như mưa cắm tung tóe trước mặt đất phía chúng tồi. Mọi người nằm rạp xuống, tôi ngước mắt lên nhìn thấy khẩu đại liên của địch thấp thoáng bên ụ mối.

Địch giương loa phóng thanh kêu gọi:

- Hỡi anh em Việt cộng, mọi người đã bị bao vây, hãy đầu hàng quân lực Việt Nam Cộng hòa về với chính nghĩa quốc gia, sẽ được khoan hồng, nếu không sẽ bị tiêu diệt.

Tôi thầm nghĩ: "Không đời nào", rất nhanh rút chốt lựu đạn khói tấn công, ném về phía địch. Tôi và mọi người bật dậy quay trở lại đường cũ, khói phía sau mù mịt, vậy là thoát.

Theo sau tôi chỉ còn hai người: Ngư và Sắn, vậy là mất hai người. Ba anh em chạy tiếp, tôi hô: "Vứt ba lô đi, chỉ giữ súng đạn thôi, thế là ba chiếc ba lô quăng xuống suối cạn để cơ động chiến đấu.

Chạy thêm mười mét thì mấy chiếc xe tăng lù lù gầm rú trước mặt, lính địch lố nhố theo sau, tay lăm lăm súng. Tôi vội nghĩ thoáng: "Vậy là mình đã bị bao vây, không có đường thoát". Bọn biệt kích xông lên, nhanh như chớp tôi và hai anh em xả đạn về phía địch, chúng lảo đảo ngã dúi và lùi lại. Ba băng đạn đã hết không kịp thay băng, tôi nhảy lao xuống sông Chiêu, hai người nhảy theo, đó là tình huống hiểm nguy vô cùng cấp bách mà anh em chúng tôi xử lý, quyết không đầu hàng và để địch bắt sống.


Cây xanh dày đặc hai bờ và nước sông Chiêu cuộn chảy đã cứu được ba chiến sĩ giải phóng thoát chết và không bị địch bắt sống. Chúng tôi cuốn theo dòng nước khoảng 300 mét thì dạt vào bờ. Mọi người cố gắng bò lên lòng con suối cạn rồi nằm vật ra thở như sắp chết.


Tôi lơ mơ hướng về căn cứ cũ bị địch chiếm mà lòng đau như cắt. Chúng bắt heo gà mổ để ăn mừng và tế sống chúng tôi. Tiếng hầm bị đánh sập, gà kêu lợn rống, tiếng chửi rủa cộng sản xen lẫn cho đến tối mới hết.


Trời tối hẳn, ba anh em chúng tôi bò lại gần nhau, sờ soạng xem có ai bị thương không mà tất cả người đau như dần thế. Tôi thì thầm với hai người:

- Tổ ta mất hai người rồi! Xung quanh ta không còn đồng đội và đơn vị nào nữa! Chắc anh em mình phải sống cuộc đời thổ phỉ thôi!

Ban đêm Mỹ - ngụy vẫn thắp đèn cưa cây làm trại và hầm pháo. Tiếng xe xích gầm rú hòa với tiếng trực thăng lên xuống phành phạch.

Bò ra mép trảng trống, dưới đèn pháo sáng địch, ba người bết máu do cành cây đâm xước, va phải đá mặt đứa nào cũng sưng vù, chỉ bị thương nhẹ phần mềm. Bụng đã đói cồn cào, cả khát nữa, nước thì ở sông suối, còn cơm thì không biết kiếm ở đâu. Tôi nói với hai người:

- Ta nghỉ thêm một lúc cho đỡ mệt, sau đó bò vào sóc xin cơm ăn!

May mắn là có ánh trăng mờ mờ dẫn lỏi nên ba anh em cắt rừng nhắm vào sóc, nhà dân. Đi khoảng ba mươi phút thấy sóc rồi! Xa xa có ánh đèn lờ mờ. Mọi người tiến đến gần một ngôi nhà, cậu Sắn biết ít tiếng Khơme đi lên phía trước. Một cô gái từ nhà sàn đi ra cầm theo ngọn đèn dầu leo lét. Cậu Sắn bước lên cầu thang nói chuyện và xin cơm cô gái, một cái gật đầu và chỉ tay xuống bếp. Đúng là nồi cơm hình như đã nấu buổi trưa, bên cạnh là hũ mắm bồ hóc (một loại mắm của người Miên) và lọ muối đen xì. Ba người ăn lót dạ cho đỡ đói rồi bảo nhau rút lui, không dám xin ngủ nhờ vì sợ biệt kích Mỹ - ngụy mò tới.


Đêm hôm đó mấy anh em ra rừng làm tổ lá để ngủ tạm, chịu đựng cho muỗi đốt đầy người.

Tranh thủ thời gian ba người lò dò đi điều tra tình hình địch, để chuẩn bị kế hoạch vượt lộ 7 vào Campuchia.

Tối hôm sau anh em ngụy trang kín người, nếu dừng lại nằm xuống phải giống hệt như một lùm cây. Tôi đi trước, Sắn và Ngư đi sau cách 5 mét theo hướng mũi tên, đến mép đường nhựa dừng lại quan sát.


Cứ 150 mét có một xe tăng chốt đường, hai phút có một xe chạy qua tuần tra, pháo sáng thì quả này vừa tắt, quả khác đã bắn vụt lên. Mục đích của địch là ngăn không cho quân giải phóng rút sang đất Miên, để chúng tiêu diệt.


Ba anh em nằm bất động quan sát chờ thời cơ. Pháo sáng vừa tắt là băng qua rất nhanh, vừa tới mép đường tất cả nằm rạp xuống thì đã có xe tăng chạy sát người hai mét, thót tim và hú vía, toát cả mồ hôi hột. Đi tiếp nữa quả thật rất khó khăn: pháo sáng vừa tắt là lao lên được chục mét, cho đến khi bỏ xa lộ khoảng hơn trăm mét thì anh em lom khom lùa có tranh để tiến lên.


Qua lộ 7 khoảng hơn cây số tôi thấy một cây gỗ dầu to trước mặt, cách 10 mét, 5 mét rồi 2 mét, thì pháo sáng lóe lên ở xa. Một thằng cao to lao vào ôm chầm lấy tôi. Hoảng hồn thoáng nghĩ: "Biệt kích địch rồi!". Chưa kịp phản ứng thì có tiếng hô to:

- Ối anh Dương ơi! Anh Dương ơi! Tý nữa là em bắn chết anh rồi!

Tôi kịp nhận ra thằng Tân, bảo vệ của thủ trưởng Cánh Bẩy. Thế là Ngư, Sắn kéo Tân ngồi xuống chụm đầu lại bốn người hội ý.

Tân nói:

- Ở phía sau còn có thủ trưởng Tư Cân, cánh trưởng cũ có lệnh chuyển công tác nhưng chưa kịp đi vì gặp càn và hai bảo vệ nữa.

Một lúc sau thủ trưởng Tư Cân đã tới, ông cao to, trạc 40 tuổi quê ở Hải Phòng cùng với hai người bảo vệ.

Ông nói:

- Tôi được chỉ huy cánh ủy nhiệm cùng anh em trở về căn cứ cũ, tìm hiểu tình hình, khi hết càn sẽ đón cánh bộ về.

Tôi kể lại địch tấn công căn cứ như thế nào? Chúng tôi thoát chết ra sao?

Thủ trưởng Tư Cân nói:

- Như vậy là may mắn lắm rồi! Cánh bộ từ khi sang đất Campuchia vì có đàn bà trẻ con, thương binh nên biệt kích phát hiện bao vây các phía, thương vong nhiều lắm!

Ông kể gần 30 bảo vệ bây giờ chỉ còn 10 người. Đi lấy gạo, nước là hy sinh do bắn nhau với biệt kích. Cuộc sống gian khổ gần tháng nay. Mỗi người chỉ có ba lạng gạo một ngày. Thực phẩm khan hiếm, nấu cơm ăn cực kỳ khó khăn.

Trầm ngâm, ông nói tiếp:

- Cánh bộ ở cách đây khoảng hơn ngày đường đi bộ về phía tây bắc. Bây giờ ta quay lại thì lại bị thương vong thôi. Tôi và anh em phải quay về cứ cũ để nắm tình hình rồi quyết định.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:54:25 am
Đội ngũ tập hợp lại tổng số là bảy người do anh Tư Cân chỉ huy, chia làm hai tổ.

Tổ đi đầu tôi làm tổ trưởng vì đã thạo đường về, đi tiên phong. Tổ thứ hai bốn người do đồng chí Tư Cân chỉ huy.

Cắt rừng về, đoàn đi chệch đường cũ khoảng 100 mét, tình hình có vẻ như yên tĩnh, hình như địch đã rút. Khoảng 11 giờ đêm, chúng tôi vượt lộ 7 dễ dàng, để tiến tới sông Chiêu. Bảy người lội qua sông, nước đến ngang ngực (phải cởi quần áo). Tình hình khá yên tĩnh, mọi người mặc quần áo, trèo lên bờ.


Ầm ầm như sét đánh mang tai trút vào căn cứ. Ông Tư Cân hô:

- Tìm hầm trú ẩn! Tôi, Ngư, Sắn, ba người lao xuống căn hầm cũ, mọi người xuống theo.

Thủ trưởng Tư Cân nhận định:

Như vậy là địch đã gài máy ghi âm sau khi chúng đã rút đi.

Pháo bắn dồn dập trên đầu chúng tôi suốt mười phút đồng hồ thì dừng hẳn. Lúc này mới có thời gian ngửi thấy nồng nặc hôi thối.

- Trời ơi! Xác người chết thối quá thủ trưởng ơi! - Tôi kêu lên.

Ông Tư Cân soi đèn pin thấy một thi thể người chiến sĩ giải phóng quân. Mọi người vượt lên miệng hầm. Thằng Ngư nói:

- Thằng Hiệp bị chết cháy đó!

Như vậy là đã rõ, Hiệp trong tổ ở lại cứ, quê ở Long An, kỳ trước bị bom pháo, nó không chạy theo chúng tôi mà vẫn ở lại trong hầm. Khi địch chiếm cứ đà ném lựu đạn cháy nên chết đen thui trong hầm.


Mấy anh em thương xót, nhẹ nhàng hót cát ở bờ sông để mai táng đồng đội tại hầm, vì không có cách nào khác hơn.

Thủ trưởng Tư Cân nói khẽ với mọi người:

Chúng ta bây giờ đi sát mép nước dưới lòng sông, để đến căn cứ dự phòng của cánh.

Dòng sông Chiêu chảy róc rách đưa chúng tôi đến căn cứ của cánh một cách an toàn, tránh được máy ghi âm phát hiện. Tới cứ dự phòng chúng tôi ăn tạm lương khô, uống nước suối và ngủ ngồi dưới hầm suốt đêm chờ trời sáng.


Sáng hôm sau, biệt kích Mỹ - ngụy đã đánh hơi thấy có bóng dáng quân giải phóng, nên máy bay lại quần đảo liên tục. Ông Tư Cân nhận định: địch vẫn gài biệt kích lại theo dõi Việt cộng trở lại căn cứ. Máy hay trực thăng bay rất thấp, nhất là loại "cá rô"1 (Cá rô, cá lẹp là do quân giải phóng đặt tên cho hai loại trực thăng tấn công của Mỹ. Cá rô ở tầng thấp, cá lẹp ở tầng cao), còn "cá lẹp"2 (Cá rô, cá lẹp là do quân giải phóng đặt tên cho hai loại trực thăng tấn công của Mỹ. Cá rô ở tầng thấp, cá lẹp ở tầng cao) ở trên cao hỗ trợ, chúng gầm rú bay là là sát ngọn cây. Anh em phát hiện có biệt kích đang tiến gần đến hầm và công sự của tổ tôi đang quan sát. Thủ trưởng Tư Cân cho truyền lệnh chuẩn bị chiến đấu. Địch vẫn lò dò, thận trọng đến gần, lần này không thấy xe tăng, nhưng trực thăng bay thấp bám sát hỗ trợ.


Mọi người quan sát tập trung cao độ, chờ địch đến gần thì nổ súng. Tôi, Sắn, Ngư chuẩn bị bóp cò thì thằng Tân bảo vệ thủ trưởng Tư Cân ập đến nói dứt khoát với ba người:

- Anh Dương! Thủ trưởng Tư Cân yêu cầu mọi người rút ngay để bảo toàn lực lượng vì địch rất đông, nó đang khép vòng vây, mà ta chỉ có mấy người. Nếu nổ súng bị lộ ta sẽ bị hủy diệt.

Trên đầu máy bay "bà già" quần đảo truyền loa phóng thanh:

-  Hỡi các chiến hữu Dương, Sắn, Ngư và đồng đội, tôi tên là Đào, y tá đã về với chính nghĩa quốc gia, được đối xử rất tốt. Tôi kêu gọi anh em đầu hàng quân lực Việt Nam Cộng hòa, sẽ được khoan hồng.

Tất cả mọi người giật mình, vậy là thằng Đào đã đào ngũ hay bị bắt sống? Thủ trướng Tư Cân trao đổi với chúng tôi, trong lúc máy bay trực thăng ném cối và bắn rốc-két ầm ầm, trực thăng "cá rô" xà xuống rất thấp, nó xoay trên ngọn cây, nhìn rõ giặc lái. Tôi xin được bắn "cá rô", ông Tư Cân quát:

- Cậu muốn hủy diệt đơn vị hay sao? Tôi cấm, đây là mệnh lệnh.

Bảy người đã lả đi vì chỉ ăn lương khô, gạo rang và uồng nước lã. Vừa chuẩn bị rút lui thì trên đầu tôi một tiếng vang trời, mắt tôi lồi ra một đống lửa trước mặt, hầm đã sập xuống đầu, tiếng kêu răng rắc. Tôi bị đất đá, cây đè bẹp dí, mọi người moi gỡ, xóc tôi lên trong nồng nặc khói sặc sụa. Tôi rũ xuống, đầu đau nhói, mắt rỉ máu không nhìn thấy gì. Mọi người cõng tôi rút qua sông Chiêu sang bờ bên kia để chăm sóc. Sau hai giờ tôi đã tỉnh lại. Sau khi bị sập hầm, một nửa mặt bên phải bị tê dại, tai không còn nghe được nữa.


Trời vừa xẩm tối, địch đã rút đi, tiếng máy bay thưa dần rồi hết hẳn. Ông Tư Cân nhận định đây là đợt quét cuối cùng để chấm dứt trận càn Moóc Câu của địch.

Đến 9 giờ đêm chúng tôi làm tổ lá ngủ tạm trong rừng, thủ trưởng Tư Cân mở radio nghe, rồi thông báo với các anh em:

- Theo đài BBC trận càn Moóc Câu đã kết thúc, địch đã rút hoàn toàn.

Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Tính đến nay là một tháng rồi, trận càn ác liệt vô cùng, theo BBC thì đây là trận càn lớn nhất từ trước đến nay với 10 vạn lính Mỹ, hàng ngàn xe tăng, hàng trăm máy bay các loại, kéo dài dọc tuyến biên giới vùng Moóc Câu Việt Nam - Campuchia. Sau trận càn cơ sở hậu cần của ta dọc biên giới vùng Tây Ninh, Bình Phước bị thiệt hại nặng. Nhưng vùng giải phóng được mở rất rộng, quân giải phóng có địa bàn hoạt động sang giáp đất Thái Lan.


Tình hình cách mạng lại sang một trang mới. Đoàn 50, Cánh Bẩy bị giải tán để thành lập Quân khu C20, còn Đoàn 50 chuyển thành Phòng hậu cần Quân khu, đóng ở khu vực Đầm Be trên đất Khơme.

Chúng tôi lại tiếp tục cuộc đời lính "thu dung" (gom từ Cánh Bẩy) nằm toòng teng suốt ngày trên võng để chờ bổ sung đi đơn vị mới!

Những cánh rừng cao su bạt ngàn yên tĩnh, cỏ cây thi nhau xanh tốt, vươn lên giữa mùa mưa vùng biên giới.

Lòng tôi nặng trĩu nhớ về Sa-nua, nơi có cô Hòa và hai em gái: Hiền, Hòa dễ thương xinh đẹp. Sa-nua đã bị bom Mỹ san phẳng, còn cô và hai em giờ này đang ở đâu?

Vào một ngày giữa tháng 7 năm 1970, tôi vừa ăn cơm trưa xong thì có một người tìm gọi trong số anh em thu dung:

- Ai là Phạm Trùng Dương quê ở Hải Dương?

Tôi ngồi bật dậy khỏi võng nói to:

- Dạ có! Chính tôi đây!

Một đồng chí cán bộ hông đeo súng ngắn và túi da công tác, đi đến gần hỏi:

- Có phải đồng chí là Phạm Trùng Dương quê ở Hải Dương?

- Vâng, báo cáo thủ trưởng chính là tôi!

- Đồng chí biết những ai ở Ban quân nhu Đoàn 50?

- Dạ thưa! Đồng chí Hai Bảo trưởng ban, Ba Thuật phó ban và các anh: Trung, Nhật, Cử là trợ lý!

Đồng chí cán bộ ngắm nghía, tỏ vẻ một lòng tin nói:

- Tôi tên là An, cán bộ Ban quân nhu, Phòng hậu cần Quân khu C20, mang quyết định điều động đồng chí về Ban quân nhu công tác.

Nói xong đưa quyết định cho tôi. Hai bàn tay tôi run run chìa ra đón mà lòng vui sướng vô bờ giống như "con chim non được về tổ ấm".

Đồng chí An chỉ tôi ra xe jeep (ô tô con) cùng về đơn vị.

Xe băng trên những trảng dầu, xuyên qua nhiều cánh rừng cao su rộng lớn. Đến 5 giờ chiều thì tới nơi! Tôi được về "tổ ấm", vui mừng gặp anh Hai Bảo xiết bao sung sướng cảm động, bắt tay các anh: Trung Nhật, Cử, Vọng...


Tối hôm đó tôi tận hưởng một giấc ngủ ngon lành, một giấc mơ đẹp về đơn vị trong thời gian tới!


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:55:16 am
Kết nạp vào Đảng nhân dân cách mạng miền Nam

Sáng 20 tháng 6 năm 1970, đồng chí Hai Bảo trưởng ban gọi tôi lên nhà hầm làm việc nói:

- Cậu về Ban muộn nhất, các vị trí đã được sắp xếp đầy đủ. Bây giờ còn nhiệm vụ tiếp phẩm, giúp quản lý, giao cho cậu làm tạm thời gian.

Tôi nhìn thủ trưởng rơm rớm nước mắt:

- Em được anh Hai quan tâm cho tìm về để bố trí công tác, như vậy là thương, là quý lắm rồi! Dù làm bất cứ việc gì, em sẵn sàng với quyết tâm cao nhất.

Vậy là tôi gắn bó với công tác tiếp phẩm, dưới sự chỉ dạo của Cao Minh, quản lý đời sống Ban quân nhu. Ở cùng nhà hầm với quản lý và anh nuôi tên là Mỹ. Phía tay trái là tổ may đo, bên phải là nhà y tá chị Ngọc Ánh. Đây là một khu rừng già trên đất Campuchia, gần thị trấn Đầm Be.


Cứ một tuần hai lần tôi đạp xe đạp vượt qua sông Salon1 (Sông Salon là nhánh của sông Mê Kông, thị trấn Salon nằm sát sông Mê Kông, nằm sâu trong đất Campuchia) đến thị trấn (Salon) để mua thực phẩm và nhu yếu phẩm cho Ban quân nhu (khoảng 50 người). Dạo đó quân giải phóng mỗi người được cấp phụ cấp, tuy ít ỏi, nhưng đủ mua lặt vặt như kem, bàn chải đánh răng, xà bông, thuốc lá... (tiền được cấp là tiền riel Campuchia).


Bảy giờ sáng vào trung tuần tháng 10 năm 1970 tôi cùng anh Cao Minh, hai người hai xe đạp đến Salon mua hàng. Chiếc cầu gỗ bắc qua sông Salon đã bị máy bay Mỹ bắn cháy, gãy sập nên mới có địa danh là cầu Cháy. Hai người xuống phà tre kéo dây song để qua bờ bên kia (sông rộng khoảng 50 mét). Vừa tới giữa sông thì một máy bay "bà già" phát hiện sà thấp bắn đại liên xối xả. Hoảng quá hai người lao xuống sông bám mép bè tre tránh đạn. Thật may mắn bè tre đã được ngụy trang nhiều lớp bèo trang xanh mướt bị đạn trôi lềnh bềnh nên địch tưởng bọn tôi đã chết. Chiếc "bà già" bỏ đi, Cao Minh và tôi tiếp tục kéo bè sang sông leo lên bờ quần áo ướt sũng. Hai người đạp xe đi tiếp dưới nắng, gió nên một giờ sau quần áo đã tạm khô.


Chúng tôi đến chợ mua đầy hai xe hàng về đơn vị, người mệt toát mồ hôi, nằm vật ra. Cả Ban kéo đến hỏi thăm. Sau khi nghe câu chuyện thoát chết do Cao Minh kể, anh Hai Bảo nói: lần sau các cậu qua sông phải tính toán đi vào ban đêm mới an toàn được, tuyệt đối không đi vào ban ngày.


Thời gian trôi qua sáu tháng, tôi được bố trí làm thống kê tổ quân trang. Anh Mỹ thay tôi và bàn giao công việc nấu cơm cho hai nữ Việt kiều gốc Hoa tên là Tiểu Linh, Sèo Hỏa.

Tổ quân trang do anh A Sử quê Bến Tre làm tổ trưởng, anh Hiệp, anh Cử làm trợ lý cùng hai nhân viên nữa.

Nhiệm vụ chính của tôi là thanh toán nguyên liệu của xưởng may, quyết toán cấp phát quân trang với các đơn vị thuộc quân giải phóng.

Thời gian này do gặp khó khăn khan hiếm về thực phẩm, nên trưởng ban đã cử anh Tư Bình cùng tôi đi mổ cá phơi khô ở bờ sông Mê Kông.

Sông Mê Kông đoạn gần Biển Hồ có làng chài Việt kiều Khơme sống rất đông đúc. Họ làm nhà sàn sát bờ, hàng đoàn thuyền đậu dày đặc dưới mép nước.

Sau một tháng trời được bà con làng chài giúp đỡ hai anh em đã mổ, phơi khô hàng trăm kilôgam cá mang về cho đơn vị.

Sau một năm trở lại Ban quân nhu công tác, tôi luôn vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, phân đấu hoàn vụ được giao. Bản thân không tơ hào đến cám dỗ của vật chất, trung thực trong nhiệm vụ và đã trở thành cảm tình Đảng của chi bộ.


Vào ngày 21 tháng 7 năm 1971, tôi đã vinh dự được kết nạp vào Đảng nhân dân Cách mạng miền Nam, sau chín tháng được công nhận là đảng viên chính thức (21-4-1972).

Trong quyển nhật ký viết lại sau khi bị mất vì trận càn Moóc Câu, tôi cùng ghi người giới thiệu cho mình vào Đảng là Nguyễn Tự Cử (quê Hà Tây) và A Sử quê Bến Tre. Người ký quyết định kết nạp Đảng là đồng chí Lê Thiệu, Bí thư Đảng ủy khối quân nhu. Hiện quyết định vẫn được lưu giữ đến hôm nay. Cũng năm đó tôi được đề bạt trung đội bậc phó do thủ trưởng Đỗ Khắc Dy ký. Dù có muộn màn so với quá trình phấn đấu, trải qua nhiều khó khăn ác liệt nhưng dù sao cũng là bước khắc dấu, sang trang của cuộc đời giải phóng quân.


Tháng 5 năm 1972, anh Cử và tôi cùng một số anh em được cử đi thồ gạo về cho đơn vị. Việc lấy gạo phải đi qua một trảng trống rất rộng, khu vực Đầm Be Campuchia. Đoàn thồ vừa tới giữa trảng thì bị trực thăng phát hiện lao tới bắn dữ dội. Mọi người bỏ xe gạo chạy dạt vào nấp ở hai bên đường. Trực thăng sà xuống thấp ném cối và bắn đại liên. Anh Cử và tôi nằm dán vào một ụ mối. Một quả cối nổ choáng tai cách hai người bốn mét ở bên kia ụ, đất cày lên phủ đầy hai anh em. Biết mình đã bị lộ, trực thăng vòng lại bám theo. Tôi và anh Cử chạy tiếp lao vào một lùm cỏ xanh trước mặt. Trời ơi! Tôi thụt luôn xuống một cái giếng cũ của dân địa phương, giếng sâu khoảng 2 mét, nước ngập ngang hông. Anh Cử nhảy trùm lên đầu tôi, ếch nhái, cả rắn nữa quân lấy hai người, rùng rợn quá! Trực thăng vẫn phành phạch trên đầu, nên cắn răng chờ đợi. Thấy chúng tôi mất hút, hai trực thăng là là bỏ đi, trời vừa xẩm tối, hai anh em công kênh bò lên khỏi mặt giếng, dìu nhau ra đường tìm xe gạo. Người tôi, nhất là cổ đau như dần vì cú nhảy lên đầu của ông anh ở giếng.


Nghỉ mười lăm phút chúng tôi thồ xe gạo thủng lỗ chỗ về đơn vị. Hôm đó không ai bị thương nặng, chỉ bị nhẹ phần mềm, riêng tôi ở lưng và cổ. Một bài học nhớ mãi về công tác ngụy trang và tinh thần cảnh giác đã thấm đậm trong tôi.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:56:17 am
Hiệp định Paris về Việt Nam

Mùa xuân năm 1972, quân ta mở chiến dịch Nguyễn Huệ, tấn công giải phóng Lộc Ninh vào ngày 7 tháng 2. Quân khu C20 giải thể Phòng hậu cần chuyển thành Đoàn Hậu cần 220. Căn cứ Ban quân nhu di dời liên tục, sau đó về rừng cao su gần thị trấn Mi Mốt (Campuchia), sát biên giới Việt Nam.


Cách mạng miền Nam giành nhiều thắng lợi to lớn, địch thất bại liên tiếp rất nặng nề. Vùng giải phóng mở rộng, Lộc Ninh (Bình Long) trở thành thủ đô lâm thời của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.


Dù có ngoan cố, cuối cùng Mỹ - ngụy đã phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đó là một bước ngoặt lịch sử của cách mạng miền Nam. Sau Hiệp định Paris, căn cứ Ban quân nhu Đoàn 220 chuyển về Suối Ngô, gần cầu Bổ Túc (Tân Biên, Tây Ninh), xa xa thấy núi Bà Đen cao sừng sững.


Phải nói rằng khi Hiệp định Paris được ký kết đã mang đến cho chúng tôi một luồng gió mới, một không khí hân hoan phấn khởi vô cùng.

Trước đây ở trong rừng sâu, lúc nào cũng ngủ hầm, phải cảnh giác cao độ máy bay, đạn pháo. Hiểm nguy ác liệt luôn ở bên mình, mọi sinh hoạt khó khăn trở ngại. Theo hiệp định, Mỹ phải rút quân, công nhận chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Còn quân giải phóng và quân ngụy Sài Gòn giữ nguyên vị trí. Loại Mỹ ra khỏi cuộc chiến đó là thắng lợi của Hiệp định Paris. "Chỉ còn lại quân ngụy và chế độ Sài Gòn, quân giải phóng và cách mạng miền Nam chiến đấu hiệp hai là xong thôi" - Anh em chúng tôi bàn tán nhau như vậy.


Không còn máy bay, bom pháo, nhà cửa, căn cứ chúng tôi chuyển sát bìa rừng. Ánh nắng chan hòa cùng với gió thổi mát rượi. Những vườn rau, giàn mướp, bãi ngô xanh thẳm mọc lên khắp nơi. Chúng tôi tha hồ tăng gia sản xuất, nuôi gà nuôi heo, cải thiện đời sống. Đơn vị có sân bóng chuyền, bóng bàn, tiếng hát, tiếng ca văn nghệ thật phong phú chưa từng có trong đời quân giải phóng.


Đơn vị tổ chức đi cửa khẩu Sa Mát (Tân Biên Tây Ninh) mua hàng hóa, giao lưu, tuyên truyền trực tiếp với quân ngụy Sài Gòn về chính sách của cách mạng và quân giải phóng.

Núi Bà Đen to cao sừng sững trước mặt, đã chứng kiến chiến thắng này, niềm vui này! Bà Đen ơi! Hãy động viên cổ vũ chúng tôi vươn lên xốc tới giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Bác Hai Bảo đã được Cục Hậu cần Miền điều động về Phòng Quân nhu làm Trưởng ban cấp dưỡng. Bác Hai Bảo vào miền Nam từ năm 1965 với cấp quân hàm đại úy và được phiên sang Tiểu doàn bậc trưởng - theo chế độ Quân giải phóng. Là người mẫu mực trong sinh hoạt, liêm khiết, chí công vô tư. Suốt các thời kỳ đều nắm việc thu mua cấp phát, quản lý một khối lượng hàng hóa to lớn của Quân giải phóng, nhưng không hề vụ lợi cho mình. Đấu tranh phê phán nghiêm khắc các vụ lãng phí tham ô, lúc nào cũng gương mẫu thực hiện đúng chế độ. Tuy vậy Bác Hai Bảo rất tình cảm, sống chan hoa, đúng mực, không bao giờ lớn tiếng với cấp dưới. Luôn quan tâm thăm hỏi hoàn cảnh của từng người, sâu sát với công việc.


Vậy mà Bác Hai Bảo phải gần mười năm mang quân hàm đại úy Tiểu đoàn trưởng, Bác Hai là tấm gương sáng chói về phẩm chất cách mạng để tôi và cả đơn vị noi theo.

Dù có đi đâu thủ trưởng Hai Bảo vẫn nhớ đến tôi. Chính vì vậy, đầu năm 1974 tôi nhận được quyết định điều động từ Đoàn 220 về Phòng Quân nhu công tác. Mọi người trong đơn vị ngỡ ngàng. Các anh em đến chúc mừng, cho tôi là đã bay xa, bay cao... Đơn vị liên hoan chia tay. Bạn bè, anh em xúc động rơi nước mắt. Những người thân thiết như: Cao Minh, Quang Hoằng, Xuân Viên, Tự Cử, Anh Liễu, v.v... đều thay nhau ghi lưu bút kỷ niệm rất tình cảm. Ai cũng nói Bác Hai quý tôi như con, nên đã điều động đi theo.


Anh Vọng (quê Hà Nội) đưa tôi đi một chặng đường từ Suối Ngô (Tây Ninh) về cầu Trắng, Lộc Ninh. Hai người đi hai xe đạp. Anh Vọng mang theo súng đạn để bảo vệ, dẫn đường, tối mịt mới đến Phòng quân nhu. Đêm đó ngủ ở trạm đón khách của phòng, tôi không sao chợp mắt. Nói chuyện với anh đủ thứ trên đời, mệt thiếp đi lúc nào không biết. Tôi mơ thấy một cánh đồng toàn hoa thơm, cỏ lạ, xa xa là một rừng cờ nửa đỏ, nửa xanh ở giữa có ngôi sao vàng lấp lánh tỏa ánh hào quang khắp rừng dừa, đồng lúa của miền Nam thân yêu.


Sáng hôm sau nghẹn ngào chia tay với anh Vọng, tôi được trạm khách dẫn đến gặp đồng chí trưởng ban chính trị. Tôi đưa quyết định điều động và được đồng chí trưởng ban hỏi thăm, bố trí nơi ăn chốn ở, giới thiệu tình hình đơn vị.


Chờ đợi gần nửa tháng, tôi mới được điều về làm trợ lý ban quân trang do đồng chí Tư Đông làm trưởng ban. Như vậy là tôi không được về với Thủ trưởng Hai Bảo rồi! Buồn quá.

Công tác ở Phòng quân nhu Cục Hậu cần Miền căng thẳng, vất vả hơn dưới Đoàn 220 nhiều. Ban ngày từ Trung đội trưởng trở xuống phải công tác nhiều việc: như làm hội trường, đường đi, cưa củi, lấy gạo đặc biệt là tăng gia sản xuất để tự túc thực phẩm rau quả. Toàn bộ công tác chuyên môn nghiệp vụ phải làm vào buổi tối. Nhiệm vụ của tôi cũng giống như ở dưới Đoàn 220, chỉ có điều phạm vi theo dõi rộng quản lý quân trang tất cả các đơn vị quân giải phóng.


Ở Phòng quân nhu các phương tiện, điều kiện vật chất khá đầy đủ như: máy phát điện, máy cưa gỗ dụng cụ làm nhà, xe máy, v.v... chế độ ăn uống cũng khá hơn dưới Đoàn 220. Thấm thoắt trôi nhanh năm cũ đã hết, chúng tôi tưng bừng đón xuân Ất Mão (1975), một cái têt vật chất, tinh thần phong phú nhất của cuộc đời quân giải phóng.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 07:59:20 am
Giải phóng miền Nam (30-4-1975)

Tết Ất Mão (1975), tôi được điều chuyển Ban kế hoạch công tác. Ban kế hoạch Phòng quân nhu do anh Lâm Bắc làm trưởng ban, anh Kiểm trợ lý tổng hợp (khi trưởng ban vắng thì tạm quyền vì chưa có phó ban). Có bốn tổ trực thuộc, tổ kế hoạch tổng hợp, tổ văn thư đánh máy, tổ lái xe liên lạc và một tổ mới ở Cục quân nhu (Hà Nội) chuyển vào là tổ nuôi dưỡng. Trong tổ nuôi dưỡng do ông Hợi đại úy làm tổ trưởng, anh Định, anh Liêu cùng hai người nữa. Tổ này cũng chỉ vào làm cố vấn, chưa phân công nhiệm vụ cụ thể. Tổ văn thư đánh máy có mấy cô ở Hà Nội vào là cô Nương, cô Hướng, cô Thiện, còn cô Thanh quê ở miền Tây, cô Hồng là Việt kiều. Mấy cô con gái được Thủ trưởng Mười Ngọt chú ý quan tâm. Ông quan niệm đây là mấy quả bom nổ chậm của đơn vị. Trên rừng, trai, gái đều thiếu thôn và khao khát tình cảm nên ông rất lo sợ có điều gì đó xảy ra với các cô thì xấu mặt cả Phòng quân nhu. Chính vì thế mà ông cấm con trai không được vào nhà mấy cô văn thư ngồi chơi. Có ai đó mà bị ông bắt gặp ngồi tán chuyện ở trong nhà thì người đó chỉ có mà độn thổ.


Tôi được anh Năm Bắc phân công làm trợ lý thống kê quân lực, quản lý theo dõi, điều động, cấp phát xăng xe của Phòng quân nhu. Ở tổ tôi có ba người cùng ngủ chung một nhà hầm là anh Tháu, anh Tịnh và tôi, anh Tịnh làm tổ trưởng, cùng sinh hoạt với nhau. Anh Năm Bắc người cao, da trắng, giọng nói dịu dàng, tính nết hiền như phụ nữ. Tôi về sau nên được anh em trong đơn vị kể lại ràng: Chị Lan người quê Bến Tre, bị méo mồm, đã bắt cóc anh Năm trong một lần mò ốc ở bờ suối. Chị Lan đã mang bầu nên ông Mười Ngọt bắt anh phải tổ chức đám cưới, nếu không sẽ bị kỷ luật. Hai người đã có hai cháu gái xinh xắn rất giống bố.


Thủ trưởng Mười Ngọt thì khác hẳn mọi người, ông vừa là trưởng phòng, vừa là Bí thư Đảng ủy, đã bước sang tuổi sáu mươi.

Ông Mười to cao, tóc bạc hoa râm, quê ở Bên Tre tập kết ra Bắc. Ông vô miền Nam từ những năm 1960 bằng tàu biển vào cảng Xihanúc Vin của Campuchia, rồi đi xe ô tô vào biên giới. Đó là lớp cán bộ đầu đàn vô để xây dựng ngành hậu cần quân giải phóng. Ông rất nghiêm khắc và gia trưởng, đi đến đâu cũng có hai người khoác súng tiểu liên AK bảo vệ, trông oai phong lẫm liệt. Mệnh lệnh của ông đi tới đâu cũng phải được thực hiện ngay tức khắc tới đó. Có một buổi sáng mùng ba tết Ất Mão, ông chống ba toong cùng hai cảnh vệ đi kiểm tra, thấy mọi người vẫn còn say sưa tết nhất, toòng teng đèn lồng với hoa xuân. Vậy là ông dùng ba toong đập ngoắc dây hoa, lồng đèn rơi lả tả, quát tháo rầm rầm.


Sau đó ông triệu tập cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị đến hội trường để chân chỉnh và giảng về đạo đức cách mạng. Ông là hiện thân của ý chí làm rung chuyển tình hình, để cho mọi người phải thức tỉnh tinh thần cách mạng, không được say sưa với chiến thắng.


Sau tết Ất Mão, không khí ở Phòng quân nhu có nhiều khác lạ, khí thế hẳn lên. Các đoàn cán bộ ở Hà Nội vào công tác ngày một nhiều. Đặc biệt là Phòng quân nhu tổ chức đón một xưởng mũ cứng từ miền Bắc chuyển vô, do đồng chí Định làm xưởng trưởng. Tôi thì túi bụi công việc, ngoài điều động xe cộ, nhập xuất xăng dầu còn làm thủ tục tiếp nhận cán bộ, chiến sĩ ở Bắc vào...


Chiến thắng của quân ta từ Quảng Trị, Huế, rung chuyển cả nước và thế giới. Cách mạng đang chuẩn bị vào "hiệp hai" sau khi Mỹ rút như anh em từng dự đoán trước đây.

Chúng tôi đi ngang quốc lộ 13 lấy gạo thấy hàng đoàn xe ô tô tải nối đuôi nhau, kéo theo đủ loại súng pháo. Rồi lại hàng đoàn xe chở bộ đội, quần áo xanh mươt, mũ cối mới tinh, từ Bắc chuyển vào, bụi cuốn bay mịt mù. Còn đoàn chúng tôi thấy vậy xốn xang về mau căn cư, không khí rộn ràng lan truyền, cán bộ phòng ban họp hành liên tiếp. Một mệnh lệnh từ cấp trên truyền ra (không có văn bản): "Mở toàn bộ kho hàng cấp phát theo yêu cầu của bộ đội, không cần giấy tờ phiếu xuất, không hạn chế tiêu chuẩn, với tinh thần khẩn trương nhất"


Ở Phòng quân nhu, tất cả mọi người xôn xao, quýnh ca lên vì tất bật lo công việc và vì mệnh lệnh nói trên. Chúng tôi nhận thấy đất nước và cách mạng đang chuyển mình dữ dội. Mấy anh em đang làm hội trường ở sân bóng trung tâm của phòng hay chơi với nhau như anh Thuật ban quân lương, anh Ương ban cấp dưỡng, Đang lái xe, Văn hậu cần, v.v... bỏ về đơn vị để hỏi thăm tình hình cụ thể xem thế nào?


Không khí khẩn trương vô cùng, không có thời gian hội họp nữa mà chỉ nghe mệnh lệnh liên tiếp từ trên xuống.

"Chiến dịch Hồ Chí Minh, thần tốc thần tốc đại thần tốc tổng tấn công" đã bắt đầu.

Đồng chí Lâm Bắc tập trung cán bộ phổ biến vắn tắt nhiệm vụ Phòng quân nhu, quyết định thành lập đoàn tiếp quản Sài Gòn.

Tất cả các xưởng may toàn quân mở hết tốc lực ngày đêm may cờ giải phóng mấy tháng nay. Không ngờ diễn biến lại nhanh đến thế! Dồn dập chỉ thị, mệnh lệnh liên tiếp từ các cấp.

Tôi mở đài radio nghe tin chiến thắng khắp miền Nam, đặc biệt là các tỉnh miền Trung đả được giải phóng. 19 giờ 30 phút ngày 21 tháng 4 năm 1975, tổng thống của chế độ Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố từ chức. Tin này làm rã rời binh lính ngụy và cổ vũ quân dân miền Nam xốc tới.


Ngày 26 tháng 4, tôi được lệnh tham gia vào đoàn tiếp quản của Phòng quân nhu.

Đoàn gồm có 35 cán bộ, chiến sĩ, do đồng chí út Tùng làm đoàn trưởng, đồng chí Ba Tú làm đoàn phó, đồng chí Hiệp Thạnh làm chính trị viên. Mỗi phòng ban, đơn vị, kho tàng cử một người đại diện. Đồng chí Ngô Trọng Nguyễn đại diện Ban quân trang, tôi đại diện Ban kế hoạch, đồng chí Phạm Trọng Văn đại diện Ban hậu cần, v.v... và 5 chiến sĩ cảnh vệ. Do tình hình rất khẩn trương, đoàn không kịp học tập chính sách, chế độ nội quy tiếp quản, sơ đồ Sài Gòn mà phải chuẩn bị lên đường ngay. Mọi người được trang bị quân tư trang mới tinh, bỏ lại đồ cũ. Cả đoàn tiếp quản Cục hậu cần Miền gồm đoàn dài xe ô tô tải (tôi không đếm xuể) chở đầy cán bộ, chiến sĩ. Mỗi xe cắm hai lá cờ giải phóng (cờ nửa đỏ nửa xanh, giữa có ngôi sao vàng năm cánh) hai bên. Nhìn đoàn xe nối đuôi nhau cờ bay phấp phới mà lòng chúng tôi náo nức vô cùng. Đi tiếp quản mọi người được trang bị đầy đủ vũ khí, bút sách giấy tờ để ghi chép, vừa đi vừa được phổ biến các quy định, chế độ tiếp quản và công tác dân vận.


Mười chiếc honda 90 mới tinh cắm cờ đuôi nheo dẫn đường lao vun vút trên quốc lộ 13 về Thủ Dầu Một. Khi đến gần thì Thủ Dầu Một chưa được giải phóng, quân ta đang giao tranh ác liệt với địch. Vì vậy đoàn được dẫn cắt ngang băng qua quốc lộ 22 Tây Ninh - Sài Gòn. Tôi là trợ lý kế hoạch đồng thời là phụ tá kế cận của anh Ba Tú nên mọi diễn biến, thông tin đều được tiếp cận sớm. Ông út Tùng tuy là đoàn trưởng nhưng kiêm phó đoàn tiếp quản Cục hậu cần Miền, nên ông Ba Tú quyền trưởng đoàn. Từ khi đi tiếp quản tôi chưa nhìn thấy mặt ông út Tùng lần nào vì ông đi ô tô con với Ban chỉ huy đoàn tiếp quản Quân giải phóng miền Nam.


Trên quốc lộ 22, đoàn xe nhiều lần phải dừng lại vì quần áo, tư trang, vũ khí của lính ngụy vứt bỏ đầy dọc đường để chạy thoát thân. Chúng tôi phải xuống xe thu gom dẹp sang hai bên lề để đi tiếp.

Ngồi trên xe lần đầu tiên tôi được phóng rộng tầm mắt xa hết cỡ, ngắm nhìn hai bên cánh đồng lúa rộng bao la của miền Nam thân yêu. Chao ôi! Đồng bằng Long An, vựa lúa của miền Nam đây rồi! Cánh đồng bao la rộng mấy chục cây số thẳng cánh cò bay đã hiện ra. Phía xa xa là làng mạc, nơi chân trời rực rỡ dưới ánh nắng chan hòa buổi sáng.


Anh Ba Tú kè kè chiếc radio hiệu Sony (của Nhật) ngồi cạnh tôi liên tục nghe đài phát thanh giải phóng. Cách Sài Gòn hai mươi cây số thì đài phát thanh loan báo: Quân giải phóng đã cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút hôm nay là ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cả đoàn xe hô vang, tất cả đứng dậy reo hò loan tin chiến thắng. Các chiến sĩ giương súng lên trời thi nhau nổ giòn giã. Mọi người khóc, nước mắt rơi... gai ốc toàn thân tôi nổi lên, tóc dựng đứng. Xúc động đến nghẹn ngào, mọi người ôm lấy nhau trên xe chao đảo rồi ngã dúi, cả đoàn xe tăng tốc lao vun vút về phía Sài Gòn.


Đài phát thanh lại loan tin: "Dương Văn Minh - Tống thống của chế độ Sài Gòn đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Thế là miền Nam đại thắng, niềm vui này có một không hai, không thế nào tả siết".


Đoàn xe đến ngà tư Bảy Hiền, Sài Gòn đây rồi! Thì không tài nào đi nổi! Chao ôi! Người dân đổ ra đầy đường kẹt cứng để xem đoàn xe Quân giải phóng vào tiếp quản Sài Gòn. Rợp trời cờ, hoa trên tay mỗi người dân trên đường Lý Thường Kiệt dẫn vào sân bay và cổng Bộ tổng tham mưu ngụy Sài Gòn. Các phóng viên nước ngoài vừa lùi vừa chạy, thi nhau quay phim, chụp ảnh đoàn xe dài tít tấp, phấp phới cờ nửa đỏ nửa xanh. Một cảnh tượng huy hoàng của lịch sử trong thế kỷ 20 của dân tộc Việt Nam. Các em thiếu nhi đuổi theo hai bên mép vỉa hè vẫy tay, hoan hô, các cụ già chống gậy đứng ngắm, rưng rưng lệ.


Chỉ có chưa đầy cây số mà phải mất hơn ba giờ chúng tôi mới đến được Lăng Cha Cả gần cổng sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay giữa đường góc Lăng là mấy chiếc xe tăng địch đang nghi ngút khói. Bộ đội ta phải dùng xe bọc thép kéo dẹp chúng sang một bên để cho đoàn xe ta tiến lên.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Năm, 2023, 08:00:02 am
Đến trước cổng Bộ tổng tham mưu ngụy (đã được quân giải phóng chiếm giữ) đoàn xe dừng lại. Đoàn tiếp quản Phòng quân nhu xuống xe ô tô và được phân công vào nghỉ ở nhà riêng của Đại sứ Tây Đức đối diện chếch 100 mét với Bộ tổng tham mưu quân đội chế độ Việt Nam cộng hòa.
Đón đoàn chúng tôi có anh chị em sinh viên biệt động nội thành Sài Gòn. Họ mang đủ thứ gồm: bếp dầu, xoong nồi, lương thực, thực phẩm đưa vào bên trong vườn căn biệt thự để nấu cơm cho chúng tôi ăn.


Không khí cả khu vườn thật náo nhiệt, tay bắt mặt mừng, nói chuyện râm ran, giữa quân và dân tươi cười rạng rỡ. Các em sinh viên hỏi chúng tôi về chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc ra sao? Chính sách của Quân giải phóng thế nào?


Mấy chị em sinh viên xúm đến vừa cười vừa hỏi:

- Sao họ nói Quân giải phóng bảy người đu kéo cành đu đủ không gẫy, mà giờ bọn em thấy các anh khỏe mạnh, trẻ đẹp thế này?

- Về Sài Gòn rồi các anh có lấy vợ người Sài Gòn như chúng em không?

Chúng tôi vừa cười vừa đáp lời:

- Chế độ cũ nó tuyên truyền khỉ ở trên rừng chứ đâu phải các anh. Các em đừng tin chúng nói, mà hãy nhìn xem lính ngụy hiện đang ở đâu?

- Các anh là quân giải phóng, các em muốn giải phóng thì có các anh đây!

Tất cả bò lăn ra bãi cỏ cười nghiêng ngả.

Trời ập tới nhưng cả bầu trời lại bừng sáng. Khắp nơi trong thành phố đều bắn pháo hoa, pháo sáng. Ôi! Tổ quốc, miền Nam thân yêu có bao giờ đẹp như thế này? Qua đài phát thanh giải phóng, cả nước ta tưng bừng như ngày hội. Ngày hội của tiếng cười và nước mắt vì sung sướng đến nghẹn ngào.


Sau gần mười năm sống gian khố, ác liệt ở trong rưng, hôm nay được chứng kiến Sài Gòn giải phóng mà tôi thấy vẫn như đang mơ, chưa tin vào mắt mình, vì nó đến quá nhanh. Khắp nơi hát vang bài: "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, lời Bác nay thành chiến thắng huy hoàng" của nhạc sĩ Phạm Tuyên đã làm rạo rực hàng triệu, hàng triệu trái tim.


Suốt đêm 30 tháng 4, chúng tôi đều thức trắng, nghe đài, ti vi cách mạng và nhìn lên bầu trời "Hòn ngọc viễn đông" chan hòa pháo sáng, pháo hoa. Toàn cảnh vườn của ngôi biệt thự riêng Đại sứ Tây Đức lung linh dưới ánh đèn màu ngũ sắc. Từ núi cạn, vườn hoa, bãi có, lùm cây đều kết hoa và đèn màu rất đẹp.


Sáng hôm sau, ngày 1 tháng 5, khoảng 7 giờ đoàn chúng tôi lên hai chiếc xe ô tô tải đến tiếp quản căn cứ 10 và trung tâm sản xuất quân trang của chế độ chính quyền Sài Gòn. Nhưng đến nơi lại phải quay về vì chưa có lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


8 giờ sáng ngày 2 tháng 5 năm 1975, đoàn chúng tồi được lệnh đến tiếp quản "quân tiếp vụ" ở đường Tô Hiên Thành. Cánh cửa sắt rộng mở toang. Hai ô tô băng qua cổng vào sân. Bộ đội chiến đấu đang tràn ngập trong căn cứ. Thấy nói đoàn tiếp quản hậu cần đến, anh em lính trẻ ào ra gặp lính già bọn tôi hỏi thăm đồng hương, rồi mời uống bia, nước ngọt, ăn bánh kẹo, hút thuốc lá. Tất cả đồ ăn, thức uống tốp năm tốp ba đã được bày la liệt trên một khoảng sân rộng chừng năm ngàn mét vuông. Họ là những người lính trực tiếp chiến đấu, lăn lộn trong bom đạn hiểm nguy, thương vong cận kề từng giây phút. Tuổi của anh em chí mười tám đôi mươi, còn chúng tôi lính hậu cần già hơn. Trẻ nhất như tôi cũng 27 tuổi, đa phần trên ba lăm, bốn lăm, năm mươi. Cuộc liên hoan mừng chiến thắng tưng bừng trên khắp sân bãi "quân tiếp vụ" cho đến khi mặt trời đỏ rực của hoàng hôn chìm xuống, nhường cho pháo sáng, pháo hoa.


Trời nhá nhem tối, tôi đi kiểm tra tìm một phòng ngủ cho chỉ huy đoàn. Mở cánh cửa phòng chỉ huy trưởng "quân tiếp vụ", tôi thận trọng bước vào soi đèn pin. Nhìn sang bên phải tôi giật bắn mình lùi lại thấy một cô gái khỏa thân, không mảnh vải che thân, thân hình trắng nõn đang chìa tay ra như mời chào?


Hoảng quá! Cái hoảng của anh lính sống nhiều năm ở trên rừng ngô nghê... Tôi chạy ra tìm chính trị viên Hiệp Thạnh báo cáo. Ông dẫn theo hai bảo vệ cùng tôi quay lại phòng. Thời chế độ ngụy Việt Nam Cộng hòa co đội lính gọi là lính "Phượng Hoàng" gồm toàn các cô gái đẹp, giỏi võ nghệ và kỹ thuật bắn súng, dùng để tiếp cận rồi chiêu hồi các chiến sĩ cách mạng, "Hay là nó đây" - Tôi nghĩ...


Đồng chí bảo vệ đạp cửa vào phòng, tôi soi đèn pin còn ông Hiệp Thạnh giơ súng ngắn bước vào đạp mạnh một cái, cô gái ngã vật xuống nền gạch.

- Đồ khỉ cái thằng Dương này, cậu nhát dọa mọi người hả? Đó là người giả biết chưa! - Ông Hiệp Thạnh nói.

Mọi người cười rũ lăn cả xuống sàn gạch.

- Em ngố quá phải không thủ trưởng, sao mà nó giống y người thật vậy? - Tôi nói rồi bò ra cười!

Tối 2 tháng 5 chúng tôi vẫn không sao ngủ được ở "quân tiếp vụ", pháo sáng, pháo hoa vẫn bắn sáng rực thành phố. Tất cả cấm trại một trăm phần trăm. Mọi người trong đoàn chăm chú xem ti vi để nghe Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn đọc mệnh lệnh và các bài ca giải phóng.


Ngoài đường không có cảnh sát, chỉ toàn là bộ đội, tuần tra canh gác. Biệt động thành và sinh viên làm nhiệm vụ chỉ đường, quản lý giao thông. Mọi hoạt động của người dân vẫn bình thường mặc dù lệnh giới nghiêm thực hiện suốt đêm.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:32:46 am
Tiếp quản căn cứ 10, trung tâm sản xuất quân trang

Sáng 3 tháng 5 năm 1975, đoàn tiếp quản Phòng quân nhu do đồng chí Ba Tú và Hiệp Thạnh dẫn đầu đến tiếp quản Căn cứ 10.

Đến cổng, ngồi trên xe ô tô tôi ngước lên nhìn tấm bảng hiệu to lớn uy nghi: "Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Căn cứ 10, Trung tâm sản xuất và tồn trữ quân trang, số 7 Phan Văn Trị, Gò Vấp, Đô thành Sài Gòn". Đồng chí Ba Tú và Hiệp Thạnh xuống xe đến cổng gác làm việc với bộ đội chiến đấu đang canh giữ, đó là một đại đội thuộc Quân đoàn 1. Cánh cổng sắt đồ sộ từ từ kéo sang một bên. Hai xe ô tô tải chở Đoàn tiếp quản phấp phới cờ giải phóng tiến vào. Mọi người nhảy xuống xe, súng đạn sẵn sàng. Đại tá Nguyên Gia Ngọc, Chỉ huy trưởng Căn cứ 10 (của chế độ cũ) từ xa khúm núm tiến tới, cúi đầu chào lãnh đạo và cán bộ, chiến sĩ Đoàn tiếp quản.


Hắn xun xoe chắp hai tay nói:

- Kính thưa quý anh giải phóng! Chúng tôi vẫn ở lại quản lý cơ xưởng kho tàng, chờ quý anh vào bàn giao.

Đồng chí Ba Tú nói:

- Các anh về văn phòng làm việc chờ mệnh lệnh của chúng tôi, không được ai ra khỏi căn cứ.

Sau khi hội ý với lãnh đạo chỉ huy đại đội chiến đấu, anh Ba Tú và Hiệp Thạnh phân công:

- Anh Nhoại phụ trách 6 chiến sĩ bảo vệ cổng chính, ở dãy nhà ngoài cổng (phòng chiến tranh tâm lý). Anh Phạm Trọng Văn làm quản lý đời sống, anh Mạc nấu cơm. Tiếp quản ở ngay khu hậu cần nhà bếp của Căn cứ 10. Tôi, anh Nguyền và một số đồng chí khác ở nhà trung tá Bán (hắn đã bỏ chạy) phía đường Quang Trung, sau nhà sàn. Số còn lại do anh Quang chỉ huy ở khu nhà gần xưởng mộc - bên trái cổng gác. Anh Ba Tú và Hiệp Thạnh ở nhà sàn (nơi chỉ huy trưởng Nguyễn Gia Ngọc ở) có một liên lạc ở cùng.


Tên trung tá Bán là người của tình báo Mỹ (CIA) là phó chỉ huy trưởng Căn cứ 10. Khi quân giải phóng vô, hắn hoảng sợ bỏ chạy - vì có nợ máu nhiều với nhân dân. Hắn luôn ăn hiếp tên chỉ huy trưởng Nguyễn Gia Ngọc (đại tá) và lấn áp cấp trên (theo nằm vùng của ta kể).


Anh Ba Tú yêu cầu mọi người phải ngày đêm canh gác sẵn sàng chiến đấu. Đặc biệt là chấp hành chế độ tiếp quản, chống tham ô, ăn cắp tài sản. Phân công xong anh Ba Tú và Hiệp Thạnh cho gọi tên đại tá Ngọc chỉ huy trưởng đến nhà sàn. Tồi được phân công là trợ lý kế hoạch của đoàn, trực tiếp xây dựng kế hoạch và là thư ký ghi chép cho anh Ba Tú. Lúc này là 9 giờ sáng ngày 3 tháng 5. Anh Ba hỏi tên Ngọc:

- Anh cho biết tình hình toàn bộ Căn cứ 10?

- Dạ thưa, Căn cứ 10 có trung tâm sản xuất quân trang, khu tồn trữ quân khu, khu tiếp vận, xưởng sản xuất huân huy chương, xưởng cơ khí, xưởng mộc. Khu nghiên cứu quân trang đang xây dựng dở dang.

Anh Ba Tú hỏi tiếp:

- Phương tiện vận tải, ô tô thế nào?
   
- Dạ thưa, toàn căn cứ có 8 xe ô tô đưa rước công nhân loại GMC Code đầu lớn có toa kéo đang hoạt động. Xe vận tải các loại có 8 chiếc, xe jeep có 4, xe cẩu có 1 và khoảng 15 xe nâng các loại, xe du lịch Toyota có hai cái và một số chiếc đang tu sửa.

- Anh nói cụ thể về trung tâm sản xuất quân trang - Anh Ba Tú yêu cầu.

- Dạ thưa, trung tâm sản xuất có ba phân xưởng may hàng loạt, một xưởng may đo, một xưởng cắt và một xưởng bảo toàn (sửa chữa).

- Còn hệ thống điện nước ra sao?

- Dạ thưa, căn cứ có hai máy phát điện loại 200 KVA vẫn đang hoạt động tốt, hai trạm biến thế 2.000 KVA. Về nước máy có hai đồng hồ thuộc chi cục Gia Định. Ngoài ra có một giếng khoan sâu 120 mét cùng máy bơm hỏa tiễn dự phòng và một tháp nước 20 mét khối.

- Tình hình xăng dầu ra sao? Số tồn kho còn bao nhiêu?

- Dạ thưa, có một trạm xăng dầu ở sát góc căn cứ phía đông bắc, hai bồn xăng và hai bồn dầu Diezen, mỗi bồn dự trữ khoảng 30 mét khối.

Tên Ngọc nói tiếp:

- Trước khi quý giải phóng vô, tất cả anh em vận hành hệ thống điện nước, xăng dầu, lái xe, thợ sửa xe... vẫn đi làm và trực ca bình thường, đang chờ lệnh quý anh.

Anh Ba Tú hỏi thêm:

- Số lượng máy may các loại hiện có bao nhiêu?

- Dạ thưa - Tên Ngọc suy nghĩ một lúc rồi trả lời tiếp: Ba xưởng may hàng loạt có khoảng 600 máy may công nghiệp một và hai kim, còn máy chuyên dùng như khuy, cúc, đính bọ, vắt sổ khoảng 100 cái. Riêng phân xưởng cắt có 20 máy cắt đứng cao và 10 máy cắt đứng thấp. Còn xưởng may đo có 100 máy dân dụng lắp mô tơ các loại, cùng máy khuy, cắt, vắt sổ. Ngoài ra còn phân xưởng may lều bạt có khoảng 30 chiếc các loại ở sát bãi hàng A (sân đậu trực thăng).

- Còn tổng số lao động nhân sự và quân nhân có bao nhiêu?

- Dạ thưa, tổng số khoảng 4.500 người trong đó quân nhân khoảng 200 và sĩ quan là 50 từ thiếu úy đến trung tá.

Sau hai giờ làm việc, toàn bộ số liệu, tình hình tên Ngọc báo cáo đã được tôi ghi chép đầy đủ vào sổ sách.

Mọi người đang ngồi thì có một chị tên là Trợ xin vào được gặp chỉ huy Đoàn tiếp quản, trước khi làm việc với chị Trợ, anh Ba Tú nói với tên Ngọc:

- Chúng tôi yêu cầu tất cả các sĩ quan, thợ kỹ thuật công nhân, lái xe, xưởng cơ điện, bảo toàn vẫn phải đi làm bình thường và trình diện vào đúng 7 giờ sáng. Anh gọi cho tôi hai xe jeep cùng lái xe đến ngay bây giờ.

- Dạ thưa vâng! Có ngay ạ!

Chị Trợ bước vào phòng, tôi rót nước và anh Ba Tú mời ngồi. Chị nói trước:

- Tôi xin giới thiệu với các anh, tôi tên là Trợ, người được tổ chức phân công nằm vùng ở Căn cứ 10, nghe các anh đến tiếp quản xin đến cung cấp một số tình hình.

Tôi ngắm nhìn chị nói. Người chị dong dỏng cao, nước da trắng mặt hơi rỗ hoa, áng chừng trên 30 tuổi.

Hai anh Ba Tú và Hiệp Thạnh mừng lắm - Đề nghị từ ngày mai trở đi chị đi làm việc hình thường và phân công theo dõi việc đi làm và trình diện của sĩ quan, quân nhân, công nhân chế độ cũ. Anh Ba Tú nói nhỏ với anh Hiệp Thạnh, sau đó anh Hiệp Thạnh tiếp tục làm việc với chị Trợ.


Còn anh Ba Tú yêu cầu tên Ngọc dẫn đi kiểm tra thực tế. Tôi xách theo tiểu liên AK và gọi thêm một bảo vệ mang súng đi kèm. Xe vừa lăn bánh tôi đề nghị cho kiểm tra kho súng đạn trước, anh Ba vỗ đùi đét một cái: "Ờ, suýt quên!".


Xe đậu ở cửa kho súng đạn trước trạm phát điện của căn cứ và sau nhà vệ sinh của văn phòng trung tâm sản xuất quân trang. Xuống xe rồi nhưng vì quên hai thùng chìa khóa nên lại phải quay xe về nhà lấy. Dọc đường tôi hỏi anh lái xe:

- Anh tên là gì?

- Dạ tôi tên Sóc, công nhân chế độ cũ, là thợ sửa xe thuộc xưởng cơ điện.

- Anh bao nhiêu tuổi?

- Dạ bốn mươi lăm tuổi!

- Ồ hơn tôi nhiều tuổi quá! Thôi cho gọi bằng chú đi!

Quay lại kho súng đạn, tôi mở toang hai cánh cửa.

- Ôi chao! Nhiều súng mới quá, còn đạn thì một đống!

Tôi đếm và xem thẻ kho còn 20 khẩu súng AR15, 10 khẩu côn (súng ngắn), 5 khẩu cạcbin, 1 trung liên. Tôi xin anh Ba Tú khẩu côn nòng ngắn1 (Khẩu súng côn: một loại súng ngắn trang bị cho sĩ quan Mỹ - ngụy, nó có trục xoay tròn để đạn lên nòng), anh đồng ý ngay, thế là tôi đeo luôn bên người. Niêm phong kho súng xong, xe chạy tiếp. Tên đại tá Ngọc ngồi xe máy do một người khác chở dẫn đường. Xe chạy đến kho xăng dầu, xuống xe chúng tôi đã thấy ngay một người to cao đầu hơi hói, trông rất hiền lành, trạc khoảng năm mươi tuổi người chế độ cũ ra đón và cúi đầu chào, người đó tên là Quý. Ông giới thiệu hệ thống bồn, kho, sổ sách theo dõi khá nền nếp, vậy là yên tâm rồi! Anh Ba Tú nhắc ông phải quản lý tốt, nhất là phòng chống cháy và nhớ phải trực làm việc sẵn sàng cấp phát. Xe đi theo đường quanh tường rào vòng phải, về kiểm tra các xưởng may, cắt, bảo toàn. Mở cửa kéo hai cánh cửa sắt: Ôi chao! Một xưởng rộng khoảng 2.000 mét vuông, toàn máy may công nghiệp nhập từ Mỹ (khoảng hơn 200 cái) được phủ bạt cẩn thận. Mở tiếp cửa xưởng bảo toàn, tôi thấy có một người gầy gò nhỏ thấp ra chào lễ phép:

- Xin chào các quý anh, tôi là Phạm Văn Phước, phụ tá xưởng trưởng xưởng bảo toàn. Nhìn vào bảng nhỏ tôi thấy đề câp bậc ông là "thượng sĩ", theo chú Sóc nói ông này học ở Mỹ 7 năm, thạo tiếng Anh, giỏi về sửa chữa máy văn phòng. Kho bảo toàn rộng khoảng 1.000 mét vuông, còn hàng trăm máy may đã và đang sửa chữa.

Tôi thầm nghĩ: Ta tiếp quản một tài sản thật tuyệt vời, chưa từng thấy bao giờ. Các xưởng đều có hệ thống nội quy quy định rất bài bản nền nếp.

Anh Ba Tú giục đóng cửa lên xe đi tiếp. Kiểm tra khu tồn trữ quân trang, thấy những kiện hàng tăm tắp cao vút, bao la, điều đó đã nhắc tôi "khẩn trương tổ chức kiểm kê toàn bộ".


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:33:35 am
Tôi nhắc tên Ngọc bây giờ cần đi nhanh, kiểm tra khái quát. Thế là xe đưa đến xưởng mộc. Gỗ còn quá nhiều cùng các loại máy chế biến hiện đại. Đi tiếp đến khu tiếp vận, đây là bãi tiếp nhận và vận chuyên hàng quân nhu - Lạ nhỉ, sao thấy có rất nhiều quan tài, bát hương, áo xác?


Thôi kệ nó! Để đấy, đi tiếp đến xưởng sản xuất huân huy chương (ngày nay là khu tập thế C200).

Đến đây đất trống còn nhiều quá, chỉ có ba dãy nhà tôn xi măng. Có vài chục máy dập cóc và một máy dập một tấn. Chạy đua với thời gian, xe chạy tiếp đến khu "pháo binh Phan Sào Nam". Chúng tôi xuống xe, thấy có một ngôi biệt thự rất to. Tên Ngọc nói đây là biệt thự của cháu vua Bảo Đại, xung quanh có một số căn nhà nhỏ, phía trước có hồ nước, nhưng trông cũng sơ tàn. Tên Ngọc dẫn mọi người xuống hầm của căn biệt thự nằm ở dưới tầng trệt, rất rộng, cả chục xe ô tô con xuống cũng vừa - Tôi nghĩ văn phòng Bộ Tư lệnh pháo binh mà hoang tàn thế này thì đánh đấm gì chứ? Lên xe đi tiếp ra đường Quang Trung quay về phía ngã năm Chuồng Chó.


Tên Ngọc giới thiệu đây là khu gia đình binh sĩ, khu thể dục thể thao, gồm có sân bóng đá và nhiều bãi tập nhảy.

Xe quay ra ngã năm vòng về Phan Văn Trị chạy dọc đường sắt trở về cổng Căn cứ 10. Con đường sát này nối từ Lục quân công xưởng (nay là Z751) của chế độ cũ chạy dọc đường Phan Văn Trị nối vào căn cứ 26 (bãi thử súng, pháo của quân đội Sài Gòn) và thông nối với đường sắt Sài Gòn - Biên Hòa. Ngày nay không còn đường sắt này nữa. Tới nhà sàn là 12 giờ trưa, chị Trợ đã ra về. Anh Ba Tú nói với anh Hiệp Thạnh:

- Căn cứ 10 rất rộng, một khối lượng tài sản, vật chất khổng lồ, hiện đại mà ta lại rất ít người làm sao quản nổi. Ngay chiều nay phải báo cáo khẩn cấp với Phòng quân nhu thôi anh à! Chúng tôi đi kiểm tra thấy bao la quá mà lo lắng, sốt ruột lắm!

Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ, ngày 7 tháng 5 năm 1975, cấp trên đã ra quyết định thành lập Tiểu đoàn 1 (D1), là tiểu đoàn quân nhu tổng hợp. Tiểu đoàn 1 do anh Ba Tú (Khúc Tấn Vị) làm tiểu đoàn trưởng, anh Hiệp Thạnh làm chính trị viên, sau ít ngày về thêm anh Huỳnh Tuấn làm tiểu đoàn phó, chi có ba tổ chuyên môn:

Tổ kế hoạch gồm các đồng chí: Phạm Trùng Dương, Đặng Đình Hán, Phan Toàn, Nguyễn Ngọc Thúy, Lê Mùi, Nguyền Mạnh Thường.

Tổ hậu cần: anh Phạm Trọng Văn, Nguyễn Văn Mạc và một số công nhân lưu dung.

Tổ lao động: có chị Trợ (nằm vùng) và ba người nữa.

Tiểu đoàn 1 được điều về thêm các đại đội kho xưởng ở trên rừng, hợp thành Tiểu đoàn 1 như C100 (xưởng may) về quản lý các xưởng cắt, may, C200 quản lý khu vực xưởng huân huy chương, C300 quản lý khu tồn trữ quân trang, còn đại đội bảo vệ do anh Tự đại đội trưởng quản lý khoảng 50 bảo vệ canh gác tuần tra toàn căn cứ.

Như vậy cơ bản đã hình thành một tiểu đoàn quân nhu tổng hợp quản lý theo kiểu thời chiến bao cấp.

Phải nói thêm rằng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 1 hăng hái nhiệt tình thì có thừa, nhưng chuyên môn nghiệp vụ hoàn toàn không biết gì! Cái gì cũng mới lạ, hiện đại, chưa từng biết đến. Tuy nhiên, với tinh thần học hỏi vươn lên, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, nên đã giải quyết được những khó khăn của những ngày đầu vào tiếp quản.


Đồng thời ta cũng biết sử dụng tất cả những người của chế độ cũ đã từng làm việc ở Căn cứ 10. Họ là những người rất giỏi về chuyên môn nghiệp vụ như: Cơ điện có chú Sóc, chú Bội, chú Anh (sửa xe ô tô). Sửa máy may có ông Phước, ông Thạnh, v.v... Điện nước, xăng dầu có bác Huấn, Hải, Quý... Và một đội ngũ lái xe đưa rước, xe tải rất giỏi, hăng say tận tình với công việc. Riêng trung tâm sản xuất quân trang, ban đầu ta hoàn toàn dựa vào bộ máy của chế độ cũ để quản lý điều hành nên ngày đầu sản xuất dây chuyền vẫn hoạt động bình thường. Những bộ quân phục chiến sĩ đã ra đời hàng loạt, cung cấp hàng ngàn sản phẩm phục vụ cho duyệt binh mừng chiên thắng 30 tháng 4.


Căn cứ 10 có một kho bạc nằm ở khu vực phòng tài ngân. Ngay trong sáng 7 tháng 5, anh Ngô Trọng Nguyền và tôi được giao nhiệm vụ bàn giao cho tài chính Trung ương Cục.

Tên thiếu tá Trướng phòng tài ngân nói:

- Dạ thưa quý anh, việc bàn giao kho bạc để tôi xin ý kiến đại tá Ngọc.

Anh Nguyên đập bàn đứng phắt dậy chống tay vào bao súng ngắn quát:

- Anh phải bàn giao ngay lập tức, người ra lệnh cho anh bây giờ là chúng tôi. Nghe rõ chưa?

Tên thiếu tá xanh mặt khúm núm:

- Dạ rõ, xin quý anh bớt giận.

Tuy nhiên, cán bộ tài chính Trung ương Cục lại nói:

- Đề nghị cho chuyển cả hai két lên xe ô tô!

Tên thiếu tá trưởng phòng nói:

- Dạ thưa, muốn chuyển cả hai két thì trước hết phải đập căn nhà này, sau đó dùng cẩu nâng đi mới được.

- Vậy là không ổn rồi! Phải mở két thôi đồng chí ơi! - Anh Nguyền nói.

Tên sĩ quan thủ quỹ cho mở cả hai két. Bên trong chỉ còn hơn trăm triệu bạc lẻ, còn lại toàn ngân phiếu. Vậy là có khả năng chúng đã tẩu tán trước khi quân ta vào rồi!

Chúng tôi lập biên bản bàn giao toàn bộ tiền và ngân phiếu cùng sổ sách cho cán bộ tài chính Miền.

Tên sĩ quan thủ quỹ và thiếu tá trưởng phòng tài ngân cũng bị đưa đi luôn để thẩm tra, xác minh.

Thứ năm ngày 15 tháng 5 năm 1975, tức ngày mùng 5 tháng 4 năm Ất Mão, tất cả công nhân viên chức được nghỉ để đi dự lễ 30-4, ngày miền Nam đại thắng.

Luật sư Nguyên Hữu Thọ đọc diễn văn trước năm mươi lăm ngàn đồng bào và chiến sĩ thành phố. Ngay cửa dinh Thống Nhất rợp trời cờ hoa, đông nghịt người. Một ngày vui đại thắng, cả nước tưng bừng, cả nươc mít tinh, cả nước sôi động vì đất nước ta đã hoàn toàn không còn bóng quân xâm lược. Tổ quốc một dải thống nhất. Trong ngày vui, bao bà mẹ, người vợ đang ngày đêm mong ngóng chồng con trở về.


Tôi và anh Hiệp Thạnh ngồi trên xe ô tô jeep do chú Sóc lái nhưng không vào dự mít tinh được nên chạy vòng ra bến Bạch Đằng đứng trước tượng Trần Hưng Đạo, ngắm nhìn bến sông nước lăn tăn dưới ánh nắng vàng lấp lánh. Trong đầu vẫn cứ nghĩ mình đang trong một giấc mơ, một giấc mơ mà mãi mãi là sự thật hào hùng của ngày vui đại thắng.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:38:16 am
Chương ba
TRỞ VỀ QUÊ MẸ


Chuyến đi phép, từ miền Nam về quê

Năm 1975 trôi nhanh cùng biết bao nhiêu điều mới lạ đến kinh ngạc. Những năm tháng tiếp quản một khối lượng tài sản khổng lồ với những nhiệm vụ mới chưa từng thấy. Và những cảm giác sung sướng, hạnh phúc đến vô bờ, tràn ngập niềm vui của những người chiến thắng. Mấy chục năm gian khổ, ác liệt vô vàn nhưng nước mắt không hề rơi. Vậy mà những ngày tháng của năm 1975 đã làm tuôn rơi nước mắt, vang lên tiếng cười khắp hai miền Nam Bắc của hàng chục triệu con tim. Để thỏa lòng nỗi khát khao nhớ nhà, nhớ quê, ngày 6 tháng 2 năm 1976, Tiểu đoàn 1 tổ chức đi phép cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Đây cũng là chuyến đi phép đầu tiên của Cục hậu cần Miền Quân giải phóng miền Nam. Tôi và anh Phạm Trọng Văn, Trần Đình Thước, Đặng Thuận, v.v... nằm trong danh sách đó.


Mọi người tập trung tại phòng bộ phòng quân nhu (Căn cứ 10) và lên xe ca (xe buýt) đi Long Khánh. Đó là trạm đầu trên chặng đường về quê. Dọc quốc lộ 1 có nhiều trạm tiếp đón bộ đội đi phép. Những nơi đó có nơi ăn nghỉ đàng hoàng, phục vụ chu đáo. Mỗi xe ca chở được năm mươi, xe tải chở được ba mươi sáu người. Chặng thì đi xe tải, chặng thì đi xe ca, đến thành phố Vinh thì chuyển sang tàu hỏa.


Bảy giờ sáng ngày 14 tháng 2, chúng tôi có mặt ở ga Hà Nội, tiếp theo là sang đi xe ca về thị xã Hải Dương. Chuyến đi phép này tôi có mua và mang theo một chiếc xe đạp Sài Gòn. Điều mà chuyến đi phép mười năm trước tôi nằm mơ cũng không có.


Xuống ô tô ca tôi lên xe đạp phóng về nhà. Qua thị xã, không khí vui tươi phấn khởi rộ lên trên khuôn mặt mọi người. Tất cả là bầu không khí chiến thắng, nhộn nhịp trong hòa bình, thay cho cảnh vắng lặng hoang tàn của thời chiến tranh phá hoại.


Dọc chuyến đi, tôi có dịp chiêm ngưỡng ngắm dải đất hình chữ S Việt Nam. Những nơi mà cách đây hơn mười năm tôi phải hành quân đi bộ suốt sáu tháng trời từ Ninh Bình vào Tây Ninh.

Trở về lần này với sự hỗ trợ của các phương tiện vận tải, chúng tôi chỉ mất 8 ngày. Dọc đường ngồi trên xe ô tô chạy trên quốc lộ 1, các cô gái thanh niên xung phong sửa đường tàu, đường ô tô thi nhau ném đá vào chúng tôi, còn chúng tôi thì ném các khúc mía xuống. Các cô nghiêng ngả cười giòn giã:

- Về nhà lấy vợ mau lên nhé các anh!

- Các anh ơi! Xuống xe đến với chúng em đi! Bọn em dắt mối cho, nhiều lắm nè, tha hồ mà chọn.

Chúng tôi bảo nhau: "Gái thanh niên xung phong cũng đáo để đấy chứ!".

Vừa ném nhiều khúc mía chúng tôi vừa rải xuống những câu hò:

- Anh về xin cưới em đây, là tình tính tang... Mau lên xe để anh rước ngay là ngay về nhà, là tang tính tình... Hò ơi! Là các em xung phong... là phong lấy chồng... hò ơi là các em ơi!

Quang cảnh này nói lên nỗi khát khao hòa bình, khao khát tình yêu đôi lứa sau bao năm khói lửa chiến tranh. Nếu mà đoàn xe dừng lại lúc này tôi dám chắc sẽ nhiều chuyện xảy ra không tài nao cưỡng lại.


Ngồi trên xe đạp với bộ quần áo quân giải phóng, mũ tai bèo, ba lô con cóc, bọn trẻ con dọc đường chạy bám theo. Tôi mặc kệ, cứ cắm cổ đạp băng qua cửa đình vào làng, về đến cổng nhà, xuống dắt xe là phía sau một dãy trẻ con và mọi người bám theo.

Mọi người reo lên:

- Thằng Dương con bà Phòng về rồi kìa!

- Chú bộ đội ơi! Cho chúng cháu ăn kẹo với!

Dắt xe vào tới sân, hàng xóm và họ hàng đã ào tới, tất cả vây quanh. Trong lòng tôi nao nao sung sướng. Mẹ tôi lao ra khóc, rồi túm lấy tôi, bà chẳng nói được điều gì, cứ khóc hoài.

- Nó đã về! Nó sống đây rồi! Việc gì mà chị khóc dữ vậy!

Mấy bà dì: bà Tụng, bà Tích, bà Nhận rồi mấy ông cậu cùng các em, họ hàng vây lấy xung quanh.

Tôi buông tay, chiếc xe đạp đồ kềnh xuông. Bước vào nhà, chiếc ba lô tuột khỏi vai lúc nào không biết, tôi đứng lặng đi nhìn mọi người. Cái sung sướng nghẹn ngào làm tôi như mất trí. Mọi người coi tôi như "người từ cõi chết trở về". Không khí trong nhà như một buổi liên hoan đầy tiếng cười nói và xen lẫn tiếng khóc cùng nước mắt rơi.


Tôi ngồi xuống ngắm nhìn bộ tràng kỷ có từ dạo mới đi bộ đội. Rồi ngước mắt lên tường thấy bằng "Tổ quốc ghi công liệt sĩ Phạm Văn Hải". Lòng tôi đau quặn, người xìu xuống, hai tay ôm mặt nức nở khóc. Trong đầu tôi chập chờn hiện lên hình ảnh anh vẫy tay tiễn đưa tôi lên đường vào Nam ở ga Cẩm Giàng.


Đúng ra, anh đã có vợ bốn con, mẹ già, nhà lại có người đã đi bộ đội thì đâu phải đi nữa. Nhưng chỉ vì anh khao khát trở thành đảng viên Cộng sản, muốn đóng góp vào sự nghiệp giải phóng miền Nam và tạo môi trường mới để bứt phá sự ràng buộc về lý lịch khổ đau, với một lý lịch bố vợ là địa chủ, bố đẻ vào miền Nam rồi mất tích biệt tăm, nên địa phương cho là ông đã theo địch, thì sao mà đủ tiêu chuẩn vào Đảng chứ! Chỉ có con đường "Một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực", vào chiến trường chiến đấu, dũng cảm xung phong sẵn sàng hy sinh, thì có thể bứt phá cái lý lịch ngang trái kia để ước mơ trở thành hiện thực. Nhưng may mắn đã không đến, anh đã hy sinh, xương cốt anh đã nằm sâu vĩnh viễn dưới chân đồi Chóp Nón ở tây nam thành phố Huê mà gia đình đã nhiều lần tìm không được.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:39:26 am
Ngược lại, tôi quá may mắn, đáng nhẽ tôi phải hy sinh để anh được trở về mới đúng. Vậy mà giờ đây tôi lại trở về. Anh đã hy sinh để góp công cho ngày hôm nay.

Tối hôm đó cả nhà chật ních, đông vui, mẹ tôi rất sung sướng, bà đã khóc cạn nước mắt, bây giờ mới thấy mẹ vui cười. Mẹ nói với chị Hải ngày mai mổ con heo để ăn mừng tôi đã trở về. Tuy nhiên vợ chồng chú Hân ở phố Tam Giang tham gia:

- Làng xóm rất nhiều người hy sinh, hòa bình rồi nhưng nỗi đau mất mát, cảnh buồn đang hiện diện ở nhiều gia đình, vậy gia đình mình có nên mổ heo ăn mừng hay không? Không nên chị à!

Thay vào đó trưa ngày hôm sau, chị Hải có làm một hai mâm cơm để mấy người đại diện cùng chia vui.

Mấy đứa cháu Huyền, Khuyên, Khuyến, Luyến quấn quýt quanh tôi, cháu Khuyên nói:

- Chú ở miền Nam, bà nhớ, suốt ngày nói cháu đọc "Bài thơ gửi mẹ" mà chú gửi về cho bà nghe:
Mẹ ơi bao nỗi nhớ thương
Con xin gói lại khẩn trương gửi về.
Con xin gói lại làm quà,
Gửi về kính biếu mẹ già kính yêu.
Mẹ ơi! Con nhớ rất nhiều,
Xanh xanh đồng lúa sớm chiều gió đưa.
Nhớ bờ tre rợp bóng ven bờ,
Nhớ con đường uốn quanh co giữa làng.
Nhớ bà con, nhớ họ hàng,
Bờ đê gió lộng xuân sang xuân về.
Nghĩa là tất cả làng quê,
Sớm, chiều, trưa, tối vẫn về tim con...


Mấy ngày sau tôi lần lượt đi thăm bà con làng xóm, họ hàng xa gần. Đến thăm gia đình liệt sĩ, ai cũng khóc nức nở, nói chuyện trong nỗi buồn đau da diết. Tôi vui vẻ động viên mọi người cố gắng vượt qua nôi đau mất mát để vươn lên trong cuộc sống. Dù sao chiến tranh đã chấm dứt, cách mạng đã thắng lợi hoàn toàn, miền Nam đã được giải phóng. Đây là niềm vui vô cùng to lớn của toàn dân, nó sẽ làm vơi đi những mất mát đau thương của mọi người. Những ngày sau đó các cậu mợ, các dì liên tục mời tôi đến ăn cơm với gia đình. Cuối cùng tôi đến ăn cơm nhà chú thím Hân ở ngoài phố Tam Giang. Các em Hoan, Hạnh, Hiển, Hiền, Hương cùng ngồi quây quần nói chuyện, nhất là cô em gái Hạnh vừa tốt nghiệp phổ thông, chưa đi làm gì, ngày nào Hạnh cũng rủ cô bạn tên là Oanh đến nhà tôi chơi.


Sáng chủ nhật ngày 6 tháng 3 năm 1966, tôi và Hạnh cùng Oanh rủ nhau đi Hà Nội. Một chuyến đi mà sau này tôi ngẫm nghĩ nó ngồ ngộ thế nào ấy!

Ba anh em xuống tàu hỏa ở ga Hà Nội. Cái xe đạp mà tôi đem từ Sài Gòn ra được cả ba người ngồi chạy nghênh ngang trên đường phố. Tôi lái xe, Hạnh ngồi sau, còn Oanh ngồi trước ở khung ngang, thế mà nó cứ lao vun vút từ ga Hàng Cỏ về phía khu tập thể Kim Liên. Cả ba người trên xe đều rũ ra vừa nói vừa cười, một cảnh ngồ ngộ giống y Mán Mường về Thủ đô vậy.


Tìm đến khu tập thể Kim Liên, ba anh em hỏi thăm nhà ông Đặng Thanh trưởng ga Hàng Cỏ. Ông Đặng Thanh là bố của Đặng Thuận bạn của tôi ở Tiểu đoàn 1 trong Sài Gòn. Nhà ông là một căn hộ trên lầu 1, có hai phòng ngủ và bếp. Còn phòng vệ sinh chung với hàng xóm ở bên cạnh, được khóa bằng hai ổ khóa ngoắc vào nhau. Đây là khu tập thể được xây dựng đầu tiên ở Hà Nội. Ngày khởi công do đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng khai móng.


Hai ông bà Đặng Thanh đều ra cửa đón chúng tôi. Họ rất mừng vì nghe tên tôi từ lâu rồi mà chưa biết mặt. Đặng Thuận đi chơi cũng vừa về tới nhà, hai anh em tay bắt mặt mừng, cả nhà cùng ăn bánh kẹo (quà từ Sài Gòn) uống trà rồi miên man tâm sự.

Đặng Thuận hỏi:

- Anh Dương! Hai cô này là ai vậy?

Tôi cười nói:

- Đây là Hạnh, cô em gái con ông chú. Còn đây là cô Oanh bạn của Hạnh.

Thuận đấm vào lưng tôi:

- A ha... "Bồ" của anh Dương phải không?

Oanh xấu hô đỏ cả măt:

- Không phải, em chỉ là bạn của Hạnh thôi!

Thấy mọi người lúng túng, Đặng Thuận lái sang chuyện chuẩn bị cơm trưa. Ăn cơm xong ba anh em xin phép gia đình rồi chở nhau đi chơi!

Sau mười năm ở rừng về nhìn phố xá Thủ đô đâu đâu cũng thấy lạ. Đi đến bờ hồ Hoàn Kiếm thấy xe điện chạy leng keng, nhà cửa san sát, người xe đi lại nhộn nhịp, tấp nập, hơn hẳn thị xã Hải Dương.

Hòa bình trở về, cảnh hoang tàn của chiến tranh đang được khắc phục. Thủ đô như bừng lên khởi sắc từng ngày. Ba anh em ngồi ăn kem ở nhà hàng thủy tạ ven hồ, ngắm mặt nước xanh rờn, lăn tăn gợn sóng, xa xa dập dờn in bóng tháp rùa...


Tình yêu của người lính sau chiến tranh đã được khơi dậy khi hòa bình trở về... Đôi mắt tôi vẫn xa xăm nhìn em ngồi gần đó, mà sao ngại ngùng chưa dám nói. Về quê đã bước sang tuổi 28, mình đã cảm thấy già nua, lạc hậu, sự nghiệp còn lênh đênh ở một phía chân trời, nên chưa dám nghĩ đến em còn quá trẻ, hồn nhiên trong sáng...


Ngồi trên xe đạp, trước lòng mình là một cô gái, mái tóc đen thơm bay hay theo chiều gió phả vào mặt, lòng tôi ngất ngây sung sướng nhưng mà sao em xa xôi đến thế!

Ba anh em trở về nhà Đặng Thuận, đang ngồi uống nước nói chuyện với ông bà Đặng Thanh thì em gái của Thuận về.

Bà Rặng Thanh chỉ tay nói với con gái:

- Đáy là anh Dương ở Sài Gòn ra chơi, mà con đã nghe nói rồi đấy! Còn đây là hai cô em gái anh Dương!

Bà quay sang phía con gái giới thiệu tiếp:

- Đây là em Lợi, em gái của Thuận đây! Anh em làm quen với nhau đi.

Lợi hơi đó mặt, trông xinh xắn, pha nét sắc sáo của một người con gái Thủ đô, cô cúi chào mọi người rồi lậng lẽ rút lui ra ngoài.

Có lẽ đấy là một bất ngờ của gái trai chưa một mối tình, một hiểu lầm, một thất vọng nhẹ nhàng man mác se lạnh như gió mua thu. Để rồi thời gian sau thấy tiếc nuối, vấn vương.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:40:31 am
Sáng hôm sau chúng tôi chia tay ông bà Đặng Thanh và bạn Thuận trở về Hải Dương, về tới nhà. Về tới nhà vẫn đông vui và tấp nập, nhưng mọi người chuyển sang đề tài khác. Một đề tài người lính về quê đã gần ba ba mươi tuổi mà chưa có vợ.


Các bà mối thường đến chơi, hôm nào cũng giới thiệu: Cô Hoàn ở xóm Cốn, cô Hiền ở xóm hai rồi con bà hàng xóm ở đằng đông. Cùng có mấy cô có nhã ý đến chơi, nhưng là tò mò thăm dò ý tứ... Tôi chỉ đánh trống lảng và cười giã đám.


Thằng Phao cùng đi bộ đội với tôi, về nhà trước gần một năm nay, hiện đang là chủ nhiệm hợp tác xã, lấy vợ đã có con, đến chơi khuyên:

- Đất hợp tác xã còn nhiều lắm! Anh xem thích miếng nào, em sẽ cắt cho anh làm nhà rồi cưới vợ đi.

Đất cát sau chiến tranh chưa có luật, dễ dàng lắm, chứ đâu phải như sau này chặt chẽ, khó khăn và đắt đỏ.

Rất nhiều bạn bè thời cùng làm hợp tác xã như: Tĩnh, Sang, Phao, Ngân, Ly, Trác cùng các đàn em như: Giảng, Bảo, Tường, Châu, Thân, Tỉnh, v.v... đều khuyên ở nhà lấy vợ.

Tôi kết thúc luôn:

- Anh có duyên nợ với Sài Gòn rồi! Chắc phải vô chuyển ngành và công tác ở trong đó thôi.

Mấy người hỏi dồn:

- Vậy còn bác đã già rồi thì sao?

- Anh sẽ ổn định rồi đón bác vào trong đó ở, các em đừng lo.

Tôi nói như vậy bởi vì nghĩ ở quê cuộc sống rất khó khăn, vả lại khí hậu rét lạnh ở miền Bắc rất khắc nghiệt, không phù hợp với tôi. Trở về đơn vị tôi có rất nhiều lựa chọn, còn ở đây không có lựa chọn nào khác.


Sau giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975 tôi dành được ít tiền do được thưởng nhiều chế độ khác nhau: Bác Tôn thưởng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng, Cục Hậu cần miền Nam, Phòng quân nhu giải thể quỹ, v.v... Đó là tiền thưởng cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam. Tiền thưởng được thanh toán bằng tiền của chế độ Sài Gòn cũ. Sau đó tôi đổi ra tiền miền Bắc để chi dùng cho việc đi phép lần này.


Gần mười năm trong rừng kháng chiến ở miền Nam, nhiều lần thoát nạn, nay sống sót trở về quê trong hòa bình, tôi thấy cái gì cũng mới lạ. Từ con kênh đào trước đây sâu là thế, bây giờ nông cạn hẳn đi. Sân đình thấp xuống, dãy tre làng cây đa trông xơ xác, lá thưa vàng úa. Cái giếng nước đầy rào gai tre...


Tất cả những người mà tôi đã gặp, trông họ như vừa qua một trận bão tố, nhưng chai sạn, vững vàng lên nhiều lấm. Hình như chiến tranh, gian khổ, mất mát đau thương đã tôi luyện họ trở thành những "người hùng của quê hương", thành trì vững chắc của miền Nam tiền tuyến, về quê lần này tôi thấy hàng hóa khan hiếm quá, khác hẳn ở Sài Gòn. Cũng may khi về tôi đã mua rất nhiều bánh kẹo thuốc lá, bột ngọt, mua cả quạt trần, xe đạp về nhà. Vì vậy tha hồ tiếp khách, làm quà, mà toàn những hàng "xịn" mới lạ. Nói như vậy cũng đúng thôi bởi vì mấy chục năm trời cả miền Bắc thắt lưng buộc bụng, chịu đựng gian khổ, tất cả của cải vật chất tinh thần đã dồn vào chi viện cho tiền tuyên cho miền Nam thân yêu thì còn đâu mà hàng hóa không khan hiếm.


Đồng bào miền Bắc cái giàu nhất bây giờ là tinh thần và tình cảm, là lòng yêu thương, chịu đựng vô bến bờ. Cả miền Bắc hướng vô Nam giờ đây là: Hàn gắn vết thương chiến tranh, là gạn đục khơi trong, là vực miền Nam dậy, cái gì hay của chế độ cũ tư bản ta giữ lại, cái gì xấu kiên quyết đấu tranh loại bỏ.


Có lần tôi mời bạn bè ra cửa hàng ăn uống ở thị xã Hải Dương để chiêu đãi mỗi người một tô phở. Cửa hàng tại trung tâm mà nhếch nhác, dơ bẩn cái gì cũng thiếu. Đứng dậy kiếm lấy ớt, chanh, quay về thì mất luôn ghê, phải ăn phở đứng. Hàng chục cán bộ chiến sĩ lôi cửa hàng trưởng ra truy hỏi:

- Chúng tôi hỏi anh, bao năm nay chúng tôi lăn lộn ở chiến trường, các người được ở lại xây dựng quê hương mà quản lý xây dựng cửa hàng thế này à? Cái gì cũng thiếu, dơ bẩn, tinh thần phục vụ rất kém, coi khách hàng không ra gì! Vậy có xứng đáng không?

Một đồng chí sĩ quan đeo lúng lẳng súng ngắn tên là Trần Đình Thước túm cô áo anh cửa hàng trưởng nói to:

- Các ông vô Sài Gòn mở to mắt ra xem người ta phục vụ khách hàng, để mà học tập nghe chưa?

- Hôm nay chúng tôi tha cho đấy, lần sau sẽ quay lại kiểm tra xem có thay đổi không?

Nói thật đám bạn bè của tôi công thần quá, từ nơi gian khổ, ác liệt trở về thấy những cảnh như vậy rất bức xúc. Thời gian công tác ở Sài Gòn cũng được gần một năm, hàng hóa cái gì cũng có, chẳng phải tem phiếu gì cả! Về đến miền Bắc hàng hóa đặc biệt khan hiếm, các cửa hàng bách hóa toàn là của Nhà nước. Nhân viên bán hàng kiểu ban phát, cửa quyền.


Chế độ ta đã xây dựng và tạo ra những lớp người đánh giặc rất giỏi, dũng cảm hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vì vậy cách mạng đã thắng lợi hoàn toàn. Hòa bình trở về thì cơ chế cũ đã lạc hậu, không phù hợp với thời kỳ xây dựng kinh tế nữa. Chủ trương xóa bỏ cơ chế bao cấp sau này là hết sức phù hợp.


Hai tháng đi phép đã trôi qua. Sau bữa cơm liên hoan chia tay gia đình, tôi khoác ba lô trở về miền Nam. Ngồi trên tàu hỏa còi rú reo vang, xinh xịch lăn bánh, những vòng khói đen cuồn cuộn nhả lên bầu trơi trong xanh. Thấy làng quê cứ xa dần rồi mất hút phía sau mà lòng tôi se lạnh. Bỏ lại làng quê nghèo khó, bị mất mát trong chiến tranh, nơi có mẹ già và các cháu thơ dại, tôi cảm thấy có lỗi vô cùng.


Nhưng mẹ ơi! Chặng đường sắp tới con tin là mình se lựa chọn đúng và sẽ gắng sức phấn đấu vươn lên. Đến một ngày nào đó không xa, con sẽ đón mẹ vô Sài Gòn để mẹ hưởng thọ tuổi già mãi mãi.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:41:13 am
Đợt đi phép về quê kéo dài từ ngày 6 tháng 2 đến 17 tháng 4 năm 1976 thì tôi có mặt ở Căn cứ 10 nhưng không còn Tiểu đoàn 1 nữa. Tôi sững sờ hẳn ra. Cách đây một tháng Phòng quân nhu đã quyết định giải thể Tiểu đoàn 1. Toàn bộ căn cứ 10 được bàn giao cho Cục quân nhu, Tổng cục Hậu cần quản lý. Tổng cục Hậu cần đã thành lập xí nghiệp X28 và kho K215. Xí nghiệp X28 do đồng chí Lữ Công Sọc làm giám đốc, Phó giám đốc là hai đồng chí Trinh Văn Thành và Lâm Hải Sơn.


Xí nghiệp X28 quản lý các xưởng may, cắt, quân hàm, quân hiệu, xưởng mộc, xưởng cơ khí, xưởng mũ cứng và khu C200. Tôi đến gặp giám đốc Lữ Công Sọc thì được phân công về trợ lý tổng hợp của Phòng kế hoạch, lúc đó mới có chị Trần Thị Ngọc Hường ở Hà Nội vô là phó phòng. Sau ít ngày về thêm anh Đào Mạnh Mấn làm trưởng phòng, anh Trần Đình Phương làm phó phòng. Như vậy, phòng kế hoạch có một trưởng và hai phó.


Khoảng hơn tháng sau, anh Đào Mạnh Mấn được điều về trưởng phòng lao động tiền lương, anh Trần Đình Phương lên làm trưởng phòng kế hoạch.

Trước khi đi phép, tôi có bàn giao hai tủ sắt toàn đồ chiến lợi phẩm về đồ dùng văn phòng rất giá trị cho hai người. Khi về nhận bàn giao lại thì một tủ còn nguyên, còn tủ kia thì trống rỗng, hỏi ra thì anh ấy cho sạch mọi người rồi. Sau đó giám đốc đã điều anh ấy về làm nhân viên phòng hậu cần.


Ngày 20 tháng 6 năm 1976, giám đốc cử tôi và anh Nguyễn Xuân Quýnh đi học lớp kế toán, thống kê công nghiệp do Cục tài vụ Bộ Quốc phòng mở tại nhà máy đóng tàu Ba Son ở bến Bạch Đằng. Hai anh em và toàn bộ học viên từ Đà Nãng trở vào được nhà máy bố trí ăn ở tại khu tập thể.


Học được một tháng thì nửa đêm tôi bị đau bụng dưới dữ dội, lăn từ trên giường lăn xuống đất. Lăn tiếp ra cửa ngoài hiên, đi tiểu máu tươi tóe ra xối xả. Anh em học viên phải khênh cáng vào bệnh viện của Bộ Tư lệnh Hải quân cấp cứu. Bác sĩ khám bệnh kết luận tôi bị viêm đường tiết niệu cấp. Điều trị được mười ngày thì khỏi, tôi lại trở về học tiếp.


Đúng vào thời điểm này Nhà nước tổ chức đổi tiền của chính quyền Sài Gòn, phạm vi toàn miền Nam, từ vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) trở vào. Hôm đó là ngày chủ nhật, đến 8 giờ sáng là cấm trại, "nội bất xuất, ngoại bát nhập". Dân ở bên ngoài hoang mang lo sợ, vì mỗi người chỉ được đổi một tỷ lệ nhất đinh, số còn lại chắc là phải bỏ hoặc nộp lại cho Nhà nước. Đây là cuộc cách mạng tiền tệ nhằm gột rửa chế độ cũ và từng bước thống nhất tài chính cả hai miền Nam Bắc.


Sau ba tháng, vào ngày 21 tháng 9 năm 1976 thì mãn khóa học, tôi và Quýnh lại trở về X28 với công việc cũ.

Khi chúng tôi đi học về giám đốc xí nghiệp yêu cầu phòng kế hoạch tổ chức mở lớp học thống kê công nghiệp do đồng chí Trần Đình Phương phụ trách. Tôi được giao nhiệm vụ xây dựng giáo án và đồng thời trực tiếp truyền đạt toàn bộ kiến thức đã học cho 15 học viên của xí nghiệp.


Trong thời gian này có phong trào ra quân, chuyển ngành trong toàn quân. Trước mặt tôi có ba, bốn con đường lựa chọn:

Một là đi xây dựng nông trường ở Tây Ninh, khu vực huyện Tân Biên. Xung quanh núi Bà Đen, có con suối Ngô nước trong xanh mát rượi. Nơi đó tôi đã từng ở sau khi có Hiệp định Paris về Việt Nam, đất đai màu mỡ rộng mênh mông. Nhìn những dải đất đó tôi mê lắm. Tôi rất mê đất đai, cây xanh. Dạo đọc mấy tác phẩm văn học như "Cánh đồng hoang", "Thép dã tôi thế đấy", mình thích những cánh đồng lúa mì thẳng cánh cò bay, từng đoàn nam nữ thanh niên ở nhà tập thể đi xây dựng nông trường.


Hai là chuyển ngành ra Tổng công ty lương thực miền Nam do ông út Tùng làm thủ trưởng, ông Bảy Hùng làm kế toán trưởng. Ông út Tùng trước đây là Phó phòng quân nhu, còn ông Bảy Hùng là trưởng ban tài chính đoàn Hậu cần 220 (cùng đoàn với tôi cũ). Các ông hứa nếu chuyển ngành ra, tổng công ty sẽ đào tạo thành kế toán trưởng rồi cứ thế mà đi lên.


Ba là đi học công an ở Vũng Tàu. Dạo đó công an rất thiếu, nếu là cán bộ trung đội phó trở lên, đảng viên mà xung phong sẽ được đào tạo sáu tháng, sau đó về thành phố làm trưởng phó công an phường.


Cả ba phương án chuyến ngành đều bị giám đốc Lữ Công Sọc gạt đi và gọi tôi lên nói:

- Cậu bao năm phục vụ quân đội, có kinh nghiệm lại vừa đi bồi dưỡng nghiệp vụ về thì phái xác định ở lại xây dựng đơn vị lâu dài, sao cứ đòi đi hoài vậy? Được rồi, xí nghiệp sẽ đưa cậu đi học phá ngạch (sĩ quan quân nhu).

Ngày 15 tháng 11 năm 1978, giám đốc xí nghiệp X28 cử các đồng chí: Bùi Văn Triển, Nguyễn Thông, Nguyên Xuân Quýnh và tôi đi học ở trường sĩ quan quân nhu ở gần thị xã Sơn Tây. Học được ba tháng thì chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc nổ ra. Cả miền Bắc lại sôi sục phục vụ và chiến đấu. Lớp học tạm nghỉ mười ngày để tham gia các hoạt động chống quân xâm lược. Khắp phòng tuyến phía bắc Hà Nội dày đặc là pháo đại bác và các ụ súng 14,5 12,7 ly, giao thông hào chằng chịt. Các loại xe vận tải xe ca chở bộ đội từ phía nam lên phía bắc, nối đuôi chạy dài lên quốc lộ 3.


Ngày 16 tháng 3 năm 1979, chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tạm lắng. Cũng vào thời gian đó chúng tôi ra trường, tất cả học viên đều có quyết định trở về đơn vị cũ công tác. Riêng còn lại anh Bùi Văn Triển và tôi thì chuyển về Xuân Đỉnh - trạm tiếp đón của Cục quân nhu nằm chờ hai tháng trời.


Buồn quá hai người đi chơi lang thang, uống trà, uống rượu với lạc rang, la cà ở các quán nước.

Tôi viết thư gửi anh Trần Đình Phương và Giám đốc X28 xin được chuyển về đơn vị cũ công tác. Mấy ngày sau đồng chí Tộ trợ lý cán bộ đến gặp phổ biến quyết định: Cục quân nhu điều động chúng tôi về phụ trách Trung đội tiếp nhận hàng đại ngạch (hàng của Liên Xô) ở Hải Phòng.

Anh Triển trình bày:

- Báo cáo anh tôi đã có gia đình, vợ con, nhà cửa ở Sài Gòn, nên đề nghị cho tôi được về X28 công tác.

Còn tôi cùng đề nghị được trở về đơn vị cũ.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:42:32 am
Chương bốn
MỘT THỜI GIAN KHÓ


Đội trưởng bảo vệ Nhà máy 28

Anh Tộ nghe hai người trình bày, thấy hợp tình hợp lý nên hứa về báo cáo Cục quân nhu xem xét lại. Trong tình hình xếp sắp và sử dụng cán bộ như thế này cũng giống hệt như bao cấp về kinh tế, nó gây lãng phí và vô lý vô cùng. Cán bộ sống và quen ở trong Nam thì điều ra phía Bắc. Trong khi đó cán bộ trong Nam rất thiếu. Học xong lại lãng phí cán bộ, ngâm hai tháng trời không sử dụng.


Rõ ràng sau chiến tranh những cái đầu phi lý, bao cấp đã không còn phù hợp. Cách mạng cần gạt bỏ những cái đó để cho đất nước tiến lên.

Một tuần sau vẫn đồng chí Tộ trợ lý phòng cán bộ với tác phong khệnh khạng, toòng teng cái túi da đến gặp chúng tôi, trao quyết định về X28 nhận công tác. Tôi và anh Triển vui mừng đi mua ngay vé tàu hòa vào Sài Gòn.


Đường tàu hỏa Bắc Nam đã được nối liền sau hai năm tích cực sửa chữa phục hồi. Ngồi trên tàu hỏa tôi thích thú làm sao. Được ngắm nhìn những cánh đồng miền Trung sau hai năm khắc phục hậu quả chiến tranh. Rất nhiều hố bom đã được lấp, làng Ho giáp sông Bến Hải, cầu Hiền Lương đã phủ một màu lúa vàng ươm. Những rặng phi lao xanh tươi thắng tắp ở hai bên đường. Trẻ con tung tăng kéo nhau đến trường...


Con tàu nặng nề leo lên lưng đỉnh đèo Hải Vân, nhìn sang phía đông biển cả mênh mông, từng đoàn thuyền phấp phới cờ đỏ sao vàng ra khơi đánh cá. Một cảm giác hơi rợn rợn, gai gà tôi nổi lên. Đất nước ta hùng vĩ quá, thăm thẳm bao la, vực sâu hun hút... Quay sang phía tây, rừng núi trùng trùng điệp điệp, non nước thanh bình. Tự nhiên tôi nhớ đến quê nhà, nơi có mẹ già mòn mỏi ngóng trông. Mẹ ơi! Con vẫn đang đi và tiến lên phía trước để tìm một con đường đi cho mình, mẹ hãy chờ đợi thêm mẹ nhé!


Ngày 9 tháng 6 năm 1979, tôi cầm quyết định đến gặp đồng chí Ngô Mẫn, Giám đốc nhà máy để nhận nhiệm vụ.

Hai lần ra Bắc và cả hai lần quay trở về tôi đều chứng kiến sự biến động lớn: Thay đổi của đơn vị. Lần trước là giải thể Tiểu đoàn 1, thành lập Xí nghiệp X28. Còn lần này là thành lập Nhà máy X28.

Việc thành lập Nhà máy X28 thực chất là nâng quy mô qua tên gọi, cùng trên cơ sở xí nghiệp cũ mà thôi. Tuy nhiên bộ máy lãnh đạo được cải tổ thay đổi. Đồng chí trung tá Ngô Mẫn (ở xí nghiệp may 20 vô) thay đồng chí Sáu Sọc làm Giám đốc kiêm Chính ủy Đồng chí Thái làm Phó chính ủy kiêm Phó giám đốc. Các phó giám đốc là đồng chí Sáu Sọc (Lữ Công Sọc) Trịnh Văn Thành, Lâm Hải Sơn.


Giám đốc Ngô Mẫn thấy tôi vào phòng, đứng dậy bắt tay hỏi thăm sức khỏe, mời ngồi uống nước, trầm ngâm suy nghĩ sau đó nói:

- Tình hình nhà máy gần đây có nhiều phức tạp công nhân ngày càng đông, lại làm hai ca, thậm chi xưởng mũ cứng làm ba ca. Đơn vị đang xây dựng thêm xưởng sản xuất giày vải. An ninh trật tự chưa tốt vật tư hàng hóa, đây đó vẫn bị mất mát nhiều - Dừng lại rót và uống ly trà sau đó giám đốc nói tiếp:

- Đảng ủy và Giám đốc nhà máy quyết định bố trí đồng chí làm đội trưởng bảo vệ nhà máy, thay đồng chí Bùi Bá Tê. Sau này tình hình ổn định đồng chí sẽ trở về phòng kế hoạch làm chuyên môn của mình.


Khi mới trở về nhà máy tôi đã quan sát thấy an ninh trật tự có vấn đề. Xe cộ các loại đi lại loạn xạ khắp nơi, việc kiểm soát công nhân ra vào không chặt chẽ, rất lộn xộn, trước cổng hàng quán bán la liệt. Giờ đây lãnh đạo chỉ huy đã chọn mặt gửi vàng tin tưởng thì mình phải quyết tâm đảm nhiệm thôi - Tôi suy nghĩ vậy rồi nói:

- Báo cáo thủ trưởng, tôi chấp hành nhiệm vụ và xin được xây dựng "phương án, kế hoạch tuần tra và canh gác bảo vệ nhà máy", cùng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đội bảo vệ, để giám đốc duyệt.

Giám đồc Ngô Mẫn nói tiếp:

- Đồng chí vừa nhận bàn giao, vừa xây dựng rồi báo cáo sau cũng được.

Tôi quyết định vừa nhận bàn giao vừa tranh thủ viết (hiện các văn bản này vẫn được lưu giữ làm kỷ niệm).

Giám đốc nhà máy đã phê chuẩn và ủng hộ các đề nghị của tôi:

1. Tất cả xe máy, xe đạp ra vào nhà máy đều phải gửi tập trung ở nhà xe ngoài cổng gác. Trong nhà máy không được bất kỳ loại xe nào không nhiệm vụ chạy ngoài đường.

2. Các hàng quán bán ở ngoài đường trước cổng nha máy phải được giải tán vĩnh viễn.

3. Cổng gác bổ sung thêm nữ bảo vệ để kiểm soát nữ công nhân.

4. Trong khuôn viên nhà máy, cán bộ, công nhân viên không có nhiệm vụ không được đi lại, la cà ngoài đường, ngoài khuôn viên phân xưởng.

5. Công nhân không được mang túi xách, hàng hóa vào nơi làm việc, trừ vật dụng cá nhân.

6. Ai vi phạm đều bị bảo vệ bắt giữ, sau đó báo cáo giám đốc xử lý.

Nửa tháng trời tôi trực tiếp chỉ huy một tiểu đội cảnh vệ phối hợp với công an địa phương liên tục phá bỏ lều quán buôn bán dọc trước cửa và xung quanh nhà máy. Có ngày tôi phải nổ súng bắn chỉ thiên để trấn áp người chống đối.


Việc gửi xe tập trung cũng rất phức tạp khó khăn, vì xe cả ngàn cái ra vào rồi gửi tại chỗ, phải sử dụng, quản lý thẻ xe và biện pháp chống mất xe thật tốt.

Hàng ngày có một tiểu đội chia làm bốn tổ tuần tra ban ngày để giám sát và giữ trật tự trong giờ hành chính. Một tiểu đội canh gác kiểm soát cổng gác, một tiểu đội tuần tra ban đêm. Riêng tôi được nhà máy bán cho một chiếc xe đạp giá cung cấp để tuần tra và đi lại.


Phương châm của tôi là làm việc phải nghiêm khắc, chặt chẽ. Xây dựng đội ngũ 36 chiến sĩ phải trong sạch, có nghiệp vụ kiểm tra giám sát, có quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngoài nhiệm vụ chính trị, tôi còn tổ chức cho anh em tăng gia sản xuất. Mỗi tháng bán hàng tấn rau cho phòng hậu cần để cải thiện đời sống.

Sau một năm, trộm cắp trong nhà máy giảm hẳn, an ninh trật tự tiến bộ hơn trước nhiều. Tình trạng bảo vệ thông đồng móc ngoặc với kẻ gian đã không còn. Nhà máy im phăng phắc chỉ còn tiếng máy reo, tiếng đi lại nhẹ nhàng làm việc, khách ra vào được hướng dẫn chu đáo.


Chấm dứt việc đi lại tự do trong nhà máy, xe ô tô các loại ra vào phải có giấy lệnh điều xe. Ngoài cổng không còn ai mua bán, hàng quán được dẹp bỏ.

Để có một kết quả này tôi đã rút ra một bài học: người lãnh đạo, chỉ huy trước hết:

- Cần có kế hoạch, chương trình làm việc khoa học, rõ ràng, hành động phải kiên quyết, dứt khoát, nghiêm khắc chặt chè. Tự mình rèn luyện phẩm chất bản thân phải trong sạch, gương mẫu cho tất cả mọi người noi theo.

- Thường xuyên giáo dục các chiến sĩ trong đơn vị nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, quyết tâm phân đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.

- Đoàn kết mọi người cùng giúp đỡ nhau, giám sát lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau hoàn thành nhiệm vụ. Kỷ luật nghiêm minh, khen thưởng kịp thời. Một đơn vị lỏng lẻo về tổ chức, mất đoàn kết nội bộ, để xảy ra tiêu cực, tham ô, lãng phí, không hoàn vụ, nhất thiết phải xem xét lại phẩm chất và năng lực trình độ của người đứng đầu và ngược lại.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:44:06 am
Tách Nhà máy X28, thành lập Xí nghiệp X32

Ngày 1 tháng 7 năm 1980, Nhà máy X28 chính thức được tách làm hai: Xí nghiệp X28 và Xí nghiệp X32 (ngày cấp trên ký quyết định là 22-4-1980).

Xí nghiệp X28 giám đốc là đồng chí Trịnh Văn Thành, Bí thư Đảng ủy kiêm Phó giám đốc là đồng chí Vũ Hữu Hanh, đồng chí Phùng Huy Khang làm Phó giám đôc sản xuất. Xí nghiệp X28 có các phân xưởng may, cắt, bảo toàn và đội xe.


Trưởng phòng kế hoạch là anh Trần Đình Phương. Các phòng tài vụ, vật tư do anh Dũng, chị Lựu làm trưởng phòng. Tôi được điều về làm Phó phòng kế hoạch, sau một năm làm đội trưởng bảo vệ. Theo nhiều người nhận xét, xí nghiệp X28 đội ngũ cán bộ được bố trí khá vững chắc, nhiều người có năng lực và trình độ quản lý, sản xuất ổn định, nguyên liệu vật tư đầy đủ.


Xí nghiệp X32 dù được bổ sung cán bộ song thực lực còn quá yếu về mọi mặt, cộng với tình hình sản xuất, kỹ thuật, vật tư gặp rất nhiều khó khăn. Đây là thứ thách của công tác tổ chức cả cấp trên và cấp dưới.


Đúng như dự đoán một năm sau Xí nghiệp X32 đã gặp sóng to gió lớn. Do năng lực cán bộ yếu kém nên nhiệm vụ chính trị không hoàn thành. Một số cán bộ thì đục khoét của công, ra tòa và bị kỷ luật. Ban giám đốc bị thay thế gần hết.


Đó là hậu quả quá xót xa của Xí nghiệp X32, của công tác tổ chức cán bộ.

Đứng trước tình hình đó, cấp trên đã điều năm người từ Xí nghiệp X28 sang tăng cường cho Xi nghiệp X32: đồng chí Vũ Hữu Hanh sang làm Giám đốc kiêm Bí thư Đáng ủy. Đồng chí Trần Đình Phương làm Phó giám đốc sản xuất. Đồng chí Phạm Trùng Dương làm trưởng phòng kế hoạch. Đồng chí Nguyễn Quý Pháp, Bùi Văn Triển về làm thư ký công đoàn và trợ lý bảo vệ. Đồng thời cấp trên điều thêm hai đồng chí Mai Duy Hiền, Đinh Tiến An về làm trưởng phòng kỹ thuật, trưởng phòng vật tư. Xí nghiệp X32 đã có một bộ mặt mới, được kiện toàn về tổ chức.


Tuy nhiên, về mặt sản xuất gặp rất nhiều khó khăn: máy cán luyện cao su, lưu hóa giày vải thường xuyên hư hỏng. Nguyên liệu, vật tư như cao su, hóa chất bột giấy khan hiếm, có khi phải ngừng máy. Đặc biệt dây mayso (phải nhập khẩu từ Liên Xô) có lúc thiếu trầm trọng. Cũng nhờ vào đội ngũ cán bộ mới được tăng cường, có năng lực, trình độ và phẩm chất đoàn kết nên khó khăn lần lượt được giải quyết.


Tuy nhiên trải qua một năm, một số điểm yêu của công tác cán bộ đã bộc lộ, cần tiếp tục chấn chính.

Tháng 8 năm 1982, đồng chí Trần Đình Phương lên làm Giám đốc thay đồng chí Vũ Hữu Hanh được điều về Cục quân nhu. Đồng chí Mai Duy Hiền làm Phó giám đốc kỹ thuật, đồng chí Đinh Tiến An làm Phó giám đốc sản xuất. Đồng chí Long và đồng chí Cam Phó giám đốc về hưu và chuyển về xí nghiệp dược 150. Đồng chí Đặng Đình Hán làm Phó giám đốc hậu cần. Đồng chí Căn thay đồng chí Vĩnh làm trưởng phòng tài vụ. Đồng chí Vũ Gia Phúc được bổ nhiệm làm Phó phòng kế hoạch. Đồng chí Tuấn làm trưởng phòng vật tư. Đây là đợt sắp xếp cán bộ được xem là tương đối hoàn chỉnh nhất.


Đơn vị đã có dấu hiệu đi lên, công tác của tôi đã ổn định, vì vậy mọi người đã thúc giục tôi xây dựng gia đình: "Cậu đã 34 tuổi rồi còn gì nữa mà chần chừ" - Mấy "ổng" ấy nói!

Khi về tiếp quản Sài Gòn (căn cứ 10) tôi luôn tâm niệm sẽ lấy vợ quê ở miền Nam cho gần gũi và thuận tiện. Vả lại mình cứ thích như thế! Vì mấy chữ miền Nam, Sài Gòn nó cứ thân thương, thiêng liêng lưu luyến thế nào ấy! Lúc đêm khuya là văng vẳng bài hát "Cô gái Đồng Tháp hát tặng anh giải phóng quân" đã từng làm tôi xúc động ở bãi tập kết K9. Rồi hình ảnh cô gái mặc bộ quần áo bà ba, quấn trên cô chiếc khăn rằn sọc đen trắng tung bay trước gió giọng noi ngọt ngào dê thương: "Mời anh về rừng dừa thăm quê em", cứ phảng phất bên tôi.


Bảy năm trời tìm khắp đất Sài Gòn - Gia Định mà vẫn chưa lấy được người trong mộng. Đã không ít lân vỡ mộng vì những sự cố không mong muốn tưởng là cỏn con. Tôi xin kể một chuyện tình trong thời gian học kế toán ở nhà máy Ba Son. Dạo ở Tiểu đoàn 1 tôi và Đặng Thuận hay đến đường Bà Huyện Thanh Quan, ở đó có cư xá ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nơi có nhiều cô gái miền Bắc vô làm việc và ở nhà tập thể. Đặng Thuận thì quen một cô gái tên Xuân (hình như hai gia đình đã biết nhau từ hồi ở miền Bắc), hai người gắn kết và sau này tổ chức đám cưới. Đôi này cũng trục trặc định bỏ nhau, nhưng do tôi tác động mãnh liệt nên sóng gió qua đi. Thuận - Xuân nên vợ nên chồng. Qua Xuân tôi cũng quen biết mấy cô. Rồi Xuân cùng giới thiệu, tác động vun vào nhưng tôi chẳng thích ai, chỉ vì một "cái tội" các có quê ở miền Bắc.


Đến đường Bà Huyện Thanh Quan rất mát mẻ vì có hai hàng cây me cổ thụ, nơi này còn có một quán nhà cô chuyên bán bia và trứng vịt lộn. Tôi và Thuận chủ nhật nào cùng tới đó ăn vịt lộn, uống bia. Đến nhiều lần nên quen thân bà chủ quán. Tôi lân la nói:

- Bà ơi! Bà giới thiệu cho cháu một cô gái miền Nam đi!

Bà cứ nghĩ là tôi nói giỡn chơi! Nhưng tôi nói hoài nên bà tin là thật. Lần sau đến ăn trứng vịt lộn là gặp ngay một cô gái phụ quán.

Tôi hỏi bà:

- Bà ơi, bà thuê người bán hàng à?

Bà cười nói:

- Nó là cháu gái ở Long An lên chơi đấy!

Nhìn thấy cháu bà tôi rụng rời cả chân tay, hồn siêu phách lạc. Cô ta đẹp mê hồn, nước da trắng người dong dỏng cao, mái tóc đen dài, khuôn mặt như hoa hậu, mà lặng thinh ít nói. Dường như trong người cô có một bí mật, hấp dẫn đến lạ thường.

Đặng Thuận đã hơi bốc mùi men:

- Đấy con gái miền Nam đấy! Trông nghiêng nước nghiêng thành lại kiêu kỳ thế kia! Anh dám tới không?

Tôi bắt đầu tiến tới làm quen, đúng là cô ta hơi kiêu, nhưng nói chuyện, làm quen riết cô ta cũng vui vẻ nói:

- Em tên là Hương 20 tuổi, nhà ở Long An, lên chơi thăm dì! Cũng muốn nhờ xem có xin được việc làm không? (Vậy là tôi hơn cô ta bảy tuổi).

Từ đó cứ rảnh rỗi là tôi và Thuận rủ nhau đến hoài! Tôi thì say đắm lắm rồi, còn Thuận thì đi cùng để cổ vũ và xem tôi tiến tới như thế nào! Có lẽ Thuận muốn xem khả năng diễn xuất của tôi.

Tôi nói đùa với Thuận:

- Cậu thấy không, con gái chỉ cứng tý vỏ ngoài như quả trứng thôi, vỡ vỏ là bên trong mềm như nước.

Sau một thời gian, tôi và Hương trở nên thân thiết, tình cảm ngày càng sâu sắc hơn.

Vào một buổi sáng chủ nhật, tôi hẹn Hương đến chỗ ở tập thể nhà máy Ba Son chơi. Hương đến với một người bạn, tôi rủ Nguyễn Xuân Quýnh (cùng học lớp kế toán) đến phòng khách cùng tiếp chuyện.

Quýnh ghé tai tôi nói nhỏ:

- Anh quen con nhỏ này ở đâu mà trông ngon thế!

- Cô ta ở Long An lên chơi đấy!

Mọi người đang ngồi nói chuyện thì có lệnh báo cấm trại 100%. Đúng hôm đó là ngày đổi tiền chế độ Sài Gòn cũ. Hương và người bạn đang định xin phép ra về, nghe tin không được ra cổng thì hoảng hồn không biết lý do thế nào? Tôi và Quýnh cùng mọi người lo gặp cán bộ các cấp xin phép nhưng không được. Anh em bàn lấy thang cho Hương vượt tường rào, nhưng làm thế coi kỳ quá. Đành phải thôi.


Trưa hôm đó bất đắc dĩ tôi, Quýnh và đám bạn mời Hương ăn cơm bộ đội. Ăn xong uống nước và tán chuyện với các bạn học viên trong lớp đến gần 17 giờ mới hết cấm trại, tôi tiễn Hương ra về. Vừa đi bộ Hương với nét mặt buồn bã nghi ngờ nói:

- Em sợ các anh bộ đội quá rồi! Tưởng đến chơi một lát nào ngờ giam giữ người ta cả ngày.

Tôi phân trần giải thích lý do nhưng cô ta chẳng bao giờ tin.

Từ hôm đó Hương bỏ về quê luôn không quay trở lại nữa. Tôi hụt hẫng, nhiều lần nói chuyện giải thích với bà dì bán trứng vịt lộn nhưng không có kết quả.

Thế mới biết tình yêu thuở ban đầu nó quan trọng như thế nào? Khi trái bầu non mới nhú mà bị ong chích thì nó thui ngay lập tức.

Gặp phải mấy câu chuyện tình với các cô gái miền Nam tương tự, tôi đã bắt đầu hoang mang, thiếu tự tin vao ước mơ của mình. Một ước mơ ấp ủ hơn chục năm trời đã bị mây đen trên bầu trời bao phủ. Tôi đem chuyện tâm sự với anh Phương (con bác Hai Báo) quản đốc cơ điện X32. Anh Phương vỗ vai nhẹ nhàng như muốn an ủi:

- Anh em mình quê ở miền Bắc nên không cô gái miền nào hiểu mình bằng con gái miền Bắc họ có khả năng chịu đựng và gánh vác gian khổ, đồng cam chia sẻ với mình, đó là yêu tố hạnh phúc bền lâu.

Nghe anh Phương tâm sự tôi muốn giũ đi những sai lầm về định hướng trong thời gian qua. Mình cứ lao đầu vào những ước mơ huyền ảo, đẹp lắm đấy!

Nhưng nó xa vời không thực tế, để rồi có lúc vỡ mộng thì mới thức tỉnh ra!

Có những đêm trăng sáng vào mùa thu năm 1976, trải chiếu ở bãi hàng A (sân trực thăng của X28), tôi nằm suy nghĩ buồn lạnh lùng tuổi ba mươi tư, thấy mình lãng phí thời gian... Đám mây mờ trôi qua ánh trăng tròn làm tôi bừng tỉnh chạy một mach về phòng ngủ lẩm bẩm hứa một mình: ngày mai sẽ giũ sạch những sai lầm vương vấn bấy lâu nay.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:47:38 am
Chương năm
XÂY DỰNG GIA ĐÌNH


Thời gian là trưởng phòng kế hoạch tôi phân phối bán thành phẩm quần lót cho cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp, may gia công để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống. Đặt bút ký hợp đồng xong ngẩng lên thấy một cô gái quê miền Bắc đứng ngay trước mặt. Tôi hỏi:

- Ủa, em ở đâu mà đến nhận hàng gia công vậy?

Cô ta ấp úng:

- Em ở chỗ anh Hán hậu cần!

- Vậy à! Ở ngay trong xí nghiệp sao anh không biết nhỉ!

Tôi hỏi thăm anh Thông trưởng phòng lao động và được xem lý lịch.

Anh Thông nói:

- Con nhò đó quê ở Nam nịnh, có anh là sĩ quan lái máy bay, tên là Mai Thị Hiền, nhân viên phòng hậu cần, cô ta vô làm được hai năm rồi, sinh năm 1958.

Mấy ngày sau tôi hỏi anh Phương quản đốc, anh ấy nói:

- Hiền được đấy, nó cũng hay đến cơ điện chơi! Cậu tiến lên đi, con gái miền Bắc đó! Cô ta trắng trẻo hiền lành, khỏe mạnh, chân chất như hạt gạo quê ta.

Vào một chiều chủ nhật tôi đến nhà anh Thông ở đường Lê Văn Hưu chơi, sau đó được anh ấy chở về nhà (ở tập thể trong xí nghiệp). Dọc đường tôi yêu cầu:

- Anh Thông!

- Gì vậy?

- Nhiệm vụ của ông là kiếm cho tôi một bông hoa hồng tươi!

- Ok! Tôi kiếm cho ông hai bông!

Trong tay có hai bông hoa mà lòng cứ rộn ràng chờ đợi...

- Ông đi nhanh lên, đến thẳng khu tập thể phòng hậu cần nhé! - Tôi nói.

Qua cổng gác bảo vệ của xí nghiệp, xe chạy thắng đến nhà tập thể nữ. Tôi nhờ anh Thông vào gọi Hiền ra ngoài đường trước cửa nhà. Bước thắng tới tỏi trao bông hồng và nói:

- Anh tặng em bông hoa này nhé!

Cô ta đứng thẫn thờ, hai tay vê vê nhẹ bông hoa.

Tôi lên xe giơ tay vẫy:

- Chào em, hẹn mai gặp nhau!

Hai người chạy xe ra quán ngồi tâm sự. Anh Thông đâm vào lưng tôi:

- Ông tặng hoa kiểu gì vậy? Bông hồng đi đêm à!

Tôi cười nghiêng ngả:

- Phải xuất thần như thế chứ!

Những ngày sau đó tôi nào tôi cũng đến nói chuyện với Hiền ở bên bờ ao cá sau nhà. Cả xí nghiệp biết chuyện đồn ầm lên là tôi sắp cưới vợ. Những ngày tiếp theo tôi thường xuyên chở Hiền đi chơi nhờ có chiếc xe honda 68 mà hai người góp tiền mua chung.

Tháng 8 nám 1982 chúng tôi hẹn nhau cùng về quê để báo cáo gia đình.

Về quê nhà, tôi đem chuyện thưa với mẹ và chị Hải, mẹ mừng làm đòi cùng đi Nam Định nhưng tôi nói:

- Mẹ già rồi! Tàu xe khó khăn vất vả lắm, để con đi trước rồi quay lại tính sau.

Thế là tôi lên đường đi Hà Nội, vào nhà bà Thắm (bà dì họ) nói chuyện. Bà tuy là dì họ nhưng rất gần gũi, thông cảm hoàn cảnh, quý mến tôi hơn cháu ruột. Lần nào ra Hà Nội công tác tôi cũng vào nhà (khu Cát Linh) thăm dì. Chồng của dì là ông Nguyễn Đình Bôn, có ba con trai là Đình Minh, Đình Toàn, Đình Tuấn. Ba con trai của dì quan hệ với tôi rất tốt, ai cũng quý và thương tôi lận đận, vất vả thiệt thòi về mọi mặt.

Nghe tôi kể chuyện vợ con và có ý đi Nam Định bà nói:

- Dì đang làm việc, chưa đến kỳ nghỉ phép, thằng Minh mới tốt nghiệp ra trường, chưa có việc làm. Hai anh em rủ nhau đi thăm dò trước, sau đó trở lại bàn bạc quyết định sau.

Quà đi Nam Định được dì chuẩn bị giúp gồm: hai cây thuốc lá Điện Biên bao bạc, hai kilôgam trà Thái Nguyên, hai kilôgam kẹo Hải Hà, hai hộp bánh bích quy - quà chỉ có vậy thôi, nhưng thời đó bao cấp là rất quý.


Hai anh em, tôi và Minh khăn gói lên xích lô ra ben xe khách đi Nam Định. Xuống bến xe lại trèo lên xích lô chạy thẳng đến chợ Viềng, xã Mỹ Trung, huyện Bình Lục. Chúng tôi xuống xe, vừa đi bộ vừa hỏi thăm về thôn Thanh Khê và nhà ông Mai Trung Ninh mà Hiền đã cho địa chỉ.


Dân làng thấy người lạ đến kéo nhau ra tò mò dòm ngó. Bọn trẻ con túm áo nhau bám theo chỉ đến tận nhà. Lúc này là 10 giờ trưa. Bước vào cổng tre, chó sủa dữ dội, mọi người chạy ra, khách chủ còn bờ ngỡ. Tôi và Minh đi chầm chậm vào sân. Một cô gái từ trong bếp lao ra tươi cười đón:

- Anh Dương! Bạn trai cùng đơn vị em - Hiền nói với các chị gái trong sân.

Hai anh em theo mọi người mời vào trong nhà. Hiền chủ động:

- Hai anh đưa túi xách, đồ đạc cho em cất đi.

Mọi người ngồi ghế, người ngồi ở giường, người đứng vây quanh. Bọn trẻ con tíu tít ngoài hiên ăn kẹo mà tôi vừa phân phát. Hiền rót nước xong, đứng lên bẽn lèn giới thiệu:

- Thưa bố mẹ và các anh chị, đây là anh Phạm Trùng Dương bạn trai con cùng đơn vị trong Xí nghiệp X32 và anh Minh em họ anh Dương. Em giới thiệu với anh Dương đây là bố mẹ em và các chị gái trong nhà.

Tôi vui vẻ hỏi thăm sức khỏe bố mẹ Hiền và mọi người. Ông bà hỏi thăm gia đình tôi ở quê, tình hình đơn vị trong Sài Gòn.

Trong lúc cả nhà uống trà trò chuyện vui vẻ, Hiền ghé tai tôi:

- Các anh ngồi uống nước nói chuyện, em xuống bếp lo cơm trưa nhé!

Vậy là trưa hôm đó hai anh em ăn bữa cơm thân mật với gia đình. Tôi thở phào nhẹ nhõm, lần đầu tiên đi hỏi vợ diễn ra vui vẻ êm đẹp. Quang cảnh nhà vườn ở đây giống nhà tôi ở Hải Dương. Nhà quê Bắc Bộ, gỗ xoan mái ngói, ba gian giữa, hai buồng nhô ra hai đầu, cũng có sân gạch trước nhà, bếp bên trái rồi bể hứng nước mưa. Trước sân cửa nhà một mảnh vườn hơn trăm mét vuông trồng mít, nhãn, trầu cau... Cổng vào có hai bụi tre để làm trụ cổng ra vào. Ngoài cổng là bậc cầu ao vây gạch xuống con sông đào, nước trong vắt.


Ở chơi được hai ngày thì Minh xin được về trước, còn tôi về sau. Hiền nhờ người lấy xe đạp chở Minh ra bến xe Nam Định lên Hà Nội.

Sáng hôm sau Hiền và tôi xin phép bố mẹ đi đền Trần chơi! Đền Trần đông nghịt người, mỗi người cầm một nắm nhang đốt đỏ rực nối theo nhau vào khấn vái ở bên trong.

Tôi và Hiền cúi đầu cầu khấn:

- Lạy Đức Thánh Trần, cầu mong người phù hộ cho chúng con mạnh khỏe, được nên duyên vợ chồng, hạnh phúc trăm năm.

Đền Trần có tiếng là thiêng, chắc là lời chúng tôi khấn ngài sẽ chuẩn y "đóng dấu"!

Thắp hương xong hai đứa ra bên hồ nhỏ trước đền ăn mía. Mía ở đền Trần ngọt hơn xứ khác, hai tay cầm hai khúc mía gõ nhịp vào nhau Hiền nói:

- Em và chị Thẩm (chị cả) cùng về quê anh chơi được không?

- Tốt quá! Có chị gái hộ tống thì chắc rồi còn gì!

Sáng hôm sau ba chị em ra ga tàu hỏa đi Hà Nội, từ Hà Nội về Hải Dương, rồi tiếp tục đi bộ từ bến ga về nhà tôi khoảng ba cây số. Chị Thẩm và Hiền mệt nhoài vì không quen đường xa, trời lại nắng nóng.


Thấy có anh bộ đội dân theo hai phu nữ về làng mọi ngươi lại dõi theo. Ở làng quê là y như vậy cứ có người lạ về nhà nào là kháo nhau đồn ầm lên. Ba chị em về tới sân cửa nhà là họ hàng lối xóm kéo nhau đến khá đông.


Các dì Tụng, dì Tích, dì Nhận, bà Đỉnh, bà Vỵ rồi bà con bên cạnh đã đầy nhà đến để xem mặt "người con gái mà thằng Dương dẫn về".

Dì Tụng vừa nhai trầu, vuốt mép xong hỏi:

- Thế anh Dương định bao giờ cho mọi người ăn cỗ đây?

- Dạ thưa ngay trưa nay ạ!

- Anh nói giỡn mọi người phải không?

- Cháu nói thật mà!

Tôi giới thiệu với mẹ và cả nhà:

- Dạ đây là em Hiền bạn của con ở Sài Gòn, cô ấy nhà ở Nam Định, còn đây là chị Thẩm, chị gái của Hiên. Cháu mời mọi người trưa nay ăn cỗ ra mắt.

Chị Thẩm (chị Hiền) cũng nhai trầu, nói chuyện rất xởi lởi. Câu chuyện mọi người nói cuối cùng là xoay quanh: "Bao giờ tổ chức đám cưới"?


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 23 Tháng Năm, 2023, 07:48:25 am
Khác với khi ở nhà Hiền (vì là nhà gái), còn ở nhà tôi mọi người hỏi thẳng quá, vun vào mãnh liệt dồn dập yêu cầu cưới luôn ở ngoài này cho mọi người được ăn cỗ!

Mẹ tôi là người vui nhất hôm nay, bà liên tục nhai trầu cười nói cùng mọi người.

Trưa hôm đó chị Hải đã lo cơm trưa rất nhanh và chu đáo. Một bữa cơm mà mẹ tôi chờ đợi suốt tám năm nay. Chị Thẩm và cô bạn của tôi cũng không ngờ được rằng, gia đình, họ hàng đã vun vào và quan tâm đến chuyện vợ con của tôi đến thế! Còn Hiền thì ai hỏi gì nói ấy, cô ta cũng bị lúng túng vì nhiều người bao vây quá!


Tối hôm đó hai chị em Hiền ngủ lại một đêm. Buổi tối nhà vẫn đông vui và chật ních người đến chơi! Ở làng quê sao mà đầm ấm và tình cảm đến thế!

Khi có tin vui, tin buồn là đổ xô đến thăm nhau. Họ sống rất chân thật, tình cảm, gắn bó, làm cho tôi quyến luyến không muốn xa rời.

Ăn sáng xong chị Thẩm có đôi lời nói chuyện với mẹ tôi trước khi ra về.

Mẹ tôi nói:

- Chị về quê nhà cho tôi gửi nhời hỏi thăm sức khỏe cụ ông, cụ bà cùng họ hàng nhà ta. Còn chuyện hai đứa gia đình tôi sẽ xếp sắp để thưa chuyện sau.

Từ khi đến tới khi đi mọi người sôi động và dồn dập chuyện cưới xin như thế nào, thì giờ này sao có vẻ như lắng xuống. Tôi tiễn hai chị em Hiền ra ga Hải Dương, còn tôi ở lại quay về nhà. Mấy ngày sau viết thư cho Hiền, tôi nói là không trở lại Nam Định như dự kiến, mà hai người sẽ hẹn nhau ở đơn vị để bàn chuyện...


Trở về đơn vị tôi báo cáo anh Trần Đình Phường giám đốc chuyến đi phép về quê của hai người:

- Tết nhất cũng sắp đến nơi rồi, hai đứa liệu mà tổ chức đám cưới đi! Xí nghiệp sẽ lo nhà cho các cậu.

- Bọn em cũng đang bàn bạc, mong đơn vị tạo điều kiện quan tâm giúp đỡ.

Anh Phương vỗ vai tôi:

- Được rồi, cứ yên tâm!

Ban lãnh dạo đã có quyết định cấp cho tôi căn nhà cấp bốn tường gạch mái tôn xi măng. Số nhà 6/6 khu tập thể C200 phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn nhà này được xây liền kề nhau mười căn. Chiều ngang 3,5 mét, chiều dài 12 mét, phía trước hiên rộng 1,2 mét, rồi tới phòng khách, phòng ngủ, sàn rửa, bếp, nhà vệ sinh. Phía sau nhà giáp với Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp. Đằng trước có mảnh vườn khoảng 30 mét vuông.


Xí nghiệp giao nhà ngày 5 tháng 1 năm 1983. Tôi tranh thủ mua giường tủ, bàn ghế và làm cổng rào phía trước.

Hôm dẫn Hiền vào xem nhà, tôi nói:

- Em thấy không? Nếu nghe mọi người ở quê mà tổ chức đám cưới ngoài đó thì vất vả khổ sở vô cùng hai nhà xa nhau việc đi lại rất khó khăn. Rồi việc ăn hỏi, đưa dâu tổ chức đám cưới rất tốn kém, còn ở đây đơn vị đứng ra lo hết.

Sau khi báo cáo xin ý kiến ban giám đốc, chúng tôi quyết định tổ chức lễ cưới vào chủ nhật ngày 6 tháng 2 năm 1983 nhằm ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Tuất.

Ban giám đốc cử anh Mai Duy Hiền (lúc đó là phó giám đốc) làm chủ hôn, anh Đặng Đình Hán phụ trách lo đời sống hậu cần, còn tôi nhờ Vũ Gia Phúc (phó phòng kế hoạch) thay mặt quản lý tiền bạc chi tiêu trong quá trình đám cưới theo kế hoạch đã thống nhất trước.


Hội trường X32 được chọn là nơi tổ chức. X28 và X32 như anh và em, cùng mẹ sinh ra chung một bức tường nên khách mời rất đông, theo danh sách tới gần ngàn người. Ngày cưới được tổ chức làm hai tiệc mặn và ngọt. Tiệc mặn vào buổi trưa 300 người, tiệc ngọt buổi tối 500 người, chủ yếu là cán bộ công nhân viên nhà máy 28 cũ. Cận tết, nên hai gia đình ở quê không kịp vào, ở Sài Gòn chỉ có gia đình dì Vy (Phú Nhuận) tham dự, bên Hiền có anh Mai Trung Cam đại diện. Gần ngày cưới Nguyễn Xuân Viên (Phó phòng tài vụ) bạn thân ở trên rừng có dẫn hai người bạn đang công tác ở báo Quân đội nhân dân đến lo giúp đỡ chụp ảnh. Tất cả công tác chuẩn bị được đơn vị và bạn bè giúp đỡ, nên tôi không phải lo gì cả! Chỉ có việc làm chú rể và chi tiền. Quần áo cô dâu thì thuê ngoài, quần áo com-lê, cà-vạt chú rể thì mượn của anh Trần Đình Phương (giám đốc).


Ngày cưới rất đông vui, dây pháo dài nổ một mạch giòn tan. Một đám cưới đầu tiên được tổ chức trong đơn vị, nơi mà cách đây tám năm tôi tiếp quản từ chế độ cũ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Bên ngoài bầu trời mùa đông se lạnh đang chuyển sang mùa xuân mát mẻ trong xanh. Những con chim én ghép đôi, hợp đàn từ miền Bắc bay vô Nam để hưởng một mùa xuân ấm áp trong lành. Còn tôi đã chấm dứt cuộc đời cô đơn. Giờ đây đã có tổ ấm riêng của mình. Xin chân thành cảm ơn đơn vị, cảm ơn bè bạn xa gần đã hết lòng vun đắp hạnh phúc cho hai người.


Ngày 27 tháng 7 năm 1983 khi tôi đang dự mít tinh cùng đơn vị kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ, thì bao vệ báo tôi có khách. Ra cổng nhìn thấy Nguyễn Đình Toàn (con dì Thắm) hai anh em bắt tay nhau - Toàn cười chỉ tay sang phía xa bên phải:

- Ối giời ôi! Mẹ tôi!

Mẹ mặc quần ống thấp ống cao, đầu đội nón lá miệng nhai trầu đang đứng ngắm nhìn toàn cảnh cổng Xí nghiệp X32.

- Sao mẹ vào đột xuất, không cho con biết trước để ra đón.

- Cha bố anh! Cưới vợ có cho mẹ và gia đình biết đâu?

- Con sợ nhà lo, mẹ lại vất vả.

Tôi gọi vợ rồi đưa mẹ và Toàn về nhà, cách Xí nghiệp X32 chừng 500 mét (khu tập thể C200, phường 10, quận Gò Vấp).

Về nhà mẹ vui mừng biết nhường nào. Có nhà có cửa đàng hoàng, lại có con dâu đang mang bầu gần 5 tháng. Mẹ đã thỏa lòng mong ước bao năm nay.

Đúng ngày Cách mạng tháng Mười Nga thành công (7-11-1983), vợ tôi sinh con trai đầu lòng đặt tên là Phạm Hùng Tiến. Nó trắng bóc, nặng 3,5 kilôgam tại nhà bảo sanh Bệnh viện Quân y 175, đường Nguyễn Oanh, quận Gò Vấp. Cô bảo sanh bế cháu trao vào tay bà nội, bà sung sướng nâng niu rồi vắt chanh khử trùng vào mắt cháu, nó khóc vang lên trong niềm hân hoan của mọi người xung quanh.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Sáu, 2023, 07:00:23 am
Chương sáu
BỪNG LÊN SAU GIAN KHÓ


Xí nghiệp X32 một thời

Đầu năm 1984, anh Trần Đình Phương được cấp trên cử đi học ở Liên Xô. Anh Mai Duy Hiền được bổ nhiệm làm giám đốc Xí nghiệp X32.

Tháng 4 năm 1984 tôi được Cục quân nhu bổ nhiệm tạm thời chức Phó giám đốc sản xuất, trong khi chờ quyết định của Tổng cục Hậu cần. Ở Xí nghiệp X32 đã có một nếp tiêu cực từ thời giám đốc Đinh Dương Tiểng: không ít cán bộ, nhân viên thường xuyên đục khoét của công. Quản lý vật tư nguyên liệu lỏng lẻo, gây thất thoát lãng phí lớn.


Xưởng sản xuất giày vải cao cổ sinh sau, đẻ muộn nhất Xí nghiệp X32. Máy cán luyện cao su tự chế bằng nòng pháo 175 ly của Mỹ thường xuyên hư hỏng, tuần nào cũng phải sửa chữa máy, thậm chí thuê cả chuyên gia bên ngoài vào sửa cũng chưa đáp ứng được yêu cầu. Máy cán luyện hở, nên rất bụi, các loại hóa chất, khói cuộn mịt mù, rất ảnh hướng đến sức khỏe của công nhân. Còn máy lưu hóa giày vải là loại máy Sơvit được tận dụng thu từ chiến trường Lào, hoàn toàn chắp vá, các chi tiết là do tự chế, khuôn đúc cũng phụ thuộc vào cơ sở tư nhân ở Sài Gòn. Khuôn được làm bằng nhôm, gia công bằng tay nên không đều và chính xác, rất nhanh biến dạng, phải thay thế hoặc sửa chữa. Các loại máy ép cốt mũ cứng cũng tương tự, quay vô lăng bằng tay và khuôn bằng nhôm. Có thể nói rằng các loại máy sản xuất giày vải, mũ cứng là rất lạc hậu, chất lượng thấp. Vì vậy đã tác động không nhỏ đến chất lượng sản phẩm.


Về nguyên liệu, vật tư cùng khó khăn, phải lo chạy hàng ngày, hàng tuần, đặc biệt là các loại hóa chất. Dây mayso dùng để đốt nóng khuôn giày vải phải nhập từ Liên Xô. Việc sử dụng dây mayso rất lãng phí và tiêu cực. Loại dây mayso dùng cho ép giày vải là loại dân dụng, nên dễ bị lấy cắp bán ra ngoài. Dây mayso cũng khan hiếm, có lúc thiếu trầm trọng, mỗi tháng xí nghiệp cấp cho phân xưởng ép đế giày vải khoảng 40-50kg.


Tháng 12 năm 1984, tôi được cử đi Hải Phòng tham quan Hợp tác xã Hiệp Lực sản xuất giày vải cao cổ như Xí nghiệp X32. Họ cũng dùng máy ép Sơvit cùng loại dây mayso như mình, nhưng mỗi tháng chỉ dùng hết 5kg cho 200.000 đôi giày vải cao cổ. Còn ở Xi nghiệp X32 với số lượng giày sản xuất tương tự thì sử dụng dây mayso gấp gần 10 lần, chuyện vô lý này tôi trở về báo cáo lãnh đạo đơn vị.


Sau một tuần tìm hiểu và nghiên cứu, tôi đề xuất phương án với anh Mai Duy Hiền giám đốc để cải tiến quản lý cấp phát dây mayso đối với phân xưởng. Một tổ xử lý và cấp phát dây mayso hình thành, có kỹ thuật và phòng vật tư tham gia - trực thuộc phó giám đốc sản xuất quản lý. Không cấp dây mayso cho phân xưởng 2 (xưởng lưu hóa giày vải) mà cấp thay thế trực tiếp cho máy ép lưu hóa. Kiểm tra đứt dây mayso thay ngay, đồng thời với cấp mới là thu cũ để xem xét tận dụng.


Sau một tháng kết quả tiết kiệm dây mayso thật không ngờ: mỗi tháng sản xuất cũng với số lượng 15-18.000 đôi giày vải như trước đây chỉ sử dụng hết 7kg. Mỗi tháng tiết kiệm trên 36kg, một năm là gần 400kg dây mayso. Lãnh đạo xí nghiệp quyết định thưởng cho tôi 500.000 đồng. Câu chuyện này được Báo Quân đội nhân dân và đài phát thanh đăng tải với tít đề "Phó giám đốc và dây mayso" vào đầu năm 1985.


Đó là một kỷ niệm đẹp và cũng là một thành tích cổ vũ bản thân tôi phấn đấu vươn lên. Một số loại vật tư quý hiếm khác được xem xét quản lý tương tự để tìm ra một định mức thực tế, phù hợp cho tất cả các phân xưởng. Xăng dầu cũng được sử dụng, cấp phát theo chế độ khoán để tiết kiệm tối đa cho xí nghiệp. Ngoài ra tôi còn thực hiện chế độ kiểm kê định kỳ, đột xuất, phối hợp với quyết toán sử dụng vật tư hàng hóa tháng, năm. Trong các phân xưởng thì phân xưởng 2 là quản lý vật tư lòng lẻo, lãng phí nhất. Đã có lần tôi cho kiểm tra đột xuất kho phân xưởng thu hồi ngay rất nhiều bộ bóng đèn, hàng trăm kilôgam nhôm dạng khuôn mẫu, hàng chục quạt trần, v.v... về kho xí nghiệp.


Đối với Xí nghiệp 32 thời kỳ này là đỉnh cao của lãnh đạo chỉ huy đoàn kết thống nhất để xây dựng đơn vị. Hai hàng cây điệp to cao xanh ngát, chạy dọc đường từ cổng xí nghiệp, đang rập rờn gọi gió tây nam mát rượi, thổi vào lòng bao con người gian nan phấn đấu, vì một Xí nghiệp 32 ngày càng tươi sáng đi lên.


Mùa thu năm 1986, giám đốc Mai Duy Hiền được cấp trên cử đi học ở Liên Xô. Xí nghiệp 32 vẫn nhớ về anh - một giám đốc có khả năng đoàn kết thống nhất cao trong đơn vị. Cấp trên đưa anh Đinh Tiến An lên làm giám đốc, anh Bưu bí thư chuyển về Đoàn 2 công tác. Anh Dương (người Nghệ An) thay anh Trần Thế Bưu làm Bí thư Đảng ủy. Anh Đặng Đình Hán là Phó giám đốc hành chính, hậu cần, còn tôi vẫn nhiệm vụ cũ, nhưng được phân công thêm chỉ đạo xây dựng xưởng may mũ giày da xuất khẩu.


Nêu nói về làm hàng xuất khẩu thì Xí nghiệp 32 hoàn toàn đi từ con số không. Không vốn liếng, không thiết bị, không kỹ thuật. Nhưng có lợi thế nhà xưởng mặt bằng rộng thênh thang.

Cấp trên không có tiền nên xuất cho Xí nghiệp 32 bốn ngàn bộ quần áo lính trận của chế độ cũ (chiến lợi phẩm). Nhờ mối quen biết của anh Trần Đình Phương với xí nghiệp xuất khẩu thủy sản Vũng Tàu, qua anh Hậu trợ lý giám đốc. Xí nghiệp đã đổi quần áo lính trận lấy 35 máy may ống để may mũ giày. Việc tiếp theo là tôi đi tìm thợ kỹ thuật. Qua nhiều người giới thiệu, cuối cùng đã tìm được hai người. Hai người đó là bác Nhuận và anh Đức, đều là thợ giày tay nghề cao ở quận 3 và Phú Nhuận. Sau khi gặp gỡ thuyết phục và đưa ra chế độ chính sách, hai người đã đồng ý về làm thợ kỹ thuật cho xí nghiệp. Thỏa thuận với hai thợ kỹ thuật xong tôi bàn với lãnh đạo, chỉ huy. Anh An giám đốc phản ứng ngay:

- Không thể lương công nhân lại gấp bốn, năm lần lương giám đốc được, anh cần xem lại.

Tôi thất vọng:

- Xin nói thật rằng xí nghiệp nếu không có chúng ta ngồi đây, cấp trên vẫn có người thay thế! Còn làm xuất khẩu mà không có thợ kỹ thuật thì bó tay.

Tôi phân tích:

- Ví dụ như bác Nhuận, ở nhà có một tổ hợp nhỏ chuyên sản xuất giày dép để bán ra thị trường, thu nhập hàng tháng nuôi cả nhà sáu, bảy người, lại còn tích lũy làm giàu. Tôi phải đến tận nhà thuyết phục đủ kiểu bác ấy mới nhận lời.

Với thái độ kiên quyết, tôi dứt khoát:

- Nếu các anh không đồng ý cùng không sao! Nhưng tôi xin nhường vị trí xây dựng xưởng may mũ giày da xuất khẩu cho người khác. Chứ thực ra lương mà xí nghiệp dự kiến trả cho thợ kỹ thuật chỉ bằng phần nhỏ thu nhập ở nhà của họ. Chúng ta lương bao cấp sao có thể so sánh.

Tranh luận mãi cuối cùng mọi người đã chấp thuận. Mặc dù đã vượt qua một cửa ải đầu tiên nhưng tôi vẫn buồn. Sợ sau này còn nhiều việc khó khăn khác liệu có thể vượt qua được tương tự như vậy không?


Có thợ kỹ thuật về, hai dây chuyền may học nghề được hình thành. Xí nghiệp điều động cô Hà và một cán bộ kỹ thuật may về tạm thời phụ trách. Với ba mươi lăm máy may ống và khoảng 10 máy may bàn, nhờ dồn dịch và tận dụng ở trong kho, thì vẫn thiếu các máy chuyên dùng như lạng da, vắt sỏ hai kim...


Ở xí nghiệp Sagoda (phường 12, quận Gò vấp) có anh Thuận giám đốc mà tôi từng quen biết ở trong chiến khu, anh là giáo viên đi bộ đội vào Nam chiến đấu. Vì là nghề giáo viên nên được điều về trường văn hóa của Cục hậu cần Miền để dạy văn hóa cho con em cán bộ và những người văn hóa thấp. Tôi trực tiếp sang Sagoda gặp anh Thuận nhờ giúp đỡ, anh vui vẻ nhận lời. Đây là một điều kiện thuận lợi đề tạo sự quan hệ giúp đỡ cho xí nghiệp sau này.


Anh Thuận giao trách nhiệm cho anh Đức trưởng phòng kỹ thuật Sagoda, trực tiếp quan tâm giúp X32 về kỹ thuật, kể cả cho mượn máy chuyên dùng.

Tiếp theo là tuyển dụng công nhân. Tôi đặt ra tiêu chuẩn và trực tiếp chọn lựa 70 người vào đào tạo tay nghề. Xí nghiệp Sagoda cho mượn một số máy chuyên dùng. Họ còn đưa bán thành phẩm để mình dạy nghề cho công nhân. Dần dần hai tháng sau học nghề đã hoàn tất, xí nghiệp tiếp tục tuyển người mở rộng ra các khâu khác như cắt, dập da và máy chuyên dùng.


Tháng 12 năm 1986 tôi đề xuất điều anh Vũ Gia Phúc, trưởng phòng kế hoạch xuống làm quản đốc phân xưởng và cô Hà làm phó quản đốc. Từ đó xưởng 4 (xưởng may mũ giày da xuất khẩu) ra đời với số lượng công nhân ban đầu lên đến cả trăm người. Xưởng đã trực tiếp nhận nguyên liệu, vật tư về để tự pha cắt và hoàn tất sản phẩm. Đồng thời xí nghiệp cũng mua thêm một số máy các loại tăng cường đủ bốn dây chuyền sản xuất. Vào lúc này công nhân xưởng 4 đã lên đến hơn 500 người. Mỗi tháng có thể hoàn thành hơn chục ngàn sản phẩm mũ giày da các loại. Đây là niềm vui, nguồn hạnh phúc của toàn thể Xí nghiệp 32 vì đã dẫn đầu Tổng cục Hậu cần đột phá làm xuất khẩu.


Trên đời này không có việc gì khó, nếu có trí tuệ và lòng quyết tâm thì sẽ vượt mọi gian nan để đi đến thành công. Đúng vào dịp này, ngày 11 tháng 2 năm 1987 vợ tôi sinh thêm bé trai là Phạm A Duy tại nhà bảo sanh phường 12, quận Gò Vấp, nặng 3,7kg. Từ nay bà nội vất vả thêm vì hai cháu, tuy vậy bà rất vui mặc dù tuổi đã bước sang 76 mùa xuân.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Sáu, 2023, 07:01:42 am
Trên đất nước Xô Viết

Ngày 20 tháng 10 năm 1987 tôi được Tổng cục cử đi Liên Xô theo đề xuất của Liên hiệp Da giày Việt Nam và Xí nghiệp 32. Tới Mạc Tư Khoa gặp trời rét, xe taxi lại còn đi lạc (cùng với ba giám đôc xí nghiệp của thành phố) nên tôi bị cảm sốt, phải uống thuốc, ăn súp nằm đắp chăn ba ngày mới khỏi.


Đoàn đi Liên Xô lúc đó gồm: (Thành phố Hồ Chí Minh)

1. Anh Đức, Phó giám đôc xí nghiệp Sagoda.

2. Chị Châu Huệ Cẩm, Giám đốc xí nghiệp giày An Lạc.

3. Anh Đông, Giám đốc xí nghiệp giày Phú Nhuận.

4. Anh Hiệp, Giám đốc xí nghiệp giày Bình Thạnh.

5. Một phó chủ tịch quận Tân Bình.

6. Tôi - Phạm Trùng Dương, Phó giám đốc Xí nghiệp 32 (quân đội) và anh Thọ đại diện Liên hiệp Da giày Việt Nam làm trưởng đoàn. Toàn bộ chi phí chuyến đi do Thành phố Hồ Chí Minh đài thọ. Sau khi đến Mạc Tư Khoa nghỉ bốn ngày đoàn được đi tham quan thành phố giày ở nước cộng hòa Ukraina. Tham quan nhà máy giày Ugan và một số xí nghiệp khác. Đến các nhà máy giày làm việc, phía bạn rất quý phái đoàn Việt Nam. Mỗi người được bồi dưỡng 10 rúp1 (Một rúp tương đương một đôla - quy đổi) một ngày. Được đi tham quan các danh lam thắng cảnh, tắm, xông hơi mát xa, xe đưa đón, đặc biệt là ăn uống rất rất trọng hậu.


Lần đầu tiên tôi được chứng kiến cảnh tuyết rơi vào ngày 6 tháng 11. Cả bầu trời như triệu triệu cánh hoa bay lơ lửng. Hoa tuyết trắng muốt luồn vào cổ áo, sà vào mặt tôi, đậu vào cành cây, mặt đất rồi nhẹ nhàng từ từ tan biến. Một cảnh đẹp thần tiên mà ở Việt Nam không bao giờ có được. Đoàn thành phố nhận gần trăm mẫu giày da các loại về chỗ ở (thương vụ đại sứ quán Việt Nam) để nghiên cứu, lựa chọn và làm giá với bạn.


Ban đêm ở nhà chọn mẫu, ban ngày đoàn giám đốc thành phố được chị Châu Huệ Cẩm dẫn đi chơi phố, chợ ở thú đô Mạc Tư Khoa. Chị Cẩm đã từng học ở Liên Xô, thông thạo tiếng Nga, đường sá nên kiêm luôn phiên dịch của đoàn. Còn chúng tôi đi đâu cùng phải nhờ chị. Mạc Tư Khoa đẹp quá, toàn xe hơi, rất ít xe máy. Đi đường chỗ nào mà có nhà hình chã A bên trên có chữ M là chúng tôi mua tiền xu nhét (10 kôp)1 (Một rúp bằng 100 kốp) vào "mắt thần", tay chắn tự động mở ra cho ta xuống tàu điện ngầm với tên gọi Metropolitan. Với 10 kôp ta có thể đi cả trăm kilômét đường tàu, chán thì tìm một ga gần nhà rồi "chui" lên. Dưới các nhà ga của tàu điện ngầm trông như cung điện nhà vua, xung quanh treo các bức tranh đồng cực đẹp. Ở nhà ga cũng có cửa hàng phục vụ ăn uống, cửa hàng sách và bách hóa, mọi người cảm giác như ở trên mặt đất. Tôi rất ấn tượng hàng dãy đèn Neon sáng trắng to bằng bắp đùi người lớn, dài gần một mét, chạy đều tăm tap khi đi xuống thang điện sâu hàng trăm mét, chỗ nông nhất của Metro cũng là 50 mét dưới lòng đất.


Hệ thống Metro của Mạc Tư Khoa có từ năm 1935 sau đó liên tục mở rộng và hiện đại hóa. Đây là hệ thống Metro (gọi tắt của tiếng Anh) được mệnh danh là Hoàng cung dưới lòng đất đẹp nhất thế giới. Do chưa có vé máy bay về nước nên chúng tôi suốt ngày đi chơi dưới lòng đất với mê cung. Chán rồi lại "chui" lên ra ngoại thành gọi taxi về sứ quán.


Dạo đi máy bay sang Liên Xô, do có sương mù nên không hạ cánh được ở sân bay Mạc Tư Khoa mà phải hạ cánh xuống nước cộng hòa Ukraina (thủ đô Kiev). Sau đó chúng tôi đi tàu điện nổi về Mạc Tư Khoa dài tới 2.000 cây số. Ngồi trên tàu điện nổi với vận tốc trên trăm cây số, chúng tôi được ngắm đất nước Liên Xô hùng vĩ, những vườn táo phủ tuyết trắng lung linh quả trĩu cành. Cánh đồng tuyết bao la đã được gieo lúa mỳ, chỉ chờ mùa xuân về, tuyết tan là nảy mầm xanh, lớn nhanh như thổi. Chẳng có thực phẩm mà họ chỉ phát bánh mỳ không. Đến chỗ nghỉ bọn tôi tràn xuống vườn khẩn trương mua táo, vào cả vườn táo tham quan. Cánh đồng táo đẹp quá, tưởng mình đang lạc trên thiên đình trong những vườn táo tiên. Đẹp như cảnh vườn táo tiên trong Tây du ký mà Tôn Ngộ Không đại náo.


Đến Liên Xô ta mới thấy nước ban thiếu lao động trầm trọng. Ở xưởng may đa số là người già ngồi máy may. Ngoài đường những công việc như gạt, hót tuyết cùng chỉ có bà già, vậy các nhà máy họ mới quý ta sang tham quan, nhận may gia công mũ giày cho họ. Mấy ngày tiếp theo chúng tôi được đưa đi tham quan lăng Lênin, quảng trường Đỏ, trung tâm triển lãm quốc gia. Chỗ nào tôi thấy cũng rất thú vị, mới lạ và đẳng cấp, xứng đáng là thành trì của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.


Đứng trước quảng trường Đỏ lát đá xanh nghiêng (mỗi viên rộng 15, dài 20, dày 20cm) với tuyết bay gió lộng, tâm hồn tôi như muốn bay bổng lên không trung để ngắm nhìn đất nước Liên Xô bao la vĩ đại.


Tôi vẫn như đang lạc vào một thế giới xa lạ, như một giấc mơ thứ hai nối tiếp giấc mơ đại thắng mùa xuân 30-4-1975 khi vào tiếp quản Sài Gòn.

Hạnh phúc đang trào dâng và tràn ngập trong lòng. Kết quả chuyến đi của đoàn giám đốc Thành phố Hồ Chí Minh, cộng với Liên hiệp các xí nghiệp Da giày Bộ công nghiệp nhẹ là ký được hai mươi triệu đôi mũ giày các loại. Ngoài ra nhà máy giày Ugan còn ghi nhớ sẽ đầu tư máy móc thiết bị để sản xuất một trăm ngàn đôi giày lót lông cao cổ mỗi năm ở Xí nghiệp 32. Đúng sáu tháng sau xưởng sản xuất giày lót lông cao cổ đã trở thành hiện thực, do anh Đồng (nguyên là trợ lý giám đốc) làm quản đốc, công suất một trăm ngàn đôi một năm.


Tiếng vang của Xí nghiệp 32 về sản xuất mũ giày và giày xuất khẩu đi Liên Xô đã đến tai các chuyên gia Tiệp Khắc đang làm việc ở nhà máy giày Sài Gòn. Nối tiếp chuyến thăm của đoàn Tiệp Khắc cuối năm 1986, đến tháng 1 năm 1988 đoàn chuyên gia giày Tiệp Khắc lại đến Xí nghiệp 32. Lần này phía Tiệp ký hợp đồng đầu tư ngay một xưởng sản xuất mũ giày vải xuất khẩu.


Xí nghiệp 32 xây dựng xưởng may mũ giày vải lần này rất thuận lợi, vì toàn bộ thiết bị, công nghệ, kỹ thuật may do phía bạn đảm nhiệm. Xí nghiệp 32 chỉ lo mặt bằng, nhà xưởng, tuyển dụng quản lý công nhân. Các chuyên gia kỹ thuật phía bạn trực tiếp đào tạo tay nghề, kiểm soát hướng dẫn kỹ thuật và dải chuyền cho từng mẫu mã.


Như vậy chỉ sau hai tháng, xưởng gia công mũ giày cho Tiệp Khắc đã hoàn chỉnh và đi vào hoạt động, công suất mỗi năm lên đến cả triệu đôi, với số lượng công nhân khoảng 1.000 người. May mắn và thuận lợi nối tiếp đến với Xí nghiệp 32, bởi vì xí nghiệp sở hữu cơ sở hạ tầng, nhà xưởng khang trang rộng rãi, vẫn còn trống.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Sáu, 2023, 07:02:31 am
Tháng 9 năm 1988, phía Tiệp Khắc chọn X32 làm nơi đặt tổng kho nguyên liệu, vật tư cho việc gia công sản xuất giày ở Thành phố Hồ Chí Minh. Giá bạn thuê mỗi mét vuông nhà xưởng là 7 đôla một tháng, mức giá mà Xí nghiệp 32 trước đây nằm mơ cùng không bao giờ có được. Sau khi hoàn tất xưởng may mũ giày vải do đồng chí Đặng Tùng Lâm làm quản đốc, đồng chí Thìn làm phó quản đốc, phía Tiệp Khắc đầu tư thêm một xưởng sản xuất giày vải trẻ em với công suất 200 ngàn đôi năm.


Sau khi có tổng kho, phía bạn đã gửi ào ạt sang 20 Container nguyên liệu. Hàng bị kẹt ở cảng Sài Gòn, Xí nghiệp 32 phải gửi công văn nhờ lãnh đạo cảng can thiệp. Tôi đã mang giấy giới thiệu trực tiếp cùng nhân viên phòng vật tư đến cảng túc trực suốt ngày đêm để làm thủ tục kéo toàn bộ container về xí nghiệp. Sáng hôm sau đường sá trong xí nghiệp toàn là công hàng tràn ngập đậu từ cổng vào đen tận cửa kho, trước sự ngỡ ngàng của hàng ngàn cán bộ, công nhân viên.


Như một mùa lúa bội thu của người nông dân trước đống lúa vàng cao ngất, hòa với ánh nắng bình minh chan hòa một ngày mới!

Đây là thời kỳ sản xuất phát triển rực rỡ, thành công nhất của Xí nghiệp 32. Vừa sản xuất quốc phòng phục vụ quân đội, vừa sản xuất, gia công hàng xuất khẩu. Tổng số công nhân lên đến trên hai ngàn người.


Sản xuất phát triển đi lên, đời sống người lao động đã từng bước cải thiện, nhưng trong nội bộ xí nghiệp xảy ra phong ba bão táp. Những đơn nặc danh gửi Tổng cục Hậu cần tô cáo nội bộ liên tiếp xuất hiện. Có một hôm anh Thọ nguyên trưởng phòng lao động gặp nói chuyện và hỏi tôi:

- Ông có biêt ai là người viết đơn tố cáo không?

Tôi ngạc nhiên:

- Làm sao tôi biết được! Ông nói ai vậy?

- Một nhân viên phòng hành chính! Viết xong đến đưa cho tôi xem.

Tôi hỏi tiếp:

- Người đó tên gì?

- Là X.

- Vậy sao ông không nói ngay cho tôi biết?

Anh Thọ ngại ngùng:

- Chúng tôi sợ ông gạt đi thì hỏng việc.

Tôi phê phán:

- Ông có biết làm như vậy (tố cáo nặc danh) là làm loạn xí nghiệp và hại cả đến tôi không? Nhưng kẻ cơ hội và cả cấp trên đều nghi ngờ tôi viết đơn nặc danh để hạ bệ giám đốc, tìm cơ hội cho mình.

Ông Thọ im lặng rồi gật gật đầu nói:

- Đúng vậy! Lúc đó tôi không nghĩ được như thế! Thôi tất cả qua rồi, ông bỏ quá cho.

Những tháng đầu năm 1991, đoàn thanh tra Tổng cục liên tục xuống làm việc, kết luận ai đúng ai sai đơn nặc danh chính xác đến đâu đã được làm sáng tỏ báo cáo lãnh đạo chỉ huy Tổng cục.

Đảng ủy X32 và các chi bộ liên quan ngày đêm họp kiểm điểm chủ yếu xoáy vào giám đốc, phó giám đốc (chỉ huy xí nghiệp).

Tóm lại ở X32 đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa tiêu cực bảo thủ cục bộ và chống tiêu cực. Do sự việc đã đi vào lịch sử nên người viết không muốn đi sâu khơi lại để gây thêm tranh cãi, mặc du nó đã qua đi 25 năm rồi. Nhưng nó vẫn còn khắc sâu không thể nào quên trong trí nhớ của tôi. Thời gian trôi đi, mọi người chắc chắn sẽ thấy rõ cái gì là sai lầm, tội lỗi đã lộ dần và phơi bày theo năm tháng. Còn người viết sách này cũng đã rút ra một bài học kinh nghiệm cho mình. Đấu tranh không khéo là không biết mình sẽ tránh vào đâu? Chỉ có con đường tình nguyện hy sinh ra ngoài để dần dần chứng minh cho mọi người thay rõ mà thôi.


Ngày 15 tháng 2 năm 1991, đồng chí Khôi - Thiêu tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần phụ trách phía Nam gọi tôi lên văn phòng làm việc.

Đồng chí điềm tĩnh rót nước trà cho tôi rồi nói:

- Tình hình nội bộ Xí nghiệp 32 khá phức tạp thời gian tới ta nên như thế nào?

Sau khi báo cáo tình hình, tôi nói luôn:

- Tôi xin được nghỉ hưu để triệt xóa những tiếng đồn là tôi thích làm giám đốc tìm cách gây rối mất đoàn kết nội bộ. Trong quá trình ở xí nghiệp tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không vi phạm khuyết điểm gì. Tôi không đoàn kết xuôi chiều, mà kiên quyết, thẳng thắn đấu tranh phê phán những khuyêt điểm sai lầm của một số cán bộ chủ chốt. Tôi xin nghỉ dù khó khăn mấy cũng chấp nhận.

Đồng chí Khôi nói tiếp:

- Vậy Tổng cục điều đồng chí về cơ quan, đồng chí nghĩ sao?

- Dạ thưa, tôi về Tổng cục không phù hợp, kính mong thủ trưởng thấu hiểu cho.

- Lãnh đạo Tổng cục biết đồng chí có kinh nghiệm, có khả năng tiếp tục công tác nên vẫn sử dụng. Nhưng trước mắt tạm về Tổng cục một thời gian, cấp trên sẽ xem xét sau.

- Thưa thủ trưởng, nguyện vọng của tôi xin không thay đổi.

Một tuần sau đồng chí Trung tướng Trần Trác - Bí thư Đảng ủy Tổng cục lại gọi tôi lên phòng làm việc ở tiền phương, đồng chí nói:

- Đồng chí báo cáo tình hình Xí nghiệp 32 cho tôi nghe.

- Dạ thưa thủ trưởng, tôi đã viết thư gửi thường vụ và chỉ huy Tổng cục rồi. Còn chuyện xin nghỉ hưu là để chứng minh rằng tôi không hề ham muốn chức vụ giám đốc như một số người suy nghĩ. Tôi ra ngoài hoàn toàn đáp ứng được điều mà xã hội cần.

Sau khi mọi việc kết thúc rõ ràng, tôi làm đơn xin nghỉ hưu, trong lòng như trút một gánh nặng vất vả bấy lâu nay.


Tiêu đề: Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Sáu, 2023, 07:03:23 am
Khúc vĩ thanh - Con đường phía trước

Thời kỳ này cả nước vẫn còn chế độ bao cấp. Ở miền Bắc thì phân phối thông qua tem phiếu đối với lương thực và các nhu yếu phẩm thiết yếu. Ở miền Nam tuy không dùng tem phiếu nhưng phân phối nhu yếu phẩm, lương thực trực tiếp cho cán bộ, công nhân viên và lực lượng vũ trang. Hàng hóa ở miền Bắc vẫn khan hiếm, còn ở miền Nam hàng hóa dồi dào hơn nhưng giá cả rất mắc. Tình hình kinh tế nhìn chung khó khăn, ví dụ như gia đình tôi hai vợ chồng đi làm Nhà nước (quân đội) lương không đủ nuôi hai con và mẹ già, phải làm thêm. Đi làm về vợ tôi phải may gia công quần lót (bộ đội), nuôi gà, nuôi heo... Vị trí nội trợ, việc nhà do tôi đảm nhiệm.


Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ 15 đến 18 tháng 12 năm 1986, nhằm đổi mới, mở cửa và thực hiện cơ chế thị trường, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Tuy có chuyển biến nhưng còn chậm, bởi vì cơ chế tập trung bao cấp ăn sâu bám rễ đã lâu, nay bứt phá thì cần phải có thời gian.


Mặc dầu biết rõ sẽ rất khó khăn khi về hưu nhưng tôi vẫn kiên quyết xin nghỉ để tận dụng cơ hội Đảng mở cửa, chấm dứt thời kỳ làm việc bao cấp nặng nề.

Cầm quyết định nghỉ hưu, tôi khẩn trương bàn giao như trút gánh nặng ngàn cân, về nhà ngủ những giấc ngủ ngon lành suốt cả tuần lễ. Kể từ nay tôi đã trở thành người tự do, nhưng trước mặt là cả thời kỳ đầy khó khăn thử thách. Tôi rất muốn được tiếp tục làm việc cho quân đội, cống hiến để xây dựng một xí nghiệp quốc phòng vững mạnh và phát triển, nhằm phát huy những kinh nghiệm tích lũy suốt hai mươi lãm năm công tác. Nhưng môi trường đã vẩn đục rối ren, không phát huy được khả năng của mình nữa.


Về nhà một thời gian tôi thấy rất nhớ đơn vị nhớ về một chặng đường đầy gian nan ác liệt. Chặng đường đó đã tôi luyện mình trở thành con người có bản lĩnh dày dạn kinh nghiệm, vững vàng về mọi mặt.


Từ tuổi thơ đã phải lăn lộn để vươn lên thoát chết, giành sự sống. Tuổi trưởng thành khao khát quyết tâm theo lời "Đảng kêu gọi" vào quân đội vượt Trường Sơn để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bản thân tôi phải phấn đấu vượt qua những đợt sốt rét nguy hiểm cùng với nhiễm độc và cũng thoát được vào tới đích - nhận nhiệm vụ. Một nhiệm vụ mà có lẽ nó cũng hợp với tố chất của tôi.


Trên rừng là tổng hợp những con số, phân tích và nhận định nó, đề xuất những phương án và cách thức giải quyết. Công tác nhiều năm làm thống kê rồi trợ lý quân nhu, bằng kinh nghiệm của mình dần dần trở thành người chiến sĩ trợ lý kế hoạch khi hòa bình trở về. Tôi có một thói quen và cũng là một nguyên tắc: Khi được cấp trên giao nhiệm vụ là tôi xây dựng ngay kế hoạch chương trình hành động bằng những khám phá và đề xuất riêng của mình. Rồi sau đó kiên quyết phấn đấu hoàn thành. Khi còn trong quân đội tôi rất "khó chịu" khi ở trong một đơn vị lỏng lẻo về tổ chức, kỷ luật kém. Tôi luôn mong muốn đến cháy bỏng đơn vị của mình phải là đơn vị "Thép". Tôi chúa ghét các ông thủ trưởng xuề xòa dễ dãi, kỷ luật không nghiêm, khen thưởng không kịp thời và công minh.


Có lẽ rằng tôi đã được tắm trong một chế độ "cộng sản chân chính và chuyên chính" suốt bao năm ác liệt chiến tranh, nên đã tôi luyện thành người nghiêm khắc, có trái tim rực hồng và dòng máu nóng. Quyết tâm lúc nào cũng sôi sùng sục, phải làm ngay và quyết làm bằng được. Chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa mới rèn luyện ra những con người như thế. Và thời chống Pháp, Mỹ đã có nhiều thế hệ cùng hàng triệu người như thế. "Không cho tôi vào giải phóng miền Nam tôi sẽ đập đầu vào đá mà chết", một ý chí tuyệt vời và hoàn toàn có thật, chỉ thế thôi cũng lý giải tại sao chúng ta giành chiến thắng.


Khi được về hưu tôi mới 43 tuổi, tức là mình còn làm việc ít nhất 20 năm nữa. Cấp trên đồng ý cho tôi nghỉ hưu, tôi tự suy ngẫm là quân đội đã lãng phí về lao động, chất xám mà không thấy và ít ai để ý. Tôi rất vui vẻ trong một nỗi buồn man mác khi cầm quyết định trong tay. Tôi không còn tham gia đóng góp xây dựng quân đội, thì mình về làm kinh tế tự xóa nghèo. Bởi khi về tôi rất nghèo, vợ đi viện mà trong túi không còn một đồng, phải vay bè bạn. Đó là một nỗi khổ, nhưng rất đỗi tự hào vì sự trong sạch của mình.


Cũng chẳng lãng phí đâu! Ở đâu cũng là làm cách mạng, miễn sao là làm giàu chính đáng đóng góp cho xã hội, xây dựng Tổ quốc giàu mạnh là một niềm kiêu hãnh rồi.

Về nghỉ hưu làm kinh tế tư nhân? Điều đó hoàn toàn mới lạ, nhưng là quy luật tất yếu, bởi vì đất nước đã bắt đầu đổi mới, mở cửa. Tuy nhiên khó khăn gian khổ cũng sẽ thử thách mình, nó sẽ rất khắc nghiệt, cạnh tranh vì đó là nền kinh tế thị trường nhiều thành phần.


Chào từ biệt quá khứ để dấn thân vào tương lai đầy gian nan ở phía trước! "Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền". Có lẽ cuộc đời con người là cả một cuốn sách, mỗi thời đoạn như thể một chương, mỗi một dòng như thể một ngày sống. Lẽ đương nhiên có những cuốn sách hay, có ích cho đời và đặc biệt có những cuốn sách làm nên lịch sử, có giá trị bất tử - "Sống như anh". Còn cuốn sách của tôi như cánh đồng lúa, lũy tre làng, bờ đê gió lộng xuân sang xuân về. Nó là dấu chân người chiến sĩ trải qua những chặng đường gian khổ khó khăn, ác liệt và những thăng trầm trong đấu tranh chống tiêu cực lạc hậu để đơn vị tồn tại phát triển đi lên. Tất cả những điều đó thúc đẩy tôi viết nên quyển sách hôm nay.


Thời gian không chờ đợi ai, đó là con tàu không ngừng nghỉ. Những sự kiện xảy ra giờ đây, hôm nay thì chút nữa đã thuộc về lịch sử. Và nhìn một cách biện chứng, thì lịch sử là một dòng chảy vĩnh hằng, liên tục, nối quá khứ với hiện tại và tương lai, cái đã qua chưa hẳn đả kết thúc và quá khứ là tấm gương soi để xây dựng hiện tại và tương lai tốt đẹp.


Đón đọc quyển hai: "Vươn lên xóa nghèo thời mở cửa".